Author: Nguyễn Huyền

  • ĐỒ ÁN XÂY DỰNG WEBSITE BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN 2019

    ĐỒ ÁN XÂY DỰNG WEBSITE BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN 2019

    ĐỒ ÁN XÂY DỰNG WEBSITE BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài Tập Lớn Môn Học Trắc Địa Đại Cương 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-WEBSITE-B%C3%81N-H%C3%80NG-TR%E1%BB%B0C-TUY%E1%BA%BEN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN XÂY DỰNG WEBSITE BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    Ngày nay Internet đã trở thành dịch vụ phổ biến và thiết yếu và có ảnh hưởng sâu rộng tới thói quen, sinh hoạt, giải trí của nhiều người. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của Internet thì các hình thức mua và bán hàng hóa cho mọi người ngày càng đa dạng và phát triển hơn. Các ứng dụng Web ngày càng trở nên phổ biến. Trước nhu cầu đó, cùng với yêu cầu môn học, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài Xây dựng Website bán hàng trực tuyến, cụ thể là bán bánh kem.

    Với đề tài và môn học này, nhóm xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Thầy Nguyễn Trung Phú. Song, do còn nhiều hạn chế đề tài nhóm xây dựng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để chương trình ngày càng hoàn thiện và được đưa vào sử dụng.

    Trân trọng cảm ơn!

    PHẦN I: KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG

    Công ty TNHH SWEETDREAM là một công ty chuyên sản xuất và cung ứng các loại bánh như bánh cưới, bánh sinh nhật, bánh Valentine… với chất lượng cao, mẫu mã độc đáo và giá thành hợp lý. Hiện tại công ty là đơn vị sản xuất và phân phối chính cho các cửa hàng, đại lí, các siêu thị trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh phụ cận. Cơ cấu công ty gồm: Ban quản lí, Bộ phận kế toán, bộ phận bán hàng,  bộ phận sản xuất, bộ phận kho và chuyển hàng.

    Khách hàng của công ty có 2 loại: khách hàng thường xuyên(những cửa hàng, đại lí, siêu thị… đặt hàng định kì), khách hàng không thường xuyên(khách mua lẻ). Khách mua lẻ có thể mua bánh trực tiếp hoặc đặt theo yêu cầu tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩm  của công ty. Đối với khách hàng thường xuyên, khách hàng lớn, công ty sẽ sản xuất và giao bánh theo đơn đặt hàng và có những chính sách, chế độ ưu đãi riêng.

    Với phương châm “Vừa lòng khách đến, vui lòng khách đi”, công ty không ngừng nỗ lực nhằm mang lại sản phẩm cũng như sự phục vụ tốt nhất cho khách hàng.

    Nhu cầu mở rộng thị trường cũng như quảng bá sản phẩm và nâng cao chất lượng, tăng doanh thu  là vấn đề đáng quan tâm của công ty. Vì vậy ban quản lí của công ty có mong muốn xây dựng 1 website giới thiệu sản phẩm và bán bánh trực tuyến, cũng như hỗ trợ khách hàng các thông tin cần thiết.

    PHẦN II: MỤC TIÊU XÂY DỰNG WEBSITE

     

    1.     Đối tượng của website

    Website được xây dựng phục vụ hai đối tượng chính là Admin( nhà quản trị) và Khách hàng với các chức năng sau:

    • Admin
      • Đăng nhập Website
      • Xem, cập nhật, xoá thông tin sản phẩm.
      • Quản lí đơn đặt hàng
      • Xem, trả lời ý kiến, góp ý và phản hồi của khách hàng hoặc xoá các thông tin đó từ khách hàng.
      • Xem, xoá các thông tin của khách hàng nhưng không được quyền thay đổi thông tin đó.
      • Cập nhật tin tức
    • Khách hàng:
    • Guest: Khách viếng thăm
      • Xem thông tin sản phẩm cũng như các tin tức khác
      • Đăng kí thành viên
    • User:
      • Đã có tài khoản
      • Có quyền đăng nhập, đăng xuất, đổi mật khẩu
      • Đặt mua sản phẩm
      • Được hưởng các quyền ưu tiên như thông báo sản phẩm mới nhất, download file…

    2.     Đặc điểm:

    Xây dựng một hệ thống bán bánh trực tuyến đơn giản, thân thiện, dễ sử dụng, cho phép khác hàng xem thông tin và đặt hàng qua mạng, người quản trị quản lý các thông tin về sản phẩm cũng như người dùng.

    Website được thiết kế với

    • Giao diện hài hoà, thân thiện, giúp người dùng dễ dàng sử dụng.
    • Trang chủ sẽ hiển thị danh sách các sản phẩm mới nhất và bán chạy nhất giúp cho người dùng có thể dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm.
    • Khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy thông tin chi tiết các loại bánh mà họ quan tâm.
    • Khách hàng có thể chọn mua các loại bánh mà họ cần dựa trên khả năng tài chính và chức năng cần thiết bằng cách thêm vào giỏ hàng
    • Có chức năng đăng ký, đăng nhập.

    Khách hàng có thể gửi ý kiến phản hồi, góp ý đến Website để góp phần làm Website thêm phong phú và phát triển.

    Xây dựng một hệ thống bán bánh trực tuyến đơn giản, thân thiện, dễ sử dụng, cho phép khác hàng xem thông tin và đặt hàng qua mạng, người quản trị quản lý các thông tin về sản phẩm cũng như người dùng.

    Các module:

    • Module sản phẩm

    Hiển thị thông tin và phân loại sản phẩm trong gian hàng ảo. Sản phẩm hiển thị lên website sẽ được hiển thị đầy đủ thông tin về sản phẩm đó như: hình ảnh, tên sản phẩm,  đặc điểm nổi bật của sản phẩm,  giá,..

    • Module giỏ hàng

    Khi tham khảo đầy đủ thông tin về sản phẩm khách hàng có thể đặt mua sản phẩm ngay tại Website thông qua chức năng giỏ hàng mà không cần phải đến địa điểm giao dịch,  giỏ hàng được làm mô phỏng như giỏ hàng trong thực tế có thể thêm, bớt, thanh toán tiền các sản phẩm đã mua. Khi chọn thanh toán giỏ hàng khách hàng phải ghi đầy đủ các thông tin cá nhân,  thông tin này được hệ thống lưu trữ và xử lý.

     

     

    • Module đăng ký thành viên và đăng nhập hệ thống

    Mỗi khách hàng giao dịch tại Website sẽ được quyền đăng ký môt tài khoản riêng. Tài khoản này sẽ được sử dụng khi hệ thống yêu cầu. Một tài khoản do khách hàng đăng ký sẽ lưu trữ các thông tin cá nhân của khách hàng.

    • Module tìm kiếm sản phẩm, tin tức, tư vấn

    Khách hàng sẽ được cung cấp chức năng tìm kiếm trên Website.

    • Trang tin tức:

    Tư vấn cho khách hàng muốn tìm hiểu về công thức và cách thức làm bánh…

    • Trang giới thiệu:

    Giới thiệu các thông tin về về cửa hàng, phương châm bán hàng…

    • Trang liên hệ:

    Khách hàng có thể liên hệ với  nhân viên bán hàng về các thắc mắc, ý kiến của mình.

    • Module quản lý sản phẩm, đơn hàng

    Người quản trị có thể cập nhật thông tin các mặt hàng, loại hàng, quản lý thông tin đơn hàng.

    • Module khác

     

    PHẦN III: PHÂN TÍCH HỆ THỐNG

    1.     Các thông tin đầu ra đầu vào của hệ thống

     

    Thông tin đầu vào:

    • Thông tin khách hàng
    • Thông tin sản phẩm
    • Thông tin về công ty và các bài viết liên quan
    • Thông tin quảng cáo
    • Các phản hồi
    • Đơn đặt hàng

    Thông tin đầu ra

    • Chi tiết về sản phẩm
    • Hóa đơn
    • Các phản hồi

    2.     Tác nhân

    • Khách hàng
      • User
      • Guest( Khách viếng thăm)
    • Admin

    3.     Biểu đồ Usecase tổng quát của hệ thống

     

     

    4.     Biểu đồ tuần tự

    1. Biểu đồ tuần tự cho use case đăng nhập
    2. Biểu đồ tuần tự cho Use case thêm giỏ hàng
    3. Biểu đồ tuần tự Use case gửi đơn đặt hàng

    5.     Biểu đồ trạng thái

    Biểu đồ trạng thái của đối tượng Giỏ hàng

    6.     Biểu đồ lớp phân tích

    PHẦN IV: THIẾT KẾ HỆ THỐNG

    1.Thiết kế giao diện:

    1.1. Bảng màu:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.2. Trang chủ

     

                                             

     

     

    1.3. Trang quản trị

    Quản lí mặt hàng

    Quản lí loại hàng

    Quản lí tin tức

     

     

     

     

     

    2.Thiết kế cơ sở dữ liệu

    2.1. Các bảng dữ liệu(thuộc tính gạch chân là khóa chính)

    Bảng LoaiHang

    Tên trường Kiểu dữ liệu Mô tả
    MaLoai int Mã loại mặt hàng
    TenLoai nvarchar(100) Tên loại mặt hàng

    Bảng MatHang

    Tên trường Kiểu dữ liệu Mô tả
    MaHang int Mã mặt hàng
    TenHang nvarchar(100) Tên mặt hàng
    DonGia int Đơn giá mặt hàng
    HinhAnh nvarchar(200) Đường link hình ảnh sản phẩm
    MoTa nvarchar(100) Mô tả mặt hàng
    Maloai int Mã loại mặt hàng

    Bảng DonDatHang

    Tên trường Kiểu dữ liệu Mô tả
    MaDonHang int Mã đơn hàng
    maKhach int Mã người khách
    NgayDat datetime Ngày đặt hàng
    NgayGiao Nvarchar(50) Thời điểm giao hàng

    Bảng CTDonDatHang

    Tên trường Kiểu dữ liệu Mô tả
    MaDonHang int Mã đơn hàng
    MaHang int Mã mặt hàng
    SoLuong int Số lượng đặt hàng

    Bảng KhachHang

    Tên trường Kiểu dữ liệu Mô tả
    maKhach int Mã  khách
    TenKhach nvarchar(50) Tên khách
    DiaChi nvarchar(50) Địa chỉ
    DienThoai nchar(10) Điện thoại
    Email nvarchar(50) Email

    2.2. Lược đồ cơ sở dữ liệu quan hệ

     

     

    PHẦN V: CÀI ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN- HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    Ưu điểm

    + Cơ bản nắm được các bước xây dựng một website bán hàng trực tuyến, thực hiện đúng quy trình

    + Xây dựng được bố cục trang web hợp lí, bước đầu thực hiện được nghiệp vụ của hệ thống

    Hạn chế

    + website nhỏ, mang tính chất mô phỏng

    + Cơ sở dữ liệu nhỏ, chức năng phân quyền chưa tối ưu

    + Chưa kết hợp xử lí chức năng thanh toán hóa đơn

    Hướng phát triển

    + Xây dựng website sử dụng được đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiệp vụ của hệ thống

    + Phân quyền và quản trị tối ưu

    + Cơ sở dữ liệu phong phú

    + Kết hợp chức năng thanh toán trực tiếp hay qua thẻ ATM(liên kết với hệ thống ngân hàng)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài Tập Lớn Môn Học Trắc Địa Đại Cương 2019

    Bài Tập Lớn Môn Học Trắc Địa Đại Cương 2019

    Bài Tập Lớn Môn Học Trắc Địa Đại Cương 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/B%C3%A0i-T%E1%BA%ADp-L%E1%BB%9Bn-M%C3%B4n-H%E1%BB%8Dc-Tr%E1%BA%AFc-%C4%90%E1%BB%8Ba-%C4%90%E1%BA%A1i-C%C6%B0%C6%A1ng-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài Tập Lớn Môn Học Trắc Địa Đại Cương 2019

    ĐỀ BÀI

    5.2-P

    Bài tập lớn môn trắc địa đại cương

    I. Sơ đồ Lưới

    Cho số liệu gốc như sau:

    – Toạ độ điểm 1:  X1=1000.000 m. Y1=1000.000 m

    – Góc định hướng cạnh 1-2: a1-2= 000 + i.50

    – Độ chính xác máy kinh vĩ đo góc t=1’

    II. Số liệu đo

    STT Góc ngang bi

     

    (o            ¢           ²)

    Chiều dài cạnh Si

     

    (m)

    1 119 18 30  
            164.850
    2 113 20 00  
            144.550
    3 102 15 30  
            194.890
    4 107 22 10  
            177.590
    5 97 43 35  
            159.620
    1        

    BÀI LÀM

    • Sai số cho phép của 5 góc trong đường truyền:

    fβcp  = ± 1.5 +

    =  ± 1.5 .1’.

    = 3

    • Sai số khép góc của 5 góc trong đường truyền:

    Với

    =  +  + + +

    =

    =

    =

    =>

    • Ta thấy <  tiến hành bình sai bằng cách chia đều sai số khép đo cho các góc với dấu ngược lại.
    • Số hiệu chỉnh các góc (vβi):

    ADCT:

    Thay số với :

    • Tính góc sau khi bình sai ta ADCT:  ta có bảng:
           
    β1      
    β2      
    β3      
    β4      
    β5      
    Tổng các góc sau bình sai:  
    • Kiểm tra kết quả tính bình sai ta thấy :
    • Tính góc định hướng các cạnh:
    • Theo đề bài (22/02/2019Do không có góc lớn hơn 360˚)
    • Đi từ 1 -> 5 thì các góc đã cho là các góc ngoặt phải. ADCT tính góc định hướng cho góc ngoặt phải: . Ta có bảng:
      Biểu thức tính Góc định hướng
         
         
         
         
         
    • Tính số gia tọa độ đường truyền theo công thức:
    • Tính sai số khép gia số tọa độ theo công thức:
    • Suy ra ta có bảng:
      (m) (m) (m)
      164.850 56.382 154.908
      144.550 144.305 8.407
      194.890 52.388 -187.717
      177.590 -149.000 -96.628
      159.620 -104.069 121.030
    Sai số khép gia số tọa độ fx    
    Sai số khép gia số tọa độ fy   0
    • Sai số khép kín gia số tọa độ là:
    • Gọilà tổng chiều dài đường truyền khép kín.
    • Khi đó ta có sai số khép kín tương đối của đường truyền là:
    • Thay L=S12+S23+S34+S45+S51=841.5(m) =>  ta tiến hành bình sai gia số tọa độ  theo công thức:
    • Ta có bảng:
        Điểm Si.i+1 (m) (m)
        1      
      164.850 -0.00117 0
    2      
      144.550 -0.00103 0
    3      
      194.890 -0.00139 0
    4      
      177.590 -0.00127 0
    5      
      159.620 -0.00114 0
    1      
    • Kiểm tra kết quả ta thấy

    – Ta tiến hành gia số tọa độ sau bình sai.

    • Suy ra gia số tọa độ bình sai . là:

    ADCT

    Điểm (m) (m) (m) (m) (m) (m)
    1            
      56.382 -0.00117 56.38083 154.908 0 154.908
    2            
      144.305 -0.00103 144.30397 8.407 0 8.407
    3            
      52.388 -0.00139 52.38661 -187.717 0 -187.717
    4            
      -149.000 -0.00127 -149.00127 -96.628 0 -96.628
    5            
      -104.069 -0.00114 -104.07014 121.030 0 121.030
    1            
    Kiểm tra kết quả   0(đúng)   0(đúng)
    • Tọa độ bình sai các điểm là:

    ADCT   ta có bảng sau:

    Điểm (m) (m) Tọa độ
    X(m) Y(m)
    1     1000.000 1000.000
      56.38083 154.908    
    2     1056.38083 1154.908
      144.30397 8.407    
    3     1200.68480 1163.315
      52.38661 -187.717    
    4     1253.07141 975.598
      -149.00127 -96.628    
    5     1104.07014 878.970
      -104.07014 121.030    
    1     1000.000 1000.000
    • Vẽ đường truyền trên khổ giấy A4 với tỉ lệ 1/2000 mắt lưới 10x10cm:

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý 2019

    Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý 2019

    Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam thế kỷ XX? Điều kiện nào là điều kiện quan trọng nhất?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/B%C3%A0i-T%E1%BA%ADp-L%E1%BB%9Bn-K%E1%BB%B9-Thu%E1%BA%ADt-Vi-X%E1%BB%AD-L%C3%BD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý 2019

    BÀI 1:

     Ứng dụng vi điều khiển thiết kế hệ thống đồng hồ bấm thời gian chỉ thị bằng LCD 2×16. Các giá trị cần chỉ thị là số giờ (2 chữ số2), số phút (2chữ số2), số giây (2 chữ số2), số phần trăm giây (2 chữ số 2).

    Phần một xây dựng mô hình phần cứng mô phỏng trên proteus 7.5

    Hình ảnh :

     

    Giải thích sơ đồ nguyên lý :

    • Dùng vi điều khiển họ AT89C51 đặc điển là bộ nhớ dạng flash có thể dễ dàng nạp và xóa bằng điện
    • Trên sơ đồ có một dao động thạch anh tần số 12 MHz có nhiệm vụ tạo dao động cho vi điều khiển vì trong vi điều khiển đã có sãn máy phát xung
    • Chân số 9 là chân reset được thiết lập lại khi ta ấn nút ấn
    • Chân EA phải được nối với + 5V đê sử dụng dữ liệu bên trong ROM AT89C51
    • Một LCD được nối với cổng P0
    • Các chân RS, WR , E được nối với cổng p3.5,p3.6,p3.7 ,để điều khiển LCD
    • Do cấu tạo của cổng p0 nên cần một điện trở kéo để cho P0 vừa là cổng đầu ra vừa là cổng đầu vào
    • Trên LCD còn một chân VEE là chân điều khiển độ tương phản do chương trình mô phỏng nên ko cần thiết có thể được thiết lập bằng cách nối với nguồn qua một chiết áp để điều chỉnh

    Phần 2 : Xây dựng Lưu Đồ Thuật Toán

    Từ lưu đồ thuật toán trên tôi xây dựng được chương trình như sau:

    #include <sfr51.inc>

        GIO DATA 30H

        PHUT DATA 31H

        GIAY DATA 32H

        PTGIAY DATA 33H

        org         0h

        ljmp MAIN

        org 400h

        db “DAO NGUYEN KHANH”,0

    KTRA: setb p0.7  ; chon p0.7 la dau vao

          clr p3.5 ; chon rs =0 va wr1 bang

          setb p3.6

     lp: clr p3.7   ; tao suong tu cao xuong thap de tao tin hieu chot

          setb p3.7 

        jb p0.7,lp

          ret

    GLENH:

           lcall KTRA

           mov P0,a  

           clr p3.5 ; chon RS-0 de gui lenh

           clr p3.6

           setb p3.7

           clr p3.7  ; tao tin hieu chot

           ret

    GDULIEU:

            lcall KTRA

            mov P0,a

            setb p3.5 ;chon rs gia tri 1de gui du lieu 

            clr p3.6

            setb p3.7

            clr p3.7

            ret

    THIETLAPMANHINH:

                    mov a,#38h ; tao 2 dong va ma tran 5×7  diem anh

                    acall GLENH

                    mov a,#0Ch  ; bat LCD

                    acall GLENH

                    mov a,#01h  ; dich con tro sang phai

                    acall GLENH

                    mov a,#06h

                    acall GLENH

                    MOV A,#82h

                    acall GLENH

                    MOV A,#’:’

                    ACALL GDULIEU

                    MOV A,#85h

                    acall GLENH

                    MOV A,#’:’

                    ACALL GDULIEU

                    MOV A,#88h

                    acall GLENH

                    MOV A,#’:’

                    ACALL GDULIEU

                    MOV A,#0C0h

                    acall GLENH

                    mov dptr,#400h

                 back:mov a,#00

                    movc a,@a+dptr

                    jz kt

                    acall GDULIEU

                    inc dptr

                    sjmp back

              kt:      ret

    DMA:

            MOV R5,#30H

            ORL A,R5

            RET

           MAIN :

           mov SP,#5fh ; dich vi tri con tro ngan sep tranh bi chong nen cac thanh ghi

           MOV TMOD,#01H

           LCALL THIETLAPMANHINH

    BATDAU:MOV GIO,#0

           MOV PHUT,#0

           MOV GIAY,#0

           MOV PTGIAY,#0

     LAP :

           MOV A,#80H

           ACALL GLENH

           MOV A,GIO

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#81H

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#83H

           ACALL GLENH

           MOV A,PHUT

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#84H

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#86H

           ACALL GLENH

           MOV A,GIAY

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#87H

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#89H

           ACALL GLENH

           MOV A,PTGIAY

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#8AH

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           LCALL TRE

           NOP

           NOP

           INC PTGIAY

           MOV A,PTGIAY

           CJNE A,#100,LAP1

           NOP

           NOP

           MOV PTGIAY,#0

           INC GIAY

           MOV A,GIAY

           CJNE A,#60,LAP1

           NOP

           MOV PTGIAY,#0

           MOV GIAY,#0

           INC PHUT

           MOV A,PHUT

           CJNE A,#60,LAP1

           MOV PTGIAY,#0

           MOV GIAY,#0

           MOV PHUT,#0

           INC GIO

           MOV A,GIO

           CJNE A,#24,LAP1

           LJMP BATDAU

            SJMP $

    LAP1:

            LJMP LAP

            RET

    TRE:

    PUSH ACC

    PUSH PSW

    MOV TH0,#-10000

    MOV TL0,#-10000

    SETB TR0

    JNB TF0,$

    CLR TR0

    CLR TF0

    POP PSW

    POP ACC

    RET

      end

     

     

     

        

     

    Chương trình này được viết trên read 51

    Và kết quả thu lại đạt như yêu cầu của đề bài ra

    BÀI 2 :

    ĐO nhiệt độ dùng LM 355 kĩ thuật quét led và sử dụng ic giải mã 7447 đông thời sử dụng các bộ đệm để lưu được sự hiện thị của đèn giảm tình trạng đèn nhấp nháy

    MÔ HÌNH

    Giải thích nguyên lý hoạt động

    Cảm biến nhiệt LM 35  được chọn vì độ chính xác là 1C dải làm việc từ -55C tới 150C  điện áp đầu ra là 10mV/F

    Ta chọn điện áp tham chiếu cho ADC 804 là 1.28 V

    Để ADC hoạt động ta cần phải nối chân CS xuống đất đông thời các chân WR , iINT được nối với vi điều khiền  đề điều khiển cho phép chuyển đổi

    IC 7447 có tác dụng đổi mã sang mã bảy đoạn  phục vụ hiện thị

    Ngoài ra các ic đệm có các chan EA được nối đất khí tin hiệu Cl điều khiển thì cho phép đổi trạng thái như vậy trành hiện tượng đèn rung khi quét

    CHương trình điều khiển

    #include <sfr51.inc>

    ORG 0H

    LJMP MAIN

    CHUYENMA:

    MOV B,#1000

    DIV AB

    MOV R6,A

    mov a,b

    mov b,#100

    div ab

    MOV R5,A

    mov a,b

    mov b,#10

    div ab

    MOV R4,A

    mov r3,b

    RET

    HIENTHI:

    MOV A,R6

    MOV P2,A

    CLR P2.4

    SETB P2.4

    MOV A,R5

    MOV P2,A

    CLR P2.5

    SETB P2.5

    MOV A,r4

    MOV P2,A

    CLR P2.6

    SETB P2.6

    MOV A,r3

    MOV P2,A

    CLR P2.7

    SETB P2.7

    RET

    MAIN:

    MOV SP,#5FH

    MOV P1,#0FFH

    LAP:

    CLR P3.6

    SETB P3.6   ; TAO SUON THAP LEN CAO WR

    JB P3.7,$

    CLR P3.5

    MOV A,p1

    LCALL CHUYENMA

    LCALL HIENTHI

    SETB P3.5

    sjmp LAP

    sjmp $

    END


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam thế kỷ XX? Điều kiện nào là điều kiện quan trọng nhất?

    Vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam thế kỷ XX? Điều kiện nào là điều kiện quan trọng nhất?

    Vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam thế kỷ XX? Điều kiện nào là điều kiện quan trọng nhất?

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu Luận Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh: Phân Tích Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, Liên Hệ Bản Thân


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam thế kỷ XX? Điều kiện nào là điều kiện quan trọng nhất?

    Lời mở đầu.

    Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

    Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

    Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

    – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
    –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
    –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
    –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
    Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
    Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao.
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

    Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

    Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

    Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

    Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

    Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

    Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

    Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

    Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
    Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

    Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

    Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

    Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

    Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

    Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

    Kết luận.

    Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu Luận Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh: Phân Tích Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, Liên Hệ Bản Thân

    Tiểu Luận Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh: Phân Tích Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, Liên Hệ Bản Thân

    Tiểu Luận Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh: Phân Tích Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, Liên Hệ Bản Thân

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-M%C3%B4n-T%C6%B0-T%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh: Phân Tích Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư, Liên Hệ Bản Thân

    I.Lời mở đầu :

    Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, được tổ chức UNESCO công nhận hai danh hiệu: Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Suốt cả cuộc đời mình, Người luôn một lòng vì dân, vì nước, đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong kho tàng tri thức quý giá mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, điều có giá trị lớn nhất chính là tư tưởng của Người. Một trong những quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta hiện nay là tư tưởng của Người về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư.

    Việc nghiên cứu nội dung Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư trong tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay là công việc hết sức cần thiết và cập nhật, bởi vì như chúng ta đã biết, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng tồn tại nhiều mặt trái, tiêu cực cần khắc phục và hạn chế như: buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, nạn tham ô, tham nhũng… Chính vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc hơn những tư tưởng của Hồ Chí Minh về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Hơn nữa tư tưởng đó có mối quan hệ mật thiết đối với việc chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta.

    Giữa Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chí công vô tư với việc chống quan liêu, tham nhũng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bởi vì như trên đã phân tích, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là biểu hiện của một xã hội phồn thịnh, tốt đẹp. Đó không phải chỉ là những đức tính cần có của một cá nhân mà của cả một tập thể, của cả một xã hội, có như vậy xã hội mới phát triển. Và ngược lại, nếu không “cần”, không “kiệm”, không “liêm”, không “chính”, không “chí công vô tư”, đó là biểu hiện của một xã hội suy vong. Một trong những biểu hiện trái với nội dung Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư đó là tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng. Chính vì vậy, muốn một xã hội phát triển phải chống tệ quan liêu, tham nhũng, cũng như giáo dục mọi người phải thực hiện đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư.

    II. Nội dung quan điểm Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư

    của Hồ Chí Minh

    1. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư :

    Đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, theo Hồ Chí Minh là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Đây là những đức tính mà bản thân mỗi cán bộ, đảng viên lấy đó để điều chỉnh, soi rọi, thực hiện trong mọi hoạt động. Cần kiệm, liêm, chính  cũng là phẩm chất của đạo đức truyền thống, nhưng được Bác Hồ đưa vào những nội dung theo yêu cầu mới, khác cơ bản về đối tượng thực hiện. Trong chế độ phong kiến cũng nêu những khái niệm cần, kiệm, liêm, chính, nhưng họ bắt nhân dân thực hiện để phục vụ cho quyền lợi của họ, chứ giai cấp phong kiến không bao giờ thực hiện. Còn đối với Bác Hồ, đề ra cần, kiệm, liêm, chính là bắt buộc cán bộ, đảng viên phải làm gương thực hiện để nhân dân noi theo, đem lợi ích cho dân, cho nước.

    Tháng 3-1947, do nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” Bác kêu gọi thi đua xây dựng “đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính” và giải thích rất rõ, dễ hiểu. Tháng 6-1949, để tiếp tục răn dạy cán bộ về đạo đức, Bác viết tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính”. Bác coi bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” là những đức tính của người cán bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn  phương. Bác viết:

    “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

    Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

    Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

    Thiếu một mùa thì không thành trời.

    Thiếu một phương thì không thành đất.

    Thiếu một đức thì không thành người”.

    Sau đó, Bác còn viết bốn bài báo đăng trên báo cứu quốc giải thích rõ nội hàm bốn đức tính này.

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, những phẩm chất đạo đức được Người nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, có khi Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn nhất định. Từ đó Người đã khái quát thành những phẩm chất chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong những phẩm chất đó thì phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư được Người đề cập nhiều nhất bởi phẩm chất này gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, gắn liền giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân trong đời công cũng như trong đời tư, trong sinh hoạt cũng như trong công tác. Vậy Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là gì? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích ý nghĩa và mối liên quan của những từ này một cách đơn giản, rõ ràng và rất dễ hiểu.

    Cần, tức là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng. Cần còn là làm việc một cách thông minh, sáng tạo, có kế hoạch, khoa học. Theo Bác, con người có đức Cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được. Đúng như câu tục ngữ kiến tha lâu cũng đầy tổ, nước chảy mãi đá cũng mòn. Bác lưu ý, kẻ địch của chữ Cần là lười biếng. Bác cho rằng nếu có một người, một địa phương, hoặc một ngành mà lười biếng thì khác nào toàn chuyến xe đang chạy, mà có một bánh trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả một chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.

    Kiệm, tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân; phải tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ, không phô trương hình thức, không xa xỉ, hoang phí. Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm thì như gió vào nhà trống, như nước đổ vào cái thùng không đáy, làm chừng nào xào chừng ấy, rốt cuộc không lại hoàn không. Kiệm mà không Cần thì không tăng thêm và không phát triển được. Bác giải thích, tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu, nhưng khi có việc cần làm lợi cho dân, cho nước thì hao bao nhiêu của, tốn bao nhiêu công cũng vui lòng, như thế mới là kiệm.

    Liêm, nghĩa là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân, không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Bác đã nhắc lại một số ý kiến của các bậc hiền triết ngày trước: Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm thì không bằng súc vật”; Mạnh Tử cho rằng: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Do vậy, Bác yêu cầu mỗi người, nhất là cán bộ lãnh đạo phải thực hiện tốt chữ Liêm. Chữ Liêm và chữ Kiệm phải đi đôi với nhau như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm thì mới Liêm được, bởi xa xỉ ắt sinh tham lam, không giữ được Liêm. Bác cũng chỉ rõ ngược lại với chữ Liêm là tham ô, là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét nhân dân, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của nhà nước làm quỹ riêng cho địa phương mình. Tham ô là trộm cướp, là kẻ thù của nhân dân. Muốn Liêm thật sự thì phải chống tham ô.

    Chính. nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà. Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc tà là người ác.

    Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả, mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

    Chí công vô tư, là ham làm những việc ích quốc, lợi dân, không ham địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý; “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc).

    Thực hành chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

    Hồ Chí Minh viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng phân biệt lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân.

    2. Mối quan hệ giữa Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư :

    –  Người còn chỉ ra mối quan hệ: cần, kiệm, liêm chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính. Người đặc biệt lưu ý: “Trước nhất là cán bộ cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Người cũng còn chỉ ra một luận điểm rất quan trọng, có giá trị vô cùng thiết thực: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm việc trước cho người ta bắt chước”. Luận điểm này thể hiện rõ một phương châm xây dựng đạo đức là nêu gương. Không gì thiết thực hơn, có sức cảm hóa và lôi cuốn hơn trong lĩnh vực đạo đức bằng việc nêu gương tốt. Quần chúng nhân dân đã và đang phàn nàn về một số cán bộ, đảng viên không thường xuyên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, không tự phê bình và phê bình để góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Ở một số Chi, Đảng bộ thực hiện việc tự phê bình và phê bình có lúc, có nơi chỉ làm qua loa, lấy lệ. Mấy ai “dũng cảm” tự bộc bạch những hành vi tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính của mình; còn việc phê bình góp ý cho nhau thì xuê xoa “dĩ hòa vi quý” chính vì vậy một số cán bộ, đảng viên đã tự đánh mất mình không còn “cái tâm” trong sáng của người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của dân. Đó chính là do lãng quên việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà Bác Hồ đã dạy và do không thực thi nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình

    –  HCM chỉ ra rằng,các đức tính cần, kiệm liêm, chính,có quan hệ chặt chẽ với nhau:

    +  Cần và kiệm:cần mà không kiệm như thùng không đáy, kiệm mà không cần thì lấy gì mà kiệm. Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm thì như gió vào nhà trống, như nước đổ vào cái thùng không đáy, làm chừng nào xào chừng ấy, rốt cuộc không lại hoàn không. Kiệm mà không Cần thì không tăng thêm và không phát triển được.

    +  Cần, Kiệm, Liêm: là gốc rễ của chính , như một cây không chỉ cần có gốc rễ mà còn phải có cành lá, hoa quả mới hoàn chỉnh.

    +  Cần, Kiệm, Liêm, Chính: là tứ đức của con người, những đức tính không thể thiếu được của con người, thiếu một đức tính thì cũng không thành người, cũng như: “Trời thì có bốn mùa… Đất thì có bốn phương…  Thiếu một mùa thì không thành… Thiếu một phương thì không thành đất”

    +  Cần, kiêm, liêm, chinh còn là thước đo sư giàu sang cả về chất ,vững mạnh về tinh thần, sự văn minh tiến bộ của dân tộc, cần, kiệm, liêm, chính còn là nền tảng của đời sống mới

    +  Chí công vô tư, thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính vì vậy nó có mối quan hệ mật thiết vởi nhau, thực hiện được cần kiêm liêm chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, ngược lại đã chí công vô tư một lòng vì nước, vì dân, vì đảng, thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiêm, liêm, chính.

    III. Sinh viên liên hệ với sinh viên nói chung và với bản thân nói riêng về việc làm cụ thể:

    Trước hết, mỗi sinh viên phải thấm nhuần giá trị đạo đức tấm gương Hồ Chí Minh. Điều này không chỉ dừng ở việc chỉ đọc lí thuyết suông mà cần phải bằng hành động thực tế chứng minh. Việc học tập Bác không ở đâu xa mà thể hiện ở ngày những hành động cụ thể, những việc tốt trong cuộc sống: như sinh viên trước khi tan học thì tắt điện, giữ vệ sinh, bảo vệ của công, không đi học muộn, chăm chỉ học tập, không gian lận trong thi cử, nói không với các tệ nạn xã hội… Như thế thì sinh viên sẽ dễ hình dung mình cần phải làm gì và như thế nào, và chắc chắn phong trào sẽ đi vào chiều sâu và có hiệu quả hơn. Đồng thời, mỗi người khi đã rèn cho mình lối sống đạo đức, thì mình thử soi xem đã làm được bao nhiêu phần trăm, tự đánh giá, từ đó giúp đỡ những người xung quanh, những người còn chưa làm tốt.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung cốt lõi nhất của đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Những phẩm chất này giống như bốn mùa của trời đất; nếu thiếu một trong bốn phẩm chất đó thì con người không thể trở thành người theo đúng nghĩa. Nhưng, đạo đức cách mạng không phải là cái có sẵn, không phải từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của sự đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày của mỗi người. Do vậy, Người cho rằng, đối với thế hệ trẻ, phải luôn nỗ lực rèn luyện đạo đức cách mạng: thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; sống trong sạch, có chí tiến thủ và đoàn kết, không kiêu ngạo; tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; phê phán những thói hư, tật xấu; thường xuyên tiến hành phê bình và tự phê bình… để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

    Là sinh viên chúng ta phải thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư “nêu cao phẩm giá con người Việt Nam trong thời kỳ  mới.

    “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức truyền thống trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập và làm theo tấm gương của Người, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư:

    Cần: là sinh viên của một trường đại học thì nhiệm vụ của một người sinh viên là tích cực học tập nâng cao trình độ bản thân để sau này ra trường trang bị được những kiến thức phục vụ cho bản thân và xã hội. Không phải học để đối phó, học để lấy điểm mà cái chủ yếu là lấy kiến thức cho mình, không  được nhìn bài, không hiểu thì phải hỏi không giỏi thì phải học. Sinh viên là thế hệ trẻ, thế hẹ của đất nước câng phải cần cù, như Bác đã nói” cần cù bù thông minh” nếu không cần cù thì là một con người lười nhác, không làm được việc gì.

    Kiệm: khi mà đang ngồi trên ghế nhà trường chưa có công việc, kéo theo là bản thân chưa kiếm được tiền, vật chất, cuộc sống còn phụ thuộc gia đình, theo em cần phải tiết kiệm, giành thời gian rãnh rỗi đẻ làm những việc có ích hơn như: làm tình nguyện, thể dục thể  thao, tìm  kiếm thông tin để tăng hiểu biết hơn… Không để lãng phí thời gian với những công việc vô bổ như cắm đầu vào game, đi chơi…

    Liêm: là một đức tính tốt của con người cũng như trong xã hội hiện nay, đức tính này thể hiện một con người có tính cách liêm chính từ đó như sinh viên chúng ta cần phải rèn luyện đức tính này để sau này phục vụ cho đất nước cũng như bản thân: khi mà trong môi trường học đường hiên nay phục vụ cho việc đào tạo con người mới, con người của xã hội hiện đại vật chất quyết định đến tính cách mỗi con người. liêm chính, hay liêm khiết đã được bác nhắc đến đặc biệt với những cán bộ đảng viên thì đức tính liêm thể hiện được một đất nước giầu mạnh. Là sinh viên thì chúng ta không nên nịnh hót ưa nịnh cũng như quá tự kiêu dẫn đến mọi người xem thường đó là việc chúng ta không nên làm, việc cần làm là sống một cách giản dị nhưng không thể thiếu những thứ quan trọng khác.

    Chính:  là bản thân thì cần phải làm là tôn trọng người khác không xem thường những người dưới những người kém may mắn mà cần phải giúp đở họ hơn  nữa,  mặt khác cũng ninh hót để được lợi từ việc này. Hãy sống với  đúng khả năng của mình từ việc rèn luyện học tập không  ngừng. trau rồi đạo đức kiến thức thực tế hơn làm cho mỗi sinh viên là một công dân tốt của xã hội.

    Chí công vô tư: là tính tốt có thể gồm 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là để người cách mạng vững vàng qua mọi thử thách : “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. cần phải thực hiện tốt năm điều: : nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Để khẳng định được thế hệ trẻ hiện nay.

    Tích cực , học tập, rèn luyện, nâng cao ý thức của bản thân. Tích cực học tập văn hóa, khoa học – kỹ thuật…; sử dụng những tri thức đó để xây dựng xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ này quan trọng hơn bao giờ hết, bởi chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu. Cụ thể hóa mục tiêu, nội dung giáo dục phù hợp với từng cấp học, Người viết: “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế. Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công”. Có như vậy, thế hệ trẻ mới có thể tích lũy được những tri thức cần thiết, tạo tiền đề phát huy năng lực sáng tạo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc.

    Thực hiện chí công, vô tư là kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Đối với sinh viên chung ta cần phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm của bản thân…

    Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư phải kiên quyết chống bệnh lười biếng, lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít.

    Sinh viên hiện nay cần cố gắng nhiều hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với niềm tin yêu của Bác. Và học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng là cách giúp chúng ta hoàn thiện bản thân mình. Có nhiều cách để học tập, làm theo tấm gương của Bác, nhưng nên chăng trước hết chúng ta thực hiện chính những lời dạy của Bác về thanh niên, rèn luyện những phẩm chất đạo đức mà Bác đòi hỏi ở thế hệ tương lai của nước nhà.

    Sinh viên cần thực hiện tốt 5 điều Bác dặn thanh niên:

    Một là, phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; không sợ gian khổ, hi sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp cách mạng.

    Hai là, tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân; tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau; nâng cao ý thức tổ chức và kỉ luật; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

    Ba là, luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị; chống kiêu căng, tự mãn; chống lãng phí, xa hoa; thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

    Bốn là, ra sức nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kĩ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều hơn cho Tổ quốc, cho nhân dân.

    Năm là, luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo.

    Nếu thực hiện được những lời căn dặn trên đây của Bác, là chúng ta đang giáo dục bản thân mình một cách toàn diện, sống tốt hơn và cống hiến nhiều hơn cho đất nước và xã hội.

    Đặc biệt, sinh viên cần đẩy mạnh việc trau dồi những phẩm chất đạo đức mà Hồ Chí Minh đòi hỏi ở những con người Việt Nam trong thời đại mới: Trung với nước, hiếu với dân; Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; Lòng yêu thương con người; Tinh thần quốc tế trong sáng ….

    Rất nhiều bạn sinh viên đang có hoàn cảnh khó khăn, chúng ta có thể tìm hiểu và giúp đỡ nhau qua các hành động cụ thể: quyên góp ủng hộ bạn, giới thiệu việc làm thêm…. Rất nhiều cảnh đời xung quanh chúng ta cần được cảm thông và chia sẻ: những em bé mồ côi, người khuyết tật, người già neo đơn… Sự giúp đỡ của chúng ta đối với họ không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất mà quan trọng hơn là động viên họ về mặt tinh thần, để họ có thêm nghị lực và tình yêu vào cuộc sống. Chiến dịch Mùa hè xanh, Sinh viên tình nguyện,… chúng ta đã, đang và sẽ làm tốt hơn nữa. Hay, học tập tốt cũng chính là nhiệm vụ của sinh viên như lời dạy của Bác Hồ.

    Học tập đạo đức của Bác Hồ, chúng ta còn có thể học tập qua chính những tấm gương thầy cô, bè bạn xung quanh. Và hãy để việc học tập đó đi vào chính cuộc sống hàng ngày của thanh niên, sinh viên, chứ không phải là những hoạt động có tính chất phong trào. Bởi học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là để giúp chúng ta sống tốt hơn, đẹp hơn.

    IV. Kết luận :

    Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức HCM.

    Cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư là đao đức cần có của mỗi người. HCM đã để lại môt đạo đức cao cả cho nhân dân Việt Nam và toàn thế giới.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-L%E1%BA%ADp-Ph%C6%B0%C6%A1ng-%C3%81n-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-H%C3%A0ng-D%E1%BB%87t-May-Sang-Nga.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Lập Phương Án Xuất Khẩu Hàng Dệt May Sang Nga

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Việt Nam là quốc gia đang phát triển cùng với sự vận động theo xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bằng những đường lối chiến lược phát triển cụ thể kết hợp với thực hiện một cách hiệu quả, đến nay đã đạt được những thành quả nhất định trong sự phát triển kinh tế, xã hội và hòa mình vào khu vực, thế giới trên mọi lĩnh vực kinh tế văn hóa…Hoạt động xuất khẩu được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của quốc gia và được Đảng ,nhà nước dành cho những ưu tiên.

    Ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và được nhiều đơn vị, thành phần kinh tế tham gia. Hệ thống các Công ty , xí nghiệp may từ Trung ương đến địa phương đều trưởng thành đáng kể. Không những đội ngũ may xuất khẩu tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mà quy mô doanh nghiệp công nghệ sản xuất, chất lượng, đội ngũ công nhân lành nghề đang từng bước được nâng cao. Tất cả những điều này đang là dấu hiệu tốt cho sự khởi sắc của ngành may Việt Nam khi vươn ra thị trường thế giới.

    Khi kí kết Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Hải Quan thì Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan  khi xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Nga.Trong đó, Nga là một thị trường rộng lớn, được coi là thị trường rất tiềm năng cho hàng  may mặc xuất khẩu. Vì vậy, lần này tổng công ty may Việt Tiến  đề ra 1 phương án xuất khẩu lô hàng áo sơ mi sang thị trường này. Hi vọng đây sẽ là một bước đệm cho việc mở rộng thị trường của công ty tại khu vực Nga cũng như trên toàn thế giới.

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 1: Giới thiệu chung về công ty

    1.1.          Lịch sử hình thành và phát triển:

    “Tiền thân công ty là một xí nghiệp may tư nhân “ Thái Bình Dương kỹ nghệ công ty”- tên giao dịch là Pacific Enterprise. Xí nghiệp này được 8 cổ đông góp vốn do ông Trần Mạnh Hùng – một doanh nhân người Singapore làm Giám Đốc. Xí nghiệp hoạt động trên diện tích 1,513m2 với 65 máy may gia đình và khoảng 100 công nhân.

    Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước tiếp quản & quốc hữu hóa rồi giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý ( nay là Bộ Công Nghiệp).

    Tháng 5/1977 được Bộ Công Nghiệp  công nhận là xí nghiệp quốc doanh và đổi tên thành Xí Nghiệp May Việt Tiến.

    Ngày 13/11/1979, xí nghiệp bị hỏa hoạn, thiệt hại hoàn toàn. Tuy thế, được sự trợ giúp từ những đơn vị  bạn, cộng với lòng hang say gắn bó với xí nghiệp , toàn thể công nhân và lãnh đạo Việt Tiến đã đưa đơn vị đi vào hoạt động  trở lại và ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thương trường.

    Nhờ vào nổ lực cố gắng đó mà theo quyết định số 103/CNN/TCLĐ, xí nghiệp được Bộ Công Nghiệp chấp nhận nâng lên thành Công Ty May Việt Tiến. Sau đó, lại được Bộ Kinh Tế Đối Ngoại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp với tên giao dịch đối ngoại là TÂN VIỆT GARMENT IMPORT-EXPORT COMPANY viết tắt là TVEC( theo giấy phép số 102570 ngày 08/02/1991)

    Căn cứ Văn bản số 7599/VPCP-ĐMDN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Văn phòng Chính phủ về việc tổ chức lại  Công ty May Việt Tiến. Xét đề nghị của Tập đoàn Dệt May Việt Nam tại Tờ trình số 28/TĐDM-TCLĐ ngày 09 tháng 01 năm 2007 và Đề án thành lập Tổng công ty May Việt Tiến.

    Căn cứ Quyết định số 2576/QĐ-BCN ngày 26 tháng 7 năm 2007 của Bộ Công nghiệp về việc xác định giá trị Tổng công ty May Việt Tiến thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam để cổn phần hóa.Căn cứ Quyết định số 0408/QĐ-BCT ngày 30/08/2007 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển Tổng công ty may Việt Tiến  thành Tổng công ty cổ phần May Việt Tiến.”

    1.2.          Các lĩnh vực kinh doanh của công ty:

    • Sản xuất quần áo các loại.
    • Dịch vụ xuất nhập khẩu, vận chuyển giao nhận hàng hóa.
    • Sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu ngành may; máy móc phụ tùng và các thiết bị phục vụ ngành may công nghiệp; thiết bị điện âm thanh và ánh sáng.

    1.3.          Cơ cấu tổ chức:

    1) HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

    • Vũ Đức Giang (Chủ tịch)
    • Nguyễn Đình Trường ( Thành viên)
    • Bùi Văn Tiến (Thành viên)
    • Trần Minh Công (Thành viên)
    • Phạm Văn Kiệt (Thành viên)

    (2) TỔNG GIÁM ĐỐC

    • Bùi Văn Tiến

    (3) PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

    • Trần Minh Công
    • Phan Văn Kiệt
    • Nguyễn Thị Tùng

    (4) GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH

    • Nguyễn Ngọc Trung
    • Phạm Đắc Lợi
    • Phạm Tuấn Kiên
    • Phạm Thanh Hoan
    • Nhữ Hồng Hanh
    • Lê Thị Hồng Yến
    • Nguyễn Minh Tuệ
    • Hoàng Mộng Long

    (5) BAN KIỂM SOÁT

    • Thạch Thị Phong Huyền ( Trưởng ban)
    • Trần THị Ngọc Dung (Thành viên)
    • Hồ Ngọc Huy ( Thành viên)

    1.4. Kết quả kinh doanh:

    1.4.1. Kết quả hoạt động năm 2015

    Năm 2015 2014
    Doanh thu 4.831.173.484.401 3.896.832.911.617
    Lợi nhuận sau thuế 10.963.716.769 5.999.947.610
    Lãi cơ bản 8.468 5.804

    Theo đó, trong năm qua, danh thu thuần của May Việt Tiến đạt 4.831,2 tỷ đồng, tăng 24% so năm trước đó.

    • Giá vốn hàng bán tăng 21,1% lên 4.230,54 tỷ đồng đã kéo lợi nhuận gộp xuống còn 558,96 tỷ đồng, tăng 26,4% so năm 2014.
    • Trong năm qua, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của May Việt Tiến đều tăng so với năm trước, lần lượt đạt 213,02 tỷ đồng và 160,12 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ đạt 186,4 tỷ đồng và gần 150 tỷ đồng.
    • Sau khi trừ đi các chi phí, lợi nhuận trước thuế năm 2015 của May Việt Tiến đạt 248,5 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 196,92 tỷ đồng; lần lượt tăng 46% và 42,6% so năm 2014.
    • Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) cả năm đạt 7.033 đồng/cổ phiếu trong khi năm 2014 đạt 4.933 đồng/cổ phiếu.
    • Đến cuối 2015, May Việt Tiến có gần 183,3 tỷ đồng tiền và tương đương tiền, tăng khoảng 22 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng với 182,37 tỷ đồng, tăng so với con số gần 160 tỷ đồng hồi đầu năm.
    • Cũng đến cuối năm, tổng nợ phải trả của May Việt Tiến là 1.537,5 tỷ đồng, tăng 25% so đầu năm.
    • Trong đó, nợ ngắn hạn là 1.358,93 tỷ đồng, tăng so với con số 1.196 tỷ đồng đầu năm; nợ dài hạn là 178,57 tỷ đồng, tăng mạnh so với chỉ hơn 33,3 tỷ đồng đầu năm.
    • Việc tăng mạnh của nợ dài hạn chủ yếu do trong 2015 May Việt Tiến đã phát hành trái phiếu thu về 140 tỷ đồng, lãi suất phải trả do phát hành trái phiếu là hơn 6,4 tỷ đồng.
    • Hiện May Việt Tiến có 28 triệu cổ phiếu đang lưu hành, trong đó Nhà nước nắm gần 47,9% vốn.
    • Có được doanh thu tốt như trên công ty chúng tôi đã nỗ lực rất nhiều trong thời gian qua. Công ty chúng tôi đã tạo cho mình được chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài.Công ty luôn coi yếu tố chất lượng là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Vì vậy khi đưa ra thị trường một số sản phẩm mới song song với việc quảng cáo giới thiệu sản phẩm công ty chúng tôi tiến hành đăng ký và mua bản quyền nhãn hiệu hàng hóa như: Việt Tiến, Vee Sendy, TT-up, San Sciaro, Manhattan, Smart Casual . Do đó sản phẩm của công ty luôn được khách hàng trong nước và ngoài nước tin dùng.
    • Liên kết liên doanh: Hiện nay, doanh nghiệp có 21 đơn vị sản xuất trực thuộc ; ngoài ra có các nhà máy liên doanh trong nước bao gồm các đơn vị sản xuất quần áo may mặc sẵn.”

    1.4.2. Phương hướng, mục tiêu kinh doanh năm 2016

    1.4.2.1. Phương hướng hoạt động kinh doanh năm 2106

    Tiếp tục đổi mới công nghệ thiết bị sản xuất. Đổi mới công nghệ có ý nghĩa then chốt. Chính nhờ thiết bị mới, công nghệ mới công ty mới có thể tạo ra những sản phẩm đạt yêu cầu thâm nhập vào thị trường mới, tạo nguồn thu ngoại tệ góp phần đổi mới cơ sở hạ tầng tại công ty.

    Giữ vững và phát triển thị trường trong nước, đây là cơ sở cho chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài bằng thương hiệu của chính mình.Công ty luôn phải củng cố mối quan hệ khách hàng cũ, mở rộng quan hệ giao dịch với khách hàng mới ở các thị trường khác nhau.

    Hoàn thiện cơ chế tổ chức, đổi mới quản lý kinh doanh, đào tạo phát triển nhân lực theo hướng tiếp cận trình độ quốc tế, công ty chú trọng nâng cao kiến thức Marketing, đàm phán cho nhân viên.

    Nâng cao chất lượng sản phẩm đạt được tiêu chuẩn quốc tế về quản lý hệ thống theo tiêu chuẩn ISO 9002 & trách nhiệm xã hội SA8000, đạo đức trong kinh doanh theo tiêu chuẩn WRAP.

    Liên doanh liên kết: tìm hiểu kỹ đối tác trong và ngoài nước để liên doanh trong các lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may – đặc biệt là nguyên liệu chính- Từ đó, công ty sẽ có nguồn cung cấp ổn định phục vụ cho sản xuất xuất khẩu & nội địa.

    Tiến hành các biện pháp chống nạn làm nhái,hàng giả của công ty. Các biện pháp cụ thể là thông qua các cơ quan quyền lực chống lại việc làm nhái giả hàng công ty. Công ty đã cải tiến các dây viền, cúc áo, nhãn hiệu, một cách tinh xảo để chống giả mạo, đăng báo, in brochute danh sách các đại lý chính thức, chỉ rõ phân biệt hàng giả, hàng thật.

    1.4.2.2. Kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty năm 2016

    “Năm 2016 là năm có nhiều cơ hội để công ty tăng cung nội tệ và vươn mạnh ra những thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga. Trên cơ sở đó , Doanh nghiệp đang đẩy mạnh chiến lược đã định sẵn của công ty nhằm tận dụng tối đa các lợi thế mà mình sẵn có.

    Việt Tiến đặt kế hoạch  doanh thu tăng 12% so với năm  ngoái. Tổng công ty sẽ mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ từ nhiều hướng khác nhau.  Theo kế hoạch của công ty, các gian hàng trong nước và quốc tế sẽ được tăng thêm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và phân phối sản phẩm.

    Nằm trong chiến lược đầu tư dài hạn, Tổng Công ty CP May Việt Tiến đang có kế hoạch chuyển dịch sản xuất từ thành phố về các vùng có điều kiện phát triển ngành may và dự kiến triển khai vào đầu năm 2016, trong đó trọng điểm là Cụm công nghiệp may mặc Tân Thành Tiến tại tỉnh Bến Tre (với quy mô sử dụng hơn 20.000 lao động). Uớc tính Việt Tiến sẽ đầu tư 100 tỷ đồng vào Cụm công nghiệp may mặc Tân Thành Tiến.

    Việt Tiến luôn sẵn sàng tiếp nhận các chương trình, dự án đầu tư của các khách hàng để khai thác các lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên minh châu Âu (EU), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cho thị trường châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai.”

     

    Chương 2: Cơ sở để lập phương án xuất khẩu

    2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc lập phương án kinh doanh:

    2.1.1 Khái niệm:

    Phương án kinh doanh là tổng hợp các phân tích đánh giá, lựa chọn và tác nghiệp một cách có hệ thống dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng về hiệu quả kinh tế của một thuong vụ kinh doanh cụ thế. Phương án kinh doanh là bản tường trình về kế hoạch hành động cho mỗi thương vụ kinh doanh.

    Trong quá trình tìm kiếm, giao dịch, lựa chọn và đàm phán kinh doanh của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng suôn sẻ và lường hết được những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện. Do đó, lập phương án kinh doanh là giải pháp tối ưu, cấp thiết và là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng trong ngoại thương.

    Trong kinh doanh,các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh luôn được chú trọng. Dựa vào các chỉ tiêu để phân tích , tính toán và lựa chọn. Phương án kinh doanh được coi là bảng tổng hợp tình hình, phân tích lựa chọn và đánh giá về một thương vụ kinh doanh cụ thể. Mỗi lần lập phương án kinh doanh chi tiết là một lần rà soát cơ hội kinh doanh và dự đoán cũng như kiểm soát rủi ro của thương vụ đó.

    2.1.2 Mục đich:

    Việc lập phương án xuất khẩu là khâu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động xuất khẩu của mỗi doanh nghiệp. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, dựa trên các cơ sở pháp lý của Nhà nước và tình hình kinh doanh cũng như kế hoạch kinh doanh dự kiến của mình, doanh nghiệp tiến hành lập một kế hoạch kinh doanh xuất khẩu một mặt hàng cụ thể. Đây là một căn cứ quan trọng để trình lên các cấp, ngành, bộ phận có liên quan nghiên cứu xem xét có được phép thực hiện hay không.

    Việc lập phương án xuất khẩu cho phép doanh nghiệp có thể tính toán một cách hợp lý nhất các chỉ tiêu để nhằm thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cao nhất, đây là mục tiêu của toàn bộ các doanh nghiệp kinh doanh.

    2.1.3 Ý nghĩa:

    “Lập phương án xuất khẩu là việc lập kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu xác định trong kinh doanh. Nếu việc lập phương án xuất khẩu không được tiến hành hay tiến hành không chặt chẽ, chính xác trong việc tính toán thì sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện xuất khẩu, có thể dẫn tới thiệt hại trong công việc kinh doanh của doanh nghiệp.

    Phương án xuất khẩu là cơ sở để xin phép các cơ quan ban ngành có liên quan cho phép thực hiện và cấp giấy phép kinh doanh. Không phải tất cả các mặt hàng đều được phép xuất khẩu, nó phải phù hợp với các quy định của Nhà nước, hợp lý và có khả năng thúc đẩy kinh tế phát triển thì mới được cấp giấy phép kinh doanh.

    Ngoài ra, phương án xuất khẩu còn là cơ sở để xin cấp vốn kinh doanh. Một dự án muốn thực hiện được thì phải có đủ vốn nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, do đó hầu hết các hợp đồng đều phải vay vốn Ngân hàng để thực hiện. Chính vì vậy, một phương án muốn thực hiện được tốt thì phải có đủ sức thuyết phục đối với nhà đấu tư, phải có khả năng thực hiện và tạo ra lợi nhuận, có như vậy ngân hàng mới chấp nhận cho vay vốn.

    Một phương án xuất khẩu tốt sẽ có lợi cho cả hai bên đối tác làm ăn. Nó quyết định sự tồn tại hay không của phương án và quyết định đến cả mức độ thành công, lợi ích và lợi nhuận thu về sau khi phương án được thực hiện.

    Doanh nghiệp sẽ bàn giao kế hoạch này cho phòng nghiệp vụ và đây sẽ là một cơ sở nữa cho phòng nghiệp vụ nghiên cứu để lập một phương án kinh doanh.

    Như vậy phương án kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng và to lớn với hoạt động đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đơn vị và có ảnh hưởng to lớn đến công ty.”

     2.2. Cơ sở pháp lý để lập phương án xuất khẩu:

    Để lập  phương án kinh doanh xuất khẩu áo sơ mi cho năm 2014 chúng tôi căn cứ vào các điều kiện sau :

    • Căn cứ vào luật thương mại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006.
    • Nghị định số 187/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
    • Căn cứ vào các văn bản khác của chính phủ quy định chi tiết về hoạt động xuất nhập khẩu.
    • Căn cứ vào các quy định khác của chính phủ có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và nặt hàng may mặc nói riêng.

    2.3 Cơ sở thực tế để lập phương án xuất khẩu:

    2.3.1 Các order của khách hàng:

    “Sau khi tiến hành chiến dịch tiếp thị quảng cáo sản phẩm qua mạng lưới internet cùng với việc gửi offer tới các bạn hàng nước ngoài có kèm theo sản phẩm mẫu, công ty chúng tôi đã nhận được 1 đơn đặt hàng lớn mặt hàng áo sơ mi cho cả nam và nữ từ tập đoàn  The Melon Fashion group, Nga với nội dung như sau:

    ORDER

    From

     

    Address

    Tel

    Fax

    : THE MELON FASHION GROUP

     

    :512 Balashikha, Moskva, Russia

    : +7-398-0707

    : +7-944-7857

    To

     

    Address

    Tel

    Fax

    : VIETTIEN GARMENT  CORPORATION

     

    : 07 Le Minh Xuan,Tan Binh district,Ho Chi Minh city,Vietnam

    : 84-8-8645085 (22 lines)

    :84-8-8645085-8654867

    April 2nd , 2016

    Thank you very much for your offer of March15th, 2016 for men’s long sleeve shirt and women’long sleeve shirt product.

    We found the samples you sent us very satisfactory and we are pleased to place an order for the following quantity and price list :

    Item Price per unit  fob Saigon (USD) Quantity (unit) Total value (USD)
    NO. 1941112XL White men’shirt 15 20000 300000
    Blue men’shirt 15 15000 225000
    Boxdeu men’shirt 15 10000 150000
    Blue-chequer men’shirt 15 12000 180000
    Blue-striper men’shirt 15 12000 180000
    NO.1875241L White women’shirt 15 17000 255000
    Blue  women’shirt 15 17000 255000
    Pink-striper women’shirt 15 17000 255000
    Blue-striper women’shirt 15 15000 225000
    Total 135000 2025000

    Payment :  in US dollars by irrevocable L/C in to our account No: 167 121 3865 at  Freral Reserve Bank  of New York.

    We are looking  forward to hearing  from you.

    Your faithfully

    Director”

     

    2.3.2. Kết quả nghiên cứu thị trường:

    2.3.2.1. Nghiên cứu thị trường trong nước

    • Cung cầu đối với hàng hóa

    “Khi xã hội ngày càng phát triển nhu cầu may mặc của con người không dừng lại ở tính bền bỉ của sản phẩm mà còn mẫu  mã đẹp , chất lượng cao đặc biệt nhân viên văn phòng và học sinh , sinh viên. Hiếm có trang phục nào vừa trang trọng nhã nhặn , lịch sự lại  vẫn có thể rất cá tính và đầy quyến rũ như áo sơ mi . Áo sơ mi  được coi là  không thể thiếu đối với thời trang công sở đặc biệt nam giới. Do đó nhu cầu về áo sơ mi trên thị trường rất lớn và ngày càng tăng cao. “

    • Giá của hàng hóa

    “Giá  áo sơ mi của công ty thường cao hơn so với các doanh nghiệp khác.  Giá cạnh tranh của các doanh nghiệp khác  bán lẻ từ 100 nghìn đồng đến 1 triệu một chiếc tùy theo sản phẩm. Giá bán  buôn tùy thuộc vào số lượng  mà có mức chiết khấu khác nhau mà có mức chiết  khấu khác nhau từ 20-40%.”

    • Đối thủ cạnh tranh

    “Hiện nay có rất nhiều các đối thủ cạnh tranh đáng nể  trong lĩnh vực sản xuất  áo sơ mi dành cho nam và nữ như May Nhà bè , May Sài Gòn, May 10, May 2…..cùng các thương hiệu lớn nhỏ sản xuất hàng Việt Nam chất lượng cao như Blu Exchange , Ninomax….. Tất cả các doanh nghiệp luôn luôn cải thiện mẫu mã , chất lượng đa dạng phong phú để đáp ứng nhu cầu may  mặc trong nước ngày càng tăng.

    Ngoài ra còn có những hiệu may sơ mi lớn nhỏ khác. Tuy giá thành có rẻ hơn so với các áo có sẵn trên thị trường nhưng chất liệu thường không đẹp và có ít sự lựa chọn hơn các sản phẩm của công ty may. Hơn nữa sản phẩm sơ mi thường được giới công chức , học sinh, sinh viên lựa chọn nhưng do tính chất công việc nên thường ít người có thời gian để may đo áo và tâm lý họ thích mua hàng sẵn hơn là phải chờ đợi thời gian may.

    Bên cạnh đó thị trường trong nước có rất nhiều sản phẩm sơ mi may sẵn của Trung Quốc  hoặc không rõ nguồn gốc  và các cơ sở may này không nổi tiếng bán  tràn lan ở các chợ lớn nhỏ với giá rất thấp. Tuy nhiên chất lượng của hàng hóa rất kém và không có đủ khả năng  sản xuất với số lượng lớn trong thời gian ngắn và đáp ứng được yêu cầu chất lượng cao của các thị trường khó tính như Nhật Bản,Hoa Kỳ, EU cũng như thị trường Nga

    Ngoài ra trên thị trường còn xuất hiện nhiều hàng hóa second-hand  hoặc nhái từ các thương hiệu nước ngoài chứng tỏ cầu đã vượt cung nhưng đôi khi gây ra sự nhầm lẫn về cả giá cả và chất lượng đối với người tiêu dùng.”

    • Những quy định và ưu đãi của Chính Phủ đối với mặt hàng dệt may:

    “Căn cứ vào:

    • Nghị định số95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cẩu tổ chức của Bộ Công Thương;
    • Nghị định số92/2006/NĐ-CPngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;
    • Quyết định số36/2008/QĐ-TTgngày 10 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.

    Ta thấy được quan điểm của Chính Phủ về việc chú trọng phát triển ngành dệt may, coi dệt may là ngành trọng điểm và là ngành công nghiệp mũi nhọn hiện nay và về lâu dài với các mục tiêu từ nay đến 2020, 2030 với các định hướng rất cụ thể rõ ràng.

      Thứ nhất: tăng cường cho ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội thị trường.

      Thứ hai: xây dựng Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu phát triển các sản phẩm dệt kỹ thuật, sản phẩm dệt phục vụ y tế.

      Thứ ba: phát triển nguồn nguyên liệu xơ bông, các loại cây có xơ sợi, xơ sợi nhân tạo và phụ liệu.

    Cùng hàng loạt chính sách, giải pháp gỡ rối gỡ khó cho các doanh nghiệp dệt may:

    + Các chính sách và giải pháp thị trường: thúc đẩy đầu tư phát triển ngành dệt may gắn liền với hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa làn sóng dịch chuyển dệt may từ các nước phát triển, đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước tham gia đầu tư;

    + Các giải pháp về cung ứng nguyên phụ liệu: xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp trong ngành;

    + Các chính sách và giải pháp về công tác thủ tục: mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo hướng đơn giản hoá các thủ tục, và tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế cho doanh nghiệp xuất khẩu;

    +  Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực: xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may, trong đó Hiệp hội Dệt May Việt Nam và Tập đoàn Dệt May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước;

    +  Các giải pháp về khoa học và công nghệ: nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới, và nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu;

    +   Các giải pháp bảo vệ môi trường : chú trọng công tác bảo vệ môi trường cũng được chú trọng, với định hướng tập trung xử lý các nguồn ô nhiễm nước tại các công ty dệt nhuộm, đổi mới công nghệ trong ngành theo hướng tiết kiệm nguyên liệu và thân thiện với môi trường;

    +  Các giải pháp về tài chính: hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo và vốn đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho các Viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo cho ngành Dệt May, đồng thời dành vốn tín dụng của nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ môi trường cho các dự án đầu tư xử lý môi trường của các doanh nghiệp trong ngành dệtmay. 
    Nghiên cứu thị trường nước ngoài

    • Cung cầu đối với hàng hóa
    • Trên thị trường thế giới

    Thị trường thế giới sau nhiều năm vận hành độc lập nay đã trở nên có tổ chức và đang hoạt động trong sự ràng buộc chặt chẽ các thể chế sau:

    • Các định chế kinh tế như WTO. GSP. MFA, các công ước về lao động, về sở hữu trí tuệ…
    • Các thể chế về khu vực: EU, NAPTA, ASEAN…
    • Các thể chế về tài chính: WB,IMF, ADB và các hiệp định liên ngân hàng.
    • Các hiệp định về hàng hoá như về cao su thiên nhiên, cà phê, dầu mở , hàng dệt may…
    • Các trung tâm giao dịch: Sỏ giao dịch hàng hoá ở Luân Đôn, Paris, Singapore, Chicago…Các công hội vận tải biển, tổ chức hàng không quốc tế (ICAO), tổ chức du lịch quốc tế, các tính chất liên lạc viễn thông quốc tế, các mạng lưới và trung tâm dịch vụ tiêu thụ…

    Hoạt động của các thể chế quốc tế và khu vực đã đưa lại hiệu quả giúp cho thương mại quốc tế được ổn dịnh và phát triển.Trong tương lai các định chế này sẽ không thể không tham gia một cách tích cực vào các định chế thế giới và khu vực nói trên.

    Nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc trên thế giới ngày càng tăng kể về số lượng và chất lượng. Các quốc gia khác nhau đều tận dụng lợi thế so sánh riêng  của mình để sản xuất , xuất khẩu hoặc nhập khẩu để tiêu dùng với chi phí thấp nhất.

    • Trên thị trường Nga:

    Với thị trường rộng lớn, dân số gần 143 triệu người, nước Nga trở thành thị trường đầy tiềm năng cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng.

    Trong những năm qua, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nga tương đối ổn định, kim ngạch và nhu cầu ngày càng tăng ở thị trường này là cơ hội để doanh nghiệp dệt may Việt Nam gia tăng xuất khẩu.

    KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG NGA GIAI ĐOẠN 2008 –2015

    Đơn vị tính: triệu USD

    Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
    KN xuất khẩu 49,38 64,33 80,57 97,33 56,06 76,16 106,96 122,07

    “Năm  2015, nền kinh tế Nga đứng thứ 9 trên thế giới, với GDP đạt trên 2100 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 nghìn USD/năm. Về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Nga đạt 1,62 tỷ USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó kim ngạch hàng dệt may đạt 122,07 triệu USD, tăng 14,7% so với năm 2013.

    Đối với thị trường này, thời gian gần đây, người tiêu dùng có thói quen sử dụng những sản phẩm dệt may chất lượng cao với kiểu dáng đẹp. Do vậy, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần đảm bảo đủ chất lượng, kiểu dáng độc đáo, và đăng ký thương hiệu để cạnh tranh với các hàng hóa đã có sẵn trên thị trường Nga.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên tìm hiểu và nắm rõ những quy chuẩn và các yêu cầu riêng của thị trường Nga cũng như các chế độ ưu đãi dành cho Việt Nam để thuận lợi hơn khi phát triển khâu tiêu thụ hàng hóa tại thị trường này.

    • Chi tiêu vào lĩnh vực này có lẽ là khoản chi tiêu đầu tiên bị người tiêu dùng Nga cắt giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhiều người tiêu dùng trước kia được xếp vào mức trên trung bình đã chuyển sang đoạn thị trường tầm trung và nhu cầu đối với hàng may mặc và giày dép xa xỉ trở nên khiêm tốn hơn.
    • Theo đánh giá của Euromonitor, mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhưng hai lĩnh vực may mặc và giày dép tại Nga vẫn tăng trưởng trước các nước Châu Âu khác. Giá trị xuất khẩu hàng may mặc và phụ kiện từ Nga vẫn tiếp tục tăng. Giá trị xuất khẩu hàng dệt kim và phụ kiện tăng lên 9,1% và đạt giá trị khoảng 1,9 tỷ USD.

    Người Nga thích mua các sản phẩm may mặc đã có thương hiệu và theo xu hướng gần nhất mặc dù có thể có một xu hướng mới khác đang thịnh hành. Nhiều phụ nữ và thanh niên có xu hướng chọn các loại quần áo thoải mái và không mang tính công sở. Xu hướng này giúp tăng doanh số bán lẻ trong đoạn thị trường người tiêu dùng trung lưu. Các đoạn thị trường giá thấp và trung bình được dự đoán có mức tăng trưởng năng động.

    Nhưng  các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia thị trường Nga cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt trong cạnh tranh về chất lượng và giá. Người tiêu dùng trẻ tại Nga vài năm gần đây có thói quen chi tiêu nhiều hơn cho mua sắm. Hàng chất lượng cao với kiểu dáng đẹp thường được ưa chuộng hơn và tiêu thụ nhanh hơn, và hàng với chất lượng thấp dù giá thấp sẽ ngày càng khó thu hút sự quan tâm trên thị trường. Doanh nghiệp cần đảm bảo đủ chất lượng, kiểu dáng độc đáp, và đăng kí thương hiệu để cạnh tranh với các loại hàng hóa đã có sẵn trên thị trường Nga, theo Vinatex cho biết.

    Ngoài ra, thách thức còn đến từ việc tiếp cận thị trường với hệ thống các qui định và luật lệ riêng mà doanh nghiệp không nắm bắt sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại một số vùng và thay đổi theo vùng miền trên lãnh thổ rộng lớn của nước Nga còn đặt ra những yêu cầu về một kế hoạch xuất khẩu chi tiết, cụ thể và sản phẩm được sản xuất có nghiên cứu thị trường kĩ lưỡng.

    Như vậy, để thâm nhập sâu hơn vào thị trường Nga, bên cạnh việc tìm hiểu cụ thể các qui định và luật lệ, chế độ hưởng ưu đãi dành cho Việt Nam, các công ty xuất khẩu Việt Nam còn cần nghiên cứu thị trường kĩ lưỡng và phát triển mối quan hệ dài hạn với nhà mua hàng Nga thông qua những hợp đồng thông dụng.”

    • Những quy định liên quan đến xuất và nhận nhập khẩu dệt may:

    “Một đặc trưng nổi bật của công nghệ dệt may là được bảo hộ chặt chẽ ở hầu hết các nước trên thế giới bằng những chính sách thể chế đặc biệt. Trước khi hiệp định về hàng dệt may- kết quả quan trọng của vòng đàm phán Uruguay ra đời và phát huy tác dụng, việc buôn bán quốc tế các sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương mại này. Nhờ đó, phần lớn các nước nhập khẩu thiết lập các hạn chế đối với nhập khẩu hàng dệt may. Mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may cũng cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những qui định riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu. Những thể chế nhằm bảo hộ sản xuất hàng dệt may của mỗi nước và hạn chế nhập khẩu này đã chi phối thị trường hàng dệt may trên thế giới, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới .

    Ta nhận thấy Châu Âu là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng. Với 740 triệu dân, đây là thị trường lý tưởng tiêu thụ hàng dệt may nói riêng và các mặt hàng khác nói chung.

    Nhưng chúng ta cũng thấy đây là một thị trường có những điều kiện về kiểm soát, tiêu chuẩn, chất lượng… rất là khó khăn và không dễ xâm nhập vào được. Nó quản lý rất chặt chẽ và nghiêm khắc. Cùng với đó là thị hiếu người tiêu dùng của thị trường này cũng khá khó tính, có chọn lọc đặc biệt với hàng dệt may. Đây là ngành mà châu âu có xu hướng chuyển dần sang các khu vực khác, nên thị trường này đang có xu hướng nhập khẩu hàng dệt may và hàng may mặc. Các nhà nhập khẩu Châu Âu luôn tìm kiếm những thị trường rẻ nhưng phải đẹp. Họ luôn cố hạ giá thành sản phẩm tới mức thấp nhất tại nơi cơ sở đặt gia công. Chính vì vậy mà sự trao đổi hàng dệt may giữa Châu Âu và Việt Nam đã tăng 40-50% quota hàng dệt may và may mặc cho Việt Nam do giá thành ở Việt Nam rẻ hơn ở những nơi khác, đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng mà họ yêu cầu.”

    • Những Hiệp định thương mại song phương, đa phương Việt Nam-Nga:
    • Từ năm 2012, Nga là thành viên thứ 156 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), theo đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nga theo lộ trình cam kết của Nga sẽ chịu mức thuế thấp hơn từ 30-50%. Theo lộ trình thuế nhập khẩu của Nga, thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng của Việt Nam cũng sẽ được giảm ngay đặc biệt là dệt may (2 lần). Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga được giảm thêm 25% thuế quan so với mức thuế Nga cam kết vì Việt Nam nằm trong nhóm các nước hưởng ưu đãi thuế quan của Liên minh Hải quan. Điều này không chỉ là cánh cửa cơ hội cho Việt Nam, mà còn là cánh cửa dẫn đến một cơ hội lớn – một thị trường lớn với khoảng cách địa lí không quá xa xôi như Bắc Mỹ hay Châu Âu.
    • Hiệp định FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu được kí kết ngày 29/5/2015 đã mở ra cho ngành dệt may Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trường Nga nói riêng một cơ hội tuyệt vời. Theo đó, Nga cam kết dành mức thuế suất ưu đãi nhất , có thể nói bằng 0% cho nhiều mặt hàng, trong đó có sản phẩm từ ngành dệt may. Sau khi hiệp định được kí kết, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nga đã tăng 9%. Chủ tịch hiệp hội Dệt may Việt Nam, ông Vũ Đức Nam cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm hơn đến các thị trường thuộc Liên minh hải quan, nhằm tận dụng tối đa cơ hội mà thị trường rộng lớn này đang mở ra (1 số nhóm hàng thuế suất 0%, còn lại sẽ giảm dần theo lộ trình 3,5 hoặc 10 năm).
    • “Bên cạnh đó, tiến trình đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh hải quan Nga, Belarus, Kazakhstan đã được Chính phủ hai bên ký kết vào đầu năm 2015, hàng hóa Việt Nam vào Nga sẽ được miễn thuế hoàn toàn hoặc hạ xuống mức tối thiểu. Có thể thấy, chưa có lúc nào thích hợp hơn để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang Nga như lúc này.

    Theo báo cáo của Tập đoàn dệt may Quốc gia Việt Nam xuất khẩu chủ yếu bao gồm áo khoác ngoài (jackets), quần áo trẻ em, áo sơ mi, áo thun, quần tây, quần ngắn, váy… Trong đó, xuất khẩu hàng trẻ em từ Việt Nam đến Nga đã tăng với tốc độ nhanh chóng và chiếm 11,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nga trong 8 tháng.”

    • Đối thủ cạnh tranh:

     Trong mặt hàng dệt may hay rất nhiều mặt hàng khác trên thị trường thế giới nói chung và thị trường Nga nói riêng thì đối thủ cạnh tranh mạnh nhất đáng gờm nhất của Việt Nam luôn là Trung Quốc. Trung Quốc là một đất nước lớn với nền kinh tế phát triển mạnh, đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Mỹ. Ta thua đối thủ này về rất nhiều mặt:

    _Những điểm mạnh của ta Trung Quốc đều có như: giá rẻ, chi phí nhân công thấp, ngành may mặc có tốc độ tăng trưởng cao…

    _Không những thế những điểm yếu của ta, Trung Quốc đều không mắc phải, với nền công nghệ, máy móc kỹ thuật cao, đông nhân công giá rẻ, có thể cũng ứng hàng hóa với số lượng rất lớn…

    _Đặc biệt nữa là, ngành dệt may của Việt Nam ta hiện nay vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung ứng nguyên liệu từ Trung Quốc khi mà từ xơ, bong vải sợi, cây kim, sợi chỉ, hay các máy móc… ta đều nhập từ Trung Quốc.

    _Hàng dệt may từ Trung Quốc rất đa dạng chủng loại, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng… với số lượng hàng lớn; giá bán lại rẻ hơn chúng ta từ 30-40%.

    Ngoài đối thủ đáng gớm này ra thì bên cạnh đó, dệt may của Việt Nam cũng có những đối thủ cạnh tranh trên thị trường Nga khá mạnh như: người bạn láng giềng hay những nước nằm trong khối ASEAN như Campuchia, Malaysia…

     

    2.3.3. Kết quả phân tích tài chính

    • Dự kiến chi phí cho lô hàng xuất khẩu 135000 chiếc
    • Chi phí sản xuất
    Khoản mục Đơn giá (đồng/chiếc) Thành tiền (VNĐ)
    Nguyên liệu : -Vải thô 100% cotton

     

    -Gia công vải màu, kẻ

    -Nguyên phụ liệu

    100.000

     

    20.000

    26.000

    13.500.000.000

     

    2.700.000.000

    3.510.000.000

    Chi  phí  bao bì, đóng gói 18.000 2.430.000.000
    Chi phí nhãn mác 3.500 427.500.000
    Chi phí nhân công 12.300 1.660.500.000
    Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp BHXH = 26% CPNC

     

    BHYT = 4.5% CPNC

    KPCĐ = 2% CPNC

    BHTN = 2% CPNC

    431.730.000

     

    74.722.500

    33.210.000

    33.210.000

    Tiền điện, tiền nước, điện thoại 310 41.850.000
    Khấu hao TSCĐ (nhà xưởng , máy móc thiết bị…) 1000 135.000.000
    Lãi ngân hàng 0.8%x 10.000.000.000 80.000.000
    Tổng chi phí sản xuất 25.057.722.500
    • Chi phí vận tải hàng xuất khẩu (1 tấn=2000 chiếc )
    Khoản phí Đơn giá Thành tiền (đồng )
    Chi phí vận chuyển hàng đến cảng 150.000 đ/tấn 40.125.000
    Chi phí xếp hàng lên tàu 42.000 đ/tấn 5.835.000
    Tổng chi phí vận tải 45.960.000
    • Chi phí làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa
    Khoản phí Đơn giá (đồng ) Thành tiền (đồng )
    Phí giao dịch   1.500.000
    Lệ phí hải quan 20.000 đ/tờ khai 40.000
    Thuế xuất khẩu 0 % 0
    Phí giám định 20.000 đ/tấn 1.350.000
    Chi phí kiểm đếm, giao nhận hàng 4.500 đ/tấn 303.750
    Phí lấy B/L 200.000 200.000
    Phí gửi bộ chứng từ 340.000 đ/bộ 340.000
    Chi phí chuyển tiền tại Ngân hàng 200 USD 4.207.200
    Chi phí thông báo L/c của Ngân hàng 20 USD 420.720
    Tổng chi phí làm thủ tục xuất khẩu 8.361.670
    • Tổng kết chi phí cho lô hàng xuất khẩu (1USD = 21.036,00 VNĐ)
    Khoản phí Thành tiền (đồng )
    Chi phí sản xuất 25.057.722.500
    Chi phí vận tải 45.960.000
    Chi phí làm thủ tục xuất khẩu 8.361.670
    Tổng chi phí (1) 25.112.044.170
    Quỹ dự phòng (2) =3 % ∑chi phí 753.361.325
    Doanh thu(3) = 2.025.000 USD 42.597.900.000
    Thuế lợi tức = 25 % ( (3)- (2)- (1) ) 4.183.123.626
    Tổng chi phí cho lô hàng xuất khẩu 30.048.529.121

     

     

    • Dự kiến giá xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

    “Mặt hàng                  : áo sơ mi

    Số lượng                     : 135.000 chiếc

    Đơn giá                      : 15  USD ( Giá FOB Saigon port , Incoterm 2010)

    Tổng doanh thu        :  2.025.000  USD

    Tổng chi phí              : 30.048.529.121 VND”

    • Tỷ xuất lợi nhuận

    Lợi nhuận trước thuế = ∑ DT – ∑ CP = 12.549.370.879VND

    Thuế thu nhập doanh nghiệp =  2.760.861.593VND (thuế suất 22%)

    Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – thuế TNDN = 9.788.509.285(VND)

    • TSLN =  x 100% =  x 100% =
    • Với tỷ suất lợi nhuận như trên , công ty quyết định chấp nhận đơn đặt hàng và tiến hành tổ chức thực hiện đơn đặt hàng.

     

     

    • Tỷ xuất ngoại tệ xuất khẩu
    • TSNT = =  =  (USD/VNĐ)

    Như  vậy để thu được 1 USD  ta chỉ cần bỏ ra 14.839 VNĐ, nhỏ hơn tỷ giá ngoại tệ thời điểm này là 1 USD = 21.036 VND. Do vậy , xét về tỷ giá ngoại tệ thì đây là phương án khả thi.

    • Tổng nguồn vốn

    “Do  tổng công ty còn tập trung vốn vào dự án mới trong đó có cụm khu công ngiệp Tân Thành nên để trang trải chi phí để xuất khẩu cho lô hàng chúng tôi quyết định  ngoài sự dụng  vốn tự có của công ty vay 10 tỷ đồng từ ngân hàng BIDV trong vòng 1 tháng.

    Lựa chon BIDV do  đơn vị vay vốn quen của công ty và những ưu đãi từ ngân hàng,  doanh nghiệp nằm trong đối tượng ưu tiên trợ cấp xuất khẩu nên lãi xuất thực phải trả là 0.8%/tháng

    Tỷ giá : 1USD = 21.036 VNĐ

    Điều kiện giao hàng : Công ty xuất khẩu theo điều kiện Fob Saigon (incoterms2010)”

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 3. Tổ chức thực hiện phương án xuất khẩu

     

    3.1. Tiến hành giao dịch

    3.1.1. Chọn bạn hàng, chọn thị trường

    “Với đơn đặt hàng  số lượng lớn của The Melon Fashion Group  và thông qua việc tính toán lập phương án xuất khẩu.  Công ty nhận thấy mình có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của tập đoàn và xét thấy kế hoạch hợp tác này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho công ty trong quá trình thâm nhập thị trường Nga. Vì vậy, Công ty quyết định xuất khẩu 135.000 chiếc áo sơ mi sang The MeLon Group.”

    3.1.2. Tiến hành giao dịch

    “Sau khi nhận được order từ phía đối tác nước ngoài và căn cứ vào kết quả phân tích tài chính khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu đối với đối tác, căn cứ trên việc lựa chọn bạn hàng xuất khẩu theo tiêu chí đem lại doanh thu xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu, tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu lớn, công ty quyết định lựa chọn tập đoàn này làm đối tác trong đợt xuất khẩu này.

    Công ty gửi chấp nhận thư tới Melon Fashion Group với nội dung như sau:

    Acceptance

    From:  VIETTIEN GARMENT CORPORATION

    Address: 07 Le Minh Xuan,Tan Binh district,Ho Chi Minh city,Vietnam

    Tel:  84-8-8645085 (22 lines)

    Fax:  84-8-8645085-8654867

    Re, your order of April 2nd, 2016

    To

     

    Address

    Tel

    Fax

    : THE MELON FASHION GROUP

     

    :512 Balashikha,  Moscow, Russia

    :+7-398-0707

    : +7-944-7857

    We appreciate  your order for item No.194112MC of 2th April, 2016. It is a pleasure to have the opportunity of suppling you our products as good as the samples we sent you and we are quite sure you will be satisfied with them.

    Your chosen method of payment is quite acceptable to us, and we note that this will be by Irrevocable letter of credit, valid till May 9th, 2016.

    We are pleased to confirm your order and will draft an e-contract for you as soon as possible.

    We assure you that this order and all further orders will be carefully fulfilled.”

    “Yours faithfully,

    Per Pro. The VIETTIEN GARMENT CORPORATION

    Nguyen Ngoc Trung

    Director.

    Sau đó phía bạn hang gửi lại thư xác nhận về việc nhập khẩu lô hàng:”

    CONFIRMATION

    From

     

    Address

    Tel

    Fax

    : THE MELON FASHION GROUP

     

    :512 Balashikha,  Moscow, Russia

    :+7-398-0707

    : +7-944-7857”

    To

     

    Address

    Tel

    Fax

    : VIETTIEN GARMENT  CORPORATION

     

    : 07 Le Minh Xuan, Tan Binh district, Ho Chi Minh city, Vietnam

    : 84-8-8645085 (22 lines)

    :84-8-8645085-8654867

    Dear sirs,

    We are very happy to have dealing with you. We send this conformation to ensure that we agree with all the iterms you gave in your offer.

    Please send me a signed contract as soon as possible.

    Yours faithfully

    Director

     

    3.2. Tổ chức giao dịch ký hợp đồng.

    3.2.1. Nêu hình thức giao dịch đã lựa chọn

    “Trong quá trình tiến hàng giao dịch với khách hàng, công ty đã quyết định chọn hình thức giao dịch bằng điện tử, đây được coi là phương thức giao dịch đang được sử dụng phổ biến rộng rãi nhất trong mỗi hoạt động giao dịch hiện nay, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như trao đổi thương mại, dịch vụ. So với việc gặp gỡ trực tiếp thì giao dịch qua thư điện tử tiết kiệm được nhiều chi phí. Hơn nữa trong cùng một lúc, lại có thể giao dịch trao đổi với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau.

    Giao dịch thương mại trên cơ sở dùng Internt cho EDI và các giao dịch ngân hàng ít tốn kém hơn dùng các mạng nội bộ chuyên dùng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí không nhỏ trong giao dịch.

    Mặt khác, thời gian giao dịch bằng thương mại điện tử chỉ bằng 0.05% thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch cũng chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua bưu điện hay chuyển phát nhanh, bằng 10%-20% chi phí thanh toán thông thường khác.

    Nội dung của thư thương mại bao giờ cũng phải hết sức chính xác. Tránh những sự hiểu lầm do trình bày không rõ ràng, không khúc triết hoặc do sử dụng từ ngữ không chính xác. Mọi lý lẽ được diễn đạt đầy đủ, nhưng không rườm rà. Mỗi nước có một cách hiểu khác nhau về từng vấn đề liên quan đến buôn bán như đơn vị đo lường, cách trả tiền, sự phân chia chi phí trong quan hệ bốc dỡ… bởi thế khi đề cập đến mỗi vấn đề, cần phải thật chi tiết, cụ thể, rõ ràng về quan niệm của doang nghiệp mình hoặc những yêu cầu của doanh nghiệp nêu ra. Không bao giờ nên nghĩ chắc rằng đối phương cũng hiểu vấn đề này theo cách mình hiểu.

    Sự khẩn trương trong trao đổi thư điện tử cần được chú ý thích đáng. Tất cả cách liên lạc qua Internet được gửi đến đều phải được trả lời một cách nhanh chóng dù rằng mình chưa có cơ hội bán hàng. Việc trì hoãn trả lời, thậm chí quên không trả lời khách hàng sẽ gây ấn tượng xấu. Một nhà kinh doanh tốt bao giờ cũng cố gắng mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng.

    Pháp luật nước ta và các nước đối tác đã quy định đầy đủ về những điều lệ, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch qua điện tử.Vì vậy doanh nghiệp luôn tìm hiểu và nghiên cứu kỹ để không gặp phải bất kỳ rắc rồi gây bất lợi cho doanh nghiệp trong khi giao dịch buôn bán với các đối tác nước ngoài.”

    3.2.2. Lập hợp đồng xuất khẩu

    Hai công ty đã đi đến ký kết hợp đồng như sau:

     

    CONTRACT

    No : HH 2009 12. 02.VN1

    Date : April 6th, 2016

    Between

    VIETTIEN GARMENT CORPORATION

    Address: 07 Le Minh Xuan,Tan Binh district,Ho Chi Minh city,Vietnam

    Tel:  84-8-8645085 (22 lines)

    Fax:  84-8-8645085-8654867

    Hereinafter called The Seller.

    And

    THE MELON FASHION GROUP

    Address:512 Balashikha, Moscow, Russia

    Tel :+7-398-0707

    Fax: +7-944-7857

    Hereinafter called The Buyer

    We both parties agree to sign and implement this contract with following conditions and terms :

    Article 1 : Description

    • Product name : Men’s long sleeve shirt, women’s long sleeve shirt
    • Description :
      • Fabric : 100% cotton
      • Size : XS, S, M, L, XL, XXL (quantities of each size are equal)
      • Country of origin : Vietnam
      • Brand new (100%)

     

    Article 2 : Price And Quantity

    Item Price per unit  fob Saigon (USD) Quantity (unit) Total value (USD)
    NO. 1941112XL White men’shirt 15 20000 300.000
    Blue men’shirt 15 15000 225.000
    Boxdeu men’shirt 15 10000 150.000
    Blue-chequer men’shirt 15 12000 180.000
    Blue-striper men’shirt 15 12000 180.000
    NO.1875241L White women’shirt 15 17000 255.000
    Blue  women’shirt 15 17000 255.000
    Pink-striper women’shirt 15 17000 255.000
    Blue-striper women’shirt 15 15000 225.000
    Total 135000 2.025.000

    These above price are expressed in US Dollars, FOB Saigon– Incoterms2010.

    Article 3: Quality

    The seller must supplies the goods in accordance with the samples he sent on May 15th, 2016. One set of samples must be retained by each party and the arbitrator nominated in article 8

    Article 4 : Packing

    • Each unit is packed in a carton small box (0.3m x 0.22m x 0.05m) covered with a thin poly layer
    • 40 these boxes will be packed in a carton bin (0.6m, 0.45m, 0.5m) in order to avoid tearing and protect the goods.

     

    Article 5 : Payment

    “+ The seller will be paid by irrevocable letter of credit in US Dollar valid till May 9th, 2016. The buyer have to make a payment all value for the shipment according to L/C to the seller within 3 working days as from the day the L/C-opening bank has received a full set of shipping.

    +All charges regarding L/C amendment shall be born by the party requires L/C amendment.

    +Document for payment :

    • Singed commercial invoice originals.
    • Clean “Shipped on board” Ocean Bill of loading in complete set of at least 3 original 3 non – negotiable copies sianed made out to order of Russia Comercial – industrial bank.
    • Quality/Quantity certifiate issued by the Chamber of Comerce of Vietnam in triplicate.
    • Certificate of original issued by the Chamber of Commerce of Vietnam in 01 original.
    • Packing list in triplicate.”

    Article 6 : Delivery

    The good will be delivered no later than May 5th, 2016

    • Partial shipment : Not allowed.
    • Transhipment : Not allow
    • Port of loading : Sai Gon Port
    • Port of discharge : Novorossiysk Port

    Article 7: Force majeure

    “If either party is prevent from, or delayed in, performing any obligation under this contract by reason of a force majeure event, then this party is not considered to be in default and no remedy, be it under this contract or otherwise, is available to the other party.

    All cases of force majeure are consider as war, strike at two enterprise, disease, fire, disable.

    When force majeure event occurred, the party who met the force majeure must inform the other partner by the Telegraph and in 7 days must get the writing confirmation from authorized body. The force majeure will not be accepted if over 7 days.

    Article 8 : Arbitration

    In the course of executing this contract, all disputes not reaching at amicable agreement shall be settled by Arbitration Committee of Vietnam under the rules of The International Chamber of Commerce of which awards shall be final and binding both parties. The fee for the  arbitration and other changes shall be born by the losing party, unless otherwise agreed

    Article 9 : General

    All amendment, supplementation of this contract are affected when they are made in PDF files and be signed by both parties with their certified digital-signature

    This contract is made in English in 3 originals and saved in PDF file, 2 of which are retained by each party, one is retained by the arbitrator nominated in Article 8. Both parties engage to realize all these above mentioned of the contract.

    This contract is signed on April 6th, 2016”

             SELLER                                                                                      BUYER

    Viettien Garment Corporation                                              The Melon Fashion Group

     

    3.3. Tổ chức thực hiện hợp đồng

    3.3.1. Sơ đồ xuất khẩu

     

     

     

     

     

     

    3.3.2. Quy trình thực hiện

    • Chi tiết các quy trình thực hiện hợp đồng.
    • Giục mở L/C và kiểm tra L/C

    Ngay sau khi ký kết hợp đồng với công ty The Melon Fashion Group, Công ty đôn đốc người mua mở L/C đúng hạn. Sau khi nhận được L/C thì phải kiểm tra:

    – Đối chiếu những quy định trong hợp đồng và quy định trong L/C xem có phù hợp không, kiểm tra cẩn thận từng câu, từng chữ.

    – Loại L/C có phù hợp với loại L/C quy định trong hợp đồng không.

    – Ngân hàng mở L/C, ngân hàng trả tiền, hoặc ngân hàng xác nhận có quan hệ giao dịch với ngân hàng của công ty hay không, có đúng quy định không.

    – Số tiền của L/C có đủ để thanh toán hàng hóa của mình hay không, nếu chưa đủ thì yêu cầu sửa lại cho đủ hoặc giao hàng vừa đủ với L/C.

    – Thời hạn giao hàng và thời hạn hiệu lực của L/C có mâu thuẫn với nhau không. Thời hạn của L/C có đủ để người bán luân chuyển chứng từ không.

    – Những yêu cầu về chứng từ thanh toán có rõ ràng và dễ thực hiện hay không, nếu thấy có điều gì gây khó khăn cho công ty phải yêu cầu sửa lại.”

    • Chuẩn bị hàng hoá:
    • Tiến hành các thủ tục để vay vốn tại ngân hàng:

    – Ngày 6/4 ngay sau khi ký kết hợp đồng với tập đoàn Melon, công ty tiến hành các thủ tục để vay vốn của ngân hàng BIDV.

    Số tiền vay là 10tỷ VND

    Lãi suất vay: 0.8%/tháng

    Hạn trả tiền vay: 08/04/2015

    – Ngày 8/4 công ty nhận được tiền vay

    • Thu mua nguyên liệu:

    Nguồn nguyên liệu: Để sản xuất lô hàng trên, công ty chúng tôi sử dụng loại vải 100% cotton cao cấp của tổng công ty 28 – AGTEX”

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ________________

    HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
    Số:13K/HĐMB

    Căn cứ Luật thương mại số 36/2005 /QH11 ban hành ngày 14/06/2005 của Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (có hiệu luật ngày 01/01/2006).

    Hôm nay, ngày 8 tháng 4 năm 2014

    Tại địa điểm: Số 7 – Lê Minh Xuân, Tân Bình, Hồ Chí Minh, Việt Nam

    Chúng tôi gồm:

    Bên A

    – Tên doanh nghiệp: Tổng công ty 28 – AGTEX

    – Địa chỉ trụ sở chính: Số 03 Nguyễn Oanh, Gò Vấp, TP HCM

    – Điện thoại: + 84 (8) 8942238 – 8945012 Fax:  + 84 (8) 8943053

    – Tài khoản số: 711A07984821    Mở tại ngân hàng:  Vietinbank-TP.HCM

    – Đại diện là: Đậu Quang Lành       Chức vụ: Tổng giám đốc

    Bên B

    – Tên doanh nghiệp: Tổng công ty cổ phần May Việt Tiến

    – Địa chỉ trụ sở chính: 07 Lê Minh Xuân, Quận Tân Bình,Hồ Chí Minh , Việt Nam

    – Điện thoại: 84-8-38640800 (22 lines)    Fax: 84-8-38645085-38654867

    – Tài khoản số: 003.1.00000196.6   Mở tại ngân hàng:Vietcombank chi nhánh Hồ Chí Minh

    – Đại diện là: Nguyễn Ngọc Trung      Chức vụ: Giám đốc điều hành

    Hai bên thống nhất thỏa thuận nội dung hợp đồng như sau:

    Điều 1: Nội dung công việc giao dịch:

    Bên A bán cho bên B:

    Tên hàng Mã hàng Số lượng(mét) Đơn giá
    (VND/m)
    Thành tiền
    (VND)
    Vải 100%
    cotton
    PPL01 13.500 100.000 13.500.000.000

    Tổng giá trị(bằng chữ): Mười ba tỉ năm trăm triệu Việt Nam đồng

     

    Điều 2: Giá cả và số lượng

    Đơn giá mặt hàng và số lượng hàng được quy định như điều khoản 1 trong hợp đồng

    Điều 3: Chất lượng và quy cách hàng hóa:

    Chất lượng và quy cách mặt hàng vải 100% cotton

    Tên sản phẩm      : PPL01

    Kiểu dệt          : Plain

    Chất liệu: 100% cotton

    Cấu trúc          : CM50*CM50

    Khổ TP            : 150cm (59″)

    Trọng lượng    : 109g/m2

    Điều 4: Bao bì và ký mã hiệu:

    -Cứ 100 m chiều dài vải được cuộn thành một cuộn theo khổ rộng 150cm

    – Mỗi cuộn được bọc bằng nylon PE chống hấp hơi, chống ẩm

    -Đóng thùng carton kích cỡ thùng rộng 155cm x  dài 240cm x cao 160 cm, 6 cuộn / 1thùng

    Điều 5: Phương thức giao nhận:

    1.Bên A giao cho bên B toàn bộ lô hàng vào 10 giờ sáng, ngày 15 tháng 4 năm 2016

    1. Địa điểm giao hàng là tại kho của bên A, tại Số 03 Nguyễn Oanh, Gò Vấp, TP HCM
    2. Phương tiện vận chuyển và chi phí vận chuyển do bên B chịu.
    3. Chi phí bốc xếp tại mỗi đầu do mỗi bên chịu

    5.Qui định lịch giao nhận hàng hóa mà bên mua không đến nhận hàng thì phải chịu chi phí lưu kho bãi là 1.000.000 đồng/ ngày. Nếu phương tiện vận chuyển bên mua đến mà bên bán không có hàng giao thì bên bán phải chịu chi phí thực tế cho việc điều động phương tiện.

    1. Khi mua hàng, bên mua có trách nhiệm kiểm nhận phẩm chất, qui cách hàng hóa tại chỗ. Nếu phát hiện hàng thiếu hoặc không đúng tiêu chuẩn chất lượng … thì lập biên bản tại chỗ yêu cầu bên bán xác nhận. Hàng đã ra khỏi kho bên bán không chịu trách nhiệm .

    Trường hợp giao nhận hàng theo nguyên đai, nguyên kiện, nếu bên mua sau khi chở về nhập kho mới phát hiện có vi phạm thì phải lập biên bản gọi cơ quan kiểm tra trung gian (Vina control) đến xác nhận và phải gửi đến bên bán trong hạn 10 ngày tính từ khi lập biên bản. Sau 15 ngày nếu bên bán đã nhận được biên bản mà không có ý kiến gì coi như đã chịu trách nhiệm bồi thường lô hàng đó.

    1. Mỗi lô hàng khi giao nhận phải có xác nhận chất lượng bằng phiếu hoặc biên bản kiểm nghiệm; khi đến nhận hàng người nhận phải có đủ:

    – Giấy giới thiệu của cơ quan bên mua;

    – Phiếu xuất kho của cơ quan bên bán;

    – Giấy chứng minh nhân dân.

    Điều 6: Phương thức thanh toán:

    Tại thời điểm ký hợp đồng, bên B đặt trước cho bên A 10 tỷ đồng tiền mặt. Số tiền còn lại là 3 tỷ 500 triệu đồng, bên B sẽ chuyển vào tài khoản của bên A tại ngân hàng BIDV trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận hàng.

    Điều 7: Trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện hợp đồng

    1. Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận trên, không đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, bên nào không thực hiện hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị phạt tới 10 % giá trị phần hợp đồng bị vi phạm
    2. Bên nào vi phạm các điều khoản trên đây sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện hành về phạt vi phạm chất lượng, số lượng, thời gian, địa điểm, thanh toán, … mức phạt cụ thể do hai bên thỏa thuận dựa trên khung phạt Nhà nước đã quy định trong các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế theo luật thương mại Việt Nam

    Điều 8: Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng:

    1. Hai bên cần chủ động thông báo cho nhau tiến độ thực hiện hợp đồng. Nếu có vấn đề gì bất lợi phát sinh các bên phải kịp thời thông báo cho nhau biết và tích cực bàn bạc giải quyết (cần lập biên bản ghi toàn bộ nội dung).
    2. Trường hợp các bên không tự giải quyết được mới đưa vụ tranh chấp ra tòa án.

    Điều 9: Các thỏa thuận khác

    Các điều kiện và điều khoản khác không ghi trong này sẽ được các bên thực hiện theo quy định hiện hành của các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế.

     

    Điều 10: Hiệu lực của hợp đồng:

    Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 8- 4 -2016 đến hết ngày 21-4-2016

    Hai bên sẽ tổ chức họp và lập biên bản thanh lý hợp đồng này sau khi hết hiệu lực không quá 10 ngày. Bên A có trách nhiệm tổ chức và chuẩn bị thời gian, địa điểm họp thanh lý.

    Hợp đồng này được làm thành 2…. bản, có giá trị như nhau, mỗi bên giữ 1  bản.

    ĐẠI DIỆN BÊN A                                                                ĐẠI DIỆN BÊN B

    Chức vụ:                                                                          Chức vụ:

    Ký tên                                                                                     Ký tên

    (Đóng dấu)                                                                                (Đóng dấu)

    • Sản xuất:

    – Ngày 15/4 sau khi nhận được lô vải mua từ công ty 20-AGTEX, 2 đơn vị May1 và May2 của công ty sẽ bắt đầu gia công vải thô thành vải màu và vải kẻ.

    – Thời gian gia công vải là 7 ngày

    – Thời gian hoàn  thành sản xuất là 4 ngày

    – Thời gian đóng gói hàng để xuất khẩu là 1 ngày

    Các hộp cáctông nhỏ được phủ bởi 1 lớp nilon mỏng (bao bì bên trong – inner packing), công nhân tiến hành xếp vào các thùng cáctông (bao bì bên ngoài – outer packing), cứ 1 thùng cáctông chứa 40 hộp áo sơmi được xếp cẩn thận. Trên bao bì có in nhãn mác của công ty, các hình ảnh quảng cáo sản phẩm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng. Những dấu hiệu hướng dẫn cách xếp và bốc dỡ ( như: tránh mưa, không dùng cẩu hàng….), số lượng hàng hóa trong thùng, số hiệu chuyến hàng, số hiệu kiện hàng được in trên vỏ thùng.”

    • Xin giấy phép xuất khẩu

    Hồ sơ xuất trình gồm: Đơn xin giấy phép, hợp đồng thương mại, Bản sao công chứng giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động được chuyển đến Phòng cấp giấy phép của Bộ Công Thương. Sau 3 ngày kể từ ngày nhận được đơn đó, Phòng cấp giấy phép sẽ trả lời.

     

    • Làm thủ tục hải quan:
    • Đăng kí và làm tờ khai hải quan:

    – Chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hóa lên tờ khai để cơ quan Hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Yêu cầu của việc khai này là trung thực và chính xác. Nội dung của tờ khai báo gồm những mục như:

    + Loại hàng: hàng mậu dịch,

    + Tên hàng: áo sơ mi nam tay dài, áo sơ mi nữ tay dài

    + Số lượng: 135000 chiếc

    + Giá trị hàng : 2.025.000 USD

    – Giấy tờ xuất trình kèm theo:

    + 3 tờ khai hải quan (2 bản chính, 1 bản photo)

    +Giấy phép xuất khẩu: 1 bản chính

    + Phiếu đóng gói

    + Bảng kê chi tiết

    • Xuất trình hàng hóa:

    Sắp xếp hàng hoá theo trật tự, thuận tiện cho việc kiểm soát, kiểm tra hàng hoá

    • Thực hiện các quy định của hải quan
    • Giao nhận hàng với tàu :

    – Lập bảng đăng ký chuyên chở cho người vận tải để đổi lấy sơ đồ xếp hàng.

    – Trao đổi với cơ quan điều động cảng để nắm vững ngày giờ tàu đến, ngày giờ làm hàng.

    – Bố trí phương tiện đem hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.

    – Lấy biên lai thuyền phó và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển hoàn hảo và chuyển nhượng được.

    • Làm thủ tục thanh toán:

       Sau khi hàng đã được giao lên tàu, nhân viên phụ trách của công ty tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C. Sau đó gửi cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo là ngân hàng BIDV để đòi tiền. Bộ chứng từ bao gồm:

    • Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
    • Vận đơn đường biển hoàn hảo (clean on board Bill of lading
    • Phiếu đóng gói hàng hoá (packing list)
    • Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)
    • Giấy chứng nhận số lượng (Certificate of quantity)
    • Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of quality)
    • Thông báo giao hàng (Notice of shipment)
    • Khiếu nại và giải quyết khiếu nại:

    – Khi thực hiện hợp đồng, nếu người mua khiếu nại đòi bồi thường, công ty sẽ xem xét kỹ lưỡng, nghiêm túc vụ việc và giải quyết khẩn trương, kịp thời, có tình có lý. Nếu khiếu nại của khách hàng là có cơ sở, công ty sẽ giải quyết bằng 1 trong những phương pháp sau:

    + Giao hàng thiếu

    + Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lượng.

    + Giảm giá hàng kém chất lượng.

    Nếu việc khiếu nại của khách hàng không có cơ sở mà 2 bên không thể hoà giải được, thì sẽ tiến hành phân xử nhờ trọng tài đã chỉ định.

    – Nếu sau khi công ty đã giao hàng đúng hẹn, xuất trình đầy đủ bộ chứng từ mà người mua không chịu trả tiền như đã quy định trong hợp đồng, công ty cũng sẽ kiện người mua tại hội đồng trọng tài.”

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kết Luận

    “Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn đặt ra các mục tiêu có lợi nhất cho công ty của mình. Chính vì vậy mà việc lập một phương án kinh doanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng , nó là điều kiện cần thiết mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần tiến hành. Nó giúp doanh nghiệp nắm rõ được các khoản chi phí của mình, đồng thời cũng nắm được khoản lợi nhuận mà công ty  mình đạt được là bao nhiêu.

    Thông qua việc lập phương án xuất khẩu cho sản phẩm của mình công ty đã đánh giá được hiệu quả kinh tế của lô hàng xuất khẩu của công ty . Các khoản chi phí được hạch toán một cách rõ ràng, đầy đủ đó chính là cơ sở cho công ty có thể thấy được việc sử dụng nguồn vốn của mình có hiệu quả hay không từ đó có những điều chỉnh thích hợp. Qua việc lập phương án, các công việc trong việc tíến hành xuất khẩu cũng được công ty sắp xếp một cách khoa học theo một trật tự nhất định, điều đó làm cho các công việc được tiến hành một cách nhanh chóng thuận tiện, nhanh chóng.

    Như vậy có thể khẳng định rằng việc lập phương án là hết sức cần thiết và quan trọng.

    Kiến nghị:

    Công tác ngoại thương là một công tác phức tạp, cân có chuyên môn vững vàng và nghiệp vụ thành thạo mới có thể thực hiện tốt các công việc trong lĩnh vực này chính vì vậy, đề nghị công ty tiến hành một số biện pháp sau:

    – Liên tục nâng cao trình độ tác nghiệp cho cán bộ ngoại thương nhằm đảm bảo thực hiên tốt các công đoạn trong việc thực hiên hợp đông ngoại thương đặc biệt: trong quá trình giao nhân, quá trình thanh toán

    –  Doanh  nghiệp cần có sự giám sát chặt chẽ trong quá trình thực hiện hợp đồng, tránh tối đa những sai phạm trong quá trình này và những tổn thất không cần thiết

    – Phối kết hợp chặt chẽ với ngân hàng, thực hiện đúng đủ các quy đình của pháp luật trong việc thanh toán quốc tế

    – Liên lạc thường xuyên với bên đối tác nhằm giải quyết những khúc mắc một cách nhanh chóng nhất, cho hàng được tới tay khách hàng một cách nhanh chóng

    – Một vấn đề vô cùng quan trọng là phải nâng cao vị thế của công ty trên thị trường

    – Khẳng định thương hiêu thông qua chất lượng hàng hoá, và các thương vụ kinh doanh hiệu quả

    Về viêc quản lý của nhà nước:

    – Cần tạo ra một cơ chế thông thoáng trong xuât khẩu, tiến hành các biên pháp cần thiết thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

    – Phía cơ quan Hải quan nên đẩy mạnh viêc ứng dụng trang thiết bị mới, giúp các doanh nghiệp thông quan một cách nhanh chóng

    Trên đây là những trình bày của em về một phương án xuất khẩu do kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong nhận được sự chỉ bảo thêm của các thây cô!”


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Th%C3%BAc-%C4%90%E1%BA%A9y-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-V%E1%BA%A3i-Thi%E1%BB%81u-Sang-EU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Thúc Đẩy Xuất Khẩu Vải Thiều Sang EU

    MỞ ĐẦU

    1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    – Tổng quát về nhu cầu của thị trường EU đối với các mặt hàng rau, củ, quả nhiệt đới. Mức độ tiêu thụ của thị trường đối với các mặt hàng này ra sao? Cơ hội đối với các nhà xuất khẩu như thế nào?

    – Tiềm năng của thị của rau củ quả Việt Nam như thế nào: Nguồn cung, gía cả, chất lượng các mặt hàng ra sao? Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu rau, củ quả ra thị trường thế giới ra sao? Thu được những kết quả nào.

    – Giới thiệu về mặt hàng Vải Thiều của Việt Nam. Kết quả thu được của hoạt động xuất khẩu vải thiều ra thị trường thế giới ra sao? Thị trường EU thế nào? Thuận lợi và khó khăn.

    – Đặt vấn đề cho việc Xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU.

    Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những nước được coi là thiên đường hoa quả. Trải dài từ đất mũi Cà Mau, băng qua những miệt vườn trĩu quả, với những phiên chợ nổi bồng bềnh trên sông. Hay lên trên đỉnh đầu đất nước, với những vườn lớn tràn ngập vải thiều, và những chuyến ô tô mang vải đi khắp các nẻo đường đất nước. Hoa quả Việt Nam không chỉ nổi tiếng về sự đa dạng phong phú của chủng loại, màu sắc, hương vị mà còn đặc trưng bởi số lượng lớn. Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, hoa quả xuất khẩu ngày nay đã và đang khẳng định vị trí của mình trên thị trường thế giới như: EU, Mỹ, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Đài Loan…, và góp phần đáng kể trong cơ cấu GDP của Việt Nam.

    Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình hội nhập, sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp độ, Việt Nam đã nhận thấy EU là một thị trường lớn cần được đầu tư khai thác.  EU là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam với kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2012 đạt trên 29 tỷ USD, riêng năm 2013 đã đạt 26,6 tỷ euro, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang EU tới 21,3 tỷ Euro, nhập khẩu từ EU chỉ là 5,3 tỷ euro đặc biệt là xuất khẩu hàng nông, lâm sản. Các mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang EU gồm cà phê, hạt tiêu, hạt điều, chè, rau, hoa quả, các sản phẩm từ ngũ cốc… Các sản phẩm rau gia vị xuất khẩu sang thị trường EU trung bình khoảng 600 ngàn tấn/năm. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu rau, quả Việt Nam sang thị trường này đang có dấu hiệu giảm sút. Trong năm 2012, xuất khẩu rau, quả tăng trưởng chậm lại do vướng mắc các quy định về chất lượng của các nước nhập khẩu, đạt xấp xỉ 829 triệu USD, chỉ tăng 33,4% so với năm 2011, do có nhiều lô hàng xuất khẩu vi phạm các quy định của EU. thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU không ngừng tăng trưởng. Năm 2013-2014 bị thụt giảm đáng kể do các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên nếu được ký kết, Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng 15%. FTA sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang EU nhiều hơn. Dự tính, hiệp định này sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng 30-40% và nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này tăng 25-35%.

    2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    Mục đích nghiên cứu:

    Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ các lý luận về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu, dựa trên kết quả phân tích thực trạng, cũng như thành công và thất bại của hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam nói chung và vải thiều nói riêng trong giai đoạn ….. Từ đó đề xuất những định hướng, kiến nghị và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Vải thiều vào thị trường EU trong những năm tới, đặc biệt là trong điều kiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU đươc kí kết: Việt Nam- EU ( EVFTA), Asean- EU, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương ( TPP)…

    Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

    – Thứ nhất, nhóm đề tài dựa trên cơ sở lý luận đã được học về hoạt động xuất khẩu và sự cần thiết phải thúc đẩy hoạt động Xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam.

    – Thứ hai, quan phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam trong giai đoạn 2011-2014. Từ đó rút ra những nhận xét, phân tích và đánh giá ưu, nhược điểm cũng như cơ hội và thách thức của nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới trong giai đoạn 2011-2014, cũng như những trở ngại mà các doanh nghiệp Việt đang phải đối mặt.

    -Thứ ba, đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy cũng như nâng cao giá trị cho nông sản Việt Nam tại thị trường thế giới và EU trong giai đoạn 2016-2020 và nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới.

    3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thúc đẩy xk nông sản của VN sang thị trường EU

    Phạm vi nghiên cứu:

    – Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu để tìm hướng đi cho Vải thiều Việt Nam của các doanh nghiệp Xuất khẩu nông sản tại thị trường EU.

    – Về thời gian: Giai đoạn những năm 2011-2014 và định hướng đến năm 2020.

    4.     PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Đề tài vân dụng lí thuyết Xuất nhập khẩu cũng như lí thuyết về chiến lược kinh doanh của các công ty đa quốc gia để phân tích cũng như đánh giá thực trạng của hoạt động xuất khẩu Vải thiều của các công ty xuất khẩu nông sản.

    Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin thu thập. Phương pháp tổng hợp và phân tích đối với các tư liệu, khái quát thành các bảng và biểu đồ kết hợp dùng mô hình SWOT trong phân tích ưu, nhược điểm, cơ hội và thách thức của nông sản Việt Nam tại EU.

    Đề tìa sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập được qua các tài liệu tham khảo, dữ liệu công bố rộng rãi trên các Website của các công ty, cục Thương mại quốc tế và một số các bài báo viết về nông sản Việt nam…
    5. BỐ CỤC ĐỀ TÀI

    Ngoài phần mở đầu, kết thúc, mục lục, danh mục tài liệu tham khải, đề tài gồm 3 phần chính như sau:

    Chương 1: Lí luận chung về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Vải thiều vào Eu.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động Xuất khẩu Vải thiều vào EU.

    Chương 3: Phương hướng, giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Vải thiều Việt Nam vào thị trường EU.

    CHƯƠNG 1

     LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU VẢI VÀO EU

    1.1 Lý luận chung về xuất khẩu

    1.1.1. Lịch sử của xuất khẩu:

    • Thế kỷ II TCN, tại Trung Quốc thời Hán, Con đường tơ lụa bắt đầu được hình thành. Đây là một con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á, nó được coi như huyết mạch thông thương buôn bán của những “thương nhân lạc đà’. Con đường tơ lụa là biểu hiện đầu tiên của thương mại quốc tế.

    Con đường hổ phách cũng được coi là thương mại quốc tế cổ đại, là một tuyến đường thương mại cổ phục vụ cho việc vận chuyển hổ phách. Trong nhiều thế kỷ, con đường này đã nối liền châu Âu và châu Á, từ Bắc Phi tới biển Baltic, là một trong những tuyến đường bộ và đường thủy quan trọng cho việc thông thương.

    Thương mại quốc tế dần trở nên phổ biến và nắm giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia.

    • Khái niệm “xuất khẩu” (export) dần dần được hình thành. Cuối thế kỷ 15 bắt đầu xuất hiện khái niệm xuất khẩu- export từ “exportare” trong tiếng Latin (ex- out + portare- carry).

    Tới thế kỷ 17, khái niệm này đã trở nên phổ biến.

    1.1.2. Khái niệm xuất khẩu

    • Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Vậy, xuất khẩu là việc bán hàng hóa (hữu hình hay vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).
    • Theo điều 28 trong Luật thương mại 2005 của Việt Nam: xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổi Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
    • Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF, xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
    • Cũng có thể nói, xuất khẩu là sự phản ánh các mối quan hệ giữa các quốc gia và sự phân công lao động quốc tế, chuyên môn hóa sản xuất dựa trên lợi thế so sánh của từng quốc gia.

    Như vậy, hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của ngoại thương và đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng tới những hàng hóa phục vụ sản xuất…Tất cả những hoạt động trao đổi đó đều mang lại lợi ích cho các quốc gia.

    1.1.3 Các hình thức xuất khẩu

    Cùng với sự toàn cầu hóa, các hình thức xuất khẩu cũng dần trở nên phong phú hơn. Tuy nhiên, chúng ta sẽ xét đến các hình thức xuất khẩu phổ biến:

    • Xuất khẩu trực tiếp: là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài.

    Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là công ty xuất khẩu có thể chủ động hơn trong việc kinh doanh, giảm bớt được các chi phí trung gian, mở rộng quan hệ kinh doanh hơn nhờ việc trực tiếp giao dịch với khách hàng. Tuy nhiên, khi tham gia thương mại quốc tế bằng hình thức này, doanh nghiệp có thể gặp phải những khó khăn do chi phí giao dịch trực tiếp lớn, rủi ro cao do không am hiểu thị trường nước bạn. Các công ty chọn hình thức xuất khẩu này cần là các công ty có quy mô lớn, có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của các nhân viên cao.

    • Xuất khẩu gián tiếp: là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua trung gian (bên thứ ba).

    Hình thức này vẫn được các công ty vừa và nhỏ ưu tiên sử dụng. Nó khắc phục được các nhược điểm của hình thức xuất khẩu trực tiếp, giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, hình thức này có một yếu điểm là xuất hiện bên thứ ba. Việc kiểm soát bên thứ ba không phải là đơn giản, và công ty có thể gặp phải rủi ro do sự thiếu trách nhiệm hay sự gian dối từ phía trung gian.

    • Xuất khẩu gia công ủy thác: là hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hưởng phí ủy thác theo thỏa thuận với các xí nghiệp ủy thác.

    Ưu điểm của hình thức này là độ an toàn cao do dựa vào vốn của người khác để kinh doanh thu lợi và chắc chắn sẽ được thanh toán. Ngoài ra, doanh nghiệp sử dụng hình thức này còn có cơ hội nhập được những trang thiết bị công nghệ cao, tạo nguồn vốn để xây dựng cơ bản.

    Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm là lợi nhuận thu được không cao; khách hàng không biết đến đơn vị gia công nên không nắm được nhu cầu thị trường hay mở rộng thị phần.

    Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường ở vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài. Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì sẽ chuyển sang thuê nước ngoài gia công cho mình.

    • Xuất khẩu tại chỗ: trong trường hợp này, hàng hóa và dịch vụ vẫn chưa vượt khỏi biên giới quốc gia, nhưng có ý nghĩa kinh tế tương tự như hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, khách du lịch nước ngoài..

    Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong khi vẫn có thể thu được ngoại tệ. Ngày này, phương thức này được sử dụng rộng rãi và được đẩy mạnh phát triển.

    • Tái xuất khẩu và chuyển khẩu:

    Tái xuất khẩu: là hoạt động tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại xuất khẩu sang một nước thứ ba. Ở đây có cả hoạt động mua và bán, nên mức rủi ro lợi nhuận có thể lớn và lợi nhuận có thể cao.

    Chuyển khẩu: trong hoạt động này không có hành vi mua bán mà chỉ đơn thuần là thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản… Lợi thế của hình thức này là hàng hóa được miễn thuế xuất khẩu.

    1.1.4. Vai trò của xuất khẩu.

    • Đối với nền kinh tế quốc dân

    Xuất khẩu là một trong những hoạt động chủ yếu của thương mại quốc tế, nắm giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia:

    Một là, xuất khẩu giúp tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Cùng với vốn đầu tư nước ngoài, vốn từ hoạt động xuất khẩu có vai trò quyết định đối với quy mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu.

    Công nghiệp hóa đất nước là một bước đi phù hợp cho sự phát triển, tuy nhiên, để có thể thực hiện công nghiệp hóa đòi hỏi phải có số lượng vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến. Những nước đang phát triển là những nước đang nằm trong tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ và thừa lao động. Đối với những nước này, việc nhập khẩu lại càng cần thiết. Song, muốn nhập khẩu thì cần có ngoại tệ. Nguồn vốn ngoại tệ có thể lấy được từ các hình thức: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ và thu từ xuất khẩu…Nguồn vốn chủ động nhất là nguồn lấy từ xuất khẩu. Cho nên, có thể nói xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu.

    Hai là, xuất khẩu thúc đẩy sản xuất và đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, việc dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới là tất yếu, và các nước cần đấy mạnh các hoạt động chuyển dịch.

    Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế:

    • Xuất khẩu chỉ là tiêu thụ các sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Với các nước đang phát triển, trong điều kiện nền kinh tế còn lạc hậu, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, và nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ không có cơ hội phát triển
    • Trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nước, coi thị trường là điểm xuất phát và đặc biệt coi thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất, thị trường cần thì mình sản xuất, gắn với tiềm năng, thực lực của đất nước. Việc nhìn nhận hoạt động xuất khẩu theo hướng này có tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển:

    – Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Ví dụ như, khi du lịch phát triển, các ngành kèm theo như sản xuất thủ công mỹ nghệ, dịch vụ khách sạn, sản xuất hàng tiêu dùng… cũng phát triển theo.

    – Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. So với cách nhìn nhận thứ nhất, xuất khẩu chỉ có khi có các sản phẩm thừa của thị trường nội địa, ở đây, ta hướng thị trường là trung tâm, sản xuất những thứ thị trường cần. Việc coi thị trường quốc tế rộng lớn là thị trường chính thay vì chỉ phục vụ thị trường nội địa nhỏ bé, rõ ràng đã mở rộng thị trường tiêu thụ, việc sản xuất cũng nhờ đó mà phát triển hơn.

    – Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

    – Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới, các cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường.

    Còn rất nhiều những tác động khác của xuất khẩu như việc tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia, đóng góp quan trọng trong việc đưa đất nước trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thể hiện sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Các tác động này đều dẫn đến việc dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng tích cực.

    Ba là, xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Như đã phân tích ở trên, xuất khẩu có ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển. Từ đó, vấn đề việc làm cho người dân sẽ được giải quyết, tạo ra thu nhập ồn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân.

    Bốn là, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta trên cơ sở vì lợi ích các bên, đồng thời gắn liền sản xuất trong nước với quá trình phân công lao động quốc tế. Xuất khẩu là một trong những nội dung chính trong chính sách kinh tế đối ngoại của nước ta với các nước trên thế giới vì mục tiêu phát triển đất nước.

    Hoạt động xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, tạo động lực để giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách quan của việc tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển nền kinh tế

    • Đối với các doanh nghiệp

    Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia và tiếp cận thị trường thế giới. Nếu thành công, đây sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp mở rộng thị trường và khả năng sản xuất của mình.

    Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

    Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế, tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã hàng hóa… Đây là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nâng cao năng lực của doanh nghiệp đó.

    Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng tận dụng được năng lực sản xuất dư thừa, nhằm tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao doanh số và mở rộng thị trường.

    1.2. Thúc đẩy xuất khẩu

    1.2.1. Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu

    Thúc đẩy xuất khẩu là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của mình thông qua các hình thức xuất khẩu khác nhau nhằm gia tăng sản lượng xuất khẩu, tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa dựa trên khả năng của doanh nghiệp như tài chính, trình độ lao động, trình độ công nghệ…

    Thúc đẩy xuất khẩu là một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu đối với các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận kinh doanh, mở rộng quy mô hoạt động.

    1.2.2. Các nhân tố thúc đẩy xuất khẩu

    * Các nhân tố khách quan

    (1) Thuế quan

    Thuế xuất khẩu là một công cụ quản lý chính của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu. Thuế này được nhà nước ban hành theo hướng có lợi nhất cho quốc gia mình, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả phát triển sản xuất, bảo về nền sản xuất trong nước. Nếu chính phủ muốn hỗ trợ phát triển xuất khẩu ngành hàng nào đó, thuế xuất khẩu cho mặt hàng này sẽ rất thấp để khuyến khích xuất khẩu và ngược lại, khi chính phủ muốn hạn chế xuất khẩu mặt hàng nào sẽ đánh thuế cao mặt hàng đó.

    Ở Việt Nam hiện nay, để khuyến khích hoạt động xuất khẩu, thuế xuất khẩu hàng hóa của chúng ta là 0%.

    (2) Hạn ngạch

    Hạn ngạch xuất khẩu là một công cụ trong hàng rào phi thuế quan, là những quy định của chính phủ về số lượng xuất khẩu của một mặt hàng nào đó được phép xuất từ nội địa ra nước ngoài.Cũng như thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu nhằm quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp hiệu quả hơn.

    (3) Trợ cấp xuất khẩu

    Là một trong những biện pháp nhằm mở rộng thúc đẩy xuất khẩu đối với những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu. Có những hình thức trợ cấp như: trợ giá, miễn giảm thuế xuất khẩu, giảm lãi vốn vay cho hoạt động xuất khẩu…

    (4) Chính trị, pháp luật

    Các quy định của nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các hiệp định thương mại quốc tế… đều có ảnh hưởng quan trọng tới việc xuất khẩu của các doanh nghiệp.

    * Nhân tố chủ quan

    Nhân tố chủ quan là những nhân tố bên trong doanh nghiệp có tác động tới vấn đề xuất khẩu. Các nhân tố như bộ máy quản lý doanh nghiệp, khả năng vốn- tài chính, nhân tố con người, khoa học kỹ thuật, uy tín của doanh nghiệp… đều là những nhân tố quan trọng cho việc xuất khẩu. Việc hiểu rõ thực lực của mình nhằm hạn chế yếu điểm và phát huy ưu điểm của doanh nghiệp sẽ giúp việc xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp trở nên dễ dàng và có cơ hội thành công lớn.

    1.2.3. Thúc đẩy xuất khẩu

    Từ việc hiểu rõ các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu, việc thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn.

    Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu chủ yếu bao gồm:

    Nhóm giải pháp liên quan tới cung: mở rộng quy mô sản xuất, trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng…

    Nhóm giải pháp liên quan tới cầu: nghiên cứu mở rộng thị trường, xúc tiến quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài…

    Các giải pháp khác: nâng cao năng lực cạnh tranh từ các hoạt động thu hút vốn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

    1.3. Hoạt động xuất khẩu vải thiều Việt Nam ra thị trường thế giới

    1.3.1. Thị trường vải thiều thế giới

    1. Sản lượng vải quả thế giới 2014

    – Sản lượng vải quả của toàn thế giới ước đạt khoảng 2,3 – 2,6 triệu tấn mỗi năm và dự báo sẽ tăng lên chủ yếu do hoạt động sản xuất của các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan. Năm 2014, sản lượng vải quả của thế giới đạt khoảng 2,6 triệu tấn, trong đó các nước châu Á chiếm khoảng 95% tổng sản lượng, Trung Quốc và Ấn Độ lần lượt chiếm khoảng 57% và 24% về lượng- Việt Nam chiếm khoảng 6% và đứng vị trí thứ 3 về sản xuất (Bảng 1).

    Bảng 1.1 – Sản xuất vải quả của Việt Nam so với các nước trên thế giới

    Nước Sản xuất (tấn) Tỷ trọng (%)
    Trung Quốc 1.482.000 57,00
    Ấn Độ 624.000 24,00
    Việt Nam 156.000 6,00
    Madagascar 100.000 3,85
    Đài Loan 80.000 3,08
    Thái Lan 43.000 1,65
    Nepal 14.000 0,54
    Băng la đét 13.000 0,50
    Reunion 12.000 0,46
    Nam Phi 8.600 0,33
    Mauritius 4.500 0,17
    Mexico 4.000 0,15
    Pakistan 3.000 0,12
    Úc 2.500 0,10
    Israel 1.200 0,05
    Mỹ 600 0,02
    Khác 51.600  
    Thế giới 2.600.000 100,00

    Nguồn: AgroData (2014)

    Trung Quốc, Ấn Độ là 2 nước có sản lượng vải thiều lớn nhất thế giới song thị trường tiêu thụ chính là nội đia chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường nội địa. Việt Nam xuất khẩu tới 40% sản lượng vải của cả nước nhưng chủ yếu chỉ qua cửa khẩu phụ và lối mở biên giới nên chưa có mặt trên bản đồ như một nhà xuất khẩu lớn về vải. Và do vậy, dẫn đầu về xuất khẩu là các nước Madagasca (xuất khẩu khoảng 25% sản lượng, chiếm khoảng 70% thị phần ở EU cũng như xuất khẩu toàn thế giới), Nam Phi (xuất khẩu tới 90%) hay Israel (hơn 70% sản lượng) (GHD, 2013). Tổng lượng xuất khẩu trên thế giới chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ – khoảng 2% tổng sản lượng sản xuất. Số liệu năm 2008 là khoảng 32.000 tấn.

    Hoạt động sản xuất vải quả diễn ra chủ yếu ở khu vực phía Bắc bán cầu và chỉ một lượng nhỏ ở Nam Bán cầu (gồm Úc, Madagasca, Nam Phi và một số quốc gia khác). Trong tương lai dự báo Bra-xin cũng có thể xuất khẩu vải quả sang Mỹ khi nguồn cung cho thị trường nội địa đã dư thừa. Do sự khác biệt về mùa vụ trong năm, quả vải được thu hoạch chủ yếu tại Bắc bán cầu vào mùa hè (giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7), trong khi mùa thu hoạch ở phía Nam bán cầu diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2.

    Bảng 1.2- Phân bổ mùa vụ vải quả giữa các nước trên thế giới

    Nguồn: AgroData (2014)

    1. Nhu cầu vải thiều trên thế giới

    – Theo dự báo của các nhà xuất khẩu vải Úc, nhu cầu tiêu thụ vải quả trên thế giới sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng trong thời gian tới. Vải quả tươi sẽ vẫn được ưa chuộng nhưng xu hướng đa dạng. Nhu cầu tiêu thụ vải quả trên thế giới hóa các sản phẩm vải quả sẽ vẫn diễn ra mạnh mẽ. Các sản phẩm bánh kẹo, mứt, bột và nước ép sẽ xuất hiện nhiều hơn ở các phân khúc bán buôn thay vì chỉ có sản phẩm vải tươi thống trị phân khúc này như trước kia. Đồn g thời người tiêu dùng sẽ ngày càng khó tính hơn khi lựa chọn các sản phẩm vải quả do họ có nhiều lựa chọn hơn từ các nước khác nhau trên thế giới song xu hướng rõ ràng là những sản phẩm an toàn và giữ được hương vị tự nhiên sẽ được ưu tiên hơn.

    Bảng 1.3. Các sản phẩm vải quả, yêu cầu về chất lượng, bao gói và đặc điểm kênh phân phối, giao dịch tại các thị trường trên thế giới

    Tên sản phẩm Mô tả/cách thức phân phối, giao dịch trên thế giới
     

     

     

     

     

     

    Vải quả tươi

    Đóng gói, bảo quản, vận chuyển:

     

    Vải tươi từ các nước được xử lý bảo quản, đóng thùng, dán nhãn, xuất khẩu bằng đường hàng không hoặc đường bộ (trường hợp các nước liền biên giới).

    Phân phối:

    Sản phẩm được bán tại các siêu thị, cửa hàng hoặc được nhà phân phối chuyên nghiệp giao đến tận nhà những người tiêu dùng đã đặt hàng (ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người mua đặt hàng trước 1-2 ngày, cửa hàng phân phối sẽ lựa chọn vải theo yêu cầu và giao hàng tại nhà).

    Giá bán lẻ: 29-32 USD/kg

    Đặt hàng trước 1-2 ngày theo máy bay

    Yêu cầu: Độ đồng đều (ví dụ thị trường Floria Mỹ yêu cầu đường kính 1,5 inch/quả), màu vải tươi tự nhiên, xử lý xạ/nhiệt để đảm bảo không có dịch bệnh.

     

     

     

    Vải đóng hộp

    Các sản phẩm vải đóng hộp rất đa dạng, tùy thuộc vào thị hiếu của từng thị trường. Theo đó mức độ ngọt, trọng lượng hộp, số lượng quả vải trong mỗi hộp sẽ dao động tùy theo thị trường. Ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người tiêu dùng thường dùng các hộp có khoảng 20 quả vải đã được bóc vỏ, bỏ hạt và đóng hộp trong khoảng 1,5 cốc xi-rô đường.

     

    Giá bán lẻ: Từ 5-25 USD/hộp tùy thị trường (Ví dụ tại Trung Quốc chỉ khoảng 5-10 USD/hộp 20 quả, tại châu Âu khoảng 25 USD/hộp 20 quả).

     

     

    Bột vải quả, nước vải quả cô đọng

    Vải quả nghiền, cô đọng, sử dụng để làm đồ uống hỗn hợp, sorbets, sinh tố hoặc đổ lên kem, Phân phối: Chủ yếu bán tại các siêu thị và cũng được giao hàng tận nhà nếu có yêu cầu.

     

    Giá bán: 25 USD/túi 0,5kg

    Yêu cầu: Độ mịn, độ đường đạt tiêu chuẩn của thị trường tiêu thụ.

     

     

    Bánh kẹo từ vải quả, vải sấy khô

    Vải sấy khô, kẹo vải, bánh vải, vải ngâm mật ong… Lychee Gummys, Dried Lychees, Lychee Honey, Lychee Gel Cup

     

    Các sản phẩm này chủ yếu bán ở các siêu thị

     

     

     

    Mứt vải

    Mứt vải rất được ưa chuộng tại Mỹ và châu Âu, nhất là khi mùa vải tươi đã kết thúc. Dùng để ăn sáng với bánh mì.

     

    Phân phối: Được bán phổ biến trong các siêu thị

     

     

     

    Si rô vải

    Si rô vải được chế biến theo công thức riêng của từng nhà sản xuất, chể kết hợp với một số thành phần khác để vừa đạt yêu cầu về dinh dưỡng, hương vị, vừa đáp ứng một yêu cầu riêng gì đó về sức khỏe  (ví dụ được dùng như một loại thực phẩm chức năng: Vải quả rất tốt cho những người cao huyết áp, chứa một lượng rất thấp natri, nhưng lượng kali cao trong một khẩu phần vải)
     

     

     

    Nước ép vải

    Nước ép vải rất phổ biến tại các siêu thị trên thế giới. Tại Mỹ, nước ép vải từ Nam Phi, Đài Loan và Malaysia đã có chỗ đứng trong các siêu thị lớn (Việt Nam chưa thâm nhập được thị trường này).

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

     

     

    Trà vải

    Trung Quốc, Đài Loan đã sản xuất trà đen hương vải, trà tẩm vị vải tươi tự nhiên và đã xuất khẩu được sang Mỹ, châu Âu.

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

     

     

     

    Kem dưỡng da từ vải quả

    Sản phẩm chăm sóc da vải quả được tinh chế nhằm đảm bảo mùi thơm và công dụng tự nhiên của vải quả đối với da, đồng thời có đặc trưng của vải quả tươi với ánh đỏ nhạt gợi cảm.

     

    Hiện nay các nhà sản xuất của Thái Lan đã xuất khẩu được sản phẩm này sang Mỹ.

    (Nguồn: Tổng hợp từ trang điện tử của các siêu thị lớn của Hoa Kỳ và châu Âu)

    Mức giá bán sản phẩm vải quả có sự khác biệt đáng kể giữa các thị trường và có thể tham khảo ở Bảng 4 dưới đây với mức từ 300,000 đ ở châu Âu đến 600.000đ – 700.000đ ở Mỹ.

    1. Vải thiều Việt Nam trên thị trường thế giới

    Các cấu trúc hiện tại của sản phẩm vải thiều xuất khẩu chủ yếu bao gồm vải thiều tươi, vải sấy khô và vải thiều đóng hộp. Xuất khẩu vải tươi được đóng gói trong hộp xốp với bảo quản lạnh. Với sự mở rộng của khu vực sản xuất vải thiều đạt tiêu chuẩn VietGAP, có một số lượng lớn vải thiều Việt Nam có chất lượng tốt với bao bì thích hợp, chứng chỉ đầy đủ của nguồn gốc sản phẩm và kiểm dịch thực vật.

    Các sản phẩm chế biến từ vải như: nước ép vải, vải thiều sấy khô, đóng hộp vải thiều đông lạnh có giá trị gia tăng cao được maily xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và EU, chiếm 15% tổng khối lượng xuất khẩu. Bên cạnh đó, vải thiều nhuyễn cũng là một sản phẩm tiềm năng. Theo ước tính của một số công ty xuất khẩu vải thiều Việt, năm tấn vải tươi có thể làm cho một tấn vải thiều nhuyễn.

    • Thị trường xuất khẩu và các loại hình xuất khẩu

    Các thị trường xuất khẩu chính của vải thiều Việt Nam hiện tại Trung Quốc. Bên cạnh đó, một số lượng nhỏ của vải thiều được xuất khẩu sang một số thị trường phát triển như Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, và Singapore. Theo thông tin thu thập được từ các doanh nghiệp, số lượng đơn đặt hàng từ các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Lào, Campuchia và thậm chí Nga trong mùa vải thiều năm 2014 là lớn hơn so với mùa trước. Thứ hai tới Trung Quốc, thị trường Nhật Bản đã ra lệnh 3.000 tấn vải tươi trong mùa giải năm nay.

    Bảng 1.4- Các thị trường xuất khẩu vải thiều chính của Việt Nam 2008 – 2012

    Nno. Country 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 (*)
    1 China 386,288 1,024,048 324,349 3,843,312 14,620,374 18,564,683 17,000,000
    2 UAE 63,450 82,800 82,800 120,450 145,200 172,500  
    3 South Korea 38,146 35,938 17,600 20,488 100,230 319,850  
    4 The Netherlands 88,400 79,350 66,096 175,667      
    5 France 120,314 111,120 19,610 98,235 3,250    
    6 The UK 47,626   46,800 69,228   55,000  
    7 Canada   141,990          
    8 Laos 6,200   47,442 11,560 2,820 3,384  
    9 Singapore       8,820 16,800 25,761  

    Nguồn: Số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam năm 2014 

    Thị trường Trung Quốc: Xuất khẩu vải của Việt Nam sang Trung Quốc  chiếm 95% tổng sản lượng xuất khẩu và tăng nhanh chóng trong những năm gần đây qua. Trong năm 2014, do một số vấn đề chính trị, khối lượng vải thiều xuất sang Trung Quốc giảm 10% cho các năm trước năm 2013 và chiếm 52% tổng sản lượng vải thiều (theo dự toán của Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang ). Tuy nhiên, vải thiều xuất sang Trung Quốc chủ yếu qua các cửa khẩu phụ hoặc lối vào biên giới Việt Nam nên đã không được ghi nhận trong bản đồ thế giới về xuất khẩu vải thiều mặc dù có một vị trí thứ ba về sản lượng vải thiều.

     Hàn Quốc: Doanh thu xuất khẩu vải thiều sang thị trường này ngày càng tăng trong vài năm qua. Hàn Quốc là một thị trường khó tính trong đó có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm. Vì vậy, nó là một dấu hiệu tốt cho ngành vải thiều Việt Nam khi vải thiều Việt đã bước vào thị trường này với sự gia tăng doanh thu xuất khẩu.

    Nhật Bản: Theo thống kê của hiệp hội rau quả quốc gia Việt Nam,  trong năm 2014, đã có 11 đại biểu đến từ Nhật Bản để thực hiện một đơn đặt hàng 3.000 tấn vải thiều Việt đến thị trường khó tính này.

    Người ta ước tính rằng trong năm 2014, khối lượng của vải thiều xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc tăng 10%.

    Người trồng vải thiều ở xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ của Viện Nghiên cứu và phát triển khu vực thí điểm vải thiều xuất khẩu sang Nhật Bản với việc tuân thủ các thủ tục CAS (công nghệ Nhật Bản đóng băng quich, sử dụng cho các sản phẩm thủy sản , các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm bảo quản). Ngày 20 tháng sáu 2014, 20 tấn vải thiều Lục Ngạn bảo quản với công nghệ CAS đã được xuất khẩu sang Nhật Bản.

    • Các kênh phân phối

    Vải thiều hiện nay được thu hoạch và phân phối ra thị trường thế giới thông qua ba kênh chính:

    Thứ nhất: vải thiều tươi từ các hộ gia đình trồng đến các đại lý / thương nhân thu mua vải thiều xuất khẩu và sau đó xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu phụ, lối vào đường biên giới hoặc thông qua thương mại chính thức. Kênh này hiện nay chiếm khoảng 40% sản lượng hàng năm vải thiều.

    Thứ hai: vải thiều tươi từ các hộ gia đình trồng đến các đại lý thu mua vải thiều xuất khẩu sau đó cho các doanh nghiệp xuất khẩu vải hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp ký hợp đồng và mua từ người trồng để xuất khẩu vải tươi sang các thị trường mở để chế biến khô, đóng hộp vải hoặc vải nhuyễn cho xuất khẩu chính thức sau này . Đây là một kênh xuất khẩu quan trọng mà cần phải được đầu tư để phát triển hơn nữa trong thời gian tới để chỉ kênh này có thể cho thấy tiềm năng của sự chú ý để đầu tư cho phát triển bền vững.

    Thứ ba: vải thiều tươi từ các hộ gia đình trồng đến các đại lý và sau đó đến các thị trường bán buôn, bán lẻ hoặc siêu thị để tiêu thụ trong nước. Chiếm kênh này cho 55% đến 60% sản lượng hàng năm vải thiều.

    Tốc độ tăng trưởng bình quân của xuất khẩu vải thiều Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012 đạt 220%/năm. Trong năm 2013, doanh thu xuất khẩu xuất khẩu vải thiều đạt 19 triệu USD, tăng 26% so với năm 2012. Trong năm 2014, doanh thu xuất khẩu là 17 triệu USD thấp hơn so với mùa trước 10%. Nhờ áp dụng công nghệ VietGap, trong những năm qua chất lượng vải thiều Việt Nam tường bước được cải thiện đáp ứng nhu cầu thị trường và ngày càng được ưa chuộng. Tuy nhiên doanh thu xuất khẩu và giá cả không ổn định mà hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu.

    Các kênh phân phối

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nguồn: IPSAR

    1.3.2. Tình hình xuất khẩu vải thiều của Việt Nam

    • Giá trị xuất khẩu

    Hình 1.1- Giá trị xuất khẩu vải thiều Việt Nam, 2008-2014 (Million USD)

    Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam

    Giá tại nơi sản xuất:

    Trong thực tế, có một sự khác biệt lớn về giá vải thiều giữa các loại về chất lượng. Bởi chất lượng, vải có thể được phân loại như loại 1, loại 2 và loại 3. Giá của loại 1 (tốt, tươi, đẹp mắt…) là cao nhất. Bên cạnh đó, giá vải thiều thay đổi từ vùng trồng khác nhau.

    Ví dụ, vải thiều Lục Ngạn, Bắc Giang và Thanh Hà, tỉnh Hải Dương được mua với giá cao hơn nhiều và ổn định hơn so với vải thiều từ các địa điểm khác. Đây là một thực tế dễ hiểu vì hai lý do:

    • Chất lượng và sự xuất hiện của vải thiều Lục Ngạn và từ Thanh Hà là tốt hơn so với vải thiều từ các khu vực khác
    • Những khu vực 2 được nổi tiếng cho vải thiều với công nhận tên thương hiệu để chúng được chú ý hơn bởi các thương nhân.

    Bên cạnh đó, thời gian thu hoạch là yếu tố thứ ba có ảnh hưởng đến giá vải thiều. Vải thiều sớm được thu hoạch từ 25/5 – 20/6 và từ 15/6 – 15/ 7 hàng năm. Giá vải thiều bình thường cao vào đầu và cuối mùa, thấp ở giữa mùa thu hoạch. Giá vải thiều trung bình trên toàn bộ tỉnh Bắc Giang là 14.300 đồng/ kg vào năm 2013 và 11.400 đồng/ kg trong năm 2014 với mức giá cao nhất được ghi nhận là 25.000 đồng/ kg. Tổng giá trị sản xuất vải ở tỉnh Bắc Giang ước tính của Mỹ $ 104,000,000.

     Giá xuất khẩu:

    Trong hợp đồng xuất khẩu vải thiều giữa Việt Nam với khách hàng Trung Quốc là 20000- 27,000 đồng/ kg. Song giá trao đổi trực tiếp tại các cửa khẩu chỉ từ 10,000- 20,000 đông/kg. Đáng chú ý, giá xuất khẩu vải thiều Lục Ngạn của năm 2013 đạt bình quân 22,00- 30,000 đồng/ kg, nhưng 2014 nó chỉ đạt 18,00- 20,000 đồng/kg. giá vải tươi xuất khẩu sang Trung Quốc( FOB Lào Cai). Vào mùa 2014 dao động 5,000- 10,000 CNY/kg (tương đương 20,000-30,000 đồng/kg) và mức giá trung bình là 6 CNY/kg ( khoảng 21,000 đồng/kg). Vải thiều khô đã được bán với giá 50,000 đồng/kg.

    Giá xuất khẩu vải thiều VietGAP cho Hàn Quốc trong năm 2013 là 1.157 USD / tấn và trong năm 2014 có thể đạt đến 1.300 USD / tấn tương đương với 26,000 đồng/ kg (FOB Hải Phòng).

    • Thị trường xuất khẩu vải thiều chính của Việt Nam

    Trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Thái Lan và các nước trong khu vực ASEAN với sản phẩm chủ yếu là vải tươi và sấy khô.

    Vải thiều chủ yếu được xuất khẩu dạng quả tươi sang Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia…chiếm khoảng 85% tổng lượng xuất khẩu, trong đó số này phần sang Trung Quốc chiếm trên 90%.

    Theo thống kê tại các cửa khẩu phía Bắc: số lượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang năm nay được xuất qua các cửa khẩu sang thị trường Trung Quốc vẫn tương đương so với các năm trước. Tổng lượng vải xuất qua 3 cửa khẩu Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Giang khoảng trên 95.000 tấn (chiếm 95% tổng sản lượng xuất khẩu). Trong đó, qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn hơn 64.000 tấn (trong đó, vải khô khoảng 20.000 tấn), cửa khẩu Lào Cai gần 28.000 tấn, số lượng nhỏ qua Cửa khẩu Thanh Thủy- Hà Giang khoảng 2.400 tấn. Tình hình xuất khẩu qua các Cửa khẩu diễn ra thuận lợi, nhanh chóng. Tuy nhiên, số lượng vải thiều xuất khẩu chủ yếu qua đường tiểu ngạch.

    Do biến động thị trường trong thời gian qua, sản lượng xuất khẩu vải sang thị trường Trung Quốc không ổn định. Theo đánh giá của Sở NN-PTNT tỉnh Hải Dương, vụ vải năm 2013, chỉ có khoảng 20% lượng vải thiều chính vụ được XK sang Trung Quốc. Vụ vải năm 2013 cũng là năm đầu tiên vựa vải Thanh Hà có sự xuất hiện của khoảng 20 thương nhân Trung Quốc trực tiếp về thu mua đóng gói với số lượng hạn chế. Còn lại, đa số lượng vải XK sang Trung Quốc đều do thương nhân tại địa phương thu mua chở lên biên giới để trực tiếp XK.

    Hoạt động thu mua, trao đổi, xuất khẩu chủ yếu là tự phát, chưa có định hướng phát triển làm chủ thị trường trong dài hạn mà tất cả hoạt động này chỉ phục vụ trong ngắn hạn. Phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường và nước nhập khẩu. Mặc dù Trung Quốc và các nước trong khu vực là những thị trường tiềm năng. Thương lái Trung Quốc mua vải thiều tại Bắc Giang với giá trung bình khoảng 13.000 – 15.000 đồng/kg, nhưng bán tại Trung Quốc với giá cao ngất ngưởng: trên 300.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 20 lần.Với tỷ giá RMB/VND thời điểm đó, một kg vải thiều có giá chính xác là 305.760 đồng (Theo SGTT).

    Vải thiều Việt Nam trên thị trường Trung quốc và các nước ASEAN khá được ưu chuộng. Tiêu thụ mạnh và giá cả bán ra trên thị trường rất cao. Các kênh phân phối trên thị trường nước nhập khẩu chủ yếu là các siêu thị lớn nơi tập trung nhiều khách hàng, có khả năng khuếch trương thị trường cao. Trung Quốc được biết đến là quốc gia có sản lượng vải thiều lớn nhất thế giới. Song chủ yếu tiêu thụ nội địa. Từ đó ta có thể thấy tiềm năng xuất khẩu sang thị trường này là rất cao. Trung Quốc là thị trường không mấy khắt khe về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng và mức độ an toàn của thực phẩm nên chúng ta có thể dẽ dàng đáp ứng. Cùng đó rào cản thị trường, hàng lang pháp lý cũng như nhưng quy định của chính phủ về hoạt  động nhập khẩu vải thiều cũng không quá khó khăn. Đây là cơ hội lớn từ thị trường. Tuy nhiên, trong thời gian qua bất ổn chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng đã dẫn đến nhiều tác động không tốt, thực tế chứng minh sản lượng xuất khẩu giảm nhiều, người sản xuất gặp khó khăn. Tìm những hướng đi mới là bài toán đặt ra đó với người trồng vải cũng như đối các doanh nghiệp thu mua xuất khẩu. Giảm tầm quan trọng của thị trường Trung Quốc, đẩy mạnh đầu tư mở rộng thị trường xuất khẩu sang EU, Mĩ, Nhật, Australia… Đó thị trường tiềm năng mà chúng ta hướng đến trong chiến lược phát triển dài hạn.

            1.3.3. Sự cần thiết thúc đẩy vải thiều Việt Nam sang EU

    Với quy mô thị trường rộng lớn, mức tăng trưởng của nền kinh tế luôn tăng, nhu cầu thị trường về Vải thiều lớn, Mỹ, EU, Nhật, Australia… được biết đến như những thị trường tiềm năng lớn. Hiện nay khi bất ổn xã hội liên tiếp xãy ra, chỉ số gia tiêu dùng của các nước liên tục giảm do sự tác động của giá dầu song chi tiêu cho ăn uống tiêu dùng không hề giảm mà có xu thế tăng cao. ở các quốc gia này, chất lượng sản phẩm và dịch vụ mới là những thứ mà người tiêu dùng thật sự quan tâm. Họ sẵn sàng chi trả cao hơn mức giá trị của hàng hóa gấp 2, gấp 3 lần thậm chí hơn nữa miễn là sản phẩm đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu mà họ đặt ra. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2015 của Nhật Bản là 103 điểm, Mỹ là 235 điểm, của EU là 117, của Australia 12/2014 là 107 điểm. tất cả có dấu hiệu tăng lên trong tháng tới. Từ số liệu thống kê trên ta thấy được tiềm năng của các thị trường là rất lớn.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU VẢI THIỀU VÀO EU

    2.1 Thị trường vải thiều Eu

    2.1.1 Khái quát chung về thị trường vải thiều EU

    Châu Âu là một thị trường lớn và đem lại nhiều triển vọng cho các loại quả nhiệt đới. Do người tiêu dùng châu Âu có nhu cầu cao đối với các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe nên các loại quả có nhiều dinh dưỡng có triển vọng rất tốt trên thị trường.

    Do thời tiết tại vùng các nước châu Âu không phù hợp để trồng các loại trái cây nhiệt đới, nên sản xuất các loại trái cây nhiệt đới tại châu Âu còn rất hạn chế, chỉ một số ít chuối, dứa được sản xuất tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, phần lớn các loại hoa quả nhiệt đới, đặc biệt là các loại đặc sản từ các nước đều phải nhập khẩu. Đối với hoa quả, tiêu thụ của Italy và Tây Ban Nha là lớn nhất, chiếm tới 1/3 thị trường EU, nhưng sản xuất trong nước đủ đáp ứng nhu cầu nên đây không phải những thị trường nhập khẩu hoa quả tươi lớn nhất. Các thị trường nhập khẩu hoa quả tươi lớn nhất là Đức, Pháp và Anh. Ngày nay, ngày càng nhiều khách hàng châu Âu như các chuỗi siêu thị mua hoa quả trực tiếp từ nhà sản xuất. Điều này có thể đem lại cơ hội cho các công ty xuất khẩu Việt Nam giành được các hợp đồng dài hạn với mức giá cố định cho các sản phẩm đáp ứng đủ tiêu chuẩn.

    1. Nhu cầu thị trường

    Theo số liệu thống kê của Eurostat, năm 2013 EU nhập khẩu 3.683.500 kg các loại quả gồm mít, me, mận và quả vải từ Việt Nam (mã HS: 08108020) đạt trên 9 triệu euro. Tính đến tháng 10/2014, EU nhập khẩu 2.610.700kg các loại quả trên đạt trên 7,5 triệu euro (mặt hàng vải thiều không có số liệu thống kê riêng).

    Tại thị trường Bỉ:

    Theo số liệu do Uỷ Ban Châu Âu EC cung cấp, vải thiều được thống kê chung trong mã HS 08109020 với một số loại hoa quả khác như mít, hồng xiêm, chanh leo, khế, thanh long… Xét riêng kim ngạch nhập khẩu của thị trường Bỉ với các nước ngoài EU năm 2013, nhóm sản phẩm này có giá trị nhập khẩu không lớn, khoảng 16,5 triệu euros.

    Tại thị trường Italia:

    Italia cũng nhập khẩu số lượng tương đối các loại quả trên từ Việt Nam. Năm 2013, Italia nhập khẩu 42.900 kg đạt 167.586 euro. Tính đến tháng 11/2014, Italia nhập 31.400 kg đạt 148.745 euro, tăng 12 % so với cùng kỳ năm 2013

    Ngoài ra, Italia còn nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan. Nãm 2013, Italia nhập khẩu từ Thái Lan 15.200 kg các loại trái trên, đạt kim ngạch 69.472 euro. Tính đến tháng 11/2014, Italia nhập khẩu từ Thái Lan 18.400 kg, đạt 78.624 euro, ít hơn so với nhập khẩu từ Việt Nam.

    Italia là nước nhập khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển lớn thứ tư trong khu vực EU nhưng tốc độ tăng trưởng không cao như các nước khác. Tuy nhiên, đây vẫn là thị trường tiềm năng cho doanh nghiệp xuất khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển do nước này có quy mô thị trường lớn và tiềm năng phát triển cao. Các mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: dứa (tăng 12%/năm), ổi, xoài và măng cụt (tăng 7,5%/năm). Các mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: chuối (86%) và dứa (14%).

    Tại thị trường Pháp

    Pháp có nhu cầu tiêu thụ vải quả tập trung chủ yếu trong Cộng đồng gốc Á sinh sống tại Paris. Hầu hết vải quả được bán tại siêu thị Thanh Bình, Paris Store và Tang frers  ở Quận 13. Tất cả vải quả được nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Riêng vải Việt Nam sang Pháp theo đường phi mậu dịch của tiếp viên hàng không với khối lượng nhỏ. Sản lượng tiêu thụ mấy năm gần đây khoảng 2 tấn/mùa vụ.

    Giá bán buôn khoảng 2,5 – 3 euro/kg; Giá bán lẻ 4 – 5 euro/kg.

     Tại thị trường Anh:

    Quả vải (tên tiếng Anh là Lychees) được xuất sang thị trường Anh theo dạng hoa quả tươi và khô hoặc đã được chế biến, đóng hộp. Tại thị trường Anh hoặc đối với sản phẩm xuất khẩu thì hải quan và người tiêu dùng tại Anh không phân biệt đó là vải thiều Lục Ngạn, Thanh Hà, Đông Triều hay vải thường, mà chỉ gọi chung là Lychees. Mã HS tương ứng của vải tươi và đóng hộp lần lượt là 0810902090 (tươi), 081340 (khô) và 200989 (đóng hộp). Tuy nhiên mã HS này áp dụng không chỉ dành riêng cho mặt hàng quả vải mà còn áp dụng chung cho các loại quả khác xuất khẩu từ Việt Nam sang, bao gồm me, hạt táo, mít, đu đủ, hồng xiêm (các loại quả khác như xoài, thanh long, chuối, táo… đều có mã HS riêng do kim ngạch tương đối và do cách phân loại mã HS của hải quan).

    Tại Anh, quả vải tươi thường được bán trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, tại các siêu thị trong các túi/hộp khoảng 300-400gr, với giá tại siêu thị trung bình khoảng 5-7 bảng Anh/kg, tương đương khoảng 150.000-200.000 VND (giá tham khảo tại các siêu thị lớn như Tesco, Waitrose, Sainsburys). Tuy nhiên các sản phẩm này xuất xứ được phần lớn từ các nước như Mexico, Nam Phi, Madagascar, Israel, Trung Quốc, rất ít và hiếm khi có thể thấy quả vải tươi bán tại siêu thị có xuất xứ Việt Nam (có thể do trái mùa vì mùa vải tại Việt Nam rơi vào tháng 5, 6 hàng năm). Phần lớn sản phẩm quả vải còn lại là đóng hộp, ngâm trong nước đường, đã được bóc vỏ do có thể để được lâu (so với quả vải tươi). Về tình hình thị hiếu chung, tuy quả vải được đánh giá là một trong những loại hoa quả ngon nhưng không được mấy người dân bản xứ biết đến và tiêu thụ nhiều nếu so với các loại quả nhiệt đới nhập khẩu như xoài, chuối, quýt. Bên cạnh đó loại vải được bán tại Anh có vị khác với vải thiểu của Việt Nam với vị chát hơn, ít ngọt hơn, hình thức căng mọng hơn nên có thể giữ/bảo quản được lâu hơn đồng thời phù hợp với nhu cầu/thị hiếu của người tiêu dùng Anh trong ăn uống giảm cân chống béo phì.

    Ngoài việc dùng để ăn ngay (với quả vải tươi) thì quả vải được người tiêu dùng Anh dùng để chế biến thành một số món ăn, ví dụ như thành phần thêm trong món Halibut có hạt điều, vải ăn với sa lát miso, hay thêm nếm trong sa lát hàu trộn cùi dừa. Trong các món ăn uống phụ khác vải cũng có xuất hiện, ví dụ như món tráng miệng vải trộn nước chanh đường (sử dụng 100% vải đóng hộp), bánh phô mai trộn thêm vải xay, dâu tây hoặc để pha nước cocktails (đôi khi vì đổi vị do cocktails dâu tây, mâm xôi, táo, lê, đào… được sử dụng quá nhiều).

    Tại thị trường Hà Lan:

    Theo thống kê của Eurostat, hàng năm Hà Lan nhập của Việt Nam khoảng hơn 3 triệu Euro các mặt hàng quả tươi gồm me, hồng xiêm, chanh leo, mít, khế, và vải. Tuy nhiên, mặt hàng vải của Việt Nam chưa thấy xuất hiện trong các siêu thị của Hà Lan. Các siêu thị này có bán vải tươi theo mùa nhưng là hàng Thái lan (số lượng cũng không nhiều). Vải đóng hộp cũng có bán trong siêu thị và các cửa hàng Châu Á nhưng chủ yếu xuất xứ Thái Lan.

    Theo cảm quan của chúng tôi thì Vải thiều Việt nam quả tròn, to, nhiều nước và có độ ngọt hơn vải Thái bán trong siêu thị. Tuy nhiên mặt hàng này chưa vào được hệ thống phân phối của Hà Lan.

     Tại thị trường Đức:

    Tại Đức, quả vải tươi xuất hiện tương đối phổ biến trong hệ thống siêu thị, tuy nhiên loại vải này không giống với quả vải xuất xứ từ Việt Nam do quả nhỏ, khô, vị không ngọt sắc. Người Đức đã quen với sự có mặt của loại quả nhiệt đới này, với lợi thế 82 triệu dân và là nền kinh tế đầu tàu của EU, đây là một thị trường rất tiềm năng với vải thiều Việt Nam.

     Tại thị trường Nga:

    Vải thiều là một loại quả nhiệt đới, người Nga ít biết đến. hay nói cách khác, cho đến nay, người Nga chưa có thói quen ăn vải thiều. Hiện nay, trên một số trang mạng ở Nga có giới thiệu về vải thiều, được ăn như thế nào và có tác dụng ra sao. Tại hệ thống cửa hàng bán lẻ vải thiều tươi xuất hiện rất ít.

    Lượng hàng nhập khẩu một số loại quả tươi nhiệt đới (mã hàng: 0 810 90 2000: me, vải, mít, sake, hồng xiêm, vải thiều tươi) vào Liên minh kinh tế Á-Âu (trong đó chủ yếu vào Nga) trong những năm qua chưa nhiều. Tuy nhiên có xu hướng tăng dần. Năm 2013, so với năm 2011, tăng 246% về lượng và tăng 169% về trị giá.

    Bảng 2.1 Nhập khẩu một số loại quả tươi, trong đó có vải thiều

      2011 2012 2013 11th 2014
    Tr. lượng (kg) 226 902 458 727 786 207 958 262
    Trị giá ($) 931 164 1 579 277 2 508 118 2 983 172

    (Nguồn: Hải quan LMKT Á-Âu  )

    Khi xuất khẩu các loại quả tươi vào thị trường Liên minh Kinh tế Á-Âu nói chung, Nga nói riêng, thuế nhập khẩu bằng không (0). Tuy nhiên, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do LMKT Á-Âu quy định và áp dụng thống nhất trong Liên minh yêu cầu khá cao.

    Như trên đã đề cập, vải thiều cũng như các loại quả tươi khác, khi nhập khẩu vào các nước thành viên LMKT Á-Âu (trong đó có Nga) phải tuân thủ quy định về kiểm dịch thực vật và quy định tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Liên minh. Doanh nghiệp Việt Nam có thể liên hệ với Cục Quản lý chất lượng hàng Nông, Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nắm nội dung quy định nêu trên.

     Tại thị trường Thụy Điển:

    – Sản phẩm vải thiều đang được bày bán khá phổ biến tại các siêu thị bán lẻ tại thị trường Thụy Điển với 2 loại hình sản phẩm chính là: quả tươi và vải xy rô đóng hộp;

    – Vải thiều tươi chủ yếu có xuất xứ từ Madagaxca và Thái Lan; sản phẩm vải xy rô đóng hộp chủ yếu có xuất xứ từ Thái Lan;

    – Về chất lượng so với vải thiều tươi của Việt Nam: vải của ta có lợi thế là hạt nhỏ hơn và cùi/thịt dày hơn. Tuy nhiên, chất lượng quả vải tươi còn phụ thuộc vào phương thức thu hoạch, bảo quản và thời gian chuyên chở. Thái Lan có lợi thế hơn ta trong việc xuất khẩu rau củ quả tươi vào Thụy Điển nói riêng và khu vực Bắc Âu nói chung vì họ có đường vận tải hàng không (airfreight) thường xuyên và trực tiếp từ Bangkok đi Stockholm và các quốc gia Bắc Âu lân cận;

    –  Số lượng nhập khẩu vải thiều và sản phẩm vải thiều đóng hộp vào Thụy Điển hiện còn khiêm tốn; Cơ quan thống kê Thụy Điển (trangwww.scb.se) hiện không thống kê số liệu nhập khẩu riêng cho mặt hàng vải thiều mà thống kê gộp chung vào với các sản phẩm quả nhập khẩu khác như: quả me, mận, mít, chanh leo (mã CN 08109020). Trong 10 tháng đầu năm 2015, Thái Lan đã xuất khẩu vào Thụy Điển gần 2,8 triệu Cuaron Thụy Điển (tương đương 400.000 USD) các loại quả tươi thuộc mã hàng hóa này, trong đó có bao gồm vải thiều;

    – Giá bán lẻ vải thiều tươi (nguyên quả) bình quân tại một số siêu thị bán lẻ vào khoảng 55 – 60 Cuaron Thụy Điển/kg (tương đương 7 USD/kg).

    Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vải thiều tại thị trường Thụy Điển và khu vực Bắc Âu là hiện thực, xu thế tiêu thụ có thể gia tăng do hiệu ứng lan tỏa từ khu vực tiêu dùng người nhập cư và người Thụy Điển đi du lịch nước ngoài trở về, ngoài ra khi Hiệp định FTA EU – Việt Nam (EVFTA) được ký kết thực hiện, ta sẽ có thêm điều kiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm rau củ quả như vải thiều.

    Là các thành viên của khối EU, Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác đang áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật theo các quy định chung của khối này. Đối với sản phẩm vải thiều là các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch SPS trong đó có kiểm dịch dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (peticides) trong các sản phẩm vải thiều nhập khẩu (trang http://exporthelp.europa.eu).

     Tại thị trường Séc:

    Nói chung vải thiều tươi không thấy bán trong các siêu thị của Séc, cũng không phải là loại trái cây quen thuộc tại đây. Vào mùa vải, chỉ đôi khi thấy xuất hiện vải quả tại một số ít nơi cửa hàng bán lẻ của người Việt nhập tiểu ngạch. Tại một số cửa hàng tạp hóa do người Việt bán cũng thấy vải thiều dạng đồ hộp, nhưng số lượng và chủng loại không đáng kể. Từ trước đến nay chưa có lần nào khảo sát mức nhu cầu, thị hiếu và khả năng tiêu thụ sản phẩm này.

    Qua tìm hiểu tài liệu: Theo số liệu của Cục Thống kê Séc thì không có mục riêng cho sản phẩm Vải thiều (Lici) tươi, nhưng có xuất hiện tên hàng nằm chung trong nhóm gồm 4 mặt hàng là: me, mít, táo (ta), vải quả (Mã nhóm hàng: HS 08109020), do đó không bóc tách tính riêng ra được số lượng nhập và giá trị nhập.

    Bảng 2.2. Tổng hợp nhóm mã HS 08109020 của 4 mặt hàng

    STT THỜI GIAN /GIAI ĐOẠN SỐ LƯỢNG (kg) TRỊ GIÁ (USD)
    01 11 tháng đầu năm 2014 61.011 234.000
    02 2013 109.794 294.000
    03 2012 198.818 459.000
    04 2011 236.621 549.000

    Nguồn:Cục Thống kê Cộng hòa Séc, 1/2015 

    Tại thị trường Áo:

    Trên thị trường của Áo, thấy xuất hiện vải có xuất sứ từ Srilanca (không thấy có vải của nước khác như Việt Nam hoặc Trung Quốc), nhưng thường trái vụ, roi vào khoảng tháng 9 hàng năm. Vải thiều Srilanca trên nhãn ghi sản phẩm chất lượng tại hội chợ của Đức.

    Áo không có cảng biển, vì vậy phần lớn hàng nông sản phải nhập qua cửa khẩu của nước khác (Hà Lan và Đức), từ đây phân phối vào Áo. Các rào cản kỹ thuật liên quan đến nhập khẩu nông sản, chủ yếu do nước nhập đứng ra giải quyết theo quy định chung của Châu Âu. Khi có vấn đề phát sinh liên quan đến an toàn thực phẩm, theo điều tra của thương vụ, các đầu mối phân phối trực tiếp giải quyết với các nơi tiêu thụ (như thu hồi lại sản phẩm, đến bù cho người tiêu dùng..)

    Giá bán trái vải Srilanca trên các siêu thị khoảng 6 EUR/kg. Theo đánh giá, giá trên đây phải là giá chở bằng tàu biển, có khả năng bảo quản lâu.

    Tại thị trường Hà Lan:

    Theo thống kê của Eurostat, hàng năm Hà Lan nhập của Việt Nam khoảng hơn 3 triệu Euro các mặt hàng quả tươi gồm me, hồng xiêm, chanh leo, mít, khế, và vải. Tuy nhiên, mặt hàng vải của Việt nam chưa thấy xuất hiện trong các siêu thị của Hà Lan. Các siêu thị này có bán vải tươi theo mùa nhưng là hàng Thái Lan (số lượng cũng không nhiều). Vải đóng hộp cũng có bán trong siêu thị và các cửa hàng Châu Á nhưng chủ yếu xuất xứ Thái Lan.

    Theo cảm quan của chúng tôi thì Vải thiều Việt Nam quả tròn, to, nhiều nước và có độ ngọt hơn vải Thái bán trong siêu thị. Tuy nhiên mặt hàng này chưa vào được hệ thống phân phối của Hà Lan.

    Rau quả khi nhập vào EU nói chung và Hà Lan nói riêng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, và phải có chứng chỉ GLOBALGAP.

    1. các kênh phân phối

    Khoảng cách vận chuyển hàng hóa là một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động thương mại rau tươi sang EU bởi lẽ đây là những mặt hàng phải được tiêu thụ nhanh, không được bảo quản hoặc bị chín trong quá trình quá cảnh như nhiều loại trái cây khác. Tìm được kênh phân phối, và sử dụng nó hiệu quả là khá khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

    Hình 2.1 Các kênh phân phối rau quả tươi tại EU

    1. Đại lý

    Các đại lý sẽ chủ động liên lạc với các nhà xuất khẩu để mua đủ số lượng hàng hóa cho một lượt vận chuyển. Sau đó, họ sẽ bán lại cho các khách hàng của mình tại EU chủ yếu là các nhà bán buôn. Họ không mua bán cũng như chịu trách nhiệm về hàng hóa. Một số đại lý chỉ chuyên kinh doanh các loại hoa quả ngoại lai và thu lợi dựa trên việc ăn hoa hồng (có trường hợp lên đến 10%). Tuy nhiên, bù lại bạn có thể tiết kiệm một số lượng không nhỏ phí vận chuyển.

    1. Nhà nhập khẩu/Thương nhân

    Đây là nguồn nhập khẩu trực tiếp từ các nhà sản xuất/nhà xuất khẩu. Họ sẽ làm thủ tục thông quan cho hàng hóa và trong một vài trường hợp cũng đảm nhận khâu đóng gói khi giao hàng cho người bán lẻ. Nhà nhập khẩu thường cung ứng hàng cho những người bán buôn, bán lẻ và một số của hàng tạp hóa chuyên về dịch vụ thực phẩm. Lợi nhuận của nhà nhập khẩu khoảng từ 5% đến 10%.

    Nhà nhập khẩu là một mắt xích hết sức quan trọng trong kênh mua bán rau tươi tại EU vì họ hiểu biết rất rõ về thị trường này và có mối quan hệ chặt chẽ với những người cung cấp và người mua. Họ đóng một vai trò đặc biệt như là nhà quản lí chất lượng hay người cung cấp dịch vụ hậu cần. Trong rất nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu thường thích làm ăn lâu dài với nhà cung ứng, điều này là một lợi thế cho các nhà xuất khẩu nhỏ hoặc mới hay chưa có kinh nghiệm về thị trường EU của Việt Nam.

    1. Người bán buôn

    Người bán buôn mua rau từ các nhà nhập khẩu, nhà sản xuất hay tại các cuộc đấu giá. Sau đó, rau được chuyển đến những người bán lẻ hoặc những cửa hàng chuyên về thực phẩm và siêu thị. Có sự khác biệt lớn là giữa người bán buôn cung cấp cho những nhà bán lẻ (được hiểu là nhà bán lẻ độc quyền của siêu thị) và người bán buôn cung cấp cho các người bán rau quả và các nhà bán lẻ chuyên nghiệp khác. Tuy nhiên, vai trò của người bán buôn đang dần mất đi do các nhà bán lẻ có xu hướng hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp như nhà nhập khẩu và đại lý.

    1. Kênh bán lẻ

    Lượng hàng bán ra của các nhà bán lẻ chuyên kinh doanh rau quả tại EU vẫn khá cao nhưng lợi nhuận bị giảm mạnh trong vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, những nhà bán lẻ ở Nam Âu lại không chiếm lĩnh thị trường mạnh như các nhà bán lẻ ở Bắc Âu, nên cơ hội cho các nhà bán lẻ chuyên nghiệp vẫn còn rất tiềm năng. Những nhà bán lẻ chuyên về rau tươi tại Châu Âu có thuê gia công ở nước ngoài thường cung cấp các loại rau có giá trị gia tăng như đậu đũa thái lát, đầu quả đậu Hà Lan (mange-tout pea) và các loại rau dùng để xào.

    Một vài chuỗi bán lẻ lớn có các trung tâm mua sắm và hệ thống vận chuyển rau riêng. Ngoài ra, họ có xu hướng hoạt động thông qua những nhà cung cấp độc quyền hoặc có mối quan hệ đặc biệt và những hợp đồng cố định dài hạn. Điều này có nghĩa là các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể tránh những áp lực trước xu hướng gom hàng trên thị trường thế giới. Mặt khác, những hợp đồng như vậy thường hạn chế sự thay đổi trong việc sản xuất và marketing do có những điều khoản chặt chẽ và nghiêm ngặt.

    Các siêu thị/đại siêu thị cũng là kênh phân phối giúp tăng doanh thu tiêu thụ các loại rau đóng gói sẵn. Tuy nhiên, trước xu hướng nhu cầu tiêu thụ hàng giá rẻ gia tăng nên phí vận chuyển trở thành yếu tố quyết định loại rau nào sẽ được nhập khẩu từ các nước đang phát triển.

    Ngày càng nhiều nhà bán lẻ và công ty phát triển sản phẩm hợp tác với nhau để phát triển những sản phẩm mới và có tính đột phá. Những nhà bán lẻ đa ngành rất chú trọng tới cách bố trí gian hàng bán sản phẩm tươi sống, hướng tới mục đích thu hút nhiều khách hàng. Xu hướng hiện nay là áp dụng cách bố trí của những của hàng bán rau tươi truyền thống và luôn cố gắng đảm bảo hàng luôn có sẵn. Ví dụ, đậu tuyết trước đây được coi là đặc sản nhưng giờ đây chúng đã trở nên phổ biến và có quanh năm.

    Kênh tiêu thụ trực tiếp (out of home) ví dụ như các tổ chức cung ứng thực phẩm cũng là kênh phân phối nhập một lượng rất lớn hoa quả nhiệt đới chất lượng cao. Các nhà xuất khẩu rau quả Việt nam không cần làm việc trực tiếp với các tổ chức trên mà có thể thông qua các nhà bán buôn hoặc nhà nhập khẩu.

    Nhìn chung, cấu trúc kênh phân phối rau týõi hiện giờ tại EU ðã buộc những nhà xuất khẩu phải quan tâm đến những chuỗi bán lẻ lớn – nơi tiêu thụ chính rau tươi ở khu vực này. Những nhà bán lẻ, bán buôn và các công ty nhập khẩu yêu cầu các công ty xuất khẩu phải đảm bảo chất lượng luôn ổn định, có khả năng cung cấp số lượng lớn và giao hàng đúng thời gian.

    Bảng 2.3 : Loại hình bán lẻ rau tươi tại EU

    Kênh phân phối Bán lẻ Bán lẻ Bán lẻ/Kênh tiêu thụ trực tiếp
    Mức giá Giảm giá hoặc giá trung bình Giá cao Giá cao
    Lượng cung ứng Số lượng lớn Số lượng lớn Số lượng nhỏ
    Vấn đề quan tâm – giá cả;

     

    – thời hạn giao hàng;

    – nguồn gốc;

    – tính ổn định

    – chất lượng;

     

    – đặc sản, sản phẩm hữu cơ hoặc sản phẩm mang nhãn hiệu FairTrade;

    – độ chín;

    – nguồn gốc và tính minh bạch;

    – phát triển sản phẩm;

    – tính ổn định;

    – thời hạn giao hàng;

    – ngày càng quan tâm tới các sản phẩm mang tính bền vững

    – phân biệt khái niệm marketing thông qua hoạt động phát triển sản phẩm và kênh phân phối;

     

    – chất lượng;

    – độ chín;

    – hương vị đa dạng;

    – các sản phẩm mới lạ, đặc sản, sản phẩm hữu cơ hoặc sản phẩm mang nhãn hiệu FairTrade;

    – nguồn gốc và tính minh bạch;

    – thời hạn giao hàng

    1. Tình hình cạnh tranh

    Ở thị trường châu Âu, phân tích của CBI (2013) cho thấy Madagasca hiện nay là nguồn cung cấp chính với sản lượng nhập khẩu tăng từ 18 triệu euro lên 72 triệu euro chỉ trong vòng 4 năm- 2008-2012, đáp ứng 70% nhu cầu của thị trường nhưng thời gian cung cấp chỉ tập trung vào thời điểm Giáng sinh cuối năm. Như vậy, với các nhà nhập khẩu khác có thể cung cấp vải vào thời điểm khác vụ với chất lượng đảm bảo, cơ hội thị trường là rất lớn.

    Từ tháng 3 cho đến tháng 9, xét về quy mô sản xuất và thời gian thu hoạch, đối thủ tiềm năng chính của Việt Nam chính là Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan và Thái Lan. Hầu hết các nước này, đặc biệt là Thái Lan đã xuất khẩu được vải quả sang các thị trường khó tính như Châu Âu, Canada và Hoa Kỳ. Thái Lan là một trong 5 nước sản xuất vải quả nhiều nhất trên thế giới với rất nhiều kinh nghiệm trong chế biến và xúc tiến xuất khẩu trái cây. Các doanh nghiệp của Thái Lan rất năng động trong việc cải thiện chất lượng, mẫu mã sản phẩm và tổ chức hoạt động XTTM tại các thị trường mà họ hướng tới. Thái Lan đã xây dựng được mối quan hệ đối tác bền chặt với các siêu thị và nhà phân phối bán buôn lớn ở châu Âu để đảm bảo tính ổn định cho xuất khẩu vải quả vào các thị trường này. Thái Lan cũng đặc biệt chú ý đến hình thức mẫu mã và đóng gói sản phẩm. Vải tươi được đóng hộp trong các thùng có màu sắc bắt mắt, dán nhãn với thông tin chỉ dẫn đầy đủ. Vải xuất khẩu sang Hoa Kỳ được xử lý bảo quản để giữ độ tươi lâu, do đó hầu hết vải của Thái Lan khi xuất khẩu đến các thị trường tiêu dùng vẫn giữ được màu sắc tự nhiên, độ đồng đều cao.

    1. Tiềm năng của thị trường EU

    EU là một thị trường lớn và đem lại nhiều triển vọng cho các loại quả nhiệt đới. Do người tiêu dùng EU có nhu cầu cao đối với các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe nên các loại quả có nhiều dinh dưỡng như vải thiều có triển vọng rất tốt trên thị trường. Tuy nhiên, hiện tại, chuối vẫn là loại quả nhiệt đới phổ biến nhất trên thị trường này.

    Các nước EU chỉ sản xuất một lượng rất nhỏ các loại quả nhiệt đới và hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu các loại quả này. Hiện nay kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển đang chiếm tới 67%. Những phát minh mới về công nghệ ngày nay tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu sản phẩm bằng đường biển với chi phí thấp và có thể tiếp cận các thị trường mới. Tuy nhiên, nhu cầu và kim ngạch nhập khẩu các loại quả nhiệt đới tại EU tăng chậm.

    Các công ty xuất khẩu Việt Nam có thể tìm hiểu để cung cấp các sản phẩm giá trị gia tăng như hoa quả hữu cơ được chứng nhận. Tuy nhiên, để có thể cung cấp các loại quả này, cần có thời gian và tốn chi phí và không phải lúc nào cũng là lựa chọn tốt nhất.

    Ngày nay, ngày càng nhiều khách hàng EU như các chuỗi siêu thị mua hoa quả trực tiếp từ nhà sản xuất. Điều này có thể đem lại cơ hội cho các công ty xuất khẩu Việt Nam giành được các hợp đồng dài hạn với mức giá cố định cho các sản phẩm đáp ứng đủ tiêu chuẩn nhưng đồng thời cũng là thách thức cho các công ty trung gian.

    Các nước thành viên Bắc và Tây Âu có các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì thế các tiêu chuẩn cũng ngày càng nghiêm ngặt. Việc sản xuất và xuất khẩu các loại quả nhiệt đới như chuối và dứa ngày càng được thực hiện với quy mô lớn. Đây cũng là thách thức cho các công ty sản xuất nhỏ và các công ty mới tham gia thị trường. Đồng thời, việc các chuỗi siêu thị lớn ngày càng chiếm thị phần nhiều hơn trên thị trường cũng làm giảm sức mạnh về thương lượng giá cả của các nhà sản xuất và xuất khẩu từ các nước đang phát triển như các công ty của Việt Nam.

    Năm 2010, tiêu thụ hoa quả nhiệt đới của cả khu vực EU tăng 3,7% (con số này không bao gồm các nước sản xuất được liệt kê ở bảng dưới đây). Điều này cho thấy thị trường có các dấu hiệu phục hồi tích cực trước các điều kiện kinh tế đang phát triển trong năm 2010.

     

    Bảng 2.3: Số liệu về tiêu thụ, sản xuất và nhập khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển

    Đvt: nghìn tấn

      Tổng tiêu thụ Tổng sản xuất Tổng nhập khẩu Nhập khẩu từ các nước đang phát triển Thị phần của các nước đang phát triển trong tổng nhập khẩu Chỉ số hấp dẫn
      Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    Khối lượng

     

    2009

    Tốc độ tăng trưởng

     

    05 – 09

    EU 27 5.740 2,9% 396 -2,2% 8.764 3,6% 5.795 3,8% 66%  
    Bỉ 95 19% 0 n.a. 1.632 5,3% 1.584 5,3% 97% +++
    Vương quốc Anh 1.092 2,1% 0 n.a. 1.217 3,6% 1.110 5,7% 91% +++
    Đức 1.197 3,0% 0 n.a. 1.492 1,6% 801 2,7% 54% ++
    Italia 714 6,1% 0 -3,3% 833 3,8% 626 4,2% 75% ++
    Hà Lan 129 -3,0% 0 n.a. 667 11,0% 489 21% 73% +++
    Tây Ban Nha 622 3,8% 384 -2,2% 341 10,0% 222 27% 65% ++
    Bồ Đào Nha 184 3,6% 0 n.a. 233 1,3% 160 -0,2% 69%
    Hy Lạp 77 -3,7% 5 -1,2% 129 7,8% 95 17% 74% +/-
    Thụy Điển 161 -1,4% 0 n.a. 210 0,4% 91 -0,7% 43% +/-
    Pháp 465 4,9% 0 n.a. 223 -2,9% 85 -11% 38% +/-
    Slovenia 30 -2,8% 0 n.a. 66 4,5% 56 4,6% 85% +/-
    Rumani 75 -15% 0 n.a. 57 -17,0% 49 -19% 86%
    Ireland 52 3,5% 0 n.a. 67 4,1% 42 0,5% 62% +/-
    Cộng hòa Séc 133 7,9% 0 n.a. 255 0,3% 28 -30% 11%
    Đan Mạch 123 11% 0 n.a. 114 3,9% 17 15% 15% +
    Bulgaria 22 -20% 0 n.a. 24 -15,0% 17 -21% 70%
    Lithuania 19 1,8% 0 n.a. 50 12,0% 3,2 -31% 6,3%
    Luxembourg 6,5 -0,5% 0 n.a. 9,5 4,7% 2,4 7,0% 26% +/-
    Áo 121 3,8% 0 n.a. 150 4,6% 1,7 34% 1,1% +
    Phần Lan 58 -4,1% 0 n.a. 64 -1,4% 1,3 -39% 2% +/-
    Estonia 12 1,4% 0 n.a. 13 3,0% 0,2 -51% 1,5%
    Latvia 12 -0,6% 0 n.a. 13 0,0% 0,2 -43% 2%
    Ba Lan 217 7,0% 0 n.a. 16 8,5% 0,1 -2,7% 0,8% +/-
    Malta 5,0 -4,2% 0 n.a. 4,0 -19,0% 0,1 -62% 1,9%
    Slovakia 55 12% 0 n.a. 60 7,5% 0 n.a. n.a.
    Hungary 52 -5,9% 0 n.a. 74 1,8% 0 n.a. n.a.
    Cyprus 12 2,3% 6,9 -4,0% 8 23,0% 0 n.a. n.a. +/-
                           

    Nguồn: FAOSTAT và Eurostat, 2011

    Để giữ khối lượng tiêu dùng tăng và bảo toàn lợi nhuận, các công ty sẽ tăng cường hiệu quả các nguồn lực, giảm chi phí lao động và cắt giảm phần sản phẩm bỏ đi. Ví dụ, tại Anh, các công ty đã sử dụng các sản phẩm đầu vào giá rẻ hơn và sử dụng kích cỡ bao bì nhỏ hơn. Quy trình có tổ chức và hợp lý này sẽ giúp cho ngành chế biến phát triển mạnh hơn và tạo ra các dòng sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng hơn trong tương lai gần.

    Trong những năm gần đây, mức tiêu thụ rau, quả tươi tại thị trường Eu vẫn đang  ở mức cao, luôn duy trì mước cao. Những tác động của khủng hoảng kinh tê, bất ổn chính trị hay việc nợ công đa diễn ra trong các nền kinh tế của khu vực thì việc chi tiêu cho rau củ, quả vẫn không hề giảm xuống. Nó được thể hiện qua các biểu đồ nhập khẩu rau, quả và mức tiêu dung của người dân EU.

    Hình2.2: Tổng sản lượng nhập khẩu        Hình 2.3:10 nước EU và EFTA nhập khẩu rau, quả      Rau, quả của EU 2009-2013                                           lớn nhất 2013

                                                                           Nguồn: dữ liệu từ liên hợp quốc

    Hình2.4: Tổng mức tiệu thụ rau, quả của Eu        Hình2.5: biểu đồ tiêu thụ rau, quả của một số nước EU (%)                                                      2007-2011(nghìn tấn)

    Nguồn: Từ UN FAOSTAT

     

    • Quy mô thị trường

    Theo thống kê mới đây nhất của Tranding Economics, tháng 12/2014 tổng dân số của khu vực Eu là khoảng 335 triệu người. Tổng GDP là 12750 tỷ USD ( tháng 12/2013). Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm là 0,9%. Quy mô thị trường lớn, tổng GDP của thị trường liên tục tăng từ đó cho thấy triển vọng kinh doanh các doanh nghiệp cao.

    • Sức mua của thị trường

    Thu nhập bình quân đầu người của Eu là 31807 USD/người (tháng 12/2013) GDP tính theo PPP là 35830 USD/người(tháng 12/2013), chi tiêu của người tiêu dùng khoảng 1337 tỷ EURO (tháng 10/2014).Thu nhập thị trường cao, chi tiêu của người tiêu dùng lớn. Từ đó ta có thể thấy, sức mua của thị trường là cao. Đâu là thị trường tốt mà các nhà sản xuất trong nước có thể khai thác.

    • Cơ sở hạ tầng thương mại

    Như chúng ta đã biết, cuộc cánh mạng khoa học lần đấu tiên được diễn ra vào cuối thế kỉ 18 đầu thế kỷ 19, ở Tây Âu và Bắc Mỹ đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện của nền sản xuất. Tiếp đó, vào những năm 1871-1914 là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra tại Anh, Đức, Hoa Kỳ. Là những nước đi tiên phong trong nền công nghiệp thế giới, nên hệ thống cơ sở hạ tầng ở Eu rất phát triển. Đây cũng là nơi đầu tiên phát minh, tiến nhận những công nghệ tiên tiến của thế giới. chúng ta có thể khẳng định rằng cơ sở hạ tầng thương mại ở đây rất tốt, từ mạng lưới truyền thông tin, đến thanh toán dịch vụ, vận chuyển, các công cụ thư tín được sử dụng một cách hiệu quả.

    • Mức độ tự do kinh tế

    Eu được biết đến là khu vực kinh tế có mức độ tư do nhất thế giới được thành lập ngày 18 tháng 4 năm 1951 Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. EU duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương, 17 nước thành viên thống nhất sử dụng đồng tiền chung. Là một tổ chức quốc tế, Liên minh châu Âu hoạt động thông qua một hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp.

    • Mức độ mở cửa của nền kinh tế.

    Theo thống kê mới đây nhất, tháng 2/2015 tổng kinh ngạch xuất khẩu của khu vực Eu là 148224 triệu Eur, nhập khẩu 140280.60 triệu Eur. Tỷ lệ xuất nhập khẩu 1,056. Sự chuyển dich hàng hàng của Eu đến các quốc gia là vô cùng lớn, mức độ hộp nhập mở cửa cao.

    • Rủi ro quốc gia

    Nợ công, bất ổn chính trị là những vấn đề khúc mắc trong nền kinh tế ở EU. Nhiều giải pháp được đưa ra để phục hồi cải thiện, song tình trạng này chuyển biến không mấy đáng kể. tỷ lệ thất nghiệp là 11,8% (tháng 12/2013); 11,3% (tháng 12/1014); 11,2% (tháng 1/2015). Khi kinh tế có dấu hiệu phục hồi thì tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống.

    Qua các tiêu chí trên chúng ta có thể thấy rằng, tiềm năng của thi trường Eu là rất lớn, các doanh nghiệp cần có những bước đi dài trong việc thâm nhập, phát triển và làm chủ thị trường. Chiến lược, đầu tư, tầm nhìn thị trường sẽ quyết định sự thành công hay không của các doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có thể lựa chọn thị trường tiềm năng dựa trên quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng của thị trường và kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Đối với mặt hàng hoa quả nhiệt đới, doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm kiếm các nước thành viên có kim ngạch thương mại lớn và có thị trường tiêu thụ nội địa lớn. Dựa trên việc phân tích các số liệu thống kê, các nước dưới đây là những nước có tiềm năng nhất đối với mặt hàng hoa quả nhiệt đới.

     Bỉ: có thị trường tiêu thụ nội địa quy mô trung bình nhưng là nước nhập khẩu hoa quả nhiệt đới lớn nhất từ các nước đang phát triển (27%). Nhập khẩu trực tiếp từ các nước đang phát triển chiếm tới 97% khối lượng nhập khẩu và tăng với tốc độ trên trung bình (5,7%/năm). Các sản phẩm hoa quả nhiệt đới nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: chuối (86%) và dứa (13%). Nhập khẩu ổi, xoài và măng cụt từ các nước đang phát triển có tốc độ tăng cao nhất (14%/năm).

     Anh: Bên cạnh quy mô thị trường tiêu thụ nội địa lớn, Anh còn có tỷ lệ nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao (đứng thứ 2 EU, khoảng 94%). Kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển đang tăng ngày càng cao (5,8%/năm), cao hơn tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu nói chung (4,1%). Nhập khẩu dứa (tăng 23%/năm) và bơ (tăng 7,3%/năm) từ các nước đang phát triển là những mặt hàng có tốc độ tăng nhanh nhất. Các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm chuối (82%) và dứa (13%).

    Tây Ban Nha: là nước sản xuất nhiều mặt hàng hoa quả nhiệt đới trong số các nước EU. Tuy nhiên, Tây Ban Nha cũng là nước có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao nhất EU (tăng 32%/năm). Các mặt hàng chuối (tăng 50%/năm) và dứa (tăng 30%/năm) là những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao nhất. Các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm chuối (44%) và dứa (30%).

    Hà Lan: là nước có khối lượng thương mại lớn với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao (tăng 28%/năm). Các mặt hàng chuối (tăng 70%/năm) và dứa (tăng 40%/năm) là những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước đang phát triển cao nhất. Các sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm dứa (39%) và chuối (23%).

     Đức: là nước nhập khẩu từ các nước đang phát triển lớn thứ ba trong khu vực EU (16%). Thêm vào đó, kim ngạch nhập khẩu từ các nước đang phát triển đang tăng nhanh hơn mức trung bình (tăng 6,1%/năm). Nhập khẩu dứa từ các nước đang phát triển (tăng 23%) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Sản phẩm nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển là chuối (94%).

     Italia: là nước nhập khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển lớn thứ tư trong khu vực EU nhưng tốc độ tăng trưởng không cao như các nước khác. Tuy nhiên, đây vẫn là thị trường tiềm năng cho doanh nghiệp xuất khẩu hoa quả nhiệt đới từ các nước đang phát triển do nước này có quy mô thị trường lớn và tiềm năng phát triển cao. Các mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: dứa (tăng 12%/năm), ổi, xoài và măng cụt (tăng 7,5%/năm). Các mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất từ các nước đang phát triển bao gồm: chuối (86%) và dứa (14%).

    Đây là những nước có tiềm năng lớn nhất đối với mặt hàng hoa quả nhiệt đới nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Tuy nhiên, là một doanh nghiệp xuất khẩu hoa quả nhiệt đới, đang tìm kiếm các thị trường tiềm năng tại EU, bạn không nên loại bỏ các nước EU khác ra khỏi danh sách các nước nhập khẩu tiềm năng của doanh nghiệp mình. Bạn cần phân tích kỹ các yếu tố khác như sản phẩm xuất khẩu của công ty, mạng lưới đối tác kinh doanh, kinh nghiệm xuất khẩu sang các thị trường quốc tế và địa điểm địa lý. Bên cạnh đó, ở EU cũng có các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau (như cộng đồng người Việt tại các nước). Đây cũng có thể là đối tác tiềm năng cho sản phẩm của công ty bạn. Những cộng đồng này thường mua thực phẩm từ các cửa hàng nhất định (ví dụ, cộng đồng người Việt có các cửa hàng chuyên bán đồ ăn và thực phẩm Việt Nam, được nhập khẩu trực tiếp từ Việt Nam hoặc một vài nước láng giềng). Thông thường, đây là những sản phẩm không có thương hiệu lớn trên thị trường quốc tế. Mặc dù thị trường này rất nhỏ, nhưng đó cũng là một kênh thương mại dễ dàng và tương đối hiệu quả.

    2.1.2 Các quy định của EU đối với hoạt động nhập khẩu vải thiều

    1. Chính sách, quy định, rào cản kỹ thuật

    Vải là loại trái cây đặc biệt đang dần được ưa chuộng tại châu Âu dù lượng tiêu thụ bình quân đầu người còn hạn chế. Để đẩy mạnh xuất khẩu vải nói riêng và hoa quả tươi nói chung sang thị trường châu Âu, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần lưu ý và tuân thủ chặt chẽ các quy định của EU, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (chứng nhận của Global G.A.P, VietGAP, GFSI), không gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng.

    Người tiêu dùng ngày càng chú ý hơn tới mặt hàng trái cây có nguồn gốc rõ ràng. Họ có xu hướng chọn trái cây dựa vào cách thức sản xuất và trình bày sản phẩm. Bên cạnh đó,vấn đề về môi trường và xã hội cũng rất quan trọng. Phương pháp để cung cấp trái cây được sản xuất một cách có trách nhiệm với môi trường và xã hội là tuân thủ theo những quy định về chứng nhận sản phẩm hữu cơ hoặc chứng nhận Fairtrade. Những chứng nhận này bao gồm việc cam kết giảm thiếu số lượng cũng như đăng kí loại thuốc trừ sâu sử dụng, cải thiện an toàn lao động và đảm bảo về giá cả.

    Do vậy để đưa mặt hàng vải vào thị trường châu Âu nói chung và EU nói riêng, doanh nghiệp Việt nam cần lưu ý một số điểm sau:

    Sản phẩm

    Vải (Litchi chinensis) là loại trái cây thuộc chi Vải của họ soapberry. Cây có nguồn gốc từ Trung Quốc và được trồng chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á. Điều kiện phát triển của cây là không có sương giá vào mùa đông và nhiệt độ ấm áp vào mùa hè với lượng mưa và độ ẩm cao. Quả vải có chiều dài 5cm và rộng 4cm. Phần vỏ không ăn được có màu hồng đỏ và thô ráp. Phần cùi thịt bên trong màu trắng và có vị ngọt. Quả vải có thể ăn ngay sau khi bóc vỏ.

    Đặc tính sản phẩm

    • Chất lượng:

    Vải tươi muốn nhập khẩu vào thị trường EU phải phù hợp với các tiêu chuẩn tiếp thị chung đối với mặt hàng rau quả tươi bao gồm những yêu cầu tối thiểu về mặt chất lượng. Sản phẩm phải nguyên vẹn, sạch sẽ và lành lặn, (gần như) không bị sâu hại, hư hỏng, vỏ ướt bất thường, bên trong bị nâu thối và trong tình trạng chịu được vận chuyển và bốc xếp. Những tiêu chuẩn này phù hợp với những tiêu chuẩn của Uỷ ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế CODEX đối với quả vải.

    Quả vải đã phát triển đầy đủ và trưởng thành để chịu được vận chuyển và đảm bảo giữ được tình trạng tốt khi đến nơi.

    Quả vải được xếp loại theo ba tiêu chuẩn về chất lượng: “Loại hảo hạng” là những sản phẩm với chất lượng tốt nhất. Vải thuộc loại này phải có hình dáng và màu sắc điển hình của giống hay chủng loại. Ngoài ra, quả vải phải không có khuyết tật, trừ những vết trầy sát rất nhẹ trên bề mặt và không ảnh hưởng đến hình thái chung của sản phẩm, đến chất lượng, đến việc duy trì chất lượng và cách trình bày trong bao bì sản phẩm. Vải loại I có chất lượng tốt và chỉ có những khuyết tật rất nhỏ (khuyết tật về hình dáng, màu sắc hay ở vỏ nhưng tổng diện tích không quá 0,25cm2). Vải loại II là loại vải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu để nhập khẩu vào thị trường EU nhưng không đủ điều kiện để chất lượng cao hơn như loại I hay loại Hảo hạng. Tuy nhiên, thị trường cho sản phẩm vải loại II rất hạn chế. Vải loại II có thể có những khuyết tật ví dụ như ở vỏ nhưng tổng diện tích không quá 0,5cm2.

    • Kích thước và màu sắc

    Theo tiêu chuẩn của CODEX đối với vải quả, kích cỡ được xác định bởi đường kính lớn nhất của quả.

    – Kích thước tối thiểu cho vải loại “Hảo hạng” là 33mm.

    – Kích thước tối thiểu cho loại I và II là 20mm.

    – Cho phép chênh lệch kích cỡ tối đa là 10mm giữa các quả trong mỗi gói.

    Mức độ cho phép về kích thước: 10% số quả hoặc trọng lượng quả ở tất cả các loại không đạt kích thước tối thiểu miễn là đường kính không dưới 15mm ở tất cả các loại và/hoặc chênh lệch kích thước tối đa là 10mm.

    Số liệu về kích thước thường sử dụng đơn vị mm. Tuy nhiên, tại một số nước, ví dụ như Thái Lan, đã phát triển tiêu chuẩn nông nghiệp với mã kích thước (1-3) cho các giống khác nhau.

    Màu sắc quả vải có thể khác nhau từ hồng đến đỏ trong trường hợp vải không xử lý; từ vàng nhạt đến hồng đối với loại vải đã khử trùng với SO2.

    • Đóng gói

    Đóng gói dành cho bán buôn:

    – Thường là đóng gói trong hộp với trọng lượng từ 2 đến 2,5kg. Có thể sử dụng các hộp có kích thước lớn hơn, đặc biệt khi sản phẩm được đóng gói lại tại châu Âu. Cần đảm bảo việc kiểm tra bao bì như mong muốn với khách hàng.

    – Vải trong mỗi bao gói phải đồng bộ và chỉ chứa những quả có cùng nguồn gốc, giống hay chủng loại, chất lượng, kích thước và màu sắc. Phần vải quả nhìn thấy phải đại diện cho toàn bộ quả vải bên trong bao bì.

    – Các hộp chứa phải đạt chất lượng, vệ sinh, thông gió và bền chắc để đảm cho quá trình bốc xếp, vận chuyển và bảo quản vải quả. Các bao gói (hoặc lô nếu sản phẩm xếp rời) phải hoàn toàn không có tạp chất và mùi lạ.

    Đóng gói dành cho người tiêu dùng: vải quả tươi được bán ngay khi vừa lấy ra khỏi hộp vải bán buôn hoặc trong khay nhựa với trọng lượng 300 hoặc 500gr.

    • Ghi nhãn hiệu

    Việc ghi nhãn hiệu lên bao gói cho tiêu thụ phải phù hợp với những nguyên tắc và quy định được áp dụng tại EU và khu vực Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA). Nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc tiếp cận thông tin hữu ích và chính xác, Quy định số 1169/2011 của EU đưa ra những quy định, yêu cầu và trách nhiệm chung nhằm quản lý thông tin thực phẩm, cụ thể là việc ghi nhãn hiệu lên bao bì thực phẩm. Nhãn hiệu không được phép chứa mực hay hồ dính độc hại.

    Mỗi bao bì (không dùng cho bán lẻ) phải có những nội dung dưới đây, bằng chữ in về cùng một phía, rõ ràng và khó tẩy xoá, và có thể nhìn thấy được từ bên ngoài:

    – Xác nhận: tên và địa chỉ nhà xuất khẩu, đóng gói và/hoặc gửi hàng. Mã xác nhận (không bắt buộc);

    – Bản chất của sản phẩm: Phải ghi tên sản phẩm nếu sản phẩm không thể nhìn thấy từ bên ngoài. Tên giống hoặc tên thương phẩm (không bắt buộc), nếu ở dạng chùm phải có quy cách của chùm;

    – Nguồn gốc sản phẩm: Phải ghi nước xuất xứ, không bắt buộc khi khu vực trồng, tên quốc gia, tên vùng hoặc tên địa phương;

    – Xác nhận hàng hoá: Loại sản phẩm, kích thước (mã nếu có) và/hoặc khối lượng tịnh;

    – Dấu Giám định chính thức (không bắt buộc).

    Ngoài ra, đối với việc đóng gói dành cho bán lẻ, nếu sản phẩm không thể nhìn thấy từ bên ngoài, mỗi bao bì phải có nhãn ghi tên sản phẩm và có thể ghi giống hoặc đại diện của giống. Các biểu tượng chứng nhận hay biểu tượng của nhà bán lẻ đều có thể được dán, nhãn hiệu nếu được yêu cầu, trong trường hợp sản phẩm có nhãn hiệu riêng.

    Yêu cầu của người mua hàng

    Yêu cầu của người mua hàng có thể chia thành 3 nhóm yêu cầu chính (1) những yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng nếu muốn nhập khẩu vào thị trường EU, ví dụ như những yêu cầu về mặt pháp lý; (2) những yêu cầu chung mà hầu hết các đối thủ cạnh tranh đã thực hiện, nói cách khác là những quy định phải tuân thủ để theo kịp với thị trường; và (3) những yêu cầu của thị trường ngách đối với từng phân khúc cụ thể.

    Những yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng:

    • Thuốc trừ sâu

    EU đã quy định mức dư lượng tối đa (MRL) có trong và trên các loại thực phẩm. Các sản phẩm có chứa lượng thuốc trừ sâu cao hơn mức cho phép sẽ bị buộc rút ra khỏi thị trường EU. Một lưu ý là người tiêu dùng ở một số quốc gia thành viên (bao gồm nhưng không giới hạn ở Anh, Đức, Hà Lan và Áo) quy định về MRL khắt khe hơn so với lượng MRL trong quy định của EU.

    Một số lưu ý:

    Để có được mức dư lượng tối đa phù hợp đối với mặt hàng vải quả, bạn có thể tham khảo cơ sở dữ liệu về MRL của EU. Bạn có thể tìm kiếm sản phẩm của mình hoặc thuốc trừ sâu được sử dụng sau đó cơ sở dữ liệu sẽ đưa ra MRL tương ứng đối với sản phẩm của bạn hoặc đối với loại thuốc trừ sâu.

    Tìm hiểu thêm về MRL thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    Kiểm tra với người mua hàng nếu có yêu cầu bổ sung về MRL hoặc việc sử dụng thuốc trừ sâu.

    Một biện pháp tốt nhằm giảm thiểu lượng thuốc trừ sâu là việc áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). IPM là chiến lược kiểm soát dịch hại nông nghiệp dịch thực vật nhằm ngăn chặn sự xâm nhập và lây lan của sinh vật có hại cho thực vật; trong đó sử dụng các biện pháp bổ sung bao gồm việc quản lý hoá chất và thực hành canh tác. IPM là một yêu cầu chung trong hầu hết các tiêu chuẩn Thực hành Nông nghiệp Tốt như GlobalG.A.P.

    Chỉ làm việc với những nông dân đáng tin cậy và thiết lập quy trình làm việc hiệu quả nhằm ngăn chặn bất kỳ sai lầm trong việc sử dụng thuốc trừ sâu.

    • Tiêu chuẩn tiếp thị

    Tất cả các loại trái cây và rau được nhập khẩu vào EU đều phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về chất lượng như đã được ghi trong Tiêu chuẩn Tiếp thị của EU.

    Một số lưu ý:

    Kiểm tra xem đâu là những tiêu chuẩn phù hợp và đảm bảo sản phẩm cùng các tài liệu cần thiết được sắp xếp theo đúng thứ tự.

    Tìm hiểu thêm về tiêu chuẩn tiếp thị thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU

    • Nhãn hiệu

    Thực phẩm được bày bán tại EU phải đáp ứng những quy định về dán nhãn hiệu thực phẩm.

    Các thùng carton đựng rau quả tươi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    Tên và địa chỉ của người đóng gói và gửi hàng;

    Tên sản phẩm (nếu sản phẩm không thể nhìn thấy từ bên ngoài bao bì);

    Nước xuất xứ;

    Loại và kích thước (liên quan đến các tiêu chuẩn tiếp thị).

    Một số lưu ý:

    Đảm bảo tất cả các thông tin cần thiết đều được đề cập tới, nhưng đồng thời đề cập đến các thông tin hữu ích khác như biểu tượng của các nhà nhập khẩu hay giấy chứng nhận.

    T́m hiểu thêm về việc dán nhăn thực phẩm thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    • Sức khoẻ cây trồng

    Hoa quả và rau xuất khẩu sang EU phải tuân thủ các quy định của EU đối với sức khoẻ cây trồng. EU đã đặt ra các yêu cầu về kiểm dịch thực vật để ngăn chặn việc lây lan ủa sinh vật gây hại cho cây trồng và sản phẩm thực vật trong EU. Theo đó,

    Một số sinh vật đã được niêm yết không được phép nhập khẩu vào thị trường EU, trừ một số trường hợp cụ thể được phép áp dụng.Thực vật hoặc sản phẩm thực vật được quy định tại Phần B, Phụ lục V của Chỉ thị 2000/29/EC phải kèm theo một giấy chứng nhận sức khoẻ cây trồng.

    Một số lưu ý: Kiểm tra với Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia có liên quan hoặc nhà nhập khẩu EU của bạn (NPPO) về những yêu cầu phù hợp với sản phẩm của bạn. Truy cập đường link đính kèm để tìm hiểu thêm về những yêu cầu của NPPO.

    Nếu giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật là bắt buộc để hàng hóa được phép nhập cảnh vào EU, bạn nên tự xin giấy chứng nhận từ NPPO hoặc đề nghị nhà nhập khẩu EU giúp bạn. Mẫu giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật có thể được tìm thấy thông qua Phụ lục VII của Chỉ thị 2000/29/EC.

    Tìm hiểu thêm về sức khỏe cây trồng thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    • Chất gây ô nhiễm

    Chất gây ô nhiễm là các chất không được đưa vào thực phẩm một cách có chủ ý, nhưng lại xuất hiện như kết quả của các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển hay bốc xếp. Để tránh tác động tiêu cực đến chất lượng thực phẩm và nguy cơ đối với sức khỏe con người, EU đã đặt ra giới hạn cho một số chất gây ô nhiễm.

    Một số lưu ý:

    Tra cứu mức độ của các chất gây ô nhiễm trong phần phụ lục của Quy định (EC) 1881/2006, bạn có thể tìm thấy thông tin về tất cả các chất ô nhiễm và mức tối đa đối với mỗi sản phẩm hay nhóm sản phẩm. Hãy kiểm tra xem sản phẩm của bạn có thuộc nhóm sản phẩm nào không. Ví dụ, khi dùng từ khóa “vải thiều”, bạn có thể không tìm thấy thông tin nhưng lại có trong nhóm sản phẩm trái cây.

    Tìm hiểu thêm về các biện pháp phòng chống và giảm ô nhiễm chính trong bộ Quy tắc Thực hành được công bố bởi Uỷ ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế(CODEX).

    Tham khảo báo cáo của Uỷ ban Châu Âu về chất gây ô nhiễm thực phẩm: “Kiểm soát chất gây ô nhiễm thực phẩm: các biện pháp của EU trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm”.

    Tìm hiểu thêm về các chất gây ô nhiễm thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    • Biện pháp kiểm soát biên giới

    Các sản phẩm của bạn sẽ phải chịu các biện pháp kiểm tra chính thức. Các biện pháp này nhằm đảm bảo tất cả các loại thực phẩm nhập khẩu vào thị trường EU đều an toàn, tức là phù hợp với các yêu cầu đã được quy định đối với các mặt hàng này. Có ba loại kiểm tra là:

    Kiểm tra tài liệu

    Kiểm tra nhận dạng

    Kiểm tra vật lý

    Trong trường hợp có sự lặp lại thường xuyên việc không tuân thủ quy định của một số sản phẩm có xuất xứ từ một số quốc gia cụ thể, EU có thể quyết định nâng mức tiến hành kiểm tra lên cao hơn hay áp dụng các biện phấp khẩn cấp. Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các cấp độ từ nhập khẩu đến marketing tại thị trường EU. Tuy nhiên, hầu hết việc kiểm tra đều được hoàn thành tại các điểm nhập cảnh vào EU.

    Một số lưu ý:

    Hãy tự làm quen với các thủ tục. Việc không tuân thủ các thủ tục thích hợp có thể dẫn tới sự suy giảm hay chậm trễ của đơn hàng, gia tăng chi phí và cuối cùng có thể dẫn tới các biện pháp trừng phạt của các cơ quan thực thi pháp luật của EU.

    Đảm bảo đầy đủ các tài liệu kèm theo tương ứng với các sản phẩm có trong lô hàng.

    Kiểm tra nếu có bất kì sự gia tăng mức độ kiểm tra nào.

    Tìm hiểu thêm về kiểm duyệt sức khoẻ thông qua Dịch vụ Hỗ trợ Xuất khẩu của EU.

    Thuỵ Sĩ, Na-Uy, Ai-xơ-len và Liechtenstein không phải là thành viên của EU, nhưng vẫn là thành viên của Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu EFTA. Luật về thực phẩm của các nước này gần như giống hệt so với luật của EU. Tuy nhiên, một số phần trong bộ luật có thể có sự khác biệt. Tại Thuỵ Sĩ, việc kiểm soát nhập khẩu thuộc về trách nhiệm của Cục Hải quan Thuỵ Sĩ và Văn phòng Y tế Công cộng Liên bang.

    • Những yêu cầu chung của người mua hàng

    Chứng nhận bảo lãnh

    Do an toàn thực phẩm là vấn đề ưu tiên hàng đầu, nên nhà nhập khẩu EU cũng đưa ra nhiều yêu cầu về sự đảm bảo của người xuất khẩu dưới hình thức giấy chứng nhận.

    Tiêu chuẩn GlobalG.A.P.

    Đây là giấy chứng nhận an toàn thực phẩm được yêu cầu nhiều nhất, đặc biệt đối với mặt hàng rau quả tươi xuất khẩu sang EU. GlobalG.A.P. là những tiêu chuẩn trước khi xuất khỏi trang trại bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp, từ trước khi hạt giống được gieo trồng đến khi sản phẩm chưa qua xử lý (không bao gồm quá trình xử lý).

    Những ví dụ về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm có thể được yêu cầu là BRC và IFS, FSSC22000 hoặc SQF. Các hệ thống quản lý này được yêu cầu bổ sung cho GlobalG.A.P. và cũng bao gồm những tiêu chuẩn từ trang trại cho đến người mua hàng.

    Người mua khác nhau có thể đưa ra yêu cầu khác nhau đối với một hệ thống quản lý nhất định. Vì vậy, trước khi xin giấy chứng nhận của một trong số các hệ thống quản lý trên, cần phải kiểm tra xem hệ thống nào được ưa chuộng (ví dụ các nhà bán lẻ Anh thường yêu cầu BRC, trong khi các nước thành viên EU lại thường yêu cầu IFS). Tất cả các hệ thống quản lý kể trên đều được công nhận bởi Sáng kiến An toàn Thực phẩm Toàn cầu (GFSI), tức là tất cả các hệ thống này đều được chấp thuận bởi các nhà bán lẻ chính. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có các nhà bán lẻ ưa chuộng một hệ thống quản lý khác.

    GRASP là viết tắt của Đánh giá Rủi ro Thực tiễn Xã hội bởi GlobalG.A.P. Đây là một cơ chế sẵn sàng hoạt động một cách tự nguyện được phát triển nhằm tiếp cận các hoạt động thực tiễn xã hội tại trang trại, giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến sức khoẻ người công nhân, độ an toàn và phúc lợi. GRASP và các loại chứng nhận tương tự dự kiến sẽ là một trong nhiều yêu cầu của các siêu thị trong thời gian tới.

    Một số lưu ý:

    Quá trình chuẩn bị cho việc thâm nhập thị trường EU thường bao gồm chứng nhận của GlobalG.A.P., do đó việc làm quen với tiêu chuẩn GlobalG.A.P. là rất quan trọng.

    Kiểm tra xem đâu là hệ thống quản lý được ưa chuộng tại thị trường mục tiêu của bạn.

    Tìm hiểu thêm về các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm khác tại Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn).

    • Các tiêu chuẩn chất lượng

    Người mua hàng EU thường yêu cầu sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn UNECE hay tiêu chuẩn CODEX. Điều đáng lưu ý là chất lượng bao gồm độ an toàn và chất lượng thực phẩm. Một sản phẩm thực phẩm được coi là không chất lượng nếu nó không tốt cho sức khoẻ hoặc nguy hiểm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, chất lượng thực phẩm cũng đề cập đến đặc điểm cụ thể của thực phẩm, chủ yếu từ quan điểm của người tiêu dùng, bao gồm các đặc điểm bên trong và bên ngoài của sản phẩm. Những tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nhập khẩu EU và các thương gia thường là những tiêu chuẩn được phát triển bởi Uỷ ban Kinh tế châu Âu của Liên Hợp Quốc (UNECE) và Uỷ ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế CODEX (CAC). Những tiêu chuẩn của UNECE được coi một tài liệu tham khảo về các đặc tính của sản phẩm được áp dụng bởi các nhà nhập khẩu.

    Một số lưu ý:

    Hãy đảm bảo rằng sản phẩm bạn cung cấp đáp ứng được những chất lượng như đã thoả thuận.

    Thị trường ngách: Thương mại hữu cơ và Thương mại công bằng

    Thương mại công bằng

    Tuy nhỏ nhưng phát triển rất nhanh, thị trường ngách là thị trường dành cho các loại rau quả tươi được sản xuất trong đó tập trung nhiều hơn vào điều kiện xã hội và/hoặc kinh tế của khu vực sản xuất. Những ví dụ về các tiêu chuẩn liên quan (và nhãn tiêu dùng) đối với mặt hàng rau quả tươi bao gồm thương mại công bằng (ban đầu tập trung chủ yếu vào các vấn đề xã hội) và cuộc sống công bằng.

    Trong năm 2013, khoảng 300 pallet quả vải được chứng nhận thương mại công bằng đã được vận chuyển bằng tàu thông thường từ Ma-đa-gát-xca tới châu Âu. Các lô hàng này chủ yếu nhắm tới thị trường Scandinavian và các thị trường Bắc Âu khác.

    Ngoài ra, các nhà nhập khẩu cũng có thể áp dụng các sáng kiến khác chẳng hạn tham gia vào một tổ chức sáng kiến nhà bán lẻ như Sáng kiến Đạo đức Kinh doanh (ETI) ở Anh hay Sáng kiến Tuân thủ Xã hội của Doanh nghiệp (BSCI) ở khu vực Tây Bắc châu Âu.

    Một số lưu ý:

    Tham khảo cơ sở dữ liệu của Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn) về các nhãn hiệu khác nhau cũng như sự giống và khác nhau giữa các nhãn hiệu này.

    Kiểm tra tình hình hoạt động của công ty bạn. Ví dụ như truy cập website của BSCI để tiến hành tự đánh giá.

    • Rainforest Alliance – R.A. (Tổ chức Mưa rừng)

    Trình chứng nhận R.A. hướng tới việc hạn chế những ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường và xã hội. Hoạt động của tổ chức R.A. nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế bằng cách thúc đẩy và đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn bền vững được coi trọng nhất trên rất nhiều lĩnh vực.

    Một số lưu ý:

    Tham khảo thêm về tiêu chuẩn R.A và các nhãn hiệu khác tại cơ sở dữ liệu của Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn).

    • Thương mại hữu cơ – thị trường ngách đang phát triển

    Vải quả được sản xuất hữu cơ hiện tại vẫn còn đang hạn chế. Tuy nhiên, người tiêu dùng EU ngày càng ưa chuộng các loại thực phẩm đuợc sản xuất và chế biến bằng phương pháp tự nhiên. Trái cây và rau sản xuất hữu cơ là những sản phẩm có thể đáp ứng đuợc cả hai tiêu chí trên, đồng thời đem lại giá cao cho nhà sản xuất.

    Để đưa các mặt hàng hữu cơ này vào thị trường EU, bạn phải sử dụng các phương pháp sản xuất hữu cơ đã được quy định trong luật của Liên minh châu Âu. Ngoài ra, các phương pháp này phải được áp dụng ít nhất hai năm trước khi đưa các sản phẩm hoa quả và rau hữu cơ ra thị trường. Hơn nữa, bạn cần phải nộp đơn xin phép nhập khẩu từ cơ quan kiểm soát hữu cơ của EU. Sau khi được thẩm định bởi cơ quan chứng nhận được công nhận, bạn có thể dán logo chứng nhận hữu cơ của EU lên sản phẩm của mình hoặc logo của chủ sở hữu tiêu chuẩn (ví dụ như Hiệp hội Đất đai (đặc biệt tại Anh), Naturland (Đức) hoặc Bio Suisse (Thuỵ Sĩ). Các tiêu chuẩn này tuy có vài điểm khác biệt song đều phù hợp với luật pháp của EU về các sản phẩm hữu cơ và dán nhãn hiệu.

    Một số lưu ý:

    Thực hiện việc sản xuất hữu cơ và được cấp chứng nhận sẽ tốn kém; do đó cần tiến hành đánh giá thị trường tiềm năng.

    Kiểm tra xem những nhãn hiệu hữu cơ nào được yêu cầu phổ biến nhất tại thị trường mục tiêu.

    Tham khảo cơ sở dữ liệu của Standards Map (Bản đồ Tiêu chuẩn) về các nhãn hiệu khác nhau cũng như sự giống và khác nhau giữa các nhãn hiệu này.

    Khi xuất khẩu vải quả hữu cơ sang các thị trường EU, bạn nên lựa chọn nhà nhập khẩu chuyên dụng và có chuyên môn am hiểu về thị trường và có khả năng tiếp cận các thị trường ngách được lựa chọn.

    2.2 Thực trạng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều của Viêt Nam vào Eu

    2.2.1 Hoạt động xuất khẩu Vải thiều vào EU

     

    Hiện nay, Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vải thiều tại thị trường Eu có xu thế gia tăng do hiệu ứng lan tỏa từ khu vực tiêu dùng người nhập cư và người Thụy Điển đi du lịch nước ngoài trở về, ngoài ra khi Hiệp định FTA EU – Việt Nam (EVFTA) được ký kết thực hiện, Việt Nam sẽ có thêm điều kiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm rau củ quả như vải thiều. Trong tháng 3/2015 tình hình kinh tế các nước châu Âu có chuyển biến tích cực khi chỉ số tiêu dùng của Đức-nền kinh tế lớn thứ nhất- tăng lên cao nhất kể từ 7/2014, niềm tin kinh doanh pháp tăng lên cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Là thị trường tiềm năng nhập khẩu vải thiều, EU có vai trò quan trọng trong kinh ngạch xuất khẩu vải thiều của Việt Nam. Trong những năm gần đây sản lượng vải thiều được nhập khẩu vào thị trường này không ổn định, có điễn biến thất thường khó dự báo được.

    Bảng 2.4 Giá trị xuất khẩu Vải thiều Việt Nam vào các nước Eu

    (Nghìn USD)

    STT Nước 2010 2011 2012
    1 Netherland 4480 5639 6152
    2 Germany 1852 1672 2134
    3 Pháp 1560 1442 1021
    4 Anh 774 907 280
    5 Italy 243 190 152
    6 Tây Ban Nha 40 72 153
    7 Thụy Điển 23 57 6
    8 Bỉ 22 69 148

                     Nguồn: ITC calculations based on UN COMTRADE statistics.

    Qua bảng số liệu thống kê trên ta có thể thấy, hầu hết ở các thị trường các nước của EU gia trị xuất khẩu vải thều của Việt Nam đang giảm xuống. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008, nợ công diễn ra ngày càng nhiều ở Châu Âu khiến cho thị trường này đương như vẫn chưa có tín hiệu phục hồi hoàn toàn. Cùng với đó, bất ổn chính trị đang diến ra ở Syria, các lực lượng hồi giáo IS, tranh chấp  Gruzia, Ukraine, giá dầu liên tục giảm trong thời gian qua đã có tác động không hề nhỏ đến xu hướng tiêu dùng, quyết định mua sắm của người dân.

    Chính sách, chủ trương của nhà nước thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều   vào thị trường EU

    Trong thời gian qua, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương đã triển khai một số biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ vải thiều trong và ngoài nước, cụ thể như:

    • Chương trình xúc tiến thương;
    • Mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp;
    • Các hội nghị bàn biện pháp tiêu thụ vải thiều năm 2014;
    • Các văn bản chỉ đạo triển khai đồng bộ hóa các giải pháp nhằm đẩy nhanh thời gian làm công tác thông quan hàng hóa;
    • Các cơ quan kiểm dịch tại khu vực cảng, cửa khẩu ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi trong công tác kiểm dịch thực vật đối với vải thiều xuất khẩu;
    • Tăng cường công tác an ninh, trật tự trên địa bàn cho thương nhân thu mua vải thiều;
    • Cho phép các biện pháp phù hợp để ưu tiên đối với việc vận chuyển vải thiều,
    • Điều tiết kịp thời các phương tiện vận tải để tránh tình trạng ùn tắc hàng hóa;

    bảo đảm công tác vệ sinh môi trường.

    Tại hội nghị lần này, lãnh đạo UBND tỉnh Hải Dương đã đưa ra nhiều kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu ra đối với mặt hàng vải thiều. Theo đó, UBND tỉnh Hải Dương kiến nghị Chính phủ bổ sung:

    • Chính sách hỗ trợ thiên tai do thời tiết ấm trong vụ đông xuân đối với cây vải;
    • Có cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ cho vay với lãi suất phù hợp đối với cá nhân, doanh nghiệp, cơ sở thu mua, bảo quản, chế biến, tiêu thụ vải.

    Đồng thời, đề nghị Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chính sách phù hợp để:

    • Khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, nhằm đẩy nhanh việc tiêu thụ vải cho nông dân; Hỗ trợ hoạt động tìm kiếm thị trường và đối tác tiêu thụ;
    • Hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, quảng bá và tìm kiếm thị trường tiêu thụ vải tỉnh Hải Dương trên các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Có biện pháp ngăn chặn những thông tin gây thất thiệt, gây khó khăn cho công tác tiêu thụ sản phẩm

    Đồng thời, đề nghị các cơ quan chức năng các tỉnh có biên giới với Trung Quốc (Lào Cai, Lạng Sơn và Quảng Ninh) tăng cường công tác phối hợp với các sở, ngành chức năng của tỉnh Hải Dương để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong giải quyết các thủ tục hành chính, vận chuyển và tiêu thụ vải cũng như thông tin kịp thời về khó khăn của đối tác Trung Quốc trong công tác tiêu thụ để người nông dân biết, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra…

    Trong khi đó, ngoài việc đồng quan điểm với tỉnh Hải Dương về công tác xúc tiến thương mại, quảng bá và tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, đại diện lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Giang cũng kiến nghị với Bộ Khoa học và Công nghệ  về việc:

    • Hỗ trợ, chuyển giao công nghệ cho tỉnh Bắc Giang về giống, hỗ trợ chuyển giao các quy trình chăm sóc để kéo dài thời gian sinh trưởng và nâng cao chất lượng quả vải thiều, đảm bảo tiêu chuẩn VietGap;
    • Tìm kiếm giải pháp hữu hiệu giúp kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch cho vải thiều.

    Riêng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỉnh Bắc Giang kiến nghị chỉ đạo các cơ quan kiểm dịch tại các khu vực cảng, cửa khẩu ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi trong công tác kiểm dịch thực vật đối với các lô hàng vải thiều xuất khẩu. Ngoài ra, ông Bùi Văn Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cũng đề nghị Bộ Giao thông Vận tải xem xét và cho phép các biện pháp phù hợp để ưu tiên đối với vận chuyển hàng nông sản, đặc biệt là quả vải thiều, tránh tình trạng ùn tắc, gây bất lợi tới giá cả và chất lượng sản phẩm…

    Với quan điểm không nóng vội, làm đến đâu chắc đến đó, UBND tỉnh đặt ra các mục tiêu: Quy hoạch, tổ chức sản xuất vải thiều Lục Ngạn theo tiêu chuẩn quốc tế (GlobalGAP), bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm để đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu truyền thống và thị trường mới với những đòi hỏi cao hơn. Phát triển thương hiệu “Vải thiều Lục Ngạn” thành thương hiệu mạnh ở trong nước và nước ngoài. Lựa chọn, áp dụng công nghệ hiện đại, giá cả hợp lý vào bảo quản, chế biến, ðóng gói nhằm nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian tiêu thụ vải thiều. Hình thành và phát triển chuỗi liên kết chặt chẽ trong sản xuất, bảo quản – chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

    Đa dạng hóa các hình thức xúc tiến thương mại, tích cực thâm nhập và nắm bắt thông tin nhằm giữ vững thị trường xuất khẩu truyền thống, từng bước tiếp cận, khơi thông, mở rộng sang các thị trường mới, cao cấp; nâng cao giá trị quả vải thiều, góp phần cải thiện đời sống người trồng vải. Trước mắt, năm 2015 bước đầu đưa vải thiều thâm nhập vào thị trường Mỹ và xúc tiến xuất khẩu vào thị trường Úc, Nhật Bản và một số thị trường khác.

    Để thực hiện các mục tiêu trên, UBND tỉnh đã đặt ra các nhiệm vụ cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, trong đó đặc biệt chú ý: Triển khai sản xuất vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP tại Hợp tác xã Hồng Xuân, xã Hồng Giang, (Lục Ngạn) với quy mô 100 ha, sản lượng khoảng 500-600 tấn. Duy trì và mở rộng vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP được cấp giấy chứng nhận là 200 ha tại huyện Lục Ngạn; sản lượng dự kiến khoảng 1.000-1.200 tấn.

    Đăng ký bảo hộ địa danh cho vải thiều tại Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Nga, Israel, Singapore và một số thị trường khác. Lựa chọn công nghệ bảo quản nhằm nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian sử dụng vải thiều để phục vụ xuất khẩu, trong đó Công nghệ đang được xem xét áp dụng gồm: Công nghệ màng bao gói khí quyển biến đổi MAP của Israel; công nghệ CAS của Nhật Bản. Lựa chọn, phát triển hệ thống các doanh nghiệp liên kết sản xuất, doanh nghiệp áp dụng công nghệ bảo quản, doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu.

    Ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích nhân dân tham gia trồng vải theo tiêu chuẩn quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, áp dụng công nghệ bảo quản và đẩy mạnh xuất khẩu. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu vải thiều tại thị trường Mỹ và các thị trường mới, tiềm năng khác. Làm việc cụ thể với một số doanh nghiệp có khả năng để kết nối họ vào chuỗi liên kết nhằm tránh rủi ro cũng như thiệt hại cho các bên trong quá trình triển khai.

    Tập trung cao cho việc phối hợp khơi thông thị trường để các nước mở cửa thị trường cho sản phẩm vải thiều; chủ động nắm chắc thông tin để định hướng về số lượng sản xuất, tiêu chuẩn sản xuất và phương thức thực hiện để chủ động tổ chức các công việc đáp ứng yêu cầu đặt ra.

    Tiếp đến là tập trung vào những nội dung phối hợp cụ thể như: Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để triển khai mô hình sản xuất vải theo tiêu chuẩn GlobalGAP; cấp mã số vùng trồng (chỉ dẫn địa lý) cho quả vải; các quy trình canh tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh. Đặc biệt là trong tìm hiểu thông tin về công tác kiểm tra của Bộ Nông nghiệp Mỹ trước khi nhập khẩu vải thiều vào Mỹ.

    Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong lựa chọn công nghệ bảo quản vải thiều và lựa chọn đơn vị chiếu xạ vải thiều phục vụ xuất khẩu; bảo hộ thương hiệu vải thiều Lục Ngạn tại các quốc gia; đề nghị Bộ hỗ trợ kinh phí áp dụng công nghệ bảo quản vải thiều theo quy định. Phối hợp với Bộ Công thương trong công tác xúc tiến thương mại, nhất là tại thị trường Mỹ; tăng cường và đa dạng về nội dung, hình thức và cách thức quảng bá vải thiều; tìm hiểu thông tin về thủ tục xuất nhập khẩu và các rào cản thương mại để có các biện pháp thích ứng.

    Ngoài ra tỉnh sẽ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan truyền thông đại chúng, các hãng bán lẻ và các kênh khác để có thể trực tiếp, gián tiếp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và thương hiệu vải thiều rộng khắp..

    Tại hội nghị, các doanh nghiệp thu mua, các Ban quản lý chợ đầu mối tại các tỉnh phía Nam cũng đã chia sẻ nhiều giải pháp giúp đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều nhằm tránh tình trạng “được mùa mất giá”. Theo đại diện Ban quản lý chợ Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh), các cơ quan chức năng cần đề nghị các viện nghiên cứu để làm sao có thể giữ và kéo dài được màu của vải thiều, từ đó mới tính đến chuyện xuất khẩu đến các thị trường ngoài nước, tập trung mạnh và thị trường Eu, Mỹ, Nhật…. Trong khi đó, lãnh đạo Ban Quản lý chợ Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh) cho biết, hiện nay, do chưa tìm kiếm được các thị trường xuất khẩu mới, trong khi thị trường truyền thống gặp nhiều khó khăn, thì thị trường trong nước rất quan trọng. Để vải thiều đến với người tiêu dùng, cần tính đến việc đẩy mạnh các kênh phân phối như chợ, trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn…

    Thực trạng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều của Việt Nam vào Eu

    Liên minh Châu Âu (EU) hiện có 28 nước thành viên với dân số hơn 500 triệu người, là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng Việt Nam. Đây là khối kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt 18.000 tỷ USD, chiếm 22% tổng GDP toàn cầu. Tổng kim ngạch thương mại của EU xấp xỉ 4.000 tỷ USD, xuất khẩu dịch vụ của EU đứng đầu thế giới và đầu tư ra nước ngoài bằng gần 40% FDI toàn cầu…

    Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU không ngừng tăng trưởng. Chỉ tính riêng năm 2013 đã đạt con số 26,6 tỷ Euro, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang EU tới 21,3 tỷ Euro còn nhập khẩu từ EU là 5,3 tỷ Euro. “Như vậy, riêng năm 2013 Việt Nam đã xuất siêu sang thị trường EU tới 16 tỷ Euro, một ưu thế rất lớn để hướng tới cơ hội xuất khẩu tốt hơn khi FTA giữa Việt Nam – EU được ký kết,”

    8 tháng đầu năm 2014, theo số liệu của Tổng Cục Thống kê Việt Nam, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và EU đã đạt 23,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang EU 17,9 tỷ USD, tăng 13,3% và nhập khẩu từ thị trường này 5,8 tỷ USD, giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU tập trung vào các sản phẩm cần nhiều lao động như hàng lắp ráp, gia công, nông sản, thủy sản và nội thất.  EU hiện đang là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, là một thị trường phát triển ở trình độ cao nên các hệ thống kiểm soát về quy chuẩn và tiêu chuẩn hàng hóa tại thị trường này rất phức tạp. Hiện chỉ có khoảng 42% mặt hàng của Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU.  Chất lượng dịch vụ và hàng hóa ngày càng được yêu cầu cao .  Việc xuất khẩu sang thị trường EU phải tuân thủ tính minh bạch và đặt rất cao vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thông qua nhiều biện pháp và chính sách bảo hộ.

    Theo định hướng Bộ NN&PTNT, thời gian tới, để phát triển mặt hàng trái cây phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, Bộ NN&PTNT đang phối hợp với các địa phương rà soát quy hoạch phát triển từng loại cây, xác định cụ thể diện tích cần tái canh, trồng mới, cải tạo, thay thế bằng các giống mới cũng như diện tích cần chuyển đổi sang cây trồng khác do không nằm trong quy hoạch hoặc hiệu quả thấp. Dự kiến, sản lượng trái cây cả nước sẽ được nâng lên 11,3 triệu tấn vào năm 2020 và 17,7 triệu tấn (trong đó xuất khẩu từ 800 nghìn đến 1 triệu tấn) vào năm 2030. Theo Cục trồng trọt (Bộ NN&PTNT), diện tích cây ăn trái của ĐBSCL hiện đạt khoảng 295.000ha, chiếm 36,5% diện tích cây ăn trái cả nước với sản lượng khoảng 3,8 triệu tấn, chiếm khoảng 48,7% sản lượng cả nước. Tuy nhiên, hiện có đến 82-83% sản lượng trái cây của nhà vườn sản xuất ra được bán thông qua thương lái, 10% sản lượng được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị và chỉ khoảng 7-8% được doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, xuất nhập khẩu mua.

    Về hoạt động xúc tiến thương mại

    Chương trình Hỗ trợ xuất khẩu nguyên liệu thực phẩm sang EU (ECP) do Cục Xúc tiến thương mại (VIETRADE) phối hợp với Tổ chức Hỗ trợ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI – Hà Lan) thực hiện nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam xuất khẩu thành công nguyên liệu thực phẩm sang thị trường EU.

    Chương trình được triển khai trong vòng 3 năm (từ năm 2014 – 2016) với các nội dung chính bao gồm: (1) Đánh giá năng lực kinh doanh và Kế hoạch hành động; (2) Xây dựng năng lực xuất khẩu; và (3) Hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập thị trường nguyên liệu thực phẩm EU. Tổng ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp của chương trình là 1,5 triệu euro, do CBI Hà Lan và VIETRADE đồng tài trợ. Các lĩnh vực ngành hàng ưu tiên hỗ trợ là cà phê, ca cao, chè, mật ong, gia vị, hạt điều, trái cây…

    Sau 3 tháng thông tin rộng rãi tới cộng đồng doanh nghiệp, Chương trình đã thu hút sự quan tâm của hơn 1.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nguyên liệu thực phẩm. Trên cơ sở hơn 100 hồ sơ hợp lệ của các doanh nghiệp đăng ký tham gia, Ban tổ chức đã chọn ra 53 doanh nghiệp để các chuyên gia Châu Âu và Việt Nam đánh giá năng lực xuất khẩu theo đăng ký trên hồ sơ của doanh nghiệp. Sau vòng tuyển chọn này, các chuyên gia của CBI Hà Lan và Cục Xúc tiến thương mại tiếp tục lựa chọn được 13 doanh nghiệp để tiến hành đánh giá trực tiếp tại cơ sở của doanh nghiệp từ ngày 23/3 – 17/4/2014.

    Năm 2014, Sở Công Thương tổ chức biên soạn và phát hành tài liệu phục vụ xúc tiến thương mại, chú trọng tài liệu quảng bá ra thị trường nước ngoài, tập trung tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương và địa phương nhằm quảng bá các sản phẩm làng nghề, thương hiệu vải thiều Lục Ngạn và sách tiềm năng xuất nhập khẩu Bắc Giang.

    Hoàn thành công tác nâng cấp sàn giao dịch TMĐT và duy trì cập nhật thông tin trên Web Công Thương Bắc Giang và Sàn giao dịch TMĐT (san24h.vn). Biên soạn và phát hành bản tin kinh tế Công nghiệp và Thương mại Bắc Giang. Duy trì cập nhật và nâng cao chất lượng thông tin trên Web Công Thương Bắc Giang, Sàn giao dịch 24h; Duy trì Tạp chí Xúc tiến thương mại hàng tháng trên sóng phát thanh và truyền hình Bắc Giang nhằm tuyên truyền quảng bá các sản phẩm làng nghề của địa phương. Duy trì Banner quảng bá thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp tiêu biểu tỉnh Bắc Giang trên cổng thông tin điện tử “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tại địa chỉ http://w.w.w.tuhaoviet.vn.

    Công tác hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường

    Sở Công Thương đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp giao lưu giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác, tiếp cận thị trường thông qua các chương trình hội thảo, hội chợ triển lãm, tổ chức các đoàn khảo sát thị trường. Kết quả cụ thể đạt được như sau:

    Sở Công Thương tổ chức các đoàn công tác của tỉnh đi khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại tại các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bình Thuận…Tổ chức tham gia gian hàng triển lãm tỉnh Bắc Giang tại hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc tại tỉnh Yên Bái, hội chợ  Hùng Vương 2014,  hội chợ thương mại quốc tế Việt Nam lần thứ 24 – Vietnam Expo 2014, hội chợ hàng Việt Tp Hà Nội 2014 (tại Giảng Võ, Hà Nội), hội chợ quốc tế Thực phẩm và Đồ uống Việt Nam lần thứ 18, hội chợ thương mại biên giới Trung – Việt 2014.

    Phối hợp các ngành, các doanh nghiệp tham gia Hội nghị kết nối tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm nông sản đặc trưng của tỉnh vào Thành phố Hồ Chí Minh; Tổ chức đoàn xúc tiến tiêu thụ vải thiều tại Lào Cai và Hà Khẩu (Trung Quốc).

    Tổ chức thành công Hội thảo Xúc tiến hợp tác thương mại giữa các nhà sản xuất tỉnh Bắc Giang và Big C. Đại diện 35 doanh nghiệp của tỉnh Bắc Giang chuyên về giết mổ gia súc, gia cầm, sản xuất chế biến rau quả đóng hộp, các loại rau, củ, quả an toàn, mỳ gạo (Chũ, Kế), sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến, chè Yên Thế, giấy xuất khẩu Xương Giang, gốm sứ mỹ nghệ Quảng Minh, gốm làng Ngòi, rượu làng Vân, cầu lông (Thành Công, Ba Sao)… đã tham dự hội thảo. Đại diện Big C đã ký biên bản ghi nhớ đối với 6 doanh nghiệp, HTX trên địa bàn tỉnh.

    Xây dựng và triển khai thực hiện Mô hình thí điểm chuỗi liên kết “chăn nuôi- thu mua – tiêu thụ” và “ chăn nuôi- giết mổ, chế biến – tiêu thụ” gà đồi Yên Thế.

    Sở Công Thương tổ chức các đoàn đi xúc tiến tại thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc nhằm nghiên cứu thị trường nước ngoài; tổ chức hội nghị, hội thảo gặp gỡ các đối tác nước ngoài tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và hợp tác (Thương vụ Việt Nam tại Hàn quốc, Hiệp hội các nhà nhập khẩu Hàn Quốc); Thăm quan mô hình sản xuất, phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp Hàn quốc

    Ngoài ra các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh đã chủ động khai thác thị trường theo chiều sâu, giữ vững các thị trường xuất khẩu truyền thống như thị trường Châu á (Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan); EU; Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada). Trong đó Trung Quốc là một trong những thị trường trọng điểm cần tổ chức các đoàn chuyên ngành, đa ngành tham gia hội chợ triển lãm đường biên, tăng cường mối quan hệ hợp tác với các địa phương có cửa khẩu, nhất là phía tây và tây nam; từng bước thành lập trung tâm giới thiệu sản phẩm của tỉnh tại Trung Quốc. Tiếp tục mở rộng khai thác, thâm nhập một số thị trường mới như: Châu Mỹ (đặc biệt là Mỹ La Tinh), Châu phi, Trung Đông…giảm sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống. Thường xuyên cung cấp cho doanh nghiệp thông tin cập nhật thị trường trong nước và thế giới về cơ chế chính sách, thị trường giá cả hàng hóa, hồ sơ thị trường xuất nhập khẩu trọng điểm; thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm, bạn hàng đối tác, nhà đầu tư giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động tìm kiếm đối tác và mở rộng thị trường.

    Quy định, chính sách sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu

    Theo nghị quyết 150/2005/QĐ-TTg về  việc Phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Trong những năm tới mở rộng diện tích 11 loại cây ăn quả có lợi thế; riêng đối với nhãn, vải chỉ trồng mới bằng các giống rải vụ, chất lượng cao và cải tạo vườn tạp. Diện tích cây ăn quả đến năm 2010 đạt 1 triệu ha, tầm nhìn năm 2020 khoảng 1,3 triệu ha. Bố trí chủ yếu ở trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và một số vùng khác có đủ điều kiện.

    Theo Nghị quyết 107/2008/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau quả, chè an toàn đến năm 2015 quy định:

    Mục tiêu

    Đến năm 2015, 100% diện tách rau, 100% diện tích cây ăn quả, 100% diện tích chè tại các vùng sản xuất an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu an toàn theo hướng dẫn an toàn thực hành tốt (VIETGAP)

    Phạm vi, đối tượng áp dụng các chính sách phát triển, sản xuất chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn theo quyết định này:

    • Điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, xác định các vùng điều kiện sản xuất rau, quả, chè an toàn
    • Đầu tư sản xuất rau, quả, chè an toàn.
    • Đầu tư chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn.

    Chứng nhận và công bố sản xuất, chế biến rau, quả, chè an toàn theo VIETGAP, HACCP.

    Tổ chức cá nhân, hộ gia đình có đầu tư phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn.

    Một số chính sách

    Ngân sách đầu tư

    Điều tra khảo sát, xác định địa hình vùng đủ điều kiện sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu an toàn theo hướng thực hành nông nghiệp tốt VIETGAP.

    Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định quy mô sản xuất an toàn, tập trung phủ hợp điều kiện đất đai, cây trồng, quy hoạch kinh tế xã hội của địa phương.

    Xây dưng, cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông kênh mương tưới, tiêu cấp 1, tram bơm, điện hạ thế.

    Ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư chợ buôn bán, kho bảo quản, xúc tiến thương mại, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật khoa học rau, quả, chè an toàn; chứng nhận cơ sở sản xuất rau, quả, chè an toàn.

    Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộ Trung ương quyết định.

    Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương bố trí kinh phí hàng năm hỗ trợ giống, khuyến nông vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn tạp trung theo nghị định 56/2005/NĐ-Cp ngày 26 tháng 4 năm 2005 của chính phủ về khuyến nông khuyến ngư và quyết định số 17/2006/QĐ-TTG ngày 20 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 1999 về chương trình trồng cây giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010.

    Về đất đai

    Tổ chức cá nhân đầu tư sản xuất rau, quả, chè an toàn được ưu tiên thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định đất đai tại các vùng sản xuất an toàn tập trung và được hưởng mức ưu đãi cao nhất về tiền sử dụng đất, giá thuê đất theo quy định hiện hành.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thnahf phố trực thuộc trung ương, trong phạm vi quyền hạn và ngân sách địa phương, ban hành các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho người sử dụng đất “dồn điền, đổi thửa”, chuyển nhượng, tích tụ đất đai hình thành vùng sản xuât an toàn, tập trung; ban hành các chính sách hỗ trợ vốn, các chính sách khác cho sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn tại địa phương.

    Khuyến khích nông dân sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần hoặc liên doanh với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn

    Thực hiện Kế hoạch số 3110/KH-UB ngày 28/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc xây dựng kế hoạch Xúc tiến xuất xuất khẩu vải thiều năm 2015 và những năm tiếp theo. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được phân công, Sở Công Thương đã chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể số 34/KH-SCT ngày 12/11/2014 để triển khai thực hiện. Trong đó, đẩy mạnh công tác thị trường, xúc tiến thương mại nhằm xuất khẩu vải thiều.

    Ngày 26/11/2014, Sở Công Thương đã tổ chức Hội nghị phối hợp với các ngành đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ để hình thành doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu vải thiều của tỉnh trong những năm tới. Tại Hội nghị, bước đầu đã đưa ra 6 doanh nghiệp có đủ điều kiện là đầu mối xuất khẩu vải thiều của tỉnh Bắc Giang. Sở Công Thương đã gửi tờ trình số 46/TTr-SCT ngày 28/11/2014 cho UBND tỉnh quyết định 6 doanh nghiệp đầu mối , đó là: Cty CP chế biến thực phẩm XK G.O.C; HTX Bình Minh; Tổng công ty rau quả – nông sản Việt Nam; Cty CP XNK Bắc Giang; Cty TNHH Thiên Hải Long; Cty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao. Trong thời gian tới, Sở Công Thương tiếp tục kêu gọi các đối tác, các nhà đầu tư đủ điều kinh doanh xuất khẩu Vải thiều Bắc Giang; Sở đã tham mưu cho lanh đạo tỉnh tổ chức buổi làm việc với Công ty CP thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao – Ninh Bình về kế hoạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, trong đó có quả vải thiều, quả gấc của tỉnh. Qua đó đã mở ra cơ hội lớn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu vải thiều tươi vào thị trường Mỹ năm 2015; Sở Công Thương chủ động tham mưu thành lập Đoàn công tác Nghiên cứu thị trường, Phát triển sản phẩm sản phẩm và giao dịch thương mại tại Hàn Quốc từ ngày 08-13/11/2014. Trong đó, chú trọng quảng bá, xúc tiến thương mại, tìm hiểu các điều kiện để xuất khẩu được các mặt hàng nông sản, đặc biệt là Vải thiều sang thị trường khó tính nhưng có giá trị kinh tế cao này; Tham mưu tổ chức đoàn xúc tiến thương maị của tỉnh tham dự Hội chợ Kinh tế thương mại biên giới Trung – Việt tại Hà Khẩu (Vân Nam, Trung Quốc).

    Tại đây, đoàn đã gặp gỡ và làm việc với các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp của tỉnh Lào Cai nhằm tăng cường hợp tác, thúc đẩy giao thương, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa thông thoáng, thuận tiện, nhất là mặt hàng Vải thiều của tỉnh. Đoàn đã làm việc với chính quyền và doanh nghiệp phía Trung Quốc, thiết lập quan hệ, tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu hàng hóa 2 chiều, đặc biệt là vải thiều trong thời gian tới. Đoàn đi thăm vùng sản xuất nông sản lớn nhất tại Vân Nam, Châu Hồng Hà, học hỏi kinh nghiệm để có thể áp dụng cho sản phẩm nông sản của Bắc Giang.

    Sở Công Thương là đơn vị đầu mối, tổng hợp các thông tin liên quan. Tiếp tục cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về vải thiều ở các thị trường truyền thống, thị trường mới. Duy trì, cập nhật các thông tin liên quan lên các trang thông tin của Sở Công Thương, Sàn giao dịch thương mại điện tử, Bản tin kinh tế thương mại, Chuyên mục Xúc tiến thương mại phát sóng trên truyền hình tỉnh Bắc Giang.

    Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới

    Căn cứ nhiệm vụ trong kế hoạch, Sở Công Thương chủ động thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra theo đúng tiến độ. Cụ thể nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới:  Phối hợp với các ngành đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu vải thiều của tỉnh trong những năm tới; Tiếp tục tuyên truyền quảng bá về vải thiều nói riêng và nông sản có thế mạnh của tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước; Đề nghị Bộ Công Thương đưa công tác xúc tiến xuất khẩu vải thiều vào Chương trình Xúc tiến thương mại Quốc gia hằng năm; Tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ, Hội nghị kết nối cung cầu vải thiều, các đoàn công tác xúc tiến thương mại, học tập kinh nghiệm; Hướng dẫn và lựa chọn doanh nghiệp đóng gói theo tiêu chuẩn Mỹ, Nhật và thị trường khác; Phối hợp với Bộ Công Thương và các cơ quan có liên quan tìm hiểu, nắm bắt thông tin thị trường, đối tác người nước; thủ tục xuất khẩu; quy trình, thủ tục kiểm soát hàng nhập khẩu của một số nước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…;Xây dựng bộ tài liệu (CD, tờ rơi, catalog…) phục vụ quảng bá về vải thiều nói riêng và nông sản có thế mạnh của tỉnh nói chung. Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về vải thiều ở các thị trường truyền thống, thị trường mới; kịp thời cập nhật thông tin về các thương nhân thu mua, chế biến, các nhà nhập khẩu, tiêu thụ vải thiều trên trang Thông tin Xúc tiến thương mại.

    Tiếp tục tập trung khâu sản xuất, chăm sóc cây vải, nâng cao chất lượng quả vải. Quy hoạch vùng sản xuất, mở rộng diện tích xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, kéo dài thời vụ, áp dụng tốt tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, tiếp cận, ứng dụng công nghệ bảo quản tế bào (CAS) của Nhật để xuất khẩu vải thiều sang các thị trường tiềm năng như: Nhật, Hàn Quốc, Mỹ…Đảm bảo đủ năng lực cung ứng, nguồn cung ứng ổn định, đảm bảo về số lượng và chất lượng. Kiểm tra trên thực tế và khuyến cáo người dân tuân thủ đúng các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ chất lượng và thương hiệu cho vải thiều Bắc Giang.

    – Thị trường tiêu thụ: Tiếp tục khai thác tốt các thị trường truyền thống trong và ngoài nước, chú trọng việc tiêu thụ ở thị trường nội địa, nhất là thị trường phía Nam và mở rộng sang các thị trường có giá trị cao như Nhật, các nước EU. Đồng thời có chiến lược tiếp cận, mở rộng thêm các thị trường mới; Xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp, hiệu quả, kết nối với các đối tác lớn, tiêu thụ lâu dài và ổn định cho vải thiều. Các ngành cần chủ động hơn, nghiên cứu, nắm chắc tình hình thị trường, dự báo sản lượng tiêu thụ cụ thể cho từng thị trường, xây dựng và đưa vào chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ, thuận tiện cho công tác kết nối giao thương, xúc tiến thương mại.

    – Công tác xúc tiến thương mại: Tiếp tục duy trì và phát triển thương hiệu vải thiều Lục Ngạn, vải sớm Phúc Hòa (Tân Yên); làm tốt công tác xúc tiến thương mại, thông tin, tuyên truyền quảng bá thương hiệu vải thiều.

    – Tăng cường sự phối hợp, tranh thủ sự ủng hộ, quan tâm của Chính phủ, các Bộ, ngành, các tỉnh, các cơ quan truyền thông tạo điều kiện, phối hợp hỗ trợ cho tỉnh trong công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ kết nối tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và bảo quản nâng cao chất lượng vải thiều để mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

    – Các ban ngành trong tỉnh cần chủ động, vào cuộc một cách đồng bộ; thành lập các tổ chức, hội, hiệp hội, câu lạc bộ để hỗ trợ, sản xuất, tiêu thụ một cách bài bản. Việc xây dựng thành công cho thương hiệu vải thiều sẽ là nền tảng, tiền đề để phát triển các sản phẩm khác.

    Với sự vào cuộc tích cực từ Trung ương tới các ban ngành của địa phương, Quả vải sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ, mang lại giá trị kinh tế cao, hứa hẹn một tương lai sáng cho quả Vải- Đặc sản thế mạnh của địa phương.

    Các thủ tục xuất khẩu

    Tổng cục Hải quan chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang tạo điều kiện, khuyến khích cho các thương nhân xuất vải quả tươi qua các cửa khẩu biên giới, không để xảy ra tình trạng ùn tắc tại cửa khẩu, giải quyết nhanh các vướng mắc phát sinh.

    Cơ quan này yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố ưu tiên làm thủ tục, bố trí công chức chuyên trách tư vấn giải quyết thủ tục xuất khẩu mặt hàng vải thiều cho doanh nghiệp xuất khẩu. Việc làm này theo Tổng cục là nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

    Thông qua chỉ mất 3 phút, không gây ách tắc là những gì đã diến ra ở cửa khẩu Lào Cai mùa vải thiều 2014. Thời gian doanh nghiệp khi làm thủ tục xuất khẩu cho mỗi phương tiện hoặc mỗi lô hàng chỉ cần 3 – 5 phút, bằng 1/3 lượng thời gian trước đây. Trong khi đó, Sở Công thương đã cử cán bộ trực tiếp đến Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành để hướng dẫn làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) nếu doanh nghiệp có nhu cầu. Ông Nguyễn Quý Trung, Phó Trưởng phòng Quản lý xuất – nhập khẩu, Sở Công thương cho biết: Có ngày cao điểm đơn vị đã cấp trên 10 bộ hồ sơ C/O liên quan đến mặt hàng vải thiều xuất khẩu. Tại đây ngành công thương luôn thường trực 2 cán bộ, trong đó có 1 người làm nhiệm vụ “con thoi”, liên tục về văn phòng sở để báo cáo tình hình và trình ký duyệt các bộ C/O, đảm bảo tất cả các hồ sơ của doanh nghiệp phải hoàn thành trong 1 ngày. Với vai trò cầu nối thị trường hàng hóa Việt Nam với các tỉnh miền Tây Nam (Trung Quốc), về chủ trương, tỉnh Lào Cai luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc xuất khẩu hàng hóa, nhất là hàng nông sản của các tỉnh, thành phố qua các cửa khẩu trên địa bàn. Đối với mặt hàng vải thiều, như những năm trước, ngay từ đầu vụ thu hoạch năm 2014, lãnh đạo UBND tỉnh và các ngành có liên quan của tỉnh Bắc Giang đã có buổi làm việc với tỉnh Lào Cai về nội dung xúc tiến tiêu thụ vải thiều. Trước các đề xuất của tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Thanh Dương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai đã khẳng định địa phương sẽ làm hết sức mình đề tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động xuất khẩu vải thiều. Trong đó có sự ưu tiên đặc biệt về mặt thủ tục xuất khẩu, lãnh đạo UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng tại cửa khẩu tăng cường làm thêm giờ, đơn giản hóa các thủ tục với tinh thần kiên quyết không để vải thiều ứ đọng tại cửa khẩu và nó đã thực sự mang lại hiệu quả rất đáng kể.

    Tính từ ngày 20/5 – 29/6 đã có gần 27.000 tấn vải thiều xuất khẩu qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai, trong đó có 18.000 tấn xuất khẩu chính ngạch qua Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành. Tính bình quân trong cả vụ xuất khẩu thì mỗi ngày có 646 tấn vải thiều được xuất khẩu; từ trung tuần tháng 6, con số này đạt khoảng 1.200 – 1.400 tấn mỗi ngày. Giá vải thiều trong vụ này có những thời điểm dao động với biên độ lớn nhưng vẫn đạt mức trung bình 120 Nhân dân tệ/thùng 20 kg, tương đương với 420.000 đồng. Theo thống kê của cơ quan hải quan, tính đến thời điểm nói trên, tổng trị giá xuất khẩu vải thiều đạt khoảng 9,2 triệu USD, tương đương với 200 tỷ đồng.

    2.2.2 Sự nổ lực của các doanh nghiệp

    Để có thể đưa vải thiều tiến sâu hơn nữa và thị trường Eu, người sản xuất vải thiều Việt Nam ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Cùng với đó đổi mới các công nghệ sản xuất, áp dụng phương thức hiện đại trong bảo quả, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

    .

    1. Phương pháp thu hoạch và bảo quản vải thiều

    Năm 2006, Nhằm giảm bớt thiệt hại cho nông dân, kéo dài thời gian bảo quản vải tươi để có thể vận chuyển đi xa tiêu thụ, mới đây Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (SOFRI) đã nghiên cứu thành công và khuyến cáo bà con nông dân các vùng trồng vải một phương pháp xử lý và bảo quản vải tươi mới.

    –  Thu hoạch: Thu hái vải quả nhẹ nhàng vào những ngày khô ráo, tránh những ngày mưa. Thu hoạch vải khi vỏ quả đã chín đỏ đều (khoảng 102-109 ngày sau khi hoa nở). Buộc vải thành từng chùm khoảng 3-5kg hoặc đựng trong các rổ nhựa thưa khoảng 10kg. Loại bỏ những quả bị nứt vỡ, dập nát, chín không đều và những quả dị hình.

    – Chuẩn bị vật liệu: Các vật liệu, hoá chất gồm có: A-xít clohydric (HCl) hoặc NaHSO3, bể nhúng, quạt gió, rổ nhựa…

    – Xử lý: Nhúng từng bó hoặc cả rổ nhựa vải quả vào dung dịch NaHSO3 trong thời gian 10 phút (pha 60g NaHSO3 trong 1 lít nước sạch, khuấy đều cho tan hết). Dung dịch NaHSO3 có tác dụng làm cứng vỏ quả, hạn chế mất nước, tiêu diệt và chống vi khuẩn, nấm bệnh xâm nhập gây hại quả. Vớt ra nhúng tiếp vào dung dịch HCl 4% khoảng 2-5 phút. Dung dịch HCl có tác dụng hãm màu, giữ cho vỏ quả tươi nguyên tăng thêm giá trị thương phẩm.

    – Đóng gói, bảo quản, vận chuyển: Sau khi xử lý, để khô tự nhiên hoặc dùng quạt gió để thổi khô rồi đóng gói trong hộp xốp để vận chuyển đến nơi tiêu thụ bằng xe lạnh hoặc bảo quản trong kho mát có điều kiện nhiệt độ 4-5 độ C, độ ẩm không khí 90-95%. Cũng có thể dùng túi nhựa poly etylen để đựng vải quả vừa tránh mất nước và giữ được màu sắc vỏ quả được lâu hơn.

    Cách bảo quản theo công nghệ CAS

    Năm 2013, Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng (Bộ Khoa học và Công nghệ) thử nghiệm triển khai công nghệ CAS để bảo quản quả vải thiều tươi cho kết quả khả quan. Đây là một công nghệ bảo quản đông lạnh tiên tiến, luôn giữ ở nhiệt độ lạnh từ -35 độ C trở lên nhưng vẫn không phá vỡ các màng và thành tế bào, duy trì được các yếu tố quan trọng cấu thành hương vị trong thực phẩm, nhờ đó giúp thực phẩm được bảo quản tốt hơn, giữ được độ ngon, tươi lâu hơn so với công nghệ đông lạnh truyền thống.

    Sử dụng công nghệ CAS giúp đảm bảo gần như tuyệt đối độ tươi, ngon, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với nhiều loại nông sản, thực phẩm với thời gian bảo quản kéo dài tới 1 năm, thậm chí là 10 năm. Công nghệ CAS là sáng chế độc quyền của Tập đoàn ABI (Nhật Bản), được đánh giá là công nghệ tiên tiến, tích cực nhằm đạt được, khống chế và tối ưu hóa các thông số bảo quản hải sản, nông sản và thực phẩm. Bảo đảm sau rã đông (có thể sau nhiều năm tùy từng mặt hàng), sản phẩm sử dụng công nghệ CAS vẫn giữ được độ tươi nguyên như vừa mới thu hoạch, giữ được cấu trúc mô – tế bào, mầu.

    Khác biệt của công nghệ CAS với các công nghệ đông lạnh thông thường đó là sự cùng tác động của từ trường và quá trình lạnh đông nhanh đã làm cho nước (nước tự do và nước liên kết) trong tế bào sống đóng băng ở chỉ một số rất ít phân tử. Quá trình này không phá vỡ cấu trúc tế bào và cũng không làm biến tính các hợp chất sinh học (như prô-tít, vi-ta-min). Thử nghiệm tại Việt Nam đối với một số loại nông sản như quả dưa vàng, xoài, gạo và vải thiều cho thấy công nghệ CAS bảo đảm yêu cầu chất lượng sản phẩm đúng các thông số kỹ thuật đặt ra. Sử dụng công nghệ CAS cũng có một số đặc điểm ưu việt khác như thân thiện môi trường, tiết kiệm nhiều năng lượng (lượng điện tiêu thụ).

    Cách làm vải khô

    Để làm vải khô, bà con thu hoạch khi quả chín, vỏ mầu nâu sẫm, nên bẻ cả chùm quả, không bẻ đau để năm sau cây không chột, tốt nhất là cắt bằng kéo. Vải buộc thành từng chùm nhỏ treo trong nhà kín, đốt than giữ nhiệt độ khoảng 35 – 400 độ C liên tiếp ngày lẫn đêm, khi nào hạt long ra lắc nghe lọc cọc là được. Nếu không sấy, phơi nắng cũng được. Quả vải khô, vỏ căng đều, không bị óp là đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Vải thiều sấy khô có hương vị đặc trưng, thơm ngọt, rất dễ ăn. Do chứa nhiều vitamin, khoảng chất, dưỡng chất nên vải thiều cũng  rất tốt cho sức khỏe và còn có thể ngừa được một số bệnh như ung thư, tim mạch

    1. Hoạt động quản lý và điều phối sản xuất

    Các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều trong nước hiện nay phát triển với quy mô vừa và nhỏ, số lượng nhà vườn tập trung theo tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường lớn là không nhiều. Chất lượng sản phẩm không đồng đều, giá cả bấp bênh, thiếu ổn định; chưa có chiến lược quảng bá nên sản phẩm thâm nhập thị trường còn hạn chế. Số lượng lớn vải thiều xuất qua đường tiểu ngạch, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thương nhân kinh doanh vải thiều xuất khẩu ồ ạt, không điều tiết và có kế hoạch, dẫn đến tình trạng ùn tắc tại một số cửa khẩu. Bao bì, nhãn mác chưa đồng bộ, bảo quản đóng gói thô sơ, chất lượng mẫu mã sản phẩm cạnh tranh kém, hay bị thương nhân ép giá. Tình hình sử dụng thuốc bảo quản vải thiều sau thu hoạch chưa được kiểm soát chặt chẽ, một số hộ sản xuất còn dùng dung dịch tạo màu làm đẹp mã vải thiều. Điều này, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng vải thiều, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với người tiêu dùng và uy tín, chất lượng của thương hiệu vải thiều.

    Để có thể làm chủ được thị trường, phát triển mở rộng quy mô sản xuất, xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước đã có những động thái quyết liệt tích cực từ khâu sản xuât, bảo quản, cung ứng ra các thị trường nước ngoài.

    Đổi mới cách quản lý, quy hoạch, sản xuất, điều tiết mùa vụ, tận dụng tối đa những ưu đãi của chính phủ là những gì mà các doanh nghiệp xuất khẩu vải đang thực hiện. Cùng với đó là đầu tư dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại trong sản xuất, áp dụng những tiêu chuẩn, thực hiện các yêu cầu kiểm soát chất lượng của thế giới, nâng cao chất lượng quả vải thiều. Ngoài ra, cùng các cấp các ngành cải thiện cơ sở hạ tầng, mở rộng xây mới đường giao thông, thông thoáng trong vận chuyển hàng hóa, các chính sách thông quan hải quan.

    Bản thân các doanh nghiệp cũng nâng caco chất lượng đổi ngũ nhân viên về nghiệp vụ ngoại thương, tìm hiểu thị trường, chính sách khuếch trưng quảng bá sản phẩm. Xây dựng thương hiệu và phát triển thương hiệu.

    Khắc phục rủi ro trong hoạt động xuất khẩu là bài toán mà các doanh nghiệp luôn phải tìm lời giải.

    • Rủi ro về mặt hàng chuẩn hóa và không chuẩn hóa

    Dù áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất cảu thế giới VietGAP, GlobalGAP, nhưng nhu cầu, thị yếu thị trường liên tục thay đổi, nếu không nắm bắt được xu thế, tình hình thị trường thì các sản phẩm xuất sang thị trường Châu Âu sẽ không được chấp nhận. Từ đó đãn đến tình thế bất lợi cho người sản xuất. Ứa đọng hàng hóa, mất giá, giảm giá trị thương hiệu… Cùng với đó, sự dạng sản phẩm trên thị trường, người tiêu dùng có thể chọn vô số những nhẫn hiệu khác nhau dẫn đến nhầm lẫn.

    • Rủi ro bạn hàng, khách hàng

    Các nghiệ vụ ngoại thương, các kinh nghiệm xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam không nhiều, sự am hiểu thị trường không lớn. Cùng với đó các chi phí giao dịc quốc tế không hề nhỏ. Các doanh nghiệp phải hết sức thận trọng trong việc chọn lựa đối tác, bạn hàng của mình.

    • Rủi ro về thông tin

    Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay chưa có sự đầu tư cao về máy móc công nghệ kiểm soát và cập nhật tin tức thị trường. Viêc nắm bắt các xu thế tiêu dùng, biến động xá hội chưa cao. Các doanh nghiệp chưa chú trọng nhiều đến các hiệp định đối tác, cũng như tác động của kinh tế toàn cầu. Điều này tạo ra bất lợi lớn. Các doanh nghiệp cần chủ động tích cực hơn nữa để cập nhập tin tức và xử lý chúng một cách tốt nhất.

    • Rủi ro về kênh phân phối

    Theo thói quen tiêu dùng của các nước châu Âu, người dân thường mua hàng hóa tại các siêu thị và trung tâm thương mại. Việc phân phối sản phẩm sao cho phù hợp nhất với thị trường đòi hỏi chi phí cao và rào cản tương đối nhiều. Đàm phán, giao dịch, kí kết thỏa thuận, hợp đồng để có thể sử dụng kênh phân phối của các nước nhập khẩu buộc cách doanh nghiệp phaair nổ lực rất nhiều.

    • Rủi ro vê ngoại hối

    Nền kinh tế EU còn nhiều bất ổn do chính trị, khủng hoảng, nợ công nên tỷ giá cảu đồng Euro không ổn định song vẫn mức cao. Các biến động kinh té tác động nhiều đến chỉ số này tuy nhiên đối với thị trường Việt Nam thì nó vẫn là một con số tốt.

    2.3 Đánh giá hoạt động thúc đẩy xuất khẩu vải thiều của VN vào thị trường EU

    2.3.1 Ưu điểm

    Mỹ, Nhật Bản, Australia được biết đến là các thị trường tiềm năng với sức mua lớn và doanh thu cao. Song các chi phí chi cho đầu tư xuất khẩu lớn. Eu không phải thị trường mới của Việt Nam, nhưng sản lượng xuất khẩu sang thị trường này không cao, sức ảnh hưởng của sản phẩm đối với người tiêu dùng không lớn. Tận dung các mối quan hệ bạn hàng, việc thông thạo thị trường, am hiểu khách hàng là tiềm đề quan trọng cũng như lợi thế để Việt Nam xuất khẩu Vải sang thị trường này.

    Quan hệ thương mại Việt Nam – EU trong thời gian vừa qua có những động thái tích cực, bắt đầu từ đầu năm nay, EU đã áp dụng chế đọ GSP cho hàng xuất khẩu Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh hơn khi tiếp cận thị trường EU. Hiện quá trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU FTA vừa hoàn tất vòng đàm phán thứ 8 vào ngày 28/6/2014 và hai bên đang phấn đấu kết thúc đàm phán trong năm nay trước khi EU thay đổi nghị viện và Lãnh đạo các cơ cấu. giá trị của FTA Việt Nam – EU, Hiệp định được ký kết tạo ra khuôn khổ và hành lang pháp lý rõ ràng, giúp DN có được định hướng lâu dài để xây dựng các chiến lược kinh doanh dài hạn. Dự kiến, nếu FTA với EU được hình thành thì không chỉ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng trung bình 4%/năm, giảm mức chịu thuế nhập khẩu mà còn là cơ hội để DN trong nước bớt sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc – quốc gia chưa có FTA với EU. FTA với EU hứa hẹn sẽ có những tác động tích cực đối với Việt Nam như mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh và thúc đẩy cải cách, tái cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ cũng được kỳ vọng mở rộng đáng kể nhờ FTA và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy đầu tư và cải tiến công nghệ, nhờ đó dịch chuyển năng suất và tăng đầu ra. Tuy nhiên bên cạnh đó, tham gia vào các FTA, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức mà nếu không có sự chuẩn bị tốt thì có thể sẽ để vuột mất cơ hội.

    Các hiệp đinh thương mại tự do mà Việt Nam kí kết, đã phát huy một cách tích cực nhưng lợi thế mà doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang có. Bằng Việc thực hiện hàng lạo các chính sách thức đẩy thương mại, những hoạt động đổi mới trong sản xuất thì:

    Đảng và nhà nước có cái nhìn đúng đắn, hướng đi mạch lạc để phát triển nông nghiệp đặc biệt cây vải thiềuNó giúp Thay đổi diện mạo của ngành sản xuất vải thiều trong nước, nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.

    Áp dụng các công nghệ tiến tiến vào sản xuất đã nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng ngày càng nhiều thị trương khó tính, tiếp cận các thị trường mới, mở rộng sản xuất, xuất khẩu.

    Những bước tiến dài hơi và đầu tư đúng mực làm cho các hoạt động sản xuất đi vào khuôn khổ, phát triển bền vững, có cơ sở nền tảng vững chắc cho phát triển lâu dài. Hạn chế được rủi ro khi tham gia vào thị trường quốc tế.

    Cải cách các thủ tực tạo ra hàng lang, pháp lý mới, thông thoáng hơn, có khả năng mở rộng hơn hoạt động xuất khẩu.

    v.v…

    Năm 2014 vải thiều lại được mùa, đạt khoảng 190 nghìn tấn, tăng 13,6% so với 2013, trong đó tập trung chủ yếu tại các huyện Thanh Hà, thị xã Chí Linh (Hải Dương) và các huyện Tân Yên, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Lục Ngạn (Bắc Giang). Vải tiêu thụ ở trong nước khoảng 60% còn lại xuất khẩu.

    Vải thiều chủ yếu được xuất khẩu dạng quả tươi sang Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia…chiếm khoảng 85% tổng lượng xuất khẩu, trong đó số này phần sang Trung Quốc chiếm trên 90%. 15% còn lại xuất khẩu vải được bảo quản bằng công nghẹ cao, nước vải ép, vải sấy khô, vải đông lạnh đóng lọ, được xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU…

    Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, Sở Công Thương Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế… thúc đẩy việc tiêu thụ quả vải tại các siêu thị, chợ đầu mối, chợ truyền thống. Sở Công Thương Bắc Giang, Hải Dương đã ký kết Biên bản thỏa thuận hợp tác tiêu thụ quả vải với 11 Sở Công Thương các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông – Tây Nam Bộ, đặc biệt là vào các siêu thị, chợ đầu mối của thành phố Hồ Chí Minh. Lượng tiêu thụ quả vải tại các chợ đầu mối Bình Điền, Hóc Môn và Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) tăng từ khoảng 700 tấn/ngày lên trên 1.300 tấn/ngày. Riêng chợ Thủ Đức đã ký hợp đồng 100 triệu đồng. Các siêu thị Co-op Mart, Intimex, Vinatex, Ocean Mart, Big C, Lotte… đưa quả vải vào chuỗi phân phối của hệ thống, với nhiều hình thức khuyến mại.

    Tính đến 20/6/2014, lượng quả vải tiêu thụ đạt khoảng 61,8 nghìn tấn, trong đó, xuất khẩu qua các cửa khẩu thuộc địa bàn tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn là 24,9 nghìn tấn với giá xuất khẩu bình quân từ 8.500 đồng đến 18.000 đồng/kg. Trong khoảng 1 tuần trở lại đây, trung bình mỗi ngày có khoảng 1,7 nghìn tấn quả vải tươi của Việt Nam được xuất khẩu qua các cửa khẩu thuộc tỉnh Lào Cai và Lạng Sơn sang Vân Nam, Trung Quốc. Thương hiệu vải thiều Lục Ngạn đã tạo được ấn tượng tốt tại thị trường nội địa và tiếp tục được đón nhận tại các thị trường xuất khẩu. Vải thiều tươi được tiêu thụ ở thị  trường nội địa với sản lượng 90.000 tấn, trong đó sức tiêu thụ của thị trường phía Nam tăng mạnh, giá bán cao. Vải thiều xuất khẩu sang Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Sing-ga-po, Thái Lan… gần 100.000 tấn. Đặc biệt, có 20 tấn vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, bảo quản bằng công nghệ tế bào (CAS) đã chinh phục được thị trường Nhật Bản. Tổng giá trị sản xuất vải thiều toàn tỉnh đạt khoảng 2.368 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Nguyên nhân thành công phải kể đến là việc tỉnh Bắc Giang đã tích cực đổi mới trong công tác xúc tiến thương mại, giải quyết đầu ra cho một sản lượng kỷ lục khoảng 194.000 tấn vải, tăng hơn 60.000 tấn so với năm 2013. Nhận định quan trọng này được nhiều đại biểu Bộ, ngành, cơ quan TƯ và địa phương đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác tiêu thụ vải thiều tại Bắc Giang ngày 04/8/2014 vừa qua.

    Thị trường xuất khẩu

    Hiện nay vải thiều có mặt hầu hết các nước trên khu vực EU trong các siêu thị và trung tâm thương mại lớn. Với sản lượng không nhiều song cũng chiếm được thị phần không hề nhỏ của thị trường. Pháp, Anh, Nga, Thụy Điển…

    Cùng với đó thị trường xuất khẩu ngày càng rộng lớn, đa dạng hơn. Australia, Mỹ, Nhật là các thị trường lớn khó tính, song Vải thiều Việt Nam đã thâm nhập được vào.

    Chất lượng quả vải thiều

    Nhờ ứng dụng được công nghệ sản xuất, bảo quản hiện đại, chất lượng quả vải thiều đã nâng lên đáng kể. Màu sắc, mùi vị, kích thước, quả to tròn, hạt to, ăn cùi có vị ngọt dịu và hơi chua mam mát phù hợp tiêu chuẩn quốc tế. đồng thời tạo ra được nhiều loại vải có chất lượng tốt cung ứng ra thị trường như vải chín sớm ở Tân Mộc, U hồng và Bình Khê, Hùng Long, U trứng, U hồng, lai Thanh Hà. Các loại vải này đều chín sớm so với mùa vụ song mùi vị khá ngon và hấp dẫn được thị trường lớn.

    Nhờ các chính sách thúc đẩy, diện tích trồng vải ở các vùng Lục Ngạn, Thanh Hà tăng đáng kể. Các quy trình kĩ thuật được ứng dụng và đã phát huy hiệu quả thể hiện qua việc tăng sản lượng, chất lượng quả vải, thâm nhập được các thị trương lớn có yêu cầu cao như Mỹ, EU, Nhật…Đầu tư tăng cho sản xuất, bảo quản, bao gói và phát triển thương hiệu. Các hoạt động xuất khẩu chuyển dần từ đường tiểu ngạch san xuất khẩu lớn chủ động hơn trên thị trường, Có hướng phát triển mới. Khi đó ảnh hưởng đến các hộ sản xuât không nhỏ. Việc áp dụng quy trình công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất, bảo quản được thực hiện mọt cách tự giác, nó không còn là vấn đề của doanh nghiệp, của chính phủ mà và vấn đề của chính họ.

    Sản lượng vải thiều một số năm gần đây

    Hình 2.6. Sản lượng vải thiều Việt Nam 2011-2014

                                                                                 Nguồn: Tổng hợp

    Do biến động của kinh tế thế giới, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, đỉnh điểm 2013 ở Việt Nam đã khiên cho sản lượng vải giảm sút. Tuy nhiên, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi, tất cả các ngành nghề đang có tiến triển tích cực, sản xuất vải thiều không ngoại lệ. Nhận thấy hội nhập mở cửa thế giới ngày càng sâu rộng, hợp tác Kinh tế Việt Nam-EU đang diễn ra trên nhiều phương điện.Gần đây nhất hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU đang được kí kết, thúc đẩy xuất khẩu đang được thực hiện một cách hết sức tích cực thể hiện qua sản lượng Vải thiểu đãng tăng trở lại trong năm 2014. Sản lượng tăng, xuất khẩu ngày càng nhiều, thị trường Eu là thị trường lâu năm của VIệt Nam càng được chú trọng hơn.

    2.3.2 Hạn chế

    Trong quá trình thực hiện các biện pháp thức đấy  xuất khẩu vải thiều vào thị trường Eu của Việt Nam cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm.

    • Sự đồng bộ trong sản xuất ở các vùng nguyên liệu chưa cao.
    • Việc áp dụng công nghệ mới và sản xuất còn chưa hiệu quả.
    • Đầu tư cơ sở hạ tầng còn chưa đạp ứng kịp nhưng yêu cầu thực tiễn.
    • Các doanh nghiệp đổi mới, cải cách còn chưa rõ ràng, hiệu quả.
    • Những hoạt động xuất khẩu vẫn chưa có khả quan.
    • Các tiêu chí, chính sách của chính phủ vẫn chưa đạt yêu cầu về thực tiễn.

    Trong khi vải thiều tươi của Việt Nam năm nay xuất khẩu qua biên giới nhỏ giọt thì loại quả này từ Trung Quốc đang xuất ngược sang ta, gây ra nhiều lo ngại. vải từ Trung Quốc đã xuất hiện trên thị trường Lạng Sơn, được bán nhiều ở các cặp chợ biên giới như: Tân Thanh, Đồng Đăng (huyện Cao Lộc), mỗi ngày gần chục tấn. Vải Trung Quốc quả to, đều, có vị “ngọt như đường hoá học”, thu hút sự chú ý và tiêu thụ của người dân địa phương và du khách. Khi ăn thử vải Trung Quốc, nhiều người e ngại vì sự ngọt bất thường và màu trắng đục, mọng cùi. Họ nghi ngờ có sự tác động của chất bảo quản, hoặc những tác nhân nào đó có thể gây nguy hại cho sức khoẻ con người.

    Việc vải thiều từ Trung Quốc xâm nhập lại thị trường Việt Nam và chiếm được thị trường tiêu dung là một minh chứng cụ thể bộc lộ mặt hạn chế của các chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam hiện nay. Tuy có rất nhiều các biện pháp, hành động được đưa vào thực tiến song không hiệu quả. Từ thực tế trên cho thấy, việc chúng ta không kiểm soát được thị trường, các chính sách xuất nhập khẩu còn thiếu sót, việc xây dựng thương hiệu còn yếu kém, khâu kiểm tra chất lượng quả vải chưa tốt, bảo hộ thương hiệu và thương hiệu chưa được xem xét đến.

    2.3.3 Nguyên nhân hạn chế

    Các biện pháp thức đẩy xuất khẩu vẫn có nhiều hạn chế là đo rất nhiều nguyên nhân mang lại. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, người sản xuất ta có thể thấy rằng:

         Nguyên nhân chủ quan:

    Việc thực hiện các chính sách còn chưa quyết liệu, các yêu cầu không gắn nhiều với thực tiễn xã hội. Cùng với đó sự bắt tay giữa các cấp các ngành và các doanh nghiệp, hộ sản xuất chưa cao. Các doanh nghiệp rất kiểm soát được sản lượng đầu vào, khó dự báo được cung ứng của các hộ gia đình. Các chính sách, chiến lược cho xuất khẩu còn ẩn chứa nhiều rủ ro.

    • Kinh phí đầu tư thực hiện không đáp ứng đủ yêu cầu thực tiễn. Mặc dù có đầu tư song vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn thấp. Sản lượng cung ứng cho thị trường không đủ.
    • Trình độ chuyên môn, các cấp quản lý, nghiệp vụ ngoại thương của các công ty còn yếu. Đào tạo đội ngũ chuyên nghiệp chưa có, yêu cầu kinh phí cao. Bài toán hóc bóc buộc các doanh nghiệp cần chi nhiều hơn cho đào tạo.
    • Thói quen sản xuất của người nông dân khó thay đổi, do trình độ dân trí còn thấy, cùng với đó việc đầu tư công nghệ cần có vốn cao. Dẫn đến không đảm bảo hoạt động đầu vào.
    • Các chính sách thông quan, vay vốn hỗ trợ hay đầu tư sản xuất của nhà nước còn nhiều bất cập. TÌnh trạng quan liêu vẫn xãy ra, hiệu quả công việc không cao. Các doanh nghiệp rất khó để cỏ thể tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ của chính phủ để phát triển, mở rộng củng cố sản xuất.

    v.v..

    Nguyên nhân khách quan

    • Việt Nam là một nước nhiêu đới gió mùa, chụi nhiều tác động từ thiên nhiên: thiên tai, bão lũ, nóng lên toàn cầu, nên việc sản xuất ra quả vải đạt tiêu chuẩn là rất khó khăn.
    • Biến động kinh tế toàn cầu liên tục thay đổi, lên xuống khó kiểm soát, ngay cả các nền kinh tế lớn thế giới như Mỹ, Eu, Nhật, Nga, Đức… cũng tiềm ẩn nhiều rủ ro.
    • Phát triển ngành càng nhiều xu hướng kinh tế mới đặt ra thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp.
    • Liên kết kinh tế khu vực toàn cầu, tạo ra áp lực canh tranh lớn.
    • Phát triển bùng nổ khoa học công nghệ, đời sống tăng cao nhu cầu đòi hỏi thị trường cũng rất khắt khe.
    • Sản phẩm thay thế ngày càng nhiều.

    v.v…

    Đứng trên góc độ của chính nhà nước

    Nguyên nhân chủ quan

    • Rất khó để có thể cân đối các chính sách phát triển mục tiêu kinh tế cùng mục tiêu xã hội.
    • Hệ thống các chính sách còn chưa đầy đủ thống nhất cần xây dựng bổ sung thêm.
    • Ngân sách nhà nước còn hạn chế.
    • Đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ còn ít.

    Nguyên nhân khách quan

    • Không thể kiểm soát hết tác động của thị trường, thiên nhiên.
    • Hoạt động tự phát từ người sản xuất.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP

    3.1 Cơ hội và thách thức của hoạt động xuất khẩu vải thiều trên thị trường EU

    3.1.1 Cơ hội

    1. Mối quan hệ hợp tác tốt đẹp Việt Nam- EU

    Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 28/11/1990 và ngày 17/7/1995 đã đánh dấu mốc quan trọng trong quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU với việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác, thiết lập các Phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Việt Nam được thành lập và chính thức hoạt động từ năm 1996. Từ đó tới nay, quan hệ Việt Nam – EU đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là thương mại. Với gần nửa tỷ người tiêu dùng có thu nhập bình quân trên 21.000 USD/người/năm, EU hiện đang là một thị trường lớn của Việt Nam.

    Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với EU, Việt Nam cùng EU đã ký hơn rất nhiều Hiệp định quan trọng liên quan đến hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, các hoạt động hỗ trợ, viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Đây là những cơ sở để phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và EU. Hiệp định hợp tác và đối tác toàn diện Việt Nam – EU (PCA) được ký kết ngày 27/6/2012 là minh chứng sống động cho sự phát triển toàn diện và sâu sắc của quan hệ Việt Nam và EU trong hơn 20 năm qua và là một dấu mốc quan trọng, đưa quan hệ giữa Việt Nam và EU lên tầm cao mới, đó là mối quan hệ đối tác bình đẳng và hợp tác toàn diện, phù hợp với mức độ liên kết sâu rộng và tầm vóc của EU trong thế kỷ XXI, cũng như thế và lực ngày càng tăng của Việt Nam sau hơn 25 năm đổi mới và hội nhập thành công. Tính đến hết năm 2013, EU có 1.402 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam còn hiệu lực, với tổng vốn lũy kế đăng kí là 18.024 tỷ USD. Số vốn FDI cam kết của EU tại Việt Nam năm 2013 là trên 656 triệu USD, đứng thứ 6 trong các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    1. Hiệp định thương mại tự do EVFTA.

    Và gần đây là là những thỏa thuận cuối cùng của hiệp định thương mai tự do EU- Việt Nam (EVFTA) mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam. Vì vậy, đây chính là ưu thế để hướng tới cơ hội xuất khẩu khi FTA giữa Việt Nam – EU được ký kết. FTA giữa Việt Nam và EU khi được ký kết có thể sẽ giúp tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam tăng thêm từ 10% – 15% so với hiện nay. Ngoài ra, FTA sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng từ 30% – 40% và nhập khẩu từ EU vào Việt Nam tăng từ 20% – 25%.

    Theo Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công thương, EU hiện vẫn là thị trường nhập khẩu quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp và hàng Việt Nam thông qua việc gia tăng xuất khẩu một số nông sản truyền thống, có thế mạnh, như: cà phê, ca cao, hạt tiêu, điều, tôm…

    Trong đó, Việt Nam chiếm gần 2/3 giá trị xuất nhập khẩu – tức là đóng vai trò xuất siêu trong quan hệ thương mại song phương. EU cũng là khu vực có tiềm năng và truyền thống rất nổi bật, với sức mua dồi dào và ổn định nhờ thu nhập bình quân đứng hàng đầu thế giới.

    Bình thường, Thuế suất trung bình EU áp lên các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam khoảng 4,1% và thuế quan bình quân theo trọng số là 7%. Một số mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam bị áp thuế cao hơn mức trung bình như: hàng may mặc (11,17%), thủy hải sản (10,8%), giày dép (12,4%)… Sau khi hiệp định FTA giữa Việt Nam và EU được ký kết thì Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế quan khi EU cam kết giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng của Việt Nam. hiện chỉ có khoảng 42% mặt hàng của Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU. Nếu ký thành công FTA với EU, sẽ có ít nhất 90% mặt hàng Việt Nam được hưởng mức thuế này.

    Theo một số chuyên gia đánh giá, các mặt hàng nông sản được kỳ vọng sẽ hưởng lợi nhiều nhất. “Cơ hội để xuất khẩu sản phẩm nông sản sang EU rất lớn do hiện nay châu Âu có đông người Việt sinh sống, đặc biệt là ở những nước nhỏ. Chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ nông sản thực phẩm Việt ở châu Âu đang ngày càng tăng cao Việc dỡ bỏ thuế quan trên phần lớn các hoạt động thương mại trong khuôn khổ FTA sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi thế quan trọng so với các đối thủ cạnh tranh khác cùng xuất khẩu vào EU. Những ưu đãi này sẽ giảm những bất lợi về thuế so với các nước khác (các quốc gia châu Âu- Địa Trung Hải, các nước kém phát triển) đồng thời duy trì vị thế cạnh tranh với các đối tác FTA khác của EU.

    1. Tiềm năng của thị trường.
    • Cầu về Vải thiều ở Châu Âu

    Điều kiện thời tiết tại các nước EU không phù hợp để trồng các loại trái cây nhiệt đới vì thế một số nước trong Eu sẵn sàng trả 1 mức giá cao để có được các mặt hàng hoa quả sạch, đảm bào quy trình an toàn thực phẩm.

    Trong khi nhu cầu về rau quả ăn liền và chế biến sẵn tăng thì nhu cầu mặt hàng rau quả tươi lại giảm. Đặt ra cơ hội đối với các sản phẩm chế biến từ vải thiều, vải thiều ăn liền tăng cao như: Vải đóng hộp, Bột vải quả, nước vải quả cô đọng, Bánh kẹo từ vải quả, vải sấy khô, Mứt vải, Si rô vải,  Nước ép vải, Trà vải, Nước ép vải…

    EU là một thị trường lớn và đem lại nhiều triển vọng cho các loại quả nhiệt đới. Các loại quả nhiệt đới trong đó có vải thiều đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường EU và có mặt ở hầu hết các siêu thị lớn tại đây. Ước tính trung bình mỗi năm người dân Châu Âu tiêu thụ khoảng  25.000 đến 45.000 tấn vải. Tương đương với trung bình mỗi người dân Châu Âu tiêu thụ từ 0,05- 0,1 kg/năm. Trong đó Pháp là quốc gia tiêu thụ nhiều Vải nhất, tuy nhiên mỗi quốc gia mức độ tiêu thụ vải cũng chênh lệch nhau khá lớn.

    Cây vải cần những điều kiện khí hậu đặc biệt để sinh trưởng và phát triển như: Việc sản xuất có một nước lớn yêu cầu và tốt nhất là trồng trong một khí hậu cận nhiệt đới với ngắn, khô và mát mẻ mùa đông (frost-free) và mùa hè dài với nhiệt độ cao, lượng mưa cao, và độ ẩm lớn. Trong khi đó khi hậu ở Châu Âu là khí hậu Ôn hòa, lạnh thường xuyên khó đáp ứng được nhu cầu cây Vải.

    Với mức tiêu thụ của thị trường là 45.000 tấn vải/ năm như vậy, các nước Châu Âu mới chỉ tự đáp ứng đủ khoảng gần 20.000 tấn/ năm, số còn lại là nhập khẩu từ các quốc gia khác như: Madagascar, Nam phi, Việt Nam, Mauritius…

    Hình 3.1- Thống kê xuất khẩu hoa quả vào EU

    Xuất khẩu vải tươi trong Europe là chủ yếu là tái xuất khẩu từ Hà Lan, Bỉ và Pháp. Đặc biệt là các Hà Lan và Bỉ có một số chuyên gia kỳ lạ trái cây nhập khẩu và công ty bán buôn cung cấp cho bán buôn và bán lẻ trên toàn Châu Âu. Trong năm 2013, Hà Lan và Bỉ là chính (lại) các nước xuất khẩu của exotics (bao gồm vải) với khoảng 60% tổng số Xuất khẩu EU (20.000 tấn). họ cả xuất khẩu chủ yếu sang Đức, Pháp, và Thụy Điển. Đối với vải tươi, Pháp là một chính nhập khẩu và nước xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu châu Âu là gần 90 triệu euro. Từ năm 2009 đến năm 2013, giá trị của trái cây nhiệt đới châu Âu kỳ lạ kim ngạch xuất khẩu tăng 67%.

    Còn lại hầu như EU phụ thuộc vào việc nhập khẩu mặt hàng này.  Thống kê số liệu nhập khẩu của EU .

    Hình 3.2- Nhập khẩu hoa quả vào EU

    Tổng lượng của các thị trường nhập khẩu Châu Âu cho vải được ước tính khoảng 20-25ngàn tấn mỗi năm. Các nhà cung cấp vải chính cho Châu Âu là: Madagascar, Nam phi, Việt Nam, Mauritius, Réunion, Thái Lan, Isarel…  Trong đó, Madagascar là nhà cung cấp lớn nhất. Chỉ riêng mùa năm 2012/2013 , Madagascar vận chuyển khoảng 16.000 tấn đến châu Âuthị trường, trong đó có 460 tấn bằng đường hàng không và 14 ngàn tấn bằng đường biển thông thường tàu, và 1.760 tấn trong container. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu từ Madagascar sang Châu Âu có xu hướng giảm những năm gần đây sau 1 số năm cao hơn như: 2007, 2008, và 2011. Điều này chủ yếu là do mức giá sản phẩm cao khiến lượng nhập khẩu giảm.

    Những loại vải chủ yếu mà EU tiêu thụ đó là: vải Mauritius, vải đỏ vàng( Yellow red), vải Ay Zee Siu( màu xanh lá, hạt nhỏ, ngọt). Và Pháp là quôc gia nhập khẩu vải nhiều nhất với khoảng 10.000-20.000 tấn/ năm. Đó là yếu tố cầu.

    • Nguồn cung đáp ứng vải của Việt Nam

    Như đã phân tích trước ở phần thực trạng, Việt Nam là quốc gia có sản lượng vải lớn thứ 3 thế giới chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ, với sản lượng 156.000 tấn/ năm chiếm 6% thế giới. Một mức sản lượng được đánh giá cao, trong khi đó chất lượng Vải thiều Việt Nam cũng không kém cạnh so với thế giới. Quả vải thiều khi chín có màu đỏ, hạt nhỏ, cùi dày nhiều nước, rất ngọt và giàu chất dinh dưỡng. Ăn một quả vải thiều vị ngọt sắc, mùi thơm đặc trưng. Kích thước trái khoảng 4×5 cm. Vỏ không ăn được, vỏ vải có màu hồng đỏ và cùi có màu trắng trong, ngọt.

    Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2013, với tổng diện tích trồng vải khoảng 42.000 ha, sản lượng tại hai tỉnh Bắc Giang và Hải Dương đạt khoảng 176.000 tấn quả tươi. Trong đó, diện tích vải áp dụng theo tiêu chuẩn VietGap khoảng 7.532 ha, sản lượng đạt khoảng 35.260 tấn.

    Thống kê cũng cho thấy, tiêu thụ tại thị trường trong nước chiếm đến khoảng 60% sản lượng (thị trường tiêu thụ chủ yếu tại các tỉnh, thành phố Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam) trong khi xuất khẩu quả tươi, qua chế biến chiếm khoảng 40% sản lượng, trong đó chủ yếu là các thị trường Trung Quốc, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…

    Liên minh châu Âu hiện có 28 nước thành viên và là nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt 18.000 tỷ USD, chiếm 22% tổng GDP toàn cầu. Tổng kim ngạch thương mại của EU xấp xỉ 4.000 tỷ USD, xuất khẩu dịch vụ của EU đứng đầu thế giới và đầu tư ra nước ngoài bằng gần 40% FDI toàn cầu…. Hiện tại mới chỉ có rất ít các quốc gia xuất khẩu Vải thiều vào EU với số lượng không lớn, chứng tỏ tiềm năng thị trường của mặt hàng Vải Thiều còn rất lớn. Mức giá trung bình ở đây là từ 2,5- 5 euro/ kg đối với 1 kg vải thiều tươi, một mức giá cao so với thị trường tiêu thụ Vải tại Việt Nam, kì vọng hoạt động thúc đẩy thành công sẽ đem đến nhiều lợi nhuận cho người nông dân trồng vải và các nhà xuất khẩu.

    3.1.2  Thách thức.

    1. Bài toán cạnh tranh với các quốc gia khác.

    Bên cạnh những cơ hội kiếm lợi nhuận màu mỡ đó luôn đi kèm những thách thúc không hề nhỏ đối với ngành xuất khẩu nông sản nói chung, xuất khẩu vải thiều nói riêng. Đó là sự cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu nông sản. Nếu các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam không có một sự chuẩn bị kĩ càng cho quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế EU sẽ rất dễ bị các đối thủ cạnh tranh từ các quốc gia khác tương tự như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc đánh bại nếu không có sự cải tiến nâng cao chất lượng, quy trình đảm bảo an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng nông sản. Ngoài ra còn là thách thức trong vấn đề pháp lý, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, hàng rào kĩ thuật, tỉ lệ nội địa hóa khi tham gia vào EVFTA . Các nước EU tham gia ÈUTA có xu hướng đàm phán hạn chế nhằm giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa. Khi đó, hàng rào phi thuế quan sẽ trở nên phổ biến nhưng yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm, trong khi đây là điểm yếu của sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Hàng nhập khẩu tăng, xuất khẩu không tìm được đường vào thị trường các nước sẽ khiến nông nghiệp có nguy cơ gia tăng áp lực cạnh tranh.

    Madagascar

    Xét về quốc gia nhập khẩu vải Thiều vào thị trường EU lớn nhất phải kể đến Madagascar. Tuy sản xuất vải của Madagascar chỉ đạt xấp xỉ 100.000 tấn/năm, đứng vị trí trí 5 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Đài Loan. Nhưng năm 2014, Madagascar đã xuất khẩu khoảng 18.000 tấn trong đó 150 đến 200 tấn vải vận chuyển bằng máy bay sang châu Âu. Đa phần vải còn lại được vận chuyển bằng tàu biển.

    Ở thị trường châu Âu, Madagascar hiện là nước cung cấp vải chính với kim ngạch tăng từ 18 triệu euro lên 72 triệu euro chỉ trong vòng 4 năm 2008-2012, đáp ứng 70% nhu cầu của thị trường. Khối lượng xuất khẩu đã tăng nhẹ, từ 17.000 tấn giai đoạn 2012-2013 lên 18.000 tấn giai đoạn 2013-2014 (trên tổng lượng vải sản xuất là 100.000 tấn). Châu Âu là khách hàng chính của Madagascar đối với mặt hàng vải, nhất là Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức. Cộng đồng người châu Á sống và làm việc ở châu Âu cũng là nhóm khách hàng quan trọng tiêu thụ sản phẩm này. Điểm mạnh của vải Madagascar là có giá bán hấp dẫn. Giá bán lẻ trung bình tại các cửa hàng ở châu Âu là 2,5 euro.

    So với các nước Nam Phi khác, Madagascar có lợi thế về mùa vụ, thu hoạch vải sớm hơn nên thông thường bước vào giai đoạn cuối vụ kinh doanh vải ở nước này thì những nước khác mới vào giữa vụ. Thời gian cung cấp chỉ tập trung vào thời điểm Giáng sinh cuối năm. Thời điểm mà mức độ tiêu thụ vải lớn nhất trong năm tại Châu Âu. Ngày bắt đầu vụ vải có ý nghĩa rất quan trọng đối với khối lượng xuất khẩu loại trái cây này. Ngày khai trương vụ vải phụ thuộc vào độ chín của quả vải, kích thước tối thiểu phải đạt 28 milimet cũng như tỷ lệ đường (hay độ Brix) cao hơn 18 độ. Đầu vụ giá vải sẽ cao hơn rất nhiều so với thời điểm đầu và cuối vụ. Cộng thêm, Madagascar cũng có thêm lợi thế về sự vận chuyển. Nhìn chung, việc vận chuyển bằng đường biển giữa Madagascar và châu Âu cần khoảng thời gian 3 tuần, thêm vào đó là thời gian vận chuyển đến các nước khác nữa. Năm 2014, Madagascar bắt đầu vụ vải sớm hơn hai ngày so với năm 2013. Nhưng có những năm, nước này phải đợi đến đầu tháng 12 do thiếu mưa, vải chín muộn.

    Về mặt giá cả, các trạm xử lý vải bằng lưu huỳnh vẫn giữ giá mua là 1000 ariary/kg (1 USD = 2,987.50 ariary). Giá thường cao vào những ngày đầu tiên của mùa vải, nhưng sau đó sẽ phụ thuộc vào sản lượng vải thu được trong năm. Đây cũng là tình trạng chung đối với tất cả các quốc gia sản xuất vải.

    Các nước Nam Phi, Indonesia, Thái Lan.

    Việt Nam được hưởng nhiều lợi ích từ các điều khoản trong hiệp định EVFTA thì đồng thời các quốc gia trên khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sâu rộng cũng sẽ được hưởng những ưu đãi tương tự. Thời gian sắp tới, nếu Việt Nam không chủ động hoạt động thúc đẩy xuất khẩu phát triển sẽ có nguy cơ mất đi lợi thế và không theo kịp những đối thủ cạnh tranh.

    1. Thách thức trong việc tiếp cận thị trường

    Do mức sống, mức thu nhập của người dân Châu Âu ngày càng cao, kèm theo đó các yêu cầu, quy định kỹ thuật khắt khe với mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững… Người dân EU sẵn sàng trả 1 mức giá cao để có được 1 sản phẩm sạch thì cũng sẵn sàng tẩy chay các sản phẩm không đảm bảo chất lượng. Bài học cho rau quả Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đủ để thuyết phục các doanh nghiệp Việt Nam cần có 1 sự quan tâm và đầu tư 1 cách cẩn trọng vấn đề này để có được sự phát triển lâu dài và bền vững.

    Thói quen và lối sống của người dân EU còn khác biệt nhiều so với người Việt Nam. Người dân EU không có thói quen, sở thích cũng như chưa biết nhiều đến các loại hoa quả như Vải thiều. Chỉ có 1 vài quốc gia ở Châu Âu biết đến loại hoa quả này những mức tiêu thụ của Vải cũng rất hạn chế, chỉ vào các dịp cuối năm, giáng sinh…nhưng Vải thiều là loại quả có tính chất thời vụ nhiều hơn. Vải thiều Việt Nam phổ biến từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này lại không trùng với các dịp lễ của phương tây. Xuất khẩu vào thị trường EU  chỉ được 1 phần nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng của nó.

    Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển cũng như phân phối Vải. Vải thiều Việt Nam chủ yếu được trồng với quy mô vừa và nhỏ. Quy trình trồng trọt, chăm sóc, bón phân và công đoạn cuối cùng là thu hoạch cũng đều thực hiện thủ công dựa theo kinh nghiệm của chủ vườn vải, chưa có 1 quy trình tiêu chuẩn hóa cụ thể. Sau khi thu hoạch xong, Vải không được bảo quản 1 cách cẩn thận vì thế chất lượng Vải thiều bị giảm xuống rất nhiều so với khi mới thu hoạch. Công nghệ bảo quản thực phẩm ở Việt Nam chưa thực sự được đầu tư hợp lí và đúng mức. Ngoài ra, khâu vận chuyển Vải cũng gặp khó khăn. Vị trí địa lý của Việt Nam và các quốc gia Eu là 1 rào cản lớn. Do đặc tính của Vải thiều chỉ sử dụng được trong thời gian ngắn làm cho phương tiện vận chuyển gần như duy nhất của mặt hàng này là máy bay. Chính điều này làm tăng chi phí đội giá Vải lên so với các quốc gia gần Eu hơn như Madagascar, Nam phi…

    Trong chuỗi hành động mở cửa của các nước Châu Âu thì chính phủ  1 số nước vẫn có những chính sách bảo hộ các ngành hàng nông sản trong nước. Trong khi Việt Nam muốn làm tăng giá trị gia tăng cho quả Vải thì Châu Âu lại có những chính sách nhằm hạn chế hoạt động này. Các chính sách ở đây đều khuyến khích hoạt động nhập khẩu Vải thiều tươi nhiều hơn.

    3.2. Phương hướng hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Vải thiều trong thời gian tới

    Chính phủ, các địa phương, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần có những định hướng và chính sách cho sự phát triển của Vải thiều tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Đầu tiên, cần phấn đấu nâng cao năng lục cạnh tranh của Vải thiều Việt Nam bằng cách nâng cao chất lượng, đồng thời chú trọng trong công tác bảo quản Vải nâng cao giá trị cho trái Vải Việt Nam, phục vụ thị trường Châu Âu EU tạo uy tín cho các doanh nghiệp Việt Nam làm ăn kinh doanh lâu dài và phát triển hơn nữa mặt hàng này tại đây.

    Trong mùa vụ năm 2014, tổng sản lượng vải thiều cả nước là 242 nghìn tấn, tăng 27,3% so với năm 2013. Song song với việc tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong hoạt động xuất khẩu, đồng thời tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu mới cho mặt hàng quả vải, năm 2014, công tác đẩy mạnh tiêu thụ tại thị trường nội địa đã được Bộ Công Thương quan tâm và chú trọng thực hiện nhằm giảm bớt áp lực cho công tác xuất khẩu. Ngay từ đầu mùa vụ, Bộ Công Thương đã phối hợp triển khai nhiều hoạt động kết nối cung cầu, gắn kết việc tạo nguồn hàng ổn định thông qua các chương trình lớn của Chính phủ, của Bộ để thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển theo quy mô lớn nhằm đem lại lợi ích cho người sản xuất và người tiêu dùng. Bên cạnuh đó, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND TP. Hồ Chí Minh, UBND các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương tổ chức “Hội nghị vùng Đông – Tây Nam bộ về việc tiếp tục đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều năm 2014 và những năm tiếp theo”.

    Bên cạnh đó cần tiếp tục hình thành nên vùng nguyên liệu tập trung, lớn đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế Vietgap, Gobalgap..Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Vải thiều cần chủ động hơn nữa, tận dụng cơ hội, tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng hỗ trợ các chương trình xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm các cơ hội mở rộng thêm thị trường Vải thiều ra nhiều nước EU hơn nữa, cũng như tăng được nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này.

    Thứ nhất, ngành nông nghiệp tập trung giải quyết các vấn đề sau: tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân làm tốt việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, mở rộng diện tích vải thiều theo tiêu chuẩn Viet Gap, tiến tới áp dụng tiêu chuẩn Global Gap. Năm 2014 tổng diện tích vải thiều trồng theo tiêu chuẩn Viet Gap khoảng 8.500 ha, phấn đấu năm 2015 nâng lên 10.500 ha, tập trung tăng năng suất cây trồng thay vì tăng diện tích, chuyển diện tích trồng vải kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả khác phù hợp hơn. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tất cả các loại vật tư đầu vào đồng thời, nghiên cứu, đầu tư áp dụng công nghệ chế biến sau thu hoạch giúp kéo dài thời gian bảo quản vải tươi phục vụ vận chuyển tiêu thụ tại thị trường nước ngoài và thị trường trong nước. Trong thời gian tới phải kiểm soát chất lượng, mở rộng, tiếp cận các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU và Mỹ.

    Thứ hai, tiếp tục làm tốt công tác xúc tiến thương mại, duy trì và phát triển thương hiệu vải thiều Việt Nam xây dựng và đưa vào chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế vào thu mua, bảo quản, chế biến và tiêu thụ vải thiều. Để tránh phụ thuộc hoàn toàn vào một thị trường truyền thống, tỉnh định hướng các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm các đối tác mới, mở rộng thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều ở thị trường nội địa tiềm năng, nhất là thị trường phía Nam. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu (logo, khẩu hiệu) và các công cụ truyền thông tiếp thị chuyên nghiệp cho thương hiệu vải thiều Lục Ngạn như website, đĩa CD, ấn phẩm, mô hình triển lãm đặc biệt là hệ thống nhãn mác, bao bì đặc trưng mang thương hiệu vải thiều Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan truyền thông đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá thương hiệu vải thiều.

     

    3.3 Các giải pháp thúc đẩy Xuất Khẩu quả Vải thiều Việt Nam sang EU

    Chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm từ Madagasca: một đất nước thành công trong hoạt động xuất khẩu Vải Thiều sang EU. Madagasca vượt qua rào cản GlobalGAP để xuất khẩu quả vải tươi vào thị trường châu Âu

    Một phân tích của Bignebat, C.; Vagneron, I. (2011) cho thấy tuy Madagasca chỉ mới bắt đầu xuất khẩu vải vào châu Âu từ những năm 1990 nhưng đến năm 2007, sự xuất hiện của GlobalGAP đã đặt ra những thách thức mới rất nặng nề. Tuy nhiên, điểm thú vị từ nghiên cứu này cho thấy GlobalGAP thực ra là một mối nguy cho các mô hình sản xuất nhỏ bởi làm gia tăng chi phí chứng nhận nhưng cũng chính là chất xúc tác ban đầu để tạo cơ hội cho sự hợp tác, minh bạch trong thị trường. Về lâu dài, nếu tạo được mối quan hệ thông suốt, ổn định giữa nhà nhập khẩu và doanh nghiệp xuất khẩu cùng với nông dân sản xuất, thực sự GlobalGAP không còn cần thiết. Kinh nghiệm thành công của Madagasca được phân tích kỹ và cho thấy không phải vai trò của GlobalGAP mà chính là năng lực marketing, khả năng phối hợp các dịch vụ logistics của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.

    3.3.1 .Đối với doanh nghiệp, nhà cung cấp.

    1. Lựa chọn phương thức thâm nhập thích hợp để chủ động thâm nhập vào các kênh phân phối trên thị trường EU

    Có nhiều phương thức để các doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Eu như: xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu trực tiếp, liên doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài… Lựa chọn phương thức thích hợp để chủ động thâm nhập vào kênh phân phối trên thị trường Eu. Hệ thống phân phối trên thị trường EU còn rất yếu , các doanh nghiệp việt nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường này thông qua khâu trung gian. Do vậy để có thể mở rộng thị trường , nâng cao hiệu quả xuất khẩu các doanh nghiệp cần phải đẩy manh xuất khẩu trực tiếp sang EU hoặc thông qua các hình thức liên doanh với các doanh nghiệp tại thị trường này để có thể mở rộng kênh phân phối cũng như đứa vải thiều tiếp cận đễ dàng với người tiêu dùng hơn .

    Các doanh nghiệp cần chú trọng hơn đên 1 số yếu tố như : thị hiếu , giá cả , đối thủ cạnh tranh, dung lượng của thị trường …Cần tìm hiểu thuế quan, chinh sách ngoại thương và qui chế nhập khẩu của Eu để tìm các cánh cửa mới cho hàng xuất khẩu Việt Nam.

    Các nguyên tắc thâm nhập thị trường đối với các doanh nghiệp Xuất khẩu nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu Vải thiều nói riêng cần:

    • Nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng
    • Hạ giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh
    • Đảm bảo thời gian giao hàng
    • Nâng cao chất lượng sản phẩm
    1. Biện pháp cải thiện cơ cấu xuất khẩu và chất lượng của Vải Thiều.

    Lựa chọn mặt hàng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Eu gồm 28 quốc gia khác nhau, mỗi đất nước có 1 thói quen tiêu dùng khác nhau, thường có xu hướng tăng lên vào các dịp Giáng sinh, tết…

    Bảng 3.1 Các sản phẩm vải quả, yêu cầu về chất lượng, bao gói và đặc điểm kênh phân phối, giao dịch tại các thị trường trên thế giới

    Tên sản phẩm Mô tả/cách thức phân phối, giao dịch trên thế giới
    Vải quả tươi Đóng gói, bảo quản, vận chuyển:

     

    Vải tươi từ các nước được xử lý bảo quản, đóng thùng, dán nhãn, xuất khẩu bằng đường hàng không hoặc đường bộ (trường hợp các nước liền biên giới).

    Phân phối:

    Sản phẩm được bán tại các siêu thị, cửa hàng hoặc được nhà phân phối chuyên nghiệp giao đến tận nhà những người tiêu dùng đã đặt hàng (ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người mua đặt hàng trước 1-2 ngày, cửa hàng phân phối sẽ lựa chọn vải theo yêu cầu và giao hàng tại nhà).

    Giá bán lẻ: 29-32 USD/kg

    Đặt hàng trước 1-2 ngày theo máy bay

    Yêu cầu: Độ đồng đều (ví dụ thị trường Floria Mỹ yêu cầu đường kính 1,5 inch/quả), màu vải tươi tự nhiên, xử lý xạ/nhiệt để đảm bảo không có dịch bệnh.

    Vải đóng hộp Các sản phẩm vải đóng hộp rất đa dạng, tùy thuộc vào thị hiếu của từng thị trường. Theo đó mức độ ngọt, trọng lượng hộp, số lượng quả vải trong mỗi hộp sẽ dao động tùy theo thị trường. Ví dụ tại Florida- Hoa Kỳ, người tiêu dùng thường dùng các hộp có khoảng 20 quả vải đã được bóc vỏ, bỏ hạt và đóng hộp trong khoảng 1,5 cốc xi-rô đường.

     

    Giá bán lẻ: Từ 5-25 USD/hộp tùy thị trường (Ví dụ tại Trung Quốc chỉ khoảng 5-10 USD/hộp 20 quả, tại châu Âu khoảng 25 USD/hộp 20 quả).

    Bột vải quả, nước vải quả cô đọng Vải quả nghiền, cô đọng, sử dụng để làm đồ uống hỗn hợp, sorbets, sinh tố hoặc đổ lên kem, Phân phối: Chủ yếu bán tại các siêu thị và cũng được giao hàng tận nhà nếu có yêu cầu.

     

    Giá bán: 25 USD/túi 0,5kg

    Yêu cầu: Độ mịn, độ đường đạt tiêu chuẩn của thị trường tiêu thụ.

    Bánh kẹo từ vải quả, vải sấy khô Vải sấy khô, kẹo vải, bánh vải, vải ngâm mật ong… Lychee Gummys, Dried Lychees, Lychee Honey, Lychee Gel Cup

     

    Các sản phẩm này chủ yếu bán ở các siêu thị

    Mứt vải Mứt vải rất được ưa chuộng tại Mỹ và châu Âu, nhất là khi mùa vải tươi đã kết thúc. Dùng để ăn sáng với bánh mì.

     

    Phân phối: Được bán phổ biến trong các siêu thị

    Si rô vải Si rô vải được chế biến theo công thức riêng của từng nhà sản xuất, chể kết hợp với một số thành phần khác để vừa đạt yêu cầu về dinh dưỡng, hương vị, vừa đáp ứng một yêu cầu riêng gì đó về sức khỏe  (ví dụ được dùng như một loại thực phẩm chức năng: Vải quả rất tốt cho những người cao huyết áp, chứa một lượng rất thấp natri, nhưng lượng kali cao trong một khẩu phần vải)
    Nước ép vải Nước ép vải rất phổ biến tại các siêu thị trên thế giới. Tại Mỹ, nước ép vải từ Nam Phi, Đài Loan và Malaysia đã có chỗ đứng trong các siêu thị lớn (Việt Nam chưa thâm nhập được thị trường này).

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

    Trà vải Trung Quốc, Đài Loan đã sản xuất trà đen hương vải, trà tẩm vị vải tươi tự nhiên và đã xuất khẩu được sang Mỹ, châu Âu.

     

    Vận chuyển: Hàng không hoặc hàng hải

    Kem dưỡng da từ vải quả Sản phẩm chăm sóc da vải quả được tinh chế nhằm đảm bảo mùi thơm và công dụng tự nhiên của vải quả đối với da, đồng thời có đặc trưng của vải quả tươi với ánh đỏ nhạt gợi cảm.

     

    Hiện nay các nhà sản xuất của Thái Lan đã xuất khẩu được sản phẩm này sang Mỹ.

    Lợi ích VIETGAP Trước khi VietGAP ra đời, nước ta đã có rất nhiều chương trình sản xuất nông sản an toàn đối với rau, quả, và cây dùng làm thức uống. Nhiều nơi các quy định đó đã xây dựng thành quy trình phổ biến cho nông dân thực hiện. Tuy nhiên, do chưa có đơn vị nào có trách nhiệm kiểm tra và chứng nhận kịp thời hoặc có chính sách khuyến khích cho người sản xuất, nên phong trào sản xuất nông sản sạch chưa được phát triển rộng rãi, có nơi bị lụi dần rồi đi vào dĩ vãng. Thế rồi vào năm 2004, Hiệp hội Trái cây VN tham gia vào một dự án có tên “Tăng cường năng lực cạnh tranh” (VNCI) do VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp VN) chủ trì và đã tổ chức một chuyến thăm chương trình liên kết Mỹ – Thái đang thực hiện EUREPGAP và thăm “Liên kết GAP miền Tây Thái Lan”. Cũng năm đó, Hiệp hội Trái cây VN cùng với Hội Làm vườn và VCCI tổ chức hội thảo giới thiệu về GAP (EUREPGAP) tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau hội thảo này, năm 2005, liên kết GAP sông Tiền bao gồm 6 tỉnh có trái cây đã được thành lập, hoạt động rất gắn bó và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Cũng trong năm 2005, Tổ chức Thị trường quốc tế (IMO) đã tổ chức chứng nhận GAP cho một số cơ sở sản xuất rau, cà phê ở Đà Lạt. Tiếp theo đó là các đơn vị sản xuất thanh long ở Bình Thuận, lâm ngư trường tôm ở miền Tây cũng lần lượt được công nhận sản xuất đạt tiêu chuần GAP. Do nhận thức được tầm quan trọng và tính chất bức xúc để có “GAP” cho VN nên chi nhánh Hội Làm vườn VN được tổ chức Syngenta VN tài trợ đã có chuyến thăm quan, khảo sát việc thực hiện GAP ở Malaysia từ ngày 5-8 tháng 11 – 2007. Đoàn do TS Võ Mai – Chủ tịch Hiệp hội Trái cây, dẫn đầu cùng với 6 thành viên khác. Người viết bài này cùng tham gia chuyến khảo sát và đã thu lượm được những nội dung chủ yếu về bước đi và lợi ích việc thực hành các dạng GAP ở Malaysia. Tiếp theo đó đoàn cũng đệ trình 1 bản tường trình với lãnh đạo Bộ NN&PTNT về tính cấp thiết của việc ra đời VietGAP. Thế rồi, ngày 28-1-2008, VietGAP ra đời tiếp sau EUREPGAP, GlobalGAP và GAP của một số nước châu Á khác. Dù ra đời muộn, VietGAP đã thừa hưởng được kinh nghiệm của nhiều GAP đi trước nên đã nhanh chóng phát huy tác dụng. Đến hôm nay đã có đến hàng trăm tổ chức, đơn vị và cá nhân đã có sản phẩm được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP và đang tham gia vào các dịch vụ buôn bán các sản phẩm nông sản ngang hàng với các nước trong khu vực và thế giới. Cụ thể là việc quy định rỏ ràng những yếu tố chính trong sản xuất nông nghiệp như: Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất Giống và góc ghép Quản lý đất và giá thể Phân bón và chất phụ gia Nước tưới Hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật) Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch Quản lý và xử lý chất thải An toàn lao động Ghi chép, lưu trử hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm Kiểm tra nội bộ Khiếu nại và giải quyết khiếu nại

    Việc thực hiện áp dụng các quy định vietgap vào sản xuat vải thiều sẽ giúp thị trương khó tính như EU dễ dàng chấp nhận hơn cũng như tăng giá bán cho loại nông sản này hơn.

    1. Biện pháp né tránh chống bán phá giá về vải thiều tại Châu Âu.

    Các mặt hàng nông sản, thủy sản Việt Nam tại Eu đã và đang phải đối mặt lớn với các chính sách thuế chống bán phá giá tại EU nhằm bảo hộ nền nông sản, thủy sản trong nội khối. Xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU chúng ta không thể không quan tâm đến vấn đề này.

    Đối với chính sách giá nhập khẩu: Để không bị liên đới trong các vụ kiện bán phá giá đối với các mặt hàng nông sản cùng loại, các doanh nghiệp Việt Nam không thể duy trì mức giá nhập khẩu thấp hoặc giảm trong nhiều tháng. Cần tăng giá trị gia tăng của Vài thiều để một mặt tăng giá bán, trong khi vẫn được người tiêu dùng tại Eu chấp nhận do chất lượng và giá trị gia tăng của Vải tăng lên nhiều. Doanh nghiệp cần tìm ra các ngách thị trường để thâm nhập, chuyển nguy cơ bị chống bán phá giá cho đối thủ cạnh tranh ( Madagascar, Nam Phi, Thái Lan…) và tận dụng cơ hội của mình.

    1. Biện pháp hạn chế rủi ro trong thương mại.

    Rủi ro nhiều nhất đối với mặt hàng Vải thiều phải nói đến tính mùa vụ của sản phẩm cũng như việc kiểm soát chất lượng sản phẩm trong quá trình vận chuyển. Để đối mặt với những vấn đề này các công ty xuất nhập khẩu cần chọn ra cho mình 1 phương thức vận chuyển tốt và thuận lợi nhất. Phương thức vận chuyển tốt và chất lượng nhất đối với Vải thiều có lẽ chỉ có thể nói đến Máy bay, vận chuyển bằng đường hàng không. Phương thức vận chuyển nhanh nhất, đảm báo được chất lượng, mẫu mã của Vải đồng thời đáp ứng đúng được thời gian tối ưu. Nhưng điểm hạn chế của phương tiện này chính là chi phí. Vải thiều là mặ hàng có giá trị gia tăng không  lớn nhưng chi phí vận chuyển lại lớn, chiếm khá nhiều trong giá thành của vải. Vì thế ngoài các biện pháp về phương tiện vận chuyển này, chúng ta cần tìm hiểu và đầu tư vào những công nghệ bảo quản hiện đại giúp Vải có thể bảo quản được lâu hơn. Từ mùa vải năm 2013, Sở KHCN Bắc Giang đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng (Bộ KHCN) nghiên cứu, áp dụng công nghệ CAS vào bảo quản quả vải tươi.

    Kết quả ban đầu cho thấy quả vải thiều tươi có thể bảo quản được hơn 1 năm với chất lượng tốt. Công nghệ CAS (Cells Alive System) hay “hệ thống tế bào còn sống” là công nghệ làm lạnh đông nhanh của Nhật Bản, được sử dụng để bảo quản hải sản, nông sản và thực phẩm đạt được tiêu chí “Fresh CAS – Tươi như CAS”. Nghĩa là các sản phẩm được bảo quản bằng công nghệ CAS sau một thời gian nhất định (có thể từ 1 đến nhiều năm) sau rã đông vẫn giữ được độ tươi nguyên như vừa mới thu hoạch, giữ được cấu trúc mô-tế bào, màu sắc, hương vị, chất lượng sản phẩm.

    Nguyên lý cơ bản của công nghệ CAS là sự kết hợp giữa quá trình lạnh đông nhanh (-30 đến -60 độ C) và dao động từ trường (50 Hz đến 5 MHz). Sự khác biệt của công nghệ CAS với các công nghệ lạnh đông thông thường là sự tác động đồng thời của từ trường và quá trình lạnh đông nhanh đã làm cho nước (nước tự do và nước liên kết) trong tế bào sống đóng băng ở chỉ một số rất ít phân tử, nên không phá vỡ cấu trúc tế bào và cũng không làm biến tính các hợp chất sinh học (như protid, vitamin).

    Chính điều đó và một số tác động khác của CAS đối với tế bào sống đã làm cho sản phẩm được bảo quản bằng công nghệ này giữ nguyên được chất lượng sau một thời gian dài, tùy mục đích sử dụng (như gạo có thể bảo quản được hơn 10 năm).

    Vừa qua, Tập đoàn ABI (Nhật Bản) và Bộ KHCN đã tổ chức hội thảo quốc tế “Công nghệ CAS và khả năng ứng dụng công nghệ CAS trong bảo quản hải sản và nông sản Việt Nam”. Bộ công nghệ CAS là sáng chế độc quyền của Tập đoàn ABI Nhật Bản, được đánh giá là một công nghệ tiên tiến, tích cực nhằm đạt được, khống chế và tối ưu hóa các thông số bảo quản.

    Kết quả nghiên cứu, thử nghiệm của Bộ KHCN tại Việt Nam với xoài cho thấy xoài đông lạnh CAS không bị hư hỏng hay giảm chất lượng trong quá trình vận chuyển. Hơn nữa lại tiết kiệm được thời gian chế biến, góp phần hạ chi phí sản xuất. Dưa vàng cũng được bảo quản với chất lượng hoàn hảo, thành phần nước trong dưa, hương thơm, vị ngọt không hề bị mất đi trong quá trình bảo quản.

    Tại Bắc Giang, bước thử nghiệm công nghệ CAS tiếp tục được thực hiện trong vụ vải thiều năm 2014. Ngày 20/6 vừa qua, 20 tấn vải thiều Lục Ngạn bảo quản bằng CAS thành công đã được xuất sang Nhật Bản. Đại diện Sở KHCN Bắc Giang cho biết phía Nhật Bản và Bộ KHCN sẵn sàng chuyển giao công nghệ này cho tỉnh, chậm nhất là vào năm tới. Đây là cơ hội cũng là thách thức cho vải thiều Bắc Giang bởi tiêu chuẩn quả vải vào các thị trường Nhật, châu Âu, Mỹ phải bảo đảm sạch từ giống, chăm sóc, thu hái, bảo quản.

    Với quá trình bảo quản theo công nghệ Nhật Bản GAS, sản phẩm của chúng ta không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà còn được cả thế giới chấp nhận, chúng ta có thể thay đổi phương thức vận chuyển sang EU bằng đường biển mà không lo bị hư hỏng sản phẩm. Điều quan trọng là các doanh nghiêp xuất nhập khẩu cần chon những công ty vận tải uy tín và chuyên nghệp để đảm bảo container đóng hàng đủ điều kiện và đến nơi 1 cách an toàn.

    1. Biện pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu về thị trường EU.

    Trước những thách thức cũng như khó khăn mà chúng ta tìm hiểu ở phân trên , chúng ta cần có công tác nghiên cứu, tìm hiểu thị trường 1 cách kĩ lưỡng. Khi tiếp cận được thị trường 1 cách đầy đủ nhất, điều tra về thị hiếu, thói quen tiêu dùng, chính sách của thị trường, sẽ giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trước những bất ngờ có thể xảy ra và tìm đúng hướng đi cho Vải thiều. Trong trường hợp này ta nên thuê, hoặc sử dụng các hình thức đại lý phân phối tại thị trường Eu. Vì các nhà phân phối, đại lý họ có kinh nghiệm hơn chúng ta rất nhiều trong lĩnh vực này ở EU. Họ hiểu biết thói quen của người tiêu dùng hay mua Vải thiều ở đâu, dịp nào, cũng như những mối liên hệ với các nhà hàng, siêu thị, những khách hàng tổ chức có nhieemh vụ phân phối Vải thiều đến tay người tiêu dùng cuối cùng một cách dễ dàng.

    1. Biện pháp phát triển, xây dựng hình ảnh thương hiệu cho Vải dựa trên vận động hành lang.

    Lí do chính khiến người tiêu dùng Châu Âu không biết và không sử dụng sản phẩm Vải thiều của Việt Nam phải kể đến thương hiệu Vải thiều Việt Nam không ai biết đến cả. Madagascar có loại vải Malandly , chúng ta cũng có những thương hiệu vải nổi tiếng như Vải Thanh Hà, vải Lục Ngạn,..nhưng những cái tên đó chỉ mới dừng ở mức độ trong nước còn bên ngoài thế giới họ không biết đó là gì? Điều quan trong là xây dựng và gằn Vải Việt Nam với: Tính sạch sẽ, đảm bảo đúng, đủ yêu cầu quốc tế Gobal GAP, đậm đà hương vị Việt Nam: quả vải to, hạt nhỏ, mọng nước, ngọt mát.

    Ngoài ra chúng ta cũng nên tận dụng tiềm năng phân phối từ lực lượng kiều bào tại EU.

    Đặc biệt thị trường Châu Âu  EU có 1 quốc gia rất đặc biệt đối với Việt Nam đó là Pháp. Sau năm 1954 có rất nhiều người Việt Nam lên tàu di chuyển sang sinh sống tại Châu Âu. Thông thường những người này đều có những khoản thu nhập khá, và sẵn sàng mua sản phẩm của công ty. Những người con Việt Nam dù có đi xa đến đâu đi chăng nữa , có những thói quen khó bỏ.

    1. Phát triển nguồn nhân lực cho đẩy mạnh việc xuất khẩu

    Các doanh nghiêp Việt Nam cần tổ chức nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực cũng như trình độ cho cán bộ và công nhân viên  qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm vải thiều Việt Nam trên thị trường thế giới.Đồng thời các doanh nghiệp Việt Nma nên gửi các can bộ kĩ thuật trẻ , có triển vọng ra nước ngoài đào tạo cũng như học hỏi kinh nghiêm sản xuất , chế biến , bảo quản  cũng như tiếp thu công nghệ tiên tiến tren thế giới

    Ngoài ra cũng nên chú trọng đên scacs cán bộ thương mại giỏi giàu kinh nghiệm, như vậy mới có thể đưa trái vải thiều Việt Nam đến tay người tiêu dùng EU.

    1. Đẩy mạnh ứng dụng Thương mại điện tử trong kinh doanh

    Bây giờ là thời đại của Internet, nhờ các công cụ tìm kiếm và mạng xã hội: Facebook, Yahoo, Twister, Google,…mà con người trở nên gần nhau hơn, xóa tan khoảng cách giữa các châu lục. Vì thế trong lĩnh vực thông tin, khoảng cách giữa Châu Âu và Việt Nam không  phải là vấn đề. Các doanh nghiệp cần đầu tư, khai thác hết các tiềm năng mà các công cụ này đem lại. Nhờ các công cụ này, các doanh nghiệp Xuất khẩu Vải thiều Việt Nam có cơ hội tiếp xúc để điều tra tìm hiểu một cách trực tiếp khách hàng cá nhân, tổ chức, đối tác, cũng như nhà phân phối của công ty tại Châu Âu. Công cụ Internet cũng giúp doanh nghiệp rất nhiều trong việc quản lý đơn hàng, giao nhận hàng 1 cách tiết kiệm nhất. Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư 1 cách hiệu quả và công cụ này.

    3.3.2 Các giải pháp về phía nhà nước.

    1. Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi cho xuất khẩu.

    Rà soát lại các hệ thống luật để điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc chưa rõ ràng, trước hết là Luật Thương Mại, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và khuyến khích đầu tư trong nước. Cần mở rộng phạm vi điều chỉnh cho phù hợp với các quy định cam kết với WTO, các điều lệ thỏa thuận của Hiệp định thương mại tự do FTA, trong môi trường toàn cầu hóa sâu rộng và xu hướng hội nhập toàn cầu.

    Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng xóa bỏ các thủ tục phiền hà và phấn đấu ổn định môi trường pháp lý, tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp, khuyế khích họ chấp nhận bỏ vốn lâu dài, mở rộng thị trường xuất khẩu. Phấn đấu làm cho các chính sách về thuế trở nên rõ ràng minh bạch hơn. Ví dụ cải cách gần đây: Trên cơ sở tự rà soát và tham khảo một số đánh giá của tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính quốc tế) trong tương quan giữa Việt Nam với mức bình quân chung của một số nước trong khu vực và trên thế giới về tiêu chí thực hiện thủ tục hành chính thuế, đồng thời thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan (Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014 và Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05/8/2014), Bộ Tài chính đã chỉ đạo quyết liệt cơ quan thuế, cơ quan hải quan thực hiện nhiều giải pháp về cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan, giảm thời gian và thủ tục nộp thuế cho người dân, doanh nghiệp.  Cụ thể: thủ tục hải quan nhập khẩu và xuất khẩu đã giảm từ 126 giờ xuống còn 63 giờ, Thuế xuất nhập khẩu cũng thực hiện cắt giảm thuế suất theo lộ trình cam kết (Thông tư số 164/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013). Về chính sách thuế GTGT xuất khẩu được hưởng ưu đãi 0% so với các loại hình khác. Cần điều chỉnh giảm thuế GTGT đối với các sản phẩm rau quả từ 10% xuống còn 5%

    Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Eu (EVFTA) đã ký chỉ ra những quy định chung về thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EU. Việt Nam cần nghiêm túc thực hiện đúng lộ trình thực hiện cũng như các cam kết đã kí như: thuế quan, nguồn lực…

    1. Hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU.

    Đại bộ phận các doanh nghiệp xuất khẩu Vải thiều Việt Nam sang EU đều có quy mô vừa và nhỏ, nên khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu không cao. Vì thế, để đẩy mạnh, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả xuất khẩu sang thị trường này, Nhà nước cần có sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp về vốn thông qua hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước. Để triển khai hoạt động hỗ trợ này, Nhà nước Việt Nam nên thực hiện các biện pháp sau đây:

    • Sử dụng có hiệu quả quỹ hỗ trợ xuất khẩu đẻ các doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, giải quyết được những khó khăn về vốn lưu động và vốn đầu tư đổi mới trang thiết bị. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xâm nhập được thị trường EU- một trong những thị trường có yêu cầu rất khắt khe về hàng hóa và có kênh phân phối phức tạp trên thế giới.
    • Đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng ngân hàng trên cơ sở pháp luật giữa các thành phần kinh tế. Mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng cũng như các định chế tài chính. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn và yêu cầu thế chấp tài sản của ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
    • Xúc tiến thành lập các ngân hàng chuyên doanh của khu vực vừa và nhỏ, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp lớn với sự hỗ trợ từ Nhà nước và các tổ chức quốc tế.
    • Mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhà nước cần thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp có khả năng phát triển nhưng không có đủ tài sản tế chấp vay vốn. Quỹ được thành lập dưới hình thức là một tổ chức tài chính của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận cho phép các doanh nghiệp xuất-nhập khẩu có hiệu quả được vay vốn theo phương thức tự vay, tự trả.
    • Thực hiện lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất sang Eu có hiệu, sản xuất sản phẩm mới hoặc nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới.
    • Thông qua ngân hàng linh hoạt hạ mức lãi suất chiết khấu để đẩy mạnh để đẩy mạnh xuất khẩu sang Eu. Ngân hàng thực hiện chiết khấu sang kì phiếu và hồi phiếu chưa đến kì hạn thanh toán trong trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu mà bị thiếu vốn . Nếu lãi suất triết khấu hạ thì giá hàng hóa xuất khẩu cũng hạ, do đó khat năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam tăng lên và chúng ta mở rộng được xuất khẩu.

    Kim ngạch xuất khẩu Vải thiều sang thị trường EU tăng qua hàng năm, nhưng trị giá xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ở mức thấp. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường và kênh phân phối phức tạp nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng này là do các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm. Do vậy các chính sách tín dụng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt có vốn đầu tư cho sản xuất để nâng cao chất lượng vải thiều, đa dạng hóa các loại sản phẩm được chế biến từ Vải thiều, cải tiến mẫu mã tăng khả năng tiếp cận sâu hơn vào thị trường EU.

    1. Các chính sách tạo điều kiện cho nông dân trồng vải.

    Việc nâng cao chất lượng quả vải thiều đã được các cấp chính quyền và người dân địa phương rất quan tâm. Phong trào sản xuất vải thiều sạch an toàn theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ngày càng phát triển và nhân rộng. Từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm cơ quan chức năng tổ chức khoảng 130 lớp tập huấn về quy trình sản xuất vải thiều VietGAP cho hàng nghìn hộ dân.

    Nhằm tạo điều kiện giúp người dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ vải thiều thuận lợi, hằng năm, UBND một số tỉnh chuyên sản xuất Vải thiều chỉ đạo các ngành chức năng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tập trung chăm sóc vải thiều, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nhất là theo quy trình sản xuất VietGAP. Cùng đó, huyện thành lập Ban Chỉ đạo Hỗ trợ nhân dân tiêu thụ vải thiều; tham mưu với cấp trên tổ chức Hội nghị xúc tiến thương mại cho sản phẩm; làm tốt công tác bảo đảm an ninh trật tự và an toàn giao thông, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiểu thương về địa phương thu mua vải thiều.

    Tích cực phối hợp với Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT) xây dựng mô hình liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải thiều sau thu hoạch; phối hợp với Viện Quy hoạch (Bộ Nông nghiệp và PTNT) quy hoạch vùng vải thiều phục vụ xuất khẩu. Cùng đó, tiếp nhận triển khai mô hình trồng vải thiều theo tiêu chuẩn GlobalGAP tại xã tại các xã thí điểm với diện tích từ 100 – 150 ha để bảo đảm đủ điều kiện, nguồn hàng phục vụ xuất khẩu sang thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.

    1. Các giải pháp khác của chính phủ.

    Ngoài ra cần có sự tăng cường cho văn phòng TBT VIệt Nam  để có sự hỗ trợ xuất khẩu , đồng thời vai trò  các hiệp hội ngành nông sản cần được nâng cao hơn nữa hỗ trợ và tư vẫn cho các thành viên, cũng như là đại diwwnj cho các thành viên trước EU về các quy định được đề xuất

    Nhà nước cần xây dựng các cơ sở dữ liêu đầy đủ  về các doanh nghiêp Việt Nam nhằm  hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tìm hiểu thông tin về  đối tác cũng như doanh nghiệp nước ngoài  có thể tìm kiêm scacs thông tin về doanh nghiệp Việt Nam,Từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh trong nước, quốc tế, và tiến tới minh bạch hóa hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

    KẾT LUẬN

    Hoạt động xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu vải thiều nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều sự chuyển biến tích cực. Nhà nước đẩy mạnh việc xuất khẩu bằng cách đưa ra các chính sách có lợi, các doanh nghiệp tích cực hơn trong việc tìm kiếm thị trường, nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Cùng với đó, năm 2015, hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU được ký kết sẽ mở ra hướng đi mới cho các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó có hoạt động xuất khẩu vải thiều.

    Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU được ký kết sẽ làm thay đổi các vấn đề như: thuế suất xuất nhập khẩu giữa các bên, đầu tư, các chính sách thúc đẩy thương mại, hàng rào bảo hộ… Những sự thay đổi này có tác động tới các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Các doanh nghiệp cần củng cố và nâng cao nguồn lực của mình để có thể chủ động thay đổi theo sự thay đổi của kinh tế vĩ mô, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững, góp phần giúp làm lớn mạnh ngành nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay mặt hàng vải thiều Việt Nam tuy đang dần có chỗ đứng trên thị trường nước ngoài, cụ thể là thị trường EU, song khả năng cạnh tranh còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng vải thiều của ta còn chưa đạt các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo quản sản phẩm…do EU quy định. Sự đồng bộ trong sản xuất ở các vùng nguyên liệu chưa cao, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất còn chưa hiệu quả, cơ sở hạ tầng đang dần được cải tiến nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp những nhu cầu thực tiễn.

    Để có thể thâm nhập thành công vào thị trường EU và có chỗ đứng trên thị trường thế giới, các doanh nghiệp xuất khẩu vải thiều cần nỗ lực hơn nữa trong việc sản xuất, chất lượng sản phẩm, chọn kênh phân phối, nghiên cứu thị trường và thị hiếu khách hàng…Nhà nước cũng cần đưa ra các chính sách, định hướng đúng đắn và kịp thời nhằm giúp đỡ và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu vải thiều sang EU.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Nghi%E1%BB%87p-V%E1%BB%A5-H%E1%BA%A3i-Quan-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan 2019

    THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

    1.     Một số khái niệm

    • Thủ tục hải quan điện tử

    Là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

    • Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan

    Là hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử, kết nối, trao đổi thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các Bộ, ngành có liên quan.

    • Hệ thống khai hải quan điện tử:

    Là hệ thống thông tin phục vụ cho người khai hải quan khai và tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan Hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.

    • Tờ khai hải quan điện tử

    Là một dạng chứng từ điện tử bao gồm tập hợp các chỉ tiêu thông tin khai của người khai HQ.

    • Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành

    Là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật

    • Chữ ký số trong thủ tục HQĐT

    Phải thoả mãn một số điều kiện:

    • Là chữ ký số tương ứng với chứng thư số được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp.
    • Tương thích với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
    • Đăng ký chữ ký số với cơ quan hải quan thông qua cổng thông tin điên tử HQ.
    • Được sử dụng trên phạm vi toàn quốc

    2.     Thời hạn khai HQĐT

    1. Đối với hàng hóa xuất khẩu, khai (nộp) sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
    2. Đối với hàng hóa nhập khẩu, khai (nộp) trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu.

    3.     Hồ sơ hải quan

    3.1.            Đối với hàng xuất khẩu:

    • Tờ khai hàng hóa xuất khẩu
    • Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành.

    3.2.            Đối với hàng nhập khẩu:

    • Tờ khai hàng hóa nhập khẩu
    • Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.
    • Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương
    • Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật
    • Tờ khai trị giá
    • Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Quy định cụ thể các trường hợp phải nộp)

    4.     Khai bổ sung HSHQ

    • Người khai hải quan được khai bổ sung hồ sơ hải quan sau khi Hệ thống phân luồng tờ khai nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan;
    • Người khai hải quan, người nộp thuế xác định có sai sót trong việc khai hải quan thì được khai bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra;
    • Người khai hải quan, người nộp thuế phát hiện sai sót trong việc khai hải quan sau thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa nhưng trước khi thông quan thì thực hiện khai bổ sung và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
    • Quá thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan hoặc sau khi cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, người khai hải quan, người nộp thuế mới phát hiện sai sót trong việc khai hải quan thì thực hiện khai bổ sung và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
    • Người khai hải quan thực hiện khai bổ sung theo yêu cầu của cơ quan hải quan khi kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    5.     Địa điểm đăng ký tờ khai hải quan

    Hàng hóa xuất khẩu:

    • Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có cơ sở sản xuất
    • Chi cục Hải quan nơi tập kết hàng hóa xuất khẩu
    • Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất hàng;

    Hàng hóa nhập khẩu

    • Chi cục Hải quan cửa khẩu nơi quản lý địa điểm lưu giữ hàng hóa, cảng đích ghi trên vận tải đơn, hợp đồng vận chuyển
    • Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi hàng hóa được chuyển đến;

    6.     Các trường hợp hủy tờ khai:

    • Quá thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai:
    • Hàng hóa được miễn kiểm tra thực tế nhưng không có hàng nhập khẩu đến cửa khẩu nhập hoặc hàng xuất khẩu chưa đưa vào khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất;
    • Người khai hải quan không xuất trình hồ sơ hải quan trong trường hợp phải xuất trình hồ sơ hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra;
    • Người khai hải quan chưa xuất trình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra thực tế để cơ quan hải quan kiểm tra;
    • Các trường hợp hủy tờ khai theo yêu cầu của người khai hải quan

    7.     Quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan

    1. Khái niệm rủi ro:

    Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.

    1. Khái niệm quản lý rủi ro:

    Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả.

    1. Nội dung chủ yếu:
    • Thu thập, xử lý thông tin hải quan;
    • Xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan
    • Phân loại mức độ rủi ro
    • Tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.
    1. Đánh giá tuân thủ pháp luật đối với người khai hải quan
    • Tần suất vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế;
    • Tính chất, mức độ vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế;
    • Việc hợp tác với cơ quan hải quan trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và chấp hành các quyết định khác của cơ quan hải quan.
    • Cơ quan hải quan đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan để áp dụng các biện pháp quản lý hải quan phù hợp theo từng mức độ tuân thủ.
    • Doanh nghiệp ưu tiên;
    • Doanh nghiệp tuân thủ;
    • Doanh nghiệp không tuân thủ
    1. Các căn cứ phân loại rủi ro:
    • Chính sách quản lý, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
    • Tính chất, đặc điểm của hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải;
    • Tần suất, tính chất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải;
    • Xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
    • Tuyến đường, phương thức vận chuyển hàng hóa, hành lý;
    • Các yếu tố khác liên quan đến quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

    Cơ quan hải quan thực hiện đánh giá phân loại rủi ro đối với người khai hải quan, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo các mức độ khác nhau để áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát hải quan, thanh tra phù hợp.

    8. Hệ thống thông quan hàng hoá tự động

    1. Hệ thống VNACC-VCIS gồm:
    • Hệ thống thông quan tự động (VNACCS) –Vietnam automated cargo clearance system)
    • Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (VCIS)
    • Là hệ thống xử lý thông tin nghiệp vụ dựa trên nguyên tắc mã hoá các nghiệp vụ, các chỉ tiêu thông tin.
    • Tiếp nhận các thông tin khai báo trước của DN
    • Các bộ ngành cấp giấy phép thông qua hệ thống VNACCS.
    1. Ưu điểm của hệ thống
    • Tốc độ thông quan nhanh
    • Tập trung cả ba khâu: trước, trong và sau thông quan
    • Hạn chế hồ sơ giấy
    • Không cần khai riêng tờ khai trị giá
    • Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống thông tin của các bên liên quan
    • Chuẩn hoá các chế độ quản lý HQ với khoảng 40 mã loại hình XNK
    • Áp dụng chữ ký điện tử, hỗ trợ thiết bị đầu cuối cho DN.
    • Tự động xác định thuế xuất, phân bổ tính toán trị giá, tính thuế.
    • Tự động kiểm tra thanh toán thuế, tự động thông quan
    • Thanh toán thuế: bảo lãnh, nộp thuế.
    • Kết nối với các bộ ngành trong việc cấp giấy phép
    • Không phân biệt loại hình mậu dịch và phi mậu dịch.
    1. Khai hải quan trên phần mềm ECUS-5

     

     

     

    NGHIỆP VỤ KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN

    4.1 Kiểm tra hải quan

    4.1.1 Khái niệm:

    Theo luật hải quan Việt Nam 2014, kiểm tra hải quan là việc cơ quan hải quan  kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ, tài liệu liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải.

    4.1.2 Ý nghĩa kiểm tra, giám sát hải quan

    • Phát hiện tính bất hợp pháp của những hành vi di chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải và hành lý chuyển dịch qua biên giới;
    • Tạo nên cơ sở đúng đắn, sát thực tế cho việc tính thuế và thu thuế xuất nhập khẩu;
    • Buộc những người có liên quan đến hàng hóa , ngoại hối, phương tiện  vận tải … phải chấp hành đúng những quy định của pháp luật;
    • Thông qua việc kiểm tra giám sát hải quan để phát hiện những sơ hở, những điều không rõ ràng của pháp luật, trên cơ sở đó góp ý kiến bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước.

    4.1.3 Đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan

    • Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, hàng hóa trung chuyển, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; ngoại hối, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý; văn hóa phẩm, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; bưu phẩm, bưu kiện; hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh, các vật phẩm khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan.
    • Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu và chuyển cảng.
    • Hồ sơ hải quan và các chứng từ liên quan đến các đối tượng ở trên.
    • Tổ chức cá nhân liên quan đến việc làm thủ tục hải quan.

    4.1.4 Nguyên tắc chung khi kiểm tra hải quan

    • Kiểm tra hải quan được thực hiện:
      • Trong quá trình làm thủ tục hải quan
      • Trong quá trình kiểm tra sau thông quan.
    • Việc kiểm tra hải quan phải được giới hạn ở mức độ cần thiết để:
      • Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan
      • Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
    • Hình thức kiểm tra hải quan được quyết định:
      • Kết quả phân tích thông tin về lô hàng
      • Việc đánh giá kết quả chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng
      • Mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan.
    • Nguyên tắc kiểm tra cụ thể (Điều 23, TT 38/2015)

    Các căn cứ quyết định kiểm tra hải quan:

    • Thông báo kết quả phân luồng tờ khai hải quan của Hệ thống
    • Quyết định của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hoặc Chi cục Hải quan nơi kiểm tra thực tế hàng hóa
    • Thông tin khai hải quan
    • Thông tin chỉ dẫn rủi ro trên Hệ thống

    4.1.5 Kiểm tra hải quan bao gồm:Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hoá

    1. Kiểm tra hồ sơ hải quan
    • Kiểm tra thông tin tờ khai
    • Kiểm tra việc tuân thủ chế độ chính sách theo quy định của pháp luật HQ
    • Kiểm tra thuế

    b.Kiểm tra thực tế hàng hoá

    • Khái niệm

    Kiểm tra thực tế hàng hóa là việc cơ quan hải quan kiểm tra tình hình thực tế của hàng hóa, đối chiếu sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với các nội dung trong tờ khai hải quan và các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan.

    • Căn cứ quyết định
      • Quá trình chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng.
      • Chính sách mặt hàng của nhà nước trong từng thời kỳ.
      • Quá trình phân tích các thông tin liên quan đến người khai hải quan và lô hàng đang được làm thủ tục hải quan
    • Các mức kiểm tra thực tế
      • Miễn kiểm tra thực tế hàng hoá
      • Kiểm tra xác suất hàng hoá
      • Kiểm tra toàn bộ
    • Các hình thức kiểm tra thực tế
      • Kiểm tra thủ công
      • Sử dụng máy móc thiết bị
      • Kiểm tra thông qua kết quả phân tích, giám định hàng hoá
    • Nội dung kiểm tra gồm:
    • Kiểm tra tên hàng, mã số, mức thuế
    • Kiểm tra về lượng hàng hoá
    • Kiểm tra chất lượng hàng hoá
    • Kiểm tra trị giá hải quan
    • Kiểm tra xuất xứ hàng hoá
    • Kiểm tra việc thực hiện chính sách thuế, kiểm tra việc áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước
    • Kiểm tra giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, kết quả kiểm tra chuyên ngành

    4.2. Giám sát hải quan

    4.2.1. Khái niệm:

    Là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để đảm bảo sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.

    4.2.2 Đối tượng giám sát hải quan:

    Hàng hóa, phương tiện vận tải, phương tiện vận tải nội địa vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

    4.2.3 Phương thức giám sát hải quan:

    • Niêm phong hải quan
    • Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện
    • Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

    4.2.4 Các tiêu chí lựa chọn phương thức giám sát hải quan  đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh:

    • Chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
    • Lĩnh vực, loại hình, thời gian hoạt động, tuyến đường, địa bàn, phương tiện vận chuyển, lưu giữ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
    • Đặc điểm, tính chất, xuất xứ, tần suất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

    Các quy định khác liên quan đến quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh

    • Thời gian giám sát hải quan
    • Hàng hóa nhập khẩu: chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
    • Hàng hóa xuất khẩu:
      • Hàng XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động của hải quan.
      • Hàng xuất khẩuphải kiểm tra thực tế: chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động của hải quan.

    4.2.5 Phương thức giám sát hải quan

    • Niêm phong hải quan
    • Khái niệm:
    • Niêm phong hải quan là việc các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp đóng kín đối tượng bằng các chất liệu thích hợp, nếu muốn xâm nhập đối tượng phải phá hủy niêm phong.
    • Niêm phong hải quan là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật hoặc các dấu hiệu để nhận biết và bảo đảm tính nguyên trạng của hàng hóa.
    • Các hình thức niêm phong
      • Niêm phong bằng giấy:
      • Niêm phong bằng chì hải quan
      • Niêm phong điện tử (e-seal)

    4.3 Kiểm tra sau thông quan (bài giảng)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây


  • Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Quy-Tr%C3%ACnh-Th%E1%BB%A7-T%E1%BB%A5c-H%E1%BA%A3i-Quan-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan 2019

    QUY TRÌNH CƠ BẢN THỦ TỤC HẢI QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU-NHẬP KHẨU

    1. Sơ đồ tổng quan quy trình khai báo và khai sửa đổi bổ sung trong thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu:

                1.1 Khai thông tin nhập khẩu (IDA)

    – Người khai hải quan khai các thông tin nhập khẩu bằng nghiệp vụ IDA trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu. Khi đã khai đầy đủ các chỉ tiêu trên màn hình IDA (133 chỉ tiêu), người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ tự động cấp số, tự động xuất ra các chỉ tiêu liên quan đến thuế suất, tên tương ứng với các mã nhập vào (ví dụ: tên nước nhập khẩu tương ứng với mã nước, tên đơn vị nhập khẩu tương ứng với mã số doanh nghiệp…), tự động tính toán các chỉ tiêu liên quan đến trị giá, thuế… và phản hồi lại cho người khai hải quan tại màn hình đăng ký tờ khai – IDC.

    – Khi hệ thống cấp số thì bản khai thông tin nhập khẩu IDA được lưu trên hệ thống VNACCS.

                1.2. Đăng ký tờ khai nhập khẩu (IDC)

    – Khi nhận được màn hình đăng ký tờ khai (IDC) do hệ thống phản hồi, người khai hải quan kiểm tra các thông tin đã khai báo, các thông tin do hệ thống tự động xuất ra, tính toán. Nếu khẳng định các thông tin là chính xác thì gửi đến hệ thống để đăng ký tờ khai.

    – Trường hợp sau khi kiểm tra, người khai hải quan phát hiện có những thông tin khai báo không chính xác, cần sửa đổi thì phải sử dụng nghiệp vụ IDB gọi lại màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA) để sửa các thông tin cần thiết và thực hiện các công việc như đã hướng dẫn ở trên.

                1.3. Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai

    Trước khi cho phép đăng ký tờ khai, hệ thống sẽ tự động kiểm tra Danh sách doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (doanh nghiệp có nợ quá hạn quá 90 ngày, doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giải thể, phá sản…). Nếu doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên thì không được đăng ký tờ khai và hệ thống sẽ phản hồi lại cho người khai hải quan biết.

    1.4. Phân luồng, kiểm tra, thông quan: Khi tờ khai đã được đăng ký, hệ thống tự động phân luồng, gồm 3 luồng xanh, vàng, đỏ

    1.4.1 Đối với các tờ khai luồng xanh

    – Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan (trong thời gian dự kiến 03 giây) và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”.

    – Trường hợp số thuế phải nộp khác 0

    + Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi.

    + Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan….): Hệ thống xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu”. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế, phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”.

    – Cuối ngày hệ thống VNACCS tập hợp toàn bộ tờ khai luồng xanh  đã được thông quan chuyển sang hệ thống VCIS.

    1.4.2  Đối với các tờ khai luồng vàng, đỏ

    1. Người khai hải quan

    – Nhận phản hồi của hệ thống về kết quả phân luồng, địa điểm, hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hoá;

    • Nộp hồ sơ giấy để cơ quan hải quan kiểm tra chi tiết hồ sơ; chuẩn bị các điều kiện để kiểm  thực tế hàng hoá;
    • Hồ sơ hải quan gồm:
    • Tờ khai hàng hóa nhập khẩu
    • Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.
    • Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương
    • Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật
    • Tờ khai trị giá
    • Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Quy định cụ thể các trường hợp phải nộp)

    – Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí (nếu có).

    1. Hệ thống

    (1) Xuất ra cho người khai “Tờ khai hải quan” (có nêu rõ kết quả phân luồng tại chỉ tiêu: Mã phân loại kiểm tra)

    (2) Xuất ra Thông báo yêu cầu kiểm tra thực tế hàng hóa đối với hàng hóa được phân vào luồng đỏ hoặc khi cơ quan hải quan sử dụng nghiệp vụ CKO để chuyển luồng.

    (3) Ngay sau khi cơ quan hải quan thực hiện xong nghiệp vụ CEA hệ thống tự động thực hiện các công việc sau:

    – Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa”.

    – Trường hợp số thuế phải nộp khác 0:

    • Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi.
    • Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan….): Hệ thống xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”.

                1.5. Khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan

    (1) Hệ thống cho phép khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan từ sau khi đăng ký tờ khai đến trước khi thông quan hàng hoá. Để thực hiện khai bổ sung trong thông quan, người khai hải quan sử dụng nghiệp vụ IDD gọi ra màn hình khai thông tin sửa đổi bổ sung được hiển thị toàn bộ thông tin tờ khai nhập khẩu (IDA) trong trường hợp khai sửa đổi, bổ sung lần đầu, hoặc hiển thị thông tin khai nhập khẩu sửa đổi cập nhật nhất (IDA01) trong trường hợp khai sửa đổi, bổ sung từ lần thứ 2 trở đi.

    (2) Khi đã khai báo xong tại nghiệp vụ IDA01, người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ cấp số cho tờ khai sửa đổi và phản hồi lại các thông tin tờ khai sửa đổi tại màn hình IDE, khi người khai hải quan ấn nút “gửi” tại màn hình này thì hoàn tất việc đăng ký tờ khai sửa đổi, bổ sung.

    (3) Số tờ khai sửa đổi là kí tự cuối cùng của ô số tờ khai, số lần khai báo sửa đổi, bổ sung trong thông quan tối đa là 9 lần tương ứng với ký tự cuối cùng của số tờ khai từ 1 đến 9; trường hợp không khai bổ sung trong thông quan thì ký tự cuối cùng của số tờ khai là 0.

    (4) Khi người khai hải quan khai sửa đổi, bổ sung tờ khai, thì tờ khai sửa đổi, bổ sung chỉ có thể được phân luồng vàng hoặc luồng đỏ (không phân luồng xanh).

    (5) Các chỉ tiêu trên màn hình khai sửa đổi, bổ sung (IDA01) giống các chỉ tiêu trên màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA). Khác nhau là một số chỉ tiêu (sẽ nêu cụ thể tại phần hướng dẫn nghiệp vụ IDA01) không nhập được tại IDA01 do không được sửa đổi hoặc không thuộc đối tượng sửa đổi.

                1.6. Những điểm cần lưu ý

    (1) Mỗi tờ khai được khai tối đa 50 mặt hàng, trường hợp một lô hàng có trên 50 mặt hàng, người khai hải quan sẽ phải thực hiện khai báo trên nhiều tờ khai, các tờ khai của cùng một lô hàng được liên kết với nhau dựa trên số nhánh của tờ khai

    (2) Trị giá tính thuế

    – Khai báo trị giá: Ghép các chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp 1 vào tờ khai nhập khẩu; Đối các phương pháp khác, chỉ ghép một số chỉ tiêu kết quả vào tờ khai nhập khẩu, việc tính toán cụ thể trị giá theo từng phương pháp phải thực hiện trên tờ khai trị giá riêng.

    – Tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch, người khai hải quan khai báo Tổng trị giá hoá đơn, tổng hệ số phân bổ trị giá, trị giá hoá đơn của từng dòng hàng, các khoản điều chỉnh, hệ số phân bổ các khoản điều chỉnh, trên cơ sở đó, hệ thống sẽ tự động  phân bổ các khoản điều chỉnh và tự động tính trị giá tính thuế cho từng dòng hàng.

    – Không tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch nhưng ngoài I và F còn có trên 5 khoản điều chỉnh khác hoặc việc phân bổ các khoản điều chỉnh không theo tỷ lệ trị giá thì hệ thống không tự động phân bổ, tính toán trị giá tính thuế; Đối với các trường hợp này, người khai hải quan khai báo, tính toán trị giá tính thuế của từng dòng hàng tại tờ khai trị giá riêng, sau đó điền kết quả vào ô “trị giá tính thuế” của từng dòng hàng.

    (3) Tỷ giá tính thuế

    Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ áp dụng tỷ giá tại ngày thực hiện nghiệp vụ này để tự động tính thuế:

    – Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA và đăng ký tờ khai IDC trong cùng một ngày hoặc trong 02 ngày có tỷ giá giống nhau thì hệ thống tự động giữ nguyên tỷ giá tính thuế;

    – Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai  IDC (được tính là thời điểm người khai hải quan ấn nút “Gửi” tại màn hình IDC) tại ngày có tỷ giá khác với tỷ giá tại ngày khai thông tin nhập khẩu IDA thì hệ thống sẽ báo lỗi. Khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại – thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn hệ thống sẽ tự động cập nhật lại tỷ giá theo ngày đăng ký tờ khai.

    (4) Thuế suất

    – Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ lấy thuế suất tại ngày dự kiến khai báo IDC để tự động điền vào ô thuế suất.

    – Trường hợp thuế suất tại ngày IDC dự kiến khác thuế suất tại ngày IDC, thì khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai IDC hệ thống sẽ báo lỗi, khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại – thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn, hệ thống tự động cập nhật lại thuế suất theo ngày đăng ký tờ khai IDC.

    – Trường hợp người khai hải quan nhập mức thuế suất thủ công thì hệ thống xuất ra chữ “M” bên cạnh ô thuế suất.

    (5) Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn/giảm/không chịu thuế

    – Việc xác định hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK không căn cứ vào Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế, mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan.

    – Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế.

    – Nhập mã miễn/giảm/không chịu thuế vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA).

    – Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT trên VNACCS (TEA) thì phải nhập đủ cả mã miễn thuế và số DMMT, số thứ tự dòng hàng trong DMMT đã đăng ký trên VNACCS.

    – Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế Nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT nhưng đăng ký thủ công ngoài VNACCS thì phải nhập mã miễn thuế và ghi số DMMT vào phần ghi chú.

    (6) Trường hợp hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng

    – Việc xác định hàng hóa, thuế suất giá trị gia tăng không căn cứ vào Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng; mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan.- Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa, thuế suất cụ thể theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng.

    – Nhập mã thuế suất thuế giá trị gia tăng vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA).

    (7) Trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (do có nợ quá hạn quá 90 ngày hoặc Doanh nghiệp giải thể, phá sản, tạm ngừng kinh doanh,…)

    Hệ thống tự động từ chối cấp số tờ khai và báo lỗi cho phía người khai lý do từ chối tiếp nhận khai báo. Tuy nhiên, nếu hàng nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại thì hệ thống vẫn chấp nhận đăng ký tờ khai dù doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên.

    (8) Trường hợp đăng ký bảo lãnh riêng trước khi cấp số tờ khai (bảo lãnh theo số vận đơn/hóa đơn)

    Số vận đơn hoặc số hóa đơn đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số vận đơn/số hóa đơn người khai khai báo trên màn hình nhập liệu.

    Nếu đăng ký bảo lãnh riêng sau khi hệ thống cấp số tờ khai thì số tờ khai đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số tờ khai hệ thống đã cấp.

    (9) Trường hợp cùng một mặt hàng nhưng các sắc thuế có thời hạn nộp thuế khác nhau

    Hệ thống sẽ tự động xuất ra các chứng từ ghi số thuế phải thu tương ứng với từng thời hạn nộp thuế. Trường hợp người khai làm thủ tục nhập khẩu nhiều mặt hàng nhưng các mặt hàng có thời hạn nộp thuế khác nhau, người khai sẽ phải khai trên các tờ khai khác nhau tương ứng với từng thời hạn nộp thuế.

    1. Cách thức thực hiện:

    Việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan;

    1. Thành phần, số lượng hồ sơ:

    – Thành phần hồ sơ:

    + Tờ khai hàng hoá nhập khẩu.

    + Các chứng từ đi kèm tờ khai (dạng điện tử hoặc văn bản giấy): theo quy định tại Điều 24 Luật Hải quan.

    – Số lượng hồ sơ: 01 bản giấy hoặc điện tử.

    1. Thời hạn giải quyết:

    – Hệ thống phản hồi cho người khai hải quan ngay sau khi hệ thống tiếp nhận, công chức hải quan chấp nhận kết quả phân luồng/từ chối tờ khai trừ các trường hợp bất khả như nghẽn mạng, hệ thống đường truyền gặp sự cố…

    – Thời hạn hoàn thành thành kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải (tính từ thời điểm người khai hải quan đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về làm thủ tục hải quan theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 23 Luật Hải quan):

    + Chậm nhất là 08 giờ làm việc đối với lô hàng xuất khẩu áp dụng hình thức kiểm tra thực tế một phần hàng hóa theo xác suất;

    + Chậm nhất là 02 ngày làm việc đối với lô hàng xuất khẩu áp dụng hình thực kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hóa.

    Trong trường hợp áp dụng hình thức kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hóa mà lô hàng xuất khẩu có số lượng lớn, việc kiểm tra phức tạp thì thời hạn kiểm tra có thể được gia hạn nhưng không quá 08 giờ làm việc.

    1. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức, cá nhân
    2. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    – Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục hải quan

    – Người có thẩm quyền được ủy quyền hoặc phân cấp thực hiện: Không

    – Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Chi cục hải quan

    – Cơ quan phối hợp (nếu có):

    1. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định thông quan hàng hóa
    2. Lệ phí: 20.000 đồng
    3. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính: Tờ khai hàng hóa nhập khẩu (mẫu HQ/2015/NK) và Phụ lục tờ khai hàng hoá nhập khẩu (mẫu HQ/2015-PLNK) Phụ lục 6 Thông tư 38/2015/TT-BTC
    4. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

    Trước khi thực hiện thủ tục hải quan, người khai hải quan phải:

    – Có chữ ký số được đăng ký;

    – Đăng ký người sử dụng Hệ thống VNACCS/VCIS;

    – Làm thủ tục cấp mã địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Trường hợp doanh nghiệp không được công nhận địa điểm kiểm tra tại chân công trình, cơ sở sản xuất, nhà máy, doanh nghiệp phải đưa hàng hoá đến địa điểm kiểm tra tập trung để kiểm tra (áp dụng đối với các lô hàng được hệ thống VNACCS phân vào luồng đỏ).

    1. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

    – Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014;

    – Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan;

    – Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

    – Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực Hải quan.

    2. Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng xuất khẩu thương mại

     

    Quy trình tương tự như đối với hàng NK.

    Trình tự thực hiện:

    – Bước 1: Người khai hải quan thực hiện việc khai báo hải quan và xuất trình hồ sơ hải quan (nếu có), xuất trình thực tế hàng hoá (nếu có) cho cơ quan hải quan.

    – Bước 2: Công chức hải quan thực hiện việc thông quan hàng hoá cho người khai hải quan.

    – Cách thức thực hiện: Điện tử

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

    * Thành phần hồ sơ:

    1. a) Tờ khai hàng hóa xuất khẩu theo các chỉ tiêu thông tin tại Phụ lục II ban hành kèm Thông tư số 38/2015/TT-BTC.
    2. b) Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu: 01 bản chính nếu xuất khẩu một lần hoặc 01 bản chụp kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi nếu xuất khẩu nhiều lần;
    3. c) Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật: 01 bản chính.

    Đối với chứng từ quy định tại điểm b, điểm c nêu trên, nếu áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, người khai hải quan không phải nộp khi làm thủ tục hải quan.

    * Số lượng hồ sơ: 01 bộ

    – Thời hạn giải quyết:

    – Thời hạn tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan: ngay sau khi người khai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan đúng quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều 23 Luật Hải quan)

    – Thời hạn hoàn thành thành kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải:

    + Hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ chậm nhất là 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan;

    + Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan;

    Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật có liên quan thì thời hạn hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hóa được tính từ thời điểm nhận được kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định.

    Trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa, nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày.

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    1. a) Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục Hải quan
    2. b) Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Không có
    3. c) Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Chi cục Hải quan
    4. d) Cơ quan phối hợp (nếu có): Không có

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Xác nhận thông quan

    – Phí, lệ phí: 20.000 đồng

    – Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai:

    – Tờ khai hải quan (theo Phụ lục III, Phụ lục IV Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính);

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

    – Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014 của Quốc hội;

    – Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.

    – Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

    – Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

    – Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

    – Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ Tài chính ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực Hải quan.

    Số điện thoại đường dây nóng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Quy-Tr%C3%ACnh-Giao-Nh%E1%BA%ADn-C%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-Ty-Xu%E1%BA%A5t-Nh%E1%BA%ADp-Kh%E1%BA%A9u-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Giao Nhận Của Công Ty Xuất Nhập Khẩu 2019

    QUY TRÌNH GIAO NHẬN CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU

    QUY TRÌNH GIAO NHẬN CỦA CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU VÀ VẬN TẢI NAM DƯƠNG.

    Nếu như tính đến các năm trước, khi thị trường hàng hóa còn khó khăn, việc giao nhận hàng của các công ty vận tải không chỉ gặp khó khăn vì lượng hàng khan hiếm mà còn khó khăn khi các khâu về thủ tục phức tạp và rườm rà, tàu vào cảng dỡ hàng mất nhiều thời gian, năng suất xếp dỡ của các thiết bị thấp làm lượng hàng giải phóng kém, xe chờ hàng chạy lâu làm giảm đi đáng kể khả năng quay đầu của các phương tiện vận tải thì tính đến nay, riêng về mặt thủ tục đã có những thay đổi đáng để trong việc bỏ đi các khâu trung gian không cần thiết tại cảng vào cả trong Hải quan. Việc đưa vào sử dụng hệ thống Hải quan điện tử đã giúp tiết kiệm thời gian xét hồ sơ, nếu như làm thủ tục giấy như trước đây thì doanh nghiệp mất từ 1 đến 2 ngày để thông quan luồng xanh, 3 đến 5 ngày để thông quan đối với luồng vàng thì hiện tại, với tốc độ xử lý nhanh chóng, các doanh nghiệp nói chung chỉ cần 0.3 giây là hệ thống có thể xuất ra kết quả phân loại luồng, thông quan nhanh đối với luồng xanh, với luồng vàng, doanh nghiệp mang hồ sơ đến chi cục Hải quan và với luồng đỏ tiến hành kiểm hóa.

    Quy trình giao nhận hàng của mỗi  công ty lại có những điểm khác nhau riêng nhưng đều hướng đến mục tiêu là nhanh chóng hoàn thành các thủ tục cần thiết để khách hàng có thể nhận hàng. Trong khi tại Hải Phòng hiện nay, có hàng nghìn công ty giao nhận thì việc chậm trễ các bước giao nhận có thể làm cho công ty đó mất đi các khách hàng tiềm năng, giảm uy tín và ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình kinh doanh của khách hàng nếu như lô hàng giao nhận đó là nguyên liệu phục vụ trong sản xuất. Tính trên thực tế, để hoàn thành được lô hàng 1 cách nhanh chóng, công ty không chỉ cần nắm vững được nghiệp vụ cơ bản mà cần có mối quan hệ với các cơ quan hữu quan từ Hải quan , cảng lẫn hãng tàu.

    Xét về tổng quát, quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu của công ty cũng giống như quy trình chung của tất cả công ty giao nhận khác đều trải qua 8 bước cơ bản như sau :

    Bước 1. Nhận yêu cầu từ khách hàng

    Nhân viên của bộ phận kinh doanh tiếp nhận yêu cầu của khách hàng  với nhiệm vụ là thay mặt khách hàng làm thủ tục thông quan nhập khẩu, nhận hàng tại cảng biển, tổ chức vận chuyển hàng hóa an toàn và giao cho công ty khách hàng tại kho riêng địa điểm chỉ định. Sau đó tiến hành xem xét báo giá, 2 bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.

    Bước 2. Kiểm tra bộ chứng từ được giao

    Sau khi ký kết hợp đồng giao nhận, Trưởng phòng giao nhận sẽ thay mặt Ban gám đốc cử nhân viên giao nhận cụ thể làm việc với phía khách hàng và nhận bộ chứng từ gồm:

    • Giấy giới thiệu của Công ty khách hàng
    • Giấy thông báo hàng đến (Arrival Notice)
    • Vận đơn đường biển (Bill of Lading)
    • Hợp đồng thương mại (Sales Contract)
    • Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
    • Bảng kê khai chi tiết hàng hóa (Packing List)

    Thông thường, những bộ chứng từ gửi đến công ty đều đã được công ty khách hàng kiểm tra tính hợp lệ, cũng như chỉnh sửa tất cả những sai sót có thể xảy ra. Tuy nhiên, với tính chuyên nghiệp, cẩn trọng trong quá trình làm việc, cũng như để việc giao nhận về sau được tiến hành một các nhanh chóng và thuận lợi thì nhân viên giao nhận phụ trách lô hàng sẽ kiểm tra lại những nội dung quan trọng của các chứng từ như tên người gửi, tên người nhận, tên tàu và ngày tàu đến, số container, số seal, chi tiết hàng hoá… trước khi lên tờ khai làm thủ tục.

    Nếu trong quá trình kiểm tra nhân viên giao nhận thấy có sự sai sót, nhầm lẫn, thì sẽ báo ngay cho khách hàng  để có thể kịp thời chỉnh sửa lại các chứng từ cho phù hợp. Bởi vì các thông tin trên chứng từ tránh tuyệt đối các sai sót gây bất lợi, trong quá trình làm các thủ tục hải quan cũng như đổi lệnh tại cảng các thông tin không khớp nhau có thể làm kéo dài thời gian nhận hàng, xấu nhất là không nhận được hàng.

    Ngoài ra, dựa vào trình độ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc của mình, ban lãnh đạo công ty TNHH xuất nhập khẩu và vận tải Nam Dương cũng có thể tư vấn cho phía khách hàng hoặc có thể sửa chữa một số chứng từ nếu như được sự đồng ý của công ty khách hàng.

    Bước 3. Lấy lệnh từ hãng tàu và cược vỏ cont

    Sau khi đã kiểm tra lại toàn bộ bộ chứng từ vừa nhận , nhân viên của công ty sẽ làm các thủ tục cần thiết tại hãn g tàu và đại lý của hãng tàu để đổi lệnh giao hàng và cược vỏ cont. Hiện nay tại các hãng tàu, việc đổi lệnh giao hàng thường bắt đầu từ việc cược và mượn vỏ cont trước.

    • Mượn và cược vỏ

    Quá trình mượn và cược vỏ cont có thể diễn ra tại 1 hoặc 2 nơi phụ thuộc vào hãng tàu và đại lý hãng tàu. Một số hãng tàu, nộp cược cont để mượn vỏ có thể diễn ra tại ngân hàng tuy nhiên cũng có thể diễn ra tại hãng tàu. Nếu lấy nộp tại ngân hàng, nhân viên giao nhận mang giấy giới thiệu và điền vào tờ khai nộp cược theo mẫu ngân hàng công bố và trả tiền. Nếu nộp tại hãng tàu thì không cần giấy giới thiệu chỉ cần ghi số B/L trên các liên để nhận chữ ký và đóng dấu vào các liên nhận về.

    • Lấy lệnh giao hàng

    Tại hãng tàu, nhân viên giao nhận xuất trình giấy giới thiệu, chứng minh nhân dân bản photo, bill gốc + 1 bill sao sau đó nhận về 2 lệnh đã ký nhưng chưa có dấu sau đó đến quầy thanh toán các cước phí liên quan khác như phí THC, phí D/O, phí SIC phí vệ sinh cont…các cước phí này phụ thuộc vào từng hãng tàu.

    Bước 4: Làm thủ tục hải quan cho lô hàng

    Nếu như trước đây, quá trình làm thủ tục hải quan cho lô hàng được thực hiện thủ công bằng cách nộp bộ hồ sơ giấy chờ xét duyệt thì hiện nay , việc đưa vào sử dụng hệ thống thông quan tự động VNACCS- VCIS qua phần mềm Ecuss-vnaccs đã giúp xuất trình kết quả phân luồng và thông quan nhanh chóng. Nhân viên sau khi khai báo các thông tin cần thiết về lô hàng và nhận được kết quả phân loại luồng trả về thì lên chi cục hải quan để làm bóc tờ khai – và thanh toán phí.

    • Với luồng xanh

    Các tờ khai luồng xanh được trực tiếp thông quan và chỉ cần tiến hành đóng phí đường bộ và lên chi cục Hải quan để đóng phí. Lệ phí chung cho làm thủ tục Hải quan là 20.000 đồng, ký giám sát Hải quan là 60.000 đồng/ 1 cont (phí ngoài)

    • Với luồng vàng

    Các tờ khai trả về kết quả phân loại luồng vàng chưa được thông quan mà phải được cán bộ Hải quan kiểm tra bộ chứng từ. Lúc này, nhận viên giao nhận mang bộ chứng từ đến chi cục để làm thủ tục, bộ chứng từ bao gồm giấy giới thiệu, tờ khai chính thức, hóa đơn, C/O và 1 vận đơn đường biển photo có thể kèm theo cả Packing list nộp vào bàn tiếp nhận để chờ phân cho các nhân viên hải quan, sau đó nhận được phân bàn thì đến nộp cho nhân viên Hải quan đó chờ kết quả kiểm tra.

    Vì quá trình kiểm tra hồ sơ có thể kéo dài lâu nên trong lúc chờ, nhân viên có thể đóng phí đường bộ cho lô hàng đó. Loại phụ phí này mới xuất hiện từ ngày 1-1-2017 , khi UBND thành phố Hải Phòng quyết định thu thêm 1 loại phí là phí cầu đường đối với các hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cảng biển của thành phố. Trước đó, từ tháng 12/2013, Hải Phòng đã thu phí đối với hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh (năm 2016 ước thu phí từ 2 loại hàng hóa này được 750 tỷ đồng).

    Mức phí áp dụng đối với hàng xuất nhập khẩu là : 250.000 đồng/container 20 feet , 500.000 đồng/container 40 feet và thu 20.000đồng/tấn đối với hàng lỏng, rời.

    • Với luồng đỏ.

    Sau khi nhận kết quả trả về hàng hóa nhập khẩu rơi vào luồng đỏ, nhân viên giao nhận vẫn tiến hành nộp phí và làm thủ tục hải quan như với luồng vàng nhưng sau khi xuống cảng đổi lệnh thì đăng ký kiểm hóa . Kết quả kiểm hóa được trả về sau 3-4 ngày, nhân viên giao nhận mang kết quả kiểm hóa đến chi cục Hải quan để thông quan.

    Bước 5: Đổi lệnh tại cảng và nhận hàng

    Nhân viên giao nhận mang bộ chứng từ ra cảng làm thủ tục lấy lệnh giao hàng. Bộ hồ sơ bao gồm:

    • Tờ khai đã thông quan
    • Mã vạch
    • Giấy đóng phí đường bộ
    • Biên lai xanh đóng phí
    • Cược cont
    • Lệnh giao hàng của hãng tàu

    Bộ hồ sơ này nộp tại quầy nhận hồ sơ của cảng chờ xét duyệt đổi lệnh, nhân viên giao nhận đóng phí giám sát Hải quan. Mang biên lai nộp giám sát, đóng nâng hạ cont để lấy phiểu nâng hạ và lệnh giao hàng của cảng.

    Bước 6: Giao hàng cho khách.

    Tùy vào thỏa thuận với khách hàng mà doanh nghiệp giao hàng tại kho của khách hàng hay một địa điểm thỏa thuận nào khác.

    Bước 7: trả vỏ cont rỗng và lấy lại tiền cược

    Sau khi trả hàng cho khách, xe mang vỏ cont đến bãi của cảng ghi trong phiếu nâng cont để nhận hạ cont có ghi kèm các chú thích về tình trạng cont.

    Nhân viên mang phiếu nâng hạ, biên lai mượn vỏ của hãng tàu lên hãng tàu để trả vỏ và nhận lại cược cont. Nếu container có cần sửa chữa hay vệ sinh thì sẽ đóng thêm phí ngoài hoặc trừ thẳng vào tiền cược, sau đó lấy hóa đơn.

    Bước 8: Thanh lý tờ khai, đưa chứng từ cho khách hàng quyết toán và lưu hồ sơ.

    Nhân viên giao nhận kiểm tra sắp xếp lại toàn bộ các chứng từ, lập quyết toán các khoản ứng trước và chi hộ khách hàng để lập giấy báo nợ, xuống cảng đổi hóa đơn từ phiếu nâng hạ gửi kèm với bộ chứng từ đề khách hàng thanh toán các khoản phí.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây