Category: Ôn thi

  • Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

    Thuyết minh Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

     

    BÀI LÀM

    Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng

    Đức thứ 27 (1496), người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải

    Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã

    ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó “trải

    mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành”.Ông đã viết tập truyện chữ Hán nổi

    tiếng trong cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại.

    Truyền kỳ mạn lục – một tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút”. Truyện được

    Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm.

    Tryền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm 20 truyện,

    ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Lục là sách, mạn là ghi chép tản mạn, truyền kì là chuyện

    lạ kì lưu truyền trong dân gian.

    Truyền kì mạn lục là sách ghi chép lại những câu chuyên lạ trong dân gian. Tác

    phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt, gọt

    giũa của Nguyễn Dữ chứ ko phải chỉ là một công trình ghi chép đơn thuầnTrong Truyền

    kỳ mạn lục Nguyễn Dữ viết về các nhân vật, các sự việc kỳ lạ xảy ra thời Lý, Trần, Hồ và

    thời Lê sơ. Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả

    Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần,

    vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài

    giỏi ấy vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền

    thế độc ác, đồi bại.

    Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, tác giả Truyền kỳ mạn lục

    vẫn nhìn thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những

    tình người tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đã mô tả nó thật

    đẹp đẽ, mỹ lệ. Trong số đó có tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên ” đã đề cao

    tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô

    Tử Văn; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà.

    Chuyện chức phán sự đền Tản Viên kể về Ngô Tử Văn – người vốn khảng khái,

    nóng nảy,thấy sự gian tà thì ko thể chịu được. Mọi người vẫn thường khen Văn là người

    cương trực. Ở làng Tử Văn sống trước có một ngôi đền linh ứng nhưng giờ đã thành ngôi

    đền có hồn của tên giặc xâm lược tử trận gần đó làm yêu quái trong dân gian. Trước sự

    việc ngôi đền bị uế tạp và yêu quái có thể làm hại dân, “Tử Văn rất tức giận, một hôm

    tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”.Sự khắng khái, nóng nảy của Tử Văn đã

    dẫn đến một hành động dũng cảm vì dân trừ hại. Sự tức giận của Tử Văn ko phải là sự

    tức giận cho riêng mình mà là sự tức giận cho mọi người dân đang bị yêu quái quấy

    nhiễu. Vì thế mà việc làm của Tử Văn là đáng ca ngợi.

    Sau khi đốt ngôi đền,Tử Văn ốm nặng rồi “thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp,

    kéo ra ngoài thành vế phía đông”. Lúc ở chốn âm cung, do chỉ nghe bên nguyên,Diêm

    Vương – vị quan toà xử kiện- người cầm cán cân công lí – cũng đã có lúc tỏ ra mơ hồ.

    Khi đứng trước công đường Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách. Chàng

    ko chỉ khằng định:”Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm

    vạch mặt tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”.

    Chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Từng bước, từng bước Ngô Tử Văn đã đánh lui tất

    cả sự phản công, kháng cự của kẽ thù, cuối cùng đã hoàn toàn đánh gục tên tướng giặc.

    Sau khi được minh oan ờ minh ti, Tử Văn trở về nhà chưa được 1 tháng thì Thổ

    công đến bảo Tử Văn nên nhậm chức phán sự ở đến Tản Viên. Thổ công nói:”người ta

    sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên

    Văn nên nhận.Thế là Văn vui vẻ nhận lời. việc được nhận chức ở đền Tản Viên đã nói lên

    thắng lợi của chàng trong cuộc đấu tranh với tên hung thầ xảo quyệt. Sự thắng lợi này đã

    khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con

    người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa

    sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

    Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên , tác giả đã vạch trần bộ mặt gian tà của

    ko ít kẻ đương quyền “ quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ngòi bút

    của Nguyễn Dữ ko chỉ lên án một số quan lại mà còn tố cáo mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ

    lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà. Trong câu nói buột miệng của Tử

    Văn “Sao mà nhiều thần quá vậy?” cũng cho ta thấy một hiện thực của xã hội phong kiến

    lúc bấy giờ: xã hội có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều

    bất chính. kết thúc có hậu của câu chuyện thể hiện đúng truyền thống nhân đạo của dân ta

    chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

    Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công yếu tố ảo

    và thực. câu chuyện diễn ra đầy tính chất li kì bởi sự xuất hiện của thế giới âm cung với

    những hồn ma, bóng quỷ với những việc khác thường: người chết đi sống lại từ dương

    gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại vế cõi dương. Nhưng chuyện lại có vẻ như rất thực bởi

    cách dẫn ngưòi khác, dẫn việc cụ thể đến cả họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn

    ra sự việc. yếu tố kì ảo giúp câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. yếu tố thực làm tăng

    tính xác thực, làm câu chuyện có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

    Câu chuyện đề cao nhân vật Ngô Tử Văn – đại diện cho tầng lớp trí thức nước Việt

    giàu tinh thần dân tộc, chuộng chính nghĩa, dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh chống

    lai cái ác trừ hạ cho dân. Truyện còn thể hiện niềm tin công lý, chính nghĩa nhất định sẽ

    thắng gian tà.

  • Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    Vài suy ngẫm về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và mối thù dòng tộc theo cách diễn giải của Tạ Chí Đại Trường

    BÀI LÀM

    • Trong số những tác giả viết sách sử hiện nay mà tôi từng đọc, người để lại ấn tượng mạnh nhất là bác Tạ Chí Đại Trường.
    • Lịch sử trong sách của bác không bị ảnh hưởng, ràng buộc, che đậy,…bởi bất cứ thứ

    gì thuộc về hiện tại. Bằng sự khách quan hết mức có thể kèm theo tư duy nhạy bén và logic, bác Tạ Chí đã bóc tách tất tần tật những thứ dây dưa chủ quan, những vinh quang thần thánh, những mưu đồ chính trị,…mà người ta thường thấy ở những nhân vật kiệt xuất, những sự kiện chấn động,…đưa tất cả về lại điểm số 0 thực tại, nơi con người vẫn là con người, sự kiện chỉ là sự kiện, nơi quá khứ chính là quá khứ chứ không phải thứ quá khứ khoác lên mình lớp áo của hiện tại.

    • Do đó, lịch sử qua cách nhìn của bác Tạ Chí Đại Trường, trong cảm nhận của tôi, là thứ lịch sử thật nhất, đời nhất, người nhất, sát với bản chất của nó nhất, và hiển nhiên, cũng dung dị và dễ chấp nhận nhất. Nhưng điều đó chỉ sẽ xảy ra với bạn trong trường hợp bạn muốn tiếp cận lịch sử bằng con đường chân chất và thuần khiết, xem nó như một bộ

    môn khoa học, hay nói cách khác, không bị ảnh hưởng bởi những thứ yêu ghét ở đời, không bị ràng buộc bởi định kiến hay ý đồ chính trị, hoàn toàn tự do suy luận bằng đầu óc của chính mình. Bởi vì, lịch sử qua cái nhìn của bác Tạ Chí là một lịch sử vô cùng trong sáng (trong sáng ở đây phải hiểu là sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể với những thứ mà bản chất không có liên quan), là nơi gặp gỡ những lời giải thích rằng tại sao quá khứ đã xảy ra như vậy, chứ không phải để nghe những lời phê phán khen chê sáo rỗng hoặc có mục đích (không trong sáng) về quá khứ.

    • Hôm nay, để “đổi gió” nhân lúc Sài Gòn chuyển mình từ hạ sang thu, tôi cũng muốn thử một lần bóc trần hết mọi vinh quang để đưa con người về với điểm số 0 của thời đại

    họ. Nhân vật của bài cảm nhận lần này là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    • Hãy tạm gác hết những chiến công đi vào huyền thoại sang một bên trước khi tiếp cận góc khuất nội tâm nơi con người này, đặc biệt là theo cách nhìn của Tạ Chí Đại Trường.
    • Cũng hãy tạm xem như “Đức thánh Trần” chỉ là một con người bằng xương bằng thịt, tức là, tạm thời gạt bỏ lớp áo tín ngưỡng đi.
    • Và điều còn lại bây giờ là: một con người tên Trần Quốc Tuấn_quý tộc thuộc dòng họ

    Trần lẫy lừng (dòng họ vốn gắn liền với vụ bê bối mang tên “chế độ nội hôn”).

    • Trước hết, cần trích dẫn sơ lược sự kiện đã diễn ra theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư:
    • “Tân Hợi, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 20 [1251] (Từ tháng 2 về sau là Nguyên

    Phong năm thứ 1, Tống Thuần Hựu năm thứ 11, Nguyên Hiến Tông Mông Kha năm thứ 1). Mùa xuân, tháng 1, đổi nguyên hiệu là Nguyên Phong (năm thứ 1).

    • Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương (không rõ tên). Con trai

    Yên Sinh Vương là Quốc Tuấn cướp lấy. Công chúa về với Quốc Tuấn.

    • Ngày 15 tháng ấy, vua mở hội lớn 7 ngày đêm, bày các tranh về lễ kết tóc và nhiều trò

    chơi cho người trong triều ngoài nội đến xem, ý muốn cho công chúa Thiên Thành làm lễ kết tóc với Trung Thành Vương. Trước đó, vua cho công chúa Thiên Thành đến ở trong dinh Nhân Đạo Vương (Nhân Đạo Vương là cha Trung Thành Vương). Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành, nhưng không làm thế nào được, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng. Công chúa Thụy Bà (chị ruột của Thái Tông, cô của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con) liền đến gõ cửa điện cáo cấp. Người coi cửa vội vào tâu. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời:

    • “Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành,

    Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”

    • Vua vội sai nội nhân đến dinh Nhân Đạo Vương. Đến nơi, thấy yên lặng, bèn vào chỗ

    Thiên Thành, thì thấy Quốc Tuấn đã ở đấy. Nhân Đạo bấy giờ mới biết chuyện. Hôm sau, Thụy Bà dâng 10 mâm vàng sống, tâu rằng: ” Vì vội vàng nên không sắm được đủ lễ vật”.

    • Vua bắt đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành Vương.”
    • Sự kiện “tưng bừng” này được tường thuật khá chi tiết và sinh động trong sử sách, lại không vì công lao sau này của Quốc Tuấn mà lược bỏ đi, kèm theo lời phê rất khắc nghiệt của Ngô Sĩ Liên, chứng tỏ tiền nhân không vì vinh quang về sau mà gạt bỏ thực tại, một thái độ rất chuyên nghiệp khi chép sử.
    • Tuy nhiên, chuyên nghiệp khi chép sử là một chuyện, còn có khách quan và logic hay không lại là chuyện khác. Dễ thấy, Ngô Sĩ Liên đã bị ảnh hưởng bởi Nho giáo, ảnh

    hưởng bởi văn hóa đạo đức, nên đã có lời phê rất khắc nghiệt về sự kiện này, nhưng, nếu để ý kĩ lưỡng hơn, ta sẽ thấy Ngô Sĩ Liên còn bị ảnh hưởng bởi “những vinh quang sau này” của Đức Thánh Trần khi đã đổ toàn bộ tội trạng cho đời trước, ngược lại, nhân vật chính trong vụ náo loạn là Trần Quốc Tuấn lại không bị phê bình gì nghiêm trọng (Ngô Sĩ Liên là một sử quan đời sau, không phải sử quan của thời nhà Trần):

    • “Con gái vua lấy kẻ bề dưới tất phải sai chư hầu cùng họ đứng ra làm chủ hôn, theo lễ

    phải thế. Thái Tông đem Thiên Thành công chúa gả xuống cho Trung Thành Vương, nhưng công chúa lại về với Hưng Đạo Vương, việc hôn nhân rất là bất chính. Thế thì lễ

    cưới này không ai đứng chủ ư? Vì vua đã bất chính trong đạo vợ chồng, cho người làm tôi con cũng bắt chước. Vả lại, hôn nhân không lấy người khác họ mà lấy người cùng họ, thì chỉ có nhà Trần làm thế. Trong việc trái lễ, lại trái lễ nữa.”

    • Ở đây, Ngô Sĩ Liên có nhắc thoáng qua vụ việc hoán vợ đổi chồng giữa Trần Thái Tông Trần Cảnh (có thể là cha của Thiên Thành công chúa) và anh ruột là An Sinh

    Vương Trần Liễu (bố đẻ của Trần Quốc Tuấn), vụ việc vốn để lại nhiều áy náy cho Thái Tông cũng như nhiều bức xúc oán hận cho người bị mất vợ là Trần Liễu.

    • Lấy hành vi của người đời trước để xóa tội cho người đời sau là một việc làm (theo cá nhân tôi) là không hợp lý. Nhưng lấy hành vi của người đời trước để lý giải cho hành vi của người đời sau là một việc làm hết sức khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu lịch sử,

    nơi những sự kiện xảy ra đều ít nhiều có liên hệ với nhau.

    • Đa số những tài liệu ca ngợi công lao của Trần hưng Đạo (kể cả sách giáo khoa sử,

    văn, và các sách tham khảo) đều cố tình bỏ qua những đoạn lộn xộn về hôn nhân và gia đình như vừa trích dẫn ở trên, ngược lại, lại viết kĩ lưỡng đến từng chi tiết sự kiện sau đây:

    • “… Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “Ngày sau có thể giúp nước cứu đời”.
    • Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài

    văn võ.

    • Yên Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, Yên Sinh cầm tay Quốc Tuấn trối trăn rằng:
    • “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”
    • Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.
    • Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông:
    • “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại

    Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi.”

    • Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người.
    • Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương:
    • “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”.
    • Hưng Vũ Vương trả lời:
    • “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”.
    • Quốc Tuấn ngẫm cho là phải.
    • Lại một hôm Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương
    • “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”.
    • Quốc Tuấn rút gươm kể tội:
    • “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra”, định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương

    hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, ông dặn

    Hưng Vũ Vương:

    • “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”…”
    • Đã khen thì khen cho trót, ai lại lôi chuyện xấu vào bao giờ. Họa hoằn lắm mới có sách vẫn cứ trích dẫn những chuyện lục đục, nhưng lấy cái xảy ra sau (tức là vinh quang và chiến công) để bào chữa cho cái xảy ra trước (vụ cướp công chúa Thiên Thành), đồng thời, cho trích dẫn luôn cả đoạn sử chép ngay phía trên để càng làm cho con người Trần

    Hưng Đạo cứ sau mỗi thời lại càng “thần thánh” xa rời hiện thực con người hơn.

    • Thêm vào đó, quan điểm về chế độ nội hôn của họ Trần, sau vài trăm năm cách biệt,

    đã trở thành một điều hoàn toàn không thể chấp nhận ở thời hiện đại (mà thực ra ngay trong quá khứ, tại chính thời đại đó, đã là khó chấp nhận lắm rồi), nên mới sinh ra “vấn nạn” đào tung sử liệu để khẳng định công chúa Thiên Thành là chị em họ với Quốc Tuấn chứ hoàn toàn không phải là cô ruột (theo quan điểm của một vài nhà nghiên cứu khác), mục đích của đa số các tác giả trên suy cho cùng (lại) là muốn bào chữa cho những cái không phù hợp với vị trí của Đức Thánh Trần. Thực chất, hành động tưởng chừng rất “khoa học lịch sử” đó lại vô tình chứng tỏ nhận thức của một vài nhà nghiên cứu về lịch sử vẫn còn “chưa được trong sáng”.

    • Ngược lại, trong cuốn sách “Những bài dã sử Việt”, mục “Phổ hệ và chế độ nội hôn của họ Trần”, bác Tạ Chí Đại Trường bằng tinh thần trong sáng với lịch sử rất đặc trưng

    của mình, đã kết hợp tất cả các sự kiện xảy ra trong khuôn khổ gia tộc của Trần Quốc Tuấn để lý giải những mắc mứu khó hiểu có liên quan. Và ta thấy, có chăng, sự khó hiểu chẳng qua chỉ vì đôi khi ta cứ cố xoay chuyển sự thật theo một hướng nào đó để bản thân luôn luôn nghĩ tốt về một đối tượng nào đó mà quên mất rằng ai cũng chỉ là con người, có

    quá khứ và có lầm lỗi, có dao động và có lựa chọn:

    • “…Trần Quốc Tuấn bị hấp dẫn bởi công chúa Thiên Thành hẳn cũng nằm trong sinh hoạt bình thường đó (ý ám chỉ tục kết hôn cùng họ). Có điều đáng chú ý là đối tượng của Quốc Tuấn lại là con gái Thái Tông nên có thể ngờ rằng ý thức trả thù theo lời dặn của cha chắc có chen vào hành động đó: vụ cướp vợ chỉ xảy ra trước khi Trần Liễu chết có hai tháng, nghĩa là giai đoạn tột đỉnh căm thù khi Liễu biết mình sắp chết.
    • Sử quan đã thuật lại khá nhiều về sự gay gắt xảy ra giữa Quốc Tuấn một bên, Thái Tông và các con một bên. Nhưng ngay chính trong những giai đoạn khen Quốc Tuấn, ta thấy ảnh hưởng những lời dặn dò của Trần Liễu không phải không có ở người con đặc biệt này: trong lời dọ ý của gia nô (Yết Kiêu, Dã Tượng) và một người con trai (Hưng Vũ Vương) ông đều gặp phản đối và chỉ thấy một người con tán đồng (Quốc Tảng). Điều đó

    chứng tỏ ý định thầm kín nghe theo lời cha vẫn còn trong tâm trí ông, nhưng một mặt vì đã có mối liên hệ với Thái Tông (qua Thiên Thành), có thể với Nhân Tông (rể) lúc câu chuyện xảy ra, mặt khác phe phản đối ngay trong vây cánh lại là đa số, nên ông mới dứt khoát từ bỏ ý định cướp ngôi, và vì đã lộ ý hỏi dò thì phải tỏ ra phản đối mạnh mẽ nên có chuyện đòi giết Quốc Tảng, tuyệt tình đến khi chết. …”

    • Từ đoạn trích dẫn trên, ta thấy Tạ Chí Đại Trường đã giải quyết rất gọn gàng, khách quan và có hệ thống những điểm bất ổn trong cuộc đời Trần Quốc Tuấn, điều mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng làm được, để đưa Trần Quốc Tuấn về với những bản tính rất con người và rất chân thực của mình. Và hiển nhiên, một khi đã được giải thích rõ ràng, thì việc che cái này giấu cái kia khi nói hoặc viết về cuộc đời một con người hoặc về một sự kiện lịch sử là hoàn toàn không cần thiết, và cũng không nên xảy ra.
    • Đến đây, tôi mạo muội đưa ra kết luận này: chỉ khi loại bỏ hẳn những điều thần thánh, những ý đồ không trong sáng, định kiến hoặc sự thần tượng đặc biệt,… người ta mới có thể lý giải về một con người trên khía cạnh của một con người.
    • Lại nhớ đến một câu hát trong vở nhạc kịch “Ngàn Năm Tình Sử”, thấy phù hợp nên

    lấy làm câu kết cho bài cảm nhận:

    • “…Anh hùng cũng như bao người, cũng biết yêu thương, cũng biết đau buồn, và còn

    hơn thế, còn đau hơn thế…”

  • Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Cảm nhận về bài thơ “Tỏ Lòng”

     

    BÀI LÀM

    Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và

    giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên

    – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương,

    Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

    Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi

    ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào

    dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” (

    Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là

    những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

    Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ

    toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn

    Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.

    Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của

    người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng

    Phạm Ngũ Lão.

    Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

    Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

    Nam nhi vị liễu công danh trái

    Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

    Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng

    mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ,

    tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều

    dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận

    hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu

    hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc

    suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

    Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi

    thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội

    quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn

    Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu

    trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng

    tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn

    Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc

    đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh

    đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi

    liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

    -“Thuyền bè muôn đội;

    Tinh kỳ phấp phới

    Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…”

    (Bạch Đằng giang

    phú)

    Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập

    chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng!

    “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin

    bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác

    này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện

    rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần

    trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về

    những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm

    sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng

    một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

    “Công danh nam tử còn vương nợ

    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

    “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm

    nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là

    thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một

    gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm.

    Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn

    luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng

    Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa

    thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững:

    “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).

    “Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh

    mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm,

    mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời

    Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.

    (Sưu tầm)

  • PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHINH PHỤ NGÂM

    BÀI LÀM

    Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.

    Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây.

    Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.

    Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khộ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

    Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ:

    –    Đoạn 1 : Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.

    –    Đoạn 2: Từ Lòng này gùi gió đông có tiện… đốn Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm.

    –    Đoạn 3: Từ Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc… đến Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!. Cảnh vật xung quanh khiến lòng người chinh phụ rạo rực niềm khát khao hạnh phúc.

    Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này.

    Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ:

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
    Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
    Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
    Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
    Đèn có biết dường bằng chẳng biết?
    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
    Buồn rầu nói chẳng nên lời,
    Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

    Nàng lặng lẽ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.

    Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy.

    Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

    Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ.

    Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn deo đẳng, ám ảnh nàng.

    Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:

    Gà eo óc gáy sương năm trống,
    Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.
    Khắc giờ đằng đẵng như niên,
    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

    Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!

    Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:

    Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
    Gương gượng soi lệ lại châu chan.
    Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
    Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

    Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.

    Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Ha đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió:

    Lòng này gửi gió đông có tiện ?
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
    Non Yên dù chẳng tới miền,
    Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

    Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ:

    Non Yên dù chẳng tới miền,
    Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

    Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại:

    Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
    Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

    Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:

    Cảnh buồn người thiết tha lòng,
    Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

    Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương cho thân phận bất hạnh, cô đơn. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nối lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ không được sống hạnh phúc, đồng thời cũng phản ánh thái độ lên án chiến tranh của tác giả.

    Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trỏ về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn:

    Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
    Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.

    Hình như người chinh phụ đã thấm thìa sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chí mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng.

    Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm:

    Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
    Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
    Lá màn lay ngọn gió xuyên,
    Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
    Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
    Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
    Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

    Ý thơ đi từ tinh đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gi… người chinh phụ cũng chí vò võ một mình một bóng mà thôi!

    Từ thốc rất mạnh trong câu Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên báo hiệu sự chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa – nguyệt giao hòa khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa dôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo.

    Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công hàng loạt từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu… về nhạc điệu, tác giả đã phát huy một cách tài tình nhạc điệu du dương của thể thơ song thất lục bát, giống như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.

    Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật.

    Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương;một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.

  • VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    VĂN MẪU LỚP 12: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – NGUYỄN MINH CHÂU

    7 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TÁC PHẨM “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU”

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Chiếc thuyền ngoài xa đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài, một người phụ nữ lao động lam lũ, bất hạnh, trải đời và sáng đẹp tình yêu thương, đức hi sinh và lòng vị tha cao cả. Người phụ nữ bất hạnh ấy đã để lại cho người đọc một niềm cảm thông và trân trọng sâu sắc bởi những phẩm chất đáng quá của bà.

    Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn này lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987.

    Tác giả đã xây dựng thành công nhân vật Phùng bên cạnh nhân vật người đàn bà hàng chài để làm nổi bật lên phẩm chất đáng quý của người đàn bà ấy. Tất cả mọi việc xảy ra trong cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc.

    Đọc hết câu truyện người đọc cũng không biết tên thật của người đàn bà ấy là ai, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Khi người đàn bà này xuất hiện ở tòa án huyện để gặp chánh án Đẩu, ta vẫn không

    biết tên. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà hàng chài này, cũng không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: chị là người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam. Điều đó chỉ ra một thực tế rằng, không phải chi mình người đàn bà đó gặp bất hạnh mà có rất nhiều phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ chịu những bất hạnh như thị.

    Tác giả đã dùng những ngôn từ rất đắt giá để miêu tả về người đàn bà hàng chài có thân hình xấu xí tàn tạ ”trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

    Người đàn bà bất hạnh ấy không chỉ phải chịu thiệt thời về ngoại hình mà tạo hóa mang lại

    mà dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại

    phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu tổn thương, đau xót cho

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 1

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ: có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ thường xuyên cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Cứ khi nào lão chồng thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh một con thú với lời lẽ cay độc “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Quả thực, người đàn bà hàng chài có cả một cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn, khốn khổ. Chị là nạn nhân của sự nghèo đói, thất học và lạc hậu. Số phận, cuộc đời chị dần dần hiện ra rõ nét khi chị đến toà án huyện. Số phận đầy bi kịch ấy được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.

    Là một người phụ nữ yếu đuối phải chịu bao đắng cay tủi phận của cuộc đời nhưng chị lại có một phẩm chất đáng quý. Trước hết là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình ấy, rời bỏ người chồng vũ phu của mình. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh đầy cam go trên biển không có người đàn ông: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ. Cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được.

    Mặc dù phải chịu khổ cực, nhưng người phụ nữ ấy quyết cam chịu tất cả, làm tất cả vì những đứa con thân yêu của mình. Thị nhận thấy rằng, các con là cuộc sống, lẽ sống, là tất cả những gì có trên cuộc đời này của mụ. Khi tòa án đưa ra giải pháp li dị, chị đã từ chối. Có nghĩa là chị từ chối trút bỏ tấm bi kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà bị đi tù, bị đánh đập còn hơn phải bỏ chồng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Lí do bà đưa ra thật đơn giản nhưng cũng thật xót xa: cần có chồng để cùng nuôi mười đứa con. Thì ra sự sinh tồn của những đứa con là nguyên nhân để người đàn bà ấy sống kiếp cam chịu. Tình yêu thương của người mẹ dành cho đàn con chính là sức mạnh để người đàn bà ấy nhẫn nhục: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Người đàn bà đã chủ động nhận về mình mọi đau đớn để đảm bảo sự sinh tồn cho con cái bởi gia đình đông con sống dựa vào nghề sông nước đầy bất trắc. Thậm chí khi bị đánh bà còn chủ động xin chồng thay đổi địa điểm đánh: “Sau này, con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”. Bà muốn hứng trọn nỗi đau cho riêng mình, không để các con bị tổn thương. Tình yêu thương như một bản năng mãnh liệt ngàn đời được bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất ở người phụ nữ này. Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa.

    Sau tất cả những nỗi đau mà người chồng đã gây ra cho bà, bà vẫn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với chồng. Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người chồng là kẻ vũ

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 2

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Bị chồng đánh đập thô bạo nhưng bà cũng không oán trách vì bà hiểu nỗi khổ của chồng, hiểu cái khổ đã làm người hiền lành trở thành ác độc. Chính cuộc vật lộn mưu sinh đã biến lão trở thành kẻ vũ phu, thô bạo. Người ta làm điều ác nhiều khi không phải vì người ta xấu mà là vì khổ sở. Bà còn hiểu rằng chồng mình vừa là nạn nhân khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình cũng chỉ vì nghèo đói, ít học. Thậm chí bà còn sẵn sàng nhận lỗi về mình, coi mình là nguyên nhân khiến cuộc sống của chồng trở nên khốn khổ. Đây quả là người phụ nữ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều, bao dung, độ lượng với chồng

    Phải nói rằng, nhà văn đã có cái nhìn đầy thương cảm và trân trọng đối với người phụ nữ ấy nên mới khắc họa lên được một người đàn bà hàng chài tuy thất học nhưng không tăm tối, ngược lại rất thấu trải lẽ đời, rất sắc sảo. Đó là phẩm chất phi thường không phải ai cũng có được. Bà hiểu thiện chí của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng khi khuyên bà bỏ người chồng vũ phu, tàn bạo. Song bà càng hiểu hơn cuộc sống trên sông nước. Bà chắt ra từ cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ một chân lý mộc mạc nhưng thấm vị mặn của đời thường: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Cuộc sống thực tế cần có một người đàn ông để làm chỗ dựa, dù đó là người chồng vũ phu tàn bạo. Bà cũng hiểu và tự hào với thiên chức của người phụ nữ: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Chính vẻ đẹp mẫu tính, đầy hi sinh cao thượng ấy đã tôn vinh người đàn bà với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch.

    Cuộc sống của người đàn bà ấy có đau khổ thì nhiều mà hạnh phúc thì quá hiếm hoi. Vì vậy bà rất nâng niu những giây phút vợ chồng con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận. Vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn. Niềm vui lớn nhất là của chị là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Với những kiếp đàn bà nhọc nhằn đó nói đến niềm vui thật xa xỉ, nhưng sự tận tụy hi sinh cho chồng con chính là niềm vui lớn nhất đối với người phụ nữ. Đó chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà: “lần đầu tiên trên gương mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”. Đó là triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người: Quan niệm hạnh phúc của con người nhiều khi thật đơn giản, khát vọng hạnh phúc thật nhỏ bé mà vẫn nằm ngoài tầm tay.

    Tác giả đã dùng biện pháp đồi lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, của người phụ nữa ấy để làm nổi bật lên những phẩm chất cao thượng đáng được ngợi ca. Qua cuộc đời của người đàn bà hàng chài, tác giả cũng đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống: nạn bạo hành trong gia đình, sự nghèo đói, thất học, sự tha hóa về nhân cách… những ngang trái, nghịch lý của cuộc sống.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 3

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Người đàn bà hàng chài chính là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam, họ chịu đựng hi sinh gian khổ, hết lòng vì chồng con, vì gia đình. Họ có tấm lòng bao dung độ lượng sâu sắc. Đó là những phầm chất đáng quý, đáng tự hào. Hiện nay xã hội đã công bằng bình đẳng hơn, nhưng vẫn còn không ít phụ nữ phải chịu bất hạnh trong cuộc đời, xã hội cần có biện pháp mạnh hơn để răn đe những hành động chà đạp người phụ nữ, để học xứng đáng được hưởng cuộc sống hạnh phúc.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 4

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Chiếc thuyền ngoài xa sáng tác năm 1983 là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu. Nội dung kể về chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh với những sự việc mà anh bất ngờ được chứng kiến. Thông qua đó thể hiện cách nhìn của tác giả về hiện thực cuộc sống, một cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương cùng sự băn khoăn về thân phận con người.

    Truyện có ba nhân vật chính: chánh án Đẩu, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng và người đàn bà hàng chài, trong đó nhân vật người đàn bà để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người đọc. Cuộc đời và số phận của chị giống như bao cuộc đời và số phận của những người phụ nữ hàng chài khác : đông con, nghèo khổ… Là nạn nhân của bạo lực gia đình nhưng chị rất mực thương chồng, thương con, nhẫn nhục cam chịu đòn roi của chồng vì không muốn gia đình tan vỡ. Người đàn bà ấy có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. Nhà văn đã khắc họa chân dung nhân vật này bằng thủ pháp nghệ thuật tương phản để làm nổi bật sự khác biệt giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong, giữa tính cách và thân phận, vẻ đẹp đáng trân trọng ở người đàn bà hàng chài là đức tính vị tha, hi sinh đến quên mình của một người vợ, người mẹ lam lũ, vất vả, chồng chất trên vai gánh nặng mưu sinh. Phẩm chất ấy hiện lên qua từng chi tiết đầy kịch tính của truyện.

    Tác giả chỉ gọi nhân vật của mình là người đàn bà một cách phiếm định chứ không có tên tuổi cụ thể với chủ ý nói đến những người đàn bà vô danh ở những vùng biển khác nhau nhưng cùng chung số phận đau thương. Bao nhiêu giọt nước mắt tủi hờn của họ tuôn rơi mà người đời không mấy khi để ý tới.

    Tác giả giới thiệu vài nét về hình dáng bên ngoài của nhân vật này: Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ… tấm lưng ảo bạc phếch và rách rưởi, nửa thân dưới ướt sũng…

    Nhưng bên trong cái hình thức xấu xí ấy lại là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh. Người đàn bà hàng chài rất hiểu chồng và thương chồng, cái gã đàn ông cục tính hễ mở miệng ra là đòi giết vợ, giết con, là nguyền rủa: Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ! Theo lời chị ta kể thì chồng chị hồi còn trẻ là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm và không biết Uống rượu. Anh ta không chịu đi lính để lấy tiền nuôi vợ con mà cam chịu cuộc sống vất vả của dân chài. Sau giải phóng, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn kéo dài là nguyên nhân biến tính nết cục cằn của anh ta thành hung bạo. Anh ta giải tỏa sự bức bối, căng thẳng bằng cách thường xuyên đánh vợ. Khi lũ con còn nhỏ, anh ta đánh vợ ngay tại thuyền. Đến lúc chúng đã lớn, người vợ xin chồng cho lên bờ để chịu đòn. Theo suy nghĩ của chị thì trong hoàn cảnh đông con, túng quẫn, những người đàn ông hàng chài nếu không đánh vợ cho hả giận thì cũng uống rượu để giải sầu.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 5

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Sức chịu dựng và sự hi sinh thầm lặng của người đàn bà hàng chài làm cho người đọc phải ngỡ ngàng. Vừa ở dưới thuyền lên đến bên chiếc xe rà phá mìn bị hỏng nằm trên bờ cát, chị ta đã bị anh chồng rút chiếc thắt lưng tía quất tới tấp vào người. Chị không hề né tránh mà cắn răng cam chịu, không kêu rên, không chống trả và cũng không chạy trốn. Chị chấp nhận những trận đòn hằng ngày như một phần cuộc đời mình ; chẳng khác gì người đánh cá phải đương đầu với sóng to, gió lớn khi biển động.

    Người đàn bà ấy chấp nhận đau khổ, coi đó là lẽ đương nhiên, bởi một lí do quan trọng là trên chiếc thuyền lưới vó đánh cá ngoài khơi xa, cần phải có một người đàn ông khỏe mạnh và giỏi nghề để giúp vợ nuôi đàn con đông đúc. Chị nghĩ rất đúng rằng mình sống cho con chứ không phải cho bản thân và tự an ủi là nếu những người vợ khác chấp nhận các ông chồng nghiện rượu thì mình cũng chấp nhận để cho chồng đánh đập thường xuyên. Chị chỉ xin chồng hãy đánh ở trên bờ, đừng để các con nhìn thấy. Tất cả suy nghĩ, hành động của chị đều vì chồng, vì con, đó là điểu đáng thương mà cũng đáng quý biết chừng nào !

    Hình như người đàn bà hàng chài chẳng bao giờ để lộ ra bên ngoài nỗi đau khổ của mình. Sự nhẫn nhục cam chịu hầu như chi phối toàn bộ suy nghĩ và hành động của chị. Thấp thoáng ở người đàn bà ấy là bóng dáng những người vợ, người mẹ đảm đang, nhân hậu, bao dung và hi sinh đến quên mình.

    Người đàn bà ấy cũng rất tự trọng. Sau khi biết hành động vũ phu của chồng mình đã bị đứa con trai và người khách lạ (nghệ sĩ Phùng) chứng kiến, chị thấy đau đớn, vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã. Chắc chắn đây không chì là sự đau đớn về thể xác. Giọt nước mắt đau khổ của người đàn bà đã ứa ra. Đó là giọt nước mắt của nhọc nhằn và chịu đựng. Chị không muốn bất cứ ai chứng kiến và thương xót cho tình cảnh trớ trêu của mình, kể cả thằng Phác, đứa con trai mà chị quý nhất. Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm nhưng người đàn bà ấy không hề để ý, không hề bận tâm. Đúng là sự nhẫn nhục của một người có nhân cách, có lòng tự trọng và thấu hiểu lẽ đời.

    Bên trong vẻ cam chịu, nhẫn nhục ấy là tính cách can đảm, cứng cỏi và khát vọng hạnh phúc dù nhỏ nhoi nhưng thật cảm động, ở tòa án huyện, chính người đàn bà ấy đã đem đến cho Phùng và Đẩu những suy nghĩ, xúc cảm mới. Được mời lên tòa án để giải quyết chuyện gia đình, lúc đầu chị ta lúng túng, rụt rè tìm một góc tường để ngồi. Chị thấy sợ hãi Khi đến một không gian lạ và cảm thấy mình thật nhỏ bé giữa chốn công đường. Cái thế ngồi của chị như cố thu mình lại để tự vệ, cho dù đã được Đẩu, Phùng chia sẻ và cảm thông.

    Nguyễn Minh Châu đã thể hiện thành công sự thay đổi bất ngờ trong thái độ và ngôn ngữ của người đàn bà hàng chài khi bày tỏ tâm sự về gia cảnh vả quyết tâm giữ gìn hạnh phúc bé nhỏ của đời mình. Lúc đầu, chị thưa gửi rất lễ phép, xưng là con và có lúc đã năn nỉ van xin chánh án Đẩu : Con lạy quý tòa… Nhưng khi đã lấy lại được sự tự tin, tâm thế người đàn bà đó đột ngột thay đổi. Chị ta chuyển sang cách xưng hô thân mật và có phần suồng sã : Chị

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 6

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    cám ơn các chủ ! Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc… Sự thay đổi bất ngờ ấy khiến Đẩu và Phùng hết sức ngạc nhiên.

    Chị ta đã nói cho Đẩu và Phùng biết nỗi vất vả và nguy hiểm khôn lường của người đàn bà trên một chiếc thuyền đánh cá không có đàn ông, nhất là những khi biển động. Giọng nói của người đàn bà tha thiết như giãi bày, mong nhận được sự chia sẻ của người nghe: Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hằng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho chính mình như ở trên đất được ! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!

    Giọng người đàn bà bớt sầu não phần nào khi nói về hạnh phúc được hi sinh của người vợ, người mẹ. Bên ngoài, chị ta là một kẻ quê mùa, thất học; nhưng bên trong lại là người từng trải và thấu hiểu sâu sắc lẽ đời. Qua lời kể của chị, Đẩu và Phùng hiểu thêm phần nào về cuộc sống cực nhọc và bất trắc của nghề chài lưới ngoài khơi xa cùng với những niềm vui, nỗi buồn của một gia đình hàng chài vất vả nuôi một đận con trong một chiếc thuyền hẹp. Bên cạnh đó là đời sống tinh thần nghèo nàn của những người sống lênh đênh trên biển, không biết giãi bày tâm sự với ai. Người đàn bà hàng chài gọi Đẩu và Phùng là các chú cách mạng. Cách gọi như thế có cái gì đó vừa thân thương nhưng cũng vừa xạ lạ, bởi các chủ có hiểu gì về cuộc sống đời thường với những chuyện phức tạp như thế này đâu?! Hình ảnh người đàn bà vùng biển đã ám ảnh Phùng, cũng chính là cuộc sống đời thường đang ám ảnh tâm trí các nghệ sĩ trên hành trình phản ánh hiện thực và sáng tạo nghệ thuật.

    Người đàn bà hàng chài trân trọng tình mẫu tử và nâng niu những niềm vui, hạnh phúc nhỏ nhoi chắt lọc từ trong cuộc sống thiếu thốn, đau khổ triền miên. Nét mặt chị tươi hẳn lên khi kể rằng trong gia đình mình đôi khi vẫn có niềm vui. Ấy là khi vợ chồng con cái sống hòa thuận, vui vẻ… và vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con chúng nó được ăn no. Vì thương đàn con nheo nhóc mà người đàn bà hàng chài cắn răng chấp nhận những trận đòn tàn bạo của chồng. Vì thương chồng mà chị cảm thông và tha thứ cho tính vũ phu. Ở đây, tình thương và lẽ đời đã chiến thắng. Người lao động lam lũ, nghèo khổ không có uy quyền gì nhưng cái tâm của một người đàn bà thương con sâu sắc cũng là một thứ uy quyền có sức lay động rất lớn. Nó làm cho những trí thức như chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng chợt tỉnh ngộ ra nhiều điều trong cuộc sống đời thường.

    Tính cách người đàn bà hàng chài trong truyện được tác giả khắc họa thông qua các mối quan hệ gia đình và xã hội: Với chồng thì cam chịu, nhẫn nhục nhưng không phải mù quáng mà là sự cảm thông và thương xót. Với con thì tận tâm, bao bọc, che chở, cố tránh cho con

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 7

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    khỏi bị tổn thương, luôn mang nặng mặc cảm có lỗi với con. Với cán bộ tòa án, lúc đầu chị tỏ ra sợ sệt, e ngại, sau đó tự tin hơn và thành thật bộc bạch suy nghĩ của mình. Đây là tính cách của một người đàn bà lao động chất phác, lam lũ, giàu lòng thương con, thương chồng và sống bằng kinh nghiệm thực tiễn. Người đàn bà hàng chài là hiện thân của vẻ đẹp khiêm nhường và thế giới tâm hồn phức tạp, bí ẩn của con người.

    Nói đến bạo lực trong gia đình người đàn bà hàng chài, tác giả đã khơi dậy trong lòng người đọc nỗi xót thương pha lẫn lo âu trước tình trạng phụ nữ và trẻ em bị ngược đãi, về nguy cơ trẻ em sẽ sớm nhiễm thói vũ phu, thô bạo do bị tổn thương tâm hồn, đánh mất niềm tin vào cuộc sống. Nhà văn không chỉ lên án bạo lực, phê phán sự ngu muội, không chỉ bày tỏ tình thương yêu với những con người nhỏ bé, bất hạnh, mà còn cảnh báo một nguy cơ đáng sợ: Nếu không giải phóng con người ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo, tăm tối thì không thể đẩy lùi được cái ác. Đó là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

    Hình tượng người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho số phận con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đồng thời cho thấy, tác giả đã có cái nhìn không hể đơn giản về cuộc sống.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 8

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 3:

    Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu, với phong cách sáng tác giàu tính biểu tượng trong nền văn học nước nhà. Những tác phẩm của ông luôn khiến người đọc phải trằn trọc, suy nghĩ rất nhiều. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một câu chuyện giàu sức gợi như thế. Hình ảnh người đàn bà làng chài là hình ảnh để lại trong lòng người nhiều ám ảnh, trăn trở về cuộc sống của con người trong thời kì đổi mới.

    Chiếc thuyền ngoài xa kể về chuyến đi sáng tác của nhiếp ảnh Phùng khi đến với vùng đất biển này. Và từ chuyến đi này, anh đã nhận ra rất nhiều chiều của cuộc sống, nhiều góc khuất mà con người vẫn bỏ lỡ. Hình ảnh người đàn bà là hình ảnh khiếp anh vừa khó hiểu, vừa băn khoăn, vừa đau xót. Có thể nói người làng chài là hình ảnh biểu tượng cho cuộc sống khó khăn, chịu nhiều thiệt thòi của người phụ nữ.

    Người đàn bà hiện lên trong câu chuyện của nhiếp ảnh Phùng là một người đầy nhọc nhằn, lam lũ. Nguyễn Minh Châu với những nét vẽ tinh tế đã phác họa nên một hình ảnh giàu sức gợi “người đàn bà chạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của đàn và vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, dường như đang buồn ngủ”. Một người phụ nữ gây ấn tượng cho người đọc ngay từ những dòng đầu tiên, đầy nhọc nhằn, đầy khổ sở và đầy thương cảm. Người đàn bà ấy tiếp tục ám ảnh người đọc bằng chi tiết “tấm áo bạc phếch có miếng vá, bửa thân dưới ướt sũng”, đã phần nào gợi lên sự chua xót, khốn cùng. Giữa cảnh biển mênh mông lại xuất hiện một con người khiến người khác phải trằn trọc như thế này.

    Người đàn bà ấy còn đầy vẻ cam chịu và nhẫn nhục khi người chồng hằn học và mắng nhiếc. Đôi mắt của chị như xuyên sâu vào lòng người đọc, nó ám ảnh cho đến khi gấp trang sách lại. Ánh mắt của chị đầy thương xót, đầy ai oán và cũng đầy tình yêu thương dành cho những đứa con cho mình.

    Dọc theo hình trình đi tìm cái đẹp của nhiếp ảnh Phùng, người đàn bà đã trở thành tâm điểm cho vẻ đẹp ấy. Một vẻ đẹp đầy sự khó khăn, nhọc nhằn và đau khổ. Hành động bạo lực của người chồng khiến chị cứ câm lặng, không ai oán một lời.

    Và sự cam chịu ấy được lặp lại khi chị được gọi đến hầu tòa. Mặc dù “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người phụ nữ ấy vẫn “không hé răng một lời”. Hình dáng “mụ ngồi ghé vào mép ghế và cố thu người lại” càng khiến cho Phùng, cho Đẩu, và cho người đọc một nỗi ám ảnh khó bỏ. Tuy nhiên chỉ một lát, “người đàn bà lại lúng túng và sợ sệt”. Có lẽ cuộc sống của chị quá nặng nề, quá thê lương trong những năm qua.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                           Trang | 9

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Tình tiết người đàn bà vái lạy để con trai không làm điều dại dột với bố, cũng như vái lạy quan tòa càng toát lên vẻ cam chịu, sự nhẫn nại, giàu đức hi sinh “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khi đi đến tận cùng của nỗi đau, khi có một con đường giải thoát thì người đàn bà ấy vẫn lặng lẽ và cam tâm chịu đựng đau khổ? Là vì điều gì? Chẳng phải vì đức hi sinh của người mẹ đó sao?

    Lời tâm tình của người đàn bà về cuộc sống, về người chồng, về những đứa con khiến người khác vừa thưỡng xót vừa khâm phục. Một người đàn bà yêu chồng, thương chồng mặc dù bị chồng ngược đãi. Người đàn bà yêu con, thương con vô điều kiện, không đòi hỏi bất cứ điều gì.

    Khi chị kể đến chi tiết “vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” thì có lẽ người đọc ứa nước mắt. Những đứa con là sức mạnh để chị có thể tồn tại, có thể sống sót và kiên cường đến bây giờ. Một người mẹ lặng lẽ hi sinh cuộc đời mình vì những đứa con, một người mẹ đã nhẫn nhục tất cả chỉ vì miếng cơm manh áo cho con. Một người mẹ nghèo, cố chấp nhưng yêu thương con vô bờ bến. Cuộc đời của chị nhiều đau thương và nước mắt nhưng lại có biết bao nhiêu phẩm chất cao đẹp, đáng trân trọng.

    Không phải ngẫu nhiên tác giả chỉ gọi nhân vật là “người đàn bà”, có lẽ không phải chỉ một người đàn bà duy nhất, mà có thể chúng ta còn bắt gặp rất nhiều người đàn bà có chung cảnh ngộ ở bất cứ bãi biển xinh đẹp nào. Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức chân dung khiến cho người đọc phải suy ngẫm, phải trăn trở về cuộc sống của rất nhiều người xung quanh chúng ta. Và cái hình ảnh mà nhiếp ảnh Phùng chụp được cũng như những gì anh nghĩ về người đàn bà này là triết lí, một triết lí cho cái nhìn nhận đa chiều về cuộc sống này. Tấm lưng bạc phếch, ướt sũng của người đàn bà này có lẽ còn ảm ánh rất nhiều người nữa.

    Người đàn bà đó chính là nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, cũng như tác giả đã dùng cái tâm để vẽ lên hình ảnh đó.

    Hình ảnh người đàn bà làng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã gửi gắm nhiều thông điệp đến người đọc về cuộc sống, phẩm chất tốt đẹp của những người phụ nữ.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 10

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 4:

    Mở bài

    Nguyễn Minh Châu là một hiện tượng văn học vừa độc đáo, vừa lớn lao của nền văn học Việt Nam hiện đại vào cuối thế kỷ 20. Ông bước vào nghề văn hơi muộn nhưng sự nghiệp đổi mới trong văn học đã chọn ông để trao cho ông “Ấn Tiên Phong” lãnh chức Đại Tướng quân của Tập đoàn quân Chữ! Nhà văn Nguyên Ngọc đã rất đúng khi cho rằng Nguyễn Minh Châu là “người mở đường tinh anh và tài năng đã đi được xa nhất” ở chặng đầu đổi mới của văn học nước nhà. Trong cơn trở dạ nhiều đau đớn ấy, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cả bản lĩnh và tài năng của mình cho một khát vọng khẩn thiết và mãnh liệt: văn chương cần phải khác. Nơi đó cái đẹp phải là cái “thật”, con người phải được nhìn nhận ở “bề sâu, bề sau, bề xa” của nó. Hàng loạt tác phẩm được viết dưới ý tưởng đó. Trong đó, “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những sáng tác điển hình của ông được viết sau năm 1980. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài, một người phụ nữ lao động lam lũ, bất hạnh, trải đời và sáng đẹp tình yêu thương, đức hi sinh và lòng vị tha cao cả. Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng, một nghệ sĩ khao khát khám phá, sáng tạo ra cái đẹp, người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư về nhân cách và đời sống con người. Điều đó được thể hiện qua tình huống truyện độc đáo.

    Thân bài

    HCST: Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn. Truyện ngắn này lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987.

    GTC: Trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà hàng chài chính là tâm điểm trong câu chuyện của Phùng. Nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của Phùng về chiếc thuyền chài lưới và xuất hiện trong chính câu chuyện cuộc đời chị kể ở toà án huyện. Qua đó, cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc.

    Tên gọi: Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Khi người đàn bà này xuất hiện ở tòa án

    huyện để gặp chánh án Đẩu, ta vẫn không biết tên. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà hàng chài này, cũng không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì chị cũng giống như

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 11

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: chị là người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam.

    Ngoại hình:Về ngoại hình, người đàn bà hàng chài có thân hình xấu xí tàn tạ ”trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

    Số phận Bất hạnh: Ngoại hình thì vậy, số phận cũng không khá hơn. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ: có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ thường xuyên cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Cứ khi nào lão chồng thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh một con thú với lời lẽ cay độc “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Quả thực, người đàn bà hàng chài có cả một cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn, khốn khổ. Chị là nạn nhân của sự nghèo đói, thất hậu và lạc hậu. Số phận, cuộc đời chị dần dần hiện ra rõ nét khi chị đến toà án huyện. Số phận đầy bi kịch ấy được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.

    Phẩm chất, tính cách: Song ẩn bên trong người đàn bà hình dáng bên ngoài xấu xí, thô kệch, chịu bao cay đắng, nhọc nhằn ở cuộc đời là những phẩm chất cao đẹp. Trước hết là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình ấy, rời bỏ người chồng vũ phu của mình. Chị hiểu cơ cực của của cuộc sống mưu sinh đầy cam go trên biển không có người đàn ông: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ. Cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được.

    Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Với người đàn bà này, các con là cuộc sống, lẽ sống. Khi tòa án đưa ra giải pháp li dị, chị đã từ chối. Có nghĩa là chị từ chối trút bỏ tấm bi kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà bị đi tù, bị đánh đập còn hơn phải bỏ chồng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Lí do bà đưa ra thật đơn giản nhưng cũng thật xót xa: cần có chồng để cùng nuôi mười đứa con. Thì ra sự sinh tồn của những đứa con là nguyên nhân để người đàn bà ấy sống kiếp cam chịu. Tình yêu thương của người mẹ dành cho đàn con chính là sức mạnh để người đàn bà ấy nhẫn nhục: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 12

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Người đàn bà đã chủ động nhận về mình mọi đau đớn để đảm bảo sự sinh tồn cho con cái bởi gia đình đông con sống dựa vào nghề sông nước đầy bất trắc. Thậm chí khi bị đánh bà còn chủ động xin chồng thay đổi địa điểm đánh: “Sau này, con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”. Bà muốn hứng trọn nỗi đau cho riêng mình, không để các con bị tổn thương. Tình yêu thương như một bản năng mãnh liệt ngàn đời được bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất ở người phụ nữ này. Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa.

    Không những thế, đây còn là người phụ nữ vị tha thánh thiện. Không chỉ yêu thương, hi sinh đến quên mình vì đàn con, ở người phụ nữ này còn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với chồng. Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người chồng là kẻ vũ phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Bị chồng đánh đập thô bạo nhưng bà cũng không oán trách vì bà hiểu nỗi khổ của chồng, hiểu cái khổ đã làm người hiền lành trở thành ác độc. Chính cuộc vật lộn mưu sinh đã biến lão trở thành kẻ vũ phu, thô bạo. Người ta làm điều ác nhiều khi không phải vì người ta xấu mà là vì khổ sở. Bà còn hiểu rằng chồng mình vừa là nạn nhân khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình cũng chỉ vì nghèo đói, ít học. Thậm chí bà còn sẵn sàng nhận lỗi về mình, coi mình là nguyên nhân khiến cuộc sống của chồng trở nên khốn khổ. Đây quả là người phụ nữ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều, bao dung, độ lượng với chồng

    Người đàn bà hàng chài tuy thất học nhưng không tăm tối, ngược lại rất thấu trải lẽ đời, rất sắc sảo. Bà hiểu thiện chí của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng khi khuyên bà bỏ người chồng vũ phu, tàn bạo. Song bà càng hiểu hơn cuộc sống trên sông nước. Bà chắt ra từ cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ một chân lý mộc mạc nhưng thấm vị mặn của đời thường: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Cuộc sống thực tế cần có một người đàn ông để làm chỗ dựa, dù đó là người chồng vũ phu tàn bạo. Bà cũng hiểu và tự hào với thiên chức của người phụ nữ: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Chính vẻ đẹp mẫu tính, đầy hi sinh cao thượng ấy đã tôn vinh người đàn bà với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch.

    Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, đời thường. Đó những giây phút vợ chồng con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận. Vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn. Niềm vui lớn nhất là của chị là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Với những kiếp đàn bà nhọc nhằn đó nói đến niềm vui thật xa xỉ, nhưng sự tận tụy hi sinh cho chồng con chính là niềm vui lớn nhất đối với người phụ nữ. Đó chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà: “lần đầu tiên trên gương mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”. Đó là triết lí

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 13

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    sâu sắc về cuộc sống và con người: Quan niệm hạnh phúc của con người nhiều khi thật đơn giản, khát vọng hạnh phúc thật nhỏ bé mà vẫn nằm ngoài tầm tay.

    Đánh giá chung:Trên trang viết của Nguyễn Minh Châu, người đàn bà hàng chài là hiện thân của tình yêu thương, đức hi sinh, sự nhẫn nhục của người phụ nữ. Qua người đàn bà hàng chài, ta thấy thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh

    “Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng

    Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời” [Tố Hữu]

    Bằng biện pháp đồi lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, đầy mâu thuẫn của con người, qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về con người. Ông đã khai thác số phận cá nhân và thân phận con người đời thường, để phát hiện những nét đẹp trong những con người tầm thường, lam lũ. Cả đời, ông đã tâm niệm sáng tác văn học là đi tìm “hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người”.

    Kết bài

    Bằng tài năng của một cây bút giàu bản lĩnh, qua cuộc đời của người đàn bà hàng chài, tác giả cũng đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống: nạn bạo hành trong gia đình, sự nghèo đói, thất học, sự tha hóa về nhân cách… những ngang trái, nghịch lý của cuộc sống. Chính số phận của người đàn bà hàng chài như một hồi chuông lay tỉnh chúng ta hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống, không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống. Đây cũng là nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị “khai quốc công thần của triều đại văn học mới”.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 14

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 5:

    Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xacủa nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất chongười đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòngbao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sáchlại ta không thể nào quên.

    Đểtạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyệnđộc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận:

    Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một ngườilính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùngđược dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theolời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranhcảnh biển có một không hai(dẫn chứng) . Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹpnhư trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu,thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫnnhục chịu đựng (dẫn chứng). Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờsửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.

    Xuyênsuốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến têngọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khithì gọi là người đàn bà

    hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ

    không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì Chịcũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: CHỊ LÀNGƯỜI VÔ DANH. Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chịlại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ.

    • Ngoại hình: trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ.

    Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch.

    – Số phận: Bất hạnh

    Dườngnhư mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ,lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồngvũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ…

    + Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ

    +Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợchồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 15

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    + Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,…

    +Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngàymột trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, nhưlà để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc” Mày chết đicho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Khi bị đánh chị khônghề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đólà một lẽ đương nhiên. Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con.

    Số phận đầy bi kịch được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.

    – Phẩm chất, tính cách:

    • Nhẫn nhục, chịu đựng:chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đờimình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghịgiúp đỡ thì : “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng đượcnhưng đừng bắt con bỏ nó”.

    Chị hiểu cơ cực của của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông.

    • Yêu thương con tha thiết(” phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”)

    Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờbến của chị. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, đểchèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con ” Đàn bà trênthuyền chúng tôi phải sống cho con, ko thể sống cho mình như trên đấtđược”.

    Tình thương vô bờ đối với những đứa con Phân tích ty của chịvới thằng Phác, chị gửi nó lên

    rừng, chị đau xót khi thấy nó vì thươngmẹ mà hận bố,….

    => Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa + Người đàn bà vị tha

    Trongkhổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnhphúc nhỏ nhoi ( “…nhìn con được ăn no, có khi vợ chồng, con cái sốngvui vẻ, hoà thuận”)

    +Người đàn bà thất học nhưng lại rất sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời

    • thức được thiên chức của người phụ nữ (“Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn”)

    Vì hoàn cảnh: trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 16

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Đólà sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, chia sẻ. Bởi nếu hiểu sự việcmột cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưngnhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đànbà là không thể khác được.

    Đắng sau sự nhẫn nhục ấy làbản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương mê muội, đángthương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thươngcon vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việcthấu hiểu các lẽ đời.

    Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

    Qua câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: Không thể dễ dãi,đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống,không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống.Đây cũng ;à nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị”khai quốc công thần của triều đại văn học mới”.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 17

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 6:

    Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài năng và ông đã có nhiều tác phẩm hay .không những thế ông còn đi sâu vào cuộc sống để tìm ra những vẻ đẹp và cái cốt lõi của cuộc sống. Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ mọi người muốn nhìn cuộc sống phải nhìn nhận và đánh giá trong mọi mối quan hệ phức tạp, đa chiều. Và cái đẹp, cái mà mỗi chúng ta đều mong muốn hướng tới để hoàn thiện nhân cách của chính mình đôi khi tiềm ẩn trong cái vẻ xù xì, gai góc mà không phải ai và lúc nào cũng có thể nhận ra được. Đó chính là vấn đề có ý nghĩa cơ bản được toát lên từ Chiếc thuyền ngoài xa – một tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới.

    Tình huống truyện là một trong những nút thắt của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa và tình huống đó được khai thác từ những tình huống mang ý nghĩa nghịch lí: một cảnh biển vào buổi sáng như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ nhưng ẩn trong đó lại là hình ảnh một gia đình thuyền chài đầy bi kịch; một người phụ nữ xấu xí, thô kệch bị chồng đánh đập, hắt hủi nhưng vẫn quyết gắn bó cả cuộc đời với kẻ vũ phu mà không một chút phàn nàn.

    Câu chuyện không nhiều nhân vật: Phùng là người say mê cái đẹp đang trogn chuyến công tác chụp bức ảnh về thuyền chài để làm ảnh bìa. Phùng đã từng là chiến sĩ; một vị quan tòa cũng đã từng vào sinh ra tử đối với cái chết; một người chồng vũ phu, độc ác, một cậu bé yêu thương mẹ bằng một thứ tình yêu rất ngây thơ, trong sáng những cũng không ít đắng cay – thằng Phác… bằng những nét vẽ khác nhau, mỗi nhân vật được hiện lên bằng những nét bút vẽ chân dung và tính cách khác nhau nhưng mỗi người là một số phận đang trôi trên dòng đời còn bao nỗi lo toan, nhọc nhằn.và có lẽ trong số đó, nhân vật người đàn bà có lẽ là nhân vật để lại nhiều dư vị xót xa, cay đắng, cảm phục trong lòng người đọc.

    Người đàn bà trong câu chuyện không có lấy một cái tên và tác giả chỉ gọi nhân vật là người đàn bà một cách phiếm định. Có lẽ đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn.. Cách gọi tên nhân vật như thế vừa cụ thể nhưng lại vừa khái quát, vừa phiếm định nhưng lại vừa xác định. Người đàn bà là người trạc ngoài 40 tuổi, cao lớn với những đường nét thô kệch mặt rỗ, “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái người và dường như đang buồn ngủ”. Những chi tiết miêu tả ngoại hình đầy ấn tượng ấy đả dựng lên trước mắt người đọc một người đàn bà với một cuộc đời đầy nhọc nhằn, lam lũ luôn phải đối diện với hiểm nguy, cuộc sống luôn phải đặt trong vòng vây của sự đói khát, bấp bênh.

    Cách miêu tả ngoại hình kết hợp với chi tiết: đưa tay lên có ý định gài hay sừa lại tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”, và tiếng quát của người đàn ông: “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”, như dự báo cho người đọc về một tính cách, một số phận đầy bất hạnh.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 18

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Giữa những cảnh thơ mộng của bức tranh đẹp đẽ của thiên nhiên khi người đàn ông xuất hiện và dùng thắt lưng da quật tới tấp vào người đàn bà nhưng bà thầm lặng chịu đau đớn “với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”. Mà cảnh đánh đập này “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” Ấy thế mà khi được Đẩu – vị chánh án huyện, khuyên nên bỏ người chồng vũ phu ấy, người đàn bà ấy “chắp tay vái lia lịa”, cầu xin “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Và lí do mà người đàn bà đưa ra cũng thật bất ngờ: “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng đi làm ăn nuôi nấng một sáp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa”.

    Nguyễn Minh Châu đã có dụng ý tạo nên ấn tượng cho người đọc về hình ảnh. Vì thương con, người đàn bà ấy đã phải chấp nhận tất cả: sự đánh đập, sự đói khát, sự nhục nhã… Và cũng xuất phát từ tình thương con, người đàn bà ấy cho rằng: “Phải sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Đây chính là triết lí ấy giản dị mà sâu sắc, được đúc kết, được rút ra từ chính cuộc đời nhọc nhằn, bất hạnh của một người mẹ. Vượt lên trên tất cả là hình ảnh của một người mẹ giàu lòng vị tha biết suy nghĩ và biết lo cho cuộc sống gia đình.

    Những lời giải bày của người đàn bà có phần ấp úng nhưng sâu xa ấy ở tòa án huyện chính là câu chuyện về sự thật cuộc đời mà những người như Phùng, như Đẩu, chỉ giây phút ấy mới thực sự hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô li. Người đàn bà ấy đã giải quyết bi kịch đời mình một cách thật ngắn gọn, sâu sắc. Cho dù trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được niềm vui cuộc sống: Vui nhất là khi nhìn thấy đàn con chúng tôi được ăn no”. “Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Những lời chia sẻ từ đáy lòng này đã khiến cho Phùng nhận ra một chân lí : không thể giản đơn, dễ dãi trong việc nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống. Đừng nhìn mọi thứ và đánh giá từ cái nhìn bề ngoài bởi cuộc sống luôn chứa đựng những nghịch lí những bất công và mất mát.Anh đã phát hiện ra bên trong người đàn bà thô kệch ấy là một trái tim.nhân hậu, một vẻ đẹp tâm hồn mà không phải ai cũng có thể nhận ra được. Vẻ đẹp ấy đối lập hoàn toàn với bức tranh cảnh biển vào buổi sáng, nhưng đó cũng là vẻ đẹp, mà không phải ai và lúc nào cũng khám phá cho hết được.

    Đọc “Chiếc thuyền ngoài ca” của Nguyễn Minh Châu, chúng ta lại càng thấm thía những bài học mà câu chuyện để lại về tình người về cuộc sống về triết lí nhân sinh sâu sắc. Và nhân vật người đàn bà tuy là vô danh nhưng lại trở nên có tên mỗi khi người ta nhắc tới.

    Quả thật tài năng của tác giả đã khiến cho câu chuyện và nhân vật càng sắc nét và đậm đà.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 19

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 7:

    “Thời gian qua kẽ tay

    Làm khô những chiếc lá

    Riêng những câu thơ còn xanh

    Riêng những khúc hát còn xanh.”

    (Văn Cao)

    Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo. Những tác phẩm nghệ thuật đạt đến chuẩn mực của cái hay, cái đẹp sẽ “vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian và chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Cũng như dù thời gian có trôi thì giá trị của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu vẫn vẹn nguyên và tỏa sáng. Đến với tác phẩm hẳn là độc giả không thể không ấn tượng về hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài. Đây chính là hình tượng tiêu biểu cho quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả.

    Mỗi nhà văn chân chính đều có một thế giới riêng. Thế giới ấy được sáng tạo nên do nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhà văn, và phản ánh nên cái thực tế của thời đại. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn như thế. Ông được mệnh danh là vị khai quốc công thần của triều đại văn học mới – “Người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc). Ông quan niệm rằng “thiên chức của nhà văn là suốt đời đi tìm hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt”. Nếu như trước năm 1975, ông thiên về cảm hứng anh hùng, tái hiện một bức tranh sinh động về hiện thực đời sống tinh thần của con người thời chống Mỹ, thì sau 1975, Nguyễn Minh Châu hướng về đời thường với những khám phá về hiện thực đời sống đạo đức và tình cảm con người. Hình ảnh người đàn bà hàng chài với những vẻ đẹp khuất lấp của những “hạt ngọc” tâm hồn ẩn khuất đằng sau những bộn bề bụi bẩn đời thường chính là hình tượng tiêu biểu và sâu đậm nhất.

    Hình ảnh người đàn bà ấy xuất hiện trong một nghịch cảnh éo le, độc đáo. Trong cảnh đẹp như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào” ấy lại là một sự thật éo le, ngang trái. Giữa lúc anh chàng nghệ sĩ Phùng thăng hoa biết bao cảm xúc trước cái đẹp hiếm có thì cái hiện thực như đập vào mắt Phùng. Đó là một sự thật trần trụi về một gia đình hàng chai với người đàn bà cam chịu, một lão chồng cay nghiệt cùng đàn con trên chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương sóng gió.

    Người đàn bà hàng chai hiện ra với những nét rất thực như bao người đàn bà vùng biển bằng xương, bằng thịt, bằng bao nghiệt ngã cay đắng và bao dung, yêu thương. Người đàn

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 20

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    bà ấy không tên nhưng đây chính là nhân vật trung tâm, tiêu biểu cho dụng ý nghệ thuật của nhà văn.

    Người đàn bà hàng chài của Nguyễn Minh Châu mang trên mình biết bao sự bất hạnh. Đó là hình ảnh một người đàn bà xấu xí, lam lũ, vẻ ngoài “thô kệch, trạc ngoài bốn mươi, cao lớn…”. Dáng vẻ của người phụ nữ ấy đã nói hết cái quãng đời cơ cực, bất hạnh của mình. Người đàn bà áy xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Không chỉ thế, người đàn bà đáng thương này lại được nhìn qua góc độ của một người chồng, với cái nhìn cay nghiệt, trút giận vào cái “tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng”. Đây chẳng khác gì một con người quen với nỗi cơ cực, cam chịu, sự nhọc nhằn lam lũ in hằn trên thân hình người đàn bà kia.

    Người đàn bà hàng chài mang trong mình một nỗi bất hạnh. Ngay từ thời con gái, “mụ” đã không nhan sắc, không may mắn trong tình yêu, không ai cưới hỏi nhưng vẫn khát khao hạnh phúc dù cho thân phận hẩm hiu: “có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá” rồi tiếp theo đó là những tháng ngày lang thang trên biển. Người đàn bà ấy phải sống những tháng ngày bấp bênh, cơ cực trên chiếc thuyền chài, đói nghèo đeo đẳng, bị hành hạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, và còn cả chuyện “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh”. Lời bộc bạch của người đàn bà bất hạnh ấy ẩn chứa một nỗi day dứt, xót xa.

    Thế nhưng, đằng sau vẻ ngoài thô kệch ấy lại ẩn chứa vẻ đẹp lấp lánh của một người phụ nữ với những phẩm chất tốt đẹp, đáng khâm phục và ngợi ca.

    Trước hết, ta nhận thấy ở người đàn bà hàng chài một tấm lòng vị tha cao cả. Đối với chồng, dù bị chồng nhẫn tâm đánh đập, hành hạ,… thế nhưng người phụ nữ này không trách móc mà lại rất cảm thông, thấu hiểu, sẵn sàng chấp nhận nghịch cảnh éo le ấy. Đối với con cái, xin chồng lên bờ mà đánh để con không nhìn thấy: “Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…”. Lời nói trong ngập ngừng, đứt quãng… Nỗi đau như đang dâng tràn trong tim. Người đàn bà đáng thương ấy không ngừng ra sức bảo vệ gia đình bé nhỏ của mình. “Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!”. Câu nói “Qúy tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Người đàn bà ấy tự nhận phần sai, thua thiệt về phía mình: “Cũng tại đàn bà ở thuyền chúng tôi đẻ nhiều quá”. Người đàn bà ấy không ngừng bênh vực cho chồng trước mặt Phùng và Đẩu: “trước kia là một anh con trai hiền lành nhưng cục tính”, do cuộc sống vất vả quá nên lão chồng chỉ còn cách đánh vợ để giải tỏa những bức bí của cuộc đời. Phải là một người rất yêu thương, giàu lòng vị tha mới có thể hy sinh cao cả như thế.

    Không chỉ vậy, người đàn bà ấy là một người phụ nữ rất mực thương con. Ngoài việc hy sinh vì con, xin chồng đừng đánh trước mặt con, người đàn bà hàng chài còn vì con mà cam chịu bao đau thương nhục nhã. Khi phát hiện ra con mình – thằng Phác nhìn thấy cảnh ba

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 21

    Luyện thi THPT QG môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    đánh mẹ, người đàn bà hàng chài đau đớn, nhục nhã. Con đánh cha để bảo vệ mẹ… Người đàn bà ấy mếu máo: “Phác, con ơi!” rồi lại “ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Hành động ấy là biểu hiện của một nỗi bất an trong đau đớn đến tột cùng, bấn loạn, đầy yêu thương. Sự vái lạy ấy như một sự nhận lỗi về mình, van xin. Phải là một người có tấm lòng yêu thương con sâu sắc mới có thể cam chịu và hy sinh cao cả như thế.

    Ẩn đằng sau lớp vỏ bọc tưởng chừng vô cảm, thất học kia lại là một người đàn bà ít học nhưng lại thấu hiểu lẽ đời. Người đàn bà hàng chài xuất hiện ở toàn án với những diễn biến thật ấn tượng. Từ hình ảnh một người dân nghèo, lam lũ sợ sệt lung túng “tìm một góc tường để ngồi” bỗng chốc thay đổi hẳn. Nếu lúc đầu người đàn bà xưng “con”, gọc là “ông, quý tòa” thì đến khi đối thoại với Đẩu, “mụ” lại xưng là “chị”, gọi là “mấy chú, các chú”. Để bảo vệ chồng, bảo vệ gia đình, người phụ nữ ấy trở nên khéo léo, thấu suốt, từ chối bỏ chồng bằng những lí lẽ hết sức thuyết phục. Chị biết rõ “nỗi vất vả, cơ cực trên một chiếc thuyền không có đàn ông”. Chị biết dựa vào quá khứ tốt đẹp của chồng để thuyết phục. Hơn thế, người đàn bà ấy còn biết chắt chiu hạnh phúc nhỏ nhoi, đời thường. “Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Và người phụ nữ ấy thật cao cả: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng được ăn no”. Một người đàn bà ít học nhưng lại thấu suốt lẽ đời, giàu đức hy sinh… Thật đáng ngợi ca và khâm phục.

    Hình ảnh người đàn bà hàng chài hiện lên thật chân thực và cảm động thông qua ngòi bút nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Minh Châu. Cái nhìn đa diện của nhà văn, phát hiện ra đằng sau vẻ bề ngoài xấu xí, thô kệch, lấm láp là chất ngọc long lanh trong tâm hồn, được khắc họa từ chân dung một con người nhân hậu, bao dung, rất mực yêu thương con, giàu lòng vị tha, đức hy sinh, sống giàu tình nghĩa.

    Nhân vật người đàn bà hàng chài với vẻ đẹp “khuất lấp” được khắc họa một cách ấn tượng, chân thật và vô cùng cảm động. Người đàn bà hàng chài là một nhân vật đầy cảm hứng của nhà văn. Đây là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ được đặt trên hoàn cảnh khắc nghiệt khiến cho con gnừoi phải mạnh mẽ vượt qua hoàn cảnh để sống đẹp, xứng đáng với danh hiệu con người.

    “Không thể nhìn con người một cách đơn giản, nhà văn phải phấn đấu để đào xới bản chất con người, khám phá “hạt ngọc” long lanh đằng sau cái lấm láp bụi bẩn đời thường” (Nguyễn Minh Châu). Hình ảnh người đàn bà hàng chài là một thành công nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật này đã góp thêm vào kho tàng văn học Việt Nam một chân dung người phụ nữ với vẻ đẹp giàu nữ tính.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                        Trang | 22

  • VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

    VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

    VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

    VĂN MẪU LỚP 12

    4 BÀI VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ SÓNG CỦA

    XUÂN QUỲNH

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Từ xưa đến nay tình yêu đôi lứa luôn là nguồn thơ không bao giờ vơi cạn cho các thi sĩ thăng hoa cảm xúc  viết nên bao vần thơ tình ngọt ngào, sâu lắng rung động lòng người như Puskin(Nga), Tago( Ấn Độ), Xuân Diệu(Việt Nam). Nhưng có lẽ đến những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt tuổi trẻ Việt Nam mới ngỡ ngàng khi được cảm nhận những bài thơ tình vừa hồn hậu chân thành vừa tươi tắn đắm say. Tiêu biểu nhất là bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

    Hình tượng sóng vừa gợi nghĩa thực là hiện tượng sóng dào dạt vô hồi mênh mông trên biển cả, vừa gợi nghĩa ẩn dụ diễn đạt nhịp sóng xao xuyến, bồi hồi trông trái tim tình yêu của nhân vật “em”:

    “Dữ dội và dịu êm

    Ồn ào và lặng lẽ

    ….

    Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ”

    Mở đầu bài thơ là sự đối lập rồi lại đối lập giữa hai thái cực của cùng một hiện tượng là sóng. Phức tạp ở hình thức và khó hiểu ở bản chất. Tiếp theo là một câu cắt nghĩa mà không cắt nghĩa được càng làm tăng thêm sự kì lạ của sóng. Mượn sóng là để làm biểu tượng cho tình yêu, miêu tả sóng với những đặc điểm kì lạ cũng là nói đến cái đa dạng, phức tạp, khó giải thích của tình yêu. Sóng nước đã chuyển sang sóng tình, sóng nước sóng tình đan xen vào nhau bổ sung cho nhau. Tình yêu là như vậy, là một hiện tượng khó lý giải cho minh bạch, nhưng khát vọng tình yêu của con người thì muôn đời không đổi. Con sóng ngày xưa như nào thì ngày nay vẫn vậy. Đó là sự bất di bất dịch của những quy luật tự nhiên, đây là quy luật của tình yêu.

    Tình yêu cũng không bó hẹp trong một phạm vi lứa tuổi nào, nhưng tình yêu thường đi đôi với tuổi trẻ. Tình yêu tràn đầy cơ sở thanh xuân, làm bồi hồi khiến trái tim lúc nào cũng thổn thức nhớ mong. Cũng như Xuân Diệu nói:

    “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo

    Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”

    Bởi chỉ có tuổi trẻ mới có sức mạnh để đẩy ước vọng tình yêu lên thành khát vọng để tình yêu trở thành hiện thực không còn xa vời lý thuyết nữa mà hạnh phúc đắm say trong tầm tay và trái tim.

    Sóng với gió còn tương đồng ở sự bí ẩn:

    “Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về anh, em

    ….

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau”

    Câu thơ thật hồn hậu chân thành vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh nhân vật “em” đang đứng trước muôn trùng sóng bể và trái tim đang suy tư, trăn trở thể hiện qua điệp ngữ “em nghĩ” để nói về tình yêu của anh, em và của sóng trên biển lớn. Cả hai đều giống nhau về sự bí ẩn và khó lí giải dù có khát khao truy tìm tận cội nguồn của nó qua những câu hỏi tu từ liên tiếp “từ nơi nào sóng lên”, “khi nào ta yêu nhau”. Câu hỏi không có câu trả lời rõ ràng chứng tỏ sóng mãi là bí ẩn và tình yêu của con người cũng vậy. Tình yêu của con người như một thứ ánh sáng, như khí trời để thở cũng như Xuân Diệu viết:

    “Làm sao sống được mà không yêu

    Không nhớ không thương một kẻ nào”

    Thế nhưng tình yêu cũng không phải là công thức định lý cứng nhắc nên không ai biết trước được tình yêu của mình, không ai biết được mình yêu từ bao giờ. Có lẽ Xuân Quỳnh quan niệm tình yêu không cần truy cứu đến cội nguồn tình yêu bởi khi yêu nhau đôi lứa chỉ cần hai trái tim hòa cũng nhịp đập, hai tâm hồn giao hòa giao cảm là đủ. Vì thế tình yêu muôn đời mãi là điều bí ẩn và phải chăng chính sự bí ẩn ấy lại làm nên sự quyến rũ mê hồn của tuổi trẻ từ xưa đến nay và mãi mãi về sau.

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    ….

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh một phương”

    Con sóng dưới lòng sâu và trên mặt nước là những cung bậc khác nhau của nỗi em nhớ anh. Sóng trên mặt nước dù có lớn cũng còn có thể lựa chiều mà vượt chứ sóng dưới lòng sâu mới thật dữ dội và nguy hiểm. Nhưng dù trên mặt hay sâu thì con sóng đều có bờ, là nơi đến của sóng , là cái đích để đi đâu cũng thấy nhớ dù ngày hay đêm. Nỗi nhớ còn được gắn với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng. Với thời gian nó không có ngày đêm, với không gian nó không có phương hướng.

    Tình yêu dù trong sáng, mãnh liệt đến đâu, lãng mạn bay bổng đến đâu thì vẫn gắn với đời thường. Vì thế những người đang yêu ngoài sự say mê còn phải có đủ nghị lực và lí trí để vượt qua mọi thử thách, giông bão của cuộc đời, với niềm tin sẽ tới đích:

    “Ở ngoài kia đại dương

    Trăm ngàn con sống đó

    Con nào chẳng tới bờ

    Dù muôn vời cách trở”

    Niềm tin và nghị lực, em tìm thấy ở thiên nhiên và chính mình. Khi đã yêu thật lòng,

    dù muôn vời cách trở chúng mình cũng vẫn đến được với nhau. Đẹp là thế, thiêng liêng là thế nhưng tình yêu cũng lại là thứ ngắn ngủi mong manh và khó giữ:

    “Cuộc đời tuy dài thế

    Năm tháng vẫn đi qua

    Giữa biển lớn tình yêu

    Để ngàn năm còn vỗ”

    Tuy không hiện lên thành chữ, thành lời trong đoạn thơ nhưng ẩn hiện đâu đây một thoáng lo âu rất chính đáng về tình yêu. Liệu nó có thể vượt qua quy luật của cuộc đời không? Vì vậy trong khi say đắm nhất nhà thơ cũng không thoát ly khỏi hiện tại, trong cái nồng nhiệt vẫn có những cái dự cảm lo âu. Tình yêu bao giờ cũng gắn liền với một con người cụ thể, gắn liền với cái hữu hạn của đời người, muốn vượt ra khỏi giới hạn đó chỉ có một cách là hòa tan tình yêu vào thiên nhiên vĩnh cửu. Nỗi trăn trở đã trở thành sự bức bách, thôi thúc: “Làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ” trong đại dương bao la kia để được tồn tại mãi. Tình yêu bùng lên thành khát vọng, khát vọng sôi sục mà vẫn khiêm nhường đầy nữ tính. Mỗi chữ mỗi câu trong đoạn đều được chọn lựa khéo léo nên có giá trị biểu cảm cao.

    Xuân Quỳnh đã thăng hoa tình yêu trong trái tim mình để thành một tác phẩm tuyệt tác. Nổi bật lên trong bài thơ tâm trạng khi đang yêu của nhân vật “em” với nhiều cung bậc cảm xúc. Bài thơ sẽ sống mãi trong lòng những ai đã, đang và sẽ đến với tình yêu.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng… đó là đề tài vô tận được các thi sỹ, nhạc sỹ, nhà văn khai thác, thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nhà văn, nhà thơ thường thông qua những hiện tượng, qui luật tự nhiên trong cuộc sống hay nhưng vật gần gũi, thân quen để ví von, ẩn dụ khi nói về tình yêu. Như nhà thơ Nguyễn Trung Kiên dùng hình tượng “Đôi dép” để triết lý sâu sắc về sự gắn bó, thủy chung, son sắt trong tình yêu. Nhà thơ Vũ Cao thì ví tình yêu đôi lứa như “ Núi đôi” không thể chia lìa “ núi chồng, núi vợ đứng song đôi”; nhà thơ Trần Hòa Bình vô tình nhìn thấy một chiếc lá rụng giữa mùa thu cũng có bài thơ hay “ thêm một” để chiêm nghiệm về cuộc đời, về tình yêu v.v… và v.v…

    Nhưng có lẽ, hình tượng được nói đến khá nhiều và thể hiện được sự tinh tế, đằm thắm nhưng dữ dội, mãnh liệt của tình yêu đó là hình tượng Biển và Sóng. Và, một trong những nhà thơ có những bài thơ hay nói về tình yêu bằng sự liên tưởng đến khéo léo, tài tình có liên quan đến Biển và Sóng được nhiều người yêu thích đó là cố nữ thi sỹ Xuân Quỳnh ( 1942 – 1988)Xuân Diệu, nhà thơ tình nổi tiếng của phong trào thơ mới, với sự phóng khoáng đa tình cũng đã ” mượn hình tượng sóng” để nói lên tình cảm nồng nàn, mãnh liệt của mình:

    Anh xin làm sóng biếc

    Hôn mãi cát vàng em

    Hôn thật khẽ, thật êm

    Hôn êm đềm mãi mãi

    Đã hôn rồi, hôn lại

    Cho đến mãi muôn đời

    Đến tan cả đất trời

    Anh mới thôi dào dạt…

    Còn với Xuân Quỳnh, nữ thi sỹ với nhiều bài thơ tình nổi tiếng như “ Thuyền và biển” thì con Sóng trong thơ của chị vừa “ Dữ dội’ lại vừa “ dịu êm” vừa “Ồn ào” lại vừa “ lặng lẽ “ như chính tính cách của người phụ nữ vậy. Bên ngoài có khi họ thật lặng lẽ, đằm thắm, dịu dàng nhưng bên trong lại ẩn chứa một tâm hồn khao khát yêu thương, với tình yêu mãnh liệt, dữ dội biết bao. Xuân Quỳnh đã rất tài tình khi đưa cặp đôi phạm trù nội dung có tính đối nghịch đi liền nhau nhằm tạo ra sự so sánh giữa cái mạnh mẽ, ồn ào và cái dịu êm, lặng lẽ qua đó nhằm diễn tả tính cách đan xen, đa chiều của người phụ nữ, nhất là khi họ đang yêu.Dữ dội và dịu êm

    Ồn ào và lặng lẽ

    Sông không hiểu nỗi mình

    Sóng tìm ra tận bể

    Chúng ta còn cảm nhận, đằng sau ý nghĩa ấy là thể hiện của sự giằng xé về tâm trạng của người phụ nữ, vì khi yêu phụ nữ thường phải hy sinh, chịu đựng nhiều hơn. Mà tình yêu thường cũng gặp nhiều trắc trở, không bao giờ bình yên, phẳng lặng, đôi lúc còn ẩn chứa nhiều dông bão.

    Ôi con sóng ngày xưa

    và ngày sau cũng thế

    Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ

    Tình yêu đối với Xuân Quỳnh vượt qua cả khuôn khổ của thời gian và không gian, điều đó nói lên rằng, nếu đích thực là tình yêu chân chính thì nó luôn vĩnh cữu, sống mãi với thời gian, khắc sâu vào tâm khảm, trí nhớ của con tim cho dù đó là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Và tuy có nhiều cung bậc tình cảm khác nhau nhưng, tình yêu thì muôn đời vẫn thế!

    Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về Anh, em

    Em nghĩ về biển lớn

    Từ nơi nào sóng lên?

    Sóng bắt đầu từ gió

    Gió bắt đầu từ đâu?

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau

    Đứng trước biển cả bao la, hùng vĩ nhà thơ thấy mình thật nhó bé và muốn được chiêm nghiệm lại cuộc sống, chiêm nghiệm về tình yêu. Từ những qui luật, hiện tượng tự nhiên của biển cả, nhà thơ đặt câu hỏi “Từ nơi nào sóng lên “ gió bắt đầu từ đâu?” và lại liên tưởng “em cũng không biết nữa, khi nào ta yêu nhau”. Như nhà thơ Xuân Diệu cũng đã nói: “ Nào ai định nghĩa được tình yêu”. Xuân Quỳnh cũng không thể cắt nghĩa nỗi Tình yêu. Chỉ biết rằng, tình yêu đến như một lẽ tự nhiên, thường tình. Đó là cơ duyên, là sự giao hoà, cộng hưởng về rung động cùng nhịp đập của hai con tim, mà không ai có thể sắp đặt hoặc cưỡng lại được.

    Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngũ được

    Lòng em nhớ đến Anh

    Cả trong mơ còn thức

    Có lẽ đây là khổ thơ mà tôi tâm đắc nhất trong cả bài thơ, tình yêu của người phụ nữ tuy mãnh liệt, mạnh mẽ là thế nhưng cũng rất e ấp, sâu kín, có khi được che dấu, ấn chứa bên trong, như những con sóng ngầm dưới lòng đại dương, mà đã là sóng ngầm thì rất dữ dội, có thể gây nên dông bão!

    Lòng em nhớ đến Anh

    Cả trong mơ còn thức

    Sức mạnh tình yêu đã vượt lên cả qui luật tự nhiên của con người, thường khi ngủ là lúc mà người ta quên đi tất cả. Nhưng, với Xuân Quỳnh vì nỗi nhớ người yêu quá lớn, quá mạnh mẽ, luôn thường trực trong lòng, nên ngay cả trong giấc ngủ, giấc mơ nhưng vẫn thức để nhớ về Anh! Cái hay, cái tài tình là ở chổ đó. Nếu như Xuân Quỳnh nói trong giấc mơ Em gặp Anh thì đó lại là chuyện thường tình, vì bất cứ ai cũng có thể làm được điều đó. Bởi lẽ, khi trong lòng người ta nghĩ nhiều đến một ai đó, nghĩ nhiều về một điều gì đó thì lúc ngủ người ta thường mơ thấy nó. Nhưng có lẽ , “trong mơ “ mà “ còn thức” vì quá nhớ Anh thì chỉ có mỗi Xuân Quỳnh!

    Dẫu xuôi về phương bắc

    Dẫu ngược về phương Nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về Anh- một phương.

    Đất có bốn mùa: Xuân – Hạ – Thu – Đông; trời có bốn hướng: Bắc – Nam – Đông – Tây. Nhưng với người phụ nữ khi yêu thì chỉ có một hướng duy nhất, đó là: Anh! Dù làm gì, ở đâu,ở chân trời góc bể nào họ cũng luôn hướng về người mình yêu, sống tốt, sống đẹp cho nhau. Tình yêu của người phụ nữ thật cao thượng và bao dung, đó còn là sự hy sinh, thủy chung son sắt, đợi chờ khi xa người yêu.

    Ở ngoài kia đại dương

    Muôn vàn con sóng đó

    Con nào chẳng tới bờ

    Dù muôn vời cách trở

    Cuộc đời tuy dài thế

    Năm tháng vẫn đi qua

    Như biển kia dẫu rộng

    Mây vẫn bay về xa

    Làm sao được tan ra

    Thành trăm con sóng nhỏ

    Giữa biển lớn tình yêu

    Để ngàn năm còn vỗ

    Tình yêu dù mãnh liệt, dữ dội đến mấy cũng không thể vượt qua qui luật khắc nghiệt của cuộc đời, cũng có lúc gặp phải trắc trở, chia ly, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng không vì thế mà tình yêu mất đi vẻ đẹp vĩnh hằng, hay sớm bị lãng quên; mà qua năm tháng, càng nhiều thử thách tình yêu ấy càng lớn lên, thắm thiết, sâu sắc hơn. Dù có thể, tình yêu ấy, như những con sóng ngoài khơi xa không thể đến được bến bờ của hôn nhân, hạnh phúc nhưng đó cũng sẽ là một ký ức, kỷ niệm đẹp trong đời của mỗi con người, nếu chúng ta biết nâng niu, trân trọng, gìn giữ, như một món quà quí giá mà cuộc sống đã ban tặng cho ta! .

    BÀI MẪU SỐ 3:

     

    Tinh yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không phải vì thế mà nó thành đơn điệu và nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu, một khao khát riêng không ai giống ai. Chẳng thế mà ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, người tự cho mình là ‘‘kẻ uống tình yêu dập cả môi”, ta gặp Nguyễn Bính “người nhà quê” chân thật da diết… và thật bất ngờ khi gặp nữ thi sĩ với tâm hồn dạt dào và say đắm trong tình yêu – Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nhưng không kém phần cháy bỏng nồng say. Điều đó thể hiện không ít trong bài Sóng:

    Dữ dội và dịu êm                        

    Ồn ào và lặng lẽ                         

    Sông không hiểu nổi mình            

    Sóng tìm ra tận bể                      

    Ôi con sóng ngày xưa                 

    Và ngày sau vẫn thế                    

    Nỗi khát vọng tình yêu                 

    Bồi hồi trong ngực trẻ                  

    Trước muôn trùng sóng bể            

    Em nghĩ về anh, em                    

    Em nghĩ về biển lớn                     

    Từ nơi nào sóng lên?                   

    Sóng bắt đầu từ gió                    

    Gió bắt đầu từ đầu?                    

    Em cũng không biết nữa              

    Khi nào ta yêu nhau                  

    Con sóng dưới lòng sâu               

    Con sóng trên mặt nước              

     Ôi con sóng nhớ bờ                      

    Ngày đêm không ngủ được            

    Lòng em nhớ đến anh                 

    Cả trong mơ còn thức!                

    Dẫu xuôi về phương bắc              

    Dẫu ngược về phương nam          

    Nơi nào em cũng nghĩ                

    Hướng về anh – một phương        

    Ở ngoài kia đại dương                 

    Trăm ngàn con sóng đó             

    Con nào chẳng tới bờ                  

    Dù muôn vời cách trà                 

    Cuộc đời tuy dài thế                   

    Năm tháng vẫn đi qua               

    Như biển kia dẫu rộng               

    Mây vẫn bay về xa                   

    Làm sao được tan ra                 

    Thành trăm con sóng nhỏ            

    Giữa biển lớn tình yêu                

    Để ngàn năm còn vỗ.

    Bài thơ ra đời vào năm 1967. Vào thời kì này, có thể nói rất ít những bài thơ tình yêu kiểu này nhất là với các nhà thơ nữ. Nếu có, phần lớn đều gắn bó với vụ cách mạng, gắn với sứ mệnh thiêng liêng cao cả của dân tộc. Rất ít các nhà thơ tự bứt mình ra khỏi không khí chung để tìm vào cái gọi là riêng tư, sâu kín trong tâm linh mình. Dường như mọi người tránh và cố tình tránh… Nói như vậy để thây rằng Sóng của Xuân Quỳnh là một bài thơ có nhiều điều đáng chú ý.

    Viết về sóng, biển và thuyền để nói lên tình yêu trai gái ta đã gặp trong thơ Xuân Diệu, với bài Biển… Ngay trong Xuân Quỳnh cũng có Thuyền và Biển… nhưng tìm một bài nói lên nỗi băn khoăn day dứt như Sóng có lẽ là chưa. Đến với Sóng, ta được gặp một Xuân Quỳnh nồng nàn, mãnh liệt, gặp con người yêu tha thiết và cháy bỏng, luôn luôn muốn bứt mình ra để tìm đến một cái gì đó rõ ràng, cụ thể. Trong cuộc sống, Xuân Quỳnh thể hiện rõ cái phong cách này. Đã yêu ai thì yêu hết mình, đã ghét ai thì ghét cay đắng. Chính vì lẽ đó mà trong Xuân Quỳnh vẫn giữ được vẻ tận tuỵ, dứt khoát rõ ràng, ở Sóng điều này cũng thể hiện:

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức!

    Có lẽ là sức mạnh của tình yêu, niềm say mê và nỗi lòng cuồng nhiệt, đã cuốn con người vào thế giới thần tiên, thơ mộng. Tất cả những lo toan, tính xán, những phức tạp, rắc rối trên cõi đời đều nhường chỗ cho ước mơ, cho khát song đắm say trong lòng người. Tất cả những gì tồn tại bên ngoài đều chôn hết, xua hết ra ngoài ý tưởng. Khẳng định nỗi lòng, nhà thơ đưa ra trạng thái “trong mơ còn thức” để thuyết phục. Tôi còn nhớ, có một nhà thơ khi bày tỏ nỗi lòng của mình với người yêu cũng nói:

    Anh yêu em chỉ nhớ em thôi

    Lúc đứng lúc ngồi lúc nào cũng nhớ.

    Trạng thái bồn chồn, xao xuyến, bứt rứt như cắn xé, cào cấu, như giục giã lòng người. Người con trai đứng ngồi không yên thì ở đây Xuân Quỳnh lại ngủ, thức không yên. Nào có kém gì đâu. Đã yêu nhau thường nhớ thường mong, thường đợi chờ nên không thể không có cái phút đứng ngồi không yên. Từ xa xưa, ông cha ta cũng có câu:

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

    Chính vì lẽ đó mà mở đầu bài thơ nhà thơ cũng nói lên cái tâm trạng băn khoăn, trạng thái không ổn định trong tâm hồn mình:

    Dữ dội và dịu êm

    ồn ào và lặng lẽ

    Sông không hiểu nổi mình          

    Sóng tìm ra tận bể                   

    Hai trạng thái tâm lí ngược nhau lại được dồn trong một ngữ cảnh cụ thể hơn là trong mội người, ở cùng một lúc. Dĩ nhiên nói “dữ dội”, “ồn ào”, “lặng lẽ” là nói về sóng nhưng trong bài thơ này sóng là em, và em là sóng, hai câu này hòa lẫn trong nhau, quyện vào nhau. Đọc hai câu thơ tưởng như đã là một khập khểnh trái ngược vậy mà ngược lại rất có lôgíc và hợp lí. Có được như vậy, hẳn phải nói đến nhà thơ và cái tài biểu hiện tâm lí. Đọc cả khổ thơ ta cũng như lắng mình trong đó, nghe được tiếng thổn thức của hồn người, cả khổ thơ là một trạng thái khá đọng của xúc cảm. Con người nhà thơ không bình lặng, không dập dìu, nhẹ nhàng hôn nhẹ lên bờ cát, không ôm ấp, vỗ về hay nũng nịu mà “dữ dội” mà “ồn ào” nhưng “dịu êm”, “lặng lẽ”. Song nếu như thế thì chẳng còn gì để sóng “không hiểu nổi”, để sóng phải “tìm ra tận bể”. Hai câu thơ dưới thể hiện nỗi khát vọng tìm tòi đến tột độ. Câu thơ tưởng chừng như căng lên chợt bật ra, vậy là thoả mãn. Trong cuộc sống có gì bực dọc, đau khổ hơn khi chính mình lại không hiểu nổi mình, không lí giải được mình, mình là ai? Có lẽ cái sức mạnh lớn như muốn lật tung cái “sâu kín” đó là mình phải tìm được tận cùng nó. Cái ý nghĩ này còn theo đuổi nhà thơ đến tận cùng của bài thơ. Khát vọng được hoà mình vào bể lớn của cuộc đời, bể lớn của tình yêu cứ thôi thúc, giục giã.

    Từ “không hiểu nổi mình” nhà thơ liên tiếp đặt ra những băn khoăn, thắc mắc. Cuối cùng để tự dằn vặt mình, bởi lẽ hỏi cũng chỉ để mà hỏi. Hỏi cho vơi nỗi lòng:

    Sóng bắt đầu từ gió

    Gió bắt đầu từ đâu      

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau ? 

    Quy luật tự nhiên là sóng và gió, nhưng còn tình cảm giải thích từ đâu… Đó là một điều cực khó, vẫn là nỗi băn khoăn dằn dỗi trong nỗi lòng mình. Vậy mà nỗi lo lắng, thảng thốt “không biết nữa”. Ngây thơ xen chút bất lực. Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm được nơi khơi nguồn, nơi “bắt đầu” của sự vật. Có như vậy nỗi lòng người mới thoả mãn.

    Trăn trở với khổ thơ ta nghe thấy nỗi lòng nhà thơ trăn trở, nhịp thơ trong : thơ thay đổi lúc 3/2, lúc 2/3 linh hoạt nhưng không xuôi không thăng, không bình thường mà dằn vặt, nghĩ suy, tìm tòi.

    Xưa nay rất nhiều thi sĩ đặt câu hỏi về tình yêu. Nhưng tình yêu là tình cảm là cảm xúc làm sao biết được nó như thế nào, đến từ đâu… và nhiều nữa, nhưng tất cả đều bất lực. Ngay đến Xuân Diệu – một nhà thơ tình nổi tiếng, một con người luôn có khát khao giao cảm với đời, luôn yêu, say đắm trong tình yêu, người mà:

    Trong giây phút chót dáng trời đất

    Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.

    Người “uống” tình yêu, “cắn” tình yêu đến “dập cả môi” cũng bất lực:

    Đố ai định nghĩa được tình yêu 

    Có khó gì đâu một buổi chiều   

    Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

    Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.

    Có người phải thốt lên rằng: “Có gì lạ quá đi thôi!” Thật khó quá! Nhưng tình yêu là thế. Làm sao có thể cảnh giác được trong tình yêu. Nó đến lúc nào ta đâu có biết và chiếm ta lúc nào ta đâu có hay. Quay lại khổ thơ cùa Xuân Quỳnh la gặp câu thổ lộ:

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau?  

    Một câu hỏi rất con gái, nhẹ nhàng, bối rối lẫn chút đắm say, ngọt ngào nũng nịu. Nói thế, không có nghĩa là khổ thơ chỉ đơn thuần là cảm xúc, con người chỉ đơn thuần là yêu say đắm. Bên tình yêu, bên sự nồng nàn còn là sự suy nghĩ, tìm tòi đòi hỏi một câu trả lời dù ít thôi nhưng phải có… nhưng… cuối cùng câu hỏi vẫn để đó, nhà thơ bất lực… làm sao mà có thể đáp nổi… Một ánh mắt bâng quơ, một câu nói vô tình nhiều khi cũng làm cho người ta… tương tư chứ, huống chi lại có một khoâng thời gian dài nỗi khát vọng tình yêu cứ bồi hồi, cứ xa xuyến trong ngực trẻ.

    Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không giản đơn. Yêu thương cháy bỏng, sóng say nhưng không vì thế mà hời hợt:

    Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về anh, em      

    Em nghĩ về biển lớn      

    Từ nơi nào sóng lên.    

    Điệp từ “em nghĩ” nhắc đi nhắc lại càng làm rõ hơn sự suy nghĩ trong lòng người. “Em nghĩ” có nghĩa là em đã thao thức, đã lo lắng, đã đặt ra nhiều câu hỏi… chứ không phải em chỉ quen bồng bềnh, quen si mê, đến chỉ yêu và đơn thuần là yêu. Xưa nay không hiểu người “ chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì” tình yêu đã làm họ mù quáng, quên đi tất cả. Họ nhìn vào cõi hư vô, mộng ước, chỉ quen hưởng thụ chứ không biết suy nghĩ.

    Tình yêu thường đồng hành với nỗi nhớ, sự mong đợi, vì lẽ đó mà trong thơ Xuân Quỳnh điều đó cũng thể hiện khá rõ. Yêu cuồng nhiệt thì nhớ cũng nát tan. Nỗi nhớ cứ dồn lên tầng lầng, lớp lớp như từng đợt sóng:

    Con sóng dưới lòng sâu     

    Con sóng trên mặt nước    

    Ôi con sóng nhớ bờ          

    Ngày đêm không ngủ được

    Đọc khổ thơ, tìm thấy vị trí của con sóng và cũng thấy được nỗi nhớ trong lòng người. Con sóng nhớ bờ sóng thao thức “ngày đêm không ngủ được” nhà thơ muốn nói đến sự toàn diện. Dù tận dưới đáy sông hay ngay trên bề mặt sóng vẫn chỉ nhớ bờ, thương bờ. Nổi nhớ mong tưởng chừng đến tột độ. Nhớ nhau nên trăn trở. Đến nỗi trong ca dao người xưa cũng từng nói “đèn nhớ ai mà đèn không tắt”.

    Nỗi nhớ của con sóng chính là nỗi nhớ của con người, nỗi nhớ tầng tầng lớp lớp đan xen nhau, nối tiếp nhau, thôi thúc, giục giã. Nói sóng để nói đến nỗi lòng mình. Nhớ nhau, nên thời gian như dài hơn:

    Tháng giêng ngàv dài lắm

    Biết mà làm sao em       

      Giấc ngủ cũng chập chờn:

    Lòng em nhớ đến anh     

    Cả trong mơ còn thức.    

    Khổ thơ được viết theo thể tăng dần, cảm xúc trong thơ được hun nóng đến tận cùng dào dạt…, nóng bỏng. Trong thơ mình, khi nói về nỗi nhớ Xuân Quỳnh cũng đã viết:

    Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ

    Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn vỡ.

    (Thuyền và biển)

    Phải nói rằng, trong tình yêu Xuân Quỳnh yêu hết mình. Yêu cuồng nhiệt đắm say, cháy bỏng, nồng nàn. Nhà thơ tha thiết tắm mình trong nguồn cảm hứng vô tận này. Yêu nồng nàn như vậy nhưng trong Xuân Quỳnh vẫn có nét dịu dàng của con gái. Vẫn biết là yêu đến nát tan, nhưng không vồ vập, ồn ào như Xuân Diệu – Người muốn “riết”, “say”, muốn “hôn” và cuối cùng muốn “cắn”  (Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi). Trong thơ ông tình yêu không tĩnh lặng. Xuân Diệu mạnh mẽ táo bạo:

    Đã hôn rồi hôn lại     

    Cho đến mãi muôn đời

    Đến tan cả đất trời   

     Anh mới thôi dào dạt.

    (Biển)                                       

    Càng đến cuối bài thơ Xuân Quỳnh càng tỏ ra mình là một con người sâu sắc, thuỷ chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh là tình yêu từ hai phía, ở đây, nhân vật trữ tình đã có đối tượng để hướng tới chứ không vu vơ. Hơn nữa, tình cảm, tâm hồn của nhân vật trữ tình không phải là bi quan, chán nản mà tràn đầy hi vọng. Đọc bài thơ này, không hề gặp cái tư tưởng: “Tương tư thức mây đêm rồi,Biết cho ai hỏi ai người biết cho?”

    Khổ thơ tiếp khẳng định được điều đó:

    Dầu xuôi về phương bắc     

    Dầu ngược về phương nam 

    Nơi nào em cũng nghĩ        

    Hướng về anh – một phương.

    Đến đây nhà thơ đã đưa ra khái niệm không gian để nói lên mức độ thuỷ cung. “Dẫu xuôi”, “dẫu ngược”, “phương bắc”, “phương nam”, là những từ cụ thể khẳng định sự thuỷ chung, khoảng không gian, địa điểm nói lên độ dài nỗi cách trở, gian lao của thực tế với con người. Phương hướng, khoảng cách đặt ra xa bao nhiêu thì lòng người lại thể hiện rõ sự thuỷ chung bấy nhiêu “một phương”. Câu thơ như một lời khẳng định rắn rỏi, mạnh mẽ, dứt khoát, rõ ràng. Khổ thơ đặt ra nhiều thử thách, nhiều cách trở nhưng cũng đưa ra được sự quyết tâm của con người. Tình yêu sẽ chiến thắng tất cả, nếu như đó là tình yêu chân thật, thuỷ chung. Lời thơ vang lên như một lời thề nguyện đọc lên cứ rưng rưng xúc động. Đã có bài hát khẳng định về điều này: “Dù thời gian xa xôi, Dù đường dài xa xôi. Em vẫn như ngày xưa. Mến yêu anh trọn đời”. Thơ Xuân Quỳnh cũng hướng về điều đó tuy cách diễn đạt có khác.

    Dường như để khẳng định thêm cho lời nói của mình nhà thơ đã đưa ra hàng loạt các dẫn chứng về thiên nhiên, tạo vật. Tất cả rồi sẽ chiến thắng nếu có sự kiên nhẫn, có sức mạnh. Mọi vật rồi sẽ bị chinh phục nếu con người có ý chí,  quyết lâm:

    Ở ngoài kia đại dương 

    Trăm ngàn con sóng đó

    Con nào chẳng tới bờ   

    Dù muôn vời cách trở   

    Cuộc đời tuy dài thế     

    Năm thảng vẫn đi qua   

    Như biển kia dẫu rộng   

    Mây vẫn bay về xa.      

    Hàng loạt thử thách được đưa ra cho sóng: cuộc đời và biển rộng là thế, là thế nhưng đều bị chinh phục.

    Con sóng được Xuân Quỳnh ví như tình yêu “bồi hồi trong ngực trẻ”. Nhân vật em ước được tan ra thành trăm con sóng nhỏ đã thể hiện một ước khát vọng đến tha thiết:

    Làm sao tan được ra     

    Thành trăm con sóng nhỏ

    Giữa biển lớn tình yêu   

    Để ngàn năm sóng vỗ. 

    Khổ thơ kết là một ước muốn khôn cùng, không có tình yêu cuộc sống tha thiết, không có sự đam mê đến tột cùng, không có sự thuỷ chung làm sao có được những câu thơ như vậy. Trong ước mong vẫn lẫn chút băn khoăn của “ Làm sao được tan ra”. Nhưng cũng phải thây rằng chỉ có tình yêu thế nào đó thì mới có được ước mong như vậy. Mong muốn xé tan mình, hoà lẫn với bể đời rộng lớn, bứt mình ra khỏi những nhọc nhằn, lo toan, tính toán để ngập mình trong tình yêu, tuổi trẻ, ngọt ngào và hạnh phúc.

    Ước mong tồn tại vĩnh hằng trên cõi đời này thôi thúc, giục giã. Lời thơ, ý chí, nhịp thơ có phần nhanh hơn, mạnh hơn, gấp gáp hơn. Bài thơ kết thúc mà lời thơ còn vang vọng mãi, ào ạt của sóng, ước muốn tung mình vào bể tình yêu ngày càng nhiệt thành.

    Bài thơ dẫn dắt người đọc qua nhiều nỗi cách trở, mất còn, nhớ, thương, chờ đợi, cuối cùng vẫn quy gom về một mối: tình yêu mãnh liệt, khoáng đạt, say đắm, thuỷ chung.

    Cấu trúc bài thơ được xác lập theo cấu trúc đan xen hình tượng: sóng – bờ (khổ thơ thứ 5), sau đó anh – em (khổ thơ 3, 4) rồi lại sóng – bờ (khổ thơ 7). Lớp lớp sóng đan xen nhau tới lui như vậy, biển như lặng dần đi nhường chỗ cho những suy tư về cuộc đời.

    Bài thơ viết theo thể 4 câu 5 chữ rất dễ thể hiện tình cảm chân thành của nhà thơ. Trong tình yêu sao không có phút trăn trở, giận hờn, thương nhớ. Nhưng xưa nay, trong thơ tình, nhất là thơ của các nữ sĩ người ta thường chỉ bắt gặp sự nhẹ nhàng, yếu đuối, thầm kín chứ ít ai thây sự mạnh mẽ, táo bạo, phải chăng chính vì điều này mà phong cách thơ Xuân Quỳnh đã nổi rõ và khẳng thêm sức mạnh của “phái yếu”. Xưa nay, ta thường gặp sự hậm hực trong của phái “mày râu”:

    Anh yêu em đến nay chừng có thể  

    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai  

    Anh yêu em âm thầm không hi vọng

    Lúc đứng ngồi khi hậm hực lòng ghen.

    (Tôi yêu em – PUSKIN)              

    Còn Xuân Quỳnh thể hiện sự mạnh mẽ, dứt khoát, chung thuỷ, nồng cháy và cũng thắc mắc, cũng có phút bực mình, trăn trở.

    Sóng ra đời cách đây gần 30 năm nhưng độ nồng nàn, đắm say của nó vẫn không phai giảm trong lòng người. Có thể nói, trong giây phút này, nhiều bạn đọc thơ vẫn còn giật mình thây sợ. Yêu hết mình, hết lòng vì nhau, yêu thương gần gũi và thuỷ chung đó là một tình yêu đẹp song không dễ gì mà có được. Đọc thơ Xuân Quỳnh phần nào đó ta hiểu được con người nhà thơ. Trong cuộc sống thi sĩ cũng tận tuỵ với con cái, yêu thương chúng rất mực, hết lòng vì chúng, với chồng cũng vậy, một người vợ thuỷ chung và đảm đang… Thơ Xuân Quỳnh và con người Xuân Quỳnh, Võ Văn Trực nói: “Điều đáng quý ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật rất thành thật, thành thật trong quan hệ với bạn bè, với xã hội và trong cả tình yêu. Chị không quanh co, không giấu diếm một điều gì. Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm và suy nghĩ của chị. Chỉ cần qua thơ, ta có thể biết được khá kĩ đời tư của chị. “thành thật, đây là cốt lõi của thơ Xuân Quỳnh”.

    Phong cách Xuân Quỳnh về sau vẫn thế. Qua Thuyền và biển càng khẳng định sự đồng nhất rõ hơn trong con người này. Đáng tiếc, cuộc đời đã cướp đi một cây bút đầy tài năng và hi vọng. Song đó không còn nữa nhưng thơ Xuân Quỳnh, những bài thơ tình cảm cho con trẻ như Lời ru trên mặt đất, Tiếng gà mía, Chuyện cổ tích về loài người đến cả những bài thơ tình yêu Thuyền và biển, Sóng… vẫn hấp dẫn lòng người.

    Thơ Xuân Quỳnh sẽ còn in đậm trong tâm trí nhiều độc giả hôm nay và ngày mai.

    BÀI MẪU SỐ 4:

    Trong thi đàn Việt Nam, ta bắt gặp một Xuân Diệu với men say tình yêu, một thứ “yêu vội” mãnh liệt đến lạ, ta gặp Nguyễn Bính với “tình quê” chân chất, mộc mạc….và giờ ta- bất ngờ thay, ta bắt gặp một nữ thi sĩ với tình yêu đắm say, dào dạt, căng đầy xuân trẻ- Xuân Quỳnh. Thơ Xuân Quỳnh “vút” nhịp là thế nhưng cũng không kém phần chân thật và bình dị. Những điều tưởng như hết sức đời thường ấy, khi vào thơ Xuân Quỳnh như được “ thổi bùng” lên bằng ngọn lửa của đam mê, của rạo rực và của tình yêu tuổi trẻ. Điều này được thể hiện rõ trong bài thơ “Sóng” của nữ thi sĩ này.

    Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh ẩn dụ “sóng”- đó là tiếng lòng của “em”, của tất cả những người đang yêu….Xuân Diệu, nhà thơ nổi tiếng của phong trào thơ mới cũng đã từng mượn hình tượng sóng để nói lên tình yêu nồng nàn và mãnh liệt của mình:

    “…Anh xin làm sóng biếc

    Hôn mãi cát vàng em

    Hôn thật khẽ thật êm

    Hôn êm đềm mãi mãi

    Đã hôn rồi hôn lại

    Cho đến mãi muôn đời

    Đến tan cả đất trời

    Anh mới thôi dào dạt…”

    Còn với riêng Xuân Quỳnh, con sóng trong thơ chị vừa “dữ dội” lại vừa” dịu êm”, vừa “ồn ào” mà lại thật “ lặng lẽ”…Thật đặc biệt và cũng thật tài tình khi đem những sự đối nghịch đặt liền kề để mà so sánh với nhau, không hiểu đó là vô tình hay cố ý nhưng điều ấy đã phần nào giúp người đọc hiểu được tính cách đan xen, đa chiều của người phụ nữ, nhất là khi họ đang yêu.

    “Dữ dội và dịu êm

    Ồn ào và lặng lẽ

    Sông không hiểu nổi mình

    Sóng tìm ra tận bể”

    Vâng, trong chính cái đối nghịch đó chúng ta còn cảm nhận được sự giằng xé, trăn trở của người phụ nữ đang yêu, bởi họ- trong tình yêu thường phải chịu hi sinh, cam chịu nhiều hơn bao giờ hết, mà tình yêu thì có êm đềm, phẳng lặng, đôi khi còn ẩn chứa những giông tố bão bùng….

    “Ôi con sóng ngày xưa

    Và ngày sau vẫn thế

    Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ”

    Với Xuân Quỳnh, tình yêu đích thực luôn vượt qua không gian và thời gian, tình yêu đó sẽ sống mãi với thời gian, khắc sâu vào tâm khảm của mỗi người dù đó là quá khứ đã qua, thực tại hiện hữu hay tương lai còn xa…Dù tình cảm con người có chất chứa bao nhiêu cung bậc cảm xúc thì tình yêu muôn đời vẫn vậy, không thay đổi.

    “Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về anh, em

    Em nghĩ về biển lớn

    Từ nơi nào sóng lên?

    Sóng bắt đầu từ gió

    Gió bắt đầu từ đâu?

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau….”

    Trước biển cả bao la với “muôn trùng” con sóng, nhà thơ thấy mình thật bé nhỏ với ngổn ngang những nghĩ suy về anh, về em và về tình yêu của “chúng ta” ấy…Những câu hỏi xuất hiện nhưng chẳng thể có một đáp án chính xác: “ Từ khi nào sóng lên?” “ Gió bắt đầu từ đâu?” để rồi nhà thơ liên tưởng tới “ Em cũng không biết nữa” “Khi nào ta yêu nhau”. Tình yêu là thứ muôn đời chẳng thể ai cắt nghĩa nỗi như Xuân Diệu từng nói :” Nào ai cắt nghĩa được tình yêu”…Tình yêu nó đến và đi như lẽ thường tình, tự nhiên lắm…Đó là sự giao hòa, cộng hưởng và rung động nhịp đập nơi trái tim hai người, không gì có thể ngăn cản được.

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Có lẽ rằng, trong cả bài thơ, đây là khổ thơ tôi tâm đắc nhất, tình yêu của người phụ nữ dẫu có mãnh liệt là thế, dâng trào dạt dào là thế nhưng vẫn e ấp, ngượng ngùng, ẩn dấu như những “con sóng dưới lòng sâu” – những con sóng ngầm dưới lòng đại dương, mà những con sóng ngầm thường ẩn chưa những giông bão bất ngờ…

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Hẳn rằng với những ai đã yêu, đang yêu hay thậm chí chưa yêu nhưng cũng biết rằng sức mạnh của tình yêu nó mãnh liệt tới mức nào. Nó vượt qua mọi không gian, thời gian, mọi quy luật của tự nhiên để “sống”, để “ tồn tại” và để “ vươn lên”. Nỗi nhớ trong tình yêu cũng mang theo sức mạnh ấy. Khi ngủ người ta thường quên đi mọi thứ, nhưng với Xuân Quỳnh vì nỗi nhớ người yêu quá lớn, quá mãnh liệt nên trong mơ chị vẫn nhớ, nhớ da diết, nhớ cồn cào, nhớ đến “ cả trong mơ còn thức”. Nếu như Xuân Quỳnh nói vì nhớ nên trong mơ gặp người yêu thì đó là lẽ dĩ nhiên thường tình, bất cứ ai cũng có thể làm được điều đó, bởi lẽ ban ngày nếu như ta nghĩ quá nhiều về một điều gì đó thì khi ngủ ta thường mơ về điều đó, ta nghĩ quá nhiều về một người thì trong mơ ta mơ gặp người đó. Nhưng có lẽ cả “Trong mơ” mà “còn thức” thì chỉ có một Xuân Quỳnh. Cái hay, cái tài tình là ở chỗ đó, nỗi nhớ ấy luôn canh cánh, thường trực trong lòng nên ngay cả trong giấc ngủ, trong mơ vẫn cón “thức” để nhớ Anh!

    “Dẫu xuôi về phương bắc

    Dẫu ngược về phương nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh – một phương”

    Đất có bốn mùa: Xuân – Hạ – Thu – Đông; trời có bốn hướng: Bắc – Nam – Đông – Tây. Nhưng với người phụ nữ khi yêu thì chỉ có một hướng duy nhất, đó là: Anh! Dù làm gì, ở đâu,ở chân trời góc bể nào họ cũng luôn hướng về người mình yêu, sống tốt, sống đẹp cho nhau. Tình yêu của người phụ nữ thật cao thượng và bao dung, đó còn là sự hy sinh, thủy chung son sắt, đợi chờ khi xa người yêu.

    ” …Ở ngoài kia đại dương

    Muôn vàn con sóng đó

    Con nào chẳng tới bờ

    Dù muôn vời cách trở

     

    Cuộc đời tuy dài thế

    Năm tháng vẫn đi qua

    Như biển kia dẫu rộng

    Mây vẫn bay về xa

     

    Làm sao được tan ra

    Thành trăm con sóng nhỏ

    Giữa biển lớn tình yêu

    Để ngàn năm còn vỗ./.

    Tình yêu dù mãnh liệt, dữ dội đến mấy cũng không thể vượt qua qui luật khắc nghiệt của cuộc đời, cũng có lúc gặp phải trắc trở, chia ly, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng không vì thế mà tình yêu mất đi vẻ đẹp vĩnh hằng, hay sớm bị lãng quên; mà qua năm tháng, càng nhiều thử thách tình yêu ấy càng lớn lên, thắm thiết, sâu sắc hơn. Dù có thể, tình yêu ấy, như những con sóng ngoài khơi xa không thể đến được bến bờ của hôn nhân, hạnh phúc nhưng đó cũng sẽ là một ký ức, kỷ niệm đẹp trong đời của mỗi con người, nếu chúng ta biết nâng niu, trân trọng, gìn giữ, như một món quà quí giá mà cuộc sống đã ban tặng cho ta.

  • Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

    Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

    Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

        Chuyên đề:           HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

    QUA BA TÁC PHẨM : “VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA TÔ HOÀI, “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN VÀ “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

     

          Phụ nữ là đề tài quen thuộc trong nền văn học Việt Nam, nhất là những phụ nữ có số phận nhỏ bé, chịu nhiều đắng cay, tủi nhục. Đặc biệt trong giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX, đề tài này đã được thể hiện khá đặc sắc qua nhiều nhân vật. Nổi trội hơn cả là hiện tượng Mị trong “vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, nhân vật “vợ nhặt” và bà cụ Tứ trong tác phẩm cùng tên của Kim Lân và nhà văn Nguyễn Minh Châu, với hình ảnh người đàn bà hàng chài qua truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”. Mỗi nhân vật đều mang mỗi hoàn cảnh, số phận đáng thương nhưng ở họ vẫn toát lên những phẩm chất đáng quí của người phụ nữ Việt Nam.

    Đã từ rất lâu, hình ảnh người phụ nữ với số phận chìm nổi, đau thương trong sự bất công hà khắc của xã hội đã đi vào nền văn học Việt Nam. Qua những câu ca dao dân ca_ khúc hát tâm tình của người dân quê đã được lưu truyền qua bao năm tháng mà cụ thể hơn đó là những câu ca dao than thân đầy cảm thương. Ở đó hình ảnh người phụ nữ đã được hiện lên rất đậm nét với:

    “Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

    “Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các,hạt ra ruộng cày”

    “Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    Có biết bao nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất “ngày ngày hai buổi trèo non”, “ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương”. Nhưng nỗi khổ lớn nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần,nỗi khổ của thân phận mong manh, bị động, ít giá trị. Thân phận họ chỉ được ví với “hạt mưa sa”, “tấm lụa đào”…Ta có thể cảm nhận được nổi khổ xót xa của người phụ nữ khi đọc những câu ca dao ấy. Nhưng ở họ luôn có những phẩm chất tốt đẹp, vậy mà trong cái xã hội lúc bấy giờ, người đời đâu có biết và coi trọng. Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ là một hằng số chung cho tất cả.

    Có ai đó đã nói, nếu dùng một từ để nói về số phận người phụ nữ trong xã hôi bấy giờ thì đó là: “tủi nhục”. Quãng thời gian họ sống trên đời được đong đếm bằng nỗi khổ đau mà họ phải gánh chịu. Có biết bao người phụ nữ đã phải ngậm ngùi trong số phận của mình:

    “Trách cha,trách mẹ nhà chàng

    Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau

    Thực vàng chẳng phải thau đâu

    Đừng đem thử lửa mà dau long vàng”

    hay:

    “Lấy chồng làm lẻ khổ thay

    Đi cấy đi cày chị chẳng kể công

    Tối tối chị giữ mất chồng

    Chị cho manh chiếu,nằm không chuồng bò

    Khao khát của người phụ nữ ở đây không phải là cái khao khát cao sang mà là những khao khát hạnh phúc chính đáng nhất của một con người.Vì thế họ đã nhắn nhủ:

    “Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy,chồng chung thì đừng”

    “ Chồng con là cái nợ nần

    Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm”

    Nhưng dù sống bất hạnh tâm hồn người phụ nữ vẫn sáng lên lấp lánh ánh sáng của trái tim đôn hậu,cao thượng vị tha.

    Quên đi những nhọc nhằn, vất vả của cuộc sống lao động, những người phụ nữ bình dân ấy cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu

    “Gió sao gió mát sau lưng

    Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”

    Có khi lại khao khát vượt ra khỏi phép tắc của thời xưa để tìm đến hạnh phúc riêng tư nhỏ bé.

    “Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”

    Ở người phụ nữ, tình yêu thương, lòng thuỷ chung luôn được đề cao, trân trọng

    “Trăng tròn chỉ một đêm rằm

    Tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi”

    Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ trong tiếng hát than thân đầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của người phụ nữ vẫn vương lên, toả sáng khiến cho tiếng hát than thân kia không mang vẻ bi luỵ mà vẫn ngân vang, ấm áp tình đời, tình người. Ca dao đã phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp đó của họ – những con người thuỷ chung son sắc, giàu tình nghĩa. Họ như những viên ngọc thô mà thời gian bất hạnh, khổ đau là chất xúc tác mài giũa ngày càng toả sáng lấp lánh

    Không dừng lại ở đó, mảng văn học trung đại vẫn tiếp bước, gìn giữ và khai thác nét đẹp trong tâm hồn người phụ nữ. “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một người phụ nữ với nỗi oan thấu trời đã phải lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Toát lên vẻ đẹp thuỷ chung, hiền thục, là một người vợ hiền, dâu thảo. Như Thuý Kiều trong truyện Kiều của người Nguyễn Du, ấy là một hình tượng bất hủ trong lịch sử văn học dân tộc. Trong hình ảnh Kiều có đủ biết bao nhiêu là số phận, là cảnh ngộ: một trang tuyệt sắc, một người tình thuỷ chung, một đứa con hiếu thảo, một bậc phu nhân đường bệ, một cô gái bị ép làm gái lầu xanh “sống làm vợ khắp người ta”. Thế mà từ sông Tiền Đường trở về, đáp lại lời cầu xin của Kim Trọng, nàng vẫn còn có thể nói”

    “Chữ trinh còn một chút này

    Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan”

    Chữ trinh, với Nguyễn Du, với Kiều, và tất cả thế giới Truyện Kiều đã trở nên lung linh đa nghĩa. Kiều – đó là một sự kết tinh của tài và tình, của tình và hiếu, của tài hoa và mệnh bạc, của những oan khổ, chịu đựng không mấy được bù đắp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Như thế, trong văn học trung đại đã bước đầu hoàn thiện bản chân dung cả về ngoại hình lẫn tâm hồn của người phụ nữ – tài hoa, bạc mệnh.

    Theo dòng chảy của lich sử văn học Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ vẫn xuyên suốt trong các tác phẩm. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong nền văn học hiện đại. Với những phẩm chất tốt đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt nam, những cung bậc cảm xúc phức tạp, những trăn trở cuộc đời. Họ đã đến và để lại trong lòng độc giả những ấn tượng thật đậm nét, khó phai mờ. Sống trong cảnh ngộ chung của mọi người dân Việt Nam những năm tháng đất nước còn lầm than, vất vả nhưng đối với người phụ nữ, sự vất vả đó dường như càng nặng nề hơn. Hình ảnh chi Dậu được Ngô Tất Tố vẽ lên trong tác phẩm “Tắt đèn” là một hình ảnh người phụ nữ lam lũ, gánh vác tất cả các công việc nặng nhẹ trong nhà. Không những nộp sưu cho chồng, chi còn phải nộp cho em chồng – một người đã chết. Đành phải đứt ruột bán con, đau đớn khi nhìn chồng bị đánh đập gần chết. Bao cơ cực, khổ đau đều dồn lên đôi vai bé nhỏ, gầy guộc của chị. Không chỉ có vậy, còn có những người phụ nữ đến quyền tự do yêu đương, nhu cầu hạnh phúc chính đáng như bao người khác cũng bị ngăn cản. Thị Nỡ trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao_ một con người sinh ra đã không được ông trời ban cho nhan sắc, vậy mà chuyện tình duyên cũng không được trọn vẹn. Thị Nỡ muốn được chung sống với Chí Phèo, muốn chăm sóc cho  Chí nhưng đâu có được. Làng xóm chê cười, bà dì của Thị lại ngăn cấm. Cuộc đời của người phụ nữ thật bất công, chịu nhiều đắng cay, tủi nhục, nhưng ở họ luôn sáng ngời vẻ đẹp nhân phẩm. Họ chính là những đại diện tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam có cuộc đời bất hạnh.

    Qua nhiều giai đoạn lịch sử, vị trí thay đổi, nhưng hình ảnh người phụ nữ vẫn nổi bật trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Các nhà thơ, nhà văn luôn hướng về những phụ nữ có số phận bất hạnh, thiệt thòi, đau khổ. Họ thông cảm, khóc thương cho thân phận nhỏ bé. Với cái nhìn nhân đạo của mình, các nhà thơ, nhà văn đã làm nổi bật lên những phẩm chất cao quý sáng ngời của người phụ nữ Việt Nam.

    Góp vào nền văn học nước nhà, Tô Hoài với tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, Kim Lân với “vợ nhặt” và tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu càng tô đậm hơn hình tượng người phụ nữ. Những nhà văn này đã góp lên tiếng nói chung- tiếng nói nhân đạo đối với họ. Không những thể hiện sự quan tâm, thông cảm , đồng cảm với những số phận bất hạnh này mà những nhà văn còn trân trọng, ngợi ca những phẩm chất cao quý của người phụ nữ.

    Đến với “Vợ chồng A Phủ”, ta bắt gặp hình ảnh Mị-một người phụ nữ dân tộc Mèo bất hạnh với sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân, ta cảm thấy xót xa cho cô vợ với niềm khao khát được sống, được tồn tại đến cháy bỏng.Rồi ta lại khóc thương cho số phận của người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu- một người phụ nữ cam chịu và giàu đức hi sinh.

    “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn được rút từ tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài, viết vào năm 1953, ngay sau chuyến thâm nhập thực tế của tác giả. Đây là truyện ngắn đặc sắc nhất của Tô Hoài nói riêng và của văn xuôi chống Pháp nói chung.Tác phẩm là một bức tranh chân thực về cuộc sống của dân nghèo miền núi dưới ách áp bức bóc lột của thế lực phong kiến thực dân. Đồng thời là một bài ca về sức sống khát vọng, tự do của con người miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đời của họ. Tiêu biểu nhất cho những con người ấy là Mị, một nhân vật có số phân bi đát,đáng thương nhưng mang đầy phẩm chất tốt đẹp.

    Mở đầu tác phẩm Tô Hoài giới thiệu Mị là một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa “lúc nào cũng vậy dù thái cỏ ngựa, dệt vải,chẻ củi hay cõng nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Đó là hình tượng con người nô lệ bị chà đạp. Nhưng Mị là ai?_ Cô là con dâu gạt nợ nhà Pá Tra, một số phận bất hạnh.

    Mị vốn là một cô gái dân tộc Mèo, con nhà nghèo. Một cô gái vừa đẹp người , đẹp nết. Không những vậy lại cần cù, đảm đang, hiếu thảo, ham sống, giàu lòng yêu đời và rất mực tài hoa. Tiếng sáo của Mị đã có sức lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt đối với bao chàng trai Mèo. Nhưng tương lai tươi sáng, tuổi trẻ với biết bao hạnh phúc, và tình yêu đã không đến với cô gái nghèo khổ này. Mị mang bi kịch một cô gái với niềm khao khát tự do, hạnh phúc nhưng phải rơi vào nghịch cảnh trớ trêu, bị dồn vào bước đường cùng không  lối thoát. Chỉ vì món nợ truyền kiếp – ngày trước bố mẹ Mị cưới nhau phải vay nhà thống lý Pá Tra và cho đến lúc già, mẹ cô chết, vẫn chưa trả được nợ nên Mị phải đem thân làm dâu trừ món nợ ấy.Kể từ khi làm dâu cho nhà thống lý,Mị phải sống những chuỗi ngày đau thương,tủi nhục tăm tối. Danh nghĩa là con dâu nhà quan, nhưng thực chất Mị là một thứ nô lệ không công. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị đày đoạ về tinh thần. Đã mấy tháng liền, đêm nào Mị cũng khóc. Cô gái tội nghiệp ấy đã có lúc định kết liễu đời mình bằng nắm lá ngón, nhưng có chết thì món nợ vẫn còn, bố Mị còn khổ sở hơn bây giờ gấp nhiều lần.Vì thương bố nên Mị đành phải quay về chấp nhân cuộc đời làm nô lệ. Dưới nhiều tầng áp bức của cường quyền, thần quyền và hủ tục phong kiến miền núi, Mị phải sống kiếp sống như một con vật, thậm chí không bằng con vật. Thật không ở đâu mạng sống, nhân cách con người lại bị rẻ rúng như vậy.

    Bị giam hãm đày đoạ trong cái địa ngục khủng khiếp của cả nhà thống lý, Mị đang chết dần, chết mòn với năm tháng. Thân xác héo khô, tâm hồn lạnh lẽo, trống vắng. Mị gần như tê liệt sức sống.  Mị mất hết ý thức về thời gian, sự chuyển biến thời gian sớm hay tối đối với Mị chẳng có ý nghĩa gì nữa: không dĩ vãng, không hiện tại và không cả tương lai. “Ở lâu trong cái khổ Mị quen với nó rồi”, “cô ngày càng không nói, lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Cuộc đời Mị chỉ còn thu lại qua cái khung cửa sổ bằng bàn tay “mờ mờ, trăng trắng không biết là sương hay là nắng”. Mị hầu như mất hết ý thức về bản thân và những mong muốn đổi thay cho số phận của mình, thậm chí Mị cũng không có cả ý thức về cái chết nữa.

    Thật vậy, dường như sự rẻ rúng, tủi nhục là hằng số chung cho tất cả những người phụ nữ phải sống trong cái xã hội cổ hủ lúc bấy giờ. Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Đây là một thiên truyện ngắn đặc sắc với những tình huống độc đáo, hấp dẫn, mang đầy tinh thần nhân đạo. Tác phẩm “ Vợ nhặt” được rút từ tập truyện ngắn “Con chó xấu xí”-một thành công đáng kể của Nam Cao.

    Từ trước đến nay, đọc “ Vợ nhặt”, chúng ta vẫn thường bàn nhiều hơn về hai mẹ con anh Tràng mà gần như ít chú ý đến cô vợ nhặt. Thực ra, từ nhân vật này, nhà văn Kim Lân đã thể hiện được niềm thông cảm sâu sắc của mình trước số phận éo le của người phụ nữ. Ngay từ tựa đề của tác phẩm đã gợi lên sự chua xót, mỉa mai, một nỗi đau không thể nói thành lời. “Vợ nhặt” một hành động nghe sao đơn giản mà lại dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:

    “ Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà

    Trong ba việc ấy thật là khó thay”

    Vậy mà ở đây Tràng đã nhặt được vợ hẳn hoi. Anh Tràng vừa xấu xí, nghèo túng lại là dân cư ngụ không có khả năng lấy vợ thế mà “nhặt” được vợ một cách dễ dàng, không cần phải cưới hỏi gì. Thật tủi nhục thay cho thân phận người “vợ nhặt” – vợ theo không, ngay cả cái tên thị cũng không có. Chỉ với bốn bát bánh đúc người đàn bà nghèo khổ chấp nhận theo người đàn ông chưa từng quen biết. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã từng viết: “Tình huống giống như thứ nước rửa ảnh, nó sẽ làm nổi hình, nổi sắc các nhân vật, bộc lộ các số phận, các tính cách, các tâm trạng…” Thông qua hình tượng vợ nhặt, thân phận rẻ rúng của người phụ nữ đươc biểu hiện một cách sinh động, cụ thể. Người vợ nhặt không được miêu tả với dáng vóc đậm đà, chắc nịnh của một người phụ nữ lao động, càng không có vẻ đẹp thuần phác như chị Dậu của nhà văn Ngô Tất Tố. Ngoại hình người vợ nhặt được phác hoạ bằng một vài đường nét thiếu nữ tính: “cái ngực lép nhô lên”, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “thị gầy sọp” trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt “hai con mắt trũng hoáy”. Những chi tiết đó không thể không khiến ta nghĩ đến một cơ thể thiếu sức sống, thậm chí như một bóng ma vật vờ. Cái đói, cái khổ không chỉ làm thay đổi đi vẻ bề ngoài của con người mà còn làm mất đi cái bản tính hiền hậu, dịu dàng đáng quí vốn có của người phụ nữ. Lần thứ hai gặp lại anh Tràng, thị “rách quá”, “quần áo tả tơi gầy xọp hẳn đi”. Khi được mời ăn, thị sà xuống “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc, chẳng chuyện trò gì”. Cái đói đã đẩy lùi sĩ diện, nhân cách, và thị đã không băn khoăn theo Tràng về làm vợ chỉ với một ý nghĩ “cho khỏi đói” để sống cái đã. Xưa nay trong truyền thống đạo lí Việt Nam, chuyện tỏ tình vốn mang màu sắc tình tứ, duyên dáng, e lệ. Ấy thế mà giờ cũng chỉ trần trụi là câu chuyện lăn xả vào miếng ăn, để sau đó trở thành “vợ nhặt” của người đàn ông xa lạ kia. Thế mới biết cái đói ghê gớm như thế nào!

    Bức tranh “chiếc thuyền ngoài xa” chụp cảnh một gia đình làm nghề chài lưới. Trong đó có người chồng, người cha vũ phu; có thằng Phác thương mẹ, muốn ngăn cản việc cha nó đánh mẹ…tất cả đều gây cho người đọc một ấn tượng đặc biệt. Nhưng không hiểu sao, đôi mắt và trái tim ta như bị hút theo cái người đàn bà hàng chài không tên đó. Chị không đẹp, hay nói cách khác, bệnh tật, những trận đòn và cuộc sống lao động khắc nghiệt đã bẻ gãy những nét duyên dáng của một người phụ nữ. Chị trạc ngoài bốn mươi, khuôn mặt thô kệch, mặt rỗ. Lúc nào cũng xuất hiện với gương mặt mệt mỏi, người đàn bà ấy đã trải qua một cuộc đời nhọc nhằn lam lũ. Số phận lận đận của chị dường như đã được báo hiệu ngay ở cái tuổi thanh xuân “Từ nhỏ tôi đã là một đứa con gái xấu xí, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”, “cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai làng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. Những dòng tâm tự được nói ra với giọng điệu bằng bằng như một tiếng thở dài, kìm nén bao cảm xúc. Người đàn bà ấy chầm chậm kể ra bất hạnh nhan sắc của đời mình, đối với người phụ nữ ai chẳng muốn mình xinh đẹp. Biết đâu trong những lúc suy nghĩ về cuộc đời của mình, chị một lần đã nghĩ đến hai chữ “giá như…”. Vâng, giá như có nhan sắc, số phận đã không run rủi đưa đẩy chị đến với người chồng miền biển này; giá như không quá khổ cực trong cuộc sống, ghe thuyền chật hẹp vất vả, chồng chị đã không đến nỗi dữ dằn, hung tợn…Nhưng tất cả những gì tốt đẹp và hạnh phúc sinh ra không phải dành cho người đàn bà hàng chài khốn khổ này. Cái cuộc đời quá cơ cực của chị luôn phải đối mặt với hai cơn bão táp: bão táp từ biển khơi lạnh lùng và bão táp từ người chồng vũ phu, thô bạo. Người đàn bà ấy khốn khổ và chật vật để cho từng bữa cơm, manh áo cho gia đình. Đói khổ đã trở thành nỗi ám ảnh luôn thường trực trong cuộc sống của chị. “Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả cuộc đời mình: Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…”

    Cả cuộc đời người đàn bà ấy gói gọn trong nỗi lo đói khổ, lo miếng cơm manh áo hàng ngày. Bão táp biển khơi đã làm chai sạm, rỗ đi, thô kệch cái vẻ phụ nữ của chị. Nhưng còn đáng sợ hơn là bão táp từ những trận “đòn” hằng ngày vẫn đổ lên trên thân xác và tâm hồn chị. Vẻ bề ngoài và những cử chỉ của lão đàn ông – chồng chị đã phơi ra ngoài tất cả những sự dữ dằn và khắc nghiệt của mình, “Tấm lưng rộng và cong như như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà”. Ánh mắt ấy khiến cho người đọc luôn ám ảnh, đằng sau tất cả những khó khăn đè nặng, lão đàn ông nhìn chằm chằm người đàn bà, nhìn vợ mình không phải như một điểm tựa yêu thương mà nhìn như một nguồn căn của mọi sự đau khổ, khốn khó đã đè nặng lên lão. Cái ánh mắt hằn học như muốn ăn tươi nuốt sống, trút hết mọi những oán hờn lên người phụ nữ yếu đuối này. Ta hiểu, những khó khăn một phần đến từ đàn con nheo nhóc, nhưng người phụ nữ ấy có tội gì đâu!Chị đã phải cong mình lên chịu đựng những bi kịch đời thường, chịu đựng những trần đòn roi như trước đây chi vẫn thường hay chịu. “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, mật độ dày đặc, những trận đòn vẫn như mưa đổ xuống. À ơi…!ai ru câu ca dao “thân em như tấm lụa đào à ơi…!” có làm cho chị cúi đầu nuốt dòng nước mắt đắng cay chua xót cho số phận của mình.Chị sinh ra cũng như bao người phụ nữ khác, có mạnh mẽ thì cũng chỉ là gồng mình gắng gượng,tâm hồn của chị vẫn thật yếu đuối mỏng manh. Ai nói rằng những giọt nước mắt của người đàn bà rơi xuống, nhưng bây giờ không phải chỉ vì những trận đòn roi, mà một bàn tay nào đó đã bóp vụn trái tim và sự nhạy cảm trong tâm hồn con người ấy.Giữa xã hội phát triển đó vẫn còn là một câu hỏi xót xa!

    Như vậy, hình tượng người phụ nữ đã xuất hiện trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX đầy ấn tượng và đặc sắc. Đó là những số phận đáng thương, những cuộc đời nghiệt ngã và đầy bất hạnh. Nhưng không dừng lại ở việc khai thác những nỗi đau khổ, những bất công của xã hội, của cuộc sống đã đẩy cuộc đời họ vào những bế tắc cùng cực. Mà ở đấy, các nhà văn đã tô đậm lên tất cả đó là những vẻ đẹp phẩm chất thật đáng trọng- thứ ánh sáng đẹp đẽ của tâm hồn người phụ nữ.Bằng tình yêu cuộc sống, khát vọng được sống mãnh liệt và với những phẩm chất tốt đẹp vốn có của người phụ nữ họ đã vượt qua những rào cản, những bất công xã hội, vượt qua số phận bất hạnh để tìm đến hạnh phúc.

    Như nhà văn Nguyễn Khải đã từng viết: “ Sự sống nảy sinh trong cái chết, hạnh phúc hiện hữu từ trong những cái hi sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Và có lẽ đấy là dư âm vang sâu nhất trong tâm hồn mỗi độc giả khi đọc các tác phẩm “

    Mị vốn là một cô gái Mèo xinh đẹp, trẻ trung hồn nhiên và có tài thổi sáo cô “uốn chiếc lá trên môi , thổi lá cũng hay như thổi sáo có bao nhiêu người mê , ngày đêm thổi sáo đi theo Mị “. Đấy là dấu hiệu về một vẻ đẹp tâm hồn phong phú và lãng mạn, biểu hiện của một sức sống trẻ trung, rạo rực … Mị cũng đã từng đựơc yêu và cô cũng đã từng yêu. Trái tim giàu khao khát của cô đã từng rung động theo tiếng gọi của tình yêu ,hồi hộp trước những âm thanh hò hẹn. Nhưng người con gái vùng sơn cước ấy lại bị rơi vào một cảnh sống có thể gọi là bạc mệnh , chẳng khác gì kiếp hồng nhan . ì món nợ của cha mẹ mà cô đành phải cam chịu cảnh làm con dâu gạt nợ trong nhà thống lý . Đó là cái cảnh ngộ làm dâu trên danh nghĩa còn trong thực tế chẳng khác gì kẻ ăn người ở trong nhà , không bằng con trâu con ngựa “con ngựa con trâu làm còn có lúc , đêm nó còn được đứng gãi chân ,đứng nhai cỏ . Đàn bà con gái nhà này thì vùi đầu vào việc đêm cả ngày, không những thế còn bị đánh , phạt , trói cho đến chết bất cứ lúc nào” .Mị mới ngày nào là cô gái tươi tắn , xinh đẹp , giờ biến thành một cái xác không hồn . Đúng là một cách diễn tả thật hay về cái ngục thất tinh thần và sự đày ải hết sức vô nhân đạo của nhà thống lý, dần dần Mị trở nên chai sạn , cái nhựa sống trong cô gần như bị cạn kiệt . Với Mị lúc này sống dường như không còn ý nghĩa ngay đến ý thức cũng tồn tại đâu đó trong cõi xa xăm . Cô sống vật vờ y một cái bóng “lùi lũi như 1 con rùa nuôi xó cửa”.

    Nhưng điều quan trọng là nhà văn đã phát hiện ra rằng bên trong tâm hồn người con gái ấy vẫn còn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, chỉ chờ có dịp là bùng nổ mạnh mẽ . Và trong tác phẩm của mình nhà văn đã miêu tả thành công sự trỗi dậy sức sống tìm tàng đó bằng một quá trình phát triển tâm lí , hành động khá sâu sắc và hợp lý . Ngay sau khi bị rơi vào cảnh làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí, Mị cầm nắm lá ngón về nhà lạy chào vĩnh biệt cha. Cô định tự tử vì ý thức được cuộc sống tủi nhục của mình và không chấp nhận cuộc sống ấy . Nhưng sự uất ức đến nỗi muốn chết ấy lại là một biểu hiện của lòng ham sống và khát vọng tự do, vì không muốn tiếp tục một cuộc sống đầy đoạ nên cô đã tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát … nhưng rồi cô lại không thể chết vì còn đó món nợ truyền kiếp. Thương cha không muốn cha phải khổ và thế là Mị đành phải sống , sống mà như đã chết bởi “ ở lâu trong cái khổ dần dần Mị cũng quen đi “. Chính lúc này , cô gái lại càng đáng thương hơn , bởi muốn chết nghĩa là con người ấy còn ham sống , không chấp nhận một cuộc sống không xứng đáng nhưng phải sống tủi nhục đoạ đày và không còn ý nghĩ đến cái chết, nghĩa là sự ham sống của con ngưòi dường như đã không còn nữa .

    Tuy nhiên với tấm lòng nhân hậu đầy cảm thông, nhà văn vẫn nhận ra rằng khát vọng hạnh phúc trong Mị có thể bị vùi lấp, lãng quên đâu đó nhưng không thể bị tiêu tan . Trong tâm hồn trẻ trung sớm bị chai sần vì đoạ đày, đau khổ kia vẫn còn âm ĩ đâu đó một ngọn lửa ham sống và chắc chắn nó sẽ bùng cháy mạnh mẽ hơn khi gặp những điều kiện thuận lợi.Và điều ấy đã đến, đó là vào một đêm tình mùa xuân trong ngày Tết. Năm ấy Tết dường như đến sớm hơn mọi năm , rất có không khí và tâm trạng, do đó , nó cũng khơi gợi sự sống hơn mọi năm . Khung cảnh tết năm ấy , có cái gì đó khác hẳn mọi cái tết khác ở Hồng Ngài : “Trên đầu núi , các nương ngô nương lúa đã gặt xong , ngô lúa đã xếp yên đầy các kho […] trong cá làng mèo đó , những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mõm đá xoè như con bướm sặc sỡ […]hoa thuốc phiện vừa nở trắng lại đổi ra màu đỏ hau , đỏ thậm rồi chuyển sang màu tím ngắt …” Đặt biệt, cái không khí chờ đợi tết, những đứa trẻ con chơi bi, chơi quay, tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng, tha thiết bồi hồi khi đêm về v.v… .Mị nghe tiếng sáo vọng lại tha thiết, bồi hồi, Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thối sáo “mày có con trai con gái / mày đi làm nương / ta không có con trai con gái ta đi tìm người yêu …”

    Những yếu tố ngoại cảnh đó là những nhân tố cực kỳ quan trọng dẫn đến sự diễn biến tâm lý nhân vật nó đóng vai trò của nhân tố gợi hứng đánh thức kí ức và gợi lại kỉ niệm yêu đương bị lùi vấp bấy lâu trong tâm hồn lầm lũi thường ngày, trở thành tiếng gọi của sự sống mỗi lúc một rõ , một tha thiết. Thế là từ ngoại cảnh đã tác động đến cảm xúc , tâm trạng và cuối cùng là hành động . Năm đó Mị đã uống rượu “uống ừng ực từng bát” rồi say lịm người, cái say vừa gợi nhớ, vừa gây lãng quên . Nhớ những ngày còn con gái, nhớ những đêm xuân hò hẹn …và lãng quên thực tại. Mị nhìn, nghe mà không thấy,cuộc rượu tàn lúc nào không hay : “Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đỏng người hát […]rượu đã tan lúc nào người về , người đi chơi đã vắng cả . Mị không biết Mị ngồi trơ một mình giữa nhà …”.Nhưng “lòng Mị đang nhớ về ngày trước tai Mị văng vẳng tiếng gọi bạn đầu làng”.Quá khứ dồn dập trở về rất sống động , rất rõ , thiết tha … nhưng quan trọng hơn là cái say đã mơ hồ nhớ rằng :Mị vẫn còn là một con người, Mị vẫn còn trẻ và cái quyền của một con người trong ngày tết. “Mị phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng trở lại như những đêm tết ngày trước. Mị trẻ lắm ,Mị muốn đi chơi, bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi tết huống chi , A sử với Mị không có lòng với nhau nhưng phải ở với nhau …” trong cái trạng thái nửa say, nửa tỉnh ấy, lại thêm sự thôi thúc của tiếng sáo réo rắt “gọi bạn yêu vẩn lơ lững bay ngoài đường anh ném pao, em không bắt/ em không yêu quả pao rơi rồi” đã dẫn Mị đến một hành động chưa từng thấy kể từ khi cô bước chân vào nhà thống lý Pá tra “cô quấn lạ tóc và với tay lấy váy mới , chuẩn bị đi chơi”. Nhưng chính lúc yêu đời đang trỗi dậy mãnh liệt , tâm hồn cô đang phơi phới trở lại cũng là lúc Mị bị vùi dập phũ phàng .Vừa lúc A Sử về biết ý định của Mị ,hắn lấy dây trói nghiến cô vào cột nhà rồi bỏ đi chơi . Suốt cái đêm đen tối bị trói đứng cái cột giữa nhà thống lí đó Mị hết thiếp đi rồi chợt tỉnh dậy , nhưng hình như cả đêm ấy , tiếng sáo dìu dặt của đám bạn trai vẫn đưa tâm hồn Mị sống lại những ngày đẹp đẽ ở quê nhà , tiếng sáo vẫn đưa cô đi theo những cuộc chơi của đám trai làng . Tâm hồn cô vẫn sống với không khí của ngày hội xuân. Cô định bước đi nhưng tay chân đã bị trói chặt cứng, không tài nào cựa quậy được . Những lúc ấy Mị bỗng ý thức được cảnh ngộ hiện tại của mình và trong lòng lại trào lên một nỗi đau sót, tủi nhục. Mị lại thổn thức , miên mang nghĩ về thân phận không bằng con trâu , con ngựa của mình rồi dần thiếp đi .Gần sáng cô bừng tỉnh, thử cựa quậy xem mình còn sống hay đã chết , ý thức được sống lại trở về và trong lòng Mị lo sợ rằng nếu phải chết cay , chết đứng trên cái cột trói này…

    Sau cái Tết ấy , những năm tháng nặng nề trong phân thận nô lệ tủi nhục của Mị tưởng lại cứ âm thầm lặng lẽ trôi đi….cho đến khi Mị chứng kiến cảnh A Phủ bị bắt trói vì tội để mất trâu của nhà thống lí. Cái cảm giác ban đầu của Mị thật thản nhiên. Mị dường như đã trở nên vô cảm trước tất cả. Một suy nghĩ thật giản đơn và có phần nhẫn tâm chiếm lĩnh tâm trí cô “Nếu A Phủ là một cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi”. Có khi Mị cứ cả đêm nhìn ngọn lửa nhảy múa và nghĩ , những ý nghĩ tủi cực, đau xót. Cho đến hôm ấy, “ trời đã khuya, Mị lại trõi dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang thấy mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại…”thì Mị lại chợt bừng tỉnh “trông người lại nghĩ đến ta”. Hình ảnh ấy khiến Mị bỗng nhớ đến câu chuyện rùng rợn về những người đàn bà bị trói đứng cho đến chết trong nhà thống lí cũng trên cái cọc này và hồi ức đưa cô về với những lần chính mình bị đánh, bị trói trước đây…Ý nghĩ A Phủ rất có thể sẽ bị chết trong đêm nay đã hoàn toàn đánh thức tình thương và lòng căm hận trong long Mị. Từ thương người đến thương thân và tình thương ấy cứ lớn dần, lớn dần để rồi dẫn Mị đến với ý thức ngày càng rõ rệt hơn về một sự thật thật tàn bạo và vô lí, bất công “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết […]. Nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác […]. Ta là thân đàn bà đã bị nó bắt về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…Người kia việc gì mà phải chết…” Ý thức đó đã thôi thúc Mị đứng dậy cắt dây trói cho A Phủ và bất giác chạy theo anh, cùng trốn khỏi Hông Ngài. Hành động bộc phát nhưng thật quyết liệt đó của Mị một phần là do sự thúc bách của tình thế khiến cô không thể làm khác, bởi cô hiểu rõ “ ở đây thì chết mất”. Nhưng mặt khác, đó cũng là quá trình tất yếu của một quá trình dồn nén, bức xúc cả về thể chất lẫn tinh thần đối với Mị. Đồng thời đó cũng vừa là biểu hiện, vừa là kết quả của một sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ đã được trỗi dậy trong con người Mị, kết thúc cả quãng đời đày ải, tối tăm của cô trong nhà thống lí để bắt đầu một cuộc đời mới. Đó chính là cái nhìn nhân đạo của Tô Hoài đối với những kiếp người bất hạnh, đau thương- một cái nhìn luôn hướng về ánh sáng, hướng về cái đẹp trong mỗi con người.

    Nếu như Mị hiện lên dưới cái nhìn của Tô Hoài là một nười phụ nữ với số phận đầy bi kịch nhưng từ sâu thẳm trong tâm hồn là sức sống tiềm tàng, mãnh liệt thì khi đến với nhân vật người “vợ nhặt” trong tác phẩm của Kim Lân, ta sẽ cảm nhận được cái niềm khao khát được sống, và mong muốn được “ sống cho ra sống” thật đáng quý của một người phụ nữ không tên “vợ nhặt”.

    Là một người đàn bà bị cái đói xô đẩy đến cảnh ngộ thật éo le và thương tâm , phải rơi vào tình huống trở thành “vợ nhặt” nhưng chị không mất đi vẻ chất phát , thuần hậu của người phụ nữ lao động .Bị hoàn cảnh xô đẩy, dồn nén đến chỗ có nguy cơ bị chết đói nên có lúc bên ngoài thành ra trâng tráo, trơ trẽn .Nhưng đó không phảỉ là bản chất vốn có của chị phải đến lúc cùng đường , bị rơi vào tình thế phải theo không một nguời đàn ông xa lạ thì bản chất con người thật của thị mới được bộc lộ rõ . Trên con đường theo Tràng về nhà , chị không khỏi cảm thấy ngượng ngùng xấu hổ, lòng chị vừa xấu hổ tủi nhục vì dẫu có là bước đường cùng chị không thể tránh khỏi cái tiếng xấu nhất đối với một người phụ nữ là “đàn bà theo giai”trong cái bối cảnh của một xã hội lạc hậu , còn đầy rẫy những định kiến nặng nề đó. Lo lắng phấp phổng vì không biết cái gì đang chờ đợi trước mặt.Liệu người đàn ông mà chị đánh liều theo không này có giúp được cho chị khỏi phải chết đói? Liệu người thân trong gia đình của anh có thông cảm cho cảnh ngộ và chấp nhận chị. Một biến cố cuộc đời đến quá bất ngờ khiến lòng chị không yên với bao tâm trạng lo âu . Do đó, bên cạnh dáng điệu phởn phơ tự đắc của tràng , vẻ e thẹn ngượng ngập của chị càng thêm nổi bật. Riêng cái cách đi đứng của chị cũng là dấu hiệu cho thấy đây là một người phụ nữ hiền thục, đoan trang, ý tứ … “người đàn bà đi sau hén chừng 3- 4 bước, thị cắp cái thúng con đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàn nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt, thị có vẻ rốn rén ,e thẹn”

    Cả đến lúc đã gặp cụ Tứ và đã được chấp nhận, được cảm thông, thương yêu thì trong bóng tối của căn nhà, chị vẫn không khỏi e dè khép nép. Nhà văn dường như đã hiểu thấu đến tận cùng nỗi lòng của chị và thể hiện được một cách thật tinh tế những gì đang xảy ra trong lòng người đàn bà kể từ khi chị đặt bước trên con đường xa lạ về nhà chồng. Chắc là với, chị con đường âý dài dặt và xa lắm, bởi không biết cái gì đang chờ đợi chị, liệu chị có được đón nhận một cách đễ dàng ? Liệu cái hạnh phúc “thử liều nhắm mắt đưa chân “ này có cho chị được một chút ấm áp hay lại còn khốn nạn, cay đắng hơn ? Liệu cái anh chàng xa lạ có vẻ cũng dễ mến này có giúp chị thoát khỏi những cảnh chết đói hãi hùng trước mặt ? Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu lo lắng, phấp phỏng khiến sự sốt ruột trong lòng chị đã phải bật lên thành tiếng , chị đã mấy lần sót ruột hỏi Tràng: “sao lâu thế” “sắp đến chưa” “vẫn chưa đến à?”rồi “nhà có ai không ?” …Chị hỏi vào tình cảnh phải theo không Tràng cũng chẳng qua chỉ là bất đắt dĩ cần tìm một nơi nương tựa qua ngày, hi vọng có thể may ra tránh được sự chết đói. Nên khi tận mắt chứng kiến gia cảnh của Tràng chỉ là một cái nhà vắng teo, trên mảnh vườn mọc lỗn nhổn những bụi cỏ dại thì chị không nén nỗi một tiếng thở dài. Hoá ra cái gia cảnh của anh mới ban chiều còn vỗ vỗ vào túi khoe: “rich bo cu hả” là thế này đây. Nhưng chị còn biết sao được nữa, chị cảm thấy thất vọng , buồn tủi, chua sót quá nên mặt cho Tràng lăng săn đôn đả, “thị nhép mép cười nhạt nhẽo […], hai tay ôm khư khư cái thúng mặt bần thần. “Tại sao đứng giữa căn nhà của mẹ con Tràng rồi mà người phụ nữ kia vẫn ôm khư khư cái thúng thế ?” Phải chăng vì căn nhà rúm ró của mẹ con Tràng quá ư chật chội, chị phải biết để nó ở đâu ? Hay vì giờ đây cái thúng là tài sản duy nhất  chị có nên chị không thể xa rời.

    Không tìm được sự no đủ nhưng dẫu sao, chị cũng bớt được một nổi lo trong dạ khi biết nhà tràng chỉ có một mẹ già. Dĩ nhiên, chị hiểu đấy là đỡ phức tạp , khả năng bị xua đuổi hắt hủi bị giảm xuống mức thấp nhất , mà đấy chẳng phải là một nửa sự sống đó sao? Cho nên lúc ấy chỉ đã có thể “tủm tỉm cười” rồi lại đùa với Tràng “đà mỗi một mình tôi lại còn mấy u. Bé lắm đấy”. Và mặc dù vẫn còn rất buồn vì thất vọng chua chát,nhưng hầu như chị chẳng nói năng gì kể từ khi chứng kiến gia cảnh của mẹ con Tràng. Nhưng trước sự cảm thông , yêu thương đùm bọccủa những người xung quanh trong một mái ấm gia đình. Sáng hôm sau, chị đã săm sắn quét dọn cùng với mẹ chồng thu vén lại nhà cửa, vườn tược như một cô con dâu thực sự trong nhà. Và chính điều ấy đã đem đến cho chị những thay đổi đến nỗi chính Tràng cũng không khỏi ngạc nhiên “Tràng nôm thị hôm nay khác lắm. Rõ là người đàn bà hiền hậu đúng mực, không có vẻ gì chua chát như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh “

    Đặc biệt là trong bửa ăn của một ngày mới, người nói đến “toàn chuyện vui chuyện sung sướng về sau này “ lại là bà cụ gần đất xa trời , con người nói đến đấu tranh “ phá kho thóc của Nhật chia cho người đói lại chính là chị người vợ nhặt – nhân vật duy nhất không có tên trong tác phẩm . Từng đoàn người “ những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê sộp[…]cờ đỏ bay phấp phới” do câu chuyện của chị gợi ra có ĩe cũng là một dụng ý nghệ thuật , nhằm khẳng định khát vọng và sức sống manh mẽ của những con người như chị.

    Trong tác phẩm này 1 nhân vật cũng được nhà văn dành nhiều trong miêu tả và có những thành công nổi bật là nhân vật bà cụ Tứ- mẹ của Tràng. Những gì đã diễn ra trong tấm lòng của một bà mẹ nghèo khó nhưng rất từng trải và giàu lòng nhân hậu này rất đúng để người đọc suy ngẫm. Xúc động cụ thể, hiểu hơn ai hết gia cảnh của mình cùng cảnh ngộ của con trai bà trong những ngày đói kém hiện tại . Vì vậy, lúc đầu thấy có một người đàn bà xa lạ đến nhà mình , lai gọi bằng “U” , bà hết sức ngạc nhiên. Sao lại gọi mình bằng u ? Nhưng bằng kinh nghiệm và sự từng trải , qua thái độ rối rít như một đứa trẻ và những cô phân trần cắt nghĩa không mấy rành rẽ của con trai , bà đã hiểu ra tất cả cơ sự . Kim Lân đã khôn khéo chọn giọng điệu và ngôn ngữ nội tâm rất đáng với nhân vật để diễn tả tâm trạng của một bà lão nghèo khó, già cả nhưng vẫn còn rất nhạy cảm và từng trải “bà lão cúi đầu nín lặng” một sự nín lặng chứa đựng biết bao nổi thương sót và trĩu nặng suy tư : bà lão hiểu rồi , lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự , vừa ai can sót thương cho số kiếp đứa con mình , chao ôi người ta dựng vợ gã chồng cho con là trong nhà lúc ăn nên làm ra , những mong sinh con mở mặt sau này còn mình thì …Biết nó chúng nó có nuôi nổI nhau qua cơn đói khát này không “. Đó là tâm lí thương thân tủi phận . Nhưng là sự thương thân tủi phận của một người mẹ từng trải và giàu lòng nhân hậu , bởi trong cái ý nghĩ buồn tủi của bà còn chứa đựng biết bao nhiêu tình thương và trách nhiệm .Do vậy mà nó ẩn chứa bao nổi lo lắng , dằn vặt , xót xa của tấm lòng người mẹ của tấm lòng người mẹ trước cảnh ngộ trớ trêu và đáng thương của đôi con trẻ trong những ngày đói khát trước mặt.Nhưng cụ tứ thương con vô bờ bến , bà cụ đã từ chỗ tủi cho tận mình , thương cho con mình , bà lão chuyển sang cảm thông , thương xót cho người đàn bà xa lạ bỗng nhiên trở thành “vợ nhặt”con mình : “bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót”.Tác giả đã diễn tả những ý nghĩ âm thầm , tủi cực mà đầy thông cảm của người đàn bà xa lạ ấy . “Bà lão nhìn thị và bà nghĩ : người ta có gặp bước khó khăn , đói khổ này , người ta mới lấy đến con mình , mà con mình mới được vợ …” Vậy là tình yêu thương con , yêu thương đồng loại , một trái tim giàu lòng nhân ái bà mẹ nghèo đã vượt qua được ngững định kiến hẹp hòi nặng nề trong xã hội cũ lúc ấy để đạt đến sự cảm thông lớn lao .Bà đã chấp nhận con dâu sáng hôm sau , bà lão xăm xắn nhanh nhẹn khác hẳn ngày thường .Bà vui tươi quét dọn cùng với cô con dâu bữa ăn đầu tiên của ngày .Người mẹ nhân hậu và từng trải muốn nhom nhén một niềm vui sống , niềm hi vọng mới giúp con người có thêm sức sống để vượt qua những khắc nghiệt của đói nghèo hiện tại , hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn . Cái nhìn đầy cảm thông , yêu thương của bà cụ tứ đối với con dâu hay đó cũng là cái nhìn đầy nhân đạo của Kim Lân đối với nhân vật người vợ nhặt” một số phận đáng thương, một tâm hồn đáng quí .“Dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc , vẫn hướng về ánh sáng vẫn tin vào sự sống và hi vọng ở hiện tại , vẫn muốn sống , sống cho ra người”. Đó là nhân vật của Kim Lân !

    Bước vào thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu , ta sẽ bắt gặp hình ảnh người đàn bà làng chài – là hiện thân cho mảnh đời tăm tối , cơ cực vẫn còn tồn tại trong cuộc sống quanh ta qua truyện ngắn “chiếc thuyền ngoài xa”. Một cuộc sống gia đình với nạn bạo hành mà chị phải gánh chịu của người chồng vũ phu, tàn bạo: “ … Chẳng nói chẳng rằng , lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn …”. Theo chị kể người chồng chị trước đây là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm không bao giờ đánh đập tôi”.Nhưng rồi việc trốn lính làm cho khuynh gia bại sản , rồi hoàn cảnh sống suốt ngay lênh đênh trên một con thuyền “ đám đàn bà trên thuyền đẻ nhiều con quá” vất vả cơ cực đã nhiễm vào người đàn ông chài thói vũ phu hoặc nghiện ngập : “ bất kể lúc nào thấy mệt lại lôi tôi ra đánh , cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu …giá mà lão uống rượu … thì tôi còn dỡ khổ”.Một sự nhẫn nhục cam chịu dường như quá sức đối với chị .Nhưng từ sâu thẳm tâm hồn , một sự thấu hiểu hiểu người và hiểu đời , một tình yêu thuỷ chung , son sắc , đáng thương . Để “nuôi đặng một sắp con” chị đã chịu đựng nhịn nhục một cách thật nhẫn nại đến mức khó hiểu , mặc cho chồng cứ đánh, cứ chửi “ người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục , không hề kêu lên một tiếng , chống trả , chạy trốn”. Chị càng không dám bỏ người chồng vũ phu , độc ác ấy với chỉ một lý do cũng rất đơn giản “cuộc mưu sinh khó nhọc , đầy bất trắc trên một chiếc thuyền chài lênh đênh sông nước không thể thiếu một người đàn ông”

    Và ở người đàn bà lam lũ khốn khổ đó , ta cũng nhận thấy le lói ánh sáng những hạt ngọc lấp lánh của tâm hồn còn khuất lấp trong cái u tối , cay cực của đời chị . Chị phải chấp nhận cuộc sống cay cực vớI mọI cực hình , chịu đựng sự đánh đạp hàng ngày của chồng vì chị hiểu rất rõ hoàn cảnh của mình , hiểu rõ cái khắc nghiệt của đời sống và hiểu rõ con người ,chị không đồng ý ly hôn với người chồng vũ phu theo lời khuyên của Đẩu –viên chánh án toà án huyện và nói với Đẩu “lòng các chú tốt nhưng các chú đâu hiểu được cái việc của những người làm ăn khó nhọc”. Chị hiểu nỗi bế tắc , khốn khổ của người chồng và hơn cả chị hiểu thiên chức làm mẹ của mình . Phải chăng cũng chỉ vì thiên chức đó mà chị phải xin chồng không đánh chị trên thuyền , trước mặt các con mà được bị đánh ở bãi xe tăng hỏng bên bờ biển .Chị không muốn đàn con đói khổ của chị bị tổn thương .Vì thế mặc cho thằng chồng vũ phu ra sức đánh đập, chị không hề kêu khóc , nhưng khi biết đứa con bé bỏng của mình chứng kiến người bố đánh mẹ chúng thì chị “vô cùng đau đớn và sấu hổ , nhục nhã” cứ hết ôm chầm lấy con chị lại vái lấy vái để trước mặt nó .Đau đớn vì rốt cuộc ,cái tình cảnh khốn nạn của chị vẫn không giấu nỗi các con không tránh được sự tổn thương trong tâm hồn ,tình cảm của chúng .Xấu hổ và bất lực vì sự nhục nhã của mình , vì sự thật về cái tình cảnh khốn nạn của mình mà chị muốn giấu kín thì đã bị phơi bày ra hết .Và có lẻ cũng vì thiên chức đó mà chị chấp nhận tình trạng bị hành hạ ,chấp nhận cả cuộc đời cay đắng và đen tối chỉ để mong có được niềm hạnh phúc thật bình dị ,thật nhỏ nhoi : “cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ “hoặc”vui nhất là lúc nhìn đàn con tôi chúng nó đã căn no”…phải chăng ,đó chính là cái thứ ánh sáng lấp lánh của những hạt ngọc tình mẫu tử ,tấm lòng bao dung vị tha và đức hi sinh của những người phụ nữ lao động trong những mảnh đờI còn nhiều cơ cực tăm tối quanh ta? Có điều , những hạt ngọc đó còn quá lấm láp và nhiều tì vết bởi nó còn lẩn trong buồn đất , trong cát bụi của sự nghèo đói,lạc hậu , tối tăm …

    Như vậy, một sức sống tiềm tàng mãnh liệt, một niềm khao khát sống, niềm tin yêu và đức hi sinh cao cả đã phát họa nên bức chân dung về vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người phụ nữ trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX.

    Người phụ nữ đã đến và để lại cho nền văn học Việt Nam bức tượng đài bất hủ của những con người không bao giờ chịu khuất phục trước hoàn cảnh, luôn đi tìm, hướng tới những gì tốt đẹp, tươi sáng trong cuộc đời. Họ luôn là những mẫu hình lí tưởng về người phụ nữ Việt Nam thời kì đó, cho hôm nay và cả về sau.Họ luôn trường tồn trong tâm thức người đọc là “Những con người đáng thương nhưng đáng trọng.”

     
  • Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Văn mẫu: Cảm nhận về bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi

    BÀI LÀM

    Rồi hóng mát thuở ngày trường

    Hoè lục đùn đùn tán rợp gương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

    Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

    Bài thơ 8 câu 57 chữ gồm một bức tranh cảnh ngày hè – 6 câu đầu và một lời bình,

    suy ngẫm từ bức tranh ấy – 2 câu cuối.

    Trong bức tranh đậm màu, nền trời chiều ráng đỏ, một ngôi lầu vắng lặng, cây hoè cổ

    thụ ngoài sân tán xanh thẫm, che rợp, bên hiên nhà cây thạch lựu sắc đỏ. Vài ba chú ve

    trên các cành cây. Ao sen hồng và xa xa là làng chài đang họp chợ. Có một người ngồi

    trên lầu trâm ngâm.

    Xem tranh, trước hết ta thấy một tư thế của con nguời ngồi đó. Câu mở đầu “hóng

    mát” – ngoạn cảnh nhàn nhã, thảnh thơi.

    Nên nhớ, đây là bức tranh thơ của vị tướng cầm quân từng xông pha trận mạc một

    thời, từng “đau lòng nhức óc” vì vận nước từng cùng Lê Lợi “dựng cầu trúc ngọn cờ

    phấp phới”, và sau này sắm vai ẩn sĩ mà tấm lòng vì dân nước không lúc nào yên “Đêm

    ngày cuồn cuộn nước triều dâng”. Đặt trong nỗi truân chuyên của cuộc đời Nguyễn Trãi,

    mới thấy quí cái giây phút ngắn ngủi hiếm hoi này, mới thấy cái tư thế ung dung thưởng

    ngoạn kia là sự hưởng thụ chân chính. Sau tư thế ấy, thấy cả cái không khí yên bình của

    cả một làng quê, đất nước vừa qua cơn binh lửa.

    Con người này có ánh mắt tinh tế, say mê. Người ngắm cảnh có đôi mắt rất sành : 3

    loại cây, 3 dáng vẻ, không trùng lặp. Tả cây, mà lộ ra khuôn mặt của mùa hè. Cây hoè :

    tán xanh xum xuê, toả rộng – sức sống vươn cao. Thạch lựu : sắc đỏ – rực rỡ của tố chất

    khoẻ mạnh. Sen hồng : đậm hương – tâm hồn nồng hậu, thanh cao. Ba loại cây, ba dáng

    vẻ, ba màu sắc nữa (xanh, đỏ, hồng) đều có hồn. Ngôn ngữ của thơ thay cho chất liệu

    màu của họa là lời nói sống động của đời thường. Chữ “đùn đùn” khiến ta cảm nhận được

    sự sống đang nảy nở mạnh mẽ, trông thấy được bằng mắt thường. Chữ “phun” còn lạ

    hơn. Không tả hoa đỏ, mà cảm nhận cây lựu đang phun, đang tuôn ra sắc đỏ. Sen hồng cố

    đậm hương. Con ve kia cũng gắng hết sức trong những tiếng kêu cuối cùng. Chợ ở làng

    chài đang náo nhiệt nên vọng xa lao xao… Chỉ là Bức tranh phong cảnh ư ? Không phải !

    Đấy là Bức tranh đời. Ở đó tạo vật và con người đều dang sống hết sức mình, sống rất

    nhiệt tâm, băng mình trong trường tranh đấu sống.

    Ta bất ngờ nhận ra điều kì lạ. Con người hoạ sĩ trong thi nhân Nguyễn Trãi thế kỉ XV

    • Việt Nam có gì rất gần gũi đại danh hoạ Hà Lan thế kỉ XIX, Vanh-xăng-Van-gốc. Không phải ở những sắc màu được sử dụng, mà ở cách diễn tả nó. Van-gốc vẽ đồng lúa ta cứ ngỡ cánh đồng bốc cháy. Hàng cây bên đường cũng quằn quại vệt lửa. Van-gốc đốt cháy mình trong tranh. Nguyễn Trãi đốt cháy mình trong thơ. Chữ “đùn đùn”, “phun”,

    “tiễn”, “lao xao”, “dắng dỏi” là lửa sống rừng rực trong lòng Ức Trai mặc cho do thời thế

    ông đang phải lui về quy ẩn “Rồi, hóng mát thuở ngày trường”.

    Trong bức tranh này, thính giác nhậy bén đã giúp Nguyễn Trãi “vẽ” cảnh bằng nhạc.

    Xa xa, chợ cá không rõ hình, song âm thanh “lao sao” chở hồn đến cho người đọc cái rộn

    ràng nhộn nhịp, náo nhiệt của cuộc sống thanh bình. Nếu “lao sao” là khúc hoà tấu của

    đời sống dân sinh, thì “dắng dỏi cầm ve” tấu lên âm thanh của cây đàn độc huyền, ngân

    lên thiết tha cuối chiều, vấn vương nét quí tộc, lầu cao đơn độc. Hai phong điệu dân dã và

    quí tộc hoà hợp, bởi chất keo dính của đời thường, đậm đà hơi thở sống.

    Cho nên vẽ bức tranh này đâu chỉ là chuyện của giác quan chuyên nghiệp họa sĩ hay

    thi sĩ mà là năng lực, phẩm chất của tâm hồn – tâm hồn tinh tế, đằm thắm của một con

    người hết mực yêu đời, say mê cuộc sống.

    Bức tranh Cảnh ngày hè có một lời bình – một suy ngẫm đứng riêng, độc lập.

    Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương

    Mạch thơ từ hướng ngoại sang hướng nội. Từ miêu tả sang biểu cảm, khách thể sang

    chủ thể. Nguyễn Trãi đã trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mình trong hai câu thơ kết. Ấy là một

    giấc mơ, và cả một học thuyết nhân sinh ấp ủ bật ra thành lời.

    Giấc mơ, đó là giấc mơ Nghiêu Thuấn. Giấc mơ ngàn đời của những con người

    Phương Đông sống trong thời trung đại. Mong sao có một bậc vua hiền để được yên ổn

    ấm no hạnh phúc. Trước hơn bốn trăm năm, thời Tiền Lê, Pháp Thuận đã phát biểu “Vận

    nước như mây cuốn / Trời Nam mở thái bình / Vô vi trên điện các / Xứ xứ dứt đao binh”.

    Vận nước có rối ren thế nào cũng mong hai chữ thái bình, nhà vua đừng làm điều gì

    nhiễu nhương thì khắp nơi đều hết nạn binh đao. Sau mấy mươi năm, vị vua hiền minh

    Lê Thánh Tông cố sức mình cũng chỉ để thỏa lòng mong muốn :

    Nhà nam nhà bắc đều có mặt

    Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.

    Bây giờ đây, ưu tư thế cuộc, nhìn đời – từ cỏ cây, vạn vật đến sinh linh vui sống như

    thế, Nguyễn Trãi lại khắc khoải khát vọng muôn năm này. Mong trị quốc, bình thiên hạ

    sao cho dân giàu nước mạnh là giấc mơ của một bậc đại nhân.

    Nếu giấc mơ kia là của bậc đại nhân, thì cái lõi tư tưởng của giấc mơ là của bậc đại trí.

    Đó là tư tưởng “thân dân” (dĩ dân vi bản) từng được vạch rõ trong Bình Ngô Đại Cáo –

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

    Đó là tư tưởng lớn. Với Nguyễn Trãi, tư tưởng ấy từng sôi sục trong hành động, khắc

    khoải trong tâm tưởng, rát bỏng trong thi ca. Cả bài thơ 8 chữ, đến tận dòng cuối cùng,

    chữ “dân” mới bật ra, song chính là cái nền tư tưởng, tình cảm của tác giả, cái hồn của

    bài thơ. Là sợi chỉ dỏ xâu chuỗi cả 8 câu thơ lại.

    Cảnh ngày hè (Gương báu răn mình số 43) không định giáo huấn chung. Trước đời

    sống đang dâng trào, yên lành thế, Nguyễn Trãi tự răn mình, phải làm sao cho cuộc sống

    này trở thành mãi mãi và chỉ khắc khoải một nỗi “tiên ưu” ấy mà thôi.

  • CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    1.     Why do you learn English? What are the benefits of learning English well?

    I like learning English because it brings me many benefits. Firstly, it is a compulsory requirement in Angiang University. I need to get a Level-B certificate of English to be delivered my university degree. Secondly, it helps me be able to read materials in English. It is the knowledge of English that enables me to learn how to use computer easily and collect much useful information on the internet. Thirdly, My English ability makes me able to communicate with foreigners in necessary cases, giving me good conditions when applying for jobs. Moreover, English helps me know further about another culture. It

    is English that widens my understanding about the world outside. In summary, I like learning English because it is very necessary for my study, my job, and my knowledge-widening.

    2. What do you need in order to get a good job?

    To get a good job, we must meet all working criteria that the employers require. Technically, we must have enough ability to do the job effectively. We should have working experience and know how to tackle all situations generating during the process of working. Communicatively, we should have good communicative skills. We should know what our employers need and know how to please them. Also, we should be popular and friendly to our colleagues. Sentimentally, we should show the employers our love for the job. We should make them understand that we apply for the job because we love it and really want to do it. It is this love that enables us work effectively and attach with them for a long time. In short, to get a good job, we must have good professional knowledge, good communicative skills, and the love for it.

    3. How is computer useful for your work or your study?

    Computer currently helps me much in my study. First of all, it helps me format my lessons effectively. I often type my lessons on the computer and format them to make them attractive to eyes so that I may learn them by heart quickly and review them conveniently. Next, computer helps me keep my materials safely for future use. Today,

    beside the hard drive, I often bring my USB’s with me and use them to save all what I want at any time and place. Moreover, I often update my materials on the screen. This enables me to create clear and tidy versions of materials and save up much time for other activities. On the other hand, computer is the most helpful friend helping me learn information and knowledge on the internet. Thanks to computer, I often access the internet and learn many things. Computer has made my understanding better day by day and become indispensable for my study.

    4. Why do many people want to study abroad? What do we have to prepare to study abroad?

    Studying abroad has many advantages. First, you are better trained because the education in developed countries is better than that of our country. Second, we can widen our understanding about another culture. Living abroad is a wonderful opportunity for us to learn about the customs there. Moreover, studying abroad improves our professional prestige, keeping us easy to find a well-paid job and to gain prestige in our working place. However, to study abroad smoothly, we must carefully prepare some necessary things in

    advance. English is the first thing for us to master. Without it, you can’t understand anything and your study surely becomes a nightmare. Next is cultural knowledge which enables you to adapt yourself to foreign communities and avoid cultural shocks. In addition, you should prepare psychology against homesickness because you can not return to your homeland right away when you want. In summary, studying abroad successfully requires you to know about its positive points and how to deal with difficulties abroad.

    5. What is your plan for the future?

    I plan to become an accountant because it is an interesting career for several reasons. First, I am trained to do this job at the university. I take many subjects relating to my future job. The examinations I have passed show that I’ll have enough ability to do the job well. Second, it can train me to become a very careful person in my life. I won’t be allowed to make any mistakes because every mistake can lead to the losing of a big sum of money. Third, with this job, I hope I can help the poor or farmers to borrow money from banks to invest in their rice fields or do small business. Fourth, with this job, I can work indoors.

    I needn’t face the sunlight or dew like my parents working in the field. Especially, I can earn enough for myself and support my family, I

    hope so. The above things are the reasons why I plan to be an accountant in the future.

    6. The advantages and disadvantages of watching TV

    Everything is two-faced like the two faces of a coin, and so is watching TV. Watching TV has advantages. First, it widens our knowledge. Information on TV is diverse, letting the viewers know up-to-date news from all fields of life such as news about politics, socio-economy, scientific-technology, etc… Second, TV serves us as a means of relaxation. Films, plays, music shows on TV are available all day. We can enjoy these programs at home whenever we like. Third, it is a good friend helping us kill time. Whenever we feel bored or do not know what to do. Simply turn on your TV set and you will surely feel OK soon. On the other hand, watching TV also has some disadvantages. Bad contents such as violent films, sexual exposures on the screen, and other sensitive topics may dangerously affect children. In addition, Watching TV too much or regularly also takes us much time and badly affects our health, especially our eyes. Finally, we have to pay some extra money for electricity consumption, too. In short, watching TV, which may be good or bad, depends on the way we use TV to serve our life.

    7. How do you spend your summer vacation?

    As a student, I don’t have much free time beside those I love, so my summer vacation is the duration during which I often busy myself with many things at home all day. In the day time, I often do sundry things for my grandmother and help my parents to do housework. In the evening, I go out with some of my old friends. We often chat with each other in a cafe. Usually, when I am free from doing housework, I go and visit close relatives in my neighborhood and ask them about their life and business. In the late evening, I watch films on TV or read novels or books to widen my understanding. I often go to bed very late. In my mind, I always want my short summer vacations to be not only comfortable for me but also useful for my beloved people.

    8. Describe your daily routine, how do you spend your free time?

    My routine is almost the same everyday. In the morning, I get up early at about 5:00 o’clock. After having washed my face, brushed my teeth, I do morning physical exercises. Then, I have a bath and wash my clothes. I have breakfast at six o’clock. After breakfast, I get dressed and go to school at ten to seven. I study in the school from

    seven to ten past eleven. When my classes are over, I have lunch in a cafe. Then, I go back to my boarding-house and take a nap. In the afternoon, I review my lessons, play sports with my friends in Campus A. At 5:30pm, I have a bath. After that, I have dinner in the university canteen. I have free time in the evening. In my free time, I go out with my roommates. We go around the city, spend our time in a coffee shop or go shopping. I am always pleased with my daily activities and love my routine.

    9. If you have a one-week holiday, how will you spend it?

    If I have a one-week holiday, I will return to my homeland. Spending a short holiday at home benefits me on many things. I can enjoy my free time beside my close relatives whom I have seldom seen since I began my study at Angiang University. In addition, I can help my parents to do housework and go out with my old friends. Moreover, staying home doesn’t cost me any money but I can do things after my hobby such as watching films, listening to music, play badminton, etc…

    One-week holiday is not a long time for me, so I want to use it for both myself and my close family members.

    10. How do you like to travel in your daily life? What are advantages and disadvantages of traveling this way?

    Bicycle is the best friend in my student life. I always ride my bike to go to school or around Long Xuyen City. Riding a bicycle has some advantages. First, bicycles are easy to repair. When it is damaged, you can repair it yourself or have it repaired with low cost. Next, you don’t have to pay for gasoline because bicycles don’t need gasoline. Moreover, riding a bike helps you do body exercises and does not cause environmental pollution. On the other hand, using bicycles also have some disadvantages. You can’t ride it to work over long distances. You can’t ride it as quickly as a motorbike in emergency cases. You also can’t take a rest on it when you are tired because bicycles move with your own strength. However, no matter what strong points and weak points does a bicycle have, I always consider it my favorite means of traveling.

    • If you are asked to recommend to foreign tourists the sights worth seeing in Angiang Province, which would you recommend?

    If I am asked to recommend to foreign tourists the sights worth seeing in Angiang Province, I will recommend two places: Uncle Ton’s Temple and Lam Vien sightseeing zone because of their

     

    historical meanings and natural beauty. Visiting Uncle Ton’s Temple, foreign tourists can learn much about this great person along with a stage of heroic history of Angiang homeland in the two recent resistance wars against foreign invaders and understand more about Angiang’s people and culture. Visiting Lam Vien sightseeing zone, tourists can enjoy the beauty of the nature in Cam Mountains and specific daily activities of the locals there and their religious customs as well as local handicraft products. Through such a visit, foreign tourist will have strong impression and sufficiently understand about Angiang homeland and its people.

    12. Do you like to live in the city or in the countryside? Why?

    I like living in the countryside because of some reasons. Environmentally speaking, it is a peaceful place. The air is fresh. The space is quiet. We can enjoy healthy natural conditions without worrying much about environmental pollution. As for social security, the countryside is a safer place than a city. While urban security situation is always complicated with all kinds of crimes, rural areas are much more secure because most of countrymen are friendly and ready to help one another. Moreover, rural life is also easier that in cities. People in cities are easy to get stressed because of pollution, job pressures, competitions, etc … On the contrary, those bad things are very rare in the countryside. To sum up, except income matters, the countryside is a better residence than cities.

    12.Talk about one of your closest friends. Why do you enjoy making friends with him/her?

    Of all my friends, Thanh is my best friend. He is 21 years old and is an informatics-majoring student of the faculty of science, technology and environment. Physically, he is not very handsome with nothing special. He is tall and thin. His skin is brown. His eyes are bright and his hair is wavy. Mentally speaking, he is very intelligent. Since I knew about this class-mate, he has been a good student with high marks in examinations. He has never retaken examination for any subjects. To everyone, he is friendly and helpful. He is always available to tell all his friends what he knows and helps them heartily in need. Especially, to me, we have many things in common. We go out and share joys and sorrows with each other in free time. We respect each other and help each other much in study and life. We have got many beautiful memories so far. Those are something about my closest friend and the reasons why we are very close to each other.

    13.What do you like and dislike about living in your neighborhood?

    My neighborhood has given me many joys and sorrows, too. I like my neighborhood because of some reasons as follows. That is a place of peace with good social security. There is almost no burglary, and crimes. Everyone pays attention to one another and ready to help each other. Space is quiet. There is no noise. Environment pollution is inconsiderable. However, my neighborhood is not a perfect living place. Sometimes, I feel my privacy interfered because some neighbors pay exorbitant attention to me. Some neighbors live in self-contained houses, making contacts with them in emergency cases difficult. Moreover, chances for creating income are not many because there are no factories in my neighborhood. In summary, although I don’t like my neighborhood in some respects, I still wish to live there because of my friendly neighbors and some good living conditions that I have enjoyed so far.

    14.Do you like to live in a nuclear family or an extended family? Why?

    I like living in an extended family because this family pattern has many noble values. First, extended families bring children close relationship from both their parents and their grandparents. Children enjoy full love and care from the elderly members in their family. Second, children can inherit family heritage of their ancestors. Familial property and keepsakes can be kept and passed from generation to generation, making ties between familial members become firmer. Moreover, in an extended family, its tradition, rituals, and customs can be taught carefully to the latter generation, making children realize familial tradition and know how to behave well with everybody right from early lifetime. In summary, the positive values of an extended family, which are real and undeniable, make me like it very much.

    16. Describe your house.

    My house is small, but it has enough space for my things. It is in Cho Moi district, about 45 kilometers from Long Xuyen City. There are four rooms in my house: a living room, two bedrooms, and a kitchen. The living room is not very big. There is a table in the middle with four chairs, a television on the left back corner, and a display cabinet. All of the curtains are pink. There is a vase of flowers on the table. In the bedrooms there are mats, pillows, mosquito nets and blankets. We have one alarm clock in each bedroom. The kitchen seems narrow

    with a lot of kitchenware, a table, six chairs, and a fridge. The house is surrounded by a garden with a lot of flowers in spring. Our gate is green. I love my house very much because it is the place I was born and grew up.

    17. Should people retire at the age of sixty?

    In my opinion, people should retire at the age of sixty because of physical and mental problems and longevity. Physically, at the age of sixty, our health comes down gradually. We no longer have much strength. Bone structures get weak. We easily get sick or break our bones. Such a physical status is not ideal for working any more. Mentally, physical come-down makes the brain weak and hurt easily. Our senses are not good as before. Elderly people are usually absent-minded with bad eyesight and low flexibility. For longevity, the age of sixty is the last duration of life, people should withdraw from business, transfer their precious experience to their children to enjoy their free time, keep health in order to lengthen their longevity with their children.

    In summary, people should retire at the age of sixty to keep health and good mind and live long with their children.

    18. How does the food you eat affect your health? Tell some food that you think is healthy.

    Food is the very important source of nutrition that brings us health in many ways. Animal meat such as pork, chicken, fish gives us animal protein which is very necessary for body cell creation. Vegetables such as salad, pumpkins, tomatoes, carrots, etc… give us essential vitamins and minerals. Fruit, such as papayas, mangoes, guavas, jackfruits, etc…, is the main source providing us many kinds of vitamins and carotene. Cereals such as rice, wheat, corn, beans, cassava give us starch and glucose. According to some scientific research achievements, in our meals, we should eat much food of vegetable origins, little animal meat to be healthy because much animal meat intake is the cause of many kinds of human diseases. All kinds of food are necessary for us but to be healthy, we should have sufficient knowledge about nutrition.

    19. Talk about some effects of smoking. Give some advice to give up smoking.

     

    Smoking shortens your longevity. According some scientific studies, much cigarette intake regularly damages your lung, causing pneumonia, tuberculosis, and even lung cancer. As for heavy smokers, they may get addicted with drug, a kind of refined tobacco or

    opium, making them loose laboring ability, mental consciousness, and die gradually. To give up smoking is not easy. It requires us to have self-consciousness and high determination. We must not think about it in any situation. We must avoid contacting with all processed forms of tobacco, and addicted friends. We also must follow doctor advice and find some healthy pastimes for ourselves. To quit smoking successfully, we must sufficiently know its harmful effect, and have strong energy to say good-bye to it.

    20. Talk about the causes and effects of one kind of the environmental pollution.

    Today, air, noise, and water are polluted everywhere for many causes, but water pollution is, in my opinion, the most serious. The immediate cause is human garbage-littering. Many inhabitants of poor consciousness of hygiene throw all kinds of garbage everywhere, especially into rivers. Most of properly-untreated industrial waste disposals are also poured into rivers. In agricultural production, water in fields containing all kinds of chemicals from insecticides and fertilizers finally flow into rivers, too. The result is that water resources are seriously polluted. For human beings, the use of polluted water without being carefully filtered or boiled causes various diseases. For aquatic animals, such as fish, shrimps, crabs, frogs, etc…, they can’t lay eggs or grow naturally as formerly; some species even become extinct. For aquatic plants, they can die or become contaminated with harmful substances and become dangers for creatures that eat them. The above-mentioned are just some causes and effects of water pollution that we can easily see everywhere today.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Bài văn mẫu: Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    BÀI LÀM

    Nhắc đến khoảng trời Trường Sơn là nhắc đến biết bao sự hy sinh mất mát, nơi mà lính Mỹ đã thả bom dồn dập nhằm ngăn cản bước tiền dũng mãnh của các đoàn quân tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam. Nhưng Trường Sơn đâu chỉ mang trong mình bao sự thương đau, Trường Sơn con là nơi ghi dấu của những tâm hồn tự nhiên, lạc quan của những người chiến sĩ lái xe không kính, những chàng trai cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh tuổi trẻ để cống hiến cho đất nước. Là một người đã từng gắn bó với khoảng trời bom đạn ấy, nhà văn Lê Minh Khuê đã khai thác đề tài quen thuộc đã làm nên nhiều tên tuổi lớn trân văn đàn chống Mỹ nhưng cùng với sự sáng tạo và một chút lãng mạn của mình, “Những ngôi sao xa xôi” của bà, đã khắc họa hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong, mà tiêu biểu là nhân vật Phương Định với những vẻ đẹp hồn nhiên vốn có của tuổi trẻ Việt Nam trong thời chống Mỹ.

    Câu chuyện kể về ba cô gái, ba cô gái thanh niên xung phong Nho, Thao và

    Phương Định, sống trên một cao điểm giữa mênh mông khói bụi Trường Sơn, nơi

    mà “màu đất đỏ, trắng lẫn lộn”. Công việc của họ là “ngôi đây”,”khi có bom nổ thì

    chạy lên, đo khối lượng đất lấp vào hồ bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá

    bom”. Trong lúc đơn vị thường làm việc khi mặt trời lặn, thì tổ trinh sát lại làm

    việc ban ngày, khi thần chết luôn “lẩn trong ruột những quả bom”, khi mà lính Mỹ

    thả bom nhiều nhất và cái chết luôn theo sát ba cô gái ấy. Công việc của họ là công

    việc quan trọng và cũng đầy gian khổ hy sinh, đòi hỏi tinh thần dũng cảm, sự nhạy

    bén quyết đoán và sự nhanh nhẹn. Trong hoàn cảnh ấy, ta mới thấy sáng ngời lên

    là những phẩm chất cao đẹp của ba nhân vật, và đặc biệt là Phương Định, nhân vật

    chính của truyện.

    Phương Định là một cô gái Hà Nội, “một cô gái khá”, chỉ vừa mới bước ra khỏi cuộc đời hồn nhiên vô tư lự của mình. Cô có vẻ bề ngoài đáng yêu trẻ trung và xinh xắn, “ hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”, còn đôi mặt thì có “cái nhìn sao mà xa xăm”. Những nét đẹp của cô đã được những anh lái xe để ý đến, bằng chứng là những bức thư dài gửi đường dây mặc dù có thể chào nhau hằng ngày, nhưng Phương Định cũng không săn sóc vồn vã, cô gái vẫn hay đứng ra xa, khoanh tay trước mặt và nhìn đi nơi khác mỗi khi một đám con gái xúm lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy. Một hành động đó thôi đã làm Phương Định trở nên thật kiêu kì, cái điệu của cô thật đáng yêu và cũng thật phù hợp với một người con gái như vậy.

    Tâm hồn cô giữa khoảng trời Trường Sơn thật làm cho người ta thật ngạc nhiên. Cô mê hát, “thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát”, lời cô bịa lộn xộn ngớ, ngẩn ngởn đến không ngờ, đôi lúc nó cũng làm cho cô bò ra mà cười một mình, cô thích “những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận”, cô thích “dân ca quan họ mềm mại dịu dàng” và kể cả “Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô”, “ ngồi bó gối mơ màng: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh””. Và Phương Định hát khi có sự im lặng không bình thường, “tiếng máy bay

    trinh sát rè rè”, cô hát để cổ động viên hai người đồng đội Nho, Thao và cũng là

    hát để động viên chính bản thân mình. Chính những lúc mê hát ấy đã làm cô quên

    đi cái sự buồn chán của cuộc sống Trường Sơn, quên đi mùi khói bom đạn mà cô

    vẫn tiếp xúc hằng ngày, và đó cũng là bước đà để cô có được một tâm hồn mơ

    mộng khi cơn mưa đá vừa ập đến. Mang theo tuổi trẻ của mình vào Trường Sơn,

    Phương Định còn mang theo cả những kỉ niệm đẹp về góc phố Hà Nội của mình,

    đó là hình ảnh người mẹ, cái cửa sổ, tiếng rao của bà bán xôi có cái mủng đội trên

    đầu, kể cả những cú sút vô tội vạ của bọn trẻ con trong một góc phố. Cơn mưa đá

    đi nhanh cũng như lúc nó vừa đến, nhưng lại mang những dòng kí ức tuổi thơ về

    cho Phương Định, và tất cả như xoáy mạnh trong tâm trí cô. Có lẽ chính những

    điều ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho cô gái, để cô luôn nghĩ rằng, gia đình, bạn thân

    và cả những kỉ niệm kia sẽ luôn theo cô trong suốt quãng đời ở Trường Sơn.

    Tâm hồn, tính cách của Phương Định hồn nhiên như thế, nhưng nổi bật lên trên tất cả vẫn là tinh thần dũng cảm, vượt lên trên hiểm nguy luôn ẩn chứa trong thân hình nhỏ bé của cô gái Hà Nội kia. Đó là những lúc mà bom của giặc Mỹ vẫn còn chưa nổ, và cô phải làm nhiệm vụ của mình, còn thần chết thì có vẻ vẫn đang “lẩn trong ruột những quả bom” chờ đợi cô. Tuy vậy, Phương Định vẫn tỏ ra thật bình thản, cái chết thì cô có nghĩ đến nhưng lại là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, mà

    cô quan tâm nhất là liệu bom có nổ hay không, không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai, cô luôn đặt nhiệm vụ của mình lên hàng đầu. Và trong những lúc phá bom như vậy, ta vẫn còn thấy thấp thoáng cái sự nhạy cảm, tinh tế trong cảm xúc của cô, “một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! ! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành.”, phải là một người bình tĩnh mới có dược những cảm nhận chân thực như vậy. Chính những lúc đó, ta mới thấy được cái sự dũng cảm của cô gái. Công việc không có một chút gì là an toàn, nhưng do “quen rồi”, ngày nào cũng phải phá bom đến năm lần, ngày nào ít thì ba lần, mà Phương Định luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    Và trong cái sự dũng cảm ấy, ta vẫn thấy Phương Định luôn thường trực một tình

    cảm đồng chí đồng đội nồng ấm và chân thành. Đó là tấm lòng vị tha với mọi

    người mà cô quan tâm, cô lo lắng khi Thao lên cao điểm chưa về, cô tận tình, vỗ về

    chăm sóc Nho khi cô ấy bị thương lúc phá bom. Ngược lại, chính tình cảm đồng

    chí đồng đội, đã làm cho Phương Định thêm một chút tự tin, ấm lòng khi được

    sống giữa tình yêu thương của mọi người. Hiểu được công việc của mình là gian

    khổ, nhưng Phương Định vẫn luôn ngưỡng mộ “những người mặc quân phục, có

    ngôi sao trên mũ” bởi họ là những đẹp nhất, thông mình, can đảm và cao thượng

    nhất. Những lúc chạy đi phá bom, vẫn mang một chút lo sợ trong người, nhưng nhờ những cái nhìn của những người chiến sĩ, đã dập tan đi nỗi sợ trong cô và chỉ còn một mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ, “ cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi mà có thể đàng hoàng mà bước tới”.

    Trong truyện ngắn, nhân vật kể chuyện cũng là nhân vật chính, điều đó giúp cho tác phẩm càng trở nên chân thực, những cảm xúc, thế giới nội tâm của nhân vật đều được thể hiện tự nhiên rõ nét, vẽ lên một khoảng trời mộng mơ ngay giữa Trường Sơn mênh mông và ác liệt.

    Mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, Phương Định xứng đáng là biểu tượng của những cô gái thanh niên thời chồng Mỹ, là hình tượng người con gái Việt Nam trong thời gian chiến đấu, là đại diện của thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Cũng giống như tựa đề “Những ngôi sao xa xôi”, những con người được ví như vì sao lấp lánh giữa bầu trời đêm, mang trong mình những phẩm chất đáng quý, “xa xôi” là bởi vì phải ngắm nhìn thật kỹ thì mới có thể thấy được những tâm hồn cao đẹp ấy

    Nguồn: http://langsao.vn/ (sưu tầm)