Author: Nguyễn Huyền

  • Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-ph%C6%B0%C6%A1ng-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-v%C3%A0-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-trong-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    MỞ ĐẦU

    1. TÝnh cÊp thiÕt:

    Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm tạo thế đứng cho doanh nghiệp mình đang ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt. Để có thể đứng vững trong môi trường đó, doanh nghiệp cần phải tạo ra được những ưu thế riêng có của mình như: Chất lượng sản phẩm, giá cả, mẫu mã, tính hiện đại tiện dụng…

    Để có được những ưu thế trên, ngoài yếu tố khoa học kĩ thuật, công nghệ và trình độ quản lý kinh doanh thì điều kiện tối cần thiết để doanh nghiệp đứng vững và có uy tín trên thị trường chính là việc quản lý nguyên vật liệu hiệu quả. Đảm bảo quản lý nguyên vật liệu cho sản xuất là một yêu cầu khách quan, thường xuyên của mọi đơn vị sản xuất và nó có tác động rất lớn tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, đúng chất lượng là điều kiện quyết định khả năng tái sản xuất mở rộng và góp phần đảm bảo tiến độ sản xuất trong doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất, nguyên vật liệu là bộ phận trực tiếp tạo nên sản phẩm, nó chiếm 60-70% trong cơ cấu giá thành sản phẩm. Do đó, nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm.

    Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của nguyên vật liệu cũng như công tác quản lý nguyên vật liệu như đã nêu trên, tôi chọn đề tài: “Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp” và thực hiện tại công ty Vật Liệu Xây Dựng Bưu Điện Hà Nội với mong muốn mở rộng tầm nhìn thực tế và hiểu biết thêm về mô hình quản lý của

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                1

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề án được trình bày qua 3 chương:

    Chương I: Nguyên vật liệu và quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    Chương II: Thực trạng công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng Bưu Điện Hà Nội.

    Chương III: Một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng Bưu Điện Hà Nội.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                2

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Chương I

    Nguyên vật liệu và quản lý nguyên vật liệu.

    1.1 Khái niệm và vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    1.1.1 Khái niệm:

    Một doanh nghiệp muốn kinh doanh, sản xuất hiệu quả thì phải chú trọng tới nhiều yếu tố. Nhóm yếu tố quan trọng đầu tiên là nhóm yếu tố đầu vào.

    Trong đó nguyên vật liệu là yếu tố đáng chú ý nhất vì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo nên thực thể sản phẩm. Thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn hoặc không tiến hành được. Nguyên vật liệu là từ tổng hợp dùng để chỉ chung nguyên liệu và vật liệu. Trong đó, nguyên liệu là đối tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu. Tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa nguyên liệu và đối tượng lao động là sự kết tinh lao động của con người trong đối tượng lao động, còn với nguyên liệu thì không. Những nguyên liệu đã qua công nghiệp chế biến thì được gọi là vật liệu.

    Nguyên vật liệu trong quá trình hình thành nên sản phẩm được chia thành nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ. Nguyên vật liệu chính tạo nên thực thể sản phẩm, ví dụ như bông tạo thành sợi để từ sợi tạo nên thực thể vải hay kim loại tạo nên thực thể của máy móc thiết bị… Vật liệu phụ lại bao gồm nhiều loại có loại thêm vào nguyên liệu chính để làm thay đổi tính chất của nguyên liệu chính nhằm tạo nên tính chất mới phù hợp với yêu cầu của sản phẩm. Có loại lại dùng để tạo điều kiện cho sự hoạt động bình thường của tư liệu lao động và hoạt động của con người…

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                3

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Việc phân chia như thế này không phải dựa vào đặc tính hoá học hay khối lượng tiêu hao mà căn cứ vào sự tham gia của chúng vào quá trình tạo ra sản phẩm. Vì vậy, mỗi loại nguyên vật liệu lại có vai trò khác nhau đối với đặc tính của sản phẩm.

    1.1.2 Vai trò của nguyên vật liệu.

    Là một yếu tố trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm, do vậy, chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ về số lượng chất lượng chủng loại… có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cho sản xuất còn là một biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm.

    Nguyên vật liệu liên quan trực tiếp tới kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, cung ứng nguyên vật liệu kịp thời với giá cả hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Xét cả về mặt hiện vật lẫn về mặt giá trị, nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu trong bất kì quá trình sản xuất nào, là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động. Chính vì vậy, quản lý nguyên vật liệu chính là quản lý vốn sản xuất kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp.

    1.1.3 Phân loại nguyên vật liệu.

    Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau. Để có thể quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ thì nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp cần thiết phải phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp nguyên vật liệu thành từng loại, từng nhóm khác nhau căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                4

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài). Đối với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm như sắt, thép chế tạo nên máy cơ khí, xây dựng cơ bản… Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trinh sản xuất sản phẩm ví dụ như sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được gọi là nguyên vật liệu chính.
    • Nguyên vật liệu phụ: cũng là đối tượng lao động nhưng chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất được sử dụng cùng với nguyên vật liệu chính để làm thay đổi một số tính chất lí hoá của nguyên vật liệu chính (hình dáng, màu sắc, mùi vị…) hoặc phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động, phục vụ cho lao động của công nhân viên chức, phục vụ cho công tác quản lý.
    • Nguyên vật liệu khác: là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như gỗ, sắt, thép vụn hay phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định.

    Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý mà từng loại nguyên vật liệu lại được chia thành từng nhóm, từng thứ quy cách một cách chi tiết, cụ thể hơn. Việc phân loại cần lập thành sổ danh điểm cho từng thứ vật liệu, trong đó mỗi nhóm được sử dụng một ký hiệu riêng.

    1.2 Bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    1.2.1 Công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu.

    1.2.1.1 Bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.

    1.2.1.1.1 Các quan điểm và chỉ tiêu đánh giá nguyên vật liệu trong sản xuất.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                5

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Như chúng ta đã biết nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất (sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động), nội dung cơ bản của đối tượng lao động là nguyên vật liệu. Nếu xét về mặt vật chất thì nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chất lượng sản phẩm. Chất lượng của nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Xét về mặt giá trị thì tỷ trọng các yếu tố nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành. Còn xét về lĩnh vực vốn thì tiền bỏ ra mua nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của các doanh nghiệp. Do đó, việc đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là yêu cầu cấp bách đặt ra đối với mọi đơn vị sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:

    • Đảm bảo cung cấp kịp thời nguyên vật liệu cho sản xuất. Tính kịp thời là yêu cầu về mặt lượng của sản xuất. Phải luôn đảm bảo để không xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.
    • Đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, chủng loại và quy cách của nguyên vật liệu. Tính kịp thời phải gắn liền với đủ về số lượng và đúng về chất lượng. Đây là một yêu cầu của công tác phục vụ. Nếu cung cấp kịp thời nhưng thừa về số lượng và chất lượng không đảm bảo thì hiệu quả sản xuất sẽ không cao. Về mặt quy cách và chủng loại cũng là yếu tố quan trọng, nếu cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng nhưng sai quy cách và chủng loại sẽ gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, thậm chí sản xuất còn bị gián đoạn.
    • Đảm bảo cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ trong cung cấp cũng có ý nghĩa tương tự như tính cân đối trong sản xuất. Tính đồng bộ hoàn toàn không phải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm quyết định. Ví dụ định mức tiêu hao nguyên liệu để sản xuất một máy tiện T616 thì cần 2188 Kg gang, 540 Kg thép và 0,4 Kg kim loại màu. Như vậy, nếu sản xuất 10 máy thì đòi hỏi phải cung cấp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                6

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.2.1.1.2 Vai trò của công tác bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.

    Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp. Thước đo để đánh giá trình độ bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất chính là mức độ đáp ứng của 3 yêu cầu: cung cấp kịp thời, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại và cung cấp đồng bộ.

    Việc đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ, đồng bộ, kịp thời là điều kiện tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất, cho sự nhịp nhàng đều đặn của quá trình sản xuất. Đó chính là cơ sở để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu của thị trường về mặt số lượng. Bất cứ một sự không đầy đủ, kịp thời và đồng bộ nảo của nguyên vật liệu đều có thể gây ra ngừng trệ sản xuất, gây ra sự vi phạm các quan hệ kinh tế đã được thiết lập giữa các doanh nghiệp với nhau, gây ra sự tổn thất trong sản xuất kinh doanh.

    Nguyên vật liệu được đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó mà tăng doanh thu, tăng quỹ lương và đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện.

    Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là vấn đề quan trọng để đưa các mặt quản lý đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao như quản lý lao động, định mức, quỹ lương, thiết bị, vốn… Đảm bảo sản xuất kinh doanh có lợi, tăng khả năng sinh lời

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                7

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Như vậy, công tác bảo đảm trong sản xuất có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất. Việc đảm bảo này ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp, đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm đầu tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.

    1.2.1.1.3 Nội dung của công tác đảm bảo nguyên vật liệu.

    • Lập kế hoạch mua nguyên vật liệu:

    Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất-kĩ thuật-tài chính của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ này, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu bảo đảm yếu tố vật chất để thực hiện các kế hoạch khác, còn các kế hoạch khác là căn cứ để xây dựng mua sắm nguyên vật liệu. Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hoạt động dự trữ, tiêu thu, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    • Trước hết phải xác định lượng vật liệu cần dùng. Lượng vật liệu cần dùng là lượng vật liệu được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm trong kỳ kế hoạch (thường là 1 năm). Lượng vật liệu cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về mặt hiện vật và giá trị, đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu vật liệu cho chế thử sản phẩm mới, tự trang tự chế, sửa chữa máy móc thiết bị…Lượng vật liệu cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại theo quy cách, cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng, sau đó tổng hợp lại cho toàn doanh nghiệp. Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một sản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa trong kỳ kế hoạch. Tuỳ thuộc vào từng loại nguyên vật liệu, từng loại sản phẩm, đặc

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                8

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu chính cần dùng được tính theo công thức:

    Vcd = Σ [(Si*Dvi)(1+Kpi)(1-Kdi)]

    Trong đó:

    Vcd: lượng vật liệu cần dùng.

    Si: số lượng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch.

    Dvi: định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm loại i.

    Kdi: tỷ lệ phế liệu dùng lại loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.

    Kpi: tỷ lệ phế phẩm cho phép loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.

    • Xác định lượng nguyên vật liệu dự trữ. Để đảm bảo cho quá trình tiến hành được liên tục, hiệu quả đói hỏi phải có một lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý. Lượng nguyên vật liệu dự trữ (còn gọi là định mức dự trữ nguyên vật liệu) là lượng nguyên vật liệu tồn kho cần thiết được quy định trong kỳ kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và bình thường. Căn cứ vào tính chất, công dụng, nguyên vật liệu dự trữ được chia thành ba loại: dự trữ thường xuyên, dự trữ theo mùa và dự trữ bảo hiểm.

    + Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành bình thường giữa hai lần mua sắm nguyên vật liệu.

    Công thức xác định:

    Vdx = Vn*tn

    Trong đó:

    Vdx: lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên lớn nhất.

    Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.

    tn: thời gian dự trữ thường xuyên.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                9

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu dùng bình quân tuỳ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp còn thời gian dự trữ tuỳ thuộc vào thị trường mua, nguồn vốn lưu động và độ dài của chu kỳ sản xuất.

    • Lượng nguyên vật liệu dự trữ bảo hiểm: là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất được tiến hành bình thường.

    Công thức xác định:

    Vdb = Vn*N.

    Trong đó:

    Vdb: lượng vật liệu dự trữ bảo hiểm.

    Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.

    N: số ngày dự trữ bảo hiểm.

    Số ngày dự trữ bảo hiểm được tính bình quân, số ngày lỡ hẹn mua trong năm.

    • Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa: trong thực tế có những loại nguyên vật liệu chỉ mua được theo mùa như mía cho doanh nghiệp đường, trái cây cho doanh nghiệp thực phẩm đồ hộp… Hoặc có những loại nguyên vật liệu vận chuyển bằng đường thuỷ, mùa mưa bão không vận chuyển được thì cũng phải dự trữ theo mùa.

    Công thức xác định:

    Vdm = Vn*tm.

    Trong đó:

    Vdm : Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa .

    Vn : Lượng nguyên vật liệu tiêu hao bình quân .

    Tm : Số ngày dự trữ theo mùa .

    Xác định lượng nguyên vật liệu cần mua để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch vốn lưu động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán chính xác lượng nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm. Lượng nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm phụ thuộc vào ba yếu tố:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             10

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu cần dùng (Vcd).

    Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ (Vd1).

    Lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ (Vd2).

    Công thức xác định:

    Vc = Vcd + Vd2 – Vd1

    Với Vc là lượng nguyên vật liệu cần mua. Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ được tính theo công thức:

    Vd1 = (Vk+Vnk)-Vx.

    Trong đó

    Vk là lượng nguyên vật liệu tồn kho ở thời điểm kiểm kê.

    Vnk: lượng nhập kho từ sau kiểm kê đến cuối năm báo cáo.

    Vx: lượng xuất cho các đơn vị sản xuất từ sau kiểm kê đến cuối năm báo

    cáo.

    Đối với các doanh nghiệp không có dự trữ theo mùa, lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối năm kế hoạch chính là lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên và lượng nguyên vật liệu bảo hiểm.

    –      Xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu.

    Sau khi đã xác định được lượng nguyên vật liệu cần dùng, cần dự trữ và cần mua trong năm, bước tiếp theo là phải xây dựng kế hoạch tiến độ mua. Thực chất của kế hoạch này là xác định số lượng, chất lượng, quy cách và thời điểm mua của mỗi lẫn. Khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu phải căn cứ trên các nguyên tắc sau:

    • Không bị ứ đọng vốn ở khâu dự trữ.
    • Luôn đảm bảo lượng dự trữ hợp lý về số lượng chất lượng và quy cách.
    • Góp phần nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
    • Khi tính toán phải tính riêng cho từng loại, mỗi loại tính riêng cho từng thứ.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             11

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Xuất phát từ những nguyên tắc trên, khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm phải dựa vào các nội dung sau:

    • Kế hoạch tiến độ sản xuất nội bộ.
    • Hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm.
    • Các hợp đồng mua bán vật tư và giao nộp sản phẩm cho khách hàng.
    • Mức độ thuận tiện và khó khăn của thị trường mua, bán vật tư.
    • Các chỉ tiêu của kế hoạch mua nguyên vật liệu trong năm.
    • Phương tiện vận chuyển và phương thức thanh toán.
    • Hệ thống kho tàng hiện có của đơn vị.

    Phương pháp xây dựng tiến độ mua sắm: Với nội dung kế hoạch tiến độ đã trình bày ở trên, việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch được thực hiện theo 2 phương pháp:

    • Đối với các loại nguyên vật liệu đã có định mức tiêu hao thì tính trực tiếp: Lấy số lượng sản phẩm nhân với định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm đó.
    • Đối với những loại nguyên vật liệu chưa xây dựng được định mức thì dùng phương pháp tính gián tiếp. Lấy mức tiêu hao kỳ trước làm gốc nhân với tỷ lệ tăng sản lượng của kỳ cần mua sắm.
    • Tiến hành mua nguyên vật liệu.

    Sau khi có kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu, công tác mua và vận chuyện về kho của doanh nghiệp do phòng vật tư (thương mại hoặc kinh doanh) đảm nhận. Giám đốc hoặc các phân xưởng có thể ký các hợp đồng với phòng vật tư về việc mua và vận chuyển nguyên vật liệu. Hợp đồng phải được xác định rõ số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách mua, giá và thời gian giao nhận. Hai bên phải chịu bồi thường về vật chất nếu vi phạm hợp đồng. Phòng vật tư chịu trách nhiệm cùng cấp kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng cho các đơn vị sản xuất. Nếu vì lý do gì đó không cung cấp kịp, phòng vật tư phải báo cáo với giám

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             12

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.2.2 Công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp:

    Việc quản lý nguyên vật liệu là cần thiết khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý nguyên vật liệu cũng khác nhau. Làm thế nào để cùng một khối lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Việc quản lý nguyên vật liệu có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng trách nhiệm của cán bộ quản lý. Để quản lý nguyên vật liệu một cách có hiệu quả còn phải xem xét trên các khía cạnh sau:

    1.2.2.1 Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.

    Tiếp nhận nguyên vật liệu là một khâu quan trọng và là khâu mở đầu của việc quản lý. Nó là bước chuyển giao trách nhiệm trực tiếp bảo quản và đưa vật liệu vào sản xuất giữa đơn vị cung ứng và đơn vị tiêu dùng. Đồng thời nó là ranh giới giữa bên bán và bên mua, là cơ sở hạch toán chính xác chi phí lưu thông và giá cả nguyên vật liệu của mỗi bên. Việc thực hiện tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho người quản lý nắm chắc số lượng, chất lượng và chủng loại, theo dõi kịp thời tình trạng của nguyên vật liệu trong kho từ đo làm giảm những thiệt hại đáng kể cho hỏng hóc đổ vỡ, hoặc biến chất của nguyên vật liệu. Do tính cấp thiết như vậy, tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ:

    Một là, tiếp nhận một cách chính xác về chất lượng, số lượng, chủng loại nguyên vật liệu theo đúng nội dung, điều khoản đã ký kết trong hợp đồng kinh tế, trong hoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển…

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             13

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Hai là, phải vận chuyển một cách nhanh chóng nhất để đưa nguyên vật liệu từ địa điểm tiếp nhận vào kho của doanh nghiệp tránh hư hỏng, mất mát và đảm bảo sẵn sàng cấp phát kịp thời cho sản xuất.

    Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ này công tác tiếp nhận phải tuân thủ những yêu cầu sau:

    • Nguyên vật liệu khi tiếp nhận phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ tuỳ theo nguồn tiếp nhận khác nhau trong ngành, ngoài ngành hay trong nội bộ doanh nghiệp.
    • Nguyên vật liệu khi nhập phải qua đủ thủ tục kiểm nhận và kiểm nghiệm. Phải xác định chính xác số lượng, chất lượng, chủng loại hoặc phải làm thủ tục đánh giá, xác nhận nếu có hư hỏng mất mát.
    • Nguyên vật liệu sau khi tiếp nhận sẽ được thủ kho ghi số thực nhập và người giao hàng cùng với thủ kho ký vào phiếu nhập kho. Phiếu nhập kho sẽ được chuyển cho bộ phận kế toán ký nhận vào sổ giao nhận chứng từ. Trong cơ

    chế mới, các doanh nghiệp được phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.

    Bên doanh nghiệp và bên cung ứng phải thống nhất địa điểm tiếp nhận, cung ứng thẳng hay qua kho của doanh nghiệp. Những vật tư mẫu theo kế hoạch hoặc hợp đồng đặt hàng thì theo quy định “ Những xí nghiệp có nhu cầu vật tư ổn định, trước hết là những hộ tiêu thụ lớn được nhân thẳng hợp đồng dài hạn về mua bán vật tư “.

    1.2.2.2. Tổ chức quản lý kho :

    Kho là nơi tập trung dự trữ nguyên vạt liệu , nhiên liệu , thiết bị máy móc , dụng cụ chuẩn bị cho quá trình sản xuất , đồng thời cũng là nơi thành phẩm của công ty trước khi tiêu thụ.Do tính chất đa dạng và phức tạp của nguyên vật liệu nên hệ thống kho của doanh nghiệp phải có nhiều loại khác nhau phù hợp với

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             14

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Do vậy, tổ chuéc quản lý kho phải thực hiện những nhiệm bụ sau :

    • Bảo quản toàn ven số lượng, nhuyên vật liệu, hạn chế ngăn ngừa hư hỏng , mất mát đến mưc tối thiểu.
    • Luôn nắm chắc tình hình nguyên vật liệu vào bất kỳ thời điểm nào nhằm đáp ứng một cách nhanh nhất cho sản xuất.
    • Bảo đảm thuân tiện cho việc xuất nhập kiểm tra bất cứ lúc nào.
    • Bảo đảm hạ thấp chi phí bảo quản , sử dụng hợp lý và tiết kiêm diện tích kho

    .

    Để thực hiện những nhiệm vụ trên công tác quản lý bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

    • Công tác sắp xếp nguyên vật liệu : dựa vào tính chất , đặc điểm ngyên vật liệu và tình hình cụ thể của hệ thống kho để sắp xếp nguyên vật liệu một cách hợp lý, khoa hoc, đảm bảo an toàn ngăn nắp , thuân tiện cho việc xuất nhập kiểm kê.Do đó, phải phâm khu , phân loại kho , đánh số , ghi ký hiệu các vị trí nguyên vật liệu một cách hợp lý .
    • Bảo quản nguyên vật liệu : Phải thưc hiện đúng theo quy trình , quy phạm nhà nước ban hành để đảm bảo an toàn chất lượng nguyên vật liệu
    • Xây dựng và thực hiện nội quy về chế độ trách nhiệm và chế độ kiểm tra trong việc bảo quản nguyên vật liệu .

    1.2.2.3 . Tổ chức cấp phát nguyên vật liệu:

    Cấp phát nguyên vật liệu là hình thức chuyển nguyên vật liệu từ kho xuống các bộ phận sản xuất. V iệc cấp phát một cách nhanh chóng , kịp thời , chính xác và khoa học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng có hiệu quả cao năng xuất lao động của công nhân ,máy móc thiết bị làm cho sản xuất được tiến hành liên

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             15

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Việc cấp phát nguyên vật liệu có thể tiến hành theo các hình thức sau:

    + Cấp phát theo yêu cầu của các bộ phận sản xuất.

    Căn cứ vào yêu cầu của nguyên vật liệu của từng phân xưởng , bộ phận sản xuất đã báo trước cho bộ phận cấp phát của kho từ một đến ba ngày để tiến hành cấp phát . Số lượng nguyên vật liệu được yêu cầu được tính toán dựa trên nhiệm vụ sản xuất và hệ thống định mức tiêu dùng nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã tiêu dùng.

    • Ưu điểm: đáp ứng kịp thời tiến độ sản xuất đối với từng bộ phận của doanh nghiệp , tránh những lãng phí và hư h ỏng không cần thiết .
    • Hạn chế : bộ phận cấp phát của kho chỉ biết được yêu cầu của bộ phận trong thởi gian ngắn, việc cấp phát kiểm tra tình hình sử dụng gặp nhiều khó khăn , thiếu tính kế hoạch và chủ động cho bộ phận cấp phát.
    • Cấp phát theo tiến độ kế hoạch.( cấp phát theo hạn mức):

    Đây là hình thức cấp phát quy định cả số lượn và thời gian nhằm tạo sự chủ động cho cả bộ phận sử dụng và bộ phận cấp phát.Dựa vào khối lưọng sản xuất cũng như dựa vào định mức tiêu dùng nguyên vật liệu trong kỳ kế hoạch, kho cấp phát nguyên vật liệu cho các bộ phận sau từng kỳ sản xuất doanh nghiệp quyết toán vật tư nội bộ nhằm so sánh số sản phẩm đã sản xuất ra với số lượng nguyên vật liệu đã tiêu dùng . Trưòng hợp thừa hay thiếu sẽ đựoc giải quuyết một cách hợp lý và có thể căn cứ vào một số tác đọnh khách quan khác. Thực tế cho thấy hình thưc cấp phát này đạt hiệu quả cao, giúp cho việc giám sát hạch toán tiêu dùng nguyên vật liệu chính xác , bộ phận cấp phát có thể chủ động triến khai việc chuẩn bị nguyên vật liệu một cách có kế hoạch, giảm bớt giấy tờ , đỡ thao tác tính toán . Do vậy , hình thức cấp phát này đạt hiệu qủa cao và được áp dụng

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             16

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ngoài hai hình thức cơ bản trên , trong thực tế còn có hình thức : “bán nguyên vật liệu mua thành phẩm ”. Đây là bước phát triển cao cùa công tác quản lý nguyên vật liệu nhằm phát huy đầy đủ quyền chủ dộng sáng tạo trong các bộ phận sử dụng vật tư , hạch toán chính xác, giảm sự thất thoát đến mức tối thiểu .

    Với bất kỳ hình thức nào muốn quản lý tốt nguyên vật liệu cần thực hiện tốt công tác ghi chép ban đầu , hạch toán chính xácviệc cấp phát nguyên vật liệu thực hiện tốt các quy định của nhà nước và của doanh nghiệp .

    1.2.2.4. Thanh , quyết toán nguyên vật liệu :

    Đây là bước chuyển giao trách nhiệm giữa các bộ phận sử dụng và quản lý nguyên vật liệu . Đó là sự đối chiếu giữa lượng nguyên vật liệu nhận về với số lượng sản phẩm giao nộp , nhờ đó mới đảm bảo được việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu bảo đảm hạch toán đầy đủ chính sách nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm . Khoảng cách và thời gian để thanh quyết toán là tuỳ thuộc vào chu kỳ sản xuất , nếu chu kỳ sản xuất dài thì thực hiên một quý một lần , nếu ngắn thì được thanh quyết toán theo từng tháng .

    Nếu gọi :

    A            : Lượng nguyên vật liệu đã nhận về trong tháng .

    Lsxsp : Lượng nguyên vật liệu sản xuất ra sản phẩm trong tháng.

    Lbtp  : Lượng nguuyên vật liệu bán thành phẩm kho .

    Lspd  : Lượng nguyên vật liệu trong sản phẩm dở dang .

    Ltkp  : Lượng nguyên vật liệu tồn kho phân xưởng .

    Theo lý thuyết ta có :

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             17

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    A = Lsxsp + Lbtp +Lspd + Ltkpk

    Trong thực tế , nếu A > tổng trên thì tức là có hao hụt . Do vậy , khi thanh toán phải làm rõ lượng hao hụt , mất mát này . Từ đó đánh giá dược tình hình sử dụng nguyên vạt liệu và có các biện pháp khuyến khích hay bắt bồi thường chính đáng .

    1.2.2.5 .Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu :

    Có thể nói , sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu đã trở thành một nguyên tắc , một đạo đức , một chính sách kinh tế của các doanh nghiệp .Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp được thực hiện theo những phương hướng và biện pháp chủ yếu sau :

    • không ngừng giảm bớt phế liệu , phế phẩm , hạ thấp định mức tiêu dùng nguyên vật liệu . Giảm mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm là yếu tố quan trọng đề tiết kiệm vật tư trong quá trình sản xuất song khi muốn khai thác triệt để yếu tố này cần phải phân tích cho được các nguuyên nhân làm tăng , giảm mức tiêu hao vật tư trong sản xuất . Từ đó đè ra các biện pháp cụ thể nhằm tiết kiệm dượcnhiều vật tư trong sản xuất . Mức tiêu hao vật tư trong một đơn vị sản phẩm thường bị tác động bởi nhiều nhân tố như: Chất lượng vật tư , tình hình trang bị kỹ thuật cho sản xuất , trình độ lành nghề của công nhân , trọng lượng thuần túy của sản phẩm .

    Để thực hiện có hiệu quả phương hướng này , doanh nghiệp cần tập trung giải quyết các vấn đề :

    • Hợp lý hoá sản xuất , cải tiến kỹ thuật , nâng cao trình độ tay nghề của công nhân , thực hiện đúng các chế độ về bảo quản sử dụng máy móc thiết bị , coi trọng hạch toán nguyên vật liệu , xây dựng chế độ thưởng phạt nhằm kích thích sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu .

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             18

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Xoá bỏ mọi hao hụt mất mát , hư hỏng nguyên vật liệu do nguên nhân chủ quan gây ra .

    Để thực hiện tốt phương hướng này cần nâng cao trách nhiệm trong công tác thu mua , vận chuyển , bao gói , bốc dở, kiểm nghiệm nguyên vật liệu trong kho và cấp phát nguyên vật liệu cho sản xuất .

    • Cải tiến quy trình công nhgệ , đổi mới máy móc thiết bị , tổ chức sản xuất hợp lý cũng góp phần giảm các tổn thất trong quá trình sản xuất.

    +Tăng cường giáo dục về ý thức tiết kiệm ,lợi ích của tiết kiệm đối với xí nghiệp, đối với từng người.

    • Nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ , trình độ tay nghề của công nhân.
    • Có các biện pháp khuyến kh ích vật chất, tinh thần thích đáng, kịp thời đối với việc tiết kiệm.
    • Sử dụng nguyên vật liệu thay thế : Việc lựa chọn nguyên vật liệu thay thế đựoc tiến hành cả trong khâu cung ứng và thiết kế chế tạo sản phẩm . Đây là một biện pháp quan trong, nó cho phép sử dụng những nguyên vật liệu có sẵn trong nước và từ đó giảm bớt việc thay thế phải đảm bảo tính hiệu quả king tế của doanh nghiệp vạ đặc biệt là vẫn phải b ảo dảm chất lượng và đáp ứng được yêu cầu của công nghệ sản xuất.
    • Sử dụng lại phế liệu – phế phẩm: tức là sử dụng tối đa vật liệu tiêu dùng trong sản xuất . thu hồi và tận dụng phế liệu – phế phẩm không những là yêu cầu trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài của doanh nghiệp .Việc tận dụng sẽ góp phần làm giảm định mức tiêu dùng nguyên vật liệu và hạ giá thành sản phẩm . Nó cũng có thể đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp nếu thực hiện bán phế liệu , phế phẩm cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp .

    Như vậy, để đảm bảo quản lý nguyên vật liệu trong xí nghiệp một cách có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quản lý thu mua sao cho đúng chủng loại , chất lượng theo yêu cầu sử dụng với giá mua hợp lý , tránh thất thoát vật liệu để hạ thấp gíá

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             19

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             20

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Chương II

    Thực trạng công tác bảo đảm , quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng bưu điện.

    2.1. Giíi thiÖu chung vÒ c«ng ty

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

     

    Tiền thân của Công ty Vật liệu xây dựng Bưu điện là xưởng sản xuất cột bê

    tông thuộc Công ty công trình Bưu điện được thành lập theo quyết định số 834 ngày 13 / 5 / 1959 . Xưởng được khởi công xây dựng từ năm 1959 và đi vào sản xuất năm 1961 với sản phẩm chủ yếu là cột bê tông để trang bị cho các đường dây thông tin .

    Sau khi đòi hỏi của thị trường cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp được mở rộng không chỉ phục vụ cho ngành Bưu điện mà còn phục vụ cho ngành khác . Để phù hợp với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường thay đổi .Ngày 21 /10 1989 , xưởng sản xuất cột bê tông đổi tên thành xí nghiệp bê tông và xây lắp bưu điện .Trong giai đoạn này , xí nghiệp sản xuất các sản phẩm chính là cột điện bê tông , tấm lợp nhà , gạch lát hoa , tấm đan … Nhận các công trình trong và ngoài ngành bưu điện .

    Từ đây xí nghiệp đã chuyển sang một giai đoạn mới trong quá trình sản xuất kinh doanh . Hoạt động sản xuất cũng như tiêu thụ của xí nghiệp đã từng bước hoà nhập cơ chế thị trường . Năm 1955 ,xí nghiệp có sự chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất và thay đổi quy mô sản xuất . Ngoài những sản phẩm truyền thông như cống cáp thông tin, cột điện bê tông các loại, tấm panen… Xí nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất ống nhựa với các sản phẩm như ống DSF (ống nhựa PVC 3 lớp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             21

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty vật liệu xây dựng Bưu điện đã được phê duyệt theo quyết định số 357/QĐ-TCCP/HĐQT ngày 26/11/1996 của hội đổng quản trị tổng công ty Bưu chính Việt Nam.

    Trong thời kỳ này tốc độ tăng trưởng của công ty rất lớn. Năm 1996 công ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất ống nhựa thứ hai. Đầu tư thêm dây chuyền ống nhựa ф34, ống hai nửa.

    Mấy năm gần đây tuy tốc độ phát triển có chậm lại nhưng hàng năm công ty vẫn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra.

    Sự phát triển và trưởng thành của công ty vật liệu xây dựng Bưu điện trong những năm gần đây được thể hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:

    STT Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
             
    1 Doanh thu thuần 71.486.783.212 84.634.222.957 87.850.714.250
             
    2 Tổng chi phí 62.060.856.360 64.213.290.988 66.127.547.699
             
    3 Nộp ngân sách 3.378.849.708 3.071.569.744 3.529.509.988
             
    4 Tổng lợi nhuận 6.047.077.802 7.734.936.223 7.989.621.573
             
    5 Thu nhập bình quân 1.100.000 1.200.000 1.250.000
             

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             22

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.1.2. Một số đặc điểm của công ty.

    2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất:

    Công ty vật liệu xây dựng Bưu điện là một doanh nghiệp có qui mô vừa chuyên ngành sản xuất các sản phẩm phục vụ cho ngành Bưu điện và một số ngành khác như điện lực, cấp thoát nước.

    Công ty vật liệu xây dựng Bưu điện có bốn thành viên và một văn phòng đại diện khu vực phía nam: Xí nghiệp nhựa, xí nghiệp bê tông Bưu điện II, xí nghiệp bê tông Bưu điện III, xí nghiệp xây lắp I. Các xí nghiệp có trụ sở tại các địa bàn khác nhau trừ xí nghiệp nhựa nằm trên cùng địa bàn với công ty. Các xí nghiệp có chức năng và nhiệm vụ sản xuất như sau: xí nghiệp bê tông Bưu điện II, xí nghiệp bê tông Bưu điện III chuyên sản xuất các cần cẩu kiện bê tông, xí nghiệp xây lắp I – xây dựng và lắp đặt các công trình Bưu điện, các công trình dân dụng. Xí nghiệp nhựa chuyên sản xuất các sản phẩm bằng chất dẻo. Văn phòng đại diện giao dịch bán các sản phẩm của công ty tại khu vực phía nam.

    Dưới đây là sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất ống nhựa dẫn cáp tại xí nghiệp nhựa thuộc công ty vật liệu xây dựng Bưu điện.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             23

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Vật liệu chính            
          Phụ gia ổn định, tự
    PVC 800.1000         gia công
                   
                   
                   
          Sấy trộn     Cần pha chế  
               
                   

    Lập chương trình

    máy điều khiển   Điện trên máy

    tốc độ, nhiệt độ

    Địa hình chân không

    Làm mát sản phẩm

    In nhận sản phẩm

    Cắt thành hình bán sản phẩm

    Nong đầu, tạo khớp nối

    Kiểm tra ngoại quang, trọng lượng, kích thước, cơ lý, phân loại sản phẩm

    Nhập kho

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             24

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Xem xét qui trình công nghệ thấy chu kì sản xuất ngắn, qui trình sản xuất hàng loạt lớn. Không có bán thành phẩm, không có sản phẩm dở dang do đó việc cung ứng, dự trữ và sử dụng vật tư có thể tính toán trước được.

    2.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.

    Do đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty nên bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo hình thức trực tuyến chức năng. Mỗi xí nghiệp có bộ máy quản lý riêng và chịu sự lãnh đạo của bộ máy quản lý Công ty. Cơ cấu lãnh đạo của bộ máy Công ty bao gồm: Giám đốc, ba phó giám đốc và sáu phòng quản lý, nghiệp vụ.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

    Ban giám đốc Công ty

    Phòng tổ   Phòng kinh   Phòng KH   Phòng   Phòng   Phòng
    chức hành   doanh   thị trường   kĩ thuật   cung ứng   kế toán
    chính               vật tư   TC
                         

    Sơ đồ tổ chức

    Công ty Vật liệu xây

    dựng Bưu điện

      Xí nghiệp     Xí nghiệp       Xí nghiệp            
                  Xí nghiệp   Văn phòng đại   25
      SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2 bê tông      
      nhựa bưu     bê tông           xây lắp I   diện tại MN    
      điện     BĐII         BĐIII        
                             
                                   

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             26

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Giám đốc: Ngoài phụ trách chung, trực tiếp phụ trách lĩnh vực tổ chức cán bộ, lao động và lĩnh vực tổ chức kinh doanh.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kinh tế: Phụ trách toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kỹ thuật.
    • Phụ trách lĩnh vực theo dõi, quản lý máy móc, thiết bị, xác định mức tiêu hao vật tư cho từng loại sản phẩm, xác định vật tư kỹ thuật cho mỗi công trình.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực tiếp thị: Phụ trách việc giao dịch tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm nghiên cứu, xây dựng các phương thức bán hàng và tổ chức thực hiện.
    • Các phòng nghiệp vụ.
    • Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý về công tác tổ chức kế toán, bổ trì cán bộ sắp xếp lao động, tuyển dụng và cho lao động nghỉ việc theo chế độ.
    • Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý về công tác tổ chức kế toán, thống kê của các xí nghiệp và của Công ty, cung cấp số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra và phân tích hoạt động kế toán, tài chính, phục vụ công tác lập, theo dõi và thực hiện kế hoạch phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế.
    • Phòng kế hoạch thị trường: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
    • Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các phương thức bán hàng, đôn đốc, tổ chức thực hiện các hợp đồng bán sản phẩm của Công ty.
    • Phòng kỹ thuật: Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, thực hiện các qui trình qui phạm trong sản xuất và an toàn lao động, kiểm tra chất lượng sản phẩm.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             27

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Phòng cung ứng vật tư: Có nhiệm vụ giúp giám đốc lập kế hoạch cung ứng vật tư cho hoạt động sản xuất (chủ yếu cho xí nghiệp nhựa). Kiểm tra thực hiện, cân đối định mức vật tư cho sản phẩm, theo dõi số lượng vật tư tồn kho.

    2.2. T×nh h×nh qu¶n lý vμ sö dông nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty vËt

    liÖ x©y dùng b−u ®iÖn

    2.2.1. Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu.

    2.2.1.1. Đặc điểm nguyên vật liệu

    Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện có 4 xí nghiệp thành viên nhưng chỉ có xí nghiệp nhựa chịu sự chỉ đạo sản xuất của Công ty, còn các xí nghiệp kia hạch toán đối lập. Vì vậy Công ty chỉ quản lý và cung cấp nguyên vật liệu cho xí nghiệp nhựa: sản phẩm nhựa của Công ty gồm các loại ống nhựa phục vụ ngành Bưu điện là chủ yếu và một số ngành khác như điện lực, cấp thoát nước. Nguyên vật liệu sử dụng ở Công ty rất đa dạng và phong phú được sử dụng với khối lượng lớn. Có tới 30 loại nguyên vật liệu chính và hơn 3000 loại phụ tùng, công cụ dụng cụ. Mỗi chủng loại nguyên vật liệu lại bao gồm hàng chục loại khác nhau. Có thể kể đến những loại nguyên vật liệu chính của Công ty như bọt PVC – 1000, bọt PVCP 800, bọt AC – 629A, CA – ST, DBL, ILS, bọt hoá chất CaCO3, các loại vật liệu phụ như: dung môi, bột màu, mực in, keo dán. Tất cả các loại nguyên vật liệu của Công ty đều được mua ngoài, một số bột hoá chất phải nhập từ nước ngoài.

    Hiện nay, chi phí về nguyên vật liệu chiếm khoảng 80% trong giá thành sản phẩm. Vì vậy muốn hạ giá thành sản phẩm Công ty phải có biện pháp giảm chi phí về nguyên vật liệu nhưng lại không được làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             28

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Từ những đặc điểm trên cho thấy việc quản lý nguyên vật liệu tại Công ty phải được thực hiện chặt chẽ chỉ ở tất cả các khâu thu mua, bảo quản, dự trưc, sử dụng, để đảm bảo tính hiệu quả tính tiết kiệm, hạn chế tới mức thấp nhất việc hư hỏng mất mát.

    2.2.1.2. Phân loại nguyên vật liệu.

    Nguyên vật liệu (xí nghiệp nhựa) được phân loại như sau:

    • Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của Công ty khi tham gia vào quá trình sản xuất là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên thực thể

    của sản phẩm bao gồm: Bọt PVC – P1000, bọt PVC – P800, AC – AT, DBL, AD/PP hạt, bọt hoá chất STA, CaCl3.

    • Nguyên vật liệu phụ: góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản

    phẩm bao gồm: dung môi, hạt màu, mực in, nước rửa…

    • Nhiên liệu: xăng dầu.
    • Vật liệu, thiết bị máy móc: trục vít, dòng can nhiệt, rơle
    • Phế liệu thu hồi: ống hỏng, bột quét kho sản xuất.

    *Nguồn nhập, mục đích xuất nguyên vật liệu.

    Tất cả các loại nguyên vật liệu của Công ty đều được mua ngoài. Và đều được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất sản phẩm, phục vụ công tác quản lý, bán hàng, xây dựng cơ bản tại Công ty.

    Vật tư của Công ty do phòng cung ứng vật tư và nhân viên làm việc tại kho chịu trách nhiệm quản lý. Công ty có hệ thống kho gồm kho nguyên vật liệu chính (kho Công ty và kho xí nghiệp nhựa) và một kho phụ tùng, CCDC.

    Phòng cung ứng vật tư căn cứ vào định mức vật tư kỹ thuật để dự trữ, cấp phát vật tư. Định mức vật tư do phòng kỹ thuật xây dựng.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             29

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.1.3. Đánh giá nguyên vật liệu.

    • Đối với nguyên vật liệu nhập kho, nguyên vật liệu của Công ty chủ yếu là mua ngoài, chỉ có một phần nhỏ thu hồi từ sản xuất (Công ty áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ).

    – Đối với nguyên vật liệu mua ngoài nhập kho.

    Giá thực tế nguyên vật liêu nhập kho = giá mua ghi trên hoá đơn (không có thuế GTGT)

    Chi phí thu mua được phân bỏ vào chi phí sản xuất trong kỳ. Do chi phí thu mua thường nhỏ hoặc không có do giá trị của nguyên vật liệu mua là giá giao tại kho của Công ty nên các chi phí vận chuyển, bốc dỡ và các chi phí khác đều do bên bán chịu. Ví dụ:

    Ngày 8/2/2002: Nhập kho 99.000kg bột PVC – S65 theo hoá đơn ngày 29/1/2002 – giá đơn vị (chưa có thuế GTGT) ghi trên hoá đơn là 14200/kg.

    + Giá thực tế

    Bọt PVC = S65 = 99.000 x 14.200 = 1.405.800.000đ.

    • Đối với phế liệu thu hồi nhập kho: Phế liệu thu hồi là nhựa thu hồi từ sản xuất mà đơn vị đem đi tạo hạt lại để tiếp tục sử dụng. Giá thực tế của phế liệu do phòng cung ứng vật tư xác định và đưa ra cho một kỳ hạch toán chỉ có một đơn vị cho tất cả các loại phế liệu thu hồi.
    • Đối với nguyên vật liệu xuất kho: tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện, giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho được tính theo phương pháp nhập trước xuất trước, lô hàng nào nhập kho trước sẽ được xuất trước.

    2.2.2. Tổ chức quản lý và sử dụng nguyên vật liệu tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện.

    2.2.2.1. Công tác bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất.

    • Về mặt kịp thời:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             30

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Điều kiện quan trọng để đảm bảo cho sản xuất của xí nghiệp hoàn thành tốt và nhịp nhàng là phải bảo đảm cho nó những loại vật tư cần thiết một cách kọp thời trong cả một thời gian dài (năm hay quý). Xí nghiệp luôn đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, không để xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.

      Ngày Số lượng Bảo đảm nhu cầu Còn lại không  
    Nguồn NVL trong tháng
    dùng trong  
    nhập (m) Tính bằng  
      (m) tháng  
          ngày
               
    Tồn đầu 1/4 5578 (1/4-12/4) 5578    
    tháng            
                 
    Nhập lần 1 13/4 387.7 13/4-22/4 387.7    
                 
    Nhập lần 2 23/4 3786.5 (23/4-30/4) 300 3486.5  
                 
    Tổng   9752.2 30 6265.7 3486.5  
                 

    Qua bảng trên ta thấy tồn đầu tháng tư là 5578m, có thể tiêu dùng đến 12 ngày và sau đó ngày 13/4 nhập 387.7m. Như vậy việc nhập nguyên vật liệu một cách kịp thời đã không làm gián đoạn sản xuất. Với số lượng nhập như trên đã đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất tiến hành được liên tục, điều đó có nghĩa là xí nghiệp đã hoàn thành kế hoạch về mặt kịp thời. * Về mặt đồng bộ.

    Để đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, xí nghiệp đã thực hiện tương đối tốt yêu cầu cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ không phải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm. quyết định. Trong quá trình thực hiện kế hoạch nếu có loại nguyên vật liệu nào đó không đảm bảo yêu cầu thì các nguyên vật liệu khác hoặc là không thể sử dụng được hoặc là sử dụng một phần tương xứng với tỷ lệ loại nguyên vật liệu nhập không đảm bảo yêu cầu với tỷ lệ thấp nhất.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             31

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             32

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Tình hình thực hiện kế hoạch nguyên vật liệu về mặt đồng bộ.

    Tên nguyên Đơn Kế Thực Hoành Số sử dụng được  
    vật liệu vị hoạch nhập thành kế      
    % Số lượng  
             
      tính nhập   hoạch      
                   
    Đồng ф 46 Kg 135 158 117.03 105.5 142.43  
                   
    Đồng ф 42 Kg 180 191 106.10 105.5 190  
                   
    Nhựa kíp Kg 468.6 104.16 104.16 105.5 162.04  
                   
    Tổng     509 108.60 105.5 494.47  
                   

    Qua đó ta thấy tình hình nhập vật tư vào xí nghiệp đã đảm bảo được tính đồng bộ. Đây là thành tích chủ quan của xí nghiệp, gãp phần giải quyết tình trạng ứ đọng nguyên vật liệu ở xí nghiệp, tạo vốn cho sản xuất.

    2.2.2.2. Công tác mua sắm nguyên vật liệu của Công ty.

    Thủ tục nhập nguyên vật liệu, ở Công ty là mua ngoài. Đối với những lô hàng có giá trị lớn, Công ty tổ chức đấu thầu. Còn với những lô hàng có giá trị nhỏ, số lượng ít, Công ty uỷ quyền cho phòng vật tư mua.

    Khi vật tư mua về đến kho, phòng cung ứng vật tư căn cứ vào hoá đơn, hợp đồng kinh tế tiến hành làm phiếu nhập hàng, phiếu nhập kho theo biểu 01 – VT. Phiếu nhập kho được ghi đầy đủ các thông tin cần thiết và số lượng nhập kho trên chứng từ có liên quan. Phiếu nhập kho, phiếu nhập hàng và các chứng từ có liên quan được chuyển xuống kho nhập hàng, thủ kho căn cứ vào các chứng từ trên kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, chất lượng và quy cách của vật tư, sau đó tiến hành nhập kho. Thủ kho ghi vào phiếu nhập kho số lượng vật tư thu nhập, đồng thời tiến hành ghi thủ kho. Phiếu nhập kho và các chứng từ có liên quan được chuyển lên phòng kế toán.

    VD: Ngày 8/2/2002, Công ty nhập bọt nhựa PVC – S65 theo hợp đồng kinh tế đã ký vởi Công ty cổ phần hoá chất nhựa.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             33

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    MÉu ho¸ ®¬n:            
      Biểu số 1:            
            HOÁ ĐƠN Mẫu số: 01GTKT – 3LL.
            Ngày 29 tháng 1 năm 2002 N0: 034214
                   
    Đơn vị bán hàng: Công ty cổ phần hoá chất nhựa.      
    Địa chỉ: Số 7 Vọng đức – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội – Số tài khoản…
    Điện thoại: 8247087.            
    Mã số: 0 1   0 0 9 4 2 2 0 5 1        
    Họ và tên người mua hàng: Đặng Quang Vinh.      
    Đơn vị: Công ty VLXD            
    Đơn chỉ: Phú Diễn – Từ Liêm … Số tài khoản.      
    Hình thức thanh toán: HĐKT 081638 ngày 5 tháng 1 năm 2002.
    Mã số:  0 1    0 0 6 8 7 1 8 5 1        
                     
      TT Tên hàng hoá, Đơn vị Số lượng   Đơn giá Thành tiền  
        dịch vụ tính    
                   
      A   B C 1   2 3=1×2  
                   
    1 Bột PVC kg 99.000   14.200 1.405.800.000  
        (Indonesia)            
                       
          Cộng tiền hàng:     1.405.800.000  
             
          Thuế suất GTGT: 10T: Tiền thiếu GTGT:    140.580.000  
               
          Tổng cộng tiền thanh toán: 1.546.380.000  
           
        Số tiền viết bằng chữ: Một tỷ năm trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm  
            tám mươi ngàn đồng chẵn.    
    Người mua hàng kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
    (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, họ tên)

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             34

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trên đây cơ sở hợp đồng kinh tế và hoá đơn trên phòng vật tư tiến hành lập phiếu nhập hàng và phiếu nhập kho.

    2.2.2.3. Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.

    • xí nghiệp, mua cũng như bán vật tư, bán thành phẩm và thành phẩm phải thông qua hợp đồng kinh doanh. Giám đốc giao hàng cho phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng kế hoạch chuẩn bị hợp đồng. Các trưởng phòng phải kiểm tra hợp đồng về quy cách, số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả cũng như thời hạn giao nhận. Tất cả các hợp đồng kinh tế do giám đốc ký, phòng kế toán, phòng kinh doanh có trách nhiệm theo dõi để kiểm tra việc thực hiện và thanh lý hợp đồng. Các hoá đơn vật tư hàng hoá mua về đều có hoá đơn đỏ của bộ tài chính. Tuỳ từng loại vật liệu mà có những hình thức cân, đong, đo đếm khác nhau.

    Việc kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu được tiến hành từ thấp đến cao, từ ngoài vào trong. Trước hết, nhân viên tiếp nhận xem xét kích thước, tình hình bao bì và những ký hiệu ghi trên bao bì có phù hợp với những điều kiện quy định trong hợp đồng giao hàng hay không.

    Do có sự thống nhất trong hợp đồng nên khi giao hàng diễn ra hết sức thuận lợi.

    Khi kiểm tra số lượng và chất lượng xong, nếu là những loại nguyên vật liệu có giá trị lớn thì xí nghiệp kiểm nghiệm và lập “Biên bản kiểm kê”.

    Ví dụ:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             35

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    BIÊN BẢN KIỂM KÊ

    Hôm nay, ngày 31/12/2002 – tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện (Phú

    Diễn – Từ Liêm). Chúng tôi gồm:

    1. Đại diện phòng kế toán – tài chính.
    1. Bà Hoàng Thị Minh – Phó phòng kế toán – tài chính
    1. Bà Vũ Thị Minh Nguyệt – Kế toán vật liệu.
    1. Đại diện phòng vật tư.
    1. Bà Vũ Thị Xuân – Phó phòng vật tư.
    1. Bà Nguyễn Hoài Phương – Thủ.
    • Đại diện xí nghiệp nhựa.
    1. Ông Bùi Văn Xã – giám đốc xí nghiệp.
    1. Bà Nguyễn Thị Thu – kế toán xí nghiệp.
    1. Bà Đoàn Thị Thuỷ – thủ kho xí nghiệp.

    Chúng tôi cùng nhau kiểm kê kho vật liệu chính ở kho xí nghiệp và kho Công ty, kiểm kê phụ tùng, công cụ dụng cụ ở kho Công ty, số liệu cụ thể như sau: *Vật liệu chính:

    TT Tên nguyên ĐVT Số lượng Tổng cộng
      liêu, vật liệu       kiểm kê
          Kho công Kho xí  
          ty nghiệp  
    1 AC-5000F Kg 2250,0 58,85 2308,85
    2 VV-10506 Kg 325,0 10,00 335,0
    3 DBL Kg 1800 196,85 1996,85
    4 STA-2718 Kg 6800 409,3 7209,3
    5 PP hạt Kg 2775 0 2755,0
    6 AID Kg 9800 194,84 9994,84
    7 Bột vàng Kg 125 158,6 283,6
    8 HIPS Kg 4900 0 4900
    9 TLS Kg 1575 372,65 1947,65
    10 CA-ST Kg 925 142,6 1067,6
    …..

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             36

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    C¨n cø vμo biªn b¶n kiÓm nghiÖm nÕu nguyªn vËt liÖu ®ñ tiªu chuÈn nhËp kho th× phßng kÕ ho¹ch kü thuËt sÏ tiÕn hμnh lËp phiÕu nhËp kho . Thñ kho kh«ng ®−îc tù ý nhËp sè nguyªn vËt liÖu trªn nÕu ch−a cã ý kiÕn cña phßng kinh doanh . Do thñ kho thuéc phßng kinh doanh nªn mäi nhu cÇu nhËp xuÊt ®Òu t¹i phßng kinh doanh ®Ó tiÖn cho viÖc qu¶n lý . PhiÕu nhËp kho ®−îc lËp thμnh ba liªn :

    • Phßng kinh doanh l−u mét liªn .

     

    • Thñ kho gi÷ mét liªn ®Ó ghi thÎ kho , sau ®ã chuyÓn cho kÕ to¸n vËt t−.

     

    • Mét liªn do ng−¬i ®i mua gi÷ ho¸ ®¬n mua giao l¹i cho kÕ to¸n lam c¬ s¬ thanh to¸n sau nμy .

    C¨n cø ®Ó viÕt phiÕu nhËp kho cña xÝ nghiÖp nhËp t¹i kho cña xÝ nghiÖp lμ

    c¸c ho¸ ®¬n b¸n hμng cña nhμ cung cÊp . Ho¸ ®¬n nμy ph¶i cã ®ãng dÊu cña bé tμi chÝnh vμ dÊu cña ®¬n vÞ b¸n , ®ång thêi ph¶i cã x¸c nhËn cña thñ kho lμ hμng ®· nhËp kho .

    VÝ dô :

    PhiÕu nhËp kho                                   MÉu sè : 01 – VT

    Ngμy 8 th¸ng 2 n¨m 2002  Q§ Sè 1141 TC/ Q§ / C§KT

    Sè : 22                                   Ngμy 1/11/1995 cña bé TC

    Nî :TK 152

    Cã : TK 331

    Hä tªn ng−êi giao hμng : §Æng Quang Vinh

    Theo: .H§. Sè 034214. Ngμy 29/1/2002 cña C«ng ty cæ phÇn ho¸ chÊt nhùa.

    Tªn nh·n   Sè l−îng   §¬n  
    hiÖu, quy §VT Theo chøng tõ   Thu nhËp Thμnh tiÒn
    tt tr×nh vËt t−       gi¸
             
      (SP hμng ho¸)              
    A B C D 1   2 3 4
                     
    1 Bét PVC-S65   Kg 99.000   99.000 14.200 1.405.800.000
                     

    Céng tiÒn hμng: 1.405.800.000

    ThuÕ suÊt GTGT: 10% tiÒn thuÕ thuÕ GTGT:140.580.000

    Tæng céng tiÒn thanh to¸n: 1.546.380.000

    Sè tiÒn b»ng ch÷: Mét tû n¨m tr¨m bèn m−¬i s¸u triÖu ba tr¨m t¸m m−¬i ngh×n ®ång ch½n

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             37

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Phô tr¸ch cung          Ng−êi giao hμng  Thñ kho              KÕ to¸n tr−ëng        Thñ tr−ëng ®¬n

    tiªu                                                                                                                                                                  

    (Ký, hä tªn)                (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)               (Ký, hä tªn)

    2.2.2.4. Qu¶n lý kho :

    Tuú theo ®Æc ®iÓm vμ tÝnh chÊt cña tõng lo¹i nguyªn vËt liÖu khi nguyªn vËt liÖu ®−îc nhËp kho vÒ xÝ nghiÖp nã sÏ ®−îc ®−a vμo c¸c kho kh¸c nhau nh»m ®¶m b¶o an toμn mét cÊch tèi ®a cho nguyªn vËt liÖu .

    Nh×n chung , nguyªn vËt liÖu trong kho cña xÝ nghiÖp ®−îc s¾p xÕp khoa häc , theo dóng quy c¸ch , thùc hiÖn khÈu lÖnh dÔ t×m , dÔ thÊy , dÔ lÊy ,dÔ kiÓm tra ph¸t hiÖn nh»m thuËn lîi cho viÖc thùc hiÖn nguyªn t¾c : NhËp tr−íc xuÊt tr−íc, nhËp sau xuÊt sau . Víi nh÷ng lo¹i nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp hiÖn nay th× viÖc qu¶n lý nguyªn vËt liÖu lμ rÊt dÔ dμng v× do c¸c nguyªn vËt liÖu kh«ng bÞ hao hôt , nguyªn vËt liÖu dÔ mua nªn khèi l−îng nguyªn vËt liÖu tån kho Ýt . Kho lμ ®iÓm xuÊt ph¸t vμ lμ ®iÓm cuèi cïng cña qu¸ tr×nh s¶n xuÊt .Do ®ã viÖc tæ chøc vμ b¶o qu¶n kho nguyªn vËt liÖu, b¸n thμnh phÈm cña xÝ nghiÖp ®Òu ®−îc ghi theo v¨n b¶n .

    Khi nhËp hay xuÊt kho , thñ kho ph¶i kiÓm nhËn theo chøng tõ . B¸n , xuÊt vËt t− ra ngoμi xÝ nghiÖp ph¶i th«ng qua gi¸m ®èc ký duyÖt . Cßn xuÊt trong néi bé th× gi¸m ®èc uû quyÒn cho phã gi¸m ®èc ký .

    Phßng kinh doanh cña xÝ nghiÖp liªn kÕt chÆt chÏ víi phßng b¶ovÖ ®Ó qu¶n lý nguyªn vËt liÖu . Hμng ngμy , b¶o vÖ ph¶i më sæ theo dâi kh¸ch ®i ®Õn xÝ nghiÖp hoÆc c¸c lo¹i vËt t− hμng ho¸ xÝ nghiÖp ra vμo ®¬n vÞ ghi râ thêi gian , sè l−îng , chñng lo¹i vμ ph−¬ng tiÖn vËn chuyÓn .

    TÊt c¶ c¸c kho tμng cña xÝ nghiÖp ®Ìu ®−îc dïng hai kho¸ ®Ó ®¶m b¶o ®é ch¾c ch¾n , thñ kho qu¶n lý mét ch×a , b¶o vÖ qu¶n lý mét ch×a . §Ó ®¶m b¶o ®é an toμn , mçi quý xÝ nghiÖp thay kho¸ mét lÇn .Trong xÝ nghiÖp cã hμnh

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             38

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • trém c¾p nguyªn vËt liÖu th× mäi ng−êi ®Òu cã ý thøc tr¸ch nhiÖm ®Êu tranh c¸c hμnh vi tiªu cùc .

     

    xÝ nghiÖp cã mét hÖ thèng néi quy an toμn , quy chÕ kho nh− néi quy ra vμo , néi quy b¶o qu¶n , néi quy xuÊt nhËp , néi quy phßng ch¸y næ . V× thÕ c«ng t¸c b¶o qu¶n kho ®i vμo nÒn nÕp chÆt chÏ ë cöa kho cã biÓn kh«ng cã nhiÖm vô tuyÖt ®èi kh«ng ®−îc vμo kho .

     

    Thñ kho lu«n n¾m ch¾c sè l−îng , chÊt l−îng , chñng lo¹i tõng nguyªn vËt liÖu , tuyÖt ®èi gi÷ bÝ mËt vμ chØ cung cÊp sè liÖu cho nh÷ng ng−êi ®−îc gi¸m ®èc ®ång ý . Hμng ngμy , thñ kho ghi mét c¸ch chónh x¸c sè l−îng xuÊt – nhËp tån .

     

    Hμng n¨m xÝ nghiÖp tiÕn hμnh kiÓm kª ®¸nh gi¸ ®Þnh kú t×nh h×nh nguyªn vËt liÖu , viÖc b¶o qu¶n vμ cÊp ph¸t t¹i kho. Tõ biªn b¶n kiÓm kª , c¸c phßng chøc n¨ng cã quyÕt ®Þnh xö lý mét c¸ch hîp lý ®èi víi nh÷ng nguyªn vËt liÖu thõa , thiÕ hay h− háng hoÆc hÕt h¹n sö dông .

    2.2.2.5. CÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu:

    ViÖc tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu chÝnh x¸c, kÞp thêi sÏ ®¶m b¶o cho s¶n xuÊt cña xÝ nghiÖp tiÕn hμnh nhÞp nhμng, gãp phÇn n©ng cao n¨ng suÊt lao ®éng, gi¶m gi¸ thμnh s¶n phÈm, tiÕt kiÖm ®−îc nguyªn vËt liÖu vμ n©ng cao ®−îc søc c¹nh tranh cña s¶n phÈm. NhËn thøc ®−îc tÇm quan träng ®ã, xÝ nghiÖp lu«n ®¶m b¶o cÊp ph¸t c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu cho c¸c ph©n x−ëng ®−îc ®ång bé, ®ñ sè l−îng, ®óng quy c¸ch, phÈm chÊt vμ kÞp vÒ thêi gian ViÖc tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu ë xÝ nghiÖp ®−îc tiÕn hμnh theo møc, ngo¹i trõ mét sè dông cô kh¸c lμ cÊp ph¸t theo h×nh thøc: B¸n vËt t− Mua thμnh phÈm . Hμng th¸ng, phßng KÕ ho¹ch kü thuËt vμ phßng kinh doanh tiÕn hμnh ®èi chiÕu gi÷a l−îng vËt t− nhËn vÒ vμ l−îng s¶n phÈm giao

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             39

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nép. C¨n cø vμo hÖ thèng ®Þnh møc ®· cã, hai bªn cã thÓ tÝnh to¸n vμ biÕt ®−îc t×nh h×nh sö dông nguyªn vËt liÖu trong th¸ng ®Ó tõ ®ã cã kÕ ho¹ch s¶n xuÊt trong th¸ng.

    C¨n cø vμo kÕ ho¹ch s¶n xuÊt vμ hÖ thèng ®Þnh møc tiªu dïng do phßng kü thuËt thùc hiÖn, c¸n bé ®Þnh møc cña xÝ nghiÖp lËp tøc göi ®Þnh møc vμ s¶n l−îng kÕ ho¹ch xuèng c¸c ph©n x−ëng, theo ®ã c¸c ph©n x−ëng cö c¸n bé xuèng kho lÜnh vËt t−. Hμng ngμy, tuú theo yªu cÇu cña s¶n xuÊt vμ yªu cÇu dù tr÷ mμ c¸n bé c¸c ph©n x−ëng trùc tiÕp lªn phßng kinh doanh viÕt ho¸ ®¬n, dïng ho¸ ®¬n xuèng kho ®Ó lÜnh vËt t−. Thñ kho cã tr¸ch nhiÖm cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu theo ®óng sè l−îng, chñng lo¹i, chÊt l−îng ®· ghi theo ho¸ ®¬n xuÊt kho.

     

    VÝ dô:  
    §¬n vÞ: PhiÕu xuÊt kho
    §Þa chØ: Ngμy 8 th¸ng 2 n¨m 2002

    Sè 49A MÉu sè C123 H

    Q§ sè 999 TC/Q§KT Ngμy 1/11/1995 cña bé TC

     

    Hä tªn ng−êi nhËn hμng: §oμn ThÞ Thuý – §Þa chØ: (bé phËn) XN nhùa

    Lý do xuÊt kho: S¶n xuÊt hμng th¸ng 2/2002

    XuÊt t¹i kho: C«ng ty

    Tªn nh·n hiÖu,   Sè l−îng §¬n  
    quy tr×nh vËt t− §VT Theo chøng   Thu nhËp Thμnh tiÒn
    tt (SP hμng ho¸)   gi¸  
             
    A B C   D 1 2 3 4
    1 Bét PVC  K66 Kg 750 750 10.800 8.100.000
    2 Bét PVC  S65 Kg 28.500 28.500 14.200 404.700.000
      Céng         412.500.000

    Sè tiÒn b»ng ch÷: Bèn tr¨m m−êi hai triÖu t¸m tr¨m ngμn ®ång ch½n

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             40

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Phô tr¸ch cung          Ng−êi giao hμng        Thñ kho           KÕ to¸n tr−ëng       Thñ tr−ëng ®¬n

    tiªu                                                                                                                                                                                    

    (Ký, hä tªn)                (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)               (Ký, hä tªn)

    2.2.2.6. T×nh h×nh dù tr÷ – cung øng              sö dông vËt t− cña c«ng ty:

    VËt t− cña c«ng ty do phßng vËt t− vμ nh©n viªn lμm viÖc t¹i kho chÞu tr¸ch nhiÖm qu¶n lý. HiÖn nay, hÖ thèng kho cña c«ng ty gåm hai kho:

    • Kho nguyªn vËt liÖu chÝnh

     

    • Kho nguyªn vËt liÖu phô, phô tïng vμ CCDC

    2.2.6.1. T×nh h×nh dù tr÷ nguyªn vËt liÖu, CCDC

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             41

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    B¶ng 1:

    ChØ tiªu Dù tr÷ theo ®Þnh Dù tr÷ thùc tÕ Tû lÖ thùc
    Danh ®iÓm møc   hiÖn
           
    1.Nguyªn vËt liÖu chÝnh 2924378304 3070597219 105%
           
    2. Nguyªn vËt liÖu phô 195945591 2055742871 105%
           
    3. Phô tïng thay thÕ 194024442 201785420 104%
           
    4. PhÕ liÖu 114673267 115820000 101%
           
    5. C«ng cô dông cô 181660243 182593448 102%
           
    Céng 3610681847 3779238958  
           

    Qua b¶ng trªn cho thÊy t×nh h×nh dù tr÷ nguyªn vËt liÖu, c«ng cô dông cô cña c«ng ty t−¬ng ®èi s¸t víi ®Þnh møc vËt t− kü thuËt do c«ng ty x©y dùng nªn. Do vËy ®¶m b¶o ®ñ nguyªn liÖu cho ®Çu kú s¶n xuÊt sau ®ång thêi tr¸nh t×nh tr¹ng bÞ ®äng vèn trong dù tr÷ qu¸ nhiÒu. Nguyªn vËt liÖu, CCDC dù tr÷ cuèi n¨m 2002 ®−îc ®¶m b¶o ®Çy ®ñ ®Ó cung cÊp cho ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña c«ng ty vμo ®Çu n¨m 2003. C«ng ty kh«ng dù tr÷ nhiªn liÖu.

    Ngoμi ra c«ng ty ®· x¸c ®Þnh ®−îc møc dù tr÷ tõng lo¹i vËt liÖu trong kho. §èi víi vËt liÖu trong n−íc s¶n xuÊt, møc dù tr÷ ®ñ cung øng cho s¶n xuÊt 15 ngμy, 30 ngμy víi vËt liÖu nhËp kho.

    2.2.6.2. T×nh h×nh thùc hiÖn cung øng vËt t−:

    ViÖc tæ chøc cung øng vËt t− t¹i c«ng ty lu«n ®Çy ®ñ kÞp thêi theo ®óng tiÕn ®é s¶n xuÊt, ®¶m b¶o vÒ sè l−îng còng nh− chÊt l−îng. C¨n cø vμo kÕ ho¹ch s¶n xuÊt kinh doanh n¨m tiÕp theo, phßng vËt t− lËp kÕ ho¹ch thu mua.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             42

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Danh ®iÓm Dù tr÷ theo ®Þnh Dù tr÷ thùc tÕ Tû lÖ thùc
    møc   hiÖn
       
           
    1.Nguyªn vËt liÖu chÝnh 4685185957   105%
           
    2. Nguyªn vËt liÖu phô 3141850659 47326740546 105%
           
    3. Phô tïng thay thÕ 1773131356 1778450750 104%
           
    4. PhÕ liÖu 1267764301 1280441944 100,3%
           
    5. C«ng cô dông cô 1433124862 1440290436 101%
           
    Céng 54474030135 55123866917 100,5%
           

    Qua b¶ng trªn cho thÊy t×nh h×nh cung øng vËt t− cña c«ng ty n¨m 2003 ®−îc thùc hiÖn rÊt tèt.

    2.2.6.3.T×nh h×nh sö dông nguyªn vËt liÖu trong s¶n xuÊt s¶n phÈm cña c«ng ty:

    Phßng kÕ ho¹ch kü thuËt, phßng vËt t− ®· x©y dùng ®Þnh møc tiªu hao vËt t− cho ®óng lo¹i s¶n phÈm. Tõ ®ã lμm c¨n cø x¸c ®Þnh sè l−îng nguyªn vËt liÖu, CCDC xuÊt cho s¶n xuÊt

    T×nh h×nh thùc hiÖn kÕ ho¹c vÒ sö dông nguyªn vËt liÖu n¨m 2002

    ChØ tiªu KÕ ho¹ch Thùc hiÖn Tû lÖ % hoμn thμnh
           
    1. Chi phÝ vÒ NVL 54878936323 54269780130 98,089%
           
    2. Tæng chi phÝ 6693741344 66127547699 98,79%
           

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             43

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Tû lÖ hoμn thμnh   Tæng møc NVL sö dông thùc tÕ
    kÕ ho¹ch sö dông =
    NVL  
     
    (Cã liªn hÖ kÕt qu¶   Tæng møc NVL Sö dông KH x Error!
    SX)  
       

    ViÖc sö dông NVL, CCDC ë c«ng ty ®· hoμn thμnh tèt so víi kÕ ho¹ch. Chi phÝ vÒ NVL gi¶m t−¬ng øng víi tæng chi phÝ gi¶m nh−ng tæng gi¸ trÞ s¶n l−îng thùc tÕ t¨ng so víi kÕ hoach chøng tá hiÖu qña sö dông NVL ®−îc n©ng lªn

    2.2.2.7. C«ng t¸c thanh quyÕt to¸n nguyªn vËt liÖu:

    C«ng t¸c quyÕt to¸n NVL ®−îc xÝ nghiÖp thùc hiÖn mét c¸ch ®Òu ®Æn theo hμng quý. ViÖc quyÕt to¸n nguyªn vËt liÖu cã ý nghÜa quan träng trong viÖc qu¶n lý sö dông vËt t− trong s¶n xuÊt

    C¬ së ®Ó tiÕn hμnh quyÕt to¸n vËt t− cho c¸c s¶n phÈm ®−îc xÝ nghiÖp dùa trªn:

    • Þnh møc chi phÝ vËt t−: nguyªn, nhiÖn liÖu do mét ®¬n vÞ s¶n phÈm mμ xÝ nghiÖp ®· ban hμnh trong kú tr−íc.

     

    • C¨n cø vμo t×nh h×nh s¶n xuÊt thùc tÕ cña xÝ nghiÖp, bao gåm t×nh tr¹ng m¸y mãc thiÕt bÞ, vËt t− ®−a vμo s¶n xuÊt.

     

    2.3. §¸nh gi¸ chung vÒ t×nh h×nh qu¶n lý vμo sö dông nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty vËt liÖu x©y dùng

    2.3.1. Nh÷ng thμnh tÝch ®¹t ®−îc trong c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty:

    Qua thêi gian thùc tËp ë c«ng ty em nhËn thÊy c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu nh×n chung tiÕn hμnh nÒn nÕp, chÊp hμnh ®óng c¸c quy ®Þnh. C¸c phßng ban xÝ nghiÖp còng phèi hîp chÆt chÏ víi phßng kÕ to¸n, ®¶m b¶o viÖc h¹ch

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             44

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    to¸n, qu¶n lý nguyªn vËt liÖu diÔn ra ®Òu ®Æn, nhÞp nhμng phï hîp víi ®iÒu kiÖn cña c«ng ty, ®¸p øng ®−îc yªu cÇu cña c«ng t¸c qu¶n lý.

    C«ng ty ®· x©y dùng ®−îc hÖ thèng ®Þnh møc vËt t− cho tõng lo¹i s¶n phÈm t−¬ng ®èi chÝnh x¸c. §©y lμ −u ®iÓm rÊt lín cña c«ng ty trong c«ng t¸c qu¶n lý vμ h¹ch to¸n nguyªn vËt liÖu. Qua ®ã, c«ng ty cã thÓ tÝnh to¸n ®−îc møc thu mua, dù tr÷ sö dông vËt liÖu, gãp phÇn qu¶n lý chÆt chÏ nguyªn vËt liÖu, CCDC.

    Do ®Æc ®iÓm cña nguyªn vËt liÖu s¶n xuÊt s¶n phÈm nhùa lμ dÔ biÕn chÊt, dÔ ch¸y nªn c«ng ty ®· x©y dùng kho vËt t− ®¶m b¶o ®Çy ®ñ tiªu chuÈn quy ®Þnh vÒ b¶o qu¶n vËt liÖu. HÖ thèng kho ®−îc bè trÝ phï hîp víi ®Þa bμn s¶n xuÊt. C«ng ty ®· cã sù ph©n c«ng qu¶n lý râ rμng, ®éi ngò c¸n bé c«ng nh©n viªn cã tinh thÇn tr¸ch nhiÖm cao. Do vËy viÖn b¶o qu¶n dù tr÷ nguyªn vËt liÖu ®−îc tiÕn hμnh kh¸ tèt.

    VÒ tr×nh tù lu©n chuyÓn chøng tõ ®−îc thùc hiÖn chÆt chÏ; chøng tõ lu©n chuyÓn theo ®óng chu tr×nh.

    Trong c«ng t¸c qu¶n lý kho, do s¾p xÕp mét c¸ch cã hÖ thèng vμ hîp lý nªn gi¶m bít ®−îc diÖn tÝch kho, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho viÖc nhËp xuÊt nguyªn vËt liÖu, ®¶m ®¶m b¶o dÔ t×m, dÔ thÊy, dÔ lÊy, s½n sμng cÊp ph¸t kÞp thêi theo nhu cÇu s¶n xuÊt. ViÖc thùc hiÖn kiÓm kª th−êng xuyªn vμ xö lý thõa thiÕu nguyªn vËt liÖu kÞp thêi gãp phÇn qu¶n lý chÆt chÏ, h¹n chÕ l−îng nguyªn vËt liÖu h− háng, mÊt m¸t.

    XÝ nghiÖp sö dông ph−¬ng thøc giao vËt t− t¹i n¬i lμm viÖc, ®©y lμ ph−¬ng thøc tiÕn bé, t¹o ®iÒu kiÖn cho ng−êi l·nh ®¹o tËp trung søc lùc vμ thêi gian vμo viÖc ch¨m lo s¶n xuÊt, t¹o ®iÒu kiÖn cho tæ chøc nhËp, xuÊt kho mét c¸ch khoa häc, lμm cho phßng kinh doanh vμ phßng kÕ ho¹ch kü thuËt ®iÒu

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             45

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    khiÓn s¶n xuÊt ®i s¸t s¶n xuÊt h¬n, hiÓu râ nhu cÇu cña c¸c ph©n x−ëng ®Ó tõ ®ã tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu ®−îc tèt h¬n.

    2.3.2.Mét sè thiÕu sãt, tån t¹i cÇn kh¾c phôc:

    Ngoμi nh÷ng −u ®iÓm trªn, c«ng ty vÉn cßn mét sè thiÕu sãt tån t¹i cÇn kh¾c phôc ®Ò hoμn thiÖn c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu. – VÒ c«ng t¸c nhËp kho nguyªn vËt liÖu

    viÖc kiÓm tra sè l−îng, quy c¸ch, phÈm chÊt cña vËt t− kh«ng ®−îc ghi vμo

    v¨n b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− do ®ã sÏ khã trong viÖc quy hÕt tr¸ch nhiÖm

    trong viÖc b¶o qu¶n vμ thanh to¸n.

    – VÒ hÖ thèng sæ kÕ to¸n:

    hÖ thèng sæ kÕ to¸n t−¬ng ®èi ®Çy ®ñ theo quy ®inh. Tuy nhiªn, nh×n chung c«ng ty ch−a më sæ: Sæ ®¨ng ký chøng tõ, ghi sæ c¸c nghiÖp vô kinh tÕ ph¸t sinh theo thêi gian (NhËt ký). Do ®ã viÖc qu¶n lý l−îng chøng tõ ghi sæ vÉn ch−a chÆt chÏ. Khi nhËp l¹i nguyªn vËt liÖu xuÊt thõa kh«ng dïng hÕt ph¶i lËp riªng mét chøng tõ ghi sæ.

    • VÒ ý thøc tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu: C«ng nh©n vÉn ch−a cã ý thøc tiÕt kiÖm triÖt ®Ó nguyªn vËt liÖu, do ®ã vÉn cßn g©y l·ng phÝ nguyªn vËt liÖu.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             46

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ch−¬ng 3

    Mét sè ph−¬ng h−íng vμ gi¶i ph¸p nh»m t¨ng c−êng

    c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i

    C«ng ty vËt liÖu x©y dùng b−u ®iÖn

    • Ó n©ng cao hiÖu qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh trong thêi gian tíi, xÝ nghiÖp cÇn ph¸t huy nh÷ng −u ®iÓm s½n cã cña m×nh ®ång thêi kh¾c phôc nh÷ng ®iÓm cßn tån t¹i trong c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu. §Ó nh»m t¨ng c−êng, hoμn thiÖn c«ng t¸c b¶o ®¶m, qu¶n lý nguyªn vËt liÖu ë xÝ nghiÖp s¶n xuÊt vμ cung øng vËt t−, t«i xin ®−a ra mét sè ý kiÕn ®Ò xuÊt vÒ ph−¬ng h−íng vμ gi¶i ph¸p sau:

    3.1. KiÕn nghÞ 1: hoμn thiÖn c«ng t¸c lËp sæ danh ®iÓm vËt t−

    Víi sù ®a d¹ng, phong phó cña nguyªn vËt liÖu vÒ chñng lo¹i. ViÖc ch−a lËp sæ g©y khã kh¨n trong c«ng viÖc sö dông nguyªn vËt liÖu vμ trong c«ng t¸c kiÓm kª cuèi th¸ng. §Ó kh¾c phôc mÆt h¹n chÕ nμy, xÝ nghiÖp nªn lËp sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu ®Ó gióp cho viÖc qu¶n lý vËt t− ®−îc thuËn lîi.

    Mçi nhãm nguyªn vËt liÖu sÏ ®−îc ghi trªn mét trang sæ, trong ®ã nhãm nguyªn vËt liÖu sÏ ghi ®Çy ®ñ c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu nhãm ®ã. vÝ dô: nguyªn vËt liÖu chÝnh ®ång = 1521.01

    sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu nμy ®−îc x¸c ®Þnh trªn c¬ së sè liÖu cña lo¹i nguyªn vËt liÖu, nhãm nguyªn vËt liÖu, chñng lo¹i nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp. Sæ nμy sÏ ®−îc chia thμnh tõng phÇn mçi phÇn dμnh riªng mét sè trang nhÊt ®Þnh ®Ó ghi sè d− vËt liÖu cña xÝ nghiÖp hiÖn cã, mçi nhãm nguyªn vËt liÖu ®uîc m· ho¸ theo sè hiÖu riªng.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             47

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    C¸ch x¸c ®Þnh sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu vÒ phæ biÕn lμ kÕt hîp gi÷a sè liÖu tμi kho¶n vμ viÖc ph©n chia vËt t− cho mçi lo¹i ®−îc ®¸nh sè liªn tôc theo quy −íc cña lo¹i ®ã. Gi÷a c¸c lo¹i ®Ó trèng phßng khi cã c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu míi ghi bæ sung. Víi nguyªn t¾c nμy sÏ gióp cho kÕ to¸n nhËn biÕt ®−îc nguyªn vËt liÖu mét c¸ch nhanh chãng th«ng qua sæ danh ®iÓm vËt t−.

    Sæ danh ®iÓm ®−îc sö dông thèng nhÊt trong ph¹m vi toμn xÝ nghiÖp ®¶m b¶o cho c¸c bé phËn trong xÝ nghiÖp phèi hîp chÆt chÏ trong c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu ®−îc dÔ dμng, thuËn tiÖn.

    3.2. KiÕn nghÞ 2: LËp biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t−

    KÕt qu¶ cña viÖc kiÓm nghiÖm vËt t− ph¶i ®−îc ghi vμo Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− ®Ó lμm c¨n cø quy tr¸ch nhiÖm trong thanh to¸n vμ b¶o qu¶n. Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− th−êng ®−îc ¸p dông cho c¸c lo¹i vËt t− kiÓm nghiÖm trong nh÷ng tr−êng hîp sau:

    • NhËp kho víi sè l−îng lín
    • c¸c lo¹i vËt t− cã tÝnh chÊt lý ho¸ phøc t¹p
    • C¸c lo¹i vËt t− quý hiÕm

    Ban kiÓm nghiÖm ph¶i ghi râ sè l−îng, chÊt l−îng cña tõng thø, lo¹i vËt liÖu vμo. Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− , ghi râ ý kiÕn vÒ sè l−îng, chÊt l−îng, nguyªn nh©n ®èi víi vËt t− kh«ng ®óng vÒ sè l−îng, quy c¸ch phÈm chÊt vμ ®−a ra c¸ch xö lý.

    3.3. KiÕn nghÞ 3: VÒ c«ng t¸c qu¶n lý kho

    C«ng t¸c s¾p xÕp nguyªn vËt liÖu ch−a gän gμng, kh«ng cã lèi tho¸t ngang do ®ã thñ kho ph¶i s¾p xÕp nguyªn vËt liÖu mét c¸ch hîp lý, khoa häc, ®¶m b¶o an toμn ng¨n n¾p, thuËn tiÖn cho viÖc xuÊt – nhËp – kiÓm kª. xÝ nghiÖp nªn mua nhiÒu gi¸ ®Ó ®ùng hμng, tr¸nh ®Ó hμng ho¸ xuèng ®Êt v× do ®Æc ®iÓm cña mét sè nguyªn vËt liÖu nh− nhùa b¹t PVC, ®ång, s¾t thÐp dÔ

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             48

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Èm −ít, hao mßn do ®ã sÏ ¶nh h−ëng ®Õn qu¸ trinh s¶n xuÊt. Thùc tÕ hiÖn nay, nhμ kho ®ang bÞ xuèng cÊp trÇn nhμ phÝa ngoμi bÞ hë, t−êng bong v«i do ®ã xÝ nghiÖp cÇn ph¶i söa sang l¹i ®Ó tr¸nh hao hôt, h− háng nguyªn vËt liÖu.

    Cã thÓ nãi viÖc sö dông chung nguyªn vËt liÖu nhËp vÒ, nguyªn vËt liÖu dù tr÷ cïng mét kho ®· g©y kh«ng Ýt khã kh¨n cho xÝ nghiÖp. Bëi vËy, xÝ nghiÖp nªn cã kho dù tr÷ ®Ó tr¸nh lÉn lén víi nh÷ng nguyªn vËt liÖu kh¸c, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu khi cÇn thiÕt. ViÖc dù tr÷ hμng ho¸ gióp cho qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®−îc tiÕn hμnh mét c¸ch liªn tôc.

    Dù tr÷ kh«ng cã nghÜa lμ dÉn ®Õn t×nh tr¹ng ø ®äng nguyªn vËt liÖu, ø ®äng vèn. §Ó ®¶m b¶o ®ñ nguyªn vËt liÖu cho s¶n xuÊt vμ tr¸nh t×nh tr¹ng d÷ tr÷ qu¸ nhiÒu, xÝ nghiÖp cÇn ph¶i tiÕn hμnh ®Þnh møc dù tr÷ s¶n xuÊt. §Þnh møc dù tr÷ s¶n xuÊt lμ sù quy ®Þnh ®¹i l−îng vËt t− cÇn thiÕt ph¶i cã theo kÕ ho¹ch ë xÝ nghiÖp ®Ó ®¶m b¶o cho qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®−îc tiÕn hμnh liªn tôc vμ ®Òu ®Æn. ViÖc quy ®Þnh ®óng ®¾n møc dù tr÷ cã ý nghÜa rÊt lín, nã cho phÐp gi¶m c¸c chi phÝ vÒ b¶o qu¶n hμng ho¸, gi¶m hao hôt mÊt m¸t.

    3.4. KiÕn nghÞ 4: T¨ng c−êng sö dông hîp lý – tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu. Sö dông hîp lý vμ tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu ®· trë thμnh mét nguyªn

    t¾c, ®¹o ®øc, mét chÝnh s¸ch kinh tÕ cña xÝ nghiÖp. Song viÖc sö dông hîp lý

    • tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp ch−a ®−îc thùc hiÖn mét c¸ch triÖt ®Ó, s©u s¸t. TiÕt kiÖm ph¶i ®−îc thùc hμnh ë mäi kh©u trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt vμ biÖn ph¸p quan träng nhÊt ®Ó thùc hμnh tiÕt kiÖm lμ biÖn ph¸p c«ng nghÖ tiªn tiÕn.

    Tr−íc hÕt, xÝ nghiÖp ph¶i kh«ng ngõng gi¶m bít phÕ liÖu, phÕ phÈm, h¹ thÊp ®Þnh møc tiªu dïng nguyªn vËt liÖu. Gi¶m møc tiªu hao vËt t− cho mét ®¬n vÞ s¶n phÈm lμ yÕu tè quan träng ®Ó tiÕt kiÖm vËt t− trong qu¸ tr×nh

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             49

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    s¶n xuÊt. Song muèn khai th¸c triÖt ®Ó yÕu tè nμy ph¶i ph©n tÝch cho ®−îc c¸c nguyªn nh©n lμm t¨ng, gi¶m møc tiªu hao vËt t−, tõ ®ã ®Ò ra c¸c biÖn ph¸p cô thÓ nh»m tiÕt kiÖm ®−îc nhiÒu vËt t− trong s¶n xuÊt.

    XÝ nghiÖp ®· x©y dùng c¸c ®Þnh møc tiªu hao vËt liÖu song khi ®i vμo s¶n xuÊt ch−a kiÓm tra chÆt chÏ c«ng nh©n cã thùc hiÖn ®óng víi møc ®Ò ra ch−a, bëi vËy cßn g©y ra l·ng phÝ nguyªn vËt liÖu. Do ®ã, trong thêi gian tíi, c¸c qu¶n ®èc ph©n x−ëng cÇn theo dâi chÆt chÏ h¬n t×nh h×nh thùc hiÖn møc trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt cña c¸c c«ng nh©n. Ng−êi c«ng nh©n lμ ng−êi trùc tiÕp sö dông c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt, hä biÕt râ gi¸ trÞ cña c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu vμ c«ng dông cña chóng. V× vËy, cÇn ¸p dông h¬n n÷a c¸c biÖn ph¸p sau:

    • T¨ng c−êng gi¸o dôc vÒ ý thøc tiÕt kiÖm, lîi Ých tiÕt kiÖm ®èi víi tõng ng−êi. Hμng th¸ng xÝ nghiÖp nªn tæ chøc c¸c buæi nãi chuyÖn, th¶o luËn, ®Ò cao tÇm quan träng cña viÖc tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu cho c«ng nh©n ®Ó hä hiÓu râ h¬n tõ ®ã hä lμm viÖc cã ý thøc h¬n.
    • Bªn c¹nh ®ã, xÝ nghiÖp nªn cã biÖn ph¸p khuyÕn khÝch vÒ vËt chÊt vμ tinh thÇn thÝch ®¸ng, kÞp thêi ®èi víi viÖc tiÕt kiÖm. Khi tæ s¶n xuÊt hay c¸ nh©n nμo ®ã ph¸t huy ý thøc tiÕt kiÖm trong s¶n xuÊt th× qu¶n ®èc ph©n x−ëng, gi¸m ®èc cã thÓ th−ëng cho hä tiÒn, biÓu d−¬ng tr−íc xÝ nghiÖp .
    • N©ng cao tr×nh ®é tay nghÒ cho mäi c«ng nh©n b»ng c¸ch häc hái tõ nh÷ng thî bËc cao hay tæ chøc thi tay nghÒ cho hä. Thùc tÕ hiÖn nay ë xÝ nghiÖp cã mét sè m¸y mãc ®· ë t×nh tr¹ng l¹c hËu, cò kü do ®ã xÝ

    nghiÖp nªn ®Çu t− mua thªm m¸y míi ®Ó s¶n xuÊt ®−îc tèt h¬n.

    3.5. KiÕn nghÞ 5: Sö dông hiÖu qu¶ nguån vèn ®Ó ®¸p øng kÕ ho¹ch mua s¾m nguyªn vËt liÖu

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             50

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    KÕ ho¹ch mua s¾m vËt t− lμ mét bé phËn quan träng cña kÕ ho¹ch s¶n xuÊt – kü thuËt – tμi chÝnh cña doanh nghiÖp. Vèn cã t¸c ®éng rÊt lín ®èi víi viÖc mua s¾m nguyªn vËt liÖu. Thùc tÕ hiÖn nay, c«ng t¸c tμi chÝnh cña xÝ nghiÖp ch−a lμm tèt xÝ nghiÖp lu«n trong t×nh tr¹ng thiÕu vèn. C¸c kho¶n nî ph¶i thu vμ nî ph¶i tr¶ cßn nhiÒu lμm ¶nh h−ëng ®Õn kh¶ n¨ng thanh to¸n. ViÖc thiÕu vèn ¶nh h−ëng ®Õn c«ng t¸c mua s¾m nguyªn vËt liÖu, ®Õn kÕt qu¶ kinh doanh. NhiÒu khi xÝ nghiÖp vÉn mua chÞu nguyªn vËt liÖu cña b¹n hμng, ®iÒu nμy cã thÓ ¶nh h−ëng ®Õn uy tÝnh cña xÝ nghiÖp, ®Õn kh¶ n¨ng cung øng nguyªn vËt liÖu.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             51

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    VÝ dô:

    ChØ tiªu N¨m 2001 N¨m 2002 So s¸nh 2001/2002
           
    Tû  lÖ  ph¶i  tr¶/Tæng  tμi 94 85 (-9)
    s¶n(%)      
           
    Kh¶ n¨ng thanh to¸n      
           
    – TSL§/Nî NH(%) 93 84 (-9)
           
    – TiÒn hiÖn cã/ Nî NH 0.4 1 0.6
           
    • Ó n©ng cao chÊt l−îng hiÖu qu¶ c«ng t¸c qu¶n trÞ vèn, trong thêi gian tíi, xÝ nghiÖp cÇn:
    • T¨ng c−êng h¬n n÷a c«ng t¸c thu håi c«ng nî vμ coi ®©y lμ biÖn ph¸p chÝnh ®Ó ®¶m b¶o vèn cho s¶n xuÊt kinh doanh.
    • a d¹ng ho¸ c¸c biÖn ph¸p thu håi c«ng nî nh− thu håi qua c«ng ty hay thu trùc tiÕp.
    • ¦u tiªn vèn cho s¶n xuÊt kinh doanh mét c¸ch hîp lý kh«ng ®Ó vËt t− hμng ho¸ ø ®äng hoÆc chËm lu©n chuyÓn.
    • Thùc hμnh tiÕt kiÖm vμ chi tiªu hîp lý

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             52

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    KÕt luËn

    Qua thêi gian thùc tËp t¹i xÝ nghiÖp Bª t«ng c«ng ty vËt liÖu x©y dùng b−u ®iÖn, t«i thÊy ®−îc t×nh h×nh b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu cho s¶n xuÊt lμ mét yªu cÇu kh¸ch quan, cã t¸c ®éng rÊt lín tíi kÕt qu¶n ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña xÝ nghiÖp. ViÖc sö dông hîp lý vμ tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu ¶nh h−ëng trùc tiÕp ®Õn hiÖu qu¶ sö dông vèn kinh doanh cña xÝ nghiÖp. Nguyªn vËt liÖu ®−îc ®¶m b¶o ®Çy ®ñ, ®óng chÊt l−îng, ®ång bé lμ ®iÒu kiÖn quyÕt ®Þnh kh¼ng n¨ng t¸i s¶n xuÊt më réng. C«ng ty ®· tæ chøc c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu kh¸ tèt sö dông nguyªn vËt liÖu hîp lý – tiÕt kiÖm – hiÖu qu¶. Víi sù nç lùc kh«ng ngõng cña ban l·nh ®¹o xÝ nghiÖp vμ tËp thÓ c¸n bé c«ng nh©n viªn trong toμn xÝ nghiÖp, viÖc b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i xÝ nghiÖp ngμy cμng ®−îc t¨ng c−êng vμ hoμn thiÖn, gãp phÇn n©ng cao kÕt qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh, c¶i thiÖn ®êi sèng cho CBCNV, thùc hiÖn ®Çy ®ñ nghÜa vô cña m×nh víi nhμ n−íc. Song, bªn c¹nh nh÷ng thμnh tÝch ®· ®¹t ®−îc, xÝ nghiÖp vÉn cßn tån t¹i mét sè h¹n chÕ nh− ®· tr×nh bμy trong bμi kho¸ luËn nμy. Em xin m¹nh d¹n ®−a ra mét sè ý kiÕn nh− trªn nh»m gãp phÇn kh¾c phôc nh÷ng thiÕu sãt, tån t¹i cña xÝ nghiÖp. Tuy nhiªn, do thêi gian t×m hiÓu thùc tÕ vμ tr×nh ®é cßn cã h¹n nªn kh«ng tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt, em mong r»ng sÏ nhËn ®−îc c¸c ý kiÕn ®ãng gãp cña c¸c c« chó trong xÝ nghiÖp vμ ®−îc sù h−íng dÉn cña thÇy NguyÔn H÷u ChÝ ®Ó bμi b¸o c¸o ®−îc hoμn thiÖn h¬n .

    Cuèi cïng em xin ch©n thμnh c¶m ¬n sù h−íng dÉn nhiÖt t×nh cña thÇy gi¸o vμ c¸c c« chó trong c«ng ty.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             53

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Hμ Néi, th¸ng 5 n¨m 2004

    Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Kim Th−

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-v%C3%A0-c%C3%A1c-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-gi%C3%A1n-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BB%A7a-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Lời nói đầu

    Hiện nay, việc vận dụng các chính sách kinh tế tài chính nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng của Việt Nam có rất nhiều tiến bộ so với thời kỳ trước cả về trình độ vận dụng lẫn hiệu quả kinh tế. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện không phải là không còn những tồn tại. Em hoàn thành bài viết này với mong muốn tìm hiểu thêm được một số nội dung của việc vận dụng chính sách tiền tệ, đặc biệt là sử dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ phục vụ cho nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế ở Việt Nam. Và em cũng xin mạnh dạn đưa ra ý kiến để hy vọng góp phần giúp các nhà hoạch định vận dụng có hiệu quả hơn các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Bài viết được hoàn thành dựa trên quá trình tổng hợp các tài liệu bàn về tình hình nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới và kết hợp tham khảo báo, tạp chí chuyên ngành từ năm 1997 trở lại đây để hiểu được lý luận vấn đề và có thực tiễn đối chứng.

    Bố cục của bài viết được chia làm 2 chương:

    • Chương I: Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách

    tiền tệ.

    2

    • Chương II: Thực trạng của việc ngân hàng trung ương sử dụng các

    công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua và một số giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả hơn các công cụ này ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

    3

    Chương I: Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp

    của chính sách tiền tệ.

    1.Chính sách tiền tệ và Ngân hàng trung ương

    Khi nói đến hệ thống chính sách kinh tế – tài chính vĩ mô của chính phủ không thể phủ nhận được vai trò của chính sách tiền tệ là rất quan trọng.

    Chính sách tiền tệ có rất nhiều định nghĩa khác nhau theo các cách hiểu khác nhau của các học giả cũng như các nhà nghiên cứu. Vậy nên chỉ xin nêu lên một định nghĩa mang tính phổ dụng nhất: “Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định”.<trích Giáo trình Lý thuyết tiền tệ. Trường ĐHTCKT Hà Nội 1998. Trang 146>

    6

    Chính sách tiền tệ được chia làm hai khuynh hướng: chính sách thắt chặt tiền tệ và chính sách nới lỏng tiền tệ. Chính sách thắt chặt tiền tệ là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế đầu tư, ngăn ngừa tình trạng phát triển quá đà của nền kinh tế… Còn chính sách nới lỏng tiền tệ là việc cung ứng thêm tiền vào trong lưu thông nhằm khuyến khích đầu tư phát triển, tạo thêm công ăn việc làm…Việc sử dụng chính sách nào trong hai chính sách này là tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của nền kinh tế mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ nhất định.

    Trước khi nói thêm về chính sách tiền tệ xin được nói lướt qua về Ngân hàng trung ương, bởi Ngân hàng trung ương chính là cơ quan hữu trách sử dụng chính sách tiền tệ như một “vũ khí” để quản lý các hoạt động tiền tệ tín dụng. Qua các hoạt động này Ngân hàng trung ương thể hiện được vai trò của mình trong nền kinh tế. Và đối với Ngân hàng trung ương Việt nam thì vai trò của nó lúc nào cũng được đánh giá rất cao trong nền kinh tế quốc dân bởi Ngân hàng trung ương có các vai trò thiết yếu như sau:

    7

    – Ngân hàng trung ương góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế – xã hội, thông qua điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông.

    • Ngân hàng trung ương thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế.
    • Ngân hàng trung ương ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
    • Ngân hàng trung ương chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng.

    Và như đã khẳng định ở trên: vai trò của chính sách tiền tệ là rất quan trọng. Đó là bởi vì chính sách tiền tệ có ba mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và kiểm soát lạm phát. Quả thật ba mục tiêu này luôn là các mục tiêu “tối hậu” làm trăn trở bất cứ nhà chính trị, nhà lãnh đạo một quốc gia nào. Hướng tới các mục tiêu này, sử dụng chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương Việt Nam phải làm gì ? Ngân hàng trung ương Việt Nam đã thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.

    2.Các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Các công cụ của chính sách tiền tệ được chia ra làm hai nhóm chính là công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp. Công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ bao gồm:

    8

    • Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay.
    • Ấn định hạn mức tín dụng.
    • Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và cho đầu tư.
    • Phát hành lượng trái phiếu nhà nước để làm giảm lượng tiền trong lưu thông.

    Còn các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ bao gồm:

    • Dự trữ bắt buộc.
    • Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn.
    • Thị trường mở.

    Tại các quốc gia phát triển khác trước đây và tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, việc Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ là chủ yếu bởi cơ chế thị trường chưa phát triển chính là môi trường thuận lợi cho việc sử dụng các công cụ trực tiếp và bởi vì kết quả các công cụ này được thể hiện ngay lập tức, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế. Nhưng xu thế hiện nay là các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ đang được sử dụng thay thế dần dần cho các công cụ trực tiếp bởi các công cụ gián tiếp tạo điều kiện cho

    9

    ngân hàng thương mại nói riêng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung tạo được sự linh hoạt, uyển chuyển và nhanh nhạy đối với cơ chế thị trường luôn luôn biến đổi, nhiều phức tạp đang diễn biến từng ngày, từng giờ và giúp cho nhà nước có thể quản lý có chiều sâu đối với nền kinh tế(tức là chủ động và “dài hơi” hơn cho các quyết định đối với nền kinh tế). Cũng xin nói thêm là việc chuyển sự kiểm soát tiền tệ từ các công cụ trực tiếp dần chuyển sang cho công cụ gián tiếp trên thực tế là một quá trình phức tạp và chậm. Vậy những công cụ trực tiếp vẫn có thể tồn tại cho đến khi các công cụ gián tiếp hoạt động mà không gây ra nguy cơ phá vỡ cơ chế kiểm soát tiền tệ chung. Và trừ phi hai hệ thống công cụ này hoà hợp với nhau hoàn toàn (mà điều này khó có thể xảy ra trong thực tế) còn thì hướng chiến lược vẫn là chuyển trọng tâm sang công cụ gián tiếp càng sớm càng tốt và hạn chế dần sử dụng các công cụ trực tiếp.

    Xin được nhận định rằng không có một công cụ nào mang tính hoàn hảo tuyệt đối cho con người trong quá trình sử dụng mà chúng luôn có những điểm mạnh xen kẽ với những điểm yếu. Bởi vậy, khi nói về các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ thì xin điểm qua

    10

    những ưu điểm cũng như nhược điểm của các công cụ này nhằm phục vụ cho việc nhìn lại những thành công cũng như những điều chưa thành công trong quá trình sử dụng các công cụ này. Và chính điều này giúp chúng ta nắm bắt toàn diện các công cụ này để khi vận dụng các công cụ này, chúng ta có cơ sở để xác định và tiến hành những động thái đúng đắn nhằm hạn chế thấp nhất các nhược điểm và phát huy tối đa những mặt mạnh của các công cụ này.

    2.1.Công cụ dự trữ bắt buộc

    Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thương mại phải mở tài khoản và đưa vào gửi tại Ngân hàng trung ương theo luật định. Dự trữ bắt buộc là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn khả dụng của ngân hàng: nó có thể điều chỉnh việc tạo tiền thông qua hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Và nó chính là một phương tiện cho Ngân hàng trung ương sử dụng để kiểm soát khối lượng tín dụng và làm thay đổi lượng cung vốn cho nền kinh tế. Những thay đổi trong dự trữ bắt buộc tác

    11

    động đến cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ.

    Khi tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm giảm khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng thương mại, từ đó làm giảm lượng tiền trong lưu thông, góp phần giảm cầu tiền để cân bằng với sự giảm cung xã hội.

    Khi giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì ngược lại sẽ làm tăng khả năng bành trướng tín dụng của ngân hàng thương mại khiến cho lượng tiền trong lưu thông gia tăng và làm cho tăng cung xã hội để cân đối tăng cầu về tiền.

    • Ưu điểm của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung ứng tiền tệ là nó có thể tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và có tác dụng mạnh mẽ đến cung ứng tiền tệ.
    • Nhược điểm của dự trữ bắt buộc là: Dự trữ bắt buộc không thích hợp đối với những thay đổi nhỏ trong tỉ lệ dự trữ bắt buộc vì khi có những thay đổi như vậy thì chi phí quản lý lại vượt quá lợi ích mang lại. Điều này là không thiết thực, cũng như “giết gà lại dùng đến dao mổ trâu“. Một điểm bất lợi khác của công cụ này là khi

    12

    tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ làm cho khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại giảm khả năng thanh toán. Và nếu tỉ lệ dự trữ bắt buộc luôn thay đổi, mất tính ổn định thì cũng gây ra sự mất ổn định trong hoạt động thanh toán và hoạt động quản lý của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn.

    Hiện nay, đang có những kiến nghị cải cách dự trữ bắt buộc. Tuy vậy, việc quyết định giải quyết dự trữ bắt buộc theo hướng nào vẫn đang là vấn đề được các nhà hoạch định kinh tế xem xét, thảo luận.

    2.2.Công cụ lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn

    Tái chiết khấu và tái cấp vốn là các phương thức mà Ngân hàng trung ương cho vay các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác thông qua cho vay dựa trên hình thức chiết khấu lại các chứng từ có giá.

    Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn, Ngân hàng trung ương có thể tác động đến khả năng vay của các ngân hàng thương mại. Và thông qua đó làm cho cung cầu về tiền tệ có sự thay đổi. Khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn tăng lên, các ngân hàng

    13

    thương mại sẽ bất lợi nếu vay vốn của Ngân hàng trung ương. Trong điều kiện như vậy, các ngân hàng thương mại sẽ không có khả năng mở rộng cho vay tín dụng. Ngược lại, khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn giảm, các ngân hàng thương mại do được lợi trong việc chiết khấu lại với Ngân hàng trung ương nên sẽ có điều kiện mở rộng khả năng cho vay tín dụng.

    • Ưu điểm: lợi điểm chủ yếu của công cụ này chính là thông qua nó mà Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. Đây là công việc thể hiện rõ nét vai trò của Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế và là yêu cầu cực kỳ quan trọng để tiến hành chính sách tiền tệ thành công. Thông qua công cụ này thì

    Ngân hàng trung ương sẽ giúp nền kinh tế tránh khỏi các cơn sụp đổ tài chính bởi mỗi khi các ngân hàng thương mại bị đe doạ phá sản thì dự trữ lập tức được điều đến ngân hàng cần vốn. Ngoài ra công cụ này còn có ưu điểm là việc vay mượn được thực hiện trên nền của các loại giấy tờ có giá, nên thời hạn thanh toán tương đối rõ ràng tạo điều kiện cho việc hoàn trả. Đồng thời, qua biện pháp này thì tiền vay sẽ vận động phù hợp với kinh tế thị trường. Tuy có

    14

    ưu điểm quan trọng như vậy nhưng công cụ này cũng còn tồn tại không ít những nhược điểm.

    • Nhược điểm:

    Thứ nhất, khi Ngân hàng trung ương thay đổi lãi suất tái chiết khấu thì lại khiến cho những suy đoán sai lệch về ý định của Ngân hàng trung ương.

    Thứ hai, khi Ngân hàng trung ương ấn định một mức lãi suất tái chiết khấu đặc biệt nào đó thì sẽ gây ra chênh lệch lớn giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất thị trường.

    Thứ ba, công cụ này còn có những hạn chế kỹ thuật và cứng nhắc. Thể hiện: Ngân hàng trung ương cấp tiền cho các ngân hàng thương mại một cách máy móc; việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu là một quyết định quan trọng của chính sách tiền tệ thì lại ít được thực hiện; cùng với nghiệp vụ tái chiết khấu thì Ngân hàng trung ương chỉ có thể cấp tiền cho các ngân hàng thương mại nhưng không thu lại được.

    Thứ tư, thực tế cho thấy, hiện nay, sự tác động của lãi suất tái chiết khấu chưa hiệu quả nếu lãi suất tái chiết khấu cao hơn so với lãi suất chiết khấu. Bởi các ngân hàng thương mại (trong điều kiện bình

    15

    thường) sẽ không chiết khấu lại ở Ngân hàng trung ương mà lại có sự điều tiết qua lại giữa các ngân hàng thương mại này.

    2.3.Công cụ thị trường mở

    Công cụ thị trường mở là chỉ việc Ngân hàng trung ương mua bán các giấy từ có giá trên thị trường tài chính nhằm điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông.

    Nếu Ngân hàng trung ương muốn gia tăng lượng tiền trong lưu thông thì Ngân hàng trung ương sẽ mua vào một lượng giấy tờ có giá nhất định. Khi Ngân hàng trung ương tiến hành động thái trên thì tiền trung ương sẽ đi vào trong lưu thông và các giấy tờ có giá sẽ nằm lại ở Ngân hàng trung ương.

    Ngược lại, khi Ngân hàng trung ương thấy cần phải giảm lượng tiền trong lưu thông thì Ngân hàng trung ương lại tổ chức bán các giấy tờ có giá mà mình đang nắm giữ ra thị trường tài chính, thu bớt tiền trong lưu thông về cất trữ.

    Nội dung hoạt động của công cụ thị trường mở chính là cơ sở thể hiện cho chúng ta thấy những ưu, nhược điểm của công cụ này.

    16

    • Ưu điểm: nói chung thị trường mở tiến bộ hơn các công cụ khác. Bởi

    vì:

    Thứ nhất, Ngân hàng trung ương thông qua nghiệp vụ này kiểm soát toàn bộ thị trường tự do. Mà việc kiểm soát này là không thể thực hiện được thông qua công cụ tái chiết khấu vì với tái chiết khấu, Ngân hàng trung ương chỉ khuyến khích việc chiết khấu của các ngân hàng thương mại hay không mà thôi chứ không kiểm soát được lượng giấy tờ có giá đem chiết khấu.

    Thứ hai, nghiệp vụ này rất linh hoạt và chính xác. Thể hiện: với bất kỳ mức độ nào khi muốn thay đổi dự trữ bắt buộc hay cơ số tiền tệ, Ngân hàng trung ương chỉ việc bán ra thị trường một lượng giấy tờ có giá tuỳ ý.

    Thứ ba, khi sử dụng công cụ thị trường mở thì nếu có sai sót xảy ra thì Ngân hàng trung ương cũng dễ dàng sửa chữa những sai lầm của mình.

    Thứ tư, hoạt động trên thị trường tự do nhanh chóng, tránh được những chậm trễ về mặt hành chính.

    17

    Muốn sử dụng tốt công cụ thị trường mở đòi hỏi sự phát triển nhất định của cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt (có nghĩa là tiền trong lưu thông phần lớn phải nằm trên tài khoản tại ngân hàng). Chúng ta đã biết rằng xu thế trong tương lai trên toàn thế giới việc sử dụng tiền mặt đang dần bị thay thế bởi các phương tiện thanh toán khác như tiền chuyển khoản, tiền điện tử, ngân phiếu, thương phiếu…

    Cho nên điều kiện này thì sớm hay muộn cũng hình thành. Nhưng vấn đề là thời gian là quan trọng nên buộc Ngân hàng trung ương cần phải có những giải pháp để tạo lập thị trường tài chính đích thực để công cụ thị trường mở phát huy tác dụng.

    Nói tóm lại, các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là các công cụ điều tiết nền kinh tế rất quan trọng. Chúng có tác động trực tiếp đến cung ứng tiền tệ thông qua kiểm soát khối lượng cho vay của ngân hàng, mức lãi suất và khối tiền tệ nói chung. Và bên cạnh những nhược điểm nội tại thì với những ưu điểm sẵn có thì các công cụ này đang có tiềm năng lớn trong vấn đề ổn dịnh và phát triển kinh tế mỗi quốc gia.

    18

    19

    Chương II: Thực trạng của việc ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua và một số giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả hơn các công cụ này ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

    1.Thực trạng sử dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    trong thời gian qua tại Việt Nam

    Dù nói nền kinh tế Việt Nam trong những năm đã qua là tốt hay xấu thì thực tế việc sử dụng các công cụ nói chung và các công cụ gián tiếp nói riêng trong chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã có những tác động nhất định đáp ứng cho yêu cầu của tình hình kinh tế trong nước.

    1.1.Công cụ dự trữ bắt buộc

    Dự trữ bắt buộc là một công cụ quan trọng để điều hoà lưu thông tiền tệ. Thông qua việc thực hiện chế độ này, Ngân hàng trung ương

    20

    điều hành tổng phương tiện thanh toán thông qua cơ chế tác động đến khối lượng và giá cả tín dụng của các tổ chức tín dụng. Từ năm 1991, công cụ điều hoà lưu thông tiền tệ này được đưa áp dụng ở Việt Nam. Theo pháp lệnh ngân hàng, tỉ lệ dự trữ bắt buộc có thể giao động trong khoảng từ 10% đến 35% trong nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng. Song khi xét tới hoàn cảnh thực tế, tiềm lực của các tổ chức tín dụng Việt Nam (kể cả ngân hàng thương mại quốc doanh)là còn tương đối yếu và do lạm phát cao nên mức dự trữ bắt buộc được ấn định là 10%, đồng thời coi phần tiền mua tín phiếu kho bạc và tiền mặt tại quỹ cũng là thành phần tiền dự trữ cùng với việc phân biệt tỉ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau đối với tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn. Tuy nhiên, chế độ dự trữ bắt buộc lại chưa được áp dụng đối với các hợp tác xã tín dụng và các quỹ tín dụng nhân dân.

    Sau đó, từ những năm 1994, 1995 trở đi, đứng trước tình hình lạm phát diễn biến thất thường, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của công cụ dự trữ bắt buộc. Đó là áp dụng cách điều chỉnh linh hoạt tỉ lệ dự trữ bắt buộc trong khuôn khổ cho phép, thống nhất một tỉ lệ dự trữ bắt buộc cho các loại tiền

    21

    gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, bỏ hẳn phần tiền mua tín phiếu kho bạc trong cơ cấu tiền dự trữ bắt buộc, thực hiện truy đổi hay hoàn lại tiền lãi đối với số tiền vượt hay hụt mức dự trữ, xử phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm.

    Từ cuối năm 1997, Ngân hàng nhà nước Việt Nam lại hoàn thiện thêm một bước công cụ dự trữ bắt buộc với các mặt sau:

    Thứ nhất, đối tượng thi hành quy chế dự trữ bắt buộc là các ngân hàng thương mại quốc doanh và cổ phần Việt Nam, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, các ngân hàng liên doanh hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, các công ty tài chính. Những tổ chức tín dụng trực thuộc các chủ thể trên có thể được miễn thi hành nghĩa vụ dự trữ bắt buộc trong từng thời kỳ nhất định nếu tổng số tiền huy động được quá thấp (dưới 500 triệu đồng).

    Thứ hai, số tiền gửi huy động được dùng để tính dự trữ bắt buộc bao gồm các khoản tiền bằng nội tệ cũng như bằng ngoại tệ. Số tiền gửi này có kỳ hạn là 24 tháng trở lại và tỉ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng đồng loạt là 10% tính trên tổng số tiền gửi loại này huy động được.

    22

    Thứ ba, cơ cấu của tiền dự trữ bắt buộc bao gồm: tiền dự trữ bắt buộc trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại Ngân hàng nhà nước (tối thiểu là 70% của tổng số tiền dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng), tiền mặt tại quỹ và ngân phiếu còn giá trị thanh toán tại quỹ của tổ chức tín dụng (tối đa là 30% của tổng số tiền dự trữ bắt buộc).

    Thứ tư, Ngân hàng nhà nước không trả lãi cho số tiền gửi dự trữ bắt buộc trong phạm vi nghĩa vụ nhưng sẽ trả lãi cho phần gửi dự trữ bắt buộc vượt yêu cầu (lớn hơn 10%) theo lãi suất 0,2%/tháng. Đồng thời, đối với số thiếu hụt so với nghĩa vụ thực hiện dự trữ bắt buộc thì Ngân hàng nhà nước sẽ phạt khoản tiền này với lãi suất là 200% so với lãi suất cho vay tái cấp vốn.

    Thực tế, xét trên một chừng mực nhất định, các biện pháp trên đã duy trì tăng trưởng cao của nền kinh tế đồng thời lại kiềm chế lạm phát nhưng việc sử dụng chính sách thắt chặt này đã cho thấy ngay hậu quả là từ năm 1998 cho đến 6 tháng đầu năm 2000, nền kinh tế Việt Nam chìm trong tình trạng thiểu phát khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy giảm. Trong năm 1999, tỉ lệ dự trữ bắt buộc cũng 2 lần được điều chỉnh: giảm từ mức 7% xuống 5% rồi xuống còn 3% đối với ngân hàng thương mại và các công ty tài chính còn đối với ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn,

    23

    quỹ tín dụng trung ương, quỹ tín dụng khu vực thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng có 1% (từ 1/9/1999). Động thái này của Ngân hàng trung ương cho thấy Chính phủ muốn thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu để tăng lượng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế, đặc biệt là tăng thêm vốn đầu tư cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước.

    1.2.Công cụ lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn

    Tái cấp vốn và lãi suất tái cấp vốn được Ngân hàng trung ương Việt Nam sử dụng làm công cụ điều tiết việc mở rộng hay thu hẹp tổng lượng tiền hay là tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Từ năm 1991, ở Việt Nam, nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cấp vốn mới được sử dụng như là hình thức cấp vốn lại. Và việc tái cấp vốn này cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thông qua cầm cố các chứng từ có giá như khế ước cho vay, tín phiếu kho bạc… với lãi suất tái cấp vốn là 100% trên lãi suất của các loại chứng từ này.

    Ngày 14/06/1999, Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ký quyết định số 358/QĐ-NHNN ban hành quy chế về nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo quyết định này nghiệp vụ chiết khấu là việc Ngân hàng

    24

    trung ương mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng, đã được các ngân hàng mua hoặc đấu thầu trên thị trường sơ cấp; còn nghiệp vụ tái chiết khấu là việc ngân hàng nhà nước thực hiện mua lại các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng, đã được các ngân hàng chiết khấu trên thị trường thứ cấp. Điểm mấu chốt của quyết định này là Ngân hàng nhà nước chỉ chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn là các tín phiếu kho bạc nhà nước được phát hành thông qua đấu thầu ngân hàng nhà nước hay còn gọi là tín phiếu ngân hàng nhà nước. Còn đối với các loại giấy tờ có giá khác thì sẽ tuỳ theo điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam sẽ quy định xem nó có phải là đối tượng để tái chiết khấu hay không. Quyết định này được coi là một trong những “viên gạch” đặt nền móng cho việc mở rộng hơn việc sử dụng công cụ này ở Việt Nam.

    Trong năm 1999, nghiệp vụ lãi suất tái chiết khấu đã chính thức được thực hiện ở Việt Nam với lãi suất cụ thể là 0.45%/tháng nhưng hiện nay tỉ lệ này đã giảm xuống chỉ còn 0.35%/tháng. Cũng trong năm 1999, lãi suất tái cấp vốn là 1.1%/tháng đã 3 lần được điều chỉnh với các lãi suất tương ứng là 0.85%/tháng, 0.7%/tháng, 0.5%/tháng. Việc giảm lãi suất tái cấp

    25

    vốn và tái chiết khấu là nhằm nới lỏng hơn sự can thiệp của Ngân hàng trung ương vào hoạt động của các ngân hàng thương mại để giúp cho việc huy động vốn trong nền kinh tế dễ dàng, thuận lợi hơn. Nhưng cũng có thể là Ngân hàng trung ương đã nhìn thấy trước diễn biến nền kinh tế Việt Nam trong năm 1999-2000 là tình trạng thiểu phát(6 tháng đầu năm 2000, tỉ lệ lạm phát bình quân có 0.1%) nên đã có sự điều chỉnh cho phù hợp.

    1.3.Công cụ thị trường mở

    Công cụ thị trường mở được coi là công cụ chiến lược điều chỉnh lưu thông tiền tệ hữu hiệu nhất trong nền kinh tế thị trường phát triển hoàn chỉnh. Ở nước ta cho đến nay, thị trường tài chính trong đó có thị trường chứng khoán chưa phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện như vậy, Ngân hàng nhà nước đã mạnh bạo kiến tạo môi trường cần thiết cho việc vận dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở bằng việc đưa vào hoạt động các nhánh của thị trường tiền tệ:

    • Cho đến nay, thị trường tiền gửi đã được cải thiện. Nhiều hình thức huy độngvốn mới được áp dụng để tạo ra nguồn vốn ngắn hạn cũng như

    trong dài hạn. Nhờ vốn huy động gia tăng không ngừng, hoạt động tín dụng trong nền kinh tế quốc dân cũng gia tăng mạnh mẽ, đáp ứng tích cực

    26

    nhu cầu vốn để tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

    • Thị trường nội tệ liên ngân hàng: khai trương từ cuối năm 1994, nhanh

    chóng trở thành trở thủ đắc lực thoả mãn nhu cầu vay mượn giữa các tổ chức tín dụng trước khi vay tái cấp vốn ở Ngân hàng nhà nước. Trên thị trường này, vai trò nổi bật thuộc về các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh hoạt động trên đất Việt Nam. Các ngân hàng này là những người cho vay lớn đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng như các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh tại Việt Nam.

    • Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đi vào hoạt động tháng 10 năm 1994 đang ngày càng được mở rộng, thu hút ngày càng nhiều các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ

    phần Việt Nam, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh tham gia. Nó đóng vai trò không thể thiếu trong việc xác định tỉ giá hối đoái giữa các tổ chức tín dụng thành viên. Đồng thời, nó cũng tạo ra các căn cứ chắc chắn để Ngân hàng nhà nước Việt Nam xác định tỉ giá hối đoái chuẩn (chính thức) hàng ngày. Nó còn được mở rộng và hoàn thiện thêm một bước để xoá bỏ việc cho vay ngoại tệ hiện nay.

    27

    • Thị trường tín phiếu kho bạc nhà nước chính thức đi vào hoạt động

    với chức năng cơ bản là thực hiện các cuộc bán đấu giá tín phiếu kho bạc và qua đấy thực hiện việc cho vay của ngân hàng đối với ngân sách nhà nước do thu chưa kịp để chi. Có thể nhận định rằng, đây là thị trường tiền thân của thị trường mở trong tương lai (thị trường mua bán , trao đổi các nguồn vốn ngoài ngân hàng).

    Khi đã có thị trường mở đúng nghĩa của nó, Ngân hàng nhà nước thông qua việc mua hay bán các chứng khoán có giá để tăng hoặc giảm mức cung tiền cho nền kinh tế.

    Thực tế đáng quan tâm tại Việt Nam là ngày 20/7/2000 trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay: nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế phát triển nhanh ,mạnh mẽ, liên tục trong thời gian qua và nhà nước muốn duy trì tình hình phát triển ổn định lâu dài của nền kinh tế.

    1.4.Thị trường chứng khoán Việt Nam

    Tuy thị trường chứng khoán chỉ là một bộ phận của công cụ thị trường mở nhưng xin được tách ra một mục riêng để phân tích thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam bởi thị trường chứng khoán là một vấn đề

    28

    kinh tế mới mẻ, đang thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam nói chung, tầng lớp sinh viên nói riêng. Đặc biệt là sự quan tâm theo dõi của sinh viên khối kinh tế (ĐHKTQD Hà Nội, ĐHTCKT Hà Nội, ĐHKT Tp Hồ Chí Minh …). Ý định thành lập thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã được nung nấu từ lâu nhưng tới giữa năm 2000 mới có điều kiện thành lập. Và việc thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh mới đang là những bước tập dượt cho kế hoạch thành lập Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam nhưng cũng là thể nghiệm cho hướng đi mới mẻ và đúng đắn của các nhà hoạch định nhằm đưa kinh tế Việt Nam từng bước đi lên theo kịp kinh tế khu vực, quốc tế và thế giới. Phiên giao dịch đầu tiên của trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK) diễn ra vào ngày 28/7/2000. Tính tới nay TTGDCK đã hoạt động được hơn 4 tháng. Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam mới có 5 loại cổ phiếu được niêm yết. Trong đó: các cổ phiếu chính thức từ khi thành lập TTGDCKTPHCM là 4 loại (của các công ty cổ phần SACOM, REE, TRANSIMEX, HAPACO) và loại cổ phiếu thứ 5 là của công ty cổ phần LAFOOCO đã được phép niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng chính thức sẽ giao dịch tại TTGDCK vào ngày 15/12/2000. Trong năm gần đây quá trình cổ phần hoá

    29

    các doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai trong toàn quốc và tính cho đến thời diểm hiện nay, tại Việt Nam có hơn 500 doanh nghiệp cổ phần. Những doanh nghiệp này chính là chủ thể “Người phát hành” chủ yếu phát hành chứng khoán (ngoài kho bạc nhà nước) trên thị trường chứng khoán sơ cấp. Vậy có phải điều kiện tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là quá cao? Theo thống kê của cục Doanh nghiệp trực thuộc bộ Tài chính thì trong số các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa ở Việt Nam thì có khoảng hơn 70 doanh nghiệp đã có đủ điều kiện tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng họ vẫn không niêm yết. Nguyên nhân chủ yếu là sự dè dặt của các doanh nghiệp cổ phần hoá muốn chờ đợi xem sự vận động của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay ra sao chứ chưa muốn “nhảy vào cuộc”. Cho nên số doanh nghiệp cổ phần niêm yết giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam đang dừng ở con số ít ỏi là 5 doanh nghiệp. Nói chung: do mới hình thành ở Việt Nam, hoạt động trên thị trường chứng khoán còn có nhiều bỡ ngỡ, rụt rè và chưa đáp ứng được mục tiêu tạo lập của thị trường chứng khoán là huy động được nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ quá trình CNH-HĐH. Nhưng kết quả đã và đang đạt được là điều đáng khích lệ, là nền móng cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai.

    30

    2.Một số giải pháp để giúp cho việc thực hiện các công cụ gián tiếp hiệu quả hơn.

    2.1.Vấn đề sử dụng công cụ gián tiếp của một số nước trên thế giới trong việc điều hành nền kinh tế.

    Tại các quốc gia sớm có kinh tế thị trường và kinh tế thị trường phát triển hiện nay, việc sử dụng công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ dẫ được quan tâm và thực hiện từ lâu.

    Công cụ dự trữ bắt buộc :

    Chế độ dự trữ bắt buộc chủ yếu thích hợp với cơ chế tài chính của các nước Anh, Mỹ, Đức nhằm kiểm soát một cách tổng quát khối lượng tiền tệ của các ngân hàng thương mại. Thông qua sử dụng công cụ này, Ngân hàng trung ương các nước này có thể chủ động điều hoà khối lượng cung ứng tiền trung tâm. Nhưng đáng chú ý lại là việc sử dụng dự trữ bắt buộc của Pháp. Công cụ dự trữ bắt buộc đã được Ngân hàng trung ương Pháp sử dụng chính thức từ 1971. Cũng như hiện nay, từ thời gian đó thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc đã được Ngân hàng trung ương Pháp tính dựa trên cơ sở số dư tiền gửi và số dư nợ trên các tại khoản cho vay. Ngân hàng trung ương Pháp đã sử dụng dự trữ bắt buộc nhằm

    31

    điều hoà những chủ trương mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền tệ và tín dụng của ngân hàng thương mại, qua đó tác động đến quỹ tiền mặt của các ngân hàng, tác động đến thu chi ngân sách và cán cân thanh toán quốc tế.

    Công cụ lãi suất tái chiết khấu:

    Tính chu kỳ của quá trình tái sản xuất tư bản trong những năm gần đây chứng tỏ rằng nguyên tắc “lãi suất tái chiết khấu mà cao sẽ kìm hãm thị trường tiền tệ, lãi suất này thấp sẽ kích thích thị trường tiền tệ phát triển” đã không còn tác dụng nữa. Do vậy, hiện nay, một số nước tư bản phát triển đang tiến hành chính sách tái chiết khấu với lãi suất cao và không cần kìm hãm lãi suất thị trường đang tăng lên trong điều kiện tín dụng đang có nhu cầu cao và thị trường phát triển.

    Ở Mỹ, lãi suất tái chiết khấu nói riêng và lãi suất chiết khấu nói chung đã từng được coi là công cụ hoạt động chủ yếu của Ngân hàng trung

    ương trong thế kỷ 19 cho đến những năm 30 của thế kỷ 20. Về mặt lịch sử, chức năng trước tiên của Ngân hàng trung ương Mỹ là sẵn sàng cung cấp các nguồn thanh toán một cách kịp thời và đầy đủ vào nền kinh tế bất cứ lúc nào thông qua hệ thống ngân hàng thương mại khi nền kinh tế có nguy cơ suy thoái do thiếu tiền vì lạm phát gây ra. Luật

    32

    dự trữ liên bang Mỹ đã nêu ra cơ chế chiết khấu từ những năm 1913 trong điều kiện chưa có hoạt động của thị trường mở và vào thời điểm đó công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ duy nhất của chính sách tiền tệ nước Mỹ. Thông qua công cụ này, mục tiêu chính của chính quyền Mỹ muốn ngăn ngừa việc tái diễn các cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách bơm tiền cho ngân hàng thương mại vào lúc cần thiết để giập tắt các làn sóng do hoảng loạn về mặt tâm lý đã ồ ạt kéo đến ngân hàng rút tiền ra. Tuy biện pháp này tương đối thành công lúc bấy giờ nhưng khi khủng hoảng tất cả các bộ phận trong nền kinh tế Mỹ vào những năm 1929-1933 thì công cụ này lại hoàn toàn mất tác dụng. Trong những năm 60-70, Ngân hàng trung ương Mỹ ít thay đổi lãi suất tái chiết khấu mà chỉ quy định mức lãi suất tái chiết khấu cơ bản đồng thời thay đổi dần công tác quản lý.

    2.2.Một số giải pháp đề nghị cho Ngân hàng trung ương trong công tác quản lý nền kinh tế có sử dụng các công cụ gián tiếp.

    Các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là những công cụ mà tác dụng của nó có được là nhờ cơ chế thị trường. Chính vì vậy, cơ chế thị trường là điều kiện tiên quyết tác động đến sự “tồn tại” của các

    33

    công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trên thực tế. Cơ chế thị trường ở đây không nói đến cơ chế thị trường đơn thuần và chỉ mang tính chất hình thức mà cơ chế thị trường xin đề cập là cơ chế thị trường hoàn chỉnh. Cơ chế thị trường thực sự, cơ chế thị trường hoàn chỉnh là cơ chế linh động cho phép mọi thành phần kinh tế có được sự tự do tương đối trong sản xuất kinh doanh và tránh sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào kinh tế. Nói về sự can thiệp của nhà nước cũng xin nói thêm rằng chỉ tránh sự can thiệp trực tiếp quá sâu còn vai trò “bàn tay hữu hình”của nhà nước (can thiệp gián tiếp) là vô cùng cần thiết để đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, an toàn, ổn định.

    Năm 1975, Việt Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước trải qua thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn 1976-1986, chúng ta xây dựng nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tập trung. Mô hình kinh tế này đã gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế làm ảnh hưởng bất lợi cho nền kinh tế quốc dân. Do vậy từ 1986, nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Và cũng chính bởi nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mới được chuyển đổi nên mặc dù chúng ta đã trải qua hơn 10 năm đất

    34

    nước đổi mới cũng là hơn 10 năm kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể thì vẫn xin khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa phải là nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, vẫn chưa có một cơ chế thị trường thực sự. Vậy nên chăng là cần có những điều chỉnh mang tính chất chiến lược cho kinh tế thị trường Việt Nam.

    Trong định hướng quốc gia 2000-2010, các nhà hoạch định chính sách cho thấy cơ bản là đã có những nới lỏng cho sự phát triển của kinh tế thị trường Việt Nam để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Các chính sách kinh tế quốc gia trong thời gian tới cần phải đạt tới những yêu cầu sau:

    Chính sách tín dụng:

    Đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, các thành phần và các vùng kinh tế.

    Chính sách lãi suất:

    Từng bước tự do hoá lãi suất (Ngân hàng trung ương chỉ không chế lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản, còn ngân hàng thương mại

    35

    tuỳ vào điều kiện của mình định ra mức lãi suất hợp lý, đảm bảo thu hút được vốn và kinh doanh có lãi).

    Chính sách quản lý ngoại hối và kinh doanh hối đoái:

    • Tăng cường quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia.
    • Thực hiện chế độ tỉ giá hối đoái linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước theo hướng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế và chủ động trong nhập khẩu.
    • Nhà nước cần có những biện pháp thích hợp để rút ngắn khoảng cách giữa thu và chi trong cấn cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế để cân bằng và bội thu cán cân.

    Chính sách đối với ngân sách:

    • Không phát hành tiền cho ngân sách chi tiêu nhưng trong điều kiện cần thiết Ngân hàng trung ương cho ngân sách vay ngắn hạn bằng cách mua tín phiếu kho bạc nhà nước ngắn hạn, còn khi nhà nước muốn vay dài hạn thị sẽ có thể vay qua thị trường chứng khoán dưới hình thức mua các loại trái phiếu, trái khoán.

    36

    • Những khoản vay nước ngoài để bù đắp chi tiêu ngân sách

    không được sử dụng cho chi thường xuyên mà chỉ để phát triển cơ sở hạ tầng.

    Tuy trên đây là mục tiêu kinh tế chiến lược nhưng tính cụ thể, tính thực tế đòi hỏi trong thời gian tới, về mặt sử dụng các công cụ gián tiếp trong tham gia điều tiết nền kinh tế vẫn cần có những biện pháp hoàn thiện các công cụ này. Xin đưa ra một số giải pháp đề nghị như sau:

    Đối với công cụ dự trữ bắt buộc:

    Cần giữ và tiếp tục hạ tỉ lệ dự trữ bắt buộc để nới lỏng hơn nữa cho các ngân hàng thương mại có thể tăng cường khả năng cung vốn cho nền kinh tế quốc dân. Vì trong thời gian tới vốn cho sản xuất kinh doanh và vốn đầu tư cho công cuộc CNH-HĐH đất nước vẫn được coi là điều kiện hàng đầu.

    Đối với công cụ lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn:

    • Tạo điều kiện cho Ngân hàng nhà nước kiểm soát được toàn bộ các kênh tín dụng chính thức trong nền kinh tế quốc dân.

    37

    • Điều chỉnh hệ thống lãi suất cho vay của toàn bộ nền kinh tế quốc dân để công cụ lãi suất tái cấp vốn tác động lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng.
    • Tổ chức việc sử dụng các thương phiếu trong thực tiễn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thực tế, tại Việt Nam các doanh nghiệp chủ yếu vẫn thanh toán bằng tiền mặt. Cho nên, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh việc dùng thương phiếu trong quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp. Đây chính là điều kiện cần thiết cho việc triển khai rộng rãi các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu.

    Đối với công cụ thị trường mở:

    • Phải có cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt phát triển. Như trên đâ đề cập, để tạo lập cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt bước đầu phải mở rộng việc sử dụng rộng rãi thương phiếu trong thanh toán giữa các doanh nghiệp. Nhưng việc sử dụng thương phiếu cũng như các loại chứng từ có giá thì cần có thêm điều kiện môi trường pháp lý đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho các chủ thể.

    38

    • Tạo được một thị trường tài chính linh hoạt, ổn định để cho thị

    trường mở thực sự phát huy tác dụng.

    Đó là các giải pháp đề nghị, cũng như tất cả điều chỉnh theo thông lệ nếu giải pháp được sử dụng thì nhà nước cần phải ban hành dưới văn bản luật để tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp này chính xác và phù hợp với luật định. Và cũng tạo điều kiện cho nhà nước kiểm tra, theo dõi, đánh giá được việc áp dụng những biện pháp này.

    Tài liệu tham khảo

    1. S.Mishkin. “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”. Viện khoa học và kỹ thuật. 1995.
    2. Vũ Văn Hoá. ”Lý thuyết tiền tệ”. NXB Tài chính. Hà Nội. 1998.
    1. Trương Xuân Lệ. ”Tiếp cận các học thuyết và chính sách tiền tệ trong nên kinh tế thị trường” NXB Giáo dục. 1993.

    39

    1. Nguyễn Bá Nha. “Cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế thị trường”.
    1. Lê Văn Tư. “Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng”. NXB Thống kê. 1997.
    1. Tạp chí Ngân hàng số 16 năm 1998; số 1,2,5,8,9 năm 2000.
    1. Thời báo Ngân hàng số 76 năm 2000.
    1. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ số 12 năm 1999.
    1. Tạp chí Tài chính số 2 năm 2000.

    40


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BA%A9y-m%E1%BA%A1nh-ti%C3%AAu-th%E1%BB%A5-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-TNHH-%C3%9AC-%C4%90%E1%BA%A0I-L%E1%BB%A2I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    LỜI NÓI ĐẦU

    Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra gay gắt hơn bao giờ hết. Đối với một doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô vừa và nhỏ thì việc duy trì hoạt động và kinh doanh có lãi là vô cùng khó khăn.

    Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả là do không tìm được đầu ra hay còn hạn chế trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Yếu kém trong việc tiêu thụ sản phẩm không những ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn làm gián đoạn quá trình lưu thông hàng hoá, ảnh hưởng tới việc sản xuất hàng hoá, kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước.

    Trong bối cạnh tranh gay gắt đó, công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI  cũng gặp rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển. Tuy hàng năm doanh thu của công ty vẫn tăng với tỷ lệ khá nhưng vẫn còn một số hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm. Đây là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh và là khâu giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, giúp công ty có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường.

    Vậy làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm? Đây là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản trị công ty cũng như sinh viên khoa Quản trị kinh doanh. Do đó trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI em đã chọn đề tài:

    Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI“  làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp.

    Em hy vọng với đề tài này sẽ đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc thúc đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty và giải đáp thắc mắc bấy lâu của mình.

    Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm có 3 chương:

    Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

    Chương II: Khảo sát và phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Chương III: Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    CHƯƠNG  I

            NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ

    SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG  NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    I.  VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP.

    1/ Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm.

    Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

    * Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu doanh nghiệp cần thoả mãn, xác định mặt hàng kinh doanh  và tổ chức sản xuất (DNSX) hoặc tổ chức cung ứng hàng hóa (DNTM) và cuối cùng là việc thực hiện các nghiệp vụ bán hàng nhằm đạt mục đích cao nhất.

    Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hóa doanh nghiệp không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong doanh nghiệp. Phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn cho nhau mà phải thực hiện một cách tuần tự nhau theo chu trình của nó. Doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất trước rồi mới đi nghiên cứu nhu cầu thị trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, cũng có nghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp phá sản.

    * Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng đồng thời thu tiền về.

         Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thông qua hoạt động bán hàng của doanh nghiệp nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền thực hiện vòng chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội.

    Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    2.  Vai trò của tiêu thụ sản phẩm.

    2.1. Đối với doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì nhờ tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới diễn ra thường xuyên liên tục, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp doanh nghiệp bù đắp dược những chi phí, có lợi nhuận đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng.

    Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là điều kiện để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, đặc biệt tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Bởi khi khối lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì chi phí bình quân của một đơn vị sản phẩm giảm từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Tiêu thụ hàng hóa làm tăng uy tín của doanh nghiệp cũng như làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vì khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp thể hiện mức bán ra, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ càng tăng thì thị phần của doanh nghiệp càng cao.

    Thông qua tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao do họ dự đoán được nhu cầu của xã hội trong thời gian tới.

    2.2. Đối với xã hội.

    Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế là một thể thống nhất với những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trôi trảy tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội.

    3. Thị trường và chức năng chủ yếu của thị trường tiêu thụ hóa.

    3.1. Khái niệm về thị trường tiêu thụ hàng hóa.

    Thị trường qua cách hiểu cổ điển là nơi diễn ra các quá trình trao đổi buôn bán.

    Theo Marketing thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.

    Theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc vào số người có cùng nhu cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập lượng tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mô thị trường không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.

    Theo khái niệm mà các nhà kinh doanh thường dùng thì thị trường chứa tổng cung, tổng cầu về một loại hàng hóa hay một nhóm hàng hóa nào đó. Trên thị trường luôn luôn diễn ra các hoạt động mua bán và các quan hệ hàng hóa, tiền tệ.

    Tái sản xuất hàng hóa bao gồm các khâu sản xuất phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hóa, thị trường chỉ mất đi khi hàng hóa không còn. Thị trường là một phạm trù riêng của sản xuất  hàng hóa, hoạt động cơ bản của thị trường được biểu hiện qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ mật thiết đó là nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, cung ứng hàng hóa và dịch vụ và giá cả hàng hóa. Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua người bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc quyết định có nên mua hay không do cung cầu quyết định. Từ đó ta thấy rằng thị trường là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữ hai khâu: sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

    3.2. Các chức năng chủ yếu của thị trường tiêu thụ hàng hóa.

    Thị trường được coi là phạm trù trung tâm vì qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả. Thị trường tồn tại khách quan, mỗi doanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết nhu cầu của thi trường và xã hội cũng như thế mạnh của mình trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa để có chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường và xã hội. Thị trường có vai trò to lớn như vậy vì do nó có những chức năng chủ yếu sau.

    3.2.1. Chức năng thừa nhận.

    Chức năng này thể hiện hàng hóa của doanh nghiệp có bán được không, nếu bán được có nghĩa là thị trường chấp nhận, có nghĩa là người mua chấp nhận và quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện. Thị trường thừa nhận giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa, sự phân phối và phân phối lại các nguồn lực nói nên sự thừa nhận của thị trường.

    3.2.2. Chức năng thực hiện.

    Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua và bán hàng hóa. Người bán cần bán giá trị của hàng hóa còn người mua cần lại cần giá trị sử dụng của hàng hóa. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hóa hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.

    3.2.3. Chức năng điều tiết và kích thích.

    Chức năng này được thể hiện ở chỗ nó cho phép người sản xuất bằng nghệ thuật kinh doanh của mình tìm được nơi tiêu thụ hàng hóa với hiệu quả hay lợi nhuận cao và cho phép người tiêu dùng mua được những hàng hóa có lợi cho mình.

    3.2.4. Chức năng thông tin.

    Chức năng này chỉ cho người sản xuất biết nên sản xuất hàng hóa nào, khối lượng bao nhiêu để đưa vào thị trường ở thời điểm nào là thích hợp nhất, chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua những hàng hóa nào ở thời điểm nào có lợi cho mình. Chức năng này có được do trên thị trường chứa đựng thông tin về: Tổng số cung, tổng số cầu đối với từng loại hàng hóa, chất lượng sản phẩm hàng hóa, các điều kiện tìm kiếm hàng hóa.

    II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP.

    Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập và phải tự mình giải quyết ba vấn đề trung tâm cơ bản của tổ chức kinh tế. Lợi nhuận là mục tiêu sống còn của doanh nghiệp. Muốn có lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa, sản phẩm của doanh tnghiệp phải phù hợp với nhu cầu của thị trường. Vì vậy để tồn tại và phát triển lâu dài thì mỗi doanh nghiệp cần xác định được chiến lược tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình.

    Chiến lược tiêu thụ là định hướng hoạt động có mục đích của doanh nghiệp và hệ thống các giảI pháp, biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong tiêu thụ. Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ thường bao gồm: mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín của doanh nghiệp.

    Chiến lược tiêu thụ của một doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu khách hàng từ đó chủ động đối phó với mọi biến động của thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường mới, kế hoạch hóa về khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận chọn kênh tiêu thụ và các đối tượng khách hàng. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giữ vai trò quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh và bao gồm các bước sau:

    1. Nghiên cứu thị trường.

    Để thành công trên thương trường, đòi hỏi bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện công tác nghiên cứu thăm dó và xâm nhập thị trường của doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu mà doanh nghiệp cần thoả mãn cũng như khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tìm kiếm các giải pháp nhằm thích ứng với đòi hỏi của thị trường, đây là công việc hết sức cần thiết khi sản xuất kinh doanh một hàng hóa nào đó.

    Trước hết nghiên cứu thị trường là việc xác định nhu cầu thị trường, xác định những sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp cần sản xuất kinh doanh để mang lại hiệu quả cao nhất. Nghiên cứu thị trường là bước khởi đầu quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào, nó quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp xác định chính xác nhu cầu thị trường thì sẽ có những quyết định sản xuất kinh doanh hợp lí mang lại hiệu quả kinh tế cao, vì khi đó sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp được người tiêu dùng chấp nhận. Ngược lại, khi sản xuất kinh doanh một sản phẩm hàng hóa không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, thì không thể tiêu thụ được doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn và có thể thất bại nặng nề. Điều này cũng có nghĩa là ‘‘Chúng ta phải bán những thứ mà thị trường cần, chứ không phải bán những thứ mà chúng ta có’’.

    Nội dung của nghiên cứu thị trường bao gồm:

    –    Nghiên cứu các nhân tố môi trường để phân tích được các ràng buộc ngoài tầm kiểm soát của công ty cũng như những thời cơ có thể phát sinh.

    –    Thu thập thông tin khái quát về qui mô thị trường chủ yếu qua các tài liệu thống kê về tiêu thụ và bán hàng giữa các không gian thị trường.

    –    Nghiên cứu tổng quan kết cấu địa lý, mặt hàng, phân bố dân cư và sức mua, vị trí và sức hút, cơ cấu thị trường người bán hiện hữu của thị trường.

    –    Nghiên cứu động thái và xu thế vận động của thị trường ngành, nhóm hàng, lĩnh vực kinh doanh.

    Từ những kết quả phân tích các nội dung trên, doanh nghiệp có đánh giá tiềm năng thị trường tổng thể, đo lường thị phần và tập khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải chú ý tới việc nghiên cứu khách hàng tiềm năng. Nghiên cứu tập tính và thói quen, cấu trúc logic lựa chọn của khách hàng và nghiên cứu động cơ mua sắm và hành vi ứng xử của khách hàng tiềm năng.

    2. Chiến lược sản phẩm hàng hóa.

    2.1. Khái niệm.

    Chiến lược sản phẩm là phương thức kinh doanh hiệu quả, dựa trên cơ sở bảo đảm thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.2. Vai trò của chiến lược sản phẩm.

    Chiến lược sản phẩm hàng hóa có vai trò quan trọng được coi là xương sống của chiến lược tiêu thụ. Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chiến lược sản phẩm hàng hóa càng trở nên quan trọng. Chiến lược sản phẩm không những chỉ bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng mà còn gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm.

      2.3. Nội dung của chiến lược tiêu thụ sản phẩm .

    + Chiến lược thiết lập chủng loại giữ vị trí vốn có của sản phẩm trên thị trường bằng việc bảo vệ uy tín mà doanh nghiệp đạt được. Chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức được các sản phẩm hiện có tương ứng với khúc thị trường nào và sản phẩm có phù hợp với sự đòi hỏi của khúc thị trường đó hay không. Nếu đáp ứng được thiết lập chủng loại đó, giữ vị trí vốn có của sản phẩm đó trên khúc thị trường hiên có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào có liên quan đến sản phẩm.

    + Chiến lược hoàn thiện sản phẩm, cải tiến các thông số của chất lượng sản phẩm theo định kỳ, chiến lược này được thực hiện theo các phương án sau.

    • Cải tiến về chất lượng nhằm làm tăng độ tin cậy, độ bền và các tính năng khác của sản phẩm.
    • Cải tiến kiểu dáng sản phẩm bằng cách thay đổi mầu sắc, thiết kế bao bì, kết cấu của sản phẩm.
    • Cải tiến các tính năng của sản phẩm, bổ sung thêm tính năng sử dụng của sản phẩm.

    + Chiến lược phát triển sản phẩm mới: phát triển sản phẩm mới ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Yêu cầu phải nghiên cứu sản phẩm mới xuất phát từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật và cạnh tranh trên thị trường có xu hướng ngả sang cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm hiện có thì mới giành được lợi thế trong cạnh tranh. Mặt khác, mỗi loại sản phẩm có chu kì sống nhất định, khi sản phẩm cũ đã bước sang giai đoạn suy thoái thì doanh nghiệp phải có sản phẩm mới thay thế nhằm đản bảo tính liên tục của qua trình sản xuất kinh doanh.

    3. Chiến lược giá cả.

       3.1. Khái niệm.

    Chiến lược giá là đưa ra các loại giá cho một loại sản phẩm hàng hóa, tương ứng với thị trường, tương ứng với từng thời kỳ để bán được nhiều nhất và lãi cao nhất.

    Mức giá doanh nghiệp đưa ra phải đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận nhưng lại phù hợp với người tiêu dùng và người tiêu dùng chấp nhận được. Mức giá đó sẽ thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm vì thế doanh nghiệp cần nhận thức một cách chính xác để có thay đổi hợp lí nhất. 

    3.2. Vai trò của chiến lược giá.

    Mặc dù trên thi trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá đã nhường vị trí cho cạnh tranh bằng chất lượng và dịch vụ nhưng giá cả vẫn có vai trò quan trọng nhất định. Giá cả vẫn còn quan trọng trong việc xác định lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua. Nếu chiến lược sản phẩm định hướng cho việc sản xuất thì chiến lược giá cả định hướng cho việc tiêu thụ.

    Chiến lược giá có mối quan hệ mật thiết với chiến lược sản phẩm hàng hóa. Chiến lược sản phẩm dù rất quan trọng và đã được xây dựng một cách chu đáo sẽ không đem lại hiêụ quả cao nếu không có chiến lược giá hoặc chiến lược giá mang nhiều thiếu sót.

    Các doanh nghiệp mới thành lập hay thâm nhập thị trường mới thường áp dụng chiến lược giá cả để thu hút khách hàng về phía mình để chiếm lĩnh một phần thị trường. Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập dân cư còn thấp, yêu cầu vè chất lượng sản phẩm chưa cao thì cạnh tranh bằng chiến lược giá vẫn còn là vũ khí lợi hại. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng vào việc cạnh tranh bằng giá vì nó có thể phản tác dụng gây tổn hại cho doanh nghiệp.

      3.3. Phân loại chiến lược giá.

    Doanh nghiệp có thể lựa chọn các chiến lược giá khác nhau để thực hiện mục tiêu của mình.

    • Chiến lược ổn định giá: là chiến duy trì bằng được mức giá hiện đang bán. chiến lược này áp dụng khi giá bán đã đáp ứng được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu của doanh nghiệp.
    • Chiến lược tăng giá: là chiến lược đưa giá lên cao hơn các mức giá đang bán của doanh nghiệp. Chiến lược này được áp dụng khi hàng hóa của doanh nghiệp đang được ưa chuộng về chất lượng kiểu dáng và các dịch vụ bán hàng của doanh nghiệp.
    • Chiến lược giảm giá: là chiến lược hạ thấp các mức giá đang bán của doanh nghiệp. Chiến lược này được áp dụng khi xuất hiện dấu hiệu giảm cầu hay có sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh.

     

    3.4. Nội dung của chiến lược giá.

    3.4.1. Căn cứ vào mục tiêu của định giá có thể sử dụng hai chiến lược sau:

    Chiến lược giá hướng vào doanh nghiệp: có nghĩa là hướng vào mục tiêu nội tại của doanh nghiệp, vào chi phí và lợi nhuận.

    Chiến lược giá hướng ra thị trường : chiến lược này dựa trên 2 yếu tố quan trọng tiềm năng thị trường về nhu cầu, sự giãn nở nhu cầu cạnh tranh, về giá sản phẩm hàng hóa cạnh tranh, so sánh các chi phí dịch vụ của các doanh nghiệp, lấy giá thị trường làm chuẩn để định giá hướng ra thị trường.

    3.4.2.  Philip Kotler đã đưa ra các chiến lược hình thành giá như sau:

    Xác định giá cho hàng hóa mới bao gồm xác định giá cho sản phẩm mới thực sự thì có thể chọn hoặc là chiến lược “Hốt phần ngon” hoặc là chiến lược bám chắc thị trường.

    Chiến lược “hốt phần ngon’’: là chiến lược định giá cao do tạo ra sản phẩm mới được cấp bằng sáng chế.

    Chiến lược bám chắc thị trường: là chiến lược định giá thấp cho sản phẩm mới  nhằm thu nhiều người mua và giành được thị phần.

    Định giá theo nguyên tắc địa lý là chiến lược định giá khác nhau cho người tiêu dùng ở những vùng địa lý khác nhau.

    Xác định giá có chiết khấu bù trừ để thưởng cho người tiêu dùng vì những hành động nhất định như thanh toán sớm các hoá đơn, mua một khối lượng lớn hàng hóa hay mua trái mùa vụ.

    Xác định giá khuyến khích tiêu thụ trong những hoàn cảnh nhất định, các công ty, tạm thời định cho sản phẩm của mình những giá thấp hơn giá ghi trong bảng, và đoi khi thậm chí còn thấp hơn cả giá thành.

    4. Chiến lược phân phối.

     4.1. Khái niệm.

    Chiến lược phân phối sản phẩm dịch vụ là phương hướng thể hiện cách mà doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàngcủa mình trên thị trường lựa chọn.

      

    4.2. Vai trò của chiến lược phân phối.

    Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Mỗi chiến lược phân phối hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hóa nhanh chóng.

    Chiến lược phân phối có liên hệ chặt chẽ với chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả, một mặt nó chịu ảnh hưởng của chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả. Nhưng mặt khác nó cũng tác động trở lại đối với việc xây dựng và triển khai các chiến lược trên.    

    4.3. Phân loại chiến lược phân phối.

    Chiến lược phân phối có thể  được phân thành nhiều loại khác nhau:

    * Căn cứ vào sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng

    Chiến lược phân phối trực tiếp: là chiến lược phân phối mà người sản xuất bán thắng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua bất cứ một khâu trung gian nào. Chiến lược này làm cho người sản xuất kinh doanh biết rõ nhu cầu của thị trường, tạo cơ hội thuận lợi cho người sản xuất nâng cao uy tín và ứng phó kịp thời sự thay đổi có thể có của thị trường, tuy nhiên nó làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa chậm lại.

      Chiến lược phân phối gián tiếp: là chiến lược được tiến hành thông qua một số khâu trung gian.

    * Căn cứ vào hình thức bán hàng:

     Chiến lược phân phối theo hình thức bán lẻ: là chiến lược phân phối hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Chiến lược này do người sản xuất hoặc người đại lý bán lẻ thực hiện.

    Chiến lược phân phối theo hình thức bán buôn: là chiến lược phân phối hàng hóa dịch vụ cho người mua để bán lại.

      4.4. Nội dung của chiến lược phân phối.

    Xác định mục tiêu của chiến lược phân phối: chiến lược phân phối có nhiều mục tiêu khác nhau nhưng có bốn mục tiêu chính là; bảo đảm phân phối nhanh chóng; tiêu thụ được khối lượng lớn sản phẩm dịch vụ;đảm bảo chất lượng hàng hóa; chi phí thấp. Tùy thuộc vào mục tiêu tổng quát trong chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những nục tiêu chủ yếu là cơ sở xây dựng chiến lược phân phối.

           Lựa chọn căn cứ xây dựng chiến lược phân phối:

    Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa có thể chia thành ba nhóm: những hàng hóa khó bảo quản rễ hư hỏng đòi hỏi phải tiếp cận thị trường trực tiếp; những hàng hóa đơn chiếc; những hàng hóa có kỹ thuật đặc biệt cần phả bán trực tiếp; những hàng hóa muốn bán với khối lượng lớn phải qua các khâu trung gian.

    Căn cứ vào đặc điểm khách hàng: khách hàng đông hay lẻ tẻ, tập chung hay phân tán, mức độ ổn định trong tiêu dùng.

    Xác định kênh phân phối: nội dung quan trọng của chiến lược phân phối là phải chọn kênh phân phối phù hợp với đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm khách hàng, nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu của chiến lược phân phối.

    5. Chiến lược giao tiếp khuếch trương.

    Chiến lược giao tiếp khuếch trương là chiến lược sử dụng kỹ thuật yểm trợ bán hàng nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động tiêu thụ. Trong nền kinh tế chỉ huy, người sản xuất không cần quan tâm xây dựng chiến lược giao tiếp khuếch trương, bởi lẽ họ là người giao nộp chứ không phải người bán. Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của người bán là lợi nhuận, do vậy phải thu hút khách hàng, thực hiện các hoạt động yểm trợ bán hàng. Vì vậy, vai trò của chiến lược giao tiếp khuếch trương trở nên cực kỳ quan trọng trong chiến lược tiêu thụ. Chiến lược giao tiếp khuếch trương là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối.

           Chiến lược giao tiếp khuếch trương bào gồm những chiến lược sau:

    Chiến lược quảng cáo: là chiến lược sử dụng các phượng tiện thông tin để truyền tin về sản phẩm hàng hóa hoặc cho người trung gian, hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

    Chiến lược xúc tiến bán hàng : là chiến lược sử dụng những kỹ thuật đặc thù nhằm gây ra một sự gia tăng nhanh chóng  nhưng tạm thời trong doanh số bán bằng việc cung cấp một lợi ích ngoại lệ cho người mua. Xúc tiến bao gồm những kỹ thuật như; bán hàng có thưởng, khuyến mại, giảm giá tức thì, giảm giá nhân ngày lễ, khai trương…

    Chiến lược yểm trợ bán hàng: là chiến lược hoạt động của người bán hàng nhằm gắn bó chặt chẽ với người mua hoặc gắn những ngưoừi sản xuất kinh doanh với nhau thông qua việc sử dụng hoạt động của hiệp hội kinh doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, hội nghị khách hàng, hội chợ…

    III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP.

    1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.

      1.1. Giá cả hàng hóa.

    Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu tác động tới hoạt động tiêu thụ – Giá cả hàng hóa có thể kích thích hay hạn chế cung cầu trên thị trường và do đó ảnh hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ  thu hút được khách hàng đảm bảo khả năng tiêu thụ thu được lợi nhuận cao nhất hay tránh được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Tuỳ từng môi trường, từng đoạn thị trường mà các doanh nghiệp nên đặt giá cao hay thấp để có thể thu hút được nhiều khách hàng, và do đó sẽ bán được nhiều hàng hóa, tăng doanh số bán hàng cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa giá cả phải được điều chỉnh linh hoạt trong từng giai đoạn kinh doanh, từng thời kỳ phát triển hay chu kỳ kinh doanh để nhằm thu hút khách hàng và kích thích sự tiêu dùng của họ, làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    Giá cả ảnh hưởng mạnh tới hoạt động tiêu thụ do vậy nó cũng được sử dụng như một vũ khí trong cạnh tranh nhất là trong đIều kiện thu nhập của người dân còn thấp. Tuy nhiên trong cạnh tranh nếu lạm dụng vũ khí gía cả nhiều trường hợp “ gậy ông sẽ đập lưng ông” không những không thúc đẩy được tiêu thụ mà còn bị thiệt hại. Do đó phải hết sức thận trọng trong việc cạnh tranh bằng giá, việc định hướng, xây dựng kế hoạch đúng đắn về giá cả là một đIều kiện quan trọng cho việc tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp hiện nay.

    1.2. Chất lượng sản phẩm

    Khi nói đến chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói đến những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội.

    Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả năng hàng hóa thoả mãn nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng “chiến thắng vững chắc”. Đây cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng và tạo dựng, giữ gìn chữ tín tốt nhất. Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định, các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng về mình. Khi khách hàng biết đến chất lượng sản phảm hàng hóa của doanh nghiệp và tin vào chất lượng thì họ sẽ mua hàng của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng duy trì được thị trường truyền thống mà còn mở rộng được  thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

    Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài yếu tố giá cả doanh nghiệp phải chú trọng tới yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế cững chắc của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    1.3. Cơ cấu mặt hàng.

    Cơ cấu mặt hàng có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp bởi vì nhu cầu tiêu dùng trên thị rất đa dạng, phong phú, như vậy để đáp ứng nhu cầu hơn nữa và tăng tốc độ tiêu thụ của đoanh nghiệp cần có cơ cấu mặt hàng hợp lí, đủ chủng loại. Hơn nữa, một cơ cấu mặt hàng hợp lí sẽ dễ dàng đáp ứng sự thay đổi nhanh của nhu cầu thị trường và giảm rủi ro cho doanh nghiệp.

    1.4. Các biện pháp quảng cáo.

    Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay quảng cáo đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Quảng cáo nhằm giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.

    Do quảng cáo là rất tốn kém vì thế để đảm bảo quảng cáo có hiệu quả cần thuê công ty quảng cáo để soạn thảo chương trình quảng cáo, thuê chuyên gia phân tích, kích thích tiêu thụ để xây dựng các chương trình quảng cáo, khuyến mãi để tạo hình ảnh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể quảng cáo trên báo chí, truyền hình, truyền thanh dùng thư chào hàng .v.v  để quảng cáo sản phẩm của mình cho phù hợp nhất.

    Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp nhờ quảng cáo tốt đã tăng nhanh doanh số bán và có những doanh nghiệp chi rất nhiều tiền cho quảng cáo nhưng nội dung quảng cáo không hợp lí dẫn đến tình trạng người tiêu dùng không những không mua sản phẩm mà họ còn phản đối quyết liệt. Vì vậy khi xây dựng chương trình quảng cáo doanh nghiệp phải hết sức thận trọng để hoạt động quảng cáo thúc đẩy nhanh mức tiêu thụ của doanh nghiệp.

    1.5. Mạng kênh phân phối và dịch vụ sau bán hàng.

    Tổ chức tốt kênh phân phối và dịch vụ sau bán sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cuả các doanh nghiệp, kênh phân phối bao gồm mạng lưới bán buôn, bán lẻ, đại lý được tổ chức một cách hợp lý khoa học sẽ chiếm lĩnh được không gian thị trường, tạo điều kiện thuận cho người tiêu dùng và kích thích hơn nữa nhu cầu của họ. Doanh nghiệp thường sử dụng ba loại kênh tiêu thụ sau:

         Kênh cực ngắn: đây là kênh phân phối trực tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng không qua trung gian, doanh nghiệp tự tổ chức tiêu thụ qua các cửa hàng bán lẻ của mình.

        Kênh ngắn: là kênh trong đó doanh nghiệp sử dụng một người trung gian là người bán lẻ.

       Kênh dài: là kênh có từ hai người trung gian trở nên trong phân phối.

    Thiết lập mạng lưới kênh tiêu thụ cần căn cứ vào chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp đang theo đuổi, vào nguồn lực của doanh nghiệp, vào đặc tính của khách hàng, thói quen tiêu dùng và các kênh của đối thủ cạnh tranh.

    Để làm tốt việc phân phối doanh nghiệp cần đảm bảo văn minh lịch sự, đúng hẹn trong giao dịch, tạo mọi điều kiện có lợi nhất cho khách hàng tới mua hàng. hơn nữa phải linh hoạt mềm dẻo trong phương thức thanh toán, giao nhận hàng hóa đảm bảo hai bên cùng có lợi tránh tình trạng gây khó khăn cho khách hàng. ngoài ra những dịch vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm hàng hóa, làm cho khách hàng có niềm tin và yên tâm hơn khi quyết định tiêu dùng sảncủa doanh nghiệp và do vậy hàng hóa bán sẽ ổn định và nhiều hơn làm tăng việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

     2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.

    2.1. Các yếu tố kinh tế.

        Thu nhập bình quân đầu người (GNP): Tác động lớn tới nhu cầu tiêu dùng, GNP càng tăng cao sẽ kéo theo sự tăng lên về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tăng lên về chủng loại, chất lượng, thị hiếu.v.v.. Làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp tăng lên.

    Yêú tố lạm phát: Lạm phát tăng làm tăng giá cả của yếu tố đầu vào, làm tăng giá bán hạn chế mức tiêu thụ.

    Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh doanh tăng dẫn đến giá bán tăng và tiêu thụ giảm.

    Chính sách thuế: Thuế tăng làm giá thành hàng hóa tăng, tiêu thụ giảm.

     

    2.2. Số lượng các đối thủ cạnh tranh.

    Kinh doanh trên thi trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp với nhau. Tốc độ tiêu thụ hàng hóa một phần phụ thuộc vào quy mô, số lượng đối thủ cạnh tranh. Nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Ngoàira tốc độ tiêu thụ còn phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ thị phần của doanh nghiểp trên thị trường.

    2.3. Thị hiếu của người tiêu dùng.

    Sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có như vậy mới thoả mãn được nhu cầu của khách hàng mới mong tăng tốc độ tiêu thụ. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới lượng cầu trên thị trường. Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn nếu hàng hóa hợp với thị hiếu và thiết yếu đối với họ.

    IV. SỰ  CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP.

    1.Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo tăng doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Đây là yêu cầu biểu hiện mặt kinh tế và biểu hiện mặt lượng kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp. Lợi nhuận cao là mục tiêu trực tiếp của doanh nghiệp, giưa tăng doanh số và tăng lợi nhuận không phải luôn luôn đồng hướng . Nói chung tốc độ tăng của lợi nhuận và doanh số không luôn luôn cùng tỷ lệ. Thật vậy doanh số không chỉ phụ thuộc vào khối lượng tiêu thụ mà còn phụ thuộc vào chính sách bán hàng và giá thành sản phẩm hàng hóa. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của thị trường, cái mà doanh nghiệp cần, quan tâm hàng đầu không phải là mức lợi nhuận tối đa trong một đơn vị sản phẩm mà là tổng lợi nhuận. Mặt khác doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm hàng hóa nó tiêu thụ, vào các chính sách kinh tế vỉ mô của nhà nước.

    2. Tiêu thụ hàng hóa đảm bảo phát triển thị phần của doanh nghiệp.

    Tiêu thụ hàng hóa nhằm mở rộng thị trường, khám phá những thị trường mới, thị trường tiềm năng. Mức độ thực hiện yêu cầu này còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó tập trung nhất là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thật vậy, để tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa trên thị trường, mở rộng thị trường cho mình và loại bỏ đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp cần phải có những lợi thế so với đối thủ cạnh tranh của mình: Lợi thế chi phí, lợi thế kinh nghiệm, lợi thế về quy mô, mẫu mã , kiểu dáng, giá bán. Khi doanh nghiệp đã có những lợi thế đó thì cần phải phát huy một cách tối đa trước đối thủ cạnh tranh và không ngừng hạn chế hay đi trước lợi thế cạnh tranh của đối thủ, có như vậy mới ngày càng tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa cuả doanh nghiệp. Từ đó làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thi trường.

    3. Tiêu thụ hàng hóa đảm bảo tăng tài sản vô hình cho doanh nghiệp.

    Tài sản vô hình của doanh nghiệp ở đây tập trung vào việc làm tăng uy tín, tăng niềm tin đích thực của người tiêu dùng khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở nhiều yếu tố trong đó biểu hiện trực tiếp ở hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp và phù hợp của sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra với yêu cầu của khách hàng: gồm mạng lưới bán, chất lượng sản phẩm, thái độ bán hàng, cách thức bán hàng, trách nhiệm đến đâu khi hàng hóa đã được bán. Khách hàng sẽ có thiện cảm hay ác cảm đối với sản phẩm của doanh nghiệp, mỗi khi nhắc tới doanh nghiệp. Xét về lâu dài, chính nhờ xây dựng phát triển tài sản vô hình đã tạo nên cơ sở nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    4. Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo dịch vụ đối với khách hàng.

    Khi tiêu thụ song hàng hóa, không có nghĩa doanh nghiệp hết trách nhiệm đối với hàng hóa đó. Việc tiêu thụ hàng hóa kế tiếp có thuận lợi hay không phụ thuộc vào việc thực hiện các dịch vụ đối với khách hàng đến đâu. doanh nghiệp phục vụ khách hàng đảm bảo về chất lượng hàng hóa chủng loại, số lượng, phong cách phục vụ và ngày càng đáp ứng tốt hơn cho những yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    Khi hàng hóa được tiêu thụ nhiều có nghĩa là doanh nghiệp đã thực hiện tốt dịch vụ đối với khách hàng, tạo niềm tin đối với khách

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II

    PHÂN TÍCH

    TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI

    CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI  LỢI

    I. QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI được thành lập theo quyết định               số 2897/TL – DN do uỷ ban thành phố Hà Nội cấp. Đăng ký kinh doanh          số 44410 ngày 15/1/2000 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI có tên gọi tắt là: UDL– CO – LTD. Có trụ sở đặt tại 72 NGÔ QUYỀN– HÀ NỘI.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI do hai thành viên sáng lập lên. Đây là một Công ty vừa và nhỏ chuyên sản xuất các mặt hàng polime (chủ yếu là bộ đồ đi mưa) đồng thời kinh doanh các mặt hàng khác như hàng điện máy, tư liệu tiêu dùng và một số hàng hoá khác.

    Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty cũng trải qua những khó khăn bởi sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường.Tuy nhiên do sự năng động của ban lãnh đạo đã đưa Công ty phát triển đúng hướng, phù hợp với năng lực và sực mạnh của mình. Đặc biệt lãnh đạo, công nhân viên luôn gắn bó sát cánh bên nhau, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn vươn lên phía trước.

    Năm 2000 do mới thành lập cho nên hoạt động kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều khó khăn, doanh thu cả năm đạt  923 triệu đồng, doanh thu từ sản xuất là 393 triệu, doanh thu từ thương mại là 530 triệu, tổng lợi nhuận  chỉ có 43,8 triệu đồng.

    Năm 2001 hoạt động của Công ty đã đi vào thế ổn định, vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm khả quan hơn rất nhiều. Trong năm 2001 doanh thu của Công ty tăng rất mạnh đạt 2548 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 1045 triệu, doanh thu từ hoạt động thương mại là 1503 triệu, tổng lợi nhuận đạt 197,2 triệu.

    Năm 2002 hoạt dộng kinh doanh của  Công ty tiếp tục phát triển,  ông ty đã kinh doanh thêm một số mặt hàng mới và mở rộng cơ sở của mình. Trong năm này doanh thu của Công ty là 4196 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2003 triệu, doanh thu từ hoạt động thương mại là 2196 triệu, với tổng lợi nhuận đạt 543 triệu.

    Năm 2003 hoạt động kinh doanh của Công ty  gặp khó khăn, nguyên nhân chính là do Công ty đã có rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, bên cạnh đó Công ty chưa có những thay đổi mạnh cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, vì thế mức răng trưởng chậm và có nguy cơ suy giảm. Tuy nhiên doanh thu của Công ty vẫn tăng đạt 4621 triệu đồng,với 2134 triệu từ hoạt động sản xuất và 2487 triệu từ hoạt động thương mại, lợi nhuận thu được là 628 triệu đồng.

    Năm 2004 Công ty đã có những thay đổi nhất định vì vậy hoạt động kinh doanh đã có bước tiến triển, doanh thu đã bắt đầu tăng mạnh trở lại đạt    5837 triệu đồng, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2975 triệu, doanh thu  từ hoật động thương mại là 2862 triệu, đây là lần đầu tiên doanh thu từ hoạt động sản xuất cao hơn doanh thu từ hoạt động thương mại, tổng lợi nhuận Công ty đạt được là 768 triệu đồng .

    II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG TỚI TỐC ĐỘ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1.  Sản phẩm của Công ty.

    1.1Sản phẩm sản xuất của Công ty.

    Công ty chuyên sản xuất các loại quần áo đi  mưa với tổng sản lượng 171500 sản phẩm năm 2004.

    Biểu 1: Danh mục sản phẩm Công ty sản xuất năm 2004.

    TT          Tên sản phẩm Sản lượng (cái)
    1. Bộ quần áo đi mưa. 16600
    2. Aó đi mưa có tay 15700
    3. Aó đi mưa không có tay 49350
    4. Aó đi mưa có hai mũ 20500
    5. Aó đi mưa mỏng 69300

    + Bộ quần áo đi mưa là sản phẩm sản xuất ít nhất nhưng lại có giá trị cao tạo ra doanh thu lớn cho công ty. Đây là sản phẩm rất tiện dụng cho người đi xe máy, tuy nhiên giá thành của nó còn cao nên mức tiêu thụ không lớn nắm.

    + Aó đi mưa có tay là loại áo mưa thông dụng nhất tiện lợi cho người sử dụng. Công ty sản xuất nhiều loại áo có tay với chất lượng và mẫu mã khác nhau nhằm phục vụ thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng.

    + Aó đi mưa không có tay là loại áo sản xuất từ thời kì đầu có ưu điểm là kín do không phải thò tay ra ngoài, nhưng nó rất bất tiện và khó khăn khi phải làm một việc gì đó bằng tay. Chính vì thế nhu cầu loại áo này ngày càng giảm, tuy nhiên do giá cả của nó rẻ nên phù hợp với một bộ phận người dân ở những vùng nông thôn.

    + Aó đi mưa dành cho hai người là loại áo mưa có tay được cải tiến để có thể cùng một lúc hai người cùng sử dụng được. Loại áo này có hai mũ do đó rất tiện cho hai người khi đi xe máy, loại áo này ra đời đánh dấu sự phát triển của Công ty và đem lại nguồn  doanh thu đáng kể.

    + Aó mưa mỏng là loại áo dùng tạm thường chỉ sử dụng một vài lần là rách, đây là loại áo rẻ tiền nhất, thoả mãn nhu cầu của những người đi đường khi gặp những cơn mưa bất chợt .

    Danh mục sản phẩm nhằm duy trì phát triển sản xuất của công ty, phục vụ nhu cầu người tiêu dùng trong xã hội.

    1.2. Những hàng hóa Công ty kinh doanh.

    Công ty kinh doanh nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau nhằm tăng doanh thu tăng lợi nhuận

    Biểu 2: Hàng hóa công ty kinh doanh.

    TT Tên hàng hóa Công ty kinh doanh
    1. Hàng điện máy (phụ tùng ôtô, phụ tùng máy công nghiệp, thiết bị thi công cơ giới..)
    2. Hàng tư liệu tiêu dùng (vải ra, vải bạt, dây điện, quạt điện,
    3. Hàng hóa khác

    Hàng điện máy là nhóm hàng kinh doanh chủ yếu của Công ty được công ty nhập về từ các đơn vị khác nhau và bán lại cho khách hàng có nhu cầu. Đây chủ yếu là các phụ tùng dùng để thay thế, ngoài ra có một số thiết bị thi công dùng cho xây dựng loại nhỏ và có giá trị không lớn.

    Hàng tư liệu tiêu dùng gồm có nhiều loại như vải ra, vải bạt cung cấp cho các đơn vị  sản xuất kinh doanh khác, còn dây điện,quạt điện cung cấp cho người tiêu dùng.

    Hàng hóa khác gồm nhiều loại khác nhau với khối lượng tiêu thụ nhỏ và có giá trị nhỏ.

    2. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

     2.1. Chức năng của Công ty.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI là doanh nghiệp ngoài quốc doanh với chức năng chủ yếu là sản xuất quần áo đi mưa với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau.

    Ngoài ra Công ty còn có chức năng thương mại với việc kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau như :

    • Hàng tư liệu sản xuất: Chủ yếu là vật tư thiết bị phụ tùng ô tô, máy, thiết bị thi công cơ giới.
    • Hàng tư liệu tiêu dùng: Vải da, vải bạt, dây điện, quạt điện.
    • Mua bán kí gửi hàng hóa khác:
    •  

    2.2.  Nhiệm vụ của công ty.

    Công ty cần xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh theo đúng chức năng của mình đã đăng kí.

    Tìm mọi biết pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.

    T ổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.

    Công ty phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, hạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ do nhà nước quy định.

    2.3.  Loại hình tổ chức của công ty: Bộ máy của UĐV – CO – LTD được tổ chức theo kiểu kết hợp trực tuyến và chức năng. Một mặt giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của toàn công ty, không qua cấp quản trị trung gian. Mặt khác các phòng chức năng có chức năng tham mưu cho giám đốc để quản trị các lĩnh vực chuyên sâu trong Công ty.

    Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty.

     
       

         Giám đốc: Là một trong những sáng lập viên đầu tiên, chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty, ban hành quy định và các quyết định cuối cùng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công ty.

    Phòng kinh doanh: Chức năng xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty dựa trên các hợp đồng đã ký.

          Nhiệm vụ:

    • Lập kế hoạch sản xuất tiêu thụ các sản phẩm của Công ty.
    • Dự thảo và chỉnh lý các hợp đồng kinh tế theo đúng pháp luật, quản lý và theo dõi thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
    • Tổ chức làm tốt công tác thống kê báo cáo .

        Phòng kế toán: Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế  độc lập được tổ chức theo mô hình hạch toán tập trung, trước nó không có các đơn vị hạch toán phụ thuộc. Vì thế phòng kế toán có chức năng quản lý sự vận động của vốn, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ hạch toán kế toán.

         Nhiệm vụ:

    • Thực hiện tốt điều lệ kế toán trưởng và pháp lệnh thống kê do nhà nước ban hành.
    • Tổ chức hạch toán các dịch vụ và đề xuất các giải pháp giải quyết công tác sản xuất có hiệu quả kinh tế cao.
    • Giao dịch, quan hệ đảm bảo đủ vố từ các nguồn để phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
    • Giữ bảo toàn và phát triển vốn, đề xuất các biện pháp đưa vốn vào sản xuất kinh doanh đúng pháp luật.

    Phòng vật tư: Tổ chức thu mua hàng hóa, nguyên vật liệu để đảm bảo cho quá trình sản xuất và quá trình bán hàng của doanh nghiệp.

           Nhiệm vụ:

    • Tạo được mối quan hệ với bạn hàng, đảm bảo nguyên liệu và hàng hóa ổn định về chất lượng quy cách và chủng loại.
    • Phối hợp đồng bộ với phòng kinh doanh khi thực các hiện hợp đồng nhằm đáp ứng kịp thời hàng hoá nguyên vật liệu.

    Phòng marketing: Tìm các biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa.

     

        Nhiệm vụ:

    • Tìm kiếm thị trường, tìm kiếm bạn hàng mới cho Công ty.
    • Tìm hiểu nhu cầu thị trường, phân tích thị trường của Công ty.
    • Khuyếch trương sản phẩm của Công ty, nâng cao uy tín của Công ty.

    Phân  xưởng: là nơi tổ chức sản xuất hàng hoá.

    3. Các yếu tố sản xuất.

    3.1. Đặc điểm lao động của Công ty.

    Tổng số lao động của Công ty là 41 người (trong đó nữ là 29 người).

    Lao động gián tiếp là 10 người, lao động trực tiếp là 31 người chiếm 75,6% lao động của Công ty.

    Trong tổng số lao động của công ty chỉ có 5 người có trình độ đại học chiếm 12% lao động của Công ty còn lại đa phần là công nhân bình thường. Như vậy có thể tỷ lệ lao động tri thức trong công ty còn thấp, công ty cần tuyển chọn thêm lao động có trình độ để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển. Có như vậy chất lượng lao động của công ty mới tăng lên và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cuả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với những đòi hỏi khắt khe  của thị trường.

    3.2. Đặc điểm nguyên liệu của Công ty.

    Nguyên liệu sản xuất chủ yếu của Công ty là các loại nhựa polime đă chế biến, có nghĩa là các loại nhựa này không còn ở dạng thô nữa mà đă được tạo ra thành các tấm mỏng. Chính vì thế giá sản xuất đầu vào của Công ty vẫn còn cao, gây khó khăn cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác giá cả nguyên vật liệu thường xuyên biến độngvà đôi khi chịu ảnh hưởng của những cơn sốt giá, điều này làm cho Công ty bị phụ thuộc, bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sang năm 2005 Công ty dự định nhập dây chuyền sản xuất hiện đại để có thể tạo ra các tấm polime từ nguyên liệu thô để giảm bớt chi phí đầu vào và chủ động nguyên liệu cho sản xuất, tạo thêm việc làm cho công nhân.

    89

     

    3.3. Đặc điểm máy móc của Công ty.

    Hệ thống máy móc thiết bị của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI do Việt Nam sản xuất chế tạo. Tuy nhiên phần lớn máy móc của Công ty là máy cũ và đã lạc hậu, điều này đã gây ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm tăng cường hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm.

    Hiện nay, việc hiện đại hóa máy móc thiết bị phục vụ sản xuất là phương châm hành động của lãnh đạo công ty nhằm tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Tạo điều kiện cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa phát triển tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho công ty.

    Biểu 3: Máy móc của công ty.

           Tên máy móc thiết bị         Số lượng (cái)
    1.Máy cắt

     

    –         Máy cắt thẳng lớn

    –         Máy cắt nhỏ

    –         Máy cắt vòng

    6

     

    1

    4

    1

    2.Máy hàn

     

    –         Máy hàn ép

    –         Máy hàn trơn

    –         Máy hàn ống

    12

     

    6

    4

    2

    3.Máy đột khuy 5
    4.Máy may 1
    5.Máy in lưới 1

    Với điều kiện máy móc như vậy có thể thấy hoạt động sản xuất của Công ty chưa được hiện đại hoá cao, mọi hoạt động vẫn dựa vào con người là chủ yếu. Tuy nhiên các máy móc của Công ty được bảo dưỡng thường xuyên nên vẫn hoạt động tốt, đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra bình thường.

     

     

    III. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Kết quả hoạt động  tiêu thụ hàng hóa là toàn bộ doanh thu từ các mặt hàng của Công ty sau một năm hoạt động. Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất để đánh giá dự thành công hay thất bại của Công ty trong hoạt động kinh doanh. Doanh thu của Công ty càng cao có nghĩa là hoạt động tiêu thụ sản phẩm đang rất tốt, còn nếu doanh thu năm sau thấp hơn năm trước thì hoạt động tiêu thụ đang suy giảm cần có biện pháp khắc phục.

    Phân tích hoạt động tiêu thụ hàng hóa giúp nhà quản trị biết được thế mạnh của Công ty, cũng như những hạn chế yếu kém mà Công ty cần giải quyết khắc phục. Qua đó ban lãnh đạo Công ty sẽ có chiến lược kinh doanh thích hợp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo tái đầu tư mở rộng tăng thị phần.

    Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty TNHH.Công tác thiết lập và ký kết hợp đồng kinh tế đàm phán do ban giám đốc và phòng kinh doanh đảm nhiệm với hai kênh tiêu thụ chủ yếu:

    Công ty                Người bán buôn               Bán lẻ            Người tiêu dùng

    Công ty                       Đại lý                      Người tiêu dùng

    1. Phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    1.1 Đánh giá tốc độ tăng giảm của tổng doanh thu qua các năm từ 2000 – 2004.

    Phân tích tốc độ phát triển doanh thu qua các năm để thấy được sự biến động và xu hướng phát triển của doanh thu bán hàng làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch trung hạn hoặc dài hạn của Công ty.

                     

     

     

     

     

          Biểu 4: Tốc độ phát triển chỉ tiêu doanh thu      

                                                                                             (Trích năm 2004)                            

    Năm Mi Ip Moi Ti Toi
    2000 923 1,00 923 100 100
    2001 2548 1,21 2105,78 228,14 228,14
    2002 4196 1,12 3746,43 177,91 405,88
    2003 4621 1,09 4239,45 113,16 459,29
    2004 5837 1,10 5306,36 125,16 574,85
    • Mi là doanh thu bán hàng kì i của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.
    • Ip chỉ số giá so với năm gốc.
    • Moi doanh thu bán hàng theo giá kì (i-1).
    • Ti là tỷ lệ phát triển liên hoàn.
    • Toi là tỷ lệ phát triển định gốc.

    Ta có tỉ lệ phát triển bình quân 5 năm: 154,84%

    Doanh thu bán hàng của Công ty qua các năm luôn luôn tăng trưởng, tỷ lệ tăng thấp nhất là 13,16%, cao nhất là 128,14%, tỷ lệ tăng bình quân 54,84%. Điều đó đã giúp Công ty ngày càng phát triển và có vị thế trên thị trường.

    1.2. Đánh giá mức tăng giảm của doanh thu bán hàng trong  Công ty qua 3 năm (2002, 2003, 2004).

     

    Biểu 5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Các chỉ   tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 2003 so    với 2002 2004 so    với 2003

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

         Tổng

     doanh thu

    4196 100 4621 100 5837 100 425 10,13 1216 26,31

    DT từ hoạt động sản

    xuất

    2003 47,67 2134 46,18 2975 50,96 134 6,7 841 39,41
    DT từ hoạt

     

    động kinh

    doanh TM

    2196 52,33 2487 53,82 2862 49,04 281 13,25 375 15,08

    Qua bảng số liệu ta có thể thấy:

    Năm 2003 tổng doanh thu của Công ty là 4621 triệu đồng tăng 425 triệu đồng tỷ lệ tăng là 10,13% so với năm 2002.đây là một sự tăng trưởng rất tốt nhằm củng cố và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Có được kết quả khả quan như vậy là do Công ty đã phát triển được cả hoạt động sản xuất cũng như hoạt động kinh doanh thương mại của mình.

    Năm 2003 doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2134 triệu tăng 134 triệu đồng với tỷ lệ tăng 6,7% so với năm 2002 chiếm tỷ trọng 46,18% làm cho tổng doanh thu tăng 134 triệu đồng.

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng là do thời kì này công ty sản xuất thêm một số sản phẩm có mầu sắc khác nhau, thực hiện việc đa dạng hóa sản phẩm, vì thế sản phẩm sản xuất ra  tăng rất nhiều . Ngoài ra trong năm này công ty áp dụng hình thức bán hàng trả chậm, đây là hình thức bán hàng mới kích thích việc tiêu thụ hàng hóa, nhưng mới chỉ áp dụng cho những khách hàng quen, thân thiết của Công ty.

    Năm 2003 doanh thu từ hoạt động thương mại là 2487 triệu tăng 281 triệu với tỷ lệ tăng 13,25% so với năm 2002 chiếm tỷ trọng 53,82% làm cho doanh thu của Công ty tăng 281 triệu đồng.

    Doanh thu từ hoạt động thương mại tăng mạnh với tỷ lệ tăng là 13,25% là do thời kì này nhu cầu về một số mặt hàng Công ty kinh doanh tăng mạnh như phụ tùng ô tô, thiết bị thi công cơ giới, dây điện. Ngoài nhu cầu của thị trường tăng nên thì Công ty cũng có thêm một số bạn hàng mới, làm cho việc tiêu thụ hàng hóa tăng cao đem lại sự thành công cho Công ty.

    Năm 2004 so với năm 2003 tổng doanh thu tăng 1216 triệu đồng tỷ lệ   tăng  là 26,31%. Đây là một tỷ lệ tăng rất nhanh chứng tỏ hoạt động sản xuất cũng như việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty rất tốt đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững trong tương lai.

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2975 triệu tăng 841 triệu tỷ lệ tăng là 39,41%, chiếm tỷ trọng 50,96% tăng 4,78% (46,18% – 50,96%) so với 2003 làm cho tổng doanh thu của Công ty tăng 841 triệu. Đây là lần đầu tiên doanh thu từ hoạt động sản xuất vượt qua doanh thu từ hoạt động thương mại. Điều này chứng tỏ rằng sản phẩm của Công ty đang chiếm lĩnh được thị trường tiêu thụ, đây là một dấu hiệu rất tốt bởi sản xuất là hoạt động chính của Công ty, là lợi thế để công ty giành thế chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

    Năm 2004 có thể nói là năm hoạt động sản xuất phát triển rất nhanh kể từ khi thành lập Công ty, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt trong năm 2004 nhờ sự nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng, Công ty đã cho sản xuất loại áo mưa dùng cho hai người khi đi xe máy. Đây là loại áo mưa rộng, có hai mũ có khả năng che kín hai người khi đi trời mưa vì thế được người tiêu dùng ưa chuộng. Loại áo mưa này tuy mới được sản xuất nhưng khối lượng tiêu thụ rất cao mang lại nguồn doanh thu lớn cho Công ty. Đây cũng là nguyên nhân chính làm cho doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng nhanh với tỷ lệ tăng là 39,41%

    Tuy nhiên do khả năng tiêu thụ còn hạn chế vì thế chưa phát huy được hết năng lực sản xuất của công ty. Công ty chỉ mới sản xuất 85% năng lực của mình mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của tiêu thụ, thậm chí vẫn còn dự trữ. Nhất là sang năm 2005 công ty dự định đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại thì việc đẩy mạnh tiêu thụ là hết sức cần thiết, như vậy mới có thể tận dụng được hết năng lực sản xuất của mình.

    Đối với hoạt động kinh doanh thương mại năm 2004 cũng đạt được những thành công to lớn góp phần vào việc phát triển của Công ty. Trong năm 2004 doanh thu từ hoạt động thương mại là 2862 triệu đồng tăng 281 triệu với tỷ lệ tăng là 15,08% so với năm 2003 chiếm tỷ trọng 49,04% làm tổng doanh thu của công ty tăng 281 triệu đồng. Doanh thu từ hoạt động thương mại tăng là do Công ty luôn đảm bảo chất lượng hàng hóa, giao hàng đúng hẹn, nhất là mức giá của công ty luôn hấp dẫn hơn so với các đơn vị khác vì thế việc tiêu thụ hàng hóa của Công ty vẫn diễn ra tốt đẹp. Tuy nhiên, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động thương mại sẽ có xu hướng giảm dần trong tổng doanh thu của Công ty vì hoạt động sản xuất của Công ty vẫn là chính và Công ty sẽ tập chung mạnh vào lĩnh vực này.

    Ta có thể thấy Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI là một Công ty kinh doanh tổng hợp vừa sản xuất vừa kinh doanh thương mại. Cả hai nghiệp vụ kinh doanh chiếm tỷ trọng tương đương nhau không quá chênh lệch về phía nào. Tuy nhiên trong tương lai Công ty dự định đầu tư mạnh vào sản xuất vì đây là thế mạnh của công ty, lúc đó chắc chắn hoạt động sản xuất sẽ mạnh mẽ hơn và chiếm tỷ trọng cao hơn.

    2. Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo cơ cấu mặt hàng của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI qua 3 năm (2002, 2003, 2004).

         Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty để thấy được cơ cấu sản phẩm, sản lượng tiêu thụ của mỗi loại cũng như ảnh hưởng của các loại sản phẩm tới việc tăng doanh thu trong hoạt động sản xuất của Công ty.Ta sẽ biết được được đâu là sản phẩm chủ chốt, sản phẩm chiến lược, đâu là sản phẩm lạc hậu, sản phẩm cần cải tiến từ đó có biện pháp thích hợp để xử lý đảm bảo hoạt động sản xuất luôn ổn định phát triển.

     

     

      Biểu 6: Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty.   

                                                                                                          

    Mặt hànag Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2003 so với 2002 Năm 2004 so với 2003
    SL % SL % SL % SL % SL %
    Bộ quần áo  đi mưa 12,8 9,67 13,5 9,16 16,65 9,71 0,7 5,47 3,15 23,33
    Aó mưa không tay 27,4 20,7 25,6 17,37 15,7 9,15 -1,8 -6,57 -9,9 -38,6 7
    Aó mưa có tay 42,7 32,3 45,9 31,14 49,35 28,77 3,2 7,49 3,45 7,52
    Aó  cho hai người 20,5 11,95 20,5  
    Aó mưa mỏng 49,4 37,33 62,4 42,33 69,3 40,41 13 26,31 6,9 11,06

    Tổng sản lượng

    132,3 100 147,4 100 171,5 100 15,1 11,41 24,1 16,35

    Qua bảng tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI ta thấy doanh thu bán sản phẩm của công ty liên tục tăng qua các năm, làm cho tổng doanh thu của công ty tăng lên.

    Năm 2002 doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2003 triệu đồng với mức sản lượng tiêu thụ là 132,3 nghìn sản phẩm.

    Năm 2003  với mức sản lượng tiêu thụ là 147,4 nghìn sản phẩm tăng 15,1 nghìn sản phẩm, đã tạo ra doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2134 triệu đồng tăng 134 triệu so với năm 2002.

    Năm 2004 doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2975 triệu đồng so với kế hoạch là 2500 triệu, bằng 119% so với kế hoạch. Năm 2004 sở dĩ doanh thu từ việc tiêu thụ sản phẩm của công ty tăng nhanh như vậy là do Công ty đã sản xuất thêm một loại áo đi mưa mới rất tiện lợi cho hai người khi đi xe máy. Với việc sản xuất thêm loại sản phẩm mới này đã thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty, năm 2004 công ty đã tiêu thụ được 171,5 nghìn sản phẩm tăng 24,1 nghìn cái với tỷ lệ tăng là 16,35%.

    Có được kết quả cao như vậy là do Công ty đã phát huy được khả năng của mình, tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, luôn tận dụng tốt mọi cơ hội có được. Ngoài ra Công ty luôn chú trọng tới việc tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tiêu thụ.

    Đối với bộ quần áo đi mưa, đây là sản phẩm truyền thống của Công ty và đem lại doanh thu khá lớn trong tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất do giá trị sử dụng của nó cao. Tuy nhiên khối lượng tiêu thụ của loại sản phẩm này lại thấp hơn so với các mặt hàng khác. Năm 2002 bộ quần áo đi mưa tiêu thụ là 12,8 nghìn sản phẩm, năm 2003 sản lượng tiêu thụ là 13,5 nghìn sản phẩm tăng 0,7 nghìn sản phẩm với tỷ lệ tăng là 5,47% so với năm 2002, chỉ đạt được 95,2% so với kế hoạch đặt ra. Tuy nhiên đến năm 2004 do nhu cầu về sản phẩm trên thị trường tăng tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Năm 2004 bộ quần áo đi mưa tiêu thụ là 16,65 nghìn sản phẩm tăng 3,15 nghìn sản phẩm với tỷ lệ tăng 23,33% so với 2003, vượt mức kế hoạch đề ra bằng 110% so với kế hoạch đề ra.

    Đây là sản phẩm có vị trí quan trọng vì thế cần giữ vững, phát huy khả năng tiêu thụ nhằm tăng doanh thu tăng lợi nhuận cho Công ty.

    Đối với áo mưa không có tay, đây cũng là một sản phẩm Công ty sản xuất từ khi thành lập và đã từng là sản phẩm chủ chốt của Công ty. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm này đã lạc hậu không được người tiêu dùng ưa chuộng nữa nhất là người dân thành thị. Chính vì thế mức độ tiêu thụ ngày một giảm sút ảnh hưởng đáng kể tới doanh thu của Công ty.

    Năm 2002 loại áo đi mưa không có tay tiêu thụ được 27,4 nghìn chiếc chiếm 20,71% sản lượng tiêu thụ. Đến năm 2003 sản lượng tiêu thụ chỉ đạt 25,6 nghìn sản phẩm giảm 1,8 nghìn chiếc với tỷ lệ giảm là 6,57%. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ của loại áo mưa không có tay tiếp tục giảm mạnh, trong năm 2004 sản lượng tiêu thụ chỉ còn 15,7 nghìn sản phẩm giảm 9,9 nghìn sản phẩm, với tỷ lệ giảm là 38,67%. Có lẽ đây đang là thời kì suy thoái của loại sản phẩm này trong chu kì sống của nó, do vậy Công ty cần có biện pháp thích hợp để sử lí, tốt nhất Công ty nên hạn chế sản xuất loại sản phẩm này để giảm bớt chi phí cũng như tránh việc tồn kho hàng hóa.

    Đối với loại áo mưa có tay đây là loại sản phẩm Công ty bắt đầu sản xuất từ năm 2001, nhưng tốc độ tiêu thụ của nó là khá cao bởi đây là loại áo mưa phổ biến nhất đối với người tiêu dùng. Công ty sản xuất loại áo mưa này với nhiều chủng loại mầu sắc, chất lượng cũng như giá cả khác nhau nhằm thoả mản nhu cầu của mọi khách hàng khác nhau. Chính vì thế nhu cầu về loại áo mưa này là rất lớn, tạo nên sự  phát triển sản xuất ổn định cũng như mang lại sự thành công cho Công ty.

    Năm 2002 sau một năm loại sản phẩm này được sản xuất khối lượng tiêu thụ của nó là rất cao đạt 42,7 nghìn chiếc đạt 142% so với kế hoạch, tạo nên doanh thu không nhỏ cho Công ty. Sang năm 2003 sản lượng tiêu thụ áo đi mưa có tay tiếp tục tăng với việc cải tiến chất lượng tạo nên một loại áo mưa mềm, dầy rặn và rất bền. Năm 2003 sản lượng tiêu thụ là 45,9 nghìn chiếc tăng 3,2 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng là 7,49% so với năm 2002. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ tiếp tục tăng đạt 49,35 nghìn chiếc  tăng 3,45 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 7,52% so với năm 2003 nhưng chỉ đạt 98,4% so với kế hoạch đề ra. Có thể thấy đây là loại sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh, vì thế Công ty cần tập trung khai thác thị trường, để  nâng cao sản lượng tiêu thụ thúc đẩy sự phát triển của Công ty.

    Đối với loại áo mưa dùng cho hai người, đây là loại sản phẩm cải tiến của Công ty dược sản xuất năm 2004 có ưu điểm rất lớn đó là có hai mũ và rộng hơn rất nhiều áo mưa bình thường, vì thế có thể cùng một lúc hai người sử dụng vẫn thoải mái. Tuy mới được sản xuất nhưng phù hợp với người tiêu dung, đặc biệt cho những người đi xe máy nên khối lượng sản phẩm tiêu thụ là rất khả quan. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ đạt 20,5 nghìn sản phẩm và được coi là sự thành công lớn trong việc phát triển sản phẩm mới. Nhờ việc phát triển sản phẩm mới này công ty đã tạo thêm việc làm cho người lao động, ổn định sản xuất. Loại áo mưa dùng cho hai người được coi là sản phẩm chiến lược của Công ty trong thời gian tới vì thế công ty đang tập chung nhằm hoàn thiện hơn nữa sản phẩm của mình, tạo ra một sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường.

    Đối với loại áo mưa mỏng, đây có thể coi là loại áo mưa tạm thời đối với người sử dụng, vì loại áo mưa này chỉ dùng một vài lần là rách, người tiêu dùng mua khi họ gặp mưa bất chợt không có sự chuẩn bị. Tuy nhiên loại áo mưa này có giá trị rất nhỏ vì thế khối lượng tiêu thụ là rất lớn, mang lại một phần doanh thu cho Công ty. Năm 2002 sản lượng tiêu thụ loại áo mưa mỏng này là 49,4 nghìn sản phẩm. Năm 2003 sản lượng tiêu thụ tăng rất mạnh do nhu cầu người tiêu dùng là rất lớn, đạt 62,4 nghìn chiếc tăng 13 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 26,3% so với năm 2002 đạt 135% so với kế hoạch đề ra. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ mặt hàng này tiếp tục tăng mạnh đạt 69,3 nghìn chiếc tăng 6,9 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 11,06% so với 2003.

    3. Phân tích tình hình kinh doanh thương mại của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI qua 3 năm ( 2002, 2003, 2004).

    Hoạt động kinh doanh thương mại là lĩnh vực kinh doanh bổ trợ có tính chất không thường xuyên liên tục. Tuy nhiên do tính chất của hàng hóa là có giá trị cao, lên doanh thu từ hoạt động thương mại cũng rất cao thậm chí cao hơn doanh thu từ hoạt động sản xuất. Điều đó có nghĩa là kết quả từ hoạt động kinh doanh thương mại có ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ Công ty. Phân tích tình hình kinh doanh thương mại sẽ biết được những mặt hàng Công ty kinh doanh và những đặc điểm của nó.

     

     

     

     

     

     

    Biểu 7: Kết quả hoạt động kinh doanh thương mại của công ty.

    Mặt hànag Năm 2002

    Năm 2003

    Năm 2004

    Năm 2003 so với 2002 Năm 2004 so với 2003

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    DT từ thương mại 2196 100 2487 100 2862 100   281 13,25   375 15,08

    Hàng   Điện máy

    1210  55,1 1563 62,85 1821 63,62 353 29,17 258 16,51
    Tư liệu tiêu dùng 756 34,42 650 26,13 900 31,45 -106 -14,1 250 38,46

    Hàng hóa khác

    230 10,47 274 11,02 141 4,93 44 19,13 -133 -48,5 4

    Theo số liệu ở bảng ta có thể thấy Công ty kinh doanh ba nhóm hàng khác nhau là: Hàng điện máy, hàng tư liệu tiêu dùng và một số hàng hóa khác. Mỗi nhóm hàng lại có những mặt hàng khác nhau đảm bảo việc đa dạng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

    * Hàng điện máy bao gồm các loại phụ tùng ôtô, phụ tùng máy công nghiệp, thiết bị thi công cơ giới. Nhóm hàng này có ảnh hưởng rất tới hoạt động kinh doanh thương mại bởi nó chiếm phần lớn doanh thu từ hoạt động này.

    Năm 2002 hàng điện máy đạt doanh thu 1210 triệu đồng chiếm 55,1% doanh thu từ hoạt động thương mại.

    Năm 2003 doanh thu là 1563 triệu tăng 29,17% so với năm 2002 làm doanh thu từ hoạt động thương mại tăng 353 triệu đồng. Doanh thu hàng điện máy tăng nhanh là do nhu cầu về loại hàng này năm 2003 tăng mạnh nhất là phụ tùng ôtô và thiết bị thi công xây dựng. Đặc biệt, do Công ty đã liên tục đi thăm dò thị trường chào mời khách hàng mua hàng  hóa của mình, lên tốc độ tiêu thụ mặt hàng này rất tốt  mang lại hiệu quả cao.

    Năm 2004 doanh thu tiếp tục tăng đạt 1821 triệu đồng chiếm 63,6% doanh thu từ hoạt động thương mại, tăng 258 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 16,5% so với năm 2003. Có được kết quả tốt như vậy là do Công ty luôn bám sát thị trường để có thể mua hàng với mức gía hợp lí, giảm được mức giá đầu ra lên kích thích được tiêu thụ. Công tác tiếp thị của Công ty ngày một tốt hơn đem lại hiệu quả cao hơn.

    *   Hàng tư liệu tiêu dùng bao gồm một số mặt hàng vải bạt, dây điện, quạt điện có doanh thu tương đối, nhưng tốc độ tiêu thụ không đều lên phần nào gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh.

    Năm 2002 doanh thu từ mặt hàng này đạt 756 triệu đồng chiếm 34,42% doanh thu từ hoạt động thương mại.

    Năm 2003 doanh thu chỉ đạt 650 triệu giảm 106 triệu với tỷ lệ giảm 14,1% so với năm 2002. Doanh thu giảm là do hàng vải ra, vải bạt trong năm này tiêu thụ rất khó khăn bởi cung vượt cầu quá nhiều trên thị trường. Doanh thu giảm làm cho doanh thu từ hoạt động thương mại giảm 106 triệu.

    Năm 2004 doanh thu mặt hàng này đột ngột tăng vọt đạt 900 triệu đồng tăng 250 triệu với tỷ lệ tăng là 38,46% so với 2003, chiếm tỷ trọng 31,45% tổng doanh thu từ hoạt động thương mại làm cho doanh thu từ hoạt động này tăng 250 triệu đồng. Doanh thu tăng đột ngột là do mặt hàng quạt điện tiêu thụ mạnh, nhất là loại quạt thông gió công suất lớn  lắp đặt tại các xưởng sản xuất. Bên cạnh đó hàng vải bạt, vải ra đã có sự tiêu thụ trở lại nhưng còn rất chậm, vì vậy năm 2005 Công ty cần có những giản pháp thích hợp nhằm thúc đẩy tiêu thụ một cách ổn định.

    *  Một số hàng hóa khác như thiếc, đồng lá, thiết bị cách nhiệt, cách điện…có doanh thu thấp lên không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh doanh. Năm 2002 doanh thu từ hàng hóa này đạt 230 triệu chiếm 10,47%, năm 2003 doanh thu là 247 triệu tăng 44 triệu so với 2002, làm tổng doanh thu từ thương mại tang 44triệu. Năm 2004 doanh thu giảm mạnh chỉ đạt 141 triệu đồng tỷ lệ giảm 48,54% làm doanh thu từ hoạt động thương mại giảm 133 triệu đồng, đây là mức giảm tương đối lớn vì thế Công ty cần khắc phục để tránh đánh mất mặt hàng kinh doanh trên thị trường.

    Qua việc phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa tại UDL– CO – LTD ta thấy hoạt động kinh doanh thương mại của công ty cũng khá phát triển, doanh thu tăng mạnh qua các năm.

    Trong các mặt hàng Công ty kinh doanh thì mặt hàng điện máy luôn chiếm tỷ trọng cao nhất 63,62% đạt doanh thu 1821 triệu đồng năm 2004. Hàng điện máy chủ yếu được nhập theo đơn đặt hàng của khách hàng, có nghĩa là khi nào có khách hàng cần mua hàng loại nào thì Công ty mới nhập về, do đó giảm được chi phí bảo quản cũng như chi phí do tồn đọng vốn. Tuy nhiên việc kinh doanh như vậy Công ty sẽ không chủ động được trong kinh doanh dễ bị nhà cung cấp gây khó khăn khi hàng hóa khan hiếm.              Trong tổng doanh thu từ hàng điện máy thì doanh thu là từ việc bán thiết bị thi công cơ giới chiếm khoảng 70%, doanh thu phụ tùng máy công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất chỉ có khoảng 9%.

    4. Phân tích tiêu thụ theo phương thức bán trong 3 năm (2002, 2003, 2004).

    Việc bán hàng trong Công ty được thực hiện bằng những phương thức khác nhau: Bán buôn, bán đại lí và bán trả chậm. Mỗi phương thức bán có đặc đIểm kinh tế kỹ thuật khác nhau và có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của Công ty.

    Phân tích doanh thu bán hàng theo phương thức bán nhằm mục đích đánh giá tình hình và khả năng đa dạng hóa các phương thức bán hàng của Công ty, qua đó tìm ra những phương thức bán hàng thích hợp để vừa đẩy mạnh bán hàng tăng doanh thu vừa đảm bảo lợi nhuận cho Công ty.

    Biểu 8: Kết quả bán hàng theo phương thức bán.

    Các chỉ

     

    tiêu

    Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 2003 so    với 2002 2004 so   với 2003

    SL

    % SL % SL % SL % SL %
    DT bán buôn 2415 57,6 2178 47,1 2963 50,8 -237 -9,81 785 36,04
    Bán đại lí 661 15,7 760 16,5 725 12,4 99 14,98 -35 -4,6
    Bán trả chậm 1120 26,7 1683 36,4 2149 36,8 563 50,27 466 27,69
    Tổng cộng 4196 100 4621 100 5837 100 425 10,13 1216 26,31

    Từ bảng tổng hợp số liệu trên ta thấy:

    *  Năm 2003 so với 2002 doanh thu bán buôn giảm 237 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 9,81%, chiếm tỷ trọng 47,1% giảm 10,5% (57,6% – 47,1%). Doanh thu bán đại lí tăng 99 triệu tỷ lệ tăng 14,98%, chiếm tỷ trọng 16,5% tăng 0,8% (15.7% – 16,5%). Doanh thu hàng bán trả chậm tăng 563 triệu tỷ lệ tăng 50,27%, chiếm tỷ trọng 36,4% tăng 9,7% .

    *  Năm 2004 so với 2003 doanh thu bán buôn tăng 785 triệuđồng tỷ lệ tăng là 36,04%, chiếm tỷ trọng 50,8% tăng 3,7% (47,1% – 50,8%). Doanh thu bán đại lí giảm 35 triệu, tỷ lệ giảm 4,6%, chiếm tỷ trọng 12,4% giảm 4,1% (16,5% – 12,4%). Doanh thu bán trả chậm tăng 466 triệu tỷ lệ tăng 27,69%, chiếm tỷ trọng 36,8% tăng 0,4% (36,4% – 36,8%).

    + Nhận xét: Trong các hình thức bán hàng của doanh nghiệp thì doanh thu bán buôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và có sự tăng giảm qua các năm.

    Bán buôn là hình thức bán hàng chủ yếu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa với khối lượng lớn và thu hồi vốn nhanh. Năm 2004 doanh thu bán buôn đạt 2968 triệu góp phần lớn vào việc tiêu thụ hàng hóa. Những khách hàng mua buôn luôn được hưởng mức giá ưu đãi tuỳ thuộc vào lượng hàng họ mua, khách hàng mua từ 50 – 100 triệu được giảm giá 5%, khách hàng mua từ 100 – 200 triệu được giảm giá 7% và mua từ 200 triệu trở nên được giảm 10% giá trị của hàng hóa. Chính vì thế những khách hàng lớn luôn muốn mua buôn để được hưởng mức giá ưu đãi

    Bán đại lí chiếm tỷ trọng thấp nhất và có doanh thu giao động qua các năm. Các đại lí này không thuộc công ty mà chủ yếu là của các hộ tư nhân, công ty liên hệ nhờ họ làm đại lí. Các đại lí này được hưởng hoa hồng là 15% doanh thu bán hàng và có nhiệm vụ giới thiệu sản phẩm của công ty. Vì chi phí cho đại lí là khá lớn nên Công ty chỉ liên hệ ba đại lí với hai đại lí ở phía Bắc và một ở miền Trung. Năm 2002 doanh thu từ các đại lí này là 661 triệu đồng, năm 2003 doanh thu là 760 triệu đồng tăng 99 triệu với tỷ lệ tăng là 14,98% so với năm 2002, năm 2004 doanh thu từ các đại lí là 725 triệu đồng giảm 35 triệu với tỷ lệ giảm là 4,6% so với năm 2003. Bán hàng thông qua các đại lí tuy không trực tiếp với Công ty và Công ty phải bỏ ra một lượng chi phí, nhưng nó có ưu điểm là có thể mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của Công ty, và phản hồi nhanh chóng những góp ý của khách hàng. Cho nên Công ty cần giữ vững những đại lí này và có thể mở rộng thêm các đại lí khác nhằm khuyếch trương sản phẩm của Công ty.

    Đặc biệt là bán trả chậm, đây có thể coi là một biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa. Doanh thu bán trả chậm khá cao và tăng mạnh qua các năm, tuy nhiên nó cũng gây tình trạng tồn đọng vốn khá lớn. Bán trả chậm chỉ áp dụng đối với khách hàng thân thiết và có uy tín đối với Công ty với lượng hàng có giá trị không quá 100 triệu, nhằm tránh hiện tượng thất thoát vốn của Công ty. Những khách hàng trả chậm sẽ không được hưởng mức giá ưu đãi của Công ty và phải thanh toán tiền đầy đủ như cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên đối với khách hàng có lượng vốn hạn chế thì việc mua hàng trả chậm luôn là phương thức mua hàng được lựa chọn. Chính vì thế doanh thu từ hình thức bán hàng trả chậm là khá cao và tăng mạnh qua các năm. Năm 2002 doanh thu là 1120 triệu đồng thì năm 2003 doanh thu từ hình thức này đã là 2683 triệu đồng tăng 563 triệu với tỷ lệ tăng là 50,27% so với năm 2002. Năm 2004 doanh thu từ hình thức bán này đã tăng nên 2149  triệu đồng tăng 466 triệu với tỷ lệ tăng 27,69% so với năm 2003.

    Tuy hình thức bán hàng này thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa nhưng việc tồn đọng vốn là khá cao tạo nên sự thiếu hụt vốn trong hoạt động kinh doanh của Công ty, bên cạnh đó khả năng thất thoát vốn là khá lớn cho nên Công ty cần tính toán sao cho hợp lí để vừa thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa vừa bảo toàn vốn kinh doanh.

    IV. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Biểu 9: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty.

    Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004      2003   so với 2002      2004    so với 2003
    SL % SL %
    Tổng doanh thu 4196 4621 5837 425 10,13 1216 26,31
    Tổng chi phí 3653 3993 5069 340 9,31 1076 26,95
    LN trước thuế 543 628 768 85 15,65 140 22,29
    Nộp ngân sách 173,76 200,96 245,76 27,2 15,65 44,8 22,29
    LN sau thuế 369,24 427,04 522,24 57,8 15,65 95,2 22,29
    Tổng quỹ lươnag 175,25 202,93 253,57 27,68 15,79 50,64 24,95
    Mức lương bình quân 0,4868 0,4973 0,5154 0,0105 2,157 0,0181 3,639

    Nhờ quá trình phát triển đa dạng hóa sản phẩm với nhiều chủng loại áo đi mưa khác nhau đã thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng mạnh qua các năm. Bên cạnh sự thành công của hoạt động sản xuất , hoạt động kinh doanh thương mại cũng rất thành công bởi sự năng động của phòng kinh doanh cũng như của lãnh đạo Công ty. Từ kết quả đó làm cho tổng doanh thu của Công ty liên tục tăng qua các năm.

    Năm 2004 doanh thu của công ty đạt 5837 triệu đồng tăng 1216 triệu đồng  với tỷ lệ tăng 26,31%. Như vậy doanh thu của công ty đã có sự tăng nhanh trở lại, đây là một dấu hiệu rất tốt chứng tỏ rằng Công ty có khả năng đứng vững trên thị trường. Có được sự thành công như vậy là do có sự lỗ lực cố gắng rất lớn của lãnh đạo Công ty cũng như của công nhân viên. Lãnh đạo Công ty đã không ngừng tìm kiếm thị trường, phát triển sản phẩm mới, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

    Mặc dù doanh thu của Công ty liên tục tăng nhưng chi phí của Công ty cũng tăng đáng kể, làm giảm lợi nhuận của Công ty. Chi phí bao gồm chi phí mua nguyên liệu, chi phí mua hàng hóa, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất, chi phí bán hàng .v.v…

    Năm 2003 tổng  chi phí của Công ty là 3993 triệu đồng tăng 340 triệu so với năm 2002, tuy nhiên tỷ lệ tăng chi phí là 9,31% thấp hơn tỷ lệ tăng doanh thu vì vậy việc quản lí chi phí của Công ty là tốt không bị lãng phí.

    Năm 2004 tổng chi phí của Công ty là 5069 triệu đồng  tăng 1076 triệu so với 2003. Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí mạnh như vậy là do năm 2004 Công ty sản xuất thêm mặt hàng mới, đó là loại áo mưa dành cho hai người. Tuy nhiên tỷ lệ tăng tổng chi phí trong năm này là rất cao đạt 26,95% cao hơn tỷ lệ tăng doanh thu chứng tỏ rằng Công ty đã gây lãng phí trong hoạt động kinh doanh của mình. Lãnh đạo Công ty cần xem xét lại và có biện pháp thích hợp sử lí để hoạt động kinh doanh đem lại kết quả cao nhất.

       Do tổng doanh thu có xu hướng tăng mạnh trở lại vì thế các khoản nộp ngân sách cho nhà nước vẫn tăng đều qua các năm. Năm 2003 Công ty nộp ngân sách 200,96 triệu, tăng 27,2 triệu đồng với tỷ lệ tăng 15,65% so với năm 2002. Năm 2004 Công ty nộp ngân sách 245,76 triệu đồng tăng 95,2 triệu với tỷ lệ tăng 22,29%. Đây là năm Công ty nộp thuế cao nhất cho ngân sách nhà nước.

    Do doanh thu của Công ty tăng cho lên mức lương bình quân của Công nhân cũng tăng. Năm 2004 mức lương bình quân tính theo đầu người / tháng là 515.000 đồng tăng 18100 đồng so với năm 2003. Tuy nhiên tỷ lệ tăng mức lương bình quân là khá thấp so với tỷ lệ tăng doanh thu, tỷ lệ tăng lương chỉ đạt 3,639% trong khi đó tỷ lệ tăng doanh thu là 26,31%. Đây cũng là một mức lương không cao nắm so với tình hình lương thực tế trong xã hội,rất có thể trong năm sau mức lương bình quân của công nhân sẽ được cải thiện nhiều hơn để có thể đảm bảo cuộc sống của người lao động.

    Về chỉ tiêu lợi nhuận hàng năm của Công ty không ngừng tăng lên tạo đIều kiện cho Công ty phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh. Năm 2003 lợi nhuận sau thuế của Công ty là 427,04 triệu tăng 57,8 triệu với tỷ lệ tăng 15,65% so với năm 2002. Năm 2004 lợi nhuận đạt được là 522,24 triệu đồng tăng 95,2 triệu với tỷ lệ tăng là 22,29%. Điều này cho thấy Công ty không những bảo toàn được vốn mà còn có lãi với tỷ lệ tăng khá cao. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào số tuyệt đối của chỉ tiêu lợi nhuận thì không thể nói khi con số tăng thì hiệu quả kinh doanh của Công ty tăng và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng được. Bởi vì khi doanh thu của Công ty hàng năm lớn nhưng chi phí cũng tăng tương ứng hay tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng doanh thu thì số tuyệt đối lợi nhuận tăng nhưng rõ ràng không hiệu quả. Vì thế ta phải dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận/ doanh thu để đánh giá, thì hiệu quả sử dụng vốn của Công ty năm 2003 tốt hơn năm 2002, nhưng hiệu quả sử dụng vốn năm 2004 kém hơn năm 2003.

    Như vậy sau hơn 5 năm thành lập và hoạt động trong nền kinh tế thị trường Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI đã từng bước khẳng định dược vị trí của mình, tổng doanh thu cũng như lợi nhuận của Công ty liên tục tăng qua các năm. Đây cũng là thành tích phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của Công ty.

    2. Những thành tựu đạt được của Công ty.

    Qua biểu phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty ta thấy Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI đã đạt được những thành tựu to lớn tạo điều kiện cho Công ty phát triển cũng như nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường.

    * Đối với Công ty

    Qua 5 năm thành lập doanh thu bán hàng của Công ty liên tục tăng, làm cho lợi nhuận của Công ty cũng tăng mạnh.

    • Năm 2000 lợi nhuận của Công ty chỉ có 43,8 triệu đồng đây là năm công ty có lợi nhuận thấp nhất.
    • Năm 2001 lợi nhuận là 197,2 triệu đồng tăng 153,4 triệu đồng so với năm 2000
    • Năm 2002 lợi nhuận là 543 triệu đồng.
    • Năm 2003 lợi nhuận là 628 triệu đồng .
    • Năm 2004 là năm có lợi nhuận cao nhất của Công ty đạt 768 triệu.

    + Nhờ có được mức lợi nhuận cao như vậy nên công ty đã có những đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động sản xúât kinh doanh của mình, làm cho quy mô kinh doanh ngày càng được mở rộng, sản phẩm sản xuất của Công ty ngày càng được nâng cao về chất lượng,  hàng hóa của Công ty ngày càng đa dạng về mẫu mã và chủng loại nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tăng doanh thu của Công ty.

    + Từ đầu năm 2004 nhờ tăng cường công tác tiêu thụ hàng hóa, Công ty đã kí thêm một số hợp đồng với những khách hàng ở Miền Trung nên đã thúc đẩy khả năng  tiêu thụ của Công ty.

    + Do công ty liên tục cải tiến mẫu mã sản phẩm cũng như đảm bảo về chất lượng hàng hóa cho nên khách hàng hết sức tin tưởng vào Công ty, hay Công ty đã tạo được uy tín của mình trên thị trường.

    + Có được thành quả như ngày hôm nay là nhờ vào sự nỗ lực rất lớn của lãnh đạo công nhân viên toàn Công ty. Họ luôn đoàn kết gắn bó tạo ra nội bộ doanh nghiệp vững mạnh là điểm tựa vững chắc đưa Công ty phát triển đi lên.

    * Đối với xã hội.

    Thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Công ty đã tạo ra một loại sản phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu của người dân, nâng cao đời sống vật chất của người dân trong xã hội.

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty góp phần vào việc phát triển sản xuất của xã hội, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI tuy là một Công ty nhỏ nhưng cũng tạo ra việc làm ổn định cho một bộ phận người lao động, nhờ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội cũng như tạo ra cuộc sống ổn định của một số hộ gia đình. Bên cạnh đó Công ty còn tham gia vào các hoạt động xã hội khác như bảo vệ môi trường, các phong trào hoạt động của phường nơi Công ty hoạt động

    * Đối với Nhà nước.

    Thành tựu quan trọng nhất của Công ty đối với Nhà nước là việc Công ty ngày càng phát triển, doanh thu từ hoạt động sản xuất ngày càng cao. Nhờ  đó Công ty nộp thuế cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng, năm 2002 Công ty nộp ngân sách  là 173,76 triệu đồng, năm 2003 nộp ngân sách là  200,96 triệu đồng tăng 27,2 triệu so với năm2002, năm 2004 Công ty nộp thuế cho ngân sách tiếp tục tăng cao đạt 245,76 triệu đồng tăng 44,8 triệu với tỷ lệ tăng là 22,29% so với năm 2003.

    Với việc nộp thuế ngày càng tăng Công ty đă góp phần vào việc tăng ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển của nhà nước

    3. Những tồn tại và nguyên nhân.

      3.1. Những tồn tại cần khắc phục.   

    Ngoài những thành tựu to lớn mà Công ty đã đạt được ta vẫn thấy còn có những tồn tại khó khăn  nhất định mà nếu không kịp thời khắc phục sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong tương lai.

    + Công ty chưa đầu tư  thích đáng vào việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, do đó thông tin về nhu cầu đối với sự phát triển của Công ty có được là rất hạn chế . Nhất là kể từ khi thành lập đến nay Công ty chưa sử dụng bất kì hình thức quảng cáo nào để giới thiệu sản phẩm hàng hóa của mình. Do vậy sản phẩm hàng hóa của Công ty không được người tiêu dùng nhận thức đầy đủ nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tiêu thụ hàng hóa.

    Công ty vẫn còn hạn chế trong việc xác định thị phần của mình trên thị trường và của đối thủ cạnh tranh, chưa nắm rõ được điểm mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh. Do vậy rất khó khăn trong việc xác định được chiến lược chiếm lĩnh thị trường hạn chế sự cạnh tranh của đối thủ

    Năm 2004 sản phẩm hư hỏng tuy đã giảm nhưng vẫn còn cao làm chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Khâu mua hàng vẫn chưa thật sự tốt, nhất là việc bảo quản hàng hóa lên vẫn gây tình trạng lãng phí không đáng có, vì thế cần phải khắc phục.

    Vẫn cồn tình trạng giao hàng chậm cho khách, đặc biệt là vào mùa mưa lượng tiêu thụ hàng quần áo đi mưa tăng mạnh. Điều này ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm của Công ty.

       3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên.

    Công ty mới thành lập tiềm lực kinh tế cũng như kinh nghiệm còn ít không thể cùng một lúc thực hiện được tất cả mọi việc một cách suôn sẻ.

    Hệ thống máy móc thiết bị nhà xưởng của Công ty còn lạc hậu và nhỏ hẹp, hệ thống thu mua và phân phối hàng hóa đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nên không thể tránh được thiếu sót.

    Vốn cho sản xuất và đầu tư đổi mới trang bị còn bị hạn chế. Trên thực tế đây là nguyên nhân quan trọng nhất làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Trình độ của công nhân còn hạn chế do chưa được đào tạo và thời gian làm việc chưa nhiều.

     

    CHƯƠNG III

    CÁC BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1.  Dự báo nhu cầu sản phẩm của công ty năm 2005.

    Theo dự đoán của phòng Marketing thì nhu cầu về sản phẩm của công ty năm 2005.

    Năm 2005 nhu cầu sản phẩm của Công ty tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ tăng sẽ chậm lại do có sự cạnh tranh ngày càng tăng.

    Dự kiến sản phẩm áo đi mưa mỏng vẫn đạt sản lượng cao nhất khoảng 72003 sản phẩm tăng 3,8%, áo đi mưa cho hai người dự định có tốc độ tăng cao nhất đạt 30000 sản phẩm tăng 46,3% so với năm 2004, áo đi mưa có tay đạt 50000 sản phẩm tăng 1,3%, áo đi mưa không tay tiếp tục có xu hướng giảm đi, dự kiến chỉ có thể tiêu thụ được 10000 sản phẩm giảm 36,3% so với năm 2004.

    Về sản phẩm của Công ty có xu hướng tăng trưởng chậm lại do hiện tại Công ty cũng gặp một số khó khăn do bị cạnh tranh. Bên cạnh đó chi phí mua hàng còn khá lớn làm cho giá bán bị nâng cao. Mặt khác nếu không có sự thay đổi nhất định Công ty sẽ không  chủ động được trong việc mua hàng, như vậy sẽ hạn chế việc tiêu thụ hàng hóa.

    2. Kế hoạch mua hàng, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

    Việc mua nguyên vật liệu cũng như mua hàng cần phải có kế hoạch cụ thể và phải có sự tính toán chi tiết để mua được hàng hóa với giá phù hợp hạn chế được chi phí mua hàng, thiết lập hệ thống thu mua hợp lí, tăng hiệu quả.

    Sản xuất: Dự tính trong năm 2005 Công ty sẽ đầu tư mở rộng nhà xưởng để lắp đặt dây chuyền sản xuất hiện đại của Trung Quốc, nhằm nâng cao  năng suất chất lượng của mặt hàng quần áo đi mưa và có thể sản xuất thêm một số măt hàng khác như đồ dùng bằng nhựa. Từ đó có thể nâng cao doanh thu bán sản phẩm lên hơn 3000 triệu đồng.

    Mục tiêu kế hoạch năm 2005:

    *Doanh thu đạt 6500 triệu đồng tăng 11,36% so với thực hiện năm 2004.

    • Doanh thu từ bán sản phẩm là 3400 triệu tăng 14,28% so với 2004.
    • Doanh thu từ bán hàng hóa là 3100 triệu tăng 8,32% so với 2004.

    II. CÁC BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1. Các biện pháp công ty đã và đang áp dụng để đẩy mạnh tiêu thụ  sản phẩm hàng hóa của Công ty.

    1.1.Công tác nghiên cứu thị trường của Công ty TNHH  ÚC ĐẠI LỢI.

    Trong nền kinh tế thị trường , nền kinh tế của sản xuất hàng hóa, cung luôn luôn lớn hơn cầu, thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ trong tất cả các ngành nghề khác nhau. Trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI cũng vậy có rất nhiều các doanh nghiệp khác nhau cùng tham gia hoạt động. Chính vì thế việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty mình là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Với phương châm “ Chủ động tìm người mua để bán hàng và tìm nơi có nhu cầu để kí kết hợp đồng “ ban giám đốc và phòng Marketing đã đi nhiều nơi nhằm duy trì khách hàng cũ khai thác khách hàng mới, vì thế năm 2004 công ty đã kí thêm được 6 hợp đồng cung cấp sản phẩm thường xuyên trong đó có 2 hợp đồng trị giá trên 100 triệu đồng.

    Phòng marketing có chức năng quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm cuả Công ty. Các nhân viên của phòng marketing thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của thị trường, tìm kiếm những thị trường mới còn bỏ ngỏ hay những thị trường có sức cạnh tranh không cao, để có thể đưa sản phẩm của Công ty vào tiêu thụ một cách hiệu quả nhất. Từ việc nghiên cứu thị trường Công ty sẽ nắm bắt được những thông tin phản hồi để từ đó cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, mầu sắc cũng như cung cấp những hàng hóa phù hợp với nhu cầu khách hàng.

    Nhờ quá trình nghiên cứu thị trường, tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty ngày một tăng đem lại hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động kinh doanh. Đặc biệt năm 2004 nhờ quá trình nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng Công ty đã cảo tiến sản phẩm, cho ra đời một sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, tạo nên sự phát triển mới cho hoạt động sản xuất cũng như tạo lên một sức cạnh tranh mạnh mẽ cho Công ty.

    Tuy nhiên nếu đánh giá một cách  toàn diện thì việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của Công ty chưa được cao nắm, hay Công ty chưa đầu tư xứng đáng cho việc khuyếch trương sản phẩm, thúc đẩy tiêu thụ. Hiện tại Công ty mới chỉ có các đại lí tiêu thụ nhưng lại không phải trực tiếp của Công ty, Công ty chưa có các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của chính mình, vì thế việc tiếp xúc với khách hàng cũng như tạo ra các mối quan hệ lâu dài thường xuyên và ổn định là rất khó khăn, từ đó việc giới thiệu sản phẩm cũng như thu thập ý kiến phản hồi của người tiêu dùng còn thấp.

    Với hai kênh tiêu thụ như vậy giúp công ty tiêu thụ sản phẩm hàng hóa một cách nhanh chóng, đảm bảo việc quay vòng vốn nhanh chóng cũng như thúc đẩy sản xuất.

    1.2 Bán hàng trả chậm và bán hàng với giá ưu đãi.

    *   Bán hàng trả chậm: Là phương thức bán hàng mà người mua có thể thanh toán tiền hàng sau một thời gian nhận hàng theo sự thỏa thuận trong hợp đồng. Phương thức này đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa của Công ty bởi vì người mua hàng chưa có tiền hoặc thiếu tiền nhưng vẫn có thể mua được hàng hóa của Công ty, sau đó họ bán hết  hàng mới đến thời gian phải thanh toán. Như vậy họ đã nhờ vào vốn của Công ty để kinh doanh và thu lợi nhuận, lên có nhiều khách hàng muốn mua hàng theo phương thức này. Tuy nhiên, những khách hàng này thường phải chịu một mức giá cao hơn so với mức giá bình thường và do việc bán hàng theo phương thức này gặp nhiều rủi ro, nên Công ty chỉ áp dụng đối với khách hàng quen thuộc và có uy tín cao.

    *  Bán hàng với giá ưu đãi : Là phương thức bán hàng với mức giá thay đổi theo doanh số bán. Tức là nếu người mua hàng mua với khối lượng lớn trở lên và thanh toán ngay sau khi giao hàng sẽ được hưởng phần trăm theo doanh số bán, với khách hàng mua 50 – 100 triệu thì được giảm giá 5%, với khách hàng mua từ 100 – 200 triệu thì được giảm giá 7%, còn với        khách hàng mua từ 200 triệu trở lên sẽ được giảm giá 10%. Phương thức bán hàng này kích thích nhu cầu người tiêu dùng, nhất là những khách hàng có tiềm lực tài chính vì khi mua hàng họ được hưởng một khoản lợi không nhỏ. Phương thức bán này vừa kích thích được nhu cầu vừa giúp Công ty quay vòng vốn nhanh hơn, tuy nhiên Công ty cũng phải chịu thiệt do giảm giá bán.

    1.3. Đảm bảo chất lượng sản phẩm tạo lòng tin cho khách hàng.

    Uy tín của công ty là một yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bàn vững của Công ty. Vì vậy Công ty luôn cố gắng làm sao chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình được đảm bảo, như vậy khách hàng luôn yên tâm khi quyết định mua sản phẩm của Công ty. Tạo được uy tín đối với khách hàng sẽ giữ được  khách hàng truyền thống và lôi kéo khách hàng mới đến với Công ty, và Công ty sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm  hàng hóa hơn. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình trước hết công ty luôn chú trọng tới việc mua hàng hoá và nguyên vật liệu. Lãnh đạo công ty chỉ đạo trực tiếp cho phòng cung ứng vật tư bất cứ giá nào cũng phải đảm bảo nguyên vật liệu cả về số lượng cũng như chất lượng nhằm đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất.

    Khâu sản xuất cũng có tính chất quyết định tới chất lượng của sản phẩm. Tuy máy móc của công ty còn lạc hậu yếu kém, nhưng nhờ có sự chỉ đạo tích cực của cấp trên lên công nhân viên của công ty làm việc rất có trách nhiệm, cho lên những sản phẩm bị lỗi đều được loại bỏ để xử lí sau, đảm bảo sản phẩm suất xưởng luôn đảm bảo chất lượng.

    Việc bảo quản sản phẩm hàng hóa cũng là khâu quan trọng trước khi đưa ra thị trường. Với tính chất của hàng hóa công ty cho bảo quản trong những kho khô và mát để tránh cho sản phẩm khỏi bị huỷ hoại.

    Nhờ những lỗ lực và tinh thần trách nhiệm to lới, sản phẩm hàng hóa của công ty luôn đảm bảo chất lượng tạo lòng tin cho khách hàng , cũng có nghĩa tốc độ tiêu thụ của công ty ngày một tăng lên.

    1.4.  Đảm bảo dịch vụ trong và sau bán hàng.

    Trong nền kinh tế thị trường dịch vụ trong và sau bán có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh hưởng nhiều tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Do nhận thúc đúng đắn được vấn đề này mà Công ty rất chú trọng tới công tác phục vụ khách hàng. Trong quá trình bán hàng Công ty luôn hướng dẫn khách hàng cách bảo quản hàng hóa một cách chi tiết để giữ cho sản phẩm hàng hóa không bị hư hại, đối với khách hàng ở gần Công ty luôn phục vụ vận chuyển một cách tận tình đến tận nơi cho khách, đối với khách hàng ở xa nếu không phục vụ được Công ty sẽ đảm bảo gửi hàng đến tận nơi cho khách. Đối với sản phẩm chủa Công ty nếu có sự hư hỏng, rách nát Công ty sẽ chịu trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, còn với hàng hóa nếu hư hỏng do phía công ty thì công ty sẽ có trách nhiệm đổi lại. Tuy nhiên việc phải đổi đi đổi lại sản phẩm hàng hóa rất hiếm khi sẩy ra vì công ty luôn kiểm tra nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình. Nhờ đảm bảo dịch vụ cho khách hàng nên khách hàng rất yên tâm khi mua hàng, đồng thời kích thích được nhu cầu người tiêu dùng, tăng khả năng tiêu thụ của công ty.

    2. Một số ý kiến của em để đẩy mạnh tiêu thụ  sản phẩm hàng hóa của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Ngoài việc Công ty tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp đã và đang áp dụng nhằm củng cố việc tiêu thụ, Công ty lên áp dụng một số biện pháp sau để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình.

    2.1. Đối với hoạt động sản xuất.

    Hoạt động sản xuất có thể coi là hoạt động chính của Công ty vì thế việc mở rộng quy mô sản xuất là đIều kiện hết sức cần thiết đối với sự phát triển của Công ty. Để có thể mở rộng quy mô sản xuất thì khâu tiêu thụ phải được đảm bảo để tránh ứ đọng hàng hóa. Để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa ta có thể sử dụng một số biện pháp sau:

    2.1.1. Tăng cường hoạt động quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và giữ vững thị trường hiện có phát triển thị trường mới.

    Kể từ khi thành lập đến nay Công ty hầu như chưa sử dụng một biện pháp quảng cáo nào cho sản phẩm của mình, bởi vì chi phí cho hoạt động quảng cáo là khá cao mà tiềm lực Công ty còn hạn hẹp.

    Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay Công ty phải đương đầu với khá nhiều đối thủ cạnh tranh.Vì thế để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa Công ty nên áp dụng một số biện pháp quảng cáo dù là rất đơn giản để có thể giới thiệu rộng rãi sản phẩm ra thị trường.

    Với đặc điểm hàng hóa của mình Công ty cũng không cần phải quảng cáo trên truyền hình hay rađio cho tốn kém, mà Công ty chỉ cần áp dụng một số biện pháp quảng cáo đơn giản như dùng catalô, khuếch trương khuyến mại, đặc biệt là dùng biện pháp chào hàng. Chào hàng có thể nói là một biện pháp thích hợp nhất để quảng bá sản phẩm của Công ty. Ta có thể chào hàng  cho các nhà buôn ở các tỉnh thành phố cũng có thể chào hàng cho các cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội. Các cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội rất nhiều, nhân viên của Công ty có thể mang sản phẩm của mình đến chào bán với mức giá thích hợp để có thể cạnh tranh với các sản phẩm khác. Đây sẽ là cơ hội để Công ty tìm kiếm thêm bạn hàng và thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của mình.

    Nhờ có quảng cáo Công ty sẽ tăng thêm niềm tin của khách hàng giữ vững được thị trường hiện có đồng thời qua đó sẽ có những khách hàng biết đến Công ty và việc mở rộng thị trường là đương nhiên.

    Công ty nên thiết lập một số cửa hàng nhằm giới thiệu và bán sản phẩm và nắm bắt nhanh được ý kiến của khách hàng đồng thời phục vụ khách hàng được tốt hơn.

    2.1.2. Đổi mới trang thiết bị công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn.

    Đổi mới trang thiết bị thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp đem lại niềm tin cho khách hàng. Bởi vì khi Công ty đầu tư trang thiết bị sản xuất hiện đại cho thấy Công ty đang trên đà phát triển, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi giao dịch với Công ty, họ yên tâm về chất lượng sản phẩm, yên tâm về số lượng hàng hóa Công ty cung ứng. Nhờ đầu tư thiết bị hiện đại sẽ sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao hơn mang lại uy tín cho Công ty và khách hàng trung thành với sản phẩm của Công ty.

    Trước đây với máy móc lạc hậu thì có rất nhiều sản phẩm hư hỏng làm tăng chi phí sản xuất, nếu được đầu tư hiện đại sẽ giảm bớt lượng hàng hóa hư hỏng, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm sản xuất, việc tiêu thụ rễ ràng hơn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Theo như dự định năm 2005 công ty sẽ nhập dây chuyền sản xuất hiện đại của Trung Quốc. Đây là một dấu hiệu rất tốt trong việc đầu tư phát triển sản xuất của Công ty. Tuy nhiên Công ty cần tập trung tạo mọi nguồn lực của mình để có thể nhanh chóng thực hiện được những kế hoạch đề ra.

    2.1.3. Cần đa dạng hóa sản phẩm.

    Đa dạng hóa sản phẩm luôn là biện pháp tích cực để mở rộng sản xuất cũng như đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, nâng cao khả năng tiêu thụ của Công ty. Hiện nay, sản phẩm của Công ty còn đơn chiếc do vậy rất rễ gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, chính vì vậy việc đa dạng hóa sản phẩm là một việc cần thiết và phải được ưu tiên hàng đầu, có như vậy hoạt động tiêu thụ mới phát triển mạnh, hoạt động sản xuất kinh doanh mới ổn định.

    Hiện tại Công ty có thể phát triển thêm những sản phẩm cũng thuộc hàng polime như túi ninon. Đây là mặt hàng cũng rất đa dạng và phong phú với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau. Đặc biệt sức tiêu thụ của mặt hàng này  trên thị trường là rất lớn, vì thế Công ty sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của mình.

    Ngoài ra trong tương lai khi sự phát triển của công ty mạnh lên công ty có thể đầu tư sản xuất các mặt hàng bằng nhựa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống. Đây là mặt hàng cũng rất được người tiêu dùng ưa chuộng và hứa hẹn nhiều thành công khi Công ty tham gia vào sản xuất.

    Như vậy đa dạng hoá sản phẩm  là cơ sở để Công ty phát triển hoạt động sản xuất cũng như nâng cao tốc độ tiêu thụ của mình.

    .  Đối với hoạt động thương mại.

    Hoạt động kinh doanh thương mại cũng có ảnh hưởng rất mạnh tới hoạt động của toàn Công ty. Do vậy việc đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa là rất cần thiết nhất là khi cạnh tranh trong các doanh nghiệp cùng ngành ngày càng mạnh mẽ.

    2.2.1. Hoàn thiện hơn nữa khâu cung ứng hàng hóa.

    Công tác mua hàng có ý nghĩa rất lớn tới việc tiêu thụ hàng hóa, mua hàng tốt giúp cho việc bán hàng thuận lợi hơn rất nhiều, đảm bảo nâng cao tốc độ tiêu thụ. Bởi vì tổ chức tốt việc cung ứng sẽ đảm bảo chất lượng, số lượng chủng loại hàng hóa cung ứng ra thị trường, ngoài ra Công ty sẽ giảm tối thiểu chi phí mua hàng nhờ vậy có thể giảm được giá thành tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

    Hoàn thiện khâu cung ứng hàng hóa trước hết công ty cần lựa chọn nhiều nhà cung ứng và là những nhà cung ứng có uy tín cao. Như vậy đảm bảo cho hàng hóa không bị thiếu cũng như lựa chọn được hàng hóa có chất lượng cao và gía thành thấp nhất.

    Ngoài ra những người được giao nhiệm vụ đi mua hàng phải là những người có trình độ hiểu biết về hàng hóa mình đi mua, như vậy mới có thể biết được những hàng hóa tốt nhất mua về cho Công ty.

    Việc vận chuyển hnàg hóa cũng là một yếu tố quan trong ảnh hưởng tới chi phí đầu vào. Cần lựa chọn phương tiện vận chuyển phù hợp với hàng hóa mua về để tiết kiệm chi phí.

    Nếu hoàn thiện được khâu cung ứng chắc chắn hàng hóa của Công ty bán ra thị trường có chất lượng tốt giá thành hạ đảm bảo cho cạnh tranh thúc đẩy tiêu thụ.

    2.2.2. Thiết lập cửa hàng chuyên bán hàng hóa của  Công ty.

    Công ty nên mở cho mình một cửa hàng để có thể tiếp cận nhanh chóng với người tiêu dùng . Công ty sẽ nắm bắt được nhũng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng, là cơ hội để Công ty phát triển thêm hàng hóa của mình, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu. Thông qua cửa hàng Công ty vừa bán buôn vừa có thể bán lẻ được hàng hóa, bán lẻ tuy số lượng mỗi lần bán ít nhưng bán lẻ cho nhiều người thì doanh thu cũng không phải nhỏ.

    Như vậy mở cửa hàng trực tiếp cũng là một biện pháp thích hợp để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ hàng hóa của Công ty.

    III. NHỮNG KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC.

    1. Cần có chính sách vay vốn với mức lãi suất hợp lí.

    Lãi suất cho vay của ngân hàng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước. Với một mức lãi suất hợp lí sẽ kích thích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Bởi vì nó giúp các doanh nghiệp vay vốn hạ được chi phí sản xuất từ đó giảm giá thành sản phẩm kích thích tiêu dùng, tăng doanh thu tăng lợi nhuận.

    Ngoài ra nhà nước cần có chính sách vay vốn thông thoáng tránh rườm rà, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn một cách nhanh nhất, giúp họ nắm bắt được cơ hội kinh doanh.

    2. Cần có sự điều chỉnh chính sách thuế cho hợp lí.

    Tránh tình trạng các doanh nghiệp bị đánh thuế chồng chéo ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó các doanh nghiệp yên tâm hoạt động sản xuất và đóng góp cho ngân sách theo đúng luật định đảm bảo thoả mãn nhu cầu cả hai bên.

    Các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất.

    3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường sản xuất kinh doanh cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.

    Tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ như Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI. Môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp các công ty yên tâm hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy lợi thế của mình. Tránh tình trạng Công ty lớn lấn áp Công ty bé dẫn đến độc quyền sản xuất, mua, bán hàng hóa, làm mất ổn định nền kinh tế và gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

     

     

    KẾT LUẬN

    Qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI  được tiếp xúc với những người làm công tác quản lí, em càng hiểu rõ hơn về sự cần thiết phải đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài đòi hởi phải giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hay đầu ra của doanh nghiệp. Sản phẩm tung ra thị trường không phải lúc nào cũng được thị trường chấp nhận, chỉ có những hàng hóa mà” thượng đế” có cầu về nó mới chấp nhận. Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp ngày càng phát triển song cũng có những doanh nghiệp có hàng hóa tồn đọng hàng tỷ đồng, làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp, hạn chế khả năng quay vòng vốn dẫn tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp. Vậy giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp.

    Để tăng cường hơn nữa công tác tiêu thụ sản phẩm của mình , một trong các giải pháp được giới thiệu là: tăng cường công tác nghiên cứu thị trường ; tăng cường hoạt động quảng cáo giới thiệu sản phẩmvà giữ vững thị trường hiện có phát triển thị trường mới ; đổi mới trang thiết bị công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn, hoàn thiện khâu cung ứng hàng hoá. Có như vậy mới đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh đưa doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Đây sẽ là cơ sở để phát triển nền kinh tế, thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Đất nước.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Kinh tế doanh nghiệp Thương Mại – ĐH KTQD – 2002.
    • Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp TM – DV – ĐHTM.
    • Giáo trình thương mại doanh nghiệp – Quản trị tiêu thụ sản phẩm và quản trị vật tư- ĐHKTQD – 2001.
    • Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường – NXB Giáo dục – 1999.
    • Nghệ thuật bán hàng – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 2002.
    • Lựa chọn tối ưu phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – NXB Chính trị Quốc gia – 1995.
    • Marketing căn bản – Philip Kotle – NXB Thống kê – 2000.
    • Quản trị sản xuất và tác nghiệp – NXB Giáo dục – 2002.
    • Marketing trong quản trị kinh doanh – NXB Thống kê – 2001.

    10- Giáo trình quản trị hoạt động thương mại trong doanh nghiệp – NXB Giáo dục – 2001.

    11- Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp – NXB Giáo dục – 2001.

    12- Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh qua các năm 2000 – 2004 của Công ty TNHH.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-cung-c%E1%BA%A5p-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Internet-v%C3%A0-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-%E2%80%93-FPT.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    I.       LỜI NÓI ĐẦU

     

        Trong qúa trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng thì cùng với nó sự trao đổi thông tin giữa các quốc gia , giữa các doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với thị trường với người tiêu dùng ngày càng trở nên nhanh chóng . Internet và dịch vụ viễn thông đóng góp một phần lớn trong quá trình trao đổi thông tin và góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa . Và đi kèm với nó là một lĩnh vực kinh doanh mới mang nhiều tiềm năng đó là phục vụ khai thác các thông tin và cung cấp dịch vụ Internet và dịch vụ viễn thông . Inetrnet và dịch vụ viễn thông làm cho mọi người trên toàn thế giới co thể cùng nói chuyện với nhau cùng một thời điểm và xóa đi khoảng cách về không gian do đó quá trình giao dịch trở nên thuận tiện và kịp thời .

    Được nhận định những thập kỷ tiếp theo là thập kỷ của Internet và viễn thông . Và internet sẽ trở thành thông dụng trên toàn thế giới và thị trường  cung cấp dịch vụ Inetrnet và dịch vụ viễn thông sẽ trở thành một trong những ngành hàng đầu mạng lại lợi nhuận cao nhất .

    Ở Việt Nam lĩnh vực cung cấp dịch vụ internet và viễn thông tuy không còn mới mẻ nữa tuy nhiên nó vẫn còn chứa đựng những bí mật mà các doanh nghiệp Việt Nam đang khám phá và cũng mang lại nhiều khó khăn và thách thức đối với doanh nghiệp . Nhu cầu sử dụng Internet của người dân Việt Nam ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng đó cũng là một thời cơ và cũng là một thách thức lớn cho những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet . Thực tế thì hiện nay ở Việt Nam chất lượng cung cấp dịch vụ Internet còn thấp hơn rất nhiều so với các nước trên thế giới đó là do nhiều nguyên nhân khác nhau mang lại như công nghệ , như trình độ … Bên cạnh đó chúng ta cũng có nhiều lợi thế mà các quốc gia khác không có . Để ngày càng đáp ứng càng cao nhu cầu của khách hàng và ngang tầm với các quốc gia khác thì cần phải nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông .

    Trong quá trình thực tập tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT , em nhận thấy hoạt động cung cấp dịch vụ internet và dịch vụ viễn thông của công ty còn nhiều hạn chế  và bất cập chưa thỏa mãn được khách hàng hiện tại và thu hút thêm khách hàng mới , tuy nhiên được đánh gía là một công ty lớn hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và là Công ty mạnh và có tốc độ phát triển cao . Để thực hiện chiến lược phát triển của công ty , trong nhưng năm qua Công ty FPT  đã áp dụng hệ thống ISO 9001 nhằm ngày càng nâng cao vị thế của công ty trong lĩnh vục cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông .

       Nhận thúc được tầm quan trong của việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Interet và viễn thông của công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT , em đã quyết định lựa chọn đề tài : Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT.

    Mục đích nghiên cứu đề tài :

    – Làm rõ những vấn đề chung về chất lượng và chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và dịch vụ viễn thông

    – Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông của Công ty FPT.

    Phạm vi nghiên cứu đề tài :

    – Nghên cứu khảo sát tình hình chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viên thông của Công ty FPT.

    Nội dung nghiên cứu đề tài gồm 2 phần :

      Chương I: Thực trạng chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty Phát triển Đầu tư Công nghệ – FPT

      Chương II: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lương cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty FPT

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn Thạc sỹ  Trần Bình Trọng cùng các cô , các bác và anh chị trong Công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong  quá trình thực tập và hoàn thành đề tài này .

    II.    CHƯƠNG I

    III. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET VÀ VIỄN THÔNG TẠI CÔNG TY PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ FPT

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    1.1.1. Hoàn cảnh ra đời

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đặt ra một trong những nhiệm vụ trước mắt là xây dựng đất nước , xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp . Theo tinh thần đó Nghị định của chính phủ ra đời mở đường cho các cơ quan khoa học được thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra kinh phí để tự giải quyết công việc , phát triển các hoạt động khoa học .

    Theo tinh thần của nghị định , Viện cơ học được phép ký kết các hợp đồng kinh tế . trong quan hệ lúc bấy giờ , hai Viện hàn lâm khoa học Liên Xô và Viện khoa học Việt Nam đã ký hợp đồng trao đổi thiết bị , tinh thần của hợp đồng là phía Viện khoa học Việt Nam chuyển cho Viện hàn lâm khoa học Liên Xô máy tính , ngược lại phía bạn chuyển cho ta thiết bị khoa học , các nguyên vật liệu và phương tiện vận tải . Vì vậy Viện khoa học Việt Nam đã giao cho Viện cơ học thực hiện hợp đồng này và Viện cơ học lại giao cho nhóm trao đổ Nhiệt – Chất của Viện thực hiện .

    Để có thể thực hiện tốt hợp đồng này thì ngày 13/ 9 / 1988 Công ty FPT ra đời theo quyết định số 80-88 QĐ/ VCN do Viện trưởng Viện công nghệ Quốc gia ký với tên gọi ban đầu là Công ty công nghệ thực phẩm , tên giao dịch là : Food Prossesing Technology Company viết tắt là FPT do tiến sĩ Trương Gia Bình làm Giám Đốc .

    1.2.2. Quá trình xây dựng và phát triển

    Quá trình xây dựng và phát triển của Công ty FPT trải qua hai giai đoạn :

    Giai đoạn 1988- 1990 :

    Khi mới ra đời Công ty có trụ sở chính tại 30 Hoàng Diệu- ba Đình – Hà Nội  . Trong giai đoạn này Công ty hoạt đọng chủ yếu trong lĩnh vực Công nghệ chế biến thực phẩm.

    Ngày 20/11/1988 công ty chuyển sang trụ sở Viện cơ học tại 224 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội .

    Năm 1989 Công ty được nàh nước cấp cho 3.150 mét vuông để xây dựng nàh cho cán bộ nhân viên và 2.700 mét vuông đát để xây dựng trụ sở chính là trụ sở làm việc hiện nay của Công ty .

    Để có máy tính xuất khẩu sang Liên Xô , Công ty đã quan hệ với hãng máy tính Olivetti , đay là quan hệ đầu tiên của Công ty với một hãng máy tính thuộc loại mạnh ở phương tây .

    Giai đoạn 1990 tới nay :

    Ngày 31/ 3/ 1990 chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh ra đời đánh dáu một bước phát triển về chất và lượng của Công ty .

    Ngày 5/ 6/ 1990 trụ sở được chuyên sang một tòa nhà trương PTTH Giảng Võ . Thời kỳ này định hướng cho phương hướng sản xuất kinh doanh của Công ty đã rõ ràng , hướng chủ đạo vào lĩnh vực tin học .

    Ngày 27/ 10/ 1990 Công ty đổi tên thành Công ty phá triển đầu tư công nghệ – FPT với tên giao dịch quốc tế là : The Corporation for Financing and Promoting  Technology và năm 1991 Công ty đã đổi Lôg như hiện nay .

    Ngày 15/ 1/ 1992 Công ty chuyển trụ sở ra 25 Lý Thường Kiệt .

    Ngày 29/ 9/ 1993 Chính phủ ra Nghị Định 65/ CP về việc sát nhập Viện nghiên cứu công nghệ Quốc gia và Viện năng lượng nguyên tử Quốc gia về Bộ khoa học công nghệ và môi trường , từ đây Công ty chịu sự quản lý của Bộ khoa học công nghệ và môi trường .

    Ngày 20/ 3/ 1995 Công ty chuển  trụ sở sang Yết Kiêu .

    Ngày 21/ 10/ 1995 Công ty FPT và sở GD & ĐT Hà Nội ký biên bản thỏa thuận về việc phổ cập tin học trong các trường phổ thông .

    Tháng 2 năm 1996 Công ty chuyển trụ sở sang 89 Láng Hạ .

    Ngày 13/ 9/ 1997 Công ty FPT được Tổng cục bưu điện cho phép là nhà cung cấp thông tin , sau đó là nhà cung cấp dịch vụ Internet.

    Ngày 28/ 2/ 2002 theo Quyết định 178/ QĐ- TT của thủ Tường Chính phủ về quyết định chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT thành Công ty cổ phần.

    Mười sau năm xây dựng và trưởng thành FPT đã thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược , trở thành nhà cung cấp , đại lý phân phối , dịch vụ ủy quyền của gần 200 Công ty hàng đầu thế giới như : Inter , Microsoft , Oracle, HP, 3Com , Cisco, Apple … Với hệ thống đối tác này của FPT có thể cung cấp các sản phẩm , giải pháp và dịch vụ tổng thể , toàn diện , tối ưu và hiện đại nhất , đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng .

    Phát triển tập trung theo xu hướng Hội tụ số ( Digital Convergence ) , FPT lựa chọn đối tác chủ yếu ở các lĩnh vực sau : Thiết bị công nghệ thông tin , công nghệ bảo mật , công nghệ mạng , công nghệ và giải pháp lưu trữ , thiết bị và giải pháp chuyên dụng , phần mềm , giải pháp viễn thông , đào tạo .

    1.3.3.Chức năng nhiệm vụ của Công ty FPT

    Trải qua 16 năm hình thành , phát triển và trưởng thành , tập đoàn FPT đã liên tục trở thành tập đoàn tin học lớn nhất Việt Nam , tạo đà phát triển vững chắc cho giai đoạn tiếp theo . Tập đoàn FPT có lĩnh vực kinh doanh rộng đặc biệt chuyên sâu vào lĩnh vực tin học và chuyển giao công nghệ.

    Lĩnh vực hoạt động hiện nay của Công ty FPT là :

    + Tích hợp hệ thống cho các dự án công gnhệ thông tin của khách hàng

    + Phân phối các sản phẩm tin học

    + Phất triển phần mềm ứng dụng

    + Sản xuất phần mềm đáp ứng thị trường nội địa và xuất khẩu

    + Cung cấp các giải pháp , dịch vụ viễn thông và Internet

    + Đào tạo lập trình viên Quốc tế

    + Sản xuất máy tính thương hiệu Việt nam

    + Phân phối điện thoại di động

    + Cung cấp thiết bị công nghệ : Diện , viễn thông , dầu khí…

    + Nghiên cứu thiết kế , sản xuất chuyên giao công nghệ Tin học và ứng dụng vào các công gnhệ khác , xuất nhập khẩu thiết bị , sản phẩm công gnhệ tin học và các công nghệ khác .

    + Ngiên cứu phát triển sản xuất kinh doanh , tư vấn đầu tư chuyên giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường .

    + Tư vấn đầu tư nước ngoài và đào tạo …

    + Tư vấn quản lý nguồn lực

    Hoạt động chính của công ty là:

    + Ngiên cứu , thiết kế , sản xuất chuyển dao công nghệ tin học và ứng dụng vào các công nghệ khác

    + Sản xuất phần mềm máy tính

    + Cung cấp các dịch vụ Internet và gia tăng tên mạng

    + Đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu cho công nghiệp phần mềm

    + Mua bán thiết bị máy móc trong lĩnh vực Y tế , giáo dục đào tạo , khoa học kỹ thuật công nghệ , công nghệ môi trường, Viễn thông vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng ô tô xe máy

    + Dịch vụ đầu tư chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường , giáo dục đào tạo , Y tế

    + Sản xuất chế tạo lắp ráp tủ bảng điện

    + Đại lý bán vé máy bay

    + Đại lý mua, đại lý bán , ký gửi hàng hóa

    + Tư vấn đầu tư

    + Sản xuất chế tạo lắp ráp các thiết bị công nghệ thông tin

    + Kinh doanh dịch vụ kết nối Internet (IXP)

    Với các chức năng kinh doanh gồm :

    + Nghiên cứu, thiết kế , sản xuất , chuển giao công nghệ tin học và ứng dụng công nghệ , xuất nhập khẩu thiết bị , sản phẩm công nghệ tin học và các công nghệ khác

    + Xuất nhập khẩu ủy thác …

    + Nhập khẩu và kinh doanh các thiết bị viễn thông …

    + Nghiên cứu phát triển sản xuất kinh doanh , tư vấn đầu tư chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường

    II.CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU ẨNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET VÀ VIỄN THÔNG

    1.4.1. Đặc điểm về sản phẩm .

    1.1 . Một số khái niệm liên quan

    Hệ thống thiết bị Internet là tập hợp các thiết bị điện tử , viễn thông , tin học và các thiết bị phụ trợ khác bao gồm cả phần cứng lẫn phần mềm được Công ty thiết lập tại một địa điểm có địa chỉ và phạm vi xác định để phục vụ trực tiếp cho việc cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet

    Kết nối là việc liên kết các hệ thống thiết bị Internet với nhau và với mạng viễn thông công cộng trên cơ sở các đường truyền dẫn viễn thông tự xây dựng hoặc thuê của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông .

    Mạng lưới thiết bị Internet là tập hợp các hệ thống thiết bị Internet của đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet được kết nối với nhau bằng các đường truyền dẫn viễn thông .

    Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập đến Internet thông qua hệ thống thiết bị Internet đặt tại điểm truy nhập Internet của đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ .

    Dịch vụ kết nối Internet quốc tế phục vụ việc trao đổi lưu lượng thông tin giữa hệ thống thiết bị Internet của các đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong nước với Internet quốc tế .

    Dịch vụ kết nối Internet trong nước phục vụ việc trao đổi lưu lượng thông tin giữa các hệ thống thiết bị Internet của các đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong nước với nhau

    Tên miền ( Domain name ) là định danh Website trên Internet. Tên miền thường gắn kèm với tên công ty , tên doanh nghiệp và thương hiệu của doanh nghiệp . Tên miền là duy nhất và được cấp phát cho chủ thể dăng ký trước . Tên miền có hai dạng :

    + Tên miền quốc tế dạng : www.tenongty.com (.net ;.biz ;.org…)

    + Tên miền quốc gia dạng : www.tencongty.com.vn( hoặc .net.vn; .biz.vn …)

    1.2 . Đặc điểm sề sản phẩm dịch vụ Internet

    1. Những giá trị sử dụng của dịch vụ Internet

    – Trao đổi thông tin : gửi,  nhận thư điện tử ( Email)

    – Tra cứu thông tin : dịch vụ WWW ( World Wide Web)

    – Truyền dữ liệu : dịch vụ FTP ( File Transfer Protocol )

    – Quảng cáo thông tin trên Internet : Dịch vụ thiết kế Web

    – Internet cung cấp cho người dùng phườn tiện truyền tin nnhanh , chính xác, chi phí thấp

    1. Những sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực Internet

    + Internet thuê bao

    + Internet Card

    + Gọi 1280

    + Internet Phone

    + Internet băng thông rộng – ADSL Megahome, MegaNet, MegaBiz

    + Kênh thuê riêng

    + Thư điện tử dùng riêng – Mail relay

    + Thư điện tử ảo – Virtual mail

    + Đăng ký tên miền

    + Thiết kế Web

    + Giải pháp điện tử

    + Lưu trữ Web

    + Thuê chỗ đặt máy

    + Máy chủ dùng riêng

    + Bảo trì và cập nhật Website

    + Quảng cáo Internet

    1. Những đặc trưng

    Dịch vụ thư tín điện tử : Khách hàng có thể nhận , gửi thư điện tử trên quy mô toàn cầu. Khi sử dụng dịch vụ cung cấp Internet của Công ty FPT với đường truyền băng thông rộng ADSL thì mỗi khách hàng sẽ có một hộp thư trên máy chủ của FPT với dung lượng không quá 20 MB

    Dịch vụ Mail relay : khách hàng được cung cấp 1 Email domain name, số lượng địa chỉ email không hạn chế , hộp thư giao dịch nằm trên máy chủ của khách hàng . Đảm bảo tính bảo mật và an toàn thông tin , và định kỳ máy chủ của káhch hàng được kết nối với máy chủ của FPT để thực hiện truyền tải thồn thư.

    Dịch vụ Virtual mail : khách hàng được cung cấp một email domain name , một số lượng  địa chỉ email nhất định , hộp thư giao dịch nằm trên máy chủ của FPT, Vói dịch vụ này thì thư được gửi nhanh và đảm bảo tính bảo mật .

    Dịch vụ kết nối Internet qua đườn leased line : khách hàng được sử dụng Internet 24/ 24 qua đường truyền riêng với mọi dịch vụ hiện tại của Việt Nam

    Dịch vụ truy nhập các cơ sở dữ liệu World Wide Web : Người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin dưới các dạng ngôn ngữ văn bản , hình ảnh , đồ họa …v..v . Người sử dụng sẽ dễ dàng truy cập các trang Web khác nhau trên toàn thế giới .

    Truyền dữ liệu : Người sử dụng có thể download ( lấy về ) các dữ liệu cần thiết như các phần mềm , trò chới , sách … hoặc đua các dữ liệu lên mạng ( upload) với mục đích chia sẻ thông tin .

    Cho thuê chỗ trên máy chủ : Người sử dụng có thể thuê một khoảng trên máy chủ để lưu trữ thông tin của mình với mục đích  quảng cáo.

    Dịch vụ tạo tên miền : khách hàng có địa chỉ riêng trên Internet

    Thiết kế Web : thiết kế các website trên Internet nhằm mục đích quảng cáo sản phẩm , giới thiệu thông tin về tổ chức, cá nhân…

    Báo điện tử : Xuất bản thông tin trên Internet trên site có địa chỉ www.vnexpress.net . Thông tin trên báo được cập nhật 24/24 và trở thành một báo điện tử có danh tiếng ở Việt Nam

    1.5.2. Đặc điểm về thị trường cung cấp dịch vụ Internet

    Thị trường cung cấp dịch vụ Internet của Công ty FPT chủ yếu là thị trường trong nước . Hiện nay trong nước ngoài Công ty FPT còn có 6 Công ty khác cùng cung cấp dịch vụ Internet đó là : VNPT, Saigon Postel, Viettel, Hanoi Telecom, Viễn thông hàng hải , Viễn thông điện lực. Do vậy sự cạnh tranh của các công ty rất cao . Để có thể cạnh tranh mạnh với các công ty khác thì Công ty FPT đã chia thị trường trong nước thành các đối tượng khác hàng nhỏ khác nhau, đó là :

    + Thị trường các cá nhân đại lý

    + Thị trường các doanh nghiệp

    + Thị trường các cơ quan nhà nước .

    Đối với từng đối tượng khác nhau thì có những chính sách về dịch vụ cung cấp có sự nổi trội khác nhau để đáp ứng yêu cầu của khách hàng .

    Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ Internet chiếm 4,6 % trong tổng doanh thu từ lĩnh vực hoạt động kinh doanh tin học . Tuy tỷ lệ này còn thấp so với tổng doanh thu trong lĩnh vực tin học . Nhưng so với trên thị trường thì trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet thì Công ty FPT liên tục tăng trưởng và trở thành doanhnghiệp cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu tại Việt Nam với 600 000 thuê bao Internet trong đó có 20 000 thuê bao Internet băng thông rộng và vài trăm khách hàng sử dụng kênh thuê bao riệng , chiếm 30% thị phần Internet Việt Nam.

    Ngoài ra Công ty FPT cũng là nhà cung cấp thông tin trên mạng Internet được công nhận tại Việt Nam . Hệ thống báo điện tử VnExpress.net và các trang thông tin Ngoisao.net , Danduong.net , Sohoa.net đã trở thành top 10 Website có số lượng người truy nhập đông nhất Việt Nam , trong đó VnExpress đang tiến gần đến top 500 Website có số lượng người truy nhập lớn nhất trên toàn thế giới ( theo thống kê của Alexa ) .

    1.6.3. Đặc điểm quá trình cung cấp dịch vụ Internet

    Lưu đồ cỏc quỏ trỡnh cung cấp dịch vụ Internet

     
       

     

     

     

    Qua sơ đồ trên ta thấy quá trình cung cấp dịch vụ Internet bao gồm 8 quy trình khép kín . Trong đó quy trình triển khai dịch vụ và bảo đảm hoạt động của mạng đóng vai trò quan trọng , để nâng cao được uy tín cung cấp dịch vụ và thu hút được khách hàng thì rất cần thiết các hoạt động này phải đạt hiệu quả.

    Mục tiêu của từng quy trình trong quá trình cung cấp dịch vụ Internet:

    – Hoạt động Marketing : nghiên cứu , tạo hình ảnh tốt nhất của FPT Internet nhằm mở rộng thị phần khách hàng sử dụng dịch vụ Internet. Giới thiệu dịch vụ , thuyết phục khách hàng để ký hợp đồng sử dụng dịch vụ của FPT Internet .

    – Quản lý thông tin khách hàng : Quản lý và kiểm soát thông tin về khách hàng .

    – Triển khai dịch vụ : Cài đặt Internet và hướng dẫn khách hàng sử dụng Internet .

    – Đảm bảo hoạt động mạng :

    + Thực hiện việc đảm bảo cung cấp đầy đủ và an toàn những dịch vụ mạng như đã thỏa thuận với khách hàng .

    + Vận hành tốt hệ thống máy chủ 24/ 24 ( Web server, Mail Sever , FTP Sever , database Sever, Remote Access Sever , Modem )

    + Đảm bảo về chất lượng truy cập và chất lượng dịch vụ Internet hỗ trợ cho khách hàng

    + Đảm bảo tính riêng tư và bảo mật cho khách hàng ( Email, mật khẩu , thông tin cái nhân )

    + Đảm bảo việc trao đổi thông tin nội bộ thông suốt

    – Hỗ trợ khách hàng : Đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng , giải quyết các sự cố kỹ thuật trong quá trình sử dụng dịch vụ.

    – Thu tiền từ khách hàng : Thu tiền đầy đủ , chính xác cước phí và các khoản thu có liên quan do khách hàng sử dụng dịch vụ mang lại .

    1.7.4. Đặc điểm về lao động

    Là nơi hội tụ , đồng thời là cái nôi phát triển của nhiều chuyên gia cao cấp hàng đầu thế giới , trong suốt nhiều năm qua FPT luôn được đánh giá là Công ty có đội ngũ chuyên gia đông đảo và chuyên nghiệp nhất Việt Nam. Tập trung được đội ngũ đông đảo gần 4000 nhân viên năng động và trẻ trung  được đào tạo chuyên nghiệp và bài bản ở các trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước ( Anh , Pháp , Mỹ , Đức , Uc,…) và tiếp tục đào tạo và nâng cấp thường xuyên về công nghệ và giải pháp cùng với kinh nghiệm tích lũy qua hàng trăm các dự án công nghệ phức tạp , quy mô lớn được triển khai hàng năm . Công ty luôn nhận được sự tín nhiệm của các khách hàng lớn ở Việt Nam và các nước trong khu vực .

        4.1.Tăng Trưởng Nhân Sự

    Đơn vị : Người

    Năm 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2005
    FPT 40 393 499 825 1083 2780 3426

    Nguồn : Báo cáo nhân sự hàng năm

    Biểu đồ thay đổi nhân sự của FPT

    4.2.Trình Độ Học Vấn Và Cơ Cấu Nghiệp Vụ

    Các nhân viên FPT có trình độ học thức cao. Số nhân viên có trình độ học vấn trên đại học là 101 người ( chiếm 2,9% ) số người có trình độ đại học là 2761 người ( chiếm 80,5% )

    Số lượng cán bộ quản lý là 360 người ( chiếm 10,5 %) .cán bộ kinh doanh là 689 người (chiếm 20,1 %) , cán bộ kỹ thuật là 1035 người ( chiếm 30,2 %).Đội ngũ phần mềm là 1097 người ( chiếm 32.0 % ) . Đội ngũ chức năng là 245 người (chiếm7,1%)

    Về chuyên gia kỹ thuật và lập trình để thực hiện cung cấp dịch vụ Internet , hiện nay có 628 nhân viên kỹ thuật , 41 chuyên gia phần mềm , cán bộ kinh doanh gồm có 321 người . Với độ tuổi trung bình là 26 tuổi trong đó trình độ trên đại học có 7 người ( chiếm 0,88% ) và trình độ đại học là 495 người ( chiếm 39,45 %) và 743 người có trình độ dưới đại học ( chiếm 59,67 % ) . Với công việc cung cấp dịch vụ Internet thì trình độ này còn thấp , đây có thể là một nguyên nhân dẫn đến chất lượng cung cấp dịch vụ của Công ty còn hạn chế .

    Nhưng với đội ngũ cán bộ kinh doanh trẻ và có năng lực thì đây là một lợi thế để mở rộng kinh doanh trong tương lai .

    1.8.5. Đặc điểm về tài chính

    5.1 Tài Sản – Nguồn Vốn

    Công ty FPT được thành lập từ năm 1988, với số vốn đăng ký kinh doanh 11,982 tỷ đồng . Hiện nay số vốn kinh doanh cảu Công ty là 288.5 tỷ đồng.

    (đơn vị : tỷ đồng)

           Chỉ tiêu      Năm 2003       Năm 2004      Năm 2005
    Tài sản lưu động           509.8            917.1        1,476.6
    Tài sản cố định             40.5              62.0             88.5
    Tổng tài sản           550.4            919.2        1,565.1
    Nợ ngắn hạn           419.1            716.7        1,060.2
    Nợ dài hạn             94.5              84.5           162.6
    Tổng nợ           517.3            806.7        1,233.8
    Vốn kinh doanh             30.0            150.0           288.5

    Nguồn ; Báo cáo tài chính

    Tổng tài sản của Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT tăng khá mạnh quả các năm, đặc biệt là từ năm 2004 đến năm 2005 , tổng tài sản của FPT tăng từ 919.2 tỷ lên tới 1,565.1 tỷ , tăng 70%. Đây là nỗ lực của công ty với mục đích hỗ trợ tốt nhất , bảo đảm cho hoạt động kinh doanh.

    Vốn kinh doanh của Công ty FPT tăng mạnh qua các năm nhưng đặc biệt là năm 2003 đến năm 2004, Vốn kinh doanh từ 30.0 ty lên đến 150 tỷ và đến năm 2005 thì số vốn kinh doanh của công ty đạt 288.5 tỷ. Trong đó bao gồm vốn của Nhà nước cấp , được cụ thể theo bảng sau:

    Đơn vị : tỷ đồng

               Chỉ tiêu   Năm 2003   Năm 2004   Năm 2005
    Nguồn vốn kinh doanh       30.0        150.0      288.5
      + Vốn Nhà Nước       15.3          15.3        46.2
      + Vốn tự có       14.7        135.7      242.3

    Nguồn : Báo cáo tình hình huy động vốn

    Để đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh , Công ty FPT còn áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt . Công ty ngoài sử dụng vốn vay Ngân hàng còn tìm mọi biện pháp để huy động tín dụng từ các đối tác nước ngoài với tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi.

    Công ty còn có khả năng huy động vốn tín dụng của của các hãng HP,IBM, 3COM, NOVEL, APC,CISCO, MICROSOFT, ORACLE, ESRI với số vốn có thể huy động là 9,020,000 USD .Và để đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh , Công ty FPT còn áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt . Công ty ngoài sử dụng vốn vay Ngân hàng còn tìm mọi biện pháp để huy động tín dụng từ các đối tác nước ngoài với tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi .

    1- Hạn mức tín dụng ngân hàng
     Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VCB)             20 triệu USD
     Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV)                  28 triệu USD
     Ngân hàng Nông nghiệp  (VBARD)                       20 triệu USD
     Ngân hàng Công thương (ICB)                                 6 triệu USD
    2- Nguồn vốn tín dụng từ nhà cung cấp              Giá trị (USD)
    Vốn tín dụng của HP                  3,700,000
    Vốn tín dụng của IBM                  3,000,000
    Vốn tín dụng của 3COM                       50,000
    Vốn tín dụng của NOVEL                     500,000
    Vốn tín dụng của APC                     400,000
    Vốn tín dụng của CISCO                     750,000
    Vốn tín dụng của MICROSOFT                     120,000
    Vốn tín dụng của ORACLE                     100,000
    Vốn tín dụng của ESRI                     400,000

    Nguồn : Bóa cáo tài chính

    5.2 Tình Hình Tài Chính Của Công Ty

    Tình hình tài chính của Công ty được thể hiện qua bảng cân đối kế toán hàng năm của Công ty tại thời điểm 31/12 hàng năm:

    Đơn vị : 1,000,000đồng

                     Chỉ Tiêu      2003      2004     2005
    Tài sản 550.408 979.232 1.583.705
    A. Tài sản lưu động và ĐT ngắn hạn 509.891 917.139 1.495.173
    I. Tiền mặt 102.746   79.956    372.681
    II. Đầu tư ngắn hạn      
    III. Các khoản phải thu 275.854 619.655    756.304
    IV. Hàng tồn kho 124.333 206.909    355.824
    V. Tài sản lưu động khác     6.956   10.618      10.363
    B. Tài sản cố định và ĐT dài hạn   40.516   62.093      88.532
    I. Tài sản cố định   36.650   55.806      74.636
    II. Đầu tư tài chính dài hạn     3.790     3.905        5.464
    III. Xây dựng cơ bản dở dang          75          75        2.762
    Nguồn vốn 550.408 979.232 1.583.705
    A. Nở phải trả 517.349 806.761 1.271.656
    I. Nợ ngắn hạn 419.101 716.760 1.098.058
    II. Nợ dài hạn   94.562   84.531    162.668
    III. Nợ khác     3.685     5.469      10.930
    B. Nguồn vốn chủ sở hữu   33.058 172.470    312.048
    I. Nguồn vốn – quỹ   31.254 169.699    297.439
    II. Nguồn kinh phí     1.804     2.771      14.608

    Nguồn : Báo cáo tài chính

    Qua bảng cân đối kế toán tóm tắt của Công ty ta thấy được những đặc điểm nổi bật về tình hình tài chính của Công ty như sau:

    + Về tài sản : giá trị tài sản của công ty tăng mạnh qua hàng năm . Năm 2003 là 550.408 triệu đồng đến năm 2004 đạt 979.232 triệu đồng (tăng 77,9%) và đến năm 2005 đạt 1.583.705 triệu đồng (tăng 61,7%). Tài sản tăng là do công ty đã dành một phần lớn lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng và xây dựng cơ bản. Công ty đã không ngừng mở rộng quy mô sản xuất .

    + Về nguồn vốn : nguồn vốn của công ty không ngừng tăng nhanh . Nguyên nhân là do nguồn vốn chủ sở hữu không ngừng tăng mạnh , năm 2003 vốn chủ sở hữu đạt giá trị là 33.058 triệu đồng đên năm 2004 đạt 172.470 triệu đồng  tăng gấp hơn 5 lần và đến năm 2005 đạt giá trị 312.408 triệu đồng tăng gấp gần 2 lần .Nguyên nhân là do vốn kinh doanh của công ty tăng nhanh và khả năng huy đông vốn từ các nguồn tín dung khác của công ty. Chứng tỏ một tiềm lực tài chính mạnh , thể hiện sự lớn mạnh của công ty .

     5.3 Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp

    Công ty FPT được đánh giá là một Công ty lớn mạnh nhất trong lĩnh vực Công nghệ thông tin ở Việt Nam . Để đạt đuợc những kết quả đó là nhờ vào những đường lối kinh doanh hợp lý và mang lại hiệu quả cao , điều đó được thể hiện qua kết quả kinh doanh của Công ty qua hàng năm:

    a.Lãi / Lỗ

    Đơn vị :1.000.000 Đồng

                 Chỉ Tiêu       2003      2004    2005
    Doanh thu thần 1.514.960 4.148.297 8.734.780
    Giá vốn hàng bán 1.361.251 3.890.027 8.196.631
    Lợi nhuận gộp    135.708    258.269    538.149
    Doanh thu hoạt động Tài chính        3.173        2.164        4.389
    Chi phí Tài chính        3.843      32.639      28.325
    Chi phí bán hàng      81.803    110.994    158.411
    Chi phí quản lý doanh nghiệp      50.788      72.980    164.054
    Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD      21.116      43.819    191.747
    Lợi nhuận khác             36      74.661        1.027
    Tổng lợi tức trước thuế      17.979      43.894    192.775
    Thuế thu nhập doanh nghiệp        5.753      14.046      53.871
    Lợi nhuận sau thuế      12.225      29.848    138.904

    Nguồn : Báo cáo tài chính

    + Doanh thu thuần của Công ty tăng nhanh qua từng năm . Năm 2003 doanh thu thuần đạt 1.514.960 triệu đồng thì đến năm 2004 đạt 4.148.297 triệu đồng (tăng 173,8%) và năm 2005 đạt 8.734.780 triệu đồng (tăng 110,5%) . Doanh thu thuần tăng là do Công ty luôn đầu tư mở rộng mạng lưới tiêu thụ với những mặt hàng có giá phù hợp với những người có thu nhập thấp cũng như những người có thu nhập cao. Đặc biệt công ty còn tham gia đầu tư vào những lĩnh vực mới như truyền hình, và do doanh thu từ các hoạt động cung cấp dịch vụ mang lại .

    +  Lợi nhuận của công ty năm 2003 là 12.225 triệu đồng đến năm 2004 là 29.848 triệu đồng tăng gấp 1,4 lần và đến năm 2005 đạt 138.904 triệu đồng tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2004. nguyên nhân là do lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng mạnh trong khi đó các chi phí khác có tăng nhưng không đáng kể.

    Trong đó đóng góp của kết quả kinh doanh cung cấp dịch vụ Internet được thể hiện qua báo cáo kết quả kinh doanh tin học :

    Đơn vị : 1.000.000.000VND

            Lĩnh vực tin học Năm 2003  Năm 2004  Năm 2005
    I. Doanh Thu Thuần      
       1. Hàng hóa tin học    1183,8   2395,1     4098,4
       2. Phần mềm        40,9       64,3       122,6
       3. Dịch vụ tin học        35,7       64,1         94,7
       4. Dịch vụ Internet        66,2      106,4       186,8
             Tổng    1326,6    2629,9     4052,5
    II. Giá Vốn      
       1. Hàng hóa tin học   1124,7    2286,4     3919,6
       2. Phần mềm       10,1        22,4         33,6
       3. Dịch vụ tin học       14,2        33,7         29,0
       4. Dịch vụ Internet       42,4        69,2         98,8
             Tổng   1191,4    2411,7     4081,0
    III. Lãi Gộp      
       1. Hàng hóa tin học      59,1      108,7      178,8
       2. Phần mềm      30,7        41,8        89,0
       3. Dịch vụ tin học      21,5        30,3        65,6
       4. Dịch vụ Internet      23,8        37,1        87,9
             Tổng    135,1      217,9      421,3
    IV. Chi Phí Kinh Doanh Tin Học    120,6      181,4      271,9
    V. Lợi Tức Trước Thuế Tin Học      14,5        36,5      149,4

    Nguồn : Báo cáo tài chính

    Ta thấy doanh thu thần của dịch vụ Internet mạnh qua từng năm , năm 2004 tăng 60,6% ( 106,4 tỷ đồng) so với với năm 2003 ( là 66,2 tỷ đồng ) và tới năm 2005 thì tăng 75,5% so với năm 2004. Do đó nó đã chiếm 5,5% trong tổng doanh thu thuần tin học vào năm 2003 và chiếm 4,0 % năm 2004 và năm 2005 là 4,6% . Nguyên nhân giảm tỷ lệ đóng góp trong doanh thu không phải do giảm doanh thu thuần dịch vụ Internet mà do có sự tăng mạnh của hàng hóa tin học.

    1. Một Số Chỉ Tiêu Đánh Giá Khái Quát Thực Trạng Tài Chính Và Kết

    Quả Kinh Doanh Nghiệp

                     Chỉ Tiêu Đơn vị 2003 2004 2005
    I. Bố trí cơ cấu tài sản & cơ cấu nguồn vốn        
    1. Bố trí cơ cấu tài sản        
    Tài sản cố định / Tổng số tài sản     % 7,36 6,34 5,59
    Tài sản lưu động / Tổng số tài sản     % 92,64 93,66 94,41
    2. Bố trí cơ cấu nguồn vốn        
    Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn    % 93,99 82,39 80,30
    Nguôn vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn    % 3,01 17,61 19,70
    II. Khả năng thanh toán        
    1. Khả năng thanh toán hiện hành   Lần 1,06 1,21 1,25
    2. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn   Lần 1,22 1,28 1,36
    3. Khả năng thanh toán nhanh   Lần 0,25 0,11 0,34
    III. Tỷ suất sinh lời        
    1.Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu        
    Tỷ suất lợi nhận KD / Doanh thu thần    % 1,39 1,06 2,19
    Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / Thu nhập    % 1,19 0,96 2,06
    2.Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản        
    Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / Tổng tài sản   % 3,26 4,48 12,17
    3. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / Nguồn vốn chủ sở hữu   % 54,39 25,45 61,78

    + Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty tăng qua từng năm trong khi đó lượng tiền mặt trong Công ty không ngừng tăng lên và các khoản nợ ngắn hạn cung tăng đồng thời chứng tỏ tình hình tài chính của Công ty ổn định .

    + Khả năng thanh toán hiện hành tăng đều theo từng năm chứng tỏ khả năng thanh toan hiện hành của Công ty cao, nguyên nhân là do tài sản của Công ty tăng nhanh hơn số nợ của công ty phải trả.

    + Khả năng thanh toán nhanh của Công ty thấp , tuy có tăng qua từng năm nhưng lượng tăng không đấng kể .Nguyên nhân là do lương tiền mặt trong Công ty luôn nhỏ hơn nợ ngắn hạn và không có khoản đầ tư ngăn hạn nào . Mtạ khac lương tiền mạt tăng nhưng tốc độ tăng không nhanh bằng tốc độ tăng của nợ ngắn hạn . do đặc tính kinh doanh của Công ty cho nên lượng tiền mặt của công ty chỉ được thu hồi sau khi đã thực hiện xong các dự án thầu lớn.

    c.Tình Hình Thực Hiện Nghĩa Vụ Với Nhà Nước

    Tình hình tài chính của Công ty còn được thể hiện thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của Công ty với Nhà nước. Trong 15 năm phát triển và trưởng thành , Công ty FPT luôn nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ của mình với nhà nước . Công ty không ngừng nâng cao mức đóng góp của công ty đối với Chính phủ và Xã hội các khoản thuế đều nộp đầy đủ và kịp thời.

    Đơn vị : 1.000.000đồng

                  Chỉ Tiêu     2003     2004     2005
    1.Thuế GTGT hàng nội địa       5.948  225.662     9.350
    2.Thuế GTGT hàng nhập khẩu     43.460  110.967 226.588
    3.Thuế xuất , nhập khẩu     84.191  174.999 280.464
    4.Thuế thu nhập doanh nghiệp      5.328    16.038     5.649
    5. Tiền thê đất         119        119        119
    6.Các loại thuế khác         275        276     1.764
    7.Các khoản phải nộp khác       0       0        0,442
                 Tổng Cộng   139.453   528.075 523.937

    1.9. 6. Đặc điểm về cơ chế bộ máy quản lý.

    6.1. Cơ cấu tổ chức 

    Để phù hợp với quy mô ngày càng lớn mạnh và sự phát triển vượt bậc của mình , FPT được tổ chức theo hướng năng động về kinh doanh , chuyên môn hóa về công nghệ , giải pháp, dịc vụ

    Năm 2003 được đánh dấu là một mốc chuyển mình mới , có tính quyết định tới tính phát triển của Công ty FPT , khi FPT bắt đầu thực hiện mô hình quản lý và kinh doanh theo hướng tập đoàn kinh tế

                                 6.2.đặc điểm về cơ chế và bộ máy quản lý

    Các bộ phận của Công ty bao gồm:

    + Các bộ phận hỗ trợ : thực hiện các công việc của quá trình hỗ trợ của Công ty , các bộ phận hỗ trợ của Công ty được tổ chức theo mô hình phòng , ban , tổ , chức năng .

    + Các bộ phận sản xuất kinh doanh : thực hiện các công việc của quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Các bộ phận sản xuất kinh doanh của Công ty có thể được tổ chức dưới hình thức hạch toán độc lập , hạch toán phụ thuộc, hạch toán báo số hoặc hình thức khác .

    + Các bộ phận nghiên cứu và phát triển : thực hiện các công việc của quá trình nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực khoa học công nghệ của Công ty . Các bộ phận nghiên cứu và phát triển của công ty có thể được tổ chức theo mô hình các viện , các trường hoặc các trung tâm .

    Ngoài ra các phòng đại diện của Công ty thực hiện chức năng đại diện cho công ty tại các địa phương trong và ngoài nước .Các chi nhánh của công ty thực hiện một phần hoặc toàn bộ chức năng của Công ty tại các địa phương trong và ngoài nước.

    Bộ máy quản lý của Công ty thể hiện trong sơ đồ sau:

    Chú thích viết tắt các phòng ban :

    + HC & PT : Hành chính và các bộ phận phi tin học

    + CL&TH:Chất lượng và các bộ phận dự án và dịch vụ công nghệ thông tin

    + TC &PP : Tài chính và các bộ phận phân phối công nghệ thông tin

    + FAD : Văn phòng Công ty FPT

    + FSC : Tổ thư ký

    + FQA : Trung tâm bảo đảm chât lượng FPT

    + FSM : Trung tâm bảo hành

    + FAF : Phòng tài chính kế toán

    + FBP : Phòng kế hoạch kinh doanh

    + GDA : Trọ lý Tổng Giám Đốc

    + GHR : Phòng nhân sự

    + FSOFT : Trung tâm xuất khẩu phần mềm FPT

    + FPT- USA : Văn phòng đại diện FPT tại Mỹ

    + FPT –HCM : Công ty FPT chi nhánh Hồ Chí Minh

    + FPT- INDIA : Công ty FPT chi nhánh ấn Độ

    Nguồn : Sổ tay chất lượng Công ty FPT

    Qua hai sơ đồ trên ta thấy bộ máy quản lý và quản lý chất lượng của Công ty được triển khai theo kiểu trực tuyến . Người đứng đầu bộ máy quản lý của Công ty là Tổng giám đốc do hội đồng Quản trị quyết định bầu ra nhưng người đứng đầu bộ phận quản lý chất lượng của Công ty là đại diện lãnh đạo FPT về chất lượng do Tổng giám đốc chỉ định chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về các vấn đề chất lượng của Công ty .

    Bộ máy này tăng cường trách nhiệm của mọi người và tránh tình trạng người thừa hành phải nhận nhiều mệnh lệnh từ nhiều người khác nhau từ đó tạo điều kiện để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ . Nhưng bộ máy này không thu hút được nhiều chuyên gia giỏi và có nhiều hạn chế như các quyết định là mệnh lệnh từ trên xuống , thông tin chỉ có tính một chiều do đó ban lãnh đạo không hiểu được tâm tư nguyện vọng và những phản ánh của cấp dưới , điều này sẽ gây ra sự khó chịu , chán nản và bất mãn của cấp dưới từ đó ảnh hưởng đến quá trình cung cấp dịch vụ và sản phẩm.

    III. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRONG NHỮNG NĂM QUA

    1.10.      1.Những tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ Internet và đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ

    1.1 Quá trình và chỉ tiêu đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ ADSL

     
       

     

    Hoạt động Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    1. Tiếp thị và đăng ký dịch vụ Đầu vào Thông tin về khách hàng, thị trường

     

    Thụng tin từ hệ thống bỏo cỏo nội bộ

    Chính xác và được tổng hợp
    Đầu ra Hợp đồng

     

    Báo cáo định kỳ về khách hàng đó hoặc chưa ký hợp đồng

    Hợp đồng được ký

     

    Hỗ trợ kinh doanh

    Điều kiện thực hiện Cỏc nguồn lực cần thiết Đầy đủ
    Chỉ tiêu đánh giá Tỷ lệ khỏch hàng ký hợp đồng/ kế hoạch ≥85%
    Quỏ trỡnh liờn quan Quản lý thụng tin khỏch hàng

     

    Thu tiền từ khỏch hàng

    + Hồ sơ hợp đồng, BB nghiệm thu, BB khảo sát, phiếu đăng ký.

     

    + Hóa đơn

    2. Khảo sỏt và triển khai dịch vụ Đầu vào Hợp đồng được ký, Phớ cài đặt thu đầy đủ. Đầy đủ, chính xác
    Đầu ra Biên bản nghiệm thu được ký Đầy đủ, chính xác
    Điều kiện thực hiện Đảm bảo cơ sở hạ tầng mạng, vật tư, dụng cụ thi công, bảo hộ lao động

     

    Điều kiện về thiết bị của khách hàng đó sẵn sàng

    01.9-HD/IN/HDCV/FPT
    Chỉ tiêu đánh giá ● Tỉ lệ khảo sát đúng hạn/ tổng số khách hàng.

     

    (Tính từ thời điểm INF tiếp nhận hồ sơ khách hàng phải có kết quả khảo sát trong vũng 4 giờ đối với MegaBIZ, MegaOFFICE, và 24 giờ đối với cỏc dịch vụ ADSL khỏc).

    ●Tỉ lệ triển khai đúng hạn/ tổng số khách hàng triển khai.

    (Tớnh từ ngày ký hợp đồng là:

    + Trong vũng 7 ngày làm việc đối với các dịnh vụ ADSL trừ MegaBIZ và MegaOFFICE.

    + Trong vũng 4 ngày làm việc đối với MegaBIZ và MegaOFFICE)

     ≥95 %

     

    ≥90 %

    Quỏ trỡnh liờn quan Marketing

     

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Hợp đồng

     

    Account ADSL

    Hoá đơn thu cước phí

    Yêu cầu đảm bảo mạng

    Nguồn : Sổ tay quy trình chất lượng

     

    1.2. Chỉ tiêu đánh giá sản phẩm dịch vụ Internet

    STT Chỉ tiêu
    chất lượng
    Đơn vị
    đo
    Yờu cầu Cỏch đo
    01 Tỷ lệ thời gian mạng hoạt động tốt % ³ 95% D=1-Tf/Tr

     

    Trong đó :

    – Tf là thời gian mạng cú sự cố thuộc trỏch nhiệm của FPT

    – Tr là tổng thời gian hoạt động của mạng (tớnh theo thỏng)

    02 Thời gian mở dịch vụ Giờ 02h Khoảng thời gian tớnh từ lỳc khỏch hàng yờu cầu mở dịch vụ cho đến khi yờu cầu này được đáp ứng
    03 Thời gian hỗ trợ kỹ thuật Giờ 02h Khoảng thời gian tớnh từ lỳc khỏch hàng yờu cầu hỗ trợ cho đến khi yờu cầu này được thỏa món (kỹ thuật cú mặt tại địa điểm của khỏch hàng để hỗ trợ trực tiếp)
    04 Tỷ lệ hợp đồng Thiết kế web đúng tiến độ % ³ 90% Số hợp đồng đúng tiến độ/ Tổng số hợp đồng trong thỏng
    05 Số độc giả Số đếm ³100.000 Tổng số mỏy tớnh truy cập tới tờ bỏo trong 1 thỏng
    06 Tỷ lệ khách hàng khiếu nại về cước phí % £ 1% Số trường hợp khiếu nại/ 100 khách hàng trong năm
    07 Tỷ lệ khiếu nại của khỏch % £ 2% Số trường hợp khiếu nại/ 100 khách hàng trong năm
    08 Thời gian giải quyết khiếu nại giờ <24h Thời gian phản hồi khiếu nại của khỏch – Thời gian khỏch khiếu nại

    Nguồn : Sổ tay quy trình chất lượng

    1.3. Quy trình và chỉ tiêu đánh giá chất lượng họat động mạng Internet

     
       
    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Yờu cầu đảm bảo mạng Rừ ràng, đầy đủ, chớnh xỏc
    Đầu ra Cỏc yờu cầu đảm bảo mạng được thực hiện Mạng hoạt động tốt
    Điều kiện thực hiện Trang thiết bị, mỏy múc, phần mềm liờn quan.

     

    Quản trị mạng đủ trỡnh độ

    Tốt nhất cú thể với điều kiện cõn đối giữa lợi nhuận và đầu tư.

     

    Cú kiến thức vững về những dịch vụ đang cung cấp, cú khả năng tiếp thu nhanh cụng nghệ mới

    Chỉ tiờu đánh giỏ Thời gian mạng hoạt động tốt

     

    Thời gian xử lý sự cố

    >= 95%

     

    < 1h

    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai dịch vụ

     

    Hỗ trợ khỏch hàng

    Yờu cầu đảm bảo hoạt động mạng

     

    Yờu cầu đảm bảo hoạt động mạng

    Nguồn : Sổ tay quy trình chất lượng

    1.4. Quy trình và chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động hỗ trợ khách hàng

     

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Yờu cầu hỗ trợ Thụng tin cập nhật rừ ràng, chớnh xỏc
    Đầu ra Biờn bản nghiệm thu sửa chữa, Bỏo cỏo Thông tin đầy đủ và chính xác
    Điều kiện thực hiện – Điện thoại

     

    – Hệ thống Inside

    – Máy đo đứt cáp

    – Đồng hồ VOM

    – Thang tre

    – Modem test

    – Bảo hộ an toàn lao động (giày, mũ, dây bảo hiểm,…)

    Đầy đủ
    Chỉ tiêu đánh giá Tỉ lệ hỗ trợ kỹ thuật đúng hạn/ tổng khỏch hàng yờu cầu hỗ trợ

     

     

    Hoàn tất hỗ trợ trong vũng 4 giờ đối với dịch vụ BDSL và Leased line,  24 giờ với MegaBIZ và MegaOffice) và 48 giờ đối với các dịch vụ khác.

    ≥95%
    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai dịch vụ

     

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Biờn bản nghiệm thu cài đặt

     

    Biờn bản nghiệm thu bàn giao

    1.5. Quy trình và tiêu chuẩn chất lượng hoạt động thu tiền từ khách hàng

     

     
       

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Cước dịch vụ mà khách hàng phải thanh toán Cước phải chính xác
    Đầu ra Khỏch hàng đó thanh toán cước phí Thanh toỏn đầy đủ, đúng hạn
    Điều kiện thực hiện Cú thiết bị đầy đủ (mỏy tớnh, mỏy in, mỏy đếm tiền, kột đựng tiền)

     

    Nhõn viờn cú trỡnh độ nghiệp vụ về kế toỏn tiền mặt, nghiệp vụ ngõn quỹ, ngoại tệ và tỷ giỏ thanh toỏn

     
    Chỉ tiờu đánh giỏ Nợ quỏ hạn

     

    Xử lý khiếu nại của khỏch hàng (nếu cú)

    < 10% tổng cước phải thu

     

    Phản hồi trong 24 tiếng

    Tỷ lệ khiếu nại <= 1%/ năm

    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai

     

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Tài chớnh

    Hoỏ đơn phí hoà mạng

     

    Hoỏ đơn dịch vụ

    Chứng từ, bảng kờ sộc & tiền mặt

    1.6. Quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng triển khai dịch vụ Internet

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Hợp đồng đó được ký Đầy đủ, chớnh xỏc
    Đầu ra Biờn bản nghiệm thu được ký Đầy đủ và chớnh xỏc
    Điều kiện thực hiện Điều kiện về thiết bị của khỏch hàng đó sẵn sàng. -Mỏy tớnh

     

    -Modem

    -Đường dây điện thoại.

    -Mạng cục bộ

    Chỉ tiờu đánh giỏ Thời gian cài đặt và hướng dẫn

     

    Thời gian mở dịch vụ

    Mức độ hài lũng của khỏch hàng

    <= 2 tiếng

     

    <= 2 tiếng

    >= 80%

    Quỏ trỡnh liờn quan Marketing

     

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Hợp đồng

     

    Internet Account

    Hoỏ đơn thu cước phí

    Yờu cầu đảm bảo mạng

    1.7. Quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động Marketing

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Thông tin về khách hàng, thị trường

     

    Thụng tin từ hệ thống bỏo cỏo nội bộ

    Chớnh xỏc và được tổng hợp
    Đầu ra Hợp đồng

     

    Bỏo cỏo định kỳ về khỏch hàng đó hoặc chưa ký hợp đồng

    Hợp đồng được ký

     

    Hỗ trợ kinh doanh

    Điều kiện thực hiện Cỏc nguồn lực cần thiết Đầy đủ
    Chỉ tiờu đánh giỏ Tỷ lệ (doanh số/ hợp đồng được ký)/ Kế hoạch >=85%
    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai dịch vụ

     

    Thiết kế web

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Hợp đồng

     

    Hợp đồng

    Hồ sơ hợp đồng

    Hoỏ đơn

     

    1.8. Quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quản lý khách hàng

     
       

     

     

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Thụng tin về nhu cầu của khỏch hàng Thụng tin chớnh xỏc, đầy đủ
    Đầu ra Thụng tin về khỏch hàng đó được cập nhật và xử lý Cập nhật chớnh xỏc và đỳng thời hạn
    Điều kiện thực hiện Yờu cầu của khỏch hàng Thụng tin chớnh xỏc
    Chỉ tiờu đánh giỏ Thời gian truy cập thụng tin <=5 phỳt
    Quỏ trỡnh liờn quan Marketing

     

    Triển khai dịch vụ

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Hợp đồng

     

    Biờn bản nghiệm thu cài đặt và hồ sơ

    Hoỏ đơn thanh toán

    Yờu cầu đảm bảo mạng

     

    1.11.      2. Những biện pháp Công ty đã thực hiện để nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet

    Theo những phân tích ở trên đã đề cập thì chất lượng cung cấp dịch vụ Internet phụ thuộc vào các yếu tố : Yếu tố thị trường , thời gian triển khai dịch vụ , yếu tố đảm bảo hoạt động của mạng , hỗ trợ khách hàng , con người và quản lý. Bộ phận cung cấp dịch vụ Internet ( FOX ) đã thực hiện các biện pháp để những yếu tố này tác động tích cực tới chất lượng cung cấp dịch vụ Internet là :

    * Yếu tố thị trường :

    Do đặc điểm của thị trường là chủ yếu là thị trường trong nước . Và những hợp đồng lắp đặt cung cấp dịch vụ chỉ có được nhờ hoạt động Marketing và quá trình thương lượng nằhm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng . Do vậy trong thời gian qua hoạt động nghiên cứu thị trường được Công ty chú trọng , điều đó được thể hiện khá rõ khi Công ty chia thị trường cung cấp dịch vụ Internet thành các thị trường nhỏ khác nhau , bao gồm thị trường cá nhân và đại lý , thị trường doanh nghiệp và thị trường cơ quan nhà nước . Và tập trung nghiên cứu từng nhu cầu riêng của cac thị trường này . Do vậy thỏa mãn nhu cầu của khách hàng , do vậy mà thị phần của công ty không ngừng tăng lên và hiện nay Công ty đang chiếm 30 % thị phần Internet ở Việt Nam.

    * Thời gian triển khai :

    Tất cả các hợp đồng cung cấp dịch vụ tại FOX đều được lập kế họach cụ thể và chi tiết và thực hiện theo đúng yêu cầu của hợp đồng . Điều này đảm bảo cho việc phân bổ lực lượng để thực hiện các hợp đồng khác và tìm kiếm hợp đồng mới đặc biệt là đối với những hợp đồng thiết kế Website.

    Tuy nhiên , việc thực hiện kế hoạch thực hiện hợp đồng còn yếu và chưa có sự vượt bậc rõ rệt . Theo như báo cáo chất lượng thì năm 2004 thì tỷ lệ thực hiện đúng hợp đồng chỉ hoàn thành vừa đúng kế hoạch , nhưng đến năm 2005 thì tỷ lệ không hoàn thành theo kế họach là 5,87% . Việc thực hiện hợp đồng chậm không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ mà còn dẫn đến sự lãng phí thời gian và nguồn lực .

    * Yếu tố đảm bảo hoạt động của mạng :

    Được xem là một nhân tố quan trọng trong quá trình cung cấp dịch vụ Internet . Để đảm bảo hoạt động của mạng thì Công ty đã đưa ra những giải pháp cụ thể tác động vào những nhân tố tác động vào quá trình hoạt động của mạng , như đường truyền dẫn , các máy móc thiết bị và quan trọng nhất là hệ thống máy chủ , các phần mềm liên quan , đặc biệt là nâng cao trình độ của nhân viên quản trị mạng . Nhằm đảm bảo tính bảo mật , nâng cấp hệ thống  và khả năng xử lý sự cố một cách nhanh chóng .

    FOX luôn tìm cách để nâng cao thời gian hoạt động mạng tốt là tối đa và những giải pháp đã mang lại hiệu quả rõ rệt . Thời gian mạng hoạt động tốt đã vượt mức kế hoạch là 0,46% so với chỉ tiêu thời gian mạng hoạt động tốt là 99% năm 2004 và đến năm 2005 thì vượt mức kế hoạch là 0,87 % . Đây là việc đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ rất có hiệu quả , không chỉ tiết kiệm được thời gian khắc phục sự cố mà còn tránh việc lãng phí nguồn lực cho quá trình khắc phục sự cố do đó giảm được chi phí rất lớn.

    * Hoạt động hỗ trợ khách hàng

    Công ty luôn hướng vào việc chăm sóc khách hàng , và xem đây là một giải pháp để mở rộng thị trường và không ngừng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng . Do đó Công ty thực hiện các giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách của mình với khách hàng hiện tại cũng như tương lai thông qua hệ thống Call Center và Call 1280  và trả lời thông qua Website

    Để nâng cao hoạt động hỗ trợ khách hàng thì Công ty luôn cố gắng cung cấp những thông tin về dịch vụ cung cấp Internet một cách đày đủ và chi tiết nhất . đồng thời luôn cố gắng ngày một nâng cao khả năng đáp ứng những khiếu nại của khách hàng một cách nhanh chóng và thảo mãn được thắc mắc của khách hàng .

    * Về con người

    Đánh giá và nhận thức một cách đúng đắn về nhân tố con người nên Công ty đã có những chính sách cụ thể để phát triển nguồn nhân lực và khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên này . Triết lý của Công ty FPT khẳng định con người là tài sản quý giá nhất . Trọng dụng con người, trọng dụng hiền tài , đem lại cho mỗi thành viên của mình điều kiện phát triển tốt nhất về tài năng , và một cuộc sống đầy đủ về vật chất , phong phú về tinh thần là những cam kết của công ty đối với toàn bộ công nhân viên FPT.

    Do có triết lý đó mà Công ty có phương châm là:

    + Đầu tư vào phát triển năng lực cá nhân

    + Đầu tư nâng cao môi trường làm việc

    + Đầu tư vào tối ưu hóa môi trường và phương pháp làm việc

    * Về quản lý

    Sự cam kết và tham gia của lãnh đạo trong việc xây dựng , áp dụng duy trì và hoàn thiện hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 là một nhân tố quan trọng và được coi làmột nhân tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm . Thiếu sự quan tâm và hỗ trợ của ban lãnh đạo sẽ ảnh hưởng tới sự hăng hái trong công tác của các thành viên và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của các sản phẩm cung cấp dịch vụ Internet.

    Sự cam kết của lãnh đạo FOX về đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet được thể hiện qua việc FOX có một bộ phận riêng chuyên trách về vấn đề đảm bảo chất lượng . Các hợp đồng cung cấp dịch vụ và các dụ án thiết kế Website cho khách hàng luôn được phòng chất lượng lên kế hoạch đánh giá ít nhất một lần một tháng , đây là hoạt động quan trọng trong việc đảm bảo và cải tiến chất lượng cung cấp dịch vụ Internet.

    Việc lập kế hoạch chưa tốt cho triển khai thực hiện các hợp đồng đã khiến cho các hợp đồng bị chậm tiến độ và ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ Internet .Do vậy trươc khi thực hiện hợp đồng cần phải lập kế hoạch thực hiện một cách hợp lý và thực sự có hiệu quả , phải phòng ngừa được các sự cố có thể xảy ra để việc thực hiện hợp đồng có thể thành công và đảm bảo chất lượng.

    1.12.      3. Thực trạng chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông của                           Công ty FPT

    3.1 Tình hình chất lượng cung cấp dịch vụ Internet

    Những đánh giá về chất lương cung cấp dịch vụ Internet được dựa trên các chỉ tiêu đánh giá theo hệ thống ISO 9001  và được thể hiện thông qua bảng sau:

    Kết quả thực hiện mục tiêu chất lượng

    TT Chỉ tiêu chất lượng Đơn vị Năm 2004 Năm 2005
    Thực tế Tăng /giảm so với tiêu chuẩn (%) Thực tế Tăng /giảm so với tiêu chuẩn (%)
    1 Thời gian mạng hoạt động ổn định % 99 2 98.9 -0.1
    2 Thời gian xử lý sự cố Giờ <=1 0 0.29 -71
    3 Thời gian đáp ứng yêu cầu của khách hàng Giờ <=1 1 <=1 1
    4 Tỷ lệ đáp ứng yêu cầu của khách hàng % >=98 1 98.11 0.11
    5 Tỷ lệ khiếu nại % 0.05 -50 0.02 -96

    Qua bảng trên ta thấy thời gian mạng hoạt động tốt của năm 2005 chưa hoàn thành kế hoạch, chỉ hoàn thành được 99,9% kế hoạch . Nhưng năm 2004 hoàn thành vượt mức kế hoạch là 2%. Điều đó chưa thể hiện được ràng chất lượng dịch vụ giảm mà nguyên nhân là do số thêu bao Internet tăng mạnh so với sụ cải tiến và nâng cấp hệ thống máy chủ. Điều đó được khẳng định rõ hơn ở tỷ lệ khiếu nại không tăng mà còn giảm đó là năm 2004 giảm so với kế hoạch là 50 % và năm 2005 thì giảm so với kế hoạch là 96 %. Tuy nhiên tỷ lệ đáp ứng yêu cầu của năm 2005 tăng ( 0.11%) nhưng không mạnh bằng năm 2004 (1%).

    TT Chỉ tiêu đánh giá Đơn vị          Năm 2004        Năm 2005
     Dự kiến Thực tế  Thực tế  Thực tế
    1 Mức độ hài lũng của khỏch hàng % 80 98 80 85.73
    2 Số độc giả/ Tháng Người 500000 835000 800000 1210181
    3 Thời gian cài đặt và hướng dẫn Giờ 2 0.7 2 0.6
    4 Thời gian hỗ trợ kỹ thuật Giờ 2 0.8 1 0.6
    5 Thời gian mạng hoạt động tốt % 99 99.97 99 99.4
    6 Thời gian mở dịch vụ Giờ 2 0.5 2 0.6
    7 Thời gian phản hồi giải quyết khiếu nại Giờ 24 0.61 24 11.18
    8 Thời gian truy cập thụng tin Phỳt 5 4 5 4.55
    9 Thời gian xử lý sự cố Giờ 1 0.5 1 0.29
    10 Tiến độ triển khai hợp đồng đúng hạn % 90 90 90 84.63
    11 Tỷ lệ hợp đồng được ký theo kế hoạch % 85 73.6 85 96.39
    12 Tỷ lệ khiếu nại về cước phí % 1 0.09 0.25 0.28
    13 Tỷ lệ khiếu nại về dịch vụ hỗ trợ % 1 0.08 0.5 0.45
    14 Tỷ lệ nợ quỏ hạn thỏng % 10 2,69 10 13.78
    15 Tỷ lệ sai sút % 1 0 1 0.05

    Qua các biểu đồ trên ta thấy :

    + Mức độ hài lòng của khách hàng năm 2004đã vượt mực kế hoạch và đạt 99,97% so với kế hoạch là 80%  như vậy đã tăng 19,97 % . Đến năm 2005 thì vẫn tăng nhưng không lớn bằng chỉ đạt 80,73% so với chỉ tiêu là 80%

    + Tỷ lệ sai sót ta thấy trong năm 2004 không xảy ra sai sót nhưng đến năm 2005 thì tỷ lệ sai sót là 0,05 nhưng vẫn không vượt mức kế hoạch dặt ra là 1.

    + Tỷ lệ hợp đồng được ký theo kế hoạch năm 2004 giảm so với kế hoạch đặt ra , nó chỉ đạt 73,6% so với kế hoạch là 85% thì nó giảm 11,4 % nhưng đến năm 2005 thì có sự tăng đáng kể đạt 96,39% so với kế hoạch là 85% và đã tăng được 11,39%.

    + Tiến độ thực hiện hợp đồng đúng hạn trong năm 2004 thì đảm bảo tiêu chuẩn đề ra và đạt 90% tức là vãn còn 10 % hợp đồng không đảm bảo đúng hạn . Đến năm 2005 thì giảm mạnh và chỉ đáp ứng được 84,63 % hợp đồng là đúng hạn giảm so với chỉ tiêu 90% là 5,37 % điều đó cũng có nghĩa là tỷ lệ hợp đồng không đúng hạn là 15,37 % .

    + Thời gian xử lý sự cố trong năm 2004 đã vượt mức kế hoạch và khả năng xử lý sự cố chỉ trong 0,5 giờ anh gấp đôi so với kế hoạch là 1 giờ . Đến năm 2005 thì hời gian xử lý sự cố còn nhanh hơn và chỉ mất 0,29 giờ để xử lý .

    + Thời gian hoạt động tốt trong năm 2004 thì thời gian này vượt mức kế hoạch và đạt 99,97 % trong tổng thời gian hoạt động vượt mức kế hoạch là 99% . Đến năm 2005 thì vẫn tăng nhưng không đáng kể mà chỉ đạt 99,4% so với kế hoạch là 99%.

    3.2. Các hành động khắc phục phòng ngừa

    Các hành động khắc phục phòng ngừa của năm 2004 và 2005 được thể hiện trong bảng sau:

    TT Hạng mục Tổng số Tổng số đó đóng Số ngày thực hiện TB đối với cỏc NX/NC đó đóng
    2004 2005 2004 2005 2004 2005
    1 Cỏc NC/NX từ đánh giỏ nội bộ của FPT trong kỳ 12 12 12 12 20 30
    2 Cỏc NC/NX từ đánh giỏ của bờn ngoài trong kỳ 1 15 1 10 30 18
    3 Cỏc NC/NX cũn tồn đọng từ kỳ trước 0 4 0 4   20
    4 Cỏc NC/NX khỏc 0 0 0 0    
    Tổng hợp: 13 27 13 22   26

    Qua bảng số liệu trên ta thấy các NX/ NC từ đánh giá nội bộ của FPT không cao và được khắc phục hết trong kỳ , năm 2004 cũng như năm 2005 có tổng số 12 NX/NC và khác phục đóng hết . Nhưng số ngày thực hiện trung bình năm 2004 chỉ 20 ngày nhưng đến năm 2005 thì đã tăng lên tới 30 ngày

    Các NX/NC từ đánh giá , giám sát từ bên ngoài trong năm 2004 chỉ phát sinh co 1 NX/NC và được khắc phục hết nhưng thời gian khắc phục lại rất dài đó là 30 ngày . Nhưng đến năm 2005 thì phát sinh 14 NX/NC và chỉ káhc phục được 10 NX/NC nhưng thời gian khắc phục tương đối nhanh 18 ngày.         Nhìn chung thì các hành động khắc phục phòng ngừa tương đối tốt .

    3.3. Các phản hồi và khiếu nại cảu khách hàng

    1. Cỏc phản hồi và khiếu nại của khỏch hàng và kết quả xử lý trong năm 2004 (kể cả cỏc phàn nàn nội bộ) được tổng hợp lại như sau :

    Nguyờn nhõn chủ yếu của cỏc khiếu nại:

    Bị mất mật khẩu truy cập Internet: Hiện tượng này trong năm 2003 tuy đó giảm nhiều nhưng vẫn xảy ra một số trường hợp. Nguyên nhân của hiện tượng này là do có một chương trỡnh Trojan thường trú trong máy tính của khách hàng.

    Quản lý mật khẩu truy cập khụng tốt: Hiện tượng này thường diễn ra ở các cơ quan, công ty dẫn đến nhiều người biết mật khẩu, cho người ngoài công ty sử dụng dấn đến cước phí sử dụng tăng vọt.

    Giải thích các chính sách khuyến mại chưa rừ ràng đó dẫn đến có trường hợp khách hàng thắc mắc về chính sách khuyến mói.

    Thẻ Internet card và Internet phone mới dùng 01 lần đó khụng sử dụng được. Nguyên nhân là khách hàng không để ý đến thời hạn sử dụng của thẻ.

    TT Loại Số đầu kỳ Số phỏt sinh Số đó xử lý Số tồn đọng Số yờu cầu KPPN
    1 Thanh toán cước phí   89 89 0  
    2 Tăng cước   89 89 0  
    3 Thỏi độ phục vụ, đường truyền   0 0 0  
    4 Tổng hợp   89 89 0  
    5 Cấp bộ phận   89 89 0  
    6 Cấp cụng ty/CN   0 0 0  

    Đánh giá sự hài lũng của khỏch hàng  năm 2004

    Đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ triển khai:

    + 98% khỏch hàng hài lũng với thỏi độ phục vụ của nhân viên

    + 99% khỏch  hàng hài lũng với chất lượng đường truyền

    Đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ:

    + 93% khỏch hàng hài lũng về thỏi độ phục vụ cũng như tiến độ hỗ trợ của nhõn viờn

    + 96% khỏch hàng hài lũng với chất lượng và tốc độ đường truyền sau khi nhận được hỗ trợ.

    1. Cỏc phản hồi và khiếu nại của khỏch hàng và kết quả xử lý trong năm 2005 (kể cả cỏc phàn nàn nội bộ) được tổng hợp lại như sau :

                 KẾT QUẢ XỬ LÝ PHẢN HỒI Và KHIẾU NẠI KHỎCH HàNG

    STT Loại Số đầu kỳ Số phỏt sinh Số đó xử lý Số tồn đọng Số yờu cầu KPPN
    11 Kỹ thuật   35 35 0  
    22 Cước phí   34 34 0  
    33 Khỏc   20 20 0  
    44 Tổng hợp   89 89 0  
    55 Cấp         bộ phận   89 89 0  
    66 Cấp      cụng ty/CN   0 0 0  

    Các khiếu nại về kỹ thuật liên quan phần lớn đến chất lượng đường truyền (đứt dây, máy khách hàng có virus…), gây ra việc khách hàng kết nối mạng khó khăn.

    Có một số trường hợp khiếu nại về việc triển khai dịch vụ chậm.

    Khiếu nại về cước phí liên quan một phần đến việc khách hàng chuyển đổi dịch vụ nhưng chưa làm thanh lý dứt điểm dịch vụ trước (mặc đù đó được hướng dẫn).

     

    Đánh giá sự hài lũng của khỏch hàng

    Con số khỏch hàng hài lũng ở mức 89.6%. Tuy nhiờn, với tỡnh hỡnh cung đang vượt quá cầu như hiện nay, con số này cũng không phản ánh được thực trạng thái độ đánh giá của khách hàng đối với công ty.

    Số lượng cuộc gọi đến Call Center (chỉ tính cuộc gọi đến bàn hỗ trợ) mới đáp ứng được về chất lượng trả lời, tư vấn cho khách hàng, nhưng chưa đáp ứng được số cuộc gọi đến được phúc đáp. Hiện nay, tỷ lệ cuộc gọi được đáp ứng  mới ở mức 83.6% trên tổng cuộc gọi đến bàn hỗ trợ.

    Để tăng chất lượng và làm cho khách hàng hài lũng với dịch vụ của mỡnh, cụng ty cần nâng cấp hệ thống và tăng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của khách hàng ở mọi bộ phận: hỗ trợ gián tiếp, hỗ trợ trực tiếp, triển khai, xử lý khiếu nại khỏch hàng.

    1. Tổng hợp những đánh giá phản hồi của khách hàng

    Chất lượng đường truyền sau khi hỗ trợ dịch vụ

       Tốc độ kết nối ra Internet (ví dụ: www.yahoo.com)

     

    Sự hài lũng với thỏi độ phục vụ của nhân viên hỗ trợ của Công ty FPT không?

     

    Thụng tin ADSL của FPT  được biết thụng qua hỡnh thức

     

    IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET CỦA CÔNG TY FPT

    1.13.      1. Những kết quả chất lượng đã đạt được

    Tổ chức được hệ thống tài liệu chất lượng:

    • Đảm bảo đáp ứng được yêu cầu hoạt động của Công ty, TCN của Bộ BCVT.
    • Cấu trúc tài liệu dễ tiếp cận, dễ phổ biến, và có tính mở (do đặc thù hoạt động kinh doanh của FOX đa dạng hoá dịch vụ).

    Đưa các hoạt động của các ban chức năng vào nề nếp:

    • Toàn bộ hoạt động các ban chức năng đều đi vào qui củ: từ chỗ rất thiếu (hầu như không có) đến đầy đủ hồ sơ, thực hiện đúng qui định của Công ty như Hành chính, Thương hiệu, Tổng hội, Truyền thông.

    Kiểm soỏt trờn hệ thống qui trỡnh Internet chặt chẽ:

    • Kiểm soỏt việc thực hiện tạm ứng và quyết toán vật tư chặt chẽ nhằm giới hạn và giảm thiểu thời gian vật tư trôi nổi.
    • Các sai sót của các bộ phận liên quan trong hoạt động Kinh doanh, Triển khai, Hỗ trợ đều được kiểm tra để có hành động khắc phục và phũng ngừa lặp lại.
    • Toàn bộ cỏc khiếu nại của khách hàng liên quan đến chất lượng phục vụ như triển khai chậm, hỗ trợ chậm đều được xử lý ngay lập tức.
    • Rà soát các báo giá cũng như tờ rơi quảng bá dịch vụ tại đầu mối thiết kế và in ấn đảm bảo không có sai sót.

    1.14.      2. Những vấn đề chất lượng còn tồn tại .

         Chất lượng dịch vụ:

    Tính ổn định của đường truyền xDSL (bao gồm khách hàng ADSL và một số khách hàng của TEL) không cao dẫn đến sự không hài lũng, chậm thanh toỏn cước phí và huỷ hợp đồng.

    Tốc độ truy nhập vào trang web chậm, đặc biệt là số mẫu thử có tốc độ chậm đều rơi vào phép thử truy  nhập trang chủ www.fpt.vn.

         Chất lượng phục vụ:

    Chậm trễ trong tiến độ triển khai do năng lực quản lý và đốc thúc tiến độ của cán bộ quản lý bộ phận Triển khai xDSL cũn kộm và do hạ tầng luụn trong tỡnh trạng khụng đủ năng lực đáp ứng.

    Chậm trễ trong tiến độ hỗ trợ do thiếu nhân sự.

    Quá tải trong hoạt động hỗ trợ trả lời khách hàng tại Call Center do thiếu nhân lực, hệ thống gặp lỗi nên sự cố xuất hiện ở hàng loạt khách hàng, tổng đài khi chuyển sang số Viettel hay gặp trục trặc (khách hàng gọi đến bị báo bận).

          Kiểm soỏt thi cụng lỏng lẻo:

    Các kiểm soát viên không hoàn thành nhiệm vụ đã bỏ qua các trường hợp kiểm tra thấy dấu hiệu có vi phạm. Đôi khi hoạt động kiểm soát chỉ mang tính hình thức và mang nhiều tính chủ quan , các kiểm soat viên chỉ làm việc chủ yếu trên bàn giấy chứ không thực sự tìm hiểu và thông qua quá trình .

    1. Những vấn đề đặt ra đối với chất lượng dịch vụ Internet.

    Qua những phân tích trên ta thấy chất lượng cung cấp dịch vụ Internet của Công ty đã được cải tiến nhiều và có uy tin trên thị trường cung cấp dịch vụ Internet trong nước . Nhưng để thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ Internet của Công ty đến năm 2010 trở thành nhà cung cấp dịch Internet hàng đầu Việt Nam và một trong số tờ báo điện tử thuộc top 500 trên toàn thế giới thì ban lãnh đạo Công ty còn nhiều việc để làm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Internet và có được uy tín trên toàn thế giới . Để thực hiện được điều đó Công ty cần:

    – Xây dựng cho bộ phận cung cấp dịch vụ Internet một chính sách chất lượng cụ thể cho từng hoạt động . Trong đó cần chú trọng đến hoạt động đảm bảo họat động mạng . Chính sách chất lượng được coi là con đường dẫn dắt doanh nghiệp tiến tới sự thành công , được xem như là con mắt của doanh nghiệp , tạo cho mọi thành viên có nhận thức đúng đắn về chất lượng sản phẩm cùng phấn đấu vì mục đích chung cảu doanh nghiệp . Mặt khác nó là cồn cụ cạnh tranh trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế .Nhưng hiện nay chính sách chất lượng dịch vụ Internet chỉ mạng tính chất tập trung vào những hạot động chủ yếu và còn nhiều hoạt động khác của hoạt động cung cấp dịch vụ chưa có chính sách chất lượng cụ thể như hoạt động tổng hợp thông tin khách hàng , hay hỗ trợ khách hàng, cung cấp đường truyền ADSL …

    – Đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ nhân viên trong Công ty nhận thức về chất lượng và đạo tạo nâng cao đội ngũ quản trị mạng và đội ngũ tiếp thị về dịch vụ Internet .

    – Thiết lập các nhóm chất lượng . Nhóm chất lượng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chất lượng và giải quyết những vấn đề chất lượng phát sinh , ở đó các ý kiến đưa ra và được tập hợp lại và từ đó phát huy tinh thần tập thể .

    – Tổ chức mạng lưới thu thập và xử lý ý kiến đánh giá và khiếu nại của khách hàng . Những ý kiến của khách hàng có vai trò quan trọng giúp Công ty khắc phục và phòng ngừa các lỗi có thể xẩy ra đối với các dự án cung cấp dịch vụ hay quá trình triển khai dịch vụ , và đồng thời rút ra được những kinh nghiệm quý báu .

    – Quản lý tốt chi phi chất lượng . Chi phí chất lượng phản ánh những chi phí phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Internet đồng thời cũng cho thấy các khoản chi phí không phù hợp phát sinh nhiều hay ít và nó chỉ cho các thành viên trong Công ty thấy được cần phải giảm thiểu các khoản chi phí nào.

    – Nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 : 2000. Ngoài ra Công ty cũng cần phải tổ chức quản lý một cách có hiệu quả , lập kế hoạch chi tiết cho các quá trình cung cấp dịch vụ Internet cũng như quá trình nghiên cứu và phát triển thị trường . Để Công ty có thể sử dụng các nguồn lực có hiệu quả , tránh sự lãng phí nguồn lực …

    – Lập kế hoạch đổi mới công nghệ đẻ đảm bảo họat động mạng ngày một tốt hơn và ngăn ngừa được các sự cố có thể xảy ra. Đặc biệt chú  ý đến vấn đề kỹ thuật trong quá trình triển khai lắp đặt đường truyền ADSL đảm bảo ngày càng tăng tính đúng hạn trong việc triển khái đường truyền ADSL . Cho nên ccàn quan tâm đến nhân tố quản lý trong quá trình triển khai nhằm nâng cao chất lượng quản lý để đảm bảo đúng tiến độ.

     

     

    IV. CHƯƠNG III

    V.   MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    VI.           CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TẠI CÔNG TY FPT

    I. MỤC TIÊU CHẤT LƯỢNG ĐẾN NĂM 2010.

    Để trở thành nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu ở Việt Nam vào năm 2010 , ban lãnh đạo Công ty FPT đã ra mục tiêu chất lượng cho mình . Mục tiêu chất lượng được thể hiện thông qua bảng sau :

    Mục tiêu chất lượng năm 2010

    T

     

    T

               Chỉ Tiêu Đánh Giá  ĐV Tính Năm 2006 Năm 2010
    1 Thời gian mạng hoạt động tốt % >= 95 99.5
    2 Thời gian xử lý sự cố Giờ <=1 <=0.6
    3 Tỷ lệ triển khai đúng hạn / Tổng số khách hàng ADSL % >=85 >=90
    4 Tỷ lệ khảo sát đúng hạn/ tổng số khách hàng ADSL % >= 90 >=95
    5 Tỷ lệ hỗ trợ đúng hạn % >= 90 >=98
    6 Tỷ lệ sai sót % 1 0.5

    II. PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ INTERNET CỦA CÔNG TY FPT

    Để thực hịên mục tiêu chất lượng đặt ra , Công ty FPT cũng đặt ra một số phương hướng nằhm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet của Công ty :

    – Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực , đặc biệt là các cán bộ quản trị mạng và đội ngũ thiết kế Website.

    – Nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng .

    – Tiến hành thu hồi phản ánh của khách hàng và sự hài lòng và những khiếu nại thắc mắc của khách hàng đối với dịch vụ Internet của Công ty và thái độ phục vụ của các cán bộ cung cấp dịch vụ .

    – Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và đưa ra những giải pháp chính sách cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

    – Tăng cường hoạt động đánh giá và kiểm soát quá trình thực hiện hợp đồng và triển khai dịch vụ

    – Thực hiện thiết lập các chính sách chất lượng cụ thể cho từng hoạt động của quá trình cung cấp dịch vụ , từ nghiên cứu thị trường, Marketing đến ký kết hợp đồng đến triển khai.

    – Lập kế hoạch chi tiết thời gian thực hiện hợp đồng và triển khai dịch vụ .

    III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ  VÀ VIỄN THÔNG TẠI CÔNG TY FPT .

    Công ty thâm gia vào hạot động cung cấp dịch vụ Internet chỉ mới được 8 năm kể từ năm 1997 . Trong khoảng thời gian ngắn đó công ty đã không ngừng cố gắng vươn lên và đạt được những kết quả như hiện nay .Trong quá trình nghiên cức thực tế tại Công ty, em xin được nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ để Công ty đạt được những kết quả mong muốn trong tương lai.

    1.1.      1. Giải pháp 1 : Xây dựng chính sách chất lượng cho từng hoạt động cung cấp dịch vụ và chú trọng đến hoạt động đảm bảo hoạt động của mạng.

    Chính sách chất lượng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp . Nó được coi là con đường dẫn dắt mọi thành viên trong doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của công việc mà mình đang thực hiện , thấy được trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng là khách hàng sử dụng dịch vụ , đối với xã hội và đối với doanh nghiệp . Chính sách chất lượng khuyến khích mọi người cố gắng hết sức mình vì mục tiêu chất lượng chung của doanh nghiệp .

    Bên cạnh đó chính sách chất lượng còn là một công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp . Một doanh nghiệp muốn ký kết được các hợp đồng kinh tế với khách hàng , các đối tác … Thì doanh nghiệp đoc phải có chính sách chất lượng . Không phải ngẫu nhiên mà chính sách chất lượng lại là một trong những yếu tố trong Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2001.

    1. Cơ sở thực tiễn .

    Trong Công ty hiện nay tuy hoạt động cung cấp dịch vụ Internet đã co chính sách chất lượng của riêng mình nhưng lại không được cụ thể ở các khâu, các hoạt động hay ở các quy trình cụ thể . Để tất đảm bảo họat động kinh doanh của dịch vụ Internet thì đòi hỏi các hột động khác cũng phải có chính sách chất lượng riêng cho từng hoạt động và được xây dựng dựa trên chính sách chất lượng chung của họat động cung cấp dịch vụ . Đây là giải pháp quan trọng mang tính chất lâu dài vì sẽ tạo một nhận thức chung thống nhất cho tất cả các hoạt động củ tất cả cán bộ nhân viên trong Công ty từ đó hướng họ tới đáp ứng những yêu cầu của khách hàng.

    1. Nội dung giải pháp .

    Để xây dựng chính sách chất lượng cho từng hoạt động cung cấp dịch vụ Internet cần phải thực hiện qua các bước sau :

    • Nắm được ý kiến của khách hàng :

    Để thu được ý kiến đánh giá của khách hàng về chất lượng cung cấp dịch vụ, Công ty cần thành lập một nhóm chuyên trách hoặc có thể giao cho bộ phận Marketing thu hồi những đánh giá của khách hàng . Công việc điều tra có thể tiến hành bằng phỏng vấn trực tiếp rồi ghi chép lại , thư gửi , qua báo hạơc tạp chí , trên các phương tiện thông tin đại chúng khác theo một mẫu điều tra thống nhất do Công ty tự lập . Khi lập mẫu điều tra cần lưu ý tới câu hỏi và cá thuật ngữ được sử dụng . Các câu hỏi cần đơn giản , dễ hiểu và các thuật ngữ cần được hiểu một cách thống nhất . Và lưu ý nếu đối tượng điều tra là người nước ngoài thì cần phải dịch ra thứ tiếng thông dụng nhất đó là tiếng Anh . Và cần phải đưa ra kế họach về chi phí cho hoạt động điều tra một cách cụ thể để đề ra những hoạt động và quy mô điều tra để tránh sự lãng phí và quá tốn kém.

    Sau khi đã có mẫu điều tra , tiến hành đào tạo trong thời hạn 1 ngày cho các điều tra viên để họ hiểu về thông tin cần thu nhập và giải thích cho đối tượng điều tra khi họ không hiểu rõ câu hỏi . Và cần tính cụ thể chi phí đào tạo ( điều này phụ thuộc vào quy mô của hoạt động điều tra)

    Khi đào tạo xong thì tiến hành điều tra . công việc điều tra phải được tiến hành trong thời kỳ cụ thể . Cần lưu ý khi tiến hành điều tra qua thư hoặc qua báo chí thì cần phải giải thích rõ về mục đích của cuộc điều tra , các câu hỏi , thuật ngữ , thời gian thu lại phiếu điều tra và địa điểm thu lại phiếu điều tra .

    • So sánh với đối thủ cạnh tranh :

    Qua kết qủa phân tích của cuộc điều tra lấy ý kiến của khách hàng cùng với việc đánh giá công tác quản lý chất lượng và quản lý chung của Công ty và các đối thủ cạnh tranh như : VNPT, Viettel, Saigon Postel, Hanoi telecom, Viễn thông hằng hải … Nhóm tiến hành sẽ phân tích và so sánh chất lượng sản phẩm dịch vụ Internet , công tác quản lý chất lượng và quản lý chung của công ty đối với chất lượng của các đối thủ cạnh tranh .

    • Tự đánh giá trình độ chất lượng dịch vụ , quản lý chất lượng và quản lý chung của Công ty

    Thông qua việc so sánh với cá đối thủ cạnh tranh Công ty sẽ thấy được những điểm hơn và những điểm yếu kém so với đối thủ chẳng hạn như tính đúng hạn , chất lượng đường truyền , chính sách dịch vụ cung cấp … với những điểm yếu kém hơn cần phải tập trung vào việc xác định những nguyên nhân gây ra và từ đó đưa ra hướng giải quyết .

    • Tìm kiếm cơ hội phát triển các điểm mạnh hiện có và tiềm năng

    Khi đánh giá được trình độ của bản thân công ty cùng với việc so sánh với các đối thủ cạh tranh , Công ty sẽ phân tích để tìm kiếm cơ hội phát triển các diểm mạnh hiện có và các tiềm năng trong bối cảnh có biến cố về môi trường kinh doanh , pháp lý …

    • Đưa ra tầm nhìn trong 5 năm hay 10 năm

    Ban lãnh đạo của công ty cần đưa ra tầm nhìn chung về bối cảnh phát triển của Công ty cũng như sụ phát triển của cồn nghệ thông tin và công nghệ viễn thông , kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ở mức độ nào trong khoảng thời gian đó có chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế hay tài chính không .

    • Ý đồ phát triển của Công ty nói chung và chất lượng nói riêng

    Ban lãnh đạo Công ty đã đưa ra ý đồ cảu Công ty là đến năm 2010 công ty trở thành Công ty cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu Việt Nam , và ban lãnh đạo cũng phải đưa ra ý đò về chất lượng.

    Sau khi các công việc đã được hoàn tất , Ban lãnh đạo Công ty cùng với những người chuyên trách sẽ họp để đưa ra những định hướng cơ bản về chất lượng . Trên cơ sở đó sẽ đưa ra chính sách chất lượng cho từng hoạt động trong quá trình cung cấp dịch vụ .

    1. Hiệu quả của giải pháp

    Với chính sách chất lượng được thiết lập cùng với những định hướng và giải pháp thực hiện chính sách chất lượng , mọi thành viên trong bộ phận sẽ có được sự thống nhất về chiến lược chất lượng của Công ty , thấy được những yêu cầu của khách hàng mong đợi ở dịch vụ Internet do Công ty cung cấp từ đó tạo cho họ ý thức , trách nhiệm đối với khách hàng , xã hội , và Công  ty . Thấy được tương lai của của mình do đó họ sẽ cố gắng hết mình để thực hiện chiến lược chất lượng của Công ty .

    1. Điều kiện thực hiện giải pháp

    Công ty cần lập kế hoạch cụ thể về thời gian thực hiện từng công việc và thời gian hoàn thành .

    Cần lựa chọn những người có năng lực , hiểu biết về chất lượng cung cấp dịch vụ Internet trong số thành viên của công ty để thực hiện .

    Nhóm điều tra cần được cung cấp các phương tiện đi lại phục vụ cho việc đi lại và các thiết bị cần thiết để phân tích , xử lý các ý kiến của khách hàng  thu được .

    Cần phải có nguồn tài chính nhất định để công việc được tiến hành thường xuyên liên tục mà không bị gián đoạn  .

    1.2. Giải pháp 2: Tăng cường công tác đào tạo nhận thức về chất lượng của CBNV và đào tạo nâng cao trình độ của chuyên gia thiết kế Website và cán bộ quản trị mạng .

    1. Cơ sở lý luận

    Con người là chủ thể của mọi quá trình kinh tế xã hội . Đào tạo và bồi dưỡng cho người lao động là cơ sở thực hiện chiến lược phát huy nhân tố con người . Điều này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của Công ty . Sản phẩm dịch vụ Internet không chỉ là được cấu thành từ  chính sách dịch vụ mà người triển khai cũng như thực hiện đưa dịch vụ đó đến với khách hàng cũng đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng cũng như kết quả kinh doanh của Công ty . Vì vậy muốn nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet thì khong chỉ luôn phải nâng cao chính sách dịch vụ mà còn phải nâng cao trình độ , kinh nghiệp , sự hiểu biết và nắm bắt tâm lý khách hàng của các cán bộ trực tiếp hay gián tiếp tham gia cung cấp dịch vụ , đặc biệt là chuyên gia thiết kế Website cũng như quản trị mạng .

    Trong doanh nghiệp , chất lượng các cán bộ quản trị mạng cũng như chuyên gia thiết kế Website đóng vai trò quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng cung cấp dịch vụ Internet. Do vậy việc đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên phải được thực hiện liên tục . Việc đào tạo phải được tiến hành trên cơ sở nhu cầu của thị trường , sự phát triển công nghệ thông tin và chiến lược phát triển của Công ty .

    1. Cơ sở thực tiễn

    Trong quá trình cung cấp dịch vụ thì đội ngũ nhân viên được xem là linh hồn của dịch vụ cung cấp , đặc biệt thể hiện rõ nhất là cán bộ thiết kế Website và cán bộ quản trị mạng. Tuy ràng hai lực lượng này trong Công ty đều có trình độ Đại Học . Nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đòi hổi vấn đề kiến thức phải thường xuyên được cập nhật .

    Lực lượng lao động hiện nay ở Công ty phần lớn là CBNV trẻ có năng động , nhiệt tình được đào tạo bài bản song thiếu kinh nghiệm thực tế .

    Xuất phát ttừ lý do trên Công ty cần phải đào tạo nâng cao nhận thức về chất lượng cho CBNV và nâng cao trình độ cho nhân viên thiết kế trang Web và nhân viên quản trị mạng

    1. Nội dung của giải pháp
    • Đối tượng đào tạo :

    – Cán bộ quản lý

    – Các chuyên gia quản trị mạng và thiết kế Website

    – Cán bộ trẻ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc

    – Đào tạo các cán bộ nhân viên trong toàn công ty về hệ thống quản lý chất lượng

    • Nội dung đào tạo :

    – Đào tạo trang bị kiến thức về quản lý chất lượng , các phương pháp quản lý chất lượng và sử dụng cồn cụ thống kê trong quản lý chất lượng

    – Đào tạo nâng cao trình độ các chuyên gia thiết kế trang web và các cán bộ quản trị mạng . Đặc biệt đào tạo về hệ thống bảo mật thông tin , tiếp thu các công nghệ mới …

    – Đào tạo và kắhc phục phòng ngừa . Sau mỗi hợp đồng triển khai Công ty nên tổ chức đúc rút kinh nghiệm , tìm ra những hạn chế , những khó khăn trong quá trình triển khai cung cấp dịch vụ . Có thể tổ chức theo quy mô nhỏ ( Nhóm ) hoặc có thể tổ chức theo quy mô lớn tùy vào tính phức tập và quy mô của hợp đồng triển khai.

    – Đào tạo theo chiến lược của Công ty . Công ty cần có một chiến lược kế hoạch háo nguồn nhân lực trong 5 hay 10 năm nhằm mục tiêu thích ứng với cường độ cạnh tranh ngày càng cao và nhu cầu tăng trưởng , phát triển của Công ty trong tương lai . Kế hoạch hóa nguồn nhân lực sẽ dúp cho công ty nắm bắt được trình độ học vấn , trình độ chuyên môm của từng người , các tiềm năng cần khai thác để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ .

    • Hình thức đào tạo

    – Các CBNV được đào tạo về kiến thức chất lượng sẽ được đào tạo định kỳ 6 tháng một lần trong thời hạn 2 ngày

    – Đối với CBNV được đào tạo nhậ thức về chất lượng :

    + Đào tạo tại chỗ do trưởng phòng chất lượng của Công ty ( EQA) hoặc một người có kinh nghiệm hay thuê chuyên gia đào tạo chất lượng đào tạo tại Công ty . Việc đào tạo tại chỗ sẽ giúp các học viên có thể vừa học vừa làm và vận dụng ngay lý thuyết vừa học vào thực tế .

    + Kết hợp đào tạo chất lượng , tiến hành đào tạo họ tại trường . Hình thức này nên được kết hợp giữa hoạc lý thuyết với thực hành có nghĩa là học một thời gian tại trường sau đó trở về công ty thực hành một thời gian rồi lại quay trở lại trường học tiếp.

    + Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về chất lượng.

    – Đối với các cán bộ thiết kế trang web và cán bộ quản trị mạng :

    + Gửi đến học tập trung tại trung tâm đào tạo quản trị mạng và thiết kế  và có thể tham gia vào đào tạo lập trình viên quốc tế APTECH của Công ty .

    + Gửi đến các trường đào tạo nước ngoài

    + Tổ chức cho đi học và lấy chứng chỉ về bảo mật thông tin và bảo mật hệ thống.

    4.Hiệu quả của giải pháp

    Với giải pháp trên CBNV trong công ty sẽ được nâng cao cả về số lượng và chất lượng . Nhận thức của các cán bộ quản lý chất lượng và những thành viên khác trong Công ty về chất lượng được nâng cao > trình độ chuyên môn quản trị mạng và thiết kế Web được nâng cao làm cho chất lượng cung cấp dịch vụ được đảm bảo , giảm thiể các sai sót cũng như gải quyết sự cố nhanh chóng hơn .

    Mặt khác không ngừng nâng cao trình độ chuyên môm sẽ giúp các quản trị viên và lập trình viên mới vào làm có thể nhanh chónh đảm nhận được công việc của mình.

    5 . Điều kiện thực hiện giải pháp

    Công ty cần lập kế hoạch cụ thể trên cơ sở đánh giá , phân loại nguồn lực lao động , đồng thời chuẩn bị các nguồn lực cần thiết cho công tác đào tạo

    Thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng công tác đào tạo .

    Đòi hỏi phải có sự tham gia của mọi thành viên trong Công ty .

    Có nguồn kinh phí cho các học viên đi học .

    Thật công bằng khách quan trong việc lựa chọn các học viên và công khai vì sao lại chọn .

    Các học viên được cử đi học phải có tinh thần ham học , cố gắng tìm tòi để có những kiến thức mới để đảm nhiệm công việc tốt hơn .

    1.3.Giải pháp 3: Thiết lập nhóm chất lượng.

    1. Cơ sơ lý luận.

    Nhóm chất lượng được ra đời tại Nhật Bản vào năm 1962 và đã mang lại những thành quả to lớn cho người Nhật. Kể từ đó nhóm chất lượng đã được rất nhiều các tập đoàn kinh tế trên thế giới cũng như nhiều nước vận dụng. Hoạt động của nhóm chất lượng mang tính chất chất tập thể, ở đó mọi người cùng nhau đưa ra ý kiến, cùng nhau giải quyết và tập hợp lại thành một giải pháp tốt nhất cho vấn đề chất lượng.

    Mặt khác trong qua trình cung cấp dịch vụ Internet thì có nhiều ca nhân thực hiện những hợp đồng khác nhau do đó giữ các thành viên không có sự hội ý chia sẻ kinh nghiệm cũng như trình bày các ý kiến , giải pháp. Chỉ khi xẩy ra sụ cố thì trưởng bộ phận hay người quản lý cán bộ đó mới tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ hay triển khai cung như trong quá trình marketing.

    1. Cơ sở thực tiễn

    Hiện nay bộ phận cung cấp dịch vụ Internet của công ty có trên 1245 CBNV, mỗi người đảm nhiệm những công việc khác nhau, họ không trao đổi ý kiến hay cùng làm việc với nhau trừ khi họ gặp vấn đề. Hoạt động của mỗi phòng ban cũng hoàn toàn tách biệt nhau và không có sự tham gia góp ý giữa các phòng ban với nhau.

    Vì các lý do trên mà bộ công ty cần thiết phải lập các nhóm chất lượng. Nhóm chất lượng sẽ giúp các thành viên trong công ty thực hiện công việc tốt hơn đồng thời cũng giảm thời gian khắc phục của dự án.

    1. Nội dung của giải pháp

             Thu hút sự tham gia của mọi người: Việc làm đầu tiên khi xây dựng nhóm chất lượng là thu hút sự tham gia của mọi người trong công ty trên tinh thần tự giác không cưỡng ép. Trưởng các phòng ban trong công ty sẽ chịu trách nhiệm thu hút, lôi cuốn mọi người trong phòng ban mình phụ trách tham gia vào việc thiết lập nhóm chất lượng, thông qua phổ biến cho thấy được những lợi ích có thể đạt được khi nhóm chất lượng được thành lập và có sự tham gia của họ.

             Phân nhóm: Sau khi thu hút được sự tham gia của mọi người sẽ tiến hành phân nhóm. Mỗi người sẽ được phát một phiếu đăng ký và họ sẽ đăng ký vào nhóm mà họ cảm thấy thích thú và có ích cho họ trong công việc. Người trong nhóm có thể là người trong cùng phòng  ban, cùng thực hiện một công việc, hay bao gồm những ngừời thuộc các phòng ban khác nhau, thực hiện các công việc khác nhau, miễn sao họ cảm thấy  thích thú khi tham gia vào hoạt động của nhóm. Số lượng người trong nhóm có thể từ 4 đến 6 người.

             Bầu nhóm trưởng: Các thành viên trong mỗi nhóm sẽ tiến hành bầu người đứng đầu nhóm. Nhóm trưởng phải là ngửòi có năng lực lãnh đạo nhóm hoặc được mọi người trong nhóm tín nhiệm.

            Bầu thư ký: Sau khi các nhóm được thiết lập, các thành viên của các nhóm sẽ bầu một người làm thư  ký. Thư ký sẽ là người ghi chép lại nội dung của cuộc họp khi có các nhóm cùng tham gia để giải quyết vấn đề về chất lượng hay hoạch định công tác chất lượng khi cần có sự tham gia của các nhóm khác nhau.

            Triển khai nhóm: Sau khi các công việc trên hoàn thành, nhóm chất lượng sẽ đi vào hoạt động. Mới đầu có thể ngày nào cũng họp nhóm sau đó có thể vài ba ngày họp một lần và khi nhóm đã đi vào nề nếp thì số lần họp tốt nhất là 2 lần trong một tháng. Thời gian họp được tiến hành ngoài giờ làm việc, có thể trước khi làm việc, sau khi hết thời gian làm việc hay trong giờ giải lao. Đối với các nhóm mà số ngừơi trong nhóm cùng làm việc với nhau hay trong cùng một phòng ban thì số lần họp có thể ít hơn. Thời gian cho mỗi cuộc họp có thể kéo dài trong 15 phút, 30 phút hay 1 tiếng.

    1. Hiệu quả của giải pháp:

            Kết quả lớn nhất, quan trọng nhất do các nhóm chất lượng mang lại là chất lượng dịch vụ Internet của công ty sẽ được bảo đảm và nâng cao do ý thức tự nguyện tham gia của mọi thành viên, cụ thể:

                – Mọi người trong công ty sẽ tự kiểm soát, kiểm tra chất lượng công việc được giao.

    – Công tác kiểm soát, kiểm tra chất lượng dịch vụ Internet trở thành một công tác của toàn công ty, do vậy có tính hệ thống, toàn diện và không chỉ là phát hiện lỗi mà còn là phòng ngừa.

    – Trình độ và trách nhiệm của mọi người được nâng cao điều đó làm cho mọi người trong công ty gắn bó với công việc. Quan hệ giữa mọi người trong công ty được cải thiện.

    1. Điều kiện thực hiện giải pháp

    –  Được sự ủng hộ của ban lãnh đạo công ty

    –  Mọi người trong công ty có tinh thần ham học hỏi

    –  Sự tham gia của mọi người là tự nguyện không cưỡng ép

    –  Có trợ cấp cho thời gian họp

    –  Mọi người quyết tâm xây dựng làm nên một tạp thể vững mạnh.

    1.4.Giải pháp 4: nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2001

    1. Cơ sở lý luận

    Như chúng ta đã biết để đạt được chứng chỉ ISO 9001 các công ty phải bỏ ra từ 25 đén 30 nghìn USD cùng với nỗ lực cao của các CBNV trong Công ty . Nhưng khi đã có được chứng chỉ , các doanh nghiệp phải duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu lực của hệ thống đó . Đây là yêu cầu bắt buộc của tiêu chuẩn ISO 9001: 2001 . Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp chỉ coi chứng chỉ ISO 9001 là phương tiện để quảng bá cho sản phẩm và là giấy thông hành để vào các thị trường khó tính vì vậy họ cố gắng đạt được chứng chỉ rồi bỏ đó không quan tâm xem hệ thống quản lý chất lượng có được duy trì và cải tiến hay không . Do vậy việc nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng là yêu cầu bắt buộc của doanh nghiệp nếu họ muốn nâng cao chất lượng sản phẩm .

    1. Cơ sở thực tiễn

    Mặc dù công ty FPT đã nhậ được chứng chỉ ISO 9001:2000 và chuyển đổi thành công sang phiên bản ISO9001:2001 nhưng hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng ở FPT không được cao . Điều nầy được thể hiện ở:

    – Các tài liệu khó áp dụng do việc xây dựng tài liệu đó khó hiểu, một số tài liệu còn mâu thuẫn nhau.

    – Chưa có hệ thống giúp tìm đọc và khai thac các tài liệu ISO phầm mềm một cách dễ dàng và đơn giản

    – Nhận thức của CBNV về ISO còn mơ hồ .

    1. Nội dung giải pháp

    Để nâng cao hiệu lực hệ thống quản lý chất lượng , Công ty cần thực hiện các công việc sau :

    – Định kỳ 6 tháng một lần tiến hành đào tạo bổ sung kiến thức về quản lý chất lượng cho mọi thành viên trong Công ty trong 2 ngày . Thực tế tại công ty chỉ có trưởng các phòng ban mới được đi bổ sung kiến thức về quản lý chất lượng . Việc đào tạo bổ sung kiến thức này có thể thực hiện bằng cách đào tạo tập trung cho trưởng các phòng ban sau đó trưởng các phòng ban sẽ đào tạo lại cho các thành viên trong phòng ban mình phụ trách.

    – Tổng giám đốc cần quan tâm hơn nữa tới công tác quản lý chất lượng của Công ty bằng cách định kỳ đánh giá lại tính hiệu quả và hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng thông qua việc xem xét hệ thống tài liệu có phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn và có được áp dụng đúng như đã viết không, việc duy trì hồ sơ chất lượng và hủy bỏ những tài liệu lỗi thời.

    – Nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý cấu hình đây là qui trình hay gặp NC nhất ở công ty. Công ty cần đạo tạo một đội ngũ cán bộ chuyên thực hiện công việc quản lý cấu hình và cần có các hướng dẫn cụ thể hơn nữa cho qui trình này. Hiện nay công ty đã có những hướng dẫn rất cụ thể về quản lý cấu hình được thể hiện trong phần hướng dẫn công việc của sổ tay qui trình phần mềm nhưng mỗi bộ phận lại chỉ có duy nhất một quyển sổ tay do cán bộ quản lý chất lượng trực tiếp quản lý. Do đó việc tra cứu thường không thuận lợi và gặp nhiều khó khăn. Công ty nên để các hướng dẫn đó tại vị trí trong bộ phận sao cho mọi người trong bộ phận đều có thể tra cứu một cách thuận lợi khi cần thiết.

    – Công ty cần viết lại sổ tay hướng dẫn công việc lập trình sao cho dễ hiều và rõ ràng hơn vì sổ tay hướng dẫn này bị coi là khó hiểu, không rõ ràng đồng thời cần thống nhất các thuật ngữ trong sổ tay vì các thuật ngữ không thống nhất nên đôi khi mọi người hiểu không thống nhất.

    1. Hiệu quả của giải pháp

    Với việc nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lướng sẽ đảm bảo dịch vụ Internet do công ty cung cấp sẽ luôn đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo các hoạt động quản lý chất lượng của công ty được thông suốt và không gắp trở ngại khi BVQI tiến hành đánh giá lại hệ thống quản lý chất lượng của công ty.

    1. Điều kiện thực hiện giải pháp

    Để thực hiện giải pháp này những người lãnh đạo trong công ty cần quan tâm hơn nữa tới công tác quản lý chất lượng và có sự cam kết của họ về nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng. Thực tế cho thấy nếu như lãnh đạo công ty không quan tâm tới công tác chất lượng thì mọi người trong công ty cũng không quan tâm.

    1.5.Giải pháp 5: Tổ chức mạng lưới thu thập ý kiến đánh giá và khiếu nại của khách hàng.

    Em đang tìm tài liệu để hòan thành giải pháp này


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá, toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng phổ biến thì bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Để có thể vực dậy và phát triển một nền kinh tế với một cơ sở hạ tầng yếu kém về mọi mặt, để có thể thắng được trong cạnh tranh, chúng ta cần có rất nhiều vốn. Kênh dẫn vốn trong nước quan trọng nhất cho nền kinh tế là hệ thống ngân hàng. Để có thể thu hút được nhiều vốn thì một trong những điều cần phải làm là làm tốt công tác tạo đầu ra, tức là cấp tín dụng cho nền kinh tế.

    Tín dụng Ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế. Nghiệp vụ này không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của từng ngân hàng. Chính vì vậy, làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng là điều mà trước đây, bây giờ và sau này đều được các nhà quản lý Ngân hàng, các nhà chính sách và các nhà nghiên cứu quan tâm.

    Với Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, hoạt động tín dụng trong những năm gần đây là khá tốt, dư nợ qua các năm tăng cao, tỷ lệ nợ quá hạn giảm. Tuy nhiên, kết quả hoạt động tín dụng vẫn chưa cao như mong muốn. Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó trong phần thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội được đề cập ở chương 2 của chuyên đề này. Trước xu thế hội nhập và cạnh tranh Ngân hàng cần nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội” nhằm mục đích đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn, góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam, hoạt động tín dụng bao gồm nhiều hoạt động như chiết khấu, bảo lãnh, cho vay, cho thuê… Song trong bản đề án này em chỉ đề cập tới chất lượng tín dụng ở góc độ cho vay.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    BẢN CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC CHIA LÀM 3 CHƯƠNG

    Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.

    Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội.

    Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội.

    4

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    chương i

    Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của

    ngân hàng thương mại

    1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1.1. Khái niệm hoạt động tín dụng

    Ngân hàng là nơi biểu hiện tập trung nhất mọi hoạt động kinh tế của đất nước. Những thông tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, chính phủ và các tầng lớp dân cư.

    Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ. Trong đó, hoạt động tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm (tín dụng) là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại. Qui mô, chất lượng tín dụng ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

    Tín dụng ngân hàng là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay. Trong đó bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay sử dụng một lượng giá trị (thường dưới hình thái tiền) trong một thời gian nhất dịnh theo những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận (thời gian, phương thức thanh toán lãi- gốc, thế chấp…)

    Qua đó ta thấy:

    Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin- người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. Với ngân hàng, để có thể tin được vào khách hàng, ngân hàng luôn thẩm định định giá khách hàng trước khi cho vay. Nếu khâu này thực hiện một cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của ngân hàng gặp ít rủi ro và ngược lại.

    Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Đặc trưng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời. Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, ngân hàng xác định thời hạn cho vay dựa vào quá trình luân chuyển vốn của khách hàng và tính chất vốn của ngân hàng. Nếu ngân hàng

    5

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    định kỳ hạn nợ một cách phù hợp với khách hàng thì khả năng trả nợ đúng hạn cao và ngược lại.

    Tín dụng dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Sở dĩ như vậy là vì vốn hoạt động của ngân hàng chủ yếu là huy động từ bên ngoài, vốn chủ sở hữu ít khi được sử dụng để sản xuất kinh doanh mà được sử dụng chủ yếu để đầu tư vào tài sản cố định. Chính vì vậy, sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người gửi ngân hàng. Mặt khác ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí như trả lương, khấu hao… Do đó, người vay ngoài việc trả gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi. Đó là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển.

    Khi cho vay, cái mà ngân hàng thu được là lợi nhuận sau khi đã trừ đi tất cả các khoản phí. Đồng thời đi kèm với lợi nhuận dự kiến có rủi ro. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi khách hàng không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng (Không trả đúng hạn hoặc không trả). Ngân hàng luôn phải xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro để định ra một mức lãi suất phù hợp. Rõ ràng, với một dự án có độ rủi ro cao hơn thì chi phí nợ của doanh nghiệp đó phải cao hơn và ngược lại.

    1.1.2. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng

    Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Trong quá trình phân loại có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại, song thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:

    1.1.2.1.Theo mục đích sử dụng tiền vay và của người vay

    Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

    • Tín dụng đối với người sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại cấp tín

    dụng cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu thông hàng hoá. Nguồn trả nợ của hoạt động này là kết quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy Ngân hàng cần phải có đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng của mình, về phương án sản xuất kinh doanh của họ.

    6

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu

    cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá lâu bền như máy giặt, điều hoà, tủ lạnh. …ở đây, nguồn trả nợ là thu nhập trong tương lai của người vay.

    Với cách phân loại này, ngân hàng sẽ có quy trình nghiệp vụ cụ thể để đảm bảo ngân hàng có đủ tiền để cho vay và thu hồi nợ theo đánh giá mức độ rủi ro và mức lãi xuất được đặt ra cho từng loại.

    1.1.2.2. Theo thời hạn sử dụng tiền vay của người vay

    Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

    • Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng mà thời điểm trả nợ được xác định cụ thể. Đó có thể là một năm, hai năm,….

     

    +Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh

    nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính được.

    +Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra.

    +Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng( đường xá, bến cảng, sân bay… ), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không lường trước được.

    • Tín dụng không thời hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn hoàn trả tiền vay không được xác định khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là điều kiện về

    việc thu hồi khoản tiền cho vay của ngân hàng hoặc việc trả nợ của người vay. Ví dụ ngân hàng không thu gối theo thời hạn nhất định mà chỉ thu lãi; người

    7

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    vay sẽ trả nợ cho Ngân hàng khi nhu cầu vay thêm không cần thiết nữa do quy mô sản xuất giảm hoặc doanh nghiệp lấy nguồn khác để tự bổ xung; ngân hàng muốn thu hồi gốc phải báo trước cho người vay. Như vậy khi quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sẽ đi vay không thời hạn (vì hết tiền đầu tư cho chu kỳ sản xuất kinh doanh này lại cần tiếp).

    1.1.2.3. Theo điều kiện đảm bảo

    Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:

    • Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như

    thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi nợ khi người vay không thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức tín dụng này vẫn có độ rủi ro cao vì tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình.

    • Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế

    chấp, cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Muốn vậy, ngân hàng phải đánh giá hiệu quả sử dụng tiền vay của người vay, khách hàng không được phép giao dịch với bất kỳ ngân hàng nào khác. Mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng mà không cần đảm bảo.

    1.1.2.4. Theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay

    Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:

    • Cho vay bằng đồng bản tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho

    khách hàng bằng VND. Nước ta quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì chỉ được vay bằng VND.

    Cho vay bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng ngoại tệ. Nước ta quy định, cho vay bằng ngoại tệ chỉ phục vụ cho nhập khẩu; đối với khách hàng thu mua hàng xuất khẩu thì Ngân

    8

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng cho vay bằng ngoại tệ nhưng phải bán luôn cho ngân hàng và dùng VND đi mua hàng xuất khẩu.

    1.1.2.5. Theo đối tượng tín dụng

    Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

    • Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại tín dụng được

    sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro thấp vì vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nên Ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồi vốn.

    • Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định: Là loại tín dụng được

    sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới. Hình thức tín dụng này thường có mức độ rủi ro cao vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn.

    1.1.2.6. Ngoài ra tín dụng còn được phân chia theo các cách sau

    Theo xuất xứ của tín dụng có:

    • Tín dụng gián tiếp.
    • Tín dụng trực tiếp.
    • Tín dụng cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác vay.
    • Tín dụng cho nhà nước vay.

     

    • Tín dụng cho người tiêu dùng vay.

    Dựa vào các cách phân loại trên, các nhà phân tích sẽ biết được kết cấu tín dụng của từng loại tín dụng (là tỷ trọng của từng loaị tín dụng trên tổng dư nợ). Từ kết cấu tín dụng đó, so sánh với kết cấu nguồn huy động, so với nhu cầu của nền kinh tế, sẽ giúp cho các nhà phân tích đánh giá, xem xét kết cấu tín dụng đã phù hợp với ngân hàng chưa. Từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp.

    1.1.3. Vai trò của hoạt động tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế

    Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    tranh…. Các doanh nghiệp để có thể đứng vững trên thương trường thì cần phải

    có vốn để đầu tư và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu để doanh nghiệp có thể khai thác. Các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển. Như vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trường. Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện trên các khía cạnh sau:

    • Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế.

    Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án.

    Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.

    • Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong

    nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.

    Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi

    10

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu.

    Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả.

    • Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ.

    Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại. Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.

    • Thứ tư: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng

    mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.

    Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra. Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay… đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

    Để đánh giá hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại có tốt hay không, cần xem xét chất lượng tín dụng.

    11

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng

    Chất lượng, giá cả và lượng hàng hoá là ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh và khả năng của doanh nghiệp. Để có thể đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm là điều tất yếu. Các nhà kinh tế nói đến chất lượng bằng nhiều cách: Chất lượng là “Sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng”, là” một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hay chất lượng là” năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng”.

    Với cách đề cập như vậy, thì chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.

    Để có thể hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng, ta xem xét sự thể hiện chất lượng tín dụng trên các khía cạnh sau:

    • Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ số tiền

    mà Ngân hàng cho vay phải có lãi xuất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.

    • Đối với Ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở

    phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Đối với một ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi nhất định để thoả mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình.

    • Đối với Chính phủ, với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín

    dụng được thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.

    12

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

    Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh độ thích nghi của Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, để đánh giá được ngân hàng đó mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín dụng. Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, có chỉ tiêu mang tính định lượng có chỉ tiêu mang tính định tính.

    1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính

    Cảm giác an tâm của khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng nếu Ngân hàng có bảo vệ, có bãi gửi xe, có nhân viên trông xe không thu lệ phí thì Ngân hàng sẽ tạo được một ấn tượng đầu tiên rất tốt đẹp trong lòng khách hàng.

    Nếu ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban sẽ giúp khách hàng không bị bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian. Từ đó khách hàng sẽ có ấn tượng tốt về Ngân hàng.

    Cách bố trí sắp sếp trong phòng làm việc của ngân hàng, trang phục của nhân viên, đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng mới.

    Uy tín của ngân hàng cũng góp phần làm nên chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nước ngoài, ngân hàng cổ phần trong nước vào Việt Nam không lâu nhưng phong cách làm việc, thái độ phục vụ khách hàng của họ là rất tốt. Trong số này có thể kể đến ngân hàng ANZ, là một ngân hàng của úc mới vào Việt Nam từ năm 1992. Khách hàng khi đến giao dịch với ANZ bao giờ cũng rất yên tâm và thoải mái bởi ở đây có một đội ngũ nhân viên bảo vệ rất chuyên nghiệp, một ban lễ tân niềm nở và hướng dẫn khách hàng tận tình, chu đáo, một không khí làm việc nghiêm túc. Tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên uy tín của ngân hàng ANZ ở Việt Nam.

    Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng

    1.2.2.2.1. Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

    Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu.

    Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của Ngân hàng đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao hay thấp.

    Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.

    1.2.2.2.2. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn

    Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn.

    Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

    Tỷ lệ nợ   Nợ quá hạn  
      =    
    Quá hạn Tổng dư nợ  
     

    Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp.

    Mặt khác, để đánh giá chính xác hơn chỉ tiêu này người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn ra làm hai loại:

    Tỷ lệ nợ quá hạn   Nợ quá hạn có khả năng thu hồi  
      =    
    có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn  
     
    Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi  
      =    
    không có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn  
     

    Hai chỉ tiêu này cho chúng ta biết được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi. Do vậy sử dụng thêm chỉ tiêu này cho phép đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng.

    1.2.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

    Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    Vòng quay vốn   Doanh số thu nợ  
      =      
    tín dụng Dư nợ bình quân  
     

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.

    1.2.2.2.4. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng

    Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại một khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn cho vay.

    Thu nhập từ   Lãi từ hoạt động tín dụng  
      =    
    hoạt động tín dụng Tổng thu nhập  
     

    Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.

    1.2.2.2.5. Chỉ tiêu doanh số cho vay

    Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của gân hàng đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm

    1.2.2.2.6. Chỉ tiêu các thông số quy định

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngoài các chỉ tiêu trên thì chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua việc đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng như cho vay một khách hàng, hệ số an toàn vốn tối thiểu 8%.

    • Giới hạn cho vay một khách hàng: Để đảm bảo khả năng thanh toán,

    bất cứ một Ngân hàng thương mại nào cũng chỉ được cấp tín dụng cho một khách hàng không quá 15% vốn tự có.

    • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số Cook): Tỷ lệ này cho biết một đồng vốn tự có bảo vệ cho bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của Ngân hàng

    thương mại. Nó được tính bằng công thức sau:

    Tỷ lệ an toàn   Vốn tự có  
      =    
    vốn tối thiểu Tài sản có rủi ro qui đổi  
     
    • Dư nợ của 1 khách hàng không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ. Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Dựa vào

    các chỉ tiêu đó ta có thể nhận định được chất lượng tín dụng ngân hàng cao hay thấp. Tuy nhiên chất lượng tín dụng còn chịu tác động của các nhân tố khác.

    1.2.2.2.7. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

    Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể.

    Hiệu suất   Tổng dư nợ
      =  
    sử dụng vốn   Tổng vốn huy động

    1.2.2.2.8.Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Về nguyên tắc, nguồn trả nợ cho ngân hàng chính là tiền bán hàng (với tín dụng ngắn hạn), là khấu hao tài sản cố định của tài sản cố định được đầu tư bằng nguồn vốn vay đó, lợi nhuận sau thuế có thể từ tài sản đó hoặc tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh (đối với tín dụng trung và dài hạn).

    Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản. .. nên người vay phải bán tài sản thế chấp (có thể do tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ Ngân hàng. Tỷ lệ này được xác định như sau:

    Tỷ lệ thanh toán nợ do Số tiền thu nợ do bán tài sản thế chấp
    =   *100%
     
    bán tài sản của người vay Tổng doanh số thu nợ
    1.2.2.2.9. Lãi treo    

    Lãi treo là lãi tính trên nợ gốc và các khoản cho vay của ngân hàng nhưng chưa thu hồi được.

    Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt. Lãi treo càng cao phản ánh rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn, ngân hàng có khả năng mất cả vốn lẫn lãi. Từ đó chất lượng tín dụng giảm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    Trên đây là các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng, tuy nhiên để đánh giá một cách chính xác cần xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

    1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

    Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của một ngân hàng, hoạt động tín dụng phát triển cũng kéo theo các hoạt động khác của ngân hàng phát triển. Nâng cao chất lượng tín dụng đã, đang, và sẽ là cái đích mà tất cả các ngân hàng thương mại hướng tới. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Bên cạnh các nhân tố từ chính ngân hàng, còn có những nhân tố từ khách hàng của ngân hàng và các nhân tố khách quan khác.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.1.Các nhân tố từ phía Ngân hàng

    1.3.1.1. Chính sách tín dụng của Ngân hàng

    Chính sách tín dụng của là một trong những chính sách trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là yếu tố đầu tiên tác động dến việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.

    Chính sách tín dụng được hiểu là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo, liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Chính sách tín dụng bao gồm: hạn mức tín dụng, kỳ hạn của các khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, các loại cho vay được thực hiện. Các điều khoản của chính sách tín dụng được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ và tài chính của ngân hàng Nhà nước, khả năng về vốn của ngân hàng và nhu cầu tín dụng của khách hàng. Khi các yếu tố này thay đổi, chính sách tín dụng cũng thay đổi theo. Đối với mỗi khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phù hợp. Ví dụ như với các khách hàng có uy tín với ngân hàng thì ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo, có hạn mức cao hơn, lãi suất ưu đãi hơn; còn đối với các khách hàng khác, việc có tài sản đảm bảo là cần thiết.

    Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không. Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều phải có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như của thị trường.

    1.3.1.2. Quy trình tín dụng

    Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó bao gồm các bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ.

    Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng (khách hàng nhập hồ sơ vay vốn ). Bao gồm 3 giai đoạn: khai thác và tìm kiếm khách

    19

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay; phân tích thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc nhiều vào chất lượng công tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng ngân hàng thương mại.

    Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng, nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng.

    Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng. Sự nhạy bén của ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng sẽ giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng.

    Đồng thời với các bước trong quy trình tín dụng là công tác thu thập thông tin. Thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng chống rủi ro tín dụng càng tốt. Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ rất nhiều nguồn: từ trung tâm tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, từ phòng thông tin tín dụng của các ngân hàng thương mại, qua báo chí, các tổ chức nghề nghiệp, qua việc cán bộ tín dụng trực tiếp thu thập tại cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, qua báo cáo tài chính của khách hàng.

    Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc. Đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt,thực hiện các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp. Ví dụ như đối với các dự án lớn, bước phân tích là rất quan trọng. Thậm chí có trường hợp quá phức tạp, ngân hàng phải thành lập tổ thẩm định riêng. Đối với những món vay tiêu dùng, việc giám sát mục đích sử dụng vốn cần được chú trọng nhiều hơn.

    20

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.1.3. Công tác tổ chức ngân hàng

    Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định.

    Ngân hàng được tổ chức một cách có khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống cũng như với các cơ quan liên quan khác. Qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng có vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.

    1.3.1.4. Phẩm chất và trình độ cán bộ

    Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng. Sỡ dĩ như vậy là vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng.

    Cán bộ tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái pháp luật sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng quyết định đến sự thành công của công tác tín dụng. Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định được tính chân thực của các báo cáo taì chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng (như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp đi vay ở nhiều nơi..) từ đó phân tích được khả năng quản lý và năng lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không.

    Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trưòng kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, sự thay đổi của thị trường…dự đoán trước được những biến động có thể xẩy ra từ đó tư vấn lại cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp.

    21

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.1.5. Kiểm soát nội bộ

    Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra; phát hiện những thuận lợi, khó khăn, sai trái từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời.

    Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng nguyên nhân dẫn đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.

    1.3.1.6. Tình hình huy động vốn

    Tình hình huy động vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.Vốn huy động ngắn hạn là nguồn chủ yếu để cho vay ngắn hạn, vốn huy động trung dài hạn là nguồn chủ yếu để cho vay trung dài hạn. Vốn huy động càng lớn, ngân hàng thương mại càng có khả năng cho vay, mở rộng hoạt động tín dụng. Nếu

    • ngân hàng không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn huy động và cho vay mà không dự kiến dược nguồn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra.

    1.3.2. Các nhân tố từ phía khách hàng

    Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và sau khi được ngân hàng chấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh. Vì vậy, khách hàng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

    1.3.2.1. Năng lực của khách hàng

    Năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không.

    Nếu năng lực của khách hàng yếu kém, thể hiện ở việc không dự đoán được những biến động lên xuống của nhu cầu thị trường; không hiểu biết nhiều trong việc sản xuất, phân phối và khuyếch trương sản phẩm …thì sẽ dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh. Từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng. Và ngược lại năng lực của khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng lớn, vốn vay càng được sử dụng có hiệu quả.

    22

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.2.2. Sự trung thực của khách hàng

    Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng

    Nếu các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng không cung cấp các số liệu trung thực, vi phạm chế độ kế toán thống kê đã được ban hành thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của khách hàng để qua đó có thể đưa ra quyết định cho vay đúng đắn.

    Nếu khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục dích khi xin vay thì sẽ không trả được nợ dúng hạn.

    1.3.2.3. Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng

    Rủi ro là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những biến cố (sự kiện) xảy ra ngoài mong muốn và đem lại hậu quả xấu. Rủi ro trong kinh doanh là một yếu tố tất yếu như người ta thường nói” rủi ro là người bạn đồng hành của kinh doanh”. Rủi ro phát sinh muôn màu muôn vẻ và là hệ quả của những nhân tố chủ quan hay khách quan, nhưng chủ yếu là những nhân tố khách quan ngoài dự đoán của doanh nghiệp.

    Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro phát sinh dưới nhiều hình thái khác nhau: do thiên tai, hoả hoạn, do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém, là nạn nhân của sự thay đổi chính sách của nhà nước, do bị lừa đảo, trộm cắp…Ví dụ như giá bán nguyên vật liệu tăng vọt nhưng giá bán sản phẩm không thay đổi sẽ làm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, ảnh hưởng đến việc trả nợ Ngân hàng. Nếu doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm lên thì sẽ bị khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, khả năng thu hồi vốn chậm, dễ dàng vi phạm việc trả nợ Ngân hàng về mặt thời hạn.

    1.3.2.4. Tài sản đảm bảo

    Quyền sở hữu tài sản là một trong những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng (có thể là tài sản đảm bảo hoặc tín chấp). Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều tài sản của các pháp nhân và cá nhân không có giấy chứng nhận sỡ hữu. Tài

    23

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    sản cố định phần lớn là nhà xưởng, máy móc, thiết bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế chấp. Trong khi đó nhu cầu vay vốn ngân hàng là rất lớn. Như vậy nếu cho vay theo đúng chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủ điều kiện để cho vay hoặc được cho vay nhưng không đáng kể

    1.3.2.5. Sự không theo kịp với quá trình đổi mới

    Nhiều doanh nghiệp nhà nước thường có thói quen dựa dẫm trông chờ vào nhà nước. Vốn tự có của họ ít nhưng lại được giao những nhiệm vụ sản xuất kinh doanh lớn. Hơn nữa, do đã quen với kiểu làm ăn bao cấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trường tự hạch toán kinh doanh, họ vay vốn ngân hàng để kinh doanh nhưng khi thua lỗ vẫn trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước như trước đây. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đặc biệt là chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    1.3.3. Các nhân tố khác

    1.3.3.1. Môi trường kinh tế

    Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của một hoạt động kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại. Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng- đặc biệt là hoạt động tín dụng.

    Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao. Tức là các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó mà có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng. Ngược lại khi nền kinh tế biến động thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng thất thường ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu nợ của ngân hàng.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Chu kỳ kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Trong thời kỳ suy thoái, sản xuất vượt quá nhu cầu dẫn tới hàng tồn kho lớn, hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp không phát triển được. Hơn nữa nếu ngân hàng bỏ qua các nguyên tắc tín dụng thì lại càng làm giảm chất lượng tín dụng. Ngược lại trong thời kỳ hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu tín dụng tăng và rủi ro ít, do đó chất lượng tín dụng cũng tăng. Tuy nhiên trong thời kỳ này có những khoản vay vượt quá quy mô sản xuất cũng như khả năng quản lý của khách hàng nên những khoản vay này vẫn gặp rủi ro.

    1.3.3.2. Những nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước

    Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đến chất lượng tín dụng. Khi các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngân hàng khi thu hồi nợ và ngược lại.

    Hệ thống pháp luật là cơ sở để điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, hay thay đổi sẽ làm cho hoạt động kinh doanh gặp khó khăn. Ngược lại nếu nó phù hợp với thực tế khách quan thì sẽ tạo một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt kết quả cao.

    1.3.3.3. Môi trường xã hội

    Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở lòng tin. Nó là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng. Đạo đức xã hội ảnh hưởng tói chất lượng tín dụng. Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm chất lượng tín dụng. Hơn nữa trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng sẽ làm giảm chất lượng tín dụng.

    1.3.3.4. Môi trường tự nhiên

    Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất…), hoả hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản.Vì vậy khi môi trường tự nhiên không

    25

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại

    Trên đây là những nhân tố chính tác động tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Để nâng cao chất lượng tín dụng, chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức đúng đắn các yếu tố trên, cùng với kết quả hoạt động thực tiễn của các Ngân hàng thương mại, để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục có tính khả thi cao.

    26

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Chương II

    Thực trạng chất lượng tín dụng tại

    Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    2.1.1 Lịch sử hình thành và chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội được thành lập theo quyết định số 177/NHQD ngày 22/12/1984 của Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Chi nhánh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/03/1985, trụ sở chính đặt tại 78 Nguyễn Du Hà Nội là đơn vị thành viên trực thuộc Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

    Ban đầu thành lập, cơ sở vật chất của Ngân hàng rất thiếu thốn, số cán bộ của Ngân hàng chỉ có 15 người được điều chuyển từ Ngân hàng ngoại thương Việt Nam về. Đến nay số cán bộ công nhân viên đã lên đến gần 150, trình độ trên đại học, đại học chiếm 90%, cơ sở vật chất hiện đại và là một trong những Ngân hàng có công nghệ tiên tiến nhất hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội.

    Trong năm 2001, để đáp ứng nhu cầu phục vụ khách hàng, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã xây dựng thêm chi nhánh ngân hàng ngoại thương Thành Công (đặt tại 30-32 Láng hạ Hà Nội). Tuy mới thành lập được hơn 1 năm, nhưng Ngân hàng ngoại thương Thành Công đã đạt được những thành công đáng kể. Hiện nay, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đang tiến hành xây dựng thêm một chi nhánh cấp hai nữa, chi nhánh này đặt tại 147 Hoàng Quốc Việt với tên giao dịch là Ngân hàng ngoại thương Cầu Giấy. Sự ra đời của các chi nhánh này nhằm giải quyết các mặt như: giảm nhẹ gánh nặng công việc cho Ngân hàng mẹ là Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, tận dụng lao động tại Ngân hàng và đặc biệt nó còn là một điểm giao dịch mới cho khách hàng, rất thuận tiện cho các khách hàng trong khu vực và các khu vực lân cận.

    27

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ là phục vụ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất nhập khẩu và tiêu dùng trong nước tại thủ đô Hà Nội, các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Việt kiều về thăm quê hương, các đoàn khách nước ngoài vào tham quan du lịch Việt Nam, huy động tiền nhàn rỗi của dân cư (cả đồng Việt Nam và ngoại tệ), cung cấp các dịch vụ Ngân hàng như: dịch vụ Vietcombank ON-LINE, mô hình Ngân hàng bán lẻ.

    2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng ngoại thương Hà Nộí

    Sau 19 năm hoạt động và phát triển Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đãcó một đội ngũ cán bộ dầy dạn kinh nghiệm, lành nghề một tổ chức với nhiều phòng ban khác nhau. Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội như sau:

    Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh Hà Nội

    Giám đốc

                                                         
                                                         
                                        Phó Giám đốc        
                                                         
                                                         
    Phòng   Phòng     Phòng                                  
                    Phòng   Phòng     Phòng
    tín   NSự     KTra                
    dụng   hàng     kiểm           dịch vụ   Kế     Ngân
          chính     toán NB                   toán     quỹ
                                                         
                                                         
                                                     
                                               
                  Phó Giám đốc               Phó Giám đốc  
                                 
                                                         
                                                         
    Phòng   Phòng   Phòng   Phòng
    ttoán   Giao   tin học   PT
    XNK   dịch       mạng
                lưới
                 

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    2.1.2.1. Phòng tín dụng tổng hợp

    Đây là phòng tập trung những hoạt động chính của Ngân hàng, quyết định phần lớn kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

    Phòng tín dụng tổng hợp được giao các nhiệm vụ sau đây: cho vay đối với các thành phần kinh tế theo luật Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, mở tài khoản cho vay và theo dõi các hợp đồng tín dụng, tính lãi theo định kỳ, điều hoà vốn nội và ngoại tệ, làm báo cáo và tập hợp báo cáo gửi Ngân hàng cấp trên, làm một số nghiệp vụ khác được giao.

    2.1.2.2. Phòng kế toán tài chính

    Quản lý toàn bộ các tài khoản khách hàng và các tài khoản nội bộ trong ngoài bảng cân đối kế toán: mở tài khoản tiền gửi, thanh toán các loại séc, ngân phiếu – thực hiên thanh toán nội bộ, thanh toán qua hệ thống điện tử và thanh toán bù trừ.

    Trưởng phòng kế toán chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội chịu trách nhiệm trước giám đốc về việc kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ thanh toán, về các quyết định chuyển tiền đi cũng như hạch toán và các tài khoản thích hợp. Tổ điện toán cung cấp số liệu nhanh chóng, chính xác và đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho ban lãnh đạo trong công tác quản lý điều hành đạt được hiệu quả cao.

    2.1.2.3. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu

    Thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của khách hàng. Bao gồm các nghiệp vụ mở, thông báo, thanh toán L/c, nhờ thu và chuyển tiền.

    2.1.2.4. Phòng hành chính nhân sự

    Giúp cho ban giám đốc trong việc bố trí, điều động, khen thưởng hay kỷ luật kịp thời; tuyển mộ, tuyển dụng cán bộ thuộc diện quản lý của chi nhánh, quản trị xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản, vật liệu, thực hiên hơp đồng về điện, nước, điện thoại, sửa chữa và xây dựng cơ quan.

    29

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    2.1.2.5. Phòng ngân quỹ

    Công việc chủ yếu của phòng ngân quỹ là thu- chi tiền đồng Việt Nam, ngân phiếu thanh toán, ngoại tệ, chuyển tiền mặt và séc du lịch đi tiêu thụ nước ngoài thông qua Ngân hàng ngoại thương Việt Nam; quản lý kho tiền và quỹ, tài sản thế chấp và các chứng từ có giá.

    2.1.2.6. Phòng tin học

    Thực hiện công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ ngân hàng, cải tiến bổ sung các chương trình phần mềm hiện có và lập các chương trình phần mềm mới phục vụ cho hoạt động của chi nhánh.

    2.1.2.7. Phòng dịch vụ Ngân hàng

    Tiếp nhận và mở hồ sơ khách hàng mới, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cho khách hàng, phản ánh tình hình giao dịch và đề xuất chính sách thu hút khách hàng, xử lý toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản tiền gửi của mọi đối tượng khách hàng với các loại tiền.

    2.1.2.8. Phòng giao dịch

    Hiện nay chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có 3 phòng giao dịch, Phòng giao dịch số I đặt tại số 2 Hàng Bài, phòng giao dịch số II đặt tại

    • Trần Bình Trọng, phòng giao dịch số III đặt tại 1 Hàng Đồng.

    Phòng giao dịch có nhiệm vụ xử lý nghiệp vụ mua, chuyển đổi ngoại tệ, séc du lịch bằng mọi hình thức tiếp nhận và mở các hồ sơ khách hàng mới, kiểm tra tính hợp lý chứng từ của khách hàng và xử lý.

    2.1.2.9. Tổ kiểm tra và kiểm toán nội bộ

    Lập kế hoạch định kỳ và đột xuất về kiểm tra, kiểm toán nội bộ; trình giám đốc duyệt và tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh và quy chế an toàn kinh doanh theo đúng quy định.

    Chi nhánh cấp 2 Thành Công hoạt động với phạm vi nhỏ hơn. Nó có nhiệm vụ như một phòng ban thông thường nhưng được chỉ đạo hoạt động từ

    30

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    xa thông qua hệ thống máy tính, điện thoại và fax của cơ quan. ở Ngân hàng ngoại thương Thành Công có 4 phòng: phòng giám đốc điều hành mọi hoạt động của chi nhánh; phòng tín dụng và tài trợ xuất nhập khẩu được gộp chung thành một phòng chuyên đảm nhận các nghiệp vụ cho vay, tài trợ xuất nhập khẩu thông qua các hình thức tín dụng chứng từ; phòng kế toán và dịch vụ ngân hàng được gộp thành một phòng chuyên đảm nhận công việc phân tích, xử lý thông tin, tính toán, cung cấp thông tin cho ngân hàng quản lý là Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, đồng thời phòng dịch vụ cùng với phòng hành chính quản trị tin học và ngân quỹ thực hiện chức năng thu- chi, kiểm tiền theo nghiệp vụ được giao của Ngân hàng quản lý.

    Nhìn chung, ở Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có bộ máy tổ chức gọn, cán bộ có trình độ kiến thức cần thiết để đảm bảo công tác chuyên môn, kỷ luật lao động nghiêm túc, phong cách phục vụ khách hàng luôn luôn được chú ý nâng cao. Trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và sự cố gắng nỗ lực của ban giám đốc, của toàn thể cán bộ nhân viên trong chi nhánh đã đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ.

    2.2. CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ XÃ HỘI TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI.

    Hoạt động Ngân hàng là một mắt xích quan trọng, vận động nhịp nhàng với nền kinh tế. Cùng với sự chuyển đổi cơ chế của đất nước hệ thống Ngân hàng cũng chuyển mình cho phù hợp với sự đổi mới đó, kìm chế lạm phát, ổn định lưu lượng tiền, đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và quốc tế.

    Các nhà kinh tế học đã thường gọi Ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt, là hệ thần kinh, là trái tim của nền kinh tế. Sở dĩ như vậy vì Ngân hàng mạnh thì nền kinh tế sẽ mạnh, ngược lại Ngân hàng yếu thì nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu Ngân hàng đổ vỡ, nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ. Mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với các

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nhân tố kinh tế xã hội là mối quan hệ biện chứng hai chiều. Ngân hàng ngoại thương Hà nội cũng không nằm ngoài điều đó.

    Các nhân tố kinh tế thế giới, kinh tế trong nước và khu vực cũng như tình hình chính trị xã hội đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, trong đó có Ngân hàng ngoại thương Hà nội.

    2.2.1. Môi trường kinh tế

    2.2.1.1. Vài nét về địa bàn hoạt động của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội.

    Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ ở địa bàn Hà Nội – Thủ đô của nươc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là nơi tập trung khá nhiều các doanh nghiệp, đặc biệt trụ sở của các tổng công ty lớn cũng được đặt phần nhiều. Trong thời gian qua, Hà Nội là một trong những địa bàn có tốc độ tăng trương lớn nhất trên toàn quốc. Tốc độ đầu tư đổi mới sản xuất và đầu tư xây dựng cơ bản tăng mạnh trong những năm gần đây. Vì thế, nhu cầu vốn nói chung và nhu cầu vay vốn Ngân hàng nói riêng của các doanh nghiệp khá lớn. Điều này là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng đóng trên địa bàn Hà Nội.

    Bên cạnh đó, năm 2000 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành luật doanh nghiệp, tạo nhiều điều kiện thuận lợi và môi trường thông thoáng cho sự hình thành và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Quy mô hoạt động của các doanh nghiệp thuộc loại hình này chưa lớn, song các doanh nghiệp này lại rất nhạy bén và đa dạng trong lĩnh vực kinh doanh. Sự ra đời của các doanh nghiệp này đã góp phần lấp các khoảng trống về nhu cầu tiêu dùng mà các doanh nghiệp lớn của Nhà nước chưa giải quyết được, cũng như đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của Thủ đô và cả nước. Nhìn chung khả năng về vốn của các Doanh nghiệp thuộc loại hình này chưa lớn, vì vậy rất cần có sự trợ giúp của các Ngân hàng trong quá trình phát triển. Đây cũng là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng. Tuy nhiên do sự thông thoáng của luật doanh nghiệp nên đã có rất nhiều doanh nghiệp “Ma” ra đời. Để hoạt động của Ngân hàng có hiệu quả

    32

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    và an toàn thì yêu cầu đặt ra đầu tiên là phải thẩm định kỹ tư cách pháp lý của doanh nghiệp.

    Mức sống và thu nhập của người dân trên địa bàn Hà nội là tương đối cao so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Đây là một yếu tố thuận lợi cho việc triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại; nâng cao khả năng huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư nhu các khoản tiền gửi tiết kiệm.

    Trên địa bàn Hà Nội cũng là nơi tập trung khá nhiều các Ngân hàng (Có hơn 80 Ngân hàng gồm các Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài). Các Ngân hàng cạnh tranh nhau rất quyết liệt trong việc đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn, loại hình dịch vụ mới, phong cách cán bộ Ngân hàng,…. Điều

    này làm cho tính cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng ở Hà Nội cao hơn so với các khu vực khác trong cả nước. Để hoạt động có hiệu quả và thắng được trong cạnh tranh mỗi ngân hàng phải đa dạng các hoạt động của mình, hạ lãi suất cho vay, mở rộng khách hàng, hạ biểu phí dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ,…, lúc đó Ngân hàng mới tồn tại và phát triển.

    2.2.1.2. Môi trường kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng.

    Như đã nói ở trên, môi trường kinh tế ảnh hưởng mạnh đến hoạt động Ngân hàng nói chung và Ngân hàng ngoại thương Hà Nội nói riêng.

    • Xét về cơ chế hoạt động của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam:

    Các đơn vị thành viên của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam như : Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh,…đều hạch toán phụ thuộc. Điều này làm giảm tính tự chủ của các đơn vị. Kết quả kinh doanh dù lỗ hay lãiđều chuyển hết lên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Điều này làm cho các đơn vị thành viên của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không muốn cố gắng hết sức mình. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội không có nhiều tính tự chủ trong kinh doanh, tất cả mọi hoạt động đều chịu sự chi phối của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Về địa bàn hoạt động, hạn mức tín dụng, cơ chế khen thưởng cán bộ). Điều đó phần

    33

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nào làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    • Xu thế hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá luôn kèm theo sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt trên phạm vi quốc tế. Điều này làm ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của các Ngân hàng thương mại nói riêng. Các doanh nghiệp để có thể thắng được trong cạnh tranh trên trường quốc tế đòi hỏi phải có đầu tư chiều sâu vào nhu cầu thị trường, có trang thiết bị hiện đại, có phong cách làm việc khoa học và nhanh chóng. Tất cả những điều đó đòi hỏi phải có vốn và công nghệ phục vụ nó. Theo đó Ngân hàng thương mại phải đứng ra với vai trò là người cung cấp vốn, là nơi để các doanh nghiệp giao dịch với bên ngoài. Nói một cách khác, xu thế hội nhập buộc các Ngân hàng thương mại phải thay đổi phong cách làm việc, trang thiết bị công nghệ Ngân hàng.

    Về vấn đề này, có thể nói Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là Ngân hàng thương mại quốc doanh có trang thiết bị vật chất tốt nhất so với các Ngân hàng TM quốc doanh còn lại. Giờ đây, nhắc đến Vietcombank, cụm từ thẻ ATM, thẻ Master, thẻ Visa của VCB đã không còn xa lạ đối với mọi người. Bên cạnh đó, thế mạnh của VCB trong đó có Ngân hàng ngoại thương Hà Nội là thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu. Khi mở cửa giao lưu kinh tế với nước ngoài, các doanh nghiệp tìm đến VCB ngày càng nhiều hơn.

    • Sự hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng nói chung và của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nói riêng.

    Thị trường chứng khoán ra đời đã mở ra nhiều cơ hội mới cho hoạt động Ngân hàng. Đó là một nơi để các Ngân hàng thương mại có thể đầu tư thay vì cho vay các doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại có thể mua trái phiếu chính phủ với độ rủi ro thấp, có thể mua cổ phiếu doanh để trở thành Ngân hàng sở hữu doanh nghiệp, có thể mua trái phiếu doanh nghiệp để đầu tư kiếm lời với độ rủi ro thấp hơn khi mua cổ phiếu. Thị trường chứng khoán hoạt động với cơ chế thông tin công khai, điều này sẽ giúp Ngân hàng thu thập được thông tin

    34

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    về khách hàng của mình. Sự ra đời của thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện cho việc Ngân hàng thương mại có thể chứng khoán hoá các khoản nợ, làm tăng tính thanh khoản của khoản cho vay để khi cần chuyển đổi thì chuyển đổi ngay.

    Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán ra đời đã tạo ra nhiều thách thức đối với các Ngân hàng thương mại. Bởi vì khi cần vốn, doanh nghiệp có thể không vay Ngân hàng mà thay vào đó là huy động trên thị trường chứng khoán. Điều này buộc các Ngân hàng thương mại phải quan tâm đến hoạt động của mình, giảm chi phí tài chính.

    • Môi trường kinh tế trong nước không ổn định: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực của việc cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế, sự kiện khủng bố ngày 11-09 của Mỹ cộng với một nền kinh tế chưa phát triển ở Việt Nam. Vì vậy, những năm qua ở nước ta mức tiêu thụ hàng hoá chậm làm giảm sức hấp thụ vốn của nền kinh tế, gây khó khăn cho đầu tư tín dụng của Ngân hàng. Chính vì môi trường trong nước như vậy nên mặc dù huy động nhiều ngoại tệ nhưng lượng ngoại tệ cho các doanh nghiệp vay ít, Ngân hàng ngoại thương chủ yếu gửi ngoại tệ ra Ngân hàng nước ngoài để lấy lãi.
    • Hiệp hội Ngân hàng tuy đã được thành lập nhưng không phát huy được vai trò của mình. Bốn Ngân hàng thương mại quốc doanh của Việt Nam là Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng công thương, Ngân hàng Nông nghiệp đều có mặt trong hiệp hội Ngân hàng. Nhiệm vụ của hiệp hội là giúp đỡ các Ngân hàng trong nước cùng phát triển, điều tiết hoạt động của Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng cổ phần, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các

    Ngân hàng. Tuy nhiên, ngay từ hiệp ước đầu tiên về lãi suất bị phá bỏ, việc điều tiết ngân hàng nước ngoài và cổ phần không làm được, mối quan hệ giữa các Ngân hàng lỏng lẻo. Với một cơ chế hoạt động như vậy, đã gây khó khăn cho các Ngân hàng nói chung và Ngân

    35

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng Ngoại thương Hà Nội nói riêng trong việc mở rộng hoạt động của mình.

    2.2.2. Những nhân tố thuộc về vĩ mô của Nhà nước

    Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường nên các chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện. Sản xuất kinh doanh trong nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng lậu và hàng ngoại nhập. Trong điều kiện này, có nhiều doanh nghiệp không theo kịp sự thay đổi của cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước hoặc không điều chỉnh kịp thời nên gặp khó khăn thua lỗ trong kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng. Đặc biệt trong hoạt động tín dụng, môi trường pháp lý cho nó nói chung chưa đồng bộ. Các văn bản liên quan đến thế chấp, cầm cố tài sản vay vốn Ngân hàng chưa đầy đủ, thống nhất. Đặc biệt là thiếu văn bản hướng dẫn hoặc có hướng dẫn nhưng chưa đầy đủ nên quá trình thực hiện còn nhiều khó khăn.

    Trong các năm 2000 đến 2003, Chính phủ, thành phố Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế chính sách, đồng thời đưa ra nhiều giải pháp mới và tích cực để điều hành kinh tế vĩ mô nhằm tạo môi trường pháp lý và kinh tế thuận lợi cho hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Những cơ chế, chính sách về tín dụng, đảm bảo tiền vay, quản lý ngoại hối và vàng, tỷ giá, lãi suất, đã được triển khai nhưng vẫn thiếu đồng bộ. Điều này làm giảm tính hiệu lực và hiệu quản của không ít cơ chế, chính sách trong thực tiễn gây tâm lý e dè cho các Ngân hàng trong hoạt động nhất là hoạt động tín dụng.

    2.2.3. Môi trường xã hội

    Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian, chiếc cầu nối giữa Ngân hàng và khách hàng chính là lòng tin. Khi Ngân hàng có nhiều uy tín với khách hàng thì càng thu hút được nhiều khách hàng đến với mình. Khách hàng càng có sự tín nhiệm với Ngân hàng thì càng được Ngân hàng ưu đãi trong quan hệ vay vốn.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã tạo được vị trí và uy tín trong lòng khách hàng, ngày càng có nhiều khách hàng đến với Ngân hàng hơn.

    Đạo đức xã hội cũng ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo thì sẽ làm giảm kết quả kinh doanh của Ngân hàng.

    Trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng làm giảm thu nhập của Ngân hàng. Hà nội là nơi tập trung dân cư có trình độ dân trí cao. Đó là một địa bàn tốt để các Ngân hàng ở đây cơ thể cung cấp dịch vụ Ngân hàng hiện đại và Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cũng không nằm ngoài lợi thế đó.

    2.2.4. Môi trường tự nhiên

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có địa bàn hoạt động là thành phố Hà Nội, nơi đây ít xảy ra thiên tai nên hoạt động của các doanh nghiệp ít gặp rủi ro hơn do nguyên nhân này.

    2.3. CÁC KẾT QUẢ KINH DOANH CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI.

    Trong những năm qua, hoạt động Ngân hàng diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu phục hồi, kinh tế trong nước phát triển chưa ổn định và chịu những tác động của các yếu tố bên ngoài. Để thực hiện tốt các chương trình hành động của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đề ra, chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã triển khai tích cực các mặt hoạt động đóng góp vào các kết quả chung của toàn hệ thống. Các kết quả kinh doanh chủ yếu qua 3 năm 2000, 2001, 2002 được thể hiện trên các mặt sau:

    2.3.1 Về huy động vốn

    Huy động vốn là công việc đầu tiên, làm nền tảng cho những hoạt động tiếp theo của quá trình kinh doanh Ngân hàng. Trong 3 năm gần đây đặc biệt là năm 2001 và năm 2002, thị trường tài chính trong nước rất sôi động. Trên địa

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    bàn Hà Nội, các ngân hàng thương mại cạnh tranh gay gắt bằng việc đưa ra các mức lãi suất và hình thức huy động hấp dẫn.

    Với vị trí và uy tín đã tạo dựng qua nhiều năm, chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã hoàn thành tốt công tác huy động vốn theo kế hoạch đã xây dựng, đóng góp vào thành tích huy động vốn chung của toàn hệ thống Ngân hàng ngoại thương. Các kết quả đạt được trong công tác huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội được thể hiện qua bảng sau:

    Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội

    Đơn vị: Tỷ đồng

      Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 So sánh 01/00 So sánh 02/01
                           
        Số % Số tiền % Số % Số % Số %
        tiền       tiền   tiền   tiền  
                         
    Tổng nguồn huy động 2.757 100 3.269 100 3.996 100 512 118,51 727 122,2
                         
    Phân theo đối tượng khách                    
      hàng                    
                           
    1. Tiển gửi của các tổ 403 14,6 558 17,1 740 18,5 155 138,5 182 113
    chức kinh tế                    
                           
    2. Tiền gửi của dân 2318 84,4 2.661 81,4 3.237 81 343 114,8 576 124
                       
                         
    3. Các nguồn khác 34 1,3 50 1,5 19 0,5 16 147 -31 38
                           
      Phân theo loại tiền                    
                           
    1. Tiền gửi VNĐ 520 18,9 645 19,7 1160 29 125 124 515 179,8
                           
    2. Tiền gửi USD 2.237 81,1 2.624 80,3 2.836 71 387 117,3 212 111,8
                           

    (Nguồn báo cáo tổng kết của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội qua các năm)

    Bảng số liệu cho thấy trong công tác huy động vốn, mặc dù luôn có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các Ngân hàng thương mại trong việc đưa ra mức lãi suất hấp dẫn, nhưng do thường xuyên coi trọng chất lượng dịch vụ, kết hợp tốt chính sách khách hàng nên nguồn vốn huy động của chi nhánh đều tăng, giữ ổn định và cân đối vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

    Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có xu hướng tăng nhưng không lớn

    và tỷ trọng trong tổng nguồn gửi cũng không cao. Điều đó là do các doanh nghiệp gửi tiền vào Ngân hàng chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu thanh toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn cần quay vòng vốn nên không để nhiều vốn trong Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội vẫn luôn cố gắng để ngày càng nhiều doanh nghiệp hợp tác với

    38

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng nên tuy tăng không nhiều nhưng qua các thời kỳ thì vốn huy động được từ các tổ chức kinh tế vẫn có xu hướng tăng.

    Trong tổng vốn huy động từ khách hàng của chi nhánh, huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn. Xu hướng trên thể hiện trạng thái dư tiền trong dân do đời sống kinh tế tăng, thu nhập của dân cư tăng, nên tỷ lệ tiết kiệm trong dân cư tăng. Mặt khác, đó còn là do trong thời gian qua chúng ta đã kiểm soát được

    tốc độ lạm phát giữ cho đồng tiền ổn định không bị trượt giá nhiều nên dân chúng đã tin tưởng vào giá trị đồng tiền và dần chuyển từ hình thức tiết kiệm vàng sang hình thức gửi tiết kiệm ngân hàng. Đặc biệt trong năm 2002, với việc ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại theo mô hình ngân hàng bán lẻ và rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng, việc quảng cáo các tiện ích của các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cùng với việc bố trí đội ngũ giao dịch viên trẻ trung năng động, được đào tạo về kỹ năng giao tiếp văn minh đã góp phần tăng trưởng vốn hoạt động của chi nhánh.

    Trong năm 2000, tốc độ tăng trưởng của vốn huy động ngoại tệ nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng vốn huy độngVNĐ, đó là do tỷ giá USD tăng lên nhiều đã kích thích dân cư chuyển hoá từ VNĐ sang mua bán ngoại tệ gửi Ngân hàng.Trong năm 2001, 2002 tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, nền kinh tế Mỹ suy giảm và việc cắt giảm liên tục lãi suất USD trên thế giới buộc Ngân hàng ngoaị thương cũng phải hạ lãi suất huy động USD nên đã dẫn đến tốc độ tăng vốn huy động ngoại tệ của chi nhánh chậm hơn tốc độ tăng vốn VNĐ. Mặc dù vậy, công tác huy động vốn của chi nhánh có hiệu quả cao đã có tác dụng tích cực trong việc giữ được ổn định và cân đối vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

    Nói chung, công tác huy động vốn của chi nhánh là khá tốt, tạo ra một nguồn dồi dào để Ngân hàng không những có thể thực hiện cung cấp tín dụng cho nền kinh tế mà còn dùng để điều hoà vốn trong toàn hệ thống.

    2.3.2 Về sử dụng vốn

    Song song với việc hoạt động huy động vốn là hoạt động sử dụng vốn.

    Trong hoạt động này cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Hoạt động cho vay là hoạt động đóng vai trò quan trọng quyết định phần lớn hiệu quả kinh doanh cuả chi nhánh. Ngân hàng cho vay ngoài các dự án trong nước còn có các dự án lớn liên kết với nước ngoài. Với uy tín của mình, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có rất nhiều khách hàng truyền thống làm ăn có hiệu quả và thường xuyên giao dịch với ngân hàng như: Công ty Giầy Thượng Đình, Công ty dệt 19-5, Công ty XNK Hà Nội, Công ty Machinoimport, Công ty dệt len mùa đông,… Hoạt động cho vay của Ngân hàng được trình bày trên bảng 2.2.

    Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội qua các năm

    Đơn vị: Tỷ đồng

        Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 So sánh 01/00 So sánh 02/01
      Chỉ tiêu                    
      Số % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền %
        tiền
                         
                           
    1. Doanh số cho 1.872 100 2.200 100 3.370 100 328 117,5 1.170 153,2
    vay                    
                           
    2. Doanh số thu 1.810 100 2.010 100 3.009 100 200 111,0 999 149,7
    nợ                    
                           
    3. Dư nợ 473 100 648 100 937 100 175 137 289 144,6
                       
                           

    (Nguồn báo cáo tổng kết của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội qua các năm)

    Qua bảng số liệu trên cho thấy doanh số cho vay, doanh số thu nợ của Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội tăng qua các năm. Doanh số cho vay ngắn hạn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng doanh số cho vay.

    Nhìn chung năm 2000 hoạt động tín dụng của chi nhánh tương đối an toàn tuy nhiên có một đơn vị khó khăn tồn tại từ những năm cũ, cuối năm 1999 chi nhánh đã ngừng cho vay nên sang năm 2000 đã phát sinh nợ quá hạn. Chi nhánh luôn bám sát các đơn vị có nợ quá hạn và cấp chủ quản của đơn vị để bàn biện pháp xử lý tài sản trả nợ ngân hàng.

    Năm 2001, hoạt động đầu tư tín dụng vẫn tiếp đứng trước tình hình khó khăn chung của ngành Ngân hàng: Cơ chế chính sách tuy đã có nhiều thay đổi để đáp ứng thực trạng kinh tế của Việt Nam song vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa thực sự thông thoáng kịp thời, hạ tầng kinh tế của nhiều doanh nghiệp còn thấp, sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng thương mại trên địa bàn,

    40

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    đã gây áp lực lớn đến công tác tín dụng của ngành Ngân hàng, trong đó có Ngân hàng ngoại thương Hà Nội. Sở dĩ như vậy là vì hầu hết các doanh nghiệp là đơn vị kinh tế địa phương với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng hấp thu vốn thấp. Trong bối cảnh như vậy, ngay từ đầu năm Giám đốc đã đề ra nhiều biện pháp để mở rộng tính dụng và phương châm an toàn, hiệu quả.

    Năm 2002 có thể nói là năm thắng lợi lớn của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội trong việc mở rộng tín dụng và giải quyết nợ quá hạn

    Để đạt được kết quả trên trước hết là do nhu cấu vốn của các doanh nghiệp tăng để mở rộng kinh doanh và chuẩn bị quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, mặt khác với sự đổi mới của cơ chế thị trường hơn của ngành Ngân hàng như cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất thoả thuận. Bên cạnh đó, có sự nỗ lực phấn đấu của chi nhánh đã đưa hoạt động tín dụng của chi nhánh phát triển.

    Qua những phân tích ở trên ta rút ra nhận xét sau:

    Thứ nhất: Về cơ cấu cho vay, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Tỷ lệ cho vay cũng như dư nợ đối với cho vay ngắn hạn luôn chiếm phần lớn (74,8% – 98,9%), tỷ lệ này giảm từ năm 2000 đến năm 2001 và tăng trong năm 2002.

    Thứ hai: Có thể nói Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã thành công trong việc mở rộng tín dụng. Cụ thể doanh số cho vay cũng như dư nợ đều tăng qua các năm, đặc biệt là năm 2002.

    Cùng với nghiệp vụ cho vay, Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã sử dụng vốn bằng nhiều hình thức linh hoạt như mua bán trái phiếu kho bạc, gửi có kỳ hạn VCBTW, mua kỳ phiếu của các tổ chức tín dụng khác. Trong năm 2000 tỷ lệ này là 81%, năm 2001 là 78%. Năm 2002 là 70%. Sở dĩ như vậy là năm 2000, 2001 môi trường đầu tư trực tiếp chưa thuận lợi.

    41

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    2.3.3 Các công tác khác

    Công tác thanh toán xuất nhập khẩu.

    Công tác thanh toán thanh toán xuất nhập khẩu luôn được coi là thế mạnh của Ngân hàng ngoại thương. Phát huy uy tín và thương hiệu bền vững đã tạo dựng được trên trường quốc tế của toàn hệ thống, Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã thực sự trở thành địa chỉ tin cậy cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trên địa bàn.

    Chất lượng công tác thanh toán xuất nhập khẩu luôn được duy trì đáp ứng phục vụ khách hàng an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó công tác khách hàng cũng được coi trọng, ngoài việc tiếp nhận và giải quyết nhu cầu của khách hàng với tinh thần văn minh, nhiệt tình, chi nhánh còn tổ chức việc nhận chứng từ ngoài giờ và trực tiếp đến đơn vị có hàng xuất để nhận chứng từ, kiểm tra và tư vấn thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp.

    • Kết quả kinh doanh Ngân hàng.

    Kết quả kinh doanh của Ngân hàng được thể hiện ở bảng sau:

    Bảng 2.3: Thu nhập – Chi phí

                Đơn vị tính: Tỷ đồng
                     
          Năm 2001   Năm 2002  
    Chỉ tiêu Năm 2000              
    Số tiền So với năm Số tiền So với năm  
        2000 2001  
                 
                     
    Thu nhập 132 160   121 145   -15  
                     
    Chi phí 97 130   135 117   -13  
                     
    Lợi nhuận 35 30   -5 28   -2  
                     

    (Nguồn báo cáo của Ngân hàng ngoại thương Hà nội qua các năm)

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Năm 2001, tổng thu và tổng chi đều tăng hơn so với năm 2000, đó là do có nhiều khó khăn trong lĩnh vực đầu tư và chi nhánh đã chi cho tài sản văn phòng nhiều (tăng 18% so với năm 2000). Điều đó dẫn đến lợi nhuận bị giảm.

    Năm 2002 lợi nhuận của chi nhánh tiếp tục giảm. Đó là vì, tuy hoạt động tín dụng và dịch vụ ngân hàng tăng mạnh nhưng do lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh tại VCBTW chiếm 60%-70% trong nguồn huy động. Mặt khác, do chi nhánh mở rộng phát triển mạng lưới nên chi phí tài sản tăng.

    Công tác ngân quỹ

    Trong các thời kỳ này, tình hình thu chi các loại tiền đều tăng hơn so với năm trước.

    Bộ phận ngân quỹ đã phát hiện được nhiều tiền giả và trả lại tiền thừa cho khách hàng. Công tác ngân quỹ của chi nhánh đã đảm bảo an toàn và tuân thủ đầy đủ các quy trình thu chi tiền mặt theo đúng các quy định, tổ chức tốt việc điều hoà tiền mặt, đáp ứng nhanh chóng, chính xác nhu cầu tiền mặt cho sản xuất và đời sống, giải phóng khách hàng nhanh.

    Công tác phát triển mạng lưới

    Chi nhánh đã thực hiện việc triển khai kế hoạch mở rộng và phát triển mạng lưới chi nhánh đến 2005. Tháng 12/2001, chi nhánh đã thành lập chi nhánh cấp 2 Thành Công. Tháng 5/2002, Phòng giao dịch số 2 Trần Bình Trọng. Chuẩn bị khai chương Chi nhánh cấp 2 Cầu Giấy và Phòng giao dịch số 3 Hàng Đồng.

    2.4. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    2.4.1. Các văn bản nghiệp vụ tín dụng mà Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đang áp dụng

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội là một chi nhánh của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, hoạt động tín dụng cũng như kinh doanh của chi nhánh phải tuân thủ theo các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam và Ngân hàng

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngoại thương Việt nam. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội phải chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ để cho vay và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình. Hiện nay, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đang áp dụng các văn bản nghiệm vụ tín dụng sau:

    • Quyết định số 407/QĐ-NHNT-HĐQT ngày 29/03/2002 của Hội đồng

    quản trị Ngân hàng Ngoại thương về việc ban hành hướng dẫn của Ngân hàng Ngoại thương về quy chế cho vay đối với khách hàng.

    • Quyết định số 408/QĐ-NHNT ngày 29/03/2002 của Tổng giám đốc

    Ngân hàng Ngoại thương Việt nam về xác đinh giới hạn tín dụng đối với khách hàng.

    Theo quyết định này thẩm quyền giới hạn tín dụng đối với 01 khách hàng ở chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là 80 tỷ đồng. Trường hợp xét thấy có thể xác định giới hạn tín dụng lớn hơn mức thẩm quyền của chi nhánh, chi nhánh gửi hồ sơ cho Trung ương xin phê duyệt, trong đó có ý kiến của chi nhánh sau khi thẩm định tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng.

    • Quyết định số 409/QĐ-NHNT ngày 29/03/2002 của Tổng giám đốc Ngân

    hàng Ngoại thương Việt nam về quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng tín dụng.

    Hội đồng tín dụng hoạt động nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong việc xây dựng chính sách tín dụng; xét duyệt giới hạn tín dụng đối với một khách hàng; ra quyết định cấp tín dụng và các vấn đề liên quan khác như xử lý tài sản đảm bảo, ra hạn nợ, các biện pháp thu hồi vốn vay, … của hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.

    Hội đồng tín dụng thành lập tại hội sở chính (gọi là hội đồng tín dụng Trung ương), thành lập tại chi nhánh (gọi là Hội đồng tín dụng cơ sở).

    – Quyết định số 30/QĐ-NHNT-QLTD ngày 21/02/2002 của Tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương về hạn mức cho vay không có đảm bảo bằng tài sản đối với chi nhánh.

    Theo quyết định này, mức dư nợ cho vay không có đảm bảo bằng tài sản đối với chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là 95%.

    44

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    – Quyết định số 133/QĐ-Ngân hàng NT ngày 31/12/2001 ban hành quy định khu vực đầu tư của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.

    Theo quyết định này, khu vực đầu tư của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là địa giới hành chính của Thủ đô Hà nội. Chi nhánh chỉ được phép thực hiện cho vay, bảo lãnh ngoài khu vực đầu tư được phân định trong trường hợp được tổng giám đốc giao thực hiện hoặc chấp nhận và phải phối hợp với các chi nhánh sở tại thực hiện.

    – Quyết định số 1627/QĐ-Ngân hàng NN ngày 31/12/2001 của thống đốc Ngân hàng Ngoại thương về quy chế cho vay đối với khách hàng. Quyết định này thay thế quyết định 284/QĐ-Ngân hàng NN ngày 25/08/2000.

    So sánh 02 quyết định này, ta thấy QĐ1627 có rất nhiều điểm khác biệt so với QĐ 284. Ví dụ như tại điều 1, QĐ 1627 mở rộng thêm đối tượng pháp nhân và cá nhân người nước ngoài, tại điều 11, lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Ngoại thương, lãi suất quá hạn do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng; tại điều 13, kỳ hạn trả nợ lãi vốn vay có thể cùng kỳ hạn trả nợ gốc có thể theo kỳ hạn riêng, khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi nếu khách hàng không trả nợ đúng hạnvà không điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì chuyển toàn bộ dư nợ sang dư nợ quá hạn,…

    2.4.2. Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà nội theo các chỉ tiêu định tính

    Ngân hàng Ngoại thương Việt nam đã được tạp chí The banker thuộc tập đoàn Financial Times (Anh Quốc), một tạp chí có uy tín hàng đầu trong giới tài chính quốc tế bình chọn và trao tặng danh hiệu Ngân hàng Việt nam tốt nhất 03 năm liên tiếp (2000, 2001, 2002). Trong thành công đó, có sự góp phần không nhỏ của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Có thể nói, trên địa bàn thành phố Hà nội, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có uy tín rất lớn đối với khách hàng. Điều này ngày càng làm cho có nhiều khách hàng đến với Ngân hàng.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Khi đến với Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội để giao dịch, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm bởi vì ở đây tài sản của khách hàng luôn được trông coi cẩn thận (có phòng bảo vệ, có bãi để xe và không thu lệ phí). Khách hàng mới sẽ không mất nhiều thời gian để tìm phòng tín dụng bởi ở ngay trước cửa có bảng chỉ dẫn. Hệ thống cửa tự động cùng với trang thiết bị Ngân hàng hiện đại đã giúp cho khách hàng có ấn tượng tốt về Ngân hàng ngay từ đầu. Có thể nói Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có phong cách phục vụ tốt nhất trong các Ngân hàng của Việt Nam.

    Trong phòng tín dụng, cách bài trí trong phòng rất đẹp. Đặc biệt là thái độ của các nhân viên, các cán bộ tín dụng ở đây rất lịch thiệp, cởi mở, tạo một bầu không khí thoải mái giữa khách hàng và cán bộ Ngân hàng.

    Tất cả những điều đó đã đóng góp rất nhiều vào việc nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    2.4.3. Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội theo các chỉ tiêu định lượng

    ở phần kết quả kinh doanh của Ngân hàng, chúng ta đã biết khái quát về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh cả Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Nhìn chung, hoạt động tín dụng đạt kết quả khá tốt. Nhưng để đánh giá chính xác hơn về hoạt động tín dụng, chúng ta cần tìm hiểu những vấn đề liên quan đến các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng tín dụng.

    2.4.3.1. Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

    Nhìn chung, trong mấy năm gần đây tín dụng tăng trưởng khá nhanh. Nếu dư nợ cho vay năm 2000 là 473 tỷ đồng thì cho đến cuối năm 2002, dư nợ lên tới 937 tỷ đồng, tăng 464 tỷ, tương ứng với tốc độ tăng là 98,1%. Đây là một kết quả khá tốt, cho thấy Ngân hàng ngày càng hoạt động tín dụng mạnh mẽ. Kết cấu dư nợ được mô tả trong bảng sau:

    Bảng 2.4: Tình hình dư nợ.

    (Đơn vị: Tỷ đồng)

    Dư nợ 2000   2001 2002  
             
      Số tiền % Số tiền % Số tiền %
                 

    – Theo kỳ hạn

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngắn hạn 357 75,5 485 74,8 762 81,3
    Trung dài hạn 116 24,5 163 25,2 175 18,7
                 
    Theo TPKT            
                 
    KTQD 426 90,1 594 91,7 871 93
    KTNQD 47 9,9 54 9,3 66 7
                 
    Theo tiền tệ            
                 
    VNĐ 263 55,6 450 69,4 572 61,1
    Ngoại tệ quy đổi 210 44,6 198 30,5 365 38,9
                 
    Tổng 473 100 648 100 937 100
                 

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm)

    Theo bảng trên ta thấy:

    • Khi xem xét dư nợ theo kỳ hạn, năm 2000 dư nợ ngắn hạn là 357 tỷ chiếm 79.5% đến năm 2001 là 79.8% và đến năm 2002 là 81%. So sánh với nguồn huy động ngắn hạn ta thấy dư nợ ngắn hạn ở Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội như vậy là phù hợp, bởi nguồn ngắn hạn được sử dụng chủ yếu cho vay ngắn

    hạn. Mặt khác, với bất kỳ một ngân hàng thương mại, yếu tố quay vòng vốn nhanh là rất cần thiết, tỷ trọng cho vay ngắn hạn cao là tốt. Mặc dù cho vay trung dài hạn theo các năm đã tăng lên nhưng tỷ trọng còn bé. Nguyên nhân của thực trạng này là do thời gian gần đây hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam và các chi nhánh do mắc phải một số sai lầm như đầu tư quá lớn vào một số khách hàng, cán bộ tín dụng nói riêng và lãnh đạo Ngân hàng móc ngoặc cho vay xuất phát từ lợi ích cá nhân đã làm thất thoát hàng tỷ đồng. Từ thực trạng đó đã đem lại cho Ngân hàng Ngoại thương Việt nam một số bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá. Rút từ bài học đó, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã lấy hiệu quả an toàn làm mục tiêu hàng đầu với phương tâm cho vay ít mà an toàn còn hơn chạy theo số lượng. Tuy nhiên, chính sách thận trọng quá mức đó của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt khi nó thoả mãn cả ba chủ thể: Ngân hàng, khách hàng và chính phủ. ở đây để an toàn Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội không cho vay trong nước nhiều mà chủ yếu gửi các Ngân hàng nước ngoài – Điều này làm cho Ngân hàng hài lòng nhưng khách hàng sẽ không hài lòng vì không được Ngân hàng cung cấp vốn, Thành phố Hà Nội sẽ không hài lòng vì tiền huy động được từ người dân thành phố lại bị gửi ở nước ngoài thay vì đầu tư phát triển ở thành phố. Chính vì thế,

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng ngoại thương Hà nội cần mở rộng cho vay hơn nữa, nâng cao khả năng tư vấn để tư vấn cho doanh nghiệp các phương án, dự án kinh doanh có hiệu quả. Có như vậy, chất lượng tín dụng mới được nâng cao theo đúng nghĩa của nó.

    Các mặt hàng cho vay chủ yếu vẫn tập trung ở phần bón, sắt thép, xăng dầu, phục vụ nhu cầu nhập khẩu và thuỷ sản, gạo, cà phê phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Cho vay để xuất khẩu có rủi ro cao, đó là vì việc xuất khẩu hàng hoá sang các nước khác còn phụ thuộc nhiều vào quan hệ kinh tế giữa các nước, vào thị trường, vào tỷ giá. Với một nguồn vốn huy động nhiều, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội nên mở rộng cho vay sang các doanh nghiệp kinh doanh trong nước.

    • Khi xem xét dư nợ theo thành phần kinh tế, ta thấy dư nợ vẫn tập trung

    chủ yếu ở thành phần kinh tế quốc doanh và tỷ trọng của nó tăng dần theo các năm. Đặc biệt năm 2002 chiếm 93% tổng dư nợ. Tương ứng thì cho vay kinh tế ngoài quốc doanh giảm dần và chiếm tỷ trọng rất nhỏ (7 à 9,9%). Qua đó ta thấy doanh nghiệp quốc doanh vẫn là khách hàng truyền thống của ngân hàng, phần nào các doanh nghiệp quốc doanh được nhà nước bảo đảm và quan điểm của ngân hàng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chưa được cải thiện nhiều. Tuy nhiên trong thời gian tới các doanh nghiệp Nhà nước sẽ bị thu hẹp do chính sách cổ phần hoá, do chuyển sang Công ty TNHH một thành viên. Tương ứng với nó là tăng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Vì thế, ngay từ bây giờ Ngân hàng ngoại thương Hà Nội nên chú trọng tới đối tượng khách hàng này.

    • Khi xem xét dư nợ theo tiền tệ, ta thấy dư nợ bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ

    trọng lớn (từ 55,6 à 69,4%). Đặc biệt năm 2001, dư nợ bằng ngoại tệ (quy đổi VNĐ) bị giảm nhiều (chỉ còn 30,5%). Nguyên của thực trạng này là do năm 2000, 2001 tỷ giá của đồng Dolla tăng liên tục nên một số các đơn vị sản xuất kinh doanh gắn với nhập khẩu nguyên liệu đã chuyển sang vay VNĐ. Năm 2002, cho vay bằng ngoại tệ (quy đổi ra VNĐ) đã tăng (167 tỷ so với năm 2001 và 155 tỷ so với năm 2002), đó là do trong năm 2002, chi nhánh đã thực hiện cho vay USD để thu mua và làm tăng hàng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi nhằm hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của thành phố Hà Nội.

    48

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Nhìn chung, chỉ tiêu dư nợ của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đạt kết quả khá tốt, tăng đều trong các năm; nhưng vẫn còn tập trung chủ yếu ở ngắn hạn, kinh tế quốc doanh và VNĐ.

    2.4.3.2 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn

    Để đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, ta cần xem xét chính xác về nợ quá hạn, tình hình diễn biến tỷ lệ nợ quá hạn từ năm 2000 đến năm 2002 được phản ánh trên bảng số liệu sau:

    Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ quá hạn

    Chỉ tiêu 2000 2001 2002
           
    Tỷ lệ nợ quá hạn 4,68 3,13 0,6
           
    Theo kỳ hạn      
    +Ngắn hạn 7,5 4,1 0,8
    +Trung dài hạn
           
    Theo TP Kinh tế      
    +KT QD 5,16 3,42 0,66
    +KTNQD
           
    Theo Tiền tệ      
    +VNĐ 2,28 1,1 0
    +Ngoại tệ quy đổi 14 8,9 1,7
           

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm) Dựa vào bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng Ngân hàng Ngoại thương Hà nội thành công trong việc đảm bảo an toàn đối với các khoản vay. Trong

    khi tổng dư nợ đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân tăng thì tỷ lệ nợ quá hạn lại giảm. Năm 2000, tỷ lệ nợ quá hạn là 4,68%, đến năm 2002 chỉ còn 0,6%. Có được điều này là do trong những năm vừa qua Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã tích cực giám sát các khoản vay và thu nợ đầy đủ, đúng tiến độ, sát sao giải quyết trong công tác thu hồi nợ quá hạn khó đòi còn tồn đọng, trình cấp trên xét duyệt xử lý. Đặc biệt, thực hiện đề án tái cơ cấu laị Ngân hàng Ngoại thương của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, nợ quá hạn đã được bù đắp

    49

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    bằng quỹ dự phòng rủi ro, dư nợ quá hạn ra theo dõi ngoại bảng để làm sạch bảng cân đối kế toán. Tất nhiên, đó không phải là xoá nợ cho khách hàng mà đó vẫn là khoản phải thu. Cụ thể vào cuối năm 1999 chi nhánh đã ngừng cho vay một đơn vị khó khăn từ những năm cũ nên phát sinh nợ quá hạn vào năm 2000. Năm 2001 Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã bàn với cấp chủ quản để đưa ra biện pháp xử lý tài sản cuả đơn vị có nợ quá hạn; kết quả là Tổng cục du lịch đã quyết định cho Công ty thiết bị vật tư du lịch là đơn vị nợ quá hạn cao nhất cho thuê nhà dài hạn để trả nợ. Năm 2002, chi nhánh đã thực hiện phân loại nợ, đánh giá thực chất nợ xấu để trích dự phòng rủi ro và đảm bảo thực hiện lành mạnh hoá tài chính.

    Tuy nhiên kết quả nợ quá hạn vẫn còn nhiều điều đáng bàn

    • Xét tỷ lệ nợ qúa hạn theo kỳ hạn, cơ cấu nợ quá hạn theo kỳ hạn, cơ cấu nợ quá hạn phần lớn rơi vào ngắn hạn. Sở dĩ như vậy là do Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, dư nợ chủ yếu tập trung ở ngắn hạn nên nợ quá hạn ngắn hạn là chủ yếu, dư nợ trung dài hạn ít nên hầu như không có nợ quá hạn trung dài hạn. Mặt khác trước đây khi cho vay theo nghị định 284 thì gốc quá hạn không kéo theo lãi quá hạn, từ khi cho vay theo nghị định 1627 thì gốc quá hạn sẽ kéo theo lãi cũng là quá hạn làm cho nợ quá hạn ngắn hạn nhiều. Bên cạnh đó Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng cho vay một số khách hàng theo phương thức L/C trả chậm, khi đã thu được tiền về nhưng khách hàng vẫn chưa trả cho Ngân hàng điều này cũng làm tăng nợ quá hạn ngắn hạn.
    • Xét tỷ lệ nợ quá hạn theo thành phần kinh tế, ta thấy những khoản cho vay ngoài quốc doanh có độ an toàn hơn khi cho vay quốc doanh (100% dư nợ quá hạn là chủ nợ của các doanh nghiệp quốc doanh). Điều nàylà do:
      • Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, thông thường đó là các khách hàng truyền thống của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, đã có mối quan hệ

    với ngân hàng từ lâu. Nên hoạt động tín dụng, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thường áp dụng các chính sách ưu đãi với các khách hàng này. Do vậy, đôi khi dẫn tới tình trạng Ngân hàng quá tin tưởng vào doanh nghiệp, chưa quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp này, chưa kiểm duyệt chặt

    50

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    chẽ phương án kinh doanh khi cho vay. Vì vậy, có một số doanh nghiệp đã không thực hiện đã không thực hiện được các phương án kinh doanh một cách khả thi dẫn đến thua lỗ, mất khả năng trả nợ Ngân hàng.

    • Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thông thường khi cho vay đều có tài sản thế chấp hoặc ngân hàng kiểm soát chặt chẽ các khoản vay đối

    với các đối tượng này. Vì vậy, tình trạng nợ quá hạn hầu như không xảy ra đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

    Tóm lại, chỉ tiêu nợ quá hạn của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội trong những năm qua là tương đối đạt yêu cầu. Song xét về cơ cấu ta thấy nợ quá hạn chủ yếu tập trung vào cho vay quốc doanh. Đây là vấn đề mà Ngân hàng cần xem xét để nâng cao hiệu quả cho vay nhiều hơn nữa.

    2.4.3.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

    Vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng qua các năm được thể hiện ở bảng sau:

    Bảng 2.6: Vòng quay vốn tín dụng

          Đơn vị: Tỷ đồng
    Chỉ tiêu 2000 2001 2002  
             
    Doanh số thu nợ 1810 2010 3009  
    Dư nợ bình quân 490 623 940  
    Vòng quay vốn tín dụng 3,96 3,1 3,2  
             

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm) Qua đó ta thấy năm 2002 vòng quay vốn tín dụng cao hơn so với năm

    2000 và năm 2001. Đó là do tốc độ tăng của doanh số thu nợ lớn hơn tốc độ tăng của dư nợ bình quân.

    2.4.3.4. Chỉ tiêu doanh số cho vay

    Bảng 2.7: Doanh số cho vay

    (Đơn vị: Tỷ đồng)

    Chỉ tiêu 2000   2001   2002   SS01/02 SS02/01
                               
      ST   % ST   % ST   % ST % ST %
                               
    Theo kỳ hạn                          
    +Ngắn hạn 1813   96,8 2113   96 3264   96,9 300 116,5 1151 145,4
    +Trung dài hạn 59   3,2 87   4 106   3,1 2,8 147,5 19 121,8
                               
    Theo TP Kinh tế                          
    +KT QD 1613   86,2 1870   85 2939   87,2 257 115,9 1069 157,1
    +KTNQD 259   13,8 330   15 431   12,8 71 127,4 101 130
                               

    51

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Theo Tiền tệ                    
    +VNĐ 1279 68,4 1736 79 2570 76,3 457 135,7 834 148
    +NT quy đổi 593 31,6 464 21 800 23,7 -129 87,2 336 172,4
                         
    Tổng 1872 100 2200 100 3370 100 328 117,5 1170 153,2
                         

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm) Dựa vào bảng phân tích số liệu trên, ta thấy doanh số cho vay năm sau đều tăng hơn năm trước kể cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối. Năm 2001 tăng

    hơn năm 2000 là 328 tỷ đồng (117,5%), năm 2002 tăng hơn so với năm 2001 là 1170 tỷ đồng (153,2%). Tuy nhiên, so với nguồn huy động được thì doanh số cho vay vẫn chiếm một tỷ trọng nhỏ. Trong khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là lớn nhưng vẫn không được Ngân hàng Ngoại thương Hà Nôị cho vay do chính sách thận trong trong cho vay. Hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng tối đa là 80 Tỷ khi đem so với tổng doanh số cho vay năm cao nhất là 3.370 tỷ, ta thấy nếu cho vay mỗi khách hàng hết hạn mức thì số khách hàng của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội mới chỉ dừng lại ở 42 khách hàng. Như vậy, tuy rằng doanh số cho vay đã tăng nhưng Ngân hàng ngoại thương Hà Nội vẫn còn quá thận trọng, không cho vay nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của doanh nghiệp cũng như chưa cho vay hết đến hạn mức được duyệt. Nói cách khác, Ngân hàng chưa xây dựng được tổng hạn mức tín dụng cung cấp cho cả nền kinh tế là bao nhiêu.

    • Khi xem xét doanh số cho vay theo kỳ hạn, ta thấy chủ yếu là cho vay ngắn hạn (chiếm từ 96 à 97%), cho vay trung dài hạn tuy có tăng một chút ở năm 2001 nhưng lại giảm nhẹ vào năm 2002 (xét về số tương đối). Điều này cho thấy Ngân hàng vẫn còn thiếu các dự án có khả năng hấp thu vốn lớn, thời

    hạn cho vay dài. Một nguyên nhân nữa của tình trạng này, đó là do Ngân hàng Ngoại thương Hà nội cho vay đối với các doanh nghiệp thuộc ngành thương mại vẫn chiếm tỷ trọng lớn, cho vay đối với các ngành nghề như công nghiệp chế biến nông lâm nghiệp, thuỷ sản ít hơn. Ngành thương mại là khu vực kinh tế có khả năng sinh lời cao, thời gian thu hồi vốn nhanh; tất nhiên là ở khu vực kinh tế này có chứa đựng nhiều rủi ro về mặt giá cả, thị trường.

    • Xem xét doanh số cho vay theo thành phần kinh tế ta thấy doanh số cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có thăng về số tương đối

    52

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nhưng rất chậm, điều này xảy ra có thể là do Ngân hàng chưa chú trọng cho vay đối với khu vực này.

    • Xem xét doanh số cho vay theo ngoại tệ, ta thấy cho vay bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Đó là do hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn phụ thuộc vào thị trường khi tỷ giá USD/VNĐ tăng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với nhập khẩu nguyên liệu đã chuyển sang vay VNĐ.

    2.4.3.5. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh

    Tình hình thu nhập năm 2000, 2001, 2002 được thể hiện qua bảng số liệu sau:

    Bảng 2.8: Thu nhập

    Đơn vị: Tỷ đồng

    Chỉ tiêu   2000   2001   2002
                     
      Số tiền % Số tiền   % Số tiền   %
                     
    Tổng thu nhập 132 100 160   100 145   100
                     
    Thu lãi cho vay 31,68 25 30,4   19 33,5   23
    Thu lãi tiền gửi 91,08 69 110,2   69 86,5   60
    Thu lãi dịch vụ 7,92 6 19,4   12 25   17
                     

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm)

    Qua bảng số liệu trên ta thấy, thu nhập từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn chiếm tỷ lệ bé so với thu lãi tiền gửi (gửi có kỳ hạn VCBTW, mua trái phiếu kho bạc, mua kỳ phiếu của các ngân hàng TM quốc doanh).

    Tóm lại, thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm dần qua các năm. Đó là do Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội quá thận trong trong việc xem xét cấp tín dụng, chủ yếu gửi ngoại tệ ra nước ngoài và mua chứng khoán của Chính phủ để lấy lãi. Vấn đề đặt ra là Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần phải mở rộng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Lãi suất đặt ra cho các khoản vay là thu nhập của Ngân hàng. ở Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, đã có một chính sách lãi suất rõ ràng

    53

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    cho các khách hàng loại I, khách hàng loại II, cho Vietnam đồng và cho Ngoại tệ. Tuy nhiên điều đáng bàn ở đây là việc phân loại khách hàng loại I, loại II, còn phụ thuộc vào người phân loại yếu tố cảm tính dễ dàng làm cho việc phân loại khách hàng không được đúng.

    2.4.3.6. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn tín dụng

    Bảng 2.8: Hiệu suất sử dụng vốn

          Đơn vị: Tỷ đồng
             
    Chỉ tiêu 2000 2001 2002  
             
    Tổng dư nợ 473 648 937  
    Tổng vốn huy động 2757 3270 3996  
    Hiệu suất sử dụng 17,1 19,85 23,5  
    vốn        
             

    Qua đó ta thấy, vốn huy động được dùng vào việc cho vay còn bé. Chủ yếu là được dùng vào việc gửi vốn điều hòa tại VCBTW, mua kỳ phiếu của các Ngân hàngTM quốc doanh, mua trái phiếu kho bạc.

    Như vậy là, mặc dù có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cơ cấu cho vay bắt đầu có sự chuyển dịch, nhưng tỷ trọng cho vay trên thị trường cấp I (thị trường quan hệ với khách hàng) vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp so với cho vay trên thị trường cấp II (thị trường quan hệ với các tổ chức tín dụng) và chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội.

    2.5. CÁC BIỆN PHÁP MÀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI ĐÃ ĐỀ RA NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

    Thực hiện các văn bản chế độ của ngành và quy trình cho vay 1 cách nghiêm túc mà không coi nhẹ hay bỏ qua những thủ tục cần thiết và đi đúng hướng chỉ đạo của cấp trên.

    Ngân hàng Ngoại thương Hà nội coi trọng và đặt lên hàng đầu về đảm bảo chất lượng tín dụng, tiến hành kiểm tra đánh giá khách hàng trước khi cho vay một cách chặt chẽ. Thường xuyên phân tích tình hình tài chính của khách

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng và phân loại khách hàng nhằm duy trì và phát triển quan hệ tín dụng đối với những đơn vị kinh tế lớn, kinh doanh có hiệu quả và có uy tín từ nhiều năm. Mở rộng, thu hút đầu tư tín dụng đối với các đơn vị của tổng công ty trong ngoài địa bàn, đồng thời giảm dư nợ đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và cương quyết không đầu tư đối với những dự án không có tính khả thi.

    Kiểm tra sử dụng vốn vay thường xuyên để kịp thời phát hiện những sai phạm và xử lý kịp thời các khoản nợ quá hạn, đặc biệt là nợ khó đòi, Ngân hàng đã xử lý dứt điểm những tài sản bắt nợ bằng các biện pháp như: Phân loại nợ quá hạn, phân tích thực trạng từng món nợ, nguyên nhân phát sinh và khả năng thu hồi, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để có biện pháp phù hợp đạt hiệu quả.

    Tổ chức tạo ra các lớp nghiệp vụ ngắn hạn: Ngoại ngữ, tin học và quản lý điều hành để nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn.

    Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đã tiến hành phân loại khách hàng vay vốn, từ đó có chính sách ưu đãi lãi suất đối với từng khách hàng.

    Khách hàng loại I, khách hàng loại II, được giảm lãi suất tiền vay đồng Việt nam và ngoại tệ. Các hợp đồng vay có giá trị lớn cũng được hưởng ưu đãi về lãi suất tuỳ theo giá trị của hợp đồng. Đặc biệt hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đang thực hiện ưu đãi lãi suất đối với cho vay ngắn hạn bằng USD để thu mua hàng xuất nhập khẩu và trả nợ bằng USD.

    2.6. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    2.6.1. Những kết quả đạt được

    Mặc dù môi trường cho hoạt động tín dụng của các Ngân hàng TM quốc doanh còn gặp nhiều khó khăn. Song được sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành từ TW đến địa phương, sự giúp đỡ của các cơ quan hữu quan và sự nỗ lực của toán bộ nhân viên trong Ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội trong những năm qua đã đạt được những kết quả sau trong hoạt động tín dụng:

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Một là: Công tác phục vụ khách hàng có nhiều đổi mới thích hợp với nền kinh tế thị trường. Phong cách phục vụ, giao dịch, văn minh lịch sự tạo được ấn tượng, uy tín đối với khách hàng, tăng được số lượng khách hàng, mở rộng thị phần.

    Hai là: Doanh số cho vay ở Ngân hàng năm sau luôn cao hơn năm trước, quy mô dư nợ không ngừng tăng trưởng. Cơ cấu cho vay không chỉ bó hẹp trong khu vực doanh nghiệp quốc doanh mà còn mở sang cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội có thế mạnh cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ

    Ba là: Công tác thu nợ quá hạn, nợ khó đòi đã được chú trọng đúng mức, phân loại nợ quá hạn, kiểm tra đối chiếu nợ được tiến hành thường xuyên. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm theo từng năm. Đó là một thành công lớn của Ngân hàng trong những năm qua.

    Bốn là: Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi. Ngân hàng từng bước gắn mình với doanh nghiệp qua vai trò tư vấn.

    Năm là: Trong quá trình cho vay, Ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập,… của khách hàng trong phạm vi cho phép.

    Sáu là: Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có đủ tài năng, có trách nhiệm và nhiệt tình công tác và phòng tín dụng, tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.

    2.6.2. Những hạn chế và nguyên nhân

    2.6.2.1. Những hạn chế về chất lượng tín dụng

    Như đã nói ở trên, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là một Ngân hàng có chất lượng tín dụng khá tốt. Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn một số hạn chế. Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội cần các biện pháp nhằm duy trì các chỉ tiêu đồng thời xử lý những chỉ tiêu hạn chế để

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng của mình trong giai đoạn tới. Những hạn chế đó là:

    Thứ nhất: Với đối tượng cho vay: Ngân hàng Ngoại thương Hà nội vẫn chưa có chiến lược đa dạng khách hàng. Ngân hàng chỉ mới chú trọng đến các doanh nghiệp Nhà nước và một số khách hàng truyền thống mà bỏ qua một số khách hàng làm ăn có hiệu quả. Tuy nhiên Ngân hàng đã cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh những số món vay còn ít và quy mô nhỏ. Đây là một điều đáng tiếc vì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng có tiềm lực và nhu cầu về vốn là rất lớn. Hơn nữa, Nhà nước rất khuyến khích cho vay công bằng đối với các thành phần kinh tế nhằm tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cùng phát triển. Vì vậy, nếu Ngân hàng mở rộng cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ vừa có tác dụng tốt với nền kinh tế và vừa giúp Ngân hàng tăng thêm thị phần, tăng thêm thu nhập, cũng như thực hiện đúng chủ trương mà Nhà nước đề ra.

    Mặt khác, khách hàng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội tập trung phần lớn là thuộc ngành thương mại và các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thuỷ sản, gạo, cà phê, phân bón, sắt thép, xăng dầu,… Chính vì vậy, cho vay của Ngân hàng có chứa đựng nhiều rủi ro về giá cả về thị trường về tỷ giá,…

    Thứ hai: Xét về mức cho vay ra so với mức vốn huy động được thì mức cho vay ra mới chỉ bằng 1/5, trong đó lại chủ yếu là cho vay đối với các khu vực kinh tế quốc doanh, cho vay VNĐ, cho vay ngắn hạn. Đây là điều mà Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cần lưu ý bởi khi tín dụng được mở rộng sẽ kéo theo hàng loạt các hoạt động khác như thanh toán, nghiệp vụ kế toán phát triển theo. Ngân hàng ngoại thương vẫn còn quá thận trọng trong cho vay, chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp và Chính phủ.

    Thứ ba: Nguồn thông tin mà Ngân hàng cần để đánh giá, phân tích còn thiếu, không kịp thời và chất lượng không cao. Vì vậy, cán bộ tín dụng thường phải mất rất nhiều thời gian và công sức để tự đi điều tra trong khi chi phí cho hoạt động nàylại rất ít hoặc không có.

    Thứ tư: Công tác Marketing Ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu còn có những hạn chế, điều này ít nhiều cũng hạn chế tăng trưởng dư nợ.

    57

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Thứ năm: Trình độ của cán bộ chuyên môn còn có nhiều bất cập: Đội ngũ cán bộ có trình độ, nhanh nhẹn, nhiệt tình, hăng hái học hỏi nhưng còn thiếu kinh nghiệm, không lường hết được rủi ro trong hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn thiếu cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi hiệu quả của dự án. Khâu kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Ngân hàng vẫn chưa được thực hiện đúng mức, cán bộ làm công tác thanh tra còn thiếu về số lượng, kinh nghiệm thực tế và trình độ chuyên môn.

    Thứ sáu: Ngân hàng ngoại thương Hà Nội vẫn chưa có một cơ chế động viên khuyến khích cán bộ tín dụng, chưa có một cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Định mức giao cho một cán bộ tín dụng, ví dụ: 5 tỷ nếu cho vay đến 20 tỷ cũng không được khen thưởng gì, nhưng nếu có phát sinh nợ quá hạn lại bị chỉ trích, phê bình. Trong khi rõ ràng, khả năng phát sinh nợ quá hạn của một khoản vay 20 tỷ sẽ lớn hơn nhiều so với món vay 5 tỷ. Cơ chế thưởng phạt chưa rõ ràng đã làm giảm động lực làm việc cho cán bộ tín dụng.

    2.6.2.2. Nguyên nhân.

    Những hạn chế trên đây về chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra.

    Thứ nhất: Nguyên nhân từ phía Ngân hàng.

    • Xét về chính sách tín dụng: sau các vụ án kinh tế lớn như Tamexco,

    Minh Phụng, hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Hà nội nói riêng có xu hướng thận trọng trong việc cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tâm lý của các cán bộ tín dụng cho rằng, cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là mạo hiểm, có tỷ lệ rủi ro cao, điều này làm giảm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặt khác do đặc điểm riêng của kinh tế ngoài quốc doanh nên doanh số cho vay không lớn, lợi nhuận mang lại ít hơn so với cho vay các tổng công ty trong khi vốn tự có của nó lại thấp. Vì vậy, khách hàng thuộc các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là đối tượng chủ yếu của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội.

    58

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Xét về quy trình tín dụng: cán bộ Ngân hàng tuy đều được phổ biến một cách cụ thể về quy trình tín dụng nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế nhất định.

    Công tác thu nhập thông tin thường dựa và số liệu do khách hàng cung cấp và cũng có tham khảo thêm một số thông tin thu thập từ bên ngoài. Nhưng nhiều khi công tác này chưa tốt, dẫn đến việc đánh giá không đúng hiệu quả của dự án cũng như khả năng thực tế của khách hàng. Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng giữa Ngân hàng Ngoại thương Hà nội và Ngân hàng Ngoại thương Việt nam cũng như với Ngân hàng Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, sự phối hợp trao đổi thông tin giữa các Ngân hàng thương mại trong việc xét duyệt cho vay và quản lý vốn vay đối với các khách hàng vay vốn chưa tốt, thiếu các thông tin trung thực cần thiết về tình trạng nợ nần, hiệu quả kinh doanh của khách hàng nên không tránh được rủi ro. Mặc dù Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đã có phòng chuyên trách thông tin phòng ngừa rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng nhưng đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự là công cụ tốt để ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong Ngân hàng.

    Công tác đánh giá tài sản thế chấp: Việc đánh giá tài sản thế chấp cả về giá trị và tính pháp lý của tài sản đôi khi chưa được chính xác dẫn đến việc làm giảm chất lượng tín dụng. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội định giá tài sản thế chấp theo quy định chung, có tham khảo thêm giá tài sản đó trên thị trường tại thời điểm định giá. Các tài sản thế chấp mà doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo tiền vay của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội chủ yếu là đất đai, nhà ở, máy móc thiết bị. Mức giá của các loại tài sản này thường không ổn định nên việc định giá đúng là rất khó khăn. Đối với các tài sản thế chấp thuộc loại hình máy móc thiết bị thì theo quy định, Ngân hàng yêu cầu không phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nhưng trên thực tế, các loại máy móc này thường được mua đi bán lại nhiều lần nên các doanh nghiệp thường không có giấy tờ sở hữu các tài sản đó. Điều này làm ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng của Ngân hàng.

    Công tác kiểm tra giám sát khi cho vay đôi khi còn mang tính hình thức, không phát hiện kịp thời những sai phạm hoặc có phát hiện nhưng chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu. Đó cũng là nguyên nhân gây phát sinh nợ quá hạn.

    59

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Xét về hoạt động Marketing Ngân hàng: Ngân hàng chủ yếu chỉ tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuyếch trương, còn việc vận dụng Marketing nhằm nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, định vị hình ảnh, nâng cấp chất lượng dịch vụ, còn chưa tốt. Ngân hàng cũng chưa có những biện pháp tích cực để lôi kéo khách hàng.
    • Xét về trình độ cán bộ: ở Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn một số cán bộ chưa nắm bắt được nhu cầu và sự thay đổi của thị trường, chưa đủ khả năng kinh nghiệm đánh giá tính hiệu quả và mức độ rủi ro của khoản vay từ khi xét duyệt và cho vay.
    • Ngân hàng chưa có chế độ đãi ngộ, thưởng phạt hợp lý đối với các cán bộ ở các vị trí khác nhau và cường độ làm việc khác nhau. Điều này dẫn đến hiện tượng có một số cán bộ tín dụng ngại cho vay, sợ trách nhiệm và chưa tâm huyết với công việc.

    Thứ hai: Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn.

    • Do trình độ quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế nên thường thua thiệt trong kinh doanh, làm thất thoát vốn và những chi phí không cần thiết dẫn đến không đủ sức đứng vững trong sự cạnh tranh găy gắt của nền kinh tế thị trường.
    • Khách hàng cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh,về tài chính không đầy đủ, nếu có thì không kịp thời và sai lệch so với thực tế. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng.
    • Vốn tự có của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thấp. Trong khi tín dụng trung – dài hạn tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp tham gia đầu tư phải đảm bảo từ 30-50% tổng vốn đầu tư của dự án, Ngân hàng chỉ cho vay phần vốn còn thiếu, tức là từ 50-70% vốn đầu tư của dự án. Do không đáp ứng đủ các điều kiện về vốn tự có, về tài sản thế chấp, về tính khả thi của dự án nên không đủ điều kiện để

    Ngân hàng có thể cho vay.

    Thứ ba: Các nguyên nhân khác.

    60

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Sự không ổn định của môi trường kinh tế trong nước và trên thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt nam. Đặc biệt là thị trường xuất khẩu (nhất là giá một số mặt hàng nông sản giảm mạnh), sự cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế, sự kiện kinh tế ngày 11/09/2002, đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu.
    • Hệ thống pháp lụât quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý cũng như môi trường pháp lý cho kinh doanh tín dụng chưa được hoàn thiện nên không đảm bảo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động của kinh tế. Mặt khác, sự thay đổi trong cơ chế, chính sách của nhà nước đã khiến cho hoạt

    động tín dụng còn gặp nhiều khó khăn.

    Những phân tích về thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong thời gian qua cho thấy những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động tín dụng. Qua đó cũng khẳng định được vai trò, những đóng góp quan trọng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế để phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cần có những gải pháp nâng cao và mở rộng hoạt động tín dụng, để đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

    Chương III

    Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại

    Ngân hàng ngoại thương hà nội.

    3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI.

    3.1.1. Dự báo các yếu tố tác động tới hoạt động tín dụng trong thời gian tới

    Sự sụt giảm xuất khẩu nghiêm trọng:

    61

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Trong giai đoạn này, nền kinh tế thế giới đi xuống đã tác động không thuận với xuất khẩu của nước ta. Cung vượt cầu của hầu hết các hàng hoá và dịch vụ diễn ra phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các sản phẩm điện tử & và công nghệ cao dẫn đến thị trường hàng hoá và dịch vụ bị thu hẹp, giá cả hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu liên tục giảm chưa có dấu hiệu phục hồi, nhất là nông sản các loại. Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế WTO, điều này sẽ đặt xuất khẩu của nước ta vào tình thế bất lợi hơn do cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc không khác nhiều so với cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta, hàng hoá của Trung Quốc lại có sức cạnh tranh cao hơn. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thuộc hệ thống Ngân hàng ngaọi thương Việt nam là Ngân hàng TM hàng đầu của Việt nam trong lĩnh vực thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu, vì vậy sự sụt giảm nhập khẩu chắc chắn sẽ có tác động không tốt đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội năm 2003 và những năm tiếp theo.

    Lãi xuất trên thị trường quốc tế giảm liên tục:

    Trong những năm gần đây, cục dự trữ liên bang Mỹ đã liên tục hạ lãi xuất. Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chiếm đến 70% là ngoại tệ. Hơn nữa, do hệ số sử dụng vốn thấp nên số tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài là rất cao. Nguồn thu từ lãi tiền gửi ngoại tệ vì vậy luôn chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng cơ cầu thu nhập của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong những năm 2003. Một trong những giải pháp của vấn đề này là tăng cường cho vay trong nước.

    Xuất hiện nhân tố thuận lợi các doanh nghiệp Việt nam & các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

    Tình hình chính trị và trật tự xã hôi tại Việt nam hiện nay đang được đánh giá là an toàn cao trong khu vực, tốc độ phát triển kinh tế đạt mức tăng trưởng cao liên tục qua các năm, đảm bảo các điều kiện làm ăn yên ổn lâu dài. Chính vì vậy, rất có khả năng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển dịch vùng đầu tư từ các nước kém an toàn hơn như Philipin, Malayxia, inđonexia, Thái lan, ấn độ sang Việt nam. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức AFTA, WTO và ký kết hiệp

    62

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    định thương mại Việt – Mỹ chắc chắn sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt nam, đặc biệt là dệt may, giày da và thuỷ sản.

    Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi:

    Dự báo trong những năm 2003 và các năm tiếp theo, thành phần kinh tế tư nhân sẽ dần chiếm tỷ trọng cao hơn sở dĩ như vậy là do các nguyên nhân sau Đảng và chính phủ chủ trương phát triển thành phần kinh tế tư nhân, luật doanh nghiệp ra đời 1/1/2000 đã tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi nhất cho thành phần kinh tế tư nhân phát triển. Quyết tâm đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá nhà nước của chính phủ. Chủ trương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy nhằm kịp thời đón bắt thời cơ mới, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần nhanh chóng tiếp cận và mở rộng giao dịch với các nhóm doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tư nhân.

    Chính sách ưu tiên đẩy mạnh xuất khẩu của chính phủ: Thời gian vừa qua, Chính Phủ đã thực thi hàng loạt các giải pháp như giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ lãi xuất sau đầu tư, và thành lập quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu. Theo đó hàng loạt các mặt hàng truyền thống chiếm tỷ trọng cho vay lớn của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong thời gian qua như hàng thuỷ sản, mỹ nghệ, nông sản, đều nằm trong danh mục được vay vốn có ưu đãi. Như vậy định hướng ưu tiên đẩy mạnh XK của chính phủ một mặt có tác động tốt đến nền hoạt động đầu tư của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong lĩnh vực xuất khẩu, song đồng thời cũng là thách thức vì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc chuyển dời vay vốn của các doanh nghiệp xuất khẩu sang quỹ hỗ trợ phát triển. Thị phần cho vay và thanh toán xuất khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.

    Chủ trương nâng cao quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm của các

    Ngân hàng TM trong đầu tư cho vay:

    Các quy định về cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của các Ngân hàng TM chắc chắn sẽ được thay đổi một cách căn bản theo hướng tự quyết định và tự chịu trách nhiệm. Như vậy định hướng đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá danh mục đầu tư của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ có điều kiện tốt để triển khai. Tuy nhiên cũng cần có nghiên cứu cân

    63

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nhắc nhằm đảm bảo quản lý và kiểm soat tốt hoạt động tín dụng, trong khuôn

    khổ an toàn cho phép.

    Nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn:

    Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, các nghành công nghiệp mũi nhọn như dầu khí, điện lực, viễn thông, đều đang triển khai các dự án lớn. Nhu cầu vốn lên đến hàng tỷ USD. Do môi trường kinh doanh đươc cải thiện nên thành phần kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỏ ra yên tâm hơn trong đầu tư. Nhu cầu vốn tăng lên nhanh chóng.

    Nhu cầu của dân cư về nhà ở, phương tiện đi lại, học hành, đang ngày càng nâng cao trong khi nguồn thu nhập còn hạn chế. Chính vì vậy, các Ngân hàng TM có điều kiện tốt để mở rộng cho vay.

    Mức độ cạnh tranh trong cho vay giữa các Ngân hàng Thương mại ngày càng trở nên gay gắt:

    Mặc dù nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn, song nhìn chung do tình hình tài chính của các doanh nghiệp chưa thực sự mạnh, phát triển sản xuất kinh doanh chưa ổn định, năng lực quản lý còn yếu kém. Vì vậy số lượng các dự án và phương án kinh doanh khả thi không nhiều. Trong khi đó, số vốn huy động của các Ngân hàng Thương mại lại khá cao, nên xuất hiện tình trạng cạnh tranh gay gắt, thậm chí đôi khi còn thiếu lành mạnh giữa các Ngân hàng Thương mại.

    Đó là các nhân tố tác động đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong thời gian tới.

    3.1.2. Phương hướng và nhiệm vụ của tín dụng trong năm 2003

    Phát huy các thành tích đã đạt được, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ tiếp tục mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng theo những định hướng sau:

    • Tiếp tục bám sát định hướng phát triển của Ngân hàng Ngoại thương

    Việt nam cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố.

    • Mở rộng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng bằng nhiều

    biện pháp và luôn đảm bảo phương châm an toàn hiệu quả. Tăng thị phần tín dụng trong tổng sử dụng vốn sinh lời của Ngân hàng, đặc biệt là các tín dụng

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    ngoại tệ thông qua các chính sách lãi xuất hấp dẫn, chính sách khách hàng, tăng cường đội ngũ cán bộ tín dụng để có điều kiện bám sát các đơn vị hiện có, đồng thời tìm kiếm các khách hàng và các dự án tiềm năng mới. Mở rộng công tác cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp tục có các biện pháp hỗ trợ các đơn vị làm hàng xuất khẩu.

    Kế hoạch tăng trưởng tín dụng đến cuối năm 2003 tăng 26% so với năm

    2002

    • Tiếp tục thực hiện chương trình tái cơ cấu, cơ cấu lại bộ máy điều hành hoạt động tín dụng gọn nhẹ hơn, năng động hơn và hiệu quả nhằm đáp ứng được yêu cầu của chi nhánh cấp hai và tình hình mới, công tác kiểm tra giám

    sát trực tiếp và giám sát từ xa. Thực hiện việc kiểm tra và kiểm toán nội bộ.

    • Triển khai việc cải tạo sửa chữa nhà 344 Bà Triệu để chuyển hoạt động

    của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội về đây và triển khai dự án xây dựng mới lại trụ sở 78 Nguyễn Du.

    3.2. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    Ngân hàng là ngành kinh tế đặc thù trong nền kinh tế quốc dân, nhiệm vụ chủ yếu của nó là tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, phục vụ sản xuất kinh doanh, hoạt động ngân hàng có liên quan đến mọi lĩnh vực, đời sống, kinh tế, xã hội. Sự ổn định và phát triển của hệ thống Ngân hàng có liên quan đến sự ổn định của nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng phải được đảm bảo an toàn và hiệu quả. Nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa rất lớn đối với ngân hàng nói chung cũng như ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nói riêng.

    Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá với những đặc trưng nổi bật là tự do hóa thương mại và tự do hoá tài chính ngày càng rộng khắp và mạnh mẽ đã và đang chi phối khuynh hướng và cấu trúc vận động của hệ thống tài chính ngân hàng từng quốc gia. Điều đó tạo cho Ngân hàng những cơ hội cũng như thách thức để mở rộng và nâng cao hoạt động của mình. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế, các Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển, nâng cao vị thế của mình trên thị trường thì một trong những điều kiện tiên quyết là

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    phải nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động tín dụng.

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cũng vậy, bởi vì:

    • Hoạt động kinh doanh ngân hàng là 1 lĩnh vực đặc biệt bởi hàng hoá và tiền tệ có sức nhạy cảm và sức cuốn hút. Vì vậy mà rủi ro trong Ngân hàng rất

    lớn và đa dạng. Nó ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động của Ngân hàng, chính vì vậy mà cần phải giảm rủi ro. Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần làm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, làm lành mạnh tình hình tài chính của ngân hàng thương mại, giúp Ngân hàng thương mại ổn định và phát triển lâu dài.

    • Trong hoạt động kinh doanh ở bất kỳ lĩnh vực nào, doanh nghiệp hay các đơn vị kinh tế đều nhằm mục đích là tối đa hoá giá trị tài sản chủ sở hữu. Ngân hàng thương mại cũng là một đơn vị kinh doanh trong nền kinh tế nên hoạt động kinh doanh có lãi là điều mà bất cứ một ngân hàng thương mại nào cũng mong muốn. Nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần làm tăng khả năng

    sinh lợi của ngân hàng thông qua việc tăng dư nợ tín dụng, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay từ đó tăng thu lãi về hoạt động tín dụng cho Ngân hàng.

    • Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần làm tăng thêm các hoạt động

    dịch vụ của Ngân hàng thương mại do tạo thêm nhiều nguồn vốn từ việc tăng cường vòng quay vốn tín dụng và thu hút thêm nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, và tạo ra hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của Ngân hàng.

    Ngoài ra nâng cao chất lượng tín dụng góp phần củng cố các mối quan hệ xã hội của Ngân hàng, điều đó cũng có ý nghĩa là tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng. chất lượng tín dụng cho phép Ngân hàng có thêm nhiều khách hàng trung thành và những khoảng lợi nhuận bổ sung cho vốn đầu tư. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng giúp cho Ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững ngoài ra Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội hoạt động trên địa bàn Hà Nội là trung tâm văn hoá, chính trị của các nước, đồng thời cũng là nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt nên để có một vị trí vững chắc trên thị trường, để thắng thế trong cạnh tranh thì Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    66

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    cần phải nâng cao hơn nữa hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là nâng cao chất lượng tín dụng.

    Hơn nữa, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong những năm vừa qua mặc dù vẫn tốt, vẫn đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Song với xu thế hiện nay thì nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần phải tích cực hơn nữa nâng cao chất lượng hoạt động hơn nữa để có thể theo kịp với xu thế hiện nay.

    Tóm lại, nâng cao chất lượng tín dụng luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh của mình, là sự cần thiết và khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của Ngân hàng.

    3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    Xuất phát từ những hạn chế, vướng mắc và phương hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian tới, từ những hiểu biết của bản thân, em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao CLTD tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội như sau:

    3.3.1. Chính sách tín dụng.

    Có thể nói chính sách tín dụng là nhân tố đầu tiên quyết định hướng chiến lược kinh doanh của Ngân hàng. Để xây dựng một chính sách tín dụng phù hợp, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần xem các vấn đề sau.

    Thứ nhất: về chính sách khách hàng.

    Trong nền kinh tế thị trường, các khách hàng ngày càng có sự lựa chọn rộng hơn, đòi hỏi chất lượng cao hơn và mong muốn nhận được giá trị lớn hơn cho đồng tiền mà họ bỏ ra. Chính vì vậy, Ngân hàng phải ngày càng quan tâm đến việc phát triển mối quan hệ với khách hàng thay vì khách hàng tự tìm đến Ngân hàng như trước đây. Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đang thực hiện chính sách khách hàng để khuyếch trương quảng bá hình ảnh của mình. Các nhân viên của Ngân hàng đồng thời là nhân viên marketing, họ vừa cung ứng sản phẩm, dich vụ vừa thu hút khách hàng trong thái độ niềm nở và

    67

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    sự hiểu biết về sản phẩm của chính Ngân hàng cũng như về xã hội, nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng đến với Ngân hàng. Chính sách này đã và đang phát huy hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội dư nợ tín dụng tăng, thị phần tín dụng trên địa bàn tăng. .. Tuy nhiên Ngân hàng chưa có phòng chuyên trách, các cán bộ chuyên sâu về công tác khách hàng và tiếp thị quảng cáo sản phẩm, tiếp cận thị trường. Trong các chính sách khách hàng, đối tượng chủ yếu mà Ngân hàng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tín dụng của khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Còn lại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chưa đáp ứng đầy đủ và bỏ lỡ nhiều nhu cầu tín dụng khác của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp kinh doanh ngoài lĩnh vực xuất nhập khẩu… Do vậy để hoàn thiện hơn nữa chính sách khách hàng hợp lý, Ngân hàng nên tăng cường công tác khách hàng, mở rộng các đối tượng khách hàng bằng các cách sau:

    • Tổ chức hội nghị khách hàng là các doanh nghiệp trên địa bàn Hà nội,

    hội nghị khách hàng truyền thống. Qua đó Ngân hàng có thể rút ra được kinh nghiệm từ những ý kiến đóng góp của khách hàng, tuyên truyền sâu rộng về Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội và lợi ích của khách hàng khi đến vay vốn tại Ngân hàng, cũng như tiếp cận các khách hàng mới.

    • Mở rộng đối tượng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Hiện nay, cho vay ngoài quốc doanh mới chiếm khoảng 10% tổng dư nợ. Đây là một con số quá nhỏ bé và ngày càng thu hẹp để tránh những rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên làm như vậy là Ngân hàng tự thu hẹp thị trường của mình bởi muốn hạn chế rủi ro thì phải có biện pháp giải quyết từ khâu thẩm định dự án, phương án, khâu giám sát sau khi cho vay,.. Mặc dù quy định về cho vay đòi hỏi rất cao và chặt chẽ nhưng không phải vì thế mà Ngân hàng không cho vay, thờ ơ với khách hàng. Hiện nay ở nước ta các doanh nghiệp quốc doanh hầu như không có đầy đủ các điều kiện về tài chính và tài sản đảm bảo trong quy trình nghiệp vụ tín dụng. Điều mà Ngân hàng cần quan tâm đối với khối doanh nghiệp này để nâng cao chất lượng tín dụng là phương án kinh doanh, uy tín của họ đối với khách hàng và Ngân hàng chứ không chỉ dựa vào

    68

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    tài sản đảm bảo. Thực hiện cơ chế tín dụng linh hoạt này là điều cần thiết bởi vì khu vực này còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác và triển vọng của hoạt động sẽ có hiệu quả.

    Tóm lại, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cần được Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội quan tâm nhiều hơn do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân; đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều; sự phát triển kinh tế của các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Hà Tây, Hải Dương. Mặt khác, khu vực quốc doanh sẽ giảm mạnh do cải cách doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên. Bên cạnh đó, mở rộng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng sẽ góp phần đa dạng hoá hoạt động tín dụng, tăng thu nhập cho Ngân hàng, thoả mãn nhu cầu của doanh nghiệp và thực hiện đúng chủ trương đường lối của Nhà nước.

    • Tiếp tục củng cố, tăng cường và mở rộng hoạt động tín dụng đối với

    các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các khách hàng truyền thống trên địa bàn. Đó là những khách hàng có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, có nhu cầu đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất thường xuyên.

    Thứ hai: Chính sách lãi xuất.

    Lãi xuất là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các khoản cho vay của Ngân hàng Thương mại. Một chính sách lãi suất phù hợp sẽ thu hút được khách hàng và tăng dư nợ tín dụng, tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập cho Ngân hàng. Để có được một chính sách lãi xuất cho vay có hiệu quả, cán bộ Ngân hàng phải nắm được thực tế lãi suất và xu hướng biến động của lãi suất cho vay hợp lý. Trong những năm qua, Ngân hàng đã và đang áp dụng chính sách lãi suất một cách linh hoạt đối với các đối tượng khách hàng vay vốn và quy mô các khoản vay, ví dụ như có ưu đãi lãi suất cho khách hàng loại một, khách hàng loại hai có giảm lãi suất cho những món vay có giá trị lớn. Tuy nhiên, chính sách lãi suất của Ngân hàng vẫn còn những điều chưa linh hoạt. Vì thế Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nên mở rộng các mức lãi suất đa dạng theo thời gian và đối tượng khách hàng, mức độ sử dụng sản phẩm của Ngân hàng, có chính sách khuyến khích về lãi suất cho các khách hàng mới. Bên canh đó căn cứ vào tính chất, đặc điểm từng nghành nghề kinh doanh mà

    69

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có thể áp dụng các mức lãi suất khác nhau. Ví dụ như đối với các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu được nhà nước khuyến khích như thực phẩm, may mặc, giày dép. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có thể áp dụng một mức lãi suất khác, phù hợp hơn so với việc cho vay để sản xuất thông thường. Điều này không những tạo ra những điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt hơn mà còn giúp cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thiết lập, mở rộng quan hệ với khách hàng. Với một chính sách lãi suất phù hợp, linh hoạt chắc chắn Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ có càng nhiều khách hàng đến với mình.

    Thứ ba :Về phương thức cho vay vốn.

    Ngân hàng Ngoại thương Hà nội cần đa dạng hoá các phương thức cho vay, cho vay theo nhu cầu, gắn với đặc điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng. Với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chủ yếu áp dụng theo phương thức cho vay từng lần. Điều này trong một chừng mực nào đó có thể gây ra những thủ tục phiền hà cho cả khách hàng và cán bộ tín dụng. Giải pháp ở đây là Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nên cho vay theo hạn mức đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay trả thường xuyên, ổn định. Vấn đề đặt ra là hạn mức tín dụng đặt ra cho mỗi khách hàng là bao nhiêu? theo tôi, dựa vào tình hình SXKD và tài sản đảm bảo mà khách hàng và ngân hàng cùng thoả thuận một mức dư nợ tối đa trong thời hạn nhất định. Căn cứ vào mức dư nợ đó, khách hàng chỉ phải làm một lần các thủ tục cần thiết như hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh các hồ sơ pháp lý khác…những lần tiếp theo khách hàng chỉ cần làm giấy nhận nợ và giấy rút tiền. Như vậy cho vay theo hạn mức sẽ tiết kiệm được chi phí và thời gian cho khách hàng. Với Ngân hàng, Ngân hàng có thể biết được khách hàng đang gặp thuận lợi hay khó khăn gì để cùng khách hàng tháo gỡ. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng cần hướng tới đối tượng là dân cư. Nhu cầu vay vốn trong dân cư để phát triển sản xuất các hệ thống kinh doanh cá thể là rất lớn. ở các nước Âu, Mỹ và các nước công nghiệp mới nổi như Thái lan và Malayxia, cho vay tiêu dùng đặc biệt là vay trả góp chiếm tỷ trọng tương đối cao trong các ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần mở rộng

    70

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    dich vụ cho vay tiêu dùng, cho vay thông qua dịch vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nhằm mở rộng cho vay đối với cá thể.

    Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội là một trong số ít các Ngân hàng đạt được những thành quả trong lĩnh vực cho vay đồng tài trợ. Đây là hình thức cho vay giảm được nhiều rủi ro vì các Ngân hàng tham gia cho vay đều thẩm định rất kỹ.Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần phải tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được trong lĩnh vực đồng tài trợ.

    Thú tư :Về chính sách đảm bảo tiền vay.

    Thông thường từ trước đến nay, đối với thành phần kinh tế quốc doanh, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thường cho vay tín chấp đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản thế chấp. Theo tôi với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, Ngân hàng cũng có thể cho vay bằng tín chấp. Hình thức bảo đảm này sẽ được áp dụng cho những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, có tài sản cố định và tài sản lưu động, sản xuất kinh doanh các mặt hàng không rủi ro và ổn định trên thị trường có quan hệ tốt với Ngân hàng. Thời gian cho vay không nên quá dài và mức cho vay không nên vườt quá vốn lưu động thực tế của người vay. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng cần xem xét cho vay thông qua việc triết khấu, thương phiếu. Năm 2000 pháp lệnh thương phiếu ra đời thừa nhận việc mua bán chịu giữa các doanh nghiệp. Đó là có sở để thực hiện việc chiết khấu thương phiếu, nhưng trên thực tế thì Ngân hàng chưa áp dụng hình thức này mà mới áp dụng hinh thức cho vay có bảo đảm bằng chứng từ. Nguyên nhân của việc này thì có nhiều trong đó chủ yếu là có rất ít các doanh nghiệp Việt nam sử dụng thương phiếu.

    3.3.2. Về quy trình tín dụng.

    Để hạn chế tối đa các yếu tố chủ quan và các biểu hiện tiêu cực trong việc thẩm định xét duyệt cho vay, đảm bảo tính khách quan, kịp thời phát hiện các khách hàng kém hiệu quả, dự án kém khả thi. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần cải tiến và đổi mới quy trình xét duyệt thẩm định và cho vay, kiểm tra giám sát tình hình luân chuyển vốn vay.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Theo quy trình tín dụng, hồ sơ cho vay trước khi trình lãnh đạo ký duyệt cần phải được kiểm tra, xem xét toàn diện, chính xác và khách quan từ khâu lập hồ sơ, phân tích năng lực điều hành quản lý của chủ doanh nghiệp, tính khả thi của dự án, giá trị tài sản thế chấp, biện pháp thu hồi nợ. Do vậy nếu để cho một cán bộ tín dụng đảm nhiệm tất cả các khâu như hiện nay thì không tránh khỏi những sai sót do trình độ nghiệp vụ, yếu tố chủ quan kinh nghiệm của mỗi cán bộ tín dụng là khác nhau. Vì vậy, phòng tín dụng nên chia ra hai bộ phận.

    Bộ phận một :Bộ phận quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm thủ tục và điều kiện vay vốn, tiếp nhận các hồ sơ vay vốn của khách hàng, phân loại hồ sơ để xem xét và đánh giá. Bộ phận này chuyên quản lý doanh nghiệp, thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, tài sản thế chấp, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, những thuận lợi, khó khăn để từ đó đề xuất ý kiến, biện pháp giải quyết đối với từng phương án vay vốn. Bộ phận này thường xuyên xuống nơi làm việc để nắm rõ tình hình thực tế về báo cáo cho lãnh đạo và bộ phận thẩm định để theo dõi và chỉ đạo.

    Bộ phận hai :Bộ phận thẩm định tín dụng hoạt động độc lập với bộ phận trên. Bộ phận này chủ yếu làm việc tại Ngân hàng, có nhiệm vụ phân tích xem xét dự án vay vốn về mọi mặt, phân tích khả năng trả nợ của khách hàng. Bộ phận này có thể xuống doanh nghiệp nắm tình hình thực tế và kiểm tra tài sản thế chấp cầm cố khi thẩm định dự án, căn cứ vào ý kiến đề xuất của bộ phận quản lý doanh nghiệp để đưa ra các phương án xử lý các vụ việc liên quan đến vốn vay. Trong bộ phận này Ngân hàng nên tuyển thêm một số cán bộ hiểu sâu về một số lĩnh vực cụ thể như điện, máy móc, thiết bị giao thông. ..để giúp cho công tác thẩm định đánh giá về các yếu tố kỹ thuật được đúng đắn và chính xác, nhanh chóng.

    Hai bộ phận này cần có sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng vì nếu như một công đoạn nào đó thực hiện không đúng quy định sẽ ảnh hưởng đến công đoạn sau và kết quả của toàn bộ công việc.

    Trong quy trình tín dụng, Ngân Hàng Ngoại thương Hà Nội cần tập trung vào bước thẩm định dự án và kiểm soát vốn sau khi vay

    72

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    3.3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định

    Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định có tính chất quyết định tới hiệu quả cho vay sau này vì kết thúc khâu thẩm định sẽ đa ra kết quả là có chấp nhận cho khách hàng vay hay không. Thẩm định gồm hai bước cơ bản là thu thập thông tin và xử lý thông tin

    Thứ nhất: Thu thập thông tin

    Việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như phỏng vấn người xin vay, sổ sách của ngân hàng, các nguồn thu thập từ các doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, các nguồn thông tin từ dịch vụ, các cơ quan cung ứng thông tin và từ các nguồn khác… Hiện nay có nhiều nguồn thông tin với độ chính xác lẫn lộn nhau. Vì vậy, ngân hàng chọn lựa thông tin nào là chính xác là rất khó. Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội chủ yếu thu thập thông tin từ phía khách hàng thông qua phỏng vấn trực tiếp, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh và cũng có trường hợp ngân hàng cử cán bộ tới tận nơi sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên nếu chỉ thu thập nguồn tin từ phía khách hàng thì không có độ tin cậy cao vì chúng ta biết rằng khách hàng luôn muốn vay Ngân hàng một cách nhanh chóng nên thường xuyên xảy ra hiện tượng thiếu trung thực khi đưa ra những thông tin về mình. Vì vậy, ngân hàng cần mở rộng phạm

    • thu thập những nguồn thông tin khác nhưng phải biết chọn lọc để tránh hiện tượng “ loãng thông tin”. Ngân hàng cần chú ý tới những nguồn sau:
      • Cần chú trọng tới việc cử cán bộ có kiến thức nghiệp vụ Ngân hàng và có kiến thức chuyên môn của ngành nghề lĩnh vực mà khách hàng đang kinh doanh, đến tận địa bàn sản xuất của doanh nghiệp. Kết hợp với những thông

    tin do khách hàng cung cấp như báo cáo tài chính tình hình sản xuất kinh doanh.

    • Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi những thông tin được cung cấp

    từ hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng nhà nước Việt Nam, của ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Hệ thống thông tin này được đánh giá là đáng tin cậy vì do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, hệ thống này mới được thành lập nên chưa hoàn thiện và đầy đủ cả về số lượng và chất lượng. Thông tin thu

    73

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    được từ nguồn này mới chỉ có về tình hình dư nợ và nợ quá hạn phải thanh toán của doanh nghiệp tại các ngân hàng ngoại thương, các thông tin về thị trường, về kinh tế, xã hội… đều không có. Bên cạnh đó, các Ngân hàng còn chưa thực sự tuân thủ chặt chẽ yêu cầu cung cấp thông tin.

    • Ngân hàng cần có bộ phận riêng quản lý các hồ sơ giấy tờ của khách

    hàng kể cả với những khách hàng tạm thời không có quan hệ tín dụng với Ngân hàng. Đây cũng sẽ là nguồn thông tin quan trọng trong nhiều trường hợp cần thiết.

    • Chú trọng nguồn thông tin đại chúng vì đây là nguồn thông tin khách

    quan nhất. Mặt khác, Ngân hàng cần có sự hợp tác và trao đổi thường xuyên với những tổ chức tín dụng khác, các cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương và giữ tốt mối quan hệ với khách hàng vì đôi khi họ có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin quý báu.

    Để có thể thu thập các thông tin, tôi xin đề xuất một số phương pháp thu thập thông tin sau:

    – Phương pháp thu tin qua mạng máy tính nối với các tổ chức tín dụng

    khác.

    • Phương pháp thu tin từ các biểu báo cáo ( áp dụng với các tổ chức tín

    dụng chưa có máy tính hoặc chưa có điều kiện nối mạng máy tính. ở Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội đã có các máy tính nối mạng nhưng ở các phòng giao dịch hệ thống máy tính chưa được nối mạng nên tại phòng giao dịch nên áp dụng biện pháp này).

    • Thu tin qua đường công văn từ các cơ quan quản lý của nhà nước hoặc

    chính quyền địa phương thuộc địa bàn hoạt động của Ngân hàng.

    • Phương pháp thu tin trực tiếp từ doanh nghiệp, gặp gỡ trực tiếp để

    phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp hoặc gián tiếp qua điện thoại, fax, tìm hiểu trực tiếp tại địa điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để chuyển đến doanh nghiệp gửi về Ngân hàng các thông tin dưới dạng văn bản.

    • Thu thập thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân

    hàng nhà nước, phòng thông tin tín dụng của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam: đây là đầu mối thu thập các thông tin tín dụng liên quan đến khách hàng của các Ngân Hàng Thương Mại.

    74

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Phương pháp thu thập thông tin từ các cơ quan thông tin báo chí, đây là phương pháp đơn giản nhưng rất hữu hiệu, thông tin có nguồn gốc xác thực, đa dạng, phong phú.
    • Phương pháp thu thập thông tin qua các mạng thông tin điện tử như

    mạng Internet, Vinanet, mạng trí tuệ Việt Nam của FPT, tin tueter…

    Như vậy, công việc thu thập thông tin rất phức tạp, vì vậy, Ngân hàng nên thiết lập một bộ phận thông tin tín dụng cho riêng mình. Điều này không chỉ làm tốt cho khâu thẩm định mà giúp ích cho cả quá trình cho vay của Ngân hàng, trong việc hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả công tác cho vay.

    Thứ hai: Phân tích thông tin tín dụng

    Khi có được các thông tin cần thiết thì việc lựa chọn khách hàng là rất quan trọng. Lâu nay trong thực tế thường chỉ có khách hàng lựa chọn Ngân hàng, Ngân hàng thực hiện tín dụng đối với hầu hết các khách hàng đến với mình. Thực ra ở đây phải là quan hệ hai chiều: Khách hàng lựa chọn Ngân hàng và Ngân hàng lựa chọn khách hàng. Điều này rất quan trọng vì nó hạn chế rủi ro cho Ngân hàng, đảm bảo vốn cho vay ra thu hồi đầy đủ, đúng hạn và có lãi, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Khi lựa chọn khách hàng, Ngân hàng cần chú ý chọn khách hàng có hoạt động kinh doanh có hiệu quả, làm ăn có uy tín và sẵn lòng trả nợ đúng hạn. Ngân hàng có thể xem xét quan hệ kinh doanh của khách hàng với các tổ chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh gía mức độ, uy tín của khách hàng.

    Việc lựa chọn khách hàng phải được thực hiện một cách chủ động (nghĩa là nếu biết đơn vị kinh tế nào làm ăn có hiệu quả và có uy tín thì Ngân hàng có thể chủ động đến đặt quan hệ tín dụng với đơn vị đó). Ngân hàng không nên ở thế bị động, ngồi chờ khách hàng đến gõ cửa xin vay, khi đó Ngân hàng mới xem xét có cho khách hàng vay hay không. Việc lựa chọn khách hàng phải áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, tránh tình trạng đối với thành phần kinh tế quốc doanh, Ngân hàng cứ cho vay mà không xem xét đơn vị đó kinh doanh có hiệu quả hay không.

    Để việc lựa chọn khách hàng được khoa học, Ngân hàng nên tiến hành phân tích và xếp loại các doanh nghiệp theo bốn nhóm tiêu thức: quy mô

    75

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    doanh nghiệp, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể:

    Quy mô doanh nghiệp được phân thành ba loại: doanh nghiệp quy mô lớn, vừa và nhỏ. Dựa trên các tiêu thức mức vốn điều lệ, số nhân viên, doanh số hoạt động.

    Đánh giá khả năng thanh toán phân thành ba loại: doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, trung bình và kém. Dựa trên cơ sở tính toán, phân tích khả năng tài chính doanh nghiệp, báo cáo ngân quỹ.

    Đánh giá về quan hệ tín dụng của doanh nghiệp đợc phân thành năm loại: A, B, C, D, O trong đó bốn loại: A, B, C, D đợc xếp loại khoản vay tương ứng nhóm A có dư nợ tốt (khoản vay trong hạn có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, các khoản vay đã gia hạn nợ có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn); nhóm B có dư nợ có vấn đề gồm các khoản nợ quá hạn<= 180 ngày; nhóm C là nhóm dư nợ tồi gồm các khoản nợ quá hạn trong 181- 359 ngày; nhóm D là nhóm dư nợ rất tồi, các khoản nợ quá hạn > 360 ngày; nhóm O là doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng.

    Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh được phân thành hai loại: doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận, dựa trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ để đánh giá.

    Ngoài ra, Ngân hàng có thể tiến hành xếp loại người lãnh đạo quản lý, điều hành doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng tại các tổ chức tín dụng. Việc xếp loại này dựa trên tiêu thức kỹ năng và kinh nghiệm của các nhà quản lý.

    Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định cần có sự phối hợp giữa các chuyên gia, những cán bộ tư vấn về các lĩnh vực như giá cả, kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản phẩm…

    3.3.2.2. Nâng cao hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng

    Nâng cao vai trò của công tác thanh tra, kiểm soát là công việc rất quan trọng để đảm bảo chất lượng cho vay. Do đó, khi Ngân hàng mở rộng đầu tư

    76

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    tín dụng để nâng cao chất lượng tín dụng thì vai trò của công tác thanh tra, kiểm soát phải được nâng lên ở mức tương xứng.

    Thông qua quá trình kiểm tra, giám sát vốn cho vay, Ngân hàng phải thường xuyên đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng. Nếu phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm… thì Ngân hàng phải thực hiện xử lý theo quyền và nghĩa vụ của mình theo quyết định của pháp luật. Điều này là rất cần thiết bởi vì trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng còn có thể qua nhiều thời gian mới bộc lộ những khuyết điểm nhất định. Vì thế phải giám sát khách hàng vay vốn theo dõi kịp thời khả năng rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp đối phó thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

    Trong thực tế, việc giám sát vốn vay của khách hàng lại tuỳ thuộc vào khả năng, trình độ và từng điều kiện cụ thể của cán bộ tín dụng. Nhất là trong điều kiện hiện nay báo cáo số liệu của các khách hàng ngoài quốc doanh thường có độ tin cậy thấp ngoài vòng kiểm soát của cơ chế hiện hành thì việc giải quyết khoa học thông tin sai sự thật một cách hữu hiệu là một vấn đề còn nhiều lúng túng. Có chăng đây chỉ một biện pháp tình thế. Bởi vì, hiện nay ta chưa có biện pháp tích cực buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng luật kế toán- thống kê và thức hiện kiểm toán bắt buộc hàng năm đối với tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy phải tăng cường hiệu quả của giám sát vốn vay trong hoạt động của Ngân hàng với yêu cầu phải có chương trình giám sát riêng, cán bộ của bộ phận này phải có năng lực về đánh giá hoạt động tín dụng ở cả hai phía khách hàng và Ngân hàng. Những người làm công tác này không liên quan đến hoạt động cho vay, thu nợ. Nhiệm vụ của bộ phận này là đánh giá tình hình hoạt động tín dụng nói chung, chất lượng tín dụng nói riêng để kiến nghị với các cấp lãnh đạo các biện pháp nhằm thiết lập hệ thống phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mình.

    Ngoài ra, Ngân hàng cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát nội bộ Ngân hàng nhằm thanh lọc những cán bộ tín dụng mất phẩm chất, tiêu cực, gây thất thoát tài sản và làm mất uy tín của Ngân hàng.

    77

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    3.3.3. Chứng khoán hoá các khoản nợ

    Để hạn chế rủi ro do biến động về tỷ giá, tăng gánh nặng trả nợ cho khách hàng, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nên khuyến khích các doanh nghiệp tham gia các giao dịch về ngoại tệ khi vay vốn. Khách hàng có thể tham gia các giao dịch kỳ hạn, giao dịch trên thị trường tương lai, giao dịch trên thị trường quyền chọn.

    Khi tham gia các giao dịch về ngoại tệ, doanh nghiệp hạn chế, xác định trước được mức lỗ tối đa của doanh nghiệp khi có biến động về tỷ giá. Trong trường hợp dự đoán chính xác, doanh nghiệp có thể thu lời từ hoạt động này.

    Để khuyến khích khách hàng tham gia vào các giao dịch về ngoại tệ, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nên chủ động giới thiệu chi tiết, rõ ràng cho khách hàng về cách thức, nội dung, bản chất của giao dịch đồng thời tham gia mạnh mẽ vào thị trường tài chính quốc tế.

    3.3.4. Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên, có định hướng phát triển nguồn nhân lực

    Con người luôn là nhân tố có tính chất quyết định trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và trong hoạt động cho vay nói riêng. Toàn bộ những quyết định cho vay, tiến trình thực hiện cho vay, thu hồi nợ không có máy móc hay một công cụ nào khác ngoài cán bộ tín dụng đảm nhiệm. Vì vậy, kết quả cho vay phụ thuộc rất lớn vào trình độ nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội là Ngân hàng có đại đa số đội ngũ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, tại chức và trên đại học đã được đào tạo về chuyên môn Ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế do tính chất phức tạp của nền kinh tế thị trường, sự phức tạp và đầy khó khăn trong công tác cho vay thì với đội ngũ cán bộ như hiện nay chưa thể đáp ứng kịp thời. Thực tế đòi hỏi cán bộ tín dụng luôn phải học hỏi, trau dồi kiến thức nghiệp vụ và cả những kiến thức tổng hợp khác một cách thường xuyên. Do đó để nâng cao chất lượng tín dụng, Ngân hàng cũng nên đề ra chính sách phát triển nguồn nhân lực và chăm lo việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ với một số biện pháp như:

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Chuyên môn hoá cán bộ tín dụng: Mỗi cán bộ tín dụng sẽ được giao

    phụ trách một nhóm khách hàng nhất định, có những đặc điểm chung về ngành nghề kinh doanh hoặc loại hình doanh nghiệp. Việc phân nhóm tuỳ theo năng lực, sở trường, kinh nghiệm của từng cán bộ tín dụng. Qua đó, cán bộ tín dụng có thể hiểu biết khách hàng một cách sâu sắc, tập trung vào một công việc của mình và giảm chi phí trong điều tra, tìm hiểu khách hàng, giảm sai sót trong quá trình thẩm định, góp phần nâng cao chất lợng tín dụng.

    • Đào tạo các kỹ năng: Ngân hàng cần đào tạo cán bộ tín dụng theo các

    kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kĩ năng điều tra, kĩ năng phân tích, kĩ năng viết, kĩ năng đàm phán…

    • Có cơ chế khen thưởng, đãi ngộ hợp lý đối với các cán bộ tín dụng, thưởng phạt nghiêm minh: những cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm,

    làm thất thoát vốn, vi phạm cơ chế cần được xử lý nghiêm khắc, đặc biệt đối với những cán bộ tín dụng có hành vi tiêu cực làm ảnh hởng đến lợi ích của Ngân hàng. Tuỳ theo mức độ có thể áp dụng các hình thức xử lý, kỷ luật như: chuyển công tác khác, tạm đình chỉ, sa thải…Ngoài việc nâng cao trách nhiệm của cán bộ Ngân hàng phải có chế độ khen thưởng đối với những cán bộ có thành tích xuất sắc trong hoạt động tín dụng. Đây là việc làm quan trọng nhằm giải quyết tình trạng cán bộ tín dụng “ ngại” cho vay. Do yếu tố tâm lý cán bộ tín dụng cho rằng nếu cho vay thu nợ hàng trăm tỷ cũng không được khen tặng, tăng lương nhưng chỉ cần một phát sinh quá hạn là bị chỉ trích, xử lý và bị coi là yếu kém

    3.4. KIẾN NGHỊ

    3.4.1. Kiến nghị đối với Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

    • Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên dành cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng như các chi nhánh của mình nhiều quyền quyết định hơn nhằm nâng cao tính tự chủ của các chi nhánh.

    Hiện nay, cơ chế hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là hạch toán phụ thuộc, điều này đã làm đã làm giảm tính tự chủ trong hoạt động của các đơn vị thành viên. Cụ thể, về địa bàn hoạt động của các chi nhánh, chi nhánh chỉ được quyền cho vay đối với các đơn vị sản xuất

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    kinh doanh trên địa bàn, nếu muốn cho vay với các doanh nghiệp khác địc bàn thì phải được sự đồng ý của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và phải kết hợp với Ngân hàng ngoại thương trên địa bàn đó. Như vậy, tính cạnh tranh ngay trong hệ thống Ngân hàng ngoại thương đã không có, các chi nhánh không nỗ lực tìm kiếm khách hàng. Mặt khác, do nhu cầu của các doanh nghiệp, trụ sở chính là ở một nơi nhưng văn phòng đại diện, chi nhánh thì có ở rất nhiều nơi, theo đó khách hàng của doanh nghiệp cũng ở rất nhiều nơi. Nhu cầu đặt quan hệ với nhiều Ngân hàng của một doanh nghiệp là rất lớn. Nếu theo cơ chế hiện nay thì nhu cầu của doanh nghiệp không được đáp ứng. Chính vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên cho phép chi nhánh mở rộng địa bàn hoạt động của mình.

    Về hạn mức tín dụng tối đa của một khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho phép Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cấp tín dụng tối đa cho một khách hàng là 80 tỷ VNĐ. Khi có một khách hàng có tổng nhu cầu vay lớn hơn 80 tỷ thì Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ không mặn mà khi cho vay vì thủ tục rất phiền hà. Trong khi ở Hà Nội, các khu chế xuất, khu trang trại đang trên đà phát triển nên nhu cầu vay vồn Ngân hàng là rất nhiều. Vì vậy, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam nên xem xét tăng hạn mức tín dụng đối với một khách hàng cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    Tóm lại, cơ chế hạch toán phụ thuộc làm cho các chi nhánh không có nhiều động lực trong hoạt động của mình vì lỗ hay lãi đều chuyển lên trên. Xu hướng hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên chuyển sang hoạt động theo cơ chế tập đoàn, không can thiệp quá sâu vào hoạt động của các chi nhánh mà chỉ nên tham gia góp vốn.

    • Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam nên tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề tín dụng để cho các cán bộ tín dụng của các chi nhánh có điều kiện trao đổi kinh nghiệm công tác và nâng cao trình độ của mình.
    • Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam nên nghiên cứu tạo ra hành lang

    pháp lý để bảo vệ cán bộ tín dụng.

    80

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam nên tiếp tục phát huy việc sử

    dụng mạng vi tính để thu nhận số liệu báo cáo, hạn chế làm báo cáo bằng tay để cán bộ tín dụng tập trung thời gian vào chuyên môn hơn.

    • Triển khai kịp thời, hướng dẫn cụ thể các văn bản, quyết định của Ngân hàng Nhà nước.
    • Để phục vụ khách hàng vay vốn một cách thuận lợi, nhanh chóng, đề

    nghị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho phép bỏ những thủ tục giấy tờ không cần thiết. Hiện nay, đã có rất nhiều khách hàng là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ sản xuất kinh doanh phàn nàn rằng để vay vốn của Ngân hàng thì cần phải có quá nhiều điều kiện liên quan đến nhiều loại giấy tờ không cần thiết và tốn rất nhiều thời gian.

    • Đặc biệt đối với chiết khấu giấy tờ có giá Ngân hàng Ngoại thương

    Việt Nam phải có hướng dẫn cụ thể với thủ tục gọn nhẹ, giải quyết cho vay nhanh chóng để thu hút được khách hàng.

    • Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để tổ chức có hiệu quả chương trình thông tin tín dụng, nâng cao chất lượng và mở rộng phạm vi

    thông tin, giúp các chi nhánh phòng ngừa rủi ro một cách tốt nhất.

    • Tăng cường hoạt động thanh tra kiểm soát nội bộ trong toàn hệ thống

    nhằm chấn chỉnh các hoạt động của chi nhánh và đội ngũ nhân sự.

    3.4.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

    Thứ nhất: Cần nâng cao chất lượng công tác thông tin tín dụng

    Ngân hàng thương mại khi cho bất cứ một khách hàng nào vay thì đều cần phải có thông tin về khách hàng đó để có quyết định cho vay đúng đắn. Hoạt động tín dụng muốn đạt hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ công tác này. Nhận thức rõ vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh Ngân hàng, ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã sớm cho chủ trương xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng mà sau này đã trở thành hệ thống thông tin tín dụng (gọi tắt là CIC) của Ngân hàng.

    Hệ thống CIC đã phần nào cải thiện tình trạng thiếu thông tin tín dụng phục vụ công tác cho vay của các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Tuy nhiên, do mới được thành lập, còn đang trong giai đoạn củng cố và hoàn thành nên CIC vẫn còn phải đương đầu với nhiều khó khăn trong việc thu thập và xử lý thông tin. Việc thu thập và cập nhật các thông tin biến động của CIC thực hiện vẫn chưa có hiệu quả. Các số liệu cập nhật không kịp thời, độ tin cậy thấp đã khiến cho Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng thường ít sử dụng tài liệu do CIC cung cấp. Một trong số những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là: thông tin của CIC phần lớn là do các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng cung cấp. Thông tin này thường phản ánh sai lệch do các doanh nghiệp chưa thực hiện đúng và đầy đủ pháp lệnh về kế toán thống kê, việc cung cấp thông tin không kịp thời làm cho các thông tin thường bị lạc hậu so với thời điểm cung cấp. Về phía các tổ chức tín dụng, chưa tuân thủ đúng các quy định về cung cấp thông tin, xác nhận dư nợ của khách hàng, thiếu tinh thần hợp tác với nhau để cho vay một khách hàng mà có khi còn bí mật thông tin về khách hàng mà mình biết để đảm bảo quyền lợi cho mình.

    Chính vì vậy, đề nghị Ngân hàng Nhà nước cần sớm có giải pháp để hoạt động của trung tâm này phát huy hiệu quả. Cần bắt buộc các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tham gia vào hoạt động của hệ thống CIC, coi đó như một quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

    Thứ hai: Ngân hàng Nhà nước cần hoàn thiện các quy chế, quy định và môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng. Cụ thể:

    • Công ty mua bán nợ đã được thành lập song đến nay thì công ty này hoạt động không có hiệu quả, chưa thực hiện được nhiệm vụ xử lý nợ đóng băng của các Ngân hàng. Công ty mua bán nợ cần mua lại các khoản nợ khó đòi của các Ngân hàng thương mại sau đó tiến hành phân loại trên cơ sở cơ cấu

    lại để nâng cao giá trị đem bán cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các công ty này là một bộ phận trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nên hoạt động có tính chất như một doanh nghiệp nhà nước.

    • Ngân hàng Nhà nước cần đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng về

    việc trích lập quỹ dự phòng ruỉ ro, các mức trích lập cũng như danh mục nội dung cần trích lập để các tổ chức tín dụng chủ động trong vấn đề giải quyết các khoản nợ có vấn đề của mình.

    82

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Có những vướng mắc trong việc thực hiện quy định của pháp luật như

    luật các tổ chức tín dụng, điều 52, khoản 2 có nói rõ là các tổ chức tín dụng có quyền bán tài sản cầm cố thế chấp để thu hồi nợ hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện trách nhiệm hoặc có quyền khởi kiện nếu khách hàng không trả nợ được. Nhưng theo nghị định 86/ CP thì Ngân hàng không có quyền bán đấu giá tài sản cầm cố thế chấp

    Thứ ba: Thành lập công ty bảo hiểm tín dụng

    • Khi doanh nghiệp gặp rủi ro dẫn đến tình trạng không có khả năng

    thanh toán với Ngân hàng, tuỳ theo tính chất của từng loại rủi ro và tình hình tài chính của doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại có thể sử dụng các biện pháp như: trích chuyển tài khoản tiền gửi của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại, gia hạn các khoản tín dụng, bán tài sản thế chấp, khoanh nợ và cuối cùng là bù đắp bằng quỹ rủi ro. Quỹ rủi ro không phải bao giờ cũng là cái phao cứu sinh của các Ngân hàng, bởi quỹ này có những hạn chế nhất định:

    • Quy mô của quỹ nhỏ (chỉ được trích 10% lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng thương mại cho tới khi bằng vốn điều lệ) cho nên không có khả năng bù đắp khi có rủi ro lớn.
    • Quỹ này hình thành từ lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại nên không phát huy được tính tương trợ giữa các Ngân hàng thương mại trong

    cùng hệ thống.

    • Bên cạnh việc hình thành quỹ bù đắp rủi ro là tất yếu, để khắc phục

    hạn chế của quỹ này, các Ngân hàng thương mại có thể tham gia bảo hiểm với các khoản cấp tín dụng, bảo hiểm tín dụng có ưu điểm rất lớn như sau:

    • Bảo hiểm tín dụng có nghĩa vụ bồi thường cho Ngân hàng thương

    mại khi có rủi ro xảy ra theo luật định, ngoài ra bảo hiểm tín dụng còn có nghĩa vụ phối hợp với các ngành hữu quan tổ chức các biện pháp đề phòng, ngăn chặn, hạn chế các tổn thất xảy ra đảm bảo an toàn cho các công ty bảo hiểm cũng như an toàn cho các Ngân hàng thương mại.

    • Bảo hiểm tín dụng thu hút được nhiều khách hàng tham gia bảo

    hiểm nên có khả năng thanh toán nhanh, kịp thời bù đắp khi có tổn thất lớn đồng thời phát huy được tính cộng đồng, tính tương trợ giữa các Ngân hàng.

    83

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    – Trên thế giới hiện nay tồn tại hai hình thức của công ty bảo hiểm tín

    dụng:

    • Một là thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc ngành Ngân hàng. Việc thành lập công ty bảo hiểm tương tự như đối với các doanh nghiệp, vốn

    tự có do ngân sách nhà nước cấp hoặc do các cổ đông đóng góp ( phần lớn là các Ngân hàng thương mại). Hoạt động của công ty này chỉ kinh doanh trên lĩnh vực bảo hiểm đối với hoạt động của ngân hàng, cả tiền gửi và tiền cho vay.

    • Hai là các công ty bảo hiểm tín dụng độc lập.

    Phương thức thứ nhất phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay. Theo hướng đó, công ty bảo hiểm này hoạt động dưới sự điều tiết can thiệp của Ngân hàng nhà nước, các Ngân hàng thương mại đều tham gia nên phí rẻ hơn, góp phần đảm bảo an toàn trong kinh doanh của từng Ngân hàng thương mại cũng như an toàn trong hệ thống ngân hàng.

    3.4.3. Kiến nghị đối với Nhà nước

    • Chính phủ cần hoàn chỉnh đề án nghiên cứu cải tiến cách định giá tài sản đảm bảo bằng việc xem xét khung giá đối với quyền sử dụng đất sao cho

    phản ánh được giá cả thị trường và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách trong việc đánh giá bất động sản.

    • Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên cơ chế bảo lãnh một phần nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng thông

    qua việc gánh chịu một phần rủi ro tín dụng. Mục tiêu trọng tâm của quỹ này là bảo lãnh cho các doanh nghiệp có các dự án, phương án hiệu quả, nhưng không có đủ tài sản đảm bảo.

    • Sớm ban hành luật sở hữu tài sản để thống nhất các chuẩn mực về giấy

    tờ sở hữu tài sản của tất cả các thành phần kinh tế. Thông qua đó thúc đẩy việc chuyển quyền sở hữu tài sản nhanh chóng, dễ dàng, tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại trong việc nhận tài sản đảm bảo và phát mại tài sản đảm bảo.

    • Cải tiến công tác toà án, thi hành án, sớm chỉnh sửa pháp lệnh thi hành

    án để nâng cao hiệu lực pháp lý của các bản án đã có hiệu lực thi hành, rút ngắn thời gian tố tụng, thời gian thi hành án.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Phát triển thị trường chứng khoán hơn nữa cho tương xứng với vai trò của nó, tạo kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho Ngân hàng tham gia kinh doanh, tìm kiếm thông tin trên thị trường chứng khoán.

    LỜI CẢM ƠN

     

    Lời đầu tiên của chuyên đề này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo-tiến sĩ Trần Đăng Khâm- khoa Ngân hàng- Tài chính, trường Đại học Kinh tế quốc dân- Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.

    Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo ở khoa Ngân hàng- Tài chính, trường Đại học Kinh tế quốc dân- Hà Nội đã dạy dỗ đào tạo và giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường.

    Trong thời gian thực tập và hoàn thành bản chuyên đề này, em cũng nhận được những ý kiến góp ý, các tài liệu cần thiết và các thông tin sát thực về thực tiễn tác nghiệp của các cán bộ phòng tín dụng tổng hợp và thanh toán quốc tế- Ngân hàng thương mại Thành Công thuộc Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội. Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo nhiệt tình này.

    85

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2003

    Sinh viên lớp TCDN B- K41

    Lê Thị Hồng Vân

    86

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Kết luận

    Chất lượng tín dụng chưa và không bao giờ là vấn đề cũ đối với từng Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nói riêng. Nó luôn đòi hỏi phải được nâng cao trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng. Chuyên đề này đã hệ thống hoá các lý luận cơ bản về tín dụng, chất lượng tín dụng, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng. Từ nghiên cứu lý luận, đã soi rọi vào thực tiễn hoạt động của Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội, phân tích đánh giá chất lượng tín dụng để từ đó tìm ra nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Từ lý luận và thực tiễn, chuyên đề đã đưa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện hiện nay của Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nhằm nâng cao chất lợng tín dụng.

    Cho đến nay trong công tác tín dụng, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy rằng không phải là không còn hạn chế. Hy vọng rằng trong tương lai Ngân hàng sẽ vẫn duy trì và phát triển hơn nữa những thành quả đó, góp phần cấp vốn một cách có hiệu quả cho kinh tế Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

    87


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-tr%C3%AAn-truy%E1%BB%81n-h%C3%ACnh-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-tri%E1%BB%83n-v%E1%BB%8Dng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Khoá luận tốt nghiệp

    Lời cảm ơn

    Luận văn này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Văn Thoan, giảng viên bộ môn Marketing, trường ĐH Ngoại Thương. Cùng với kiến thức chuyên môn sâu rộng và sự yêu nghề, thầy đã giúp tôi có cơ hội tìm hiểu sâu sắc hơn những tri thức trong lĩnh vực Marketing nói chung, lĩnh vực quảng cáo nói riêng và kiên trì giúp tôi hoàn thành bài khoá luận này.

    Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị, tổ chức, các cá nhân: Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình, Đài Truyền hình Việt Nam – TVAd, phòng quảng cáo Đài truyền hình Hà nội, Công ty quảng cáo và thiết bị truyền hình, Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nelson Sofres, phòng tư liệu Bộ văn hóa thông tin, thư viện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thư viện Quốc gia,… đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu cũng như đưa ra những lời khuyên, góp ý cho luận văn được hoàn thành tốt đẹp.

    Hà nội, ngày 15/12/2003

    Sinh Viên

    Trần Xuân Thành

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Hiện nay, tất cả các công ty dù hay nhỏ đều phải để ý không chỉ đến sản xuất, cung ứng mà còn phải quan tâm đến khâu tiêu thụ sản phẩm, cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thương trường. Một trong những công cụ hiệu quả để thu hút, thuyết phục khách hàng, thúc đẩy hoạt động bán hàng là hoạt động quảng cáo. Đối với các doanh nghiệp, bên cạnh việc để ý đến các yếu tố như chất lượng, giá cả hay dịch vụ, họ còn quan tâm đến quảng cáo như một vũ khí sắc bén, lợi hại nhằm thu hẹp khả năng chiếm lĩnh và cuối cùng đánh bại các đối thủ cạnh tranh trên thị trường mà mình hoạt động.

    Mặc dù mới chỉ hơn một thập kỉ kể từ khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng ngành quảng cáo của Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình.Trong nhiều năm tới, do thị trường canh tranh vô cùng khốc liệt, cho nên hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam sẽ vẫn còn vươn mình mạnh mẽ. Tuy nhiên, do mới chỉ hình thành và phát triển trong hơn 10 năm qua, nên quan điểm và cách tiếp cận quảng cáo trên truyền hình còn chưa được hiểu và đánh giá một cách đúng mực, phương pháp và quá trình quảng cáo vẫn còn mang tính tự phát. Hoạt động quảng cáo trên truyền hình nước ta cho đến nay vẫn trong tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả và đôi khi còn gây tác hại cho người tiêu dùng. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để cải thiện tình hình và nâng cao hiệu quả hoạt động quảng cáo để từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như tạo lợi ích cho người tiêu dùng cũng như cho toàn xã hội.

    Bài khoá luận của tôi có tựa đề “ Quảng cáo trên truyền hình ở Việt

    Nam: Thực trạng và triển vọng “ được kết cấu thành 3 chương :

    Chương 1: Lý luận chung về quảng cáo và quảng cáo trên truyền hình

    Chương 2: Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam

    Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Khoá luận tốt nghiệp

     

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO VÀ QUẢNG CÁO

    TRÊN TRUYỀN HÌNH

    1. QUẢNG CÁO

    1.1. Khái niệm về quảng cáo

    Trên thế giới hiện nay, quảng cáo đã trở thành một phần không thể tách rời cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Nó xuất hiện khắp nơi, gõ cửa đến các góc cạnh của cuộc sống đời thường. Mặc dù được áp dụng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, nhưng hiên nay vẫn chưa có một định nghĩa nào mang tính chất khái quát nhất, chung nhất về một nghiệp vụ vốn mang trong mình những nội hàm đầy phức tạp và tinh vi như nghiệp vụ quảng cáo. Do vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau, ở mỗi hiệp hội khác nhau, trong mỗi nền kinh tế khác nhau, khái niệm về quảng cáo lại được trình bày và được hiểu theo những cách khác.

    (i). Ở những nước phát triển, đặc biệt là ở Hoa Kì, quảng cáo đã trở thành một ngành công nghiệp: Ngành công nghiệp quảng cáo. Theo hiệp hội quảng cáo Mĩ (American Advertising Association), một hiệp hội quảng cáo lâu đời và uy tín nhất trên thế giới, “ Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”.

    (ii). Philip Kotler, một trong những cây đại thụ trong ngành Marketing nói chung và ngành quảng cáo nói riêng trên thế giới lại đưa ra cho mình những khái niệm khác nhau về quảng cáo. Trong cuốn sách “Marketing căn bản”, năm 1998, nhà xuất bản thống kê, trang 376, ông định nghĩa: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí.

    Khoá luận tốt nghiệp

    (iii). Tuy nhiên, trong giáo trình “Quản trị Marketing” (Marketing Management ), chương 20, trang 678, của mình, Philip Kotler lại đưa ra một khái niêm khác về quảng cáo: “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được người bảo trợ nhất điinh trả tiền.

    (iv). Một cách đơn giản hơn, theo giáo trình nguyên lý Marketing của trường Đại học Ngoại Thương, trang 108 “Quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ dẫn đến hành động mua những sản phẩm dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và để xuất.”

    Ngay ở Việt Nam, một quốc gia mới bước vào nền kinh tế thị trường từ cuối những năm 80, với ngành công nghiệp quảng cáo đang dần được hình thành, cũng đã có rất nhiều những khái niệm khác nhau về hoạt động quảng cáo.

    (v). Theo pháp lệnh về quảng cáo số 39/ 2001 PL- UBTVQH10 ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, quy định: “ Hoạt động quảng cáo bao gồm việc giới thiệu và thông báo rộng rãi về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, biểu tượng theo nhu cầu hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”.

    (vi). Hay trong giáo trình “Nghiệp vụ quảng cáo và tiếp thị”,( do Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật phát hành năm 1994, trang 7) Quảng cáo được định nghĩa như sau: “ Quảng cáo là dịch vụ kinh doanh thông tin mang tính phi cá nhân về sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hay ý tưởng do bên thuê mua thông báo qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thuyết phục hay ảnh hưởng tới hành vi của một số đối tượng nào đó”.

    Các khái niệm về quảng cáo nêu trên tuy có một số điểm khác nhau về ngôn ngữ cũng như cách thế hiện, song nhìn chung vẫn toát nên được những đặc tính cơ bản của quảng cáo. Những đặc tính đó là: Quảng cáo là một thông điệp được đáp lại, quảng cáo thường đưa ra thông tin trên các thông tin đại chúng, quảng cáo nhằm mục đích thông báo thuyết phục mọi người về một

    Khoá luận tốt nghiệp

    sản phẩm hay dịch vụ để họ quan tâm, tin tưởng rồi tiến tới mua sản phẩm hay dịch vụ đó.

    Tựu chung, trong một thế giới kinh doanh canh tranh khốc liệt, Quảng cáo đã, đang và sẽ vẫn là một trong năm vũ khí đắc lực chủ yếu của hoạt động yểm trợ trong hoạt động Marketing hỗn hợp (Quảng cáo, bán hàng cá nhân, hội chợ triển lãm, quan hệ công chúng và xúc tiến bán hàng) mà hầu hết các công ty sử dụng để truyền bá, thuyết phục và sau cùng là bán được hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng. Nói chung, kết quả cuối cùng của hoạt động quảng cáo là tăng lượng bán, tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận cho người cung ứng hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng, là sự chủ động của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hoá và dich vụ, là tối thiểu hoá thời gian thu thập, tìm kiếm thông tin về các hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng cần.

    1.2. Chức năng của quảng cáo

    Quảng cáo không phải là mục đích sau cùng mà chỉ là một phương tiện, một công cụ giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu mình. Nói chung, tuỳ thuộc vào mục tiêu chiến lược marketing của doanh nghiệp mà hoạt động quảng cáo có những chức năng sau.

    1.2.1. Đặc trưng hoá sản phẩm

    Trong một môi trường canh tranh gay gắt, các doanh nghiệp luôn luôn cố gắng làm cho sản phẩm của mình có những tính năng khác so với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh thông qua hoạt động quảng cáo. Bên cạnh đó, Hoạt động quảng cáo không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý, sự thích thú của khách hàng hiện tại cũng như các khách hàng tiềm năng đối với các sản phẩm đã được đặc trưng hoá mà còn nâng cao hơn nữa uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp. Đặc trưng hoá sản phẩm dẫn đến đặc trương hoá nhãn hiệu, tên tuổi của doanh nghiệp trên thương trường là một trong những chức năng cơ bản nhất của hoạt động quảng cáo. Nó giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được lòng

    Khoá luận tốt nghiệp

    tin từ phía khách hàng, thực hiện được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá doanh thu bán hàng, đồng thời đạt được mức lợi nhuận cao nhất.

    1.2.2. Cung cấp thông tin về sản phẩm

    Hoạt động quảng cáo là công cụ hiệu quả nhất mà các doanh nghiệp sử dụng để thực hiện chức năng thông tin sản phẩm. Đối với một sản phẩm mới, việc cung cấp các thông tin chính xác về sản phẩm là vô cùng cần thiết. Mặt khác, không một công cụ yểm trợ, xúc tiến hỗ trợ kinh doanh nào lại tác động cùng một lúc đến đông đảo khách hàng với đạt hiêu quả lan truyền nhanh như ở hoạt động quảng cáo. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền các thông tin về sản phẩm thông qua hoạt động quảng cáo còn có tác dụng lôi kéo một lượng lớn cách khách hàng tiềm năng chưa sử dụng sản phẩm hay các khách hàng đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp. Mới đây, công ty Yamaha có tiến hành một loạt các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu với khách hàng về mẫu sản phẩm mới có nhãn hiệu là MIO.

    1.2.3. Hướng dẫn sử dụng sản phẩm

    Đối với một số sản phẩm có tính năng sử dụng tương đối phức tạp hoặc cần phải có một số những hiểu biết nhất định mới có thể sử dụng được như máy móc, mỹ phẩm. .. thì hoạt động quảng cáo là phương tiện tốt nhất để tiếp cận với một lượng lớn khán giả trong một thời gian ngắn. Hoạt động quảng cáo thực hiện chức năng hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm thực chất là nhằm tạo cho khách hàng cảm thấy an tâm hơn khi mua sản phẩm của công ty. Và đây cũng là con bài để nâng cao uy tín hình ảnh của công ty trước mắt người tiêu dùng.Chẳng hạn như các chương trình quảng về dược phẩm thường nêu ra một số hướng dẫn cũng như cấm chỉ định đối với một số trường hợp như “ không cho trẻ em dưới 2 tuổi và phụ nữ mang thai sử dụng” hay “ không sử dụng khi lái xe”…

    5

    Khoá luận tốt nghiệp

    1.2.4. Mở rộng mạng lưới phân phối

    Mục đích của các hoạt động và xúc tiến kinh doanh là nhằm đẩy nhanh lượng bán và mở rộng hơn nữa mạng lưới bán hàng, tăng thị phần của mình trên thị trường. Bằng việc thực hiện các chương trình quảng cáo, doanh thu từ việc bán hàng sẽ tăng lên thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng hơn nữa số lượng các nhà phân phối, các đại lý, các nhà bán buôn, bán lẻ để đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Ví dụ, công ty bia Sài Giòn tiến hánh khá nhiều chương trình quảng bá sản phẩm bia của mình trên truyền hình trên cả nước, nhằm lấy đà mở rộng mạng lưới bán hàng ra các tỉnh phía bắc.

    1.3. Các nguyên tắc trong quảng cáo

    • bất cứ quốc gia nào trên thế giới, khi các doanh nghiệp tiến hành triển khai hoạt động quảng cáo cần phải thực hiện được các nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng như tạo một môi trường canh tranh lành mạnh.

    1.3.1. Tính pháp lý

    Người quảng cáo (hay chủ thể tiến hành quảng cáo) chịu trách nhiệm về các tin tức quảng cáo, đảm bảo được đúng các yêu cầu của luật pháp các nước khi tiến hành quảng cáo ở quốc gia đó như thời lượng quảng cáo, các đợt quảng cáo, ngôn ngữ trong quảng cáo.. .Theo pháp luật Việt Nam, tất cả các cá nhân, tổ chức đều được phép quảng cáo, tuy nhiên chỉ có những cá nhân, tổ chức có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh mới có quyền kinh doanh dịch vụ quảng cáo.

    1.3.2. Trung thực

    Các thông tin về quy cách phẩm chất, giá cả, kiểu dáng, chủng loại, nhãn hiệu, công dụng, bao bì , xuất xứ, thời gian sử dụng, thời gian bảo hành, dịch vụ hậu mại khi đưa ra quảng cáo cần phaie trung thực, đúng với hàng hóa được bán ra thị trường, không đánh lừa người tiêu dùng. Những quảng cáo có thể gây ra sự hiểu lầm từ phía người tiêu dùng làm tôn hai đến người tiêu

    Khoá luận tốt nghiệp

    dùng về các mặt sức khoẻ, sự an toàn, kinh tế ở các nước đều được coi là vi phạm các quy định của pháp luật.

    1.3.3. Không so sánh

    Khi tiến hành quảng cáo, các doanh nghiệp không được nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá , dịch vụ của người khác, không dùng danh nghĩa, hình ảnh của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân khác để quảng cáo mà không được sự chấp thuân của tổ chức, các nhân, hoặc doanh nghiệp đó.

    1.3.4. Văn hoá – thẩm mĩ

    Các hoạt động quảng cáo có tính chất kì thị chủng tộc, ảnh hưởng đến tự tín ngưỡng, sử dụng các ngôn từ, hình ảnh, minh hoạ hay gợi ý ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục, truyền thồng, đạo đức của quốc gia mà hoạt động quảng cáo được tiến hành đều bị ngăn cấm.

    1.4. Các phương tiện quảng cáo

    Quảng cáo được coi là nghệ thuật trong hoạt động kinh doanh. Do đó, hoạt động quảng cáo được sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau nhằm thực hiện được chức năng của mình. Về phương tiện quảng cáo, hoạt động quảng cáo gồm những nhóm phương tiện chính sau đây:

    (i). Nhóm các phương tiện quảng cáo nghe nhìn: Quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo trên đài phát thanh, và quảng cáo trên internet.

    (ii). Nhóm các phương tiện quảng cáo in ấn: Quảng cáo trên báo chí, quảng cáo trên tạp chí, quảng cáo trên Catalogue, tờ rơi, lịch quảng cáo..

    (iii). Nhóm các phương tiện quảng cáo ngoài trời: Panô quảng cáo, biển quảng cáo điện tử, biển tôn có đèn rọi, hộp đèn quảng cáo, đèn màu uốn.

    (iv). Nhóm các phương tiện quảng cáo di động: quảng cáo trên các phương tiện giao thông ,quảng cáo tên các vật liệu quảng cáo( chẳng hạn như áo phông, mũ mang biểu tượng và logo của doanh nghiệp)

    Khoá luận tốt nghiệp

    (v). Nhóm các phương tiện quảng cáo khác: Quảng cáo băng cá sự kiện kì là, quảng cáo nhờ trên các sản phẩm khác.

    2. QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH

    2.1. Khái niệm quảng cáo trên truyền hình

    Quảng cáo trên truyền hình là một loại hình quảng cáo khá phổ biến được sử dụng từ những năm 50 của thế kỉ 20. Do là loại hình quảng cáo hiệu quả nên, quảng cáo trên truyền hình ngày càng phát triển. Cùng với sự thành công của ngành công nghiệp truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống hàng này của mọi người.

    Quảng cáo trên truyền hình là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua phương tiện truyền hình đến nhiều người.

    Do là một bộ phận của hoạt động quảng cáo và xúc tiến kinh doanh nên quảng cáo trên truyền hình cũng có nhiều đặc điểm tương tự như các hoạt động trên. Tuy nhiên, khái niệm về quảng cáo trên truyền hình có phạm vi nhỏ hơn so với các khái niệm của quảng cáo nói chung. Khái niệm về quảng cáo trên truyền hình đã đặc định hoá phương tiện truyền thông tin từ người thuê quảng cáo đến người tiêu dùng.

    2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quảng cáo trên truyền hình

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình bị tác động bởi rất nhiều nhân tố khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, có một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình hiện hữu rõ nét nhất đó là : nhân tố kinh tế-xã hội, vấn đề văn hoá và tôn giáo, trình độ kĩ thuật, đặc tính của sản phẩm , chi phí và giá thành.

    2.2.1. Nhân tố kinh tế- xã hội

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình được xem như là một phần của hoạt động kinh doanh nên nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi yếu tố kinh tế xã hội. ở môi trường kinh tế xã hội khác nhau, chiến lược quảng cáo trên

    Khoá luận tốt nghiệp

    truyền hình sẽ được tiến hành và diễn biến khác nhau cho tường nhóm sản phẩm khác nhau. Nhân tố kinh tế xã hội thể hiện ở mức thu nhập bình quân cá nhân hay mức độ bình quân hộ gia đình, sự phân bổ chi phí tiêu dùng hàng ngày cơ cấu dân số, phân bố dân cư, trình độ học vấn của người tiêu dùng…

    Trong khi tiến hành hoạt động quảng cáo trên truyền doanh nghiệp phải xem xét kĩ lưỡng ảnh hưởng của các yếu tố trên.

    2.2.2. Vấn đề văn hoá và tôn giáo

    Do các dân tộc khác nay có các nền văn hoá, tôn giáo khác nhau, nên khi triển khai một chương trình quảng cáo, doanh nghiệp phải tính đến yếu tố văn hoá và tôn giáo. Một chương trình quảng cáo trên truyền hình có thể được diễn ra thành công ở nước này song khi đem sang nước khác rất có thể sẽ thất bại thảm hại do doanh nghiệp không lường hết được các yếu tố văn hóa và tôn giáo. Chẳng hạn như một chương trình quảng cáo trên truyền hình có hình ảnh các cô gái “ thiều vải” được thực hiện sẽ là bình thường đối với các nước phương tây song nó lại có tác động phản cảm đối với người tiêu dùng ở các nước phương đông đặc biệt là các nước theo đạo hồi.

    2.2.3. Trình độ kĩ thuật

    Trình độ kĩ thuật cũng góp phần quan trọng trong việc xác lập chiến lược quảng cáo trên truyền hình của doanh nghiệp. Trình độ kĩ thuật giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều sáng tạo trong quảng cáo trên truyền hình nhằm mục ngày càng thu hút sự chú ý của khán giả theo dõi chương trình quảng cáo của mình. Tuy nhiên,do trình độ kĩ thuật ở các nước khác nhau nêu chất lượng các chương trình quảng cáo, hiệu quả thông tin của các chương trình quảng cáo là rất khác nhau.

    2.2.4. Đặc tính của sảm phẩm

    Các nhóm sản phẩm khác nhau sẽ có những đặc tính khác nhau, tập chung vào các nhóm khách hàng khác nhau. Do đó việc nghiên cứu đặc tính của sản phẩm từ đó xác định nhóm khách hàng mục tiêu cũng như xác định

    9

    Khoá luận tốt nghiệp

    chương trình quảng cáo phù hợp là vô cùng cần thiết. Vì thế hiển nhiên các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm được sử dụng hàng ngày sẽ được lên chương trình quảng cáo nhiều hơn so với các sản phẩm mang tính chất thời vụ và các sản phẩm mang tính chất kĩ thuật.

    2.2.5. Chi phí, giá thành

    Một doanh nghiệp sẽ thực hiện chương trình quảng cáo trên truyền hình chỉ khi chương trình đó đem lại hiệu quả nhất định đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, có rất nhiều các doanh nghiệp nhận thức được hiệu quả của quảng cáo trên truyền hình song lại không có đủ khả năng đáp ứng các chi phí đắt đỏ của một chương trình quảng cáo trên truyền hình hoặc doanh lợi thu được từ hoạt động bán hàng không đủ bù đắp được các khoản chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Có thể nói, chi phí và giá thành cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    2.3. Đối tượng của quảng cáo trên truyền hình

    Quảng cáo trên truyền hình là một dịch vụ kinh doanh nên tham gia vào hoạt động quảng cáo trên truyền hình phải có ít nhất 2 đối tượng là bên thuê quảng cáo và phương tiện truyền thông hay đài truyền hình. Tuy nhiên trong nền kinh tế đang ngày càng được phân công hoá, do trình độ và kĩ thuật quảng cáo ngày càng được nâng cao thì công việc quảng cáo lên các chương trình quảng cáo được các công ty thuê quảng cáo giao phó cho các công ty quảng cáo thực hiện. Ngoài ra còn xuất hiện các thành viên thực hiện các dịch vụ hỗ trợ. Do đó trong quá trình quảng cáo trên truyền hình hiện đại thường xuất hiện bốn đối tượng tham gia.

    2.3.1. Bên thuê quảng cáo trên truyền hình

    Bên thuê quảng cáo trên truyền hình là các cá nhân hay tổ chức tìm cách bán sản phẩm của mình hoặc ảnh hưởng đến đối tượng khách hàng thông qua quảng cáo trên truyền hình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    2.3.2. Công ty quảng cáo

    Công ty quảng cáo là một tổ chức độc lập chuyển hoạch định, phát triển và thực hiện chiến dich quảng cáo nói chung và chiến dịch quảng cáo trên truyền hình noí riêng thay mặtt cho bên thuê quảng cáo

    2.3.3. Phương tiện truyền thông

    Phương tiên truyền thông trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình là các đài truyền hình. Đây là kênh thông tin mà qua đó thông điệp cần được quảng cáo sẽ tiếp cận đến đối tượng mà bên thuê quảng cáo cần nhằm tới.

    2.3.4. Các dịch vụ hỗ trợ

    Các dịch vụ hỗ trợ là các cá nhân hay tổ chức tham gia trong quá trình sản xuất mẫu quảng cáo trên truyền hình. Các dịch vụ này có thể độc lập hoặc là một bộ phận trong công ty quảng cáo chẳng hạn như diễn viên, người lồng tiếng…

    2.4. Phân loại quảng cáo trên truyền hình

    Truyền hình xuất hiện từ rất lâu và được coi là một phương hữu hiệu để truyền đi các thông điệp quảng cáo từ phía người sản xuất, kinh doanh đến khách hàng. Quảng cáo trên truyền hình có những ưu điểm vượt trội mà các loại hình quảng cáo khác không có.

    Dưới đây mới chỉ là những điểm mạnh chủ yếu của hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Một là, quảng cáo trên truyền hình có phạm vi truyền thông tin quảng cáo rất rộng, khả năng tiếp cận được thị trường lớn. Có thể thấy rằng, khó có một phương tiện truyền thông nào qua mặt được truyền hình khi muốn tiếp cận được thị trường rộng lớn trong một thời gian ngắn. Một nguyên nhân đơn giản đó là truyền hình thuộc về mọi người. Nói chung, truyền hình hầu như không có tính chọn lọc khán giả như những phương tiện truyền thông khác như quảng cáo trên báo chí (chỉ tập chung ở tầng lớp chí thức) hay có thời

    Khoá luận tốt nghiệp

    lượng quảng cáo nhiều như Internet 24/24 giờ (song số lượng người truy cập thấp chỉ chiếm khoảng 4-5% dân số) nên quảng cáo trên truyền chiếm được lượng khán giả theo dõi nhiều nhất trong số các loại phương tiện truyền thông.

    Hai là, quảng cáo trên truyền hình tạo sự sức hút mạnh mẽ do các thông điệp rong quảng cáo trên truyền hình là sự kết hợp giữa hình ảnh của quảng cáo ấn phẩm và quảng cáo ngoài trời, âm thanh của quảng cáo trên radio, cử động, các kĩ sảo truyền hình do đó tạo sự chú ý, cuốn hút, kích thích trí tò mò của khán giả để đạt được mục tiêu quảng cáo.

    Ba là, các mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể dễ dàng chuyển sang phương tiên truyền thông khác. Chẳng hạn, hình ảnh quảng cáo trong mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể chuyển thành các mẫu quảng cáo trên báo chí, in ấn, hay quảng cáo ngoài trời.. Bên cạnh đó, âm thanh trong mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể được biến thành mẫu quảng cáo trên radio..

    Bốn là, truyền hình là một phương tiện để giao lưu văn hoá giưã các quốc gia do đó các mẫu quảng cáo trên truyền hình ở nước này có thể được mang sang quảng cáo ở nước khác. Hình ảnh, cảnh vật cũng như diễn viên của nước này có thể xuất hiện ở trên các chương trình quảng cáo ở nước khá mà vấn tạo được hiệu quả quảng cáo, cũng như đạt được ý đồ của công ty quảng cáo hay bên thuê quảng cáo.

    Hiện nay trên thế giới tồn tại hai loại truyền hình: truyền hình vô tuyến và truyền hình hữu tuyến hay còn gọi là truyền hình cáp. Do có sự khác nhau giữa 2 loại hình truyền hình này mà bên thuê quảng cáo cũng như công ty quảng cáo cần phải cân nhắc để lựa chọn loại hình quảng cáo trên truyền hình nào là tối ưu nhất, đem lại hiệu quả nhất. Nói chung, hai loại quảng cáo trên truyền hình nêu trên hỗ trợ cho nhau khá ăn khớp, yếu điểm của hình thức này thường lại là ưu điểm của hình thức kia.

    12

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 1.1: So sánh ưu nhược điểm của quảng cáo trên vô tuyến truyền hình và quảng cáo trên truyền hình hữu tuyến

    Chỉ tiêu Quảng cáo trên truyền Quảng cáo trên truyền hình
      hình vô tuyến hữu tuyến ( truyền hình cáp)
         
    Tính chọn lọc đối Thấp Cao
    tượng    
         
    Chi phí thuê quảng Cao Thấp
    cáo    
         
    Hiệu quả chi phí Cao Thấp
    quảng cáo    
         
    Độ năng động trong Thấp Cao
    thời lượng quảng    
    cáo    
         

    Nguồn: Lê Hoàng Quân, năm 1994, Nghiệp vụ quảng cáo và Marketing, trang 272.

    Nhìn chung, việc lựa chọn quảng cáo trên truyền hình vô tuyến hay quảng cáo trên truyền hình hữu tuyến còn phụ thuộc vào đặc tính của sản phẩm, nguồn ngân sách dành cho quảng cáo trên truyền hình cũng như những nghiên cứu, đánh giá khác nhau về việc tiếp cận khán giả thông qua việc đánh giá chỉ số tiếp cận khán giả hay việc xem xét đến hiệu quả chi phí tiếp cận khán giả mục tiêu thông qua việc xác định chỉ số CPP (Cost Per ratings Point) (chỉ số này cho biết để tiếp cận 1% khán giả mục tiêu, doanh nghiệp cần phải chi bao nhiêu tiền.. .

    3. QUY TRÌNH QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH

    3.1. Mục đích của quảng cáo trên truyền hình

    Mục đích cuối cùng của bất kĩ hoạt động quảng cáo, xúc tiến kinh doanh nào cũng là nhằm doanh số, tăng thị phần và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, nếu ta xét chi tiết hơn thì quảng cáo trên truyền hình thực hiện nhằm vào 3

    Khoá luận tốt nghiệp

    mục đích chính: thông tin, thuyết phục và nhắc nhở. Trong toàn bộ chu kì sống của sản phẩm, các mục đích quảng cáo trên truyền hình thể hiện với những mức độ khác nhau. Do đó, tuỳ thuộc vào chu kì của sản phẩm mà các chương trình quảng cáo được sử dụng với đúng mục đích chính và thể hiện rõ được nhiệm vụ của nó. Chẳng hạn trong giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm: giai đoạn giới thiệu sản phẩm, thì quảng cáo trên truyền hình có mục đích chính là thông tin giới thiệu sản phẩm. Trong thời kì cuối của giai đoạn

    • và giai đoạn 2: giai đoạn tăng trưởng thì quảng cáo trên truyền hình lại thực hiện nhiệm vụ thuyết phục cũng như hình thành sự ưu thích nhãn hiệu. Còn ở giai đoạn chín muồi, quảng cáo thường thực hiện mục đích là nhắc nhở.

    3.1.1. Quảng cáo thông tin

    Mục đích của quảng cáo thông tin là thông báo cho thị trường biết về sản phẩm mới, thuyết minh những ứng dụng mới của hàng hoá hiện có. Ngoài ra còn thông báo cho người tiêu dùng biết những thông tin sau:

    • Thông báo sự thay đổi về giá của sản phẩm hoặc/và dịch vụ,
    • Giải thích nguyên tắc hoạt động của hàng hoá,
    • Mô tả dịch vụ,
    • Đính chính những quan niệm không đúng hay giảm sự sợ hãi, e ngại của người tiêu dùng,
    • Hình thành hình ảnh của công ty.

    3.1.2. Quảng cáo thuyết phục

    Mục đích của quảng cáo thuyết phục là hình thành sự ưa thích nhãn hiệu, xây dựng lòng tin của khách hàng đối với nhãn hiệu của công ty từ đó tạo dựng đội ngũ các khách hàng trung thành đối với nhãn hiệu cũng như đối với công ty. Ngoài ra quảng cáo thuyết phục còn nhằm những mục đích sau:

    • Khuyến khích chuyển sang nhãn hiệu của mình
    • Thay đổi sự chấp nhận của người tiêu dùng về tính chất của hàng hoá
    • Thuyết phục người tiêu dùng mua ngay sản phẩm của công ty.

    14

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.1.3. Quảng cáo nhắc nhở

    Mục đích chủ yếu của quảng cáo nhắc nhở là gợi cho khách hàng nhớ đến sản phẩm mà họ có thể cần đến trong thời gian tới, nhắc nhở người tiêu dùng về nơi bán sản phẩm, lưu lại trong trí nhớ của người tiêu dùng những hiều biết về hàng hoá …

    3.2. Các hình thức quảng cáo trên truyền hình.

    3.2.1. Bảo trợ

    Bảo trợ trên truyền hình là hành động doanh nghiệp bỏ chi phí ra để tiến hành sản xuất hoặc mua phát hành một hay nhiều chương trình có bản quyền nào đó trên truyền hình.Khi doanh nghiệp chọn hình thức bảo trợ trên truyền hình, doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc sản xuất và mua phát sóng chương trình truyền hình đó và cùng với chương trình bảo trợ của mình, doanh nghiệp có quyền được quyền phát sóng các quảng cáo của mình trong chương trình đó. Hiện nay trên truyền hình xuất hiện hai kiểu bảo trợ. Một là tiến hành bảo trợ các chương trình phim truyện (thường là dài tập) có bản quyền, lấy ví dụ như chương trình phim truyện dài tập “Tiếu Ngạo Giang Hồ” đang được phát sóng trên đài truyền hình Hà Nội do nhãn hiệu Omo của công ty Unilever tài trợ. Hai là tiến hành bảo trợ cho các chương trình giải trí, ca nhạc…chẳng hạn như chương trình “Hành trình văn hoá” phát sóng hàng tuần trên đại VTV3 do nhãn hiệu Double Rich của tập đoàn LG tài trợ..

    Mặc dù phí bảo trợ khá cao, nhưng hình thức quảng cáo này vẫn được sử dụng nhiều bởi những ưu điểm của nó. Thứ nhất là khán giả có thể thấy tên của nhà bảo trợ, Logo của nhà tài trợ và nghe một đoạn thông điệp ngắn giới thiệu về nhà bảo trợ trước và sau chương trình này. Thứ hai là tạo được uy tín tới trong nhận thức của người xem.

    3.2.2. Tự giới thiệu

    Hình thức tự giới thiệu là hành động doanh nghiệp mới phóng viên của đài truyền hình đều đến quay và giới thiệu về hoạt động và sản phẩm của

    Khoá luận tốt nghiệp

    mình như một đoạn phóng sự. Hình thức quảng cáo này có hai ưu điểm chính: Một là doanh nghiệp không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn như hình thức bảo trợ các chương trình truyền hình. Hai là, hình thức tự giới thiệu thương trông không giống như quảng cáo mà giống như bài phóng sự đưa tin do phóng viên của đài truyền hình biên tập do đó hiệu quả trong việc truyền thông tin có vể khách quan và dễ dàng được khách hàng tin tưởng và chấp nhận. Nhược điểm của hình thức này là không được phát nhiều lần như các phim quảng cáo khác.Ví dụ, gần đây, tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam có tiến hành một “show” quảng cáo tự giới thiệu về hoạt động kinh doanh và sảm xuất của công ty mình.

    3.2.3. Mua Spot

    Một hình thức quảng cáo khác trên truyền hình ít tốn kém hơn là hình thức mua Spot quảng cáo, mỗi Spot bằng với thời gian một phim quảng cáo dao động từ 15 đến 30 giây. Hình thức này có ưu điểm cho phép doanh nghiệp thuê nhiều khoảng thời gian ngắn trên nhiều đài truyền hình khác nhau. Một ưu điểm khác là doanh nghiệp có thể tiếp cận đựơc khán giả mục tiêu mà ngân sách của mình không bị lãng phí nhiều, họ có thể mua nhiều hoặc ít Spot tại các phân đoạn thị trường mà doanh nghiệp xét thấy phù hợp với mình nhất. Tuy nhiên việc mua Spot cũng có một vài nhược điểm đó là việc mua Spot tại nhiều đài khác nhau có thể trở nên phức tạp vì doanh nghiệp phải liên hệ, thương lượng giá phát sóng, lên lịch phát sóng … với nhiều đài cùng một lúc. Tuy nhiên, hiện nay việc mua Spot là hình thức phổ biến và mang lại hiệu quả nhất cho các doanh nghiệp cũng như cho các đài truyền hình.3.3. Lịch quảng cáo

    Trong một chiến dịch quảng cáo người làm quảng cáo cần phải lên lịch quảng cáo chung cũng như lịch quảng chi tiết cho từng chương trình.

    16

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.3. Lịch quảng cáo

    3.3.1. Lịch quảng cáo chung

    Lịch quảng cáo chung được xem như thời gian biểu phù hợp cho chiến dịch quảng cáo sản phẩm của công ty. Dựa vào những phân tích đánh giá lượng khách hàng theo dõi các chương trình trên truyền hình, mức thu nhập của khách hàng, tính chất của hàng hoá dịch vụ mà xác định xem việc quảng cáo được tiến hành theo thời vụ hay không theo thời vụ hay được tiến hành liên tục trong năm.

    3.3.2. Lịch quảng cáo chi tiết

    Dựa vào việc phân bổ ngân sách dành cho quảng cáo trên truyền hình cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến lịch quảng cáo trên truyền hình khác như số lần tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trên truyền hình của khán giả để có thể đưa ra được lịch quảng cáo trên truyền hình một cách chi tiết đồng thời đạt hiệu quả tác động cao nhất.

    Số lần tiếp xúc thông điệp quảng cáo trên truyền hình nói trên được tính bằng phạm vi tác động của thông điệp quảng cáo nhân với tấn suất tác động của thông điệp. Trong đó, phạm vi tác động được tính trên số người hay hộ gia đình khác nhau được tiếp xúc với mục tiêu quảng cáo trên truyền hình ít nhất một lần trong một thời kì , còn tần suất tác động được tính trên số lần mà một người hay một hộ gia đình tiếp xúc với một thông tin quảng cáo trên truyền hình. Hai nhân tố dùng để xác định số lần tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trên truyền hình có mức độ tác động hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn, trong thời khi mới tung sản phẩm thị trường hay đối với sản phẩm có mức độ sử dụng thường xuyên thì phạm vi tác động được coi là quan trọng hơn. Trái lại, trong một thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh thì tần suất được xem là quan trọng hơn.

    Các kiểu lên lịch quảng cáo này hình thành trên dượi trên số lần xuất hiện trên truyền hình. Số lần xuất hiện trên truyền hình có thể tập trung vào

    Khoá luận tốt nghiệp

    một thời điểm, gián đoạn hay liên tục trong cả thời kì. Bên cạnh đó, Nó còn hình thành dựa trên cường độ tác động. Cường độ tác động có thể là tăng dần, giảm dần, thay đổi hay đều đặn trong cả thời kì.

    Mô hình 1.1 : Các kiểu lên lịch quảng cáo trên truyền hình

    Ổn định Tăng dần Giảm dần Thay đổi

    Trung bình

    Liên tục

    Gián đoạn

    Nguồn: Mô hình hoá lịch quảng cáo trên truyền hình, Lê Hoàng Quân, năm 1994, Nghiệp vụ quảng cáo và Marketing, trang 272.

    3.4. Thông điệp quảng cáo

    Khi mở một chiến dịch quảng cáo, doanh nghiệp luôn phải xác định rõ thông điệp quảng cáo. Trước hết, thông điệp quảng cáo phải trung thực. Thông điệp quảng cáo trên truyền hình có thể nói nên điều gì đó mà khách hàng đang mong đợi hay thể hiện được những đặc trưng của hàng hoá dịch vụ mà các nhãn hiệu khác không có… Các thông điệp quảng cáo khác nhau có thể tác động đến các góc độ thoả mãn khác nhau như: thông điệp quảng cáo nằm vào lợi ích của khách hàng (hay còn gọi là nhằm vào sự thỏa mãn lý trí),

    Khoá luận tốt nghiệp

    thông điệp quảng cáo nhằm vào tình cảm hay cảm xúc của khách hàng… Tựu chung, một thông điệp quảng cáo nhất thiết phải đáp ứng được những cầu sau:

    • Lôi cuốn sự chú ý
    • Tạo hứng thú
    • Gây lòng ham muốn
    • Hướng tới hành động mua hàng.

    Do thời gian quảng cáo của các chương trình quảng cáo trên truyền hình có hạn nên nhiêm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của một chương trình quảng cáo trê n truyền hình là nắm bắt được sự chú ý, sự tò mò của đối tượng khán giả trong vòng 3 đến 5 giây đầu tiên. Nếu không gây được sự chú ý, cũng như sự tò mò trong khoảng thời gian này, thì những quãng thời gian còn lại coi như không có tác dụng. Sau khi gây được sự chú ý, nhiệm vụ tiếp theo của một chương tình quảng cáo là truyền tải thông điệp của người thuê quảng cáo đồng thời duy trì sự quan tâm của đối tượng (khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng). Từ việc quan tâm đến sản phẩm đối tượng theo dõi có thể dẫn đến mong muốn có được hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo. Và cuối cùng là hành động mua hàng của khách hàng.

    Khác với quảng cáo trên báo chí cũng như quảng cáo ngoài trời, thông điệp quảng cáo trên truyền hình được đặc trưng hoá, hay nói cách khác là “mã hoá” trong sự kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ.. tạo thành những cảnh sinh động thu hút sự chú ý của khán giả xem truyền hình.

    3.4.1. Hình ảnh trong quảng cáo trên truyền hình

    Truyền hình là một phương tiện để xem và quảng cáo trên truyền hình nên sử dụng triệt để lợi thế của loại phương tiện truyền thông này. Sử dụng quảng cáo trên truyền hình người quảng cáo có thể trình bày thông điệp một cách hấp dẫn bằng cách thay đổi cảnh trí thông qua một chuỗi các hình ảnh kế tiếp nhau, trong khi hình ảnh của quảng cáo trên báo chỉ có một cảnh hoặc

    19

    Khoá luận tốt nghiệp

    một bố cục. Cơ hội thay đổi cảnh giúp cho người quảng cáo có thể sử dụng tốt bối cảnh thích hợp trong trình tự hợp lý để đạt ý tưởng chính.

    Kỹ thuật hình ảnh trong một quảng cáo truyền hình có thể mang nhiều hình thức và được thể hiện theo nhiều mô típ khác nhau nhằm thu hút sự chú

    • của khán giả. Trong đó có một số hình thức, hay mô típ được sử dụng tương đối phổ biến như: Sử dụng pháp ngôn viên đưa ra những bằng chứng khoa học hay các bằng chứng thử nghiệm, giải thích lợi ích sản phẩm cúng đưa ra những chỉ tiêu kĩ thuật, cảnh mô tả tinh huống trong thực tế cuộc sống hoặc cảnh câu chuyện kể liên quan đến sản phẩm, phỏng vấn khách hàng sử dụng, so sánh sản phẩm của hãng so với các sản phẩm cùng loại, nhân vật biểu tượng để nhân cách hoá sản phẩm

    3.4.2. Âm thanh trong quảng cáo trên truyền hình

    Mặc dù lợi thế của quảng cáo truyền hình là yếu tố hình ảnh nhưng yếu tố âm thanh cũng là một phần cơ bản và thống nhất trong quảng cáo trên truyền hình. Hình ảnh hiếm khi truyền tải hết được nội dung thông điệp. Chính lời nói, âm nhạc và hiệu quả âm thanh sẽ mang lại ý nghĩa cho toàn bộ bức tranh quảng cáo. Hình ảnh đưa ra cho đối tượng một bức tranh hay, ấn tượng, còn âm thanh trình bày và nhấn mạnh các chi tiết của bức tranh đó.

    Ngôn ngữ cũng như lời nói thuyết minh trong các chương trình quảng cáo thường được sử dụng theo 2 hướng khác nhau. Hướng thứ nhất sử dụng những ngôn ngữ, lời thuyết minh đơn giản nhẹ nhàng như thực tế đời thường, Trái lại hướng thứ hai tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ, lời thuyết lại đi sau vào chiều sâu, hàm chứa nhiều ý nghĩa, tạo cho khán giả xem truyền hình phải đăm đo, suy nghĩ từ đó hình thành hình ảnh nhãn hiệu trong trí nhớ của người xem.

    20

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.5. Ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    3.5.1. Các phương pháp xác lập ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Đối với một doanh nghiệp, nguồn kinh phí dành cho quảng cáo chi phối trực tiếp nhất đến việc lựa chọn xây dựng các chương trình quảng cáo trên truyền hình, thời gian quảng cáo trên truyền hình và phạm vi quảng cáo trên truyền hình… Do đó để xây dựng thành công một chương trình quảng cáo trên truyền hình, doanh nghiệp cần phải xác định rõ nguồn ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình là bao nhiêu?. Dưới đây là một số cách thực khác nhau để xác ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Một là, phương pháp tỉ lệ % doanh số bán: Phương pháp này xác định chi phí quảng cáo trên truyền hình của doanh nghiệp bằng tỉ lệ % nhất định của doanh số bán dự kiến. Chi phí quảng cáo trên truyền hình ở đây sẽ thay đổi tuỳ theo khả năng dự kiến của doanh nghiệp. Phương pháp này thể hiện khá rõ đến mối liên hệ giữa chi phí dành cho sản xuất và chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ ước lượng và tính toán đến việc tiêu thụ sản phẩm, ít đề cập đến mức độ nhận biết, mức độ trung thành đối với nhãn nhiệu của doanh nghiệp.

    Hai là, phương pháp cân bằng cạnh tranh: Phương pháp này xác định ngân sách quảng cáo trên truyền hình của dựa theo nguyên tắc đảm bảo ngang bằng với chi phí của đối thủ cạnh tranh, Nhiều ý kiến cho rằng chi phí của các đối thủ cạnh tranh thể hiện sự sáng suốt tập thể của ngành và duy trì cân bằng cạnh tranh.Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là khó xác định được chi phí của đối thủ cạnh tranh. Mặt khác, do nhãn hiệu, sản phẩm của các doanh nghiệp khác nhau có mức độ tin cậy và mức độ trung thành khác nhau, nên việc xác định ngân sách theo phương pháp này sẽ là bất hợp lý.

    Ba là, phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ: Phương pháp này đòi hỏi người làm Marketing phải xác định cụ thể mục tiêu của mình và xác định những nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được những mục tiêu rồi

    Khoá luận tốt nghiệp

    ước tính chi phí để thực hiện nhiệm vụ đó. Theo phương pháp này, quảng cáo trên truyền hình được coi là một hoạt động đầu tư, trong đó các mục tiêu là mục đích kinh doanh dài hạn còn nhiệm vụ là công việc kinh doanh ngắn hạn.

    Ngoài ra, còn có một số phương pháp xác định khác để xác định ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chẳng hạn như xác định dựa trên khả năng tài chính có thể vươn tới của doanh nghiệp, hay xác định dựa trên thị phần quảng cáo trên một thị trường cụ thể…

    Nói chung các phương pháp đều có những mặt ưu nhược điểm khác nhau do đó không nên áp đặt một phương pháp cho tất cả hoàn cảnh mà phải dựa vào tình hình cụ thể ( như khả năng của doanh nghiệp, thực tế của thị trường, đặc tính của sản phẩm, đặc trương của nhóm khách hàng mục tiêu….) mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình phương pháp phù hợp nhất.

    3.5.2. Quy trình lập ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Dưới đây là quy trình để thiết lập ngân sách quảng cáo trên truyền hình. Quy trình được diễn ra theo 4 bước chính: bước 1: phân tích mục tiêu và các thông tin hiệ có, bước 2: áp dụng các biện pháp xác đinh ngân sách, bước 3: đánh giá dữ liệu và các nguồn ngân sách thiết lập, bước 4: đưa ra một nguồn ngân sách phù hợp nhất.

    Bước thứ nhất của quá trình lập ngân sách là nghiên cứu mục tiêu marketing, mục tiêu quảng cáo trên truyền hình cũng như xem xét cách ngân sách đã được thực hiện trong quá khứ, điều tra thu thập các thông liên quan đến chi phí quảng cáo của đối thủ cạnh tranh, tính toán thị phần và doanh thu dự kiến của doanh nghiệp, xem xét giai đoạn trong vòng đới sản phẩm, ước lượng khả năng thay thế sản phẩm… Nói chung, bước đầu tiên cần phải đánh giá toàn cảnh thị trường, đặc trưng sản phẩm, vòng đới sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, nguồn tài chính hiện có…

    22

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bước thứ hai trong quá trình lập ngân sách sẽ dựa vào những kết qủa phân tích, thu thập ở bước thứ nhất, xác định nguồn ngân sách thông qua các phương pháp xác lập khác nhau. Do các cách thức tính toán khác nhau nên các kết quả tính toán nguồn ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ khác nhau.

    Mô hình 1. 2: Quy trình lập ngân sách quảng cáo trên truyền hình.

    Bước 1: Phân tích  
    mục tiêu và các thông  
    tin hiện có Không hợp lý
     
    Bước 2: Áp dụng   Bước 3: Đánh giá
    các phương pháp   dữ liệu và các
    xác định ngân sách   nguồn ngân sách
        thiết lập
         

    Hợp lý

    Bước 4: Đưa ra

    nguồn ngân sách

    phù hợp nhất

    Bước thứ ba trong quá trình lập ngân sách sẽ xem xét lại các thông số đã phân tích trong bước thứ 1đồng thới sẽ đánh giá các kết quả tính toán ở bước thứ 2. Nếu thấy những phân tích cũng như những giả định là không phù hợp với mục tiêu quảng cáo, doanh nghiệp sẽ quay trở về phân tích, tính toán lại những dữ liệu cũng như những thông tin ở bước thứ nhất và bước thứ 2, còn nếu thấy hợp lý sẽ được chuyến sang bước thứ tư.

    23

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bước thứ tư trong quá trình lập ngân sách là đưa ra một nguồn ngân sách phù hợp nhất dựa trên những tính toán khả thi cũng dựa trên kinh nghiệm sẵn có của doanh nghiệp.

    Nói chung, các doanh nghiệp luôn luôn muốn hướng tới một ngân sách quảng cáo thấp nhấp đồng thới đem lại cho doanh nghiệp lơi ích lớn nhất. Do đó, một quyết định đúng đắn sẽ tạo cho chương trình quảng cáo trên truyền hình mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.

    3.6. Đánh giá hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    3.6.1. Hiệu quả truyền thông và hiệu quả thương mại

    Việc xác định nguồn ngân sách quảng cáo trên truyền hình, tung ra các chương trình quảng cáo trên truyền hình là nhằm nâng cao đường cong nhu cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp…Tuy nhiên, mức độ nâng cao hình ảnh của doanh, cũng như nhu cầu về sản phẩm lên bao nhiêu, hiệu quả chi phí cho hoạt động quảng cáo là như thế nào cần phải có sự đánh giá hợp lý:

    Nói chung có 2 các định lượng hiệu quả của một chương trình quảng cáo trên truyền hình: đó là phương pháp định lượng hiệu quả truyền thông và phương pháp định lượng hiệu quả thương mại.

    Phương pháp hiệu qủa truyền thông nói lên mức độ đảm bảo truyền thông đạt hiệu quả như thế nào. Phương pháp này có thể được thực hiện thông qua việc phỏng vấn khách hàng trước và sau khi mở chiến dịch quảng cáo trên truyền hình, từ đó ước lượng mức độ nhận biết hàng hoá đó cuả người tiêu dùng tiềm năng, mức độ ưa thích, trung thành nhãn hiệu sản phẩm của người tiêu dùng hiện tại….

    Phương pháp hiệu quả thương mại xác định khối lượng tiêu thu sản phẩm do hoạt quảng cáo trên truyền hình mang lại. Việc định lượng chính xác khối lượng trên là không dễ dàng bởi mức độ tiêu thu sản phẩm còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như giá cả, chất lượng sảm phẩm, thời vụ tiêu thụ sản

    Khoá luận tốt nghiệp

    phẩm…. Do đó muốn xác định được mức độ  tiêu thụ tương đối chính xác

    nhấtdo hoạt động quảng cáo mang lại cần dựa trên những phân tích lâu dài trong việc tiêu thụ sản phẩm, loại bỏ đi các yếu tố chủ quan cũng như khách quan nêu trên.

    3.6.2. Tác động của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đến hành vi của người tiêu dùng

    Peter Drucker, một nhà quản lý nổi tiếng của Mĩ trong cuốn sách “the Practice of Management” có nói rằng “ Nếu cần định nghĩa kinh doanh là gì thì chỉ có một định nghĩa có thể tin cậy đó là tạo ra khách hàng. Để tạo cho hoạt động kinh doanh thành công, doanh nghiệp cần phải hiểu rõ được nhu cầu của khách hàng, động cơ mua hàng của khách hàng cũng như thói quen mua hàng của khách hàng.

    3.6.2.1. Nhận thức nhu cầu, động cơ mua xắm và hành động của khách hàng.

    “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được”, Philip Kolter. Xác định nhu cầu và thoả mãn nhu cầu là nhiệm vụ của hoạt động marketing nói chung và hoạt động quảng cáo truyên truyền hình nói riêng. Tuy nhiên nhu cầu của con người khá đa dạng và phức tạp. Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã tiến hành phân cấp các nhu cầu. Mặt khác, theo tâm lý học khi một nhu cầu nào đó được thoả mãn thí lại xuất hiện sự đòi hỏi những nhu cầu tiếp theo ở cấp độ cao hơn.

    25

    Khoá luận tốt nghiệp

    Mô hình 1.3: Thứ bậc nhu cầu của A. Maslow.

    Nhu cầu

    tự khẳng

    Nhu cầu được tộn

    trọng

    Nhu cầu xã hội

    Nhu cầu an toàn

    Nhu cầu sinh lý

    Thứ bậc nhu cầu theo Abraham Maslow

    Nguồn: Giáo trình nguyên lý Marketing trường ĐH Ngoại Thương ( trang 4)

    Một là nhu cầu sinh lý. Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản, mang tính sống còn của con người như thức ăn, nhà ở …

    Hai là nhu cầu an toàn. Nhu cầu an toàn là những nhu cầu đảm bảo sự an toàn cho sức khoẻ, tính mạng của người sử dụng.

    Ba là nhu cầu xã hội. Nhu cầu xã hội là những nhu cầu tương tác giữa cá nhân và xã hội bao gồm những nhu cầu được yêu thương, chấp nhận.

    Bốn là được tôn trọng. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu được thể hiện mình, được kính trọng, được công nhận.

    Năm là nhu cầu tự khẳng định. Nhu cầu tự khẳng định là bất kĩ nhu cầu nào làm cho con người có thể thể hiện được mọi tiềm năng, nhân cách của mình để chứng minh mình là người rất đặc biệt

    26

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tất cả những nhu cầu nêu trên tạo nên động cơ mua sắm. Khi nhu cầu xuất hiện sẽ thúc đẩy người tiêu dùng tìm kiến thông tin liên quan đến hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Nếu như cường độ động cơ hướng tới hàng hoá và dịch vụ cụ thể để thoả mãn nhu cầu của mạnh thì ngoài những thông tin vốn có, người tiêu dùng sẽ bổ sung thông tin về đối tượng được hướng tới thông qua nguồn thông tin các nhân, cũng như những nguồn thông tin khác, trong đó có những thông tin từ các chương trình quảng cáo trên truyền hình…

    Sau khi động cơ mua sắm và thông tin liên quan đến đối tượng đã được bao phủ, người tiêu dùng sẽ tiến hành lựa chọn các phương án để đưa ra quyết định, hành động mua xắm của mình.

    Nhìn chung thì quá trình dẫn đến hành động mua sắm của người tiêu dùng thường được diễn biến trong 3 giai đoạn chính : Hiểu biết – Cảm nhận – Hành vi

    3.6.2.2. Phản ứng đáp lại của người tiêu dùng

    Một chương trình quảng cáo trên truyền hình thành công phải dẫn dắt người tiêu dùng từ chỗ xuất hiện nhu cầu về hàng hoá hay dịch vụ đến hành động mua sắm hay hành động chấp nhận nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp. Có thể nói, quá trình phản ứng đáp lại của người tiêu dùng là một quá trình rất phức tạp. Tuy nhiên, ta có ta có thể mô hình hoá quá trình phản ứng tích cực của người tiêu dùng dựa theo 3 giai đoạn chính của quá trình hình thành quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Ba giai đoạn chính trong quá trình hình thành quyết định mua sắm của mgười tiêu dùng là : giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức. giai đoạn 2: giai đoạn cảm nhận và giai đoạn 3: giai đoạn hành vị.

    Mô hình 3: Quá trình phản ứng của người tiều đối với hoạt động quảng cáo

     

    27

    Khoá luận tốt nghiệp

    Giai đoạn Mô hình Mô hình thứ bậc Mô hình chấp Mô hình
      AIDA của hiệu quả nhận đổi mới xử lý
            thông tin
             
        Để ý   Tiếp xúc
    Giai đoạn Chú ý     Để ý
    Nhận thức     Biết đến  
        Hiểu biết   Nhận biết
             
      Quan tâm Thích   Thái độ
          Quan tâm  
    Giai đoạn   Ưa thích    
    cảm nhận        
      Mong muốn Tin tưởng Đánh giá Có ý định
          Dùng thử
    Giai đoạn Hành động Mua Hành vi
    Hành vi     Chấp nhận

    Nguồn: G. Belch & M. Belch, Advertising and Promotion, trang 147

    Các mô hình trên đã đặc định hoá là phản ứng tích cực của người tiêu dùng đối với các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Trong các mô hình trên, kết quả hành vi thu được là khác nhau đối với từng mô hình. Bởi phản ứng đáp lại của từng nhóm khác nhau là khác nhau. Đối với những người luôn muốn đổi mới thường dẫn đến hành vi mua hàng sau khi xem chương trình quảng cáo trên, truyền hình, còn đối với những người thuộc nhóm bàng quan

    28

    Khoá luận tốt nghiệp

    thì dẫn đến hành vi dùng thử trước khi chấp nhận sản phẩm, cuối cùng đối với nhóm người xem khó chấp nhận thì chỉ dẫn đến hành vi để ý tới các dịch vụ hàng hóa được quảng cáo trên truyền hình.

    Tuy nhiên trên thực tế, một số các chương trình quảng cáo lại gây ra phản ứng tiêu cực từ phía người tiêu dùng đối với hàng hóa dịch vụ được quảng cáo. Và kết quả thật rõ ràng nhân thấy đó là hành động người tiêu dùng sẽ từ chối mua sản phẩm vĩnh viễn và đổi sang sử dụng nhãn hiệu khác.

    29

    Khoá luận tốt nghiệp

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở

    VIỆT NAM

    1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH QUẢNG CÁO MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

    1.1. Vài nét về tình tình quảng cáo ở các nước phát triển

    • các nước phát triển, hoạt động quảng cáo trên truyền hình đã từ lâu trở thành một vũ khí quan trọng trong cạnh tranh. Ngành công nghiệp quảng cáo trên truyền hình là một trong những ngành đóng góp một phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của các nước này. Trên thế giới, Mĩ được coi là cường quốc số một trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình. Theo số liệu của Ac Nielsen ( www. Ac neilsen.com) năm 2001, chi phí quảng cáo cáo của Mĩ là 227,7 tỷ USD trong dó chi phí quảng cáo trên truyền chiếm 60% (tương đương với hơn 125 tỷ USD), đạt mức tăng trưởng thấp 0,8% so với năm 2001. Ngân sách dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của một công ty lớn hàng năm thường ở mức trên 200 triệu.

    Bảng 2.1: 10 công ty thuê quảng cáo hàng đầu nước Mĩ.

    Stt   Công ty thuê quảng cáo Chi phí quản cáo trên truyền
          hình
          (triệu USD)
    1   P & G 641,3
    2   General Motors 500,9
    3   Phillp Morris 475,3
    4   Johnson & johnson 388,6
    5   Pepsi 362,1
    6   Ford Motor 360,3
    7   McDonald’s 622,4
    8   Kellogg 271,7
    9   Chrysler 239,7
    10   Unilever 232,6
        Nguồn : G. Belch & M. Belch, Advertising and Promotion, trang 342
      Đi cùng với những nỗ lực để giới thiệu, nhắc nhở, thuyết phục khách

    hàng sử dụng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ của các công ty thuê quảng cáo là

    Khoá luận tốt nghiệp

    hoạt động lập chiến lược quảng cáo trên truyền hình, sản xuất các chương trình quảng trên truyền hình, đánh giá hoạt động quảng cáo trên truyền hình của các công ty quảng cáo trên truyền hình. Cũng riêng ở Mĩ, một công ty quảng cáo trên truyền hình lớn hàng năm cũng thu được một khoản thu nhập trên 100 triệu USD. Dưới đây là danh sách 10 công ty quảng cáo hàng đầu nước Mĩ .

    Bảng 2.2 : 10 công ty quảng cáo hàng đầu nước Mĩ

    Stt Công ty quảng cáo Tổng thu nhập
        (triệu USD)
    1 Leo Burnett Co. 370,6
    2 J.Walter Thompson Co. 347,0
    3 Grey Advertising 326,7
    4 DDB Needham Worldwide 284,7
    5 McCann-Erickson Worldwide 279,6
    6 Saatchi & Saatchi Advertising 275,5
    7 BBDO Worldwide 259,5
    8 Foote, Cone & Belding Communications 244,2
    9 Ogilvy & Mather Worldwide 209,5
    10 Young & Rubicam 205,8

    Nguồn : Advertising and Promotion ( Belch & Belch), trang75.

    Một số nước khác như Nhật Bản, Đức, Anh cũng đã có một ngành công nghiệp quảng cáo trên truyền hình hết sức hiện đại và chuyên nghiệp. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của các nước này thường đạt nước tăng trưởng 5-8%.(đánh giá chi phí quảng cá o truyền hình của một số nước phát triển của Ac Nielsen _www.acnielsen.com)

    Nếu Mĩ được coi là cường quốc số 1 về quảng cáo trên truyền hình trên thế giới thì Nhật Bản được xem như một “ông vua nhỏ “ ở khu vực châu á. Quảng cáo trên truyền hình ở Nhật chiếm 52% tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Năm 2001 chi phí cho hoạt động quảng cáo đạt 2079,2 tỷ Yên, đạt mức tăng trưởng 8,7% so với năm 2000. Cũng giống như ở Mĩ các công ty quảng cáo ở Nhật Bản cũng làm ăn khá tốt. Hàng năm các

    31

    Khoá luận tốt nghiệp

    công ty này thu về một khoản thu nhập khá lớn khoảng 100 tỷ Yên. Dưới đây là 10 công ty quảng cáo có thu nhập lớn nhất ở Nhật.

    Bảng 2.3 : 10 công ty quảng cáo hàng đầu Nhật Bản.

    Stt Công ty quảng cáo Tổng thu nhập
        (tỷ Yên)
    1 Denstu 1476
    2 Hakuhodo 740
    3 Asatsu DK 341
    4 Tokyo Agency 197
    5 Daiko 158
    6 Yomiruri-Kokokusha 117
    7 I&S BBDO 100
    8 JR Higashinihon Kikaku 92
    9 McCann-Erickson 79
    10 Asahi Kokoku 60

    Nguồn: Avertising Economy Institute năm 2002, www.afa.com

    Trong xu thế hội nhập ngày càng cao, bên cạnh việc vươn mình ra thế giới của các công ty, các tập đoàn sản xuất khổng lồ của các nước phát triển như Mĩ, Nhật, Anh, Đức.. là hoạt mở rộng thị trường trên toàn thế giới của các công ty quảng cáo vốn có thiết bị hiện đại, đội ngũ kĩ thuật chuyên nghiệp cũng như một bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các công ty quảng cáo này đã, đang và sẽ vẫn làm mưa làm gió trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình.

    1.2. Vài nét về tình hình quảng cáo ở các nước đang phát triển.

    Trong thế giời của các đang phát triển, nền công nghiệp quảng cáo trên truyền hình mới đang dần được hình thành và phát triển. Tốc độ gia tăng ngân sách dành cho hoạt quảng cáo trên truyền hình ngày một tăng, với mức trung bình luôn khoảng 2 con số. Một nguyên nhân chủ yếu cho việc gia tăng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở các nước này một phần là do sự phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế . Mặt khác là do mức độ cạnh tranh trong các ngành kinh tế ở các nước này đang ngày càng khốc liệt. Do đó, muốn không bị loại

    Khoá luận tốt nghiệp

    ra khỏi ngành các công ty ra sức thực hiện các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh trong đó quảng cáo trên truyền hình là một công cụ quan trọng nhất ở các nước này.

    Trong thế giới các nước đang phát triển, Trung Quốc được coi là một tiềm lực kinh tế hiện nay. Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế kết hợp với sự hoạt động của hơn 1000 đài truyền hình từ trung uơng đến địa phương (trong đó có 8 kênh truyền hình trung ương), hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Trung Quốc luôn có mức tăng trưởng trên 20% ( riêng năm 1997 mức độ tăng trưởng trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc là 47%) và đứng thứ 2 châu á (sau Nhật Bản) nếu xét về tồng chi phí dành hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Theo như số liệu của AC Nielson thì chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc đạt 8,1 tỷ USD năm 2001 đạt mức tăng trưởng 17% (chiếm tỷ trọng 70% trong tổng chi phí quảng cáo ở Trung Quốc). Trong các sản phẩm được quảng cáo trên truyền hình ở Trung Quốc, thì các sản phẩm y dược luôn luôn đứng đầu. Trong số 10 công ty quảng cáo hàng đầu của Trung Quốc, có 8 công ty dược phẩm Trung Quốc và 2 công ty bia cũng của Trung Quốc. Nói chung, trong tương lai gần, hoạt động quảng cáo trên truyền hình của đất nước trên tỷ dân này sẽ ngày càng phát triển do các chính sách kinh tế ngày càng được mở rộng hơn nữa, đặc biệt sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO cùng với sự thâm nhập của các công ty, các tập đoàn kinh tế hàng đầu trên thế giới vào mảnh đất đầy béo bơ nay.

    Hàn Quốc, với mức thu nhập trung bình 8581 USD một năm, cùng với tỷ lệ sử hữu tivi trên 98%, là nước có hoạt động quảng cáo trên truyền hình mạnh thứ 3 châu á chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc. Chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Hàn Quốc năm 2001 là 1,520 tỷ USD giảm đi so với năm 2000 là 5,1% ( chi phí quảng cáo trên truyền hình của Hàn Quốc năm 2000 là 1,601 tỷ USD). Tỷ trọng của quảng cáo trên truyền hình của Hàn

    33

    Khoá luận tốt nghiệp

    Quốc không lớn như các nước châu á khác chỉ chiếm khoảng 35% trên tổng chi phí dành cho quảng cáo của cả nước này.

    Trong các nước Đông Nam á, Philịppin là quốc gia có chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình nhiều nhất. Mức tăng trưởng trong hoạt động quảng cáo hàng năm trăng trung bình 15%. Chi phí quảng cáo trên truyền hình ở Philippin luôn chiếm tỷ trọng khoảng 65% tổng chi phí quảng cáo. Theo số liệu của AC Neilson, năm 2001 Philippin có chi phí cho quảng cáo trên truyền hình là 907 triệu USD tăng 14,8% so với năm 2000 (trong số đó chi phí quảng cáo trên truyền hình vô tuyến là 859 triệu USD tăng 13% so với năm 2000, chi phí quảng cáo trên truyền cáp là 48 triệuUSD tăng 59% năm). Sau Philippin, Thái Lan cũng là nước có hoạt động quảng cáo trên truyền hình diễn ra mạnh mẽ. Tổng chi phí quảng cáo năm 2001 của Thái Lan là 1,2 tỷ USD trong đó quảng cáo trên truyền hình chiếm 62% tương đương với 747 triệu USD đạt mức tăng trưởng là 7,9% so với năm 2000. Inđônêsia là nước có tốc độ gia tăng ngân sách quảng cáo trên truyền hình lớn nhất luôn đạt trên 20%, năm 2001 chi phí quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ trọng 67% tổng chi phí quảng cáo tương ứng với mức chi phí là 611,7 triệu USD, với mức tăng trưởng 23,6% so với năm 2000. Tiếp theo phải kể đến là Singapo và Malaysia, với chi phí quảng cáo trên truyền hình namư 2001 tương ứng là 310 triệu USD (đạt mức tăng trưởng 11%) và 231 triệu USD (giảm so với năm 2000 6%). Các nước Đông Nam á kể trên được coi là 5 nước có ngành côn nghiệp quảng cáo trên truyền hình phát triển vượt trội so với các nước khác trong khu vực.

    (tất cả các số liêu nêu trên là những đánh giá về chi phí quảng cáo của các nước châu Á Thái Bình Dương năm 2000, 2001, 2002 của công ty AC Nielsen _www.acnielsen.com)

    34

    Khoá luận tốt nghiệp

    2. KHÁI QUÁT CHUNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, thì nhu cầu về thông tin, giải trí ngày càng lớn. Mặt khác, theo số liệu thống kê của công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, hiện nay ở 4 thị trường chủ lực là vùng đồng bằng bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), vùng duyên hải miền trung (Đà nẵng, Huế), vùng đông nam bộ ( Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương), và vùng đồng băng sông cửu long (Cần Thơ) có khoảng gần 90% số hộ gia đình có sở hữu ít nhất một chiếc Tivi ( trong đó có 95% hộ gia đình ở thành thị, và 84% hộ gia đình ở nông thôn. Nếu đem so sánh tỷ lệ con số sở hữu tivi theo hộ gia đình ở Việt Nam so với các nước trong khu vực thì có thể nói là cao, thâm chí vượt cả Trung Quốc ( Tỷ lệ sở hữu tivi ở Trung Quốc ước khoảng 75%). Trong những năm gần đây, số lượng người nghe đại có xu hướng giảm dần và trong khi số lượng người xem cũng như thời lượng xem ngày càng tăng lên. Theo bản điều tra về thói quen nghe và xem các chương trình trên các đài phát thanh và truyền hình của các khán giả từ 15 tuổi trở lên, số lượng người xem truyền hình lớn gấp 12 lần so với nghe đài

    Bảng 2.4 : So sánh lượng khán giả và thời lượng

    xem truyền hình và nghe Radio.

    Loại hình Số lượng khán giả (%) Thời lượng (%)
         
    Truyền hình 14,8 87,5
         
    Radio 1,5 25,5
         

    Nguồn: Báo Vietnam Economic Times, tháng 3 năm 2001, trang 14.

    Trong số lượng khán giả xem cáo chương trình trên các đài truyền hình tính từ năm 1990 trở lại đây, thì tỷ lệ nữ giới luôn chiếm vị trí đa số, khoảng 53 – 54 %, trong khi đó các khàn giả là nam giới chỉ chiếm có 46 – 47%. Nhìn chung, dựa trên tỷ lệ khản giả xem truyền hình, các công ty thuê quảng cáo cũng như các công ty quảng cáo sẽ định vị tốt hơn được các chương trình quảng cáo của mình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nếu xem xét đến độ tuổi xem truyền hình, thì đổ tuổi từ 35 đến 49 chiếm tỷ lệ cao nhất với mức 24% trong khi đó số lượng người xem ở độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ thấp nhất ở mức 18%.Còn các độ tuổi từ 15 đến 34 có mức độ xem tương đối hơn so với các nhóm tuổi khác chiếm 40% lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình. ( tuổi từ 15-24 chiếm 20%, 25-34 chếm 20% lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình.

    Biểu 1:Số lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình chia theo giới tính và lứa tuổi.

    18%                         19%

    Nam     20%
    46% 24%  
    54%      
          20%  
      4-14 15-24 25-34 35- 49

    Nguồn: Công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam.,năm 2002

    Nhưng nhìn chung, số lượng người xem truyền hình tính theo lứa tuổi không có sự chênh lệch rõ nét như số lượng tính theo giới tính ở trên và tính theo thu nhập ở dưới đây.

    Biểu 2.2 : Phân bổ khán giả theo dõi các chương trình truyền hình theo thu nhập

    15%

    26%

    34%

    25%

     trªn $500  $350-500  $36150-350  d−íi $150

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nguồn: Công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002

    Các hộ gia đình có thu nhập ở mức trung bình thường xem các chương tình truyền hình nhiều hơn nhiều so với số lượng các hộ gia đình có số thu nhập hàng tháng cao hoặc thấp hoặc tương đối thấp. Các hộ gia đình có mức thu nhập trên 500 USD một tháng chỉ chiến có 15% trong tổng số các khán giả theo dõi các chương trình truyền hình, trong khi các hộ có mức thu nhập trung bình chiếm 57% lượng khán giả dõi theo các chương trình truyền hình trên cả nước.

    Mặt khác, trên các đài truyền hình, hàng ngày các chương trình truyền hình đuợc phân phối theo các chủ đề như tin tức, chính trị, kinh tế, giải trí, phim truyện, giáo dục … với thời lượng phát sóng khác nhau. Các chương trình truyền hình trên cũng thu hút số lượng khán giả xem khác nhau. Do vậy, các doanh nghiệp muốn thực hiện được các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình của mình được hiệu quả hơn cần phải đánh giá, đo lường được chính xác số lượng khán giả xem các chương trình khác nhau,.

    Bảng 2.5: Phân bố thời lượng phát sóng và số lượng khán giả theo các loại chương trình truyền hình.

    Loại chương trình truyền hình Thời lượng phát sóng Số lượng
      (%) khán giả (%)
         
    Tin tức, chính trị, kinh tế 15,3 9,3
         
    Phim dài tập 22 25,5
         
    Thể thao 9,8 7,8
         
    Phóng sự, tài liệu 2,9 7,2
         
    Giáo dục 2,4 2,9
         
    Giải trí 13,2 13,7
         
    Đời sống 1,6 3,5
         
    Các vấn đề được quan tâm chung 19,5 6,9
         
    Phim truyện 3,2 9,3
         

    37

    Khoá luận tốt nghiệp

    Các chương trình khác 10,2 13,9
         

    Nguồn : Tổng hợp báo cáo của Tayor Nelson Sofres Việt Nan, năm 2002

    Theo như tổng kết của công ty nghiên cứu thị trường Tayor Nelson Sofres Việt Nam, số lượng khán giả theo dõi các chương trình phim truyện dài tập chiếm số lượng cao nhất, tiếp theo là các giải trí, trong khi số lượng người xem các chương trình giáo dục đào tạo, đới sống là thấp nhất.Các chương trình phim dài tập chiếm 22 % tổng thời lượng phát sóng và thu hút hơn 25% lượng khái giả theo dõi các chương trình truyền hình.. Các chương trình giả trí tuy có thới lường lượng phát sóng không thực sự nhiều song lại có tỷ lệ khái giả xem khá đông, chiếm hơn 13 % tổng lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình. Trong khi đ, các chương trình giáo dục, đào tạo có tính chọn lọc khán giả cao nhất nên có lượng khán giả theo dõi ít nhất khoảng gần 3%.

    Tựu chung, do số lượng người xem truyền hình ngày càng lớn dẫn đến việc rất nhiều doanh nghiệp tiến hành khuyếch trương, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình thông qua hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Hiện nay, bên cạnh các chương trình truyền hình vô tuyến và hữu tuyến được phát sóng trên hơn 60 kênh truyền hình trong nước là các chương trình thông tin quảng cáo. Các chương trình quảng cáo giờ đây đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống.

    3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM TRONG MỘT SỐ NĂM TRỞ LẠI ĐÂY.

    3.1. Chi phí quảng cáo trên truyền hình trong một số năm trở lại đây

    Có thể nói rằng, chỉ khi nước ta chính thức thi hành mô hình cơ chế thị trường và áp dụng các biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp, thì ngành quảng cáo trên truyền hình mới thực sự phát triển một cách chóng mặt với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn vượt 100% trong những năm đầu tiên, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình từ năm

    38

    Khoá luận tốt nghiệp

    1993- 1996 luôn ở mức năm sau tăng gần gấp đôi năm trước. Chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1995 tạt 34 triệu USD tăng 180% so với năm 1994, năm 1994 so vơi năm 1993 tăng 150% chỉ đạt 13 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng như vũ bão của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đánh giá từ góc độ chi phí quảng cáo trên truyền hình đólà sự xuất hiện của các công ty liên doanh nước ngoài, cùng với các nhãn hiệu mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam của các doanh nghiệp liên doanh này. Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển này, ngành quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam chủ yếu phát triển về quy mô theo hướng tự phát, chất lượng của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong giai đoạn này vẫn chưa thực sự được chú ý.

    Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng của hoạt động quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây.

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 ước tính
                  2003
    Chi phí quảng cáo 42843 41604 47443 70793 81072 92442 105000
    (1000 USD)              
    Tỷ lệ tăng trưởng   97,1% 114% 149,2% 114,5% 114,0% 113,6%
    (%)              
    Tốc độ tăng trưởng   – 2,9% 14% 49,2% 14,5% 14% 13,6%
    (%)              
    Tốc độ tăng trưởng       14,53%      
    trung bình (%)              

    Nguồn: Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam.

    Trong một số năm trở lại đây, hoạt động quảng cáo trên truyền hình bắt đầu hướng tới con đường chuyên nghiệp hơn. Tốc độ tăng trưởng xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình so vời thời kì trước có phần chững lại. Tốc độ tăng trưởng trung bình từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2003 vào khoảng 14.5% năm. Tuy nhiên nếu đem so sánh với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Malaysia thì tốc độ tăng trưởng trong khoảng thời gian này vẫn được xem như là coi số mơ nước, đặc biệt ấn tượng khi mà các hoạt động quảng cáo trên mà hoạt động quảng cáo trên truyền

    39

    Khoá luận tốt nghiệp

    hình ở Việt Nam bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển ổn định. Cũng trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của quảng cáo trên truyền hình ở Malyisa gần như không tăng, thậm chí năm 2001 còn xuất hiện tình trạng tăng trưởng âm (- 6,1%) so với năm 2000, Thái Lan tuy có khá hơn song mức tăng trưởng trung bình trong thời kì này cũng chỉ đạt mức dưới 2 con số, khoảng 7,5% năm, còn Singapore cũng chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này là 10 % năm.

    Trong khoảng từ năm 1997-2003, năm 1998 có tốc độ tăng trưởng được coi là thấp nhất kể từ khi ngành quảng cáo trên truyền hình bắt đầu thức sự xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1998, mức chi phi dành cho quảng cáo trên truyền hình là 41,6 triệu USD, tăng trưởng âm 2,9% so với namư 1997. Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn, thậm chí tăng trưởng âm so với các năm khác chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu á vào cuối năm 1997 đầu năm 1998. Trái với năm 1998, năm 2000 có tốc độ tăng trưởng nhảy vọt, tăng 49% so với năm 1999 lớn nhất trong 7 năm qua. Chi phí quảng cáo trên truyền hình của riêng năm 2000 là 70,793 triệu USD. Những lí do giải thích cho sự nhảy vọt trong chi phí quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam là do tình hình kinh tế các nước đã thoái ra khỏi thỏi kì khủng hoảng tài chính, cũng như những những biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp trong nước phát triển…của nhà nước như tiến hành áp dụng luật doanh nghiệp cuối năm 1999, cũng như thi hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sửa đổi…Trong khi đó, từ 2001 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng quảng cáo trên truyền hình duy trì ở mức ổn định 14% năm, tăng nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước trong cùng thời kì, điều đó có nghĩa là mức độ đóng góp của quảng cáo trên truyền hình vào GDP ngày càng tăng nên, vị trí của quảng cáo trên truyền hình ngày các trở nên quang trọng trong việc phát triển

    40

    Khoá luận tốt nghiệp

    xây dựng doanh nghiệp mà còn trong việc góp phần xây dựng, phát triển đất nước.

    Trong toàn bộ lĩnh vực quảng cáo, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn ở mức trên 50% trong tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp. Theo thống kê của công ty phân tích thị trường AC Nelson năm 2002, tỷ trọng các loại hình quảng cáo ở Việt Nam như sau:

    Bảng 2.7: Tỷ trọng các loại hình quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Loại hình quảng cáo Tỷ trọng (%)
       
    Truyền hình 56%
       
    Tạp chí, ấn phẩm 27%
       
    Ngoài trời 10%
       
    Radio 5%
       
    Các loại hình khác 2%
       
    Tổng 100%
       

    Nguồn : Dựa trên số liệu AC Nielsen Việt Nam.

    Có thể nói, hoạt động quảng cáo trên truyền hình là loại hình có chi phí lớn nhất, ưu việt nhất hiện nay ở Việt Nam. Chi phí quảng cáo trên truyền hình gấp11 lấn so với hoạt động quảng cáo trên radio, gấp trên 5 lần so với chi phí cho các dịch vụ quảng cáo ngoài trời.

    Chỉ xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo của hoạt động quảng cáo trên truyền hình và quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm là hai hoạt động quảng cáo có chi phí lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo nói chung, chiếm trên 80% tổng chi phí quảng cáo chung và cũng là hai loại hình quảng cáo khá phổ biến

    • Việt Nam hiện nay. Trong một vài năm trở lại đây, Chi phí quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm thường chiếm tỷ trọng khoảng 25-28% năm, tốc độ tăng

    41

    Khoá luận tốt nghiệp

    trưởng trung bình hàng năm của hoạt động quảng cáo này cũng luôn đạt 2 con số. Tuy nhiên, nêu đem so sánh với mặt chi phí với quảng cáo trên truyền hình, thì quảng cáo trên tạp chí, ấn phẩm luôn chỉ bằng khoảng gần một nửa. Tính riêng năm 2002, chi phí quảng cáo trên tạp chí, ấn phẩm có mức tăng trưởng 27% so với năm 2001, đạt 54, 531 triệu USD, song cũng chỉ bằng 68% chi phí của quảng cáo trên truyền hình trong năm đó.

    Biểu 2.3: Chi phí quảng cáo trên truyền hình và trên tạp chí ấn phẩm trong một năm gần đây

    1000 USD

    150000

    100000

    50000

    0

    1998                 1999                2000                 2001                2002             −íc tÝnh

    2003

     

            N¨m
             
        Chi phÝ qu¶ng c¸o truyÒn h×nh   Chi phÝ qu¶ng c¸o t¹p chÝ, ©n phÈm
         
         
             

    Nguồn: Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002

    Trong một năm, chi phí quảng cáo nhìn chung cũng phân bổ không đều mà chia theo từng đợt một.

    Xem bảng phân bổ chi phí quảng cáo theo từng tháng cho thấy, thường chi phí quảng cáo trên truyền hình thường cao ở các tháng cuối năm và tháng đầu năm sau đó, cũng như một số tháng giữa năm, tạo thành một số đợt rõ rệt.

    42

    Khoá luận tốt nghiệp

    Lấy thí dụ năm 2002, chi phí dành cho quảng cáo cho tháng 1, tháng 5,6 và tháng 12 luôn luôn ở mức cao hơn so với các tháng khác. Việc phân bổ không đều của chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình theo từng tháng chủ yếu hình thành trên các đợi quảng cáo của các doanh nghiệp, tuy nhiên nguyên nhân chính ở đây lại là nhận thức về các đợi, các mùa mua xắm của người tiêu dùng. Chẳng hạn, tháng 1 và tháng 12 là các tháng gần tết, nhu cầu mua xem của người tiêu dùng luôn lớn nhất trong cả năm. Do đó, muốn lôi kéo khách hàng, thông tin nhắc nhở khách hàng về các sản phẩm, nhãn hiệu của doanh nghiệp mình, các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh hoạt động quảng cáo trên truyền hình vào các tháng then chốt này. Trong khi đó, tháng 2 là tháng có nhu cầu mua xăm nói chung ít nhất trong năm, nên chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của các doanh gnhiệp thường rất thấp, thường chỉ bằng 60% so với chi phí quảng cáo trên truyền hình vào tháng 1 hay tháng 12 năm trước đó.

    Bảng 2.8: Chi phí quảng cáo trên truyền hình chi tiết theo tháng.

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    T1 3582 3436 3589 5522 7184 8034 9915
    T2 2521 2236 3039 3477 4520 5254 5622
    T3 2944 2672 3041 4987 5496 5398 9140
    T4 2908 2934 3492 6187 5678 7336 10427
    T5 3343 3449 3948 6011 7186 8585 10476
    T6 3481 4212 4042 7572 7218 9719 11446
    T7 3599 3815 3456 5604 6455 7390 10228
    T8 3473 3172 3902 5734 7585 8152  
    T9 3576 3202 3898 5293 8157 7812  
    T10 4043 3501 4128 5046 6062 7377  
    T11 4267 4014 5050 6938 7302 7429  
    T12 5106 4961 5858 8422 8229 9956  
    Chi phí quảng 42843 41604 47443 70793 81072 92442 67254
    cáo 1000 USD              

    Nguồn: Số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam

    Tóm lại, quảng cáo trên truyền hình là loại hình quảng cáo được các doanh nghiệp chi phí cho nhiều nhất trong hoạt động quảng cáo nói chung.

    43

    Khoá luận tốt nghiệp

    Chi phí quảng cáo trên truyền hình tăng trưởng với tốc độ vừa cao vừa ổn định, trung bình trong một vài năm trở lại đây là 14,5%. Chi phí cho các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo biến động theo từng tháng và có xu hướng gắn liền với vòng quay mua xắm của người tiêu dùng Việt Nam.

    3.2. Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam theo lĩnh vực sản phẩm

    Các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong những gần đây tập trung vào các sản phẩm như mĩ phẩn và các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm , đồ uống, các sản phẩm gia dụng, dược phẩm là chủ yếu.

    Biểu 2.4 : Phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam

     

    44

    Khoá luận tốt nghiệp

    T û lÖ ph © n bæ c h i ph Ý the o lÜnh v ùc qu ¶ n g c ¸ o

    1 0 0 %

    9 0 %

    8 0 %

    7 0 %

    6 0 %

    5 0 %

    4 0 %

    3 0 %

    2 0 %

    1 0 %

    0 %

    1 9 9 9 2 0 0 0 2 0 0 1 2 0 0 2 2 0 0 3
        N ¨ m    
    K h ¸c      
    ¤ t« , X e m ¸y      

     T h ù c p h Èm

     D − î c p h Èm

     C¸c s¶m p h Èm lμm s¹ch tro n g g ia ® ×n h

    • å u è n g

     M Ü p h Èm v μ c¸c s¶m p h Èm lμm ® Ñp

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002.

    Có thể nói rằng trong một vài năm trở lại đây, các sản phẩm làm đẹp, mĩ phẩm luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo (thường chiếm khoảng 25% tổng chi phí quảng cáo), điểm hình như các sản phẩm như sữa rửa mặt, các sản phẩm làm trắng da của các hãng sản xuất tên tuổi như P & G, Unilever, Kao, LG.. . Cũng chiếm một tỷ trọng không kém lĩnh vực làm đẹp, các sản phẩm đồ uống cũng chiếm một vị trí đáng kể trong tổng số chi phí chi cho quảng cáo trên truyền hình, khoảng 15-17% với những sảm phẩm nổi tiếng như nước ngọt của Coca Cola, Pepsi Cola, nước tăng lực Number 1 của công ty bia Bến Thành, nước uống tinh khiết Vital, các sản phẩm bia nổi tiếng như Tiger, Heineken của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam… Các sản phẩm khá cá biệt như dược phẩm cũng được quảng cáo một

    45

    Khoá luận tốt nghiệp

    cách khá công phu và tốn kém với chi phí quảng cáo chiếm khoảng 6%, Mức độ quảng cáo các sản phẩm thực phẩm, Các sản phẩm làm sạch trong nhà cũng có chi phí quảng cáo trên truyền hình tương tự ( cũng khoảng 6%). Số chi phí còn lại giành cho quảng cáo các sản phẩm như ô tô, xe máy, các sản phẩm điên tử..

    Cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình như vậy là hợp lý. Bởi các sản phẩm như đồ uống, thực phẩm, các sản phẩm làm đẹp, các sản phẩm làm sạch trong gia đình là các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, do đó quảng cáo trên truyền hình hàng ngày là mồt biện pháp trực quan vô cùng hữu hiệu nhằm mục đích nhắc nhở người tiêu dùng nhớ đến các sản phẩm của doanh nghiệp mình. Một lí do khác là số lượng các doanh nghiệp trong các lĩnh vực nêu trên khá lớn, thị trường cạnh tranh khốc liệt, do đó dẫn đến một thực tế là muốn tồn tại các doanh nghiệp buộc phải thực hiên các biện pháp để yểm trợ, xúc tiến hoạt động bán hàng và không một biện pháp tiếp cận nào lại có thể thu hút người tiêu dùng một cách nhanh nhất với lượng nhiều nhất như

    • hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Lí do tiếp theo để giải thích sự hợp lí trong cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực đó là kênh phân phối. Các doanh nghiệp, các tập đoàn sản xuất các sản phẩm nêu trên chỉ có thể tiếp cận gián tiếp đến người tiêu dùng thông quan mạng lưới các đại lý, các nhà bán lẻ.. . do vậy để tiếp cận một cách “ trực tiếp “ với người tiêu dùng các doanh nghiệp này chỉ còn có mỗi một biện pháp hữu hiệu để giới thiệu một cách chính xác nhất các đặc tính, các công dụng của sảm phẩm đó là quảng cáo trên truyền hình.

    3.3. Các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong những năm gần đây.

    Tính đến giữa năm 2002 số lượng các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt nam là 680 chỉ tăng 4 đơn vị thuê quảng cáo trên truyền hình so với năm 2001 (báo Vietnam Economic Times số tháng 7 năm 2002).

    46

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nhìn chung, các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đa phần là các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc các công ty liên doanh. Với một ngân sách quảng cáo khổng lồ, các doanh nghiệp này tiến hành các chiến lược quảng cáo rầm rộ trên truyền hình với nhiều đợt quảng cáo khác nhau. Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước do có nguồn vốn hạn chế, ngân sách dành cho quảng cáo bị bó hẹp nên việc quảng cáo trên truyền hình có phần âm thầm và lẻ tẻ không hình thành các chiến dịch quảng cáo cũng như các đợt quảng cáo, chỉ có một vài các doanh nghiệp thực sự thực hiện được các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình một cách chuyên nghiệp và bài bản chẳng hạn như công ty bia Bến Thành, công ty bia Hà Nội hay công ty bia Halida.. Dưới đây là 4 công ty thuê quảng cáo lớn nhất ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây.

    Trong 5 năm qua, Unilever Việt Nam vẫn khẳng định mình là nhà thuê quảng cáo hàng đầu ở Việt Nam với chi phí quảng cáo trung bình trong năm

    • triệu USD ( theo số liệu của AC Nelsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam). Trong năm 1999, Unilever Việt Nam chi khoảng 14 triệu USD cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đến năm 2000 con số đạt mức kỉ lục là 20 triệu USD tương đương với 34% tổng chi phí dành cho quảng cáo ở Việt Nam của năm 2000. Trong 7 tháng đầu năm 2003 các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình tuy không rầm rộ bằng năm 2002 song cũng tốn kém khoảng hơn 6 triệu USD.

    Tiếp theo phải kể đến đối thủ số một của Unilever ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đó là P&G . Với số lượng nhãn hiệu kinh doanh ở Việt Nam ít hơn nên chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình của hãng cũng ít hơn nhiều so với Unilever. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của P&G Việt Nam hàng năm chỉ vào khoảng 3-4triệu USD, trong đó chi phí quảng cáo trên truyền hình của hãng năm 1999 là 4.118.000 USD, năm 2000 là 3.290.000 USD và ước tính năm 2003 chi phí quảng cáo trên truyền hình của P&G Việt Nam ước tính cũng khoảng gần 4 triệu USD.

    47

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được nhiều thành công đáng kể, chiếm được thị phần khá lớn trên thị trường đồ uống Việt Nam. Thông qua hai công ty quảng cáo hàng đầu trên thế giới là Bates Worldwide và Lowe & Partners, tập đoàn các nhà máy Việt Nam đã trình diễn những chương trình quảng cáo ngoạn mục theo những trường phái khác nhau cho 2 loại sản phẩm bia là Tiger và Heineken.Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của công ty trong những năm qua vào khoảng 2,4 triệu USD( trong đó năm 1999 là 1.668.000 USD, năm 2000 là 2.056.000 USD, năm 2002 với show quảng cáo “ The Quest” với thời lượng kỉ lục 120 giây đã làm cho chi phí cho quảng cáo trên truyền hình của hãng tăng lên đáng kể hơn 4 triệu USD.

    Coca Cola Việt Nam, tuy không còn rấm rộ như một vài năm trước song vẫn đứng trong top 10 nhà thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây. Với chi phí quảng cáo trên truyền hình lên tới hàng triệu USD, Coca Cola luôn tạo ra những chương trình quảng cáo trẻ trung, mới lạ , Hàng năm công ty bỏ ra khoảng 2,5 triệu USD phục vụ hoạt động quảng bá thương hiệu của mình trên truyền hình (chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1999 là 2.721.000 USD, năm 2000 là 3.452.000 USD, năm 2003 với chiến dịch quảng cáo “anthem” Coca cola cũng bỏ ra khoảng gần 2 triệu USD).

    3.4. Các nhãn hiệu được quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây.

    Từ năm 1999 trở lại đây, đã có nhiều chiến dịch quảng cáo trên truyền hình khác nhau được tung ra để khẳng định các nhãn hiệu cũng như thương hiệu của các doanh nghiệp. Bằng việc xuất hiện nhiều lần trên truyền hình mà tên của một số nhẫn hiệu đã được người tiêu dùng sử dùng để thay thế cho tên một mặt hàng nào đó.

    Năm1999, nhãn hiệu bột giặt Omo được Unilever cho xuất hiện trên truyền với số lần phát sóng nhiều nhất trong 5 năm trở lai đây hơn 3000 lần.

    48

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tiếp theo phải kể đến là chương trình quảng cáo giới thiệu sản phẩm xe máy Future mới của công ty Honda Việt Nam, các chiếc xe Future lần lượt xuất hiện trên truyền hình đến 1549 lần trong năm 1999. thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam. Hai nhãn hiệu khác của Unilever là đầu gội đầu Sunsil và Clear cũng được trình làng khá thuyết phục với số lần xuất hiện trên truyền hình trên 2000 lần.

    Bảng 2.9: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 1999.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 1999 (1000USD) truyền hình
    Bột giặt Omo 1862 3225
    Xe máy Honda 1391 1549
    Dầu gội đầu Sunsil 1334 2322
    Nước ngọt Coca – 1118 1858
    cola    
    Dầu gội đầu Clear 1097 2087

    Nguồn: Tổng kết số liệu của AC Nelsen Việt Nam/ Vietnam Consumers and Advertising, năm 2000.

    Trong năm 2000, nhãn hiệu dầu gôi đầu Clear của Unilever Việt Nam vươn lên vị trí số 1 xét về số lần quảng cáo trên truyền hình. Số lần được quảng cáo trên truyền hình của nhãn hiệu này trong năm 2000 là 2010 là, vượt xa nhãn hiệu thứ 2 là kem đánh răng P/S. Nhãn hiệu P/S cũng của Unilever Việt Nam có số lần phát sóng trên truyền hình là 1609 lần.Đứng thứ 3 cũng là một nhãn hiệu khác của Unilever Việt Nam, đó là nhãn hiệu bột giặt Omo, xuất hiện trên truyên hình tận 1204 lần. Nhãn hiệu Coca cola vẫn giữ được vị trí so với năm trước và có số lần phát sóng là 1200 lần trong năm 2000. Tuy có chi phí quảng cáo thấp, song nhãn hiệu Doublemin lại có số lần phát sóng tương đối lớn, 1195 lần, đứng thứ năm trong bản tổng sắp 5 nhãn hiệu có số lần quảng cáo

    49

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.10 : Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2000.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 2000 (1000USD) truyền hình
    Dầu gội đầu Clear 920 2010
    Kem đánh răng P/S 905 1609
    Bột gặt Omo 826 1204
    Nước ngọt Coca – cola 1038 1200
    Kẹo cao su Doublemin 396 1195

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2001

    Trong năm 2001, nhãn hiệu nước tăng lực Number 1, của một doanh nghiệp trong nước đầu tiên, công ty bia Bến Thành được xếp vào trong top 5 nhãn hiệu, có số lần phát sóng truyên truyền hình 1495, chỉ đứng sau nhãn hiệu Lifebouy của P&G với số lần xuất hiện trên truyền hình là 1785lần và nhãn hiệu Cool air 1698 lần. Nhãn hiệu Number 1,vượt qua cả nhãn hiệu kem đánh răng P/S với số lần xuất hiện là 1139 lần và Doublemin 898 lần.

    Bảng 2.11: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2001.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên Số lần xuất hiện trên
      truyền hình 2001 truyền hình
      (1000USD)  
    Xà phòng tắm Lifebouy 590 1485
    Kẹo Cool air 526 1698
    Nước tăng lực Number 156 1495
    1    
    Kem đánh răng P/S 449 1139
    Kẹo cao su Doublemin 243 898

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2002.

    Năm 2002, với những chương trình quảng cáo truyền hình rầm rộ, oộng với hàng loại các chương trình tài trợ trên truyền hình, nhãn hiệu bia Tiger của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam được đưa lên truyền hình nhiều nhất vớí số lần xuất hiện là 1918. Xếp thứ hai là một loạt các sản phẩm điện gia dụng mang nhãn hiệu Toshiba với số lần phát sóng là 1485 lần. Nhãn hiệu nước tăng lực Number

    50

    Khoá luận tốt nghiệp

    1của công ty bia Bến Thành tụt xuống vị trí thứ 4 với số lần phát sóng là 1039 lần, đứng sau nhãn hiệu Doublemin với 1209 lần. Đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng 5 nhãn hiệu có số lần phát sóng nhiều nhất là nhãn hiệu làm đẹp Hazeline của Unilever với số lần xuất hiện trên truyền hình là 982 lần.

    Bảng 2.12: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2002

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 2002 (1000USD) truyền hình
    Bia Tiger 1218 1918
    Toshiba 654 1485
    Keo cao su Doublemin 257 1209
    Nước tăng lực Number 1 71 1039
    Mĩ phẩm Hazeline 283 972
         

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2003.

    Trong 6 tháng đầu năm 2003, nhãn hiệu bia Tiger vẫn giữ nguyên phong độ so với năm 2002 dẫn đầu với số lần phát sóng1803 lần, tiếp theo là sản phẩm nước làm mền vải Comfort của Unilever Việt Nam với số lần phát sóng là 1602 lần. Đứng thứ 3 và 4 là hai nhãn hiệu của các công ty 100% vốn trong nước là nhãn hiệu nước tăng lực Number 1 và nhãn hiệu bột gặt Viso chanh với số lần phát sóng trên truyền hình lần lượt là 1585 và 1086 lần. Cuối cùng trong nhóm 5 nhãn hiệu có số lần phát sóng nhiều nhất là nhãn hiệu Toshiba.

    Bảng 2.13: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình 6 tháng đầu năm 2003.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền hình 6 Số lần xuất hiện
      tháng đầu năm 2003 (1000USD) trên truyền hình
    Bia Tiger 1147 1803
    Nước mền vải Comfort 849 1602
    Nước tăng lực Number 1 368 1585
    Bột gặp Viso 616 1084
    Toshiba 572 952

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, 6 tháng đầu 2003.

     

    51

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tuy nhiên, bảng xếp loại các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình này chỉ tính đến 6 thàng đầu năm 2003. Thứ tự của các nhãn hiệu này sẽ thay đổi rất lớn, do cuối năm các doanh nghiệp thường đua nhau tiến hành các chương trình quảng cáo trên truyền hình nhăm thu hút sự chú ý của khách hàng, đặc biệt là những tháng gần tết. Bởi đầy là thời kì người tiêu dùng mua xắm nhiều nhất trong năm.

    3.5.Các chương trình quảng cáo nổi bật trong một số năm trở lại đây

    Trong những năm trở lại đây, càng ngày càng có nhiều hơn các chương trình quảng cáo chất lượng tốt, có nội dụng nổi bật. Dưới đây là một số các chương trình được đánh giá là nổi bật nhất.

    Trước tiên phải kể đến là các chương trình quảng cáo của nhãn hiệu bia Heineken. Bền bỉ và rất sáng tạo, các chương trình quảng cáo ( như mẫu quảng cáo tắt đèn, hay rào cản khó khăn) của Heineken hầu như loại bỏ đi những lời thuyết minh, tập trung đưa ra những hình ảnh hấp dẫn và luôn kết thúc với tagline ‘Chỉ có thể là Heineken” đã gấy được nhiều ấn tượng tốt đối với người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là đối với giới trê Việt Nam. Lấy ví dụ mẫu quảng cáo rào cản khó khăn, một chàng trai trong quàn bả phải vất vả lục tay xuống tận đáy thùng nước đá, mò mẫn mãi mới được chia Heineken mong ước, lúc này tay chàng trai đã run lên lập cập vì lạnh. Mẫu quảng cáo được đánh giá là mẫu quảng cáo tiêu biểu mang phong cánh rất Heineken, trong đó người làm quảng cáo đã rất kéo léo trong việc gắn kết nhãn hiệu Heineken với bản lính và các tính của người đàn ông hiện đại.

    Trái với các mẫu quảng cáo độc đáo của Heineken, chương trình quảng cáo của nhãn hiệu dich vụ S-fone lại hướng đến những hình ảnh giàu cảm xúc, có tính liên tưởng cáo nhằm thể hiện tần quan trọng của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Với lời thuyết minh khá ngắn gọn và xúc tích, nhất quán trong từng hình ảnh minh họa: lời nói theo suôt cuộc đời, lời nói truyền cảm hứng, lời nói

    52

    Khoá luận tốt nghiệp

    làm nhói đau…Tất cả các thông điệp và hình ảnh đều nhằm lm nổi bật thông điệp

    “ Lời nói sẽ thên sức mạnh với S-fone”. Mẫu quảng cáo này cũng được đánh giá rất cao, nó vừa có tính liên tưởng cao, song lại vẫn dễ hiểu, dễ cảm nhận, tác động mạnh mẽ đến nhiều đối tượng tiêu dùng khác nhau.

    Khác so với 2 mô hình quảng cáo ở trên, các mẫu quảng cáo của Kotex lại hướng vào đới sống sôi động hàng ngày của thanh niên hiện nay. Các mẫu quảng cáo Kotex sử dụng tốt đa hiệu ứng âm thanh. Những lời hát nền trong mẫu quảng cáo Kotex như “ tôi muốn vô tư cùng bạn bè đi khắp nơi…” khá độc đáo và dễ đi vào lòng người, đặc biệt ấn tượng đối giới trẻ nữ.

    Ba mẫu quảng cáo với 3 phong cách thể hiện khác nhau ( mẫu một chú ý đến tình huống, mẫu thứ 2 tập trung vào những hình ảnh giàu cảm xúc, mấu thứ 3 chú ý khai thác tốt đa hiệu ứng âm thanh) trong rất nhiều các mẫu chương trình quảng cáo trên truyền hình đặc sắc và nổi bật. Nói chung, các mẫu quảng cao muốn thành công cần phải đảm bảo trước hết các nguyên tắc trong quảng cáo nói chung (như tính trung thực, tính pháp lý và đặc tính thẩm mĩ, văn hoá), tiếp tới phải tận dụng tối đa được các yêu tố kĩ thuật của hoạt động quảng cáo trên truyền hình: đó là yếu tố hinh ảnh, âm thanh, nội dung, tình huống, cốt truyện…

    3.6. Môt số bất cập trong các chương trình quảng cáo hiện nay ở Việt Nam

    Hoạt động quảng cáo trên truyên hình hiện nay đang ngày càng đi theo con đường chuyên nghiệp. Các chương trình quảng cáo trên truyền bắt đầu gây được nhiều ấn tưởng sâu sắc, có chất lượng và nội dung ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tốt của đạt được, hoạt động quảng cáo trên truyền hình vẫn còn một số bất cập. Đó là các hiện tượng quảng cáo phóng đại, quảng cáo lừa bịp, quảng cáo gây nhầm lẫn và gay bực bội cho người xem.

    53

    Khoá luận tốt nghiệp

    Các chương trình quảng cáo với những lời thuyết minh quá phóng đại, những lời thuyết minh mập mờ lừa bịp về chất lượng của sản phẩm dịch vụ vẫn còn xuất hiện khá nhiều trên truyền hình như sản phẩn dịch vụ “số một thế giới”, sản phẩm dịch vụ “có chất tốt nhất” mà không đưa ra một bằng chứng cụ thể nào. Thâm chí một số chương trình quảng cáo còn đưa ra những thông tin hoàn toàn sai lệch về công dụng của hàng hóa. Mới đây trên chương trình thới sự ngày 14 tháng 12 năm 2003 có nêu lên hiện tượng một số sản phẩm y dược có nội dung quảng cáo không đúng với công dung của sản phẩm.

    Ngoài ra, còn có một số chương trình quảng cáo đưa ra những hiệp hội này, hiệp hội kia để lừa bịp khách hàng. Lấy quảng cáo về kem làm trắng răng là một ví dụ. Cả ba cơ quan như Tổ chức Quản lý Dược và Thực phẩm, Cục Thương mại Liên bang và Hiệp hội về Răng (Mỹ) đều không thể nào xác định thế nào là kem đánh răng làm trắng răng, các thành phần hay công nghệ sản xuất của nó ra sao. Thế mà, Close-Up cam đoan làm cho răng ngày càng trắng hơn, P/S hứa hẹn đẩy lùi các vết ố… Trên thực tế, kem đánh răng chỉ làm sạch răng, làm chúng có vẻ trắng hơn. Mặt khác, theo chí Consumer Reports (Bản tin Người tiêu dùng của Mỹ) đã thử nghiệm 14 loại kem đánh răng được quảng cáo là làm trắng răng thì không sản phẩm nào có thể làm trắng men răng. Như vậy, các quảng cáo như trên là sai sự thật, đó là hành vi lừa gạt tâm lý người tiêu dùng.

    Bên cạnh những quảng cáo mập mờ, phóng đại thậm chí lừa bịp người tiêu dùng, là những chương trình quảng cáo gây xúc phạm. Nhìn chung, các chương trình quảng cáo luôn phải thể hiện tính văn hoá, trách gây ra những liên tưởng gây xúc pham đến người xem. Mới đây, Unilver Việt Nam có tiến hành quảng cáo nhãn hiệu P/S sữa mới với hình ảnh một chàng bác sĩ cho bò nghe nhạc Briney Spear để có được nhiều sữa hơn cho việc sản xuất kem

    54

    Khoá luận tốt nghiệp

    đánh răng P/S làm cho người xem cảm thấy thực sự bị xúc phạm đặc biệt là người yêu quý những bài hát của nữ ca sĩ Briney Spear.

    Ngoài ra, cón có một số chương trình quảng cáo gây cho người xem bực bội, nguyên nhân chủ yếu là do có sự khác biệt về các giá trị đạo đức cũng như sự phác biệt về thuần phòng mĩ tục. Gần đây, tập đoàn LG có tung ra một chương trình quảng cáo cho máy bơm Wilo. Hình ảnh những thiếu nữ trong những chiếc áo dài truyền thống vốn chỉ trưng diện trong các ngày lễ hộ trang trọng, uy nghiệm thì lại được các nhà quảng cáo cho nhảy múa dưới những vòi nước với những chiếc áo dài trắng ướt sũng bó sát cơ thể, làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy vô cùng bực bội, đặc biệt là những khán giả nữ giới.

    Trên đây chỉ là một trong số những ví dụ về những bất cập trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam. Những bật cập nêu trên cần phải được xoá bỏ nhằm cho hoạt động quảng cáo trở nên lành mạnh hơn, thực sự tạo cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình là cầu nối vững chắc nhất giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

    3.7. Các tổ chức quảng cáo ở Việt Nam

    3.7.1. Các tổ chức quảng cáo trong nước

    Chỉ trong vòng vài năm trở lại đây số lượng các công ty quảng cáo trong nước tăng lên đáng kể. Hiện nay số lượng các công ty quảng cáo trong nước có khoảng gần 300 công ty. Các công ty quảng cáo trong nước nhìn chung chưa cơ sở và kĩ thuật thực sự hiên đại để sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình thực sự xuất sắc như các tổ chức quảng cáo trên truyền hình nước ngoài. Tuy nhiên, các công ty, các tổ chức quảng cáo lại có lợi thế tuyệt đối về mức phí để sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Thông thường mức phí để sản xuất một chương trình quảng cáo trên truyền hình do công ty quảng cáo trong nước thực hiện giao động trong khoảng từ 10 đến 300 triệu ( tức là khoảng 1500 USD) hay khoảng từ 2 – 4 % tổng chi

    Khoá luận tốt nghiệp

    phí dành cho quảng cáo của một doanh nghiệp tuỳ thược vào mức độ kĩ sản dựng hình. Chẳng hạn như, chi phí để sản xuất chương trình quảng cáo cho pin con ó Đồng Nai là 15 triệu, hay cho ổn áp Rôbốt là 18 triệu. Nếu đem so sánh với mức phí sản xuất một chương trình quảng cáo trên truyền hình của một tổ chức quảng cáo nước thì mức phí này là quá thấp chỉ bằng khoảng 20-25%. Nói chung giá sản xuất các chương quảng cáo do các tổ chức quảng cáo trong nước thực hiện khá phù hợp với đa số các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam. Với một mức phí không lớn, các công ty có nguồn vốn hạn chế cũng có thể có cơ hội thực hiện các chương trình giới thiệu các sản phẩm của mình trên truyền hình.Tuy số lượng các công ty quảng cáo trong nước nhiều song chỉ có khoảng vài chục công ty là có quy mô nổi bật nhất như trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình thuộc đạic truyềnhình VIệt Nam (TVAd), công ty dịch vụ quảng cáo và thương mại Vinadex, công ty quảng cáo và hội chợ thương mại Vinexad, công ty quảng cáo VMC, công ty quảng cáo Trẻ,côngty quảng cáo Đất Việt, công ty quảng cáo Sài Gòn, côngty quảng cáo Goldsun ..

    3.7.2. Các công ty quảng cáo nước ngoài

    Sau khi luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ban hành tháng 12/1989 và có hiêu lực vào đầu năm 1990, các công ty sản xuất và cung cấp các dịch vụ trong đó có một số công ty quảng cáo lớn trên thế giới lác đác có mặt tại Việt Nam để khai thác những tiềm năng to lớn của thị trường đầy mới mẻ này. Đặc biệt là sau khi Mĩ rỡ bỏ lệnh cấm vân kinh tế Việt Nam, số lượng các công ty, các tập đoàn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng đầu của thế giới bắt đầu tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, kéo theo sự gia tăng của các công y sản xuất là các tập đoàn, các công ty dịch vụ đặc biệt là các công ty quảng cáo nôit tiếng trên thế giới như công ty quảng cáo Bates của Mĩ, Claude của Pháp, Denstu của Nhật bản, Optel Media của úc…

    56

    Khoá luận tốt nghiệp

    Sau khi tham gia vào thị trường Việt Nam, với một bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo, các công ty quảng cáo nước ngoài băt đầu tiến hành những khâu cơ bản trong nghiệp vụ quảng cáo. Đó là việc khai thác các thị trường quảng cáo mới thông qua các cuộc điều tra về thị trường, các cuộc điều tra xã hội học và tâm lý học cũng như những cuộc điểu tra về phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp Việt Nam. Sau khi đã nắm bặt đước sự phát triền của dich vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam cũng như những hành vi tiêu dùng của người Việt Nam, trong một thời gian ngắn các công ty đã bắt đầu thiết kế những chương trình quảng cáo khá ấn tượng.

    Nhìn nhận thực tế là các tập đoàn lớn thường không thuê các công ty quảng cáo trong nước trực tiếp làm quảng cáo cho họ. Bởi do các công ty này yêu cầu những công ty quảng cáo phải thực sự chuyên nghiệp trong việc xây dựng các chiến dịch quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình noi riêng, thực hiện các chiến dịch quảng cáo nghiêp cứu và đánh giá các chương trình quảng cáo. Đồng thời các công ty quảng cáo nước ngoài có công nghệ, máy móc chuyên dụng trong việc thực hiện các đoạn phim quảng cáo.

    Mặt khác, các công ty nước ngoài thường đã có các hợp đồng dài hạn kí với các công ty quảng cáo nước ngoài thậm chí trước khi đặt chân lên thị trường Việt Nam. Chẳng hạn, Công ty Denstu làm các dịch vụ quảng cáo cho Honda trên toàn thế giới, cũng như ở đâu có Heineken thì ở đó có Bates & Worldwide. Sở dĩ các công ty sản xuất thường thực hiện hợp đồng dài hạn với các côngty quảng cáo bởi các công ty quảng cáo hiện thời đã có cái nhìn tổng quát về thực tế kinh doanh và sản xuất của các công ty trên.

    Bên cạnh đó, Các công ty sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam lại chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ, khả năng trang trải cho các chương trình quảng cáo truyền hình đồ sộ là không khả thi, nên cũng rất ít công ty trong nước thuê các công ty quảng cáo nước ngoài thực hiện các chương trình quảng cáo cho mình. Một thí dụ thực tế đơn giản, công ty Honda Việt Nam hiện đang

    57

    Khoá luận tốt nghiệp

    tiến hành chiến dịch quảng cáo lấy tên “ Tôi yêu Việt Nam” thông qua công ty quảng cáo Denstu Việt Nam với chỉ chi phí làm phim thôi cũng đã mất khoảng hơn 80.000 USD. Nói chung các chi phí thủ lao cho các công ty quảng cáo nước ngoài thường vào khoảng 15- 20% tông chi phí thực hiện chương trình quảng cáo, con số này gấp 2 lần so với chi phí bỏ ra để thuê các công ty quảng cáo trong nước. Tuy khoản phí giành cho quảng cáo tuy lơn nhưng cũng phải nói rằng chất lượng của các chương trình quảng cáo luôn có chất lượng tốt. Chính vì thế mà rất nhiều các công ty quảng cáo lớn đã và đang đăng kí kinh doanh ở Việt Nam.

    Trong số các công ty quảng cáo nước ngoài hiện nay, có khoảng hơn 20 công ty quảng cáo nước làm ăn phát đạt, đồng thời chiếm lính hầu hết các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Có thể liêu kê một số các công ty tiêu biểu:

    Bảng 2.14 : Một số công ty, văn phòng đại diện quảng cáo nước ngoài ở Việt Nam

    Stt Tên công ty Địa chỉ
         
    1 J. Watlter Thompson Co. 2E, Nguyễn Thành ý, Q1, HCM.
         
    2 Bates Worldwide 88 Mạc Đĩnh Tri, Q1 , HCM
           
    3 Leo Burnett Co. 27 Nguyễn Trung Trực, Q1, HCM.
           
    4 Saatchi & Saatchi Advertsing 72 Võ Thị Sáu, Q1, HCM
         
    5 Ogilvy & Mather 55 Hồ Văn Hơn, Q1, HCM.
         
    6 BBOO Worldwide 1A, Công trường Mê Linh , Q1, HCM
           
    7 Grey Indochina 35 Nguyễn Huệ, Q1, HCM
         
    8 Optel Media 120 Nguyễn Văn ThụmQ1, HCM
         
    9 McCann Erickson Worldwide 429 Võ Văn Tần, Q3, HCM
         
    10 Hakuhodo 65 Lê Lợi, Q1, HCM
         
    11 Denstu 115 Nguyễn Huệ, Lầu 8, Q1, HCM
         
    12 Dai – Ichi Kikaku 115 Nguyễn Huệ, Lầu 8, Q1, HCM
           

    58

    Khoá luận tốt nghiệp

    13 Prakit- FCB 106 Nguyễn Đình Chiểu, Q1, HCM
         
    14 Denstu Young – Rubicam 8 Nguyễn Huệ Q1, HCM
         
    15 Asatsu – DK 115 Nguyễn Huệ, Q1, HCM
         

    Nguồn : www. svhtt.hochiminh.vn/thông tin/quảng cáo

    3.8. Các tổ chức truyền thông

    Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 60 đài truyền hình cả trung ương lẫn địa phương.Tất cả các đài truyền hình trên cả nước được coi là các tổ chức, các doanh nghiệp nhà nước nhằm phục nhu cầu phát triển đất nước cũng như nhu cầu thông tin giải trí cho nhân dân. Tuy là các tổ chức thuộc sở hữu nhà nước, song tất cả các đài tuyền hình trên cả nước đều thực hiện dịch vụ cho thuê phát sóng quảng cáo trên các đài truyền hình của mình với các mức phí cho thuê phát sóng khác nhau. Tuy nhiên, Hoạt động cung cấp các phát sóng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là sự cạnh tranh giữa

    • đài truyền hình lớn: đài truyền hình Việt Nam, đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, và đài truyền hình Hà Nội.

    Đài truyền hình Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về phạm vi phủ sóng. Các chương trình truyền hình được phát trên đài truyền hình Việt Nam được thu phát trên toàn quốc, tuy nhiên chi phí cho thuê phát song lại tương đối cao so với các đài truyền hình khác.

    Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và đài truyền hình Hà Nội tuy có diện phủ sóng nhỏ hơn rất nhiều so với đài truyền hình Việt Nam, song đối với tổ chức thuê quảng cáo thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đươc coi là

    • trọng điểm kinh tế lớn nhất trong cả nước, ngoài ra chi phí quảng cáo tại hai đài này lại khá phải chăng so với đài truyền hình Việt Nam.

    Các đài truyền hình thương thực hiện các hình thức kinh doanh như: thực hiện các phòng sự, phim chuyên quảng cáo nhằm giới thiệu doanh nghiệp, sảm phẩm của daonh nghiệp (các phim chuyên quảng cáo theo nghi định 24/2003 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo có thời lượng

    Khoá luận tốt nghiệp

    phát sóng liên tục trên 10 phút), bán spot quảng cáo, kêu gọi tài trợ cho các chương trình phát sóng trên truyền hình có bản quyền như các chương trình khoa học, phim truyện cũng như tài trợ cho các chương trình vui chơi giải trí…

    Được biết, mức doanh quảng cáo trên truyền hình của chỉ ba đài truyền hình kể trên năm 2002 đạt khoảng 83 triệu USD (chiếm khoảng 90% tổng doanh thu từ hoạt động quảng trên truyền hình trong cả nước. Trong 3 đài truyền hình kể trên thì đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh được coi là hoạt động có hiệu quả nhất, mức doanh thu hàng năm của của đài thường chiếm khoảng 40 – 45 % tổng doanh thu quảng cáo trên truyền hình trong cả nước. Đài truyền hình Việt Nam có mức doanh thu thường chiếm 20-24 % tổng doanh thu quảng cáo trên truyền hình

    4. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHI PHÍ QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    Các nhân tố ảnh tác động trực tiếp đến chi phí quảng cáo trên truyền hình gồm có phí quảng cáo và hành lang pháp luật.

    4.1. Phí quảng cáo trên truyền hình

    Yếu tố phí quảng cáo trên truyền hình nêu ra ở đây bao gồm các chi phí sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình và phí phát sóng quảng cáo trên truyền hình.

    Mức phí sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình rất đa dạng. Nó phụ thuộc vào yếu tố kĩ thuật hình thành nên chương trình quảng cáo, cũng như phụ thuộc vào công ty quảng cáo sản xuất chương trình quảng cáo đó. Các chương trình quảng cáo đơn gian, có thời lượng quảng cáo ngắn, sử dụng ít kỹ xảo sản xuất thường có mức phí sản xuất từ 1000- 10.000 USD, trong khi các chương trình quảng cáo có chất lượng kĩ thuật cao, có quy mô lớn thường có chi phí cao hơn nhiều. Chi phí sản xuất chương trình quảng cáo trên truyền hình của các công ty trong nước sản xuất thời thấp hơn từ 4-5 lần

    Khoá luận tốt nghiệp

    so với các chương trình quảng cáo được sản xuất bởi các công ty liên doanh và các công ty nước ngoài. Chi phí sản xuất quảng cáo do các công ty liên doanh thường chiếm khoảng 15-20% tổng chi phí dành cho cả chương trình quảng cáo của các doanh nghiệp. Trong khi đó, chi phí sản xuất các chương trình quảng cáo của các công ty trong nươc chỉ chiếm khoảng 3 – 5% tổng chi phí dành cho cả chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo.

    Cũng giống như chi phí sảm xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình, chi phí phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình cũng khá đa dạng. Chi phí phát sóng các chương trình quảng cáo có sự khác biệt không chỉ giữa các đài truyền hình khác nhau mà còn sự khác biệt trong từng thời điểm phát sóng. Mức phí quảng cáo còn có sự phân biệt đối với các sản phẩm dịch vụ nước ngoài, liên doanh với các hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước.

    Chẳng hạn như biểu giá quảng cáo trên truyền hình năm 2003 của đài truyền hình Việt Nam (VTV) (xem phụ lục), Chi phí quảng cáo tối thiểu cho

    • giây quảng cáo trên truyền hình vào lúc 6 giờ đến 12 giờ ngoài các chương trình phim và giải trí là 1,5 triệu đối với các sản phẩm và dịch vụ nước ngoài, liên doanh và 1,125 triệu đối với các sản phẩm dịch vụ trong nước. Chi phí lớn nhất cho 10 giây quảng cáo là vào lúc 20 giờ đến 23 giờ trong các chương trình phim và giải trí đối với sản phẩm dịch vụ trong nước là 11,063 triệu và đối với sản phẩm dịch vụ liên doanh và nước ngoài là 13,750 triệu. Chi phí phát sóng này sẽ tăng lên theo thời lượng phát sóng, như cho 10 giây, 15 giây, 20, 30 giây phát sóng. Ngoài ra, VTV còn ấn định mức phí phát sóng các chương trình quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp có độ dài từ 3 phút đến 10 phút voí mức phí là 15 triệu một phút cho các doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài, liên doanh, và 12 triệu/phút cho các doanh nghiệp trong nước.

    61

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.15: Biểu giá tối thiểu và tối đa của một số đài truyền hình cho 30 giây quảng cáo áp dụng cho 2003

              Đơn vị: đồng
             
      Sản phẩm dịch vụ trong nước Sản phẩm dịch vụ liên doanh, nước
          ngoài  
               
      Giá tối thiểu Giá tối đa Giá tối thiểu   Giá tối đa
               
    VTV 2.250.000 22.125.000 3.000.000   29.500.000
               
    HTV 480.000 7.650.000 810.000   17.010.000
               
    EAC 260.000 3.900.000 150.000   1.950.000
               

    Nguồn: Tổng hợp biều giá quảng cáo của VTV,HTV và EAC, năm 2003.

    Trên đây là biểu phí quảng cáo của 3 đài truyền hình: đài truyền hình Việt Nam (VTV), đài truyền hình Hà Nội (HTV) và công ty quảng cáo và thiết bị truyền hình (EAC) cho 30 giây quảng cáo.

    Các đài truyền hình khác nhau có đưa ra những biểu phí phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình khác nhau. Nguyên nhân giải thích sự khác biệt trong biểu phí của các đài truyền hình là do yếu tố cạnh tranh cũng như phạm vi phủ sóng. Chẳng hạn như, biểu giá quảng cáo của đài truyền hình Hà Nội luôn thấp hơn so với biểu phí quảng cáo của đài truyền hình Việt Nam, do phạm vi phủ sóng của đài truyền hình Việt Nam lớn hơn nhiều so với đài truyền hình Hà Nội.

    Ngoài ra, ta có thể nhận thấy biểu phí quảng cáo của các đài truyền hình có xu hướng tăng lên theo thời gian, đặc biệt là đối với các hàng hoá dịch vụ trong nước. Nếu như giá tối thiểu cho 30 phút/ lần phát sóng của VTV năm 2001 đối với sản phẩm dịch vụ trong nước là 1,5 triệu đồng, thì đến năm 2003 mức giá tối thiểu này đã tăng lên 525.000 đồng tức là giá tối thiểu hiện nay là 2,25 triệu đồng. Biểu phí quảng cáo cho các hàng hoá dịch vụ nước ngoài là liên doanh cũng có tăng nhưng tỷ lệ tăng thấp hơn so với các sản phẩm dịch vụ trong nước.

    62

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.16: Biểu giá tối thiểu và tối đa của một số đài truyền hình cho 30 giây quảng cáo áp dụng cho 2001

              Đơn vị: đồng
             
      Sản phẩm dịch vụ trong nước Sản phẩm dịc vụ liên doanh, nước
          ngoài  
               
      Giá tối thiểu Giá tối đa Giá tối thiểu   Giá tối đa
               
    VTV 1.500.000 5.500.000 6.000.000   24.500.000
               
    HTV 240.000 3.500.000 120.000   17.500.000
               

    Nguồn: Tổng hợp biểu giá của VTV và HTV cho năm 2001.

    Bên cạnh việc đưa ra biểu phí quảng cáo, các đài truyền hình còn đưa ra những mức giảm giá và tỷ lệ giảm giá khác nhau. Mức độ giảm giá này có sự khác biệt rõ ràng giữa các sản phẩm trong nước và các sản phẩm dịch vụ nước ngoài , liên doanh. Bên cạnh đó, các đài truyền hình còn ấn định tỷ lệ giảm giá tương đối khác nhau đối với các khách hàng. Các công ty quảng cáo thường được hưởng mức giảm giá cao hơn so với các đối tượng khác. Mức giảm giá của đài truyền hình Hà Nội theo mức độ giảm giá có tỷ lệ giảm giá cao hơn 2% so với các đối tượng khác. Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm giá nhiều hơn này, là do các công ty quảng cáo là những khách hàng thường xuyên của các đài truyền hình. ( Mức độ và tỷ lệ giảm giá chi tiết trong phụ lục).

    4.2. Quản lý nhà nước đối với quảng cáo trên truyền hình

    Tổng chi phí quảng cáo trên truyền hình hình thành trên cơ sở các loại phí quảg cáo trên truyền hình cũng như thời lượng quảng cáo trên truyền hình.

    Hiện nay, ở Việt thời lượng quảng cáo bị chi phối trực tiếp bởi các quy định của luật pháp. Theo Nghị đinh 24/ 2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo, thời lượng quảng cáo cũng như các quy định về đợt quảng cáo trên truyền hình là vô cùng khắt khe. Mỗi chương trình phim truyện trên đài truyền hình không được ngắt quảng cáo quá 2 lần, mỗi lần

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo không quá 5 phút, mỗi chương trình vui chơi giải trí không được quảng cáo quá 5 phút. Mỗi đợt phát sóng quảng cáo cho một sản phẩm không được quá 8 ngày liên tục. Ngoài ra, một số các sản phẩm còn bị cấm quảng cáo như không được quảng cáo giấy vệ sinh, và bao cao su vào những giờ ăn…

    Bên cạnh đó, việc xét duyệt các chương trình quảng cáo của các doanh nghiệp cũng bị chi phối bởi rất nhiều các bộ chủ quản chẳng hạn như Bộ Văn hoá-Thông tin, và các bộ chức năng như Bộ y tế hợp tác trong việc xét duyệt đối với các chương trình quảng cáo các sản phẩm y dược, đổ uống, thực phẩm, Bộ khoa học công nghệ hợp tác trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, bộ kế hoạch và đầu tư phụ trách việc cấp phép kinhdoanh cho các doanh nghiệp, các công ty quảng cáo, các văn phòng đại diện của các công ty qyảng cáo…Do mối liên kết giữa các bộ phận nhà nước có liên quan chưa thật sự đồng bộ nên cũng ảnh hưởng khá lớn đến đến việc phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình.

    Nói chung, những quy định luật pháp càng rườm rà bao nhiêu càng ảnh hưởng đến ngành quảng cáo trên truyền hình bấy nhiêu.

    CHƯƠNG 3

    NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TRÊN VỌNG QUẢNG

    CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    1. Triển vọng phát triển của hoạt động quảng cáo ở Việt Name

    1.1. Tính tất yếu của hoạt động hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Hoạt động quảng cáo ở nhiều nước, kể cả những nước Đông Nam á, hiện đang trở thành một ngành kinh tế có tiềm năng lớn, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Ở Việt Nam, chỉ qua một thời gian ngắn phát triển, quảng cáo đã khẳng định được vị trí của mình trong nền

    Khoá luận tốt nghiệp

    kinh tế quốc dân, thể hiện ở sự đóng góp ngày một tích cực vào các lĩnh vực kinh tế cũng như trong đời sống xã hội .

    Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình tăng khá nhanh, luôn ở mức hai con số. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình mỗi năm đạt hàng trăm triệu USD. Nguồn thu từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đó thường chiếm tỷ trọng khoảng 60% tổng doanh thu từ hoạt động quảng cáo nói chung. Mặt khác, đóng góp của quảng cáo trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) ở nước ta cũng rất đáng kể. Theo ước tính, quảng cáo đã chiếm 4,6% GDP khu vực dịch vụ nói riêng và 1,8% GDP nói chung. Trong khi đó, tỉ lệ của quảng cáo nói chung đối với GDP nước ta trong năm 1996 chỉ là 1,1%. Vì vậy, có thể nói, quảng cáo phát triển mạnh đã có những đóng góp ngày càng đáng kể làm tăng thu nhập quốc dân của đất nước.

    Quảng cáo cũng góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Với mức thuế đối với các loại hình quảng cáo hiện nay là 10%, hàng năm Nhà nước ta đã thu được hàng chục triệu USD từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Nếu Nhà nước có những quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động của các văn phòng đại diện của công ty nước ngoài, thì nguồn thu cho ngân sách nhà nước của hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình thúc đẩy sản xuất do tác động kích cầu của nó. Thông qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình, người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu chất lượng cũng như giá cả của mình. Nhờ đó, danh mục hàng hoá trên thị trường nước ta ngày càng phong phú, đa dạng hơn đủ đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng. Từ đó, quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng kích thích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá

    65

    Khoá luận tốt nghiệp

    thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hoá dịch vụ của daonh nghiệp mình.

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình đem lại việc làm cho hàng nghìn người, bao gồm những người làm quảng cáo chuyên nghiệp trong các đơn vị kinh doanh quảng cáo như hoạ sĩ, nhà thiết kế, nhà tạo mẫu, người xây dựng, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, nhà nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, … Mặt khác, nhờ quảng cáo, hàng hoá được tiêu thụ mạnh hơn, sản xuất được mở rộng, do đó thu hút thêm được nhiều lao động vào quá trình sản xuất.

    Hơn nữa, cùng với xu hướng thế phát triển hiện nay, các đài truyền hình

    • Việt Nam bắt đầu tách ra khỏi sự bao cấp của nhà nước để tiến hành tự hạch toán kinh doanh. Do đó, để tạo nguồn thu phục vụ cho hoạt động của mình, các đài truyền hình bắt đầu dựa dần vào hoạt động quảng cáo trên truyền hình thông qua các dịch vụ như cho thuê phát sóng, thu hút tài trợ các chương trình truyền hình…. Có thể nói rằng, trong tương lai không xa, hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ là nguồn thu chính của các đài truyền hình ở Việt Nam. Các khoản đầu tư để nâng cấp, đổi mới trang thiết bị kĩ thuật của các đài truyền hình cũng sẽ được lấy từ nguồn thu do hoạt động quảng cáo trên truyền hình màng lại.

    Không chỉ có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc dân, hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn có nhiều tác dụng tích cực đối với đời sống văn hoá – xã hội của người dân Việt Nam.

    Thông qua các hình thức tài trợ, các nhà sản xuất, các hãng quảng cáo đã không tiếc tiền để đưa tên tuổi của mình đến với công chúng một cách văn hoá như tài trợ cho các cuộc thi đấu thể thao … Hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng đã hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá thể thao có những bước khởi sắc mới. Lấy một ví dụ tiêu biểu, nhờ có các hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền

    66

    Khoá luận tốt nghiệp

    hình nói riêng giúp Việt Nam giảm khá nhiều kinh phí cho việc tổ chức đại hội thể thao các nước đông nam á SEAGAME 22 đang diễn ra ở Việt Nam. Quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn giúp cho các vận động viên đạt được nhiều thành tích hơn trong thi đấu. Nói chung, hiện nay, theo số liệu của Bộ Văn hoá và Thông tin, có hơn 70% kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động kể trên là từ nguồn tài trợ quảng cáo của các doanh nghiệp.

    Ngoài ra, thông qua việc tài trợ cho các chương trình ca múa nhạc, các nhà sản xuất, các công ty quảng cáo một mặt có thể quảng bá rộng rãi thương hiệu của mình, mặt khác nâng cao hơn đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Nam.

    Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn tiến hành nhiều chương trình khuyến học, các chương trình trao học bổng cho các sinh viên, học sinh xuất sắc có hoàn cảnh khó khăn… chẳng hạn như chương trình” Đèn đom đóm” của công ty sữa cô gái Hà Lan, chương trình “ OMO ngời sáng tương lai” của Unilever Việt Nam hay chương trình “Super Dream vun đắp những ước mơ” của Honda Việt Nam…Các chương trình khuyến học, các chương trình trao học bổng cho các sinh viên, học sinh xuất sắc có hoàn cảnh khó khăm.. nêu trên có ảnh hưởng vô cùng tích cực, đem lại hiệu quả xã hội rất lớn cho sự phát triển của Việt Nam.

    Quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn giúp Chính phủ tăng cường tuyên truyền và nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho các chương trình nhân đạo xã hội. Mặc dù mục đích của các chương trình này không được coi là đối tượng quảng cáo của các doanh nghiệp, nhưng việc quảng cáo các sản phẩm liên quan đã có tác dụng không nhỏ đối với việc triển khai sâu rộng các chương trình đó. Chẳng hạn, quảng cáo bao cao su giúp ích cho chương trình kế hoạch hoá gia đình và phòng chống AIDS, quảng cáo

    67

    Khoá luận tốt nghiệp

    muối iốt là một phần quan trọng trong chương trình toàn dân sử dụng muối iốt phòng ngừa bệnh bướu cổ, giảm tỉ lệ trẻ em mắc bệnh đần độn …

    Các hình ảnh đẹp, cũng như những ngôn từ văn minh hiện trong hoạt động quảng cáo trên truyền cũng làm ảnh hưởng tích cực đối vợi một số tầng lớp người dân. Thông qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình, rất nhiều người nhận ra những nét hay nét đẹp trong các chương trình quảng cáo đó từ đó thay đổi một cách tích cực hơn trong đời sống văn hoá ứng xử cũng như trong thói quen ăn mặc hàng ngày.

    Tóm lại, sự tồn tại và phát triển của hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng là một tất yếu khách quan đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như ở Việt Nam. Có thể khẳng đinh rằng: Hoạt động quảng cáo trên truyền hình đem lại nhiều nguồn lợi cho người người xem truyền hình, cho người sản xuất, cho các đài truyền hình, cho nhà nước và cho toàn xã hội. Bởi lẽ đối với người xem truyền hình, nhờ có các chương trình quảng cáo trên truyền hình mà họ nắm được thông tin về sản phẩm mới, được xem những chương trình hay, được mua hàng với giá rẻ hơn rất nhiều; đối với truyền hình, quảng cáo trên truyền hình giúp đầu tư thiết bị, nâng cấp chương trình phát sóng, nhờ đó phục vụ tốt hơn cho đông đảo khán giả, bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng được tạo cơ hội tốt quảng bá sản phẩm trước đông đảo người tiêu dùng, đối với nhà nước, hoạt động quảng cáo trên truyền hình cũng đem lại nhiều nguồn thu cho ngân sách nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các chương trình xã hội một cách dễ dàng hơn, đối với xã hội, hoạt động quảng cáo trên truyền hình làm cho đời sống văn hoá, nghệ thuật của nhân dân trở nên phong phú hơn

    1.2. Triển vọng phát triển hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong một vài năm tới

    Hiện nay, hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đã thoát khỏi thời kỳ tự phát và bắt đầu bước vào giai doạn phát triển mang tính

    68

    Khoá luận tốt nghiệp

    chuyên nghiệp hơn, hướng vào chất lượng quảng cáo cao hơn, đồng thời cũng đi vào giai đoạn ổn định hơn.

    Có thể dự đoán chắc chắn rằng, nền kinh tế Việt Nam trong vài năm tới vẫn giữ được đà tăng trưởng như 2 năm trở lại đây. Đời sống xã hội sẽ vẫn trên con đường cải thiện một cách đáng kể. Bên cạnh đó, nhà nước cũng có nhiều biện pháp hỗ trợ khuyến khích hơn đối với các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Những yếu tố nêu trên một phần tạo đà phát triển ồn định cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong những năm tới đây.

    Ngoài ra, việc ban hành pháp lệnh quảng cáo cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh quảng cáo cũng là một phần tăng thế ổn định cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đồng thời loại bỏ được rất nhiều bất cập trong giai đoạn bùng nổ tự phát của hoạt động quảng cáo trên truyền hình, như hiện tượng quảng cáo sai, phóng đại, quảng cáo gây hiểu lầm…

    Các chương trình truyền quảng cáo trên truyền hình trong những năm tới sẽ hướng nhiều hơn đến yếu tổ mĩ thuật, nghệ thuật và ngày càng gần gũi hơn đối với các giá trị truyền thống, các giá trị đạo đức, cũng như nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam.

    Do rất nhiều yếu tố thuận lợi tác động nên tốc độ tăng trưởng trung bình trong một vài năm tới có thể sẽ cao hơn so với tôc độ tăng trưởng trong một vài năm vừa qua, và đạt mức khoảng 16% năm. Đến năm 2005, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ đạt 145 triệu USD.

    Tốc độ tăng trưởng tuy đạt mức cao, song vẫn chỉ phân bổ chỉ yếu cho các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như mĩ phẩm và các sản phẩm làm đẹp, đồ uống, thực phẩm, dược phẩm, các sản phẩm điện gia dụng, các sản phẩm ô tô, xe máy

    Trong một vài năm tới, số lượng các công ty quảng cáo sẽ không tăng nhiều, hay nói cách kháclà có xu hướng ổn định. Các công ty quảng cáo, đặc biệt là các công ty quảng cáo trong nước sẽ buộc phải hoạt động hiệu quả hơn, chú ý đến chất lượng cũng như chất sàng tạo nhiều hơn trong việc sản

    69

    Khoá luận tốt nghiệp

    xuất các chương trình quảng cáo. Ngoài ra, các công ty quảng cáo cũng sẽ mở rộng hơn nữa lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

    Nếu như số lượng các công ty quảng cáo không có xu hướng tăng nhiều, thì số lượng các doanh nghiệp thuê quảng cáo đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn 100% trong nước sẽ tăng với một lượng lớn, do cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên khốc liệt hơn.

    Tóm lại, có thể nói rằng triển vọng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong một vài năm tới là vô cùng khả quan.

    2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CÁO HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    2.1. Đối với nhà nước

    Do mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng khoảng hơn chục năm trở lại đây, cho nên ngành quảng cáo nói chung và ngành quảng cáo trên truyền hình nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt đông quảng cáo trên truyền hình nói riêng diễn ra lộn xộn, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hình thức quảng cáo này còn chồng chéo, thiếu tính khoa học do tính chất đặc thù vốn vô cùng phức tạp của hoạt động quảng cáo.

    Để quản lý tốt hơn hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng, nhà nước Việt Nam đã bãi bỏ một số các văn bản pháp luật như nghị định 194/CP năm 1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, chường 2(từ điều 11 đến diều 25) của nghị định 32/1999/NĐ-CP của chính phủ về khuyến mại, quảng cáo thương mại, hộ chợ và triểm lãm thương mại… và ban hành pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 cùng với nghị định 24/2003/ND-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo. Tuy đã được phân chia rõ trách nhiệm quản lý đối với hoạt động quảng cáo giữa các bộ ban ngành, song trên thực tế sự liên kết, phối hợp giữa các bộ còn nhiều bất cập. Nhà nước cần có đưa ra những quy

    Khoá luận tốt nghiệp

    định chi tiết hơn nũa về trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận liên quan đến hoạt động quản lý hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo nói riêng, đặc biệt đưa ra mức thời hạn thẩm định của các bộ phậm chức năng nhằm mục đích đảm bảo không qua 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ văn hoá thông tin, hoặc sở văn hoá thông tin có thể cấp phép thực hiện quảng cáo.

    Bên cạnh đó, nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến nội dung, hình ảnh các chương trình quảng cáo. Điều 3 của nghị định 24/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo mới chỉ nêu ra một số hành vi nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, những quy định nêu trong nghị định quá chung chung, đặc biệt là vấn đề ngôn ngữ dùng trong hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Ngoài ra, do hoạt động quảng cáo một mặt tác động đến hoạt động kinh doanh, đời sống kinh tế, mặt khác tác động xâu sắc đến lối sống, văn hóa của quần chúng nhân dân do đó cần phải gắn những giá trị truyền thống, những thuần phong mĩ thục tốt đẹp của Việt Nam. Xin lấy một ví dụ nhỏ, theo như nghị định trên trên thì việc quảng cáo lấy hình ảnh một cô gái ăn mặc “thiếu vải” sẽ được sẽ được quảng cáo, trong khi hình ảnh đó lại có tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá của người Việt Nam. Bên cạnh đó , nhà nước cầm có những biện pháp khuyến kích các chương trình quảng cáo trên truyền hình được sảm xuất tại Việt Nam, dùng hình ảnh Việt Nam, dùng hình ảnh con người Việt Nam để quảng cáo. Trái lại, đối với các chương trình quảng cáo trên hình nhập ngoại, có hình ảnh, ngôn ngữ nước ngoài… nhà nước cần phải có những biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ, đồng thời áp đặt một mức thuế cao.

    Mặt khác, quảng cáo trên truyền hình là hoạt động kinh doanh của các đài truyền hình, trong khi các đài truyền hình đều nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Vì thế, nhà nước cần mở rộng quyền tự chủ kinh doanh hơn nữa cho các đài truyền hình trên cả nước, đồng thời hỗ trợ trang thiết bị kỹ thuật,

    71

    Khoá luận tốt nghiệp

    áp dụng các biện pháp ưu đãi cho các đài truyền hình trên cả nước. Tuy nhiên, cũng để tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các đài truyền hình, nhà nước nên đưa ra quy định về mức giá sàn cho từng thời lượng quảng cáo trên truyền hình.

    Về thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo, cũng như các đợt phát sóng cần được tăng cường hơn nữa nhằm tạo cho hoạt động quảng cáo đem lại nhiều hiệu quả hơn cho cácdoanh nghiệp, các công ty tiến hành quảng cáo đồng thời tạo tăng thêm doanh thu cho các đài truyền hình.

    Theo xu thế hội nhập và hợp tác trên thế giới, Việt Nam đã băt đầu cho cho phép các công ty quảng cáo nước ngoài được phép kinh doanh sinh lợi trên lãnh thổ Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với tổ chức và cá nhân Việt Nam. Nhìn chung việc tham gia vào thị trường quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam của các công ty nước ngoài là vô cùng cần thiết. Sự có mặt của các công ty đến từ các quốc gia đã có nền kinh tế phát triển sẽ đưa đến cho Việt Nam nhiều bài học quý giá trong xây dựng chiến lược quảng cáo, trong lĩnh vực quản lý, thực hiện để phát triển tốt hơn ngành quảng cáo non trẻ của Việt Nam. Do đó, nhà nước nên có những biện pháp thiết thực nhằm thu hút tổ chức này thông qua những ưu đãi về thuế quan, về thủ tục hành chính….

    Bên cạnh những chính sách khuyến khích nhằm thu hút các công ty quảng cáo nước ngoài, Nhà nước cũng hình thành một số những hàng rào bảo hộ quảng cáo trong nước. Đây là điều kiện có tính sống còn, tránh cho các công ty quảng cáo trong nước khỏi tình trạng bị chiếm mất thị phần hoặc “bị chết yểu” do không thể cạnh tranh được với các công ty quảng cáo nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các công ty quảng cáo mới được thành lập trong vòng trên dưới 10 năm, nguồn vốn kinh doanh hạn chế, điều kiện vật chất kỹ thuật, đọi ngũ lao động chuyên nghiệp còn nhiều thiếu thốn chưa đủ để đảm nhiệm công việc của một công ty quảng cáo lành nghề…Những biện

    72

    Khoá luận tốt nghiệp

    pháp bảo hộ nói chung chỉ nhằm mục đích giúp các công ty quảng cáo trong nước khắc phục những khó khăn trong giai đoạn đầu phát triển của ngành, đồng thời đẩy lùi hiện tượng quá ỷ lại vào hoạt đông bảo hộ của các công ty quảng cáo trong nước.

    Ngoài những biện pháp bảo hộ quảng cáo trong nước, nhà nước cần có biệt pháp giúp đỡ đào tạo nguôn nhân lực, đội ngũ kĩ thuật chuyên nghiệp phục vụ cho ngành quảng cáo. Hiện nay, đội ngũ làm hoạt động quảng cáo nói chung chỉ đông về số lượng chứ chưa đạt chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu là chưa có một trường đại học nào đào tạo những kĩ năng cơ bản về chuyên ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Nguyên nhân thứ hai là công việc quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình đòi hỏi những kĩ năng sâu rộng bao phủ một loạt các lĩnh vực từ khả năng ngôn ngữ, kĩ năng đồ hoạ, thiết kế, đến những kiến thức về marketing, bán hàng, tâm lý học… Do đó nhà nước nên khuyến khích, tạo điều kiện hình thành nhiều hơn nữa các trung tâm đào tạo chuyên ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng tại một số trường đại học, cao đẳng…

    2.2. Đối với các công ty thuê quảng cáo

    Thông tin, quảng cáo là yếu tố vô cùng quan trọng đặc biệt lá đối với các doanh nghiệp mới đi vào kinh doanh hoặc đối với loại hàng hoá mới tung ra thị trường. Chi phí dành cho hoạt động quảng cáo, trong đó có quảng cáo trên truyền hình cần phải ở mức 25-30% doanh thu. Tuy nhiên, rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam cho rằng không cần thiết phải bỏ ra qua nhiều chi phí cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến hỗ trợ kinh doanh nói chung và chi phí cho quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Nhìn chung, đó cũng là một lý do mà rất nhiều các sản phẩm của họ tuy có chất lượng tốt, giá cả hợp lý song vẫn chứa tạo ra được tiếng vang trên thị trường. Để khỏi bị bỏ lại đằng sau, trong một thế giới bị chàn ngập thông tin, các công ty Việt Nam cấn nhìn nhận lại chiến

    Khoá luận tốt nghiệp

    lược phát triển lâu dài, đồng thời có cái nhìn chiến lược hơn nữa đối với các hoạt động yểm trợ, xúc tiến bán hàng, đặc biệt là hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Nói chung, để hoạt động có hiệu quả hơn các doanh nghiệp Việt Nam cần cân nhắc đế những vấn đề sau:

    Một là, Doanh nghiệp cần phải xác lập chiến lược marketing cũng như chiến lược quảng cáo nói chung và chiến lược quảng cáo trên truyền hình trong ngắn hạn và dài hạn.

    Hai là, Dựa vào chiến lược quảng cáo và các phân tích tình hình thị trường, tình hình tài chính hiện tại, doanh nghiệp sẽ hình thành ngân sách hợp lý. Ngân sách dành cho quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình cần phải cân nhắc một cách khoa học không nên chỉ dựa vào số lượng hàng hóa sắp bán ra.

    Ba là, doanh nghiệp cần tạo dựng thông điệp quảng cáo trên hình thật ấn tượng nhằm thu hút sự chú ý, tính tò mò cũng như lôi kéo, khêu gợi đến lợi ích và tạo ra sự ham muốn sở hữu sảm phẩm từ phía khán giả xem truyền hình. Thông điệp quảng cáo của doanh nghiệp ngoài chức năng thông tin công dụng sản phẩm mà còn phải hàm chứa tính nghệ thuật và mĩ thuật cao trong đó, trách lặp lại lối mòn của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trước đây vốn chỉ chú ý đến công dụng sản phẩm, thiếu sự xem xét đến tính thầm mĩ của thông điệp nên đôi khi gây phản cản đối với người xem.

    Bốn là, duy trì số lần phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình ở một mức độ nhất định. Nói chung, quảng cáo trên truyền hình hầu như không mang lại hiệu quả cho doanh. Do đó, doanh nghiệp cần phải lập lên một lịch quảng cáo hiệu quả phù hợp với ngân sách dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình nhằm mục đích truyền tải được thông tin quảng cáo đến một lượng lớn khán giả, hình thành hình ảnh, tên nhãn hiệu trong trí nhở của người xem, dần dần hướng người xem đến lựa chọn sản phẩm của doangh nghiệp mình.

    74

    Khoá luận tốt nghiệp

    Năm là, tiến hành đánh giá hiệu quả của hoạt động quảng cáo trên truyền hình thông qua việc đánh giá số lượng hàng hoá bán ra, đánh giá uy tín hình ảnh của doanh nghiệp, của thương hiệu… ước lượng số khách hàng trung thành tăng hay giảm, số lượng người thử các hàng hoá dịch vụ của daonh gnhiệp mình, ước lượng số lượng khách hàng để ý đến nhãn hiệu của doanh nghiệp…

    2.3. Đối với công ty quảng cáo

    Hiện nay, số lượng các công ty quảng cáo ở Việt Nam tương đối nhiều đặc biệt là các công ty quảng cáo trong nước. Tuy nhiên, hầu hết các công ty quảng cáo này đều thiếu tốn các thiết bị kĩ thuật hiện đại, hoạt động quản lý và phương thức kinh doanh còn nhiều bất cập. Do không có đủ các trang thiết bị hiện đại cho nên một số chương trình quảng cáo trên truyền hình được sản xuất ở các công ty này thường không tải hết được những nội dung thông điệp mà người thuê quảng cáo yêu cầu. Chính vì lẽ đó, mà rất nhiều các chương trình quảng cáo không đến tay những công ty sản xuất, thực hiện các chương trình quảng cáo trên truyền hình như vậy. Vì thế, để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong quá trình hoạt động các công ty quảng cáo đặc biệt là các công ty quảng cáo truyền hình trong nước cần tăng cường đầu tư để đổi mới và cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng chương trình quảng cáo sản xuất ra, đảm bảo sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được với nhu cầu của thị trường. Đặc biệt, chú ý đến việc đầu tư cho những thiết bị chuyên dùng phục vụ quá trình sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Ngoài ra, các công ty cần tận dụng tối đa những công cụ, những thiết bị hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của người thuê quảng cáo.

    Cùng với việc đầu tư cho thiết bị kĩ thuật phục vụ quá trình sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình, các công ty quảng cáo cũng cần đầu tư để đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp làm công tác quảng cáo, đồng thời tuyển dụng thêm các nhân viên mới nhiệt tình, có óc sáng táo, có chuyên môn cao trong lĩnh vực quảng cáo đặc biệt là trong lĩnh

    Khoá luận tốt nghiệp

    vực quảng trên truyền hình. Nói chung, yếu tố con người trong hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình là yếu tố quang trọng nhất. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các công ty quảng cáo. Một công ty quảng cáo dù được trang bị kĩ thuật tối tân hiện đại đến đâu chăng nữa nhưng nếu thiếu đi một ê kíp các nhân viên quảng cáo có chuyên môn cao, cótinh thần đổi mới cũng như ó óc sáng tạo phong phú thì cũng không thu hút được các doanh nghiệp tiến hành thuê quảng cáo.

    Bên cạnh các dịch vụ sản xuất các chương trình quảng cáo nói chung và các chương trình quảng cáo trên truyền hình nói riêng, các công ty quảng cáo cần mở rộng các hoạt động kinh doanh liên quan đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình như tư vấn các chiến lược quảng cáo trên truyền hình, các tư vấn liên quan đến thông điệp quảng cáo trên truyền hình, tư vấn về thời điểm, cường độ và mức độ quảng cáo trên truyền hình, thực hiện các dịch vụ đánh giá hiệu quả các chương trình quảng cáo trên truyền hình…Tuy nhiên, để mở rộng được các hoạt động kinh doanh nêu trên, doanh nghiệp ngoài việc có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp. Trước khi thực hiện các chương trình tư vấn lên kế hoạt chiến lược quảng cáo trên truyền hình, tư vấn thông điệp quảng cáo trên truyền hình, các công ty quảng cáo cần phải hiểu rõ được chiến lược phát triển chung của công ty thuê tư vấn, hiểu rõ các chiến lược phát triển trong ngành hàng công ty thuê tư vấn đang hoạt động, hiểu rõ được khả năng cạnh tranh, thị phần của doanh nghiệp trong ngành…Để có thể dễ dàng bao quát tất cả các thông tin liên quan đến thị trường của các công ty thuê tư vấn, các công ty quảng cáo cần phải tạo ra nhiều mối quan hệ chặt chẽ với các công ty nghiên cứu thị trường, các tổ chức, các trung tâm nghiên cứu tâm lý học, nghiên cứu dư luận xã hội…

    Mặt khác các doanh nghiệp quảng cáo cần có sự liên kết, hợp tác lẫm nhau, tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hai đến hoạt động kinh doanh của các công ty quảng cáo .Ngoài ra, các doanh nghiệp

    76

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo, đặc biệt là các doanh nghiệp quảng cáo trong nước nên xúc tiến tham gia, gia nhập vào các hiệp hôi quảng cáo trong nước và quốc tế, chẳng hạn như Hiệp hội quảng cáo Việt Nam hay Hiệp hội quảng cáo Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tham gia, gia nhập vào các hiệp hội sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích khác nhau. Nói chung, khi trở thành thành viên trong hiệp hội, các quyền lợi của các doanh nghiệp quảng cáo được đảm bảo một cách bình đẳng. Ngoài ra, hiệp hội quảng cáo được coi là nhịp cầu mối giữa các doanh nghiệp quảng cáo và các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời tiến hành giải quyết những vướn mắc, những tranh chấp của các doanh nghiệp quảng cáo là thành viên của hiệp hội.Khi tham gia vào các hiệp hội quảng cáo công ty có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý, trình độ tổ chức… của các công ty thành viên khác.

    2.4. Đối với các đài truyền hình

    Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 60 đài truyền hình trung ương và địa phương thực hiện hoạt động cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình. Do đó, sự cạnh tranh giữa các đài truyền hình là không thể tránh khỏi. Ngoài pháp như áp dụng mức giá quảng cáo thấp, các đài truyền hình áp dụng hình thức giảm giá quảng cáo trong năm, cho phép ký hợp đồng vào những thời điểm thích hợp. Nói chung, các giải pháp về giá chỉ là những giải pháp tạm thời. Muốn phát triển bền vững, lâu dài, các đài truyền hình cần tiến hành các biện pháp nhằm đầu tư, nâng cấp trang thiết bị kĩ thuật, cũng như nội dung, chất lượng các chương trình truyền hình nhằm thu hút nhiều hơn nữa lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình của mình. Khi nội dung cũng như chất lượng các chương trình truyền hình trở nên hấp dẫn hơn, tốt hơn, số lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình nhiều hơn, các đài truyền hình sẽ dễ dàng thu hút được các doanh nghiệp thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bên cạnh đó, các đài truyền hình cũng cần tiến hành đào tạo, đào tại lại đội ngũ nhân viên. Việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân viên là vô cùng cần thiết. Nó giúp cho các đài truyền hình có thể triệt để tận dụng các trang thiết bị hiện có, cũng như khai thác tốt đa các thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm có được các chương trình truyền hình có chất lượng tốt nhất phục vụ người xem truyền hình.

    Ngoài ra, với mục đích nhằm nâng cao doanh từ hoạt động quảng cáo, các đài truyền hình địa phương và trung ương nên tăng thời lượng phát sóng truyền hình. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một đài truyền nào tiến hành phủ sóng truyền hình 24/24 giờ. Do nhà nước Việt Nam áp dụng việc ấn định một thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo trước, trong và sau các chương trình truyền hình là khá cố định, cho nên việc tăng thời lượng phát sóng các chương trình truyền hình, đông nghĩa với việc tạo điều kiện cho các đài truyền hình thu được nhiều tiền hơn từ hoạt động cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình do tăng thời lượng phát sóng quảng cáo trong khoảng thời gian phát sóng thêm của các đài truyền hình.

    Cùng với việc cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình, các đài truyền hình nên tăng cường mở rộng các hạng mục kinh doanh như làm phim quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp, sản xuất băng hình quảng cáo cho các doanh nghiệp thuê quảng cáo. Do có những thiết bị chuyên dụng cùng với một đội ngũ kĩ thuật giàu kinh nghiệm, các đài truyền hình dễ dàng có thể tiến hành là các chương trình chuyên quảng cáo có thời lượng phát sóng tương đối dài thường trên 10 phút để giới thiệu hình ảnh các doanh nghiệp muồn quảng bá thương hiệu hoặc/ và nhãn hiệu của danh gnhiệp mình.

    Gần đây, các đài truyền hình lớn như đại truyền hình Việt Nam, đài truyền hình Hà Nội và đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiên khá nhiêu biện pháp nhằm thu hút tài trợ, bảo trợ các chương trình phim truyện, thể thao giải trí phát sóng, thực hiện đổi quảng cáo lấy các chương trình

    78

    Khoá luận tốt nghiệp

    truyền hình…Thiết nghĩ, đây cũng là một hình thức mà các đài truyền hình khác nên học hỏi. Bởi nếu không được tài trợ, đài truyền hình muốn có những chương trình truyền hình hay, có chất lượng tốt buộc phải mình bỏ một khoản tiền khá lớn để mua bản quyền các chương trình nêu trên.

    2.5. Đối với người tiêu dùng

    Hiện nay, một số người Việt Nam vẫn có nhận thức không thật sự đúng về hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Đôi khi một số người xem truyền hình cảm thấy bực bội khi các chương trình quảng cáo trên hình chen ngang các chương trình yêu thích của họ. Một số người khác lại kêu ca răng thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình là quá dài… Tuy nhiên, cùng với thời gian, rất nhiều người Việt Nam đã có một cái nhìn thân thiện hơn với hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Các chương trình quảng cáo trên truyền hình mang đến cho người xem nhiều thông tin chính xác nhất. Bởi những thông tin nêu trong các chương trình quảng cáo trên truyền hình là những thông tin mà người sản xuất và cung ứng mong muốn gửi đến các khách hàng của mình nhằm mục đích thu hút, lôi cuốn khách mua sản phẩm dịch vụ của mình. Về phía người tiêu dùng, họ có thể lựa chọn được những hàng hoá và dịch vụ vừa có chất lượng tốt vừa có giá cả phù hợp thông qua các thông tin trực tiếp từ phía người sản xuất và cung ứng.

    Mặt khác, trong một cơ chế thị trường diễn ra vô cùng sôi động, người Việt Nam trở nên năng động hơn cùng với nhịp sống công nghiệp đầy vội vã. Do đó, người tiêu dùng Việt Nam càng ngày càng có ít thơì gian hơn trong vấn đề mua sắm. Do bị hạn chế về thời gian, người tiêu dùng nên sử dụng các thông tin trên các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Bởi lẽ, đó là những thông tin chính xác nhất liên quan đến các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.

    Thêm vào đó, người xem truyền hình Việt Nam cũng bắt đầu hiểu được rằng cuộc sống của các đài truyền hình chủ yếu là nhờ vào hoạt động cho thuê

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo trên truyền hình. Đồng thời, ngoài những thông tin liên quan đến các hàng hoá dịch vụ ma người xem truyền hình cần, họ còn nhận được từ hoạt động quảng cáo nhiều lợi ích khác. Một lợi ích mà người xem truyền nào cũng nhận thấy là nhờ có những chương trình quảng cáo trên truyền hình mà họ có được các chương trình thể thao, phim truyện, các chương trình giải trí hấp dẫn…, nhờ có hoạt động quảng cáo trên truyền hình, người xem có cơ hội được thưởng thức những chương trình truyền hình có chất lượng ngày càng tốt hơn.

    80

    Khoá luận tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Hiện nay ở Việt Nam, các hoạt động kinh doanh diễn ra vô cùng sôi động, kèm theo đó là sự canh tranh khốc liệt. Để khỏi bị thua cuộc trong của cuộc chiến kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã tìm kiếm đến vũ khí quảng cáo trên truyền hình.

    Quảng cáo trên truyền hình hiện nay là một hoạt động khá quan trọng có vai trò. Nó góp phần quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Nếu quảng cáo có hiệu quả sẽ giúp cho khách hàng hiểu biết, tin tưởng vào hàng hoá của doanh nghiệp, góp phần đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, đồng thời khuyếch trương được danh tiếng, tên tuổi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo trên truyền hình vẫn được xem như là một bài toán khó khăn và tốn kém đối với bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường, đặc biệt là trong nền công nghiệp quảng cáo trên truyền hình vẫn đang được hình thành và phát triển như ở Việt Nam.

    Nhận thức được điều này nên trong quá trình học tập tôi đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam: thực trạng và triển vọng ”.

    Đề tài đã giải quyết được những nội dung và yêu cầu cơ bản sau:

    • Chương 1: Trình bày một cách khái quát các lý luận chung về quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến quy trình tiến hành một chương trình quảng cáo trên truyền hình.
    • Chương 2: Nêu lên vài nét về tình hình quảng cáo trên truyền hình trên thế giới và đặc biệt là nêu được tổng quan hoạt động quảng cáo trên truyền hình hiện nay ở Việt Nam.

    -Chương 3: Nêu ra tính tất yếu và triển vọng phát triển của hoạt động quảng cáo trên truyền hình trong một vài năm tới, gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao triển vọng phát triển quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Một lần nũa tôi xun chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Thoan đã giúp tôi hoàn thành bài khoá luận này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý Marketing, trường Đại Học Ngoại Thương
    1. Philip Kotler, Marketing căn bản, năm 1998, nhà xuất bản ( NXB) Thống kê.
    1. Quản Trị Marketing ( Marketing Management), Phipip Kotler, năm 2002, NXB Prentice Hall Inc..
    2. Otto Klepper, Thomas Russell, Glenn Verrill, Công nghệ quảng cáo, năm 1992, nhà xuất bản khoa học kĩ thuật.
    3. Lê Hoàng Quân, Nghiệp vụ quảng cáo và marketing, năm 1994, NXB khoa học kĩ thuật.
    4. George E Belch & Micheal A. Belch, Advertising and Promotion, năm 1998, NXB McGraw Hill.
    5. Retail Marketing Management, Chương 12: Quảng cáo, năm 1999
    1. Nguyễn Cao Vân, Marketing quốc tế, năm 1997, NXB giáo dục
    1. Các qui định của pháp luật về hoạt động quảng cáo ( Nghi định 194/1994/CP, Nghị định 24/2003/NĐ-CP, Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001, Luật thương mại 1997)
    2. Nghiên cứu về quảng cáo ở Việt Nam của công ty Tayor Neislon Sofres đang trên tạp chí Vietnam Economic Times 2000- 9/2003
    1. Công ty Ac Nielsen Việt Nam, VietNam FactBook, năm 2003.
    1. Những đánh giá về các chương trình quảng cáo trên truyền hình trên tạp chí “Nhà quản trị”
    2. Báo doanh nghiệp các số 12-2002, 1-2003,7-2003, 10-2003
    1. Ngô Việt Đức, khoá luận tốt nghiệp năm 2001, “Hoạt động kinh doanh quảng cáo của đài truyền hình Việt Nam: Thực trạng và hướng phát triển”
    2. Trang web afaa.com
    1. .Trang web www.acnielsen.com

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤC LỤC

    PHỤ LỤC 1

     

    ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

    TRUNG TÂM TVAD

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    * * *

    THÔNG BÁO

    Giá – Mức và tỷ lệ giảm giá quảng cáo năm 2003

    1. Giá quảng cáo năm 2003

    BIỂU GIÁ QUẢNG CÁO THỰC HIỆN NĂM 2003 TRÊN VTV ÁP DỤNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨ M DỊCH VỤ NƯỚC NGOÀI VÀ LIÊN DOANH Ban hành kèm theo thông tư số 947/QC – THVN

    Đơn vị: 1000VNĐ/spot

            Thời Thời điểm   Giá quảng cáo  
        Hiệu     gian Quảng cáo        
    10 giây 15 giây 20 giây 30 giây
                  VTV1 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ A   Từ 6h – 17h          
                                     
        A1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 7.000
        A2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 3.600 4.320 5.400 7.200
        A3     8h – 10h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A4   10h -12h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A5   12h – 14h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A6   14h – 17h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        GIỜ B     Từ 17h –          
                  24h            
                             
        B1   17h – 17h Ngoài Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
            50                
        B2   17h – 17h Trong Phim và Giải trí 8.000 9.600 12.000 16.000
            50                
        B3                 Trước 18h 6.000 7.200 9.000 12.000
        B4                 Trước 19h 7.500 9.000 11.250 15.000
        B5     19h45 Sau Bản tin thời sự 10.800 12.960 16.200 21.600
        B6 19h50 – 23h Ngoài Phim và Giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
        B7 19h50 – 23h Trong Phim và Giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
        B8                 Sau 23h 7.500 9.000 11.250 15.000
                  VTV3 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ D                          
                         
              Từ 6h – 12h Cả tuần        
                                     

    Khoá luận tốt nghiệp

      D1   6h – 8h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D2   6h – 8h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
      D3   8h – 10h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D4   8h – 10h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
                        Từ thứ 2 đến thứ 6        
      D5 10h – 12h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D6 10h – 12h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
      GIỜ C                        
                               
          Từ 12h-24   Từ thứ 2 đến thứ 6        
      C1 12h – 14h   Ngoài Phim và Giải trí 4.000 4.800 6.000 8.000
      C2 12h – 14h   Trong Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
      C3 14h – 16h   Ngoài hoặc Trong Phim và Giải 6.500 7.800 9.750 13.000
                        trí        
      C4.1 16h – 19h   Ngoài Phim và Giải trí 8.250 9.900 12.375 16.500
      C4.2 16h – 19h   Trong Phim và Giải trí 11.000 13.200 16.500 22.000
            Từ 10h –   Thứ bảy – Chủ nhật        
              24h              
      C5 10h   11h   Ngoài GNCT,Olympia 10.000 12.000 15.000 20.000
      C6.1 10h – 11h   Trong GNCT,Olympia 13.250 15.900 19.875 26.500
      C6.2 11h-11h 30   Ngoài trong chươn trình thiếu 12.000 14.400 18.000 24.000
                        nhi        
      C7 12h -13h 30   Ngoài CNKD, ONCN 11.000 13.200 16.500 22.000
      C8               Trong CNKD, ONCN 13.750 16.500 20.625 27.500
      C9               Ngoài Phim VNCN 9.250 11.100 13.875 18.500
      C10               Trong Phim VNCN 12.000 14.400 18.000 24.000
      C16               Ngoài Phim ĐACT7 7.500 9.000 11.250 15.000
      C17               Trong Phim ĐACT7 10.000 12.000 15.000 20.000
      C11               Ngoài phim và giải trí 9.250 11.100 13.875 18.500
      C12               Trong phim và giải trí 12.250 11.700 18.375 24.500
                        Buổi tối các ngày        
      C13 19h45 – 21h   Ngoài phim và giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
      C14 19h45 – 21h   Trong phim và giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
      C18 21h – 22h30   Ngoài phim và giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
      C19 21h – 22h30   Trong phim và giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
      C20 22h30 – 23h   Trong (ngoài) chương trình 5.850 7.020 8.775 11.700
      C15               Sau 23 5.850 7.020 8.775 11.700
      Giờ F             VTV2 : ( 10h -24h) 2.500 3.000 3.750 5.000

    Khoá luận tốt nghiệp

    BIỂU GIÁ QUẢNG CÁO THỰC HIỆN NĂM 2003 TRÊN VTV ÁP DỤNG

    ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ TRONG NƯỚC

    Ban hành kèm theo thông tư số 947/QC – THVN

    1. GIÁ QUẢNG CÁO ( đơn vị tính 1.000đ/spot quảng cáo)
            Thời Thời điểm   Giá quảng cáo  
        Hiệu     gian Quảng cáo        
    10 giây 15 giây 20 giây 30 giây
                  VTV1 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ A       Từ 6h – 17h            
                               
        A1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.813 3.750
        A2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 2.700 3.240 4.050 5.400
        A3     8h – 10h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A4     10h -12h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A5     12h – 14h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A6     14h – 17h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        GIỜ B     Từ 17h – 24h            
                       
        B1   17h – 17h 50 Ngoài Phim và Giải trí 4.500 5.400 6.750 9.000
        B2   17h – 17h 50 Trong Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
        B3             Trước 18h 4.500 5.400 6.750 9.000
        B4             Trước 19h 5.625 6.750 8.438 11.250
        B5     19h45 Sau Bản tin thời sự 8.100 9.720 12.150 16.200
        B6   19h50 – 23h Ngoài Phim và Giải trí 10.313 12.375 15.469 20.625
        B7   19h50 – 23h Trong Phim và Giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
        B8             Sau 23h 5.625 6.750 8.438 11.250
                  VTV3 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ D                      
                             
                  Từ 6h – 12h   Cả tuần        
                           
        D1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
        D3     8h – 10h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D4     8h – 10h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
                          Từ thứ 2 đến thứ 6        
        D5     10h – 12h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D6     10h – 12h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
        GIỜ C                      
                           
                Từ 12h – 24h Từ thứ 2 đến thứ 6        
        C1     12h – 14h Ngoài Phim và Giải trí 3.000 3.600 4.500 6.000
        C2     12h – 14h Trong Phim và Giải trí 4.500 5.400 6.750 9.000
        C3     14h – 16h Ngoài hoặc Trong Phim và Giải 4.875 5.850 7.313 9.750
                          trí        
        C4.1     16h – 19h Ngoài Phim và Giải trí 6.188 7.425 9.281 12.375
        C4.2     16h – 19h Trong Phim và Giải trí 8.250 9.900 12.375 16.500
                Từ 10h – 24h Thứ bảy – Chủ nhật        
                                   

    Khoá luận tốt nghiệp

    C5 10h – 11h   Ngoài GNCT,Olympia 7.500 9.000 11.250 15.000
    C6.1 10h – 11h   Trong GNCT,Olympia 9.938 11.925 14.906 19.875
    C6.2 11h-11h 30   Ngoài trong chươn trình thiếu 9.000 10.800 13.500 18.000
          nhi        
    C7 12h -13h 30   Ngoài CNKD, ONCN 8.250 9.900 12.375 26.500
    C8     Trong CNKD, ONCN 10.313 12.375 15.469 20.625
    C9     Ngoài Phim VNCN 6.938 8.325 10.406 13.875
    C10     Trong Phim VNCN 9.000 10.800 13.500 18.000
    C16     Ngoài Phim ĐACT7 5.625 6.750 8.438 11.250
    C17     Trong Phim ĐACT7 7.500 9.000 11.250 15.000
    C11     Ngoài phim và giải trí 6.938 8.325 10.406 13.875
    C12     Trong phim và giải trí 9.188 11.025 13.781 18.375
          Buổi tối các ngày        
    C13 19h45 – 21h   Ngoài phim và giải trí 10.1313 12.375 15.469 20.625
    C14 19h45 – 21h   Trong phim và giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
    C18 21h – 22h30   Ngoài phim và giải trí 10.1313 12.375 15.469 20.625
    C19 21h – 22h30   Trong phim và giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
    C20 22h30 – 23h   Trong (ngoài) chương trình 9.375 11.250 14.063 18.750
    C15     Sau 23h 4.388 5.265 6.581 8.775
    Giờ F   VTV2 : ( 10h -24h) 1.875 2.250 2.813 3.750
    1. CÁC HÌNH THỨC QUẢNG CÁO KHÁC: (như insert logo, chạy chữ, panel…)

    Tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu hai bên sẽ thoả thuận và kí hợp đồng.

    III. GHI CHÚ

    – Giá bào gồm cả thuế giá trị gia tăng 10% Chọn vị trí :cộng thêm 5% trên đơn giá gốc

    Các spots quảng cáo được tính theo mức chuẩn 10’’, 15’’, 20’’, 30’’, 45’’, 60’’, 120’’, các spots quảng cáo có thới lượng quảng cáo cáo trên mức chuẩn được tính theo giá các mức chuẩn có thời lượng cao hơn kế tiếp.

    Các spots quảng cáo phát sóng trên VTV phải qua khâu xét duyệt. Các loại thông tin không mang tính chất quảng cáo: Phát sóng giờ B3 + Thông tin cổ động tuyên truyền miễn phí

    + Thông tin mang tính chất nhân đạo: 200.000 đồng/lần

    + Tuyển sinh,mới họp và một số thông tin đặc biệt :1.200.000đồng/ 30 giây

    Khoá luận tốt nghiệp

    B.MỨC VÀ TỶ LỆ GIẢM GIÁ QUẢNG CÁO NĂM 2003

    1. Nguyên tắc :
    1. Ưu tiên cho khách thường xuyên, có ký hợp động quảng cáo dài hạn cả năm, khách hàng có doanh số quảng cáo lớn, các khách hàng có các chương trình hay hợp tác với VTV và các khách hàng thanh toán tiền trước.
    1. Ưu tiên cho khách hàng là nhà sản xuất, các sản phẩm mới sản xuất.
    1. Quy định về mức và tỷ lệ giảm giá trên đơn giá
    1. Đối với khách hàng là các đơn vị hoạt động quảng cáo tại Việt Nam.  
               
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ  
    trong nước (1.000 VND) LD & NN (1.000) giảm (%)  
       
               
    1   Từ 90.000 – 300.000 Từ 420.000 – 1.260.000 08  
               
    2   Trên 300.000 – 450.000 Trên 1.260.000 -2.520.000 10  
               
    3   Trên 450.000 – 600.000 Trên 2.520.000 – 4.200.000 12  
                 
    4   Trên 600.000 – 750.000 Trên 4.200.000 – 6.300.000 14  
                 
    5   Trên 750.000 – 1.500.000 Trên 6.300.000 – 8.400.000 16  
               
    6   Trên 1.500.000 Trên 8.400.000 18  
                 
    1. Đối với khách hàng là các nhà sản xuất và các đối tượng khác ( như các đại lý, các doanh nghiệp…) có sản phẩm được phép quảng cáo tại Việt Nam.
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ  
    trong nước (1.000 VND) LD & NN (1.000) giảm (%)  
     
             
    1 Từ 15.000 – 30.000 Từ 420.000 – 140.000 4  
               
    2 Trên 30.000 – 90.000 Trên 140.000 – 420.000 6  
             
    3 Trên 90.000 – 150.000 Trên 420.000 – 8.400.000 8  
               
    4 Trên 150.000 – 200.000 Trên 8.400.000 – 1.400.000 10  
               
    5 Trên 200.000 – 250.000 Trên 1.400.000 – 2.100.000 12  
               
    6 Trên 250.000 – 350.000 Trên 2.100.000 – 2.800.000 13  
             
    7 Trên 350.000 – 1.050.000 Trên 2.800.000 – 6.000.000 15  
             
    8 Trên 1.050.000 Trên 6.000.000 18  
                 

    Khoá luận tốt nghiệp

    Ghi chú : Mức tính giảm giá được tính = Đơn giá ( theo từng khung giá)* thời lượng quảng cáo.

    III.Chế độ giảm giá bổ xung.

    Áp dụng cho những khách hàng có doanh số quảng cáo đã vượt quá mức được hưởng giảm giá cao nhất, khách hàng có các chương trình hợp tác với Đài mang lại hiệu quả lớn, khách hàng thanh toán tiền trước .. .cụ thể cho các trường hợp sau:

    1. Khách hàng nếu thực hiện việc thanh toán tiền trước khi phát sóng quảng cáo (doanh số quảng cáo tính theo thực tế từng tháng), được hưởng thêm 1,5 % giảm giá ngoài mức giảm giá theo quy định.
    1. Khách hàng trong năm đạt doanh số vượt trên 350% so với mức được hưởng giảm giảm gía18% và thanh toán đầy đủ, thì ngoài mức giảm giá 18%, sẽ được hưởng thên giảm giá bổ sung. Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình sẽ căn cứ vào tình hình thực tế quảng cáo và thanh toán tiền của từng đơn vị để xét vào cuối năm.
    2. Khách hàng có doanh số quảng cáo vượt trên 40 tỷ đồng, ngoài việc được hưởng giảm giá bổ sung ngoài mục B.III.2, riêng phần doanh số vượt đó sẽ được hưởng mức giảm giá ít nhất là 23%.
    1. Khách hàng trong năm đạt tổng doanh số quảng cáo sản phẩm trong nước và sản phẩm nước ngoài và liên doanh nước ngoài => 20 tỷ đồng thì tổng doanh số này sẽ được lấy là mức để xác định tỷ lệ giảm giá chung cho khách hàng đó.
    2. Khách hàng đăng ký quảng cáo nhãn hiệu vào một thời gian quảng cáo nhất định trên sóng VTV trong cả năm đạt mức doanh số trên 1,5 tỷ đồng thì ngoài tỷ lệ giảm giá theo quy định, được hưởng thêm tỷ lệ giảm giá khuyến mại khuyến khích 1% cho riêng nhãn hiệu sản phẩm đó.
    3. Nhãn hiệu mới được sản xuất ở Việt Nam, khi quảng cáo trên sóng VTV và đạt doanh số => 500.000.000 đồng thì ngoài tỷ lệ khuyến khích 1% cho riêng nhãn hiệu sản phẩm đó.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Khách hàng trong năm có tham gia tài trợ để sản xuất các chương trình trên các kênh VTV, thì số tiền tài trợ được cộng vào để tính doanh số xét quyền lợi của khách hàng vào cuối năm

    VI.Chương trình giới thiệu doanh nghiệp.

    Là những chương trình có độ dài khoảng 3 phút đến 10 phút, giới thiệu về công nghệ, quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, về khả năng tài chính, quản lý đầu tư.. .

    Giá phát sóng chương trình giới thiệu doanh nghiệp

    Doanh nghiệp NN và LDNN Doanh nghiệp trong nước
    15.000.000 đ/phút 12.000.000 đ/phút
    1. Hoa hồng môi giới.

    Các cá nhân, tổ chức thực hiện công việc môi giới quảng cáo thông qua các hợp đồng với trung tâm Quảng Cáo, được hưởng tỷ lệ hoa hồng 1% trên trị giá quảng cáo và đã trả tiền cho Trung tâm 9 nếu là cá nhân phải khấu trừ thuế thu nhập.

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤ LỤC 2

    QUY ĐỊNH VỀ QUẢNG CÁO VÀ DỊCH VỤ NĂM 2003 CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI (Thực hiện từ 01/01/2003)

    1- ĐIỀU KIỆN KÝ HỢP ĐỒNG VÀ PHÁT HÀNH QUẢNG CÁO:

    • Đơn vị kinh doanh dịch vụ quảng cáo ký Hợp đồng với Đài phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
    • Đơn vị quảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ của mình phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
    • Hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ được quảng cáo phải có đủ các điều kiện theo quy định.

    – Quảng cáo phải được duyệt trước khi phát hành.

    2- HÌNH THỨC PHÁT HÀNH QUẢNG CÁO:

    • Trên sóng phát thanh và truyền hình Hà Nội.
    • – Trên truyền hình cáp hữu tuyến Hà Nội (HCATV).
    • Trên website của Đài Phát thnah – Truyền hình Hà Nội (hanoitv.org.vn; www.htv.org.vn).

    3- GIÁ QUẢNG CÁO VÀ DỊCH VỤ:

    3.1. Giá quảng cáo ban hành kèm theo quy định này.

    3.2. Quảng cáo có thời lượng < 10 giây được tính theo quảng cáo 10 giây.

    3.3. Chọn vị trí ưu tiên trong chương trình quảng cáo: đầu, cuối cộng (+) 8%; các vị trí thứ 2,3 và sát cuối, áp sát cuối cộng (+) 5%, tính theo mức giá chuẩn 30 giây trở lên.

    3.4. Các thông tin như: Thông báo, Tuyển sinh, Mời họp, Lễ hội…: 500.000/1 lần phát (giờ C4; C5; S1; S3). Các giờ T1, T2 thu bằng 50% đơn giá QC.

    3.5. Các thông tin phát sóng vào thời điểm quy định: Tin tang lễ, Lời cảm ơn tang lễ, Tìm trẻ lạc, Rơi giấy tờ: 200.000đ/ 1 lần phát (giờ C4;S1;S3); riêng lời cảm ơn tang lễ nếu khách hàng có nhu cầu phát thêm nội dung (tối đa không quá 90’’) thu 500.000đ/ 1lần phát.

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.6. Các thông tin kinh tế, giới thiệu sản phẩm, giới thiệu doanh nghiệp…dưới

    03 phút tính theo giá quảng cáo, từ 03 phút trở lên phát sóng ngoài các

    chương trình Phim và Giải trí, thu bằng 30% đơn giá quảng cáo. Giá trị trên

    được cộng vào giá trị hợp đồng quảng cáo dài hạn (nếu có).

    1. CHẾ ĐỘ GIẢM GIÁ VÀ KHUYẾN KHÍCH:

     

    • Doanh số trên HĐ là doanh số còn lại sau khi giảm giá.
    • Mức giảm giá được tính bằng:

    Đơn giá (theo từng khung giá) x Thời lượng QC – Giá trị giảm giá được hưởng

    4.1. Giảm giá trên Hợp đồng:

    4.1.1. Đối với khách hàng là Công ty Quảng cáo:

    Mức Doanh số quảng cáo sản phẩm   Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ
    dịch vụ trong nước (1.000 VND)   LD & NN (1.000) giảm (%)
       
             
    1 Từ 50.000 – 150.000   Từ 500.000 – 1.000.000 08
             
    2 Trên 150.000 – 350.000   Trên 1.000.000 -1.500.000 10
             
    3 Trên 350.000 – 500.000   Trên 1.500.000 – 1.500.000 12
             
    4 Trên 500.000 – 650.000   Trên 2.500.000 – 3.500.000 14
             
    5 Trên 650.000 – 800.000   Trên 3.500.000 – 4.500.000 16
             
    6 Trên 800.000 – 1.000.000   Trên 4.500.000 – 6.000.000 18
             
    7 Trên 1.000.000   Trên   6.000.000 20
             
    4.1.2. Đối với khách hàng là đối tượng khác:      
           
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ   Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ
    trong nước (1.000 VND)   LD & NN (1.000) giảm (%)
       
             
    1 Từ 30.000 – 50.000   Từ 100.000 – 200.000 06
             
    2 Trên 50.000 – 90.000   Trên 200.000 – 500.000 08
             
    3 Trên 90.000 – 165.000   Trên 500.000 – 1.000.000 10
             
    4 Trên 165.000 – 275.000   Trên 1.000.000 – 1.500.000 12
             
    5 Trên 275.000 – 90.000   Trên 1.500.000 – 2.000.000 14
             
    6 Trên 390.000 – 550.000   Trên 2.000.000 – 3.000.000 16
             
    7 Trên 550.000   Trên 3.000.000 18
             

    Khoá luận tốt nghiệp

    4.2. Giảm giá bổ sung:

    4.2.1. Khách hàng có doanh số đạt trên 12 tỷ đồng sản phẩm LD & NN hoặc

    • tỷ đồng sản phẩm trong nước sẽ được hưởng mức giảm giá 22 %. Khách hàng có doanh số đạt trên 15 tỷ đồng sẽ được hưởng mức giảm giá 24%.
    • 2. Khách hàng ký hợp đồng quảng cáo dài hạn (doanh số trên 01 tỷ đồng đối với sản phẩm LD & NN; trên 500 triệu đồng đối với sản phẩm trong nước) thực hiện việc thanh toán tiền trước và phát sóng quảng cáo sau (tính theo từng tháng), được giảm giá bổ sung 1,5% ngoài mức giảm giá theo quy định.
    • Chế độ khuyến khích:

     

    • 1. Khách hàng đạt doanh số trên 15 tỷ đồng sẽ được quyền tính gộp doanh số các sản phẩm và hưởng tỷ lệ giảm giá chung cho toàn bộ Hợp đồng.
    • 2. Đối với khách hàng tham gia tài trợ sản xuất và phát sóng các trương trình của Đài, doanh số tài trợ sẽ cộng vào tổng doanh số của Hợp đồng quảng cáo (nếu có).
    • Các chương trình tự giới thiệu doanh nghiệp sản xuất tại Đài được giảm 10% so với giá ở mục 3.6. Các bảng quảng cáo sản phẩm và dịch vụ sản xuất tại Đài được giảm giá 20% so với bảng giá cho 05 lần phát sóng đầu tiên.
    • 4- Chế độ hoa hồng:

     

    Khách hàng không hưởng giảm giá trên hợp đồng sẽ được hoa hồng, nếu giá trị quảng cáo đạt từ 3.000.000đ trở lên được hưởng mức 03% với điều kiện phải nộp 100% tiền mặt ( nếu các nhân thì phải khấu trừ thuế thu nhập).

     

    • 5- Chế độ miễn phí:

     

    Miễn phí đối với các thông tin đặc biệt về chính tri, xã hội của Thành phố, các thông tin tìm tung tích nạn nhân, Lệnh truy nã của C.A từ cấp thành phố trở lên.

     

    5- VIỆC DUYỆT BĂNG QUẢNG CÁO:

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Các mẫu mã quảng cáo phải được Đài duyệt trước khi phát hành từ 5 -7

    ngày.

    • Nội dung xét duyệt sẽ được xác nhận bằng “ Phiếu nghiệm thu”.
    • Các mẫu quảng cáo sau khi được duyệt sẽ có mã số để đưa vào sản xuất và phát sóng theo hợp đồng.

    Quy định này thực hiện kể từ ngày 01/01/2003 và thay thế cho các quy định về quảng cáo trên sóng Phát thanh – Truyền hình Hà Nội trước đây. Trường hợp đặc biệt Giám đốc Đài sẽ có quyết định cụ thể.

    BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO TRÊN 6 KÊNH TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI

    Thực hiện từ ngày 01/01/2003

    Ban hành theo quy định số 869/QĐ-PTTH ngày 05/12/2002

    (Đơn giá 30 giây cho 1 lần phát sóng)

          Đơn vị tính: 1.000USD  
               
      CHƯƠNG TRÌNH QUẢNG GIÁ SP GIÁ SP  
    THỜI GIAN TRONG
    HIỆU CÁO LD & NN  
      NƯỚC
             
        BUỔI SÁNG      
               
    06h00 – 06h45 S1 Ngoài Bản tin, Chuyên đề sáng 480 810  
               
    06h45 – 08h30 S2 Trước Phim & Giải trí sáng 600 1.020  
               
    08h30 – 09h50 GTs1 Trong Phim & Giải trí sáng 1.350 3.000  
               
    09h50 – 11h45 S3 Trước Bản tin trưa 750 1.260  
               
    11h45 – 12h00 S4 Trước Phim & Giải trí trưa 3.300 5.520  
               
    12h00 – 13h00 GTs2 Trong Phim & Giải trí trưa 4.740 10.500  
               
        BUỔI CHIỀU      
               
    13h00 – 15h00 C1 Sau Phim & Giải trí trưa 480 810  
               
    15h00 – 16h00 C2 Sau Bản tin chiều 480 810  
               
    16h00 – 17h00 C3 Trước Chương trình thiếu nhi 480 810  
               
    17h00 – 17h30 TNc Trong Chương trình thiếu nhi 630 1.410  
               
    17h30 – 17h40 C4 Trước Phim & Giải trí chiều 1.200 2.010  
               
    17h40 – 18h25 GTc Trong Phim & Giải trí chiều 3.390 7.500  
               
    18h25 – 18h30 C5 Trước Thời sự chiều 3.000 5.010  
               
        BUỔI TỐI      
               
    18h55 – 19h00 T1 Trước thời sự THVN 4.500 7.500  
               
    19h45 – 20h30 T2 Sau thời sự THVN 4.500 7.500  
               

    Khoá luận tốt nghiệp

    20h30 – 21h00 T3 Trước Phim và Giải trí tối 6.000 10.020  
               
    21h00 – 21h50 GTt1 Trong Phim và Giải trí tối 7.650 17.010  
             
    GTt2 Trong bóng đá Italia 4.500 10.020  
     
               
    21h50 – 22h45 T4 Sau Phim và Giải trí tối 3.000 5.010  
               
    Sau 22h45 GTt3 Trong CT Thể thao (T2 – T7) 1.800 3.000  
               
    • Giá trên đã bao gồm thuế GTGT
    • Quảng cáo có thời lượng < 10 giây được tính theo giá quảng cáo 10 giây.
    • Giá quảng cáo được tính theo các mức chuẩn 10’’, 20’’, 30’’, 35’’…(khoảng cách giữa các mức chuẩn là 05’’), quảng cáo có thời lượng trên mức chuẩn được tính theo giá của mức chuẩn cao hơn kế tiếp.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤ LỤC 3

    CÔNG TY DỊCH VỤ QUẢNG CÁO VÀ THIẾT BỊ TRUYỀN HÌNH (EAC)

    Địa chỉ: 65 Lạc Trung, Hà Nội

    Số điện thoại : (04) 6364007, Fax : (04)6364005

    BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO TRÊN CÁC KÊNH TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ

    1. Bảng giá quảng cáo cho năm 2003

    Đơn giá 30 giây cho 1 lần phát sóng (VND)

    Ký hiệu Thời gian Thời điểm quảng cáo Giá quảng cáo
         
             
          Sản phẩm và dịch vụ đối với
               
          Trong nước   Nước ngoài
               
      Bóng đá quốc tế trên kênh ESPN, STAR SPORT  
               
    A1 19:30 – 23:00 Trước và giữa 2 hiệp 3.900.000   1.950.000
               
    A2 Sau 23:00 Trước và giữa 2 hiệp 2.600.000   1.300.000
               
      Phim nước ngoài trên các kênh HBO,CINEMAX, MTV    
               
    B1 0:00 – 24:00 Trong phim 2.600.000   1.300.000
             
      CARTOON NETWORK, DISCOVERY, ANIMAL PLANET, CNN
               
    C1 19:30 – 23:00   1.300.000   650.000
               
    C2 Sau 23:00   900.000   450.000
               
        Các kênh Việt Nam  
               
    D1 19:30 – 23:00   1.950.000   1.000.000
               
    D2 Sau 23:00   1.500.000   800.000
               
        DW, CCTV4, TV5    
               
      19:30   400.000   150.000
               
      Sau 23:00   260.000   130.000
               

    Lưu ý: Giá ghi trên bao gồm 10% thuế VAT

    Khoá luận tốt nghiệp

    1. Tỷ lệ và mức giảm giá

    1.Đối với khách hàng thực hiện quảng cáo ở Việt Nam

    Mức Doanh số quảng cáo (VND) Tỷ lệ giảm (%)
      Từ Đến  
    1 Dưới 30.000.000   10%
    2 30.000.000 50.000.000 15%
    3 50.000.000 100.000.000 18%
    4 100.000.000 200.000.000 20%
    5 200.000.000 300.000.000 25%
    6 Trên 300.000.000   30%
    1. Đối với các khách hàng là nhà sản xuất
    Mức Doanh số quảng cáo (VND)   Tỷ lệ giảm (%)
      Từ Đến    
    1 10.000.000     10%
    2 10.000.000   20.000.000 12%
    3 20.000.000   30.000.000 15%
    4 30.000.000   50.000.000 18%
    5 Trên 50.000.000     20%

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long


    [toc]


    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%E1%BB%9F-X%C3%AD-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-Binh-%C4%91o%C3%A0n-11.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận vẫn luôn là mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp, nó chịu sự chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp cũng luôn tìm và thực thi những giải pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhưng để làm được điều này thì không hề đơn giản, nó đòi hỏi phải tìm được hướng đi đúng cho doanh nghiệp của mình và một chế độ kế toán hợp lý. Việc hạch toán chi phí để tính giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và việc tăng hay giảm chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế khác.

    Thấy rõ tầm quan trọng trên cùng với quá trình học tại trường, em đã tập trung phân tích và nghiên cứu đề tài:

    Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11“.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề chia thành 3 phần như sau:

    Phần I: Lý luận chuyên về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng, xây lắp.

    Phần II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp – Binh đoàn 11.

    Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng – Binh đoàn 11.

    Vì thời gian và trình độ có hạn nên trong quá trình viết chuyên đề, em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy cô góp ý để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Đồng thời em xin cảm ơn cô Lê Thị Bình đã giúp em hoàn thành bản chuyên đề này.

     

    PHẦN THỨ NHẤT

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM XÂY LẮP TÁC ĐỘNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, quôc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các ngành khác.

    Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được. Vì thế một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng, cùng với vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

    Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình, công trình dân dụng có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản luôn được gắn liền với một địa điểm nhất định nào đó. Địa điểm đó là đất liền, mặt nước, mặt biển và có cả  thềm lục địa. Vì vậy ngành xây dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác. Các đặc điểm kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây  lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng được thể hiện cụ thể như sau:

    Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, có giá trị rất lớn. Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Nó mang tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự đoán riêng biệt và tại một địa điểm nhất định. Điều đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật…

    Quá trình từ khởi công xây dựng cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào từng công trình cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công công trình. Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn có các công trình đều thực hiện ở ngoài trời do vậy mà điều kiện thi công không có tính ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công trình.

    Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.

    2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp

    Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng nên việc quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính vì thế trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng yêu cầu sau:

    – Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế.

    – Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

    – Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm năng lao động, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm khai thác hết tiềm năng của đất nước phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo bền vững mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng công nghệ tiên tiến bảo đảm chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí và việc thực hiện bảo hành công trình. (Trích điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, ban hành kèm theo nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ).

    Từ trước tới nay, XDCB là một “Lỗ hổng lớn” làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Để hạn chế sự thất thoát này nhà nước thực hiện việc quản lý giá xây dựng thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá, các phương pháp nguyên tắc lập dự toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật đơn giá XDCB, xuất vốn đầu tư) để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình và cho từng hạng mục công trình.

    Giá thành công trình là giá trúng thầu, các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị xây dựng. Giá trúng thầu không vượt quá tổng dự đoán được duyệt.

    Đối với doanh nghiệp xây dựng, đảm bảo thi công đúng tiến độ, kỹ thuật, đảm bảo chất lượng các công trình với chi phí hợp lý. Bản thân các doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức quản lý sản xuất, quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ hợp lý có hiệu quả.

    Hiện nay trong lĩnh vực XDCB chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Để trúng thầu các doanh nghiệp phải xây dựng một giá đấu thầu hợp lý cho công trình dựa trên cơ sở các định mức đơn giá XDCB do  nhà nước ban hành trên cơ sở giá cả thị trường và khả năng của doanh nghiệp. Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.

    Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất – giá thành, trong đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thánh sản phẩm.

    3. Nhiệm vụ của công tác quản lý, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

    Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng các phương pháp tập hợp, chi phí và tính giá thành một cách khoa học kỹ thuật hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các số liệu cần thiết cho công tác quản lý. Cụ thể là:

    – Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành.

    – Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh.

    – Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sử dụng máy thi công… và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất để ngăn chặn kịp thời.

    – Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.

    – Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm… vạch ra khả năng và các mức hạ giá thành hợp lý, hiệu quả.

    – Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo quy định.

    – Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất… trong từng thời kỳ nhất định. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.

    4.Vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay

    4.1. Vai trò

    Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn dự trữ nội bộ của doanh nghiệp và đảm bảo tích luỹ tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc lợi của quần chúng lao động.

    Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành các kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị, chấp hành nghiêm túc các tiêu chuẩn đã quy định về tài chính.

    Đối với doanh nghiệp xây lắp việc hạch toán sẽ cung cấp các số liệu một cách chính xác, kịp thời đầy đủ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán.

    Hạch toán kế toán là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xây lắp. Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế so với kế hoạch là bao nhiêu, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí để có giải pháp khắc phục. Việc tính giá thành thể hiện toàn bộ chất lượng hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị.

    4.2. Ý nghĩa

    Giúp cho việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước.Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ chính xác các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

    1. Khái niệm – phân loại chi phí sản xuất và quản lý chi phí sản xuất

    1.1. Khái niệm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

    Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động vật hoá đã chi ra để tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng tiền.

    Giá trị của sản phẩm xây lắp được biểu hiện:

    GXL = C + V + m

    Trong đó:

    GXL    : Giá trị sản phẩm xây lắp

    C       : toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong

    quá trình tạo ra sản phẩm

    V       : Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho

    người lao động tham gia

    m       : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình

    tạo ra sản phẩm

    Về mặt lượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố:

    – Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp ở một thời kỳ nhất định.

    – Giá tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí.

    Trong điều kiện giá cả thường xuyên thay đổi như hiện nay thì việc tính toán đánh giá chính xác chi phí sản xuất là một điều khá quan trọng. Nhât là trong điều kiện hiện nay doanh nghiệp phải tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh phải có lãi và bảo toàn được vốn.

    1.2. Phân loại chi phí sản xuất

    Trong doanh nghiệp xây lắp, các chi phí sản xuất bao gồm có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau. Yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau, vì vậy việc quản lý sản xuất, tài chính, không những dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời kỳ nhất định.

    Không phân loại chi phí một cách chính xác thì việc tính giá thành không thể thực hiện được. Việc phân loại đựơc tiến hành theo các tiêu thức sau:

    1.2.1. Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế.

    Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu gồm toàn bộ chi phí về đối tượng lao động như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu thiết bị xây dựng.

    – Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ và các khoản khác phải trả cho người lao động.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trước chi phí sửa chữa lớn trong tháng đối với tất cả các loại TSCĐ có trong doanh nghiệp.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho việc sản xuất như chi phí thuê máy, tiền nước, tiền điện…

    – Chi phí khác bằng tiền là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí nói trên như chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếp khách.

    Phân loại theo tiêu thức này giúp ta hiểu được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.

    1.2.2. Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí.

    Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đựơc chia thành:

    * Chi phí sản xuất tạo ra sản phẩm là toàn bộ chi phí liên quan đến việc xây lắp, chế tạo sản phẩm cũng như chi phí liên quan đến hoạt động quản lý và phục vụ sản xuất trong các phân xưởng, tổ đội sản xuất. Nó được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

    + Chi phí trực tiếp là những chi phí trực tiếp liên quan đến việc chế tạo sản phẩm xây lắp gồm chi phí nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công.

    * Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu vật liệu luân chuyển (cốp pha, giàn giáo…) bán thành phẩm… cần thiết để tạo ra sản phẩm.

    * Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương. Với khoản chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy tính trong đơn giá XDCB cũng tính vào chi phí nhân công trực tiếp. Còn chi phí tiền lương của cán bộ quản lý công trình (bộ phận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung chứ không phải là chi phí nhân công trực tiếp.

    *Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương cơ bản, các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ cho nhân viên quản lý, các khoản chi phí khác bằng tiền hoặc công cụ, dụng cụ cũng tính vào chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp.

    *Chi phí sử dụng máy thi công gồm tiền lương, các khoản phải trích theo lương của nhân viên điều khiển máy, chi phí khấu hao máy và vật liệu.

    + Chi phí gián tiếp (chi phí sản xuất chung) là những chi phí phục vụ cho việc quản lý sản xuất phát sinh trong quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện các đòi hỏi ở bộ phận tổ đội sản xuất.

    * Chi phí quản lý doanh nghiệp  là toàn bộ chi phí quản lý chung các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, quản lý hành chính và các chi phí khác.

    * Chi phí hoạt động khác là chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí về hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường.

    Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phó có tác dụng xác định số chi phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở để tính giá thành và kết quả hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất chế tạo ra sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm khi hoàn thành.

    Ngoài ra có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng hai cách phân loại trên được sử dụng nhiều hơn cả bởi vì trong dự toán công trình xây lắp thì chi phí sản xuất được phân công theo từng khoản mục.

    2. Giá thành sản phẩm xây lắp

    2.1. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng

    Để xây dựng một công trình hoàn thành thì doanh nghiệp xây dựng phải đầu tư vào quá tình sản xuất thi công một lượng chi phí nhất định, những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra sẽ tham gia cấu thành quá trình đó. Vậy giá thành sản phẩm xây lắp và toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu, nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác… tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã nghiệm thu bàn giao và được chấp nhận thanh toán thì giá thành mang tính chất cá biệt. Vì vậy mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành đều có giá thành riêng.

    Biết được giá bán trước khi sản phẩm hoàn thành và giá thành thực tế quyết định tới lỗ lãi của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong điều kiện hienẹ nay để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh được sự cho phép của nhà nước, một số doanh nghiệp đã chủ động xây dựng một số công trình có quy mô nhỏ sau đó bán lại với một giá cả hợp lý thì giá thành sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng xác định nên giá bán.

    2.2. Bản chất – chức năng của giá thành sản phẩm.

    Các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính và mặt định lượng. Mục đích bỏ ra chi phí của doanh nghiệp là tạo nên giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng luôn quan tâm tới hiệu quả của chi phí bỏ ra là ít nhất, thu được giá trị lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp để hạ giá thành nhằm thu lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý giá thành là chỉ tiêu đáp ứng được nội dung  trên.

    Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu hồi được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp nhất định đã hoàn thành.

    Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá.

    Toàn bộ chi phí mà các doanh nghiệp chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng công tác xây lắp, một công trình hay hạng mục công trình phải được bù đắp bằng chính số tiền thu về do quyết toán công trình, hạng mục công trình. Việc bù đắp này nhằm bảo đảm quá trình sản xuất giản đơn. Mục đích đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất phải có lãi.Trong cơ chế thị trường giá bán sản phẩm phụ thuộc nhiều vào quy luật cung cầu và sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng. Giá bán của sản phẩm xây dựng là giá nhận thầu. Vậy giá nhận thầu là biểu hiện giá trị của công trình hạng mục công trinh phải dựa trên cơ sở giá thành dự toán để xác định thông qua việc bán sản phẩm. Còn giá bán sản phẩm lao vụ là biểu hiện giá trị của sản phẩm phải dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả chi phí.

    2.3. Các loại giá thành sản phẩm công tác xây lắp.

    2.3.1. Giá thành dự toán.

    Sản phẩm XDCB là thời gian thi công dài do đó mỗi công trình hạng mục công trình đều có giá trị dự toán để xác định giá thành dự toán.

    =  + Lãi định mức

    Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Lãi định mức

    Với lãi định mức là số phần trăm trên giá thành xây lắp do nhà nước quy định đối với từng loại hình xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây lắp cụ thể. Giá trị dự đoán của công trình, hạng mục công trình được xác định trên cơ sở định mức đánh giá của cơ quan thẩm quyền ban hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường. Nó chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với đơn vị chủ thầu đầu tư.

    2.3.2. Giá thành kế hoạch

    Dựa trên những định mức của nội bộ xí nghiệp, giá thành kế hoạch là cơ sở phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai đoạn kế hoạch. Nó phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp.

    =  –

    2.3.3. Giá thành thực tế

    Biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một đối tượng xây lắp nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không nằm trong kế hoạch do nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.

    Giữa 3 loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt số lượng được thể hiện như sau:

    Giá thành dự toán > giá thành kế hoạch> giá thành thực tế.

    Việc so sánh này được thể hiện trên cùng một đối tượng tính giá thành nhất định.

    Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng. Giá thành công tác xây lắp hoàn chỉnh và giá thành của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao đựơc chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất, thi công trọn vẹn một công trình hay một hạng mục công trình.

    Để đáp ứng yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định được giá thành khối lượng xây lắp quy ước (nếu quy định thanh toán khối lượng hoàn thành theo quy ước).

    Khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn các điều kiện sau:

    – Phải đảm bảo theo thiết kế và chất lượng kỹ thuật.

    – Khối lượng này phải được xác định cụ thể và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.

    – Phải đạt được điểm dừng kỹ thuật hợp lý giá thành khối lượng sản phẩm hoàn thành quy ước. Phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây lắp giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý thích hợp.

    2.4. Phân biệt giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

    Chi phí sản xuất là cơ sở hình thành nên giá thành sản phẩm. Tuy nhiên giữa chúng cũng có sự khác biệt, sự khác biệt đó thể hiện như sau:

    – Về phạm vi: chi phí sản xuất chỉ tình trong từng thời kỳ, còn giá thành sản phẩm lại bao gồm cả chi phí khối lượng xây lắp dở dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại trừ đi chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ.

    – Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành xây dựng là chi phí  sản xuất được tính cho công trình hạng mục hay một công trình hoàn thành.

    Nhưng giữa chúng cũng có điểm giống nhau bởi vì chúng có cùng bản chất đó là điều phản ánh những chi phí hao phí trong quá trình sản xuất. Giá thành xây lắp và chi phí sản xuất thống nhất về mặt lượng trong trường hợp: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành là một công trình, hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá thành hay giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ bằng giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.

    III. NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.

    1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành.

    1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp

    Theo thông tư số 23 BXDNKT ngày 15/12/1994 của Bộ xây dựng thì dự toán xây lắp gồm các khoản mục: chi phí vật liệu,  nhân công, máy thi công, chi phí chung, thuế và lãi.

    Vì vậy khi xác định đối tượng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp cần căn cứ vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất, địa điểm phát sinh quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất…Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản lý, hạch toán của doanh nghiệp. Cho nên việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đúng và phù hợp có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.

    1.2. Đối tượng giá thành.

    Là các loại sản phẩm, công trình… do DN xây lắp sản xuất ra đòi hỏi phải tính được giá thành và giá thành đơn vị. Xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp là công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao các sản phẩm khác đã hoàn thành (nếu có).

    1.3. Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng giá thành sản phẩm xây lắp.

    Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết, tổ ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết cho từng hạng mục công trình. Còn việc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tính giá thành.

    Đó là những đặc điểm khác nhau song giữa chúng lại có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Về bản chất chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp số liệu sản xuất trong kỳ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành. Trong DN xây lắp chúng thường phù hợp với nhau.

    2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp.

    2.1. Các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.

    2.1.1. Phương pháp trực tiếp

    Được áp dụng với những chi phí trực tiếp, là những chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Khi có chi phí phát sinh thì căn cứ vào các chứng từ gốc ta tập hợp từng chi phí cho từng đối tượng sản xuất.

    Trường hợp doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là công trình hay hạng mục công trình thì hàng tháng căn cứ vào các chi phí phát sinh có liên quan đến công trình hay hạng mục công trình nào thì tập hợp chi phí cho công trình đó.

    2.1.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp.

    Được áp dụng với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí sản xuất. Vì vậy phải xác định theo phương pháp phân bổ gián tiếp.

    Để phân bổ cho các đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ chi phí.

    Công thức: H = C/T

    Trong đó:    H: Hệ số phân bổ chi phí

    C: Tổng chi phí cần phân bổ

    T: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ

    Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng tính theo công thức sau:

    Ci = H x Ti

    Trong đó:    Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i

    Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i

    Trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công trường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường. Cuối kỳ tổng số chi phí tập hợp phải được phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình để tính giá thành sản phẩm riêng.

    2.2. Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.

    2.2.1. Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp.

    Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như giá trị thực tế của vật liệu chính (gạch, đá, vôi, cát, xi măng…) vật liệu phụ như sơn, công cụ dụng cụ… nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.

    Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế ngoài người bán cung cấp còn có chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho hay xuất thẳng tới công trình.

    Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, HMCT nào thì phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng.

    Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào các đối tượng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.

    = + –  –

    Phương pháp được hạch toán cụ thể được phản ánh bằng sơ đồ:

    Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    (1)     : Tập hợp chi phí VLTT

    (2a)   : Vật liệu chờ phân bổ

    (2b)   : Phân bổ dần

    (3)     : Phế liệu thu hồi, VL sử dụng không hết nhập lại kho

    (4)     : Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí VLTT để tính giá thành.

    2.2.2. Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

    Là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất, thi công như tiền lương, các khoản tiền phụ cấp…

    Việc hạch toán tiền lương của công nhân trong DN thì dựa trên bảng chấm công, theo dõi cho từng tổ sản xuất, đội xây dựng. Bảng chấm công cho biết ngày giờ làm việc thực tế, sóo ngày nghỉ của từng người sau khi đã được kiểm tra và chuyển lên phòng lao động để ghi chép, theo dõi sau đó để làm cho phòng kế toán có căn cứ tính lương và phân bổ tiền lương.

    Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

    Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công, giờ công, định mức hợac giờ công thực tế,.

    Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

     
       

    (1)     : Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất

    (2)     : Các khoản trích BHXH, BHYT, CPCĐ

    (3)     : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành

    2.2.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

    Tài khoản 623  dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp.

    Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối với doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp (vừa thủ công vừa kết hợp máy móc).

    Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy thì không sử dụng tài khoản 623 mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627.

    Không hạch toán vào tài khoản 623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công.

    Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy móc thi công

    2.2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung

    Là những chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý phân xưởng, khấu hao TSCĐ…

    Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từng địa điểm phát sinh chi phí phân xưởng, tổ đội sản xuất sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan. Việc phân bổ cũng được tiến hành dựa trên các tiêu thức phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuất chung, chi phí trực tiếp phân bổ theo từng loại chi phí.

    Kế toán chi phí sản xuất chung.

     
       

    (1)     : Chi phí nhân viên

    (2)     : Chi phí vật liệu, CCDC

    (3)     : Chi phí khấu hao TSCĐ, dịch vụ bên ngoài

    (4)     : Chi phí khác bằng tiền

    (5)     : K/c hoặc phân bổ CFSXC để tính giá thành.

    3. Đánh giá sản phẩm dở dang trong DN xây lắp

    Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành hoặc bên chủ đầu tư chưa nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.

    Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định. Muốn đánh giá một cách chính xác trước hết  phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp hoàn thành theo quy ước ở từng giai đoạn thi công để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát hiện tổn thất trong quá trình thi công.

    Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây lắp có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành. Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp có kết cấu phức tạp nên việc xác định đúng mức độ hoàn thành của nó rất khó. Khi đánh giá kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định độ hoàn thành của khối lượng xây lắp dơ dang một cách chính xác. Dựa trên kết quả kiểm kê sản phẩm dở dang đã tập hợp được kế toán tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở.

    Đối với các doanh nghiệp thường áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm sau:

    3.1. Phương pháp đánh giá theo chi phí dự toán

    CPKLXLHT

     

    bàn giao

    trong kỳ

    CPKLXLDD

     

    cuối kỳ theo dự toán

    CP thực tế

     

    KLXL  thực hiện trong kỳ

    Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng xây lắp  dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức:

    +

    =  x                           +  ++

    3.2. Phương pháp đánh giá theo tỷ lệ hoàn thành tương đương

    Chủ yếu áp dụng đối với việc đánh giá sản phẩm làm dở của  công tác lắp đặt máy móc thiết bị. Nó được xác định bởi công thức:

    CPTTKLXL

     

    thực hiện trong kỳ

    Giá trị DTKLXLHT bàn giao

     

    trong kỳ

    Giá trị DTKLXL DD cuối kỳ
    +
    +

    =  +

    3.3. Phương pháp đánh giá theo trị giá dự toán

    Theo phương pháp này chi phí thực tế khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:

    =

    Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa, hoàn thiện hoặc xây dựng các công trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng được bên chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành.

    Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá.

    4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.

    Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm xây lắp. Phương pháp tính giá thành này sử dụng cho những sản phẩm đã hoàn thành theo các khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định. Trong đó thời kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công trình, hạng mục công trình.

    Tùy theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành mà kế toán phải lựa chọn sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp thích hợp để tính giá thành cho một hay nhiều đối tượng và ngược lại. Trong quá trình DN xây lắp thường sử dụng các phương pháp sau:

    4.1. Phương pháp giản đơn (phương pháp tính trực tiếp)

    Phương pháp này được phổ biến rộng rãi trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đối tượng tính. Hơn nữa việc sử dụng phương pháp cho phép cung cấp kịp thời các số liệu giá thành cho mỗi kỳ báo cáo và cách tính thì đơn giản, dễ hiểu.

    Theo phương pháp này tập hợp tất cả các chi phí phát sinh trực tiếp cho một công trình hay HMCT từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thực tế của công trình hay HMCT đó. Có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm hoặc hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng công trình, HMCT nhằm tính giá thành thực tế cho HMCT đó.

    Trong trường hợp công trình, HMCT chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì cần phải tính giá thành thực tế.

    *  =  +  –

    *  =

    Nếu các công trình, HMCT có thiết kế, dự toán khác nhau nhưng cùng thi công trên cùng địa điểm do một đơn vị công trình sản xuất đảm nhiệm và không có điều kiện quản lý, theo dõi công việc sử dụng các loại chi phí khác nhau thì từng loại chi phí tập hợp trên toàn bộ công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng HMCT đó.

    Khi đó giá thành thực tế của HMCT:

    ZH = Gdti x H

    Trong đó: H: Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế H = [(TC, TGdt) x 100%]

    Gdt: Giá thành dự toán của hạng mục công trình

    TC: tổng chi phí thực tế của HMCT

    TGdt: Tổng dự toán của tất cả HMCT.

    4.2. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng

    Áp dụng cho các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Đối tượng tính giá thành là đơn đặt hàng hoàn thành.

    Theo phương pháp này hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành thì chi phí sản xuất theo đơn tập hợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng.

    Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều HMCT, công trình đơn nguyên khác nhau thì phải tính toán, xác định chi phí của từng HMCT,  công trình đơn nguyên liên quan đến đơn đặt hàng. Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào HMCT, công trình đơn nguyên thì cần phải phân bổ theo tiêu thức hợp lý.

    4.3. Phương pháp tính theo định mức.

    Gồm 3 bước:

    + Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây lắp.

    + Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức

    = Định mức cũ – Định mức mới.

    + Bước 3: Xác định chênh lệch thoát ly định mức, nguyên nhân gây ra chênh lệch đó.

    =  –

    Việc áp dụng phương pháp này có tác dụng lớn cho việc kiểm tra tình hình định mức, dự toán chi phí sản xuất, tính sử dụng hợp lý tiết kiệm hay lãng phí ngay cả khi chưa có sản phẩm hoàn thành. Ngoài ra nhằm giảm bớt khối lượng tính toán của kế toán nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong doanh nghiệp.

    5. Sổ kế toán

    5.1. Hình thức sổ kế toán nhật ký chung.

    Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải ghi vào sổ nhật ký mà trọng tâm là sổ nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào sổ cái theo tưng nghiệp vụ phát sinh.

    – Sổ nhật ký chung

    – Sổ cái

    – Các sổ kế toán chi tiết (thẻ nếu có)

    5.2. Hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái

    Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái.

    Căn cứ để ghi vào nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.

    – Nhật ký sổ cái.

    – Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

    5.3. Hình thức sổ nhật ký chứng từ ghi sổ.

    Căn cứ trực tiếp để ghi là chứng từ ghi sổ, việc ghi bao gồm:

    * ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    *Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái

    Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp cùng loại cùng nội dung kinh tế.

    – Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    – Sổ cái

    – Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

    PHẦN THỨ HAI

    THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG

    1. Quá trình hình thành và phát triển

    Công ty được thành lập ngày 7/7/1960 với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng trong phạm vi cả nước. Đến ngày 18/3/1977 công ty đổi tên thành Công ty xây dựng số 1 trực thuộc Bộ Xây dựng. Nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian này là xây dựng các công trình phúc lợi và cũng trong thời gian này công ty đã được nhà nước trao huân chương lao động hạng ba.

    Công ty bao gồm nhiều xí nghiệp trực thuộc có quy mô lớn. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của xây dựng công ty lần lượt ra quyết định tách ba xí nghiệp thuộc công ty thành các công ty trực thuộc.

    + Năm 1984 tách xí nghiệp 104 thành công ty xây dựng số 2

    + Năm 1986 tách xí nghiệp trực thuộc 106  thành công ty xây dựng Tây Hồ.

    + Năm 1992 tách xí nghiệp hoàn thiện trực thuộc thành công ty xây dựng số 5.

    Là một đơn vị thành lập từ sớm, từ khi còn đóng ở tại trung tâm thủ đô và gần cơ quan chủ quản nên có điều kiện phát triển, có nhiều điều kiện để thi công các công trình có quy mô và áp dụng sớm các thành tựu KHKT, công nghệ tiên tiến cho nên công ty có đội ngũ kỹ thuật vững mạnh, công nhân có tay nghề cao. Tuy nhiên khó khăn mà công ty gặp cũng không ít như thời bao cấp kéo dài, công ty không chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đội ngũ cán bộ công nhân viên đông.

    Từ khi thành lập đến nay công ty thi công và bàn giao nhiều công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp có chất lượng cao, bàn giao đúng tiến độ. Công ty ngày càng có uy tín trên thị thị trường và đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước, tạo được công ăn việc làm cho người lao động và đã giúp đời sống người lao động phần nào nâng cao. Trong quá trình hoạt động công ty luôn là một đơn vị mạnh và đã nhận được nhiều huân huy chương của nhà nước.

    – Ngày 21/8/1979 nhận huân chương lao động hạng 3

    – Ngày 15/8/1983 nhận huân chương lao động hạng 2

    – Ngày 17/11/1985 nhận huân chương lao động h ạng 1

    – Ngày 21/9/1994 theo quyết định 1219 công ty được công nhận là doanh nghiệp hạng 1

    Hiện nay công ty đã có 16 xí nghiệp đội trực thuộc, trong đó xí nghiệp binh đoàn 11 là một trong những đơn vị mạnh nhất. Thành lập từ năm 1978 nhưng chính thức ra đời vào ngày 13/7/1998 với chức năng chủ yếu là xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp trong phạm vi cả nước.

    Xí nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của công ty bằng các dự án lớn đạt chất lượng cao mà xí nghiệp đã thi công như: Viện kiểm soát nhân dân tối cao, khách sạn quốc tế… Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của xí nghiệp nói riêng và của công ty nói chung như ngày hôm nay chính là sự nhạy bén với cái mới, cạnh tranh bằng chất lượng và tiến độ thi công, áp dụng công nghệ cao và các thiết bị thi công tiên tiến, hiện đại cùng đội ngũ công nhân viên có trình độ lành nghề.

    2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất của công ty

    Hiện nay công ty gồm 6 xí nghiệp trực thuộc.Đây là công ty có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng nên việc tổ chức lao động thành các xí nghiệp trực thuộc tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc quản lý và phân công lao động ở nhiều điểm thi công khác nhau với nhiều công trình khác nhau một cách hiệu quả.

    Từ trước 1/1/1995 công ty tổ chức hạch toán kế toán phân tán, các xí nghiệp trực thuộc tổ chức hạch toán riêng, các công ty kế toán xử lý chứng từ ban đầu đến lập báo cáo gửi về công ty do bộ phận kế toán xí nghiệp thực hiện, trên cơ sở đó phòng kế toán tập hợp báo cáo chung toàn công ty.

    Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty gồm có: Giám đốc, phó giám đốc, các phòng ban chức năng và các xí nghiệp trực thuộc.

    – Đứng đầu là giám đốc chỉ đạo điều hành chung mọi hoạt động của công ty, đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, … Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc: phụ trách kế hoạch tiếp thị và hai phó giám đốc kỹ thuật thi công có điện. Trong trường hợp giám đốc đi vắng phó giám đốc thay mặt điều hành hoạt động của công ty.

    – Bí thư Đảng uỷ, chủ tịch công đoàn, đoàn thanh niên giúp cho ban giám đốc quản lý các hoạt động có hiệu quả.

    – Các phòng  chức năng công ty có trách nhiệm hướng dẫn đôn đốc thực hiện thi công, đảm bảo chất lượng công trình, lập và kiểm tra các định mức kỹ thuật, chế độ bảo quản của công ty. Đồng thời lập kế hoạch nghiên cứu thị trường, tìm bạn hàng cung cấp số liệu, phân tích tình hình sản xuất giúp giám đốc có biện pháp quản lý thích hợp. Mặt khác giải quyết mọi công tác liên quan đến nhân sự, chính sách lao động tiền lương cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

    Dưới đây là các phòng ban trong công ty và nhiệm vụ chủ yếu của từng phòng:

    + Phòng kỹ thuật thi công cơ điện có nhiệm vụ giám sát chất lượng mỹ thuật, an toàn, tiến độ thi công các công trình. Tham gia nghiên cứu tính toán các công trình đấu thầu, khảo sát, thiết kế, tính khối lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình nội bộ.Theo dõi số lượng, chất lượng toàn bộ thiết bị, thu thapạ thông tin và phổ biến các quy trình toàn bộ thiết bị, thu thập thông tin và phổ biến các quy trình quy phạm mới…

    + Phòng kế toán tìa chính thống kê gồm 4 nhiệm vụ chính:

    * Nhiệm vụ công tác tài chính tham mưu cho lãnh đạo.

    * Nhiệm vụ công tác thống kê.

    * Nhiệm vụ giúp giám đốc soạn thảo hợp đồng giao khoán chi phí sản xuất cho các đơn vị trực thuộc và xây dựng quy chế phân cấp về công tác tài chính kế toán của công ty cho các đơn vị.

    * Nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát.

    + Phòng kế hoạch vật tư tiếp thị gồm 3 nhiệm vụ chính:

    * Công tác kế hoạch gồm lập kế hoạch, giao kế hoạch triển khai, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị thực hiện kế hoạch.

    * Công tác vật tư gồm xác định mặt bằng giá chuẩn cho từng loại vật liệu ở từng thời điểm, tìm nguồn hàng, kiểm tra giám sát việc quản lý vật liệu.

    * Công tác tiếp thị: Có các cơ quan thường xuyên với cơ quan cấp trên, các cơ quan hữu quan, khách hàng…

    + Phòng quản lý khối lượng có nhiệm vụ tính toán khối lượng các công trình. Lập tổng dự án thi công các công trình, phối hợp với phòng kế toán tài chính thống kê, phòng kế hoạch và các đơn vị trực thuộc, thực hiện công tác thanh quyết thu hồi vốn  đối với A.

    + Phòng hành chính y tế chịu trách nhiệm về công tác hành chính, quản trị, văn thư và đời sống y tế.

    – Dưới các xí nghiệp trực thuộc lại phân ra thành các bộ phận chức năng: kỹ thuật, tài vụ, lao động tiền lương, an toàn các đội sản xuất. Trong các đội sản xuất phân ra thành các tổ sản xuất chuyên môn hóa như tổ sắt, tổ mộc… Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc điều hành xí nghiệp chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp mình.

    Sơ đồ quản lý và tổ chức sản xuất ở công ty xây dựng binh đoàn 11

    Với cách tổ chức lao động, quản lý ở công ty xây dựng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ các mặt kinh tế kỹ thuật ở từng xí nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, đem lại hiệu quả cao.

    Đặc điểm của sản phẩm xây lắp có ảnh hưởng lớn đến tổ chức quản lý và  sản xuất trong  doanh nghiệp xây dựng. Các công trình xây dựng thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, sản phẩm đơn chiếc thời gian thi công lâu dài đòi hỏi một quy mô lớn các yếu tố đầu vào. Các công trình đều đòi hỏi phải lập dự toán công trình, các công trình cố định tại nơi sản xuất nên chịu ảnh hưởng của nơi đặt công trình như địa hình, thời tiết, giá cả thị trường… các điều kiện sản xuất như máy móc thiết bị, người lao động phải di chuyển tới địa điểm sản phẩm, điều này, làm cho công tác quản lý sử dụng tài sản của công ty rất khó khăn.

    Công tác tổ chức quản lý sản xuất của công ty luôn tuân thủ theo quy trình công nghệ xây lắp sau:

    3. Đặc điểm quy trình công nghệ và cơ chế quản lý giữa công ty với các xí nghiệp.

    3.1. Đặc điểm quy trình công nghệ

    Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng nên quy trình sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu của công ty có đặc điểm: sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau (điểm dừng kỹ thuật) mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và thi công ở các địa điểm khác nhau. Do vậy qui trình công nghệ sản xuất của các công trình thường như nhau: giai đoạn khảo sát thiết kế, giai đoạn san nền, giải quyết mặt bằng thi công, đào đất, làm móng, giây đoạn xây trát, trang trí nội thất. Mỗi giai đoạn tiêu hao định mức nguyên vật liệu hao phí phân công là khác nhau.

    3.2. Cơ chế quản lý giữa công ty và xí nghiệp.

    Khi nhận thầu một công trình, do công ty hay xí nghiệp tìm kiếm được thực hiện cơ chế khoán thông qua hợp đồng giao khoán giữa công ty và xí nghiệp trực thuộc theo quy chế tạm thời có nội dung sau:

    + Mức khoán với tỷ lệ 97,5 đến 98% giá trị quyết toán được duyệt.

    + Số còn lại công ty chi cho các khoản sau:

    * Nộp thuế doanh thu thuế lợi tức.

    *Tiền sử dụng vốn ngân sách và lãi vay ngân hàng của số vốn công ty định mức cho xí nghiệp.

    * Phụ cấp trên và các khoản chi phí quản lý công và trích lập các quỹ của xí nghiệp.

    + Các công trình khác nhau sẽ có mức khoán khác nhau.

    + Trong tỷ lệ khoán nếu xí nghiệp có lãi được phân phối như sau:

    * Nộp 25% thuế thu nhập doanh nghiệp

    *Xí nghiệp được sử dụng 75%lập quỹ khen thưởng. Trong đó giám đốc xí nghiệp và phụ trách kế toán được hưởng 10%.

    + Nếu bị lỗ xí nghiệp phải tự bù đắp, giám đốc và phụ trách kế toán phải chịu trách nhiệm trước công ty.

    Cơ chế khoán trên đã tác động đến công tác hạch toán kế toán nhất là phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở công ty, góp phần nâng cao trách nhiệm và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất.

    4. Tình hình chung về công tác kế toán ở công ty xây dựng binh đoàn 11.

    Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung và tổ chức bộ máy kế toán tập trung. Phòng kế toán được trang bị máy vi tính, toàn bộ kế toán tổng hợp và một phần kế toán phân tích đều được thực hiện trên máy. Với phần mềm kế toán đã được nâng cấp và đội ngũ nhân viên kế toán có tay nghề, trình độ cao, công tác kế toán ngày càng hoàn thiện hơn.

    Phòng tài chính kế toán có 11 người được tổ chức theo sơ đồ sau đó mỗi người đều được phân công công việc cụ thể.

    + Kế toán trưởng chịu trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra công việc do nhân viên kế toán thực hiện. Tổ chức lập báo cáo theo yêu cầu quản lý, tổ chức nhân viên phân công trách nhiệm cho từng người. Chịu trách nhiệm trước giám đốc, cấp trên và nhà nước về các thông tin kế toán.

    + Kế toán trưởng (phòng) giữ vai trò trợ lý giúp đỡ kế toán trưởng phụ trách công tác tổng hợp, kế toán tài chính.

    + Kế toán tổng hợp vật tư kiêm thủ quỹ quản lý tiền mặt căn cứ vào các chứng từ hợp lệ để ghi sổ đồng thời ghi chép sổ kế toán về vật liệu.

    + Kế toán thống kê thu vốn căn cứ chứng từ báo cáo sản lượng của các xí nghiệp để thống kê toàn bộ sản lượng của công ty. Căn cứ vào quyết toán được A chấp nhận thanh toán, làm thủ tục thu vốn.

    + Kế toán ngân hàng và BHXH dựa vào chứng từ, giấy báo nợ có, bảng sao kê ngân hàng để ghi vào sổ nhật ký chung. Chị trách nhiệm theo dõi các khoản BHXH, thanh toán các khoản chế độ… hàng tháng, cuối quý tổng hợp quyết toán với đơn vị cấp trên.

    + Kế toán TSCĐ chịu trách nhiệm phản ánh số lượng hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có. Phản ánh kịp thời hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng.

    + Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất của xí nghiệp căn cứ vào chi phí thực tế và chi phí dự toán tiến hành kết chuyển lỗ lãi của quá trình kinh doanh (gồm 2 người).

    + Kế toán thanh toán và tiền lương có nhiệm vụ tập hợp chi phí nhân công tiến hành phân bổ vào các đối tượng chịu chi phí. Căn cứ vào chứng từ gốc hợp lệ để viết phiếu thu chi (gồm 2 người).

    Hệ thống kế toán áp dụng là hệ thống tài khoản áp dụng chung cho các doanh nghiệp ban hành theo quyết định 1141 TC/CĐKT ngày 1/11/1995.

    Hàng tháng kế toán căn cứ chứng từ gốc, kiểm tra tính hợp pháp ghi vào số nhật ký chung, số và thẻ chi tiết theo trình tự thời gian. Từ nhật ký chung tổng hợp số liệu để ghi vào sổ cái, cuối tháng căn cứ vào số liệu ở sổ cái lập bảng tổng hợp số liệu và báo cáo tài chính.

    Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung

     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Quan hệ đối chiếu

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ kế toán được dùng làm căn cứ ghi sổ như phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, phiếu thu chi… Trước hết kế toán tiến hành ghi các nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký chung, sau đó căn cứ vào số liệu đã ghi trên sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Do đơn vị có mở sổ kế toán chi tiết nên đồng thời với việc ghi sổ nhật ký chung, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan.

    Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán ghi các nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký đặc biệt có liên quan. Định kỳ 5 ngày tổng hợp từng sổ nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi lại vào các tài khoản phù hợp trên sổ cái. Cuối tháng, (quý hay năm) cộng số liệu ghi trên sổ cái và bảng cân đối kế toán.

    Sau khi đã kiểm tra, đối chiếu khớp đúng với số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ kế toán chi tiết), kế toán tiến hành lập báo cáo tài chính.

    Ngoài ra công ty còn thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo do Bộ tài chính quy định bao gồm:

    – Bảng cân đối kế toán lập hàng quý.

    – Kết quả sản xuất hoạt động kinh doanh lập hàng quí.

    – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lập 6 tháng 1lần

    – Bảng thuyết minh báo cáo tài chính lập hàng năm.

    Để phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh tương đối lớn, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường xuyên, liên tục. Do vậy công tác tập hợp chi phí và tính giá thành snả phẩm đã được công ty phân loại thành 4 khoản mục chi phí như sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    – Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)

    – Chi phí sử dụng máy thi công (TK 623)

    – Chi phí sản xuất chung (TK 627)

    Phương pháp phân loại chi phí theo từng khoản mục của công ty nhằm quản lý chặt chẽ toàn diện, liên tục mọi khoản vật tư, tài sản, lao động, tiền vốn… Đồng thời cũng tạo điều kiện cho công tác tính giá thành và định mức sản xuất cho kỳ sau.

    II.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở BINH ĐOÀN 11 – CÔNG TY XÂY DỰNG

    A. Kế toán chi phí sản xuất

    Để có thể nghiên cứu, phân tích, đánh giá cao nghiệp vụ kinh tế kế toán một cách cụ thể. Trong bài viết này em xin được chọn công trình: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, như vậy công trình này chính là đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Đây là công trình tiêu biểu do xí nghiệp xây dựng binh đoàn 11 thuộc công ty xây dựng thi công.

    Dưới đây em xin trình bày công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất ở giai đoạn cuối (quý 4/2004)

    1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Thông thường đối với các công trình xây dựng thì chi phí nguyên vật liệu là loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn, thường từ 70% đến 80% (tùy theo kết cấu công trình) trong giá thành sản phẩm.Từ thực tế phải đòi hỏi tăng cường công tác quản lý vật tư, công tác kế toán vật liệu góp phần đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vật tư nhằm hạ thấp chi phí sản xuất.

    Để tạo điều kiện cho quá trình sản xuất thi công, tránh việc vận chuyển tốn kém nên hiện nay xí nghiệp tổ chức mở kho vật liệu ngay ở mỗi công trình, nhân viên đội vác, thủ kho tiến hành kiểm tra về số lượng và chất lượng.Sau đó lập phiếu nhập kho làm 2 liên (1 liên thủ kho giữ và 1 liên lưu tại ở phòng kế toán).  Khi có nhu cầu sử dụng vật tư chủ nhiệm công trình (đội trưởng) viết phiếu xuất kho có chữ ký của  thủ trưởng đơn vị chuyển cho thủ kho xuất vật tư thi công giá vật tư xuất kho được xí nghiệp sử dụng theo phương pháp nhập trước, xuất trước. Trường hợp vật tư mua về không thông qua kho mà chuyển thẳng tới chân công trình theo tiến độ thi công thì giá vật tư sử dụng cho việc  tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của công trình chính là giá thực tế của vật liệu.

    Có thể nói chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có vị trí chủ chốt và rất quan trọng trong quá trình thi công cũng như tổng giá thành công trình. Chínhvì vậy kế toán xí nghiệp cần phải tính toán, phản ánh chính xác đầy đủ số lượng và giá trị từng loại vật tư nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho bộ phận quản lý tiến hành các biện pháp làm giảm tiêu hao nguyên vật liệu và định mức tiêu hao, định mức dự trữ vật liệu. Đó chính là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho xí nghiệp.

    Hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp tại xí nghiệp

    Hàng ngày kế toán căn cứ vào phiếu nhập kho, xuất kho vật tư để ghi vò sổ Nhật ký chung và Sổ Cái các tài khoản liên quan.

    – Đối với vật tư mua về nhập kho, kế toán ghi:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Có TK 111, 112, 331…

    – Vật tư xuất thẳng để thi công công trình

    Nợ TK 621 (chi tiết từng đối tượng)

    Nợ TK 133

    Có TK 111, 112, 331…

    Căn cứ vào các chứng từ gốc là phiếu xuất kho, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, các giấy thanh toán tiền tạm ứng… kế toán vật liệu lập bảng tổng hợp xuất vật tư công cụ, dụng cụ trong tháng.

     

    GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG

    Ngày 1/5/2005

    Kính gửi: Giám đốc Công ty xây dựng – Binh đoàn 11

    Tên tôi là: Lê Việt Hoà

    Địa chỉ: Đội cầu

    Đề nghị tạm ứng số tiền là: 100.000.000

    Bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn.

    Lý do tạm ứng: Mua vật liệu thi công công trình.

    Thời hạn thanh toán: Trừ vào sản lượng.

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Phụ trách bộ phận Người đề nghị tạm ứng

    Tại Công ty hầu hết vật liệu mua về được xuất thẳng đến công trình không qua kho nhưng khi vật tư mua về hạch toán vẫn hạch toán lượng vật liệu này nhập kho, sau lại lập phiếu xuất kho.

    Đơn vị: Công ty xây dựng binh đoàn 11

     

    Địa chỉ:

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định: 1141-TC/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    PHIẾU NHẬP KHO

    Ngày 45/2005

    Tên người giao hàng: Lê Việt Hoà- Đội Cầu

    Theo 01 hoá đơn + HĐ077181 ngày 20-5-2005 của Công ty thép và vật tư công nghệ SIMCO.

    Nhập tại kho: Làm QL 1A (gồm hợp đồng đỏ – TLHĐ/đỏ – đen)

    STT Tên nhãn hiệu, qui cách vật tư Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo chứng từ Thực nhập
    A B C D 1 2 3 4
      Thép tròn gai LD            
      D12 – L = 11,7m   Kg   3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m   Kg   267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m   Kg   6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m   Kg   7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m   Kg   4290 4152,38 17.813.710
                  89.296.135
      Thuế GTGT = 5%           4.464.807
      Cộng           93.760.942

    Cộng tiền bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Mẫu số 01/GTKT-3CL

    CS/99-13

    HOÁ ĐƠN GTGT

    Liên 2 (giao khách hàng)

    Tháng 5/2005

    No: 077181

    Đơn vị bán hàng: Công ty thép và vật tư công ty SIMCO

    Địa chỉ: 198 Trần Phú – Hà Tĩnh                 Số TK 431130 000 50

    Điện thoại: 039885546 – Mã số: 01.009029225

    Họ tên người mua hàng: Lê Việt Hoà

    Đơn vị: Công ty xây dựng binh đoàn 11

    Địa chỉ:

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt                  0100193211

    STT Tên hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    A B C 1 2 3 = (1×2)
    1 Thép tròn gai LD        
      D12 – L = 11,7m Kg 3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m Kg 267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m Kg 6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m Kg 7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m Kg 4290 4152,38 17.813.710
      Cộng thành tiền       89.296.135
      Thuế VAT: 5%       4.464.807
              93.760.942

    Viết bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Người mua hàng             Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Đơn vị: Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Địa chỉ:

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    PHIẾU XUẤT KHO

    Số 212/VT

    Tháng 5/2005

    Họ tên người nộp tiền: Lê Việt Hoà – Đội Cầu

    Lý do xuất kho: Làm quốc lộ 1A

    Xuất tại kho: DN220/VT + 01BC + 01HĐ

    STT Tên nhãn hiệu quy cách, vật tư Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo chứng từ Thực nhập
    A B C D 1 2 3 4
    1 Thép tròn gai LD            
      D12 – L = 11,7m   Kg   3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m   Kg   267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m   Kg   6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m   Kg   7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m   Kg   4290 4152,38 17.813.710
      Cộng tiền hàng           89.296.135

    Cộng tiền bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Cụ thể làm căn cứ vào phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, hoá đơn GTGT mà kế toán ghi vào Nhật ký chung như sau:

    Nợ TK 152: 89.296.135

    Nợ TK 133 (1331): 4.464.807

    Có TK 111: 93.760.942

    Sau đó phản ánh hàng xuất kho như sau:

    Nợ TK 621: 89.296.135

    Có TK 152: 89.296.135

    Đơn vị: Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Đội Cầu

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    TRÍCH SỔ NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NT GS Chứng từ Diễn giải Đã ghi Sổ Cái TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    04/6 212 04/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    89.296.135 82.296.135
    05/6 222 05/6 Xuất kho vật liệu (cát đen) làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    55.052.400 55.052.400
    30/6 351 30/6 Xuất kho vật liệu (đá) làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    18.815.534 18.815.534
    30/6 385 30/6 Xuất kho vật liệu làm đường QK91 Hương Sơn x

     

    x

    621

     

    152

    50.000.000 50.000.000

    Đồng thời máy cũng lựa chọn số liệu vào sổ cái TK621 và sổ chi tiết TK621. Chi phí vật liệu phát sinh ở công trình nào thì tập hợp ghi vào sổ chi tiết TK621 của công trình đó. Số được mở riêng cho từng công trình và ghi theo thứ tự của chứng từ ghi sổ. Trước tiên căn cứ vào từng nghiệp vụ phát sinh mà vào Sổ Cái dựa trên sổ Nhật ký chung.

    Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Đơn vị: Đội Cầu

     

    TRÍCH SỔ CÁI – CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP

    Quý II/2005

    Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số tiền phát sinh
    Số Ngày Nợ
    212 04/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 89.296.135  
    222 05/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A 152 55.052.400  
    351 30/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A 152 18.815.534  
      31/6
        Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp quý II/2004 sang chi phí SXKKDD 1541   4.591.716.789

    Căn cứ vào số liệu trên các chứng từ ghi sổ mà số liệu cho sổ chi tiết TK621, tập hợp theo từng công trình.

    Ta có sổ chi tiết TK621 – chi tiết làm đường quốc lộ 1A như sau:

     

    SỔ CHI TIẾT TK621

    Công trình: Đường quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    NT GS Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    04/6 212 04/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 89.296.135  
    05/6 222 05/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 55.052.400  
    30/6 351 30/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 18.815.534  
    31/6   31/6 Kết chuyển chi phí vật liệu quý II/2005 vào sản phẩm dở dang 1541   3.017.331.917
          Tổng cộng   3.017.331.917 3.017.331.917

    Cuối kỳ căn cứ vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào giá thành sản phẩm theo định khoản.

    Nợ TK 154 (1541): 3.017.331.917

    Có TK 621: 3.017.331.917

    1. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Chi phí nhân công trực tiếp là khoản chi phí trực tiếp ở xí nghiệp và gắn liền với lợi ích của người lao động. Do vậy việc hạch toán đúng, đủ, chi phí nhân công có ý nghĩa quan trọng trong việc tính lương, trả lương chính xác, kịp thời cho người lao động. Nó có tác dụng tích cực góp phần khích lệ người lao động nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm…

    Chi phí nhân công ở xí nghiệp gồm:

    + Tiền lương công nhân trong danh sách

    + Tiền lương công nhân thuê ngoài

    + Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Hiện nay lực lượng lao động ở xí nghiệp gồm 2 loại: công nhân viên chức trong danh sách (trong biên chế) và công nhân viên chức ngoài danh sách.

    Công nhân viên chức trong biên chế chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng là lực lượng nòng cốt, thực hiện những công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao còn lại là lao động theo hợp đồng. Điều này làm cho cơ cấu của xí nghiệp trở nên gọn nhẹ, giảm bớt chi phí quản lý.

    Bộ phận công nhân viên chức ngoài danh sách gồm công nhân trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp (nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, quản lý hành chính).

    + Đối với công nhân lao động gián tiếp áp dụng trả lương khoán theo công việc của từng người (có quy chế trả lương theo cấp bậc, năng lực, công việc thực tế của mỗi người).

    + Đối với công nhân lao động trực tiếp xí nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm.

    + Đối với bộ phận CNVC trong danh sách xí nghiệp tiến hành trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo đúng quy định hiện hành. Cụ thể là:

    – 15% BHXH tính theo lương cơ bản

    – 2% BHYT tính theo lương cơ bản

    – 2% KPCĐ tính theo lương thực tế

    + Đối với bộ phận CNVC ngoài danh sách xí nghiệp không tiến hành trích BHXH, BHYT theo tháng (quý) mà tính trong đơn giá nhân công trả trực tiếp cho người lao động. Còn khoản KPCĐ thì xí nghiệp vẫn trích như CNVC trong danh sách.

     

    Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

     
       

    Chứng từ ban đầu để xác định tiền lương là bảng chấm công, các hợp đồng làm khoán…Hợp đồng làm khoán được ký theo từng công việc hay tổ hợp công việc và thời gian thực hiện hợp đồng. Do vậy, không nhất thiết phải trả lương theo từng tháng mà có thể trả theo khối lượng công việc hoàn thành trong hợp đồng.

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ______________

    HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

    Tên công trình: Đường quốc lộ 1A

    Tên đội trưởng: Lê Việt Hoà

    Tên tổ trưởng: Nguyễn Tiến Dũng

    Tên kế toán trưởng:Phan Hồng Nga

    STT Nội dung công việc ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Đào đất

     

    Vận chuyển

    m2

     

    m3

    1500

     

    300

    4500

     

    3000

    6.750.000

     

    900.000

      Cộng       7.650.000

    Như vậy theo biên bản của hợp đồng giao khoán thì  tính tiền công đào đất cho công nhân sẽ là:

    Đơn giá :4500đ/m2

    Khối lượng thi công:1.500m 2

    Vậy tiền công đào đất sẽ là:4500×1500 =6.750.000

    Có nghĩa là lương công nhân đào đất và vận chuyển sẽ được tính trên cơ sở bảng chấm công và hợp đồng chính khoán – ứng với số ngày làm việc trong tháng để quy ra số công được hưởng lương theo sản phẩm rồi trên cơ sở kết hợp với hợp đồng giao khoán và thanh toán.

    Bảng chấm công và chia lương và  hợp đồng thuê ngoài có dạng như sau.

    HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN NGOÀI – SỐ 7

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Tên đội trưởng: Lê Việt Hoà – đội cầu

    Nội dung công việc ĐVT Giao khoán Khối lượng Thành tiền Kết thúc Ký xác nhận
    K lượng Đơn giá Bắt đầu kết thúc
    Bốc xúcđất m2 740,3 10.000 5/6 20/6 740,3 7403159 20/6

     

    17/6

     
    Đổ bê tông m2 100 45.000 8/6 20/6 100 4500.000    
    cộng             11903159    

     

     

    BẢNG CHẤM CÔNG VÀ CHIA LƯƠNG

    Tháng 5/2005.

    STT Họ và tên Số ngày làm việc trong  tháng Tổng số ngày

     

    cộng

    Tổng số tiền được lĩnh
    1 2 3 31
    1

     

    2

    3

    Nguyễn Đình Cường

     

    Vũ Văn Hoàn

    Phạm Danh Lam

    x

     

    x

    x

    x

     

    x

    x

    x

     

    x

    x

     

      30

     

    30

    29

    925,116

     

    925,116

    894,279

      Cộng           386 11.903,159

    Từ công thức:

    = Đơn giá khoán   x

    Suy ra:  =     x

    Nên theo bảng có:

    =  x 30 = 925,116 đồng

    Nếu hợp đồng làm khoán chưa được thanh toán ngay thì kế toán tiến hành hạch toán vào TK 622 qua TK đối ứng 331

    Nợ TK 622: 11.903,159

    Có TK 331: 11.903,159

    Cuối tháng các hợp đồng làm khoán chưa được thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sẽ được tập hợp vào bảng kê hợp đồng làm khoán.

     

    BẢNG KÊ HỢP ĐỒNG LÀM KHOÁN

    Tháng 5/2005

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Đội trưởng: Bùi Quốc Thắng

    Số hợp đồng Diễn giải Chi phí sản xuất – TK622
    Hợp đồng làm khoán số 7 Đào đất, vận chuyển đất đá, đổ bê tông 11.903,159
    Hợp đồng làm khoán số 11 Đổ bê tông 2.973,145
      Cộng 17.482,170

    Từ bảng kê hợp đồng làm khoán kế toán sẽ lập chứng từ ghi sổ cho phần nợ công nhân lao động thuê ngoài mà công ty phải trả.

      CHỨNG TỪ GHI SỔ          MS: 01.SKT

    Ngày 31/5/2005

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    STT Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền
    Nợ Nợ
      K/c chi phí nhân công trực tiếp tháng 5/2005 cho công trình QL1A 622 331 17.482,170 17.482,170
      Cộng     17.482,170 17.482,170

    Nếu hợp đồng làm khoán thanh toán ngay bằng tiền tạm ứng của đội thì kế toán sẽ hạch toán vào TK622 qua TK đối ứng 141

    Nợ TK 622: …

    Có TK 141: …

    Cùng với chứng từ ghi sổ, bảng chấm công, bảng thanh toán lương cùng các chứng từ khác có liên quan kế toán tiến hành ghi sổ nhật ký chung.

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi vào sổ TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    31/6 231 31/6 Thanh toán tiền công nhân thuê ngoài QL1A x

     

    x

    622

     

    141

    17.842,170 17.842170

    Sau đó máy sẽ chuyển số liệu vào sổ TK 622 và ghi sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình.

    SỔ CÁI TK622

    Quý II/2005

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    231 31/6 Chi phí nhân công thuê ngoài QL1A 331 17.842,170  
    K/c chi phí NCTT vào sản phẩm dở dang 1542   309.277.432
        Cộng số phát sinh   309.277.432 309.277.432

     

    SỔ CHI TIẾT TK 622

    Công trình: Quốc lộ 1A

    STT

     

    GS

    Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    31/6

     

    31/6

      31/6

     

    31/6

    Thanh toán tiền nhân công thuê ngoài

     

    K/c chi phí nhân công trực tiếp vào sản phẩm dở dang

    331

     

    1542

    17.482,170  
              309.277.432 309.277.432

    Sau khi lên sổ chi tiết TK 621 – chi phí nhân công trực tiếp từng công trình máy sẽ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154 theo điều khoản.

    Nợ TK (1542)       :309.277.462 (Đường QL 1A)

    Có TK 622 : 309.277.432 (Đường QL 1A)

    3- Kế toán chi phí máy thi công

    Theo chế độ áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp được bộ tài chính bn hành chính thức quyết định sô 1864 QĐ/BTS ngày 16/12/98, xí nghiệp đã mở thêm TK 623 dùng để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công.

    Cũng như các doanh nghiệp xây lắp khác máy thi công bao gồm các phương tiện, máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công. Đây là một trong những bộ phận không thể thiếu được trong quá trình thi công và chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng giá trị tài sản của công ty. Không những thế nó còn giúp công ty đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng công trình cũng như giảm một lượng hao phí nhân công đáng kể.

    Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công

     
       

    Ngoài ra TSCĐ của Công ty gồm một số thiết bị, dụng cụ phục vụ cho quản lý và nhà xưởng khác. Trong một tháng máy thi công có thể phục vụ hoạt động cho nhiều công trình do vậy công ty giao máy cho các tổ đội để tạo điều kiện chủ động cũng như nâng cao chất lượng quản lý. Đồng thời các đội phải có trách nhiệm bảo quản máy móc thông qua các chứng từ ban đầu là “qui định điều động xe (máy). Đến cuối tháng phiếu này cùng các giấy tờ có liên quan sẽ được chuyển về phòng kế toán làm căn cứ ghi sổ và phân bổ cho từng đối tượng sử dụng. Chi phí sử dụng máy thi công có liên quan đến công trình nào thì hạch toán cho công trình đó. Trường hợp phải thuê máy thì đội trưởng đội thi công và đơn vị cho thuê phải làm hợp đồng thuê máy như sau:

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    HỢP ĐỒNG THUÊ MÁY THIẾT BỊ

    Hôm naylà ngày ……. hai bên chúng tôi gồm:

    Bên cho thuê máy (bên A): Công ty vật tư thiết bị giao thông

    Địa chỉ:

    Điện thoại:

    Bên thuê máy (bên B) : Công ty xây dựng ….

    Địa chỉ

    Điện thoại:

    Hai bên cùng thoả thuận thuê thiết bị với những điều khoản sau:

    Điều 1: Bên A đồng ý cho bên B thuê một máy trộn bê tông phục vụ thi công công trình quốc lộ 1A.

    – Thời gian: từ ngày 20/5/2005 đến khi xong

    – Địa điểm: tại quốc gia 1A

    Điều 2: Đơn giá và hình thức thanh toán

    – Đơn giá: 300.000đồng/1 giờ máy

    – Hình thức thanh toán: Hàng tháng hai bên xác nhận và thanh toán theo số giờ máy thực tế hoạt động, trả bằng tiền mặt.

    Điều 3: Trách nhiệm bên A

    Điều 4: Trách nhiệm bên B

     

    BẢNG PHÂN BỔ CHI PHÍ KHẤU HAO MÁY THI CÔNG

    Máy san – Quý II/2005

    Tổng nguyên giá Thời gian sử dụng Thời sử dụng Mức thu khoán
    144.000.000 3 1,5

     

    1

    0,5

    Đội 2=72.000.000

     

    Đội 3= 48.000.000

    Đội cầu=24.000.000

    Căn cứ vào bảng phân bổ chi phí khấu hao máy thi công kế toán phân bổ như sau:

    Máy san:

    – Nguyên giá: 24.000.000

    – Số tháng sử dụng: 3 tháng trong đó:

    + Đội 2 sử dụng là 1,5 tháng

    + Đội 3 sử dụng là 1 tháng

    + Đội cầu là 0,5 tháng

    Vậy ta có:

    Mức thu khoán của đội 2 =  = 12.000.000đ

    Mức thu khoán của đội 3 =  = 8.000.000đ

    Mức thu khoán của đội cầu =  = 4.000.000đ

    Sau khi thi công xong đội phải có trách nhiệm lập bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy năm 2005 như sau:

    Công ty  xây dựng cầu đường  Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Binh đoàn 11                           Độc lập -Tự do – Hạnh phúc

    Bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy thiệt bị của công ty XDCĐ cho đội cầu. Hai bên thống nhất thanh toán sử dụng thiết bị quý II/2005 đường quốc lộ 1A như sau:

    STT Tên tài sản Định mức sử dụng Thời gian ngừng việc Thời gian hoạt động Thành tiền
    Số ca Lý do Số ca ĐG/ca
    1 Máy lu 22 ca/T 22 ca Bão lụt   280.000
    2 Máy ủi 22 ca/T 60 ca Bão lụt   400.000 17.000.000
    3 Máy san 22 ca/T 22 ca Bão lụt   500.000 24.000.000
      Cộng           41.600.000

    Dựa trên cơ sở bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy năm 2005kế toán điều khiển tiền khấu hao máy thi công như sau:

    Nợ TK 623(4)                : 41.600.000

    Có TK 141 (3)      : 41.600.000

    Đây chính là cơ sở để vào nhật ký chung và sổ cái TK 623 và TK có liên quan đồng thời vào sổ chi tiết TK 623 và kết chuyển vào TK 154.

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi sổ cái TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 230 15/6 Xuất vật liệu chạy máy đường 8 – Hương Sơn x

     

    x

    6232

     

    152

    143.600 143.600
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy đường quốc lộ 1 x

     

    x

    6232

     

    152

    125.000 125.000
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền thuê máy trộn bê tông đường QL1A TGTGT dồn vào trả bằng tiền tạm ứng x

     

    x

    x

    x

    6237

     

    141

    1331

    141

    8.500.000

     

    850.000

    8.500.000

     

    850.000

    31/6 214 31/6 Số tiền thuê CN điều khiển máy đường QL1A x

     

    x

    6231

     

    331

    2.228.500 2.228.500
        31/6 Tiền khấu hao máy TC thanh toán bằng tiền tạm ứng x

     

    x

    6234

     

    1413

    14.470.750 14.470.750

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN 623

    Quý II/2005
    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 230 15/6 Xuất vật liệu làm đường 8 – Hương sơn 152 143.600  
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy QL 1A 152 125.300  
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền trộn bê tông đường 1A – tạm ứng 141 8.500.000  
    31/6 214 31/6 Thanh toán tiền CN điều khiển máy đường QL1A 331 2.228.500  
    31/6   31/6 Tiền khấu hao máy thi cong QL1A 1413 11.600.000  
          K/c chi phí sử dụng máy thi công vào sản phẩm dở dang 154   3563465.878
          Cộng   356.465.878 356.465.878

     

    SỔ CHI TIẾT TK623

    Công trình: Đường quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy 152 125.300  
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền thuê máy 141 8.500.000  
    31/6 44 31/6 Thanh toán tiền CN điều khiển máy 331 2.228.500  
    31/6   31/6 Tiền KH máy thi công 1413 11.600.000  
          K/C chi phí máy thi công vào sản phẩm dở dang 1543   206.582.621
          Cộng số phát sinh   206.582.621 206.582.621

    Ta có điều khiển như sau với việc kết chuyển chi phí máy thi công vào sản phẩm dở dang sau khi lên sổ:

    Nợ TK 154           : 206.582.621

    Có TK 623 : 206.582.621

    1. Chi phí sản xuất chung

    Đi thi công công trình ngoài những khoản chi phí trên còn các khoản chi phí sản xuất chung phục vụ sản xuất, các khoản chi phí này phát sinh vừa được hạch toán vào TK 627 bao gồm chi phí sau:

    + Tiền lương,các khoản trích theo lương nhân viên phục vụ nhân viên quản lý công trình (TK 6271)

    +Chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác phục vụ quản lý sản xuất chung của công trình (TK 6272)

    + Chi phí công cụ dụng cụ sản xuất (TK 6273)

    Việc trích BHXH, BHYT, KPCĐ cũng được thực hiện tương tự như công nhân sản xuất trực tiếp.

    Những công cụ có giá trị lớn nhưng không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ được sử dụng nhiều lần thì tiến hành phân bồ dần còn những dụng cụ có giá trị nhỏ như cuốc, xẻng… thì tiến hành phân bổ 1 lần cho công trình đó.

    + Chi phí khấu hao TSCĐ không phải máy thi công phục vụ cho công tác sản xuất chung (TK 6274)

    + Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước… (TK6277)

    + Chi phí bằng tiền khác như chi phí giao dịch, tiếp khách (TK 6278)

    Xí nghiệp đã mở đủ 6 tiểu khoản cấp 2 nhằm theo dõi chi tiết từng khoản mục chi phí sản xuất chung. Chi phí sản xuất chung phát sinh có liên quan tới công trình, hạng mục công trình nào thì sẽ được hạch toán trực tiếp vào công trình đó. Còn trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình hạng mục công trình thì kế toán sẽ tập hợp chung và tiến hành phân bổ theo tiêu thức nhân công trực tiếp.

    Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung

     
       

    TK 6274 được công ty sử dụng dùng để hạch toán toàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận quản lý tổ, đội. Hàng quý tiến hành tính khấu hao để hình thành vốn và quỹ sửa chữa TSCĐ. Bắt đầu từ ngày 01/01/03 công ty áp dụng tính khấu hao theo quy định 116/1999 QĐ – BTC ngày 30/12/1999 của Bộ Tài chính

    BẢNG TÍNH VÀ PHÂN BỔ KHẤU HAO TSCĐ

    Quý II/2005
    Số TT Tên TS Số năm SD Tổng NG Nguyên giá KHTSCĐ năm 2004 Giá trị còn lại đến 31/5/05
    NVNS NVBS NV vay      
    1 Máy ủi 5 17.600.000     17.600.000     3.520.000 14.080.000
    2 Máy TBT 5 16.830.000     16.830.000     4.207.500 12.622.500
    3 Máy san 4 24.000.000     24.000.000     4.800.000 19.200.000
      Tổng cộng               41.600.000 56.322.512

    BẢNG TÍNH TRÍCH NGANG KH TSCĐ

    Quý II/2005

    STT Tên tài sản Số tháng sử dụng Hoạt động Khấu hao cơ bản II/2005
    Số ca Đơn giá
    1 Máy ủi 3 44 400.000 880.000
    2 Máy trộn bê tông 3 66 255.000 1.051.815
    3 Máy san 3 48 500.000 1.200.000

    Ngoài ra còn có các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. Bao gồm các khoản chi phí về tiền điện, nước, điện thoại, tiền thuê nhà, chi phí tiếp khách… Chi phí phát sinh cho công trình nào thì thanh toán cho công trình đó. Các chứng từ là các hoá đơn thanh toán.

    Công ty XDCĐ

    Binh đoàn 11

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi sổ cái TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6 230 10/6 Xuất dụng cụ cho quản lý đội, xưởng x 6272

     

    153

    2.105.000 2.105.000
    31/6   31/6 Chi phí khấu hao TSCĐ x 6274

     

    214

    11.201.500 11.201.500
    31/6 36 31/6 Trả tiền điện thoại x 6278

     

    133

    141

    850.000

     

    85.000

    935.000
    31/6   31/6 Tiền lương NVQL trong biên chế x 6271

     

    141

    6.472.660 6.472.660

    TRÍCH SỔ CÁI TK 627 – QUÝ II/2005

    (Sổ chi tiết)

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6   10/6 Xuất dụng cụ VLQL đội 153 2.105.000  
    31/6   31/6 Chi phí khấu hao TSCĐ 214 11.201.500  
    31/6   31/6 Trả tiền điện thoại 141 935.000  
          Tiền lương NVQL trong biên chế 141 6.472.660  
          K/c chi phí SXC quý II sang TK chi phí SXDD 1544   502.212.488
          Cộng phát sinh   502.212.488 502.212.488

    Và kế toán tiến hành điều khoản bút toán sau:

    Nợ TK 154 (1544)         : 502.212.488

    Có TK 627: 5023.212.488

    TRÍCH SỔ CÁI TK 627 – QUÝ II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6 230 10/6 Xuất dụng cho cho quản lý đội –QL1A 153 2.105.000  
    31/6   31/6 Chi phí KHTSCĐ – QL1A 214 11.291.500  
    31/6 36 1/6 Thanh toán tiền lương cho NLQL đội K/C chi phí SXC quý II/2005 141 6.472.600 782.093.000
          Cộng phát sinh   782.093.000 782.093.000

    TRÍCH SỔ CÁI TK 154 – QUÝ II/2005

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh Số dư
    Số ngày Nợ Nợ
    1 31/6 Số dư đầu kỳ       382.262.287  
        Đường QL1A       382.262.287  
        Đường 8- Hương Sơn        
        K/c CPNVL TT   4.904.697.707   5.286.959.994  
        Đường QL 1A   3.017.331.917   3.399.594.204  
        Đường 8 – Hương Sơn   1.887.365.787   1887.365.787  
        K/c CPNC TT   539.914.942   5.286.874.936  
        Đường QL 1A   309.277.432   3.708.865.636  
        Đường 8 – Hương Sơn   230.637.510   2.118.003.297  
        KC CP máy thi công   234.629.357   6.061.504.293  
        Đường QL 1A   206.582.621   3.915.398.257  
        Đường 8 – Hương sơn   28.046.736   2.146.050.033  
        K/C CPSXC   669.733.296   6.731.237.589  
        Đường QL 1A   502.212.488   4.417.610.742  
        Đường 8 – Hương sơn   167.520.808   2.313.570.841  
        K/c CP thực tế   6.348.975.299   6.731.237.589  
        Đường QL 1A   4.035.404.458   4.417.610.742  
        Đường 8 – Hương sơn   2.313.570.841   2.313.570.841  
        Số dư cuối kỳ          
        Đường QL 1A     0    
        Đường 8 – Hương sơn     2.313.57    
        Giá thành sản phẩm     0.841    
        Đường QL 1A     4.417.61    
        Đường 8 – Hương sơn     0.472    

    SỔ CHI TIẾT TK154

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      31/6 Số dư đầu kỳ     382.262.287
        K/c CP NVL trực tiếp 621 3.017.331.917 3.017.331.917
        K/c CPCNTT 622 309.277.432 309.277.432
        K/c CP MTC 623 206.582.621 206.582.621
        K/c CPSXC 627 502.212.488 502.212.488
        Cộng chi phí thực tế   4.635.404.458 4.417.666.745
        Số dư cuối kỳ      
        Giá thành sản phẩm      
        Cộng   4.417.666.745  
    1. Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp

    Kỳ tính giá thành của Công ty XDCĐ – binh đoàn 11 được xác định là hàng quý vào thời điểm cuối quý. Công ty áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn cho mỗi công trình, hạng mục công trình. Toàn bộ chi phí thực tế phát sinh của từng công trình, hạng mục công trình khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao là giá thực tế của công trình, hạng mục công trình đó. Ta tính được giá thực tế của khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ theo công thức sau:

    =    +  –

    Vậy tại công trình quốc lộ 1A tại thời điểm cuối kỳ công ty xác định giá thực tế KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ là:

    382.262.287 + (3.017.331.917 + 309.277.432 + 206.582.621 + 502.212.488) – 0 = 4.417.666.745

    Từ đó ta có thể tổng hợp khái quát chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của công ty bằng sơ đồ sau:

    Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của công ty tại công trình quốc lộ 1A

    Cuối quý từ số liệu trên các số chi tiết TK621, 622, 6271, 6273, 6278, 104 kế toán lập bảng tính giá thành sản phẩm:

     

    Bảng tính giá thành sản phẩm công trình quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    STT Khoản mục chi phí Số dư đầu kỳ Chi phí phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ Giá thành sản phẩm
    1 NVL trực tiếp 267.583.600 3.017.337.917 2.284.915.517
    2 NC trực tiếp 29.296.964 309.277.432 338.574.396
    3 Máy thi công 19.568.879 206.582.621 226.151.600
    4 Sản xuất chung 65.812.744 502.212.488 568.025.232
      Cộng 382.262.287 4.035.404.458   4.417.666.745

    Sơ đồ tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp của CTXL

    PHẦN THỨ BA

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOẠN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11

    I- ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY XÍ NGHIỆP – BINH ĐOÀN 11.

    Từ những ngày đầu bước vào sản xuất kinh doanh với nỗ lực phấn đấu của ban lãnh đạo và độ ngũ cán bộ công nhân viên toàn công ty, sự quan tâm của Bộ xây dựng. Công ty luôn xứng đáng là một trong những đơn vị đứng đắn về xây dựng. Công ty đã, đang và sẽ xây dựng nhiều công trình có tầm quan trọng trong nền kinh tế.

    Qua quá trình tìm hiểu thực tế và công tác quản lý kế toán nói chung, công tác quản ly hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xấy lắp nói riêng em nhận thấy công ty là một đơn vị hạch toán độc lập thuộc doanh nghiệp Nhà Nước tuy nhiều mặt còn chịu sự quản lý của Nhà nước nhưng công ty đã xây dựng được mô hình quản lý và hạch toán hợp lý, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, chủ động hoạt động kinh doanh. Từ công việc hoạch toán ban đầu, việc kiểm tra hợp lý, hợp lệ những chứng từ được tiến hành khá cẩn thận,  đảm bảo số liệu hoạch toán có căn cứ pháp lý tránh được sự phản ánh sai  lập nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Việc luật và luân chuyển chứng từ theo đúng chế độ hiện hành, cung cấp kịp thời số liệu cho kế toán nhật ký chung làm nhiệm vụ cập nhập.

    Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng đủ đáp ứng nhu cầu chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty đã đảm bảo quản lý và hoạch toán các yếu tố chi phí  của quá trình sản xuất một cách liêm kiệm,  có hiệu quả cụ thể công ty đã quản lý lao động có trọng tâm và luôn động viên khuyến khích đối với lao động có tay nghề cao. Ngoài ra công ty còn đưa lao động thành lao động trong danh sách và ngoài danh sách để động viên, huy động lao động được linh hoạt.

    Phòng kế toán của công ty được bố chí gọn nhẹ , với đội ngũ kế toán có trình độ cao, năng lực, nhiệt tình và trung thực đã xây dựng được hệ thống sổ sách kế toán – cách thức ghi chép, phương pháp hạch toán khoa học, hợp lý, phù hợp với yêu cầu mục đích của chế độ toán mới. Tổ chức công tác kế toán quản trị, tài chính rõ ràng , khoa học giúp giảm bớt khối lượng kế toán, kế toán viên có thể đáp ứng đầy đủ thông tin hữu dụng đến với yêu cầu quản lý của công ty cũng như các đối tượng liên quan khác. Cụ thể:

    + Công ty đã mở những kế toán phản ánh cho từng công trình, hạng mục công trình, từng đơn vị đảm bảo cho việc theo dõi khả sát sao cho từng công trình , và đơn vị thi công đó.

    + Do lập số sổ chi tiết tạo nên điều kiện thuận lợi cho trưởng  phòng kế toán cùng ban lãnh đạo  công ty trong việc phân tích hoạt động kinh tế.Công việc này tiến hành khá thuận lợi nên đã đưa ra quyết định kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh của toàn công ty.

    Về công tác tập hợp chi phí và giá thành , kế toán công ty đã hoạch toán chi phí sản xuất cho từng công trình, hạng mục công trình trong từng tháng, từng quý một cách rõ ràng, đơn giản phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, quản lý và phần tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Công việc kiểm kê  khối lượng xây lắp dở dang được tổ chức một cách khoa học, cung cấp số liệu chính xác phục vụ cho công tác giá thành.

    Việc sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán cũng góp phần không nhỏ giảm được các chi phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả công tác kế toán.

    + Đã lập được chương trình kế toán riêng trên máy vi tính theo hình thức kế toán nhật ký chung.

    + Đã đưa toàn bộ phần kế toán tài chính và kế toán quản trị vào máy vi tính.

    + Có thể đưa ra báo cáo kế toán vào bất kỳ thời điểm nào cần.

    + Cung cấp đầy đủ, kịp thời các số liệu kế toán cho ban lãnh đạo, phục vụ công tác quản lý.

    II. MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁN THÀNH SẢN PHẨM.

    Kế toán chi phí sản xuất quá trình sản phẩm là khâu hoạch toán chủ yếu trong công tác kế toán và DNXS. Nghiệp vụ kinh tế phát sinh của nó được phản ánh bằng nhiều loại chứng từ gốc bắt nguồn từ tổ, đội sản xuất qua các cán bộ kỹ thuật, thủ kho, rao động tiền lương rồi mới đến kế toán xí nghiệp để phân loại, tổng hợp chứng từ và chuyển về  phòng để kiểm tra hạch toán.

    Đối với ngành xây dựng cơ bản chủ yếu giá thành sản phẩm xây lắp được xác định trước khi sản xuất ra sản phẩm. Để bù đắp chi phí sản xuất và đảm bảo có lãi, trong quá trình sản xuất công ty luôn phải đối đầu với những chi phí phát sinh không đáng có với giá trị dự toán.

    Ngoài ra đối với chi phí nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp chiếm tỷ lệ trọng lớn nên tiếp kiệm vật tư là cần thiết. Tiết kiệm ở đây không có nghĩa là cắt xén, mua vật liệu kém chất lượng, mà thực chất là xuất dùng đúng việc, không lãng phí, bừa bãi, có kế hoạch bảo đảm rõ ràng, tránh mất mát, hư hỏng cũng như giảm chất lượng vật tư. Xí nghiệp nên cử một số cán bộ có trình độ, năng lực, trung thực nhạy bén, chuyên viên nguyên cứa về thị trường vật tư bởi việc cung ứng vật tư phụ thuộc rất nhiều về tình hình biến động của thị trường. Hơn nữa công ty có nhiều công trình nhằm dải dác khắp nơi do đó  đối với những công trình lớn , thời gian thi công dài xí nghiệp nên đấu thầu cung ứng vật tư. Yếu tố chi phí vận chuyển vật tư cũng cần quan tâm, công ty phải có kế hoạch vận chuyển sao cho có hiệu quả nhất tức là nhà cung cấp đến kho hoặc trân công trình phải có giá cả phù hợp, tránh vận chuyển nhiều gây hư hỏng, hao hụt. Trường hợp phải thuê xe ngoài thì nên thuê những xe phù hợp với nhu cầu vận chuyển. Bên cạnh đó việc tìm những nguyên vật liệu, có tính sử dụng hiệu quả cao, phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và giá cả phù hợp với yêu cầu của công trình cũng nên được quan tâm.

    Nói chung chi phí nguyên vật liệu chiếm khoảng 75% giá trị công trình nên xí nghiệp cần có những biện pháp thích ứng với điều kiện tình hình cụ thể để có những biện pháp kịp thời nhằm giảm bớt chi  phí đến mức có thể.

    Công nhân thi công các công trình của xí nghiệp chủ yếu là lao động thuê ngoài do đó xí nghiệp phải theo dõi, quản lý chặt chẽ cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Quản lý về số lượng sẽ đảm bảo lượng lao động cần thiết cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc xấy  lắp, tránh để công việc bị giám đoạn do thiếu nhân công cũng như để nhân công phải chờ việc, còn quản lý chất  lượng tức là những nhân công tham gia xây lắp công trình phải có chuyên môn, tay nghề cao. Công tác quản  lý nhân công cần phải có khoa học, biết dùng đúng người đúng việc sẽ gòp phần nâng cao năng xuất lao động, chất lượng công trình và cũng đảm xây dựng thời gian hợp lý.

    Bên cạnh những giải pháp trên xí nghiệp cần phải giảm những chi phí cần thiết đến mức tối thiểu. Có như vậy công tác tiết kiệm chi phí và đảm bảo giá thành sản phẩm mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    KẾT LUẬN

    Trong xuất quá trình thực tập tại xí nghiệp binh đoàn 11- Công ty xây dựng quốc phòng em nhận thấy rằng chỉ dựa vào những kiến thức đã học ở trường là chưa đủ. Bởi vậy đây là thời gian cho em thử nghiệm những  kiến thức mình đã học kho còn ngồi trên ghế nhà trường vào công tác thực tế.

    Mặt khác phá trình thực tập đã giúp em hiểu sâu hơn, đúng như những kiến thức mình đã được học. Em cảm thấy mình đã trưởng thành hơn vì những lý thuyết đã được áp dụng trong thực tế. Hiểu được tầm quan trọng đó em đã cố gắng học hỏi về công việc kế toán, về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp áp dụng kế toán mới ở nước ta.

    Được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình của cô Lê Thị Bình và các thầy cô ở trường, các bác, các cô,, các anh chị trong xí nghiệp mà đặc biệt là phòng kế toán của xí nghiệp binh đoàn 11nên em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài ”Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở xí nghiệp xây dựng binh đoàn 11”

    Trong chuyên đề này em đã mạnh dạn trình bày một số ý kiến nhỏ với nguyện vọng để công ty tham khảo nhằm làm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán ở công ty. Do trình độ và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên trong bài luận này không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế.Em rất mong sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô để em được tiến bộ hơn.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của cô Lê Thị Bình và các thầy cô giáo trong trường.Cùng các bác, các cô, các anh chị trong xí nghiệp xây dựng binh  đoàn 11- Công ty xây dựng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề  này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A5-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-4-Th%C4%83ng-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    LỜI NÓI ĐẦU

    Xây dựng cơ bản (XDCB) là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định (TSCĐ) cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân (KTQD), nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước. Vì vậy một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư từ nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực đầu tư XDCB. Bên cạnh đó đầu tư XDCB luôn là một “lỗ hổng” lớn làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB đang là một vấn đề cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay.

    Tổ chức hạch toán kế toán, một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Quy mô sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu và phạm vi công tác kế toán ngày càng mở rộng, vai trò và vị trí của công tác kinh tế ngày càng cao.

    Với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm đáp  ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của nền kinh tế mở đã buộc các doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp XDCB phải tìm ra con đường đúng đắn và phương án sản xuất kinh doanh (SXKD) tối ưu để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường, dành lợi nhuận tối đa, cơ chế hạch toán đòi hỏi các doanh nghiệp XBCB phải trang trải được các chi phí bỏ ra và có lãi. Mặt khác, các công trình XDCB hiện nay đang tổ chức theo phương thức đấu thầu. Do vậy, giá trị dự toán được tính toán một cách chính xác và sát xao. Điều này không cho phép các doanh nghiệp XDCB có thể sử dụng lãng phí vốn đầu tư.

    Đáp ứng các yêu cầu trên, các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải tính toán được các chi phí sản xuất bỏ ra một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời. Hạch toán chính xác chi phí là cơ sở để tính đúng, tính đủ giá thành. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm mọi cách hạ thấp chi phí sản xuất tới mức tối đa, hạ thấp giá thành sản phẩm – biện pháp tốt nhất để tăng lợi nhuận.

    Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất, khoản mục chi phí nguyên vật liệu (NVL) chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp, chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí NVL cũng làm ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh vấn đề trọng tâm là kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thì tổ chức tốt công tác kế toán NVL cũng là một vấn đề đáng được các doanh nghiệp quan tâm trong điều kiện hiện nay.

    Ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long với đặc điểm lượng NVL sử dụng vào các công trình lại khá lớn thì vấn đề tiết kiệm triệt để có thể coi là biện pháp hữu hiệu nhất để giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho Công ty. Vì vậy điều tất yếu là Công ty phải quan tâm đến khâu hạch toán chi phí NVL.

    Trong thời gian thực tập, nhận được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo Công ty, đặc biệt là các đồng chí trong phòng kế toán Công ty, em đã được làm quen và tìm hiểu công tác thực tế tại Công ty. Em nhận thấy kế toán vật liệu trong Công ty giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có nhiều vấn đề cần được quan tâm. Vì vậy em đã đi sâu tìm hiểu về phần thực hành kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày đề tài: “Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long”.

    Mặc dù đã rất cố gắng tìm hiểu và nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như các đồng chí trong ban lãnh đạo và phòng kế toán Công ty, nhưng do nhận thức và trình độ bản thân có hạn nên bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót và những hạn chế.

    Em rất mong được tiếp thu và xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp cho đề tài này hoàn thiện hơn.

    Kết cấu đề tài gồm 3 phần lớn sau:

    Phần I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp xây lắp.

    Phần II: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long.

    Phần III: Nhận xét về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long và một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại Công ty.

    PHẦN THỨ I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN

    NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG

    CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

     

    1.1. KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.

    1.1.1. Vị trí của vật liệu- công cụ, dụng cụ đối với quá trình xây lắp.

    Nguyên vật liệu là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu là đối tượng của lao động đã qua sự tác động của con người. Trong đó vật liệu là những nguyên liệu đã trải qua chế biến. Vật liệu được chia thành vật liệu chính, vật liệu phụ và nguyên liệu gọi tắt là nguyên vật liệu. Việc phân chia nguyên liệu thành vật liệu chính, vật liệu phụ không phải dựa vào đặc tính vật lý, hoá học hoặc khối lượng tiêu hao mà là sự tham gia của chúng vào cấu thành sản phẩm. Khác với vật liệu, công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ tiêu chuẩn quy định về giá trị và thời gian sử dụng của tài sản cố định. Trong quá trình thi công xây dựng công trình, chi phí sản xuất cho ngành xây lắp gắn liền với việc sử dụng nguyên nhiên vật liệu, máy móc và thiết bị thi công và trong quá trình đó vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành lên sản phẩm công trình. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    Trong doanh nghiệp xây lắp chi phí về vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn từ 65%- 70% trong tổng gía trị công trình. Do vậy việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ kịp thời hay không có ảnh hưởng to lớn đến việc thực hiện kế hoạch sản xuất (tiến độ thi công xây dựng) của doanh nghiệp, việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ còn cần quan tâm đến chất lượng, chất lượng các công trình phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của vật liệu mà chất lượng công trình là một điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có uy tín và tồn tại trên thị trường. Trong cơ chế thị trường hiện nay việc cung cấp vật liệu còn cần đảm bảo giá cả hợp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Bên cạnh đó, công cụ dụng cụ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, giá trị thì dịch chuyển một lần hoặc dịch chuyển dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Song do giá trị nhỏ, thời gian sử dụng ngắn nên có thể được mua sắm, dự trữ bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp như đối với nguyên vật liệu.

    Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nếu thiếu nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ thì không thể tiến hành được các hoạt động sản xuất vật chất nói chung và qúa trình thi công xây lắp nói riêng.

    Trong qúa trình thi công xây dựng công trình, thông qua công tác kế toán nguyên vật liệu công cụ, dụng cụ từ đó có thể đánh giá những khoản chi phí chưa hợp lý, lãng phí hay tiết kiệm. Bởi vậy cần tập trung quản lý chặt chẽ vật liệu, công cụ dụng cụ ở tất cả các khâu: thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ nhằm hạ thấp chi phí sản xuất sản phẩm trong chừng mực nhất định, giảm mức tiêu hao vật liệu, công cụ dụng cụ trong sản xuất còn là cơ sở để tăng thêm sản phẩm cho xã hội. Có thể nói rằng vật liệu công cụ dụng cụ giữ vị trí quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thi công xây lắp.

    1.1.2. Đặc điểm, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp xây lắp.

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp, sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình, hạng mục công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp và thường cố định ở nơi sản xuất (thi công) còn các điều kiện khác đều phải   di chuyển theo địa điểm xây dựng. Từ đặc điểm riêng của ngành xây dựng làm cho công tác quản lý, sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ phức tạp vì chịu ảnh hưởng lớn của môi trường bên ngoài nên cần xây dựng định mức cho phù hợp với điều kiện thi công thực tế. Quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ là yếu tố khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên do trình độ sản xuất khác nhau nên   phạm vi mức độ và phương pháp quản lý cũng khác nhau.

    Hiện nay nền sản xuất  ngày càng mở rộng và phát triển trên cơ sở thoả mãn không ngừng nhu cầu vật chất và văn hóa của mọi tầng lớp trong xã hội. Việc sử dụng vật liệu công cụ dụng cụ một cách hợp lý, có kế hoạch ngày càng được coi trọng. Công tác quản lý vật liệu công cụ dụng cụ là nhiệm vụ của tất cả mọi người nhằm tăng hiệu quả kinh tế cao mà hao phí  lại thấp nhất. Công việc hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ ảnh hưởng và quyết định đến việc hạch toán giá thành, cho nên để đảm bảo tính chính xác của việc hạch toán giá thành thì trước hết cũng phải hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ chính xác.

    Để làm tốt công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ trên đòi hỏi chúng ta phải quản lý chặt chẽ ở mọi khâu từ thu mua, bảo quản tới khâu dự trữ và sử dụng. Trong khâu thu mua vật liệu, công cụ dụng cụ phải được quản lý về khối lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí thu mua, thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ phận kế toán – tài chính cần có quyết định đúng đắn ngay từ đầu trong việc lựa chọn nguồn vật tư, địa điểm giao hàng, thời hạn cung cấp, phương tiện vận chuyển và nhất là về giá mua, cước phí vận chuyển, bốc dỡ… cần phải dự toán những biến động về cung cầu và giá cả vật tư trên thị trường để đề ra biện pháp thích ứng. Đồng thời thông qua thanh toán kế toán vật liệu cần kiểm tra lại giá mua vật liệu, công cụ dụng cụ, các chi phí vận chuyển và tình hình thực hiện hợp đồng của người bán vật tư, người vận chuyển. Việc tổ chức tổ kho tàng, bến bãi thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cũng là một trong các yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ. Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ  tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình thi công xây lắp được bình thường, không bị ngừng trệ, gián đoạn do việc cung ứng vật tư không kịp thời hoặc gây ứ động vốn do dự trữ quá nhiều.

    Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức tiêu hao và dự toán chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp . Do vậy trong khâu sử dụng cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất vật liệu, công cụ dụng cụ đúng trong sản xuất kinh doanh. Định kỳ tiến hành việc phân tích tình hình sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ  cũng là những khoản chi phí vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, khuyến khích việc phát huy sáng kiến cải tiến, sử dụng tiết kiệm vật liệu, công cụ dụng cụ, tận dụng phế liệu…

    Tóm lại, quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng vật liệu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp luôn được các nhà quản lý quan tâm.

    1.1.3. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở các doanh nghiệp xây lắp:

    Kế toán là công cụ phục vụ việc quản lý kinh tế vì thế để đáp ứng một cách khoa học, hợp lý xuất phát từ đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ, từ yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ, từ chức năng của kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

    + Tổ chức ghi chép,  phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập, xuất và tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế vật liệu đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu tư về các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ, đúng chủng loại cho quá trình thi công xây lắp.

    + Áp dụng đúng đắn các phương pháp về kỹ thuật hạch toán vật liệu, hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở chế độ đúng phương pháp quy định nhằm đảm bảo sử dụng thống nhất trong công tác kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác kế toán trong phạm vi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    + Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật tư phát hiện ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý vật tư thừa, thiếu, ứ đọng hoặc mất phẩm chất. Tính toán, xác định chính xác số lượng và giá trị vật tư thực tế đưa vào sử dụng và đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    1.2. PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ:

    Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu – công cụ dụng cụ bao gồm rất nhiều loại khác nhau, đặc biệt là trong ngành xây dựng cơ bản với nội dung kinh tế và tính năng lý hoá học khác nhau. Để có thể quản lý chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết tới từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho kế hoạch quản trị … cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ.

    Trước hết đối với vật liệu, căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò của chúng trong quá trình thi công xây lắp, căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp thì nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:

    + Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp, là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể chính của sản phẩm.

    Trong ngành xây dựng cơ bản còn phải phân biệt vật liệu xây dựng, vật kết cấu và thiết bị xây dựng. Các loại vây liệu này đều là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành lên sản phẩm của đơn vị xây dựng, các hạng mục công trình xây dựng nhưng chúng có sự khác nhau. Vật liệu xây dựng là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được sử dụng trong đơn vị xây dựng để tạo lên sản phẩm như hạng mục công trình, công trình xây dựng như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép… Vật kết cấu là những bộ phận của công trình xây dựng mà đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm xây dựng của đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm  xây dựng của đơn vị mình như thiết bị vệ sinh, thông gió, truyền hơi ấm, hệ thống thu lôi…

    + Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu tham gia  vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm. Vật liệu phụ chỉ tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm: Làm tăng chất lượng vật liệu chính và sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ thi công, cho nhu cầu công nghệ kỹ thuật bao gói sản phẩm. Trong ngành xây dựng cơ bản gồm: sơn, dầu, mỡ… phục vụ cho quá trình sản xuất.

    + Nhiên liệu: Về thực thể là một loại vật liệu phụ, nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong qúa trình thi công, kinh doanh tạo điều kiện cho qúa trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, khí, rắn như: xăng, dầu, than củi, hơi đốt dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện máy móc, thiết bị hoạt động.

    + Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất…

    + Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản.

    + Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình thi công xây lắp như gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định. Tuỳ thuộc vào yêu quản lý và công ty kế toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ một cách chi tiết hơn bằng cách lập sổ danh điểm  vật liệu. Trong đó mỗi loại, nhóm, thứ vật liệu được sử dụng một ký hiệu riêng bằng hệ thống các chữ số thập phân để  thay thế tên gọi, nhãn hiệu, quy cách của vật liệu. Ký hiệu đó được gọi là sổ danh điểm vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp.

    – Đối với công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp bao gồm các loại dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất, dụng cụ đồ nghề, dụng cụ quản lý, bảo hộ lao động, lán trại tạm thời – để phục vụ công tác kế toán toàn bộ công cụ dụng cụ được chia thành:

    – Công cụ dụng cụ

    – Bao bì luân chuyển

    – Đồ dùng cho thuê

    Tương tự như đối với vật liệu trong từng loại công cụ dụng cụ cũng cần phải chia thành từng nhóm, thứ chi tiết hơn tuỳ theo yêu cầu, trình độ quản lý và công tác kế toán của doanh nghiệp. Việc phân loại vật liệu, công cụ dụng cụ như trên giúp cho kế toán tổ chức các tài khoản cấp 1, cấp 2, phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của các loại vật liệu, công cụ dụng cụ đó trong quá trình thi công xây lắp của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại vật, công cụ dụng cụ.

    1.2.2. Đánh giá quá trình thi công xây lắp:

    Do đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ có nhiều thứ, thường xuyên biến động trong quá trình sản xuất kinh doanh và yều cầu của công tác kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ phải phản ánh kịp thời hàng ngày tình hình biến động và hiện có của vật liệu, công cụ dụng cụ nên trong công tác kế toán cần thiết phải đánh giá vật liệu, công cụ dụng cụ

              1.2.2.1. Giá thực tế nguyênvật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho.

    Tuỳ theo nguồn nhập mà giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ được xác định như sau:

    + Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài thì giá thực tế nhập kho:

    =  +  +

    + Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ do doanh nghiệp tự gia công chê biến:

    =   +

    + Đối với công cụ dụng cụ thuê ngoài gia công chế biến:

    =  +      +

    + Đối với trường hợp đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng vật liệu, công cụ dụng cụ thì giá thực tế vật liệu công cụ dụng cụ nhận vốn góp liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá và công nhận.

    + Đối với phế liệu, phế phẩm thu hồi được đánh giá theo giá ước tính.

    1.2.2.2. Giá thực tế nguyênvật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho.

    Vật liệu, công cụ dụng cụ được thu mua và nhập kho thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau, do đó giá thực tế của từng lần, đợt nhập kho không hoàn toàn giống nhau. Khi xuất kho kế toán phải tính toán xác định được giá thực tế xuất kho cho từng nhu cầu, đối tượng sử dụng khác nhau. Theo phương pháp tính giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp dụng và phải đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán. Để tính giá trị thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho có thể áp dụng một trong các phương phap sau:

    + Phương pháp tính theo đơn giá thực tế bình quân tồn đầu kỳ: Theo phương pháp này giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho được tính trên cơ sở số liệu vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng và đơn giá bình quân vật liệu, công  cụ dụng cụ tồn đầu kỳ.

    Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho  x

    =

    + Phương pháp tính theo đơn giá bình quân tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ: về cơ bản phương pháp này giống phương pháp trên nhưng đơn giá vật liệu được tính bình quân cho cả số tồn đầu kỳ nhập trong kỳ.

    Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho x Đơn giá bình quân

    Đơn giá bình quân =

    + Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh: Phương pháp này thường được áp dụng đối với các loại vật liệu, công cụ dụng cụ có giá trị cao, các loại vật tư đặc chủng. Giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho theo từng lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.

    + Phương pháp tính theo giá thực tế nhập trước – xuất trước: Theo phương pháp này phải xác định được đơn giá nhập kho thực tế của từng lần nhập. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho tính giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc và tính theo  giá thực tế nhập trước đối với lượng xuất kho thuộc lần nhập trước. Số còn lại (tổng số xuất kho – số xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá thực tế các lần nhập sau. Như vậy giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của vật liệu nhập kho thuộc các lần mua vào sau cùng.

    + Phương pháp tính theo giá thực tế nhập sau – xuất trước: Ta cũng phải xác định đơn giá thực tế của từng lần nhập nhưng khi xuất sẽ căn cứ vào số lượng xuất và đơn giá thực tế nhập kho lần cuối. Sau đó mới lần lượt đến các lần nhập trước để tính giá thực tế xuất kho. Như vậy giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho cuối kỳ lại là giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ tính theo đơn giá của các lần nhập đầu kỳ.

    1.2.3. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo giá hạch toán.

    Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng, chủng loại vật liệu, công cụ dụng cụ nhiều, tình hình xuất diễn ra thường xuyên. Việc xác định giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ hàng ngày rất khó khăn và ngay cả trong trường hợp có thể xác định được hàng ngày đối với từng lần nhập, đợt nhập nhưng quá tốn kém nhiều chi phí không hiệu quả cho công tác kế toán, có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập, xuất hàng ngày. Giá hạch toán là loại giá ổn định được sử dụng thống nhất trong doanh nghiệp, trong thời gian dài có thể là giá kế hoạch của vật liệu, công cụ dụng cụ. Như vậy hàng ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá vật liệu, công cụ dụng cụ xuất. Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế tiến hành như sau:

    Trước hết xây dựng hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của vật liệu, công cụ dụng cụ (H)

    H =

    Sau đó tính giá thực tế xuất kho, căn cứ vào giá hạch toán xuất kho và hệ số giá:

    Giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho = giá hạch toán xuất kho x hệ số giá.

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu về trình độ quản lý của doanh nghiệp mà trong các phương pháp tính giá vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho đơn giá thực tế hoặc hệ số giá (trong trường hợp sử dụng giá hạch toán) có thể tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc cả loại vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Từng cách đánh giá và phương pháp tính giá thực tế xuất kho đối với vật liệu công cụ dụng cụ có nội dung, ưu nhược điểm và những điều kiện áp dụng phù hợp nhất định, do vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán.

    1.3. KẾ TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    Vật liệu, công cụ dụng cụ là một trong những đối tượng kế toán, các loại tài sản cần phải tổ chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo từng kho mà phải chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… và phải được tiến hành đồng thời ở cả kho và phòng kế  toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết về lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết vật liệu, công cụ, dụng cụ cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản nói chung, công tác quản lý vật liệu, công cụ, dụng cụ nói riêng.

    1.3.1 Chứng từ sử dụng:

    Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo Quyết định 1141/ TC/QĐ/CĐ kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính, các chứng từ kế toán về vật liệu, công cụ dụng cụ bao gồm:

    – Phiếu nhập kho (01 – VT)

    – Phiếu xuất kho (02 – VT)

    –  Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03 – VT)

    – Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá (08 – VT)

    – Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (02 – BH)

    – Hoá đơn cước phí vận chuyển (03 – BH)

    Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thấp nhất theo Quy định của Nhà nước các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn như: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (04 – VT), Biên bản kiểm nghiệm vật tư (05 – VT) phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (07 – VT)… Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động thành  phần kinh tế, tình hình sở hữu khác nhau.

    Đối với các chứng từ thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng quy định về mẫu biểu, nội dung phương pháp lập. Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp lý, hợp pháp của các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh.

    Mọi chứng từ kế toán về vật liệu, công cụ dụng cụ phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự và thời gian hợp lý, do đó kế toán  trưởng quy định phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan.

    1.3.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ:

    Trong doanh nghiệp sản xuất, việc quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ do nhiều bộ phận tham gia. Song việc quản lý tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày được thực hiện chủ yếu ở bộ phận kho và phòng kế toán doanh nghiệp. Trên cơ sở các chứng từ kế toán về nhập, xuất vật liệu thủ kho và kế toán vật liệu phải tiến hành hạch toán kịp thời, tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày theo từng loại vật liệu. Sự liên hệ và phối hợp với nhau trong việc ghi chép và thẻ kho, cũng như việc kiểm tra đối chiếu số liệu giữa kho và phòng kế toán đã hình thành nên phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ giữa kho và phòng kế toán.

    Hiện nay trong các doanh nghiệp sản xuất, việc hạch toán vật liệu giữa kho và phòng kế toán có thể thực hiện theo các phương pháp sau:

    – Phương pháp thẻ song song

    – Phương pháp sổ đối chiếu lưu chuyển

    – Phương pháp sổ số dư

    Mọi phương pháp đều có những nhược điểm riêng. Trong việc hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán cần có sự nghiên cứu, lựa chọn phương pháp thích hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Và như vậy cần thiết phải nắm vững nội dung, ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng của mỗi phương pháp đó.

    1.3.2.1. Phương pháp thẻ song song

    – Ở kho: Việc ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn khho hàng ngày do thủ kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng.

    Khi nhận các chứng từ nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ, thủ kho phải triểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, thực xuất vào chứng từ thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi (hoặc kế toán xuống kho nhận) các chứng từ xuất, nhập đã được phân loại theo từn thứ vận liệu, công cụ dụng cụ cho phòng kế toán.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ để ghi chép tình hình xuất, nhập, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Về cơ bản, sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ có kết cấu giống như thẻ kho nhưng có thêm các cột để ghi chép theo chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng kế toán cộng sổ chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ và kiểm tra đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối chiếu, triểm tra với kế  toán tổng hợp  số liệu kế toán chi tiết từ các sổ chi tiết vào bảng. Tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ. Có thể khái quát, nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp thẻ song song theo sơ đồ  sau:

    Kế toán chi tiết  NVL, CCDC theo

    phương pháp thẻ song song

     
       

    Ghi chú:

    : Ghi hàng tháng

    : Ghi cuối tháng

    : Đối chiếu kiểm tra

    Đơn vị……….                                                                    Mẫu số : 06 – VT

    Tên kho……                                                     Ban hành theo QĐ 1141 – TC/QĐ

    Ngày 1/11/1995 của Bộ tài chính

    THẺ KHO

    Ngày lập thẻ: ………………

    Tờ số: ……………..                                                                         Tên, nhãn hiệu , quy cách vật tư……………

    Đơn vị tính:……………………

    Mã số: …………………………

    Chứng từ Diễn giải Ngày nhập, xuất Số lượng Ký xác nhận của kế toán
    STT NT Nhập Xuất Tồn
    A B C D 1 2 3 4
                   
                   

    Với tư cách kiểm tra, đối chiếu như trên, phương pháp thẻ song song có ưu điểm: ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu, phát hiện sai sót trong việc ghi chép, quản lý chặt chẽ tình hình biến động về số hiện có của từng loại vật liệu theo số liệu và giá trị của chúng. Tuy nhiên theo phương pháp thẻ song song có nhược điểm lớn là việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán cần trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, khối lượng công việc ghi chép quá lớn nếu chủng loại vật tư nhiều và tình hình nhập, xuất diễn ra thường xuyên hàng ngày. Hơn nữa việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối tháng, do vậy hạn chế chức năng của kế toán.

              1.3.2.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:

    – Ở Kho: Việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ kho giống như phương pháp thẻ song song.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chieué luân chuyển để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ ở từng kho dùng cả năm nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập bảng kê nhập, bảng kê xuất trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất định kỳ thủ kho gửi lên. Sổ đối chiếu luân chuyển cũng được theo dõi và về chỉ tiêu giá trị.

    Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.

    Nội dung và trình tự kế toán chi tiết NVL, CCDC

     theo sơ đồ sau:

    Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển có ưu điểm là giảm được khối lượng ghi chép của kế toán  do chỉ ghi một kỳ vào cuối tháng, nhưng có nhược điểm là việc ghi sổ vẫn còn trùng lặp (ở phòng kế toán vẫn theo dõi cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị) công việc kế toán dồn vào cuối tháng, việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán chi tiến hành được vào cuối tháng do trong tháng kế toán không ghi sổ. Tác dụng của kế toán trong công tác quản lý bị hạn chế. Với những doanh nghiệp, ưu nhược điểm nêu trên phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng nghiệp vụ nhập, xuất không nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu, do vậy không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình kế toán nhập, xuất hàng ngày.

    1.3.2.3. Phương pháp sổ số dư:

    Nội dung phương pháp sổ số dư hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kiết kế như sau:

    – Ở kho: Thủ kho cũng là thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho, nhưng cuối tháng phải ghi sổ tồn kho đã tách trên thẻ kho sang sổ số dư vào cột số lượng.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo từng kho chung cho cả năm để ghi chép tình hình nhập, xuất. Từ các bảng kê nhập, bảng kê xuất kế toán lập bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất rồi từ các bảng luỹ kế lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ theo chỉ tiêu giá trị.

    Cuối tháng khi nhận sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số tồn cuối tháng do thủ kho tính ghi ở sổ số dư và đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền tồn kho trên sổ số dư và bảng kế tổng hợp nhập, xuất tồn (cột số tiền) và số liệu kế toán tổng hợp. Nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp sổ số dư được khái quát theo sơ đồ sau:

    Kế toán chi tiết  NVL, CCDC theo phương pháp sổ số dư

           
         
     
       

    Ưu điểm: Tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm bớt được khối lượng công việc ghi sổ kế toán do chỉ tiêu ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị và theo nhóm, loại vật liệu. Công việc kế toán tiến hành đều trong tháng, tạo điều kiện cung cấp kịp thời tài liệu kế toán phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý ở doanh nghiệp, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên của kế toán đối với việc nhập, xuất vật liệu hàng ngày.

    Và phương pháp này cũng có nhược điểm: Do kế toán chỉ ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị, theo nhóm, loại vật liệu nên qua số liệu kế toán không thể không nhận biết được số hiện có và tình hình tăng giảm vật liệu mà phải xem số liệu trên thẻ kho. Ngoài ra khi đối chiếu, kiểm tra số liệu ở sổ số dư và bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho nếu không khớp đúng thì việc kiểm tra để phát hiện sự nhầm lẫn, sai sót trong việc ghi số sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp và tốn nhiều công sức. Phương pháp sổ số dư được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng các nghiệp vụ kinh tế (chứng từ nhập, xuất) về nhập, xuất vật liệu diễn ra thường xuyên, nhiều chủng loại vật liệu và đã  xây dựng được hệ thống danh điểm vật liệu, dùng giá hạch toán để hạch toán hàng ngày tình hình nhập, xuất, tồn kho, yêu cầu và trình độ quản lý, trình độ cán bộ kế toán của doanh nghiệp tương đối cao.

    1.4. KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    Vật liệu là tài sản lao động, thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp, cho nên việc mở các tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán và xác định giá trị hàng tồn kho, giá trị phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ.

    – Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu, công cụ dụng, thành phẩm, hàng hoá… trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp khi có các chứng từ nhập, xuất hàng tồn kho. Như vậy xác định giá trị thực tế vật liệu xuất dùng được căn cứ vào các chứng từ xuất kho sau khi đã được tập hợp, phân loại theo các đối tượng sử dụng để ghi vào tài khoản và sổ kế toán. Ngoài ra giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kiểm tra. Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho được áp dụng trong phần lớn các doanh nghiệp  sản xuất và các doanh nghiệp thương mại, kinh doanh những mặt hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, ô tô…

    – Phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho là phương pháp không theo dõi thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất hàng tồn kho trên các tài khoản hàng tồn kho, mà chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ căn cứ vào số liệu kiểm kê định kỳ hàng tồn kho. Việc xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụng xuất dùng trên tài khoản kế toán tổng hợp không căn cứ vào chứng từ xuất kho mà lại căn cứ vào  giá trị vật liệu tồn kho định kỳ, mua (nhập) trong kỳ và kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính. Chính vì vậy, trên tài khoản tổng hợp không thể hiện rõ giá trị vật liệu xuất dùng cho từng đối tượng, các nhu cầu sản xuất khác nhau: Sản xuất hay phục vụ quản lý sản xuất cho nhu cầu bán hàng hay quản lý doanh nghiệp … Hơn nữa trên tài khoản tổng hợp cũng không thể biết được số mất mát, hư hỏng, tham ô…(nếu có), phương pháp kiểm kê định kỳ được quy định áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ.

    *. Kế toán tổng hợp NVL, CCDC theo phương pháp kê khai thường xuyên

    1.4.1. Kế toán tổng hợp các trường hợp tăng  NVL, CCDC:

    1.4.1.1. Tài khoản kế toán sử dụng.

    Sự biến động của vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất sau khi phản ánh trên chứng từ kế toán sẽ được phản ánh trực tiếp ở các tài khoản  cấp 1, cấp 2 về vật liệu. Đây là phương pháp kế toán phân loại vật liệu để phản ánh với giám đốc một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có và sự biến động của vật liệu, để tiến hành hạch toán kế toán sử dụng các tài khoản : tài khoản 152 “NVL” tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm các loại nguyên vật liệu  theo giá thực tế.

    Tài khoản 152 có thể mở thành tài khoản cấp 2 để kế toán chi tiết theo từng loại nguyên liệu vật liệu phù hợp với cách phân loại theo nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán giá trị của doanh nghiệp, bao gồm:

    Tài khoản 1521             Nguyên vật liệu chính

    Tài khoản 1522             Nguyên vật liệu phụ

    Tài khoản 1523             Nhiên liệu

    Tài khoản 1524             Phụ tùng thay thế

    Tài khoản 1525             Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản

    Tài khoản 1528             Vât liệu khác

    Trong từng tài khoản cấp 2 lại có thể chi tiết thành các tài khoản cấp 3, cấp 4… tới từng nhóm, thứ … vật liệu tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý tài sản ở doanh nghiệp.

    * Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” tài khoản 153 sử dụng để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm loại công cụ dụng cụ theo giá thực tế.

    Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” có 3 tài khoản cấp 2

    Tài khoản  1531            Công cụ dụng cụ

    Tài khoản 1532             Bao bì luân chuyển

    Tài khoản 1533             Đồ dùng cho thuê

    * Tài khoản 151 “Hàng mua đang đi đường” tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư hàng hoá mà doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán, nhưng chưa về nhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng đang đi đường đã về nhập kho.

    * Tài khoản 331 “Phải trả người bán” được sử dụng để phản ánh quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với những người bán, người nhận thầu về các khoản vật tư, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã ký kết.

    Ngoài các tài khoản trên, kế toán tổng hợp tăng vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng nhiều tài khoản liên quan khác như: TK 111 (1), TK (112 (1), TK 141, TK 128, TK 222, TK 411, TK 627, TK 641 và TK 642.

    1.4.1.2. Phương pháp  kế toán các nghiệp vụ chủ yếu:

    Vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất tăng do nhiều nguồn khác nhau: Tăng do mua ngoài, do tự chế hoặc thuê ngoài gia công, tăng do nhận vốn góp của các đơn vị cá nhân khác… Trong mọi trường, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ thủ tục kiểm nhận nhập kho lập các chứng từ theo đúng quy định. Trên cơ sở các chứng từ nhập, hoá đơn bán hàng và các chứng từ có liên quan khác, kế toán phải phản ánh kịp thời các nội dung cấu thành nên giá trị thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp, đồng thời phản ánh tình hình thanh toán với người bán và các đối tượng khác một cách kịp thời. Cuối tháng tiến hành tổng hợp số liệu để kiểm tra và đối chiếu với số liệu kế toán chi tiết.

    Dưới đây là các phương pháp kế toán nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:

    • Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ tăng vật liệu trong các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

              Bút toán 1 :  Trường hợp hàng và hoá đơn cùng về: căn cứ vào hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm nhận và phiếu nhập kho ghi:

    Nợ TK 152 Nguyên vật liệu

    Nợ TK 153  Công cụ dụng cụ

    Nợ TK 133 ( 1331)  Thuế VAT được khấu trừ

    Có TK 331 “Phải trả cho người bán”

    Có TK 111, 112, 311, 141…

    – Trường hợp doanh nghiệp được giảm giá hay hàng mua trả lại (nếu có) Kế toán ghi:

    Nợ TK 331,111,112 : Số tiền được người bán trả lại

    Nợ TK 1388             : Số được người bán chấp nhận

    Có TK 152, 153

    Có TK 1331 : Thuế  VAT  được khấu trừ

    – Khi trả tiền cho người bán nếu số chiết khấu thanh toán mua hàng thực tế được hưởng:

                       Bút toán 1

    Nợ TK 111, 112, 311, 141….

    Có TK 515

                       Bút toán 2: Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn

    – Kế toán lưu phiếu nhập kho vào tập hồ sơ”hàng chưa có hoá đơn”. Nếu trong tháng có hoá đơn về thì ghi sổ bình thường, nếu cuối tháng hoá đơn vẫn chưa về thì ghi sổ theo giá tạm tính:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,141,331,…

    – Khi hoá đơn về: Giá tạm tính < Giá thực tế, ghi bổ sung.

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 331

    Có TK 111, 112, 311, 141…

    – Ghi đảo ngược bút toán để xóa bút toán theo giá tạm tính:

    Nợ TK 111,112, 331…

    Có TK 152

    Có TK 153

    – Hoặc ghi bút toán đỏ để xóa bút toán theo giá tạm tính sau ghi đen bình thường theo giá thực tế (Giá tạm tính > Giá thực tế) Ghi đỏ phần chênh lệch.

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,141,331…

    – Ghi đảo ngược bút toán chênh lệch:

    Nợ TK 111,112,331

    Có TK 152

    Có TK 153

    Bút toán 3: Trường hợp hoá đơn về nhưng hàng chưa về.

    – Kế toán lưu hoá đơn vào tập hồ sơ “Hàng mua đang đi đường”. Nếu trong tháng hàng về thì căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập kho;

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,331…

    – Nếu đến cuối kỳ kế toán nguyên vật liệu vẫn chưa về nhưng thuộc quyền sở hữu của đơn vị, căn cứ vào hoá đơn kế toán ghi:

    Nợ TK 151

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 111,112,141,331…

    – Sang tháng sau khi hàng về nhập kho căn cứ vào hoá đơn và phiếu nhập kho:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 621,627

    Có TK 151

    Bút toán 4 Trường hợp NVL mua về kém phẩm chất sai quy cách, không đảm bảo như hợp đồng:

    – Số hàng này có thể được giảm giá hoặc xuất kho trả lại cho người bán. Khi giao trả hoặc được giảm giá, kế toán ghi:

    Nợ TK 111,112,331

    Có TK 152,153

    Có TK 133(1331)

    Bút toán 5: Trường hợp hàng thiếu so với hoá đơn.

    – Mọi trường hợp phát hiện thiếu NVL hay hư hỏng trong khi bảo quản phải truy tìm nguyên nhân. Tuỳ theo từng nguyên nhân cụ thể hoặc quy định của cấp có thẩm quyền thì kế toán ghi sổ. Kế toán chỉ phản ánh số hàng thực nhận, số thiếu căn cứ vào biên bản kiểm nhận thông báo cho bên bán:

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 1381

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    – Khi xử lý số VL thiếu:

    + Nếu người bán giao tiếp số hàng còn thiếu.

    Nợ TK 152,153

    Có TK 1381

    + Nếu người bán không còn hàng.

    Nợ TK 331

    Có TK 1381

    Có TK 133(1331)

    + Nếu cá nhân làm mất cấp có thẩm quyền quy định phải bồi thường kế toán ghi:

    Nợ TK 1388,334

    Có TK 133(1331)

    Có TK 1381

    + Nếu thiếu không xác định được nguyên nhân:

    Nợ TK 632

    Có TK 1381

    Ngoài cách ghi trên trong trường hợp thiếu, giá trị chờ xử lý ghi ở TK 1381 có thể ghi nhận theo tổng giá thanh toán (cả thuếVAT)

     

    Bút toán 6: Trường hợp thừa so với hoá đơn.

    Về nguyên tắc khi phát hiện thừa, phải làm văn bản báo cho các bên liên quan biết để cùng xử lý. Về mặt kế toán giá trị hàng thừa được phản ánh ở TK 3381, có thể ghi theo tổng giá thanh toán hay giá mua không thuế VAT đầu vào. Khi xử lý kế toán sẽ dựa vào từng cách ghi tương ứng để phản ảnh vào sổ sách. Chẳng hạn nếu giá trị thừa được ghi theo giá mua không thuế:

    – Nếu nhập toàn bộ và trả tiền cho người bán.

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    Có TK 3381

    – Căn cứ vào  quyết định xử lý, kế toán ghi:

    + Nếu trả lại cho người bán thì ghi.

    Nợ TK 3381

    Có TK 152,153 (chi tiết)

    + Nếu đồng ý mua tiếp số thừa.

    Nợ TK 3381

    Nợ TK 1331

    Có TK 331

    + Nếu không rõ nguyên nhân ghi tăng thu nhập.

    Nợ TK 3381

    Có TK 711

    – Nếu nhập theo số hoá đơn ghi nhận số nhập như trường hợp (a) ở trên. Số thừa coi như giữ hộ người bán và ghi nợ TK 002

    Khi xử lý số thừa, ghi có TK 002, đồng thời căn cứ vào cách xử lý để hạch toán như sau:

    + Nếu đồng ý mua tiếp số thừa

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    + Nếu không rõ nguyên nhân ghi tăng thu nhập.

    Nợ TK 152,153

    Có TK 711

    Bút toán 7: Trường hợp NVL tự chế nhập kho hoặc thuê ngoài gia công chế biến:

    Nợ TK 152, 153 (chi tiết)

    Có TK 154

    Bút toán 8: Các trường hợp tăng VL khác

    Ngoài nguồn VL mua ngoài và tự chế nhập kho, VL của DN còn tăng do nhiều nguyên nhân khác như nhân viện trợ, cấp phát , góp vốn liên doanh, đánh giá tăng.

    Mọi trường hợp phát sinh làm tăng giá NVL đều được ghi nợ Tài khoản 152 theo giá thực tế, đối ứng với các tài khoản thích hợp.

    Nợ TK 152,153 (chi tiết)

    Có TK  411, 412

    Có TK 336, 3381

    Có TK 222, 241, 128

    Có TK 621, 627, 641, 642

    • Đặc điểm hạch toán NVL tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp.

    +   Đối với các đơn vị tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp, do phần thuế VAT được tính vào giá thực tế NVL nên khi mua ngoài kế toán ghi váo TK 152 theo tổng giá thanh toán.

    Nợ TK 152,153 (chi tiết)

    Có TK 111, 112, 331…

    – Số giảm giá hàng mua được hưởng hay giá trị hàng mua trả lại.

    Nợ TK 111, 112,1388, 331

    Có TK 152 ,153 (chi tiết)

    • Số chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua hàng được ghi tăng thu nhập hoạt động tài chính:

    NợTK 331, 111, 112, 1388 ….

    Có Tk 515

    • Các trường hợp còn lại hạch toán tương tự

    1.4.2.Tình hình biến động giảm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp giảm chủ yếu do xuất, sử dụng cho sản xuất kinh doanh, phần còn lại có thể xuất bán, xuất vốn gốp liên doanh… Mọi trường hợp giảm nguyên vật liệu đều ghi theo giá thực tế ở bên có TK 152

              Bút toán 1: Xuất nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh

    Nợ TK 621, 627, 641, 642

    Nợ TK 241

    Có TK 152, 153

              Bút toán 2: Xuất vốn góp liên doanh

    Căn cứ vào giá gốc NVL xuất góp vốn và giá trị vốn góp được liên doanh chấp nhận phần chênh lệch giữa giá thực tế và giá trị vốn góp sẽ được phản ảnh vào bên nợ của TK 421 (nếu giá vốn > giá tri vốn góp), vào bên có TK 421 (Giá vốn < Giá trị vốn góp)

    Nợ TK 222,128, 421

    Có TK  152, 153

    Bút toán 3 : Xuất thuê ngoài gia công chế biến.

    Nợ TK 154

    Có TK 152,153

    Bút toán 4 : Giảm cho vay tạm thời.

    Nợ TK 1388,1368

    Có TK 152  (chi tiết)

    Bút toán 5: Giảm do các nguyên nhân khác

    Nợ TK 632, 642

    Nợ TK 1381,1388,334

    Có TK 152, 153

    1.4.2.1. Phương pháp kế toán tổng hợp xuất  công cụ, dụng cụ:

    Công cụ, dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào các chứng từ xuất kho công cụ, dụng cụ kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng, rồi tính ra giá thực tế xuất dùng phương án vào các tài khoản liên quan. Tuy nhiên, do đặc điểm , tình chất cũng như giá trị và thời gian sử dụng của công cụ, dụng cụ và tính hiệu quả của công tác kế toán mà việc tính toán phân bổ giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần.

    1. Phương pháp phân bổ 1 lần (phân bổ ngay 100% giá trị).

    Nội dung khi xuất dùng công cụ, dụng cụ kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho công cụ, dụng cụ để tính ra giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng rồi tính (phân bổ) ngay 1 lần (toàn bộ giá trị) vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    Căn cứ vào giá trị thực tế xuất dùng, kế toán ghi:

    Nợ TK 627 (6273)   Chi phí sản xuất chung (Chi phí dụng cụ sản xuất)

    Nợ TK 641 (6413)           Chi phí bán hàng (Chi phí dụng cụ đồ dùng)

    Nợ TK 642 (6423)   Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí đồ dùng văn phòng)

    Có TK 153 công cụ dụng cụ

    (TK 1531, TK 1532, TK 1533)

    Phương pháp phân bổ 1 lần được áp dụng thích hợp đối với những công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, thời gian sử dụng qúa ngắn.

    1. Phương pháp phân bổ 2 lần:

    – Khi xuất công cụ, dụng cụ, căn cứ vào phiếu xuất kho, ghi:

    Nợ TK 142( 242)

    Có TK 153 :      ( 100% giá trị CCDC xuất dùng)

    Đồng thời tiến hành phân bổ lần đầu( bằng 50 % giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng ) vào chi phí quản lý, ghi :

    Nợ TK 627, 641, 642

    Có TK 142   🙁 Giá trị phân bổ lần đầu)

    Khi báo hỏng, báo mất hoặc hết thời hạn sử dụng theo quy định, kế toán tiến hành phân bổ giá trị còn lại của công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh hoặc chi phí quản lý theo công thức:

    Giá trị phân bổ lần 2 = Giá trị công cụ dụng cụ

     

    Phân bổ mỗi lần

    Giá trị phế liệu thu hồi    ( nếu có) Khoản bồi thường vật chất (nếu có)

    Kế toán ghi:

    Nợ TK 152 : Giá trị phế liệu thu hồi( nếucó)

    Nợ TK 138 : Số tiền bồi thường vật chất phải thu

    Nợ TK 627, 641, 642 : Giá trị phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh

    Có TK 142(242): Giá trị phân bổ lần cuối

    c.Phương pháp phân bổ nhiều lần:

    Trong trường hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ có giá trị lớn , dùng cho nhiều kỳ sản xuất kinh doanh . Khi xuất dùng kế toán ghi:

    Nợ TK 142/(242)

    Có TK 153 : ( Giá trị công cụ, dụng cụ xuất kho 100%)

    Số lần phân bổ được xác định căn cứ vào giá trị xuất dùng và thời gian sử dụngcủa số công cụ xuất kho, kế toán ghi:

    Nợ TK 627, 641, 642

    Có TK 142( 242)  : ( Giá trị phân bổ mỗi lần)

    Giá trị phân bổ mỗi lần được tính theo công thức sau:

    Giá trị công cụ phân bổ mỗi lần = Giá trị thực tế CCDC xuất dùng

     

    Số lần phân bổ

    Khi báo hỏng hoặc báo mất số công cụ , dụng cụ trên kế toán phân bổ nốt giá trị còn lại sau khi trừ đi giá trị phế liệu thu hồi và giá trị đòi bồi thường (nếu có ):

    Nợ TK 153 :  Giá trị phế liệu thu hồi

    Nợ TK 138 (1388) : Giá trị đòi bồi thường

    Nợ TK 627, 641, 642 : Giá trị phân bổ nốt

    Có TK 142( 242 ): Giá trị còn lại cần phân bổ

    Sơ đồ kế toán tổng hợp  NVL , CCDC  theo phương pháp kê khai thường xuyên( Thuế GTGT khấu trừ)

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ kế toán tổng hợp vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp kiểm kê định kỳ( Thuế GTGT  khấu trừ)

     

     

     

     

        TK133
    Chênh lệch đánh giá tăng
       TK 111, 138, 334

    PHẦN THỨ HAI

    THỰC TRẠNG  KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU,

    CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG

    SỐ 4 THĂNG LONG

    2.1. TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY.

    2.1.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần theo quyết định số: 2750/2000/QĐ-BGTVT ngày 20/9/2000 của Bộ giao thông vận tải. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103000198 cấp ngày 29/12/2000  tại Phòng kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hà Nội.

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long là doanh nghiệp hạng 1 – Hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long (Bộ GTVT). Công ty cố đội ngũ cán bộ, kỹ sư, kỹ thuật giỏi, công nhân tay nghề cao, được trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ thi công chuyên ngành tiên tiến, có kinh nghiệm thi công xây dụng các công trình, thuỷ lợi, điện, nước, công trình công nghiệp, xử lý các loại nền móng công trình, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn trong cả nước. Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị giao thông.

    Tên đầy đủ: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Tên giao dịch quốc tế: “THANG LONG No4 CONSTRUCTION JOINT STOCK COMPANY”

    Tên gọi tắt: “THANG LONG No4 CONSTJ.STOCK CO”

    Trụ sở giao dịch đặt tại: Đường Phạm Văn Đồng (Nam Thăng Long), Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội.

    Số điện thoại: 04-8389945

    Fax               : 04-8387841

    2.1.1.1.Cơ cấu vốn điều lệ:

    Vốn điều lệ Công ty cổ phần: 6.810.400.000 đồng

    Tỷ lệ cổ phần Nhà nước:           36,2% vốn điều lệ

    Tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp: 60,9% vốn điều lệ

    Tỷ lệ cổ phần bán cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp: 2,9% vốn điều lệ

    2.1.1.2.Giá trị doanh nhiệp nhà nước tại thời điểm cổ phần hoá:

    Giá trị thực tế của doanh nghiệp nhà nước: 48.528.484.853 đồng

    Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp: 4.149.416.890 đồng

    2.1.1.3..Ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp:

    Tổng cổ phần theo giá ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp: 56.616 cổ phần, phần giá trị được ưu đãi: 1.698.480.000 đồng (phần giá trị ưu đãi được trừ vào phần vốn nhà nước theo quy định tại thông tư số: 104/TT-BTC của Bộ tài chính là: 1.243.350.000 đồng).

    Tổng số cổ phần theo giá ưu đãi cho người lao động nghèo trong doanh nghiệp trả dần: không cổ phần, giá trị: không đồng.

    2.1.1.4..Các ngành nghề kinh doanh:

    -Xây dựng công trình giao thông, phá nổ mìn trên cạn, dưới nước.

    -Xây dựng công trình thuỷ lợi, công nghiệp, dân dụng, thi công các loại nền móng công trình.

    -Gia công, lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn.

    Với sự năng động của tập thể CBCNV công ty và sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng công ty trong những năm gần đây công ty không ngừng tăng trưởng và phát triển với nhịp độ năm sau tăng hơn năm trước. Sự phát triển đó là hợp với xu hướng đang phát triển của ngành xây dựng Việt Nam ta hiện nay.

    Qui mô và phạm vi hoạt động của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là một doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có tư cách pháp nhân , có quyền và nghĩa vụ theo luật định , thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của Pháp luật . Hoạt động theo điều lệ của Công ty cổ phần, luật doanh nghiệp;

    Tài khoản riêng được mở tại;

    1. Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng long

    Địa chỉ : Từ liêm- Hà Nội

    Tài khoản :   7301-0007  I

    Điện thoại :   (04) 8345983         Fax  :  (84-4) 8343704

    1. Phòng giao dịch cầu diễn –Ngân hàng công thương Ba Đình – Hà Nội

    Địa chỉ : Cầu Diễn – Từ Liêm – Hà Nội

    Tài khoản :  710A – 83017

    Điện thoại    :  (04) 8371286

    Fax               :  (84 –4) 88370726

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là đơn vị chuyên ngành xây dựng trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long (Bộ GTVT ). Hoạt động của công ty kinh doanh các ngành nghề sau :

    – Xây dựng công trình giao thông, phá đá nổ mìn trên cạn ,dưới nước.

    – Xây dựng công trình thuỷ lợi , công nghiệp , dân dụng , thi công các loại nền  móng công trình.

    – Gia công, lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn.

    – Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cụm dân cư đô thị , hệ thống điện dưới 35 KVA ,hệ thống nước sinh hoạt.

    – Sửa chữa thiết bị thi công.

    – Sản xuất thủ công nghiệp.

    Việc bảo toàn và phát triển số vốn kinh doanh của nhà nước do công ty quản lý và số cổ phần mà cán bộ công nhân viên đóng góp đồng thời làm nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đòi hỏi công ty phải không ngừng nâng cao trang thiết bị hiện đại , đầu tư và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ , đội ngũ công nhân có tay nghề , nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng lao động .

    Với đội ngũ cán bộ công nhân viên chức của công ty là : 966 người.

    Trong đó :

    –   Cán bộ khoa học kỹ thuật  :     160 người

    + Trình độ trung cấp :     54  người

    + Trình độ đại học     :   106 người

    –   Công nhân kỹ thuật  :               806 người

    Các công trình lớn công ty đã xây dựng đạt huy chương vàng chất lượng cao.

    + Xây dựng Nhà ga T1 Nội Bài – Hà Nội

    + ép cọc, nền móng nhà làm việc Công An TP Hà Nội

    + Nhà điều hành Ban Quản lý vốn – Bộ Tài chính – Hà Nội

    + Cầu +đường dẫn cụm cầu Nậm Miệng – Lào  Cai

    + Ép cọc , san nền Nhà máy điện tử  HANEL

    + Cầu + đường Nội Bài – bắc Ninh- Quốc lộ  18

    + Cầu + đường Gói thầu R5 – Hải phòng – Quốc lộ 10

    + Cầu Khe lá- đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Khe Mít- đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Khe Su – đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Trung Hà – Việt Trì

    + Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 32 Phú Thọ BT ASPHALT

    + Và một số công trình cao cấp khác ở: Quảng Ninh, Hải Phòng,Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, vv ..

    Trong những năm hoạt động vừa qua công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là trong những năm gần đây sản lượng năm sau cao hơn năm trước, thu nhập bình quân của công nhân tăng lên đồng thời góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước. Tình hình thực hiện và kết quả thực hiện được thể hiện qua các chỉ tiêu sau :

    Tổng doanh thu

    Đơn vị :1000 đ

    TT Chỉ tiêu 2000 2001 2002
    1 Giátrị công trình thực hiện      97.345.678 115.816.750  130.820.632
    2 Lợi nhuận        1.826.924     2.826.530      3.543.560

    Từ số liệu bảng trên ta thấy giá trị sản lượng của công ty tăng lên không ngừng qua các năm . Những con số này cho thấy công ty có sự phát triển như vậy là do sự cố gắng nỗ lực của tập thể ban giám đốc , các phòng ban và của từng cán bộ công nhân viên trong công ty cùng với bộ máy làm việc khoa học, hiệu quả.

    2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Là một công ty cổ phần xây dựng nên hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty là thi công xây dựng mới : Cầu, đường giao thông, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, văn hoá, công cộng… với quy mô lớn vừa và nhỏ trong phạm vi trên cả nước.

    Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản, sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, kết cấu khác nhau, thời gian thi công dài…. nên việc tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý có những đặc điểm riêng.

    Mô hình hoạt động – hoạt động theo điều lệ của công ty cổ phần.

    – Chủ tịch hội đồng quản trị – kiêm giám đốc công ty: Là người đứng đầu Công ty đại diện cho cán bộ công nhân viên chức. Chủ tịch hội đồng quản trị – giám đốc công ty chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty, nhiệm vụ đối với nhà nước, bảo toàn và phát triển công ty ngày một phát triển, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức.

    – Giúp việc cho Chủ tịch hội đồng quản trị có Phó chủ tịch Hội đồng quản trị, các Uỷ viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Phó giám đốc, kế toán trưởng và các trưởng phòng chuyên trách.

    +Phòng kinh tế kế hoạch: Tham mưu cho Hội đồng quản trị về kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các đội thi công. Theo dõi và thực hiện kế hoạch đã giao….

    +Phòng tài chính kế toán:

    Tham mưu cho Giám đốc công ty về kế hoạch thu chi tài chính, cập nhật chứng từ sổ sách chi tiêu văn phòng, các khoản cấp phát, cho vay và thanh toán khối lượng hàng tháng đối với các đội. Thực hiện đúng các chế độ chính sách của Nhà nước về tài chính, chế độ bảo hiểm, thuế, khấu hao, tiền lương cho văn phòng và các đội, báo cáo định kỳ và quyết toán công trình.

    +Phòng kỹ thuật thi công thiết bị và vật tư

    Có trách nhiệm tham mưu cho trưởng ban chỉ huy công trình về công tác khảo sát, thiết kế bản vẽ thi công các hạng mục công trình để làm việc với tư vấn giám sát. Lập kế hoạch quản lý chất lượng công trình trình Tư vấn giám sát. Vạch tiến độ, điều chỉnh tiến độ mũi thi công sao cho phù hợp với tiến độ chung của công trình. Chỉ đạo và giám sát các đội về mặt kỹ thuật, đảm bảo thi công đúng quy trình, thống nhất về các giải pháp kỹ thuật thi công cùng với tư vấn giám sát tổ chức việc nghiệm thu từng hạng mục công trình, tổng nghiệm thu toàn bộ công trình  và bàn giao đưa vào sử dụng.

    +Phòng tổ chức cán bộ và lao động:

    Quản lý và đề xuất mô hình tổ chức tho dõi phát hiện hợp lý hay không hợp lý các mô hình quản lý nhân lực, xem xét dự kiến nhân lực, đào tạo cán bộ, nâng lương, nâng bậc, quản lý cán bộ công nhân viên chức, tham mưu cho giám đốc công ty giải quyết các chế độ chính sách, xây dựng quy chế….

    +Phòng hành chính bảo vệ

    Tham mưu cho Giám đốc công ty về mặt quản lý tài sản, văn thư, lưu trữ và các công tác khác có liên quan ….

    + Các Đội, tổ xây lắp: Tổ chức quản lý thi công công tình theo hợp đồng công ty ký kết và theo thiết kế được phê duyệt, mua bán vật tư, làm thủ tục thanh quyết toán từng giai đoạn và toàn bộ công trình.

    +Xưởng sửa chữa thiết bị cơ giới:

    Quản lý và sửa chữa xe máy thiết bị, đáp ứng yêu cầu thi công các các công trình đảm bảo tiến độ thi công.

    Cách tổ chức lao động, tổ chức sản xuất như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế kỹ thuật với từng đội công tình, tạo điều kiện thuận lợi để công ty giao khoán tới từng đội công trình.

    Do các công trình có địa điểm thi công khác nhau, thời gian xây dựng dài mang tính đơn chiếc nên lực lượng lao động của Công ty được tổ chức thành các đội công trình như trên, mỗi đội công trình thi công một hoặc vài công trình trong mỗi đội công trình lại được tổ chức thành các tổ sản xuất theo yêu cầu thi công, tuỳ thuộc vào nhu cầu sản xuất thi công của từng thời kỳ mà số lượng các đội công trình, các tổ sản xuất trong mỗi đội sẽ được thay đổi phù hợp với yêu cầu cụ thể.

    Các tổ chức lao động, tổ chức sản xuất như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế kỹ thuật với từng đội công trình, tạo điều kiện thuận lợi để công ty có thể giao khoán tới từng đội công trình.

    2.1.3.Đặc điểm quy trình sản xuất:

    Do đặc điểm của ngành xây dựng và sản phẩm XDCB, nên quy trình sản xuất của công ty có đặc điểm sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều gia đoạn khác nhau mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và thi công ở các địa điểm khác nhau. Thường thường quy trình sản xuất của các công tình tiến hành theo các bước sau:

    Bước1 : Chuẩn bị sản xuất bao gồm : Lập dự toán công trình, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu, chuẩn bị vốn và các điều kiện khác để thi công công trình và các trang thiết bị chuyên ngành để phục vụ cho việu thi công công trình

    Bước 2: Khởi công xây dựng , quá trình thi công được tiến hành theo công đoạn, điểm dừng kỹ thuật, mỗi lần kết thúc một công đoạn lại tiến hành nghiệm thu.

    Bước 3: Hoàn thiện công trình, bàn giao công trình cho chủ đầu tư đưa vào sử dụng.

    2.1.4.Sơ đồ tổ chức công ty

    Sơ đồ 1:

    Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    ( Xem ở mặt sau )

    2.1.5. Tổ chức bộ máy kế toán .

           Theo hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung, toàn bộ công tác kế toán trong công ty đều được tiến hành tập trung tại phòng kế toán, ở các bộ phận trực thuộc như : Xí nghiệp xây lắp 1, 2,3, Các đội xây dựng 1,2,3,4,5,6,7 không có bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn kiểm tra hạch toán ban đầu, thu nhập chứng từ và chuyển về phòng kế toán tập trung.

    Phòng kế toán công ty chia thành 5 bộ phận.

    + Bộ phận kế toán vật tư, tài sản cố định, thống kê sản lượng.

    + Bộ phận kế toán thanh toán , lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, kế toán vốn bằng tiền.

    + Bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thủ quỹ

    + Bộ phận kế toán thuế, công nợ, cổ phần.

    + Bộ phận kế toán tổng hợp, phân tích kiểm tra số liệu.

    – Kế toán trưởng: Giúp việc cho Giám đốc thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê, điều lệ sản xuất kinh doanh của công ty ..Báo cáo tình hình tài chính của công ty cho giám đốc.

    – Bộ phận kế toán vật tư, tài sản cố định, thống kê sản lượng có nhiệm vụ: ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản, nhập – xuất – tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ. Ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tăng giảm TSCĐ, tình hình trích khấu hao và phân bổ khấu hao vào quá trình SXKD của công ty, báo cáo thống kê định kỳ.

    – Bộ phận kế toán thanh toán , lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, kế toán vốn bằng tiền : có nhiệm vụ theo dõi các khoản thu, chi tiền mặt, các khoản thanh toán với người bán , tổng hợp số liệu từ các đội gửi lên để phối hợp với các bộ phận khác tính toán lương , phụ cấp cho CBCNV, trích BHXH theo chế độ quy định.

    – Bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thủ quỹ: có nhiệm vụ tập hợp tất cả các chi phí để tính giá thành cho từng công trình và cùng với kế toán vốn bằng tiền tiến hành thu- chi và theo dõi chặt chẽ các khoản thu – chi tiền mặt.

    – Bộ phận kế toán thuế, công nợ, cổ phần: Bộ phận này có nhiệm vụ tập hợp các loại thuế để thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, thanh toán các khoản phải trả, thống kê tổng số cổ phần và báo cáo lợi tức của mỗi cổ phần trước đại hội đồng cổ đông.

    – Bộ phận kế toán tổng hợp, phân tích kiểm tra số liệu: có nhiệm vụ tổng hợp tất cả các số liệu ở các bộ phận , phân tích kiểm tra và báo cáo với kế toán trưởng .

    Sơ đồ 2 : Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Kế Toán

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán sử dụng để ghi chép, hệ thống hoá và tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo một trình tự và phương pháp ghi chép nhất định. Hình thức tổ chức hệ thống kế toán bao gồm: số lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp… kết cấu sổ, mối quan hệ, kiểm tra, đối chiếu  giữa các sổ kế toán, trình tự và phương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu đó lập báo cáo kế toán. Để phù hợp với hệ thống kế toán của các nước đang phát triển, thuận lợi cho việc sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán công ty đã áp dụng hệ thống tài khoản kế toán mới ra ngày 1/11/1995 trên máy vi tính theo hình thức kế toán nhật ký chung và sử dụng tài khoản do Bộ Tài chính ban hành. Công ty áp dụng phương pháp kế toán kê khai thường xuyên và thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Niên độ kế toán được công ty áp dụng từ 1/1  đầu năm  đến 31/12  cuối năm  và kỳ kế toán công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long làm theo một năm 4 quý.

    Sơ đồ 3 : Sơ đồ ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán NKC

    Ghi chú:                          Ghi hàng ngày

                                            Ghi cuối tháng

                                            Đối chiếu kiểm tra

    Trình tự ghi sổ:

    (1). Hàng tháng căn cứ chứng từ gốc hợp lệ lập điều khoản kế toán rồi ghi vào sổ nhật ký chung theo thứ tự thời gian rồi từ sổ nhật ký chung ghi vào sổ cái.

    (2) tổng hợp cần mở thêm các sổ nhật ký đặc biệt thì cũng căn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào sổ nhật ký đặc biệt rồi cuối tháng từ sổ nhật ký đặc biệt ghi vào sổ cái.

    (3) Các chứng từ cần hạch toán chi tiết đồng thời được ghi vào sổ kế toán chi tiết.

    (4) Lập bảng tổng hợp số liệu chi tiết từ các sổ kế toán chi tiết.

    (5) Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh các tài khoản

    (6) Kiểm tra đối chiếu số liệu số cái và bảng tổng hợp số liệu chi tiết.

    (7) Tổng hợp số liệu lập bảng báo cáo kế toán.

    2.2. TÌNH HÌNH  KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG.

    2.2.1 Phân loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Để tiến hành thi công xây dựng nhiều công trình khác nhau đáp ứng nhu cầu thị trường công ty phải  sử dụng một khối lượng nguyên vật liệu rất lớn bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau, mỗi loại vật liệu ,công cụ dụng cụ có vai trò, tính năng lý hoá riêng. Muốn quản lý tốt và hạch toán chính xác vật liệu công cụ dụng cụ thì phải tiến hành phân loại vật liệu công cụ dụng cụ một cách khoa học, hợp lý. Tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long cũng tiến hành phân loại vật  liệu công cụ dụng cụ.  Song việc phân loại vật liệu chỉ để thuận tiện và đơn giản cho việc theo dõi, bảo quản nguyên vật liệu   công cụ dụng cụ ở kho. Nhưng trong công tác hạch toán do sử dụng mã vật tư nên công ty không sử dụng tài khoản cấp II để phản ánh từng loại vật liệu công cụ dụng cụ mà công ty đã xây dựng mỗi thứ vật tư một mã số riêng, như quy định một lần trên bảng mã vật tư ở máy vi tính bởi các chữ cái đầu của vật liệu công cụ dụng cụ. Vì vậy tất cả các loại vật liệu sử dụng đều hạch toán tài khoản 152 “nguyên liệu vật liệu” các loại công cụ dụng cụ sử dụng đều hạch toán vào tài khoản   153 “công cụ dụng cụ”. Cụ thể ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sử dụng mã  vật tư như sau:

    * Đối với vật liệu của công ty được phân loại như sau:

    + NVL không phân loại thành nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ mà được coi chúng là vật liệu  chính: “Là đối tượng lao động chủ yếu của công ty, là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm xây dựng cơ bản. Nó bao gồm hầu hết các loại vật liệu mà công ty sử dụng như: xi măng, sắt, thép, gạch, ngói, vôi ve, đá, gỗ… Trong mỗi loại được chia thành nhiều nhóm khác nhau, ví dụ: xi  măng trắng, xi măng P300, xi măng P400, thép F 6, thép F10, thép F 20… thép tấm, gạch chỉ, gạch rỗng, gạch xi măng.

    + Nhiên liệu: Là loại vật liệu khi sử dụng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho các loại máy móc, xe cộ như xăng, dầu.

    + Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết phụ tùng của các loại máy móc thiết bị mà công ty sử dụng bao gồm phụ tùng thay thế các loại máy móc, máy cẩu, máy trộn bê tông và phụ tùng thay thế của xe ô tô như: các mũi khoan, săm lốp ô tô.

    + Phế liệu thu hồi: bao gồm các đoạn thừa của thép, tre, gỗ không dùng được nữa, vỏ bao xi măng…

    Công ty bảo quản vật liệu, công cụ dụng cụ trong hai kho theo mỗi công trình là một kho nhằm giữ cho vật liệu không bị hao hụt thuận lợi cho việc tiến hành thi công xây dựng. Vì vậy, các kho bảo quản phải khô ráo, tránh ô xy hoá vật liệu – công cụ dụng cụ, các kho có thể chứa các chủng loại vật tư giống hoặc khác nhau. Riêng các loại cát, sỏi, đá vôi được đưa thẳng tới công trình. Công ty xác định mức dự trữ cho sản xuất, định mức hao hụt, hợp lý trong quá trình vận chuyển  bảo quản dựa trên kế hoạch sản xuất do phòng kinh tế kế hoạch vật tư đưa ra. Để phục vụ cho yêu cầu của công tác hạch toán và quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ công ty đã phân loại nguyên vật liệu một cách khoa học nhưng công ty chưa lập sổ danh điểm và mỗi loại vật liệu công ty sử dụng bởi chữ cái đầu là tên của vật liệu. Yêu cầu đối với thủ kho ngoài những kiến thức ghi chép ban đầu, còn phải có những hiểu biết nhất định các loại nguyên vật liệu của ngành xây dựng cơ bản để kết hợp với kế toán vật liệu ghi chép chính xác việc nhập, xuất bảo quản nguyên vật liệu trong kho.

    * Đối với công cụ – dụng cụ như sau:

    – Công cụ dụng cụ: dàn giáo, mác, cuốc, xẻng…

    – Bao bì luân chuyển:…

    – Đồ dùng cho thuê: các loại máy móc phục vụ thi công: Đầm cóc, khoan bê tông….

    2.2.2. Hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long.

    Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung, tuy nhiên cũng có một số vận dụng mẫu sổ phù hợp với thực tế và phát huy tốt các chức năng của kế toán. Cụ thể khi vật liệu, công cụ dụng cụ mua về đến kho của công ty trình tự hạch toán được tiến hành như sau:

    2.2.2.1. Thủ tục nhập kho:

    1. Trường hợp nhập vật liệu, công cụ dụng cụ từ nguồn mua ngoài:

    Theo chế độ kế toán quy định, tất cả các loại vật liệu công cụ dụng cụ về đến công ty đều phải tiến hành kiểm nhận và làm thủ tục nhập kho.

    Khi vật liệu, công cụ dụng cụ được chuyển đến công ty, người đi nhận hàng (nhân viên tiếp liệu) phải mang hoá đơn của bên bán vật liệu, công cụ dụng cụ lên phòng kinh tế kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị, trong hoá đơn đã ghi rõ các chỉ tiêu: chủng loại, quy cách vật liệu, khối lượng vật liệu, đơn giá vật liệu, thành tiền, hình thức thanh toán…

    Căn cứ vào hoá đơn của đơn vị bán, phòng kinh tế kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị xem xét tính hợp lý của hoá đơn, nếu nội dung ghi trong hoá đơn phù hợp với hợp đồng đã ký, đúng chủng loại, đủ số lượng, chất lượng đảm bảo… thì đồng ý nhập kho số vật liệu đó đồng thời nhập thành 2 liên phiếu nhập kho

    Người lập phiếu nhập kho phải đánh số hiệu phiếu nhập và vào thẻ kho rồi giao cả 2 liên cho người nhận hàng. Người nhận hàng mang hoá đơn kiêm phiếu xuất kho và 2 liên phiếu nhập kho tới để nhận hàng. Thủ kho tiến hành kiểm nhận số lượng và chất lượng ghi  vào cột thu nhập rồi ký nhận cả 2 liên phiếu nhập kho, sau đó vào thể kho. Cuối ngày thủ kho phải chuyển cho kế toán vật liệu một phiếu liên nhập còn một liên phiếu phải nhập (kèm theo hoá đơn kiêm phiếu xuất kho) chuyển cho kế toán công nợ để theo dõi thanh toán. Đồng thời kế toán vật liệu phải đối chiếu theo dõi kế toán công nợ để phát hiện những trường hợp thủ kho còn thiếu phiếu nhập kho chưa vào thẻ kho hoặc nhân viên tiếp liệu chưa mang chứng từ hoá đơn đến thanh toán nợ. Kế toán theo dõi công nợ phải thường xuyên theo dõi thông báo số nợ của từng người và có biện pháp thanh toán dứt điểm tránh tình trạng nợ lần dây dưa.

    Thủ tục nhập kho được thể hiện theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 04

     

     

     

    Hàng tháng nhân viên giữ kho mang chứng  từ của mình lên phòng kế toán công ty để đối chiếu số liệu giữa phiếu nhập kho và thẻ kho, đồng thời kế toán rút sổ số dư cuối tháng và ký xác nhận vào thẻ kho.

    Bắt đầu từ những chứng từ gốc sau đây, kế toán vật liệu sẽ tiến hành công việc của mình

    Hoá đơn (GTGT)                            Mẫu số 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              FD/02- B

    Ngày 02/12/2002                              N0: 0538

    Đơn vị bán hàng: Công ty thép Thái Nguyên

    Địa chỉ: Chi nhánh  Cầu Giấy – Hà Nội        Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

     
    0
    3
    5
    1
    0
     
    6
    0
    2
    0
    5
    1
    1

    Điện thoại: 8588553                          MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Đường Nam Thăng Long- Hà Nội Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    2
    9
    0

    Hình thức thanh toán: chịu                   Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    3

    4

    Thép F10

     

    Thép F12

    Thép F16

    Thép F18

    kg

     

    kg

    kg

    kg

    3500

     

    8000

    4000

    5000

    5.120

     

    5.145

    5.120

    5.135

    17.920.000

     

    41.160.000

    20.480.000

    25.675.000

    Cộng 105.235.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT 10.523.500
    Tổng cộng tiền thanh toán 115.758.500
    Số tiền viết bằng chữ: Một trăm mười năm triệu bảy trăm năm mươi tám triệu năm mươi tám nghìn năm trăm đồng

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng                      Thủ trưởng đơn vị

    (Ký, ghi rõ họ tên)                     (Ký, ghi rõ họ tên)                   (Ký, ghi rõ họ tên)

    Khi hàng về tới kho , nhân viên kế toán tiến hành lập biên bản kiểm tra

    Mẫu 02.

    Công ty cổ phần                  Biên Bản Kiểm Nghiệm Vật Tư

    xây dựng số 4 Thăng long                Ngày 02  Tháng 12 năm 2002

    Căn cứ vào hoá đơn số 538 ngày 02 tháng 12 năm 2002 của Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long giao theo hợp đồng số  230/HĐKT ngày 01  tháng  12  năm 2002

    Ban kiểm nghiệm gồm:

    Ông : Hoàng Văn Thái : Đại diện phòng công tiêu – Trưởng ban

    Ông : Trần Văn Hà  : Đại diện phòng kỹ thuật – Uỷ viên

    Bà : Nguyễn Thị Chuyên : Đại diện thủ kho  – Uỷ viên

    Đã kiểm nghiệm các loại vật tư sau đây:

    TT Tên nhãn hiệu vật liệu Đơn vị tính

     

    (kg)

    Số Lượng Không đúng quy cách phẩm chất
    Theo chứng từ Đúng quy cách phẩm chất
    1 Thép F10 kg 3500 3500 0
    2 Thép F12 kg 8000 8000 0
    3 Thép F16 kg 4000 4000 0
    4 Thép F18 kg 5000 5000 0

    Kết luận của ban kiểm nghiệm.

    Uỷ viên                                        Uỷ viên                            Trưởng ban

    Căn cứ  vào hoá đơn số 538 và biên bản kiểm nghiệm vật tư số hàng thực tế đã về, phòng kỹ thuật vật tư viết phiếu nhập kho ngày 02/12/2002 – Số 538. Thủ kho xác định số lượng và đơn giá tiến hành nhập kho.

    Mẫu số 03

    Đơn vị: Công ty cổ phần số 4 Thăng long              Phiếu nhập kho

    Địa chỉ : Xuân đỉnh – Từ liêm- Hà Nội                                         Số : 165

    Ngày 02/12/2002

    Tên người giao hàng: Nguyễn Văn Hùng                               Nợ TK 152:

    Theo hoá đơn  số 538 ngày 02/12/2002 của                            Có TK 331 :

    Công ty thép Thái Nguyên  – Chi nhánh – Cầu Giấy  – Hà Nội.

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Thép F10 kg 3500 3500 5.120 17.920.000
    2 Thép F12 kg 8000 8000 5.145 41.160.000
    3 Thép F16 kg 4000 4000 5.120 20.480.000
    4 Thép F18 kg 5000 5000 5.135 25.675.000
      Cộng         105.235.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Một trăm ninh năm triệu, hai trăm ba mươi năm nghìn đồng chẵn.                                                                    Ngày 02 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                     Người giao hàng                          Thủ kho

    Mẫu số 04                 Hoá đơn (GTGT)              MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              EC/02 – F

    Ngày 03/12/2002                              N0: 00140

    Đơn vị bán hàng: Công ty vật tư số 27

    Địa chỉ: Cầu Giấy – Hà Nội               Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
     
    0
    6
    3
    5
    0
    0
    1
    2
    0
    5
    1
    1

    Điện thoại: 8388353                          MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Đường Nam Thăng Long- Hà Nội Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: chịu                   Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 30.000 850 25.500.000
    Cộng 25.500.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT   2.550.000
    Tổng cộng tiền thanh toán 28.050.000
    Số tiền viết bằng chữ: Hai tám triệu không trăm năm mươi  nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng                    Thủ trưởng đơn vị

    – Căn cứ vào hoá đơn số 140 và biên bản kiểm nghiệm vật tư số hàng thực tế đã về, phòng vật tư viết phiếu nhập kho.

    Đơn vị: Công ty cổ phần                        Mẫu 05

    Xây dựng số 4 Thăng long                     Phiếu nhập kho                Số 166

    Ngày 03/12/2002          Nợ TK 152:

    Tên người giao hàng:  Nguyễn Văn Hùng                              Có TK 331:

    Nhập vào kho:  Số 1 tại Công ty

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Xin nhập Thực nhập
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 30.000 30.000 850 25.500.000
      Cộng         25.500.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Hai mươi năm triệu năm trăm nghìn đồng chẵn.

    Ngày 03 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                              Người giao hàng                     Thủ kho

    Trường hợp theo hoá đơn số 140 ngày 03/12/2002 của Công ty vật tư  số 27 Cầu Giấy – Hà Nội như trên thì chi phí vận chuyển xi măng được tính vào giá hoá đơn. Còn trường hợp ngày 04/12/2002 theo hoá đơn số 142 công ty mua xi măng Hoàng Thạch tại Công ty vật tư – 38 – Đường Hoàng Quốc Việt nhưng do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện.

    Mẫu 06                         Hoá đơn (GTGT)        MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              EC/02- T

    Ngày 04/12/2002                              N0: 00142

    Đơn vị bán hàng: Công ty vật tư

    Địa chỉ: 38 – Hoàng Quốc Việt – Hà Nội                                            Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _ Điện thoại: 7562.346                                                      MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty  cổ phần xây dựng

    số 4 thăng long                                 Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt            Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Xi măng Hoàng Thạch

     

    vận chuyển

    kg

     

    kg

    20.000

     

    20.000

             810

     

    30

    16.200.000

     

    600.000

    Cộng 16.800.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT   1.680.000
    Tổng cộng tiền thanh toán 18.480.000
    Số tiền viết bằng chữ: Mười tám triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Mẫu số 07

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long                  Phiếu nhập kho                 Số 167

    Ngày 04/12/2002            Nợ TK 152

    Tên người giao hàng: Nguyễn Văn Hùng                            Có TK  111

    Nhập vào kho: Số 1 tại  Công ty

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 20.000 20.000 840 16.800.000
      Cộng         16.800.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng chẵn.

    Ngày 04 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                Người giao hàng                                  Thủ kho

    Đối với công cụ dụng: Do công cụ dụng cụ trong mỗi công trình xây dựng cơ bản có số lượng ít hơn so với vật liệu. Vì thế cả khâu vận chuyển và bảo quản công cụ dụng cụ đơn giản hơn vật liệu. Căn cứ vào yêu cầu công cụ dụng cụ nhân viên tiếp liệu thu mua  mang hoá đơn về như sau:

    Mẫu 08

    Hoá đơn (GTGT)                        MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng                            L/02

    Ngày 04/12/2002                                 N0: 00360

    Đơn vị bán hàng: Cửa hàng Hoà phát

    Địa chỉ: 72 – Đê La Thành                                   Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

    Điện thoại: 9.521.786                                                     MS:

    Họ và tên người mua hàng: Lê Văn Sơn

    Đơn vị: Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Nam Thăng long- Từ Liêm – Hà Nội      Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt              MS

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Đầm cóc (hon đa)

     

    Khoan bê tông

    Chiếc

     

    Chiếc

    1

     

    3

    26.000.000

     

    2.000.000

    26.000.000

     

    6.000.000

    Cộng 32.000.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT    3.200.000
    Tổng cộng tiền thanh toán  35.200.000
    Số tiền viết bằng chữ: Ba mươi năm  triệu hai trăm nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Mẫu Số 09                               Phiếu nhập kho                    Số 168

    Ngày 04/12/2002

    Tên người nhập:  Lê Văn Sơn                        Nợ TK 153

    Theo hoá đơn số 360 ngày 04/12/2002          Có TK 111

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Xin nhập Thực nhập
    1 Máy Đầm cóc chiếc 1 1 26.000.000 26.000.000
    2 Khoan bê tông chiếc 3 3 2.000.000 6.000.000
      Cộng         32.000.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Ba mươi hai triệu đồng chẵn.

    Ngày 04 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                  Người giao hàng                               Thủ kho

     

    Mẫu Số10                      Hoá đơn (GTGT)                              MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng                       I/  – F

    Ngày 05/12/2002                                     N0: 622

    Đơn vị bán hàng: Cửa hàng ki ốt số I

    Địa chỉ: Hoàng quốc việt- Cầu Giấy                             Số TK : _ _ _ _ _ _ _  Điện thoại: 8.625.379                                                    MS:

    Họ và tên người mua hàng: Lê Văn Sơn

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt             MS

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    3

    Máy bơm

     

    Gầu, phễu đổ bê tông

    Cuốc

    Chiếc

     

    Chiếc

    Chiếc

    4

     

    5

    20

    350.000

     

    250.000

    6.000

    1.400.000

     

    1.250.000

    120.000

       4        Xẻng                                   Chiếc              20                12.000       240.000
         Cộng     3.010.000
    Thuế VAT: 5% tiền thuế VAT        150.500
    Tổng số tiền thanh toán                                                                                     3.160.500
    Số tiền viết bằng chữ: Ba triệu một trăm sáu  mươi nghìn năm trăm đồng .

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Đơn vị: Công ty cổ phần                  Mẫu số 11

    xây dựng số 4 thăng long    Phiếu nhập kho                 Số 169

    Ngày 05/12/2002

    Tên người giao hàng: Lê Văn Sơn

    Theo hoá đơn số 622 ngày 05/12/2002

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1

     

    2

    3

    Máy bơm

     

    Gỗu, phễu đổ bê tông

    Cuốc

    Chiếc

     

    Chiếc

    Chiếc

    4

     

    5

    20

    4

     

    5

    20

    350.000

     

    250.000

    6.000

    1.400.000

     

    1.250.000

    120.000

    4 Xẻng Chiếc 20 20 12.000 240.000
      Cộng         3.010.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Ba  triệu không trăm  mười nghìn đồng chẵn.

    Ngày 05 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                      Người giao hàng                              Thủ kho

    1. Nhập do di chuyển nội bộ.

    Căn cứ vào yêu cầu di chuyển kho của giám đốc, phòng kinh tế , kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị lập phiếu di chuyển nội bộ gồm 2 liên. Người di chuyển mang 2 liên đến thủ kho xuất hàng, ghi thẻ kho sau đó xuất hàng theo số thực xuất và ký nhận  song giữ lại một liên để giao cho kế toán vật liệu, một liên đưa cho người di chuyển mang đến kho nhập, thủ tục nhập hàng và ký nhận ở phần thực nhập rồi vào thẻ kho. Cuối ngày thủ kho nhập giao lại cho kế toán vật liệu kiểm tra và hạch toán tăng kho nhập, giảm kho xuất.

    1. Nhập kho do thuê ngoài gia công chế biến.

    Căn cứ vào hợp đồng kinh tế theo số lượng và giá cả phòng kinh tế, kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị lập phiếu nhập kho. Khi lập phiếu nhập kho phải thực hiện cùng kho cùng nhóm, cùng nguồn nhập, phải kiểm nghiệm trước khi nhập và lập biên bản kiểm nghiệm mới được nhập kho. Cuối ngày kế toán vật liệu phải đối chiếu kế toán công nợ và đưa phiếu nhập kho cho kế toán công nợ làm báo cáo kế  toán.

    2.2.2.2. Thủ tục xuất kho.

    Vật liệu chủ yếu được xuất kho cho các đội xây dựng và xí nghiệp xây lắp trực thuộc công ty thi công các công trình.

    – Xuất kho sử dụng cho sản xuất kinh doanh.

    Căn cứ vào số lượng vật tư yêu cầu tính toán theo định mức sử dụng của cán bộ kỹ thuật, phòng kinh tế, kế hoạch, kỹ thuật vật tư lập phiếu xuất kho gồm 2 liên. Người lĩnh vật tư mang 2 liên phiếu vật tư đến kho để xin lĩnh vật tư. Thu kho căn cứ vào quyết định của đội trưởng và theo tiến độ thi công để xuất vật liệu, công cụ dụng cụ. Thủ kho giữ lại một liên để vào thẻ kho sau đó chuyển cho kế toán vật tư để hạch toán, một liên gửi cán bộ kỹ thuật phụ trách công trường để kiểm tra số lượng và chất lượng vật liệu, công cụ dụng cụ đưa từ kho đến nơi sử dụng.

    Đơn vị : Công ty cổ phần                      Mẫu Số 12

    số 4 Thăng long                         Phiếu xuất kho                     Số 136

    Ngày 06/12/2002

    Họ tên người nhận hàng: Hoàng  văn Bình                     Nợ TK:………

    Địa chỉ: Xí nghiệp xây lắp số 1                                       Có TK:………..

    Lý do xuất kho: thi công công trình “Nhà làm việc Bộ Tài Chính”

    Xuất kho tại:  Số 1 ở Công ty

              STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Quần áo bảo hộ LĐ Bộ 40 40 43.000 1.720.000
    2 Giầy ba ta Đôi 40 40 14.500 580.000
    3 Mũ nhựa Chiếc 40 40 16.000 640.000
    4 Máy bơm Chiếc 4 4 350.000 1.400.000
    5 Cuốc Chiếc 20 20 6.000 120.000
    6 Xẻng Chiếc 20 20 12.000 240.000
      Cộng         4.700.000
      TVAT 5%          

    Cộng tiền (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng chẵn)

    Xuất ,ngày 06 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách bộ phận sử dụng       Phụ trách cung tiêu           Người nhận    Thủ kho

    Căn cứ vào dự toán vật liệu cho từng công trình, phòng kỹ thuật vật tư lập phiếu xuất kho như sau:

    Mẫu Số 13

    Đơn vị: Công ty cổ phần                   Phiếu xuất kho                       Số 137

    xây dựng số 4 Thăng long       Ngày 06/12/2002

    Họ tên người nhận hàng : Nguyễn Việt Trung

    Địa chỉ                           : Xí nghiệp xây lắp số 1

    Lý do xuất kho              : Thi công công trình ” Nhà Bộ tài chính”

    Xuất tại kho                            : Công ty

    Số TT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 40.000 30.000 850 25.500.000
    2 Xi măng Hoàng Thạch kg   10.000 840 8.400.000
      Cộng         33.900.000

    Tiền thuế VAT 10%

    2.2.3. Trình tự nhập – xuất kho nguyênvật liệu.

    Công tác kế toán vật liệu ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long do một thủ kho và một kế toán viên đảm nhận. Phần hành kế toán nhập kho xuất kho vật liệu đều được xử lý trên máy vi tính. Vì vậy các công đoạn lập sổ, ghi sổ kế toán tổng hợp, chi tiết đều do máy thực hiện. Thủ kho và nhân viên kế toán vật liệu chỉ phải làm thủ tục ban đầu và tập hợp liệt kê các chứng từ gốc liên quan đến nhập – xuất vật liệu, tạo cơ sở dữ liệu để đưa vào máy.

    2.2.3.1. Trình tự nhập kho nguyên vật liệu.

    Ở Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long, việc mua vật tư thường do phòng kế hoạch đảm nhận, mua theo kế hoạch cung cấp vật tư hoặc theo yêu cầu sản xuất thi công. Khi vật liệu được mua về, người  đi mua sẽ mang hoá đơn mua hàng như: hoá đơn bán hàng, hoá đơn (GTGT) của đơn vị bán, hoá đơn cước phí vận chuyển… lên phòng kế toán. Trước khi nhập kho, vật tư mua về sẽ được thủ kho và kế toán vật liệu kiểm tra số lượng, chất lượng quy cách đối chiếu với hoá đơn nếu đúng mới cho nhập kho và kế toán vật liệu sẽ viết phiếu nhập kho. Trường hợp vật liệu mua về có khối lượng lớn, giá trị cao thì công ty sẽ có ban kiểm nghiệm vật tư  lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư”. Sau khi đã có ý kiến của ban kiểm nghiệm vật tư về số hàng mua về đúng quy cách, mẫu mã, chất lượng theo hoá đơn thì thủ kho mới tiến hành cho nhập kho.

    2.2.3.2. Trình tự xuất kho.

    Ở công ty  cổ phần xây dựng số 4 Thăng long, vật liệu xuất kho chủ yếu là dùng cho thi công các công trình. Nguyên vật liệu của công ty gồm nhiều chủng loại, việc xuất dùng diễn ra thường xuyên trong ngành cho từng bộ phận sử dụng là các đội công  trình. Việc xuất vật liệu được căn cứ vào nhu cầu thi công và định mức tiêu hao NVL trên cơ sở các đơn đặt hàng đang được ký kết. Sau khi có lệnh sản xuất của giám đốc, phòng kế hoạch tổ chức thực hiện tiến độ sản xuất, theo dõi  sát sao tiến độ thi công các công trình và tiến độ thực hiện các hợp đồng.

    Sau khi đối chiếu khối lượng nguyên vật liệu trên phiếu xuất kho tại cột số lượng yêu cầu đối với khối lượng nguyên vật liệu thực tế có trong kho, thủ kho sẽ ghi vào phiếu xuất kho ở cột số lượng thực xuất và ký xác nhận. Sau đó thủ kho tiến hành xuất kho nguyên vật liệu.

    2.2.4. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long.

    Một trong những yêu cầu của công tác quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ đòi hỏi phải phản ánh, theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất tồn kho cho từng nhóm, từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ cả về số lượng, chất lượng chủng loại và giá trị. Bằng việc tổ chức kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ là việc hạch toán kết hợp giữa kho và phòng kế toán nhằm mục đích theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất, tồn kho cho từng thứ, từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ cả về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị.

    Để tổ chức thực hiện được toàn bộ công tác kế toán vật liệu công cụ dụng cụ nói chung và kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ nói riêng, thì trước hết phải bằng phương pháp  chứng từ kế toán để phản ánh tất cả  các nghiệp vụ có liên quan đến nhập xuất vật liệu, công cụ dụng cụ. Chứng từ kế toán là cơ sở  pháp lý để ghi sổ kế toán. Tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long chứng từ kế toán được sử dụng trong phần hạch toán kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ là:

    – Phiếu nhập kho vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Phiếu xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.

    – Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Bảng tổng hợp nhập xuất tồn vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Trình tự luân chuyển chứng từ theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 05.

    Giải thích:              Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu kiểm tra

    Kế toán chi tiết ở công ty sử dụng phương pháp thẻ song song và có một số điều chỉnh cho phù hợp với chương trình quản lý vật tư trên máy vi tính. Nội dung, tiến hành hạch toán chi tiết vật liệu công cụ dụng cụ được tiến hành như sau:

    – Ở kho; Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép phản ánh hàng ngày tình hình nhập xuất, tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ ở từng kho. Theo chỉ tiêu khối lượng mỗi thứ vật liệu, công cụ dụng cụ  được theo dõi trên một thẻ kho để tiện cho việc sử dụng thẻ kho trong việc ghi chép, kiểm tra đối chiếu số liệu.

    Cuối tháng thủ kho căn cứ vào hai chứng từ số 140 ngày 03/12/2002 và chứng từ số 142 ngày 04/12/2002 và các chứng từ nhập, xuất khác. Thủ kho tiến hành lập thẻ kho phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn. Sau đây là thẻ kho vật liệu: xi măng Hoàng Thạch.

    Đơn vị: Công ty cổ phần            Mẫu Số 14

    xây dựng số 4 Thăng long                                                    MS  06: VT

    Thẻ kho

    Ngày lập 29/12/2002

    Tờ số 1

    Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: xi măng Hoàng Thạch

    Đơn vị tính: kg

    Số TT Chứng từ Diễn giải Ngày nhập xuất Số lượng Ký nhận của KT
    Số hiệu NT Nhập Xuất Tồn
    1 140 03/12 Hùng nhập vật tư 03/10 30.000   30.000  
    2 142 04/12 Hùng nhập vật tư 04/12 20.000   50.000  
    3 137 06/12 Xuất VT phục vụ thi công Nhà Bộ Tài Chính 06/12   40.000 10.000  
    4 154 10/12 Hùng nhập vật tư 10/12 30.000   40.000  
    5 241 12/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà làm việc Bộ Tài Chính 12/12   20.000 20.000  
    6 242 15/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội 15/12   6.000 14.000  
    7 152 18/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội 18/12   10.000 4.000  
          Cộng   80.000 76.000 4.000  
                     

    Đối với CCDC: Trong tháng 12 mở thẻ kho công cụ dụng cụ: xẻng. Căn cứ chứng từ số 622 ngày 05/12/2002 trên phiếu nhập kho số 136. Nhân viên tiếp liệu Lê văn Sơn nhập: 20 chiếc xẻng. Căn cứ vào chứng từ 137 ngày 20/12/2002là phiếu xuất kho số 137. Xuất 10 chiếc xẻng phục vụ cho thi công công trình Hà Nội. Cuối tháng 12/2002 thủ kho lập thẻ kho tháng 12 cho công cụ dụng cụ xẻng.

    Mẫu Số 15

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long                                            Mẫu số 06: VT

    Thẻ kho

    Ngày lập 29/12/2002

    Tờ số 2

    Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: xẻng

    Đơn vị tính: chiếc

    Số TT Chứng từ Diễn giải Ngày nhập xuất Số lượng Ký nhận của KT
    Số liệu   Nhập Xuất Tồn
    1 622 04/12 Sơn  nhập CCDC 04/12 20   20  
    2 163 06/12 Xuất CCDC thi công công trình Nhà làm việc Bộ Tài Chính 06/12   20    
    3 186 15/12 Sơn nhập CCDC vào kho công ty 15/12 15   15  
    4 187 27/12 Xuất CCDC thi công công trình nhà Bộ tài chính 27/12   15    
          Cộng   35 35 0  

    Ở phòng kế toán: đối với kho công trình định kỳ vào cuối tháng kế toán tiến hành đối chiếu kiểm tra chứng từ gốc với thẻ và ký xác nhận vào thẻ kho. Đồng thời hàng ngày khi nhận được chứng từ kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ để ghi vào “sổ chi tiết vật tư hàng hoá” từng tháng từng loại công vật liệu, công cụ dụng cụ và thẻ chi tiết được lập riêng cho từng kho.

     

    Mẫu số 16

    Sổ chi tiết nhập vật liệu

    Công trình: Tại Kho số 1  – Công ty

    Tháng 12 năm 2002                                       Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải ĐVT SL ĐG TT Người bán Gc
    Số Ngày
    A B C D 1 2 3 4 5
    538 02/12 Nhập thép

     

    Thép F10

    Thép F12

    Thép F16

    Thép F18

     

     

    kg

    kg

    kg

    kg

    3.500

     

    8.000

    4.000

    5.000

    5.120

     

    5.145

    5.120

    5.135

     

     

    17.920.000

    41.160.000

    20.480.000

    25.675.000

    Công ty thép Thái Nguyên chi nhánh Hà Nội  
    140 03/12 Nhập Xi Măng kg 30.000  850 25.500.000 Công ty VT 27 cầu Giấy  
    142 04/12 Nhập Xi Măng kg 20.000 840 16.800.000 Công ty VT 38-Đ Hoàng Quốc Việt  
      …..       …….    
    145 10/12 Nhập Xi Măng kg 30.000 830 24.900.000 Công ty VT 38 Hoàng Quốc Việt  
    ……   …….       …….    

     

     

     

     

     

    Mẫu Số 10

    Sổ Chi Tiết Xuất kho Vật Liệu

    Công trình : Nhà Làm việc Bộ Tài Chính

    Tháng 12 năm 2002                                  Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải ĐVT SL ĐG TT GC
    Số Ngày
    A B C D 1 2 2 4
    137 06/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 30.000 850. 25.500.000  
    137 06/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 840 8.400.000  
    …..   …………..       ………..  
    241 12/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 840 8.400.000  
    241 12/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 830 8.300.000  
      ……… ……….   ………..   …………..  

     

    2.2.5. Đánh giá vật liệu

    Đánh giá vật liệu- công cụ dụng cụ là xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định về nguyên tắc kế toán nhập xuất tổng hợp, nhập xuất tồn kho vật liệu – công cụ dụng cụ công ty phản ánh trên giá thực tế. Nguồn vật liệu của ngành xây dựng cơ bản nói chung và của công ty cổ phần  tư vấn và xây dựng Hưng Vượng nói riêng là rất lớn, công ty chưa đảm nhiệm được việc chế biến và sản xuất ra nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ mà nguồn vật liệu chủ yếu do mua ngoài, một số vật liệu, công cụ được xí nghiệp xây lắp số 1 sản xuất như: bê tông, cửa đi, cửa sổ, và các loại cấu kiện, vật liệu nhằm hoàn thiện việc thi công xây dựng.

     

    2.2.5.1. Đối với nguyên vật liệu: Giá thực tế vật liệu nhập do mua ngoài

    * Trường hợp bên bán vận chuyển vật tư cho công ty thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn.

    Ví dụ: trên phiếu nhập kho số 165 ngày 02/12/2002 Nguyễn Văn Hùng nhập vào kho vật liệu của công ty theo hoá đơn số 538 ngày 02/12/2002 của Công ty Thép Thái Nguyên chi nhánh Cầu Giấy – Hà Nội . Giá thực tế nhập 105.235.000 đồng (giá ghi trên hoá đơn).

    * Trường hợp vật tư do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua trên hoá đơn cộng với chi phí vận chuyển.

    Ví dụ: Trên phiếu nhập kho số 147 ngày 04/12/2002, đồng chí Hùng nhập vào kho công ty 20.000 kg xi măng Hoàng Thạch theo hoá đơn số 142 ngày 04/12/2002 của Công ty Vật tư – 38  Đường Hoàng Quốc Việt. Giá thực tế nhập kho của xi măng Hoàng Thạch là 16.800.000.( Trong đó ghi trên hoá đơn là 16.200.000 và chi phí vận chuyển là 600.000đ).

    + Giá thực tế vật liệu xuất dùng cho thi công: Giá thực tế vật liệu xuất dùng cho thi công được tính theo phương pháp nhập trước – xuất trước.

    Ví dụ: Theo đơn giá xuất vật tư xi măng Hoàng Thạch ở chứng từ xuất kho số 137 ngày 06/12/2002. Xuất cho Nguyễn Việt Trung thi công xây dựng công trình nhà làm việc Bộ tài chính- Hà Nội, yêu cầu số lượng xuất là 40.000kg. Theo chứng từ 142 ngày 03/12/2002 xi măng Hoàng Thạch được nhập theo giá 840đ/kg. Vậy thực tế xuất kho xi măng Hoàng Thạch được tính như sau:

    30.000kg x 850đ= 25.500.000( 30.000 kg nhập ngày 03/12/2002)

    10.000kg x 840đ= 8.400.000

    33.900.000 (xem nhật ký chung)

    – Đối với việc nhập xuất vật liệu, công cụ ở các đơn vị trực thuộc thì giá thực tế của vật liệu nhập, xuất kho được tính theo giá thực tế.

    2.2.5.2. Đối với công cụ, dụng cụ: Việc đánh giá công cụ, dụng cụ tương tự đối với vật liệu được tiến hành bình thường.

    Công cụ dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thi công và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào chứng từ xuất kho công cụ, dụng cụ. Kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng rồi tính ra giá thực tế xuất dùng. Do công cụ, dụng cụ có tính chất cũng như giá trị, thời gian sử dụng và hiệu quả của công tác mà việc tính toán phân bổ giá trị thực công cụ, dụng cụ xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể một hoặc nhiều lần.

    Có những loại công cụ, dụng cụ phân bổ hai lần nên khi xuất dùng tiến hành phân bổ ngay 50% giá trị thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh kỳ đó và khi báo hỏng sẽ tiến hành phân bổ nốt giá trị còn lại của công cụ dụng cụ.

    Công cụ dụng cụ được tính như sau:

    – Quần áo bảo hộ lao động        : 40 bộ x 43.000đ = 1.720.000đ

    – Giầy ba ta                      : 40 đôi x 14.500đ =   580.000đ

    – Mũ nhựa                        : 40 cái x 16.000đ =   640.000đ

    Tổng hợp công cụ dụng cụ do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn + chi phí vận chuyển.

    Trên phiếu nhập kho số 168 ngày 04/12/2002 người giao hàng Lê Văn Sơn  nhập cho công ty (theo hợp đồng) 1 máy đầm với giá ghi trên hoá đơn số 360 là: 26.000.000đ. Vậy giá thực tế của công cụ dụng cụ được tính như sau:

    1 x 26.000.000 = 26.000.000đ

    + Giá thực tế công cụ dụng cụ xuất dùng cho thi công

    Ví dụ: Đơn giá xuất của công cụ dụng cụ xẻng (xúc đất, trộn vữa) theo chứng từ phiếu xuất kho số 136 ngày 06/12/2002 là 240.000đồng. Vậy giá thực tế xuất dùng công cụ dụng cụ được tính: 20 x 12.000 = 240.000đ

    – Đối với việc nhập kho công cụ tại đội công trình xây dựng và xí nghiệp xây lắp số 1 trực thuộc công ty thì giá thực tế công cụ dụng cụ xuất kho được tính theo giá thực tế đích danh.

    2.2.6. Tài khoản sử dụng cho hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng  số 4 Thăng long.

    Hiện nay công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đang áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính kết hợp với Thông tư số 100/1998/TT-BTC về hướng dẫn kế toán thuế giá trị gia tăng (GTGT).

    Để phù hợp với quá trình hạch toán ở công ty, công tác kế toán vật liệu sử dụng những tài khoản tổng hợp sau: TK152, TK133, TK 331, TK111, TK112, TK621, TK 623, TK 627, TK 642. Ngoài ra công ty còn mở thêm các TK cấp 2 để phản ánh chi tiết cho từng đối tượng cụ thể như TK1521 “NVL chính”, TK 1522 “NVL phụ”, TK 3331…

    2.2.7. Kế toán tổng hợp nhập- xuất vật liệu, công cụ dụng cụ:

    Thước đo tiền tệ là thước đo chủ yếu kế toán sử dụng và nói tới hạch toán là nói tới số liệu có, tình hình biến động toàn bộ tài sản của công ty theo chỉ tiêu giá trị. Kế toán chi tiết vật liệu – công cụ dụng cụ chưa đảm bảo đáp ứng được yêu cầu này mà chỉ bằng kế toán tổng hợp có thể ghi chép, phản ánh các đối tượng kế toán theo chỉ tiêu giá trị trên các tài khoản sổ kế toán tổng hợp mới đáp ứng được yêu cầu đó.

    Vậy kế toán tổng hợp là việc sử dụng các tài khoản kế toán để phản ánh, kiểm tra và giám sát các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế ở các dạng tổng quát. Do đặc điểm vật liệu- công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long rất đa dạng và phong phú, công ty đã áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán nhập xuất vật liệu- công cụ dụng cụ.

    Công ty sử dụng tài khoản 152 và tài khoản 153 để phản ánh quá trình nhập xuất vật liệu- công cụ dụng cụ và tài khoản 331, tài khoản 141, tài khoản 111, tài khoản 112, tài khoản 311, tài khoản 621, tài khoản  623, tài khoản 642, tài khoản 627.

     

    2.2.7.1. Kế toán tổng hợp nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ

    Trong nền kinh tế thị trường việc mua vật liệu- công cụ dụng cụ được diễn ra thường xuyên nhanh gọn trên cơ sở “thuận mua vừa bán”. Thông thường đối với một số đơn vị bán vật liệu- công cụ dụng cụ cho công ty thương xuyên. Mỗi khi công ty có nhu cầu mua vật liệu- công cụ dụng cụ căn cứ vào giấy đề nghị mua vật liệu- công cụ dụng cụ thì đơn vị bán sẽ cung cấp vật liệu- công cụ dụng cụ theo yêu cầu của công ty. Đối với công trình lớn, tiến độ thi công dài đòi hỏi nhiều đơn vị  mua nợ của và chịu trách nhiệm thanh toán với người bán sau một thời gian. Hình thức thanh toán có thể bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền vay ngắn hạn.

    1. Đối với NVL- CCDC về nhập kho công ty từ nguồn mua ngoài.

    Mỗi khi công ty có nhu cầu mua vật tư, đơn vị bán sẽ gửi phiếu báo giá đến trước. Căn cứ vào phiếu báo giá này công ty chuẩn bị tiền để có thể chuyển trả trước- tuỳ thuộc vào khả năng công ty. Nếu trả sau hoặc đồng thời  thì căn cứ vào hoá đơn do đơn vị bán cùng lúc hàng về nhập kho công ty. Như vậylà không có trường hợp hàng về mà hoá đơn chưa về hoặc ngược lại. Kế toán ghi sổ một trường hợp duy nhất là hàng và hoá đơn cùng về. Do đó công tác ghi sổ kế toán có đơn giản hơn.

    Để theo dõi quan hệ thanh toán với những người bán, công ty sử dụng sổ chi tiết thanh toán với người bán- từ khoản 331 “phải trả cho người bán”. Đây là sổ dùng để theo dõi chi tiết các nghiệp vụ nhập vật liệu công cụ dụng cụ và quá trình thanh toán với từng người bán của công ty.

    Căn cứ vào các chứng từ gốc nhập vật liệu- công cụ dụng cụ ở phần kế toán chi tiết và các chứng từ gốc trong tháng 12 năm 2002, kế toán tiến hành định khoản một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phát sinh trong quá trình nhập kho vật liệu và quá trình thanh toán với người bán.

    – Trường hợp công ty nhập kho vật liệu nhưng chưa thanh toán với người bán.

    Ngày 02/12/2002 công ty nhập kho vật liệu chính (Thép) của Công ty Thép Thái Nguyên –Chi nhánh – Cầu Giấy – Hà Nội theo phiếu nhập kho số 165 ngày 02/12/2002 trị giá 105.235.000 đồng kèm theo hoá đơn 538 ngày 02/12/2002 số tiền 115.758.500 đồng (thuế VAT 10%).

    Căn cứ  2 hoá đơn trên kế toán ghi vào nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK152

    Nợ TK152: 105.235.000 đ

    Nợ TK133:  10.523.500 đ

    Có TK 331: 115.758.500 đ

    Trường hợp ngày 03/12/2002 hàng Xi Măng về kèm theo hoá đơn số 140 ngày 03/12/2002 số tiền vật liệu nhập về là 25.500.000đ. Căn cứ vào chứng từ này kế toán ghi nhật ký chúng theo định khoản và ở sổ cái TK152 (gồm VAT 10%)

    Nợ TK 152: 25.500.000 đ

    Nợ TK 1331: 2.550.000 đ

    Có TK331: 28.050.000 đ

    Ngày 17/12/2002 công ty nhận giấy báo nợ của ngân hàng đầu tư và phát triển Cầu Giấy – Hà Nội ngày 17/12/2002 báo đã chuyển séc trả tiền ngân hàng cho Công ty Thép Thái Nguyên – Chi nhánh Cầu Giấy – Hà Nội, số tiền ghi nhậtký chung theo định khoản:

    Nợ TK331    :115.758.500 đ

    Có TK 112         :   115.758.500 đ

    – Trường hợp công ty mua vật liệu đã thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giá mua vật liệu cho đơn vị bán theo hoá đơn ngày 03/12/2002, số 361 nhập xăng, dầu cho công ty, công ty đã thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, số tiền ghi trên hoá đơn số 361 ngày 03/12/2002là 5.000.000đ. Căn cứ hoá đơn trên kế toán ghi sổ nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK152 (gồm VAT).

    Nợ TK152:  5.000.000 đ

    Nợ TK 1331:  500.000 đ

    Có TK 111: 5.500.000 đ

    – Trường hợp nhập kho vật liệu ngày 14/12/2002, theo hoá đơn số 452, công ty trả bằng tiền vay ngắn hạn 53.680.000 đ. Căn cứ vào hoá đơn số 45 kế toán ghi nhật ký chung theo định khoản: (Nhật ký chung và ở sổ TK152)

    Nợ TK152:  48.800.000 đ

    Nợ TK 133:   4.880.000 đ

    Có TK 311: 53.680.000 đ

    – Trường hợp kế toán tạm ứng tiền cho nhân viên tiếp liệu để mua vật liệu- công cụ dụng cụ không được hạch toán vào tài khoản 141 mà kế toán vẫn viết phiếu chi tiền mặt nhưng cho đến khi nào nhập kho vật liệu, công cụ dụng cụ của nhân viên tiếp  liệu mua về sẽ hạch toán như trường hợp công ty mua vật liệu, công cụ dụng cụ thanh toán trực tiếp.

    Trong tháng căn cứ vào hoá đơn của đơn vị bán gửi đến và phiếu nhập kho. Kế toán tiến hành phân loại và sắp xếp theo từng người bán sau đó kế toán ghi vào các cột phù hợp trên sổ chi tiết- TK331 theo các định khoản trên.

    Cuối tháng kế toán tiền hành cộng sổ chi tiết tài khoản 331 theo từng người bán, số liệu ở sổ chi tiết TK331 là cơ sở để ghi vào sổ nhật ký chung tháng 12/2002.

    Số dư cuối tháng (ở sổ chi tiết) bằng số dư đầu tháng cộng với số phải thanh toán trừ đi số đã thanh toán.

    Mẫu số 18

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán”

    Đối tượng: Công ty thép –thái nguyên chi nhánh Hà Nội

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số PS Số dư
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
        Dư đầu kỳ       25.520.000
    538 02/12/02 Nhập vật liệu cho công ty 152,133   115.758.500 141.278.500
    203 10/12/02 Nhập lưới thép cho công ty 152,133   13.440.000 154.718.500
    206 16/12/02 Nhập thép F10 F12 F16       F18 152,133   57.200.000 211.918.500
    NHB 17/12/02 Thanh toán tiền vật tư 112 115.758.500   96.160.000
    210 18/12/02 Nhập thép ống F90 152,133   48.950.000 145.110.000
    300 18/12/02 Thanh toán tiền vật tư 111 13.440.000   131.670.000
    301 18/12/02 Thanh toán tiền vật tư 112 25.000.000   106.670.000
      ……….. ……………   …………… ……….. …………
        Cộng   805.500.000 835.258.560  
        Tồn cuối kỳ       55.278.560

    Người lập                         Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

     

    Mẫu số 19

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán

    Đối tượng: Chị Minh- Công ty Vật Tư số 27 Cầu Giấy- Hà Nội

    Loại vật tư: xi măng

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số PS Số dư
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
        Dư đầu kỳ       26.775.000
    140 03/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   28.050.000 54.825..000
    623 12/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   74.259.900 129.084.900
    452 14/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   53.680.000 182.764.900
    204 16/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   25.725.000 208.489.900
    452 17/12/02 Đồng chí Hùng TT VT 112 74.259.900   134.230.000
        ………………………..   ………..    
        Cộng   448.350.000 476.295.900  
        Tồn cuối kỳ       54.720.900

    Người lập                         Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    1. Đối với NVL, CCDC về nhập kho thuê ngoài gia công chế biến

    Căn cứ vào hợp đồng kinh tế được lập giữa bên A (đại diện công ty) và bên B (xưởng nhập gia công) kèm theo các phiếu nhập kho của đơn vị nhận gia công để bộ phận vật tư viết phiếu nhập kho như đối với trường hợp hàng mua về nhập kho nghiệp vụ này được thể hiện qua hợp đồng kinh tế sau:

    Mẫu số 20

    HỢP ĐỒNG KINH TẾ

    Hôm nay ngày 18/11/2002

    Đại diện bên A:Nguyễn Văn Cam -Đội trưởng –Xí nghiệp xây lắp 1- Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Đại diện bên B: Nguyễn Duy Hà – Xưởng gia công chế biến Đức Bảo – Hà Nội

    Địa chỉ: 48 Đê La Thành

    Hai bên cùng thoả thuận kí kết hợp đồng với những điều khoản sau:

    Nội dung hợp đồng:

    – Phương thứcthanh toán : Tiền mặt

    – Thời gian thựchiện hợp đồng từ ngày 18 tháng 11 năm 2002 đến ngày 20/12/2003

    – Điều 1: Gia công chi tiết vì kèo, chi tiết nối đầu cọc

    – Điều 2: Bảng kê mặt hàng (khối lượng giao nhận thầu)

    Gia công chi tiết vì kèo bằng tôn dày 5mm, hàn kết cấu thành phẩm kích thước 200mmx105mmx100mm. Đơn giá chi tiết 16.500, số lượng 200.

    Thành tiền 200 cái x 16.500đ = 3.300.000đ và gia công chi tiết nối đầu cọc bằng tôn dày 4mm, hàng kết cấu thành kích thước 150mm x 150mm. Đơn giá chi tiết 6000, số lượng 3000 cái. Thành tiền: 3000 cái x 6000 = 18.000.000 (thuế VAT 5%: 1.065.000)

    Vậy giá trị hợp đồng là : 22.365.000đ

    Bằng chữ: Hai mươi hai triệu  ba trăm sáu mươi năm nghìn đồng .

    (Khi kết thúc hợp đồng theo thời hạn bên B viết một hoá đơn kiêm phiếu xuất kho

    Đại diện bên nhận khoán  (Bên B)            Đại diện bên giao khoán( Bên A)

    ( Ký , họ tên)                                                     ( Ký , họ tên)

    Mẫu Số 14                Hoá đơn GTGT                 MS01/GTKT-3LL

    Liên 2: Giao cho khách hàng

    Ngày 20/12/2005

    Đơn vị bán hàng; Xưởng gia công chế biến Đức Bảo – Hà Nội

    Địa chỉ: 48 Đê La Thành                                        Số TK:

    Điện thoại; 7.829.453                                            Mã số: 0101786521

    Họ và tên người mua: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hưng Vượng

    Số TK:

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt                             Mã số: 0100532970

    STT Hàng hoá- dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Vì kèo cái 200 16.500  3.300.000
    2 Chi tiết nối đầu cọc cái 3000 6000 18.000.000
    Cộng :

     

    Thuế VAT 5%, tiền thuế VAT

    Tổng cộng tiền thanh toán

    Số tiền viết bằng chữ: Hai mươi hai triệu ba trămsáu mươi năm nghìn đồng chẵn.

    21.300.000

     

    1.065.000

    22.365.000

    Người mua hàng              Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Khi hàng về nhập kho, người nhận hàng mang hoá đơn đến phòng vật tư viết phiếu nhập. Căn cứ vào hợp đồng kinh tế và phiếu nhập kho số 49 ngày 20/12/2002, kế toán ghi sổ nhật ký chung và sổ cái TK152

    Nợ TK152: 21.300.000 đ

    Nợ TK 133: 1.065.000 đ

    Có TK111 : 22.365.000 đ

    Đối với công cụ dụng cụ, việc thuê ngoài gia công chế biến trong tháng 12/2002 không có, chỉ trong trường hợp mà hợp đồng yêu cầu chi tiết, đơn vị bán vật liệu, công cụ dụng cụ không đáp ứng được yêu cầu thì lúc đố công ty phải tiến hành thuê ngoài biên chế. Việc thuê chế biến này công ty khoán hoàn toàn cho đơn vị gia công vật liệu, công cụ dụng cụ về kho công ty bình thường như mua ngoài. Công ty không xuất vật tư của công ty cho đơn vị gia công mà đơn vị gia công đảm nhận phần việc này.

    1. Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua về nhưng không nhập kho mà đưa thẳng xuống công trình như: đá, sỏi, cát, vôi… Do khối lượng lớn, kho không chứa đủ kế toán căn cứ hoá đơn kiểm phiếu xuất kho của người bán để nhập vào kho vật liệu như đối với trường hợp nhập vật liệu từ nguồn mua ngoài.

    Cuối ngày, xí nghiệp xây lắp  số 1 có yêu cầu về cát đen và cát vàng phục vụ thi công công trình nhà làm việc Bộ Tài Chính. Phòng vật tư viết phiếu xuất kho cát vàng và cát đen, số lượng 200m3. Thành tiền 11.440.000 đồng

    Căn cứ vào hoá đơn 173 ngày 06/12/2002, kế toán ghi nhật ký chung theo định khoản. Mời xem nhật ký chung và ở sổ cái TK152.

    Nợ TK621: 11.440.000 đ

    Có TK 152: 11.440.000 đ

    Các phiếu nhập, xuất được phản ánh trên sổ kế toán giống như các trường hợp nhập kho từ nguồn mua ngoài và xuất kho dùng cho sản xuất.

    2.2.7.2. Kế toán tổng hợp xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ

    Ở công ty cổ phần xây dựng số 4 thăng long vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho chủ yếu sử dụng để xây dựng các công trình, đáp ứng được tiến độ thi công. Bởi vậy kế toán tổng hợp xuất vật liệu, công cụ dụng cụ phải phản ánh kịp thời theo từng xí nghiệp, tới trong công ty, đảm bảo chính xác chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ trong toàn bộ chi phí sản xuất.

    1. Kế toán xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất

    Khi tiến hành xuất vật liệu, công cụ dụng cụ căn cứ vào số lượng vật tư yêu cầu được tính toán theo định mức sử dụng của cán bộ kĩ thuật, phòng vật tư lập phiếu xuất vật tư như sau:

    Mẫu Số 22                     Phiếu xuất kho             Số 138

    Ngày 15/12/2002

    Xuất cho ông: Hoàng Bình

    Để dùng vào việc: Thi công công trình bộ tài chính- Hà Nội

    Lĩnh tại kho: chị  Chuyên                           Đơn vị : đồng

    STT Tên quy cách sản phẩm hàng hoá ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Que hàn kg 10 10 5000 50.000
    2 Máy khoan cái 1 1 1.200.000 1.200.000
    3 Máy hàn cái 1 1 1.000.000 1.000.000
    4 Tôn 8 ly kg 2000 2000 6000 12.000.000
      Cộng         14.250.000

    Cộng thành tiền (Viết bằng chữ): mười bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn.

    Xuất kho ngày 15 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách bộ phận sử dụng     Phụ trách cung tiêu       Người nhận            Thủ kho

    Sau khi  xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ phiếu xuất kho được chuyển cho kế toán giữ và ghi vào sổ nhật kí chung. Căn cứ vào số thực xuất ghi trong phiếu kho và giá bán đơn vị của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng. Căn cứ vào dòng cộng thành tiền trên phiếu xuất kho để ghi sổ nhật ký chung theo chứng từ số 138 ngày 15/12/2002, mời xem nhật ký chung vào ở sổ cái TK 152, TK 153

    Nợ TK 627: 12.050.000 đ

    Có TK 152: 12.050.000 đ

    Cùng với việc ghi sổ nhật ký chung, kế toán ghi sổ chi tiết TK 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” cơ quan công ty.

    – Theo chứng từ xuất kho số 219 ngày 16/12/2002 xuất vật liệu phục vụ thi công công nhà làm việc- Bộ tài chính Hà Nội. Nghiệp vụ được thể hiện trên nhật ký chung và sổ cái TK152 kế toán ghi:

    Nợ TK 621: 44.000.000 đ

    Có TK 152: 44.000.000 đ

    – Theo chứng từ xuất kho số 220 ngày 16/12/2002- xuất xăng, dầu phục vụ cho công tác công trình ở xa trụ sở. Nghiệp vụ được thể hiện trên nhật ký chung ở sổ cái TK 152.

    Nợ TK 621: 5.000.000 đ

    Có TK152: 5.000.000 đ

    – Ngày 17/12/2002 theo chứng từ số 168, xuất Máy đầm cóc, khoan bê tông phục vụ thi công công trình . Thể hiện trên nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK 153.

    Nợ TK 142: 32.000.000 đ

    Có TK 153: 32.000.000 đ

    Phân bổ 50% giá trị công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo chứng từ 221 ngày 18/12/2002 trên nhật ký chung.

    Nợ TK 627(3): 16.000.000 đ

    Có TK 142: 16.000.000 đ

    Giá trị 50% còn lại khi nào báo hỏng mới phân bổ hết.

    – Đối với phiếu xuất kho số 136 ngày 06/12/2002- xuất số công cụ dụng cụ có giá trị nhỏ, tính một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh, xem nhật kí chung và sổ cái TK 153.

    Nợ TK 627: 4.700.000 đ

    Có TK 153: 4.700.000 đ

    1. Trường hợp công ty cho phép các đơn vị mua vật tư bằng tiền tạm ứng để sử dụng tại các đơn vị trực thuộc

    Để phục vụ thi công kịp thời việc thi công các công trình ở xa trụ sở công ty. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long cho phép các đơn vị có nhu cầu tự đi mua vật tư bằng tiền tạm ứng. Có thể các đơn vị thi công ở địa điểm nào thì nhân viên tiếp liệu của từng đơn vị vay tiền tạm ứng đi mua vật tư phục vụ sản xuất. Khi số vật liệu, công cụ dụng cụ mua về nhập kho dựa trên yêu cầu của từng đơn vị do đó số vật liệu, công cụ dụng cụ này được xuất dùng hết trong tháng. Nhân viên kinh tế ở đơn vị trực thuộc lập tờ kê chi tiết về số vật liệu đã mua về và sử dụng theo từng lần nhập.

    – Theo chứng từ số 116 ngày 27/12/2002 trên nhật ký chung của số vật tư   và sử dụng ở đội công trình số 3, số tiền là 342.730.000 đ được thể hiện qua tờ kê chi tiết sau:

    Mẫu số 23

    Tờ kê chi tiết

    Tháng 12/2002

    Đội công trình số 3

    STT Chứng từ Diễn giải Số tiền

     

    ( đồng)

    Ghi chú
    SH Ngày
    1 08 3/12 Đồng chí Mạnh nhập vật tư 58.200.000  
    2 09 5/12 Đồng chí Thoa nhập vật tư 46.500.000  
    3 10 6/12 Đồng chí Loan nhập vật tư 96.000.000  
    4 11 20/12 Đồng chí Thoa nhập vật tư 55.200.000  
    5 12 25/12 Đồng chí Mạnh nhập vật tư 86.830.000  
          Tổng cộng 342.730.000  

    Ngày 27/12/2002

    Kế toán trưởng                                                  Kế toán ghi sổ ký

    Kèm theo tờ kê chi tiết bao gồm các chứng từ:

    – Các phiếu nhập kho số 08, 09, 10, 11, 12 và các hoá đơn hàng kèm theo tổng số tiền ghi trên các phiếu nhập kho là 342.730.000 đ

    Trong tháng tiến hành xuất kho số 21, 22 và các vật tư kèm theo. Tổng số tiền ghi trên các phiếu kho là 342.730.000đ. Căn cứ vào tờ kê chi tiết do các đội công trình số 3 lập và gửi lên phòng kế toán. Phòng kế toán ghi vào nhật ký chung:

    Nợ TK 621: 342.730.000 đ

    Có TK 141:342.730.000 đ

    – Các công trình ở xa, do bộ phận kế toán còn ít nên việc thực hiện chứng từ nhập, xuất còn khó khăn. Thường các công trình ở xa Hà Nội công ty cho phép các đội tạm ứng tiền để mua vật tư theo định mức của phòng kĩ thuật vật tư. Đến cuối tháng các đội mới hoàn tạm ứng để nhập, xuất vật tư. Lúc đó kế toán đã căn cứ vào phiếu nhập kho, phiếu xuất kho của từng công trình để định khoản.

    Nợ TK 621

    Có TK 141

    1. Trường hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ luân chuyển như xuất dùng làm nhà kho nhà tạm

    Đối với công trình phụ phục vụ cho công trình có giá trị lớn, trị giá nguyên vật liệu, xuất dùng được phân bổ hết một lần vào phí nguyên vật liệu còn công cụ dụng cụ xuất dùng được phân bổ hết vào chi phí sản xuất chung.

    Mẫu số 24

    Yêu cầu vật tư

    Ngày 10/12/2002

    Dùng cho công trình: Công trình cầu nổi Bắc Ninh

    STT Tên vật tư Đội nhận Dùng vào việc ĐVT Số lượng
    Yêu cầu T/xuất
      Cọc tre   Dựng nhà tạm cây 45 45
    2 Cót ép   Lợp nhà tạm tấm 23 23
    3 Ổ cắm sứ   Làm nhà tạm cái 5 5
    4 Đèn sợi tóc   Làm nhà tạm chiếc 5 5
    5 Bảng điện   Làm nhà tạm chiếc 3 3
    6 Đui cài   Làm nhà tạm cái 5 5
    7 Dây điện   Làm nhà tạm m 45 45
    8 Bản lề   Làm nhà tạm chiếc 6 6
    9 Khoá cửa   Làm nhà tạm chiếc 2 2

    Người lập                                Kế toán trưởng

    Cùng với yêu cầu vật tư phục vụ thi công công trình chính, phòng kinh kế kế hoạch tiếp thị vật tư viết phiếu xuất kho số 170 ngày 10/12/2002 căn cứ vào chứng từ kế toán phản ánh trên nhật kí chung và ở sổ cái TK  152

    Nợ TK 621: 3.500.000  đ

    Có TK 152: 3.500.000 đ

    Nợ TK 627 : 1.500.000  đ

    Có TK 153 : 1.500.000 đ

    Cuối tháng kế toán tổng hợp tất cả các phiếu xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ cho từng công trình và lập bảng tổng hợp xuất vật tư. Bảng tổng hợp xuất vật tư được lập cho từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ và có chi tiết cho từng công trình.

    Mẫu số 25

    Đơn vị: Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Trích bảng tổng hợp xuất vật tư – công cụ dụng cụ

    Tháng 12/2002                                  Đơn vị : đồng

    Tên vật tư Tên công trình ĐVT Thành tiền
    TK 15 2        1.545.586.000
    – Sắt thép Công trình Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội kg         44.000.000
    – XMHT Công trình Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội kg          33.900.000
    ………………….    
    – XMHT Công trình Nhà Bộ Tài Chính kg           16.800.000
    – Thép F10 Công trình Nhà Công An Hà Nội kg            17.920.000
    …………………..  
    TK 153                25.895.000
    Xẻng Công trình Nhà Nhà Bộ Tài Chính                  240.000
      ……………..  
           

    Người lập                                            Kế toán trưởng

    Để xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho kế toán lập bảng phân bổ vật liệu công cụ dụng cụ nhằm theo dõi số lượng vật liệu xuất dùng cho từng công trình. Cuối tháng, căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ kế toán lập bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ tháng 12 ở công ty như sau:

    Mẫu số 26

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ

    Tháng 12/2002                               Đơn vị : đồng

    STT Đối tượng sử dụng

     

    (Ghi nợ các TK)

    152    (Ghi có tk) 153    (Ghi có tk)
    H. toán Thực tế H. toán Thực tế
    1 TK621   3.645.482.000    
      – Công trình Nhà Bộ tài chính     342.000.000    
      – Công trình Nhà công an HN    183.000.000    
      -Công trình Cầu Nổi Bắc Ninh      320.000.000    
      -Xưởng bê tông1    604.560.000    
      -Xưởng bê tông 2     356.450.000    
      -Cầu Khe lếch lào cai   758.000.000    
      -…………….   ……………    
    2 TK 623      25.346.000    
      – Phụ tùng sửa chữa(Ô Tạo)        5.320.000    
      -Phụ tùng (Ô Sơn)         1.380.000    
      – ………….   ……………    
    3 TK 627   18.362.000      8.560.000
      – Nhà Bộ Tài Chính           4.700.000
      -……………   …………..   ………
    4 TK 642   15.420.000    
      – Xăng xe con   15.420.000    
    5 TK 142       42.520.000
      -Đầm cóc, máy khoan       32.000.000
      – Gỗu, phễu đổ bê tông         1.250.000
      ……………………   ………….   ………….
      Cộng   3.704.610.000   51.080.000

    Sau khi vào bảng phân bổ, kế toán tiến hành định khoản như sau:

    * Nợ TK621:  3.645.482.000

    Có TK152: 3.645.482.000

    * Nợ TK623  : 25.346.000

    Có TK152: 25.346.000

    * Nợ TK627: 18.362.000

    Có TK152: 18.362.000

    * Nợ TK627: 8.560.000

    Có TK153: 8.560.000

    * Nợ TK642: 15.420.000

    Có TK153: 15.420.000

    * Nợ TK142: 42.520.000

    Có TK 153: 42.520.000

    Từ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ, tháng 12/2002 của công ty có thể phản ánh lên Nhật kí chung và sổ cái theo từng công trình, cho công việc kế toán được gọn nhẹ. Nhưng ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long đã áp dụng công tác kế toán trên máy vi tính nên phòng kế toán đã căn cứ từ các chứng từ theo thứ tự thời gian để vào sổ nhật ký chung và sổ cái. Nếu có yêu cầu kiểm tra số vật liệu xuất dùng cho từng công trình thì kế toán kiểm tra trên bảng tổng hợp xuất vật tư và Bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ và đối chiếu vào sổ cái TK 152, TK 153 và các sổ chi tiết liên quan.

    Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc để kế toán ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào nhật kí chung, sau đó ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Sau đây em trích sổ nhật ký chung tháng 12/2002 ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Sau khi vào sổ nhật ký chung, kế toán ghi vào các sổ cái liên quan.

    Mẫu số 27

    Đơn vị: Công ty cổ phần                      (Trích)

    xây dựng số 4 thăng long                NHẬT KÝ CHUNG

    Tháng 12 năm 2002

    Đơn vị: đồng

    Ntgs Chứng từ Diễn giải TK kế toán Số PS GC
    Ngày Số Nợ Nợ
    2/12 02/12 538 Đ/c Hùng mua vật liệu

     

    Thuế VAT là 10%

    Phải trả người bán

    152

     

    133

    331 105.235.000

     

    10.523.500

    115.758.500  
    3/12 03/12 166 Đ/c Hùng nhập vl

     

    Thuế VAT là 10 %

    Phải trả người bán

    152

     

    133

    331 25.500.000

     

    2.550.000

    28.050.000  
    3/12 03/12 361 Nhập xăng dầu

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    152

     

    133

    111 5.000.000

     

    500.000

    5.500.000  
    4/12 04/12 167 Đ/c Hùng nhập vl

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    152

     

    133

    111 16.800.000

     

    1.680.000

    18.480.000  
    5/12 04/12 168 Đ/c Sơn nhập ccdc

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    153

     

    133

    111 32.000.000

     

    3.200.000

    35.200.000  
          ……………. ….   ……….    
    6/12 06/12 136 Xuất ccdc cho ct

     

    Giá trị xuất dùng

    627 153 4.700.000 4.700.000  
    6/12 06/12 137 Xuất VL cho CT

     

    Giá trị xuất dùng

    621 152 33.900.000 33.900.000  
      ………   ……………..     ……………………    
    16/12 16/12 219 Xuất VL cho CT

     

    Giá trị xuất dùng

    621 152 44.000.000 44.000.000  
    17/12 17/12 NHB Ngân hàng báo trả tiền mua VL số 538 331 112 115.758.500 115.758.500  
      …..   ………………..     ………… ……..  
                     

    Ngày 30 tháng 12 năm 2002

    Người giữ sổ                                                                        Kế toán trưởng

    (Ký họ tên)                                                                            (Ký họ tên)

    Mẫu 28

    Đơn vị: Công ty cổ phần XD

    số 4 Thăng long                    Sổ cái tháng 12/2002

    TK 152. Nguyên liệu, vật liệu

    Đơn vị: đồng

    Ng/Ctừ Diễn giải TKĐƯ Số tiền nợ Số tiền có Số dư
      Dư đầu kỳ       78.740.500
    02/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 105.235..000   183.975.500
    03/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331  25.500.000   209.475.500
    03/12 Nhập xăng dầu tháng 12/2002 111  5.000.000   214.475.500
    04/12 Đồng chí Sơn nhập vật tư 331  16.200.000   230.675.500
    06/12 Xuất VTTC Nhà Bộ tài chính 621   33.900.000 196.775.500
    13/12 Xuất VTTC Nhà Bộ Tài Chính 621   44.000.000 152.775.500
    14/12 Đồng chí Sơn nhập vật tư 311 52.000.000   204.775.500
    16/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 62.800.000   267.575.500
    16/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 24.500.000   292.075.500
    17/12 Xuất VT Nhà Bộ Tài Chính 621   16.800.000 275.275.500
    17/12 Xuất VTTC Nhà Bộ Tài Chính 621   15.040.000 260.235.500
    17/12 Nhập vật tư vào kho công ty 331 322.000.000   582.235.500
    18/12 Xuất VTTCĐường Nội Bài -BN 621   128.400.000 453.835.500
    18/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 112 18.800.000   472.635.500
    20/12 Đồng chí Hùng nhập kho Cty 141 32.500.000   505.135.500
    22/12 Xuất VT TC CT Đường đê sông hồng 621   46.600.000 458.535.500
    22/12 Xuất xăng đầu tháng 12/2002 621   5.000.000 453.535.500
    22/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 141 28.800.000   482.335.500
    23/12 Xuất vật tư thi công CT Đường đê sông hồng HN 621   52.050.000 430.285.500
    23/12 Nhập vật tư vào kho công ty 141 32.495.000   462.780.500
    24/12 Xuất VT CT Nhà Bộ Tài Chính 621   32.495.000 430.285.500
    24/12 Xuất vật tư làm nhà tạm 621   3.500.000 426.785.500
    25/12 Xuất VT CT Nhà công an HN 621   11.440.000 415.345.500
    ……………. …………….. ……….
      Cộng phát sinh   3.356.917.540 3.243.586.500  
      Số dư cuối kỳ       113.331.040

    Ngày 30/12/2002

    Người lập                                                                    Kế toán trưởng

    Tương tự như đối với vật liệu, sau khi vào sổ nhật kí chung, kế toán ghi vào sổ cái tài khoản 153 công cụ dụng cụ.

    Mẫu số 29

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long

    Sổ Cái tháng 12/2002

    TK 153- Công cụ dụng cụ

    Ng/C.từ Diễn giải TKĐƯ Số tiền nợ Số tiền có Số dư
      Số dư đầu kỳ       5.140.000
    04/12 Đồng chí Sơn nhập ccdc 111 32.000.000   37.140.000
    05/12 Đồng chí Sơn nhập ccdc 111 3.010.000   40.150.000
    06/12 Xuất ccdc Nhà HN 627   4.700.000 35.450.000
    …….. …………        
    17/12 Phân bổ ccdc 142   32.000.000  
      Cộng phát sinh   52.895.000 45.750.000  
      Số dư cuối kỳ       7.145.000

    Ngày 30/12/2002

    Người lập                                                            Kế toán trưởng

     

    PHẦN THỨ BA

    NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN NVL, CCDC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN  KẾ TOÁN NVL , CCDC Ở CÔNG TY

     

    3.1 NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ  TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4  THĂNG LONG

    Trong suốt quá trình từ khi thành lập công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long luôn có hướng phát triển tốt, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn phức tạp về nhiều mặt nhất là từ khi có cơ chế kinh tế thị trường. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long có những bước tiến rõ rệt về nhiều mặt:

    – Sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    – Đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên ngày một khá.

    – Làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.

    – Không ngừng tăng cường đầu tư vốn vào việc xây dựng cơ sở vật chất và tích cực mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất ngày một hoàn chỉnh hơn (ví dụ như các loại máy thi công, máy móc văn phòng…).

    – Hoàn chỉnh từng bước việc tổ chức sắp xếp lực lượng sản xuất với những mô hình thực sự có hiệu quả theo từng giai đoạn.

    – Đào tạo và lựa chọn đội ngũ cán bộ, công nhân có đủ năng lực và trình độ để đáp ứng mọi yêu cầu sản xuất kinh doanh trong tình hình hiện tại.

    Để công ty đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi nhà quản lý phải quán triệt chất lượng toàn bộ công tác quản lý. Hạch toán kinh tế là bộ phận cấu thành của công cụ quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của  các doanh nghiệp đồng thời cũng là công cụ đắc lực phục vụ cho nhà nước trong quản lý lãnh đạo, chỉ đạo kinh doanh. Từ đó thực hiện đầy đủ chức năng, phản ánh và giám sát mọi hoạt động kinh tế, chính trị – Kế toán phải thực hiện những quy định cụ thể, thống nhất phù hợp với tính toán khách quan và nội dung yêu cầu của một cơ chế quản lý nhất định. Việc nghiên cứu cải tiến vào hoàn thiện công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ ở các doanh nghiệp là một vấn đề hết sức bức thiết đối với công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập thì điều này càng trở nên bức thiết hơn và cần thực hiện đúng các nguyên tắc sau:

    – Thứ nhất: Kế toán vật liệu phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ của hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ do bộ phận chuyên ngành. Trong hạch toán sản xuất kinh doanh, kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ phải đảm bảo cùng một lúc hai chức năng là phản ánh và giám sát qúa trình nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ nhưng phải nhanh chóng kịp thời, cung cấp các thông tin chính xác phục vụ cho quản lý.

    – Thứ hai: Xuất phát từ đặc trưng cụ thể của doanh nghiệp để tổ chức hạch toán vật liệu một cách hữu hiệu khách quan và tiết kiệm, kế toán phải ghi chép hạch toán đúng theo quy định và vận dụng đúng nguyên lý vào đơn vị mình.

    – Thứ ba: Kế toán phải căn cứ vào mô hình chung trong hạch toán, những qui định về ghi chép luân chuyển chứng từ của doanh nghiệp để hoàn thiện các sơ đồ hạch toán, ghi chép kế toán.

    – Thứ tư: Bảo đảm nguyên tắc phục vụ yêu cầu của hạch toán vật liệu theo thể chế và luật lệ mới về kế toán mà nhà nước ban hành.

    3.1.1. Ưu điểm:

    Cùng với sự quan tâm và giúp đỡ thường xuyên của Tổng công ty xây dựng – Thăng Long, trong năm 2002 công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đã phát huy được truyền thống bảo đảm chất lượng tiến độ thi công và giá thành, nên uy tín trong thị trường xây dựng và khách hàng ngày càng phát triển mạnh.

    Mỗi năm một lớn mạnh nâng cao giá trị thực hiện toàn công ty hiện nay lên tới 130.820.632.000 VNĐ. Sang năm 2003 công ty luôn phấn đấu đạt mức 150.845.430.000 VNĐ.

    Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả giúp lãnh đạo công ty trong việc giám sát thi công, quản lý kinh tế, công tác tổ chức sản xuất, tổ chức hạch toán được tiến hành hợp lý, khoa học, phù hợp với điều kiện hiện nay. Phòng kế toán của công ty được bố trí hợp lý, phân công công việc cụ thể, rõ ràng công ty đã có đội ngũ nhân viên kế toán trẻ, có trình độ năng lực, nhiệt tình và trung thực… đã góp phần đắc lực vào công tác hạch toán và quản lý kinh tế của công ty. Phòng kế toán công ty đã sớm áp dụng thử nghiệm chế độ kế toán mới vào công tác kế toán của công ty, công ty đang áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung. Đây là hình thức kế toán mới có ưu điểm là hệ thống sổ sách tương đối gọn nhẹ, việc ghi chép đơn giản. Bộ máy kế toán đã biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo có hiệu quả chế độ kế toán trên máy vi tính theo hình thức nhật ký chung nhằm nâng cao trình độ cơ giới hoá công tác kế toán, phát huy hơn nữa vai trò của kế toán trong tình hình hiện nay. Về cơ bản hệ thống sổ sách kế toán của công ty được lập đẩy đủ theo qui định với ưu điểm là sổ sách được lập đầy đủ và in vào cuối tháng, nếu trong tháng phát hiện ra sai sót thì vẫn có thể sửa chữa dễ dàng. Ngoài ra việc các sổ sách kế toán đều được ghi thường xuyên thuận tiện cho việc đối chiếu, kiểm tra giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp.

    – Về công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ, kế toán công ty đã tổ chức hạch toán vật liệu theo từng công trình, hạng mục công trình, trong từng tháng, từng quí rõ ràng. Một năm công ty hạch toán vào 4 quí, một quý 3 tháng được hạch toán một cách đơn giản, phục vụ tốt yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Về tổ chức kho bảo quản:

    Nhằm đảm bảo không bị hao hụt, công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long hiện có 2 kho bảo quản vật liệu vì theo mỗi công trình là một kho. Như vậy đã giúp cho kế toán thuận tiện hơn trong quá trình hạch toán giúp cho việc kiểm tra quá  trình thu mua, dự trữ và bảo quản, sử dụng dễ dàng hơn.

    – Về hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung:

    Sẽ tạo điều kiện để kiểm tra chỉ đạo nghiệp vụ và đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như công tác kế toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, hình thức này còn thuận tiện trong việc phân công và chuyên môn hoá công việc đối với cán bộ kế toán cũng như việc trang bị các phương tiện, kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin.

    – Việc đánh giá thực tế vật liệu nhập, xuất kho có tác dụng:

    Thông qua giá thực tế của vật liệu biết được chi phí thực tế NVL trong sản xuất, phản ánh đầy đủ chi phí vật liệu, CCDC trong giá thành của sản phẩm, xác định đúng đắn chi phí đầu vào, biết được tình hình thực hiện định mức tiêu hao vật liệu, CCDC. Thông qua đó biết được hao phí lao động quá khứ trong giá thành của sản phẩm.

    3.1.2. Hạn chế:

    Việc tổ chức công tác kế toán nói chung và kế toán vật liệu nói riêng tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long còn có một số hạn chế cần được khắc phục:

    – Việc tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ là rất cần thiết, nhưng do yêu cầu thị trường hiện nay, mỗi công trình được công ty xây dựng là phải đảm bảo chất lượng, tiến độ thi công nhanh, hạ giá thành, từng công trình hoàn thành bàn giao có giá trị lớn, nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lúc đó một kế toán và một thủ kho kiêm thủ quỹ là số ít. Có thể trong cùng thời gian một đội, xí nghiệp thi công từ 1 đến 2 công trình, địa bàn nằm ở khác nhau. Do vậy việc bố trí gọn nhẹ này làm cho công tác kế toán vật liệu, CCDC ở các đội, xí nghiệp thi công nhiều công trình là thiếu chính xác, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý sản xuất nói chung và hạch toán chi phí vật liệu, CCDC nói riêng, vấn đề này phòng kế toán công ty và giám đốc cần sớm quan tâm giải quyết sao cho hài hoà đảm bảo đúng quy định về tổ chức công tác kế toán.

    – Việc phân loại  NVL, CCDC ở công ty không tiến hành. Hiện nay, công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên số lượng vật liệu, CCDC hạch toán được  ký hiệu bởi từng mã vật tư khác nhau và công ty chưa lập sổ danh điểm vật liệu, CCDC.

    -Việc tổ chức kho ở tại các công trình chưa khoa học, chưa kiên cố do vậy việc đảm bảo vật tư không tốt , vật tư còn sắp xếp lẫn lộn sẽ gây khó khăn cho việc xuất – nhập vật tư tốn nhiều thời gian .

    – Mặc dù có nhiều ưu điểm song hệ thống của công ty hiện nay vẫn còn có điểm cần xem xét. Về mẫu sổ chi tiết thanh toán với người bán, sổ cái công ty đang sử dụng để hạch toán hiện nay cũng có một số sửa đổi so với qui định của bộ tài chính. .

    3.2. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG:

    Qua thời gian thực tập ở công ty, trên cơ sở lý luận đã được học kết hợp vơí thực tế, em xin đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện và sửa đổi công tác kế toán vật liêụ ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Ý kiến thứ nhất: Việc quản lý vật tư hiện nay ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là tương đối chặt chẽ và đảm bảo nguyên tắc nhập xuất vật liệu, tuy nhiên qua thực tế ở các đội, ta nhận thấy quản lý còn một vài thiếu sót, gây lãng phí vật tư nhất là các loại vật tư mua được chuyển thẳng tới chân công trình như: cát, sỏi, vôi đá… để thuận tiện cho việc xuất dùng sử dụng. Chỗ để vật liệu thường xuyên chuyển đổi, việc giao nhận các loại vật tư này thường không được cân đong đo đếm kỹ lưỡng, nên dẫn đến thất thoát một lượng vật tư tương đối lớn. Vì vậy ở công trường cần chuẩn bị đủ nhà kho để chứa vật liệu, chuẩn bị chỗ để vật tư dễ bảo vệ thuận tiện cho quá trình thi công, xây dựng công trình và việc đong đếm cũng phải tiến hành chặt chẽ hơn làm giảm bớt việc thất thoát một cách vô ý không ai chịu trách nhiệm. Trong công tác thu mua vật liệu, các đội ký hợp đồng mua tại chân công trình, đây cũng là một mặt tốt giảm bớt lượng công việc của cán bộ làm công tác tiếp liệu, tuy nhiên về giá cả có thể không thống nhất, cần phải được tham khảo kỹ, cố gắng khai thác các nguồn cung cấp có giá hợp lý, chất lượng, khối lượng đảm bảo và chọn các nhà cung cấp có khả năng dồi dào, cung  cấp vật tư, vật liệu cho đội, xí nghiệp với thời hạn thanh toán sau. Đảm bảo cho việc thi công xây dựng công trình không bị gián đoạn do thiếu vật tư. Đồng thời với các công tác trên, phòng kế toán công ty tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra giám sát tới từng công trình về việc dự toán thi công, lập kế hoạch mua sắm, dự trữ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, kiểm tra sổ sách, kiểm tra các báo cáo kế toán NVL, CCDC tránh trường hợp vật tư nhập kho lại không đủ chứng từ gốc.

    – Ý Kiến thứ hai:

    Qua theo dõi chứng từ ban đầu ở các đội việc sử lý để chuyển nên phòng kế toán trung tâm còn chậm do đó phải có biện pháp quy định về mặt thời gian luân chuyển chứng từ ban đầu để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời .Phòng kế toán nên quy thời gian từ 10 đến 15 ngày tuỳ theo điều kiện mà nhân viên kinh tế đội phải chuyển chứng từ ban đầu cho phòng kế toán.

    – Trong trường hợp : Xuất quỹ tiền mặt tạm ứng cho các đội để mua nguyên vật liệu thì kế toán cần phải thực hiện ghi chép kịp thời

    Nợ TK 141

    Có TK 111, 112

    Vì nếu trường hợp sang tháng vật tư mới về thì số tiền đã tạm ứng không được theo dõi trên TK nào . Trong báo cáo kế toán sẽ giảm đi một lượng tiền mà không rõ nguyên nhân do vậy phải ghi chép ngay.

    – Ý kiến thứ ba.

    Hiện công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên số lượng VL, CCDC được ký hiệu bởi từng mã vật tư khác nhau.

    Do vậy kiến nghị công ty nên lập sổ danh điểm VL theo mẫu sau.

    Mẫu Số :30

    SỔ DANH ĐIỂM VẬT LIỆU

    Loaị : Nguyên vật liệu chính : 152.1        Đơn vị : đồng

    TT Danh điểm Tên vật tư Đơn vị tính Đơn giá Ghi chú
    Nhóm Danh điểm
    1 152.1.01 152.1.01.1

     

    152.1.01.2

    ……………

    NVL ở kho A

     

    Thép F10

    Thép F12

    ……………..

    kg

     

    kg

    5.020

     

    5.120

     
    2 152.1.02 152.1.02.1 NVL ở kho B

     

    Xi măng

    Lô 300

    Lô 400

    kg 740

     

    760

     
      ………… ………… ……………   ……….  

     

    – Ý kiến thứ tư:

    – Về “sổ chi tiết thanh toán với người bán” mà công ty đã phản ánh chưa được rõ ràng và chuẩn xác. Mẫu số 18 (trang 69) sẽ đổi thành Mẫu số 31.

    Mẫu số 30

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12 năm 2002

    TK 331 “ Phải trả người bán

    Đối tượng : Công ty thép thái nguyên – chi nhánh Hà Nội            Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải TK đư Số PS Số dư
    Sh NT Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ         25.520.000
    538 02/12 Mua vl cho Công ty

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      105.235.000

     

    10.523.500

      141.278.500
    203 10/12 Nhập lưới thép

     

    Thuế VAT là 5%

    152

     

    133

       12.800.000

     

    640.000

      154.718.500
    206 16/12 Nhập thép F10, 16, 18

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

       52.000.000

     

    5.200.000

      211.918.500
    NHB 17/12 Thanh toán VL mua số

     

    538 ngày 02/12

    112 115.758.500     96.160.000
    210 18/12 Nhập ống thép F 90

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

        44.500.000

     

    4.450.000

      145.110.000
    300 18/12 Thanh toán tiền VL 111 13.440.000     131.670.000
    301 18/12 Thanh toán tiền VT 112 25.000.000     106.670.000
      ….. …………..   …… ……..   ………..
        Cộng   805.500.000 835.258.560    
                  55.278.560

     

    Mẫu số 19 (trang 70) thay bằng Mẫu số 32

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán

    Đối tượng: Chị Minh- Công ty Vật Tư số 27 Cầu Giấy- Hà Nội

    Loại vật tư: Xi măng

    Chứng từ Diễn giải TK đư Số PS Số dư
    SH NT Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ         26.775.000
    140 03/12 Đ/c Hùng nhập VT

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      25.500.000

     

    2.550.000

      54.825.000
    623 12/12 Đ/c Hùng nhập VT

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      67.509.000

     

    6.750.900

      129.084.900
    452 14/12 Nhập Vật tư

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      48.800.000

     

    4.880.000

      182.764.900
    204 16/12 Nhập vật tư

     

    Thuế VAT là 5%

    152

     

    133

      24.500.000

     

    1.225.000

      208.489.900
    452 17/12 Thanh toán tiền VL 311 74.259.900     134.230.000
        ………….   …… …….   ……
        Cộng   448.350.000 476.295.900    
        Tồn cuối kỳ         54.720.900

    -Ý kiến thứ năm:

    Đối với công cụ dụng cụ: Máy đầm, máy khoan v.v… do thời gian sử dụng lâu và giá trị lớn do vậy công ty cần phân bổ vào TK 242.

    TK153                                       TK 242                                    TK627

     

    KẾT LUẬN

    Để kế toán phát huy được vai trò của mình trong quản lý kinh tế thông qua việc phản ánh và giám sát một cách chặt chẽ, toàn diện tài sản và nguồn vốn của công ty ở mọi khâu trong quá trình sản xuất nhằm cung cấp các thông tin chính xác và hợp lý phục vụ cho việc lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh, thì việc hoàn thiện công tác kế toán vật liệu, CCDC của công ty là một tất yếu. Nhất là trong việc chuyển đổi môi trường kinh tế, việc tổ chức kế toán vật liệu đòi hỏi còn phải nhanh chóng kiện toàn để cung cấp kịp thời đồng bộ những vật liệu cần thiết cho sản xuất, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các định mức dự trữ ngăn ngừa hiện tượng hao hụt, mất mát  lãng phí vật liệu.

    Trên góc độ người cán bộ kế toán em cho rằng cần phải nhận thức đầy đủ  cả về lý luận lẫn thực tiễn. Mặc dù có thể vận dụng lý luận vào thực tiễn dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đảm bảo phù hợp về nội dung và mục đích của công tác kế toán.

    Do thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế không dài, trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Viện Đại Học Mở Hà Nội.

    Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đào Bá Thụ và các cán bộ kế toán công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.

    Hà Nội, tháng 7 năm 2003

                                                                                         Sinh viên

                                                                                    Bùi Công Kha

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo Trình Kế Toán Tài Chính .
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội, Xuất Bản 1999.
    • Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán Hà Nội, Xuất Bản 1999.
    1. Giáo Trình Kế Toán Quản Trị.
    • Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Xuất Bản 2000.
    1. Giáo Trình Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội,Nhà Xuất Bản Thống Kê: 6-2000
    1. Hệ Thống Tài Khoản Kế Toán Doanh Nghiệp
    • Nhà Xuất Bản Tài Chính Hà Nội Năm 2000.

     5.Tạp Chí Kế Toán Các Số Năm 2003.

    1. Một Số Chuyên Đề Tốt Nghiệp Khoá Trước Của:
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội.
    • Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán.
    1. Báo cáo hoạt động của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long tháng 12 năm 2002
    2. Thông tư hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết định 149/QĐ- BTC. Về việc thực hiện các chuẩn mực kế toán mới .

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-v%C3%A0-x%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Ng%E1%BB%8Dc-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Lời mở đầu

    Trong cơ chế mới, với sự hoạt động của nhiều thành phần kinh tế tính độc lập, tự chủ trong các doanh nghiệp ngày càng cao hơn mỗi doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong kinh  doanh, phải chịu trách nhiệm trước kết quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn kinh doanh và quan trọng hơn là kinh doanh có lãi. Muốn như vậy các doanh nghiệp phải nhận thức được vị trí khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá vì nó quyết định đến kết quả kinh doanh của kinh doanh nghiệp và là cơ sở để doanh nghiệp có thu nhập bù đắp chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà Nước.

    Bên cạnh đó, múc đích hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận nên việc xác định đứng đắn KQKD nói chung về kết quả bán hàng nói riêng là rất quan trọng. Do vậy bên cạnh các biện pháp quản lý chung, việc tổ chức hợp lý công tác kế toán bán háng là rất cần thiết giúp doanh nghiệp có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để đưa ra quyết định kinh doanh đứng đắn.

    Doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao là cơ sở doanh nghiệp có thể tồn tại và  phát triển ngày càng vững chắc trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động và quyết liệt.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng vận dụng lý luận đã được học tập tại trường kết hợp với thực tế thu nhận được từ công tác kế toán tại công ty cổ phần Ngọc Anh, ”em đã chọn đề tài” Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng” để nghiên cứu và viết chuyên đề của mình.

    Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:

    Chương I: Các vấn đề chung về kế toán bán hàng.

    Chương II: Thực tế công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

    Chương III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Em xin chân thành cảm ơn:

    Chương I:

    Các vấn đề chung.

    1.1. Khái niệm về thành phẩm, bán hàng và ý nghĩa của công tác bán hàng.

    1.1.1. Khái niệm thành phẩm.

    Trong DNSXCN: Thành phẩm những sản phẩm đã kết thúc toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất do doanh nghiệp tiến hành hoặc thuêu ngoài gia công tác chế biến và đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định và đã nhập cho kho thành phẩm.

    * Phân biệt giữa thành phẩm và sản phẩm .

    – Xét về mặt giới hạn.

    + Thành phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất và gắn với một quy trình công nghệ sản xuất nhất định trong phạm vi một doanh nghiệp .

    + Sản phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất cung cấp dịch vụ.

    – Xét về mặt phạm vi.

    + Thành phẩm duy nhất chỉ là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất .

    + Sản phẩm: Bao gồm thành phẩm và nửa thành phẩm. Thành phần là bộ phận chủ yếu của hàng hoá trong doanh nghiệp sản xuất .Hàng hoá trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm: Thành phẩm, nửa thành phẩm, vật tư và dịch vụ cung cấp và khách hàng.

    1.1.2. Khái niệm về bán hàng và bản chất của quá trình bán hàng.

    Bán hàng là quá trinh sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán sản phẩm mua vào.

    Cung cấp dịch vụ và thực hiện công việc đã thoả mãn thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoạc nhiều kỳ như: Cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuêu hoạt động.

    Quá trình bán hàng là quá trình hoạt động kinh tế bao gôm 2 mặt:

    Doanh nghiệp đem bán sản phẩm , hàng hoá cung cấp dịch vụ đồng thời đã thu được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua. Quá trình bán hàng thực chất là quá trình trao đổi quyền sở hữu giữa người bán và người mua trên thị trường hoạt động.

    Thị trường hoạt động là thị trường thoả mãn đông thời 3 điều kiện.

    1. Các sản phẩm được bán trên thị trường có tính tương đồng.
    2. Người mua và người bán có thể tìm thấy nhau bất kỳ lúc nào.
    3. Gía cả được công khai.

    Khi tiến hành giao dịch giữa doanh nghiệp với bên ngoài hoạc bên sử dụng tài sản doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý đó là giá trị tài sản có thể trao đổi hoạc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá trên thị trường hoạt động.

    Hành háo cung cấp nhằm để thoả mãn nhu cầu của các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân bên ngoài Công ty, Tổng công ty hoạc tập đoàn sản xuất gọi là bán cho bên ngoài. Trong trường hợp hàng hoá cung cấp giữa các đơn vị trong cùng một công ty, Tổng công ty, tập đoàn… được gọi là bán hàng nội bộ.

    Công tác bán hàng có ý nghĩa hết sức to lớn. Nó là giai đoạn tái sản xuất . Doanh nghiệp khi thực hiện tốt công tác bán hàng sẽ tạo điều kiện thu hồi vốn, bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế, đầu tư phát triển tiếp, nâng cao đời sống của ngừơi lao động.

    1.2. Các phương pháp xác định giá gốc thành phẩm.

    1.2.1. Nguyên tắc ghi sổ kế toán thành phẩm.

    Gía trị thành phẩm theo nguyên tắc phải được ghi nhận theo giá gốc( trị giá thực tế) trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì giá trị thành phẩm phải phán ánh theo giá trị thuần theo giá trị có thực hiện được.

    Trong thực tế, doanh nghiệp thường sản xuất nhiều mặt hàng và hoạt động nhập xuất thành phẩm trong doanh nghiệp luôn có biến động lớn do nhiều nguyên nhân, để phục vụ cho việc hoạch toán hàng ngày kịp thời, kế toán thành phẩm còn có thể sử dụng giá hoạch toán để ghi chép và phiếu nhập, phiếu xuất và ghi sổ kế toán ghi tiếp thành phẩm.

    1.2.2. Giá gốc thành phẩm nhập kho.

    – Giá gốc thành phẩm nhập kho được xác định theo từng trường hợp nhập.

    + Thành phẩm do các bộ phận sản xuất chính và sản xuất của doanh nghiệp sản xuất ra phải được ghi nhận theo giá thành sản xuất thực tế bao gồm.  Chi phí nguyên liệu, vật liệu, trực tiếp, chi  phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung để sản xuất thành phẩm.

    + Thành phẩm thuê ngoài gia công để chế biến được ghi nhận theo giá thành thực tế gia công chế biến bao gồm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Chi phí thuê gia công. Chi phí vận chuyển bôc giỡ khi giao, nhận công nhân.

    1.2.3. Giá gốc thành phẩm xuất kho:

    Phải tuân thủ nguyên tắc tính theo giá gốc, nhưng do thành phẩm nhập từ các nguồn nhập và là hoạt động trong quá khứ của các kỳ kế toán khác nhau. Do đó có thể xác định giá gốc của thành phẩm xuất kho, kế toán có thể sử dụng một trong những phương pháp tính giá hàng tồn kho sau.

    + Phương pháp tính theo giá đích danh ( giá thực tế của từng lô nhập)

    + Phương pháp bình quân gia quyền ( sau mỗi lần nhập hoặc cuối kỳ)

    + Phương pháp nhập trước” xuất sau ( Fi Fo )

    + Phương pháp nhập sau, xuất trước( Li Fo)

    1.3. Khái niệm doanh thu bán hàng, các khoản dảm ngoài trừ doanh thu bán hàng, nguyên tắc xác định doanh thu bán hàng và kết quả bán hàng.

    1.3.1. Khái niệm doanh thu và điều kiện thu nhận doanh thu.

    – Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thương của doanh nghiệp , góp phần vốn chủ sở hữu.

    Doanh thu trong doanh nghiệp bao gồm: Tổng giá trị cao có lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoạc sẽ thu được như: Doanh thu bán hàng: doanh thu cung cấp dịch vụ: doanh thu hoạt động tài chính, tiền lãi, bản quyền, tổ chức và lợi nhuận được chia.

    + Doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bô số tiền thu được thu được tri các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm , hàng hoá , cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ cả phí thu thêm ngoài giá bán ( nếu có)

    Doanh thu bán hàng được thu ghi nhận khi thoả mãn 5 điều kiện sau:

    1. Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoạc bán hàng cho người mua.
    2. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoạc kiểm soát hàng hoá .
    3. Doanh thu được xác định tương đối chắc chán.
    4. Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
    5. Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

    Doanh thu bán hàng bao gồm: Doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ.

    1.2.3. Khái niệm các khoản trừ doanh thu:

    Các khoản trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm:

    – Chiết khấu thương mại:là các khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm iết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

    – Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là bán hàng hoàn thành bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

    – Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho khách hàng do khách hàng hoá kém phẳm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

    – Chiết khấu thanh toán.

    – Các loại thuế có tính vào giá bán: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng…

    1.4. Các phương thức bán và các phương thức thanh toán.

    1.4.1. Các phương thức bán hàng.

    1.41.1. Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trực tiếp:

    Bán hàng trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho( hoặc trực tiếp tại phân xưởng không qua kho) của doanh nghiệp.Khi giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua, doanh nghiệp đã nhận được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua, giá trị của hàng hoá đã hoàn thành, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã được ghi nhận.

    1.4.1.2. kế toán bán hàng theo phương thức gửu hàng đi cho khách hàng.

    Phương thức gửu hàng đi là phương thức bên bán gửu hàng đi cho khách hàng theo các điều kiện của hợp đồng kinh tế đã ký kết. Số hàng gửu đi vẫn thuộc quyền kiểm soát của bên bán, khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì lợi ích và rủi ro được chuyển giao toàn bộ cho người mua, giá trị hàng hoá đã được thực hiện và là thời điểm bên bán được ghi nhận được ghi nhận doanh thu bán hàng.

    1.4.1.3. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng.

    Phương thức bán hàng gửi đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hông là đúng phương thức bên giao đại lý, ký gửi bên ( bên đại lý) để bán hàng cho doanh nghiệp.Bên nhận đại lý, ký gửi người bán hàng theo đúng giá đã quy định và được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng.

    Theo luật thuế GTGT, nếu bên đại lý bán theo đúng giá quy định của bên giao đại lý thì toàn bộ thuế GTGT đầu ra cho bên giao đại lý phải tính nộp NSNN, bên nhận đại lý không phải nộp thúê GTGT trên phần hoa hồng được hưởng.

    1.41.4. kế toán bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp.

    Bán hàng theo trả chậm, trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần, người mua thanh tóan lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại, người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu mặt tỷ lệ lãi xuất nhất định. Xét về bản chất, hàng bán trả chậm trả góp vẫn được quyền sở hữu của đơn vị bán, nhưng quyền kiểm soát tái sản và lợi ích kinh tế sẽ thu được của tài sản đã được chuyển giao cho người mua. Vì vậy, doanh nghiệp thu nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm, phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.

    1.4.1.5.Kế toán bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng.

    Phương thức hàng đổi hàng là phương thức bán hàng doanh nghiệp đem sản phẩm , vật tư, hàng hoá để đổi lấy hàng hoá khác không tương tự giá trao đổi là giá hiện hành của hàng hoá , vật tư tương ứng trên thị trường.

    1.4.2. Phương thức thanh toán:

    1.4.2.1. Thanh toán bằng tiền mặt:

    1.5. Nhiệm vụ của kế toán thành phẩm, bán hàng và xác định kết qủa kinh doanh.

    Để phục vụ quản lý chặt chẽ thành phẩm, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác, tiến hành phân phối kết quả kinh doanh đảm bảo các lợi ích kinh tế, kế toán cần hoàn thành các nhiệm vụ sau:

    – Tổ chức theo dõi phản ánh chính xác, đầy đủ kịp thời và giám sát chặt chẽ về tình hình hiện có sự biến động của loại thành phẩm hàng hoá về các mặt số lượng, quy cách chất lượng và giá trị.

    – Theo dõi, phản ánh, kiểm soát chặt chẽ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Ghi nhận đầy đủ kịp thời vào các khoản chi phí thu nhập của từng địa điểm kinh doanh , từng mặt hàng, từng hoạt động.

    – Xác định kết quả từng hoạt động trong doanh nghiệp , phản ánh và kiểm tra, giám sát tình hình quân phối kết quả kinh doanh đôn đốc, kiểm tra tình hình  thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

    – Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin liên quan. Định kỳ, tiến hành quân tích kinh tế hoạt động bán hàng, kết quả kinh doanh và tình hình phân phối lợi nhuận.

    1.6. Chứng từ kế toán và các phương pháp kế toán thành phẩm.

    1.6.1. Chứng từ kế toán:

    Mọi chứng từ làm biến động thành phẩm đều phải được ghi chép, phản ánh vào chứng từ ban đầu phù hợp vào theo đúng những nội dung và phương pháp ghi chép chứng từ kế toán đã quy định theo chế độ.

    Các chứng từ kế toán chủ yếu gồm:

    – Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01- VT )

    – Hoá  đơn GTGT ( Mẫu số 01- GTVT ) Hoá đơn bán hàng.

    1.6.2. Các phương pháp kế toán:

    Kế toán chi tiết thành phẩm được thực hiện tại phòng kế toán phương pháp kế toán chi tiết được áp dụng có thể là một trong ba phương pháp kế toán chi tiết sau:

    1. Phương pháp thẻ song song:

    – Nguyên tắc:

    + ở kho: Thủ kho mở thẻ kho cho từng thứ, từng loại vật liệu để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ về mặt số lượng và tính ra số tồn kho.

    + ở kế tóan: Kế tóan cũng mở một thẻ tương ứng và một sổ chi tiết để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho cả về mặt lượng và giá trị.

    Sơ đồ:

     
       

    – Ưu đỉêm- Nhược điểm:

    + Ưu điểm: Đơn giản, dễ ghi chép, dễ dối chiếu, kiểm tra.

    + Nhược điểm: Còn ghi chéo trùng lập nhau về mặt số lượng.

    – Điều kiện áp dụng: Chỉ áp dụng có những doanh nghiệp có chủng loại vật tư  ít, nhập xuất không thường xuyên, trình độ kế toán không cao.

    1. Phương pháp đối chiếu luân chuyển.

    Kế toán không mở thẻ kế toán chi tiết vật liệu mà sở đối chiếu luân chuyển để hoạch toán số lượng và số tiền của từng loại vật tư theo từng kho. Sổ này ghi theo mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất phát sinh trong tháng mỗi thứ chỉ ghi một dòng trong sổ.

    Cuối tháng đối chiếu số lượng vật tư trên sổ đối chiếu số luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp.

      (2)

    Sơ đồ:

     
       
    1. Phương pháp sơ đồ dư:

    Sơ đồ:

     
       

    Chú thích:

    1.7. Kế toán tổng hợp thành phẩm:

    1.7.1. Tài khỏan kế toán sử dụng: ”TK 155 thành  phẩm”

    TK 155” Thành phẩm” sử dụng để phản ánh giá gốc thành phẩm hiện có và tình hình biến động trong kho của doanh nghiệp .

    Kết cấu và nôi dung phản ánh của TK 155 thành phẩm.

    TK 155- thành phẩm.

           
     
    – Giá trị của thực tế của phát triển xuất

     

    – Trị giá của phát triển phát hiện thừa

    khi kiểm kê.

    Kết chuyển giá trị thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ( phương pháp KKĐK)

    D ck: Giá trị thực tế thành  phẩm tồn kho

     
    –  Giá trị thực tế thành phẩm

     

    – Trị giá của thành phẩm thiếu hụt

    phát hiên khi kiểm kê kết chuyển kiểm kê kết chuyển giá trị thực tế của thành phẩm kho cuối kỳ ( phương pháp KKĐK)

     
     
       

    1.7.2. Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.

    * Trường hợp kế tóan hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:

    1. Giá thành sản xuất thực tế thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công, chế biến nhập kho.

    Nợ TK 155: Thành phẩm.

    Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.

    1. Trị giá thực tế thành phẩm xuất kho.

    2.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho.

    2.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho bán trực tiếp.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.2. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho để bán theo phương thức chuyển hàng đi cho khách hàng hoặc gửi đi cơ sở nhận bán hàng đại lý,ký gửi.

    Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.3. Trị gián vốn thực tế thành phẩm xuất kho đổi lấy vật tư hàng hoá của đơn vị khác( hàng đổi hàng không tương tự)

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.4. Trị giá vốn thực tế thành  phẩm xuất kho để biếu tặng thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho các cán bộ CNV.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    3. Trị giá vốn thực tế thành phẩm nhập kho khách hàng trả lại hàng gửi đại lý, ký gửi bán hàng không được.

    Nợ TK 155: Thành.

    Có TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Có TK 632: Giá vốn hàng bán.

    4. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho góp vốn liên doanh.

    Trường hợp giá ghi sổ kế toán lớn hơn giá trị vốn góp do hội đồng liên doanh đánh giá lại.

    Nợ Tk 128: Giá trị góp vốn LD ngắn hạn.

    Nợ Tk 222: Giá trị góp vốn LD dài hạn.

    Có TK 155: Giá thành thực tế sản phẩm.

    Có Tk 412: Chênh lệch đánh giá lại TS – chênh lệch đánh giá tăng.

    Trường hợp giá ghi sổ kế toán lớn hơn giá trị góp vốn thì số chênh lệch được phản ánh vào bên Nợ TK 412- CLĐGLTS.

    5. Trường hợp đánh giá lại thành phẩm trong kho.

    5.1: Điều chỉnh trị giá vốn thực tế của thành phẩm đánh giá tăng.

    Nợ TK 155: Thành phẩm.

    Có TK 157: Chênh lệch đánh giá lại tài sản.

    5.2. Điều chỉnh trị giá vốn thực tế của thành phẩm do đánh giá giảm.

    Nợ TK 412: Chênh lệch đánh giá lại sản phẩm

    Có TK155 : Thành phẩm.

     6. Trị giá vốn thực tế thành phẩm do đánh giá giảm.

    6.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm phát hiện thừa khi kiểm.

    Trường hợp đã xác định được nguyên nhân và xử lý.

    Nợ TK 111,334,1388: Thu bồi thường, tổ thức, cá nhân.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán ( số chênh lệch)

    Có TK 155: Thành phẩm( Trị giá vốn thành phẩm thiếu)

    Trường hợp chưa xác định nguyên nhân.

    Nợ TK 1381: Tài sản thiếu chờ xử lý.

    Có TK 155: Thành phẩm( Trị giá vốn thành phẩm thiếu)

    Sơ đồ kế toán tổng hợp thành phẩm theo ĐKKTX

     
       

    1.8. Kế toán tổng hợp quá trình bán hàng theo các phương thức bán.

    1.8.1. Các tài khoản sự dụng.

    1. TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Dùng thẻ phản ánh giá trị sản phẩm, hàng hoá đã gửi hoặc chuyển đến cho khách hàng, gửi bán đại lý, ký gửi, trị giá lao vụ, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 157- hàng gửi đi bán.

     
       
    1. TK 632- Giá vốn hàng bán.

    Dùng để phản ánh giá vốn thực tế của hàng hoá , thành phẩm, dịch vụ đã cung cấp, giá thành sản xuất của xây lắp ( đối với doanh nghiệp xây lắp ) đã bán trong kỳ. Ngoài ra còn phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí xây dựng cơ bản dơ dang vượt trên mức bình thường, số trích lập hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 632- GVHB.

    TK này có thẻ có số  dư bên có: Phản ánh sô tiền nhận trước hoặc số tiền dư đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng, khi nhập bảng cân đối kế toán phải lấy số dư chi tiếp của từng đối tượng TK này để ghi của 2 chỉ tiêu bên” Tài sản” và bên nguồn vốn.

     
       

    TK 632- Giá vốn hàng bán không có số dư

    3.TK 511- Doanh thu bán hàng và cung câp dịch vụ một kỳ kế toán từ các giao dịch và các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

    Nội dung và kết cấu phản ánh

     
       

    TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp kịch vụ cuối kỳ không có số dư.

    1. TK 512- Doanh thu nội bộ.

    Dùng để phản ánh của số sản phẩm , hàng hoá dịch vụ bán trong nội bộ các doanh nghiệp .

    – Doanh thu bán nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ hạch tóan.
    Số thuế tiêu thụ đặc biệt xuất GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp của hàng bán nội bộ.

     

    Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, kết chuyển cuối kỳ. Trị giá hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần hoạt động bán hàng vao cung cấp dịch vụ vào TK 911- XĐKQKD.

    TK 512 – Doanh thu nội bộ

    Kết cấu và nội dung phản ánh TK 512- Doanh thu nội bộ.

    TK 152- Doanh thu nội bộ không có số dư.

    1. TK 531- Hàng bán bị trả lại.

    Dùng để phản ánh doanh thu của một số hàng hoá , thành phẩm lao vụ, dịch vụ bán nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Do vi phạm cam kết, vi phạm hợp động kinh tế , hàng bị mất hoặc kém phẩm chất, sai quy tắc, không đúng chủng loại.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 531- Hàng bán bị trả lại.

     
       

    TK 531- Hàng bán bị trả lại có số dư.

    1. TK 532- Giám đốc hàng hóa.’

    Dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán trực tiếp phát sinh trong kỳ kế toán.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 532- Giám đốc hàng hóa.

     
       

    TK 532- Giảm giá hàng bán không có dư

    1.8.2. Kế toán bán hàng theo các phương pháp bán hàng chủ yếu.

    1.8.12.2. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi hàng đi bán gửi đại lý, ký gửi

    1.8.2.2.2. Kế toán bán hàng giao đại lý

    * Kế toán bán hàng bên nhận đại lý

     
       
     
       

    1.8.2.3. Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trả chậm, trả góp.

    1.9. Kế toán xác định kết quả bán hàng:

    1.9.1. Kế toán chi phí bán hàng:

    1.9.1.1. Khái niệm và nội dung của chi phí bán hàng.

    * Khái niệm: Chi phí bán hàng là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bảo quản và tiến hành hoạt động bán hàng bao gồm: Chi phí chào hàng, chi phí bảo hành sản phẩm hàng hoá hoặc công trình xây dựng đóng gói  vận chuyển.

    * Nội dung : chi  phí bán hàng được quản lý và hạch tóan theo yếu tố chi phí.

    – Chi phí nhân viên( TK 6411): Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên đóng gói, bảo quân vận chuyển sản phẩm hàng hoá …bao gồm: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp tiền ăn giữa ca, các khỏan trích KPCĐ, BHXH, BHYT.

    – Chi  phí vật liệu bao bì( TK 6412) Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bị xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá , chi phí vật liệu, nguyên liệu dùng cho bảo quản bôc vác vận chuyển, sản phẩm hàng hoá  trong quá trình bán hàng vật liệu dùng ch sữa chữa bảo quảnTCCĐ…của DOANH NGHIệP.

    – Chi phí dụng cụ, đồ dùng( TK 6413): Phản ánh các chi phí về công cụ phục vụ cho hoạt động bán sản phẩm , hàng hoá : Dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc…

    – Chi phi khấu hao TSCĐ ( TK 6414): Phản ánh các chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng như: Nhà kho, cửa hàng, phương tiện bôc dỡ vận chuyển, phương tiện tính toán đo lường, kiểm nghiệm chất lượng.

    – Chi phí bảo hành ( TK 6415): Phản ánh các khỏan chi phí liên quan đến bảo hành sản phẩm hàng hoá , công trình xây dựng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài ( TK 6417): Phản ánh các chi phí mua ngoài phục vụ cho hoạt động bán hàng: Chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển, hoa hồng cho đaị lý bán hàng cho các đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu.

    Chi phí tiền khác (TK 6418): Phản ánh các chi phí phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí kể trên như: Chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí cho lao động nữ…

    1.9.1.2. Tài khỏan kế toán sử dụng: TK 641- Chi  phí bán hàng TK 641- Chi phí bán hàng: Dùng để tập hợp kết chuyển các chi phí thực tế phát sinh trong hoạt động bán sản phẩm hàng hoá cung cấp dịch vụ.

    Kết cấu nôi dung phản ánh của TK 641- Chi phí bán hàng.

     
     
    TK 641- Chi phí bán hàng
    – Các khỏan giảm chi phí bán hàng

     

    – Kết chuyển chi phí bán hàng vào TK 911 xác định kết quả kinh doanh , để tính kết quả kinh doanh trong kỳ

    Tập hợp chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá cung cấp lao động dịch vụ.

    TK 641 không có số dư

    1.9.1.3. Kế toán các nghiệp vụ chủ yếu

    1.9.2. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp.

    1.9.2.1. Khái niệm và nội dung quản lý doanh nghiệp.

    * Khái niệm:

    Chí phí QLDN là chi phí quản lý chung cho doanh nghiệp bao gồm: Chi phí quản lý hành chính, chi phí tổ chứcvà quản lý sản xuất phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp.

    Nội dung:

    – Chí phí nhân viên quản lý (TK6421): Phản ánh các khoản phải trả cho cán bộ quản lý doanh nghiệp bao gồm: Tiền lương, tiền công và các khoản tiền phụ cấp, tiền ăn giữa ca, các khoản trích KPCD, BHYT, BHXH.

    – Chí phí vật liệu quản lý (6422): Phản ánh các chi phí vật liệu, xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp chư: Giấy, bút, mực…vật liệu sưt dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, CCDC…

    – Chi phí đồ dùng văn phòng (TK6423): Phản ánh chi phí CCDC đồ dùng cho công tác quản lý (giá có thuế hoặc chưa thuế GTGT).

    – Chi phí khấu hao tài TSCĐ (TK6424): Phản ánh các chi phí TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp: Nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng vật kiến trúc, phương tiển truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng…

    Thuế, phí và lệ phí (TK 6425): Phản ánh chi phí về thuế  phí, lệ phí như: thuế môn bài, thuế nhà đất và các khoản nhà đất và các khỏan phí, lệ phí khác.

    – Chi phí dự phòng (TK 6426): Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài (TK 6427): Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ chung toán doanh nghiệp như: Các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ nhãn hiệu thương mại…

    – Chi phí bằng tiền khác (TK 6428): Phản  ánh các chi phí khác phát sinh thuộc quản lý chung toàn doanh nghiệp, ngoài các chi phí kể trên như: Chi phí tiếp khách chi phí hội nghị, công tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ…

    1.9.2.2. Tài khỏan kế tóan sử dụng: TK 642- Chi phí QLDN.

    TK 642. Chi phí quản lý doanh nghiệp sử dụng để tập hợp và kết  chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ kế tóan.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp.

    TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp không có số dư.

    1.9.2.3. Sơ đồ hạch toán TK 642.

    1.9.3. Kế toán chi phí và thu nhập hoạt động tài chính:

    1.9.3.1. Khái niệm hoạt động tái chính: Hoạt động tái chính là hoạt động giao dịch liên quan đến đầu tư tài chính, cho vay vốn, góp vốn liên doanh, chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, giao dịch bán chững khoán, lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, đầu tư khác khoản lỗ chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và bán ngoại tệ.

    1.9.3.2. Nội dung chi phí, thu nhập hoạt động TC.

    1.9.3.2.1. Chí phí tài chính: Bao gồm các khỏan chi phí liên quan đến hoạt động TC.

    – Các khỏan chi phí của hoạt động tái chính.

    – Các khỏan sổ do thanh toán, các khỏan đầu tư ngắn hạn.

    – Các khỏan rõ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ và chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại do số dư cuối kỳ của các khỏan phải thu dài hạn và phải trả có gốc ngoại tệ.

    – Khỏan rõ do phát sinh bán ngoại tệ.

    – Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.

    – Chi phí đất chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định đã bán.

    – Chi phí tài chính khác.

    1.9.3.2.1. Doanh thu hoạt động tài chính: Bao gồm những khoản doanh thu liên quan đến hoạt động tái chính.

    – Tiền lãi, tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm trả góp.

    Doanh thu từ cho thuê TS, cho người khác sử dụng tài chính (bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại bản quyền tác giá, phần mệm máy tính…)

    – Lợi nhuận được chia

    – Doanh thu hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn hạn.

    –  Doanh thu chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng.

    – Doanh thu về các hoạt động đầu tư khác.

    – Chênh lệch giá do bán ngoại tệ, khoản lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.

    – Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn

    – Doanh thu hoạt động tái chính khác.

    1.9.3.3. Tài khỏan sử dụng: TK 515.

    * TK 515: Doanh thu hoạt động tái chính. Được dùng để phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền tổ chức lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính của chức năng.

    Bên nợ:- Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp (nếu có)

    – K/c doanh thu hoạt động tài chính thuần sang TK 911- XĐKQKD.

    Bên có: Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    * TK 635- Chi phí tài chính.

    Được sử dụng để phản ánh những khỏan chi phí hoạt động tài chính hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán và cuối kỳ để kế tóan kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản rõ phát sinh trong kỳ để xác định KQKD.

    Bên nợ: – Các khỏan chi phí của hoạt đông tài chính.

    • Các khỏan rõ do thanh lý các khỏan đầu tư ngắn hạn.

    Các khỏan lỗ chênh lệch về tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại số dư cuối kỳ của  các khỏan phải thu dài hạn có góc ngoại tệ.

    –  Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ.

    –  Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khóan.

    –  Chi phí chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định là tiêu thụ.

    Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán cuối kỳ kế tóan kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản lỗ phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh .

    TK 635 – Cuối kỳ không có số dư.

    * Sơ đồ tổng hợp kế toán chi phí hoạt động tái chính.

     
       

    Sơ đồ kế toán: Doanh thu hoạt động tài chính

     
       

    1.9.4. Chi phí và thu nhập hoạt động khác.

    1.9.4.1. Chi phí khác.

    Là những khoản lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp gây ra. Cũng có thể là những khoản chi phí bị bỏ xót từ những năm trước.

    – Chi phí thanh lý, nhường bán TSCĐ

    – Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý,nhượng bán (nếu có )

    – Tiền phạt do vi phạm hợp đồng: bị phạt thuế, chi thu thuế.

    – Các khoản chi phí do kế toán bị nhậm hay bỏ xót khi ghi sổ kế toán.

    – Các khoản chi phí khác.

    1.9.4.2. Thu nhập khác.

    Là những khoản thu góp nhằm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như:

    – Thu về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.

    – Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng.

    – Thu tiền bảo hiểm được bồi thường.

    – Thu được các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.

    – Các khoản thuế được Ngân sách Nhà Nước hoàn  lại.

    – Các khoản tiền thưởng của khách hàng.

    – Thu nhập do nhận tặng, biếu bằng tiền, hiện vật của tổ chức cá nhân tặng cho doanh nghiệp.

    – Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị xót lại quyền ghi sổ kế toán, mới phát hiện ra năm nay.

    – Cuối năm kết chuyển chênh lệch giữa số đã tính trước và các khoản thực tế đã chi thuộc nội dung tính trước.

    – Các tri phí khác.

    1.9.4.3. Tài khoản sử dụng.

    * TK 711- Thu nhập khác.

    TK 711- Thu nhập khác sử dụng để phản ánh các khoản thu nhập ngoài các hoạt động và giao dịch tạo ra doanh thu của doanh nghiệp .

    Nội dung – kết cấu:

    Bên nợ: Số thuế  GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp đối với các khoản thu nhập khác nếu ( có)

    – Cuối kỳ kết chuyển các khoản thu khác trong kỳ sang TK911 xác định KQKD .

    Bên có: Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    TK 711- Thu nhập khác cuối kỳ không có số dư.

    * TK 811- Chi phí khác.

    TK 811- Chi phí khác sử dụng để phản ánh các khoản ghi của các sự kiẹn hay có nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp .

    Nội dung- kết cấu:

    Bên nợ: Các khoản chi phí khác phát sinh.

    Bên có: cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ vào TK 911- XĐKQHD

    TL 811 – Chi phí khác cuối kỳ không có số dư

    Sơ đồ hạch  toán thu nhập khác.

    SƠ ĐỒ  HẠCH TOÁN: CHI PHÍ KHÁC
    1.9.5. Kế toán xác định kết quả bán hàng

    1.9.5.1. Tài khoản kế toán sử dụng: TK 911xác định kết quả kinh doanh.

    TK 911- Xác định kết qủa kinh doanh được sử dụng để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được sử dụng để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán.

    Kết cấu và nội dung của TK 911- Xác đinh kết quả kinh doanh .

     
       

    TK 911- Xác đinh kết quả kinh doanh không có số dư.

    1.9.5.2. Sơ đồ hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu

    Chương III.

    I. Thực tế công  tác kế toán thành phẩm bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công ty cổ phần.

    Ngọc Anh.

    2.1. Đặc điểm chung của doanh nghiệp .

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Ngọc Anh

    * Vị ttí địa lý:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh có trụ sở sản xuất đặt tại Ninh sở- Thường tín – Hà Tây.

    Vị ttí địa lý trên rất thuận lợi về thương mại, giao thông, đủ điều kiện để giao lưu hàng hoá , đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng trong cả nước đặc biệt là thủ đô Hà Nội.

    * Cơ sở pháp lý và hình thành của công ty:

    Công ty được hình thành từ những năm sau giải phóng Thủ đô( năm 1956) Công ty đã trải qua nhiều thăng trầm, tách ra nhập vào nhiều lần. Địa bàn sản xuất của công ty trước đây trật hẹp khoảng 14,5 ha: hầu hết là nhà xưởng cấp 4 được xây dựng từ năm 1956- 1960, nhà mái tôn, mái ngói kết cấu tường bao khung gỗ. Cùng  với thời gian và do đã lâu năm nhà xưởng đã xuống cấp, công ty phải thường xuyên sưả chữa và gia cố để đảm bảo cho hoạt động sản xuất của Công ty.

    Cơ sở vật chất kỹ thuật: máy móc cũ và lạc hậu, hiệu quả thấp. Hịên nay hầu hết các thiết bị đã khấu hao hết. Công ty đã đánh giá lại nhưng chỉ thích ứng với sản xuất hàng loạt, số lượng nhiều ( phù hợp với thời kỳ bao cấp) thiết bị lại công trình, khó di chuyển nên không thích ứng với điều kiện sản xuất hiện nay năm 1992. UBND Thành phố ra quyết định số 3162/ QĐ- UB ký và được chuyển đổi thành công ty cổ phần Ngọc Anh. Công ty chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự trang trải chi phí và có doanh lợi đưới sự quản lý của Nhà Nước.

    * Quá trình phát triển của công ty:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh được thành lập từ năm 1992. Tính đến năm nay 2005 đã được 13 năm. Trong 13 năm qua công ty đã thu hút được những thành quả kinh doanh sau.

    Thực hiện nghị định 63/ 2001/ NĐ- CP của chính phủ về việc chuyển đổi công ty Nhà Nước thành công ty cổ phần Ngọc Anh. Trong quá trình chuyển đổi. Công ty đã gặp không ít những khó khăn về công tác tổ chức, tiền vốn nước, công ty đã đầu tư và nâng cấp hệ thống bộ máy hoạt động nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm , hạ giá thành để có sức cạnh tranh trên thị trường và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước. Sự phát triển của công ty được biểu hiện cụ thể qua các chỉ tiêu đạt được như sau.

    ĐVT: Triệu đồng.

    Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
    Vốn số định 4112 4212 4310
    Tổng quỹ lương 620 680 710
    Tiền lương bình quân 6,2 6,8 7,1
    Doanh thu 3326,5 3672 3832
    Lợi nhuận trước thuế 87,68 97,28 104,96
    Lợi nhuận sau thuế 68,8 76 22

    Qua bảng số liệu ta thấy tất cả các chỉ tiêu trong 3 năm đều tăng rõ rệt. Doanh thu năm 2002- 2004 tăng từ 3326,5 lên 3832( Triệu đồng) chứng tỏ doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng để chiếm lĩnh thị phần trên thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.

    Tỷ lệ tăng doanh thu cao hơn tỷ lệ chi phí, như vậy doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí tốt. Riêng 2003, do tình hinh giá cả vật tư đầu vào có sự biến động, Nhà Nước điều chỉnh lương 210.000 (đồng) lên 290.000 ( đồng) dần đến chi phí tăng lên 0, 36% bình quân 2003 so với năm 2002. Nhưng công ty đã kịp thời điều chỉnh hạ giá thành, chi phí 2004 với năm 2003 được 0, 33%.

    2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sản phẩm chính của công ty là  hai mặt hàng được làm từ gỗ, bàn, ghế. Các sản phẩm của công ty phù hợp với mọi đối tượng tiêu dùng và đặc biệt là trường học và khách sạn.

    Sản phẩm của công ty ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường các nước.

    2.1.2.2. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh. của công ty cổ phần Ngọc Anh.

    1. Về lao động.

    Tổng số lao động của Công ty là 100 người. Trong đó:

    44 lao động: chiếm 44%

    56 lao động nam: Chiếm 56%

    Với tỷ lệ lao động hợp lý giữa lao động nam và lao động nữ đã tạo ra sự hài hoà trong bố chí sắp xếp công việc. Hầu như lao động của Công ty đều ở độ tuổi 23® 45 nên đảm bảo được cả về sức khoẻ và chất lượng lao động.

    Phân loại theo nghiệp vụ.

    + Trực tiếp sản xuất: 76 người:

    * Gián tiếp sản xuất: 24 người

    1. Thu nhập của người lao động:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh rất quan tâm đến đời sống của người lao động.

    Tông quỹ lương 2004 là 710.000.000.(đồng) với tiền lương bình quân là 750.000.(đồng)/ người / tháng như vậy đời sống của người lao động luôn đảm bảo và ổn định.

    1. Cơ cấu ban giám đốc, phòng ban và các bộ sản xuất kinh doanh để tổ chức doanh thu tốt, bộ máy sản xuất quản lý Công ty đã được sắp xếp một cách gọn nhẹ và hợp lý theo chế độ một thủ trưởng phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh .

    Ban giám đốc Công ty gồm: Ba lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp sản xuất .

    – Giám đốc: là người đứng đầu Công ty chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động , quản lý tài sản, là chủ quản của Công ty và làm nhiệm vụ đầy đủ với Nhà Nước theo pháp luật quy định.

    – Phó giám đôc kinh doanh : là người giúp việc cho giám đốc, điều hành, đôn đốc các bộ phận thuộc lĩnh vực kinh doanh . Kế toán tài vụ, tiêu thụ, bán hàng, maketing và tổ chức sản xuất cho có hiệu quả, đảm bảo mục tiêu mà Công ty và giám đốc đề ra.

    – Phó giám đốc kỹ thuật: Là người quản lý và điều hành công tác bộ phận kỹ thuật công nghệ, quản lý máy móc, thiết bị nhằm ổn định sản xuất , chất lượng sản phẩm , đảm bảo thống nhất, đầu tư sửa chữa bảo dưỡng, bảo hành máy móc thiết bị, nâng cao năng xuất lao động, đảm  bảo chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh .

    Để giúp  việc cho ban giám đốc còn có 5  phòng ban với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.

    – Phòng tổ chức hành chính:

    Là bộ phận tham mưu giúp cho giám đốc về tổ chức lao động theo quy mô sản xuất . Tuyển chọn cán bộ công nhân có năng lực, tay nghề giúp cho Công ty có được những công nhân, cán bộ quản lý tốt lao động nhiệt tình…Phòng tổ chức hành chính còn phụ trách việc tổ chức tốt công tác quản lý, bảo vệ tài sản mua sắm phương tiện giúp GD thực hiện những công việc hành chính như: Bảo quản con dấu, công văn đi, công văn đến…

    Phòng tiêu thụ bán hàng( phòng kinh doanh): Đây là bộ phận rất quan trọng của Công ty bởi nó tác động trực tiếp đến khối lượng tiêu thụ, khối lượng sản phẩm  sản xuất ra được bộ phận bán hàng đem đi tiêu thụ như bán buôn, bán lẻ, bán đại lý…

    Ngoài ra, phòng còn làm công tác tiếp thu nắm bắt yêu cầu thị trường đáp ứng với từng đối tượng, từng địa bàn một cách thuận lợi và thanh toán  tiền hàng theo quyết định của Công ty.

    – Phòng kỹ thuật công nghệ: Là một bộ phận thực hành và nghiên cứu công nghệ, quản lý chất lượng sản phẩm , hướng dẫn phân xưởng và từng bộ phận làm đúng quy trình công nghệ chế biến, kiểm tra chất lượng từng khâu vật tư, nguyên vật liệu đến sản xuất. Ngoài ra, phòng còn thực hiện công tác kiểm định chất lượng từng khâu vật tư, đảm bảo hàng hoá đưa ra lưu thông đạt tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành công nghệ thực phẩm.

    – Phòng cơ điện, vận hành máy: Phòng có nhiệm vụ quản lý sử dụng máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất. Hàng tháng tiến hành kiểm tra sữa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị, thay thế dự phòng máy móc, quản lý điện năng.

    – Phòng tài vụ kế toán- hạch toán: Là một bộ phận quan trọng thực hiện các chức năng:

    + Giúp việc cho giám đốc về quản lý tài chính ở Công ty thay mặt Nhà Nước ở cơ sở để thực hiện các chế độ, chính sách hiện hành. Căn cứ vào tình hình sản xuất để lên phương án cho kế hoạch vật tư, nguyên vật liệu, tài chính sản xuất  kinh doanh để phù hợp với quy mô sản xuất của Công ty.

    – Bộ phận quảng cáo, tiếp thị, khai thác thị trường.

    – Bộ phận phối hàng, giao bán hàng ở đại lý.

    Sơ đồ bộ máy tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sơ đồ. Bộ máy tổ chức quản lý SXKD của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

     
       
    1. Quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sản phẩm chính của Công ty là các mặt hàng được làm từ gỗ, bàn ghế, giường tủ, ốp tường, ốp trần… trang trí nội thất khác cầu thang, tủ bếp… Chính vì vậy mà quy trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm gồm các bước sau:

    – Từ gỗ rừng tự nhiên qua khâu cưa, xẻ,pha, cắt thành hộp, ván với quy cách kích thước hộp lý cho từng loại sản phẩm.

    – Tiến hành sử lý thuỷ phần nước trong gỗ theo tỷ lệ nhất định bằng hai phương pháp:

    + Hong phơi tự nhiên.

    + Đưa vào lò sấy khô với nhiệt độ nhất định để đạt 12- 14% thuỷ phần.

    – Sau khi sấy khô được sơ chế thành các  chi tiêt sản phẩm trên các thiết bị máy theo dây chuyền.

    – Sau khi được sản phẩm sơ chế thì chuyển sang bộ phận một tay tinh tế và lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm.

    – Khâu cuối cùng là làm đẹp sản phẩm bằng phương pháp thủ công là đánh vec hay sơn mài…

    Đối với sản phẩm kết hợp với phóc, nhựa được thực hiện từ khâu mộc tay lắp ráp đến khâu  hoàn thiện sản phẩm.

    Quy trình công nghệ sản xuất hàng mộc.

     
       
    sản phẩm nhập kho

    II. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán  của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    2.1.2.4.1. Bộ máy kế toán của Công ty.

    Hình thức tổ chức bộ máy kế toán của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Theo hình thức này, toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tập trung ở phòng kế toán của doanh nghiệp còn  ở các đơn vị trực thuộc trung ở phòng kế toán còn ở các đơn vị trực thuộc ở các bộ phận kế toán làm nhiệm vụ riêng

    *************

    mà chỉ bố chí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn thực hiện hạch toán. Ban đầu thu nhập kiểm tra chứng từ và định kỳ gửi chứng từ về văn phòng kế toán tập trung tại doanh nghiệp .

    Bộ phận máy kế toán của Công ty bao gồm 6 người trong đó có 2 nam và 4 nữ với độ tuổi trung bình là 35 tuổi đều là tốt nghiệp đại học và có trình độ chuyên môn cao.

    Mối quan hệ gữi các kế toán trong phòng kế toán được bỉểu hiện trên sơ đồ sau:

     
       

    – Chức  năng, nhiệm vụ của một cán bộ kế toán trong phòng kế toán:

    + Kế toán trưởng: Giúp việc cho giám đốc Công ty, là người điều hành trực tiếp có nhiệm vụ và tổ chức, công tác kế toán cho phù hợp với quá trình công nghệ sản xuất kinh doanh theo đúng chế độ hiện hành, tổ chức, kiểm tra, duyệt báo cáo tài chính đảm bảo lưu trữ tài liệu kế toán, đông thời là người giúp việc trực tiếp cho ban giám đốc. Phân tích hoạt động kinh tế tài chính của Công ty, xác định các phương án sản xuất . Chịu trách nhiệm ghi chép sổ tổng hợp ,sổ theo dõi TSCĐ sổ theo dõi nguồn vốn, các loại sổ chi tiết tiền mặt, tiền vay và số theo dõi các loại thuế, tính toán và hạch toán chi phí, giá thành sản phẩm.

    + Kế toán tổng hợp kiêm tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm được kế tóan trưởng ủy quyền khi đi vắng, thực hiện điều hành bộ phận và ký ủy quyền tổng hợp số liệu, bảng biểu, kê khai nhật ký chứng từ, cuối tháng đối chiếu, kiểm tra số liệu cho khớp đúng.

    Tập hợp chi phí theo số liệu phát sinh ngày, cuối tháng tập hợp số liệu của thành phẩm để tính giá thành cho chính xác.

    Cuối kỳ, tập hợp sô liệu cho tình tự kế toán và vào sổ cái kế tóan.

    + Kế toán TSCĐ- NCL- CCD: Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh tập hợp chính xác kịp thời về số lượng, giá trị TSCĐ, vật liệu hiện có và tình hình tăng giảm TSCĐ trong Công ty giám sát kiểm tra việc giữ gìn bảo quản, bảo dưỡng TSCĐ cũng như biện pháp đổi mới TSCĐ trong Công ty.

    Tính toán và phản ánh kịp thời tình hình XDCB, mua sắm trang thiết bị.

    + Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ thanh toán nguồn vốn qúy của xí nghiệp, phản ánh kịp thời,đầy đủ, chính xác sự vận động của vốn bằng tiền, qũy và tài khỏan tiền gửi. Phản ánh rõ ràng chính xác các nghiệp vụ thanh toán, vận dụng các hình thức thanh toán để đảo thành toán kịp thời, đúng hạn, chiếm dụng vốn. Phản ánh đứng đắn số liệu hiện có và tình hình biến động của từng đồng vốn, đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn được bảo toàn và phát triển.

    + Kế toán thành phẩm, tiêu thụ phân phối thu nhập: Phản ánh đầy đủ, chính xác tình hình nhập, xuất, tồn kho về chất lượng và giá trị thành phẩm, hạch toán chính xác tình hình tiêu thụ sản phẩm , tình thanh toán vời người mua, thanh toán với Ngân sách Nhà Nước, hạch toán chính xác giá vốn thực tế của sản phẩm và kết quả tài chính của Công ty.

    + Kế toán lao động tiền lương thống kê: Phản ánh chính xác đầy đủ số liệu và số  lượng, chất lượng, thời gian lao động, thanh toán chính xác, đầy đủ kịp thời, đúng chế độ về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và trợ  cấp phải trả cho người lao động tiền thưởng, phụ cấp và trợ cấp phải trả cho người lao động và sử dụng lao động kiểm tra việc chấp hành chính sách chế độ tiền lương, trợ cấp BHXH, chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận sử dụng lao động. Hàng tháng, qúy lập báo cáo thống kê theo chế độ quy định về các chỉ tiêu tài chính và lao động mà pháp luật quy địng. s


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh những mặt thuận lợi cũng không tí những mặt khó khăn thắc mắc với doanh nghiệp. Vì vậy muốn đảm bảo ưu thế cạnh tranh thu lợi nhuận cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng tìm tòi sáng tạo, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng mẫu mã đẹp, hợp thị yếu của người tiêu dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp với sức mua của người tiêu dùng. Muốn vậy thì doanh nghiệp phải quản lý tốt chi phí để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm cũng có nghĩa là doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm. Để có thể nắm bắt kịp thời đầy đủ về các thông tin bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp, các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau, trong đó kế toán là công cụ quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các công cụ quản lý sản xuất kinh doanh. Trong công tác kế toán, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là một phần hành quan trọng.

    Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước tiến tới trở thành 1 quốc gia công nghiệp. Vì thế ngành sản xuất vật liệu xây dựng cơ bản là đóng góp vai trò chủ yếu trong việc sản xuất tạo ra cơ sở vật chất  cho nền kinh tế quốc dân… các sản phẩm của ngành phục vụ cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nâng cao năng lực cho nền kinh tế. Vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản đang tăng mạnh, đòi hỏi sự quản lý nguồn vốn đầu tư có hiệu quả khắc phục tình trạng lãng phí, chống thất thoát vốn trong sản xuất cơ bản.

    Cho nên công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong công ty Cổ phần sản xuất thương mại Viglacera rất được chú trọng.

    Qua thời gian thực tế và những kiến thức trong học tập nên em đã chọn đề tài: “Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mong rằng sẽ góp phần nhỏ bé vào quá trình kế toán tại công ty.

    Ngoài phần mở đầu của nội dung chuyên đề được chia làm 3 phần:

    Phần I: Các vấn đề chung về CP sản xuất tính giá thành sản phẩm.

    Phần II: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

    Phần III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

    Để hoàn thành chuyên đề, em đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh và sự giúp đỡ của các cán bộ trong phòng Tài chính kế toán của công ty.

    Tuy nhiên, do thời gian thực tế còn chưa nhiều và trình độ còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và cán bộ phòng Tài chính – Kế toán của công ty để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Em xin tiếp thu ý kiến và chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh cùng các cán bộ phòng Tài chính kế toán của công ty cổ phần sản xuất thương mại Viglacera đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    PHẦN I

    CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT

     VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    I. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT CỦA NGÀNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

    Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể biểu hiện một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực, tài sản cụ thể trong hoạt động sản xuất  kinh doanh.

    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 2 ban hành theo quyết định 165/2002/QĐ-BTC thì “Chi phí là Tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn  chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu có nhiều quan điểm, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích kinh doanh đây chính là bản chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh  của doanh nghiệp. Bản chất kinh tế này giúp nhà quản trị phân biệt được chi phí và chi tiêu chi phí với vốn. Thật vậy chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh được tài trợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Chính vì thế các doanh nghiệp luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí nhằm tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    II. KHÁI NIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ CÁCH PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT CHỦ YẾU.

    1. Khái niệm chi phí sản xuất

    Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).

    Nói cách khác, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    2. Các cách phân loại chi phí sản xuất chủ yếu.

    1. Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế (yếu tố chi phí)

    – Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.

    Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chi làm 7 yếu tố sau:

    + Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).

    + Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).

    + Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lượng phải trả cho người lao động.

    + Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả lao động.

    + Yếu tố khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    + Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.

    + Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    1. Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế chi phí (khoản mục chi phí).

    Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Chi phí nhân công trực tiếp

    – Chi phí sản xuất chung

    – Chi phí bán hàng

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.

    + Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

    + Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng đội sản xuất, chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau.

    – Chi phí nhân viên phân xưởng bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng và đội sản xuất.

    – Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ quản lý sản xuất.

    – Chi phí dụng cụ: bao gồm về chi phí công cụ, dụng cụ ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý sử dụng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất.

    – Chi phí khác bằng tiền: là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý và sản xuất ở phân xưởng sản xuất.

    + Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo  quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa…

    + Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh nghiệp.

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn bộ doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí tiếp khách, hội nghị.

    3. Ý nghĩa của công tác quản lý chi phí sản xuất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    – Chỉ tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy của tài sản, không để các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào? chỉ tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chỉ tiêu cho các quá trình mua hàng, quá trình sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản của doanh nghiệp, còn chỉ tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên.

    Chi phí trong kinh doanh bao gồm toàn bộ phận tài sản tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ, số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ và số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính nhập hoặc phân bổ vào chi phí trong kỳ. Ngoài ra, khoản chi phí phải trả (chi phí trả trước) không phải là chỉ tiêu trong  kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ.

    Như vậy, giữa chỉ tiêu và chi phí của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh, mặt khác, chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nó được tài trợ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ tiêu không gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh nên có thể được tài trợ từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi, trợ cấp từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi trợ cấp của Nhà nước và không bù đắp từ thu nhập hoạt động kinh doanh.

    – Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định. Nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.

    Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi phí đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành bao nhiêu.

    III. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    1. Khái niệm giá thành sản phẩm

    Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.

    Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan.

    2. Phân loại giá thành sản phẩm

    1. Phân loại giá thành sản phẩm theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành

    Theo cách này, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành kế hoạch giá thành định mức, giá thành thực tế.

    + Giá thành kế hoạch : là giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.

    + Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành  định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.

    + Giá thành thực tế: là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.

    Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ kế toán. Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp.

    1. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán

    Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.

    – Giá  thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.

    – Giá thành tiêu thụ: (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ, là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

    Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau:

    =          +   +

    => Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định khi đưa ra lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý cho từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu.

    1. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    – Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.

    Về thực chất  chi phí và giá thành là 2 mặt khác nhau của quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ

    * Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
    Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

    Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD – Công ty cổ phần điện tử chuyên dụng Hanel

    hay

    =  +  –

    IV. ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT, ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

    – Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi giới hạn nhất định.

    – Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất và là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất.

    + Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm công nghiệp lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành ở đơn vị.

    + Tập hợp trực tiếp

    – Chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt.

    – Có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu. Để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng riêng biệt.

    – Tập hợp trực tiếp đảm bảo tính chính xác cao áp dụng tối đa phương pháp này nếu điều kiện cho phép.

    + Phân bổ gián tiếp:

    – Điều kiện áp dụng: chi phí phát sinh có liên quan nhiều đối tượng kế toán chi phí. Không ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tượng, phải tập hợp cho nhiều đối tượng.

    VI. NHIỆM VỤ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM :

    Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm cần nhận thức đúng đắn vai trò của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống  kế toán doanh nghiệp, mỗi quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan trong đó kế toán các yếu tố chi phí và là tiền đề kế toán chi phí và tính giá thành.

    – Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm khả năng hoạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.

    Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định tính giá thành cho phù hợp.

    Trên cơ sở mối quan hệ đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đã xác định để tổ chức áp dụng phương pháp tính giá thành cho phù hợp và khoa học.

    Tổ chức bộ máy kế toán 1 cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm từng nhân viên từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.

    Thực hiện tổ chức, chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản sổ kế toán phù hợp với nguyên tắc phù hợp chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thu nhận – xử lý, hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp.

    Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    1. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất

    Là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.

    * Chứng từ áp dụng: Căn cứ vào phiếu xuất kho

    Các chứng từ liên quan để xác định giá vốn nguyên vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm.

    – Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho đối tượng chi phí sản xuất

    – Thực hiện trong bảng phân bổ nguyên vật liệu

    1.1. Tài khoản kế toán chủ yếu sử dụng

    1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    Bên nợ: trị giá vốn nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ trong kỳ…

    Bên có: trị giá vốn nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho

    trị giá phế liệu thu hồi

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm

    – Trình tự kế toán được thể hiện bằng sơ đồ sau.

    Sơ đồ hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp

     
       
    1. Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)

    – Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản về chi tiền lương chính,  lương phụ của công nhân sản xuất trực tiếp thực hiện công tác xây lắp, công tác hạng mục công trình.

    – Chi phí nhân công trực tiếp nếu liên quan đến một công trình thì tập hợp trực tiếp còn nếu liên quan đến nhiều thì phân phân bổ cho các đội sản xuất theo các tiêu thức thích hợp.

    TK 622

    Bên nợ: phản ánh chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ

    Bên có: Kết chuyển nhân công trực tiếp sang TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.

    TK 622 cuối kỳ có số dư

    Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

     

     
       
    1. Kế toán chi phí sản xuất chung

    Tài khoản này có thể mở chi tiết cho từng giai đoạn, từng loại sản phẩm, từng bộ phận và được mở chi tiết cho từng giai đoạn sản xuất và được mở tài khoản cấp 2 theo yếu tố chi phí.

    * Kết cấu của TK 627 như sau:

    Bên nợ: tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ

    Bên có: kết chuyển  hoặc phân bổ chi phí, sản xuất cho các sản phẩm lao vụ có liên quan đến tính giá thành.

    + Các khoản giảm trừ chi phí sản xuất chung

    TK 627 không có số dư cuối kỳ

    Quy trình hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau

    Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung

     

     
       

    d, Tổng hợp chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp

    Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khoản mục, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung cần được kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành.

    TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” dùng để tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm

    – Kết cấu TK 154 như sau:

    Bên nợ: kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm trong kỳ

    Bên có: giá thành sản phẩm trong kỳ hoàn thành

    + Các khoản giảm giá thành:

    Dư nợ: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ

    TK 154 được mở cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số TK liên quan khác như: 111, 632

    Sơ đồ hoạch toán tổng hợp chi phí

     
       


    1.2. Đánh giá sản phẩm đang chế tạo dở dang (DD)

    + Đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (nhân công trực tiếp).

    Nội dung: theo phương pháp này chi phí sản xuất cho sản phẩm làm dở cuối kỳ chỉ tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) hay chi hí nhân công trực tiếp còn các chi phí khác được tính cả cho sản phẩm hoàn thành

    Công thức:

    Dck = ((Dđk + Cv) / (Q + q)) x q

    Trong đó:    Cv     : chi phí NVLTT tập hợp trong kỳ

    Dck   : chi phí sản xuất kinh doanh dd cuối kỳ

    Dđk   : chi phí sản xuất kinh doanh dd đầu kỳ

    Q       : khối lượng sản phẩm hoàn thành

    q        : khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ

    – Ưu điểm: Khối lượng tính toán đơn giản thực hiện nhanh khi kiểm kê sản phẩm dở không cần xác định mức độ sản phẩm hoàn thành.

    – Nhược điểm: Tính toán không chính xác. Vì trong giá tị sản phẩm làm dở không tính các chi phí khác như chi phí sản xuất chung.

    – Điều kiện áp dụng: nên áp dụng ở các doanh nghiệp mà chi phí NVLTT chiếm tỷ trọng  lộn trong tổng chi phí, khối lượng sản phẩm làm dở không nhiều, thường ổn định dưới các kỳ.

    + Ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương: Theo phương pháp này đủ các khoản chi phí theo nguyên tắc những chi phí được bỏ vào 1 lần từ đầu quy trình công nghệ thì dược tính cho đơn vị sản phẩm  làm dở và đơn vị sản phẩm hoàn thành như nhau (những chi phí này thường là chi phí NVLTT).

    Những chi phí được bỏ vào quá trình sản xuất lần 2 theo mức độ sản xuất gia công chế biến thì được tính cho sản phẩm làm dở theo sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.

    Xác định sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương và làm dở

    Xác định sản lượng = q x % sản phẩm hoàn thành

    (Q) = q x % sản phẩm hoàn thành (mức độ hoàn thành)

    Qck  = (Dđk + Cv) / (Q + Q) * Q’

    + Định mức chi phí

    – Căn cứ vào khối lượng làm dở trên cùng công đoạn của quy trình sản xuất và căn cứ vào định mức chi phí theo từng khoản mục chi phí trên từng công đoạn của từng sản phẩm để xác định chi phí sản xuất dở dang của từng công đoạn. Sau đó tổng hợp lại để có thể chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở dang của từng loại sản phẩm trên cả quy trình công nghệ.

    1.3. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm

    + Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp trực tiếp)

    – Điều kiện áp dụng: quy trình công nghệ sản xuất chỉ tạo ra một loại sản phẩm đối với khối lượng lớn: doanh nghiệp điện, than đá….

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.

    – Đối tượng tính giá thành: là loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm do quy trình sản xuất tạo ra hoàn thành trong quy trình công nghệ nàykhông có sản phẩm dở dang. Do vậy đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tập hợp tính giá thành và ngược lại. Kỳ tính giá thành thường là cuối tháng, cuối năm.

    Z  = Dđk + C – Dck

    – Nếu có sản phẩm làm hỏng nhưng do cá nhân làm hỏng thì nhà quản lý sẽ quy trách nhiệm và bắt cá nhân đó bồi thường.

    Z = Dđk + C – Dck – C (hỏng)

    Trong đó: C: là chi phí phát sinh

    C: hỏng là chi phí sản phẩm hỏng

    * Phương pháp hệ số:

    – Điều kiện áp dụng: áp dụng trong trường hợp cùng 1 quy trình công nghệ sản xuất chế tạo ra nhiều loại sản phẩm chính công nghiệp hóa chất.

    + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ

    + Đối tượng tính giá thành: là từng loại sản phẩm chính hoàn thành và đơn vị sản phẩm chính hoàn thành.

    Nội dung:

    – Để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ thống số tính giá thành trong đó loại sản phẩm có hệ số bằng 1 được coi là sản phẩm tiêu chuẩn.

    – Căn cứ vào qui đổi sản lượng thực tế của từng loại sản phẩm theo hệ số giá thành để xác định tiêu chuẩn phân bổ

    * Phương pháp tỷ lệ

    – Điều kiện áp dụng: áp dụng trong doanh nghiệp có 1 quy trình công nghệ sản xuất tạo ra nhóm sản phẩm với nhiều quy cách, kích cỡ, phẩm cấp khác nhau.

    VD: công nghệ sản xuất bao bì can ten mã phanh ô tô

    – Lựa chọn tiêu chuẩn làm căn cứ xác định tỷ lệ tính giá thành (giá thành định mức của đơn vị sản phẩm).

    – Căn cứ vào sản lượng thực tế của từng quy cách và tiêu chuẩn được lựa chọn để xác định tổng tiêu chuẩn phân bổ.

    + Đối tượng tập hợp chi phí: theo nhóm sản phẩm

    + Đối tượng tính giá thành: Theo từng kích cỡ, quy cách hoặc phẩm chất

    Tỷ lệ giá thành =

    =   x Tỷ lệ giá thành.

    Giá thành đơn vị  =

    * Phương pháp loại trừ chi phí sản phẩm phụ

    – Kết quả của quá trình sản xuất sản phẩm doanh nghiệp không những thu được sản phẩm chính mà còn thu được một số sản phẩm phụ nhưng sản phẩm phụ không  phải là đối tượng tính giá thành chính vì thế doanh nghiệp cần phải thực hiện công việc loại trừ chi phí sản phẩm phụ.

    =  +  –  –

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT

    VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TAI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VIGLACERA

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera tiền thân trước đây là nhà máy xi măng Hà Nội được quyết định thành lập vào ngày 08/01/1958 theo quyết định số: 24/BCN-KH4 do Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Lê Thanh Nghị ký.

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera là một công ty chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán kinh doanh độc lập thợ chủ về tài chính, là một đơn vị thành viên của Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng – Bộ xã hội.

    – Trước đây, Công ty này có tên gọi là Nhà máy gạch lát hoa và máy phanh ô tô Hà Nội. Bắt đầu kể từ ngày 1/10/2003, Nhà máy này đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera, với 51% vốn Nhà nước.

    Hiện nay, trụ sở chính công ty tại số 676 Hoàng Hoa Thám , quận Tây Hồ, Hà Nội và Nhà máy được đặt tại xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội với tổng diện tích mặt bằng là 24.000 km2. Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là:

    – Sản xuất máy phanh ô tô

    – Sản xuất bao bì Carton

    – Kinh doanh vật liệu xây dựng

    Tiền thân của công ty là một tổ nghiên cứu gồm 6 người được thành lập để sản xuất tấm lợp fibrociment. Theo quyết định số 24/BCN-KH ngày 08/01/1958, Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera được thành lập với tên gọi là Nhà máy Fibrociment Hà Nội trực thuộc Cục khai khoáng và luyện kim. Với nhiệm vụ ban đầu là sản xuất tầm lợp fibrociment, công ty có 145 cán bộ công nhân viên và được tổ chức thành các bộ phận sau:

    – 1 phân xưởng sản xuất fibrociment

    – 1 mỏ amient ở Hòa Bình

    – 1 bộ phận kế hoạch cung tiêu

    – 1 bộ phận hành chính nhân sự

    – 1 bộ phận kế toán tài vụ

    Năm 1996, Công ty trở thành đơn vị trực thuộc Tổng cục hóa chất và được giao nhiệm vụ nghiên cứu vật liệu ma sát (má phanh ô tô). Qua nghiên cứu thành công. Công ty đã tiến hành sản xuất với sản lượng ban đầu là 2000 kg má phanh ô tô. Từ đây, mặt hàng này được chính thức đưa vào kế hoạch sản xuất hàng năm của Nhà máy.

    Từ tháng 10/2003 thực hiện nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty, Cổ phần. Quyết định số 1108-QĐ-BXD ngày 14/08/2003 của Bộ Xây dựng về việc chuyển Nhà máy Gạch lát hoa và Má phanh ô tô Hà Nội thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng thành Công ty cổ phần.

    Sau khi được chuyển đổi doanh nghiệp Ban lãnh đạo công ty đã tổ chức và hoạt động theo luật Doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần và thông qua đại hội cổ đông.

    Xác định trước tình hình khó khăn hiện nay công ty không ngừng phát huy mở rộng, ngoài hai sản phẩm công ty tự sản xuất: Bao bì Carton và má phanh ôtô thì công ty mở rộng ngành nghề kinh doanh:

    – Vật liệu xây dựng

    – Vật liệu ma sát

    – Vật liệu ngành in

    – Dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng hóa.

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera với ngành nghề chủ yếu là sản xuất Bao bì Carton và Má phanh ô tô đã đảm bảo sản xuất sản phẩm đảm bảo về cả số lượng và chất lượng, cầu tiết kiệm chi phí, sử dụng nguồn vốn đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh luôn chú trọng đổi mới công tác quản lý, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo kinh doanh có lãi, nộp đầy đủ các khoản phải nộp với ngân sách Nhà nước đồng thời phải thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng đào tạo cán bộ quản lý cũng như các công nhân viên trong công ty để đảm bảo phù hợp với trình độ sản xuất của công ty, và phải luôn chú trọng trang bị các thiết bị bảo hộ lao động, sức khỏe cho người lao động.

    2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh doanh độc lập. Bộ máy quản lý của công ty gồm các bộ phận sau:

    • Đại hội cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất trong công ty
    • Hội đồng quản trị: là cơ quan cao nhất của công ty giữa hai kỳ đại hội cổ đông. Hội đồng quản trị quyết định phương hướng tổ chức sản xuất, kinh doanh và các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty phù hợp với pháp luật.
    • Ban kiểm soát: là người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty.
    • Giám đốc điều hành: Là người đại diện cho pháp luật công ty, trực tiếp điều hành và chỉ đạo các phòng ban, phân xưởng… Đồng thời là người chịu trách nhiệm trước cổ đông. Hội đồng quản trị và ban kiểm soát về toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
    • Phòng tài chính – kế toán Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh các nhiệm vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty một cách đầy đủ, kịp thời theo đúng phương pháp quy định nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm, đặc biệt là để phục vụ cho việc quản lý và điều hành công ty của Ban giám đốc. Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung. Phòng kế toán thực hiện toàn bộ công tác hạch toán kế toán. Ngoài ra, dưới phân xưởng có bố trí các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ hướng dẫn, thực hiện hạch toán ban đầu, thu nhập kiểm tra chứng từ, thực hiện chấm công hàng ngày và chuyển số liệu lên phòng kế toán. Cuối mỗi quý, kế toán trưởng tập hợp số liệu, lập báo cáo kế toán và gửi trình lên giám đốc phê duyệt.
    • Phòng kinh doanh: gồm các nhân viên lập kế hoạch kinh doanh cho công ty.
    • Phòng kỹ thuật gồm các chuyên viên, kỹ sư phụ trách về công tác kỹ thuật của máy móc, thiết bị đảm bảo sự vận hành của toàn bộ quy trình công nghệ. Trong đó, bộ phận KCS có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm. Đồng thời, cần nắm vững thông tin khoa học trong lĩnh vực chuyên ngành tổ chức việc chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới.
    • Phòng kế hoạch vật tư: Có trách nhiệm lập kế hạch về vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất của Công ty được diễn ra liên tục.

    Ngoài các phòng ban chính đó, công ty còn có các bộ phận chức năng khác như: Văn thư, bảo vệ, công đoàn… Trong mỗi phân xưởng, ngoài quản đốc phân xưởng có nhân viên giám sát quá trình sản xuất, còn có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê, chấm công, tính toán tiền lương cho công nhân trực tiếp sản xuất.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty

    3. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty

    Hiện nay, công ty có hai phân xưởng sản xuất chính: phân xưởng sản xuất má phanh ô tô và phân xưởng sản xuất bao bì Carton bao gồm nhiều tổ đội khác nhau. Phân xưởng sản xuất má phanh ô tô bao gồm các tổ: Tổ trộn, tổ hoàn thiện, tổ ép và bộ phận quản lý phục vụ. Phân xưởng sản xuất bao bì Carton bao gồm các đội: tổ cắt, tổ ghim dán cạnh, tổ in, tổ làm máy, bộ phận quản lý.

    Đứng đầu mỗi phân xưởng là quản đốc, có nhiệm vụ quản lý, điều hành phân xưởng mình và chịu sự điều hành của Giám đốc công ty.

    Sơ đồ quy trình sản xuất má phanh ô tô

     
       

    Sơ đồ quy trình sản xuất Bao bì Carton

     
       

    II. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI VIGRACERA

    1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

    Công tác kế toán tại doanh nghiệp hiện nay được tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập trung. Tại phòng kế toán của doanh nghiệp thực hiện mọi công tác kế toán, từ việc thu thập xử lý chứng từ, luân chuyển ghi chép, tổng hợp báo cáo tình chính phân tích kinh tế, thông báo số liệu kế toán cần thiết cho các cơ quan quản lý Nhà nước khi có yêu cầu.

    Vì Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera là một công ty nhỏ nên sử dụng mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hợp lý, nó đảm bảo cho sự nắm bắt thông tin kịp thời về các hoạt động kinh tế của ban lãnh đạo doanh nghiệp để có thể dễ dàng thực hiện các cuộc kiểm tra, kiểm soát.

    Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

     
       

    Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm

    Đơn vị tiền tệ: Việt Nam đồng

    Hình thức kế toán áp dụng: Hình thức nhật ký chung

    Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường xuyên

    Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: Nguyên tắc giá gốc

    Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ: Phương pháp bình quân gia quyền.

    Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ: Theo nguyên giá

    Phương pháp khấu hao TSCĐ: phương pháp đường thẳng

    Doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ

    • Đặc điểm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    Sản phẩm sản xuất chính của công ty má phanh ô tô và bao bì Carton, hai sản phẩm này được sản xuất tại hai phân xưởng khác nhau. Chi phí để sản xuất hai sản phẩm này được hạch toán riêng không liên quan đến nhau. Do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp được tập hợp theo từng phân xưởng sản xuất và đối tượng tính giá thành là từng m2 bao bì Carton và từng kg má phanh ô tô.

    • Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được phân làm ba loại chi phí:

    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí các nguyên vật liệu chính bỏ vào sản xuất hai sản phẩm: Giấy krap mộc định lượng 150, 130, 180, mực xanh B19, Zoăng pittông chính TDMYA 450…

    + Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản tiền bỏ ra để trả cho công nhân sản xuất hai sản phẩm chính: công nhân các tổ ghim, tổ in, tổ đầu máy…

    + Chi phí sản xuất chung: Các khoản chi có liên quan đến sản xuất: trích khấu hao tài sản cố định, tiền điện, công cụ dụng cụ xuất dùng… Và chi phí để mua quần áo bảo hộ cho công nhân cũng tính vào chi phí sản xuất chung.

    • Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Do quy trình công nghệ sản xuất không phức tạp và quy mô sản xuất nhỏ vì vậy công ty đã tiến hành tính giá thành theo phương pháp giản đơn.

    2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    2.1. Chứng từ sử dụng

    * Doanh nghiệp sử dụng các chứng từ

    + Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho nguyên vật liệu công cụ dụng cụ, bảng phân bổ nguyên vật liệu công cụ dụng cụ.

    + Hóa đơn giá trị gia tăng mua nguyên vật liệu, hóa đơn tiền điện.

    + Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương công nhân sản xuất, bảng phân bổ tiền lương và BHXH.

    + Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ, bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung, phiếu xác nhận hoàn thành sản phẩm.

    • Trình tự luân chuyển chứng tử

    + Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Hàng ngày căn cứ vào yêu cầu của lịch sản xuất các tổ sản xuất đối chiếu giữa mức vật tư cần thiết thực tế và lượng vật tư còn tồn ở phân xưởng để lập phiếu yêu cầu lĩnh vật tư. Phiếu phải ghi rõ họ tên, chủng loại, số vật tư cần lĩnh, được quản đốc phân xưởng thông qua và tình lên phòng kế toán. Kế toán căn cứ vào  yêu cầu lĩnh và khả năng cung cấp thực tế của kho để lập phiếu xuất kho. Thủ kho dựa vào số lượng ghi trên phiếu xuất kho  tiến hành làm thủ tục xuất kho và ghi thẻ kho cho từng loại tương ứng. Cuối ngày, thủ kho giao lại các phiếu xuất kho về phòng kế toán để kiểm tra, ghi sổ kế toán.

    + Đối với chi phí nhân công trực tiếp: Tổ sản xuất ghi bảng chấm công hàng ngày đồng thời các tổ, các tổ trưởng chịu trách nhiệm ghi chép và kiểm tra số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành ở khâu công việc của mình. Căn cứ vào bảng cấm công, phiếu ghi năng suất lao động cá nhân và đơn giá tiền lương thời gian trả cho công nhân sản xuất. Căn cứ vào phiếu xác nhận hoàn thành và đơn giá lương sản phẩm kế toán tính lương  sản phẩm cho công nhân sản xuất. Cuối tháng, các tổ tổng hợp ngày công, kết quả sản xuất đưa lên phân xưởng, phân xưởng tự dựa trên thời gian, kết quả lao động của mỗi tổ để tính lương, thưởng, các khoản giảm trừ của mỗi công nhân, từ đó lập bảng tổng hợp thanh toán tiền lương của cả phân xưởng. Phân xưởng nộp bảng này lên bộ phận tổ chức lao động tiền lương phụ thuộc phòng tổ chức cùng với giải trình chi tiết về công hưởng lương thời gian, công hưởng lương sản phẩm,  sản lượng sản xuất của từng tổ, tính chính xác của các chứng từ, phê duyệt và chuyển sang phòng kế toán. Kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội, sau đó nhập số liệu vào máy lên sổ Nhật ký chung, sổ cái TK 622, và các sổ chi tiết có liên quan.

    2.2. Trình tự hạch toán

    2.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán theo dõi chi tiết nguyên vật liệu được xuất dùng.

    Nợ TK 6214: 32560694,64

    Giấy Kráp mộc định lượng 150 : 19902329,67

    Giấy Kráp mộc định lượng 130 : 3048970,89

    Giấy Kráp mộc định lượng 180 : 9609394,08

    Có TK 1521: 32560694,64

     

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

           676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 42

    Ngày 23 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCHBT2 – Bùi Thị Hương PX Má phanh

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng má phanh

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất má phanh

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 03352 Zoăng pittông chính TDMYA 450 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 03346 Zoăng cao su chịu dầu phi 445 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 03345 Zoăng cao su chịu dầu phi 430 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 01014 – Bột cao su 6212 1524 Kg 210,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

     

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 40

    Ngày 21 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCSTRV – Triệu Văn Sơn

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng bao bì

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất bao bì

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 01106 Dây buộc 6214 1522 M 45,20    
    KHOVMT 01039 Ghi dập hộp 6214 1521 Hộp 10,70    
    KHOVMT 03025 Găng tay cao su 62734 1528 Đôi 30,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 45

    Ngày 25 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCTHM – Hồ Minh Thu

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng bao bì

    Nội dung: Xuất giấy sản xuất bao bì

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 05102 – Giấy Krap mộc định lượng 150 6214 1521 Kg 5 001,00    
    KHOVMT 051010 – Giấy Krap mộc định lượng 130 6214 1521 Kg 763,00    
    KHOVMT 05002 – Giấy Krap vàng định lượng 180 62734 1521 Kg 2 028,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
      Tổng cộng 0

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    2.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, theo thời gian và có phụ cấp độc hại và phụ cấp trách nhiệm.

    Tiền lương thực tế được xác định như sau:

    =  x

    Đơn giá theo ngày công =   x Hệ số cấp bậc lương

    Mức lương tối thiểu áp dụng tại Công ty là: 290.000đ/tháng

    Tiền lương sản phẩm =    x

    Phụ cấp độc hại = Lương sản phẩm x 3%

    Phụ cấp trách nhiệm = Lương cơ bản x 10%

    Công ty không tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất mà hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất.

    – Trích KPCĐ, BHXH theo lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất.

    Kể từ năm 2006 bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được gộp lại. Do đó việc trích Bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn được tính vào chi phí nhân công trực tiếp theo chế độ.

    + BHXH trích 17% lương cơ bản

    + KPCĐ trích 2% lương thực tế

    Trên cơ sở bảng thanh toán lương công nhân trong tháng và tỷ lệ trích KPCĐ, BHXH, kế toán lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ trích kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội là 25%, trong đó 6% khấu trừ vào lương công nhân sản xuất, 19% tính vào chi phí để tính giá thành.

    Ngoài ra, công ty còn quy định nghỉ lễ, nghỉ phép tính theo lương cấp bậc từng người, cứ 1 ngày nghỉ phép hưởng 100% đơn giá lương thời gian. Công ty không thực hiện trích trước vào chi phí tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất nên không mở TK 335: “Chi phí trả trước” để theo dõi công nhân trong nhà máy đi phép đều đặn nên số này phát sinh không làm cho giá thành sản phẩm biến động

    Căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương và BHXH kế toán ghi:

    Nợ TK 6222: 45.949.100

    Nợ TK 6224: 154.190.600

    Có TK 334: 200.139.700

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

    ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG CÔNG NHÂN SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON
    STT Nội dung công việc ĐVT Năng suất (ca) Tiền lương (đ)
    1 Vận hành máy sóng xếp gọn theo yêu cầu để giao cho máy kẻ M2 3.120 33
    2 Vận hành máy kẻ dọc, ngang (đã tính vận chuyển phôi) M2 785 27
    3 Vận chuyển máy bổ     21
    4 In lưới Hộp    
      Hộp thạch bàn

     

    Hộp Hữu Hưng

        56

     

    42

    5 Kiểm tra chất lượng sản phẩm Hộp   5
    6 Pha mực in, chụp lưới Hộp   6
    7 Ghim, bó hộp Hộp   20
    8 Dán hộp Thạch Bàn Hộp   24
    9 Nhân viên kinh tế, chế bản Hộp   6
    10 Carton 5 lớp M2    
      Máy sóng

     

    Máy bổ

    Máy kẻ dọc, ngang

    In

    M2

     

    M2

    M2

    M2

      50

     

    32

    34

    50

    Kế toán trưởng                                                     Người lập phiếu

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH

     

    Tháng 1/2006

    STT Ghi có TK

     

    Ghi nợ TK

    TK 334 (lương chính) TK 338 Tổng cộng
    KPCĐ (2% lương thực tế) BHXH (17% lương cơ bản) Cộng có TK 338
    1 TK 622 CP nhân công trực tiếp 200.139.700 4.002.794 6.394.200 10.396.994 210.536.694
      TK 6222 CP nhân công trực tiếp PX má phanh 45.949.100 918.982 1.790.600 2.709.582 48.658.682
      TK 6224 CP nhân công trực tiếp PX bao bì 154.190.600 3.083.812 4.603.600 7.687.412 161.878.012
    2 TK 627 CP sản xuất chung 12.245.000 244.900 935.000 1.179.900 13.424.900
      TK 62712 CP nhân viên PX má phanh 5.850.000 117.000 425.000 542.000 6.392.000
      TK 62714 CP nhân viên PX bao bì 6.395.000 127.900 510.000 637.900 7.032.900
    3 TK 642 CP quản lý doanh nghiệp 52.364.000 1.047.280 1.360.000 2.407.280 54.771.28
    4 TK 641 CP bán hàng 174.250.000 3.485.000 1.241.000 4.726.000 178.976.000
      Cộng 438.998.700 8.779.974 9.930.200 18.710.174 457.708.874

    Ngày……..tháng…..năm

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                            Người lập biểu

    Đối với các khoản trích theo lương

    Nợ TK 6222: 2.709.582

    Nợ TK 6224: 7.687.412

    Có TK 338: 10.396.994

    Kết chuyển chi phí nhân công vào tài khoản giá thành

    Nợ TK 154: 210.536.694

    Có TK 622: 210.536.694

    2.2.3. Kế toán chi phí sản xuất chung

    * Chi phí nhân viên phân xưởng

    Tiền lương nhân viên phân xưởng bao bì (quản đốc phân xưởng, phó quản đốc phân xưởng, nhân viên kinh tế…) được xác định trên cơ sở hệ số lương cấp bậc và mức lương bình quân của cán bộ gián tiếp.

    =  x Hệ số lương cấp bậc

    =          x

    =+

    * Chi phí vật liệu

    Vật liệu tính vào sản xuất chung: dây điện, vải vụn… Nhân viên sản xuất khi cần những vật liệu này  để dùng cho sản xuất phải viết phiếu yêu cầu lĩnh vật tư. Khi nhận được phiếu yêu cầu lĩnh vật tư do phân xưởng gửi lên, kế toán viết phiếu xuất kho giao cho thủ kho. Thủ kho tiến hành giao toàn bộ số công cụ, dụng cụ cho phân xưởng theo số lượng ghi trên phiếu xuất kho.

    * Chi phí khấu hao TSCĐ

    Công ty trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng

    Mức trích khấu hao năm = Nguyên giá TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao

    =

    * Chi phí dịch vụ mua ngoài:

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 39

    Ngày 20 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCHBT2 – Bùi Thị Hương PX Má phanh

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng má phanh

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất má phanh

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHODCM 04337 – Dây điện đôi 4 ly 62732 1524 M 50,00    
    KHODCM 01111 Dây điện 2*4 62732 1524 M 50,00    
    KHODCM 04088 Cầu đấu dây 62732 1524 Cái 1,00    
    KHODCM 03020 Vải vụn 62732 1524 Kg 108,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
      Tổng cộng 0

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    Với chi phí dịch vụ mua ngoài thì chứng từ chủ yếu là hoá đơn GTGT thanh toán tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại.

    Đối với chi phí về nước, do quá trình sản xuất sản phẩm bao bì và má phanh không sử dụng đến nước cho nên nước chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của nhân viên trong phân xưởng nên phát sinh không nhiều. Trong tháng 1/2006, khối lượng nước sử dụng thực tế là: 36m2 với đơn giá là 2000đ/m3 (đối với phân xưởng sản xuất bao bì).

    Ta có chi phí về nước của phân xưởng được xác định: 36m2 x 2000 = 72.000đ (Giá chưa có thuế GTGT). Bên cạnh đó, chi phí về sử dụng điện thoại của phân xưởng là: 200.968đ, thuế GTGT 10% là: 20.097đ

     

    HOÁ ĐƠN TIỀN ĐIỆN GTGT

    (Liên 2: Giao cho khách hàng)

    Từ ngày 28/12/2005 đến ngày 28/1/2006

    Công ty điện lực TP Hà Nội              Ký hiệu: AA/2005T

    Điện lực Từ Liêm                              Số: 0951703

    Địa chỉ:…………….                         Mã số thuế: 0100101114-1

    Tên khách hàng: Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    Địa chỉ: Đại Mỗ – Từ Liêm – Hà Nội

    Mã số KH: 092181                                     Số công tơ: 52116

    Chỉ số mới Chỉ số cũ Hệ số ĐN tiêu thụ Đơn giá Thành tiền
    1.852.116 1.808.598 1.0 43.518 700 30.462.709
    Ngày 28/1/2006

     

    Giám đốc

    (Ký, đóng dấu)

    Cộng   30.462.709
    Thuế suất GTGT (10% thuế GTGT) 3.046.271
    Tổng cộng tiền thanh toán 33.508.980
    Số tiền viết bằng chữ Ba mươi triệu năm trăm linh tám nghìn chín trăm tám mươi đồng

    Căn cứ vào hoá đơn GTGT kế toán ghi

    Nợ TK 62774:30.735.677

    Nợ TK 133: 3.073.568

    Có TK 111: 33.809.245

    * Chi phí bằng tiền khác

    Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí ngoài các khoản đã nêu trên phát sinh trực tiếp ở các phân xưởng như: chi phí giao dịch, chi phí tiếp khách, bảo dưỡng máy…

    Cuối tháng, dựa vào bảng kê chi tiết cột ghi có TK 111 – Tiền mặt và cột ghi nợ TK 6278 – Chi phí khác bằng tiền, máy tự động cộng toàn bộ chi phí khác bằng tiền phát sinh trong tháng 1/2006 tại phân xưởng.

    Cơ sở để vào bảng kê chi tiền là giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tiền tạm ứng, phiếu chi.

    2.2.4. Kế toán thiệt hại trong sản xuất

    Sản phẩm hỏng của công ty là sản phẩm không thoả mãn tiêu chuẩn chất lượng đặc điểm kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp…Tuỳ thuộc mức độ hư hỏng mà sản phẩm hỏng được chia thành sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được và sản phẩm hỏng không thể sửa chữa đựơc.

    Tại công ty những sản phẩm hỏng trong định mức là những sản phẩm công ty dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình sản xuất, vì đây là những sản phẩm không tránh khỏi bị hỏng nên chi phí cho những sản phẩm này sau khi được hạch toán vào các TK chi phí như TK 621, TK 622, TK627 và chuyển về TK 154 thì chi phí đã được tập hợp cho những sản phẩm trên TK này được gọi là chi phí sản xuất chính phẩm.

    Đối với những sản phẩm hỏng ngoài định mức là những sản phẩm hỏng nằm ngoài dự kiến công ty do các nguyên nhân bất thường như máy hỏng, hoả hoạn… công ty không cộng chi phí của chúng vào chi phí sản xuất chính phẩm, mà chỉ xem là các khoản phí tổn thời kỳ, công ty xem xét các nguyên nhân cụ thể và xử lý, thực hiện bồi thường, đền bù thiệt hại, trừ vào thu nhập…

    Tuy nhiên, do công ty cho đến nay thiệt hại là không đáng kể nên công ty chưa có những biện pháp cụ thể để hạch toán

    2.2.5. Kế toán tổng hợp

    Cuối tháng kế toán tập hợp chi phí để kết chuyển vào tài khoản giá thành

    Tại phân xưởng sản xuất má phanh ô tô

    Nợ TK 154: 244.657.292

    Có TK 6212:112.713.331

    Có TK 6222: 48.658.682

    Có TK 627: 83.285.279

    Tại phân xưởng sản xuất bao bì Carton

    Nợ TK: 390.972.963

    Có TK 6214: 157.209.351

    Có TK 6224: 161.878.012

    Có TK 627: 71.885.600

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG

    Tháng 1/2006

     

    STT Tên tài khoản TK 6271 TK 6272 TK 6274 TK 6277 TK 6278 Tổng cộng
    1 Lương và các khoản phải trả nhân viên PX

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

    13.424.900

     

    6.392.000

    7.032.900

            13.424.900
    2 Vật tư

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

      10.441.021

     

    10.041.024

    400.000

          10.441.021
    3 Khấu hao TSCĐ

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

        67.224.571

     

    50.670.251

    16.554.320

        67.224.571
    4 Chi phí dịch vụ mua ngoài

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

          34.080.378

     

    571.398

    33.508.980

      34.080.378
    5 Chi phí bằng tiền khác

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

            30.000.000

     

    15.610.600

    14.389.400

    30.000.000
      Tổng cộng 13.424.900 10.441.021 67.224.571 34.080.378   155.170.870

    Ngày 31 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT MÁ PHANH Ô TÔ

    Tháng 1/2006

     

      TK 152 TK 334 TK 214 TK 6214 TK 6224 TK 627 Nhật ký đặc biệt Công CPSX phát sinh
    Chi tiêu Mua hàng
    TK 1544       112.713.331 48.658.682 83.285.279     244.657.292
    TK 6214 112.713.331               112.713.331
    TK 6224   48.658.682             48.658.682
    TK 627 10.041.024 6.392.000 50.670.251     83.285.279 15.610.600 571.398 83.285.273

    Ngày 31 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON

    Tháng 1/2006

     

      TK 152 TK 334 TK 214 TK 6214 TK 6224 TK 627 Nhật ký đặc biệt Công CPSX phát sinh
    Chi tiêu Mua hàng
    TK 1544       157.209.351 161.878.012 71.885.600     390.972.963
    TK 6214 157.209.351               157.209.351
    TK 6224   161.878.012             161.878.012
    TK 627 400.000 7.032.900 16.554.320       14.389.400 33.508.980 71.885.600

    Ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    2.3.Sổ kế toán

    Doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng hình thức sổ: Nhật ký chung và để thuận tiện cho việc theo dõi tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đồng thời để giảm bớt công việc quá tải của phòng kế toán vào những lúc quyết toán hay những lúc nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm kế toán FAST ACCOUNTING việc sử dụng phần mềm kế toán sẽ hạn chế được những sai sót khi thực hiện các quá trình vào sổ.

    Chứng từ phát sinh hàng ngày được mã hoá và cập nhật trong menu cụ thể, hệ thống sổ chi tiết được lưu giữ trong  máy.

    Quy trình xử lý số liệu của phần mềm kế toán Fast Accouting

    Nghiệp vụ kinh tế phát sinh          Lập chứng từ          Chứng từ kế toán     Nhập chứng từ vào các phân hệ nghiệp vụ        Các tệp nhật ký           Chuyển sang sổ cái          Tệp sổ cái            Lên báo cáo        Sổ sách kế toán báo cáo tài chính.

    Để mã hoá doanh nghiệp dùng phương pháp đánh số lần lượt tăng dần theo số phát sinh của các danh điểm mới bắt đầu từ 00001.

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 621

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      1

     

    1

    2

    3

    40

    40

    42

    42

    42

    44

    44

    44

    46

    3/1/2006

     

    3/1/2006

    6/1/2006

    6/1/2006

    21/01/2006

    21/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    25/01/2006

    25/01/2006

    25/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2007

    Số dư đầu tháng

     

    Xuất mực đen sản xuất bao bì

    Xuất mực đỏ (04) sản xuất bao bì

    Xuất cầu đấu dây phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất keo con voi phục vụ sản xuất

    ….

    ….

    Xuất dây buộc để sản xuất bao bì

    Xuất ghim dập hộp sản xuất bao bì

    Xuất Zoăng pittông chính TDMYA 450 SX má phanh

    Xuất Zoăng cao su chịu dầu phi 445 sản xuất má phanh

    Xuất Zoăng cao su chịu dầu phi 430 sản xuất má phanh

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 150 sản xuất bao bì

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 130 sản xuất bao bì

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 180 sản xuất bao bì

    Xuất lưới in bao bì sản xuất bao bì

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX bao bì

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX má phanh

    1521

     

    1521

    1522

    1522

    1524

    1524

    1524

    1521

    1521

    1521

    1528

    1544

    1542

    2000125,44

     

    1408604,4

    57690

    102765

    ………

    ………

    241820

    132210,27

    1070040,32

    977235,65

    935365,65

    19902329,67

    3048970,89

    9609394,08

    1230168,5

    157209351

     

    112713331

          Tổng số phát sinh   269922682 269922682

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

     

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 622

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
        26/01/2006

     

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2006

    Số dư đầu kỳ

     

    Tính tiền lương công nhân sản xuất bao bì

    Tính tiền lương công nhân sản xuất má phanh

    Trích BHXH và KPCĐ cho công nhân PX bao bì

    Trích BHXH và KPCĐ cho công nhân PX má phanh

    Kết chuyển chi phí tiền lương công nhân PX bao bì

    Kết chuyển chi phí tiền lương công nhân PX má phanh

    334

     

    334

    338

    338

    1544

    1542

    154190600

     

    45949100

    7687412

    2709582

    161878012

     

    4865682

          Tổng số phát sinh   210536694 210536694

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

     

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 627

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      3

     

    3

    39

    39

    39

    39

    40

    15

    16

    45

    3/1/2006

     

    3/2/2006

    …….

    ……..

    20/01/2006

    20/01/2006

    20/01/2006

    20/01/2006

    21/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    25/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2006

    Số dư đầu tháng

     

    Chi tiền bảo dưỡng xe máy phục vụ sản xuất bao bì

    Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất má phanh

    …………….

    …………….

    Xuất dây điện đôi 4 ly phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất dây điện 2*4 phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất cầu đấu dây phục vụ sản xuất  má phanh

    Xuất vải vụn phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất găng tay cao su phục vụ sản xuất bao bì

    Mua gỗ dán phục vụ sản xuất bao bì

    Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì

    Xuất găng tay cao xu phục vụ sản xuất má phanh

    Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất bao bì

    Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất má phanh

    Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì

    Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì

    Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất bao bì

    Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất má phanh

    Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì

    Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX má phanh

    111

     

    111

    1524

    1524

    1524

    1524

    1528

    111

    111

    1528

    334

    334

    338

    338

    214

    214

    1544

    1542

    3256695

     

    4569235

    ……

    …….

    1190000

    1066000

    43200

    1341360

    197820

    265000

    2356465

    151662

    6395000

    5850000

    637900

    542000

    16554320

    50670251

    71885600

     

    83.285.279

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 154

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
          Số dư đầu tháng   82.631.933  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu PX bao bì 6214 157.209.351  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu PX má phanh 6212 112.713.331  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp PX bao bì 6224 161.878.012  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp PX má phanh 6222 48.658.682  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì 627 83.285.279  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX má phanh 627 71.885.600  
        27/01/2006 Nhập kho thành phẩm bao bì 155   354.006.736
        27/01/2006 Nhập kho thành phẩm  má phanh 155   276.695.235
          Cộng phát sinh   635.630.255 630.701.971
          Số dư cuối tháng   87.560.217  

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6214

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      1 3/1/2006 Xuất mực đen sản xuất bao bì 1521 2000125,44  
      1 3/1/2006 Xuất mực đỏ (04) sản xuất bao bì 1521 1408604,4  
        …………………….      
      40 21/01/2006 Xuất dây buộc để sản xuất bao bì 1522 214820  
      40 21/01/2006 Xuất ghim dập hộp sản xuất bao bì 1522 132210,27  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 150 sản xuất bao bì 1521 19902329,67  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 130 sản xuất bao bì 1521 3048970,89  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 180 sản xuất bao bì 1521 9609394,08  
      46 26/01/2006 Xuất lưới in bao bì sản xuất bao bì 1528 1230168,5  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX bao bì 1544   157209351
          Tổng cộng   157209351 157209351

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6224

    Tháng 1/2006

     

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
        26/01/2006 Tính tiền công nhân sản xuất 334 154190600  
        26/01/2006 Trích BHXH và KPCĐ 338 7687412  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp 1544   161878012
          Tổng cộng   161878012 161878012

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6214

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      3 3/1/2006 Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì 111 3256695  
        ……… ………………..   …..  
        ………… ……………………….   ……….  
      40 21/01/2006 Xuất găng tay cao su phục vụ sản xuất bao bì 1528 197820  
      15 23/01/2006 Mua gỗ dán phục vụ sản xuất bao bì 111 265000  
      16 23/01/2006 Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì 111 2356465  
        26/01/2006 Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất bao bì 334 6395000  
        26/01/2006 Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì 338 637900  
        26/01/2006 Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất bao bì 214 16554320  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì 1544   71885600
          Tổng cộng   71885600 71885600

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    3. Giá thành sản phẩm

    3.1. Kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    Tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, chi phí sản xuất làm dở cuối tháng được tính theo phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính. Cụ thể việc tính toán được tiến hành như sau: công thức tính giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng:

    Chi phí SPDDCK = CPNVL của SPDD đầu kỳ + CP NVL phát sinh trong kỳ x KL sản phẩm DDCK
    KL sản phẩm hoàn thành + KL sản phẩm DDCK

    Tại phân xưởng bao bì sản phẩm dở dang đầu tháng 1/2006 đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là 43.007.026đ.

    Căn cứ vào giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, bảng tập hợp chi phí sản xuất từng phân xưởng. Ta có giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng của sản phẩm bao bì:

    x  53.545,24  = 76.048/.193đ

    3.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm

    Công ty Cổ phần và sản xuất thương mại Viglacera có quy trình sản xuất bao bì là dây chuyền sản xuất kiểu liên tục, chỉ những sản phẩm ở giai đoạn công nghệ cuối cùng mới là thành phẩm. Công ty không có nửa thành phẩm bán ra ngoài hay nhập kho. Xuất phát từ đặc điểm này, kế toán xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm bao bì hoàn thành  nhập kho. Đơn vị tính giá thành là m2 bao bì hoàn  thành. Để phù hợp với yêu cầu quản lý, Công ty quy định tính giá thành là tháng.

    Do quy mô doanh nghiệp nhỏ và quy trình sản xuất sản phẩm không phức tạp nên doanh nghiệp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp giản đơn.

    Trình tự khai báo và tính giá thành sản phẩm:

    – Khai báo các thông tin để tính giá thành

    + Khai báo bộ phận hạch toán: Theo từng phân xưởng

    + Khai báo danh mục chi phí tính giá thành: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

    – Cập nhật số liệu dở dang đầu kỳ

    + Cập nhật số lượng sản phẩm dở dang đầu kỳ

    + Cập nhật nguyên vật liệu dở dang đầu kỳ

    – Các bước tính giá thành sản phẩm

    + Cập nhật số số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ

    + Cập nhật nguyên vật liệu trực tiếp dở dang cuối kỳ

    + Tính giá xuất nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ

    + Kết chuyển chi phí trực tiếp

    + Tính số lượng sản phẩm nhập kho trong kỳ

    + Tính giá thành sản phẩm

    + Điều chỉnh giá thành

    + Cập nhật giá cho các phiếu nhập kho thành phẩm

    =       +          –

    =          43.007.026    +      390.972.963     –      45.124.449

    = 357.931.796

    =     = 4.049,2

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    Phân xưởng sản xuất bao bì

     

    BIÊN BẢN KIỂM KÊ SẢN PHẨM DỞ DANG CUỐI KỲ PX BAO BÌ

    Ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Tiến hành hồi: 15h00′ ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Thành phần:         1. Vũ Văn Duy: Phòng kỹ thuật

    1. Đỗ Trọng Tấn: Phòng kế toán
    2. Lê Văn Hải: Quản đốc phân xưởng
    STT Bộ phận ĐVT Số lượng
    01 Tổ sóng m2 15.183,14
    02 Tổ kẻ m2 10.112,00
    03 Tổ bổ m2 9.000,00
    04 Tổ in lưới m2 9.570,00
    05 Tổ hoàn thiện m2 9.680.00
      Cộng m2 53.545,24

    Kế toán trưởng          Quản đốc phân xưởng         Người lập phiếu

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    676 – Hoàng Hoa Thám -Tây Hồ – Hà Nội

     

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOÀN THÀNH

    Tháng 1/2006

    Tiến hành hồi: 15h00′ ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Thành phần:         1. Vũ Văn Duy: Phòng kỹ thuật

    1. Đỗ Trọng Tấn: Phòng kế toán
    2. Lê Văn Hải: Quản đốc phân xưởng
    3. Nguyễn Quang Bình: Quản đốc PX má phanh

    Tiến hành kiểm kê toàn bộ sản phẩm hoàn thành tại các phân xưởng đến hết ngày 27

    STT Bộ phận ĐVT Số lượng
    1 Bao bì Carton m2 7.884
    2 Má phanh ô tô kg 87.426,34

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    676 – Hoàng Hoa Thám -Tây Hồ – Hà Nội

    BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM BAO BÌ

    Tháng 1/2006

    Đơn vị: đồng

    Sản lượng sản phẩm hoàn thành: 87426,34m2

    STT Khoản mục CPSXDD đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ CPSXDD cuối kỳ Tổng giá thành Giá thành đơn vị
    1 CP nguyên vật liệu trực tiếp 43007026 157209351 76048193 124168184 1420,3
    2 CP nhân công trực tiếp   161878012   161878012 1851,6
    3 CP sản xuất chung   71885600   71885600 822,3
      CP nhân viên phân xưởng

     

    CP vật liệu xuất dùng

    CP dịch vụ mua ngoài

    CP bằng tiền khác

    Trích khấu hao TSCĐ

      7032900

     

    400000

    33508980

    14389400

    16554320

      7032900

     

    400000

    33508980

    14389400

    16554320

    80,44

     

    4,58

    383,3

    164,59

    189,35

      Cộng 43007026 390972963   357931797 4049,2

    Giám đốc                     Kế toán trưởng                         Quản đốc phân xưởng                        Người lập

    PHẦN III

    MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN

     TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

     TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI VIGLACERA

     

    I. SỰ CẦN THIẾT VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY

    1. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Nhìn chung các doanh nghiệp đều tôn trọng nguyên tắc giá phí trong việc xác định giá trị của các đối tượng cần tính giá. Việc tổ chức công tác tính giá cho các đối tượng cần tính giá theo các yếu tố cấu thành giá mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện là 1 trong các nội dung biểu hiện trong công tác kế toán tại doanh nghiệp. Sản phẩm hoàn thành là thành quả của 1 quá trình lao động và sản xuất của cán bộ công nhân viên trong toàn doanh nghiệp. Nhưng để có được như mong muốn đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra rất nhiều chi phí cũng như công sức lao động của những người tham gia. Việc tập hợp các khoản chi phí này cho phép tính được tổng chi phí đã chi ra, giá thành sản xuất của sản phẩm từ đó xác định mức giá tối thiểu bàn các sản phẩm để thu về hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Như vậy, trong công tác quản lý doanh nghiệp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh  cũng như tình hình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất trong quá trình hoạt động kinh doanh của cả doanh nghiệp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có 1 tầm quan trọng đặc biệt, là 1 phần hành không thể thiếu trong công tác kế toán của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào nhằm cung cấp thông tin cần thiết để tính đúng tính đủ chi phí sản xuất và tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Do đó, các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được các nhà quản lý quan tâm, chúng là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại cho những nhà quản lý nhiều định hướng cũng như các quyết định quan trọng trong việc điều hành. Mục tiêu phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là điều kiện chủ yếu giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể đứng vững chắc trên thị trường cạnh tranh.

    Như vậy, sự hoàn thiện của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm góp phần không nhỏ vào sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm để tăng cường hiệu quả kế toán cũng như quản trị doanh nghiệp, góp phần tăng sức mạnh của doanh nghiệp.

    2. Nguyên tắc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là 1 bộ phận quan trọng trong toàn bộ nội dung tổ chức kế toán tại doanh nghiệp. Do đó, công tác kế toán này phải tuân theo những nguyên tắc chung.

    Trước hết, tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đúng với luật kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, phù hợp với những yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước. Bên cạnh đó tổ chức công tác kế toán này phải phù hợp với các chế độ, chính sách, thể lệ, văn bản pháp quy về kế toán do Nhà nước ban hành. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý cán bộ kế toán phải có trình độ chuyên môn phù hợp với công tác tổ chức kế toán này. Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả.

    – Thống nhất trong tổ chức

    + Doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất giữa chỉ tiêu quản lý và chỉ tiêu hạch toán.

    + Doanh nghiệp cũng phải đảm bảo sự  thống nhất về phương pháp hạch toán trong một niên độ kế toán. Doanh nghiệp chọn phương pháp hạch toán phải sử dụng hết chu kỳ kế toán (1 năm) mới được phép thay đổi. Ví dụ doanh nghiệp chọn phương pháp hạch toán kế toán hàng tồn kho theo phương pháp FIFO. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

    + Doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất về hệ thống tài khoản và sổ kế toán.

    – Nguyên tắc phù hợp về loại hình kinh doanh là doanh nghiệp sản xuất, điều kiện cơ sở vật chất phù hợp.

    + Doanh nghiệp đảm bảo sự phù hợp về quy mô hoạt động

    + Sự phù hợp đối với yêu cầu về trình độ quản lý

    +Doanh nghiệp phải tính đến khả năng hạch toán của đơn vị; sự phù hợp về nhân sự cũng như thay đổi về nhân sự.

    + Việc ghi nhận chi phí là phải phù hợp. Đó là sự phù hợp giữa ghi nhận doanh thu và chi phí ghi nhận 1 khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu là khoản chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của  các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu trong kỳ đó.

    Ngoài ra, tổ chức công tác kế toán này phải có sự thận trọng, chi phí được ghi nhận kho có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí đó.

    3. Nhận xét chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    Quá trình hoạt động sản xuất kế toán giữa công ty từ khi thành lập cho tới nay đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, thể hiện ở chặng đường phấn đấu không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với sự mở rộng không ngừng quy mô sản xuất khiến sản phẩm của công ty ngày càng thích nghi với nhu cầu của thị trường, tạo điều kiện để từng bước hòa nhập với xu thế phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.

    Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường là 1 cơ quan nhạy bén cùng những cơ chế kinh tế mới, công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera đã có những phát triển khá nhanh. Sự năng động, linh hoạt cùng với việc ứng dụng kịp thời công nghệ thông tin vào công tác kế toán tại công ty đã từng bước phát huy hiệu quả, giảm bớt khối lượng ghi chép, hạch toán và cung ứng thông tin nhanh chóng, kịp thời cho ban lãnh đạo công ty, giúp ban lãnh đạo công ty đưa ra những quyết định đúng đắn trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Nhận thức được việc đã đưa ra các giải pháp phù hợp trong điều kiện hiện nay chỉ có thể thực hiện trên cơ sở sản phẩm phân tích đánh giá 1 cách đầy đủ, khách quan tình hình quản lý của công ty mà nội dung chủ yếu là công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, công ty luôn cố gắng nghiên cứu tìm ra những biện pháp cụ thể về quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Song nói như vậy không có nghĩa là không có những hạn chế trong công tác kế toán tại công ty. Dưới góc độ là một sinh viên thực tập lần đầu tiên được quen với thực tế, em xin nêu ra 1 số ý kiến nhận xét  về công tác kế toán nói chung cũng như công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nói riêng như sau:

    3.1. Những ưu điểm trong công tác tổ chức quản lý kế toán tại công ty

    – Tại công ty các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được cập nhật thường xuyên, đầy đủ chính vì vậy, công ty luôn đảm bảo cho việc lập và nộp báo cáo kịp thời cho cấp trên và đơn vị chủ quản vào cuối mỗi quý.

    – Công ty đã xây dựng giá thành định mức trên cơ sở định mức tiêu  hao nguyên vật liệu chính, định mức tiền lương… làm thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng các loại vật tư, tiền vốn… cũng như giải pháp công ty áp dụng trong sản xuất kinh doanh.

    – Hình thức tổ chức bộ máy kế toán về cơ bản là phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tại công ty. Việc tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ, hợp lý hoạt động có nề nếp, kinh nghiệm. Các cán bộ kế toán có trình độ nghiệp vụ cao nắm vững chế độ và vận dụng 1 cách linh hoạt, tác phong làm việc khoa học, có tinh thần tương trợ lẫn nhau trong công việc. Song có điểm công ty nên xem xét lại đó là không nên để 1 kế toán viên kiêm nhiệm thủ quỹ, vì làm như vậy trái với nguyên tắc kế toán.

    – Hình thức nhật ký chung được sử dụng tại công ty là hoàn toàn phù hợp với hình thức kế toán máy và tạo thuận lợi cho công ty trong việc cơ giới hóa công tác kế toán.

    – Đối với công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công ty đã tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khá nề nếp đảm bảo tuân thủ đúng chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với điều kiện của công ty đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý tạo điều kiện để công ty thực hiện tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đây là một trong những mặt tích cực mà công ty đã xác định khi chuyển sang cơ chế thị trường tuy nhiên trong kỷ luật hạch toán vẫn còn có những vấn đề chưa thực sự hợp lý, cần  nghiên cứu hoàn thiện thêm.

    – Về đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất: Quy trình công nghệ sản xuất bao bì là ruột quy trình phức tạp, liên tục sản phẩm sản xuất ra phải trả qua nhiều công đoạn khác nhau, do đó trong cơ cấu phân xưởng có nhiều tổ việc công ty xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty theo phân xưởng đã tạo điều kiện cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất được tiến hành nhanh chóng.

    – Về kế toán chi phí nguyên vật liệu: công tác kế toán này được thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng chế độ, các phiếu xuất kho NVL được cập nhật đầy đủ, kịp thời tạo thuận lợi cho việc tính giá vật liệu xuất kho và tính giá thành sản phẩm. Ngoài ra, công ty đã mở sổ ghi chép phù hợp với hình thức kế toán áp dụng tại công ty. Hệ thống kế toán được mở chi tiết TK cấp 2 cấp 3 giúp tập hợp chi phí sản xuất dễ dàng thuận tiện trong việc ứng dụng kế toán máy.

    – Về kế toán chi phí nhân công trực tiếp: công ty áp dụng hình thức trả lương sản phẩm, khuyến khích người lao động làm việc hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, công tác hạch toán tiền lương được thực hiện nghiêm túc, đúng chế độ quy định.

    – Về kế toán chi phí sản xuất chung: công tác kế toán này được tiến hành tương đối theo đúng quy định.

    – Tổ chức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo quan điểm của công ty giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng là vật liệu chính ở các phân xưởng công ty căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm để áp dụng phương pháp này. Theo đó, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phẩm. Vì thế trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính. Điều này khá thuận tiện và phù hợp cho công ty.

    – Về đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành: Để giảm bớt tính phức tạp của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành cho sản phẩm công ty xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm bao bì hoàn thành chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ liên tục nên tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo định kỳ tính giá thành là phù hợp.

    3.2. Những mặt hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý kế toán tại công ty

    – Khoản mục chi phí NVL trực tiếp dùng cho sản xuất công ty sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính, công ty đã hạch toán số vật liệu thừa chưa dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Điều này chưa được hợp lý.

    – Cán bộ công nhân viên nghỉ phép không đều giữa các tháng khiến việc trích tiền lương nghỉ phép giữa các tháng khác nhau, có tháng nhiều, có tháng ít, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    – Khoản chi vặt thuộc lĩnh vực phúc lợi (chi sinh hoạt đoàn viên) được tập hợp vào khoản mục chi phí sản xuất chung không hợp lý do số lượng công nhân lớn chi phí cho mỗi lần sinh hoạt đoàn viên tuy nhỏ so với tổng chi phí sản xuất nhưng nó cũng ảnh hưởng phần nào tới giá thành sản phẩm.

    Việc tính khấu hao TSCĐ của công ty theo từng tháng. Việc tính khấu hao theo từng tháng tuy có tác dụng bình ổn về giá nhưng lại không phản ánh chính xác các khoản chi phí công ty đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm cũng như hiệu quả kinh doanh.

    – Công ty xác định đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành gồm sản phẩm má phanh và bao bì Carton. Mỗi một sản phẩm lại gồm nhiều loại khác nhau nhưng chỉ tính giá thành theo đơn vị m2, kg. Do đó, công ty cần phân biệt từng loại sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng có yêu cầu về kỹ thuật, mẫu mã khác nhau vì vậy đối tượng tính giá thành ở đây không thể hiện sự khác nhau. Vì vậy đối tượng tính giá thành ở đây không thể hiện sự khác nhau của từng chủng loại sản phẩm.

    II. MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    – Sau một thời gian ngắn tìm hiểu thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao bì tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, dưới góc độ là một sinh viên thực tập em xin mạnh dạn nêu ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    1. Xác định đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm thích hợp

    Quy trình công nghệ sản xuất bao bì tạo ra 1 loại sản phẩm chính là bao bì nhưng có nhiều chủng loại khác nhau và chỉ tính giá thành theo đơn vị m2, kg. Chi phí để sản xuất mỗi loại bao bì khác nhau sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm của chúng cũng khác nhau. Chẳng hạn, giá thành bao bì cũ hợp thạch bàn sẽ khác với giá thành hợp hữu hưng và hợp carton 5 lớp… Thực tế xem xét tình hình tiêu thụ em thấy giá bán của các loại bao bì này cũng khác nhau. Do đó để tính toán chính xác số lãi hoặc số lỗ nhằm định hướng sản xuất, tăng số lượng bao bì có lãi cao, giảm số bao bì có lãi thấp và tiêu thụ chậm, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị ra quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác công ty sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng nhưng lại không tính giá thành theo từng đơn đặt hàng điều này không hợp lý trong quá trình xác định đối tượng tính giá thành. Doanh nghiệp nên xác định lại đối tượng tính giá thành.

    Khi có các đơn đặt hàng của khách hay kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo đơn. Đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh sẽ được tập hợp theo từng đơn không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ, giản đơn hay phức tạp. Khi phân bổ chi phí sản xuất chung sẽ phân bổ theo từng đơn đặt hàng với những tiêu chuẩn phù hợp tổng giá thành sẽ là tổng chi phí đã được tập hợp theo đơn đặt hàng đó giá thành đơn vị sẽ là tổng giá thành của đơn vị chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.

    2. Hoàn thiện công tác hạch toán ban đầu

    Hiện nay Bộ Tài chính ban hành quyết định số 15/2006/QĐ-BTC chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam 2006 doanh nghiệp nên cập nhật trong quyết định số 15 có sự thay đổi của các bảng biểu, sổ sách, chứng từ doanh nghiệp nên kịp thời áp dụng để thực hiện đúng quyết định mà Bộ Tài chính đã ban hành .

    Hoàn thiện công tác hạch toán ban đầu chính là việc cung cấp đầy đủ bộ chứng từ phục vụ cho quá trình ghi chép những nghiệp vụ kinh tế phát sinh các chứng từ cần phải được tuân theo đúng quy định, doanh nghiệp áp dụng biểu mẫu theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng phiếu xuất kho.

     

    PHIẾU XUẤT KHO

    Người nhận hàng:

    Đơn vị:

    Địa chỉ:

    Nội dung:

    STT Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
        Tổng:            

    Với mẫu phiếu xuất kho này thì chỉ xác định được lượng thực xuất mà không xác định được số lượng yêu cầu và đi kèm với phiếu xuất kho này phiếu yêu cầu lĩnh vật tư như vậy muốn để biết được lượng thực xuất và lượng yêu cầu cần phải xem hai loại chứng từ. Doanh nghiệp nên áp dụng đúng mẫu phiếu xuất kho để tiện theo dõi và phù hợp với quyết định của Bộ Tài chính.

    Mẫu số: 02-VT

    Đơn vị:                                                (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC)

    Bộ phận:  Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày….tháng….năm    Nợ:……

    Số:                        Có………

    Họ tên người nhận hàng:……………….Địa chỉ (bộ phận):……………

    Lý do xuất kho…………………………

    Xuất tại kho (ngăn lô)………………….Địa điểm:

    STT Tên, nhãn hiệu, quy cách Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
                   
      Cộng x x x x x x

    Tổng số tiền (Viết bằng chữ):…………………….

    Số chứng từ gốc kèm theo…………………………

    Ngày…..tháng…..năm

    Người lập phiếu Người nhận hàng Thủ kho Kế toán trưởng Giám đốc
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

     

    3. Về tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu và xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu phù hợp

    – Như chúng ta đã biết giá thành sản phẩm có vai trò quyết định với mức lợi nhuận của phân xưởng, mà giá thành làm ra lại phụ thuộc vào các chi phí sản xuất, sản xuất về nguyên vật liệu. Chi phí này luôn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sửa chữa sản phẩm phải tiến hành tiết kiệm tối đa, phải tổ chức tốt khâu nguyên vật liệu, các định mức tiêu hao NVL phải được xây dựng chặt chẽ và sát với thực tế.

    Để giảm bớt tiêu  hao nguyên vật liệu với mức tối thiểu, xây dựng phương án định mức tiêu hao vật tư so với thực tế nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, nhất thiết cán bộ công nhân viên phái có ý thức, trách nhiệm cao trong sản xuất, nâng cao năng suất sử dụng máy móc, thiết bị, sử dụng hết công suất máy, tăng năng suất lao động tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao. Việc cung cấp nguyên vật liệu phải đảm bảo chất lượng và đồng bộ  phục vụ cho sản xuất tốt.

    Bên cạnh đó, công ty cũng nên tích cực đi sâu vào nghiên cứu thị trường và mở rộng quan hệ với các đối tác trong quan hệ làm ăn.

    4. Về bảng phân bổ tiền lương và BHXH

    Theo em, công ty không nên tính tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất và của nhân viên phân xưởng vào cả lương chính mà nên đưa vào cột lương trong bảng phân bổ tiền lương và BHXH, nhằm thể hiện sự tách bạch của các khoản tiền lương đồng thời đảm bảo chính xác các khoản tiền lương đó:

    – Lương chính là tiền lương trả công cho nhân viên trong thời gian làm việc thực tế

    – Lương phụ là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian ngừng việc như: nghỉ lễ, nghỉ phép, đi học, đi họp theo chế độ quy định.

    Căn cứ vào bảng chấm công, đơn giá lương thời gian xác định tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất và nhân viên phân xưởng bao bì, sau đó đưa cột lương phụ vào trong bảng phân bổ tiền lương và BHXH.

    5. Về trích trước tiền lương nghỉ phép

    Trong thời gian qua do công nhân nghỉ phép không đều nhau giữa các tháng tạo ra sự biến động chi phí sản xuất giữa các kỳ. Do vậy, công ty cần xem xét nhu cầu nghỉ phép và lập kế hoạch trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất. Kế toán ghi sổ nhật ký chung. Sổ cái TK 622, TK 335 (TK chi tiết, TK có liên quan) từ bảng phân bổ tiền lương và BHXH theo định khoản

    Nợ TK 622

    Có TK 335           Số trích trước bán hàng

    Khi tính tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất nghỉ phép kế toán ghi:

    Nợ TK 335

    Có TK 334           Số tiền nghỉ phép thực tế phát sinh

    Công thức:

    =       x  Tỷ lệ trích trước

    Tỷ lệ trích trước =   x 100%

    Hiện tại công ty chưa mở TK tổng hợp 335. Chi phí phải trả và các TK chi tiết có liên quan để theo dõi tình hình, các nghiệp vụ liên quan đến các khoản chi phí phải trả. Do đó công ty nên xem xét mở thêm TK 335

    1. Về kế toán thiệt hại trong sản xuất

    Hiện nay công ty chưa có biện pháp cụ thể đối với những sản phẩm hỏng. Mặc dù cho đến nay thiệt hại là không đáng kể nhưng công ty cũng nên có biện pháp hạch toán cụ thể để đến khi có sự cố xảy ra kế toán cũng không lúng túng trong quá trình hạch toán.

    Đối với những sản phẩm hỏng trong định mức khi hoạch toán về kế toán đưa vào các tài khoản chi phí TK 621, 622, 627, để cuối kỳ  kết chuyển vào tài khoản 154 và tính giá thành sản phẩm.

    Với những sản phẩm hỏng của phân xưởng bao bì thì hạch toán các CP vào các tài khoản tương ứng TK 6214, 6224, 627, 1544. Với những sản phẩm hỏng của phân xưởng má phanh ô tô cũng hạch toán vào các TK 6212, 6222, 627, 1542.

    Đối với những sản phẩm hỏng ngoài định mức công ty nên tìm hiểu rõ nguyên nhân để tiện theo dõi.

    + Nguyên nhân hỏng do 1 cá nhân hay 1 tổ, đội cần có hình thức phạt bồi thường theo giá trị sản phẩm hoàn thành được sản xuất ra:

    Nợ TK 138                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    hoặc có thể trừ vào lương công nhân

    Nợ TK 334                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    Nếu trừ vào thu nhập của doanh nghiệp

    Nợ TK 811                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    7. Về kiểm tra đánh giá sản phẩm dở dang

    Công ty xác định CP sản phẩm làm dở cuối tháng đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu chính. Phương pháp này là tương đối phù hợp với điều kiện sản xuất của công ty. Tuy nhiên việc không tách biệt vật liệu thừa chưa dùng đến trong tổng số VLC dùng cho sản xuất là chưa chính xác. Theo em thì công ty nên có những biện pháp quản lý cụ thể như sau:

    + Đối với nguyên vật liệu có thể sử dụng ngay ở kỳ sau thì phân xưởng có thể tiến hành nhập kho lại để bảo quản nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích khác.

    + Đối với nguyên vật liệu có thẻ sử dụng ngay ở kỳ sau của phân xưởng sẽ lập phiếu báo cáo vật tư còn cuối kỳ làm 2 liên.

    – Liên thứ nhất: gửi lên phòng kế toán để theo dõi và phản ánh lượng vật tư còn cuối kỳ làm 2 liên.

    – Liên 2: giao cho phòng kho vật tư để phòng vật tư lập kho mua nguyên vật liệu cho kỳ sau được chính xác, hợp lý.

    Sau khi nhận được phiếu báo vật tư, kế toán tiến hành định khoản

    Nợ TK 152                    NVL thừa không sử dụng nhập lại

    Có TK 621                     kho

    Mua phiếu báo vật tư còn cuối kỳ như sau:

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

    676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

    PHIẾU BÁO VẬT TƯ CÒN CUỐI KỲ

    Bộ phận sử dụng: phân xưởng sản xuất bao bì

    STT Tên, nhãn hiệu quy cách vật tư Mã vật tư ĐVT Số lượng Lý do
               

    Ngày……tháng…..năm

    Bộ phận sử dụng

    (Ký, họ tên)

     

    KẾT LUẬN

     

    Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera em nhận thấy công tác tổ chức quản lý tại công ty nói chung, công tác kế toán nói riêng, về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, nếu công ty có những biện pháp thích hợp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thì công ty sẽ phát huy vai trò của mình đối với quá trình phát triển. Đối với mỗi doanh nghiệp, quản lý là vấn đề cơ bản trong đó kế toán là một công cụ đắc lực, không chỉ là sự cung cấp thông tin cho những nhà cung cấp, nhà quản lý… mà còn giúp ban lãnh đạo, các nhà quản lý đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

    Trên cơ sở những kiến thức đã thu nhận trong trong thời gian học tập tại trường Trung học dân lập Kinh tế kỹ thuật tổng hợp Hà Nội, kết hợp với quá trình thực tiễn tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, em đã học hỏi được một số kết quả nghiên cứu nhất định.

    – Tìm hiểu những vấn đề chung trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Từ đó nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán này. Nắm vững bản chất nội dung kinh tế của chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và các phân loại chi phí, giá thành được sử dụng trong kế toán tài chính.

    – Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao bì tại công ty.Em nghĩ khi tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ và chính xác, kế toán đưa ra được giá thành sản xuất phù hợp, đó là chìa khóa của việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    – Đề xuất được 1 số ý kiến đóng góp hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất kế toán có hiệu quả.

    Với thời gian ngắn thực tập tại công ty, em đã có cơ hội tiếp cận thực tiễn tuy nhiên thời gian đó chưa đủ để em có thể tìm hiểu sâu và rộng hơn về tình hình sản xuất kinh doanh, công tác quản lý lao động và các hoạt động khác tại công ty. Thêm vào đó, từ kiến thức học ở trường cho đến thực tiễn còn rất nhiều khoảng cách. Vì vậy, những vấn đề đã nêu trong chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để có thể hoàn thành chuyên đề này được hoàn chỉnh hơn.

    Cuối cùng,cảm ơn các cán bộ phòng tài chính – kế toán tại Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacere, đặc biệt là cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh trường THDL kinh tế kỹ thuật tổng hợp và kế toán trưởng Đỗ Trọng Tấn đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]