Author: Nguyễn Huyền

  • Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Đề bài: Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    A. Hướng dẫn cách làm

    1. Giải thích

    Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta: “Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng nhà nước giải quyết, từng bước thanh toán đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, mức sống giữa các vùng, tầng lớp dân cư”

    Tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thể hiện tấm lòng cao cả nhân văn “Thương người như thể thương thân” , “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Mọi người đều nên có ý thức ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” .

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thu được kết quả to lớn trong nhiều năm qua, góp phần cùng nhà nước làm giảm số lượng và tỷ lệ người nghèo. Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng vì đã thành công lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.

    2. Bàn luận

    Xóa đói giảm nghèo chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta

    Xóa đói giảm nghèo muốn thành công phải huy động nguồn lực của toàn xã hội.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là hoạt động thiết thực huy động nguồn lực của toàn xã hội vào công việc xóa đói giảm nghèo.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là nét đẹp phát huy truyền thống đoàn kết, nhân văn, quan tâm đến người nghèo của dân tộc ta. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

    Mỗi người dân nên nhiệt tình tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    3. Liên hệ

    • Bản thân em sẽ cố gắng trong từng việc có thể tham gia ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” Tuyên truyền vận động bạn bè và người thân tham gia phong trào.

    B. Bài làm tham khảo

    Đề : Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    Mở bài:

    Nhiều năm nay, “Quỹ vì người nghèo” do mặt trận Tổ quốc Việt Nam thiết lập đã nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân, từ cán bộ, công chức đến tầng lớp doanh nhân. Vì sao phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” lan rộng và sôi nổi như vậy ?

    Thân bài:

    1.“ Quỹ vì người nghèo” góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” chứng tỏ ý thức cộng đồng cao của dân ta, góp sức cùng nhà nước thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tháng vì người nghèo hàng năm thu được hàng nghìn tỷ đồng, liên tục trong hàng chục năm nay, làm cho tỷ lệ người nghèo ở nước ta liên tục giảm xuống. Các nước bè bạn, cả thế giới khâm phục thành công về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Tổ chức Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng về xóa đói giảm nghèo.

    1. Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn, của nhân dân ta.

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn cao cả trong tâm hồn con người Việt Nam. Mọi người dân nước ta đều hiểu sâu sắc “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Trải qua bao gian khổ, hy sinh trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thiên tai bão lụt, dân ta luôn có truyền thống “Thương người như thể thương thân”

    • “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Hình ảnh cụ già bớt chút lương hưu, các em học sinh bớt tiền ăn sáng của bố mẹ cho để san sẻ với bạn nhỏ bất hạnh hơn mình luôn làm cho mọi người xúc động và thức tỉnh lương tâm trách nhiệm ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”.

    Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn phải tiếp tục lâu dài , là mục tiêu “Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc” cũng như của Nhà nước Việt Nam. Chúng ta hàng năm phải có ý thức và hành động thiết thực cùng toàn dân, toàn hệ thống chính trị tham gia công cuộc xóa đói, giảm nghèo, mà cụ thể nhất là ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”. “Nhường cơm sẽ áo, chị ngã em nâng”

    1. Mọi người nuôi dưỡng ý thức và hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo. Nước ta là nước đang phát triển, thu nhập thấp, đại bộ phận dân cư sinh sống, làm nghề nông, thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh ở người và gia súc, rủi ro trong làm ăn, tai nạn trong

    sinh hoạt làm cho người ta nghèo đi. Số lượng người nghèo của nước ta rất đông, từ tỷ lệ khoảng 60% cách đây 30 năm, nay vẫn còn khoảng 15% tức là hơn 10 triệu dân trong diện người nghèo. Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn lâu dài và mỗi người chúng ta phải kiên trì hành động, luôn

    Tài liệu khóa học Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn.

    nuôi dưỡng tấm lòng nhân văn cao cả, nghĩa hiệp để có việc làm, hành động đóng góp ủng hộ quỹ vì người nghèo.

    Ông cha chúng ta có khái niệm “nợ đồng lần”. Người ta giúp mình việc gì đó không phải để mong được mình trả ơn, mà mong mình sẽ lại đi giúp những người khác. Như thế, những tấm lòng thơm thảo sẽ được nhân lên, những hoàn cảnh được chia sẻ sẽ được tăng lên theo cấp số cộng, cấp số nhân. Nhờ đó, xã hội chúng ta sẽ đầy những tấm lòng nhân ái, cuộc sống ấm áp ngày càng tươi đẹp, thanh bình, hạnh phúc. Giúp đỡ người nghèo, ủng hộ quỹ vì người nghèo là một trong những cách thiết thực biểu hiện sự quan tâm tới người khác, tới xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn mình”.

    Kết luận

    Một nhà văn Nga đã viết “Nơi lạnh nhất không phải Bắc Cực mà là nơi không có tình thương” . Nhà văn Pháp Misen Êken Mongtenho cũng đã viết “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa” .Một trong những việc nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người là hàng năm hãy có hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo

    Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh.

  • Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bài Làm

    “…Con sóng dưới lòng sâu…..

    Hướng về anh một phương”.

    Sóng biển rộng lớn, bao la mà vẫn điệp trùng thương nhớ. Sóng biển vật vã, thương đau mà vẫn một đời mê đắm. Sóng biển dữ dội thét gào mà vẫn nồng cháy thương yêu. Phải, có những con sóng như thế, những con sóng mang trong mình biết bao đói cực vẫn đêm ngày cuộc tròn trong thơ, trong tâm hồn người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng đa đoan ấy: nữ sĩ Xuân Quỳnh. Và bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái đa đoan ấy của nữ sĩ mà tiêu biểu là đoạn thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh một phương”

    Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của

    tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”.

    bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân

    vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm

    tư. Và có thể nói, khổ thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh – một phương”

    Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước”

    Hai câu thơ với hình thức lặp quyện hòa cùng nghệ thuật đối vỗ nên điệp trùng những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Con sóng lặn sâu dưới lòng đại dương qua thanh bằng cuối câu thơ. Con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển với thanh trắc. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc

    lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: “Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao

    giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, ẩn sâu trong ngực sóng là nhịp đập của đại dương mênh mông. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “ không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về

    bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Chọn hình tượng sóng-một trong những hình tượng đồng nhất của tự nhiên, Xuân Quỳnh đã khẳng định được bản lĩnh của mình. Chọn hình tượng động để gắn với người phụ nữ, người mà xưa nay được ví như liễu yếu đào tơ, Xuân Quỳnh phải đứng trước nhiều thử thách nhưng chị đã vượt qua bằng một bản lĩnh vững vàng và hơn hết là bằng một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm tinh tế. Còn sự vật nào hơn sóng có thể diễn tả hết được cái lòng người phụ nữ đang yêu: nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức lắm ! Nỗi băn khoăn ấy được góp nước từ nỗi nhớ: nhớ một người!

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Sóng bây giờ dường như cũng đã không còn đủ sức chuyên chở nỗi lòng người phụ nữ. Nỗi nhớ như thiêu, như đốt, như phá tan những phàm tục đời thường, cất cánh đưa người phụ nữ đến một cõi mơ. Ở đây Xuân Quỳnh dùng từ “ lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng

    là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua

    biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà đã là

    gan, là ruột của người phụ nữ rồi. “Lòng em nhớ đến anh”, ơi thương

    sao câu nói giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết đến thế. Câu thơ

    “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Có thể nói,

    với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật

    nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Câu thơ như trào dâng nâng nỗi nhớ

    niềm thương

    Sóng-em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng

    cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam”

    Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đã đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập (“dẫu”). Nó chỉ một sự khẳng định chắc nịch, vững vàng rằng khó khăn, thách thức là mấy em vẫn mãi yêu anh. . Chẳng phải là “ngược Bắc”, “xuôi Nam” mà là “xuôi Nam” “ngược Bắc”.Phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh”. “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh một phương”

    Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh. Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì

    nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã dành “hệ qui chiếu” của đời em. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị.

    Sự thành công của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng” không chỉ ở tình cảm chân thành nồng cháy mà còn ở nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng_hình tượng trung tâm của bài thơ. Sóng trong bài thơ là một hình tượng kép. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng lòng của người phụ nữ đang yêu. Cả hai cuộn tròn trong sóng thơ dạt dào. Hình tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm nhưng cũng đôi khi nồng cháy, mãnh liệt. Hình tượng sóng được Xuân Quỳnh xây dựng như thế động. Sóng luôn vận động với bao đối cực, bao chiều kích và cũng chính nhờ vậy mà nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu được bộc lộ chân thành hơn, chính xác hơn. Với hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã góp vào thi đàn một hình tượng cũ mà mới. Mới bởi nó được ủ ấp những nỗi niềm của người phụ nữ. Và sẽ không quá lời khi ta khẳng định rằng, làm nên sự nghiệp Xuân Quỳnh không thể không có “sóng”.

    Xuân Quỳnh đã đi về một miền miên viễn. Chị đã đi xa nhưng sóng thì vẫn “bạc đầu thương nhớ” còn người thì vẫn bên chị cùng một nỗi nhớ thương. Người phụ nữ ấy sống mãi cùng sóng lòng, sóng thơ và “sóng”. Cũng như sóng kia, nhịp đập thủy triều có bao giờ nguội yên trong ngực biển, người nữ sĩ ấy vẫn mãi bên đời cùng một nhịp đập yêu thương.

    Con sóng trong thơ chị phải đâu là con sóng một thuở mà nó đã thành con sóng ngàn đời: con sóng tình yêu, con sóng yêu thương, con sóng của một tâm hồn đẹp. Vỗ mãi con sóng thương yêu!

  • Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    của Thanh Hải

    (Tổng hợp)

    Bài Làm

    Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” được Thanh Hải sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ là tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước ,với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng .

    Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá :

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc,

    Ơi! con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời.

    Chỉ bằng vài nét đơn sơ mà đặc sắc ,với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen , bình dị, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh xuân thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế .Bức tranh có không gian thoáng đãng ,sắc màu tươi tắn, hài hoà và âm thanh rộn rã tươi vui của tiếng chim chiền chiện . Cách lựa chọn hình ảnh “dòng sông xanh” , “bông hoa tím” ,

    cách sử dụng các từ ngữ “ơi” ,“chi” đi liền sau động từ “hót” khiến người đọc liên tưởng đến quê hương xứ Huế và cả tâm trạng say đắm hân hoan của tác giả . Dường như thấp thoáng đâu đó trong câu thơ là màu xanh của dòng Hương Giang mềm mại và những tà áo dài tím biếc của những cô gái Huế mộng mơ, cùng với âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng chim chiền chiện, khiến mùa xuân của cố đô trầm mặc, chợt trở nên rực rỡ, rộn ràng .Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân còn được miêu tả ở chi tiết rất tạo hình :

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng .

    Giọt âm thanh của tiếng chim thật trong ,thật tròn,vang ngân giữa không gian,đọng lại thành từng giọt hữu hình long lanh như hạt ngọc ,nhà thơ đưa tay hứng với tất cả sự trân trọng , đắm say . Sự chuyển đổi cảm giác khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa góp phần diễn tả trọn vẹn hơn niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất vào xuân .

    Từ mùa xuân của thiên nhiên, trời đất nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước . Tác giả hướng tình cảm của mình tới những con người đang làm đẹp mùa xuân :

    Mùa xuân người cầm súng

    Lộc dắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ.

    Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước

    .“Lộc” theo bước chân người cầm súng ra trận,theo bàn tay người lao động ra đồng và gieo mùa xuân đến khắp mọi miền đất nước. Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn trương ,rộn ràng , náo nức lan toả khắp tứ thơ :

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao.

    Điệp từ “tất cả” ,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả ,hào hùng ,mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước :

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước .

    Hình ảnh so sánh đẹp : “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển không ngừng, có ý nghĩa định hướng ,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây dựng quê hương .

    Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng :

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một canh hoa

    Ta nhập vào hoà ca

    Một nốt trầm xao xuyến .

    Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm ,tô điểm thêm cho mùa xuân là âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra

    sự đối ứng chặt chẽ . Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương ,con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người .Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác :

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc .

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo bất ngờ ,độc đáo mà tự nhiên, hợp lý của nhà thơ , bởi mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian thế mà ở đây “ mùa xuân” lại có khối ,có hình ,một hình hài nho nhỏ thật xinh xắn . Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng , một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên,đất nước.Điệp từ “dù là” đặt ở đầu hai câu thơ liên tiếp có ý nghĩa khẳng định cho khát vọng dâng hiến miệt mài, không mệt mỏi của tác giả .

    Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết ,gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp , giản dị ,gợi cảm ,những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ .

    Bài thơ kết thúc khi đã làm lay động trái tim mỗi người bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tác giả .Dường như ước nguyện nhỏ bé khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải mà đã trở thành

    tiếng lòng chung của nhiều người .Bởi vậy mà đọc xong bài thơ em muốn tự hỏi mình một điều giản dị :

    “Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn ?

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình !”

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    I – Mở bài:

    Mùa xuân từ lâu đã là đề tài vô tận cho các thi sĩ. Nhưng hiếm có bài thơ nào viết về mùa xuân lại hay và trong hoàn cảnh đặc biệt như “mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, nhà thơ của xứ Huế mộng mơ. Bài thơ “mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác năm 1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh và chỉ mấy tuần lễ sau khi hoàn thành bài thơ thì nhà thơ đã qua đời. Đây là một bài thơ hay tiêu biểu cho hồn thơ Thanh Hải đã thể hiện được tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời.

    II – Thân bài:

    1. Mùa xuân của thiên nhiên.

    Cảm hứng xuân phơi phới của Thanh Hải đã dệt nên một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, hiền hoà, đầy sức sống của xứ Huế mộng mơ.

    Mọc giữa dòng sông xanh

    …………

    Tôi đưa tay tôi hứng

    • Xứ Huế đã đi vào trong thi ca của không ít các thi nhân như Hàn Mạc Tử, Tố Hữu… nhưng ở đây với bài thơ này ta vẫn cảm nhận được phong vị rất riêng của Thanh Hải. Bức tranh xuân ấy hiện lên rất ít chi tiết nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp hoàn thiện với đầy đủ sắc màu, âm thanh và đường nét. Có một dòng sông xanh hiền hoà, mênh mang làm nền cho sắc tím của bông hoa, màu tím của xứ Huế thơ mộng, của nhớ nhung đã tạo nên cảm giác mát dịu làm sao! Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật vẻ đẹp của bông hoa. Bông hoa ấy mọc từ giữa dòng sông như tâm điểm của một bức tranh đầy ấn tượng. Bông hoa ấy như phát sinh, khởi nguồn từ cái sức sống dồi dào, bất tận của dòng sông xanh để không ngừng vươn lên bất tử. Bức tranh ấy càng sống động hơn bởi âm thanh của tiếng chim chiền chiện quen thuộc của quê hương miền trung. Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trong trẻo, ngân nga, rộn ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nên náo nức lạ thường.
    • Hãy đọc lại khổ thơ đầu và lắng nghe trong đó: có phải là nhạc và thơ đã hoà quyện vào từng chữ, từng dòng trong cả khổ thơ, đem đến môt giai điệu mùa xuân vui tươi, rạo rực ? Nhà thơ lặng ngắm, lắng nghe với vẻ say mê và tấm lòng tràn đầy một cảm xúc thanh cao trong sáng. Bằng sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ, nhà thơ đã tạo dựng được một hình ảnh tuyệt đẹp, gợi ra sự liên tưởng phong phú cho người đọc về âm thanh của tiếng chim. Âm thanh mượt mà, trong vắt của tiếng chim thánh thót như chuỗi ngọc long lanh, đọng lại làm thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn đang rạo rực tình xuân. Như vậy từ một hình tượng, một sự vật được cảm nhận bằng âm thanh ( thính giác), tác giả đã chuyển đổi biến nó thành một sự vật có thể nhìn được bằng mắt ( thị giác) bởi nó có hình khối, màu sắc rồi lại được như cảm nhận nó bằng da thịt, bằng sự tiếp xúc ( xúc giác).

    Sự chuyển đổi cảm giác ấy là một sáng tạo nghệ thuật gợi cảm từ con mắt nhìn rất thơ của thi sĩ. Hình ảnh đưa tay “hứng” xiết bao yêu quý, nâng niu đã thể hiện được sự đồng cảm của tâm hồn nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc đời.

    2.Trong mùa xuân lớn ấy, đất nước và con người cũng mang vẻ đẹp của sức sống vô tận, rộn ràng bước vào một mùa xuân mới:

    Mùa xuân người cầm súng

    ……

    Lộc trải dài nương mạ

    • Lộc xuân theo người cầm súng, lộc xuân trải dài nương mạ. Hình ảnh dân tộc Việt Nam kết tụ lại ở “người cầm súng” và “người ra đồng”. Đây là mùa xuân của con người đang lao động và chiến đấu, của đất nước vất vả gian lao đang đi lên phía trước. Câu thơ vừa tả thực vừa tượng trưng hàm chứa nhiều ý nghĩa trong hình ảnh người lính và người nông dân với từ “lộc” nhiều nghĩa. “Lộc” là chồi non, lá non, nhưng “lộc” còn có nghĩa là mùa xuân, là sức sống, là thành quả hạnh phúc. Người cầm súng giắt lộc để nguỵ trang như mang theo sức xuân vào trận địa, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Những con người lao động chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước. Âm hưởng thơ hối hả, khẩn trương với nhiều điệp từ, điệp ngữ láy lại ở đầu câu cùng với các tính từ “hối hả”, “xôn xao” làm tăng thêm sức xuân phơi phới, mãnh liệt trong mỗi con người và trong cả cộng đồng rộng lớn là dân tộc. Điều đó làm cho tác giả nhớ đến niềm tự hào lớn lao của đất nước:

    Đất nước bốn nghìn năm

    ……

    Cứ đi lên phía trước”

    • Đất nước đang bước vào mùa xuân, từ thiên nhiên đến con người đều hối hả và xôn xao. Mang tình sông núi, nhà thơ Thanh Hải đã có một cái nhìn sâu sắc và tự hào về chiều dài lịch sử bốn nghìn năm của đất nước.Đó là truyền thống anh hùng trong đánh giặc, cần cù trong dựng xây, là truyền thống nhân ái, là khát vọng hòa bình. Mỗi truyền thống ấy đều được xây đắp nên từ mồ hôi, công sức, nước mắt và thậm chí cả xương máu của biết bao thế hệ con người. Trong quá trình xây dựng và giữ nước, đất nước ta còn đầy vất vả và gian lao nhưng đất nước Việt Nam vẫn ngời sáng cứ tiến lên phía trước như một vì sao sáng. Vần thơ so sánh và nhân hoá thể hiện một niềm tin sáng ngời, ngợi ca đất nước tráng lệ, trường tồn. Ba tiếng “cứ đi lên” đã thể hiện ý chí quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng đất nước giàu và mạnh.
    • Đặt bài thơ vào những năm 80 khi nước ta còn đang phải đương đầu với bao khó khăn, nền kinh tế còn rất thấp kém thì ta càng trân trọng lòng yêu đời, yêu cuộc sống và niềm tin của nhà thơ Thanh Hải vào quê hương, đất nước.

    3.Xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước, nhà thơ muốn góp một mùa xuân nho nhỏ của mình để làm nên một mùa xuân lớn, mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:

    Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến

    Đó là khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên giầu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp. Nhà thơ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ để “nhập”vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá ! Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái , ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên. Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.

    Thái độ ‘lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Thật cảm động làm sao trước ao wowcs của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy. Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn. Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ.

    Những câu thơ cuối cùng mang đậm dấu ấn của những làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế. Nó như tiếng tâm tình, thủ thỉ, như tiếng lòng sâu lắng thiết tha, nồng đậm nghĩa tình:

    Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam Ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm

    Nhịp phách tiền đất Huế

    Cùng với ý nguyện ấy, khúc Nam Ai, Nam Bình ở khổ thơ kết nói lên niềm tin yêu tha thiết với quê hương, đất nước và cuộc đời. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ , tình cảm đó càng đáng trân trọng, càng cảm động biết bao !

    III – Kết bài:

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ có tứ thơ độc đáo, cảm hứng xuân phơi phới, hình ảnh sáng tạo, nhạc điệu vui tươi tha thiết. Đọc “mùa xuân nho nhỏ”, trái tim ta dường như xao xuyến, một cảm xúc thanh cao, trong sáng từ từ dâng ngập hồn

    1. Bài thơ đem đến cho chúng ta bao cảm xúc đẹp về mùa xuân, gợi cho ta suy nghĩ về một lẽ sống cao đẹp của một tâm hồn trong sáng khiến ta cảm phục và tin yêu. Còn gì đẹp hơn mùa xuân ? Có tình yêu nào rộng lớn hơn tình yêu quê hương đất nước ? Thấm nhuần tâm tư, ước nguyện của của nhà thơ, chúng ta càng thêm tin yêu vào mùa xuân của đất nước và “mùa xuân nho nhỏ” trong lòng mình. Chúng ta muốn cùng con chim chiền chiện hót lên khúc ca ngọt ngào gọi xuân về, muốn học thành tài để hiến dâng cho đất nước, góp phần công sức nhỏ bé để tô điểm cho mùa xuân cuộc đời thêm đẹp.

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Thanh hải là 1 cây bút có công xaay dựng nền văn học cách mạng ở Miền Nam từ những ngày đầu Thơ ông thể hiện niêm yêu mến thiết tha của cuộc sống đất nước ước nguyện của tác giả . Và MXNN là 1 bài thơ nhu thê

    Bài thơ được sáng tác vao nhữung năm cúôi đời của thanh hải thế nhưng đặc biệt tràn ngập cả bai thơ là những cảm xúc của tác giả đi từ mùa xuân thiên nhiên đên mùa xuân đất nưuợc ocn người và cuối cùng đã bộc lộ khát vọng sống của con người . Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ Đã tạo nên 1 giọng điệu thơ sâu lắng trữ tình tha thiết

    Mở đâu bài thơ thanh hải đã fác hoạc cảnh mùa xuân tươi đẹp dang về trên xứ

    huế

    mọc giuẵ dòng sông xanh

    một bông hoa tím biếc

    ơi con chim chiền chiện

    hót chi mà vang trời

    khổ thơ là cảm nhận của thanh hải về mùa xuân thiên mùa xuân quê hương . Đâu có gì nhiều chỉ 1 bông hoa 1 dòng sông 1 tiếng chim hsot . Đơn giản thế nhưng vui và đẹp biết bao ! . Chỉ bằng vài nét fác họa chọn lọc hình ảnh màu sắc và âm thanh nhà thơ như vẽ ra cả 1 không gian cao rộng dòng sông mặt đất bầu trờ cả màu sắc thắm tuơi sông xanh thắm hoa tím biếc và âm thanh rộn rã Tiếng chim chiền chiện hót vang trờ . Truwocs đây cũng đã nhiều thi nhân mieue tả mùa xuân vơi những ítn hiệu bông hoa chim hót

    chim hót véo von liễu nở đầy

    Nhưng điểm đặc biệt trong thơ Tanh hải là cảnh màu xuân mang nét đẹp riêng cảu quê hương xứ huế . Dòng sông xanh đây là dòng sông hương thở mông của huế ko phải là sông hồng đỏ nặng phù sa cũng chẳng phải là Vàm cỏ đông tươi mát trên dòng sông hương giang thơ mộng ấy ” mọc ” lên l1 bông hoa tím biếc. có lẽ đó là họa lục bình . 1 lòai hoa ưa sông nuwocs ưa đồng nội bình dị thân th ương . Thi nhân xuă thường nói đến màu xuân với những loài hoa tiêu biểu kiêu saquí hiếm như hoa đào mai lan nhưng ở đây mùa xuân trong thơ thanh hại lại được báo hiêu băng 1 bông hoa lục binh tím biêc .Cái màu tím đặc trunưg của xứ huếy ngươi huế . Cách đảo ngữ đưa từ mọc lên đầu câu thơ . Mọc giữa dòng sông xanh gây ấn tuợng về sự vương lên đầy sức sống của bông hoa . 1 sức sống tràn trề tuơi trẻ Chỉ với 2 câu thơ mở đầu nhà thơ đa miêu tả đựoc cả 1 sắc xuân đằm thắm dịu dàng mà xao xuyến lòng người Thanh hải còn cảm nhận thêm 1 nét đẹp nữa của thiên nhiên xứ huế đó là tiếng xuân rộn rã reo vui qua âm thanh thánh thó của chim chiền chienẹ . 1 lòai chim sơn ca sống rất nhiều

    • Huế Tiếng chim hót thánh thóe véo von vang vọng cả đâtd trờ Cã không gian cao rộng nghe tiếng chim hót nàh thơ thoế lên lời gọi của chim thậ thiết tha say đăm

    Ơi con chim chiền chiện hót chi mà vang trờ

    Hô ngữ Ơi kết hiưpự với cụm từ hót chi mà nghe sao mà dịu ngọt êm ái thân thương . 1 lần nữa qua cách thể hiện của TH ta bắt gạp các chât thơ ngọ ngào của xứ Huế qua tiếng thơ nhẹn nhang thân thương tràn đầy cảm xúc lẫn chất huế ấy đã thể hiện tình yêu tha thiêt của nàh thơ đối với quê hương ruột thịt của mình

    Thế ta mùa xuân đang đên ở xứ huế rất đẹp của hoa tím sông xanh ở sức sông của bông hoa và ở niềm vui trong tiếng chim chiền chiện hót. Tâm hồn nhà thơ rộng mỡ để đón nhận nâng niu trân trọng vẻ đẹp sứuc sống và niềm vui ấy

    Từng giọt long lanh rờ Tôi đưa tay tôi hứng

    Nhưng dòng thơ đã thể hiện cảm xúc của hôn thơ TH . bàk ca xứa huế vào xuân nghe tiếng hót trong trẻo véo von thánh thót của chim chiền chiện . Âm thanh đó được kết tinh lại đọng lại thanh từng giọt long lanh lấp lánh Và nhà thơ muốn đuă tay đón nhận từn ggiọt âm thẩ ấy . Rất sáng tạo và đầy gợi cảm . TH đã dùng hiện tượng chuyển đổi cảm giác để thể hiện cảm xúc của mình . Từ cái có tính thính giác chỉ có thê4r nghe được là âm thành của tiếng chim nhà thơ tưởng tnhư thấy được và có thể hứng đựoc cả tiếng chim trong tay . Cảm nhận nó bằng xúc giác nêu xuân diệu ddax có lần say sưa trược vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân . Thàng giêng ngon như 1 cặp 1 gần để ròi hào hứng thốt lên

    Hơi hồng ta muốn căn vào ngươi thì thanh hải cũng ngất ngây tưởng chứng hưng được cả tiếng xuân . giọt xuana trong tay. Hiện tưởng chueyen đổi cảm giác ấy hoàn toàn màng tính chủ quan có lẽ phi lí ko thực tết .Nhưng đã trở thành nghệ thật trong thơ ca bởi nó đã thể hiện được cái cảm xúc nồng nàn say đăm của nhà thơ . Cací đất trờ xứ huế vào xuân và nhà thơ khương tư dung cũng đã có lần thể hienẹ cảm xúc của mình trong âm thanh của tiếng chim bằng 1 câu thơ có hiện tuơng chuyển đổng cảm giác tương tự

    Một tiếng chim kêu sống cả rừng

    Rồi tờ đó nàh thơ tiếp túc trải dài cảm xúc của mình với mùa xuân đất nước con người

    Mùa xuân người cẩm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    • đay chún gtả đã thây thanh hỉa đề cập đên 2 hình ảnh đó là người cầm súng và người ra đông . Vì sao vậy có pảhi cahưng học chinh alf nhưng người đã chiến đấu bào vệ tổ quốc họl à những người đổ mồ hôi cong sức để góp phần xây dunựg đất nược đocọ lập hạnh phúc cho mọi người . Như vây jchín hhọc là nhưng nguơiừ mang lại mùa xuân cho nguơiừ khác .Bên cạnh 2 hình ản hnày là lộc Nói đến Lộc là nói đến sự đama chồi của cây là . Nhưng trong văn cảnh này lộc mang hàm ý là mùa xuân là sự may mắn là hạnh phúc đến với người khác Và lộc của người cầm sùng đó là cành lá nguyện trang . Và lộc của người ra đồng là nương mạ xanh tốt . Như vaỵa lộc đã

    theo họ ra chiến trường ra ruộng đồng hay là chín họ đã mang lộc về cho đất nước cho mọi người

    Từ hình ảnh con người tác giả đề cập đến hình ảnh đất nước

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước

    Đất nước tả kể từ buổi đầu dựng nước là quá trình giữ nước hết cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác . Cha ông ta sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ nền văn hiến cha ông. Đây là 1 quy trình đầy gian lao vất vả nhưng cũng đầy tự hào Niềm tự hảo đó đã được tác giả so sánh bằng hình ảnh rất đẹp ” như vì sao ” Nói đến vì sao là nói đến các tinh tú lấpl ánh trên bầo trời . Vì sao cứ ngàn năm mãi vình hằng đối với cuộc sống con người và đối với đất nước như vì sao có nghĩa là đất nước ta rất đẹp đất nước ta từ 4000 năm đã đặc xây dựng và phát triển “cứ đi lên phía trước “Chính vì thế mà trước vẻ đẹp đó trước niềm tự hào Con người khi cảm nhận về đó như cảm thấy hối hả . Ở 2 câu này vuằ có điệp từ ” tất cả ” Lạp lại cùng với những hình ảnh đầy hình tượng như âm thanh >Nó gợi tả đươcọ không khi và khí thế rộn ràng vui vẻ cảnh đất nước vào xuân

    Mở đầu bài thơ . Nó đã giớ thiệu cảnh sắc mùa xuana thiên nhiên đẹp tươi ddang đến trên quê hương xứ huế thân thương . Nhưng khổ thơ của thanh hải là cảm nhận của nhà thơ về mùa xuân đất nước . dân tộc . Và cũng từ mạch cảm xúc đó nhà thơ đã quay về với lòng mình . Suy nghĩ thật chân thành và lắng động

    Ta làm con chim hót

    Ta làm 1 cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến

    Thanh Hải suy nghĩ về mình về trách nhiệm đóng góp của mình trong mùa xuân của đời . Nêu ở khổ thơ đầu mùa xuan thiên nhiên đưộc báo hiệu bằng hình ảnh 1 bông hoa đang nở rộ bằng âm thanh tháng thót của con chim chiền chiện thì giờ đây nhà thơ cũng muốn làm con chim hót 1 cành hoa để góp phần làm nên mùa xuân cho đời . Nêu trong khổ thơ truóc đó nhà thơ đã gợi ra mùa xuân của thiên nhiên đất nưộc dân tộc thì ở đaya nhà thơ đã liên hệ đến mình nghĩ về mình trong nhưng ngày cuối đời . khát khao đưộc cống hiến cho cuộc sống cho đất nước cho cách mạng. Trong cái lớn lao của đất trờ vào xuana . Tổ quốc vào xuân .Thanh Hải chỉ xin góp phần làm 1 tiếng chim trong giọng hót của muôn chim để âm thanh mùa xuân thêm rộn rã tưng bunừg màng đến niềm vui cho người . Làm 1 cành hoa trong hương sắc của muôn hoa góp them vẻ thắm tươi rực rỡ cho đời . Mà đặc biệt múôn làm 1 nốt trầm trong bản hoa tấu muôn lời muôn điều của cuộc sống . Thanh hải chỉ muốn làm 1 nốt trầm không vuốt cao ko âm ỉ một nót phụ trong vè phụ của giàn hợp xướng làm nền cho bè vút lên . Nhưng là 1 nốt trầm nghe xao xuyến lòng người cho đời thêm sinh động đáng yêu Nhà thơ dùng nhữung hình ản hđẹp của thiên nhiên như chim hót cành hòa để nói lên ược nguyện đươcọ sống có ich để cống hiến cái tinh túy cao đẹp nhất của chính mình cho cuộc đời chung . Số từ một đặt trứoc cành hoa notó trầm thể hiện sự khiêm tốn của nhà thơ ko làm đưộc 1 vường hoa thì hãy làm 1 bông hoa bé nhó ko làm 1 giàn hợp xướng thì hãy làm 1 nốt trầm xao xuyến > Chỉ xin làm 1 bông hoa 1 tiếng chim 1 nốt trầm để tô điểm làm đpẹ làm vui cho cuộc sống . Ước nguyện hóa thân ấy

    của nàh thơ ko cao xa vĩ đại mà gần gũi thân thương. đẹp và đáng yêu biêt mấy Bời khát vọng sống có ich có ý nghĩa và vô cùng khiêm tốn . Điệp ngữ ta làm ta nhập như 1 lời tự nhủ cùng với nhịp thơ sôi nổi thiết tha đã thể hienẹ 1 cách gợi cảm mạng mẽ cái khát vọng cháy bỏng của nàh thơ tự nguyện gop xuân đời riêng vào xuân đời chung của đất nước quyêh ương . 1 điều đán gchú ýe là từ chỗ xưng tôi ở đầu bài thơ với bao cảm xúc Thanh Hìa đã chuyển sang xưng ta với bao nhiêu nhận thức suy ngẫm . Rõ ràn gđã có sự vươn lên trong tư duy của nhà thơ để chuyển từ cái cá nhân riêng lẻ đến cái chung rộng lớn với ba ước nguyện cống hiến cho đời . Có thể thanh hải muốn gởi vào cái ta ấy 1 lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta trong cuộc đời này

    ko Những vậy khát vọng cống hiến ây rất khiêm tốn thầm lặng ko ngừng nghĩ . Khiêm tốn ở chỗ tất cả ước nguyện cảu nhà thơ đọng lại trong hìn hảnh

    Một màu xuan nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Hìn hản hthơ ở đay lạp lại nhan đề Mùa Xuân Nho Nhỏ là 1 điểm sáng thẩm mỹ của bìa tohư . Mùa xuana là 1 khải niệm về thơi gian vậy mà nhà thơ đã cụ thể hóa thàn hhính khôi nho nhỏ. Thanạ xinh xắn đễ thưonưg để thể hiện tấm lòng mình . KO phải là 1 mùa xuân xanh 1 mùa xuân hông hay mùa chín nhưng ở thanh hải là mùa xuân nho nhỏ Chính với khát vọng làm 1 tiếng chim hót cành hoa xinh nốt nhạ trầm là thanh hải đã tạo được 1 màu xuân nho nhro đề hòa mình với 1 mùa xuân lớn lao của đất nước .nó dâng hạnh phúc sự sống cho đời . Nhà thơ muốn gởi gắm qua hình ảnh mùa xuân nho nhỏ cái khát vọng thật nhro bé và vô cùng cao đẹp . Ước nguyện được làm 1 mùa xuân nghĩa là muốn song đẹp sống với sức xuana tương trẻ của mình dẫu chỉ là xuân nhỏ nhỏ trong cái mùa xuân rộng lớn của đất nước nhưng trong cái xuân

    đời riêng vào mùa xuân bào la bất tận của cuộc đời là khát vọng khiêm tốn đáng yêu của 1 người thiết tha muốn cống hiến cho tổ quốc và ý thức rất rrõ cái hữu hạn của cá nhân mỗi người truớc cái vô hạn cái rộng lớn của cuộc đời

    Điều đáng quý là cái MXNN mà nhà thơ muốn cống hiến đo ko chút âm ĩ phô trương mà chỉ âm thầm lặng lẽ như 1 dòng sông tháng ngày lặng lẽ bồi đắp phù sa cho ruộng đồng màu mỡ . cây trái xanh tươi. Từ láy gợi tả gơij cảm lặng lẽ của đông từ dàng cho thấy thái độ cống hiến trân trọng mà thầm lặng khiêm tốn đáng yêu đáng quí của nhà thơ . Thái đó cống hiến thầm lặng đó gợi ta nhớ đến cùng sự hi sinh dấn hiên lặng lẽ tuổi xuân xứ huế và hạnh phúc cá nhân mình cho tổ quốc thân yêu . Cú nhưng con người ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước như anh than nhiên, người kĩ sư vường rau , anh cán bố nghiên cứu vê fsét bên dưới cái giá bằng thâm thùng mây tuyết ở Lặng Lẽ Sa Pa

    Điểm đáng nổi bật đặc biệt ở đaya là Thanh Hải dẫu chỉ mong được đóng góp cho đời 1 Mùa xuân nho nhro 1 cách âm thầm lặng lẽ nhưng lại miệt mài ko dứt hay nói cách khác là ko ngừng nghĩ dù khi tuổi trẻ đầu xanh hay tuổi già tóc bạc

    Dù là tuổi 20

    Dù là khi tóc bạc

    Mùa xuân nho nhỏ chính là tấm lòn gđáng quí của thanh hải đôiv ới cuộc đời và tấm kòng ấy còn đáng quí hơn nữa khi đã ý thức được sự hữu hạn cảu đời người trong cái vô cùng của đất trời thiên nhiên nhà thơ vẫn cớ muốn cóng hiến tất cả và mãi mãi cho cuộc sóng . Điệp ngữu dù là để lạp lại như mang ý nhấn mạng đã giúp cho thanh hải thể hiện thành công khát vọng cống hiến ko thôi bất chấp tất cả thách thức của tjhơi gian tuổi già bệnh tật khảng định quyết tâm cống hiến hết mình cống hiến ko

    giừoi hạn ở luằ tuổi nào . ko dừng lại ở thơi điểm nào . khi tuởi 20 tràn đầy như sống hay luắ đóc đã phải suơngư và đã qua đi tuổi xuân của đời mình . Nhà thơ cũng xin cống hiến nhưng gì thật đẹp tất cả sức lực và nhiệt tình coi đó là niềm vui là lẽ sống . khát vọng ấy đã trở thành 1tâm nguyện bất diệt . Thể hiện tình yêu thiết tha đối với quê hương đất nước cuộc đời sâu xa hơn đây là ý thức trách nhiệm đời với xã hội với con người

    Tấm lòng và nguyện ước của nhà thơ chính là tư tưởng là nhân sinh quan ai ước mông được sống với sự cống hiến nhiều hơn là hưởng thụ sống cũng là quan niệm sống mà Tố hữu đã từng khẳng định qua 1 khúc ca xuân

    Nếu ta làm con chim chiếc là

    Con chim phải hót , chiếc là phải xanh

    Lẽ nào vay mà ko trả

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình

    Nhưng nàh thơ cách mạng đó đã có chung 1 suy nghĩ thật đpẹ thật cao quý nhưng gì mà mình nhận của đời là vô cùng lớn lao nên sống là phải đóng góp dựng xây cuộc đời . Quan niệm này có nét giống và cũng có nét khác với quan niêm của nguyên công trứ ngày xuă Trước đay đã có nhưung suy nghĩ thật tiến bộ cho rằng khi sinh ra trên đời là để hưởng thụ bào di sản của lớp người đi truớc là ta đã mang 1 món nợ ở đời _ nợ tang bồng Và được vậy phải nhập thể hành đạo để trả nợ

    Nợ tang bồng vay trả trả vay

    Nguyễn Công Trứ đã có 1 nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhận với xã hội và trách nhiêm của mỗi thành viên trong cộngđòng . QUan niệm như thể là đáng quí nhưung theo ông khi

    Nợ tang bồng trong trắc vỗ tay reo

    Thi con người có thể mãng nguyện nghỉ ngơi hương thanh nhàn . ko còn gì vướng bận với đời

    Thảnh thơi thơ túc rượu bầu

    Còn đối với thanh hải và quan niệm xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay thì sự cống hiến cho hạnh phúc chung ko bao giờ có thể nói hoàn thành là kết thúc . Cống hiến ây là vô cùng là mãi mãi và chỉ thức sự chấm dứt khi con người nhắm mắt xuôi tay QUan niệm káht vọng cống hiến mãi ko thôi của Thanh Hải ở đay tích cực hơn đáng quí hơn và do vậy cao đẹp hơn bởi có sự tiếp xức của thời đại và có cội nguồn sâu xa là tình yêu nống thắm đối với con người quê hương cuộc đời .

    Khổ thơ đã khép lại nhưng ý tình vẫn còn lắng đọng và ngân vang trong lòng người phải chăng 1 mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ dâng cho đời kìa ko chỉ là của thanh hải mà còn lòa ước nguyện của mỗi chung ta những ai đã đọc bài thơ những ai muốn sống đẹp và hữu ích cho đời Có biết được haòn cảnh ra đời của bài thơ ta mới thây hết giá trị và ý nghĩa cao đẹp của nó . Bài thơ được thanh hải viết vào mùa đông tiết trời lạnh giá lúc nằm trên giường bệnh cận kề cái chết Ta chợt hiểu mùa xuân đây ko pảhi từ bên ngời đên mà đã có trong lòng nguời Như xuân Diệu đã có lần cảm nhận

    Xuân của đất trời hôm nay sao mới đến Trong tôi xuân đến tự lâu rồi ( xuân ko mùa )

    Chính mùa xuân vĩnh cữu trong lòng ấy đã giúp nhà thơ quên đi sự đau đớn của bệnh tật sự rình rập của cái chết đem lại cho nàh thơ niềm say xức với cuộc sống lòng tin yêu lạc quan với cuộc đời

    Hai khổ thơ ko hề có 1 từ ngữ bóng bẩy trau chuốt hoa mỹ lờ thơ nhẹ nhàng chân chất bình dị tình người ko phải ngẫu nhiên mà bài thơ mùa xuân nho nhở được phổ nhạc . Đây là 1 bài thơ giàu nhạc điệu giàu hình ản hvà khi nó đươcọ phổ nhạn thì đáy lại là 1 bài hạc giàu chất thơ. CHỉnh giau điệu nhẹ nhàng và tươi trẻ . từ đó ddax tạo cho bài thơ có sức truyền cảm lạ thường làm nỗi bật hơn những ước vọng cống hiến còa đẹp của 1 người rất tâm huyết với quê hương đất nước cuộc đời

    Chỉ 1 thang sau nàgy sáng tác bài thơ này Thanh ải qua đời Mùa Xuan nho nhỏ trở thành lời di chúc của chính nàh thơ . Bài thơ là lời tâm tình nhỏ nhẻ thiết tha mà vô cùng sâu lắng của 1 hồn thơ dịu dàg đăm thắm yêu đời yêu đất nước và ước nguyện sống đẹp sống có ích cống hiến cho đời tấm lòng khiêm tốn nhà thơ gợi lên trong em người là lẽ sống cao đẹp vượt lên những tình toán nhỏ nhen vuằ đời thường khơi dậy

    • em niềm káht khao muốn theo bước nàh thơ Tự nguyên góp xuân đời riêng vào xuân đời chung của dân tộc quê hương

    Như hạt muối hòa trong biển mặn Cùng góp mình cho cuộc đời chung

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào Thanh Hải cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh

    cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. có thể nói bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng. Chính vì vậy nó bâng khuâng, tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người, yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.

    Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời.

    Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc.

    Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng, bất ngờ, không gian như tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, thánh thoát hơn:

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót cho mà vang trời,

    Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn . Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ.

    Trước khung cảnh màu xuân ấy, Thanh Hải không giấu nổi cả xúc của mình Từng giọt long lanh rơi,

    Tôi đưa tay tôi hứng”.

    Từ “giọt long lanh” không chỉ hiểu là giọt mưa xuân trong anh sáng của sắc xuân mà còn được hiểu là giọt âm thanh, giọt sắc màu, giọt thời gian khiến tác giả say sưa ngây ngất . Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời, của sông, của chim muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.

    chỉ bằng vài nét điẻm xuyến phác hoạ tác giả đã vẽ ra một không gian cao rộng, sắc màu tươi thắm, âm thanh vang vọng tươi vui của mùa xuân, của thiên nhiên đất trời.

    Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống, nhân dân và đất nước. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”, biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:

    “Mùa xuân người cầm súng,

    Lộc giắt đầy trên lưng.

    Mùa xuân người ra đồng,

    Lộc trãi dài nương mạ.

    Tất cả như hối hả,

    Tất cả như xôn xao…”

    Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu.

    Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên, sẽ phát triển, sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.

    Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp:

    “Đất nước bốn ngàn năm

    Vất và vào gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước”

    Cùng với động từ Cứ đặt ở đầu câu, tác giả đã khẳng định một sự khẩn trương, hói h, náo nức vào xuân của đất nước với vẻ đẹp lung linh, lấp lánh đang vững bước về phía trước khiến không một thế lực thù địch nào có thể ngăn cản nổi.

    Đó chính là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước, dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.

    Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc

    bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:

    “Ta làm con chim hót,

    Ta làm một cành hoa.

    Ta nhập vào hoà ca,

    Một nốt trầm xao xuyến”

    Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót dâng tiếng ca lảnh lót , một cành hoa toả hương khoe sắc để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”.

    Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ

    “Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc”.

    Một mùa xuân nho nhỏ hay phải chăng cũng là một ẩn dụ cho chính cuộc đời của tác giả: sống là cống hiến, cống hiến chính là mùa xuân của cuộc đời?Mà mùa xuân ấy thì là mãi mái: “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc, khi sức cùng lực kiệt vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời . và, dù Thanh Hải cũng có đi xa thì những lời ca tiếng hát mà ông để lại cho đời mãi mãi vẫn có giá trị, mãi mãi vẫn tô điểm cho đất nước đẹp xinh. Điệp ngữ dù là được tác giả nhác lại hai lần như một lời hứa, một lời khẳng định của nhà thơ: sống là phải cống hiếntuyệt đối.nNhư nhà thơ Tố Hữu đã từng viết :

    “Nếu là con chim, chiếc lá,

    Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

    Lẽ nào vay mà không trả,

    Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”

    Tác giả Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân tình thắm thiết

    “Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm tình

    Nước non ngàn dặm mình

    Nhịp phách tiền đất Huế”

    Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những

    điều đúc kết cả cuộc đời của Thanh Hải. Ông đã giải bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau.

    Với thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, ‘’Mùa xuân nho nhỏ’’ mang một nét đặc sắc riêng Nét đặc sắc đó là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung .Bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta

  • Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Bài làm

    Lúc đầu:

    Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn.

    Sau khi gặp Thị Nở:

    • Lúc đầu: Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn. Ở đó, chưa bao giờ Chí Phèo được uống thoả thê đến thế… Người ta cư tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống rượu để cho chúng uống. Khi trở về vườn, Chí đã quá say, không đi vào túp lều mà ra thẳng bờ sông đẻ tắm. Trên đường đi hắn gặp Thị Nở đang ngủ hớ hênh dưới trăng. Sự chung đụng ấy hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính bản năng của người đàn ông trong cơn say.

    Sự thức tỉnh:

    Sáng hôm sau, khi đã trải qua 2 biến cố: gặp Thị Nở rồi bị trúng gió được Thị Nở đưa vào lều.

    +Đầu tiên, Chí Phèo tỉnh rượu: Đây có lẽ là lần đầu tiên anh ta tỉnh rượu kể từ lúc ra tù về. Những lần trước, mỗi khi tỉnh rượu, anh lại uống, vì thế say kế tiếp say.

    Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn: “ Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc; hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Đó là điều rất lạ ở Chí.

    +Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần thức dậy ý thức vốn có ở một người bình thường. Lần đầu tiên, nah ta nghe tiếng ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền chài. Tất cả những âm thanh ấy là những tiếng quen thuộc hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy, bởi xưa nay anh chưa bao giờ hết say.

    Không những thế, Chí còn biết ngoài cái lều ẩm thấp chỉ có hơi lờ mờ của mình, mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết đuợc trời sớm hay muộn cũng chính là anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh lại nhớ về quá khứ, rằng có một thời, đã ước mơ có một cuộc sống gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thông thường, người ta nhớ lại thời gian quã vẵng để hiểu hiện tại.Chí cũng vậy: Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay ch đời! Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Hắn đã tới cái dốc kia của đời.

    Rồi Chí Phèo đã hình dung được tương lai đầy bất trắc: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao là chất độc, đày đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa cuối mùa thu cho biết trời gió rét, này mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông trước thấy

    tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc… Càng nghĩ, Chí càng lo, vì cô độc đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau. Nếu không có Thị Nở vào, cứ để hắn vẩn vơ, thì đến khóc được mất. Đến đay, không ai nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu cảm giác, cảm xúc, mà còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời, về bản thân phải là con người bình thường chứ! Với bản thân Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con đường tự ý thức.

    • Khi được chăm sóc: Những ngày kế tiếp, Thị Nở sống chung với Chí Phèo. Anh ta ốm và Thị Nở trở thành người duy nhất chăm sóc. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại miêu tả thật chi tiết bát cháo hành Thị Nở đã bón cho Chí.

    +Với Thị Nở, việc ấy xuất phát từ sự đáng thương đối với một người đau ốm mà nằm chòng queo một mình, lòng yêu của một người làm ơn và có cả lòng yêu của người chịu ơn.

    +Còn Chí Phèo, anh ta cảm nhận được rất nhiều: Lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì… Đời hắn chưa bao giờ đuợc săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà” …Hắn chưa được người đàn bà nào yêu cả. Còn lần này, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được… Như vậy, qua bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho mình và chính anh ta cũng mong ước có niềm yêu thương ấy.

    +Từ cảm nhận về tình yêu của Thị Nở, cảm xúc, cảm giác càng được đánh thức sâu sắc hơn ở Chí Phèo: Hắn thấy mắt hình như ướt ướt…Hắn nhìn bát cháo hành bốc khói mà bâng khuâng… Hắn thấy vừa vui vừa buồn… Hắn thấy lòng thành trẻ con.

    Hắn muốn làm nũng Thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền… Không những thế, ở Chí còn giống một cái gì nữa như ăn năn… hối hận về tội ác khi không đủ sức mà ác nữa. Anh ta băn khoăn tự hỏi rồi tự trả lời, ngẫm nghĩ mà sợ hãi: Hắn đâu còn mạnh nữa. Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và doạ nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa. Bầy giờ mới nguy!

    +Bùng nổ trong tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở là khát vọng lương thiện. Đấy cũng là đỉnh điểm của sự tỉnh thức của Chí Phèo: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với, vọi nguời biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lạo không thể đựơc. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai. Họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện… Chí đã đem cái khát vọng ấy ta thăm dò đặng tìm sự chia sẻ ở Thị Nở. Khi thị cười tin cẩn, Chí Phèo thấy tự nhiên nhẹ cả người và lòng thấy rất vuoi chứng tỏ anh ta đang tràn đầy hy vọng trở lại thế giới con người. Những ngày sau đó, Chí không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏ tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo mà yêu nhau. Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say. Và hắn say Thị Lắm. Cả người kể chuyện ẩn hình, vốn rất lạnh lùng, cũng không giấu nổi cảm xúc cảm hình khi hình dung về tương lai của họ: Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.

    – Bị từ chối quyền làm người lương thiện:

    Những ngày vui của Chí Phèo không kéo dài được bao lâu. Đến hôm thư sáu, thì Thị bỗng nhớ rằng có một ngưòi cô ở đời… Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã.

    +Bà cô Thị Nở quyết liệt phản đối cháu gái lấy thằng Chí Phèo vì ai lại đi lấy thằng Chí Phèo, một thằng không cha, chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Đau đớn cho Chí Phèo, khi anh ta hiền và muốn làm hoà với mọi ngưòi thì chính họ vẫn sợ và vẫn nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ ở làng Vũ Đại! Đến bà cô của Thị Nở, một người năm muơi tuổi vẫn chưa lấy chồng, sống cái đời dằng dặc, uất ức, còn nghĩ về Chí như vậy huống chi ngườ khác. Sự phản đối của bà cô Thị Nở đồng nghĩa với việc đóng chặt con đường trở về với thế giới lương thiện của Chí Phèo. Vì thế, ban đầu còn ngơ ngác, hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu, hắn bỗng nhiên ngẩn người. Chí thấy cần thiết phải trả thù: Hắn phải đến nhà ****** Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó. Nếu không đâm được, đến lúc ấy hãy đập đầu ra kêu làng. Với Chí, đập đàu hay kêu làng cũng là cách tỏ rõ sức mạnh của mình, một cách trả thù. Nhưng muốn đập đầu phải uống thật say. Không có rượu lấy gì làm cho máu nó chảy! Thế là Chí uống, song lần này càng uống lại càng tỉnh ra và đặc biệt hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo uống rượu mà ngưòi lại tỉnh, khác với những cơn say dài mênh mông trước đó. Khi trong đầu anh cứ thoang thoảng mùi cháo hành chứng tỏ Chí không sao quên được những ngày ngắn ngủi từng được chăm sóc, vui sống. Bây giờ, tất cả những cái đó đã bị tước đoạt, vì thế Chí quyết phải đi trả thù, đi đòi lại lương thiện.

    Khi nghe Thị Nở kể chuyện, Chí nghĩ ngay đến việc giết bà cô của thị để trả thù. Nhưng sau khi uống rất nhiều rượu, với một con dao ở thắt lưng, miệng lảm nhảm

    • “Tao phải đâm chết nó!”, Chí Phèo cứ thẳng đường mà đi đế nhà Bá Kiến. Anh không hề quên đường, bời bà cô Thị Nở không phải là người cướp đi những gì mà anh vốn có, càng không thể cho anh những gì đã mất. Đây có thể coi là giây phút tỉnh táo nhất khi Chí đi tù về. Tỉnh táo xác định kẻ thù : Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất được những vết mảnh trai trên mặt này? Tỉnh táo trong hành động tự sát vì không được sống lương thiện và không muốn trở lại kíêp sống thú vật như trước : Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách…biết không?…

    Chỉ có một cách là …cái này ! Biết không !… Những câu nói đứt quãng vừa thể hiện quyết tâm trả thù, vừa bộc lộ niềm phẫn uất, nỗi bế tắc của Chí Phèo. Cái chét là cách chọn lựa duy nhất để Chí giải quyết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình : …khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Phân tích truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”

    BÀI LÀM

    Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

    Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt.

    Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

    Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

    Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.

    Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Néy đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những

    chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

    Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

    Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại.

    Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

    Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

    Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước

    vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

    Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động.

    Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

    Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện

    sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh

    chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân

    dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi

    theo.

  • VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

    PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO 

    Nhan đề tác phẩm

    – Đầu tiên, Nam Cao đặt nhan đề : Cái lò gạch cũ. Sau đó – năm 1941- NXB tự ý đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi. Năm 1946, khi in lại trong tập Luống cày, Nam Cao đã đặt lại tên là Chí Phèo – Ý nghĩa của nhan đề: Chí Phèo, vẽ nên một con người cụ thể, một số phận cụ thể, cô đơn, cô độc…

    1. Hình tượng nhân vật Chí Phèo

    a, Sự xuất hiện của hình tượng Chí Phèo

    • Mở đầu truyện là một Chí Phèo say rượu và chửi bới:

    + “Hắn vừa đi vừa chửi” 

    + Hắn chửi tất cả : từ trời, đời ,cả làng Vũ Đại , “Chửii cha đứa nào không chửi nhau với hắn” “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”=> đối tượng chửi đã được xác định : xã hội thực dân nửa phong kiến đã sinh ra cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi qua đó cũng thu hẹp dần > chứng tỏ Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc.

    • Cái mà Chí nhận được là : “ trời có của riêng nhà nào”,“đời là tất cả nhưng chẳng là ai” , “không ai lên tiếng cả” ,“không ai ra điều” , “nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo”. Đáp lại tiếng chửi ấy trớ trêu thay lại là “ tiếng chó cắn lao xao”.

    • Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo:

    Chí đã bị đánh bât ra khỏi xã hội loài người, tiếng chửi trở nên vật vã, tuyệt vọng.¦+ Chí chửi tức là Chí muốn giao tiếp với mọi người nhưng tất cả đều im lặng, chỉ có “ba con chó dữ với một thằng say rượu”)

    + Tiếng chửi của Chí là tiếng nói đau thương của một con người ý thức về bi kịch của mình: sống giữa cuộc đời nhưng đã mất quyền làm người. Đó chính là sự đau xót của nhà văn đối với nhân vật của mình.

    b. Sự ra đời và quá trình tha hoá của Chí Phèo.

    Khi mới sinh ra Chí bị bỏ rơi bên cạnh chiếc lò gạch cũ, được dân làng nhặt về nuôi nấng. Tuổi thơ bất hạnh, tủi cực “ hết lang thang đi ở cho nhà người này lại đi ở cho nhà người khác, năm 20 tuổi thì làm canh điền cho nhà Bá Kiến”

    Chí là một nông dân hiền lành, lương thiện:

    + Bà ba sai bóp đùi, hắn: “vừa làm vừa run” “ thấy nhục chứ yêu đương gì”

    + Chí là một con người có lòng tự trọng: khi bị bà ba sai bóp chân, Chí “thấy nhục hơn là thích” trước một việc làm mà Chí cho là “không chính đáng”.

    + Có ước mơ giản dị: “ có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc muốn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”

    • Xã hội thực dân nửa phong kiến không để yên cho con người tội nghiệp ấy được sống với những ước mơ và khát vọng, Bá Kiến ngấm ngầm đẩy Chí vào tù. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cáo già Bá Kiến biến Chí Phèo từ một người nông dân hiền lành lương thiện thành một kẻ lưu manh, côn đồ khét tiếng . Sau 7, 8 năm tù ra, Chí đã bị cái xã hội ấy vằm nát cả nhân hình lẫn nhân tính, trở thành một kẻ lưu manh, một con quỷ dữ.

    + Nhân hình: Bị xã hội lưu manh vằm nát bộ mặt người.

    •Gương mặt: “cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết” 

    •Trang phục: “mặc quần nái đen với cái áo tây vàng”

    •Thân thể: “cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”. 

    + Nhân tính: Hành động và lời nói thể hiện tính cách của một kẻ liều lĩnh, hung hăng:

    • “Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều…Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà Bá Kiến gọi tận tên tục ra mà chửi”. Chí bộc lộ tính lưu manh cùng đường: “đập cái chai vào cột cổng”, lăn lộn dưới đất…cào vào mặt” 

    • Nói với Bá Kiến: “Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi”. Trong câu nói ấy của Chí chất chứa hận thù. Chí vẫn đang còn tỉnh táo để nhận ra kẻ thù của mình. Đó là ý thức hệ của tầng lớp bị thống trị đối với giai cấp thống trị. Thế nhưng trước một Bá Kiến cáo già với châm ngôn sống “ Thứ nhất sợ kẻ anh hùng/ Thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân” “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Từ đây chí sống bằng rượu và máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện: “Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện”. Hắn làm những việc ấy trong lúc say “ ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say… đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi say nữa say vô tận”. Chưa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi vì “ những cơn say của hắn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang”.’. Chí phèo đã sa vào bẫy của tên cáo già ấymột cách thật dễ dàng. Để rồi sau đó hắn trở thành tay sai của BK, đối lập với nhân dân lao động cần lao. Từ một người nông dân hiền lành lương thiện Chí trở thành thằng lưu manh

    Giữa lúc Chí đang rơi vào ngõ thẳm đêm đen của tội lỗi thì Nam Cao bằng tấm lòng nhân đạo sâu sắc đã xuất hiện đúng lúc. Ông mang đến cho Chí một “thiên sứ” – Thị Nở với hi vọng cữu vãn linh hồn Chí Phèo.

    c. Chí Phèo gặp Thị Nở

    Cuộc gặp gỡ với Thị Nở trong một đêm trăng bên bờ suối đã thức tỉnh phần người của Chí giúp hắn trở về kiếp người. Sự quan tâm, chăm sóc của Thị Nở đã giúp Chí cởi bỏ phần “quỷ” để sống lại làm người, khát khao hoàn lương, làm người lương thiện.

    – Diễn biến tâm lí, tình cảm của Chí Phèo

    + Từ tỉnh rượu đến tỉnh ngộ

    • Tỉnh rượu: lần đầu tiên – từ khi mãn hạn tù – Chí hết say và cảm nhận được thời gian và âm thanh hằng ngày của cuộc sống. Âm thanh cuộc sống đang từng tiếng một gõ nhịp vận hành cùng với sự thức tỉnh của Chí Phèo. * “Ở đây (căn lều) người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng” * “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Tiếng mấy bà đi chợ về, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông” . Những âm thanh này ngày nào mà chẳng có, nhưng đây lại là lần đầu tiên chí mới nhận ra: chao ôi là buồn!

    • Tỉnh ngộ : nhận thức và nhìn lại cuộc đời mình trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai * Qúa khứ :“Hắn nao nao buồn” nhớ về một thời hắn đã từng ước mơ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn,…” * Hiện tại: “Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc”, “hắn “đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời”“cơ thể đã hư hỏng nhiều” * Tương lai: đáng buồn và lo sợ vì nghĩ đến nhiều điều bất hạnh: “tuổi già”, “đói rét và ốm đau, và cô độc”. Tỉnh ngộ, Chí muốn khóc… Chí Phèo đang thức tỉnh và bắt đầu hồi sinh về kiếp người.

    + Khát khao hoàn lương và mong ước hạnh phúc

    • Chí ngạc nhiên và xúc động “mắt hình như ươn ướt” khi Thị Nở mang “một nồi cháo hành còn nóng nguyên” vì đây là lần đầu tiên “hắn được một người đàn bà cho”, “đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Chí lại nghĩ đến con mụ Bà Ba và lấy làm kinh tởm vì những trò dâm đãng “nó chỉ mong cho thỏa nó chứ yêu đương gì”.

    • Chí “ăn năn”, “thấy lòng thành trẻ con” và “muốn làm nũng với thị như với mẹ” khi được Thị Nở chăm sóc bằng tình cảm thương yêu.

    • Chí trở nên hiền lành đến khó tin: “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó vẫn là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt đâm chém người?”, “cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi” đã trỗi dậy mạnh mẽ, Chí sống đúng với con người thật của mình, giống như anh canh điền hiền lành trước đây.
    • Chí mong muốn trở lại làm người lương thiện: “Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao !… Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện” 

    • Chí khát khao hạnh phúc và có một mái ấm gia đình: “Gía cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”, “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui.”  giống như lời cầu hôn chất phác, giản dị. Qua miêu tả tâm lí hồi sinh của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao cho cho ta thấy được bản tính tốt của con người có ngay trong con người bị tha hoá. Bản tính ấy sẽ trỗi dậy khi có chất xúc tác. Đó là sự thương yêu, quan tâm. Từ đó nhà văn kêu gọi chúng ta cần tin vào con người, tin vào bản chất tốt đẹp của mỗi con người và cần giúp đỡ họ tìm lại những cái tốt đẹp nhất của phần “người” * Bài học nhân sinh: Con người cần phải quan tâm , chia sẻ tình thương giữa người với người. Tình thương có khả năng cảm hoá được con người.¦

    d. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    – Nguyên nhân  cả làng Vũ Đại, cả xã hội ko ai đón nhận linh hồn người vừa trở về của Chí. Định kiến của bà cô cũng là định kiến của cả xã hội đương thời. – Chí đau đớn và tuyệt vọng:’: Thị Nở đã cắt đứt với Chí Phèovì bị bà cô cấm đoán

    + Uống rượu cho thật say nhưng “càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn!”

    “Hắn ôm mặt khóc rưng rức” càng thấm thía nỗi đau khôn cùng của thân phận. – Phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định đến nhà đam chết con “khọm già”, con “đĩ nở” nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận và bi kịch đã đẩy chệch hướng đi của CP dẫn Chí đến thẳng nhà Bá Kiến. Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng: kẻ đã làm cho mình phải mang lốt quỷ, kẻ đã làm mình ra nỗng nỗi khốn cùng này chính là BK.

    + Lòng căm thù đã âm ỉ bấy lâu trong con người của Chí càng thấm thía tội ác kẻ đã cướp đi quyến làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình. – Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người:

    “ Tao muốn làm người lương thiện”

    “ Ai cho tao lương thiện?” Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân.

    • Chí giết Bá Kiến và tự sát. Cái chết của Chí Phèo là bản án tố cáo xã hội thực dân nửa phong , một cuộc sống mà trong đó, con người muốn sống lương thiện cũng không được.

    III. Tổng kết Nghệ thuật:

    – Xây dựng và điển hình hoá nhân vật.

    – Miêu tả , phân tích tâm lí nhân vật.

    – Trần thuật. – Ngôn ngữ sống động, gắn với lời ăn tiếng nói hằng ngày.

    – Giọng điệu phong phú, có sự đan xen lẫn nhau.

    – Cốt truyện hấp dẫn, kịch tính và đầy bất ngờ.

    – Kết cấu truyện độc đáo.

    Thầy Phan Danh Hiếu

    HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH:

    1.a. Chí Phèo là một nông dân lương thiện:

    Dẫn chứng 1: “Lại một thằng hiền lành như đất, tội nghiệp cho hắn, có lần Lí Kiến thấy hắn bóp đùi cho bà ba, vừa run run” (Phân tích để thấy “hắn thấy nhục hơn là thích”).

    Dẫn chứng 2: “Hắn lại nao nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi. Hình như có một thời gian hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua năm ba sào ruộng” (Phân tích để thấy ước mơ hiền lành của Chí Phèo là một ước mơ bình thường, trong sáng của một nông dân chân chất, hiền hòa). Lương thiện, đó là bản chất của Chí Phèo, là chất người của nhân vật.

    b. Chí Phèo bị tha hóa

    Dẫn chứng 1: “Hắn về lần này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết (Phân tích để thấy Chí Phèo đã biến thành “người khác”: một tay anh chị, một kẻ lưu manh)

    Dẫn chứng 2: “Cái mặt hắn không trẻ cũng không già; nó không phải còn là mặt người; nó là mặt một con vật lạ, nhìn mặt những con vật đó có bao giờ biết tuổi? Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu tro; nó vằn dọc, vằn ngang, không thứ tự biết bao nhiêu là vết sẹo”. (Phân tích để thấy Chí Phèo đã biến thành một con vật).

    Dân chứng 3: “Hôm nay không có tiền, nhà mày bán chịu cho ông một chai…”. Mụ hàng rượu hơi ngần ngừ. Thế là hắn “rút bao diêm, đánh cái xòe, châm lên mái lều của mụ”. (Phân tích chi tiết này hành động mang tính chất thú vật của Chí Phèo. Từ một nông dân hiền lành như cục đất, Chí Phèo trở về từ nhà tù và trở thành một con quỷ dữ. Chú ý cách so sánh của Nam Cao “Trông đặc như thằng săng đá” tức là đọc trại chữ soldat – có nghĩa là lính. Điều này phải chăng là một ngụ ý của Nam Cao: Chí Phèo là một sản phẩm của nhà tù, của xã hội ấy).

    c. Chí Phèo bừng tỉnh và đòi quyền làm người

    Dẫn chứng 1: Tình yêu cảu Chí Phèo “Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền...” (Phân tích chi tiết này để thấy chất con người của Chí Phèo. Bởi vì sau bát cháo hành ấy, thoáng một cái, hắn lại như hít hơi cháo hành đó là cái hơi của tình yêu).

    Dẫn chứng 2: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác không thể được“. Và hắn nói: “Giá như cứ thế này mãi thì thích nhỉ?” (Phân tích chi tiết này để thấy nội tâm Chí Phèo đã bừng tỉnh, cái bản chất con người, cái thật của Chí Phèo đã trỗi dậy, đã thôi thúc tình cảm Chí Phèo. Chí Phèo thật sự muốn “thế này” mãi nghĩa là muốn sống như một con người).

    Dẫn chứng 3: Chí Phèo tới nhà và giết bá Kiến rồi tự sát.

    – Phân tích chi tiết Chí Phèo định tới nhà giết bà cô thị Nở, nhưng rồi lại đến nhà bá Kiến (ý thức và vô thức).
    – Phân tích câu nói của Chí Phèo “Tao muốn làm người lương thiện”.
    – Lý giải hành động của Chí Phèo giết bá Kiến với ý nghĩa “Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này?” (Chí Phèo đã xác định được kẻ thù của mình và có một hành động quyết liệt và dữ dội – đây là hành động tích cực so với các tác phẩm hiện thực phê phán đương thời).

    2. Hợp

    Chí Phèo là một nhân vật điển hình xuất sắc của Nam Cao, và của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945.

    Nam Cao đã xây dựng nhân vật này rất chu đáo (tất cả những Năm Thọ, binh Chức với hàng loạt chi tiết về những tên “du côn” ấy là để chuẩn bị làm nổi bật tính cách của Chí Phèo).

    Kết luận

    Vì vậy, có thể nói Chí Phèo là tất cả tác phẩm.

    Từ cuộc đời của nhân vật ấy, nhà văn đã phản ánh sâu sắc những hiện thực của xã hội, đã tố cáo mạnh mẽ sự vô nhân đạo của xã hội ấy. Và nhất là, qua nhân vật ấy, nhà văn đã lên tiếng bảo vệ cho quyền làm người của con người.

    Theo Trần Phò* .

  • Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Kế hoạch kinh doanh sản phẩm áo Massage Pro – ET


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    BÀI LÀM

    Người đọc bản tuyên ngôn độc lập (cũng là tác giả) cất lời là vào ngay vấn đề, nhằm thẳng mục tiêu; xác định một chân lý, nghĩa là khẳng định một chủ quyền.

    Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Chân lý bao giờ cũng giản dị đối với người sáng suốt, có thiện chí muốn tiếp thu nó. Còn đối với những kẻ có tà tâm bị lợi lộc ích kỷ làm cho mù, cho điếc, không còn muốn thấy sự thật, muốn nghe lẽ phải thì rất khó tiếp thu. Phải giải thích. Tốt nhất là dựa vào những lý lẽ có uy thế từ lâu.

    Đối tượng được nghe trước hết là một triệu đồng bào trong cuộc biểu tình, là hai mươi lăm triệu nhân dân cả nước đang hướng về Thủ đô Cách mạng…Tất nhiên chúng ta hiểu được nước ta là của ta. Ta hiểu từ lâu rồi, từ bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Ta đã khẳng định như thế nhiều lần, “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hoặc:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác.”
    (Bình Ngô đại cáo)

    Nhưng trong hai mươi lăm triệu tất cũng có người còn ngơ ngác bàng hoàng vì cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi quá nhanh, chưa kịp tĩnh tâm để xóa được ngay những luận điệu xảo trá tung ra liên tục tám chục năm qua. Và, có hiểu rồi, nhắc lại cũng không sao. Có những sự thật nghe hàng nghìn lần vẫn thấy sảng khoái.

    Mặt khác, đối tượng nghe đâu phải chỉ có Việt Nam.

    Còn có “Đồng Minh”, có Mỹ, tên trùm tư bản quốc tế, đã trở thành tên đế quốc đầu sỏ sau đại chiến. Có Pháp đang hí hửng giơ vuốt, nhe nanh. Hồ Chí Minh hôm nay, Nguyễn Ái Quốc hôm qua còn lạ gì bụng dạ chúng. Lấy ngay lời nói của chính các bậc tiền bối của chúng, những lời tuyên bố trịnh trọng trong những hoàn cảnh lịch sử vĩ đại mà chúng không thể biết. Chúng cố tình quên thì nhắc lại. Nhắc lại những lời chí lý của những người Mỹ cách đấy chỉ gần hai trăm năm cũng có hoàn cảnh bị áp bức, bị làm nhục như Việt Nam. Câu nói của tên thủ tướng Anh Uy – Liêm như còn văng vẳng bên tai: “Hễ Mỹ làm ra dù chỉ một sợi len, một miếng sắt móng ngựa là bản chức sẽ cho lính sang đóng đầy xứ ngay lập tức.”

    Mười lăm năm sau bản Tuyên ngôn của Mỹ là bản Tuyên ngôn của Pháp, của những người Pháp không chịu được cái phải cõng trên lưng, đội trên đầu mấy chú quý tộc, mấy anh tăng lữ, không chịu được câu nói hống hách vô nghĩa của mấy tên vua: “Trẫm muốn, ấy là pháp luật”.

    Hồ Chủ Tịch khổng chỉ lấy lại lời nói hay của người xưa mà còn giải thích, bình luận, khái quát, nâng lên một tầm vóc cao hơn, rộng hơn, mới hơn. Từ hạnh phúc cá nhân, người nâng lên vấn đề “quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do” của các dân tộc. Không chỉ một cá nhân có quyền bình đẳng về quyền lợi với một cá nhân khác mà các dân tộc đều sinh ra bình đẳng với nhau về mọi mặt, nghĩa là một dân tộc dù nhỏ bé, dù thuộc chủng tộc da đen, da vàng cũng có quyền bình đẳng với một dân tộc lớn thuộc chủng tộc da trắng của nước tiên tiến nhất Âu, Mĩ. Cuộc tranh đấu ấy cũng là mục tiêu lớn, nội dung lớn của thời đại chúng ta, thời đại mở cửa đầu của Cách mạng tháng Mười, thời đại mà tính chất sẽ được khẳng định trong hội nghị 81 họp năm 1960 tại Ma-xcơ-va. Thực tế cách mạng đã xác định tính thiên tài trong cách nhìn, cách nghĩ của vị lãnh tụ đã từng là đại biểu của các dân tộc thuộc địa và bênh vực họ không biết mệt mỏi trong các hội nghị quốc tế.

    Đoạn văn mở đầu hết sức gọn, súc tích. Hai câu trích bổ sung cho nhau. Một lời bình luận, một câu kết thúc, gói lại thật chặt, thật vững.

    “Thế mà…”

    Chỉ một lớp chuyển tiếp là đủ mở ra hết nội dung của đoạn sau. Nó như một tiếng thở dài uất hận, một lời phê phán nghiêm khắc những kẻ muối mặt, cố tình làm bậy. Và thế là Bản án chế độ thực dân Pháp đã từng được đưa ra trước tòa án lịch sử cách đấy hai mươi năm lại được tóm tắt đưa ra lần nữa trước công luận Việt Nam và thế giới.

    Vẫn là lập trường dân tộc rộng rãi của người viết, vẫn là lòng căm giận quân cướp nước thể hiện bằng những lời lẽ súc tích, đanh thép. Những động từ, tính từ, trạng từ đều hết sức nặng để miêu tả bản chất bọn chúng (thẳng tay chém giết, ràng buộc dư luận, cướp không ruộng đất, hàng trăm thứ thuế vô lý…) Vẫn lòng xót xa đối với đất nước lầm than ở tính trữ tình và câu văn giàu hình ảnh (khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu). Vẫn cái giọng châm biếm, đả kích sắc sảo, trí tuệ (thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại trong năm năm, chúng bán nước ta hai lần cho Nhật).

    Bản tuyên ngôn này chỉ khái quát hai loại tội ác về chính trị và kinh tế, đủ nhắc nhở đồng bào tăng cường cảnh giác và để dùng làm một luận cứ cho lí lẽ của bản Tuyên ngôn: Pháp không có quyền nói đến chuyện “bảo hộ” Việt Nam.

    Hết tội xa đến tội gần.

    Bọn thực dân Pháp cũng như mọi kẻ áp bức, lúc còn quyền hành thì hống hách, hung bạo, lúc thất thế thì đê hèn, mất hết, mất hết liêm sỉ, giẫm lên nhân phẩm để bám lấy chút sống thừa. Quỳ gối đầu hàng Nhật, chúng gây bao nhiêu tội ác. Đối với nhân dân Việt Nam mà chúng vẫn rêu rao được chúng “bảo hộ”, “khai hóa”, chúng quàng thêm một ách lên đầu. Kết quả thảm hại, cụ thể mà lịch sử Việt Nam và nhân loại ghi bằng chữ máu không thể phai mờ với thời gian là hai triệu người đã chết đói “chỉ riêng từ Quảng Trị đến Bắc Kì”.

    Đối với Đồng minh là phe của chúng, chúng phản bội, chúng biến Việt Minh là những người đứng về phe Đồng Minh thành kẻ thù chính, và “thẳng tay khủng bố”.

    Nhiều động từ miêu tả được dùng để vẽ lên hình ảnh thảm bại của chúng: quỳ gối đầu hàng, mở cửa rước Nhật, bỏ chạy…Trong sự việc nêu ở câu cuối của đoạn văn mỗi chữ dùng, mỗi nét phác họa đều có ý nghĩa (thậm chí, nhẫn tâm, giết nốt số đông tù chính trị…).

    Đối lập với cái ti tiện, cái dã man của chúng là lượng hải hà, là những hành động văn minh của nhân dân ta. Cũng chỉ là những hiện tượng lịch sử. Nhưng đặt vào đây nó có tác dụng như một thủ pháp nghệ thuật làm nổi bật lên cái khác nhau về bản chất giữa ta và địch, khẳng định thêm về chất nhân đạo của dân ta. Đối với kẻ tay còn đẫm máu Việt Nam, nhân dân và cách mạng Việt Nam vẫn giúp họ, cứu họ, bảo vệ họ. Ba động từ biểu hiện ba hình thái tương quan với kẻ thù, ba trạng thái cụ thể của lòng nhân đạo Việt Nam. Giúp là đối với kẻ còn chủ động, muốn vượt biên giới tránh cái họa của chủ nghĩa phát xít Nhật. Ta thêm cho họ một cái đẩy tay giúp họ vượt được ranh giới giữa mong muốn và hiện thực. Cứu là đối với những kẻ bất lực, trong một tình thế nguy nan tuyệt vọng, những kẻ bị giam trong nhà tù Nhật, chỉ chờ ngày tận số…Ta phá cũi sổ lồng, cứu những con mồi của thần chết. Bảo vệ là đối với những con người đang còn bị đe dọa. Ta cứu họ rồi lại còn tiếp tục bảo vệ, không chỉ tính mạng mà còn cả tài sản nữa. Cái chu đáo của lòng nhân đạo Việt Nam là như thế.

    Vậy thì giữa những người Việt Nam như thế và những người Pháp như trên, ai bảo hộ ai? Và người Pháp có quyền gì đối với Việt Nam nữa không?

    Việc tính sổ trên đã có thể giải đáp rõ ràng.

    Thêm vào đó là một sự thực rành rành: từ tháng 9 – 1940 khi Nhật tràn qua Lạng Sơn vào Việt Nam, Pháp đã đầu hàng Nhật, đã bán chủ quyền nước ta cho Nhật. Về mặt pháp lý, một vật đã bán cho người khác tất thuộc quyền sở hữu của người đó. Và ta đã lấy lại vật ta đã mất từ tay Nhật. Như thế là về mọi mặt, dứt khoát Pháp không còn quan hệ gì với Việt Nam nữa. Bản tuyên ngôn có thể dõng dạc tuyên bố “thoát li hẳn quan hệ với Pháp”.

    Những từ, những ý lập lại (Sự thật là mùa thu…Sự thật là dân ta…) những ý phủ định thèm vào song song tạ các vế để nhấn mạnh (của Nhật, chứ không phải của Pháp) như chồng chất thêm những tầng lớp cản, ngăn cách dứt khoát mọi thứ bắt mối ảo tưởng về chủ quyền của người Pháp trên đất Việt Nam. Những trạng từ dùng trong quan hệ với Pháp: thoát li hẳn, xóa bỏ hết, xóa bỏ tất cả, như những nhát gươm sắc chém ngọt vào sợi dây dợ còn dính díu.

    Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không phải là một sự thật ngẫu nhiên. Đó là bước phát triển của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam vĩ đại. Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ” bằng vô vàn những cuộc khởi nghĩa quật đổ những ngai vàng mà cuối cùng là của vương triều nhà Nguyễn mục nát. Bảo Đại buộc phải thoái vị để làm một người nông dân.

    Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay “bằng gươm súng, bằng máu xương của những Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và của những chiến sỹ vô sản bất khuất kiên cường.

    “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Một câu trong những câu hiếm của văn chương, cô đúc bao sự kiện lịch sử.

    Cảnh về chiều của các tầng lớp thống trị thật buồn, mà những động tác gợi ra ở những điên viên lịch sử trên sân khấu Việt Nam thì thật ngoạn mục. Một kẻ chạy thục mạng đâm đầu xuống hố diệt vong. Một kẻ giơ tay nhận lấy phận đầu hàng. Một kẻ tụt từ trên ngai xuống, hai tay run rẩy nộp ấn, kiếm.

    Động từ từ nhanh đến chậm. Nhịp câu văn từ nhanh, chậm lại, rồi ngừng như một chuyến tàu vét lịch sử lao từ xa tới, chậm lại để ngừng vĩnh viễn.

    Ách thực dân, họa phát xít, tệ quân quyền, những rác rưởi ấy bị quét sạch, dọn chỗ đón một quốc gia mới, một chế độ mới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời.

    Những lẽ phải không ai chống cãi được, những lẽ phải mà Đồng minh đã công nhận trong các văn kiện còn chưa ráo mực ở hội nghị quốc tế Tê-hê-ran và Cự Kim Sơn, những hành động gan góc mấy năm qua cũng nhằm mục tiêu như Đồng minh: tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, củng cố cái quyền tồn tại của nước Việt Nam mới.

    Nhưng trên hết và cơ bản nhất là quyết tâm vững như bàn thạch của cả một dân tộc có bốn nghìn năm bất khuất nói lên qua tiếng nói của vị Chủ tịch đâu tiên của mình: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập”.

    Ba đoạn cuối của bản tuyên ngôn độc lập là những đoạn văn thép: chất thép của ý chí Hồ Chí Minh, của ý chí Việt Nam.

    Chất thép trong lập luận buộc Đồng minh phải công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam, lấy lời của họ để ràng buộc họ. “Chúng tôi tin rằng…”. Tin có ý nghĩa tu từ. Mềm đấy, mà rắn đấy. Tin là tỏ vẻ tôn trọng họ, giá định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là cách buộc họ phải tự trọng, nghĩa là buộc họ không được có sự bất nhất giữa lời nói và việc làm, “Không thể khong công nhận” quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. “Không thể không” hai phủ định nghe vẫn chắc chắn hơn một khẳng định.

    Chất thép trong câu tiếp ở cái kết luận tất yếu của một thứ tam đoạn luận độc đáo vì có một vế ẩn mà lại rất rõ. Một dân tộc không chịu khuất phục, đã liên tục chiến đấu chống mọi ách nô lệ Pháp cũng như Nhật, dân tộc đó phải được độc lập. Phe Đồng minh gồm toàn những nước tự do. Một nước đứng về phe Đồng minh, cùng lí tưởng, cùng chiến đấu. Nước đó phải được tự do. Dân tộc đó là dân tộc Việt Nam. Vậy dân tộc Việt Nam phải được độc lập, nước Việt Nam phải được tự do.

    Dân tộc, tự do, độc lập. Những từ thiêng liêng đó trở lại cùng với những tính từ gan góc, những trạng ngữ: 80 năm nay, mấy năm nay, những khẳng định: phải được nhưng hùng dũng gõ nhịp trong một điệp khúc của một bài hùng ca đòi quyền sống.

    Chất thép trong đoạn cuối cùng là ở tính chất trịnh trọng của bản tuyên bố về một sự thực, về quyết tâm bảo vệ bằng bất cứ giá nào sự thực đó. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập…Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Mỗi từ, mỗi từ đều có sức nặng và sau đó những lời thề thiêng liêng thét lên từ cửa miệng của một triệu người, trên cái âm vang của làn sóng bốn nghìn năm bất khuất càng thêm vững chắc. Bản tuyên ngôn kết thúc dứt khoát ngoan cường như một lời thách thức. Những kẻ thù của Việt nam mù quáng vì lòng tham, không đủ khôn ngoan sáng suốt lần lượt lao đầu vào chất thép Việt Nam và sẽ nghiệm thấy thấm thía cái ghê gớm trong lời cảnh báo của một Hồ Chí Minh, cảu một Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    (Lược trích GV Nguyễn Trác)

    Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập

    1. MB :

      HCM ( 1890-1969) không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại , anh hùng cứu quốc mà còn là một nhà văn lớn của dân tộc .Người đã để lại một di sản văn học với khối lượng đồ sộ , trong đó tác phẩm chính luận “ Tuyên ngôn độc lập” được coi là áng văn bất hủ , kết tinh những tư tưởng , tài năng , tâm hồnHCM.Tác phẩm là một văn kiện chính trị , có giá trị lịch sử lớn lao , có giá trị pháp lý , giá trị tư tưởng , giá trị nghệ thuật và giàu giá trị nhân văn , đã trang trọng tuyên bố về nền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới .

      II.TB : 

      1. Phân tích hoàn cảnh , đối tượng , mục đích bố cục của TN 

      TNĐL được đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9 năm 1945 . Khi đó , ở miền Nam nước ta , thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh thay mặt đồng minh vào giải giáp quân Nhật đang tiến vào Đông Dương . Miền Bắc , bon tàu tưởng , tay sai của đế quốc Mĩ đã trực sẵn ở bien giới . Trong nước , bọn phản động tìm cách ngóc đầu dậy hòng lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ . Cục diện thế giới có thể khiến Anh-Mĩ nhân nhượng cho Pháp trở lại Đông Dương. Hội nghị các nước thắng trận trong chiến tranh TG II họp tại Tê hê răng và San Phran- xít- cô kết luận: các nước thắng trận được trở lại cai trị các thuộc địa cũ ; các nước là thuộc địa của phe phát xít thì được trao quyền tự trị . Pháp thì đang tung dư luận quốc tế rằng ĐD vốn là thuộc địa của Pháp , Pháp đã có công khai hoá , bảo hộ , nay trở lại là lẽ đương nhiên .

      Trước hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như vậy , bản TN của Bác có mục đích rõ ràng là tuyên bố nền ĐL TD của dân tộc VN , tuyên bố chấm dứt xoá bỏ mọi quan hệ thuộc địa với td Pháp , tuyên bố sự sụp đổ của chế độ phong kiến , tuyên bố sự ra đời của một chế độ mới , chế độ DC CH và đập tan mọi luận điệu xảo trá của TD Pháp . Đối tượng bản TN hướng đến không chỉ là toàn thể nhân dân VN mà còn là toàn thế giới , đặc biệt là nhằm vào những thế lực đang nhăm nhe cướp nước ta , can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta .Bản TNĐL có bố cục , kết cấu vô cùng chặt chẽ , mạch lạc , rõ ràng , cân đối . Phần đầu tác phẩm , Bác nêu cơ sở pháp lý , chính nghĩa cho lời tuyên ngôn . Phần hai , Bác trình bày cơ sở thực tiễn bằng cách tố cáo , vạch trần tội ác của thực dân Pháp và khẳng định sự xứng đáng hưởng độc lập của dân tộc Việt Nam . Phần ba là lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc ta .

      2. Phân tích phần mở đầu .

      Mở đầu bản TN , Bác đã khéo léo và kiên quyết trích dẫn hai bản TN nổi tiếng của CM Mĩ 1776 và CM Pháp 1791 làm tiền đề , cơ sở pháp lý , chính nghĩa cho lời TNĐL của CM VN . Đó là : “ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng .Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy , có quyền được sống , quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” ; và “ Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn dược tự do và bình đẳng về quyền lợi” .Bác còn khẳng định mạnh mẽ “ Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” . Thật vậy , những lời trích dẫn trên là những lẽ phải , là nguyên lí phổ quát , là chân lí được cả thế giới công nhận ,là thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại , là lí tưởng theo đuổi hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc . Bác trích dẫn những lời trên một mặt thể hiện sự đề cao tư tưởng nhân đạo , văn minh nhân loại , tỏ sự tôn trọng với những thành quả của hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Mĩ và cuộc cách mạng tư sản Pháp . Mặt khác , Bác đã rất khôn khéo , kiên quyết vận dụng chính những lời của tổ tiên người Mĩ , người Pháp-những thế lực đang lăm le tiến vào Đông Dương- để khoá miệng những luận điệu bịp bợm , để nhắc nhở con cháu họ đừng phản bội cha ông mà xâm lược , can thiệp vào nước ta . Đây chính là chiêu “ gậy ông đập lưng ông” sắc sảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh . Đồng thời , khi trích dẫn lời hai bản tuyên ngôn , Hồ Chí Minh đã đặt ba bản TN ngang hàng nhau , ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau , ba nền độc lập ngang hàng nhau , đưa dân tộc ta bước lên vũ đài chính trị thế giới và ngầm thể hiện niềm tự hào ,tự tôn dân tộc .

      Không chỉ trích dẫn nguyên văn lời hai bản TN nổi tiếng thế giới mà Bác còn mở rộng vấn đề : “ Suy rộng ra , câu ấy có nghĩa là : tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng , dân tộc nào cũng có quyền sống , quyền sung sướng và quyền tự do”. Lời suy rộng này đã nâng quyền con người lên thành quyền dân tộc, chính là một sáng tạo to lớn về tư tưởng , tạo tiền đề cơ sở vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới . Qua đó ta thấy được khát vọng độc lập cháy bỏng và tầm tư tưởng lớn lao của Bác. Như vậy , với lời lẽ sắc bén , đanh thép , Hồ Chí Minh đã đã xác lập cớ sở pháp lý chính nghĩa cho bản TN , nêu cao chính nghĩa và đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc .

      3.Phân tích cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn .

      Tiếp theo , Bác đã trình bày những cơ sở thực tiễn của lời tuyên ngôn độc lập . Bác đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta : chúng đã lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng bác ái để cướp nước ta , áp bức đồng bào ta , trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa . Bác đã đưa những chứng cứ cụ thể không thể chối cãi về tội ác của thực dân Pháp .Về chính trị , chúng không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào , dùng chính sách chia để trị hòng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc ta , chúng khủng bố dã man phong trào cách mạng, chúng thẳng tay chém giết những người Việt Nam yêu nước , chúng “ tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.Về văn hoá , chúng thi hành chính sách ngu dân , lập nhiều nhà tù hơn trường học , đầu độc , làm suy nhược giống nòi ta . Về kinh tế , chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ , đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý , không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên …Những tội ác đó dẫn đến hậu quả xã hội là dân ta trở nên bần cùng , cực khổ , nghèo nàn và hơn hai triệu đồng bào ta đã bị chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945. Đây đều là những chứng cớ có thực không thể chối cãi , đã lật tẩy luận điệu “khai hoá , bác ái , bình đẳng” của thực dân Pháp .Trong năm năm từ 1940-1945 , Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật , đã phản bội lại đồng minh , không đáp ứng liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật .Tư thế của chúng vô cùng nhục nhã hèn hạ là “quỳ gối đầu hàng”.Không những vậy chúng còn nhẫn tâm, dã man , trên đường rút chạy còn giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái , Cao Bằng . Bác đã bóc trần luận điệu “bảo hộ” của thực dân Pháp . Đoạn văn có giá trị của bản cáo trạng đanh thép với lời lẽ sục sôi , căn hờn , phẫn nộ , là lời khai tử dứt khoát cho cái sứ mệnh bịp bợm của thực dân Pháp đối với nước ta ngót gần thế kỉ .

      Trái ngược với thực dân Pháp , nhân dân Việt Nam , dân tộc Việt Nam hoàn toàn xứng đáng hưởng tự do độc lập .Bản tuyên ngôn đã hùng hồn khẳng định dân tộc Việt Nam đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp trên 80 năm , nghĩa là đã làm công việc tương tự nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Mĩ 1776 ; đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm , góp phần vào công cuộc bảo vệ nền hoà bình thế giới chống lại những thế lực phản văn minh , phản nhân đạo ; đã lật đổ được chế độ phong kiến mấy mươi thế kỉ lập nên chế độ mới dân chủ cộng hoà , nghĩa là đã làm nhiệm vụ giống với cuộc cách mạng tư sản Pháp 1791.Đồng thời , nhân dân ta lại vô cùng khoan hồng độ lượng , giúp đỡ nhiều binh lính Pháp ra khỏi nhà giam Nhật , bảo vệ tính mạng , tài sản cho họ , giúp họ chạy thoát qua biên thuỳ . Tư thế của dân tộc Việt Nam vô cùng cao đẹp , anh hùng , dũng cảm . Hơn nữa , bản Tuyên ngôn cũng dõng dạc khẳng định dân tộc ta giành độc lập từ tay Nhật cứ không phải từ tay Pháp . Nước ta đã bị Pháp bán cho Nhật , nước ta là thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp , vì vậy , sau chiến tranh thế giới II, đương nhiên nước ta phải được trao quyền độc lập theo quyết định của các nước đồng minh thắng trận họp tại Cựu Kim Sơn và Tê-hê-răng. Bác đã nêu cơ sở trên bằng phương pháp biện luận chặt chẽ , lôgíc, từ ngữ sắc sảo . Đoạn văn có nhiều cấu trúc câu đặc biệt , nhịp điệu dồn dập , điệp ngữ “ sự thật” được nhắc lại như chân lý không chối cãi được ; lời văn biền ngẫu rất nhịp nhàng , hùng hồn .

      Từ những cơ sở thực tiễn trên , bản Tuyên ngôn đã phủ định chế độ thuộc địa thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập , tự do của dân tộc Việt Nam . Bác đã phủ định dứt khoát , triệt để mọi đặc quyền đặc lợi của thực dân Pháp đối với đất nước Việt Nam bằng những cụm từ có tính tuyệt đối “ thoát li hẳn” , “ xoá bỏ hết” , “xoá bỏ tất cả” . Lời khẳng định quyền độc lập dân tộc thì rất mạnh mẽ , tuyệt đối với hệ thống câu móc xích “ Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay , một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay , dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !”. Đây là những lời kết luận hợp lý , có cơ sở chắc chắn , đáp ứng lòng mong mỏi của dân tộc Việt Nam . Từ đó bản tuyên ngôn kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống thực dân Pháp ; kêu gọi thế giới công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam .

      4.Phân tích lời tuyên ngôn.

      Lời tuyên ngôn tuyên bố độc lập cuối tác phẩm rất dứt khoát triệt để : “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập .Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng , tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do , độc lập ấy”. Lời tuyên bố thể hiện lí lẽ đanh thép vững vàng của Hồ Chủ Tịch về quyền độc lập tự do trên cơ sở lí luận pháp lý , thực tế và bằng ý chí mãnh liệt của dân tộc .

      III.KB

      – Như vậy , với tư duy sâu sắc , lập luận chặt chẽ , ngôn ngữ chính xác , dẫn chứng cụ thể , đầy sức thuyết phục , bản Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta , đánh dấu kỉ nguyên độc lập , tự do của nước Việt Nam mới .Tác phẩm là áng văn chính luận mẫu mực , bộc lộ tình cảm yêu nước thương dân , khát vọng độc lập tự do cháy bỏng của tác giả và toàn dân tộc .TNĐL là áng văn bất hủ của nền văn học dân tộc .

      (Sưu tầm) .

    TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH 
    NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

    Như đã nói, Bác Hồ có một quan điểm sáng tác hết sức nhất quán: trước hết Người xác định đối tượng viết (viết cho ai?) và mục đích viết (viết để làm gì?). Từ đó mới quyết định nội dung (viết cái gì?) và hình thức (viết thế nào?) của tác phẩm.

    Nhưng nắm được quan điểm sáng tác của Người chưa đủ, còn cần phải hiểu đặc điểm về mặt thể loại của mỗi tác phẩm của Người nữa. Văn chính luận hay văn thẩm mĩ, thơ tuyên truyền hay thơ nghệ thuật, không phân biệt được điều đó, sự đánh giá không tránh khỏi hồ đồ. Ngoài ra còn phải biết được phong cách viết của Bác nữa. Nét nổi bật của phong cách văn xuôi Bác Hồ là giản dị, trong sáng, ngắn gọn, súc tích.

    Chúng ta hãy vận dụng những hiểu biết nói trên vào việc phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận. Văn chính luận thuyết phục người khác bằng những lí lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng những lí lẽ. Lợi khí của nó là những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên ngôn Độc lập theo quan niệm đó.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập viết cho ai? Câu hỏi đặt ra có vẻ như thừa, bởi vì lời giải đáp đã có sẵn trong văn bản:

    “Hỡi đồng bào cả nước,”.
    “…, chúng tôi, (…), trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng…”.
    Như vậy Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới chứ còn cho ai nữa!
    Còn viết để làm gì? Thì viết để “Tuyên ngôn Độc lập” chứ còn mục đích nào khác!

    Thực ra vấn đề không hẳn chỉ có thế. Nếu chỉ viết cho đồng bào và thế giới chung chung thì chắc Người không dùng đến lắm lí lẽ như vậy, và chưa hẳn đã cần phải mở đầu bằng những câu trích trong hai bản Tuyên ngôn Độc lập, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Mĩ, Pháp từ thế kỉ XVIII.

    Vậy đối tượng và mục đích của văn kiện lịch sử này phải được tìm hiểu cặn kẽ hơn nữa. Cần thấy rằng khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn thì ở phía Nam, thực dân Pháp núp sau lưng quân đội Anh (thay mặt Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, còn ở phía Bắc thì bọn Tàu Tưởng, tay sai của đế quốc Mĩ, đã chực sẵn ở biên giới. Người viết Tuyên ngôn cũng thừa hiểu rằng “mâu thuẫn giữa Anh – Pháp – Mĩ và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương”. Và tên thực dân này, để chuẩn bị cho cuộc xâm lược thứ hai của mình, đã tung ra trong dư luận quốc tế những lí lẽ “hùng hồn” của bọn ăn cướp: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp có công khai hoá đất nước này, nay trở lại là lẽ đương nhiên, khi phát xít Nhật đã bị Đồng minh đánh bại.

    Như vậy là bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ đọc trước đồng bào và một thế giới trừu tượng, cũng không phải chỉ để tuyên bố độc lập một cách đơn giản. Đối tượng “thế giới” ở đây, trước hết là bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp và sự khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc ở đây đồng thời còn là một cuộc tranh luận nhằm bác bỏ lí lẽ của bọn xâm lược trước dư luận thế giới.

    Trong tranh luận, để bác bỏ luận điệu của một đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng chính lí lẽ của đối thủ ấy. Người ta gọi cách làm đó là “lấy gậy ông đập lưng ông”.

    Bác Hồ đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi trong hai bản Tuyên ngôn độc lập, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách nói, cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết. Khéo léo, vì tỏ ra rất tôn trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ. Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.

    Ngoài ra, mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau. Một cách kín đáo hơn, bản Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh dường như muốn gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Bình Ngô đại cáo ngày xưa khi mở đầu tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang hàng Triệu, Đinh, Lí, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc.

    Mà đăng đối, cân xứng cũng là phải, vì cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực ra đã giải quyết đúng những nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp (1789). Bản Tuyên ngôn đã nêu rõ: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”. Đó cũng là yêu cầu đặt ra cho cuộc cách mạng nước Mĩ: đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa Bắc Mĩ ra khỏi ách thực dân Anh. Bản Tuyên ngôn cũng biết: “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đấy cũng là tinh thần cơ bản của cuộc Cách mạng Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thế kỉ XVIII.

    Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bấy giờ, vấn đề hàng đầu đặt ra là độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên ngôn Độc lập đã mở đầu như thế:

    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

    Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

    Ý kiến “suy rộng ra” ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác Hồ đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết: “Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”. Vậy có thể xem cái luận điểm “suy rộng ra” kia là phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX?

    Nhưng kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe doạ nền độc lập của dân tộc khi bản Tuyên ngôn ra đời là bọn xâm lược Pháp. Đẩy lùi nguy cơ ấy sẽ phải là cuộc chiến đấu vũ trang lâu dài của toàn dân. Nhưng cuộc chiến đấu ấy rất cần đến sự đồng tình và ủng hộ của nhân loại tiến bộ. Muốn vậy, phải xác lập cơ sở pháp lí của cuộc kháng chiến, phải nêu cao chính nghĩa của ta và đập tan những luận điệu xảo trá của bọn thực dân muốn “hợp pháp hóa” cuộc xâm lược của chúng trước dư luận quốc tế.

    Bản Tuyên ngôn đã giải quyết được yêu cầu ấy bằng một hệ thống lập luận hết sức chặt chẽ và đanh thép.
    Thực dân Pháp muốn khoe khoang công lao khai hóa của chúng đối với Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn đã vạch trần những hành động “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” của chúng trong 80 năm thống trị nước ta: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ ba kì, tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng, thi hành chính sách ngu dân; đầu độc bằng thuốc phiện, rượu cần, bóc lột, vơ vét đến tận xương tủy, cuối cùng, gây ra nạn đói khiến “từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”.

    Thực dân Pháp muốn kể công “bảo hộ” Đông Dương ư? Thì bản Tuyên ngôn chỉ rõ đó không phải là công mà là tội, vì “trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

    Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng và chúng có quyền trở lại Đông Dương ư? Nhưng Đông Dương có còn là thuộc địa của Pháp nữa đâu! Bản Tuyên ngôn vạch rõ: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
    Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Luận điểm này, đứng về ý nghĩa pháp lí, cực kì quan trọng. Nó sẽ dẫn tới lời tuyên bố tiếp theo của bản Tuyên ngôn:

    “Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu của toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Sức mạnh của chính nghĩa bao giờ cũng đồng thời là sức mạnh của sự thật. Và không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn là lí lẽ của sự thật. Vì thế, Người viết Tuyên ngôn luôn luôn láy đi láy lại hai chữ “sự thật”: “sự thật là…”, “sự thật là…”. Và cuối cùng thì “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập…”. Đấy là những điệp khúc nối tiếp nhau tăng thêm âm hưởng hùng biện của Tuyên ngôn. Đấy là hệ thống lí lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc thực dân.

    Còn đối với dân tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập, tự do hay không, có đủ tư cách làm chủ đất nước mình hay không? Bản Tuyên ngôn đã đưa ra những lí lẽ để khẳng định.

    Nếu thực dân Pháp có tội phản bội Đồng minh, hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật, thì dân tộc Việt Nam đại diện là Việt Minh, đã đứng lên chống Nhật cứu nước và cuối cùng giành được chủ quyền từ tay phát xít Nhật. Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo và phản động của chúng ở hành động “thẳng tay khủng bố Việt Minh”, “Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”, thì nhân dân ta vẫn giữ thái độ khoan hồng và nhân đạo ngay đối với kẻ thủ đã thất thế: “Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ”.

    Một dân tộc phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, đã anh dũng chiến đấu cho độc lập, tự do, đã đứng hẳn về phe Đồng minh chống phát xít, đã nêu cao tinh thần nhân đạo, bác ái như thế, “dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”.

    Tinh thần khẳng định, trong lời kết luận, còn được tăng cấp lên một bậc nữa: hưởng độc lập tự do không phải chỉ là một cái quyền phải có, không phải chỉ là một tư cách cần có, mà đó đã là một hiện thực: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Và vì thế “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

    Người ta gọi bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là “thiên cổ hùng văn”. Cũng có thể nói như thế về bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất nhiên bản Tuyên ngôn không ra đời trong thời kì văn học còn nguyên hợp, văn sử bất phân nữa, để tác giả đưa vào bài chính luận của mình những hình tượng hào hùng, tầng tầng lớp lớp như bài Cáo của người xưa. Ngày nay văn chính luận là văn chính luận. Tài nghệ của người viết ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được. Và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và của nhân loại. Chính Bác Hồ tự đánh giá đây là một thành công thứ ba khiến Người cảm “thấy sung sướng” trong cả cuộc đời viết văn, làm báo dày kinh nghiệm của mình.

    In trong Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12, Nxb GD, 2003.

     

  • Đồ án Kế hoạch kinh doanh sản phẩm áo Massage Pro – ET

    Đồ án Kế hoạch kinh doanh sản phẩm áo Massage Pro – ET

    Đồ án Kế hoạch kinh doanh sản phẩm áo Massage Pro – ET

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề cương ôn tập quản trị kinh doanh phần bài tập


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-K%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-kinh-doanh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C3%A1o-Massage-Pro-ET.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Kế hoạch kinh doanh sản phẩm áo Massage Pro – ET

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Do xu hướng quốc tế hoá cùng với sự khan hiếm các nguồn lực ngày càng gia tăng. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ, sự thay đổi nhu cầu của thị trường làm cho môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và biến động thường xuyên. Với một điều kiện môi trường kinh doanh như vậy, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh hay nói cách khác là khi bắt đầu thành lập doanh nghiệp thì cần phải có một kế hoạch kinh doanh phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh. Có như vậy thì mới có khả năng nắm bắt được cơ hội tránh được các rủi ro đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững cho doanh nghiệp.

    Đối với chúng tôi cũng vậy, một Công ty mới thành lập thì việc đương đầu với những khó khăn là điều không thể tránh khỏi. Công ty chúng tôi Công ty TNHH TTT cũng sẽ đối mặt với những thách thức vì có nhiều đối thủ cạnh tranh kinh doanh ngành sản xuất dụng cụ massage. Nhưng Công ty TNHH TTT tự hào là Công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm áo massage Pro – ET, một sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường. Xuất phát từ nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng, con người không chỉ có nhu cầu về ăn, mặc mà còn có nhu cầu về sức khỏe do vậy mà sản phẩm áo massage Pro – ET đã ra đời. Áo massage với hoạt tính Nano và những hạt trân châu mềm sẽ tạo ra một cảm giác thoải mái, dễ chịu làm giảm bới mệt mỏi, lo lắng, căng thẳng cho người sử dụng. Đồng thời áo massage Pro – ET sẽ thiết kế với nhiều kiểu dáng và màu sắt khác nhau để tạo ra một chiếc áo có thể làm đẹp và phù hợp cho từng lứa tuổi và từng người. Bằng sự hấp dẫn kết hợp giữa mới và lạ, giữa làm đẹp và massage, sản phẩm áo massage Pro – ET của Công ty TNHH TTT sẽ nhanh chóng được khách hàng chấp nhận yêu thích và trở thành một sản phẩm quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày, sẽ góp phần đưa tên tuổi của Công ty TNHH TTT đến với người tiêu dùng.

    Với tiêu chí thư giãn, thoải mái, có một tinh thần tốt của áo massage Pro – ET, Công ty TNHH TTT sẽ hoà mình vào thị trường để đứng vững và tồn tại trên thị trường.

    1.     Mô tả công ty:

    1.1. Giới thiệu về công ty:

    Công ty TNHH TTT được thành lập vào năm 2009 là công ty TNHH với vốn điều lệ là 4,0625 tỷ đồng. Công ty TNHH TTT nằm ở toà nhà cao ốc cho thuê AMI OFFCIE CENTER địa chỉ số 30 Trần Phú Đà Nẵng.

    Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất áo massage Pro – ET. Công ty sản xuất áo massage Pro – ET là loại áo vừa làm đẹp vừa massage. Công ty TNHH TTT trụ sở chính tại Đà Nẵng và 3 cửa hàng tại Đà Nẵng, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

    Quy mô hoạt động: Tập trung vào các thành phố lớn đó là Đà Nẵng Hà Nội và  Thành phố Hồ Chí Minh là những thành phố có nền kinh tế phát triển mạnh đồng thời người dân có thu nhập cao.

    • Mục tiêu.

    Mục tiêu của công ty là mở rộng thị trường ra rộng khắp các tỉnh, thành phố khác trong nước. Với mục tiêu mở rộng thị trường nhỏ trong tương lai nhằm phát triển chiếm lĩnh thị trường trong nước để mọi người biết đến sản phẩm áo massage Pro – ET của công ty..

    • Sứ mệnh.

    Công ty TNHH TTT dành mọi nổ lực cố gắng xây dựng một đội ngũ nhân lực tinh thông về nghiệp vụ, tận tâm, nhiệt tình trong phục vụ nhằm mang lại cho khách hàng sự hài lòng và sự thoã mãn nhất.

    • Slogan của công ty TTT

    “ Nơi Đặt Niềm Tin Sức Khỏe Của Bạn”

    1.2.           Trụ sở chính của công ty:

    Công ty nằm ở tòa nhà cao ốc cho thuê AMI OFFICE CENTER, địa chỉ số 30 Trần Phú Đà Nẵng. Tọa lạc bên cạnh UBND thành phố Đà Nẵng và Trung Tâm Cảnh Sát 113. Do vậy, đây là điểm lý tưởng cho công ty đặt trụ sở.

    Từ mọi không gian trong toà nhà được nhìn ra cảnh quang của sông Hàn núi Ngũ Hành Sơn thơ mộng. Đường Trần Phú cũng là con đường trung tâm thành phố, thuận lợi cho việc giao dịch với đối tác và khách hàng.

    Thật vậy trụ sở chính của công ty nằm trên đường số 30 Trần Phú Đà Nẵng là một con đường có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút khách hàng vì đường Trần Phú là con đường nằm trung tâm thành phố là nơi mà tập trung nhiều người đến thăm quan và mua sắm, chính vì lý do đó mà công ty chúng ta đã chọn đường Trần Phú làm trụ sở chính. Đồng thời nằm bên cạnh UBND thành phố Đà Nẵng và Trung tâm Cảnh sát 113 nên có thể nói ở đây khu vực an ninh rất an toàn và trật tự do vậy khách hàng sẽ yên tâm về các điều kiện trị an ở đây. Chính vì sự kết hợp giữa trung tâm của Thành phố và trật tự trị an đã làm cho con đường Trần Phú trở nên lý tưởng và là điểm đến lựa chọn ưu tiên số một khi khách hàng có nhu cầu mua sắm.

    1.3.           Xí nghiệp sản xuất:

    Công ty có một xí nghiệp nằm ở khu công nghiệp Liên chiểu với tổng diện tích 0,3 ha. Địa chỉ: phường Hòa Hiệp – Quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng. Khu công nghiệp được quy hoạch với hệ thống điện, nước đảm bảo nhu cầu sản xuất. Ngoài ra ở đây gần đường Quốc lộ 1A thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu cũng như sản phẩm hoàn thành đi tiêu thụ.

    Việc xây dựng xí nghiệp sản xuất nằm ở khu công nghiệp Liên Chiểu là một nơi có nhiều điều kiện để chúng ta phát triển, bởi đây là khu công nghiệp đã được quy hoạch nên an toàn về điều kiện sinh hoạt và sản xuất sản phẩm như nhu cầu về điện, nước, đảm bảo cho việc vận chuyển được thuận lợi nhờ nằm trên đường quốc lộ 1A có thể nói rằng đây là khu đất thích hợp để Công ty chúng ta sản xuất và tiêu thụ sản phẩm và là nơi mà các đối tác có thể đến thăm quan dây chuyền sản xuất.

    1.4.           Hệ thống cửa hàng:

    Công ty có ba cửa hàng ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh để phân phối sản phẩm do công ty sản xuất ra. Các cửa hàng nằm ở các con đường chính trên địa bàn ba Thành phố.

    Ở TP Hồ Chí Minh, cửa hàng nằm ở số 180 đường Nguyễn Huệ. Cửa hàng ở Đà Nẵng nằm ở số 450 đường Hùng Vương. Cửa hàng ở Hà Nội nằm ở số 130 đường Kim Mã.

    Đà Nẵng cửa hàng nằm ở số 450 đường Hùng Vương đây có thể nói rằng con đường này rất thích hợp để bán sản phẩm áo massage Pro – ET vì đây là con đường vốn mệnh danh là phố mua sắm rất nhộn nhịp và sầm uất ở Thành phố Đà Nẵng, con đường mà khi nói đến đi mua sắm là khách hàng lại nghĩ đến con đường Hùng Vương một con đường mua bán nhộn nhịp của thành phố. Do vậy khi chúng ta đặt cửa hàng ở đây để bán sản phẩm áo massage Pro – ET là thích hợp vì ở đây có thể thu hút được khách hàng và kích thích khách hàng đến thăm quan và mua sắm.

    Cửa hàng Hà Nội nằm trên đường Kim Mã số 130, con đường này nằm ngay trung tâm của Hà Nội và con đường này cũng tập trung nhiều Ngân hàng, chính vì sự kết hợp giữa trung tâm và có nhiều Ngân hàng sẽ là điều kiện thuận lợi để Công ty chúng ta bán được sản phẩm và thu hút khách hàng. Đây là con đường mà bất kỳ ai cũng phải đến và thăm quan vì con đường này rất đẹp với sự thiết kế rất hấp dẫn và lạ mắt do vậy thu hút một lượng lớn du khách khi đến Hà Nội, con đường này cũng tập trung nhiều cửa hàng để khách hàng thăm quan và mua sắm. Chính vì sự đặc biệt đó mà công ty đã chọn đường Kim Mã là nơi đặt cửa hàng.

    Ở Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty chúng ta đặt cửa hàng nằm ở số 180 đường Nguyễn Huệ, đây là con đường cũng rất lý tưởng và nhộn nhịp vì con đường này nằm gần chợ, rất thuận lợi cho công ty chúng ta trong việc trưng bày và bán sản phẩm áo massage, gần chợ là một điều kiện rất tốt đây là nơi mà khách hàng thường xuyên đến nhất và là sự lựa chọn số một khi mọi người có nhu cầu mua sắm. Bởi mọi người ai cũng phải đến chợ để mua sắm và tìm hiểu xem có cái gì mà mới và lạ không do đó chúng ta sẽ đặt cửa hàng ở đó thì mọi  người có thể đến xem và tìm hiểu sản phẩm áo massage.

    2. Mô tả sản phẩm:

    2.1 Mô tả sản phẩm:

    Áo massage Pro – ET là loại áo mới xuất hiện trên thị trường, đó là một sản phẩm hoàn toàn mới và lạ đối với người tiêu dùng vậy để kích thích được khách hàng mua và chấp nhận nó thì đó không phải là một điều đơn giản. Một trong những khâu quan trọng mà giúp chúng ta có thể bán sản phẩm là sản phẩm áo massage Pro – ET sẽ đem đến cho khách hàng những gì và điều đó được thể hiện qua màu sắc, kích cỡ, hình dáng, công dụng của sản phẩm.

    Thứ nhất về màu sắc chúng ta sẽ thiết kế màu sắc cho Áo massage Pro – ET nhiều màu dựa vào sở thích, tính cách của người tiêu dùng. Có thể Áo massage là màu trắng, màu vàng, màu cam, màu hồng, màu đỏ…. Hay chúng ta có thể pha trộn hai hay nhiều màu khác nhau trên cùng một áo để giúp khách hàng dễ dàng trong việc chọn lựa màu phù hợp với mình.

    Thứ hai là về kích cỡ tuỳ thuộc vào từng người mà có kích cỡ khác nhau do đó kích cỡ cũng phải đa dạng và phải chuẩn xác đối với mỗi loại áo. Người bình thường áo có thể là 1m2 hoặc người mập thì có kích cỡ lớn hơn như 1m5, 1m6… Do thế mà kích cỡ cũng phải đa dạng vì có người mập, ốm. Kích cỡ cũng có thể giúp khách hàng có được sự lựa chọn phù hợp nhất cho bản thân mình.

    Thứ ba là về hình dáng của Áo massage, một trong những yếu tố giúp bán được hàng nhanh nhất đó là hình dáng. Để giúp khách hàng có nhiều sự chon lựa thì kiểu dáng cũng phải đa dạng vì có người cao, thấp. Do vậy phải thiết kế sản phẩm phải phù hợp với từng người, từng đối tượng chúng ta tiếp cận.

    Thứ tư là về công dụng: Công dụng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng mua hay không mua sản phẩm. Đối với sản phẩm áo massage Pro – ET đây không phải là một loại áo bình thường để chúng ta làm đẹp cho mình mà còn giúp chúng ta có được sự thư giãn thoải mái sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi và lo lắng. Áo massage này sẽ giúp chúng ta đỡ mệt mỏi hơn, đỡ căng thẳng hơn. Đem đến cho người tiêu dùng một sự thoải mái tốt nhất, đem đến cho khách hàng một sự hài lòng và thoã mãn nhất.

    Áo massage Pro – ET được dệt bằng công nghệ hình chữ Z, tính co giãn tốt, độ thông thoáng cao, mùa đông mặc thì ấm, mùa hè mặc thì mát, có thể sử dụng áo trong thời gian dài, kết hợp đặc tính của hai loại ren: ren Lệ Ba và ren có tính co giãn tốt để đạt hiệu quả cao. Sử dụng chất liệu tinh dầu massage, kết hợp với những hạt massage hoạt từ Nano nhằm giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng, cân bằng tâm lý, có tác dụng nhanh chóng đem đến cho chúng ta sức khỏe tốt nhất và hiệu quả nhất.

    Áo massage có thể dùng bất cứ lúc nào nó có thể vừa làm đẹp cho chính bạn vừa giúp bạn giảm được căng thẳng, lo lắng khi mặc nó, có thể dùng Áo massage ở mọi lúc, mọi nơi. Có thể dùng áo massage để đi làm để giảm bới lo lắng, đỡ mệt mỏi khi làm việc. Rất thích hợp cho những đối tượng là những nhà kinh doanh, những người mà luôn luôn ở trong trạng thái căng thẳng do vậy cần phải có áo massage Pro – ET để có thể lúc nào cũng ở trạng thái thoải mái để có những chiến lược phù hợp nhất đem lại kết quả tốt nhất. Đối với áo Massage Pro – ET chỉ cần 5 phút sau khi mặc nó thì bạn sẽ cảm giác thoải mái, bớt căng thẳng và lo lắng về công việc mà bạn cần quan tâm đến.

    2.2  Tiềm năng phát triển của sản phẩm:

    Cuộc sống đang ngày càng thay đổi, nhu cầu của con người không phải là ăn, mặc mà cao hơn đó là sự thoải mái về tinh thần. Vì khi hội nhập kinh tế quốc tế cạnh tranh ngày một khốc liệt và con người phải đối mặt với nhiều thử thách, khó khăn và chúng ta cần phải có một tinh thần thoải mái để có thể làm việc tốt hơn để tạo ra được lợi nhuận cao hơn. Xuất phát từ điều đó mà sản phẩm áo massage Pro – ET đã ra đời để đáp ứng nhu cầu của con người với hai lợi ích cơ bản làm đẹp và massage.

    Thứ nhất là làm đẹp: với nền kinh tế thị trường ngày một phát triển thì nhu cầu làm đẹp cũng được tăng lên trong mọi ngành như du lịch, khách sạn, ngân hàng… đều cần đến cái đẹp. Đẹp ở đây được thể hiện ở nhiều khía cạnh như về dáng. Tóc. phong cách mặc quần áo… Nhưng nổi lên là phong cách mặc quần áo, người xưa có câu “người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”. Ngày nay đã được vận dụng khá rõ nét, có khi vẻ đẹp giúp chúng ta bán được nhiều sản phẩm nhờ vào nhân viên đẹp. Vì thế sản phẩm áo massage Pro – ET là một dòng sản phẩm mới và lạ, một sản phẩm đa dạng về kiểu dáng và màu sắc để khách hàng có thể tự do lựa chọn tuỳ theo sở thích, tính cách và tuổi tác lẫn giới tính của mỗi người. Đặt biệt là mỗi người sẽ tự làm đẹp cho chính bản thân của mình.

    Thứ hai là massage: Cuộc sống bận rộn nhiều người không có thời gian để tập thể dục, nên có rất nhiều người bị stress do công việc quá căng thẳng, nhiều người chịu áp lực lớn từ công việc. Vậy làm thế nào để có thể giúp họ thấy thoải mái và thư giãn mà không cần phải tốn nhiều thời gian để đến chỗ massage. Thư giãn và tập luyện trong nhiều phút thì sản phẩm áo massage sẻ giúp bạn giảm lo lắng, căng thẳng và mệt mỏi trong vòng 5 phút sau khi mặc áo vào và bạn có thể đem nó tới bất kỳ đâu mà bạn muốn. Nên sản phẩm áo massage là sản phẩm sẽ có nhiều tiềm năng để phát triển với hai lợi ích mà sản phẩm mang lại cho khách hàng. Sản phẩm có thể nhanh chóng được mọi người biết đến và sử dụng, có khả năng tăng trong 3 năm tới cụ thể trong 3 năm tới chúng ta sẽ bán trung bình mỗi ngày là 15 cái áo thì một tháng chúng ta sẽ bán được 450 cái áo vậy doanh thu từ việc bán hàng sẽ cao hơn trong vòng năm thứ ba thì tổng lượng hàng bán được là 5400 cái áo massage Pro – ET. Vì sao chúng tôi lại khẳng định như vậy vì đây là dòng sản phẩm mọi người đang có nhu cầu cần đến và trong tương và lai nhu cầu đó sẽ tăng lên vì nhịp sống của chúng ta cũng sẽ thay đổi, cạnh tranh ngày một khốc liệt hơn và việc cân bằng về tâm lý là rất cần thiết cho tất cả mọi người và sức khỏe là tài sản vô giá mà con người luôn quan tâm. Có sức khỏe mới tạo ra tiền và ngược lại. Vì thế sản phẩm áo massage Pro – ET sẽ là sản phẩm tiềm năng và phát triển mạnh trong tương lai.

    2.3 So sánh sự cạnh tranh:

    Thật vậy trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại sản phẩm massage của nhiều hãng sản xuất khác nhau. Do vậy để có thể cạnh tranh và thu hút được khách hàng mua sản phẩm áo massage đó là một thử thách lớn cho chúng ta. Hiện nay, có 2 đối thủ cạnh tranh lớn là Máy massage vật lý trị liệu – DR HOS. Máy massage ELITE MAGNASSAGER.

    2.3.1. Máy massage trị liệu – DR HOS:

    • Thông số kỹ thuật:

    Máy massage vật liệu DR HOS, nhà sản xuất là công ty Bác sĩ HO – Trung Quốc. Năng lượng sử dụng: 02 Pin loại AAA. công xuất tiêu thụ khoản 200mW. Kích thước máy: dài * rộng * độ dầy: 78*78*19 (Cm). Trọng lượng 85g.

    • Điểm mạnh:

    Máy gồm hai cổng sử dụng 4 tấm xoa bóp thư giãn hay điều trị đồng thời sử dụng 4  phần khác nhau trên cơ thể. Có thể xoa bóp chung với người khác (mỗi người sử dụng riêng một cổng điện cực) điều đó nhanh chóng làm giảm cơn đau, xoa dịu cơn nhức mỏi do căng cơ, thấp khớp, gai cột sống, đau thần kinh toạ… Tăng cường tuần hoàn máu và lưu thông thần kinh, làm săn chắc cơ bụng, hông, mông, đùi, máy có 3 chế độ massage tạo ra 12 kỹ thuật xoa bóp thấm sau vào cơ giúp giảm đau và thư giãn.

    • Điểm yếu:

    Do máy trị liệu có tác dụng sau 30 phút điều đó là một bất lợi cho những người bận rộn, không có thời gian, mặt khác máy phát ra các xung kích thích cùng một tần số; sau một thời gian cơ thể sẽ quen dần với các xung kích đó, cho nên việc massage sẽ không có hiệu quả

    2.3.2 Máy massageElite Magnassager.

    • Thông số kỹ thuật.

    Tên sản phẩm Elite Magnassager, nơi sản xuất là nghiên cứu thiết kế tại Mỹ, gia công lắp ráp tại Trung Quốc. Điện áp vận hành của máy được sử dụng qua bộ nắn điện (đầu vào 220Vac – 50/60Hz; đầu ra 24VDC – 800mA), tốc độ quay 33 đến 75 vòng/ phút, lực từ trường của Nam châm 1000 Gauss. Lực từ trường trên hòn bi 530 Gauss. lực từ trường của đĩa quay 900 Gauss, phân cực là cực âm.

    • Điểm mạnh:

    Giúp xua tan đi cơn các cơn đau nhứt do căng cơ. thấp khớp. gai cột sống và đau thần kinh toạ. tai biến… Cơ chế hoạt động của máy hoạt động bằng lực từ trường. Nam châm sẽ truyền năng lượng vào Bi Inox để tạo ra độ rung xuyên sâu vào các lớp cơ và truyền năng lượng vào các vùng mô cơ bị suy nhược, các lớp mô cơ sẽ nhận được xung động cần thiết để giãn nở và xua tan triệt để các cơn đau nhứt. 3 viên bi massage bằng Inox tháo lắp dễ dàng để làm nóng hoặc làm lạnh viên Bi để giúp tăng khoái cảm và hiệu quả trong quá trình massage.

    • Điểm yếu:

    Trước khi sử dụng cần phải chạy Roda 5 phút, điều này rất bất lợi cho những người bận rộn và gây cảm giác khó chịu khi phải chờ đợi. Bên cạnh đó máy không sử dụng được đối với trẻ em, điều này sẽ làm mất một lượng khách hàng tiềm năng.

    Qua đó cho thấy rằng hai loại máy đều có tác dụng là làm giảm sự mệt mỏi tương tự như công dụng của áo massage Pro – ET. ngoài ra còn sử dụng công nghệ tiên tiến và hiện đại làm giảm sự mệt mỏi nhanh chóng chính điều đó là mối đe doạ lớn cho chúng ta. Tuy vậy sản phẩm áo massage của chúng ta vẫn cạnh tranh được với hai loại máy này đó là sự đa dạng về màu sắc và kiểu dáng đặc biệt với công nghệ massage nhanh chóng và hiệu quả. Áo massage sẽ giúp bạn giảm bớt được lo lắng, mệt mỏi và căng thẳng chỉ trong 5 phút. Vì khi bạn mặc chiếc áo vào người thì bên trong áo massage Pro – ET có hoạt tính Nano sẽ tự động massage cho bạn đó là những hạt trân châu mềm làm từ thực vật thiên nhiên và nguyên liệu hoá học cao cấp nên không có tính độc hại và tác dụng phụ khác; đồng thời hạt trân châu mềm nổi hình tròn ngoài việc massage còn có tác dụng tạo sự thông thoáng khí cùng với sự vận động của con người tạo nên sự thông thoáng tốt hơn đối với những người ít vận động, thường xuyên đau đầu, chóng mặt hoa mắt, cứng cổ… rất thích hợp mặc áo massage Pro – ET mềm hạt từ Nano.

    Khi sản phẩm áo massage Pro – ET này ra đời thì sẽ cạnh tranh với các sản phẩm áo massage đang có trên thị trường. Bởi vì hiện nay trên thị trường chưa có sản phẩm áo masage tiện dụng và thời trang, hợp cho cả nam và nữ vì nó được thiết kế phù hợp với tất cả mọi người. Trong khi đó sản phẩm áo massage Pro – ET mới thì lại rất tiện dụng; vừa có tác dụng massage khi con người cảm thấy mệt mỏi, vừa là trang phục giúp con người đẹp hơn. Chính cì sự hữu ích của nó mà khi sản phẩm này có mặt trên thị trường sẽ tạo ra bước đột phá rất lớn trong ngành thời trang may mặc và sẽ là sản phẩm bán chạy trên thị trường, hơn hẳn với các sản phẩm khác.

    2.4 Ấn phẩm quảng cáo chào hàng:

    Quảng cáo là một nghệ thuật, tạo dựng thương hiệu và quảng cáo đều giữ vai trò trong kinh doanh. Một cú nhấp chuột hay thao tác chuyển kênh có thể làm thay đổi vận mệnh của cả một tập đoàn. Thậm chí còn nhiều thử thách nữa nếu việc bán hàng không suôn sẻ hoặc dịch vụ công ty không khiến khách hàng cảm thấy hài lòng. Thật sự xây dựng thương hiệu trong bối cảnh hiện nay thật không dễ dàng và một trong những yếu tố giúp chúng ta thành công là tập trung quảng cáo và nhắm đến khách hàng.

    Thật vậy làm thế nào để quảng cáo sản phẩm tốt nhất, làm thế nào để sản phẩm đến với khách hàng nhanh nhất và gây được sự chú ý đối với khách hàng thì không phải là một chuyện đơn giản và dễ dàng gì. Một sản phẩm mới thì càng gặp phải những khó khăn hơn nữa. Chính vì thế ấn phẩm quảng cáo chào hàng là một trong những nhân tố giúp doanh nghiệp thành công. Nếu chúng ta ấn phẩm quảng cáo chào hàng tốt gây được ấn tượng và kích thích người tiêu dùng thì chúng ta đã thành công được một nửa và ngược lại thì chúng ta đã thất bại. Và chúng ta thất bại hay thành công đều phụ thuộc rất lớn đến khách hàng, chúng ta sản xuất sản phẩm là đem đến cho khách hàng những gì mà khách hàng cần và khách hàng được thõa mãn, chúng ta thu được lợi nhuận cao là nhờ vào lượng khách hàng dùng sản phẩm của chúng ta. Do vậy bằng cách nào sản phẩm đến được tay khách hàng thì chúng ta phải có ấn phẩm quảng cáo chào hàng sản phẩm.

    Đối với sản phẩm áo massage Pro – ET là một trong những loại áo không chỉ giúp cho chúng ta làm đẹp mà còn có chức năng là giúp cho chúng ta giảm bớt mệt mỏi và lo lắng, căng thẳng trong khi làm việc đồng thời chúng ta có thể mặc nó ở mọi nơi và mọi lúc, bất kỳ đâu và bất kỳ nơi nào, chúng ta có thể mặc vào mùa hè và mặc vào mùa đông và chỉ sau năm phút là chúng ta đã có thể giảm bớt mệt mỏi, lo lắng và lấy lại được tinh thần để làm việc tốt. Do đó Công ty chúng ta cần phải quảng cáo công dụng của sản phẩm đến khách hàng và cho khách hàng thấy rằng đây là sản phẩm duy nhất và sẽ đem đến cho khách hàng sự hài lòng và thõa mãn bởi công dụng của áo massage mang lại.

    Công ty chúng ta là công ty hướng đến kinh doanh áo massage Pro – ET do vậy chúng ta cần phải tạo ra sự ngạc nhiên và thú vị. Ngạc nhiên và thú vị đó là những gì mà Công ty chúng ta muốn tung ra trên thị trường sản phẩm áo massage Pro – ET. Tác động sẽ lan tỏa rộng khắp trong các khách hàng cần và sẽ mua sản phẩm hay có nhu cầu muốn có sản phẩm áo massage,chúng ta sẽ tạo ra tiếng vang lớn đối với khách hàng tiềm năng và làm thức tỉnh các đối thủ cạnh tranh. Đó cũng là thách thức để khởi động một sản phẩm, chiếm lĩnh thị phần và xây dựng một thương hiệu mạnh mà Công ty chúng ta muốn hướng đến.

    • Bước 1: Đây là bước đi thiết yếu đầu tiên và để cho nó là một cái tên đáng nhớ, gợi liên tưởng và dễ phát âm. Nói cách khác nếu nhìn thấy khách hàng có thể đọc dễ dàng. Nếu nghe thấy khách hàng có thể nhớ và đánh vần lại dễ dàng. Đó là sản phẩm áo massage Pro – ET của Công ty TNHH TTT .
    • Bước 2: Công ty chúng ta sẽ tiếp tục miêu tả chính xác và ngắn gọn, thật rõ ràng. Khách hàng sau khi trực tiếp nghe quảng bá, giới thiệu vế sản phẩm mới điều mà cần phải nghe và nhìn thấy đó là công dụng, chức năng, màu sắc của sản phẩm. Do vậy Công ty chúng ta cần phải tìm một danh từ càng cụ thể bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Chúng ta khẳng định “với những hoạt tính massage từ hoạt tính  Nano sẽ giúp bạn có được một tinh thần vui tươi sau những giờ làm viêc căng thẳng và chỉ với 5 phút điều đó sẽ có tác dụng đối với bạn”.
    • Bước 3: Công ty chúng ta nên xây dựng một hệ thống hình ảnh sắc nét: Hệ thống hình ảnh thể hiện ở logo thông qua màu sắc, hình tượng ngôn ngữ, bố cục trình bày, sắp xếp tiêu đề và các yếu tố quan trọng khác nhằm phản ảnh mạnh mẽ sản phẩm của chúng ta. Sau đó, Công ty chúng ta nên sử dụng ngôn ngữ trên logo trong các dữ liệu quảng cáo, tiếp thị in ấn, trực tiếp hay tương tác, trong các bao bì sản phẩm và trong các triễn lãm hội chợ thương mại. Công ty chúng ta sẽ trực tiếp in logo và kết hợp với màu sắc đa dạng trên các mẫu quảng cáo và trong các bao bì mà chúng ta sẽ gói cho khách hàng, điều đó sẽ gây được sự chú ý và tạo được ấn tượng tốt cho khách hàng đó là điều mà công ty chúng ta luôn muốn hướng đến.
    • Bước 4: Tìm kiếm sự sáng tạo. Đó chính là một khi đã có những viên gạch nền tảng một cái tên sản phẩm, một lời miêu tả, và một hệ thống hình ảnh, Công ty chúng ta cần thêm một điều gì đó rất đơn giản. Do đó việc tiếp thị, khuếch trương sẽ là cách mà công ty chúng ta phát huy tính sáng tạo. Đó là công ty chúng ta sẽ kết hợp việc tạo ra một sản phẩm áo massage Pro – ET là sản phẩm không chỉ là làm đẹp mà còn có tác dụng là massage làm giảm sự mệt mỏi và lo lắng, căng thẳng. Công ty chúng ta sẽ mang đến đến cho khách hàng sự hài lòng và sự thoã mãn nhất.
    • Bước 5. Công ty chúng ta nên tiếp thị trên nhiều kênh khác nhau để thu hút khách hàng do vậy để tung ra một sản phẩm mới, thì một hành động xúc tiến đơn lẻ hoặc chỉ với một thông cáo báo chí sẽ không hiệu quả. Trên thực tế phải tiếp cận nhiều kênh quảng cáo khác nhau: trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tiếp thị trực tiếp, các chiến dịch quảng bá qua email, cập nhập trang web, văn hóa sản phẩm, xúc tiến bán hàng, giao tiếp nhân viên, triễn lãm thương mại… Vì khi chúng ta tiếp cận nhiều kênh khác nhau thì công ty chúng ta sẽ thu hút được khách hàng và lôi cuốn gây ấn tượng cho khách hàng.
    • Bước 6: Kết chặt thông điệp. Sau khi Công ty chúng ta đã xác định được tất cả các kênh tiếp thị để tung ra thị trường sản phẩm mới thì tránh việc quảng cáo không có hệ thống. Công ty chúng ta nên bắt đầu một ý tưởng lớn, sau đó trợ giúp cho ý tưởng này bằng từ ba đến năm thông điệp chủ chốt. Công ty chúng ta hãy nghĩ về việc khởi đầu sản phẩm mới như một chuỗi mắc xích hành động: Thông báo – tác động – thu hút – tác động. Bởi các quảng cáo, hình ảnh giới thiệu, trang web của công ty chúng ta… nên nhắm đến mục tiêu giới thiệu sản phẩm mới và thu hút sự chú ý của mọi người. Ngoài ra công ty chúng ta cũng nên hướng tới các mục tiêu và giải thích sự liên quan. Đó là những bản sản phẩm giới thiệu sản phẩm chi tiết, các so sánh, ưu điểm cạnh tranh… Công ty chúng ta sẽ truyền tải đến khách hàng thông điệp “hãy đến với sản phẩm áo massage bạn sẽ giảm được stress nhờ vào hoạt tính Nano và những hạt trân châu mềm sẽ giúp bạn lấy lại được một tinh thần làm việc tốt trong học tập và khi làm việc”
    • Bước 7: Cộng tác với những đối tượng thích hợp. Việc tung sản phẩm ra thị trường là một quy trình gồm nhiều giai đoạn với sự tham gia của rất nhiều người, tổng hợp sự nỗ lực của tập thể và không ít kế hoạch chi tiết. Do vậy công ty chúng ta cần phải có sự đóng góp của tất cả các nhân viên trong tổ chức, mỗi người sẽ đóng góp một phần nhỏ của mình sẽ đưa công ty chúng ta đạt được một ấn phẩm chào hàng thành công và thu hút được nhiều khách hàng.

    2.5 Xác định nguồn lực:

    Công ty mua dự trữ sẵn các nguyên liệu cần thiết để sản xuất sản phẩm, dự phòng cho trường hợp khan hiếm nguyên vật liệu. Bên cạnh đó đội ngũ 50 công nhân luôn được ban lãnh đạo công ty động viên chuẩn bị tinh thần tăng ca trong những trường hợp nhu cầu tăng cao hơn khả năng dự kiến của doanh nghiệp.

    Với dây chuyền sản xuất trị giá hơn 1 tỷ đồng, là công nghệ mới nhất có khả năng hoạt động 16h/ngày để sản xuất ra bộ phận chính của máy là bộ phận rung. Điều này đảm bảo cho quá trình luôn được diễn ra đúng như kế hoạch của doanh nghiệp.

    Công ty chúng ta có hai nguồn lực chính là nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình.

    • Nguồn lực hữu hình:

    Thứ nhất Công ty chúng ta có khu đất nằm ở khu công nghiệp Liên chiểu Thành phố Đà Nẵng đây là khu đất mà Công ty sẽ chọn là nơi để sản xuất áo massage Pro – ET đó là khu đất có tổng diện tích 0,3ha, đây là khu đất rộng rất thích hợp để tiến hành lắp đặt và sử dụng dây chuyền sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo massage Pro – ET. Và là nơi mà chúng ta tập trung nhiều máy móc thiết bị để sản xuất áo massage Pro – ET.

    Thứ hai điểm thuận lợi của chúng ta là Công ty chúng ta có trụ sở chính nằm ở toà nhà cao ốc cho thuê AMI OFFICE CENTER địa chỉ 30 Trần Phú Đà Nẵng, đây là trụ sở để chúng ta gặp gỡ đối tác và ký hợp đồng với đối tác đổng thời là nơi để đối tác đến thăm quan và tìm hiểu.

    Thứ ba về nguyên liệu sản xuất, Công ty chúng ta sẽ dự trữ nguồn nguyên vật liệu  với số lượng dự trữ lớn vì phần lớn nguyên vật liệu của chúng ta là phải mua từ nước ngoài do đó chúng ta cần phải chuẩn bị lượng nguyên vật liệu đề phòng sự cố có thể xảy ra nếu không mua được nguyên vật liệu.

    Thứ tư về con người Công ty chúng ta sẽ xây dựng nguồn nhân lực là 70 người với 5 quản lý, 15 nhân viên và 50 công nhân đây là nguồn nhân lực hiện có tại Công ty chúng ta.

    • Nguồn lực vô hình.

    Công ty chúng ta là công ty mới thành lập chưa xây dựng được thương hiệu, danh tiếng  do đó nguồn lực vô hình mà Công ty chúng ta có hiện nay là kiến thức Marketing, Công ty Chúng ta sẽ tập trung vào chiến lược quảng cáo sản phẩm áo massage Pro – ET với những công dụng và sự tiện lợi của áo massage Pro – ET trên tất cả phương tiện thông tin đại chúng từ Truyền hình, tạp chí, báo và cả trên internet. Công ty chúng ta sẽ truyền tải đến khách hàng một sản phẩm có công dụng là massage, làm giảm sự lo lắng, mệt mỏi, căng thẳng lấy được tinh thần làm việc và học tập tốt đồng thời rất tiện lợi là bạn dùng và mang áo massage Pro – ET đến bất kỳ nơi nào mà bạn muốn khi bạn làm việc,  khi học tập và nghiên cứu.

    2.6 Công nghệ:

    Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất trị giá hơn 1 tỷ đồng có giá trị sử dụng trong vòng 10 năm với chu kì sữa chữa lớn là 3 năm/lần. Kết hợp với các công đoạn thủ công sẽ tạo thành những chiếc áo Massage Pro – ET hoàn chỉnh. Với phân xưởng rộng 3000m­­­2 có thời gian sử dụng đến 30 năm, với đầy đủ trng thiết bị giúp công nhân được làm việc trong một môi trường thoải mái.

    3. Phân tích thị trường:

      3.1. Phân đoạn thị trường:

    Phân đoạn thị trường còn gọi là phân khúc hoặc cắt lát thị trường. Phân đoạn thị trường là tiến hành phân chia thị trường thành những bộ phận người tiêu dùng theo một số tiêu chuẩn nào đó trên cớ sở những quan điểm khác biệt về nhu cầu. Ví dụ phân chia theo lứa tuổi, theo giới tính, theo thu nhập, theo nghề nghiệp, theo nơi cư trú…

    Thật vậy thực chất của phân đoạn thị trường là tiến hành phân chia thị trường thành một số đơn vị nhỏ (đoạn hay khúc) khác biệt nhau. Mỗi đoạn thị trường có tính chất đồng nhất. Qua phân đoạn thị trường, các doanh nghiệp mới có thể xây dựng chiến lược Marketing của mình một cách đúng đắn.

    Có thể nói trước đây sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp không cần phải phân đoạn thị trường. Hàng hoá luôn khan hiếm và ít chủng loại nhưng vẫn tiêu mạnh. Ngày nay, phân đoạn thị trường là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp có sản phẩm cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần đa dạng các loại sản phẩm và dịch vụ của mình, đáp ứng các nhu cầu muôn vẻ của các nhóm khách hàng khác nhau. Cung càng vượt cầu thì doanh nghiệp càng phải chú ý đến phân đoạn thị trường. Thị trường rất đa dạng, có thị trường đơn đoạn (không phân đoạn) và có thị trường đa đoạn.

    Doanh nghiệp có thể không cần phân đoạn thị trường khi các chính sách Marketing không cần phân biệt đối với các nhóm khách hàng, khi sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng mọi nhu cầu của mọi người tiêu dùng. Mí dụ như sản phẩm X có sự phân biệt của các nhóm khách hàng như bột mì, đường, cát và sắt thép xây dựng…

    Ưu điểm khi phân đoạn thị trường: Khi doanh nghiệp tiến hành phân đoạn và nghiên cứu tỉ mỉ các đoạn thị trường sẽ có một vị trí mạnh hơn so với các đối thủ cạnh tranh; nghiên cứu tỉ mỉ các đoạn thị trường doanh nghiệp sẽ đề ra chiến lược marketing đúng đắn; các hoạt động marketing có hiệu quả hơn ở mỗi đoạn thị trường đã nghiên cứu sâu sắc; các doanh nghiệp có thể đồng thời kết hợp nhiều tiêu chuẩn để tiến hành phân đoạn thị trường.

    Như chúng ta đã biết thì địa hình Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải vừa có đồi núi. Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc. từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp. Đồng thời Đà Nẵng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa điển hình. nhiệt độ cao và ít biến động. khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyến tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam. Với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có  hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, thỉnh thoảng có nhưng đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.

    Ngoài ra Đà Nẵng hiện là trung tâm tài chính lớn nhất của khu vực miền Trung và Tây Nguyên với hơn 40 ngân hàng thương mại nhà nước, thương mại cổ phần, liên doanh và công ty tài chính đang hoạt động cùng với hàng chục trung tâm quy mô lớn.

    Nhưng đối với sản phẩm áo massage Pro – ET một sản phẩm mới có mặt trên thị trường. Đây là sản phẩm hoàn toàn xa lạ với khách hàng thì việc phân đoạn thị trường không phải là điều đơn giản. Do vậy chúng ta cần phải xác định rõ tiêu chuẩn của việc phân đoạn thị trường đối với sản phẩm áo massage Pro – ET .đó là tiêu chuẩn địa lý cụ thể là thành phố Đà Nẵng. Tại sao chọn Đà Nẵng là thị trường có nhiều tiềm năng để phát triển, có thể nói Đà Nẵng là thành phố có nền kinh tế đã, đang và sẽ phát triển kéo theo thu nhập của người dâncũng được nâng dần lên. Mặt khác, Đà Nẵng là thị trường có nền kinh tế đang phát triển và thu nhập cũng đã được cải thiện tốt hơn. Và sản phẩm áo massage Pro – ET là sản phẩm lạ và mới hoàn toàn. khi dùng sản phẩm này bạn có thể vừa làm đẹp vừa giảm lo lắng và mệt mỏi.

    3.2 Khách hàng mục tiêu:

    Khi doanh nghiệp đưa ra sản phẩm mới trên thị trường điều mà các doanh nghiệp quan tâm đó là khách hàng những người sẽ dùng sản phẩm. Doanh nghiệp thành công hay thất bại đều là do khách hàng tạo ra. Doanh nghiệp có thể đứng vững và tồn tại trên thị trường được là do sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng dùng nhiều. Có thể nói khách hàng là người nuôi sống chúng ta khi khách hàng không cần đến chúng ta nữa thì chúng ta sẽ chết và không thể tồn tại được nên việc tìm kiếm khách hàng là một điều rất quan trọng và cần thiết cho doanh nghiệp.

    Áo massage Pro – ET một sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường là một sản phẩm hoàn toàn mới và xa lạ với khách hàng vậy chúng ta phải làm gì để thu hút khách hàng. Đó chính là chúng ta cần phải xác định rõ khách hàng mục tiêu của chúng ta đó là thanh thiếu niên. cán bộ công nhân viên. Vì sao vậy bởi vì những người này đang trong độ tuổi làm việc và học tập. Cuộc sống của thời buổi kinh tế thị trường mọi người đang bị áp lực nhiều về công việc và học tập nên họ dễ bị stress họ luôn muốn có một sản phẩm để có thể làm giảm bớt mệt mỏi và lo lắng của họ trong khi làm việc hoặc khi đi học. Để họ có thể lấy được lại tinh thần để làm việc hoặc học tập, áo massage Pro – ET sẽ làm được điều đó sau 5 phút.

    Thứ nhất đối với thanh thiếu niên đây là độ tuổi luôn muốn có sự thay đổi và dễ dàng có thể thay đổi sản phẩm. Nhóm đối tượng này là nhóm đối tượng dễ thích nghi với sản phẩm nhất bởi sản phẩm của chúng ta là sản phẩm đa dạng về màu sắt và hình dáng. Chúng ta đưa ra nhiều màu sắc và hình dáng khác nhau để lựa chọn phù hợp với màu sắc và kiểu dáng mà họ mong muốn. Đồng thời nhóm đối tượng này là nhưng người thích làm mới mình, thích những sản phẩm lạ, độ tuổi này đang trong thời kỳ phát triển nên rất thích những điều mới và lạ đến với mình. Mặt khá,c sản phẩm áo massage Pro – ET có thể dùng mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm… Chúng ta có thể dùng áo massage Pro – ET vừa làm đẹp, vừa giúp chúng ta thư giãn, giảm bớt lo lắng và mệt mỏi khi đi học. Ngày nay khi xã hội ngày càng nâng cao thì kiến thức cũng ngày càng đa dạng đòi hỏi người học cũng phải có một tâm lý thực sự tốt thì chúng ta mới có thể học tốt được. Do vậy để giúp cho con mình có thể học tốt và giảm bớt căng thẳng thị phụ huynh sẽ không ngần ngại khi mua cho con mình một chiếc áo massage Pro – ET vừa tiện lợi vữa hữu ích. Tránh được những tâm lý không tốt ảnh hưởng xấu đến việc học thì cần một sản phẩm đó là áo massage Pro – ET.

    Thứ hai là cán bộ công nhân viên. Do xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng có nhiều thách thức và yêu cầu của nền kinh tế thị trường đang ngày một diễn ra khốc liệt. Cạnh tranh trên thương trường ngày một gay gắt và ai cũng chịu áp lực nặng của nền kinh tế thị trường. Mọi người đều luôn rơi vào mệt mỏi, lo lắng, căng thẳng do áp lực công việc quá nặng nề. Vậy thì làm gì để có thể giảm stress một cách nhanh nhất mà không phải mỗi ngày dành 30 phút để tập thể dục; những người làm việc quá căng thẳng họ không có thời gian thư giãn thì làm gì có thời gian để  tập luyện. Đối với nhóm đối tượng này họ cần một sản phẩm massage nhanh và kịp thời cho họ. áo massage Pro – ET sẽ giúp họ giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi, giúp họ giảm stress nhanh nhất và giúp họ lấy được cân bằng tâm lý để họ làm việc tốt hơn.

    Cuộc sống đang ngày một thay đổi và nhu cầu của con người ngày càng được nâng lên, con người không chỉ thoả mãn về nhu cầu ăn, mặc. mà còn có nhu cầu về sức khỏa và tinh thần. Nhất là khi nền kinh tế ngày càng phát triển và cạnh tranh ngày một diễn ra ác liệt. Buộc mỗi người phải luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu thì cần phải có tinh thần thật ổn định và luôn luôn thoả mái. Vậy thì nhu cầu sẽ nâng lên cần có một dụng cụ để giảm stress nhưng thời gian thì không có hay do tính lười giác. Chính vì thế mà sản phẩm áo massage Pro – ET đã xuất hiện trên thị trường. đây là sản phẩm tiện lợi và có tác dụng nhanh chóng vì nó được mang đi bất kỳ nơi đâu mà bạn muốn. Nó sẽ giúp bạn giảm stress ngay tức thì mà không cần phải chờ đợt lâu hay khi bạn không có thời gian để thư giãn. Như chúng ta đã biết thì nhu cầu xuất phát từ tình trạng thiếu thốn, đó là nhu cầu tư nhiên đến nhu cầu cụ thể và quyết định mua hàng. Do đó khi bán sản phẩm thì chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng khách hàng mua lợi ích mà sản phẩm mang lại, giá trị của sản phẩm nằm trong đầu khách hàng. Khách hàng khác nhau có nhu cầu sở thích khác nhau, địa điểm khác nhau có nhu cầu sở thích khác nhau và hãy sử dụng ngôn ngữ của khách hàng. Giá trị của sản phẩm nằm trong đầu khách hàng, trong chính cảm nhận và suy nghĩ của khách hàng.

    Chính vì thế chúng ta cần phải đem đến cho khách hàng sự hài lòng thì chính khi đó nhu cầu của khách hàng sẽ được thoả mãn. Và vì lẻ đó mà sản xuất tạo ra những vật phẩm phù hợp với nhu cầu. không có nhu cầu thì không có sản xuất. Nhưng chính tiêu dùng sẽ tái sản xuất ra nhu cầu. Nhu cầu không chỉ gắn liền với các quá trình sinh lý cơ thể con người mà còn gắn liền với sinh hoạt xã hội của họ. Hành vi của con người nói chung bao giờ cũng xuất phát từ những nhu cầu của họ. Do vậy áo massage Pro – ET là sản phẩm mới có mặt trên thị trường nên việc chấp nhận sản phẩm và mua hàng không phải là chuyện dễ dàng gì vì thế chúng ta phải xác định khách hàng mục tiêu của chúng ta là thanh thiếu niên và cán bộ công nhân viên đây là những người ở độ tuổi dễ thích nghi và dễ dàng thay đổi sản phẩm. Đồng thời đây là nhóm đối tượng mà có mức thu nhập cũng ổn định (cán bộ công nhân viên). Đối tượng thanh thiếu niên nhóm này tuy chưa có thu nhập nhưng vì tất cả vì con nên cha mẹ sẽ quyết định mua cho con cái áo massage Pro – ET để giúp con tránh được sự lo lắng, mệt mỏi và học tốt hơn.

    Những người khác nhau mua sản phẩm với nhiều lý do khác nhau, tập trung vào nhóm khách hàng mục tiêu là một trong số các yêu cầu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Có sự khác biệt rất lớn giữa việc tiếp thị sản phẩm của bạn tới một nhóm mục tiêu hay nhóm chung. Xác định thị trường mục tiêu sẽ giúp công ty kinh doanh dễ dàng hơn. Nếu công ty cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ cho nhiều khách hàng. hiệu quả sẽ không cao so với việc bạn tập trung vào một nhóm nhất định. Việc kinh doanh sẽ tiến triển hơn nếu bạn dành tâm sức để quảng bá và cung cấp những gì tốt nhất tới đối tượng khách hàng mục tiêu.

    Thị trường mục tiêu của công ty chính là thị trường trong nước, và đối tượng khách hang cần nhắm đến là những người có thu nhập cao.

    Qui trình phân khúc thị trường còn đòi hỏi người làm công tác thị trường phải hiểu động cơ của sự chọn lựa và yếu tố ưa chuộng của khách hàng trên thị trường, thông qua đó phát hiện ra cơ sở của ưu thế cạnh tranh. Phân khúc thị trường còn giúp cho marketing nhìn thấy cơ hội trên thị trường thông qua công việc phân tích nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Từ đó có thể đưa ra những sản phẩm cùng loại nhưng có công dụng khác nhau, bao bì khác nhau, giá thành khác nha… để phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của những đối tượng khách hàng khác nhau. Quan trọng hơn cả, phân khúc thị trường là cơ sở tiền đề để xây dựng chiến lược thị trường của doanh nghiệp. Nếu marketing làm tốt công việc phân khúc thị trường, qua đó xác định cho mình một phân khúc thị trường thích hợp. Sẽ dễ dẫn đến thành công vì chiến lược thị trường của doanh nghiệp dựa trên cơ sở năng lực và lợi thế thực sự của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của thị trường. Ngược lại, nếu marketing chọn sai thị trường thì chiến lược trên lý thuyết có hay cở nào cũng khó mà có thể thực hiện thành công. Bởi vì có thể marketing đã chọn một thị trường quá lớn so với khả năng của mình, hoặc một thị trường mà yêu cầu bức xúc nhất, quyết định nhất của khách hàng thì doanh nghiệp lại không có khả năng đáp ứng tốt hơn so với các đối thủ khác. Phân khúc thị trường còn là cơ sở để marketing nhận định, đánh giá thị trường, giúp theo dõi diễn biến thị trường, phán đoán những thay đổi trên thị trường trong tương lai nhằm đón đầu nhu cầu thị trường.

    Công ty chúng tôi tập trung vào nhóm khách hàng có thu nhập cao, họ sẵn sang chi trả cho sản phẩm nếu sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của họ. Và sau đó công ty sẽ dần dần cải thiện giá cả và nhắm đến những người có mức thu nhập trung bình.

    3.3. Các kiểu phân phối:

    Phân phối là một yếu tố cấu thành quan trọng của hỗn hợp tiếp thị. Do vậy chúng ta cần phải sem xét kỹ lưỡng khâu phân phối trong hoạt động tiếp thị doanh nghiệp của mình. Chúng ta cần cân nhắc làm thế nào nhận được hàng hoá để bán, cũng như làm thế nào để đưa chúng đến tay khách hàng.

    Làm việc với những doanh nghiệp chuyên phân phối sản phẩm có thể tiết kiệm cho bạn thời gian và tiền bạc. Thay vì phải liên lạc với mỗi nhà sản xuất và chế tạo riêng lẻ về mỗi sản phẩm, thoả thuận các mức giá, sắp xếp để vận chuyển sản phẩm, đã có những doanh nghiệp khác thực hiện các công việc này. Kênh phân phối là những con đường mà sản phẩm và dịch vụ sẻ trải qua từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ.

    Kênh phân phối tiết kiệm được thời gian cho cả người mua và người bán. Chúng còn hữu ích trong việc tìm kiếm những cách hiệu quả nhất để vận chuyển sản phẩm tới các địa điểm mong muốn. Sử dụng kênh phân phối sẽ hạ thấp chi phí so với việc tự mình giải quyết mọi công đoạn phân phối và đồng thời chúng ta cần đưa sản phẩm ra thị trường đúng thời điểm là một yếu tố quan trọng của giai đoạn phân phối.

    Do vậy đối với sản phẩm áo massage Pro – ET thì chúng ta nên trực tiếp bán trực tiếp cho khách hàng và bán qua trung gian.

    Thứ nhất khi bán trực tiếp cho khách hàng thì khách hàng sẽ thấy được cách trình bày cũng như cách giao tiếp của nhân viên, thấy được sự nhiệt tình, mến khách của chúng ta dành cho khách hàng. Đồng thời chúng ta nên mở cửa những giờ thuận tiện cho khách hàng chẳng hạn như buổi tối và cuối tuần, sử dụng catalog, tờ rơi và các hình thức quảng cáo khác để tiếp cận các đối tượng khách hàng sống ngoài khu vực hay chúng ta có thể phân phối sản phẩm áo massage Pro – ET trên internet. Chúng ta có thể thiết kế trang web có thể truy cập vào website của chúng ta và tìm hiểu sản phẩm. dịch vụ của bạn để mua.

    Thứ hai bán qua trung gian tức là chúng ta sản xuất sau đó sẻ cung cấp cho nhưng doanh nghiệp bán lẻ và các doanh nghiệp này sẻ bán sản phẩm đến tay khách hàng. Chúng ta có thể phân phối sản phẩm qua các siêu thị để từ đó các siêu thị lại bán cho khách hàng.

    4. Marketing và bán hàng:

    Marketing là một trong những khâu quan trọng để đưa sản phẩm ra thị trường. Sản phẩm áo massage Pro – ET là một sản phẩm hoàn toàn mới, khách hàng chưa biết đến sản phẩm nhiều. Vì vậy chiến lược marketing, đặc biệt là chiến lược marketing trong nước là rất quan trọng.

    Sản phẩm áo massage Pro – ET lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường. Vì vậy đầu tiên khách hàng mà sản phẩm quan tâm đến chính là những người có thu nhập cao, không phân biệt giới tính, độ tuổi. Thị trường mục tiêu là những người có thu nhập cao, vì họ sẵn sàng chi trả cho sản phẩm nếu sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của họ.

    Sản phẩm mà công ty muốn bán chính là sản phẩm áo massage Pro – ET,hù hợp cho cả nam và nữ. Sau một ngày làm việc mệt mỏi và căn thẳng thì ai cũng có nhu cầu thư giản. đặc biệt là nếu có sản phẩm có thể giúp họ giải tỏa được căng thẳng ngay bất cứ thời điểm nào. thì đây chính là sản phẩm ma họ cần. Sau khi tính toán mọi chi phí và tìm hiểu về giá cả trên thị trường so sánh với đối thủ cạnh tranh thì giá bán mà công ty dự định sẽ bán là 1.500.000 đồng/ cái. Để giới thiệu những sản phẩm này cho khách hàng mục tiêu thì đòi hỏi công ty phải có chiến lược marketing phù hợp. Đầu tiên thì thực hiện chiến lược quảng cáo qua báo chí, qua các tờ rơi, qua mạng internet và qua truyền hình. Giới thiệu sản phẩm đến tay khách hàng và áp dụng những chương trình khuyến mãi hấp dẫn để kích thích nhu cầu khách hàng,giới thiệu công dụng và mẫu mã của sản phẩm và các chương trình chăm sóc khách hàng đặc biệt khác.

    Sở dĩ công ty muốn sản xuất và tung sản phẩm áo massage Pro – ET lên thị trường là bởi vì sau khi nghiên cứu trên thị trường thì không có sản phẩm áo massage nào có tính năng vượt trội như sản phẩm của công ty. Đây là một sản phẩm hoàn toàn mới, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng bởi sự khác biệt của nó, vừa hợp thời trang, vừa thỏa mãn được khách hàng. Đầu tiên thị trường mà sản phẩm chú ý đến là thị trường trong nước. và sau đó sẽ xuất khẩu ra thị trường trong khu vực Đông Nam Á, rồi tiến đến những thị trường rộng lớn hơn. Mẫu mã của sản phẩm được thiết kế phù hợp với tất cả mọi người và tùy theo kích cỡ, kiểu dáng và mức chi phí mà định giá cho từng sản phẩm áo massage Pro – ET.

    4.1. Chiến lược sản phẩm của công ty:

    Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của việc phát triển sản phẩm mới. Nhịp độ thay đổi và tiến bộ công nghệ khiến các công ty buộc phải phát triển các giải pháp mới và hiệu quả hơn để giải quyết các vấn đề của khách hàng. Nếu không, các đối thủ cạnh tranh sẽ dễ dàng tấn công và giành lấy thị trường của họ.

    Tuy nhiên, đây không phải là một lý do để các nhà điều hành chỉ tập trung duy nhất vào việc phát triển sản phẩm mới. Việc phát triển và tung sản phẩm mới ra thị trường vốn vô cùng tốn kém và không phải sản phẩm nào cũng có khả năng đứng vững được. Trong khi đó, các sản phẩm hiện hữu đã tìm được chỗ đứng nhất định của mình trên thị trường, và chi phí ban đầu công ty bỏ ra để đưa những sản phẩm này đến với thị trường giờ chỉ còn là quá khứ và đã được bù đắp bằng lợi nhuận thu lại từ đó. Vì thế, việc công ty liên tục cải thiện các sản phẩm đã định hình là hành động hợp lý và khá hiệu quả. Đôi khi điều này có thể làm doanh thu chững lại hoặc giảm nhẹ – tình trạng mà hầu hết các sản phẩm hiện hữu cuối cùng đều phải trải qua. Như Patrick Barwise và Sean Meehan viết trong cuốn Simply Better: “Đổi mới chỉ để đổi mới là việc làm vô nghĩa, nhưng đổi mới không ngừng để cải thiện hiệu suất dựa trên những ích lợi chung là yếu tố cần thiết để duy trì sự thành công trong kinh doanh”.

    Một khi người tiêu dùng đã hài lòng với sản phẩm hay dịch vụ hiện đang sử dụng, họ sẽ không còn sốt sắng chuyển sang những sản phẩm hay dịch vụ khác. Đặc biệt, những người bận rộn sẽ không thực hiện những thay đổi không cần thiết vì điều này sẽ phá hỏng sự thoải mái của họ, mất nhiều thời gian và nguy cơ rủi ro cao. Nhà cung cấp có thể duy trì cảm giác thoải mái và hài lòng của những người này bằng cách liên tục cải thiện sản phẩm theo những hình thức sau:

    • Giảm giá khi bạn có thể tiết kiệm chi phí.
    • Thường xuyên nâng cấp chất lượng sản phẩm.
    • Huấn luyện nhân viên bán hàng những kỹ năng dịch vụ khách hàng tốt nhất trong phạm vi có thể.
    • Đem lại những điều mới lạ cho sản phẩm để khách hàng cảm thấy thú vị và ngạc nhiên.
    • Mở rộng dòng sản phẩm theo chiều dọc nhằm cung cấp một sản phẩm hợp khả năng và mức độ nhu cầu khác nhau của mọi người (ví dụ: các biến thể “tốt”, “tốt hơn” và “tốt nhất” của cùng một sản phẩm).
    • Nền tảng sản phẩm tạo điều kiện mở rộng dòng sản phẩm cải tiến với chi phí thấp.
    • Quy trình phát triển sản phẩm mới bao gồm phát sinh ý tưởng, nhận biết cơ hội, phát triển, thử nghiệm, thương mại hóa và quản lý sản phẩm.
    • Nhiều công ty dùng hệ thống giai đoạn – cổng để loại bỏ những ý tưởng sản phẩm yếu kém và phát triển những ý tưởng có giá trị.
    • Những người làm công tác marketing có nhiệm vụ cung cấp ý tưởng và ý kiến phản hồi của khách hàng. Nhiệm vụ này sẽ nặng nề hơn khi sản phẩm tiếp cận thị trường và đi vào giai đoạn thương mại hóa.

    Sau khi thăm dò ý kiến của khách hàng thông qua hệ thống bảng câu hỏi thì 82.14 % khách hàng chưa dùng qua sản phẩm massage, và 32.14 % khách hàng không biết đến sản phẩm và không có nhu cầu massage là 32.14 %. Ngoài ra thì 39.29% khách hàng mong muốn sản phẩm mang lại hiệu quả nhanh. Vì vậy công ty chúng tôi dựa trên những mong muốn của khách hàng sẽ tạo ra những sản phẩm phù hợp, mang lại hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.

    4.2. Chiến lược giá cả:

    Trên cơ sở phân tích nhu cầu của khách hàng, tình hình cạnh tranh và lợi ích mà sản phẩm/dịch vụ mang lại, người ta ra quyết định về giá. Nội dung nầy giới thiệu những chọn lựa về chiến lược định giá mà marketing có thể sử dụng để xây dựng cho mình một chiến lược giá.

    Người ta không nói đến giá như là một yếu tố marketing đơn lẻ. Giá nằm trong một bối cảnh thị trường cụ thể (hay còn gọi là chu kỳ sản phẩm trên thị trường) của một sản phẩm cụ thể được bán kèm với những dịch vụ cụ thể (dịch vụ bán hàng và hậu mãi), được chào cho một đối tượng khách hàng cụ thể (phân khúc), đi kèm với những điều kiện thanh toán cụ thể và giá có hiệu lực trong một khoản thời gian nhất định. Để áp dụng chiến lược giá một cách có hiệu quả, ta cần đặt giá vào trong một môi trường thị trường cụ thể.

    Chiến lược giá gắn với chu kỳ phát triển của sản phẩm:

    • Giai đoạn giới thiệu vào thị trường: vì sản phẩm áo massage Pro – ET là sản phẩm mới, cho nên công ty có thể định giá cao ngay từ đầu. Lợi nhuận thu được thường được để bù đắp chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm. Ngoài ra, công ty còn duy trì giá cao vì tận dụng lợi thế độc quyền trên thị trường. Khách hàng buộc phải chấp nhận vì không có sự lựa chọn nào khác.

    Qua những mức giá mà công ty đưa ra để tham khảo và thăm dò khách hàng thì: 64.29% khách hàng đồng ý với mức giá là từ 1 triệu- 1.5 triệu, 17.86 % không đồng ý và yêu cầu mức giá khác. Sau khi tổng hợp tất cả chi phí và thăm dò khách hàng thì công ty chúng tôi sẽ thống nhất ở mức giá là tử 1 triệu đến 1.5 triệu. Và sau đó chúng tôi cải thiện sản phẩm và cho ra mức giá bán là 1.500.000đ..

    4.3. Chiến lược phân phối:

    Vì sản phẩm Massage là một sản phẩm xa xỉ do đó công ty đã lựa chon kênh phân phối cấp 0 và cấp 1 nghĩa là công ty trực tiếp mở các cửa hàng tại ba thị trường chính là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để giới thiệu và trự tiếp đưa sản phẩm đến trực tiếp cho người tiêu dùng. Và bên cạnh đó, công ty lựa chọn hệ thống siêu thị Big C là một tập đoàn bán lẻ mạnh ở Việt Nam phân phối cho sản phẩm Áo Massage Pro – ET ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh,

    Công ty có ba cửa hàng ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh để phân phối sản phẩm do công ty sản xuất ra. Các cửa hàng nằm ở các con đường chính trên địa bàn ba Thành phố.

    4.4. Chiến lược quảng cáo:

    Quảng cáo là khâu đặc biệt quan trọng, giúp người tiêu dùng biết đến sản phẩm. Vì vậy công ty chúng tôi đặc biệt chú trọng đến quảng cáo. Sản phẩm áo massage là sản phẩm hoàn toàn mới. Và để khách hàng tiếp cận được sản phẩm thị chúng tôi đưa ra các phương thức quảng cáo như sau:

    • Quảng cáo trên các tạp chí, báo.
    • Quảng cáo trên truyền hình.
    • Quảng cáo qua các banner.

    Kèm theo là các chương trình khuyến mãi. khuyến mại…

    5. Kế hoạch nhân sự:

    Có thể nói rằng nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm làm việc, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các nhà quản trị, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Do đó quản trị nguồn nhân lực rất khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Và việc quản lý nguồn nhân lực rất cần thiết và quan trọng vì đó là những người hoàn thành mục tiêu cho chúng ta. Vì thế cần phải dẫn dắt tổ chức hướng đến mục tiêu chung và kế hoạch đã đề ra. Đồng thời đó cũng là thành phần quan trọng giúp chúng ta thành công.

    Đối với công ty chúng ta là một công ty mới thành lập và sản xuất sản phẩm áo massage Pro – ET là một sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường nên chúng ta cần phải vẽ sơ đồ để thấy được nhiệm vụ và quyền hạn của từng chức vụ cũng như từng phòng ban.

    5.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức và chức năng hoạt động của công ty.

     

     
       

    Từ việc vẽ sơ đồ trên ta thấy từng nhiệm vụ của người như sau:

    • Giám đốc: Là người sẽ xây dựng chiến lược và phương án sản xuất cho công ty đồng thời sẽ dẫn dắt tổ chức hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức.

    Giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của công ty.

    Giám đốc  có các quyền và nhiệm vụ sau đây:

    • Quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty.
    • Tổ chức thực hiện các quyết định của công ty.
    • Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty.
    • Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty.
    • Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty.
    • Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty.
    • Quản lý phân xưởng: Có nhiệm vụ theo dõi quá trình sản xuất sản phẩm áo massage Pro – ET như thế nào, tiến độ thực hiện công việc như thế nào có hoàn thành mục tiêu hay không, nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm.

    Chức năng của cán bộ quản lý phân xưởng:

    • Chức năng thiết lập hồ sơ thiết kế – kỷ thuật.
    • Chức năng định mức NVL, định mức nhân công.
    • Chức năng kiểm tra chất lượng sản phẩm.
    • Chức năng kỷ thuật – công nghệ cho sản xuất.
    • Chức năng kỷ thuật máy – thiết bị.
    • Chức năng quản lý phân xưởng
    • Chức năng kế hoạch xuất nhập khẩu vật tư
    • Chức năng cung ứng NVL – vật tư kỷ thuật
    • Chức năng quản lý NVL, vật tư kỷ thuật, thành phẩm (kho).
    • Trưởng phòng kế toán – tài chính:

    Kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và chủ động tài chính của nhà máy.

    Việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kế toán trong công tác quản lý ở nhà máy kế toán đảm nhiệm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng, các bộ phận hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của mình, chuyên môn hóa việc được giao, đồng thời thực hành các báo cáo theo quy định.

    Hiện nay phòng kế toán của công ty gồm 1 kế toán trưởng và 2 kế toán viên.

    Chức năng của từng bộ phận kế toán như sau:

    • Kế toán trưởng: Chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra các công việc kế toán thực hiện, phân công cụ thể cho từng bộ phận kế toán, các chính sách, chế độ kinh tế tài chính trong công ty cũng như chế độ chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, chế độ sổ kế toán, chính sách thuế, chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng cũng như chế độ trích lập và sử dụng các quỷ của công ty.

    Tham mưu cho giám đốc những vấn đề liên quan nhằm giúp giám đốc có những quyết định đúng đắn trong việc lãnh đạo công ty. Đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty và Nhà Nước về các thông tin kế toán.

    • Kế toán viên: Theo dõi, tập hợp số liệu chi tiết cho các đơn hàng, báo biểu lao động hằng ngày, theo dõi tình hình lao dộng tại các tổ, báo cáo sản lượng hoàn thành của phân xưởng, theo dõi lao dộng, chấm công, phối hợp với bộ phận chức năng thực hiện chia lương, thanh toán lương.
    • Trưởng phòng kinh doanh Marketing: hoạch định các chiến lược kinh doanh và marketing, nghiên cứu thị trường nhằm nâng cao doanh số của sản phẩm.

    Chức năng của phòng kinh doanh Marketing là:

    • Có chức năng thị trường, định hướng sản phẩm
    • Khai thác đơn hàng, xây dựng giá thành sản phẩm, phương án kinh doanh và xúc tiến các công việc cần thiết để ký kết hợp đồng kinh tế.
    • Thiết lập, phát triển mạng lưới cửa hàng, đại lý bán và giới thiệu sản phẩm.
    • Xây dựng các phương án mở rộng thương hiệu trên thị trường.
    • Định vị thương hiệu và xây dựng hệ thống nhận dạng thương hiệu.
    • Xây dựng và hổ trợ triển khai kế hoạch, chiến lược marketing.
    • Phân khúc thị trường, xác định và tiếp thị đúng thị trường mục tiêu.
    • Xây dựng và triển khai hoạy động PR cho công ty.
    • Xây dựng và hổ trợ triển khai các chiến lược về mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
    • Xây dựng và thiết lập hệ thông phân phối hàng hóa.
    • Nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường.

    Bộ phận nhân công: Hiện nay bộ phận nhân công của công ty gồm 2 bảo vệ, 2 nhân viên vệ sinh và 50 lao động trực tiếp.

    • Bảo vệ: Nhằm đảm bảo sự an toàn và giữ gìn trật tự an ninh trong công ty.
    • Nhân viên vệ sinh: Nhằm đảm bảo môi trường làm việc, sản xuất của công ty luôn gọn gàng, sạch sẽ.

    5.2. Kế hoạch nhân sự:

     

    Chức Danh Lương Số Lượng Tổng Lương/Tháng Tổng Lương/Năm
    Giám Đốc 5.000.000 1 5.000.000 60.000.000
    Trưởng Phòng Kinh Doanh – Marketing 3.000.000 1 3.000.000 36.000.000
    Nhân Viên Kinh Doanh – Marketing 2.000.000 2 4.000.000 48.000.000
    Trưởng Phòng Kế Toán – Tài Chính 3.000.000 1 3.000.000 36.000.000
    Nhân Viên Kế Toán 2.000.000 2 4.000.000 48.000.000
    Quản Lý Phân Xưởng 2.000.000 2 4.000.000 48.000.000
    Công Nhân 1.200.000 50 60.000.000 720.000.000
    Nhân Viên Bán Hàng 2.000.000 3 6.000.000 72.000.000
    Nhân Viên Thu Ngân 1.500.000 3 4.500.000 54.000.000
    Nhân Viên Bảo Vệ 1.250.000 3 3.750.000 45.000.000
    Nhân Viên Lao Công 1.200.000 2 2.400.000 28.800.000
    TỔNG     99.650.000 1.195.800.000

     

    6. Kế hoạch tài chính:

    6.1. Báo cáo nguồn vốn và sử dụng quỹ:

    Nguồn vốn Dự Toán
    Vay dài hạn 4.687.500.000
    Vay ngắn hạn 1.250.000.000
    Vốn chủ sở hữu 4.062.500.000
    Tổng nguồn 10.000.000.000
    Sử dụng quĩ: Dự Toán
    Thuê bất động sản 3.875.000.000
    Xây dựng 1.812.500.000
    Mua thiết bị 1.500.000.000
    Mua hàng hoá dự trữ 312.500.000
    Marketing. bán hàng và quảng cáo 625.000.000
    Nhân sự 1.423.000.000
    Chi phí khác 452.000.000
    Tổng quĩ sử dụng 10.000.000.000

    6.2 Các loại chi phí:

    6.2.1. Mua sắm máy móc. nhà xưởng:

    TT Khoản Mục Số Tiền  năm SD KH/năm KH/Tháng
    1 Thuê bất động sản 3.875.000.000   420.833.333 35.069.444
      Nhà Xưởng 1.525.000.000 30 50.833.333 4.236.111
      Trụ Sở Chính 1.000.000.000 10 100.000.000 8.333.333
      Cửa hàng 1.350.000.000 5 270.000.000 22.500.000
    2 Xây dựng 1.812.500.000 30 60.416.667 5.034.722
    3 Mua thiết bị 1.500.000.000 10 150.000.000 12.500.000
      Tổng     631.250.000 52.604.167

    6.2.2. Chi phí sản xuất:

    • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
    Khoản Mục Chi Phí Số Tiền
    Nguyên Vật Liệu CP 1 SP CP 350 SP
    Vải 100.000 35.000.000
    Công Nghệ 350.000 122.500.000
    Bông 20.000 7.000.000
    Đóng Gói 10.000 3.500.000
    Tổng 480.000 168.000.000
    • Chi phí nhân công trực tiếp:
    Khoản mục Số Tiền
    Chi phí nhân công trực tiếp CP 1 tháng CP 1 năm
    Luong cơ bản 60.000.000 720.000.000
    Phụ cấp 12.000.000 144.000.000
    Tổng 72.000.000 864.000.000
    • Chi phí sản xuất chung:
    Chi Phí Sản Xuất Chung Số Tiền
    Khấu hao 21.770.833
    Quản Lý Phân Xưởng 4.000.000
    Phụ Cấp 800.000
    Chi Phí Khác 229.167
    Tổng 26.570.833
    • Chi phí bán hàng:
    TT Khoản Mục Số Tiền
    1 Thuê cửa hàng  
      Hà Nội 7.500.000
      Đà Nẵng 5.000.000
      TP Hồ Chí Minh 10.000.000
      Tổng 22.500.000
    2 Lương Nhân Viên  
      Nhân Viên Bán Hàng 6.000.000
      Nhân Viên thu Ngân 4.500.000
      Tổng 10.500.000
    Khoản Mục Đồng/Tháng
    Thuê Cửa Hàng 22.500.000
    Lương Nhân Viên Bán Hàng 6.000.000
    Lương Nhân ViênThu Ngân 4.500.000
    Chi Phí Khác 4.520.000
    CP Quản Cáo – Marketing 52.083.333
    Tổng 89.603.333
    • Chi phí quản lý doanh nghiệp:
    Khoản Mục Số Tiền
    Khấu Hao 8.333.333
    Lương CBQL 11.000.000
    Phụ Cấp 2.200.000
    Chi Phí Khác 9.040.000
    Tổng 30.573.333

    6.3. Tính giá thành:

    6.3.1. Giá vốn:

    Khoản Mục CP 500 SP CP/1SP
    CPNVLTT 168.000.000 336.000
    CPNCTT 72.000.000 144.000
    CPSXC 26.570.833 53.142
    Tổng 266.570.833 533.142

    6.3.2. Giá thành toàn bộ sản phẩm:

     

    Giá thành toàn bộ sản phẩm
    Chỉ Tiêu Số Tiền
    Z SP 266.570.833
    CPBH 89.603.333
    CPQLDN 30.573.333
    Lương NV 14.150.000
    Phụ Cấp 2.830.000
    Tổng 403.727.500
    Z tbđv 1.153.507

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    6.4. Điểm hòa vốn:

    TT Khoản mục Số Tiền
    1 Biến Phí 480.000
      CP NVLTT 480.000
    2 Định Phí 210.709.808
      CP NCTT 72.000.000
      CP SXC 53.142
      CP Bán Hàng 89.603.333
      CP QLDN 30.573.333
      Lương NV 14.150.000
      Phụ Cấp 2.830.000
    3 Giá Bán 1.500.000
    4 Sản Lượng hòa vốn 207
    5 Doanh Thu hòa vốn 309.867.365

    6.5 Bảng dự toán kết quả hoạt động kinh doanh:

    TT Chỉ Tiêu Số Tiền
    Năm I Năm II Năm III
    1 Doanh thu bán hàng 5,400,000,000 7,290,000,000 8,748,000,000
    2 Các khoản giảm trừ doanh thu 108000000 145,800,000 174,960,000
    3 Doanh thu thuần 5,292,000,000 7,144,200,000 8,573,040,000
    4 Giá vốn hàng bán 1,919,310,000 2,591,068,500 3,109,282,200
    5 Lợi nhuận gộp 3,372,690,000 4,553,131,500 5,463,757,800
    6 Chi phí bán hàng 1,075,240,000 1,021,478,000 817,182,400
    7 Chi phí quản lý DN 366,880,000 385,224,000 423,746,400
    8 Lợi nhuận trước thuế và lãi 1,930,570,000 3,146,429,500 4,222,829,000
    9 Lãi vay 468,750,000 468,750,000 468,750,000
    10 Lợi nhuận trước thuế 1,461,820,000 2,677,679,500 3,754,079,000
    11 Thuế TNDN 365455000 669,419,875 938,519,750
    12 LNST 1,096,365,000 2,008,259,625 2,815,559,250
    Sản Lượng Tiêu Thụ Dự Kiến
    Năm I 300
    Năm II 405
    Năm III 486

    Dự kiến sản lượng năm 2011 tăng 35% so với năm 2010.

    Dự kiến sản lượng năm 2012 tăng 30% so với năm 2011.

    Các khoản giảm trừ bằng 2% doanh thu.

    Lãi vay: 10%/năm.

    6.6 Bảng dự toán cân đối kế toán Ngày 31/12/năm I:

    STT Nội Dung    
      TÀI SẢN Đầu Năm I Cuối Năm I
    I Tài Sản Ngắn Hạn 2,812,500,000 3,871,243,333
    1 Tiền 2,500,000,000 3,602,615,000
    2 Đầu tư ngắn hạn 0 0
    3 Phải thu khách hàng 0 162,000,000
    4 Tồn kho 312,500,000 106,628,333
    5 tài sản khác 0  
           
    II Tài Sản Dài Hạn 7,187,500,000 6,600,121,667
    1 TSCĐ 7,187,500,000 6,556,250,000
      Nguyên giá 7,187,500,000 7,187,500,000
      Hao mòn 0 631,250,000
    2 Đầu tư dài hạn 0 0
    3 Khoản phải thu dài hạn 0 43,871,667
           
      TỔNG TÀI SẢN 10,000,000,000 10,471,365,000
           
      NGUỒN VỐN Đầu Năm I Cuối Năm I
    I Nợ Phải trả 5,937,500,000 5,312,500,000
    1 Nợ ngắn hạn 1,250,000,000 625,000,000
    2 Nợ trung – dài hạn 4,687,500,000 4,687,500,000
           
    II Vốn Chủ Sở Hữu 4,062,500,000 5,158,865,000
    1 Vốn đầu tư CSH 4,062,500,000 4,062,500,000
    2 Lợi nhuận giữ lại 0 1,096,365,000
           
      TỔNG NGUỒN VỐN 10,000,000,000 10,471,365,000

     

     

    KẾT BÀI

    Với xu thế ngày càng phát triển như hiện nay, mỗi công ty muốn tồn tại không những phải đưa ra được kế hoạch kinh doanh phù hợp với mô hình hoạt động của Công ty mà còn phải tạo ra sự khác biệt của sản phẩm để gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Công ty TNHH TTT cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Để trở thành một Công ty luôn đứng vững và tồn tại trên thị trường thì Công Ty TNHH TTT phải tạo cho mình những điểm mạnh riêng về mẫu mã cũng như chất lượng đồng thời phải tung ra các chính sách quảng cáo kịp thời và lôi cuốn để thu hút khách hàng để tạo được niềm tin trong lòng người tiêu dùng.

    Công ty TNHH TTT sẽ nổ lực và cố gắng để đưa sản phẩm áo massage Pro – ET trở thành một trong những sản phẩm được số đông khách hàng lựa chọn. Công ty TNHH TTT có quyền hy vọng về một tương lai không chỉ giữ vững được niềm tin đối với khách hàng mà còn vươn xa hơn, phát triển hơn gia tăng thị phần và doanh thu hơn nữa. Đồng thời Công ty TNHH TTT sẽ ngày càng phát triển hơn với những mẫu mã mới, tung ra những sản phẩm mới đảm bảo chất lượng tốt nhất để đáp ứng nhu cầu thị hiếu luôn thay đổi của người tiêu dùng.

    Do năng lực và kiến thức còn nhiều hạn chế nên kế hoạch kinh doanh của nhóm chúng em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những điểm thiếu sót. Nhóm mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để kế hoạch của nhóm chúng em được hoàn thiện hơn.

    Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!

    Phụ Lục

    Bảng Điều Tra Thị Trường

    Xin chào các bạn, trên tay các bạn là các câu hỏi về sản phẩm Áo massage, các bạn vui lòng đánh dấu X vào các lựa chọn của mình:

    Câu 1: bạn đã từng sử dụng sản phẩm massage nào chưa?

    Chưa sử dụng                              Đã sử dụng

    Nếu chưa sử dụng mời bạn vui lòng trả lời từ câu 2, nếu đã sử dụng mời bạn vui lòng trả lời từ câu 3:

    Câu 2:    Lý do bạn không sử dụng các sản phẩm Massage là gì?

    Giá quá cao                                                       Không biết đến sản phẩm

    Không có nhu cầu

    Câu 3: Theo bạn đặc điểm nào của sản phẩm massage là quan trọng đối với bạn?

    Tiện sử dụng                                                 Mẫu mã đẹp

    Hiệu quả nhanh                                            Giá bán

    Chế độ bảo hành

    Câu 4: Bạn hãy cho biết mức độ cần thiết về nhu cầu sử dụng  dụng cụ masage của bạn?

     
       

    Không cần thiết                                                                     Rất cần thiết

    Câu 5: bạn vui lòng cho biết mức độ mua đối với sản phẩm massage có kiểu dáng là chiếc áo?

    Chắc chắn mua                                             Có thể mua

    Chưa biết                                                       Có thể sẽ không mua

    Chắc chắn sẽ không mua

    Câu 6: theo bạn mức giá nào là phù hợp nhất đối với sản phẩm massage:

    1.000.000đ – 1.500.000đ              1.500.000đ – 2.000.000đ

    ≥2.000.000đ

    CHÂN THÀNH CÁM ƠN

    Danh Sách Các Thành Viên Trong Nhóm

    1. Lê Mậu Thìn (Nhóm trưởng).
    2. Bùi Nguyễn Thị Thu Thảo.
    3. Võ Đình Thắng.
    4. Lê Thị Thoa.

    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]
  • Đề cương ôn tập quản trị kinh doanh phần bài tập

    Đề cương ôn tập quản trị kinh doanh phần bài tập

    Đề cương ôn tập quản trị kinh doanh phần bài tập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-c%C6%B0%C6%A1ng-%C3%B4n-t%E1%BA%ADp-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-kinh-doanh-ph%E1%BA%A7n-b%C3%A0i-t%E1%BA%ADp.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương ôn tập quản trị kinh doanh phần bài tập

    BÀI TẬP THU HOẠCH SỐ 1

    MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH

    Câu 1: Điều kiện dể một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh

    tế khác có tư cách pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:

    1- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận;

    2- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

    3- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

    4- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. (Theo Điều 94 và khoản 1 Điều 113 – Bộ Luật dân sự Việt Nam) Điều kiện để một doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký

    kinh doanh và thời điểm bắt đầu kinh doanh theo Điều 17 Luật doanh nghiệp

    1- Doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Ngành, nghề kinh doanh không thuộc đối tượng cấm kinh doanh;
    1. Tên của doanh nghiệp được đặt đúng như quy định tại khoản 1 Điều
    • -Luật doanh nghiệp;
    1. Có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ theo quy định của pháp luật;
    1. Nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định.

    2- Doanh nghiệp có quyền hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh các ngành, nghề đó kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định.

    Câu 2: Các loại hình doanh nghiệp Việt Nam

    1. Doanh nghiệp nhà nước

     

    1. 1. Khái niệm

     

    Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

    (Theo Điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước)

    1.2. Chủ sở hữu

    Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước. Sau khi được thành lập, doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh doanh nhưng không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là người quản lý, kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển số vốn mà Nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo sự phân cấp của Chính phủ.

    1. 3. Vấn đề vốn và việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà

    nước

    a_ Vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn ngân sách cấp, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích luỹ.

    Trong doanh nghiệp cổ phần nhà nước ngoài nguồn vốn do Nhà nước cung cấp còn có sự góp vốn của cá nhân. Có hai loại :

    • Cổ phần chi phối của Nhà nước , bao gồm các loại:
    • Cổ phần của Nhà nước chiếm trên 50% tổng số cổ phần của doanh

    nghiệp;

    • Cổ phần của Nhà nước ít nhất gấp hai lần cổ phần của cổ đông lớn

    nhất khác trong doanh nghiệp.

    • Cổ phần đặc biệt của Nhà nước là cổ phần của Nhà nước trong một

    số doanh nghiệp mà Nhà nước không có cổ phần chi phối, nhưng có quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp theo thoả thuận trong Điều lệ doanh nghiệp.

    b- Việc sử dụng vốn

    Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh: được sử dụng vốn và các quỹ của doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhu cầu trong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả; doanh nghiệp nhà nước có thể tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh, nhưng không thay đổi hình thức sở hữu; được phát hành trái phiếu teho quy định của pháp luật; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích : được được Nhà nước cấp kinh phí theo dự toán hàng năm phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao cho doanh nghiệp; được huy động vốn, gọi vốn liên doanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép.

    1. 4. Cơ cấu tổ chức quản lý

    Tuỳ thuộc đặc điểm, tính chất và quy mô của các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức quản lý được quy định cho doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị, doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị và tổng công ty nhà nước là khác nhau.

    Điều 28 Luật doanh nghiệp nhà nước có quy định về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước:

    • Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô

    lớn có cơ cấu tổ chức quản lý như sau:

    • Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát.
    • Tổng giám đốc hoặc giám đốc và bộ máy giúp việc.
    • Các doanh nghiệp nhà nước không quy định tại Khoản 1 Điều này có giám đốc và bộ máy giúp việc. Hình thức tổ chức giám sát tại các doanh

    nghiệp này do Chính phủ quy định.

    * Đối với doanh nghiệp có hội đồng quản trị

    Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc cơ quan quản lý Nhà nước

    được Chính phủ uỷ quyền về sự phát triển của doanh nghiệp theo mục tiêu Nhà nước giao. (Điều 29 Luật doanh nghiệp)

    • Đối với doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị Giám đốc do người quyết định thành lập doanh nghiệp bổ nhiệm, miễn

    nhiệm, khen thưởng, kỷ luật. Giám đốc là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước người bổ nhiệm và pháp luật về điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong doanh nghiệp.

    Phó giám đốc giúp giám đốc điều hành doanh nghiệp theo phân công và uỷ quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc về nhiệm vụ được giám đốc phân công và uỷ quyền.

    Kế toán trưởng giúp giám đốc doanh nghiệp chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê của doanh nghiệp và có các nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật.

    Văn phòng và các phòng chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng tham mưu, giúp việc cho giám đốc trong quản lý, điều hành công việc. (Theo điều 39 Luật doanh nghiệp nhà nước)

    1. Hợp tác xã

    2.1. Khái niệm

    Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. (Theo điều 1- Luật hợp tác xã)

    2.2. Chủ sở hữu

    Tài sản của hợp tác xã thuộc sở hữu của hợp tác xã hay thuộc sỏ hữu tập thể. Vì vậy, các chủ sở hữu chung của hợp tác xã chính là những người lao động góp vốn, góp sức.

    2.3. Vốn của hợp tác xã

    2.3.1. Hình thức góp vốn

    Khi gia nhập hợp tác xã, xã viên phải góp vốn theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; vốn góp có thể nhiều hơn mức tối thiểu, nhưng ở mọi thời

    điểm không vượt quá 30% tổng số vốn điều lệ của hợp tác xã.Xã viên có thể góp vốn một lần ngay từ đầu hoặc nhiều lần; mức, hình thức và thời hạn góp vốn do Điều lệ hợp tác xã quy định. Vốn góp của xã viên được điều chỉnh theo quy định của đại hội xã viên.

    Xã viên được trả lại vốn góp trong các trường hợp quy định về vấn đề chấm dứt tư cách xã viên.Việc trả lại vốn góp của xã viên căn cứ vào thực trạng tài chính của hợp tác xã tại thời điểm trả lại vốn sau khi hợp tác xã đã quyết toán năm và đã giải quyết xong các quyền lợi, nghĩa vụ về kinh tế của xã viên đối với hợp tác xã. Hình thức, thời hạn trả lại vốn góp cho xã viên do Điều lệ hợp tác xã quy định.

    (Theo Điều 24,36 luật hợp tác xã)

    2.3.2. Hình thức huy động vốn (Theo Điều 37 Luật Hợp tác xã )

    Hợp tác xã được vay vốn của Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

    • Hợp tác xã được huy động vốn góp của xã viên theo quyết định của Đại hội xã viên.
    • Hợp tác xã được vay vốn của xã viên, của các tổ chức theo điều kiện

    do hai bên thoả thuận, nhưng không trái với các quy định của pháp luật.

    • Hợp tác xã được nhận và sử dụng vốn, trợ cấp của Nhà nước, của

    các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước do các bên thoả thuận và theo quy định của pháp luật.

    2.3.3. Cơ cấu tổ chức quản lý của hợp tác xã

    Đại hội xã viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã, bởi vì thực chất đại hội xã viên là hội nghị của toàn thể xã viên hoặc hội nghị của đại biểu xã viên.

    Đại hội xã viên gồm đại hội thường kỳ họp mỗi năm một lần do ban quản trị hợp tác xã triệu tập trong vòng 3 tháng, kể từ ngày khoá sổ quyết toán năm ,và đại hội xã viên bất thường được triệu tập để giải quyết vấn đề cần thiết vượt quá quyền hạn của ban quản trị hoặc ban kiểm soát. (Theo Điều 26 Luật hợp tác xã)

    Ban quản trị là cơ quan quản lý và điều hành mọi công việc của hợp tác xã do Đại hội xã viên bầu trực tiếp, gồm Chủ nhiệm hợp tác xã và các thành viên khác. Số lượng thành viên Ban quản trị do Điều lệ hợp tác xã quy định. Những hợp tác xã có số xã viên dưới mười lăm người thì có thể chỉ

    bầu Chủ nhiệm hợp tác xã để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban quản trị. Hợp tác xã có quy mô lớn được bầu Hội đồng quản trị để thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của Ban quản trị quy định trong Luật hợp tác xã. Nhiệm kỳ của Ban quản trị hợp tác xã do Điều lệ hxt quy định, nhưng tối thiểu là hai năm và tối đa không quá năm năm. (Theo Điều 30 – luật hợp tác xã)

    Ban kiểm soát là cơ quan giám sát và kiểm tra mọi hoạt động của hợp tác xã theo đúng pháp luật và Điều lệ hợp tác xã. Ban kiểm soát do Đại hội xã viên bầu trực tiếp. Số lượng thành viên do Điều lệ hợp tác xã quy định, Ban kiểm soát bầu một trưởng ban để điều hành các công việc của Ban; hợp tác xã có ít xã viên có thể chỉ bầu một kiểm soát viên. Tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát được áp dụng như tiêu chuẩn thành viên Ban quản trị. Thành viên Ban kiểm soát không được đồng thời là thành viên Ban quản trị, kế toán trưởng, thủ quỹ của hợp tác xã và không phải là cha, mẹ, vợ, chồng, con hoặc anh, chị, em ruột của họ. Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát theo nhiệm kỳ của Ban quản trị.

    (Theo Điều 34 – Luật hộp tác xã)

    1. Công ty trách nhiệm hữu hạn

    A – Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1. Khái niệm

    Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp trong đó các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo qui định của Luật Doanh nghiệp ; thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không quá năm mươi.

    1. Chủ sở hữu

    Công ty trách nhiệm hữu hạn là một doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên và nhiều nhất không quá năm mươi, trong suốt quá trình hoạt động công ty là một pháp nhân có tài sản độc lập, có các quyền về tài sản và các quyền khác, có thể là nguyên đơn hay bị đơn trước cơ quan tài phán. Tính chất của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn cũng giống như công ty

    cổ phần. Tính chất của loại hình này là công ty đối vốn. Đặc điẻm quan trọng của công ty đối vốn là có sự tách bạch tài sản của công ty và của cá nhân. Các thành viên trong công ty đối vốn chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn họ đóng góp vào công ty. Việc thành lập công ty là dựa trên yếu tố vốn góp, nên thành viên của công ty đối vốn thường rất đông, cả những người không hiểu biết về kinh doanh cũng tham gia.

    1. 3. Việc góp vốn khi thành lập, chuyển nhượng, tăng/giảm vốn,huy

    động vốn

    Việc góp vốn

    Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết. Trường hợp có thành viên không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết, thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết. Thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. (Theo Điều 27- Luật Doanh nghiệp)

    Chuyển nhượng phần vốn góp

    Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:

    1- Thành viên muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp phải chào bán phần vốn đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;

    2- Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết.

    3- Theo quyết định của Hội đồng thành viên, công ty có thểtăng vốn điều lệ bằng cách:

    1. Tăng vốn góp của thành viên;
    1. Điều chỉnh tăng mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng

    lên của công

    ty;

    4- Trường hợp tăng vốn góp của thành viên, thì vốn góp thêm được phân chia cho từng thành viên tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty.Nếu có thành viên không góp thêm vốn, thì phần vốn góp đó được chia cho thành viên khác theo tỷ lệ phần vốn góp tương ứng.

    5- Theo quyết định của Hội đồng thành viên, công ty có thể giảm vốn điều lệ bằng cách :

    1. Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn của họ trong

    vốn điều lệ của công ty;

    1. b) Điều chỉnh giảm mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản giảm xuống của công ty

    Công ty chỉ có quyền giảm vốn điều lệ theo quy định tại điểm a) , nếu ngay sau khi hoàn trả cho thành viên, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

    Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu.

    1. Cơ cấu tổ chức quản lý

    Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên phải có:

    • Hội đồng thành viên;
    • Chủ tịch Hội đồng thành viên;
    • Giám đốc (Tổng giám đốc);
    • Ban kiểm soát, Trưởng Ban kiểm soát (trường hợp công ty có từ mười

    một thành viên trở lên)

    a- Hội đồng thành viên

    Hội đồng thành viên gồm tất cả thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Trường hợp thành viên là tổ chức, thì thành viên đó chỉ định đại diện của mình vào Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên họp ít nhất mỗi năm một lần.

    Hội đồng thành viên được triệu tập họp bất cứ khi nào theo yêu cầu của chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu 35% vốn điều lệ ( hoặc tỷ lệ nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định)

    Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua khi :

    + Được số phiếu đại diện ít nhất 51% số vốn của các thành viên dự họp chấp thuận. Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;

    + Đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệ nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, sửa đổi và bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại, gải thể công ty thì phải được số phiếu đại diện cho ít nhất 75% số vốn của các thành viên dự họp chấp thuận. Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

    Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được số thành viên đại diện ít nhất 65% vốn điều lệ chấp thuận. Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

    Chủ tịch Hội đồng thành viên phải là thành viên, do Hội đông thành viên bầu ra. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc( Tổng giám đốc) công ty. Nhiệm kỳ của Chủ tịch Hội đồng thành viên không quá 3 năm. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể được bầu lại. Trường hợp Điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật, thì các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó. (Theo Điều 36- Luật Doanh

    nghiệp    ) Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty là người điều hành hoạt động

    kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc (Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty

    Các quyền và nghĩa vụ của Giám đốc ( Tổng giám đốc) được quy định tại điều 41 – Luật doanh nghiệp

    B – Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 1. Khái niệm

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp

    1. Chủ sở hữu

    Nghị định số 03/2000/NĐ-CP quy định chỉ có những tổ chức là pháp nhân, tức là đáp ứng 4 điều kiện của pháp nhân theo quy định tại Điều 94 Bộ luật dân sự mới được thành lập công ty TNHH một thành viên. Điều 14 Nghị định liệt kê 17 tổ chức được quyền thành lập công ty TNHH một thành viên, gồm các nhóm sau:

    • Các cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang;
    • Các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, xã hội, xã hội- nghề nghiệp;
    • Các doanh nghiệp;
    • Các tổ chức khác ( quỹ xã hội, quỹ từ thiện và các tổ chức khác là pháp nhân).
    1. Quyền chuyển nhượng, rút vốn tại công ty TNHH một thành viên Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có quyền

    chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho các tổ chức , cá nhân khác. Nếu chuyển một phần vốn điều lệ thì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sẽ trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên (tuỳ thuộc vào số lượng đối tượng nhận chuyển nhượng). Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty cũng như không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.

    1. Hình thức huy động vốn khác

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng không được quyền phát hành cổ phiếu.

    1. Cơ cấu tổ chức quản lý

    Có hai mô hình tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên :

    • Mô hình Hội đồng quản trị: gồm Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng

    giám đốc)

    • Mô hình Chủ tịch Công ty : gồm Chủ tịch công ty và Giám đốc ( Tổng giám đốc)

    Trong trường hợp công ty có quy mô kinh doanh lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng thì nên lựa chọn mô hình Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, đây

    không phải là một quy định bắt buộc.

    Chủ sở hữu công ty không được uỷ quyền cho Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 47 Luật doanh nghiệp.

    Quyền và nghĩa vụ của các chức danh quản lý nêu trong hai mô hình trên do chủ sở hữu công ty quy định tại Điều lệ công ty.Điều 17,18 Nghị định 03/2000/NĐ- CP đã quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chức danh quản trị này.

    Công ty hợp doanh

    1. Khái niệm

    Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có sự liên kết giữa các cá nhân góp vốn để hoạt động dưới hình thức công ty.

    Sự khác nhau cơ bản giữa công ty hợp danh với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đó là trong công ty hợp danh bắt buộc phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh là những người chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (trách nhiệm vô hạn). Có hai loại công ty hợp danh là :

    • Hợp danh vô hạn : hợp danh trong đó tất cả các thành viên của công ty đều là thành viên hợp danh.
    • Hợp danh hữu hạn : hợp danh trong đó có ít nhất hai thành viên hợp

    danh và ngoài ra có thêm thành viên góp vốn là những người chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào công ty.

    1. Chủ sở hữu

    Các thành viên là các chủ sở hữu chung của công ty hợp danh. Có hai loại thành viên công ty hợp danh :

    • Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của

    mình về các nghĩa vụ của công ty.

    • Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty

    trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty ; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.

    Ngoài ra, thành viên công ty hợp danh có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. (Theo Điều 95,96 – Luật doanh nghiệp)

    1. Việc góp vốn khi thành lập, chuyển nhượng, tăng/giảm vốn,huy

    động vốn

    Công ty hợp danh được thành lập dựa trên sự góp vốn của các thành viên. Số vốn do tất cả các thành viên góp được ghi vào Điều lệ công ty và được gọi là Vốn điều lệ. Các thành viên có nghĩa vụ góp đủ số vốn đã cam kết. Riêng đối với các thành viên hợp danh, nếu công ty kinh doanh lỗ thì phải chịu lỗ.

    Về nguyên tắc, thành viên hợp danh không được chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác nếu không được các thành viên hợp danh khác đồng ý. Khi không muốn tiếp tục tham gia công ty hợp danh, thành viên hợp danh có quyền rút khỏi công ty và phần vốn góp sẽ được công ty hoàn trả theo giá thoả thuận hoặc theo giá được xác định trong Điều lệ công ty.Việc rút khỏi công ty phải được đa số thành viên hợp danh còn lại đồng ý. Khi thành viên rút khỏi công ty thì tư cách thành viên đương nhiên bị chấm dứt. Tuy nhiên, thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi đăng ký việc chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh.

    Thành viên góp vốn có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác song không giống như cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình; việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên góp vốn bị hạn chế bởi quy định trong Điều lệ công ty. Điều lệ công ty có thể có những quy định cấm chuyển nhượng phần vốn góp hoặc chỉ chuyển nhượng giữa các thành viên trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người khác nếu được các thành viên hợp doanh đồng ý

    Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

    1. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty hợp danh

    Về nguyên tắc, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty hợp danh do các thành viên thoả thuận quy định trong Điều lệ công ty song phải bảo đảm các thành viên hợp danh đều được quyền tham gia quản lý công ty. Do đó, pháp luật quy định Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên hợp

     

    danh, là cơ quan quyết định tất cả các hoạt động quản lý, kinh doanh của công ty. Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh phân công đảm nhiệm việc quản lý công ty và cử một trong số các thành viên hợp danh làm Giám đốc. Giám đốc làm nhiệm vụ phân công, điều hoà và phối hợp công việc của các thành viên hợp danh và điều hành các công việc trong nội bộ công ty

    Việc biểu quyết trong Hội đồng thành viên được tiến hành theo nguyên tắc đa số phiếu. Tuy nhiên khi quyết định các vấn đề sau đay thì phải được thông qua theo nguyên tắc nhất trí, tức là được tất cả các thành viên hợp danh chấp thuận :

    • Cử giám đốc công ty;
    • Tiếp nhận thành viên mới;
    • Khai trừ thành viên hợp danh;
    • Bổ sung, sửa đổi Điều lệ công ty;
    • Tổ chức lại, giải thể công ty;
    • Hợp đồng giữa công ty với thành viên hợp danh hoặc với vợ, chồng, bố,

    bố nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị em ruột của thành viên đó.

    Số phiếu biểu quyết của thành viên hợp danh không tỷ lệ với số vốn góp.

    Khi    biểu     quyết,    mỗi    thành     viên    hợp     danh    chỉ    có    một    phiếu.

    Doanh nghiệp tư nhân.

    1. Khái niệm

    Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

    1. Chủ sở hữu

    Cá nhân làm chủ doanh nghiệp tư nhân vừa là người quản lý vừa là chủ sở hữu doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng toàn bộ, ngược lại nếu gặp rủi ro hay kinh doanh thua lỗ, họ phải tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của doanh nghiệp và tài sản cá nhân về các khoản nựo đến hạn của doanh nghiệp.

    1. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp và việc tăng, giảm vốn đầu tư

    a- Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự khai. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ khai báo chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.

    b-Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được ghi chép dầy đủ vào  sổ  kế  toán  và  báo  cáo  tài  chính  của  doanh   nghiệp. c- Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký, thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau

    khi đã khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh.

    1. Lựa chọn hình thức và cách thức vay vốn

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do lựa chọn có vay thêm vốn hay không, vay dưới hình thức nào, của ai, bao nhiêu và phải tự chịu trách nhiệm với người cho vay theo sự thoả thuận và phù hợp với quy định của Nhà nước.

    Hiện nay chủ doanh nghiệp tư nhân không được vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu.

    1. Cho thuê và bán doanh nghiệp

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình, nhưng phải báo cáo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp. Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồng cho thuê. (Theo Điều 102- Luật

    Doanh nghiệp) Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho

    người khác. Chậm nhất 15 ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

    Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về tất cả các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận khác.

    Ngưòi bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động. Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật doanh nghiệp.

    1. Cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp , thì chủ doanh nghiệp tư nhân phai khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp.

    Câu 3: Ưu điểm của Luật Doanh nghiệp so với Luật Doanh

    nghiệp tư nhân và Luật Công ty

    Nội dung Luật doanh nghiệp vừa kế thừa và phát triển hai luật : Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân hiện hành, vừa bổ sung thêm những nội dung cần thiết mà hai luật hiện hành trên chưa quy định. Nội dung của Luật doanh nghiệp bám sát thực tiễn ở nước ta, có tính đến nhu cầu đa dạng và linh hoạt của những nhà đầu tư; đồng thời nhấn mạnh đến vai trò và hiệu lực của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và

    kinh                                                                                                                                                        doanh.

    So với Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân hiện hành, Luật

    doanh nghiệp đã có tiến bộ hơn thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau

    đây                                                                                                                                                                         :

    1. Mở rộng thêm đối tượng được quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp, qua đó tạo thêm cơ hội cho dân cư và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư

    vốn vào sản xuất kinh doanh.

    1. Cải cách thủ tục hành chính trong việc thành lập doanh nghiệp theo hướng gộp việc xin phép thành lập và đăng ký kinh doanh thành một, đồng

    thời chỉ giữ lại những thủ tục, hồ sơ thực sự cần thiết trên cơ sở yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Những cải cách đó làm giảm bớt được những thủ tục, hồ sơ trùng lặp, không cần thiết, qua đó giảm được chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc cho việc thành lập doanh nghiệp. Những cải cách đó cũng giúp tháo bỏ được cản trở lớn đã tồn tại hơn 8 năm qua đối với việc thành lập doanh nghiệp, làm cho việc thành lập doanh nghiệp để kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn đối với dân cư và doanh nghiệp. Kết quả là số doanh nghiệp mới dăng ký tăng lên nhiều, qua đó số vốn huy động cho đầu tư sản xuất, số công ăn việc làm mới được tạo ra cũng tăng lên.

    1. Bảo đảm chủ trương định hướng phát triển của Nhà nước đồng thời

    mở rộng quyền tự chủ, sáng tạo kinh doanh của doanh nghiệp và dân cư. Chủ trương này được thể hiện thông qua quản lý nhà nước về ngành, nghề kinh doanh. Những ngành, nghề kinh doanh được chia thành những loại sau đây:

    • Ngành, nghề cấm kinh doanh
    • Ngành, nghề kinh doanh phải có điều kiện
    • Ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định
    • Ngành, nghề  kinh  doanh  phải  có  giấy  phép  hành  nghề

    Doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực hiện kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật quy định không cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện, kinh doanh phải có vốn pháp định và kinh doanh phải có giấy phép hành nghề.

    Tư tưởng chính sách mới ở đây là ngoài các ngành, nghề cấm kinh doanh, đối với các ngành nghề mà Chính phủ quy định kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp dăng ký kinh doanh và được quyền kinh doanh các

    ngành, nghề khi có đủ các điều kiện tương ứng theo quy định của Luật, pháp lệnh hoặc nghị định của Chính phủ.

    Bằng cách này, Nhà nước định hướng doanh nghiệp phát triển trong các ngành, nghề quan trọng của nền kinh tế, qua đó đảm bảo sự giám sát của Nhà nước đối với định hướng phát triển của nền kinh tế nói chung. Còn đối với các ngành, nghề còn lại, doanh nghiệp được chủ động đăng ký và thực hiện kinh doanh theo đăng ký. Việc quản lý Nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh như trình bày trên đây vừa đảm bảo định hướng phát triển của Nhà nước, vừa bảo đảm được quyền tự chủ và sáng tạo trong kinh doanh của doanh nghiệp và dân cư. Tư tưởng chính sách này cũng đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 1). Đó là ” tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm…” [ Trích Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (lần 1)] Việc thực hiện tư tưởng chính sách trên đây là một bước tiến trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế “chỉ làm những gì được phép” sang cơ chế ” được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh của nước ta.

    1. Khuyến khích doanh nghiệp và dân cư trực tiếp đầu tư vốn để kinh

    doanh, mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh bằng cách bổ sung thêm các loại hình doanh nghiệp để nhà đầu tư lựa chọn đồng thời tạo ra cơ sở pháp lý giúp nhà đầu tư giảm và phân bổ rủi ro hợp lý trong quá trình kinh doanh. Điều này làm tăng thêm lòng tự tin, tính sáng tạo và dám chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư trong kinh doanh, qua đó hoạt động đầu tư và kinh doanh được mở rộng thêm trên cả số lượng doanh nghiệp, quy mô, ngành nghề và địa bàn kinh doanh.

    Việc bổ sung thêm loại hình công ty hợp danh trong Luật doanh nghiệp không chỉ tạo thêm cơ hội cho nhà đầu tư lựa chọn loại hình doanh nghiệp, mà còn tăng thêm sự quản lý, giám sát của Nhà nước và xã hội nói chung đối với việc cung ứng một số dịch vụ có tác động trực tiếp đến đời sống của đại đa số nhân dân.

    1. Quy định đầy đủ hơn các công cụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư nói chung và của nhà đầu tư thiểu số nói riêng. Các công cụ đó

    bao gồm :

    • Quy định đầy đủ hơn các quyền cơ bản của người đầu tư; trong đó

    chú ý nhiều đến quyền hợp pháp của cổ đông thiểu số;

    • Thiết lập các cơ chế góp vốn linh hoạt, qua đó các nhà đầu tư có thể

    cùng nhau thoả thuận và lựa chọn cách thức góp vốn phù hợp với điều kiện và lợi ích của họ;

    • Quy định cụ thể và chi tiết cơ chế và cách thức để những người góp

    vốn có thể tham gia vào việc ra quyết định ở doanh nghiệp, giám sát việc quản lý doanh nghiệp. Đó là công cụ vừa giúp bảo vệ được lợi ích hợp pháp của người góp vốn, đặc biệt là người góp vốn thiểu số, vừa ngăn ngừa được khả năng góp vốn đa số, người quản lý doanh nghiệp lạm dụng quyền và vị thế được giao để mưau cầu cho lợi ích riêng của họ.

    Việc chú ý đầy đủ đến bảo hộ người góp vốn thiểu số không làm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người góp vốn đa số. Tất cả các quy định nói trên chắc chắn sẽ nâng cao thêm độ an toàn và linh hoạt của việc trực tiếp góp vốn vào sản xuất kinh doanh. Điều đó sẽ thúc đẩy thêm đầu tư và huy động thêm được nhiều vốn hơn cho phát triển sản xuất kinh doanh ở nước ta.

    1. Thiết lập một cơ cấu rõ ràng và minh bạch về quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó được thực hiện bằng cách quy định rõ, cụ thể và chi tiết cơ cấu tổ chức quản lý trong nội bộ doanh

    nghiệp, trong đó xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người chủ sở hữu doanh nghiệp, thể thức làm việc và thông qua các quyết định của các cơ quan đó…

    Ngoài ra, về cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, luật đã quy định những công cụ và cơ chế ngăn chặn khả năng trong đó người góp vốn đa số và ngươì quản lý doanh nghiệp có thể lạm dụng vị thế và quyền hạn được giao để mưu cầu cho lợi ích riêng của họ, làm hại đến lợi ích của doanh nghiệp, của người góp vốn thiểu số và chủ nợ.

    Cơ cấu tổ chức quản lý minh bạch tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho người đầu tư và các bên có liên quan trong việc giám sát nội bộ đối với hoạt động kinh doanh, mà còn góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Đồng thời, cơ cấu tổ chức quản lý minh bạch cũng buộc những người quản lý phải cẩn trọng hơn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao hơn trong việc quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    1. Quy định việc chia tách, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp và chuyển đổi doanh nghiệp từ loại hình này sang loại hình khác, tạo cho doanh

    nghiệp cơ hội và khả năng linh hoạt trong mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh phù hợp với yêu cầu phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, các quy định liên quan của Luật doanh nghiệp đã chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và các bên có liên quan khác trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sát nhập và chuyển đổi.

    1. Về quản lý Nhà nước, Luật doanh nghiệp chú ý đến việc nâng cao

    hiệu lực quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp, quy định thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh, đảm bảo yêu cầu tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp.

    Tóm lại, với những tư tưởng chích sách cơ bản nói trên, Luật doanh nghiệp góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường kinh doanh ở nước ta, tạo động lực mới tiếp tục giải phóng được lực lượng sản xuất, khơi dậy và phát huy được các nguồn nội lực cho phát triển kinh tế đất nước.

    Câu 4: Ưu điểm và hạn chế của từng loại hình doanh nghiệp Việt Nam đối với người đầu tư khi thành lập, vận hành và quản lí doanh nghiệp

    1. Doanh nghiệp Nhà nước

    Ưu điểm:

    Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thành lập, cung cấp vốn nên có nguồn vốn lâu dài, ổn định, đảm bảo

    Được ưu tiên về nhiều mặt trong quá trình hoạt động, vận hành như mặt bằng sản xuất kinh doanh, việc phân bổ các nguồn lực, chính sách đào tạo nhân lực, lĩnh vực kinh doanh (Ví dụ như trong lĩnh vực điện, nước,…chỉ

    có    các   doanh    nghiệp     nhà    nước    mới    được    phép    kinh     doanh),…

    Hạn chế:

    Việc vận hành, quản lí doanh nghiệp nhà nước phải tuân theo các quy định của luật Doanh nghiệp nhà nước và chịu sự quản lí của nhiều cơ quan Nhà nước với một cơ chế quản lí hết sức phức tạp, còn nhiều chồng chéo.

    Trong các doanh nghiệp nhà nước, các thủ tục hành chính quan liêu, bao cấp, tình trạng hoạt động cứng nhắc theo sự chỉ đạo của cấp trên rất phổ biến.

    Thiếu quyền tự quyết một cách đầy đủ.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Ưu điểm

    Doanh nghiệp liên doanh là sự liên kết giữa doanh nghiệp của cả Việt Nam và nước ngoài nên có thể hỗ trợ nhau, bổ sung những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu của doanh nghiệp mỗi nước. Với doanh nghiệp Việt Nam, họ có thể tiếp thu công nghệ, trình độ quản lí,.. từ doanh nghiệp nước ngoài, giải quyết những khó khăn về vốn, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm,..Với doanh nghiệp nước ngoài, họ có thể tránh được những khó khăn nhất định liên quan tới thủ tục hành chính, mặt bằng sản xuất, đất đai,… do khi tham gia vào doanh nghiệp liên doanh, phía Việt Nam thường đóng góp bằng đất đai; đồng thời họ cũng tận dụng được nguồn nguyên nhiên vật liệu sẵn có, dồi dào; nguồn lao động rẻ của Việt Nam;…

    Hưởng nhiều ưu đãi từ chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của Việt Nam

    Hạn chế

    Dễ dẫn tới tình trạng phụ thuộc lẫn nhau trong quản lí, điều hành.

    Việc tìm được sự thống nhất trong những vấn đề cần giải quyết đôi khi là rất khó khăn, đặc biệt là khi hai bên tham gia kinh doanh đến từ những nước khác nhau với những phong tục, tập quán kinh doanh, lối tư duy

    khác                                                                                                                                                           nhau.

    Ưu điểm

    Chủ doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc kinh doanh, ra quyết định và điều hành doanh nghiệp.

    Nhà nước ta đang khuyến khích thu hút đầu tư nên được hưởng nhiều ưu đãi.

    Giải quyết tình trạng thiếu vốn của nền kinh tế.

    Hạn chế

    Được xem là một thành phần kinh tế của Việt Nam nhưng vẫn bị hạn chế về nhiều mặt, không được tham gia vào một số lĩnh vực kinh doanh của Việt Nam (Ví dụ như ngân hàng, bưu chính,..)

    Khó khăn trong việc giải quyết các thủ tục hành chính nhà nước.

    1. Công ty trách nhiệm hữu hạn

    Ưu điểm

    Chủ doanh nghiệp được tự chủ trong quản lí, điều hành doanh nghiệp.

    Thủ tục cấp phép thành lập đơn giản, nhanh gọn.

    Hạn chế

    Vốn ít nên khó tham gia vào các dự án lớn, đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao.

    Không linh hoạt trong huy động vốn hay rút khỏi dự án đầu tư.

    1. Công ty cổ phần

    Ưu điểm: Dễ huy động vốn, dễ chuyển nhượng

    Hạn chế : có sự tham gia của nhiều người vào quá trình quản lí, cơ cấu tổ chức tương dối phức tạp nên dễ gây ra khó khăn trong quản lí, điều hành; đặc biệt là khi cần có sự nhất trí giữa các thành viên.

    1. Công ty hợp doanh

    Ưu điểm

    Không cần nhiều vốn để thành lập

    Có được uy tín và danh tiếng do nó gắn với uy tín, danh tiếng của người thành lập doanh nghiệp

    Hạn chế : chỉ thích hợp với các lĩnh vực kinh doanh gắn với uy tín của người thành lập doanh nghiệp (luật tư vấn, y tế…)

    1. Hợp tác xã

    Ưu điểm

    Phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh ở vùng nông thôn, sản xuất trang trại, tiểu thủ công nghiệp,… Những người tham gia thường là lao động sản xuất nhỏ lẻ, có thể cùng góp vốn, góp sức.

    Hạn chế

    Vốn thường không nhiều

    Năng lực quản lí, trình độ công nghệ còn hạn chế.

    1. Doanh nghiệp tư nhân

    Ưu điểm

    Có cơ cấu gon nhẹ

    Chủ doanh nghiệp được tự chủ trong quản lí, điều hành doanh nghiệp.

    Hạn chế

    Vốn không nhiều

    Quy  mô  doanh      nghiệp     thường    nhỏ   nên     ít    kinh  doanh  lớn

    1. Hộ kinh doanh cá thể.

    Ưu điểm: Gọn nhẹ, dễ thành lập; cần ít vốn

    Hạn chế: thường là kinh doanh nhỏ lẻ

    1. Bán hàng rong vỉa hè

    Ưu điểm: cần ít vốn, dễ thành lập, không phải đăng kí kinh doanh Hạn chế: gây tình trạng lộn xộn, ảnh hưởng tới trật tự đô thị Nếu tôi là chủ đầu tư trong một ngành kinh doanh (giả định) thì tôi sẽ lựa

    chọn kinh doanh theo hình thức liên doanh vì những nguyên nhân sau đây:

    • Giải quyết được vấn đề về vốn
    • Tận dụng được những hiểu biết của đối tác về các thị trường khác

    nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường

    • Cơ hội và thách thức trong kinh doanh tương đối cao, tạo môi trường

    làm  việc  hấp  dẫn,  có  nhiều  động  lực  để  nỗ  lực  trong  công  việc


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-kinh-doanh-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-c%C3%B4ng-ty-Nestl%C3%A9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TTiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    LỜI MỞ ĐẦU

    Giao thương quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Nó đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia hội nhập, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập này là các tập đoàn đa quốc gia, những tập đoàn này đã góp phần rất lớn trong việc toàn cầu hóa, thúc đẩy giao thương giữa các nền kinh tế và đóng góp không nhỏ vào các nền kinh tế các nước đang phát triển góp phần đưa kinh tế các nước này đi lên. Nestlé là một trong số đó. Ra đời cách đây hơn 1 thế kỷ, Nestlé đã và đang từng bước khẳng định chính mình bằng cách vươn xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới. Với những chiến lược kinh doanh đúng đắn tập đoàn này đã thực sự khẳng định được chính mình trên sân chơi kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển của mình tập đoàn cũng không khỏi mắt những sai lầm và cũng gặp không ít thất bại ở một số thị trường. Ngày nay, với sự nổ lực không ngừng tập đoàn với những chiến lược kinh doanh linh hoạt, tập đoàn không ngừng phát triển sang các thị trường tiềm năng mới góp phần vào sự thành công của tập đoàn và phát triển kinh tế thế giới.

    2

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    GIỚI THIỆU

    I. GIỚI THIỆU CHUNG

    Nestlé S.A. hay Société des Produits Nestlé S.A. là công ty thực phẩm và giải khát lớn nhất thế giới, được thành lập vào năm 1986 do nhà sáng lập Henri Nestlé. Trụ sở chính đặt tại Vevey (Thụy Sĩ), tổng số nhân viên năm 2008 là 283,000 nhân viên.

    Các sản phẩm của công ty: Thức ăn trẻ sơ sinh, cà phê, thực phẩm chế biến từ sữa, đồ ăn nhanh,bánh kẹo, nước đóng chai, kem,thức ăn vật nuôi…hiện có 500 nhà máy tại 86 quốc gia trên toàn thế giới.

    II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

    1866-1905

    Vào những năm 1860, Dược sĩ Henri Nestlé đã phát minh ra một loại thức ăn cho những trẻ sơ sinh không thể được nuôi bằng sữa mẹ. Thành công đầu tiên của ông là đã cứu sống một đứa bé sinh non không thể được nuôi bằng sữa mẹ hay những thực phẩm thay thế thông thường khác. Giá trị của sản phẩm mới này nhanh chóng được công nhận kể từ sau khi công thức mới của Nestlé đã cứu sống đứa bé sinh non. Từ đó, sữa bột Farine Lactée Henrie Nestlé đã được bày bán rộng rãi tại Châu Âu.

    1905-1918

    Năm 1905, Nestlé hợp nhất với Công ty sản xuất sữa đặc Anglo-Swiss. Từ đầu những năm 1900, công ty đã điều hành nhiều nhà máy ở M ỹ, Anh, Đức và Tây Ban Nha. Thế chiến thứ I đã tạo nên nguồn nhu cầu mới cho các sản phẩm sữa dưới hình thức những hợp đồng của chính phủ. Cuối chiến tranh, mức sản xuất của Nestlé đã được tăng hơn gấp đôi.

    1918-1938

    Sau thế chiến, các hợp đồng với chính phủ vơi dần và người tiêu dùng nhanh chóng trở về với việc dùng sữa tươi. Tuy nhiên, đội ngũ Nestlé đã có những phản ứng nhanh chóng, tổ chức hoạt động có hiệu quả và giảm thiểu nợ. Những năm 1920, Nestlé bắt đầu mở rộng sang sản xuất các sản phẩm mới và chocolat trở thành ngành hàng quan trọng đứng thứ hai của Nestlé.

    1938-1944

    Nestlé đã ngay lập tức nhận thấy tác động của Thế chiến thứ 2. Lợi nhuận giảm từ 20 triệu dollar vào năm 1938 xuống còn 6 triệu dollar năm 1939. Các nhà máy đã được đặt tại những nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Mỹ La tinh. Ngạc nhiên thay, chính chiến tranh đã giúp Công ty giới thiệu ra những sản phẩm mới, Nescafé là thức uống chủ yếu của quân đội Mỹ. Sản lượng và doanh số của Nestlé tăng nhanh chóng trong thời chiến.

    1944-1975

    3

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Kết thúc Thế chiến lần II là mở đầu cho một thời kỳ năng động của Nestlé. Nestlé liên tục phát triển nhanh chóng và thu mua lại nhiều công ty. Năm 1947 tiến đến sát nhập với hãng sản xuất bột nêm và súp Maggi. Đến năm 1960 là Cross & Blackwell và 1963 đến lượt Findus, Liffy’s 1971 và Stouffer’s năm 1973. Nestlé bắt đầu đa dạng hóa sản phẩm khi nắm cổ phần tại L’Oréal năm 1974.

    1975-1981

    Sự phát triển của Nestlé trong thị trường các nước đang phát triển một phần nào đó đã giúp bù đắp được sự xuống dốc của Công ty trên các thị trường truyền thống. Nestlé tiến hành đầu cơ lần thứ hai bên ngoài ngành công nghiệp thực phẩm qua việc mua lại Công ty Alcon Laboratories Inc.

    1981-1995

    Nestlé đã từ bỏ một số hoạt động kinh doanh từ năm 1980 – 1984. Vào năm 1984, những cải tiến mấu chốt trong hoạt động của Nestlé đã cho phép công ty tiến hành các vụ thu mua mới, quan trọng nhất là việc mua lại “người khổng lồ trong ngành thực phẩm Hoa Kỳ” Carnation.

    1996-2002

    Vào nửa đầu những năm 1990 là giai đoạn thuận lợi cho Nestlé: các rào cản thương mại được dỡ bỏ, thị trường thế giới phát triển thành các khu vực mậu dịch hội nhập. Từ năm 1996 công ty đã thu mua lại các công ty như San Pellegrino (1997), Spillers Petfoods (1998) và Ralston Purina (2002). Hai vụ thu mua lớn nhất tại Bắc Mỹ đều diễn ra vào năm 2002: tháng 7, Nestlé sát nhập ngành kinh doanh kem của họ tại Hoa Kỳ vào hãng Dreyer’s, và tháng 8, thông báo vụ thu mua lại công ty Chef America với giá 2.6 tỉ dollar.

    2003

    Năm 2003 được khởi đầu tốt đẹp bằng việc mua công ty sản xuất kem Mövenpick, củng cố vị trí đầu của Nestlé trên thế giới trong ngành hàng này. Năm 2006, Nestlé đầu tư vào Jenny Craig và Uncle Toby’s và đến năm 2007, các công ty Novartis Medical Nutrition, Gerber và Henniez cũng được sát nhập vào Nestlé.

    III. NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ NGUYÊN TẮC KINH DOANH

    Những nguyên tắc kinh doanh của tập đoàn sẽ tiếp tục được phát triển trước những thay đổi đang diễn ra trên thế giới, tuy vậy những nguyên tắc này luôn thể hiện những ý tưởng cơ bản về sự công bằng, tính trung thực và mối quan tâm chung dành cho mọi người.

    Truyền thông có trách nhiệm tới người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em

         
      Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ phù hợp với quy định quốc tế của Tổ chức  
    y tế thế giới (WHO Code) và các quy định luật pháp của nước sở tại  
      Áp dụng Những Quyền Cơ Bản của con người đối với toàn thể nhân viên, đối tác

    và đặc biệt là bãi bỏ việc sử dụng lao động trẻ em

    Quan hệ với nhà cung cấp Bảo vệ môi trường

    Quản lý nguồn nước vốn được coi là nguồn tài nguyên thiên nhiên, chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự hiện đại hóa của xã hội

    4

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Những sáng kiến nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn

    Những quy định nội bộ nhằm bảo đảm việc tuân thủ tuyệt đối những nguyên tắc này

    5

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    NỘI DUNG

    I- KHÁI NIỆM

    1. Chiến lược quốc tế ( The international Strategy)

    Sản phẩm được sản xuất tại thị trường nội địa và bán ra thị trường các quốc gia khác với sự điều chỉnh tối thiểu theo yêu cầu của địa phương khác. Chiến lược này ít chịu sức ép giảm chi phí và sức ép của yêu cầu địa phương (vì hoạt động sản xuất chủ yếu diễn ra trong nước). Nhưng nó nhạy cảm cao đối với các rủi ro về tỷ giá và rủi ro về chính trị

    Đặc trưng:

    – Khai thác lợi thế so sánh, vị trí trong nước để biến thành lợi thế cạnh tranh

    • Đi vào những thị trường thiếu kĩ năng của công ty đa quốc gia. Giá trị được tạo ra bằng sự chuyển đưa những cốt lõi cạnh tranh từ chính quốc ra nước ngoài – nơi

    mà đối thủ cạnh tranh không có khả năng phát triển, đáp ứng, duy trì

    – Thường theo một kiểu mẫu giống nhau khi mở rộng thị trường nước ngoài

    – Tập trung hóa những chức năng phát triển sản phẩm như R&D tại chính quốc, sản xuất sản phẩm theo chuwnr mực nhu cầu thị trường nội địa.

    • Thiết lập các bộ phận sản xuất, marketing tại những khu vực, quốc gia trọng yếu, nơi họ kinh doanh quốc tế
    • Trụ sở chính kiểm soát chặt chẽ những chiến lược mark và sản phẩm, sự thích ứng địa phương thực hiện giới hạn.
    • Hoạt động quốc tế xếp thứ 2 sau thị trường tại chính quốc

    Hạn chế: có thể bỏ sót cơ hội tại thị trường địa phương

    2 Chiến lược xuyên quốc gia ( The Transnational Strategy )

    Là chiến lược mà MNC tìm cách đạt hiệu quả toàn cầu và đáp ứng địa phương, có chia sẻ sứ mệnh chung của M NC nhưng có những hoạt động thay đổi theo yêu cầu của địa phương ( chuẩn hóa nơi có thể , thích ứng nơi bắt buộc ). Chọn được một địa điểm tối ưu không thể đảm bảo chắc rằng chất lượng và chi phí cho các yếu tố đầu vào

    • đó cũng sẽ tối ưu. Chuyển giao kinh nghiệm có thể là một nguồn lực cốt lõi của lợi thế cạnh tranh, nhưng kinh nghiệm không thể tự động được chuyển giao.

    6

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Đặc trưng:

    – Lợi thế cạnh tranh có thể phát triển ở bất kì đơn vị hoạt động nào của M NC

    – Cố gắng đạt chi phí thấp dựa trên kinh tế vùng ,tính kinh tế của quy mô, học tập hiệu quả cũng như tạo sản phẩm khác biệt cho khách hang ở những khu vực khác nhau, khuyến khích mở cửa ở những nơi phát triển kĩ năng hoạt động trong hoạt động toàn cầu

    – Dòng sản phẩm và kĩ năng có thể chuyển đưa giữa các đơn vị trong MNC, tập trung thúc đẩy phát triển các kĩ năng tại các cơ sở học tập toàn cầu

    – Giá trị tạo ra bằng sự đổi mới củng cố và trao đổi ý tưởng ,sản phẩm và quy trình

    Hạn chế : Thực hiện chiến lược này có nhiều khó khăn vì đáp ứng địa phương làm tăng chi phí. Cần tránh 2 khuynh hướng- tập trung hoạt động của công ty quá lớn vào một vị trí trung tâm, hoặc vì muốn tăng mức độ thích nghi theo địa phương mà phân tán hoạt động của công ty trên quá nhiều địa điểm khác nhau.

    3 Chiến lược toàn cầu ( The Global Strategy)

    Công ty đa quốc gia (MNC) mở rộng thị trường nước ngoài dựa trên sự chuẩn hóa và chi phí có tính cạnh tranh; giá trị được tạo ra dựa trên việc thiết kế sản phẩm cho thị trường toàn cầu và sản xuất, marketing hiệu quả nhất. Quy mô sản xuất, phân phối sản phẩm được nâng cao, thuận lợi cho việc đầu tư phát triển và giảm chi phí rất tích cực; nhưng khó đáp ứng nhu cầu địa phương.

    Đặc trưng:

    • Liên kết SBU ở nhiều nước để chia sẻ nguồn tài nguyên giá rẻ, nhấn mạnh đến vấn đề đảm bảo qui mô lợi suất kinh tế.
    • Chuẩn hóa sản phẩm toàn cầu để tối đa lợi nhuận vì khai thác tính quy mô, học tập kinh tế vùng (vị trí chiến lược)
    • Không cố gắng đáp ứng địa phương
    • Thích hợp cho sản phẩm công nghiệp
    • Mục tiêu chiến lược là theo đuổi chiến lược chi phí thấp trên phạm vi toàn cầu để hỗ

    trợ “ chiến lược giá công kích ” (aggressive pricing) trên thế giới

    • Phân tán vài hoạt động chủ yếu và hỗ trợ như sản xuất ,marketing ,R&D ở vài vị trí thuận lợi nhất trên phạm vi toàn cầu (outsource)
    • Quyết định tập trung hóa tại trụ sở chính

    7

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Hạn chế: không phù hợp tại những thị trường cần sự thích ứng cao

    4 Chiến lược đa nội địa (The multi-domestic Strategy)

    Những quyết định chiến lược và hoạt động phân chia theo đơn vị kinh doanh từng quốc gia. Chiến lược này có cơ hội khách hàng hóa cao nhưng hạn chế khai thác quy mô kinh tế, học tập và phối hợp thông tin

    Đặc trưng:

    • Tập trung sự cạnh tranh tại từng thị trường. Thu lợi bằng việc khách hàng hóa sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị hiếu của những thị trường quốc gia khác nhau, dẫn đến gia

    tăng giá trị sản phẩm tại thi trường quốc gia địa phương và đẩy giá sản phẩm lên cao

    – Mức độ phân quyền cho địa phương cao (gần gũi về vị trí và văn hóa )

    – Giá trị được tạo ra bằng việc giao quyền cho nhà QT địa phương để thích ứng với môi trường kinh tế luật pháp văn hóa địa phương

    – Thích hợp khi có nhiều chi nhánh tại các quốc gia và áp lực giảm chi phí không lớn

    – Thích hợp cho sản phẩm tieu dùng

    Hạn chế: chi phí cao nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.

    8

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    II- CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY NESTLÉ

    1. Chiến lược quốc tế thâm nhập thị trường mới bằng các sản phẩm chủ lực

    Cũng giống như các công ty đa quốc gia khác ở thị trường Âu, Mỹ Nestlé khi mới thâm nhập vào thị trường công ty dùng chiến lược quốc tế cho các sản phẩm được sản xuất ở nhà máy chính ở Thụy Sĩ sau đó xuất khẩu sang nước khác cụ thể là 1868 Nestle thành lập chi nhánh bán hàng đầu tiên ở London (Anh), 1885 thành lập đơn vị kinh doanh ở Newzeland, ngoài ra hàng hóa còn được xuất khẩu ra nhiều nước ở châu Âu khác.

    Giai đoạn đầu các chi nhánh này có nhiệm vụ nhập khẩu và bán các sản phẩm sữa sản xuất từ nhà máy ở Thụy Sĩ. Định hướng của chi nhánh trong giai đoạn này, được quyết định chỉ từ một nguồn duy nhất là công ty mẹ của Nestlé tại Thụy Sĩ, theo đó chi nhánh chỉ kinh doanh những sản phẩm được sản xuất từ công ty mẹ ở Thụy Sĩ, Hình ảnh của chi nhánh được gắn chặt mật thiết với hình ảnh của công ty mẹ, thừa hưởng, sử dụng và phụ thuộc hoàn toàn vào hình ảnh của công ty mẹ.Trong giai đoạn thực hiện chiến lược này, Nestlé chủ yếu sản xuất sản phẩm từ nhà máy trong nước tại Thụy Sĩ rồi xuất khẩu sang các quốc gia khác- những nơi mà hiện tại công ty không có năng lực sản xuất. Nguyên nhân có thể vì lúc này Nestlé hiện không có nhà máy sản xuất tại nước ngoài hay đơn giản là vì chưa thể chuyển giao được công nghệ sản xuất ra khỏi biên giới… Kế hoạch kinh doanh, định giá sản phẩm, chiến lược Marketing, bán hàng, chiêu thị,… của các nhãn hàng ở thị trường nước ngoài đều sao chép như nguyên mẫu từ thị trường Thụy Sĩ.

    Trong giai đoạn đầu, chiến lược này đem lại một số thành công nhất định trước đây sản xuất từ dưới 1000 hộp/ngày tăng lên đến 2000 hộp mỗi ngày, nhu cầu vượt quá khả năng sản xuất của nhà máy dẫn đến nhiều đơn hàng bị bỏ lở, 1905 chấm dứt giai đoạn quốc tế hóa Nestlé sáp nhập với Anglo Swiss Condensed Milk, đây là công ty có sản phẩm chính là sữa đặt và có nhà máy sản xuất ở Chippenham (Anh) từ 1987.

    Nestlé dùng chiến lược này có thể khi xâm nhập vào thị trường mới có thể, Nestlé không có đủ nguồn lực để phát triển đa dạng những sản phẩm của mình nên việc lựa chọn chỉ một vài sản phẩm là thế mạnh để kinh doanh. Giai đoạn ban đầu khi sản phẩm chỉ vừa đến tay người tiêu dùng là rất quan trọng, Nestlé phải kiểm soát được chất lượng sản phẩm, ổn định về hình ảnh công ty, bảo chứng được thương hiệu của mình trong mắt người tiêu dùng nước ngoài. Công ty không thể dễ dàng trong việc đặt nhà máy sản xuất hay chuyển giao công nghệ khi chưa quen thuộc với thị trường mới. Điều này tạo ra rất nhiều rủi ro. Sẽ an toàn hơn cho Nestlé khi sử dụng lại những phương thức kinh doanh, định giá, Marketing, quảng cáo,… đã từng gặt hái thành công

    • Thụy Sĩ hơn là phát triển và xây dựng lại từ đầu. Có thể xem đây là những bảo chứng cho doanh thu, lợi nhuận ban đầu của sản phẩm trên đất khách. Bên cạnh đó, việc sử dụng lại cũng giúp Nestlé tiết kiệm được phần nào chi phí, từ đó khả năng hoàn vốn được nâng cao rõ rệt. Trong tâm lí một bộ phận khách hàng đã hình thành những “chuẩn mực” về Nestlé, họ tìm kiếm sản phẩm vì nhu cầu được sử dụng hàng hóa có

    9

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    “chất lượng” từ Thụy Sĩ nên ít quan tâm về giá cả mà chú trọng hơn vào nguồn gốc của sản phẩm, những “đặc sản”, những thông điệp, những quảng cáo đa tạo nên thương hiệu của Nestlé.

    2. Chiến lược xuyên quốc gia để tối ưu hóa việc phát triển sản phẩm truyền thống vào các thị trường mới

    Năm 1905 công ty sáp nhập với Anglo Swiss Condensed M ilk để mở rộng dòng sản phẩm và công ty bắt đầu theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia. Nhưng chiến lược xuyên quốc gia này dựa trên việc sản xuất các sản phẩm truyền thống của Nestlé là các sản phẩm sữa để đáp ứng nhu cầu địa phương. Nestlé xây dựng các nhà máy sản xuất tại Mỹ và Anh vào cuối thế kỷ 19, tại Út, Nam M ỹ, Châu Phi và châu Á vào 3 thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Nhằm tối ưu hóa chi phí sử dụng nguồn nguyên liệu, chi phí vận chuyển phân phối, nhân công, thuế nhập khẩu… Năm1906 Nestlé mua lại công ty sữa đặc Cressbrook ở Brisbane, doanh số sản xuất trong vài năm sau đó tiếp tục gia tăng cùng với doanh số bán hàng khi công ty bắt đầu thay thế các đại lý bán hàng và các công ty con, đặc biệt ở thị trường châu Á phát triển nhanh chóng.

    Tuy nhiên, khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914, Nestlé hoạt động, đặc biệt là ở các nước đang chiến tranh như Anh và Đức, đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Mặc dù sản xuất vẫn tiếp tục duy trì tốt trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh, nhưng kinh doanh sớm trở nên khó khăn hơn. Năm 1916 tình trạng thiếu sữa tươi, đặc biệt là ở Thụy Sĩ, các nhà máy của Nestlé thường được bán gần như tất cả sữa của mình để đáp ứng nhu cầu của các thị trường địa phương. Trở ngại vận chuyển, tăng sản xuất và chi phí hoạt động, và các hạn chế về việc sử dụng các cơ sở sản xuất thêm những khó khăn trong thời chiến của Nestlé, đã giảm hơn nữa lượng sữa tươi cung cấp do sự thiếu hụt của gia súc.

    Để đối phó với vấn đề này và đáp ứng nhu cầu gia tăng cho sản phẩm của mình, Nestlé quyết định mở rộng ở các nước ít bị ảnh hưởng bởi chiến tranh và bắt đầu mua các nhà máy hiện có, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, nơi nó được thành lập liên kết với các công ty hiện có. Năm 1917, Nestlé đã có 40 nhà máy, và vào năm 1918, sản lượng thế giới của nó là hơn gấp đôi vào năm 1914. Nestlé theo đuổi cùng một chiến lược tại Úc, năm 1920 hãng đã mua lại quyền kiểm soát trong ba công ty đó. Cùng năm đó, Nestlé đã bắt đầu sản xuất ở Mỹ Latinh khi nó thành lập một nhà máy ở Araras, Brazil, là người đầu tiên trong một loạt các nhà máy Mỹ Latinh. Đến năm 1921, công ty đã có 80 nhà máy và 12 công ty con và công ty liên kết. Nó cũng giới thiệu một sản phẩm mới năm sữa bột được gọi là Lactogen.

    Kết quả của việc xuyên quốc gia giai đoạn này là Nestlé và Anglo-Swiss báo cáo thua lỗ lần đầu tiên năm 1921. Công ty giải thích về sự thua lỗ 100 triệu Franc Thụy sĩ là nguyên nhân do tăng giá của các nguyên liệu như đường và than đá, và sự suy thoái thương mại đã gây ra sức mua chửng lại của người tiêu dùng, cùng với tỷ giá hối đoái giảm sau chiến tranh, buộc công ty tăng giá. Công ty đã tiến hành cải tổ, đóng của một số nhà máy hoạt động không hiệu quả ở một số nước Hoa Kỳ, Anh, Úc, Na Uy, và Thụy Sĩ. Đến năm 1923, dấu hiệu cải thiện đã hiện rõ, như vay vốn ngân hàng của Nestlé đã giảm từ 293 triệu Franc Thụy Sĩ vào năm 1921 đến 54,5 triệu Franc

    10

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Thụy Sĩ vào năm 1923. Trong khi đó, tại Pháp, Bỉ, Ý, Đức, và Nam Phi, các cơ sở sản xuất đã được mở rộng. Bằng cách củng cố các hoạt động nhất định và mở rộng hơn, Nestlé cũng có thể mở rộng các sản phẩm truyền thống.

    3. Chiến lược đa nội địa để phát triển danh mục sản phẩm địa phương

    Với chiến lược đa nội địa công ty mở rộng danh mục sản phẩm thông qua việc mua lại các công ty địa phương và tiếp tục phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu địa phương, tận dụng thế mạnh nguyên liệu, thị hiếu tiêu dùng, chi phí vận chuyển, kênh phân phối…Năm 1929, Nestlé bước vào lĩnh vực kinh doanh sôcôla khi mua lại một công ty sản xuất sôcôla của Thụy Sĩ. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của sản phẩm mang tính cách mạng nhất của Nestlé vào năm 1938, Nescafe, thức uống cà phê hòa tan đầu tiên trên thế giới. Sau Thế chiến thứ hai, Nestlé tiếp tục mở rộng sang những lĩnh vực kinh doanh thực phẩm khác, chủ yếu thông qua việc mua lại Maggi (1947), Nestlé hợp nhất với Alimentana SA, nhà sản xuất của gia vị Maggi, nước dùng, và bột súp, và công ty đổi tên thành Công ty Nestlé Alimentana và rất thành công. Nhưng không phải lúc nào cũng đạt được thành công mà Nestlé đã gặp thất bại khi mua lại Cross & Blackwell (1960), một công ty bảo tồn và thực phẩm đóng hộp. Nestlé hy vọng 24 triệu đô la đầu tư sẽ dùng công ty như một cửa hàng tiếp thị cho các sản phẩm Maggi, nhưng kế hoạch không đem lại nhiều thành công, bởi vì Crosse và Blackwell không thể cạnh tranh ở Vương quốc Anh với Công ty HJ Heinz. Thất bại tương tự xảy ra vào năm 1963, khi Nestlé mua lại Findus thực phẩm đông lạnh ở Scandinavia với 32 triệu USD. Mặc dù công ty thực hiện tốt ở Thụy Điển, nhưng nó gặp phải khó khăn trong thị trường khác, nơi người khổng lồ Unilever Anh-Hà Lan trị vì.

    Tuy nhiên không vì những thất bại đó mà Nestlé từ bỏ chiến lược của mình, Nestlé tiếp tục mua lại các công ty khác như Findus (1962), Libby’s (1970), Stouffer’s (1973), Carnation (1985), Rowntree (1988), và Perrier (1992) tiếp tục mở rộng danh mục sản phẩm kinh doanh của mình.

    Song song với chiến đa nội địa Nestlé áp dụng chiến lược quốc tế hóa khi sản phẩm đã có vị thế vững chắc ở thị trường nội địa. Các sản phẩm này được giới thiệu sang thị trường các nước lân cận để thâm nhập mở rộng thị trường tiêu thụ và lan toả trên trên toàn thế giới và trở thành sản phẩm chủ lực trong dòng sản phẩm quốc tế của mình như các sản phẩm cà phê hòa tan Nescafe, nước chấm Maggi, bột gia vị Maggi…

    Kết quả đạt được cho chiến lược đa nội địa và quốc tế hóa là cuối thập niên 1990, Nestlé sở hữu 500 nhà máy tại 76 quốc gia và sản phẩm được bán tại 193 quốc gia, hầu như có mặt tại khắp các nước trên thế giới. Năm 1998, doanh thu công ty đạt gần 72 tỷ SWF (51 tỷ USD), trong đó quê nhà Thụy Sĩ chỉ góp 1%. Tương tự, chỉ có 3% trong số 210.000 nhân viên làm việc tại Thụy Sĩ. Nestlé là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về sản phẩm sữa bột cho trẻ em, sữa đặc, sôcôla, cà phê hòa tan, súp, và nước khoáng. Công ty đứng thứ hai về các sản phẩm kem, ngũ cốc điểm tâm, và thực phẩm cho thú nuôi. Doanh số kinh doanh thực phẩm tại châu Âu chiếm 38%, tại M ỹ chiếm 32%, tại châu Phi và châu Á chiếm 20%

    11

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    4. Chiến lược xuyên quốc gia được kết hợp với chiến lược đa nội địa và chiến lược quốc tế được áp dụng hiện nay vào các thị trường mới nổi

    Mặc cho những thành công không thể chối cãi, vào đầu thập niên 1990 Nestlé đối diện với những thách thức nghiêm trọng trong việc duy trì tỉ lệ tăng trưởng của công ty. Những thị trường to lớn Tây Âu và Bắc Mỹ đã bão hòa. Tại một số nước, tốc độ tăng dân số đã chững lại kéo theo sự sụt giảm nhẹ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm. Môi trường bán lẻ tại các nước phương Tây càng trở nên thách thức hơn, và cán cân quyền lực đã dịch chuyển từ các nhà sản xuất thực phẩm và đồ uống tên tuổi quy mô lớn sang những chuỗi cửa hàng giảm giá và siêu thị trên toàn quốc. Ngày càng có nhiều hơn các nhà bán lẻ tận dụng việc cạnh tranh giữa những nhà sản xuất thực phẩm có thương hiệu với nhau để thương lượng đòi giảm giá. Đặc biệt ở châu Âu, khuynh hướng này gia tăng bởi việc giới thiệu thành công các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng của một số chuỗi siêu thị hàng đầu châu Âu. Kết quả dẫn đến sự gia tăng cạnh tranh về giá tại một số phân khúc chính của thị trường thực phẩm và đồ uống như ngũ cốc, cà phê, và nước ngọt.

    Nestlé bắt đầu chuyển sự chú ý đến các thị trường mới nổi tại Đông Âu, châu Á và Mỹ Latinh. Logic đơn giản và rõ ràng: một sự kết hợp giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng kinh tế, đi cùng với những chính sách kinh tế thị trường mở rộng của chính phủ tại các nước đang phát triển, tạo nên những cơ hội kinh doanh hấp dẫn. Nhiều quốc gia trong số đó vẫn còn tương đối nghèo, nhưng nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng. Ví dụ, nếu những dự báo tăng trưởng kinh tế hiện tại xảy ra thì đến năm 2010 sẽ có 700 triệu người ở Trung Quốc và Ấn Độ đạt mức thu nhập tương đương với mức thu nhập tại Tây Ban Nha vào giữa thập niên 1990. Khi mức thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng tại các nước này sẽ bắt đầu chuyển sang sử dụng những thực phẩm có thương hiệu, tạo ra một cơ hội thị trường lớn cho các công ty điển hình như Nestlé.

    Bằng chiến lược xuyên quốc gia thành công của mình trước đây nhìn chung, chiến lược của công ty là thâm nhập những thị trường mới nổi từ những ngày đầu trước những đối thủ cạnh tranh, và xây dựng một vị trí vững chắc bằng việc bán những thực phẩm cơ bản nhằm thu hút số đông dân chúng địa phương như là sữa bột cho trẻ em, sữa đặc, mì và đậu hủ. Bước đầu bằng cách thu hẹp thị trường, chỉ tập trung vào một số nhãn hiệu chiến lược, Nestlé khẳng định công ty có thể đơn giản hóa cuộc sống, giảm thiểu rủi ro và tập trung nguồn lực tiếp thị của mình và những nỗ lực quản lý tại một số thị trường địa phương trọng yếu.

    Trung Quốc là một ví dụ thú vị khác về việc thích nghi địa phương và tập trung phát triển dài hạn. Sau 13 năm thương thuyết, Nestlé được chính thức mời vào Trung Quốc vào năm 1987 bởi chính quyền tỉnh Hắc Long Giang. Nestlé đã mở một nhà máy sản xuất sữa đặc và sữa bột cho trẻ em tại đó vào năm 1990, nhưng công ty nhanh chóng nhận ra cơ sở hạ tầng đường sá và xe lửa địa phương không phù hợp và làm hạn chế việc thu gom sữa cũng như vận chuyển thành phẩm. Thay vì thay đổi cơ sở hạ tầng địa phương, Nestlé bắt tay vào một kế hoạch đầy tham vọng là thành lập mạng lưới phân phối riêng, với tên gọi “những đại lộ sữa”, giữa 27 làng quê trong khu vực và các điểm thu gom sữa tại nhà máy. Những nông dân thường chở sữa bằng xe đạp hoặc xe

    12

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    thồ đến trung tâm để được cân đo và kiểm tra. Khác với chính quyền, Nestlé trả tiền tại chỗ cho người nông dân, và điều này đã đẩy mạnh việc sản xuất sữa của nông dân. Nhiều người đã tậu thêm con bò thứ hai, làm tăng số lượng bò trong khu vực từ 3.000 lên 9.000 trong vòng 18 tháng. Những nhà quản lý khu vực sau đó đã tổ chức một hệ thống vận chuyển sử dụng những xe tải gọn nhẹ để vận chuyển sữa đến nhà máy của Nestlé. cơ sở hạ tầng đã sẵn sàng tại Trung Quốc, Nestlé bắt đầu tiến hành việc sản xuất. Năm 1990, 316 tấn sữa đặc và sữa bột cho trẻ em đã được sản xuất. Tính đến năm 1994, sản lượng đầu ra vượt quá 10.000 tấn, và công ty quyết định tăng năng lực sản xuất lên gấp ba lần. Dựa trên kinh nghiệm này, Nestlé quyết định xây dựng thêm hai nhà máy sữa bột khác tại Trung Quốc với mục tiêu tạo ra 700 triệu USD doanh thu vào năm 2000.

    Nestlé đang mạo hiểm theo đuổi một chiến lược dài hạn tương tự tại Trung Đông, khu vực hiện có rất ít các công ty đa quốc gia chuyên về thực phẩm. Thị trường Trung Đông rất nhỏ, chỉ chiếm 2% tổng doanh thu toàn cầu của Nestlé. Tuy nhiên, chiến lược dài hạn của Nestlé dựa trên giả định rằng sự tranh chấp giữa các nước trong khu vực sẽ nguội dần và giao thương trong khu vực sẽ mở rộng khi các rào cản thương mại giữa các nước dần được gỡ bỏ. Một khi điều này xảy ra, các nhà máy của Nestlé sẽ tận dụng được hiệu quả kinh tế theo quy mô trong khu vực. Thấy trước được sự phát triển này, Nestlé đã cho xây dựng một mạng lưới các nhà máy tại năm quốc gia với hi vọng một ngày không xa, mỗi nhà máy sẽ cung cấp những sản phẩm khác nhau cho toàn khu vực. Công ty hiện đang sản xuất kem tại Dubai, súp và ngũ cốc tại Ả Rập Xê Út, sữa chua và nước hầm tại Ai Cập, sôcôla tại Thổ Nhĩ Kỳ, tương cà và mì ăn liền tại Syria.

    Còn hiện tại, Nestlé duy trì hoạt động tại các thị trường mới nổi trên thông qua chiến lược đa nội địa. Dẫn chứng là mặc dù công ty nổi tiếng khắp thế giới với một số nhãn hiệu quen thuộc như là Nescafe, Nestea, Maggi… công ty vẫn sử dụng các nhãn hiệu địa phương tại nhiều thị trường. Công ty sở hữu 8.500 nhãn hiệu, nhưng chỉ có

    750 trong số đó được đăng kí kinh doanh trên hơn một quốc gia và chỉ có 80 nhãn hiệu được đăng kí kinh doanh trên hơn 10 quốc gia. Trong khi công ty sử dụng “những nhãn hiệu toàn cầu” giống nhau tại hầu hết các quốc gia phát triển, tại các nước đang phát triển công ty tập trung nỗ lực tối ưu hóa các thành phần và công nghệ chế biến theo những điều kiện địa phương và sau đó sử dụng một nhãn hiệu mang âm hưởng địa phương. Ví dụ, nhà máy tại Syria phụ thuộc vào các sản phẩm sử dụng cà chua, một nông sản chủ yếu của nước này. Syria cũng trồng nhiều lúa mạch, nguyên liệu chính để sản xuất mì ăn liền. Dù cho các rào cản thương mại không sớm được dỡ bỏ, Nestlé vẫn sẽ duy trì cam kết của nó với khu vực. Mặc dù thị trường nhỏ, nhưng nhờ biết tận dụng đầu vào sẵn có tại địa phương và tập trung đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng địa phương, công ty đã gặt hái không ít lợi nhuận ở khu vực này. Công ty cũng theo đuổi chiến lược này khi thâm nhập vào Ba Lan năm 1994 bằng việc mua lại Goplana, nhà sản xuất sôcôla lớn thứ hai tại nước này. Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và việc mở cửa thị trường của Ba Lan, mức thu nhập bắt đầu tăng lên qua đó nhu cầu tiêu thụ sôcôla cũng phát triển. Đã từng là một sản phẩm ít thông dụng, thị trường đã đạt mức tăng trưởng 8%/năm trong suốt thập niên 1990. Nestlé đã nắm bắt cơ hội này để làm một cuộc bứt phá. Công ty bổ nhiệm người địa phương vào các vị trí quản lý cao cấp

    13

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    và cẩn thận điều chỉnh dòng sản phẩm Goplana để phù hợp hơn với nhu cầu địa phương. Cùng lúc này, Nestlé tung tiền cho việc tiếp thị sản phẩm Goplana nhằm tranh giành thị phần với một số nhà sản xuất sôcôla khác tại đây. Cuộc cạnh tranh xảy ra khá quyết liệt. Tám công ty, bao gồm một số công ty nước ngoài, điển hình là PepsiCo, đang dẫn đầu thị trường với sản phẩm Wedel, đã tiến hành giảm giá và hạ thấp lợi nhuận biên nhằm tranh giành thị phần dù cho sản lượng kinh doanh của công ty đang tăng trưởng mạnh.Nhờ theo đuổi chiến lược như vậy, Nestlé đã chiếm được 80% thị phần cà phê hòa tan tại Mexico, 66% thị phần sữa đặc tại Philippin, và 70% thị phần súp tại Chile.

    Khi mức thu nhập tăng cao, công ty tích cực chuyển từ chiến lược đa nội địa sang chiến lược quốc tế bằng việc giới thiệu những sản phẩm cao cấp hơn như nước khoáng, sôcôla, bánh quy, và thực phẩm chế biến sẵn đến thị trường địa phương hiện tại hiện tại. Ngoài ra Nestlé còn xem xét khả năng phát triển sản phẩm của địa phương đó giới thiệu ra các nước lân cận nếu nó phù hợp với thi hiếu tiêu dùng, không bị các rào cản.

    5. Cấu trúc tổ chức của Nestlé để thực hiện chiến lược hổn hợp hiện nay

    Nestlé được quản lý theo kiểu phân quyền, các chi nhánh tại địa phương tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, tự quyết định về chiến lược giá, phân phối, tiếp thị, nhân sự… Cùng lúc này, công ty thành lập bảy đơn vị kinh doanh chiến lược toàn cầu (SBU) chịu trách nhiệm phát triển kinh doanh và đưa ra các quyết định chiến lược cấp cao. Ví dụ, một đơn vị kinh doanh chiến lược tập trung phát triển sản phẩm cà phê và nước giải khát. M ột đơn vị khác tập trung phát triển sản phẩm bánh kẹo và kem. Những SBU này tuân thủ sự phát triển chiến lược chung, bao gồm chiến lược thâm nhập thị trường và mua lại. Trong những năm gần đây, 2/3 việc tăng trưởng của Nestlé nhờ vào việc mua lại các công ty, vì vậy đây là một chức năng rất quan trọng. Song song với cấu trúc này là việc quản lý theo khu vực, thị trường thế giới được chia làm năm khu vực địa lý chẳng hạn châu Âu, Bắc M ỹ và châu Á. Các khu vực hỗ trợ cho quá trình phát triển chiến lược chung và chịu trách nhiệm phát triển những chiến lược tại khu vực (ví dụ như trường hợp chiến lược của Nestlé tại Trung Đông được nêu ở phần trước). Tuy nhiên, các nhà quản lý SBU và khu vực không can thiệp vào các quyết định chiến lược hay hoạt động tại địa phương ngoại trừ những trường hợp đặc biệt.

    14

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    KẾT LUẬN

    Nestlé cũng như bao công ty đa quốc gia khác để thâm nhập, phát triển sản phẩm, phát triển thị trường của mình thì công ty phải xây dựng cho mình các chiến lược kinh doanh quốc tế phù hợp. Tuy nhiên, bên cạnh đó luôn tồn tại những chiến lược không thành công gây ra thất bại, thua lỗ cho công ty. Đó là một quy luật tất yếu trong quá trình hình thành, hoạt động và phát triển.

    Qua việc tìm hiểu về chiến lược kinh doanh quốc tề của công ty Nestlé đã cung cấp chúng ta một số kiến thức về cơ cấu tổ chức , triết lý kinh doanh …của một tập đoàn, một công ty đa quốc gia tiêu biểu cho những “gã khổng lồ” trên thế giới với những thành công nhất định. Để có được thành công đó, Nestlé đa phải trải qua những thất bại do chiến lược kinh doanh quốc tế không phù hợp với văn hóa, phong tục một số nơi… Nestlé đa nhanh chóng nhận ra sai lầm trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh quốc tế và đồng thời cũng đưa ra những chiến lược tinh tế hơn, phù hợp hơn với điều kiện kinh tế thế giới hiện tại, góp phần đem lại thành công nhiều hơn nữa cho công ty.

    15


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]