Author: Nguyễn Huyền

  • Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN   


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/Quy-tr%C3%ACnh-xin-ch%E1%BB%A9ng-nh%E1%BA%ADn-xu%E1%BA%A5t-x%E1%BB%A9-m%E1%BA%ABu-D-%C4%91%E1%BB%83-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-thu%E1%BA%BF-quan-%C6%B0u-%C4%91%C3%A3i-theo-Hi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BB%8Bnh-ATIGA-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-m%E1%BA%B7t-h%C3%A0ng-gi%C3%A0y-d%C3%A9p-sang-Indonesia..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    ĐỀ TÀI: Quy trình xin chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O form D) để hưởng thuế quan ưu đãi theo Hiệp định ATIGA đối với mặt hàng giày dép sang Indonesia.

    I.                   GIỚI THIỆU VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ C/O FORM D

    1. Giấy chứng nhận xuất xứ

    –     C/O là giấy chứng nhận xuất xứ, tiếng Anh là Certificate of Origin.

    –     Là giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, là văn bản được tổ chức thuộc quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá cấp dựa trên những quy định và yêu cầu liên quan về xuất xứ và chỉ rõ xuất xứ của hàng hoá đó.

    –     Khi biết được nguồn gốc hoặc xuất xứ của hàng hóa sẽ giúp chủ hàng nhập khẩu xác định xem hàng có được hưởng ưu đãi đặc biệt hay không.

    Ví dụ: nếu hàng từ các nước ASEAN, có C/O form D, thì có thể được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt, nghĩa là thuế thấp hơn mức không có C/O.

    2. Các nội dung cơ bản của giấy chứng nhận xuất xứ – C/O (Certificate of Origin)

    Xuất phát từ mục đích, đặc điểm của C/O mà nội dung cơ bản của C/O phải thể hiện được các nội dung như:

    • Loại mẫu C/O: nhằm thể hiện C/O được cấp theo một Qui tắc xuất xứ cụ thể tương ứng.
    • Tên, địa chỉ người xuất khẩu, nhập khẩu.
    • Tiêu chí về vận tải (tên phương tiện vận tải, cảng, địa điểm xếp hàng/ dỡ hàng, vận tải đơn…).
    • Tiêu chí về hàng hoá (tên hàng, bao bì, nhãn mác đóng gói hàng hoá, trọng lượng, số lượng, giá trị…).
    • Tiêu chí về xuất xứ hàng hoá (tiêu chí xác định xuất xứ, nước xuất xứ hàng hoá). Ví dụ: “WO”, “RVC 40%”, “CC”, “CTH”, “CTSH”.
    • Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nước cấp xuất khẩu.

    3. Giấy chứng nhận xuất xứ C/O form D

    –     Là loại C/O theo Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

    –     Chỉ cấp cho hàng hóa xuất khẩu từ một nước thành viên của ASEAN sang một nước thành viên ASEAN khác.

    II. YÊU CẦU VỀ XUẤT XỨ CỦA MẶT HÀNG GIÀY DÉP CẦN XUẤT KHẨU

    • Giày dép bằng da được sản xuất tại Việt Nam.
    • Mã số HS của mặt hàng: 64042000
    • Thị trường xuất khẩu là quốc gia Indonesia, đã kí hiệp định ATIGA có qui định cắt giảm thuế.
    • So sánh thuế suất ta chọn mẫu CO form D để được hưởng thuế suất ưu đãi thấp nhất
    • Kiểm tra xuất sứ theo hàng hóa theo qui định ATIGA – Annex 3.

    Hàng hóa được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D – là hàng hóa phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Hiệp định ATIGA, bao gồm:

    Hàng hóa có chứa ít nhất 40% hàm lượng có xuất xứ từ bất kỳ một nước thành viên ASEAN nào trong thành phần của hàng hóa,

    Công thức tính 40% Hàm lượng ASEAN:

    Giá trị nguyên phụ liệu nhập từ nước không phải là thành viên ASEAN ++ Giá trị nguyên phụ liệu có xuất xứ không xác định

    × 100    ≤   60%

    Giá FOB

    Đối với mặt hàng giày dép bằng da, có đến 54% nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Trung Quốc (quốc gia không phải thành viên của ASEAN) như thuộc da, PVC để làm đế giày, vật liệu làm pho, phụ kiện (bằng kim loại, chất dẻo), keo dán và hóa chất. Ngoài ra cũng nhập khẩu hoá chất từ 1 số quốc gia khác không thuộc ASEAN chiếm đến 2% giá trị nguyên phụ liệu.

    Như vậy, sản phẩm giày dép bằng da đã đáp ứng đủ điều kiện về xuất xứ theo Hiệp định ATIGA.

    III.             QUY TRÌNH XIN CẤP C/O FORM D

    1.     Hướng dẫn chung:

    • Nhà xuất khẩu sản phẩm đủ tiêu chuẩn được hưởng ưu đãi viết đơn gửi Công ty Giám định xuất xứ hàng hóa, để được kiểm tra xuất xứ hàng hóa trước khi xuất khẩu. Kết quả của việc kiểm tra này có thể được xem xét lại định kỳ hoặc bất cứ khi nào thấy cần thiết, sẽ được chấp nhận là chứng cứ hỗ trợ để xác định xuất xứ hàng hóa được xuất khẩu cho sau này. Có thể không áp dụng kiểm tra đối với một số hàng hóa có xuất xứ dễ xác định.
    • Khi làm thủ tục để xuất khẩu hàng hóa được hưởng ưu đãi, nhà xuất khẩu phải nộp đơn xin cấp Giấy chứng xuất xứ cùng với các chứng từ cần thiết chứng minh hàng hóa xuất khẩu đủ tiêu chuẩn để được cấp mẫu D.
    • Cơ quan có thẩm quyền của Chính Phủ được giao cấp Giấy chứng nhận mẫu D sẽ kiểm tra cụ thể từng trưỡng hợp, nhằm đảm bảo rằng:
    • Đơn xin và Giấy chứng nhận mẫu D đã được khai đúng, đủ và được người có thẩm quyền ký ;
    • Xuất xứ của hàng hóa tuân thủ quy chế xuất xứ.
    • Các lời khai khác trong Giấy chứng nhận mẫu D phù hợp với các chứng từ kèm theo
    • Quy cách, số lượng và trọng lượng hàng hóa, mã hiệu và số lượng kiện hàng, số lượng và các loại kiện hàng được khai phù hợp với hàng hóa xuất khẩu.

    2.     Thành phần hồ sơ xin cấp C/O

    • Hồ sơ đăng ký thương nhân gồm:
    • Đăng ký mẫu chữ ký của người được ủy quyền ký Đơn đề nghị cấp C/O và con dấu của thương nhân;
    • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của thương nhân (bản sao có dấu sao y bản chính);
    • Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế (bản sao có dấu sao y bản chính);
    • Danh mục các cơ sở sản xuất (nếu có) của thương nhân.
    • Hồ sơ đề nghị cấp C/O:
    • Đơn đề nghị cấp C/O được kê khai hoàn chỉnh và hợp lệ như hướng dẫn;
    • Mẫu C/O form D đã được khai hoàn chỉnh;
    • Tờ khai hải quan đã hoàn thành thủ tục hải quan.
    • Hoá đơn thương mại (bản sao có chữ ký và đóng dấu xác nhận sao y bản chính của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của thương nhân, bản chính có thể được Tổ chức cấp C/O yêu cầu cung cấp để đối chiếu nếu thấy cần thiết).
    • Vận tải đơn hoặc chứng từ vận tải tương đương trong trường hợp thương nhân không có vận tải đơn.
    • Bảng tính toán chi tiết hàm lượng giá trị khu vực (đối với tiêu chí hàm lượng khu vực RVC %). Hoặc bảng kê khai chi tiết mã HS của nguyên liệu đầu vào và mã HS của sản phẩm đầu ra (đối với tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc tiêu chí công đoạn gia công chế biến cụ thể “CC”, “CTH”, “CTSH”). Hoặc bảng kê khai theo tiêu chí xuất xứ thuần tuý “WO”.
    • Hoá đơn mua nguyên phụ liệu / hàng hoá hoặc Tờ khai hải quan nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu dùng để sản xuất ra hàng hóa xuất khẩu (trong trường hợp có sử dụng nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu trong quá trình sản xuất).
    • Quy trình sản xuất ra hàng hóa.

    3.     Cấp Giấy chứng nhận C/O form D:

    • Giấy chứng nhận mẫu D phải theo đúng mẫu do Bộ thương mại phát hành và phải làm bằng tiếng Anh ;
    • Bộ Giấy chứng nhận C/O form D gồm 01 bản gốc và ba bản sao carbon (carbon copy) có mầu như sau:
    • Bản gốc (Original): Màu tím nhạt (light violet)
    • Bản sao thứ hai (Duplicate) Màu da cam (Orange)
    • Bản sao thứ ba (Triplicate) Màu da cam (Orange)
    • Bản sao thứ tư (Quadruplicate) Màu da cam (Orange)
    • Mỗi bộ Giấy chứng nhận có tham chiếu riêng của mỗi địa điểm hoặc cơ quan cấp.
    • Bản gốc và bản sao thứ ba được nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhập khẩu để nộp cho cơ quan hải quan tại cảng hoặc địa điểm nhập khẩu; bản sao thứ hai được cơ quan có thẩm quyền cấp giữ lại; bản sao thứ tư được nhà xuất khẩu giữ lại.
    • Sau khi nhập khẩu hàng hóa, bản sao thứ ba sẽ được đánh dấu thích hợp vào ô thứ tư và gửi lại cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng xuất xứ hàng hóa trong khoảng thời gian thích hợp.

    4.     Thời hạn cấp Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D

    (Thời hạn này được tính kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ)

    • 2 giờ làm việc đối với các trường hợp thông thường.
    • 4 giờ làm việc đối với các trường hợp cần thiết phải xác định lại xuất xứ của hàng hóa.

    IV.              HƯỚNG DẪN KÊ KHAI C/O FORM D

    Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D được khai bằng tiếng Anh và đánh máy (không ghi tay). Nội dung khai phải phù hợp với tờ khai hải quan đã được thanh khoản và các chứng từ khác như vận đơn, hóa đơn thương mại, giấy chứng nhận kiểm tra xuất xứ hàng hóa của Công ty kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa xuất nhập khẩu.

    1.     Số tham chiếu

    • Số tham chiếu là số ghi ở vị trí trên cùng phía bên phải.
    • Theo quy định của Việt Nam, số tham chiếu được ghi như sau:

    Số tham chiếu gồm 13 ký tự, chia làm 5 nhóm, với cách ghi cụ thể như sau:

    1. Nhóm 1: Tên nước thành viên xuất khẩu là Việt Nam, gồm 2 ký tự là “VN”
    2. Nhóm 2: Tên nước thành viên nhập khẩu là các nước thành viên thuộc khối ASEAN, ở đây là nước Indonesia, gồm 2 ký tự “ID”
    3. Nhóm 3: Năm cấp C/O, gồm 2 ký tự. ở đây, năm cấp là năm 2016, ghi là “16”
    4. Nhóm 4: Tên tổ chức cấp C/O, gồm 2 ký tự. Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh ghi là “02”
    5. Nhóm 5: Số thứ tự của mẫu C/O gồm 5 ký tự. Lô hàng giày dép này có C/O form D mang số thứ tự 9 ghi là “00009”
    • Giữa nhóm 1 và nhóm 2 có dấu “–”, giữa nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 có dấu “/”.

    Số tham chiếu của lô hàng này: VN-ID 16/02/000009                     

    2.     Cách ghi các ô thể hiện trên form D

    • Ô thứ 1: Tên giao dịch, địa chỉ nhà xuất khẩu Việt Nam
    • Ô thứ 2: Tên giao dịch, địa chỉ nhà nhập khẩu Indonesia
    • Ô thứ 3: Ngày khởi hành, tên phương tiện vận tải, cảng đi/ đến
    • Ô số 4: Để trống. Cơ quan Hải quan tại cảng hoặc địa điểm nhập khẩu sẽ đánh dấu ü vào ô thích hợp.
    • Ô số 5: Danh mục hàng hóa
    • Ô số 6 : Ký hiệu và số hiệu của kiện hàng
    • Ô số 7: Số kiện hàng, loại kiện hàng, mô tả hàng hoá (bao gồm số lượng và mã HS).
    • Ô số 8: Ghi hàm lượng ASEAN
    1. “WO” nếu là hàng có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam
    2. Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý
    • Hàm lượng giá trị khu vực: Tỷ lệ % của hàm lượng giá trị ASEAN.
    • Thay đổi mã số hàng hoá (CTC)
    • Công đoạn gia công chế biến cụ thể: “SP”
    1. Hàng hoá (cộng gộp từng phần): “PC x%” trong đó “x” là tỷ lệ % của hàm lượng giá trị ASEAN (20% < x < 40%)
    • Ô thứ 9: Ghi trọng lượng cả bì của hàng hoá và trị giá FOB của lô hàng
    • Ô thứ 10: Số và ngày của hóa đơn lô hàng
    • Ô thứ 11:
    • Dòng thứ nhất ghi “VIET NAM”
    • Dòng thứ hai ghi “INDONESIA”
    • Dòng thứ ba ghi Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm đề nghị cấp C/O form D, chữ ký của người đề nghị cấp C/O form D.
    • Ô thứ 12: Ô này Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh ghi ngày tháng năm cấp C/O form D, ký tên và đóng dấu.

     

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP C/O

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2011/TT-BCT ngày 21 tháng 5năm 2011 của Bộ Công Thương quy định thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ưu đãi)

     
       

     

    1. Mã số thuế của doanh nghiệp ………………………… Số C/O: ………………………….
    2. Kính gửi: (Tổ chức cấp C/O)…………………..

     

    ……………………………………………………..

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP C/O Mẫu …..

     

    Đã đăng ký Hồ sơ thương nhân tại …………………………………………

    ……………………………………………vào ngày…………………………………

    3. Hình thức cấp (đánh (√) vào ô thích hợp)

     

     Cấp C/O

     Cấp lại C/O (do mất cắp, thất lạc hoặc hư hỏng)

     C/O giáp lưng

     

     C/O có hoá đơn do nước thứ ba phát hành

    4. Bộ hồ sơ đề nghị cấp C/O:

     

    – Mẫu C/O đã khai hoàn chỉnh

    – Tờ khai hải quan

    – Hóa đơn thương mại

    – Vận tải đơn/chứng từ tương đương

    – Tờ khai hải quan nhập khẩu nguyên liệu

    – Giấy phép xuất khẩu

     

    – Hóa đơn mua bán nguyên liệu trong nước

     

    – Hợp đồng mua bán

    – Bảng tính toán hàm lượng giá trị khu vực

    – Bản mô tả quy trình sản xuất ra sản phẩm

    – Các chứng từ khác………………………….. …………………………………………………

     

    5. Người xuất khẩu (tên tiếng Việt):…………………………..

     

    – Tên tiếng Anh: ………………………………………………

    – Địa chỉ: ………………………………………………………

    – Điện thoại: …………, Fax: …………Email:……………..……

    6. Người sản xuất (tên tiếng Việt):………………………….

     

    – Tên tiếng Anh: ……………………………………………

    – Địa chỉ: ……………………………………………………

    – Điện thoại: …………, Fax: …………Email:……………..…

    7. Người nhập khẩu/ Người mua (tên tiếng Việt): ……………………………………………………………………………………………..

     

    – Tên tiếng Anh: …………………………………………………………………………………………………………

    – Địa chỉ: …………………………………………………………………………………………………………………

    – Điện thoại: ………………………, Fax: …………………………Email:…………………………………………………..……

    8. Mã HS (8 số) 9. Mô tả hàng hóa (tiếng Việt và tiếng Anh) 10. Tiêu chí xuất xứ và các yếu tố khác 11. Số lượng 12. Trị giá FOB (USD)*
            (Ghi như hướng dẫn tại mặt sau của C/O)    
    13. Số Invoice:…….

     

    …………………….

    Ngày: ……/…../…..

    14. Nước nhập khẩu:

     

    …………………………..

    15. Số vận đơn:……………….

     

    ………………………………..

    Ngày: ……./……../…………..

    16. Số và ngày Tờ khai Hải quan xuất khẩu và những khai báo khác (nếu có):

     

    …………………………………

    …………………………………

    17. Ghi chú của Tổ chức cấp C/O:

     

    – Người kiểm tra: …………………………………………………

    – Người ký: ……………………………………………………….

    – Người trả: ……………………………………………………….

    – Đề nghị đóng:

    18. Doanh nghiệp chúng tôi xin cam đoan lô hàng nói trên được khai báo chính xác, đúng sự thực và phù hợp với các quy định về xuất xứ hàng hóa hiện hành. Chúng tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời khai trước pháp luật.

     

    Làm tại………………ngày……..tháng……năm……….

    (Ký tên, ghi rõ chức vụ và đóng dấu)

    §  Đóng dấu (đồng ý cấp)

     

    §  Đóng dấu “Issued retroactively”

    §  Đóng dấu “Certified true copy”

     

                           

    *Trong trường hợp trị giá ghi trên hợp đồng xuất khẩu không tính bằng USD, doanh nghiệp phải quy đổi trị giá đó sang USD khi khai trên Đơn này Việc khai trên Đơn này không ảnh hưởng đến việc ghi trị giá của hợp đồng trên C/O.

     

    ĐĂNG KÝ MẪU CHỨ KÝ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ỦY QUYỀN KÝ

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP C/O VÀ MẪU CON DẤU CỦA THƯƠNG NHÂN

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2011/TT-BCT ngày 21 tháng 5năm 2011 của Bộ Công Thương quy định thủ tục cấp Giấy chứng nhận
    xuất xứ hàng hoá ưu đãi)

     
       

     

     

    ………, ngày…….tháng……..năm……….

    Kính gửi: ……………………………………………………… (tên của Tổ chức cấp C/O)

    Công ty: ……………………………………………………….. (tên doanh nghiệp)

    Địa chỉ: ………………………………………………………… (địa chỉ của doanh nghiệp)

    1. Đề nghị được đăng ký các cá nhân của doanh nghiệp có tên, mẫu chữ ký và dấu dưới đây:
    TT Họ và tên Chức vụ Mẫu chữ ký Mẫu dấu
             
           
           
           

    Có thẩm quyền hoặc được ủy quyền ký trên Đơn đề nghị cấp Mẫu C/O.

    1. Đăng ký các cá nhân có tên dưới đây:
    TT Họ và tên Chức danh Phòng (Công ty) Số Chứng minh thư
             
             
             
             

    được ủy quyền tới liên hệ cấp C/O tại … (tên của Tổ chức cấp C/O).

    Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về việc đăng ký, ủy quyền này.

    CÔNG TY ………………………

    (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp)

    (Ký tên, đóng dấu)

     

    DANH MỤC CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT CỦA THƯƠNG NHÂN

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2011/TT-BCT ngày 21 tháng 5năm 2011 của Bộ Công Thương quy định thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ưu đãi)

     
       

     

    ……., ngày…….tháng……..năm……….

    Kính gửi: …………………………………………………….. (tên của Tổ chức cấp C/O)

    Công ty: ……………………………………………………………………….. (tên doanh nghiệp)

    Địa chỉ: ………………………………………………………………………… (địa chỉ của doanh nghiệp)

     

    Đề nghị được đăng ký các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu của doanh nghiệp chúng tôi như sau:

    TT Tên, địa chỉ, điện thoại, fax của cơ sở Phụ trách cơ sở Diện tích nhà xưởng Mặt hàng sản xuất để xuất khẩu

     

    (ghi riêng từng dòng cho mỗi mặt hàng)

    Tên hàng Số lượng công nhân Số lượng máy móc Công suất

     

    theo tháng

                   
                   
                   
                   

    Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về việc đăng ký này.

     

    CÔNG TY  ………………………

    (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp)

    (Ký tên, đóng dấu)

     

     

     GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ THUẾ

     

     

    MẪU C/O FORM D


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN

    Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN

    Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN   

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/T%C3%ACnh-H%C3%ACnh-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-Lao-%C4%90%E1%BB%99ng-Th%E1%BB%8B-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n-V%C3%A0-Khu-V%E1%BB%B1c-ASEAN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN 

    TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

    VÀ KHU VỰC ASEAN

     

    Tình hình chung thị trường XKLĐ 2017

    Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, năm 2017, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt hơn 130 nghìn người, vượt trên 28% so với kế hoạch đề ra và đạt con số kỷ lục từ trước đến nay trong lĩnh vực này. Đây là năm thứ 4 liên tiếp xuất khẩu lao động đạt trên 100.000 người và đạt kỷ lục mới.

    Cục Quản lý lao động ngoài nước đã đưa ra mục tiêu đưa 110.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018).

    Thị trường Asean – cơ hội hay thách thức?

    Trong những năm gần đây, xuất khẩu lao động trở thành lựa chọn sáng giá cho những lao động trẻ. Tuy nhiên, thị trường ASEAN nói chung lại không là điểm đến của đa phần các đối tượng này – mà thị trường này thường là điểm xuất khẩu lao động. Thống kê trong khu vực Đông Nam Á, tổng số di chuyển lao động là khoảng 16 triệu người (2016). Trong đó, có 03 thị trường (Malaysia, Thái Lan, Singapore) chiếm 90% số lượng lao động nhập khẩu. Các thị trường này lại chú trọng vào tầng lớp lao động có kỹ năng cao, đặc biệt là các chuyên ngành như cơ khí, y tá, kiến trúc, kiểm định, y nha khoa, kế toán và du lịch. Điều này khiến nhân lực xuất khẩu trong khu vực không đáng ứng được yêu cầu, bởi số lượng lớn người lao động có nhu cầu làm việc cho nước ngoài tại khối ASEAN có trình độ thấp.

    Việt Nam đã tham gia các hiệp định đa phương như các FTA giữa khối ASEAN với các đối tác như Trung Quốc vào năm 2004, với Hàn Quốc vào năm 2006, Nhật Bản vào năm 2008, Oxtraylia và New Zealand vào năm 2009, Ấn Độ năm 2009, FTA với Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc năm 2015. Nhìn chung, các Hiệp định này chủ yếu tập trung và các cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, từ đó dẫn tới tác động sau sắc đến nhu cầu tuyển dụng lao động, cơ cấu và điều kiện việc làm.

    Ngày 22/11/2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã kí kết Tuyên bố Kuala Lumpur thành lập AEC (ASEAN Economic Community – Cộng đồng kinh tế ASEAN), tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27.  AEC là cơ chế hợp tác có quy mô dân số trên 600 triệu người và GDP khoảng 2.500 tỷ USD.  Việc này đã hứa hẹn tạo nên một thị trường đơn nhất và mang tính tự do cao hơn, trong số đó có bao gồm việc tự do lưu chuyển lao động có tay nghề – ban đầu là đối với 8 ngành nghề (kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, kỹ sư, bác sĩ, y tá và cán bộ hộ sinh, trắc địa viên và các nghề liên quan đến du lịch). Tuy nhiên, thị trường ASEAN lại chưa đủ hấp dẫn đối với các lao động trình độ cao đang bị thu hút bởi mức lương tại các quốc gia phương Tây. Riêng với thị trường lao động Việt Nam, cũng chưa có sự dịch chuyển lao động nào quá đáng kể trong khối này – đặc biệt là lao động có trình độ cao. Cụ thể, để có thể tự do di chuyển trong nội khối AEC, lao động phải chứng minh được trình độ kĩ thuật, khả năng ngôn ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng của nước sở tại) và một vài kĩ năng mềm khác (hiểu biết về văn hóa của nước sở tại, làm việc theo nhóm). Lao động nước ta trong thời gian gần đây đang dần nâng cao tay nghề, nhưng khả năng giao tiếp và các kĩ năng mềm vẫn còn hạn chế. Để khắc phục khuyết điểm này, cần có sự  phối hợp của nền giáo dục nghề nghiệp tại nước ta – tạo ra một nguồn lao động có chất lượng đủ để đáp ứng nhu cầu. Để nắm bắt được cơ hội việc làm trong AEC tốt hơn, cần nhanh chóng thống nhất về chứng chỉ bằng cấp – giúp lao động được đào tạo tại Việt Nam có trình độ tương đươg với lao động các nước trong cộng đồng ASEAN.  Đồng thời, cần gắn kết giưa đào tạo với thị trường lao động, đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phương diện giáo dục nghề nghiệp. Trên nền tảng này, người lao động sẽ không chỉ được trang bị kĩ về kiến thức chuyên môn, trình độ tay nghề mà còn có thể phát triển hiểu biết về văn hóa – xã hội và những lĩnh vực quan trọng tại các nước tiếp nhận, nâng cao khả năng hòa nhập khi sang môi trường làm việc của các nước khác.

    Theo ILO đến năm 2025, khi tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Việt Nam sẽ tăng thêm 6 triệu việc làm so với kịch bản cơ sở, chiếm 10% tổng việc làm tăng thêm của khối (60 triệu), chủ yếu ở các ngành sản xuất lúa gạo, xây dựng, vận tải, dệt may và chế biến lương thực. Với lực lượng lao động trẻ và dồi dào được coi là mặt lợi thế của lao động nước ta trong quá trình hộp nhập với thị trường lao động khu vực và quốc tế.

    Tỉ lệ lao động trình độ cao di cư của một số nước ASEAN khá cao. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là khoảng 10%. Trong đó, tỉ lệ lao động lành nghề đi xuất khẩu khá cao so với tỉ lệ lao động có trình độ cao. Điều này vẫn bị cho là gây tốn kém khi nước xuất xứ phải lo trả chi phí đào tạo nhưng các lao động trình độ cao lại được sử dụng ở ngoài nước.

    Theo báo cáo Báo cáo Di cư tìm cơ hội (do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố vào 10/2017), Việt Nam là một trường hợp đặc biệt ở ASEAN vì lượng người xuất khẩu lao động lớn nhưng tỉ lệ người tới các nước ASEAN không nhiều, thậm chí chí lao động người Việt đến các nước ASEAN làm việc ngày càng ít. Nhiều người Việt Nam muốn sang châu Âu, tới các quốc gia phát triển khác để lao động.

    Trong thời gian tới, thị trường lao động thế giới có thể tiếp tục tăng trưởng với nhu cầu lao động lớn, do các nền kinh tế trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á đang hồi phục – giúp các nước Đông Nam Á tăng cơ hội xuất khẩu lao động. Cạnh tranh với Việt Nam trong thị trường này là Philippines, quốc gia được cho là cung cấp lực lượng LĐXK chủ yếu cho các nước Trung Đông. Điều này có thể giúp lao động Việt Nam giảm cạnh tranh hơn trong một số lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, y tế, tin học. Ngoài ra, trong thời gian tới, thị trường XKLĐ sang Trung Đông tiếp tục được mở rộng và tạo cơ hội tốt cho nhiều lao động khu vực nông thôn có việc làm đòi hỏi vốn ít, trình độ thấp.

    Cũng theo ông Mauro Testaverde – chuyên gia kinh tế, Trưởng Ban An sinh xã hội và việc làm toàn cầu WB: “Là một nước xuất khẩu lao động, Việt Nam cần đánh giá các chính sách hiện hành về khuyến khích xuất khẩu lao động nhằm xác định có đáp ứng được các nhu cầu của đất nước hay chưa. Những chính sách này là đáng hoan nghênh nhưng cũng cần có những cải cách khác nữa, như xem xét lại việc các công ty xuất khẩu lao động thường xuyên hay chí ít cũng ngầm yêu cầu người lao động phải đóng tiền ký quỹ để bảo đảm sẽ trở về nước, sau đó lại thường không trả lại số tiền này.

    Hiện nay, đa số các nước trong khu vực Đông Nam Á đã xây dựng được khuôn khổ pháp lý tương đối hoàn thiện đối với hoạt động xuất, nhập khẩu lao động và có chính sách, chiến lược quan trọng về thu hút và phát triển nguồn nhân lực. Tại nước ta, các thị trường thu hút nhân lực chất lượng trung bình, lao động giản đơn có dấu hiệu chững lại. Về mặt pháp lý, hiện nay Việt Nam có Bộ luật Lao động, Luật Dân sự, Luật Hình sự có nhiều điều khoản liên quan vấn đề XKLĐ.

    Lao động Nhật Bản  –  “mỏ vàng” thị trường xuất khẩu lao động

    Số lượng người lao động xuất khẩu chính quy sang Nhật Bản ngày càng tăng. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2017, thị trường XKLĐ sang quốc gia này đã đón nhận tới 23.209 lao động từ Việt Nam, tăng tới 7547 lượt so với cùng kì năm 2016.

    Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB-XH), năm 2017, cả nước đưa đi được 134.700 lao động, vượt hơn 28% so với kế hoạch năm. Đây là năm thứ tư liên tiếp, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 người/năm. Trong đó, thị trường Nhật Bản có sự tăng trưởng vượt bậc với 54.504 lao động (trong đó, có 24.502 lao động nữ).

    Nếu trước đây quốc gia này chỉ tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam chủ yếu trong các ngành cơ khí, điện tử, dệt may,  thì tính từ 2016, đã mở rộng ở hầu hết các ngành, nghề, từ xây dựng, cơ khí, nông nghiệp, chế biến thực phẩm đến dệt may, hộ lý, trong đó nhu cầu về các ngành xây dựng, nông nghiệp, chế biến thực phẩm tăng mạnh.

    Năm 2017, một số bản thỏa thuận quan trọng đã được ký kết giữa Bộ LĐ-TB-XH và các cơ quan Nhật Bản: Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) về chương trình thực tập kỹ năng với Bộ trưởng các bộ Tư pháp, Ngoại giao, Y tế – Lao động – Phúc lợi xã hội Nhật Bản; Bản ghi nhớ hợp tác chương trình đưa thực tập sinh đi Nhật Bản với Cơ quan Quản lý thực tập kỹ năng (OTIT) Nhật Bản và Ngân hàng Gunma.. Theo thứ trưởng Doãn Mậu Diệp, năm 2017, riêng thị trường Nhật Bản có nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam ngày càng tăng cao, đa dạng về ngành nghề. Một số công việc như chế biến thức ăn thay thế, bảo dưỡng nhà cao tầng, sửa chữa ô-tô) có nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam rất cao. Bên cạnh đó, từ tháng 11/2017, Bộ lao động Nhật Bản cho phép người lao động Việt Nam có thể ra hạn hợp đồng lên đến 5 năm với tất cả các ngành nghề thay vì chỉ có ngành xây dựng như thời gian vừa qua.

    Tuy nhiên, khi xứ sở hoa anh đào  trở thành “mỏ vàng” XKLĐ thì cũng kéo theo con số các lao động “chui” và lao động bỏ trốn khá cao – luôn nằm trong top 3 thống kê. Chính vì thế, trong năm 2018, nước ta cần phải tìm biện pháp để con số này không chạm tới mức 5% nếu không Nhật Bản sẽ ngừng tiếp nhận. Để có thể thực hiện mục tiêu trên, Bộ LĐTB&XH (Bộ Lao động thương binh & Xã hội) cho biết, năm nay riêng thị trường Nhật Bản sẽ dứt điểm ngừng các công ty phái cử thu phí xuất cảnh cao hơn quy định, tuyệt đối bỏ tất cả các khoản đặt cọc chống trốn – nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính, cũng như giảm thiểu phát sinh các trường hợp bỏ trốn ra ngoài, tự ý nhận việc làm thêm. Ngoài ra, theo dự kiến của Bộ, từ năm 2018 trở đi, thị trường XKLĐ nước này sẽ dẫn đầu, sau đó mới đến Đài Loan. Ngoài ra, riêng thị trường Nhật Bản sẽ dứt điểm ngừng các công ty phái cử thu phí xuất cảnh cao hơn quy định.

    Năm 2018 cũng là năm Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội triển khai Bản ghi nhớ hợp tác về Chương trình thực tập sinh kỹ năng đã ký kết năm 2017 với Nhật bản; Hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng theo Luật “bảo hộ thực tập sinh và triển khai chương trình thực tập sinh kỹ năng người nước ngoài đúng quy định” của Nhật Bản và các quy định của Việt Nam

    Nhiều doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã và đang từng bước chủ động tìm kiếm và phát triển thị trường, kèm theo đó đầu tư bài bản trong công tác tạo nguồn và đào tạo lao động về tay nghề và ngoại ngữ trước khi xuất cảnh, cũng như tác phong, kỷ luật lao động và ý thức chấp hành kỷ luật khi làm việc ở nước ngoài, điển hình là công tác đưa lao động sang thực tập kỹ năng, hộ lý và điều dưỡng tại Nhật Bản.

    Đây là những tín hiệu đáng mừng cho người lao động nước ta. Bởi với thị trường Nhật Bản cũng được coi là thị trường “vàng” về khía cạnh tài chính đối với người lao động, khi làm việc tại môi trường này giúp có được mức thu nhập cao hơn so với các thị trường khác. Mức lương cơ bản đối với người lao động bình thường dao động từ 25 – 30 triệu đồng/ tháng, đối với các kĩ thuật viên – kĩ sư sẽ có thu nhập trên 45 triệu/tháng.

    Kết

    Tình hình xuất khẩu lao động 2018 sang các nước phát triển hơn Việt Nam vẫn là một hướng đi tích cực cho những lao động dư thừa ở nước ta. Trong Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018, thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đề nghị Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước phối hợp với Vụ Pháp chế trong việc sửa đổi Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Cục Quản lý lao động ngoài nước cần đẩy mạnh quản lý DN, chấn chỉnh hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đáp ứng 3 tiêu chí (đúng người, minh bạch và có kế hoạch khi lao động quay trở về nước).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

          Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-M%C3%B4n-H%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-T%C3%ADch-Ho%E1%BA%A1t-%C4%90%E1%BB%99ng-Kinh-T%E1%BA%BF-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:   Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nước ta đang bước lên thềm của sự đổi mới về kinh tế; đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới. Điều đó cũng có thể là điều thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng là thách thức lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trải qua. Để có một chiến lược sản xuất phù hợp với khả năng của từng doanh nghiệp, vừa phát huy được nội lực vừa tranh thủ được thời cơ do thị trường mang lại thì bất kỳ một nhà sản xuất kinh doanh nào cũng cần có những thông tinh cần thiết về tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của công ty mình. Việc phân tích hoạt động kinh tế là một trong những công việc cần làm đối với các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy môn học phân tích hoạt động kinh tế sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản đầu tiên giúp cho thế hệ sinh viên chúng em có một tư duy mới để có thể thích nghi với điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.

    Nội dung của bài thiết kế môn học “Phân tích hoạt động kinh tế” về đề tài “Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo mặt hàng và tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành theo khoản mục của công ty vận tải biển”

     

    PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

    Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là quá trình phân chia, phân giải các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thnàh rồi sử dụng các phương pháp liên hệ, so sánh đối chiếu và tổng hợp lại để rút ra tính quy luật, xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu.

    Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với mọi hoạt động sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp

    I. Mục đích, ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

      1. Mục đích:

    – Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

    – Xác định các nhân tố ảnh hưởng và tính toán ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.

    – Phân tích chi tiết các trọng tâm trọng điểm để xác định tiềm năng của doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức quản lý, điều hành, sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất, các điều kiện sản xuất.

    – Đề xuất các biện pháp về kỹ thuật tổ chức để khai thác tốt nhất những tiềm năng của doanh nghiệp để áp dụng trong thời gian tới nhằm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả, đảm bảo các lợi ích của doanh nghiệp, của nhà nước, của người lao động.

    – Làm cơ sở cho những kế hoạch, chiến lược về phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho các kỳ kế tiếp.

    Như vậy, mục đích của hoạt động phân tích hoạt động kinh tế là nhằm xác định tiềm năng doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tốt những tiềm năng ấy.

       2. Ý nghĩa:

    – Là nhà quản lý doanh nghiệp bao giờ bạn cũng muốn doanh nghiệp của mình hoạt động một cách thường xuyên liên tục, hiệu quả và không ngừng phát triển, muốn vậy bạn phải thường xuyên đưa ra những quyết định về chiến lược phát triển, quản lý, đều hành với chất lượng cao. Để có thể đưa ra những quyết định có chất lượng cao ấy thì những người quản lý doanh nghiệp cần phải có nhận thức đúng đắn sâu sắc về những vấn đề quản lý kỹ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Người ta thấy rằng bộ ba biện chứng trong các hoạt động nói chung, hoạt động kinh tế nói riêng là nhận thức, quyết định, hành động thì nhận thức đóng vai trò quyết định.

    Vậy có thể phát biểu về ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế như sau:

    “ Phân tích hoạt động kinh tế với một vị trí là công cụ quan trọng của nhận thức, nó trở thành một công cụ quan trọng của quản lý khoa học có hiệu quả các hoạt động kinh tế. Nó thể hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước.”

    II. Các phương pháp phân tích:

       1. Nhóm phương pháp phản ánh biến động của chỉ tiêu và các thành phần bộ phận:

         1.1  Phương pháp so sánh tuyệt đối:

    Phương pháp này được thực hiện bằng cách lấy mức độ của chỉ tiêu (nhân tố) ở kỳ nghiên cứu trừ đi mức độ của chỉ tiêu (nhân tố) tương ứng ở kỳ gốc, kết quả so sánh được gọi là chênh lệch tuyệt đối, trong phân tích gọi tắt là chênh lệch.

    Mô hình:

    DA = A1 – A0

    DA : Chênh lệch của chỉ tiêu (nhân tố) A.

    A1, A0 : Trị số của chỉ tiêu (nhân tố) A ở kì nghiên cứu và kì gốc

    Ý nghĩa: là chỉ tiêu phản ánh xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu, của nhân tố. Mức biến động tuyệt đối phản ánh trung thực, mộc mạc sự thật khách quan về biến động của chỉ tiêu, nhân tố.

         1.2. Phương pháp so sánh tương đối :

    So sánh bằng số tương đối: phản ánh kết cấu, mối quan hệ tổng thể, tốc độ phát triển, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến của chỉ tiêu kinh tế. Trong phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

    – Số tương đối kế hoạch: Dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu nào đó.

    • Dạng đơn giản:

    ,  là mức độ của hiện tượng nghiên cứu kỳ thực hiện và kỳ kế hoạch.

    • Dạng liên hệ:
    • Dạng kết hợp

    Mức biến động tương đối = y­1 – yKH x hệ số tính chuyển

    – Số tương đối động thái: Dùng để xác định tốc độ phát triển, xu hướng biến đổi của hiện tượng qua thời gian.

    – Số tương đối kết cấu: Dùng để xác định tỷ trọng của bộ phận chiếm trong tổng thể.

    1. Nhóm các phương pháp phản ánh hay tính toán mức độ ảnh hưởng của các thành phần bộ phận nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

      2.1. Phương pháp thay thế liên hoàn:

              Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp các nhân tố có mối quan hệ tích, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế.

    • Trình tự và nội dung :

    – Phải xác định số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu nghiên cứu từ đó xác định công thức  biểu thị mối liên hệ giữa các nhân tố với chỉ tiêu phân tích .

    – Cần sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định, nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau . Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng, chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau hoặc theo mối quan hệ nhân quả không được đảo lộn trật tự này.

    – Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên. Nhân tố nào được thay thế rồi thì lấy giá trị thực tế từ đó. Nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch. Thay thế xong một nhân tố phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó. Sau đó lấy kết quả này so với kết quả của bước trước. Chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố được thay thế.

    – Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần. Cuối cùng ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố so với chênh lệch của chỉ tiêu nghiên cứu.

    – Ưu điểm của phương pháp này: tính toán nhanh.

    – Nhược điểm của phương pháp này: sắp xếp chỉ tiêu khi xét ảnh hưởng của của nhân tố vào thì chỉ có nhân tố đó thay đổi.

    • Khái quát :

    Chỉ tiêu tổng thể: y

    Chỉ tiêu riêng biệt: a,b,c

    + Phương trình kinh tế: y = abc

    Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc : yo = a0b0c0

    Giá trị chỉ tiêu kỳ n/c  : y1 = a1b1c1

    + Xác định đối tượng phân tích : Dy = y1– y0 = a1b1c1– a0b0c0

    + Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

    * Ảnh hưởng của nhân tố a đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dya = a1b0c0– a0b0c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dya =

    * Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dyb = a1b1c0– a1b0c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dyb =

    * Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dyc = a1b1c1– a1b1c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dyc =

    Tổng ảnh hưởng của các nhân tố :

    Dya+ Dyb+ Dyc =  Dy

    dya+ dyb+ dyc    =  dy =

    Lập bảng phân tích loại 1: Quan hệ tích số

    TT Chỉ tiêu Ký hiệu Đơn vị Kỳ gốc Kỳ ng/c So sánh (%) Chênh lệch MĐAH®Sy
    Tuyệt đối Tương đối (%)
    1 Nhân tố thứ 1 A   a0 a1 da Da Dya dya
    2 Nhân tố thứ 2 B   b0 b1 db Db Dyb dya
    3 Nhân tố thứ 3 C   c0 c1 dc Dc Dyc dya
    Tổng thể Y   y0 y1 dy Dy
     
    2.2. Phương pháp số chênh lệch

    Điều kiện vận dụng: dùng để xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tích số, thương số hoặc tích số với thương số kết hợp với tổng số, hiệu số. Khi xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích thi dùng ngay số chênh lệch giữa giá trị kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc của nhân tố đó và nhân với các nhân tố còn lại.

    Giả sử chỉ tiêu nghiên cứu là y, được cấu thành bởi 3 nhân tố A, B, C

    y = A.B.C

    Giá trị chỉ tiêu ở kỳ gốc             :   y0  = A0.B0.C0

    Giá trị chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu       :   y1  = A1.B1.C1

    Xác định đối tượng phân tích  :   Dy = y1 – y0

    Xác định ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích

    ya      =       A1.B0.C0

    yb          =       A1.B1.C0

    yc           =       A1.B1.C1

    Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích:

    Dya   = (A1 A0).B0.C0

    Dyb   = A1.(B1 – B0).C0

    Dyc   = A1.B1.(C1 – C0)

    Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích:

    (%)

    (%)

    (%)

              Tổng ảnh hưởng của các nhân tố
     (%)
    3.3. Phương pháp cân đối

    – Điều kiện vận dụng: dùng để tính mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của các thành phần, bộ phận đến các chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tổng số.

    – Phương trình kinh tế                   y =  a + b – c

    Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc                  y0   = a0        + b0 – c0

    Giá trị chỉ tiêu kỳ nghiên cứu     y1   = a1        + b1 – c1

    – Xác định đối tượng phân tích     Dy = y1 – y0

    – Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích:

    Dya   = a1   a0

    Dyb   = b1 – b0

    Dyc   = c0 – c1

    Ảnh hưởng tương đối của các nhân tố chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích:

    (%)

    (%)

    (%)

                        

     

     

     

     

     

     

     

     

                            Lập bảng phân tích loại 2: Quan hệ tổng số

    TT Chỉ

     

    Tiêu

    Kỳ gốc Kỳ N/C So sánh

     

    (%)

    Chênh lệch MĐAH ®

     

    Sy (%)

    Quy mô Tỷ trọng(%) Quy mô Tỷ trọng

     

    (%)

    1

    Nhân tố 1

    a0 da0 a1 da1     Dya
    2 Nhân tố 2 b0 db0 b1 db1     Dyb
    3 Nhân tố 3 c0 dc0 c1 dc1     Dyc
    Chỉ tiêu phân tích y yo 100 y1 100    

                                  PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH

    CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU SẢN              LƯỢNG THEO MẶT HÀNG

    1. Mục đích, ý nghĩa.
    2. Mục đích

    Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp vận tải nhằm các mục đích sau:

    + Đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu sản lượng, thể hiện bằng mức độ thực hiện kế hoạch sản lượng hoặc mức tăng trưởng về chỉ tiêu sản lượng thực hiện.

    + Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các mặt và ở mỗi mặt cần chỉ ra những ưu, khuyết điểm, những nguyên nhân chủ quan, khách quan chủ yếu đã tác động đến tình hình thực hiện này.

    + Nghiên cứu năng lực của doanh nghiệp, xác định mức độ lợi dụng khả năng, phát hiện những tiềm năng chưa được khai thác.

    + Đề xuất những biện pháp về tổ chức, kỹ thuật để khai thác những tiềm năng của doanh nghiệp, tăng sản lượng, nâng cao chất lượng phục vụ, thay đổi cơ cấu sản xuất ….Từ đó xác định con đường  phát triển của doanh nghiệp trong tương lai về cả quy mô và cơ cấu sản xuất.

    1. Ý nghĩa

    Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng rất cần thiết và quan trọng. Kết quả phân tích chỉ tiêu sản lượng là cơ sở để phân tích các chỉ tiêu khác. Nếu việc phân tích đạt yêu cầu: đầy đủ, khách quan, triệt để và thực hiện được các mục đích trên sẽ tạo điều kiện xác định được nguyên nhân gây ra tình hình thực hiện chỉ tiêu kết quả cuối cùng của sản xuất- kinh doanh. Tạo điều kiện để người quản ký doanh nghiệp thấy được tình hình thực tế cũng như những tiềm năng của doanh nghiệp. Từ đó có những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp.

    Nếu không phân tích hoặc phân tích không đạt yêu cầu thì không thấy được tình trạng thực tế của doanh nghiệp, nên không thể có những quyết định có căn cứ khoa học, như vậy khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao, trong tương lai của doanh nghiệp.

    1. Phân tích: Lập biểu và phân tích chi tiết các nhân tố
    2. Lập PTKT, xác định đối tượng phân tích, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, lập bảng phân tích.

    – Phương trình kinh tế như sau :

    åQ  =  Q1 + Q2 + Q3+…+ Qn  = åQi    (T)

    åQl =  Q1l1+ Q2l2 + Q3l3+…+ Qnln = å (Ql)i    (T.km)

    Trong đó

    Qi  : Khối lượng hàng hoá vận chuyển của mặt hàng i  (T).

    (Ql)i : Khối lượng hàng hóa luân chuyển mặt hàng i (TKm).

    li : Cự ly vận chuyển của mặt hàng thứ i (Km).

    n : Số lượng mặt hàng vận chuyển.

    – Đối tượng phân tích   DåQl = åQ1l1 – åQ0l0

    1. Đánh giá chung

    Nhìn vào bảng phân tích ta thấy tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của kỳ gốc là 1.136.052.864 T.km, kỳ nghiên cứu là 1.537.120 T.km. Như vậy lượng hàng luân chuyển tăng 1.537.120 TKm đạt 100,14% so với kỳ gốc. Sự biến động của tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là do sự biến động của khối lượng luân chuyển của các mặt hàng. Qua bảng ta thấy khối lượng luân chuyển của hầu hết các mặt hàng đều tăng chỉ duy nhất có mặt hàng khác giảm mạnh trong đó hàng lương thực là tăng nhiều nhất và cũng làm cho åQl tăng nhiều nhất. Sự biến động này là do tác động của 2 của hai nhân tố: tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân.

    Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong kỳ giảm xuống 19.234 T, tương ứng giảm 2,97 % so với kỳ gốc. Mặt hàng phân bón và  mặt hàng khác đều có biến động tăng, trong đó mặt hàng khác là tăng nhiều nhất  ( tăng 12,95% ). Các mặt hàng có biến động giảm là lương thực và xi măng, trong đó mặt hàng xi măng là giảm nhiều nhất ( giảm 18,85% ).

    Tổng cự ly vận chuyển bình quân của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng 56 km, hay tăng 3,2% so với kỳ gốc. Cự ly vận chuyển  của hầu hết các mặt hàng như lương thực, phân bón, xi măng đều tăng trong đó tăng mạnh nhất là mặt hàng xi măng ( tăng 26,24% so với kỳ gốc ). Chỉ có duy nhất mặt hàng khác là có cự ly vận chuyển bình quân giảm ( giảm 37,11% so với kỳ gốc )

    Để thấy rõ sự biến động của từng mặt hàng và ảnh hưởng của chúng đến tổng sản lượng, chúng ta đi vào phân tích chi tiết từng mặt hàng.

    3. Phân tích chi tiết

    3.1 Hàng lương thực

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển hàng lương thực ở kỳ gốc là 343.655.991 TKm chiếm tỷ trọng 30,25%, kỳ nghiên cứu là 389.738.329 T.km chiếm tỷ trọng 34,26%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng lương thực tăng lên là 46.082.338 TKm tương ứng tăng 13,41% so với kỳ gốc. Sự biến động này đã làm tổng sản lượng luân chuyển của doanh nghiệp tăng lên là 46.082.338 TKm tương ứng tăng 4,06% so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng lương thực tăng là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này:

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng vận chuyển của mặt hàng lương thực ở kỳ gốc là 203.154 T chiếm tỷ trọng 31,33%, kỳ nghiên cứu là 191.654 T chiếm tỷ trọng 30,46%. Như vậy lượng hàng lương thực  giảm 11.500 T hay giảm 5,66 % so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này ảnh hưởng đến khối lượng hàng lương thực luân chuyển làm nó giảm tuyệt đối là 19.458.000 TKm tương ứng giảm 1,71% so với kỳ gốc.

    Khối lượng vận chuyển của mặt hàng lương thực giảm do các nguyên nhân sau:

    • Doanh nghiệp chủ động nhận vận chuyển lương thực trên các tuyến xa
    • Tình hình thời tiết, sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.
    • Nhu cầu vận chuyển hàng lương thực đối với doanh nghiệp giảm
    • Hiềm khích chính trị giữa nước ta với các nước là bạn hàng nhập khẩu lương thực lớn.

    Trong các nguyên nhân trên, giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ 2

    Nguyên nhân thứ 1: Trong kỳ nghiên cứu, do doanh nghiệp đã nhận được một số đơn đặt hàng trên những tuyến xa nên các tàu phải vận chuyển trên các tuyến đó làm cho thời gian chuyến đi tăng lên và làm cho số chuyến vận chuyển bị giảm xuống. Do vậy làm cho khối lượng hàng vận chuyển giảm. Tuy là vận chuyển trên tuyến xa nên cước vận chuyển tăng lên những tốc độ tăng không bằng tốc độ giảm của khối lượng hàng hoá vận chuyển nên lợi nhuận sẽ giảm. Dù vậy doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận vì nếu không thì tàu sẽ không có hàng vận chuyển, lao động thất nghiệp và doanh nghiệp sẽ phải chịu lỗ nhiều hơn. Như vậy đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Trong kỳ nghiên cứu trong nước thường xuyên có mưa to gió lớn, hơn nữa lại do có dịch sâu bệnh, chuột phá hoại mùa màng làm bà con nông dân bị mất mùa đặc biệt ở hai vựa lúa lớn nhất của nước ta là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Điều này làm lượng lương thực là lúa gạo xuất khẩu giảm mạnh. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Trong kỳ nghiên cứu, do thị trường vận chuyển cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đặc biệt là về mặt hàng lương thực. Đội tàu nước ngoài cạnh tranh với ta như Inđônêsia, Trung Quốc, Hàn Quốc…ngày càng lớn mạnh, chất lượng dịch vụ ngày càng cao trong khi giá cước thì thấp hơn. Điều này gây bất lợi cho việc vận chuyển hàng lương thực các tuyến trong và ngoài nước. Do vậy làm giảm nhu cầu thuê vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do hiềm khích chính trị tranh chấp nhau nên nước bạn hàng nhập khẩu lượng hàng lương thực lớn của ta tuyên bố cấm cảng với các tàu thuyền của ta, không cho ra vào cảng của họ. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình xuất nhập khẩu hàng và dĩ nhiên làm giảm lượng hàng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng lương thực ở kỳ gốc là 1.691,60 Km, kỳ nghiên cứu là 2.033,55 Km, tăng 341,95 Km tức là tăng 20,21% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm sản lượng luân chuyển lương thực tăng 65.540.338 TKm tương ứng tăng 5,77% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển bình quân lương thực tăng do các nguyên nhân sau:

    • Doanh nghiệp kí kết được các hợp đồng vận chuyển với tuyến đường dài hơn
    • Doanh nghiệp mở tuyến đường vận chuyển mới dài hơn
    • Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực sang hỗ trợ các nước Châu Phi.
    • Đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã tiến hành sửa chữa bảo dưỡng nâng cấp tàu nên nó có thể chạy tuyến đường dài hơn.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Doanh nghiệp ở kỳ gốc chỉ vận chuyển nội địa và vận chuyển các tuyến Đông Nam Á với khoảng cách gần. Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp tích cực làm công tác marketing xây dựng mức cước cạnh tranh nên nhận được những đơn hàng vận chuyển đi xa. Tuy rằng nó làm giảm khối lượng hàng có thể vận chuyển của doanh nghiệp trong kỳ do thời gian chuyến đi lớn nhưng lại là biện pháp cứu vãn cho doanh nghiệp lúc này bởi lượng hàng vận chuyển dần khan hiếm. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

              Nguyên nhân thứ 2: Doanh nghiệp nhận thấy việc mở tuyến mới này là rất tiềm năng, có thể khai thác nguồn hàng lương thực trên tuyến rất tốt. Sau 1 thời gian dài nghiên cứu quảng bá và chuẩn bị, đến kỳ nghiên cứu doanh nghiệp chính thức cho tàu chạy trên các tuyến này. Điều này làm tăng cự ly vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

              Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp nhận được nhiệm vụ do nhà nước giao là vận chuyển lương thực sang hỗ trợ các nước châu Phi nghèo đói, có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao và nhiều người chết đói do thiếu ăn bởi các nước này đa phần là sa mạc, tình hình khí hậu trái đất biến đổi, sa mạc hóa ngày càng tăng nên họ không thể trồng được cây lương thực. Nước ta do cũng gặp nhiều khó khăn vì mất mùa nhưng trong kho của nhà nước vẫn còn nhiều lương thực dự trữ, do vậy vẫn có thể hỗ trợ 1 ít cho họ. Điều này thể hiện tính nhân đạo rất lớn. Mà khoảng cách giữa nước ta và châu Phi là khá xa nên làm tăng cự ly vận chuyển hàng bình quân. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Ở kỳ gốc tàu của doanh nghiệp còn chưa được bảo dưỡng sửa chữa tốt nên không dám cho chạy các tuyến xa. Kì nghiên cứu này tàu đã được hoán cải sửa chữa mọi mặt bảo dưỡng một cách tốt nhất nên doanh nghiệp sẵn sàng cho tàu chạy các tuyến dài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.2 Hàng phân bón

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển phân bón ở kỳ gốc là 218.803.782 TKm chiếm tỷ trọng 19,26%, kỳ nghiên cứu là 241.624.113 TKm chiếm tỷ trọng 21,24%, tăng 22.820.331 TKm tương ứng tăng 10,43% so với kì gốc. Sự biến động tăng này làm tổng sản lượng luân chuyển tăng lên một lượng tuyệt đối là 22.820.331 TKm tương ứng tăng 2,01 % so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng phân bón tăng là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này.

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng hàng vận chuyển phân bón ở kỳ gốc là 116.329 T chiếm tỷ trọng 17,94%, kỳ nghiên cứu là 125.714 T chiếm tỷ trọng 19,98%. Như vậy lượng hàng vận chuyển tăng 9.385 T tương ứng tăng 8,07%. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng hàng phân bón luân chuyển tăng 17.653.185 TKm tương ứng tăng 1,55% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng phân bón vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Nhu cầu về phân bón trong nước tăng.
    • Các nhà sản xuất phân bón trong nước có chất lượng sản phẩm không tốt bằng nhập khẩu mà giá cả lại đắt hơn.
    • Uy tín của doanh nghiệp được nâng cao.
    • Kinh nghiệm kỹ thuật chất xếp hàng tốt

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 2 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do nhu cầu về phân bón trong nước lớn, đặc biệt là ở 2 vựa lúa lớn nhất cả nước là khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Nền kinh tế nước ta với tỷ trọng ngành nông nghiệp còn chiếm rất cao, do đó phân bón là nguồn không thể thiếu được đối với cây trồng, nhu cầu về mặt hàng này là quanh năm, liên tục. Đặc biệt là trong kỳ nghiên cứu này người nông dân tiến hành thay đổi cơ cấu cây trồng, gieo trồng những loại cây cối tiêu hao nhiều phân bón hơn 1 chút nhưng có giá trị kinh tế cao. Đây là một trong những nguyên nhân khách quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Sản phẩm của các nhà sản xuất phân bón trong nước có chất lượng không cao bằng nhập khẩu từ nước ngoài mà giá cả lại đắt hơn do họ chưa có 1 quy trình sản xuất hợp lý, nguyên liệu nhập khẩu làm đội chi phí lên. Các nhà kinh doanh phân phối phân bón là khách hàng của doanh nghiệp nhận thấy rằng ngay cả giá nhập khẩu cộng với chi phí vận chuyển và các loại thuế liên quan vẫn rẻ hơn rất nhiều nếu mua của các công ty trong nước. Do vậy để tăng lợi nhuận họ quyết định đi nhập khẩu về dẫn đến tăng lượng hàng vận chuyển cho doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Uy tín của doanh nghiệp được nâng cao do chất lượng phục vụ tốt làm hài lòng khách hàng, doanh nghiệp có riêng 1 bộ phận chăm sóc và giải đáp mọi thắc mắc kiến nghị cho khách hàng. Không những vậy đối với khách hàng lâu năm doanh nghiệp còn có những ưu tiên ưu đãi về cước phí, còn khách hàng mới thì tích cực marketing thực hiện giá cả cạnh tranh… Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

        Nguyên nhân thứ 4: Thuyền viên của tàu đặc biệt là đại phó là người giàu kinh nghiệm, chất xếp hàng và chèn lót bảo quản tốt với hàng phân bao nên tàu chuyên chở được nhiều hàng hơn, tận dụng được tối đa trọng tải thực chở của tàu mà vẫn đảm bảo tàu an toàn đi biển. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng phân bón ở kỳ gốc là 1.880,90 Km, kỳ nghiên cứu là 1.922,01 Km tăng 41,11 Km tương ứng tăng 2,19% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển phân bón tăng 5.167.146 TKm tức là tăng 0,45% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Sản xuất phân bón trong nước còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu trong nước.
    • Đội tàu của công ty tương đối hiện đại lại được sửa chữa bảo dưỡng và trang bị tốt nên có thể vận chuyển hàng trong điều kiện thời tiết không tốt.
    • Công ty ký kết được các hợp đồng vận chuyển dài hạn với cự ly vận chuyển xa hơn.
    • Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc dường để cung ứng nguyên nhiên vật liệu cho tàu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất.

    Nguyên nhân thứ 1: Sản xuất phân bón còn hạn chế, giá thành cao hơn mức bình quân của nước ngoài. Hơn nữa cũng chưa sản xuất được một số loại phân bón có nhiều yếu tố vi lượng tốt cho một số loại cây trồng đặc biệt. Do vậy buộc phải nhập từ nước ngoài về làm tăng cự ly vận chuyển bình quân. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Công ty đã bỏ 1 số tiền lớn để đầu tư cho đội tàu để không những chống chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệp ngoài biển khơi mà còn bảo vệ tốt cho hàng hóa. Do vậy nếu không phải bão gió lốc xoáy thì tàu vẫn có thể khởi hành bình thường. Do vậy làm tăng cự ly vận chuyển bình quân của tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực

    Nguyên nhân thứ 3: Công ty ký kết được hợp đồng vận chuyển dài hạn với tuyến đường vận chuyển xa hơn. Điều này có được nhờ nỗ lực của doanh nghiệp trong công tác marketing. Nó không những tạo cho công ty doanh thu trong dài hạn mà còn tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân trong công ty. Vì vậy đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do các tàu thường xuyên phải chạy trên những tuyến xa mà nếu dự trữ nhiều nguyên nhiên vật liệu thì không đảm bảo khối lượng hàng chuyên chở. Vì vậy tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để tiếp thêm nhiên liệu làm cho cự ly vận chuyển tăng lên. Tuy nhiên điều này đã làm cho thời gian chuyến đi bị kéo dài làm giảm số chuyến trong năm khiến lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống. Như vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    3.3 Xi măng

    Qua bảng ta thấy khối lượng luân chuyển hàng xi măng kỳ gốc là 312.868.959 TKm chiếm tỷ trọng 27,54%, kỳ nghiên cứu là 321.027.893 TKm chiếm tỷ trọng 28,22%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng xi măng tăng 8.158.934 TKm tương ứng tăng 2,61% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng này làm tổng sản lượng luân chuyển tăng lên 8.158.934 TKm tức là tăng 0,72% so với kỳ gốc. Khối lượng hàng xi măng luân chuyển tăng do sự biến động của 2 nhân tố là: khối lượng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Sau đây ta đi phân tích chi tiết từng nhân tố

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng hàng xi măng vận chuyển ở kỳ gốc là 187.786 T chiếm tỷ trọng 28,96%, kỳ nghiên cứu là 152.392 T chiếm tỷ trọng 24,22%. Như vậy khối lượng vận chuyển giảm 35.394 T tương ứng giảm 18,85% so với kì gốc. Sự biến động giảm này làm khối lượng luân chuyển hàng xi măng giảm 58.966.404 TKm tức là giảm 5,19% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng xi măng vận chuyển có thể do các nguyên nhân sau:

    • Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn nóng như trong kỳ gốc nữa.
    • Tình hình kinh tế khó khăn, cầu và giá cả mặt hàng xi măng trong nước giảm
    • Ở cả 3 miền của nước ta đều có chi nhánh công ty xi măng.
    • Doanh nghiệp tăng giá vận chuyển xi măng

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ nhất: Ngành bất động sản của các nước trong khu vực và cả Việt Nam sau một thời gian tăng trưởng nóng đã có tốc độ tăng chậm lại. Mà bất động sản liên quan chặt chẽ tới ngành xây dựng. Do vậy nhu cầu về xi măng không còn cao như ở kỳ gốc nữa. Điều này làm giảm khối lượng hàng xi măng vận chuyển bằng đường biển. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tình hình kinh tế khó khăn hơn do suy thoái kinh tế, những tòa nhà xây ra trong kỳ gốc không có người mua hoặc ai thuê mà để trống gây lãng phí. Người dân cũng không mặn mà với việc xây dựng nhà cửa do tình hình tài chính công việc chưa ổn định. Do đó cầu về xi măng giảm kéo theo giá của nó cũng giảm theo bắt buộc nhà sản xuất phải thu hẹp quy mô. Vì vậy doanh nghiệp vận chuyển cũng không có nhiều cơ hội để vận chuyển hàng. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Cả 3 miền bắc trung nam của nước ta đều có nhà máy xi măng nên ít cần vận chuyển xi măng nội địa bằng đường biển. Thay vào đó các công ty sẽ chọn phương thức vận chuyển bằng đường bộ đường sắt nhiều hơn. Điều này làm giảm khối lượng xi măng vận chuyển của doanh nghiệp. Do vậy đây là nguyên tố khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp tăng cước vận chuyển xi măng. Trong khi nguồn hàng khan hiếm, giá cước vận chuyển buộc phải tăng để bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, điều này làm cho các chủ hàng hạn chế xuất khẩu hay nhập khẩu hàng xi măng bằng đường biển. Thay vào đó các chủ hàng tìm đến các nguồn cung xi măng trong nước. Do đó làm giảm khối lượng hàng xi măng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng phân bón ở kỳ gốc là 1.880,90 Km, kỳ nghiên cứu là 1.922,01 Km tăng 41,11 Km tương ứng tăng 2,19% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển xi măng tăng 5.167.146 TKm tức là tăng 0,45% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Có các đơn hàng yêu cầu vận chuyển đi xa.
    • Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.
    • Khả năng khai thác tàu, nguồn hàng của doanh nghiệp chưa thực sự tốt.
    • Giá xi măng trong nước thấp hơn nhiều so với giá xi măng ở các thị trường như Châu Âu, Mỹ.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng vận chuyển đi xa hơn sang các thị trường mới như Châu Âu, châu Mỹ. Do các công ty xi măng tiến hành đàm phán và mở rộng thị trường của mình tránh hàng hóa tồn kho quá nhiều. Những đơn chào hàng này được các nhà nhập khẩu của châu Âu, Mỹ đồng ý vì có giá cả hấp dẫn và chất lượng tốt. Do vậy doanh nghiệp có hàng để vận chuyển. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tình hình thời tiết khi tàu đang hành trình diễn biến bất thường, theo dự báo của đất liền là sắp có bão và lốc xoáy trên chính tuyến đường vận chuyển của tàu nên tàu phải ngay lập tức ghé vào cảng gần nhất để tránh bão. Điều này làm tăng quãng đường vận chuyển có hàng của tàu nhưng không được hưởng cước nên làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: khả năng khai thác nguồn hàng của doanh nghiệp  chưa thực sự tốt bởi lẽ doanh nghiệp mới chạy trên các tuyến mới này và chưa có nhiều nguồn hàng vận chuyển trên chiều về làm tàu thường xuyên chạy không đầy tải nhiều khi là không tải trên 1 số chặng. Điều này làm cho cự ly vận chuyển bình quân tăng nhưng lại tốn kém nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Giá cả hàng xi măng thấp hơn ở các thị trường như châu Âu, châu Mỹ. Do trong nước ít có nhu cầu tiêu thụ nên các nhà sản xuất đã tìm đến thị trường đầy tiềm năng này bằng các đơn chào hàng và được họ chấp nhận vì giá cả rẻ hơn ở họ rất nhiều và chất lượng cũng tương đối tốt. Các nhà nhập khẩu này nhận thấy đây là 1 cơ hội kiếm lời và họ tiến hành kí kết hợp đồng ngay. Do vậy doanh nghiệp có cơ hội vận chuyển loạt hàng này. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    3.3.4 Hàng khác

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển hàng khác ở kỳ gốc là 260.724.132 T.km chiếm tỷ trọng 22,95%, kỳ nghiên cứu là 185.199.649 T.km chiếm tỷ trọng 16,28%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng lương thực giảm là 75.524.483 T.km tương ứng giảm 28,97% so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này đã làm tổng sản lượng luân chuyển của doanh nghiệp tăng giảm là 75.524.483 T.km tương ứng giảm 6,65% so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng khác giảm là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này:

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng vận chuyển hàng khác ở kỳ gốc là 141.163 T chiếm tỷ trọng  21,77%, kỳ nghiên cứu là 159.438 T chiếm tỷ trọng 25,43%. Như vậy lượng hàng vận chuyển tăng 18.275 T tương ứng tăng 12,95%. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng hàng khác luân chuyển tăng 33.753.925 TKm tương ứng tăng 2,97% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng khác vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Đời sống nhân dân ngày một nâng cao và nhu cầu về các loại hàng càng ngày càng phong phú.
    • Do doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.
    • Theo xu hướng container hóa nhiều khách hàng muốn vận chuyển hàng đóng trong container hơn.
    • Doanh nghiệp cải tiến 1 tàu hàng khô thành tàu bách hóa.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất

    Nguyên nhân thứ 1: Kỳ nghiên cứu mức sống của người dân cao hơn, do vậy nhu cầu của họ cũng cao hơn trước. Không chỉ là 3 loại hàng ở trên mà còn nhiều loại hàng bách hóa, thủ công mĩ nghệ, hàng gỗ, quần áo thời trang…Nhận thức được điều này doanh nghiệp cũng đã nhanh chóng đưa tàu phù hợp vào khai thác để thu lợi nhuận Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Việc các mặt hàng truyền thống có xu hướng giảm trong kỳ nghiên cứu, để tăng doanh thu doanh nghiệp đã quyết đinh chủ động tìm kiếm các mặt hàng khác, những nguồn hàng mới để vận chuyển bằng cách liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp sản xuất. Điều này làm tăng khối lượng vận chuyển cho mặt hàng khác của doanh nghiệp, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

        Nguyên nhân thứ 3: Để bắt kịp xu hướng trong và ngoài nước và nhu cầu vận chuyển hàng trong container doanh nghiệp đã tiến hành thuê định hạn con tàu chuyên chở container chạy định tuyến. Như vậy doanh nghiệp sẽ không phải tốn chi phí cho thuyền viên trên tàu và chi phí rất lớn để mua tàu. Doanh nghiệp sẽ có tàu đưa vào khai thác ngay để thu được lợi nhuận mà không tốn quá nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Trước nhu cầu vận chuyển hàng bách hóa tăng doanh nghiệp quyết định dùng một số con tàu chở hàng khô trong đội tàu của mình cải tiến để chở hàng bách hoa đóng trong hòm bao kiện. Do vậy mà doanh nghiệp không bỏ lỡ bất cứ hợp đồng vận chuyển nào mà lại đa năng hóa đội tàu của mình. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

    1. b) Cự ly vận chuyển

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng khác ở kỳ gốc là 1.846,94 Km, kỳ nghiên cứu là 1.161,57 Km, giảm 685,39 Km tương ứng giảm 37,11% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển hàng khác giảm 109.278.408 TKm tức là giảm 9,62% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    • Số lượng tuyến có khoảng cách gần tăng lên do doanh nghiệp chủ yếu kí kết vận chuyển trong nước
    • Do trình độ vận hành, điều khiển của thuyền viên cao hơn.
    • Một số tuyến đường xa vận chuyển hàng khác ở thời kỳ nghiên cứu thường xuyên xảy ra cướp biển
    • Hợp đồng vận chuyển dầu từ Trung Đông của doanh nghiệp bị trì hoãn do các nước này đang xảy ra bất ổn chính trị.

    Trong những nguyên nhân trên, giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ nhất: Do công ty chú trọng đến việc vận chuyển mặt hàng  khác  trên tuyến nội địa. Ngay từ đầu kỳ, thấy nhu cầu của người tiêu dùng trong nước về mặt hàng khác có dấu hiệu tăng, công ty đã chủ động đẩy mạnh  việc khai thác nguồn  hàng và vận chuyển các mặt hàng này trên các tuyến trong nước. Đây là tuyến vận chuyển tương đối gần do vậy mà cự ly vận chuyển bình quân của mặt hàng này đã giảm hơn kỳ trước. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ hai: Doanh nghiệp mở lớp đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ đội ngũ thuyền viên. Điều này giúp cho trình độ vận hành và điểu khiển của thuyền viên trong kỳ được nâng cao hơn. Do đó mà trong các chuyến vận chuyển tàu hạn chế việc đi vòng, giảm cự ly vận chuyển của tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ ba: Cướp biển là mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngành hàng hải toàn cầu trên các đại dương và các vùng biển trên thế giới như Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đỏ, Địa Trung Hải và những eo biển có mật độ hàng hải lớn như là Malacca, Singapore nhất là vùng vịnh Aden và bờ biển Sômali thường xuyên xảy ra cướp biển. Trong kỳ nghiên cứu cướp biển càng hoành hành hơn và doanh nghiệp đang chạy trên các tuyến này để vận chuyển hàng khác nhận thấy tình hình như vậy nên không nhận vận chuyển trên tuyến này nữa để đảm bảo an toàn cho người và tài sản. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do tình hình chính trị của Trung Đông bất ổn, doanh nghiệp đã kí kết được các hợp đồng vận chuyển dầu từ các nước này nhưng bị trì hoãn không thể tiến hành được. Các nước Trung Đông này thường xảy ra chiến tranh bạo loạn, cấm biên cấm cảng. Tàu không thể thực hiện hợp đồng tuy không bị phạt hợp đồng do đây là nguyên nhân khách quan nhưng làm mất một số lợi nhuận tương đối lớn. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    III. Kết luận – kiến nghị

    1. Kết luận:

    Qua phân tích ta thấy rằng tổng sản lượng hàng hoá luân chuyển của doanh nghiệp trong kỳ gốc là 1.136.052.864 TKm và trong kỳ nghiên cứu là 1.537.120 TKm. Như vậy tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng 1.537.120 T.Km hay tăng 0,14 % so với kỳ gốc tức là tăng không đáng kể. Biến động này là kết quả biến động giảm của nhân tố tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển và biến động tăng của nhân tố cự ly vận chuyển bình quân.

    Nhân tố tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển trong kỳ nghiên cứu giảm 19.234 T hay giảm 2,97% so với kỳ gốc. Làm ảnh hưởng giảm tuyệt đối đến tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là 33.697.968 TKm, giảm tương đối là 2,97% so với kỳ gốc.

    Nhân tố cự ly vận chuyển bình quân trong kỳ nghiên cứu tăng 56 Km hay tăng 3,2 % so với kỳ gốc. Làm ảnh hưởng tăng tuyệt đối đến tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là 35.235.088 TKm, tăng tương đối là 3,1% so với kỳ gốc.

    Như vậy ta thấy tốc độ tăng của nhân tố cự ly vận chuyển lớn hơn tốc độ giảm của tổng khối lượng vận chuyển nhưng lớn hơn không nhiều do vậy nó vẫn làm tổng sản lượng tăng nhưng tăng không đáng kể như vậy.

    Ta có thể thấy rằng hoạt động của doanh nghiệp đang có chiều hướng phát triển. Biến động này của các chỉ tiêu sản lượng là do các nguyên nhân chính sau: Nguyên nhân chủ quan

    1. a) Tích cực

    – Doanh nghiệp chủ động nhận hàng  lương thực vận chuyển trên các tuyến xa, kí kết hợp đồng vận chuyển với tuyến đường dài hơn.

    – Mở tuyến đường vận chuyển mới dài hơn.

    – Đầu kỳ nghiên cứu tiến hành sửa chữa bảo dưỡng tàu nên tàu có thể chạy tuyến xa hơn.

    – Uy tín của doanh nghiệp tăng.

    – Kinh nghiệm kỹ thuật chất hàng của thuyền viên tốt.

    – Đội tàu của công ty hiện đại lại được tiến hành sửa chữa bảo dưỡng tốt nên có thể vận chuyển hàng trong tình trạng thời tiết không thuận lợi lắm.

    – Công ty chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.

    – Doanh nghiệp cải tiến tàu hàng khô thành tàu bách hóa.

    – Doanh nghiệp chủ động kí kết vận chuyển nội địa với hàng khác.

    1. b) Tiêu cực.

    – Doanh nghiệp tăng giá thành vận chuyển xi măng với tuyến nội địa.

    – Khả năng khai thác tàu, khai thác hàng của doanh nghiệp chưa tốt.

     Nguyên nhân khách quan

    1. a) Tích cực.

    – Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực hỗ trợ cho Châu Phi.

    – Nhu cầu phân bón trong nước tăng.

    – Chất lượng sản phẩm phân bón trong nước không tốt bằng nhập khẩu mà giá cả lại đắt hơn.

    – Sản phẩm phân bón trong nước còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu trong nước.

    – Giá xi măng trong nước rẻ hơn giá xi măng ở các thị trường Âu, Mỹ.

    – Đời sống nhân dân nâng cao và nhu cầu về các loại mặt hàng càng ngày càng phong phú.

    – Theo xu hướng container hóa khách hàng muốn thuê vận chuyển hàng đóng trong container nhiều hơn.

    1. b) Tiêu cực.

    – Tình hình thời tiết sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.

    – Nhu cầu của người dân đối với việc vận chuyển hàng lương thực do doanh nghiệp cung cấp giảm.

    – Hiềm khích chính trị giữa nước ta và nước bạn hàng nhập khẩu lượng lương thực lớn của ta.

    –  Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để nhận cung ứng nguyên vật liệu cho tàu.

    – Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn phát triển nóng như trong kỳ gốc.

    – Tình hình kinh tế khó khăn, cầu và giá xi ăng trong nước giảm

    – Ở cả 3 miền đều có chi nhánh của công ty xi măng.

    – Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.

    – Một số tuyến đường vận chuyển hàng khác của doanh nghiệp đi nước ngoài xảy ra nạn cướp biển hoành hành.

    2. Kiến nghị.

    Để khắc phục những hạn chế, phát huy tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp trong thời gian tới doanh nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

    -Tiến hành thanh lý những tàu cũ khả năng khai thác xuống cấp vừa tốn chi phí sửa chữa vừa không thể chạy tuyến xa mà lại tốn chi phí nhiên liệu. Có thể thuê tài chính hoặc định hạn những tàu mới vừa hiện đại, nếu có năng lực tài chính thì có thể mua tàu phù hợp với nhu cầu vận chuyển mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng và làm tăng khả năng vận chuyển của đội tàu doanh nghiệp, tăng doanh thu, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường vận tải. Biện pháp này phải được tiến hành trên cơ sở phù hợp với nhu cầu vận chuyển của thị trường cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    – Sửa chữa, bảo dưỡng , đầu tư thay thế một số bộ phận, thiết bị mới hiện đại  cho những con tàu con tàu vẫn còn có thể khai thác an toàn, chưa cần thiết phải thay thế bằng tàu mới nhằm làm tăng khả năng vận chuyển của chúng, phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp.

    – Tăng cường hoạt động khai thác thị trường mở rộng sự hoạt động của các đại lý đến các nước trên thế giới nhằm tìm kiếm thu hút được nhiều nguồn hàng mới. Phát triển hơn nữa những bộ phận marketting chuyên môn tìm kiếm nguồn hàng đối với từng loại mặt hàng cụ thể, những khu vực cụ thể nhằm giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn hàng vận chuyển trên 1 chiều, giảm khả năng chạy rỗng trên tuyến của tàu

    – Hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp vận tải trên thế giới, tham gia các Công hội vận tải quốc tế nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp và ngày càng có nhiều chủ hàng, các nhà môi giới đại lý trên thế giới biết đến doanh nghiệp để tăng nguồn hàng  vận chuyển cho doanh nghiệp.

    – Tiết kiệm chi phí, tìm cách giảm các khoản chi sao cho hợp lý để có thể hạ giá thành sản phẩm tạo điều kiện đưa ra được một giá cước cạnh tranh , thu hút khách hàng không chỉ đối với mặt hàng xi măng mà cần phải tiến hành với tất cả các mặt hàng. Việc hạ giá cước vận chuyển nàycần phải mang lại hiệu quả hữu ích cho doanh nghiệp, tránh trường hợp sản lượng vận tải thì tăng nhưng lợi nhuận lại giảm.

    –  Mở lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho thuyền viên hơn nữa, tăng trình độ chất xếp, chèn lót và bảo quản hàng để làm tăng khối lượng vận chuyển, cự ly vận chuyển bình quân cũng như tạo uy tín với khách hàng.

    – Tổ chức lại việc phân công lao động, đánh giá đúng trình độ của các thuyền viên để xếp họ vào những công việc những vị trí làm việc phù hợp với năng lực. Bên cạnh đó cần phải có biện pháp giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như tạo ra một không khí làm việc tốt, có các khu vui chơi giải trí thể thao lành mạnh trên tàu cho cán bộ thuyền viên.

    – Tiến hành áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng do Hiệp hội Hàng hải quốc tế đề ra, phải có đầy đủ các chứng chỉ cho tàu đi biển để cho các tàu có thể ra vào các cảng biển mà không bị phạt hoặc cấm cảng hoặc bị lưu giữ tàu biển tại các cảng đặc biệt là các cảng có yêu cầu về tàu biển ghé cảng như ở Châu Âu, Mỹ.

    – Tổ chức tốt tăng cường hơn nữa công tác khai thác thị trường vận tải nội địa để có thể phát huy thế mạnh của doanh nghiệp là thông hiểu tập quán điạ phương, được sự ưu đãi của Nhà nước đối với lĩnh vực vận tải nội địa để có thể đánh bật được các doanh nghiệp nước ngoài đang vận chuyển trên tuyến bằng cách đưa ra cước vận chuyển cạnh tranh và chất lượng dịch vụ tốt, đúng hẹn ngày giờ vận chuyển.

     CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ                     THÀNH THEO KHOẢN MỤC

    I. Mục đích, ý nghĩa

    1. Khái niệm giá thành.

    Giá thành là biểu hiện bằng tiền của các hao phí bằng tiền về lao động sống và  lao động vật hoá có liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định.

     2. Mục đích.

    – Đánh giá tình hình chỉ tiêu giá thành qua đó xác định xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích cũng như cơ cấu giá thành.

    – Qua phân tích chi tiết chỉ tiêu giá thành ở những trọng tâm phân tích ở những góc độ phân tích khác nhau để xác định những nguyên nhân và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng tới từng thành phần chi phí giá thành. Xác định những chi phí không hợp lý và lãng phí.

    – Đề xuất các biện pháp và phương hướng nhằm cải tổ công tác tổ chức quản lí đầu tư cũng như việc sử dụng tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh nhằm tiết kiệm các hao phí khi sản suất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm, phấn đấu cho một giá thành hợp lý hơn.

    – Làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như là việc lựa chọn các phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp. Làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch về tài chính doanh nghiệp.

    – Đánh giá trình độ kế hoạch hoá giá thành.

     3. Ý nghĩa.

    Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp. Nó cũng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh đồng thời nhiều quá trình của vấn đề của quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trước hết nó phản ánh trình độ trong việc đầu tư quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, các tài sản cố định vốn và nguồn vốn, đồng thời nó phản ánh chất lượng của công tác tổ chức, quản lý và sử dụng lao động cũng như các công tác liên quan tới việc tổ chức quản lý, định mức, cấp phát sử dụng, tiêu hao các yếu tố các điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh.

    Giá thành là một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản tới lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó mà ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà Nước, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như với việc tái sản xuất, tái sản xuất mở rộng của doanh nghiêp, tiết kiệm các chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm, là một nhiệm vụ kinh tế chính trị quan trọng của các doanh nghiệp.

    Từ ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành thì việc phân tích chỉ tiêu giá thành cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp. Đây là nội dung phân tích thường xuyên được tiến hành phân tích ở các doanh nghiệp. Là một trong các trọng tâm phân tích khi phân tích kinh tế doanh nghiệp. Chỉ có thông qua phân tích chỉ tiêu này mà doanh nghiệp mới có điều kiện để nhìn nhận một cách xuyên suốt việc quản lý và tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh của mình, qua đó phát hiện những bất hợp lý, lãng phí để rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng những biện pháp phương hướng trong thời gian tới.

    II. Phân tích: Lập biểu và phân tích chi tiết các nhân tố

     1.Phương trình kinh tế và lập bảng tính các chỉ tiêu kinh tế

     1.1 Phương trình kinh tế.

    åC = CL + CBHXH + CNL + CVL + CKH + CSC + CLP + C+ CQL + C#    (103 đ)

    Trong đó:

    åC              : Giá thành sản lượng   (103 đ)

    CL                   : Chi phí tiền lương (103 đ)

    CBHXH                         : Chi phí bảo hiểm xã hội (103 đ)

    CNL             : Chi phí nhiên liệu (103 đ)

    CVL                      : Chi phí vật liệu (103 đ)

    CKH               : Chi phí khấu hao (103 đ)

    CSC             : Chi phí sửa chữa (103 đ)

    CLP              : Chi phí lệ phí, phí (103 đ)

    CTĂ                      : Chi phí tiền ăn (103 đ)

    CQL              : chi phí quản lý (103 đ)

    C#               : Chi khác (103 đ)

    Đối tượng phân tích là : chênh lệch tuyệt đối giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc của chỉ tiêu giá thành sản lượng theo khoản mục chi phí trong doanh nghiệp vận chuyển.

    Ta có :

    Giá thành sản lượng ở kỳ gốc là :

    åC0 = CL0 + CBHXH0 + CNL0 + CVL0 + CKH0 + CSC0 + CLP0 + CTĂ0 + CQL0+ C#0  

    (103 đ)

    Giá thành sản lượng ở kỳ nghiên cứu là :

    åC1 = CL1 + CBHXH1 + CNL1 + CVL1 + CKH1 + CSC1 + CLP1 + CTĂ1 + CQL1 + C#1  (103 đ)

    DåC = åC–     åC =  (103 đ)

    1.2 Xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối và mức độ ảnh hưởng tương đối của các nhân tố.

    1.2.1.MĐAH tuyệt đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : DåCCl = CL1 – CL0 = -3.285.646  (103 đ)
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: DåCCbhxh = CBHXH1 – CBHXH0 = -758.106 (103 đ)
    3. Nhân tố nhiên liệu: Då CCnl = CNL1 – CNL0 = -9.467.845 (103 đ)
    4. Nhân tố vật liệu: Då CCvl= CVL1 – CVL0 = 910.809 (103 đ)
    5. Nhân tố khấu hao: Då CKH= CKH1 – CKH0 = 4.569.917 (103 đ)
    6. Nhân tố sửa chữa: Då CSC= CSC1 – CSC0 = 1.747.070 (103 đ)
    7. Nhân tố lệ phí, phí: Då CClp= CLP1 – CLP0 = 3.542.115 (103 đ)
    8. Nhân tố tiền ăn: Då CCtă= CTĂ1 – CTĂ0 = -1.152.489   (103 đ)
    9. Nhân tố quản lý phí: Då CCql= CQL1 – CQL0 = -828.926 (103 đ)
    10. Nhân tố chi khác: Då CC# = C#1 – C#0 = 3.520.713

    àTổng ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố :

    DåC = -1.202.388 (103 đ)

    1.2.2 Bội chi ( tiết kiệm) tương đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : Då CCl=  CTL1  – CTL0 * ISL
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: Då CCbhxh =  CBHXH1  – CBHXH0 * ISL
    3. Nhân tố nhiên liệu: Då CCnl     = CNL1  – CNL0 * ISL
    4. Nhân tố vật liệu: Då CCvl; = CVL1  – CVL0 * ISL
    5. Nhân tố khấu hao: Då CCkh = CKH1  – CKH0 * ISL
    6. Nhân tố sửa chữa: Då CCsc = CSC1  – CSC0 * ISL
    7. Nhân tố lệ phí: Då CClp          = CLP1  – CLP0 * ISL
    8. Nhân tố tiền ăn: Då CCtă = CTA1  – CTA0 * ISL
    9. Nhân tố quản lý phí: Då CCql = CQL1  – CQL0 * ISL
    10. Nhân tố chi khác: Då CC#            = C#1  – C#0 * ISL

    à Tổng bội chi (tiết kiệm) tương đối của các nhân tố:

    Då C’ = å C1 – åC0*ISL

    1.2.3.MĐAH tương đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : δå CCl = – 0,55 %
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: δå CCbhxh = – 0,13 %
    3. Nhân tố nhiên liệu: δå CCnl = – 1,57 %
    4. Nhân tố vật liệu: δå CCvl = – 0,15 %
    5. Nhân tố khấu hao: δå CCkh = 0,76 %
    6. Nhân tố sửa chữa: δå CCsc= 0,29 %
    7. Nhân tố lệ phí, phí: δå CClp = 0,59 %
    8. Nhân tố tiền ăn: δå CCtă = -0,19 %
    9. Nhân tố quản lý phí: δå CCql = – 0,14 %
    10. Nhân tố chi khác : δå CC# = 0,59 %

    2. Đánh giá chung

    Qua bảng phân tích ta thấy giá thành sản lượng giảm từ 601.194.072 (103 đ) xuống còn 599.991.684 (103 đ) tức là giảm 1.202.388 (103 đ) so với kì gốc tương ứng giảm 0,2%. Tiết kiệm tương đối là 2.044.060 (103 đ) cho thấy sự biến động giảm này là có lợi cho doanh nghiệp bởi lẽ chi giảm mà sản lượng vẫn tăng. Giá thành sản lượng giảm là do các nhân tố tác động có sự biến đổi tăng giảm giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc. Qua bảng phân tích ta thấy có 5 nhân tố biến động giảm, 5 nhân tố biến động tăng cụ thể như sau:

    – Chi phí lương, nhiên liệu và khấu hao chiếm tỷ trọng lớn ở cả 2 kỳ phân tích, kỳ gốc so với kỳ nghiên cứu chi phí tiền lương chiếm 13,78% và 13,26%, khấu hao chiếm 19,13% và 19,93% trong tổng chi phí, đặc biệt là chi phí nhiên liệu (chiếm 28,94% và 27,42%). Đây cũng chính là đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp vận tải. Trong khi đó tỷ lệ tiền ăn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (1,04% và 0,85%), bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng nhỏ thứ 2 (2,5% và 2,38%)

    • Nhóm nhân tố giảm là: tiền lương giảm 3,97%, bảo hiểm xã hội giảm 5,03%, nhiên liệu giảm 5,44%, tiền ăn giảm 18,43%, quản lý phí giảm 1,52%. Trong đó tiền ăn giảm nhiều nhất nhưng vì chiếm tỷ trọng bé nhất nên nó chỉ tiết kiệm được chi phí về mặt tuyệt đối là 1.152.489 (103 đ), tương đối là 1.143.736 (103 đ). Nhân tố nhiên liệu giảm làm tiết kiệm được nhiều chi phí nhất: tuyệt đối là 9.467.845 (103 đ), tương đối là 9.224.265 (103 đ) và làm giá thành giảm nhiều nhất 1,57%. Sau đó mới đến chi phí tiền lương ( làm giá thành giảm 0,55%), tiền ăn ( làm giảm 0,19%), quản lý phí ( làm giảm 0,14%) và BHXH ( làm giảm 0,13%)

    –  Nhóm nhân tố chi phí tăng là: vật liệu (tăng 3,70%), khấu hao (tăng 3,97%), sửa chữa (tăng 6,60%), phí lệ phí (tăng 12,25%), chi khác (tăng 4,78%). Trong đó chi phí sửa chữa tăng nhiều nhất nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ làm giá thành sản lượng tăng 0,29%. Nhân tố chi khấu hao làm giá thành sản lượng tăng nhiều nhất 0,76%, sau đó đến lệ phí phí và chi khác cùng làm tăng 0,59% , cuối cùng là sửa chữa làm tăng 0,29% và vật liệu làm tăng ít nhất là 0,15%.

    3. Phân tích chi tiết các nhân tố

    3.1 Tiền lương

    Chí phí lương giảm từ 82.844.543 (103 đ) xuống còn 79.558.897 (103 đ) tương ứng giảm 3.285.646 (103 đ) tức là giảm 3,97%. Tốc độ giảm của chi tiền lương (3,97%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm một khoản tương đối là 3.401.628 (103 đ). Vậy chi phí lương là khoản giảm hợp lý của doanh nghiệp. Tiền lương giảm ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó giảm 0,55%.

    Lương giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Số thuyền viên định biên trên tàu giảm.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển thay đổi.

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Cho lao động đi học nâng cao trình độ chuyên môn bằng cấp.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Số thuyền viên định biên trên tàu giảm. Trước xu hướng tàu ngày càng hiện đại hoá và tự động hoá, số lượng thuyền viên trên tàu ngày càng tinh gọn, do đó vào đầu kì nghiên cứu công ty buộc phải định biên lại đội ngũ thuyền viên trên tàu để phù hợp hơn với tình hình mới. Mặc dù công ty cũng không muốn việc này vì như vậy sẽ có một đội ngũ thuyền viên buộc phải nghỉ việc, nhưng điều này sẽ giúp công ty tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh hơn với các đối thủ tạo tiền để cho sự phát triển trong thời gian tới của công ty. Đây là nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tại kỳ nghiên cứu doanh nghiệp kí kết được ít các hợp đồng vận chuyển dầu ( nằm trong hạng mục mặt hàng khác của doanh nghiệp) trên các tuyến dài chẳng hạn như Việt Nam – Trung Đông với khối lượng lớn. Do vậy thời gian khai thác tàu dầu giảm. Mà như ta đã biết lương tàu dầu bao giờ cũng cao hơn lương của các loại hàng khác do nó có lương phụ cấp cao hơn. Vì vậy làm giảm tiền lương của bộ phận này dẫn đến giảm chi lương chung cho toàn doanh nghiệp. Mặt khác các loại hàng vận chuyển chủ yếu của doanh nghiệp như lương thực xi măng cũng giảm làm lương sản phẩm của bộ phận tàu hàng khô cũng giảm theo. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Một số thuyền trưởng sĩ quan làm việc lâu năm với cấp bậc lương cao nay đã nghỉ hưu hoặc xin nghỉ việc lên bờ tìm việc khác buộc doanh nghiệp phải thuê thêm lao động mới bổ sung cho những vị trí không quá quan trọng. Những người mới tuyển này có trình độ chuyên môn, cấp bậc, kinh nghiệm thấp hơn nên tiền lương tính theo cấp bậc kinh nghiệm của họ cũng ít hơn. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp quyết định cho một số thuyền viên sỹ quan đi học để nâng cao trình độ bằng cấp đáp ứng nhu cầu cấp thiết là thiếu các lao động ở những vị trí quan trọng. Các thuyền viên sau khi đi học về sẽ có khả năng khai thác điều hành tàu tốt hơn. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    3.2. Bảo hiểm xã hội

    BHXH giảm từ 15.057.852 (103 đ) xuống còn 14.299.746 (103 đ) tương ứng giảm 5.03% so với kỳ gốc tức là tiết kiệm tuyệt đối được là 758.106 (103 đ) . Tốc độ giảm của chi phí BHXH (5,03%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0.14 %) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối được một khoản là 779.187 (103 đ). Vậy chi phí BHXH giảm là hợp lý.  Chi phí BHXH giảm ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó giảm 0,13%.

    Chi BHXH giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    –  Doanh nghiệp định biên giảm số lượng lao động

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Do có sự thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Tình hình kinh tế khó khăn, lượng hàng vận chuyển của doanh nghiệp ngày càng khan hiếm, doanh nghiệp quyết định tinh chế lại đội ngũ cán bộ công nhân viên của mình ở cả 2 khối trên bờ và trên tàu, sa thải bớt những vị trí không cần thiết hoặc thường xuyên vi phạm kỷ luật lao động. Do vậy làm giảm tiền lương trả cho những người này kéo theo giảm chi phí bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Lao động có chức vụ cao bằng cấp xin nghỉ việc như là các thuyền trưởng máy trưởng sỹ quan nhiều năm kinh nghiệm lành nghề. Do đặc điểm của lao động ngành vận tải biển là lao động xa tổ quốc xa vợ con làm việc trong cả ngày lễ tết chủ nhật và làm việc trong môi trường nặng nhọc độc hại. Những người này sau 1 thời gian dài làm việc đã có một số vốn tương đối lớn nên họ xin nghỉ việc để lên bờ làm việc và gần vợ con. Điều này làm giảm tiền lương cho doanh nghiệp nhưng cũng là 1 tổn thất rất lớn bởi trên thị trường lao động vận tải còn đang rất thiếu các lao động có năng lực như vậy. Giảm lương dẫn đến làm giảm chi phí bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ thứ 3: Do các lao động có kinh nghiệm làm việc lâu năm trên xin nghỉ mà doanh nghiệp phải bố trí bổ sung ngay lao động vào những vị trí còn thiếu, những lao động này không có nhiều năm kinh nghiệm và bậc lương cao như những người trước nhưng cũng phải đủ khả năng và kiến thức chuyên môn hàng hải nên vẫn đáp ứng được yêu cầu của công ty. Điều này làm giảm lương cơ bản dẫn đến giảm chi bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Lương tính theo sản phẩm của doanh nghiệp giảm do vào kỳ nghiên cứu doanh nghiệp vận chuyển được ít khối lượng hàng hơn tuy rằng cự ly bình quân có tăng nhưng không tăng đáng kể và vẫn không làm cho doanh nghiệp thu được nhiều như kỳ gốc. Lương sản phẩm tính theo hệ số lương doanh thu do vậy nó giảm hơn so với kỳ gốc dẫn đến lương cơ bản giảm làm cho chi bảo hiểm xã hội giảm. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    3.3. Nhiên liệu

    Chi phí nhiên liệu ở kì gốc là 173.985.564 (103 đ) chiếm tỷ trọng 28,94%, kì nghiên cứu là 164.517.720 (103 đ) chiếm tỷ trọng 27,42%. Như vậy tiết kiệm về mặt tuyệt đối là 9.467.845 (103 đ) tương ứng giảm 5,44% so với kì gốc. Tốc độ giảm của chi phí nhiên liệu (5,44%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 9.711.425 (103 đ). Vậy chi phí nhiên liệu giảm là hợp lý. Chi nhiên liệu giảm ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó giảm nhiều nhất 1,57%.

    Nhiên liệu giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu.

    – Doanh nghiệp mở các lớp hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị ngắn hạn cho thuyền viên.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 3 là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Ở đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp cho tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu hoặc thay thế những máy móc thiết bị đã cũ trên tàu bằng loại mới và hiện đại. Điều này không những làm cho tàu có thể vận hành tốt và an toàn hơn còn làm giảm mức nhiên liệu tiêu hao của máy móc thiết bị đó. Do vậy làm giảm chi phí nhiên liệu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Thuyền viên trên tàu hiểu rõ về máy móc thiết, sử dụng nhiên liệu một cách hợp lí không gây lãng phí. Điều này có được do doanh nghiệp ở đầu kỳ nghiên cứu đã mở lớp hướng dẫn ngắn hạn cho thuyền viên của mình hiểu hết về máy móc thiết bị cũng như là cách sử dụng nhiên liệu sao cho phù hợp. Do vậy mà làm giảm mức tiêu hao nhiên liệu không cần thiết tức là giảm chi phí nhiên liệu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp sau nhiều nỗ lực tìm hiểu về giá cả của các nơi cung cấp xăng dầu đã tìm được nguồn cung cấp dầu mới chất lượng tốt mà giá cả thấp hơn so với kỳ gốc. Nó là một thuận lợi cho công ty, bởi trong điều kiện phải tiêu thụ một lượng lớn xăng và dầu thì riêng khoản chi cho xăng dầu đã chiểm tỷ trọng không nhỏ trong chi phí của công ty. Đây là nguyên nhân mang tính chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Công tác định mức tiêu hao nhiên liệu của doanh nghiệp tương đối chặt chẽ và sát với mức thực tế sử dụng. Do vậy giúp thuyền viên trên tàu phải có ý thức sử dụng nhiên liệu sao cho phù hợp tránh lãng phí và cũng giảm khả năng trộm cắp nhiên liệu trên tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.4. Vật liệu

    Chi phí vật liệu kỳ gốc là 24.588.838 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,09%, kỳ nghiên cứu là 25.499.647 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,25 %. Như vậy chi vật liệu tăng tuyệt đối là 910.809 (103 đ) tương ứng tăng 3,70 %. Tốc độ tăng của chi phí vật liệu (3,7%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 876.385 (103 đ). Vậy chi phí vật liệu là khoản tăng không hợp lý. Chi vật liệu tăng ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó tăng không đáng kể 0,15%.

    Chi vật liệu tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Giá cả vật liệu tăng.

    – Kết cấu hàng vận chuyển của doanh nghiệp có sự thay đổi.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 2 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên chưa tốt, sử dụng vật liệu chèn lót một cách bừa bãi không khoa học gây lãng phí vật liệu. Nhiều loại vật liệu cũ vẫn có thể dùng được nhưng không tận dụng mà bỏ đi mua cái mới làm chi phí vật liệu tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Giá cả vật liệu ở kì kế hoạch tăng cao hơn so với kỳ gốc. Tình hình biến động giá cả bất thường có thể do vật liệu trên thị trường đột nhiên khan hiếm mà nhu cầu mua lại cao đẩy giá thành lên cao hoặc do lạm phát cao làm các loại hàng đều tăng giá. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do kết cấu vận chuyển hàng của doanh nghiệp có sự thay đổi. Những loại hàng cần ít vật liệu chèn lót như hàng rời đổ đống hay hàng container có ít hợp đồng vận chuyển hơn. Thay vào đó tỷ trọng chở hàng bách hoá hoặc hàng đóng bao kiện tăng do kí được nhiều hợp đồng vận chuyển loại hàng này hơn nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Công tác quản lý vật liệu không được tốt. Vào cuối kì nghiên cứu, qua kiểm tra sổ sách công ty phát hiện ra có một số lượng lớn vật liệu bị thất thoát trong quá trình sử dụng mà không rõ nguyên nhân. Chính từ việc quản lý yếu kém này mà công ty đã mất một khoản chi phí vật liệu khá lớn. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    3.5 Khấu hao

    Chi phí khấu hao ở kỳ gốc là 115.008.426 (103 đ) chiếm tỷ trọng 19,13%, kỳ nghiên cứu là 119.578.343 (103 đ) chiếm tỷ trọng 19,93% . Như vậy chi khấu hao tăng tuyệt đối là 4.569.917 (103 đ) tương ứng tăng 3,97% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí khấu hao (9,11%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 4.408.905 (103 đ). Vậy chi phí khấu hao là khoản tăng không hợp lý. Chi khấu hao tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0,76%.

    Chi khấu hao tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao.

    – Doanh nghiệp tiến hành đánh giá lại tài sản cố định.

    – Nhà nước quy định rút ngắn thời gian khấu hao.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 4 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1:  Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao: ở kỳ nghiên cứu doanh nghiệp chuyển từ phương pháp tính khấu hao đường thẳng sang phương pháp khấu hao nhanh để thu hồi vốn nhanh hơn, giảm bớt tổn thất do hao mòn vô hình và cũng là biện pháp hoãn thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là phương pháp chủ quan mang tính tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp đánh giá lại tài sản của mình và cho kết quả nguyên giá các loại tài sản của doanh nghiệp tăng lên do vậy số tiền khấu hao của các loại tài sản đó cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do quyết định rút ngắn thời gian tính khấu hao được Nhà nước đưa ra trong kỳ nghiên cứu. Tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại nên các tàu hiện tại của doanh nghiệp sẽ trở lên lỗi thời hơn rất nhiều trong thời gian tới. Nó sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tương lai. Vì vậy việc rút ngắn thời gian tính khấu hao sẽ giúp cho công ty nhanh chóng thu hồi được vốn và có thể quay vòng vốn  nhanh chóng. Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức khai thác. Các tàu của công ty hiện nay được trang bị các thiết bị hiện đại như hệ thống điện đài, hệ thống định vị toàn cầu,…giúp cho việc kiểm soát, điều động tàu được linh hoạt, nhờ đó nâng cao hiệu quả khai thác. Công tác tính và trích khấu hao được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.6. Sửa chữa

    Chi phí sửa chữa ở kỳ gốc là 26.452.539 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,4%, kỳ nghiên cứu là 28.199.609 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,7%. Như vậy chi phí sửa chữa tăng tuyệt đối là 1.747.070 (103 đ) tương ứng tăng 6,60% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí sửa chữa (6,6%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 1.710.036 (103 đ). Vậy chi phí sửa chữa là khoản tăng không hợp lý. Chi sửa chữa tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0,29%.

    Chi phí sửa chữa tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Một vài con tàu của doanh nghiệp đến hạn sửa chữa lớn.

    – Tình hình thời tiết.

    – Giá thành sửa chữa tàu tăng.

    – Doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa cho tàu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Kỳ nghiên cứu là thời gian đến hạn phải sửa chữa lớn của một vài con tàu của doanh nghiệp và kiểm tra tàu do cơ quan đăng kiểm. Những tàu này phải lên đà sửa chữa dưới sự kiểm soát của đăng kiểm và khi đạt yêu cầu mới được cấp giấy phép an toàn đi biển. Vì thế làm chi phí sửa chữa tăng nhưng khi tàu đã được lên đà sửa chữa xong thì sẽ có lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp trong dài hạn. Do đó đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Do tình hình thời tiết không tốt, tàu đang hành trình thì gặp nhiều mưa to gió lớn, sương mù làm giảm tầm nhìn xa của tàu khiến thuyền viên điều khiển tàu đâm vào đá ngầm gây tai nạn thủng vỏ tàu phải vứt bớt hàng xuống biển và chạy hết công suất để tới cảng gần nhất sửa chữa. Vì thế làm tăng chi phí sửa chữa tàu. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do giá thành của đơn vị sửa chữa cho tàu tăng. Sự biến động giá cả các loại mặt hàng máy móc vật liệu cần thiết sửa chữa thay thế cho tàu tăng do vậy các đơn vị sửa chữa cũng phải tăng giá để tránh bị lỗ vốn. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa để đảm bảo khi khai thác và yên tâm hơn khi để tàu chạy những tuyến hành trình xa. Doanh nghiệp cũng thường xuyên bảo dưỡng máy móc thiết bị để chúng có thể hoạt động trong trạng thái tốt nhất. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    3.7. Lệ phí, phí

    Chi phí lệ phí, phí ở kì gốc là 28.917.435 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,81%, kỳ nghiên cứu là 32.459.550 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5,41%. Như vậy chi phí lệ phí, phí tăng tuyệt đối là 3.542.115  (103 đ) tức là tăng 12,25% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí lệ phí, phí  (12,25%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 3.501.631 (103 đ). Vậy chi phí này là khoản tăng không hợp lý. Chi phí lệ phí tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0.59%.

    Chi phí lệ phí, phí tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Phí, lệ phí cảng biển tăng.

    – Doanh nghiệp cho một số tàu của mình được phân cấp bởi thành viên của IACS

    – Doanh nghiệp vận chuyển một số mặt hàng phải đi qua kênh đào.

    – Tốn thêm chi phí giám định hàng.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do cảng phí tại nơi tàu ghé vào tăng lên: Cảng phí tại các cảng lớn như Rottecdam, Kobe, Pusan … – những nơi mà tàu phải ghé vào nhiều trong kỳ nghiên cứu tăng lên do các cảng đó mới đầu tư thiết bị xếp dỡ mới đã làm cho chi lệ phí, phí của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Còn cảng nội địa thì theo thông tư nghị định của chính phủ tăng mức cước phí các loại dịch vụ. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

             Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp cho một số con tàu của mình được phân cấp bởi một trong các thành viên của tổ chức đăng kiểm quốc tế ( IACS) để chứng tỏ rằng tàu mình an toàn để vận chuyển hàng hóa và có đầy đủ khả năng đi biển. Việc có giấy chứng nhận phân cấp của các tổ chức này sẽ khiến đội tàu của doanh nghiệp thu hút nhiều hàng quốc tế để vận chuyển hơn. Mặc dù là chi phí đăng kiểm của thành viên trong IACS không hề rẻ 1 chút nào. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã kí kết vận chuyển một số mặt hàng đi xa hơn như Châu Âu, Mỹ, Phi phải đi qua nhiều kênh đào. Tàu đi qua đây phải đóng một khoản phí nhất định tùy theo từng loại kênh đào quy định gọi là phí qua kênh. Do vậy làm tăng khoản mục chi phí lệ phí, phí của doanh nghiệp. Qua đó làm tăng tổng chi và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4:  Kỳ nghiên cứu tốn thêm chi phí giám định hàng, chất lượng hàng do tàu gặp tai nạn bị thủng tàu, nước tràn vào làm hư hại ít nhiều về chất lượng hàng hóa. Doanh nghiệp phải thuê giám định viên và trả phí cho họ để tiến hành giám định và phân chia mức đóng góp tổn thất chung giữa các bên. Có như vậy mới có sự công bằng giữa các bên và các bên sẽ phải thực hiện theo kết quả này mà không bị thiệt thòi do gian lận. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.8. Tiền ăn

    Chi phí tiền ăn ở kì gốc là 6.252.418 (103 đ) chiếm tỷ trọng 1.04%, kỳ nghiên cứu là 5.099.929 (103 đ) chiếm tỷ trọng 0,85%. Như vậy chi phí tiền ăn giảm tuyệt đối là 1.152.489 (103 đ) tương ứng giảm 18,43% so với kỳ gốc. Tốc độ giảm của chi phí tiền ăn ( 18,43%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng ( 0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 1.161.242 (103 đ). Vậy chi phí tiền ăn là khoản giảm hợp lý.  Chi phí tiền ăn giảm ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó giảm 0,19 %.

    Chi phí tiền ăn giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp định biên lại số thuyền viên.

    – Tìm được nơi cung cấp thành phẩm rẻ hơn.

    – Mức tiền tiêu vặt cho mỗi thuyền viên giảm

    Trong các nguyên nhân trên ta giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm. Vào đầu kì nghiên cứu công ty đã giảm mức tiền ăn cho mỗi thuyền viên làm chi phí tiền ăn giảm. Do khi tính toán lại định mức tiền ăn, công ty nhận thấy công tác định mức lúc trước đã mắc nhiều sai sót, vì vậy mà đưa ra một định mức không hợp lí dẫn đến tiền ăn định mức quá cao khiến cho chi phí tiền ăn của công ty quá lớn, làm giảm đáng kể lợi nhuận của công ty. Việc định mức lại tiền ăn không những không làm ảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn cho thuyền viên mà còn giảm cho công ty một khoản chi phí đáng kể. Đây là một nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp đã định biên lại số thuyền viên trên tàu, cắt giảm lượng thuyền viên thừa không cần thiết vì đội tàu của công ty đã hiện đại hơn. Điều này làm giảm các loại chi phí cho những lao đông đó trong đó có cả chi phí tiền ăn. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp tìm được nơi cung cấp thành phẩm cho các tàu của mình rẻ hơn kỳ gốc. Giá cả là nhân tố quyết định đến mọi chi phí ,chỉ cần giá thành các liệu thực phẩm nước ngọt ở nơi cung cấp mới rẻ hơn một chút cũng làm doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

          Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp giảm mức tiền tiêu vặt cho thuyền viên do doanh nghiệp nhận thấy kỳ gốc đã định biên quá cao làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận, hơn nữa căn cứ vào mức sống và mức chi bình quân khoản này của các doanh nghiệp vận chuyển khác mà thấy rằng việc giảm là hợp lý. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    3.9. Quản lý phí

    Chi phí quản lý ở kỳ gốc là 54.468.183 (103 đ) chiếm tỷ trọng 9,06%, kỳ nghiên cứu là 53.639.257 (103 đ) chiếm tỷ trọng 8,94 %. Như vậy phí quản lý giảm tuyệt đối là 828.926 (103 đ) tương ứng giảm 1,52% so với kỳ gốc.  Tốc độ giảm của quản lý phí (1,52%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 905.181 (103 đ). Vậy quản lý phí là khoản giảm hợp lý. Quản lý phí giảm làm giá thành sản lượng giảm 0,14%.

    Chi phí quản lý giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Tinh giảm bộ máy quản lý.

    – Giảm mua sắm các thiết bị văn phòng phẩm sách báo.

    – Hạn chế việc sử dụng điện thoại cố định của công ty vào mục đích riêng.

    – Ý thức sử dụng tài sản trong khu vực quản lý của nhân viên.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Tinh giảm bộ máy quản lý. Công ty đã tiến hành cắt giảm bộ máy quản lý hành chính khá cồng kềnh trước đây. Nhờ đó, việc trang bị thiết bị cho bộ máy này để tiến hành công tác quản lý, điều hành hoạt động của công ty tiết kiệm được khá nhiều vốn đầu tư cũng như chi phí vận hành. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Giảm việc mua sắm các thiết bị văn phòng phẩm sách báo chuyên ngành. Công ty giảm việc mua sắm các thiết bị văn phòng do bộ máy quản lý hành chính đã được tinh giảm. đồng thời công ty tận dụng những trang thiết bị đã khấu hao hết nhưng vẫn còn tốt để giảm giá thành, tăng thu lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của công ty. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Hạn chế việc dùng điện thoại cố định trong công ty. Trong kì nghiên cứu công ty đã áp dụng quản lý chặt chẽ việc sử dụng điện thoại của công ty bằng cách đăng ký với bưu điện để quản lý các cuộc gọi theo số điện thoại của từng phòng ban, đề ra mức tối đa mà một phòng được phép dùng, khiến cho nhân viên không thể sử dụng điện thoại công ty vào mục đích riêng, từ đó làm giảm chi phí cho quản lí. Đây là nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

         Nguyên nhân thứ 4: Ý thức sử dụng tài sản của nhân viên tốt, biết giữ gìn bảo vệ và sử dụng đúng cách các loại tài sản cố định làm giảm khả năng hỏng hóc phải sửa chữa, dùng tiết kiệm các loại dụng cụ văn phòng phẩm không gây lãng phí. Tất cả đều làm giảm chi phí quản lý của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.10 Chi khác

    Chi khác ở kì gốc là 73.618.274 (103 đ) chiếm tỷ trọng 12,25 %, kỳ nghiên cứu là 77.138.987 (103 đ) chiếm tỷ trọng 12.86 %. Như vậy chi khác tăng lên tuyệt đối là 3.520.713 (103 đ) tương ứng tăng 4,78%. Tốc độ tăng của chi phí khác (4,78%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi một khoản là 3.417.646 (103 đ). Vậy chi phí khác là khoản tăng không hợp lý.  Chi khác tăng làm giá thành sản lượng tăng lên 0,59%.

    Chi khác tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp mở lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho thuyền viên.

    – Tiền thưởng phạt do thực hiện hợp đồng, đóng góp tổn thất chung.

    – Chi phí tiếp khách, hội thảo hội nghị, hoa hồng môi giới.

    – Phát sinh thêm nhiều các chi phí bất thường.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do yêu cầu thiết thực hiện nay của công ty với thực trạng thiếu các sỹ quan thuyền trưởng lành nghề kinh nghiệm vì họ đã nghỉ hưu hoặc xin nghỉ việc để tìm công việc trên bờ, công ty phải đào tạo lớp thuyền viên mới thay thế họ để họ có đầy đủ kiến thức hàng hải an toàn, sử dụng khai thác tàu tốt. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực .

    Nguyên nhân thứ 2: Doanh nghiệp không hoàn thành đúng hạn một số hợp đồng vận chuyển đã ký kết có thể do tình hình thời tiết khắc nghiệt mưa to gió lớn khiến tàu phải tránh nạn không thể khởi hành được và hàng hóa bị hỏng một phần do nguyên  nhân trên phải đóng góp chi phí bồi thường tổn thất chung. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Các loại chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo tăng do doanh nghiệp phải chi ra để tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng, tăng cường quảng cáo marketing để có được những hợp đồng vận chuyển dài hạn trong tương lai. Công ty cũng thường xuyên tiến hành hội nghị rút kinh nghiệm, tiến hành hội thảo khoa học cho cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên khoản chi này tăng đột biến như vậy mà sản lượng vận chuyển của công ty vẫn giảm chứng tỏ đã có sự chi tiêu không hợp lý, biển thủ công quỹ và có các khoản chi mờ ám. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: do trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp phát sinh thêm nhiều các khoản chi bất thường như tiền thăm hỏi, cưới xin, ma chay… Từ đó làm doanh nghiệp tăng chi phí cho khoản mục chi khác này, giảm lợi nhuận. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    III. Kết luận-Kiến nghị

    1. Kết luận

    Tóm lại, qua phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành sản lượng theo các khoản mục chi phí của doanh nghiệp vận chuyển ta thấy trong kỳ nghiên cứu chỉ tiêu giá thành sản lượng có biến động giảm từ 601.194.072 ( 103 đ ) ở kỳ gốc xuống còn 599.991.684 (103 đ) ở kỳ nghiên cứu, tiết kiệm tuyệt đối là 1.202.388 (103 đ) tức là giảm 0,2 % so với kỳ gốc. Tốc độ giảm của giá thành sản lượng (0,2%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 2.044.060 (103 đ). Vậy giá thành sản lượng giảm là hoàn toàn hợp lý. Sự biến động giảm của chỉ tiêu giá thành sản lượng là do tác động tăng giảm của rất nhiều các khoản mục chi phí phát sinh trong kỳ.

    Trong đó nhóm nhân tố có biến động tăng gồm các nhân tố vật liệu, khấu hao, sửa chữa, lệ phí, phí và chi khác. Cụ thể, nhân tố có biến động tăng nhiều nhất là nhân tố lệ phí, phí tăng 12,25% so với kỳ gốc, nhưng nhân tố làm chỉ tiêu giá thành sản lượng tăng nhiều nhất lại là khấu hao . Nhân tố có biến động tăng ít nhất là nhân tố vật liệu, tăng 3,7% so với kỳ gốc.

    Mặt khác nhóm nhân tố có biến động giảm là những nhân tố sau: tiền lương, bảo hiểm xã hội, nhiên liệu, tiền ăn và quản lý phí. Trong đó tiền ăn là nhân tố có biến động giảm nhiều nhất, giảm 18,43% so với kỳ gốc, nhưng nhân tố làm chỉ tiêu giá thành sản lượng biến động giảm nhiều nhất lại là nhiên liệu. Nhân tố quản lý phí là nhân tố có mức giảm ít nhất, giảm 1,52% so với kỳ gốc.

    Vậy biến động giảm của chỉ tiêu giá thành sản lượng là do các nguyên nhân chủ quan khách quan tiêu cực và tích cực sau đây:

    1.1 Nguyên nhân chủ quan

    1. a) Tích cực.

    – Cho lao động đi học nâng cao trình độ chuyên môn bằng cấp.

    –  Do có sự thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp.

    –  Doanh nghiệp định biên giảm số lượng lao động

    – Doanh nghiệp tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu.

    – Doanh nghiệp mở các lớp hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị ngắn hạn cho thuyền viên.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    – Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao.

    – Doanh nghiệp tiến hành đánh giá lại tài sản cố định.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức.

    – Doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa cho tàu.

    – Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp định biên lại số thuyền viên.

    – Tìm được nơi cung cấp thành phẩm rẻ hơn.

    – Mức tiền tiêu vặt cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp cho một số tàu của mình được phân cấp bởi thành viên của tổ chức phân cấp quốc tế IACS.

    – Chi phí giám định hàng.

    – Định biên giảm số thuyền viên trên tàu.

    1. b) Tiêu cực.

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    – Chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo, hoa hồng môi giới.

    1.2 Nguyên nhân khách quan.

    1. a) Tích cực

    – Kết cấu hàng vận chuyển của doanh nghiệp có sự thay đổi.

    – Tàu đến hạn sửa chữa lớn.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển của doanh nghiệp thay đổi.

    1. b) Tiêu cực

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Giá cả cả vật liệu tăng.

    – Nhà nước quy định rút ngắn thời gian khấu hao.

    – Tình hình thời tiết.

    – Giá cả sửa chữa tàu tăng.

    – Phí lệ phí bến cảng tăng.

    – Phí kênh đào tăng do đi qua nhiều kênh đào hơn.

    – Phát sinh các khoản chi bất thường.

    2.Kiến nghị

    Để giúp công ty ngày càng phát triển, ta có thể đưa ra các biện pháp sau để khắc phục các nguyên nhân chủ quan tiêu cực, hạn chế tối đa tác động của một số nguyên nhân khách quan có thể và phát huy những chủ quan tích cực doanh nghiệp đã đạt được

    1. Về ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên, công tác quản lý vật liệu: Doanh nghiệp cần tăng cường quản lý hơn nữa về việc sử dụng vật liệu của thuyền viên, phải tính toán chi tiết và đề ra định mức chi phí vật rẻ cho mỗi chuyến đi để giảm bớt việc sử dụng lãng phí của thuyền viên. Quản lý chặt chẽ ghi chép việc nhập xuất kho vật liệu một cách rõ ràng, ghi cụ thể dùng vào những việc gì để phục vụ cho công tác quản lý thật tốt, tránh việc bị lấy trộm hay mất vật liệu. Cần đưa ra định mức sử dụng cụ thể sát với mức thực tế để tránh việc sử dụng lãng phí. Những vật liệu đã cũ nhưng có thể sử dụng được thì nên tận dụng không nên vứt bỏ mua đồ mới. Doanh nghiệp cũng cần phải hướng dẫn tuyên truyền cho thuyền viên biết cách sử dụng vật liệu chèn lót sao cho tiết kiệm mà vẫn có hiệu quả bởi nhiều khi không phải họ có tình lãng phí mà là chưa biết sắp xếp sao cho hợp lý.
    2. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến đời sống vật chất tinh thần của lao động hơn nữa đặc biệt là khối lao động trên biển bởi họ phải lao động trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp cần bố trí cho họ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo khôi phục sức lao động cũng như là bố trí các khu vui chơi thể thao giải trí lành mạnh trên tàu để họ xua bớt đi nỗi nhớ quê nhà. Vào các dịp lễ tết hay sinh nhật của họ cần có lời động viên món quà nhỏ động viên khích lệ tinh thần cho họ. Doanh nghiệp cũng nên tiến tới xây dựng thêm nhà trẻ để giúp cho CBCNV có thể yên tâm về con em mình từ đó làm tốt công tác đặc biệt là đối với các thuyền viên đi tàu xa đất liền. Có như vậy mới giữ chân được họ làm việc tích cực cho doanh nghiệp.
    3. Công ty cần duy trì áp dụng việc quản lý đối với cả việc sử dụng nhiên liệu ở trên tàu để đảm bảo cấp phát bao nhiêu, dùng đúng bấy nhiêu. Sau khi tàu đã được sửa chữa bảo dưỡng tốt rồi cần phải định mức lại sự tiêu hao nhiên liệu của tàu một lần nữa để đảm bảo không bị định mức dôi dư gây lãng phí cho doanh nghiệp.
    4. Công ty cũng cần nghiên cứu thị trường vật liệu, chịu khó tìm hiểu về các đơn vị cung cấp vật liệu để tìm được nguồn cung rẻ hơn có địa điểm phù hợp với tuyến đường vận chuyển của tàu để có thể lấy thêm khi chở hàng qua nhằm tiết kiệm chi phí vật liệu cho doanh nghiệp.
    5. Công ty có thể kết hợp với nhà trường để tiến hành đào tạo đối với những sinh viên tiềm năng đang học để khi ra trường có thể làm việc cho doanh nghiệp ngay mà không cần phải tốn chi phí đào tạo lạiđi tàu ngay và tránh được những lỗi thường gặp khi chưa qua đào tạo.
    6. Thời gian tới công ty nên đẩy mạnh việc giao dịch với một số thị trường mới tích cực marketting để khai thác tốt hơn các nguồn hàng mới vì thị trường cũ của công ty đang bị thu hẹp dần vì có quá nhiều đối thủ cạnh tranh. Từ đó ký kết được nhiều hợp đồng vận chuyển hơn và làm tăng khối lượng vận chuyển tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    7.Công ty nên mở rộng việc tính toán định mức ra các lĩnh vực khác, để có thể thay đổi lại những định mức không hợp lý do việc tính toán trước đây để lại nhằm làm giảm thất thoát lãng phí, giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    1. Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ hơn nữa về khoản chi phí tiếp khách hội nghị. Doanh nghiệp căn cứ vào thực tế và định mức thật xác đáng chi cho mỗi lần tiếp khách để tránh việc nhân viên chi tiêu tràn lan hoặc lợi dụng biển thủ. Những khoản chi sai mục đích phải quy trách nhiệm cho từng cá nhân, tập thể tự chịu trách nhiệm và chi trả, không cho phép tính vào chi phí tiếp khách của công ty. Về các khoản chi hội nghị cũng cần định mức phù hợp hoặc có thể nếu thấy không quá cần thiết thì ghi thông báo chung và phát về các phòng ban để mọi người tự xem.
    2. Doanh nghiệp nên cử một số cán bộ nhân viên tham gia vào một số cuộc hội thảo khoa học chuyên về ngành hàng hải để nắm bắt được những đổi mới, xu hướng phát triển của ngành cũng như học hỏi nâng cao trình độ kinh nghiệm thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm bài học của các doanh nghiệp khác. Từ đó sẽ về và phổ biến cho doanh nghiệp mình để có những thay đổi phù hợp xu hướng tránh bị tụt hậu so với thế giới nói chung và trong nước nói riêng.

                                                

     

     

     

                                                       PHẦN 3

                                       KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    I.Kết luận:

    Từ việc nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của công ty thông qua việc phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo mặt hàng và tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành theo khoản mục ta thấy :

    Do tình hình khai thác nguồn hàng cũng như là biến động chung của cả nền kinh tế thế giới mà  tổng khối lượng hàng vận chuyển giảm (giảm 2,97% so với kỳ gốc). Cự ly vận chuyển bình quân tăng (tăng 3,2% so với kỳ gốc) nhưng không nhiều hơn sự giảm của khối lượng vận chuyển là bao đã làm cho tổng khối lượng hàng luân chuyển tăng lên không đáng kể so với kì gốc (tăng 0,14%  tức là tăng 1.537.120 TKm so với kỳ gốc).

    Về chỉ tiêu giá thành sản lượng giảm 0,2 % tức là giảm 1.202.388 ( 103 đ) so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này là do sự biến động tăng giảm của các nhân tố chi phí. Có 5 chi phí giảm trong đó ảnh hưởng nhiều nhất tới việc giảm giá thành sản lượng là việc giảm của nhân tố nhiên liệu, 5 chi phí tăng trong đó tăng nhiều nhất là nhân tố chi khấu hao.

    Ta thấy rằng tốc độ tăng của sản lượng luân chuyển lớn hơn tốc độ giảm của chỉ tiêu giá thành. Điều này là hoàn toàn phù hợp và cho thấy công ty đã biết tiết kiệm chi phí để hạ giá thành, từ đó hạ giá cước vận chuyển để có thể cạnh tranh tốt hơn trong thị trường vận tải biển khắc nghiệt hiện nay.

    Sở dĩ có sự biến động trên là do các nguyên nhân sau

    1. Nguyên nhân chủ quan
    2. a) Tích cực

    – Ký kết được nhiều hơn hợp đồng vận chuyển đi xa.

    – Doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.

    – Đội tàu của doanh nghiệp tương đối hiện đại lại được sửa chữa bảo dưỡng tốt.

    – Trình độ vận hành điều khiển tàu của thuyền viên tương đối tốt.

    – Doanh nghiệp cho lao động đi học nâng cao chuyên môn bằng cấp.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị trên tàu phục vụ công tác tổ chức tốt hơn.

    -Doanh nghiệp tiến hành định biên lại số lượng lao động.

    1. b) Tiêu cực

    – Doanh nghiệp tăng giá cước vận chuyển xi măng trong nội đia.

    – Khả năng khai thác tàu, nguồn hàng trên tuyến mới mở của doanh nghiệp chưa thực sự tốt.

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    – Chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo, hoa hồng môi giới.

    1. Nguyên nhân khách quan
    2. a) Tích cực.

    – Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực hỗ trợ cho Châu Phi.

    – Nhu cầu phân bón trong nước tăng.

    – Đời sống nhân dân nâng cao và nhu cầu về các loại mặt hàng càng ngày càng phong phú.

    – Theo xu hướng container hóa khách hàng muốn thuê vận chuyển hàng đóng trong container nhiều hơn.

    – Tàu đến hạn sửa chữa lớn.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển của doanh nghiệp thay đổi

    1. b) Tiêu cực.

    – Tình hình thời tiết sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.

    – Nhu cầu của người dân đối với việc vận chuyển hàng lương thực do doanh nghiệp cung cấp giảm.

    – Hiềm khích chính trị giữa nước ta và nước bạn hàng nhập khẩu lượng  lương thực lớn của ta.

    –  Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để nhận cung ứng nguyên vật liệu cho tàu.

    – Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn phát triển nóng như trong kỳ gốc.

    – Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.

    – Một số tuyến đường vận chuyển hàng khác của doanh nghiệp đi nước ngoài xảy ra nạn cướp biển hoành hành.

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Giá cả cả vật liệu tăng

    – Giá cả sửa chữa tàu tăng.

    – Phí kênh đào tăng do đi qua nhiều kênh đào hơn, lệ phí cảng biển tăng.

    – Phát sinh các khoản chi bất thường.

    II. Kiến nghị:

    1.   Việc đầu tư thêm tàu hoặc thuê định hạn thuê tài chính là rất cần thiết để đáp ứng ngay nhu cầu vận chuyển sản phẩm đa dạng của khách hàng nhưng bên cạnh đó, công ty cần đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường nhằm đảm bảo có nguồn hàng ổn định. Một công việc mà công ty cũng cần phải quan tâm đó là công tác bảo dưỡng định kỳ, duy trì phương tiện trong tình trạng tốt nhằm thực hiện tốt hơn các đơn hợp đồng. Có như vậy thì công ty mới tăng được uy tín trên thị trường, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.

    2.Với một đội tàu mạnh đó có thể coi là thế mạnh của công ty để cạnh tranh với các công ty khác. Công ty cũng cần có biện pháp để duy trì ưu điểm này  bên cạnh đó thường xuyên có công tác bảo dưỡng tàu định kỳ để đội tàu luôn trong tình trạng tốt, đội tàu của công ty không những là một đội tàu đông về số lượng mà còn mạnh về chất lượng.

    1. Công ty đạt được kết quả trên một phần là do mới khai thác trên tuyến mới chưa có nhiều kinh nghiệm khai thác hàng sao cho hiệu quả. Sắp tới, để duy trì và làm ăn hiệu quả hơn nữa thì công ty cần phát huy và tiếp tục làm tốt công tác khai thác thị trường, khai thác nguồn hàng trên tuyến, tăng cường quảng bá về hình ảnh và chất lượng của công ty tới các khách hàng tiềm năng trên tuyến, có những điều kiện và ưu đãi hơn nhằm thu hút thêm bạn hàng mới. Điều này công ty có một chút lợi thế bởi uy tín của công ty đã được tạo dựng tương đối vững chắc từ trước tới nay.
    2. Cần có sự ưu đãi đối với một số bạn hàng có ý định cộng tác lâu dài đồng thời có những ưu đãi về cước phí đối với các khách hàng lâu năm. Tăng cường quan hệ với khách hàng nâng cao chất lượng dịch vụ chuyên chở bên cạnh việc hạ giá thành chung để  khách hàng thấy được việc lựa chọ doanh nghiệp là đúng đắn.
    3. Về ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên, công tác quản lý vật liệu: Doanh nghiệp cần tăng cường quản lý hơn nữa về việc sử dụng vật liệu của thuyền viên, phải tính toán chi tiết và đề ra định mức chi phí vật rẻ cho mỗi chuyến đi để giảm bớt việc sử dụng lãng phí của thuyền viên. Quản lý chặt chẽ ghi chép việc nhập xuất kho vật liệu một cách rõ ràng. Cần đưa ra định mức sử dụng cụ thể sát với mức thực tế để tránh việc sử dụng lãng phí. Doanh nghiệp cũng cần phải hướng dẫn tuyên truyền cho thuyền viên biết cách sử dụng vật liệu chèn lót sao cho tiết kiệm mà vẫn có hiệu quả.
    4. Công ty cũng cần nghiên cứu thị trường vật liệu, chịu khó tìm hiểu về các đơn vị cung cấp vật liệu để tìm được nguồn cung rẻ hơn có địa điểm phù hợp với tuyến đường vận chuyển của tàu để có thể lấy thêm khi chở hàng qua nhằm tiết kiệm chi phí vật liệu cho doanh nghiệp.
    5. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến đời sống vật chất tinh thần của lao động hơn nữa đặc biệt là khối lao động trên biển bởi họ phải lao động trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp cần bố trí cho họ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo khôi phục sức lao động. Vào các dịp lễ tết hay sinh nhật của họ cần có lời động viên món quà nhỏ động viên khích lệ tinh thần cho họ. Doanh nghiệp cũng nên tiến tới xây dựng thêm nhà trẻ để giúp cho CBCNV có thể yên tâm về con em mình từ đó làm tốt công tác đặc biệt là đối với các thuyền viên đi tàu xa đất liền.
    6. Cần duy trì việc đào tạo cho cán bộ công nhân viên đồng thời để có thể giảm chi phí đào tạo thì nên khuyến khích lao động tự học tập nâng cao trình độ tay nghề bằng cấp bằng cách kết hợp trả lương theo cấp bậc và theo sản phẩm. Hoặc công ty có thể kết hợp với nhà trường để tiến hành đào tạo đối với những sinh viên tiềm năng đang học để khi ra trường có thể làm việc cho doanh nghiệp ngay mà không cần phải tốn chi phí đào tạo lạiđi tàu ngay và tránh được những lỗi thường gặp khi chưa qua đào tạo.
    7. Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ hơn nữa về khoản chi phí tiếp khách hội nghị. Doanh nghiệp căn cứ vào thực tế và định mức thật xác đáng chi cho mỗi lần tiếp khách để tránh việc nhân viên chi tiêu tràn lan hoặc lợi dụng biển thủ. Những khoản chi sai mục đích phải quy trách nhiệm cho từng cá nhân, tập thể tự chịu trách nhiệm và chi trả, không cho phép tính vào chi phí tiếp khách của công ty. Về các khoản chi hội nghị cũng cần định mức phù hợp hoặc có thể nếu thấy không quá cần thiết thì ghi thông báo chung và phát về các phòng ban để mọi người tự xem.

    Qua việc phân tích và đề ra các biện pháp giải quyết trên, ta có thể thấy được       phương hướng phát triển trong thời gian sắp tới của công ty như sau:

    • Ngày càng chuyên môn hoá và hiện đại hoá đội tàu.
    • Mở rộng quy mô sản xuất của công ty ra các thị trường mới đặc biệt là trên các tuyến xa.
    • Giảm chi phí nhiên liệu, vật liệu lãng phí thấp nhất có thể.
    • Đào tạo đội ngũ CBCNV có trình độ chuyên môn ngày càng cao.
    • Tinh gọn lại bộ máy tổ chức.
    • Quan tâm hơn nữa đến đời sống CBCNV.
    • Trong đối ngoại: Giao lưu và hợp tác ngày càng sâu rộng.

     

                                               

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình thực hiện thiết kế em đã sáng tỏ và hiểu sâu sắc hơn việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên và vị trí rất thuận lợi để phát triển ngành vận tải biển trong đó cảng biển giữ vai trò rất quan trọng. Để ngành vận tải biển Việt Nam khai thác hiệu quả tiềm năng của ngành, khẳng định vị trí của mình thì ngoài việc đầu tư về cơ sở hạ tầng thì việc quản lý và khai thác hiệu là một yêu cầu bức thiết. Việc phân tích những số liệu và chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp để từ đó tìm ra mặt tích cực, tiêu cực và từ đó đề ra biện pháp để khắc phục và phát huy những mặt đó là một công việc không đơn giản và cần thiết với mọi doanh nghiệp.

    Em xin cảm ơn các thầy cô đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về ngành kinh tế vận tải nói chung, phân tích hoạt động kinh tế nói riêng và sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Trương Thị Như Hà đã giúp em hoàn thành bài thiết kế này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-C%C3%A2u-H%E1%BB%8Fi-T%C3%ACnh-Hu%E1%BB%91ng-Lu%E1%BA%ADt-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019

    CÂU HỎI TÌNH HUỐNG LUẬT THƯƠNG MẠI

    • Các trường hợp bất khả kháng:
    • Không lường trước được.
    • Không tránh được.
    • Không khắc phục được.
    • Bài tập tình huống:
    • Bị đơn có đáng bị kiện không?
    • Kiện có liên quan đến các bên hay không?
    • Mỗi khoản chi phí liên quan đến hợp đồng muốn bồi thường thì phải có chứng cứ cụ thể.

    Câu 1:

    Công ty A bán thiết bị thu phát sóng cho công ty B. Trong hợp đồng 2 bên có thoả thuận với nhau công ty A phải lắp đặt hoàn chỉnh và vận hành, chạy thử cho công ty B. Sau khi khảo sát công ty A hoàn thành lắp đặt và chạy thử. Sau đó công ty B vận hành thiết bị nhưng không chạy được do nguồn điện tại công ty B không đồng bộ với nguồn điện của thiết bị. Bên B thông báo và sau nhiều lần thương lượng bên A đã tiến hành sửa chữa cho bên B. Tuy nhiên sau một thời gian vận hành thiết bị vẫn không sử dụng được. Bên B tiếp tục thông báo để bên A sửa chữa nhưng không được bên A hồi đáp. Bên B quyết định trả lại hàng cho bên A và mua thiết bị thay thế từ bên khác (đã thông báo cho bên A biết về giao dịch này), đồng thời yêu cầu bên A:

    • Hoàn lại số tiền đã thanh toán.
    • Trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết bị cũ và mới.
    • Bồi thường những thiệt hại ngẫu nhiên.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

    Trả lời:

    Bên A đã tiến hành khảo sát, do đó yếu tố nguồn điện không đồng bộ là yếu tố bên A cần phải biết và cần phải điều chỉnh thiết bị để sử dụng được với điều kiện của bên B hoặc yêu cầu bên B thay đổi nguồn điện cho phù hợp với thiết bị.

    Bên A đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, giao hàng không đúng phẩm chất, không phù hợp với hợp đồng dẫn đến hậu quả bên B không thể sử dụng được thiết bị.

    Chế tài được áp dụng là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Tuy nhiên bên B đã thông báo nhưng bên A không trả lời, do vậy bên B có quyền mua hàng hoá thay thế và bên A phải hoàn lại số tiền đã thanh toán đồng thời trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết bị cũ và mới.

    Những thiệt hại ngẫu nhiên do không chứng minh được là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm hợp đồng nên sẽ không được bồi thường.

    Câu 2:

    Người mua Việt Nam (NM) và người bán Hàn Quốc (NB) ký kết hợp đồng mua bán:

    • Tên hàng: Thép thanh
    • Số lượng: 80.000 tấn
    • Giá: 350 USD/ tấn chưa bao gồm cước vận chuyển
    • Thời gian giao hàng: từ ngày 15/6/2016 đến 15/12/2016
    • Quyền mua đặc biệt: Bên mua có quyền mua lên đến 160.000 tấn với giá như trong hợp đồng nhưng phải thông báo cho bên bán trước ngày 15/10/2016.

    Diễn biến sự việc:

    Ngày 1/10/2016, NM thông báo cho người bán thực hiện quyền mua đặc biệt, nâng số hàng mua lên 160.000 tấn. Vào thời điểm này giá thép trên thế giới tăng đáng kể nên NB đã yêu cầu NM thương lượng về giá cả của số thép mua thêm so với hợp đồng. NM đã kiên quyết từ chối yêu cầu tăng giá của NB và đề nghị NB thực hiện giao hàng đúng như giá thoả thuận trong hợp đồng.ngày 15/12/2016, NB không giao hàng, NM gửi thông báo nhấn mạnh NB đã vi phạm hợp đồng và gia hạn thêm thời hạn giao hàng đến ngày 30/12/2016. Ngày 5/1/2017, NM đã mua thép từ Nhật Bản với giá 380 USD/tấn (đã bao gồm cước vận chuyển là 5 USD/tấn) để phục vụ sản xuất cho kịp tiến độ và yêu cầu NB thanh toán số tiền chênh lệch 2.400.000 USD. NB không đồng ý với các lý do:

    • Hành động mua thép của NM từ Nhật Bản không được coi là hành động mua hàng thay thế do NM đã không thông báo ý định cho NB.
    • Khi NM đàm phán về việc tăng giá bán thép, NB đã đưa ra mức giá 376 USD/ tấn, thấp hơn giá NM đã mua hàng thay thế. Việc NM không mua thép của NB là một điều vô lý.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

    Trả lời:

    Những lập luận của NB để từ chối bồi thường khoản chênh lệch là không chính xác.

    Mặc dù NM không thông báo cho NB về việc mua hàng từ bên thứ ba nhưng việc mua hàng để phục vụ tiến độ sản xuất, vì vậy đây có thể coi là một hành động chủ động nhằm giảm thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra (hành vi không giao hàng) và NM trên thực tế không hề đòi một khoản chi phí phát sinh nào ngoại trừ tiền chênh lệch giá.

    Trên thực tế giá NM mua từ bên thứ ba đã có cước vận chuyển, do đó NM thực chỉ mua có 375 USD/ tấn, thấp hơn giá của NB đã đưa ra là 1 USD/tấn.

    Người mua chỉ có thể đòi bồi thường những thiệt hại thực tế mà họ phải chịu trong trường hợp này, số tiền bồi thường sẽ chỉ là: (380 – 5 – 350) × 80.000 = 2.000.000 USD do người mua đã tiết kiệm được 5 USD/tấn tiền cước vận chuyển khi mua hàng từ bên thứ ba.

    Câu 3:

    Người mua A ký kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày nam với người bán B, yêu cầu người bán B cung cấp giày nam do hãng C sản xuất. Ngay sau khi ký kết hợp đồng, người bán B đã ký hợp đồng mua 150.000 đôi giày của hãng C. Đến ngày giao hàng của người bán B, công ty C chỉ giao được 90.000 đôi giày do không kịp nhập nguyên liệu sản xuất. Do vậy người bán B cũng chỉ giao được 90.000 đôi giày nam cho người mua A. Bên A kiện B ra trọng tài thương mại, yêu cầu bên B nộp phạt vi phạm 2% giá trị hàng giao chậm như đã thoả thuận trong hợp đồng, đồng thời yêu cầu bên B bồi thường về việc uy tín thương mại bị giảm sút, với lý do, bên B giao thiếu hàng nên bên A không thể giao hàng cho khách của mình. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của đối tác bên A do mặt hàng giày là mặt hàng có tính thời vụ. Bên B kháng cáo và lập luận rằng, do bên A yêu cầu cụ thể trong hợp đồng là mua giày do hãng C sản xuất nên bên B không thể tìm được nguồn hàng khác thay thế. Vì vậy, việc B không giao hàng đủ là bất khả kháng và B được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

     Trả lời:

    • B không được miễn trách nhiệm với hai lý do:
    • Trong trường hợp này lỗi bên C không cung cấp đủ hàng cho bên B không phải là nguyên nhân bất khả kháng. Việc C không kịp nhập nguyên liệu trên thực tế là việc có thể lường trước được, và C có thể tìm cách khắc phục vấn đề này bằng cách nhập nguyên liệu từ các nguồn khác. Do vậy việc B không cung cấp đủ hàng cho bên A không được coi là bất khả kháng, chưa kể đến việc B không chứng minh được đáng lẽ ra họ cũng đã phải lường trước hoặc tìm cách làm giảm bớt những hậu quả do việc giao hàng chậm từ phía C gây ra.
    • B đã không thông báo gì cho bên A biết về việc giao hàng thiếu do bên C không giao đủ hàng cho bên B ngay khi sự kiện này xảy ra. Điều này vi phạm quy định về thông báo bất khả kháng nên B sẽ không được miễn.
    • Bồi thường uy tín kinh doanh:
    • Nếu bên A không chứng minh được thiệt hại cụ thể do việc mất uy tín kinh doanh thì bên A sẽ không được bồi thường.
    • Nếu bên A đưa ra được các chứng cứ chứng minh thiệt hại như sự sụt giảm của doanh số và lợi nhuận với các đối tác truyền thông mua giày (mà A vẫn nhập của B) so với các kỳ kinh doanh trước. Lý do vì A đã không thảo mãn được các đơn hàng đã ký kết khiến cho đối tác không tiếp tục lựa chọn bên A. Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về uy tín của A là hoàn toàn có căn cứ. Trong trường hợp này A phải được bồi thường cho thiệt hại về uy tín thương mại.

    Câu 4:

    Công ty A (NB) và công ty B (NM) ký kết hợp đồng mua bán quặng Niken vào ngày 1/11/2013 quy định ngày giao hàng chậm nhất là 15/2/2014, tại cảng của nước NM, NB là người thuê tàu và có nghĩa vụ thông báo thời gian tàu cập bến. Trước đó ngày 1/1/2013, Chính phủ nước NM đưa ra dự thảo danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu trong đó có quặng Niken.

    Diễn biến sự việc:

    Ngày 12/2/2014, tàu cập cảng, NB thông báo cho NM để NM nhận hàng.

    Ngày 1/1/2014, Chính phủ nước NM ra lệnh cấm nhập khẩu quặng Niken.

    NM đã không nhận hàng từ phía NB, khiến NB phải lưu khoang hàng hoá đến ngày 25/2/2014 và sau đó phải bán lại lô hàng trên cho công ty C tại nước lân cận nước NM với giá thấp hơn.

    NB kiện NM ra Toà trọng tài ICC yêu cầu người mua bồi thường thiệt hại bao gồm:

    • Chi phí lưu khoang 13 ngày.
    • Chi phí chuyển tải và vận chuyển hàng hoá đến cảng nước công ty C.
    • Chênh lệch giá bán giữa hợp đồng và giá bán cho công ty C.

    NM cho rằng mình không thể nhận hàng là bất khả kháng do lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ đưa ra sau khi ký hợp đồng, và yêu cầu được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    ICC đã tiếp nhận đơn kiện của NB, tuy nhiên trong quá trình xét xử, công ty NM phá sản và tuyên bố giải thể, tên của công ty sau đó bị xoá khỏi Sổ đăng ký kinh doanh.

    Trường hợp này NM có được miễn trách nhiệm hay không? Việc pháp nhân (NM) không còn tồn tại có giải phóng các nghĩa vụ của người mua đối với phán quyết của trọng tài hay không? Kết quả của bản án sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Mặc dù lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ có sau khi hợp đồng được ký kết nhưng đã có dự thảo từ trước khi có hợp đồng. Do vậy việc Chính phủ ra lệnh cấm là sự kiện có thể dự đoán trước và lý do không nhận hàng của NM không được coi là bất khả kháng. NM không được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    Quá trình tố tụng trọng tài đã được bắt đầu tiến hành trước khi có sự xoá tên chính thức của NM trong Sổ đăng ký kinh doanh, do vậy địa vị pháp lý hiện tại của NM không ảnh hưởng gì tói hiệu lực của quá trình tố tụng đang được tiến hànhtoà trọng tài ICC. Đại diện của NM sẽ phải sẽ phải thanh lý toàn bộ tài sản của công ty NM và có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của trọng tài bằng số tiền nói trên.

    Các chi phí NB nêu là các chi phí hợp lý để NB khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng nên nếu NB đưa ra được bằng chứng về các chi phí và khoản lãi mất hưởng (do bán cho C với giá thấp hơn giá trong hợp đồng) như hoá đơn, chứng từ thanh toán, hợp đồng mua bán… NM sẽ phải bồi thường.

    Trong trường hợp ngược lại, nếu những cho phí này chỉ là nhận định chủ quan của NB thì NB có thể không đòi được tiền bồi thường hay chỉ được bồi thường theo số tiền như thông lệ hoặc như tập quán. Tuy nhiên đối với chi phí lưu hàng, do NB không thông báo ngày giờ tàu cập cảng cho NM nên mặc định người mua sẽ chỉ phải nhận hàng vào ngày muộn nhất là ngày 15/2/2014. Chi phí lưu khoang NB yêu cầu như vậy là chưa hợp lý, NB chỉ có thể đòi NM chi phí lưu khoang trong 10 ngày.

     

    Câu 5:

    Ngày 3/8/1997, công ty A (Việt Nam) và công ty B (Hàn Quốc)  ký hợp đồng mua bán theo đó bên A mua của B hai máy thêu trị giá 136.000 USD theo điều kiện CIF Tân Cảng Thành phố Hồ Chí Minh, bảo hành 12 tháng sau khi hoàn thành lắp đặt.

    Thực hiện hợp đồng, ngày 16/8/1997 B đã giao lại 2 máy thêu cho A, máy đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng, máy có nhiều hỏng hóc, B đã cử chuyên gia sang Việt Nam sửa chữa nhưng không thành công. B cam kết sẽ sửa chữa xong vào ngày 4/4/1998 và sẽ bồi thường 29.202 USD cho 40 ngày máy ngừng hoạt động nhưng sau đó B chỉ bồi thường 4.302 USD và không tiếp tục sửa chữa máy nữa.

    A đã trưng cầu SGS Việt Nam giám định tình trạng 2 máy thêu. Biên bản giám định ngày 1/9/1998 của SGS ghi “hai máy không thể sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu của Nguyên đơn”.

    Do máy ngừng hoạt động, A đòi B đổi 2 máy mới và bồi thường thiệt hại phát sinh cho A. Ngày 18/4/1999 B thông báo với A việc tái giám định sẽ được tiến hành từ ngày 22 đến ngày 28/4/1999 bởi Viancontrol có sự chứng kiến của luật sư đại diện của B, A không phản đối.

    Ngày 28/4/1999 Vinacontrol cấp Biên bản giám định số 095/1999G, trong đó kết luận máy bị hỏng hóc, tình trạng lắp ráp, căn chỉnh hai máy chưa hoàn tất, vào thời điểm giám định, cả 2 máy đều không thể vận hành được. B chấp nhận đổi máy cho A. Ngày 4/5/1999 A kiện B ra trọng tài, đòi:

    • Trả lại 2 máy thêu, lấy lại tiền.
    • Bồi thường thiệt hại, gồm:
    • Chi phí nhân công trong thời gian máy ngừng hoạt động;
    • Lãi suất trên số tiền hàng 136.000 USD kể từ ngày thanh toán đến ngày trọng tài xét xử;
    • Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam;
    • Thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Kết quả giám định của Viancontrol và các hành vi sửa chữa cũng như cam kết bồi thường và đổi máy cho A chứng minh B đã giao hàng có khuyết tật cho A và B phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hợp đồng này.

    Khi phát hiện 2 mát thêu có khuyết tật, bị hỏng hóc trong thời hạn bảo hành, A đã yêu cầu B thay thế 2 máy này bằng 2 máy có phẩm chất đúng như quy định của hợp đồng và B đã chấp nhận yêu cầu này của A. Như vậy, phương án thay thế 2 máy là phương án phù hợp với ý chí của 2 bên. Mặt khác, phương án trả lại 2 máy, lấy lại tiền hàng thông thường được áp dụng khi người bán không thể thay thế được máy khác. Vì vậy, yêu cầu trả lại 2 máy, đòi lại tiền hàng của A là không hợp lý.

    Giao hàng có khuyết tật thiệt hại cho A thì B phải có trách nhiệm bồi thường những khoản tiền sau đây:

    • Chi phí nhân công trong thời gian 2 máy ngừng hoạt động, vì máy ngừng hoạt động, nhân công không có việc làm, A vẫn phải trả lương cho số công nhân này.
    • Lãi suất của 136.000 USD tính co thời gian kể từ ngày máy ngừng hoạt động cho đến ngày trọng tài xét xử. Đây là khoản thiệt hại do đọng vốn vì không sử dụng được máy.
    • Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam. Vì khuyết tật của máy phát sinh trong thời gian bảo hành, làm cho máy móc không hoạt động được, buộc A phải mời SGS làm giám định, kết quả là máy có khuyết tật, không vận hành được.
    • Yêu cầu của A đồi bồi thường thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần không hợp lý bởi vì đây không phri thiệt hại tài sản trực tiếp thực tế, không phải do máy móc có khuyết tật trực tiếp gây ra.

     

     

     

    Câu 6:

    Công ty A (Singapore) và công ty B (Việt Nam) là 2 đối tác quen thuộc, trong một cuộc điện đàm đại diện về pháp lý của 2 bên vào ngày 16/1/2017 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau:

    A: Chúng tôi hiện đang có 1 lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cáp loại 1, giá 850 USD/ tấn giao tại cảng Singapore.

    B: Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng với giá 850 USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750 USD/ tấn.

    A: Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh với giá 800 USD/tấn.

    B: Chúng tôi sẽ mở L/C các anh trong tháng này và rất mong các anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới.

    A: Chúng tôi đồng ý.

    Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường giảm xuống 650 USD/tấn, A hửi thông báo giao hàng cho B, bên B không có ý kiến gì. A tiến hành gửu hàng nhưng B đã không đưa tàu đến để nhận hàng, A phải lưu hàng tại cảng, khoản tiền theo L/C do đó cũng không được thanh toán. A đã kiejn B ra Toà trọng tài ICC, yêu cầu bên B nhận hàng và bồi thường cho bên A:

    • Chi phí lưu kho do B đã không nhận hàng đúng thời hạn.
    • Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan mà A đã đóng.
    • Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng tính từ khi A giao hàng cho đến khi B thực hiện thanh toán, với lãi suất là lãi suất của đồng USD tại ngân hàng của A.
    • Do không nhận được tiền hàng A đã không thể thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho công ty C nên bị công ty C từ chối các đơn hàng sau đó. A yêu cầu B bồi thường thiệt hại về uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không thực hiện được hợp đồng với C.

    Bên B kháng cáo và đưa ra lập luận của mình: theo các hợp đồng đã ký trước đây giữa 2 bên, 2 bên đã thoả thuận với nhau nếu xảy ra tranh chấp thì luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là luật của nước người mua. Và theo luật của Việt Nam thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong trường hợp này 2 bên chỉ thoả thuận bằng lời nên hợp đồng vô hiệu ngay từ khi xác lập và không ràng buộc trách nhiệm của các bên. Bên B không có nghĩa vụ phải nhận hàng.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Công ước Viên chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ 1/1/2017. Theo khoản 1 điều 5 Luật Thương mại 2005: “Trường hợp ĐƯQT mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của ĐƯQT đó.” Trong trường hợp này nguồn luật được áp dụng sẽ là Công ước Viên 1980 do cả Việt Nam và Singapore đã là thành viên của Công ước.và theo Công ước, hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi nên trong trường hợp này thì hợp đồng đã hình thành giữa 2 bên.

    Việc bên B không đến nhận hàng là đã vi phạm hợp đồng, hành vi này gây thiệt hại cho bên A nên việc bên A đòi B bồi thường là chính đáng. Tuy nhiên B sẽ chỉ phải bồi thường:

    • Chi phí lưu kho
    • Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng với lãi suất ngân hàng Singapore vì đây là khoản lãi mất hưởng của bên A (nếu B thực hiện hợp đồng thì A sẽ có số tiền này để gửi tại ngân hàng của mình tại Singapore).

    Những khoản tiền B sẽ không phải bồi thường:

    • Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan là không hợp lý do khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì nghĩa vụ trên vốn dĩ thuộc về nhà xuất khẩu. (điều kiện F theo Incoterms 2010)
    • Những thiệt hại uy tín và những khoản lợi dự tính là những thiệt hại không xác đáng do bên A không thể chứng minh được những khoản thiệt hại này. Hơn nữa, việc A không nhận được tiền từ B không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến A không thanh toán tiền cho bên C, do A hoàn toàn có thể huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán cho C.

     

    Câu 7:

    Ngày 10/6/2013, giữa người bán Singapore (NB) và người mua Việt Nam (NM) ký hợp đồng 6923/TNUT.13, theo đó NB bán cho NM 9.937 kg cà phê và bột kem theo điều kiện CIF cảng HCM, thanh toán bằng chuyển tiền vào tài khoản của NB tại Singapore trong vòng 7 ngày sau khi NM nhận được chứng từ vận tải gốc, người hưởng lợi là NB.

    Thực hiện hợp đồng, NB đã giao hàng cho NM ngày 21/6/2013. Sau khi giao hàng, NB đã chuyển cho NM vận đơn gốc và hoá đơn thương mại số 059/13 để ngày 21/6/2013 đòi tiền hàng, nhưng cuối cùng NB vãn không nhận được tiền hàng.

    Qua nhiều lần đòi mà không được trả tiền, NB đã khởi kiện NM ra trọng tài đòi NM phải trả các khoản tiền sau:

    • Tiền hàng.
    • Tiền lãi của tiền hàng từ ngày 21/6/2013 đến ngày nhận được tiền thanh toán.
    • Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax.

    Trong đơn thư phản bác đơn kiện NM trình bày như sau:

    Ngày 10/6/2013NM đã ký hợp đồng số 9623/INUT.13 với NB để nhập khẩu uỷ thác cho Cửa hàng A. Theo biên bản thoả thuận riêng (không đề cập đến trong hợp đồng) ngày 10/6/2013 giữa 3 bên (NB, NM và Cửa hàng A) thì trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho NB là Cửa hàng A, cho nên NB không có quyền kiện NM trả tiền hàng.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    NM căn cứ vào biên bản thoả thuận của 3 bên để từ chối nghĩa vụ thanh toán là không đúng với lý do:

    • Thứ nhất, trong biên bản thoả thuận 3 bên không phải là 1 bộ phận không thể tách rời khỏi hợp đồng, do đó nghĩa vụ của hợp đồng giữa NB và NM không chịu chi phối bởi biên bản thoả thuận này.
    • Thứ hai, bản chất của hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá là bên nhận uỷ thác, để được hưởng phí uỷ thác, thì phải nhân danh bản thân mình thực hiện các công việc đã được uỷ thác với người thứ ba, chứ không phải nhân danh người uỷ thác. Với lập luận của NM, rõ ràng, bằng biên bản thoả thuận 3 bên ngày 10/6/2013, NM, một mặt muốn nhận phí uỷ thác, nhưng mặt khác lại không muốn nhận trách nhiệm vè mình qua việc nhân danh mình được thực hiện hợp đồng với người thứ ba.
    • Thứ ba, biên bản thoả thuận 3 bên lại quy định Cửa hàng A chịu trách nhiệm trả tiền cho NB – tài khoản ở Singapore. Điều này không thể thực hiện được, vì cửa hàng A không được làm việc đó theo quy định của pháp luật Việt Nam (cơ chế quản lý ngoại hối).

    Việc NM không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, do đó NM phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra cho NB:

    • Tiền hàng chưa thanh toán.
    • Tiền lãi (lãi mất hưởng), nhưng chỉ được tính từ thời điểm sau 7 ngày kể từ ngày NM nhận được chứng từ gốc, không phải từ ngày giao hàng là 21/6/2013.
    • Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax nếu không cung cấp được bằng chứng hợp lệ thì sẽ không được bồi thường.

    Câu 8:

    Ngày 15/1/2016, công ty X (Việt Nam) ký hợp đồng mua vỏ giấy kẹo có in sẵn địa chỉ, logo của công ty mình với công ty Y (Trung Quốc), giao hàng làm 3 lần. Hợp đồng quy định trước mỗi đợt giao hàng các bên phải ký xác nhận với nhau về số lượng hàng sẽ giao trong biên bản thoả thuận (là 1 phần không thể tách rời của hợp đồng) làm căn cứ để mở L/C và giao hàng. Đợt giao hàng thứ nhất và thứ hai diễn ra thuận lợi, các bên đã nhận được tiền hàng và tiền thanh toán đúng như hợp đồng. Ngày 20/9/2016, công ty Y fax cho công ty X thông báo mình đã sản xuất xong lô hàng trị giá 80.000 USD và yêu cầu công ty X mở L/C để giao hàng tiếp. Công ty X telex trả lời đồng ý nhận lô hàng làm 2 lần vào ngày 15/11/2016 và 10 ngày sau đợt giao hàng thứ nhất. Tuy nhiên ngày 15/10/2016 công ty X đã thông báo cho công ty Y rằng mình không thể nhận hàng do kẹo không bán được trên thị trường Hà Nội và hiện công ty đang dừng sản xuất. Công ty Y không thể giao hàng và phải lưu lại lô hàng trong kho. Công ty Y sau đó đã kiện ra trọng tài yêu cầu công ty X bồi thường:

    • Số tiền hàng mà công ty Y đã sản xuất là 85.000 USD.
    • Tiền lãi đối với 85.000 USD kể từ thời điểm đáng lẽ công ty X phải thanh toán đến thời điểm mà công ty Y nhận được tiền thanh toán theo hợp đồng.
    • 000 USD cho chi phí chung như chi phí pháp lý, thời gian chờ đợi…

    Công ty X kháng cáo không bồi thường với lý do:

    • Việc công ty X bị ngừng sản xuất là bất khả kháng và được miễn trách.
    • Trên thực tế công ty X và công ty Y chưa ký kết với nhau biên bản thoả thuận thứ 3 nào, do vậy Y không có căn cứ yêu cầu X mở L/C và nhận hàng.

    Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

    Trả lời:

    Công ty X và Y tuy chưa ký với nhau biên bản thoả thuận thứ ba nhưng công ty Y đã gửi đề nghị thông qua fax và công ty X cũng đã chấp nhận hàng vô điều kiện. Do đó các bên đã có thoả thuận về việc mua lô hàng thứ ba và công ty X phải mở L/C và nhận hàng.

    Việc công ty X ngừng sản xuất không thể coi là bất khả kháng vì trong kinh doanh các bên cần phải dự đoán được xu hướng của thị trường, việc hàng hoá không bán được dẫn đến dừng sản xuất không thể coi là một sự kiện không thể lường trước được, do đó công ty X không được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

    Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng nên phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra:

    Thông thường trong trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và không nhận hàng, bên bán phải bán lô hàng đó đi, nếu lãi họ hưởng còn nếu lỗ thì có quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên trong trường hợp này do vỏ kẹo đã in sẵn thông tin của công ty X nên không thể bán cho bên thứ ba,  công ty Y có quyền đòi bồi thường là giá trị lô hàng nhưng phải trả lại hàng cho công ty X. Số tiền bồi thường không phải là giá trị số hàng sản xuất mà là giá trị của số hàng trong thoả thuận (80.000 USD).

    Tiền lãi đối với 80.000 USD chứ không phải với 85.000 USD.

    Chi phí chung nếu công ty Y có thể đưa ra chứng cứ hợp lý thì sẽ được bồi thường nhưng thông thường các chi phí này thường bị trọng tài bác bỏ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Kinh-T%E1%BA%BF-Ngo%E1%BA%A1i-Th%C6%B0%C6%A1ng-Th%E1%BB%B1c-Tr%E1%BA%A1ng-Nh%E1%BA%ADp-Kh%E1%BA%A9u-H%C3%A0ng-Ch%E1%BA%A5t-D%E1%BA%BBo-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Nhập Khẩu Hàng Chất Dẻo 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    • Lý do nghiên cứu:
      Cùng quá trình hội nhập, phát triển, xuất nhập khẩu dần trở thành bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế đất nước đặc biệt trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Cũng bởi vậy, chính sách quản lý nhập khẩu được chính phủ đề cao, nghiên cứu vô cùng kĩ lưỡng và cẩn trọng nhằm đưa ra những chính sách quản lý phù hợp, có ích cho nền kinh tế.
      chất dẻo nguyên kiệu cũng là mặt hàng nằm trong danh mục hàng hóa nhập khẩu có tầm ảnh hưởng lớn đối với kinh tế nước nhà. Vấn đề quản lý nhập khẩu đang là công tác đầy khó khăn, thách thức đối với các nhà quản lý trong khi chúng ta đang ngày càng tiến tới thực hiện đúng cam kết trong WTO và các cam kết khu vực.
    • Mục đích:
      Mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá tình hình phát triển ngành chất dẻo trong nước, đồng thời còn có những tác động của những hạn chế trong hoạt động nhập khẩu. Từ đó đề ra những phương hướng quản lý và phát triển nhằm nâng cao năng lực của ngành cũng như sự phát triển của nền kinh tế.
      Mục tiêu cụ thể:
      – Nắm bắt thực trạng phát triển của ngành
      – Những tồn tại của ngành cũng như hoạt động nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu
      – Nắm được chính sách Chính phủ sử dụng trong quản lý nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu những năm vừa qua.
      – Tìm hiểu những cam kết của Việt Nam khi ra nhập WTO và phương hướng quản lý trong thời gian tới.
    • Đối tượng, phạm vi:
      Đối tượng: Các loại chất dẻo nguyên liệu
      Phạm vi: – Địa bàn nghiên cứu: Việt Nam
      – Thời gian: Năm 2009- nay
    • Dự kiến kết quả:
      Sau khi hoàn thành đề tài nghiên cứu này em đã nắm bắt được rất nhiều kiến thức về quản lý nhập khẩu nói chung và ngành chất dẻo nước ta nói riêng. Với những kiến thức đã nắm được sẽ giúp ích rất nhiều trong nghiệp vụ sau này. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để tài liệu được hoàn thiện hơn! Em xin chân thành cảm ơn!

     

    CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH VÀ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ,
    ĐIỀU HÀNH NHẬP KHẨU
    1.1. VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU

    Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước.
    Hai loại nhập khẩu:
    – Nhập khẩu bổ sung: Nhập khẩu những hàng hóa mà trong nuowcskhoong sản xuất được hoặc sản xuất không đủ đáp ứng nhu cẩu.
    – Nhập khẩu thay thế: Nhập khẩu những hàng hóa mà sản xuất trong nước không có lợi.
    Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
    – Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước.
    – Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định.
    – Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Ở đây, nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
    – Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
    Chính sách nhập khẩu của Việt Nam:
    – Nhập khẩu vật tư là chủ yếu (xăng dầu, sắt thép, dụng cụ phụ tùng, bông sợi).
    – Nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu, hạn chế tối đa nhập khẩu hàng xa xỉ.
    – Nhập khẩu thiết bị toàn bộ, dây chuyền sản xuất tiên tiến có tính chất đổi mới công nghệ, đặc biệt ưu tiên nhập khẩu kĩ thuật, công nghệ để sản xuất hàng xuất khẩu.
    – Khuyến khích nhập khẩu hàng phi mậu dịch.

    1.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU
    1.2.1. Sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm, hợp lí, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
    a) Sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao
    Đây là chỉ tiêu của mọi quốc gia, đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam do nguồn vốn ngoại tệ của nước ta quá ít mà nhu cầu lại quá lớn
    Yêu cầu:
    – Xác định cơ cấu hàng nhập khẩu một cách hợp lí đối với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và khoa học kĩ thuật của Việt Nam.
    – Khi sử dụng nguồn vốn nhập khẩu cần tiết kiệm, mặt hàng cần trước thì nhập trước, mặt hàng nào cần sau thì nhập sau, chưa cần ngay hoặc trong nước sản xuất được thì kiên quyết không nhập khẩu.
    -Khi nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường để nhập được hàng tốt, giá phù hợp, kịp thời, phù hợp về chủng loại, nhanh chóng phát huy tác dụng đẩy mạnh sản xuất nâng cao đời sống nhân dân.
    b) Nhập khẩu thiết bị, máy móc tiên tiến, hiện đại và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
    * Tiêu chuẩn máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại:
    – Năng suất lao động
    – Mức tiêu hao nguyên vật liệu
    – Chất lượng (độ bền, độ tin cậy)
    – Độ ô nhiễm môi trường
    * Phù hợp với điều kiện Việt Nam: Về vốn nhập khẩu, trình độ quản lý và sử dụng, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước, phù hợp với các chính sách khu vực, với thời tiết khí hậu Việt Nam.
    c) Nhập khẩu phải bảo vệ và thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng xuất khẩu
    * Nhập khẩu bảo vệ và thúc đẩy sản xuất
    Do cơ sở vật chất – kĩ thuật còn yếu kém, máy móc lạc hậu. Vì vậy cần phải nhập khẩu để phát triển sản xuất.
    Do ảnh hưởng của cách mạng khoa học kĩ thuật, cung thế giới tăng và lớn hơn mức cầu thế giới. Mặt khác, các ngành sản xuất của Việt Nam còn non trẻ, sản phẩm kém tính cạnh tranh nên cần phải có chính sách bảo hộ. Tuy nhiên không nên bảo hộ bằng bất kì giá nào.
    Nguyên tắc này đã được pháp lệnh hóa thành danh mục hàng cấm, hàng quản lý hạn ngạch, bằng kế hoạch định hướng và quản lý các cơ quan chuyên ngành mà hàng năm Nhà nước công bố. Tuy nhiên cần hạn chế một cách hợp lý.
    * Nhập khẩu làm tăng xuất khẩu
    Sản xuất phát triển → hàng hóa tăng → xuất khẩu tăng → nhập khẩu tăng → sản xuất tăng.
    Ngoài ra còn những nguyên tắc sau:
    – Lấy nhập khẩu kéo xuất khẩu: dung hàng tồn kho đổi lấy hàng tồn kho
    – Lấy xuất khẩu để kéo nhập khẩu: dung hàng quý hiếm đổi lấy hàng quý hiếm
    – Lấy nhập khẩu để nuôi xuất khẩu: muốn xuất khẩu phải có nguồn lực sản xuất
    – Lấy nhập khẩu để chống nhập khẩu: nhập khẩu công nghệ sản xuất → chống nhập khẩu thành phẩm từ nước ngoài.
    1.2.2. Chính sách quản lí nhập khẩu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
    1.2.2.1. Thuế nhập khẩu
    a) Khái niệm:
    Thuế quan là một khoản tiền mà chủ hàng xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho cơ quan hải quan của một nước.
    Thuế nhập khẩu chính là loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
    b) Mục đích:
    – Thuế nhập khẩu góp phần vào việc bảo hộ và phát triển sản xuất thông qua việc tăng gia sản xuất hàng hóa nội địa của hàng nhập khẩu.
    – Thuế nhập khẩu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
    – Thuế nhập khẩu góp phần điều tiết hoạt động nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng trong nước.
    – Thuế nhập khẩu là công cụ phân biệt đối xử trong thương mại, gây áp lực đòi các bạn hàng nhượng bộ trong đàm phán.
    – Giảm thuế quan góp phần thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, là biện pháp quan trọng để đẩy nhanh tiến trình hội nhập khu vựa và thế giới kinh tế.
    – Tiết kiệm ngoại tệ do hạn chế nhập khẩu, cải thiện được cán cân thanh toán quốc tế.
    – Phân bổ lại lợi ích kinh tế – xã hội.
    c) Những hạn chế khi áp dụng mức thuế suất quá cao
    – Gây ra tình trạng độc quyền đối với sản xuất trong nước, làm cho hàng hóa sản xuất trong nước mất khả năng cạnh tranh.
    – Gây ra tình trạng trốn lậu thuế và gian lận thương mại, ảnh hưởng tới người tiêu dùng.
    – Gây ra tâm lí sính hàng ngoại.
    → Vấn đề: Cần xây dựng một mức thuế hợp lí, đảm bảo được quyền lợi của Nhà nước, người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng.
    d) Giá tính thuế và biện pháp tính thuế.
    – Các phương pháp tính thuế:
    Cách 1: Theo giá trị
    Cách 2: Theo đơn vị (áp dụng với những mặt hàng giá trị nhỏ)
    Cách 3: Hỗn hợp: Thuế =Số lượng × Giá tính thuế nhập khẩu
    – Giá tính thuế:
    Hai phương pháp xác định trị giá: Trị giá Brussells và trị giá GATT
    e) Biểu thuế
    – Khái niệm: Biểu thuế là một bảng phân loại có hệ thống với tất cả các hàng hóa thuộc diện chịu thuế đi qua khu vực hải quan của một nước.
    – Phân loại biểu thuế: 2 loại:
    + Biểu thuế đơn: Là biểu thuế trong đó 1 loại hàng hóa chỉ ghi 1 mức thuế.
    + Biểu thuế kép: Một loại hàng hóa ghi từ 2 mức thuế trở lên
    • Mức thông thường: Là mức thuế đánh vào các hàng hóa không phân biệt xuất xứ.
    • Mức ưu đãi: Là mức thuế thấp hơn mức thông thường một tỉ lệ nào đó tùy thuộc vào mối quan hệ giữa nước chủ nhà với nước đối tác.
    Hiện nay ở Việt Nam sử dụng 3 loại thuế suất sau:
    – Thuế suất ưu đãi MFN: áp dụng với hàng hóa nhập khẩu theo các hiệp định thương mại đã kí kết giữa hai chính phủ, trong đó có điều khoản ưu đãi về xuất nhập khẩu.
    – Thuế suất ưu đãi đặc biệt (áp dụng với các nước ASEAN).
    – Thuế suất thông thường (bằng 150% thuế suất ưu đãi): đánh chung cho các loại hàng hóa.
    Để được hưởng ưu đãi, nhà nhập khẩu phải có hợp đồng hợp pháp hợp lệ và có giấy chứng nhận xuất xứ C/O.
    Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế và hoàn lại thuế:
    – Miễn thuế: + Hàng viện trợ không hoàn lại
    + Hàng tạm nhập tái xuất
    + Hàng là tài sản di của công dân Việt Nam đi công tác và học tập, đi lao động và hợp tác mang theo hoặc gửi về trong mức quy định.
    + Hàng nhập khẩu của các cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế được hưởng tiêu chuẩn miễn trừ.
    – Hàng được xét miễn thuế:
    + Hàng nhập khẩu phục vụ an ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo.
    + Hàng là vật tư nguyên liệu phục vu gia công xuất khẩu.
    + Hàng là quà tặng, quà biếu.
    + Hàng nhập khẩu của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp khuyến khích đầu tư.
    – Hàng được hoàn lại thuế: + Hàng là vật tư, nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu.
    + Hàng tạm nhập tái xuất.
    Tính chất bảo hộ của thuế quan:
    – Bảo hộ danh nghĩa: Là việc chỉ đơn thuần đánh thuế vào hàng nhập khẩu, làm cho giá hàng ngoại nhập giảm sức cạnh tranh so với hàng hóa trong nước, từ đó bảo hộ sản xuất nội địa.
    – Bảo hộ thực sự: Là việc không chỉ đơn thuần là đánh thuế nhập khẩu mà còn đánh thuế nguyên vật liệu để sản xuất hàng.
    1.2.2.2. Các biện pháp quản lý phi thuế
    a) Biện pháp hạn chế định lượng
    *Cấm nhập khẩu:
    Ở Việt Nam hàng cấm nhập khẩu nhằm mục đích đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra Việt Nam còn cấm nhập khẩu một số hàng nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Hàng cấm nhập khẩu được Chính phủ công bố hàng năm, có giá trị cho năm đó hoặc cho một số năm
    *Hạn ngạch nhập khẩu:
    – Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nhập khẩu nào đó trong một thời gian nhất định.
    – Hạn ngạch nhập khẩu thường là một hình thức hạn chế về số lượng và thuộc hệ thống giấy phép không tự động.
    – Khi hạn ngạch quy định cho cả mặt hàng và thị trường thì hàng hoá đó chỉ được nhập khẩu từ thị trường đã định với số lượng bao nhiêu, trong thời gian bao lâu.
    – Thường hạn ngạch nhập khẩu được áp dụng bằng cách cấp giấy phép nhập khẩu cho một số công ty
    Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác:
    – Hạn ngạch thuế quan (Tariff quotas): Hạn ngạch thuế quan là cắt giảm thuế quan đối với một số lượng hàng nhập khẩu nhất định. Hàng nhập khẩu vượt quá định mức này phải nộp thuế cao hơn.
    – Hạn ngạch thuế quan mở cửa thi trường tối thiểu (minimum access tariff quotas)
    Hạn ngạch thuế quan mở cửa thị trường tối thiểu là một cơ chế dành mức tối thiểu mở cửa thị trường đối với những hàng nông sản mà các biện pháp phi thuế quan đã được chuyển thành thuế quan
    – Hạn ngạch thuế quan theo mức độ mở cửa hiện hành (current access tariff quotas)
    Hạn ngạch thuế quan theo mức độ mở cửa hiện hành mô tả các cơ hội mở cửa thị trường cho hàng nông sản khi các biện pháp phi thuế quan được chuyển thành phi thuế quan.
    * Giấy phép nhập khẩu hàng hoá
    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu. Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch là được áp dụng rộng rãi hơn.
    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá có hai loại thường gặp:
    + Giấy phép tự động: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu thì cấp ngay không cần đòi hỏi gì cả.
    + Giấy phép không tự động: Loại giấy phép này muốn xin nhập khẩu phải có hạn ngạch nhập khẩu và hoặc bị ràng buộc bởi các hạn chế khác về nhập khẩu. Các doanh nghiệp chỉ được phép ký hợp đồng nhập khẩu các mặt hàng thuộc loại này khi có giấy phép nhập khẩu của Bộ Thương mại hoặc Bộ chuyên ngành.
    b) Quyền kinh doanh của các doanh nghiệp
    Quyền kinh doanh nhập khẩu:
    Việc cấp giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp được quy định tại nghị định số 37/CP ngày 19/4/1994 và nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998.
    Đầu mối nhập khẩu:
    Trong cơ chế quản lý nhập khẩu của Việt Nam, có một số mặt hàng Nhà nước quy định chỉ được nhập khẩu thông qua một số doanh nghiệp nhất định được Nhà nước cho phép (đầu mối nhập khẩu).
    Mục đích việc quy định đầu mối nhập khẩu là góp phần đảm bảo cung cầu, ổn định xã hội, sức khỏe của cộng đồng và bảo hộ sản xuất trong nước.
    c) Các rào cản kỹ thuật: – Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn
    – Kiểm định động, thực vật
    – Các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa
    d) Các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài
    – Yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa
    – Yêu cầu tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc
    – Yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước
    e) Quản lý điều tiết nhập khẩu thông qua các hoạt động dịch vụ
    – Dịch vụ phân phối
    – Dịch vụ tài chính ngân hàng:

    + Hạn chế trong giao dịch thanh toán
    + Hạn chế trong sử dụng ngoại tệ
    + Quản lý vay ngoại tệ
    + Các dịch vụ khác như giám định hàng hóa, dịch vụ vận tải, dịch vụ khai báo và tính thuế…
    f) Các biện pháp quản lý hành chính
    – Đặt cọc nhập khẩu
    – Hàng đổi hàng
    – Thủ tục hải quan
    – Mua sắm chính phủ
    – Quy tắc xuất xứ
    g) Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
    Ở Việt Nam, Điều 11 – Luật thuế xuất nhập khẩu 2005 quy định, ngoài việc chịu thuế nhập khẩu, hàng hóa còn phải áp dụng một trong những biện pháp về thuế sau để đáp lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế:
    – Tăng mức thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu quá mức vào Việt Nam theo quy định của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu.
    – Thuế chống phá giá: áp dụng trong trường hợp hàng hóa vào Việt Nam mà giá bán quá thấp so với giá thông thường do được bán phá giá gây khó khăn cho sự phát triển ngành tương tự của nước ta.
    – Thuế chống trợ cấp
    – Thuế chống phân biệt đối xử.

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP CHẤT DẺO NGUYÊN LIỆU TỪ HÀN QUỐC

    2.1. ĐÁNH GIÁ VỀ LƯỢNG CHẤT DẺO NGUYÊN LIỆU NHẬP KHẨU
    Năm 2008, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tăng mạnh trong những tháng đầu năm, cùng với đó, giá cũng trong xu hướng tăng. Nhưng vào cuối năm, giá cả và khối lượng nhập khẩu đều giảm đáng kể. Chỉ tính riêng trong tháng 12/2008, kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 212 triệu USD, bằng 70% của tháng 7 (là tháng có kim ngạch nhập khẩu đạt lớn nhất), giá nhập khẩu trung bình cũng giảm còn 1.100 USD/T. Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nhựa sẽ khó khăn hơn do tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu, tiêu thụ trong nước cũng chậm lại nên nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu trong năm 2009 tất yếu cũng sẽ bị chững lại và giá nhập khẩu cũng sẽ giảm đáng kể.

    Trong năm 2009, dự báo Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 1,85 triệu tấn chất dẻo nguyên liệu đạt 2,68 tỉ USD, tăng 6,3% về lượng nhưng giảm 8,6% về trị giá so với năm 2008. Còn theo số liệu thống kê thực tế từ Tổng cục Hải quan, riêng trong tháng 2/2009 nước ta đã nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 292 triệu USD, tăng 161,14% so với tháng trước và tăng 49,66% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung, 2 tháng đầu năm 2009, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 403,8 triệu USD, giảm nhẹ 14,18% so với 2 tháng đầu năm 2008.

    Về thị trường và chủng loại nhập khẩu: Trong tháng 2/2009, khối lượng nguyên liệu nhựa nhập khẩu từ châu Á tăng mạnh, tăng 76,9%, nhập khẩu từ Trung Đông cũng tăng 47,9%. Ngược lại nhập khẩu từ châu Âu lại giảm 21,4%, với mức tăng nhập khẩu 43,48% so với tháng trước, Hàn Quốc đã trở thành nhà cung cấp nguyên liệu nhựa lớn nhất của nước ta trong tháng 2/2009. Tính chung 2 tháng đầu năm thị trường này đã cung cấp cho Việt Nam 53,8 nghìn tấn nguyên liệu nhựa các loại. Các loại nhựa được nhập khẩu nhiều từ Hàn Quốc là PP, PE, PS, polyester, PET.

    Theo số liệu thống kê, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam tháng 8/2010 đạt 224 nghìn tấn với kim ngạch 275,9 triệu USD, tăng 7,4% về lượng nhưng giảm 26,2% về trị giá so với tháng trước, tăng 11,6% về lượng và tăng 2,3% về trị giá so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2010 đạt 1,5 triệu tấn với kim ngạch 2,4 tỉ USD, tăng 6% về lượng và tăng 37,3% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 4,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước 8 tháng đầu năm 2010.

     

    Hàn Quốc là thị trường dẫn đầu về kim ngạch cung cấp chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam 8 tháng đầu năm 2010, đạt 279,6 nghìn tấn với kim ngạch 443 triệu USD, tăng 4,3% về lượng và tăng 41,2% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 18,6% trong tổng kim ngạch; đứng thứ hai là Đài Loan đạt 231 nghìn tấn với kim ngạch 379 triệu USD, tăng 8,5% về lượng và tăng 35,1% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 15,9% trong tổng kim ngạch

    Kim ngạch nhập khẩu chết dẻo nguyên liệu giảm trong tháng 2/2011  (Mar 31, 2011)

    Theo HIệp hội Nhựa Việt Nam, tính chung 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 359,8 nghìn tấn, trị giá đạt 645,4 triệu USD, tăng mạnh so cùng kỳ năm 2010, tăng lần lượt 20,3% và 42,1%.

    Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu sẽ tăng mạnh trở lại trong tháng 3 tới do tình hình sản xuất đã đi vào ổn định, nhu cầu tiêu thụ đối với các sản phẩm nhựa tăng cao.

    Trong tháng 2/2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ các thị trường trên thế giới giảm mạnh so tháng trước do ảnh hưởng bởi kỳ nghỉ Tết kéo dài. Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, tháng 2/2011 nước ta nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ 28 thị trường, trong đó có tới 20 thị trường giảm về lượng và trị giá. Cụ thể:

    Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ các thị trường lớn giảm thấp:

    Hàn Quốc vẫn là thị trường dẫn đầu về lượng và trị giá nhập khẩu trong tháng 2/2011, đạt lần lượt là 33,4 nghìn tấn và 63,2 triệu USD, giảm 6,7% về lượng và 0,1% về trị giá so tháng trước. So cùng kỳ năm trước, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ Hàn Quốc vẫn tăng 20,7% về lượng và tăng 41,8% về trị giá.

    Thống kê 2 tháng đầu năm, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này đạt 60,7 nghìn tấn, trị giá 94,6 triệu USD, tăng lần lượt 14% và 33,8% so cùng kỳ năm 2010.

    Các mặt hàng nhập khẩu chính từ thị trường Hàn Quốc hiện nay vẫn chủ yếu là PE, PP, Polyester, PET,PS,PVC…

    A rap Xeut tiếp tục giữ vững vị trí thứ 2 về lượng và trị giá chất dẻo nguyên liệu cung cấp cho thị trường Việt Nam với lượng đạt 32,1 nghìn tấn, trị giá 45,6 triệu USD. So tháng trước nhập khẩu từ thị trường này giảm 6,9% về lượng và 5,4% về trị giá. Tuy nhiên, so cùng kỳ năm 2010, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu lại tăng rất mạnh, lần lượt tăng 127,6% và 153%. Như vậy, trong 2 tháng đầu năm nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường A rap Xeut đạt 66,4 nghìn tấn, trị giá 93,7 triệu USD, tăng gần 70% về lượng và 92,7% về trị giá so cùng kỳ năm 2010.

    Các sản phẩm chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu nhiều từ Arap Xeut trong tháng 2/2011 vẫn chủ yếu là PE và PP.

    Tây Ban Nha: nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này giảm 88,3% về lượng và 87,7% về trị giá so tháng trước, xuống chỉ còn 75 tấn và hơn 200 nghìn USD. So cùng kỳ năm trước, mức giảm có thấp hơn với hơn 70% về lượng và 62,7% về trị giá. Tính chung 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt 716 tấn với 1,8 triệu USD, giảm 3,8% về lượng nhưng vẫn tăng 16,5% về trị giá do chịu tác động bởi yếu tố giá nhập khẩu tăng cao.

    Hong kong: nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ Hong kong đạt 410 tấn, trị giá 765,1 nghìn USD, giảm 68,9% cả về lượng và trị giá so tháng 1/2011; so cùng kỳ năm 2010 giảm lần lượt 42,3% và 29,6%. Mặc dù vậy, 2 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này vẫn tăng 44,6% về lượng và tăng tới gần 82% về trị giá so cùng kỳ, đạt 1,8 nghìn tấn, trị giá 3,4 triệu USD. Giá nhập khẩu nhựa nguyên liệu nói chung từ thị trường này cũng tăng cao trong những tháng gần đây.

    Trong tháng 2/2011, Nhật Bản đã vượt qua Singapore, Malaysia, Trung Quốc và Hoa Kỳ để trở thành thị trường cung cấp chất dẻo nguyên liệu nhiều thứ 5 cho thị trường Việt Nam. Như vậy, cơ cấu thị trường cung cấp chất dẻo nguyên liệu đã bắt đầu có sự thay đổi trong tháng 2/2011.

    Thống kê cho thấy, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường này trong tháng 2/2011 đạt 10,1 nghìn tấn, trị giá 25,1 triệu USD, tăng 24,6% về lượng và tăng 21,5% về trị giá so tháng trước; tăng 4,3% về lượng và tăng 29,3% về trị giá so cùng kỳ năm trước. Mặc dù vậy, lượng nhập khẩu tính chung 2 tháng đầu năm từ Nhật Bản lại giảm 15,2% so cùng kỳ năm 2010, đạt 18,4 nghìn tấn; trị giá vẫn tăng 8,9% đạt 46,2 triệu USD.

    Thời gian vừa qua, song thần và động đất đã gây cho Nhật Bản những tổn thất rất nặng nề. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất cũng như hoạt động xuất nhập khẩu nước này. Mặc dù vậy nhưng trong tháng tới, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của nước ta từ Nhật Bản sẽ vẫn tăng do các đơn hàng đã được xuất đi. Tuy nhiên, trong dài hạn, nguồn cung hạn chế sẽ tác động không nhỏ đến tình hình xuất khẩu của thị trường này.

    lượng nhập khẩu trong tháng 12/2012 là 231nghìn tấn, trị giá 403 triệu USD, tăng 9,3% về lượng và 5,3% về trị giá so với tháng trước.

    Tính đến hết năm 2012, cả nước nhập khẩu gần 2,74 triệu tấn chất dẻo nguyên liệu, trị giá đạt 4,8 tỷ USD, tăng 7,1% về lượng và tăng nhẹ 0,9% về trị giá so với năm 2011.

    Việt Nam nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu chủ yếu từ các thị trường: Ả rập Xê út với gần 569 nghìn tấn, tăng 16%; Hàn Quốc: gần 516 nghìn tấn, tăng 17,1%

    2.2. ĐÁNH GIÁ VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

    2.2.1 Chính sách quản lí chung

    Năm 1989, cơ chế xuất nhập khẩu đã được đổi mới một bước quan trọng, đem lại những kết quả nhất định, đồng thời cũng cho thấy những bộc lộ mới, cần được tiếp tục chấn chỉnh đổi mới theo những hướng cơ bản trong Nghị định 64-HĐBT ngày 10-6-1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
    Để chuẩn bị xây dựng chính sách và cơ chế quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu phù hợp với tình hình mới của kế hoạch 5 năm tiếp theo, trong năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ thị các Bộ liên quan chỉ đạo thi hành một số việc dưới đây:
    a) Phương thức thanh toán tiền hàng xuất, nhập khẩu theo nghị định thư
    Bộ Tài chính chủ trì cùng Ngân hàng Nhà nước và Bộ Thương nghiệp nghiên cứu, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trong đầu quý IV năm 1990 một cơ chế hoàn chỉnh về thanh toán tiền hàng xuất, nhập khẩu theo nguyên tắc: nguồn vốn thanh toán tiền hàng xuất khẩu được thực hiện từ ngân sách Nhà nước; tiền thành toán hàng nhập khẩu do các chủ hàng nội địa chịu trách nhiệm thanh toán, thông qua kế hoạch và hợp đồng nhập khẩu ký với chủ hàng nhập khẩu. Trường hợp do ngân sách chi trả thì phải được phản ánh rõ trong kế hoạch tài chính của ngành, đơn vị và phải được bố trí trong ngân sách Nhà nước của năm kế hoạch; Ngân hàng là trung tâm thanh toán giữa ngân sách với chủ hàng nhập khẩu, xuất khẩu, đồng thời cũng là trung tâm thanh toán giữa chủ hàng nhập khẩu với đơn vị sử dụng hàng nhập khẩu; giữa chủ hàng xuất khẩu với đơn vị kinh doanh hàng xuất khẩu.
    Trong năm 1990, việc thanh toán thực hiện như sau:
    + Đối với hàng nhập khẩu
    Từ nay, khi hàng nhập về đến cảng, căn cứ vào danh sách chủ hàng nhập khẩu (đơn vị ký hợp đồng nhập khẩu với bên ngoài) và tỷ giá thanh toán từng nhóm hàng nhập theo quy định hiện hành, Ngân hàng ngoại thương trích tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ hàng nhập khẩu chuyển vào tài khoản tiền gửi của ngân sách.
    Trường hợp chủ hàng nhập khẩu không đủ vốn thành toán thì ngân hàng ngoại thương cho vay để chuyển trả đủ ngân sách; lãi suất vay được áp dụng theo mức lãi suất ưu đãi đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng duyệt.
    Sau 15 ngày, kể từ ngày chủ hàng nội địa (đơn vị lên đơn hàng nhập khẩu) nhận được thông báo của chủ hàng nhập khẩu về việc hàng đã về cảng, nếu các chủ hàng nội địa không đến nhận hàng và thanh toán cho chủ hàng nhập khẩu theo hợp đồng đã ký, thì chủ hàng nhập khẩu được phép tổ chức việc tiêu thụ khối lượng hàng nhập đó trên nguyên tắc bảo đảm đủ nguồn thu cho ngân sách.
    b) Quản lý hoạt động kinh doanh nhập khẩu
    + Đối với một số hàng hoá cần quản lý bằng hạn ngạch: Căn cứ nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước, sau khi tham khảo ý kiến các địa phương, căn cứ kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp sản xuất trong nước và các Hiệp hội xuất, nhập khẩu hữu quan, Bộ trưởng các Bộ là người chịu trách nhiệm đưa ra kế hoạch về số lượng hàng hoá cần xuất, cần nhập đối với các mặt hàng cần định hạn ngạch thuộc ngành mình sản xuất hoặc cung ứng.
    Căn cứ kế hoạch nói trên của các Bộ, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm xem xét, tổng hợp trên cơ sở cân đối chung của nền kinh tế quốc dân và khả năng thanh toán quốc tế của Nhà nước trong năm kế hoạch, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt hạn ngạch những mặt hàng có quan hệ trực tiếp đến những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân cần xuất, nhập khẩu.
    Bộ Thương nghiệp chịu trách nhiệm bàn với các Hiệp hội xuất nhập khẩu các ngành hàng và phân bổ hạn ngạch đã được duyệt cho các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu.
    Các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu, phân bổ hạn ngạch cho các đơn vị đã được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.
    Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương nghiệp và các Bộ sản xuất chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện quy trình trên để việc xét duyệt các chỉ tiêu, danh mục các mặt hàng chủ yếu được thực hiện xong trong quý IV hàng năm trước năm kế hoạch.
    Đối với năm 1990, trong khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, duyệt chỉ tiêu, danh mục các mặt hàng cần phải quản lý bằng hạn ngạch, Bộ Thương nghiệp bàn với các Bộ, ngành sản xuất hữu quan để cấp hạn ngạch ở mức nhu cầu đã cấp trong năm 1989 (bao gồm cả hàng nhập để bán thu ngoại tệ) đối với 7 mặt hàng xuất và 12 mặt hàng nhập.
    Đối với các hàng hoá bán tại các cửa hàng bán thu ngoại tệ thuộc danh mục hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch, từ ngày 1 tháng 5 năm 1990 áp dụng theo cơ chế quản lý chung đối với các mặt hàng cần quản lý bằng hạn ngạch.
    + Đối với các loại hàng hoá không quản lý bằng hạn ngạch, các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu được đăng ký mặt hàng số lượng và thị trường mua bán tại Bộ Thương nghiệp. Bộ Thương nghiệp có trách nhiệm tổng hợp và trao đổi ý kiến với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước để cân đối chung với sản xuất và nhu cầu trong nước để cấp giấy phép xuất nhập khẩu, điều hoà quan hệ cung cầu.
    Đối với một số mặt hàng nhập trong từng thời gian có chênh lệch giá cao (như xe gắn máy, ô tô du lịch các loại) trong khi chờ đợi sự điều chỉnh hợp lý mức thuế nhập khẩu, Bộ Thương nghiệp bàn với Bộ Tài chính được thu một khoản phụ thu (ngoài phần thuế nhập khẩu theo chính sách hiện hành) nộp ngân sách Nhà nước.
    Bộ Thương nghiệp bàn với các Bộ sản xuất hữu quan và các địa phương có khả năng để tích cực xúc tiến tổ chức liên doanh với nước ngoài về lắp ráp xe gắn máy và ô tô các loại, giảm dần mức nhập khẩu các loại hàng này và có phần để xuất khẩu. Sớm ban hành quy chế về nhập khẩu các loại xe này để khắc phục tình trạng nhập tràn lan, nhiều mác xe, gây bất lợi về mặt giá cả và phụ tùng thay thế, bảo dưỡng.
    + Về việc rà xét lại các biểu thuế suất hàng nhập khẩu.
    Bộ Tài chính chủ trì cùng với Bộ Thương nghiệp, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, rà xét lại các biểu thuế suất hàng hoá xuất, nhập khẩu trên nguyên tắc:

    – Khuyến khích nhập khẩu các nguyên liệu, vật liệu, các thiết bị kỹ thuật tiên tiến để sản xuất, chế biến các mặt hàng tiêu dùng nội địa và hàng xuất khẩu; các mặt hàng tiêu dùng phổ biến có nhu cầu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu.
    -Đối với những mặt hàng chỉ có nhu cầu tiêu dùng ở những người có thu nhập cao, những mặt hàng phải hạn chế tối đa việc nhập khẩu thì áp dụng mức thuế suất cao khi nhập khẩu, hoặc cần nhập trong từng thời gian.

    c)Tổ chức hoạt động kinh doanh nhập khẩu
    Hệ thống các tổ chức kinh doanh nhập khẩu trực tiếp với bên ngoài cần được sắp xếp, chấn chỉnh theo nguyên tắc:

    Đối với các mặt hàng nhập có hạn ngạch và các mặt hàng nhập: xăng, dầu, sắt, thép, bông nguyên liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, xi măng và đường, việc nhập khẩu thực hiện chủ yếu là qua các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu trực tiếp thường xuyên. Trong một số trường hợp đặc biệt, phải có quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
    Bộ trưởng các Bộ Thương nghiệp, Tài chính, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thi hành ngay Chỉ thị này theo phạm vi trách nhiệm của từng Bộ, cơ quan

    2.2.2 Các giải pháp, chính sách chủ yếu

    • Xuất nhập khẩu, phát triển thị trường:
      + Bảo vệ thị trường nội địa bằng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng, môi trường hợp pháp nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của sản phẩm kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vào thị trường Việt Nam
      + Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để hoàn thiện thị trường các sản phẩm thép, tạo liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi nhuận và cộng đồng trách nhiệm giữa nhà sản xuất với nhà kinh doanh thép
      + Hoàn thiện chính sách, pháp luật và tăng cường năng lực thực hiện pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền, chống liên kết lũng đoạn thí trường, chống bán phá giá.
      – Phát triển nguồn nhân lực
      Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng đội ngũ giáo viên cho các trường đào tạo công nhân kỹ thuật để có đủ năng lực đào tạo đáp ứng nhu cầu lao động cho ngành luyện kim. Coi trọng hình thức đào tạo ở nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài đào tạo tại nhà máy.
      – Phát triển khoa học – công nghệ
      Tăng cường hợp tác quốc tế, củng cố mối quan hệ khoa học – công nghệ giữa các đơn vị sản xuất với các cơ quan nghiên cứu R&D, các trường đại học trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ – kỹ thuật mới vào ngành

    – Bảo vệ môi trường
    + Hạn chế, giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm. Các cơ sở sản xuất luyện kim mới đầu tư xây dựng phải áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến và được trang bị các thiết bị xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường.

    + Có kế hoạch di dời và đầu tư chiều sâu để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường

    + Thực hiện kế hoạch cải tạo, tiến tới loại bỏ dần việc sử dụng các công nghệ và máy móc lạc hậu

    + Kiểm soát chặt chẽ an toàn hoá chất, khí thải, đặc biệt là những hoá chất có mức độ độc hại ở các cơ sở sản xuất, chế biến chất dẻo nguyên liệu

    – Về quản lý: ban hành cơ chế, chính sách phát triển ngành chất dẻo nguyên liệuViệt Nam theo hướng khuyến khích cao và bảo hộ hợp lý đầu tư sản xuất , xây dựng các công ty, tổ chức, tập đoàn lớn

    – Đẩy mạnh công tác đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước để nâng cao năng lực cạnh tranh. Khuyến khích việc thành lập công ty cổ phần có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước, các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

    → Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc đề ra những chính sách biện pháp phát triển , trong đó có việc quản lí nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu hợp lí không. Thông qua áp dụng hàng rào thuế quan, những công cụ phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu, tiêu chuẩn kĩ thuật… cơ quan quản lí đã giảm thiểu phần nào sự xâm nhập tràn lan của thị trường chất dẻo nguyên liệu thế giới vào Việt Nam.

    2.3. NHỮNG TỒN TẠI

    2.3.1 Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tăng khá

    1. a) Tình hình nhập khẩu

    Theo số liệu thống kê, tháng 2-2013 Việt Nam đã nhập khẩu 173 nghìn tấn chất dẻo nguyên liệu với kim ngạch 312 triệu USD, giảm 41,4% về lượng và 38,2% về kim ngạch so với tháng 1-2013. So với tháng 2-2012, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu giảm 31% về lượng và 26% về kim ngạch. Tuy nhiên do tháng 1-2013 nhập khẩu chất dẻo tăng mạnh so với tháng 1/2012 nên tính chung 2 tháng đầu năm 2013, lượng và kim ngạch tăng lần lượt 13,3% và 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 3-2013, lượng nhập khẩu tăng trở lại ước đạt 280 nghìn tấn với kim ngạch 507 triệu USD, tăng 61% về lượng và 62% về kim ngạch so với tháng 2/2013.

    1. b) Thị trường nhập khẩu

    Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của nước ta từ các thị trường chính như Ả Rập Xê Út, Hàn Quốc… trong tháng 2/2013 đều giảm so với tháng trước.Cụ thể, so với tháng 1-2013, nhập khẩu từ Ả Rập Xê Út giảm tới 51,64% về kim ngạch, đạt 54,8 triệu USD (đứng thứ 2 sau Hàn Quốc) và chiếm 17,5% tổng kim ngạch nhập khẩu. Lượng nhập khẩu từ Ả Rập Xê Út cũng đứng thứ 2, đạt 38,2 nghìn tấn, giảm 50,8% so với tháng 1/2013.

    Hàn Quốc trở lại là thị trường cung cấp chính chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 2-2013. Lượng nhập khẩu từ thị trường này đạt 42,6 nghìn tấn với kim ngạch 80,4 triệu USD, nhưng giảm 24,6% về lượng và 18,6% về kim ngạch so với tháng 1-2013. Tuy nhiên do trong tháng 1-2013 cả 2 thị truờng Hàn Quốc và Ả Rập Xê Út đều tăng trưởng mạnh nên kéo theo tổng kim ngạch cả 2 tháng của 2 thị trường này tăng lần lượt là 35% và 27% so với cùng kỳ năm 2012.

    Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản trong 2 tháng đầu năm 2013 đều tăng so với năm 2012 (Trung Quốc tăng 43,39% về kim ngạch). Tổng kim ngạch nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ các nước thuộc khu vực châu Á chiếm 93%, như vậy các nước thuộc khu vực này tiếp tục là nơi cung cấp chính chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam.

    1. c) Về chủng loại:

    Nhập khẩu nhựa PE tháng 2/2013 đạt 55 nghìn tấn với trị giá 83 triệu USD, giảm 43% về lượng và giảm 41% về trị giá so với tháng trước và chiếm tỷ trọng 31,84% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Giá nhập khẩu trung bình nhựa PE đạt 1.504 USD/tấn, tăng 4,31% và được nhập nhiều từ thị trường Ả Rập Xêút và Singapore.

    Nhập khẩu nhựa PP giảm 40,08% về lượng và giảm 38,34% về trị giá so với tháng 1/2013, đạt 46,8 nghìn tấn với trị giá 72,3 triệu USD và chiếm tỷ trọng 26,95% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Hàn Quốc, Singapore, và Ả Rập Xêút là những thị trường chính cung cấp mặt hàng này cho Việt Nam với giá trung bình đạt 1.546 USD/tấn, tăng 2,92%.

    Nhập khẩu nhựa PET cũng giảm mạnh, đạt 15 nghìn tấn với trị giá 24,9 triệu USD, giảm 30,59% về lượng và giảm 26,49% về trị giá so với tháng trước và chiếm tỷ trọng 8,6% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Giá nhập khẩu trung bình tăng 5,91%, đạt 1.653 USD/tấn và được nhập chủ yếu từ thị trường Hàn Quốc.

    Nhập khẩu nhựa PVC giảm rất mạnh, giảm 53,76% về lượng và giảm 49,75% về trị giá so với tháng 1/2013, đạt 10 nghìn tấn với trị giá 12,73 triệu USD và chiếm tỷ trọng 5,76% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Mặt hàng này được nhập chủ yếu từ thị trường TháI Lan với giá trung bình đạt 1.273 USD/tấn, tăng 8,68%.

    Tiếp đến là nhập khẩu nhựa ABS đạt 9,2 nghìn tấn với trị giá 6,3 nghìn tấn, giảm 28,8% về lượng và giảm 26,71% về trị giá so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 3,6% tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam. Giá nhập khẩu trung bình đạt 2.317 USD/tấn, tăng 2,94% và được cung cấp chủ yếu từ các thị trường Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan

    2.3.2 Cần hạn chế nhập siêu sản phẩm chất dẻo

    Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chất dẻo đã tăng gần như liên tục qua các năm. Trong giai đoạn 2002 – 2012, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chất dẻo gấp gần 11,2 lần, bình quân tăng gần 27,3%/năm. Tốc độ tăng này rất cao so với tốc độ tăng của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

    Hai tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chất dẻo đạt 268 triệu USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước và cả năm 2013 có thể vượt lên vào nhóm những mặt hàng xuất khẩu 2 tỷ USD.

    Thị trường xuất khẩu sản phẩm chất dẻo năm 2012 của Việt Nam khá rộng, trong đó một số thị trường lớn như Nhật Bản (362,3 triệu USD), Mỹ (168,4 triệu USD), Đức (107,8 triệu USD), Hà Lan (88,4 triệu USD), Indonesia (72,2 triệu USD)…

    Tuy xuất khẩu sản phẩm chất dẻo tăng cao nhưng nhập khẩu chất dẻo và gần đây nhập khẩu lớn cả sản phẩm chất dẻo cũng tăng cao hơn nên dẫn tới nhập siêu về sản phẩm chất dẻo và chất dẻo khá lớn.

    Cụ thể, năm 2002 nhập siêu 470 triệu USD, bằng 328,7% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2010 nhập siêu 2720 triệu USD, bằng 260,2% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2011 nhập siêu 3400 triệu USD, bằng 250% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2012 nhập siêu 3208 triệu USD, bằng 201% kim ngạch xuất khẩu.

    Trong 2 tháng đầu năm 2013 nhập siêu 754 triệu USD, bằng 281,3% kim ngạch xuất khẩu.

    Quy mô nhập siêu trong 2 tháng đầu cảnh báo khả năng về nhập siêu cao chất dẻo và sản phẩm chất dẻo trong năm 2013.

    Nhập siêu chất dẻo và sản phẩm chất dẻo cao do phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Tiêu thụ sản phẩm chất dẻo trong nước vừa tăng nhanh nên dẫn tới nhập siêu. Do vậy cần có giải pháp quyết liệt hơn đối với sử dụng túi ni lông với khối lượng khá lớn.

     

     

    CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG NHẬP KHẨU CHẤT DẺO NGUYÊN LIỆU KHI VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CAM KẾT WTO

    3.1. NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM

    Về thương mại quốc tế, mục tiêu quan trọng nhất của Việt Nam trong những năm gần đây là gia nhập WTO đã thành hiện thực.Trong thời gian tiếp theo, có lẽ mục tiêu lớn nhất của Việt Nam là phải hoàn thiện tất cả các yêu cầu mà WTO đặt ra như hoàn thiện hệ thống luật pháp, cắt giảm thuế quan, bỏ các biện pháp bảo hộ mậu dịch không được WTO cho phép…Ngoài ra, Việt Nam cũng cần nên tích cực tham gia các khu vực mậu tự do (FTA) như đã tham gia AFTA, ký các hiệp định thương mại song phương, như đã ký hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA),…Các biện pháp này đều có lợi cho xuất nhập khẩu Việt Nam và cũng là điều tất yếu phải làm khi hội nhập quốc tế.
    Một vấn đề nữa, khi gia nhập WTO, thuế quan tất nhiên phải bị cắt giảm, thêm vào đó nhà nước không dc dùng các biện pháp bảo hộ xuất khẩu như trước kia ( Việt Nam đã từng thưởng xuất khẩu cho gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, thịt lợn..bù lỗ xuất khẩu cho cà phê, gạo, thịt lợn…nay đã bị cấm), hàng hóa, doanh nghiệp nước ngoài được đối xử như hàng hóa trong nước (NT), … cùng với đó, khi gia nhập WTO, Việt Nam vẫn phải chấp nhận là nền kinh tế thị trường (Non-Market Economy) trong vòng 12 năm, điều này gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trong thương mại quốc tế, đặc biệt trong các vụ kiện bán phá giá như vụ kiện bán phá giá cá da trơn và tôm của Mỹ trong mấy năm trước.Những qui định này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong nước, nhà nước cần có những biện pháp phù hợp để hỗ trợ xuất khẩu và hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước mà không vi phạm qui định của WTO.
    Nói chung là còn nhiều việc phải làm, hội nhập là con dao 2 lưỡi, nếu không tận dụng dc thời cơ chúng ta phải lãnh những hậu quả hết sức nặng nề.

     

    Tóm tắt cơ bản về cam kết gia nhập WTO của Việt Nam 
    (Website Chính phủ) – Như Website Chính phủ đã đưa tin, ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại toàn cầu (WTO), kết thúc chặng đường 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy khó khăn, phức tạp. Để trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, do Việt Nam đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nên Việt Nam yêu cầu và được WTO chấp nhận lộ trình thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinh doanh…
    Về cam kết đa phương
    Kết quả mà Việt Nam đàm phán được là trong khoảng thời gian 12 năm (không muộn hơn 31/12/2018) WTO chấp nhận coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với Việt Nam. Chế độ “phi thị trường” này chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
    Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt Nam vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì sẽ được xem xét, xử lý theo quy định của WTO.
    Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm, trừ ngành dệt may.
    Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này. Đối với các loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm, nhìn chung Việt Nam duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng. Ngoài mức này, Việt Nam còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính khuyến nông (như hỗ trợ thủy lợi) là trợ cấp “xanh”, được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
    Về quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất, nhập khẩu hàng hóa, tuân thủ quy định WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo và dược phẩm.
    Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước. Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo, tạp chí…
    Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, các thành viên WTO đồng ý cho Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO. Hướng sửa đổi là: đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm.
    Về doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp thương mại Nhà nước, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác. Việt Nam cũng đồng ý không coi mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước là mua sắm Chính phủ.
    Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của Luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất làng 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy định này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh. Do vậy, Việt Nam đã xử lý theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công ty.
    Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007. Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt. Với thuốc lá điếu và xì gà, Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và nhiều biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ khác.
    Về yêu cầu minh bạch hóa, Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí hoặc Website Chính phủ, website của các Bộ, ngành.
    Về thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế xuất khẩu của các sản phẩm khác.
    Việt Nam còn đàm phán một số vấn đề đa phương khác như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính phủ, định giá tính thuế nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch, các hàng rào kỹ thuật trong thương mại… Với các nội dung này, Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO kể từ khi gia nhập.

    Cam kết về thuế nhập khẩu
    Về mức cam kết chung, Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong 5 năm. Với hàng công nghiệp, mức bình quân giảm từ 16,8% xuống còn 12,6%, thực hiện chủ yếu trong vòng 5-7 năm.
    Đối với mức cam kết cụ thể, sẽ có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô – xe máy… vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định.
    Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện – điện tử. Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.

    Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do hoá theo ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp). Đây là hiệp định tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế.
    Việt Nam cũng tham gia một số phần với thời gian thực hiện sau từ 3 – 5 năm đối với các ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
    Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN (nguyên tắc tối huệ quốc của WTO), cụ thể trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%. Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.
    Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
    Về diện cam kết, trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (BTA), Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa thuận gia nhập WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110. Về mức độ cam kết, thỏa thuận WTO đi xa hơn BTA nhưng không nhiều. Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch… Việt Nam giữ được mức độ cam kết gần như BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng khoán, để kết thúc đàm phán, Việt Nam có một số bước tiến nhưng nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
    Mình nghĩ chính sách quản lí ngoại hối sẽ là cộng cụ đắc lực cho mục tiêu xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Đồng tiền mất giá sẽ có lợi cho xuất khẩu và bất lợi chó nhập khẩu, rồi các chính sách cải thiện môi trường đầu tư….nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động. Bởi vì theo luật nhà nước ta không được tham gia quá sâu trái với các qui định đã cam kết khi tham gia WTO.

    3.2. Phương hướng quản lý
    1. Giải pháp liên quan đến chính sách tiền tệ.
    – Từng bước điều chỉnh tỷ giá ở mức hợp lý:
    Giả sử so sánh một mặt hàng vào hai thời điểm khác nhau với tỷ giá khác nhau là 1$ = 20.000VNĐ và 1$ = 25.000VNĐ. Nếu nhập khẩu hàng hóa đó vào lúc tỷ giá đồng Việ Nam thấp hơn (1$ = 25.000VNĐ) thì giá nhập khẩu sẽ cao hơn và ngược lại. Do đó, chính phủ cần phải từng bước điều chỉnh tỷ giá hợp lí nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nhập khẩu hàng hóa vào trong nước.
    – Quản lý nguồn ngoại tệ:
    Vì nhập khẩu hàng hóa bắt buộc phải sử dụng ngoại tệ, nên quản lí nguồn ngoại tệ đảm bảo cho việc luôn luôn có đủ ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa một cách trôi chảy, thuận lợi.
    2.Giải pháp liên quan đến chính sách tài khóa.
    – Thực hiện chính sách thuế phù hợp
    – Tiếp tục thực hiện hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp nhập khẩu (các mặt hàng cần thiết)
    3.Các giải pháp khác.
    – Áp dụng hạn ngạch đối với các mặt hàng tiêu dùng hoặc các mặt hàng trong nước đã sản xuất tốt
    – Sử dụng hàng rào về các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm.
    Đa số các hàng hóa áp dụng giải pháp này là các mặt hàng thiết yếu. Khi các tiêu chuẩn này càng được thắt chặt thì khả năng nhập khẩu hàng hóa vào trong nước càng thấp. Giải pháp này sẽ làm tăng giá thành của hàng hóa nội địa, đồng thời khắc phục một cách hiệu quả tình trạng nhập siêu.
    – Xây dựng hàng rào kỹ thuật để quản lý nhập khẩu chặt chẽ, không trái với định ước quốc tế. Đẩy mạnh sản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu. Cập nhật thông tin, nâng cao chất lượng phân tích, trách nhiệm dự báo để đối phó kịp thời diễn biến trước mắt cũng như đặt kế sách lâu dài.
    – Tiếp tục cải cách hành chính, nâng cao tính hiệu quả của hệ thống chính sách, bộ máy.

    Kết luận

    Tham gia WTO là một sự kiện không nhỏ đối với nền kinh tế nước ta. Đây là lần đầu tiên chúng ta phải thực hiện các cam kết mang tính đa phương trong việc dỡ bỏ hàng rào bảo hộ, đồng thời cũng được hưởng những ưu đãi thương mại tương tự từ nhiều nước khác nhau. Cắt giảm thuế quan sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thêm nhiều cơ hội xâm nhập thị trường các nước khác. Mặt khác, ta có thể nhập được nguyên liệu từ các nước rẻ hơn, làm giảm giá thành hàng hoá sản xuất trong nước. Việc tăng cường trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam với các nước khác sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau như công nghiệp, đầu tư. Qua quá trình hợp tác này, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn nhưng thế mạnh và điểm yếu của mình so với các nước khác, từ đó có kế hoạch bổ trợ, phân công lại sản xuất và lao động để thu được lợi ích tối đa cho nền kinh tế.

    Trong thời gian qua ngành nhập khẩu mặt hàng chất dẻo nguyên liệu đã góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh nhập khẩu không tránh khỏi những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài do những biến động về môi trường kinh tế, chính trị nói chung và sự biến động của thị trường thép nói riêng, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, để khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh không những cần có sự nỗ lực hoàn thiện của ngành mà còn cần có sự hỗ trợ từ phía Hiệp hội, Nhà Nước

    Với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo bộ môn kinh tế ngoại thương – thầy Dương Văn Bạo, em đã hoàn thành xong bài tập lớn. Em đã rất cố gắng tìm hiểu , học tập và nghiên cứu để hoàn thành bài tập thầy đã giao. Bài tập của em không tránh khỏi những thiếu sót .Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy và các bạn để bài tập của em được hoàn chỉnh hơn .

    Em xin chân thành cảm ơn thầy!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-kinh-t%E1%BA%BF-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-m%E1%BA%B7t-h%C3%A0ng-s%E1%BA%AFt-th%C3%A9p-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-c%E1%BB%A7a-vi%E1%BB%87t-nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Kinh Tế Ngoại Thương Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Mặt Hàng Sắt Thép Các Loại Của Việt Nam 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Hiện nay xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ở cả cấp độ khu vực và thế giới, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại và kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc.

    Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đưa nền kinh tế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam đang còn là nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn chế về trình độ khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, đi tắt đón đầu các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Để thực hiện được điều này thì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai đang đổi mới phát triển cơ sở hạ tầng xây dựng, phát triển sản xuất, cho nên nhu cầu về vật liệu xây dựng nói chung trong đó nhu cầu về vật liệu sắt thép nhằm đáp ứng nhu cầu sắt thép trong xây dựng và phục vụ trong các ngành sản xuất khác là rất lớn. Trong khi ngành sản xuất thép của nước ta chưa đáp ứng được phôi thép và các loại thép thành phẩm cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Do vậy nhập khẩu sắt thép hiện nay đóng vai trò rất quan trọng đối với các ngành có nhu cầu sử dụng nguyên liệu thép nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Đặc biệt là việc nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc.

    Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ HÀNG NHẬP KHẨU

        1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động nhập khẩu

        1.1.1 Khái niệm

    Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương, là một trong hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương.

    Có thể hiểu nhập khẩu là quá trình mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước và tái nhập nhằm mục đích thu lợi nhuận.

    Nhập khẩu có thể bổ sung những hàng hoá mà trong nước không thể sản xuất được hoặc chi phí sản xuất quá cao hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng được nhu cầu trong nước. Nhập khẩu cũng nhằm tăng cường cơ sở vật chất kinh tế, công nghệ tiên tiến hiện đại ….tăng cường chuyển giao công nghệ, tiết kiệm được chi phí sản xuất, thời gian lao động, góp phần quan trọng phát triển sản xuất xã hội một cách có hiệu quả cao. Mặt khác nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước phải tối ưu hoá tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy để cạnh tranh được với các nhà sản xuất nước ngoài.

    1.1.2 Đặc điểm cơ bản của nhập khẩu

    Nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia, nhập khẩu là việc giao dịch buôn bán giữa các cá nhân, tổ chức có quốc tịch khác nhau ở các quốc gia khác nhau, hoạt động nhập khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước: thị trường rộng lớn; khó kiểm soát; chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau; thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ; hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia; phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế.

    Nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, nó rất phong phú và đa dạng, thường xuyên bị chi phối bởi các yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hoá, chính trị, ….của các quốc gia khác nhau.

    Nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu thông qua các công cụ chính sách như: Chính sách thuế, hạn ngạch, các văn bản pháp luật khác, qui định các mặt hang nhập khẩu,…..

    1.1.3 Vai trò của hoạt động nhập khẩu

    Nhập khẩu góp phần đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới vào trong nước, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu đi tắt đón đầu, xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ một nền kinh tế đóng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển các ngành nghề, thành phần kinh tế trong nước.

    Nhập khẩu hàng hoá tạo ra nguồn hàng đầu vào cho các ngành, công ty  sản xuất chế biến trong nước, nhập khẩu cung cấp những mặt hàng mà trong nước còn thiếu hoặc chưa thể sản xuất được, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng.

    Nhập khẩu cung cấp đầu vào cho các công ty sản xuất, làm phong phú hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá thương mại. Hoạt động nhập khẩu có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của các công ty thương mại.

    Hoạt động nhập khẩu giúp cho các công ty trong nước có điều kiện cọ sát với các doanh nghiệp nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khi có sự xuất hiện của các mặt hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập. Để tồn tại và phát triển các công ty trong nước phải nỗ lực tìm mọi biện pháp để tối ưu hoá trong sản xuất cũng như trong quản lý để tạo ra những sản phẩm với chất lượng tốt, giá cả hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao và nâng cao vị thế của mình.

    Hoạt động nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.

    Đối với các công ty thương mại là một mắt xích quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, do vậy hoạt động nhập khẩu kinh doanh có hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, giúp cho công ty có thể đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực khác, mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh.

    1.2. Các hình thức nhập khẩu chủ yếu

    1.2.1 Nhập khẩu trực tiếp

               Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuân thủ đúng các chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

    Trong hình thức nhập khẩu trực tiếp này doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán, ký kết hợp đồng,…. Và phải tự bỏ vốn ra để thực hiện tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể chủ động được các công việc trong quá trình nhập khẩu hàng hoá của mình như về thời gian, địa điểm giao nhận hàng, thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hoá,…Nhà nhập khẩu có thể chủ động trong việc làm các thủ tục hành chính cho hàng nhập khẩu, chủ động hơn trong kinh doanh nhập khẩu.

    Nhược điểm: Nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có một lượng vốn lớn hơn so với các hình thức nhập khẩu khác cho việc thanh toán hàng hoá nhập khẩu. Nhâp khẩu trực tiếp cũng đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế. Hình thức này phù hợp hơn đối với những Công ty nhập khẩu chuyên nghiệp, có vốn lớn

         1.2.2 Nhập khẩu uỷ thác

    Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu được hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu thiết bị toàn bộ, uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành với đối tác nước ngoài để làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và sẽ nhận được một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.

    Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể nhập khẩu được hàng hoá thông qua một đối tác khác, nhà nhập khẩu không cần phải làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá mà uỷ thác cho đối tác nhập khẩu làm. Vốn trực tiếp bỏ ra ban đầu để nhập khẩu hàng hoá không lớn. Hình thức này phù hợp hơn đối với các Công ty mới nhập khẩu hàng hoá chư có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế.

    Nhược điểm: Nhà nhập khẩu không chủ động được thời gian chính xác, địa điểm, thủ tục….giao nhận hàng nhập khẩu mà phụ thuộc vào nhà nhập khẩu uỷ thác.

        1.2.3 Gia công quốc tế

     

    Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phấm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.

    Gia công quốc tế ngày nay rất phổ biến trong buôn bán thương mại quốc tế.

    Ưu điểm: Đối với bên đặt gia công, giúp họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công rẻ của nước nhận gia công.

    Đối với bên nhận gia công, giúp họ giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị công nghệ hiện đại vào trong nước mình. Trong thực tế nhiều nước đang phát triển nhờ thực hiện phương thức gia công quốc tế đã góp phần xây dựng nên một nền công nghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo,….

    Các hình thức gia công quốc tế chủ yếu:

    • Xét về quyền sở hữu nguyên liệu gia công quốc tế có thể có các hình thức sau:
    • Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhân gia công và sau một khoảng thời gian sản xuất, chết tạo sẽ nhập lại thành phẩm và trả phí gia công cho bên nhận gia công. Đối với trường hợp này thì trong thời gian gia công chế tạo quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.
    • Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian gia công sản xuất chế tạo, bên đặt gia công sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công.

    Ngoài rà có thể áp dụng hình thức kết hợp, trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp nguyên liệu phụ.

    • Xét về mặt giá cả gia công, có 2 hình thức gia công chính:
    • Hợp đồng thực chi thực thanh, trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
    • Hợp đòng khoán, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Hai bên thanh toán với nhau theo giá định mức.
    • Xét về số bên tham gia quan hệ gia công, có 2 hình thức chính:
    • Gia công 2 bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công.
    • Gia công nhiều bên, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công chỉ có một.

        1.2.4 Nhập khẩu đổi hàng ( Nhập khẩu đối lưu)

    Nhập khẩu đổi hàng là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về.

    Đặc tính của nhập khẩu đổi hàng là cân bằng về mặt hàng hoá, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị, cân bằng về các điều kiện và cơ sở giao hàng.

    Phương thức này trước kia được áp dụng nhiều, là phương thức nhập khẩu chủ yếu đối với những nước đang và kém phát triển thiếu ngoại tệ mạnh để nhập khẩu. Ngày nay phương thức này không được áp dụng phổ biến lắm trong thương mại quốc tế.

        1.3.Nội dung chủ yếu của hoạt động nhập khẩu hàng hoá

    • Nghiên cứu thị trường:

    + Nghiên cứu thị trường trong nước: nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu sự vận động của môi trường kinh doanh…

    + Nghiên cứu thị trường nước ngoài: nghiên cứu nguồn cung cấp hàng hóa trên thị trường quốc tế, nghiên cứu giá cả trên thị trường quốc tế…

    • Lập phương án kinh doanh:

    + Nhận định tổng quan về tình hình diễn biến thị trường.

    + Đánh giá khả năng của doanh nghiệp.

    + Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và số lượng mua bán.

    + Xác định đối tượng giao dịch để nhập khẩu.

    + Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ.

    + Xác định giá cả mua bán trong nước.

    + Đề ra các biện pháp thực hiện.

    • Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng

    –   Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

    + Thuê phương tiện vận tải.

    + Mua bảo hiểm hàng hóa.

    + Làm thủ tục hải quan.

    + Nhận hàng.

    + Kiểm tra hàng hóa nhập khẩu.

    + Làm thủ tục thanh toán.

        1.4.  Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu

    * Các nhân tố bên trong Công ty

    – Nhân tố Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính

    – Nhân tố con người

    – Nhân tố vốn và công nghệ

    *   Các nhân tố bên ngoài Công ty

    – Nhân tố chính trị, luật pháp

    – Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng nhập khẩu

    – Yếu tố thị trường trong nước và ngoài nước

    – Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng

    hoá quốc tế

    1.5. Nội dung của quy trình nhập khẩu

    * Nghiên cứu thị trường

    – Nghiên cứu thị trường nội địa

    –  Nghiên cứu thị trường nước ngoài

    * Lập phương án kinh doanh

    * Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hoá

    – Giao dịch và đàm phán

    –  Ký kết hợp đồng

    –  Thực hiện hợp đồng

     

     

    Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU MẶT HÀNG SẮT THÉP CÁC LOẠI CỦA VIỆT NAM

     

    2.1. Đánh giá về lượng hàng nhập khẩu

    Sắt thép là một trong những mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này luôn đứng thứ ba, chỉ sau máy móc, thiết bị và xăng dầu

    2.1.1 Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2007

    Về thị trường nhập khẩu: Đạt được tiến độ nhập khẩu sắt thép trong năm 2007 là có nhiều sự cố gắng của các doanh nghiệp, cộng với những hỗ trợ không nhỏ từ các cơ quan quản lý trong việc điều hành cơ chế một cách linh hoạt và hợp lý. Chính những việc này đã giúp các doanh nghiệp hoàn thành tốt công tác nhập khẩu của mình. Năm 2007, Việt Nam đã nhập khẩu sắt thép từ gần 70 thị trường trên thế giới. Trong đó, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,3 tỷ USD, tăng 59% so với năm 2006, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Năm 2007, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Nhật Bản cũng tăng đáng kể, đạt kim ngạch hơn 676 triệu USD, tăng 37% so với năm 2006. Đáng chú ý, nhập khẩu sắt thép từ Đài Loan tăng rất mạnh, đạt kim ngạch lần lượt là 567,8 triệu USD và 383,8 triệu USD. Như vậy, với việc nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc không còn thuận lợi như trước, rất có thể trong năm 2008 các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chuyển sang nhập khẩu sắt thép từ các thị trường khác như Đài Loan, Malayxia, Hàn Quốc, Nga,… vì khoảng cách địa lý và đường vận chuyển từ các thị trường này cũng có nhiều thuận lợi.

     

    Bốn thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malayxia chiếm 77% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam, đạt gần 4 tỷ USD, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ hầu hết các thị trường còn lại đều tăng mạnh so với năm 2006.

    Về chủng loại nhập khẩu: Năm 2007, nhập khẩu các mặt hàng sắt thép chính như thép cuộn, thép tấm, phôi thép, tháp hình… đều tăng mạnh. Theo số liệu, mặt hàng thép cuộn nhập khẩu mạnh nhất, đạt trên 2 tỷ USD tương đương 3,3 triệu tấn, chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Trong đó, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 827 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 77% về trị giá và 31% về lượng so với năm 2006.

    Giá nhập khẩu thép cuộn từ Trung Quốc thấp hơn khá nhiều so với các thị trường khác. Theo số liệu, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình cả năm 2007 từ Trung Quốc tăng hơn 150 USD/tấn so với năm 2006, đạt 581,5 USD/tấn, trong đó tháng 12/07 đạt mức cao kỷ lục, đạt 676,8 USD/tấn, tăng 8% so với tháng trước và 18% so với cùng kỳ năm 2006. Tuy nhiên, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình năm 2007 từ Nhật Bản – thị trường có giá sát với Trung Quốc nhất, cũng cao hơn 30 USD/tấn so với Trung Quốc, đạt 619 USD/tấn trong đó tháng 12/07 đạt 620,57 USD/tấn, tăng 1% so với tháng trước và 6,4% so với cùng kỳ năm 2006. Các thị trường còn lại đều đạt mức trung bình trên 650 USD/tấn.

    Chủng loại sắt thép được nhập khẩu nhiều thứ hai trong năm 2007 là thép tấm, đạt hơn 994 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 62% về trị giá và 30% về lượng. Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 900 triệu USD tương đương 1,3 triệu tấn và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 479,3 triệu USD tương đương 742 ngàn tấn. Như vậy, nhập khẩu thép tấm của Việt Nam trong năm 2007 chủ yếu được nhập từ Trung Quốc và Nhật Bản.

    Ngoài hai chủng loại trên, nhập khẩu các chủng loại còn lại như thép hình, thép lá, thép không gỉ… của Việt Nam trong năm 2007 cũng tăng đáng kể so với năm 2006. Dự báo năm 2008 lượng sắt thép nhập khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn này rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải.

    2.1.2 Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2008

    Tuy nhiên, năm 2008, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Trung Quốc giảm mạnh do nguồn cung từ Trung Quốc không còn dồi dào như trước, cộng với giá thành sản phẩm chiếm ưu thế không nhiều so với các thị trường khác.

    Trước tình hình tồn kho còn rất lớn, vốn bị hạn hẹp, các doanh nghiệp ngành sắt thép của Việt Nam đã giảm mạnh lượng nhập khẩu.

    Theo số liệu thống kê, nhập khẩu sắt thép các loại trong tháng 8/2008 giảm 23,03% so với tháng trước và giảm 53,84% so với cùng kì năm 2007, xuống còn 330,2 nghìn tấn, mức thấp nhất kể từ đầu năm 2007 đến nay. Đây là tháng thứ 5 nhập khẩu sắt thép giảm.

    Trong tháng 8, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc giảm 30,86% so với 7/2008 và giảm 57,12% so với tháng 8/2007 xuống chỉ còn 135,8 nghìn tấn. Tính trong 8 tháng năm 2008, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,6 triệu tấn, giảm 3,01% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 38,8% tổng lượng nhập khẩu của cả nước.

    2.1.3  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2009

              Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong tháng 11/2009, cả nước đã nhập khẩu 825.184 tấn sắt thép các loại giảm 9,4% so với tháng trước đạt trị giá 495,4 triệu USD, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập 197.981 tấn, trị giá 143.145.603 USD. Tính chung 11 tháng năm 2009, cả nước đã nhập 8.931.798 tấn tăng 15,3% so với cùng kỳ và đạt trị giá 4,85 tỷ USD.

    – Trong 11 tháng năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu mặt hàng này từ 26 nước trên thế giới, trong đó Nga là thị trường đứng đầu về lượng nhập với 1,66 triệu tấn, trị giá 741,5 triệu USD chiếm 57,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này. Tháng 11, Việt Nam đã nhập 12.370 tấn sắt thép các loại từ thị trường Nga, với đơn giá trung bình là 449,70 USD/tấn.
    – Đứng thứ hai sau thị trường Nga là Nhật Bản, với lượng nhập 1.297.748 tấn, trị giá 737,97 triệu USD chiếm 11,11%  tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này, tăng 14,27% về lượng nhưng giảm 22,8% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
    – Đứng thứ ba là thị trường Trung Quốc với lượng nhập 1.124.257 tấn, trị giá 699.372.512 USD. Theo dữ liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, cho đến tháng 11/2009,  Việt Nam là nước nhập khẩu lớn thứ hai về sản phẩm này với 1,34 triệu tấn, giảm 50,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2008, Trung Quốc đã xuất khẩu  2,76 triệu tấn sang Việt Nam. Tỉ phần nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2008 là  4,67%. Xuất khẩu thép của Trung Quốc sang Việt Nam chiếm 6,3%.
    2.1.4  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2010

    Lượng sắt thép các loại nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc chiếm 25,5%

    Theo số liệu thống kê, Việt Nam đã nhập khẩu trên 1 triệu tấn sắt thép các loại trong tháng 10, với kim ngạch 679,5 triệu USD, tăng 20,56% về lượng so với tháng 9, nâng tổng lượng sắt thép các loại nhập về 10 tháng đầu năm lên 7,2 triệu tấn, trị giá 4,9 tỷ USD, giảm 10,27% về lượng nhưng tăng 15,50% về trị giá so với 10 tháng năm 2009. Trong đó, phôi thép được nhập về là 1,7 triệu tấn, trị giá trên 955 triệu USD.

    Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản là những thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam trong 10 tháng năm 2010. Trong đó, Trung Quốc là thị trường nhập mặt hàng này nhiều nhất với 1,8 triệu tấn chiếm 25,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 85,23% về lượng và tăng 107,73% về trị giá so với 10 tháng năm 2009. Tuy nhiên, tháng 10/2010, đã nhập 194,6 nghìn tấn sắt thép các loại từ thị trường này, đạt 125,9 triệu USD, tăng 27,7% về lượng và 13,83% về trị giá so với tháng 9/2010.

    Nhìn chung 10 tháng đầu năm 2010, nhập khẩu sắt thép các loại từ các thị trường đều giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ. Giảm mạnh nhất là thị trường Ấn Độ, giảm 92% về lượng và giảm 79,84% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009, với 12 nghìn tấn, trị giá 18,1 triệu USD.

    Tình hình giao dịch xuất khẩu thép hộp tại khu vực của khẩu Móng Cái – Đông Hưng đang có chiều hướng gia tăng rõ rệt. Trong 10 ngày đầu tháng 1/2010, sản lượng giao dịch nhập khẩu thép hộp xây dựng vào thị trường Việt Nam đạt 500 tấn, do nhịp độ nhập khẩu đang tăng, nên cả tháng có khả năng sẽ đạt 2.000 tấn.

    Nhu cầu sử dụng thép hộp xây dựng của thị trường trong nước khá lớn, vì phần dân dụng chiếm tỷ lệ cao, nên các tháng còn lại của quý I/2010, sẽ còn tăng lượng nhập khẩu để cung ứng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng trong xây dựng và các công việc khác.

    Tham khảo giá thép hộp xây dựng của Trung Quốc chào bán sang Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái ngày 10/1/2010

    Chủng loại thép hộp Trọng lượng cây 6m Giá VNĐ/cây Chủng loại thép hộp Trọng lượng cây 6m Giá VNĐ/cây
    20x20x1,0 3,54 kg 42.502 30x30x0,9 4,9 kg 57.285
    20x20x1,2 4,20 kg 51.741 30x30x1,0 5,43 kg 62.829
    20x20x1,4 4,83 kg 59.133 30x30x1,2 6,46 kg 75.764
    20x20x1,5 5,14 kg 62.829 30x30x1,5 7,97 kg 97.939
    20x40x0,8 4,38 kg 57.285 30x60x1,2 9,85 kg 125.657
    20x40x0,9 4,90 kg 60.981 30x60x1,4 11,43 kg 144.136
    20x40x1,0 5,43 kg 68.372 30x60x1,5 12,21 kg 153.376
    20x40x1,2 6,46 kg 75.764 30x60x1,8 14,53 kg 188.486
    20x40x1,5 7,97 kg 97.939 40x40x1,0 7,31 kg 88.699
    25x25x0,8 3,62 kg 42.502 40x40x1,2 8,72 kg 107.178
    25x25x0,9 4,06 kg 48.045 40x40x1,4 10,11 kg 123.809
    25x25x1,0 4,48 kg 49.893 40x40x1,5 10,8 kg 133.049
    25x25x1,2 5,33 kg 60.981 50x50x1,4 12,74 kg 164.463
    25x25x1,5 6,56 kg 68.372 50x50x1,5 13,62 kg 173.703
    25x50x1,0 6,84 kg 70.220 50x50x1,8 16,22 kg 214.356
    25x50x1,4 9,45 kg 123.809 50x50x2,0 17,94 kg 245.771
    25x50x1,5 10,09 kg 133.049 60x60x1,4 15,38 kg 203.269
    25x50x1,8 11,98 kg 158.919 60x60x1,5 16,45 kg 214.356

    2.1.5  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2011

    Theo số liệu thống kê , tháng 10/2011 Việt Nam đã nhập 609,2 nghìn tấn sắt thép các loại, chi trên 500 triệu USD, giảm cả về lượng và trị giá so với tháng 10/2010. Nhưng tính chung 10 tháng đầu năm nhập khẩu mặt hàng này lượng giảm nhưng tăng trưởng về kim ngạch, giảm 17,37% về lượng, tăng 4,28% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 5,9 triệu tấn, trị giá 5,2 tỷ USD.

    Thị trường: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… tiếp tục là những thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam. Đứng đầu là thị trường Nhật Bản với trên 1,5 triệu tấn trong 10 tháng đầu năm chiếm 26,5% tỷ trọng, trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 15,54% về lượng và tăng 36% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Tuy có vị trí địa lý thuận lợi hơn Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng Trung Quốc chỉ đứng thứ 3 về thị trường cung cấp sắt thép các loại cho Việt Nam trong 10 tháng đầu năm nay với 1,34 triệu tấn , trị giá 1,2 tỷ USD, giảm 27,21% về lượng và giảm 5,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2010.

    2.1.6  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2012

    Trong năm 2012, TRung Quốc vượt qua Nhật Bản và lần thứ ba trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 trở thành đối tác lớn nhất cung cấp sắt thép cho thị trường Việt Nam với 2,34 triệu tấn, trị giá là 1,76 tỷ USD, tăng 40,3% về lượng và tăng 17,9% về trị giá so với năm 2011 (trong hai năm 2008 và năm 2010, sắt thép cps xuất xứ từ Trung Quốc cũng là nguồn hàng lớn nhất cho Việt Nam) .

    Tháng 3/2012 Việt Nam đã nhập khẩu 612,9 nghìn tấn, trị giá 494,1 triệu USD, giảm 11,7% về lượng và giảm 9,7% về trị giá so với tháng 2/2012. Tính chung 3 tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã nhập khẩu 1,8 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 7,3% về lượng và tăng 6,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Là thị trường có vị trí địa lý thuận lợi nên Trung Quốc – thị trường chính nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong thời gian này, chiếm 23,5% tỷ trọng, tương đương với 424,8 nghìn tấn, trị giá 334 triệu USD, tăng 46,6% về lượng và tăng 32,02% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 3/2012, Việt Nam đã nhập khẩu 143,6 nghìn tấn, trị giá 114,1 triệu USD.

    Các chủng loại thép được nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc trong tháng 3 là thép tấm cán nóng, thép cuộn cán nóng, thép hợp kim được cán phẳng, thép tấm hợp kim… với đơn giá 630 USD/tấn; 644 USD/tấn; 645 USD/tấn…

    2.1.7  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong quý I năm 2013

    Kết thúc quý I/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 2,1 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng 20,05% về lượng và tăng 7,11% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Tính riêng tháng 3/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 828,1 nghìn tấn, trị giá 601,6 triệu USD, tăng 50,3% về lượng và tăng 50,6% về trị giá so với tháng liền kề trước đó.

    Lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng 3 là 36,3 nghìn tấn, trị giá là 20,8 triệu USD, tăng 23,5% về lượng và tăng 25,1% về trị giá so với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu trong quý I/2013 lên 83,5 nghìn tấn, trị giá là 47,3 triệu USD, giảm 25,3% về lượng và giảm 34,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Các thị trường chính cung cấp mặt hàng này cho Việt Nam trong quý đầu năm này là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Braxin, Ấn Độ…Trong đó Nhật Bản là thị trường chính Việt Nam nhập khẩu sắt thép, chiếm 31,7% thị phần, tương đương với 686,2 nghìn tấn, trị giá 444,1 triệu USD, tăng 62,5% về lượng và tăng 35,44% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.

    Tuy có vị trí địa lý thuận lợi cho việc vận chuyển, nhưng Trung Quốc chỉ đứng thứ hai sau thị trường Nhật Bản, chiếm 28,9% thị phần, với 626,7 nghìn tấn, trị giá 443,5 triệu USD, tăng 47,5% về lượng và tăng 32,78% về trị giá so với quý I/2012.

    2.2 Cơ chế chính sách nhập khẩu sắt thép của Việt Nam

    Chính sách nhập khẩu đối với mặt hàng thép nói chung Nhà Nước không quy định hạn ngạch nhập khẩu, hầu hết các loại phôi và thép thành phẩm nhập khẩu từ các nước trong khu vực Đông Nam Á có thuế suất 0% hoặc thuế suất thấp dưới 5% theo chương trình cắt giảm thuế quan chung (CEPT), trừ một số loại sắt, thép không hợp kim được cán mỏng, có chiều rộng từ 600mm trở lên, đã phủ mạ, hoặc tráng hiện đang có mức thuế suất từ 5% đến 20%.

    Việc quản lý nhập khẩu, Nhà nước quản lý các đơn vị nhập khẩu thép thông qua Tổng Công ty Thép Việt Nam. Các đơn vị nhập khẩu trực thuộc Tổng Công ty khi nhập khẩu đều phải xin phép, khai báo lên Tổng Công ty.

    Tổng Công ty căn cứ vào tình hình sản xuất và tiêu thụ thép trong nước để lập kế hoạch và quản lý nhập khẩu.

     Những quy định về nhập khẩu sắt thép của Tổng Công ty thép Việt Nam

    Căn cứ vào Nghị định số 03/CP ngày 25/01/1996 của Chính phủ phê chuẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Thép Việt Nam

    Căn cứ vào tình hình thị trường thép

    Tổng Công ty Thép Việt Nam qui định một số vấn đề sau:

              Quy định chung

    Một là, các đơn vị trực thuộc được quyền chủ động nhập khẩu kim khí phục vụ sản xuất – kinh doanh của đơn vị mình theo qui định của pháp luật hiện hành, trừ các trường hợp phải được Tổng Công ty phê duyệt.

    Hai là, Tổng Công ty khuyến khích các đơn vị thương mại kinh doanh hàng nhập khẩu theo hướng chuyên doanh nhằm phát huy thế mạnh của từng đơn vị, đồng thời cần phải có sự phối hợp về thị trường và giá cả trong nội bộ Tổng Công ty.

    Ba là, Tổng Công ty có thể trực tiếp nhập khẩu theo đơn đặt hàng của các đơn vị trực thuộc hoặc tự nhập khẩu để kinh doanh. Giá bán củaTổng Công ty cho các đơn vị trực thuộc tính trên cơ sở của Qui định về tài chính của Tổng Công ty.

    Bốn là, Phòng kinh doanh -xuất nhập khẩu trực tiếp tổ chức tiếp nhận các lô hàng Tổng Công ty nhập khẩu hoặc uỷ quyền cho các đơn vị trực thuộc thực hiện. Trong trường hợp các đơn vị tiếp nhận thì phí tiếp nhận được hạch toán theo quy định về tài chính của Tổng Công ty. Đơn vị tiếp nhận phải hoàn thiện đầy đủ, đúng hạn các thủ tục khiếu nại hàng thiếu hoặc phẩm chất không phù hợp vơí hợp đồng (nếu có). Nếu để xảy ra không khiếu nại được thì đơn vị tiếp nhận chịu trách nhiệm về số hàng thiếu hụt và kém phẩm chất đó.

    Năm là, các đơn vị thương mại chủ động thiết lập chân hàng nhập khẩu ổn định để đảm bảo nhu cầu kinh doanh, hạn chế tối đa hình thức dịch vụ nhập khẩu (khách hàng giao dịch nguồn cung cấp, các đơn vị thương mại chỉ làm thủ tục nhập khẩu và hưởng phí) và không được uỷ thác nhập khẩu qua các đơn vị ngoài Tổng Công ty.

    Sáu là, thẩm quyền ký kết hợp đồng mua được thực hiện theo điều 10.2 Quyết định số 1553 QĐ/HĐQT ngày 21/8/1997 của Hội đồng quản trị Tổng công ty Thép Việt Nam. Những hợp đồng mua có trị giá vượt quá thẩm quyền của các đơn vị chỉ được ký và thực hiện sau khi đã được Tổng Công ty phê duyệt. Nghiêm cấm đối phó bằng cách chia nhỏ hợp đồng.

    Quy định về phê duyệt nhập khẩu

    – Việc nhập khẩu phôi thép và thép chính phẩm các loại phải được Tổng Công ty phê duyệt. Đơn vị nhập khẩu tự chịu trách nhiệm về tư cách khách hàng và hiệu quả kinh doanh của từng lô hàng nhập khẩu theo phương án đã trình Tổng Công ty.

    – Hồ sơ xin phép nhập khẩu:

    Công văn xin phép nhập khẩu do thủ trưởng đơn vị hoặc người được uỷ quyền ký;

    + Phương án kinh doanh (theo mẫu số 1 đính kèm);

    + Báo cáo tồn kho chi tiết mặt hàng xin nhập khẩu;

    + Báo cáo thực hiện các hợp đồng nhập khẩu trước đó (theo mẫu số 3 đính kèm).

    + Đơn chào hàng của khách hàng.

    + Giấy bảo lãnh của Ngân hàng (đối với trường hợp cung cấp phôi thép cho các đơn vị ngoài Tổng Công ty).

    + Đối với những lô hàng cần Tổng Công ty bảo lãnh mở L/C thì kèm theo đơn xin bảo lãnh.

    – Trong vòng tối đa 02 ngày kể từ khi nhận được đầy đủ các hồ sơ trên theo đúng nội dung quy định Phòng kinh doanh – xuất nhập khẩu phải thông báo quyết định của Lãnh đạo Tổng Công ty để đơn vị thực hiện. Các đơn vị chỉ được ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu sau khi nhận được uỷ quyền của Tổng giám đốc Tổng Công ty.

     Qui định cụ thể về nhập khẩu phôi thép

    Một là, các đơn vị sản xuất trực thuộc phải có kế hoạch nhập khẩu đảm bảo nguồn phôi cho sản xuất. Nếu không tự nhập khẩu được thì phải có kế hoạch đặt mua qua các đơn vị thương mại trực thuộc Tổng Công ty hoặc cơ quan văn phòng Tổng Công ty; trường hợp đặc biệt phải mua của các đơn vị ngoài Tổng Công ty chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Tổng Công ty. Các đơn vị thương mại của Tổng Công ty chỉ được nhập khẩu trực tiếp  để cung cấp cho các đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công ty.

    Hai là, Tổng Công ty khuyến khích các đơn vị nhập khẩu trực tiếp phôi thép để cung cấp cho các liên doanh của Tổng Công ty.

    Ba là, việc cung cấp phôi thép cho các đơn vị sản xuất ngoài Tổng Công ty (kể cả nguồn khai thác) được Tổng Công ty cho phép thực hiện nếu phương án kinh doanh có hiệu quả cao, có bảo lãnh của ngân hàng có uy tín và không ràng buộc phải tiêu thụ sản phẩm. Giám đốc đơn vị có trách nhiệm thực hiện đúng phương án đã trình Tổng Công ty. Đơn vị nào vi phạm sẽ không được xem xét những lô hàng tiếp theo và phải chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty.

    2.3 Những tồn tại trong việc nhập khẩu sắt thép

             Nhập khẩu thép giá rẻ khiến thị trường thép dư thừa.

    Sản phẩm đang bị khủng hoảng thừa nhưng ngành thép Việt Nam mỗi năm phải nhập khẩu thêm khoảng 7 tỉ USD.

    Vấn đề này cần được nhìn nhận thế nào trong thực trạng ngành thép? Đâu là những trắc trở và hướng giải quyết trong cơ cấu phát triển thép Việt Nam hiện nay?

    Nhập khẩu thép giá rẻ khiến thị trường thép dư thừa đe dọa doanh nghiệp nội.

    Trong khi lượng thép sản xuất trong nước còn đang tồn kho tới hơn 300 nghìn tấn, thì nhiều doanh nghiệp vẫn ồ ạt nhập khẩu thép. Dẫu biết rằng việc nhập khẩu các loại thép mà trong nước chưa sản xuất được là không thể tránh khỏi.

    Tuy nhiên việc nhập khẩu các loại thép trong nước đang dư thừa, đặc biệt là thép giá rẻ đang gây nhiều tác động đến sản xuất thép trong nước.

    Hiện nay thép ngoại đang tràn ngập thị trường Việt Nam và đang tiếp tục nhập, với giá rẻ hơn thép trong nước, khoảng 800.000 đồng/tấn. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do tiêu thụ thép trên thế giới giảm, các công ty thép nước ngoài cần tiền mặt.

    Ngoài ra, do có khả năng, cạnh tranh mạnh, được Chính phủ các nước đó hỗ trợ nên các công ty thép nước ngoài chấp nhận bán thép vào Việt Nam với giá dưới giá thành.

    Tác động xấu lớn nhất của việc nhập khẩu thép nêu trên là đã và đang đẩy ngành thép Việt Nam vốn có khả năng cạnh tranh còn yếu vào tình thế vô cùng khó khăn, không đủ sức cạnh tranh với thép ngoại.

    Ngoài ra, một số công ty thương mại trong nước muốn có lời nhiều nên nhập thép giá càng rẻ càng tốt, là loại thép do cơ sở nhỏ sản xuất với chất lượng kém gây hại cho các công trình xây dựng.

    Để tìm hiểu rõ về vấn đề này, phóng viên Đài TNVN phỏng vẫn ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam.

    Trả lời câu hỏi của phóng viên: “ Thưa ông, được biết hiện nay, lượng thép trong nước tồn kho rất lớn trong khi đó, nhập khẩu thép lại tăng lên. Ông có thể cho biết tình hình cụ thể?”. Ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết:

    Về tình hình nhập khẩu, trong mấy năm nay chúng ta vẫn nhập những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được như cán tấm nóng 1 năm phải nhập 3 tỷ USD với 3 triệu tấn. Thép, đặc biệt như thép hợp kim, thép chế tạo hoặc nguyên liệu cho sản xuất thép như thép phế nhập tới 70-80% theo nhu cầu thị trường với hơn 3,5 triệu tấn trong năm 2012. Tuy nhiên, có những sản phẩm mà trong nước dư thừa như thép xây dựng vẫn được nhập vào. Nếu như nhập thép xây dựng vẫn có thuế cao từ 5-10% nhưng họ trốn tránh theo cách khai thác thép nhập khẩu là hợp kim để có mức thuế 0%. Chủ yếu là thép Trung Quốc chứa vi lượng Bo được xác định là thép hợp kim nên được hưởng thuế 0%.

    Hiện, thép xây dựng trong nước sản xuất được và đang dư thừa nên nếu nhập vào thì là vô lí, ảnh hưởng thị trường, chiếm thị phần trong nước. Khi nhập khẩu làm giảm thị phần trong nước. Thép sây ở Việt Nam cơ cấu 20-25% mà giờ tụt xuống dưới 20% có nghĩa là thép nước ngoài đã chiếm mất thị phần và buộc doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với giá ấy phải giảm sản lượng, hoặc chuyên sản xuất mặt hàng khác, chiếm thị trường của mình làm doanh nghiệp phải chuyên cơ cấu sản xuất khác, không sản xuất các sản phẩm ấy nữa.

    Trả lời cho câu hỏi tại sao chưa có giải pháp khắc phục mặc dù tình trạng này đã xuất hiện từ lâu, ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết thêm:

    Việc gian lận thương mại như vậy không riêng gì Việt Nam mà ở cả các nước Đông Nam á cũng rất nóng lòng về việc này. Hiện nay thép Trung Quốc nhập vào rẻ hơn 300.000-500.000 đồng/tấn. Người bán hàng không nói đây là hàng Trung Quốc mà người dân lại thấy rẻ nên mua, rất khó kiểm soát. Đây là vấn đề rất khó vì thực chất là họ né từ thép xây dựng sang hợp kim, thực chất là trốn thuế từ 5% xuống 0%. Thứ hai, ta có quy định nguyên tố Bo từ 8 phần nghìn là thép hợp kim, nếu thay đổi phải thay cả quy định này. Rất khó để thay đổi ngay trong một thời gian vì còn liên quan đến quy chuẩn thế giới.

    Trả lời cho câu hỏi tại sao chưa có giải pháp ngăn chặn hình thức gian lận trong thương mại bảo về sản xuất trong nước, ông Nguyễn Tiến Nghi cũng cho biết:

    Hiện chúng tôi đang phối hợp cùng với các nước Đông Nam Á để đưa ra một chuẩn pháp lý. Còn bới quản lý nhà nước thì cơ quan Hải quan phải vào cuộc. Lãnh đạo hiệp hội cũng đề nghị với Hải quan là các khách hàng nhập thép về thì phải đề nghị họ khai báo đúng mác nhập khẩu. Chúng tôi cung cấp một số mác chung như hiện nay. Phân tích nguyên tố Bo vi lượng rất nhỏ nhiều khi không có máy để làm được. Cho nên phải kiểm tra việc nhập khẩu kê khai đúng thì mới kiểm soát được. Thứ hai, giá thép hợp kim không có giá 600-700 USD/tấn mà phải 950-1000 USD/tấn. Thép hợp kim thì không bao giờ đưa đi xây dựng vì với mức giá như vậy, giá quá cao nên cần phải có hậu kiểm, tức là kiểm tra xem thép khi nhập về thì sử dụng vào việc gì, đi theo đường nào, hướng nào, để giảm bớt tình trạng này.

    Chương III: PHƯƠNG HƯỚNG NHẬP KHẨU SẮT THÉP KHI VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CAM KẾT WTO

    3.1 Những cam kết của Việt Nam

    3.1.1Tình hình phát triển ngành thép Việt Nam trước khi gia nhập WTO?

    Ngành thép Việt Nam được khởi đầu bằng sự ra đời của Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên năm 1963 . Sau một thời gian dài phát triển khá chậm, kể từ năm 2001 (khi Chính phủ có Quyết định số 134/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010), ngành thép đã có những bước phát triển tương đối nhanh.

    Bảng 1 – Năng lực sản xuất ngành thép (tấn)

      Năm 2001 Năm 2007
    Năng lực luyện thép 350.000 3.400.000
    Năng lực cán thép 2.000.000 6.400.000

    Tính đến cuối năm 2007, năng lực luyện thép tăng gần 10 lần so với năm 2001, s ản lượng tăng gấp 6 lần, năng lực cán thép tăng gấp 3 lần so với năm 2001. Tổng sản lượng thép cán năm 2007 đạt khoảng 4 triệu tấn.

    Ngành thép Việt Nam đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ về thép cán xây dựng, tôn mạ kẽm mạ màu, ống hàn cỡ nhỏ và một phần nhu cầu về thép lá cán nguội của thị trường trong nước. Mục tiêu phát triển của ngành thép vì vậy vẫn là đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước và tăng cường xuất khẩu khi có năng lực.

    3.1.2. Năng lực sản xuất thép?

    – Đối với sản phẩm thép:

    Hiện Việt Nam có khoảng 25 doanh nghiệp và trên 50 cơ sở sản xuất nhỏ sản xuất cán thép với chủng loại thép cán dài (tồng công suất của các cơ sở này theo thiết kế khoảng 6,4 triệu tấn/năm) và thép dẹt (công suất 600.000 tấn/năm với thép dẹt cán nguội, hiện đang xây dựng nhà máy thép cán nóng công suất 2 triệu tấn/năm).

    Trình độ công nghệ ngành cán thép chia làm 3 nhóm:

    • nhóm các nhà máy hiện đại, sử dụng công nghệ và thiết bị hiện đại của nước ngoài, chiếm khoảng 20% đến 25% tổng công suất cán hiện có.
    • nhóm các nhà máy trung bình, sử dụng các công nghệ và thiết bị của các nước như Trung quốc, Đài Loan, chiếm khoảng 55% đến 65% tổng công suất cán hiện có.
    • nhóm các nhà máy lạc hậu qui mô rất nhỏ, sử dụng thiết bị tự chế tạo trong nước, chiếm khoảng 15% đến 20% tổng công suất cán hiện có;

    – Đối với phôi thép:

    Hiện có khoảng 14 doanh nghiệp sản xuất phôi thép với công suất thiết kế đạt hơn 2 triệu tấn/năm, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu nguyên liệu phôi để cán thép, số còn lại nhập khẩu từ nước ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc).

    Việt Nam đang phấn đấu nâng cao tỷ lệ phôi sản xuất trong nước lên 70% trong thời gian tới thông qua việc đầu tư mới và thực hiện mở rộng các dự án sản xuất phôi thép hiện có; tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài nguyên quặng sắt, hạn chế xuất khẩu quặng thô (thời gian gần đây nhà nước đã tăng thuế xuất khẩu đối với quặng sắt).

    3.1.3. Tình hình nhập khẩu thép hiện nay?

    Hàng năm Việt nam vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn thép các loại, bao gồm:

    • Các loại thép mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu: thép nguyên liệu dẹt cán nóng (thép tấm dày, lá và băng cuộn cán nóng), thép hình cỡ lớn, thép đặc chủng, thép hợp kim chất lượng cao;
    • Đối với thép xây dựng, mặc dù trong nước dư thừa công suất sản xuất nhưng do thép ngoại có ưu thế về giá nên thép xây dựng vẫn được nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc.

    Bảng 2 – Tình hình nhập khẩu thép

      Năm 2006 Năm 2007
    Tổng lượng nhập khẩu 5,7 triệu tấn 8 triệu tấn
    Tổng kim ngạch nhập khẩu 2,94 tỷ USD 5,11 tỷ USD
    Tổng lượng phôi thép nhập khẩu 1,94 triệu tấn 2,15 triệu tấn
    Tổng kim ngạch nhập khẩu phôi thép 750,5 triệu USD 1,1 tỷ USD
    Nguồn gốc thép nhập khẩu Trung Quốc (trên 50%), Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga

     

    3.1.4. Năng lực cạnh tranh của ngành thép?

    Thép là ngành sản xuất có tốc độ phát triển tương đối nhanh và là ngành trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Cụ thể:

    • Mức tăng về sản lượng bình quân hàng năm của ngành thép trong 10 năm trở lại đây đạt gần 20%;
    • Sản xuất thép đáp ứng được khoảng 55% nhu cầu nội địa (sản lượng đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng và một số sản phẩm gia công sau cán).

    Mặc dù năng lực cạnh tranh đã có cải thiện đáng kể nhưng ngành thép Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế:

    • Sự phát triển về đầu tư và sản xuất thép tăng nhanh nhưng thiếu bền vững(đầu tư ồ ạt, dàn trải, mất cân đối cung cầu, quá tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn, phá vỡ quy hoạch);
    • Năng lực cạnh tranh thấp so với các nước trong khu vực(sản xuất quy mô nhỏ, dây chuyền lạc hậu, phân tán; chi phí đầu vào, chi phí sản xuất cao hơn trung bình chung của thế giới);
    • Công nghệ lạc hậu: các nhà máy nhỏ lạc hậu và trung bình hiện chiếm khoảng 75-80% tổng công suất cán (các nhà máy hiện đại chỉ chiếm khoảng 20-25%); công nghệ chủ yếu vẫn là gia công cán thép, nguyên liệu cho sản xuất chủ yếu nhập được nhập khẩu từ bên ngoài;
    • Chủng loại và cơ cấu sản phẩm không đa dạng: Tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thép xây dựng, thép dẹt cán nóng (thép tấm, lá và băng cuộn cán nóng), thép hình cỡ lớn, thép đặc chủng và thép hợp kim chất lượng cao chủ yếu phải nhập khẩu.
    • Công tác dự báo hạn chế(doanh nghiệp không có hệ thống thông tin độc lập để dự báo biến động thị trường nhằm phục vụ cho công tác điều hành sản xuất kinh doanh).

    3.1.5. Việt Nam đã cam kết gì trong WTO về thuế quan đối với sản phẩm thép nhập khẩu?

    Thép là một trong những ngành mà trong quá trình đàm phán gia nhập WTO được nhiều đối tác đàm phán quan tâm. Theo cam kết của Việt Nam trong WTO, Việt Nam đã đồng ý cam kết cắt giảm và ràng buộc ở mức thuế suất hiện hành của hơn 700 dòng thuế liên quan đến mặt hàng sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu từ tất cả các nước thành viên WTO.

    Bảng 3 – Tổng quan về các cam kết trong WTO đối với sắt thép

    TT Mặt hàng Thuế suất MFN trước khi gia nhập (%) Cam kết với WTO
    Khi gia nhập (%) Cuối cùng (%) Thời hạn thực hiện
    1. Thuế suất bình quân cả biểu thuế 17,4 17,2 13,4 Chủ yếu sau 3-5 năm
    2. Thuế suất bình quân sản phẩm công nghiệp 16,7 16,2 12,4 Chủ yếu sau 3-5 năm
    3. Thuế suất bình quân sản phẩm sắt thép 7,5 17,7 13,0 5-7 năm
    4. Thép xây dựng 10 20-40 15-25 2014
    5. Phôi thép 5 20 10 2014

    Mức cắt giảm về thuế nhập khẩu đối với ngành thép trong khuôn khổ WTO về cơ bản ngang bằng với mức cắt giảm bình quân chung của toàn bộ Biểu thuế. Mức thuế suất trần cho thép xây dựng và phôi thép theo các cam kết trong WTO đều ở mức cao hơn mức thuế suất thực tế đang áp dụng.

    Như vậy, việc thực hiện cắt giảm thuế theo các cam kết trong WTO tuy có làm giảm mức bảo hộ so với ngành thép, song về cơ bản ngành thép vẫn là trong một số các ngành được duy trì mức bảo hộ tương đối cao. Về cơ bản trong những năm tới các doanh nghiệp của ngành thép sẽ không phải chịu tác động của các cam kết trong WTO. Đặc biệt, thuế suất đối với các sản phẩm chủ yếu của ngành thép Việt Nam đang sản xuất như hiện nay vẫn còn cao hơn mức thuế MFN hiện tại. Do vậy, trong thời gian một số năm, việc thực hiện các cam kết về thuế quan trong WTO chưa ảnh hưởng nhiều đến ngành thép.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trên thực tế, do phần lớn nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là từ Trung Quốc và các nước ASEAN (được hưởng mức thuế nhập khẩu theo cam kết CEPT/AFTA và ACFTA, thấp hơn so với thuế nhập khẩu theo WTO) nên việc này không có nhiều ý nghĩa. Nói cách khác, tác động của cam kết thuế quan trong WTO đối với ngành thép không lớn bằng tác động của các cam kết khu vực mà Việt Nam đã ký kết và thực hiện từ năm 2005, 2006.

    3.1.6. Triển vọng của chính sách bảo hộ ngành thép bằng thuế nhập khẩu ?

    Theo các cam kết gia nhập WTO và các cam kết khu vực, việc bảo hộ ngành thép chủ yếu được thực hiện thông qua thuế quan.

    Tuy nhiên, thực tế điều hành chính sách thuế nhập khẩu đối với mặt hàng sắt thép trong hai năm qua cho thấy công cụ bảo hộ này có hiệu quả rất hạn chế. Do giá sắt thép và nguyên liệu trên thị trường thế giới liên tục tăng cao, Nhà nước không những không tăng thuế mà còn giảm nhiều hơn so với cam kết để thực hiện mục tiêu bình ổn giá. Vì vậy các doanh nghiệp cần tính đến các giải pháp cạnh tranh khác hơn là trông đợi vào việc bảo hộ thông qua cam kết thuế nhập khẩu cao.

    3.1.7  Doanh nghiệp ngành thép cần làm gì để hội nhập thành công khi ra nhập WTO?

    Về lý thuyết, việc gia nhập WTO tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm (do các nước thành viên WTO phải cho sản phẩm Việt Nam hưởng thuế nhập khẩu MFN), có cơ hội tiếp thu công nghệ sản xuất thép và phương pháp quản lý hiện đại, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn mới.

    Tuy nhiên, hội nhập cùng với việc từng bước xoá bỏ hàng rào thuế quan cũng đã đặt ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam. Thách thức còn lớn hơn khi mà phần hàng rào thuế quan được duy trì cũng không có nhiều ý nghĩa (như phân tích tại Câu 5).

    Vì vậy, để hội nhập thành công, trước hết là để cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường nội địa, các doanh nghiệp cần lưu ý ít nhất các vấn đề sau đây:

    – Về nguồn nguyên liệu: chủ động đầu tư sản xuất thượng nguồn (khai thác quặng sắt làm nguyên liệu cho luyện thép và cán ra sản phẩm); đầu tư cho chiến lược phát triển các cơ sở cung cấp phôi thép (nhằm tự sản xuất được phôi thép với giá thành thấp ở trong nước).

    – Về tổ chức sản xuất: đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố sản xuất đầu vào nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm, giảm giá bán.

    – Về sản phẩm: Đầu tư sản xuất nguồn nguyên liệu, đổi mới thiết bị, chuyển hướng đầu tư sang sản xuất các sản phẩm mới (thép cuộn cán nóng, thép tấm, tôn mạ kẽm, mạ màu…).

    – Về marketing: Chú trọng phát triển năng lực marketing, xây dựng hình ảnh và củng cố sức mạnh cho các nhãn hiệu thép Việt Nam trên thị trường Việt Nam; xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng bao gồm các khách hàng cuối cùng và các nhà phân phối.

     Về nguồn nhân lực: Phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn cao, phối hợp chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu, các trường dạy nghề để đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao, thích ứng với công nghệ hiện đại; chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển, gắn nghiên cứu với triển khai thực hiện.

    3.2 Phương hướng quản lý về việc nhập khẩu sắt thép của nước ta

    Thứ nhất, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ đội ngũ cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu nói chung và phục vụ hoạt động nhập khẩu thép nói riêng.

    Sự tồn tại và phát triển của bất cứ Công ty nào cũng cũng bắt nguồn từ yếu tố con người. Các phòng kinh doanh hiện nay có độ ngũ cán bộ kinh doanh tương đối hoàn chỉnh, hầu hết đã qua đào tạo đại học chính quy hoặc tại chức về nghiệp vụ kinh doanh và ngoại ngữ. Tuy nhiên kinh doanh xuất nhập khẩu không những yêu cầu về trình độ nghiệp vụ cao mà còn các yếu tố khác như kinh nghiệm, khả năng giao tiếp, sự phản ứng nhạy bén trước những biến động của thị trường. Thực tế là một số các cán bộ có kinh nghiệm thực tế trong kinh doanh nhưng lại hạn chế về trình độ ngoại ngữ, còn các bộ trẻ lại thiếu kinh nghiệm thực tế. Do yêu cầu của hoạt động kinh doanh nhập khẩu cần phải nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ làm công tác kinh doanh nhập khẩu là rất cần thiết.

    Xây dựng một cơ cấu nhân sự hợp lý phát huy được tính năng động sáng tạo của mỗi các nhân cũng như khai thác được nguồn lực chất xám của đội ngũ kinh doanh nhập khẩu.

    Thứ hai, duy trì các mối quan hệ với khách hàng, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và tìm kiếm đối tác mới.

    Thiết lập được mối quan hệ bạn hàng cung cấp rộng khắp là rất quan trọng tạo nguồn hàng ổn định và chất lượng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có quan hệ với một số bạn hàng truyền thống như Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapo, trước sự biến động phức tạp của thị trường thép thì cần phải tìm kiếm các đối tác mới. Nước ta phải có chính sách và giải pháp để mở rộng mối quan hệ với bạn hàng, khai thác tốt các bạn hàng hiện nay. Các giải pháp cụ thể mà Việt Nam cần phải tiến hành với bạn hàng là nghiên cứu tìm hiểu kỹ các thông tin về môi trường kinh tế – chính trị – luật pháp của các nước bạn hàng nhằm tạo cơ sở cho việc đàm phám ký kết hợp đồng, dự đoán được xu hướng biến động của thị trường cung cấp thép, thiết lập mối quan hệ rộng khắp đối với các nhà cung cấp ở mỗi nước bạn hàng, thường xuyên cập nhật thông tin về năng lực sản xuất, quy mô và khả năng cung ứng của mỗi nhà cung cấp. Từng bước mở rộng danh mục nhà cung cấp thép trong thời gian tới. Xúc tiến thăm dò thị trường, tìm hiểu tập hợp thông tin về thị trường thép của các nhà cung cấp lớn như Trung Quốc, Đức, Nhật Bản,…

    Tìm kiếm các đói tác trong khu vực để tận dụng chi phí về vận chuyến.

    Thứ ba, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường bằng cách duy trì, củng cố thị trường cũ, mở rộng thị trường mới.

    Thứ tư, tăng cường bổ sung, huy động nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu bằng cách huy động nguồn vốn từ bên ngoài, tham gia thị trường chứng khoán.

    Thứ năm, xây dựng mạng lưới phân phối đa dạng và ổn định

    Thứ sáu, tăng cường công tác liên doanh, liên kết với các công ty khác trong hoạt động nhập khẩu thép.

    Thứ bảy, Hoàn thiện quy trình nhập khẩu thép:

    -Hoàn thiện theo hướng chuyên môn hoá để giảm bớt các chi phí với các  nghiệp vụ hải quan

    -Hoàn thiện quá trình lựa chọn thị trường và ký kết hợp đồng

    -Hoàn thiện quá trình giao nhận và vận chuyển hàng từ cảng

    -Nâng cao năng lực thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm

    -Hoàn thiện quy trình thanh toán và thủ tục thanh toán

    Thứ  tám, Hạ thấp chi phí lưu thông phân phối thép nhập khẩu và mở rộng các hình thức huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

    3.3 Những kiến nghị đối với Nhà nước và Tổng Công ty Thép

    Một là, cần hoàn thiện các văn bản pháp quy, chính sách và biểu thuế nhập khẩu thép và có những thông báo kịp thời tức là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và đơn giản hoá thủ tục hành chính liên quan đến nhập khẩu

              Hai là, hỗ trợ cung cấp thông tin về thị trường thép trên thế giới và trong nước về tình hình sản xuất, nhu cầu, sự biến động của thị trường thép,….

              Ba là, hỗ trợ đào tạo cán bộ nghiên cứu thị trường, có trình độ am hiểu luật pháp, nghiệp vụ, ngoại ngữ.

              Bốn là, tổ chức các cuộc hội thảo, hỗ trợ vốn, tăng cường liên doanh liên kết giữa các thành viên trong hoạt động nhập khẩu thép.

    Năm là, phát triển hệ thống đường xá cầu cảng bến bãi.

            Sáu là, tạo môi trường công bằng và xử lý nghiêm minh khi có vi phạm.

     

    KẾT LUẬN

     

    Xu thế toàn cầu hoá hiện nay đã và đang diễn ra mạnh mẽ, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, không một quốc gia nào có thể phát triển mà không hoà nhập với xu thế hiện nay. Thương mại quốc tế là tất yếu khách quan, sự giao lưu trao đổi buôn bán giữa các quốc gia, các thành phần kinh tế ngày càng sâu rộng.

    Sau các chương trên, hẳn chúng ta đã có một cái nhìn khá toàn diện về hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép từ thị trường Trung Quốc của Việt Nam trong những năm gần đây từ lý thuyết nghiên cứu cho đến thực tiễn.

    Trong thời gian qua ngành nhập khẩu mặt hàng sắt thép đã đạt được những thành công nhất định góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép trong nước. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép không tránh khỏi những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài do những biến động về môi trường kinh tế, chính trị nói chung và sự biến động của thị trường thép nói riêng, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, để khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép không những cần có sự nỗ lực hoàn thiện của ngành mà còn cần có sự hỗ trợ từ phía Hiệp hội, Nhà Nước.

    Trong bối cảnh  nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc  dù có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh  tranh của doanh nghiệp  Việt  Nam còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài…

    Với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo bộ môn kinh tế ngoại thương – thầy Dương Văn Bạo, em đã hoàn thành xong bài tập lớn về vấn đề “ Tìm hiểu cơ chế, chính sách quản lí nhập khẩu sắt thép từ thị trường Trung Quốc và định hướng trong những năm tới khi Việt Nam thực hiện đầy đủ những cam kết của WTO”.  Em đã rất cố gắng tìm hiểu , học tập và nghiên cứu để hoàn thành bài tập thầy đã giao, tuy chỉ là đề cập nhỏ trong vấn đề lớn . Bài tập của em không tránh khỏi những thiếu sót .Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy và các bạn để bài tập của em được hoàn chỉnh hơn .

    Em xin chân thành cảm ơn thầy!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức

    Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức

    Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Thu-H%C3%BAt-V%E1%BB%91n-%C4%90%E1%BA%A7u-T%C6%B0-Tr%E1%BB%B1c-Ti%E1%BA%BFp-N%C6%B0%E1%BB%9Bc-Ngo%C3%A0i-V%C3%A0o-L%C4%A9nh-V%E1%BB%B1c-Ph%C3%A2n-Ph%E1%BB%91i-B%C3%A1n-L%E1%BA%BB-C%C6%A1-H%E1%BB%99i-V%C3%A0-Th%C3%A1ch-Th%E1%BB%A9c-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    Hội nhập kinh tế thế giới đã và đang diễn ra từng bước, và có tác động
    không nhỏ tới các thanh phần kinh tế ở Việt Nam. Sau khi Việt Nam gia nhập
    WTO, nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến rất tích cực. Kinh tế tưng
    trưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, vốn FDI tăng liên tục, đời sống nhân dân cũng ngày một cải thiện. Trong xu thế mở rộng này, ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam cũng đã có những bước phát triển rất nhanh chóng, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Khi dịch vụ phân phối bán lẻ được mở rộng, người được lợi nhiều nhất ở đây chính là người tiêu dùng. Người tiêu dùng đã có cơ hội được mua sắm các loại hàng hóa đa dạng, hiện đại, phong phú, chất lượng dịch vụ hàng đầu. Tuy nhiên việc mở cửa đối với ngành dịch vụ này lại là một thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước. So với các doanh nghiệp nước ngoài, chúng ta vẫn có sự thua thiệt về mặt vốn đầu tư, trình độ kĩ thuật cũng như tổ chức quản lý nên rất khó để chống đỡ rủi ro cũng như những biến động trên thị trường, cũng như áp lực cạnh tranh từ các công ty nước ngoài. Nhưng đồng thời đây cũng là những cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước học hỏi trình độ cũng như tiếp cận được với mô hình quản lý hiện đại của các doanh nghiệp nước ngoài.
    Hội nhập kinh tế thế giới là một xu hướng tất yếu của mỗi quốc gia. Dù biết
    rằng nguồn vốn FDI này không chỉ mang đến những tác động về mặt kinh tế mà
    còn tạo ra không ít tác động về mặt xã hội ở Việt Nam. Làm sao để vừa có thể thu hút nguồn vốn FDI để thúc đẩy nền kinh tế, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực của nguồn vốn này để phát triển kinh tế. Nhận thức được vấn đề này nên nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ, cơ hội và thách thức” làm đề tài khóa luận của mình.

    Nhóm em xin gửi lời cám ơn tới cô Phan Thị Bích Ngọc, người đã hướng
    dẫn trực tiếp chúng em làm khóa luận tốt nghiệp này. Chúng em xin chân thành
    cám ơn sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của cô.

     

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    • Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngành phân phối bán lẻ.
      1.1. Khái niệm dịch vụ phân phối bán lẻ.

    Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ phân phối bán lẻ.
    Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120 của
    tổ chức thương mại thế giới WTO và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc đã định nghĩa như sau:
    “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các loại hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc
    các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định hoặc từ một địa điểm khác, và các dịch vụ phụ liên quan”.

    Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác về dịch vụ bán lẻ như sau:
    Trong cuốn “Quản trị Marketing” của Philip Kotler đã định nghĩa dịch vụ
    bán lẻ như sau: “Bán lẻ bao gồm toàn bộ những hoạt động có liên quan đến việc bán hàng hay cung cấp những dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân chứ không phải mục đích kinh doanh”. Mọi tổ chức làm công việc này cho dù là người sản xuất, người bán sỉ hay bán lẻ đều là làm bên cung cấp dịch vụ bán lẻ, bất kể hàng hóa hoặc dịch vụ đó được cung cấp như thế nào (bán trực tiếp, qua điện thoại, qua bưu điện hoặc qua máy bán hàng) hay được bán ở đâu (bán tại cửa hàng, ngoài phố).

    Từ điển Wikipedia đã định nghĩa về ngành dịch vụ này như sau:
    “Bán lẻ gồm bán hàng cho cá nhân hoặc cho các hộ gia đình để họ tiêu dùng
    tại một địa điểm cố định hoặc không tại địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan”.

    Tóm lại, bán lẻ là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ
    nhà sản xuất, hoặc nhà phân phối rồi chia nhỏ ra và bán lại cho người tiêu dùng
    nhằm phụ vụ nhu cầu cá nhân hoặc gia đình.

    1.1.2. Đặc điểm.

    • Dịch vụ phân phối bán lẻ có tính chất phân tán cao.

    Nhu cầu tiêu dùng là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất của con người.
    Cho dù là ở người dân ở đâu đi nữa thì nhu cầu với tiêu dùng vẫn là điều không thể thiếu được. Ở đâu có người dân thì ở đó sẽ xuất hiện các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ để mang hàng hóa tới người tiêu dùng. Dịch vụ bán lẻ trải rộng khắp mọi nơi theo các địa điểm phân bố dân cư, và phụ thuộc rất nhiều vào mật độ dân số cũng như thu nhập của người dân ở nơi đây.
    Vào những năm đầu của thế kỉ 20, công nghệ thông tin bùng nổ tạo điều
    kiện cho các bên trao đổi, cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng một cách
    nhanh hơn, ưu việt hơn. Việc bán hàng thông qua các trang web thương mại điện tử ngày càng phát triển và thu hút được nhiều sự quan tâm. Đây là một bước tiến lớn đối với dịch vụ trao đổi, buôn bán hàng hóa, từ đây việc trao đổi hàng hóa sẽ không còn bị giới hạn về không gian, thời gian, luôn bảo đảm dịch vụ có thể hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày.

    • Dịch vụ bán lẻ luôn theo sát nhu cầu thực tế và thỏa mãn nhanh nhất
      nhu cầu đó
      .

    Nhà bán lẻ là những người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, vậy nên họ
    là người am hiểu nhất những mong muốn cũng như những thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó phản ánh những thông tin này tới nhà sản xuất, giúp nhà sản xuất có thể điều chỉnh chất lượng cũng như mẫu mã sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Với vai trò là cầu nối của người tiêu dùng với nhà sản xuất, nhà bán lẻ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền tải các thông tin về chương trình khuyến mại hoặc các thông tin mới nhất về các sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng. Dịch vụ phân phối bán lẻ phản ứng chính xác những nhu cầu thực tế của người tiêu dùng thông qua quá trình chuẩn bị mua hàng đến sau khi quá trình mua hàng kết thúc, nhanh chóng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng.

    • Dịch vụ bán lẻ hướng tới người tiêu dùng cuối cùng

    Bán lẻ là quá trình giao hàng hóa từ người bán lẻ đến tay người tiêu dùng
    cuối cùng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, gia đình chứ không phải vì mục đích thu lợi nhuận. Người tiêu dùng có thể nhận hàng trực tiếp hoặc gián tiếp qua bưu diện, qua máy bán hàng,… tùy theo nhu cầu của mỗi cá nhân. Ngành bán lẻ phát triển chủ yếu dựa vào nhu cầu hàng hóa trên thị trường. Chính vì vậy nên thị trường bán lẻ luôn diễn ra sôi động, nhà bán lẻ sử dụng nhiều chính sách như ưu đãi, chương trình khuyến mại, voucher,… để lôi kéo nhiều khách hàng hơn.
    1.1.3. Các mô hình tổ chức bán lẻ chính.

    • Mạng lưới công ty.

    Các cửa hàng của mạng lưới này là hai hoặc nhiều cửa hàng thuộc cùng một
    quyền sở hữu, có chung bộ phận thu mua và tiêu thụ, và bán những loại hàng hóa tương tự nhau. Mạng lưới công ty có trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng tập trung phát triển ở các cửa hàng bách hóa, tạp hóa, cửa hàng phân phối,…

    • Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ.

    Mạng lưới cộng tác viên gồm một nhóm người bán lẻ độc lập, được người
    phân phối bảo trợ, thu xếp mua số lượng hàng hóa và cùng bán. Cộng tác viên gồm những người bán lẻ độc lập thành lập một tổ chức mua hàng, đứng ra kinh doanh và thực hiện những biện pháp khuyến mại.

    • Hợp tác xã tiêu thụ.

    Là mô hình mà mọi công ty bán lẻ đều thuộc quyền sở hữu của chính những
    khách hàng của nó. Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư của một cộng đồng lập ra khi họ cảm thấy rằng những người bán lẻ ở địa phương phục vụ không chu đáo, vì đòi giá cao hay bán những sản phẩm kém chất lượng. Họ góp vốn để mở một cửa hàng rồi biểu quyết về những chính sách của cửa hàng và bầu ra người quản lý nó. Cửa hàng có thể định giá thấp hoặc bán theo giá bình thường, các xã viên có thể được quyền chia lợi tức theo số lượng hàng họ đã mua.

    • Tổ chức đặc quyền.

    Là một sự liên kết theo hợp đồng giữa người cung cấp đặc quyền và người
    được hưởng đăc quyền. Các tổ chức đặc quyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ,… Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biến đối với
    những mặt hàng như thức ăn nhanh, bất động sản, công ty du lịch,..

    • Tập đoàn bán lẻ.

    Tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do, kết hợp với một số hướng
    cũng như hình thức bán lẻ khác nhau, dưới quyền sở hữu tập trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lý của mình. Tập đoàn bán lẻ bao gồm những công ty có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường, liên kết với nhau bằng quan hệ tài sản cũng như quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của thị trường bán lẻ.
    1.1.4. Vai trò của ngành dịch vụ bán lẻ.

    Có thể hiểu rằng sản xuất là gốc rễ, cung cấp hàng hóa, vật phẩm cho nền kinh tế vậy nên hệ thống phân phối là huyết mạch của nền kinh tế. Phân phối bán lẻ đứng ở vị trí cuối cùng trong hệ thống này, vậy nên nó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, cơ cấu kinh tế chuyển dần từ hình thức công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ sang hình thức dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp.

    • Phân phối bán lẻ cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

    Chỉ khi có nhu cầu thì người ta mới cần đến hàng hóa, nhưng không phải lúc
    nào người ta cũng có thể đến gặp trực tiếp các nhà sản xuất để mua hàng được. Do đó, nhà bán lẻ mới là đơn vị thực sự thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng đúng thời gian, địa điểm và ở một mức giá họ có thể chi trả. Đây là một công việc không dễ dàng, đặc biệt là với điều kiện hàng hóa cũng như dịch vụ ngày càng đa dạng như ngày nay, nhu cầu của khách hàng luôn biến đổi. Người bán lẻ phải luôn thu thập những thông tin những thông tin về thị hiếu của khách hàng, từ đó làm hài lòng người tiêu dùng bằng chính những sản phẩm và dịch vụ của mình. Qua đó, hoạt động bán lẻ cũng tạo nên những lợi ích cho người tiêu dùng bằng cách tạo ra sự đa dạng về sản phẩm, tạo sự tiện lợi về địa điểm mua bán cũng như cũng như các dịch vụ bảo hành, cung cấp thông tin. Càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động phân phối hàng hóa thì chi phí cho khâu phân phối sẽ được chuyển vào giá thành cho người tiêu dùng, từ đó sự cạnh tranh trong phân phối bán lẻ sẽ làm giảm chi phí phân phối, giảm giá bán cho người mua.

    • Nhà phân phối bán lẻ có vai trò thu thập thông tin thị trường, từ đó
      phản ánh lại với bên sản xuất.

    Quá trình chuyển giao hàng hóa tới tay người mua thông qua phân phối bán
    lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường. Do vậy có thể chuyển tải được những thông tin thiết yếu về nhu cầu của thị trường cho người sản xuất cũng như người cung ứng, từ đó điều chỉnh theo yêu cầu của thị trường, tạo lập cầu nối dẫn dắt người sản xuất có những định hướng đúng vào nhu cầu của thị trường, thúc đẩy hoạt động kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế. Từ đó giúp tăng cường sự thương mại hóa, phát triển thị trường cho những sản phẩm có lợi thế, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    • Hoạt động phân phối bán lẻ thúc đẩy sản xuất phát triển.

    Sau khi hàng hóa được sản xuất, bước tiêu theo chính là tiêu thụ và ngược
    lại, chỉ khi hàng hóa được tiêu thụ thì doanh nghiệp mới có thể tiếp tục sản xuất.
    Các bên phân phối bán lẻ đóng một vai trò rất quang trọng trong việc kích thích
    tiêu thụ, quảng bá thông tin về hàng hóa cho nhà sản xuất. Nhờ sự tiếp xúc trực
    tiếp với người tiêu dùng nên họ hiểu rất rõ nhu cầu của người mua. Các nhà bán lẻ có thể sử dụng những biện pháp của nhà sản xuất để kích thích tiêu dùng, hoặc dùng chính những biện pháp của họ để làm được điều đó. Bên phân phối bán lẻ có thể nhận những mặt hàng đã được hoàn thiện từ nhà sản xuất. Có một số mặt hàng, chính nhà bán lẻ sẽ đảm nhiệm khâu sơ chế, đóng gói, phân loại,… để có thể đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách tốt nhất, với hình thức phù hợp nhất để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Không những vậy, nhà phân phối bán lẻ còn có chức năng thiết lập, tạo dựng cũng như duy trì các mối quan hệ với những người mua tiềm ẩn. Nhờ có các nhà bán lẻ mà các doanh nghiệp có thể lôi kéo thêm không ít khách hàng. Sản xuất được coi là gốc của việc bán lẻ, nhưng chính bán lẻ cũng có thể kích thích việc sản xuất mở rộng và phát triển. Một doanh nghiệp muốn thành công, không chỉ sản phẩm phải tốt mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ, nếu nắm chắc khâu bán lẻ thì hoàn toàn có thể điều phối được cả sự sản xuất.

    • Phân phối bán lẻ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

    Theo Tổng cục thống kê, từ những năm 2012 trở lại đây, tỉ trọng lao động
    của ngành phân phối hàng hóa đã gia tăng từ 30,4% (năm 2012) lên tới 38% (năm 2017). Nếu so sánh thì GDP của ngành dịch vụ này không hề thấp hơn so với nông nghiệp, nhưng lao động của ngành dịch vụ này lại chỉ bằng 1/4 so với nông nghiệp. Xu hướng chung hiện nay là gia tăng tỉ trọng lao động trong ngành dịch vụ phân phối bán lẻ, ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm. Tính đến 2017, số người lao động làm việc trong ngành bán lẻ khoảng hơn 6 triệu người. Lĩnh vực phân phối bán lẻ được coi là ngành thu hút nhiều lao động nhất trong ngành phân phối. Theo thống kê, Việt Nam hiện có hơn 900.000 cửa hàng bán lẻ, 9.100 chợ truyền thống, và khoảng hơn 600 siêu thị phân bố rộng rãi trên 63 tỉnh thành trên cả nước. Lĩnh vực này đã thu hút được lượng lớn nguồn lao động.

    • Dịch vụ phân phối bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc tạp lập,
      nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Khi quyết định liên kết với cac bên bán lẻ, các nhà sản xuất đã có những
    chiến lược kinh doanh của riêng mình như các quyết định về giá, cách quảng bá,.. Họ chủ động tạo nên một mối liên hệ với các bên bán lẻ nhằm tạo nên sự phân công và hợp tác một cách chuyên nghiệp, từ đó tạo nên giá trị gia tăng, giúp các bên bán lẻ tập trung được vào những hoạt động mà họ có lợi thế, đảm bảo được năng suất cao hơn nhưng chi phí lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của chính doanh nghiệp so với các đối thủ khác trên thị trường.
    Nhờ việc tham gia vào mối liên kết này mà mỗi doanh nghiệp đều được
    hưởng nhiều lợi ích kinh tế. Từ mối liên kết vững chắc giữa doanh nghiệp và bên phân phối bán lẻ mà doanh nghiệp có thể đảm bảo được nguồn cung ứng, nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Từ đó nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.

    Các nhà phân phối bán lẻ sau khi đã liên kết hiệu quả với doanh nghiệp sẽ
    tạo lập được lợi thế cạnh tranh, đảm bảo lợi ích của mình trước các đối thủ nước
    ngoài khi nước ta hội nhập kinh tế thế giới, họ sẽ phải mất nhiều thời gian và tiền bạc mới có thể tạo lập được những mối liên kết này. Không chỉ vậy, cùng với các cam kết về tự do hóa thương mại, nhà nước sẽ dần dỡ bỏ các rào cản về thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ cho ngành sản xuất nước nhà, từ đó sự liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và các bên phân phối sẽ là rào cản hữu hiệu nhất để các doanh nghiệp Việt Nam có thể bảo vệ mình trước các đối thủ cạnh tranh đến từ nước ngoài.
    1.2. Một số khái quát về lĩnh vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam.
    1.2.1. Doanh thu, tốc độ tăng trưởng.

    Kể từ khi đất nước ta mở cửa thị trường, nền kinh tế đã ngày một phát triển.
    Thu nhập của người dân tăng, sản xuất phát triển dẫn đến nhu cầu cũng ngày một đa dạng. Để phù hợp với thị hiếu của người dân, hàng hóa trên thị trường luôn thay đổi, dẫn đến ngành dịch vụ phân phối bán lẻ cũng ngày một tăng trưởng. Từ năm 2007 – 2017, doanh thu bán lẻ đã tăng gấp 3 lần, đạt 130 tỷ USD vào năm 2017. Tốc độ tăng trưởng qua các năm cao, luôn đạt trên 10%/năm.

    Năm Doanh thu bán lẻ (tỷ USD)
    2007 45,2
    2008 39,6
    2009 55,7
    2010 62,1
    2011 71,3
    2012 80,5
    2013 96,4
    2014 102,3
    2015 110,6
    2016 126,7
    2017 130

    Bảng 1. Doanh thu trong lĩnh vực phân phối bán lẻ giai đoạn 2007 – 2017

    Với dân số trên 96 triệu người, trong đó 65% là dân số trẻ có nguồn thu nhập cao, tốc độ tiêu dùng tăng mạnh, là cửa ngõ dẫn tới một số thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, Lào,… nước ta đang trên đà trở thành một trong những nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Không chỉ vậy, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam cũng cao kỉ lục, đạt 118 điểm trong khi trung bình các nước khác chỉ đạt 97 điểm. Với tiềm năng đầy hứa hẹn đó, kết hợp với việc mở cửa thị trường, lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ ngày một thúc đẩy. Trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ trở thành thị trường có dịch vụ phân phối bán lẻ chuyên nghiệp, năng động.
    1.2.2. Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ.

    Trước đây nền thương mại Việt Nam chủ yếu do nhà nước độc quyền thì nay đã chuyển sang nền thươn mại đa thành phần. Với sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, nền kinh tế tư nhân, vốn FDI từ các nhà đầu tư nước ngoài cũng như sự cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã làm cho ngành thương mại
    Việt Nam có sự biến đổi. Năm 2012, cả nước có khoảng 505.000 ngoài quốc doanh, trên 2.701 doanh nghiệp có cổ phần của nhà nước, trên 14.600 doanh nghiệp FDI và 2 triệu hộ gia đình tham gia vào lĩnh vực thương mại trong nước. Không những vậy, việc ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới đã giúp cho Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết trong việc phân phối bán lẻ, đặc biệt là những cam kết trong khuôn khổ WTO. Năm 2009, Việt Nam đã xóa bỏ những hạn chế đối với sự tham giá vào thị trường phân phối bán lẻ của doanh nghiệp nước ngoài. Vậy nên để phân tích kĩ hơn, chúng ta sẽ xét tới ba chủ thế chính sau:

    • Chủ thể 1:

    Các công ty phân phối trong nước, bao gồm các doanh nghiệp
    trong và ngoài nước. Họ là những bên phân phối có trình độ chuyên nghiệp, mạng lưới phân phối rộng rãi, trải đều khắp các tỉnh thành trên cả nước. Họ là một chuỗi các hệ thống phân phối hiện đại. Điển hình như tập đoàn Vingroup với hai thương hiệu chuỗi bán lẻ là Vinmart và Vinmart +, công ty xuất nhập khẩu INTIMEX với chuỗi siêu thị mang tên INTIMEX,… không chỉ dừng lại ở đó, các doanh nghiệp còn cùng kết hợp để thành lập nên những đơn vị mạnh hơn, quy mô kinh doanh lớn, trên cơ sở kết hợp các thế mạnh của nhau. Điển hình như hai công ty lớn là Xây dựng VINACONEX và công ty Thương mại Tràng Tiền đã bắt tay hợp tác để xây dựng nên trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza. Qua các giai đoạn đổi mới, các doanh nghiệp đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể, ví dụ như chuỗi siêu thị Saigon Co.op được bầu chọn là bên phân phối bán lẻ hàng đầu Việt Nam, đứng trong top 500 nhà phân phối bán lẻ hàng đầu Châu Á Thái Bình Dương.

    Nhìn chung đây là khu vực có những chuyển biến tích cực nhất trong xu thế
    hội nhập. Các doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực về tài chính, các cơ sở sản xuất hơn nên vừa đóng vai trò phân phối, sản xuất, vừa đóng vai trò thu mua hàng hóa để kinh doanh trong hệ thống của mình. Còn các doanh nghiệp ngoài nhà nước lại chủ yếu tập trung vào mảng phân phối để tạo nên một chuỗi hệ thống phân phối chứ không tham gia nhiều vào hoạt động sản xuất như các doanh nghiệp nhà nước.

    Đây có thể xem là một trong những đặc điểm đặc thù của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống phân phối, cũng như hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh trong nước còn gặp nhiều hạn chế về khả năng tài chính cũng như công nghệ, kĩ năng quản lý, cán bộ công nhân viên,… so với nhiều doanh nghiệp có vốn FDI cũng hoạt động trong lĩnh vực này.

    • Chủ thể 2:

    Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
    Trong những năm vừa qua, việc các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thâm
    nhập vào thị trường Việt Nam đã tạo nên những đóng góp không nhỏ trong việc
    xây dựng một thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng, cạnh tranh cao. Hiện nay, trên thị trường Việt Nam đã có sáu thương hiệu phân phối bán lẻ quốc tế như Parkson, Metro, Big C,…Những doanh nghiệp này đã kinh doanh cực kì thành công trên thị trường Việt Nam và đang ngày càng củng cố, mở rộng hệ thống phân phối của mình.
    Ta có thể nhận thấy được các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh
    vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp
    trong nước, về khả năng tài chính, trình độ kĩ thuật, quản lý, và đặc biệt là kinh
    nghiệm tổ chức quản trị kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp này là những tập đoàn hàng đầu thế giới, đã có bề dày kinh nghiệm, đã thiết lập được mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Chính vì sự có mặt của những tập đoàn này mà các doanh nghiệp trong nước đã phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn, nhưng đồng thời đây cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp trong nước tạo nên một thị trường nội địa lành mạnh, phát triển, nhanh chóng tiếp cận được với trình độ của thế giới.

    Do họ đã có những lợi thế nhất định về năng lực tài chính cxung như trình
    độ tổ chức kinh doanh nên những doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn FDI có cách tổ chức hoạt động kinh doanh bán lẻ rất chuyên nghiệp, và họ thường tập trung vào khâu phân phối hàng hóa dựa trên việc kí hợp đồng thu mua hàng hóa từ nhiều nơi khác nhau chứ không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như các doanh nghiệp trong nước.

    • Chủ thể 3:

    Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước. Đây là một
    trong những thành phần quan trọng nhất tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt
    Nam, đã tạo ra việc làm cho hơn năm triệu người trong cả nước. Tuy vậy, đặc điểm chung của nhóm đối tượng này là mang nặng tính tự phát, thiếu kiến thức cũng như kĩ năng xử lý rủi ro. Những hộ cá thể này phần lớn đều là lao động phổ thông chứ không qua bất cứ một trường lớp đào tạo nào hết. Nhưng chính những đối tượng này lại là người tạo ra nguồn thu nhập chính trong gia đình. Vậy nên những tác động dù nhỏ nhất với nhóm đối tượng này cũng có thể tạo nên những biến động tới các thành viên trong gia đình họ.
    1.2.3. Hàng hóa lưu thông trên thị trường.

    Các loại hàng hóa lưu thông trong nước ngày một đa dạng, phong phú về
    chủng loại cũng như chất lượng. Qua quá trình mở cửa thị trường những năm gần đây, chúng ta có thể nhận ra ngoài hàng hóa được sản xuất trong nước, thị trường Việt Nam còn xuất hiện thêm nhiều loại hàng hóa ngoại nhập, phục vụ nhu cầu sản xuất cũng như tiêu dùng trong nước. Chính những điều này đã tạo nên một thị trường đa dạng, sôi động. Các trung tâm thương mạ lớn cũng dần xuất hiện các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng thế giới, tạo nên hiệu ứng không nhỏ đối với người tiêu dùng.
    1.2.4. Các hệ thống phân phối bán lẻ.

    Nhu cầu của người tiêu dùng tăng, kéo theo đó nhu cầu về hàng hóa cũng
    như thị trường hàng hóa cũng tăng theo, dẫn đến các hệ thống phân phối bán lẻ
    cũng sẽ thay đổi để phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Từ hệ thống bán lẻ là truyền thống đến hệ thống hiện đại đều tăng đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng.

    • Hệ thống chợ truyền thống.

    Tính đến năm 2017, trên cả nước đã xuất hiện 8.067 chợ các loại (không bao
    gồm các chợ tự phát). Trong đó, miền Bắc chiếm 22,2%; miền Trung chiếm
    26,2%; Tây Nguyên chiếm 4,9%; miền Nam chiếm 46,7%.
    Chợ bán lẻ hình thành để phục vụ dân cư ở các phường, xã, thị trấn chiếm tỉ
    trọng cao (91,5%); chợ tổng hợp chiếm 2,3%; chợ đầu mối chiếm 0,6%; chợ biên giới, cửa khẩu chiếm 1,9%.
    Trên cả nước, bình quân cứ 42,13 km2 sẽ có một chợ. Giữa các vùng xó sự
    chênh lệch khá lớn về chỉ tiêu này. Khu vực Đồng bằng sông Hồng có diện tích
    phục vụ chợ nhỏ nhất, lớn nhất là vùng Đông Bắc.

    Khối lượng hàng hóa lưu thông qua các chợ ở các thành phố lớn chiếm 40-
    50% tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn. Ở nông thôn, hàng hóa giao dịch trên chợ chiếm khoảng 60-70%.
    Mỗi chợ lại có cơ cấu hàng hóa lưu thông khác nhau. Trung bình có khoảng
    80% các tiểu thương kinh doanh các nhóm hàng chính như nông sản, tạp hóa, thực phẩm, may mặc,… Trong đó mặt hàng thực phẩm chiếm 40%.

    Lực lượng tham gia kinh doanh trên các chợ chủ yếu là tư nhân, thương mại
    nhà nước và người sản xuất trực tiếp bán hàng. Trong đó, thương mại tư nhân
    (được hiểu là các hộ kinh doanh) đóng vai trò quan trọng nhất.

    Khu vực Tổng số
    chợ năm
    2012
    Chợ/
    phường,
    Diện tích
    bình
    quân/chợ
    (Km2)
    Dân
    số/chợ
    Bán kính
    phục vụ trung
    bình một chợ
    (km)
    Đồng bằng Sông
    hồng
    1.482 0,63 10,03 12.249,6 1,81
    Đông bắc bộ 1.126 0,54 55,36 8.132 4,3
    Tây bắc bộ 263 0,42 153,62 10.543,6 7,1
    Bắc trung bộ 1.254 0,64 43,49 8.958,92 3,62
    Duyên hải Nam
    trung bộ
    865 0,98 39,45 8.408,15 3,45
    Tây nguyên 392 0,53 144,21 12.579,4 6,57
    Đông Nam bộ 891 0,86 39,68 15.391,3 3,46
    Đồng bằng sông
    Cửu long
    1.794 1,12 25,32 10.927,92 2,63
    Toàn quốc 8.067 0,79 42,85 10.759,96 3,49

    Bảng 2. Tổng hợp các chỉ tiêu về mạng lưới chợ trên cả nước tính đến năm 2012

    Hiện có khoảng 789.632 hộ kinh doanh cố định trên các chợ khắp cả nước,
    trung bình một chợ sẽ có 112 hộ kinh doanh. Số lượng hộ kinh doanh cố định bình quân tại một chợ ở Đông Nam Bộ là cao nhất, và cao gấp 4 lần so với nơi thấp nhất là Tây Bắc Bộ.

    • Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại.

    Hệ thống chợ ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự hình thành và phát
    triển của hệ thông siêu thị, trung tâm thương mại. Trước năm 2000 chỉ có hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là có sự xuất hiện của một vài siêu thị thì ngày nay, trên hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều đã có sự xuất hiện của siêu thị lẫn trung tâm thương mại.

    Theo tổng cục thống kê, đến năn 2012 trên cả nước đã có 865 siêu thị, trải rộng trên khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên các siêu thị có quy mô lớn vẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, tiếp theo là Hải Phòng và Đà Nẵng, và cuối cùng là các thành phố Thanh Hóa, Kiên Giang, Cần Thơ,..

    Về tính chất cũng như cách thức kinh doanh, siêu thị ở Việt Nam có thể chia làm hai loại chủ yếu như sau: các loại siêu thị kinh doanh tổng hợp như Metro, Big C, Coopmart,… số lượng mặt hàng các siêu thị này kinh doanh có thể lên đến hàng trăm nghìn mặt hàng. Và loại còn lại là các siêu thị loại nhỏ, cửa hàng chuyên doanh ví dụ như siêu thị điện máy, thế giới di động, viễn thông A,… Nguồn vốn cũng như chủ đầu tư của các siêu thị ở Việt Nam cũng rất đa
    dạng. Có thể thấy trước năm 2000 chỉ xuất hiện một vài siêu thị của nhà đầu tư
    nước ngoài hay các doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư kinh doanh siêu thị
    (Coopmart, Intimex,…) thì nay đến năm 2017 chúng ta đã có thể thất sự xuất hiện của hầu hết các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư lĩnh vực này ví dụ Tràng Tiền Plaza, trung tâm thương mại Vincom, Aeon Mall, Parkson,…

    • Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn.

    Về loại hình cửa hàng bán lẻ, bán buôn cũng đang tăng về số lượng, chất
    lượng cũng như quy mô. Mô hình các chuỗi cửa hàng này xuất hiện ở các mặt hàng như may mặc, điện máy, mỹ phẩm (May 10, Thế giới di động, Việt Tiến,…) xuất hiện ở hầu hết các thành phố trên khắp cả nước. Ở các thành phố lớn, xu hướng liên kết cũng như sát nhập, mở rộng các cửa hàng bán lẻ diễn ra khá mạnh. Xu hướng này tạo ra một sự thay đổi trong quá trình hình thành cũng như tích tụ vốnnkinh doanh của các bên phân phối, bán lẻ sang hình thức vay vốn kinh doanh, huy động vốn.
    Đặc biệt là các cửa hàng bán lẻ tự chọn, cửa hàng phân phối bán theo
    phương thức nhượng quyền thương mại này trên thực tế đã có mặt trên thị trường được 15 năm và ngày càng được các thương nhân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm. Trên cả nước đã có khoảng 70 hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trong đó Công ty Cà phê Trung Nguyên đã rất thành công với hơn 1500 cửa hàng nhượng quyền ở cả trong và ngoài nước. Một ví dụ khác là công ty Kinh Đô có hàng trăm cửa hàng nhượng quyền kinh doanh bánh Kinh Đô khắp cả nước…
    Hiện nay có rất nhiều công ty trong và ngoài nước có ý định phát triển mạnh mô
    hình này.

    • Hệ thống các hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

    Hiện tại ở Việt Nam, có khoảng hơn một triệu cửa hàng kinh doanh bán lẻ. Những cửa hàng này chủ yếu kinh doanh các mặt hàng phục vụ như cầu tiêu dùng của người dân. Tuy vậy do vốn kinh doanh cũng như mặt bằng không đủ nên những hộ kinh doanh này chỉ có thể kinh doanh một ít mặt hàng có giá trị không cao. Dù vậy thì đây vẫn là một trong những kênh phân phối hàng hóa quan trọng trên thị trường Việt Nam.
    Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn 2012-2017, lĩnh vực phân phối bán lẻ
    tại Việt Nam đã có những đổi mới vô cùng mạnh mẽ, góp phần thay đổi cấu trúc
    cũng như diện mạo của thị trường trong nước ngày càng văn minh, hiện đại, ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng này vẫn chưa cân xứng với tiềm năng của thị trường Việt Nam, hệ thống phân phối bán lẻ trong nước vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Loại hình bán lẻ chủ yếu hiện nay vẫn là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, độc lập. Mô hình trung tâm thương mại, siêu thị cũng đang trên đà phát triển song chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp tham gia cũng còn khá ít, chỉ mới có một vài doanh nghiệp chủ yếu như: Intimex, Sài Gòn Coop, Tập đoàn Vingroup,… Phần lớn các siêu thị vẫn mang quy mô nhỏ. Nếu như nói tỉ trọng doanh số bán lẻ qua siêu thị ở các đất nước như Trung Quốc là 45-60%, Thái Lan là trên 45%, Mỹ trên 90%,…thì hệ thống hàng hóa ở Việt Nam chủ yếu vẫn được phân phối qua các chợ (40%), qua các cửa hàng bán lẻ truyền thống (45%), qua các hệ thống như trung tâm thương mại hay siêu thị mới chỉ có 10%, và 5% còn lại là do các nhà sản xuất bán trực tiếp.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, hệ thống phân phối bán lẻ cần được quan tâm, đầu tư phát triển hơn nữa để ngày càng thích nghi được với nền kinh tế mở như hiện nay.

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT
    2.1. Sự cần thiết phải mở cửa thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
    2.1.1. Thực hiện cam kết gia nhập WTO

    Cũng như các ngành nghề dịch vụ kinh doanh khác, Việt Nam có các cam kết từ phía Việt Nam trong lĩnh vực phân phối, điều đó thể hiện mức độ mở cửa thị trường và phản ánh mức độ đối xử quốc gia mà Việt Nam dành cho doanh nghiệp nước ngoài đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ phân phối tại Việt Nam.

    Dịch vụ phân phối, theo phân loại của WTO, được chia làm 4 phân ngành gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, và dịch vụ nhượng quyền thương mại. Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO đối với các phân ngành này cụ thể như sau:

    • Về các sản phẩm thuộc diện loại trừ:

    Một số mặt hàng sau Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường: đường mía và đường củ cải, gạo, dầu thô và dầu đã qua chế biến, thuốc nổ, dược phẩm (không bao gồm các sản phẩm bổ dưỡng phi dược phẩm dưới dạng viên nén, viên con nhộng hoặc bột), kim loại quí và đá quí, vật phẩm đã ghi hình, báo và
    tạp chí, sách, thuốc lá và xì gà.
    Ngoài ra, trong từng phân ngành khác nhau, Việt Nam chỉ rõ ra những hạn chế khác nhau với một số sản phẩm khác. Cụ thể là: kể từ thời điểm nước ta gia nhập tổ chức WTO, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không được phép thương mại đối với các sản phẩm sau: phân bón, rượu, thiết bị nghe nhìn, sắt thép, ô tô con và xe máy, phương tiện cơ giới, giấy, máy kéo, lốp (trừ lốp máy bay), xi măng và clinke. Tuy nhiên, từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, các sản phẩm ô tô con và xe máy, phương tiện cơ giới, máy kéo, sẽ được loại khỏi danh mục các loại sản phẩm loại trừ này. Ba năm sau ngày Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức WTO, từ ngày 11 tháng 01 năm 2010 trở, tất cả các sản phẩm trong danh mục hạn chế này sẽ được loại bỏ.

    Riêng đối với dịch vụ, kinh doanh bán lẻ, Việt Nam đưa ra hạn chế về việc doanh nghiệp FDI khi mở rộng từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi sẽ được xem xét dựa vào nguyên tắc đánh giá nhu cầu thực tế của người Việt Nam. Việc xem xét này sẽ phải được tuân theo một quá trình thủ tục công khai do nhà nước Việt
    Nam đưa ra và chủ yếu dựa trên hàng loạt tiêu chí khác nhau như số lượng các nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh đang hiện diện trong một khu vực địa lý nào đó, quy mô địa lý và sự ổn định của thị trường….

    • Về mức độ và thời gian mở cửa thị trường:

    Kể từ khi gia nhập đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2008: Các doanh nghiệp FDI phải thành lập, liên doanh với các đối tác người Việt Nam với tỉ lể góp vốn không được vượt quá 49%.

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2009: Tỉ lệ góp vốn từ phía doanh nghiệp nước ngoài không không bị hạn chế, tuy nhiên vẫn phải liên doanh với đối tác từ phía Việt Nam.

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009: các hạn chế nêu trên sẽ được bãi bỏ.
    Chúng ta có thể thấy rằng các cam kết mở của nước ta khá thông thoáng, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham gia kinh doanh hầu hết các hàng hóa khác nhau trên thị trường Việt Nam. Thời gian hội nhập này khá nhanh, điều đó khiến thời gian dành cho các doanh nghiệp Việt Nam thích nghi với các điều kiện cạnh tranh quốc tế cũng không nhiều. Các doanh nghiệp quốc nội sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao, củng cố năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, việc mở cửa là rất cần thiết để hội nhập được sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

    • Thị trường bán lẻ Việt Nam cần được phát triển hơn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân

    Mức sống của người dân Việt Nam đang được nâng lên đáng kể cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế của đất nước. Tỉ lệ Quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của nước ta thuộc loại cao so với các nước trong khu vực (trên 70%) trong khi của Singapore là 55,9%, Malaysia là 58,2% và Thái Lan là 67,7%.

    Bảng : So sánh tổng mức bán lẻ hàng hóa với quỹ tiêu dùng cuối cùng thời kỳ 2007-2017

    Năm Quỹ TD cuối cùng (tỉ đồng) TMBLHH (tỉ đồng) Tỉ lệ (%)
    2007 225.231 145.874 64,8
    2008 250.584 161.899 64,6
    2009 283.444 185.598 65,5
    2010 301.690 200.923 66,6
    2011 321.853 220.410 68,5
    2007-2011 1.382.802 914.706 66,15
    2012 342.607 245.315 71,6
    2013 382.137 280.884 73,5
    2014 445.221 333.809 75,0
    2015 511.221 398.500 77,9
    2016 584.800 480.300 82,1
    2012-2017 2.265.986 1.738.808 76,74

    Nguồn: gso.gov.vn

    Trong giai đoạn 2012 – 2017, tốc độ tiêu dùng nước ta tăng cao hơn nhiều lần so với tốc độ tăng dân số (10,7% so với 3,4%). Tỉ lệ tổng mức bán lẻ hàng hóa so với quỹ tiêu dùng cuối cùng cũng đã có sự tăng trưởng nhanh chóng từ ngưỡng 64,8% năm 2012 , đạt tới 82,1% năm 2017. Trong giai đoạn 2007- 2011, tỉ lệ được thống kê là 66,15% thì giai đoạn 2012-2016 đã tăng lên tới 76,74%. Khi người dân đã có thu nhập đã tăng lên đáng kể, chắc chắn nhu cầu mua sắm hàng hóa tại các trung tâm thương mại hiện đại cũng tăng.

    Thế nhưng, việc mua sắm truyền thống lại đang chiếm tỉ trọng lớn đối với tổng doanh thu bán lẻ với con số 9.266 chợ và 280.000 cửa hàng nhỏ. Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh (thành phố phát triển nhất nước ta) thì hiện mới đưa vào hoạt động chỉ có 23 trung tâm thương mại với 140.000m2 và Hà Nội với 17 trung tâm cung cấp 155.000m2 cho hình thức kinh doanh bán lẻ hàng hóa hiện đại, nếu so sánh với đất nước Singapore mới khánh thành 1 trung tâm thương mại với diện tích 100.000m2 thì những số liệu trên của Việt Nam còn quá khiêm tốn.

    Trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài được biết đến với hình ảnh những đại siêu thị đang hiện diện rất gần thị trường Việt Nam thì hầu hết cửa hàng kinh doanh truyền thống của Việt Nam mới ở trong tình trạng chung là có diện tích nhỏ, trung bình đạt 11,8 m2/cửa hàng, trang thiết bị lạc hậu, khiêm tốn và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông, chưa có trình độ chuyên nghiệp. Ngay cả doanh nghiệp kinh doanh trong nước phần lớn cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bình quân 1 doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 38 lao động với số vốn trung bình 6 tỉ đồng.

    Khu vực kinh tế có vốn đầu tư FDI hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và dịch vụ vẫn đóng góp ở mức rất khiêm tốn trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Hơn nữa, phương thức giao dịch có sử dụng các phương tiện điện tử đã trở nên phổ biến trên thế giới và thương mại điện tử đang trên đà tiếp tục phát triển nhanh khiến cho thị trường thương mại truyền thống bị thay đổi. Người kinh doanh hàng hóa và người tiêu dùng có thể dễ dàng liên hệ trực tuyến với
    nhau trong việc xem xét, đặt hàng, thực hiện thanh toán và nhận hàng hóa tại nhà. Các doanh nghiệp phân phối bán lẻ nước ngoài sau khi đầu tư vào nước ta, họ sẽ phải hết sức tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng sau một thời gian, họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua hệ thống dữ liệu khách hàng; Catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà… Các hình thức này sẽ được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thuỷ sản sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn…. Các phương thức phân phối truyền thống ví dụ như hình thức mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song nhưng sẽ dần bị thu hẹp và suy yếu. Các nhà phân phối trong nước sẽ trưởng thành và có cơ hội học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý và hiện đại hoá hệ
    thống của các nhà phân phối nước ngoài; từ đó, doanh nghiệp trong nước sẽ có thể củng cố hệ thống của mình. Trong sự phát triển này, người tiêu dùng sẽ là nhóm người được hưởng lợi ích nhiều nhất từ.

    • Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

    Hầu hết các nhà kinh doanh bán lẻ nội địa đều đã nhận ra được sự cạnh tranh khốc liệt với các tập đoàn đầu tư nước ngoài trong vài năm tới. Nhiều nhà bán lẻ trong nước đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những thách thức từ việc cạnh tranh mới từ thị trường trong và ngoài nước. Một mặt các doanh nghiệp
    này lo cải thiện tất cả các kênh phân phối sản phẩm ở các thị trường nước ngoài; điều đó thúc đẩy sự hình thành kênh phân phối hàng hóa trực tiếp trên những thị trường trọng điểm.

    Mặc khác, họ đang tích cực cải thiện hoặc xây dựng mạng lưới sản xuất trong nước. Tính từ năm 1996, thời điểm lúc đó cả nước mới có 1 siêu thị được thành lập là CitiMart; đến thời điểm hiện nay, chỉ mới tính riêng khu vực thành phố Hồ Chí Minh thì chúng ta có hàng trăm siêu thị và trung tâm thương mại khác nhau. Tiếp nối sự phát triển đó, các hình thức phân phân phối hàng hóa hiện đại hiện giờ không chỉ hình thành và phát triển tập trung ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội mà đang dần dần mở rộng đến các tỉnh có tiềm năng. Maximart là một trong những doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong khi thành lập chuỗi siêu thị nhắm đến thành phố Nha Trang. Tiếp đến,
    vào năm 2010, hệ thống siêu thị Co.opMart tiếp nối sự phát tiên, khai trương siêu thị ở thành phố Quy Nhơn và thành phố Cần Thơ. Hiện nay, Co.opMart đang dần dần củng cố vị trí chiến lược của mình trở thành một nhà phân phối hàng hóa số 1 tại Việt Nam. Một trong những bí mật phát triển của Co.opMart
    là sử dụng chiến lược phát triển cả về chiều sâu và rộng bằng việc tập trung nguồn lực vào hệ thống các siêu thị. Năm 2016, Co.opMart đã có 40 siêu thị trên cả nước, đồng thời doanh nghiệp sẽ tiến hành liên kết siêu thị với các cơ sở sản xuất, kho dự trữ để trở thành một hệ thống liên hoàn từ khai thác, chế biến, vận chuyển đến hệ thống bán lẻ để gia tăng giá trị hàng hóa.

    Thêm vào đó, quá trình tích cực phát triển một cách tập trung sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước. Từ đó trong nước ta sẽ hình thành các chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để nhằm mục đích tăng cường sức cạnh tranh (đại lý phân phối độc quyền cho thương hiệu Việt Nam, chợ, máy ATM tại các siêu thị, đặt các điểm giao dịch…). Một số doanh nghiệp phân phối có tiềm lực sẽ tiến hành mở rộng hoạt động phân phối hàng hóa ra nước ngoài thông qua hình thức liên doanh, liên kết với các đơn vị phân phối hàng hóa ở nước ngoài hoặc tiến hành thông qua các đơn vị giới thiệu sản phẩm, trung tâm mua sắm, thương mại của Việt Nam nằm tại nước ngoài.

    Tại Nga và các nước Đông Âu, lực lượng người Việt Nam kinh doanh sẽ trở thành những nhóm người, những mắt xích cực kì quan trọng trong hệ thống giúp phân phối hàng hóa của Việt Nam nhưng mang thương hiệu quốc tế thay vì phân phối hàng hóa Trung Quốc như hiện nay. Ngoài ra, do không đủ khả
    năng xây dựng những hệ thống, mô hình phân phối riêng, hình thức tiến ra thị trường quốc tế bằng giao dịch thương mại điện tử sẽ rất phù hợp với nhiều doanh nghiệp, các làng nghề truyền thống, ngư dân, các hộ nông dân….
    2.1.4.  Hạn chế độc quyền trong lĩnh vực phân phối, lành mạnh hoá thị trường, đối phó tốt hơn khi tình hình kinh tế thế giới biến động

    Các rào cản, khó khăn trong việc gia nhập và rời khỏi hệ thống phân phối hàng hóa sẽ dần dần được loại  bỏ khỏi lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế (BTA, WTO, ASEAN+, Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật) và kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài và các cải cách của chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư. Các tập đoàn phân phối đa quốc gia trên thị trường trong nước, ngoài Metro Cash & Carry, Big C, Cora; nhiều khả năng sẽ có thêm Carrefour của Pháp, Wal-mart của Mỹ, các tập đoàn phân phối của Nhật, Trung Quốc,… Sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp này sẽ tạo
    nên bức tranh đầy màu sắc trong hệ thống phân phối trong nước. Khi đó, Lĩnh vực kinh doanh, phân phối không còn hệ thống độc quyền của các doanh nghiệp nội địa.

    Trong ngành xăng dầu nội địa, trước đây xăng dầu là ngành hàng độc quyền của nhà nước. Sau khi mở cửa thu hút và kêu gọi các doanh nghiệp FDI đầu tư, vị thế độc quyền đã dần được gỡ bỏ. Đánh dấu sự phá vỡ thế độc quyền được đánh dấu mốc khi công ty Idemitsu Kosan cùng công ty Kuwait Petroleum
    International thành lập doanh nghiệp liên doanh, lấy tên là Công ty TNHH Dầu khí Idemitsu Q8 với mục đích chính là phân phối xăng dầu. Từ khi doanh nghiệp này ra đời, thị trường xăng dầu Việt đã có nhiều sự thay đổi với chất lượng phục vụ được nâng lên rất nhiều; không chỉ vậy, giá cả xăng dầu cũng được điều chỉnh cạnh tranh hơn trước nhiều,
    2.2.  Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

    Tính từ năm 2012 đến nay, Việt Nam đã tiến hành mở cửa nền kinh tế quốc dân và hội nhập vào thị trường khu vực và toàn cầu. Trong đó để hỗ trợ nhanh chóng quá trình này, Luật đầu tư nước ngoài đã được nhà nước sửa đổi bốn lần theo các hướng khác nhau nhằm thúc đẩy và đảm bảo tốt hơn quyền
    lợi của nhà đầu tư. Tháng 11/2005, Luật đầu tư nước ngoài đã được đổi thành Luật đầu tư nhằm bảo đảm một cách tốt nhất sự bình đẳng cho các nhà đầu tư trong và nhà đầu tư nước ngoài. Bốn mươi mốt (41) hiệp định bảo hộ đầu tư cùng ba mươi tám (38) hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã được ký kết với nhiều nước và lãnh thổ trên thế giới. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã cho phép các nhà đầu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới mọi hình thức cho phép, bao gồm cả hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài trong hầu hết các khu vực không bị Chính phủ nghiêm cấm.

    Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, khu vực dịch vụ vẫn còn khá nhiều hạn chế. Đối với lĩnh vực phân phối hàng hóa, Việt Nam ta chỉ bắt đầu mở cửa cho các doanh nghiệp dựa theo một số cam kết khác nhau trong Hiệp định thương mại Việt Nam và Nhật Bản và trong hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam – Nhật Bản, cùng với các dự án mang tính chất thử nghiệm, thí điểm trong khuân khổ hợp tác song phương, đa phương dựa trên những nhu cầu có sẵn, thực tiễn của các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Tuy đã trở thành thành
    viên của WTO, nhưng đến ngày 01/01/2009, các tập đoàn bán lẻ mới bắt đầu được đầu tư vào Việt Nam với 100% vốn FDI, còn hiện tại vẫn trong khuân khổ hợp tác với các đối tác là các doanh nghiệp Việt Nam với 49% vốn FDI. Chính sách hạn chế đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán lẻ đã khiến cho lượng FDI vào
    lĩnh vực này cho đến nay vẫn còn khá khiêm tốn.
    2.2.1.  Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ

    Dựa trên cơ sở xem xét hoàn cảnh trong nước, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân, nước ta đã xem xét và cấp phép cho 28 dự án (tính đến tháng 3/2008) với tổng vốn đầu tư là 505.545.206 USD, bình quân 18.055.186 USD/ dự án. Dự án đầu tiên được cấp phép là vào ngày 31/8/1996 của Nhật Bản đầu tư vào phân phối hàng hóa nông sản tại huyện Lâm Đồng.

     

    Năm Tổng VĐT Số dự án VĐT/dự án
    2005 59.000.000 2 29.500.000
    2006 65.975.000 1 65.975.000
    2007 12.800.700 2 6.400.350
    2008 35.000.000 2 17.500.000
    2009 0 0 0
    2010 121.200.000 3 40.400.000
    2011 0 0 0
    2012 300.000 1 300.000
    2013 72.369.506 3 24.123.168,67
    2014 0 0 0
    2015 106.450.000 7 15.207.143
    2016 13.900.000 4 3.475.000
    2017 18.550.000 3 6.183.333,333
    Tổng 505.545.206 28 18.055.186

    Bảng 3 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo thời gian nhận vốn đầu tư

    Nguồn: Cục đầu nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư

    Năm 2015 là năm có rất nhiều dự án nhất đã được chính phủ phê duyệt với tổng số vốn đầu tư đạt tới ngưỡng 106.450.000 USD, trong đó bình quân một dự án có mức đầu tư là 15.207.143 USD. Theo như thống kê thì 2015 là năm có nhiều tập đoàn nổi tiếng về phân khúc bán lẻ trong khu vực Châu Á và trên thế giới bắt đầu đầu tư vào Việt Nam như tập đoàn Lotte của Hàn Quốc, Tập Đoàn Mitsui của Nhật Bản…

    Tuy nhiên, Năm 2010 lại là năm có tổng số vốn đầu từ FDI lớn nhất vào lĩnh vực bán lẻ này đạt tới ngưỡng 121.200.000 USD, bình quân 40.400.000 USD/dự án. Số vốn đầu tư cao như vậy là do năm 2001, Việt Nam được tập đoàn Đức là Metro Cash & Carry đầu tư với một dự án lớn với 8 trung tâm bán buôn, bán lẻ các loại hàng hóa khác nhau. Tổng vốn đầu tư vào dự án này đạt tới 120 triệu USD.

    Như vậy tính từ năm 2005 đến năm 2017, nước ta có tất cả 28 dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, trong hầu hết các dự đầu tư chỉ một vài dự án có số vốn đầu tư lớn, nhìn chung tổng mức đầu tư vẫn còn khá khiêm tốn. Vì thế, so với tổng lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực này thì vốn FDI còn rất khiêm tốn.

    Năm 2017, số vốn đầu tư FDI có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cao nhất là 344.800 tỷ đồng, thấp nhất đạt 309.300 tỷ đồng. Số vốn đầu tư thấp nhất rơi vào tháng 2 của năm 2017, số vốn đầu tư cao nhất rơi vào tháng 11 năm 2017. Nhìn chung, xét về tỉ lệ vốn đầu tư của các khu vực vào lĩnh vực phân phối hàng hóa bán lẻ của Việt Nam hiện nay thì chúng ta nhận thấy rõ sự phát triển áp đảo của sự đầu tư tư nhân. Số lượng doanh nghiệp
    phân phối trong nước cũng như các hộ kinh doanh cá thể trong nước so với số lượng các nhà phân phối của nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn. Các tập đoàn tham gia vào lĩnh vực này thì nếu như không kể tới các tập đoàn phân phối chuyên doanh như Lotteria về đồ ăn, Medicare về
    sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, BBQ Chicken về đồ ăn, Zen Plaza về thời trang, KFC về đồ ăn, sẽ chỉ có khoảng 3 đến 4 tập đoàn phân phối bán lẻ hàng hoá tiêu dùng tổng hợp là Bourbon của Pháp, Metro Cash & Carry của Đức, Diamond Plaza của Hàn Quốc và Parkson của Malaysia đang cạnh tranh trực tiếp trên thị trường phân phối bán lẻ tại Việt Nam thông qua một số hệ thống trung tâm thương mại và hệ thống siêu thị, trung tâm bán lẻ quy mô lớn. Trong đó, tập đoàn Parkson và Diamond Plaza mặc dù có thực hiện phân phối bán lẻ tổng hợp nhiều mặt hàng nhưng cũng hầu như vẫn chủ yếu là các dòng sản phẩm quà tặng cao cấp, mỹ phẩm, thời trang. Trong khi đó, hàng chục chục doanh nghiệp trong nước ta đã và đang phát triển hoạt động kinh doanh, phân phối bán lẻ của mình theo mô hình hệ thống chuỗi siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng, đại lý bán lẻ kiểu này, và chưa tính đến tầm cỡ 900 nghìn hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ đang hoạt động ở khắp các vùng miền trong nước.

    Ngoài ra, các tập đoàn đầu tư nước ngoài này cũng đang tích cực mở rộng thêm hệ thống phân phối của mình.

    • Tập đoàn Đức:

    Metro Cash & Carry đã phát triển hệ thống với quy mô 8 trung tâm bán buôn lớn đang hoạt động ở năm thành phố lớn tại Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ. Tại Hà Nội, sau khi khi thành công với siêu thị Metro (Cổ Nhuế), Metro Hoàng Mai cũng đã đi vào hoạt động. Đến năm 2017, Tập Đoàn của Đức này đã bán lại cho Thái Lan nhưng hệ thống quy mô vẫn giữ nguyên.

    Tập đoàn Pháp: Bourbon phát triển với hệ thống 7 đại siêu thị bán lẻ BigC đang hoạt động ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Biên Hoà.

    Tập đoàn Malaysia: Parkson với 02 trung tâm mua sắm quy mô lớn đang hoạt động tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng.

    Tập đoàn Hàn Quốc: Diamond Plaza với 01 trung tâm mua sắm quy mô lớn đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    KFC hiện tại đã hàng chục chi nhánh khắp các tỉnh thành tại Việt Nam.

    Chuỗi bán hàng ăn nhanh Hàn Quốc, BBQ Chicken, phát triển đã có 10 cửa hàng trên toàn quốc.

    Khi Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trường vào 1/2009 thì đã có rất hàng trăm tập đoàn bán lẻ hàng hóa tham gia đầu tư vào lĩnh vực phân phối này của Việt Nam. Đặc biệt phải kể đến là ba tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới là Carefour (Pháp), Wal-Mart (Mỹ) và Tesco (Anh).
    2.2.2. Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

    • Xét theo đối tác đầu tư

    Tính đến thời điểm đầu tháng 3 năm 2008, tất cả đã có 14 nước có dự án đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam. Tuy lượng tổng số vốn của các nước đầu tư còn nhỏ nhưng đây chính là đòn bẩy quan trọng trong tiến trình kích thích sự phát triển cả hệ thống kinh doanh, phân phối bán lẻ
    hàng hóa tại Việt Nam.

     

    STT Tên nước Số dự án Tổng VĐT Bình quân
    1 Nhật Bản 3 37.800.700 12.600.233,33
    2 Pháp 4 161.975.000 40.493.750
    3 Đức 1 120.000.000 120.000.000
    4 Hàn Quốc 4 51.550.000 12.887.500
    5 Hồng Kông 4 26.200.000 6.550.000
    6 Đan Mạch 2 1.100.000 550.000
    7 Singapore 2 15.000.000 7.500.000
    8 Hoa Kỳ 1 800.000 800.000
    9 Lào 1 300.000 300.000
    10 Đài Loan 1 4.994.506 4.994.506
    11 Trung Quốc 2 1.625.000 812.500
    12 Anh 1 67.000.000 67.000.000
    13 Malaysia 1 200.000 200.000
    14 Nga 1 17.000.000 17.000.000
    Tổng   28 505.545.206 18.055.186

    Bảng 4 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2017
    Nguồn: gso.gov.vn

    Theo số liệu thống kê phía bảng trên, chúng ta có thể nhận ra 3 nước có mức đầu tư nhiều nhất vào lĩnh vực kinh doanh, phân phối bán lẻ hàng hóa vào Việt Nam là Hồng Kông, Pháp, Hàn Quốc (4 dự án mỗi nước). Nhìn theo góc độ tổng vốn đầu tư, Đức và Pháp là những nước có tổng vốn đầu tư lớn nhất với
    161,975 triệu USD và 120 triệu USD. Sự có mặt của tập đoàn Pháp và Đức đã đánh dấu những bước chuyển mình lớn của thị trường kinh doanh bán lẻ Việt Nam, đồng thời sự đầu tư lớn này góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy, kích thích đầu tư, nâng cao chất lượng phục vụ và quản lý của các doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh đến từ các doanh nghiệp FDI nước ngoài mang lại đã là một giải pháp lớn, góp phần đẩy mạnh phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của nước ta.

    • Xét theo địa bàn đầu tư

    Việc phân bố các dự án theo vùng lãnh thổ ảnh hưởng lớn đến trình độ phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia. Việc phân bố này sẽ tạo ra sự hài hòa giữa các vùng đồng thời quyết định đến tăng trưởng chung của cả nước. FDI vào phân phối bán lẻ lại là một nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn vì nó tác
    động đến cả một phong tục mua bán truyền thống, và có vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mại trong nước. Vì vậy khi phê duyệt dự án, nhà nước đã phải cân nhắc một cách khá kỹ càng.

     

     

     

     

     

     

     

     

    STT Địa phương Số dự án Tổng VĐT Bình quân
    1 Lâm Đồng 1 5.000.000 5.000.000
    2 Lạng Sơn 2 5.375.000 2.687.500
    3 Hải Phòng 2 21.000.000 10.500.000
    4 Thái Bình 1 4.994.506 4.994.506
    5 TP Hồ Chí Minh 9 282.425.000 31.380.560
    6 Nghệ An 1 300.000 300.000
    7 Thừa Thiên Huế 1 800.000 800.000
    8 Hà Nội 7 101.000.700 14.485.810
    9 Bình Thuận 1 17.000.000 17.000.000
    10 Đồng Nai 1 54.000.000 54.000.000
    11 Đà Nẵng 1 12.000.000 12.000.000
    12 Cao Bằng 1 1.250.000 1.250.000
    Tổng   28 505.545.206 18.055.186

     

    Bảng 5 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo địa bàn đầu tới tính đến tháng 3/2017
    Nguồn: gso.gov.vn

    Tính đến tháng 3/2017, nước ta đã có 12 tỉnh thành được tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn vốn FDI này chủ yếu vào dành cho các thành phố lớn của Việt Nam là TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. TP Hồ Chí Minh dẫn đầu toàn quốc với 9 dự án đầu tư có tổng số vốn đầu tư FDI là 282.425.000 USD, bình quân 31.380.560 USD/dự án. Tiếp đó là Hà Nội với tổng 7 dự án có tổng số vốn đầu tư FDI là 101.000.700 USD, bình quân 14.485.810 USD/dự án. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào những thành phố lớn vì những thành phố này tập trung rất đông dân cư, TP Hồ Chí Minh có tổng dân khoảng 8 triệu người, Hà Nội là trên 7 triệu
    người. Ngoài ra, yếu tố khác ảnh hưởng tới quyết định đầu tư là thu nhập bình quân trên đầu người. Thu nhập bình quân tại những thành phố này khá cao so với các khu vực khác trên cả nước. Tại TP Hồ Chí Minh là vào khoảng 2.000 USD/người, tại Hà Nội là 1.500 USD/ người. Do đó, mức tiêu dùng, mua
    sắm, chi tiêu cho hàng hóa bán lẻ tại 2 thành phố này cao nhất tại Việt Nam. Đặc biệt là tiêu dùng vào những hàng hóa cao cấp. Điều đó khiến lĩnh vực phân phối, kinh doanh bán lẻ tại đây trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bán lẻ nước ngoài. Tóm lại, có thể thấy các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài mặc
    dù chưa có diện bao phủ rộng trên cả nước nhưng đã có mặt ở hầu hết các trung tâm mua sắm và tiêu dùng lớn của Việt Nam. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối trong nước mặc dù có lợi thế hơn về diện bao phủ nhưng ở những khu vực thị trường có nhu cầu lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí
    Minh, Cần Thơ… thì đều gặp khó khăn với phải sự cạnh tranh gay gắt với các trung tâm phân phối của nhà đầu tư nước ngoài.

    2.3.  Đánh giá hoạt động FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
    2.3.1. Tác động tích cực

    • Tốc độ tăng trưởng lĩnh vực phân phối bán lẻ thay đổi

    Bên cạnh những yếu tố bên trong, sẵn có của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây, sự tham gia tích cực của hàng loạt các doanh nghiệp đầu tư FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ tạo nên sự thúc đẩy và động lực phát triển vượt bậc của lĩnh vực này.
    Tại các thành phố lớn, phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại đang thay thế dần phương thức kinh doanh truyền thống. Trước đây, phương thức bán lẻ hiện đại chiếm tỉ lệ thấp, chỉ đạt khoảng 3% (năm 20012) thì nay đã lên tới 20-25% (năm 2017). Phân tích của Công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen còn
    chỉ ra rằng, đến năm 2018, phương thức này sẽ chiếm lĩnh 50% trong thị trường phân phối; riêng tại TP.HCM và Hà Nội, việc người dân thường xuyên đi đến các trung tâm thương mại, siêu thị, chuỗi cửa hàng… để mua sắm sẽ có thể chiếm tới 50% trong vài ba năm nữa.

    Các tập đoàn phân phối hành hóa bán lẻ lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường kinh doanh Việt Nam sẽ có thể tạo hai tác động cùng lúc:

    Thứ nhất, đó là tác động làm gia tăng nhanh chóng tốc độ phát triển của thị trường.

    Các tập đoàn phân phối, kinh doanh bán lẻ của nước ngoài đang hiện diện tại Việt Nam tiếp tục ra sức củng cố mạng lưới để mở rộng và nâng cao thị phần, giữ vững vị thế trên thị trường. Các tập đoàn kinh doanh khác, sau một thời gian tìm hiểu cơ hội kinh doanh tại thị trường Việt Nam vốn đã được thực hiện từ trước, sẽ bắt đầu tham gia vào thị trường này một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng sự tham gia này sẽ ảnh hưởngthực sự mạnh mẽ kể từ sau thời điểm 01 tháng 01 năm 2009, khi mà hành loạt hạn chế về thành lập doanh nghiệp FDI được dỡ bỏ. Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI sẽ đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ mới trong lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam. Lần đầu tiên việc bán lẻ hàng hóa được sắp xếp và quản lý một cách chuyên nghiệp. Điều này mang lại cho người tiêu dùng Việt Nam sự hài lòng không chỉ về giá cả, phẩm chất của hàng hóa tiêu dùng mà còn cả về chất lượng phục vụ của doanh nghiệp và những lợi ích gia tăng mà nhờ sự cạnh tranh này mang lại. Hơn nữa nhờ áp lực về cạnh tranh và đổi mới không ngừng, các đơn vị cung cấp dịch vụ kinh doanh, phân phối bán lẻ của Việt Nam phải tìm cách để đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối của mình.

    Từ đó, các doanh nghiệp đã làm cho thị trường kinh doanh, phân phối bán lẻ Việt Nam thay đổi đáng kể. Mặt khác là chính các nhà phân phối này tích cực nghiên cứu khả năng để tạo thêm những nhu cầu mới cho người tiêu dùng ở Việt Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh này có thể dự đoán và phân tích nhu cầu thực tiễn của người tiêu dùng để từ đó cung cấp những mặt hàng phù hợp với thị hiếu, nhu cầu và xu hướng tiêu dùng đang thay đổi nhanh chóng của người tiêu dùng Việt Nam.

    Thứ hai, đó là tác động làm tăng chất lượng của sự tăng trưởng do hoạt động cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, những sản phẩm dịch vụ kém chất lượng sẽ từng bước bị loại bỏ khỏi thị trường.

    Những sản phẩm kém về chất lượng ấy sẽ nhường chỗ cho những hàng hóa có xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng; đặc biệt những hàng hóa có chứng nhận đảm bảo về chất lượng, an toàn cho sức khỏe. Từ đó những cơ sở kinh doanh bán lẻ còn yếu kém cũng sẽ bị đào thải nhanh chóng; thay vào vị trí đó là những trung tâm
    mua sắm hiện đại, có hàng hóa chất lượng. Tình trạng nhà sản xuất tự chăm sóc hệ thống phân phối bán lẻ sẽ dần dần biến mất, thay vào đó giữa nhà sản xuất hành hóa và nhà phân phối kinh doanh bán lẻ sẽ có mối quan hệ mang tính chất hợp tác cộng sinh. Với sự tham gia của các doanh nghiệp FDI, hoạt động
    phân phối kinh doanh bán lẻ nước ta sẽ thực sự trở thành một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ.

    • Mang đến những phương thức quản lý và trình độ tổ chức kinh doanh hiện đại

    Trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh phân phối bán lẻ trong nước với nhóm các tập đoàn phân phối bán lẻ hàng hóa nước ngoài cũng vẫn còn một khoảng cách không nhỏ. Các tập đoàn phân phối hàng hóa lớn của nước ngoài có lợi thế hơn hẳn về kinh nghiệm kinh doanh, bán hàng cũng như đã tiếp cận được trình độ quản lý hiện đại của thế giới. Điều này thể hiện khá rõ ràng ở kết quả triển khai các hoạt động phát triển kinh doanh hết sức nhanh chóng và chuyên nghiệp của các tập đoàn kinh doanh phân phối nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.

    Chỉ không lâu sau khi có mặt tại Việt Nam, tập đoàn MegaMarket đã thiết lập được mối liên kết chặt chẽ với khoảng hơn 1.000 nhà cung cấp hàng hoá và khoảng 15.000 hộ nông dân, 15 lò mổ gia súc ở Việt Nam. Công tác quản lý chất lượng và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được MegaMarket phối hợp với Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện ngay từ đầu thông qua quy trình công nghệ sạch với các nhà cung ứng sản phẩm theo tiêu chuẩn MegaMarket dựa trên các quy định hiện hành của Việt Nam. Đối với Diamond Plaza, một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công vang dội của Diamond Plaza là sự chia sẻ lợi ích một cách thông minh giữa những người có nhu cầu thuê mặt bằng bán hàng và chủ sở hữu cho thuê. Khoảng 70% các quầy hàng tại nơi này chia sẻ một phần doanh số họ thu được cho chủ quản lý của Diamond Plaza. Đổi lại, họ sẽ được chủ quả lý chia sẽ những lợi ích từ các chương trình khuyến mãi, những sự kiện tiếp cận, lôi kéo khách hàng, nghiên cứu thị trường, khảo sát người tiêu dùng, thay đổi cách thức bày biện sản phẩm cho hấp dẫn…. Đây chính là nguyên nhân khiến doanh thu bán hàng của các nhà phân phối FDI đang chiếm ưu thế vượt trội trước các doanh nghiệp kinh doanh
    trong nước. Hiện nay, doanh thu của các doanh nghiệp trong nước còn ở mức khá thấp, siêu thị có doanh thu trung bình chỉ đạt mức khoảng 200 – 500 tỉ đồng/năm. Trong khi đó, doanh thu bình quân của hệ thống siêu thị của các doanh nghiệp nước ngoài thường cao gấp 2 – 3 lần mức này.

    • Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Sau tiến trình đổi mới vào năm 1986, kinh tế nước ta đã dần dần được khôi phục và tăng trưởng, sản xuất phát triển, thu nhập bình quân của người dân tăng lên, nhu cầu sử dụng hàng hóa cũng tăng lên. Để kích thích sự tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam, nhà nước đã quyết định cho phép những tập
    đoàn phân phối bán lẻ lớn được đầu tư vào nước ta. Mặc dù điều này khiến các doanh nghiệp kinh doanh phân phối trong nước sẽ phải chịu hàng loạt sức ép về cạnh tranh rất, nhưng chính sự gia tăng sức ép này tạo ra áp lực và động lực khiên các doanh nghiệp việt đổi mới cách thức kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của mình trong môi trường hội nhập mới.

    Điều này sẽ khiến cho doanh nghiệp Việt phát triển một cách ổn định và bền vững hơn. Tuy nhiên, sự đánh đổi đó có thể khiến một số doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ, sẽ phải đóng cửa hoặc phải thay đổi hình thức kinh doanh nhưng nếu xét trên lợi ích quốc gia, lợi ích và hiệu quả xã hội sẽ được nâng lên vì lúc
    này thị trường kinh doanh phân phối trong nước vẫn sẽ được đáp ứng bởi các doanh nghiệp mạnh hơn, kinh doanh hiệu quả hơn.

    Từ khi có sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tự thay đổi để hội nhập tốt hơn. Một số doanh nghiệp phân phối lớn trong nước như Tổng công ty Thương mại Hà Nội, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Công ty Xuất nhập khẩu Intimex,…, đặc biệt là Liên hiệp Hợp tác xã
    thương mại Saigon Co.op, đã có rất nhiều sự chuyển biến tích cực trong việc đổi mới các phương thức quản lý và tổ chức kinh doanh, tạo nên mối liên kết chặt chẽ với hầu hết nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ, sản phẩm, áp dụng quy trình quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm chặt chẽ, đầu tư xây dựng và
    triển khai hàng loạt các ứng dụng hệ thống quản lý bằng phần mềm công nghệ thông tin hiện đại… Riêng Saigon Co.op mới đây đã đầu tư hàng triệu USD để tái thiết lập hệ thống quản lý điện toán mới nhất.

    Các nhà đầu tư trong nước tiếp tục quá trình đẩy mạnh việc đầu tư mở rộng mạng lưới hệ thống phân phối của mình nhằm mục đích tăng cường hợp tác đầu tư theo chiều sâu để tạo ra hàng loạt mô hình hợp tác, liên doanh có quy mô, tầm cỡ. Quá trình này sẽ có thể diễn ra nhanh chóng bởi sức ép về cạnh
    tranh đã được các doanh nghiệp nhìn nhận một cách rõ ràng. Hơn nữa, đứng trước sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đổi mới liên tục mà còn phải tìm được cách thức liên kết đã tạo thành những doanh nghiệp lớn.

    Kể từ đầu năm 2012 đến nay, thị trường phân phối hàng hóa trong nước đã biết đến sự thành lập của Công ty CP Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (quy mô vốn lên tới 6.000 tỉ đồng); sự thành lập đó xuất phát từ sự
    liên kết của bốn DN phân phối hàng đầu nội địa là Saigon Co.op, Satra, Hapro và Tập đoàn Phú Thái. Sự xuất hiện của Hiệp hội bán lẻ Việt Nam cũng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong xu thế nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Đó chính là sự nỗ lực không ngừng của
    doanh nghiệp Việt Nam nhằm tích cực củng cố hơn năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự thành lập hiệp hội mở ra hi vọng với những bước phát triển mới cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

    • Phục vụ người tiêu dùng tốt hơn

    Về giá cả

    Trong bối cảnh giá cả thị trường biến động, ngày càng tăng cao, giá cả sản phẩm sẽ là yếu tố quyết định tạo nên doanh thu và nhu cầu cho siêu thị. Với tiềm lực tài chính lớn, các doanh nghiệp FDI có lợi thế trong việc hạ giá thành hàng hóa bằng những phương thức kinh doanh chiến lược (như mua tận gốc,
    bán tận ngọn) và những hình thức quy hoạch, tổ chức vùng chuyên canh thực phẩm và hàng hoá cho tất cả hệ thống. Điều này đã giúp các các doanh nghiệp nước ngoài này tiết kiệm được hàng trăm chi phí trung gian và họ có thể chủ động kiểm soát một cách chặt chẽ chất lượng hàng hoá.

    Kể từ 2 năm trở lại đây, hệ thống siêu thị Mega Market đã thu hút hàng ngàn khách hàng bằng chiến lược giá tốt. Các siêu thị của hệ thống này thường xuyên cung cấp hàng hóa với mức giá tốt hơn rất nhiều so với mức giá bình quân của toàn hệ thông siêu thị khác trong nước khoảng 10 – 15%, tức là giá cả tại Mega Market chỉ bằng giá bán buôn ở các chợ bán buôn lớn như Bến Thành (Thành phố Hồ Chí Minh), Đồng Xuân (Hà Nội)… Vì thế nên dù ở vùng xa trung tâm thành phố, những siêu thị này vẫn luôn đón nhận một lượng khách hàng rất lớn tìm đến mua hàng. Không chỉ Mega Market áp dụng chiến lược về giá, Siêu thị Big C cũng thu hút phần lớn khách hàng bằng chiến lược giá của mình bằng phương thức mua tận gốc, bán tận ngọn nhờ biết cách tổ chức, qui hoạch vùng chuyên canh thực phẩm và hàng hoá cho toàn bộ hệ thống đã giúp các tập đoàn này tiết kiệm được tầng chi phí trung gian và chủ động kiểm soát chất lượng
    hàng hoá. Nhờ vậy, Big C đã có hàng ngàn mặt hàng sản xuất độc quyền với thương hiệu “WOW giá hấp dẫn”.

    • Về số lượng

    Sự đa dạng, phong phú về các loại hàng hoá cung cấp trong các siêu thị của các tập đoàn đầu tư nước ngoài cũng là một ưu thế cạnh tranh rất đáng kể đối với nhiều doanh nghiệp phân phối trong nước. Tại trung tâm thương mại Zen plaza, đã có tới hơn 540 nhãn hiệu thời trang trong và ngoài nước và nếu tính
    trung bình một siêu thị trong hệ thống của Mega Market hoặc BigC thường xuyên cung cấp khoảng 15.000 mặt hàng các loại thì chắc chắn chỉ một phần nhỏ các doanh nghiệp trong nước có khả năng đáp
    ứng được.

    Về chất lượng

    Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ không chỉ chú ý vào chiến lược giá mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng chiến lược về chất lượng sản phẩm. Nắm được tâm lý của người tiêu dùng Việt Nam không có sự tin tưởng vào hàng hóa trong nước, các doanh nghiệp phân phối nước ngoài đã tập trung nhiều đến chất lượng sản phẩm được cung ứng trong hệ thống phân phối bán lẻ của mình. Như đã nói ở trên, hệ thống siêu thị Mega Market đã liên kết với thiết lập được mối liên kết bền vững với khoảng hơn 1.000 nhà cung cấp các loại hàng hoá khác nhau và khoảng 15.000
    hộ nông dân, 50 lò mổ gia súc ở Việt Nam. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được phối hợp với Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện ngay từ đầu quy trình công nghệ sạch với các nhà cung ứng hàng hóa theo tiêu chuẩn của công ty dựa trên
    các quy định của nhà nước Việt Nam. Những khách hàng đến đây không chỉ hài lòng về giá cả mà còn yên tâm về chất lượng sản phẩm. Không chỉ là đảm bảo chất lượng sản phẩm mà các doanh nghiệp FDI còn mang đến người tiêu dùng Việt Nam những thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thế giới như Mo&Co (Pháp), CK (Anh)…

    Về những dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Những tập đoàn bán lẻ đầu tư vào Việt Nam không chỉ chú ý tới giá cả và chất lượng sản phẩm mà những khách hàng đến mua sắm tại đây còn được hưởng những dịch vụ chăm sóc khách hàng khá chu đáo. Tại siêu thị Mega Market, dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng sau bán hàng rất được chú trọng.
    Mega Market phát hành phiếu trả hàng cho tất cả hàng hóa trả lại trong tình trạng còn tốt trong vòng 3 ngày và kèm theo hóa đơn. Đối với những mặt hàng điện tử, Mega Market bảo lưu thực trạng hàng hóa để chứng minh khiếu nại của khách hàng trước khi đổi hàng cho khách. Nhờ vào những dịch vụ chăm sóc
    khách hàng rất tốt, các doanh nghiệp FDI đã khẳng định đẳng cấp của mình trên thị trường Việt Nam và luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu về doanh thu bán lẻ.

    Như vậy, hàng triệu người tiêu dùng Việt được hưởng lợi nhiều hơn từ việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO với ý nghĩa là họ sẽ được tiêu dùng nhiều hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá rẻ hơn; được hưởng các dịch vụ với tiện ích tốt hơn, tính chuyên nghiệp cao hơn …Những lợi ích đó
    sẽ không chỉ các doanh nghiệp FDI mà các doanh nghiệp trong nước cũng sẽ mang lại cho người tiêu dùng bởi vì tất cả: trong nước cũng như nước ngoài muốn tồn tại được đều phải thông qua quá trình cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển. Cạnh tranh mang đến lợi ích cho người tiêu dùng.

    • Hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa

    Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phân phối bán lẻ, sự hài lòng của khách hàng là chìa khóa cho những thành công của doanh nghiệp.
    Để khiến khách hàng hài lòng thì cách tốt nhất là cung ứng những hàng hóa tốt nhất, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Nhưng các doanh nghiệp kinh doanh phân phối bán lẻ lại không thể trực tiếp sản xuất, vì thế để cải thiện chất lượng cho sản phẩm của mình, các doanh nghiệp FDI không ngừng nỗ lực trong việc hỗ trợ về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, vốn, con giống hoặc nguyên vật liệu cho nông dân và những doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ khác. Người nông dân ở trong mô hình sản xuất này, khi liên kết với những doanh nghiệp thì sẽ chú tâm hơn vào việc canh tác mà không cần phải suy nghĩ, bận tâm, loanh quanh trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Từ khi có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài, lĩnh vực phân phối sản xuất của nhà nông cũng trở nên sôi động. Sản phẩm nông nghiệp được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các nhà phân phối bán lẻ một cách nhanh chóng.

    Hơn nữa, do những tập đoàn bán lẻ có hệ thống siêu thị của mình trên khắp đất nước, từ đó các doanh nghiệp này đã tạo điều kiện cho nhà cung ứng Việt Nam được xuất khẩu hàng hóa. Như vậy các nhà sản xuất trong nước, đặc biệt là nông dân đã có cơ hội để phát triển và ổn định sản xuất; cũng như nâng cao
    trình độ sản xuất thông qua mối liên kết chặt chẽ với những nhà phân phối hiện đại, có quy mô lớn và hoạt động một cách chuyên nghiệp. Từ đó, họ sẽ có thể tạo ra được thu nhập cao hơn từ việc cung cấp cho các nhà phân phối này những sản phẩm có chất lượng tốt hơn.
    2.3.2. Tác động tiêu cực

    Khi mở cửa thị trường trong nước, bên cạnh những cơ hội và động lực phát triển, sẽ tồn tại không ít những tác động tiêu cực cho nền kinh tế trong nước và ảnh hưởng đến toàn xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa, một lĩnh vực khá nhạy cảm và có ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều bộ
    phận dân cư trong xã hội.

    Biến đổi trong tình trạng việc làm

    Sự biến đổi trong tình trạng việc làm được coi là một trong những mặt tác động lớn, rất đáng quan tâm nhất đối với Việt Nam khi mở cửa thị trường, dịch vụ của mình theo các cam kết trong WTO. Với đặc điểm của một thị trường còn mang nặng tính truyền thống, hoạt động phân phối hàng hóa được thực hiện qua mô hình chợ truyền thống và các cửa hàng, cửa tiệm buôn bán nhỏ lẻ của tư nhân vẫn chiếm phần lớn… thì mối quan tâm về việc làm này là hoàn toàn có cơ sở. Như đã trình bày ở trên, sự cạnh tranh giữa khu vực trong nước, các nhà phân phối hàng hóa chuyên nghiệp với các hộ kinh doanh cá thể là một đối trọng rất chênh lệch. Trong khi các nhà phân phối hàng hóa chuyên nghiệp có đủ khả năng thay đổi phương thức phân phối sản phẩm một cách nhanh chóng, hiện đại thì các hộ kinh doanh cá rất khó khăn để thích ứng và bắt kịp.

    Trong thời gian trước đây, Khi Việt Nam chưa chính thức mở cửa với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì sự lấn át của các doanh nghiệp phân phối lớn vẫn còn diễn ra rất châm. Thế nhưng khi mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam buộc phải đổi mới, bắt kịp, cập nhật để trở nên tốt hơn, sánh ngang với các nhà cung cấp nước ngoài. Điều đó khiên sự phân hóa, lấn át các hộ phân phối cá thể trở nên lớn hơn rất nhiều. Điều này dẫn đến sự thu hẹp quy mô, thị phần của hàng trăm các hộ kinh doanh cá thể. Hệ quả là những hộ kinh doanh nhỏ lẻ nếu không thích nghi kịp sẽ bị đào thải, đánh bật nhanh chóng khỏi thị trường. Về khía canh xã hôi, lực lượng lao động thất nghiệp do kết quả của quá trình mở cửa nền kinh tế sẽ là sức ép rất lớn cho các cơ quan nhà nước trong việc phân phối lực lượng lao động.

    Biến đổi trong tình trạng thu nhập của các nhóm đối tượng trong xã hội

    Rõ ràng là sự thay đổi trong tình trạng việc làm sẽ kéo theo sự thay đổi trong tình trạng thu nhập của những nhóm đối tượng liên quan. Nhóm đối tượng phải chịu tác động nặng nề nhất từ sự mở cửa nền kinh tế là các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ, phân bố không đều ở khắp các tỉnh thành Việt Nam. Điều làm
    nên sự quan tâm là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ này thường có thu nhập không cao, bấp bênh theo từng tháng. Do đó khi các doanh nghiệp lớn đầu tư, thị phần của những hộ kinh doanh này bị thu hẹp đáng kể. Điều đó có thể khiến họ thất nghiệp hoặc giảm sút thu nhập. Khi đó, gánh nặng về giải quyết vấn đề
    an sinh xã hội và phân phối lại thu nhập của cơ quan nhà nước sẽ càng nặng nề hơn.

    Tình trạng giảm sút trong thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ có thể còn tạo ra những tác động gián tiếp khác đáng quan ngại như khả năng tăng về tệ nạn xã hội, tình trạng mất cân bằng tỉ lệ giàu nghèo,… của các đối tượng trong xã hôi. Ngoài ra, một điểm đáng lưu tâm khác là mức thu nhập của các hộ kinh doanh này là nguồn tài chính duy nhất để đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Do đó, một tác động làm thay đổi về thu nhập của một hộ kinh doanh cá thể có thể làm ảnh hưởng tới rất nhiều thành
    viên khác trong gia đình đó.

    Các doanh nghiệp FDI tạo ra sự lũng đoạn thị trường

    Việc tiếp thị, lôi kéo số lượng khách hàng lớn của các siêu thị và trung tâm thương mại có thể khiến tình trạng phá sản dây chuyền của hàng trăm hộ kinh doanh cá thể khác. Ngoài ra, hội nhập còn tạo nên một sự lệ thuộc không nhỏ của các hộ sản xuất nhỏ vào các tập đoàn phân phối. Sự phụ thuộc này sẽ phải trả một giá đắt vì nó chi phối hầu hết hoạt động của các nhà cung cấp nhỏ lẻ.

    Các siêu thị thường đưa ra và duy trì một tiêu chuẩn cố định về sự an toàn thực phẩm và chất lượng hàng hóa đối với các nhà cung cấp. Nếu đáp ứng được thì các doanh nghiệp sẽ thu mua, còn không thì sẽ tồn đọng. Để có thể đáp ứng
    được những yêu cầu rất cao từ phía doanh nghiệp, người nông dân đầu tiên cần phải đầu tư máy móc, trang thiết bị, giống,… Điều đó khiến họ phải lâm vào cảnh vay vốn ngân hàng để sản xuất. Trong trường hợp doanh nghiệp không thu mua hoặc không đạt được tới tiêu chuẩn cần thiết thì người nông dân sẽ bị
    rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất.

    Ngành hàng gia dụng và trang trí là mặt hàng có thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thường xuyên áp dụng mức giá rất cao trong các đơn đặt hàng các sản phẩm gia công. Đồng thời, các doanh nghiệp nước ngoài cũng đưa ra các quy định rất cao về thời hạn
    giao hàng, nguồn nguyên liệu, đóng gói sản phẩm,… Nói cách khác, doanh nghiệp Việt chỉ cần sản xuất mà không cần phải lo đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên, họ sẽ bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài; khi phía nước ngoài ép hạ giá thành, các nhà sản xuất trong nước rất dễ bị lỗ, dẫn tưới phá sản.
    Dần dần, các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm, và quản được hầu hết các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam.

    Như vậy, rõ ràng là việc thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối hàng hóa bán lẻ sẽ cùng lúc tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển của Việt Nam. Mặc dù những tác động tiêu cực và tích này chỉ mang tính chất tương đối nhưng nhìn chung, Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích hơn, có nhiều động lực
    phát triển hơn so với thời kì chưa mở cửa nền kinh tế.

     

    CHƯƠNG  3:  CÁC BIỆN PHÁP GIÚP TẬN DỤNG HIỆU QUẢ DÒNG VỐN FDI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI- BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    3.1. Thuận lợi và khó khăn với việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực phân phối- bán lẻ tại việt nam

    3.1.1. Thuận lợi

    • Các xu hướng đầu tư trên thế giới
    • Xu hướng quốc tế hoá:

    Trên thế giới hiện nay, việc quốc tế hóa diễn ra ngày càng phổ biến, với bản chất chung là sự liên kết các thị trường trên các khu vực, lãnh thổ với nhau theo các thể chế song phương và đa phương. Bằng việc ký kết các hợp đồng về mở rộng thị trường đã giúp cho các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia trở nên ngày càng lớn mạnh bao gồm cả về lĩnh vực bán lẻ. Với lĩnh vực phân phối bán lẻ này, sự xuất hiện của các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn… ngày càng tăng lên về quy mô và phát tiển theo chuỗi. Hiện nay có một số tập đoàn bán lẻ trên khắp thị trường thế giới đang có kế hoạch đầu tư vào nước ta, ví dụ như Tập đoàn WalMart của Mỹ với hơn 7.500 cửa hàng trên khắp 14 nước, Tập đoàn Carefour của Pháp với hơn 15.000 cửa hàng phân phối rộng khắp trên hơn 30 quốc gia. Việc đầu tư này sẽ mang đến những ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam nói chung, và với ngành phân phối- bán lẻ nói riêng.

    • Xu hướng chuyển động của dòng vốn FDI sang nghành dịch vụ:

    Hiện nay, lĩnh vực dịch vụ của các nước phát triển phải chịu sức ép từ thị trường nội địa, điều này khiến cho các tập đoàn xuyên quốc gia cần tìm giải pháp mới, đó là phát triển đầu tư vào các nước kém phát triển hơn trong đó có Việt Nam, để có thể phát huy thế mạnh của họ. Sự phát triển của dòng vốn FDI trong ngành dịch vụ vào các nước đang phát triển tăng nhanh từ 28% năm 2012 lên 53% năm 2017. Các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ chiếm tới 67% trong tổng 100 công ty lớn nhất thế giới theo số liệu năm 2016, và doanh số của các công ty này đều cao hơn GDP của Việt Nam.

    • Xu hướng đầu tư FDI sang các lãnh thổ- khu vực khác:

    Chi tiêu thương mại và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia có sự tương đồng với nhau. Với các nước đang phát triển như ở châu Á, việc kinh tế ngày càng phát triển là một động lực cho chi tiêu tiêu dùng gia tăng. Thêm vào đó, tại châu Á nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng, hiện vẫn còn tồn tại một sự đặc trưng là mang tính sản xuất nhỏ lẻ trong quy mô gia đình, mua bán ngẫu nhiên theo nhu cầu và mua bán không có hệ thống, việc giao lưu thương mại chủ yếu là thông qua chợ. Điều này dẫn tới đây là thị trường mang lại nhiều cơ hội nhất cho các tập đoàn đa quốc gia trong việc tìm kiếm một thị trường mới, với lượng khách hàng phân tán lớn thì việc thu hút khách hàng chi tiêu theo hệ thống trở nên dễ dàng hơn.

    Tuy nhiên, tại các nước Đông Nam Á hiện nay có một vài nước có vấn đề bạo loạn như Thái Lan, Campuchia, thì với nước có tình hình kinh tế- chính trị ổn định như Việt Nam là một sự lựa chọn an toàn, điều này dẫn tới việc đầu tư vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng.

    • Xu hướng chi tiêu cá nhân tại Việt Nam
    • Xu hướng phát triển nhanh trong chi tiêu cá nhân:

    Qua các năm từ 2012 tới 2017,việc chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân của người dân nước ta ngày càng tăng nhanh, mang tới tiềm năng lớn cho sự phát triển của lĩnh vực phân phối- bán lẻ trong tương lai. Theo số liệu mới nhất do Tổng cục Thống kê vừa công khai, mức chi tiêu tiêu dùng cá nhân trung bình của nước ta tính tới thời điểm năm 2017 là >3.500.000 VNĐ/ người/ tháng, con số này sẽ tiếp tục tăng lên trong các năm tới. Thêm vào đó, mức hàng hóa bán lẻ cũng nhiều lên so với trước đây, nếu giai đoạn 2007- 2012 dịch vụ hàng hóa bán lẻ chiếm 66.18% so với các dịch vụ khác, thì tới giai đoạn 2012- 2017 con số này tăng lên 78.47%. Dự đoán giai đoạn từ nay tới năm 2025, con số này tiếp tục tăng lên và chiếm tới khoảng > 85% quỹ tiêu dùng.

    • Xu hướng thay đổi trong cách thức và mục tiêu mua sắm:

    Hiện nay,  đa số người tiêu dùng tại Việt Nam ngày càng thích mua sắm và chi tiêu trong các trung tâm thương mại, siêu thị hơn là các khu chợ ngoài trời vì sự tiện dụng, cũng như là nhiều sự lựa chọn cùng một lúc với các mức giá niêm yếu sẵn.

    Bên cạnh đấy thì người tiêu dùng Việt Nam cũng đang thay đổi phong cách sống nhanh chóng, họ sẵn sàng chi tiêu các khoản tiền lớn với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống hơn cho bản thân và gia đình, cụ thể:

     Hình ảnh 1: Xu hướng thay đổi trong chi tiêu của người Việt Nam giữa quý II/2017 so với quý IV/2016

     

    • Cam kết và việc thực hiện cam kết

    Qua nhận thức và đánh giá đúng các xu thế phát triển của nền kinh tế nước nhà, trong các năm qua Đảng và Chính phủ đã thống nhất thực hiện việc phát triển kinh tế nước nhà theo phương châm chủ động hội nhập theo một cách sâu rộng hơn.

    Theo đó, nhà nước đã thực hiện các biện pháp đẩy mạnh nền kinh tế, chính trị thông qua các ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương, giúp đẩy mạnh sự hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta.

    Tính tới nay, nước ta đã ký kết cùng với hơn 160 quốc gia và khu vực, trong đó có hơn 90 hiệp định về thương mại, hơn 46 hiệp định về đầu tư nước ngoài cùng các thỏa thuận về đối xử Tối huệ quốc khác,… Một số ký kết mang ý nghĩa to lớn điển hình như là Hiệp định khung với Liên minh châu âu (EU) (1992), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2000), có nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) ( năm 1993), tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (1995); tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) (1996), tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) (1996), tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) (1998),…

    Khi tham gia vào các ký kết nhằm hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi Việt Nam cần thực hiện đúng và đủ các nội quy và cam kết quốc tế về việc kết nối thị trường, bao gồm cả việc kết nối, mở cửa thị trường phấn phối- bán lẻ hàng hóa. Tính tới nay, việc mở cửa thị trường tại Việt Nam đã được mở hoàn toàn 100% cho các Doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài trên hầu như là tất cả các mặt hàng. Bên cạnh việc tăng sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI nội địa, thì Việt Nam cũng đã thu hút được sự đầu tư của các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới, ví dụ như Tesco (Anh), Walmart (nhà phân phối- bán lẻ lớn nhất thế giới hiện nay), cùng các tập đoàn lớn khác từ Nhật Bản, Pháp,…

    Ngoài ra, việc thực hiện đúng các cam kết, thỏa thuận này kéo theo sự thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng, người tiêu dùng hiện nay đang dần chuyển từ chi tiêu mua bán theo khuân mẫu truyền thống sang chi tiêu tiêu dùng trong các trung tâm thương mại lớn. Điều này giúp cho nne kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng tích cực hơn. Như vậy, ngành phân phối- bán lẻ của Việt Nam sẽ ngày càng đa dạng, lớn mạnh hơn, và có cơ hội trở thành một ngành công nghiệp tiên tiến hơn, để bắt kịp xu hướng chung trong khu vực và trên thế giới.

    3.1.2. Thách thức

    • Cơ sở hạ tầng chưa phát triển

    Hiện nay tại Việt Nam cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, điều này là một khó khăn lớn đối với việc phát triển hệ thống phân phối- bán lẻ có sự đầu tư của dòng vốn FDI. Tại thời điểm này, hầu hết các mặt bằng tại nước ta đều không đảm bảo được về không gian, cũng như các mặt bằng có sẵn đều không đảm bảo được tiêu chuẩn theo chuẩn quốc tế và cần phải bỏ nhiều thời gian và chi phí để cải tạo lại trước khi đưa vào sử dụng. Bên cạnh sự khan hiếm về mặt bằng kinh doanh, thì chi phí thuê mặt bằng tại các thành phố lớn của nước ta cũng rất cao, trung bình vào khoảng 200 USD/m2/tháng với những mặt bằng có mặt

    • Thói quen chi tiêu truyền thống của người tiêu dùng

    Hiện nay mặc dù có những tập đoàn bán lẻ lớn như Coop Mart, Big C, Metro, Vin Mart,… đã đạt được rất nhiều thành công trong việc phân phối, nhưng vẫn con phần lớn người dân tham gia vào các khu chợ truyền thống, theo thống kê hiện còn khoảng trên 8000 khu chợ vẫn hoạt động mạnh và hiệu quả, thu hút một lượng lớn người tiêu dùng thuộc mọi tầng lớp, đặc biệt là tại các tỉnh vùng xa của nước ta, và những người có thu nhập trung bình- thấp, và những người ngoài độ tuổi lao động do họ có những tập quán, thói quen tiêu dùng theo họ đã từ rất lâu. Việc thay đổi tập quán, theo quen tiêu dùng của người dân không thể nhanh chóng, điều này thường dễ làm các nhà đầu tư nản lòng và là một lí do khiến các nhà đầu tư chần chừ trong việc ra quyết định đầu tư vào Việt Nam.

    • Sự hạn chế của nhà sản xuất trong nước

    Khi các tập đoàn bán lẻ của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, điều họ cần là một nguồn cung cấp ổn định và chất lượng. Thế nhưng thực trạng của các nhà sản xuất trong nước thì lại không đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, xong nhà sản xuất nước ta thì lại có quy mô nhỏ, chất lượng nhiều khi không đảm bảo, kỹ thuật máy móc chưa phát triển, hơn nữa việc giao hàng không đúng thời hạn vẫn còn xảy ra. Điều này là một thách thức lớn đối với các nhà sản xuất trong nước nói riêng và thách thức đối với việc thu hút được nguồn đầu tư FDI ổn định cho ngành phân phối- bán lẻ nói chung.

    Đặc biệt, đối với các mặt hàng như may mặc, giày dép, mặc dù chúng ta có thể sản xuất để tiêu dùng trong nước được nhưng do không đảm bảo được chất lượng cũng như thiếu kinh nghiệm, tài chính, nên đành phải chịu sự lép vế đối với những thương hiệu nước ngoài trong các khu thương mại, các khu mua sắm như Vincom, Parkson, …

    • Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa còn yếu

    Việc tham gia vào các ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương đẫ mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển nền kinh tế, thế nhưng đây cũng lại là một khó khăn đối với những doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp đang được Nhà nước bảo hộ. Do có sự bảo hộ của Nhà nước nên các doanh nghiệp ngày mang nặng tính ỷ lại, không chịu đổi mới về cả dịch vụ và chất lượng, cũng như không kịp thời đổi mới phương pháp kinh doanh  sản xuất. Do vậy, để có thể thu hút FDI vào lĩnh vực bán lẻ tốt hơn, thì trước tiên các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất, để có thể kịp thời đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư nước ngoài.

    3.2. Biện pháp để tận dụng tốt nguồn vốn FDI vào ngành phân hối- bán lẻ tại việt nam

    3.2.1. Từ phía Nhà nước

    • Thực hiện đúng theo cam kết quốc tế về kết nối thị trường phân phối- bán lẻ

    Mở cửa thị trường hàng hóa trong nước để giao lưu thương mại với thế giới là một điều kiện thuận lợi để cho nền kinh tế nước nhà phát triển, dồng thời cũng là một sức ép giúp các doanh nghiệp trong nước buộc phải chuyển đổi và phát triển hơn nhằm đẩy mạnh quá trình giao thương liên kết với thế giới. Mặt khác, nhờ được bảo hộ thông qua các chính sách khuyến khích tăng trưởng của Nhà nước, các doanh nghiệp nội địa đã có thêm thời gian giúp cho việc nghiên cứu việc sử dụng nguồn lực doanh nghiệp và xã hội để phát triển hơn, giúp tăng khả năng cạnh tranh cũng như hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI trong ngành phân phối- bán lẻ nói riêng và các ngành kinh tế thương mại khác nói riêng.

    Bên cạnh việc mở cửa kinh tế, Nhà nước cũng cần công bố, triển khai một cách rộng rãi tiến trình, kế hoạch thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi tới tìm hiểu thị trường, nguồn lực tại Việt Nam, Nhà nước ta cần tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi từ việc hỗ trợ về mặt pháp luật để giúp cho việc chuyển nguồn vốn về Việt Nam được nhanh chóng và thuận tiện nhất.

    • Nhà nước cần xây dựng và quy hoạch kế hoạch tổng thể để thu hút được vốn FDI vào ngành phân phối- bán lẻ.

    Để có thể thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp nước ngoài vào ngành phân phối- bán lẻ thì việc hoàn thiện sự hộ trợ pháp lý cho họ không đủ, bên cạnh đó Nhà nước cần có kế hoạch cụ thể và chi tiết về tổng thể ngành phân phối- bán lẻ và tương lai phát triển, điều này giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài có cái nhìn tổng quan hơn về lĩnh vực này tại Việt Nam.

    Thực tế, việc thu hút đầu tư vào ngành phân phối- bán lẻ một cách cân bằng rất khó thực hiện, bỏi đa số các dự án lớn cảu các tập đoàn nước ngoài chủ yêu dành cho các thành phố phát triển tại nước ta bởi họ luôn đặt doanh thu và lợi nhuận lên hàng đầu. Do vậy, Nhà nước cần có các kế hoạch cụ thể và dành cho các ưu đãi để có thể thu hút đầu tư nước ngoài vào các vùng kinh tế chưa phát triển, các vùng nông thôn nhằm giúp nền kinh tế phát triển một cách cân bằng hơn giữa các vùng. Góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa cho đất nước.

    • Nhà nước cần đưa ra các kế hoạch cải thiện môi trường đầu tư

    Để tạo sự thu hút cho các nguồn đầu tư, Nhà nước cần cải thiện môi trường đầu tư sao cho các nhà đầu tư quốc tế có được sự thuận lợi nhất khi quyết định đầu tư vào lĩnh vực phân phối- bán lẻ tại Việt Nam:

    Thứ nhất, tạo thuận lợi về thủ tục cũng như các giấy phép cho các dự án FDI

    Sự thuận lợi trong thủ tục và cấp các giấy phép cho các dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút được quyết định đầu tư và thực hiện các dự án của các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần thực hiện theo đúng cam kết trong WTO cũng như cá ký kết liên kết kinh tế thương mại khác để đảm bảo được lợi ích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Thứ hai, cải thiện cơ sở vật chất

    Mặt bằng cùng cơ sở vậy chất là một trong những yếu tố quan trọng đối với ngành phân phối- bán lẻ, nó giúp cho việc tăng doanh thu và lợi nhuận trở nên dễ dàng hơn. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp, chính sách để cải thiện cơ sở hạ tầng, đường xá giao thông, giải phóng các mặt bằng  và tạo điều kiện cấp giấy phép cho việc xây dựng để giúp đỡ các doanh nghiệp.

    Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, nhà nước cần quy hoạch đầu tư các vị trí để xây dựng các trung tâm thương mại, vừa có thể thu hút được các nhà đầu tư dễ dàng kinh doanh, vừa giúp cho người tiêu dùng trong nước có được sự hài lòng nhất định trong chi tiêu, cũng như giúp cho tổng thể cơ sở vật chất của thành phố hài hòa và phát triển hơn.

    Đối với những tỉnh chưa phát triển hay như những vùng nông thôn, nhà nước nên tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể xây dựng mặt bằng để thuận tiện hơn trong kinh doanh. Đồng thời, chính quyền địa phương ấy cũng cần có những kế hoạch cụ thể để xin các dự án đầu tư vào địa phương mình, giúp cho việc lựa chọn mặt bằng thích hợp và tiện ích cho các hoạt động của dự án.

    Thứ ba, Nhà nước cần có sự công bằng đối với các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài

    Các doanh nghiệp phân phối- bán lẻ trong nước hiện nay vẫn phụ thuộc vào sự bảo hộ của Nhà nước nhiều, gây ra sự trì trệ và ỷ lại trong sự quản lý phát triển doanh nghiệp, điều này dẫn tới sự cạnh tranh không công bằng đối với các doanh nghiệp phía nước ngoài. Có những doanh nghiệp nội địa còn mong muốn nhà nước dành cho nhiều thị phần thị trường hơn với tỉ lệ là 60/40, có lúc là 70/30, hay là việc tăng thuế nhập khẩu hàng hóa tạo ra hàng rào bảo vệ giúp đỡ cho các doanh nghiệp nội địa. Điều này là một dấu hiệu xấu đối với sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường bán lẻ hàng hóa, và có thể cản trở việc thu hút các nguồn vốn FDI vào nước ta.

    Ngoài ra, Nhà nước cũng đã có những hành động không công bằng với các doanh nghiệp nội địa như ưu tiên cấp đất tại vị trí đẹp cho các doanh nghiệp nước ngoài. Thế nên Nhà nước cần đưa ra các biện pháp thích đáng, nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, có thể thông qua biện pháp đấu thầu đất một cách công khai và hợp lý.

    Thứ tư, cải thiện môi trường pháp luật

    Môi trường pháp luật trong lĩnh vực dịch vụ hiện nay tại Việt nam là một hệ thống luật khá là phức tạp với nhiều loại luật và văn bản dưới luật, các quy định và nghị định do các cơ quan chức năng ban hành. Điều này gây ra một tiêu cực là thiếu minh bạch trong việc thực hiện pháp luật. Thực tế, các Doanh nghiệp nước ngoài thường được thông báo về những sửa đổi trong các quy định cần làm sau khi họ đã chuẩn bị xong các giấy tờ về cấp phép, vận hành một cách đầy đủ theo những quy định trước đó.

    Thêm vào đó, sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện pháp luật khiên shco việc tuân thủ pháp luật thiếu tính khách quan và không rõ ràng. Tại Việt Nam, mỗi Bộ và ban ngành khác nhau thì sẽ có vai trò khác nhau đối với ngành, khu vực, lĩnh vực mình quản lý, điều này khó tránh khỏi việc mỗi cơ quan và các cán bộ tại cơ quan đó theo đuổi những lợi ích riêng mà không quan tâm, không chú ý tới sự phát triển của nền kinh tế một cách tổng thể.

    Vì vậy, Nhà nước cần hoàn thiện môi trường pháp luật, làm cho việc ra các quyết định và thực hiện quy định có sự nhất quán với nhau. Tránh gây khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngài khi tới đầu tư vào Việt Nam.

     

    Thứ năm, tăng cường định hướng tiêu dùng trong nước và thu hút tiêu dùng từ khách du lịch nước ngoài

    Tiêu dùng là yếu tố quan trọng nhất đối với lĩnh vực phân phối- bán lẻ. Muốn lĩnh vực này phát triển hơn nữa, Chính phủ cần có các kế hoạch hướng người tiêu dùng sang sử dụng các hệ thống phân phối hiện đại hơn như các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn, cũng như cần phải sắp xếp sao cho các khu chợ truyền thống có thể nhất quán và đi liền với quy hoạch của các trung tâm thương mại.

    Bên cạnh việc lên kế hoạch thay đổi thói quen của người tiêu dùng, thì Chính phủ cũng cần quan tâm tới việc tăng mức xuất khẩu tại chỗ thông qua khách du lịch, thông qua việc thu hút du lịch cũng làm tăng việc chi tiêu của những đối tượng này tại các siêu thị, trung tâm thương maị, điều này dẫn tới tăng mức doanh thu, tăng lợi nhuận cho khu vực. Nhà nước cũng nên có kế hoạch thu hút các dự án đầu tư vào các khu du lịch, nhằm phát triển du lịch, tăng nguồn thu cho Nhà nước cũng như coi đây là một giải pháp cho việc tăng chi tiêu tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ.

    • Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nội địa sử dụng nguồn vốn hiệu quả

    Một trong những khó khăn còn tồn tại trong các nhà sản xuất là việc tiếp
    cận nguồn vốn và việc sử dụng nguồn vốn sao cho hiệu quả. Các doanh nghiệp nội địa nước ta thường thiếu nguồn lực tài chính để có thể mở rộng quy mô sản xuất, thiếu nguồn lực để tiếp cận các kỹ thuật tiên tiến, các máy móc hiện đại, bên cạnh đó trình độ quản lý cũng như trình độ của nhân công còn yếu kém, dẫn tới việc khó đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các tập đoàn nước ngoài. Việc Nhà nước hỗ trợ, giúp cho các doanh nghiệp sản xuất này tiếp cận được với nguồn lực tài chính sẽ giúp phát triển năng lực sản xuất, từ đó dần đáp ứng được nhu cầu nguồn cung của các doanh nghiệp nước ngoài.

    • Hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa kinh doanh ngành phân phối- bán lẻ

    Đối với các doanh nghiệp trong nước đang kinh doanh ngành phân phối- bán lẻ, Chính phủ cũng cần giúp đỡ để họ có thể nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, tránh bị lấn áp bởi các doanh nghiệp có vốn nước ngoài:

    Thứ nhất, phân tích và công bố kế hoạch về mở cửa thị trường và tự do thương mại.

    Giải thích một cách dễ hiểu các cam kết, điều lệ trong các ký kết mà Việt Nam đã tham gia, điều này giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin, từ đó có sự chủ động trong việc tận dụng các cơ hội để vượt qua các thách thức và phát triển hơn

    Thứ hai, hoàn thiện các chính sách, quy định để hỗ trợ các doanh nghiệp một cách tốt nhất.

    Vì khi gia nhập WTO cũng như các ký kết thương mại từ trước tới nay, các doanh nghiệp nội địa không tránh khỏi những bỡ ngỡ trước những sự thay đổi của môi trường kinh doanh quốc tế. Việc hoàn thiện các chính sách sẽ giúp định hướng cho các doanh nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia tốt hơn vào các cơ hội liên kết, kinh doanh, xúc tiến thương mại với thế giới.

    Ngoài ra, việc ban hành và hoàn thiện các chính sách cũng giúp cho các doanh nghiệp nhỏ lẻ có điều kiện tham gia vào chuỗi phân phối- bán lẻ như làm đại lý hay nhượng quyền kinh doanh, tham gia vào chuỗi phân phối lớn và có tính chuyên nghiệp cao, từ đó từng bước thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng ổn định lâu dài hơn, có nhiều cơ hội phát triển hơn.

    Thứ ba, Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp được nâng cao kiến thức về ngành phân phối- bán lẻ.

    Hiện nay, việc phổ cập kiến thức về ngành phân phối- bán lẻ đã được bố trí giảng dạy tại các trường cao đẳng- đại học với những cơ sở kỹ thuật tiên tiến, giảng viên có kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp và chuyên môn lĩnh vực cao, đồng thời có những giáo trình đào tạo theo đúng tiến trình phát triển của thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi để có thể đào tạo ra những thế hệ kinh doanh mới với nhiều kiến thức về lĩnh vực phân phối- bán lẻ, giúp cho việc điều hành doanh nghiệp hiện tại và tương lai ngày càng được vận hành theo một cách bài bản và phát triển hơn.

    Việc đào tạo này giúp cho các chủ kinh doanh nhỏ lẻ, theo cá thể, có thể tiếp nhận được những lý thuyết cũng như những kỹ năng cơ bản trong vận hành bộ máy kinh doanh, giúp cho việc phát triển bản thân trở nên dễ dàng hơn và có sức cạnh tranh hơn trong thời buổi lũng đoạn thị trường hiện nay.
    3.2.2. Từ phía doanh nghiệp 

    Bên cạnh việc tăng cường thu hút nguồn vốn FDI vào ngành phân phối- bán lẻ, thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa cũng rất quan trọng. Thế nhưng, khi hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này còn nhiều mặt còn hạn chế, chưa thật sự đủ mạnh hay vững chắc để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong môi trường quốc tế. Điều này nguyên do do kế hoạch tổ chức bộ máy của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, mang tính tự phát cao, cơ sở vật chất- kỹ thuật hạ tầng còn yếu kém, lực lượng nhân công lao động còn thiếu tay nghề,… Bởi vậy, khi tham gia vào môi trường giao thương quốc tế, nơi những doanh nghiệp quốc tế được vận hành bài ản, có đào tạo, có quy định chặt chẽ,… khiến cho các doanh nghiệp nội địa nước ta trở nên non yếu, dễ bị chèn ép. Do đó, các doanh nghiệp nội địa nước ta trước hết cần đổi mới và cải cách bộ máy tổ chức- quản lý, thực hiện vận hành các máy móc kỹ thuật tiên tiến và đào tạo lại trình độ của nhân công, giúp việc sử dụng các nguồn lực đạt được hiểu quả cao nhất, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhanh hơn.

     

    • Doanh nghiệp nội địa cần chủ động trong việc thu hút nguồn vốn

    Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ nước ta hiện đang phải chịu sự canh tranh lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài, điều tất yếu khi Việt Nam tham gia các ký kết và các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Điều này khiến yêu cầu các doanh nghiệp cần có một sự chuẩn bị cẩn thận, kỹ càng, và có hệ thống, đặc biệt là cần quan tâm tới nguồn vốn. Vậy nên các doanh nghiệp cần tìm mọi cách để huy động, thu hút nguồn vốn để thực hiện quá trình đầu tư sản xuất.

    Doanh nghiệp có thể thu hút, tìm kiếm nguồn vốn từ chính quỹ vốn bản thân đã có, huy động từ người thân, bạn bè, hoặc cũng có thể là từ nhân viên.

    • Tận dụng kiến thức về thị trường trong nước

    +

    • Đổi mới khâu tổ chức và quản lý
    • Thứ nhất, áp dụng công nghệ- thiết bị điện tử vào trong kinh doanh

    Nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghipeek trong nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ nói riêng, đều cần áp dụng các công nghệ, thiết bị điện tử, như là một điều tất yếu khách quan trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới.

    Đầu tiên, việc áp dụng công nghệ thiết bị điện tử tiên tiến giúp doanh nghiệp quản lý bộ máy vận hành một cách dễ dàng hơn thông qua việc tối ưu hóa năng suất sản xuất, giảm khối lượng công việc, giảm thiểu tổng mức chi phí, có được thông tin giữa nội bộ và thông tin liên kết với các doanh nghiệp khác chính xác và nhanh chóng hơn.

    • Thứ hai, sử dụng thương mại điện tử như một công cụ kinh doanh.

    Trong thời kì Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng nhanh chóng, mạnh mẽ với sự bùng nổ của công nghệ thông tin hiện nay. Thì đối với các doanh nghiệp nội địa cần coi thương mại điện tử- xây dựng các website- như một công cụ kinh doanh hữu ích nhất, giúp cho việc rút ngắn khoảng cách cả về thời gian và không gian giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người tiêu dùng; điều này giúp cho việc mở rộng hợp tác, điều hành doanh nghiệp, kết nối thông tin với các ban ngành, đối tác khác dễ dàng và nhanh chóng hơn. Việc sử dụng thương mại điện tử đúng lúc với sự chuẩn bị kĩ càng của doanh nghiệp sẽ giúp quá trình kinh doanh của họ đạt được nhiều kết quả tốt hơn.

    • Nâng cao chất lượng sản phẩm

    Chất lượng sản phẩm- dịch vụ của mỗi doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhất đối với mỗi cá thể tham gia vào quá trình kinh doanh, vì nó quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống bán lẻ như siêu thị tại nước ta vẫn còn nhiều vấn đề khiến người tiêu dùng và các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy mất niềm tin, khi nhiều cuộc thanh tra cho thấy trong hệ thống siêu thị vẫn còn tồn tại việc bán hàng quá thời hạn sử dụng, hàng chưa đạt tiêu chuẩn do có sự lỏng lẻo trong quản lý nguồn vào tạo điều kiện cho việc trà trộn hàng kém chất lượng vào siêu thị, hàng hóa chưa đạt vệ sinh an toàn thực phẩm,…

    Vì vậy các doanh nghiệp nội địa cần hết sức cẩn thận trong việc quản lý chất lượng theo  tiêu chuẩn ISO để mang lại chất lượng hàng hóa tốt nhất cũng như mang lại hiệu quả cho quá trình hoạt động kinh doanh, từ đó dần lấy lại niềm tin từ phía người tiêu dùng hay tạo uy tín để lôi kéo nguồn đầu tư FDI, từ đây tăng sức cạnh tranh cho mỗi bản thân các doanh nghiệp trong nội địa và trong khu vực cũng như trên thị trường quốc tế.

    • Nâng cao chất lượng nhân công lao động

    Nguồn nhân công được coi là một yếu tố gây ảnh hưởng tới sự sống còn của các doanh nghiệp. Một đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề cao giúp cho việc tham gia hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả cao nhất, giảm thiểu chi phí cũng như tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp.

    Hiện nay tại nước ta, các trường đại học- cao đẳng cũng đã đào tạo ra một thế hệ trẻ có năng lực, kiến thức chuyên môn tương đối tốt, các doanh nghiệp cần có sự chủ động trong việc tìm kiếm và tiếp nhận các nguồn lao động trẻ này để kịp thời nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.

    • Mở rộng thị trường kinh doanh tới khu vực nông thôn

    Thị trường nông nước ta đang trở thành một thị trường có tiềm năng lớn để phát triển với hơn khoảng 65 triệu dân với mức thu nhập ngày càng tăng, cũng như tại nông thôn có đủ mặt bằng để xây dựng các kênh phân phối bán lẻ. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng tại nông thôn sẽ giảm sự cạnh tranh, các sức ép từ các doanh nghiệp nước ngoài đi vì các doanh nghiệp nước ngoài hầu như đổ xô vào đầu tư tại các thành phố lớn cũng như việc đầu tư này giúp cho nền kinh tế nước ta tiến nhanh hơn trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và ngày càng đồng đều trong việc phát triển kinh tế chung trong cả nước.

     KẾT LUẬN

    Bằng những đánh giá thực tế tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2017 sau khi gia nhập WTO, đồ án đưa ra cái nhìn rõ ràng về sự phát triển của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Trong những năm vừa qua, dịch vụ bán lẻ tại Việt Nam đã chứng kiến sự cạnh tranh không ngừng nghỉ của các doang nghiệp trong nước và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Mở cửa thị trường là một xu hướng tất yếu, phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và thế giới. Hội nhập kinh tế thế giới,
    ngành kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam có nhiều chuyển hướng tích cực cùng với sự tăng lên của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ những quan điểm, lý luận về FDI và dịch vụ bán lẻ, đồ án chỉ ra dịch vụ bán lẻ tại nước ta thực sự là
    một thị trường thu hút với các nhà đầu tư nước ngoài. Kể từ khi bắt có dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên vào năm 1996, dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã và dang thu hút được hàng trăm tập đoàn bán lẻ dẫn đầu thế giới đến đầu tư và triển khai hàng trăm các hình thức bán lẻ hiện đại. Sự xuất hiện này thúc đẩy sự phát triển tích cực của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Cụ thể hơn, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thích ứng nhanh chóng, quyết liệt hơn với sự cạnh tranh không ngừng nghỉ từ thị trường. Điều đó khiến các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng sản phẩm.

    Qua sự phân tích nghiêm túc về FDI, đồ án đã đưa ra một số chứng minh cho việc các nhà bán lẻ nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam đã đem lại tác động vô cùng tích cực trong giai đoạn này. Do đó,  những biện pháp thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài một cách có chọn lọn, trọng điểm vào thời gian tới để tạo cơ hội nâng cao vị thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước
    Đứng trước tình hình kinh tế và sự phát triển các ngành nghề, dịch vụ bán lẻ hiện nay, việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cần một chính sách và định hướng cụ thể từ các đơn vị quản lý: đặc biệt về thủ tục xét duyệt và cấp phép, bố trí mặt bằng,… sao cho phù hợp với tình hình của địa phương và đất nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phân phối của Việt Nam cần nhận ra một cách nhanh chóng những thách thức trong tương lai để có thể nâng cao vị thế của mình bằng cách cải thiện, đôi mới tư duy, phát triển cơ sở vật chất,… Việc tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư FDI sẽ không còn là vấn đề tranh luận gay gắt nữa mà sẽ tiếp tục là một giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội Việt Nam phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%91%E1%BB%93-%C3%A1n-giao-nh%E1%BA%ADn.docx.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Đồ Án Giao Nhận Vận Tải Biển 2019

    INTRODUCTION

    Import and export activities are expanding and connecting business activities internationally, which is the most exciting area in the world economy. In line with the reform and development of the domestic economy in Vietnam, import and export activities have played an important role in all external economic activities and have become the main source of income for the country. The process of industrialization and modernization of the country. Recognizing the importance of the Party and State, we have affirmed: “Unceasingly expanding and assigning international cooperation in the fields of economy, science and technology, promoting import-export activities” These are the objective demands of the times. Entering into the process of industrialization and modernization, with specific development strategies in combination with effective implementation, up to now, certain achievements have been achieved in the economic development of the commune. The trade and export activities are considered as a particularly important task, playing a huge role in the development of the country and the Party. , the state reserved for priorities. Through that, utilizing and promoting their advantages, turning those strengths into a competitive international.

    CHAPTER 1: LAW AND METHODOLOGY BASE

    1.1.          Law resource .

    1.1.1.     Domestic laws.

    The Government of Vietnam has issued a number of legal documents regulating the responsibility for delivery and receipt of goods by agencies, organizations and enterprises in order to regulate the relationship arising from sales contracts, transportation, insurance, delivery, handling … as:

    _ Circular No. 128/2013 / TT-BTC regulates customs procedures, customs inspection and control, export tax, import tax and tax administration for export and import goods.

    _ Decision No. 2073 / QDVT on October 6, 1991 of the Ministry of Communications and Transport promulgating the regulations on loading and unloading, forwarding and preservation of cargoes at Vietnamese seaports.

    _ Decree No. 114 / HDBT on May 27, 1991 of the Council of Ministers promulgating specific regulations on customs procedures and customs fees.

    _ Vietnam Maritime Code carrying 40/2005 /QH11 dated 14 June 2005, Vietnam Maritime Regulations.

    _ Commercial law 2005.

    _ Custom law 2014.

    _ Circular No. 15/2012/TT-BTC dated 08/02/2012 of the Ministry of Finance Promulgating the form of export and import goods declaration.

    _ Circular No. 128/2013 / TT-BTC dated 10 September 2013 of the Ministry of Finance stipulating customs procedures; Customs inspection and supervision; export tax, import tax and tax administration for export and import goods.

    1.1.2.     International law.

    Forwarding services under the “FIATA Code of Conduct for Forwarding Services” are “any service relating to the transportation, consolidation, storage, loading, packaging or distribution of goods and services. consultancy or related services, including customs matters, finance, insurance, payment, collection of documents relating to goods “.

    _ The International Convention on carriage of goods by sea:

    • The Hague Rule 1924 and the Protocols 1968 and 1979.
    • Hamburg Rules 1978.
    • Rotterdam Rules 2010.

    _ The International Convention on carriage of goods by air: Warsaw 1929.

    _ The International Convention on Multimodal Transport:

    • UNCTAD ICC Rules for Multimodal Transport Documents.
    • International Carriage of Goods by Road (CMR, 1956).
    • Convention concerning International Carriage by Rail (COTIF, 1980).
    • The Hague–Visby Rules.
    • Hamburg Rules.
    • Rotterdam Rules.
    • United Nations Convention on International Multimodal Transport of Goods (MT, 1980).

    1.2.          Methodology.

    1.2.1.     Parties in Forwarding.

    Goods receipt is a collection of operations and procedures related to the process of transportation to carry goods from the place of shipment (the shipper) to the place of receipt (the consignee).

    Forwarding enterprises are enterprises dealing in various types of goods forwarding services in the society, including domestic freight forwarding enterprises and international freight forwarding enterprises. The product of the forwarding business is the freight forwarding service that the company acts as Forwarding Forwarder (Forwarding Agent).

    According to Hamburg rules:

    • Shipper: means any person by whom or in whose name or on whose behalf a contract of carriage of goods by sea has been concluded with a carrier, or any person by whom or in whose name or on whose behalf the goods are actually delivered to the carrier in relation to the contract of carriage by sea.
    • Carrier means any person by whom or in whose name a contract of carriage of goods by sea has been concluded with a shipper.
    • Actual carrier means any person to whom the performance of the carriage of the goods, or of part of the carriage, has been entrusted by the carrier, and includes any other person to whom such performance has been entrusted.
    • Consignee means the person entitled to take delivery of the goods.

    1.2.2.     Documentary.

    • Contract of carriage by sea.

    Contract of carriage by sea means any contract whereby the carrier undertakes against payment of freight to carry goods by sea from one port to another; however, a contract which involves carriage by sea and also carriage by some other means is deemed to be a contract of carriage by sea for the purposes of this Convention only in so far as it relates to the carriage by sea.

    • Bill of lading (B/L).

    Bill of lading means a document which evidences a contract of carriage by sea and the taking over or loading of the goods by the carrier, and by which the carrier undertakes to deliver the goods against surrender of the document. A provision in the document that the goods are to be delivered to the order of a named person, or to order, or to bearer, constitutes such an undertaking.

    1. Master bill.

    Master bill is a bill issued by the shipping line for the shipper, which only the owner of the vessel is authorized to issue.

    When you pick up the Master Bill means that on the original bill has a logo of the shipping line. Although you book through the forwarder the original bill carrier is the shipping line.

    After the original bill to consignee receipt of goods you have to send the original bill to the consignee, usually sent by air.

    1. House bill.

    A bill of lading issued by a freight forwarder. Often covers a consignment of parcels from various shippers that has been grouped or consolidated by the forwarder. The forwarder may, for example, receive a single groupage bill of lading from the carrier, then issue a series of House B/Ls to the respective shipper.

    House Bill still has the original bill and surrender bill. But this original bill was printed by the forwarder, on the original bill only has the logo of the forwarder’s company, not have the logo of the carrier (shipping line).

    • Seaway bill.

    In the international forwarding and transportation, there are some documents such as; sea ​​waybill, liner waybill, ocean waybill, cargo receipts, data freight receipts. These are shipping documents that cannot be transferred. Sea waybill (or liner waybill) is a document issued by the carrier to a particular named consignee, whose consignee issues a valid certificate (such as a letter of credit). Sea waybill (or liner waybill) is a document issued by the carrier to a particular named consignee, whose consignee issues a valid certificate (such as identity card), so they can get the goods without having to present a seaway bill. This is the same as the bill of lading in that it also indicates the recipient’s name, but otherwise the recipient in the bill of lading must produce the bill of lading, and in the sea waybill is not necessary. Unlike the Bill of Lading, the shipping note has two main functions; is evidence of a contract of carriage by sea and is the carrier’s certificate of receipt of a certain quantity of goods as described on the consignment note, and commits to the person who presents the goods. Delivery of goods or valid documents in accordance with the name of the person indicated on the consignment note.

    • Shipping note.

    A detailed record of the goods sent by the shipper to the carrier requesting that the goods be stored on board the ship. These are the instructions needed to make the bill of lading and for the carrier to receive the goods. This is also the owner’s commitment to the carrier. In cases where the carrier makes a note of acceptance on the consignment note, there is a case of making a Booking Note as a legal basis for the carriage of goods.

    • Delivery order.

    When the goods arrive at the port of destination, the carrier or his agent issues to the consignee (or delivery agent) the delivery order (D/O) for him to receive the goods from the ship. In general, in order to receive a delivery order, the consignee must present original B/L, in case B/L is late, It is usually for the carrier if he fails to prove or does not present a valid legal document afterwards, and it is best to have a letter of guarantee (L/G).

    • Mate’s receipt.

    The receipt of the ship’s deputy after each shipment is received and placed on board. When the captain or the person on behalf of the carrier signs the bill of lading, the counter-note of the vice-captain shall be checked, if there is suspicion or bad comment on the package, the captain shall also note that reservation on the bill of lading. Therefore, in order to receive the perfect bill of lading, it is required that the receipt of the ship’s deputy be recorded.

    • Cargo outturn report (COR).

    A written record between the consignee or the representative of the consignee (forwarder) that reflects the condition of the goods that are not in perfect condition; torn, broken, perforated, distorted,… This record is only valid if signed by the carrier or on behalf of the carrier and it is made upon discovery of damaged goods but not yet unloaded from the ship. This record serves as the basis for the consignee to make a complaint to the carrier, if the carrier proves that he is not at fault, the carrier is exempt from liability and vice versa, he must be liable for those losses and damages. COR is commonly used with department stores.

    • Receipt of receive on cargo (ROROC).

    ROROC, after the completion of the loading, was signed between the shipper and the ship to determine the amount of cargo unloaded. On ROROC there is a full description of the excess, missing, damaged … and the records of the proof and the damage and damage.

    • Cargo plan.

    A detailed map of the location, the number of goods loaded on the ship. The map of the ship’s line drawn up on the basis of the shipment registration paper and the technical characteristics of each specific ship, the loading map of which is effective.

    _With the shipper, receive the goods. It is the basis for the sender and receiver to know the expected time of loading and unloading of a particular shipment, on the basis of which the shipper prepares the means to receive the shipment of goods. It is possible to anticipate possible loss situations.

    _With port; to prepare the means and human resources necessary for loading and unloading a specific kind of cargo at appropriate time.

    • Cargo manifest.

    This is a statement of information on the goods loaded on board, one of the documents that the carrier must submit to the customs office when the vessel enters and before the vessel leaves. This profile adds extra charges to the Freight manifest for the tax office to inspect and collect taxes if the law requires collection of taxes on freight. MOC is based on the bill of lading issued to the shipper.

    • Cargo list.

    The consignment note shall be drawn up by the consignor on the basis of information on such goods; The number, size, condition and condition of the package, marking … of the consignment note are given in advance to the carrier for a reasonable period of time. Basing on the consignment note, the carrier shall draw up the loading plan.

    1.2.3.     Other definition.

    • Full container load (FCL).

    FCL is a shipping term, consignor and consignee responsible for packing and discharging the container. When the consignor has a sufficiently large volume of cargo to accommodate one container or multiple containers, one or more containers are hired to ship.

    • Less container load (LCL).

    LCL is the consignment shipped in a container that the collector (carrier or consignee) is responsible for loading and unloading goods into and out of the container. When shipping, if goods are not enough to fill a container, the goods can be shipped by the method of retail.

    • Container yard (CY).

    A container yard is an area in a seaport or dry docks to contain FCL containers unloaded from a cargo ship or placed in containers prior to shipment.

    With CY / CY shipment, the Shipper will tow the container at the designated shipping yard (on Booking confirmation). Shipping Lines are responsible for this container shipment when it is down at the port of loading (POL), ready to be loaded onto the ship until it is unloaded at the designated container yard at the port of discharge (POD). The Consignee will carry out import procedures, pick up and tow the container from the yard to their warehouse.

    • Container freight station (CFS).

    Container freight station is a warehouse system where LCL shipments of different shippers (import / export companies) are consolidated /grouped before being exported or deconsolidated / degrouped  after importation.

    CHAPTER 2: CARGO.

    2.1.          Specific of cargo.

    2.1.1.     Characteristics of cargo.

    _ Name of goods: White wine Dr Zen Zen Riesling.

    _ Material: The wine is made from the finest Riesling grapes.

    • Total alcohol strength: 12.67% Vol.
    • Actual alcohol strength: 10.73% Vol.
    • Total extract: 55.3 g/l
    • Sugar free extract: 22.7 g/l
    • Residual sugar: 32.6 g/l
    • Total acid: 5.4 g/l
    • Free sulphur dioxide anhydrous liquid: 43 mg/l
    • Total sulphur dioxide anhydrous liquid: 141 mg/l
    • Density: 1.0070
    • Cadmium (Cd): 0.0013 ppm
    • Aren (As): 0.0031 ppm
    • Mercury (Hg): 0.0085 ppm
    • Lead (Pb): 0.0128 ppm
    • Cooper (Cu) 02747 ppm
    • Zinc (Zn): 0.7583 ppm

    _ Volume: 750 ml

    _ Origin of goods: Germany.

    _ Methods of preservation: The White wine must be stored at a temperature of 12-15°C. Because it is fragile, these bottles must be placed in a wooden container, each bottle is a separate compartment to prevent breakage. Goods must be transported by container 20’.

    2.1.2.     Packaging.

    _ The method of package: Because the quantity of goods are small, not enough to close and a 20 ‘ container so the goods will be transferred to the consolidator for consolidation, saving costs. The owner choose the method of package is less than container load (LCL).

    _ Way to package:

    • Bottles of wine with bark (by bark or synthetic substance) should be stored either upside down to minimize air exchange between the outside and inside air to prevent oxidation fast. Separate wine boxes must be marked to indicate the location of the wine.
    • Six bottles of wine will be packed into a wooden crate, inserted hygienic material to prevent broken bottles. The weight of a bottle of wine is 1kg, the weight of a wooden crate is 1kg. In the box of 6 bottles of wine so the total weight of 1 barrel is 7kg. The length of the barrel is 50cm. The height of the barrel is 40cm. The width of the barrel is 30cm.
    30 cm
    40 cm
     
     
    50 cm
    • To use of non-insulated containers avoids the buildup of hot air in the open space above the wine pallet and the continuous cooling at night. Instead, the pallets inside the container must be covered with insulating panels or similar materials.

    _ Label:

    + The label in the bottle:

    • The name of good.
    • The name of producer.
    • Year of manufacture.
    •  

    + The label in the barrel:

    • The name of good.
    • The name of producer
    • Quantity of bottle.

    _ Measurement and weight of the shipment:

    Gross Weight Net Weight Measurement
    1,260.00 KGS 1,080.00 KGS 14.4 CBM

    _ Specification of the Container 20’:

    Dimensions Container 20’
    Inside length 19’4” 5.89 cm
    Inside width 7’8” 2.33 m
    Inside height 7’10” 2.38 m
    Door width 7’8” 2.33 m
    Door height 7’6” 2.28 m
    Capacity 1,172 ft3 33.18 m3
    Tare weight 4.916 lb 2,229 kg
    Payload 45,999 lb 21,727 kg
    Gross weight 52,915 lb 23,956 kg

    _ Arrange the barrel to container:

    • Six bottles of white wine are placed in a barrel.
    • 15 barrels are stacked on a pallet (pallet size 1.5m x 2.5m x 0.15m).
    • Total is 6 pallets in the container.
    • The remainder in the container will be consolidated by the consolidator and then placed.

    2.2.          Transport route.

    _ White wine is imported in Less Container Load (LCL) with a container 20’; FOB, Hamburg port, Incoterm 2010.

    _ Port of loading: Hamburg port (Germany).

    _ Port of discharge: Quy Nhon port (Vietnam).

               
       
    International transport
         
    Inland transport
     
     
       

    2.2.1.     International transport.

    _ The cargo will be transferred from CFS Hamburg warehouse to Hamburg port (2.46 km), transit time is 2-4 days.

    _ Mode of transport is sea transport, from Hamburg port, Germany to Tan Vu port, Hai Phong, Vietnam.

    _ After moving the container onto the vessel. Ships will run directly from Hamburg to Haiphong, not allow transshipment.

    _ The distance is 17,413.70 km, the shipment time is a month.

    2.2.2.     Inland transport.

    _ After the shipping line delivery goods to Tan Vu Port, the transit time from 1-2 days.

    _ Inland transport is the road way from Tan Vu Port (Dinh Vu Industrial Zone, DT356, Dong Hai 2, Hai An, Hai Phong) to Sao Do CFS Warehouse (268 Chua Ve Street, Dong Hai 1, Hai An, Hai Phong).

    _ Total distance is 5.4 km, the travel time is 12 or 47 minutes.

    CHAPTER 3: CONTRACT AND IMPLEMENT.

    3.1.          Contract.

    3.1.1.  Quotation.

    LCL:

    POL POD ROAD FREIGHT T/T
    HAMBURG, GERMANY TAN VU, HAI PHONG, VIETNAM USD 600 1 MONTH

    Vietnam local charge import:

     

    Fee USD/1unit Total (USD)
    DO   30
    CFS charge $5/CBM $72
    THC $4.4/CBM $63.36
    CIC $2/CBM $28.8
    Handling fee   $30
    Electricity fee   50

     

    Cost of renting truck: 200,000 VND.

    3.1.2. Contract.

    SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM

    INDEPENDENCE – FREEDOM – HAPPINESS

    FORWARDING CONTRACT

    No: 2469792

    Date:01/11/2017

    Party A

    Client:                  SNA TRADING JOINT STOCK COMPANY

    Address:                 48/ 191 Le Loi, Ngo Quyen, Hai Phong,Vietnam

    Tel:                       84.225 3655475

    Fax:                      84.225 3655474

    Tax code:             9125783624

    Account No:                  VND: 0591-000-258-558

    USD: 0591-370-258-560

    Bank:                             Vietcombank – Hai Phong Branch

    Represented by:              Ms. Ngo Thanh Thuy

    Position:                          General Director

    Party B

    Forwarder:           SCM EXPORT& IMPORT AND TRADING CO., LTD

    Address:               218 Ngo Quyen Street, Van My Ward, Ngo Quyen District, HP

    Tel:                       (0225) 3652389

    Fax:                      (0225) 3652389

    Tax code:             0201628429

    Account No:                  VND: 66158017196

    USD: 66158017197

    Represented by:   Mr. Nguyen Hong Minh

    Position:                 Director

    (Forwarder and client further also as “Contractual parties”)

    This contract includes the following clauses:

    CLAUSE 1:  SCOPE OF THE SERVICE

    Client consigns Forwarder to do customs clearance procedure, contract with shipping lines, terminals, stores and the relevant parties, transport and deliver the goods to Client.

    1. Name of goods, quantity:

    _White wine Dr Zen Zen Riesling (750ml).

    _ Quantity: 180 barrels

    1. Place of receiving the goods:

    Hamburg port, Germany.

    1. Place of handing over the Goods

    _ Forwarder shall deliver the Goods to Client at: Sao Do Warehouse

    _ Address: 268 Chua Ve Street, Dong Hai 1, Hai An, Hai Phong.

    1. Time of receiving and delivering the Goods:

    _ Time of receiving Goods by Forwarder: 15/11/2017

    _ Delivery time: No later than the date 20/12/2017 at the Destination.

    CLAUSE 2: DUTIES OF EACH PARTY.

    1. Duties of party A.

    _ Having obligation to fulfill payment all local charge to Party B duty and timely.

    _ Being responsible for providing necessary documents, time & place to take in charge, place of discharge/ unloading as well as commodity, types, quantity, measurement, gross weight.

    _ Having responsible for shipment legally and the accurary of documents.

    _ Being in charge of arranging cargo insurance and advising insuarer in case of loss damage,… Or require B to arrange cargo insurance on behalf of A by sending written form before cargo are delivered from warehouse of exporter and A will pay all insurance fee.

    1. Duties of Party B.

    _ Arranging transporting schedule & delivering shipment to agreed destination safely as committed.

    _ Being responsible for informing transport procedure until the delivery of cargo at destination.

    CLAUSE 3: VALUE AND PAYMENT TERMS.

    1. Contract value.

    Detailed quotation will be delivered to A. This detailed quotation is considered the indisputable appendixes for the contract.

    1. Payment term.

    _ Payment is fulfilled by account transfer to B with 100% value of invoice in that month during 15 days from the day that A receive financial invoice basing on the mentioned information.

    _ Bank fee are incurred by deposit.

    CLAUSE 4: FORCE MAJEURE.

    In the event of unforeseeable and supposedly unavoidable conditions such as traffic congestion, harbor harassment, natural disasters, war, violence, labor strikes, fire or other causes are understood to be unforeseen; the contract parties are not bound to implement this contract. However, when the conditions for alleged force majeure have been terminated, the two parties shall be responsible for implementing this contract by cooperating closely to resolve the problems (if any), unless otherwise agreed other written agreement implement.

    CLAUSE 5: COMMON CLAUSE.

              The two parties undertake to fulfill all the terms of the contract. In case of any problems, the two parties will negotiate and make an appendix of the contract. In the event that the dispute cannot be resolved by negotiation, it will be forwarded to the Vietnam International Arbitration Centre (VIAC) next to the Vietnam Chamber of Commerce and Industry (VCCI) in Hanoi for final decision.

    Contracts for the establishment of 4 copies, each party holds 2 copies with the same legal value.

    The contract is valid from 20/11/2017 to 20/11/2018.

    ON BEHALF OF CLIENT ON BEHALF OF FORWARDER

    3.2.          Implement.

    3.2.1. Forwarding process.

    3.2.2. Explanation.

    F Step 1: Sign the forwarding contract with importer.

    The forwarder company will sign a service contract with the importing company to import white wine Riesling, originate from Germany. Goods will be transferred from Hamburg port, Germany to Tan Vu port, Hai Phong, Vietnam. The contents of the contract shall be agreed upon by the two parties and the responsibilities of each party shall be clearly stated.

    F Step 2: Design the transportation route.

    The cargo will be transferred from CFS Hamburg warehouse to Hamburg port, then directly to Tan Vu port, Hai Phong, Vietnam. From Tan Vu Port (Dinh Vu Industrial Zone, DT356, Dong Hai 2, Hai An, Hai Phong), after completing all procedures, goods will be transferred to CFS Sao Do, Hai Phong (268 Chua Ve Street, Dong Hai 1, Hai An, Hai Phong).

    F Step 3+ 4+ 5: Contact the importer and find the suitable vessel; notify the exporter about the place of delivery and Book reservation.

    Based on the information provided by the importer, forwarder quickly finds and contacts the shipping line to ship the goods. After discussing and agreeing, the two parties will proceed to sign the contract. The forwarder of the importer party shall also notify the forwarder of exporter about the time and place of delivery of the goods.

    _ Thời gian giao hàng:

    _ Port of loading: Hamburg port, Germany.

    _ Tên tàu:

    F Step 6 : Booking note.

    Renting a market ship for transporting goods is called warehousing. The owner contacted the carrier’s shipping agent, shipping agent or master, and made a booking note for the ship’s cargo.

    Warehousing is only available on market rents, which are regularly charter ships operating on a fixed shipping route and on a predetermined route schedule.

    F Step 7+8: Delivering the assignment; transport and transfer container at CFS.

    Prepare sufficient documents, the exporter will deliver the goods from the CFS Hamburg warehouse to the port of Hamburg and clear the customs clearance.

    F Step 9+10+11: Send SI to the shipping line; receive draft Master Bill; receive Master Bill and pay fee for shipping line.

    Book Container Process – do SI and get B/L, include:

    • Get quotation from shipping line.
    • Get the schedule.
    • Send booking note.
    • Receive booking confirmation.
    • Send SI before closing time.
    • Receive bill draft.
    • Check, revise & confirm bill draft.
    • Receive Master Bill and pay fee for B/L.

    The information in SI include:

    • Booking No.
    • Vessel No.
    • Bill type.
    • Freight and charge.
    •  
    •  
    • Notify party.
    • Container/ Seal No.
    • Description of goods.
    • Port of loading.
    • Port of discharge.
    •  

    F Step 12: Send set of document to agent in importing.

    Issuing draft of Quotation and House Bill and send them to customer. If customer confirming information on them is reasonable, Quotation will be sent to customer.

    Document staff sent documents relating to shipment to forwarding agent in importing country.

    F Step 13: Checking the delivered document.

    After receiving documents that the shipping line sent, document staff vouchers will: Check the information on the Master Bill’s draft that shipping line sent and confirm the correct information and require shipping line to issue Master Bill.

    F Step 14: Taking the delivery order at the shipping line.

    The next step, before the expected day of arrival from one to two days, forwarder will receive the ship’s arrival notice. Arrival Notice will inform the recipient about the time the ship to the port location and accrued expenses. After that, the forwarder staff will make the necessary procedures in shipping line and shipping agents to change the delivery order. There are 2 ways to pay charges are paid directly at the shipping agent or transfer bank accounts. When fully completed, shipping agent will provide 2 shipping delivery order signed and sealed. A command is used when making customs declarations and pay for customs, a command refers to the port to take the container out. In particular, the command staff gets pay attention to the validity period of the D / O (Delivery Order), if they have expired, they must hold the D / O on the carrier applied for the extension to D / O.

    F Step 15+16: Customs procedures and clearance.

    In this step, the document staff will use ECUS5-VNACCS software for customs declaration. Then the customs side will return the results of the flow. For this white wine, the result return is red thread. For red thread goods, the customs office will check the documents as well as inspect the actual goods at the port. For documents, the documentary staff should prepare the following documents: C / O, sale of contract (copy), B / L, import license. After going to port for changing the command, the forwarder has to registration cargo inspection. The results are retuned after 3-4 days, the forwarder bring test results to the Customs Branch for customs clearance.

    F Step 17: Exchange order at port and receiving the shipment.

    Prepare the following documents:

    • Letter of introduction/ authorization.
    • ID card.
    • Delivery order.
    • B/L.
    • Documents about goods.

    The forwarding agent will go to the port processing department to present the required documents, payment for the service and receive the port of consignment. The next step, forwarder go to the port’s port security department, presented the order receipt of port, receive the paper in and out of port, and drive to port. Next, the forwarding department at the port facility. the consignee will presented the order receipt of port; To supervise the receipt of goods from ships onto means of transport; receive delivery note. Finally, submit a receipt of the warehouse forwarding, return the paper in and out of port and return the goods to the warehouse.

    F Step 18: Delivering the goods to the warehouse.

    After receiving the goods, forwarder hire a truck to pull container to Sao Do warehouse.

    F Step 19: Liquidating customs declaration form; transferring documents to customers for payment and implementing the reservations of records.

    After completing the customs clearance and delivery to the customer, the delivery officer checks and re-arranges the documents into a complete set, the employee will return the documents back to the import and export company. The transport company also saved 1 set. And Carry out accounting for customers, include:

    • Local charge
    • Handling fee
    • Fee for clearance the import
    • Road freight charges pull goods to the warehouse CFS

    Then the FWD will send the list of debts to customers, the customer will check and verify again. Once agreed, the FWD accountant issues a red bill. The director then signs and seals this note. Forwarders carry all the documents together with the Debt Settlement Notice to the customer. The customer shall pay after receiving the red invoice within the time limit stipulated in the contract.

    Finally, the company will liquidate the contract and record.

    CONCLUSION

     

    Transport forwarding activities are the levers of the economy. In countries with developed economies in the world in goods transport and delivery was very developed and become effective service business of the country, played a significant part in trade in goods traffic of the country. Delivery activities reduced the cost of exporting and importing, international labour distribution, increase cooperative relationships between countries, is to arm the relationship between export and import. In fact, the goods and services in foreign trade business is very important to perform the delivery, help for foreign trade contracts are done smoothly and quickly. Have to say, thanks to the companies that specialize in providing logistics services and transport goods in foreign trade has accelerated the speed of processing the job to export a shipment abroad or import a shipment from abroad into the country. So that enterprises have more opportunities in international trade, saving time and costs.

    Thanks to the implementation of the export of a specific shipment in large exercises, I have better understanding of the work that a delivery is made when receiving a shipment export mandate.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/xu%E1%BA%A5t-x%E1%BB%A9-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

    1.     Tổng quan về xuất xứ hàng hóa.

    1.1.           Khái niệm.

    Theo nghị định số 19/2006/NĐ-CP thì xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản đối với hàng hóa do nhiều nước và vùng lãnh thổ tham gia sản xuất.

    1.2.           Ý nghĩa.

    Thứ nhất, xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa, nhất là những sản phẩm thô và đặc sản. Xuất xứ hàng hóa giúp chúng ta hình dung được nguồn gốc, quê hương, nơi sản xuất của hàng hóa, từ đó chúng ta có thể nhìn nhận hay đánh giá qua được chất lượng của hàng hóa đó. Điều này đã được chứng thực ở nhiều quốc gia, chẳng hạn như nhắc đến Pháp, người ta sẽ nghĩ ngay các loại phô mai đa dạng về chất lượng cũng như chất lượng hàng đầu của nó. Hay như nhắc đến New Zealand, người ta sẽ nghĩ ngay đến các loại sữa chất lượng nổi tiếng thế giới. Như vậy, có thể coi việc xác định xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa.

    Thứ hai, xuất xứ hàng hóa được sử dụng kết hợp với mã số thuế để xác định mức thuế suất, tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi và quyền lợi của nước xuất khẩu tại nước nhập khẩu. Điều này liên quan đến chính sách thương mại của các quốc gia thỏa thuận thương mại trong các hiệp định kinh tế. Việc xác định được xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan hải quan có thể phân biệt được đâu là hàng nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế độ ưu đãi theo các theo các thảo thuận thương mại đặc biệt và đâu là hàng không được hưởng ưu đãi. Ví dụ như theo hiệp định ATIGA thì khi hàng hóa từ các nước trong khu vực ASEAN nhập khẩu vào Việt Nam thì sẽ được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan, Việt Nam sẽ áp dụng mức thuế suất thấp hơn hoặc ưu đãi đối với các sản phẩm có xuất xứ từ các nước này.

    Thứ ba, xuất xứ hàng hóa liên quan đến việc kiểm soát hoạt động ngoại thương, đồng thời phục vụ cho công tác thống kê ngoại thương. Xác định xuất xứ giúp cho việc biên soạn các số liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn.

    Thứ tư, xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Ví dụ đối với  một số loại thực phẩm có xuất xứ từ các nước Châu Âu như Mỹ, Đức, Pháp,…thường được người dân tin dùng vì trước khi xuất sang Việt Nam, hàng hóa có xuất xứ từ các nước này đã qua kiểm định nghiêm ngặt, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Còn đối với một số hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc sẽ khiến người tiêu dùng e ngại hơn vì phần lớn các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đều xuất xứ từ thị trường này.

    Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hóa là chỉ tiêu quan trọng cho việc đánh giá chất lượng, là công cụ để thể hiện chính sách thương mại trong quan hệ song phương và đa phương giữa các quốc gia. Trong điêu kiện hiện nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế – thương mại khu vực và thế giới trở thành một xu thế, nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnh quan hệ thương mại thì việc xác định xuất xứ hàng hóa càng có ý nghĩa quan trọng.

    1.3.           Giấy chứng nhận xuất xứ.

    Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) là một loại văn bản chứng minh xuất xứ hàng hóa. Về cơ bản, C/O được cấp cho lô hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu cụ thể. C/O chứng nhận xuất xứ hàng hóa được xác định theo một quy tắc xuất xứ cụ thể và quy tắc này phải được nước nhập khẩu chấp nhận và thừa nhận. Một số mẫu C/O ưu đãi thông dụng ở Việt Nam gồm: C/O mẫu A ( cấp cho các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang các nước dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP), C/O mẫu D ( cấp cho các sản phẩm mua bán giữa các nước thành viên ASEAN ), C/O mẫu B (cấp cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong các trường hợp thông thường hay không đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ để hưởng chế độ ưu đãi GSP đó).

    2.     Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

    2.1.           Ý nghĩa của xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu.

    Khi Việt Nam là nước xuất khẩu, thủ tục thông quan hàng hóa quy định phải dựa trên sự xuất trình đầy đủ các chứng từ hàng hóa trong đó có bao gồm xuất xứ hàng hóa thì C/O là một căn cứ để cơ quan Hải quan cho phép người xuất khẩu thông quan hàng hóa. Xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan hải quan thuận tiện trong việc kiểm tra và xác định nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa đang làm thủ tục hải quan xuất, nhập khẩu, đánh giá được khả năng xuất khẩu thực tế hàng hóa có xuất xứ từ nước mình, xác định tỉ lệ hàng quá cảnh. Còn khi Việt Nam là nước nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, quản lý được hàng hóa nhập khẩu phù hợp với chính sách ngoại thương và quan hệ kinh tế đối ngoại của Chính phủ nước mình và chính phủ nước xuất xứ hàng hóa. Nó còn giúp cơ quan quản lý nhà nước ngăn chặn kịp thời hàng hóa từ những nước đang là đối tượng bị hạn chế và cấm nhập khẩu, xác định mức thuế áp dụng  cho lô hàng nhập khẩu phù hợp vớ chế độ thuế quan hiện hành. Ví dụ như với Mỹ, cơ quan quản lỹ nhà nước của Mỹ đã ra quyết định hạn chế nhập khẩu mặt hàng thép có xuất xứ từ Trung Quốc nguyên nhân một phần do các vụ điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép có xuất xứ từ Trung Quốc. Vậy nên, đói với mặt hàng thép có xuất xứ từ Trung Quốc, việc thông quan qua cửa khẩu Mỹ là rất khó khăn. Còn với Việt Nam, theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO tại Điều 147 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO thì Việt Nam sẽ không áp đặt, cũng như hạn chế nhập khẩu đối với bất cứ nước nào, mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp có quyền tự do lựa chọn nhà phân phối để nhập khẩu nguyên vật liệu vào Việt Nam. Về mức thuế quan, nếu hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Lào (C/O form S), để thực hiện Bản thỏa thuận giữ Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam và bộ công thương nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, thì những hàng hóa đó sẽ được hưởng ưu đãi về mặt thuế quan. Trên cơ sở thông tin về xuất xứ hàng hóa cho phép cơ quan quản lý nhà nước tiến hành công tác thống kê ngoại thương, xác định nguồn nhập chủ yếu của từng mặt hàng để từ đó có chế độ tính thuế nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan ngày 17/1/2016, dựa vào xuất xứ hàng hóa, chúng ta có thể xác định được thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung ở Châu Á. Trong đó, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc, chiếm tỉ trọng 28,7%.

    Đối với  việc phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thương của nhà nước. Đối với nước xuất khẩu, thông thường nước xuất khẩu là nước đang và kém phát triển đều thuộc danh mục các nước được hưởng ưu đãi của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP của các nước phát triển, xuất xứ hàng hóa là bằng chứng để được hưởng ưu đãi thuế quan. Ví dụ như khi Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang EU thì sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP. Ngoài ra xuất xứ hàng hóa còn giúp các nước xuất khẩu tăng cường khả năng thâm nhập hàng hóa vào các thị trường của các nước phát triển cho hưởng ưu đãi. Giúp mở rộng thị trường và hàng hóa của nước xuất khẩu trở nên có sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa cùng loại của các nước không được hưởng ưu đãi, tăng lợi nhuận xuất khẩu, tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Từ ngày 1/1/2014, EU chính thức thông qua quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập, đưa Việt Nam vào các nước được hưởng GSP đối với tất cả các mặt hàng. Cũng trong năm này, Việt Nam đã xuất khẩu được 7% mặt hàng sang EU, giai đoạn 2014-2016 đã tăng lên thành 30%. Còn đối với nước nhập khẩu, về mặt phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thương của nhà nước, xuất xứ hàng hóa là cơ sở đrr cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác thống kê ngoại thương, nắm tình hình nhập khẩu hàng hóa, thực hiện hạn ngạch nhập khẩu sản phẩn có xuất xứ từ các nước được phân bố (nếu có), tình hình chất lượng hàng hóa nhập khẩu từ các nước, thị trường khác nhau, xem xét sự tác động về mặt xã hội và vệ sinh môi trường của hàng hóa nhập khẩu từ đó có biện pháp quản lý và xây dựng chính sách nhập khẩu, biểu thuế thích hợp, chính sách xử lý môi trường để bảo vệ sức khỏe, an ninh… xác địnhtiêu chuẩn chất lượng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác nhau. Xuất xứ hàng hóa cấp cho hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan là căn cứ để Chính phủ nước cho hưởng nắm được tình hình thực hiện ưu đãi, xây dựng và sửa đối bổ sung kịp thời, có thể giữ nguyên chế độ ưu đãi hoặc cắt giảm bằng những yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn để được cấp C/O phù hợp hoặc tuyên bố cắt thẳng. Theo những kết quả thống kê được về hàng hóa có chứng nhận xuất xứ để được hưởng ưu đãi, EU cí thể xác định được mức độ phát triển kinh tế chung và kinh tế từng ngành hàng của các nước được hưởng ưu đãi, từ đó xác định danh mục các nước được hưởng GSP, cá nước không được hưởng. Ví dụ Brunei, Hongkong, Hàn Quốc, Singapore,.. từ 1/1/1997 koong cì nằm trong danh sách hưởng GSP của EU nữa.

    2.2.           Ý nghĩa của xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hậu kiểm, giảm thiểu rủi ro đối với doanh nghiệp gian lận sử dụng nguyên liệu mua trong nước không đạt xuất xứ những vẫn cộng gộp 100% trị giá nguyên liệu đó vào trị giá thành phẩm cuối cùng, hoặc cũng có doanh nghiệp nhập hàng về, khai báo là nguyên vật liệu rồi gia công vài công đoạn sơ sài để xin cấp chứng nhận xuất xứ nhằm tránh được thuế bán phá giá hoặc được hưởng lợi từ thuế. Từ đó ngăn chặn được nguy cơ gian lận xuất xứ đối với đối với thành phẩm xuất khẩu.

    Xuất xứ hàng hóa cũng giúp cho cơ quan quản lý nhà nước xác định chính xác xuất xứ hàng hóa mà doanh nghệp nhập vào Việt Nam. Hiện nay có một số doanh nghiệp làm giả C/O form D để nhập lậu vào Việt Nam. Trước đó, cơ quan chức năng đã phát hiện một số hàng nhập lậu sử dụng C/O form D giả, vifcasc C/O thu giữ được đều ghi 100% hàm lượng ASEAN, đối với nhà sản xuất cũng như cơ quan quản lý, điều này là không cần thiết vì chỉ cần hơn 40% hàm lượng asean là có thể được cấp c/o. Qua kiểm tra xuất xứ, cơ quan quản lý đã ngăn chặn được phần nào hành vi làm giả để hưởng thuế ưu đãi này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019

    Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019

    Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Khai Thác Tàu 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019

    LÊN KẾ HOẠCH KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

    Lên kế hoạch là điều không thể thiếu trước khi bắt đầu một công việc có tính chất quan trọng, nhất là trong kinh doanh thì bước lập kế hoạch có thể coi là bước quan trọng nhất, không thể thiếu. Việc lập kế hoạch kinh doanh ở thời điểm bắt đầu giúp chúng ta nhìn nhận mọi thứ rộng hơn, có thể lên một chiến lược phát triển lâu dài và tìm ra những cách mới để bán hàng hoặc tìm ra sản phẩm thu hút khách hàng hơn.

    Sau khi nghiên cứu kĩ, nhóm chúng em quyết định chọn mặt hàng mỹ phẩm để lên kế hoạch kinh doanh online. Bản kế hoạch này gồm những nội dung chính sau:

    1.     Lập fanpage của cửa hàng trên Facebook.

    _ Bán hàng online đòi hỏi cần phải có một trang cá nhân trên Facebook để có thể đăng thông tin sản phẩm, trao đổi với khách hàng. Có thể dùng Facebook cá nhân để kinh doanh, nhưng có thể sẽ bị loãng thông tin sản phẩm cũng như không chuyên nghiệp bằng việc lập Fanpage. Việc lập Fanpage đầu tiên là để có thời gian xây dựng nội dung cũng như tăng lượt like trước khi bán hàng thật sự.

    _ Fanpage này sẽ có tên là “SNA Comestic”. Trong phần giới thiệu Fanpage sẽ có đầy đủ các nội dung sau:

    + Dòng sản phẩm chủ yếu của cửa hàng là các loại mỹ phẩm nổi tiếng của Nhật Bản, Hàn Quốc, hàng nội địa của Trung Quốc, đồng thời có nhận order mỹ phẩm từ các nước Mỹ, Đức, Pháp.

    + Địa chỉ, số điện thoại, Facebook cá nhân.

    _ Sau khi Fanpage đã được lập, chia sẻ trang Fanpage này lên Facebook cá nhân để nhờ bạn bè like, share để trang web này được nhiều người biết đến hơn.

    _ Sau đó đăng các bài viết về review công dụng của một số loại mỹ phẩm, các bài viết dạy làm đẹp từ các Beauty Blogger, video hài hước, video dạy cách Makeup,… mục đích chính của việc này là thu hút lượt like.

    2.     Khảo sát, phân tích thị trường.

    2.1.           Xác định đối tượng khách hàng.

    _ Đối tượng khách hàng chủ yếu sẽ là nữ giới độ tuổi từ 17- 40.

    + Đối với khách hàng tuổi từ 17-25: loại mỹ phẩm được ưa chuộng hơn sẽ là mỹ phẩm Hàn, vì mỹ phẩm Hàn thường có mẫu mã bắt mắt cũng như giá cả phải chăng hơn so với các dòng sản phẩm khác.

    + Đối với khách hàng từ 26-40 tuổi: Ở tâm tuổi này, khách hàng thường hướng tới các dòng mỹ phẩm đắt tiền hơn, có công dụng chống lão hóa, phục hồi da hiệu quả từ các thương hiệu nổi tiếng của Nhật như Shiseido, Kose, DHC. Cũng có những khách hàng không hợp với sản phẩm của Nhật thì chúng ta có thể tư vấn cho họ các dòng sản phẩm khác cao cấp hơn có xuất xứ từ Pháp, Đức, Mỹ,…

    2.2.           Thị trường mục tiêu.

    Bước đầu cửa hàng sẽ chỉ tập trung kinh doanh trên Facebook. Sau một thời gian sẽ mở rộng sang hai trang web lớn khác của Việt Nam là Lazada và Shopee.

    2.3.           Đối thủ cạnh tranh.

    Về đối thủ cạnh tranh, với việc kinh doanh online mặt hàng mỹ phẩm này thì quả thật có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Nhưng với quy mô và hướng phát triển của SNA Comestic trong thời gian tới thì ta có thể xác định được ba đối thủ cạnh tranh chính sau:

    _ Junnie Comestic (https://www.facebook.com/JunieCosmetics/): 32.134 lượt follow.

    _ Trang Hoàng Comestic (https://www.facebook.com/try.change.9) 16.024 lượt follow.

    _ Linh Vi Comestic  (https://www.facebook.com/MyphamLinhVi?hc_ref=ARQJUd_jW2jJNzh6mRm7jqhRTvkzGtnQ5hxX5zxMyC3MO56RX3wQA0xr_4g3cmcioOk): 14.769 lượt follow.

    Họ là những đối thủ cạnh tranh chính của SNA Comestic vì những lý do sau:

    _ Họ lượng hàng lớn, nguồn hàng ổn định.

    _ Cũng giống như SNA Comestic, họ cũng kinh doanh online và đã có cửa hàng chính tại Hải Phòng.

    _ Ba cửa hàng này đều đã kinh doanh một thời gian khá dài và có lượng khách hàng nhất định.

    _ Chất lượng sản phẩm đã được nhiều khách hàng công nhận.

    2.4.           Ưu, nhược điểm của SNA Comestic.

    _ Ưu điểm:

    • Mỹ phẩm có nguồn gốc rõ ràng.

    + Đối với mỹ phẩm Nhật: là hàng xách tay 100%, có nguồn gốc rõ ràng, hóa đơn đầy đủ, cam kết không phải hàng giả, hàng ăn cắp.

    + Đối với mỹ phẩm Hàn: SNA Comestic sẽ nhập trực tiếp từ các cửa hàng chính hãng tại Hàn Quốc. Phần lớn hàng được mua vào thời điểm các hãng sale nên sẽ được chiết khấu nhiều, giá cả phải chăng, đầy đủ hóa đơn.

    + Mỹ phẩm cao cấp Mỹ, Pháp, Đức: cửa hàng sẽ gom order từ khách hàng, sau đó sẽ đặt mua số lượng lớn tại Amazon, hoặc nhờ người thân mua trực tiếp tại các cửa hàng bên đó và chuyển về Việt Nam.

    • Giá cả phải chăng. Vì phân lớn hàng là do người nhà gửi về, hoặc là hàng canh đợt sale nên giá sẽ rẻ hơn các cửa hàng khác 5-10%.
    • Cam kết khi đăng hình ảnh sản phẩm lên Fanpage sẽ đăng cả hình chụp bill để khách hàng hoàn toàn yên tâm về mỹ phẩm mua tại SNA Comestic.

    _ Nhược điểm:

    • Thời gian đầu lượng hàng về không nhiều.
    • Chủng loại hàng chủ yếu vẫn là của các hãng nổi tiếng tại Nhật và Hàn, cãng hãng khác hoặc mỹ phẩm Mỹ, Đức, Pháp đều phải chờ thời gian order chứ không có sẵn.

    3.     Tìm nguồn hàng.

    _ Do người thân mua từ các cửa hàng tại Hàn, Nhật, sau đó gửi từ nước ngoài về.

    _ Khi hết hàng mà người thân chưa kịp gửi về, cửa hàng sẽ tìm đến một số đại lý chuyên phân phối mỹ phẩm xách tay uy tín để mua (đây chỉ là biện pháp tạm thời khi nhỡ hàng vì nguồn hàng chủ yếu vẫn do người thân chuyển về).

    _ Nhận hàng order từ nước ngoài về.

    4.     Kế hoạch tài chính.

    Vì SNA Comestic chủ yếu kinh doanh online, thời gian đầu chưa có cửa hàng nên thời gian đầu sẽ không mất một số khoản chi như: thuê nhà, tiền điện nước, trả lương nhân viên,…

    Vốn ban đầu của cửa hàng là 40 triệu VND. Sau này mở rộng quy mô sẽ tăng thêm vốn.

    5.     Vấn đề giao hàng, vận chuyển.

    _ Với các đơn hàng trong nội thành Hải Phòng, chủ cửa hàng tự ship hoặc thuê người ship cho khách, giá ship là 10.000 VND/ 1 đơn hàng ( khách hàng mua từ 400.000 trở lên sẽ được freeship).

    _ Với các đơn hàng tại các tỉnh, thành phố khác, cửa hàng sẽ gửi bưu điện chuyển hàng cho khách, cước vận chuyển là 30.000 VND/ 1 đơn hàng.

    _ SNA Comestic cũng sẽ bán hàng trên Shopee, khi hóa đơn của khách hàng trên 180.000đ sẽ được miễn phí vận chuyển, và 25.000đ với đơn hàng dưới 180.000đ.

    _ SNA Comestic chủ yếu sử dụng hình thức ship COD, tức là khách hàng chỉ phải thanh toán sau khi nhận được hàng. Riêng với hàng order, khách hàng sẽ phải chuyển khoản trước 50% giá trị sản phẩm, số tiền còn lại khi nào nhận hàng sẽ thanh toán sau.

    6.     Kế hoạch quản lý, bán hàng hiệu quả.

    Vì mỹ phẩm là mặt hàng vô cùng đa dạng và nhiều chủng loại nên nếu không có phương pháp quản lý khoa học thì sẽ rất dễ rơi vào tình trạng khó kiểm soát cửa hàng, vậy nên chúng ta cần chú ý những điểm sau:

    _ Thống kê rõ ràng các mặt hàng đang kinh doanh.

    _ Số lượng hàng trong kho hiện có, số lượng hàng cần nhập, số lượng hàng bán được trong ngày.

    _ Tổng các đơn hàng bán được trong ngày.

    _ Tổng thu, tổng chi, tình hình lãi lỗ,….

    7.     Lên kế hoạch Marketing – quảng bá.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]