Author: Nguyễn Huyền

  • Tiểu luận Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ

    Tiểu luận Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ

    Tiểu luận Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-v%C3%A0-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-th%E1%BB%B1c-thi-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ

    GIỚI THIỆU

    Chinh sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như:  công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định.

    Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính  sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.

     

    Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách tiền tệ ,em quyết định chọn đề tài : “CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ & CÔNG CỤ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ  (NĂM 2007-2009)”.

     

    Trong quá trình sưu tập và làm bài, chúng em phân ra nhiều phần khac nhau để phân tích và có thể đứng ở một khía cạnh nào đó có thể hạn hẹp. Chính sách tiền tệ của NHNN VN trong giai đoạn 2007 -2009 rất rộng lớn, có thể kiến thức của chúng em chưa đáp ứng được yêu cầu của các thầy (cô) yêu cầu. Chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến từ các thầy (cô) và các bạn để bài tiểu luận của chúng em được tốt hơn nữa.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

     

     

     

     

     

     

    NỘI DUNG

    I. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯÒNG:

    1)  Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ:

    1. Khái niệm chính sách tiền tệ :

    Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô  do Ngân hàng trung ương  khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu :ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế .

    Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHNN VN (NHTW) thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định. Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế – tài chính vĩ mô của chính phủ.

    Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền , tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng-chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền).

    1. Vị trí chính sách tiền tệ :

     

    Trong hệ thống các công cụ đIều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ .Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như  chính sách tài khoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại.

    Đối với  Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó  đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.

    2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ :

    1. Ổn định giá trị đồng tiền :

     

    NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.

    1. Tăng công ăn việc làm:

     

    CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên. Mặt khác, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cuộc cải tiến kĩ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm. Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng, ythif mức thất nghiệp tăng 1%.

    Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHTW khi thực hiện mục tiêu này : tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.

    1. Tăng trưởng kinh tế:

     

    Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể  hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ.

    Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.

    Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn  với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậyđể đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

    Mặt khác để biết các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiện được không, thì các NHTW phải chờ thời gian dài ( một năm –khi kết thúc năm tài chính).

    3. Các công cụ của CSTT:

     

    a.Nghiệp vụ thị trường mở:

     

    Khái niệm: Là những hoạt động mua bán  chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng tiền cung ứng.

     

    • Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ

    số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).

    Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ),nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông (C).

    • Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một công cụ   rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng chứng khoán mua ( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém về chi phí , dễ đảo ngược tình thế. Tuy vậy, vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phảI có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn.

     

    b.Dự trữ bắt buộc:

     

    • Khái niệm : Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phảI giữ lại, do NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãI, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
    • Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM.Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãI suất cho vay tăng (giảm), từ  đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng).

    Đặc đIểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp NHTW chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.

    1. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM

    Khái niệm :là việc NHTW quy định  tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ

    mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ..)sau  đó NHTW sẽ phân bổ cho các

    NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định .

    Cơ chế tác động:Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng,việc quy định  pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM.

    Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá  cao của nền kinh tế .Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

    d.Quản lý lãi suất của các NHTM:

    Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất  hay ấn dịnh một trần lãi suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình.

    Cơ chế tác động:Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.

    Đặc điểm:Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế .Mặt khác việc thay đổi quy định  đIều chỉnh lãI suất dễ làm cho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.

    e.tỉ giá hối đoái

    khái niệm :tỉ giá hối đoái là đại lượng biều thị mối tương quan về mặt giá trịgiữa hai đồng tiền.nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một đơn vị tiền nước khác.

    Cơ chế tác động:tác động đến hoạt động kinh tế , từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa

    Đặc điểm:ngân hàng trung ương có thể ấn định tỉ giá cố định hay tha nổi theo quan hệ cung cầu ngoai tệ trên thị trường ngoại hối bện canh đó còn có tỉ gái cố định nhưng di động  khi cần thiết  và tỉ giá thả nổi có quản lý.khi vận dung công cụ này  không phải NHTU  đẩy tỉ giá lên cao hay kéo tỉ gái xuống thấp mà ổn định tỉ gái ở một mức độ hợp lí phù hợp vói đặc điểm  điều kiện thực tế của đất nước trong từng giai đoạn để tác động chung cuộc của nó là tốt nhất

    II.   Việc vận dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHNN VN trong những năm 2007-2009:

    1.      Giai đoạn: trong năm2007- đầu 2008:

    Từ cuối năm 2006 đến giữa đầu năm 2007, nền kinh tế VN nổi lên với nhiều sự kiện, chỉ tiêu đầy hứa hẹn. Khi VN chính thức là thành viên của WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối vào VN tăng đột biến (năm 2007 đã tới 20 tỉ USD).  2007 là năm ảm đạm trong nề Kinh tế Mĩ khi mà đồng đô la xuống giá nghiêm trọng. Sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này đã khiến cho nhiều nền kinh tế khác trên thế giới chịu ảnh hưởng, trong đó có Việt Nam.

    Đồng tiền mất giá là ấn tượng đáng nhớ nhất trong năm 2007 và đầu năm 2008.

    Về nguyên tắc, khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào VN tăng, VN Đồng (VND) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng.Tuy nhiên NHNN đã can thiệp thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng giá VND:

    • NHNN VN phát hành VND mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VND với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VND yếu là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu.
    • Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm 2006 để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, qua đó hạn chế tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kém hiệu quả, giảm sức ép tăng lạm phát trong những tháng cuối năm.
    • Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tín hiệu ổn định lãi suất thị trường.
    • Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vay chiết khấu trong hạn mức phân bổ.
    • Tỉ giá linh hoạt với việc nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,25% lên 0,5% vào đầu năm và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%.

    Tuy nhiên, mặt trái của chính sách thị trường mở là Ngân hàng nhà nước đã phải cung ra số lượng khổng lồ tiền đồng để mua hết số đô la này, Đồng đô la mất giá, đồng ghĩa với việc tiền Việt lên giá. Người ta lại dồn dập bán đô la để thu tiền Việt. Cung tiền đồng lại phải tăng thêm để giữ tỉ giá hối đoái (VND/USD) khỏi xuống quá thấp, làm cho lượng cung tiền của VN từ năm 2005 đến hết tháng 6/2007 tăng tổng cộng 110%. Đây là mức tăng rất lớn, là tác nhân quan trọng đối với lạm phát. Con số lạm phát lên đến 12.63% so với chỉ số tăng GDP là 8.5% – nghĩa là về thực chất chúng ta tăng trưởng âm.

    Chính sách tỷ giá hiện nay đã ảnh hưởng hạn chế nhất định đối với nền kinh tế. Mặc dù ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%, nhưng với biên độ dao động chưa đáng kể, chưa đủ thích ứng với môi trường bên ngoài.

    Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm 2006 để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD.

    • Kết quả đạt đựoc trong năm 2007:

    – Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xẩy ra những cú sốc về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trường tài chính quốc tế :

    + Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vài ngày giữa tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãi suất huy động và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so với cuối năm 2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Tính đến cuối tháng 9/2007, huy động vốn của các TCTD tăng 31,2%, ước cả năm tăng 39,6%, cao hơn tốc độ tăng 33,1% của năm 2006; tín dụng đến cuối tháng 9 tháng tăng 30,9%, ước cả năm tăng 37,8%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng 22,8% của năm 2006).

    + Tỷ giá danh nghĩa giao động nhẹ và có xu hướng giảm (VND lên giá nhẹ), trong bối cảnh lạm phát gia tăng đã góp phần tích cực trong việc ổn định lãi suất VND và ổn định thị trường tiền tệ. Mặt khác, tỷ giá thực thấp hơn tỷ giá hối đoái danh nghĩa trên thị trường, cho nên tác động khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hỗ trợ ổn định lãi suất VND.

    – Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổi theo chiều hướng tích cực:

    + Tỷ lệ tiền mặt trên TPTTT giảm từ mức 19,3% năm 2006 xuống mức 17,8% năm 2007.

    + Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25,9% năm 2007 xuống còn 22,6% năm 2007 – giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế.

    • Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế :

    + Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các TCTD có những diễn biến tích cực, các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực cho vay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn cũng được mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của xã hội.

    + Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ và giảm dần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển ổn định. Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản cũng được theo dõi, giám sát chặt chẽ nhằm góp phần hạn chế những tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động ngân hàng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển bến vững.

    + Chất lượng tín dụng được cải thiện: Tỷ lệ nợ xấu tháng 9/2006 là 2,2%, có xu hướng giảm so với tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2006 (2,64%), trong đó tỷ lệ nợ xấu của các nhóm TCTD đều giảm. Cụ thể là: tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước là 2,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ phần là 1,26% (giảm 0,34%); tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là 0,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các TCTD khác là 2,4% (giảm 0,5%).

    • Thách thức trong năm 2007:

    – Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều (Theo số liệu thống kê đến tháng 10/2007, doanh số phát sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú tại các NHTM thì có khoảng 13 tỷ USD của người không cư trú được chuyển cho người cư trú cho mục đích đầu tư vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào bất động sản và chi tiêu các nhu cầu tiêu dùng khác trong nước) sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát khối lưọng tiền và kiểm soát lạm phát.

    – Chính sách tỉ giá với biên độ giao    động nhỏ làm cho nền kinh tế chưa kịp thích ứng với môi trường bên ngoài.

    – Cần thay đổi chính sách tỉ giá biên độ giao động nhỏ bằng chính sách tỉ giá biên độ giao động lớn hơn.

    • Các giải pháp điều hành CSTT:

     

    • Thực hiện can thiệp thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng VND gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế.
    • NHNN đã sử dụng linh hoạt các công cụ CSTT để điều tiết có hiệu quả khối lượng tiền cung ứng này, nhằm đạt mục tiêu mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối, nhưng đồng thời cũng hút mạnh lượng tiền đã cung ứng ra cho mục đích mua ngoại tệ để giảm mức độ dư thừa vốn khả dụng của các NHTM, hạn chế sự giá tăng của tổng phương tiện thanh toán (TPTTT), qua đó giảm áp lực lạm phát. Cụ thể:

    + NHNN đã hút được một lượng tương đối lớn vốn khả dụng dư thừa của các TCTD, đồng thời vẫn điều tiết kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một số TCTD, đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường.

    + Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tín hiệu ổn định lãi suất thị trường. NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do hóa lãi suất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.

    + Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vay chiết khấu trong hạn mức phân bổ.

    + NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêu thanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định. Tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước tính theo tuần nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vào thời điểm cuối năm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007.

                2) Giai đoạn: năm 2008:

    Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.

    Lạm phát tăng cao và không có dấu hiệu dừng và chia làm 2 giai đoạn:

    1. Giai đoạn từ đầu năm đến tháng sáu: NHNN Việt Nam quyết định nâng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM và qui định các NH mua trái phiếu NHNN. Kèm với đó là hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng bằng việc khống chế ở mức 30%. Ngoài ra, còn hàng loạt chính sách để hỗ trợ thị trường chứng khoán, hạn chế cho vay đối với bất động sản.

    – Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp. Giá dầu thô tăng cao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hoá Việt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá. So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây. Trong đó đáng quan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng 59,44%, thực phẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm lên mức 2,86%/tháng. Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước (2,14%).

    +Trước tình hình đó, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ là mục tiêu chủ yếu của NHNN, với ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị trường.

    +Tiền tệ thắt chặt lập tức bằng cách ngân hàng Trung Ương tung ra hơn 20.000 tỉ dồng tín phiếu buộc các ngân hàng thương mại phải mua vào.

    +NHNN liên tục tăng LSCB trong 6 tháng đầu năm, đỉnh điểm là vào tháng 6/2008 lên đến 14%.

    Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện
    14%/năm 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008 11/06/2008
    12%/năm 1099/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 19/05/2008
    8.75%/năm 305/QĐ-NHNN ngày 30/1/2008 01/02/2008
    8,25%/năm 1746/QĐ-NHNN ngày 1/12/2005 01/12/2005

    + Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1%.

    Trong điều kiện tiền quá nhiều trong lưu thông thì việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Sự can thiệp quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy được chính kiến cũng như sự quyết tâm của toàn hệ thống ngân hàng trong việc kiềm chế lạm phát. Và kết quả là lạm phát đã bị chặn đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm) trong tháng 5 xuống các mức thấp hơn trong quý và thậm chí âm trong các tháng cuối năm. Tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89%.Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng thực sự các NHTM đã phải trải qua những tháng ngày (đặc biệt là trong tháng 2, tháng 3) cực kỳ khó khăn về thanh khoản và luôn nằm trong tình trạng “nguy cơ”. Chiến dịch lãi suất của các ngân hàng giai đoạn này đã tạo nên một dấu ấn khá sâu đậm. Có lẽ mãi sau này người ta cũng không thể quên được cảnh tượng “tháo chạy” của khách hàng khỏi ngân hàng có lãi suất thấp và dòng người xếp hàng bất chấp thời gian trước những ngân hàng có lãi suất cao để gửi tiền vào. Chỉ trong khoảng thời gian vài ngày, có ngân hàng đẩy lãi suất tiền gửi từ 15%/năm lên 19%/năm, lãi suất cho vay được đẩy lên đúng với lãi suất tối đa 21%/năm ở hầu hết các ngân hàng . Lãi suất cho vay rất cao đồng nghĩa với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó nghiệp sẽ đẩy có khả năng vay vốn kinh doanh. Giá cả cũng chưa chắc xuống thấp được vì dù đồng tiền tăng giá vì lượng tiền lưu thông giảm xuống nhưng chi phí vốn của các doanh giá lên (lạm phát chi phí đẩy).

    1. Giai đoạn từ tháng sáu đến cuối năm 2008:

    – Chính phủ đã có chủ trương giảm tăng trưởng, tập trung chống lạm phát.

    – Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức quan trọng. LSCB đã hạ dần từ đỉnh 14% xuống 13% (từ 21/10/08), 12% (từ 05/11/08) và liên tiếp được điều chỉnh tới 3 lần trong vòng 1 tháng cuối năm 2008 (11% từ 21/11/08, 10% từ 05/12/08, 8,5% từ 22/12/08). Cùng với LSCB, LSTCK, LSTCV cũng được điều chỉnh giảm; các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn; Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được nới lỏng dần đi kèm với việc điều chỉnh lãi suất DTBB. Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăng dần mức cung tiền cho nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng 2008 đạt ~ 23%. Tăng trưởng tín dụng đã góp phần chặn đà suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô.

    • Kết quả đạt đựoc trong năm 2008 :

    – Chính sách thắt chặt tiền tệ đã gây khó khăn trong việc vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    => phải thận trọng trong việc khi đồng thời sử dụng nhiều công cụ CSTT( về mức độ cần thiết về liều lượng cũng như cách thức vận hành).

     

     

    – Kiềm chế lạm phát từ đỉnh điểm 3,91%/tháng xuống 1,13% vào tháng 7 và âm vào những tháng cuối năm.

    – Sự phối hợp giữa NHNN và toàn bộ hệ thống NH trong việc kiềm chế lạm phát.

    • Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
    • Thách thức trong năm 2008 :

    – Chính sách thắt chặt tiền tệ đã gây khó khăn trong việc vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    – Sức ép của lạm phát vẫn còn rất lớn, biểu hiện ở những điểm: nợ xấu vẫn tiếp tục tăng lên, khả năng thu thuế và các nguồn thu giảm, nhập siêu, bội chi ngân sách vẫn ở mức cao (4,95%).

    – Kinh tế Việt Nam bắt đầu xuất hiện yếu tố giảm phát. CPI giảm liên tục trong 3-4 tháng (chỉ số giá được biểu hiện bằng sức mua, thu nhập và việc làm) thì nền kinh tế sẽ trì trệ.

    => phải thận trọng trong việc khi đồng thời sử dụng nhiều công cụ CSTT( về mức độ cần thiết về liều lượng cũng như cách thức vận hành).

    • Các giải pháp điều h ành chính sách tiền tệ:

     

    – Kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc:

    + Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD.

    + Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay.

    + Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của TCTD theo hướng chặt chẽ hơn nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại tệ.

    • Sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc (DTBB), thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại như:

    + Tăng tỷ lệ DTBB.

    + Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng

    + 6 tháng đầu năm 2008, NHNN đã 2 lần thay đổi các lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu theo hướng tăng lên.

    3)  giai đoạn cuối năm 2008 và trong năm 2009

    a.Giai đoạn:cuối 2008 và dầu năm 2009:

    – Quý 4 năm 2008, NHNN sử dụng chính sách nới lỏng tiền tệ và công cụ lãi suất vẫn là 1 công cụ quan trọng.

    – LSCB giảm xuống từ 14%/năm còn 8,5%/ năm.

    – Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên: 3,5%/năm; 5%/năm; 10%/năm, sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm.

    – Tín phiếu bắt buộc được thanh toán trước hạn; biên độ tỷ giá được nới lỏng từ +/- 2% lên +/- 3% giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10%/năm xuống còn 5%/năm và các loại lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ xuống…

    1. Giai đoạn trong năm 2009 :

    –  Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ đã phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế.

    – Lạm phát cao năm 2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnh cán cân thương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường đến tỷ giá.

    – NHNN đã thực thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường.

    – Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi.

    – NHNN mở rộng biên độ tỷ giá mua bán USD/VND từ +/-3% lên +/-5%.

    – Lãi suất cho vay ngoại tệ giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống 3%/năm kê từ ngày 01/6/2009 không quá lãi suất huy động giảm xuống mức không quá 1,5%/năm.

    – Bán nguồn ngoại tệ thu được phát hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN ; đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ.

    – Áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm  giữ ngoại tệ c ủa các DN và ngưòi dân như đẩy m ạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các thông tin về  tình hình ng ại hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nuớc giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ ( lãi suất cho vay giảm t ừ 6 – 6.5%/năm xuống không quá  1.5%/năm kể từ ngày 01/06/2009) .

    – Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngân sách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áp lực giảm giá VND.

    • Kết quả đạt đựoc năm 2009 :

    – Giải pháp hỗ trợ lãi suất ( CSTK ) có tác động tích cực hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tín dụng.

    – Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường.

    • Thách thức trong năm 2009 :

    – Lạm phát cao năm 2008

    – Sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài

    – Thâm hụt mạnh cán cân thương mại (12,783 tỷ USD).

    – Hỗ trợ lãi suất gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tín dụng tăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND.

    – Đối mặt với nhiều thách thức khó lường của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế năm 2008 – 2009.

    • Các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ:

     

    NHNN công bố tăng lãi suất cơ bản thêm 1%, từ 7% lên 8%.

    – Điều chỉnh tỷ giá và biên độ tỷ giá.

    – Dừng hỗ trợ lãi suất ngắn hạn vào 31/12/2009.

    III/Một số lưu ý khi sử dụng chính sách tiền tệ

    Chính sách tiền tệ cũng có những tác động trái chiếu của nó và để giảm bớt nhữg tác động ấy ta cần lưu ý một số diểm sau:

    Thận trọng khi đồng thời sử dung nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ: Việc sử dụng đồng thời nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ là việc làm bình thường, trên lý thuyết và cả thực tiễn, cũng không có nguyên tắc nào quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, thị trường là nơi rất nhạy cảm và nó chính là nơi phản ánh sức sống của nền kinh tế.Vì thế, cần phải hết sức thận trọng đối với mỗi quyết định liên quan đến sự vận động của tiền tệ, trước khi vận hành phải quan sát kỹ diễn biến, dự kiến được những phản ứng có thể của thị trường để cân nhắc về loại công cụ sử dụng, về mức độ cần thiết, về liều lượng cũng như cách thức vận hành mỗi công cụ và luôn tránh những giải pháp có thể dồn các ngân hàng vào những tình huống nguy hiểm.

    Lãi suất là công cụ linh hoạt, đáng được cân nhắc để sử dụng nhất. Mặc dù mỗi công cụ có những đặc tính, khả năng tác động đến thị trường theo những cách khác nhau, với mức độ cũng không giống nhau, song cho dù công cụ nào thì tín hiệu cuối cùng của nó sau khi phát ra cũng dẫn đến sự thay đổi về giá – lãi suất, dù đó là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay mua tín phiếu bắt buộc… Vì vậy, hãy sử dụng hữu hiệu công cụ lãi suất để điều tiết.

    Thay đổi quan điểm về chi phí phải trả cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Để đạt được mục tiêu đặt ra kể cả mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ đều có những cái giá phải trả – đó là những chi phí, những tốn kém cần thiết. Không thể đơn giản cho rằng dự trữ bắt buộc thì không phải trả lãi suất hay mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở thì nhất thiết phải có chênh lệch (lợi nhuận)… Việc điều chỉnh tăng lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thời gian gần đây cũng là sự thay đổi đáng kể về quan điểm. Còn đối với công cụ thị trường mở, khi thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường này cũng chính là lúc NHNN thực hiện việc sử dụng công cụ thị trường mở để đạt mục tiêu của chính sách tiền tệ chứ không phải để kinh doanh, vì thế, trong nhiều tình thế bắt buộc, NHNN phải sử dụng cơ chế giá để điều tiết bằng cách đặt giá cao lên để mua cho được – nếu muốn phát hành tiền vào lưu thông và ngược lại, định giá thấp xuống để bán cho được – nếu muốn hút tiền từ lưu thông về. Như vậy, mặc dù là người định giá nhưng có lúc NHNN cũng vẫn phải mua giá cao và bán giá thấp – đó là một loại chi phí buộc phải trả.

    Ngoại tệ mua vào cần phải được sử dụng có hiệu quả: ngoại tệ cần phải được tập trung vào tay Nhà nước để sử dụng hiệu quả cho những nhu cầu chính đáng của quốc gia và hạn chế tình trạng đôla hoá nền kinh tế, khi phát hành tiền đồng mua ngoại tệ phải luôn đi kèm với giải pháp hút tiền đồng về – sử dụng công cụ thị trường mở, công cụ lãi suất… Ngoài ra, vấn đề quản lý quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước cũng phải được quan tâm, phải tập trung về một mối đó là NHNN – đại diện cho Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Ngoại tệ là của quốc gia, không vì lợi ích riêng mà để phân tán rải rác gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ và cũng cản trở việc quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả.

    Nhận định đúng vai trò của thị trường tiền tệ để có hướng tác động thích hợp đến hoạt động của các thị trường. Mỗi thị trường đều có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế và có những đặc điểm riêng có của nó, tuy nhiên, thị trường nào có tỷ suất sinh lời cao hơn thì nó hút tiền mạnh hơn và do vậy, giá cả hàng hoá trên thị trường này sẽ tăng lên và ngược lại. Nền kinh tế muốn phát triển thì các thị trường phải được vận hành một cách đồng bộ, song đứng trên hết và có thể tạo sự gắn kết, liên thông giữa các thị trường chính là thị trường tiền tệ bởi vì tiền chính là dòng chảy  lưu thông giữa các thị trường, khi dòng chảy này bị chặn lại thì lập tức các thị trường trở nên đông cứng, không thể vận hành được. Nói như vậy không có nghĩa là sự trì trệ của nền kinh tế là lỗi tại ngân hàng, bởi ngân hàng cũng chỉ là một hiện thân về nhu cầu của xã hội, nó cũng chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế vốn đang tồn tại – tiền chỉ vận động khi có sự vận động của hàng hóa. Khi các thị trường khác suy sụp cũng sẽ là hiểm họa, là nguy cơ cho thị trường tiền tệ, cho hệ thống ngân hàng – hệ thống huyết mạch của nền kinh tế. Vì vậy, các giải pháp đưa ra phải đúng lúc, đúng thời điểm, phải tạo sự liên kết tốt hơn, hiệu quả hơn giữa thị trường tiền tệ với các loại thị trường. Mọi sự can thiệp không kịp thời hay vội vàng đều có thể làm ngưng trệ các hoạt động trên các thị trường và khi muốn nó hồi phục trở lại thực sự không phải việc dễ dàng.

    Tóm lại, việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết hoạt động ngân hàng và thông qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế là những hoạt động thường ngày, tuy nhiên để vận hành các công cụ này một cách hiệu quả thì mặc dù luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định song mặt khác lại không thể rập khuôn, máy móc mà rất cần sự sáng suốt, linh hoạt và nhạy bén.

     

     

    V.KẾT LUẬN

    N

    hư vậy, chính sách tiền tệ, đặc biệt là các công cụ của nó có vài trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Việc sử dụng các công cụ đó như thế nào sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế ở từng thời điểm cụ thể.

    Ở Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì việc áp dụng các công cụ của CSTT luôn đòi hỏi phải có sự phù hợp, hiệu quả. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới việc áp dụng các công cụ điều tiết trực tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và thúc đẩy trưởng kinh tế. Tuy vậy thời gian gần đây chúng đã bộc lộ rõ những hạn chế khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn phát triển mới. Trong khi đó các công cụ điều chỉnh gián tiếp mới được đưa vào sử dụng và chưa thực sự phát huy hết, hoặc chưa thể hiện rõ vai trò của nó do nhiều nguyên nhân gắn với thực lực của nền kinh tế.

    Từ đó đòi hỏi chúng ta phải có những định hướng và giải pháp đúng trong việc hoàn thiện các công cụ đó. Để có được điều này, bên cạnh sự định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cần phải có sự phát triển đồng bộ về năng lực NHNN, hệ thống NHTM… và nhiều sự phối hợp đồng bộ khác.

    Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu về các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam phải được coi là cả một quá trình lâu dài và cần được tiếp tục phát triển về sau.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị

    Tiểu luận Một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị

    Tiểu luận Một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH NHÀ NƯỚC: CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH LAI CHÂU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-b%E1%BB%A9c-x%C3%BAc-c%E1%BB%A7a-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%C3%B4-th%E1%BB%8B-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-kh%E1%BA%AFc-ph%E1%BB%A5c-s%E1%BB%B1-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%C3%B4-th%E1%BB%8B.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong bối cảnh toàn cầu nói chung môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng đặc biệt là ở các nước đang phát triển . Việt Nam cũng nằm trong tình trạng này trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế. Do vậy , bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước . Để có một sự phát triển bền vững cần phải có một chương trình hành động thống nhất và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường . Nếu không có một chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường , nền kinh tế sẽ bị thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời sự phát triển của đất nước cũng thiếu bền vững . Nhất là trong những năm gần đây do nền kinh tế phát triển nước ta đang đi lên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đã đẩy mạnh quá trình đô thị hoá dẫn đến tình trạng môi trường đô thị ngày càng ô nhiễm . Do vậy trong khuôn khổ bài tiểu luận triết học này em xin dựa vào cặp phạm trù triết học nguyên nhân – kết quả để đề cập đến một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị .

    Phần I     :     Lời nói đầu .

    Phần II   :    Nội dung .

    I, Vận dụng lý luận thực tiễn triết học :

    1. Cặp phạm trù Nguyên nhân và kết quả :
    1. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả II, Vận dụng vào thực tế :
      1. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến ô nhiễm môi trường đô thị .
    1. Hiện trạng hậu quả của ô nhiễm môi trường đô thị .
    • , Một số mâu thuẫn và cách giải quyết mâu thuẫn Phần III : Kết luận chung.

    1

    I,       VẬN DỤNG LÝ LUẬN TRIẾT HỌC

    ( cặp phạm trù nguyên nhân kết quả và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả )

    1.     Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả :

     

    Nguyên nhân là sự tác động giữa các mặt hiện tượng quá trình gây ra các

    biến đổi nhất định.

    Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt hiện tượng quá trình mà có.

    Ví dụ : Đô thị hoá là nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng hay chất thải công nghiệp độc hại là nguyên nhân còn ô nhiễm môi trường là kết quả .

    2.     Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả .

     

    Mối quan hệ nhân quả có tính khách quan, tính khách quan này quy định

    mối quan hệ nhân quả dựa trên lập trường duy vật .

    Do tính phổ biến của mối liên hệ nhân quả nên một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả, một kết quả có thể cũng do nhiều nguyên nhân. Ta có thể lấy ví dụ trên thực tế như : nguyên nhân là bầu ôzôn bị thủng ảnh hưởng đến sức khỏe và sự tồn tại của loài người . Nhưng kết quả của sự ô nhiễm môi trường cũng do nhiều nguyên nhân gây nên do con người , do công nghiệp , chất thải độc hại … và chính những nguyên nhân này lại gây nên nhiều kết quả khác…

    Nhiều nguyên nhân nhưng chỉ gây ra một kết quả do vậy muốn có được một kết quả tốt thì phải biết phát hiện nhiều nguyên nhân, phải biết hạn chế những tác động của nguyên nhân ngược chiều tạo điều kiện cho nguyên nhân cùng chiều; phải chú trọng đến nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong . Chẳng hạn như trong quá trình bảo vệ môi trường như hiện nay thì mọi người cùng có ý thức bảo vệ thì sẽ nhân lên thuận lợi để đạt được kết quả tốt hơn . Hoặc trong dự án bảo vệ môi trường của Chính phủ có thuận lợi về vốn đầu tư nước ngoài và

    2

    kỹ thuật xử lý chất thải … thì kết quả đạt hiệu quả cao . Nhưng thực tế có không ít nguyên nhân tác động ngược chiều làm hạn chế hoặc triệt tiêu kết quả theo dự định. Có thể lấy ví dụ như trong quá trình thực hiện dự án bảo vệ môi trường, thì có một số cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện lợi dụng tham nhũng của công…

    Khi xác định một mối liên hệ nhân quả cụ thể trong một thời gian nào đó nguyên nhân có trước kết quả vì chỉ có tác động lẫn nhau mới gây ra sự biến đổi. Nhưng khi xét cả quá trình mối liên hệ nhân quả thì ta thấy có thể chuyển đổi vị trí cho nhau một cách biện chứng .

    Ví dụ : bảo vệ môi trường tốt và mọi người có ý thức giữ gìn môi trường tốt thì sẽ đưa đến kết quả môi trường trong sạch và là nguyên nhân của sự phát triển kinh tế đất nước bền vững, sức khoẻ của mọi người được bảo vệ tốt hơn ; kinh tế đất nước có phát triển bền vững, mọi người khoẻ mạnh thì đưa đến kết quả đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mới được cải thiện .

    Nói chung , chúng luôn có mối liên hệ phổ biến với nhau tác động qua lại, qui định sự thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau của sự vật hiện tượng, quá trình.

    II .     Vận dụng vào thực tế :

    1. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến ô nhiễm môi trường đô thị :

    Một kết quả do nhiều nguyên nhân và ngược lại , ô nhiễm môi trường

    đô thị hiện nay do một số nguyên nhân cơ bản sau đây và từ một nguyên nhân ô nhiễm môi trường cũng sinh ra nhiều kết quả.

    Trong những năm gần đây do quá trình đô thị hoá và do tác động của cơ chế thị trường giá đất tăng cao nên nhiều ao hồ bị lấp dần để xây nhà và công trình thậm chí có nơi không còn ao và đất trống nữa dẫn đến tình trạng thiếu rãnh thoát nước, nước thải từ các hộ gia đình tràn chảy ra đường vì không có hệ thống thoát nước điều này đã gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng nhiều

    3

    chỗ bị ngập ngay cả lúc trời không mưa có thể nói là “thiếu nước sạch thừa nước bẩn”.

    Nhiều nhà máy trước đây nằm ở ngoại thành nay do đô thị hoá đã lọt vào giữa các đô thị với dân cư đông đúc gây ô nhiễm môi trường cho những người sống xung quanh .

    Hơn nữa việc mở rộng không gian đô thị sẽ dần dần chiếm dụng đất nông nghiệp, tài nguyên đất bị khai thác triệt để tỷ lệ cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm dẫn đến tình trạng thiếu ôxy không khí ngột ngạt, ô nhiễm. Bề mặt đất thấm nước, thoát nước bị suy giảm dẫn đến tình trạng ngập úng ở nội thành cũng như ngoại thành.Thực tế là tháng 8/2001 cả thành phố Hà Nội bị ngập trong nước mưa vì nước không thoát được dẫn đến tình trạng ngập úng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong thành phố .

    Không thể không kể đến một nguyên nhân đó là sự bùng nổ về phương tiện giao thông cơ giới trong đô thị vượt quá khả năng chịu tải của hệ thống giao thông gây ra tình trạng tắc nghẽn giao thông, thải ra nhiều khí bụi độc hại (NO,CO),tiếng ồn gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn trầm trọng trong đô thị .

    Đô thị hoá làm tăng dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị . Một số dân cư không tìm được chỗ ở và việc làm ổn định đã lấn chiếm đất công tạo thành các xóm liều xóm bụi , nhà ổ chuột … với điều kiện môi trường rất kém mất vệ sinh …

    Do quá trình xây dựng phát triển kinh tế hiện nay các nhà máy công nghiệp , các ngành nghề sản xuất phụ phát triển nhanh ngày càng nhiều do đó mức độ ô nhiễm ở những nơi có nhà máysản xuất công nghiệp, sản xuất ngành nghề phụ là rất nghiêm trọng .

    Do ý thức của không ít cá nhân tổ chức về bảo vệ môi trường còn rất kém , đây chính là tồn tại khó khắc phục bởi đó là do ý thức kém

    Đó là một số nguyên nhân và hậu quả của việc ô nhiễm môi trường đô thị tạo nên một thách thức rất lớn đối với môi trường ở nước ta . Nếu không có giải

    4

    pháp kịp thời và tương xứng có thể dẫn đến tình trạng môi trường đô thị ngày càng ô nhiễm, không bền vững và khó khắc phục .

    2,        Thực trạng hậu quả của việc ô nhiễm môi trường đô thị :

    a,         Hiện trạng môi trường nước :

    Tỷ lệ dân cư được cấp nước máy còn rất thấp chất lượng nước còn kém. Cấp nước sạch cho đô thị là một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo sinh môi trường đô thị ,”tỷ lệ dân đô thị được cấp nước sạch tính chung là 53% . Nguồn nước cung cấp cho đô thị hiện nay là khoảng 70% là lấy từ nguồn nước mặt, 50% lấy từ nguồn nước ngầm”(1). Ở một số thành phố do khai thác nguồn nước ngầm quá mức đã gây sụt lún đất ở đô thị và nguồn nước ngầm chớm bị ô nhiễm chất hữu cơ. Khai thác nước ngầm quá mức ở một số vùng ven biển làm nước bị mặn hoá .

    Hiện nay , công nghệ xử lý cấp nước tại nhiều nhà máy còn nhiều lạc hậu chất lượng nước cấp không đảm bảo vệ sinh .

    * Thoát nước và xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu tối thiểu.

    Hệ thống thoát nước tại các đô thị hiện nay đều là hệ thống chung cho cả thoát

    nước mưa , nước thải công nghiệp . Hệ thống thoát nước này có 3 nhược điểm

    chính là chưa có trạm xử lý nước thải tập trung tiết diện các đường cống nhỏ và

    bị bùn cạn lắng đọng làm khả năng thoát nước kém, hệ thống cống rãnh thưa,

    nhiều nhiều đường phố không có cống thoát nước . Hệ thống cống rãnh thoát

    nước yếu kém cùng với hồ ao bị san lấp đã gây ra tình trạng úng ngập trầm trọng

    trong mùa mưa ở rất nhiều nơi, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và sản xuất

    kinh tế . Lấy ví dụ như trận mưa tháng 8 -2001 đã làm cả thủ đô tràn ngập trong

    nước mưa, cán bộ công nhân viên không thể đi làm được và một số nhà máy

    cũng bị đóng cửa vì cũng bị ngập dẫn đến sản xuất bị đình đốn ảnh hưởng đến

    phát triển kinh tế của đất nước ta , hơn thế nữa nó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ

    của người dân.

    • Cục môi trường. Báo cáo quan trắc môi trường 12 – 2000

     

    5

    Tuy nhiên hiện nay ở Hà Nội đã xây dựng trạm bơm thoát nước Yên Sở bắt đầu nạo vét sông, thoát nước nhằm giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập trong mùa mưa nhưng hệ thống thoát nước ở nội đô vẫn chưa được nâng cấp đáng kể nên tình trạng ngập úng trong thời gian gần đây vẫn xảy ra nghiêm trọng

    Nước thải bệnh viện : chứa rất nhiều mầm mống gây bệnh truyền nhiễm và các hoá chất độc hại. Mà các nguồn nước thải này chỉ được xử lý sơ bộ lại thải trực tiếp vào nguồn nước mặt đó chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường nước mặt ở đô thị còn các nguyên nhân kia chỉ là nguyên nhân bên trong . Và cho dù nó là nhiều nguyên nhân hay một nguyên nhân thì nó cũng gây nên nhiều kết quả bởi nó có mối liên hệ biện chứng với nhau .

    * Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước ở đô thị

    Tình hình chung ở các đô thị là môi trường nước mặt đều là nơi tiếp nhận các nguồn nước chưa được xử lý nên đã bị ô nhiễm có nơi bị ô nhiễm nặng . “Nồng độ chất ô nhiễm trong nước mặt thường cao như chất rắn lửng lơ nhu cầu ôxy sinh hoá , nhu cầu oxy hoá học , nitơrit , nitơrat .. gấp từ hai đến 5 lần thậm chí từ 10 đến 15 lần tiêu chuẩn cho phép (TCCP) đối với nguồn nước mặt . Lượng hóa học côli vượt TCCP hàng trăm lần . Ngoài chất ô nhiễm hữu cơ trên môi truờng nước mặt đô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng và hoá chất độc hại nặng như thuỷ ngân asen ,clo, phenon…” dẫn đến tình trạng sức khoẻ ngày càng suy thoái số bệnh nhân tại khoa chống độc ở các bệnh viện ngày càng tăng nhanh nhà nước đã phải đầu tư rất nhiều tiền vào chữa trị cho người dân và còn dẫn đến nhiều ảnh hưởng khác.

    b,         Hiện trạng môi trường không khí :

    * Ô nhiễm bụi rất trầm trọng

    • hầu hết các đô thị đều bị ô nhiễm rất trầm trọng tới mức báo động “nồng độ bụi trung bình ở các thành phố là 0,4 đến 0,5 mg/m, nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy , xí nghiệp hay gần đường giao thông lớn đều vượt TCCP từ 1,5 đến 3 lần nơi bị ô nhiễm lớn nhất trong các địa điểm là khu

    6

    dân cư gần các nhà máy xi măng Hải Phòng…”(3). Ô nhiễm bụi chủ yếu do giao thông vận tải xây dựng sửa chữa nhà cửa và một phần do sản xuất công nghiệp gây ra .

    .

    * Ô nhiễm các khí SO2 , CO , NO2 .

    “Nồng độ khí SO2 , CO , NO2 ở một số khu trung cư gần khu công nghiệp thì vượt quá mức độ cho phép nhiều lần, ở một số nút giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí NO2 vượt quá TCCP ” .(4)

    * Ô nhiễm tiếng ồn đô thị :

    Theo kết quả quan trắc cho thấy mức độ ồn ào ngoài nhà vào buổi tối thì vượt quá TCCP.

    Tỷ lệ cây xanh thấp cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường đô thị tỷ lệ cây xanh ở các khu công nghiệp , khu đô thị còn quá thấp cho dù trong thời gian gần đây ở khắp các nước ta hầu hết đã quan tâm trồng cây xanh hơn . ” ở một số khu công nghiệp khi thẩm duyệt xây dựng thì không thực hiện yêu cầu của Khoa học công nghệ môi trường là phải dành 15% diện tích để trồng cây xanh “(5)

    2,         Giải quyết mâu thuẫn & Biện pháp khắc phục :

    Qua đây có lẽ chúng ta cũng thấy được những nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường và tầm quan trọng của môi trường với đời sống con người và đối với phát triển kinh tế xã hội đồng thời cũng thấy được mức độ trầm trọng của sự ô nhiễm môi trường ảnh hưởng như thế nào . Vậy em xin được đưa ra một số đề xuất về biện pháp giải quyết và khắc phục ô nhiễm môi trường đô thị đó là :

    • Cục môi trường. Báo cáo kết quả quan trắc môi trường 12 – 2000
    • Tạp chí bảo vệ môi trường số 6 – 2001
    • Trích báo cáo dự án điều tra khảo sát định hướng bảo vệ môi trường năm 2000

     

    7

    • Cần bổ xung chính sách thuế phí, quỹ môi trường chính sách về áp dụng công nghệ sạch hơn , công nghệ ít chất thải , công nghệ xử lý chất thải .
    • Tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý kết hợp các công cụ quản lý có tính mệnh lệnh . Đảm bảo công bằng các lợi ích về môi trường .
    • Tăng cường các biện pháp cưỡng chế tài chính đối với hành vi không tuân thủ quy định bảo vệ môi trường .
    • Cần đẩy mạnh phong trào văn hoá công tác bảo vệ môi trường đó là khôi phục củng cố phát huy truyền thống địa phương trong giữ gìn vệ sinh phường khu phố như phong trào trồng cây xanh sạch đẹp
    • Vận động dân cư có ý thức bảo vệ môi trường , mỗi người dân tự mình phải có ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp …

    8

    KẾT LUẬN CHUNG

    Qua phân tích trên đây chúng ta có thể thấy rõ thực trạng ô nhiễm môi trường cũng như mức độ ô nhiễm môi trường đô thị ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước . Do vậy Chính Phủ cần tìm ra nhiều biện pháp ngăn chặn sự suy thoái môi trường nói chung và môi trường đô thị nói riêng. Vậy nhiệm vụ của Chính Phủ là phải bảo vệ môi trường song Chính Phủ không thể tự mình làm được tất cả. Do vậy để bảo vệ môi trường cần có sự tham gia của mọi công dân. Hợp sức cùng nhau không còn là điều lựa chọn mà là điều cần thiết . Bởi vì tất cả chúng ta cùng hít thở một bầu không khí , uống một dòng nước , lao động nghỉ ngơi và giải trí trong cùng một môi trường . Do đó nhà nước cần tiếp tục có chính sách khuyến khích cộng đồng dân cư thực hiện hoá chủ trương của Đảng “bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân ” làm tốt nhiệm vụ hoá bảo vệ môi trường trước mắt cần xây dựng chương trình bảo vệ môi trường để phát triển bền vững từ cộng đồng là cách tiếp cận phù hợp nhất cho phát triển bền vững môi trường đất nước Thế kỷ 21 .

    Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Văn Duyên cùng các thầy cô giáo và bạn bè đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tiểu luận này .

    9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH NHÀ NƯỚC: CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH LAI CHÂU

    TIỂU LUẬN QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH NHÀ NƯỚC: CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH LAI CHÂU

    TIỂU LUẬN QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH NHÀ NƯỚC: CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH LAI CHÂU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-H%C3%80NH-CH%C3%81NH-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-C%C3%94NG-T%C3%81C-C%E1%BA%A2I-C%C3%81CH-TH%E1%BB%A6-T%E1%BB%A4C-H%C3%80NH-CH%C3%8DNH-%E1%BB%9E-T%E1%BB%88NH-LAI-CH%C3%82U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH NHÀ NƯỚC: CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở TỈNH LAI CHÂU

    I. LỜI MỞ ĐẦU

    Trong cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách TTHC là nhiệm vụ quan trọng và cơ bản nhất. Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, TTHC hiện vẫn còn rất rườm rà, phức tạp; việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ còn thiếu khoa học; thu lệ phí, phí ở nhiều nơi chưa đúng quy định; mặt khác, nhiều cán bộ, công chức ở bộ phận tiếp nhận và giải quyết TTHC còn có thái độ thiếu tôn trọng công dân, tổ chức đến liên hệ công việc, còn tồn tại tình trạng cửa quyền, sách nhiễu…Tình hình giải quyết công việc như vậy  chẳng những làm tốn thời gian, tiền bạc, công sức của nhân dân, tổ chức, nhà nước mà còn là môi trường phát sinh tệ quan liêu, tham nhũng…làm mất lòng tin đối với nhân dân. Trong điều kiện thế giới đang bước vào giai đoạn “toàn cầu hóa” sâu sắc, vấn đề cải cách nền hành chính nhà nước(trong đó có cải cách thủ tục hành chính) là nhiệm vụ cần thiết . Nhận thức rõ yêu cầu đó, Đảng, chính phủ đã đề ra chủ trương và chỉ đạo các ngành, các địa  phương tiến hành cải cách toàn diện nền hành chính theo hướng đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả.

    Để làm cơ sở lí luận và thực tiễn cho công tác cải cách thủ tục hành chính, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia, những người tâm huyết. Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy chủ yếu ở tầng vĩ mô, còn chung chung, rất ít các công trình nghiên cứu về cải cách TTHC ở những địa phương cụ thể. Nhận thấy đây vẫn là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết, em chọn đề tài: “Công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Lai Châu” làm bài luận  hết môn môn “Quản lí hành chính nhà nước”, đồng thời qua bài viết em cũng mong muốn sẽ đóng góp những hiểu biết của mình cho công tác cải cách TTHC ở nước ta hiện nay.

    Trên cở sở phương pháp phân tích duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin về cải cách nền hành chính và những số liệu cụ thể của tỉnh Lai Châu về cải cách TTHC trong thời gian qua, bài tiểu luận của em tập trung làm sáng tỏ nhũng vấn đề sau:

    -Cở sở lí luận của cải cách TTHC.

    -Thực tế vấn đề  cải cách TTHC ở Lai Châu.

    -Nhiệm vụ và giải pháp đặt ra.

    Bài tiểu luận được chia thành 3 chương chính:

    -Chương I:Cơ sở lí luận của cải cách TTHC.

    -Chương II: Thực tế công tác cải cách TTHC ở tỉnh Lai Châu trong những năm gần đây.

    -Chương III: Giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC ở Lai Châu trong thời gian tới.

    Trong phạm vi kiến thức hạn hẹp, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của các thầy cô để những bài viết sau của em được hoàn chỉnh hơn.

     

    II. PHẦN NỘI DUNG.

    1.Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CẢI CÁCH TTHC.

    1.1: Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền hành chính nhà nước.

    Các nhà kinh điển theo học thuyết Mác-Lênin đã có những tư tưởng bước đầu về cải cách nền hành chính nhà nước, đặc biệt những tư tưởng của Lênin.

    Trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xô Viết, Lênin rất chú trọng đối với công tác cải cách nền hành chính. Người coi đây là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế-xã hội.

    Trong cải cách nền hành chính, Lênin nhấn mạnh đến việc sắp xếp, tinh giảm bộ máy hành chính và thực hành tiếp kiệm. Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ cấp thiết, chủ yếu nhất lúc này và trong những năm sắp tới là không ngừng tinh giảm bộ máy Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó…xóa bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các khoản chi tiêu phi sản xuất”.

    Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lí mới, Lênin xúc tiến việc cải cách chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt. Lê nin coi trọng việc cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt những khâu xét duyệt giấy tờ không cần thiết.Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính toán chính xác để thi hành có hiệu quả.

    Để cải cách nền hành chính nhà nước, Lênin còn nhấn mạnh đến những vấn đề then chốt như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ; đấu tranh chống lại các hành động quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu.

    Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng đầu tiên và sáng tạo những quan điểm trên của Lênin trong việc xây dựng một nền hành chính quốc gia thực sự hiện đại và hoạt động có hiệu quả. Ngay từ buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng một nền hành chính phù hợp với yêu cầu mới, mà việc đầu tiên là ban hành các văn bản quy định quy chế hoạt động của các cấp các ngành.

    Người yêu cầu “phải xây dựng một nền hành chính của dân, do dân và vì dân”. Giảm thiểu những sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc hành chính. Thủ tục hành chính phải phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc theo đúng quy định, song cũng cần phù hợp với trình độ của nhân dân.

    Người lên án mọi hành vi cửa quyền, lộng quyền của cán bộ khi giải quyết công việc của nhân dân. Người yêu cầu “cán bộ, đảng viên phải là những công bộc trung thành và tận tình của nhân dân”.

    Những quan điểm của Lê nin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta kế thừa và phát triển trong điều kiện hiện nay. Đại hội lần thứ VII của Đảng(tháng 6-1991) đã đánh dấu bước đổi mới, phát triển tư duy về cải cách nền hành chính nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Đảng đã đặt trọng tâm vào cải cách hệ thống hành chính nhà nước trong tổng thể cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII(tháng 1-1995) đã ra nghị quyết chuyên đề về cải cách một bước nền hành chính nhà nước với một hệ thống chủ trương, nội dung, phương hướng cải cách tương đối đồng bộ, cơ bản, chuyên sâu. Các đại hội Đảng lần thứ VIII(tháng 6-1996), IX(tháng 4-2000), X(tháng 4-2006) và các hội nghị Trung ương của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong đó trọng tâm là thực hiện cải cách TTHC. Đây là thành tựu nổi bật trong đổi mới, phát triển tư duy lí luận của Đảng về xây dựng nền hành chính nhà nước nói riêng, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung; là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạch định đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay.

    1.2: Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTHC.

    1.2.1: Khái niệm TTHC.

    Hiện nay, khái niệm TTHC vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi. Dưới đây là khái niệm được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam chấp nhận nhất: TTHC là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc của cá nhân, tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công việc của Nhà nước, các kiến nghị yêu cầu chính đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, đảm bảo công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân.

    1.2.2: Các đặc điểm của TTHC.

    TTHC có những đặc điểm chủ yếu sau:

    – TTHC được luật hành chính quy định rất chặt chẽ, các hoạt động không được quy phạm TTHC quy định thì không phải là TTHC.

    – Trong TTHC thì nguyên tắc chủ thể có quyền xem xét và ra quyết định theo trình tự mà luật TTHC quy định là cơ quan quản lí hành chính nhà nước(cơ quan quản lí hành chính nhà nước hiểu theo nghĩa rộng).

    – Các quy phạm TTHC không chỉ quy định trình tự thực hiện theo quy phạm vật chất của Luật hành chính mà còn quy định trình tự nhằm thực hiện quy phạm vật chất của các ngành luật khác.

    – TTHC rất đa dạng, phức tạp.Tính đa dạng, phức tạp của nó được quy định bởi hoạt động quản lí hành chính nhà nước là hoạt động diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành chính. Hơn nữa nền hành chính nhà nước ta hiện đang chuyển từ nền hành chính kế hoạch hóa tập trung sang nền hành chính phục vụ; đồng thời với xu hướng hợp tác quốc tế đối tượng quản lí không chỉ là công dân, tổ chức trong nước mà còn có các yếu tố nước ngoài.

    1.2.3: Ý nghĩa của TTHC.

    TTHC có ý nghĩa quan trọng trong quản lí nhà nước và xã hội.

    Trước hết, nếu không thực hiện các TTHC cần thiết thì một quyết định hành chính sẽ không được đưa vào thực hiện hoặc bị hạn chế tác dụng.

    TTHC đảm bảo cho việc thi hành quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lí cũng như các hệ quả do thực hiện các quyết định hành chính tạo ra.

    TTHC khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lí sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lí, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lí Nhà nước.

    TTHC là một bộ phận của pháp luật hành chính, vì vậy việc nắm vững và thực hiện các quy định về TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    1.3: Về nội dung cải cách TTHC.

    1.3.1: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010.

    Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tướng chính phủ đã xác định: Mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 là: “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Công cuộc cải cách phải phấn đấu đến năm 2010 nền hành chính nhà nước đảm bảo và phù hợp với yêu cầu quản lí xã hội và quản lí nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Nội dung cơ bản của chương trình là:

    • Cải cách thể chế.
    • Cải cách tổ chức bộ máy.
    • Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
    • Cải cách tài chính công.

    Về cải cách thể chế, một trong những nội dung được nhấn mạnh là tiếp tục cải cách TTHC theo hướng:

    • Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo.
    • Mở rộng cải cách TTHC trên tất cả các lĩnh vực.
    • Ban hành cơ chế kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết TTHC.
    • Mở rộng thực hành cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC.
    • Quy định rõ trách nhiệm của cá nhân khi thi hành công vụ.

    1.3.2: Về nội dung thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”.

    1. Khái niệm “một cửa”, “một cửa liên thông”.

    Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được ban hành kèm theo quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 04-09-2003 và quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22-06-2007 của Thủ tướng chính phủ. Đây được coi là mũi đột phá quan trọng trong công tác cải cách TTHC.

    “Một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối duy nhất là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cơ quan hành chính nhà nước.

    Còn cơ chế “một cửa liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cơ quan hành chính nhà nước. Cơ chế này đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lí hồ sơ, không để cho tổ chức, công dân phải cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác.

    b.Về lợi ích của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”.

    – Giảm phiền hà cho tổ chức, công dân.

    – Chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu, nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước.

    – Tinh giảm, sắp xếp lại bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả và khoa học.

    – TTHC đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.

    – Công khai các TTHC, các loại phí, lệ phí và thời gian giải quyết đối với từng loại TTHC.

    – Bảo đảm giải quyết công việc nhanh, chính xác.

    1. Về phạm vi và các lĩnh vực áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”.

    Ở cấp tỉnh, 4 sở bắt buộc thực hiện cơ chế này là: Sở Kế hoạch-đầu tư; Sở Lao động-thương binh và xã hội; Sở Tài nguyên và môi trường; Sở Xây dựng. Cụ thể áp dụng trong các lĩnh vực: Phê duyệt các dự án đầu tư trong và ngoài nước; xét duyệt cấp vốn xây dựng cơ bản; cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép xây dựng; giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất; giải quyết chính sách xã hội…

    Ở cấp huyện áp dụng trong các lĩnh vực: Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh cá thể; giấy phép xây dựng; giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất; đăng ký hộ khẩu; công chứng; giải quyết chính sách xã hội.

    Ở cấp xã áp dụng trong các lĩnh vực: Cấp giấy phép xây dựng nhà ở; đất đai; hộ tịch; chứng thực.

    2. Chương II: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở LAI CHÂU TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.

    2.1: Khái quát tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh Lai Châu.

    Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, từ ngày 1-1-2004 tỉnh Lai Châu (cũ) tách thành hai tỉnh là tỉnh Lai Châu(mới) và tỉnh Điện Biên. Tỉnh Lai Châu hiện có diện tích tự nhiên khoảng 9059,4 km², dân số trên 137,1 nghìn người, mật độ dân số trung bình 41 người/km². Tỉnh Lai Châu có 7 đơn vị hành chính cấp huyện và 98 đơn vị hành chính cấp xã. Lai Châu nằm cách thủ đô Hà Nội 450km về phía Tây Bắc và là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế-quốc phòng-an ninh.

    Về thành phần dân tộc: Lai Châu hiện có khoảng 20 dân tộc anh em cùng chung sống; trong đó đông nhất là dân tộc Thái(chiếm 35.05%), tiếp đến là dân tộc Kinh(chiếm 16.86%), còn lại là các dân tộc ít  người khác.

    Về cơ sở hạ tầng: Tỉnh Lai Châu gắn với tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh bằng các tuyến quốc lộ 4D, 70, 32 và đường thủy sông Đà. Tỉnh Lai Châu lại có đường biên giới dài 273 km giáp Trung Quốc với cửa khẩu quốc gia Mà Thù Làng.

    Tính đến cuối năm 2009, 80/98 xã và 74% số hộ được sử dụng điện; 50% số dân đô thị trên địa bàn tỉnh được sử dụng nước sạch; 74% số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

    Toàn tỉnh hiện có 11 bưu cục; 68/98 xã có điểm bưu điện văn hóa xã; mật độ điện thoại là 16.2 máy/100 dân; mật độ thuê bao internet là 1.21 thuê bao/100 dân.

    Về hệ thống doanh nghiệp: Tính đến 30-03-2009 toàn tỉnh có 454 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng kí kinh doanh là 3.598.266 triệu đồng và 244 chi nhánh, văn phòng đại diện.

    Về cơ cấu kinh tế của tỉnh: Năm 2009 cơ cấu kinh tế phân theo ngành cụ thể như sau: Thương mại-dịch vụ chiếm 39.1%; công nghiệp-xây dựng chiếm 20.82%; Nông-lâm nghiệp chiếm 40.05%.

    Tốc độ tăng trưởng GDP là 7.24%. Kim ngạch xuất khẩu 19 triệu USD.

    Về giáo dục-đào tạo: Năm học 2009-2010 toàn tỉnh có 392 trường với 5759 lớp, tổng số học sinh là 104.290 học sinh.

    Về y tế: 42/98 xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; tỉ lệ bác sĩ là 3.55 người/100 dân.

    Với những kết quả bước đầu đạt được Lai Châu trong tương lai sẽ trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển ổn định và các đáp ứng tốt các nhu cầu xã hội của nhân dân góp phần ổn định tình hình chính trị-xã hội của đất nước.

     

     

    2.2: Cải cách TTHC sẽ góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

    2.2.1: Cơ sở pháp lý để cải cách TTHC của tỉnh.

    – Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 của chính phủ về “cải cách một bước TTHC”.

    – Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà  nước giai đoạn 2001-2010 của chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 136/2001/QĐ-TTg, ngày 17-9-2001 của Thủ tướng chính phủ.

    – Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành kèm theo quyết định số 181/2003/QĐ-TTg, ngày 04-09-2003 của Thủ tướng chính phủ.

    – Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22-06-2007 của Thủ tướng chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

    – Kế hoạch số 136/KH-UB ngày 28-10-2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu về tổ chức thực hiện cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa” trên địa bàn tỉnh.

    – Nghị quyết chương trình hành động số 18-NQ/TU ngày 30-11-2007 của ban chấp hành đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí của bộ máy nhà nước.

    – Quyết định số 904/QĐ-UB ngày 01-07-2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thành lập ban chỉ đạo áp dụng hệ thống quản lí chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001-2000 vào hoạt động các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Lai Châu.

    2.2.2: Công tác cải cách TTHC trong những năm gần đây ở Lai Châu.

    1. Về tình hình rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và đơn giản hóa TTHC trên địa bàn tỉnh.

    Công tác rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản chứa đựng nội dung quy phạm pháp luật được các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm thực hiện. Kết quả đạt được rất đáng khích lệ, cụ thể:

    Năm 2008, tổng số lượt văn bản do các cấp, các ngành ban hành được rà soát, kiểm tra là 17.688 lượt văn bản: Trong đó có 15 văn bản do ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; 35 văn bản do ủy ban nhân dan cấp huyện ban hành. Qua rà soát, tỉnh đã sửa đổi bổ sung chính sách thu hút cán bộ và phụ cấp cho cán bộ được cử đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ; chính sách quy định chế độ phụ cấp hàng tháng đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, bí thư các chi bộ, trưởng thôn, bản, tổ dân phố, công an viên, nhân viên y tế thôn bản và đề nghị cấp có thẩm quyến sửa đổi, bãi bỏ, bổ sung chính sách xuất khẩu và một số văn bản khác.

    Theo báo cáo của tổ đề án 30 của Tỉnh, tính đến hết năm 2009 toàn tỉnh thống kê được 1812 TTHC(trong đó cấp tỉnh là 943 TTHC, cấp huyện là 186 TTHC và cấp xã là 109 TTHC, ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh là 574 TTHC), 650 mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính(trong đó cấp tỉnh là 501 mẫu, cấp huyện là 101 mẫu và cấp xã là 48 mẫu). Đây là những kết quả to lớn trên lộ trình giảm thiểu những TTHC rườm rà, gây khó khăn cho người dân.

    Ngày 21-08-2009, UBND Tỉnh đã tổ chức lễ công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh bộ TTHC của các cơ quan, đơn vị trong tỉnh tạo điều kiện cho người dân và tổ chức tiếp cận dễ dàng các thông tin.

    Ngày 29-09-2009, UBND Tỉnh đã công bố bổ sung những TTHC còn thiếu thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã trên địa bàn với tổng số 2371 TTHC(trong đó cấp tỉnh là 1123 TTHC, cấp huyện là 191 TTHC, cấp xã là 114 TTHC, ngành dọc trên địa bàn tỉnh là 943 TTHC); số lượng được nhập vào máy xén là 1374 TTHC. UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các bộ phận chuyên môn rà soát TTHC, tổ chức trao đổi nghiệp vụ, hướng dẫn chi tiết việc rà soát TTHC, mẫu đơn, mẫu tờ khai và yêu cầu điều kiện giữa các sở, ban, ngành với tổ chuyên trách cải cách TTHC của chính phủ nhằm đơn giản hóa tối thiểu 30% các quy định về TTHC; tiến hành kiểm tra việc tổ chức thực hiện rà soát TTHC.

    Báo cáo của tổ đề án 30 trình chính phủ, toàn Tỉnh đã rà soát được 1351 TTHC, đề nghị sửa đổi bổ sung 667 TTHC, kiến nghị bãi bỏ thay thế 68 TTHC không còn phù hợp.

    1. Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC của Tỉnh.

    b1. Về chức năng, nhiệm vụ và quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”,”một cửa liên thông”.

    – Tiếp công dân, tổ chức tại phòng làm việc của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả khi họ có yêu cầu giải quyết công việc trong phạm vi quyền hạn.

    – Hướng dẫn tổ chức, công dân trong việc hoàn tất các TTHC, giấy tờ, biểu mẫu.

    – Hồ sơ hoàn chỉnh thì tiếp nhận, viết phiếu nhận hồ sơ hẹn ngày trả và vào sổ theo dõi.

    Hồ sơ chưa hoàn chỉnh thì hướng dẫn để tổ chức, công dân bổ sung hoàn chỉnh.

    – Xử lí hồ sơ theo phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình.

    Trường hợp hồ sơ liên quan đến trách nhiệm của bộ phận, cán bộ, công chức khác thì cán bộ phụ trách hồ sơ chủ động phối hợp với bộ phận, cán bộ, công chức liên quan đó cùng giải quyết hồ sơ.

    – Trình hồ sơ lên Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch giải quyết, ký, đóng dấu.

    – Nhận lại kết quả đã giải quyết,trả cho tổ chức, công dân; thu phí, lệ phí theo quy định.

    b2. Tình hình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”.

    Việc triển khai cơ chế “một cửa”,”một cửa liên thông” được coi là mũi đột phá chính trong công tác cải cách TTHC của Tỉnh. Vì vậy, UBND Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan hành chính nhà nước nhanh chóng áp dụng cơ chế “một cửa”,”một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC. Kết quả cụ thể đạt được: Năm 2008 toàn Tỉnh có 69 đơn vị thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. Trong đó, sở, ban, ngành có 9 đơn vị; cấp huyện 5/7 đơn vị; cấp xã 55/98 đon vị. Năm 2009, có 11/21 sở, ban, ngành cấp tỉnh; 7/7 đơn vị cấp huyện; 61/98 đơn vị cấp xã áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC.

    UBND Tỉnh phối hợp với Sở Nội vụ đang tiến hành hướng dẫn Sở Y tế; Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn hoàn thiện đề án cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”.

    Thực tiễn triển khai áp dụng cơ chế “một cửa’, “một cửa liên thông” cho thấy chất lượng xử lý TTHC đã được nâng lên, số lượng giao dịch tăng, thời gian giải quyết công việc được rút ngắn, các vấn đề giao dịch giữa bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân được tiến hành thuận lợi, đúng quy định. Cụ thể trong một số lĩnh vực theo thống kê của Sở Nội vụ(năm 2009): Trong cấp phép xây dựng: Tiếp nhận 315 hồ sơ, trả đúng và trước hạn 312 hồ sơ, chuyển kì sau 03 hồ sơ; trong quản lí đất đai: Tiếp nhận 2726 hồ sơ, trả đúng hạn 2654 hồ sơ, quá hạn 72 hồ sơ; trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh: Tiếp nhận 649 hồ sơ, trả trước hạn 283 hồ sơ, đúng hạn 359 hồ sơ, chuyển kỳ sau 03 hồ sơ và trả hoàn thiện 04 hồ sơ. Việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã được dư luận và nhân dân ủng hộ, đặc biệt trong quá trình thực hiện chưa có đơn, thư khiếu nại, tố cáo hành vi sai trái, gây khó khăn, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức khi thực hiện công vụ với tổ chức, cá nhân đến giao dịch.

    Nhằm tăng cường ưu điểm của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”; thực hiện theo chỉ thị số 32/2006/CT-TTg ngày 07-09-2006 của Thủ tướng chính phủ các sở, ban, ngành các cấp trong Tỉnh đã thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, độc lập, khách quan trong nội bộ cơ quan, đơn vị nhằm phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm, sách nhiễu, phiền hà về TTHC của cán bộ, công chức. Các đơn vị, cơ quan chưa áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC cũng thường xuyên chấn chỉnh cán bộ, công chức nâng cao tinh thần trách nhiêm, ý thức phục vụ, niêm yết công khai các quy định của TTHC theo tinh thần chỉ thị số 32/2006/CT-TTg.

    Sở Nội vụ cũng đã tiến hành phối hợp với 5 huyện, thị tổ chức tập huấn cho 850 cán bộ làm công tác cải cách hành chính, cán bộ làm tại bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông” ở cấp xã nhằm nâng cao năng lực và chất lượng giải quyết TTHC của cán bộ, công chức.

    Để nâng cao hơn nữa chất lượng cải cách TTHC, UBND Tỉnh cũng triển khai hợp tác với nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới.. Đó là các chương trình: “Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam” do tổ chức Actionaid tài trợ được thực hiện thí điểm ở huyện Tam Đường; triển khai thực hiện tài trợ cải cách hành chính nhà nước của chính phủ Đan Mạch cho tỉnh trong khuôn khổ hiệp định tài trợ của Bộ Khoa học và công nghệ Việt Nam với Bộ Ngoại giao Đan Mạch về chương trình quản trị nhà nước và cải cách hành chính giai đoạn 2007-2011.

    2.3: Những hạn chế, tồn tại trong công tác cải cách TTHC của Tỉnh.

    Tuy vậy, công tác cải cách TTHC trong tỉnh vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn:

    – TTHC vẫn chưa giảm nhiều, hiệu quả hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chưa cao. Nhiều hồ sơ giải quyết chưa đúng hẹn nhất là trong lĩnh vực đất đai, cấp phép xây dựng, nhà ở.

    – Sự quyết tâm trong chỉ đạo, điều hành, triển khai công tác cải cách TTHC ở một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết liệt, nhiều khi còn mang tính hình thức nên hiệu quả thấp.

    – Đội ngũ cán bộ, công chức của Tỉnh đa số mới được tuyển dụng nên kinh nghiệm công tác còn hạn chế do vậy ảnh hưởng đến công tác cải cách TTHC và giải quyết hồ sơ cho tổ chức, cá nhân.

    – Việc triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” còn thiếu đồng bộ, để giải quyết những hồ sơ có tính chất liên ngành như đất đai, xây dựng thì người dân vẫn còn phải liên hệ với nhiều cơ quan, nhiều cấp (ít nhất là hai cấp xã-huyện, huyện-tỉnh). Như vậy, vẫn còn tình trạng cắt khúc trong giải quyết TTHC, chưa tạo thành một quy trình thống nhất.

    – Công tác tuyên truyền về cải cách TTHC tiến hành chưa mạnh và thiếu chiều sâu. Vì vậy, chưa tạo được bước đột phá trong nhận thức về trách nhiệm thực hiện công vụ cũng như tầm quan trọng của cải cách TTHC trong cán bộ, đảng viên. Chưa tạo được hiểu biết cho một bộ phận nhân dân nhất là đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa về TTHC.

    – Do mới thực hiện tách tỉnh, cơ sở vật chất đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, trang thiết bị phục vụ công vụ còn thiếu thốn nên phần nào gây khó khăn cho công tác chuyên môn (nhiều nơi ở cấp xã phòng làm việc của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chi rộng 12m²).

    – Đối với cấp xã, công chức công tác tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đồng thời cũng là công chức chuyên môn trực thuộc UBND xã, cho nên họ vừa phải thực hiện nhiệm vụ chuyên môn(địa chính, tư pháp…) vừa thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận và trả kết quả, do vậy cường độ lao động và áp lực công việc cao nhưng chưa có chế độ tương xứng.

    3.Chương III: GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH TTHC Ở TỈNH LAI CHÂU TRONG THỜI GIAN TỚI.

    3.1: Phương hướng của Tỉnh về cải cách TTHC trong thời gian tới.

    Trong thời gian tới, cải cách TTHC tiếp tục được coi là nhiệm vụ quan trọng trong công tác cải cách hành chính của Tỉnh. Nhiệm vụ cụ thể được UBND Tỉnh đặt ra đó là:

    – Tăng cường công tác chỉ đạo trong cải cách TTHC. Đây được coi là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng, một mặt góp phần đẩy mạnh cải cách TTHC trên phạm vi toàn tỉnh; mặt khác kịp thời xử lí những khó khăn, vướng mắc có thể xảy ra trong quá trình cải cách TTHC. Đồng thời công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên sẽ đảm bảo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm việc khách quan, khoa học, hiệu quả, hạn chế những tệ hách dịch, quan liêu có thể xảy ra, đảm bảo cải cách TTHC mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân.

    – Tiếp tục triển khai thực hiện đơn giản hóa TTHC trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước theo đề án 30 của chính phủ. Mục tiêu đến hết năm 2010 phải đơn giản tối thiểu 30% TTHC .

    – Đẩy mạnh việc áp dụng cơ chế “một cửa” ở các đơn vị còn lại, hướng dẫn một số đơn vị đã thực hiện đề án “Một cửa” sửa đổi, bổ sung đề án theo bộ thủ tục hành chính mới. Nhân rộng mô hình “một cửa liên thông” ở các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng…

    – Thực hiện nghiêm túc chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng tuyển dụng, sử dụng cán bộ công chức. Đặc biệt tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực thực hiện giải quyết công việc cho cán bộ công chức cấp xã, bồi dưỡng quy tắc hành chính, kĩ năng ứng xử văn minh nơi công sở…

    – Thực hiện nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả các quy định về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm việc thực hiện nhiệm vụ  tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với các đơn vị.

    – Thường xuyên kiểm tra việc thực thi trách nhiệm công vụ đối với công chức; xử lý nghiêm, kịp thời với những các bộ công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao gây nhũng nhiễu, phiền hà cho tổ chức và công dân.

    – Tiến hành tổng kêt, đánh giá kết quả thực hiện chương trình đơn giản hóa TTHC và việc áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” giai đoạn 2001-2010 và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cho giai đoạn tiếp theo.

    3.2: Một số giải pháp chủ yếu.

    Trên cơ sở những khó khăn, tồn tại và nhiệm vụ của công cuộc cải cách TTHC trong giai đoạn sắp tới. Những giải pháp cụ thể được đưa ra nhằm thực hiện  tốt hơn công tác cải cách TTHC của tỉnh đó là:

    Một là, các cấp, các ngành trong tỉnh cần coi trọng công tác cải cách TTHC, xác định đây là nhiệm vụ then chốt và trọng tâm nhằm tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, thu hút đầu tư, từng bước chuyển đổi và hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền lợi của người dân.

    Hai là, tăng cường vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp, gắn cải cách TTHC nói riêng và cải cách hành chính nói chung với đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền.

    Ba là, thực hiện đồng bộ đơn giản hóa TTHC với triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. Rà soát lại hệ thống thủ tục, đánh giá mức độ phù hợp của các thủ tục và kiểm soát việc định ra thủ tục mới ở địa phương. Nhanh chóng đưa vào thực hiện tại bộ phận “một cửa” những thủ tục hành chính đã được rà soát, công khai như báo cáo bước đầu của đề án 30 về đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước ở địa phương. Kiên quyết giảm tối thiểu 30% các quy định về TTHC trong năm 2010 theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ.

    Bốn là, các cấp ủy Đảng thường xuyên quan tâm, chỉ đạo việc triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng cán bộ công chức; kiểm tra chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ cho công dân và tổ chức thông qua bộ phận “một cửa”.

    Năm là, phối hợp với Sở Nội vụ và Học viện Hành chính quốc gia xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về cải cách hành chính một cách thường xuyên, hiệu quả, thiết thực cho cán bộ, công chức làm công tác cải cách TTHC và làm việc tại bộ phận “một cửa”. Lựa chọn, bố trí những cán bộ, công chức có trình độ, năng lực chuyên môn và có tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm việc ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.

    Sáu là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao hiểu biết của cán bộ, công chức và nhân dân về công tác cải cách TTHC. Đặc biệt cần tăng cường hơn nữa công tác tư vấn, hướng dẫn nhân dân trong việc thực hiện quy trình thủ tục. Điều này xuất phát từ thực tế của Tỉnh đó là trình độ hiểu biết của đại đa số nhân dân còn thấp, thậm chí nhiều đồng bào dân tộc còn không sử dụng được tiếng phổ thông.

    Bảy là, cần có chính sách khen thưởng và khuyến khích những sáng kiến, những cách làm hay mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác cải cách TTHC. Tăng cường dân chủ hóa, xây dựng và lấy ý kiến đánh giá của nhân dân, tổ chức về bộ TTHC để có hướng chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với thực tế.

    Tám là, tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho công tác cải cách TTHC, đặc biệt cho bộ phận  “một cửa”, “một cửa liên thông”.Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào giải quyết TTHC nhất là ở những huyện, xã vùng sâu, vùng xa.

    Chín là, một vấn đề mang tính hình thức xong ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của công tác cải cách TTHC đó là tình trạng “bít bùng” giữa cán bộ, công chức tiếp dân với tổ chức và nhân dân (do vách ngăn nơi làm việc thiết kế quá cao và kín, chỉ có một ô nhỏ bên dưới để trao đổi công việc và giấy tờ). Điều này vừa gây khó khăn cho công việc lại vừa tạo cảm giác xa dân. Vì vậy, việc thiết kế vách ngăn nên vừa tầm để tạo sự an toàn, trật tự, vừa tạo sự thoải mái cho công dân khi đến liên hệ công việc.

     

    PHẦN KẾT LUẬN

    Thực tế công tác cải cách TTHC những năm gần đây đã cho thấy quyết tâm cao độ của các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Lai Châu. Việc thực hiện đơn giản hóa TTHC và cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã nâng cao hiệu lực, hiệu qủa làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước; công dân và tổ chức khi có nhu cầu giải quyết các công việc liên quan tới TTHC cũng được dễ dàng và thuận tiện hơn. Trong thời gian tới, dưới sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy đảng và chính quyền, sự ủng hộ và góp sức của nhân dân, Lai Châu nhất định sẽ đạt được mục tiêu đơn giản hóa tối thiểu 30% TTHC trong năm 2010, áp dụng đồng bộ và trên diện rộng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. Lai Châu sẽ xây dựng được một nền hành chính hiện đại, gọn nhẹ, hiệu quả đảm bảo cho yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập của tỉnh trong giai đoạn tới. Công cuộc cải cách hành chính cũng sẽ là cơ sở để xây dựng một nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân” như mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-nguy%C3%AAn-nh%C3%A2n-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Chương 1 –         CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    1.1       Khái niệm

    Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quy ền lợi lao động được quy định trong hiến pháp.

    Những người ngoài lực lượng lao động bao gồm những người đang đi học, người nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật và cả một bộ phận không muốn tìm việc làm với những lý do khác nhau.

    Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm.

    Người có việc làm là những người làm một việc gì đó có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.

    Lao động thiếu việc làm là những người mà trong tuần nghiên cứu được xác định là có việc làm nhưng có thời gian làm việc thực tế dưới 35 giờ, có nhu cầu và sẵn sàng làm thêm giờ.

    Tỷ lệ thiếu việc làm là tỷ lệ phần trăm lao động thiếu việc làm trong tổng số lao động có việc làm.

    Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm .

    Thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.

    Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa.

    Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.

    Số người không có việc làm

    Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x

    Tổng số lao động xã hội

    Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là mức mà ở đó các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân bằng, ở một số thị trường thì cầu quá mức (hoặc nhiều việc không có người làm) trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức (hay thất nghiệp). Gộp lại, tất cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị trường đều cân bằng.

    Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn phải lớn hơn số 0. Vì trong một nước rộng lớn, mức độ cơ động cao, thị hiếu và tài năng đa dạng, mức cung cầu về số loại hàng hoá dịch vụ thường xuyên thay đổi, tất yếu có thất nghiệp tạm thời và cơ cấu. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có liên quan chặt chễ với lạm phát và ngày càng có xu hướng tăng. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cần cải thiện dịch vụ thị trường lao động, mở các lớp đào tạo, loại bỏ những trở ngại về chính sách của chính phủ; tạo việc làm công cộng.

    1.2      Phân loại

    1.2.1  Phân theo hình thức thất nghiệp:

     

    Căn cứ vào tình trạng trạng phân bố thất nghiệp trong dân cư có các dạng sau :

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 2

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    • T hất nghiệp chia theo giới tính(nam, nữ)
    • Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi-nghề)
    • Thất nghiệp chia theo vụng lãnh thổ (thành thị -nông thôn)
    • Thất nghiệp chia theo nghành nghề(nghành sản xuất,dịch vụ)
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc

    Thông thường trong xã hội, tỷ lệ thất nghiệp đối với nữ giới cao hơn nam giới, tỷ lệ thất nghiệp ở những người trẻ tuổi cao hơn so với người có tuổi với tay nghề và kinh nghiệm lâu năm…Việc nắm được con số này sẽ giúp cho nhà lãnh đạo vạch ra những chính sách thích hợp để có thể sử dụng tốt hơn lực lượng lao động dư thừa trong từng loại hình thất nghiệp cụ thể.

    1.2.2  Phân loại lý do thất nghiệp:

    Có thể chia làm bốn loại như sau:

    • Bỏ việc : một số người tự nguy ện bỏ việc hiện tại của mình về những lý do khác nhau, như cho rằng lương thấp, điều kiện làm việc không thích hợp …
    • M ất việc: M ột số người bị sa thải hoặc trở nên dư thừa do những khó khăn cửa hàng trong kinh doanh.
    • M ới vào :Là những người lần đầu bổ xung vào lượng lao động nhưng chưa tìm được việc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác …)
    • Quay lại: Những người đã từng có việc làm, sau đấy thôi việc và thậm chí không đăng ký thất nghiệp, nay muốn quay lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.

    Kết cục những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn. Người ta ra khỏi đội quân thất nghiệp theo các hướng ngược lại. Một số tìm được việc làm, một số khác từ bỏ việc tìm kiếm công việc và hoàn toàn rút ra khỏi con số lực lượng lao động. Mặc dù trong nhóm rút lui hoàn toàn này có một số người do điều kiện bản thân hoàn toàn không p hù hợp so với yêu cầu của thị trường lao động, nhưng đa phần trong số họ không hứng thú làm việc, những người chán nản về triển vọng có thể tìm được việc làm và quyết định không làm việc nữa.

    Như vậy số người thất nghiệp không phải là con số cố định mà là con số mang tính thời điểm. Nó luôn biến đổi không ngừng theo thời gian. Thất nghiệp là một quá trình vận động từ có việc, mới trưởng thành trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi thạng thái đó.

    1.2.3  Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp

    Việc tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra hướng giải quy ết.

    1. Thất nghiệp cọ xát (thất nghiệp tạm thời):

     

    Thất nghiệp cọ xát đề cập đến việc người lao động có kĩ năng lao động đáp ứng được nhu cầu của thị trường nhưng lại bị thất nghiệp trong một thời gian ngắn nào đó do họ thay đổi việc làm một cách tự nguy ện vì muốn tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng (lương cao hơn, gần nhà hơn…) hoặc do sự thay đổi cung cầu trong hàng hoá dẫn đến việc p hải thay đổi công việc từ một doanh nghiệp, một ngành sản xuất hay một vùng lãnh thổ sang nơi khác.

     

    Trong mối quan hệ với dạng thất nghiệp tạm thời còn có dạng thất nghiệp tìm kiếm xảy ra cả trong trường hợp chuyển đổi chỗ làm việc mang tính tự nguyện hoặc do bị đuổi

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 3

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    việc. Khi đó người lao động luôn cần có thời gian chờ đợi để tìm kiếm chỗ làm việc mới. Thời gian của quá trình tìm kiếm sẽ làm tăng chi phí (phải tìm nhiều nguồn thông tin, người thất nghiệp sẽ mất đi thu nhập, mất dần kinh nghiệm, sự thành thạo nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội…).

    Mọi xã hội trong bất kỳ thời điểm nào cũng tồn tại loại thất nghiệp này .

    1. Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường:

     

    Loại thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân bố thu nhập gắn liền với kết quả đến lao động mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia (chính phủ hoặc công đoàn) do có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, hạn chế sự linh hoạt của tiền lương (ngược lại với sự năng động của thị trường lao động) dẫn đến một bộ phận lao động mất việc làm.

     

    1. Thất nghiệp cơ cấu:

     

    Thất nghiệp cơ cấu là tỷ lệ những người không làm việc do cơ cấu của nền kinh tế có một số ngành không tạo đủ việc làm cho tất cả những người muốn có việc. Thất nghiệp do cơ cấu tồn tại khi số người tìm việc trong một ngành vượt quá số lượng việc làm có sẵn trong ngành đó. Thất nghiệp do cơ cấu diễn ra khi mức lương của ngành vượt cao hơn mức lương cân bằng thị trường. Nói cách khác, vì lương cao hơn mức cân bằng, nhiều người muốn có việc làm hơn so với mức sẵn sàng tuyển dụng của doanh nghiệp . Ngoài ra, do lương là một yếu tố chậm điều chỉnh, nên thị trường lao động không thể cân bằng một cách linh hoạt. Chính vì vậy người ta thường nói thất nghiệp do cơ cấu là hệ quả của tính kém linh hoạt của lương.

     

    1. Thất nghiệp chu kỳ:

    Thất nghiệp chu kì còn được gọi là thất nghiệp do nhu cầu thấp . Loại thất nghiệp này xảy ra do sự sút giảm trong nhu cầu đối với sản phẩm của nền kinh tế so với sản lượng (hay năng lực sản xuất). Sự sút giảm trong nhu cầu dẫn đến sự sa thải lao động có thể bắt đầu

    • một vài thành phố lớn của nền kinh tế và sau đó gây ra sự sút giảm trong nhu cầu đối với sản lượng của toàn bộ nền kinh tế. Đây là thất nghiệp theo lý thuyết của Keynes khi tổng cầu giảm mà tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh để phục hồi mức hữu nghiệp toàn phần. Khi tiền lương và giá cả được điều chỉnh theo mức cân bằng dài hạn mới, nhu cầu thấp hơn sản lượng thì tồn kho sẽ tăng lên nên các nhà sản xuất buộc phải cắt giảm sản lượng và sa thải lao động. M ột số công nhân muốn làm việc tại mức lương thực tế hiện hành nhưng không thể tìm được việc làm. Chỉ có trong dài hạn, tiền lương và giá cả sẽ giảm đến mức đủ để tăng nhanh mức lương và giá cả sẽ giảm lãi xuất đến mức cần thiết để phục hồi tổng cầu ở mức hữu nghiệp toàn phần và chỉ có lúc đó thì thất nghiệp do thiếu cầu mới bị triệt tiêu. Thất nghiệp chu kì thường gắn liền với năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là trong thời kì hội nhập .

    Thất nghiệp do nhu cầu thấp có quan hệ mật thiết với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp. Có thể dễ dàng thấy rằng nếu sản lượng tăng trưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng của năng lực sản xuất của nền kinh tế, kể cả số lượng lao động, thì thất nghiệp sẽ tăng. Suy thoái sẽ làm tăng thất nghiệp và p hục hồi hay tăng trưởng sẽ làm giảm thất nghiệp . Sự tăng giảm của thất nghiệp do nhu cầu thấp sẽ làm tăng giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các chu kì kinh tế.

    Ngoài ra, thất nghiệp còn được chia ra thất nghiệp dài hạn và thất nghiệp ngắn hạn. Thất nghiệp dài hạn là những người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 4

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ tham khảo trở về trước, còn những người thất nghiệp ngắn hạn là những người thất nghiệp dưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ tham khảo trở về trước. Thất nghiệp trá hình là dạng thất nghiệp của những người lao động không được sử dụng đúng hoặc không được sử dụng hết kỹ năng. Thuộc loại này bao gồm cả những người làm nghề nông trong thời điểm nông nhàn (đôi khi những người này được tách riêng thành những người thất nghiệp theo thời vụ). Thất nghiệp ẩn: là dạng thất nghiệp không được báo cáo. Theo tính chất, thất nghiệp chia thành thất nghiệp tự nguyện (thất nghiệp nảy sinh do người lao động không chấp nhận những công việc hiện thời với mức lương tương ứng) và thất nghiệp không tự nguyện.

    1.2.4 Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên: thất nghiệp tự nhiên bao gồm thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu.

                          AJ        
                                 
        Mức           LF  
            W2      
                           
                     
                         
        lương                        
        thực                        
      W*                  
                         
                  E            
                               
                                 
                                 
                                   

    A           B                C

    N2           N*            N1                Số lượng nhân công

    Hình trên đây trình bày về thị trường lao động. Đường cầu về lao động LĐ dốc xuống cho thấy rằng các hãng sẽ thuê nhiều nhân công hơn khi tiền lương thực tế thấp hơn. Đồ thị LF cho biết có bao nhiêu người muốn tham gia lực lượng lao động tại mỗi mức lương thực tế. Chúng ta giả thiết rằng một mức gia tăng tiền lương thực tế sẽ làm tăng số người muốn làm việc. Đồ thị AJ cho biết có bao nhiêu người chấp nhận công việc sẵn có tại mỗi mức lương thực tế. Đồ thị này nằm bên trái đường LF vì luôn có một số người nằm trong giai đoạn chuyển công việc taị kỳ thời điểm nào, vừa vì một mức lương lao động mặc dù họ chỉ chấp nhận làm việc nếu họ tìm ra được việc mang lại mức lương cao hơn một ít so với mức trung bình. Cân bằng thị trường lao động xảy ra tại điểm E.

    Mức hữu nghiệp N* là mức cân bằng hay là mức hữu nghiệp toàn phần. Khoảng cách EF gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.

    Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng.

    Con số thất nghiệp này là hoàn toàn tự nguy ện. Tại mức tiền lương cân bằng thực tế W* có N1 người muốn ở trong lực lượng lao động nhưng chỉ có N* người chấp nhận công việc tại mức lương cân bằng thực tế.

    Có thể nói thất nghiệp tự nguy ện bao gồm số người thất nghiệp tạm thời và số người thất nghiệp cơ cấu vì đó là những người chưa sẵn sàng làm việc với mức lương tương ứng, còn đang tìm kiếm những cơ hội tốt hơn. Nếu xã hội có chế độ quy định mức lương tối thiểu, giả sử ở W2 cao hơn mức lương cân bằng của thị trường lao động (W*). ở mức lương W2 cung lao động sẵn sàng chấp nhận việc làm (AJ) sẽ lớn hơn cầu lao động. Đoạn AB trên hình vẽ biểu thị sự chênh lệch này . Tổng con số thất nghiệp bây giờ được xác định bằng đoạn AC. Với tư cách cá nhân, một số AB công nhân vẫn muốn làm việc tại mức lương W2 nhưng không thể tìm được việc làm vì các hãng chỉ cần số công nhân

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 5

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    tại mức của điểm A. Cá nhân này bị thất nghiệp một cách không tự nguy ện. Một công nhân gọi là thất nghiệp không tự nguyện nếu họ vẫn muốn làm việc ở mức lương hiện hành. Tuy nhiên thông qua công đoàn các công nhân đã quyết định theo tập thể cho mức tiền lương W2 lớn hơn so với mức cân bằng, do vậy làm giảm mức hữu nghiệp. Vì vậy đối với công nhân nói chung, chúng ta phải coi con số thất nghiệp thêm như là tự nguyện.

    Do đó chúng ta cũng tính thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển vào con số của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Nếu như trong dài hạn công đoàn duy trì mức tiền lương W2 thì nền kinh tế sẽ vẫn tồn tại ở điểm A và AC là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Thất nghiệp do thiếu cầu hay thất nghiệp theo lý thuyết Keynes xảy ra khi tổng cầu suy giảm, sản xuất đình trệ, công nhân mất việc … nên loại thất nghiệp này gọi là không tự nguyện. Thất nghiệp dạng này được gây ra bởi sự điều chỉnh chậm hơn của thị trường lao động so với sự điều khiển của các cá nhân hoặc của công đoàn.

    1.3       Tác động của thất nghiệp

    Lợi ích của thất nghiệp

    • Thất nghiệp ngắn hạn giúp người lao động tìm công việc ưng ý và phù hợp với nguy ện vọng và năng lực làm tăng hiệu quả xã hội.
    • Lợi ích xã hội: Làm cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn và góp phần làm tăng tổng sản lượng của nền kinh tế trong dài hạn.

    –    Thất nghiệp mang lại thời gian nghỉ ngơi và sức khỏe.

    –    Thất nghiệp mang lại thời gian cho học hành và trau dồi thêm kỹ năng.

    • Thất nghiệp tạo sự cạnh tranh và tăng hiệu quả.

    Chi phí thất nghiệp

    • Hao phí nguồn lực xã hội: con người và máy móc. Quy luật Okun áp dụng cho nền kinh tế Mỹ nói rằng 1% thất nghiệp chu kỳ làm sản lượng giảm 2,5% so với mức sản lượng tiềm năng (xuống dưới mức tự nhiên).
    • Công nhân tuyệt vọng khi không thể có việc làm sau một thời gian dài.
    • Khủng hoảng gia đình do không có thu nhập.
    • Cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp .
    • Chính p hủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp .
    • Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.
    • Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.
    • Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận.

    1.4       Định luật Okun: về mối quan hệ giữa sản lượng và thất nghiệp.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 6

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Định luật Okun ra đời nhằm khảo sát sự biến động của chu kỳ kinh tế, sự giao động của mức sản lượng thực tế quanh sản lượng tiềm năng, và mối quan hệ giữa chúng, trên cơ sở đó, dự báo mức tỷ lệ thất nghiệp kỳ vọng trong sự ràng buộc với hai biến số nêu trên.

    • Định luật Okun 1: Khi sản lượng thực tế (Yt) thấp hơn sản lượng tiềm năng (Yp) 2% thì thất nghiệp thực tế (Ut) tăng thêm 1% so với thất nghiệp tự nhiên (UN).

    Ut = Un  + 50/frac (YP  – Y) (Yp)

    • Định luật Okun 2: Khi tốc độ của sản lượng tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản lượng tiềm năng 2,5% thì thất nghiệp thực tế giảm bớt 1% so với thời kỳ trước đó.

    Ut = U0 – 0,4(g-p)

    Trong đó:

    • Ut là tỷ lệ thất nghiệp thực tế năm đang tính
    • U0 là tỷ lệ thất nghiêp thực tế của thời kỳ trước
    • g: tốc độ tăng trưởng của sản lượng Y
    • p: tốc độ tăng trưởng của sản lượng tiềm năm Yp

    1.5       Đường cong Phillips

    Đường cong Phillips biểu thị quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát (đường cong Phillips phiên bản lạm phát) hoặc giữa tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP (đường cong Phillips phiên bản GDP). Đường này được đặt theo tên Alban William Phillips, người mà vào năm 1958 đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu của nước Anh từ năm 1861 đến năm 1957 và p hát hiện ra tương quan âm giữa tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ tăng tiền lương danh nghĩa .

    Lý luận của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp

    Đường cong Phillips dốc xuống phía p hải

    Kinh tế Mỹ thập niên 1960 có hiện tượng tỷ lệ lạm phát khá cao mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP cũng cao. Để giải thích hiện tượng đó, các nhà kinh tế của trường phái kinh

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 7

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    tế học vĩ mô tổng hợp đã sử dụng kết quả nghiên cứu của Phillips và dựng nên đường cong Phillips dốc xuống phía phải trên một đồ thị hai chiều với trục hoành là các mức tỷ lệ thất nghiệp và trục tung là các mức tỷ lệ lạm p hát. Trên đường này là các kết hợp giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Dọc theo đường cong Phillips, hễ tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng lên; và ngược lại.

    Từ đó, trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp lý luận rằng để giảm tỷ lệ thất nghiệp chính p hủ đã sử dụng chính sách quản lý tổng cầu, song do tỷ lệ thất nghiệp có quan hệ ngược chiều bền vững với tỷ lệ lạm phát, nên tăng trưởng kinh tế cao đương nhiên gây ra lạm phát. Lạm p hát là cái giá phải trả để giảm tỷ lệ thất nghiệp.

    Lý luận của chủ nghĩa tiền tệ

    Đường cong Philips ngắn hạn và Đường cong Phillips dài hạn

    Chủ nghĩa tiền tệ đã bác bỏ lý luận nói trên của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp. Họ cho rằng đường cong Phillips như trên chỉ là đường cong Phillips ngắn hạn. Friedman đã đưa ra khái niệm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, theo đó khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng vẫn có thất nghiệp. Đây là dạng thất nghiệp tự nguyện. Vì thế, ở trạng thái cân bằng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn là một số dương. Và khi nền kinh tế cân bằng, thì lạm p hát không xảy ra. Đường cong Phillips ngắn hạn dốc xuống phía phải và cắt trục hoành ở giá trị của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hễ chính phủ áp dụng các biện pháp nhằm đưa tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức này, thì giá cả sẽ tăng lên (lạm phát), và có sự dịch chuy ển lên phía trái dọc theo đường cong Phillips ngắn hạn.

    Sau khi lạm phát tăng tốc, cá nhân với hành vi kinh tế điển hình (hành vi duy lý) sẽ dự tính lạm phát tiếp tục tăng tốc. Trong khi tiền công danh nghĩa không đổi, lạm phát tăng nghĩa là tiền công thực tế trả cho họ giảm đi. Họ sẽ giảm cung cấp lao động, thậm chí tự nguy ện thất nghiệp . Tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên đến mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, trong khi tỷ lệ lạm p hát vẫn giữ ở mức cao.

    Nếu nhà nước vẫn cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tự nhiên, cơ chế như trên lại xảy ra. Hậu quả là, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức tự nhiên mà tỷ lệ lạm phát lại bị nâng lên liên tục. Chính sách của nhà nước như vậy là chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, còn về dài hạn là thất bại.

    Tập hợp các điểm tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và các mức tỷ lệ lạm phát liên tục bị đẩy lên cao tạo thành một đường thẳng đứng. Đường này được gọi là đường Phillips dài hạn.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 8

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Tăng trưởng kinh tế thường có xu hướng giảm tỷ lệ thất nghiệp. Trên thực tế, mọi nền kinh tế luôn có một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, hay tỷ lệ thất nghiệp dài hạn, chẳng hạn 3%, kể cả khi vẫn có rất nhiều công ty cần tìm người và doanh nghiệp chưa tuyển đủ lao động. Để giải thích điều này, chúng ta cần tìm hiểu rõ bản chất của thị trường lao động và tại sao luôn tồn tại một số người không có việc làm, kể cả khi có rất nhiều cơ hội việc làm trong nền kinh tế.

    Thứ nhất, luôn tồn tại một số người không có việc làm do quá trình tìm việc thường mất thời gian. Nếu tất cả những người tìm việc và các nhà tuy ển dụng đều giống nhau, và thông tin là hoàn toàn cân xứng, mọi người sẽ có thể tìm việc nhanh chóng. Nhưng bản chất của thị trường lao động là có rất nhiều người bán và rất nhiều người mua, họ đều rất khác nhau về nhu cầu, kỹ năng, và thong tin trên thị trường lao động là không hoàn hảo. Việc ghép một người có nhu cầu tìm việc với một doanh nghiệp cần tuyển dụng chính vì vậy mất một thời gian, và tại bất kỳ thời điểm quan sát nào thì một nền kinh tế cũng luôn có những người thất nghiệp như vậy.

    Thông thường, trong các chỉ số kinh tế vĩ mô, tỷ lệ thất nghiệp thường được theo dõi chặt chẽ cùng với tỷ lệ lạm phát. Hai chỉ số này quan hệ với nhau như thế nào? Như vừa phân tích, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc vào nhiều y ếu tố của thị trường lao động, ví dụ như tính linh hoạt của lương, mức lương tối thiểu, ma sát của thị trường, hay hiệu quả của quá trình tìm việc. Còn tỷ lệ lạm phát trong dài hạn phụ thuộc vào mức gia tăng cung tiền. Trong dài hạn, thất nghiệp và lạm p hát không có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong ngắn hạn thì ngược lại. Trong ngắn hạn, khi chính sách mở rộng tài khóa và tiền tệ được tiến hành, tổng cầu gia tăng, nhiều sản lượng được sản xuất hơn, có nhiều người có việc làm hơn, tỷ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn giảm xuống, nhưng đồng thời mức giá chung của nền kinh tế tăng lên. Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát là tỷ lệ nghịch: khi lạm phát cao, thất nghiệp là thấp, và ngược lại. Mối quan hệ này trong ngắn hạn được thể hiện trên đường cong Phillips ngắn hạn.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 9

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Chương 2 –         THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

    2.1       Thất nghiệp tại Việt Nam, thực trạng và nguyên nhân

    Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi đều tương ứng giảm nhẹ lần lượt 1,99 và 2,8% so với các mức 2,22% và 2,96% trong năm 2011.

    Riêng đối với khu vực thành thị, tỷ lệ này, dù vẫn cao hơn mức thất nghiệp bình quân chung, nhưng lại thể hiện sự giảm nhẹ từ 3,6% năm 2011 xuống còn 3,25% trong năm 2012.

    Và, năm 2013, chỉ tiêu được đặt ra là tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%, tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, vẫn là những con số khá quen thuộc, cho dù nền kinh tế đang được nhận định với mức độ khó khăn ngày thêm trầm trọng.

    Năm 2010:

    Tổng cục Thống kê vừa cho biết, năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%. So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02%.

    Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47%.Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng 2,12%.Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010. Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.Tỷ lệ thất nghiệp tại thành thị gấp đôi nông thôn.Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi cao gấp hai lần so với khu vực nông thôn (thành thị là 4,43%, khu vực nông thôn là 2,27%). Đó là một thông tin trích từ kết quả tổng hợp về tình hình lao động việc làm 9 tháng năm 2010 của Tổng cục Thống kê. Theo đó, hiện cả nước có nước có 77,3% người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, trong đó khu vực thành thị là 69,4%; khu vực nông thôn 80,8%.Tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật là 14,6%, chủ yếu là ở khu vực thành thị, chiếm khoảng 30%; khu vực nông thôn chỉ 8,6%.Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội trong 9 tháng năm 2010 của cơ quan này cũng cho thấy, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi hiện là 4,31%, trong đó khu vực thành thị là 1,95%; khu vực nông thôn là 5,24%. Tỷ lệ lao động nữ thiếu việc làm cao hơn lao động nam.Trong khi đó, theo một báo cáo mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước đã giải quy ết được gần 1,2 triệu việc làm trong 9 tháng đầu năm, song tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi vẫn ở mức khá cao.Cụ thể, trong tháng 9, cả nước ước giải quy ết việc làm cho khoảng 141.500 người, trong đó xuất khẩu lao động ước đạt trên 6.500 người.Tính chung 9 tháng đầu năm 2010, tổng số lượt lao động được giải quyết việc làm ước đạt 1.186,1 nghìn lượt người, đạt 74,13% kế hoạch năm; xuất khẩu lao động ước đạt 58.075 người, đạt trên 68,3% kế hoạch năm.

    Năm 2011:

    Đến thời điểm 1/7/2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số, bao gồm 50,35 triệu người có việc làm và 1,05 triệu người thất nghiệp.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 10

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Năm 2011, cả nước có 1,05 triệu người thất nghiệp, trong đó khu vực thành thị chiếm 49,8% và số nữ chiếm 57,7% tổng số thất nghiệp . Số lao động thất nghiệp ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên dưới 30 tuổi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị là 3,6% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn ở mức 3,56%. Lao động chưa được đào tạo chuy ên môn kỹ thuật có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với mức chung của khu vực thành thị cả nước (3,82% so với 3,6%). Đối với lao động đã qua đào tạo, tỷ lệ thất nghiệp của những người có trình độ đại học trở lên là thấp nhất (2,28%).

    Năm 2011, cả nước có khoảng 15,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế, chiếm 17,9% tổng dân số. Phần lớn (91,6%) dân số chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật.

    Thất nghiệp là vấn đề kinh tế – xã hội phổ biến đối với hầu hết các quốc gia và Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nghiên cứu mức độ thất nghiệp giúp đánh giá chính xác mức sống và tình hình ổn định kinh tế, xã hội…của một quốc gia. Cuộc điều tra về lao động và việc làm cung cấp thông tin thích hợp p hục vụ công tác nghiên cứu và đánh giá vấn đề thất nghiệp . Để có được bức tranh thực về tình trạng việc làm, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, nơi có mức an sinh xã hội thấp, thì việc xem xét đồng thời hai chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm là cần thiết. Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì hai chỉ tiêu này có ý nghĩa bổ sung và giải thích cho nhau. Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp nghiên cứu dưới đây được tính cho dân số trong độ tuổi lao động, tức gồm những người từ 15-59 tuổi đối với nam và 15-54 tuổi đối với nữ.

    Kết quả điều tra Lao động Việc làm năm 2011 cho thấy, cả nước có hơn 1 triệu người thất nghiệp, trong đó khu vực thành thị chiếm 49,8% và số nữ chiếm 57,7% tổng số thất nghiệp. Số người thất nghiệp trẻ tuổi từ 15-29 tuổi chiếm tới 59,2%, trong khi đó nhóm dân số từ 15-29 tuổi chỉ chiếm 32,8% tổng dân số từ 15 tuổi trở lên của cả nước.

    Số liệu cho thấy số lao động thất nghiệp ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên dưới 30 tuổi. Như vậy, vấn đề thất nghiệp được đặt ra với lao động trẻ tuổi, một trong những nhóm lao động dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động.

    Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị luôn cao hơn khu vực nông thôn và ngược lại tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn thường cao hơn khu vực thành thị. Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị là 3,6% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn là 3,56%. Đây là một trong những nét đặc thù của thị trường lao động nước ta trong nhiều năm gần đây .

    Thất nghiệp trong thanh niên đang trở thành một vấn đề quan tâm của xã hội. Nguy ên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong thanh niên tăng cao một phần xuất phát từ việc thị trường lao động được bổ sung thêm nhiều nhân lực trong khi nền kinh tế chưa đạt tới tốc độ tăng trưởng p hù hợp để đáp ứng nhu cầu việc làm đó.

    Hiện tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam và một số nước trên thế giới. Số liệu cho thấy, ở hầu hết các quốc gia tỷ lệ thất nghiệp của Quý 1 là cao nhất trong năm. Quan sát sự biến động tỷ lệ thất nghiệp, nhận thấy xu hướng tỷ lệ thất nghiệp giảm dần trong năm và thấp nhất vào Quý 4 của năm đã diễn ra ở hầu hết các quốc gia. Diễn biến tình hình thất nghiệp của nước ta gần giống với tình hình của Hàn Quốc, Philipine, Nhật Bản, Macao, Đài Loan. Biểu 3.6 cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam ở mức trung bình so với các nước trong khu vực.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 11

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Năm 2011, cả nước có khoảng 15,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế. Số lượng này chiếm khoảng 17,9% tổng dân số. Trong số người từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế, nữ nhiều hơn nam (61,3% so với 38,7%).Phần lớn (91,6%) dân số 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Điều này cho thấy đào tạo nghề sẽ là một biện pháp tăng cơ hội việc làm cho người lao động. Trong số những người chưa được đào tạo, nữ giới nhiều hơn nam giới.

    9 tháng đầu năm 2012

    Tính đến thời điểm 1/10/2012, dân số cả nước có 68,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động (bao gồm 52,1 triệu người có việc làm và gần 1 triệu người thất nghiệp). Lực lượng lao động của khu vực nông thôn là chủ yếu và chiếm 69,4%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nông thôn cao hơn thành thị. Đến thời điểm 1/10/2012, cả nước có 984 nghìn người thất nghiệp và 1369 nghìn người thiếu việc làm. Trong 9 tháng đầu năm 2012, số người thất nghiệp từ 15-24 tuổi chiếm gần một nửa (46,8%) trong tổng số người thất nghiệp, tỷ trọng này ở khu vực thành thị là 38,1% và ở khu vực nông thôn là 56,2%. Trong khi đó, số 1 người thiếu việc làm từ 15-24 tuổi chỉ chiếm 24,2% trong tổng số người thiếu việc làm và không có sự khác biệt nhiều giữa thành thị và nông thôn. Trong 9 tháng đầu năm 2012, số người thất nghiệp từ 15-24 tuổi chiếm 46,8% trong tổng số người thất nghiệp, tỷ trọng này ở khu vực thành thị là 38,1% và ở khu vực nông thôn là 56,2%. Trong khi đó, số người thiếu việc làm từ 15-24 tuổi chỉ chiếm 24,2% trong tổng số người thiếu việc làm và không có sự khác biệt nhiều giữa thành thị và nông thôn. hất nghiệp trong thanh niên và phụ nữ đang trở thành vấn đề đáng quan tâm với xã hội, thanh niên và phụ nữ là những nhóm lao động được xem là dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động. Những tháng đầu năm 2012, mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm nhưng tỷ lệ thất nghiệp của nước ta không cao, cụ thể tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị của quý 1 năm 2012 cao hơn chút ít so với quý 3 và quý 4 năm 2011 (3,46% so với 3,43% và 2,99%). Điều này có thể giải thích là do trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp, đời sống của người dân chưa cao, hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển nên người lao động không chịu cảnh thất nghiệp lâu dài, họ chấp nhận làm một số công việc nào đó, thường là trong khu vực phi chính thức với mức thu nhập thấp, bấp bênh để nuôi sống bản thân và gia đình.

    Để có được bức tranh về tình trạng việc làm, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, nơi có mức an sinh xã hội thấp, thì việc xem xét đồng thời hai chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm là cần thiết. Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Thế giới hai chỉ tiêu này có ý nghĩa bổ sung và giải thích cho nhau.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 12

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    2.2       Nguyên nhân thất nghiệp ở Việt nam.

    Sự hạn chế khả năng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta những nguy ên nhân cơ bản sau đây:

    Nguy ên nhân bao trùm là trong hệ thống cấu trúc kinh tế xã hội cũ, chúng ta có những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, như đại hội VI đã chỉ rõ: Đã duy trì quá lâu nền kinh tế chỉ có hai thành phần, không coi trọng cơ cấu kinh tế nhiều thành p hần, kinh tế mở cửa dẫn đến sai lầm trong bố trí kinh tế, chưa quan tâm đúng mức đến chiến lược xây dựng kinh tế xã hội, hướng vào phát triển những ngành công nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút được nhiều lao động dẫn đến hạn chế khả năng khai thác các tiềm năng hiện có để phát triển việc làm và tạo nhiều điều kiện để người lao động tự tạo việc làm cho mình và do người khác. Chức năng của Nhà nước trong việc tổ chức lao động giải quyết việc làm cho xã hội chưa được phát huy đầy đủ.

    Hai nguy ên nhân nữa cũng không kém p hần quan trọng gây ra hiện tượng thất nghiệp đó là:

    2.2.1   Khoảng thời gian thất nghiệp:

    Giả sử rằng thường xuy ên có một lượng người thất nghiệp nhất định bổ xung vào đội ngũ tìm kiếm việc làm và nếu mọi người phải chờ đợi quá nhiều thời gian mới tìm được việc làm thì trong một thời gian nào đó số lượng người thất nghiệp tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp sẽ bị nâng cao. Thời gian chờ đợi trên được gọi là khoảng thời gian thất nghiệp và nó p hụ thuộc vào:

    • Cách thức tổ chức thị trường lao động

    –    Cấu tạo nhân khẩu của những người thất nghiệp (tuổi đời, tuổi nghề, ngành nghề)

    • Cơ cấu các loại việc làm và khả năng sẵn có việc làm.
    • Mọi chính sách cải thiện các yếu tố trên sẽ dẫn đến rút ngằn khoảng thời gian thất nghiệp.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 13

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    2.2.2 Do cạnh tranh mạnh mẽ của cơ chế thị trường, việc mở rộng sản xuất tạo nhiều việc làm tốt, thu nhập khá và ổn định luôn gắn liền với năng suất ngày càng cao. Ở mỗi mức tiền công sẽ thu hút nhiều lao động sẽ tăng lên và khoảng thời gian thất nghiệp cũng sẽ

     

    giảm xuống.

    Phân tích một cách sâu sắc các nguy ên nhân sâu xa dẫn đến tình trạnh thất nghiệp bao gồm cả những chuy ển biến tích cực sau Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là điều hết sức cần thiết cho việc đề ra những chỉ đạo thực hiện giải quyết việc làm đầy đủ có hiệu quả.

    Thứ nhât: ngay từ đầu, trong cả nước, một thời kỳ khá dài sau đó chúng ta chưa thấy được (đúng hơn là không muốn thấy) vai trò ý nghĩa của các thành phần kinh tế đối với phát triển lực lượng sản xuất, mở mang việc làm cho nhân dân, nên đã hạn chế hết mức gần như xoá bỏ các thành phần kinh tế cũ, phát triển quá nhanh và có p hần ồ ạt thành phần quốc doanh và tập thể. Đến năm 1975, sau khi giải phóng niềm nam thống nhất đất nước với hai bài học kinh nghiệm ở miền Bắc, chúng ta mong muốn trong tương lai p hát triển mạnh mẽ nền kinh tế quốc dân.

    Thứ hai: Chậm “mở cửa” trong phát triển kinh tế đối ngoại cũng như trong mở rộng giao lưu, thông tin quốc tế nói chung, là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng rõ rệt đến việc sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và phát triển việc làm.

    Nước ta là nước nông nghiệp, chậm phát triển, thuộc vào những nước nghèo nhất thế giới khi đặt ra chương trình mở mang, phát triển việc làm là thiếu vốn, thiếu kỹ thuật và máy móc trang thiết bị, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Trong khi đó một số nước p hát triển lại thiếu sức lao động, thiếu thị trường đầu tư. Vì vậy, “mở cửa” p hát triển kinh tế đối ngoại là có lợi cho cả hai bên.

    Thứ ba: nguyên nhân ảnh hưởng lớn đã là những sai lầm, thiếu sót trong việc xác định cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế bao gồm ba bộ nhận lớn:

    • Cơ cấu thành phần kinh tế

     

    • Cơ cấu ngành kinh tế

     

    • Cơ cấu ………. kinh tế

    Ngoài ảnh hưởng của cơ cấu thành phần kinh tế đến giải quyết việc làm như đã nói ở trên, ảnh hưởng của cơ cấu ngành kinh tế cũng rất lớn.

    Trong Đại hội Đảng lần thứ VI xác định rõ trong những năm 1986 – 1991, những nạn còn lại trong thời kỳ quá độ, phải tập trung vốn và việc thực hiện mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hành xuất khẩu. Sự điều chỉnh, sắp xếp lại cơ cấu các ngành kinh tế đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sử dụng lao động và giải quy ết việc làm. Bắt đầu từ năm 1986 trở đi, các quan hệ tỷ lệ phân bổ lao động giữa các ngành có chuyển biến theo xu hướng tiến bộ, tình trạng công ăn việc làm được cải thiện, thất nghiệp giảm đi một bước đáng kể.

    Thứ tư: duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cũng là nguy ên nhân lớn ảnh hưởng nặng nề, đến hiệu quả sử dụng nguồn lao động và kết quả giải quyết công ăn việc làm. Trên tầm vĩ mô chúng ta còn thiếu một hệ thống tương đối các luật lệ chính sách nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và mở mang phát triển việc làm. Ở tầm vĩ mô cơ chế cũ có p hần nặng nề hơn. Hàng loạt các quy chế, chính sách, các hình thức tổ chức, các chức danh tiêu chuẩn, các biện p háp khuyến khích vật chất và tinh thần, các chế độ, các nề nếp lao động, sản xuất, học tập nghiên cứu khoa học nhằm đề cao tinh thần tận tụy, trách nhiệm với công việc, khuy ến khích mạnh mẽ tính chủ động

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 14

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    tích cực, sáng tạo của con người đang còn thiếu. Tình trạng tổ chức còn chồng chéo kém hiệu quả, tình trạng trả công, phân p hối bình quân bất hợp lý còn phổ biến làm cho hiệu suất làm việc kém.

    Trên đây là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến vấn đề tăng giảm thất nghiệp . Trên cơ sở đại hội Đảng làm thứ VI và những chỉ thị nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ gian gần đây, chung ta hãy đi vào nghiên cứu con đường và phương hướng sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động tăng thêm hàng năm.

    2.3       Tác hại của thất nghiệp:

    Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn tác động và gây nhiều vấn đề bất cập như: Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tỷ lệ lam p hát ngày càng cao, tỷ lệ phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, … Thất nghiệp ở mức cao dẫn đến sản xuất sút kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm xuống kéo theo tổng giá trị sản phẩm quốc dân cũng giảm. Sự thiệt hại về kinh tế do thất nghiệp gây ra ở nước ta là rất lớn nó hơn hẳn các nhân tố vĩ mô khác. Chính vì những điều này đặt đất nước ta trước thực trạng: Thất nghiệp luôn là nổi lo cho toàn xã hội, quan trọng hơn là làm cho kinh tế nước ta giảm đi. Bên cạnh đó thất nghiệp còn ảnh hưởng tới tâm lý người lao động và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

    Bàn về đường cong Phillips và Định luật O’Kull

    Các đồ thị theo các hình sau, số liệu mới nhất là 9 tháng đầu năm 2012

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 15

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 16

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 17

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Chương 3 –       GIẢI PHÁP

    3.1       Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp theo lý thuyết:

    Đối với loại thất nghiệp tự nguyện:

    Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm và có mức tiền lương tốt hơn để tại mỗi mức lương thu hút được nhiều lao động hơn.

    Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường lao động.

    Đối với loại thất nghiệp chu kỳ:

    Cần áp dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để làm gia tăng tổng cầu nhằm kích thích các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động.

    Thất nghiệp chu kỳ thường là một thảm hoạ đối với nền kinh tế vì nó xảy ra trên quy mô lớn. Tổng cầu và sản lượng suy giảm, đời sống người lao động bị thất nghiệp gắp nhiều khó khăn. Gánh nặng này thường dồn vào những người nghèo, bất công xã trong hội cũng tăng lên. Các chính sách tài chính, tiền tệ mở rộng nhằm tăng tổng cầu và sản lượng sẽ dẫn đến phục hội nền kinh tế tăng số việc làm thì mới có thể giảm bớt được tỷ lệ thất nghiệp chu kỳ.

    3.2       Việc đầu tư hay nói đúng hơn là kích cầu

    Việc “bơm vốn” và áp dụng các chính sách ưu đãi cho khu vực doanh nghiệp này trước hết là nhằm kích thích sản xuất, từ đó tạo ra việc làm. Bên cạnh đó, kích cầu bằng việc đầu tư vào phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đang được đánh giá là giải p háp tối ưu hơn cả.

    • Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện kích cầu các ngành thép, vật liệu xây dựng, giấy, hóa chất; …; sản xuất hàng tiêu dùng nội địa; ưu tiên hỗ trợ các ngành

    hàng sản xuất có lợi thế thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng nhiều lao động;

    • Tăng đầu tư, hỗ trợ phát triển khu vực nông nghiệp – nông thôn: nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp; hỗ trợ đầu vào, p hân phối và chế biến cho các mặt hàng nông sản, thủy sản; tìm kiếm thị trường tiêu thụ, hỗ trợ vốn vay cho các làng nghề, xã nghề tiểu thủ công nghiệp,Đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp phù hợp với từng vùng, tạo lực kéo cho các ngành khác phát triển cũng là giảm tình trạng thất nghiệp .
    • Ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn, tạo nhiều việc làm; hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế, hoãn thuế, khoanh nợ song song với cam kết phải duy trì việc làm cho số lao động hiện tại và thu hút thêm lao động nếu có thể; hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp gặp khó khăn để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động.
    • Phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp các dự án kinh tế. giúp tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho công nhân.
    Đa dạng hóa các hoạt động kinh tế nông thôn.
    Mở  rộng và  tích  cực  tham  gia  vào  thị  trường  xuất  khẩu  lao  động.
    Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường lao động trên thế giới để từ đó đưa ra các
    chính sách p hù hợp cho xuất khẩu lao động sang các nước.
       
       
    Nhóm 7 Page 18

     

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    3.3       Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc

    Lao động bị mất việc cũng có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội

    Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao động sớm tìm được việc làm mới thong qua trung tâm tư vấn việc làm.

    Trung tâm dịch vụ việc làm là một đơn vị sự nghiệp hoạt động vì mục tiêu xã hội. Nó là chiếc cầu rất quan trọng và không thể thiếu giữa cung và cầu lao động. Chức năng cơ bản của nó là tư vấn cung cấp thong tin cho người lao động và sử dụng lao động, học nghề việc làm về những vấn để có lien quan đến tuyển dụng và sử dụng lao động, giới thiệu việc làm cung ứng lao động dạy nghề gắn vs việc làm tổ chức sảng xuất ở quy mô thích hợp để tận dụng năng lực thiết bị thực hành. Nó còn là cách nhà nước thong qua cung và cầu việc làm lao động. chình vì lẽ đó, cần phát triển năng cao chất lượng hoạt đông j của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm.

    Các trường dạy nghề của tổ chức công đoàn có nhiệm vụ nâng cao tay nghề cho người lao động hoặc thu hút người lao động vào học nghề, tranh thủ lúc không có việc. Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác dạy nghề cũng là biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng. Trong bối cảnh lực lượng lao động mất việc làm tăng nhanh như hiện nay, hằng năm chúng ta phải giải quyết tối thiểu cho khoảng 1,2 triệu việc làm mới, khoảng trên 1 triệu lao động chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị thì sức ép giải quyết việc làm càng trở nên nặng nề hơn.

    Bổ sung nguồn vốn vay cho Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm (dự kiến 500 tỷ đồng) để hỗ trợ tạo việc làm cho lao động bị mất việc làm và đẩy mạnh tạo việc làm trong khu vực phi chính thức; Những người lao động mất việc do suy thoái kinh tế sẽ được vay vốn để họ có thu nhập giải quy ết khó khăn trước mắt. Ngoài ra, ở một số tình, thành phố con có thêm quỹ trợ vốn cho lao động nghèo. Quỹ này cũng cho người lao động mất việc làm vay vốn để tạo công việc. Điều này đã mang lại hiệu quả tương đối tốt, giúp người lao động ổn định cuộc sống.

    Tăng cường thu thập thông tin liên quan đến lao động bị mất việc làm, thiếu việc làm, thu thập thông tin thị trường lao động, kết nối cung cầu lao động thông qua hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm, các phương tiện thông tin đại chúng. Thông tin tuy ên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành và người dân về các chính sách nhằm hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng đối với việc làm.

    Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội:

    Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của Đảng và Nhà nước mới được ban hành, nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội ở nước ta. M ục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là bù đắp một p hần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội t́m kiếm được việc làm mới thích hợp và ổn định trong thời gian sớm nhất. Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta có hiệu lực từ 01/01/2009 nhưng theo thống kê của ILO, Việt Nam là nước thứ 2 ở Đông Nam Á thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Các nội dung của chính sách bảo hiểm tht nghiệp ở nước ta được quy định trong Luật BHXH được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khoá XI, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ và được Bộ Lao động – Thương binh và Xă hội hướng dẫn tại Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009. Từ 1-1- 2009, lao động sẽ được hỗ trợ 60%

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 19

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    m ức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trướ c khi bị m ất việc làm .

    Hệ thống các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các lĩnh vực: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm, ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng, tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hoá, y tế và giáo dục.

    Hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những người tham gia Đặc biệt, đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo,… Các chính sách trợ giúp xã hội, cả thường xuy ên và đột xuất được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng.

    Thông qua các chương trình kế hoạch xã hội, thông qua quỹ quốc gia về giải quyết việc làm cho người dân.

    Cùng với nguồn lực không ngừng tăng lên và những nỗ lực trong tổ chức thực hiện, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    3.4       Hướng nghiệp

    Tình trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học đang diễn ra. Để khắc p hục tình trạng này thì việc làm tốt công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là hết sức cần thiết.

    Một là, gia đình nên sớm có định hướng nghề nghiệp cho các em và quan tâm đến việc chọn nghề của các em sau khi đã tốt nghiệp PTTH.

    Hai là, nhà trường nên có chương trình, kế hoạch và phân công giáo viên phụ trách công tác hướng nghiệp.

    Từ đó mở rộng các trường cao đẳng nghề trung cấp nghề nhưng cần tập trung định hướng. Cần tăng cường hơn nữa các hoạt động tuyển truyền các thong tin việc làm nhu cầu lao động của doanh nghiệp, như các hội chợ việc làm, các diễn đàn về lao động… vì hiện nai mặc dù đã có những chương trik này nhưng hiện còn quá ít và mỏng chưa đáp ứng được yêu cầu.

    Nhà nước cần đưa ra các chính sách nhằm khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm, tự lập nghiệp.

    Cần xây dựng các chương trình dạy nghề, các chương trình giảm nghèo và các chương trình khác.

    Cần tập trung phát triển nghề ngắn hạn và phổ cập nghề cho lao động nông thôn, đống bào dân tộc thiểu số, lao động vùng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

    3.5       Những biện pháp khác

    Đẩy mạnh thực hiện các nhóm giải pháp của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Đây chính là tiền đề quan trọng góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có tạo việc làm;

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 20

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Trợ cấp một tỷ lệ nhất định trong quỹ lương ở các doanh nghiệp. Họ cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội, quỹ lương hưu v.v… mà mục đích không gì khác ngoài việc giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí nhân lực liên quan mà không cần phải sa thải nhân công.

    Cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì ở mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến doanh nghiệp và do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh đình đốn.

    Thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp chấp nhận m ột m ức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được ở những nơi có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động.

    Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là nơi mà không những giải quyết được tình trạng thất nghiệp ở trong nước mà còn thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia.

    Nhà nước cần tạo điêu kiện gìn giữ những ngành nghề truyền thống, cải tiến công nghệ sản xuất, khuyến khích thanh niên ở lại làm giàu ngay trên quê hương mình nơi có tiềm năng nhưng chưa được sử dụng

    Hạn chế tăng dân số.

    Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến p hát triển kinh tế xã hội. đó còn là sự lãng phí to lớn nguồn nhân lực đang ở độ tuổi lao động và để tồn tại một lượng lớn người mất việc làm, để họ rơi vào tình cảnh nghèo khó sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp . Do đó, cần phải có những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ nạn thất nghiệp tiếp tục lan rộng.

    3.6       Những công cụ và giải pháp lựa chọn

    Bảng 2. giới thiệu những công cụ, giải pháp được lựa chọn để hạn chế thất nghiệp . Đó là những công cụ cụ thể cho từng loại hình thất nghiệp, chúng góp p hần làm giảm và thậm chí ngăn ngừa từng loại hình thất nghiệp xẩy ra.

    Bảng 2. Những công cụ, giải pháp được sử dụng để hạn chế thất nghiệp

      Thất Thất Thất
    Nguyên nhân thất nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp
      tạm thời cấu   nhu cầu
    1. Những công cụ thuộc chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động
    * Định hướng nghề nghiệp ++ ++  
    * Tư vấn nghề nghiệp ++ ++  
    * Giới thiệu việc làm, tổ chức sàn giao dịch việc làm +++    
    * Phát triển thông tin thị trường lao động ++ +++  
    *  Kéo dài thời gian học nghề và nâng cao trình độ + +++  
    đào tạo trung bình      
    * Đào tạo và đào tạo lại     +++
    * Đào tạo và nâng cao năng lực hệ thống quản lý lao ++ +++ ++
               
               
    Nhóm 7         Page 21

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

            Thất Thất Thất  
        Nguyên nhân thất nghiệp nghiệp nghiệp cơ nghiệp  
            tạm thời cấu nhu cầu  
    động – việc làm        
    * Hỗ trợ DN trong việc tạo điều kiện cho người lao + +++ +  
    động học tập suốt đời        
    *  Sử dụng Quỹ Giải quyết việc làm hỗ trợ các DN   +++    
    tuyển dụng lao động là người yếu thế.        
    * Cho vay đối với những lao động phải nghỉ việc do + ++ ++  
    những nguyên nhân từ phía DN        
    * Cho những người thất nghiệp, người thiếu việc làm   +++ ++  
    vay vốn để tự tạo việc làm        
    * Cho DN vay ưu đãi để mở rộng sản xuất     ++ +
                  +
    * Đẩy mạnh xuất khẩu lao động + +++    
    *  Lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc làm + +++ +++  
    với các chương trình, dự án khác.        
    * Tổ chức việc làm can thiệp   + +++  
    * Tổ chức việc làm công cộng   + +++  
    *  Hoàn thiện luật pháp,  cơ  chế,  chính  sách  về lao + +++ +++  
    động – việc làm        
    2. Những công cụ và giải pháp khác        
    * Quy hoạch phát triển vùng kinh tế, ngành kinh tế   +++ +++  
    * Cải cách DNNN   ++ +++  
    * Ưu tiên khu vực DN vừa và nhỏ     +++  
    * Chính   sách đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng + ++ +++  
    miền núi, biên giới, hải đảo, vùng nông thôn nghèo.        
    * Chế độ nghỉ hưu linh hoạt     ++  
    * Nghĩa vụ phục vụ quân đội, công an   +++    
    * Chính sách tài chính và tiền tệ     +++  
    * Chính sách tiền lương tối thiểu   +++ +++  
    * Hội nhập kinh tế quốc tế   +++ +++  

    Những công cụ và giải pháp đã nêu được tập hợp trong chương trình việc làm quốc gia gồm những chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động cùng những chính sách khác nhằm nâng cao chất lượng cung, điều chỉnh cung lao động phù hợp với cầu lao động, đẩy mạnh kết nối cung – cầu và trực tiếp làm tăng quy mô việc làm hay gián tiếp tạo ra việc làm mới.

    Tuy nhiên, việc đánh giá những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và lựa chọn công cụ đã nêu mới mang tính nghiên cứu, chúng cần được kiểm chứng và đánh giá trong thực tế kinh tế – xã hội. /.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-v%C4%83n-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

    Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh

    Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.
    Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

    Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:
    Một là: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.
    Hai là: nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bàoVì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…
    Ba là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.
    Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.
    Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”… Trích Từ wWw.ueh.vn . I.                   ĐẠO ĐỨC:–      Tư tưởng đạo đức là bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nên nền tảng tinh thần xã hội ta. Nó đang là nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta phát huy nội lực vượt  qua thử thách, khó khăn đưa công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế giành thắng lợi. –      Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức chính trị xã hội sữa chữa khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng, để thế hệ trẻ chúng ta rèn luyện tu dưỡng nhân cách trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên.1.      Nguồn gốc–      Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, đã được hình thành trong trường kỳ lịch sử, đồng thời kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loạil; đặc biệt quan trọng là những tư tưởng đạo đức của Marx, Anghen, Lenin. –      Trong lĩnh vực đạo đức, Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của tư tưởng đạo đức đã có từ trước, nhất là đạo đức Nho giáo. Những khái niệm, phạm trù đó đánh dấu những nấc thang nhận thức của loài người, tất nhiên những khái niệm, phạm trù đã trở thành tài sản chung của nhân loại, nhưng nội dung đã có nhiều thay đổi. Những khái niệm như trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính… đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước công nguyên; dân chủ, tự do, công bằng, bác ái đã xuất hiện từ cổ đại Hy Lạp – La Mã, nhưng trong tư tưởng đạo đức của HCM chúng đã được nâng cao, trở thành nội dung tiến bộ. –      Hồ Chí Minh sử dụng những khái niệm, những phạm trù đạo đức đã từng quen thuộc với dân tộc Việt Nam từ lâu đời, đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sung những khái niệm, những phạm trù đạo đức của thời đại mới. Chính vì vậy mà những giá trị đạo đức mới đã hòa nhập với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho mỗi người Việt Nam đều cảm thấy gần gũi và tiếp thu dễ dàng.-      Những giá trị đạo đức truyền thống được Hồ Chí Minh nâng lên tầm cao mới bằng việc thực hiện kết hợp nhuần nhuyễn. Việc tiếp thu những tinh hoa đạo đức của nhân loại đã làm cho tu tưởng Hồ Chí Minh trở nên phong phú, đã được đông đảo người nước ngoài chấp nhận. –      Với tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ thực tiễn Việt Nam thực hiện một công việc kế thừa có chọn lọc, những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

    2.      Sự hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    Tư tưởng đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh được hình thành trong điều kiện lịch sử – xã hội khá đặc biệt của đất nước, thời đại và chính cuộc đời của Người.

    a.      Quê hương và gia đình:

    –      Nghệ An cũng như Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm là quê hương của nhiều anh hùng nổi tiếng như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung và các lãnh tụ yêu nước cận đại như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu…-      Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gũi với nhân dân. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người là một nhà Nho, có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Tấm gương lao động cần cù, ý chí kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đặc biệt là tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị – xã hội của Cụ đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành.

    b.      Thời đại:

    –      Sau một thời gian bôn ba qua nhiều châu lục, nhiều quốc gia trên thế giới, chứng kiến cảnh bị áp bức, bóc lột, bất công của những người cùng khổ, bởi giai cấp thống trị trên thế giới, Nguyễn Tất Thành đã hiểu được bản chất của Chủ nghĩa đế quốc, nắm được trình độ phát triển của nhiều nước thuộc địa cùng cảnh ngộ, nhất là những năm bôn ba trong phong trào lao động ở Pháp và cùng hoạt động với những nhà cách mạng từ các nước thuộc địa của Pháp. Người đã nhanh chóng đến được với phải tả của cách mạng Pháp, gia nhập Đảng xã hội Pháp – một chính đảng duy nhất của nước Pháp bênh vực các dân tộc thuộc địa. Ngườitrở thành một chiến sĩ XHCN.-      Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, mới đưa cách mạng đến đích vinh quang. Xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Marx – Lenin, những tri thức hiện đại của nhân loại, tri thức về thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi của con người cần phải có để tham gian vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và CNXH, để cống hiến được nhiều nhất cho cuộc đấu tranh đó. Đạo đức là nguồn gốc, là nền tảng, bởi vì muốn làm cách mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc mình.

     c.       Vai trò của đạo đức cách mạng:

    –      Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hằng quan tâm sâu sắc đến đạo đức và chăm lo bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ. Chính Người  cũng là hiện thân tấm gương đạo đức trong sáng cho toán đảng , toàn dân, toàn quân, các thế hệ chúng ta học tập suốt đời. Hồ Chí Minh là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.-      Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có sự thống nhất hòa quyện với các giá trị tư tưởng đạo với các giá trị tư tưởng, văn hóa, nhân văn.chính trị và định hướng chính trị dễ dàng tìm thấy trong tư tưởng đạo đức.-      Theo Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức lấy dân làm gốc, nhằm phục vụ cho sự nghiệp chính trị vì nước, vì dân.ngược lại tư tưởng chình trị trung với nước hiếu với dân cũng là một phẩm chất đạo đức cơ bản của Hồ Chí Minh.-      Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bao quát toàn diện đối với mọi giai cấp tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt nó tác động mạnh mẽ đến việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên của tuổi trẻ Việt Nam. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị to lớn lâu dài trong phạm vi dân tộc và quốc tế. Quan hệ đạo đức của Hồ Chí Minh thể hiện chủ yếu là quan hệ với mình, với người, với công việc. Thực tiễn đạo đức Hồ Chí Minh là sự cống hiến hy sinh đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc.-      Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức tiến bộ, chân chính, tiêu biểu cho phẩm chất đẹp đẽ nhất của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Như vậy tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cách mạng.Tóm lại: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm cơ bản, toàn diện về đạo đức bao gồm nhận thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức được thể hiện trong những quy đinh về phẩm chất đạo đức, nguyên tắc xây dựng đạo đức, yêu cầu rèn luyện đạo đức mới, đạo đức cách mạn.

    Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh:

    a.      Trung với nước, hiếu với dân:

    –      Hồ Chí Minh đưa vào khái niệm cũ một nội dung mới mang tính cách mạng, đó là trung với nước hiếu với dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

    b.      Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    :–      Khái niệm đạo đức cũ được Hổ Chí Minh tiếp thu chọn lọc đưa vào những yêu cầu và đây là những nội dung mới.-      Người chỉ ra rằng phong kiến nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không thực hiện; ngày nay, ta đề ra cần kiệm liêm chính cho cán bộ làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân.-      Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là 1 biểu hiện sinh động của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”.-      Hồ Chí Minh viết:“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, ĐôngĐất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, BắcNgười có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, ChínhThiếu một mùa, thì không thành trờiThiếu một phương, thì không thành đấtThiếu một đức, thì không thành người”.

    c.      Thương yêu con người:

    Có 2 hạng người: thiện và ác-      Có 2 việc: chính và tà.-       Làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác.-      Người kết luận: những người bị áp bức bóc lột, những người làm điều thiện thì dù màu da, tiếng nói, chủng tộc, tôn giáo có khác nhau, vẫn có thể thực hành chữ: “Bác Ái”, đại đoàn kết, đại hòa hợp coi nhau như anh em một nhà.

    d.      Tinh thần quốc tế trong sáng thủy chung:

    Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc, và sự phân biệt chủng tộc.-     Người khẳng định bốn phương vô sản đều là anh em, giúp bạn là giúp minh, thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới. từ đó, tạo ra 1 kiểu quan hệ quốc tế mới, đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo nền văn hóa hòa bình.

    II.               TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH1.       Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng:

    a.      Nhận thức về con người:

    –      Từ thập kỷ bốn mươi của thế kỷ XX Hồ Chí Minh bàn đến chữ  “người” với nhiều nghĩa và phạm vi khác nhau. Nghĩa hẹp: gia đình ,anh em , họ hàng, bầu bạn. nghĩa rộng: đồng bào cả nước. rộng nữa: cả loài người

    b.      Thương yêu, quý trọng con người:

    – Con người ở đây là đồng bào đồng chí là người Việt Nam yêu nước là già, trẻ, gái, trai, miền xuôi, miền ngược….-      Hồ CHí Minh thương yêu những người nô lệ mất nước , những người cùng khổ, giai cấp vô sản bị bóc lột , những thanh niên chết vô ích ở Việt Nam dù họ là da trắng , da đen, người Pháp hay người Mỹ. bởi vì “ máu nào cũng là máu ; người nào cũng là người”. Những dòng máu đó đều quý như nhau.

    c.      Tin vào sứmạnh, phẩm giá và tính sáng tạo của con người:

    Theo Hồ Chí Minh, “ Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân ”. –      Vì vậy, “ Vô luận việc gì, đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”. –      Người cho rằng: “Việc dễ mấy không có nhân dân cũng chịu, việc khó mấy có dân liệu cũng xong”. Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần.

    d.      Lòng khoan dung rộng lớn

    2.      Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng:

    a.      Con người vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng:

    –      Mục tiêu cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc , giải phóng xã hội, giải phóng con người, thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.      Khẳng định con người là mục tiêu của cách mạng thì 1 điểu qua trọng là mọi chủ trương đường lối chính sách của đảng, chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người. Có thể đó là lợi ích lâu dài, trước mắt, lợi ích cả dân tộc và lợi ích cả bộ phận, giai cấp tầng lớp và cá nhân.

    b.      Con người là động lực cách mạng:

    –      Được nhìn nhận trên phạm vi cả nước toàn thể đồng bào song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân. Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp, giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.-      Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức có lãnh đạo. Vì vậy vai trò của Đảng Cách Mạng lấy chủ nghĩa Mác_Lê làm nền tảng tư tưởng là vô cùng qua trọng. Qua các phong trào Cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ nhân sức mạnh của con người lên gấp bội.      Hồ Chí Minh quan niệmVì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm thì phải trồng người”.·       Trồng người là công việc trăm năm không thể nóng vội một sớm một chiều, không phải làm một lúc là xong, cũng không phải tùy tiện đến đâu hay đó. Nhận thức và giải quyết vấn đề thường trực bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người. Theo tinh thần của LêNin : “ Học, học nữa, học mãi”. Và của Khổng Tử : “ Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Việc học không bao giờ cùng, còn sống là còn phải học”.  Xây dựng con người là chiến lược hàng đầu của cách mạng

    III.             TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA VĂN HÓA:

    1.      Quan điểm chung của Hồ Chí Minh về văn hóa:

    1. Vị trí vai trò:–      Tháng 8- 1943, khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạnh, Hồ Chí Minh nêu ra 1 định nghĩa về văn hóa:-      “ Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.·        Người dự định xây dựng nền văn hóa dân tộc với 5 điểm:·        Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.        Xây dưng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.  Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. ·        Xây dựng chính trị: dân quyền.        Xây dựng kinh tế.      Sau  CMT8-1945, văn hóa được Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng.      Văn hóa có mối quan hệ mật thiết với kinh tế – chính trị – xã hội được nhận thức như sau.        Văn hóa quan trọng ngang với kinh tế, chính trị, xã hội.    Chính trị, xã hội có được giải pháp thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.·        Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa.·        Văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng phát triển kinh tế.b. Tính chất nền văn hóa mới:–      Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hóa mới là nền văn hóa dân chủ mới, đồng thời là nền văn hóa kháng chiến.-      Có 3 tính chất·        Tính dân tộc.    Tính khoa học.      Tính đại chúng.c.      Chức năng của văn hóa.      Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.-      Nâng cao dân trí.-      Bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành mạnh, luôn hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ và không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

    2.      Tư tưởng Hổ Chí Minh về 1 số lĩnh vực văn hóa:a.      Văn hóa giáo dục:

    –      Người quan tâm xây dưng nền giáo dục mới của nước việt nam độc lập. nền giáo dục này được hình thành từ những năm hai mươi, thật sự ra đời từ CMT8 thành công và phát triển cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hồ Chí Minh xác định xây dựng nền giáo dục mới là 1 nhiệm vu cấp bách, có ý nghĩa chiến lược, vì nó góp phần làm cho dân tộc ta xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. văn hóa giáo dục là 1 mặt trận quan trọng công cuộc xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà.-      Quan điềm của Hồ Chí Minh về văn hóa giáo dục:·        Mục tiêu của văn hóa giáo dục·        Cải cách giáo dục.    Phương châm, phương pháp giáo dục.ü  Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, phối hợp nhà trường gia đình xã hội.ü  Phương pháp: giáo dục phải xuất phát và bám chắc vào mục tiêu giáo dục.·        Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên.b.      Văn hóa văn nghệ:–      Văn nghệ là 1 mặt trân, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội và con người mới.-      Phải gắn với thực tiễn của đời sống của nhân dân, phải có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và thời đại.c.      Văn hóa đời sống:–      Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới với 3 nội dụng: đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới. Trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ yếu nhất.

    IV. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN VĂN, VĂN HÓA VÀO VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM MỚI HIỆN NAY

    1.      Học  tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống:

    –      Bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.-      Biết giữ gin đạo đức , nhân phẩm, lương tâm, danh dự.

    2.      Học tập và vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:

    –      Xây dựng một xã hội nhân văn theo quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh là phải bảo đảm công bằng xã hội, trong đó có sự quan tâm tới lợi ích của cá nhân, tập thể và cộng đồng; bảo đảm bình đẳng của các thành phần kinh tế trên cơ sở khẳng định vị trí chủ đạo của nền kinh tế nhà nước.

    3.      Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa:

    –      Có tinh thần yêu nước, tư cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghéo nàn, lạc hậu , đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội .-      Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.-      Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần, kiệm, trung thực, nhân nghĩa ,tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.-      Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.-      Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thế lực.Người quan niệm về Tài – Đức:”Người có tài mà không có đức là vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khóNgười có tài càng cao thì đức phải càng cao”

    CPV- Ngày 10/1/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 34/CT/TW về Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương. Toàn văn chỉ thị như sau:
    Trong hai năm 2004-2005, các hội văn học, nghệ thuật ở Trung ương sẽ tiến hành đại hội nhiệm kỳ, Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật được tiến hành trong bối cảnh nhân dân ta sau 17 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thu được những thành tựu rất quan trọng, tạo điều kiện cho đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
    Năm năm qua, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) bước đầu đi vào cuộc sống, văn học, nghệ thuật nước ta phát triển mới
    cả về sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu lý luận, phê bình, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần xã hội, bồi dưỡng, giáo dục con người, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Trong nhiệm kỳ qua, các Hội văn học, nghệ thuật đã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ tập hợp văn nghệ sĩ, hướng dẫn và động viên, khen thưởng kịp thời văn nghệ sĩ đi sâu vào thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, mở được nhiều trại sáng tác, đã góp phần tạo nên các thành tựu văn học, nghệ thuật.
    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn ít những tác phẩm có giá trị cao, có ý nghĩa lâu bền, phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống của nhân dân, của đất nước trong những giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của nhiều nhân tố đã nảy sinh những vấn đề mới trong hoạt động văn hóa, văn nghệ cần được nhận thức đúng và giải quyết tốt để đẩy mạnh sự nghiệp văn học, nghệ thuật phát triển.
    Đại hội các Hội văn nghệ, nghệ thuật nhiệm kỳ này cần phấn đấu đạt được những mục đích, yêu cầu sau:
    1- Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật phải thực sự là đợt sinh hoạt chính trị và nghề nghiệp quan trọng của giới văn nghệ nhằm đánh giá đúng tình hình hoạt động sáng tạo của văn nghệ sĩ và hoạt động của các cấp hội. Phân tích sâu sắc hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật hiện nay, khẳng định những khuynh hướng sáng tác lành mạnh chủ đạo, khuyến khích tìm tòi sáng tạo hướng tới những giá trị chân – thiện- mỹ trong văn học, nghệ thuật. Đánh giá đúng thực trạng của công tác nghiên cứu lý luận, phê bình. Kiểm điểm toàn diện hoạt động của tổ chức hội và trách nhiệm các ban chấp hành.
    Các Hội cần quán triệt sâu sắc phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa của nước ta thời kỳ mới là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
    Trên cơ sở đó cần xác định nhiệm vụ trung tâm của công tác văn học, nghệ thuật trong thời gian tới là: tiếp tục phấn đấu tạo ra nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ. Tiếp thu truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, có tác dụng sâu sắc giáo dục con người. Thực hiện tốt phương châm lấy tác phẩm tốt cổ vũ, giáo dục con người và xã hội, tạo nguồn giải trí lành mạnh, đẩy lùi những hoạt động văn nghệ phản động, đồi trụy, phi nhân tính, phi dân tộc.
    Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 18-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác văn học, nghệ thuật và các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ, các đại hội cần phát huy trí tuệ tập thể hội viên, xác định đúng phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp để đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu lý luận, phê bình, đưa sự nghiệp văn học nghệ thuật phát triển mạnh mẽ.
    2- Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật cần cụ thể hóa mô hình tổ chức, đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của các hội phù hợp với tình hình thực tiễn, thực hiện tốt nhiệm vụ đoàn kết, bồi dưỡng, động viên đội ngũ văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm chính trị và mọi tiềm năng sáng tác, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
    3- Với tinh thần đoàn kết, dân chủ, xây dựng và sáng tạo, đại hội các Hội văn học, nghệ thuật bầu ra được Ban Chấp hành mới đủ phẩm chất năng lực, có khả năng đoàn kết, tập hợp văn nghệ sĩ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Hội trong nhiệm kỳ mới.
    Để đại hội các Hội văn học, nghệ thuật đạt được mục đích, yêu cầu trên, Đảng đoàn, Ban Chấp hành các Hội cần chuẩn bị tốt báo cáo của Ban Chấp hành, báo cáo sửa đổi điều lệ, báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành cũ và làm tốt công tác nhân sự Ban Chấp hành mới theo hướng giới thiệu từ cơ sở.
    Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật lần này là đại hội đại biểu. Đảng đoàn và Ban Chấp hành các Hội cần chỉ đạo chặt chẽ việc bầu chọn đại biểu, kể cả đại biểu chỉ định dự đại hội, bảo đảm các đại biểu là những văn nghệ sĩ tiêu biểu cho các thế hệ, các vùng, miền, các dân tộc, các lứa tuổi.
    Căn cứ số lượng hội viên, các Hội cần xác định số lượng đại biểu đại hội toàn quốc thích hợp, với mức tối đa không quá 500 đại biểu.
    Đại hội các Hội văn học, nghệ thuật nhiệm kỳ này là một sự kiện chính trị quan trọng. Ban Bí thư Trung ương Đảng ủy nhiệm đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương; đồng chí Phạm Gia Khiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ cùng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ, Đảng đoàn Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật, trực tiếp chỉ đạo chặt chẽ các Đảng đoàn các Hội văn học, nghệ thuật chuẩn bị tốt nội dung kế hoạch tiến hành đại hội, phương án nhân sự Ban Chấp hành mới. Chuẩn bị phương án nhân sự Tổng thư ký Hội và những vấn đề quan trọng nhất để trình Ban Bí thư xem xét.
    Căn cứ phương án kế hoạch đại hội đã được phê duyệt, các Hội lập dự toán tài chính trình Chính phủ xem xét, giải quyết.
    Các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng các bộ, ngành có liên quan căn cứ tinh thần Chỉ thị này để chỉ đạo tổ chức tốt đại hội các Hội văn học, nghệ thuật địa phương; chỉ đạo các chi hội chuyên ngành trung ương hoạt động tại địa phương bầu các đại biểu đi dự đại hội và tạo điều kiện thuận lợi cho các đại biểu được bầu tham gia đại hội đại biểu toàn quốc.
    Ban Bí thư giao Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương căn cứ nội dung Chỉ thị này xây dựng văn bản hướng dẫn các đơn vị thực hiện./. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. 1 – Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội… Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức. 2 – Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng: Một là: Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân. Hai là: Nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình… Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi. Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…3 – Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”. Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước… Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Nghĩ về trí tuệ và bản lĩnh của Đảng lãnh đạo

    PTO- Mừng Đảng, mừng Xuân năm nay có niềm vui lớn là sự nghiệp đổi mới có những thành tựu mới hết sức nổi bật:

    Chính trị, xã hội của đất nước ổn định. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5%, mức cao nhất trong 10 năm qua. Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt ngưỡng 100 tỉ USD. Thu hút trên 20 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài, cao hơn cả một số nước có thu nhập trung bình.  Xóa đói giảm nghèo chuyển biến tốt. Lần đầu tiên nước ta nhận lãnh trách nhiệm ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc. Việt Nam được coi là ngôi sao kinh tế đang lên, thực sự sánh vai cùng bè bạn năm châu trên chính trường quốc tế. Tuy còn có những mặt yếu về chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững; về năng lực cạnh tranh về giá tiêu dùng tăng cao; về đẩy lùi tham nhũng, lãng phí,  tai nạn và tệ nạn xã hội; đời sống người lao động nhất là nơi bị thiên tai, một số vùng nông thôn và miền núi còn khó khăn song những bước tiến đáng kể trên con đường phát triển thực sự là tín hiệu lạc quan về sự hồi sinh và phục hưng dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.

    Thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới cũng như trong cách mạng và kháng chiến trước đây chứng minh trí tuệ và bản lĩnh của Đảng lãnh đạo.

    Trí tuệ của Đảng bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng có tầm nhìn chính trị xa và rộng, thấy trước và thấy đúng diễn biến tình hình, xu thế phát triển trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi bước ngặt lịch sử để đề ra đường lối chiến lược, sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đã vận dụng, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, kết hợp tinh hoa văn hóa của nhân loại với kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong hoạch định đường lối cách mạng, Người đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, về đạo đức – văn hóa – nhân văn, về xây dựng Đảng và Nhà nước, về đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế đã và sẽ tiếp tục soi đường cho cuộc đấu tranh vì Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh do Đảng ta lãnh đạo. Khi có sai lầm về đối tượng và cách làm cải cách ruộng đất hoặc chủ quan duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung, Đảng đã tự phê bình và sửa chữa, kiên quyết đổi mới, rũ bỏ những khuôn sáo trói buộc, tổng kết thực tiễn sáng tạo để đưa cách mạng tiến lên.

    Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng là sự kế thừa và phát huy ý chí đấu tranh kiên cường của dân tộc, vững vàng trước mọi thử thách hiểm nghèo, không lùi bước trước khó khăn, không ngại hy sinh gian khổ. Cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, gắn bó với dân, dựa chắc vào dân, hết lòng hết sức phục vụ lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đảng không phải là thần thánh mà là một thực thể xã hội. Đảng viên sống giữa đời thường không tránh khỏi phạm sai lầm khuyết điểm song nếu biết lắng nghe tổng hợp trí tuệ của dân, biết nhìn thẳng vào sự thật, kiên quyết đấu tranh phòng tả, chống hữu, làm trong sạch đội ngũ thì đảng mới thực sự vững mạnh. Bản lĩnh của Đảng tỏ rõ ở khả năng chủ động phòng ngừa, hóa giải các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng.

    Hiện nay công cuộc đổi mới toàn diện đưa đất nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới tiềm ẩn biến động khó lường, còn có sự chống phá của các thế lực thù địch. Đó là một sự nghiệp cách mạng mới mẻ khó khăn phức tạp chưa có tiền lệ trong lịch sử, đặt ra những thử thách lớn đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

    Sau Đại hội X, các hội nghị Trung ương Đảng đã cụ thể hóa đường lối trên các mặt theo hướng lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội. Gần đây nhất, hội nghị Trung ương V-VI quyết định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa và thực hiện công bằng xã hội, giải quyết các vấn đề mới nảy sinh như phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Ngoài vấn đề xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng sẽ tiếp tục làm rõ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đội ngũ trí thức; chiến lược giáo dục và phát triển văn học nghệ thuật. Đảng sẽ tổng kết bổ sung, phát triển cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới chuẩn bị xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020.

    Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, Đảng nhấn mạnh phải nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng XHCN, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới chiếm địa vị chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Phải thường xuyên cảnh giác các cấp. Dù các thế lực thù địch có nhiều âm mưu quỉ kế thực hiện diễn biến hòa bình nhằm lật đổ chế độ song đội ngũ của Đảng vững vàng thì chúng không làm gì được. Ngôi nhà làm bằng gỗ tứ thiết hoặc bằng tre được ngâm tẩm kỹ thì không sợ mối mọt làm sụp đổ.

    Về mặt nâng  cao sức chiến đấu và chất lượng  đội ngũ cán bộ, đảng viên từ cơ sở, Đảng nhấn mạnh phải chỉnh đốn đạt yêu cầu trong sạch vững mạnh. Để ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí và suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, ngoài đẩy mạnh giáo dục rèn luyện, học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phải khắc phục tình trạng kỷ cương, lỏng lẻo ở nhiều cấp nhiều ngành, xử lý kỷ luật không nghiêm, nói không đi đối với làm.

    Toàn Đảng, toàn dân đón nhận và thực hiện các nghị quyết của Trung ương Đảng với niềm tin vững chắc vào trí tuệ, bản lĩnh của Đảng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện qua thử thách trong đấu tranh cách mạng. Với thế và lực mới, có sự dẫn dắt của Đảng, cuộc chiến đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh sẽ có sức bật mới, đạt nhiều thành tựu mới ngay từ năm 2008 nhằm đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển.

    Giáo dục thanh niên vừa hồng, vừa chuyên

    17:43′ 21/8/2008 Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lớp người tiếp bước cha anh kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang. Sinh thời Người nói: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần lớn do các thanh niên”(1). Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng, toàn dân: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt… Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng, vừa chuyên”(2). Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, của công tác đoàn và phong trào thanh niên trong những năm qua, thái độ và ý thức chính trị của thanh niên có chuyển biến tích cực, quan tâm và có trách nhiệm hơn với sự phát triển của quê hương, đất nước, tích cực tham gia các hoạt động do Đoàn, Hội tổ chức. Ý thức lập thân, lập nghiệp của thanh niên cao hơn trước. Thanh niên có khả năng tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại, năng động, sáng tạo, ham học hỏi, chủ động vươn lên tiếp cận với cái mới. Lòng nhân ái, tinh thần xung phong, tình nguyện, tương thân, tương ái của thanh, thiếu nhi ngày càng được khơi dậy và phát huy. Tâm thế, năng lực hội nhập quốc tế của thanh niên ngày càng tự tin và chủ động hơn. Vai trò, vị trí của thanh niên trong xã hội tiếp tục được đề cao và nhận được sự quan tâm nhiều hơn của Đảng, Nhà nước và các lực lượng xã hội. Bên cạnh những thuận lợi và xu hướng tích cực, một bộ phận không nhỏ thanh niên còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành luật pháp; xu hướng chạy theo bằng cấp, nhận thức lệch lạc về học nghề, chọn nghề, định hướng nghề nghiệp còn khá phổ biến. Lao động chưa qua đào tạo, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, hoặc việc làm không ổn định và thu nhập thấp vẫn là vấn đề bức xúc của thanh niên. Không ít thanh niên còn thụ động, ỷ lại, chưa tích cực vươn lên tự tạo việc làm, còn ngại khó, ngại khổ, ngại về nông thôn, miền núi công tác. Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn, buông thả, thực dụng, thờ ơ, ngại tham gia vào các hoạt động chính trị – xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực trẻ chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH, đặc biệt trong quá trình hội nhập.Trong thời kỳ cách mạng mới, quán triệt và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ mang ý nghĩa chiến lược quan trọng. Tư tưởng của Bác về “hồng” và “chuyên” phản ánh những quan điểm cơ bản của Người về quá trình hình thành thế hệ con người mới đảm đương sứ mệnh xây dựng CNXH trên đất nước chúng ta. Theo chúng tôi, vận dụng tư tưởng của Bác trong việc giáo dục thanh niên, có mấy điểm rất cơ bản là:- Giáo dục toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tri thức khoa học, chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe… để tạo dựng bản lĩnh cách mạng cho thế hệ trẻ.- Nắm vững quan hệ biện chứng giữa “hồng” và “chuyên”, coi “hồng” là gốc. Ngày nay, với mục tiêu chiến lược là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gìn giữ và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì vấn đề quan trọng và cần thiết trong công tác thanh niên chính là tăng cường giáo dục, đào tạo thanh niên thành lớp người vừa ‘hồng” vừa “chuyên”. Nói cách khác là phải nâng cao chất lượng phong trào “rèn đức”, “luyện tài” để góp phần hình thành đội ngũ đông đảo những người lao động trẻ – nguồn nhân lực trẻ – đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Rèn đức đòi hỏi tự thân nâng cao lòng yêu nước, trung thành với Đảng, với nhân dân, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần dũng cảm vượt qua khó khăn, xây dựng nếp sống, văn minh, tích cực đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Luyện tài là ra sức học tập, nâng cao trình độ chính trị, học vấn, khoa học, công nghệ, quản lý, để phát triển tài năng cống hiến có hiệu quả, phục vụ đất nước, đưa nước ta đi lên “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn và tin tưởng. Trong công tác thanh niên phải tăng cường nghiên cứu, học tập, kế thừa những nội dung giáo dục, bồi dưỡng đức và tài cho thanh niên theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, soi rọi vào thực tiễn công tác giáo dục thế hệ trẻ nước ta, từ đó xây dựng chương trình hành động, đề ra các giải pháp, phương pháp, hình thức, cách làm sáng tạo với những bài học sâu sắc trong công tác giáo dục thế hệ trẻ nước ta.Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đoàn và sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, trong những năm qua các cấp bộ đoàn đã tích cực triển khai việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào bồi dưỡng, giáo dục các thế hệ thanh niên Việt Nam với những nội dung và hình thức giáo dục sinh động. Các phong trào “Thi đua tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “4 đồng hành với thanh niên trên đường lập thân, lập nghiệp”. “5 xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đặc biệt là việc triển khai các cuộc vận động: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” liên tục được tổ chức và đổi mới hình thức hoạt động. Hoạt động “Tiếp lửa truyền thống, mãi mãi tuổi 20”… thông qua các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo, hội thi kể chuyện, viết cảm tưởng, tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, biên soạn và phát hành tài liệu học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho đoàn viên, thanh thiếu nhi… đã phát huy nhiều tác dụng.Đặc biệt, trước yêu cầu quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và tình hình thanh niên biến đổi nhanh chóng, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên nhằm bồi dưỡng và phát huy hiệu quả vị trí, vai trò trách nhiệm của thanh niên trong tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) đã ra Nghị quyết “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Đây là cơ hội và điều kiện rất thuận lợi để các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội chăm lo công tác thanh niên. Để nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, chúng tôi cho rằng thời gian tới, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần tập trung triển khai tốt nội dung giáo dục thế hệ trẻ vừa “Hồng”, vừa “Chuyên” theo tư tưởng của Bác Hồ với những nội dung, giải pháp sau1- Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục l‎ý tưởng cho thanh niên một cách tổng thể, từ quan điểm, nhận thức, nội dung, hình thức, phương pháp, giải pháp, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đối tượng thanh niên. Việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng phải được tiến hành trên cơ sở khoa học và thường xuyên, liên tục thông qua việc tổ chức cho đoàn viên thanh niên học tập các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, học tập 6 bài lý luận chính trị và tiếp tục triển khai cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” với mục tiêu đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh thấm đượm trong tư tưởng, lý tưởng của thanh niên, góp phần củng cố niềm tin của thanh niên vào sự nghiệp đổi mới.2- Việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục lý tưởng trên cơ sở đảm bảo đồng bộ và thống nhất giữa hoạt động giáo dục của các chủ thể, các lực lượng giáo dục, trong đó hoạt động giáo dục trong nhà trường và của Đoàn thanh niên phải phù hợp với tâm lý, đời sống giới trẻ, phải rất coi trọng phát huy dân chủ, phát huy năng lực, trí tuệ, sáng tạo của thanh niên. Thông qua các buổi toạ đàm, diễn đàn, các sinh hoạt gắn với cộng đồng, các tấm gương điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt.3- Các hình thức giáo dục cần sinh động, gần gũi, phù hợp với thanh niên, trong đó cần quan tâm nhiều hơn đến đối tượng thanh niên tự do, thanh niên trong các doanh nghiệp ngoài quốc doamh, thanh niên chậm tiến, mắc các tệ nạn xã hội, thanh niên vùng sâu, vùng xa. Các hoạt động giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân cho thanh niên phải gắn với việc tổ chức các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động tình nguyện tại cộng đồng nhằm phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ. 4- Đẩy mạnh phong trào thi đua học tập trong đoàn viên thanh niên, đi đầu xây dựng xã hội học tập, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học; triển khai có kết quả phong trào sáng tạo trẻ trong các đối tượng thanh niên nhằm phát huy trí tuệ, lòng say mê và khả năng sáng tạo của tuổi trẻ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống nhất là ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ sinh học trong thời gian tới. 5- Các địa phương có những giải pháp cụ thể để triển khai có kết quả đề án dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên mà Chính phủ vừa phê duyệt.Triển khai tốt 2 phong trào lớn: “4 đồng hành với thanh niên trên đường lập thân, lập nghiệp” và “5 xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”mà Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX đã phát động, đồng thời chủ động đăng ký với Chính phủ và UBND các địa phương đảm nhận triển khai thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội nhằm bồi dưỡng và phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) của Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” và vận dụng tư tưởng của Bác về “hồng” và “chuyên”, các cấp ủy đảng, các cấp bộ đoàn, các tổ chức xã hội đều cùng phát huy chức trách, nhiệm vụ nhằm làm cho thanh niên Việt Nam thật sự trở thành lớp người kế thừa xứng đáng sự nghiệp cách mạng, của Đảng và nhân dân ta.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-TRI%E1%BA%BET-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-PH%E1%BA%ACT-GI%C3%81O-V%C3%80-S%E1%BB%B0-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-TRI%E1%BA%BET-H%E1%BB%8CC-PH%E1%BA%ACT-GI%C3%81O-%C4%90%E1%BA%BEN-%C4%90%E1%BB%9CI-S%E1%BB%90NG-V%C4%82N-H%C3%93A-TINH-TH%E1%BA%A6N-C%E1%BB%A6A-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-VI%E1%BB%86T.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    LỜI MỞ BÀI

    Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau Công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, bên cạnh đó đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa. Tùy từng giai đoạn lịch sử dân tộc ta đều có một học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X – XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV – XIX, học thuyết Mác – Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX cho đến nay.

    Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH), chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Vi vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạo Phật nói chung và tư tưởng triết học của Phật giáo nói riêng đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không trở nên mê tín dị đoan, cúng bái, lên đồng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềm tin của quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, chúng ta cùng tìm hiểu Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 3

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    PHẦN I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO

    1.     Sự ra đời của Phật giáo

    Trong lịch sử triết học của ấn Độ, mà thực chất là lịch sử phát triển của các hệ tư tưởng triết học xen lẫn với tôn giáo, có một thời kỳ là thời kỳ Bàlamôn giáo, Phật giáo (từ thế kỷ VI trước công nguyên đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên). Ở thời kỳ này, mặc dù nền kinh tế đã phát triển hơn trước, nhưng nó vẫn bị kìm hãm bởi tính chất tổ chức kiên cố của công xã nông thôn, bởi sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt và sự thống trị của nhà nước trung ương tập quyền.

    Trong lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, các trào lưu triết học, mà thực chất là các hệ tư tưởng của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, xuất hiện đa dạng nhưng chia thành hai hệ thống chính đối lập nhau: chính thống và không chính thống. Hệ tư tưởng chính thống với thế giới quan duy tâm, tôn giáo của kinh Veda và giáo lý Bàlamôn trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nhưng hệ tư tưởng không chính thống với đạo Phật, đạo Jaina và phong trào đòi tự do tư tưởng, đòi bình đẳng xã hội ở vùng Đông ấn lại ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân.

    Đạo Phật đã hình thành ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, người sáng lập là thái tử Sidharta (Tất Đạt Đa) (Cồ – đăm), với tư cách là một trong những hệ tư tưởng tiên phong chống phân chia giai cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của nhân dân ấn Độ nói riêng, với con người nói chung.

    Thái tử Tất Đạt Đa (Sidharta) là con vua Tịnh Phạn (Sudhodana) nước Ca Tỳ La Vệ (Kapila vastu). Truyền kể vào năm 624 trước công nguyên, hoàng hậu MaDa (Maya) sinh hạ một hoàng tử tuấn tú tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Ưu Bát La, thường gọi là cây Vô Ưu (asokaa) có hoa với sắc màu rực rỡ. Thái tử sinh vào ngày trăng tròn tháng Vésaka, nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch và được đặt tên là Tất Đạt Đa. Lớn lên, thái tử văn võ toàn tài, vợ là công chúa Da Du Đà La (Yasodava) con vua Thiện Giác, cuộc sống rất đầy đủ, sung sướng.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 4

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về những nỗi đau khổ của con người đã ám ảnh tâm tư thái tử. Một ngày kia, thái tử ra đi, tương truyền ngài đến dòng A Nô Ma cắt tóc làm đạo sĩ. Ngài rủ năm người đến vùng Uruvela tu khổ hạnh trong 6 năm. Nhưng sau 6 năm học đạo và khổ hạnh, thái tử thấy kẻ hưởng lạc sẽ bê tha thối nát, còn tu hành khổ hạnh chỉ chuốc thêm khổ thân, chỉ có con đường trung đạo mới mong thành chính quả. Bởi thế, Thái tử đã bỏ 5 anh em ông Kiều Trần Như, dùng bát sữa của mục nữ Tu Xá Đề (Sajata), xuống sông Ni Liên tắm rửa, rồi lên thiền quán dưới gốc cây pipal (cây Tất Bát La, xứ Ba La Nại) lớn và ngồi dưới gốc cây suy nghĩ. Tương truyền là qua 49 ngày, ngài đã chứng tam minh tức là Túc mạng minh, Thiên nhân minh và Lậu tận minh, thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, năm 36 tuổi. Gốc cây chỗ ngài ngồi gọi là Bồ đề đạo dưỡng (Bodhimanda) hay Kim cương tọa (Vadjrasana).

    Sau đó, ngài tìm 5 người bạn trước đây, giác ngộ cho họ, rồi cùng họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi truyền bá tư tưởng của mình. Có những câu chuyện đã thành huyền thoại về Phật như Phật đã dừng chân bên vệ đường xâu kim cho bà già mù lòa, săn sóc, dọn dẹp ô uế cho người bệnh, nhận cơm thừa của một tiện nữ dâng cúng… Từ những việc nhỏ nhất, tất cả đều thể hiện lòng từ bi bác ái của Ngài và đạo của Ngài.

    2.     Con đường truyền đi của đạo Phật

    Sau Phật Niết bàn, các đệ tử Phật kiết tập 4 lần. Qua cuộc kiết tập lần thứ hai, do quan điểm bất đồng, Phật giáo chia thành hai phái: Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Thượng toạ bộ chủ trương bảo thủ y nguyên Phật giáo ban đầu, đọc kinh bằng tiếng Pali. Đại chúng bộ có tư tưởng cấp tiến, phóng k hóang đọc kinh bằng tiếng Sanskrit.

    Dị biệt tiếp tục phát triển, về sau giáo đoàn Phật giáo cho làm hai hệ là Nam truyền và Bắc truyền. Thượng toạ bộ chi phối Nam ấn và Phật giáo Nam truyền liên

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 5

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    tục hưng thịnh. Đại chúng bộ chi phối Bắc ấn, nhưng mãi đến thời Bồ Tát Mã Minh (Asvaghosha) 5 thế kỷ sau Phật niết bàn, mới mở màn hưng thịnh và sáng rỡ nhất là thời kỳ Bồ Tát Long Thọ (Nagarjuna) đầu thế kỷ II sau công nguyên.

    Phật giáo Nam truyền lan đến các nước phía Nam ấn: Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia và đa số trở thành quốc giáo. Phật giáo Bắc truyền lan đến các vùng phía Bắc ấn (Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, … ) mà mỗi nước lại có màu sắc riêng. Trung Hoa đã làm cho Phật giáo Bắc truyền thêm rực sáng. Sau này còn gọi Phật giáo Nam truyền là Phật giáo Tiểu Thừa, còn Phật giáo Bắc truyền là Phật giáo Đại Thừa.

    Với hai con đường thuỷ và bộ Phật giáo cũng vào Việt Nam những thế kỷ đầu công nguyên.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 6

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    PHẦN II: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO

    1.     Nhân quả

    Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác. Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ (chử pháp) là vô thủy, vô chung (vô cùng, vô tận). Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả. Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới. Mỗi một pháp (mỗi một sự việc hiện tượng, hay một lớp sự việc hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và qui định lẫn nhau.

    Tác phẩm “Thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “Có người cố chấp là có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chu pháp, đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi chi phối bởi luật nhân quả, biến hóa vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả.

    Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành, trụ, hoại, diệt (sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong). Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng. Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên”. trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên.

    Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được gọi là Nhân.

    Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 7

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả. Duyên không phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp.

    Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành. Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những yếu tố đó chính là Duyên.

    Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hóa vô thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại. Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” (mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả.

    Vô minh: (là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ).

    Hành: (là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả, tạo ra cái nghiệp, cái nếp. Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và là nhân cho Thức).

    Thức: (là ý thức là biết. Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quả cho hành và làm nhân cho Danh sắc).

    Danh sắc: (là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của ta. Do danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ). Lục xứ hay lục nhập: (là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và tri thức. Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật do Lục nhập mà có xúc – tiếp xúc. ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhân cho Xúc.)

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 8

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Xúc: (là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên, mở rộng xúc, cảm giác. Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ và làm nhân cho Thụ).

    Thụ: (là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình. Do thụ mà có ái, ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái).

    Ái: (là yêu, khát vọng, mong muốn, thích. Do ái mà có Thủ. Do ấy, ái làm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ).

    Thủ: (là lấy, chiếm đoạt cho minh. Do thủ mà có Hữu. Do vậy mà Thủ làm quả cho ái và làm nhân cho Hữu).

    Hữu: (là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái nghiệp.

    Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh).

    Sinh: (hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người, làm súc sinh. Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử).

    Lão tử: (là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải chết. Nhưng chết – sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau. Thể xác tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh. Cho nên lại mang cái nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não)).

    Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà. Các nhân duyên tự tập nhau lại mà sinh mãi mãi gọi là Duyên hà mãn. Đoạn này do các duyên mà làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau. Bởi 12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hóa vô thường.

    Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực, là không thực có sinh, có diệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian. Đó

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 9

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    chính là cái chân lý cho ta thấy được cái chân thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.

    Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành.

    Đó là sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý.

    Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “sắc” (địa, thuỷ, hóa, phong) tức là cái cảm giác được.

    Cái tôi tâm lý (tinh thần) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà không có hình chất gọi là “Danh”.

    Trong “Sắc” gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không nhìn thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là “vô biến sắc” như vật chất chuyển hóa thành năng lượng chẳng hạn. Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý (tinh thần) của con người là:

    Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội thân hay tâm.

    Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.

    Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.

    Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.

    Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân – Duyên tạo thành mỗi sinh vật cụ thể có danh và có sắc. Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta. Duyên tan ngũ uẩn thì là diệt. Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân – Duyên là vô cùng tận.

    Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hóa theo qui luật nhân hóa không ngừng không nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 10

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Không có sự vật riêng biệt, cố định, không có cái tôi, cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay. Kinh Phật có đoạn viết “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc. Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế”.

    2.     Luân Hồi

    Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học Phật giáo mà có từ trong Upanishad. Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu quả việc làm của ta, do hành động của thân thể ta. Được gọi là “Thân nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta, phát ngôn của ta thì được gọi là “khẩu Nghiệp”. Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm trí của ta gây nên được gọi là ”ý Nghiệp”. Tất cả những Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thỏa mãn tham vọng của mình gây nên. Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bản vốn có của ta cũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.

    Cuộc đời con người là sự ghánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau. Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác.

    Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người. Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “thập nhị nhân duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ chương tìm con đường diệt khổ. Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 11

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    3.     Tứ diệu đế

    Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:

    Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ, … Những nỗi khổ ấy từ đâu, chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.

    Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy do những gì tụ tập lại mà tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh. Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ), si (si mê, cuồng mê, mê muội) và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do con người không nắm được nhân duyên. Vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ. Chúng sinh khômg biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không. Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không. Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.

    Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của sự khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử.

    Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội tâm (thực nghiệm tâm linh). Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã. Tới chừng đó sẽ thấy được chân như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 12

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    4.     Bát chính đạo

    Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật tập trung thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc (Bát chính Đạo) buộc ta phải tuân thủ, bát chính đạo gồm: 1) Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để cho những cái sai che lấp sự sáng suốt, ii) Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn, iii) Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn, iv) Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác, v) Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà, không được bỏ điều nhân nghĩa, vi) Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý, vii) Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ đến những điều bạo ngược gian ác, viii) Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không bị t hóai chí, lay chuyển trước mọi cán dỗ.

    Muốn thực hiện được “Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người. Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “Ngũ giới” (năm điều răn ) và “Lục độ” (sáu phép tu ).

    “Ngũ giới” gồm: Bất sát: Không sát sinh; Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa; Bất dâm: Không dâm dục; Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo họa cho kẻ khác, không nói dối.

    “Lục độ” gồm: Bố thí: Đêm công sức, tài trí, của cải để giúp người một

    cách thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn; Trí giới: Trung thành

    với điều răn, kiên trì tu luyện; Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường

    nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình; Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn

    lên; Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 13

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    cho cái xấu cho lấp; Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.

    Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát chính đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát chính mình ra khỏi nỗi khổ. Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng Cách mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo. Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực. Như vậy Phật giáo nguyên thủy có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng sáng tạo (vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vô thường, lý thuyết Duyên khởi). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 14

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    PHẦN III: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

    Qua nghiên cứu các tư tưởng triết học của Phật giáo, có thể nhận thấy Đạo Phật hướng người Việt tới việc suy nghĩ về làm những điều thiện, làm lành lánh giữ. Tư tưởng từ bi bác ái, chủ trương khuyến thiện trừ ác, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn là những tư tưởng lôi cuốn đông đảo người Việt và trở thành người giàu lòng thương người, nhân đạo. Chính vì quan tâm cứu vớt con người trước bất công đau khổ nên người Việt đã tiếp thu và nhiệt tình ủng hộ đạo Phật. Do đó những tác động của tư tưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần người Việt là rất to lớn, ảnh hưởng đến các mặt sau:

    1.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống

    Khi được truyền vào Việt Nam, Phật Giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng này. Biểu tượng chùa Tứ Pháp thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá. Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam là tiền Phật hậu Thần cùng với việc thờ trong chùa các vị thần, các vị thánh, các vị thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc.

    2.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các tôn giáo khác

    Đó là kết quả của sự phối hợp và kết tinh của Đạo Phật với đạo Nho và đạo Lão, được các nhà vua thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa. Chính vì đặc tính dung hòa và điều hợp này mà Phật Giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưởng truyền thống của dân tộc Việt. Nó chẳng phải Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa, Tiểu Thừa hay Đại Thừa, mà nó là tất cả những khuynh hướng tâm linh của người dân Việt. Nó thực ra là cái “Đồng Qui Nhi Thù Đồ”, cùng về một đích mà đường lối khác nhau, chính tinh thần khai phóng của Phật Giáo Việt Nam đã kết tinh lấy Chân, Thiện, Mỹ làm cứu cánh để thực hiện. Nho giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Thiện,

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 15

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    tức là hành vi đạo đức để tới chỗ nhất quán với Mỹ và Chân. Đạo giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Mỹ, tức là tâm lý nghệ thuật để tới chỗ nhất quán với Thiện và Chân. Phật giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường trí tuệ giác ngộ để đạt tới chỗ nhất quán Chân, Thiện, Mỹ. Đó là thực tại Tam Vi Nhất của tinh thần tam Giáo Việt Nam. Trong nhiều thế kỷ hình ảnh tam giáo tổ sư với Phật Thích Ca ở giữa, Lão Tử bên trái và Khổng Tử bên phái đã in sâu vào tâm thức của người dân Việt.

    3.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa giữa các tông phái Phật Giáo

    Đây là một nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật Giáo Việt Nam so với các quốc gia Phật Giáo láng giềng. Chẳng hạn như Thái Lan, Tích Lan, Lào, Campuchia chỉ có Phật Giáo Nam Tông, ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ thuần tuý chỉ có Phật Giáo Bắc Tông. Nhưng ở Việt Nam thì lại dung hòa và điều hợp cả Nam Tông và Bắc Tông. Chính vì tinh thần khế lý khế cơ của Phật Giáo cộng với tinh thần khai phóng của Phật Giáo Việt Nam mới có được kết quả như vậy. Tuy thiền tông chủ trương bất lập văn tự, song ở Việt Nam chính các vị thiền sư xưa lẫn nay đã để lại rất nhiều trước tác có giá trị, đặc biệt các thiền viện ở Việt nam điều tụng kinh gõ mõ như các tự viện Tông Tịnh Độ. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì kết hợp với Mật Giáo, có nhiều thiền sư phái này như ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không điều nổi tiếng là giỏi phép thuật trong việc trừ tà, chữa bệnh.

    Điều đặc sắc ở đây là trong khi khai triển Phật Giáo Việt Nam, các thiền sư Việt Nam đã không theo thiền kiểu mẫu của các thiền sư Ấn Độ và Trung Hoa mà mở lấy một con đường riêng, phù hợp với dân tộc. Và trong khi tiếp nhận với hai luồng ảnh hưởng ấy, các thiền sư Việt Nam đã khéo léo điều chỉnh tính hai cực, Ấn Độ-Trung Hoa: một bên thì quá ham chuộng sự bay bổng, thần bí, một bên quá thực tiễn duy lý. Khi Phật Giáo vào Trung Hoa đã gây cho các nhà Phật học những cuộc tranh luận sôi nổi về giáo pháp. Rồi suốt cả quá trình lịch sử của nó là sự phái sinh ra những tôn giáo, là những cuộc đấu tranh tư tưởng dữ dội, điển hình là cuộc đấu

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 16

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    tranh giữa phái Thiền Nam Phương của Huệ Năng với Thiền Phái Miền Bắc của Thần Tú vào thời kỳ sơ đường. Còn ở Việt Nam thì khác, trên pháp đàn tư tưởng thời Lý cũng như thời Trần, thời kỳ vàng son của Phật Giáo Việt Nam và các thời kỳ sau này không có những mâu thuẩn đối lập mà tất cả điều quy về một mục đích chính là tu hành giải thoát. Phải chăng sự thống nhất về ý thức tư tưởng, dung hòa giữa các tông phái và đoàn kết dân tộc đã uốn nắn Phật Giáo Việt Nam theo con đường dung hòa thống nhất đó?

    4.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị xã hội

    Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có chủ trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của quốc gia. Ta thấy có nhiều lý do khiến các thiền sư Việt Nam tham gia vào chính sự, thứ nhất: họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi nên thấu hiểu được nổi đau khổ của một dân tộc bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang. Thứ hai: các thiền sư không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua tin tưởng và thứ ba: các thiền sư không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nho gia nên họ có thể cộng tác với bất cứ vị vua mào đem lại hạnh phúc cho dân chúng. Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã phong cho thiền sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, thời Tiền Lê có ngài Vạn Hạnh, ngài Đỗ Pháp Thuận, ngài Khuông Việt cũng tham gia triều chính. Trong đó đặc biệt thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều đại nhà Lý khi đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê Long Đỉnh, ông vua Ngọa Triều còn có biệt danh kẻ róc mía trên đầu sư. Thời nhà Trần có các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông.. điều được các vua tin dùng trong bàn bạc quốc sự như những cố vấn triều đình.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 17

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Đến thế kỷ 20, phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu. Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật Giáo và chính quyền. Đến cuối thế kỷ 20, ta thấy tinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là sự có mặt của các thiền sư Việt Nam trong quốc hội của nước nhà.

    5.     Ảnh hưởng Phật Giáo trong đời sống người bình dân và giới trí thức Việt Nam

    Cũng như tất cả dân tộc nào trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc, lúc sơ khởi người Việt Nam tín ngưỡng và tôn thờ tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình mà họ cho là có thể giúp đỡ họ hoặc làm hại đến họ như mây, mưa, sấm, sét, lửa, gió.. Trong bối cảnh tín ngưỡng đa thần này, Phật Giáo đã xuất hiện và nhanh chóng quá thân qua hình ảnh của bộ tượng Tứ Pháp ở chùa Dâu, ngôi chùa Phật Giáo đầu tiên của Việt Nam ở Luy Lâu (Hà Bắc ngày nay), đó là bộ tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điễn, một hình ảnh sống động và gần gũi với người dân nông thôn trong việc cầu xin phước lộc, cầu đảo, cầu siêu, cầu xin tất cả những gì mà cuộc sống con người đòi hỏi. Người Phật tử trong thời kỳ sơ khai này quan niệm rằng Phật là đấng cứu thế, có thể ban cho con người mọi điều tốt lành.

    Trong buổi đầu của Phật Giáo ở Việt Nam mang dáng dấp của Phật Giáo Tiểu Thừa và Mật Giáo, vì vậy đã dễ dàng gắn với phù chú, cầu xin phước lộc hơn là tôi luyện trí tuệ và thiền định. Vả lại, tính đời trội hơn tính đạo, trong quần chúng đa số là phụ nữ đến với Phật Giáo, đó là hạng người đau khổ nhất trong xã hội cũ.

    Đến thời nhà Lý, có nhiều thiền sư từ Trung Quốc sang và thiết lập nhiều thiền phái, phong trào học và tu phật phát triển mạnh ở trong giới trí thức, cung đình, đô thị, nhưng trong giới bình dân vẫn tồn tại nhất định một Phật Giáo dân gian

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 18

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    với những ảnh hưởng cảm tính vốn có từ trước. Được vua triều Lý, Trần ủng hộ, hoạt động của Phật Giáo có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng nào cũng có chùa có tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, biểu diễn rối nước, họp chợ ngay ở trước chùa

    Chùa làng đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùa không những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật mà còn là nơi hội họp,. di dưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh. Bởi vì, kiến trúc của chùa Việt Nam thường hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên, tạo thành một kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh. Khung cảnh ấy phù hợp với những giờ phút nghỉ ngơi sau giờ lao động nhọc nhằn và dinh dưỡng tinh thần của tuổi già.

    Đến thế kỷ mười lăm, Nho Giáo thay chân Phật Giáo trong lãnh vực thượng tầng xã hội, Phật Giáo từ giã cung đình nhưng vẫn vững vàng trong làng xã. Ngôi đình xuất hiện tiếp thu một số kiến trúc và nghệ thuật Phật Giáo, đồng thời trở thành trung tâm hành chính của làng xã Cửa chùa chỉ còn mở cửa cho đàn bà, con gái kêu van,nguyện cầu khi chồng bị bắt phu, con bị bắt nợ, ốm đau bệnh tật, mất mùa đói rét.. xin Phật gia hộ. Bồ Tát Quan Âm hay Phật Bà được ưa chuộng hơn xưa. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta chiêm ngưỡng được pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt trong chùa Bút Tháp (tỉnh Hà Bắc) tạc vào năm 1656. Tượng rất đẹp nhưng được tạo vào thời điểm Phật Giáo không còn tôn sùng như quốc giáo nữa, chứng tỏ Phật Giáo đã ăn sâu vào tâm tư và văn hóa nghê thuật dân gian.

    Nhìn chung không khó khăn gì khi ta phăng tìm dấu ấn Phật Giáo trong quan niệm dân gian và ta có thể phát hiện rằng nếu không có sự hiện diện của Phật Giáo ở Việt Nam thì ta sẽ mất đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh mà hiện nay ta tự hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy hội đầu xuân, không có chùa Tây Phương vời vợi, không có chùa Yên Tử mây mù, không có chùa Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông Hương.Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân bản như truyện Từ

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 19

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính, … Sẽ không có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương, … và trong tâm tư truyền thống cũng vắng tư tưởng bố thí vị tha, lòng hưởng thiện và niềm tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng tinh thần lạc quan ngây thơ của người dân Việt.

    Quả thật vậy, Đạo Phật đã có mặt ảnh hưởng khắp mọi giai tầng trong ở xã hội Việt Nam, không những trong giới bình dân mà còn ở trong giới trí thức nữa.

    Phật Giáo thiền tông ở Việt Nam phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thức, cung đình từ đinh (968-980), tiền Lê (980-1009) đến thời Lý (1010-1225) đã mang được trong mình một tinh thần Việt Nam, đó là sự ra đời của một thiền phái mới, phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông một vị vua anh kiệt đứng đầu. Nhưng thiền tông Việt Nam phát triển rực sáng nhất là ở giai đoạn nhà Trần (1226-1400) với những tư tưởng vừa thăng trầm vừa phóng k hóang của các thiền sư thời Trần đã được đúc kết trong các tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã làm cho bình diện học thuật Việt Nam lúc bấy giờ bổng bừng sáng hẳn lên. Đặc biệt sự xuất hiện thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do người Việt Nam sáng lập ra, thể hiện được đầy đủ mọi đặc trưng, độc đáo của người Việt và nó đã để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho tới ngày nay.

    Phật Giáo không những ảnh hưởng trong đới sống của người bình dân và giới trí thức mà còn ảnh hưởng qua gốc độ nhân văn và xã hội.

    6.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua ngôn ngữ

    Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá”. Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 20

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước.

    Hoặc khi muốn diễn tả một vật gì đó quá nhiều, người ta dùng danh từ “hằng hà sa số”. Nếu hỏi hằng hà sa số là cái gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp gần lưu vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số rất nhiều, ngài thí dụ như số cát sông Hằng. Hoặc khi có những tiếng ồn náo, người ta bảo “om sòm bát nhã”, do khi đến chùa vào những ngày sám hối, chùa thưởng chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà phát sanh ra cụm từ trên. Lại có những người rày đây mai đó, ít khi dừng chân ở một chổ, khi người ta hỏi anh đi dâu mãi, họ trả lời tôi đi “ta bà thế giới”. Ta bà thế giới là thế giới của Đức Phật Thích Ca giáo hóa, theo thế giới quan của phật giáo thì thế giới ta bà to gấp mấy lần quả địa cầu này, hoặc khi các bà nẹ Việt Nam la mắng các con hay quậy phá, các bà nói: “chúng bay là đồ lục tặc”, tuy nhiên họ không biết từ lục tăc này phát xuất từ đâu? Đó là từ nhà phật, chỉ cho sáu thằng giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp của ngoại cảnh luông luôn quấy nhiễu ta.

    Còn nghiều từ ngữ khác như từ bi, hỷ xã, giác ngộ, sám hối đã được người dân Việt Nam quen dùng như tiếng mẹ đẻ mà không chút ngượng ngập lạ lùng. Sự ảnh hưởng phật giáo không ngừng ở phạm vi từ ngữ mà nó còn lan rộng, ăn sâu vào những ca dao dân ca và thơ ca của người dân Việt Nam nữa.

    7.     Ảnh hưởng Phật giáo qua ca dao và thơ ca

    Ca dao dân ca là một thể loại văn vần truyền khẩu, dễ hiểu trong dân gian, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Không ai biết rõ xuất xứ cũa những lời ca hát đó ở đâu, chỉ biết rằng nó thường được thể hiện dưới hình thức câu hát ru em, những câu hò đối đáp giữa các chàng trai cô gái tuổi đôi mươi hay để kết thúc mỗi

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 21

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    câu chuyện cổ tích mà các cụ già kể cho con cháu nghe mang tính chất khuyên răng dạy bảo. Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng thơ lục bát bao gồm nhiều đề tài khác nhau, tư tưởng đạo lý của phật giáo cũng thường được ông cha ta đề cập đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở, khuyên răng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống an vui phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam.

    8.     Ảnh hưởng Phật giáo qua các tác phẩm văn học

    Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn chúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của phật giáo. Ở đây chúng ta không đề cập đến dòng văn học chính thống của phật giáo, tức là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá trình tu tập của mình, mà chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý phật giáo mà thôi. Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi phật giáo du nhập vào nước Việt, nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành, nhưng để thấy rõ ràng hơn, ta chỉ đề cập đến sự ảnh hưởng của phật giáo trong thơ văn từ khi người Việt Nam đã viết chữ Nôm, chữ Việt thành thạo nghĩa là bắt đầu thừ thế kỷ thứ 18 trở về sau.

    Tác phẩm chữ nôm nổi tiếng trong thế kỷ thứ mười tám là Cung Oán Ngâm Khúc của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Gia thiều (1741-1798), tác phẩm viết bằng thơ nôm. Thể song thất lục bát, dài 356 câu, là khúc ngâm của người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán than về thân phận mình. Nội dung tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của phật giáo, nhất là triết lý ba pháp ấn Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.

    Theo cái nhìn của phật giáo, khi mô tả nỗi khổ chúng sanh thường được dùng ẩn dụ như khỗ ải (bể khổ). Cái khổ ấy từ đâu mà có, vốn từ chỗ lầm chấp, vô minh của con người mà có, từ chỗ mê lầm ấy mà được hình dung bằng mê tân (bến mê), Như thế danh từ bể khổ của phật giáo đã giúp ông Nguyễn Gia Thiều diễn tả thấu đáo nỗi khổ đau của kiếp người, cái khổ đau ấy, cái vô thường ấy không những chi

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 22

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    phối ở con người mà còn ở cả cây cỏ, hoa, lá, thế giới vô tình, tất cả chịu chung qui luật khắc nghiệt ấy.

    Qua thế kỷ thứ mười chín, với thi hào Nguyễn Du (2765-1820) ta có được một án văn bất hủ là Truyện Kiều, là một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát dựa theo tác phẩm Kim Vân Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), gồm 3254 câu thơ. Đây là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo, trong đó ta thấy nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế, một phần quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần về hiếu đạo và thuyết về nhân quả và nghiệp báo. Điều đó có lý, vì lẽ chính Nguyễn Du đã tự nhận mình là một phật tử và từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã đến cả ngàn lần.

    Thật vậy, Đoạn Trường Tân Thanh dường như chỉ là để chứng minh cho triết lý nhân quả của Phật Giáo. Theo thuyết này, những điều họa phúc mà con người phải gánh chịu ở kiếp này điều có nghiệp nhân ở kiếp trước, khi mới sinh ra ở đời ta phải mang lấy cái nghiệp tức là cái kết quả của những vô minh ái dục mà ta đã gây tạo từ trước, và cuộc đời của chúng ta sẽ hạnh phúc hay đau khổ, tai họa hay may mắn đều tùy thuộc vào cái nghiệp thiện hay ác, tốt hay xấu, nặng hay nhẹ mà chính mình đã gây tạo.

    Trong đoạn trường tân thanh nàng Kiều phải mang một cái nghiệp rất nặng. Vì cái nghiệp ấy mà người con gái đầu xanh chưa tội tình gì mới bước chân vào cuộc đời đã gặp biết bao khổ lụy: cha và em trai bị tù tội, mối tình đầu tan vỡ, và bắt đầu từ đó nàng lăn lóc từ nơi này qua nơi khác, có khi tưởng ra khỏi vòng nhưng rồi lại bị lôi cuốn đày đọa, mãi cho đến khi tự vẫn ở sông Tiền Đường, Đạm Tiên mới cho biết rằng nàng đã qua khỏi bước đoạn trường và sắp được sống một cuộc đời vui tươi sáng lạn.

    Qua ý tưởng phước đức, duyên nghiệp trên của Đoạn Trường Tân Thanh ta thấy cụ Nguyễn Du rõ ràng đã chịu ảnh hưởng sâu xa của Phật Giáo. Nàng Kiều bao

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 23

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    nhiêu năm chìm nổi điêu đứng vì một chữ nghiệp, cứ mỗi lần thất bại là một lần ý nghĩa của chữ ấy càng rõ rệt thấm thía đối với thân phận của nàng. Sự tin tưởng của nàng cũng là sự tin tưởng của Nguyễn Du, người đã từng chịu đau khổ và bao phen thất bại nên thức tỉnh và tìm đường trở về vớí Chánh pháp.

    Nếu ở đãu thế kỷ thứ mười chín chúng ta có Nguyễn Du thì cuối thế kỷ thứ mười chín chúng ta có Mạnh Chu Trinh (1862-1905) một nhà thơ VN người làng Phú Thị, huyện K hóai Châu, tỉnh Hải Hưng, ông đậu tiến sĩ năm 1902. Là một người tài hoa về thơ, giỏi và thích kiến trúc, ông đã từng vẽ kiểu và trùng tu chùa Thiên Trù ở Hương Tích. Cũng trong thời gian (giữa những năm 1891-1892) xây dựng chùa này mà ông đã sáng tác nhiều bài thơ độc đáo về phong cảnh Hương Tích và tất nhiên thơ của ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần của Phật Giáo, chẳng hạn như bài:”Hương Sơn Phong Cảnh”.

    Thật vậy qua những bài thơ này, ta thấy thơ của Chu Mạnh Trinh đã phản chiếu được lòng tin của ông đối với giáo lý nhà Phật và qua cái nhìn ông một cảnh vật ở đó thật giải thoát, an lạc, thanh vắng, và có thể nói cảnh vật Hương Sơn với ông trở thành một cõi riêng của Phật trong đó không những người tín đồ mà cho đến cả chim, cá, khe, động đều thấm nhuần được ánh sáng của Chánh Pháp.

    Qua đầu thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta có một nhà thơ đáng yêu, tuy không phải là tín đồ Phật Giáo, nhưng thỉnh thoảng văn thơ của ông cũng đã ảnh hưởng ít nhiều từ ngôn ngữ, tư

    Những chữ trời từ bi, chín từng trời, Đao Lợi, Đâu Suất, thành chánh quả..đều là danh từ của nhà Phật. Hay với J. Leiba một nhà thơ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ thứ 20 cũng có những bài ảnh hưởng sâu đậm triết lý nhà Phật, có thể nói J. Leiba là nhà thơ trẻ nhất thời đó đã quay về với Đạo Phật để tìm lấy sự an lạc cho tâm hồn cho những ngày cuối đời mình:

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 24

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    Và với Vũ Hoàng Chương (1916-1976) nhà thơ nổi danh khác của Việt nam lại đi xa hơn, mượn ngay những giáo lý của Phật như Nhân Quả, Luân Thường, khổ

    đau..để diễn tả nổi niềm khao khát vượt ra khỏi bờ mê, để đến bến giác.

    Điểm qua một số thơ văn Việt Nam có những ảnh hưởng của Phật Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết học Phật Giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn tư tưởng của Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng trên mặt văn chương xuất bản mà Phật Giáo còn có mặt trong nhiều phong tục tập quán ở Việt Nam.

    9.     Ảnh hưởng Phật Giáo qua phong tục, tập quán

    Phong tục tập quán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa của mỗi dân tộc. Thông qua việc tìm hiểu phong tục tập quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóa mang bản chất truyền thống của các dân tộc. Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng phật giáo khá nhiều. Song ở đây người viết chỉ đề cập đến những tập tục phổ biến trong đời sống hằng ngày của người Việt.

    a.      Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sanh và bố thí

    Về ăn chay, hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm từ bi của phật giáo. Vì khi đã trở về với phật pháp, mỗi người phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới căn bản là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài. Trong hành động lời nói và ý nghĩa, người phật tử phải thể hiện lòng từ bi. Điều không thể có được khi con người còn ăn thịt, còn uống máu chúng sanh.

    Về mặt ăn uống, ăn chay rất phù hợp với phong cách ăn uống Á Đông, chú trọng ăn ngũ cốc nhiều hơn thực phẩm động vật, vả lại ăn chay giúp cho cơ thể được nhẹ nhàng, trí óc được minh mẫn sáng suốt. Gần đây các bác sĩ Soteylo, và bác sĩ Varia Kiplami cho biết trong các thứ thịt có nhiều chất độc, rất nguy hiểm cho sức

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 25

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    khoẻ con người. Và các nhà khoa học đều cho rằng ăn chay rất hợp vệ sinh và không kém phần bổ dưỡng. Trên tinh thần đó, nên nguời việt nam dù không phải là Phật Tử cũng thích ăn chay, và tập tục này đã ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam từ xưa đến nay.

    Ăn chay và thờ phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam. Việc thờ phật trong dân gian cũng có nhiều điều thú vị. Người phật tử, người mộ đạo thờ phật đã đành, nhiều người không phải là phật tử cũng dùng tượng phật hay tranh ảnh có yếu tố phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm. Theo quan niệm của nhóm người này, phật giáo là một thành tựu về tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại.

    b.     Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và lễ chùa

    Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tục cúng sóc vọng, tức là ngày mặt trời mặt trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh, tổ tiên có thể liên lạc, thông thương với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết lập là ngày trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi là ngày Bố tát và ngày sám hối, người tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu nguyện bỏ ác làm lành và sửa đổi thân tâm. Quan niệm ngày sóc vọng là những ngày trưởng tịnh, sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa. Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên Ông Bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tánh của họ.

    c.      Ảnh hưởng Phật giáo qua nghi thức ma chay, cưới hỏi

    Đây cũng là sinh hoạt thường xảy ra trong đời sống người Việt. Về ma chay, theo phong tục của người Việt Nam và Trung Hoa trước đây rất là phiền phức và

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 26

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    hao tốn. Tuy nhiên nhờ có sự dẫn dắt của chư tăng thì tang lễ diễn ra đơn giản và trang nghiêm hơn.

    • những gia đình không theo Đạo Phật nhưng do người quá cố hoặc gia chủ mến chuộng Đạo Phật nên họ thỉnh chư tăng, ni đến tụng kinh cầu siêu cho hương linh và tổ chức tang lễ giống như những tín đồ theo Đạo Phật. Nhìn chung, tập tục ma chay tại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ những nghi thức của Phật giáo.

    Ngoài những phong tục của người Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo đã được kể trên, chúng ta còn thấy một số tập tục khác cũng tương đối phổ biến và có ít nhiều liên quan đến Phật giáo mà chúng ta phải ghi nhận.

    • Các phong tục tập quán khác: thủ tục đốt vàng mã, tập tục coi ngày giờ, tập tục cúng sao hạn, Tập tục xin xăm, bỏi quẻ.

     

    10.           Ảnh hưởng của Phật giáo qua các loại hình nghệ thuật

     

    a  Phật giáo thể hiện qua nghệ thuật sân khấu

     

    Nghệ thuật sân khấu cũng là một loại hình văn hóa, nhất là các chủng loại

    này thuộc về di sân mang tính bản sắc của văn hóa dân tộc song song với những phần đã nêu ra ở trên. Tính triết lý “nhân quả báo ứng” của Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong các bài ca tuồng, vở diễn phù hợp với đạo lý phương đông và nếp sống truyền thống của dân tộc.

    b. Ảnh hưởng Phật giáo qua nghệ thuật tạo hình

    • Về kiến trúc : Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, cố nhiên đã đem theo các kiểu kiến trúc chùa tháp, lầu chuông gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ, Miến Điện và Trung Hoa. Tuy nhiên theo thời gian, tinh thần khai phóng của Phật giáo phối hợp cung với lối tu duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một mô hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam. Chùa tháp ở Việt nam thường được

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 27

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    xây dựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa bao giờ cũng ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng. Theo Nguyễ Quân và Phan Cẩm Thương thì kiến trúc Chùa Tháp ở Việt Nam là “một quần thể kiến trúc có quy mô không lớn, tương xứng với tầm vóc con người, phân bố lớp kiến trúc theo một trục dọc kéo dài gây cảm giác đi sâu không cùng, đưa tự nhiên xen kẻ trong các thành phần, chú trọng cảnh quan sông nước, vườn chùa, làm cho công trình có tính chất cởi mở luôn lớn hơn khối thực thể của nó”.

    • Về điêu khắc: Ngày nay có dịp tham quan viện bảo tàng lớn ở Việt Nam, chúng ta sẽ thấy nhiều cốt tượng, phù điêu của Phật giáo được trưng bày, đó không những là một niềm tự hào của nền văn hóa dân tộc Việt mà còn là dấu vết chứng minh sự ảnh hưởng của Phật giáo có mặt trong lĩnh vực này.

    Và về hội họa: Mái chùa cổ kính giữa núi non tĩnh mịch hay các lễ hội viếng chùa ngày đầu xuân hoặc tư tưởng độc đáo của triết học, của thiền học Phật giáo luôn là đề tài gây nhiều cảm hứng cho các nghệ nhân và họa sĩ Việt Nam. Nhiều trang lụa, tranh màu nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến Phật giáo đã được các họa sĩ, nghệ nhân lên tuổi ở Việt Nam thể hiện một cách sống động và tinh tế qua các tác phẩm.

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 28

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    KẾT LUẬN

    Qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta phần nào hiểu thêm được nguồn gốc ra đời của Phật giáo, hệ tư tưởng của Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và người dân ta, đồng thời hiểu thêm về lịch sử nước ta. Đặc biệt đề tài này cho chúng ta thấy rõ vấn đề có ý nghĩa quan trọng, đó là vấn đề xây dựng hình thành nhân cách và tư duy con người Việt Nam trong tương lai với sự hỗ trợ của những giá trị đạo đức nhân văn của Phật giáo, cũng như một số tư tưởng tôn giáo khác.

    Dù còn những khuyết điểm, hạn chế song chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đạo đức to lớn mà Phật giáo đã mang lại. Đặc trưng hướng nội của Phật giáo giúp con người tự suy ngẫm về bản thân, cân nhắc các hành động của mình để không gây ra đau khổ bất hạnh cho người khác. Nó giúp con người sống thân ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình.

    Tuy nhiên, để giáo dục nhân cách đạo đức của thế hệ trẻ thì như thế vẫn chưa đủ. Bước sang thế kỷ XXI, chuẩn mực nhân cách mà một thanh niên cần có đòi hỏi phải hoàn thiện cả về mặt thể xác lẫn tinh thần, phải có đủ khả năng chinh phục cả thế giới khách quan lẫn thế giới nội tâm.

    Đạo đức thế kỷ XXI do vậy có thể khai thác sự đóng góp tích cực của Phật giáo để xây dựng đạo đức nhân văn toàn thiện hơn, tự giác cao hơn vì sang thế kỷ XXI, bên cạnh sự phát triển kỳ diệu của khoa học, những mâu thuẫn, chiến tranh giành quyền lực rất có thể sẽ nổ ra và dưới sự hậu thuẫn của khoa học, các loại vũ khí sẽ được chế tạo hiện đại, tàn nhẫn hơn, dễ dàng thoả mãn cái ác của vài cá nhân và nguy cơ gây ra sự huỷ diệt sẽ khủng khiếp hơn. Khi đó đòi hỏi con người phải có đạo đức, nhân cách cao hơn để nhận ra được cái ác dưới một lớp vỏ tinh vi hơn, “sạch sẽ” hơn.

    Như vậy trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam. Việc khai thác hạt nhân tích cực hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là thế

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 29

    Trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chính Minh                                                    Bộ môn Triết học

    hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lược đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của xã hội – gia đình – nhà trường – bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực cả truyền thống và hiện đại.

    Chúng ta tin tưởng vào một thế hệ trẻ hôm nay và mai sau cường tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tinh thần, đạo đức tác phong trong sáng kế thừa truyền thống cha ông cũng như những giá trị nhân bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng xã hội ngày càng ổn định, phát triển.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Giáo trình Đại cương lịch sử triết học – Nguyễn Ngọc Thu, Bùi Văn Mưa – Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM.

     

    • Văn hóa Việt Nam – Những điều cần học hỏi – Vũ Ngọc Khánh – Nhà xuất bản Văn Hóa – Thông Tin (Hà Nội-2001).

     

    • Tìm hiểu về văn hóa Việt Nam – Trần Ngọc Thêm-PGS-TS khoa học, Viện sĩ nước ngoài viện hàn lâm KHTH Nga – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (2001).

     

    • Mạng Internet.

     

    Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống VH tinh thần của người Việt Trang 30


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH-V%E1%BB%80-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-V%C4%82N-H%C3%93A-%C4%90%E1%BA%A0O-%C4%90%E1%BB%A8C-V%C3%80-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-CON-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-M%E1%BB%9AI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong cuộc sống hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đọ đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Bác nói rất nhiều về đạo đức, văn hóa cũng như về xây dựng con người trong thời chiến cũng như thời bình theo nhiều cách khác nhau. Những hành động cử chỉ của Bác, lời nói đã để lại nhiều bài học cho chúng ta học hỏi.

    Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồ i dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũ ng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đ ào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

    Trong giai đoạn hiện nay, một phần cán bộ Đảng viên, các thanh thiếu niên đã sai lầm với những chuẩn mực đạo đức, v ăn hóa suy đoài gây tác hại không nhỏ đến người khác và sự vững chắc cũng nh ư làm lung lay long tin vào Đảng trong toàn th ể nhân dân. Vì vậy giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ và cán bộ Đảng viên đồng thời không ngừng nâng cao trình độ văn hóa không nằm ngoài mục đích xây dựng con người mới xã hội mới đưa đất nước đi lên dân giàu nước mạnh.

    • nghĩa của bài tiểu luận “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa đạo đức và xây dựng con người mới ” soi rõ con đường mà Đảng và nhân dân ta đã và đang đi, đề cao nhiệm vụ xây dựng đất nước, nâng cao tư duy lí luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng đại của Đảng và nhà nước ta.

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    CHƯƠNG I : SƠ LƯỢC ĐỀ TÀI

    I.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

    Đạo đức là toàn bộ thiện, ác, lươ ng tâm, danh dự , hành động, trách nhiệm về lòng tự trọng v ề công bằng hạnh phúc, về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi giữa người với người, cá nhân và xã hội.

    Người là lãnh tụ bàn nhiều nhất về đạo đức, nhưng Người thực hành về đạo đức còn nhiều hơn những gì mà người nói, viết. Hồ Chí Minh xây dựng đạo đức cách mạng dựa trên hai nội dung :

    Một là xây dựng những chuẩn mực của nền đạo đức mới. Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể…

    Hai là xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới.

    Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ.

    I.1.2 Vai trò của đạo đức trong cách mạng nước ta

    Đạo đức là một ván đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh đối vớ i sự nghiệp CMVN, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu, phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.

    Đạo đứ c là cái gốc của cách mạng. Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, Người nói :” cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi cách mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”

    Trong điều kiện Đảng cầm quy ền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy Người yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Đạo đức trở thành nhân tố quy ết định sự thành bại của mọi công việc và là phẩm chất mỗi con người. Chính vì vậy, Hồ Chí Monh luôn coi trọng giáo d ục, rèn luyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗ i đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng , thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị v ật ch ất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời số ng tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội…

    Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà nhân văn chân chính, nhà văn hóa kiệt xuất ngay từ rất sớm đã nắm b ắt được quy luật hình thành, vận động và phát triển của một nền văn hóa. Trong nhận thức của Người, “Văn hóa Việt Nam ch ứa đựng sự kỳ diệu giữa cái ổn định và cái linh hoạt” bởi lẽ nền v ăn hóa này có sợi dây liên hệ b ền chặt với cuộc sống. Và, một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người v ề văn hóa đó là “Văn hóa phải gắn liền với cuộc sống”. Tư tưởng cố t lõi này trở thành nội dung xuyên suốt được quán triệt sâu sắc góp phần mang lại nét độc đáo riêng có trong hầu hết các giá trị văn hóa mà Hồ Chí Minh để lại.

    Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy Người đã xuất phát từ phạm trù “sinh tồn” để kiến giải phạm trù văn hóa.

    Người coi văn hóa là kết qu ả tổ ng hợ p của mọi phương thứ c sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi củ a sự sinh tồn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, v ăn hóa là mộ t bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Từ sự nhận thức đó, Hồ Chí Minh chỉ ra: kiến thiết xã hội phải có bốn lĩnh vực (kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội) cùng được coi trọng. Trong đó, văn hóa ở vào vị trí trung tâm, có vai trò đ iều tiết xã hội. Theo Người muốn xác định vai trò đó, mọi hoạt động văn hóa phải thực sự hòa quy ện, thâm nh ập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của đông đảo quần chúng nhân dân với đầy đủ những mảng tối sáng đầy góc cạnh của nó làm đối tượng phản ánh và phục vụ. Quan trọng hơn, văn hóa phải “thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng” (Hồ Chí Minh toàn tập, Tr. 10, Tr. 59) góp phần “soi đường cho quốc dân đi”, tạo sức mạnh dời non lấp bể như gốc của cây, nguồn của sông. Theo lôgíc của lập luận này, Hồ Chí Minh khẳng định chính đời sống hiện thực là “kho tài nguyên vô tận” để khơi đậy những mạch nguồn sáng tạo. Nếu người cán bộ văn hóa xa rời cuộ c sống, đứng ngoài cuộc sống, không theo kịp mạch đập của cuộc sống tất sẽ phải đối diện với sự khô héo, cằn cỗi, nghèo nàn và nhàm chán trong chính sáng tạo của mình. Ngược lại, nếu biết bắt nhịp với cuộc sống đời thường vốn trần trụi, gai góc và đang hối hả trào tuôn thì khi đó văn hóa sẽ được sống bằng nguồn năng lượng vô cùng mà đời sống trao cho.

    G ắn v ăn hóa với đời sống, Hồ Chí Minh xác định cơ chế vận hành của nền văn hóa trên trục trung tâm là các hoạt động của con người. Từ chỗ đặt các vấn đề văn hóa củ a con người vào vị trí những dự kiến quan trọng nhất, Người cho rằng con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa – chủ thể cuộc sống, chủ thể của quá trình lao động sản xuất phải được bồi dưỡng, vun đắp.

    Thực chất của những tư tưởng này là, Hồ Chí Minh không chỉ coi trình độ, các giá trị nhân bản là “chất liệu”, là “sự nghiệp trăm năm của văn hóa”, mà văn hóa phải là

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 5 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    động lực cho sự phát triển. Vì vậy quan điểm này không chỉ có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng mộ t nền văn hóa thuộc về con người, quan trọng hơn còn chỉ ra cơ sở mang lại sức sống mãnh liệt cho văn hóa.

    I.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Con người

    Người quan niệm : con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh vô cùng rộng lớn, nhưng tựu chung lại vẫn là tình yêu thương con người. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người, vì con người và phục vụ con người.

    I.3.1 Nhận thức về con người

    Khác với một số quan niệm về nhân dân lao động và về con người,…. Hồ Chí

    Minh đề cập con người cụ thể, trong thời gian và không gian cụ thể, không có con người chung chung, trừu tượng phi nguồn gốc lịch sử hay hay con người kiểu tôn giáo. Hồ Chí Minh đã từng nói:” chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Ngh ĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộ ng hơn nữa là cả loài người”. Như vậy, quan niệm “bốn bề đều là anh em” rất rõ ràng, cụ th ể. Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh là sự đồng cảm với những người cùng chung cảnh ngộ, của những người dân mất nước, nô lệ, lầm than. Trái tim Người hòa nhịp với khát vọng cháy bỏng đượ c giải phóng của các dân tộc bị áp bức. Người đau chung nổ i đau của nhân lo ại lầm than. Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Ng ười đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi áp bức, b ất công. “ Từ giải phóng những ngườ i nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người” .Đó chính là mục tiêu mà Hồ Chủ tịch đã từng khẳng định trong lời ra mắt của báo “Người cùng khổ” (Le Pari) tại nước Pháp năm 1921

    Đứng trên lập trường giai cấp công nhân, từ khi về nước lãnh đạo nhân dân đấu trnh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh lại dùng đến khái niệm “đồng bào”, “quốc dân”, “trí thức”, “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “người chủ xã hội” …

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 6 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    CHƯƠNG II. NỘI DUNG

    II.1 Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung

    Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đả ng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “vă n hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đả ng ta mớ i thành lập và khi nhà nước cách mạng mớ i ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là n ền tảng tinh thần c ủa xã hội, “văn hóa soi đường cho qu ốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một b ộ phậ n của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là b ộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bở i lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của mộ t xã hộ i, người ta không thể không nói đến con người trong xã hộ i, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạ o đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được d ư luận xã hội th ừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.

    Như v ậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất t ốt đẹp của con ng ười do tu dưỡng theo nhữ ng tiêu chu ẩn đó mà có. Trong các quan h ệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.

    II.2 Mối tương quan về Đạo đức và Văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh

    Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn

    xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về nh ững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không ph ải dưới góc độ nh ững ý kiến, những suy nghĩ riêng l ẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tứ c là nghiên cứu d ưới góc độ một họ c thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư t ưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đứ c là mộ t bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vờ i về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấ u cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

    Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chấ t cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan đi ểm của Người về đạo đức, nhữ ng quan đ iểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệ p củ a Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 7 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

    Khái niệm đạ o đứ c, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mớ i, cao hơn nữ a là đạo đức cách mạ ng, đạo đức của cán bộ , đảng viên. Nh ững phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

    Một là: Trung với nước, hiếu với dân, suốt đờ i phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắ ng. Không phải một lần mà rấ t nhiều lần, không phải đối với mộ t số đối tượng nhất định mà đối với rất nhi ều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.

    Hai là: Nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hạ i đến Đảng, đế n nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu c ực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậ y, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hi ểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực kh ổ khó kh ăn có gan chịu đự ng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…

    Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, ngu ồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệ m là ti ết kiệm sức lao động, tiết kiệm th ời gian, tiết ki ệm tiền của của nhân dân, của n ước, củ a bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọ ng, gìn giữ c ủa công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đố i với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu ti ến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với ng ười thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việ c tư , việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 8 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Trung, hi ếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vố n có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời củ a ông cha ta, song đã được Chủ tị ch Hồ Chí Minh đổ i mới và phát triể n, th ậm chí có những khái niệ m đổi mới hẳn về nộ i dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ , nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩ m chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền v ăn hóa mớ i. Nó là sự kết hợp tinh thầ n cách mạng củ a giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.

    Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đứ c Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng h ơn, vượt qua khuôn khổ qu ốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…

    II.3 Thực trạng về vấn đề đạo đức và văn hóa trong xã hội hiện nay.

    II.3.1 Đạo đức trong Đảng viên

    Trong cuộc sống hiện tại v ới nhiều áp lực chi phố i về tiền bạc, danh vọng, một số cán bộ Đảng viên đã đi sai với quy chuẩn đạo đức. Sự suy thói về đạo đức, lối sống dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên diễn ra rất nghiêm trọng.

    6 suy thoái về đạo đức cán bộ Đảng viên là :

    • Suy thoái về đạo đức, lối sống trong phần lớn cán bộ Đảng viên.
    • Trong nội bộ,phương thức hoạch định, tổ chức tham mưu… ngày càng tăng, trước kia là thâm hụt nhỏ, bớt xén. Nay là chia chát, đấu thầu……
    • Chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gi tăng.
    • Nói nhiều làm ít, nói mà không làm.
    • Quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật.
    • Tham nhũng, nhũng nhiễu dân gây hậu quả nặng nề trên nhiều mặt.

    Tóm lại, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, về ph ẩm chất đọ đức, lối sống dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phhi, sách nhiễu của mộ t bộ phận không nhỏ cán bộ công ch ức, Đảng viên diễn ra nghiêm trọng làm cho nhân dân bất bình, lo lắng, giảm lòng tin đối với Đảng, nhà nước, là nhân tố kiềm hãm bướ c tiến của công cuộc đổi mới và là nguy cơ, hiểm họa lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, chế độ ta.

    II.3.2 Đạo đức trong học sinh sinh viên

    Vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng, khi nh ững học sinh mầm non biết nói tục, chửi thề, bắt chước các hành vi “nhạy cảm” trong phim ảnh. Học sinh tiểu học xé bài trước mặt thầy cô khi bị điểm th ấp. Học sinh trung học vô lễ với thầy cô, sử điểm trong xổ liên lạc, đánh nhau xé quần áo. Sinh viên mua điểm, sao chép luận văn….

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 9 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Ngoài ra, thanh thiếu niên còn có biểu hiện sống hưởng thụ, coi nặng vật chất, tiêu sài hoang phí, lười lao động, sống ích kỉ….

    II.3.3 Đạo đức trong xã hội

    Hiện trạng đạo đức suy thoái gây nhức nhối cho xã hội, làm cho lòng dân không yên, xã hội tiềm ẩn những mất ổn định. An ninh xã hội và an toàn cuộc sống bị đe dọa.

    Nhữ ng biểu hiện đó chứng tỏ rằng, dù đã ra khỏi lạm phát và khủng ho ảng kinh tế từ năm 1996, nhưng giờ đây dường như cúng ta đang phải đối mặt v ới sự xuống cấp về đạo đức tinh thần xã hội, từ những đổ vỡ. phân rã trong gia đình (ly hôn và ly thân, xung độ t thế hệ) đến những giảm sút nghiêm trọng vai trò và ý nghĩa của đạo đức trong quan hệ con người ở các cơ quan, công sở, trong Đảng, chính quyền các tổ chức đoàn thể của hệ thống chính trị.

    Khi nói đến “văn hóa giao thông” hẳn ai cũng biết người tham gia giao thông phải tôn trọng trật tự và lu ật giao thông, cụ thể h ơn nữa là không vượt đèn đỏ, không đi ngược chiều,..v..v..Có th ể nói tình hình văn hóa giao thông hiện nay là kết quả cảu đạo đức xã hội và luật pháp bị coi thường, nghiêm trọng đến mức con người biết là đang làm điều sai điều xấu nhưng không còn biết xấu hổ với xung quanh, v ới chính mình. Khi lòng tự trọng bị mất đi thì văn hóa bệnh viện và tất cả các loại v ăn hóa khác cũng trở nên thiếu hụt. Chữa b ệnh và xây dựng văn hóa gaio thông phải chữa tử gốc, xây trên nền móng đạo đức xã hội với việc hình thành nhân cách và lối sống mới thành thói quen văn minh trong xã hội.

    II.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đạo đức văn hóa và con người mới trong xã hội Việt Nam

    II.4.1 Xây dựng con người là chiến lược hàng đầu của Cách mạng

    Con ngườ i phải đượ c đặt vào v ị trí trung tâm của sự phát triển. Nó vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nướ c với nghĩa rộng, v ừa nằm trong chiến lược giáo dụ c – đào tạo theo nghĩa hẹp. Người khẳng định :Muốn xây dựng CNXH, trước hết cần có những con người XHCN. Hồ Chí Minh quan niệm “Vì lợi ích mườ i năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.” Để “trồng ngườ i”, có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục – đào tạo là biện pháp quan trọng b ậc nhất. Bở i vì giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đ em lại tương lai tươi sáng cho thế hệ trẻ. Ngược lại giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng x ấu đến thế hệ trẻ. Hồ Chí Minh nói vai trò của giáo dục: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu:dốt thì dại,dại thì hèn….Cho nên phải chống giặc dốt cũng như

    chống giặc đói, giặc ngoại xâm, giặc nội xâm. Muốn có cán bộ tốt, công dân tốt, phải “trồng” và dĩ nhiên là rất công phu. Chủ tịch Hồ Chí Minh ch ỉ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục v ới cách mạng giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước: “mu ốn giữ vững n ền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quy ền lợ i của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước.

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 10 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    Vì thế, giáo d ục có tầm quan trọng hàng đầu trogn chiến lược con người, bởi giáo dục đào tạo nên chất người, nên nhân tài. Trong Nhật ký trong tù, Bác viết: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo d ục mà nên”. Chiến lượ c giáo dục là hạt nhân trong chiến lược con người, cung cấp trí thức mới, đào tạo nên nhân tài cho cho đất nước. Gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trương đầu tiên của n ước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945, Bác viết:”Ngày nay, các cháu đượ c cái may mắn h ơn cha anh là được hưởng một n ền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các cháu nên những ngườ i công dân có ích cho nước Việt Na, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu…Đó là một nền giáo dục “vì lợi ích trăm năm” của đất nước.

    Trong những năm vừa qua, một bộ ph ận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũ ng, lãng phí, có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đ áp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Đại hội X đã đề ra mục tiêu những năm tớ i của giáo dục và đào tạo là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ ch ức, nội dung, phương pháp d ạy và học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.

    Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ, phải đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Hai mặt đức, tài thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó “đức” là gốc, là nền tảng cho tài năng phát triển. Phải kết hợp giữa nhận th ức và hành động, lời nói với việc làm… Có như vậy mớ i có thể “học để làm ngườ i”. “Trồng người” là công việc “trăm năm”, không th ể nóng vộ i “một sớ m một chiều”, không thể làm một lúc là xong, cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó. Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa thường trực, bền bỉ trong suố t cuộ c đời mỗi con người, trong suố t thời lì quá độ lên CNXH. Vì vậy không được coi nh ẹ, sao nhãng sự nghiệp giáo dục. Theo tinh thần V.I Lênin: “ Học học nữa, họ c mãi” và của Khổng Tử: “Họ c không biết chán, dạy không biết mỏi”, H ồ Chí Minh cho rằng: “việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học”. Cả cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người H ồ Chủ tịch là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

    II.4.2 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (nă m 1991) của Đảng ta nêu rõ rằ ng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội

    • Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng
    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 11 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Đặt trọng tâm vào nhi ệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn th ể qu ần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế , chính trị , xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nướ c. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ ni ệm 75 năm Ngày thành l ập Đả ng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”.

    Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng v ăn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước…

    Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dườ ng nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền v ăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh v ấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ ph ải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cầ n, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ph ải giữ gìn Đảng ta thật trong sạ ch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

    II.4.3 Liên hệ bản thân

    II..4.3.1 Thực hành tiết kiệm

    Là sinh viên, tôi luôn đảm bảo chi sài hợp lý, không dùng vào những việc vô ích. Không tiêu sài hoang phí, ăn chơi lêu lỏng.

    II.4.3.2 Về tham nhũng, lãng phí, quan liêu

    Tôi sẽ cùng mội người dân sống và làm việc theo pháp lu ật, lành mạnh, sống có trách nhiệm, không phung phí trong cuộc số ng hằng ngày, khi thấy người nào có tư tưởng quan liêu , sống lãng phí, bản thân phải cùng với nhân dân đóng góp ý kiến, giup nhau cùng sữa chữa với hướng tích cực, không lợi dụng để trù dập.

    II.4.3.3 Hướng phấn đấu

    Thường xuyên trao dồi, học tập và làm theo Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    Luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tập thể phấn đấu vì lợi ích chung, có lối sống lành mạnh, trong sáng, giản dị, không phô trương hình thức, nói

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 12 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    đi đôi với làm, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Luôn nâng cao trình độ, phấn đấu không ngừng

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 13 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    CHƯƠNG III KẾT LUẬN

    Cuộc đời của Ch ủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí minh là sự thống nh ất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin,sự tôn trọng và y chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc,giải phóng xã hội,giải phóng con ngườ i.tính nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đặt hạnh phúc nhân dân lên trên hết.ở Hồ Chí Minh nhân dân không phải là một khái niệm chung chung.,mơ hồ mà là cộng đồng việt naml là từng con người,từng cuộc đời ,từ ng hoàn cảnh cụ thể.cho đến lúc đi xa,người ch ỉ nghĩ đến sự đoàn kết toàn dân,sự phát triển và tiến bộ của đảng,củ a dân tộc;người vẫn dành muôn ngàn tình thương yêu cho mọi người.lời dạy của bác muôn vàng kính yêu cũng chính là tâm niệm của mỗ i thanh niên.đảng và nhà nướ c ta luôn dành sự quan tâm tin tưởng đặt biệt đối với thế hệ trẻ,đó chính là niềm cỗ vũ lớn lao,là lao động mạnh mẽ đê tuổi trẻ tự tin,vững bước./.

    Những lời dạy c ủa Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩ m chất trung vớ i Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ c ũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thứ c c ủa chúng ta về các lời dạy của Bác không đế n nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay đòi hỏi ph ải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đả ng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một că n bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể số ng củ a Đả ng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗ i cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 14 –

     

    TIỂU LUẬN

    TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1/ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – NXB LĐ Hà Nội 2005. 2/ Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh – Bộ giáo dục và đào tạo. 3/ Thư viện tài liệu (www.tailieu.vn) 4/ Báo điện tử (www.baomoi.com)

    5/ Báo Bình Định (www.baobinhdinh.com.vn )

    6/ Tạp chí cộng sản (www.tapchicongsan.org.vn )

    SVTH : HUỲNH MINH VIỄN  
    MSSV : 072351 B – 15 –

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-Nh%E1%BB%AFng-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-nho-gi%C3%A1o-v%C3%A0-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Enghen đã khẳng định:

    “Không có cơ sở văn minh Hi Lạp và đế quốc La Mã thì tuyệt nhiên không có Châu Âu hiện đại”.

    Vậy học tập Enghen chúng ta có thể đặt vấn đề:

    “Nếu không có văn minh cổ đại Trung Quốc thì không có nước Việt Nam ngày nay”.

    Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộng lớn. Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay. Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão tử… Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi được rằng học thuyết Nho gia. Nhà người phát khởi phát là Khổng tử là có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng. Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế) Nho giáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn và luôn luôn giữ vị trí đó cho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến. Điều đó đã minh chứng rõ ràng: Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếu không sao nó có thể có sức sống mạnh mẽ đến như vậy.

    Từ đầu thế kỷ XX đến nay, rất nhiều người đã phê phán đạo Nho, tố cáo tính chất bảo thủ, phi khoa học của nó. Nhưng nếu lấy quan điểm lịch sử mà xem xét, ở thế kỷ XX rõ ràng Nho giáo là cổ hủ nhưng ở giai đoạn trước có vậy không.

    Vào thế kỷ X trên bán đảo Đông Dương có 3 vương quốc: Đại Việt, Cham Pa, Khmer, lực lượng ngang nhau. Dần dần Đại Việt chiếm ưu thế, vừa đủ sức chống lại phong kiến phương Bắc, vừa khai hoang Nam Tiến, át hẳn 2 vương quốc kia. Phải chăng đạo Nho đã đóng một vai nhất định trong sự hình thành tương quan lực lượng ấy. Phải chăng chúng ta đã du nhập đạo Nho của Trung Quốc rồi sau đó biến thành một công cụ chống laị. Biện chứng lịch sử là như thế. Nho giáo là công cụ để phong kiến phương Bắc dùng để lệ thuộc các dân tộc khác, nhưng vừa là công cụ giúp các dân tộc chống lại Trung Quốc.

    Chính vì ý nghĩa và vai trò to lớn của Nho giáo đối với tiến trình phát triển của Trung Quốc và Việt Nam nên em có hứng thú đặc biệt với đề tài “Những tư tưởng cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta”. Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 2 phần:

    Phần I: Tiến trình phát triển của Nho giáo và một số nội dung chính của nó.

    Phần II: ảnh hưởng của Nho giáo tới đời sống văn hoá Việt Nam.

     

     

    Phần I

    VÀI NÉT VỀ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG TÍCH CỰC CỦA NÓ.

    I. VÀI NÉT VỀ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO.

    Nói đến Nho giáo thì việc đầu tiên không thể không nhắc tới: đó là Khổng Tử. Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời, trước đây hơn 2000 năm, đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ quê hương của Khổng Tử từng cảm khái viết: “Khổng Tử áo vải, truyền hơn 10 đời, được các học trò coi là tổng sư, từ thiên tử, vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh”.

    Năm1982, một học giả Mỹ viết “Hành vi cao quý và tư tưởng lý luận đạo đức của Khổng Tử, không chỉ ảnh hưởng tới Trung Quốc mà còn ảnh hưởng tưói trần nhân loại” Khổng Tử là người nước Lỗ thời Xuân Thu tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Từ thiếu niên đến 30 tuổi, Khổng Tử chuyên cần học tập và tập luyện nắm vững các tri thức về lễ nghi, âm nhạc, xạ tiễn, ngự xạ, thư, số là sau ngành tri thức căn bản thời ấy. Sau đó ông đi giảng dạy bốn phương, nghiên cứu học vấn trong vài chục năm rồi san định, biên soạn các sách được đời sau gọi là lục kinh như Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu.

    Khổng Tử sống trong thời kỳ thay đổi lớn, biến động lớn. Từ lâu, thiên tử nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cục thể xã hội biến chuyển thay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn cho mình những thái độ sống khác nhau. Là một triết nhân thái độ của Khổng Tử hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ, vừa sùng thượng đổi mới. Trong tâm trạng phân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa để giữ vững sự tồn tại chung và khai sáng hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học phái Nho giáo tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc.

    Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩa phong phú sức tạp đến đâu, nói cho cùng cũng chi và thiết lập một trật tự nghiêm cẩn của bậc đế vương và thành lập một xã hội hoàn thiện. Hệ thống tư tưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2500 năm lịch sử Trung Quốc.

    Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân tử truyền bá rộng về sau. Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống. Đổng Trọng Thư đời Hán hấp thu nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chính của Khổng Tử, phụ hội thêm Công Dương Xuân Thu lợi dụng âm dương bổ sung thay đổi lý luận trở thành học thuyết thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyết chính trị của Tuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học.

    Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh truyện để lưu truyền. Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó. Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi cử đời Đường. Khổng học càng được giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ “Nay trẫm yêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu Không coi như chim thêm cánh, như cá gặp nước, không thể không có được”. Từ đó, Khổng Tử với đế vương, với chính phủ các triều đại đều có quan hệ như Đường Thái Tông hình dung.

    Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt – thời kỳ nhà Tống, vị hoàng đế  khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ trì nghi lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học. Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học.

    Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời nhà Đường, trải qua nỗ lực của Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Thương Tái, Trình Di, Trình Hạo đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời Nam Tống là người tập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lý học. Lý học trình Chu nhấn mạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đại  giáo cung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủ chuyên chế. Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luận ngữ, Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ. Điều ấy xem ra xa với chủ trương thiện lương, trí tuệ, ngoan cường của Khổng Tử ở thời Xuân Thu, góp phần tạo nên một hình ảnh Khổng Tử khác mang màu sắc vì yêu cầu giữ thiên lý mà diệt mất nhân đục, đạo mạo bàn xuông dẫn đến tiêu diệt cá tính, thậm chí hư ngụy, giả dối nữa.

    Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của Trần Lượng, Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông. Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc.

    Do vì Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi giai tầng xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính.

    II. MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH CỦA NHO GIÁO

    Chúng ta tìm hiểu vì Nho giáo khi nó đã tồn tại hơn 2000 năm, luôn được cải biến được bổ sung và mang các bộ mặt khác nhau qua các thời kỳ. Nhiều học giả đã tốn rất nhiều giấy mực để sưu tâm, trích dẫn và bàn cãi chung quanh những câu chữ trong sách vở của Nho giáo từ trước tới nay. Việc làm ấy thường dẫn đến những nhận định chủ quan, giản đơn và phiến diện. Muốn khen hay chê người ta đều có thể trích dẫn những lời lẽ rất hấp dẫn từ trong kho sách của Nho giáo. Nhưng khi để ý rằng Khổng Tử – người sáng lập ra Nho giáo – khi đề ra những điều căn bản trong học thuyết của Nho giáo cũng đang ở tâm trạng phân vân, mâu thuẫn, vừa hoài cổ, vừa sùng thường, và bối cảnh xã hội lúc ấy cũng là lúc giằng co, giành giật giữa chế độ nô lệ và chế độ phong kiến. Sau này khi Nho học được cải biến để phục vụ ý đồ của giai cấp thống trị thì nó càng chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Vì thế không thể tìm hiểu Nho học theo lối trích dẫn, kinh viện vì nó chỉ càng dẫn ta vào ngõ cụt. Để tìm hiểu Nho học không thể không xem xét trên giác độ phương pháp duy vật lịch sử… Chúng ta không phân tích những sự kiện tư tưởng bằng bản thân tư tưởng mà phải tìm hiểu tư tưởng gắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể trong đó nó đã nảy sinh, phát triển và suy tàn.

    Không thể có một thứ Nho giáo chung cho các thời đại, một thứ Nho giáo nhất thành, bất biến ở khắp mọi nơi.

    Khi Khổng Tử đề ra học thuyết của ông và đi chu du thiên hạ để mong được sử dụng thì ông đã thất bại. Điều đó không có nghĩa rằng xã hội Đông Chu đã xấu hơn xã hội thời Ngũ đế tam vương mà chỉ có nghĩa rằng những tư tưởng của ông muốn bảo vệ nền chuyên chính của quý tộc chủ nô không còn phù hợp nữa với xã hội và uy thế chính trị đang đang dần dần thuộc về tầng lớp địa chủ mới.

    Khi học thuyết của Khổng Tử được đặt lên vị trí độc tôn thì không có nghĩa rằng vua nhà Hán đã có đạo đức, nhân nghĩa hơn nhà Tần mà chỉ vì chế độ trung ương tập quyền của nhà Hán đang đòi hỏi một hệ tư tưởng thích hợp với nền kinh tế tiểu nông và bộ máy phong kiến quan liêu của nó.

    Khi Nho giáo đã mang hình thức duy tâm tư biên với Lý học đời Tống thì không phải lịch sử đã tạo ra mấy nhân vật “lỗi lạc” mà chỉ vì giai cấp phong kiến đã suy tàn đã cần thiết phải đổi mới các hệ tư tưởng cũng suy tàn như nó. Nho giáo lúc đó hầu như đã kiệt sức và được bổ sung bằng giáo lý của Phật, Lão.

    Hệ tư tưởng của Nho giáo trải qua hơn 2000 năm phát triển và biến đổi. Từ Tam đức của Khổng Tử, từ đoan của Mạnh Tử, ngũ thường ở Hán Nho, “Thiên nhân hợp nhất” ở Đống Trọng Thư, “Thái cực đồ thuyết” của Chu Đôn Di, Lý Khí ở Chu Hi… Tất cả đều xuất phát từ một gốc và khoác chung tấm áo Nho học. Như vậy hệ tư tưởng Nho giáo trải qua hơn 2000 năm là vô cùng phức tạp. Thế thì hệ tư tưởng Nho giáo là tư tưởng gì? và tại sao dưới những hình thức rất phức tạp, tương phản và mâu thuẫn, bao giờ tư tưởng Nho giáo cũng giữ địa vị thống trị.

    1. Tư tưởng Nho giáo là gì?

    Ở Trung Quốc xã hội phong kiến vẫn giữ lại rất nhiều di tích của xã hội thị tộc và xã hội nô lệ, biểu hiện trong pháp luật và phong tục dưới nhiều hình thức như quan niệm về sở hữu ruộng đất thuộc về quốc gia, quan niệm tôn pháp trong gia tộc, ở trong một xã hội như vậy thì vua là tổ của thị tộc, là cha của dân, mà cha là trời của con, chồng là trời của vợ. Để tồn tại trên cơ sở sản xuất đặc thù á Đông (phương thức sản xuất Châu á) giai cấp địa chủ thống trị cần phải  giữ những quan niệm ấy, do đó chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Chính là những khái niệm luân lý tuyệt đối trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Trong hình thái ý thức phong kiến hệ giữa người với người chỉ được ghép vào 5 loại (ngũ luân), ấy là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Trong 5 cặp ấy thì hai cặp anh em, bạn bè chỉ là nhành ngọn, mà 3 cặp kia mới là cội gốc. Những tính lớn của nhân loại, theo quan niệm phong kiến là nhân, nghĩa, lễ, trí (về sau có thêm chữ tín) cũng là phát sinh trên cơ sở của ngũ luân. Như Khổng Tử nói rằng hiếu đễ là gốc của chữ Nhân.

    1. Marx nói rằng tư tưởng của chế độ phong kiến thì lấy đạo đức, danh dự làm hình thái đại biểu. Nó không giống với tư tưởng của thời đại tư bản chủ nghĩa ở chỗ tư tưởng này lấy tự do bình đẳng làm hình thái đại biểu. Marx đã cho thấy rõ bản chất của tư tưởng phong kiến.

    Ở đây chữ đạo đức và danh dự cũng đồng nghĩa với chữ lý luận và danh phận trong Nho giáo mà tự do, bình đẳng là tư tưởng cá nhân của xã hội tư sản.

    Nho giáo là hình thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc. Đối với nó thì ngũ luân, ngũ thường, hay tam cương ngũ thường là những cái tuyệt đối. Theo bộ sậu chính thường của tư tưởng đạo đức thì đạo đức quan phải diễn dịch từ vũ trụ quan, nhưng nho giáo thì làm ngược trở lại, nó xuất phát từ ngũ luân, ngũ thường rồi đem gán những cái ấy cho vũ trụ, cho thượng đế : nó đã luân lý hoá cả vũ trụ, cả thượng đế, vũ trụ và thượng đế của Nho giáo đều nhuốm màu luân lý. Đối với nho giáo thì luân lý cương thường là hằng tồn, là phổ biến. Nho giáo không có lịch sử quan, tiến hoá luận. Đối với nó xã hội phong kiến không phải chỉ là một giai đoạn trong lịch sử loài người, luân lý phong kiến không chỉ là một hình thái ý thức của giai đoạn ấy, như họ nói: “Quân thần chi nghĩa vô sở đào ư thiên địa chi gian”

    Hay là: “Thiên bất biến, đạo diệc bất biến” (Đổng Trọng Thư)

    Đạo ở đây tức là tam cương, ngũ thường.

    Nhưng qua các thời đại Nho giáo phải chống đỡ một cuộc đấu tranh lý luận đối với những hệ thống khác, như triết học của Mặc Tử, Lão Tử, biện chứng pháp của danh gia, xã hội học của pháp gia, hình nhi thượng của Hoa nghiêm tông, thiền tông… Thế mà tư tưởng của Khổng Tử thì rất là nghèo nàn, thiếu thốn về nhận thức luận, vì phương pháp luận, vì tự nhiên quan… Vì  vậy Nho gia đời sau cảm thấy phải xây đắp cho nó một cơ sở lý luận ít ra cũng “dễ coi”. Họ tìm được những yếu tố triết học trong Nho gia như sách Trung Dung, Đại học, Mạnh Tử, Kinh Dịch. Họ lại vay mượn thêm của các triết học và tôn giáo, khác những cái gì có thể dung hoá được, rồi mỗi người, mỗi phái xây dựng một học thuyết làm cơ sở lý luận cho Nho giáo. Do đó đã từng đã từng hiện ra cảnh tượng hỗn độn, phức tạp trong các chi phí như nói ở trên chi phái của Nho giáo có thể là nhất nguyên luận hay nhị nguyên luận, chủ quan luận hay khách quan luận, duy lý chủ nghĩa hay trực quan chủ nghĩa, đức trị chủ nghĩa hay công lợi chủ nghĩa… nhưng tất cả đều thống nhất trên quan điểm luân thường, cương thường. Về vũ trụ quan, thì Chu Hi là một nhà nhị nguyên luận. Hai yếu tố cấu thành vũ trụ là lý (quy luật) vũ khí (vật chất), biểu hiện trong con người thiên thành thiên lý và nhân dục. Nhưng thiên lý là gì? là tam cương ngũ thường.

    Cho nên, đúng như K. Marx nói, bản chất của tư tưởng phong kiến nói chung là đạo đức và danh dự mà bản chất của Nho học là luân lý, danh phận tức là tam cương, ngũ thường.

    2. Vấn đề tính luận trong Nho giáo.

    Tính luận là vấn đề trung tâm của Nho giáo. Đó là vấn đề tính người thiện hay ác thảo luận trên 2000 năm mà không có học giả nào tìm ra một giải pháp hoàn hảo. Chữ Nhân của Khổng Tử là một phạm trù rất mờ mịt tối tăm. Đến Mạnh Tử lại thêm chữ Nghĩa đặt ngang hàng đối với chữ Nhân, rồi lại thêm vào cặp Nhân, Nghĩa ấy chữ Lễ và chữ Trí mà còn gọi là Tứ đoan, tức là 4 cái mầm thiện trong con người… Như thế nội dung của chữ thiện trong Nho học là lễ nhân, nghĩa, lễ trí và thêm chữ tín của nhà Nho đời sau, gọi là ngũ thường. Ngũ thường có liên quan mật thiết với ngũ tín của nhà Nho đời sau, gọi là ngũ thường. Vậy ta có thêm bằng tam cương, ngũ luận, mà trọng tâm trong ngũ thường là tam cương, ngũ thường, là bản tính của con người, tức là nói tam cương, ngũ thường không phải riêng cho dân tộc nào, một giai đoạn lịch sử nào mà nó là phổ biến và hằng thường. Tính là do trời sinh. Trời sinh ra tính thiện, thì trời cũng là thiện, cũng là tam cương ngũ thường, cho nên tam cương ngũ thường là thường kinh (quy luật hằng thường) của trời đất, là thông nghị (định lý phổ biến) của cổ kin (Đổng Trọng Thư). Nhà Nho đã luân lý hoá vũ trụ và thượng đế như vậy, do đó phát sinh vấn đề gay go không thể giải quyết được. Làm sao mà chứng minh được bản chất của vũ trụ là cương thường. Vũ trụ nhân sinh đã là thiện thì ác ở đâu mà sinh ra, và làm sao giải thích được do lại của  tội ác trong xã hội loài người.

    Tuy vậy các chi phí của Nho gia vẫn cố gắng giải quyết vấn đề ấy. Mạnh Tử chủ trương tính thiện, Tuân Tử thì chủ trương tính ác. Dương Hùng thì chủ trương thiện ác lẫn lộn. Hàn Dũ chủ trương tính chia 3 bậc(thượng, trung , hạ).

    Trong phái “tính lý” đời Tống thì Liêm Khê nói rằng “tâm chia làm thế dụng và động tĩnh; thể của tâm là vô tư, dụng của tâm là tư thông (tư tưởng thông suốt); tĩnh là chì chính, động là minh đạt (sáng suốt)… Động mà chưa có hình ở chỗ hữu vô, gọi là cơ. Cơ có thiện ác “minh đạt” có thật là động không? Dẫu tĩnh hay động đều là chí minh đạt cả, làm sao nó lại là cái cơ của cái ác được? Để thuyết minh thiện ác, Trương tác phân biệt hai thứ tính: thiện địa tinh và khí chất tinh, ác, tập quán xấu ảnh hưởng đến khí chất tính mà sinh ra. Nhưng tập quán xấu phát sinh từ trong xã hội.

    Nếu bản tính của loài người là thiện thì sao có tập quán xấu được. Từ Trương Tái trở đi, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hi đều dùng nhị nguyên luận để thuyết minh thiện ác.

    Trình Hạo phân biệt Hính với khí bẩm: khí bẩm là cái động của tính. Vạn vật đều do khí bẩm cả nhưng phân lượng không giống nhau, có khi vừa phải có khi thái quá, có khí bất cập, thái quá và bất cập tức là cái ác. Trình Di thì cho rằng lý tức là tính, khi tức là tình. Tính là thiện nhưng khi nó phát ra hỉ, nộ, ai, lạc thì gọi là tình thì có khi thiện, thì có khi ác. Chi Hy cũng nối góc Y Xuyên mà cho rằng bản nhiên tính là thiên lý, mà tác dụng của tính là tình là khí. Thế nhưng họ đều không  thuyết minh được vì sao mà tính động và vì sao khí động mà sinh ra khác nhau.

    3. Thái độ của Nho giáo đối với cuộc sống.

    Trước hết phải nói Nho giáo làđạo quan tâm đến con người, đến cuộc đời và tìm thú vui trong cuộc sống. Khác với các tôn giáo ở chỗ đó. Phật giáo cho cuộc đời là bể khổ nên tìm cách giải thoát, cần sự “bất sinh”. Lão giáo cũng yếm thế, bi quan như vậy, nên cần sự “vô vi tịch mịch”. Chỉ có đạo Nho là trong sự sống hơn cả. Không cần phải hỏi ta sinh ra ở cõi đời để làm gì, chết rồi thì đi đâu, chết rồi có linh hồn nữa không “Người muốn biết người chết rồi có biết gì nữa không ư? Chuyện đó không phải là chuyện cần kíp bây giờ, rồi sau biết” (Khổng Tử gia ngữ). Cho nên Khổng Tử ít bàn đến chuyện quỷ thần, đến chuyện quái lạ, huyền bí. Làm người ở đời hãy lo lấy việc của con người. Chuyện của con người lúc sống còn chưa lo hết, lo gì đến việc sau khi chết! “Phải vụ lấy việc nghĩa của con người, còn quỷ thần kính mà xa ta” (Luận ngữ) khi khoa học chưa phát triển, các tôn giáo còn thịnh hành, những chuyện mê tín dị đoan còn huyền hoặc người ta gây bao nhiêu tai hại, thì thái độ “kinh nhi viễn chi” là đúng. Khổng Tử tuy chưa thoát ra được cái “thiện đạo quan” của đời Chu, nhưng ông đã bắt đầu hoài nghi quỷ thần, trời mặc dù ông vẫn trong việc tế trị. Nho học khuyên con người ta nên yêu đời, vui đời, sống có ích cho đời cho xã hội. Câu Khổng Tử trả lời Tử Lộ khi ông ta định sang giúp Phật Bật nêu rõ điều đó: “Ta đây há lại là quả dưa, chỉ được treo mà không được ăn hay sao” sống ở đời mà bỏ việc đời là trái đạo con người. Sống là hành động, đem tài trí giúp đời Khổng Tử chính là tấm gương cho các nhà Nho đời sau noi theo. Ông không tìm thú vui ở chỗ ẩn dật hay ở chỗ suy tưởng suông, mà ở chỗ hành động, hành đạo. Khổng Tử đi chu du thiên hạ ngoài mục đích tìm cách thực hiện lý tưởng của mình suốt 14  năm. Không ai dùng, trở về đã 70 tuổi ông vẫn dạy học, làm sạch, truyền bá tư tưởng của mình. Đây có thể nói là điểm sáng nhất của Nho giáo so với các học thuyết khác, và có lẽ chính nhờ nó mà Nho giáo giữ vị trí độc tôn và ưa chuộng trong thời gian rất dài của lịch sử.

    4. Quan niệm về đạo đức trong Nho giáo.

    Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người. Phải nói đạo làm người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Chúng ta đều biết trong xã hội có giai cấp thì những nguyên tắc để đánh giá hành vi của con ngươì, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc… đều mang tính giai cấp rõ rệt và có tính chất lịch sử. Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen).

    Những quan niệm đạo đức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu, nhưng có nhiều phương châm xử thế, tiếp vật đã giúp ông sống giữa bầy lang sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng. Suy đến cùng đạo làm người ấy bao gồm 2 chữ nhân nghĩa.

    Khổng Tử giảng chữ Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào, nhưng xét cho kỹ, cốt tuỷ của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, không thi hành với người những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả. Hơn nữa cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì mình muốn đạt tới thì cũng phải làm cho đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn mà không làm cho người xấu đi” (luận ngữ) “Nghĩa” là lẽ phải. đường hay, việc đúng. Mạnh Tử nói “nhân là lòng người, nghĩa là đường đi của người”; (Cáo Tử thượng) “Nhân là cái nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người” (Lâu ly thượng); “ở với đạo nhân, nói theo đường nghĩa, tất cả mọi việc của đại nhân là thế đó” (Tồn tâm thương).

    Nghĩa thường đối  lập với lợi. Theo lợi có khi không làm cái việc phải làm nhưng trái lại, theo nghĩa có khi lại rất lợi. Có cái nghĩa đối với người xung quanh có cái nghĩa đối với quốc gia xã hội.

    Đến đời Hán Nho, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào ngũ thường. Tam cương ngũ thường trở thành giềng mối trụ cột của lễ giáo phong kiến. Sang Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trìu tượng hoá. Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “thiện nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ “nhân nghĩa” một màu sắc thần lá siêu hình. Trời có “lý” người có “tính” bẩm thụ ở trời. Đức của trời có 4 điều: nguyên, hạnh, lợi, trinh; đức của người có nhân, nghĩa, lễ trí. Bốn đức của người tương cảm với 4 đức của trời.

    Hệ thống hoá lại một cách tóm tắt hai chữ “nhân nghĩa” ở một số thời điểm phát triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “nhân nghĩa” của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt những căn bản vẫn là những lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buộc con người vào khuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến. Trong quá trình phát triển  càng  ngày nó càng bị trừu tượng hoá trên quan điểm siêu hình.

    Tuy nhiên quan niệm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm tích cực. Một trong những đặc điểm đó là đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả; dù nguyên tắc ấy không được thực hiện trong thực tế nó vẫn là một điểm làm chỗ dựa cho những sĩ phu đấu tranh. Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã hội. Truyền thống hiếu học, truyền thống khí tiết của kẻ sĩ không thể bảo là di sản của Nho giáo chỉ có tiêu cực.

     

    Phần II

    ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

    I. QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA NHO HỌC VÀO VIỆT NAM.

    Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm lý luận hướng dẫn tư duy và hành động cho dân tộc mình là một chân lý phổ biến, là một sự thực khách quan của các thời đại, của các dân tộc.

    Thực tế này có căn cứ vững chắc trong sự phát triển. Đó là sự phát triển không đồng đều của các dân tộc qua không gian và thời gian. ở cùng một thời đại, ta thường thâý ở một vùng này, có một dân tộc hoặc một vài dân tộc khác cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn các dân tộc khác ở xung quanh. Sự thực này ta có thể tìm thấy ở Châu á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, ở thời xưa cũng như thời nay. Những dân tộcc ở bất cứ đâu, bất cứ thời nào muốn sống, muốn nâng cao mức sống của mình không thể không học tập những dân tộc tiên tiến. Ta không hề thấy một dân tộc nào cứ chịu  lạc hậu, chịu áp bức bóc lột nghèo nàn để chờ sự sáng tạo của riêng mình không thèm học tập những dân tộc tiến bộ hơn mình. Điều này đúng với khoa học tự nhiên và kỹ thuật cũng như vưói khoa học xã hội. Vì thế chúng ta tiếp thu tư tưởng văn hoá Trung Quốc là một điều tất yếu.

    Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Phật giáo dần dần rút lui vào chùa chiền, lão giáo cũng dần biến thành một thứ mê tín dị đoan mà các thầy phù thuỷ dùng làm kế sinh nhai. Tư tưởng trị vì trong lĩnh vực chính trị và học thuật suốt 2000 năm là tư tưởng Nho giáo. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân vô cùng quan trọng là sức sống của dân tộc. Trong hoàn cảnh thời trước, nhất là từ khi giành được nền tự chủ dân tộc Việt Nam muốn tồn tại thì phải chọn lấy một ý thức hệ tích cực, quan tâm đến con người đến cuộc đời, đến xã hội, đến vận mệnh dân tộc. Nho giáo có nhiều hạn chế nhưng trong 3 ý thức hệ phong kiến thì phải nói Nho giáo có nhiều nhân tố tích cực nhất. Do đó cha ông ta đã chọn lấy Nho giáo.

    Chúng ta đã biết, lúc đầu Nho giáo được đưa vào Việt Nam trong trường hợp không hay ho gì. Nó bị bọn xâm lược đặt lên nhân dân ta với ý định gây cảnh “đồng văn” để dễ “đồng hoá”. Nhưng khi đã làm quen với đạo Nho, chắc rằng nhân dân ta thời đó thấy nó đáp ứng được nhiều vấn đề mà đời sống đặt ra, nên khi giành được độc lập, nhân dân ta nói lấy nó làm nền tảng lý luận để chỉ đạo tư duy và hành động của mình. Thế là từ chỗ bị ép học nó, nhân dân ta đã tự nguyện học nó và ngày một phổ biến nó một cách rộng rãi. Vì thế những người Việt Nam đầu tiên được giữ những chức vụ quan trọng dưới thời Bắc thuộc như Lý Tiến, Lý Cầm – làm thái thú, thứ sứ – đều là những người học thông kinh truyện, xuất thân từ khoa bảng. Ngay khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành được độc lập đã xây dựng thể chế quốc gia, đặc các nghi lễ phẩm phục, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, tức là tinh thần tôn ti đẳng cấp. Các triều đại đầu tiên khi niên hiệu, tôn hiệu cũng đã thể hiện sự tin tưởng màu sắc là lý thuyết mệnh trời như “ứng thiên”, “thuận thiên” “Phụng thiên”. Phần “Chiếu dời đô” của nhà Lý tuy đoạn còn lại với chúng ta rất ngắn, cũng đượm mùi Nho giáo. Cái gương “nhà Thương, nhà Chu” cũng được nêu lên, cái gương “kính vâng mạng trời” cũng được nhấn mạnh. Các triều đại sau, Trần, Lê, Nguyễn thờ đạo Nho như thế nào thì sử sách đã nêu rõ.

    II. ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG VIỆT NAM.

    1.Những nhu cầu xã hội giúp cho Nho giáo chiếm được địa vị độc tôn trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam.

    Nho giáo Việt Nam chiếm được vị trí độc tôn từ thế kỷ 15 và thịnh đạt nhất vào thời  Lê Thánh Tông thì đó không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Bởi vì nó có liên hệ với những nhu cầu xã hội nước ta lúc đương thời. Những nhu cầu này không chỉ tồn tại ở thế kỷ 15 mà đã sớm xuất hiện từ trước ngay khi Nho giáo còn đang trên đà phát triển.

    Trong những nhu cầu đó đáng kể trước hết là nhu cầu xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền lớn mạnh và nhu cầu củng cố trật tự đã ổn định của xã hội phong kiến.

    Ngay từ sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại ở thế kỷ X, việc xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã tỏ ra cần thiết cho công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê việc xây dựng một nhà nước chủ thế mới chỉ làm được những bước đầu tiên và chưa thực sự được đẩy mạnh, phải đợi đến thế kỷ XI với sự xác lập của vương triều Lý thì nhà nước phong kiến tập quyền mới được xây dựng một cách quy mô bề thế, với những tổ chức và thể chế trùng điệp của nó. Tiếp đó là triệu đại nhà Trần, rồi đến Lê Lợi khi đã lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi đều quan tam tới việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền và xây dựng một bộ máy nhà nước trung ương hùng mạnh không kém gì phương Bắc.

    Nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam ra đời là một sự phủ định chính quyền của bọn phong kiến phương Bắc kéo dài trong 1000 năm Bắc thuộc. Thế cho nên khi xây dựng nhà nước tập quyền của mình, giai cấp phong kiến Việt Nam phải tiếp thu những kinh nghiệm và nguyên tắc tổ chức của nhà nước phong kiến  tập quyền phương Bắc cùng với Nho giáo là cơ sở lý luận của Nhà nước. Vả lại trong hoàn cảnh lịch sử bấy  giờ chỉ có Nho giáo mới có thể giải đáp được những vấn đề thiết thân đến việc củng cố nhà nước như vấn đề quân quyền, quy định các chương lễ chế và cơ cấu hành chính từ triều đình đến địa phương… Đó là những vấn đề mà bản thân phật giáo cũng như Lão giáo với toàn bộ hệ thống lý thuyết của nó không hề có một sự giải đáp thích đáng nào cả. Cho nên từ thế kỷ XV trở đi Nho giáo ngày càng được giai cấp phong kiến Việt Nam  trọng dụng thì đó cũng là điều dễ hiểu. Sự thực chứng tỏ rằng trong thời Lý, Trần, Nho giáo đã bắt đầu được vận dụng một cách rõ rệt vào hoạt động thực tiễn nhằm củng cố chính quyền nhà nước.

    Sau nữa, củng cố ở thời Lý, Trần và nhất là thời Lê sơ, tôn ti trật tự của chế độ phong kiến tập quyền cùng với sự phân biệt rạch ròi về quyền lợi và đẳng cấp của nó đã dần dần ổn định. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự khẳng định về mặt lý luận. Vả lại vào cuối triều Lý và nhất là khi nhà Trần suy vong, mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và đa số nhân dân đã lộ rõ, mầm phản kháng của nhân dân chống lại cái trật tự khắc nghiệt của chế độ phong kiến đã trở thành một sự nổi bật hơn cả những cuộc hỗn chiến giữa các tập đoàn thống trị. Trong hoàn cảnh ấy giai cấp phong kiến Việt Nam muốn tăng cường bộ máy Nhà nước và duy trì trật tự xã hội thì không thể không tìm đến cái đạo trị quốc bình thiên hạ, cái lý thuyết chính danh định phận và lễ trị của Nho giáo.

    Quá trình phát triển của chế độ trung ương tập quyền Việt Nam gắn liền với sự củng cố quyền sở hữu của Nhà nước và sự bành trướng của sở hữu tư nhân về ruộng đất. Hầu hết ruộng đất dù là ruộng công của làng xã hay ruộng của địa chủ đều được sử dụng trong khuôn khổ sản xuất nhờ lấy gia đình làm đơn vị. Trong mỗi gia đình không những cơ quan hôn nhân, huyết thống mà còn có cả quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm, phân công lao động cho đến những quan hệ tinh thần. Tất cả những quan hệ ấy chứng tỏ vai trò của người gia trưởng và tôn ti trật tự của gia đình có một ý nghĩa rất lớn. Đó chính là cơ sở để Nho giáo dễ thâm nhập vào cuộc sống bởi vì Nho giáo với các khái niệm hiếu, đễ, tiết, hạnh đã góp phần củng cố uy quyền của người gia trưởng và tôn ti trật tự trong gia đình.

    Cuối cùng phải kể đến nhu cầu phát triển văn hoá và giáo dục nước ta khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu, việc bổ sung quan lại bằng hai con đường “nhiệm tử” và “thủ sĩ” không đủ mà cần phải bổ sung một phương thức đào tạo và tuyển lựa quan lại mới. Phương thức này chỉ có thể phát triển giáo dục văn hoá và thực hiện chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài. Lúc đương thời Phật  giáo, Lão giáo không chỉ đảm nhiệm công việc đó. Cho nên Nho giáo vốn có đầy đủ lý thuyết và quy chế về giáo dục và khoa cử tất nhiên phải đảm đương nhiệm vụ lịch sử ấy.

    Tất nhiên những nhu cầu xã hội nói trên mới chỉ là những cơ sở khách quan cho sự phát triển Nho giáo ở nước ta mà thôi. Sự phát triển đó muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua hoạt động của những con người cụ thể, những  lực lượng xã hội cụ thể. Trong thực tế từ vua cho đến các đại thần nắm quyền chính trị dưới càng triều Lý, Trần cũng như các thế hệ nho sĩ đời sau đều đã nhận thức được vai trò cần thiết của Nho giáo. Và đã tiến hành những bước truyền bá và sử dụng Nho giáo trong xã hội Việt Nam.

    2. Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam.

    Sự phát triển của Nho giáo Việt Nam không tách rời những yêu cầu xã hội như trên đã nói, choi nêdn trong buổi thịnh tự nhất, nó không khỏi có một số tác dụng tích cực.

    Trước hết là cương vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và uy thế tóp phần củng cố và  phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm mẫu mực cho việc chấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền theo một quy mô hoàn chỉnh có đầy đủ những thể chế và điều phạm. Mà ở thế kỷ XV, các xu thế phát triển đó đã và đang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trên các bình diện sản xuất và củng cố quốc phòng.

    Như đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu phát triển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu của giai cấp địa chủ của nhà nước và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về ruộng đất. Vì thế cho nên khi chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởng của chế độ phong kiến, Nho giáo càng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này. Nó làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá được đẩy mạnh hơn trước.

    Đồng thời Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinh thần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông. Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức đông đảo chưa từng thâý trong lịch sửd chế độ phong kiến Việt Nam. Do đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển.

    Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng góp phần thúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là một học thuyết tích cực nhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu những quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức. Do đó, nhận thức lý luận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng được nâng cao hơn. Dựa vào lịch sử của Nho giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủ hơn.

    Nhưng Nho giáo Việt Nam dù có lý do để tồn tại và phát triển thì cũng vẫn gắn liền với giai cấp phong kiến địa chủ trong nước và là công cụ thống trị và tư tưởng của giai cấp đó. Mà giai cấp địa chủ đó từ thế kỷ XV trở về trước tuy có một vai trò nhất định nhưng vẫn là một giai cấp bóc lột đối với nhân dân. Và bất cứ một giai cấp bóc lột nào ngay cả khi đang lên cũng mang theo những vết bùn nhơ và bàn tay vấy máu của những người lao động. Cho nên Nho giáo với tư cách là vũ khí của giai cấp phong kiến Việt Nam dù cho có không ít tích cực thì tác dụng tích cực đó cũng còn rất hạn chế. Thực ra ngay ở thời kỳ thịnh trị của nó, Nho giáo cũng đã có những mặt tiêu cực nghiêm trọng và chứa đựng khả năng suy yếu sau này của nó.

    Nho giáo ở Việt Nam khi chiếm ở vị trí độc tôn thì đã làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và trong địa hạt giáo dục khoa học. Các quan lại, sĩ phu, đều lấy thánh kinh, hiền truyện của Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi người suy nghĩ và hành động của mình, lấy cái xã hội thời Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho mọi tình trạng xã hội; lấy những sự tích và điều phạm trong kinh, thư, kinh xuân thu làm tiêu chuẩn để bình giá mọi sự việc. Bệnh giáo điều và khuôn sáo này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực khoa học và nghệ thuật nhất là trong văn học và sử học khiến cho sự sáng tạo trong các lĩnh vực này bị dập vào những cái khuôn sẵn có. Đó là một tật bệnh đã được rèn đúc ngay từ khi người nho sĩ phải mài dũa văn chương để tiến vào con đường cử nghiệp.

    Sự thịnh trị của Nho giáo còn khuyến khích mọi người nhất là các phần tử tri thức đi sâu vào cải tạo “tu tề trị bình” vào việc học hành, thi đỗ, dương danh thiên hạ. Vì vậy mà trong thực tế, Nho giáo đã làm cho những người gia nhập tầng lớp Nho sĩ này xa rời sinh hoạt kinh tế và lĩnh vực sản xuất xã hội, nó chỉ biết đề cao đạo tư thân và đạo tự nước chứ không hề đếm xỉa đến các tri thức vè khoa học tự nhiên cũng như về các ngành sản xuất và lưu thông. Tính chất  tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau càng gây tác  hại không nhỏ trong việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.

    Khi đã chiếm được địa vị  thống trị trên vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt Nam không tiếp tục đi sâu vào khám phá những  vấn đề bản chất của đời sống và của vũ trụ, vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác. Nó chỉ chú trọng đến những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế. Cho nên khi xã hội phong kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người được đặt ra thì Nho giáo trở thành bất lực. Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì nó đã sớm bỏ con đường phát triển tư duy trừu tượng.

    Hơn nữa, một khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì lễ chế của nó đặc biệt phát triển mạnh. Khi đó nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt nếp sống giản dị, những quan hệ xã hội trong sáng, những tình cảm tự nhiên và chân thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phản động, cổ hủ và lạc hậu.

    Tóm lại bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, Nho giáo cũng đem lại không ít tác động tiêu cực mà cho đến nay nó vẫn còn là nhân tố kìm hãm sự phát triển văn hoá tại các vùng nông thôn Việt Nam.

     

    KẾT LUẬN

     

    Không ai chối cãi được rằng Khổng giáo hay Nho giáo đã tham gia một phần vào sự đúc nặn cái diện mạo tinh thần dân tộc và vào sự thành văn hoá dân tộc, cho nên chúng ta cần thiết phải nghiên cứu Nho giáo để xem nó ảnh hưởng đối việc văn hoá nước ta như thế nào.

    Từ Nho giáo chuyển sang chủ nghĩa Mác qua một cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và một biến chuyển về tư tưởng cơ bản, từ một hệ tư tưởng duy tâm lấy ý chí con người làm gốc sang chủ nghĩa duy vật với phương pháp khoa học, từ tưởng tôn ti trật tự gia trưởng sang dân chủ, từ dân tộc sang tư tưởng Mác xít phải đòi hỏi một quá trình dai dẳng. Tất nhiên rất nhiều điểm trong Nho giáo đã trở nên cổ hủ, lạc hậu, thậm chí là phản động đang kèm hãm quá trình phát triển của dân tộc ta nhất là tại các khu nông thôn. Nhưng chúng ta không hề hổ thẹn khi nói rằng chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội là kế tục truyền thống nhà nho xưa, và nếu ghét cay ghét đắng chế độ phong kiến khi đã thối nát thì cũng không thể không trân trọng đến kẻ sĩ đời trước, và khi đánh giá lại, nếu học thuyết tư tưởng ngày nay chúng ta hơn hẳn thế hệ cá sĩ phu thời trước, nhưng về nhân cách vẫn còn phải học nhiều phải chăng câu “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất của nhà Nho không còn giá trị hay sao?


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ng%E1%BA%A1ch-chuy%C3%AAn-vi%C3%AAn-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-khi%E1%BA%BFu-n%E1%BA%A1i-v%E1%BB%81-tai-n%E1%BA%A1n-lao-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer] 

    Tải ngay bản PDF tại đây:Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    LỜI MỞ ĐẦU

    ——-0***0——-

    Lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên, do Trường Chính trị Thị xã Sađéc Đồng Tháp mở từ ngày 20 tháng 04 năm 2009 đến ngày  6 tháng 7 năm 2009. Chương trình gồm ba phần:

    Phần I: Nhà nước và pháp luật.

    Phần II: Quản lý hành chính và công nghệ hành chính.

    Phần III: Quản lý nhà nước đối với ngành- lĩnh vực.

    Thời gian giành cho khóa học không dài, nhưng với sự biên soạn nội dung, chương trình ngắn gọn, đầy đủ và sự nhiệt tình của các Thầy, Cô của Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp đã truyền đạt những kiến thức cơ bản cho toàn thể học viên lớp học là những công chức nhà nước làm việc tại tỉnh Đồng Tháp, sẽ và đang làm việc với trình độ ở ngạch chuyên viên. Bản thân luôn cố gắng, đã nổ lực học tập để nâng cao năng lực trong lĩnh lực quản lý nhà nước với mục đích là mong muốn vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm đã được học đưa vào thực tiển công tác mà Đảng và Nhà nước đã phân công.

    Sau 03 tháng được bồi dưỡng kiến thức, qua liên hệ thực tiển trong công tác tôi nhận thấy vấn đề “An toàn để sản xuất” và “Sản xuất phải an toàn” luôn là khẩu hiệu hành động của tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Những năm gần đây khi quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu thì vấn đề an toàn trong lao động không chỉ là vấn đề của riêng khu vực sản xuất kinh doanh mà trở thành vấn đề đáng quan tâm của mọi người lao động trong tất cả các cơ quan, đơn vị và mọi thành phần kinh tế.

    Ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ Luật Lao động; trong đó có một chương riêng gồm các Điều qui định về vấn đề Bảo hộ lao động. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1995. Ngày 02/4/2002 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá X đã ban hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2003.

    Việc triển khai và tổ chức thực hiện Bộ luật Lao động tại hầu hết các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong Tỉnh Đồng Tháp được tiến hành đồng bộ và đạt nhiều kết quả khả quan; đã phát huy tác dụng nhằm đảm bảo các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên giữa người lao động và người sử dụng lao động.

    Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình thực hiện Bộ Luật Lao động cũng bộc lộ một số yếu kém, bất cập như: Công tác tuyên truyền giáo dục chưa được tiến hành thường xuyên, chưa đến được đều khắp các doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân; một số trường hợp vi phạm pháp luật lao động chậm được xử lý hoặc xử lý không đúng pháp luật. Thậm chí vì những lý do khác nhau đã không được xử lý. Xuất phát từ tình hình trên Tôi xin trình bày tiểu luận cuối khoá với đề tài :

    Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động”

    Hy vọng đề tài góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn đinh tình hình an ninh – trật tự tại địa phương. Do kiến thức và thời gian chuẩn bị có hạn, tài liệu tham khảo không nhiều nên chắc hẳn tiểu luận không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót.

    Kính mong được Quí Thầy, Cô và đồng nghiệp đóng góp ý kiến.

    Xin thành thật biết ơn./.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG:

     

    Đầu tháng 11/2007, ngành lao động của Tỉnh có nhận được đơn khiếu nại của chị Lê thị N, 35 tuổi, ngụ tại Xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, đề nghị can thiệp giúp đỡ cho chị về bồi hoàn tai nạn lao động. Theo nội dung đơn thì chị N nhà nghèo, học đến hết lớp 4 thì nghỉ và đi làm công nhân cho doanh nghiệp sản xuất gạch ngói Trung Thành  đặt tại Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, do ông Nguyễn Thành Nhân làm chủ.

    Chủ doanh nghiệp phân công chị N vào tổ chuyên nhào trộn, ép đất nguyên liệu do Ông Trần Văn Tuấn làm tổ trưởng, cùng làm việc với chị N còn có chị Bùi Thị K, công nhân mới được nhận vào làm việc hơn 6 tháng. Công việc chính của Chị N là đưa đất vào máy ép để nhào trộn – đây là công đoạn đầu tiên và rất quan trọng của qui trình chế biến gạch ngói nung và đây cũng là công đoạn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm cho người lao động trực tiếp. Một số chi tiết quan trong được ghi trong hợp đồng lao động giữa chị N với chủ doanh nghiệp: tiền công là 45.000đ/ngày; mỗi tháng nhận 2 lần vào ngày 1 và ngày 15 của tháng. Do xa nhà nên chị N được bố trí ở tạm trong khu tập thể của doanh nghiệp.

    Qua hơn 01 năm làm việc, chị N nhận được đầy đủ các lợi ích được ghi trong hợp đồng, ngoài ra, trong dịp tết cổ truyền chị còn được chủ doanh nghiệp thăm hỏi và tặng quà.

    Ngày 08/1/2007, một sự cố nghiêm trọng đã xãy ra tại nơi làm việc của Chị N:  Như thường lệ, sau khi khởi động máy và bắt đầu thao tác được gần 2 giờ đồng hồ thì bộ phận lưới sắt dùng để che chắn, bảo vệ miệng trục lăn của máy ép bị hỏng mối hàn cố định với chân đế nên chị N và chị K quyết định cho dừng máy để tháo dỡ ra mang đến với người quản lý là ông Nguyễn Văn Hùng (người này được chủ cho phép thay mặt mình giải quyết các vấn đề liên quan đến kỹ thuật tại máy ép – trộn này) để báo cáo và yêu cầu cho phép sửa chữa, khắc phục để đảm bảo an toàn và tiếp tục sản xuất. Được sự đồng ý của ông Hùng, Chị N đã mang đến cơ sở hàn tiện gần đó để hàn sửa.

    Mọi thông tin đã được chị N phản hồi đầy đủ đến Ông Tuấn và ông Hùng, về nguyên tắc an toàn lao động, trong điều kiện này người công nhân không được tiếp tục vận hành máy nhưng do nóng lòng thực hiện các chỉ tiêu sản phẩm, phần cũng thấy rằng việc thiếu thốn khung thép bảo vệ tuy có “thiếu một chút về an toàn” nhưng “nếu” kỷ lưỡng thì chắc “không có vấn đề gì”. Thế là tổ nhào nặn đất khởi động lại máy và tiếp tục vận hành, sau hơn 40 phút tiếp tục làm việc, do sơ xuất, một vạc áo của chị N bị trục ép của máy cuốn vào trong máy. Do phản xạ tự nhiên, Chị N dùng tay chống đỡ theo hướng ngược lại nhưng lần này do độ trơn trượt của đất sét nên cánh tay phải của chị lại tự đưa vào trục cuốn của máy ép. Chị N và cả tổ tri hô lên và nhận được sự trợ giúp của các đồng nghiệp. Máy được dừng lại, chị N được cứu thoát chết nhưng cánh tay thì bị máy cuốn dập nát. Trước tai nạn nghiêm trọng đó, các ông Tuấn, Hùng đã nhanh chống gọi phương tiện, xe đưa Chị N đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Đồng Tháp.Vì vết thương khá nặng nên sau đó được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị.

    Ngày 10/4/2007, Chị N được xuất viện, được chủ doanh nghiệp thanh toán tất cả các chi phí về thuốc men, ăn uống, đi lại trong quá trình điều trị với tổng số tiền là 30 triệu đồng và được đưa về tận quê nhà. Không có việc làm, không có thu nhập vết thương chưa lành hẳn, phải tiếp tục điều trị, hoàn cảnh rơi vào tình thế khó khăn gay gắt. Chị N đến  gặp chủ doanh nghiệp cầu cứu sự giúp đỡ để có thể tiếp tục sống, điều trị vết thương nhưng ông Nhân – chủ doanh nghiệp Trung Thành từ chối với lý do ông đã làm hết trách nhiệm.

    Trên đây là tóm tắt nguyên nhân dẫn đến việc chị N gửi đơn khiếu nại đến cơ quan chức năng nhờ can thiệp, giải quyết. Qua đơn của Chị N, các ngành chức năng đã tham gia giải quyết như sau:

    Ngày 29/10/2007, đoàn kiểm tra gồm:

    + Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội Huyện;

    + Đại diện Trung tâm y tế Huyện;

    + Đại diện Liên đoàn lao động Huyện.

    Đoàn kiểm tra đã trực tiếp đến cơ sở sản xuất Gạch ngói Trung Thành để xác định diễn tiến tai nạn lao động và tiến hành các bước điều tra theo đơn khiếu nại và theo các qui định của pháp luật. Xác định tình trạng thương tích của chị N:

    + Theo giấy ra viện do Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/4/2007 xác nhận: Chị N bị tai nạn làm dập nát một phần bàn tay và cả khuỷu tay phải. Bệnh viện đã tiến hành cắt lóc, khâu hở xương quai trụ, xương cánh tay phải, nắn khớp khuỷu và khâu vá nhiều vết trên mu và lòng bàn tay phải. Chị N được chuyển sang Trung Tâm chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị vết thương theo chuyên khoa và được xuất viện, trở về nhà tiếp tục điều trị và tái khám kiểm tra theo định kỳ 3 tháng /lần.

    + Kiểm tra tại nơi làm việc của chị N, đoàn kiểm tra ghi nhận như sau :

    . Khu vực đặt máy không có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.

    . Người lao động phải vận hành máy trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động.

    . Người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp) không tiến hành huấn luyện và hướng dẫn các qui trình, qui phạm, các biện pháp an toàn khi vận hành máy, …, không được trang cấp dụng cụ bảo hộ lao động theo qui định (quần áo, phương tiện bảo hộ lao động cá nhân, . . .)

    II- MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:

    1- Mục đích:

    Nhằm xử lý, giải quyết thoả đáng, hợp lý, đúng qui định của pháp luật các vấn đề thuộc về an toàn lao động, các vụ tai nạn lao động góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, của người sử dụng lao động, ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội; tạo sự gắn bó giữa người sử dụng lao động và người lao động để họ cùng an tâm sản xuất kinh doanh.

    2- Yêu cầu :

    Vấn đề an toàn lao động và giải quyết hậu quả của một vụ,việc tai nan lao động – đặc biệt là các tai nạn lao động nghiêm trọng – luôn là vấn đề phức tạp. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết một vụ tai nạn lao động là trước hết phải nắm vững pháp luật về lao động nói chung và các qui định về bảo hộ lao động, một số kiến thức cơ bản về tâm sinh lý học, v .v .Trên cơ sở đó, kết hợp với những hoàn cảnh cụ thể đã và đang xãy ra mà tìm hiểu vụ việc, nghiên cứu tường tận các khía cạnh của vụ việc, trách nhiệm của các bên liên quan.

    3- Mục tiêu cần giải quyết:

     

    – Chị N phải được chủ doanh nghiệp chi trả toàn bộ tiền thuốc men trong suốt quá trình điều trị cho đến khi khỏi bệnh.

    – Chị N được chủ doanh nghiệp đưa ra Hội đồng Giám định Y Khoa để Giám định phần sức khoẻ bị giảm sút, tỉ lệ thương tật do tai nạn lao động.

    – Trách nhiệm pháp lý của mỗi bên theo qui định của pháp luật. Trước mắt là giải quyết vấn đề hỗ trợ để chị N có đủ điều kiện tiếp tục điều trị và sinh sống trong thời gian chưa thể tiếp tục công việc hoặc chưa tìm được công việc mới.

    III- PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHIẾU NẠI VÀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT:

    Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng đi đúng của Đảng và Nhà nước ta. Trong Những năm qua, định hướng đó đã góp phần hết sức to lớn giúp cho đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử; cả nước hiện có hàng vạn doanh nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đã ăn nên làm ra, có những doanh nghiệp nhanh chóng trưởng thành, tạo được uy tín trên thương trường quốc tế.

    Nhằm đáp ứng với tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật tạo khung pháp lý để điều chỉnh, định hướng và phát huy vai trò chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, thúc đẩy cho từng doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, người lao động có việc làm ổn định, đời sống được nâng lên.

    Kế thừa và phát triển pháp luật, pháp luật lao động nước ta từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Bộ luật Lao động năm 1995 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động năm 2002, 2006 đã thể chế đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các vấn đề về lao động, sử dụng và quản lý lao động được ghi trong  Hiến pháp 1992, 2002.

    Bộ Luật lao động bảo vệ quyền được có việc làm, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng khác của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều kiện và hành lang pháp lý phát triển  mối quan hệ lao động, tạo không khí hài hoà và ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm phát huy trí sáng tạo, tài năng của người lao động và người quản lý lao động nhằm tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

    Trong Bộ luật Lao động có hẳn những chương, Điều qui định về quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động như: Hợp đồng lao động, kỹ luật lao động, an toàn – vệ sinh lao động, các chế độ thử việc, học nghề, chế độ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội,…,các văn bản dưới luật được ban hành khá kịp thời, đáp ứng nhu cầu và  yêu cầu xử lý các phát sinh mới trong quan hệ lao động. Trên thực tế, vẫn còn nơi này nơi khác, lúc này, lúc khác hoạt động quản lý Nhà nước về lao động chưa được tổ chức thực hiện nghiêm, vẫn còn nhiều địa phương, đơn vị nhất là các doanh nghiệp tư nhân, việc nắm và thực thi pháp luật lao động còn nhiều hạn chế. Mặt khác, cũng có tình trạng lách luật thậm chí cố tình không áp dụng luật. Từ đó trong quá trình thực hiện có những vi phạm mà lẻ ra không đáng có như tình huống được nêu ra ở phần trên.

    A – NGUYÊN NHÂN :

    Qua nghiên cứu, phân tích tình huống có thể làm sáng tỏ mấy vấn đề sau:

    1- Công tác quản lý nhà nước về  lao động :

    – Cơ quan thẩm quyền tại địa phương đã không thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động tại các doanh nghiệp, cụ thể là thực hiện Bộ Luật lao động như: vi phạm chế độ hợp đồng lao động, chế độ an toàn vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Luật công đoàn và một số quyền và lợi ích khác.

    – Không kịp thời trong việc giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về quyền lợi của người lao động; chậm trể trong việc điều tra, xác minh, kết luận nhằm hướng dẫn, yêu cầu, thậm chí thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo luật định nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

    2- Về tổ chức công đoàn :

    Tại doanh nghiệp nơi xãy ra tai nạn lao động có hơn 40 công nhân đã và đang làm việc từ 6 tháng trở lên, (tức hội đủ điều kiện để thành lập tổ chức công đoàn cơ sở) nhưng Liên đoàn lao động Huyện chưa kịp thời tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người lao động tham gia vào tổ chức công đoàn.

    3- Đối với người sử dụng lao động:

    Chủ doanh nghiệp chưa thực hiện đúng theo qui định của pháp luật lao động khi đứng ra thành lập và điều hành doanh nghiệp cụ thể như sau:

    – Tuyển dụng công nhân vào làm việc không đúng các qui định về hình thức hợp đồng lao động. Tại các điều 26, điều 27 và điều 65 Bộ luật lao động có qui định: Đối với doanh nghiệp sử dụng người lao động thông qua vai trò trung gian của người quản lý thì người chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm chính, phải đảm bảo người quản lý đó thực hiện đầy đủ các qui định của pháp luật lao động.

    – Chủ doanh nghiệp đã vi phạm các thủ tục hành chính về quản lý lao động; không khai trình lập sổ lao động, sổ lương, bảo hiểm xã hội, không đăng ký nội qui lao động với ngành lao động. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp còn vi phạm qui định về việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Nơi đặt máy móc làm việc không có treo các bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.

    – Khi tai nạn lao động xãy ra đã không kịp thời khai báo với cơ quan chức năng về lao động; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bồi thường vật chất đối với người bị tai nạn lao động.

    – Chị N làm việc ở khâu nhào trộn đất, có vận hành máy điện nhưng chỉ được hướng dẫn sơ sài về cách vận hành máy, chưa được huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động, chưa được trang bị đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động theo qui định của nhà nước.

    4- Đối với người bị tai nạn lao động :

    – Do có nhu cầu về việc làm và thu nhập nên khi được nhận vào làm việc, được giải quyết nơi ở tạm, được hưởng lương theo chế độ khoán sản phẩm (không có bảo hiểm xã hội) lại là người có trình độ văn hoá thấp, nhận thức về pháp luật lao động chưa đầy đủ, không có tay nghề nên Chị N đã vì quyền lợi trước mắt mà dễ dàng chấp nhận công việc (theo kiểu nghề dạy nghề, người có thâm niên trong nghề hướng dẫn, kềm cặp người mới vào).

    – Chị N phạm vào lổi chủ quan khi xem thường các qui trình, qui phạm cũng như mối nguy hiểm khi vận hành, sử dụng máy móc thiết bị. Không đủ hiểu biết và bản lĩnh từ chối khi phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động.

    B- HẬU QUẢ:

     

    Tai nạn lao động luôn mang đến điều bất lợi cho người sử dụng lao động và ngườì lao động, trong đó, người lao động trong hầu hết trường hợp là người chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, gặp khó khăn về đời sống, có khi còn phải mang thương tật, thậm chí phải chịu tàn phế hoặc nguy hiễm đến tính mạng.

    Về phía người sử dụng lao động, khi tai nạn lao động xãy ra sẽ có ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh, phải chịu các phí tổn bồi thường, có trường hợp phải chịu trách nhiệm pháp lý, thậm chí có trường hợp phải thua lỗ, phá sản (hoả hoạn, cháy nổ)….

    Xuất phát từ việc thiếu kiểm tra, đôn đốc, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội; việc chấp hành pháp luật lao động của doanh nghiệp chưa nghiêm dẫn đến vi phạm pháp luật kéo dài không được phát hiện, ngăn chặn đã làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc làm và đời sống của người lao động. Tổ chức công đoàn chưa kịp thời tuyên truyền, vận động tổ chức công đoàn cơ sở để thông qua đó tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để người lao động hiểu biết và thực hiện tốt; đồng thời có thể tự đấu tranh để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.

    Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì tình trạng chậm chạp, xử lý chưa đến nơi, đến chốn của cơ quan chức năng đối với các bên liên quan khi tai nạn lao động xãy ra cũng sẽ tạo ra sự giãm sút niềm tin vào pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hậu quả sâu xa nhất là vấn đề pháp luật chưa được tôn trọng triệt để, pháp chế xã hội chủ nghĩa và pháp luật Nhà nước chưa được thực thi nghiêm chỉnh làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động, đến sản xuất – kinh doanh; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đất nước ta bước vào giai đọan hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, vấn đề cạnh tranh – một vấn đề sống còn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế- đang đặt ra hết sức gay gắt.

    IV- PHƯƠNG ÁN GIAI QUYẾT TÌNH HUỐNG :

     

    Để giải quyết nội dung đơn khiếu nại của Chị N, cần chú ý rằng đây là trường hợp tai nạn lao động nặng, có hậu quả khá nghiêm trọng và có thể kéo dài. Qua kết quả điều tra, phân tích như đã nêu ở phần trên thì nguyên nhân chính của tai nạn lao động thuộc về lỗi của người sử dụng lao động: chủ doanh nghiệp Thành Trung đã vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Tôi xin đưa ra một số phương án giải quyết đồng thời phân tích tìm phương án tối ưu nhất.

     

    1/- Cơ sở pháp luật :

    Trước hết, dựa trên cơ sở các điều luật có liên quan cần phân tích, làm rõ mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động (giữa Chị N và ông Nhân).

    a/- Điều 26, điều 27 và điều 65 của Bộ Luật lao động qui định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động. Đối với doanh nghiệp sử dụng người qua trung gian người quản lý thì chủ doanh nghiệp – người đứng ra ký hợp đồng lao động vẫn phải là người chịu trách nhiệm chính. Trong trường hợp này, ông Nhân là chủ doanh nghiệp nên phải tuân theo các điều chỉnh của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các lợi ích khác của người lao động.

    b/- Khoản 1, điều 39, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, điều trị, điều dưỡng theo quyết định thầy thuốc, của cơ quan y tế có thẩm quyền.

    c/- Điều 9, điều 10, điều 11 và điều 12 của Nghị định 110/2002/NĐ-CP ngày 21/12/2002 của Chính Phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 06/1996/NĐ-CP ngày 20/01/1996 của Chính Phủ, nội dung, trách nhiệm của sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động theo điều 105, điều 106 và điều 107 của Bộ Luật lao động được qui định như sau:

    – Phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu tại chỗ người bị tai nạn lao động, sau đó đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất;

    – Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nặng thì phải giữ nguyên hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động và báo ngay với cơ quan thanh tra Nhà nước về lao động và cơ quan công an địa phương.

    – Khi xảy ra tai nạn lao động phải tổ chức việc điều tra, lập biên bản có sự tham gia của Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Biên bản phải ghi đầy đủ diễn tiến của tai nạn lao động, thương tích của nạn nhân, mức độ thiệt hại, nguyên nhân xãy ra tai nạn lao động, trách nhiệm của các bên liên quan.

    – Chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí cho người lao động từ khi sơ cấp cứu đến khi chấm dứt quá trình điều trị; đồng thời phải bồi thường cho người bi tai nạn lao động một khoản tiền bằng ít nhất 30 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) nếu tai nạn lao động làm suy giảm khả năng lao động.

    Trường hợp tai nạn lao động xãy ra do lổi của người lao động thì với mức độ thương tật như trên, người lao động cũng được bồi thường một khoản tiền bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có).

    – Các trường hợp mức thương tật được xác định từ 5% đến dưới 81% thì trách nhiệm của người sử dụng lao động và các mức bồi thường được qui định tại thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 18/4/2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

    d/- Nghĩa vụ của sử dụng người lao động được qui định tại Điều 95, điều 98 và điều 102 Bộ Luật Lao dộng; Nghị định 06/1995/NĐ-CP ngày 20/01/1995 của Chính Phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động:

    – Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động và cải thiện điều kiện làm việc.

    – Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động đối với người lao động theo qui định của Nhà nước.

    – Cử người giám sát việc thực hiện các qui định, nội qui, biện pháp an toàn lao động  trong doanh nghiệp.

    – Tại nơi làm việc cần xây dựng nội quy, qui định an toàn lao động theo chuẩn qui định của Nhà nước phù hợp với từng loại máy móc, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị.

    – Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, qui định, biện pháp an toàn đối với người lao động.

    – Chấp hành nghiêm chỉnh qui định về khai báo, điều tra tai nạn lao động và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo với Sở Lao động Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động về kết quả, tình hình thực hiện các biện pháp an toàn lao động.

    – Người sử dụng lao động có quyền buộc người lao động phải tuân thủ các thủ tục, nội qui, qui định về an toàn vệ sinh lao động; khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động.

    – Nghĩa vụ của người lao động: chấp hành đầy đủ các qui định, nội qui về an toàn lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.

    – Người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động, trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; huấn luyện, thực hiện các biện  pháp, qui trình, qui phạm về an toàn vệ sinh lao động; có quyền từ chối làm các công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xãy ra tai nạn lao động hoặc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của mình.

    đ/- Điều 107 Bộ Luật lao động qui định: Người lao động bị tàn tật do tai nạn lao động được giám định y khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, xếp hạng thương tật. Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu cho đến khi quá trình điều trị chấm dứt; người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động. Nếu doanh nghiệp vì lý do nào đó chưa thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì chủ doanh nghiệp phải trả một khoản tiền chi phí tương đương với mức qui định trong điều lệ Bảo hiểm xã hội.

    e/- Điều 153 Bộ Luật lao động qui định: ở những doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, đang hoạt động nhưng chưa có tổ chức công đoàn thì sau 6 tháng kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương có trách nhiệm thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp này để đại diện, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và tập thể người lao động. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn sớm được thành lập và hoạt động.

    2/- Các phương án đề xuất:

    Từ thực tế tai nạn lao động của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành; căn cứ biên bản của đoàn điều tra tai nạn lao động liên cơ quan gồm Phòng Lao động Thương Binh và xã hội huyện Cao Lãnh, Liên đoàn lao động huyện Cao Lãnh, tôi xin đề xuất một số phương án xử lý như sau:

     

    Phương án thứ nhất :

    Xác định tai nạn lao động trên đây là trường hợp tai nạn lao động khá nghiêm trọng, cần nhanh chóng thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm :

    – Đại diện Sở Lao động Thương binh và xã hội;

    – Đại diện Sở Y tế;

    – Đại diện Liên đoàn lao động Tỉnh

    Quyết định thành lập đoàn điều tra do Giám đốc Sở Lao động Thương Binh và xã hội ký. Các bước làm việc gồm :

    + Bước 1 :

    Đoàn điều tra tiến hành tiếp xúc với Chị N tìm hiểu về quá trình chữa trị vết thương; việc chăm sóc, chi trả các khoản chi phí và các quyền lợi khác của người sử dụng lao động.

    + Bước 2 :

    Đoàn điều tra làm việc trực tiếp với chủ doanh nghiệp để xác minh nội dung đơn, đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ về quản lý lao động tại doanh nghiệp, xác minh hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động; việc thực hiện các kiến nghị về an toàn vệ sinh lao động của các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động trước đây; tình hình thực hiện các qui định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, việc bồi thường tai nạn lao động trước đây (nếu có) và bồi thường cho trường hợp của chị N.

    + Bước 3 :

    Đoàn điều tra làm việc với các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động trước đây để vừa kiểm tra vừa thu thập thêm thông tin làm cơ sở so sánh đối chiếu thông tin giữa 3 bước.

    + Bước 4 :

    Tổng hợp nội dung, kết quả làm việc của từng bước và kết quả của từng nội dung, mức độ phạm lỗi do mỗi bên gây ra để từ đó hướng dẫn các biện pháp, giải pháp khắc phục hậu quả; tổ chức cuộc họp để nghe ý phản ảnh trực tiếp của 2 bên. Trên cơ sở đó, căn cứ vào các qui định của pháp luật, đưa ra kết luận giải quyết sự việc thấu tình, đạt lý.

    Phân tích:

     

    – Ưu điểm của phương án :

    + Thông qua các cuộc gặp gở, đoàn điều tra có thời gian và điều kiện để thẩm tra thông tin do 2 bên cung cấp, có thời gian để thu thập thêm chứng cứ, số liệu; từ đó có thể đưa ra những kết luận, những giải pháp, biện pháp, hình thức xử lý chính xác, khách quan, thấu tình, đạt lý, có tính thuyết  phục cao.

    + Chủ doanh nghiệp và người lao động có thời gian, điều kiện để suy nghĩ, nhận ra những chỗ đúng, chỗ sai của mình. Bên có lỗi sẽ dễ dàng nhận lỗi, có biện pháp khắc phục một cách tự giác. Bên khiếu nại dễ dàng chấp nhận các kết luận của đoàn điều tra, nhận ra những chỗ còn chưa đúng của mình, từ đó có thiện chí cùng hợp tác với người sử dụng lao động khắc phục hậu quả tai nạn lao động.

    – Nhược điểm của phương án :

    + Người sử dụng lao động, người lao động và đoàn điều tra phải tốn nhiều thời gian. Trước mắt, người lao động sẽ gặp nhiều khó khăn, thiệt thòi.

    + Đoàn điều tra phải đi lại nhiều lần để xác minh nên phải tốn nhiều chi phí cho công tác.

    Phương án thứ hai :

    – Thành lập đoàn điều tra như phương án thứ nhất:  Đoàn điều tra cũng tiến hành làm việc với chủ doanh nghiệp và người bị tai nạn lao động, nghe 2 bên trình bày ý kiến về từng vụ việc cụ thể, có giải trình chi tiết theo trình tự thời gian diễn tiến của vụ việc.

    – Đoàn điều tra tổng hợp các ý kiến và kết luận về mức độ sai phạm của từng bên, từng sự việc cụ thể. Từ đó đưa ra được nguyên nhân để từng bên nhận ra và cam kết có biện pháp khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết điểm và thực hiện đúng chế độ, chính sách đúng với các qui định của pháp luật hiện hành.

    Nếu mức độ sai phạm của chủ doanh nghiệp đúng như đơn khiếu nại của chị N thì đoàn điều tra sẽ đề nghị xử phạt theo Nghị định số 38/1996/NĐ-CP ngày 25/6/1996 của Chính phủ Qui định về việc xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.

    Phân tích :

     

    – Ưu điểm của phương án :

    Thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn, sớm giải toả được mâu thuẫn và tâm lý căng thẳng giữa 2 bên, sớm ổn định sản xuất kinh doanh. Người lao động và chủ doanh nghiệp sẽ tốn ít  thời gian cho việc hội họp, đón tiếp đoàn điều tra, tập trung cho sản xuất kinh doanh.

    – Nhược điểm của phương án :

    Do sự việc mỗi bên đưa ra chưa có đủ cơ sở vững chắc, các cứ liệu chưa chính xác; không có thời gian hội ý, tham khảo ý kiến của mỗi bên để đưa ra những phân tích xác đáng mà chỉ được lắng nghe ý kiến của mỗi bên, vừa phân tích, vừa tổng hợp để chỉ rõ chỗ đúng, chỗ sai, nên việc hoà giải sẽ gặp khó khăn hơn.

    Trong những trường hợp phức tạp phương án này có thể làm cho đoàn điều tra không thể thực hiện đạt các yêu cầu đề ra khi khi giải quyết vụ tai nạn lao động .

    Phương án thứ ba :

    – Thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Huyện để theo dõi, giải quyết, thu thập tin tức. Trên cơ sở đó sẽ tìm ra thông tin, hướng xử lý vụ việc, hướng làm việc với chủ doanh nghiệp và người lao động.

    – Nếu vụ việc giải quyết không thoả mãn được nguyện vọng của các bên thì cần thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh. Sau đó sẽ quay về thực hiện các bước như phương án thứ hai.

    – Ưu điểm của phương án:

    + Có khả năng không phải thành lập đoàn điều tra cấp Tỉnh hoặc không mất nhiều thời gian của đoàn điều tra cấp Tỉnh, tiết kiệm được thời gian, kinh phí.

    + Người sử dụng lao động và người lao động sẽ tốn ít  thời gian cho việc hội họp, tiếp xúc và làm việc với đoàn điều tra.

     

    – Nhược điểm của phương án:

    + Nếu đoàn điều tra cấp huyện không đủ sức giải quyết thì có thể dẫn đến những quyết định không công bằng gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng sản xuất kinh doanh, tình hình an ninh – trật tự tại địa phương.

    + Đoàn điều tra cấp huyện có thể không đủ sức giải quyết vụ việc. Khi đó phải tiến hành thành lập đoàn kiểm tra cấp Tỉnh. Do đó, sẽ kéo dài thời gian giải quyết, tạo tâm lý căng thẳng cho 2 bên.

    3/- Lưạ chọn phương án:

    Qua các phương án và việc phân tích một số ưu khuyết điểm như trên, theo Tôi, với trường hợp tai nạn lao động cụ thể của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành  thì đây là loại tai nạn lao động nghiêm trọng nên cần chọn theo phương án thứ nhất.

    V- KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

    1- Kế hoạch:

    Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh căn cứ Thông tư số 03/1995/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và xã hội ra quyết định thành đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm:

    – Cán bộ thanh tra Sở Lao động thương binh và xã hội làm trưởng đoàn.

     

    Các thành viên gồm :

    – Cán bộ thanh tra Sở Y tế.

    – Cán bộ Ban Thi đua – Kinh tế – Chính sách xã hội Liên đoàn lao động Tỉnh.

    Thời gian để hoàn thành công việc là 2 ngày với các nội dung, chương trình làm việc chia làm 2 giai đoạn như sau :

    Giai đoạn I :

    – Làm việc với chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp Thành Trung đang hoạt động (Uỷ ban nhân dân Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp).

    – Làm việc với chủ doanh nghiệp, thông báo để chủ doanh nghiệp biết những yêu cầu cụ thể.

    – Tiếp xúc chị  N, một số công nhân cùng làm việc với chị N để thu thập thêm thông tin về việc thực hiện các vấn đề như hợp đồng lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tình trạng trang thiết bị làm việc, nội qui lao động.

    – Tiếp tục làm việc với chủ doanh nghiệp để thu thập thông tin, nghe ý kiến phản hồi từ phía người sử dụng lao động; đồng thời kiểm tra, xác minh một số vấn đề có liên quan.

    – Tổ chức buổi gặp gỡ 3 bên gồm: Đoàn điều tra, người sử dụng lao động, người lao động để nghe ý kiến đối thoại của các bên liên quan. Trong buổi họp này có thể mời thêm một số công nhân để làm nhân chứng (nếu thấy cần thiết).

     

    Giai đoạn II :

    – Đoàn điều tra hội ý, trao đổi, phân tích các kết quả thu được qua làm việc ở giai đoạn I. Trên cơ sở đó thống nhất các nội dung đánh giá, lập biên bản kết luận điều tra.

    – Thông qua biên bản kết luận điều tra tai nạn lao động tại doanh nghiệp Trung Thành, tại buổi họp này có mời đại diện Phòng Lao động Thương binh và xã hội, đại diện Liên đoàn lao động Huyện, đại diện Trung tâm Y tế Huyện và đại diện thường trực Uỷ ban nhân xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh.

    Dự kiến rằng các thành phần tham dự họp sẽ thống nhất các nội dung và hai bên cam kết thực hiện.

    Sau đó, đoàn điều tra gửi văn bản báo cáo đến Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Tỉnh Đồng Tháp để theo dõi việc khắc phục hậu quả tai nạn lao động theo như cam kết của chủ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gạch Trung Thành.

    2- Kết quả:

    Với phương án tối ưu và cách làm việc tích cực của đoàn điều tra nên công việc đạt kết quả tốt đẹp, đúng tiến độ, kế hoạch, đạt các yêu cầu đề ra và đáp ứng đầy đủ theo các qui định của pháp luật. Từ đơn khiếu nại của chị N, đoàn điều tra đã ghi nhận và tập hợp các thông tin đưa vào biên bản như sau:

    a/- Doanh nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanh gạch ngói Trung Thành  được thành lập từ năm 2002, có 45 công nhân thường xuyên làm việc; cơ sở vật chất chủ yếu được sang nhượng lại từ một doanh nghiệp gạch ngói khác đã giải thể do làm ăn không hiệu quả nên cơ sở vật chất của doanh nghiệp Trung Thành  còn nhiều thiếu thốn, máy móc thiết bị lạc hậu, phương tiện, điều kiện làm việc chưa đảm bảo an toàn lao động; các công đoạn sản xuất chủ yếu là thủ công, doanh nghiệp vốn ít nên gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chủ doanh nghiệp ít am hiểu pháp luật, đặc biệt là pháp luật về lao động, Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn từ đó đã không thể phát huy được vai trò tích cực của tổ chức công đoàn trong việc tham gia giám sát thực hiện pháp luật lao động.

    b/- Người lao động chủ yếu xuất thân từ nông thôn, học vấn kém, tay nghề thấp; trình độ nhận thức pháp luật không cao nên họ ít khi quan tâm đến việc tìm hiểu pháp luật – kể cả các qui định có liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của chính mình, họ chỉ quan tâm đến quyền lợi trước mắt, đó là vấn đề có thu nhập, thu nhập càng cao càng tốt.

    – Chỉ có 45 công nhân được chủ doanh nghiệp ký kết hợp đồng lao động có thời hạn từ một đến 2 năm, số công nhân còn lại làm việc theo chế độ khoán công việc. Việc trả lương tiến hành dưới hình thức khoán tiền mặt, không thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

    – Công nhân chưa được huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, người lao động chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động, thậm chí không dám từ chối làm việc trong những điều kiện thiếu an toàn lao động.

    Chính những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến các tai nạn lao động, thân thể người lao động bị thương tật, việc làm bị ảnh hưởng, cuộc sống đã vất vã nay càng khó khăn hơn và đến lúc này họ mới quay lại nhờ vào sự can thiệp của pháp luật.

    Sau khi đoàn điều tra xác minh, xác định được lỗi của doanh nghiệp và có hành vi vi phạm pháp luật lao động từ việc ký hợp đồng lao động, không tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, không trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động, chi trả tiền thuốc điều trị cho chị N không đầy đủ, không đúng với các yêu cầu, nhu cầu điều trị….Chủ doanh nghiệp cam kết sẽ thực hiện đầy đủ các kiến nghị của đoàn điều tra. Trước mắt chi trả tiền thuốc men và tiếp tục chi phí điều trị cho chị B đến khi lành bệnh, sau đó tiến hành các thủ tục đưa chị N ra giám định lại sức khoẻ và xác định mức độ thương tật để có cơ sở giải quyết các quyền lợi khác theo qui định của pháp luật.

    c/- Về các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chưa được thực hiện là do chủ doanh nghiệp chưa nắm được các qui định của pháp luật. Sau sự việc này, chủ doanh nghiệp nhận ra thiếu sót và tiến hành việc đăng ký đóng bảo hiểm xã hội cho tất cả công nhân có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ 3 tháng trở lên theo qui định tại điều 141 Bộ luật lao động; đồng thời truy nộp các khoản nợ đọng bảo hiểm xã hội từ trước đến nay cho công nhân.

    Về bảo hiểm y tế, chủ doanh nghiệp bắt đầu thực hiện ngay sau khi đoàn điều tra có kiến nghị.

    d/- Đoàn điều tra cũng kiến nghị Liên đoàn lao động Huyện Cao Lãnh và chủ doanh nghiệp tiến hành thành lập Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho tổ chức công đoàn giúp đỡ người lao động tiến bộ trong nghề nghiệp, có cơ hội học tập, tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người lao động, có tổ chức bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

    e/- Đối với các sai phạm của doanh nghiệp, căn cứ các qui định tại Nghị định số 38/1996/NĐ-CP ngày 25/6/1996 của Chính Phủ, đoàn điều tra tai nạn lao động đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật lao động đối với doanh nghiệp Gạch ngói Trung Thành  bằng hình thức phạt tiền.

    Ngoài ra, căn cứ vào Thông tư số 08/TT-LĐTBXH ngày 14/4/1995 và Thông tư số 23/TT-LĐTBXH ngày 15/9/1995 của Bộ lao động Thương binh và xã hội thì chủ doanh nghiệp còn phải thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tai nạn lao động như: xây dựng nội qui, qui trình an toàn lao động dành cho máy nghiền trộn đất sét, thực hiện các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn máy móc, thiết bị đang được sử dụng tại doanh nghiệp.

    VI- NHỮNG KIẾN NGHỊ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHẰM ĐẢM BẢO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG:

    Từ tình huống như trên, để đảm bảo pháp luật lao động được người sử dụng lao động thực hiện một cách nghiêm chỉnh nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người lao động tại các doanh nghiệp, Tôi xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau :

    1- Đối với các cơ quan cấp Bộ và Chính phủ:

    – Cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ ban hành các văn bản dưới luật, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật lao động, quyền công đoàn.

    – Củng cố, kiện toàn lực lượng thanh tra chuyên ngành có liên quan đến công tác an toàn vệ sinh lao động. Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, góp phần làm trong sạch hơn nữa đội ngũ công chức làm công tác thanh tra lao động, an toàn vệ sinh lao động.

    2- Đối với các cơ ngành liên quan:

    – Hiện nay tình trạng từng ngành hoạt động riêng lẽ theo chức năng nhiệm vụ của mình nên dẫn đến tình trạng trùng lắp hoặc bỏ sót trong công tác kiểm tra, hướng dẫn, hỗ trợ đơn vị, cơ sở thực hiện an toàn vệ sinh lao động. Để khắc phục, đề nghị Sở Lao động Thương binh và xã hội tham mưu Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đồng Tháp thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động cấp Tỉnh và chỉ đạo hướng dẫn thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động cấp Huyện – Thị, thống nhất chỉ đạo công tác Bảo hộ lao động trong toàn Tỉnh.

    – Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động Phòng chống cháy nổ và an toàn vệ sinh lao động. Tuỳ theo chức năng của từng cấp, từng ngành cần có Kế hoạch phổ biến sâu rộng những văn bản hướng dẫn các biện pháp bảo đảm an toàn trong sản xuất kinh doanh. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách có liên quan đến người lao động. Quá trình kiểm tra cần dành thời gian tiếp xúc với người lao động và người sử dụng lao động để lắng nghe ý kiến tâm tư nguyện vọng của từng đối tượng nhằm kịp thời có những đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền, góp phần hoàn chỉnh các văn bản pháp luật.

    – Các cấp, các ngành cần tăng cường công tác thông tin kiến thức pháp luật nói chung, Bộ Luật Lao động nói riêng để người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế nắm vững và thực hiện đúng các qui định của pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mỗi bên.

    Đối với Tỉnh Đồng Tháp, gần đây các doanh nghiệp sản xuất thường tập trung trong các khu công nghiệp, công nhân thường xuyên làm việc tăng ca, ít có điều kiện tập trung nên hoạt động tuyên truyền pháp luật cần có sự thay đổi về phương thức tuyên truyền như dùng hệ thống phóng thanh có công suất đủ lớn đặt gần các khu vực có nhiều công nhân ở trọ để đưa thông tin đến với người lao động nhiều lần vào những thời điểm thích hợp trong ngày. Ngoài ra cũng cần duy trì việc in và cấp phát miễn phí các tờ rơi, các hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiên thông tin đại chúng.

    3- Đối với Liên đoàn lao động Tỉnh:

     

    – Phát huy Trung tâm kỹ thuật và dịch vụ Bảo hộ lao động; tăng cường và đổi mới công tác truyên truyền và huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động cho cán bộ bảo hộ lao động, cán bộ công đoàn và người lao động ở cơ sở; tiếp tục hướng dẫn các đơn vị cơ sở xây dựng và củng cố đội ngũ làm công tác Bảo hộ loa động trong hệ thống công đoàn, trong đó có Hội đồng Bảo hộ lao động và mạng lưới an toàn vệ sinh viên.

    – Phát động và tổ chức có hiệu quả việc kiểm tra, chấm điểm phong trào “Xanh – Sạch – Đẹp; bảo đảm an toàn vệ sinh lao động” ở các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    4- Đối với tổ chức công đoàn:

    Cần dành nhiều thời gian hơn nữa cho việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục công nhân lao động; chú ý công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về lao động, về Luật công đoàn, điều lệ công đoàn. Nhanh chóng tuyên truyền, vận động thành lập các tổ chức Công đoàn cơ sở ở những nơi đủ điều kiện theo qui định của Luật công đoàn và Nghị định 133/HĐBT hướng dẫn thi hành Luật công đoàn.

    VII -KẾT LUẬN:

     

    Từ giải quyết vụ việc khiếu nại trên đây giúp chúng ta phát hiện thêm nhiều vấn đề hết sức quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về lao động. Cho thấy, với vai trò của tổ chức công đoàn, vấn đề tham gia, giám sát, đại diện nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động ngày càng trở nên bức xúc. Một thực trạng là còn không ít doanh nghiệp cố tình vi phạm các qui định pháp luật về các chế độ đối với người lao động như trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, không ký kết thoả ước lao động tập thể, . v. v..

    Trong các vi phạm nêu trên, thì vấn đề giải quyết tình trạng vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động là vấn đề bức xúc nhất, quan trọng nhất.

    Với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, kinh tế khu vực nhân doanh đang phát triển với tốc độ nhanh chóng đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, để sự tăng trưởng đó đáp ứng yêu cầu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về một sự phát triển bền vững thì việc giải quyết một cách hài hoà, tốt đẹp các mối quan hệ, các lợi ích xã hội là vấn đề cần phải đặt ra và đòi hỏi được giải quyết tốt ngay trên từng chặng đường tăng trưởng kinh tế. Xu hướng phát triển trong những năm gần đây cho thấy cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp – dịch vụ thì cũng đồng thời diễn ra quá trình chuyển dịch mạnh mẽ lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị. Thực trạng về chất lượng của đội ngũ lao động này như đã nêu ở phần trên đòi hỏi các cấp các ngành có liên quan cần tăng cường nhiều hơn nữa sự quan tâm chăm lo cho vấn đề an toàn vệ sinh lao động và các vấn đề liên quan ở khu vực này. Làm tốt các biện pháp đảm bảo có hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao động chính là thành công ngay từ bước đầu tiên sự “che chắn của xã hội” đối với sức khoẻ người lao động, thể hiện sự trân trọng và bảo vệ vốn quí nhất của xã hội: đó là con người, sức khoẻ của con người. Con người với ý nghĩa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững ./.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ——///***///——

    1- Bộ Luật Lao động (1995) và Luật bổ sung, sửa đổi một số Điều của Bộ Luật Lao động ( 2002,2006).

    2- Lụât Công đoàn (1990) và Nghị định 133/HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Hướng dẫn thi Luật Công đoàn.

    3- Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội (1995) và Luật Bảo hiểm xã hội (2006).

    4- Tài liệu phục vụ Hội nghị Tổng kết 5 năm thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ của Ban chỉ đạo Tuần lễ quốc gia AT-VSLĐ, Phòng cháy chữa cháy Tỉnh Đồng tháp (tháng 7/2006).

    5- Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2005 của Trung Tâm Dịch vụ và Kỹ thuật Bảo hộ lao động thuộc Liên đoàn lao động Tỉnh Đồng Tháp (tháng 11/2005).

    6- Một số tài liệu khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/u-Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-kh%E1%BA%AFc-ph%E1%BB%A5c-b%E1%BB%99i-chi-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    A.  LỜI MỞ ĐẦU

    Như chúng ta đã biết ,bội chi ngân sách là một vấn đề mà các quốc gia  đều gặp phải .Việc Xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy mỗi quốc gia đều có những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đua bội chi đến một mức nhất định .Chính phủ Việt Nam  cũng không phải là một ngoại lệ . Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng  tài chính  tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam. Vậy xử lý bội chi NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? các giải pháp khắc phục bội chi ngân  sách nhà nước Việt Nam hiên nay  là gì ? Những ưu nhược điểm của các giải pháp đó đối với sự pháp triển  kinh tế Việt Nam hiên nay ?

     

    Các bạn hãy cùng nhóm 11 chúng tôi tim hiểu nội dung đề tài phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay để trả lời cho những câu hỏi đó .

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  

     

     

     

    .NỘI DUNG

    PHẦN 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1,  NGÂN SÁCH NHÀ  NƯỚC

    – Ngân sách nhà  nước là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội trong quá trình tập trung và sử dụng  nguồn lực tài chính quốc gia ,để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm  thực hiên các chức năng nhiện vụ của mình .

    -Vai trò của ngân sách nhà nước :

    Ngân sách nhà nước là công cụ huy động các nguồn lực tài chính quóc gia để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của nhà  nước và thực hiên sự cân đối thu chi của nhà nước .

    Ngân sách nhà nước có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế

    Ngấn sách nhà nước là công cụ để điều tiết thu nhập ,góp phần giải quyết nhũng vấn đề xã hội , đảm bảo công bằng xã hội quan

    – Ngân sách nhà nước gồm 2 hoạt động thu và chi ngân sách

    Thu ngan sách nhà nước : chính phủ dùng quyền lực chính trị của mình để huy động các ngồn lực taì chính trong xã hội ,hình thành   nên quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của mình nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước .

    Chi ngân sách nhà nước là quá trình  phân phối ,sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm trang trải  các chi phí cho sự tồn tại ,hoạt đọng của bộ máy nhà nước và thực hiên các chức năng và nhiêm vụ của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định

    2. BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC LÀ GÌ ?

    Tình trạng mất cân đối của ngân sách nhà nước khi mà thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định gọi là bội chi ngân sách nhà nước . Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:

    Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm

    Thu Chi
    A. Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí).

     

    B. Thu về  vốn (bán tài sản nhà nước).

    C. Bù  đắp thâm hụt.

    –  Viện trợ.

    –  Lấy từ nguồn dự trữ.

    Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc).

    D. Chi thường xuyên.

     

    E. Chi đầu tư.

    F. Cho vay thuần

    (= cho vay mới – thu nợ gốc).

    A + B +C = D + E + F

          Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:

    Bội chi NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C

    Bội chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ (1 năm ,một chu kỳ kinh tế )là số chênh lệch giũa chi  > thu của th ời kỳ đó

    1. 3. NGUYÊN NHÂN CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH

    Có  2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:

    – Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.

    – Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà  nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.

    Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNS

      4. ẢNH HƯỞNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH TỚI NỀN KINH TẾ

    Bội chi ngân sách là một ăn bệnh tác hạị đến sự phát triển kinh tế nếu biên pháp sử lý bội chi không đúng đắn ,cho dù bội chi ngân sách từ nguyên nhân nào đi chăng nữa .bội chi ngân sách là một căn bệnh không chỉ dành riêng cho bất kỳ một quốc gia nào .Một nguyên nhân mang tính phổ biến tồn tại ở khắp các quốc gia trên thế giới ,từ những nước chưa phát triển đến những nước có nền kinh tế phát triển , đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế của nhà nước không thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên , trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằng công cụ thuế sẽ dẫn đến  sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế -xã hội,và hậu quả nhận được là kìm hãm tốc độ tích tụy vốn cho sản xuất , hạn chế  tiêu dùng  dẫn đến khả năng suy thoái nền kinh tế cao .Còn đối với các nước đang phát triển , đặc biệt là các nước nghèo thì bội chi ngân sách là không thể tránh khỏi .Bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu người quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỷ lệ đông viên từ GDP vào ngân sách nhà nước ,trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên nhất là khi nhà nước thực hiện chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng dẩn sự tăng trưởng .

    Thực tế cho thấy ,bội chi ngân sách không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạm phát ,gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội .Nếu bội chi ngân sach được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông sẽ dẫn đến bùng nổ lạm phát

    Bội chi ngân sách không phải là hoàn toàn tiêu cực . Nếu bội chi ở một mức nhất định ( dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm )thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển .Vì thế ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao nhà  nước vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sách chứ không loại trừ nó hoàn toàn .Nhưng cho dù bôi chi ngân sách ở mức độ nào thì mọi chính phủ đều phải có biện pháp để kiểm soát và kiềm chế bội chi ngân sách

    PHẦN 2 : THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIÊN NAY .

             Chỉ tiêu năm 2007 năm 2008 năm2009
    Tổng thu cân đối NSNN 281900 323000 389900
    Thu kết chuyển từ năm trước sang 19000 9080 14100
    Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 357400 398980 481300
    Bội chi ngân sách nhà nước 56500 66900 873090
    Tỷ lệ bội chi NSNN  so với GDP 5% 5% 4,82%

     

    Thực tế trong những năm qua chúng ta đã kiểm soát được mức độ chi ngân sách nhà nước ở mức giới hạn cho phép ( không quá 5% GDP trên năm) và nguồn vay chủ yếu là chi cho đầu tư phát triển. Ngoài ra chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế ,phí, lệ phí, chi đầu tư phát triển. Đây là những thành công bước đầu đáng ghi nhận trong công tác quản lí cân đối ngân sách nhà nước cũng như kiểm soát vấn đề bội chi ngân sách nhà nước.

    Dưới đây chúng tôi xin đưa các số liệu về cân đối dự toán ngân sách nhà nước trong những năm gần đây (từ năm 2007 đến 2009 )

    Bảng cân đôidự toán ngân sách nhà nước năm 2007

    Cân đối dự toán ngân sách nhà nước 2007
    (28/11/2006 16:17)
           
        Đơn vị tính: Tỷ đồng
    STT CHỈ TIÊU DỰ TOÁN
    NĂM 2007
    A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 281.900
    1 THU NỘI ĐỊA (KHÔNG KỂ THU TỪ DẦU THÔ) 151.800
    2 THU TỪ DẦU THÔ 71.700
    3 THU CÂN ĐỐI TỪ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 55.400
    4 THU VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI 3.000
    B THU KẾT CHUYỂN TỪ NĂM TRƯỚC SANG 19.000
    C TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 357.400
    1 CHI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 99.450
    2 CHI TRẢ NỢ VÀ VIỆN TRỢ 49.160
    3 CHI PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP KINH TẾ – XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH, QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, ĐẢNG, ĐOÀN THỂ (1) 174.550
    4 CHI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG DÔI DƯ 500
    5 CHI CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG (2) 24.600
    6 CHI BỔ SUNG QUỸ DỰ TRỮ TÀI CHÍNH 100
    7 DỰ PHÒNG 9.040
    D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 56.500
      TỶ LỆ BỘI CHI SO GDP 5%
      NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC  
    1 VAY TRONG NƯỚC 43.000
    2 VAY NGOÀI NƯỚC 13.500
         

    Dự toán thu ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 281900 tỉ đồng; phấn đấu cả năm ước đạt 287900 tỉ đổng, vượt 2,1% (6000 tỉ đồng). So với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm 2006. Trong điều kiện dự toán năm 2007 được xây dựng ở mức cao, quá trình điều hành phát sinh nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách như sản lượng dầu thô, thanh toán giảm lớn so với dự toán, thực hiện điều chỉnh giảm thuế để bình ổn giá cả thị trường… thì kết quả thu như vậy là tích cực. Dự toán chi quốc hội quyết định là 357400 tỉ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ chi từ số thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19000 tỉ đồng); ước cả năm đạt 368340 tỉ đồng, tăng 3,1% (10940 tỉ đồng) so với dự toán bằng 32,3% tăng 14,6% so với thực hiện năm 2006.

    Bộ chi ngân sách năm 2007 được quốc hội quyết định là 56500 tỉ đồng ước cả năm là 56500 tỉ đồng, chiếm 4,95% GDP (tính theo thống kê tài chính CP-GFS là 1,7% GDP bằng mức quốc hội quyết định, được đảm bảo bằng các nguồn vay bù đắp bộ chi đúng với dự toán năm.)

    Thực hiện nghị quyết của quốc hội trong chỉ đạo điều hành ngân sách nhà nước năm 2007 dự kiến sẽ dành 9080 tỉ đồng (ngân sách trung ương 7000 tỉ đồng, ngân sách địa phương 2080 tỉ đồng) kết chuyển sang năm 2008 để thực hiện cải cách tiền lương. Đến 31/12/2007 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 35,9% GDP dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 30,4% GDP, trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

    Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2008

         
      Tỷ đồng – In billions of dong  
    Stt
    No
    Chỉ tiêu – Items Dự toán
    Plan 2008
    A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước
    Total state budget balancing revenues
    323,000
    1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô)
    Domestic revenue (excluding oil revenues)
    189,300
    2 Thu dầu thô – Oil revenues 65,600
    3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
    Revenues from import-export, net
    64,500
    4 Thu viện trợ không hoàn lại – Grants 3,600
    B Thu kết chuyển từ năm trước sang
    Brought forward revenues
    9,080
    C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước
    Total state budget balancing expenditures
    398,980
    1 Chi đầu tư phát triển
    Development investment expenditures
    99,730
    2 Chi trả nợ và viện trợ
    Repayment of debt and provision of aids
    51,200
    3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể
    Expenditure on socio-economics, defense, public security, public administration, party and unions
    208,850
    4 Chi cải cách tiền lương
    Salary reform expenditure
    28,400
    5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
    Transfer to financial reserve fund
    100
    6 Dự phòng – Contingencies 10,700
    D Bội chi ngân sách nhà nước – State budget deficit 66,900
      Tỷ lệ bội chi so GDP – Budget deficit as share of GDP 5%
      Nguồn bù đắp bội chi – Deficit financing  
    1 Vay trong nước – Domestic borrowings 51,900
    2 Vay ngoài nước – External borrowings 15,000

    Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2008 là 323000 tỉ đồng phấn đấu cả năm đạt 399000 tỉ đồng, vượt 23,5% (76000 tỉ đồng so với dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007, đạt tỉ lệ động viên 26,8% GDP, trong đó từ thuế và phí đạt 24,9% GDP, ;loại trừ yếu tố tăng thu do tăng giá dầu thô thì đạt tỉ lệ động viên 23,5% GDP (thuế và phí đạt 21,6% GDP) chính phủ tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thu ngân sách năm 2008.

    Dự toán chi cân đối ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 398900 tỉ đồng ước thực hiện cả năm đạt 474280 tỉ đồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với thực hiện năm 2007.

    Bộ chi ngân sách nhà nước năm 2008 quốc hội quyết định là 66900 tỉ đồng. Ước cả năm bộ chi ngân sách thực hiện là 66200 tỉ đồng bằng 4,95% GDP khi xây dựng kiểm toán. Đến ngày 31/12/2008 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 33,5% GDP dư nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

    Công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại.

    Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuất nhập khẩu .Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn

    Các bộ ,ngành ,địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nước được giao nhưng triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu chính phủ còn chậm

    Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãng phí ,kém hiệu quả ,một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước .

    Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2009

         
         
      Đơn vị tính: Tỷ đồng  
    STT Chỉ tiêu Dự toán
    năm 2009
    A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 389,900
    1 Thu nội địa 233,000
    2 Thu từ dầu thô 63,700
    3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 88,200
    4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
    B Thu kết chuyển từ năm trước sang 14,100
    C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 491,300
    1 Chi đầu tư phát triển 112,800
    2 Chi trả nợ và viện trợ 58,800
    3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 269,300
    4 Chi cải cách tiền lương 36,600
    5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
    6 Dự phòng 13,700
    D Bội chi ngân sách nhà nước 87,300
      Tỷ lệ bội chi so GDP 4.82%
    E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 87,300
    1 Vay trong nước 71,300
    2 Vay ngoài nước 16,000
         

    Dự toán thu ngân sách nhà nước : dự toán tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 là 389900 tỉ đồng,đạt tỷ lệ động viên 23%GDP trong đó từ thuế phí và lệ phí là 21,5% GDP là mức động viên ích cực .

    Về cơ cấu thu năm 2009 dự toán thu nội địa chiếm 59,8% tông thu ngân sách nhà nước ,thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 22,6% tông thu cân đối ngân sách nhà nước

    Dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân sách  mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát ổn định vĩ mô ,đảm bảo các nguyên tắc :

    -Tếp tục cơ cấu lại ngân sách ,dảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điêu chỉnh tiền lương ,các khoản tăng chi theo tiền lương

    – bố trí tăng chi dự phòng ,dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực và chủ động  phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai dịch bệnh ,bố trí đảm bảo chi trả nợ theo đúng cam kết

    – bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục -đào tạo -dạy nghề y tế ,khoa học -công nghệ ,văn  hoá thông tin ,bảo vệ môi trường ,nông nghiệp nông thôn …theo nghị quyết của đảng ,quốc hội

    -đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để  tiết kiệm ,tiếp tục rà soát thắt chặt chi  xây dưng ,bố trí dự toán chi thường xuyên cho các bộ các cơ quan trung ương và các địa phương cơ bản không tăng so với năm 2008 ,giảm mức bội chi ngân sách nhà nước dưới 5%GDP

    Dự toán chi ngân sách năm 2009 là 491300 tỉ đồng ,tăng 23,1% so với dự toán năm 2008: số tăng  chi này tập trung cho các  nhiệm vụ chính

    Về chi ngân sách nhà nước đã bố trí theo hướng cơ cấu lại các khoản chi tập trung chi cho an sinh xã hội ,đầu tư phát triển con người thông qua giáo dục ,y tế ,khoa học công nghệ ,đồng thời thực hiện điều chỉnh tiền lương ở mức cao hơn so với lộ trình  đã được duyệt

    Được xây dựng trong bối cảnh cơ sở dự báo tình hình kinh tế vãn còn khó khăn ,diễn biến thất thường của thị trường và các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn tiếp tục thực hiện ,việc điều chỉnh chính sách thuế tạo thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh nhưng bước đầu làm giảm thu ngân sách nhà nước

    Về cân đối ngân sách nhà nước

    Bội chi ngân sách nhà nước ở mức 4,82% GDP (giảm 3700 tỉ đồng so với tính bội chi ở mức 5%) để góp phần kiềm chế lạm phát

    Những vấn đề cần có giải pháp khắc phục trong tổ chức thực hiện :

    Về thu ngân sách nhà nước : dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro ,chưa lường hết ,trong đó :thu nội địa từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát lạm phát ,bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh . thu dầu thô phụ thuộc vào yếu tố sản lượng  và đặc biệt là yếu tố giá dâng có biến động khó lường .

    Dự toán chi ngân sách nhà nước da thực hiện cơ cấu lại để tăng cường  an sinh xã  hội , nhưng vẫn còn khó khăn : dự toán chi đầu tư phát triển NSTW bố trí tăng 10,1% so với dự toán năm 2008 ,nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu ,đòi hỏi phải rà soát ,lựa chọn công trình ,dự án quan trọng  để triển khai thực hiện . đồng thời phải tăng cường huy động nguồn lực đầu vào tư từ các thành phần kinh tế khác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế

    • một số nhu cầu chi chưa có khả năng bố trí đủ theo yêu cầu ,như chi bù chênh lệch lãi suất tín dụng ưu đãi ,chi thu hồi vốn ứng theo kế hoạch …trong quá trình điều hành ,trường hợp có tang thêm thu NSTW sẽ bổ sung nguồn xử lý
    • để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm  phát  , đã  bố trí giảm bội chi ngân sách nhà nước , nhưng mức giảm chưa nhiều do nhu cầu an sinh xã hội và đầu tư phát triển còn lớn . nếu giảm tiếp mức bội chi ngân sách thì sẽ phải giảm chi đầu tư phát triển ,hiện dang rất khó khăn .
    • Dự toán chi thường xuyen bố trí cho cac bộ ,cơ quan trung ương ,các địa phương ngoài các khoản tăng chi theo chính sách ,chế độ và nhiệm vụ mới phát sinh ,các khoản chi còn lại không tăng so với dự toán năm 2008 trong khi giá cả tawng là khó khăn lớn ,đòi hỏi các bộ ,cơ quan trung ương phải tiếp tục thực hiện triệt để các biện pháp sử dụng hiệu quả kinh phí và tiết kiệm chi

    Dự phòng ngân sách nhà nước  bố trí đạt 2,8% tổng chi ngân sách nha nước ,trong đó dự phòng NSĐP bằng 3,5% ,đảm bảo dự phong của c địa phương ở mức 3-4%, dự phòng NSTW 2,4% tổng chi NSTW , mức bố trí này là raat mỏng so với yêu cầu chủ động phòng chống thiên tai dịch bệnh  và sử lý các nhiệm vụ đột xuất khác phát sinh trong năm .

    PHẦN 3 :CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIÊT NAM HIỆN NAY

    Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm , bởi nó không chỉ tác động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia .Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như : giá dầu tăng cao .khủng hoảng  tái chính tại mỹ ,tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới,vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở việt nam .Vậy xử lý bội chi ngan sách  như thế nào đẻ ỏn định vĩ mô ,thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội ,tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay ?

    Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường lam các nhà chính trị gia đau  đầu giữa một bên là phát triển bền vững ,duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn .Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai .Từ sự lưa chọn đó họ đưa ra mức bọi chi hợp lý ,bảo đảm nhu cầu tài trợ  cho tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế ,đòng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý .Bội chi ngân sách nhà nước được hiểu một cách chung nhất là là sự vượt trọi về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt ngân sách do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiên chính sách kinh tế vĩ mô . Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế ,phí ,lệ phí ; giảm chi ngân sách ;vay nợ trong nước ,vay nợ nước ngoài ;phát hành thêm tiền để phù đắp chi tiêu ;…Sử dụng phương pháp nào ,nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia .

    Bội chi ngân sách tác động đến nền kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắp bội chi ngân sách .Mỗi giải pháp bù đắp đều  làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô .Chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu một số giải pháp cơ bản mà chính phủ viêt nam sử dụng để kiềm chế  bội chi ngân sách hiên nay .

       1.TĂNG THU GIẢM CHI

    Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thương dùng để giảm hộ chi ngân sách .Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu  và cắt giảm chi tiêu .

    Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xả ra  hai nghịch lí khó giải quyết .Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa  lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng  ở khu vực tư nhân bị hạn chế ,tức giảm động lực phát triển kinh tế .Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất định ,nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển xã hội

    Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ  pohai tính toán phí tăng thu và giảm chi như thế nào để  gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế

    TĂNG THU

    Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động viên vào ngân sách nhà nước hợp lý tăng nhanh tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước tập trung thực hiện thu đúng,đủ ,kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý ,khuyến khích sản cuất kinh doanh  phát triển và đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế chủ động ứng phó với cấc tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước ;đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải các thủ tục hành chính ,hải quan và mổ rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu ;tăng cường kiểm tra chống thất thu ,nợ đọng tạo môi trường thuận lợi  bình đẳng trong  mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế .Có cơ chế khuyến khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ nhà nước giao theo quy định pháp luật .Hiện nay tình trạng nợ đọng thuế chưa được kiểm soát chặt chẽ .Vì vậy chính phủ cần phải có giải pháp kiên quyết hơn trong việc kiểm soát nguồn thu từ thuế ,có biện pháp kiểm soát hiệu quả thì sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước như :Đẩy  mạnh tuyên truyền giáo dục để nâng cao hiểu biết và tự giác thực hiện nghĩ vụ thuế ;đẩy mạnh kiểm tra ,thanh tra phát hiện và xủ lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng ,không đủ số thuế phải nộp để tăng thu tiền thuế cho ngân sách nhà nước

    Chính phủ cũng cần phải caỉ thiện các nguồn thu ngân sách này tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40% vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay ) Cải cách thuế đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% ngân sách nhà nước của Việt Nam, trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững trong ngân sách nhà nước, đồng thời giúp nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng vì quốc tế nhân sinh.

    Chính phủ điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập bằng trần tối đa theo cam kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu ( ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng mô tô, một số mặt hàng điện tử điện lạnh…) ; điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hang thiết thực phục vụ sản xuất (clinke một số mặt hang sản xuất thức ăn chăn nuôi, giấy in báo…) để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô,than đá, quặng kim loại…) điều chỉnh tăng lệ phí trước bạ đối với ô tô con nguyên chiếc dưới 10 chỗ ngồi; thực hiện biện pháp kéo dài, giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động chế biến và xuất khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do giá đầu vào tăng cao, duy trì và tăng sản xuất xuất khẩu.

    GIẢM CHI

    Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước . Đây là một giải pháp tuy mang  tính tình thế ,nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi sảy ra bội chi ngân sách và xuất hiện lạm phát .triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo , hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế _xã hội ,đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm ,thậm chí không đầu tư .Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu đầu tư công ,những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết

    Một trong những giải pháp quan trọng được quốc hội thông qua là cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh xã hội; tăng chi có trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn, nhất là 61 huyện có tỉ lệ nghèo cao.

    Quốc hội quyết định: cần rà soát kĩ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án, công trình thuộc trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước sao cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện. Không bố trí vốn ngân sách nhà nước cho các dự án công trình không thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước đầu tư.

    Chính phủ việt nam vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách tài khóa của chính phủ trong thời gian vừa qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên ) và qua đó giảm tổng  cầu .Cụ thể chính phủ chỉ định :

    – Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước

    -Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước

    -Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp

    Tổng đầu tư nhà nước (từ ngân sách ,tín dụng nhà nước thông qua doanh nghiệp nhà nước ) luôn chiếm trên 50% tổng đầu tư của toàn xã hội .Vì vậy không nghi ngờ gì ,nếu nhà nước có thể cắt giảm một số hạng mục đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi .Cũng tương tự vậy ,lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi tiêu thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007)

    Mặc dù việc cắt giảm chi tiêu là hoàn toàn đúng đắn , song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu còn chưa chắc chắn vì ít nhất có 4 lý do :

    -thứ nhất việc cắt giảm ,thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễ dàng , nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập các cấp quyết định ,dã dược đưa vào quy định của các bộ ,ngành địa phương ,đã được triển khai , và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án

    -thứ 2 :nhà nước hầu như không thể kiểm soát  các khoản đầu tư của các DNNN một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư ,và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng

    – thứ 3 : Với tốc độ lạm phát nhanh như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng ức đầu tư công theo đúng dự toán cũng được coi  là một thành tích đáng kể

    -thứ 4 : kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc giảmchi thường xuyên rất khó khăn nên đây là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm . Hơn thế với thực tế ở việt nam  thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều . Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương ( chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên ),sau đó trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương ,chi chính sách chế độ ,tiền đóng  niêm liễn cho các tổ chức quốc te, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện …

    Theo ước lượng của bộ kế hoạch và đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3000 tỷ đồng chi hội họp và mua sắm xe ,tức giảm được khoảng 0,8 tổng chi ngân sách nhà nước .

    2. BIỆN PHÁP VAY NỢ

    a, Vay nợ trong nước  

    Sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh tế quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp . Điều này được thể hiện qua việc chúng ta chỉ vay để đầu tư phat triển kết cáu ha tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển đất nước . Nhưng trên thực tế số tiền vay ,đặc biệt của nước ngoài chưa được quản lý chặt chẽ .Tình trạng đâu tư dân trải ở các địa phương vẫn chưa đươc khắc phục triệt để tiến độthi công nhưng dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả .Chính vì vậy các khoản đầu tư phát triển lấy từ nguồn vốn nay cả trong và ngoài nước cần đảm bảo các quy định của ngân sách nhà nước và mức bội chi cho phép hằng năm do quốc hội quyêt định

    Tập trung các khoản vay do trung ương đảm nhận các nhu cầu đầu tư của địa phương cần được xem xét và thực hiện bổ xung từ ngân sách cấp trên thực hiện như vậy ,tránh được đầu tư tràn lan kém hiệu quả va để tồn ngân sách quá lớn quản lý chặt chẽ số bội chi ngân sách nhà nước .Hiên tại chúng ta đang đưng rước mâu thuẫn giưa nhu cầu vốn cho vay đầu tư với nguồn nhân lực hạn hẹp . Nếu thực hiên thắt chặt ,hạn chế vay để đầu tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đang có nhu cầu vay vốn rất cao .Nhưng nếu chung ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của ngân sách nhà nước ,nhất là vay vốn của ngân sách địa phương thi nguy cơ ảnh hưởng tới nên an ninh tài chính quốc gia ,sự bền vững của ngan sách nhà nước .Thực hiên đầu tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát triển hài hòa cân đối giưa các vùng miền trong toàn quốc . khi các địa phương  vay vốn  để đầu tư sẽ kien quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu ,bả dưỡng các công trình ,làm giảm hiệu quả đầu tư . Có như vậy các địa phương phải tự cân đói nguồn kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách nhà nước

    Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái ,trái phiếu .Công trái ,trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước ,là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư ,các tổ chức kinh tế xã hội vầccs ngân hàng .Ở việt nam chính phủ thường ủy nhiệm  cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình

                    NĂM SỐ TIỀN VAY TRONG NƯỚC (tỷ đồng)
    2007 43000
    2006 36000
    2005 32420
    2004 27450
    2003 22895
    2002 18382

      Ưu điểm :Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm bội chi  ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dư trữ quốc tê . Vì vậy ,biện pháp  này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát

    Nhược điểm : viêc khắc phục bội chi ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại  có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ  nợ trong GDP liên tục tăng . Thứ nữa ,viêc vay từ dâ trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước

    Đặc biệt ,ở những nước trải qua giai đoạn lạm phat cao (như nước ta hiên nay) , giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng ,làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn .Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu ,.Tuy nhiên ,nếu việc làm này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghieem trọng đến uy tín của chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau .

    Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ trong nước : hằng năm ngan hàng phải huy động một khoản tền nhàn rỗi trong nước tương đói lớn để bù đắp bội chi ngân sách .để việc huy đông vốn không ảnh hưởng lớn đến thị trường tiền tệ ,đến lãi suất ,Bộ tài chính thực hiện chính sách trước hết thực hiện vay vốn nhàn rỗi từ các quỹ tài chính nhà nước như : quỹ bảo hiểm xã hội ,quỹ tích lũy trả nợ ..phần còn thiếu sẽ thực hiện phát hành trái phiếu và tín phiếu chính phủ .Đối với tín phiếu (loại thời hạn 1 năm) ,thực hiện phối hợp với ngân hàng nhà nước đấu thầu (đấu thầu về lãi suất ) qua ngân hàng nhà nước ,đây là biện pháp vừa để đảm bảo nguồn bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước ,đồng thời cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có nguồn vốn nhàn rỗi ,chưa cho vay được thực hiện mua trái phiếu này (kết quả cho thấy trong năm qua nhiều tổ chức tín dụng đã mua tín phiếu kho bạc )

    b, Vay nợ nước ngoài

    Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước nước ngoài ,các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) ,Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),các tổ chức liên chính phủ ,toor chức quốc tế …

    Viên trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ ,các tổ chức nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA

    Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dướicác hình thức :phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài ,vay bằng hình thức tín dụng …

    NĂM SỐ TiỀN VAY NƯỚC NGOÀI (tỷ đồng)
    2007 13500
    2006 12500
    2005 8326
    2004 7253
    2003 7041
    2002 7125

      Ưu điểm :nó là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu ,có thể bù đắp được các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế .Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước ,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội

    Nhược điểm : Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần ,nghĩa vụ trả nợ tăng lên ,giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ .Đông thời ,nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài .Thậm chí ,nhiều khoản vay ,khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị ,quân sự ,kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều .

    Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ nước ngoài ,thực hiện  chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài ,không vay thương mại nước ngoài cho đàu tư phát triển .Đối với những khoản vay thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây đã được xử lý qua câu lạc bộ Pari và câu lạc bộ luân đôn . thực hiện xử lý nợ với Nga ,Angiêri … Nhờ thực hiện tốt quá trình cơ cấu lại nợ ,cũng như chính sách vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay ở mức 35% GDP vào năm 2005 ,mức an toàn ,đảm bảo an ninh tài chính quốc gia .

    3.VAY NGÂN HÀNG (IN TIỀN )

    Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp .đáp ứng nhu cầu này ,tất nhiên ,ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền .Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ .Chính vì vậy ,nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt

    Ưu điểm :của biện pháp này là nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được dáp ứng một cá nhanh chóng ,không phải trả lãi ,không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần

    Nhược điểm :của biện pháp này là lại lớn hơn rát nhiều lần .Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền . nó đẩy cho việc lạm phat trở nên không thể kiểm soát nổi .Viêt nam từ năm1988 trở về trước bội chi ngân  sách được nhà nước bù đắp chủ yếu bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông dẫn đến tốc độ lạm phát rất cao ,năm 1986 là 774,7% ,năm 1987 là 223,1% ,1988 là 393,8% ;nhưmg từ năm1991 mặc dù bôi chi ngân sách còn ở mức lớn ,đô bù đắp bằng các biện pháp tích cực khác nên lạm phát đã giảm nhanh và đã được kiểm soát ở mức một con số cho đến nay .Chính vì những hậu quả đó ,biện pháp này rất ít khi được sử dụng . Và từ năm 1992 ,nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

     4, TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

    Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả ,ổn định chính sách  kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế .Để thực hiện vai trò của mình ,nhà nước sư dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển ,tác động vào đời sống kinh tế _xã hội ,nhằm giải quyêt các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội ,nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội .giưa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn mội trường v.v..Đặc biệt trong điều kiện hiện nay ,khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới ,vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới ,vấn đề tăng cường vai trò vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết

     

    C.KẾT LUẬN

    Có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước ,nhưng phải sử dụng cách nào ,nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế ,chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia , bởi mỗi giải pháp bù bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô .Vì vậy,chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đưa phù hợp với thực trạng hiện nay ,khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ,nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]