Author: Nguyễn Huyền

  • Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1i-%C4%91o%C3%A0n-k%E1%BA%BFt-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

    Mở đầu

    Ngày 14/5 cuộc hội thảo “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng MTTQ Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh” khẳng định một trong những tài sản vô giá mà Bác Hồ để lại cho dân tộc và các thế hệ mai sau là tư tưởng Hồ Chí Minh gồm hệ thống những quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống tư tưởng ấy nổi bật lên quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc và mặt trận dân tộc thống nhất. Nhiều tham luận, ý kiến đều ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ Bác đã nhìn nhận, đánh giá tất cả các dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều có truyền thống đoàn kết, yêu nước và tinh thần cách mạng như nhau. Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng đại đoàn kết của Người nhằm không ngừng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khối đại đoàn kết toàn dân trong MTTQ Việt Nam phải luôn được củng cố, phát triển sâu rộng và gắn kết chặt chẽ với tinh thần đoàn kết quốc tế.

    Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt, là chiến lược tập hợp lực lượng đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người luôn luôn nhận thức đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng. Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo, mà không phải là công việc của một số người, của riêng Đảng Cộng Sản. Đảng lãng đạo để nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạng của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc. Điều này đã được Hồ Chí Minh nói khá cặn kẽ, theo quan điểm của Người, đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công là một chiến lược, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

    ĐĐK trở thành cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam, gắn với tên tuổi và sự nghiệp của HCM.

    I .Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    1. Nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn người Việt Nam.

    Dân tộc ta hình thành, tồn tại và phát triển suốt bốn ngàn năm lịch sử, gắn liền với yếu tố cố kết cộng đồng dựng nước và giữ nước.

    Để tồn tại và phát triển, dân ta phải chống thiên tai, thường xuyên và liên tục, trị thủy các con sông lớn, cải tạo xây dựng đồng ruộng, trồng lúa nước

    Văn minh nông nghiệp trồng lúa nước chính là văn hóa tạo ra sự cấu kết cộng đồng của những người cùng sống trên một dải đất, có chung một kiểu sinh hoạt kinh tế, cùng một tâm lý. Nghĩa là cố kết thành dân tộc.

    Mặt khác, dân ta phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại bang hung bạo. Để chiến thắng dân ta phải xiết chặt muôn người như một, chống xâm lược tạo nên truyền thống đoàn kết quý báo của dân tộc.

    Yêu nước, nhân nghĩa, trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với XH, lấy dân làm gốc, coi trọng lòng khoan dung độ lượng, hòa hiếu, không gây thù oán, cố kết cộng đồng đã trở thành tình cảm tự nhiên của mỗi con người Việt Nam.

    Chủ nghĩa yêu nước cố kết cộng đồng và triết lý nhân sinh, được khái quát thành tư duy chính trị, phép ứng xử của con người trong tình làng nghĩa nước: “ Nước mất thì nhà tan, giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh.”

    Bác tổng kết: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước. . .”

    2. HCM kế thừa tư tưởng đoàn kết trong kho tàng văn hóa nhân loại

    Bác gạn đục khơi trong, tiếp thu tư tưởng đại đồng, nhân ái, thương người như thương mình, nhân, nghĩa, trong học thuyết Nho giáo.

    Tiếp thu tư tưởng lục hòa, cư xử hòa hợp giữa người với người, cá nhân với cộng đồng, con người với môi trường tự nhiên của phật giáo ( năm điều cấm: nói dối, sát sinh, tà dâm, uống rượu, trộm cướp).

    Tiếp thu tư tưởng đoàn kết của Tôn Trung Sơn, nhất là Chủ nghĩa Tam dân, chủ trương đoàn kết 400 dòng học người TQ, không phân biệt giàu nghèo, chống thực dân Anh, chủ trương liên Nga, dung Cộng, ủng hộ công nông.

    3. Sự tổng kết những kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

    Người thấy các phong trào chống Pháp của dân ta tuy rầm rộ nhưng đều thất bại, do không quy tụ được sức mạnh của cả dân tộc. . . Người thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối. (Phan Bôi Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học. . . đều yêu nước thương dân, nhưng về tập hợp lực lượng thì các bậc tiền bối này đều có vấn đề, cho nên tập hợp không được rộng rãi, không đầy đủ, cho nên không thể chiến thắng kẽ thù). Ví dụ như cụ Phan Bội Châu chủ trương tập hợp 10 hạng người chống pháp: Phú Hào, Quý Tộc, Nhi nữ, Anh sĩ, Du đồ, Hôi đảng, Thông ngôn, Kí lục, Bồi bếp, Tín đồ thiên chúa giáo nhưng thiếu Công nhân, Nông dân.

    Đi khắp các thuộc địa và CNĐQ, nhưng chưa thấy dân tộc nào làm CM giải phóng thành công, do thiếu sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết tổ chức đoàn kết lực lượng.

    Nghiên cứu CM tháng 10, người thấy nổi bật bài học về đoàn kết tập hợp lực lượng công nông để làm CM giành chính quyền và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đánh tan sự tấn công của 14 nước đế quốc và bọn Bạch Vệ, xây dựng đất nước theo con đường XHCN.

    4. Tiếp thu quan điểm CN Mác-Lê Nin về đoàn kết lực lượng trong CM XHCN

    CN MÁC – LÊ NIN phát hiện ra quy luật XH là sản xuất vật chất, nhờ đó phát hiện ra vai trò quyết định sự phát triển xã hội của quần chúng nhân dân.

    Sự vận động của XH luôn gắn với một giai cấp nhất định mà giai cấp đó đứng ở một trung tâm của thời đại. Thời đại ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp đứng ở trung tâm thời đại mới, có lợi ích phù hợp với lợi ích của nông dân và các giai tầng lao động khác, vì thế giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tổ chức đoàn kết mọi giai tầng XH, đoàn kết cả dân tộc, cả quốc tế, các dân tộc bị áp bức để thủ tiêu CNTB, xây dựng CNXH, CNCS.

    Để đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng, trước hết phải thiết lập liên minh công nông, lấy đó làm nòng cốt, sau đó sẽ đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng bên trong và bên ngoài.

    Bác viết: Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể, là tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết, tập hợp các lực lượng cách mạng trên thế giới vào cuộc đấu tranh chống CNĐQ.

    5. Yếu tố chủ quan của HCM

    Là người có lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, trọng dân, tin dân, kính dân, hiểu dân, trên cơ sở nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý. Người luôn chủ trương thực hiện dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ. Vì vậy người được dân yêu, dân tin, dân kính phục. Đó chính là cơ sở của mọi tư tưởng sáng tạo của HCM, trong đó có tư tưởng ĐĐK của Người.

    2. Những nội dung cơ bản tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh.

    Một là, Đảng Cộng sản có vai trò to lớn trong khối đại đoàn kết dân tộc.

    Là tổ chức chính trị to lớn nhất, cách mạng nhất, Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất đồng thời cũng là một thành viên của Mặt trận. Đảng lãnh đạo Mặt trận trước hết bằng việc xác định chính sách Mặt trận đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta có chính sách Mặt trận dân tộc đúng đắn, cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu nước rất vẻ vang của dân tộc ta”.

    Từ khi Đảng ra đời, đoàn kết theo TTHCM thực sự là bộ phận hữu cơ trong đường lối CM của đảng, chỉ có đoàn kết mới có sức mạnh đưa CM tới thành công.

    CM là cuộc chiến đấu khổng lồ, không tập hợp được rộng rãi lực lượng quần chúng thì sẽ không thể thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân thực hiện âm mưu chia để trị, vậy ta phải đoàn kết muôn người như một, phải thực hiện chữ “đồng” thì mới thành công.

    Hai là, phát huy vai trò của Nhà nước với đoàn kết toàn dân tộc.

    Ba là, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất.

    Mặt trận là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi người dân nước Việt trong nước và ngoài nước phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.

    3. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    3.1  Đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng

    – Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người có ý nghĩa chiến lược. Đó là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

    – Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp lực lượng dân tộc. Tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được nhằm hình thành sức mạnh to lớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù.

    – Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng. Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp với những đối tượng khác nhau

    Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn mọi người phải khắc phục đoàn kết xuôi chiều, hình thức, đoàn kết thiếu đấu tranh với những mặt chưa tốt. Người viết: “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”. Người cổ vũ mọi người vào Mặt trận Việt Minh: Dân ta phải nhớ chữ đồng: “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

    2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

    + Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được quán triệt trong mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng.

    + Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân. Trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, Đảng có nhiệm vụ thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng đấu tranh một cách tự giác, có tổ chức thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người .

    Như vậy, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng, mà đó là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Vì vấn đề cơ bản của cách mạng suy cho cùng là phải có bộ tham mưu đưa ra đường lối tập hợp sức mạnh toàn dân đánh giặc. Vấn đề đại đoàn kết dân tộc phải xuất phát từ đòi hỏi khách quan của cách mạng do quần chúng tiến hành. Đại đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không thể là một thủ đoạn chính trị. Đảng phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch của cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng yêu nước phải thể hiện ở thương dân, không thương dân thì không có tinh thần yêu nước

    3. Đại đoàn kết là đại đoàn kết toàn dân:

    Khái niệm “dân” của HCM: “Dân” theo HCM là đồng bào, là anh em một nhà. Dân là không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu, nghèo. Dân là toàn dân, toàn thể dân tộc Việt Nam, bao gồm dân tộc đa số, thiểu số, có đạo, không có đạo, tất cả những người sống trên dải đất này. Như vậy dân theo HCM có biên độ rất rộng, vừa được hiểu là mỗi cá nhân, vừa được hiểu là toàn thể đồng bào, nhưng dân không phải là khối đồng nhất, mà là một cộng đồng gồm nhiều giai tầng, dân tộc có lợi ích chung và riêng, có vai trò và thái độ khác nhau đối với sự pháp triển XH. Nắm vững quan điểm giai cấp của Mác-Lênin, HCM chỉ ra giai cấp công nhân, nông dân là những giai cấp cơ bản, vừa là lực lượng đông đảo nhất, vừa là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là gốc của CM.

    Vai trò của dân: HCM chỉ rõ dân là gốc của CM, là nền tảng của đất nước, là chủ thể của ĐĐK, là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của CM.

    Phương châm: ĐĐK theo HCM là ai có tài, có đức, có lòng phụng sự tổ quốc và nhân dân, thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì ta thật thà đoàn kết với họ.

    • Ba nguyên tắc đoàn kết:

    + Muốn đoàn kết thì phải hiểu dân, tin dân, dựa vào dân, tránh phân biệt giai cấp đơn thuần, cứng nhắc, không nên phân biệt tôn giáo, dân tộc, cần xóa bỏ thành kiến, cần thật thà đoàn kết rộng rải. Người thường nói: Năm ngón tay có ngón vắn ngón dài, nhưng vắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy mươi triệu người cũng có người thế này người thế khác, dù thế này, thế khác cũng đều là dòng dõi của tổ tiên ta.

    + Muốn ĐĐK phải khai thác yếu tố tương đồng, hạn chế những điểm khác biệt giữa các giai tầng dân tộc, TG. . . Theo HCM, đã là người Việt nam (trừ Việt gian bán nước) điều có những điểm chung: Tổ tiên chung, nòi giống chung, kẻ thù chung là CN thực dân, nguyện vọng chung là độc lập, tự do, hòa bình thống nhất. . . . giai cấp và dân tộc là một thể thống nhất, giai cấp nằm trong dân tộc và phải gắn bó với dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân là giải phóng cho cả dân tộc.

    + Phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi giai tầng XH, nhưng phải đoàn kết với đại đa số người dân lao động (CN, ND, Tri thức, các tầng lớp lao động khác . . .), Người chỉ rõ: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất”.Về sau Người có nêu thêm: lấy liên minh công nông –lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc .

    4. Đại đoàn kết phải có tổ chức, có lãnh đạo

    Đoàn kết là vấn đề chiến lược, sống còn, không phải là tập hợp ngẫu nhiên, cảm tính, tự phát, mà được xây dựng trên một cơ sở lý luận khoa học. Do đó phải có tổ chức, lãnh đạo để hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Cả dân tộc, toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, sức mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, và được tổ chức thành một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu không thế thì quần chúng dù đông nhưng cũng chỉ là số đông không có sức mạnh. Thất bại của các phong trào yêu nước trước kia đã chứng minh rất rõ vấn đề này.

    Sau khi tìm ra con đường cứu nước, HCM luôn quan tâm tới việc hình thành các tổ chức để tập hợp mọi lực lượng, giai tầng cho phù hợp với yêu cầu của CM, trong đó Mặt trận Dân tộc Thống nhất là tổ chức rộng rãi nhất. Theo Hồ Chí Minh, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông (sau đó là liên minh công- nông- lao động trí óc), dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Mặt khác Người nêu rõ: “Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết”.Tự nâng cao tinh thần phê bình và tự phê bình để biểu dương mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt để củng cố đoàn kết nội bộ.

    Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khối đại đoàn kết dân tộc phải được giác ngộ về mục tiêu, tổ chức thành khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Và đưa quần chúng vào tổ chức phù hợp với từng giai tầng, từng lứa tuổi, giới tính, ngành nghề, tôn giáo, phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Ví dụ có hội hữu ái, hội công, hội nông, hội phụ nữ,…Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi qui tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước. Trong từng thời kỳ mặt trận có tên gọi khác nhau nhưng đó phải là mặt trận chính trị rộng rãi tập hợp đông đảo các lực lượng phấn đấu vì hoà bình, vì mục tiêu của dân tộc. Đây là điểm khác nhau về cơ bản so với mọi phong trào chống pháp trước đây.

    Đảng là thành viên của mặt trận, nhưng là lưc lượng lãnh đạo Mặt trận, là linh hồn khối ĐĐK, Đảng là đảng giai cấp CN VN, vừa là đảng của nhân dân lao động và của dân tộc VN.

    Đảng vừa là đạo đức, vừa là văn minh, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc.

    Đảng phải là bộ phận trung thành nhất, có năng lực lãnh đạo, có đường lối đúng mới xứng đáng địa vị lãnh đạo mặt trận. Đảng cần tuyên truyền giáo dục, nêu gương, lấy lòng chân thành để cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, có thái độ tôn trọng các tổ chức đoàn thể mặt trận, biết lắng nghe người ngoài Đảng. Trong Đảng phải xiết chặt đoàn kết, Đảng viên phải biết giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình

    5. Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế:

    Đại đoàn kết dân tộc phải đi đến đại đoàn kết quốc tế và là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Ngược lại, đại đoàn kết quốc tế là một nhân tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Tư tưởng ĐĐK không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời, không phải là sách lược mà là vấn đề mang tính chiến lược. Người xác định “đoàn kết là lẽ sinh tồn dân tộc ta, lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do, trái lại thì nước ta bị xâm lấn. Đoàn kết trên lập trường giai cấp CN nghĩa là bao hàm cả đoàn kết quốc tế, tạo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    CM giải phóng dân tộc và CM XHCN ở nước ta muốn thành công đòi hỏi phải đoàn kết quốc tế để tạo sức mạnh đồng bộ và tổng hợp. Thực hiện đoàn kết quốc tế, HCM quan tâm đoàn kết cách mạng nước ta với các phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, với các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới, các phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ tiến bộ. Người đặc biệt chú trọng xây dựng khối đoàn kết 3 nước đông dương, mặt trận VN –LÀO –CPC, mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với VN.

    II. Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam:

    Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí Minh đã giương cao ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chiến lược đại đoàn kết dân tộc để đẩy mạnh cuộc cách mạng ở miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra đời, kế tục sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Liên Việt.

    Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã được thành lập nhằm tạo điều kiện để mở rộng khối đoàn kết dân tộc dưới ngọn cờ của Mặt trận. Đầu năm 1968, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình miền Nam Việt Nam ra đời. Đây là một tổ chức thích hợp để thu hút các tầng lớp trung gian và thượng lưu ở thành thị miền Nam vào khối đại đoàn kết dân tộc chống Mỹ cứu nước.

    Để thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải có cương lĩnh đúng đắn phù hợp với thực tiễn của đất nước qua các thời kỳ cách mạng khác nhau. Ngay từ ngày đầu mới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, được hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 thông qua, trong đó đã nêu cao khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”, Việt Nam tự do và chính sách đoàn kết dân tộc rộng rãi, uyển chuyển. Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 75 năm qua trước hết là thắng lợi của Cương lĩnh, chiến lược đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, là thắng lợi của tư tưởng cách mạng cao cả và vĩ đại của Hồ Chí Minh – tư tưởng độc lập, tự do.

    Năm 1951, Hồ Chí Minh thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc nhân buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Như vậy, đoàn kết toàn dân là một đường lối lãnh đạo của Đảng. Không dừng lại ở việc xác định đại đoàn kết là mục tiêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định nhiệm vụ của toàn Đảng là giữ gìn sự đoàn kết. Trong Di chúc, Người dặn lại chúng ta “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

    Sau khi giành được độc lập dân tộc, tại nhiều hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh sức mạnh của đoàn kết: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”.

    “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

    Thành công, thành công, đại thành công!”

    Sau khi cách mạng thành công, nhà nước của dân, do dân tộc và vì dân tộc được thành lập, chiến lược đại đoàn kết quốc gia dân tộc không chỉ được thực thi bằng cách tập hợp lực lượng quần chúng rộng rãi, phong phú về nội dung và hình thức tổ chức, mà còn phải liên hiệp quốc dân ở trong Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan hành chính cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Hồ Chí Minh đề xuất và tổ chức thành công Quốc dân đại hội Tân Trào, lập ra Ủy ban Giải phóng Dân tộc tháng 8 năm 1945 trong đêm trước cuộc Tổng khởi nghĩa, đặc biệt là tổ chức cuộc Tổng tuyển cử toàn dân vào tháng 1 năm 1946, để bầu ra quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội của độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn dân, và Quốc hội đã lập chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính phủ chung của cả dân tộc chứ không phải là chính phủ riêng của một đảng phái, một giai cấp nào. Đây cũng là một điển hình thành công sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong tổ chức nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc, là một bài học vô cùng quý báu của việc thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng, tổ chức nhà nước.

    Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng. Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp với những đối tượng khác nhau.

    Tức là đại đoàn kết dân tộc là chiến lược nhưng trong từng giai đoạn thì phải có cách thức đoàn kết khác nhau. Ví dụ như  trứớc năm 1945 chúng ta có khẩu hiệu: “Đánh đổ thực dân, phong kiến dành độc lập dân tộc chia ruộng đất cho dân cày”, nhưng đến năm 1945 khi Bác Hồ đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến : “Đánh đuổi thực dân dành độc lập cho dân tộc” ,vốn dĩ có sự khác biệt đó là vì khi này ta cần phải lôi kéo thêm tầng lớp phong kiến ủng hộ cho cách mạng để vừa bớt kẻ thù đồng thời thu hút được của cải để có tiền để làm cách mạng.

    Cùng với sự tôn trọng,thương yêu nhân dân, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng Trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nét đặc sắc, nổi bật là cách thức, phương pháp mà Người thực hiện để vận động, tập hợp, quy tụ, đoàn kết mọi người. Phương pháp đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá ứng xử từ cổ, kim, Đông, Tây với sự đậm đà, sâu sắc truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Điều đó hội tụ trong con người Hồ Chí Minh tạo nên phong cách, lối ứng xử đậm chất văn hoá, nhân văn, nhân đạo cách mạng để thu phục, cảm hoá, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

    Phương pháp đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh linh động, phát triển, thích ứng với sự vận động, biến đổi của thực tiễn khách quan và phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

    III. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trên thế giới:

    Khi bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Hí Minh đã nhận ra trên thế giới này chỉ có hai hạnh người đó là hạng người bóc lột và bị bóc lột. Người nhân ra rằng, những người bị bóc lột không phân biệt màu da, chủng tộc, đọ tuổi, họ bị bắt làm nô lệ và có chung lòng căm thù những kẻ bóc lột. Khi gắn kết long căm thù này sẽ tạo nên sức mạnh vô địch mà tất cả những dân tộc, con người bị bóc lột sẽ hưởng ứng dù họ có sự cách trở cề địa lí, ngôn ngữ, màu da… Sự đoàn kết đó chính là sức mạnh để chống lại kẻ thù chung của nhân loại

    Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc trên thé giới chính là gắn kết lòng yêu nước, yêu hòa bình, độc lập, tự do của họ mà đó là những nhu cầu chính đáng, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, giàu nghèo, dân tộc.

    Để thực hiện đoàn kết các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Người viết: “Nước ta là nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”. Chính sách dân tộc của chúng ta nhằm thực hiện sự bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, muốn đoàn kết thật sự, cần phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, giáo dục. Để thực hiện quyền bình đẳng một cách có hiệu quả, các dân tộc cần phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và văn hoá, phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Cơ sở vững chắc cho sự bình đẳng là sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và đồng đều trong khắp các vùng dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi.

    IV. Ý nghĩa tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.

    Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta. Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:
    – Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công. Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại.

    – Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung. Không đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức, nhất thời.

    – Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh. Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổ chức không tách rời nhau.

    – Đoàn kết phải có nội dung thích hợp với từng địa phương, từng tổ chức, từng thời kỳ. Đoàn kết trong chính sách tập hợp các tầng lớp nhân dân.

    – Đoàn kết đi liền với bao dung, thực hiện tính nhân đạo cao cả, hướng tới tương lai.

    – Lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết là nhiệm vụ của Đảng, là biện pháp phát huy sức mạnh của Đảng, của toàn dân tộc.

    – Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong Đảng.

    – Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong Đảng – đoàn kết toàn dân – đoàn kết quốc tế.

    – Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế.

    V.Kết luận:

    Trong tất cả mọi người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều luôn luôn tiềm ẩn tinh thần, ý thức dân tộc trong tâm thức của họ. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể và cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của của toàn dân là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết có một vai trò cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là lời giải đáp đúng đắn cho những bài toán của cách mạng vào thời điểm đó mà trong suốt chiều dài lịch sử nó vẫn giữ nguyên giá trị. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trên 70 năm qua đã chứng minh hùng hồn sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc, từ chỗ là tư tưởng của lãnh tụ đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tất cả những người Việt Nam yêu nước và biến nó thành hành động cách mạng của hàng triệu, hàng triệu con người, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Lịch sử cách mạng Việt Nam hon nửa thế kỷ qua cho thấy, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện đúng, thì khi đó, nơi đó cách mạng phát triển mạnh mẽ và giành được thăng lợi, nơi nào, lúc nào rời xa tư tưởng đó thì khi đó, nơi đó cách mạng bị trở ngại và tổn thất


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-MARKETING-S%E1%BA%A2N-PH%E1%BA%A8M-TR%C3%80-TH%E1%BA%A2O-M%E1%BB%98C-DR.THANH_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    Trường Đại Học Thuỷ Lợi

    Bộ môn: Marketing

               

    BÀI TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

     

                                                    

     

    Lời mở đầu

    Lĩnh vực Công nghệ cao, Việt Nam vẫn còn quá nhỏ bé. Nếu muốn xây dựng được những thương hiệu về lĩnh vực này Việt Nam phải cần một thời gian rất dài. Tuy nhiên, việc xây dựng Thương hiệu mang tầm Quốc tế các doanh nghiệp không phải cứ tạo ra những sản phẩm cỡ như Sony, Samsung, Nokia, Google…thì mới chứng tỏ được thương hiệu Việt. Thay vào đó, các doanh nghiệp có thể tập trung khai thác những ngành hàng mình có thế mạnh. Chẳng hạn như nông sản, thực phẩm, đồ uống…cũng có thể tạo ra những thương hiệu toàn cầu. Và hành trình xây dựng thương hiệu toàn cầu vẫn đang được các doanh nghiệp nỗ lực từng ngày, trong đó Tân Hiệp Phát với sản phẩm chủ lực trà thảo mộc Dr. Thanh là một ví dụ. Nếu hỏi bất kỳ một người dân nào tại TP.HCM và khu vực lân cận xem họ đã từng uống, nghe đến, từng biết trà thảo mộc Dr.Thanh chưa thì chắc chắn câu trả lời hầu như là “Có”. Vậy điều gì đã khiến Tân Hiệp Phát đầu tư mọi nguồn lực, dồn toàn bộ sức lực trí tuệ vào chiến dịch quảng bá loại thức uống này? Câu trả lời là “khát vọng  đưa Dr.Thanh trở thành một thương hiệu Quốc gia”. Khởi đầu từ một cở sở sản xuất bia với thương hiệu Bia Bến Thành chuyên phục vụ người có thu nhập trung bình thấp, ngày nay Tân Hiệp Phát đang sở hữu hàng loạt sản phẩm đa dạng từ nước tăng lực Number One, trà xanh Không độ, nước giải nhiệt, nước hoa quả ép… Sản phẩm đánh dấu sự thành công vượt trội nhất của Tân Hiệp Phát trên thị trường là khi họ tung ra trà Dr.thanh với câu slogan không thể hay hơn “Thanh nhiệt cơ thể”. Lý do về việc đặt tên gọi Dr.Thanh cũng khá lý thú, vì lý giải thứ nhất “Thanh” ở đây nghĩa là thanh nhiệt, thanh khiết đúng như câu slogan “thanh lọc cơ thể”; thứ 2 là tên gọi trùng với ông chủ đó là Tổng giám đốc Trần Quý Thanh. Dù lời giải thích thế nào đi nữa thì vẫn là một tên gọi khá hay và gây ra sự tò mò cho người tiêu dùng. Có thể ông chủ trà Dr.Thanh muốn tạo ra một sản phẩm mang tên mình để đi chinh chiến khắp năm châu, như vậy con cháu đời sau sẽ luôn nhớ mãi về một nhà sáng lập giàu khát vọng với sản phẩm đáng kính Dr.Thanh. Vào Thời điểm cuối năm 2008 mà cụ thể là ngày 22/12/2008 đẹp trời, vào lúc mà sức mua sắm của người dân được đẩy lên cao nhất thì Dr.Thanh chính thức tung ra thị trường Việt Nam. Tầm bao phủ của Dr.Thanh đã bào trùm lên toàn bộ các kênh truyền thông như Truyền hình TVC, Radio, Báo chí, Internet…những chiến dịch quảng cáo sáng tạo này đã gây ra sự tò mò về một sản phẩm có thể chữa được bệnh “nóng trong người”. Ngay đến bây giờ tần suất quảng cáo của Tân Hiệp Phát vẫn khiến cho nhiều người tiêu dùng, các doanh nghiệp nội ngoại vẫn phải choáng ngợp vì doanh nghiệp này “rất chịu chơi”. Bằng chứng là năm 2008 họ là một trong 5 công ty có chi phí quảng cáo lớn nhất Việt Nam; không đâu là không có quảng cáo của Dr.Thanh hiện diện. Do vậy nhóm chúng tôi đã chọn sản phẩm Dr.thanh  làm chuyên đề thảo luận. Trong chuyên đề có gì thiếu sót mong các bạn đóng góp thêm vào chuyên đề chúng tôi thành công hơn.

    Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

     

     

     

     

    I.Môi trường kinh doanh.

     

    Là những nhân tố và lực lượng bên ngoài tác động đến khả năng quản lý và tính hiệu quả, hợp lý của các hoạt động marketing trong việc nhận dạng, xây dựng và duy trì các mối quan hệ với khách hàng mục tiêu

    1.Môi trường vĩ mô.

    Bao gồm các tác nhân xã hội lớn có những tác động ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp

    1.1: Nhân khẩu.

    Nhân  khẩu là yếu tố đầu tiên quan trọng mà bất kỳ nhà quản trị marketing cũng phải quan tâm vì nhân khẩu tạo ra khách hàng ,  cho doanh nghiệp. Tiếp cận nhân khẩu- dân số theo những góc độ khác nhau đều có thể trở thành những tham số ảnh hưởng đến quyết định marketing của doanh nghiệp.Bởi vì , các tham số khác nhau của nhân khẩu đều có thể tạo ra sự khác biệt không chỉ về quy mô mà cả về nhu cầu.

    Quy mô và tốc độ dân số: Là một  khía cạnh quan trọng tới quy mô và nhu cầu và là một lợi thế về tiêu dùng sản phẩm. Mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh.
    Với quy mô gần 86,2 triệu người, Việt Nam là nước đông dân thứ 12 trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Nhật Bản, Mexico, Philippines.
    Mật độ dân số của Việt Nam đạt 260 người/km2, cao gấp trên 5 lần và đứng thứ 41 trong 208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; cao gấp hơn 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á, cao gấp đôi và đứng thứ 16/50 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á.

    Việt Nam có tỷ lệ tăng tự nhiên hiện ở mức 1,2%, cao thứ 8 ở Đông Nam Á, cao thứ 32 ở châu Á và đứng thứ 114 trên thế giới. Đó là kết quả tích cực của công tác kế hoạch hóa dân số từ khá sớm. Dân số đông, lại tăng lớn, nên nguồn lao động vốn đã dồi dào, tạo áp lực cho việc giải quyết công ăn việc làm hàng năm; trong điều kiện quy mô kinh tế còn thấp thì năng suất lao động thấp (bình quân 1 năm lao động chỉ đạt khoảng 1.959 USD, trong đó của nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản chỉ có 821 USD, riêng nông nghiệp còn thấp hơn nữa).
    Lợi thế giá lao động rẻ đang giảm dần, mặt khác xét về thu nhập, sức mua có khả năng thanh toán lại thấp, dễ phát sinh đình công, cũng như bị kiện bán phá giá.

    Cơ cấu dân số có tác động rất lớn đến cơ cấu nhu cầu của các hang hóa dịch vụ cụ thế và đến đặc tính nhu cầu. những tham số điển hình của cơ cấu dân số thường được các nhà marketing, đặc biệt là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, quan tâm là: giới tính và tuổi tác. Tỷ lệ dân số thành thị của Việt Nam nếu năm 1930 là 7,4%, đến năm 1951 là 10,0%, từ năm 1976 đã vượt qua mốc 20% và đến năm 2008 mới đạt 27,9%, đứng thứ 8 và thấp hơn tỷ lệ 39% ở khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 41 và thấp hơn tỷ lệ 41% ở châu Á và đứng thứ 177 và thấp hơn tỷ lệ 49% trên thế giới. Tỷ lệ nữ trong dân số tuy vẫn cao hơn tỷ lệ nam nhưng đã giảm dần, từ 52% so với 48% (năm 1976) xuống còn 50,9% so với 49,1% (năm 2008) và chủ yếu ở lứa tuổi cao, còn ở lứa tuổi trẻ (nhất là từ 20 trở xuống) tỷ lệ nữ ít hơn tỷ lệ nam, tín hiệu mất cân bằng giới tính giống như hiện nay ở Trung Quốc.

    Tốc độ đô thị hóa:  Tốc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đô thị và miễn cưỡng trở thành dân cư đô thị của Việt Nam trong những năm gần đây đang trở thành tốc độ kinh doanh phát đạt cho nhiều ngành.

    1.2: Kinh tế.

    Nhu cầu của khách hàng phụ thuộc rất lớn vào khả năng mua sắm của họ trên thị trường hàng hàng hóa tiêu dùng, khả năng mua sắm phụ thuộc rất lớn vào thu nhập của dân cư, mức giá…Trên thị trường hàng tư liệu sản xuất, khả năng mua sắm phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư và khả năng vay nợ. Mà thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay do các nguồn sau đem lại: tiền lương, thu nhập ngoài lương, thu nhập từ lãi suất tiết kiệm,thu nhập từ bán sản phẩm.

    Sự chênh lệch về sức mua giữa các tầng lớp dân cư là rất lớn, sự chênh lệch này còn diễn ra giữa thành thị và nông thôn , đồng bằng và miền núi, vùng sâu vùng xa. Mức thu nhập của thành phố hiện nay chênh lệch so với nông thôn từ 5 -7 lần, trong khi 80% dân số Việt Nam là nông thôn. Trình độ tiêu dùng của bộ phận dân cư này vẫn chủ yếu là các hàng hóa đơn giản, phổ thông, rẻ tiền. Đó cũng là khía cạnh mà các nhà quản trị marketing phải quan tâm khi muốn tham gia vào đoạn thị trường này.

    1.3: Tự nhiên.

    Dòng 1: Nguyên liệu chính dùng để sản xuất trà Dr.Thanh gồm các loại          thảo mộc như: kim ngân hoa, hoa cúc, la hán quả, hạ khô thảo, cam thảo, đản hoa, hoa mộc miên, bung lai, tiên thảo. (hiện dòng thứ 2 trên slide)6/9 loại thảo mộc trên có ở Việt Nam.

    Ví dụ như: Kim ngân hoa co nhiều ở nước ta, một số công ty dược ở nước ta cũng đã trồng với số lượng lớn để làm nguyên liệu thuốc(như: công ty Đông dược Bảo Long, công ty xuất nhập khẩu y tế II – Vimedimex II). Hạ khô thảo có ở Sapa, Tam Đảo, Hà Giang. Cam thảo, Hoa mộc miên – chính là hoa Gạo – có nhiều ở các tỉnh phía bắc nước ta. Hoa Cúc và Tiên thảo có tại nhiều nơi trên nước ta. Chỉ còn lại 3 loại là: Đản hoa, Bung lai và La hán quả là phải nhập. Việc phải tạm thời nhập một số thảo dược có thể là do trong nước trước nay việc sử dụng chỉ dừng lại ở mức nhỏ lẻ, chưa có nhu cầu tiêu dùng tập trung với số lượng lớn(hiện dòng thứ 3 trên slide).Việc du nhập các loại thảo mộc đang nhập vào trồng tại Việt Nam là hoàn toàn khả thi vì nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền bắc có 4 mùa rõ rệt, miền nam có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, ngoài ra nước ta còn có một số tiểu vùng khí hậu ôn đới như Đà Lạt, Sapa… Điệu kiện khí hậu trên phù hợp với rất nhiều loại thảo mộc. Ngoài ra, khí hậu nóng ẩm đặc trưng của nước ta cũng có ảnh hưởng tích cực đến việt tiêu thụ sản phẩm.

    Với thành phần chứa 9 loại thảo mộc cung đình, trong đó các loại thảo mộc vừa bổ sung, vừa tương hỗ cho nhau, tính hàn của từng loại thảo mộc càng được tôn lên,  khiến trà thảo mộc giúp loại bỏ các tác nhân gây nhiệt nóng trong người. Có thể kể tới sương sáo giúp thanh nhiệt nhanh chóng; Hải tảo có tính hàn, lợi thủy, giúp tiết nhiệt; Cúc Hoa Vàng có khả năng thanh nhiệt giải độc cao; Kim Ngân Hoa có vị ngọt đắng, tính mát, cũng rất hiệu quả trong việc thanh nhiệt, giải độc. Thực tế, hiện nay chúng ta đã có nhiều loại nước uống được gọi là nước mát, tính hàn, giải nhiệt. Nhiều phần trong số đó là các loại nước vẫn được lưu truyền trong dân gian như nước ngô, nước sâm, các loại lá trà mát… Tuy nhiên, điều khiến các loại nước này được ưa chuộng không chỉ vì tính năng giải nhiệt của nó, mà còn bởi nguyên liệu dễ tìm, đơn giản và không quá đắt tiền.

    Để chăm sóc sức khỏe ngày một tốt hơn, việc tìm một sản phẩm phù hợp, đủ tin cậy để sử dụng vẫn là vấn đề khó. Hơn nữa, nếu có một loại nước giải khát thanh lọc cuộc sống được phối chế từ nhiều loại thảo mộc khác nhau, thì cũng không thể là loại nước mà người người, nhà nhà tự mình nấu được.

    Khi mà nhiều người yêu thích, nhiều người muốn giải nhiệt cơ thể thì việc đáp ứng ngay loại không đường đã mở rộng cơ hội sản phẩm đến với nhiều đói tượng người tiêu dùng hơn.

    1.4: Công nghệ.

    Tập đoàn THP là đơn vị đầu tiên trong ngành bia- nước giải khát đạt chứng chỉ hệ thông quản lý chất lượng ISO 9001-2000.

    Tháng 10 năm 2006 tập đoàn THP vinh dự đòn nhận hai chứng nhận thích hợp ISO và HACCP đầy đủ  trong lĩnh vực thực phẩm bao gồm:

    • Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000
    • Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001:2004 và hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP

    Hai chứng nhận trên do tổ chức chuyên ngành uy tín quốc tế Det Norske Veritas giá sát và chứng nhận.

    Năm nay, giải thưởng WIPO dành cho doanh nghiệp duy nhất là tập đoàn Tân Hiệp Phát – đơn vị có những sang tạo, ứng dụng hệ thống sở hữu trí tuệ trong chiến lược sản xuất và phát triển thương hiệu.Tân Hiệp Phát sở hữu nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như “Number Oen”, “Trà xanh không độ”, “ Trà thảo mộc Dr.thanh”.

    Trà Dr.thanh có sự kế thừa trong khâu thiết kế bao bì, chai nhựa PET, dây chuyền sản xuất và kênh phân phối từ các sản phẩm khác của THP mà điển hình là trà xanh 0 Độ .Trà dr Thanh được đóng chai trong những điều kiện sản xuất đặc biệt để giữ lại các chất bổ dưỡng, có lợi cho cơ thể. Chai PET để đựng trà xanh chịu được nhiệt độ cao vì phải chiết rót khi còn nóng. Ngay thời điểm ban đầu, Tân Hiệp Phát đã đầu tư riêng cho mình dây chuyền sản xuất chai PET này.

    1.5: Môi trường.

                Nhánh văn hóa căn cứ vào các yếu tố cơ bản như dân tộc, vùng địa lí, tuổi tác, tôn giáo…Văn hóa có ảnh hưởng đến người tiêu dùng nhưng  nhánh văn hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến sở thích, cách lựa chọn, mua sắm, đánh giá sản phẩm của người tiêu dùng

    Ví dụ: văn hóa  ba miền ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng, người miền Bắc có thói quen uống trà, hút thuốc lào như tiêu khiển trong ngày tại các cơ quan với bạn bè.Người miền Trung kín đáo hơn, họ không thích ăn uống ngoài quán vì: văn hóa tiết kiệm thắm sâu vào hành vi tiêu dùng mang nậng tư tưởng phong kiến.Người miền Nam: lại rất thoải mái, chịu ảnh hưởng sâu sắc của người phương tây.

    Giai cấp xã hội, một xã hội thường có nhiều giai tầng, các giai tầng có thứ bậc khác nhau điều đó làm ảnh hưởng đến quan điểm, niềm tin giá trị và hành vi của thanh niên trong các giai tầng kể cả hành vi người tiêu dùng.

    2.Môi trường vi mô.

       2.1:Môi trường công ty.

    Tiền than của  công ty là nhà máy bia nước giải khát Bến Thành, thành lập những năm 90

    Sản phẩm nước tăng lực Number One, bia Laser, Bến Thành, bia Gold, coca nuber one trà xanh không độ và một số sản phẩm khác như Crem Sooda, Number One, nước tinh khiết Number One, sữa Đậu nành Number One, Trà thảo mộc Dr Thanh.

    Lễ hội Bến Thành là một hoạt động truyền thống của công ty Tân Hiệp Phát đước tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 10. Tân Hiệp Phát đạt doanh số gần 1200 tỷ đồng / năm.

      2.2:Trung gian marketing.

    Ảnh hưởng đến năng lực truyền thông nghiên cứu và phân phối. Tân Hiệp Phát có hệ thống nhà phân phối(NPP) rộng khắp cả nước với 268 NPP cấp 1.

    Một sự lựa chọn đối tác kỹ càng và có chọn lọc Tân Hiệp Phát đã đầu tư ngay từ đầu với 2 tên tuổi lớn là:LBC( phụ trách Strategy design) và O&M(Ogylvi & math – phụ trách communication)

      2.3: Khách hàng.

    Phù hợp với mọi lứa tuổi thanh lọc cơ thể không lo bị nóng “với 9 loại thảo mộc cung đình”. Đây khẩu hiệu điểm đánh vào tâm lý người dân Việt vốn sống ở khí hậu nhiệt đới nóng nực muốn chăm lo tới sức khỏe với phương pháp tự nhiên và dễ dàng. THP đã đưa vào thị trường một loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu làm mát cơ thể phù hợp mọi lứa tuổi:

    Người lớn tuổi: Uống trà chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, nhất là những người lớn tuổi thích uống một cốc chè xanh cho mát người, sau khi THP nhận thấy sự thay đổi trong phong cách sống ngày càng mang tính di động và nhu cầu ngày càng lớn hơn đối với các sản phẩm thức uống có lợi cho sức khỏe, THP đã tung ra thị trường thức uống nhanh có lợi cho sức khoẻ là trà dr thanh, đã đánh trúng đựơc nhu cầu của những ngừơi lớn tuổi, hợp với văn hoá của ngừơi việt.

    Thanh niên: Thanh niên ngày nay thường bận rộn với công việc và thường tham gia những tiệc tùng, thường xuyên ăn những thức ăn nóng và uống nhiều rượu bia. Do đó bệnh về nhiệt tăng ngày càng nhiều, tuy nhiên lại không có nhiều thời gian để chăm sóc sức khoẻ bằng cách nấuu những món ăn thức uống hạ quả, thì việc lựa chọn một chai nước uống nhanh như dr thanh la một sự lựa chọn hoàn hảo. Đây là đối tựong

    Trẻ em: Trẻ em chưa biết cách chăm lo cho sức khỏe, chưa biết cách chọn thức ăn đồ ưống có lợi cho sức khoẻ. Bằng phương tiện quảng cáo mạnh mẽ, THP đã không bỏ qua cả đối tượng chưa biết sức khoẻ cần gì này, với quảng cáo hoạt hình có hình tượng con trâu, con lân đã đánh vào tâm lý thích xem phim hoạt hình của trẻ em, do đó đã làm in sâu hình ảnh doctor thanh trong đầu nên khi ra ngoài cùng bạn bè hay bố mẹ thì cũng sẽ chọn nước giải khát là Dr Thanh.

    Hơn nữa, dưới sự chăm sóc của các bậc phụ huynh thì để đảm bảo được sức khoẻ cho con em mình thì cân nhắc các loại nước uống có lợi cho sức khoẻ thì các bậc phụ huynh cũng sẽ chọn trà Dr Thanh để giúp các cháu hạ nhiệt sau khi ăn những thức ăn bổ dưỡng. THP đã thu được lợi nhuận rất lớn khi nhắm vào khách hàng thuộc mọi lứa tuổi.

      2.4: Đối thủ cạnh tranh.

         2.4.1: Cạnh tranh về giá cả.

    Trà thảo mộc Dr Thanh có giá cao hơn xa so với các loại nước giải khát đóng chai khác. Tuy  nhiên, khách hàng chấp nhận sản phẩm này vì nó có lợi cho sức khỏe.

    Dr.Thanh giúp chúng ta nhận biết được chiến lược sản phẩm của THP đối với nhãn hiệu này chính là hớt váng chớp nhoáng, tức tung sản phẩm mới ra thị trường với giá cao và mức khuyến mại cao:

    * Tính giá cao để đảm bảo lãi gộp trên đơn vị sản phẩm ở mức cao nhất,  chi  nhiều cho việc khuyến mại nhằm thuyết phục thị trường về ích lợi sản phẩm ngay cả với giá cao.
    * Hoạt động khuyến mãi ở mức độ cao là nhằm tăng nhanh nhịp độ xâm nhập thị trường.

         2.4.2:Cạnh tranh về sản phẩm thay thế.

    Trà là chất liệu dùng đẻ chế biến thức uống phổ biến trên thế giới từ hàng nghìn năm nay, đặc biệt ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc…

    Uống trà được nâng lên thành nghệ thuật với những nghi thức đặc biệt và trang trọng. Nhịp sống hối hả hiện đại thúc đẩy ngành công nghiệp nước uống  phát triển mạnh mẽ. Trà xanh đóng chai cũng nằm trong dòng chảy này.

    Thị trường Việt Nam ở trên thế giới và trong khu vực, trà đóng chai phát triển mạnh mẽ từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Tất cả các thương hiệu lớn có mặt tại Việt Nam đều đã có sẵn sản phẩm trà xanh tại các thị trường Âu, Mỹ, Nhật, Hàn như: lipton, pepsi, coca co la, URC…Ở Việt Nam hiện nay khi nói đến trà đóng chai chúng ta phải kể đến các thương hiệu như trà thảo mộc Dr Thanh của Tân Hiệp Phát, C2 của URC, number one, Queen tea…

        2.4.3: Cạnh tranh về chủng loại.

    Với sản phẩm trà thảo mộc Dr thanh tập đoàn THP, đã tạo ra sự khác biệt so với các đối thu cạnh tranh bằng cách làm người dẫn đầu trong việc khai phá thị trường nước giải khát không ga có nguồn gốc tự nhiên Dr thanh đang là sản phẩm tiên phong trên thị trường.

        2.4.4: Cạnh tranh về thương hiệu.

    Dùng ngay tên, hình ảnh của mình làm biểu tượng cho nhãn hiệu nước giải khát đã là cách độc đáo và  táo bạo. Bí quyết độc đáo của trà Dr thanh  là sản phẩm thức uống giải khát nhưng có lợi cho sức khỏe. Lợi ích của việc giải nhiệt và thanh lọc cơ thể từ 9 loại cá một ý nghĩa cực kỳ mạnh mẽ và độc đáo tác động đến tâm lý khiến người tiêu dùng chấp nhận. Sự xuất hiện của sản phẩm trà thảo mộc Dr.Thanh làm dấy lên sự tò mò, sự quan tâm, thú vị của dư luận. Vì thế, thành công của trà thảo mộc Dr.Thanh chính là sự kết hợp của nhiều giải pháp.

    Với chiến lược phát triển thương hiệu các sản phẩm của mình, sau 15 năm thành lập, Tập đoàn Tân Hiệp Phát từ một cơ sở sản xuất nhỏ đến nay đã lớn mạnh trên thị trường, có nhiều sản phẩm được người tiêu dùng biết tới, đó là bia Bến Thành, nước tăng lực Number One, Trà xanh không độ, trà Barley không độ và nay là trà thảo mộc Dr.Thanh

      2.5: Công chúng.

    Nhóm người đang và có khả năng quan tâm đến ảnh hưởng của một doanh nghiệp.Các nhóm công chúng bao gồm:

    – Giới tài chính: Có ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo nguồn vốn của công ty. Công chúng trực tiếp cơ bản trong giới tài chính là ngân hàng, các công ty đầu tư, các công ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, các cổ đông.

    – Truyền thông

    Với trà thảo mộc Dr. Thanh, truyền thông đã đóng một vai trò đặc biệt trong việc kích thích quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Nhờ mạnh dạn đầu tư vào kênh này, trà thảo mộc Dr. Thanh đã làm dấy lên sự tò mò, sự quan tâm, thú vị của dư luận, góp phần làm nên thành công của một thương hiệu ngay từ ngày đầu ra mắt.

    Mức độ gia tăng chi phí quảng cáo của THP Group từ một vài năm trước đã rất đáng kể. Năm rồi, THP Group nằm trong số 5 công ty quảng cáo mạnh nhất tại Việt Nam. Năm 2009 THP sẽ còn tiếp tục tăng thêm nữa chi phí cho quảng cáo.

    THP đã có một kế hoạch quảng cáo tuyệt vời và một chiến dịch truyền thông 360°. Đến nay, thậm chí trẻ con cũng biết đến concept của Trà Thảo Mộc Dr.Thanh: “THANH LỌC CƠ THỂ, không lo bị nóng”. THP đã đầu tư kỹ càng và có chọn lọc ngay từ đầu với 2 tên tuổi lớn là: LBC ( phụ trách strategy design) và O&M (phụ trách communications).

    Tập trung vào chương trình xây dựng thương hiệu tại Khu Du Lịch Đại Nam Văn Hiến tỉnh Bình Dương nhằm tối đa hóa sự hiện diện và dùng thử sản phẩm của Trà Thảo Mộc Dr. Thanh.

    Cộng đồng – tổ chức xã hội: Một trong những chương trình hành động truyền thống của Tân Hiệp Phát trong hơn 13 năm qua là gắn bó với các hoạt động thể thao, Tân Hiệp Phát là đơn vị đồng hành với nhiều chương trình, hoạt động thể dục thể thao trên cả nước như Cúp bóng đá vô địch quốc gia V-League, Cúp xe đạp truyền hình HTV, Cúp bóng đá quốc tế Number 1, dự án đưa người Việt Nam đầu tiên chinh phục đỉnh Everest hay gần đây nhất là việc tặng thưởng cho vận động viên đoạt Huy chương vàng tại SEA Games 24.Giải việt dã chào mừnng BTV-number. (31-12-2008 đến 1-1-2009)

    1. 1. http://www.vietnambranding.com/thong-tin/phong-su-thuong-hieu/7791/Tap-doan-Tan-Hiep-Phat-Chien-luoc-tao-su-khac-biet-

    2.http://www.vinasme.com.vn/nd5/detail/chan-dung/guong-mat-doanh-nhan/dr-thanh-2.3.http://kinhte.top1.vn/chien-luoc-marketing/2197-cac-chien-luoc-cua-dr-thanh.html. 4. http://saigontre.wordpress.com/2009/11/08/

    II. Mục Tiêu.

    • Lợi nhuận doanh nghiệp

    + Trong ngắn hạn đạt 20%-30% doanh thu.

    + Trong dài hạn đạt 40%-50% doanh thu.

    • Trong thời gian đầu doanh nghiệp tập trung vào việc thu hút khách hàng . Khai thác nguồn lực và và thu hút thêm nhiều khách hàng mới

    + Chọn đúng thời điểm : Trong khi nhiều doanh ngiệp cắt giảm quảng bá sản phẩm để hạ giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp THP lại làm ngược lại.

    + Về người tiêu dùng:  Cố gắng phát hiện ra các nhu cầu tiêu chuẩn của người tiêu dùng để có thể thương mại hoá nhu cầu này .

    + Khách hàng : Là đối tác cực kỳ quan trọng sẽ không có hoạt động marketing thành công nếu không xem xét đến tác động của các hoạt động đó trên khách hàng .

    + Mở rộng thị trường hoạt động  trong thời gian tới .

    + Xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp bằng uy tín và chất lượng .

    III . Chiến lược kinh doanh.

      3. 1. Trước hết khi nghiên cứu chiến lược tập trung, chúng ta nên tìm hiểu tập trung là gì ?

    Tập Trung là khi chúng ta làm việc với tất cả sự chú ý, quan tâm vào các vấn đề mang tính chất quan trọng có thể mang đến tác động lớn nhất hoặc lợi ích lớn nhất . Nghĩa là các nhà lãnh đạo marketing phải biết cái gì là ưu tiên quan trọng để có thể đạt mục tiêu. Nhà lãnh đạo marketing sẽ nhận ra rằng họ không thể làm được tất cả mọi thứ cho khách hàng và người tiêu dùng. Vì thế cần phải chọn ra cái gì  là quan trọng nhất để Tập Trung.

    3.1.1. Tại sao chúng ta cần Tập Trung ?

    Có 3 lý do chính :

    1. Nguồn lực thì có hạn trong khi có quá nhiều điều bạn muốn làm như tung thêm SKU và sản phẩm mới cùng một thời điểm.

    Lãnh đạo THP nhận ra rằng hoặc là phải chạy hết công suất giống như sản phẩm Trà Xanh Không Độ vào giữa năm ngoái hoặc là toàn thể tổ chức không đủ nguồn nhân lực để có thể đảm đương tất cả mọi việc. Trong thời kỳ bất ổn như hiện nay, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều hạn chế về nguồn lực. Chúng ta phải chọn lựa cái nào chúng ta có thể làm tốt.

    1. Trong lĩnh vực marketing, truyền thông và định vị nhãn hiệu sẽ bị yếu đi do sự thiếu tập trung. Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ không xây dựng được nhận dạng thương hiệu thật sự.

    Lãnh đạo THP có rất nhiều cuộc thảo luận để quyết định việc sẽ thu hẹp thị trường mục tiêu và khách hàng mục tiêu của các nhãn hiệu cụ thể để gia tăng tính hiệu quả.

    1. Việc triển khai sẽ tốt hơn khi chúng ta biết Tập Trung.

    Khi THP tung sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr.Thanh, đã có rất nhiều đề xuất và ý tưởng về việc thực hiện các hoạt động kích hoạt và nhận biết nhãn hiệu. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng là chỉ chọn những chương trình thiết yếu có thể gây hiệu ứng mạnh. THP đã tập trung vào các chương trình lớn để xây dựng được sự hiện diện hình ảnh sản phẩm và thương hiệu cũng như tạo sự thử nghiệm cho khách hàng nhiều hơn. Ví dụ như tập trung vào chương trình xây dựng thương hiệu tại Khu Du Lịch Đại Nam Văn Hiến tỉnh Bình Dương nhằm tối đa hóa sự hiện diện và dùng thử sản phẩm của Trà Thảo Mộc Dr. Thanh.

    Các  lĩnh vực chính mà THP tập trung vào để đạt được thành công:

    3.1.2. Về người tiêu dùng.

    Chúng ta cố gắng phát hiện ra các nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng để có thể thương mại hóa nhu cầu này.

    Sản phẩm Trà Xanh Không Độ chai PET uống liền là một ví dụ tuyệt vời về nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng đã được THP biến thành một cơ hội kinh doanh. Uống trà chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam. Bước kế tiếp, THP đã sản xuất sản phẩm Trà uống liền trong một chai PET tiện dụng sau khi THP nhận thấy sự thay đổi trong phong cách sống ngày càng mang tính di động và nhu cầu ngày càng lớn hơn đối với các sản phẩm thức uống có lợi cho sức khỏe.

    3.1.3. Về khách hàng.

    Khách hàng là đối tác cực kỳ quan trọng bởi vì họ trữ hàng hóa của chúng ta để bán. Sẽ không có các hoạt động marketing thành công nếu như chúng ta không xem xét đến tác động của các hoạt động đó trên khách hàng. Tại THP, công ty có một bộ phận tập trung toàn diện vào việc chăm sóc khách hàng. THP đối xử với tất cả các khách hàng của mình như các đối tác kinh doanh thật sự.

    3.1.4. Về truyền thông.

    THP đã đầu tư không ít vào truyền thông để quảng bá cho mọi người biết về hình ảnh và các lợi ích của nhãn hiệu. Điều này cực kỳ quan trọng. Năm ngoái, THP nằm trong số 5 công ty quảng cáo mạnh nhất tại Việt Nam và THP sẽ còn tiếp tục tăng chi phí quảng cáo của mình trong năm 2009. Lãnh đạo THP rất quan tâm và trực tiếp tham dự vào việc xây dựng Chiến Lược và Kế Hoạch Truyền Thông của các nhãn hàng, làm việc rất sâu sát với các cộng sự trong bộ phận Marketing để phát triển ý tưởng sản phẩm và thiết lập mục tiêu nhận biết về nhãn hàng, dùng thử và thói quen sử dụng nhãn hàng.

    3.1.5. Chất lượng sản phẩm và tính sẵn có của sản phẩm.

    THP đã đối mặt với nhiều trường hợp hết hàng. Nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp của THP. Do đó, đây cũng là một vấn đề cần lưu tâm trong lĩnh vực tiếp thị của chúng ta. Chúng ta cần đảm bảo tiếp tục duy trì sự hiện diện của sản phẩm với cùng một tiêu chuẩn chất lượng tuyệt hảo mọi lúc mọi nơi.

    3.1.6. Về việc triển khai thực hiện.

    Có nhiều ý tưởng rất hay, có những kế hoạch rất tuyệt vời nhưng lại thất bại chỉ vì triển khai quá tệ. Thật may mắn là đối với sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr. Thanh, THP đã có một đội ngũ được tổ chức bài bản, nhanh chóng đưa hàng ra thị trường trong một thời gian ngắn. Lãnh đạo THP biết rằng việc tung sản phẩm phải diễn ra trước Mùa Tết Nguyên Đán để có thể tối đa hóa mức độ ảnh hưởng đến người tiêu dùng và thị trường cả nước. Mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ và chức năng đã được thiết lập cụ thể để đảm bảo mọi người làm việc đồng bộ. Nếu THP chậm trễ dù chỉ một ngày tung sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr.Thanh, THP sẽ không thể nào gặt hái được kết quả tốt như ngày hôm nay.

    3.2. Khác biệt hoá.

    Khác biệt nghĩa là chúng ta nổi trổi như thế nào so với đối thủ cạnh tranh trong cách tiếp cận phù hợp nhất và ý nghĩa nhất với người tiêu dùng. Ngày nay, chúng ta có quá nhiều đối thủ cạnh tranh đang cùng nói về một chủ đề với chúng ta hoặc đang sao chép cách chúng ta làm. Do đó, rất cần thiết phải làm cho mình thật sự khác biệt và nổi bật.

    3.2.1. Vì sao phải khác biệt?

    • Thứ nhất, có rất nhiều đối thủ cạnh tranh đang cố gắng thu hút cùng một đối tượng người tiêu dùng. Vì vậy bắt buộc chúng ta phải nổi bật .
    • Thứ hai, khác biệt hóa sẽ đem đến cho bạn một cá tính, một đặc điểm nhận dạng riêng biệt đối với người tiêu dùng về lâu dài. Điều này sẽ đảm bảo sức sống lâu dài của nhãn hiệu.

    Chúng ta không nên chỉ làm việc dựa trên sự khác biệt hóa thông thường. Khác biệt hóa phải thật ý nghĩa và xác đáng. Mặt khác, khác biệt thôi chưa đủ mà sự khác biệt của bạn phải thật sự cuốn hút một số lượng lớn khách hàng mục tiêu.

    THP đã tạo được sự khác biệt đối với nhãn hàng Trà Thảo Mộc Dr.Thanh một cách thật ý nghĩa đối với người tiêu dùng. Lợi ích của việc thanh lọc và giải nhiệt kết hợp với việc khác biệt hóa sản phẩm từ 9 loại thảo mộc cung đình đã chứng tỏ rằng đây là một ý tưởng cực kỳ mạnh mẽ và khác biệt để tác động vào người tiêu dùng.

    3.3. Những yếu tố khác biệt cần lưu ý:

    3.3.1. Về sản phẩm:

    Rất nhiều sản phẩm của THP đang là sản phẩm tiên phong trên thị trường Việt Nam. Trà xanh uống liền, Trà Barley, Trà thảo mộc Dr.Thanh, Nước tăng lực Number One là một trong những sáng kiến sản phẩm mới mà THP đã đưa ra thị trường. THP đã đầu tư không nhỏ vào việc phát triển nhiều hơn nữa các sản phẩm mới và thật sự khác biệt.

    3.3.2.Về bao bì:

    Chúng ta có thể cho ra đời những bao bì sản phẩm thích hợp cho thị trường và người tiêu dùng. THP đã tạo ra các loại chai PET, chai thủy tinh tái sử dụng, hộp giấy Tetra Pak và lon. Một ví dụ là gần đây, THP vừa giới thiệu sản phẩm nước tăng lực Number One trong chai nhựa PET, đem thêm nhiều thuận tiện và thêm nhiều lợi ích cho người tiêu dùng hơn.

    3.3.3. Về truyền thông:

    THP nhìn vào sự khác biệt trong “ý tưởng sản phẩm” của mình. THP phải xây dựng được ” lý do để mua” và ” lý do để tin” thật mạnh  mẽ. Đối với điều này, THP đi rất sát với người tiêu dùng. Quan trọng hơn, THP đã biến khái niệm sản phẩm thành một kế hoạch quảng cáo tuyệt vời và chiến dịch truyền thông 360o. Đến nay, thậm chí trẻ con cũng biết đến concept của Trà thảo mộc Dr.Thanh và tìm kiếm sản phẩm tại các cửa hàng để mua.

    Tóm lại, Tập Trung và Khác Biệt là nguyên tắc cần thiết để dành được chiến thắng trên thị trường.

    3.3.4. Về quảng cáo:

    Trong lúc kinh tế suy giảm, nhiều doanh nghiệp đã chọn giải pháp tiết kiệm chi phí, nhưng tập đoàn Tân Hiệp Phát thì làm ngược lại, đầu tư khá lớn cho sản xuất và quảng bá sản phẩm mới là trà thảo mộc Dr Thanh. Dường như tất cả công sức bỏ ra đều không uổng phí khi đem lại thành công vang dội cho trà Dr thanh

    3.3.5.Về tên thương hiệụ :

    Chắc chắn ngay từ  đầu mọi người ai cũng thắc mắc về cái tên Dr Thanh. Nó là một trong những đề tài hot nhất trong diễn đàn Marketing lớn nhất Việt Nam. Mọi người tò mò không biết Thanh trong Dr Thanh có nghĩa là thanh lọc, thanh khiết của sản phẩm hay là lấy tên của ông tiến sĩ- Trần Quý Thanh, người có hình ảnh trên mỗi chai sản phẩm. Ngay về tên sản phẩm các nhà chiến lược của công ty THPđã gây sự chú ý cho người tiêu dung rồi.

    3.3.6. Chọn đúng thời điểm:

    Thời điểm mà THP cho ra đời sản phẩm  Dr. Thanh vô cùng  thuận lợi và được coi là thời điểm vàng. Khi mà người tiêu dung trong cái khí trời đầu xuân, tết với những món ăn đa dạng, cái cảm giác không còn ngon miệng  nữa, cái cảm giác khó chịu nóng trong người không khỏi tránh nổi thì Dr Thanh được định vị thương hiệu với những chức năng giải quyết những nhu cầu đó. Sản phẩm tốt cho sức khỏe lên ngôi, bằng chứng là sự thành công của trà không độ. Chính vì vậy Dr. Thanh là sự lựa chọn hàng đầu cho mùa tết.

    3.3.7. Đánh mạnh vào truyền thông:

    Năm 2008 vừa qua, THP  là một trong năm công ty quảng cáo mạnh nhất tại Việt Nam và đã tiếp tục tăng chi phí quảng cáo của mình lên trong những năm tiếp theo. Đây là một việc làm rất mạo hiểm . Đầu tư cao vào việc quảng bá thương hiệu sản phẩm cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với thất bại nặng nề. Nhưng đứng trước thách thức đó thì THP Group đã nghiên cứu kĩ lưỡng và cho ra các hình thức quảng cáo ấn tượng. Quảng cáo lien tục trong suốt mấy tháng trời, lien tục trên truyền hình. Chỉ tính riêng chi phí quảng cáo thì THP cũng phải trả một khoản tiền khủng khiếp rồi , chưa tính đến các kênh truyền thông khác cũng như các chương trình. Chính vì vậy mà giám đốc của THP đã thừa nhận rằng truyền thông đóng một vai trò đặc biệt trong việc kích thích quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Sự xuất hiện với mật độ dày trên các phương tiện truyền thông  của sản phẩm trà thảo mộc Dr Thanh làm dấy lên sự tò mò, sự quan tâm, thú vị của dư luận.

    IV . Chiến thuật kinh doanh

    Phân phối là một biến số quan trọng của marketing hỗn hợp . Hoạt động  phân phối giải quết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa như thế nào đến tay người tiêu dùng . Các quyết định về phân phối rất phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực khác trong  marketing. Hiện nay ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối như biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường. Doang nghiệp tổ chức và hoạt động  phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối.Các kênh  phân phối .Các kênh phân phối cung cấp cho người tiêu dùng cuối cùng hoặc khách hàng công nghiệp các lợi ích về thời gian,địa điểm,sở hữu. Hiểu được tầm quan trọng của việc phân phối chúng tôi đặc biệt chú ý đến các kênh phân phối nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Đối tượng mà chúng tôi muốn hướng tới là tất cả mọi người không phân biệt tuổi tác,giới tính,mức thu nhập .do vậy khu vực mà chúng tôi phân phối là rất lớn trên toàn lãnh thổ Việt Nam với dân số trên 80 triệu người . Điều này đòi hỏi chúng tôi phải tổ chức những kênh phân phối để đưa hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất  đến người tiêu  dùng một cách tốt nhất. Do địa bàn phân phối rộng chúng tôi quyết định lựa chọn các trung gian thương mại trong các kênh phân phối vì họ bán hàng hoá và dịch vụ có hiệu quả hơn nhờ tối thiểu hoá số lần tiếp xúc bán cần thiết để thoả mãn thị trường . Chúng tôi quyết định tổ chức kênh phân phối từ nhà sản xuất sản phẩm đến các nhà buôn bán, bán lẻ và đến trực tiếp người tiêu dùng chúng tôi ước tính có khoảng hơn 300 nhà phân phối với hơn 2000 nhân viên bán hàng , 1000 xe tải tham gia vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ . Hệ thống bán hàng có thể bao gồm các cửa hàng vừa và  nhỏ ,các đại lý lớn và hệ thống các siêu thị . Chúng tôi lựa chọn phương thức phân  phối rộng rãi nhằm cố gắng đưa sản phẩm đến người bán lẻ càng tốt. Đặc biệt ở các cửa hàng , các chung tâm thành  phố ,nơi có cụm dân cư đônh đúc như các khu đô thị ,khu  công nghiệp vậy chúng tôi sẽ cố gắng xây dựng hệ thống phân phối dày đặc hơn . ngoài ra còn xây dựng những vùng bán hàng tự động như ở các cơ quan, công sở những khu vui chơi giải trí nhằm đưa sản phẩm đến người tiêu dung nhanh nhất thuận tiện nhất ,mọi lúc mọi nơi mọi thời điểm căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm là nước giải khát đóng trai nhựa nên khó hư hỏng và thời gian sản xuất đến tiêu dùng là rất dài do vậy có thể  vận chuyển sản phẩm bằng các phương tiện chuyên dụng như  ô tô , xe máy và có thể vận chuyển đi xa. Do đối thủ cạnh tranh của trà thải mộc Dr.Thanh là rất nhiều chúng tôi quyết định lựa chọn các kênh phân phối với có cùng đầu ra với các loại nước giải khát như cocacola.pepsi,trà không độ…nhưng qua đó cũng đòi hỏi có sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa nhà sản xuất , các đại lý, các nhà bán lẻ.

    Để lựa chọn kênh phân phối một cách hiệu quả chúng tôi sẽ cố gắng lựa chọn và thu hút những trung gian thương mại cụ thể tham gia vào quá trình phân phối . Các trung gian thương mại sẽ phải trải qua một thời gian hoạt động thử nếu đạt được tiêu chuẩn mà chúng tôi đề ra chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp sản phẩm và vốn để hoạt động . Và chúng tôi căn cứ vào từng địa bàn cụ thể mà đề ra các tiêu chuẩn tuyển phù hợp. Ví dụ như các trung gian thương mại ở những địa bàn dân cư đông đúc , kinh tế phát triển mạnh thì bình quân mỗi quý phải bán được khoảng 10.000 chai trở lên , còn những vùng nông thôn  những khu dân cư thưa thớt thì số lượng sản phẩm tiêu thụ hàng quý khoảng 1000  chai. Ngoài ra đối với các đại lý bán hàng chúng tôi sẽ căn cứ cả vào số lượng mặt hàng khác mà họ bán nếu số lượng các hàng hoá khác đa dạng tức là họ đã thu hút được nhiều các đối tượng khách hàng , điều này sẽ tạo thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm trà thảo mộc Dr.Thanh.

    Sau khi đã lựa chọn các kênh phân phối chúng tôi sẽ có những chính sách nhằm quản lý đưa việc phân phối vào nề nếp.Đầu tiên là việc tiếp nhận và xử lý đơn đặt hàng . Khi nhận được đơn đặt hàng chúng tôi sẽ cố gắng thượng lượng với khách hàng một cách nhanh nhất về số lượng. giá cả và dịch vụ rồi chuyển hàng một cách nhanh nhất tân tay khách hàng . Ngoài ra thường xuyên khuyến khích các thành viên kênh hoạt động để họ làm việc được tốt nhất. Chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của các thành viên, cố gắng thiết lập mối quan hệ gần gũi với họ đáp ứng những nhu cầu của họ trong khả năng mình có thể  . Cuối mỗi kỳ hoạt động có những sự đánh giá một cách chính xác kết quả kinh doanh của từng thành viên trong kênh. Qua đó có sự khen thưởng về vật chất một cách thích đáng nếu họ hoàn thành tốt công việc ,ngược lại những thành viên không hoàn thành tốt nhiệm vụ mắc nhiều lỗi trong quá trình hoạt động ,chúng ta sẽ tìm hiểu nguyên nhân để có những biện pháp giải quyết. Như nhắc nhở ,cảnh cáo ,xa thải hoặc cũng có thể giúp đỡ thêm . Bên cạnh đó chúng tôi sẽ sử dụng công cụ marketing hỗn hợp khác trong quản lý hoạt động của kênh phân phối . Chúng tôi sẽ quản lý chặt chẽ về giá nhằm tránh các đại lý tăng giá sản phẩm quá cao. Chúng tôi sẽ quy định giá bán của mõi chai trà thảo mộc Dr.Thanh vào khoảng 6500-7500 đồng/chai ,đồng thời cũng kết hợp với việc khuyến mại khi khách hàng mua với số lượng lớn sản phẩm.

    Để có thể thực hiên tốt qá trình phân phối cũng phải đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng nhằm thu được mức lợi nhuận ca nhất. Chúng tôi quyết định đầu tư tú 10% doanh thu cho các hoạt động phân phối như :chi phí vận chuyển ,lưu kho, bảo quản hàng ,đóng gói hàng hóa ,chi phí hành chính ,sử lý đơn hàng . Ngoài ra chúng tôi sẽ cố gắng khai thác hết tiềm lực về bảo quản ,kho bãi ,cửa hàng để giảm chi phí phân phối.

    Do đặc thù về đối tượng cung ứng là mọi đối tượng và địa bàn phục vụ rộng khắp cả nước lên số lượng cửa hàng bán lẻ sẽ cũng rất lớn nên chúng tôi phải quan tâm đặc biệt đến các cửa hàng này . Tuỳ từng địa điểm mà nhà bán lẻ phuc vụ chúng tôi có những sự điều chỉnh phù hợp . Chúng r tôi sẽ chú ý đến sự phuc vụ và làm hài lòng khách hàng , tuỳ điều kiện sẽ quyết định chọn những dịch vụ dành cho khách hàng như đối với các cán bộ công chức hạn chế về thời gian có thể áp dụng dịch vụ giao hàng tận nhà , hay mua với số lượng lớn từ 30 chai trở lên có thể khuyến mại thêm một chai . Một điều khuyến quan trọng nữa là bầu không khí trong cửa hàng .cửa hàng sẽ trưng bày sản phẩm ở nơi dễ tìm thấy nhất và thu hút được nhiều khách hàng nhất ví dụ như gần nơi ra vào ,bên cạnh đó chúng tôi sẽ đào tạo đội ngũ nhân viên bán hàng có thái độ phục vụ khách hàng tận tình, luôn  niềm nở với khách ,giới thiệu cho khách hàng những đặc tính tốt của sản phẩm như giúp đỡ thanh nhiệt ,giải độc phù hợ với mọi đối tượng và tạo cho khách hàng cảm giác họ được quan tâm , được tôn trọng  “khách hàng là thượng đế ” và đặc biệt là cảm giác an toàn về sức khoẻ.

    Tóm lại chúng tôi sẽ cố gắng để có thể cung cấp sản phẩm đến với người tiêu dùng một cách tốt nhất cả về số lượng của sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng với sự hài lòng cao.

    +> Xúc tiến hỗn hợp

    Xúc tiến chiêu thị là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu của marketing hỗn hợp để tác động vào thị trường mục tiêu.

    Hoạt động xúc tiến hỗn hợp trong  marketing là sự kết hợp tổng hợp của các hoạt động quảng cáo, khuyến mại chào hay bán hảng cá nhân, tuyên truyền , toàn bộ các hoạt động xúc tiến này phải được phối hợp với nhau một cách chặt chẽ   để đạt tác dụng truyền thông tối đa tới người tiêu dùng . Chúng tôi sẽ sử dụng chiến lược kéo để thực hiên các hoạt động xúc tiến tức là chúng tôi sẽ đầu tư chi phi chiêu thị nhiều và hoạt động năng động đối với người tiêu dùng để tạo nên nhu cầu tiêu thụ . Nếu có hiệu quả  ,người tiêu dùng sẽ hỏi mua sản phẩm ở các nhà bán lẻ ,các nhà bán lẻ sẽ hỏi mua các nhà bán sỉ , các nhà bán sỉ sẽ hỏi mua các nhà sản xuất.

    Để quá trình xúc tiến được thành công ,việc đầu tiên chúng tôi sẽ làm là xác định khàch hàng mục tiêu . Nhãn hàng trà thảo mộc Dr.Thanh của chúng tôi hướng đến phục vụ mọi khách hàng không  phân biệt giới tính hay lứa tuổi nhưng chúng tôi vẫn đặc biệt quan tâm đến đối tượng khách hàng thường xuyên tiếp xúc đến đồ nóng như rượu bia và giới trẻ thanh thiếu niên hay hoạt động .Để có thể thuyết phục khách hàng mua sản phẩm chúng tôi sữ giới thiệu cho họ biết đến sản phẩm trà thảo mộc của chúng tôi , nếu khán giả chưa biết đến sản phẩm trà thảo mộc của chúng tôi chúng tôi sẽ sử dụng nhưng thông điệp đơn giản như “Trà thảo mộc Dr.Thanh ,thanh lọc cơ thể không lo bị nóng ’’ lặp đi lặp lại nhiều lần để có thế găm sâu vào trí nhớ người tiêu dùng . Và công việc này sẽ được chúng tôi tiến hành liên tuc trong một thời gian dài. Một vấn đề nữa đăt ra khi khách hàng đã biết đến trà thảo mộc Dr.Thanh của chúng tôi họ có thể hiểu được ý nghĩa của sản phẩm . Ngay trong tên sản phẩm đã khiến nhiều người tò mò ,quan tâm,thậm chí có những lý giải khác nhau kể cả hiểu lầm , Dr.Thanh hàn ý được đặt ngay trong chữ “Thanh’’(thanh nhiệt ,  thanh lọc cơ thể) là bản chất đặc trưng cho loại trà thảo mộc mà chúng tôi đưa ra thị trường.Bên cạnh đó phải cho khách hàng hiểu được trà thảo mộc Dr.Thanh không như các loại nước giải khát thông thường khác hiện đang có mặt trên thị trường , trà thảo mộc Dr.Thanh  đặt mục tiêu chính phục vụ người tiêu dùng ở vị trí một loại nước giải khát duy nhất có khả năng giải nhiệt và thanh lọc cơ thể, Trà thảo mộc Dr.Thanh hiện đang có một thị trường đầy tiềm năng nên chúng tôi tìm cách “phủ sóng’’  trà thoả mộc Dr.Thanh nhằm kích hoạt và nhận biết sản phẩm một cách rộng rãi trong cộng đồng . Một khi khách hàng đã biết và hiểu về sản phẩm chúng tôi sẽ xem cảm nghĩ của họ về sản phẩm như yêu hay ghét. Nếu họ chưa hài lòng về sản phẩm của chúng tôi , chúng tôi sẽ tiến hành cải tiến ví dụ như về chất lượng mẫu mã để hoàn thiện sản phẩm sau đó mới truyền thông về chất lượng sản phẩm . Cần phải có “Sản phẩm tôt đi trước lời nói tốt ’’ . Khách hàng nục tiêu có thể thích sản phẩm nhưng lại không ưa chuộng nó so với sản phẩm khác . Cần cố gắng xây dựng sự ưa chuộng sản phẩm nơi khách hàng . Chúng tôi sẽ tập trung nói nhiều hơn về chức năng của sản phẩm khác không có mà giá cả chỉ ngang bằng với các nhãn hàng khác hiện đang có trên thị trường.

    Người Việt Nam ta thường có thói quen ngại thay đổi , khi họ đã dùng một sản phẩm nào trước đó thì dù sản phẩm khác có hoàn thiện hơn đi chăng nữa họ cũng ngại tthay đổi mà sử dụng nhãn hàng  đó  do vậy  chúng tôi cần cố gắng xây dựng được niềm tin đối với khách hàng . Phải đem đến cho khách hàng “lý do để tin và lý do để mua sản phẩm’’  khi nói về trà thảo mộc Dr.Thanh . Chính những lợi ích ma trà thảo mộc Dr .Thanh sẽ đem lại cho khách hàng những điều đó . Con người chúng ta cũng như móịư vật sống khác ,chúng ta có tây y , mọi vật khác không có tây y chỉ có đông y ma vẫn tồn tại từ đời này qua đời khác . Trà thảo mộc của chúng tôi với triết xuất từ chín loại thảo mộc quý , đa số có thể trồng được ở Viêt Nam ,có thể đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của con người

    Để hoạt động chiêu thị có thể thành công thì quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng nhất . Quảng cáo chuyển các thông tin có sức thuyết  phục đến các khách hàng mục tiêu .Quảng cáo sao không gây phản cảm cho khách hàng là một nghê thuật . Mục đích của quảng cáo là làm cho khách hàng thích thú ,gây sự ham muốn cho khách hàng dẫn cho họ đến hành động mua hàng . Đầu tiên chúng tôi sẽ quảng cáo cho khách hàng biết sản phẩm của chúng tôi  ,tác dụng của sản phẩm  “thanh lọc cơ thể,  giải nhiệt’’và với giá cả hợp lý và có khuyến mại trong những thời gian bắt đầu bán sản phẩm .

    Hiện nay trên thị trường có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với nhãn hàng của chúng tôi như pepsi ,cocacola , jup…hay các loại nước khoáng thiên nhiên do vậy chúng tôi sẽ tập chung quảng cáo mạnh mẽ vào điểm khác biệt giữa nhãn hàng trà thảo mộc Dr.Thanh với các sản phẩm khác . Ngoài tác dụng là giải khát thì trà thảo mộc Dr.Thanh còn là loại thức uống rất tốt cho sức khoẻ mà giúp giải nhiệt mà hiện nay chưa có một loại nước giải khát nào có thể thực hiện được điều này . Khi sản phẩm đã được bán rộng rãi trên thị trường chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục quảng cáo nhằm nhắc nhở khách hàng luôn nhớ đến tên sản phẩm ,công dụng và tính năng của nó.

    Khi mục tiêu quảng cáo đã được chúng tôi xác định cụ thể ,chúng tôi sẽ quyết định ngân sách dành cho quảng cáo . Chúng tôi quyết định truyền thông như lá bài quan trọng bậc nhất  “một bà đỡ’’ mát tay của trà thảo mộc Dr.Thanh khi nó được tung ra thị trường , do vậy chúng tôi sẽ đầu tư chi phí lớn vào hoạt động quảng cáo khoảng 40%  doanh thu và sẽ tiếp tục tăng chi phí quảng cáo . Việc quyết định nội dung quảng cáo ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của lần quảng cáo đó . Nội dung phải làm toát lên được công dụng của trà thảo mộc Dr.Thanh “ thanh lọc cơ thể không lo bị nóng  hay nóng trong người hãy uôèng trà thảo mộc Dr.Thanh và lời rao sẽ phải có cấu trúc rõ ràng đưa ngay kết luận trong lời rao mở ngay ra cho khách hàng thấy đặc tính của sản phẩm . Hình thức của lời rao cũng cần được quan tâm  , chúng tôi sẽ kết hợp những hoạt động như ăn uống các đồ nóng các hoạt động thanh nhiệt như vui chơi ,tập thể dục thể thao với những lời lẽ , hành ảnh và màu sắc nóng để có thể làm toát lên công dụng của sản phẩm . Ngoài ra lời lẽ cần đơn giản ,dễ thuộc không cần quá nhiều lời lẽ gây nhiễu cho khách hàng .

    Phương tiện quảng caod giúp truyền thông tin tới những khách hàng một cách hiệu quả . Chúng tôi sẽ lựa chọn các phương tiện như :báo chí , radio , tivi …Đặc biệt chú trọng đến phương tiện truyền hình , đặc biệt là những kênh thu hút được khán giả lớn như kênh vtv3 , vtv1..của đài truyền hình Việt Nam vào những lúc được đa số khán giả như chiếu phim ,các chương trình giải trí ,truyền hình trực tiếp . Ngoài ra , chúng tôi cũng cho đăng những bài quảng cáo cho sản phẩm trên những trang web ,bài báo uy tín . Tận dụng các áp phích như hình ảnh sản phẩm trên những tấm áp phích trên  đường hay xe bus . Và mỗi kỳ kinh doanh chúng tôi sẽ đánh giá hiệu quả của hoạt động quảng cáo bằng cách đánh giá sự tăng doanh thu cũng như số lượng sản phẩm bán ra trong kỳ và việc thương hiệu của sản phẩm có được đa số khách hàng biết đến hay không .

    Bên cạnh xúc tiến các chương trình quảng cáo trên các phương tiện ,chúng tôi còn thực hiện các chương trình như khuyến mại,giảm giá kích thích thị trường đáp ứng nhanh và mạnh hơn đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty . Chì phí khuyến mại được chúng tôi đầu tư khoảng 20 % lợi nhuận  . Hiện tại kinh tế của chúng ta đang xảy ta lạm phát do vậy việc bán hàng trở lên khó khăn hơn cộng thêm ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh làm cho chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hoạt động khuyến mại ,giảm giá . Chúng tôi sẽ kết hợp song song giữa hoạt động khuyến mại ,quảng cáo và chào hàng . Để thực hiên chương trình khuyến mại chúng tôi sẽ sử dụng các công cụ như hàng dùng thử ,quà hàng như tặng miễn phí mũ  , áo thun , túi xách , Hãy sử dụng những gói hàng chung :khi mua trà thảo mộc Dr.Thanh sẽ được tặng kèm  sách hướng dẫn về chế độ ăn uống những thức ăn có lợi cho sức khoẻ ,hãy mua hàng với số lượng lớn sẽ được tặng thêm sản phẩm . Và việc thực hiện khuyến mại sẽ được chúng tôi thực hiện trên địa bàn trung điểm như  các trung tâm thành phố khu đô thị nếu dạt hiệu quả sec thực hiện rộng rãi trên các khu khác .

    Ngoài việc quảng cáo ,khuyến mại , chúng tôi đồng thời cũng thực hiện hoạt động tuyên truyền quảng bá cho sản phẩm. Chúng tôi sẽ tổ chức các hoạt động buổi họp báo mời các các phóng viên của các báo đài có uy tín đến tham dự hoặc viết bài hay nhà lãnh đạo của chúng tôi sẽ tuyên truyền sản phẩm qua các cuộc hội thảo ví dụ như hội thảo về chiến lược marketing giới thiệu sản phẩm của công ty uy tín .

    Cuối cùng chúng tôi sẽ quan tâm đến hoạt động bán hàng cá nhân . Chúng tôi sẽ duy trì một lực lượng bán hàng đông đảo , thường xuyên tổ chức tuyển chọn  ,đào tạo đội ngũ bán hàng có kinh nghiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ thăm dò tìm kiếm những khách hàng mới ,truyền đạt khéo léo những thông tin sản phẩm cho khách hàng và cố vấn về các vấn đề của họ , đánh giá tính chất khách hàng . Đội ngũ nhân vên bán hàng sẽ được đào tạo qua những chương trình đào tạo cụ thể để có thể thực hiên tốt nhiệm vụ của mình . Bên cạnh đó chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp nhằm khuyến khích họ tích cực hoạt động bằng các chế độ trả thù lao và tiền lương . Chúng tôi sẽ thường xuyên đánh giá hoạt động của những nhân viêc bán hàng để có những điều chỉnh phù hợp .

    Đó là tất cả các hoạt động chiêu thị ,xúc tiến nhằm mục tiêu bán được nhiều sản phẩm tăng lợi nhuận và thương hiệu một chỗ đứng vững chắc trong tâm trí khách hàng .

    V. Bảng phân công công việc .

     

    STT Họ và tên Công việc
    1 Vũ Thị Minh Huyền  

     

    Phân tích môi trường

    2 Nguyễn Thị Hiển
    3 Nguyễn Thành Ngọc Mục tiêu
    4 Trần Minh Ngọc
        Chiến lược
    5 Lê Thị Hồng Chuyên
    6 Nguyễn Thị Diệp Chiến thuật
    7 Hà Đức Trung
    8 Hoàng Huy Toản Tổng hợp và Báo cáo

    MỤC LỤC

    Lời mở đầu. 1

    I.Môi trường kinh doanh. 3

    1.Môi trường vĩ mô. 3

    1.1: Nhân khẩu. 3

    1.2: Kinh tế. 4

    1.3: Tự nhiên. 5

    1.4: Công nghệ. 6

    1.5: Môi trường. 7

    2.Môi trường vi mô. 7

    2.1:Môi trường công ty. 7

    2.2:Trung gian marketing. 8

    2.3: Khách hàng. 8

    2.4: Đối thủ cạnh tranh. 9

    2.4.1: Cạnh tranh về giá cả. 9

    2.4.2:Cạnh tranh về sản phẩm thay thế. 10

    2.4.3: Cạnh tranh về chủng loại. 10

    2.4.4: Cạnh tranh về thương hiệu. 10

    2.5: Công chúng. 11

    1. Mục Tiêu. 12

    III . Chiến lược kinh doanh. 13

    1. 1. Trước hết khi nghiên cứu chiến lược tập trung, chúng ta nên tìm hiểu tập trung là gì ? 13

    3.1.1. Tại sao chúng ta cần Tập Trung ?. 13

    3.1.2. Về người tiêu dùng. 14

    3.1.3. Về khách hàng. 15

    3.1.4. Về truyền thông. 15

    3.1.5. Chất lượng sản phẩm và tính sẵn có của sản phẩm. 15

    3.1.6. Về việc triển khai thực hiện. 16

    3.2. Khác biệt hoá. 16

    3.2.1. Vì sao phải khác biệt?. 16

    3.3. Những yếu tố khác biệt cần lưu ý:. 17

    3.3.1. Về sản phẩm: 17

    3.3.2.Về bao bì: 17

    3.3.3. Về truyền thông: 17

    3.3.4. Về quảng cáo: 18

    3.3.5.Về tên thương hiệụ : 18

    3.3.6. Chọn đúng thời điểm: 18

    3.3.7. Đánh mạnh vào truyền thông: 19

    IV . Chiến thuật kinh doanh. 19

    1. Bảng phân công công việc . 26

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-L%E1%BA%ACP-D%E1%BB%B0-%C3%81N-KINH-DOANH-QU%C3%81N-KEM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    Tiểu luận

    LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM
    LỜI MỞ ĐẦU

    Thế giới xung quanh chúng ta có biết bao điều làm bạn phải bận tâm? Tôi cam đoan sẽ là vô số, nếu có ai trả lời ngược lại thì đó là con người có cuộc sống rất lý tưởng. Nhưng những người như thế chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Cuộc sống giống một cuộn len, chúng ta ai cũng có những cuộn len riêng của mình, nó mang màu sắc riêng của bạn, của chính chúng ta. Với những vướng mắc mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống thường ngày như: học tập, tình yêu, công việc… những thứ làm cái đầu của chúng ta  muốn nổ tung. Chính vì thế mà nhu cầu giải trí nhằm xả stress đã, đang và sẽ là nhu cầu cấp thiết của con người trong cuộc sống thời kinh tế thị trường ngày nay. Bạn sẽ đi đâu đây để xả hơi sau những giây phút mệt mỏi? Tôi là một người rất thích và có thể nói là một tín đồ trung thành của những que kem. Nếu ai đó bật cười khi biết được điều đó thì tôi sẽ cho bạn thấy sức mạnh của những que kem nhỏ bé ấy. Những que kem mát lạnh không chỉ làm bạn được giải thoát khỏi sự nóng nực của cái nắng oi ả của mùa hè,mà còn cho bạn những giây phút vui vẻ bên bạn bè, nhưng người thân yêu và mang đi bao nỗi buồn của bạn. Còn mùa đông thì sao nhỉ: Tiết trời se lạnh đầu năm không làm mất đi cảm giác thèm vô cùng vị kem mát lạnh tê đầu lưỡi và sự khoan khoái khi được nhâm nhi những chiếc bánh ốc quế giòn tan, thơm lừng…Được cùng bạn bè ngồi thưởng thức những ly kem tươi hay hàn huyên bên chiếc lẩu kem được trang trí đẹp mắt với màu sắc và hương vị vô cùng hấp dẫn khiến xua tan đi cái ngột ngạt của cuộc sống thường nhật. Điều bạn có được từ nó giá trị hơn nhiều những gì bạn nghĩ đấy. Những que kem bé nhỏ nhưng lại không hề “ nhỏ bé” phải không bạn.

    Tôi rất thích kinh doanh và cũng thích ăn kêm nữa nên tôi muốn mở một cửa hàng bán kem để có thể được chia sẻ sở thích của mình với bạn. Hãy cùng tôi lập dự án kinh doanh này nhé?

    Tuy hiện nay có rất nhiều quán kem nhưng vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu của mọi người đặc biệt trong dịp hè sắp tới. Với một cửa hàng kem tươi ngon, giá phải chăng, phục vụ tốt, luôn quan tâm đến nhu cầu thư giãn của khách hàng tôi tin rằng chắc chắn sẽ được nhiều người chấp nhận.

    NỘI DUNG

    I. Mô tả dự án

    Tên dự án: cửa hàng kem tươi “ice-cream”

    Chủ đầu tư: Vũ Thị Tuyết

    Ngày sinh: 05/06/1989

    Địa chỉ: Trường đại học Lâm nghiệp, thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội

    Lĩnh vực tham gia kinh doanh: : cung cấp dịch vụ giải khát

    Địa điểm thực hiện: trên mặt phố, nơi tập trung đông dân cư, gần các trường đại học, THPT…

    Thời gian hoạt động: không giới hạn

    Nguồn thông tin: tìm hiểu số liệu thực tế từ một số cửa hàng kem lớn, cửa hàng cung cấp đồ nội thất, siêu thị, và một số trang  web khác…

    II. Một số tìm hiểu cơ bản

    1. Nghiên cứu thị trường

    Kem tươi với nhiều hương vị khác nhau là nhu cầu không thể thiếu của tất cả giới trẻ hiện nay, vì vậy có thể nói là một sản phẩm tiềm năng trong ngành giải khát. Cửa hàng kem không những đáp ứng nhu cầu cao của khách hàng_ đặc biệt là giới trẻ, bắt nhịp cùng cuộc sống, mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, con người tham gia rất nhiều hoạt động, nhiều công việc để có thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân song con người lại càng có ít thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi, vì vậy một cửa hàng kem sẽ đáp ứng được nhu cầu thư giãn hàng ngày trong những bộn bề của cuộc sống. Do dó, nhu cầu cần có cửa hàng kem ngon, độc đáo, giá cả thích hợp và cách trang trí đẹp là rất cần thiết.

    Các quán kem hiện nay rất nhiều nhưng mới chỉ có số ít là đáp ứng được đa số nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, mặt khác cửa hàng nhỏ, trang trí cửa hàng đơn giản. Tất cả những điều trên cho thấy nhu cầu để có quán kem để thư giãn sẽ tăng, và có tương lai phát triển mạnh mẽ.

    2. Thị trường trọng tâm

    Trẻ em, học sinh, sinh viên là khách hàng chủ yếu của chúng tôi vì đây là tầng lớp có nhu cầu lớn. Đặc biệt, nhóm khách hàng mà quán hướng tới đó là giới trẻ, lứa tuổi từ 15-24. Đây là nhóm khách hàng có nhu cầu về giải trí, thư giãn của họ là những quán kem, quán cafe… họ chiếm phần đông, có thu nhập ổn định đang tăng.

    Phân loại nhóm khách hàng:

    • Là các đôi yêu nhau
    • Là học sinh tuổi teen 16-18t
    • Là người có thu nhập ổn định 24-30 tuổi
    • Nhận đặt bánh theo yêu cầu…

     3. Mục tiêu của quán

    Môi trường kinh tế ngày càng nhiều biến động, hội nhập mang lại nhiều cơ hội kinh doanh mới, những luồng văn hóa mới, nhu cầu giải trí-thư giãn của con người ngay càng tăng cao, song song với nó là nhiều dịch vụ giải trí khác nhau cũng phát triển mạnh mẽ. Đó như một miếng bánh ngon được chia cho rất nhiều của hàng, hãng kinh doanh khác nhau. Quán kem không chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu giải khát của con người mà còn đi kèm đó là những dịch vụ giải trí, thư giãn, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc căng thẳng hoặc sau những giờ học mệt mỏi, những lúc chia sẻ cảm xúc vui, buồn cùng bạn bè…  Cửa hàng kem tươi “ice-cream” sẽ đáp ứng tất cả nhu cầu đó của các bạn trẻ. Vì vậy, mục tiêu quán hướng đến đó là:

    Sản phẩm phong phú, đa dạng, đội ngũ nhân viên phục vụ trẻ trung, chuyên nghiệp, luôn luôn nở nụ cười với thực khách, cùng phong cách phục vụ chuyên nghiệp sẽ mang lại cho bạn một cảm giác thật gần gũi và ấm cúng…

    Cửa hàng sẽ là nơi thư giãn của mọi khách hàng, là nơi gặp gõ giao lưu bạn bè thú vị sau những những khoảng thời gian mệt mỏi.

    – Tối đa hoá sự hài lòng của khách hàng

    Về mục tiêu lợi nhuận, cửa hàng phấn đấu: Đạt được lợi nhuận ngay từ năm đầu hoạt động

    4. Đặc điểm khách hàng

    Do khách hàng chính của chúng tôi chủ yếu là học sinh, sinh viên nên họ có cách sống của họ đơn giản,dễ gần gũi. Khi đến quán, điều mà họ quan tâm nhất là hình thức phục vụ và không gian có thoải moái hay không… Ngoài ra, theo tìm hiểu qua các cuộc nói chuyện với khách hàng chúng tôi được biết khi đến đây họ  còn cân nhắc những điều sau :

    – Có nhiếu lại kem ngon không?

    – Mức giá có phù hợp không?

    – Có phục vụ nhanh không?

    – Người phục vụ có nhiệt tình vui vẻ không?

    Đây là nhóm khách hàng có rất nhiều nhu cầu khác nhau, vì vậy đáp ứng được tất cả nhu cầu của họ sẽ mang lại cho quán một lợi thế cạnh tranh lớn trong trong môi trường kinh doanh “ giải trí- giải khát” ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ như hiện nay.

    5.  Đối thủ cạnh tranh

    Mặc dù mở ra cửa hàng kem có nhiều điều kiện khách quan cũng như chủ quan thuận lợi. Nhưng để thành công không phải là chuyện dễ vì không chỉ có của hàng của mình ,mà còn nhiều cửa hàng hiện nay cũng đang tham gia lĩnh vực này nên các đối thủ cạnh tranh là rất lớn, họ cũng muốn đạt những gì họ muốn, do đó chúng tôi phải làm tốt hơn đối thủ thì mới thu hút được khách hàng.

    6. Nhà cung ứng

    Hiện nay có rất nhiều công ty kinh doanh kem lớn có thương hiệu: kem Tràng Tiền, kem Merino, … có thể thực hiện chiến lược liên kết với các nhà cung cấp để có thị trường đầu vào ổn định.

    7.  Các yếu tố vĩ mô

    – Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mở ra các loại hình kinh doanh không còn khó khăn và luôn được nhà nước  khuyến khích Cho nên với loại hình kinh doanh kem thì việc đăng ký sẽ dễ dàng

    – Thị trường kinh doanh kem trong tương lai sẽ phát triển cao và là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    8. Các loại sản phẩm

    Đặc điểm về sản phẩm:

    • Ít đường, ít béo do làm từ hương liệu hoa quả, socola, vani,bơ sữa…
    • Trình bày theo khuôn mẫu đa dạng, dễ thương, sáng tạo
    • KH được tự design và gửi thông điệp cho từng sản phẩm kem theo yêu cầu của khách hàng
    • Đề cao bản ngã, cái tôi của người mua
    • Hương vị tự nhiên và hấp dẫn từ khứu giác
    • Đóng gói lịch sự, tiện dụng, phục vụ nhanh chóng

    Bảng 1: các sản phẩm kem của cửa hàng

     

    Kem dâu Kem xôi
    Kem tươi Kem rán
    Kem xoài Kem sầu riêng
    Kem dứa Bánh su kem
    Kem dừa Kem viên khoai môn
    Kem socola Kem chua mứt dâu
    Kem hạnh nhân Kem chua mứt xoài
    Kem dâu rừng Kem tươi chua vani
    Kem cookie & cream Kem socola núi lửa
    Kem vani Kem ốc quế
    Kem vani socola Kem rum nho
    Kem bạc hà Kem cam
    Kem cafe Kem trái cây
    Kem socola bạc hà Kem bạc hà

     

    III. Kế hoạch kinh doanh

    Trên cơ sỏ phân tích mục tiêu và thông tin thu thập từ thị trường của hàng đưa ra một số chiến lược kinh doanh như sau:

    – liên kết với các nhà cung cấp lớn đẻ tạo ưu thế về nguồn nguyên liệu

    – Đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng

    – Đào tạo nhân viên chuyên nghiệp

    – Luôn đưa vào những sản phẩm mới với hương vị hấp dẫn, nhiều hình dạng ngộ nghính nhằm thu hút khách hàng

     

    1. Chiến lược giá

    Cửa hàng chúng tôi sẽ cung cấp nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại với nhiều mức giá khác nhau dành cho mọi đối tượng khách hàng từ người có thu nhập thấp đến người có thu nhập cao, từ công nhân, học sinh, sinh viên đến các doanh nhân, công nhân viên… phù hợp với mọi lứa tuổi.

    Bảng 2: Giá bán các sản phẩm tại thời điểm quán bắt đầu hoạt động

     

    Các lạo kem Đơn vị tính Giá bán
    Kem dâu ly 7000
    Kem tươi Ly 8000
    Kem xoài Chiếc 8000
    Kem dứa Chiếc 8000
    Kem dừa Chiếc 8000
    Kem socola Chiếc 10000
    Kem hạnh nhân Chiếc 12000
    Kem dâu rừng Ly 12000
    Kem cookie & cream Ly 12000
    Kem vani Ly 15000
    Kem vani socola Ly 15000
    Kem bạc hà Chiếc 15000
    Kem cafe ly 15000
    Kem socola bạc hà Ly 15000
    Kem xôi ly 10000
    Kem rán ly 10000
    Kem sầu riêng Chiếc 10000
    Bánh su kem Ly 15000
    Kem viên khoai môn Chiếc 12000
    Kem chua mứt dâu Ly 12000
    Kem chua mứt xoài Ly 12000
    Kem tươi chua vani Ly 12000
    Kem socola núi lửa Ly 15000
    Kem ốc quế Ly 8000
    Kem rum nho Ly 10000
    Kem cam Chiếc 8000
    Kem chanh Chiếc 8000
    Kem me Chiếc 8000
    Kem hoa quả Chiếc 8000

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.Chiến lược marketing:

    Đối với bất kì một doanh nghiệp nào nói chung và một dự án nói riêng thì marketing đóng vai trò vô cùng quan trọng để doanh nghiệp cũng như một dự án  có thể thành công. Hoạt động Marketing là việc chúng ta bỏ ra chi phí về tài chính cũng như nguồn lực để mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc kinh doanh, hiệu quả đó được thể hiện như là sức cầu của người tiêu dùng sẽ tăng lên, khách hàng sẽ biết đến sản phẩm dịch vụ của ta nhiều hơn, để từ đó tạo ra một hình ảnh về doanh nghiệp trong bộ nhớ của khách hàng. Khách hàng sẽ nghĩ đến sản  phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mình khi có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của ta. Như vậy chiến lược chung Marketing là một hệ thống những chính sách và các biện pháp nhằm triển khai và phối hợp những mũi nhọn marketing để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Để có một chiến lược marketing đạt hiệu quả cao thì việc đầu tiên ta phải hoạch định chiến lược marketing một cách cụ thể rõ ràng và khoa học phù hợp với mục tiêu của dự án cũng như mục tiêu chiến lược mà doanh nghiệp đã đề ra.

    Chiến lược marketing của dự án bao gồm những nội dung sau:

    – Mục tiêu chiến lược

    + Trước tiên là mục tiêu lợi nhuận: đây là mục tiêu  không thể thiếu đối với mỗi một dự án kinh doanh. Với dự án trông giữ xe ngày và đêm Tân Khánh dự đinh sẽ mang lại lợi nhuận cao.

    +  Thế lực trong kinh doanh: Khi dự án đưa vào hoạt động và ngày một phát triển thì điểm giữ xe có thể chiếm lĩnh được thị trường, khả năng cạnh tranh cao, mức độ sinh lời ngày càng tăng trong kinh doanh.

    + An toàn trong kinh doanh: Mọi hoạt động của dự án đều được thể  hiện mức độ an toàn là rất lớn, mức độ xảy ra rủi ro là không cao và có thể đề phòng và ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra.

    +  Mục tiêu nhân văn: Tạo công ăn việc làm cho xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, không gây ùn tắc giao thông

    Hình thức quảng cáo:

    Phát tờ rơi quảng cáo tại các trường ĐH, trung học, các công ty và người trung niên ở khu vực xung quanh đó. (1000 tờ rơi phát trong tháng đầu, sau đó có thể cân nhắc phát thêm hay không). Mỗi tờ rơi giảm 10% cho 1 ly, nhưng không cộng gộp với nhau

    Quảng cáo thông qua các hình thức chủ yếu  treo băng rôn ở các tuyến đường chính.Trong tuần đầu khai trương  khách hàng sẽ được giảm giá 50% trong ngày đầu và 30% trong các ngày tiếp t heo cho tất cả các sản phẩm.

    3. Phương án kĩ thuật và tổ chức quản lí nhân viên

    Sơ đồ hoạt động của tổ chức

             
         
     
         
     
       

    Nhân viên trong cửa hàng bao gồm:

    1 quản lý

    1 nhân viên thu ngân

    3 nhân viên phục vụ

    1 bảo vệ

    Yêu cầu nhân viên: Nhân viên năng động, phục vụ nhiệt tinh, khả năng xử lí tình huống nhanh, tuổi từ 18- 35 tuổi, ngoại hình ưa nhìn.

    Lương nhân viên

    Bảng 3: Lương hàng tháng

    Chỉ tiêu Số lượng Tiền lương

     

    (triệu đồng)

    Thành tiền

     

    (1000đ)

    Quản lý 1 6 6
    Phục vụ 4 2.5 10
    Bảo vệ 1 1.1 1.1
    Thu ngân 1 2.2 2.2
    Tổng 7   19.3

     

    IV. Hiệu quả hoạt động tài chính dự kiến

    1 Nguồn vốn và tài sản

    – nguồn vốn chủ sỏ hữu: 450

    – vốn vay ngân hàng: 150

    Lãi suất vay ngân hàng 12%/năm

    2.Chi phí hoạt động

    – Trang thiết bị, mô hình xây dựng, địa điểm

    BẢNG TÍNH CHI PHÍ ĐẦU TƯ BAN ĐẦU

     

    Đvt: ngàn đồng.

     
                     
    TT HẠNG MỤC ĐẦU TƯ SL ĐVT   GIÁ   THÀNH TIỀN  
    1 Bàn mây tròn: 15 cái x 450 = 6.750  
    2 Ghế 80 cái x 300 = 24.000  
    3 Bàn gỗ_kiếng vuông, thấp: 15 cái x 420 == 6.300  
    4 nệm ngồi 80 cái x 35 = 2.800  
    5 Đế lót ly bằng gỗ 300 cái x 3,65 = 1.095  
    6 Gạt tàn thuốc bằng gốm (TA58): 20 cái x 19 = 300  
    7 Mâm Inox bưng nước cho nhân viên

     

    (304-36cm):

    15 cái x 101 = 1.515  
    8 Ly đựng kem 200 ly x 75 = 1.500  
    9 Thìa 200 cái x 5.5 = 1.100  
    10 Ti vi 1 Chiếc x 6.560 = 6.560  
    11 Máy điều hòa 1 Chiếc x 7.300 = 7.300  
    12 Điện thoại 2 Bộ   1.500 = 1.500  
    13 Đầu đĩa đa năng 1 Bộ x 2.100 = 2.100  
    114 Dàn loa 1 Bộ x 3.500 = 3.500  
    15 Tủ lạnh 2 cái x 10.500 = 21.000  
    16 Điện, đèn, nước, tiền công 1 Lần x 20.000 = 20.000  
    17 Đồng phục nhân viên: 16 cái x 300 = 4.800  
    18 Trang trí nội thất, sửa chữa quán, trang trí cây cảnh: 1 Lần x 150.000 = 140.000  
    19 1 tủ quầy bar tính tiền và để dàn nhạc 2 cái x 5.500 = 11.000  
    20 Chi phí PANO vải quảng cáo: 3 Tấm x 1.500 = 4.500  
    21 Giấy phép kinh doanh 1   x 5000 = 5.000  
    22 Chi phí bảng hiệu, hộp đèn: 1 Bộ x 20000 = 20.000  
    23 Đồ dùng khác 1 Lần x 120.000 = 12.000  
      Tổng vốn đầu tư           304.62  
                       

    Bảng 5:Chi phí cho hàng tháng

    Stt Loại chi phí Thành tiền

     

    (nghìn đồng)

    1 Sản lượng kem tiêu thụ hàng tháng 69.800
    2 Đồ uống 15.600
    3 Chi phí công nhân viên 19.800
    4 Khấu hao TSCĐ (24 tháng) 5.620
    5 Chi phí thuê mặt bằng 20.200
    6 Tiền điện nước hàng tháng 40.000
    7 Chi phí khác 12.300
      Tổng 183.02

    3. Doanh thu dự kiến và chi phí dự kiến

    Vốn cố định: 304.620.000 đ

    Chi tiêu hàng tháng:183.020.000 đ/tháng

    Doanh thu hàng ngày dự kiến: 6.80.000

    Doanh thu bình quân hàng tháng: 204.000.000 đ/tháng

    Lợi nhuận hàng tháng: 67.530.000 đ/tháng

    4. Đánh Giá Tài Chính

    1. Đánh giá tài chính

    P: vốn đầu tư ban đầu

    r: lãi suất chiết khấu

    CF: dòng thu nhập ròng qua các năm

    a, Hiện giá thu hồi thuần ( NPV )

    Thể hiện tổng số tiền lời sau khi hoàn đủ vốn ( dự tính sau 2 năm)

    Vậy ta có NPV >0, dự án khả thi.

    b, Suất thu hồi nội bộ(IRR)

    Biểu hiện suất sinh lợi thực tế của dự án

    Ta thấy, suất sinh lời thực tế của dự án IRR >10%, dự án khả thi.

    c, Chỉ số lợi nhuận(PI)

    Thể hiện tỷ lệ hoàn vốn cộng với lời ròng của dự án trên khoản đầu tư ban đầu

    Tỷ lệ này đạt 1,46 tức tỷ lệ hoàn vốn cộng với lời ròng của dự án là 19% trên khoản đầu tư ban đầu. So với các ngành nghề có số vốn đầu bằng dự án này thì có chỉ số PI như thế này tương đối tốt.

    d, Chỉ tiêu BCR ( thu nhập/ chi phí )

    B/C = = = 1.03

    Ta thấy B/C = 1.03> 0 nên dự án có hiệu quả về mặt kinh tế.

    Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu trên ta nhận xét dự án trên có hiệu quả về mặt kinh tế, nên đầu tư thực hennj dự án.

    V. Hiệu quả về mặt kinh tế xã hội

    Đây là một của hàng kinh doanh với quy mô nhỏ vì vậy ảnh hưởng của nó tơi mặt kinh tế xã hội là rất nhỏ, tuy nhiên cũng có thể kể ra một số hiệu quả mà nó mang lại như sau:

    • Tăng thu nhập cho quốc dân
    • Đóng góp vào việc gia tăng ngân sách
    • Một cửa hàng đẹp sẽ góp phần tôn lên vẻ đẹp chung của phố phường
    • Giúp con người có nơi thư giãn nghỉ ngơi, có giá trị cao về mặt tinh thần.

    VI.Những rủi ro có thể gặp

    Rủi ro là yếu tố luôn tồn tại trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh , và trong quá trình thực hiên dự án xây dựng của hàng kem”ice-cream” cũng không ngoại lệ.Những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xây dựng và triển khai dự án:

    • Cạnh tranh trong lĩnh vực này là rất cao, đòi hỏi chủ quán phải năng động, thích nghi kịp thời với mọi nhu cầu thay đổi của khách hàng, đua ra chiến lược canh trạnh thích hợp.
    • Do đặt của hàng ở nơi trung tâm nên chi phí kinh doanh cao, cần tìm mọi cách để tiết kiệm chi phí.
    • Giá cả thị trường luôn biến động, cần đề xuát các biện pháp đối phó kịp thời.

    KẾT LUẬN

    Đây là một dự án kinh doanh với mô hình nhỏ. Dự án trên đã khái quát được cơ bản các bước lập 1 kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên trên cơ sở tìm hiểu còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài viết của em đạt hiệu quả cao hơn.

    Em xin trân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-l%E1%BA%ADp-b%C3%A1o-c%C3%A1o-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính

    I. QUY ĐỊNH CHUNG

    Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm 2 loại: Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược. Doanh nghiệp lập báo cáo tài chính theo dạng đầy đủ thì áp dụng Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” và một số quy định tại chuẩn mực kế toán số 27 “Báo cáo tài chính giữa niên độ”. Doanh nghiệp lập báo cáo tài chính theo dạng tóm lược  thì áp dụng Chuẩn mực kế toán số 27 “ Báo cáo tài chính giữa niên độ”  và hướng dẫn tại phần này.Mẫu biểu và các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính giữa niên độ thực hiện theo mẫu biểu và các chỉ tiêu trong chế độ báo cáo tài chính năm ban hành theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính).

    Doanh nghiệp nhà nước phải lập báo cáo tài chính quý dạng đầy đủ khi nộp BCTC cho các cơ quan quản lý nhà nước. Các DN khác khi tự nguyện lập BCTC quý dạng đầy đủ hoặc tóm lược thì thực hiện theo phần hướng dẫn có liên quan của Thông tư này. Các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán khi thực hiện báo cáo tài chính giữa niên độ thực hiện theo phần hướng dẫn có liên quan của thông tư này và các quy định khác theo pháp luật về thị trường chứng khoán; Công ty mẹ niêm yết trên thị trường chứng khoán thì lập báo cáo tài chính quý của công ty mẹ và báo cáo tài chính tổng hợp quý của công ty mẹ và các công ty con. Từ báo cáo tài chính năm công ty mẹ phải lập báo cáo hợp nhất.

    Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ bao gồm:

    + Bảng cân đối kế toán (đầy đủ, tóm lược)

    + Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (đầy đủ, tóm lược)

    + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( đầy đủ, tóm lược)

    + Bản Thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc

    Kỳ lập báo cáo tài chính giữa niên độ là cuối mỗi quý của năm tài chính (không bao gồm quý IV)

    Báo cáo tài chính giữa niên độ phải lập đúng hình thức, nội dung, phương pháp và trình bày phải nhất quán giữa các kỳ kế toán, nếu có nội dung khác thì phải giải thích ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Các nội dung trình bày trên mỗi báo cáo tài chính giữa niên độ tối thiểu phải bao gồm các đề mục và các số cộng chi tiết được trình bày trong mỗi Báo cáo tài chính  năm gần nhất tương ứng, và Bảng thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc.

    Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính giữa niên độ cũng phải tuân thủ các yêu cầu và nguyên tắc quy định ngắn hạn.

    Khi điều chỉnh Báo cáo tài chính giữa niên độ doanh nghiệp phải áp dụng chính sách kế toán nhất quán cho một loại giao dịch cụ thể. Trường hợp doanh nghiệp tự nguyện thay đổi chính sách kế toán vào giữa năm tài chính thì doanh nghiệp phải áp dụng phương pháp hồi tố, tức là phải điều chỉnh lại báo cáo tài chính các quý trước.

    Doanh nghiệp lập báo cáo tài chính giữa niên độ cũng phải thực hiện công khai Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật.

    II. Hướng dẫn lập và trình bày BCTC giữa niên độ:

    1. Lập và trình bày Bảng cân đối kế toán giữa niên độ:

    1.1. Nguyên tắc lập và trình bày:

    Việc lập và trình bày Bảng cân đối kế toán giữa niên độ phải tuân thủ các quy định chung về lập và trình bày BCTC, cũng như các nguyên tắc riêng đối với Bảng cân đối kế toán năm, được quy định trong BCTC doanh nghiệp hiện hành.

    Ngoài ra khi lập BC này doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định sau

    -Áp dụng các chính sách kế toán về ghi nhận và đánh giá tài sản, nợ phải trả tương tự như đối với Bảng cân đối kế toán năm

    -Nội dung tối thiểu cần trình bày trong Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược) gồm các khoản mục tổng hợp, mà mỗi khoản mục này là tổng của các khoản mục chi tiết ở Bảng cân đối kế toán năm gần nhất và các số liệu về các sự kiện, các hoạt động mới phát sinh từ cuối niên độ kế toán năm trước gần nhất đến cuối quý BC này.

    -Phải trình bày số liệu từ đầu niên độ đến hết ngày kết thúc mỗi quý BC và số liệu so sánh từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước gần nhất (số đầu năm)

    1.2. Kết cấu và nội dung bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược)

    Căn cứ vào các nguyên tắc trình bày nêu trên, bảng cân đối kế toán tóm lược từng quý gồm tối thiểu các khoản mục chủ yếu được sắp xếp theo kết cấu quy định tại Chế  độ kế toán Doanh nghiệp (Mẫu số B 01b-DN) ban hành kèm theo quyết định số 15/2006/QD-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài Chính, gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

    Phần tài sản:

    Các chỉ tiêu ở phần “tài sản” phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại ngày kết thúc kỳ kế toán quý theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, gồm :

    A . Tài sản ngắn hạn

    1. Tài sản dài hạn

    Phần nguồn vốn:

    Các chỉ tiêu ở phần “nguồn vốn” phản ánh nguồn hình thành tài sản có của doanh nghiệp tại ngày kết thúc quý. Các chie tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang sử dụng và quản lý ở doanh nghiệp, gồm:

    1. Nợ phải trả
    2. Vốn chủ sở hữu

    Mỗi phần của bảng cân đối kế toán đều phản ánh theo 4 cột:

    +Mã số

    +Thuyết minh

    +Số cuối quý

    +Số đầu năm

    Sau đây là mẫu bảng:

    Mẫu số B 01 b-DN

    Đơn vị báo cáo:…

    Địa chỉ:….

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN GIỮA NIÊN ĐỘ

    (Dạng tóm lược)

    Quý …năm…

    Tại ngày…tháng …năm…

    Đơn vị tính:….

    TÀI SẢN Mã số Thuyết
    minh
    Số cuối
    quý
    Số đầu năm
    1 2 3 4 5
    A-   TÀI SẢN NGẮN HẠN

     

    (100=110+120+130+140+150)

    I. Tiền và các khoản tương đương tiền

    II. Các khoản phải thu tài chính ngắn hạn

    III. Các khoản phải thu ngắn hạn

    IV. Hàng tồn kho

    V.Tài sản ngắn hạn khác

    100

     

    110

    120

    130

    140

    150

         
    B-    TÀI SẢN DÀI HẠN

     

    (200=210+220+240+250)

    I. Các khoản phải thu dài hạn

    II. Tài sản cố định

    III. Bất động sản đầu tư

    IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

    V.Tài sản dài hạn khác

    200

     

    210

    220

    240

    250

    260

         
    TỔNG CỘNG TÀI SẢN

     

    (270=100+200)

    270      
    NGUỒN VỐN        
    A-   NỢ PHẢI TRẢ

     

    (300=310+330)

    I. Nợ ngắn hạn

    II. Nợ dài hạn

    300

     

    310

    330

         
    B-    VỐN CHỦ SỞ HỮU

     

    (400=410+430)

    I. Vốn chủ sở hữu

    II. Nguồn kinh phí và quỹ khác

    400

     

    410

    430

         

    Lập, ngày…tháng …năm…

    Người lập biểu                                  Kế toán trưởng                      Giám đốc

    (ký, họ tên)                                        (ký, họ tên)                 (ký, họ tên, đóng dấu)

     III. Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu:

    1.Bảng cấn đối kế toán giữa niên độ( dạng tóm lược) (Mẫu số B-01b-DN)

    • “Mã số” ghi ở cột 2 dùng để cộng khi lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất.
    • Số hiệu ghi ở cột 3 “thuyết minh” của báo cáo này dùng cho người đọc báo cáo tham chiếu số liệu chi tiết của chỉ tiêu này trong bảng thuyết minh bao cáo tài chính chọn lọc.
    • Số liệu ghi ở cột 5 “số đầu năm” của báo cáo này tại ngày kết thúc quý báo cáo được căn cứ vào số liệu của từng chỉ tiêu tương ứng được lập vào cuối kỳ kế toán năm trước.
    • Số liệu ghi ở cột 4 “ số cuối quý” của báo cáo nay tại ngày kết thúc quý được thực hiện theo hướng dẫn như đối với bảng cân đối kế toán năm ( mẫu số B01 – DN)

     

    PHẦN TÀI SẢN

    • TÀI SẢN NGẮN HẠN (Mã số 100)

    Bao gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền, giá trị thuần của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.

    Mã số 100 = Mã số 110 + Mã số 120 + Mã số 130 + Mã số 140 + Mã số 150.

    • Tiền và các khoản tương đương tiền (Mã số 110)

    Số liệu để ghi vào chi tiết này là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 111, TK112, TK113 và chi tiết TK 121, có thời hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua trên Sổ cái hoặc Nhật ky –  sổ cái tại ngày kết thúc báo cáo.

    • Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ( Mã 120)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn  (sau khi trừ đi dự phòng giam giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn) hiện có tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi chỉ tiêu này la tổng số dư Nợ của các tài khoản: TK 121 và TK 128 trên sổ cái hoặc nhật ký sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo sau khi trừ đi số dư. Có của TK 129.

    • Các khoản phải thu ngắn hạn ( Mã số 130)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu từ khách hàng ( sau khi trừ đi dự phòng phải thu khó đòi), khoản trả trước cho người bán , phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác tại ngày kết thúc quý báo cáo, có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ tại ngày kết thúc quý báo cáo của các tài khoản: TK 131, TK 331, TK 1368, TK 337 và ghi dư nợ chi tiết của các TK 138, 338, 141, 144 theo từng đối tượng phải thu trên sổ kế toán chi tiết, sau khi trừ chi tiết số dư Có của TK 139 “dự phòng phải thu khó đòi” tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Hàng tồn kho ( Mã 140)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị thuần hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ trong quá trinh sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 151, TK 152, TK 153, TK 154, TK 155, TK 156, TK 157, TK 158, sau khi trừ số dư có TK 159, trên sổ cái hoặc nhật ký – sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Tài sản ngắn hạn khác ( Mã 150)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng các khản chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước và tài sản ngắn hạn khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 133 và chi tiết số dư tài khoản 333, TK 1381, TK 141, TK 142, và TK 144 trên sổ cái hoặc Nhật ký – Sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • TÀI SẢN DÀI HẠN (Mã số 200)

    Phản ánh tổng giá trị thuần của các loại tài sản không được phản ánh trong chỉ tiêu tài sản ngắn hạn tại ngày kết thúc quý báo cáo gồm giá trị thuần các khoản phải thu dài hạn, tái sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác có đến ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Các khoản phải thu dài hạn (Mã số 210)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị thuần của các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn  và các khoản phải thu dài hạn khác tại ngày kết thúc quý báo cáo, có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm.

    Số hiệu để ghi vào chỉ tiêu nay là tổng số dư nợ chi tiết phải thu dài hạn của các tài khoản: Chi tiết TK 131, TK 1361, TK 1368, và các TK 138, 338, 244, sau khi trừ đi chi tiết số dư có TK 139 tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Tài sản cố định (220)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại  của các loại tài sản cố định  và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang hiện có, tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư nợ của các tài khoản: TK 211, TK 212, TK 213, sau khi trừ tổng số dư có của các tài khoản phản ánh giá trị hao mòn: TK 2141, 2142, 2143, và số dư nợ của TK 214 trên sổ cái hoặc Nhật ký – số cái  tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Bất động sản đầu tư ( Mã số 240)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của các loại bất động sản đầu tư hiện có tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để phản ánh vào chỉ tiêu này lá số dư nợ của TK 217, sau khi trừ số dư có của TK 2147 trên Sổ Cái hoặc Nhật Ký – Sổ Cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Các khoản đầu tư tài chính dài hạn ( Mã số 250)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị thuần các khoản đầu tư tài chính  dài hạn hiện có tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Nợ của các tài khoản: TK 221, 222, 223, 228, trên sổ cái hoặc nhật ký – sổ cái tại ngày kết thúc quý báo cáo, sau khi trừ số dư có TK 229.

    • Tài sản dài hạn khác ( Mã số 260)

    Là chỉ tiêu tổng hợp  phản ánh tổng số chi phí trả trước dài hạn nhưng chưa phân bổ vào chi phí sản xuất, kinh doanh, tài sản thuế thu nhập hoãn lại, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn và tài sản khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để phản ánh vào chỉ tiêu này được căn cứ vào tổng số dư Nợ của các TK 242, 243, 244 và các TK khác có liên quan trên Sổ Cái hoặc Nhật ký – sổ cái.

    • TỔNG CỘNG TÀI SẢN (Mã số 270)

    Phản ánh tổng giá trị tài sản thuần hiện có của doanh nghiệp hiện có tại thời điểm báo cáo, bao gồm các loại thuộc các loại tài sản ngan han và tài sản dài hạn.

    Mã số 270 = Mã số 100 + Mã số 200

    NGUỒN VỐN

    • NỢ PHẢI TRẢ (Mã số 300)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ có của doanh nghiệp hiện có tại thời điểm báo cáo, bao gồm các  khac sế thu nhập hoãn lại, số phải trả tại thời điểm báo cáo, gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

    Mã số 300 = Mã số 310 + Mã số 330

    • Nợ ngắn hạn (Mã số 310)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn  phải trả có thời hạn thanh toán dưới 1 năm hoặc dưới 1 chu kỳ kinh doanh , các khoản vay ngắn hạn, và giá trị các khoản chi phí phải trả, tài sản thừa chờ xử lý, các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn và các khoản phải trả, phai nộp khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vào chi tiết này là tổng số dư có của các khoản phải trả ngắn hạn của các TK 311, TK 315, TK 331, TK 131, 333, 334, 335, 336, 338, 138, 337, và TK 351, 352 trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản liên quan và Sổ cái hoặc Nhật ký – sổ cái  các TK 311, 315, 337 tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • Nợ dài hạn ( Mã số 330)

    Là tổng chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ phải trả dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán ban đầu trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh: khoản phải trả cho người bán, phải trả dài hạn, phải trả dài hạn nội bộ, vay và nợ dài hạn, thuế rthu nhập hoãn lại phải trả và các khoản phải trả dài hạn khác tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Số liệu để ghi vao chỉ tiêu này là tổng số dư Có chi tiết các khoản phải trả dài hạn của các tài khoản: TK 331, 336, 338, 341, 342, 335, 343, 344, 347, 351, và TK 352 trên sổ kế toán chi tiết các TK 331, 336, 338, 351, 352 và sổ cái hoặc Nhật ký – sổ cái các TK 341, 342, 343, 344, 347 tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    • VỐN CHỦ SỞ HỮU (Mã số 400):
    • Vốn chủ sở hữu (410)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp và các quỹ của doanh nghiệp, bao gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác, cổ phiếu quỹ, chênh lệch đánh giá lại tài sản và chênh lệch tỷ giá hối đoái, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối và nguồn vốn đầu tư XDCB tại ngày kết thúc quý BC.

    Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số dư Có của Tài khoản 411 “Nguồn vốn kinh doanh”, TK 419 “Cổ phiếu quỹ”, TK 412 “Chênh lệch đánh giá lại tài sản”, TK 413 “Chênh lệch tỷ giá hối đoái”, TK 414 “Quỹ đầu tư phát triển”, TK 415 “Quỹ dự phòng tài chính”, TK 418 “Các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu”, TK 421 “Lợi nhuận chưa phân phối”, TK 441 “Nguồn vốn đầu tư XDCB”, trên Sổ Cái hoặc Nhật ký –Sổ Cái tại ngày kết thúc quý báo cáo.

    Trường hợp các tài khoản: TK412, TK413, TK419, TK421 có số dư nợ thì số liệu này được gi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn (…)

    • Nguồn kinh phí và quỹ khác(Mã số 420)

    Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị quỹ khen thưởng, phúc lợi, nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án được cấp để chi tiêu cho các hoạt động sự nghiệp, dự án (sau khi trừ các khoản chi bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, dự án)và nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ tại ngày kết thúcquý BC.

    Tổng cộng nguồn vốn(Mã số 440)

    Phản ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại ngày kết thúc quay báo cáo.

    Mã số 440 = Mã số 300 + Mã số 400

    Chỉ tiêu “Tổng cộng tài sản”(MS 270)=Chỉ tiêu “Tổng cộng nguồn vốn”(MS 440).

     

     

    VÍ DỤ MINH HOẠ:

     

    CÔNG TY CỔ PHẦN BIBICA

    Địa chỉ: Khu công nghiệp Biên Hòa 1, TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
    BÁO CÁO TÀI CHÍNH

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN GIỮA NIÊN ĐỘ

    Tại ngày 31 tháng 03 năm 2008

    Đơn vị tính: VND

    TÀI SẢN Mã số Thuyết

     

    Minh

    Số cuối quý Số đầu năm
    A-TÀI SẢN NGẮN HẠN (100=110+120+130+140+150) 100   397,937,657,494 179,079,163,900
    I.Tiền và các khoản tương đương tiền 110   8,541,815,905 44,423,027,953
    II.Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 120   255,055,000,000 14,055,000,000
    III.Các khoản phải thu ngắn hạn 130   46,448,601,458 30,318,114,546
    IV.Hàng tồn kho 140   83,424,103,959 86,850,781,794
    V.Tài sản ngắn hạn khác 150   4,468,136,172 3,432,239,607
    B-TÀI SẢN DÀI HẠN (200=210+220+240+250+260) 200   204,526,140,048 200,093,292,261
    I.Các khoản phải thu dài hạn 210                              –                         –
    II.Tài sản cố định 220   150,248,402,234 149,434,543,395
    III.Bất động sản đầu tư 240                           –
    IV.Các khoản dầu tư tài chính dài hạn 250   42,168,075,855 38,499,423,011
    V.Tài sản dài hạn khác 260   12,109,661,959 12,159,325,855
    TỔNG CỘNG TÀI SẢN (270=100+200) 270   602,463,797,542 379,172,456,161
    NGUỒN VỐN        
    A-NỢ PHẢI TRẢ 300   114,907,676,616 172,176,511,837
    I.Nợ ngắn hạn 310   99,812,346,876 141,006,182,097
    II.Nợ dài hạn 330   15,095,329,740 31,170,329,740
    B-NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 400   487,556,120,926 206,995,944,324
    I.Vốn chủ sở hữu 410   484,792,542,743 205,372,248,941
    II.Nguồn kinh phí và quỹ khác 430   2,763,578,183 1,623,695,383
    TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN (440=300+400) 440   602,463,797,542 379,172,456,161

    Đồng Nai, ngày 22  tháng 04 năm 2008   Người lập biểu                                    Kế toán trưởng                                Giám đốc 

    Doãn Thị Vân                          Nguyễn Quang Hiến                      Trương Phú Chiến

     

     PHÂN TÍCH

    1. Tài sản:

    – Tổng tài sản:

    Nhìn vào bảng cân đối ta thấy, tổng tài sản tại thời điểm báo cáo tăng 224 tỷ VND (tương đương 59%) so với đầu kỳ chủ yếu là từ phần tăng của tài sản ngắn hạn tăng 219 tỷ VND (tương đương 122%), trong khi đó tài sản dài hạn gần như không thay đổi.

    – Tài sản ngắn hạn: Chiếm 66% trong cơ cấu tài sản, tỷ trọng tăng so với thời điểm đầu năm (47,3%).

    Tại thời điểm cuối tháng 3/2009, tài sản ngắn hạn tăng 122%, nguyên nhân là do các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn khác tăng mạnh đến 241 tỷ VND gấp 18 lần số dư đầu năm, trong khi đó số dư tiền mặt giảm sút mạnh (giảm 35,9 tỷ VND tương đương 81%) tuy nhiên đây không phải là những khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn và số dư lập dự phòng giảm giá bằng 0 rủi ro rất ít chứng tỏ đơn vị không để tiền mặt tại quỹ quá nhiều mà đưa vào đầu tư tài chính hứa hẹn khả năng sinh lời trong tương lai gần.

    Các khoản phải thu tăng 53%, chủ yếu là trả trước cho người bán tăng 12 lần, trong khi phải thu của khách hàng giảm 40% cho thấy đơn vị đang chuẩn bị kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh khá lớn, tuy nhiên doanh thu của đơn vị trong thời gian tới có thể giảm do phải thu khách hàng giảm.

    Hàng tồn kho không thay đổi nhiều so với thời điểm đầu năm cho thấy đơn vị có kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu, sản xuất kinh doanh khá ổn định.

    – Tài sản dài hạn: Chiếm 34% cơ cấu tổng tài sản, tỷ trọng giảm so với thời điểm đầu năm (52,7%).

    Như phân tích ở trên, tài sản dài hạn của đơn vị gần như không thay đổi, đơn vị gần như không trang bị thêm tài sản cố định trong quý, trong khi đó chi phí xây dựng dở dang tăng nhẹ 1,3% chủ yếu là do tăng chi phí xây dựng khu công nghiệp Mỹ Phước.

    Các khoản đâu tư tài chính dài hạn tăng 10,5%, đây là những khoản đầu tư chứng khoán dài hạn, tại thời điểm lập báo cáo, đơn vị đã trích lập dự phòng rủi ro giảm giá cho thấy giá trị thị trường thời điểm lập báo cáo thấp hơn giá gốc 1,7%. Các khoản đầu tư chứng khoán dài hạn chiếm 19,6% cơ cấu tài sản dài hạn và có xu hướng tăng so với thời điểm đầu năm. Xu hướng này có thể đưa đến rủi ro cho đơn vị, do đầu tư chứng khoán dài hạn không phải là lĩnh vực kinh doanh chính của đơn vị mặt khác thị trường chứng khoán đang có xu hướng giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới.

    Nhận xét: Tổng tài sản của đơn vị tăng mạnh trong quý qua, tuy nhiên mức tăng chủ yếu là từ tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn gần như không thay đổi cho thấy trong thời gian ngắn đơn vị chủ yếu tập trung vào hoạt động tài chính (đầu tư ngắn hạn tăng mạnh), hoạt động sản xuất kinh doanh đơn vị diễn ra bình thường, tuy nhiên, đơn vị cũng tăng mạnh phải trả người bán cho thấy đơn vị đang chuẩn bị cho kế hoạch sản xuất kinh doanh quý tới, cũng do trong thời gian ngắn nên đơn vị chưa tập trung vào hoạt động đầu tư tài sản dài hạn, nếu không có sự thay đổi trong thời gian tới có thể lâu dài sẽ ảnh hưởng đến năng lực sản xuất của đơn vị (do không đầu tư trang bị máy móc mới, tiên tiến để nâng cao năng lực sản xuất) từ đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong dài hạn.

    Cơ cấu tài sản của đơn vị có sự chuyển đổi không hợp lý, đơn vị hoạt động trong ngành sản xuất công nghiệp, đòi hỏi tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm phần lớn tuy nhiên tại thời điểm báo cáo tỷ trọng tài sản dài hạn có xu hướng giảm, đơn vị cần cải thiện trong thời gian tới.

    1. Nguồn vốn:

    – Tổng nguồn vốn: Tổng nguồn vốn của đơn vị tăng mạnh, tương ứng với mức tăng tổng tài sản. Chủ yếu là do trong kỳ đơn vị thực hiện tăng vốn chủ sở hữu 279 tỷ VND. Trong khi đó nợ phải trả của đơn vị giảm 57 tỷ VND (-33%) chủ yếu là do đơn vị trả nợ các khoản vay ngắn và phải trả dài hạn khác giảm mạnh.

    – Nợ phải trả: Tại thời điểm báo cáo, cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn của đơn vị cùng giảm trong đó nợ ngắn hạn giảm 29%, nợ dài hạn giảm 51,6% dẫn đến nợ phải trả của đơn vị giảm 34% so với thời điểm cuối năm trước.

    Nợ ngắn hạn của đơn vị giảm 29% chủ yếu là do trong kỳ đơn vị tập trung trả nợ ngân hàng nên dư nợ vay ngắn hạn giảm 26,2 tỷ (-47%), chiếm dụng người bán giảm 16 tỷ VND (-22,2%) do đơn vị tăng trả trước cho người bán 22 tỷ VND tăng 12 lần so với thời điểm đầu kỳ.

    Nợ dài hạn: Tại thời điểm 31/3/2009, nợ dài hạn của đơn vị giảm 51,6%, tuy nhiên không phải do đơn vị tập trung trả nợ dài hạn mà chủ yếu là các khoản phải trả dài hạn khác giảm mạnh -95% tuy nhiên tài sản cố định gần như không tăng, chi phí xây dựng dở dang không biến đổi nhiều cho thấy nguồn vốn dài hạn này đã hình thành nên tài sản ngắn hạn, cho thấy cách sử dụng nguồn vốn dài hạn của đơn vị chưa hiệu quả.

    Trong kỳ, đơn vị tiếp tục giải ngân vốn vay dài hạn để đầu tư cho các dự án xây dựng đang dở dang, cụ thể nợ vay dài hạn tăng 12 tỷ VND gấp 16 lần số dư đầu kỳ.

    – Vốn chủ sở hữu: Trong kỳ đơn vị thực hiện tăng vốn chủ sở hữu thêm 279 tỷ VND nên nguồn chủ sở hữu tăng 280 tỷ VND (135%), năng lực tài chính của đơn vị được cải thiện.

    – Hệ số nợ của đơn vị: nợ phải trả/tổng nguồn vốn

    01/01/2008: 45,3%

    31/01/2008: 19,1%.

    Hệ số nợ của đơn vị giảm so với thời điểm đầu năm, chủ yếu là do đơn vị bổ sung thêm vốn chủ sở hữu, tập trung trả nợ ngắn hạn và giảm mạnh phải trả người bán dài hạn. Cho thấy cơ cấu tài chính của đơn vị đã được cải thiện rõ rệt theo hướng an toàn hơn, năng lực tài chính lành mạnh, tuy nhiên hệ số nợ thấp chưa hẳn đã tối ưu, đơn vị sẽ không sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả và do đó hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sẽ không cao.

    1. Cấu trúc tài chính:

    Vốn lưu động ròng của đơn vị: VCSH + Nợ dài hạn – Ts dài hạn.

    01/01/2008:  + 38 tỷ VND

    31/03/2008: +298 tỷ VND.

    Cho thấy cấu trúc tài chính của đơn vị khá an toàn, vốn dài hạn dự thừa khá nhiều tuy nhiên khả năng sinh lời trong tương lai của đơn vị sẽ không cao, trong thời gian tới, với nguồn vốn chủ sở hữu vừa bổ sung đơn vị cần tập trung đầu tư vào tài sản dài hạn, máy móc thiết bị để cải thiện năng lực sản xuất, tăng cường vay vốn ngắn hạn tài trợ vốn lưu động sản xuất kinh doanh để có cấu trúc tài chính hiệu quả hơn.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-M%E1%BB%90I-QUAN-H%E1%BB%86-GI%E1%BB%AEA-V%E1%BA%ACT-CH%E1%BA%A4T-V%C3%80-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-TRONG-VI%E1%BB%86C-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-N%E1%BB%80N-KINH-T%E1%BA%BE-M%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Tiểu luận triết học

    ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA ————————

    LỜI NÓI ĐẦU

    Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới

    .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội .

    Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao ,mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt .

    Trước tình hình đó ,cũng với xu thế phát triển của thời đại ,Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt ,giữ vai trò chủ đạo

    .Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách ,bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ,giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh .

    Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay”.

    2

    Tiểu luận triết học

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

    2.1.Vật chất

    1. Định nghĩa vật chất

    Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó .Nhưng theo Lênin định nghĩa :”vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “.

    Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất.Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức ,hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,vật chất tồn tại độc lập với cảm giác ,ý thức, còn cảm giác ,ý thức phụ thuộc vào vật chất ,phản ánh khách quan.

    Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học ,Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là khái niệm rộng nhất ,muốn phân biệt tư cách là phạm tù triết học ,là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể ,với những” hạt nhân cảm tính”.Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được .Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

    Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ ,”thượng đế”của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng

    3

    Tiểu luận triết học

    siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và nhờ đó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học .

    Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.

    Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội ,có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới

    • mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
    1. Các đặc tính của vật chất

    *Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian

    .Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình

    4

    Tiểu luận triết học

    thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.

    Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.

    Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.

    Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.

    Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng phong phú và đa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng ,trong sự ổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là

    5

    Tiểu luận triết học

    tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .

    *Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

    Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có hình thức kết cấu ,có độ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng.

    Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất biến ,không thể đứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động .

    Tính thống nhất vật chất của thế giới

    CNDT coi ý thức,tinh thần có trước ,quyết đinh vật chất ,còn duy vật thì ngược lại .Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất ,có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức ,lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất ,do đó nó tồn tại vĩnh cửu ,không do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó ,không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn nhau ,là nguyên nhân và kết quả của nhau.

    6

    Tiểu luận triết học

    2. ý thức

    1. kết cấu của ý thức

    Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thưc theo các trường phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần

    • thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin …Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng

    .Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.

    Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tự ý thức là

    • thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

    7

    Tiểu luận triết học

    .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .

    Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen ,có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động

    .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .

    1. Nguồn gốc của ý thức

    Nguồn gốc tự nhiên

    • thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc .Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hộ

    Nguồn gốc xã hội

     

    8

    Tiểu luận triết học

    Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.

    Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người .Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển

    .Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người với nhau trong mối quan hệ khách quan ,tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu”cần phải nói với nhau một cái gì”. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy ,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con người có thể giao tiếp ,trao đổi ,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ nó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật ,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.

    1. Bản chất của ý thức

    Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .

    Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.

    • thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể

    9

    Tiểu luận triết học

    thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của

    • thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động ,tác động vào thế giới đó.

    Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời ,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo .Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.

    • thức chỉ được nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
    • tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.

    3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

    Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa

    10

    Tiểu luận triết học

    vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.

    Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng

    11

    Tiểu luận triết học

    hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần ,tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay đổi được những quy luật vận động của nó . Do đó ,trong quá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .

    II.               Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế nước ta hiện nay .

    1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị :

    Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau .Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp

    • thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng .Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động ,theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó ,nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào thải ,nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định .Và ta thấy nếu kinh tế của một nước giàu ,xã hội phát triển cao nhưng chính trị mất ổn định ,luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ ,sung túc nhưng sẽ luôn

    12

    Tiểu luận triết học

    lo âu .Do đó nếu chính trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển ,đất nước giàu mạnh.

    Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế CXNT-CHNL-PK-TBCN-CNXH .Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội ,bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội đời sống tinh thần của xã hội .hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị ,nhà nước pháp quyền,đạo đức ,khoa học ,tôn giáo…đều hình thành biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định .Trong đó theo Mác quan hệ sản xuất giữa người với người là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác .

    Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người ,thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội . Sản xuất vật chất môi trường tự nhiên ,điều kiện xã hội…đòi hỏi thể lực ,trí tuệ và nhân cách con người phải phát triển thích ứng với nó .Yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế ,sản xuất cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện .Đó chính là cơ sở quyết định sự hoàn thiện của con người ,chính trị ,xã hội ,là nhân tố qaun trọng hàng đầu của LLSX

    .Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy sinh sự phát triển năng lực tinh thần của con người .Nói cho cùng nhu cầu của con người về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con người trước hết phải ăn mặc ,ở rồi đến vui chơi giải trí .Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống và cuộc sống của con nguươì phụ thuộc vào nhu cầu vật chất và những điều kiện hiện có.

    13

    Tiểu luận triết học

    Nền kinh tế của một nước là nền tảng để cho nước đó tiếp tục phát triển các chủ trương biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất nước .Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao cho xã hội và cho nhân dân .Tác dụng ngược lại thể chế chính trị ,ý thức của một nước rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định chính là điều kiện phát triển kinh tế ,mọi doanh nghiệp cũng như nhân dân ,các công ty các tổ chức đem hết sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.

    Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách

    quan ,tránh chủ nghĩa chủ quan duy ý động sáng tạo của ý thức ,phát huy nỗ người .

    chí,đồng thời phát huy vai trò năng lực chủ quan và hoạt động của con

    2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.

    Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng.Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn ,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…

    Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5 năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 phấn đấu dạt 21tr tấn lương thực 1tr tấn cá biển ,1tr ha khai hoang , 1tr200ha rừng mới 10tr tấn than sạch …ngoài ra còn đề xuất xây dựng thêm các cơ sở mới về công nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở miền nam .Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn

    14

    Tiểu luận triết học

    hại đến nền kinh tế cuộc sóng nhân dân…đến hết 1980 ,nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt được 50-60%, nền kinh tế tăng trưởng chậm ,tổng sản phẩm xã hội bình quân là 1,5% công nghiệp tăng 2,6% nông nghiêp giảm 0,15% .

    Đại hội Đảng lần V vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ ,đồng thời cũng chưa đề ra các chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985 . Chúng ta chưa khắc phục chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế ,cảI tạo XHCN và quản lý kinh tế lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân phối lưu thông .Nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu đại hội V đề ra .

    Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh ,bối cảnh quốc tế … song chúng ta vẫn mắc sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ ,phát triển LLSX .

    Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới

    .Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải .

    Trước tình hình kinh tế đó ,Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu ,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng đã đề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nước ta .

    Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3 mục tiêu : lương thực -thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu ,hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý .Trong quá trình thực hiện

    15

    Tiểu luận triết học

    nghị quyết của Đảng ,những diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta nhưng Đảng ,nhà nước và nhân dân đã nỗ lực khắc phục những khó khăn và tìm tòi khai phá ra đường lối đổi mới . Tại đại hội VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới đã đạt được các bước tiến quan trọng .Tình hình hình chính trị ổn định nên nền kinh tế có điều kiện phát triển bươc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo sự quản lý của nhà nước ,LLSX huy động tốt hơn ,tránh được lạm phát ,đời sống của người dân được cải thiện ,cuộc khủng hoảng đã giảm bớt ,sinh hoạt dân chủ ngày càng phát huy .

    Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức ,giữa kinh tế và chính trị ,nhờ có đường lối đổi mới ,nền kinh tế ngày càng phát triển ,cuộc sống của người dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc phát huy dân chủ trong xã hội . Ngoài mặt tích cực còn có tiêu cực như : lạm phát vẫn còn cao ,nhiều cơ sở đình đốn kéo dài ,lao động thiếu việc làm tăng lên ,và rong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở… đặc biệt đại hội cũng xác định “về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế đáp ứng được nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm ,và các nhu cầu xã hội khác ,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ,coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị.”

    Đảng ta đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất nước cả về kinh tế lẫn chính trị .Đại hội VIII đã chỉ ra các mục tiêu cần đạt được ,cụ thể là phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991-1995 ,trong đó nổi cộm nhất là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị ,phương châm tiếp tục đổi mới đã đI vào chiều sâu với bước đi vững chắc ,lấy đổi mới làm nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.

    16

    Tiểu luận triết học

    Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới đã nhận xét :”nét nổi bật là trong Đảng đã có sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo. Đảng ta cụ thể hoá và phát triển nghị quyết đại hội VII ,bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm ,nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta “.

    Sau đại hội ban chấp hành TƯ Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các vấn đề đối nội đối ngoại . Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì đã đánh giá cao trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế … khắc phục được nhiều tồn tại trong 3 năm qua .Lạm phát được đẩy lùi .Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất nông nghiệp tương đối toàn diện sản lượng lương thực 26% so với 5 năm trước đó ,tạo đIều kiện thuận lợi để cuộc sống đầy đủ ,phát triển được nhiều ngành nghề .Vấn đề lương thực đã được giải quyết tốt

    .Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá ,thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng , nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ,tăng kim ngạch xuất khẩu 91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-

    • tỉ USD. Khoa học công nghệ có bước phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng ,lĩnh vực văn hoá tinh thần được nâng cao ,đời sống nhân dân được cải thiện ,quốc phòng an ninh được giữ vững.

    Hội nghị đại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị ,mở rộng quan hệ đối ngoại ,tạo đIều kiện cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc .

    Như vậy , cũng thấy rõ tác động của kinh tế với chính trị và xã hội ,đối với công tác đối ngoại ,quốc phòng ,an ninh…đổi mới kinh tế nhưng các nhân tố chính trị xã hội ,đối ngoại…cũng tác động tích cực trở lại đối với kinh tế .Vận dụn đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật . tại hội nghị đại biểu toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém ,vấn đề kinh tế

    17

    Tiểu luận triết học

    như “nền kinh tế vẫn còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu ,công nghiệp nhỏ bé ,kết cấu hạ tầng kém phát triển,kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng hiệu quả còn kém …” và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hoá ,xã hội…để có những thay đổi tốt hơn ,Đảng đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,chăm lo đến các vấn đề văn hoá xã hội , đảm bảo an ninh -quốc phòng, xây dựng nhà nước văn hoá của dân ,do dân và vì dân đổi mới chỉnh đốn đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân .

    Sau đại hội TƯ Đảng (khoá VII) ra nghị quyết phát triển công nghiệp mới đến 2000 theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước.Cải cách nền hành chính nhà nước với nội dung của hội nghị TƯ lần thứ VIII ,có thể coi đã cụ thể hoá một bước cương lĩnh và chiến lược phát triển khoa học xã hội mà đại hộiVIII đã thông qua.

    Với thành công trong những năm qua ta thấy đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với nền kinh tế thị trường mà trước đây ta đã phủ nhận đẻ hướng tới CNXH bỏ qua CNTB . Đảng đã phạm sai lầm đó là vội cải tạo CNXH xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần duy trì lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp.Có nhiều sai sót việc quản lý tiền tệ cũng như quản lý về giai cấp lãnh đạo. Nước ta đã nghiên cứu các mặt mạnh và hạn chế của CNTB để tận dụng một cách tổng hợp vào tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay để đưa Việt Nam theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các bước phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

    Trên tinh thần đó cùng với các kinh nghiệm đại hội VIII lần này đã đánh giá được khó khăn chung để chủ động nắm lấy thời cơ để vươn lên đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ xuất phát từ tình hình trên . Đảng đã đề ra cương lĩnh cần tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Từ nay đến 2000 ra sức để trở thành nước công nghiệp.

    18

    Tiểu luận triết học

    Với những chính sách phát triển thích hợp chúng ta đã được một số bước tiến quan trọng ,bình thường hoá quan hệ Việt -Mĩ ,là thành viên của khối Asean ,đặc biệt 1998 nước ta đã trở thành thành viên của khối APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương)… Từ chỗ bị bao vây cấm vận đến nay nước ta đã quan hệ ngoại giao với 167 nước ,quan hệ thương mại với 120 nước ,phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng .Đó là ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững môI trường hoà bình ổn định ,là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao ,1996 là 9,3%,1997 là 8,2% 1998 là 5,8% ,lạm phát chiếm dưới 10%.Tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn là hai con số…đời sống nhân dân càng ổn định tăng cao .

    Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn ,chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn diện Mác-Lênin .Mối quan hệ kinh tế biện chứng giữa kinh tế và chính trị ngày càng rõ nét ,đơn cử từ việc thiếu ăn bây giờ Việt Nam trở thành nước thứ 3 xuất khẩu gạo trên thế giới. Lòng tin của nhân dân ngày càng tăng cao .Ngoài ra còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài ,về xuất khẩu …

    Đổi mới là khó khăn nhưng nhờ có chính sách và đường lối đúng đắn và có sự tìm tòi học hỏi từ nền kinh tế tư bản của nhiều nước ,cùng các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,những biến dộng nhiều mặt của đất nước càng đòi hỏi lòng kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn để thích ứng kịp thời với sự biến đổi từng ngày từng giờ.

    Người cán bộ kinh tế phảI quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin ,tư tưởng Hồ Chi Minh là phải nghiên cứu đề xuất và áp dụng đúng đắn các chủ trương và chính sách kinh tế để đưa nền kinh tế nước ta vượt qua tình trạng nghèo đói và kém phát triển ,tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so với kinh tế thế giới .Trong việc xoá bỏ quan liêu bao cấp

    19

    Tiểu luận triết học

    nghĩa là đòi hỏi người làm công tác quản lý phải sáng tạo ,năng động nắm bắt được thực tế để vận dụng và phát triển nó .Từ kinh nghiệm thực tế chỉ cần không nhận định đúng một vấn đề ,1 chủ trương ,1 thông tin ,1 từ ngữ trong bản hợp đồng kinh tế ,1 hành động chậm trễ hay vội vã là có thể lớn về nền kinh tế .Ngược lại nếu biết nắm bắt kịp thời 1 thông tin dù nhỏ vẫn có thể dẫn tới một thắng lợi lớn.Nên sự kết hợp giữa thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan ,kết hợp giữa tình cảm và trí tuệ phải thật nhuần nhuyễn ,các bộ quản lý phải có phẩm chất tốt đẹp,phải trung thực ,chính xác kịp thời ,phải biết nắm bắt và đề ra giải pháp dúng đắn cho mọi tình huống .Cần đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí ,tư tưởng nóng vội phưu lưu ,bất chấp mọi quy luật .Ngoài ra cần rèn luyện tính kiên nhẫn chăm chỉ ,dám nghĩ dám làm ,chủ động sáng tạo ,giành lấy thời cơ .Rèn luyện được các phẩm chất ấy người quản lý sẽ đứng vững trên vị trí lãnh đạo của mình , ngoài ra còn có thể vươn lên cao hơn để trở thành nhà kinh doanh giỏi.

    20

    Tiểu luận triết học

    Kết luận

    Xây dựng CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp ,nó như cuộc chiến đấu kháng chiến trường kì của Đảng và nhà nước.

    Với những bién động trước tình hình kinh tế của nhiều nước trên thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước phảI kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn ,đồng thời phải tỉnh táo ,nhạy bén thích ứng kịp thời với thực tế biến đổi từng ngày từng giờ.

    Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ,vận dụng thành thạo phép BCDV vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế ,phát huy mạnh mẽ quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân ,nhất định chúng ta sẽ trở thành những nhà quản lý giỏi góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước,tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam phát triển cao ,từ đó nâng cao vị trí Việt Nam trên chính trường quốc tế ,góp phần củng cố sự ổn định về chính trị của đất nước .Đó là lương tâm của những người làm công tác quản lý kinh tế chính trị.

    21

    Tiểu luận triết học


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-doanh-nghi%E1%BB%87p-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%E1%BB%A7a-T%E1%BB%95ng-c%C3%B4ng-ty-ch%C3%A8-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam

    I.   Lời mở đầu

    –µ—

    Như ta đã biết, nhận thức- quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của quản lý khoa học, có hiệu quả toàn bộ cá hoạt động kinh tế trong đó nhận thức giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và sau đó là các nhiệm vụ cần đạt tới trong tương lai. Như vậy nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định đúng và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó đương nhiên sẽ thu được những kết quả như mong muốn. Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết định sai và nếu thực hiện các quyết định sai đó thì hậu qủa sẽ không thể lường trước được.

    Vì vậy phân tích tình hình tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triết để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu.

    Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người cho vay, Nhà nước và người lao động. Qua đó họ sẽ thấy được thực trạng thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh. Thông qua phân tích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện naang cao khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    Là một sinh viên ĐH Thương Mại, chuẩn bị bước vào môi trường kinh doanh, em nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, kết hợp với quá trình thực tập tại Tổng công ty chè Việt nam càng giúp em khẳng định rõ điều đó. Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo- Tiến sĩ Nguyễn Quang Hùng- người thầy đã khuyến khích sở thích lâu dài của em trong việc nghiên cứu môn phân tích hoạt động kinh doanh, nên em chọn đề tài:

    Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp góp phần nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.

    Thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty để phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hợp lý trong việc quản trị tài chính, để sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp một cách có hiệu quả.

    Luận văn của em trình bày thành 3 phần chính như sau:

    Phần I: Cơ sở lý luận của hoạt động phân tích tình hình tài chính.

    Phần II: Phân tích tình hình tài chính của Tổng công ty chè Việt nam.

    Phần III: những giải pháp góp phần nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty.  

     

    II.   Lời cảm ơn

    Trong bản luận văn này, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo -Tiến sĩ Nguyễn Quang Hùng-người thầy đã luôn ở bên cạnh và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài tốt nghiệp của mình.

    Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, các cô giáo trường ĐH Thương Mại, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Kế toán Tài Chính- những người đã dạy dỗ, hướng dẫn em trong những năm tháng học tập tại trường.

    Em xin chân trọng cảm ơn các cô, các chú Phòng Kế toán- Tài chính của Tổng công ty chè Việt nam đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc cung  cấp những thông tin có liên quan đến tài chính của Tổng công ty, cũng như góp ý kiến, tạo điều kiện cho em hoàn thành bản luận văn này.

    Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè là chỗ dựa giúp em hoàn thành tốt việc học tập nghiên cứu của mình trong suốt bốn năm học tập vừa qua.

    •                                      Em xin chân thành cảm ơn

     

    IV.   Phần I

    V.   Cơ sở lý luận của hoạt động phân tích

    VI.   tình hình tài chính doanh nghiệp

    I / Bản chất chức năng tài chính doanh nghiệp.

    1 / Bản chất, vai trò của tài chính doanh nghiệp.

    1.1/ Bản chất của tài chính doanh nghiệp.

    1.1.1/Nội dung của các mối quan hệ tài chính.

    Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác. Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Phân phối vừa phản ánh kết quả của sản xuất và trao đổi, lại vừa là điều kiện cho sản xuất và trao đổi có thể tiến hành bình thường và liên tục.

    Tài chính doanh nghiệp là tài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân và là một khâu tài chính cơ sở trong hệ thống tài chính. Vì tại đây diễn ra quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với qua trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối.

    Tài chính- thoạt nhìn chúng ta lại hiểu là tiền tệ, như một doanh nghiệp sẽ phải trích một khoản tiền lương để trả cho cán bộ công nhân viên. Khi tiền lương tham gia phân phối giữa các loại lao động có trình độ nghề nghiệp khác nhau và điều kiện làm việc khác nhau. Tài chính tham gia phân phối sản phẩm quốc dân cho người lao động thông qua quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền lương và các quỹ phúc lợi công cộng khác. Do vậy giữa tài chính và tiền là hai phạm trù kinh tế khác nhau.

    Tài chính cũng không phải là tiền tệ, và cũng không phải là quỹ tiền tệ. Nhưng thực chất tiền tệ và quỹ tiền tệ chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính, còn bên trong nó là những quan hệ kinh tế đa dạng. Nhân loại đã có những phát minh vĩ đại trong đó phải kể đến việc phát minh ra tiền, mà nhờ đó người ta có thể quy mọi hoạt động khác nhau về một đơn vị đo thống nhất, và trên cơ sở đó có thể so sánh, tính toán được với nhau. Như vậy tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung và hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng. Thông qua phương tiện này, các doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong mọi lĩnh vực, nếu như chúng ta chỉ nhìn bề ngoài thì chỉ thấy các hoạt động đó hoạt động tách riêng nhau, nhưng thật ra lại gắn bó với nhau trong sự vận động và chu chuyển vốn, chúng được tính toán và so sánh với nhau bằng tiền.

    Do vậy toàn bộ các quan hệ kinh tế được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong doanh nghiệp thể hiện nội dung của tài chính doanh nghiệp. Nó bao gồm các quan hệ tài chính sau:

    + Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.

    Xuất phát từ mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như những mối quan hệ về phân phối và phân phối lại dưới hình thức giá trị của cải vật chất sử dụng và sáng tạo ra ở các doanh nghiệp.

    Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đó là những quan hệ về phân phối, điều hoà cơ cấu thành phần vốn kinh doanh, phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp; các quan hệ về thanh toán hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và công nhân viên chức.

    Các mối quan hệ này đều thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp như: vốn cố định, vốn lưu động, quỹ tiền lương, quỹ khấu hao, quỹ dự trữ tài chính… nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

    + Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước.

    Thể hiện trong việc các doanh nghiệp nộp thuế cho chính phủ và sự tài trợ của chính phủ trong một số trường hợp cần thiết để thực hiện vai trò can thiệp vào kinh tế của mình.

    ở nước ta do còn thành phần kinh tế quốc doanh nên sự tài trợ của nhà nước được thể hiện rõ bằng việc bảo đảm một phần vốn pháp định cho các doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả và nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đất nước sẽ được nhà nước chú trọng đầu tư vốn nhằm giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn. Cũng trong quá trình hoạt động kinh doanh này, các doanh nghiệp nhà nước phải nộp các khoản thuế, phí, lệ phí như các doanh nghiệp khác và còn phải nộp thuế sử dụng vốn cho ngân sách nhà nước. Khoản thu này chiếm tỉ trọng lớn trong thu ngân sách giúp nhà nước có nguồn để phục vụ cho quốc kế dân sinh nói chung và tạo hành lang pháp lý để bảo vệ nền kinh tế cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế và hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc không hoạt động ở những then chốt, nhà nước sẽ cho cổ phần hoá. Nghĩa là toàn bộ số vốn của doanh nghiệp theo dạng này sẽ bao gồm : Cổ phần của nhà nước, cổ phần của doanh nghiệp và cổ phần của ngân hàng. Nếu doanh nghiệp bán cổ phần của mình cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp thì lúc đó sẽ có các cổ phần của cán bộ công nhân viên. ở một chừng mực nào đó, khi thị trường chứng khoán Việt Nam vận hành thì cổ phần đó sẽ được mua đi bán lại trên thị trường và nảy sinh ra cổ phần xã hội. Trong điều kiện đó mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước với doanh nghiệp cũng có sự thay đổi đáng kể. Nhà nước còn tham gia vào nền kinh tế với tư cách là một cổ đông.

    + Quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức tài chính trung gian.

    Hiện nay các tổ chức tài chính trung gian ở nước ta mới chỉ hiện rõ nét bằng hoạt động của các ngân hàng thương mại và của công ty bảo hiểm. Nhưng để có một nền kinh tế thị trường phát triển tất yếu phải có sự thiết lập các hình thức phong phú, đa dạng trong lĩnh vực môi giới về vốn. Nhằm biến những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức khác thành những nguồn vốn dành để đầu tư cho kinh tế.

    + Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhau.

    Mối quan hệ này phát sinh trong quá trình thanh toán các sản phẩm và dịch vụ, trong việc góp vốn liên doanh, vốn cổ phần và chia lợi nhuận do vốn liên doanh cổ phần mang lại.

    Cùng với sự phát triển của các yếu tố cấu thành trong nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ về kinh tế giữa các doanh nghiệp có xu thế ngày càng tăng lên. Các hoạt động đó đan xen vào nhau và tự điều chỉnh theo các quan hệ cung cầu về vốn tiền tệ và khả năng thu hút lợi nhuận.

    + Quan hệ giữa các doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế nước ngoài phát sinh trong quá trình vay, cho vay, trả nợ và đầu tư với giữa doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế trên thế giới. Nền kinh tế thị trường gắn liền với chính sách mở cửa, các hoạt động giữa các doanh nghiệp trong nước và các tổ chức kinh tế nước ngoài ngày càng có xu thế hoà nhập lẫn nhau, hợp tác với nhau để phát huy hết khả năng và thế mạnh của mình trong việc khai thác các nguồn vốn đưa vào sản xuất kinh doanh để có chi phí ít nhất với hiệu quả kinh tế cao nhất.

    1.1.2 Bản chất của tài chính doanh nghiệp.

    Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội.

    Hay, tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.

    1.2 / Vai trò của tài chính doanh nghiệp.

    Vai trò của tài chính doanh nghiệp được ví như những tế bào có khả năng tái tạo, hay còn được coi như “ cái gốc của nền tài chính”. Sự phát triển hay suy thoái của sản xuất- kinh doanh gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn lực tài chính. Vì vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động, thậm chí có thể là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả năng, trình độ của người quản lý ; sau đó nó còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, phụ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.

    Song song với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước đã hoạch định hàng loạt chính sách đổi mới nhằm xác lập cơ chế quản lý năng động như các chính sách khuyến khích đầu tư kinh doanh, mở rộng khuyến khích giao lưu vốn. .. Trong điều kiện như vậy, tài chính doanh nghiệp có vai trò sau:

    1.2.1/ Tài chính doanh nghiệp- một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh.

    Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có một yếu tố tiền đề – đó là vốn kinh doanh.

    Trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp trước đây, vốn của các doanh nghiệp nghiệp nhà nước được nhà nước tài trợ hầu hết. Vì thế vai trò khai thác, thu hút vốn không được đạt ra như một nhu cầu cấp bách, có tính sống còn với doanh nghiệp.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận cùng song song tồn tại trong cạnh tranh, cho việc đầu tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu hút được lợi nhuận cao… đã trở thành động lực và là một đòi hỏi bức bách đối với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, khi đã có nhu cầu về vốn, thì nảy sinh vấn đề cung ứng vốn. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của mình.

    1..2..2/ Tài chíh doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả.

    Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trước mọi doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khe khắt; sản xuất không phải với bất kỳ giá nào. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được phản ánh bằng các chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu của kế toán và bảng tổng kết tài sản. Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính có khả năng phân tích, giám sát các hoạt động kinh doanh để một mặt phải bảo toàn được vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh.

    1.2.3/ Tài chính doanh nghiệp có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh.

    Khác với nền kinh tế tập trung, trong nền kinh tế thị trường các quan hệ tài chính doanh nghiệp được mở ra trên một phạm vi rộng lớn. Đó là những quan hệ với hệ thống ngân hàng thương mại, với các tổ chức tài chính trung gian khác, các thành viên góp vốn đầu tư liên doanh và những quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp…Những quan hệ tài chính trên đây chỉ có thể được diễn ra khi cả hai bên cùng có lợi và trong khuôn khổ của pháp luật. Dựa vào khả năng này, nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, tiền lương, tiền thưởng để kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút vốn nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh.

    1.2.4/ Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Thông qua các chỉ tiêu tài chính như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu các thành phần vốn…có thể dễ dàng nhận biết chính xác thực trạng tốt, xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.

    Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựnghệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

    2./ Chức năng của tài chính doanh nghiệp.

    2.1/ Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn.

    Một doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải có vốn và quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động. Tuy nhiên cũng cần phảI làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu ? Làm thế nào để có thể huy động được vốn ?

    Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung ngân sách nhà nước cấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc doanh. Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt động của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh đã tỏ ra sự yếu kém của mình. Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nói chung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: làm thế nào để đưa các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát khỏi tình trạng hiện nay ? Chính sự bất ổn định này đã tạo ra một sự chưa được nhất quán trong việc định hình các nguồn vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta.

    Tuy nhiên, dù thay đổi cụ thể như thế nào chăng nữa thì mọi doanh nghiệp với mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ đều có thể huy động được vốn từ các nguồn sau:

    -Vốn do ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp đối với doanh nghiệp nhà nước được xác định trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn giao đó. Khi mới thành lập nhà nước hoặc cấp trên cấp vốn đầu tư ban đầu để công ty thực hiện sản xuất kinh doanh phù hợp với quy mô và ngành nghề. Số vốn này thường bằng hoặc lớn hơn số vốn pháp định. Sau quá trình hoạt động nếu thấy cần thiết, nhà nước sẽ cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp để phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh.

    • Vốn tự bổ sung: là vốn nội bộ của doanh nghiệp bao gồm:

    + Phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp

    + Phần lợi nhuận sau khi đã nộp thuế

    + Phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có)

    -Vốn liên doanh liên kết : đó là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

    – Vốn vay: chủ yếu là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Ngoài các loại vốn nói trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động vốn của cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp sẽ trả lãi cho số vốn vay đó theo lãi suất ngân hàng.

    Qua đó ta hình dung ra được, quá trình thành lập doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đầu tư tối thiểu. Đối với doanh nghiệp nhà nước số vốn này do ngân sách nhà nước cấp có thể là 100% hoặc tối thiểu là 51%. Còn đối với các Công ty cổ phần, Công ty TNHH thì số vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc đóng góp vốn  hoặc hùn vốn của các cổ đông dưới hình thức cổ phần. Mức vay vốn được quy định theo từng doanh nghiệp.

    Để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thể huy động vốn bên trong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ. Nếu như nguồn tự tài trợ mà nhu cầu đầu tư dài hạn  vẫn không đáp ứng được thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài như các hình thức đã nêu ở trên.

    Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không  đơn thuần chỉ thực hiện việc huy động vốn mà còn phải tiến hành phân phối vốn sao cho với số vốn pháp định, vốn tự có và các nguồn vốn huy động, doanh nghiệp có thể sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Muốn vậy, trong từng thời kỳ kinh doanh doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn là bao nhiêu và kết cấu như thế nào là hợp lý.

     2.2/ Chức năng phân phối.

    Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp tiến hành phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

    ở nước ta, do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, hình thức sở hữu khác nhau, cho nên quy mô và phương thức phân phối ở các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau. Sau mỗi kỳ kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu được bao gồm cả giá vốn và chi phí phát sinh. Do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạng chung như sau:

    • Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ bao gồm:

    + Trị giá vốn hàng hoá.

    + Chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã đã bỏ ra như  lãi vay ngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu.

    + Khấu hao máy móc.

    – Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp. Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức thuế, phần còn lại tuỳ thuộc vào quy định của từng doanh nghiệp mà tiến hành chia lãi liên doanh, trả lợi tức cổ phần, trích lập các quỹ doanh nghiệp.

    2.3 / Chức năng giám đốc.

    Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm công cụ kiểm tra, giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trịvà phương tiện thanh toán của tiền tệ. Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chức năng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy mô của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các quỹ tiền tệ.

    Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn ra thường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, tồn tại để khác phục.

    Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất xã hội trên tầm vĩ mô và vi mô. Trong các hoạt động đó tài chính không chỉ phản ánh kết quả sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển. Động lực để thúc đẩy nhanh nền sản xuất xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phân phối cân bằng, hợp lý và cân đối giữa các bộ phận mà còn trực tiếp phụ thuộc vào sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm nghặt mọi hoạt động tài chính.

    Nội dung giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển của nguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành các chính sách về tài chính.

    Thực hiện quản lý tài chính đã khẳng định, để thực hiện triệt để và có hiệu quả việc giám đốc tài chính cần phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp với cơ chế chính sách quản lý kinh tế và thực tiễn sản xuất kinh doanh. Thông qua đó giúp cho việc thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm làm lành mạnh tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    II/ Khái niệm và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp.

    1/ Khái niệm và mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

    1.1/ Khái niệm.

    Trước hết ta tìm hiểu xem phân tích như thế nào ?

    Phân tích trong lĩnh vực tự nhiên được hiểu là sự chia nhỏ sự vật hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng đó như phân tích các chất hoá học bằng những phản ứng, phân tích các vi sinh vật bằng kính hiển vi.

    Còn trong lĩnh vực kinh tế xã hội, các hiện tượng cần phân tích chỉ tồn tại bằng những khái niệm trừu tượng. Do đó việc phân tích phải bằng những phương pháp trừu tượng. C Mác đã chỉ ra rằng:

    ” Khi phân tích các hình thái kinh tế xã hội thì không thể sử dụng hoặc kính hiển vi, hoặc những phản ứng hoá học. Lực lượng của trừu tượng phải thay thế cái này hoặc cái kia”.

    (Mác- Ănghen toàn tập, tập 23- NXB ” Tác phẩm chính trị” Matscova 1951 trang 6).

    Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triềncủa các hiện tượng nghiên cứu. Phân tích kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển, yêu cầu thông tin cho quản lý chưa nhiều, chưa phức tạp, công việc phân tích cũng được tiến hành chỉ là những phép tính cộng trừ giản đơn. Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên. Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích kinh doanh được hình thành và ngày càng hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập. Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển các bộ môn khoa học. F Ănghen đã chỉ rõ:

    “Nếu một hình thái vận động là do một hình thái vận động khác phát triển lên những phản ánh của nó, tức là những ngành khoa học khác cũng phải từ ngành này phát triển ra một ngành khác một cách tất yếu”.

     ( F Ănghen : Phương pháp biện chứng tự nhiên NXB Sự thật 1963 trang 401-402).

    Là một môn khoa học độc lập, phân tích kinh doanh có đối tượng nghiên cứu riêng. Nói chung, lĩnh vực nghiên cứu của phân tích kinh doanh không ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh như là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc biệt: Để phân chia tổng hợp và đánh giá các hiện tượng của hoạt động kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh là những kết quả kinh doanh cụ thể, được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, với sự tác động của các tác nhân kinh tế.

    Kết quả kinh doanh thuộc đối tượng phân tích có thể là kết quả riêng biệt của từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh như mua hàng, bán hàng, sản xuất ra hàng hoá, hoặc có thể là kết quả tổng hợp của cả một quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp.

    Vậy thế nào là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ? Và mục đích của việc phân tích này ra sao ?

    Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.

    1.2/ Mục đích.

    Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong thể tác động liên hoàn với nhau. Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng. Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu- biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tài chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp.. .Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau. Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa. Bởi vậy phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:

    -Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự. Thông tin phải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về kinh doanh và về các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này.

    -Phân tích tình hình tài chính cũng nhằm cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi. Vì các dòng tiền của các nhà đầu tư liên quan với các dòng tiền của doanh nghiệp nên quá trình phân tích phải cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của các dòng tiền thu thuần dự kiến của doanh nghiệp.

    -Phân tích tình hình tài chính cũng phải cung cấp tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp. Đồng thời qua đó cho biết thêm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực này và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai.

    Qua đó cho thấy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu số liệu, so sánh số liệu về tài chính thực có của doanh nghiệp với quá khứ để định hướng trong tương lai. Từ đó, có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp và tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh tế và còn là căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    2/ ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính.

    Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.

    2.1/ Đối với nhà quản trị doanh nghiệp.

    Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ. Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành. Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất. Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ.

    Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần.

    2.2/ Đối với các nhà đầu tư.

    Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý. Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư.

    2.3 / Đối với các nhà cho vay.

    Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.

    Giả sử chúng ta đặt mình vào trường hợp là người cho vay thì điều đầutiên chúng ta chú ý cũng sẽ là số vốn chủ sở hữu, nếu như ta thấy không chắc chắn khoản cho vay của mình sẽ đựoc thanh toán thì trong trường hợp doanh nghiệp đó gặp rủi ro sẽ không có số vốn bảo hiểm cho họ. Đồng thời ta cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay.

    2.4 / Đối với cơ quan nhà nước và người làm công.

    Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không.

    Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư… người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.

    Sơ đồ 1: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng
    khác nhau.

    Đối tượng sử dụng thông tin Cần quyết định cho các mục tiêu Yếu tố cần dự đoán cho tương lai Các câu hỏi trả lời nhận được từ các thông tin có dạng câu hỏi  
    Nhà quản trị doanh nghiệp Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh -Lập kế hoạch cho tương lai.

     

    -Đầu tư dài hạn

    -Chiến lược sản phẩm và thị trường

        -Chọn phương án nào sẽ có hiệu quả cao nhất ?

     

    -Nên huy động nguồn đầu tư nào ?

     
     
       
    Nhà đầu tư  Có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không ? -Giá trị đầu tư nào sẽ thu được trong tương lai.

     

    -Các lợi ích khác có thể thu được.

      -Năng lực của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh và huy động vốn đầu tư như thế nào ?  
     
       
    Nhà cho vay Có nên cho doanh nghiệp vay vốn hay không ? -Doanh nghiệp có khả năng trả nợ theo đúng hợp đồng hay không ?

     

    -Các lợi ích khác đối với các nhà cho vay

      -Tình hình công nợ của doanh nghiệp.

     

    -Lợi tức có được chủ yếu từ hoạt động nào ?

    -Tình hình và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp.

     
     
     
     
    Cơ quan nhà nước và người làm công Các khoản đóng góp cho nhà nước

     

    Có nên tiếp tục hợp đồng hay không

    -Hoạt động của doanh nghiệp có thích hợp và hợp pháp không?

     

    -Doanh nghiệp có thể tăng thêm thu nhập cho người làm công không?

      – Có thể có biến động gì về vốn và thu nhập trong tương lai ?  
     
     
     
     
     

    Qua sơ đồ trên cho thấy doanh nghiệp là một tế bào của một nền kinh tế nên hoạt động của chúng phản ánh tình hình phát triển hay suy thoái của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Qua đó sẽ giúp cho các nhà quản lý tài chính ở tầm vĩ mô thấy được thực trạng của nền kinh tế quốc gia, xây dựng kế hoạch và các chính sách phù hợp nhằm làm cho tình hình tài chính doanh nghiệp nói riêng và tình hình tài chính quốc gia nói chung ngày càng có sự tăng trưởng.

    Kết luận: Phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác nhau như với mục đích tác nghiệp ( chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp ). Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh /

    Qua đó thấy được ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp mà công việc này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý, các tổ chức công cộng. Nhất là, thị trường vốn ngày càng phát triển đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính thực sự có ích và cần thiết trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    III/ Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

    1/Phương pháp chung.

    Là phương pháp xác định trình tự bước đivà những nguyên tắc cần phải quán triệt khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu kinh tế nào đó.

    Với phương pháp này là sự kết hợp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác- LêNin làm cơ sở. Đồng thời phải dựa vào các chủ trương, chính sách của Đảng trong từng thời kỳ. Phải phân tích đi từ chung đến riêngvà phải đo lường được sự ảnh hưởng và phân loại ảnh hưởng.

    Tất cả các điểm trên phương pháp chung nêu trên chỉ được thực hiện khi kết hợp nó với việc sử dụng một phương pháp cụ thể. Ngược lại các phương pháp cụ thể muốn phát huy tác dụng phải quán triệt yêu cầu của phương pháp chung.

    2/ Các phương pháp cụ thể.

    Đó là những phương pháp phải sử dụng những cách thức tính toán nhất định. Trong phân tích tình hình tài chính, cũng như phạm vi nghiên cứu của luận văn, em xin được đề cập một số phương pháp sau:

    2.1/ Phương pháp so sánh.

    So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính. Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.

    -Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.

    -Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.

    -Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.

    Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:

    + So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp.

    +So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được.

    +So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của các khoản mục theo thời gian.

    2.2/ Phương pháp cân đối.

    Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.

    Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người phân tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.

    Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong doanh nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến động về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh.

    2.3 / Phương pháp phân tích tỷ lệ.

    Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.

    Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:

    + Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

    + Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.

    + Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.

    + Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp.

    Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích. chúng ta sẽ sử dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp liên hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất.

    IV/ Nhiệm vụ, nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

    1/Nhiệm vụ phân tích .

    Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính là trên cơ sở các nguyên tắc về tài chính doanh nghiệp và phương pháp phân tích mà tiến hành phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động tài chính, vạch rõ những mặt tích cực và tiêu cực của việc thu chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Từ đó đề ra các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    2/ Nội dung của phân tích.

    Xuất phát từ các nhiệm vụ trên ta thấy sự phát triển của một doanh nghiệp dựa vào nhiều yếu tố như:

    +Các yếu tố bên trong : Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, tính chất của sản phẩm, quy trình công nghệ, khả năng tài trợ cho tăng trưởng.

    + Các yếu tố bên ngoài: Sự tăng trưởng của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế.

    Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trườngcó sự quản lý vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều được bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh. Đối với mỗi doanh nghiệp, ngoài chủ doanh nghiệp quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp còn có các đối tượng khác quan tâm đến như các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, các nhà cho vay… Chính vậy mà việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh.

    Từ những lý luận trên nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ đánh giá đầy đủ nhất và là bức tranh toàn cảnh khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.

    2.1/ Đánh giá khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.

    ở phần này, bao gồm các vấn đề sau:

    • Phân tích tình hình biến động tài sản.
    • Phân tích tình hình biến động nguồn vốn.
    • Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.

    2.2/ Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

    2.3/ Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

    • Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản lưu động.
    • Phân tích hiệu quả tài sản lưu động.
    • Phân tích tình hình quản lý hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

    2.4/ Phân tích tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn.

    • Phân tích tình hình công nợ phải trả.
    • Phân tích tình hình và khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.

    Toàn bộ các nội dung trên sẽ được nghiên cứu và trình bày một cách cụ thể ở phần II của luận văn.

    V / Cơ sở nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

    Tài liệu quan trọng nhất được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là các báo cáo tài chính như : Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính, cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong hệ thống báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tư liệu cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh nghiệp.

                1. Bảng cân đối kế toán.

    Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định ( thời điểm lập báo cáo).

    Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguôn vốn và cơ cấu vốn hình thành các tài sản đó.

    Thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ có rất nhiều đối tượng qua tâm với mỗi đối tượng sẽ quan tâm tới một mục đích khác nhau. Tuy nhiên để đưa ra quyết định hợp lý, phù hợp với mục đích của mình cần phải xem xét tất cả những gì cần phải thông qua bảng cân đối kế toán để định hướng cho việc nghiên cứu tiếp theo.

    Bảng cân đối kế toán được trình bày thành hai phần: Phần tài sản và phần nguồn vốn. Kết cấu của bảng cân đối kế toán tối thiểu gồm ba cột: Chỉ tiêu, số đầu năm, số cuối kỳ. Hai phần tài sản và nguồn vốn có thể được bố trí hai bên hoặc hai phần, cho nên tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn. Nếu cụ thể hoá ta có:

    Tổng tài sản  = Tổng nguồn vốn

    •               Hoặc                                                 
    VIII.   Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn IX.   + X.   Tài sản cố định và đầu tư dài hạn XI.   = XII.   Nợ phải trả XIII.   + XIV.   Nguồn vốn chủ sở hữu
    1. <+> Phần tài sản.

    Phản ánh toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    -Về mặt kinh tế: Phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại dưới mọi hình thức: Tài sản vật chất như tài sản cố định hữu hình, tồn kho, tài sản cố định vô hình như giá trị bằng phát minh sáng chế, hay tài sản chính thức như các khoản đầu tư, khoản phải thu, tiền mặt. Qua xem xét phần này cho phép đánh giá tổng quát năng lực sản xuất và quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của doanh nghiệp.

    – Về mặt pháp lý: Số tiền “tài sản” thể hiện số vốn thuộc quyền quản lý và sử dụng lâu dài của doanh nghiệp.

    Tài sản chia thành hai loại:

    + Loại A: Tài sản lưu động và vốn đầu tư ngắn hạn- Đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.

    + Loại B: tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, các khoản ký quỹ, ký cược của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.

    <+>Phần nguồn vốn

    Phản ánh những nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý và đang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo.

    – Về mặt kinh tế: Khi xem xét nguồn vốn các nhà quản trị doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng.

    – Về mặt pháp lý: Các nhà quản lý doanh nghiệp thấy được trách nhiệm của mình về tổng số vốn được hình thành từ các nguồn khác nhau như vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng và các đối tượng khác, các khoản nợ phải trả, các khoản nộp vào ngân sách. Các khoản phải thanh toán với công nhân viên.

    Các nguồn vốn:

    + Loại A: Nợ phải trả: Đây là số vốn mà doanh nghiệp vay ngắn hạn hay dài hạn. Loại vốn này, doanh nghiệp chỉ được dùng trong một thời kỳ nhất định, tới kỳ hạn phải trả lại cho chủ nợ.

    + Loại B: Vốn chủ sở hữu: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, các quỹ doanh nghiệp và phần kinh phí sự nghiệp được ngân sách nhà nước cấp.

    B¶ng c©n ®èi kƠ to¸n cña mét doanh nghiÖp nh­ sau

                                                    Mẫu số B01-DN

    Tài sản Nguồn vốn
    XVI.   A/. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

     

    XVII.   I. Tiền

    XVIII.   II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

    XIX.   III. Các khoản phải thu

    IV. Hàng tồn kho

    V. Tài sản lưu động khác

    B/. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn

    I. Tài sản cố định

    II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

    III. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang

    IV. Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn

    A/. Nợ phải trả

     

    I. Nợ ngắn hạn

    II. Nợ dài hạn

    III. Nợ khác

    B/. Nguồn vốn chủ sở hữu

    I. Nguồn vốn- quỹ

    II. Nguồn kinh phí

    Tổng tài sản Tổng nguồn vốn

    2) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được chi tiết theo hoạt động sản xuất kinh doanh chính, phụ, các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động bất thường phát sinh trong kỳ báo cáo. Ngoài ra còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

    Cũng qua số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh người ta có thể nhận biết sự dịch chuyển của tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Đồng thời nó cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp.Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh là lãi hay lỗ trong năm. Ngoài ra, nó còn giúp nhà phân tích so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp.

    Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh được chia làm 3 phần

    + Phần I: Báo cáo lãi, lỗ.

    Phần này phân tích kết quả hoạt động kinh doanh và có thể khái quát phần lãi, lỗ qua sơ đồ sau:

    < trang bên>

    + Phần II. Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.

    Phần này bao gồm các chỉ tiêu phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà nước về các khảon như: nộp thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn…

    Các chỉ tiêu phản ánh trong phần này theo dõi số còn phải nộp kỳ trước chuyển sang; số phải nộp phát sinh trong kỳ, số còn phải nộp chuyển sang kỳ sau theo cột tương ứng. Trong đó:

    Số còn phải nộp chuyển sang kỳ sau = Số còn phải nộp kỳ trước chuyển sang + Số phải nộp trong kỳ Số đã nộp trong kỳ
    1.  
    • +Phần III. Thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm

    Phần này gồm các chỉ tiêu phảnánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ vf còn được khấu trừ; số thuế GTGT được hoàn lại, đã hoàn lại và còn được hoàn lại; số thuế GTGT được miễn giảm, đã miễn giảm và còn được miễn giảm.

    Tóm lại, do những thông tin mà bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp phục vụ đắc lực cho công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp nên đây là những tài liệu chủ yếu được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Ngoài ra, để việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chính xác, sát với tình hình thực tế chungcủa nền kinh tế người phân tích cần kết hợp sử dụng các thông tin trong các tài liệu khác như:

    + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

    + Báo cáo chi tiết về các khoản công nợ phải thu và phải trả theo các đối tượng

    + Báo cáo giải trình và tình hình tăng giảm tài sản, nguồn vốn.

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-B%C3%A1nh-K%E1%BA%B9o-Bi%C3%AAn-H%C3%B2a-Bibica.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Li m đầu

    Phân tích hoạt động kinh doanh nói chung hiện nay càng trở thành nhu cầu của doanh nghiệp nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO. Có thể nói hầu hết nhưng quyết định trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính có hiệu quả đều xuất phát từ các phân tích khoa học và khách quan vì vậy hoạt động phân tích kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng.

    Nhiệm vụ chính của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh thông qua hệ thống chỉ tiêu đã được xây dựng, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình và kết quả kinh hoạt động kinh doanh. Từ đó các số liệu phân tích trên sẽ đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể, chi tiết phù hợp với thực tế của doanh nghiệp để có thể khai thác các tiềm năng và khắc phục yếu kém. Bên cạnh đó dựa vào kết quả phân tích còn có thể hoạch định phương án kinh doanh và dự báo kinh doanh.

    Nhóm chúng tôi chọn Công ty Cổ phần Bánh kẹo Biên Hòa để phân tích là vì:

     

    Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica) được người tiêu dùng bình chọn là doanh nghiệp nằm trong danh sách năm Công ty hàng đầu của ngành bánh kẹo Việt Nam. Bibica đã 10 năm liên tiếp đạt được danh hiệu ” Hàng Việt Nam chất lượng cao ” (từ 1997-2006). Công ty có một hệ thống sản phẩm rất đa dạng và phong phú gồm các chủng loại chính : Bánh quy, bánh cookies, bánh layer cake, chocolate, kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo, snack, bột ngũ cốc dinh dưỡng, bánh trung thu, mạch nha… Ngày 17/12/2001 Bibica chính thức niêm yết cổ phiếu tại trung tâm chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với mã chứng khoán là BBC.

    Chúng tôi hy vọng rằng phân tích hoạt động kinh doanh của  Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa trong 3 năm 2005, 2006, 2007 sẽ phần nào giúp chúng ta  thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, sự phát triển của Bibica trong những năm qua cũng như tiềm năng của công ty.

     

    I. Giới thiệu khái quát:

    1.Giới thiệu chung về công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa Bibica:

    1.1. Quá trình hình thành:

    Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa có tiền thân là phân xưởng kẹo của nhà máy Đường Biên Hòa( nay là công ty Cổ Phần Đường Biên Hòa) được thành lập từ năm 1990, Tháng 12/1998,theo quyếnt định số 234/1998/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, phân xưởng Bánh- Kẹo-Nha được chuyển thành Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa. Với năng lực sản xuất lúc mới thành lập là 5 tấn kẹo/ ngày Công ty đã dần dần mở rộng hoạt động, nâng công suất và đa dạng hóa sản phẩm. Hiện nay, Công ty là một trong những đơn vị sản xuất bánh kẹo lớn nhât Việt Nam với công suất thiết kế là 18 tấn bánh/ ngày, 18 tấn nha/ ngày và 29.5 tấn kẹo/ ngày.

    1.2. Chức năng hoạt động:

    – Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trong các lĩnh vực về công nghệ chế biến bánh-kẹo-nha.

    – Xuất khẩu các sản phẩm bánh -kẹo-nha và các loại hàng hóa khác.

    – Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của công ty.

    1.3. Quá trình phát triển của Công ty có những nét chính như sau:

    – Giai đoạn 1990-1993,phân xưởng bánh được thành lập và mở rộng dần đến năng suất 5 tấn/ ngày.

    – Năm 1994 phân xưởng bánh được thành lập với dây chuyền sản xuất bánh bích quy hiện đại đồng bộ nhập từ Anh quốc có năng suất 8 tấn/ ngày.

    – Năm 1995 đầu tư mới cho phân xưởng sản xuất mạch nha năng suất 18 tấn/ ngày, với công nghệ tiên tiến thủy phân tinh bột bằng enzym, nhắm chủ động nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất bánh kẹo, ngoài ra còn cung cấp cho thị trường loại mạch nha chất lượng cao.

    – Năm 1996: Phân xưởng bánh kẹo được đầu tư mở rộng nâng năng suất lên đến 21 tấn/ ngày. Để phù hợp với yêu cầu về quản lý, phân xưởng kẹo được tách thành 2 phân xưởng: phân xưởng kẹo cứng 12 tấn/ ngày, phân xưởng kẹo mềm 9 tấn/ ngày.

    – Năm 1997:

    + Đầu tư mới dây chuyền sản xuất kẹo dẻo theo công nghệ hiện đại của Úc với năng suất 2 tấn/ ngày.

    + Đầu tư mở rộng nâng năng lực sản xuất phân xưởng kẹo cứng đến 16 tấn/ ngày.

    – Ngày 01/12/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 234/1998 QĐ-TTg, phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển phân xưởng bánh kẹo và nha của Công ty Đường Biên Hòa tử một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa.

    – Năm 1999:

    + Ngày 09/01/1999, đại hội cổ đông của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa đã tiến hành, thông qua “ Điệu lệ tổ chức và hoạt động” của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa.

    + Đầu tư mở rộng phân xưởng bánh kẹo mềm nâng  cao công suất lên đến 11 tấn/ ngày

    + Đầu tư mới dây chuyền sản xuất thùng carton và dây chuyến sản xuất khay nhựa, nhằm chủ động cung cấp một phần bao bì cho sản xuất bánh kẹo

    – Năm 2000:

    + Tháng 02/2000 Công ty Bibica đã vinh dự là công ty bánh kẹo đầu tiên của Việt Nam chính thức nhận giáy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO9002 của tổ chức BVQI_Anh quốc.

    +Đầu tư mới dây chuyền sản xuất snack với công suất 2 tấn/ ngày

    – Năm 2001

    + Tháng 3/2001, đại hội cổ đông nhất trí tăng vốn điều lệ từ 25 tỷ đồng lên 35 tỷ dồng từ vốn tích lũy có được sau hơn 2 năm hoạt động  dưới pháp nhân công ty cổ phần.

    +Tháng 7/2001, Công ty gọi thêm vốn cổ dông , nâng vốn điều lệ của Công ty lên con số 56 tỷ đồng để chủ dộng nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh, tạo thêm sức mạnh về tài chính, dông thời dáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho việc đổi mới công nghệ nhà máy hiện có như đầu tư thiết bị dây chuyền bánh cake, dây chuyền socola, thiết bị sản xuất bánh Trung thi và bánh cooloes nhân, thiết bị đóng gói bánh… với tổng đầu tư 40,8 tỷ đồng và đầu tư  xây dựng thêm một nhà máy mới ở Hà Nội với tổng đầu tư trị giá 13,3 tỷ đồng. Những thành tích đạt được trong các năm qua:

    -Bằng khen của Bộ Tài Chính, UBND tỉnh Đồng Nai về việc nộp ngân sách cho nhà nước.

    -Năm năm liền được người tiêu dùng bình chọn “ Hàng Việt Nam chất lượng cao”

    -Giấy chứng nhận ISO9002 do tổ chức BVQI-Vương Quôc Anh cấp

    -Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho giám đốc Công ty.

    1.4. Thị phần của Bibica:

    Sản phẩm của công ty được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước. Doanh thu tiêu thụ trong nước chiếm 96-97% tổng doanh thu của Công ty, doanh thu từ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3%-4% tổng doanh thu với sản phẩm xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm nha. Trong thời gian sắp đến Công ty tiếp tục đinh hướng phát triển theo hướng khai thác , mở rộng thị trường nội địa.

    Với doanh thu tiêu thụ năm 2000 đạt 187,26 tỷ đồng, công ty hiện chiếm khoảng 7% thị trường bánh kẹo được sản xuất trong nước.

    Với hệ thống phân phối được xáy dựng từ năm 1994 và được mở rộng dần, Công ty hiện có 108 nhà phân phối, trong đó 13 nhà phân phối tại khu vực đồng bắng sông Cửu Long, 42 nhà phân phối tại khu vực Đông Nam Bộ, 23 nhà phân phối tại khu vực miền Trung, 30 nhà phân phối tại khu vực miền Bắc. Đến nay, sản phẩm của Công ty đã đựợc tiêu thụ trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thị trường chính của Công ty là khu vực miền Nam, chiếm 70% doanh thu của Công ty . Khu vực miền Trung-Cao nguyên và khu vực miền Bắc có tỷ trọng doanh thu ngang nhau, mỗi khu vực chiếm 15% doanh thu của Công ty. Bên cạnh đó thị trường tại các tỉnh thành phố, công ty đã đưa được sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng ở các vùng nông thôn. Doanh thu từ khu vực nông thôn đã vượt xa khu vực thành thị.

    Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu của Công ty là thành phố Hô Chí Minh, chiếm 27,36% tổng doanh thu. Kế tiếp là Đồng Nai, 8,77% và Hà Nội 5,28% tổng doanh thu. Một số khu vực thị trường lớn của Công ty được trình bày trong bảng dưới đây:

      Số NPP-ĐL Doanh thu Tỷ trọng
    TPHCM * 25 51.237 27,36%
    Đồng Nai * 14 16.426 8,77%
    Hà Nội 9 9.896 5,28%
    Đà Nẵng 2 6.146 3,28%
    Cần Thơ 2 5.048 2,70%
    Đắc Lắc 1 4.823 2,58%

    (*) Bao gồm cả cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Công ty

    Theo kế hoạch tài chính, doanh thu năm2001 của Công ty là 181 tỷ đồng, giảm 3,4% so với năm 2000. Tuy nhiên, theo dự kiến sang năm 2002 doanh thu của  Công ty sẽ  phục hồi và tăng lên 327 tỷ đồng nhờ vào các dây chuyền đầu tư mới đưa vào sản xuât. Song song với việc phát triển sản phẩm mới thì  Công ty còn đẩy mạnh công tác tiếp thị và mở rộng phân phối để đạt mục tiêu tăng trưởng như trên.

    2. Tổng quan về thị trường và một số đối thủ cạnh tranh:

    2.1. Tổng quan thị trường:

    Hiện nay Việt Nam tiêu thụ khoảng 100.000 tấn bánh kẹo một năm bình quân khoảng 1,25kg/người/năm. Với khối lượng tiêu thụ như trên tồng giá trị của thị trường bánh kẹo Việt Nam vào khoảng 3.800 tỷ đồng…

    Trước giai đọan đổi mới, các cơ sở sản xuất bánh kẹo lớn trong cả nước chủ yếu là các đơn vị kinh tế quốc doanh, với hai loại sản phẩm chính là kẹo cứng không nhân và bánh bích quy.Giai đoạn đổi mới bắt đầu kéo theo việc nhập khẩu nhiều loại bánh kẹo từ bên ngoài do năng lực sản xuất trong nước không đáp ứng được  nhu cầu tăng lên nhanh chóng từ việc cải thiện thu nhập người dân. Sản phẩm bánh kẹo đa dạng dần. Tuy nhiên, đến những năm cuối của thập kỷ 90, sản phẩm trong nước đã giành lại đa số thị phần đã mất và hiện chiếm khoảng trên 70% giá thị trường.

    Tham gia  thị trường hiện nay có khoảng trên 30 DN sản xuất bánh kẹo có tên tuổi trên thị trường, Số lượng các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhỏ không có thống kê chính xác, với sản phẩm là bánh kẹo có phẩm chất thấp, được tiêu thụ tại các địa phương riêng lẻ. Các cơ sở này ước tính chiếm khoảng 35%-40% thị phần bánh kẹo cả nước.

    2.2. Một số đối thủ cạnh tranh:

    2.2.1. Đối thủ cạnh tranh trong nước:

    – Công ty Xây Dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô(Kinh Đô): cạnh tranh với Công ty về các sản phẩm bánh cracker tại các tỉnh phía Nam. Với hệ thống phân phối gồm 130 đại lý, sản phẩm của Kinh Đô được phân phối trên khắp thị trường Việt Nam, đặc biệt tại thành phố HCM. Kinh Đô rất chú trọng đến các hoạt động tiếp thị với nhiều  biện pháp như quảng cáo, khuyến mãi, tỷ lệ  chiết khấu cho các đại lý cao và đặc biệt là thiết lập hệ thống các bakery tại thành phố HCM, thị trường chính của Công ty. Kinh Đô cũng đang tiến hành xây dựng hệ thống các Bakery tại Hà Nội. Tháng 9 năm 2001, nhà máy sản xuất tại Hưng Yên của Kinh Đô bắt đầu đi vào sản xuất,. phục vụ cho thị trường miền Bắc và Bắc Trung Bộ, Tuy nhiên, giá bán sản phẩm của công ty Kinh Đô ở mức trung bình đến khá cao so với các sản phẩm của các công ty khác trên thị trường, Hiện nay, Kinh Đô chiếm khoảng 10% thị trường bánh kẹo trong nước.

    -Công ty Bánh Kẹo Hải Hà sản xuất các sản phẩm ở cả năm nhóm cookies, bánh quy, kẹo cứng, kẹo mềm và kẹo dẻo nhưng có thế mạnh chủ yếu ở các sản phẩm kẹo. Sản phẩm của Hải Hà phục vụ cho thị trường bình dân với mức giá trung bình thấp. Với hơn 100 đại lý, Hải Hà đã thiết lập được một hệ thống phân phối ở 34 tỉnh thành trong cả nước, tập trung chủ yếu ở các khu vực miền Bắc và miền Trung. Chủ trương của Hải Hà là đa dạng hóa sản phẩm đặc biệt là những sản phẩm mang hương vị đặc trưng của hoa quả miền Bắc như kẹo chanh, mận…đồng thời bảo đảm ổn định chất lượng sản phẩm hiện hành, Về chiến lược tiếp thị của Công ty chiếm khoảng 6,5% thị trường bánh kẹo trong nước.

    – Công ty Bánh Kẹo Hải Châu: cũng tương tự như Hải Hà, thị trường chính của Hải Châu là các tỉnh phía Bắc, sản phẩm phục vụ cho thị trường bình dân với giá bán trung bình và thấp, Hải Châu đang chiếm khoảng 3% thị trường bánh kẹo,

    – Công ty Đường Quảng Ngãi: bắt đầu tham gia vào thị trường bánh kẹo từ năm 1994, đến nay Công ty đã có hơn 60 sản phẩm bánh kẹo các loại. Thị trường chính của các sản phẩm bánh kẹo của công ty là khu vực miền Trung, Tuy nhiên, do bánh kẹo chỉ là một trong nhiều ngành hàng của Công ty Đường Quảng Ngãi, mức độ tập trung đầu tư cho bánh kẹo không lớn. Thị phần của Công ty Đường Quảng Ngãi vào khoảng 2,5 %

    – Ngoài ra còn có Công ty Đường Lam Sơn, Xí nghiệp bánh Lubico, Công ty Bánh kẹo Tràng An…

    2.2.2 Đối thủ cạnh tranh nước ngoài :

    Là các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài như Công ty Liên doanh Vinabico-Kotobuki, Công ty Liên doanh sản xuất Kẹo perfetti… các doanh nghiệp này đều có lợi thế về công nghệ do mới được thành lập khoảng bốn năm trở lại đây,

    Trong đó Công ty Liên doanh Vinaco-Kotobuki được thành lập ngày 12/11/1992 với vốn đăng kí kinh doanh là 3.740.000 USD, tập trung vào sản xuất các loại bánh cookies và bánh bích quy. Tuy nhiên, do thị trường chính của Vinabico-Kotobuki là thị trường xuất nhập khẩu nên công ty ít đầu tư, không quảng cáo để mở rộng thị phần trong nước. Vinabico-Kotobuki chỉ chiếm khoảng 1% thị trường bánh kẹo trong nước.

    Công ty Liên doanh Sản xuất Kẹo Perfetti- Việt Nam được hình thành vào ngày 22/8/1995 với vốn đăng ký kinh doanh là 5.600.000 USD, tập trung sản xuất các lọai kẹo cứng cao cấp Perfetti tập trung vào công tác tiếp thị và phân phố . Sản phẩm của Perfetti được ổn định chất lượng ở mức cao, Perfetti đang chiếm khoảng 60% thị trường bánh kẹo sản xuất trong nước.

    Bên cạnh các công ty sản xuất lớn, các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhở chiếm một thì phần lớn, khoảng 35%-40% tổng sản lượng bánh kẹo sản xuất trong nước.

    Sản phẩm nhập khẩu chiếm 30% thị phần ( bao gồm chính thức và chưa chính thức) chủ yế từ Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông và Trung Quốc… Một số sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu hiện nay các đơn vị trong nước vẫn chưa sản xuất được

     

    Bảng cân đối kế toán

    Đơn vị tính: VNĐ

      31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
    Tài sản      
    A. Tài sản ngắn hạn 100.830.486.720 156.306.589.247 179.079.163.900
    I. Tiền và các khoản tương đương tiền 11.158.972.479 22.569.254.239 44.423.027.953
    II. Các khoản ĐT tài chính ngắn hạn 35.000.000.000 14.055.000.000
    III. Các khoản phải thu 27.896.506.491 33.166.654.300 30.318.114.546
    IV. Hàng tồn kho 61.414.409.410 63.822.664.865 86.850.781.794
    1. Hàng tồn kho 61.749.553.063 64.157.808.518 86.850.781.794
    2. Dự phòng giảm giá HTK (335.143.653) (335.143.653) 0
    V. Tài sản ngắn hạn khác 360.598.340 1.748.015.843 3.432.239.607
    B. Tài sản dài hạn 77.821.142.178 86.670.014.998 200.623.326.337
    I. Tài sản cố định 65.831.998.937 64.626.860.632 149.255.710.813
    1. Tài sản cố định hữu hình 63.905.528.141 58.548.317.000 81.826.656.838
    2. Tài sản cố định vô hình 538.934.796 1.098.989.728 921.324760
    3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 1.387.536.000 4.979.553.904 66.507.729.215
    II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 3.719.805.000 9.753.219.388 39.208.289.669
    1. Đầu tư vào công ty con
    2. Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh
    3. Đầu tư dài hạn khác 3.719.805.000 10.319.224.388 39.208.289.669
    4. Dự phòng giảm giá ĐT dài hạn (566.005.000)
    IV. Tài sản dài hạn khác 8.269.338.241 12.289.934.978 12.159.325.855
    Tổng cộng tài sản 178.651.626.898 242.976.604.245 379.702.490.237
    Nguồn vốn      
    A. Nợ phải trả 86.886.793.280 59.617.754.851 172.154.628.620
    I. Nợ ngắn hạn 83.286.318.749 56.438.880.320 141.006.261.516
    II. Nợ dài hạn 3.600.474.531 3.178.874.531 31.570.329.740
    B. Nguồn vốn chủ sở hữu 91.764.835.618 183.358.849.394 207.547.861.617
    I. Vốn chủ sở hữu 90.184.590.235 182.493.104.011 205.924.166.234
    1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 56.000.000.000 89.900.000.000 107.707.820.000
    2. Thặng dư vốn cổ phần 27.382.833.351 70.258.833.351 70.226.583.351
    3. Quỹ đầu tư phát triển 5.539.809.276 5.539.809.276 7.458.322.848
    4. Quỹ dự phòng tài chính 1.110.231.382 1.110.231.382 2.069.231.382
    5. Quỹ khác thuộc VCSH
    6. Lợi nhuận chưa phân phối 151.716.226 15.684.230.002 18.040.246.016
    II. Nguồn kinh phí và quỹ khác 1.580.245.383 865.745.383 1.623.695.383
    Tổng cộng nguồn vốn 178.651.628.898 242.976.604.245 379.702.490.237

     

     

    Báo cáo kết quả kinh doanh

    Đơn vị tính: VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. DT bán hàng và cung cấp DV 287.091.873.695 343.061.150.267 456.850.115.543
    2. Các khoản giảm trừ 1.729.630.268 1.730.500.189 2.874.617.047
    3. DTT bán hàng và cung cấp DV 285.362.243.427 341.330.650.078 453.975.498.496
    4. GVHB 216.296.053.953 254.908.885.176 335.662.124.255
    5. Lợi nhuận gộp 69.066.189.474 86.421.764.902 118.313.374.241
    6. DT từ hoạt động tài chính 219.830.271 9.011.374.278 14.189.899.449
    7. Chi phí tài chính 3.152.731.691 3.323.504.266 3.717.954.055
    Trong đó: chi phí lãi vay 3.094.576.229 2.478.137.604 3.297.174.121
    8. Chi phí bán hàng 35.855.608.472 51.307.969.400 74.254.015.306
    9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 14.356.957.577 16.092.048.926 21.060.872.607
    10. LNT từ hoạt động KD 15.920.722.005 24.709.616.588 33.470.431.722
    11. Thu nhập khác 560.727.081 1.160.267.499 1.222.964.533
    12. Chi phí khác 390.346.920 538.102.347 659.430.628
    13. Lợi nhuận khác 170.380.161 622.165.152 563.533.905
    14. Tổng lợi nhuận trước thuế 16.091.102.166 25.331.781.740 34.033.965.627
    15. Thuế thu nhập DN 3.772.985.317 6.149.268.168 9.038.734.795
    16. Lợi nhuận sau thuế 12.318.116.849 19.182.513.572 24.995.221.832
    17. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 1.989 2.593 2.541

     

    II. Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica):

    1. Phân tích doanh thu của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT TL ST TT TL
    Tổng DT 55,969,276,572   19.50 113,788,965,276   33.17
    Các khoản giảm trừ 869,921 (0.10) 0.05 1,144,116,858 0.12 66.11
    DT thuần 55,968,406,651 0.10 19.61 112,644,848,418 (0.12) 33.00

    (trích bảng phân tích biến động doanh thu năm 2006-2005 và 2007-2006)

    Năm 2005, doanh thu của công ty đạt 287 tỷ đồng, năm 2006 đạt hơn 343 tỷ đồng, tăng 19,5%, tương ứng với khoảng 56 tỷ đồng. Năm 2007, doanh thu đột nhiên tăng cao hơn gần gấp rưỡi, khoảng 456 tỷ đồng, tăng 33,17% so với năm 2006, tương ứng với 113 tỷ đồng.

    Có thể nói, doanh thu của công ty có sự tăng trưởng tương đối nhanh. Điều đó chứng tỏ công ty đã không ngừng nỗ lực đàm phán, tìm kiếm mở rộng các mối quan hệ kinh tế nhằm làm tăng doanh thu, đồng thời cũng thể hiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo dựng được uy tín trên thị trường. Năm 2005, doanh thu của công ty là 287,091,873,695 triệu đồng. Đây là năm Bibica hoàn tất các công việc chuẩn bị và chính thức xuất khẩu lô hàng bánh trung thu đầu tiên sang thị trường Mỹ. Việc xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Mỹ, một thị trường nổi tiếng khắt khe về yêu cầu chất lượng cũng như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm một lần nữa khẳng định uy tín về chất lượng sản phẩm của Bibica. Nhờ bước tiến về mặt xuất khẩu này, doanh thu của Bibica sang năm 2006 đã tăng 19,5%. Thêm một lý do nữa khiến doanh thu không ngừng tăng trường là do Bibica rất chịu khó nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm mới vào các ngày lễ đặc biệt. Không những thế, các sản phẩm của Bibica cũng không ngừng đổi mới về mẫu mã nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Valentine năm 2006, công ty Bibica lần đầu tiên đưa ra thị trường Việt Nam sản phẩm Choco Bella Light sử dụng đường Isomalt thay thế hoàn toàn cho đường Sacharose bình thường, nhờ đó nhắm tới được đối tượng khách hàng là những người ăn kiêng, người e ngại thừa cân béo phì – những người tưởng chừng không bao giờ chạm tới thỏi socola.  Thị trường Socola phục vụ cho nhu cầu dịp Valentine day’s những năm qua cho thấy thương hiệu Choco Bella của Bibica luôn là sự lựa chọn ưu tiên của người tiêu dùng do đảm bảo được chất lượng, mẫu mã đẹp, sang trọng, phù hợp thị hiếu thẩm mĩ. Ngày Tết thiếu nhi 01/06, Bibica cũng tung ra thị trường sản phẩm mới, đón nhu cầu mua sắm của các hộ gia đình, các cơ quan tổ chức chăm lo cho trẻ em. Có thể nói, Bibica đã chịu khó cung cấp nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng ở mọi độ tuổi, giúp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, đem lại doanh thu ngày càng lớn.

    Nhắc đến những nguyên nhân khiến doanh thu của công ty không ngừng tăng, còn phải kể đến nỗ lực vươn ra ngoài biên giới Việt Nam của Bibica. Đã 2 lần được tín nhiệm chọn làm nhãn hàng bánh kẹo phục vụ các hội nghị quốc tế : ASEM 5 ( năm 2004) và gần đây nhất là hội nghị APEC 2006. Sản phẩm bánh kẹo Bibica phục vụ cho hội nghị APEC là những sản phẩm có chất lượng cao đã được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền. Đồng thời với việc quảng bá hình ảnh cho bạn bè quốc tế, Bibica cũng rất chịu khó tạo dựng uy tín và củng cố hình ảnh một doanh nghiệp thành đạt vì cộng đồng ở trong nước. Điều này được thể hiện bằng một loạt các hoạt động xã hội có sự tham gia của Bibica như: Tài trợ sản phẩm dinh dưỡng cho bệnh nhân nghèo bị bão số 6 ; Bibica với chương trình “ Trái tim nhân ái”; các hoạt động tài trợ cho dịp tết Trung Thu; hay tài trợ 70 triệu đồng cho trẻ em bị teo hóa cơ Delta…Tất cả những hoạt động xã hội nay giúp Bibica không ngừng củng cố thương hiệu và uy tín của mình, trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu tại Việt Nam, tạo dựng được sự tín nhiệm đối với khách hàng, giúp tăng doanh thu.

    Năm 2007, doanh thu của công ty là 456,850,115,543 VNĐ, tăng hơn 113 tỷtương ứng với 33,17%. Lý giải điều này, bên cạnh những lý do đã nêu trên, còn phải kể đến việc Bibica chính thức khởi công xây dựng nhà máy Bibica Bình Dương vào ngày 22/01/07. Dự án Nhà máy Bibica Bình Dương trên diện tích 40.000 m2, trong đó gồm 79 tỷ đồng là tổng vốn đầu tư giai đoạn 1, gồm xây dựng nhà xưởng và đầu tư dây chuyền sản xuất bánh bông lan kem cao cấp từ Ý, Châu Âu có năng suất 2.500 tấn sản phẩm/năm. Việc đầu tư giai đoạn 1 Nhà máy Bibica Bình Dương dự kiến sẽ góp phần tăng thêm doanh thu bình quân hàng năm của Bibica hơn 90 tỷ đồng/năm và thực tế là doanh thu năm 2007 đã tăng thêm tới hơn 113 tỷ so với năm 2006.

    2. Phân tích chi phí của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL TT Tsf ST TL TT Tsf
    Doanh thu 55,968,406,651 19.61     112,644,848,418 33.00    
    Tổng CPKD 17,187,452,277 34.23   2.15 27,914,869,587 41.42   1.25
    CP bán hàng 15,452,360,928 43.10 4.72 2.47 22,946,045,906 44.72 1.78 1.32
    CP quản lý 1,735,091,349 12.09 (4.72) (0.32) 4,968,823,681 30.88 (1.78) (0.08)

    (trích bảng phân tích chi phí doanh thu năm 2006-2005 và 2007-2006)

    Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy, tổng chi phí kinh doanh của công ty tăng tương đối nhanh, năm 2005 chỉ là 50 tỷ, chiếm 17,6 % tổng doanh thu nhưng năm 2006 đã là 67,4 tỷ, chiếm 19,75% tổng doanh thu, biến động 2005-2006 là 34,23% tương ứng với gần 17, 2 tỷ đồng. Năm 2007, tổng chi phí kinh doanh của công ty là 95,3 tỷ đồng, chiếm tới 21 % tổng doanh thu, biến động 2006 – 2007 là 41,42 %,tương ứng với gần 28 tỷ. Cụ thể biến động về chi phí bán hàng và chi phí quản lí như sau:

    – Chi phí bán hàng:

    Trong giai đoạn 2005 – 2007: tỉ trọng chi phí bán hàng trong tổng doanh thu tăng liên tục. Năm 2005 chi phí bán hàng là 35,8 tỷ đồng, chiếm 12,56 % doanh thu, năm 2006 chiếm 76,12% tổng chi phí kinh doanh. Năm 2007, chi phí bán hàng xấp xỉ 74, 2 tỷ, chiếm 77,9% tổng chi phí kinh doanh. Biến động chi phí bán hàng 2005 – 2006 là 43,10%, tương ứng với 15, 45 tỷ đồng. Biến động chi phí bán hàng năm 2006 – 2007 là 44,72 %, tương ứng với xấp xỉ 23 tỷ đồng. Tuy chi phí bán hàng tăng, nhưng tỉ suất phí lại giảm.

    – Chi phí quản lí:

    Năm 2005, chi phí quản lí đạt 14, 35 tỷ đồng, chiếm 28,59% tổng chi phí kinh doanh. Năm 2006, chi phí quản lí chiếm 23,88 % tổng chi phí kinh doanh và năm 2007 chiếm 22,1% tổng chi phí kinh doanh. Biến động 2005 – 2006 là 12,09%, tương ứng với 1, 73 tỷ. Biến động 2006 – 2007 là 30,88%, tương ứng với xấp xỉ 5 tỷ. Tương tự như chi phí bán hàng, dù chi phí quản lí qua các năm là tăng, nhưng tỉ suất phí vẫn giảm.

    Để lý giải điều này, phải nhìn vào thực tế là công ty đã không ngừng cải thiện để nâng cao doanh thu, do đó lượng hàng bán ra ngày càng nhiều, nên chi phí bán hàng tăng. Kể từ năm 2005, Bibica đã trở thành doanh nghiệp sản xuất Socola đi đầu của Việt Nam, doanh số bán hàng bán ra tăng không ngừng với đủ các loại mẫu mã, điều này lý giải cho việc chi phí bán hàng không ngừng tăng từ năm 2005 đến năm 2007.

    Chi phí quản lý năm 2006 chỉ tăng so với năm 2005 là 1, 73 tỷ, nhưng đến năm 2007 đã vọt tăng gấp 4 lần con số này, xấp xỉ 5 tỷ. Đó là do đầu năm 2007, công ty khởi công xây dựng nhà máy Bibica Bình Dương, một dự án lớn cầu đầu tư cả vốn và nhân lực, do đó công tác quản lý phải được đẩy mạnh. Chính vì vậy mà chi phí quản lý tăng cao.

    Tuy nhiên, mặc dù chi phí bán hàng, chi phí quản lý và tổng chi phí kinh doanh tăng, nhưng tỷ suất phí vẫn giảm. Đó là do năm 2006, công ty đạt giải thưởng Sao khuê của Hiệp hội Phần Mềm Việt Nam VINASA nhờ sự quyết tâm trong ứng dụng và ứng dụng có hiệu quả giả pháp phần mềm ERP ( phần mềm giúp hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp). Công ty đã ứng dụng đầy đủ các tính năng của bộ phần mềm bao gồm : Quản lý Tài Chính Kế toán, Quản lý bán hàng, Quản lý mua hàng, Quản lý kho, Quản Lý sản xuất. Điều này giúp Bibica quản lý hoạt động doanh nghiệp khoa học hơn. Do vậy, tuy chi phí bán hàng và chi phí quản lý vẫn tăng nhưng công ty quản lý tốt nên tỷ suất phí qua các năm vẫn giảm.

    3. Phân tích tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL TT ST TL TT
    Tổng LN

     

    trước thuế

    9,240,679,574 57.43   8,702,183,887 34.35  
    LNT từ HĐ

     

    SXKD

    8,788,894,583 55.20 (1.40) 8,760,815,134 35.46 0.80
    LN khác 451,784,991 265.16 1.40 (58,631,247) (9.42) (0.80)

    (trích bảng phân tích biến động lợi nhuận theo kết cấu năm 2005-2006 và 2006-2007)

    Năm 2005, tổng lợi nhuận trước thuế của Bibica đạt 16 tỷ đồng. Năm 2006, con số này đã đạt trên 25 tỷ đồng và tăng 57.43% so với năm 2005. Từ năm 2006 đến 2007  tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp có tốc độ tăng chậm hơn giai đoạn 2005-2006 (34.35%) nhưng vẫn đạt mức cao, 34 tỷ đồng.

    Nhìn chung cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp không có nhiều biến động đáng kể. Năm 2005 lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỉ trọng 98.94% và lợi nhuận khác chiếm 1.06% tổng lợi nhuận trước thuế. Năm 2005 tỷ trọng của lợi nhuận khác tăng 1.4% lên mức 2.46%, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm xuống còn 97.57%. Tuy nhiên đến năm 2007 mức tỷ trọng của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác lại gần giống với năm 2005, là 98.34% và 1.66%.

    Giai đoạn 2005-2006 lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng gần 8.8 tỷ đồng tương đương 55.20%. Bên cạnh đó lợi nhuận khác tăng 265.16% từ hơn 170 triệu đồng lên đến hơn 622 triệu đồng. Tuy nhiên vì chiếm tỷ trọn nhỏ trong tổng lợi nhuận nên con số này dù lớn nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều đến sức tăng của tổng lợi nhuận.

    Từ năm 2006 đến 2007 lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn tăng, tuy mức độ có chậm hơn 35.46%. Ngược lại, lợi nhuận khác lại giảm hơn 58 triệu đồng (9.42%) tương đương với mức giảm tỷ trọng là 0.8%.

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL ST TL
    1. DTT bán hàng và cung cấp DV 55,968,406,651 19.61 112,644,848,418 33.00
    2. GVHB 38,612,831,223 17.85 80,753,239,079 31.68
    3. LN gộp bán hàng và cung cấp DV 17,355,275,428 25.13 31,891,609,339 36.90
    4. Tỷ lệ LNG/DTT   1.12   0.74
    5. Chi phí bán hàng 15,452,360,928 43.10 22,946,045,906 44.72
    6. Chi phí quản lý 1,705,091,349 11.88 4,998,823,681 31.12
    7. Tỷ suất phí CFBH        
    8. Tỷ suất phí CFQL        
    9. LNT hoạt động bán hàng, cung cấp DV 8,788,894,583 55.20 8,760,815,134 35.46
    10. Tỷ lệ LNT/DTT   1.66   0.13
    11. Tỷ lệ LNT/GVĐĐ   1.69   0.10
    12. Thuế TNDN phải nộp 2,376,528,255 62.99 2,889,221,223 46.98
    13. Lợi nhuận sau thuế 6,864,396,723 55.73 5,812,708,260 30.30

    (trích bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần năm 2005-2006 và 2006-2007)

    Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp tăng dần qua các năm từ 2005 đến 2007. Năm 2005 doanh thu thuần là hơn 285 tỷ thì đến năm 2006 con số này đã tăng lên mức hơn 341 tỷ và gần 453 tỷ vào năm 2007. So với năm 2005 doanh thu thuần năm 2006 tăng gần 55 tỷ tương đương với 19.61%. Năm 2007 so với năm 2006 mức tăng lên tới hơn 112 tỷ đồng (33.00%). Nhìn vào các con số trên ta có thể thấy rõ hoạt động sản xuất kinh doanh của Bibica có sự tăng trưởng rất ấn tượng: biến động doanh thu thuần 07/06 gấp đôi so với 06/05.

    Lợi nhận gộp hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2006 cao hơn năm 2005 hơn 38 tỷ tương ứng với mức tăng 25.13%. Biến động lợi nhuận gộp năm 2007-2006 ở mức lớn hơn hẳn so với năm 2006-2005: 36.90%. Điều này có thể lý giải qua sự gia tăng của doanh thu thuần năm 2007 so với năm 2006.

    Năm 2005, 100 đồng doanh thu thu về có 24.20 đồng là lợi nhuận gộp. Tỷ lệ LNG/DTT này tăng nhẹ trong 2 năm 2006 và 2007. Cho đến năm 2007, 100 đồng doanh thu thu về đã có tới 26.06 đồng lợi nhuận gộp. Tỷ lệ này cho thấy kết quả kinh doanh của Bibica trên cơ sở giá vốn hàng bán cũng như hiệu quả của việc điều chỉnh giá và quản lý giá vốn hàng bán của doanh nghiệp đều tăng.

    Chi phí bán hàng năm 2006 so với năm 2005 tăng 43.10%. Năm 2007 mức tăng này không có sự thay đổi đáng kể và đạt mức 44.72% nhưng chi phí quản lý lại có sự gia tăng đột biến. Biến động chi phí quản lý 07/06 cao gấp 2.6 lần so với biến động 06/05. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới mức tăng của lợi nhuận thuần. Tăng trưởng lợi nhuận thần giai đoạn 2005-2006 đạt 55.20% nhưng đến thời kì 2006-2007 lại chỉ ở mức 35.46%. Tuy nhiên nếu nhìn vào tỷ suất phí chi phí quản lý ta lại thấy tỷ suất phí giảm từ 5.03% (2005) xuống 4.64% (2007). Tăng chi phí quản lý, mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng Bibica cũng đồng thời nâng cao được hiệu quả quản lý. Đó là do Bibica đã ứng dụng có hiệu quả giải pháp phần mềm ERP ( Enterprise Resources Planning- Hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp) trong quản lý các khâu mua hàng, bán hàng sản xuất…

    Bên cạnh đó, tỷ lệ LNT/DTT và tỷ lệ LNT/GVĐĐ từ năm 2005 đến 2007 đều tăng. Năm 2005, 1 đồng chi phí bỏ ra thu được 5.97 đồng lợi nhuận thuần trong khi năm 2007, 1 đồng chi phí bỏ ra thu về được 7.77 đồng lợi nhuận thuần. 2 tỷ lệ trên cho thấy hoạt động sản suất kinh doanh nói chung cũng như khả năng kiểm soát của chủ doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động này và hiệu quả sử dụng đồng vốn đều được nâng cao.

    Với mức lợi nhuận thuần trên trong năm 2007 Bibica đã lọt vào top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam theo lợi nhuận với vị trí thứ 78 (Theo www.vnr500.com.vn).  Trong các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần thì doanh thu thuần là nhân tố có ảnh hưởng tích cực nhất tới lợi nhuận thuần. Mức tăng 33% của doanh thu thuần năm 2007 so với 2006 nhờ việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, cải tiến mẫu mã sản phẩm… ảnh hưởng lớn nhất tới việc gia tăng lợi nhuận thuần. Bên cạnh đó, việc chi phí quản lý tăng nhanh lại là ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận thuần do đó Bibica cần phải có những biện pháp để giảm chi phí này.

    4. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

    4.1. Phân tích khái quát tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất đầu tư 0.37 0.27 0.39 0.29 0.28 0.14 0.31 0.26 0.41
    Tỷ suất tự tài trợ 0.50 0.75 0.54 0.65 0.63 0.80 0.40 0.44 0.51
    TSLĐ/NNH 1.35 3.16 1.63 2.68 2.23 5.70 1.49 1.61 1.45
    TSCĐ/NVTX 1.90 1.31 1.60 0.40 0.41 0.51 0.58 0.47 0.68

    4.1.1. Tỷ suất đầu tư:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất đầu tư 0.37 0.27 0.39 0.29 0.28 0.14 0.31 0.26 0.41

    Tỷ suất đầu tư của Bibica năm 2005 là 0.37, năm 2006 đã giảm 37% tức là ở mức 0.27 nhưng sang năm 2007 lại tăng lên 0.39. Như vậy là qua năm tỷ suất đầu tư vào tài sản cố định của Bibica đă tăng 5.4%, trong khi đó tài sản lưu động của doanh nghiệp đã không ngừng tăng chứng tỏ nhìn chung qua 3 năm thì doanh nghiệp đã đầu tư ngày càng nhiều hơn vào nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc… và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Trong số hai doanh nghiệp cùng ngành thì Hải hà có diễn biến về tỷ suất đầu tư qua 3 năm cũng khá là giống với Bibica, Kinh Đô thì lại có tỷ suất đầu tư giảm dần trong 3 năm và ở mức thấp hơn nhiều so với Bibica cũng như là Hải Hà.

    4.1.2. Tỷ suất tự tài trợ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất tự tài trợ 0.50 0.75 0.54 0.65 0.63 0.80 0.40 0.44 0.51

    Tỷ suất tự tài trợ của Bibica năm 2007 là 0.54, nghĩa là vốn chủ sở hữu chiếm 54% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, mặc dù so với năm 2006 thì chỉ số này đã giảm tới 0.39% nhưng mặt khác do tỷ lệ Nợ/VCSH của Bibica năm 2007 là 0.84 chứng tỏ nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp vẫn đủ khả năng thanh toán các khoản nợ và vì thế doanh nghiệp vẫn có khả năng kiểm soát được mức độ rủi ro trong kinh doanh. Nếu so cả 3 doanh nghiệp cùng ngành với nhau thì Hải Hà có khả năng tự chủ về tài chính là thấp nhất và cũng bởi vì tỷ lệ nợ/VCSH (năm 2007) là 0.96 (cao hơn so với Bibica) cho nên mức độ rủi ro trong kinh doanh của Hải Hà là lớn hơn so với Bibica. Nhưng nhìn chung cơ cấu nguồn vốn của cả 3 doanh nghiệp đều ở mức chấp nhận được (vốn chủ sở hữu chiếm 30-70% tổng nguồn vốn) và vì thế mức độ rủi ro trong kinh doanh là hoàn toàn có thể kiểm soát được.

    4.1.3. Hệ số đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    TSLĐ/NNH 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40
    TSCĐ/NVTX 0.70 0.35 0.63 0.40 0.41 0.18 0.58 0.47 0.68

    Nhìn vào các chỉ tiêu trên của Bibica, ta thấy rằng qua 3 năm thì tỷ lệ TSLĐ/NNH đều lớn hơn 1 và tỷ lệ TSCĐ/NVTX đều nhỏ hơn 1 vì vậy trong quá trình kinh doanh trong suốt 3 năm qua thì vốn lưu động ròng của Bibica đều dương (vì VLĐR=TSLĐ-NNH=NVTX-TSCĐ) cho nên doanh nghiệp có khả năng tài trợ tốt cho các hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như có khả năng thanh toán trong ngắn hạn. Tương tự như Bibica, Kinh Đô và Hải Hà đều có những con số khả quan như vậy. Ngoài ra thì vốn chủ sở hữu của cả 3 doanh nghiệp đều tăng đều đặn qua 3 năm nên ta cũng thấy được mức độ bền vững trong việc tăng vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp.

    4.2. Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Hệ số thanh ngắn hạn 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40
    Hệ số thanh toán nợ nhanh 0.47 1.37 0.53 1.25 0.81 2.37 0.60 0.7 0.70
    Hệ số thanh tức thời 0.13 0.86 0.32 0.22 0.17 1.15 0.20 0.30 0.30
    Hệ số thanh toán toàn bộ 2.06 4.08 2.21 2.91 2.67 5.22 1.67 1.77 2.04
    Hệ số nợ 0.50 0.25 0.45 0.34 0.37 0.19 0.60 0.57 0.49

    4.2.1. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTNH 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40

    Năm 2005 hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica là 1.21, năm 2006 là 2.32 tức là tăng 1.92 lần nhưng năm 2007 giảm xuống mức 1.27. Cả 3 năm hệ số thanh toán đều lớn hơn 1 cho thấy tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt các khoản nợ ngắn hạn.

    Năm 2006, mỗi 1 VNĐ nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 2.32 VNĐ tài sản ngắn hạn. Hệ số thanh toán ngắn hạn cao như vậy là bởi vì tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng tài sản là 64.33%. Trong khi đó Kinh Đô có hệ số thanh toán ngắn hạn là 1.52 do tài sản ngắn hạn chỉ chiếm 49.15% tổng tài sản. hệ số này của Hải Hà là 1.60 mặc dù tài sản ngắn hạn chiếm tới 72% tổng tài sản nhưng con số nợ ngắn hạn của Hải hà là khá cao, cao nhất trong 3 năm.

    Năm 2007, hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica giảm chỉ còn 1.27 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của Bibica đã giảm rõ rệt. Điều này có thể được giải thích là do khoản nợ ngắn hạn đã tăng tới 2.50 lần trong khi đó tài sản ngắn hạn chỉ tăng 1.15 lần.

     

    4.2.2. Hệ số thanh toán nhanh:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTN 0.47 1.37 0.53 1.25 0.81 2.37 0.60 0.7 0.70

    Hệ số thanh toán nhanh của Bibica năm 2005 là 0.47 thấp hơn rất nhiều so với Kinh đô là 1.25 và cũng thấp hơn Hải Hà là 0.60 điều này cho biết rằng Bibica cũng như Hải hà đều không đủ khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn nếu không vay thêm và bán hàng tồn kho. Trong ba doanh nghiệp ngành bánh kẹo này thì chỉ có Kinh Đô là đủ khẳ năng làm được điều này.

    Tuy nhiên, sang năm 2006 thì hệ số thanh toán nhanh của Bibica lại tăng rất mạnh lên 1.37. Đó là vì khoản mục tiền và các khoản phải thu đã tăng rất mạnh trong khi nợ ngắn hạn lại giảm rõ rệt. Như vậy là trong năm 2006, Bibica luôn có 1.37 VNĐ nằm trong khoản mục tiền và các khoản phải thu  để sẵn sàng đáp ứng cho 1 VNĐ tài sản ngắn hạn. Trong khi đó chỉ số này của Kinh đô là 0.81 và Hải hà là 0.7, chứng tỏ tổng số tiền mặt, khoản đương tương tiền và các khoản phải thu của 2 doanh nghiệp này đều không đủ trang trải số nợ ngắn hạn.

    Đến năm 2007 thì diễn biến lại trở lại như năm 2005, hệ số thanh toán nhanh của Bibica lại giảm xuống chỉ còn 0.53, Hải Hà là 0.70, còn Kinh Đô thì lại tăng vọt lên mức 2.37. Sở dĩ hệ số này của Bibica giảm xuống thấp như vậy là vì nợ ngắn hạn tăng 2.89 lần trong khi tiền, các khoản tương đương tiền và khoản phải thu lại tăng không đáng kể. Như vậy là qua 3 năm thì chỉ có năm 2006 là Bibica có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải vay thêm cũng như là bán hàng tồn kho.

    4.2.3. Hệ số thanh toán tức thời:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTTT 0.13 0.86 0.32 0.22 0.17 1.15 0.20 0.30 0.30

    Trong 3 năm liên tiếp, hệ số thanh toán tức thời của Bibica cũng như là Hải Hà đều thấp hơn 1 chứng tỏ trong suốt 3 năm 2 doanh nghiệp này đều không có khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền. Doanh nghiệp Kinh đô cũng chỉ có năm 2007 là đủ khả năng dùng tiền và các khoản tương đương tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn. Qua đó ta thấy được rằng lượng tiền mặt cũng như là các khoản tương đương tiền (có tính thanh khoản cao nhất) ở các doanh nghiệp ngành bánh kẹo luôn ở mức thấp hơn nhiều so với những khoản nợ ngắn hạn và họ gần như không đủ khả năng thanh toán trong nếu không sử dụng đến các biện pháp đi vay, bán hàng tồn kho hay đi thu các khoản phải thu.

    4.2.4. Hệ số thanh toán toàn bộ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Hệ số

     

    thanh toán toàn bộ

    2.06 4.08 2.21 2.91 2.67 5.22 1.67 1.77 2.04

    Qua 3 năm ta thấy hệ số thanh toán toàn bộ của cả 3 doanh nghiệp đều ở mức lớn hơn 1, điều này cho ta thấy được rằng cả 3 doanh nghiệp đều có khả năng thanh toán trong dài hạn tức là đều có thể mở rộng hoạt động sản xuất & kinh doanh trong tương lai. Năm 2006, hệ số thanh toán toàn bộ của Bibica là 4.08 cao hơn rất nhiều so với Kinh Đô và Hải Hà cho nên khả năng thanh toán toàn bộ của Bibica cũng tốt hơn hơn tương ứng. Nhưng đến năm 2007 thì hệ số này của Bibica lại giảm xuống chỉ còn 2.21, Hải Hà là 2.04 trong khi của Kinh Đô lại tăng lên 5.22 và cũng vì thế mà khả năng thanh toán toàn bộ của Kinh Đô là tốt hơn cả.

    4.2.5. Hệ số nợ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    hệ số nợ 0.50 0.25 0.45 0.34 0.37 0.19 0.60 0.57 0.49

    Nhìn chung ta thấy hệ số nợ của Bibica và Hải Hà luôn ở mức cao hơn so với Kinh đô, mặc dù năm 2006 hệ số nợ của Bibica có giảm xuống mức thấp là 0.25 nhưng trong năm 2007 đã tăng lên 0.45 trước khi ở mức cao là 0.50 năm 2005. Điều này cho thấy  trong năm 2005 và 2007 thì các khoản nợ chiếm một tỷ lệ cao trên tổng tài sản của Bibica và Hải Hà, cao hơn rất nhiều so với trung bình ngành năm 2007 là 0.24 vì thế dẫn đến những rủi ro trong khả năng thanh toán trong dài hạn và thanh khoản trong ngắn hạn của Bibica cũng như là Hải Hà là lớn hơn so với Kinh Đô và ngành Bánh kẹo nói chung. Ngược lại với hệ số nợ cao giúp cho 2 doanh nghiệp này có thể tận dụng được đòn bẩy tài chính nói chung để gia tăng khả năng sinh lời cho các cổ đông.

    4.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TSCĐ 4.42 5.71 3.04 3.51 3.87 0.94 6.82 7.02 4.03
    Vòng quay TTS 1.60 1.40 1.20 1.02 1.07 0.40 2.1 2.0 1.8
    Vòng quay KPT 10.20 10.41 18.0 11.21 13.23 15.65 4.3 4.3 5.01
    Vòng quay HTK 3.50 4.02 3.91 8.63 5.95 5.87 12.82 9.31 14.63

    4.3.1. Vòng quay tài sản cố định:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TSCĐ 4.42 5.71 3.04 3.51 3.87 0.94 6.82 7.02 4.03

    Nhìn chung vòng quay tài sản cố định của 3 công ty đều lớn hơn 1 qua các năm (chỉ có công ty Kinh đô có chỉ số này là 0.94 vào năm 2007), điều này có nghĩa là với cả 3 công ty thì 1 VNĐ tài sản cố định đều có thể tạo ra nhiều hơn 1 đồng doanh thu. Đây có thể coi là một điểm đặc trưng của ngành bánh kẹo, bởi vì tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ lệ thấp trên tổng tài sản và doanh thu thì luôn cao hơn rất nhiều so với tài sản cố định, tài sản cố định luôn được sử dụng với cường độ rất cao.

    4.3.2. Vòng quay tổng tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TTS 1.60 1.40 1.20 1.02 1.07 0.40 2.1 2.0 1.8

    Cũng giống như vòng quay tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản qua các năm của các doanh nghiệp đều ở mức lớn hơn 1 (duy nhất chỉ có Kinh Đô là 0.40 vào năm 2007). Có nghĩa là gần như với cả 3 doanh nghiệp thì 1 VNĐ tổng tài sản đều có thể tạo ra hơn 1 VNĐ doanh thu. Mặc dù chỉ số này của Bibica qua 3 năm đang có xu hướng giảm xuống, từ 1.6 năm 2005 giảm xuống 1.40 năm 2006 và sau đó là 1.20 năm 2007 nhưng vẫn cao hơn 1 chứng tỏ 1 VNĐ tổng tài sản của Bibica vẫn có khả năng sinh ra hơn 1 VNĐ doanh thu, so với chỉ số trung bình ngành thì năm 2007 Bibica có khả năng tạo ra doanh thu từ tổng tài sản là ngang bằng (đều ở mức 1.20). Qua đó ta có thể nhận xét rằng, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành bánh kẹo đều có  số vòng quay tài sản khá cao. Các doanh nghiệp này đều hoạt động với công suất cao và muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải đầu tư thêm vốn.

    4.3.3. Vòng quay khoản phải thu:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay KPT 10.20 10.41 18.01 11.21 13.23 15.65 4.3 4.3 5.01

    Trong 2 năm 2005 và 2006 thì vòng quay khoản phải thu của Bibica đều ở mức ngang nhau là 10.20 và 10.41 nhưng đến năm 2007 thì đã tăng vọt lên 18.01. Mặc dù khoản phải thu của Bibica tăng là không đáng kể nhưng do doanh thu bán chịu đã không ngừng tăng lên, đặc biệt là trong năm 2007 doanh thu bán chịu đã tăng 58,06% so với năm 2006 trong khi khoản phải thu lại giảm 0.09%. So sánh với con số trung bình ngành năm 2007 là 13.33 thì Bibica có vòng quay khoản phải thu cao hơn rất nhiều điều này cho thấy việc thu hồi công nợ của Bibica có hiệu quả cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành ( của Hải Hà chỉ là 5.01).

     

    4.3.4. Vòng quay hàng tồn kho:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay HTK 3.50 4.02 3.91 8.63 5.95 5.87 12.82 9.31 14.63

    Nhìn vào bảng số vòng quay hàng tồn kho trong 3 năm của 3 công ty ta có thể thấy rằng, số vòng quay hàng tồn kho của công ty Bibica luôn thấp hơn là Kinh Đô và Hải Hà, điều này cũng có nghĩa là số ngày hàng hoá được lưu kho của Bibica cũng lâu hơn. Bibica phải mất thời gian lâu hơn để tiêu thụ hàng hoá so với 2 doanh nghiệp còn lại.

    Nhìn chung qua 3 năm thì số vòng quay hàng tồn kho của Bibica không có biến động nhiều, năm 2005 là 3.50, năm 2006 tăng lên 4.02, năm 2007 lại tụt xuống 3.91. Như vậy là so với năm 2005 thì năm 2007 số vòng quay hàng tồn kho của Bibica đã tăng lên, nhưng so với năm 2006 thì lại giảm đi 0.11. Trong khi đó trong năm 2007 thì số vòng quay hàng tồn kho trung bình của ngành là 4.93, cao hơn rất nhiều so với Bibica. Vì thế mà hàng hoá của Bibica được lưu kho lâu hơn, Bibica có khả năng giải phóng hàng tồn kho chậm hơn hầu hết các doanh nghiệp cùng ngành.

    4.4. Phân tích chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROA(%) 6.90 7.90 6.67 12.65 17.60 7.86 9.40 9.00 10.10
    ROE(%) 13.42 11.10 11.35 19.20 29.16 9.80 23.30 20.60 19.90

     

    4.4.1. Tỷ suất sinh lời của tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROA(%) 6.90 7.90 6.67 12.65 17.60 7.86 9.40 9.00 10.10

    Nhìn chung thì suất sinh lời của tài sản của công ty Bibica trong 3 năm là không có những thay đổi đáng kể. Năm 2006, công ty có suất sinh lời của tài sản cao nhất là 7.90% nhưng so với Hải Hà (9.00%) là nhất là Kinh Đô (17.60%) thì vẫn còn thấp hơn rất nhiều. Đến năm 2007 thì tỷ suất này của Bibica còn giảm xuống mức 6.67%, vẫn thấp hơn so với Kinh Đô (7.86%) và Hải Hà (10.10%), trong khi đó trung bình của ngành là 14.6%. Qua đó ta thấy được rằng tỷ suất sinh lời trên tài sản của Doanh nghiệp Bibica là rất thấp so với các doanh nghiệp cùng ngành. Mặc dù số vòng quay tài sản của Bibica là tương đương với trung bình ngành nhưng tỷ suất lợi nhuận ròng của Bibica là quá thấp, tức là khả năng tạo ra 1 VNĐ của doanh thu là thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp cùng ngành. Qua đó ta có thể thấy rằng hiệu quả của việc quản lý nguồn vốn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của Bibica là kém hơn rất nhiều so với ngành.

    4.4.2. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROE(%) 13.42 11.10 11.35 19.20 29.16 9.80 23.30 20.60 19.90

    Năm 2005, sau khi chào sàn giao dịch chứng khoán Sài gòn được 4 năm ROE của Bibica là 13.42%, thấp hơn nhiều so với Kinh Đô là 19.20% và Hải Hà là 23.30%. Trong năm tiếp theo, tình hình vẫn không có gì thay đổi, ROE của Bibica vẫn ở mức rất thấp so với Kinh Đô và Hải Hà. Năm 2007, chỉ số này của Bibica có cao hơn một chút so với Kinh Đô nhưng vẫn rất thấp so với Hải Hà, cũng như là so với trung bình ngành bánh kẹo là 20.2%. Điều này có thể giải thích là bởi vì tỷ suất sinh lời của tài sản và đòn bẩy tài chính của Bibica thấp hơn các doanh nghiệp trong ngành. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của các cổ đông trong công ty vẫn chưa được hiệu quả, vì thế trong những năm tới Bibica cần có những biện pháp để khắc phục được tình trạng chỉ số ROE quá thấp so với ngành nhằm đáp ứng được kỳ vọng của các cổ đông của công ty.

    III. Kết luận:

     

    1. Kết luận:

     

    Bằng việc phân tích doanh thu, chi phí, lợi nhuận và tình hình tài chính của công ty cổ phần Bánh Kẹo Bibica, chúng ta đã thấy được toàn bọ những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty.

    1.1. Điểm mạnh:

    – Doanh thu của công ty có sự tăng trưởng tương đối nhanh trong giai đoạn 2005-2006 là do công ty chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm , tạo dựng được thương hiệu trên thị trường. Một phần nữa đó là vì công ty đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm mới vào các ngày lễ đặc biệt và quan tâm tới nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng ở mọi độ tuổi.

    – Bibica cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và đạt được hiệu quả cao khi ứng dụng có giải pháp phần mềm ERP ( phần mềm giúp hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp).

    – Công ty đầu tư ngày càng nhiều hơn vào nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc… để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

    – Trong suốt 3 năm từ 2005 đến 2007, vốn lưu động ròng của Bibica đều dương, doanh nghiệp có khả năng tài trợ tốt cho các hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như có khả năng thanh toán trong ngắn hạn

    – Việc thu hồi công nợ của Bibica có hiệu quả cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành.

    1.2. Điểm yếu:

    – Nhìn chung khả năng thanh toán của công ty là không mấy sáng sủa. Năm 2007, hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica giảm chỉ còn 1.27 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của Bibica đã giảm rõ rệt. Trong khi đó hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tức thời của Bibica cũng đều thấp hơn 1 chứng cho thấy lượng tiền mặt cũng như là các khoản tương đương tiền (có tính thanh khoản cao nhất) luôn ở mức thấp hơn nhiều so với những khoản nợ ngắn hạn và công ty gần như không đủ khả năng thanh toán trong nếu không sử dụng đến các biện pháp đi vay, bán hàng tồn kho hay đi thu các khoản phải thu.

    – Trong khi đó các khoản nợ lại chiếm một tỷ lệ cao trên tổng tài sản của Bibica , cao hơn rất nhiều so với trung bình ngành năm 2007 là 0.24 vì thế dẫn đến những rủi ro trong khả năng thanh toán trong dài hạn và thanh khoản trong ngắn hạn của Bibica là khá lớn.

    – Vòng quay hàng tồn kho thấp, hàng hoá của Bibica được lưu kho lâu hơn, so với các doanh nghiệp cùng ngành Bibica có khả năng giải phóng hàng tồn kho chậm hơn hẳn.

    – Tỷ suất sinh lời của tài sản và vốn chủ sở hữu Bibica đều thấp hơn mức chung bình ngành, tức là khả năng tạo ra 1 VNĐ của doanh thu là thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác, đông thời việc  sử dụng vốn chủ sở hữu của các cổ đông trong công ty vẫn chưa có hiệu quả.

    2. Đề xuất:

    Công ty cần cải thiện hơn nữa tình hình thanh toán và khả năng thanh toán, nhất là khả năng thanh toán bằng tiền. Để làm được điều đó công ty cần quản trị tốt tiền mặt và các khoản phải thu. Việc quản trị tốt các khoản mục này một mặt giúp công ty giảm lượng vốn bị ứ đọng, vốn bị chiếm dụng, mặt khác có thể tận dụng các khoản vốn này một cách hiệu quả hơn vào kinh doanh hoặc dùng để đáp ứng kịp thời việc thoanh toán tránh tình trạng thanh toán chậm chậm trễ.

    – Quản trị khoản phải thu:

    Để quản trị tốt các khoản phải thu công ty cần có chính sách tín dụng tốt, chính sách tín dụng liên quan đến mức độ, chất lượng và rủi ro của doanh thu. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố: tiêu chuẩn bán chịu, thời hạn bán chịu, thời hạn chiết khấu, tỷ lệ chiết khấu. Việc hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu hoặc mở rộng thời hạn bán chịu, hay tăng tỉ lệ chiết khấu đều có thể làm doanh thu và lợi nhuận tăng, đồng thời kéo theo các khoản phải thu, cùng với những chi phí đi kèm các khoản phải thu này cũng tăng và có nguy cơ phát sinh nợ khó đòi. Do đó công ty khi quyết định thay đổi một yếu tố nào cũng cần cân nhắc, so sánh giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể có được với mức rủi ro gia tăng nợ không thể thu hồi mà doanh nghiệp cần đối mặt để có thể đưa ra chính sách tín dụng phù hợp. Theo dõi các khoản phải thu thường xuyên để xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá tính hữu hiệu của các chính sách thu tiền. Nhận diện các khoản tín dụng có vấn đề và thu thập những tín hiệu để quản lý các khoản hoa hụt

    – Quản trị tiền mặt:

    Áp dụng chính sách  chiết khấu với các khoản thanh toán trước hay đúng hạn vì nợ được thanh toán tốt thì tiền đưa vào càng nhanh. Lập lịch trình luân chuyển tiền mặt để luân chuyển tiền mặt có hiệu quả giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Đầu tư các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi bằng cách mua chứng khoán ngắn hạn cho tới khi tiền được huy động vào hoạt động kinh doanh.

    Bên cạnh đố công ty cũng cần mở rộng hệ thống phân phối của mình rộng khắp cả nước. Tính đến nay Bibica mới chỉ có hơn 108 đại lý phân phối, còn rất khiêm tốn so với con số 200 đại lý của Kinh Đô. Nếu như việc cải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm giúp công ty có được niềm tin từ người tiêu dùng thì việc mở rộng đại lí sẽ tăng thị phần cho công ty. Đồng thời hiện nay, thị trường chính của Công ty là khu vực miền Nam, chiếm 70% doanh thu của Công ty. Khu vực miền Trung-Cao nguyên và khu vực miền Bắc có tỷ trọng doanh thu ngang nhau, mỗi khu vực chiếm 15% doanh thu của Công ty nên Bibica cũng cần tập trung hơn nữa để phát triển các đại lý ở khu vực miền Trung và miền Bắc, mở rộng thị trường.

     

    Tài liệu tham khảo

    1. Phân tích hoạt động kinh doanh, Nguyễn Tấn Bình, năm 2006, xuất bản lần thứ 6, Nhà xuất bản Thống kê.
    1. Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nguyễn Hải Sản, năm 2001, Nhà xuất bản Thống kê.

    Các số liệu và thông tin trên các trang web:

    http://www.chungkhoananphat.vn/congty_show.php?mnu=2&ctid=472#

    http://www.bibica.com.vn/dsp_introduction.aspx?CategoryID={0}

    http://www.kinhdofood.com/default_vn.asp

    http://www.haihaco.com.vn/

    http://www.sbsc.com.vn/viewCompare.do?symbol=BBC

    Phụ lục

     

     

    Bảng 1: Bảng phân tích biến động doanh thu năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT ST TT ST TT ST TT TL ST TT TL
    Tổng DT 287,091,873,695   343,061,150,267   456,850,115,543   55,969,276,572   19.50 113,788,965,276   33.17
    Các khoản giảm trừ 1,729,630,268 0.60 1,730,500,189 0.50 2,874,617,047 0.63 869,921 (0.10) 0.05 1,144,116,858 0.12 66.11
    DT thuần 285,362,243,427 99.40 341,330,650,078 99.50 453,975,498,496 99.37 55,968,406,651 0.10 19.61 112,644,848,418 (0.12) 33.00

     

     

     

     

    Bảng2: Bảng phân tích biến động chi phí năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT Tsf ST TT Tsf ST TT Tsf ST TL TT Tsf ST TL TT Tsf
    Doanh thu 285,362,243,427     341,330,650,078     453,975,498,496     55,968,406,651 19.61     112,644,848,418 33.00    
    Tổng CPKD 50,212,566,049   17.60 67,400,018,326   19.75 95,314,887,913   21.00 17,187,452,277 34.23   2.15 27,914,869,587 41.42   1.25
    CP bán hàng 35,855,608,472 71.41 12.56 51,307,969,400 76.12 15.03 74,254,015,306 77.90 16.36 15,452,360,928 43.10 4.72 2.47 22,946,045,906 44.72 1.78 1.32
    CP quản lí 14,356,957,577 28.59 5.03 16,092,048,926 23.88 4.71 21,060,872,607 22.10 4.64 1,735,091,349 12.09 (4.72) (0.32) 4,968,823,681 30.88 (1.78) (0.08)

     

     

    Bảng 3: Bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL ST TL
    1. DTT bán hàng và cung cấp DV 285,362,243,427 341,330,650,078 453,975,498,496 55,968,406,651 19.61 112,644,848,418 33.00
    2. GVHB 216,296,053,953 254,908,885,176 335,662,124,255 38,612,831,223 17.85 80,753,239,079 31.68
    3. LN gộp BH,cung cấp DV 69,066,489,474 86,421,764,902 118,313,374,241 17,355,275,428 25.13 31,891,609,339 36.90
    4. Tỷ lệ LNG/DTT 24.20 25.32 26.06   1.12   0.74
    5. Chi phí bán hàng 35,855,608,472 51,307,969,400 74,254,015,306 15,452,360,928 43.10 22,946,045,906 44.72
    6. Chi phí quản lý 14,356,957,577 16,062,048,926 21,060,872,607 1,705,091,349 11.88 4,998,823,681 31.12
    7. Tỷ suất phí CFBH 12.56 15.03 16.36        
    8. Tỷ suất phí CFQL 5.03 4.71 4.64        
    9. LNT hoạt động BH, cung cấp DV 15,920,722,005 24,709,616,588 33,470,431,722 8,788,894,583 55.20 8,760,815,134 35.46
    10. Tỷ lệ LNT/DTT 5.58 7.24 7.37   1.66   0.13
    11. Tỷ lệ LNT/GVĐĐ 5.97 7.67 7.77   1.69   0.10
    12. Thuế TNDN phải nộp 3,772,985,317 6,149,513,572 9,038,734,795 2,376,528,255 62.99 2,889,221,223 46.98
    13. Lợi nhuận sau thuế 12,318,116,849 19,182,513,572 24,995,221,832 6,864,396,723 55.73 5,812,708,260 30.30

     

     

    Bảng 4: Bảng phân tích biến động lợi nhuận theo kết cấu năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT ST TT ST TT ST TL TT ST TL TT
    Tổng LN trước thuế 16,091,102,166   25,331,781,740   34,033,965,627   9,240,679,574 57.43   8,702,183,887 34.35  
    LNT từ HĐ SXKD 15,920,722,005 98.94 24,709,616,588 97.54 33,470,431,722 98.34 8,788,894,583 55.20 (1.40) 8,760,815,134 35.46 0.80
    LN khác 170,380,161 1.06 622,165,152 2.46 563,533,905 1.66 451,784,991 265.16 1.40 (58,631,247) (9.42) (0.80)

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-chuy%C3%AAn-ng%C3%A0nh-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán

    TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

    KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN

    BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

    Đề tài:

    Kế toán . . . . . . . . . . . . . .

    . . . . . . . . . . . . . . . . . (*)

    Đơn vị thực tập :

    Công ty __________________

    SV (HS) thực hiện: ___________

    Lớp: ______________________

    Giáo viên hướng dẫn: Phạm Vũ Điểm

    Năm: 200x

    ________________________________________________________________________

    (*) Mẫu trang bìa, mang tính gợi ý, nhớ thay đổi tên đề tài phù hợp với đề tài đã đăng ký với giáo viên hướng dẫn.

    NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

    NHẬN XÉT CỦA GIÁOVIÊN HƯỚNG DẪN

    LỜI CẢM ƠN

    Gợi ý: Cảm ơn các thầy cô trong nhà trườ ng đã truy ền đạt kiến thức, cảm ơn Ban Giám đốc Công ty đã tiếp nhận cho em được đến thực tập , cảm ơ n các anh chị trong Phòng kế toán đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành Bản Báo cáo thực tập tốt nghiệp này, vân vân …

     

    MỤC LỤC

    Lời nói đầu Trang
     
    Phần I. Giới thiệu đơn vị thực tập
    I. Lịch sửhình thành và phát triển
    II. …
    (…)
    Phần II. Giới thiệu bộ máy kế toán của công ty …
    I. Tổ chứcbộ máy kế toán
    1. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
    2. …
    (…)
    II. …
    (…)
    Phần III. Chuyên đề Kế toán …
    A. Cơ sở lý luận
    (…)
    B. Thực tế của công tác kế toán … tại công ty ….
    (…)
    Phần IV. Nhận xét và kiến nghị
    I. Nhận xét
    II. Kiến nghị
    III. Kết luận

    LỜI NÓI ĐẦU

    Gợi ý: Nhắc qua về th ời gian được đào tạo vừa qua trong nhà trường, nay đã đế n giai đoạn hoàn t ất chương trình đào t ạo, đượ c phân công đi tham gia thực tập tại … để tìm hiểu thực tế của công tác kế toán tại các đơn vị.

    Sau đó kết hợp trình bày lý do tại sao lại chọn đề tài thực tập tốt nghiệp là …(nêu lên sự quan trọng, sự cần thiết của đề tài đó trong thực tế công tác của các đơn vị)

    Chú ý: Cho dù số liệu ghi chép trong báo cáo là số liệu thực tế do kế toán c ủa Công ty cung cấp, trong phần Lờ i nói đầu cũng vẫn nên nói rằng “ các số li ệu nêu trong Bản Báo cáo thực tập này đều là số liệu giả định để minh hoạ cho nội dung của đề tài, không phải là số liệu thực tế” (để tránh tình trạng thỉnh thoảng đã xảy ra trong quá trình thực tập t ốt nghiệ p, Bản Báo cáo thực tập sau khi làm xong, khi đưa đến Giám đốc ký tên bị Giám đốc giữ lại vì cho rằng số liệu kế toán của doanh nghiệp không được phép đưa ra bên ngoài)

    Bắt đầu đánh số 1
    thứ tự trang từ

    đây

    PHẦN I:

    GIỚI THIỆU ĐƠN VỊ THỰC TẬP

    I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Gợi ý:

    Công ty … thành lập theo Quyết định số … ngày …do … ký; từ ngày thành lập đến nay công ty đã thay đổi và phát triển như thế nào, cơ ngơi sản xuất được mở rộng đến đâu, vân vân …

    II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

    Gợi ý:

    Ghi theo nội dung của Quyết định thành lập Công ty (hay Giấy phép đăng ký kinh doanh)

    III. QUY MÔ HOẠT ĐỘNG HIỆN TẠI

    Gợi ý:

    Công ty hiện nay có bao nhiêu nhà xưởng, cửa hàng (kể ra); tổng số

    lượng lao động là bao nhiêu người (gồm bao nhiêu trực tiếp, bao nhiêu gián tiếp

    (kể ra); Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá hiện nay là bao nhiêu đồng / năm;

    mức nộp ngân sách hàng năm là bao nhiêu đồng; thị phần (hay phạm vi hoạt

    động) của công ty hiện nay bao gồm những địa phương nào, những quốc gia hay

    vùng lãnh thổ nào ? vân vân … (Có được cái gì thì ghi cái đó)

    IV. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ

    1. Sơ đồ tổ chức

    Gợi ý:

    Vẽ sơ đồ tổ chức đến các Phòng, Ban, bộ

    bộ máy quản lý của Công ty, từ Ban Giám đốc trở xuống phận trực thuộc

     

    1. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận

    Gợi ý:

    Trình bày chức năng nhiệm vụ chủ yếu của từng bộ phận được nêu tên trong s ơ đồ tổ chức nói trên (Chức năng nhiệm vụ của Ban Giám Đốc, của từng phòng, ban, bộ phận trực thuộc)

    V. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

    Gợi ý:

    Vẽ s ơ đồ quy trình công nghệ của quá trình s ản xuất chế biến c ủa công ty, nếu công ty sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau có quy trình công nghệ khác nhau thì chỉ cần nêu quy trình công nghệ của 1 loại sản phẩm chính của công ty;

    riêng trường hợp Báo cáo thự c tập chọn chuyên đề Kế toán chi phí và tính giá thành s ản phẩm thì phải nêu quy trình công nghệ của sản phẩm mà mình mô tả cách thức hạch toán chi phí và tính giá thành trong chuyên đề.

     

    2

    Giải thích bằng lời trình tự của sơ đồ công nghệ đó.

    Nếu đơn vị thực tập là tổ chức kinh doanh thương mại chỉ có ho ạt động mua, bán hàng hoá hay thực hiện dịch vụ thì không thực hiện mục này.

    VI. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY

    Gợi ý:

    Nêu lên các thuận lợi và khó khăn hiện nay c ủa công ty (có thể do các nguyên nhân: thị tr ường, giá cả, chính sách kinh tế, chính sách thuế khoá của Nhà nước, vân vân …) Sau đó nêu lên hướng khai thác thuận lợi, khắc phục khó khăn hay đề xuất Nhà nước có các biện pháp giải quyết cho công ty.

     

    3

    PHẦN II:

    GIỚI THIỆU BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA

    CÔNG TY ….

    I. HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN

    Gợi ý:

    Nêu lên bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức gì : tập trung ? phân tán ? vừa tập trung vừa phân tán ? (cần xem lại lý thuyết, bài “Tổ chức bộ máy kế toán” của môn học Kế toán tài chính, để nắm lại nhưng khái niệm này); cho biết tại sao lại biết rằng công ty đã tổ chức bộ máy kế toán theo các hình thức đó?

    Ví dụ: “Công ty t ổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung, vì toàn bộ các công việc kế toán (gồm phân loại và xử lý chứng từ, ghi sổ chi tiết, ghi sổ tổng hợ p, lập báo cáo tài chính, …) đều được thực hiện tập trung tại phòng kế toán “;

    Hay “Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức v ừa t ập trung v ừa phân tán vì toàn bộ các phần hành kế toán (t ừ xử lý chứng t ừ , ghi sổ chi tiết , ghi sổ t ổng hợ p và lập báo cáo tài chính,…) đều được giao cho các XN. A1, A2, … (là các đơn vị trực thuộc) thực hiện; còn đối với XN.A3, A4, … chỉ được giao thực hiện các công việc … (nêu tên công vi ệc) còn các công việc còn lại (nêu tên công việc) được đưa về thực hiện tại phòng kế toán chính của công ty”;

    Vân vân …

    II. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NHÂN SỰ PHÒNG KẾ TOÁN

    Gợi ý:

    Vẽ sơ đồ t ổ chức nhân sự phòng kế toán của đơn vị , từ kế toán trưởng trở xuống đến các tổ kế toán ở các đơn vị tr ực thuộc hay các nhân viên trực thuộc; Sau đó nêu (bằng lời) chức năng nhiệm vụ chủ yếu của từng tổ kế toán hay của từng nhân viên kế toán

    Nếu không có được sơ đồ tổ chức nhân sự phòng kế toán,thì đề mục II này có thể đổi là “II. Tổ chức nhân sự phòng kế toán”; sau đó nêu (bằng lời) chức năng nhiệm vụ của từng nhân viên trong phòng kế toán, ví dụ:

    “Phòng kế toán của công ty …. có tất cả … anh chị; bao gồm:

    • 1 Kế toán trưởng, phụ trách ….
    • 1 nhân viên kế toán phụ trách ….
    • 1 nhân viên kế toán phụ trách …
    • 1 Thủ quỹ phụ trách … ”

    Vân vân …

     

    4

    III. HÌNH THỨC KẾ TOÁN

    1/ Hình thức kế toán:

    Gợi ý: Cho biết hình thức kế toán đang được công ty sử dụng trong ghi

    chép kế toán là hình thức gì : Nhật ký – Sổ cái ? Chứng từ ghi sổ ? Nhật ký chung

    • Nhật ký chứng từ ? Hình thức kế toán trên máy tính ?; (cần xem lại lý thuyết đã học hoặc Sách “Chế độ Kế toán doanh nghiệp” ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính để nắm lại những hình thức này).

    Nhắc nhở: Sai lầm hay mắc phải khi làm báo cáo là nhầm lẫn giữa hình thức kế toán (còn gọi là hình thức sổ kế toán) nói ở đây và hình thức tổ chức bộ máy kế toán trình bày ở mục I ở trên.

    2/ Đặc trưng cơ bản: Cho biết đặc trưng cơ bản của hình thức đó? Ví dụ:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký – Sổ cái là “Sử dụng Sổ Nhật ký – Sổ cái làm sổ kế toán tổng hợp duy nhất để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian kết hợp với ghi chép theo tài khoản kế toán”

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Chứng từ ghi sổ là “Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được ghi nhận vào chứng từ ghi sổ trước khi sử dụng chứng từ ghi sổ làm căn cứ trực tiếp để ghi chép vào sổ tổng hợp theo trình tự thời gian và theo tài khoản kế toán theo 2 quá trình ghi chép tách rời nhau”

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký chung là “Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được tập trung phản ánh vào các sổ Nhật ký ( mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung) theo trình tự thời gian kết hợp với theo hệ thống tài khoản trước khi sử dụng số liệu từ các sổ Nhật ký này làm căn cứ trực tiếp ghi chép vào Sổ Cái.

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký chứng từ là “tập trung phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích theo các tài khoản đối ứng Nợ theo trình tự thời gian kết hợp với theo tài khoản kế toán trên các tờ sổ Nhật ký chứng từ trước khi sử dụng các tờ sổ Nhật ký chứng từ này làm căn cứ trực tiếp để ghi chép vào Sổ Cái.

    Hoặc:

    Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán đưc thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong 4 hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức đó. Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.

    (Từ nội dung các đặc trưng cơ bản này để xác định xem đơn vị sử dụng hình thức kế toán nào, và chỉ cần trình bày trong báo cáo đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán mà đơn vị đang sử dụng )

     

    5

    3/ Sơ đồ trình tự ghi chép:

    Gợi ý: Vẽ sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán đó (có đủ trong lý thuyết đã học, hoặc Sách “Chế độ Kế toán doanh nghi ệp” ban hành theo Quy ết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính); và giải thích ( bằng lời ) trình tự ghi chép của sơ đồ đó.

    Sau đó, đối chi ếu với thực tế ghi chép tại đơ n vị thực tập để nêu lên rằng thực tế giống hay khác với lý thuyết, và nếu khác thì khác ở những điểm nào ?

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái

    Chöùng töø goác

      Baûng toång hôïp     Caùc soå keá toaùn
      CTG cuøng loaïi     chi tieát
                   
             
    Nhaät Kyù – Soå Caùi     Baûng toång hôïp chi tieát  
                   

    Baûng caân ñoái soá phaùt sinh

    Baùo caùo Thueá + Baùo caùo Taøi chính

    Ghi haøng ngaøy

    Ghi vaøo cuoái thaùng

    Ghi theo ñònh kyø

    Ñoái chieáu soá lieäu vaøo cuoái thaùng

    1. Hàng ngày: (làm cái gì ?)

     

    1. Định kỳ: (làm cái gì ?)
    2. Cuối tháng: (làm cái gì ?)

     

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:

    Chöùng töø goác

    Baûng toång hôïp   Caùc soå keá toaùn
    CTG cuøng loaïi   chi tieát
         
    Soå Ñaêng kyù CTGS   Chöùng töø ghi soå
         
    Soå Caùi   Baûng toång hôïp chi tieát
         

    Baûng caân ñoái soá phaùt sinh

    Baùo caùo Thueá + Baùo caùo Taøi chính

    Ghi haøng ngaøy

    Ghi vaøo cuoái thaùng

    Ghi theo ñònh kyø

    Ñoái chieáu soá lieäu vaøo cuoái thaùng

    1. Hàng ngày: (làm cái gì ?)

     

    1. Định kỳ: (làm cái gì ?)

     

    1. Cuối tháng: (làm cái gì ?)

     

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán Nhật ký chung:

    Chöùng töø goác

    Caùc Soå Nhaät kyù ñaëc bieät   Nhaät Kyù Chung   Caùc Soå keá toaùn chi tieát
             
    Soå Caùi   Baûng toång hôïp
        chi tieát
       
         

    Baûng caân ñoái soá phaùt sinh

    Baùo caùo Thueá + Baùo caùo Taøi chính

    Ghi haøng ngaøy

    Ghi theo ñònh kyø

    Ghi vaøo cuoái thaùng

    Ñoái chieáu soá lieäu vaøo cuoái thaùng

    1. Hàng ngày: (làm cái gì ?)

     

    1. Định kỳ: (làm cái gì ?)
    2. Cuối tháng: (làm cái gì ?)

     

    Ví dụ: Sơ đồ trình tự ghi chép của hình thức kế toán trên máy vi tính:

        PHAÀN MEÀM            
              SOÅ KEÁ TOAÙN    
    Chöùng töø goác
      KEÁ TOAÙN       – Soå toång hôïp  
             
       
                – Soå chi tieát  
                     
                     

    Baùo caùo Taøi chính

    Baûng toång hôïp

    chöùng töø goác                                      MAÙY VI TÍNH

    cuøng loai

    Nhaäp soá lieäu haøng ngaøy                                   Ñoái chieáu, kieåm tra

    In soå saùch, baùo caùo vaøo cuoái thaùng, cuoái naêm

    4/ Mẫu biểu số sách sử dụng:

    Gợi ý: Minh hoạ mẫu bi ểu của các sổ sách nêu trong sơ đồ vừa v ẽ. (Các mẫu bi ểu này có đủ trong trong lý thuyết đã học, hoặc Sách “Chế độ Kế toán doanh nghiệp” ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

    Ví dụ:

    Đối với hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái thì minh hoạ mẫu Nhật ký – Sổ cái, mẫu Bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại.

    Đối với hình thức Chứng t ừ ghi sổ thì minh hoạ mẫu Chứng từ ghi sổ; mẫu Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ, và mẫu Sổ cái.

    Đối v ới hình thức Nhật ký chung thì minh hoạ mẫu sổ Nhật ký chung, các mẫu sổ Nhật ký đặc biệt được sử dụng tại đơn vị, và mẫu Sổ cái.

    Đối với hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ thì minh ho ạ các mẫu sổ Nhật ký chứng t ừ được sử dụng tại đơn vị (như Nhật ký chứng từ số 1; số 2, vân vân …), và mẫu Sổ cái.

    Đối với hình thức kế toán trên máy tính thì minh hoạ các mẫu sổ tài khoản, sổ chi tiết tài khoản do máy in ra.

    Lưu ý: Khi minh hoạ các mẫu sổ, nên trình bày làm 2 lần: 1 l ần trình bày theo mẫu in trong chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành; 1 lần trình bày theo mẫu thực tế của đơn vị (nếu photo copy được mẫu sổ thực tế của đơn vị thì càng tốt); sau đó nêu lên sự khác biệt giữa mẫu sổ theo lý thuyết và theo thực tế và có thể đưa ra nhận định riêng của bản thân về s ự khác biệt đó (hay hơn ? dở hơn ?). Trường hợp mẫu sổ theo thực tế giống như mẫu in trong sách giáo khoa thì chỉ cần minh hoạ mẫu bi ểu theo thực t ế và cho biết “mẫu biểu sổ sách trong thực tế giống như mẫu biểu sổ sách được Nhà nước quy định theo chế độ kế toán !”

    IV. PHƯƠNG TIỆN GHI CHÉP KẾ TOÁN

    Gợi ý:

    Cho biết đơn vị ghi chép kế toán bằng tay, bằng tay có kết hợp sử dụng các phần mềm ứng dụng c ủa máy tính (như Excel, Accsess) hay hoàn toàn tự động bằng các phần mềm kế toán chuyên dụng ?

    Nếu ghi chép bằng tay có kết hợp sử dụng các phần mềm ứng dụng Excel. Accsess thì nêu lên các phần mềm này hỗ trợ cho công tác kế toán trong những công việc cụ thể nào ?

    Nếu ghi chép bằng phần mềm kế toán chuyên dụng thì cho biết tên và quốc tịch của phần mềm đó ?

    V.                 CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN ÁP DỤNG TẠI ĐƠN VỊ

    • Đơn vị tiền tệ ghi sổ ? (thường là tiền Đồng Việt nam)
    • Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày ….; kết thúc vào ngày … (thường là bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 cùng năm)
    • Phương pháp kế toán tổng hợp hàng tồn kho ? (là phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ ?)
    • Phương pháp đánh giá hàng tồn kho ? (FIFO ? LIFO? Bình quân gia quyền liên hoàn ? Bình quân gia quyền cố định ?)
    • Phương pháp khấu hao tài sản cố định ? (Đường thẳng ? Số giảm

    dần? Số dư giảm dần có điều chỉnh ?Khấu hao theo sản lượng ?)

     

    PHẦN III:

    CHUYÊN ĐỀ

    KẾ TOÁN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    TẠI CÔNG TY …. (*)

    • Giáo viên hướng dẫn sẽ góp ý cụ thể về dàn bài chi tiết của phần này sau khi sinh viên đăng ký đề tài thực tập tốt nghiệp)

    (*) Nhớ thay đổi tên đề tài phù hợp với tên đề tài đã đăng ký với giáo viên hướng

     

    dẫn

     

    PHẦN IV:

    NHẬN XÉT – KIẾN NGHỊ – KẾT LUẬN

    VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN ………………………… TẠI … (*)

    I. NHẬN XÉT

    Gợi ý:

    Nêu lên các sự khác biệt giữa thực tế ghi nhận được của doanh nghiệ p (xoay quanh đề tài thực tập t ốt nghiệp, không nói lạc qua đề tài khác ) với lý thuyết đã học ở nhà tr ường ; đưa ra nhận định riêng của bản thân về sự khác biệt đó (hay hơn ? dở hơn ?), vân vân …

    II. KIẾN NGHỊ

    Gợi ý:

    Đề xuất các kiến nghị (thêm cái này ? bỏ cái kia ?) của bản thân để có thể hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tại đơn vị (chỉ xoay quanh đề tài thực t ập tốt nghiệp, không nói lạc qua đề tài khác), nêu lên lý do ra đời của các đề xuất đó.

    III. KẾT LUẬN

    Gợi ý:

    Nêu lên các vấn đề mang tính tổng kết cho toàn bộ các nội dung đã nói ở phần chuyên đề; Trình bày ngắn gọn, đi thẳng vào nội dung đề tài.

    Ví dụ: (Giả sử đề tài thực tập tốt nghiệp là “Kế toán Nguyên vật liệu và Công cụ dụng cụ” )

    “Đối với một doanh nghiệp may mà tính chất sản phẩm đòi hỏi phải sử

    dụng rất nhiều loại vật tư, phụ liệu thì việc tổ chức tốt công tác kế toán nguyên

    vật liệu là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản; thế nhưng công ty … đã làm rất

    tốt công việc này,cách thức thu thập, xử lý chứng từ kế toán cũng như cách thức

    ghi chép chi tiết và tổng hợp đã đảm bảo được yêu cầu chính xác, kịp thời và rõ

    ràng của kế toán; tuy nhiên, trong một số phần việc cụ thể thì … vân vân …”

    Lưu ý chung:

    Cần sử dụng câu chữ cho khéo léo, tế nhị, nếu nhận xét tốt về công ty thì thôi, nhưng nếu muốn nhận xét về những điều mà mình nghĩ rằng chưa tốt (về nghiệp v ụ kế toán ) thì cần trao đổi riêng với giáo viên hướng dẫn trước khi đưa vào bản báo cáo.

    ________________________________________________

    (*) Nhớ thay đổi tên đề tài phù hợp với đề tài đã đăng ký với giáo viên hướng dẫn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp – Đại Học Môn Ngữ Văn

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-Thi-T%E1%BB%91t-Nghi%E1%BB%87p-%C4%90%E1%BA%A1i-H%E1%BB%8Dc-M%C3%B4n-Ng%E1%BB%AF-V%C4%83n.pdf[/pdfviewer]

    SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG THÁP

    TRƯỜNG THPT CAO LÃNH 2

    ***

    ĐỀ CƯƠNG

    ÔN TẬP TỐT NGHIỆP THPT MÔN NGỮ VĂN

    Năm học 2010 – 2011

     

     DẠNG CÂU HỎI GIÁO KHOA: (2điểm)

                A.Văn học Việt Nam:

                1. Nêu sơ lược những nét chính về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong VHVN giai đoạn 1945-1975.

    Trả lời:

    VHVN giai đoạn 1945 – 1975 chủ yếu phản ánh đời sống của cả dân tộc trong một thời kì đầy hào hùng. Do vậy nó mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Khuynh hướng sử thi : là những bài ca ca ngợi phẩm chất anh hùng của cộng đồng, dân tộc thông qua những đại diện ưu tú nhất, tiêu biểu nhất. Nó được thể hiện qua 3 điểm:

    + Đề tài sáng tác: Đó là những vấn đề lịch sử có tính chất toàn dân tộc như đè tài kháng chiến chống xâm lược, đề tài đất nước, nhân dân.

    + Nhân vật chính, nhân vật trung tâm: Đó là nhưng con người đại diện cho phẩm chất, ý chí, lý tưởng của cả dân tộc, cộng đồng. (anh bộ đội, mẹ chiến sĩ, chị dân quân, anh công nhân,..)

     + Giọng điệu văn chương: Đó là giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng.

    – Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng thể hiện cái “tôi” đầy tình cảm, cảm xúc, hướng tới cái cao cả, lớn lao, kì diệu, đẹp đẽ khác thường của người sáng tác. Đẹp nhất là lý tưởng xây dựng cuộc sống mới, con người mới XHCN, lí tưởng anh hùng cách mạng. Trân trọng, ngưỡng mộ, ngợi ca người tốt, việc tốt là cảm hứng của hầu hết nhà văn giai đoạn này.

                2. Nêu sơ lược các đặc điểm cơ bản của VHVN giai đoạn 1945-1975.

    Trả lời:

    – Nền VH chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.

    – Nền VH hướng về đại chúng.

    – Nền VH chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

                3. Những thành tựu và hạn chế của VHVN giai đoạn 1945-1975.

    Trả lời:

    a.Thành tựu:

    – VHVN từ 1945-1975 thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử: Tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu, hi sinh của nhân dân.

    – VHVN từ 1945-1975 đã nối tiếp và phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của VH dân tộc như truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo.

    – VHVN từ 1945-1975 phát triển cân đối, toàn diện về mặt thể loại. Trong đó thơ và truyện ngắn đạt nhiều thành tựu hơn cả.

    1. Hạn chế:

    VHVN 1945-1975 còn nhiều tác phẩm miêu tả cuộc sống, con người một cách đơn giản, phiến diện; cá tính, phong cách nhà văn được phát huy mạnh mẽ; yêu cầu về phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm nhiều khi bị hạ thấp; phê bình văn học ít chú ý đến những khám phá về nghệ thuật.

    4. Nêu những nét đổi mới của VHVN từ 1975 đến hết tk XX.

    Trả lời:

    1. Đổi mới về nội dung:

    – Trước 1975 VH thiên về ngợi ca, cổ vũ, hướng tới con người đại chúng, đại diện tiêu biểu cho công đồng dân tộc.

    – Sau 1975 VH vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn, hướng tới con người cá thể. Nhân vật VH là nhưng con người đời thường được nhìn nhận ở tính nhân loại và phương diện tự nhiên, ở nhu cầu manhg tính bản năng, phương diện tâm linh. Các tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Một người Hà Nội”,.. đã đem đến cho người đọc cái nhìn mới về đời sống con người đương thời.

    1. Đổi mới về nghệ thuật:

    – Trước 1975 VH thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    – Sau 1975 VH thiên về cảm hứng thế sự, quan tâm đến con người cá thể. Vì thế bút pháp mạnh mẽ hướng nội, khai thác không gian đời tư, thời gian tâm lí. Cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy, hình thành những giọng điệu văn chương mới lạ, nhưng lối miêu tả, trần thuật mang tính khám phá. “Đàn ghita của Lorca, Ai đa đặt tên cho dòng sông?, đã đem đến những cảm nhận mới mẽ.

                5.  Người ta thường nói : Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh  là một tác giả đa phong cách. Anh (chị) nhận xét như thế noà về điều đó?

    – Đa phong cách là ộmt nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh . Người sáng tác nihều thể loại và mỗi thể loại đều tạo được những nét riêng độc đáo và hấp dẫn.

    + Văn chính luận : ngắn gọn, súc tích, lập luận chặct chẽ, bằng chứng giàu sức thuyết phục và đa dạng về bút pháp.

    + Truyện và kí : hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén.

    + Thơ : có sự hoà hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại; giữa chất trữ tình và chất thép; giữa trong sáng, giản dị và sự hàm súc, sâu sắc.

    – Lí giải: Hồ Chí Minh quan niệm văn chương là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự ngihệp cách mạng. Khi cầm bút Người bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung, hình thức của tác phẩm. Cho nên, tuỳ trường hợp cụ thể, Người đã tạo ra những tác phẩm văn chương không chỉ có nội dung tư tưởng sâu sắc mà còn có hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng, tạo nên một phong cách riêng độc đáo.

                6. Quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh .

                – HCM xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng ; nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng, góp phần đấu tranh cho sự phát triển xã hội :

    Nay ở torng thơ nên có thép

                            Nhà thơ cũng phải biết xung phong

    (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”)

    – HCM luôn chú chú trọng đến tính dân tộc và tính chân thật : Người yêu cầu người nghệ sĩ phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn những đề tài phong phú của hiện thực cách mạng.

    – Trước khi cầm bút, bao giờ Người luôn xác định đối tượng và mục đích sáng tác rồi sau đó mới lựa chọn nội dung và hình thức cho phù hợp (Viết cho ai? Viết để làm gì? Viiết cái gì? Và Viết như thế nào?).

    7. Hãy cho biết hoàn cảnh và mục đích ra đời của Tuyên ngôn độc lập.

    Trả lời:

    1. Hoàn cảnh ra đời:

    – Ngày 19.8.1945 Cách mạng tháng Tám thắng lợi ở Hà Nội. 26/8/195 Chủ tịch HCM từ chiến khu Việt Bắc về tới HN. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản TNĐL. Ngày 2/9/1945, trên quảng trường Ba Đình, HN, Người thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản TNĐL trước hàng chục vạn đồng bào.

    – HCM viết và đọc bản TNĐL khi đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta. Dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật; Quân Quốc dân đảng tiến vào từ phía Bắc; quân đội Anh tiến vào từ phía Nam; thực dân Pháp theo quân đồng minh tuyên bố : Đông Dương là đất “bảo hộ” của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương phải thuộc quyền người Pháp.

    1. Mục đích:

    – Tuyên bố với nhân dân Việt Nam và nhân dân trên thế giới về nền độc lập dân tộc mà Việt Nam vừa giành được.

    – Bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp khi chúng âm mưu trở lại tái chiếm nước ta.

    – Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

                8. Tuyên ngôn độc lập đã vạch rõ bản chất đen tối, xảo quyệt của thực dân Pháp bằng những lí lẽ và sự thật lịch sử nào?

    Trả lời:

    Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng tuyên bố là làm nhiệm vụ “bảo hộ”, “khai hóa”, nhưng thực chất chúng hành động trái với nhân đạo và chính nghĩa. Người đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta và với phe đồng minh. HCM đã tố cáo thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái gây bao nhiêu tội ác với nhân dân ta. Cụ thể: về chính trị, chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do, dân chủ nào, chúng thi hành luật pháp dã man, lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thực hiện chính sách ngu dân; về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, chúng kìm hãm các nhà tư sản dân tộc, bóc lột công nhân vô cùng tàn nhân. Chúng còn hèn nhát bán nước ta cho Nhật, khủng bố việt Minh chống Nhật.

                9. Vì sao Hồ Chí Minh lại mở đầu “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam bằng cách trích dẫn “Tuyên ngôn độc lập” của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền” của Pháp?

    Trả lời:

    HCM mở đầu bản TNĐL của VN bằng việc trích dẫn “TNĐL” của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền” của Pháp để làm căn cứ cho bản TNĐL của VN. Đó là những bản tuyên ngôn tiến bộ, được cả thế giới thừa nhận. Mặt khác, Người trích Tuyên ngôn của Mĩ là để tranh thủ sự ủng hộ của Mĩ và phe Đồng minh. Người trích Tuyên ngôn của Pháp để sau đó buộc tộ Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cước nước ta, làm trái với tinh thần tiến bộ của chính bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp.

                10. Cái tâm của Phạm Văn Đồng ở bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc”?

    Trả lời:

    Cái tâm của Phạm văn Đồng ở bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc” chính là tấm lòng, tâm huyết của một người cầm bút, một vị nguyên thủ quốc gia.

    – Phạm Văn Đồng muốn thông qua bài viết này để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ VN lúc bấy giờ. Đó là thời điểm khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mi (1963). Phong trào đấu tranh chống Mĩ nổi lên mạnh mẽ, tiêu biểu là phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre. Ngay từ đầu, tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa thời sự của việc nêu tấm gương của Nguyễn Đình Chiểu : “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu…đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc nhất là trong lúc này”.

    – Phạm Văn Đồng muốn thông qua bài viết này để tưởng nhớ và tri ân Nguyễn Đình Chiểu, một “con người quang vinh của dân tộc” nhân kỉ niệm lần thứ 75 ngày ất (3/7/1888-3/7/1963) – Có thể xem bài viết này như một nén tâm nhang được Phạm Văn Đồng thắp lên trong ngày giỗ Đồ Chiểu.

                11. Cho biết những thông tin có tính định hướng về hoàn cảnh sáng tác để học tốt bài “Tây Tiến” của Quang Dũng.

    Trả lời:

    – Tây Tiến là tên bài thơ, đồng thời là tên một đơn vị quân đội được thành lập từ đầu năm 1947, có nhiệm vụ ngược sông Mã, vượt rừng núi Tây Bắc, bắt liên lạc với bộ đội Lào để giải phóng vùng Thượng Lào.

    – Phần đông bộ đội Tây Tiến là thanh niên, học sinh, sinh viên gốc Hà Nội  mới lần đầu tiên vào bộ đội. Quang Dũng là đại đội trưởng của đơn vị Tây Tiến.

    – Đến khoảng cuối năm 1948, Quang Dũng được lệnh chuyển sang đơn vị khác, ông không nguôi nỗi nhớ và viết “Nhớ Tây Tiến”. Tựa đề bài thơ sau đó chỉ giữ lại hai từ “Tây Tiến”.

                12. Bút pháp chủ yếu của Quang Dũng ở bài “Tây Tiến” là gì? Điểm nhìn thiên nhiên và con người của tác giả ra sao?

    Trả lời:

    – Bút pháp chủ yếu của bài thơ “Tây Tiến” là bút pháp lãng mạn. Nhà thơ đã miêu tả những hình ảnh lớn lao, kỳ vĩ của núi rừng Tây Bắc, đồng thời phát hiện ra vẻ đẹp lãng mạn, nên thơ của con người miền Tây, của người lính Tây Tiến.

    – Điểm nhìn của Quang  Dũng ở bài thơ “Tây Tiến” là điểm nhìn mang tính sáng tạo nghệ thuật – Ông nhìn thiên nhiên ở nhiều điểm nhìn khác nhau, khi gần, khi xa, khi rợn ngợp (trước cái dữ dội, hoang vu), khi tình tứ (trước cái thơ mộng, gợi cảm). Ông nhìn con người khi với tinh thần chia sẻ (thấy tổn thương cả hình hài), khi với tấm lòng ngưỡng mộ (thấy trẻ trung, hào hoa).

                13. Câu thơ nào trong bài “Tây Tiến” tác giả sử dụng mĩ tự (từ ngữ đẹp)? Hiệu quả nghệ thuật của việc dùng mĩ tự ra sao?

    Trả lời:

    – Mĩ tự chính là từ áo bào”, là cách nói cho sang, cho đẹp để giảm nhẹ sự đau thương, để gia tăng sự trân trọng. Thực tế chẳng có áo bào nào cả, người lính hy sinh, thi hài được bọc trong tấm áo lính đơn sơ, chôn cất tạm bên đường hành quân, giữa rừng già.

    “Anh về đất” là cách nói tránh để chỉ sự hi sinh. Hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc giao, các anh lại về với đất mẹ, nằm trong lòng đất mẹ.

                14. Nêu hoàn cảnh sáng tác và giá trị tư tưởng của bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

    Trả lời:

    – Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, miền Bắc nước ta được giải phóng. Lịch sử đất nước bước sang trang mới. Tháng 10/195, các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    – Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm được chia làm 2 phần:

    + Phần đầu tái hiện giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người cán bộ kháng chiến.

    + Phần sau nói lên sự gắn bó giưa miền ngược với miền xuôi trong viên cảnh đất nước hòa bình và kết thúc là lời ngợi ca công ơn của Bác, của Đảng đối với dân tộc.

                15. Trong bài thơ “Việt Bắc”, Tố Hữu viết “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, anh (chị) hãy xác định :”Mười lăm năm ấy” là khoảng thời gian nào, gắn với sự kiện lịch sử nào của cách mạng Việt Nam? Cái gì “thiết tha mặn nồng”?

    Trả lời:

    – “Mười lăm năm ấy” là khoảng thời gian từ năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn, mở đầu cuộc kháng chiến chống Nhật đến năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc kháng chiến chống thực dân Pháp.

    “thiết tha mặn nồng” là cụm từ chỉ tình cảm gắn bó thủy chung giữa cán bộ chính phủ và người dân Việt Bắc trong 15 năm chung sống.

                16. Trình bày những nét chính trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

    Trả lời:

    1. Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị sâu sắc.

    – Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung.

    – Trong việc miêu tả đời sống thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi.

    – Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình, đằm thắm, chân thành.

    1. Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc rất đậm đà.

    Thể thơ: Vận dụng thành công thể thơ lục bát của dân tộc; thể thất ngôn trang trọng mà tự nhiên.

    Ngôn ngữ: dùng từ ngữ và cách nói dân gian, phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt.

                17. Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được thể hiện ở những điểm nào?

    Trả lời:

    Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được thể hiện sinh động, phong phú qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

    Về nội dung: Viết về cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì gian khổ nhưng rất đỗi anh hùng của dân tộc. Tái hiện rõ nét thiên nhiên và con người đậm đà màu sắc dân tộc. Làm rõ tình cảm giữa người cán bộ và nhân dân, một tình cảm cách mạng có tính cội nguồn là tình cảm yêu nước, ân tình, thủy chung trong truyền thống đạo lý dân tộc.

    Về nghệ thuật: sử dụng thể thơ dân tộc (lục bát). Sử dụng lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca truyền thống. sử dụng cách xưng hô quen thuộc trong ca dao “ta – mình”. Sử dụng hình thức so sánh, ẩn dụ, ước lệ, ..trong ca dao.

                18. Trong chương thơ “Đất Nước” (trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm viết “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Cho biết nét khác nhau giữa hình ảnh “gừng, muối” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và hình ảnh “gừng, muối” trong ca dao?

    Trả lời:

    – Trong ca dao, hình ảnh “muối – gừng” là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu đôi lứa mặn nồng, lâu bền :

    Muối ba năm muối dang còn mặn

    Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

    Đôi ta nghia nặng tình dày

    Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín ngàn ngày mới xa”

                Hay:

    “Tay bưng chén muối dĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

    – Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, hình ảnh “muối – gừng” là một tứ thơ thể hiện cái ý thơ ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc. Một dân tộc trọng nghĩa, trọng tình:

    “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

                – Do có sự khác nhau về ý tưởng nên giọng điệu cũng khác nhau. Giọng điệu bài ca dao là giọng điệu trao duyên, thề nguyền ngọt ngào, đằm thắm.Giọng điệu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là giọng hồi tưởng, có sắc thái trang trọng, kính ngưỡng.

                19. Đọc chương thơ “Đất Nước” (trường ca Mặt đường khát vọng) thấy vừa lạ vừa quen – xác định cái “lạ” và cái “quen” ấy trong chương thơ.

    Trả lời:

    – Quen là bởi tác giả sử dụng chất liệu văn hóa dân gian khá đậm đặc trong chương thơ. Có phong tực, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (cái giần, cái sàn, cái kèo, cái cột,..), có ca dao, truyền thuyết, cổ tích,..có khi dẫn nguyên văn, có khi chỉ gợi ra một vài chữ, một hình ảnh chi tiết (miếng trầu, cây tre,…)

    – Lạ là bởi tác giả đã biến nhưng chất liệu văn hóa dân gian thành thi liệu để tạo ra những tứ thơ mang ý tưởng khác với dân gian. Chẳng hạn, cùng là hình ảnh “muối – gừng” nhưng trong ca dao là thể hiện tình yêu đôi lứa, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm lại thể hiện đạo lí dân tộc.

                20. Dấu ấn nghệ thuật riêng trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm ở chương thơ Đất Nước (trường ca Mặt đường khát vọng) là gì? Dẫn ra hai câu thơ mang dấu ấn riêng ấy?

    Trả lời:

    – Dấu ấn nghệ thuật rõ nhất là câu thơ điệu nói. Rất nhiều câu thơ tự nhiên như lời nói cửa miệng “tóc mẹ thì bới sau đầu”, “cái kèo cái cột thành tên”. “Đất Nước có từ ngày đó”,..

    – Với câu thơ trữ tình điệu nói Nguyễn Khoa Điềm đã tìm được một lối diễn đạt rất gần gũi, quen thuộc cho người đọc. Lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân được đưa vào thơ một cách tự nhiên, hồn nhiên, không hề đẽo gọt gì cả.

                21.Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh sóng và mối quan hệ giữa hai hình tượng sóng và em trong bài thơ sóng của Xuân Quỳnh.

    Trả lời:

    – “Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân, phân thân của nhân vật trữ tình.

    – “Sóng” là “em” và “em” cũng là “Sóng”. Hai hình tượng này tuy hai mà một, có lúc tách đôi ra để soi chiếu cho nhau, có lúc lại hòa nhập vào nhau để tạo ra sự cộng hưởng. Hai hình tượng ấy đan cài, quấn quýt với nhau như hình với bóng.

    – Tác giả mượn hình ảnh “sóng” để thể hiện nhưng cảm xúc, cung bậc tình cảm của một trái tim khao khát yêu đương.

                22. Câu thơ, khổ thơ nào trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh mà anh (chị) thích nhất? Chỉ ra ý tưởng của nhà thơ ở câu thơ, đoạn thơ ấy?

    Trả lời:

    Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh có không ít nhưng câu thơ, khổ thơ người đọc thích. Bởi vì nó bất ngờ, thú vị đối với người đọc ở sự phát hiện và suy ngâm cuả tác giả về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc đời thường. Chẳng hạn:

    “Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau”

    Làm sao biết được. Vì tình yêu lạ lùng, bí ẩn vô cùng. Và bởi lạ lùng, bí ẩn nên con người mới có cái khát khao đợi chờ, tìm kiếm. Muôn đời vẫn thế.

                23. Cho biết thể thơ, nhịp điệu và âm hưởng chung của bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh?

    Trả lời:

    – Nhịp điệu bài thơ được hình thành từ khổ thơ 5 chữ với cách ngắt nhịp, hòa âm linh hoạt : khi dịu êm, khi khoan thai, khi dồn dập, dữ dội.

    – Âm hưởng bài thơ là âm hưởng của những “con sóng lòng” của tác giả được khơi dậy khi đứng trước biển. Nó triền miên, thao thức, dạt dào vỗ mãi như những con sóng biển vô hạn, vô hồi.

    24.Khổ thơ “Sóng”, Xuân Quỳnh viết:

    “Làm sao được tan ra

                                        Thành trăm con sóng nhỏ

                                        Giữa biển lớn tình yêu

                                        Để ngàn năm còn vỗ”

                Anh (chị) cho biết “Biển lớn tình yêu” mà Xuân Quỳnh nói tới trong khổ thơ là gì?

    Trả lời:

    Biển lớn tình yêu” mà Xuân Quỳnh nói tới trong khổ thơ trên đó chính là tình yêu – một tình yêu sâu rộng tựa như biển lớn, là sự trường tồn vĩnh hằng của tình yêu. Cuộc đời ngắn ngủi (hữu hạn) , mọi thứ rồi sẽ đi qua, làm sao để giữ tình yêu mãi mãi là một khát vọng rất đẹp, rất nữ tính của nữ sĩ Xuân Quỳnh.

                25. Những đặc điểm nào về thân thế sự nghiệp của Lor ca đã giúp cho anh (chị) hiểu sâu sắc về bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca”.

                – Lor- ca (1898 – 1936) là một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Từ nhỏ, ông được coi là thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực của nghệ thuật : thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu,.. Tốt nghiệp đại học Luật, ông lên thủ đô tham gia vào đời sống nghệ thuật, vừa khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật.

    Sự xuất hiện của Lorca và nhiều tài năng nghệ thuật khác cùng hoạt động nghệ thuật nhân đạo của họ lúc bấy giờ đã khiến cho đời sống tinh thần của Tây Ban Nha và cả một vùng rộng lớn thuộc khu vực Tây Âu trở nên sôi động. Đây là nguyên nhân khiến ông bị bắt và bị giết bởi chế độ phát xít Phrăng – cô. Cái chết của Lor – ca đã làm dâng lên một làn sóng mạnh mẽ trên thế giới phản đối chế độ cai trị độc tài lúc bấy giờ. Tên tuổi của ông trở thành một biểu tượng, thành nọgc cờ tập hợp các nhà văn hoá Tây Ban Nha và thế giới chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ nền văn hoá dnâ tộc và văn minh nhân loại.

                26. Trong bài “Đàn ghita của Lor-ca”, Thanh Thảo chọn một câu thơ nổi tiếng của Lor-ca để làm đề từ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”, anh (chị) hiểu Lor-ca muốn nói gì qua câu nói ấy?

    Trả lời:

    – Đây là câu thơ nổi tiếng của Lorca trong bài “Ghi nhớ” (“Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”), câu thơ được xem là lời di chúc của Lorca.

    – Lời di chúc của Lorca không đơn thuần nói lên tình yêu của Lorca đối với nghệ thuật, đối với xứ sở Tây Ban cầm. Mà sâu hơn nữa, đó còn là lời căn dặn của thiên tài đối với các thế hệ sau : Nhưng người đến sau hãy vượt qua tôi, quên tôi để bước tới. Đừng vì ngưỡng mộ tôi mà để cho cuộc cách tân nghệ thuật dừng lại.

                27. Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề của tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân.

                – HCST: Người lái đò sông Đà là kết quả của nhiều dịp đến với Tây Bắc của nhà văn, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Đây là một trong số 15 bài tuỳ bút của Nguyễn Tuân in trong tập Sông Đà xuất bản năm 1960. Lần đầu xuất bản, bài này có tên là Sông Đà, năm 1982 khi cho in lại trong tuyển tập Nguyễn Tuân, tác giả có sửa đổi tên bài thành Người lái đò sông Đà .

    Chủ đề: Qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và thơ mộng, ngưòi lái đò bình dị mà dũng cảm, tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc của Tổ quốc.

                28. Trong Người lái đò sông Đà, NT đã phát hiện ra những đặc điểm nào của sông Đà? Những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được NT vận dụng để làm nổi bật những phát hiện của mình?

                – Viết về Sông Đà, NT có nhiều phát hiện. Ông thấy mọi con sông đều chảy về phía đông, riêng con sông Đà chảy một mình lên phía bắc và hai nét nổi bật của sông Đà là hung bạo và trữ tình.

    – Dể làm nổi bật tính chất hung bạo và trữ tình của con sông, tác giả đã vận dụng kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật :

    + Nhân hoá : Đá trên thác sông Đà mai phục, hung dữ bày thạch trận để tiêu diệt bất cứ con thuyền nào dám vượt thác. Nước cũng vậy, chúng thở, kêu rống lên. Nước hùa với đá để đánh những miếng đòn “hiểm độc nhất”.

    + Nghệ thuật trùng điệp và miêu tả : thể hiệm rõ nét chất thơ mộng, trữ tình của con sông “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Con sông còn đẹp với mùa xuân nước xanh ngọc bích, mùa thu về thì nước lừ lừ chín đỏ.

    + Ngoài ra tác giả còn sử dụng nhiều cách so sánh những hình ảnh của đá, của nước, của thác với con thuyền, người lái đò, cuộc vượt thác như một trận thuỷ chiến.

                29. Nêu ngắn gọn những hiểu biết của mình về phong cách nghệ thuật và cảm hứng chủ đạo trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân.

    Trả lời:

    – Là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những câu chữ xác đáng nhất.

    – Cho thấy một diện mạo mới của Nguyễn Tuân sau cách mạng, luôn khát khao được hòa nhịp với đất nước, với cuộc đời (không giống Nguyễn Tuân trước cách mạng, con người chỉ muốn “xê dịch” cho khuây cảm giác “thiếu quê hương”.

    – Cảm hứng chủ đạo: Nhiệt tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân của một nhà văn mà trái tim đang tràn đầy niềm hứng khởi khi thấy nay mình đã có đất nước, mình đã không còn “thiếu quê hương”.

                30. Anh Chị hãy dịch nghĩa câu thơ của Nguyễn Quang Bích mà Nguyễn Tuân dẫn ra để làm đề từ cho bài kí “Người lái đò sông Đà”:

    “Chúng thủy giai đông tẩu

                                        Đà giang độc bắc lưu”

    Trả lời:

                – Câu thơ có nghĩa như sau: Mọi con sông đều chảy về hướng đông, riêng một mình sông Đà lại ngược lên phía bắc trước khi trở ra biển.

    – Chính cái nghịch dòng đó đa tạo ra nét riêng của sông Đà: lắm thác, nhiều ghềnh, đá bày thạch trận, hang động kì thú ở thượng nguồn.

                31. Phóng túng và bay bổng là một nét riêng trong cách viết của Nguyễn Tuân. Anh (chị) hãy trích dẫn một câu văn trong bài kí “Người lái đò sông Đà” nói lên nét đẹp trữ tình của con sông.

    Trả lời:

    Phóng túng và bay bổng là một nét riêng trong cách viết của Nguyễn Tuân. Trong bài tùy bút “Người lái đò sông Đà”có rất nhiều câu rất phóng túng và bay bổng. Chẳng hạn, để miêu tả nét đẹp trữ tình của con sông Nguyễn Tuân viết:

    “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

                32.Nguyễn Tuân đã phát hiện ra nhưng đặc điểm nào của sông Đà? Nhưng thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được Nguyễn Tuân vận dụng để làm nổi bật những phát hiện của mình.

    Trả lời:

    – Viết về sông Đà, Nguyễn Tuân có nhiều phát hiện. Ông thấy mọi con sông đều chảy về phía đông, riêng một mình sông Đà lại ngược lên phía bắc trước khi trở ra biển và hai nét nổi bật nhất của sông Đà là hung bạo và trữ tình.

    – Để làm nổi bật hai tính chất hung bạo và trữ tình của con sông, tác giả đã vận dụng kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật:

    + Đầu tiên, phải kể đến biện pháp nhân hóa. Đá và thác sông Đà mai phục, hung dữ bày thạch trận để tiêu diệt bất cứ con thuyền nào dám vượt thác. Nước cũng vậy, chúng thở, kêu rống lên. Nước cũng vào hùa với đá để đánh những miếng đòn “hiểm độc nhất”.

    + Tiếp theo, nghệ thuật trùng điệp và miêu tả đã giúp Nguyễn Tuân thể hiện rõ nét trữ tình, thơ mộng của con sông “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài …núi Mèo đốt nương xuân”. Con sông còn đẹp với mùa xuân nước xanh màu ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ.

    + Nhà văn còn sử dụng nhiều cách so sánh, ngôn ngữ của các ngành quân sự, điện ảnh, thủy điện,.. để miêu tả những hình ảnh của đá, của nước, của thác với con thuyền, người lái đò, cuộc vượt thác như một trận thủy chiến,…

    è Tất cả làm cho bài tùy bút sống động và hấp dẫn.

                33. Con sông Đà đã được người thời nay sử dụng làm thủy điện để phát triển kinh tế đất nước. Anh (chị) hãy viết vài dòng chia sẻ với Nguyễn Tuân để cố nhà văn thân yêu của chúng ta đỡ buồn ở thế giới thần tiên.

    Trả lời:

    Có thể viết theo ý riêng củ mình, nhưng phải thể hiện được 2 ý: thương nhớ, tiếc nuối con sông hùng vĩ, thơ mộng một thời và chia sẻ một thoáng buồn với cố nhà văn Nguyễn Tuân. Sau đây là vìa dòng mang tính gợi ý:

    “ Thưa nhà văn Nguyễn Tuân, Người tình muôn đời của sông Đà! Nhìn khói nhà máy thủy điện và nghe tiếng ầm ầm của những tuốc-bin hơi nước, tôi lại ngẩn ngơ tiếc nuối con sông Đà thơ mộng hùng vĩ của một thời….”

                34. Đa tình và mê đắm là một nét riêng trong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh (chị) hãy dẫn ra hai chỗ tác giả ví von khi tả sông Hương ở thượng nguồn và sông Hương chảy qua thành phố Huế ở bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

    Trả lời:

    Đa tình và mê đắm là một nét riêng trong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường.Ta thử lắng nghe tác giả ví von khi tả sông Hương ở thượng nguồn và sông Hương chảy qua thành phố Huế ở bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

    – “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại.(Thượng nguồn).

    “Giáp mặt thành phố ….sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ …dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu” (khi vào thành phố).

                35.  Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”của Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc giai đoạn văn học nào? Đóng góp rõ nét nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở tác phẩm này là gì?

    Trả lời:

    – Bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”của Hoàng Phủ Ngọc Tường được viết năm 1981,thuộc giai đoạn văn học từ sau 1975 đến hết thế kỉ XX.

    – Đóng góp rõ nét nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở tác phẩm này là:

    + Tạo ra một lối hành văn hướng nội, tài hoa, súc tích, mê đắm trong cách nhìn, cách cảm nhận và cách tả sự vật hiện tượng.

    + Phát huy mạnh nẽ cá tính sáng tạo riêng của người cầm bút, đem đến cho người đọc cái nhìn mới lạ về một con sông dường như đã quá quen thuộc với nhiều người.

                36. Anh (chị) hiểu như thế nào là “lối hành văn hướng nội”? Lối hành văn đó ra sao trong bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    Trả lời:

    “Nội” ở đây là “nội cảm” là cái cảm nhận riêng của người viết. “Lối hành văn hướng nội” là lối viết hướng vào cái cảm nhận riêng của từng tác giả. “Nội” còn được hiểu là cái bề sâu bên trong của sự việc, hiện tượng. Người viết cố gắng phát hiện cho ra cái bề sâu bên trong của sự việc, hiện tượng là “lối hành văn hướng nội”.

    -Ở bài kí này, HPNT đã thể hiện mội lối hành văn hướng nội rất rõ:

    + Đó là sự đào sâu “cái tôi” của nhà văn. Một “cái tôi” vừa tài hoa vừa mê đắm cái đẹp.

    + Đó là sự tìm tòi, phát hiện riêng rất sâu về sông Hương từ nhiều góc nhìn khác nhau: địa lí, lịch sử, văn hóa, …

                37. Cách tiếp cận sông Đà của Nguyễn Tuân và sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường có những điểm tương đồng và khác biệt gì? Hãy chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt đó.

    Trả lời:

    a.Giống nhau:

    – Cùng viết tùy bút về một dòng sông.

    – Huy động nhiều vốn kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa,..

    – Thể hiện rõ rệt “cái tôi” tài hoa, độc đáo.

    1. Khác nhau:
    Nguyễn Tuân với sông Đà Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương
    – Khai thác hai mặt hung bạo và trữ tình của dòng sông.

    – Qua dòng sông, ca ngợi con người lao động, chất vàng mười của vùng Tây Bắc.

    – Sử dụng các kiến thức của điện ảnh, hội họa, quân sự, thủy điện, ..

    – Khai thác các vẻ đẹp khác nhau của dòng sông.

    – Ca ngơi dòng sông, ca ngơi Huế, ca ngợi quê hương đất nước.

    – Khai thác chiều sâu lịch sử và văn hóa.

     

                38. Trình bày hoàn cảnh sáng tác của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

    Trả lời:

    Truyện Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc – tập truyện được trao giải nhất về truyện, kí – Giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Truyện Tây Bắc là kết quả của chuyến thâm nhập thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Trong chuyến đi này, Tô Hoài đã sống và gắn bó nghĩa tình với đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mông,..Và chính cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi đã khơi nguồn cảm hứng sáng tạo để Tô Hoài hoàn thành ba truyện ngắn : Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ.

                39. Tóm tắt truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

    – Hai chị em Chiến, Việt sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng và có mối thù sâu nặng với bọn Đế quốc và phong kiến.

    – Cả hai chị em cùng xin đi bộ đội để trả thù nhà nợ nước.

    – Trong một trận đánh lớn, Việt phá được một xe tăng bọc thép của Mĩ, anh bị thương và lạc đồng đội suốt ba ngày đêm.

    – Anh bị mê sảng, sau ngiều lần ngất đi rổi tỉnh lại dòng hồi ức về gia đình chợt hiện về (Chú Năm, má, chị Chiến,..).

    – Anh Tánh cùng đồng đội tìm thấy Việt và đưa về đơn vị.

    – Khi vết thương sắp lành, anh Tánh nhắc Việt viết thư cho chị Chiến.

                40. Nêu ý nghĩa nhan đề Những đứa con trong gia đình và chủ đề của thiên truyện ngắn này của Nguyễn Thi.

    Trả lời:

    1. Ý nghĩa nhan đề: Nhan đề Những đứa con trong gia đình không chỉ có giá trị thông báo về vị trí thế hệ của hai nhân vật chính mà gợi nhiều ý nghĩa:

    – Đó là những con người được nuôi dưỡng và trưởng thành trong gia đình có truyền thống tốt đẹp, đáng tự hào.

    – Họ là những con người đã tiếp nối xứng đáng truyền thống cách mạng của gia đình.

    – Khẳng định, ngợi ca mối liên kết bền chặt, thiêng liêng giữa các thế hệ trong gia đình, giữa con người với gia đình.

    1. Chủ đề: Qua hồi ức của Việt khi bị thương về những thành viên trong gia đình, tác giả ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình cũng là của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mĩ xâm lược.

                41. Nêu những đặc sắc về nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Thi trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình.

    – Về nghệ thuật tạo tình huống truyện : nhân vật Việt rơi vào một tình huống đặc biệt (trong một trận đánh bị thương nặng phải nằm lại ở chiến trường, bị lạc đồng đội, nhiều lần  ngất đi rồi tỉnh lại).

    – Về nghệ thuật trần thuật : theo cách kể tự giấu mình, nhưng cách nhìn và lời kể lại theo ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật (lời kể nửa trực tiếp).

    – Về nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật : miêu tả tâm lí nhnâ vật sắc sảo, đậm tính cách Nam Bộ.

    – Ngôn ngữ phong phú, giàu giá trị tạo hình, góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.

                42. Những người trong gia đình của Việt gắn bó với nhau như thế nào? (giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc).

    Trả lời:

    – Những người trong gia đình của Việt gắn bó với nhau bằng tình ruột thịt, nhưng còn gắn bó với nhau bởi truyền thống gia đình, bởi tình yêu nước và lòng trung thành với cách mạng.

    – Không phải ngẫu nhiên mà những thành viên trong gia đình đều có một lòng căm thù giặc sâu sắc, một quyết tâm đánh giặc cứu nước. Trong cái chung đó, mỗi người lại thể hiện tình yêu nước theo kiểu riêng của mình (Chú Năm với cuốn sổ gia phả, Việt, Chiến tranh đi bộ đội,…).

    è Một gia đình yêu thương, đùm bọc, lo lắng cho nhau, đồng thời quyết tâm theo cách mạng đến cùng.

                43. Trong Những đứa con trong gia đình, chuyện được thuật lại chủ yếu qua dòng hồi tưởng của nhân vật nào? Sự thuật lại như vậy có tác dụng thế nào với kết cấu truyện và đối với việc thể hiện các nhân vật, tình tiết.

    Trả lời:

    – Chuyện được thuật lại chủ yếu qua dòng hồi tưởng của nhân vật Việt. Lúc này Việt bị thương nặng. Dòng hồi ức của Việt đứt nối sau những lần ngất đi, tỉnh lại.

    –  Lối kết cấu dựa vào dòng hồi tưởng như thế làm cho truyện giàu cảm xúc, diễn biến linh hoạt, không phụ thuộc vào thời gian. Mỗi lần liên tưởng, một số sự kiện được chấp nối và các thành viên trong gia đình lần lượt hiện ra, được tô đậm dần dần. Đồng thời bản thân người hồi tưởng cũng dần dần thể hiện được bản lĩnh và tính cách của mình, đặc biệt là trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình.

                44. Trình bày hoàn cảnh sáng tác của Truyện ngắn Vợ nhặt.

    Trả lời:

    Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” viết ngay sau cách mạng tháng Tám nhưng bị mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại năm 1954, tác giả dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

    Truyện ngắn Vợ nhặt được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp miền Bắc năm 1945.

                45. Nêu ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt.

    Trả lời:

    Vợ nhặt : tạo được sự chú ý cho người đọc. Đây không phải là cảnh lấy vợ đàng hoàng, có ăn hỏi, cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt, mà chỉ là “nhặt được vợ”.

    -Ý nghĩa:

    + Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 (hơn 2 triệu người chết đói). Trong hoàn cảnh đói khát ấy à giá trị con người thật rẻ rúng.

    + Ca ngợi những con người nghèo khổ nhưng có tấm lòng yêu thương, đùm bọc con người.

    46. Từ những tình tiết chính và tên truyện Vợ nhặt, anh (chị) nhận xét gì về số phận người phụ nữ nông thôn trước Cách mạng qua nhân vật vợ Tràng?

    Trả lời:

    – Anh Tràng có vợ gây ngạc nhiên cho hàng xóm. Họ ngạc nhiên vì một người nghèo như Tràng bỗng nhiên có được vợ, nhất là trong hoàn cảnh nạn đói đang đe dọa đến từng kiếp người.

    – Người đàn bà nhận lời làm vợ Tràng là một người đàn bà không tên, không rõ nguồn gốc. Chị không có công ăn việc làm, ngồi vêu ở cửa nhà kho, tính khí lại cong cớn, táo bạo.

    – Chỉ gặp hai lần, chị đã không khách khí ăn liền một lúc bốn bát bánh đúc, rồi theo câu gợi ý của Tràng, chị đồng ý theo Tràng làm vợ. Đúng là anh ta đã nhặt được chị – nhặt được vợ ở ngoài chợ, như người ta nhặt được một đồ vật vô chủ rơi vãi.

    – Từ một con người chao chát, chỏng lỏn, cong cớn, chị trở nên rụt rè, hiền hậu đúng mực. Đấy là số phận bi thảm của con người trong bước đường cùng. Nhưng dù thế nào người đàn bà ấy vẫn khao khát có một gia đình.

                47. Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

    Trả lời:

    Mùa hè năm 1962 Nguyễn Trung thành trở lại chiến trường miền Nam vừa chiến đấu vừa sáng tác. Mùa hè năm 1965, đế quốc Mĩ bắt đầu đổ quân ào ạt vào chiến trường miền Nam, các chiến dịch càn quét được tổ chức quy mô và rầm rộ hơn. Trong hoàn cảnh ấy, nhà văn viết Rừng xà nu như một biểu tượng cho tinh thần bất khuất kiên cường của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

                48. Nhận xét sự tài tình của Nguyễn Trung Thành trong việc miêu tả cảnh rừng xà nu nằm trong tầm đại bác.

    Trả lời:

    – Đây là những dòng tả cảnh hiếm có, được làm nên bởi một ngòi bút biết dùng con chữ để hòa hợp các sắc màu, chạm khắc thành hình khối, tạo nên mùi hương, tạo nên ánh sáng và sức nóng,…Tác giả đã viết nhiều câu văn đẹp lạ lùng, có sức gây ấn tượng thật khó quên trong lòng người đọc; ví dụ như: “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”,  hay “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”.

    – Những câu văn như thế không chỉ góp phần đem lạo cho tác phẩm một thứ hương vị kì thú của Tây Nguyên, mà còn có khả năng làm cho chúng ta được cùng với tác giả  thấy ngây ngất khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.

                49. Các tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi đều viết về chủ đề anh hùng cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, song mỗi tác phẩm lại có những khám phá, sáng tạo riêng trong việc thể hiện chủ đề chung đó. Cho biết nét sáng tạo đó là gì?

    Trả lời:

    – “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là tác phẩm khơi gợi rõ nhất âm hưởng sử thi. Qua câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man, tác phẩm nói lên một chân lí tất yếu đối với cách mạng miền Nam lúc đó : phải lấy bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng.

    – “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi lại biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng dưới một cách tiếp cận khác – đó là cách tiếp cận truyền thống lịch sử, truyền thống từ mỗi gia đình. Khai thác truyền thống đánh giặc trong gia đình của Chiến và Việt, Nguyễn Thi đã nói lên vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng và cao cả của mỗi người, mỗi gia đình trong chiến tranh. Cuộc chiến đấu thần kì của dân tộc thắng lợi được chính là nhờ nhưng hạt nhân như thế.

    50. Nêu xuất xứ và chủ đề của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

    Trả lời:

    1. Xuất xứ: Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 là truyện ngắn in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu. Với ngôn từ dung dị, đời thường, truyện kể lại chuyế đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời.
    2. Chủ đề: Bằng tài năng của một cây bút giàu bản lĩnh, qua tác phẩm Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tình yêu tha thiết đối với những cảnh đời, thân phận trớ trêu của con người và gửi gắm chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách đơn giản, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều.

                51. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Anh (chị) hãy làm rõ điều đó.

    Trả lời:

    -Nghệ sĩ Phùng đến ven biển miền Trung chụp tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau, anh thấy cảnh đẹp như tranh vẽ. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh lại chứng kiến cảnh người chồng đánh đập vợ, những ngày tiếp theo cảnh ấy vẫn tiếp diễn. Anh nhận ra đó là nghịch lí giữa nghệ thuật với cuộc đời.

    – Tình huống truyện mang ý nghĩa sâu sắc, thấm thía, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

                 52.  Nêu xuất xứ và chủ đề của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

    Chiếc thuyền ngoài xa được Nguyễn Minh Châu sáng tác vào tháng 8 năm 1983, in trong tập truyện ngắn cùng tên, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1987.

    – Truyện kể về người đàn bà hàng chài với nhiều nỗi đau buồn qua sự chứng kiến của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng. Tác phẩm không chỉ nói lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực mà qua đó còn là sự khám phá của tác giả về con người và cuộc sống xung quanh ta.

                53. Cho biết ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

    Trả lời:

    – Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa là một ẩn dụ về mối quan giữa cuộc đời và nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không gian sinh hoạt của gia đình người đàn bà hàng chài. Ở đó, ngoài vợ chồng họ còn có cả một đàn con. Cuộc sống khó khăn đói kém, nơi ở chật chội,.. làm con người thay đổi tâm tính. Trước đây, anh là một người hiền lành, lấy chị – một người đàn bà xấu xí nhưng hết sức chăm lo cho cuộc sống gia đình; đông con, khó kiếm ăn, cuộc sống túng quẫn là nguyên  nhân làm cho người chồng trở nên cục cằn, thô lỗ và biến vợ thành đối tượng của những trận đòn. Những cảnh tượng đó, những thân phận đó nếu nhìn từ xa, ở ngoài xa thì sẽ không thấy được.

    – Nhưng cũng chính vì ở ngoài xa nên con thuyền mới đơn độc. Đó là sự đơn độc của con thuyền nghệ thuật  trên đại dương cuộc sống, đơn độc của con người trong cuộc đời. Chính sự thiếu gần gũi, chia sẻ ấy là nguyên nhân cuả bế tắc và lầm lạc. Phùng đã chụp được cảnh chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm- một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của sự toàn thiện.. Chiếc thuyền là biểu tượng cho sự toàn mĩ mà chiêm ngưỡng nó, anh thấy tâm hồn mình trong ngần. Nhưng khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh vợ của người đàn ông kia, anh đã kinh ngạc…và vứt chiếc máy ảnh xuống đất. Anh nhận ra rằng, cái đẹp ngoài xa kia cũng ẩn chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lý. Nếu ko đến gần thì chẳng bao giờ anh phát hiện ra. Xa và gần, bên ngoài và thẳm sâu…đó cũng chính là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.

                54. Hoàn cảnh ra đời của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

    Trả lời:

    Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây được nhiều tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ. Vở kịch được viết từ năm 1981, nhưng đến năm 1984 mới lần đầu ra mắt công chúng. Nhanh chóng tạo được nhiều thiện cảm với người xem, Hồn Trương Ba, da hàng thịt đã được công diễn nhiều lần trên các sân khấu trong và ngoài nước.

    Đoạn được học trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, diễn tả sự đau khổ, dằn vặt và quyết định cuối cùng vô cùng cao thượng của Hồn Trương Ba.

                55. Ý nghĩa tư tưởng của đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt. của Lưu Quang Vũ.

    Trả lời:

    Cuộc sống của con người thật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình muốn và theo đuổi còn quý giá hơn. Cuộc sống hỉ thực dự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hòa giửa tâm hồn và thể xác. Không thể đem lắp những mảng ghép khập khiễng hòng tạo nên những giá trị đích thực của cuộc sống. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

                56. Anh (chị) suy nghĩ gì về câu nói của Hồn Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn”.

    Trả lời:

    – Trương Ba ý thức rõ về cảnh ngộ trớ trêu của mình. Anh ta thấm thía nỗi đau khổ vì nhận ra tình trạng vênh lệch giữa hồn và xác. Sống trong tình trạng bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo  Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với người thân. Hồn Trương Ba không muốn sống nhờ thân xác người khác, anh muốn rời thân xác kềnh càng, thô lỗ.

    – Có lẽ Lưu Quang Vũ muốn nhắn gửi tới ta thông điệp : không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thể xác phàm tục, tội lỗi. Nếu phải sống gửi, sống nhờ, sống chắp vá thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa, và đầy tính bi hài.

                57. Trong đoạn đối thoại giữa  hồn  Trương Ba và xác hàng thịt trích cảnh VII của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt thể hiện ý nghĩa gì?

    – Với những lí lẽ đầy cám dỗ của xác hàng thịt, hồn Trương Ba đã có những lúc xao động, rồi kế đó là những nỗi dằn vặt, tean8 trở về cuộc sống ngang trái của mình. Mọi thứ như nghẹn lại, đẩy hồn Trương Ba rơi vào sự bế tắc hoặc sống mà chấp nhận sự giỡn đùa của tạo hóa hoặc chết để được là chính bản thân mình.

    – Đoạn đối thoại khẳng định ý nghĩa của sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tính cách và ngoại hình. Đây là một vấn đề có tính chất khái quát cao, bao trùm nhiều mặt của đời sống xã hội.

                58. Ý nghĩa nha đề vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

    – Nhan đề cho thấy tình cảnh trớ trêu, mâu thuẫn, đau khổ của nhân vật Trương Ba khi tâm hồn thanh cao, nhân hậu phải ẩn trong thân xác hàng thịt thô lỗ, phàm tục.

    – Đặt ra vấn đề : con người phải được sống là mình với những phẩm chất tốt đẹp, sống trong sự hài hoà giữa thể xác và tâm hồn.

                B. Văn học nước ngoài:

                1. Nêu ngắn gọn hoàn cảnh sống của nhân vật Anđrây Xô –cô- lôp (trong truyện ngắn Số phận con người) sau chiến tranh.

    Trả lời:                                                            

    – Sau chiến tranh, Xô-cô-lốp trở về với nôi đau mất mát lớn : gia đình thân yêu của anh bị chiến tranh cướp đi tất cả, anh trở nên trơ trọi, cô độc và luôn phải sống trong giày vò đau đớn về tinh thần cũng như những khó khăn về cuộc sống hiện tại (không nhà cử, không người thân thích,..)

    – Vượt lên cảnh ngộ đó, Xô-cô-lốp vẫn làm việc để kiếm sống, để vơi đi nỗi đau tinh thần và không trở thành gánh nặng cho xã hội.

                2. Nêu hoàn cảnh sáng tác và chủ đề của truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp.

    Trả lời:

    Hoàn cảnh : Truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp được công bố lần đầu trên báo sự thật, số ra ngày 31.12.1956 và 1.1.1957. Truyện có ý nghĩa khá quan trọng đối với toàn bộ sự phát triển của nền văn xuôi Xô viết suốt giai đoạn sau này. Bởi, người ta có thể tìm thấy ở tác phẩm này những tìm tòi chủ yếu của văn học Xô viết hiện đại. Đây là tác phẩm đầu tiên trong văn học Xô viết, nhà văn tập trung thể hiện hình tượng con người bất hạnh sau chiến tranh, nhìn cuộc sống và chiến tranh một cách toàn diện, chân thực. Về sau, truyện được in trong tập Truyện Sông Đông.

    – Chủ đề: Số phận con người tập trung khám phá nỗi bất hạnh của con người sau chiến tranh. Song tuy viết về nhưng đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra, tác giả vẫn giữ vững niềm tin ở tính cách Nga kiên cường cung như lòng tin ở cuộc sống bao dung.

    3. Ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp.

    Trả lời:

    1. Ý nghĩa tư tưởng:

    – Đoạn trích khẳng định sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến của nhân dân Nga nói chung trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đồng thời thể hiện lòng khâm phục và tin tưởng ở tính cách Nga kiên cường và nhân hậu, đồng cảm trước vô vàn khó khăn trở ngại mà con người phải vượt qua trên con đường vươn tới tương lai, hạnh phúc.

    – Nhân vật trung tâm của tác phẩm là một người lính dũng cảm trong chiến đấu trước kẻ thù, một người lao động có trách nhiệm cao cả và nghị lực phi thường trong cuộc sống đời thường. Đặt nhân vật vào nhiều mối quan hệ với dân tộc, nhân dân, thời đại, gia đình,.. nhà văn đã nâng nhân vật lên tầm vóc sử thi. Nhân vật chính vừa là biểu tượng  của nhân dân Nga, vừa là một số phận cá nhân với những cảnh ngộ, sự từng trải và bước đường đời rất riêng.

    1. Đặc sắc nghệ thuật:

    – Tác phẩm được kề theo ngôi thứ nhất, kết cấu theo trình tự thời gian. Số phận con người mang âm hưởng anh hùng ca về lòng dũng cảm, về tinh thần chịu đựng và sức mạnh tinh thần của con người Nga, tính cách Nga.

    – Truyện được viết theo kiểu truyện lồng trong truyện ; nhân vật tôi (tác giả) thuật lại câu chuyện anh nghe được từ Xô-cô-lốp. Tác phẩm có hai người kể chuyện : tác giả và nhân vật; nhà văn tạo được nhiều tình huống nghệ thuật đặc sắc để thử thách, khám phá chiều sâu tính cách Nga, con người Nga.

    4. Nêu nhưng hiểu biết của mình về cuộc đời nhà văn Sô-lô-khốp.

    Trả lời:

    – M. Sô-lô-khốp (1905 -1984) sinh tại một thị trấn của vùng sông Đông.

    – Là nhà văn Xô viết lỗi lạc tham gia cách mạng khá sớm.

    – Từng làm nhiều nghề để kiếm sống và luôn tự học.

    – Trong thế chiến thứ hai ông là phóng viên mặt trận, rong ruổi khắp các chiến trường và viết nhiều bài chính luận, bài kí nổi tiếng.

    – Ông được vinh dự nhận giải Nôben về văn học năm 1965.

    -Các tác phẩm tiêu biểu:

    + Số phận con người

    + Sông Đông êm đềm.

    + Đất vỡ hoang

    + Họ đã chiến đấu vì Tổ quốc,..

    – Các tác phẩm của Sô- lô – khốp phản ánh một cách toàn diện về cuộc sống và con người trong chiến tranh.

                5. Lòng nhân hậu của nhân vật Anđrây Xô –cô- lôp được thể hiện thế nào trong truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khôp.

    Trả lời:

    – Anđrây Xô-cô-lốp đau khổ vô hạn vì những mát lớn lao trong chiến tranh.

    – anh nhận bé Va-ni-a mồ côi làm con, anh yêu thương, chăm sóc chú bé như con đẻ của mình.

    – Anh giấu chưa cho chú bé biết nhiều sự thật vì không muốn chú bé buồn.

                6. Nêu những hiểu biết của mình về cuộc đời nhà văn Hê min uê.

    Trả lời:

    – Ơ nit Hê min uê (1899-1961) sinh tại bang Ilinoi trong một gia đình trí thức ở Mĩ.

    – Sau khi tốt nghiệp ông đi làm phóng viên chiến tranh. Bị thương ở chiến trường Italia, ông trở về Hoa kì.

    – Thất vọng về xã hội đương thời, tự nhận mình thuộc thế hệ mất mát, không hòa nhập được với cuộc sống đương thời và đi tìm bình yên trong men rượu và tình yêu.

    – Năm 1926 cho ra đời tiểu thuyết Mặt trời vẫn mọc và trở nên nổi tiếng.

    – Là nhà văn vĩ đại nhất của nước Mĩ thế kỉ XX. Ông khai sinh lối văn kiệm lời, kiệm cảm xúc,..(nguyên lý tảng băng trôi).

    – Dù viết về đề tài gì, ông cũng đều nhằm mục đích “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.

    – Nhận giải Nô- ben về văn học 1954.

    – 1961 nhà văn tự sát.

    – Các tác phẩm: Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, Ông già và biển cả,..

                7. Anh (chị) hiểu như thế nào về nguyên lí “tảng băng trôi” của Hê min uê?

    Thông qua hình ảnh ông già quật cường, bằng kĩ thuật điêu luyện, đã chiến thắng con cá kiếm to lớn và hung dữ trong truyện  Ông già và biển cả, nhà văn muốn gửi đến người đọc điều gì?

    Trả lời:

    “Tảng băng trôi” : dựa vào tự nhiên trong thực tế, tảng băng trên mặt nước chỉ có ba phần nổi, bảy phần chìm. Nhà văn sáng tạo theo nguyên lí đó:

    – Nhà văn nhấn mạnh vào yếu tố hàm xúc, ngụ ý trong mạch ngầm văn bản, tạo ra được ý tại ngôn ngoạivà khẳng định hiệu quả của cách viết ấy. Tác giả phải hiểu biết cặn kẽ những điều mình muốn viết, sau đó lược bỏ những chi tiết không cần thiết, giữ lại phần cốt lõi, sắp xếp lại để người đọc khi tiếp xúc với chúng vẫn có thể hiểu được những gì đã lược đi.

    – Nhiệm vụ của người đọc là phải đồng sáng tạo mới có thể hiểu được “bảy phần chìm”, những hình tượng, hình ảnh,… giàu tính tượng trưng đa tầng nghĩa; phải vận dụng kinh nghiệm và nhưng hiểu biết để lấp đầy khoảng trống mà nhà văn cố tình tạo ra trong tác phẩm.

    Thông qua hình ảnh ông già quật cường, bằng kĩ thuật điêu luyện, đã chiến thắng con cá kiếm to lớn và hung dữ trong truyện  Ông già và biển cả, nhà văn muốn gửi đến người đọc thông điệp : Hãy tin vào con người, “con người có thể bị huỷ diệt chứ không thể bị đánh bại”, “con người được sinh ra không phải dành cho thất bại”.

                8. Hãy tìm trong đoạn trích một vài câu văn có nhiều “khoảng trống” để chứng minh cho lối viết văn kiệm lời, kiệm cảm xúc của nhà văn Hê-min-uê.

    Trả lời:

                – Sau ba ngày đêm ròng rả chiến đấu với con cá kiếm trên biển, nhà văn để nhân vật thốt lên: “Ta đã di chuyển được nó”, ông lão nói. “Ta đã di chuyển được nó rồi”. Không một lời dẫn rõ ràng, khôn có một cụm từ giải thích về thái độ như mừng rỡ, phấn khởi,..Tuy nhiên, người đọc vẫn thấy được sắc thái hào hứng, sự vui mừng được toát lên từ cách nói, kết quả hành động của ông lão. Nếu cần lấp đầy khoảng trống, người đọc có thể thêm từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất,..vào câu văn đó.

    – Hay như câu độc thoại : “Con cá là vận may của ta” đã tạo khoảng trống cho độc giả. Người đọc phải hiểu được, ông lão đã 84 ngày chưa câu được một con cá nào, và mọi người xung quanh cho rằng ông lão đang bị vận đen đeo bám. Ngay cả Ma-nô-lin, cậu bé thân thiết nhất của Xanh-ti-a-gô cũng bị cha mẹ cấm không cho theo ông nữa. Nếu hiểu đầy đủ, câu văn này phải là : con cá là vận may của ta và việc ta bắt được nó đã chứng minh rằng ta đã vượt qua được vận rủi.

    9. Đoạn trích truyện Ông già và biển cả của Hê-min-uê kể lại sự việc gì? Nhân vật Xan-tia-go là người như thế nào qua sự việc ấy?

    – Sự việc : Ông lão đánh cá Xan-ti-a-go vất vả săn bắt con cá kiếm.

    – Xan-ti-a-go là một ngư phủ lành nghề, là người dũng cảm, mưu trí, kiên trì, giàu ý chí, nghị lực, giàu khát vọng,…

    10. Hình ảnh con cá kiếm trong Ông già và biển cả của Hê-min-uê gợi cho anh chị suy nghĩ gì?

    – Hình ảnh con cá kiếm trong đoạn trích được miêu tả đấy là hình ảnh đẹp, cao quý; quan hệ của của nó đối với ông lão Xa-ti-a-go cũng là một quan hệ khác thường (ông lão xem con có như một con người, thậm chí là một đối thủ hay một người bạn tâm tình).

    – Chính điều này đã gợi ra cho người đọc nhiều suy nghĩ : nó là hình ảnh của ước mơ, của lí tưởng mà mỗi con người thường theo đuổi trong đời.

    11. Cảm nhận của ông lão về con cá kiếm trong Ông già và biển cả của Hê-min-uê được miêu tả như thế nào?

    – Diễn tả sự cảm nhận của ông lão về con cá kiếm diễn ra đúng như sự việc xảy ra trong cuộc sống. Đầu tiên chỉ nhìn thấy từng bộ phận, rồi nhìn thấy toàn thể; tiếp theo cảm nhận nó bằng xúc giác, thị giác (sợi dây, những vòng lượn,..)

    – Cảm nhận về con cá kiếm càng lúc càng mãnh liệt.

    12. Trình bày ngắn gọn những hiểu biết của mình về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Lỗ Tấn.

    Trả lời:

    – Lỗ Tấn (1881 -1936) là nhà văn cách mạng Trung Quốc.

    – Xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút, có điều kiện thấy rõ những điều xấu xa, lạc hậu của chế độ phong kiến Trung Quốc, sớm có lòng yêu nước, thương dân.

    – Thời trẻ, ông đã đổi nghề nhiều lần : hàng hải, khai mỏ, nghề y, cuối cùng chuyển sang viết văn để thức tỉnh quốc dân đồng bào.

    – Tác phẩm chính : Gào thét, Bàng hoàng, AQ chính truyện, Thuốc,…

    – Làm văn nghệ, Lỗ Tấn dùng ngòi bút của mình để phanh phui căn bệnh tinh thần của người Trung Quốc, mong muốn thức tỉnh họ thoát khỏi những u mê, lạc hậu, kêu gọi nhân dân đoàn kết để đánh đổ ngoại tộc giành độc lập tự do cho dân tộc.

                13. Tóm tắt ngắn gọn truyện ngắn Thuốc.

    Trả lời:

    – Sáng sớm mùa thu, lão Hoa, chủ quán trà đến pháp trường mua thuốc chữa bệnh lao cho con. Thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du.

    – Bà Hoa cho con an chiếc bánh với niềm tin chắc chắn con sẽ khỏi bệnh.

    – Những người khách trong quán trà bàn về thuốc, về Hạ Du và cho là anh ta điên.

    – Buổi sáng thanh minh năm sau, bà Hoa và bà mẹ Hạ Du cùng đến thăm mộ con, họ đồng cảm và ngạc nhiên khi thấy vòng hoa trên mộ Hạ Du.

                14. Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Thuốc.

    Trả lời:

    – Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Trung Quốc bị các nước đế quốc xâu xé. Xã hội Trung Quốc biến thành nửa phong kiến nửa thuộc địa, thế nhưng nhân dân lại cam chịu nhục. Đó là căn bệnh đớn hèn, tự thỏa mãn, cản trở nghiêm trọng con đường giải phóng dân tộc. Thuốc ra đời đúng vào hoàn cảnh ấy như một lời cảnh tỉnh những ai còn đang ngơ ngác trước thời cuộc, chỉ ra cho họ thấy rằng Trung Quốc đang là con bệnh trầm kha, chỉ có tiêu diệt hết thứ vi rút đớn hèn mới có cơ hội cứu được con bệnh thập tử nhất sinh ấy.

    – Lỗ Tấn viết Thuốc ngày 25-4-1919 rồi đăng trên tạp chí Tân thanh niên đúng vào dịp phong trào ngũ tứ nổ ra.

                15. Thuốc là một nhan đề đa nghĩa. Anh (chị) hãy giải thích ý nghĩa nhan đề đó?

    Trả lời:

    – Trước hết nó được hiểu đúng theo nghĩa đen, ấy là thứ thuốc chữa bệnh lao cho người Trung Quốc lạc hậu, u mê. Một cách chữa bệnh đầy mê tín – lấy máu người để chữa bệnh lao. Ruốt cuộc, con bệnh vẫn chết. Chết trong cái không khí ẩm mốc hôi tanh mùi máu của nước Trung Hoa lạc hậu.

    Nhưng không chí có vậy, Thuốc còn đề cập đến một vấn đề khác sâu xa hơn và khái quát hơn, đó là sự u mê, đớn hèn, mông muội về chính trị – xã hội của quần chúng và bi kịch không được hiểu, không được ủng hộ của những người cách mạng tiên phong.

                16. Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, khách trong quán trà của lão Hoa đã bàn về những chuyện gì? Hãy cho biết điều mà nhà văn muốn nói qua truyện ấy.

    Trả lời:

    Khách trong quán trà của lão Hoa đã bàn về những chuyện:

    – Chuyện bánh bao tẩm máu tử tù.

    – Chuyện người tù họ Hạ bị chém.

    Điều nhà văn muốn nói:

    – Phản ánh và phê phán sự ngu muội, thiếu hiểu biết của người dân Trung Quốc đương thời về cách chữa bệnh lao.

    – Phản ánh và phê phán sự ngu muội, thiếu hiểu biết của người dân Trung Quốc đương thời về cách mạng.

    Chúc tất cả thành công!

  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ HỌC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-C%C6%AF%C6%A0NG-%C3%94N-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%8ACH-S%E1%BB%AC-%C4%90%E1%BA%A2NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG

    Câu hỏi 1  : Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc  trong việc chuẩn bị  về chính trị tư tưởng và tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Trả lời:

    *. Chuẩn bị về mặt tư tương chính trị:

    + tố cáo tội ác của thực dân pháp đối với nhấn dân các nước thuộc địa.

    Ngươi viết nhiều bài đăng trên các báo : “Người cùng khổ”,”đời sống công nhân”,”Nhân đạo”,tạp chí”Cộng sản”,”thư tín Quốc tế”, đặc biệt là năm 1925 Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp ”đã gây tiếng vang và ảnh hưởng lớn đến các phong trào yêu nước trong nước và các nước thuộc địa….

    Trong nội dung của các bài báo ,các tác phẩm người đều lên án chủ nghĩ thực dân , vạch trần bản chất xâm lược phản động , bóc lột ,đàn áp tàn bạo của chúng .Ngưoif tố cáo đanh thép trước thế giới và nhân dan pháp tội ác tày trời của thực dân pháp với các nước thuộc địa và thức tỉnh long yêu nước , ý chí phản kháng của các dân tộc thuộc địa.

    + Phác thảo đường nối cứu nước(thể hiện tập trung trong các tác phẩm “Đường cách mệnh”)nội dung cơ bản của tác phẩm là :

    -đi sâu vạch rõ bản chất phản đọng của chủ nghĩ thực dân.Chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa ,của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, là kẻ thù trực tiếp và nguy hại nhất của nhân dân các nước thuộc địa…

    -con đường đi lên của cách mạng việt nam là cuộc cách mang giải phóng dân tộc tiến lên làm cuộc cách mạng XHCN đi lên CNXH .Hai giai đoạn cach mạng này có quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau

    -mối quan hệ giữa cách mạng chinh quốc và cách mang thuộc địa có mối quan hệ khăng khít với nhau.Phải thực hieenj sự lien minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở thuộc địa và chính quốc.Đặc biệt người chỉ rõ cách mạng thuộc dịa có tinh chủ động , độc lập có thể dành độc lập trước cách mạng chinh quốc góp phần đẩy mạnh cách mạng chinh quốc

    -về lục lượng cách mạng: công nông là chủ ,là gốc của cách mạng còn người học trò nhà buôn nhỏ điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông.Cách mạng là việc chung của dân chúng chứ không phải là việc của một hai người

    -mục tiêu cách mạng:Quyền lực thuộc về nhan dân

    -về đoàn kết quốc tế : đặt cách mạng VN là một bộ phận của cách mạng trên thế giới, phải thực hiện sự lien minh ,đoàn kết vói các lực lượng cách mạng thế giới

    -về đảng tác phẩm nhấn mạnh các cách mạng muốn thắng lợi trước hết phải có đảng cộng sẩn lãnh đạo lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm tư tưởng và vận dụng học thuyết đó vào VN

    Đó là những hoạt động chính trị và những tư tưởng chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào VN đầu thế kỉ 20, hướng cho phong trào giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản , dẫn đên sự ra đời của đảng cộng sản VN

    */Chuẩn bị về mặt tổ chức :

    +năm 1921 NAQ cùng một số nhà cách mạng ở các nước thuộc địa Pháp lập ra hội lien hiệp các dân tộc thuộc địa ,nhăm tập hợp các lực lượng chống CN thực dân

    +nam 1924 NAQ tới Quảng Châu-Trung Quốc cugnf với nhưng nhà lãnh đạo cách mạng các nước Trung Quốc Triều Tiên,Ấn Độ,Thái Lan,Indonexia…thành lập hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á đông

    +6-1925 NAQ thành lập hội VN cách mạng thanh niên để huấn luyện cán bộ trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào phong trào công nhân , phong trào yêu nước ỏ Việt nam.Đây là tổ chức tiền thân của đảng .

    Hội Vn cách mạng thanh niên và tác phẩm “Đương cách mệnh” đã trực tiếp chuẩn bị về chính trị ,tư tưởng và tỏ chức cho việc thanh lập chính đảng vô sản ở VN dân đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở VN :

    Đông dương CS đảng (6-1929),A Nam CS đảng  (7-1929), Đông Dương CS Liên Đoàn (1-1930).Từ ngày 3-7/2/1930 hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã họp ở Cửu Long –Hương Cảng –Trung Quốc dưới sụ chủ trì của NAQ đã nhất trí thành lập đảng cộng sản VN .Hội nghị thong qua chính cương vắn tắt ,sách lược vắn tắt , điều lệ vắn tắt của đảng và lời kêu gọi của NAQ nhân dịp thành lập đảng các văn kiện quan trọng  của đảng được hội nghị thông qua cuơng lĩnh đầu tiên của đảng ta

    3.Ý nghĩa của sự ra đời của đảng

    +đảng ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của  lich sử cách mạng nước ta chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước trong những năm đầu thế kỷ 20 đồng khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân VN

    + Đảng ra đời là kết quả tất yếu khách quan phù hợp với xu thế thời đại

    +đảng ra đời là sự kiện có ý nghĩa quyết định với toàn bộ quá trình phát triển của cách mạng VN. Đây chính là điều kiện cơ bản quyết định mọi thắng lợi của cách mạng VN .

    +Đảng ra đời mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của dân tộc –thời kỳ độc lập dân tộc dân chủ gắn liền với CNXH .Đảng ra đòi trở thành  ngọn cờ đoàn kết các yếu tố giai cấp dân tộc quốc tế tạo ra sức mạnh tổng hợp của cách mạng giành thắng lợi.

     

    Câu2: Trình bày nội sung cơ bản của chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và đc hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 thông qua

     

    1.     Hoàn cảnh lịch sử

    hội nghị thành lập Đảng (từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930) họp ở bán đảo Cửu Long (Hương Cảng- Trung Quốc ). Dưới sự chủ trì cảu Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một số văn kiện quan trọng, trong đó có Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt cảu Đảng do nguyễn ái quốc khởi thảo.

    2.     nội dung cơ bản của Chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt

    Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt đã vạch ra những nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam

    Đó là:

    -chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để di tới xã hội cộng sản. đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc phạm trù cách mạng vô sản bao gồm ba nội dung gắn bó với nhau: dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

    -trong giai đoạn thực hiện chiến lược cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa, nhiệm vụ của cách mạng về các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội là:

    + về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước việt nam hoàn toàn độc lập; dựng ra Chính phủ công, nông, binh; tổ chức ra quân đội công-nông.

    + về kinh tế: thủ tiêu hết các thứ quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công, nông, binh. Thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo. Miễn thuế cho dân nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật: ngày làm 8 giờ.

    + về phương diện xã hội: dân chúng đc tự do, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa.

    -về giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng:

    3. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho đc đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giao cấp mình lãnh đạo đc dân chúng.

    -đảng phải thu phục cho đc đại đa số dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh gục bọn đại địa chủ và phong kiến.

    -đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư sản quốc gia.

    -đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức trung nông, Thanh niên, Tân việt… để kéo họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (đảng lập hiến…) thì phải đánh đổ.

    -trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thỏa hiệp

    Như vậy, lực lựợng cách mạng bao gồm các giai cấp và tầng lớp như công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc và các các nhân yêu nước thuộc tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ, trong đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng.

    Về đoàn kết quốc tế:

    Đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.

    Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã phát triển thêm một số luận điểm quan trọng trong tác phẩm Đường cách mệnh như tính chất Đảng chia ruộng đất cuả đề quốc và địa chủ, phản cách mạng cho nông dân nghèo, lợi dụng mâu thuẫn có nguyên tắc… Cương lĩnh chính trị của Đảng ra đời sau. Nghị quyết Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ XI khoảng một năm rưỡi, đồng thời đã không chịu ảnh hưởng một số quan điểm “tả” của quốc tế cộng sản.

    4.     ý nghĩa lịch sử

    Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do nguyễn ái quốc khởi thảo là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng cộng sản viêt nam, đó là một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới. Độc lập, tự do gắn liền với định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội là tư tương cốt lõi của Cương lĩnh này.

    Câu 3: Phân tích ND chủ trương điều chỉnh chiến lược Cách mạng của ĐCS Đông Dương khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ.

    Hoàn cảnh lịch sử :

    Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1923 đã đẩy mâu thuẫn vôn có của chủ nghĩa TB lên cao và sâu sắc .Chủ nghĩa phát xít ra đời và thống trị ở Đức Ý Nhật, nó xóa bỏ mọi quyền tự do dân chủ, tiến hành khủng bố khơi ngòi chiến tranh thế giới. Chủ nghĩa phát xít trở thành thảm họa cho nhân loại .

    Yêu cầu bức thiết của nhân loại là chống phát xít, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình.

    Tháng 7-1935 quốc tế cộng sản tiến hành đại hội lần thứ 7 tại Matcova,đại hội phân tích âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ phát xít đối với cách mạng thế giới vạch rõ kẻ thù của nhân dân thế giới lúc này không phải chủ nghĩa đế quốc hay chủ nghĩa tư bản nói chung mà là chủ nghĩa phát xít

    Nhiệm vụ trước mắt của công nhân quốc tế là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh đế quốc giành dân chủ hòa bình, bảo vệ Liên Xô để thực hiện nhiệm vụ trên giai cấp công nhân quốc tế phải thống nhất hành động phải thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít, đối với các nước nửa thuộc địa vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc có tầm quan trọng đặc biệt.

    *Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của đảng CSĐôngDương

    Những biến đổi của tình hình trong nước đặt đảng cộng sản đông dương trước yêu cầu mới tháng 7 năm 1936 hội nghị ban chấp hành trung ương đảng họp tại Thượng Hải, Trung Quốc do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì.

    Căn cứ vào tình hình thế giới, trong nước, nắm vững tư tưởng chỉ đạo của quốc tế Cộng Sản, hội nghị đã kịp thời chuyển hướng  chỉ đạo chiến lược .

    Hội nghị khẳng định : Chống đế quốc , chống phong kiến , giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày là mục tiêu không thay đổi. Song mục tiêu, nhiệm vụ trực tiếp trước mắt là đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, chống phát xit và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ cơm áo hòa bình .

    Hội nghị quyết định thành lập mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương bao gồm các giai cấp, các lực lượng cách mạng, các đảng phái, các xu hướng chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đấu tranh đòi những điều dân chủ đơn sơ.

    Trong khi nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng: Đề cao hoạt động bí mật của Đảng; thu nạp Đảng viên và củng cố hàng ngũ của đảng.

    Hội nghị chủ trương thay đổi hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh, tận dụng điều kiện hợp pháp công khai, nửa hợp pháp nửa công khai để tổ chức và hoạt động.

    Hội nghị đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng ta giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu cụ thể, trước mắt, mối quan hệ giữa củng cố khối liên minh công nông và mở rộng mặt trận giữa cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới.

    Thực hiện chủ trương, chính sách mới, Đảng đã nhanh chóng phát động được một phong trào cách mạng sôi nổi, thu nhiều thắng lợi có ý nghĩa to lớn. Thành quả nổi bật nhất là đã xây dựng được đội quân chính trị của hàng triệu quần chúng trong cao trào cách mạng 1936-1939, tạo nền tảng cho thắng lợi tiếp theo .

    Câu 4: Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám 1945.

    Trả lời:

    1.     nguyên nhân thắng lợi.

    Thắng lợi của cách mạng tháng tám là kết quả tổng hợp của những nhân tố bên trong và nhân tố bên ngòai, là kết quả sự lãnh đạo đúng đắn của đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh kết hợp với trí sáng tạo, tinh thần dũng cảm và sức mạnh đầu tranh của nhân dân ta, là kết quả cảu ba cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945; sự lãnh đạo cuả đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng tháng 8.

    -thắng lợi của cách mạng t8 là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc, phải thực hiện từng bước với khẩu hiệu thích hợp, sự chỉ đạo chiến lược tài tình cuả đảng đánh dấu bước trưởng thành của đảng ta.

    -Thắng lợi cảu cmt8 chủ yếu và trước hết là thắng lợi cuả đaọ quân chủ lực cách mạng là công nhân và nông dân- thành phần chiếm số đông nhất của dân tộc, lực lượng hăng hái và triệt để nhất có tác dụng quyết định, thành công của cmt8. cmt8 là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân trong cả nước.

    -Thắng lợi của cmt8 còn là thắng lợi của chủ trương lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền, các hạng tay sai của Pháp và của Nhật.

    -Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cm một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dan.

    -Thắg lợi của cmt8 là thắng lợi cuả nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ.

    -Thắng lợi của cmt8 là thắng lợi của việc xây dựng một đảng Mac-Lenin có đường lối đúng đắn, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho tổ chức đảng có chất lượng cao, tinh gọn, trong sạch, vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng.

    2.Ý nghĩa lịch sử

    -Cmt8 là bước nhảy vọt vĩ đại  đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử tiến hóa của dân tộc ta. Nó đập tan sự thống trị của thực dân trong 87 năm, kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.

    -Cmt8 năm 1945 thắng lợi là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ người nô lệ trỏ thành ng` chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nứơc độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

    -Cmt8 thắng lợi đã sáng tạo ra những kinh nghiệm lịch sử góp phần xây dựng kho tàng lý luận về Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp, chống Mỹ.

    -Cmt8 đã chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đề quốc, mở ra thời kỳ suy sụp, tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới.

    +  Nói về ý nghĩa lịch sử vĩ đại của CMT8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo CM thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

    2.Bài học kinh nghiệm

    Kinh nghiệm của CMT8 rất phong phú, dưới đây là một số bài học chủ yêu:

    -giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc, phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp.

    -xây dựng khối liên minh công-nông-trí thức vững chắc làm cơ sở để xây dựng và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, đã tạo ra sức mạnh áp đảo, tòan dân nổi dậy trong  CMT8, làm tê liệt sức đề kháng của kẻ thù

    -lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phát xít, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền và các hàng ngũ tay sai của Pháp và của Nhật. Kết quả của việc lợi dụng đó đã làm cô lập cao độ được bọn đế quốc phát xít và bọn tay sai phản động, tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng, làm cho cách mạng có thêm lực lượng dự bị hùng hậu đông đảo, làm cho CMT8 giành thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu, giảm bớt được những trở ngại hy sinh ko cần thiết.

    -Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của dân, do dân và vì dân.

    Ngay từ khi ra đời , Đảng đã khẳng định con đường duy nhất để đánh đổ chính quyền của đế quốc và phong kiến là con đường bạo lực cách mạng. Bạo lực của CMT8 được sử dụng một cách thích hợp ở chỗ: kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị với lực lương vũ trang, kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn lẫn thành thị, trong đó đòn quyết định là các cuộc nổi dậy ở Hà Nội, Huế, và Sài Gòn: kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ một vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, dần dần làm biến đổi lực lượng so sánh giữa ta và địch, tạo ra ưu thế áp đảo, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị.

    -Nắm thời cơ, chớp đúng thời cơ được coi là nghệ thuật lãnh đạo CMT8, dự đoán thời cơ đúng, xây dựng lực lượng có hiệu quả, hành động mau lẹ kịp thời, kiên quyết và khôn khéo khi thời cơ xuất hiện

    xây dựng đảng Mác_lênin vững mạnh, thống nhất ý chí hành động, trung thành vô hạn với dân tộc và giai cấp.

    Câu 5:Trình bày nội dung cơ bản của đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2-1951) của Đảng Lao Động Việt Nam đã xác định.

    Trả Lời:

    Hoàn cảnh lịch sử:       (thêm vào cho chắc)

    a)Hoàn cảnh thế giới:

    Sự ra đời cảu các nước xã hội chủ nghĩa chiếm 1/3 dân số và 1/4 đất đai trên thế giới đã tạo ra một thế rất vững chắc, một lực lượng hùng hậu, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của cách mạng nước ta.

    b)Tình hình trong nước:

    Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp và can thiệp Mỹ giành những thắng lợi vang dội… Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến đặt ra cho Đảng ta nhiều nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi Đảng trở lại hoạt động công khai để đẩy cuộc kháng chiến mau đến thắng lợi.

    Trong bối cảnh lịch sử đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng Sản Đông Dương được triệu tập. Đại hội được tổ chức tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến 19-2-1951. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho 766.349 đảng viên.

    Nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam:

    -Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã quyết định tách ba đảng bộ Đảng Cộng sản ở ba nược Việt Nam, Lòa và Campuchia để lập ra ở mỗi nuốc một đảng cách mạng riêng, có cương lĩnh  đường lối cách mạng riêng thích hợp với đặc điểm phát triển của từng dân tộc.

    -Xác định đối tượng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọ can thiệp Mỹ, bọn phong kiến phản động. Kẻ thù chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược.

    -Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân đân, tạo cơ sở cho chủ nghía xã hội.

    -Ba nhiệm vụ trên có quan hệ khăng khít với nhau, song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc. Lúc này phải tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

    -Động lực của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức, tiểu tư sản dân tộc, nhân sĩ yêu nước tiến bộ. Nền tảng là khối liên minh công nông và lao động trí thức. Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp nông dân.

    -Giải quyết những nhiệm vụ cơ bản và sắp xếp lực lượng cách mạng như trên, cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đân chủ nhân dân. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân,  thông qua Đảng Lao động Việt Nam, nhất định sẽ tiên lên chủ nghĩa xã hội.

    -Cùng với các văn kiện đã thông qua tại Đại hội, “Chính cương Đảng Lao động Việt Nam” thể hiện sự hoàn chỉnh thêm một bước đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được vạch ra trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng, đường lối đó soi đường dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

     

    Câu 6:Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm của kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1946-1954).

    Trả Lời:

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1944-1954) là cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến đó vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

    Ý nghĩa lịch sử:

    -Thắng lợi của cuộc kháng chiến bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám 1945, chấm dứt ách thống trị của bọn thực dân Pháp trong gần một thế kỷ trên đất nước ta, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, hoàn thành cách mang dân tộc dân chủ nhân dân trên một nửa đất nước. Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà.

    -Thắng lợi đố đã cổ vũ mạng mẽ các dân tộc bị nô dịch vùng lên chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, vì độc lập tự do và dân chủ tiến bộ, báo hiệu một thời kỳ sụp đổ từng mảng của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào tiến trình phát triển của cách mạng thế giới.

    Nguyên nhân thắng lợi:

    Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ giành được thắng lợi là do các nhân tố cơ bản sau:

    -Có sự lãnh đạo của Đảng với đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, có khối đoàn kết nhất trí của toàn dân, có mói liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng. Các đảng viên của Đảng đã xung phong gương mẫu, dũng cảm đi đầu trong cuộc kháng chiến.

    -Có sự đoàn kết chiến đâu toàn dân được tổ chức, tập hợp trong Mặt trận dân tộc rộng rãi – Mặt trận Liên – Việt, dựa trên nền tảng của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức.

    -Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây chính là lực lượng trực tiếp đóng vai trò quyết định tiêu diệt địch trên chiến trường.

    -Chúng ta có chính quyền dân chủ nhân dân, một chính quyền của dân, do dân, vì dân. Đây là một công cụ sắc bén của Đảng để tổ chức toàn dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới.

    -Có hậu phương ngày càng mở rộng và củng cố về mọi mặt, bảo đảm chi viện ngày càng nhiều sức người, sứa của cho mặt trận.

    -Có sự liên minh chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam – Lào – Campuchia chống kẻ thù chung và được sự đồng tình ủng hộ của các nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức và các lực lượng hòa bình tiến bộ trên thế giới.

    Những bài học kinh nghiệm;

    -Kết hợp đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Nhiệm vụ chống phong kiến phải tiến hành có kế hoạch, từng bước để vừa phát triển lực lượng cách mạng, vừa giữ vững khối đoàn kết dân tộc.

    -Xác định và quán triệt đường lối chiến trang nhân dân: toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính. Đây là bí quyết thắng lợi của cuộc kháng chiến.

    -Vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu phương vững mạng để đẩy mạnh kháng chiến.

    -Kiên quyết kháng chiến lâu dài, đi từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy. Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích.

    -Xây dựng Đảng vững mạnh và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, có chủ trương và chính sách kháng chiến ngày càng hoàn chỉnh, có ý chí quyết chiến và quyết thắng kẻ thù. Có đội ngũ đảng viên dũng cảm, kiên cường, là những chiến sĩ tiên phong trong chiến đấu và trong sản xuất.

    Câu 7. Phân tích vị trí và mối quan hệ giữa 2 chiến lược Cách mạng do Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐHĐBTQ) lần thứ III của Đảng Lao động VN đề ra.

     

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960. Trên cơ sở phân tích tình hình của nước ta, Đại hội xác định hai nhiệm vụ của cách mạng VN trong giai đoạn mới:

    Một là, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc

    Hai là, tiến hành CM DTDC nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

    Cách mạng miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước.

    Đại hội còn xác định, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi miền. Cách mạng XHCN ở miền Vắc giữ vai trò quyết định nhất đối cới dự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bẽ lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cáhc mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

    – Trong 2 chiến lược CM đó, mỗi chiến lược có vị trí quyết định của nó và nhằm giải quyết yêu cầu riêng của từng miền và có liên quan chặt chẽ với nhau.

    – Cuộc CM XHCN ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của CM cả nước và sự nghiệp thống nhất đất nước.

    – Cuộc CM ở miền Nam: có vị trí quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng ở miền Nam thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành CM dân tộc dân chủ trong cả nước.

    – Vì đều là trong một nước nên 2 nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau, tác động nhau cùng nhau phát triển và có một mục tiêu chung trước mắt là hòa bình đất nước.

    – Đây là cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ nhằm chống đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam. Ta kiên trì đấu tranh giữ vững đường lối thống nhất hòa bình nước nhà, nhưng đồng thời đề cao cảnh giác sẵn sàng đối phó nếu đế quốc Mỹ gây ra chiến tranh xâm lược ở miền Bắc thì nhân dân cả nước quyết tâm đánh bại chúng để hoàn thành độc lập và thống nhất đất nước.

    (Đường lối này được Đại hội lần thứ III của Đảng thông qua). Đường lối đó chính là ngọn cờ dẫn đến thắng lợi rực rỡ của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

    Cau 8.Phân tích ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

    a/ Ý nghĩa:

    Đánh giá thắng lợi lịch sử của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thúe IV của Đảng đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lọi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”

    Với thắng lợi này nhân dân ta đã quét sạch bọn đế quốc xâm lược, chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thể kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta. Cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ nhân dân đã hoàn thành trên phạm vi cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn dân tộc Việt Nam: Kỷ nguyên cả nước hòa bình độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

     

    b/ Nguyên nhân:

    – Do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng Sản Việt Nam người đại diện trung thành với lợi ích sống còn của dân tộc…

    – Thắng lợi đó là kết quả của cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của quân đội và nhân dân cả nước, đặc biệt là của các bộ, chiến sĩ và gành trục triệu đồng bào yêu nước

    – Miền Nam: Ngày đêm đối mặt với quân thù, chiến đấu sáng tạo, dũng cảm, hy sinh vô điều kiện…

    – Thắng lợi đó cũng là kết quả của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa chiến đấu  vừa xây dựng, hết lòng, hết sức chi viện cho miền Nam.

    – Thắng lợi đó còn là kết quả của tình thân đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam – Lào, Campuchia và kết quả của sự ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

    1. Bài học kinh nghiệm

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm đã để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị lịch sử và thực tiễn sâu sắc.

    Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhầm huy động sức mạnh của toàn dân đánh thắng Mỹ, cả nước đánh Mỹ.

    Hai là Đảng đã tìm ra được phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo.

    Ba là sự chỉ huy chiến lược đúng đắn của Trung ương Đảng và công tác tổ chức chiến đấu tài giỏi của Đảng qua các cấp chỉ huy Quân đội.

    Bốn là, Đảng ta hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng ở miền Nam và tổ chức xây dựng lực lượng chiến đẩu trong cả nước.

    Cau 9.Trình bày hoàn cảnh lịch sử và nội dung cơ bản đường lối đổi mới do ĐHĐBTQ lần thứ VI của ĐCSVN đề ra. Ý nghĩa lịch sử của Đại hội VI.

    Đại hội họp từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 tại Hà Nội. Dự đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho 1,9 triệu Đảng Viên cả nước và 32 đoàn đại biểu của các Đảng và các tổ chức quốc tế.

    Đại hội diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá–lương–tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế nước ta càng trở lên khó khăn. Chúng ta không thực hiện được mục điều đề ra là ổn định tình hình kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn, nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

    Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy phải có đổi mới tư duy.

    Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới:

    -Báo cáo chính trị của đại hội VI đã xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những chặng đường còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những chặng đường tiếp theo.

    -Mục tiêu cụ thể về kinh tế- xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:

    + Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.

    +Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất.

    -+Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    +Tao ra chuyển biến tổ về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước.

    +Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh

    Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế – xã hội và đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế.  Coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, đổi mới chế độ quản lý kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạnh  toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phát huy động lực của khoa học kỹ thuật, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

    Đại hội nhấn mạnh phải tập trung sức lực vào vuệc thực hiện được 3 mục tiêu:1. Lương thực – thực phẩm, 2. Hàng tiêu dùng, 3. Hàng xuất khẩu.

    Nhiệm vụ của chính sách đối ngoại nhằm góp phần giữ vững hòa bình ở Đông Dương

    10.Trình bày những đặc trưng, phương hướng cơ bản của CNXH do ĐHĐBTQ lần thứ VII của ĐCSVN đề ra.

    Cương lĩnh đã trình bày quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội.

    – Do nhân dân lao động làm chủ. Tất cả mọi công dân đúng độ tuổi quy định, không bị những hạn chế do nhà nước quy định đều có quyền tham gia bầu cử.

    – Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

    – Có nền Văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    – Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm  no hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

    – Dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển. Không phân biệt sắc tộc.

    – Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt đường lối chính trị trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau.

    Cương lĩnh đã vạch ra 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng bảo vệ tổ quốc:

    1)Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dâm và vì nhân dân.

    2)Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo hướng hiện đại, phát triển một nền nông nghiệp hiện đại

    3)Thiết lập quan hệ sản xuất từ thấp đến cao, đa dạng về hình thức sở hữu và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

    4)Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa.

    5)Thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc

    6)Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam.

    7)Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

    Cương lĩnh đã nêu những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại.

    Về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảnh, cương lĩnh nêu rõ:

    -Toàn bộ tổ chức và các hoạt động của hệ thống chính trị nước Việt Nam trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

    -Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận và là tổ chức lãnh đạo hệ thống đó. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động của cả dân tộc.

    Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2001 ghi rõ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội  theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa áp bức, bóc lột, bất công.

    Mục tiêu tổng quát đến năm 2000 là ra khỏi khủng hoảng , ổn định tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

     

    Câu 11 :Đại hội VIII của ĐCSVN đánh giá thành tựu đạt được sau 10 năm đổi mới ? Nguyên nhân của những thành tựu ?

    1.Hoàn cảnh lịch sử :

    Muốn đánh giá đúng kết quả 10 năm,thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, trước hết phải nhận rõ thực trạng  tình hình đất nước khi chúng ta bước vào đổi mới. Đại hội VIII chỉ rõ:

    “Mười năm trước, khi Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nước ta đang trong tình hình trầm trọng nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội : sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt…..

    Đến năm 1991, “Sau gần 5 năm phấn đấu gian khổ, kiên cường thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi bước đầu rất quan trọng cả về kinh tế, xã hội, chính trị, đối nội và đối ngoại…Song thành tựu đổi mới còn hạn chế. Tăng cường kinh tế còn chậm, lạm phát còn cao…

    Đường lối đổi mới do Đại Hội VI đề ra được Đại Hội VII bổ sung và phát triển, thể hiện ở Cương lĩnh, Chiến lược và Báo cáo Chính trị mà Đại Hội VII thông qua.

    Sau Đại Hội VII, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, những thử thách đối với chúng ta càng thêm gay gắt. Trong tình hình đó, Đảng và nhân dân ta đã thể hiện trí tuệ và bản lĩnh cách mạng của mình, vượt qua thử thách, đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến lên.

    Xem xét toàn bộ việc thực hiện quá trình đổi mới, Đại hội VII đã đi đến đánh giá tổng quát:

       2. Thành tựu và yếu kém

    a)Thành tựu

    Công cuộc đổi mới 10 năm (từ 1986-1996) đã thu được những thành tựu to lớn:

    -Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế,hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm.

    +Trong 5 năm 1991-1995,nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5%-6,5%) về sản xuất công nghiệp là 13,3%, sản xuất nông nghiệp 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20%.

    +Cơ cấu kinh tế có bước chuyển đổi: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990 lên 29,1% năm 1996, dịch vụ từ 38,6% lên 41,9%

    +Bước đầu  có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế.Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP,năm 1995 là 27,4% (trong đó nguồn đầu tư trong nước chiếm 16,7%GDP)

    +Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7%năm 1995.

    +Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cua Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng.

    -Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội:

    +Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện.

    +Mỗi năm thêm hơn 1 triệu lao động có việc làm. Nhiều nhà ở và đường giao thông được nâng cấp và xây dựng mới ở cả nông thôn và thành thị.

    +Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được tăng lên.

    -Giữ vững ổn định chính trị,củng cố quốc phòng an ninh,tạo lập môi trường hoà bình và điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới.

    -Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị.

    +Trên cơ cở Cương lĩnh,đã từng bước cụ thể hoá đường lối đổi mới trên các lĩnh vực, củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội.

    +Đã ban hành Hiến pháp mới 1992 và nhiều văn bản pháp luật khác.

    +Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước.

    +Từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động cuả Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hoá.

    -Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.

    Đến năm 1996,nước ta đã có quan hệ ngoại giao với trên 160 nước.

    b)Yếu kém

    Trong khi đánh giá đúng thành tựu,chúng ta cũng cần thấy những khuyết điểm và yếu kém.

    -Nước ta còn nghèo và kém phát triển.

    -Tình hình xã hội còn nhiều vấn đề phải giải quyết

    -Việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng.

        3.Đánh giá tổng quát

    Từ những thành tựu và yếu kém nói trên, Đại Hội đại biểu toàn quốc làn thứ VIII của Đảng đã đánh giá tổng quát:

    -Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội.

    -Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời ký quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại đất nước.

    -Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.

    -Xét trên tổng thể,việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản đúng đắn,đúng định hướng xã hội chủ nghĩa,tuy trong quá trình thực hiện có một số khuyết điểm,lệch lạc lớn và kéo dài dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác,ở mức độ này hay mức độ khác.

      4.Nguyên nhân của những thành tựu

    Nhứng thành tựu đạt được trên đây là kết quả của một quá trình tìm tòi, đổi mới, bám sát thực tiễn, phấn đấu gian khổ của Đảng và nhân dân ta.

    Với đường lối đổi mới toàn diện Đại hội VI, đã phát huy tinh thần dân tộc, tự chủ, tổng kết những kinh nghiệm sáng tạo của nhân dân, của các cấp, các ngành, hợp quy luật, thuận lòng người dân nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống.

    Trong quá trình đổi mới,đặc biệt là vào những thời điểm có tính bước ngoặt, Đảng ta có những quyết sách rất quan trọng. Đó là những kết luận kịp thời của Hội nghị Trung ương 6(khoá VI)

    Khẳng định 5 nguyên tắc của công cuộc đổi mới ,kiên quyết bác bỏ mầm mống đa nguyên chính trị,đa đảng đối lập, chỉ rõ thời cơ và nguy cơ, xác định nhiệm vụ đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nhiều nghị quyết, quyết định lớn khác của Đảng và Nhà nước đã cụ thể hoá, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới trên hầu hết các lĩnh vực. Với những quyết định đúng đắn ấy, toàn Đảng, toàn dân đã vượt qua khó khăn trở ngại, đưa công cuộc đổi mới đến thắng lợi và đạt được những thành tựu như hôm nay.

    Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện trong đấu tranh giành chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhận thức về sự chỉ đạo chiến lược đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc lên hàng đầu và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất sẽ được thực hiện từng bước. Bởi vì chưa giành được độc lập dân tộc thì chưa có điều kiện, giải quyết đầy đủ các vấn đề khác như vấn đề ruộng đất, nâng cao dân trí…

    -Chủ nghĩa yêu nước là một động lực mạnh của đất nước cần phải triệt để phát huy.

    -Khi chưa cải cách ruộng đất,chỉ với khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản quốc chia cho nông dân nghèo, giảm tô, giảm tức cũng đủ lôi cuốn đông đảo nông dân tham gia cách mạng. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nông dân được hưởng nhiều quyền lợi to tát như đánh đuổi Pháp-Nhật, xoá các thức thuế vô lý, được chia công điền và nhiều quyền lợi kinh tế chính trị khác.

    -Chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của giai cấp công nhân, nông dân mà còn là kẻ thù của toàn dân tộc.

    Các mạng giải phóng dân tộc không chỉ giải phóng công–nông mà giải phóng cả dân tộc khỏi ách nô lệ. Sự nghiệp giành độc lập không chỉ của công nông mà của mọi người Việt Nam yêu nước.

    -Cách mạng giải phóng dân tộc là thời kỳ dự bị để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tuy là phương hướng tiến lên sau này nhưng lại có ảnh hướng quyết định đến tính chất triệt để tạo ra sức mạnh hùng hậu của cách mạng giải phóng dân tộc.

    -Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của việc thực hiện khối đoàn kết toàn dân vì nhiệm vụ tôi cao giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.Lúc đó cách mạng thế giới chưa có điều kiện giúp đỡ trực tiếp Việt Nam nhưng Đảng ta đã kịp thời tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, trong đó có thắng lợi của nhân dân Liên Xô đánh bại bọn phát xít Nhật ở Châu Á để phát động cuộc Tổng khởi nghĩa.

    b)Thời ký từ 1945-1975

    Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện khác nhau ở hai thời kỳ khác nhau :Thời kỳ 1945-1954 vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới;thời kỳ từ 1954-1975 vừa kháng chiến chống Mỹ,cứu nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

    Thòi kỳ 1945-1954

    Sau Cách mạng tháng 8-1945,nước Việt Nam dân chủ công hoà được thành lập, Đảng đã đề nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhưng thực dân Pháp lại xâm lược nước ta lần nữa. Với tinh thần chúng ta “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng. Đảng nhận định Cách mạng nước ta vẫn là Cách mạng giải phóng dân tộc, nhiệm vụ cải cách ruộng đất có điều kiện thực hiện rộng rãi hơn so với thời kỳ giành chính quyền nhưng vẫn theo tinh thần phải làm từng bước, xuất phát từ nhiệm vụ chống đế quốc và phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc.

    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta có nhiều vùng tự do, mặc dù vậy vẫn chưa đủ điều kiện để xây dựng.

    Câu 12 : Trình bày đường lối kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2001-2005. Những bài học chủ yếu mà ĐHĐBTQ lần thứ X của Đảng đã nêu ra.

    Về đường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ,Đại hội nêu rõ :

    Về đường lối kinh tế của Đảng là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng-an ninh.

    Chiến lươc phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân. Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá, nguồn lực con người, năng lực khoa học. Vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50%

    Kế hoach phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện chiến lược 10 năm:

    Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao rõ rệt hiệu qủa và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Mở rông kinh tế đối ngoại. Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghiệp, phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm, cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, hình tành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 5 năm 2001-2005 là 7.5%

    Chủ trương của Đảng :

    +Phát triển kinh tế,công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm.

    +Phát triển kinh tế nhiều thành phần gồm kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể,kinh tế cá thể,tiểu chủ,kinh tế tư bản tư nhân,kt tư bản nhà nứoc,kt có vốn đầu tư nứoc ngoài.

    + Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nứơc.

    +Giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

    Đại hội tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường phát chế, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

     Bốn bài học chủ yếu

    1.Mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

    2.Đổi mới phải  dựa vào nhân dân và lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn sáng tạo.

    3.Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

    4.Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.

    Câu 13: Trình bày sự đánh giá của Đảng về thành tựu của công cuộc đổi mới sau 20 năm. Một số bài học lớn mà ĐHĐBTQ lần thứ X của Đảng đã tổng kết.

    Từ ngày 18à 25/4/06 đại hội đảng X đc tiến hành tại HN. Bên cạnh về sự đánh giá về những thành tựu những khuyết điểm, những yếu kém sau 5 năm thực hiện Nghị quyết ĐH IX thì đến đại hội X này còn đánh giá về những thành tựu của công cuộc đổi mới sau 20 năm thực hiện.

    1.Nội dung:

    20 năm qua là sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng toàn dân,toàn quân ta. Công cuộc đổi mới đạt đc nhữg thành tựu to lớn và có ý nghĩa trong LS.

    Đất nước đã thoát khỏi chiến tranh, KT-XH có sự biến đổi cơ bản về toàn diện.

    +Kinh tế tăng trưởng khá nhanh.

    +CNH-HĐH,phát triển kinh tế thị trường,định hướng XHCN được đẩy mạnh.

    +Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

    +Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân đc củg cố và tăng cường.

    +Chính trị xã hội ổn định.

    +Quốc phòng an ninh được giữ vững.

    àSức mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên rất nhiều tạo ra thế lực mới, đất nước tiếp tiếp tục đi lên với triển vọng mới.

    Xã hội XHCN mà nước ta xây dựng là:

    +Một xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng dân chủ văn minh do dân làm chủ.

    +LLSX hiện đại, QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.

    +Con người đc giải phóng khỏi áp bức bất công.

    +Cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, phát triển toàn diện.

    +Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau.

    +Có nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của ĐCS.

    +Quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới.

    2.Một số bài học lớn mà ĐH đã đưa ra:

    -Một là: Trong quá trình đổi mới fải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng CN Mác-LêNin và tư tưởng HCM.

    -Hai là: Đổi mới toàn diện,đồng bộ,có kế thừa,có bước đi,có hình thức và cách làm phù hợp.

    -Ba là: Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn nhạy bén với cái mới.

    -Bốn là:Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tạo ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức, mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

    -Năm là:Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN đảm bảo quyền lực về nhân dân.

     

     

    Câu14. Sự đánh giá của Đảng về thành tựu, khuyết điểm, yếu kém 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX. Mục tiêu, phương hướng tổng quát, những chỉ tiêu định hướng về phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm 2006-2010 mà ĐHĐBTQ lần thứ X đã nêu ra.

    Đánh giá 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội IX của Đảng,đại hội khẳng định “ đã đạt được những thành tựu rất quan trọng thể hiện ở 5 vấn đề:

    Một là,nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm,đạt tốc độ tăng trưởng khá cao,năm sau cao hơn năm trước,bình quân trong 5 năm 2001-2005 là 7.5% và phát triển tương đối toàn diện

    Hai là văn hoá và XH có tiến bộ trên nhiều mặt việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, đời sống tầng lớp nhân dân được cải thiện.

    Ba là chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an  ninh được tăng cường, quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới.

    Cạnh tranh của nền kinh tế còn kém,cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm.

    Thứ hai.cơ chế,chính sách về văn hoá XH chậm đổi mới,nhiều vấn đề XH bức xúc chưa được giải quýêt tôt.

    Thứ ba,các lĩnh vực quốc phòng,an ninh đối ngoại còn 1 số mặt hạn chế.

    Thứ 4.tổ chức và hoạt động của nhà nước, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn 1 số khâu chậm đổi mới.

    Thứ năm,công tác xây dựng ,chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu

    **Mục tiêu và phương hướng tổng quát là “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng,phát huy sức mạnh toàn dân tộc,đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước.phát triển văn hoá.thực hiện tiến bộ và công băng xã hội,tăng cường quốc phòng và an ninh ,mở rộng quan hệ đối ngoại,chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,giứ vững ổn định chính trị XH,sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển,tạo một nứoc công nghiẹp theo hướng hiện đại.

    *Những chỉ tiêu và đinh hướng :

    Đến năm 2010 ,tổng sản phẩm trong ( GDP) gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000.Trong 5 năm 2006-2010,mức tăng trưởng GDP bình quân dạt 7.5-8%/năm,phấn đấu đạt trên 8%/năm.Cơ cấu ngành trong GDP : khu vục nông nghiệp khoảng 15-16%.CN và XD 43-44%,dịch vụ 40-41%.Tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động,tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010.Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10-11% vào năm 2010.

    Câu15.Trình bày bài học nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH.

    1.Nội dung của bài học kinh nghiệm:

    a)Bài học kinh nghiệm nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH là một bài học quan trọng mà Đảng ta giải quyết đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với điều kiện lịch sử của thời đại mới về mối quan hệ:

    -Giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp

    -Giữa con đường giải phóng dân tộc với con đường giải phóng gccn và những người lao động bị áp bức, bóc lột

    b)Đường lối đó đã được Đảng ta thực hiện một cách đúng đắn, sáng tạo qua các thời kì đấu tranh cách mạng

    -Thời kì Bác Hồ tìm đường cứu nước và chuẩn bị vận động thành lập Đảng:

    +Trong thời kì mới, sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc chỉ có thể gắn liền với cuộc CM vô sản vai trò lãnh đạo là gccn. Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ:” Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường CM vô sản” Chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”

    +Trong “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Luận cương chính trị” đều xác định : CMVN, trước hết là CM dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó là CM XHCN, bỏ qua chế độ TBCN. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở VN.

    -Thời kì các nước thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930-1945):

    Trong thời kì này, CM dân tộc dân chủ nhân dân là mục tiêu trực tiếp, còn CMXHCN mới chỉ là phuơng hướng, là triểu vọng tiến lên của CMVN

    Đặt CM dân tộc dân chủ nhân dân trong phương hướng, triển vọng tiến lên CNXH sẽ quy định tính triệt để của cuộc CM đó, vì CM dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng ta tiến hành là CM dân chủ tư sản kiểu mới, thuộc phạm trù CM vô sản. Đó là điều kiện cơ bản để tiến hành CM không ngừng từ CM dân tộc dân chủ nhân dân sang CM XHXN.

    -Thời kì cả nước tiến hành đồng thời hai chiến lược CM (1945-1975):

    +Tiến hành đồng thời hai chiến lược CM là một hình thái độc đáo, sáng tạo của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH .

    +CMXHCN ở miền Bắc có tác dụng quyết định nhất tới đối với sự nghiệp phát triển của Cm cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. CM dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp đánh đuổi đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam.

    +Nhờ kết hợp giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH và xác định đúng đắn vị trí và nhiệm vụ của CM mỗi miền , Đảng ta đã phát huy được sức mạnh của độc lập dân tộc và CNXH ở miền Bắc và miền Nam để đánh Mỹ và thắng Mỹ, xây dựng vào bảo vệ miền Bắc XHCN, giải phóng miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Đường lối chiến lược giơ cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH cho phép Đảng ta kết hợp được sức mạnh của dân tộc ta với sức mạnh của thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và CM dân tộc dân chủ ở miền Nam.

    -Thời kì các nước tiến hành xây dựng CMXHCN (1975 đến nay)

    +Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, CMVN chuyển sang một thời kì mới-thời kì cả nước hoà bình, độc lập thống nhất và đi lên CNXH.

    +Nắmg vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH trong thời kì này vẫn là đường lối chiến lược cơ bản của Đảng ta.Vì cả nước đi lên CNXH vẫn phải tiếp tục giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa độc lập dân tộc với CNXH, vai trò lãnh đạo của gccn đối với dân tộc…

    +Độc lập dân tộc và CNXH từ đây gắn chặt với nhau. Độc lập dân tộc là điều kiện để nhân dân ta xây dựng CNXH. Xây dựng CNXH mang lại đời sống ngày càng tự do, ấm nó, hạnh phúc, văn minh và là điều kiện để bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược của CM nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    2,Ý nghĩa, bài học kinh nghiệm:

    -Nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH là một bài học kinh nghiệm lớn có ý nghĩa bao trùm của Đảng ta vì:

    +Từ khi có Đảng, đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của CMVN

    +Là ngọn cờ bách chiến bách thắng của CMVN

    +Với đường lối cơ bản này, Đảng ta đã giải quyết thắng lợi một loạt vấn đề cơ bản và chiến lược, sách lược trong CM dân tộc dân chủ cũng như trong CM XHCN

    +Cho phép Đảng ta khơi dậy được sức mạnh của quá khứ, của hiện tại, của tương lai, sức mạnh của dân tộc ta với sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh lớn để xây dựng lên nước VN giàu mạnh.

    Câu16. Sự lãnh đạo của ĐCSVN là nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi của CMVN

    -Đầu năm 1930, ĐCSVN ra đời đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của CMVN . Đảng ra đời đã đánh chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, chấm dứt thời kì đấu tranh tự phát, chuyển sang thời kì đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân. Đảng ra đời đã chứng tỏ gccn đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo CMVN, mở ra thời kì CMVN  đấu tranh dứoi dự lãnh đạo của ĐCSVN có đường lối đúng đắn và khoa học , phù hợp với quy luật của CMVN trong thời kì mới.

    -Trong lịch sử đấu tranh 70 năm của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng , CM nước ta đã dành được nhiều thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược và ý nghĩa thời đại sâu sắc.

    +Vừa mớ ra đời, Đảng đã phát động được cao trào 1930-1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.

    + Thoát ra khỏi thời kì thoái trào của của CM 1932-1935, Đảng lãnh đạo được nhân dân ta phát động Cao trào vận động dân chủ 1936-1939, đòi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà bình, chống phát xít, chống chiến tranh.

    +Đảng lãnh đạo nhân dân ta cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong những năm 1939-1945, làm CM tháng 8 thắng lợi, đạp tan ách thống trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và xoá bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta .Thắng lợi này đưa đất nước ta đi vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập-tự do.

    +Đảng lãnh đạo nhân dân ta chống thù trong, giặc ngoài, khắc phục khó khăn của đất nước để giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, tiến thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng miền Bắc.

    + Từ năm 1964-1975, nhân dân ta đã dành được nhiều thành tựu to lớn ở miền Bắc và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ Quốc

    +Từ năm 1975 đến nay, cả nước đi lên CNXH, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta dành được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc XHCN, đặc biệt là những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

    -Thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của CM nước ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đứng ở trung tâm các sự kiện lịch sử vĩ đại của các mạng và thực sự là nhân tố cơ bản lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của CMVN vì:

    +ĐCSVN là một đội tiền phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của gccn, của dân tộc VN.

    +Đảng là người đại diện trung thành và đầy đủ nhất lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của gccn, nhân dân lao động và của cả dâ tộc VN. Đảng lấy phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mình.

    +Đảng có truyền thống đoàn kết thống nhất, kỉ luật nghiêm minh, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, nhằm phát huy dân chủ, tăng cường kỉ luật, đoàn kết thống nhất toàn Đảng, chống tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, chia rẽ bè phái trong Đảng

    +Đảng có mối quan hệ máu thịt với quần chúng, đây là tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng CM chân chính

    Đảng kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với CN quốc tế XHCN trong sáng, tích cực ủng hộ sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập, tự do và tiến bộ của nhân các nước trên thế giới.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành tự quan trọng đã đạt được, CM nước ta còn rất nhiều khó khăn và tồn tại, nhất là trong thời kì đổi mới. Đảng ta tự kiểm điểm là đã phạm phải những sai lầm, khuyết điểm chủ quan, nóng vội, duy ý chí, đặc biệt là trong việc xác định chủ trương, đường lối và công tác xây dựng Đảng. Những sai lầm trên đã kéo dài và chậm sửa chữa, làm cho vai trò lãnh đạo của Đảng bị suy yếu, lòng tin của quần chúng với Đảng bị giảm sút so với trước.

    -Đảng ta phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới về mọi mặt cho ngang tầm với  nhiệm vụ:

    +Đảng ta phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, đề ra cương lĩnh, đường  lối chiến lược và sách lược đúng đắn, có căn cứ khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước ta. Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất và cũng là lý do tồn tại của Đảng.

    +Phải phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nhưng nguyên tổ chức và sinh hoạt Đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng.

    +Cần đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay.

    +Làm trong sạch đội ngũ giảng viên, củng cố và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng.

    +Đổi mới công tác cán bộ của Đảng, vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc….công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”

    Cuộc vận động chỉnh đốn, xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đang được triển khai tích cực và đạt kết quả bước đầu là những việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đủ sức dẫn dắt toàn Đảng toàn quân toàn dân ta tiếp tục tiến vào thế kỉ mới và thiên niên kỉ mới lắm thách thức nhưng cũng đầy hứa hẹn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây