Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

    1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh

    Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các thông tin kinh tế khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế, nguồn tiềm năng cần được khai thác, đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

    1.1.2. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh

    Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

    1.1.3. Mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh

    Là làm sao cho các con số trên các tài liệu hạch toán “biết nói” để người sử dụng chúng

    hiểu được tình hình và kết quả kinh doanh.

    Phân tích hoạt động kinh doanh căn cứ vào các tài liệu hạch toán nghiên cứu đánh giá,

    từ đó đưa ra các nhận xét và đưa ra giải pháp đúng đắn.

    Vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp đưa ra kết luận sâu sắc là cơ sở phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, là căn cứ đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, biện pháp phòng ngừa các rủi ro.

    1.2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.2.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại

    NHTM ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, nó kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực tế, các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Theo Luật “các TCTD” (1997) của Việt Nam thì NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    1.2.2. Nghiệp vụ huy động vốn

    Để đáp ứng nhu cầu về vốn thì việc tạo lập vốn là vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó vốn tự có của các NHTM tham gia vào nguồn vốn cho vay chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, mà nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng vào nền kinh tế là nguồn vốn huy động, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn. Việc huy động được nhiều vốn vừa đem lại lợi nhuận, vừa mở rộng hoạt động của Ngân hàng.

    1.2.2.1. Vốn tiền gửi

    1. a) Tiền gửi của các tổ chức kinh tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 1

     

    Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại Ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời được giải phóng khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho các mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi.

    Các TCKT thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình thức sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn : Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho Ngân hàng nên tiền gửi này là nguồn vốn không ổn định của Ngân hàng.

    Khi gửi tiền, khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng lợi nhuận cho khách hàng. Mặt khác, khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho việc thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.

    • Tiền gửi có kỳ hạn:

    Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào có sự thỏa thuận về thời gian rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.

    Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu một mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời.

    Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… với mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.

    1. b) Tiền gửi của dân cư:

    Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân hàng.

    Tiền gửi dân cư bao gồm:

    Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận gửi tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

    Trong hình thức này, người gửi tiền được cấp một thẻ tiết kiệm. Thẻ này được coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Tiền gửi này được chia thành 2 loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.

    Thẻ này được xem là chứng từ đảm bảo tiền gửi. Vì vậy, người gửi có thẻ tiết kiệm có thể mang thẻ này đến Ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay tiền.

    1.2.2.2. Các nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng:

    Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản. Ngoại trừ trường hợp

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 2

     

    khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ quan có thẩm quyền thì Ngân hàng mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản thanh toán có liên quan.

    Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản

    Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng kiểm tra con dấu, chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân hàng có thể từ chối thanh toán.

    Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.

    1.2.3. Nghiệp vụ tín dụng:

    1.2.3.1. Khái niệm tín dụng:

    Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội. Ngày nay, tín dụng được định nghĩa như sau: “Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”. Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại.

    1.2.3.2. Bản chất tín dụng:

    Tín dụng thể hiện như một sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một vật hoặc số tiền giữa người cho vay và người đi vay. Vì vậy, người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hóa trực tiếp hay gián tiếp thông qua trao đổi. Bản chất tín dụng thể hiện trong mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó trong quá trình sản xuất.

    1.2.3.3. Phân loại tín dụng:

    Có rất nhiều cách phân loại tín dụng nhưng cách phổ biến nhất là phân loại theo thời hạn và phân loại theo thành phần kinh tế.

    1. a) Phân loại theo thời hạn:

    Căn cứ vào thời hạn, tín dụng được chia thành ba loại:

    • Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn đến một năm
    • Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên một năm đến năm năm
    • Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên năm năm
    1. Phân loại theo đối tượng

    Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị bao gồm cả thuế giá trị gia tăng nằm trong tổng giá trị lô hàng, các khoản chi phí để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, án đầu tư, phương án phục vụ đời sống.

    Số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu, khách hàng phải làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu mà giá trị lô hàng đó tổ chức tín dụng có tham gia cho vay.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 3

     

    Số lãi tiền vay trả cho TCTD cho vay trong thời hạn thi công, chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn để đầu tư tài sản cố định đó, mà khoản trả lãi được tính trong giá trị tài sản cố định.

    Số tiền khách hàng vay để trả cho các khoản vay tài chính cho nước ngoài mà các khoản vay đó đã được tổ chức tín dụng trong nước bảo lãnh.

    Các nhu cầu tài chính khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ và phục vụ đời sống theo quy định của NHNN.

    1. c) Căn cứ vào mục đích sử dụng:

    Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: hình thức này dành cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

    1.2.3.4.  Nguyên tắc tín dụng:

    Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

    Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

    1.2.3.5. Lãi suất tín dụng:

    Lãi suất huy động vốn: Là loại lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để huy động vốn cho các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.

    Lãi suất cho vay: là tỷ lệ % giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với số vốn cho vay trong thời kỳ nhất định, thông thường lãi suất tính cho năm, quý, tháng…

    Tùy theo từng phương pháp cho vay và cách trả lãi, Ngân hàng có thể sử dụng hai cách tính lãi độc lập:

    • Cách tính lãi đơn: là không nhập vốn gốc, chỉ tính một lần vào cuối kỳ hạn.
    • Cách tính lãi kép: là lãi tính theo lối nhập vào vốn gốc từng kỳ để tăng vốn.

    Do đó, cùng một khoản vốn cho vay sau một thời gian nhất định tùy theo cách tính lãi sẽ tạo ra những khoản thu khác nhau. Tuy nhiên, với cách tính lãi như thế nào thì lãi suất cho vay cũng đảm bảo theo công thức sau:

    Lãi suất cho vay = Chi phí vốn + Chi phí rủi ro tín dụng + Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng

     1.2.4. Rủi ro tín dụng:

    1.2.4.1. Khái niệm rủi ro tín dụng:

    Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm cho Ngân hàng bị phá sản.

    Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất. Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho Ngân hàng. Còn ở Việt

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 4

     

    Nam trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại thường chiếm 70% – 90% tổng thu nhập. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này cũng chứa đựng nhiều rủi ro bởi các khoản tiền cho vay bao giờ cũng có xác suất vỡ nợ cao so với những khoản đầu tư khác.

    1.2.4.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:

    1. Đối với ngân hàng:

    Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng là nguồn vốn huy động, khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong cho vay thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần lâm vào tình trạng thiếu hụt.

    Như vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán, làm cho ngân hàng lỗ và có nguy cơ bị phá sản.

    1. Đối với nền kinh tế xã hội:

    Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đến các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, đến các tầng lớp dân cư. Vì vậy, rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng và có khả năng lây lan sang các ngân hàng khác, tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi. Khi đó, dân chúng sẽ đua nhau đến ngân hàng rút tiền trước thời hạn, điều đó có thể đưa đến sự phá sản của đồng loạt các ngân hàng. Như vậy, rủi ro tín dụng tác động đến toàn bộ nền kinh tế.

    Do đó, rủi ro tín dụng là vấn đề rất nghiêm trọng mà Chính phủ các nước phải quan tâm, đặc biệt là Ngân hàng Trung Ương phải có những chính sách khuyến cáo thường xuyên thông qua công tác thanh tra, kiểm soát, chiết khấu, tái chiết khấu và sẵn sàng hỗ trợ cho các NHTM khi có các biến cố rủi ro xảy ra.

    1.2.4.3. Những nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:

    1. Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn:

    Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, vốn bị

    • đọng khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi chưa thu ngày càng gia tăng… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
    • Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi như: thu nhập không ổn định, bị sa thải, thất nghiệp, tai nạn lao động, hỏa hoạn, lũ lụt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sử dụng vốn sai mục đích, thiếu năng lực pháp lý…
    • Khi các doanh nghiệp thường không trả được nợ vay đầy đủ cả gốc và lãi thường là những trường hợp sau: năng lực chuyên môn và uy tín của người lãnh đạo đơn vị giảm thấp, khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do lỗ trong kinh doanh, sử dụng vốn sai mục đích, thị trường cung cấp vật tư bị đột biến, bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ, thay đổi của chính sách của Nhà nước.
    1. Những nguyên nhân khách quan:
    • Tình hình kinh tế trong nước:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 5

     

    Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế – xã hội. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều này làm cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng.

    Khi nền kinh tế có lạm phát càng tăng cao có thể dẫn đến rủi ro tín dụng, vì người gửi tiền có tâm lý lo sợ đồng tiền của mình bị mất giá khi gửi ngân hàng, nên họ muốn rút tiền ra. Trong khi đó, người đi vay lại muốn gia tăng nhu cầu vay vốn và muốn kéo dài thời hạn vay. Điều này cũng là ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân hàng không có hiệu quả. Nguy cơ này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị phá sản.

    • Tình hình thế giới:

    Trong thời kỳ ngày nay, mỗi quốc gia là một tế bào của nền kinh tế chung thế giới. Hoạt động kinh tế các nước đều có tác động ảnh hưởng lẫn nhau vì xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới. Nhiều tập đoàn công ty có xu hướng mở rộng kinh doanh ra nước ngoài. Sự hình thành các khu vực kinh tế và các khu mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA… cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đối với mỗi nước thành viên.

    Chính vì vậy, khi có những biến cố về kinh tế, chính trị, quân sự xảy ra ở bất kỳ nước nào thì cũng có thể tác động mạnh đến các nước khác trên thế giới và sẽ dẫn đến biến động kinh tế trong nước và tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng.

    1. Những nguyên nhân liên quan đến việc đảm bảo tín dụng:
    • Đảm bảo đối nhân: nếu người bảo lãnh gặp phải những tình huống chủ quan hay khách quan đã được trình bày ở phần trên. Điều đó có thể dẫn đến người bảo lãnh không có khả năng thực hiện những lời cam kết của mình, tức là không có khả năng thay mặt người vay trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
    • Đảm bảo đối vật: rủi ro tín dụng xảy ra liên quan đến vật dùng để thế chấp, cầm cố nợ vay khi gặp phải những trường hợp sau:

    Việc đánh giá tài sản cầm cố, thế chấp không chính xác.

    Tài sản thế chấp, cầm cố không tiêu thụ được.

    Tài sản thế chấp, cầm cố bị hỏa hoạn hoặc cấm lưu thông.

    Tài sản thế chấp, cầm cố không được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên không thể phát mãi.

    1. Những nguyên nhân do chính bản thân ngân hàng:

    Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận, đặt mong muốn về lợi nhuận cao hơn các khoản

    cho vay lành mạnh.

    Ngân hàng vi phạm các nguyên tắc cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn (cho một

    khách hàng vay quá 15% vốn tự có), thiếu tài sản thế chấp, cầm cố,… Phân tích đánh giá khách hàng sai, cho vay thiếu thông tin xác thực.

    Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức kinh doanh.

    1.2.4.4. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 6

     

    1. Phân tích khách hàng:

    Đây là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Bởi có đánh giá đúng khách hàng thì mới biết được khả năng hoàn trả nợ của họ.

    Đánh giá tình hình tài chính của khách hàng

    Đánh giá tư cách, năng lực, trình độ hiểu biết của người đứng đầu doanh nghiệp. Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn

    1. Phân tích tín dụng:

    Phân tích chất lượng và hiệu quả tín dụng

    Phân tích khả năng mở rộng quy mô tín dụng

    Thực hiện các đảm bảo tín dụng

    Trình độ của cán bộ tín dụng

    1. Phân tán rủi ro:
    • NHTM không nên dồn vốn vào một hoặc một số ít khách hàng, cho dù khách hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Bởi vì nếu khách hàng đó gặp khó khăn trong kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Vì vậy, NHTM cần phải tôn trọng giới hạn an toàn.
    • Việt Nam, căn cứ vào quy chế cho vay của NHNN ban hành 31/12/2001 quy định: “Dư nợ đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng”.
    • Cho vay hợp vốn: Cho vay hợp vốn hay còn gọi là đồng tài trợ là quá trình cho vay, bảo lãnh của một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm đầu mối phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và của ngân hàng.

    Việc cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản tín dụng lớn mà cần nhiều ngân hàng kết hợp với nhau, cùng nhau xem xét đánh giá khách hàng, phân tích khả năng sinh lời của dự án để tíến hành cho vay. Các ngân hàng tham gia hợp vốn vào một dự án phải ký với nhau một hợp đồng đồng tài trợ, thỏa thuận rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên. Do đó, khi có rủi ro xảy ra gánh nặng sẽ không dồn vào một ngân hàng nào, bởi các ngân hàng tham gia đồng tài trợ để chia sẻ rủi ro, hậu quả của nó được giảm nhẹ.

    • Bảo hiểm tín dụng: như bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay là biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro. Ở các nước, bảo hiểm tín dụng thường được thực hiện dưới dạng sau:
    • Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho ngành, nghề mà họ kinh doanh.
    • Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm và sẽ được bồi thường hại nếu gặp rủi ro mất vốn tín dụng.
    • Bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay.
    • Lập quỹ dự phòng rủi ro: được coi là một trong những biện pháp quan trọng để phòng chống rủi ro. Việc sử dụng các quỹ khi có rủi ro như sau:
    • Quỹ dự phòng rủi ro đặc biệt: dùng để bù đắp các khoản rủi ro khi ngân hàng làm ăn thua lỗ do những nguyên nhân khách quan đem lại.
    • Quỹ dự phòng tổn thất tín dụng: dùng để bù đắp các khoản tổn thất rủi ro tín dụng do khách hàng gây nên.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 7

     

    Theo Luật TCTD ở Việt Nam áp dụng từ 01/10/1998, điều 82 dự phòng rủi ro có quy định: “TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này phải được hạch toán vào chi phí hoạt động. Việc phân loại tài sản “có”, mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro do Thống đốc NHNN cùng Bộ tài chính quy định”.

    Như vậy, trong nền kinh tế thị trường để giảm bớt rủi ro trong hoạt động ngân hàng thì tất yếu phải thành lập quỹ dự phòng rủi ro. Song tùy theo mỗi nước mà quỹ này được tổ chức theo những hình thức và tên gọi khác nhau.

    1.2.5. Đảm bảo tín dụng:

    1.2.5.1. Khái niệm về đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là phương tiện tạo cho ngân hàng có một sự đảm bảo rằng sẽ có một nguồn vốn khác để hoàn trả hay bảo chi nếu công việc cho vay bị phá sản.

    1.2.5.2. Vai trò của đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý của khoản tín dụng đã cấp với những tài sản của người vay hay người thứ ba để khi không thu được nợ sẽ có thể dựa vào việc bán tài sản đó để thu hồi nợ.

    Khi đánh giá hoạt động tín dụng của khách hàng chưa đem lại nguồn thu chắc chắn, ngân hàng buộc phải dùng đến hình thức đảm bảo tín dụng. Đó là các giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba.

    1.2.5.3. Biện pháp đảm bảo tiền vay:

    Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng.

    Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.

    Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

    1.2.5.4. Nguyên tắc bảo đảm tiền vay:

    Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của Nghị định 178 và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

    Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.

    Sau khi xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, nếu khách hàng chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng theo nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.

    1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG:

    1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn:

    1.3.1.1. Tỉ lệ vốn huy động trên tổng nguồn vốn:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 8

     

    Tỉ lệ vốn huy động = Vốn huy động/tổng nguồn vốn

    Chỉ tiêu này cho biết nguồn vốn của Ngân hàng có phụ thuộc vào vốn của Hội Sở hay không. Cứ 100 đồng vốn thì có bao nhiêu đồng vốn huy động.

    Chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Vốn huy động trên tổng nguồn vốn cao thể hiện ngân hàng tự chăm lo nguồn vốn đủ sức để hoạt động kinh doanh tín dụng và các sản phẩm ngân hàng khác

    Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy công tác huy động vốn không đủ nguồn vốn để cho vay, phải đi vay của ngân hàng Trung Ương hay các TCTD khác, mức vốn này có lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động từ dân cư. Vì vậy nếu tỷ lệ này thấp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

    Ngược lại, nếu ngân hàng có chính sách huy động vốn với lãi suất cao nhưng hoạt động tín dụng kém gây ứ động nguồn vốn huy động sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vì vậy phải cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả.

    1.3.1.2. Tỉ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động:

    Tỉ lệ dư nợ trên vốn huy động = Dư nợ cho vay / Vốn huy động

    Chỉ tiêu này xác định năng lực đầu tư của vốn huy động. Nó cho chúng ta biết khả năng huy động vốn của ngân hàng có đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng không. Cứ 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng dư nợ.

    1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình cho vay:

    1.3.2.1. Tỉ lệ tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn:

    Tỉ lệ dư nợ = Tổng dư nợ/tổng nguồn vốn

    Đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ tập trung nguồn vốn vào hoạt động tín dụng. Tỉ lệ này càng cao thì Ngân hàng tập trung vốn tốt cho hoạt động tín dụng. Nó giúp nhà phân tích so sánh khả năng sử dụng vốn cho vay của ngân hàng so với nguồn vốn huy động. Cứ 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng dư nợ cho vay.

    1.3.2.2. Hệ số thu nợ

    Hệ số thu nợ = ( Doanh số thu nợ/ Doanh số cho vay) x 100%

    Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, tỉ lệ này càng cao thì công tác thu hồi nợ của ngân hàng được thực hiện tốt. Cứ 100 đồng doanh số cho vay thì sẽ có bao nhiêu đồng doanh số thu nợ. Đôi khi tỉ số này thấp Ngân hàng vẫn thu nợ tốt do một số khoản nợ chưa đến thời hạn trả gốc và lãi.

    1.3.2.3. Vòng quay tín dụng: (lần)

    Vòng quay tín dụng = Doanh số thu nợ / dư nợ bình quân

    Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, tốc độ thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm.

    1.3.2.4. Chỉ tiêu thời gian thu nợ bình quân:

    Thời gian thu nợ bình quân = 360 ngày / Vòng quay tín dụng

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 9

     

    Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ thu hồi nợ là nhanh hay chậm về mặt thời gian. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng cao và tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng càng nhanh.

    1.3.2.5. Tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:

    Tỉ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn/tổng dư nợ) x 100%

    Chỉ số này đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng, tỉ lệ này càng thấp thì chất lượng hoạt động tín dụng càng hiệu quả. Cứ 100 đồng dư nợ thì có bao nhiêu đồng nợ quá hạn.

    1.3.3. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh.

    1.3.3.1. Phân tích thu nhập:

    Chỉ số này giúp nhà phân tích xác định được cơ cấu của thu nhập để từ đó có những biện pháp phù hợp để tăng lợi nhuận của ngân hàng, đồng thời có thể kiểm soát được rủi ro trong kinh doanh.

    Thu nhập từng khoản mục
    Tỷ trọng % từng khoản mục thu nhập = x 100%
    Tổng thu nhập
    1.3.3.2. Phân tích chi phí:
    Chi phí từng khoản mục
    Tỷ trọng % từng khoản mục chi phí = x 100%
    Tổng chi phí

    Chỉ số này giúp nhà phân tích có thể biết được kết cấu các khoản chi để có thể hạn chế các khoản chi bất hợp lý, tăng cường các khoản chi có lợi cho hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện tốt chiến lược mà hội đồng quản trị ngân hàng đã đề ra.

    1.3.3.3. Phân tích lợi nhuận:

    Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của NHTM. Lợi nhuận có thể hữu hình như: tiền, tài sản… và vô hình như uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, hoặc phần trăm thị phần ngân hàng chiếm được.

    Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

    Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô. Một bộ phận của lợi nhuận được doanh nghiệp trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi để nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.

    Các chỉ số:

    1. Tỉ suất lợi nhuận trên tài sản

    ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản (%)

    Chỉ số này cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản. Nói cách khác, ROA giúp cho nhà phân tích xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng tốt.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 10

     

    1. Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu

    ROS = (Lợi nhuận/doanh thu) x 100%

    Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng doanh thu của Ngân hàng thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận.

    1. Lợi nhuận ròng trên VCSH

    ROE = (Lợi nhuận/VCSH) x 100%

    Tỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho thấy cứ trung bình 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào việc kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

    1. Tổng chi phí / Tổng thu nhập

    Chỉ số này tính toán khả năng bù đắp chi phí của một đồng thu nhập. Đây cũng là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Thông thường chỉ số này phải nhỏ hơn 1, nếu nó lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, đang có nguy cơ phá sản trong tương lai.

    Tóm lại: Những cơ sở lý luận nêu trên về các nghiệp vụ cơ bản, nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng và các chỉ tiêu đánh giá nhằm làm cho hoạt động phân tích đạt hiệu quả tốt. Bên cạnh việc phân tích dựa trên các chỉ tiêu kinh doanh chúng ta cần có cái nhìn khái quát về Ngân hàng để nắm được đâu là thuận lợi, khó khăn mà ngân hàng đang gặp phải cũng như tình hình hoạt động trong thời gian qua.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 11

     

    CHƯƠNG 2

    PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP XUẤ NHẬP KHẨU VIỆT NAM – EXIMBANK

    2.1.     KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG EXIMBANK

    2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

    Eximbank (EIB) được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam.

    Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint – Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank.

    Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 10.560 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.

    Tính đến ngày 31/12/2010, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 183 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Nghệ An, Huế, Bạc Liêu, Long An, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM và đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 852 Ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới.

    2.1.2. Các sản phẩm, dịch vụ

    Ngân hàng Eximbank cung cấp đầy đủ các dịch vụ của một Ngân hàng tầm cỡ quốc tế, cụ thể sau:

    Huy động tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi thanh toán của cá nhân và đơn vị bằng VND, ngoại tệ và vàng. Tiền gửi của khách hàng được bảo hiểm theo quy định của Nhà

    nước.

    Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; cho vay đồng tài trợ; cho vay thấu chi; cho vay sinh hoạt, tiêu dùng; cho vay theo hạn mức tín dụng bằng VND, ngoại tệ và vàng với

    các điều kiện thuận lợi và thủ tục đơn giản.

    Mua bán các loại ngoại tệ theo phương thức giao ngay (Spot), hoán đổi (Swap), kỳ

    hạn (Forward) và quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option).

    Thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, chiết khấu chứng từ hàng hóa và thực hiện chuyển tiền qua hệ thống SWIFT bảo đảm nhanh chóng, chi phí hợp lý, an toàn

    với các hình thức thanh toán bằng L/C, D/A, D/P, T/T, P/O, Cheque.

    Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa và quốc tế: Thẻ Eximbank MasterCard, thẻ Eximbank Visa, thẻ nội địa Eximbank Card. Chấp nhận thanh toán thẻ quốc tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 12

     

    Visa, MasterCard, JCB…thanh toán qua mạng bằng Thẻ.

    Thực hiện giao dịch ngân quỹ, chi lương, thu chi hộ, thu chi tại chỗ, thu đổi ngoại tệ,

    nhận và chi trả kiều hối, chuyển tiền trong và ngoài nước.

    Các nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước (bảo lãnh thanh toán, thanh toán thuế,

    thực hiện hợp đồng, dự thầu, chào giá, bảo hành, ứng trước…).

    Dịch vụ tài chính trọn gói hỗ trợ du học. Tư vấn đầu tư – tài chính – tiền tệ.

    Dịch vụ đa dạng về Địa ốc.

    Home Banking; Mobile Banking; Internet Banking.

    Các dịch vụ khác: Bồi hoàn chi phiếu bị mất cắp đối với trường hợp Thomas Cook Traveller’ Cheques, thu tiền làm thủ tục xuất cảnh (I.O.M), cùng với những dịch vụ và tiện ích Ngân hàng khác đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

    2.2. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP XUẤ

    NHẬP KHẨU VIỆT NAM – EXIMBANK

    2.2.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng

    2.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản

    Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản biến động liên tục qua các năm và bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 44%. Đặc biệt năm 2011 và Quý 2/2012, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản sụt giảm mạnh do khủng hoảng nền kinh tế tác động. Trong năm 2011, các giao dịch liên quan đến công cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài chính khác của EIB đều đến hạn khiến cho khoản mục này năm 2011 giảm 100% so với năm 2010. Mặt khác, trong năm 2011 EIB cũng cơ cấu lại danh mục các khoản góp vốn đầu tư dài hạn, giảm 28% so với năm 2010. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tổng tài sản của EIB ở mức trung bình, đứng thứ 5/9 ngân hàng so sánh.

    2.2.1.2. Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu

    Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm, bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 25%. Nguyên nhân vốn chủ sở hữu giảm chủ yếu do ngân hàng sử dụng thặng dư vốn cổ phần của EIB để tăng vốn điều lệ và trả cổ tức cho cổ đông, giảm từ 5.292 tỷ đồng năm 2008 xuống 156 tỷ đồng tại Quý 2/2012. Mặc dù tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm nhưng vốn điều lệ của EIB liên tục được bổ sung qua các năm, từ 7.220 tỷ đồng năm 20008 lên 12.355 tỷ đồng tại 30/6/2012. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, vốn chủ sở hữu của EIB hiện đứng thứ 4, sau 3 ngân hàng thương mại Nhà nước.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 13

     

    2.2.1.3. Tốc độ tăng trưởng thu nhập hoạt động, lợi nhuận trước thuế

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 55%, mức cao nhất đạt 71% vào năm 2011. Tính theo giá trị tuyệt đối, lợi nhuận trước thuế của EIB vẫn có xu hướng tăng qua các năm, từ 969 tỷ đồng năm 2008 lên 4.056 tỷ đồng năm 2011. Tuy nhiên Quý 2/2012, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của EIB lại giảm xuống còn tăng trưởng 37% so với cùng kỳ năm 2011 do thu nhập từ hoạt động dịch vụ giảm và hoạt động kinh doanh bị lỗ hơn 46 tỷ đồng trong khi cùng kỳ năm 2011 lại lãi 19 tỷ đồng.

    Thu nhập hoạt động của EIB có xu hướng tăng từ năm 2009 đến năm 2011, nhưng Quý 2/2012 lại có tốc độ tăng trưởng lại có xu hướng giảm, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2011. Nguyên nhân do khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu sụt giảm khiến cho thu nhập từ hoạt động dịch vụ và kinh doanh ngoại hối của ngân hàng bị ảnh hưởng.

    So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV tại 30/6/2012, thu nhập hoạt động của EIB đứng thứ 7 và lợi nhuận trước thuế đứng thứ 5.

    2.2.1.4. Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay

    Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng có xu hướng giảm, từ 81% năm 2009 xuống 20% năm 2011, đặc biệt Quý 2/2012 còn tăng trưởng 1% do tình hình kinh tế khó khăn, các ngân hàng thực hiện thắt chặt tín dụng theo định hướng của NHNN nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu. Tuy nhiên với lợi thế về hoạt động thanh toán quốc tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 14

     

    và tài trợ xuất nhập khẩu, cùng với việc bắt đầu từ tháng 5/2012 chính sách tiền tệ đã dần dần được nới lỏng nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng, chúng tôi cho rằng EIB sẽ có tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay cao hơn trong những tháng cuối năm 2012.

    So sánh với các ngân hàng trong cùng hệ thống, thị phần cho vay của EIB chiếm 3% toàn hệ thống và đứng thứ 7 (sau 4 NHTM Nhà nước, ACB và STB).

    2.2.1.5. Tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng

    Tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng của EIB biến động qua các năm và bình quân từ 2008 đến nay đạt 24%. Đặc biệt năm 2011, tốc độ tăng trưởng tiền gửi của EIB bị âm do tình hình lạm phát tăng cao nên huy động của EIB bị ảnh hưởng. Mặt khác, trong năm 2011 một lượng lớn tiền gửi bằng vàng đã được chuyển sang loại hình dịch vụ giữ hộ vàng khiến huy động vàng của EIB giảm đáng kể.

    So sánh với các ngân hàng trong cùng hệ thống, thị phần huy động trên thị trường 1 của

    EIB chiếm 3% toàn hệ thống và đứng thứ 9 (sau 4 NHTM Nhà nước, ACB, TECH, STB và

    MBB).

    2.2.2. Cơ cấu tài sản, chất lượng đầu tư

    Trong danh mục tổng tài sản của EIB, hoạt động cho vay trên thị trường 1 và thị trường 2 chiếm đến hơn 70% tổng tài sản và vẫn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Tỷ trọng cho vay trên thị trường 1 trong cơ cấu tài sản đang có xu hướng giảm trong khi tỷ trọng cho vay trên thị trường 2 có xu hướng tăng từ năm 2009 đến nay. Trong điều kiện thanh khoản của các

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 15

     

    ngân hàng nhỏ vẫn còn gặp khó khăn, lãi suất trên thị trường giảm mạnh, với cơ cấu cho vay trên thị trường 2 quá lớn so với các ngân hàng khác trong cùng ngành, EIB có thể gặp rủi ro trong thanh khoản. Vì vậy ngân hàng cần phải có chính sách hợp lý nhằm kiểm soát tốt các khoản vay, hạn chế rủi ro tín dụng.

    2.2.2.1. Tỷ lệ cho vay /Tổng tài sản (LAR):

    Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản (LAR) của EIB trung bình từ năm 2007 đến nay đạt 48% và có xu hướng giảm từ năm 2009 do ngân hàng có xu hướng đẩy mạnh hoạt động cho vay trên thị trường 2. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ LAR của EIB ở mức thấp, cho thấy thanh khoản của ngân hàng vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, các tài sản đảm bảo cho các khoản cho vay của EIB có tính lỏng thấp chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng tài sản (bất động sản và động sản chiếm 88%). Do đó, trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn gặp khó khăn, ngân hàng phải có chính sách kiểm soát tốt rủi ro, đảm bảo thanh khoản.

    2.2.2.2. Tài sản có khác

    Tài sản có khác của EIB có xu hướng tăng mạnh qua các năm, từ 1.307 tỷ đồng năm 2009 lên 10.789 tỷ đồng tại 30/6/2012 và chiếm 6% tổng danh mục tài sản của ngân hàng. Đặc biệt trong năm 2011, các khoản phải thu của ngân hàng tăng đột biến gấp 5,5 lần so với năm 2010 (từ 636 tỷ đồng lên 3.476 tỷ đồng) do ngân hàng phải ký quỹ bằng vàng tại các TCTD khác nhằm đảm bảo cho các khoản tiền gửi của các TCTD này tại EIB; đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ngân hàng mua trong năm nhưng chưa hoàn

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 16

     

    tất thủ tục chuyển nhượng và các khoản chờ thanh toán liên quan đến giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa ngân hàng và một đơn vị khác.

    Từ năm 2009 đến 2010, Tài sản có khác của EIB cũng tăng đột biến, từ 271 tỷ lên 4.253 tỷ đồng. Nguyên nhân do ngân hàng đã ủy thác đầu tư 4.000 tỷ đồng cho công ty quản lý quỹ đầu tư vào chứng khoán có lãi suất cố định thông qua các hợp đồng ủy thác có thời hạn 6 tháng. Vào cuối năm 2010, khoản tiền này được đầu tư ở dạng tiền gửi tại một ngân hàng khác. Tuy nhiên, vào năm 2011, khoản tiền ủy thác đầu tư này đã không còn, có thể do EIB đã thay đổi chiến lược đầu tư do điều kiện thị trường không thuận lợi đối với đầu tư vào chứng khoán.

    2.2.2.3. Danh mục đầu tư

    Danh mục đầu tư của EIB chỉ bao gồm chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn. Chứng khoán đầu tư năm 2011 tăng 27,5% so với năm 2010, trong đó chứng khoán nợ

    đầu tư giữ đến ngày đạo hạn tăng 27,6%; chứng khoán vốn đầu tư sẵn sàng để bán lại giảm mạnh, từ 33 tỷ đồng năm 2010 xuống còn 2,2 tỷ đồng năm 2011.

    Theo quy định của NHNN, các khoản đầu tư vào công ty chứng khoán và thực hiện các dịch vụ tài chính như bảo hiểm, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối… không đưa ra khỏi vốn tự có cấp 1 trong việc tính toán hệ số an toàn vốn nên EIB đã cơ cấu lại danh mục đầu tư, thoái toàn bộ vốn các khoản đầu tư có rủi ro cao nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn CAR. Cụ thể: EIB đã bán toàn bộ chứng khoán vốn của Ngân hàng TMCP Gia Định, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, CTCP Công nghệ Nguyễn Hoàng, CTCP Thủy sản số 1; đồng thời Eib cũng bán trái phiếu, kỳ phiếu của một số TCTD như Đại Á, VIB, BIDV, Việt Nam Thương tín, Gia Định, Việt Á.

    Đồng thời, EIB cũng thoái lui toàn bộ vốn đầu tư dài hạn tại doanh nghiệp như Ngân hàng Việt Á 289 tỷ đồng, CTCP Đầu tư và Phát triển Ngoại thương 20 tỷ đồng nhằm đảm bảo hệ só an toàn vốn CAR , khiến cho khoản mục Góp vốn đầu tư dài hạn của ngân hàng năm 2011 giảm 28% so với năm 2010.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 17

     

    Cơ cấu danh mục đầu tư của EIB theo đối tượng phát hành, chứng khoán cho các TCTD khác phát hành chiếm tỷ trọng tương đối lớn 78%, trong khí Trái phiếu Chính phủ lại chiếm tỷ trong rất nhỏ 6%. Điều này cho thấy danh mục đầu tư có EIB có mức độ rủi ro cao, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế và hệ thống ngân hàng vẫn còn khó khăn như hiện nay. Trong danh mục trái phiếu do các tổ chức kinh tế phát hành, EIB nắm giữ 250 tỷ đồng tái phiếu Vinashin, có khả năng khó thu hồi. Vì vậy, ngân hàng cần phải có những biện pháp quản lý tốt các khoản đầu tư nhằm hạn chế rủi ro trong điều kiện thị trường chứng khoán vẫn còn ảm đạm như hiện nay.

    Tính đến 30/6/2012, chứng khoán đầu tư của EIB giảm 9,6% so với năm 2011, chủ yếu do chứng khoán đầu tư gửi đến ngày đáo hạn giảm. Tuy nhiên, góp vốn đầu tư dài hạn trong Quý 2/2012 của EIB lại tăng đột biến 174% so với năm 2011 do các khoản đầu tư dài hạn khác tăng 181% và dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn tăng 61%.

    2.2.3. Chất lượng tín dụng

    2.2.3.1. Cơ cấu cho vay

    Cơ cấu cho vay của EIB trải rộng ở khắp các ngành nghề cho thấy chính sách phân tán rủi ro theo ngành của ngân hàng. Đồng thời, cơ cấu cho vay theo ngành nghề kinh tế của EIB tại Quý 2/2012 thay đổi không đáng kể so với năm 2011. Tỷ trọng cho vay thương mại dịch vụ và công nghệ chế biến, khai thác mỏ có xu hướng giảm, nhưng tỷ trọng cho vay cá nhân lại tăng. Đặc biệt cơ cấu cho vay của EIB tập trung vào các lĩnh vực có thể xuất khẩu mạnh như Công nghiệp chế biến, Nông lâm nghiệp và thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.

    Tỷ lệ cho vay bất động sản của EIB chiếm tỷ lệ rất nhỏ hơn 1% do ngân hàng đã ý thức

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 18

     

    được những nguy cơ từ khu vực bất động sản và đã sớm giảm tỷ trọng cho vay của khu vực này từ năm 2009. Điều này cho thấy mối lo từ nợ xấu bất động sản của ngân hàng rất ít.

    Cơ cấu cho vay hiện tại hoàn toàn phù hợp với chiến lược cho vay của ngân hàng là tập trung vào lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, hạn chế vốn tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất, đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản và cho vay tiêu dùng.

    Cơ cấu cho vay theo đối tượng khách hàng tại Quý 2/2012 của EIB cũng có sự thay đổi. EIB đang chuyển dịch cơ cấu cho vay theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay cá nhân (từ 35% xuống 24%), tăng tỷ trọng cho vay doanh nghiệp (từ 65% lên 76%). Trong cơ cấu cho vay của khối doanh nghiệp, tỷ trọng cho vay doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có xu hướng tăng. Phần tăng này chủ yếu được chuyển sang từ khối khách hàng cá nhân.

    Những thay đổi trong chiến lược kinh doanh cho thấy sự nhạy bén của EIB đối với thị trường và được thể hiện rõ ràng trên kết quả lợi nhuận của ngân hàng. Nhờ việc giảm tỷ lệ cho vay cá nhân, đồng thời thay đổi cấu thành của ngành cho vay theo nhu cầu thị trường, dư nợ cho vay khách hàng năm 2011 tăng 20% nhưng thu nhập từ cho vay khách hàng tăng đến 93% (từ 5.413 tỷ lên 10.435 tỷ) so với năm trước, thu nhập lãi thuần tăng 84%, giúp cho ROAE tăng 51%.

    Cũng giống như các ngân hàng khác, cơ cấu cho vay theo kỳ hạn của EIB tập trung chủ yếu vào cho vay ngắn hạn chiếm 70% tổng dư nợ cho vay. Trong đó, kỳ hạn dưới 3 tháng chiếm 26,5%; từ 3-12 tháng chiếm 41,5%; từ 1 năm trở lên chiếm 32%. EIB đang có xu

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 19

     

    hướng giảm dần tỷ trọng cho vay ngắn hạn, và tăng dần tỷ trọng cho vay dài hạn (từ 18% năm 2009 lên 23% năm 2010). Điều này cho thấy áp lực trong giải ngân và thu hồi vốn đúng hạn đã phần nào giảm bớt.

    2.2.3.2. Nợ xấu

    Tỷ lệ nợ xấu của EIB trong năm 2008 tăng đột biến, từ 0,9% năm 2007 lên 4,7%. Nguyên nhân do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến cho quan hệ tín dụng giữa EIB và khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu bị ảnh hưởng; đồng thời việc quản trị rủi ro trong hệ thống chi nhánh của EIB không tốt dẫn đến thất thoát tài sản thế chấp và không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, với sự tư vấn, hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC trong công tác quản lý rủi ro, cùng với việc triển khai tối đa các giải pháp để xử lý nợ khó đòi như cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, xử lý tài sản đảm bảo…, tỷ lệ nợ xấu của EIB đã giảm xuống và trong tầm kiểm soát, từ 4,7% xuống còn 1,4% vào năm 2010.. Tuy nhiên, năm 2011 và Quý 2/2012, tỷ lệ nợ xấu lại có xu hướng tăng nhưng vẫn thấp hơn năm 2009. Nguyên nhân do tình hình kinh tế khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ, hàng tồn kho gia tăng dẫn đến tình hình nợ xấu gia tăng trong toàn hệ thống ngân hàng. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ nợ xấu của EIB vẫn rất thấp, chỉ cao hơn STB và ACB.

    Trong cơ cấu nợ theo nhóm của EIB tại Quý 2/2012, nợ nhóm 3 giảm 86% trong khi nợ nhóm 4 và nhóm 5 tăng lần lượt là 67% và 51% cho thấy nợ xấu của ngân hàng đang có hiện tượng chuyển nhóm. Điều này càng thể hiện rõ những tiềm ẩn rủi ro tín dụng trong thời gian tới có thể sẽ tăng cao.

    Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (Coverage ratio) từ năm 2010 đến nay bình quân đạt 52% và ở mức cao nhất 71% vào năm 2010. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của EIB ở mức thấp. Tuy nhiên, nợ nhóm 4 và 5 của ngân hàng tăng mạnh trong Quý 2/2012 nhưng dự phòng rủi ro tín dụng chỉ tăng 14% cho thấy chất lượng tài sản đảm bảo của EIB đã được cải thiện.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 20

     

    2.2.3.3. Chi phí dự phòng

    EIB có NPLs cao vào năm 2008, tuy nhiên đã giảm được nợ xấu vào 3 năm tiếp theo. Năm 2011, nợ xấu của EIB tăng so với 2010 (từ 1.42 lên 1.61%), tuy nhiên Chi phí dự phòng/Thu nhập, Chi phí dự phòng/Dư nợ bình quân đều giảm. Điều này thể hiện chất lượng tài sản đảm bảo của các khoản vay của EIB đang ngày càng được cải thiện, hoặc khả năng thu nợ khó đòi của EIB đã có những bước tiến mới.

    2.2.4. Tính thanh khoản

    2.2.4.1. Hệ số an toàn vốn

    Nhờ quy mô vốn chủ sở hữu lớn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR của EIB luôn cao hơn mức quy định tối thiểu của NHNN (9%) và mức tiêu chuẩn của Basel II (12%). Mặc dù tỷ lệ an toàn vốn CAR có xu hướng giảm từ năm 2008 nhưng so với các ngân hàng trong cùng ngành vẫn mức cao. Đặc biệt năm 2008, tỷ lệ an toàn vốn CAR của EIB đạt mức kỷ lục 45,86% nhờ vào việc phát hành cho cổ đông chiến lược với giá cao, qua đó làm thặng dư vốn cổ phần tăng đáng kể. Điều này phản ánh khả năng của EIB trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác là rất cao so với các ngân hàng khác.

    Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu vẫn chưa theo kịp đà tăng trưởng của chính ngân hàng khi tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản có xu hướng giảm qua các năm, từ 26,62% năm 2008 xuống 8,22% tại Quý 2/2012.

    Trái ngược với tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản, tỷ lệ Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu của EIB lại có xu hướng tăng qua các năm, từ 2,76x năm 2008 lên 11,17x tại Quý 2/2012, nhưng

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 21

     

    so với trung bình các ngân hàng đang niêm yết (11,8x), tỷ lệ này của EIB vẫn thấp hơn. Với tỷ lệ thấp như vậy, rủi ro mất khả năng thanh toán các hợp đồng tín dụng nhiều khả năng cũng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn khó khăn, ngân hàng vẫn phải có các chính sách quản lý nhằm kiểm soát tốt rủi ro tín dụng.

    2.2.4.2. Tài sản thanh khoản

    Tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản của EIB ngày càng được cải thiện, tăng từ 24,34% năm 2009 lên 39,69% vào Quý 2/2012 và ở mức khá cao so với các ngân hàng niêm yết cho thấy khả năng gặp rủi ro thanh khoản của ngân hàng không cao. Trong những tài sản thanh khoản có khả năng chuyển thành tiền mặt một cách nhanh chóng, tiền vàng gửi tại TCTD khác và cho vay các TCTD khác chiếm đến hơn 80%. Trong điều kiện thanh khoản của một số ngân hàng nhỏ gặp khó khăn vào những tháng đầu năm 2012 thì việc tỷ lệ tiền vàng gửi tại TCTD khác và cho vay các TCTD khác cao có thể ảnh hưởng phần nào đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.

    Tỷ lệ khả năng chi trả (tổng tài sản có khả năng thanh toán ngay trên tổng nợ phải trả) của EIB có xu hướng tăng và luôn cao hơn mức quy định 15% của NHNN. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ khả năng chi trả của EIB ở mức cao nhất.

    Khả năng thanh khoản của các ngân hàng niêm yết và BIDV Tại thời điểm 30/6/2012

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 22

     

    2.2.4.3. Tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR)

    Tỷ lệ cho vay/tiền gửi của EIB có xu hướng tăng nhanh từ 69% năm 2008 đến 139% trong năm 2011 trước khi được hạ xuống còn 121% vào 30/6/2012. Theo chúng tôi, việc siết chặt tăng trưởng tín dụng của NHNN nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng là nguyên nhân khiến LDR giảm trong Quý 2/2012. So với các ngân hàng đnag niêm yết và BIDV, tỷ lệ LDR của EIB ở mức cao nhất. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng trong điều kiện hệ thống ngân hàng vần còn khó khăn như hiện nay.

    2.2.4.4. Cơ cấu tiền gửi khách hàng

    Cơ cấu tiền gửi theo loại tiền tệ của EIB chủ yếu tập trung vào đồng nội tệ và có xu hướng tăng gần qua các năm, từ 61% năm 2008 lên 80% tại Quý 2/2012. Nguyên nhân tiền gửi bằng vàng và ngoại tệ của EIB có xu hướng giảm do lãi suất huy động thấp, hoạt động huy động vàng giảm sút do khách hàng chuyển sang dịch vụ giữ hộ vàng. Mặt khác do khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng, cung cầu ngoại tệ giảm sút nên tỷ trọng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ bị giảm.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 23

     

    Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng có sự biến động qua các năm và tập chủ yếu

    • nhóm khách hàng cá nhân chiếm trên 60%. Tỷ trọng tiền gửi của khối doanh nghiệp Nhà nước thấp, chiếm khoảng 8%. Do có lợi thế về hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ xuất nhập khẩu; được SMBC hỗ trợ về nguồn vốn, đặc biệt là tài trợ nguồn vốn USD nhằm nâng cao sức mạnh tài chính và khả năng tài trợ vốn cho các khách hàng của Eximbank nên tỷ trọng tiền gửi của khối doanh ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang có xu hướng tăng lên. Năm 2008 và 2009 tỷ trọng của 2 nhóm khách hàng này chiếm tỷ trọng không đáng kể, nhưng sang năm 2010 và 2011, tỷ trọng của nhóm doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tổng tiền gửi đã chiếm đến 28% và 20%; nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng tiền gửi chiếm 6% và 4%.

    Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn của EIB chủ yếu tập trung ở tiền gửi có kỳ hạn chiếm 88% vào Quý 2/2012. Cơ cấu tiền gửi của EIB đang có xu hướng giảm tiền gửi không kỳ hạn và tăng tiền gửi có kỳ hạn. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thị trường hiện nay khi lạm phát tăng cao, lãi suất giảm mạnh thì khách hàng sẽ có xu hướng gửi các kỳ hạn dài hạn. Mặt khác, do tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp tận dụng vốn tự có để sản xuất kinh doanh nên gián tiếp giúp cho tỷ trọng vốn có kỳ hạn của EIB tăng lên.

    2.2.4.5. Tương quan giữa kỳ hạn tiền gửi và cho vay

    Với cơ cấu huy động ngắn và cho vay dài, rủi ro kỳ hạn là mối lo ngại của EIB. Tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng của EIB chiếm hơn 90% tổng số dư tiền gửi, trong khi cho vay có kỳ hạn dưới 3 tháng chỉ chiếm 27% nên chênh lệch thanh khoản ròng dưới 3 tháng luôn bị âm. Các kỳ hạn còn lại có chênh lệch thanh khoản ròng dương.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 24

     

    Với việc đường cong lãi suất đang được thiết lập trở lại, cùng với sự hạ nhiệt của lãi suất huy động, chúng tôi kỳ vọng tiền gửi tại các kỳ hạn dài sẽ tăng lên trong thời gian tới.

    2.2.5. Khả năng sinh lời

    2.2.5.1. Cơ cấu thu nhập

    Hai nguồn thu nhập lớn nhất chi phối kết quả kinh doanh của EIB trong những năm gần đây là thu nhập lãi thuần và thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Chỉ tính riêng năm 2011, thu nhập từ 2 nguồn này chiếm 94% tổng thu nhập hoạt động.

    Thu nhập lãi thuần của EIB có xu hướng tăng mạnh qua các năm, từ 685 tỷ đồng năm 2007 lên 5.304 tỷ đồng năm 2011 và tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động cũng ngày càng tăng, từ 67% năm 2007 lên 85% năm 2011. Điều này cho thấy hoạt động cho vay vẫn là hoạt động truyền thống của ngân hàng.

    Tính đến hết Quý 2/2012, thu nhập hoạt động của EIB đạt 2.890 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2011.

    Với hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp, thu nhập từ hoạt động dịch vụ của EIB không ngừng tăng lên, từ 109 tỷ đồng năm 2008 tăng lên 566 tỷ đồng năm 2011, trong đó đóng góp chính vào thu nhập từ hoạt động dịch vụ là hoạt động thanh toán quốc tế.

    Với bề dày kinh nghiệm và chuyên môn, đồng thời không ngừng đa dạng các sản phẩm dịch vụ, hoạt động thanh toán quốc tế là thế mạnh của EIB. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 25

     

    cầu kéo theo sức tiêu thụ hàng hóa giảm tại các thị trường (đặc biệt tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản), chính sách bảo hộ thương mại có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với những rào cản kỹ thuật và kinh tế đã ảnh hưởng không ít đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của EIB. Tuy nhiên, với những chính sách linh hoạt và các gói sản phẩm đa dạng, tổng doanh số thanh toán xuất khẩu của EIB vẫn tăng trưởng qua các năm. Tính đến cuối năm 2011, thanh toán xuất khẩu đạt 3,1 tỷ USD, chiếm 3,2% kim ngạch xuất khẩu cả nước, tăng 36% so với năm 2010; Thanh toán nhập khẩu đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 2,6% kim ngạch nhập khẩu cả nước, tăng 17% so với năm 2010.

    Bên cạnh hoạt động thanh toán quốc tế, EIB cũng đẩy mạnh hoạt động kiều hối và thanh toán thẻ. Tổng doanh thu kiều hối chuyển về EIB năm 2011 đạt hơn 294 triệu USD, tăng 36% so với năm 2010. Doanh thu thanh toán thẻ đạt 7.043 tỷ đồng tăng 46% so với năm 2010.

    Các mảng hoạt động còn lại của EIB chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập và có xu hướng biến động qua các năm. Đặc biệt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, năm 2008 chiếm tỷ trọng lên đến 34% tổng thu nhập nhưng đến năm 2011 thu nhập từ mạng này đã bị lỗ 88 tỷ đồng do tình hình thị trường ngoại hối còn nhiều khó khăn, tỷ giá hối đoái có những diến biến phức tạp.

    2.2.5.2. Hiệu suất sinh lời

    Hệ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROAE) của EIB năm 2008 giảm mạnh so với năm 2011 (từ 11,3% xuống 7,4% do vốn điều lệ tăng 158% từ 2.800 tỷ đồng lên 7.220 tỷ đồng thông qua việc phát hành cho đối tác chiến lược nước ngoài SMBC và 2 quỹ đầu tư nước ngoài, trong khi lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 53,4%. ROE đã tăng trở lại từ năm 2009 đến năm 2011 do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế (bình quân 60%) chênh lệch quá lớn với tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu lại (bình quân 32%) mặc dù vốn điều lệ của ngân hàng liên tục được bổ sung qua các năm. Sang Quý 2/2012, tỷ lệ ROE lại giảm xuống 16,7% nhưng trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn khó khăn như hiện nay, mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu của EIB vẫn hấp dẫn. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ ROEA của EIB đứng thứ 4/9 ngân hàng.

    Hiệu suất sinh lời của tài sản (ROAA) lại có sự biến động qua các năm. Từ năm 2007

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 26

     

    đến năm 2009, ROA có xu hướng tăng do tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có xu hướng giảm mạnh (từ 84% năm 2007 xuống 36% năm 2009) trong khi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế giảm ít hơn (từ 79% xuống 59%). Tuy nhiên từ năm 2010 đến nay, ROE lại có xu hướng giảm từ 2% xuống còn 1,4% vào Quý 2/2012. Nguyên nhân giảm do tình hình kinh tế khó khăn, cạnh tranh giữ các ngân hàng ngày càng gay gắt, lãi suất giảm mạnh khiến cho kết quả hoạt động kinh doanh bị bị sụt giảm mạnh.

    Tỷ lệ lãi cận biên ròng (NIM) của EIB có xu hướng tăng từ năm 2007 đến năm 2009 (từ 3,1% lên 4,1%). Đặc biệt năm 2009, tỷ lệ NIM của EIB cao nhất 4,1% do việc nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách hỗ trợ lãi suất, thị truồng chứng khoán phục hồi, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn góp phần thúc đẩy tăng trưởng dư nợ tín dụng khiến thu nhập lãi thuần tăng mạnh. Tuy nhiên sang năm 2010, tỷ lệ NIM của EIB giảm xuống 3,4% do lạm phát tăng lên 2 con số, cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng căng thẳng, lãi suất biến động mạnh, tăng trưởng tín dụng không còn cao như năm 2009. Năm 2011, tỷ lệ NIM lại tăng lên 3,8% do EIB vốn là ngân hàng hoạt động mạnh trên thị trưởng 2 mà năm 2011 hoạt động kinh doanh trên thị trường 2 đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng khiến cho tỷ lệ lãi cận biên ròng tăng lên.

    Tính đến Quý 2/2012, tỷ lệ lãi cận biên ròng của EIB đạt 3,4% giảm so với năm 2011 do những tháng đầu năm 2012 hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, tăng trửong tín dụng chậm lại, thậm chí âm, lãi suất giảm mạnh, nợ xấu tăng cao nên đã ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ NIM của EIB đứng 5/9 ngân hàng.

    Khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết và BIDV tại thời điểm 30/6/2012

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 27

     

    2.2.6. Hiệu quả hoạt động

    Tỷ lệ Chi phí/Tổng tài sản (Overhead ratio) của EIB bình quân từ năm 2007 đến nay đạt 1,1%, trong đó cao nhất năm 2009 đạt 1,4% và thấp nhất năm 2010 đạt 0,8%. So với các ngân hàng niêm yết, Overhead ratio của EIB thấp nhất trong các ngân hàng. Điều này thể hiện EIB không chịu ảnh hưởng của tính kinh tế theo quy mô và ngân hàng có khả năng tiết giảm để chi phí ở mức thấp nhất.

    Tỷ lệ Chi phí/Thu nhập (CIR) có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2010 đến nay do ngân hàng đang đẩy mạnh phát triển hệ thống mạng lưới hoạt động nhằm nâng cao thị phần và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ Chi phí/Thu nhập của EIB ở mức thấp, đứng thứ 6/9 ngân hàng cho thấy EIB đã có những bước tiến trong việc quản lý chi phí.

    Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng niêm yết và BIDV

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 28

     

    2.2.6.1. Chi tiết cơ cấu chi phí hoạt động

    Chi phí hoạt động của EIB trong năm 2011 tăng gần gấp đôi so với năm 2010, trong đó chi phí cho nhân viên tăng 93%. Mức lương trung bình của nhân viên tăng từ 10,5 triệu đồng/người năm 2010 lên 17,8 triệu đồng/người năm 2011.

    Chi cho tài sản của EIB cũng tăng mạnh từ năm 2009 đến 2011 (Chi về tài sản tăng 244%, Khấu hao TS cố định tăng 127%). Điều này cho thấy những nỗ lực của EIB trong việc bắt kịp với những ngân hàng khác trong việc trả lương cho nhân viên và đầu tư tài sản cố định để tương xứng với tăng trưởng tổng tài sản.

    Trong Quý 2/2012, chi phí hoạt động của EIB tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó chi phí lương cho nhân viên tăng 11,1% , chi phí tài sản tăng 42,9%. Nguyên nhân các khoản chi phí của EIB vẫn có xu hướng tăng trong điều kiện NHNN đang thực hiện chính sách thắt chặt chi phí là do ngân hàng đang thực hiện chiến lược phát triển mạng lưới nhằm nâng cao thị phần và vị thế trong ngành.

    2.2.6.2. Lợi nhuận trước thuế do một nhân viên tạo ra:

    Lợi nhuận trước thuế so một nhân viên tạo ra của EIB tăng vọt qua các năm, từ 266 triệu đồng năm 2007 lên 865 triệu đồng năm 2011. Chi phí lương bình quân cho 1 nhân viên tạo ra trong một tháng cũng tăng vọt qua các năm, đặc biệt năm 2011 đã tăng 68% so với năm 2010, bắt kịp với xu hướng tăng lương cho nhân viên ngân hàng và đi kèm với tăng lượng công việc, trách nhiệm cho từng nhân viên. Điều này đã góp phần thúc đẩy tăng lợi nhuận của EIB.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 29

     

    2.3. ĐÁNH GIÁ TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA EXIMBANK

    2.3.1. Những thành tựu đạt được

    • Eximbank – Ngân hàng xuất nhập khẩu số 1 Việt Nam

    Eximbank được thành lập vào tháng 5/1989, là một trong những NHTMCP đầu tiên của Việt Nam. Với vốn điều lệ đạt 13 nghìn tỷ đồng, Eximbank là một trong những NH có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối NHTMCP tại Việt Nam. Mục tiêu phát triển của Ngân hàng là phát huy thế mạnh trên các lĩnh vực tài trợ thương mại, tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối. Trong các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, hoạt động ngân hàng phục vụ doanh nghiệp xuất nhập khẩu và phát triển ngân hàng bán lẻ là hoạt động cốt lõi.

    • Đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMB)

    Năm 2007, EIB ký thoả thuận hợp tác chiến lược với SMBC. SMBC chính thức sở hữu 15% cổ phần của EIB vào năm 2008. Theo đó, SMBC sẽ hỗ trợ EIB trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, hợp tác về tài trợ thương mại và hỗ trợ lĩnh vực quản trị doanh nghiệp.

    Về mảng bán lẻ: SMBC cùng với các công ty liên kết trực thuộc tập đoàn tài chính SMFG cử các chuyên gia về Ngân hàng bán lẻ hỗ trợ EIB phát triển các hoạt động ngân hàng bán lẻ. Hiện nay, EIB đang áp dụng mô hình bán lẻ mới thông qua việc xem phòng giao dịch như một chi nhánh.

    Về mảng quản trị rủi ro: SMBC cử các chuyên gia biệt phái sang hỗ trợ EIB trong lĩnh vực quản trị rủi ro, tham gia sâu vào các hoạt động của Ủy ban về các vấn đề rủi ro trực thuộc Hội đồng quản trị.

    Về mảng nguồn vốn: SMBC hỗ trợ EIB về nguồn vốn, đặc biệt là tài trợ nguồn vốn USD nhằm nâng cao sức mạnh tài chính và khả năng tài trợ vốn cho khách hàng của EIB.

    • Trở thành đối tác chiến lược

    Trong Quý II/2012, EIB tiến hành tham gia góp vốn 11% vào Air Mekong và trở thành đối tác chiến lược của doanh nghiệp này. Ngoài việc đầu tư góp vốn, EIB còn hỗ trợ Air Mekong trong các hoạt động tài trợ thuê, mua để phát triển đội máy bay. Trước đấy, EIB đã

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 30

     

    cho Vietnam Airlines vay 100 triệu USD để mua 4 chiếc máy bay Airbus A321 trong thời gian 10 năm. Các sự kiện trên đặt ra khả năng NH đang có ý định đầu tư vào lĩnh vực hàng không.

    EIB cũng khá tích cực tham gia góp vốn cổ phần và các thương vụ M&A. Sự kiện EIB-STB là tâm điểm của thị trường chứng khoán trong nhiều tháng. Vào đầu năm 2012, Chủ tịch EIB bất ngờ tuyên bố đã nắm trong tay số cổ phiếu đại diện cho 51% vốn điều lệ của STB, đồng thời đưa ra yêu cầu thay thế ban lãnh đạo. Sau đại hội cổ đông ngày 26/5/2012, 4 người từ EIB được bầu vào HĐQT của STB, trong đó ông Phạm Hữu Phú là người đại diện vốn góp của EIB với 9,73% cổ phần STB.

    • Chính sách phát triển mạng lưới nhanh

    Phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất dựa trên phương châm phát triển nhanh và bền vững là một trong 2 chuyên đề của năm 2012. Hiện tại, mạng lưới giao dịch của EIB gồm 203 điểm giao dịch, hiện diện tại 20 tỉnh thành phố, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam. Theo kế hoạch của EIB, đến năm 2015, hệ thống mạng lưới của NH sẽ phủ kín 63 tỉnh thành trong cả nước. Điều đó đồng nghĩa với việc trung bình EIB phải mở chi nhánh tại 10 tỉnh thành mới mỗi năm trong vòng 5 năm tới. Đây là kế hoạch khá tham vọng, đặc biệt trong việc thâm nhập vào thị trường các tỉnh miền Bắc.

    Khác với các NHTM khác, EIB không mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác bằng việc thiết lập nhiều công ty con. NH chỉ có 1 công ty con là Công ty Eximbank AMC. Tuy nhiên, Eximbank đang đầu tư vào 3 công ty liên kết hoạt động trong 3 lĩnh vực tài chính quan trọng: CTCP Bất động sản Exim (Eximland), CTCP Chứng khoán Rồng Việt và CTCP Dịch vụ kinh doanh vàng XNK Kim Việt.

    • Thế mạnh trong việc kinh doanh ngoại tệ và kinh doanh vàng

    Với thế mạnh truyền thống là các hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, EIB là một trong các NH có phần mềm, hệ thống giao dịch kinh doanh ngoại tệ hiện đại và đội ngũ cán bộ kinh doanh ngoại hối chuyên nghiệp nhất trong toàn hệ thống ngân hàng. Eximbank cũng là NHTM duy nhất được phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thoả thuận.

    Với thế mạnh trong mảng kinh doanh vàng vật chất, EIB là một trong 6 đơn vị được NHNN chọn để tham gia bán vàng bình ổn thị trường. Khi các sàn giao dịch vàng bị đóng cửa và kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài bị chấm dứt, EIB đã chuyển hướng kinh doanh sang việc tập trung mở rộng và phát triển thị trường bán lẻ, tăng cường mạng lưới bán lẻ để tận dụng tối đa các nhu cầu mua bán vàng trên các địa bàn.

    2.3.2. Những điểm hạn chế còn tồn tại

    Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi Eximbank phải tạo ra sản phẩm khác biệt so với đối phương thì mới phát triển bền vững, song trên thực tế Eximbank chưa thực hiện được.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 31

     

    Eximbank cũng chưa dự báo ai là đối thủ tiềm năng sẽ gia nhập ngành đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác sản phẩm mới nào, dịch vụ mới nào trong kinh doanh tiền tệ sẽ gia nhập thị trường của ngành đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác khách hàng mục tiêu mà mình

    sẽ nhắm tới cung ứng, phục vụ là ai đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác hệ thống cấu trúc của mình đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác môi trường kinh tề quốc tế, thị trường tài chính- tiền tệ thế giới tác động đến kinh doanh sẽ tạo ra các cơ hội

    – thách thức gì đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác môi trường Việt Nam sẽ tạo ra

    các cơ hội – thách thức gì đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa có các giải pháp hiệu quả cho việc phát triển khách hàng toàn diện, sản phẩm tối ưu, thị trường tối ưu….

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 32

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOAN

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của tất cả các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế nên nhiều Ngân hàng đã ra đời để đáp ứng nhu cầu cho các tổ chức kinh tế góp phần xây dựng đất nước. Do đó không thể tránh khỏi cạnh tranh giữa các Ngân hàng để tồn tại và phát triển. Do đó cho thấy để tiếp tục đứng vững và ngày càng tăng trưởng trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng như mọi doanh nghiệp khác, việc áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều vô cùng cần thiết đối với mọi Ngân hàng, đặc biệt là EXIMBANK. Trên cơ sở phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh với tình hình thực tế tại Ngân hàng em xin đưa ra một số biện pháp và hy vọng nó sẽ góp phần vào việc kinh doanh của ngân hàng ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn.

    3.1.     ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN:

    Nguồn vốn là mối quan tâm của Ngân hàng hiện nay. Vì vậy để gia tăng doanh số cho vay, để mở rộng và phát triển kinh doanh thì điều đầu tiên ngân hàng phải có là vốn với phương thức “đi vay để cho vay“. Tuy nhiên hoạt động huy động vốn của Ngân hàng phải gắn liền với chiến lược sử dụng vốn trong từng thời kỳ nhất định. Huy động vốn quá nhiều có thể gây ra trạng thái ứ đọng vốn trong trường hợp không có cơ hội đầu tư và ngược lại sẽ gây ra tình trạng thiếu vốn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vốn huy động trong EXIMBANK còn chiếm tỉ trọng thấp trong tổng nguồn vốn. Vậy Ngân hàng nên đẩy mạnh khai thác nguồn vốn nhàn rỗi còn tiềm tàng trong dân cư bằng cách đa phương hóa và đa dạng hóa các hình thức, các biện pháp huy động vốn:

    Thực hiện lãi suất huy động hợp lý hấp dẫn vá áp dụng hình thức thưởng vật chất.

    Đối với cá nhân hay bất kỳ tổ chức nào khi muốn gửi tiền vào Ngân hàng điều đầu tiên đó là lãi suất. Như chúng ta đã biết nếu ngân hàng huy dộng vốn với lãi suất cao thì cũng cho vay với lãi suất cao. Nếu các tổ chức kinh tế vay vốn với lãi suất cao thì việc kinh doanh của họ sẽ gặp nhiều khó khăn, ngược lại nếu họ cho vay vốn với lãi suất thấp thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả hơn. Ngày nay, cạnh tranh giữa các Ngân hàng đã diễn ra hết sức đa dạng, EXIMBANK không chỉ cạnh tranh với các Ngân hàng trong hoạt động tiền gởi mà còn cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy việc nghiên cứu thị trường để đưa ra một chính sách lãi suất thích hợp có ý nghĩa đến việc gia tăng tiền gửi.

    Thưởng vật chất thông qua xổ số cũng là yếu tố đắc lực kích thích huy động tiền gửi bởi tập quán “cầu may” đã hình thành khá đậm nét trong đời sống xã hội, đặc biệt là những tầng lớp dân cư có mức sống trung bình. Mặt khác Ngân hàng nên đưa ra những giải thưởng thích hợp với những khách hàng có số dư tiền gửi tiết kiệm lớn hoặc nhỏ. Đây là một động lực khá hấp dẫn để huy động tiền gửi tiết kiệm.

    Tạo niềm tin nơi khách hàng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 33

     

    • Lòng tin: Là một trong những vấn đề sống còn của Ngân hàng. Ngân hàng có huy động được hay không là nhờ vào lòng tin của dân chúng. Tạo lòng tin nơi khách hàng là một biện pháp tổng hợp nhiều khía cạnh, sau đây là một số biện pháp điển hình:
    • Cơ sở vật chất: Là một trong những cơ sở vững vàng nhất để tạo niềm tin nơi khách hàng, nhất là vấn đề huy động tiền gửi. Trước mắt Ngân hàng nên đầu tư vào cơ sở vật chất cho trụ sở làm việc của Ngân hàng thêm tiện nghi, trang trí thẫm mĩ, sắp xếp công việc một cách khoa học. Như thế sẽ tạo ấn tượng tốt cho khách hàng, họ sẽ nghĩ Ngân hàng giàu có, làm ăn hiệu quả và có thể yên tâm ký thác.
    • An toàn: Đây là yếu tố mà khách hàng rất quan tâm khi họ gửi tiền vào Ngân hàng. Vì ngoài lãi suất cao Ngân hàng còn phải chú trọng đến độ an toàn của khách hàng. Rất có thể khách hàng ưa chuộng mức lãi suất vừa phải mà độ an toàn vốn của họ cao hơn là lãi suất cao mà không được an toàn. Vì họ nghĩ ứng với một khoản lợi tức đều kéo theo một rủi ro, lợi tức càng cao rủi ro càng nhiều. Để cho khách hàng thấy được độ an toàn của họ Ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình đây là một biện pháp cơ bản để lôi cuốn khách hàng đặc biệt là đối với khách hàng tiền gửi thanh toán.
    • Phong cách phục vụ và trình độ nhân viên: Phong cách phục vụ là yếu tố rất quan trọng tác động trực tiếp vào tâm lý khách hàng, họ là cầu nối giữa Ngân hàng và khách hàng. Do đó những nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cần có một tác phong và phong cách tốt như ân cần, niềm nở, lịch sự, nhã nhặn, cởi mở, tận tâm và nhất là phải có trình độ. Vì vậy, Ngân hàng phải thường xuyên có lớp huấn luyện nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cũng như tạo điều kiện cho họ có sự nâng cao kiến thức. Mục tiêu chính là làm sao cho họ hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao, có hiểu biết để giải thích khách hàng một cách tường tận, cặn kẽ những vấn đề mà họ quan tâm.

    Tóm lại, đây là một vấn đề thuộc về tâm lý của khách hàng, khi họ cảm thấy thoả mãn, vui vẻ, hài lòng, thì lần sau có lẽ họ sẽ tiếp tục gửi tiền vào Ngân hàng và giới thiệu cho người khác biết đến.

    • Áp dụng các hình thức huy động tiết kiệm có mục đích

    Đây là hình thức huy động rất hữu hiệu, đem lại cho khách hàng nhiều nguồn vốn để Ngân hàng có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu vốn của nền kinh tế: Loại hình này có tiềm năng rất lớn trong dân cư, những người không có điều kiện vay vốn như: không có người bảo lãnh, không có tài sản thế chấp….. Tuy nhiên họ có một phần thu nhập dư ra để dành cho mục

    đích nào đó trong tương lai, lãi suất huy động đối với loại tiền gửi này được thoả thuận theo số tiền gửi, thời hạn gửi, giá trị món hàng sẽ mua…. sau một thời gian nhất định, khách hàng

    rút tiền ra sẽ được Ngân hàng cho vay bổ sung thêm vốn và món hàng được mua đó sẽ trở thành tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Làm như thế tức là Ngân hàng biến ước muốn của họ thành hiện thực, khách hàng sẽ đến Ngân hàng nhiều hơn và đồng thời vốn kinh doanh cũng được gia tăng.

    * Đa dạng hoá các dịch vụ cung ứng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 34

     

    Hiện nay, tại EXIMBANK, các hình thức huy động, dịch vụ Ngân hàng còn hạn hẹp, ít ỏi, điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Trong điều kiện tự do cạnh tranh như hiện nay, Ngân hàng nào đưa ra các dịch vụ tốt, chất lượng nhanh chóng, đảm bảo an toàn, chất lượng sẽ làm giảm được các chi phí về lưu thông tiền mặt tạo điều kiện thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển vốn và giúp Ngân hàng mở rộng công tác huy động vốn. Ngân hàng nên phát huy mở rộng sử dụng các phương tiện thanh toán để thu hút tiền gửi thanh toán.

    Bên cạnh công tác cải tiến và phát huy việc thực hiện các công cụ thanh toán như: Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, séc tiền mặt…Ngân hàng có thể mở rộng việc sử dụng sec cá nhân, dùng thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác thông qua công tác thông tin tuyên truyền về lợi ích của việc dùng sec: có lãi nhanh chóng, dễ dàng, đạt độ chính xác cao, không phải tiếp cận tiền mặt, với những đối tương có thu nhập khá, có nhu cầu chi trả thường xuyên.

    Tóm lại, để huy động được nguồn vốn vào Ngân hàng thì EXIMBANK cần phải vận dụng ngoại lực và nội lực để tạo được sự tin tưởng tuyệt đối nơi khách hàng.

    3.2.  ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG:

    Bên cạnh việc huy động vốn vào Ngân hàng ngày càng nhiều với những biện pháp linh hoạt hấp dẫn thì Ngân hàng cũng phải nỗ lực tìm biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để tránh cho đồng tiền không bị đóng băng làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận thì Ngân hàng phải có những biện pháp thật sự hài hòa giữa việc huy động vốn và sử dụng vốn nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. Và cũng như chiến lược huy động vốn chi nhánh cũng hạ lãi suất cho vay thấp hơn các Ngân hàng để chiếm ưu thế hơn về lãi suất so với Ngân hàng khác. Vì vậy EXIMBANK cần phải thực hiện một số vấn đề sau đây để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của mình:

    • Thực hiện chiến lược khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng, từng bước nâng cao chất lượng tín dụng đồng thời duy trì khách hàng truyền thống của Ngân hàng.

    Đối với khách hàng truyền thống, vay trả có uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng nên dùng một mức cho vay ưu đãi giúp cho doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tạo thế cạnh tranh có lợi hơn và qua đó tạo được mức lợi nhuận cao hơn.

    Đối với tư nhân cá thể, việc cho vay đều thực hiện các tài sản thế chấp, tuy nhiên, Ngân hàng không nên xem việc thế chấp là yếu tố quyết định cho sự cho vay mà chủ yếu xem xét mục đích vay có mang lại hiệu quả đích thực có khả năng trả được nợ mới quyết định cho vay.

    Ngân hàng cần thường xuyên tổ chức kiểm tra việc sử dụng vốn vay, đặc biệt là những khoản vay lớn và những khách hàng mới giao dịch lần đầu. Tăng cường thông tin giữa các Ngân hàng về tình hình tài chính của các doanh nghiệp và các sai phạm của khách hàng. Ngân hàng có thể sàng lọc đối tượng vay mạo hiểm, có triển vọng xấu khỏi quá trình cho vay để hạn chế rủi ro thông qua hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 35

     

    • Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, loại hình đầu tư kinh doanh chủ yếu là: kinh doanh Xuất Nhập khẩu phần lớn là những đơn vị làm ăn có hiệu quả đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước. Đặc biệt là Ngân hàng chú trọng việc mở rộng các dịch vụ Ngân hàng như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ vay cầm đồ…
    • Chuyên môn hóa của cán bộ tín dụng: Ban lãnh đạo Ngân hàng cử từng cán bộ tín dụng chuyên cho vay và thu hồi nợ ở từng khu vực địa bàn nhất định. Việc phân chia như vậy sẽ giúp cán bộ tín dụng nắm chắc được tình hình tài chính cũng như quan hệ làm ăn của từng khách hàng, hiểu được nhu cầu vay vốn của họ. Từ đó lập ra phương án cho vay có hiệu quả, vốn cho vay được cấp phát thật sự đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu qủa. Qua đó thu hồi nợ và lãi một cách nhanh chóng và thuận lợi khi đến kì hạn thanh toán
    • Phát triển nguồn nhân lực: Yếu tố con người luôn là yếu tố hàng đầu để hoạch định chính sách kinh doanh của Ngân hàng nói chung và chính sách tín dụng nói riêng. Vì thế Ngân hàng nên tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng cán bộ công nhân viên ngày càng giỏi về nghiệp vụ giàu kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức tốt. Muốn như vậy Ngân hàng có thể đầu tư cho nhân viên thông qua việc đào tạo điều kiện cho họ có dịp tìm hiểu, học hỏi nâng cao trình độ kỹ thuật nghiệp vụ với mọi hình thức: huân luyện tại chỗ, tham dự các cuộc hội thảo, các khóa đào tạo ngắn ngày, dài ngày trong nước cũng như nước ngoài khi có điều kiện.
    • Thực hiện công tác tuyên truyền: Ngân hàng nên tiến hành thông tin, quảng cáo trên báo chí, truyền hình về hoạt động của Ngân hàng, thông qua phương thức đổi mới kinh doanh. Đặc biệt Ngân hàng nên tiếp cận với khách hàng tiềm năng, có tên tuổi, chào mời họ tham gia vào danh sách các khách hàng của Ngân hàng qua hình thức tham dự hội chợ thương mại từ khâu sản xuất, tiếp thị cho đến khâu thương mại hóa sản phẩm.

     

    * Một số biện pháp để cải thiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng:

    Thực hiện rà soát, đánh giá tình hình nợ thường xuyên, định kỳ và phân loại để nắm rõ thực trạng dư nợ tín dụng. Định kỳ rà soát, quản lý danh mục tín dụng của Ngân hàng

    để đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu về giới hạn.

    Tổ chức xem xét, thẩm định kỹ, chặt chẽ trước khi cấp các khoản tín dụng mới trong đó

    có nội dung quan trọng là đánh giá và dự phòng khả năng xảy ra rủi ro.

    Thực hiện hoàn chỉnh, bổ sung và quản lý chặt chẽ hồ sơ tín dụng. Cần ban hành quy

    định cụ thể, chặt chẽ về việc lưu trữ, bảo quản và quản lý hồ sơ tín dụng.

    Có chính sách khen thưởng, giao chỉ tiêu thu nợ ngoại bảng đối với các chi nhánh như là một trong những chỉ tiêu chính trong hoạt động, đặt biệt là những chi nhánh có nợ

    ngoại bảng lớn.

    Lập phương án tận thu nợ gốc, nợ lãi đã xử lý toàn hệ thống.

    Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quá trình xử lý và tận thu hồi nợ.

    3.3.  ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHÁC:

    • Kinh doanh ngoại tệ:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 36

     

    Áp dụng chính sách tỷ giá: phương châm của Ngân hàng “ Thà là lời ít mà thu hút khách hàng nhiều”. Đưa ra tỷ giá hấp dẫn thu hút khách hàng.

    Ngân hàng cần phải có sự cân đối trên thị trường để đảm bảo lợi nhuận cho Ngân hàng và khách hàng.

    • Về thanh toán quốc tế:

    Nâng cao trình độ nghiệp vụ để giải đáp thắc mắc cho khách hàng và hướng dẫn cho khách hàng lập bộ chứng từ tránh sai sót xảy ra từ đó tạo niềm tin cho khách hàng đối với Ngân hàng.

    • Chiến lược tìm kiếm khách hàng mới:

    Hình thành một bộ phận nghiên cứu thị trường, tìm tòi và sáng kiến ra các sản phẩm dịch vụ mới, trong đó có dịch vụ phi tín dụng như môi giới tiền tệ, bao thanh toán… xây dựng chính sách khách hàng, kế hoạch cụ thể với từng đối tượng khách hàng, có chính sách giá và phí dịch vụ hợp lý.

    Không ngừng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính tiền tệ , nghiên cứu và tiếp tục triển khai một số dịch vụ mà các tổ chức tín dụng khác đã thực hiện tốt như đại lý

    bảo hiểm, cho thuê, kinh doanh vàng, kiều hối, cầm đồ, …

    Tạo tiện ích cho khách hàng khi quan hệ với Ngân hàng, giúp thu hút khách hàng cũng như tạo mối liên hệ giữa Ngân hàng và doanh nghiệp qua những tài khoản ký thác và

    cho phép hình thành những bảo đảm tài chính an toàn cho Ngân hàng.

    Để tiếp cận khách hàng rộng hơn cần triển khai giới thiệu các loại hình tín dụng, các dịch vụ Ngân hàng trên mạng kết hợp với cả việc giải đáp thắc mắc cho khách hàng về những vấn đề liên quan đến thể lệ tín dụng.

    Tóm lại, những biện pháp trên sẽ mang lại hiệu quả cho việc sử dụng vốn, giải quyết tình trạng ứ đọng vừa mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh và đa dạng hóa các hình thức đầu tư vốn cũng như kết quả thu nhập từ hoạt động này góp phần đáng kể vào việc tăng lợi nhuận của chi nhánh.

    3.4.  BIỆN PHÁP GIẢM CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG:

    Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là muốn nâng cao lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng phải nâng cao các khoản thu của mình đồng thời giảm bớt chi phí hoạt động. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mang tính chất đặc thù, do đó giảm chi phí hoạt động kinh doanh là vấn đề mà các nhà lãnh đạo quan tâm tìm ra phương pháp tốt nhất mà không ảnh hưởng đến các hoạt động khác.

    Qua quá trình phân tích ta thấy chi phí chủ yếu của Ngân hàng là chi phí trả lãi tiền gửi và trả lãi tiền vay. Hai khoản này phụ thuộc vào lãi suất, lãi suất lại phụ thuộc vào khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định. Vì vậy hai khoản chi phí này của Ngân hàng thường không chủ động lắm. Do đó chi phí mà Ngân hàng có thể điều chỉnh là chi phí vật chất và các khoản tiền lương công nhân, văn phòng phẩm.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 37

     

    • Về khoản vật chất như nhà cửa, trang thiết bị máy móc cần phải được bảo quản, chăm sóc cẩn thận tránh những hư hỏng đáng tiếc làm tăng chi phí sửa chữa, khấu hao tài sản cố định. Dù là một phần không lớn nhưng cũng góp phần làm giảm chi phí hoạt động kinh doanh chung của Ngân hàng.
    • Về khoản tiền lương công nhân viên ở đây không có nghĩa là giảm lương mà nói về khía cạnh nghề nghiệp chuyên môn và sự bố trí nhân sự hợp lý của ban lãnh đạo Ngân hàng. Như vậy về khoản chi phí này, nếu muốn giảm được một phần thì trách nhiệm thuộc về các nhà lãnh đạo, họ phải hết sức khéo léo và nhạy bén trong việc bố trí đúng người, đúng việc và cả trong việc tiếp cận khoa học công nghệ.
    • Vấn đề văn phòng phẩm, điện thoại: Mỗi công nhân viên phải biết tiết kiệm nhằm đạt mục tiêu cao nhất trong kinh doanh, không hoang phí trong sử dụng mua sắm. Khoản này thì tùy thuộc vào ý thức của mỗi nhân viên trong Ngân hàng.
    • Trong điều kiện hiện nay, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng một tăng, việc tìm lợi nhuận gặp phải khó khăn vì lãi suất cho vay có chiều hướng giảm. Do đó, bên cạnh việc không ngừng tìm tòi những hình thức dịch vụ mới để mở rộng kinh doanh, đáp ứng nhu cầu khách hàng, Ngân hàng cần thực hiện chế độ thủ tục phí hấp dẫn để khuyến khích khách hàng đến giao dịch, đến mở tài khoản tiền gửi nhiều hơn.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 38

     

    KẾT LUẬN

    Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của ngân hàng đều rất tốt: Tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản

    • mức thấp trong các ngân hàng so sánh; Lợi nhuận do một nhân viên tạo ra có xu hướng tăng qua các năm cho thấy hiệu quả quản lý chi phí của EIB rất tốt góp phần thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng.

    Tỷ lệ thu nhập từ tín dụng cao và tăng qua các năm, chiếm trên 80% tổng thu nhập hoạt động, trong khi LAR ở mức thấp so với các ngân hàng khác cho thấy khả năng sinh lời từ các hoạt động ngoài lãi của EIB thấp và không hiệu quả.

    EIB cũng đã thể hiện những nỗ lực nâng cao hệ số đòn bẩy của mình bằng cách hoạt động mạnh hơn trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, những rủi ro trên thị trường 2 ngày càng gia tăng khi các ngân hàng nhỏ gặp rủi ro về thanh khoản và hệ thống ngân hàng đang thực hiện tái cơ cấu. Do đó ngân hàng cần phải có những chính sách quản lý hiệu quả trong điều kiện thị trường hiện nay.

    Với sự tham gia tư vần, hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC trong công tác quản lý rủi ro, cùng với việc triển khai tối đa các giải pháp để xử lý nợ khó đòi, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đã giảm, trong tầm kiếm soát và ở mức thấp so với các ngân hàng đang niêm yết.

    Bên cạnh thế mạnh về thanh toán xuất nhập khẩu, kiều hối và kinh doanh vàng, EIB còn có truyền thống cho vay cá nhân. Ở thị trường Việt Nam, cho vay cá nhân, tín dụng cá nhân chưa thật sự phổ biến như nhiều nước khác. EIB có cơ hội mở rộng, chiếm thị phần lớn ở thị trường này trong tương lai.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 39

  • Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              1

    LỜI MỞ ĐẦU

    Với chủ trương phát triển nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập nền kinh tế nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước không ngừng tăng lên, trong đó phải kể đến những đóng góp không nhỏ của hệ thống NHTM nước ta trong việc làm trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp trong nước với nước ngoài, từng bước khẳng định niềm tin trên trường quốc tế.

    Cho đến nay, các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước khi quan hệ mua bán với nhau thường sử dụng các hình thức thanh toán như: Chuyển tiền (Remittance), Uỷ thác thu (Collection), Tín dụng chứng từ (Documentary Credit). Nếu như hai phương thức đầu đều bất lợi cho một bên là người mua hoặc người bán, ngân hàng chỉ là trung gian và không bị ràng buộc trách nhiệm phải thanh toán, thì phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn, nó đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên tham gia. Chính những ưu điểm nổi bật này mà phương thức tín dụng chứng từ được ưa chuộng hơn. Ước tính có khoảng 80% các hợp đồng ngoại thương thoả thuận phương thức thanh toán bằng tín dụng thư không huỷ ngang.

    Bản thân phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt, song nó không phải là phương thức thanh toán tránh được rủi ro cho các bên tham gia một cách tuyệt đối. Thực tế cho thấy, các bên tham gia của Việt Nam bước vào thị trường thế giới đa phần là mới lạ, kinh nghiệm còn non trẻ.Trong điều kiện đó các ngân hàng và các doanh nghiệp XNK đã gặp nhiều khó khăn khi phát sinh những rủi ro trong việc thanh toán bằng TDCT, có trường hợp bị thiệt hại lên đến hàng triệu đôla. Do vậy, việc hoàn thiện và phát triển công tác thanh toán quốc tế, cụ thể là nghiên cứu và phòng chống rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những mối quan tâm thường xuyên của mỗi ngân hàng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              2

    Trong những năm qua, Ngân hàng Công thương Đống Đa đã triển khai và thực hiện tốt các nghiệp vụ thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ tín dụng chứng từ nói riêng, song việc hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ này còn gặp không ít khó khăn, bất cập. Vì thế trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Công thương Đống Đa, trên cơ sở những kiến thức đã học và qua nghiên cứu tài liệu, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong

    phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa”.

    Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động thanh toán TDCT, từ đó làm sáng tỏ vị trí, vai trò của phương thức thanh toán TDCT trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích lý luận theo một phương pháp luận khoa học lôgic và thực tiễn về hoạt động thanh toán TDCT, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại NH Công thương Đống Đa. Nội dung đề tài gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận chung về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và rủi ro khi áp dụng

    Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NH Công thương Đống Đa

    Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại NH Công thương Đống Đa

    Tuy nhiên, do những hạn chế về lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên chuyên đề của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ phía thầy cô và các bạn.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thu Hiền cùng với các cán bộ phòng Tài trợ thương mại thuộc Ngân hàng Công thương Đống Đa đã tận tình giúp em hoàn thành chuyên đề này.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              3

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO KHI ÁP DỤNG

    1.1. THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ

    1.1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế

    Quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia bao gồm tổng thể các lĩnh vực : kinh tế, chính chị, văn hoá, khoa học, kỹ thụât, du lịch…Quan hệ đối ngoại này cũng có thể được phân chia làm hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch.

    Quan hệ mậu dịch là những mối quan hệ có liên quan trực tiếp, phát sinh trên cơ sở hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế.

    Quan hệ phi mậu dịch thì ngược lại, nó không mang tính chất thương mại như: quan hệ về ngoại giao, văn hoá, du lịch…

    Trong các mối quan hệ nêu trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng, là cơ sở cho các mối quan hệ khác. Trong quá trình hoạt động, tất cả các quan hệ quốc tế đều cần thiết và liên quan đến vấn đề tài chính. Kết thúc từng kỳ, từng từng niên hạn các quan hệ quốc tế đều được đánh giá kết quả hoạt động, do đó cần thiết đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước có liên quan.

    1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế

    1.1.2.1. Đối với nền kinh tế

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              4

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì hoạt động thanh toán quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích luỹ trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp với sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định.

    Thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Thanh toán quốc tế góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền tệ giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn.

    Thanh toán quốc tế làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Các ngân hàng với vai trò là trung gian thanh toán sẽ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán trong giao dịch nhằm giảm thiểu rủi ro trong thanh toán và tạo sự an toàn tin tưởng cho khách hàng.

    Như vậy, thanh toán quốc tế là hoạt động tất yếu của một nền kinh tế phát triển.

    1.1.2.2. Đối với ngân hàng

    Thanh toán quốc tế là một loại hình dịch vụ liên quan đến tài sản ngoại bảng của NH. Hoạt động TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              5

    dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT. Trên cơ sở đó giúp NH tăng doanh thu, nâng cao uy tín của ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh cho ngân hàng trong cơ chế thị trường. Hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ là một nghiệp vụ đơn thuần mà còn là một hoạt động nhằm hỗ trợ và bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tốt sẽ mở rộng hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác…

    Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện các nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế với ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.

    TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng qui mô và mạng lưới ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.

    Như vậy, thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng. Trong TTQT, việc các bên tham gia lựa chọn phương thức thanh toán là một điều kiện rất quan trọng. PTTT tức là chỉ người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền. Tuỳ theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, các bên tham gia trong thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau, cùng sử dụng một PTTT thích hợp trên nguyên tắc cùng

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              6

    có lợi, người bán thu được tiền nhanh và đầy đủ, người mua nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và TTQT, người ta đã thiết lập nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Các phương thức thanh toán quốc tế dùng trong ngoại thương hiện nay gồm có: phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance), phương thức uỷ thác thu (Collection), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)…

    Trong thực tế, khi các bên mua bán chưa có sự tín nhiệm nhau thì thanh toán TDCT là phương thức phổ biến, được các bên tham gia hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia(người mua, người bán, ngân hàng). Hiện nay ở Việt Nam và các nước trên thế giới, thanh toán bằng thư tín dụng được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong nội dung tiếp theo em xin đề cập sâu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

    1.2. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

    1.2.1. Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ

    Phương thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phương thức thanh toán, trong đó theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng- letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng.

    Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà NK, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà XK hưởng. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà XK khi nhà XK tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để thanh toán.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              7

    Thuật ngữ “tín dụng- credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tín nhiệm”, chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào,mà chỉ cho người NK “vay” sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà NK không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK. Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức TDCT chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà NK.

    Như vậy, trong phương thức TDCT, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà XK, bảo đảm cho nhà XK nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng. Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho nhà NK nhận được số lượng và chất lượng hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra.

    Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chừng từ gửi hàng.Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng XK nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như qui định trong L/C.

    1.2.2. Các bên tham gia

    1. Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này. Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer), nhà NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee).

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              8

    1. Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Người thụ hưởng L/C có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer).
    1. Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho người bán hưởng. Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán.
    1. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK.
    1. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C.
    1. Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những qui định trong L/C thì:

    Thanh toán (pay)cho người thụ hưởng Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ

    Chịu trách nhiệm trả chậm (deferrer payment) giá trị của L/C.

    Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              9

    1.2.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ

    Người

    xuất khẩu

    Người

    nhập

    NH

    xuất khẩu

    NH

    nhập

    khẩ

    Bước 1: Sau khi kí hợp đồng ngoại thương, nhà NK chủ động viết đơn và gửi các giấy tờ cần thiết liên quan xin mở L/C gửi ngân hàng phục vụ mình (NH NK), yêu cầu ngân hàng mở một L/C với một số tiền nhất định và theo đúng những điều kiện nêu trong đơn,để trả tiền cho nhà XK.

    Bước 2: Căn cứ vào các giấy tờ xin mở L/C của nhà NK, NH NK sau khi đã đồng ý, và nhà NK đã thực hiện ký quỹ,thì sẽ mở một L/C với một số tiền nhất định để trả tiền cho nhà XK rồi gửi bản chính (bản gốc) cho NH phục vụ nhà XK (NHXK)

    Bước 3: Nhận được bản chính L/C từ NHNK, NHXK phải xác nhận bằng văn bản L/C đã nhận được rồi gửi bản chính L/C cho nhà XK.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            10

    Bước 4 : Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký trong hợp đồng, nhà XK sẽ tiến hành giao hàng cho nhà NK.

    Bước 5: Sau khi đã tiến hành giao hàng, nhà XK phải hoàn chỉnh ngay bộ chứng từ hàng hoá theo đúng những chỉ thị trong L/C và phát hành hối phiếu rồi gửi toàn bộ các chứng từ này cho NHXK để xin thanh toán.

    Bước 6: NHXK nhận được bộ chứng từ từ nhà XK phải kiểm tra thật kỹ, nếu thấy các chứng từ này mà bề ngoài của chúng không có gì mâu thuẫn với nhau thì NH sẽ tiến hành trả tiền cho các chứng từ đó.

    Bước 7: NHXK chuyển bộ chứng từ cho NHNK và yêu cầu NH này trả tiền cho bộ chứng từ đó.

    Bước 8: Nhận được bộ chứng từ, NHNK phải kiểm tra kỹ, nếu các chứng từ khớp đúng, không có sự nghi ngờ thì NHNK trích tiền từ tài khoản ký quỹ mở L/C đứng tên nhà NK để chuyển trả cho NHXK.

    Bước 9: NHNK thông báo việc trả tiền đối với L/C cho nhà NK, đồng thời NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà NK để người đó có căn cứ đi nhận hàng.

    1.2.4. UCP – Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức TDCT

    Khi thanh toán bằng phương thức TDCT, các bên XNK phải thoả thuận với nhau về việc sử dụng UCP. UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentary credit) là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào năm 1933. Từ đó đến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, lần cuối cùng là tháng 10 năm 1993 có hiệu lực áp dụng từ 01/01/1994.

    UCP đã được hơn 175 nước áp dụng trong đó có Việt Nam. Khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế, UCP không tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán TDCT mà mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Các bên tham gia có quyền lựa chọn có hay không dùng UCP để điều chỉnh hoạt động

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            11

    thanh toán TDCT. Nhưng một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP thì các điều khoản áp dụng của UCP sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia.

    Một điểm cần lưu ý là UCP ban hành sau không phủ nhận các nội dung của UCP trước đó. Do đó các bên có thể thoả thuận lựa chọn một UCP nào đó, nhưng điều quy định bắt buộc là phải dẫn chiếu nó trong L/C. Chỉ UCP bản gốc bằng tiếng Anh mới có giá trị pháp lý giải quyết các tranh chấp, các bản dịch khác chỉ có giá trị tham khảo.

    Hiện nay, UCP bản sửa đổi năm 1993 số 500 được coi là hoàn chỉnh nhất và ngày càng được nhiều ngân hàng của các nước thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế. UCP 500 thực sự được coi là cẩm nang cho nghiệp vụ tín dụng chứng từ.

    1.2.5. Thư tín dụng (L/C) – Công cụ quan trọng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

    Thư tín dụng là một bản cam kết trả tiền do NH phát hành (NH mở L/C) mở theo chỉ thị của người NK (người yêu cầu mở L/C), để trả một số tiền nhất định cho người XK (người thụ hưởng) với điều kiện người đó phải thực hiện đầy đủ những quy định trong L/C.

    Thư tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ và của các bên có liên quan. Có nghĩa là khi thanh toán NH chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thì NH phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà XK.

    Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá, NH cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng hoá thực tế có

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            12

    khớp đúng với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do người bán xuất trình, nếu thấy các chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/C thì trả tiền cho người bán.

    Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phương thức thanh toán TDCT mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong ngoại thương.

    1.3. MỘT SỐ RỦI RO CHỦ YẾU TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT

    Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có mối quan hệ ngược chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng lớn và ngược lại. Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể tránh khỏi rủi ro. Các rủi ro trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên tham gia thường gặp là:

    1.3.1. Rủi ro kỹ thuật

    Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh toán TDCT.

    1. Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu

    Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro sau:

    1. Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK sẽ gặp bất lợi.
    1. Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            13

    với nội dung quy định trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.

    Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :

    – Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại mà hai nước người mua và người bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong L/C.

    – Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng yêu cầu đề ra trong L/C.

    – Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không được mâu thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó người ta không thể xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, tổng trị giá, tên của người hưởng lợi…thì các chứng từ đó sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau

    – Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong thời hạn hiệu lực của L/C.

    Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, thường gặp vẫn là:

    • Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng vận tải
    • Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng.
    • Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của L/C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy định

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            14

    của L/C về cảng bốc dỡ hàng, về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng hóa…

    Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà XK khi lập bộ chứng từ thanh toán.

    Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho nên dễ dẫn đến những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin thanh toán.

    1. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước. Đồng thời, nhà XK phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó không biết rõ lập trường của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.
    1. Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.
    1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được NH phát hành sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trước khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ mà không cần sự đồng ý của nhà XK.
    1. Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu
    1. Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá. NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hoá. Như vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát hành.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            15

    1. Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lượng các loại chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận…) mà chấp nhận bộ chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
    1. Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không được giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
    1. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
    1. Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này.
    1. Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK.
    1. Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Nếu không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            16

    1. Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do kinh doanh thua lỗ.
    1. Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không qui định bộ vận đơn đầy đủ(full set off bills of lading) thì một người NK có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hoá lại là ngân hàng phát hành theo cam kết của L/C.
    1. NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo UCP 500, đó là đưa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vượt quá 7 ngày làm việc của ngân hàng, theo qui định của UCP 500 là không quá 7 ngày.
    2. Rủi ro đối với ngân hàng thông báo

    NH thông báo có trách nhiệm phải đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, đồng thời phải xác minh chữ ký, mã khoá(test key), mẫu điện của NH phát hành trước khi gửi thông báo cho nhà XK. Rủi ro xảy ra với NH thông báo là khi NH này thông báo một L/C giả hoặc sửa đổi một L/C không có hiệu lực trong khi chính NH chưa xác nhận được tình trạng mã khoá hay chữ ký uỷ quyền của NH mở L/C.

    1. Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận

     

    1. Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền cho nhà XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NH phát hành hay không. Như vậy, NH xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành.
    1. Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH phát hành.
    1. Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định

    Các NH được chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi nhận được tiền hàng từ NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            17

    cơ sở bộ chứng từ được xuất trình, các NH được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành hoặc nhà XK.

    1.3.2. Rủi ro đạo đức

    Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán TDCT cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của L/C, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bên kia.

    1. Rủi ro đạo đức đối với nhà XK

    Mặc dù trong thanh toán TDCT đã có sự cam kết của NH mở L/C nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người mua và người bán vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn của TTQT. Khi người NK không thiện chí, cố ý không muốn thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót cho dù là rất nhỏ của bộ chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            18

    1. Rủi ro đạo đức đối với nhà NK

    Với người mua sự trung thực của người bán là rất quan trọng bởi vì NH chỉ làm việc với các chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không. Do đó nhà NK có thể gặp rủi ro nếu nhà XK có hành vi gian dối, lừa đảo…trong việc giao hàng: cố tình giao hàng kém phẩm chất, không đúng số lượng…

    Một nhà XK chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo, có bề ngoài phù hợp với L/C cho NH mà thực tế không có h àng giao, người NK vẫn phải thanh toán cho NH ngay cả trong trường hợp không nhận được hàng hoặc nhận được hàng không đúng theo hợp đồng.

    c.Rủi ro đạo đức đối với ngân hàng

    NH là người gánh chịu rủi ro đạo đức : NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho người hưởng lợi theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp người NK chủ tâm không hoàn trả.

    NH là người gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của mình như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng gây khó khăn trong quá trình thanh toán.

    1.3.3. Rủi ro chính trị

    Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phương thức TDCT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Do đó, phương thức TDCT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của một quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp…từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán.

    Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT là những rủi ro bắt nguồn từ sự không ổn định về chính trị của các nước có liên

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            19

    quan trong quá trình thanh toán.Thông thường đó là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý như: thay đổi đột ngột về thuế XNK, hạn ngạch, cơ chế ngoại hối (hạn chế ngoại hối), luật XNK. Những thay đổi này làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước làm các bên tham gia XNK và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C có thể bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên tham gia.

    Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính, đình công…hoặc những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn ở các nước tham gia, chứng từ bị thất lạc cũng có thể gây rủi ro trong quá trình thanh toán.

    1.3.4. Rủi ro khách quan từ nền kinh tế

    Một rủi ro mà các bên tham gia phương thức thanh toán TDCT hay gặp là sự khủng hoảng, suy thoái kinh tế và tình trạng công nợ nặng nề của các quốc gia. Khi nền kinh tế của một quốc gia bị suy thoái, khủng hoảng sẽ kéo theo các ngân hàng bị phong toả hoặc tạm ngưng hoạt động, từ đó làm ảnh hưởng rtới quá trình thanh toán quốc tế. Nếu nợ nước ngoài của một quỗc gia làquá lớn thì các biện pháp như tăng thuế, phá giá nội tệ sẽ được áp dụng, từ đó làm giảm khả năng chi trả của người mua và ngân hàng có nguy cơ không đòi được tiền. Ngoài ra, sự phong toả kinh tế của các quốc gia như trường hợp của Cuba, Iraq… cũng mang klại những rủi ro cho bất kì quốc gia, đơn vị kinh tế nào có hoạt động xuất nhập khẩu với các nước đó.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            20

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NH Công thương Đống Đa

    Ngân hàng Công Thương Đống Đa được thành lập năm 1956, tiền thân là NHNN quận Đống Đa, một chi nhánh trực thuộc NHNN với chức năng quản lý của NHNN trên địa bàn quận Đống Đa. Theo NĐ 53/HĐBT (ngày 26/3/1988), hệ thống ngân hàng Việt Nam tách thành hai cấp, gồm NH Nhà nước và các NH chuyên doanh.Tháng 7/1988, NHCT Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động, theo đó, NHNN quận Đống Đa được chuyển thành NHCT quận Đống Đa trực thuộc NHCT thành phố Hà Nội. Với QĐ 93 (ngày 18/4/1993), NHCT quận Đống Đa chuyển thành NHCT khu vực Đống Đa, là đơn vị hạch toán phụ thuộc hệ thống NHCT Việt Nam.

    Địa bàn kinh doanh của NHCT Đống Đa chủ yếu là ở 2 quận Thanh Xuân và Đống Đa, với đặc điểm dân số tập trung đông, đa dạng các thành phần kinh tế, là khu trung tâm sản xuất công nghiệp, tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp có quy mô lớn của thành phố như: Nhà máy công cụ số 1, xí nghiệp Dược phẩm TW I, công ty cơ điện Trần Phú, công ty giầy Thượng Đình…Đây là những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng.

    Với phương châm “Phát triển- An toàn- Hiệu quả”, NHCT Đống Đa luôn khẳng định vị trí của mình và đã được nhiều người biết tới là chi nhánh hạng 1 của NH Công thương Việt Nam, một chi nhánh có doanh số hoạt động lớn trên địa bàn Hà Nội cả về phạm vi, qui mô và chất lượng hoạt động. Trong những năm gần đây NHCT Đống Đa đã đạt được những thành tích đáng kể đó là: năm 1995 chi nhánh được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba, năm 1998 được tặng thưởng Huân chương lao động

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            21

    hạng nhì và năm 2002 được tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhất về thành tích kinh doanh Tiền tệ – Tín dụng ngân hàng.

    Đặt trụ sở chính tại 187 Tây Sơn, NHCT Đống Đa ngày càng lớn mạnh về qui mô và chi nhánh. Trong toàn cơ quan đã có 11 phòng ban, bao gồm: Ban Giám đốc, Phòng tổ chức hành chính, Phòng Kế toán- Tài Chính, Phòng Tiền tệ- Kho quĩ, Phòng Tài trợ thương mại, Phòng Thông tin- Điện toán, Phòng Tổng hợp- Tiếp thị, Phòng Khánh hàng số 1, Phòng Khánh hàng số 2, Phòng Khách hàng cá nhân, Tổ nghiệp vụ bảo hiểm. NHCT Đống Đa có 1 Giám đốc và 4 Phó giám đốc. Tập thể cán bộ nhân viên của NH có tổng số

    • người. Có tất cả 2 phòng giao dịch: khu vực Cát Linh và khu vực Kim Liên và 16 quĩ tiết kiệm nằm rải rác trong quận Đống Đa.

    2.1.2. Hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa trong những năm gần đây

    Chi nhánh NHCT Đống Đa với chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng đã liên tục tự đổi mới và đi lên. Mặc dù tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động, trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều NH thương mại và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước cùng hoạt động trên địa bàn Hà Nội, trong những năm qua, Chi nhánh đã không ngừng mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục vụ, ứng dụng các công nghệ dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, đổi mới phong cách giao dịch, tạo uy tín với khách hàng, thể hiện qua một số kết quả sau đây:

    2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn

    Tổng nguồn vốn huy động của NH trong năm 2004 đạt trên 3100 tỷ đồng, tăng 386 tỷ đồng so với cuối năm 2003. Trong đó:

    – Tiền gửi của các tầng lớp dân cư tăng lên là: 2015 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003, số tuyệt đối tăng 281 tỷ đồng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 22

    – Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng lên là: 1085 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2003, số tuyệt đối tăng 105 tỷ đồng.

    Chi nhánh đã không ngừng đẩy nhanh tốc độ huy động vốn, nhất là các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Tỷ trọng huy động vốn từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn (65% tổng nguồn vốn huy động) là do NH đã nhận thức được tầm quan trọng của đối tượng khách hàng là cá nhân thuộc các tầng lớp dân cư. Do đó, NH đã mở thêm các quỹ tiết kiệm ở nơi đông dân cư và thuận lợi như quỹ tiết kiệm Thái Hà. NH đã ứng dụng công nghệ NH hiện đại theo mô hình NH bán lẻ để rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng, quảng cáo các tiện ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: rút tiền qua máy ATM, thực hiện chi trả lương qua tài khoản NH, đồng thời bố trí đội ngũ giao dịch viên trẻ trung, năng động, được đào tạo về kỹ năng giao tiếp văn minh. Bên cạnh đó, uy tín của NHCT Đống Đa cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tăng trưởng nguồn vốn của NH.

    Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: tỷ đồng

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số tiền % Số tiền % Số tiền %
    Tiền gửi dân cư 1360 58.6 1734 63.89 2014 65
    T.gửi tổ chức kinh 800 34.5 900 33.16 1016 32.77
    tế
    Các nguồn khác 160 6.9 80 2.95 70 2.23
    Tổng số 2320 100 2714 100 3100 100

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Ngân hàng huy động vốn từ dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dưới nhiều hình thức huy động như: phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, hay huy

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 23

    động bằng tiền mặt…Ngoài ra, còn tổ chức thu nhận tiền mặt vào các ngày nghỉ cho các đơn vị có nguồn tiền mặt lớn, thu tại các điểm thu lưu động để phục vụ khách hàng như: hàng ngày có 1 tổ thu tiền mặt đặt tại Xí nghiệp bán lẻ xăng dầu để thu tiền mặt tại Xí nghiệp, 1 tổ thu lưu động cho Chi nhánh điện lực Đống Đa. Bên cạnh đó, NHCT Đống Đa đã áp dụng các hình thức huy động vốn linh hoạt như gửi tiền tiết kiệm có dự thưởng, khuyến mại đầu năm phát lịch mới cho khách hàng.

    Doanh số huy động vốn những năm gần đây tăng trên ngàn tỷ đồng, có thể khẳng định nguồn vốn huy động của Chi nhánh tăng trưởng nhanh và ổn định vững chắc.

    2.1.2.2. Hoạt động cho vay và đầu tư

    Trong những năm qua, nhờ có nguồn vốn huy động khá dồi dào, NHCT Đống Đa đã đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế, giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến dây truyền công nghệ, tăng chất lượng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động.

    Tổng dư nợ cho vay và đầu tư đến 31/12/2004 là 2203 tỷ đồng, tăng 183 tỷ đồng so với cuối năm 2003. Trong đó:

    Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 59% tổng dư nợ

    Dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 41% tổng dư nợ

    Dư nợ cho vay XNK bằng ngoại tệ đạt 17% tổng dư nợ

    Bảng 2: Tình hình dư nợ của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số tiền % Số tiền % Số tiền %

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 24
    Dư nợ ngắn hạn 995,6 53,92 1122 55 1292 59
    Dư nợ trung dài hạn 850,7 46,08 918 45 911 41
    Tổng dư nợ 1846,3 100 2040 100 2203 100
    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Hoạt động tín dụng ngắn hạn: tổng doanh số cho vay ngắn hạn năm

    2004 đạt: 1292 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003. Vốn cho vay ngắn hạn của NH đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhập nguyên vật liệu, dự trữ cho sản xuất kinh doanh ổn định và có hiệu quả, đảm bảo chất lượng sản phẩm, có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và XK ra thị trường quốc tế như: sản phẩm xăm lốp ôtô, xe máy, xe đạp của công ty Cao su Sao Vàng, sản phẩm giầy dép của công ty Giầy Thượng Đình, sản phẩm dây cáp điện các loại của công ty Cơ điện Trần Phú, sản phẩm sơn của công ty Sơn tổng hợp Hà Nội, các sản phẩm bóng đèn của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông…

    Ngoài việc đáp ứng vốn kịp thời cho các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn, Chi nhánh còn rất chú trọng tới việc cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình, kinh tế tư nhân cá thể trên địa bàn Thủ đô để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động.

    Hoạt động tín dụng trung dài hạn: tổng doanh số cho vay trung dài hạn năm 2004 đạt: 911 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41% trong tổng dư nợ.

    NHCT Đống Đa đã đầu tư tín dụng trung dài hạn cho nhiều dự án của các doanh nghiệp, điển hình là:

    – Đầu tư cho Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 thi công dự án dường vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Pháp Vân thành phố Hà Nội. Đây là dự án trọng điểm đã được Chính phủ phê duyệt, tổng giá trị vốn NHCT Đống Đa đầu tư là 120 tỷ đồng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            25

    – Cho vay dự án Cáp truyền hình của Công ty dịch vụ truyền thanh truyền hình tại Thủ đô Hà Nội số tiền 22 tỷ đồng.

    – Giải ngân dự án mua thiết bị để thi công nhà máy thuỷ điện A Vương của Công ty Lũng Lô số tiền gần 43 tỷ đồng.

    – Đầu tư cho dự án bổ xung Lò đúc kéo đồng, lò đúc cán nhôm liên tục và dự án hoàn thiện thiết bị công nghệ sản xuất dây và cáp nhôm, dây và cáp đồng, dây đồng mềm bọc nhựa PVC của Công ty cơ điện Trần Phú.

    – Đầu tư cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông để mở rộng vùng phủ sóng mạng Vinaphone tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành

    2.1.2.3. Hoạt động thanh toán quốc tế

    Thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ mới của NHCT Đống Đa, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế thời kỳ mở cửa. Trong những năm qua, kim ngạch thanh toán quốc tế của NH không ngừng tăng, cụ thể là: kim ngạch thanh toán quốc tế năm 2003 đạt 120,81 triệu USD tăng 9,7% so với năm 2002, năm 2004 đạt 160,4 triệu USD, tăng 62,34% so với năm 2003.

    Bảng 3: Kim ngạch thanh toán quốc tế của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: triệu USD
    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Kim ngạch TTQT 10,09 120,81 160,48

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    2.1.2.4. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 26

    Kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động không thể thiếu của NH trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới. Một mặt nó hỗ trợ tích cực cho hoạt động thanh toán quốc tế, mặt khác nó góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng ngoại tệ của nền kinh tế. Nắm bắt được xu hướng này, trong những năm qua, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa đã có nhiều khởi sắc.

    Bảng 4: Ba ngoại tệ được mua bán chủ yếu của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn

    Loại tiền 2002 2003 2004
    Mua Bán Mua Bán Mua Bán
    USD 49.917 48.733 45.114 45.835 57.148 57.053
    EUR 5.833 5.769 6.333 6.124 5.881 5.712
    GBP 3.214 3.270 2.916 2.625 2.741 2.622

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Từ năm 2002-2004, doanh số mua bán ngoại tệ nhìn chung năm sau đều tăng so với năm trước, chứng tỏ nhu cầu mua bán, trao đổi và sử dụng ngoại tệ của nền kinh tế ngày càng phát triển. Đồng thời, nó cũng là tín hiệu đáng mừng cho NHCT Đống Đa trong quá trình hiện đại hoá NH và hội nhập kinh tế quốc tế.

    (2):

    Bảng 5: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 6 tháng đầu năm 2005

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 27
    Đơn vị: nghìn USD
    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện +/- so với KH +/- cùng kì
    Doanh số mua 40.000 19.213 48% -22%
    Doanh số bán 39.500 17.768 45% -26%

    Doanh số mua ngoại tệ 6 tháng đầu năm 2005 giảm 22% và doanh số bán ngoại tệ giảm 26% so với cùng kì đầu năm 2004 là vì: khách hàng của chi nhánh hầu hết là NK hàng hoá bằng vốn vay của NH, việc tạo nguồn ngoại tệ từ hoạt động XK là không đáng kể. Do vậy, NH rất khó khăn để cân đối cung cầu ngoại tệ. Mặt khác, đồng USD thường được giao dịch trên thị trường NH với tỷ giá kỳ hạn, đây là một khó khăn lớn đối với NH chỉ chuyên NK.

    2.1.2.5. Hoạt động bảo lãnh

    Trong những năm qua, Chi nhánh đã thực hiện nhiều nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng… Nhiều dự án được NHCT Đống Đa bảo lãnh đã trúng thầu.

    Đến 31/12/2004, NH đã bảo lãnh với số tiền lên tới gần 182 tỷ đồng. Sang năm 2005, chuyển đổi sang chương trình hiện đại hoá (Incas), NH đã có sự thay đổi mô hình hoạt động, toàn bộ hoạt động bảo lãnh của NH được Phòng Tài trợ thương mại thực hiện từ tháng 3/2005 với kết quả:

    Phát hành bảo lãnh: 125 món, trị giá 31.462.027.948 VNĐ

    Giải toả bảo lãnh: 157 món, trị giá 68.134.014.904 VNĐ

    Phí thu từ hoạt động bảo lãnh: 299.352.242 VNĐ

    2.2. THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    2.2.1. Những quy định chung về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của NHCT Đống Đa

    2.2.1.1. Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu:

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            28

    Chi nhánh chỉ phát hành L/C nhập khẩu khi chưa sử dụng hết hạn mức vốn điều hòa của NHCT VN hoặc tài khoản điều chuyển vốn của chi nhánh dư có. Hàng hoá NK không nằm trong danh mục hàng hoá cấm NK do Bộ thương mại quy định hàng năm.

    Phòng Tài trợ thương mại có trách nhiệm thông báo với Ban lãnh đạo khi NHCT Đống Đa hết hạn mức sử dụng ngoại tệ, phối hợp cùng phòng Kinh doanh xem xét nhu cầu ngoại tệ thực tế để làm cơ sở cho phòng Kinh doanh trình NHCT Việt Nam xin điều chỉnh hạn mức sử dụng ngoại tệ.

    Cụ thể quy trình thanh toán L/C nhập khẩu như sau:

    (1):      Tiếp nhận và kiểm tra đơn xin mở L/C

    Khách hàng lập hồ sơ xin mở L/C thanh toán hàng NK gửi tới NHCT Đống Đa. Tại đây, phòng Tài trợ thương mại tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ ở các nội dung sau:

    – Bảo đảm tính hợp lệ của các chứng từ mà khách hàng xuất trình. Việc thanh toán phải phù hợp với chế độ quản lý ngoại hối và chính sách quản lý XNK hiện hành của Nhà nước.

    – Có giấy đề nghị mở L/C phù hợp với yêu cầu và qui định của NHCT VN, nội dung L/C không chứa đựng rủi ro cho chi nhánh.

    –  Nội dung của các tài liệu trong hồ sơ không mâu thuẫn nhau.

    – Đối với L/C ký quỹ dưới 100% phải có tờ trình mở L/C của các phòng kinh doanh đã được giám đốc hoặc người được ủy quyền phê duyệt.

    – Kiểm tra đơn xin mở L/C của khách hàng về tính hợp pháp lý của đơn, tính phù hợp về nội dung giữa đơn và hợp đồng, tư vấn cho khách hàng sửa đổi hợp đồng hoặc đơn mở L/C nếu cần thiết.

    – Việc xem xét hồ sơ nói trên được thực hiện trong vòng một ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ của khách hàng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            29

    (2):    Phê duyệt và cấp hạn mức phát hành

    Đối với các L/C ký quỹ dưới 100% đều phải qua các phòng Kinh doanh thẩm định và cấp hạn mức mở L/C, sau đó mới chuyển qua phòng Tài trợ thương mại.

    Đối với L/C ký quỹ 100%, khách hàng trực tiếp làm việc với phòng Tài trợ thương mại. Bộ phận TTTM có trách nhiệm xem xét hồ sơ mở L/C và lập giấy thông báo đề nghị phòng Kinh doanh cấp hạn mức mở L/C. Sau 30 phút kể từ khi nhận được thông báo, phòng Kinh doanh phải thực hiện xong việc cấp hạn mức cho việc phát hành L/C trên mạng máy tính. Chi nhánh có thời gian tối đa là 3 ngày để xem xét quyết định và thực hiện xong việc mở L/C cho khách hàng.

    (3):      Đăng kí và phát hành L/C nhập khẩu

    Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ đã được phê duyệt từ phòng Kinh doanh, đảm bảo khách hàng đã ký quỹ đủ số tiền theo quy định và đã mua bảo hiểm (nếu cần), cán bộ thanh toán L/C tiến hành mở L/C, ghi số L/C đã mở, trị giá và ngày phát hành L/C trên hợp đồng gốc, đồng thời ký tên trên hợp đồng. Hợp đồng gốc có thể trả lại khách hàng nếu khách hàng yêu cầu. Khi đó ngân hàng phải có bản sao, có dấu treo của đơn vị để lưu. Sau đó, kiểm soát viên phải kiểm soát lại toàn bộ hồ sơ theo đúng quy định của NHCT Việt Nam và chuyển L/C ra nước ngoài sau khi hồ sơ đã được Giám đốc hoặc người được giám đốc uỷ quyền ký duyệt.

    (4): Nhận, kiểm tra,xử lý chứng từ, thanh toán/chấp nhận thanh toán Sau khi nhận được bộ chứng từ từ NH thông báo, thanh toán viên phải

    ghi sổ theo dõi giao nhận chứng từ, ghi ngày nhận chứng từ. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ, Chi nhánh phải hoàn tất việc kiểm tra chứng từ và thông báo cho khách hàng. Nếu chứng từ có sai sót thì phải lập điện thông báo sai sót và từ chối thanh toán thông qua NHCT

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            30

    Việt Nam trên mạng SWIFT, đồng thời liên hệ với khách hàng nhập khẩu để chờ chấp nhận thanh toán.

    – Đối với L/C trả ngay, trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ, thanh toán viên lập điện MT 202 để thanh toán theo chỉ dẫn trong thư đòi tiền của NH gửi chứng từ. Đối với L/C trả chậm, thanh toán viên lập điện MT 799 thông báo chấp nhận thanh toán.

    – Ngân hàng chỉ phát hành thư bảo lãnh hoặc ký hậu vận đơn để khách hàng nhận hàng khi khách hàng có đủ tiền, kể cả tài khoản ký quỹ chuyển vào tài khoản tiền gửi đảm bảo các khoản thanh toán (số hiệu 870x.00xxx).

    – Chi nhánh sẽ tiến hành hạch toán thanh toán L/C từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc từ tài khoản tiền vay trên sơ sở giấy nhận nợ của khách hàng đã được phê duyệt, xuất ngoại bảng cam kết thanh toán và tính phí dịch vụ liên quan.

    – Trường hợp khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ ngân hàng, thanh toán L/C…đơn vị phải làm đề nghị mua ngoại tệ để phòng Tài trợ thương mại xem xét và trình lãnh đạo phê duyệt. Đề nghị mua này sẽ làm căn cứ để phòng Kinh doanh và Ban lãnh đạo cho khách hàng vay bằng Đồng Việt Nam để mua ngoại tệ thanh toán ra nước ngoài.

    2.2.1.2. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu:

    (1):              Tiếp nhận và kiểm tra L/C

    Khi NHCT Đống Đa nhận được L/C nhờ thông báo thì thanh toán viên phải kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C. Nếu L/C truyền qua SWIFT thì phải có SWIFT KEY, nếu L/C nhận qua TELEX thì phải có TEST KEY, nếu L/C được chuyển bằng đường thư thì phải kiểm tra và xác thực mẫu dấu và chữ kí của người có thẩm quyền.

    Đồng thời, thanh toán viên sẽ kiểm tra các nội dung của L/C như: số L/C, loại L/C, địa điểm mở L/C, ngày mở, tên và địa chỉ của NH mở L/C, thời

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            31

    gian hiệu lực, giá trị L/C…cũng như các điều khoản khác để lưu ý khách hàng khả năng thực hiện trong tương lai.

    (2):             Thông báo L/C

    Sau khi kiểm tra tính chân thực và nội dung của L/C, NH sẽ thông báo L/C cho người hưởng lợi và thu phí thông báo.

    Nếu hai bên XNK có những thay đổi về nội dung của L/C thì NH sẽ nhận những thông báo cho người hưởng lợi và tư vấn cho họ những điểm bất lợi trong L/C để họ liên hệ với người mua để sửa đổi. Khi nhận chứng từ sửa đổi L/C, thanh toán viên phải kiểm tra các yếu tố như đối với L/C chính, sau đó thông báo cho khách hàng và thu phí sửa đổi.

    (3):             Tiếp nhận và kiểm tra bộ chứng từ

    Khi nhận được thư yêu cầu thanh toán, bộ chứng từ của khách hàng cùng bản gốc L/C và các điều chỉnh sửa đổi có liên quan, thanh toán viên phải tiến hành kiểm tra các chứng từ dựa trên các nội dung sau:

    Đảm bảo rằng L/C bản gốc và các bản sửa đổi liên quan là xác

    thực

    Kiểm tra số lượng, loại chứng từ so với qui định trong L/C

    Kiểm tra các nội dung trên từng loại chứng từ bảo đảm phù hợp với các điều khoản và điều kiện qui định trong L/C

    Kiểm tra sự thống nhất giữa các chứng từ

    Kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP 500 của ICC

    Trong phạm vi 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận chứng từ, NH phải kiểm tra và xử lý xong bộ chứng từ.

    Nếu kiểm tra chứng từ có sai sót, thanh toán viên xử lý như sau:

    – Sai sót có thể sửa chữa được thì đề nghị khách hàng sửa chữa (trong khoảng thời gian hiệu lực của L/C)

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            32

    – Sai sót không thể sửa chữa được thì đề nghị khách hàng yêu cầu người mua tu chỉnh L/C hoặc thông báo cho NH phát hành nêu rõ sai sót, xin chấp nhận thanh toán.

    Sau khi hoàn thành các bước kiểm tra chứng từ, các sai sót đã được sửa chữa, được NH phát hành chấp nhận thì thanh toán viên sẽ gửi chứng từ đi đòi tiền theo qui định của L/C.

    (4):             Thanh toán / chấp nhận thanh toán L/C xuất khẩu

    NHCT Đống Đa thực hiện thanh toán cho đơn vị XK khi NH nước ngoài

    chấp nhận trả tiền và ghi Có vào TK của NHCT Đống Đa. Đối với bộ chứng từ L/C trả chậm, khi nhận được điện chấp nhận thanh toán từ NH phát hành/ NH xác nhận, NH sẽ chấp nhận thanh toán hối phiếu xuất trình theo L/C xuất khẩu. Khi đến hạn thanh toán, NH nhận được điện báo Có từ NH nước ngoài thì thanh toán viên sẽ tiến hành giải toả L/C cho khách hàng.

    2.2.2. Thực trạng hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Tại NHCT Đống Đa, hoạt động TTQT được thực hiện theo quyết định số 438/QĐ- NHCT 22. Đây là quyết định của Tổng Giám đốc NHCT Việt Nam về việc ban hành quy chế và quy trình nghiệp vụ TTQT trong hệ thống NHCT Việt Nam. Theo đó, TTQT trong hệ thống NHCT Việt Nam được hiểu là quá trình thực hiện các nghiêp vụ chuyển tiền, thanh toán Tín dụng chứng từ, nhờ thu và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác bằng ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCT Việt Nam, giữa NHCT với các tổ chức tài chính ở trong và ngoài nước thông qua mạng IBS (Hệ thống nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế của NHCT Việt Nam), mạng SWIFT (Mạng tài chính viễn thông liên ngân hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác.

    Tại NHCT Đống Đa áp dụng chủ yếu ba phương thức thanh toán là chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Trong đó, phương thức tín dụng

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 33

    chứng từ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số TTQT bởi những ưu điểm của nó trong thanh toán, tính công bằng trong phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa người mua và người bán.

    Bảng 6: Tình hình thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD

    2002 2003 2004
    Phươngthức
    Doanh Tỷ trọng Doanh Tỷ trọng Doanh Tỷ trọng
    thanh toán
    (%) số (%) (%)
    số số
    Chuyển tiền 45.590 41,41 38.988 32,28 75.546 37,17
    và Nhờ thu
    Tín   dụng 64.505 58,59 81.823 67,72 84.934 52,92
    chứng từ

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Nhìn vào bảng số liệu ta thấy doanh số thanh toán theo phương thức TDCT có tốc độ tăng trưởng đều qua các năm. Năm 2002, tổng doanh số thanh toán TDCT đạt 64.505 nghìn USD, chiếm 58,59% tổng doanh số TTQT thì đến năm 2003 đã tăng lên 81.823 nghìn USD, tương ứng với tốc độ tăng là26%. Sang năm 2004, tổng kim ngạch thanh toán TDCT đạt 84.934 nghìn USD, chiếm 52,92% tổng doanh số.

    Đóng góp đáng kể cho sự phát triển này phải kể đến bộ phận doanh số thanh toán L/C nhập khẩu. Đây là bộ phận có tốc độ tăng trưởng ổn định, chiếm tỷ trọng lớn và tổng kim ngạch chiếm trung bình khoảng 51% tổng kim ngạch thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do đặc điểm khách hàng của chi nhánh chủ yếu là những đơn vị sản xuất, thường xuyên NK nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: xí nghiệp Dược phẩm TƯ I, công ty cơ điện Trần Phú, công ty giầy Thượng Đình…Vì vậy, hoạt động thanh toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 34

    TDCT tại NHCT Đống Đa chủ yếu phục vụ cho việc mở L/C và thanh toán cho L/C nhập khẩu. Do đó NH phải thường xuyên khai thác ngoại tệ của các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác cùng với sự hỗ trợ của Hội sở chính để đảm bảo nhu cầu thanh toán và nhập khẩu cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    Bảng 7: Tình hình thanh toán L/C nhập khẩu tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD

    2002 2003 2004
    Chỉ tiêu
    Số lượng Doanh số Số lượng Doanh số Số lượng Doanh số
    (bộ) (bộ) (bộ)
    Phát hành L/C 405 32.978 375 41.395 348 41.761
    Thanh toán L/C 452 30.629 403 38.826 440 42.187
    Tổng 857 63.607 805 80.221 788 83.948

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Bảng 8: Tình hình thanh toán L/C xuất khẩu tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD
    2002 2003 2004
    Chỉ tiêu Số Doanh Số lượng Doanh Số Doanh
    lượng lượng
    số (bộ) số số
    (bộ) (bộ)
    Thông báo 37 472 33 818 18 493
    L/C
    L/C đã thanh 33 426 31 784 18 493
    toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 35
    Tổng 70 896 64 1602 36 986
    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Do sự chuyển biến lớn về kinh tế thế giới trong những năm qua, đồng thời có sự phát triển nhiều mặt của công nghệ ngân hàng, các phương tiện khoa học hiện đại, khả năng và tốc độ thanh toán của NHCT Đống Đa đã được đẩy mạnh, khách hàng đến với NH ngày càng nhiều, đặc biệt là giá trị thanh toán tín dụng chứng từ ngày càng tăng.

    Hoạt động thanh toán TDCT 6 tháng đầu năm 2005 tại NHCT Đống Đa đạt được kết quả như sau:

    Phát hành L/C nhập khẩu:

    Kế hoạch đề ra: 300 món. Trị giá 40.000.000 USD

    Thực tế: 149 món. Trị giá 20.427.052 USD

    So với kế hoạch năm đạt 51%. So với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 11%.

    Thanh toán hàng nhập khẩu:

    Kế hoạch đề ra: 400 món. Trị giá 58.000.000 USD

    Thực tế: 213 món. Trị giá 32.853.400 USD

    So với kế hoạch năm đạt 57%. So với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 13%.

    Thanh toán hàng xuất khẩu: 8 món trị giá 222.607 USD

    (Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại 6 tháng đầu năm-Phòng tài trợ thương mại)

    L/C được sử dụng phổ biến nhất hiện nay tại NHCT Đống Đa là L/C không huỷ ngang, chiếm tới 92% tổng nhập. Ngoài ra còn có một số L/C khác như L/C không huỷ ngang có xác nhận, L/C chuyển nhượng… nhưng không đáng kể. Thị trường thanh toán lớn nhất của NHCT Đống Đa chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Hồng Kông, , Thái Lan,

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            36

    Trung Quốc, Singaphore…và gần đây bắt đầu mở rộng ra thị trường Châu Âu, Châu Mĩ.

    Một điều đáng chú ý trong hoạt động thanh toán L/C tại NHCT Đống Đa là doanh số thanh toán L/C trả chậm đã giảm nhanh chóng. Ngân hàng đã khắt khe hơn trong việc chấp nhận đứng ra bảo lãnh cho các L/C này bằng cách kiểm tra kĩ tình hình tài chính cũng như phương án hoạt động kinh doanh của khách hàng. Về mức độ kí quỹ, NHCT Đống Đa luôn xác định mức kí quỹ dựa vào mức độ tin cậy, tình hình tài chính và khả năng thanh toán của khách hàng. Thông thường, mức kí quỹ tại NHCT Đống Đa được chia ra làm 3 loại: từ 40-60%,60-80% cho những khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính tốt, và mức kí quỹ 100% cho những khách hàng mới, ít có quan hệ với ngân hàng. Ngoài ra, mức kí quỹ trên còn phụ thuộc vào đối tượng hàng hoá và phương án kinh doanh của từng thương vụ cụ thể. Mức kí quỹ phổ biến nhất tại NHCT Đống Đa hiện nay là 80-100%, chủ yếu là các đơn vị quốc doanh, các công ty và tổng công ty lớn trên địa bàn, các mức kí quỹ khác chiếm tỷ trọng rất ít.

    Hoạt động thanh toán TDCT đạt được kết quả cao như trên là do:

    • Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế nên nhu cầu thanh toán quốc tế tăng, kéo theo kim ngạch thanh toán TDCT cũng tăng.
    • Ngân hàng đã phát huy được những công nghệ hiện đại mới làm cho chất lượng công tác thanh toán TDCT được nâng cao, uy tín của ngân hàng ngày càng được củng cố, khách hàng ngày càng tin tưởng hơn khi giao dịch với NH.
    • Trong những năm gần đây, thanh toán quốc tế trong đó đặc biệt là thanh toán TDCT là một nghiệp vụ trọng tâm được ban lãnh đạo ngân hàng đầu tư và khuyến khích phát triển để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            37

    2.2.3. Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Những rủi ro xảy ra trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa mang tính chất đa dạng khác nhau và phát sinh do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu hai loại rủi ro phổ biến và điển hình nhất là: rủi ro phát sinh liên quan đến vấn đề chứng từ xuất trình và rủi ro liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia.

    Những rủi ro liên quan đến vấn đề xuất trình gồm những rủi ro do các chứng từ xuất trình không phù hợp với các điều kiện qui định trong L/C hoặc có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ.

    Những rủi ro liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia gồm:

    • Rủi ro do người xuất khẩu cố tình giao hàng kém chất lượng, không đúng số lượng.
    • Người nhập khẩu từ chối nhận hàng và không thanh toán cho ngân hàng phát hành
    • Rủi ro do người xuất khẩu xuất trìnhbộ chứng từ có sự sai biệt so với qui định của L/C

    Nguyên nhân tồn tại

    Qua thực tiễn thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa có thể thấy các rủi ro xảy ra xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:

    Một là, do các bên tham gia vào giao dịch thanh toán còn thiếu kinh nghiệm về hoạt động thanh toán quốc tế, quan niệm về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng và các cam kết còn đơn giản, tuỳ tiện, hành động theo suy diễn chủ quan của mình.

    Hai là, do các bên còn hạn chế về trình độ am hiểu nghiệp vụ ngoại thương cũng như thanh toán quốc tế, nên hiểu và vận dụng chưa đúng các

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            38

    điều khoản của UCP 500 về chứng từ xuất trình, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Ba là, do các đơn vị tham gia XNK tìm hiểu đối tác không kỹ, thiếu thông tin, ỷ lại vào ngân hàng trong việc tìm hiểu luật pháp quốc tế về TDCT, trước những món lợi lớn do thương vụ mang lại đã kí kết những hợp đồng bất lợi.

    Bốn là, do nền kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế chưa hoàn chỉnh, thường xuyên được sửa đổi bổ xung gây khó khăn cho các bên tham gia thanh toán TDCT.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            39

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHCT ĐỐNG ĐA TRONG NĂM 2005

    3.1.1. Định hướng chung

    Căn cứ vào các chỉ tiêu công tác được NHCT Việt Nam giao, Chi nhánh

    NHCT Đống Đa đề ra một số nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh doanh năm 2005 như sau:

    * Các chỉ tiêu kinh doanh:

    Nguồn vốn huy động đạt 3.782 tỷ đồng, tăng trưởng 22% so với 2004 Dư nợ cho vay đạt 2.645 tỷ đồng, tăng trưởng 20% so với 2004

    Doanh số hàng nhập khẩu thực hiện 200 triệu USD, doanh số hàng xuất khẩu đạt 15 triệu USD

    Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% tổng dư nợ

    Tài chính kinh doanh có lãi, đủ quỹ tiền lương, thưởng theo qui định

    Mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ như: mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán chuyển tiền, dịch vụ thanh toán thẻ, séc du lịch…

    * Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu của NHCT Đống Đa đó là nâng cao sức cạnh tranh giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nứơc ngoài, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn bán lẻ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng. Tất cả nhằm phục vụ phát triển kinh tế trong nước, đồng thời xây dựng một phong cách kinh doanh hiện đại, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Từ đó, khẳng định được vị thế của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế.

    * Phương châm hoạt động của NHCT Đống Đa: NHCT Đống Đa luôn đề ra phương châm hoạt động cho toàn bộ hệ thống các phòng ban, các tổ nghiệp

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            40

    vụ, các nhân viên của toàn NH nói chung và của riêng phòng Tài trợ thương mại nói riêng. Cụ thể:

    • Đối với Ngân hàng là: An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng . An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả mang lại ý nghĩa kinh tế xã hội. Tăng trưởng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngân hàng.
    • Đối với khách hàng: Đem đến cho khách hàng sự an toàn khi gửi tiền, phục vụ nhanh chóng, kịp thời với chất lượng và chi phí hợp lý.

    3.1.2. Định hướng trong hoạt động thanh toán TDCT

    Nhận thức được tầm quan trọng mà hoạt động TTQT nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng đem lại cho NHCT Đống Đa, NH cần có chiến lược để phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ TDCT để giữ vững và mở rộng thị phần thanh toán, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ, khả năng thu hút khách hàng cũng như nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng.

    Để đạt được điều này, ngân hàng phải luôn thực hiện phương châm thu hút khách hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng bởi tiềm lực khách hàng trong nước đã trở thành bộ phận quan trọng đối với hoạt động thanh toán TDCT của ngân hàng.

    NH tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thanh toán TDCT, phát triển tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tìm kiếm khách hàng mới và các dự án đầu tư hiệu quả, đặc biệt phục vụ phát triển hoạt động XNK và kinh tế đối ngoại của thủ đô.

    NH tăng cường bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho các các cán bộ thực hiện thanh toán TDCT. Tạo điều kiện cử các cán bộ, nhân viên đi học các lớp đại học, cao học, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Trung tâm đào tạo tổ chức, đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho cán bộ.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            41

    3.2. GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    3.2.2. Giải pháp ở tầm vĩ mô

    3.2.2.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế, trước hết là phương thức thanh toán TDCT.

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro, các quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách và củng cố hệ thống tài chính- ngân hàng một cách tích cực. Đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển và ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập như Việt Nam, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính- ngân hàng là hết sức cần thiết.

    TTQT mặc dù chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng nhưng lại liên quan trực tiếp tới quyền lợi, trách nhiệm, uy tín của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia. Các qui tắc thực hành thống nhất về TTQT như URC(nhờ thu), UCP(thanh toán L/C)… do phòng thương mại quốc tế ban hành không phải là văn bản luật, mà chỉ là tập hợp các tập quán, quy ước và thực tiễn ngân hàng trong hoạt động TTQT, mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Vì vậy, nếu có mâu thuẫn giữa các qui tắc quốc tế và luật pháp quốc gia thì lựa chọn áp dụng là tuỳ theo pháp luật của từng nước.

    Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có luật hay pháp lệnh riêng về hoạt động TTQT. Thực tiễn các doanh nghiệp và các NHTM khi tham gia thanh toán tín dụng chứng từ hay gặp nhiều rủi ro, tranh chấp và xung đột pháp luật, mặc dù họ đã tìm mọi cách bảo vệ mình. Vì vậy, việc soạn thảo, bổ xung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật cho hoạt động TTQT là rất cần thiết cho các NHTM Việt Nam, đồng thời còn là cơ sở để toà án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong quan hệ TTQT.

    Bên cạnh đó, cần có những văn bản dưới luật (pháp lệnh, nghị định) qui định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên tham gia

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            42

    cũng như các giải pháp xử lý trong trường hợp có tranh chấp, xung đột pháp luật giữa qui tắc quốc tế và luật pháp quốc gia trong TTQT nói chung và phương thức TDCT nói riêng (vì L/C đang và chắc chắn vẫn là phương thức chủ yếu trong TTQT). Việc này đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan như Bộ thương mại, Tổng cục hải quan… nhằm tạo sự nhất quán trong việc ban hành và áp dụng các điều luật đó sau này.

    3.2.2.2. Tổ chức tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tạo điều kiện cho thị trường ngoại hối Việt Nam ngày càng phát triển.

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi, cung cấp ngoại tệ nhằm giải quyết các nhu cầu về ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Việc hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một trong những điều kiện quan trọng để các NHTM mở rộng nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và tạo thuận lợi cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế được thực hiện tốt hơn. Thông qua thị trường này, ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh tỷ giá cuối cùng một cách linh hoạt và chính xác nhất. Nhằm hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam, chúng ta cần đa dạng hoá các loại ngoại tệ và các hình thức giao dịch như: mua bán trao ngay (Spot), mua bán kì hạn (Forward), quyền chọn (Option), tương lai (Future) ; mở rộng đối tượng tham gia vào thị trường nhằm làm cho thị trường hoạt động sôi động hơn, tỷ giá giao dịch sát với thực tế hơn. Ngoài ra, đây cũng chính là giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro về tỷ giá, góp phần nâng cao chất lượng thúc đẩy thanh toán quốc tế phát triển.

    3.2.2.3. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

    Cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kì nhất định, thường là một năm. Tình trạng của cán cân TTQT liên quan đến khả năng thanh toán của cả nước, của các ngân hàng, tác động đến tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại tệ của cả nước. Trong những năm vừa qua, cán cân thanh toán của Việt Nam, đặc biệt là cán cân

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            43

    thương mại và cán cân vốn luôn trong tình trạng thâm hụt, dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ, gây khó khăn cho công tác thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán TDCT nói riêng. Do đó, để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, hạn chế tình trạng nhập siêu hiện nay, Nhà nước cần tập trung vào các vấn đề sau:

    • Đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt hướng vào các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc thông qua các hiệp định thương mại được kí kết giữa chính phủ các nước.
    • Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài
    • Quản lí chặt chẽ nợ vay nước ngoài. Vay nợ nước ngoài cần phải đáp ứng được hai mục tiêu cơ bản là nâng cao hiệu quả sử dụng và giữ được mức nợ ở một tỷ lệ hợp lý, tương ứng với năng lực trả nợ của đất nước.
    • Cải tiến cơ cấu hàng XK: tăng XK sản phẩm đã qua chế biến, giảm lượng hàng thô…Hạn chế NK các loại hàng tiêu dùng và các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.
    • Thực hiện cơ sở tỷ giá hối đoái thích hợp có lợi cho xuất khẩu.

    3.2.2.4. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

    Trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, công nghệ ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của toàn ngành Ngân hàng. TTQT là một trong những hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí ngày một tăng không những về mặt số lượng mà cả tỷ trọng. Tuy nhiên, hoạt động ngoại bảng này lại tiềm ẩn nhiều rủi ro, muốn kinh doanh có hiệu quả, một điều kiện không thể thiếu là kỹ thuật, công nghệ hiện đại để cung cấp thông tin chính xác, cập nhật, xử lý tình huống nhanh chóng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ, kỹ thuật hiện đại đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động TTQT, đặc biệt là thanh toán TDCT, nhiều NHTM đã chú trọng đầu tư xây dựng, lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho hoạt động này. Tuy nhiên, cùng với sự khó khăn của đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá, ngành khoa học kỹ thuật của nước ta, đặc

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            44

    biệt là công nghệ ngân hàng còn có một khoảng cách khá xa so với mặt bằng chung thế giới. Để có thể thích ứng được với xu thế phát triển của các ngân hàng trên thế giới là gắn chặt các sản phẩm của ngân hàng với công nghệ thông tin hiện đại thì ngành ngân hàng Việt Nam mà đi đầu là NHNN Việt Nam cần phải có kế hoạch hiện đại hoá ngân hàng theo hướng hoà nhập với cộng đồng thế giới, nhưng không nên cứng nhắc đưa mô hình của các nước khác vào áp dụng mà quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng phải đáp ứng được những vấn đề sau:

    • Công nghệ ngân hàng phải đưa ra các công cụ thanh toán hợp lí
    • Công nghệ ngân hàng phải xác định cách thức thanh toán sao cho phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế của Việt Nam, đồng thời cũng là yếu tố kích thích cho kinh tế Việt Nam phát triển
    • Cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ cho hoạt động ngân hàng phải mang tính hiện đại và có thể sử dụng lâu dài, tránh lạc hậu.

    3.2.2.5. Các NHTM khi tham gia vào thanh toán TDCT phải ban hành, bổ xung, hoàn chỉnh quy trình cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng.

    TTQT trong đó có thanh toán TDCT là hoạt động giữa các NHTM các nước, với việc tự nguyện chấp hành theo các quy ước, quy tắc quốc tế và pháp luật của mỗi nước. Do vậy, NHNN không thể ban hành qui định về TTQT như : qui định về cho vay của tổ chức đối với khách hàng, qui định về hạch toán kế toán…Chính vì vậy, các NHTM phải ban hành qui định qui trình TTQT trong hệ thống của mình một cách chặt chẽ, nhất quán, tuân theo quy tắc, thông lệ quốc tế, không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với mô hình tổ chức, bộ máy của NH đó. Các qui định càng cụ thể, rõ ràng bao nhiêu, càng giúp cho các cán bộ thanh toán tránh sai sót bấy nhiêu.

    Các NHTM Việt Nam cần thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, phối hợp giúp nhau trong TTQT, đặc biệt là trong thanh toán TDCT. Các ngân hàng cần xác định rằng tuy là một dịch vụ thu lợi lớn song có liên quan đến nước

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            45

    ngoài với rủi ro cũng lớn và không thể nào một NHTM có thể đảm nhận hết TTQT, cũng như một NHTM sai sót thì cả hệ thống NHTM sẽ bị ảnh hưởng uy tín. Do vậy, các NHTM cần coi đây là một hoạt động chung, cùng dựa vào nhau để phát triển.

    3.2.3. Giải pháp ở tầm vi mô

    3.2.3.1. Về nghiệp vụ

    Sau khi nghiên cứu thực trạng các rủi ro trong thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa, NH có thể đúc kết ra các kinh nghiệm để nhằm hạn chế các rủi ro xảy ra.

    Biện pháp chung đối với tất cả các bên khi tham gia vào phương thức thanh toán bằng L/C là các bên phải giữ đạo đức kinh doanh và giữ uy tín. Cụ thể là:

    Các bên nên tìm hiểu độ tin cậy của đối tác: đây có thể hiểu là tìm hiểu độ tin cậy của người mua, người bán, NH phát hành, NH thông báo và các NH khác…Người mua và người bán đều cần tìm hiểu về uy tín trong kinh doanh, tình hình tài chính…của bên đối tác trước khi kí kết hợp đồng ngoại thương. NH phát hành cần tìm hiểu về người mua để đánh giá rủi ro không hoàn trả của người mua; tìm hiểu về người bán để đánh giá khả năng thực hiện hợp đồng và độ trung thực, thiện chí trong quan hệ hợp tác buôn bán. Người mua phải tìm hiểu về NH thông báo để đánh giá năng lực và kinh nghiệm kinh doanh dịch vụ L/C. Người bán phải tìm hiểu về NH phát hành để đánh giá khả năng thực hiện cam kết trả tiền…Việc tìm hiểu này có thể được thực hiện qua các ngân hàng, các công ty vận tải giao nhận, các công ty tư vấn, phòng thương mại và công nghiệp các nước…Việc tìm hiểu ban đầu này là vô cùng cần thiết và có tác dụng trong việc hạn chế các rủi ro trong thanh toán L/C.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            46

    Ngoài ra, tuỳ theo chức năng và nghĩa vụ của các bên tham gia mà mỗi bên có những biện pháp riêng áp dụng để ngăn ngừa các rủi ro trong thanh toán L/C. Cụ thể:

    1. Đối với NHCT Đống Đa

    Với tư cách là NH phát hành

    • NH phải mở L/C theo đúng đơn xin mở L/C. Tất cả các L/C bắt buộc phải phát hành và quản lý trên hệ thống INCAS.
    • NH cần làm cho người NK nhận thức rõ nghĩa vụ hoàn trả tiền cho NH phát hành và tính độc lập của thư tín dụng với hợp đồ Vì một rủi ro hay xảy ra đối với NH phát hành là người mua từ chối hoàn trả tiền cho NH do hàng không đúng hợp đồng hay có sự giả mạo trong bộ chứng từ. Do đó, NH cần nêu rõ trong mẫu đơn xin mở L/C về nghĩa vụ hoàn trả tiền cho NH.

    Để hạn chế việc chứng từ về NH phát hành sớm hơn hàng hoá, NH cần tính toán khoảng thời gian hàng vận chuyển trên đường, thời gian chuẩn bị chứng từ của bên bán, thời gian làm việc của NH thương lượng, thời gian gửi chứng từ để xác định thời gian xuất trình của chứng từ hợp lý, tránh việc chứng từ xuất trình quá sớm dẫn đến NH phát hành phải chấp nhận chứng từ trước khi hàng đến Việt Nam.

    NH cần khống chế bộ chứng từ đầy đủ (full set)để có thể yêu cầu người mua hoàn tiền.

    NH nên kết hợp với người mua trong việc kiểm tra bộ chứng từ. Theo UCP 500, NH phải đưa ra quyết định tiếp nhận hay từ chối bộ chứng từ trong trên phán đoán của mình. Nhưng nếu NH kết hợp với người mua trong việc kiểm tra bộ chứng từ sẽ đem lại tác dụng như: tránh được tình huống người mua từ chối trả tiền cho NH phát hành, kết hợp với người mua trong việc phát hiện chứng từ giả mạo. Như vậy, trong 7 ngày kiểm tra chứng từ, NH nên tận dụng tối đa sự tham gia của người mua vào việc kiểm tra chứng từ.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            47

    NH cần nâng cao khả năng phát hiện chứng từ giả mạo để hạn chế bớt các rủi ro, góp phần bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

    Trong trường hợp ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh cho khách hàng nhận hàng khi chưa nhận được bộ chứng từ, NH phải yêu cầu khách hàng chấp nhận thanh toán vô điều kiện, kể cả trường hợp chứng từ có sai sót.

    Đối với L/C trả ngay: trước khi ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh nhận hàng, NH phải yêu cầu khách hàng ký khế ước nhận nợ(nếu khách hàng vay vốn NH) hoặc chuyển khoản tiền tương đương với trị giá lô hàng vào tài khoản thanh toán với nước ngoài để chờ thanh toán(nếu khách hàng thanh toán bằng vốn tự có)

    Đối với L/C trả chậm: trước khi ký hậu vận đơn NH phải yêu cầu khách hàng thế chấp tài sản đảm bảo(nếu khách hàng thanh toán bằng vốn tự có) hoặc ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ(trường hợp vay vốn NH).

    Đối với thị trường bị cấm vận, để giảm thiểu rủi ro, NH cần yêu cầu khách hàng cam kết chịu rủi ro và bồi thường tất cả các thiệt hại xảy ra đối với NH khi thực hiện các giao dịch qua các nước bị cấm vận.

    Với tư cách là ngân hàng thông báo

    NH cần xác thực L/C một cách cẩn thận trước khi thông báo cho người bán. Nếu chưa kiểm tra được tính chân thực của L/C cũng như bản sửa đổi L/C thì không nên thông báo cho người bán, tránh trường hợp người bán hiểu lầm về tính chân thực của L/C dẫn đến những tranh chấp giữa người bán và NH sau này.

    NH nên kiểm tra, tư vấn cho khách hàng lập bộ chứng từ phù hợp với L/C để hạn chế những rủi ro trong thanh toán sau này.

    NH cần cẩn trọng khi chiết khấu các bộ L/C xuất trình bằng đường thư, hạn chế chiết khấu bộ chứng từ mà vận đơn do những hãng vận tải không đáng tin cậy phát hành.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            48

    NH không chiết khấu bộ chứng từ trong các trường hợp sau: bộ chứng từ XK mặt hàng Nhà nước cấm XK, các khách hàng mà NH không hiểu rõ về khách hàng đó, các chứng từ xuất trình không đúng với qui định của L/C.

    1. Đối với người NK

     

    Đàm phán kỹ hợp đồng trước khi mở L/C.Ơ Việt Nam nói chung và tại NHCT Đống Đa nói riêng có một thực trạng là khi ký kết hợp đồng, nhiều doanh nghiệp không suy xét kỹ khi đàm phán ký kết hợp đồng, sau đó thấy hợp đồng không có lợi thì lại mở L/C trái với hợp đồng để có lợi cho mình, thậm chí mở L/C chậm hoặc không mở L/C để đòi người bán đàm phán lại hợp đồng. Nếu hành động như vậy, người bán có thể qui kết người mua vi phạm hợp đồng. Do vậy, người mua phải hết sức thận trọng khi ký kết hợp đồng, không nên cho rằng có thể dễ dàng đàm phán lại.

     

    Làm đơn xin mở L/C phải thống nhất với hợp đồng. Người NK cần nhận thức rằng NH phát hành trả tiền căn cứ vào bộ chứng từ có phù hợp hay không, chứ không phải là hàng hoá phù hợp với hợp đồng hay không. Do đó, để đảm bảo nhận được hàng đúng như hợp đồng, người NK cần truyền tải kỹ lưỡng và đầy đủ các điều khoản của hợp đồng vào trong đơn xin mở L/C. Trước khi NH phát hành chuyển L/C sang NH thông báo cần kiểm tra lại L/C xem có thống nhất với hợp đồng và đơn xin mở L/C không.

     

    Dùng hợp đồng để buộc người bán giao hàng. Mục đích mà người NK là hàng hoá, do đó, dù người NK có thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng và mở L/C nhưng vẫn còn rủi ro là người bán không giao hàng. Để giảm thiểu rủi ro này, người NK nên dùng điều khoản phạt trong hợp đồng trong trường hợp người bán giao hàng chậm.

     

    1. Đối với người XK

     

    Dùng hợp đồng ràng buộc trách nhiệm, đề phòng trường hợp người mua không mở hoặc mở L/C chậm. Không mở hoặc mở L/C chậm là một rủi

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            49

    ro lớn đối với người XK. Do đó trong hợp đồng cần qui định các điều khoản phạt trong trường hợp người bán không mở hoặc chậm mở L/C.

    Kiểm tra kỹ các điều kiện chứng từ trong L/C để xem mình có khả năng lập được bộ chứng từ như qui định của L/C không. Đối với những điều kiện chứng từ bất lợi cho mình, người XK không nên nhất trí mà phải yêu cầu sửa đổi.

    Lập bộ chứng từ theo đúng điều kiện của UCP 500, tránh các lỗi xảy ra và xuất trình chứng từ đúng hạn .

    3.2.3.2. Về tổ chức

    NH cần phát huy mạnh mẽ nhân tố con người trong thời đại mới bằng cách vừa phát huy mạnh mẽ năng lực điều hành của ban lãnh đạo NH, đồng thời coi trọng đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và đạo đức của thanh toán viên.

    Để qui trình thanh toán L/C được chính xác nhanh chóng, thanh toán viên phải có khả năng xử lí nghiệp vụ một cách thuần thục, chính xác và phù hợp với thông lệ quốc tế. Để làm được điều này, ngoài kiến thức chuyên môn về TTQT, các thanh toán viên cần có các kiến thức chuyên sâu về ngoại thương, về thị trường hàng hoá và thị trường tài chính trên thế giới. Vì thế, NH cần tiêu chuẩn hoá đội ngũ thanh toán viên bằng các biện pháp như :

    Tổ chức các lớp tập huấn theo chuyên đề về nghiệp vụ TTQT, thương mại quốc tế…

    Tạo điều kiện cho các cán bộ tham gia các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, các lớp cao học, mời chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài về đào tạo nghiệp vụ

    Tăng cường bổ xung các lãnh đạo trẻ có năng lực

    Trang bị các kiến thức về pháp luật, luật kinh tế, luật áp dụng trong ngoại thương…

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            50

    NH cần chú trọng hơn với việc đầu tư vào cơ sở vật chất kĩ thuật, trang bị và lắp đặt đầy đủ các thiết bị thanh toán hiện đại, đặc biệt là các thiết bị phương tiện phục vụ hoạt động thanh toán TDCT. NH cần nghiên cứu và đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả thanh toán TDCT và các hoạt động kinh doanh khác.

    3.2.3.3. Về khách hàng

    Để ngày một nâng cao chất lượng TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng, cũng như tiếp tục giữ vững và mở rộng thị phần thanh toán, NHCT Đống Đa nên xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn và hiệu quả. Để có một chính sách khách hàng tốt, NH cần chú trọng các vấn đề sau:

    Thứ nhất, NH nên chủ động tìm kiếm khách hàng, thiết lập quan hệ chặt chẽ với khách hàng. NH cần có sự ưu đãi đối với từng đối tượng khách hàng nhằm củng cố được đội ngũ khách hàng truyền thống và thu hút thêm các khách hàng mới.

    Đối với hoạt động thanh toán L/C, NHCT Đống Đa nên tiếp tục thực hiện chính sách khách hàng khép kín, tức là NH đảm bảo phục vụ khách hàng

    • tất cả khác khâu. Đối với doanh nghiệp XK, NH không chỉ làm trung gian thanh toán mà còn có thể cho vay sản xuất và thu gom hàng. Đối với doanh nghiệp NK, NH có thể xem xét cho vay thanh toán. Khi đó, lợi ích của NH và khách hàng gắn bó với nhau. Đồng thời việc khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ NH sẽ giúp NH có điều kiện theo dõi nắm bắt tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng toàn diện hơn và có chính sách khách hàng tốt hơn, đảm bảo hoạt động kinh doanh của NH an toàn, quan hệ khách hàng- ngân hàng bền chặt hơn.

    Thứ hai, nâng cao công tác Marketing ngân hàng, bởi đây là một trong những chiến lược cạnh tranh của NH.

    NH nên quảng cáo, truyền bá hình ảnh và thương hiệu của NH mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.NH nên mở các dịch vụ tư vấn miễn phí, tổ chức các buổi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng thông qua các Hội nghị

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            51

    khách hàng để vừa giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mới của NH, lại vừa nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.

    NH phải xác định mỗi nhân viên ngân hàng là một tuyên truyền viên tích cực vận động khách hàng tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ NH, từ đó nâng dần nhận thức của khách hàng, giúp họ gần gũi sử dụng các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại.

    Trong quá trình quảng bá cần chú ý cung cấp các thông tin nêu bật được lợi thế hơn hẳn của NH mình trong chất lượng và cách thức cung cấp dịch vụ, để khách hàng có thể tự so sánh với các NH khác và tự rút ra kết luận.

    Thứ ba, NH cần chú trọng hơn đến chính sách giá cả, đảm bảo hợp lí cho từng đối tượng khách hàng, trên cơ sở cân đối chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác NH đề ra.NH có thể thực hiện chính sách ưu đãi đối với khách hàng lâu năm và có uy tín như: hạn chế các thủ tục giao dịch, giảm tỷ lệ ký quỹ hoặc giảm mức phí giao dịch…Đồng thời, NH nên mở rộng các loại hình L/C, song song với đó là công tác tư vấn cho khách hàng về ưu nhược điểm của từng loại để khách hàng có được lựa chọn chính xác.

    Thứ tư, NH cần xây dựng văn hoá kinh doanh ngân hàng, tức là xây dựng một phong cách kinh doanh riêng trong lĩnh vực NH, để khi nhìn vào có thể thấy nét bản sắc riêng của NH mình. Đồng thời, NH cần tạo phong cách phục vụ khách hàng văn minh, lịch sự, tận tình chu đáo. Bởi thái độ và phong cách giao tiếp chính là một trong những nghệ thuật thu hút khách hàng có hiệu quả nhất. Thái độ lịch sự, nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của nhân viên giao dịch có thể tạo nên hình ảnh đẹp về NH trong lòng khách hàng, góp phần thu hút ngày càng nhiều lượng khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng.

    3.2.3.4. Mở rộng quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài

    Hiện nay, NHCT Đống Đa có quan hệ đại lý với trên 450 ngân hàng đại lý, hầu hết là các NH lớn có uy tín trên thế giới. Nhưng với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, thị trường thanh toán không ngừng mở rộng sang các

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            52

    nước và các khu vực mới. Vì vậy, NHCT Đống Đa cần tiếp tục mở rộng mạng lưới đại lý của mình. Muốn vậy, ngân hàng cần phải tiếp tục củng cố quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý trên thế giới. Lựa chọn các ngân hàng đại lý, các đối tác nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực đối ngoại của từng khu vực để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng có uy tín cao.

    3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước

    TTQT là nghiệp vụ liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy mọi chính sách tác động đến một lĩnh vực nào đó cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến công tác TTQT. Xuất phát từ đặc điểm trên, các giải pháp nhằm giảm rhiểu rủi ro, nâng cao chất lượng TTQT nói chung và thanh toán TDCT nói riêng đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành liên quan cũng như các cơ quan quản lí vĩ mô, đặc biệt là ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước cần có các giải pháp cụ thể sau:

    Xây dựng một chế độ tỷ giá lành mạnh dựa trên phương pháp rổ hàng hoá, đảm bảo khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu

    Khẩn trương hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý

    Vận hành tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và đẩy mạnh hoạt động của thị trường ngoại hối

    Thực hiện tốt vai trò làm tham mưu tư vấn cho chính phủ để đưa ra chính sách quản lý ngoại tệ có hiệu quả nhằm ổn định thị trường ngoạitệ, từ đó tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp trong hoạt động XNK.

    3.3.2. Kiến nghị với các doanh nghiệp XNK

    Như đã trình bày ở chương trước, rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT có nguyên nhân từ chính những yếu kém trong nghiệp vụ của các doanh nghiệp XNK và chính họ là người gánh chịu những thiệt hại nặng nề từ những rủi ro đó. Theo số liệu của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, có tới 70% giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đào tạo về

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            53

    nghiệp vụ ngoại thương và TTQT. Trong khi đó 80- 85% số doanh nghiệp đó tham gia kinh doanh XNK hoặc uỷ thác XNK. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp XNK là đào tạo và nâng cao trình độ nghiệp vụ ngoại thương và TTQT. Cụ thể: các doanh nghiệp tham gia XNK phải có các cán bộ chuyên trách về XNK. Các cán bộ phải được đào tạo nghiệp vụ ngoại thương, am hiểu luật thương mại quốc tế, có năng lực công tác và đặc biệt phải có phẩm chất trung thực trong kinh doanh.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Trong những năm qua, nền kinh tế mở đã mang lại những chuyển biến tích cực đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng qua các năm, nền kinh tế dần được cải thiện và phát triển. Để đạt được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các NHTM với tư cách là trung gian thanh toán quốc tế, trong đó chủ yếu là phương thức thanh toán TDCT đã giúp cho hoạt động thanh toán XNK diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của thương mại quốc tế thì rủi ro trong hoạt động TTQT nói chung và rủi ro trong thanh toán TDCT nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Vì thế, việc nâng cao chất lượng thanh toán TDCT và phòng ngừa rủi ro là hết sức cần thiết.

    Được sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Trần Thu Hiền, cùng cán bộ làm việc trực tiếp tại phòng Tài trợ thương mại thuộc NHCT Đống Đa, đề tài đã hoàn thành được những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    Thứ nhất, giới thiệu một cách tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những rủi ro khi áp dụng.

    Thứ hai, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa nói chung và hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng

    Thứ ba, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa.

    Do đây là một vấn đề khá phức tạp nên những ý kiến đề xuất không tránh khỏi những thiếu xót, em kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô và các anh chị trong ngân hàng để bài viết đạt kết quả tốt hơn.

    Nguyễn Thị Lan Phương

    Chuyên đề tốt nghiệp

    DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

    1. NH : Ngân hàng
    2. NHCT : Ngân hàng Công thương
    3. NHNN : Ngân hàng Nhà nước
    4. NHTM : Ngân hàng thương mại
    5. NK : Nhập khẩu
    6. TDCT : Tín dụng chứng từ
    7. TTQT : Thanh toán quốc tế
    8. XK : Xuất khẩu
    9. XNK : Xuất nhập khẩu

    Nguyễn Thị Lan Phương

    Chuyên đề tốt nghiệp

  • Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN I:

    MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Sau đây là vai trò tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    2.1.4- Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị trường thay đổi Ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị của tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho Ngân hàng.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động Ngân hàng hiện nay, tuy đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, chưa đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Nhiều hướng dẫn của các bộ, ngành khác nhau còn chồng chéo, rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện.

    Hiện nay, điều kiện vay vốn đặc biệt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta chưa có luât về sở hữu nên chưa có cơ quan nào có trách nhiệm cáp chứng nhận sở hưu tài sản và việc chuyển quyền sở hữu. Vì thế mà Ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản. Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan chưa có được cái nhìn thấu đáo về Ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nên chưa có được sự phối hợp đồng bộ, tích cực với Ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan.

    Mặc dù đã có nhiều thông tư liên tỉnh giữa Ngân hàng nhà nước và các bộ ngành liên quan hướng dẫn thực hiện những vấn đề có liên quan đến hoạt động của Ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan này với nhau trong thời gian tới.

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    PHẦN II

    THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của các Ngân hàng thương mại thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của các Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ trung gian khác. Khi chuyển hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các Ngân hàng còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế, kể cả mảng huy động vốn. Nhưng cùng nỗ lực với bản thân, được sự ủng hộ từ nhiều phía các Ngân hàng đã quen dần với cơ chế mới, đã đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh. Đến thởi điểm hiện nay, chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của hầu hết các Ngân hàng thương mại, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển. Theo báo cáo của các Ngân hàng trong những năm gần đây, các tổ chức tín dụng trong nước cũng như các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh đều có tốc độ liên tục tăng. Riêng trong năm 2003, quán triệt nhiệm vụ ngay từ đầu, toàn hệ thống đã tích cực nắm bắt thị trường, tình hình biến động trong nước và thế giới, có nhiều giải pháp phù hợp để đẩy mạnh huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đơn cử như giải pháp lãi suất huy động linh hoạt nội và ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại, phát hành

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng Tăng so với đầu năm 2004(%)
    So sánh trong tổng
    Tỷ trọng trong Huy động vốn
    nguồn vốn
    tổng nguồn vốn
    Nhóm các của các từ dân cư
    của các TCTD
    TCTD TCTD (%)
    Các   TCTD   nhà 75,7 8 10
    nước
    Các chi nhánh NH 1
    nước ngoài & NH 13 1
    liên doanh
    Các TCTD cổ phần 10 5 9
    Các TCTD phi NH 0,3 6 7
    Các TCTD hợp tác 1 10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    NHTMQD 79,6 75,5 77,2 81,4 81,6 71,4
    Trong đó: -VND 53,8 53,5 59,3 65,9 65,9 61,1
    – Ngoại tệ 25,8 22,2 18,0 15,7 15,7 10,3
    NHTM ngoài quốc 20,4 24,5 22,8 18,4 18,4 28,6
    doanh.
    Trong đó: -VND 7,5 10,1 9,5 12,1 12,1 20,4
    – Ngoại tệ
    12,9 14,4 13,2 6,3 6,3 8,2
    ĐHDL Phương Đông Phạm Khánh Linh
    Tổng 100 100 100 100 100 100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi Ngân hàng thương mại là tối thiểu hoá rủi ro tín dụng. Để đạt được mục tiêu này, các Ngân hàng sử dụng nhiều phương pháp, quy trình đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau bao gồm cả chính thức, bán chính thức lẫn không chính thức. Mặc dù ngày nay các phương pháp đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng ngày càng được hoàn thiện và tinh vi hơn đã góp phần nâng cao hiệu quả, độ tin cậy về các quyết định cho vay, chúng vẫn không hoàn toàn khắc phục được những hạn chế vốn có, thậm chí trong một vài trường hợp có thể làm lạc hướng các chuyên gia Ngân hàng. Sau đây là một số vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng.

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN III:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, khách hàng vừa là người cung cấp nguồn vốn cho hoạt động tín dụng, đồng thời cũng là người sử dụng nguồn vốn này nên khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng giúp các Ngân hàng thương mại có điều kiện nắm vững các thông tin có liên quan tới khách hàng, các Ngân hàng sẽ có đối sách thích hợp để có thể đứng vững môi trường cạnh tranh.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

     

  • Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank

    Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank

    Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Ngân hàng câu hỏi và đáp án môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank

    PHẦN NỘI DUNG CHI TIẾT

    CHƯƠNG 1:

    CƠ SỞ LÝ LUẬN

     

    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG:

    1. Khái niệm tín dụng ngân hàng:

    Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, với các nhà doanh nghiệp và cá nhân.

    Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay.

    Với tư cách là người đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội. Trái lại, với tư cách là người cho vay thì ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân.

    1. Phân loại tín dụng

    2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

    – Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn không quá 12 tháng.

    – Tín dụng trung hạn: có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.

    – Tín dụng dài hạn: có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng.           

    2.2. Căn cứ vào đối tượng tín dụng:

    – Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh doanh

    – Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được dùng hình thành tài sản cố định.

    2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:

    – Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa.

    – Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ,…Tín dụng tiêu dùng được thể hiện bằng hình thức tiền hoặc bán chịu hàng hóa, việc cấp tín dụng bằng tiền thường do các ngân hàng, quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng và các tổ chức tín dụng khác cung cấp.

    1. Vai trò của tín dụng:

    – Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế.

    – Thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    – Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn.

    – Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp.

    – Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài

    ** Vai trò của tín dụng tiêu dùng:

          – Đối với dân cư: Đặc biệt là thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, họ không thể đợi cho đến già mới tiết kiệm đủ tiền để mua nhà, mua ôtô và các đồ dùng gia đình khác. Tín dụng tiêu dùng giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái.

          – Đối với doanh nghiệp: Tín dụng tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại, quy mô sản xuất tăng nhanh, mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày càng lớn. Chính điều này đã  làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế.

    – Đối với ngân hàng: Cho vay tiêu dùng được xem là nghiệp vụ chiếm thị phần lớn và đem lại lợi nhuận rất lớn cho các tổ chức tín dụng.

    – Đối với nền kinh tế: Theo các chuyên gia kinh tế, tài chính, để hạn chế tình trạng giảm phát và giải quyết bài toán khó khăn khi thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cần phải kích cầu cho vay tiêu dùng trong nước.

    1. Các phương thức cho vay:

          – Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.

          – Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và KH xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ SX.

    – Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các dự án phục vụ đời sống.

    – Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác.

    – Cho vay trả góp: Khi vay vốn TCTD và khách hàng thỏa thuận số lãi tiền vay phải trả, cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi.

    – Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng.

    – Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và các loại hình cho vay khác.

    1. Đảm bảo tín dụng:

    5.1. Vai trò của việc đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là thiết lập những ràng buộc pháp lý của khoản vay với những tài sản của người vay hay người thứ ba để khi không thu được nợ có thể dựa vào việc bán TSĐB để thu hồi nợ. Đó là cách để không bị ràng buộc với rủi ro kinh doanh của khách hàng bằng cách thiết lập nguồn thu nợ thứ hai.

    Trong cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng là thu nhập của cá nhân như: tiền lương, các khoản thu nhập từ cổ tức, tiền cho thuê nhà và các khoản thu nhập khác.

    5.2. Các hình thức đảm bảo tín dụng:

    5.2.1. Phương thức đảm bảo đối vật:

    5.2.1.1. Khái niệm.

    Đảm bảo đối vật là hình thức xác định những cơ sở pháp lý để chủ nợ (Ngân hàng) có được những quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng vay nhằm tạo ra nguồn thu nợ thứ hai khi người mắc nợ không trả hay không còn khả năng trả nợ.

    5.2.1.2. Thế chấp:

          Thế chấp là bên vay vốn dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi nguồn thu thứ nhất bị mất.Có các loại thế chấp sau:

    – Căn cứ theo pháp lý, thế chấp có hai loại:

    + Thế chấp pháp lý hay thế chấp sang nhượng chủ quyền

    + Thế chấp công bằng

    – Căn cứ vào việc thế chấp cho nhiều món vay, người ta phân biệt thành:

    + Thế chấp thứ nhất: là tài sản đang thế chấp cho món nợ thứ nhất.

    + Thế chấp thứ hai: là tài sản đang thế chấp cho món nợ thứ nhất, nhưng giá trị thế chấp còn thừa ra, khách hàng đem thế chấp cho ngân hàng khác để vay thêm một món nợ nữa

    5.2.1.3. Cầm cố:

    Là tài sản đảm bảo tiền vay thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, được giao cho ngân hàng cất vào kho để đảm bảo chắc chắn nguồn thu nợ thứ hai. Tài sản cầm cố thường là động sản dễ di chuyển nên ngoài việc ngân hàng nắm giữ giấy chủ quyền ngân hàng còn phải nắm giữ luôn tài sản đó, khi khách hàng vay không trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng ngân hàng được quyền phát mại tài sản để thu hồi nợ.

    5.2.1.4. Đảm bảo bằng tiền gửi: Tiền gửi dùng làm đảm bảo tiện lợi vì dễ bảo quản, hầu như không có rủi ro và xử lý thu hồi nợ rất nhanh, đối với tiền gửi có kỳ hạn chỉ phải làm một bản cam kết để cho ngân hàng được trích tiền gửi thu nợ và giao sổ tiền gửi cho ngân hàng.

    5.2.1.5. Đảm bảo bằng tích trái: Tương tự như đảm bảo bằng trái phiếu, có hai cách:

    – Đảm bảo không thông báo: Khách hàng vay chỉ cam kết đem tiền thu được từ các con nợ trả cho ngân hàng mà không thông báo cho các con nợ biết.

    – Đảm bảo có thông báo: Khách hàng vay thông báo cho các con nợ biết họ phải thanh toán với ngân hàng thay vì phải thanh toán cho khách hàng vay.

    5.2.2. Đảm bảo đối nhân:

    5.2.2.1. Khái niệm: Đảm bảo đối nhân là sự bảo lãnh của một hoặc nhiều người cho khách hàng vay ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng vay không trả được nợ, người bảo lãnh sẽ trả thay. Như vậy có ba chủ thể tham gia vào việc vay vốn ngân hàng:

    + Khách hàng vay là người được bảo lãnh.

    + Ngân hàng là chủ nợ, đồng thời là người được hưởng sự bảo lãnh để tránh rủi ro không trả nợ của khách hàng vay.

    + Người bảo lãnh là người cam kết trả nợ thay khi người được bảo lãnh không trả được nợ.

    5.2.2.2. Các loại đảm bảo đối nhân:

          – Căn cứ vào độ an toàn của bảo lãnh:

    + Bảo lãnh không có tài sản đảm bảo

    + Bảo lãnh bằng tài sản của người bảo lãnh

          – Căn cứ vào phạm vi bảo lãnh:

    Bảo lãnh riêng biệt: Là bảo lãnh riêng cho một món nợ cụ thể theo phương thức cho vay theo số dư và dùng tài khoản cho vay thông thường.

    Bảo lãnh liên tục: Là bảo lãnh cho một hạn mức tín dụng tối đa hay mức thấu chi tối đa. Phương thức bảo lãnh này dùng trong phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, người bảo lãnh chỉ trả nợ thay cho người được bảo lãnh số nợ thực tế không trả được nếu số nợ này nhỏ hơn mức bảo lãnh tối đa.

    1. Rủi ro tín dụng:

    6.1. Khái niệm:

          Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện những biến cố không bình thường trong quan hệ tín dụng, từ đó tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng và có thể làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho khách hàng.

    6.2. Những thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:

    6.2.1. Đối với ngân hàng:

    Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như: thiếu tiền chi trả cho khách hàng, lợi nhuận ngày càng giảm dẫn đến lỗ và mất khả năng thanh toán…

    6.2.2. Đối với xã hội:

    Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng, có khả năng lây lan các ngân hàng khác tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi nên đưa nhau đến ngân hàng rút tiền trước thời hạn. Điều đó có thể đưa đến phá sản hàng loạt các ngân hàng và sẽ tác động xấu đến nền kinh tế

    II. NHỮNG CHỈ TIÊU DÙNG ĐỂ PHÂN TÍCH:

    1. Doanh số cho vay.

    Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món cho vay đó đã thu hồi về hay chưa. Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng, quí, năm.

    1. Doanh số thu nợ:

          Là toàn bộ các món nợ mà ngân hàng đã thu về từ các khoản cho vay của ngân hàng kể cả năm nay và những năm trước đó.

    1. Dư nợ:

          Là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản mà ngân hàng cần phải thu về.

    1. Nợ quá hạn:

           Là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ khi đến hạn mà khách hàng không trả được cho ngân hàng mà không có nguyên nhân chính đáng thì ngân hàng sẽ chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản quản lý khác gọi là nợ quá hạn. Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng.

    1. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động và tổng nguồn vốn:

    5.1. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động:chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn huy động vào việc cho vay vốn. Thông thường khi nguồn vốn huy động ở ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so với tổng nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường gấp nhiều lần so với vốn huy động. Nếu ngân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ nguồn vốn cấp trên thì không hiệu quả bằng việc sử dụng nguồn vốn huy động được. Do vậy, tỷ lệ này càng gần 1 thì càng tốt cho hoạt động ngân hàng, khi đó ngân hàng sử dụng một cách có hiệu quả đồng vốn huy động được.

    Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động = D ư n ợ x 100%
    Vốn huy động

        Ta có công thức:

     

    5.2. Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn: chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng đầu tư vào cho vay của Ngân hàng so với tổng nguồn vốn, hay là dư nợ cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn sử dụng của Ngân hàng.

    Ta có công thức sau:

    Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn = D ư n ợ x 100%
    Tổng nguồn vốn

    5.3. Hệ số thu nợ: thể hiện quan hệ giữa doanh số cho vay và doanh số thu nợ.

       Ta có công thức sau:

    Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ x 100%
    Doanh số cho vay

    5.4. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: chỉ tiêu này thường nói lên chất lượng tín dụng của một Ngân hàng. Thông thường chỉ số này dưới mức 5% thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng bình thường. Nếu tại một thời điểm nhất định nào đó tỷ lệ nợ quá hạn chiếm tỷ trọng trên tổng dư nợ lớn thì nó phản ánh chất lượng nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng kém, rủi ro tín dụng cao và ngược lại.

    Ta có công thức:

    Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ = Nợ quá hạn x 100%
    Tổng dư nợ

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 2 :

    THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG EXIMBANK CHI NHÁNH CHỢ LỚN

     

    1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA NGÂN HÀNG EXIMBANK:
    2. Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam Eximbank:

          Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam

    Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint – Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank. Đến 30/09/2008 vốn điều lệ của Eximbank đạt 4.249 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.

    Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 77 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Vinh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM. Đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 735 Ngân hàng ở tại 72 quốc gia trên thế giới.

    **Những thành tựu đạt được trong những năm gần đây:

          Tháng 7/2008: Eximbank vinh dự nhận được danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí The Banker trao tặng.

    Tháng 4/2008, Eximbank đạt danh hiệu “Thương Hiệu Mạnh 2007” do báo Kinh Tế Việt Nam và Bộ Thương Mại. Trong 4 năm liên tiếp Eximbank đã được người tiêu dùng trên cả nước bình chọn.

    Tháng 2/2008, Eximbank vinh dự nhận được danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức bình chọn lấy ý kiến của hàng nghìn người tiêu dùng trên cả nước.

    Tháng 2/2008, Eximbank được Wachovia Bank N.A New York trao tặng bằng khen về Thanh toán Quốc Tế Xuất Sắc. Đây là giải thưởng nhằm ghi nhận và đánh giá cao quá trình xử lý nghiệp vụ thanh toán tự động nhanh chóng, chuẩn xác và chuyên nghiệp trong dịch vụ điện thanh toán quốc tế

    Tháng 11/2007, Eximbank đạt giải “Top Trade Servicer” do Báo Thương Mại trao tặng về những thành tựu đã đạt được trong quá trình hoạt động.

    Tháng 10/2007, Eximbank được Ban tổ chức Hiệp hội chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam trao tặng danh hiệu “ Thương Hiệu Vàng”.

    Tháng 5/2007, Eximbank chính thức trở thành thành viên của tổ chức IFC (công ty tài chính quốc tế toàn cầu)

    Tháng 5/2007, Eximbank nhận được bằng chứng nhận do Ngân hàng HSBC trao tặng về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế (chất lượng dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên Ngân hàng)

    Tháng 4/2007, Eximbank đạt giải thưởng “Thương Hiệu Mạnh Việt Nam 2007”do đọc giả của Thời Báo Kinh Tế Việt Nam bình chọn. Qui trình đáng giá và lựa chọn được Thời Báo Kinh Tế Việt Nam phối hợp cùng Cục xúc tiến Thương Mại tổ chức

    Tháng 1/2007, đã vinh dự được nhận bằng khen do Ngân hàng Standard Chartered Bank trao tặng về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế (chất lượng dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên Ngân hàng).

    Tháng 04/2006, Eximbank đạt giải thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2005” do độc giả của Thời Báo Kinh tế Việt nam bình chọn. Quy trình đánh giá và lựa chọn được Thời báo Kinh tế Việt Nam phối hợp cùng Cục xúc tiến Thương Mại tổ chức.

    Tháng 01/2006, đã vinh dự nhận giải cúp vàng thương hiệu Việt trong cuộc bình chọn CÚP VÀNG TOPTEN THƯƠNG HIỆU VIỆT (lần thứ 2) do Mạng Thương Hiệu Việt kết hợp cùng Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam hợp tác tổ chức.

    Tháng 01/2006, đã vinh dự được nhận bằng khen do Ngân hàng Standard Chartered Bank trao tặng về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế (chất lượng dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng)

    Tháng 11/2005, Eximbank là Ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ thanh toán Quốc tế mang thương hiệu Visa Debit.

    Tháng 9/2005, nhận cúp vàng top ten sản phẩm uy tín chất lượng cho sản phẩm hỗ trợ du học trọn gói do Cục sở hữu trí tuệ và Hội sở hữu trí tuệ công nghiệp Việt Nam, Trung tâm Công nghệ thông tin & tư vấn quản lý QVN cùng báo điện tử Saigon News hợp tác tổ chức

    Tháng 6/2005, là Ngân hàng duy nhất được chọn làm đại diện cho khối Ngân hàng TMCP vinh dự được Thống đốc NHNN Việt Nam trao tặng bằng khen và phần thưởng vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác đấu thầu trái phiếu chính phủ tại NHNN

    Tháng 3/2005, kết nối thành công hai hệ thống thanh toán thẻ nội địa Vietcombank – Eximbank.

    1. Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Chợ Lớn:

    2.1. Giai đoạn hình thành phòng giao dịch:

          Căn cứ vào quyết định số 227/QĐ-NH5 ngày 1/12/1993 của thống đốc NHNNVN ban hành “Quy định về việc mở và chấm dứt họat động phòng giao dịch thuộc NHTMCP”.

    Căn cứ vào tờ trình số 348/EIB ngày 27/11/1996 của chủ tịch hội đồng quản trị NH TMCP XNK xin lập phòng giao dịch Chợ Lớn.

    Giám đốc NHNN TP.HCM chấp thuận cho phép NHTMCP XNK được thành lập, trụ sở chính tại số 07 Lê Thị Hồng Gấm, Quận 1, TP.HCM, giấy phép hoạt động số 0011/NH-CP ngày 06/04/1992 do thống đốc NHNN cấp , được phép mở phòng giao dịch. Bắt đầu có hiệu lực ngày 7/12/1996 do ông Ngyễn Văn Trữ ký.

    2.2. Giai đọan nâng cấp thành chi nhánh:

    Căn cứ vào công văn số 695/NHNN-CNH ngày 04/07/2002 của giám đốc chi nhánh NHNN TP.HCM v/v mở chi nhánh cấp I Chợ Lớn của Eximbank.Quyết định thành lập chi nhánh Chợ Lớn của Eximbank ngày 22/07/2002.

    Căn cứ vào nghị quyết Hội đồng quản trị NHTMCP XNK Việt Nam (Eximbank) ngày 11/7/2002: nay thành lập chi nhánh NHTMCP XNK tại Chi nhánh Chợ Lớn có tên gọi là “ Ngân hành TMCP XNK Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn TP.HCM”. Tên viết tắt là Chi nhánh Eximbank Chợ Lớn (EIB Chợ Lớn) trên cơ sở nâng cấp phòng giao dịch Chợ Lớn thành chi nhánh.

    Địa chỉ chi nhánh: 55 Nguyễn Chí Thanh, Phường 9, Quận 5, TP.HCM

    1. BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG EXIMBANKCHỢ LỚN:
    2. Sơ đồ tổ chức:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1. Nhiệm vụ chức năng của các phòng ban:

    2.1. Phòng tín dụng:

    Thực hiện nhiệm vụ cho vay bằng VND, ngoại tệ và vàng cho các đối tượng khách hàng theo quy định của NHNN và NHTMCP XNK Việt Nam (Eximbank), riêng cho vay bằng ngoại tệ phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về quản lý ngoại hối của NHNN.

    – Thực hiện việc thẩm định hồ sơ vay vốn của KH nhanh chóng, kịp thời, chính xác.

    – Theo dõi chặt chẽ tình hình sử dụng vốn của KH nhằm hạn chế rủi ro.

    – Đề xuất và xây dựng các chiến lược nhằm thu hút KH, để gia tăng khả năng cạnh tranh của NH với các NH khác.

    2.2. Phòng kinh doanh ngoại tệ:

    Thực hiện việc định hướng và xây dựng kế hoạch kinh doanh ngoại tệ, đề xuất những biện pháp nhằm thực hiện việc kinh doanh ngoại tệ theo chỉ đạo của ban giám đốc.

    – Quản lý và kiểm tra các bàn thu đổi ngọai tệ đảm bảo hoạt động theo đúng quy định.

    – Lập kế hoạch cân đối nguồn vốn và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ (trong và ngoài nước) theo đúng trình tự nghiệp vụ.

    2.3. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu:

    Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, tài trợ XNK, bảo lãnh và tái bảo lãnh.

    – Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến việc phát hành, tu chỉnh, thanh toán L/C, tiếp nhận, thông báo và theo dõi thanh toán các bộ chứng từ nhờ thu hộ của NH nước ngoài gửi đến. Kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ thanh toán để giảm rủi ro đến mức thấp nhất.

    – Phối hợp với tổ xử lý thông tin để xử lý các vấn đề liên quan đến SWIFT.

    2.4. Phòng hành chánh nhân sự :

    – Tuyển nhân viên.

    – Theo dõi toàn bộ cán bộ công nhân viên bằng chương trình vi tính.

    – Theo dõi chấm công, lên bảng lương.

    – Soạn thảo các thông báo qui định.

    – Xây dựng công tác của ban giám đốc trong tuần.

    – Xây dựng phương án và thực hiện nghiêm ngặt công tác bảo vệ an toàn cơ quan và khách hàng đến giao dịch,… và một số nghiệp vụ liên quan chức năng.

    2.5. Phòng kế toán tổng hợp:

    – Trực tiếp hạch toán kế toán, theo dõi, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính. Quản lý các loại vốn, tài sản của ngân hàng, tổng hợp, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về hạch toán kế toán, quyết toán và lập báo cáo quyết toán cung cấp cho nội bộ ngân hàng và các cấp có thẩm quyền theo quy định.

    2.6. Phòng ngân quỹ:

    – Kiểm tra thực thu, thực chi theo chứng từ kế toán.

    – Cân đối thanh khoản, điều chỉnh vốn.

    – Kinh doanh vàng, bạc, đá quý và thu đổi ngoại tệ.

    – Chịu trách nhiệm bảo quản tiền, vàng, ấn chỉ quan trọng và toàn bộ hồ sơ thế chấp, cầm cố của khách hàng vay.

    – Đào tạo, huấn luyện các giao dịch viên trong nghiệp vụ ngân quỹ và phục vụ khách hàng.

    – Một số nghiệp vụ có liên quan khác.

    2.7. Phòng vi tính:

    Tổ chức, xây dựng, quản lý và khai thác có hiệu quả hệ thống tin học tại chi nhánh.

    – Thực hiện việc sửa chữa, bảo trì hệ thống máy tính tại chi nhánh.

    – Thường xuyên nghiên cứu những phần mềm ứng dụng mới phục vụ cho lĩnh vực ngân hàng.

    – Xây xựng hệ thống thông tin dự phòng nhằm đảm bảo cho hệ thống thông tin được hoạt động liên tục nhằm hổ trợ  tích cực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

    2.8. Phòng kiểm tra nội bộ:

    – Tham mưu cho ban giám đốc điều hành thông suốt và đúng pháp luật mọi hoạt động của ngân hàng, đồng thời phối hợp với ban kiểm soát trong công tác kiểm toán, kiểm tra nội bộ.

    – Giám sát từ xa và thực hiện việc kiểm tra định kỳ, đột xuất về nghiệp vụ của các phòng ban, về cơ cấu tổ chức tại đơn vị để có những báo cáo điều chỉnh cần thiết.

     

    III. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI EXIMBANK CHỢ LỚN:

    1. Một số vấn đề liên quan đến cho vay tiêu dùng:

    1.1. Nguyên tắc vay vốn:

    Khách hàng vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

    – Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

    – Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

    – Việc đảm bảo tiền vay phải đúng qui định.

    1.2.Điều kiện vay vốn:

    – Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự.

    – Tuổi từ đủ 18 trở lên và không quá 60 tuổi.

    Khách hàng đứng tên trực tiếp để cho vay phải có đủ năng lực hành vi dân sự, có hộ khẩu thường trú hoặc có KT3. Tuy nhiên EximBank vẫn thực cho vay đối với các vùng lân cận như: Long An, Bình Dương…

    – Khách hàng đến vay phải trình bày mục đích và phương án sử dụng vốn rõ ràng, cụ thể. Trong trường hợp khách hàng vay vốn để bổ sung vốn kinh doanh đòi hỏi phải có giấy phép kinh doanh.

    -Khách hàng chứng minh được nguồn thu nhập ổn định để đảm bảo được khoản nợ phải trả hàng tháng gồm có gốc và lãi hoặc lãi đối với lọai hình trả nợ gốc cuối ký trả lãi hàng tháng.

    -Điều quan trọng là người đứng đơn vay phải có tài sản thế chấp để đảm bảo món nợ vay.

    – Giá trị ngân hàng cho vay không vượt mức quy định là 70%/ giá trị tài sản thế chấp. Tuy nhiên trong việc cho vay CBTD phải chủ động và ước lượng giá trị để đề xuất cho vay ở mức an tòan khi nguồn trả nợ thứ nhất của khách hàng không còn khả năng thì nguồn trả thứ hai đảm bảo được khoản vay đó.

    1.3. Đối tượng cho vay:

    Cho vay tiêu dùng gồm các lọai hình như sau: cho vay sửa chữa nhà, cho vay xây dựng nhà mới, cho vay mua xe và mua vật dụng gia đình….

    1.4.Mức cho vay:

    Số tiền cho vay tối thiểu là 10 triệu đồng;

    Số tiền cho vay tối đa tuỳ thuộc vào nhu cầu vay vốn, tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ của khách hàng.

    1.5.Thời hạn cho vay:

    – Theo qui địng của EximBank về thời hạn cho vay cá nhân là 10 năm. Khi khách hàng tới xin vay vốn  CBTD xem xét  mức thu nhập của khách hàng như thế nào để tư vấn cho khách hàng chọn thời hạn vay thích hợp. Để đảm bảo được khả năng trả nợ và để ngân hàng thu được vốn  gốc.

    – Đối với cho vay bổ sung vốn kinh doanh thời hạn cho vay là 12 tháng.

    1.6. Quy định về lãi suất, phương thức trả nợ:

    – Nếu là cho vay vốn tiêu dùng thì vốn góp và lãi trả hàng tháng.

    – Tuy nhiên cũng có những trường hợp vay tiêu dùng với thời hạn ngắn  hơn 12 tháng khách hàng có thể trả lãi hàng tháng vốn gốc  trả cuối kỳ.

    – Nếu trường hợp khách hàng có tiền trả dần nợ gốc sẽ giảm được lãi hàng tháng và thời hạn trả nợ.

    – Lãi suất cho vay theo biểu lãi của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Chi Nhánh Chợ Lớn  công bố hiện hành.

    – Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn ghi trên Hợp đồng tín dụng

    1.7. Xử lý nợ quá hạn :

    – Quá 02 tháng kể từ ngày chuyển nợ quá hạn nếu khách hàng không trả được nợ mà không được EIB đồng ý cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì Eximbank được quyền thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ phần nợ gốc chưa thanh toán.

    – Sau 30 ngày kề từ ngày ra thông báo mà khách hàng không trả được nợ thì Eximbank được quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi theo quy định của pháp luật.

    1.8. Trả nợ trước hạn: khách hàng vay có thể trả nợ trước hạn cho EIB. Khi trả nợ trước hạn, EIB và khách hàng thỏa thuận về các khoản phí, tiền phạt do trả nợ trước hạn.

    – Hiện nay thì để thuận tiện cho khách hàng thì EIB không phạt khi KH trả nợ trước hạn.

    1. Quy trình thực hiện:

    2.1 Các bước thực hiện:

    Bước 1: Tiếp xúc khác hàng:

    – Nhu cầu khách hàng đề nghị vay bao nhiêu? Phương án sử dụng vốn – các tài liệu thuyết minh cho phương án như hợp đồng kinh tế, hóa đơn, giấy đặt cọc…

    – Yêu cầu KH nộp bảng phôtô Hộ khẩu thường trú, CMND, Giấy chứng nhận độc thân hay giấy đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận nghề nghiệp, giấy phép hoặc giấy đăng ký kinh doanh,…

    Bước 2: Hướng dẫn KH làm thủ tục vay vốn:

    – Giấy đề nghị vay vốn.

    – Phương án kinh doanh nếu KH vay vốn nhằm bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc phương án vay vốn mua nhà/ đất nếu KH vay vốn để mua nhà đất. Nếu với mục đích tiêu dùng thì làm giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước trả nợ.

    Bước 3: Thẩm định TSTC

    – Hẹn KH ngày giờ để đi thẩm định. Báo cho khách biết tên, số điện thoại của cán bộ tín dụng đi định giá tài sản.

    – CBTD đi thẩm định tài sản thế chấp và khả năng trả nợ của khách hàng.

    – CBTD làm báo cáo thẩm định tín dụng đề xuất số tiền, thời gian, lãi suất cho vay cùng phương án trả nợ của khách hàng lên Trưởng phòng tín dụng duyệt, sau đó trình lên Ban giám đốc duyệt.

    Bước 4: Công chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo.

    – Sau khi có báo cáo thẩm định tín dụng được duyệt cho vay, CBTD báo cho khách hàng đi xác nhận tình trạng nhà, đất.

    – CBTD lập Hợp đồng tín dụng (4 bản), Hợp đồng thế chấp (5 bản), Biên bản Xác định trị giá tài sản thế chấp hay bão lãnh (3 bản), Đăng ký Giao dịch đảm bảo (1 bản).

    – Trình  Trưởng phòng và Ban giám đốc.

    – Sau đó nhập Korebank lấy số hợp đồng tín dụng, ghi sổ HĐTC lấy số HĐTC.

    – Hẹn khách hàng ở phòng công chứng, hướng dẫn khách hàng đem đầy đủ hồ sơ nhà, CMND và 1 bản photo hồ sơ nhà, photo CMND.

    – Sau khi công chứng, thì đi đăng ký giao dịch đảm bảo.

    Bước 5: Lưu hồ sơ nhà.

    – CBTD lập khế ước nhận nợ và trình trưởng phòng và ban giám đốc ký, nhập Korebank lấy số khế ước nhận nợ, đóng dấu, chuyển hồ sơ cho Kế toán tín dụng giải ngân.

    – Lập biên bản giao nhận hồ sơ nhà bản chính, tiến hành niêm phong gởi phòng ngân quỹ.

    Bước 6: Thu lãi và tất toán hợp đồng

    – Theo dõi và kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay: hàng  tháng trước khi đến hạn CBTD nhắc nhở khách hàng trả gốc và lãi đúng hạn.

    – Khách hàng trả xong nợ gốc và lãi -> tất toán hợp đồng

    2.2. Chuẩn bị hồ sơ đi công chứng và chuẩn bị hồ sơ đăng ký giao dịch đảm bảo:

    – Chuẩn bị hồ sơ công chứng:

    – Phiếu yêu cầu công chứng

    – Giấy ủy quyền, mẫu chữ ký của lãnh đạo

    – Giấy giới thiệu của Ngân hàng cấp cho CBTD

    – HĐTC(05 bản), HĐTD(04 bản), Biên bản định giá nhà(3 bản), giấy xác nhận tình trạng nhà

    – Hồ sơ nhà bản gốc và 01 bản photo(khách hàng mang theo)

    – Hộ khẩu, CMND, Giấy kết hôn( hoặc giấy xác nhận độc thân) của người thế chấp, bảo lãnh.

    – Chuẩn bị hồ sơ đăng ký giao dịch đảm bảo:

    – Giấy giới thiệu của Ngân hàng cấp cho CBTD

    – Biên nhận theo mẫu (02 bản)

    – Đơn đăng ký GDĐB(02 bản)

    – Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh(01bản)

    – Hồ sơ nhà bản gốc và 01 bản photo

    – Giấy xác nhận tình trạng nhà(nếu yêu cầu)

    – Nơi công chứng: việc công chứng được thực hiện tại một trong 6 phòng công chứng nhà nước tùy theo địa điểm TSĐB:

    – Phòng công chứng số 1 tại 97 Pasteur, p.Bến Nghé, Q.1: công chứng đối với TSTC ở địa bàn quận 1,3,4,7

    – Phòng công chứng số 2 tại 94-96 Ngô Quyền,p4 ,Q5: công chứng đối với TSTC ở địa bàn quận 5,6,8,11,Bình Tân

    – Phòng công chứng số 3 tại  Thủ Đức : công chứng đối với TSTC ở địa bàn quận 2,9,Thủ Đức

    – Phòng công chứng số 4 tại 25/5 Hòang Việt, p4, Q.TB : công chứng đối với TSTC ở địa bàn quận 10,Tân Bình,Tân Phú

    – Phòng công chứng số 5 tại 278 Nguyễn Văn Nghi, p7, Q.GV: công chứng đối với TSTC ở địa bàn quận 12, Gò vấp

    – Phòng công chứng số 6 tại 80/1 Hòang Hoa Thám, p7, Q.BT: công chứng đối với TSTC ở quận Phú Nhuận, Bình Thạnh.

    2.3 lưu giữ hồ sơ:      

    CBTD  liệt kê toàn bộ hồ sơ gồm:

    – Biên bản thẩm định giá (01 bản),

    – Hợp đồng thế chấp/bảo lãnh (01 bản),

    – Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp /bảo lãnh.

    – Bản chính toàn bộ giấy tờ nhà

    CBTD trình lãnh đạo phòng kiểm hồ sơ và niêm phong tại phòng Ngân Quỹ và lãnh đạo phòng Ngân Quỹ sẽ ký xác nhận vào sổ lưu giữ hồ sơ.

    2.4. Quản lý khách hàng theo định kỳ để thu nợ và lãi:

    – Định kỳ CBTD phải theo dõi tình hình tài chính, tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.

    – Thường khi gần đến ngày đóng lãi CBTD phải thông báo và nhắc nhỡ cho khách hàng ngày nộp lãi cùng với số tiền khách hàng phải nộp.

    2.5. Khách hàng tất toán hợp đồng:

    – CBTD thông báo cho bộ phận kế toán tín dụng biết khách hàng tất toán hợp đồng để thu nợ và lãi còn lại của khách hàng.

    – Nhận hồ sơ từ phòng Ngân Quỹ, trả hồ sơ cho khách hàng

    – Lập giải chấp gửi phòng công chứng, UBND phường

    – Lập xóa đăng ký giao dịch đảm bảo(UBND quận, huyện hoặc Sở tài nguyên môi trường)

    – Trường hợp khách hàng không trả lãi, gốc thì CBTD phải tích cực đòi nợ. Nếu không thể đòi được thì xin ý kiến của Trưởng phòng và Ban giám đốc để gửi hồ sơ  Tòa án phát mãi tài sản.

    1. Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình huy động vốn của Eximbank Chợ Lớn(2006-2008):

    3.1. Kết quả hoạt động kinh doanh:

    Bảng 1:Kết quả hoạt động kinh doanh                                                  Đvt:Triệu đồng

    Năm 2006 2007 2008 Chênh lệch

    (2007/2006)

    Chênh lệch

    (2008/2007)

    Tương đối Tuyệt đối(%) Tương đối Tuyệt đối(%)
    Doanh thu 57.162 91.078 148.956,4 +33.916 +59% +57.878,4 +63,5%
    Chi phí 46.880 71.962 112.681 +25.082 +53,5% +40.719 +56,5%
    Lợi nhuận trước thuế 10.282 19.116 36.275,4 +8.834 +86% +17.159,4 +90%
    Tỷ suất lợi nhuận/ DT 18% 21% 24%

    Hình 1:kết quả kinh doanh của Eximbank Chợ Lớn (2006-2008)

    Từ bảng số liệu và biểu đồ thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh của Eximbank Chợ Lớn trên cho ta thấy có những nét nổi bật sau:

    Doanh thu của chi nhánh tăng rất nhanh và tăng dần qua từng năm từ 2006 đến 2007 tăng 59%, từ 2007 đến 2008 tăng 63,5%. Doanh thu của chi nhánh chủ yếu là từ hoạt động tín dụng, doanh thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng doanh thu chiếm đến 76% năm 2007 và 79,5% năm 2008 cho thấy tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng là tốt.

    Đồng thời chi phí cũng tăng do mở rộng quy mô hoạt động, mở rộng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Chi phí tăng dần qua các năm từ 2006 đến 2007 tăng +53,5%,từ năm 2007 đến 2008 tăng 56,5%. Nhưng ta thấy tốc độ tăng của chi phí không cao bằng tốc độ tăng của doanh thu chứng tỏ ngân hàng làm ăn có tiến triển, biết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

    Đồng thời ta thấy lợi nhuận của ngân hàng cũng tăng dần qua các năm từ 2006 đến 2007 tăng +86%,từ năm 2007 đến 2008 tăng 90% ứng với sự tăng lên của doanh thu là hợp lý.Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cho ta thấy tuy chi phí có tăng lên nhưng tốc độ tăng của lợi nhuận vẫn cao hơn chứng tỏ chi nhánh kinh doanh có hiệu quả. Điều này chứng tỏ các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng đã đem lại kết quả.

    Đây là sự nỗ lực cải tiến quy trình cũng như cách thức cho vay và các nghiệp vụ khác của ngân hàng, làm cho kết quả kinh doanh của chi nhánh nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng Eximbank nói chung nâng lên rõ rệt. Đây là một kết quả rất tốt cần phát huy đối với các ngân hàng thương mại trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.

     

     

    3.2. Tình hình huy động vốn:

    Bảng 2:Tình hình huy động vốn tại chi nhánh:                               Đvt:Triệu đồng

    Năm Nguồn vốn huy động
    2006 789.102
    2007 1.349.848
    2008 2.025.522

    Hình 2: tình hình huy động vốn tại chi nhánh

    Từ bảng số liệu trên cho ta thấy tình hình huy động vốn của chi nhánh qua các năm từ 2006-2008 luôn tăng. Cụ thể năm 2007 tăng 71% so với năm 2006, năm 2008 tăng 50% so với năm 2007. Điều này cho thấy năng lực huy động vốn của chi nhánh là rất tốt đó cũng là nhờ những chính sách thu hút khách hàng bằng những sản phẩm dịch vụ đa dạng và tiện ích. Bên cạnh đó cũng là nhờ chính sách lãi suất phù hợp kèm một đội ngũ nhân viên nhiệt tình và năng động. Nhìn trên số liệu ta thấy tình hình huy động năm 2008 có phần thấp hơn tuy nhiên đó cũng là do sự khủng hoảng kinh tế chung. Nhìn chung con số huy động vẫn là rất cao và đáng khen ngợi đối với một chi nhánh mới đi vào hoạt động.

    Nghiệp vụ huy động vốn không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng đây lại là một nhiệm vụ quan trọng góp phần quyết định sự thành công của hoạt động ngân hàng. Nếu không có nguồn vốn huy động thì ngân hàng không thể nào hoạt động được, vì nguồn vốn chủ sở hữu là rất nhỏ nó chỉ đáp ứng được nhu cầu về cơ sở vật chất của ngân hàng chứ không đủ để đáp ứng các nhiệm vụ quan trọng giúp ngân hàng duy trì và phát triển. Nó cũng cho thấy được mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Vì KH có tín nhiệm thì mới đem tài sản của mình gửi vào ngân hàng vì họ xem đây là nơi an toàn cho tài sản của mình đồng thời đem lại lợi nhuận cho khoản tài sản mà họ gửi.

    1. Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Eximbank chi nhánh Chợ Lớn:

    4.1. Tình hình tín dụng chung:                                                         Đvt: Tỷ đồng

    Bảng 3: Tình hình tín dụng (2006-2008)

           Năm

    Chỉ tiêu

    2006 2007 2008 Chênh lệch (2007/2006) Chênh lệch(2008/2007)
    Tương đối Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối
    Cho vay 1500 2700 7600 +1200 +80% +4900 +181%
    Thu nợ 1300 2400 6700 +1100 +85% +4300 +179%
    Dư nợ 550 750 1650 +200 +36% +900 +120%
    Quá hạn 3 1 5 -2 -67% +4 +400%

     

           Hình 3: Tình hình tín dụng chung qua các năm 2006-2008

    Nhìn vào số liệu trên cho ta thấy tình hình tín dụng của ngân hàng nhìn chung

    là tăng trưởng. Doanh số cho vay tương đối cao phù hợp với chính sách mà nhà nước cũng như ngân hàng đề ra, nới lỏng tín dụng. Mức tín dụng tăng cao qua các năm, năm 2007 so với năm 2006 tăng 80%, đến năm 2008 tăng so với 2007 là 181%, điều này chứng tỏ được ngày càng có nhiều khách hàng tìm đến chi nhánh nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của mình. Nâng cao tầm quan trọng cũng như chất lượng phục vụ của ngân hàng đã thu hút lượng khách hàng lớn giao dịch với ngân hàng, khả năng tiếp thị của cán bộ tín dụng cũng như thái độ phục vụ của họ tạo cảm giác thân thiện đối với khách hàng, thủ tục vay vốn nhanh gọn ít tốn thời gian, lãi suất thấp hơn các tổ chức tín dụng khác…chính những điều này đã góp phần tạo lượng khách hàng ngày càng đông đến vay tiền tại chi nhánh.

    Đi đôi với việc cho vay thì đồng thời tình hình thu nợ của ngân hàng là khá tốt. Năm 2007 so với 2006 tăng 85%, năm 2008 tăng 179% so với 2007. Chứng tỏ khách hàng giao dịch với ngân hàng là những khách hàng uy tín. Đồng thời khẳng định quy trình thẩm định năng lực tài chính cũng như tài sản đảm bảo của chi nhánh là hết sức chính xác, giúp cho việc đánh giá và ra quyết định cho vay đúng đối tượng, vừa tạo lợi nhuận cho chi nhánh đồng thời tạo vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân khinh doanh. Qua đây cũng cho ta thấy được năng lực cạnh tranh của Eximbank Chợ Lớn ngày càng lớn mạnh.

    Tình hình quá hạn của Chi nhánh tuy năm 2007 có giảm 67%, nhưng đến 2008 lại tăng đến 400%, đây không phải do sự yếu kém của cho nhánh cũng như bộ phận nhân viên tín dụng, đây là kết quả của sự khủng hoảng kinh tế nói chung. Nền kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng kéo theo một loạt các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên không có khả năng thanh toán cho ngân hàng. Cần phải có biện pháp đảm bảo an toàn hơn khi cho vay.

    Nhìn chung thì tình hình tín dụng là tốt. Tuy nợ quá hạn tăng nhưng so với mức doanh số cho vay thì không tăng đáng kể. Trong tình hình khủng hoảng hiện nay thì đạt được thành quả trên là cố gắng không ngừng của nhân viên toàn chi nhánh nói chung cũng như nhân viên phòng tín dụng nói riêng.

    4.2. Doanh số cho vay đối với tiêu dùng:

    Bảng 4: Doanh số cho vay tiêu dùng                                                  Đvt: triệu đồng

    Năm 2006 2007 2008
    DSCV tiêu dùng 345,564 500,589 843,568

          Doanh số cho vay TD tăng qua các năm, đặc biệt tăng cao vào năm 2008, cụ thể như sau:

    + Doanh số cho vay TD năm 2006 là 345,564 triệu đồng.

    + Doanh số cho vay TD năm 2007 là 500,589 triệu đồng tăng 155,025 triệu đồng so với năm 2006 tức là tăng 45% so với năm 2006.

    + Sang năm 2008 thì doanh số cho vay là  843,568 triệu đồng tăng 342,979 triệu đồng tức là tăng 69 % so với năm 2007.

    Hình 4: Doanh số cho vay tiêu dùng qua các năm 2006-2008

    Từ số liệu trên cho ta thấy doanh số cho vay tiêu dùng tăng qua các năm. Đó là một tín hiệu đáng mừng vì tín dụng tiêu dùng là một sản phẩm sinh ra nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Trong những năm gần đây để khuyến khích tiêu dùng giảm thiểu phát cho nền kinh tế chính phủ khuyến khích và nới lỏng cho vay tiêu dùng. Điều này tạo điều kiện cho ngân hàng kinh doanh kiếm lời hiệu quả đồng thời nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.

    Trong năm 2009 này thì ắt hẳn doang số này sẽ tăng lên rất cao vì chính sách nới lỏng cũng như hướng hoạt động của ngân hàng là nhắm đến các đối tượng là khách hàng cá nhân.

    4.3. Dư nợ phân theo thời hạn tín dụng khách hàng cá nhân:

    Bảng 5: Dư nợ theo thời hạn tín dụng                                          Đvt: triệu đồng

    Năm

    Thời hạn

    2006 2007 2008
    Dư nợ Quá hạn Dư nợ Quá hạn Dư nợ Quá hạn
    Ngắn hạn 209.457,4 0 472.950,07 6.712 1.142.638,75 18.889
    Trung hạn 36.633,77 0 69.909,96 4.482,18 84.181,86 10.730,63
    Dài hạn 919,6 0 8.736,06 0 29.367,6 1.015

            

    Hình 5: Dư nợ theo thời hạn tín dụng

          Dư nợ cho vay đối với KH cá nhân ít có sự biến động, dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn từ 85% đến 91%, dư nợ cho vay trung hạn giảm dần bằng đúng với mức tăng của ngắn hạn . Điều này cho thấy KH cá nhân đã quan tâm nhiều hơn đối với các khoản vay ngắn hạn, KH vay chủ yếu là thỏa mãn những nhu cầu về tiêu dùng như nhà ở, xe cộ.

    Bên cạnh đó dư nợ dài hạn đối với KH cá nhân là rất thấp mặc dù có tăng nhưng là không đáng kể, chỉ chiếm khoảng 2% và cũng là vay để mua đất mua nhà với thời hạn cho vay được kéo dài của ngân hàng. Cho vay cá nhân chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay, điều này cho thấy KH cá nhân đang là mục tiêu hướng tới của ngân hàng.

    Chính vì đây là những KH quan trọng nên chi nhánh cần phải tiếp tục hơn nữa trong những dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng, đáp ứng những mong muốn kịp thời, đồng thời phải có những chính sách phù hợp nhằm thu hồi nợ khi đến hạn.

     

    Hình 6: Nợ quá hạn đối với khách hàng cá nhân

    Đối với khách hàng cá nhân thì tình trạng nợ quá hạn diễn ra thường xuyên và tăng cao qua các năm. Từ năm 2006 là 0% cho tất cà các thời hạn thì đến năm 2008 đã tăng lên mức rất cao. Đây là dấu hiệu bất lợi cho NH vì khi nói đến hoạt động tín dụng người ta thường quan tâm nhiều đến tình trạng nợ quá hạn này. Dư nợ quá hạn quá cao sẽ ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng..

    Tuy nhiên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của khách hàng cá nhân của Eximbank Chợ Lớn trong năm 2008 là 2.4% tương đương 30.148,5 triệu đồng là một con số không lớn. Đây là một điều dễ hiểu vì dư nợ cho vay tăng sẽ kéo theo mức tăng của nợ xấu, nhưng qua đó cũng cho ta thấy được một số hạn chế trong chính sách của ngân hàng, cần phải nâng cao năng lực giám sát vốn vay, quản lý chặt nguồn thu nợ cũng như công tác thẩm định tài chính của khách hàng từ đó có biện pháp phù hợp. Đồng thời cũng như đã nói ở trên, nợ quá hạn tăng cao cũng là do nền kinh tế bị khủng hoảng ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh

    (Tất cả số liệu trên lấy từ phòng tín dụng và phòng kế toán)

    4.4. Đánh giá chung về cho vay tiêu dùng tại chi nhánh:

          Thông qua quá trình thực tập cũng như kiến thức tích lũy được trong quá trình học tập và phân tích tình hình tín dụng trên thì em nhận thấy hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh có những mặt mạnh và khó khăn sau:

    4.4.1. Mặt mạnh:

    – Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng tại chi nhánh rất đa dạng và phong phú như cho vay sửa chữa nhà, cho vay xây dựng nhà mới, cho vay mua xe và mua vật dụng gia đình…., với các đối tượng cho vay như vậy thì ngân hàng có thể đáp ứng được các nhu cầu và mong muốn đa dạng của KH.

    – Biểu phí lãi suất linh hoạt, tính lãi trên số dư nợ thực tế, theo số dư giảm dần tạo nhiều thuận lợi và ưu đãi cho KH.

    – Cán bộ công nhân viên thì rất nhiệt tình, vui vẻ, niềm nở và năng động. Đảm bảo đáp ứng kịp thời những mong muốn cũng như giải đáp những thắc mắc cho khách hàng nhanh chóng.

    – Phòng tín dụng luôn được sự hỗ trợ nhiệt tình từ ban giám đốc cũng như các phòng ban khác trong chi nhánh. Đó là sự phối hợp nhịp nhàng của toàn bộ máy Eximbank giúp cho ngân hàng ngày một phát triển hơn.

    – Chi nhánh nằm tại vị trí rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, gần các trung tâm thương mại lớn như chợ An Đông, chợ Lớn…Người d6an trong khu vực này luôn có nhu cầu vốn rất cao để phục vụ cho nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống.

    4.4.2. Mặt khó khăn:

    – Từ phía ngân hàng:

    – Mặc dù cán bộ tín dụng làm việc rất tích cực nhưng số lượng người vẫn còn ít trong khi công việc thì quá nhiều, chính vì thế trong quá trình làm việc không tránh khỏi những sai sót.

    – Cơ sở hạ tầng thì chưa đáp ứng được với nhu cầu phát triển làm cho công việc tiến hành không được thuận lợi.

    – Trong thời gian ngắn ngủi có không ít các chi nhánh của các ngân hàng lần lượt mọc lên với những cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Vì thế sự cạnh tranh ngày càng gay ngắt.

    – Ngân hàng Eximbank cũng chỉ mới đựơc thành lập gần đây chính vì thế mạng lưới hoạt động vẫn còn nhỏ hẹp so với các ngân hàng khác. Chính vì thế ngân hàng chịu áp lực cạnh tranh là rất lớn và có phần thiệt thòi.

    – Nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng , chính sách lãi suất của NHNN cũng điều chỉnh liên tục làm cho hoạt động tín dụng bị trì trệ, điều này ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của chi nhánh.

    – Từ môi trường bên ngoài:

    – Hệ thống thông tin tín dụng không đầy đủ. Chi nhánh lấy thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng CIC, tuy nhiên thông tin này cũng không phải hoàn toàn chính xác, bên cạnh đó số liệu cung cấp có thời điểm rất xa so với thực tế. Nguồn thông tin thì chưa đi sâu đối với từng KH. Thiếu các trung tâm thông tin dữ liệu khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa khi CIC mới chỉ cung cấp thông tin về doanh nghiệp, khiến ngân hàng không có cơ sở để đánh giá mức độ an toàn và rủi ro đối với khách hàng cá nhân vay vốn của mình, những điều này gây không ít khó khăn cho CBTD để đưa ra quyết định đúng đắn trong việc cho vay.

    – Vướng mắc từ các văn bản pháp luật. Hiện nay các văn bản pháp luật nước ta về hoạt động của ngân hàng có những chỗ chồng chéo và mâu thuẫn với nhau. Điều này gấy không ít khó khăn cho CBTD cũng như KH, làm cho thủ tục trở nên rườm rà.

     

    CHƯƠNG 3:

    PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI EXIMBANK CHỢ LỚN

     

    I. Định hướng phát triển tín dụng  tiêu dùng của Eximbank Chợ Lớn năm 2009:

    Mục tiêu phát triển năm 2009 của Eximbank Chợ Lớn là Hiệu quả -An toàn – Tăng trưởng, tập trung các nội dung sau:

    – Tăng cường huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn tín dụng tăng cao.

    – Thực hiện tăng trưởng tín dụng hợp lý, coi trọng chất lượng tín dụng.

    – Xử lý kiên quyết để giảm nợ quá hạn, không để phát sinh nợ quá hạn mới.

    – Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, thực hiện chính sách khách hàng tốt.

    – Quản trị lãi suất và rủi ro tỷ giá có hiệu quả, kết hợp với các sản phẩm phục vụ xuất khẩu.

    – Đẩy mạnh tốc độ phát triển tín dụng TD với doanh số cho vay cao hơn 50% tổng doanh số cho vay của ngân hàng, nhưng trước tiên đạt mức tăng 20% so với năm 2008 vào năm 2009 đối với cho vay TD.

    – Giảm tỉ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất có thể được trên phần dư nợ cho vay so với năm 2008

    – Ngân hàng phải giữ vai trò tích cực hơn trong việc thu thập, cung cấp những thông tin cần thiết để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của khách hàng.

    – Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng hơn nữa theo hướng cho vay trên cơ sở hiểu biết khách hàng, không đơn thuần chỉ cho vay trên tài sản thế chấp

    – Nghiên cứu thị trường để phát hiện cơ hội nghề nghiệp, cho vay đa dạng hơn nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng.

    II. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng Eximbank Chợ Lớn:

    1. Biện pháp huy động vốn.

    – Trong hoạt động của ngân hàng giữa huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ nhân quả với nhau.

    – Tạo vốn là giải pháp hàng đầu để ngân hàng phát triển và đảm bảo kinh doanh. Cần có chính sách tạo vốn phù hợp nhằm khai thác mọi tiềm năng về vốn, để có được nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng như hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.

    – Vốn huy động thường từ nguồn: ngân sách doanh nghiệp, ngân hàng khác, dân cư,…Trong đó nguồn vốn trong dân cư và doanh nghiệp là quan trọng nhất vì đây là nơi tạo ra tích tụ vốn, là nguồn nguyên thuỷ để tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng. Hầu hết tâm lý của người dân thích để tiền ở nhà hơn là gửi tiền vào ngân hàng mặc dù họ biết gửi tiền vào ngân hàng họ sẽ có tiền lãi, thế nhưng họ lại có tâm lý không an toàn khi gửi tiền vào ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần tạo ra sự hấp dẫn cho khách hàng gửi tiền bằng cách:

    + Đa dạng hoá các hình thức huy động.

    + Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu có đảm bảo bằng ngoại tệ để khách hàng yên tâm không sợ lạm phát.

    + Áp dụng lãi suất khuyến khích khi huy động vốn: gửi món tiền lớn trong thời gian dài lãi suất cao hơn gửi món tiền nhỏ, nghĩa là trong cùng một thời gian gửi tiền với số tiền lớn sẽ có mức lãi suất cao hơn gửi số tiền nhỏ.

    + Áp dụng hình thức tiết kiệm trúng thưởng theo số thứ tự của sổ tiết kiệm sẽ tạo sự hấp dẫn và sôi động hơn.

    + Tăng cường tiếp cận, chiêu thị trực tiếp đối tượng có thu nhập cao.

    + Thực hiện đảm bảo tiền gửi cho khách hàng.

    + Đội ngũ nhân viên giao dịch phải năng động, sáng tạo, thân thiện tạo cảm giác an toàn, thoải mái cho khách hàng.

    1. Biện pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng:

          – Sự kết hợp của nhiều phương thức cho vay: sự kết hợp này sẽ mang lại lợi ích cho cả người vay và ngân hàng, bởi vì người đi vay có thể chọn lựa cho mình phương thức phù hợp nhất và ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng.

    – Hiện nay các hình thức cấp tín dụng chủ yếu là cho vay theo hợp đồng tín dụng từng lần, cho vay bằng hình thức thấu chi tài khoản qua thẻ tín dụng… với lãi suất cho vay 0%, cho vay mua nhà với giá trị lên đến 100%, chúng ta cần sinh ra nhiều phương thức phù hợp hơn nữa với KH.

         

     

    – Cho vay theo lãi suất thỏa thuận:

    – Khi các Ngân hàng hoạt động theo cách cố định lãi suất, nghĩa là quản lý tài sản có (đầu tư và cho vay) theo hướng quan tâm đến lãi suất để có lợi nhuận nên buộc phải đi tìm khách hàng chấp nhận lãi suất đã đưa ra.

    – Ngược lại, khi ngân hàng thả nổi lãi suất trong khuôn khổ của ngân hàng nhà nước, lãi suất được xác định theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng theo từng thương vụ sẽ tốt hơn. Bởi vì, khi ngân hàng thả nổi lãi suất và chấp nhận tính lãi theo từng kết quả thương lượng, sẽ có nhiều khách hàng tìm đến với ngân hàng và điều này sẽ tạo nhiều cơ hội lựa chọn đầu tư. Ngân hàng không còn tìm kiếm một cách đơn phương nữa, mà cả khách hàng cũng tìm ngân hàng, do cả hai thấy có thể có nhiều lợi ích qua thương lượng.

          – Tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra nhằm hạn chế rủi ro tín dụng:

    – Đây là nội dung giữ vị trí quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng và phòng ngừa rủi ro. Đối với công tác cho vay của ngân hàng. Trong tất cả các bước thì thẩm định là bước quan trọng nhất để phát tiền vay tới tay người sử dụng, nếu công tác thẩm định không chính xác, đầy đủ thì rủi ro của ngân hàng không thể tránh khỏi.

    – Khi rủi ro tín dụng nảy sinh sẽ làm đồng vốn kinh doanh mà ngân hàng bỏ ra sẽ không đem lại hiệu quả, làm ảnh hưởng hoạt động của ngân hàng, chính điều đó mà trước khi cho vay cán bộ tín dụng phải nắm bắt được các thông tin, đánh giá khả năng tài chính của khách.

    – Để hạn chế rủi ro tín dụng cần thiết phải thực hiện một số công việc sau:

    + Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ vay vốn, hợp đồng thế chấp, giấy uỷ quyền,…phải có chữ ký thể hiện sự đồng tình và cùng chịu trách nhiệm về món tiền vay của người đứng ra vay vốn.

    + Nội dung kinh tế của việc vay vốn, tính khả thi của phương án kinh doanh, khả năng trả nợ cho ngân hàng.

    + Tính hợp pháp của tài sản thế chấp, các quyền của người vay đối với tài sản thế chấp. Đặc biệt là phải chú ý đến tinh thần trách nhiệm của các thành viên có liên quan đối với món vay. Bởi vì, yếu tố tài sản thế chấp chỉ là biện pháp cuối cùng để xử lý các khoản nợ vay khó đòi, còn nguồn trả nợ vay chính là tiền có được từ hiệu quả phương án kinh doanh, sự sẵn lòng trả nợ mới là yếu tố quyết định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng.

    + Thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay. Kiểm soát cho vay phải được thực hiện từ khâu bắt đầu nhận hồ sơ xin vay đến khi thu hết nợ gốc và lãi. Trong đó, ngân hàng cần tập trung kiểm tra, kiểm soát các khâu:

    . Kiểm tra chặt chẽ hồ sơ trước khi cho vay.

    . Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay xem khách hàng sử dụng vốn có đúng mục đích vay vốn không.

          – Xếp hạng khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng:

    – Khi nhân viên tín dụng tiến hành xếp hạng khách hàng sẽ giúp họ quản lý các khoản vay hiệu quả hơn hạn chế rủi ro tín dụng do không nắm bắt được tình hình thực tế của khách hàng. Khi xếp hạng sẽ mang lại lợi ích sau:

    + Cho phép họ có nhận định chung về rủi ro các khoản cho vay.

    + Phát hiện sớm các khoản vay có khả năng bị tổn thất, từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.

    + Nhân viên có thể xác định được khi nào cần tăng sự giám sát.

    + Việc xếp hạng khách hàng sẽ làm cơ sở để xác định mực dự phòng rủi ro.

    Việc xếp hạng khách hàng phải được thực hiện với tất cả khách hàng không phân biệt cũ và mới, không cho khách hàng biết đánh giá rủi ro về món tiền cho vay trong mọi trường hợp để tránh tình trạng khách hàng làm sai lệch thông tin. Sau khi xếp hạng khách hàng nếu có sự thay đổi về khả năng trả nợ của khách hàng phải tiến hành đánh giá lại.

    – Khi tiến hành xếp hạng nhất thiết nhân viên phải dựa vào:

    + Tính cách, trách nhiệm và độ tin cậy của người đứng vay.

    + Lịch sử nợ vay của người đi vay.

    + Mức độ rủi ro nghành nghề kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện.

    + Những biến động trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.

    + Chất lượng của các chiến lược kinh doanh.

    + Tài sản đảm bảo.

    Sau khi đánh giá như thế Nhân viên cần đánh giá thêm tính chất hợp pháp, giá trị tài sản thế chấp, cũng như người bảo lãnh,…những công việc này sẽ giúp hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động tín dụng.

          – Xây dựng cơ chế tín dụng phù hợp:

    – Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác muốn tồn tại và phát triển cần phải liên tục tìm kiếm thị trường và đẩy mạnh phát triển thị trường mà mình chưa hoạt động hiệu quả.

    – Do vậy khi xây dựng cơ chế, chính sách cần phải có quan điểm kinh doanh và phục vụ rõ ràng không được coi trọng mặt này xem nhẹ mặt kia. Do đó những cán bộ làm cơ chế phải tôn trọng quan điểm này, để khi xác định mục tiêu hay nội dung của chính sách cơ chế phải nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của mình một cách tốt nhất.

    – Đối với khách hàng nói chung và nhất là khách hàng tín dụng tiêu dùng nói riêng: cơ chế tín dụng ngân hàng phải phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản thuận tiện thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích ngân hàng.

    – Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng: phạm vi, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hiệu quả và an toàn.

          – Tìm kiếm khách hàng:

    – Muốn đẩy mạnh phát triển tín dụng tiêu dùng vấn đề chính yếu là phải có khách hàng và thu hút được khách hàng. Việc này đòi hỏi nhân viên chuyên trách ngân hàng nghiên cứu nền kinh tế để nắm bắt được các thành phần có nhu cầu từ đó cung ứng tín dụng

    – Khi nắm bắt được tình hình điều kiện kinh tế của các cá nhân có nhu cầu từ đó ngân hàng có yêu cầu hỗ trợ.

          -Thu hút khách hàng:.

    – Khi đã xác định được các cá nhân cần hỗ trợ tín dụng, đó chính là lúc ngân hàng cần phải cho khách hàng thấy được các chính sách lợi ích của ngân hàng đối với họ so với các Ngân hàng khác nhằm thu hút khách hàng. Có các giải pháp sau:

    + Lãi suất là công cụ nhạy cảm nhất, bởi vì khi khách hàng vay vốn điều trước tiên họ quan tâm chính tiền lãi họ phải trả do đó cần có chính sách lãi suất phù hợp vừa thu hút được khách hàng vừa tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    + Khi thu hút khách hàng sẽ phải cạnh tranh khách hàng với các ngân hàng khác do đó muốn cạnh tranh tốt đòi hỏi ngân hàng không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỷ thuật nghiệp vụ, hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm soát và đổi mới công nghệ ngân hàng tạo điều kiện phục vụ tốt hơn cho khách hàng.

    – Nhân viên:

    – Nền kinh tế Việt nam thực sự đã hoà mình vào dòng chảy nền kinh tế thị trường, vì vậy vấn đề vốn cho doanh nghiệp là hết sức quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh hay nói cách khác về khả năng cạnh tranh mang tính cấp thiết, mà nhu cầu vốn được đáp ứng kịp thời đó chính là vay tại các ngân hàng, đó cũng là lý do để hoạt động ngân hàng trong những năm gần đây phát triển mạnh hơn.

    – Hệ thống ngân hàng phát triển với số lượng ngày càng tăng, vấn đề cạnh tranh giữa các ngân hàng không thua kém các doanh nghiệp sản xuất, để có thể đứng vững và lớn mạnh đòi hỏi vốn kinh doanh phải lớn, đội ngũ nhân viên có năng lực, sáng tạo trong công việc hơn hẳn các ngân hàng khác để thu hút khách hàng. Để thực hiện điều này đòi hỏi:

    + Đào tạo và đào tạo lại trình độ của nhân viên ngân hàng.

    + Ngoài chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng, cần bổ sung thêm kiến thức về các lĩnh vực kinh doanh khác để phục vụ công tác thẩm định khách hàng trước khi quyết định cho vay vốn.

    + Tạo cơ hội cho nhân viên tiếp xúc, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị công tác.

    + Tạo cơ hội để họ phát huy hết khả năng tiềm ẩn của mình.

    + Bên cạnh cần nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp cho nhân

    Nói tóm lại, để đẩy mạnh ngiệp vụ cho vay tại ngân hàng, ngoài chính bản thân của ngân hàng phải nổ lực thì chính phủ và nhà nước cần có những chính sách thích hợp nhằm kích thích sự phát triển kinh tế thì hoạt động cho vay tại ngân hàng mới phát huy hết tác dụng của mình.

     

     

    PHẦN KẾT LUẬN

    I. Kết luận:

    Báo cáo được thực hiện nhằm giải quyết 4 nhiệm vụ chủ yếu sau:

    + Nêu một số cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng, tìm hiểu và vận dụng vào việc phân tích làm rõ vấn đề nghiên cứu.

    + Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Eximbank Chợ Lớn: về lịch sử, lĩnh vực họat động, kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm(2006, 2007, 2008)

    + Đi sâu phân tích hiệu quả tín dụng tiêu dùng từ đó phát hiện những ưu điểm của hoạt động tín dụng này, để đề ra những giải pháp phát huy nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đồng thời khắc phục những mặt yếu kém.

    + Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng

    II. Kiến nghị:

    + Hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển, số lượng khách hàng đến giao dịch ngày càng tăng. Đặc biệt là khách hàng đến vay tiêu dùng tại ngân hàng vào thời điểm cuối năm rất đông ngồi kín cả lối đi, cần mở rộng cơ sở hạ tầng hơn nữa.

    + Cần xây dựng các quỹ tín dụng rải rác ở các nơi có nhân viên phụ trách để phân tán số lượng khách hàng đến giao dịch.

    + Tạo điều kiện ổn định nơi ăn ở cho các nhân viên trong ngân hàng nhằm ổn định cuộc sống gia đình để họ phát huy tinh thần làm việc năng động của họ.

    + Mở cuộc điều tra thăm dò ý kiến khách hàng về cách cư xử, thái độ phục vụ khách hàng của nhân viên, về sản phẩm ngân hàng,…để họ đóng góp ý kiến cho ngân hàng để ngân hàng rút kinh nghiệm nhằm phát triển hơn. Tuy nhiên, để công việc này có hiệu cần có giải thưởng cho khách hàng nào có ý kiến đóng góp hay mang lại hiệu quả cao hơn cho ngân hàng có như thế khách hàng mới nhiệt tình.

    Không còn cảnh “cửa đóng, then cài” đối với dịch vụ cho vay tiêu dùng như thời gian “khát” vốn trước kia, nhiều ngân hàng đã “nới tay” đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân. Chính vì thế sự cạnh tranh đang diễn ra rất gay gắt giữa các ngân hàng. Chúng ta cần nhanh chóng khắc phục những khó khăn để chiếm thị phần trong dịch vụ này.

  • Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu training Qui trình bán hàng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    A– MỞ ĐẦU

     

     

    I : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

    Những năm gần đây, quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đã được đẩy mạnh ở nước ta, bên cạnh sự phát triển về sản lượng, đó còn là sự phát triển về việc ứng dụng khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất. Trong đó, công nghệ thông tin là một trong những ngành phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế.

    Đối với các doạnh nghiệp thương mại và dịch vụ, có thể nói hàng hóa là đối tượng kinh tế đặc trưng nhất, vì vậy công tác quản lý hàng hóa, đặc biệt là quản lý bán hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác kế toán và công tác quản lý.

    Tuy nhiên, có một khó khăn đối với các nhà quản trị, đó là các nghiệp vụ liên quan đến quá trình bán hàng phát sinh với số lượng lớn và liên tục, việc ghi chép trên sổ sách mang tính thủ công, có thể để sót các nghiệp vụ kinh tế, việc tổng hợp thông tin chậm…, dẫn đến hiệu quả năng suất thấp.

    Việc áp dụng công nghệ thông tin đã mang đến một giải pháp cho công tác quản lý, thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin, qua đó tin học hóa ngày càng được mở rộng, luồng thông tin được xử lý một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, đầy đủ và bảo mật.

    Xuất  phát từ những lý do trên, nhóm quyết định chọn đề tài : “Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty”

    II : PHẠM VI NỘI DUNG:

    Tên đề tài : : “Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty”

    Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty là một doanh nghiệp thương mại, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các hàng hóa lương thực thực phẩm, ví dụ như sữa, nước giải khát, bia…..

    Địa chỉ công ty : 59 – 61 Hoàng Diệu, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.

    Tài liệu của đề tài đề cập đến công tác quản lý bán hàng của công ty. Bao gồm các  thông tin như Hóa đơn nhập, Hóa đơn xuất, Hóa đơn chi tiết, Danh mục hàng hóa, Danh mục nhân viên, Danh mục khách hàng,Thống kê hàng hóa tồn kho và báo cáo bán hàng.

    Hệ thống thông tin kế toán về bán hàng không thể áp dụng cho các công ty khác nhau, bởi vì mỗi công ty có một cách quản lý khác nhau, có các phương pháp hạch toán khác nhau.

    III : TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG:

    Thiết kế hệ thống thông tin ở đây là công việc phân tích hệ thống, thông qua sơ đồ phân tích hoàn thiện công tác quản lý. Thông qua việc thiết kế chỉ rõ các chức năng cơ bản của hệ thống được xây dựng và tiến hành làm việc như thế nào, chỉ ra các sơ đồ thuật toán, các sơ đồ cấu trúc chính của hệ thống, đồng thời mô tả một cách chi tiết các chức năng của hệ thống.

    IV : MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

    + Thông qua việc nghiên cứu,  xây dựng hệ thống thông tin quản lý bán hàng, từ đó cơ cấu lại công tác tổ chức quản lý, với sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng, các chương trình kế toán, doanh nghiệp có thể thay thế một số công đoạn thủ công bằng tin học hóa.

    + Với sự hỗ trợ của máy tính, các thông tin về quá trình nhập, xuất hàng hóa, các thông tin về khách hàng, nhân viên, hàng hóa sẽ được cập nhập và xử lý  một cách nhanh chóng, chính xác, đầy đủ.

    + Từ việc cập nhập và xử lý thông tin, các chứng từ, sổ sách kế toán sẽ được lập một cách dễ dàng, tạo điều kiện thuận cho công tác quản lý quá trình hoạt động của công ty.

    + Cung cấp các thông tin cần thiết cho các đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt động của công ty.

    Thông tin kết xuất
    DL vào
    1. Kế hoạch triển khai:

     

    .                Thời

    gian

    Công

    Việc

    Tuần 4 Tuần 5 Tuần 6 Tuần 7 Tuần 8 Tuần 9 Tuần 10
    Nghiên cứu đề tài
    Phân tích và chọn đề tài
    Vẽ biểu đồ phân cấp chức năng,  biểu đồ luồng dữliệu và thiết kế Entity Relationship
    Thiết kế Database vật lí, các form nhập liệu, Report, sơ đồ khối
    Thiết kế cơ sở dữ liệu bằng Ms_Access v à  các thuật toán
    Kiểm tra và viết kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    B- NỘI DUNG

     

    I. Biểu đồ phân cấp chức năng FHD

     

     

     

     

     

     

     

     

    II. Biểu đồ dòng dữ liệu DFD

              2.1 Biểu đồ dòng dữ liệu mức khung cảnh (mức 0)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2 Biểu đồ dòng dữ liệu mức đỉnh (mức 1)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.3 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh (mức2) :Định nghĩa chức năng cập nhật danh mục

     

     

     

    2.4 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng mua hàng

     

                                                                                        

     

     

    2.5 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng bán hàng

     

     

    2.6 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng gửi hàng

     

     

     

     

     

     

    2.7 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng lập hóa đơn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.8 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 3): Định nghĩa chức năng kiểm tra thông tin

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    III. Các kiểu thực thể &mô hình ER(Entity Relationship

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     IV/ Thiết kế Database vật lí (gồm có 11 bảng )trình bày về các thông tin như Field Name,Type,Size,Description….

     

                1   Table Khách hàng

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma KH Text 10 Khóa chính Mã khách hàng
    2 Ten KH Text 30 Tên khách hàng
    3 Dia chi Text 20 Địa chỉ
    4 Dien thoai Text 50 Điện thoại
    5
    6

     

                2 Table Hàng

                                 

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma Hang Text 10 Khóa chính Mã hàng
    2 Ten Hang Text 50 Tên hàng
    3 Ma Loai Text 10 Mã loại
    4 Trong Luong Number Single Trọng lượng
    5 DVT Text 10 Đơn vị tính
    6 ĐG Nhap Number Double Đơn giá nhập
    7 ĐG Xuat Number Double Đơn giá xuất
    8
    9

     

     

     

     

     

    3. Table Nhà Cung Cấp

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma NCC Text 10 Khóa chính Mã nhà cung cấp
    2 Ten NCC Text 10 Tên nhà cung cấp
    3 Dia chi NCC Text 20 Địa chỉ nhà cung cấp
    4 Fax Text 25 Fax

     

     

     

     

    4. Table DM loại

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma loai Text 10 Khóa chính Mã loại
    2 Ten loai Text 10 Tên loại

     

     

    5 Table : HĐ xuất

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chứng từ
    2 Ngay Date/time 25 Ngày
    3 Ma NV Text 10 Khóa ngoại Mã nhân viên
    4 Ma KH Text 10 Khóa ngoại Mã khách hàng
    5 Ma Kho Text 10 Khóa ngoại Mã kho
    6 Dien Giai Text 40 Diễn giaỉ
    7 Tk Co Number Double Tài khoản có
    8 Tk No Number Double Tài khoản nợ
    9 Ma NX Text 10 Khóa ngoại Mã nhập xuất

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    6 Table : HĐ Xuất CT (hóa đơn xuất chi tiết)

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chi tiết
    2 Ma Hang Text 10 Khóa chính Khóa chính của bảng hàng
    3 So luong Number Double Số lượng đơn đặt hàng
    4 DG ban Number Double Đơn giá bán xuất

     

     

     

     

    7. Table : HĐ Nhập

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chứng từ
    2 Ngay Date/time 10 Xác định ngày nhập hàng
    3 Ma NCC Text 10 Khóa ngoại Nhà cung cấp
    4 Ma KH Text 10 Khóa ngoại Mã khách hàng
    5 Ma Kho Text 10 Khóa ngoại Mã kho
    6 Dien Giai Text 40 Diễn giải
    7 Tk Co Number Double Xác định số nợ là bao nhiêu
    8 Tk No Number Double Xác định số có là bao nhiêu
    9 Ma NV Text 10 Khóa ngoại Mã nhân viên

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    8. Table : HĐ nhập chi tiết

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chi tiết
    2 Ma Hang Text 10 Khóa chính Khóa chính của bảng hàng
    3 So luong Number Double Cho biết số lượng đơn đặt hàng
    4 DG ban Number Double Đơn giá bán nhập

    9. Table : Nhân viên

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma NV Text 10 Khóa chính Mã nhân viên
    2 Ten NV Text 30 Tên nhân viên
    3 Chuc vu Text 35 Chức vụ của nhân viên
    4 Dia chi Text 10 Địa chỉ

     

     

     

     

     

     

    10. Table : DM Kho

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma Kho Text 10 Khóa chính Mã kho
    2 Ten Kho Text 40 Tên kho
    3 Dia Chi Kho Text 40 Địa chỉ

     

    11. Table : DM NX

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma NX Text 10 Khóa chính Mã nhập xuất
    2 Ten NX Text 10 Tên nhập xuất

     

    IV. Thiết kế form

                1. Form Hoá đơn nhập

     

     

    HD Nhap

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.Form HD xuất

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3. Form Hàng

     

     

     

     

     

    4. Form Nhân Viên

     

     

     

     

     

    5. Form Khách Hàng

     

     

     

     

     

    V. Thiết kế Report

             

     

     

     

    BẢNG KÊ DỊCH VỤ HÀNG HÓA BÁN RA

    Ngày …tháng …năm 2007

    Tên đơn vị :

    Ngành nghề kinh doanh:

    STT SHĐ Ngày HĐ Họ tên địa chỉ người mua Mã số thuế Mặt hàng Doanh số chưa thuế Thuế VAT(%)
    1
    Cộng:

    Kế toán trưởng                                                          Giám đốc

    (Ký,họ tên )                                                         (Ký,họ tên,đóng dấu )

     

    Đơn Vị: Công ty Bánh kẹo Quảng Ngãi

    Bộ phận : Bán hàng

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày 10 tháng 9 năm 2009

    Tên điạ chỉ người nhận:

    Lý do xuất: Xuất bán

    Xuất tại kho: Hàng hoá          Địa điểm: 19-Nguyễn Chí Thanh-Quảng Ngãi

    STT Tên sản phẩm, hàng hoá ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Thực xuất Yêu cầu
    01 Bánh ChoCoViNa

    Một mặt hàng
    Thùng 100 100 120000 12.000.000
    Cộng: 12.000.000

    Số tiền viết bằng chữ: Mười hai triệu đồng chẵn

    Số chứng từ gốc kèm theo

    Ngày 10 tháng 9 năm 2009

    Người lập phiếu        Người nhận hàng     Thủ kho     Kế toán trưởng        Giám đốc

    (Ký, họ tên)                  (Ký, họ tên)       (Ký, họ tên)    (Ký, họ tên)         (Ký, họ tên)

    BẢNG KÊ BÁN LẺ HÀNG HOÁ DỊCH VỤ

    (Ngày ….Tháng…Năm…)

    Tên cơ sỏ kinh doanh:…………………………………………………………………………

    Địa chỉ:…………………………………………………………………………………………….

    Họ tên người bán hàng;……………………………………………………………………….

    Địa chỉ nơi bán:…………………………………………………………………………………

    STT Tên hàng hoá dịch vụ Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Doanh thu có thuế suất Thuế suất VAT
    A B C 1 2 3 4
    Tổng cộng tiền:

     

    Tổng số tiền bằng chữ:……………………………………………………………………..

    Ngày …Tháng…Năm…

    Người bán

    (Ký,họ tên)

    Mẫu số 01-1/GTGT

    (Ban hành kèm theo thông tư)

     

    BẢNG KÊ HOÁ ĐƠN CHỨNG TỪ HÀNG HOÁ DỊCH VỤ BÁN RA

    (Kèm theo tờ khai thuế GTGT theo mẫu số 01/GTGT)

    Người nộp thuế:…………………………………………………………………………………

    Mã số thuế:……………………………………………………………………………………….

    Đơn vị tiền : đồng Việt Nam

    STT Hoá đơn chứng từ bán Tên người mua Mã số thuế người mua Mã hàng Doanh số bán chưa thuế Thuế suất Thuế VAT Ghi chú
    Kí hiệu hoá đơn Số hoá đơn Ngày tháng năm phát hành
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
    1.Hàng hoá dịch vụ không chịu thuế :
    2.Hàng hoá dịch vụ chịu thuế 0%:
    3.Hàng hoá dịch vụ chịu thuế 5%:
    4.Hàng hoá dịch vụ chịu thuế 10%:
    Tổng :

    Tổng doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra :…………………………….

    Tổng thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ bán ra:……………………..

    V. Thiết kế các thuật toán (Algorthms) xử lí (sơ đồ khối)

     

     1. Thuật toán cập nhật danh mục hàng hoá

     

     

     

     

    2. Thuật toán: Nhập hàng vào kho

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3. Thuật toán :Sửa hoá đơn nhập

     

     

     

     

     

     

     

    4. Thuật toán: Xoá hoá đơn nhập

     

     

     

     

     

    5. Thuật toán: Tìm hoá đơn

     

     

     

     

     

     

    6. Thuật toán:Trả lời đơn đặt hàng của KH

     

    C- KẾT LUẬN

     

             Như đã nói ở trên, hoạt động quản lý bán hàng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp thương mại dịch vụ nào. Với việc xây dựng một hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong quá trình quản lý và duy trì hoạt động. Việc xây dựng hệ thống tin này phải dựa tren cơ sở khỏa sát tình hình thực tiễn tại công ty, không thể áp dụng đối với các công ty khác.

    Đề công tác quản lý đạt được hiệu quả cao, công ty cần phải có chính sách đầu tư hợp lý, ứng dụng công nghệ một cách rộng rãi, cần phải có một đội ngũ nhân viên được đào tạo một cách chuyên nghiệp….

    Vì thời gian nghiên cứu có hạn, nên bài báo cáo của nhóm có thể  còn nhiều sai sót, nhưng nhóm hy vọng từ bài báo cáo này sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quát về vai trò của việc thiết kê, xây dựng hẹ thống thông tin kế toán trong công ty.

    Để bài báo cáo được hoàn thiện hơn, nhóm kính mong sẽ nhận được sự góp ý nhận xét của thầy.

    …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

     

  • Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Lời mở đầu

     

    Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực của xã hội. Trong thương mại quốc tế, mọi giao dịch đều đòi hỏi phải có tốc độ nhanh chóng, thanh toán bằng tiền mặt đã cho thấy những mặt hạn chế của nó. Do vậy vào những năm 50 của thế kỷ 20, một số ngân hàng trên thế giới đã giới thiệu thẻ thanh toán. Cho đến nay việc thanh toán bằng thẻ đã khẳng định được những tính năng ưu việt của nó so với các phương tiện thanh toán khác.

    Mặc dù thẻ thanh toán đã ra đời được hơn 50 năm nhưng nó mới  được biết đến ở Việt Nam khoảng 10 năm trước đây. Và đến năm 1996 chỉ có 2 ngân hàng thương mại Việt Nam là Ngân hàng Ngoại Thương và Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) tham gia phát hành thẻ thanh toán. Trong những năm đầu phát hành, ACB đã từng bước khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam này. Tuy vậy, ACB vẫn còn gặp nhiều khó khăn để có thể mở rộng và không ngừng hoàn thiện dịch vụ thanh toán thẻ của mình.

    Nhận thức được tính cấp thiết phải mở rộng và hoàn thiện dịch vụ thanh toán thẻ ở Việt Nam nói chung và của Ngân hàng ACB nói riêng, em đã chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB” cho đề tài tiểu luận của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài : Thông qua việc nghiên cứu  cơ sở lí luận, tình hình thực tế phát hành và thanh toán thẻ tại ACB, các văn bản pháp quy liên quan…để thấy được những tồn tại trong phát hành và thanh toán thẻ , từ đó đưa ra một số ý kiến để mở rộng dịch vụ thẻ hiện nay và trong thời gian tới.

    Kết cấu khoá luận của em được chia làm 3 chương như sau:

    Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của NHTMCP Á Châu ACB

    Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTM Cổ phần Á Châu ACB

    Chương 1: Một số vấn đề  cơ bản về thẻ thanh toán:

     

    I.             Quá trình hình thành và phát triển của các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hàng hoá:

    1.    Sự xuất hiện của tiền tệ với  chức năng phương tiện thanh toán:

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    2. Sự xuất hiện của hệ thống ngân hàng thương mại với chức năng làm trung gian thanh toán của nền kinh tế:

     

    Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay:
    Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
    Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ.
    Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.

    3. Sự xuất hiện của phương thức thanh toán phi tiền mặt và tính ưu việt của nó:

    Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hóa…, có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã, đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa, đặc biệt là giao dịch có giá trị và khối lượng lớn.

    Các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về khoảng cách. Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt, nhất là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn kém; Việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng lớn dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc các chủ nợ; Vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền mặt luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm; Sử dụng nhiều tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia.

    Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn ở mức phổ biến trong xã hội, tình hình sẽ càng phức tạp và khó kiểm soát hơn.

    Hiện các hình thức thanh toán điện tử phổ biến gồm: Thanh toán thông qua thẻ (POS, ATM…), trên Internet thông qua tài khoản mở tại ngân hàng, thông qua điện thoại di động và thanh toán thông qua một mạng lưới mà các thành viên tham gia cùng chấp nhận một nguyên tắc chung như hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT, trong nước là hệ thống CITAD…

    Dựa vào chủ thể tham gia, có thể phân chia thương mại điện tử ra các loại hình sau:

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B (business to business).

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng – B2C (business to consumer).

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước – B2G (business to government).

    – Giao dịch trực tiếp giữa các người tiêu dùng với nhau – C2C (consumer to consumer).

    – Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân – G2C (government to consumer).

    Điếm khác biệt lớn nhất giữa thanh toán điện tử và thanh toán truyền thống là thông qua các phương tiện điện tử, loại bỏ hầu hết việc giao nhận giấy tờ và việc ký truyền thống thay vào đó là các phương pháp xác thực mới.

    Dùng phương pháp mới để xác nhận đúng người có quyền ra lệnh thanh toán mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Lợi ích lớn nhất là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch. Các giao dịch qua kênh điện tử có chi phí vận hành rất thấp. Chi phí chủ yếu là đầu tư ban đầu, trong điều kiện công nghệ phát triển nhanh chi phí đầu tư cũng giảm đáng kể. Doanh nghiệp không cần phải đầu tư nhân sự, địa điểm và các chi phí lưu chuyển hồ sơ cho việc giao dịch.

    Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với phương pháp truyền thống. Thông thường giao dịch tại quầy cho một khách hàng chuyển tiền mất khoảng 15 phút, không kể thời gian đi lại và chờ đợi nhưng giao dịch trên Internet, Mobile hoặc qua hệ thống thẻ chỉ qua một vài thao tác đơn giản trong một vài phút.

    Với thanh toán điện tử, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, không bị giới hạn bởi không gian địa lý. Với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ nhanh chóng. Việc không phải mang theo nhiều tiền mặt, giảm thiểu rủi ro mất tiền, tiền giả, nhầm lẫn… sẽ giảm bớt được việc thiếu minh bạch so với giao dịch bằng tiền mặt.

    4. Các phương tiện thanh toán phi tiền mặt chủ yếu:

     

    • Thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS

     

    • Séc: là một trong những phương tiện thanh toán đã có lâu đời ở các nước phát triển, dựa trên Công ước thế giới về Séc năm 1933, các nước đều ban hành Luật Séc, hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Séc, để việc sử dụng séc được nhanh chóng, thuận tiện không chỉ trong cùng địa phương và cùng tổ chức phát hành séc, các nước đều có Trung tâm xử lý thanh toán bù trừ séc ngoài hệ thống và khác địa phương do Ngân hàng Trung ương hoặc Hiệp hội Ngân hàng quản lý, nhờ vậy, phương tiện thanh toán bằng séc được sử dụng phổ biến ở nhiều nước phát triển.

    Thương mại điện tử (TMĐT) : còn nhiều rào cản: theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Công thương, trong những năm gần đây, TMĐT đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng từ 31% năm 2005 lên 45% năm 2008, tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84% của năm trước. Hiện có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối internet. Tuy nhiên, do thói quen mua sắm của người tiêu dùng và khâu thanh toán khiến TMĐT Việt Nam chậm phát triển; người mua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng.

    II. Giới thiệu chung về thẻ thanh toán:

     

    1.Khái niệm về thẻ thanh toán:

    Đối với thẻ thanh toán có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn đạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán:

    • Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động.
    • Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty.
    • Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
    • Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.

    Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động.

    2. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán:

     

    – Năm 1990 hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa giữa ngân hàng Pháp BFCE và Ngân hàng Ngoại thương VN đã mở đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào VN. Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến VN ngày càng nhiều. Sau Ngân hàng Ngoại Thương, Sài Gòn Thương Tín cũng liên kết với trung tâm thanh toán thẻ Visa để làm đại lý thanh toán. Có lẽ chính sách mở cửa thông thoáng đã đem lại cho VN một bộ mặt kinh tế – xã hội nhiều triển vọng. Các dự án đầu tư nước ngoài tăng từ số lượng đến quy mô, các định chế tài chính lớn đã chú ý đến VN và đi theo những tập đoàn này là các dịch vụ song hành trong đó thẻ thanh toán là không thể thiếu được.

    – Năm 1995 cùng với Ngân hàng Ngoại thương TP.HCM, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Liên doanh First-Vina-Bank và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Eximbank được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN cho phép chính thức gia nhập tổ chức thẻ quốc tế Mastercard.

    – Năm 1996 Ngân hàng Ngoại thương chính thức là thành viên của tổ chức Visa International. Tiếp sau đó là Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Công thương VN cũng lần lượt là thành viên chính thức của tổ chức Visa Card, trong đó Ngân hàng Ngoại thương và Á Châu thực hiện thanh toán trực tiếp với tổ chức này. Cũng trong năm này Ngân hàng Ngoại thương VN (Vietcombank) phát hành thí điểm thẻ ngân hàng đầu tiên, đồng thời Hội các ngân hàng thanh toán thẻ VN cũng được thành lập với bốn thành viên sáng lập gồm Vietcombank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) và First Vinabank. Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ lúc ấy chỉ là quyết định số 74 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành ngày10/4/1993, qui định “thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ thanh toán”. Việc ứng dụng thẻ ở VN vào thời điểm đó còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật… Trên cơ sở thỏa thuận của Ngân hàng Nhà Nước, ngân hàng thương mại thí điểm phát hành thẻ tự xây dựng qui chế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tức tính pháp lý chỉ dừng ở mức điều chỉnh “nội bộ” giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ.

    – Thị trường thẻ năm 2006, 2007 trở lên sôi động vì VN đã bước vào sân chơi rộng là WTO, thị trường tài chính VN càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều ngân hàng nước ngoài đầu tư vào đây và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại “vũ khí” đắc lực để ngân hàng thâm nhập thị trường. Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra một cuộc “so tài” phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước. Đầu tiên là Ngân hàng TMCP Kỹ thương VN – Techcombank, ngân hàng này đã tung ra hàng loạt thẻ thanh toán, nổi trội là thẻ Fastaccess. Tiếp theo đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank đã kết hợp cùng tổ chức Visa ra mắt thẻ thanh toán Quốc tế Sacom Visa Debit. Đây là phương tiện thanh toán năng động nhắm vào giới doanh nhân: chủ tài khoản có thể dùng thẻ để thanh toán trong và ngoài nước.

    3. Đặc điểm và phân loại thẻ thanh toán:

    Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ…

    3.1. Phân loại theo công nghệ sản xuất:

    Có 3 loại:

    1. Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
    2. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin…
    3. Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính.

    3.2. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:

     

    1. Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay … chấp nhận loại thẻ này.

    Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả.

    1. Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn … đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn… Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.

    Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.

    Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:

    – Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.

    – Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.

    1. Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.

    Thẻ rút tiền mặt có hai loại:

    Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.

    Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ.

    3.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:

     

    – Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.

    – Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.

    3.4. Phân loại theo chủ thể phát hành:

     

    – Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng.

    – Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn… phát hành như Diner’s Club, Amex…

    4. Vai trò, tiện ích và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:

     

    Vai trò, tiện ích:

    Với đặc tính chức năng của mình, thẻ tín dụng mang lại rất nhiều tiện ích cho người sử dụng.

    – Nếu sở hữu một thẻ tín dụng và thường xuyên mua sắm tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ: Siêu thị, cửa hàng, sân bay, thanh toán trực tuyến… thì lợi ích của việc này là được chậm trả những khoản tiền bạn dùng để mua sắm. Ngân hàng ứng trước một hạn mức cho thẻ tín dụng của bạn để thực hiện thanh toán trong một tháng, và sau đó bạn có tối đa 45 ngày để thanh toán những khoản tiền đã chi tiêu mà không bị tính lãi.

    – Ở các nước phát triển, khi mọi cửa hàng đều có thiết bị thanh toán cho các loại thẻ thì hầu hết người dân có thu nhập ổn định đều chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Sử dụng thẻ sẽ an toàn, thuận tiện hơn mang theo tiền mặt, giúp tiết kiệm thời gian.

    – Tại Việt Nam, giới văn phòng có mức thu nhập khá ở các thành phố, đặc biệt là những người hay đi công tác, thường xuyên có nhu cầu đặt phòng khách sạn, đặt vé máy bay… thì sử dụng thẻ tín dụng cũng là một giải pháp hay.

    – Những người hay ra nước ngoài thích hợp với các loại thẻ tín dụng quốc tế để có thể sử dụng ở hầu hết các điểm chấp nhận thẻ cả trong nước và ngoài nước. Thẻ quốc tế sẵn có tính năng thanh toán trực tuyến với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, bảo mật giúp chủ thẻ yên tâm khi sử dụng.

    – Các thẻ quốc tế thông dụng ở nước ta hiện có: Visa, Master, American Express, JCB, Dinner Club… do rất nhiều ngân hàng phát hành: Vietcombank, ACB, Eximbank, Sacombank, Incombank, VIBBank Techombank, Agribank…

    – Các ngân hàng cũng phát hành thẻ tín dụng nội địa của ngân hàng mình, với những tính năng riêng giúp gia tăng tiện ích cho chủ thẻ: Chức năng thanh toán trực tuyến, thanh toán qua thư, điện thoại, tự động thanh toán hóa đơn định kỳ, ưu đãi khi thanh toán tại các cửa hàng là đối tác của ngân hàng phát hành…

    Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:

    • Thứ nhất, đại đa số người dân Việt Nam có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán hàng ngày bởi họ cho rằng tiền mặt là phương tiện thanh toán này đơn giản và thuận tiện nhất.
    • Thứ hai, cổng thanh toán trực tuyến chỉ chấp nhận các loại thẻ thanh toán quốc tế như VISA card, Master Card… Trong khi đó, theo thống kê, trong số hơn 20 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam thì chỉ có 20% có thẻ ghi nợ và 1% có thẻ tín dụng tại các ngân hàng trong và ngoài nước.
    • Tâm lý sợ rủi ro :

    Chị Trần Minh Nguyệt, quận Cầu Giấy, Hà Nội mua chiếc máy tính xách tay hiệu Lenovo tại Công ty Thế giới gi động, với giá 7,2 triệu đồng. Vì mang thiếu một triệu đồng, sau một hồi thương lượng với công ty, chị Nguyệt đã thanh toán nốt số tiền còn thiếu thông qua chuyển khoản bằng internet banking.

    – Tuy nhiên, thương vụ đã không thành vì đang thực hiện giao dịch thì hệ thống internet bị treo. “Ngoài việc phải chạy tới chạy lui ngân hàng làm bản tường trình, xác minh lại số tiền trên, đến hơn một tháng sau tôi mới nhận được tiền bị ‘kẹt’ trong hệ thống,” chị Nguyệt bức xúc.

    – Chị Nguyễn Minh Trang, Giám đốc một doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội cũng cho biết, hầu hết trong các thương vụ của chị đều thực hiện theo phương châm “tiền trao, cháo múc” vì rất sợ xảy ra sự cố phát sinh khi chuyển tiền qua tài khoản.

    – Theo Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước, hiện nay đã thiết lập được hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, kết nối 63 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố. Cả nước hiện có trên 10.000 máy ATM, hơn 36.000 thiết bị chấp nhận thẻ được lắp đặt và 22 triệu thẻ ngân hàng được phát hành, đã hình thành một số công ty chuyển mạch của các liên minh thẻ, kết nối giao dịch thẻ giữa các ngân hàng thành viên như Banknet, Smartlink. Song trên thực tế, đa số người dân chỉ sử dụng thẻ ATM để… rút tiền.

    – Theo các chuyên gia của ngành ngân hàng, việc người tiêu dùng Việt đã quá quen và lệ thuộc vào tiền mặt, cũng như tâm lý “sờ tận tay, nhìn tận mắt” mới yên tâm đã khiến cho thanh toán phi tiền mặt gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng vào đời sống. Có một thực tế là dù nhiều công ty đã tiến hành trả lương cho công nhân, nhân viên qua ATM, nhưng chỉ vài phút sau khi có lương, các nhân viên đã ùa ra quầy ATM để rút sạch tiền, với lý do “để tiền trong tài khoản ngân hàng thì… không yên tâm.”

    • Còn quá ít dịch vụ

    – Ông Đào Minh Tuấn, Phó Tổng giám đốc phụ trách về công nghệ của Vietcombank thừa nhận, ngoài thói quen sử dụng tiền mặt của người dân còn quá lớn, người dân không thích sử dụng thanh toán qua ATM còn do các dịch vụ trên Internet Banking, Mobile Banking hiện vẫn chưa thực sự đa dạng, công tác quảng bá của nhà băng về dịch vụ lại khá ít nên không thu hút được sự quan tâm nhiều của khách hàng.

    • Đến nay, Vietcombank có hơn 4 triệu tài khoản thẻ nhưng chỉ có khoảng 1 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking, chủ yếu là để vấn tin nhanh. Còn chuyển khoản, thanh toán chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 10% (tương đương 100 nghìn người).
    • Ông Phạm Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Vietinbank cũng cho biết, qua một số vụ việc mất an ninh, giao dịch lừa đảo, đã khiến cho niềm tin của người dân vào các dịch vụ như chuyển khoản qua SMS, Internet Banking hoặc Phone Banking… chưa cao.
    • Theo ông Phạm Anh Tuấn, trong thời gian vừa qua, nhiều ngân hàng đã làm mất uy tín đối với khách hàng khi thực hiện các giao dịch trực tuyến trên mạng, điều này gây ra tâm lý lo ngại cho người dân khi thực hiện thanh toán online. Thêm vào đó, khi sử dụng thanh toán thẻ, khách hàng sẽ phải trả một khoản phí cho nhà phát hành thẻ như Visa, Master Card, mà khoản phí này đối với Việt Nam vẫn còn quá cao. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp không mặn mà lắm với việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ, do đó họ hay viện cớ để yêu cầu khách hàng thanh toán bằng tiền mặt, hoặc khi thanh toán thì khách sẽ phải chịu phí.
    • Thẻ nhiều nhưng máy còn quá ít

     

    • Chị Nguyễn Hương Giang, nhân viên của một công ty truyền thông nước ngoài tại Việt Nam cho biết: “Tôi hiện đang sở hữu hai chiếc thẻ rút tiền phổ biến nhất của Vietcombank và BIDV. Thẻ ATM mang lại cho tôi rất nhiều tiện lợi khi cất giữ tiền bạc cũng như khi đi mua sắm. Tuy nhiên, không phải lúc nào tôi cũng có thể rút được tiền với những tấm thẻ đó trong tay. Khi mất điện hay có sự cố phần mềm tại cây ATM, hoặc vào những dịp lễ Tết có đông khách rút tiền, hai tấm thẻ ATM của tôi trở thành vô dụng. Hoặc những khi ra đến ngoại thành Hà Nội và đặc biệt khi đi công tác ở những tỉnh xa, tôi buộc phải cầm theo một xấp tiền vì ở đó không có máy ATM”.
    • Thật vậy, tương ứng với 2,1 triệu thẻ đã được các ngân hàng Việt Nam phát hành mới chỉ có 1.200 máy ATM được lắp đặt trên toàn quốc (tính tới thời điểm cuối năm 2005). Tính trung bình có tới 1.750 người chen chúc nhau sử dụng một chiếc máy ATM, một tỉ lệ quá nhỏ bé, chưa kể sự phân bố của hệ thống ATM là không đồng đều tại các địa phương cũng như tại các khu vực trong cùng một địa phương.

    Nhiều chuyên gia nhận xét rằng hiện nay các ngân hàng mới chỉ chạy theo bề nổi, tức số lượng thẻ phát hành ra, mà chưa chú ý tới chiều sâu, tức là sức sống của chiếc thẻ sau khi được đưa đến tay người sử dụng và những tiện ích đi kèm.

    Không chỉ có những bất tiện trong việc sử dụng thẻ ATM, người dùng Việt Nam còn đối mặt với hàng loạt những vấn đề khó chịu khác như hợp đồng dài dòng với những con chữ li ti hết sức khó đọc mà các nhân viên ngân hàng cũng chẳng mấy khi giải thích thấu đáo.

    • Thách thức bảo mật thẻ:

     

    Đặc biệt, khi một loạt các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực như Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… đang tích cực chuyển sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV có độ bảo an cao hơn, những kẻ tội phạm giả mạo thẻ đang có xu hướng chuyển hoạt động sang địa bàn Việt Nam, vì tuyệt đại đa số người Việt Nam đang sử dụng thẻ từ – loại thẻ dễ bị làm giả.

    Đứng trước nguy cơ này, nhiều ngân hàng Việt Nam dường như vẫn “bình chân như vại”. Cũng đã có một số trường hợp kiện cáo vì bị mất tiền từ thẻ ATM.

    Có thể trong một số trường hợp, lỗi thuộc về phía khách hàng nhưng cách giải quyết của nhiều ngân hàng nhiều khi chưa “thấu tình đạt lý”. Đa phần trong các vụ kiện này, người sử dụng bị thua kiện vì ngân hàng luôn “nắm đằng chuôi”.

    Công việc trang bị kiến thức bảo mật thẻ cho khách hàng dường như chỉ được thực hiện một cách qua loa và thiếu sự quan tâm đúng mức. Với những bất cập trong hệ thống thanh toán ATM của mình, đa phần các ngân hàng sử dụng biện pháp “mũ ni che tai”. Còn người sử dụng, nếu không may mắc phải, thì cũng đành than trời và dặn nhau “Thôi đành tự bảo trọng!”.

    Dù sao đi nữa, người tiêu dùng Việt Nam cũng đã quen dần với việc sử dụng một trong những phương thức thanh toán hiện đại, tiện dụng – thẻ ATM.

    Thực ra, bản thân công nghệ hiện đại phục vụ cuộc sống không bao giờ có lỗi. Có chăng thì đó là con người, nhân vật sáng tạo và sử dụng nó. Ông Nguyễn Trọng Khang – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty liên doanh Thẻ thông minh MK – cho biết: “Đứng trước cuộc cạnh tranh quyết liệt trên thị trưởng thẻ đầy tiềm năng như Việt Nam, các ngân hàng sẽ ngày càng chuyên nghiệp hóa hơn trong khâu phát hành thẻ cũng như thực hiện các dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng tốt hơn. Theo tôi, năm 2006 sẽ đánh dấu bước phát triển vượt bậc về chất của thị trường thẻ nước ta. Các ngân hàng sẽ chuyền dần sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV an toàn hơn và có thể tích hợp được nhiều dịch vụ gia tăng trên một tấm thẻ hơn”.

    Chiếc thẻ nhựa xinh xắn như một tấm danh thiếp đã trở thành một phần “tất yếu” của cuộc sống của nhiều người tiêu dùng Việt Nam. Với việc dịch vụ thanh toán thẻ qua hệ thống ATM ngày càng mở rộng thêm nhiều tiện ích như: nộp phí bảo hiểm, tiền điện, nước, trả cước điện thoại… và Ngân hàng Nhà nước sắp đưa ra những quy định mới bảo vệ người sử dụng, hy vọng trong năm mới này chiếc thẻ sẽ trở thành sự lựa chọn của nhiều người tiêu dùng Việt Nam.

    5. Các chủ thể tham gia trong quan hệ phát hành và sử dụng thẻ thanh toán:

     

    Các thành phần tham gia hoạt động thẻ: Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ trong nước có sự tham gia của 4 thành phần cơ bản: Ngân hàng phát hành, Ngân hàng thanh toán thẻ. Chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối với thẻ tín dụng quốc tế còn có thêm một thành phần nữa là Tổ chức thẻ quốc tế.

    Tổ chức thẻ quốc tế: Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp. Các tổ chức thẻ quốc tế nổi tiếng như: Công ty thẻ American express, Tổ chức thẻ Visa, MasterCard…

    Ngân hàng phát hành: Là NH được tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của tổ chức và công ty này. Ngân hàng phát hành được quyền in tên NH mình trên thẻ thể hiện đó là sản phẩm của mình.

    Ngân hàng thanh toán: Là NH chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cùng cấp hàng hoá dịch vụ. NH sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hướng dẫn cách thức vận hành cũng như cách thức quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này.

    Chủ thẻ: Là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty uỷ quyền sử dụng), có tên được in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều kiện NH quy định.

    Đơn vị chấp nhận thẻ: Là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký hợp đồng với NH về việc chấp nhận thẻ thanh toán như một phương tiện thanh toán. Các đơn vị chấp nhận thẻ thường là các khách sạn, sân bay, siêu thị…

    6. Quy trình phát hành và sử dụng thẻ:

     

    • Phát hành:

      Applicant apply —–> Issuer Bank review base on income and credit worthiness approve/ of deny credit ——->
      1 —>deny issuer bank send letter to applicant
      2 ——> approved bank send applicant profile to credit card making company —-> after card is made —> send to applicant

      Puchase processing:

      Card holder purchase at merchant – merchant machine —-> data sent to ———>
      Central processing center (card services) —–>
      1 – To issuer bank —–> sent statement to card holder
      2 – Send money to merchant credit card service —–> merchant’s bank account

      Payment:

      Card holder sent payment ——>
      1 – issuer bank —–> central processing center ——> CPC sent money back to issuer bank ( minus royalty & servíce fees)
      2 – direct to central processing center—-> CPC sent money back to issuer bank ( minus royalty & servíce fees)

      Central Processing Center ( Phoenix, Arizona (Visa), Wellmington, DE, Sioux Fall, S D (Mastercard)

      Discover Card và American Express cũng tuơng tự nhưng họ có hệ thống riêng, chỉ xài chung Merchant card service

    • Qui trình thanh toán trực tuyến bằng thẻ tín dụng

    Khi bạn bán sản phẩm hoặc dịch vụ trên mạng Internet, bạn cần cung cấp cho người mua một phương án thanh toán trực tuyến trên mạng bên cạnh các phương án thanh toán khác. Cách phổ biến nhất trong thanh toán trực tuyến hiện nay là sử dụng thẻ tín dụng Credit card của các hãng Visa, Master, American Express, JBC…được các ngân hàng phát hành (Issuer).

    Trước hết, nếu bạn là người bán (merchant), bạn phải tạo lập một tài khoản bán hàng trên mạng (Internet merchant account). Tài khoản bán hàng này bạn có thể đăng ký với Ngân hàng của bạn nếu ngân hàng có dịch vụ này hoặc với các dịch vụ cung cấp phần mềm xử lý quá trình thanh toán trực tuyến như Cybercash, Paymentnet, Merchantwarehouse…

    Các ngân hàng hoặc nhà cung cấp dịch vụ khi cấp cho bạn Merchant account sẽ được gọi là Acquirer, chịu trách nhiệm xử lý thông tin thẻ trong quá trình thanh toán.

    Trên website bán hàng, người bán phải trang bị những tính năng sau:

    – Shopping cart (giỏ mua hàng): có thể do nhà cung cấp dịch vụ thiết kế website xây dựng hoặc phần mềm có sẵn bán trên mạng. Người mua hàng khi đang xem hàng trên website có thể chọn mua sản phẩm bằng cách nhấn nút “Buy”, mặt hàng sẽ được lưu lại trong giỏ hàng, người mua có thể chọn nhiều mặt hàng, khi quyết định mua hàng có thể xem giỏ hàng để xem lại các mặt hàng, thay đổi số lượng hàng, tính tiền. Để kết nối được với dịch vụ thanh toán qua mạng, shopping cart cần được xây dựng để đạt một số tiêu chuẩn tích hợp.

    – Payment gateway: là một phần mềm dùng để xử lý việc thanh toán của thẻ tín dụng bao gồm việc xác nhận thông tin của thẻ tín dụng là có thật và hợp lệ, thực hiện các lệnh chuyển tiền. (công nghệ tốt sẽ hạn chế rủi ro của thẻ tín dụng giả mạo)

    Quá trình thanh toán thẻ tín dụng

     

     

    Hai tính năng trên của website phải được thực hiện trên máy chủ an toàn (secure server) để đảm bảo tính bảo mật của các thông tin về thẻ tín dụng khi nhập trên website và trong quá trình thực hiện giao dịch.

    Qui trình thanh toán được thực hiện như sau:

    – Người mua có thẻ tín dụng (Cardholder) khi quyết định mua hàng sẽ nhập các thông tin về thẻ tín dụng của mình như: số thẻ, mã số an toàn, thời hạn của thẻ, họ và tên chủ sở hữu, địa chỉ thanh toán trên website, những thông tin này sẽ được chuyển đến cho ngân hàng hay nhà dịch vụ cung cấp payment gateway là các Acquirer. Acquirer sẽ gửi thông tin về thẻ tới dịch vụ cung cấp thẻ và ngân hàng phát hành thẻ để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ và kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ. Nếu mọi điều kiện đều phù hợp, ngân hàng phát hành thẻ sẽ gửi thông tin ngược trở về cho Acquirer, thông tin được giải mã gửi về cho người bán và việc thanh toán được thực hiện. Tiền sẽ được chuyển từ thẻ tín dụng của người mua tới tài khoản bán hàng merchant account trên Acquirer, sau đó sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của người bán.

    Phí cho việc thanh toán trực tuyến:

    – Thông thường việc mở Internet merchant account không tốn phí

    – Việc sử dụng phần mềm ứng dụng payment gateway thường có phí cài đặt ban đầu từ vài chục đến vài trăm đô la và phí duy trì hàng tháng khoảng vài chục đô la

    – Trong mỗi giao dịch thanh toán qua mạng, các acquirer sẽ thu phí khoảng từ 1.5% đến 4% giá trị giao dịch và khoảng từ 0.3$ cho tới 0.5$ phí xác nhận thông tin thẻ/lần giao dịch

    – Ngoài ra, nếu có sai sót trong quá trình thanh toán hoặc bị thẻ tín dụng giả, người bán phải chịu thêm chi phí chargeback khoảng vài chục đô la.

    Việc tiến hành thanh toán qua mạng có thể tiến hành đơn giản hơn bằng cách sử dụng dịch vụ của bên thứ ba (Third Party) chịu trách nhiệm mọi khâu thanh toán, người bán chỉ cần liên kết phần shopping cart của mình vào website của nhà cung cấp dịch vụ, mọi khâu từ việc nhập thông số thẻ, xử lý thanh toán đều thực hiện tại website của nhà cung cấp dịch vụ, người bán không cần mở merchant account, không cần sử dụng paymentgateway, giảm được các chi phí này nhưng chi phí trên mỗi giao dịch sẽ cao hơn.

    7. Rủi ro trong phát hành và sử dụng thẻ::

    • Rủi ro trong phát hành thẻ:

     

    Rủi ro trong tiếp nhận thẩm định hồ sơ

    – Chưa đầy đủ hồ sơ theo quy định của NHCTVN
    – Hồ sơ chưa đầy đủ thông tin khách hàng
    – Nội dung trong đơn xin phát hành thẻ có thông tin giả mạo
    – Đại lý phát hành thẻ giả mạo hồ sơ để phát hành thẻ phụ mà khách ko yêu cầu
    – Các giấy tờ của khách hàng không có bản gốc đối chiếu, chữ ký ko hợp lệ
    – Thẩm định không đúng quy trình, quy định của NHCT VN
    – Không thực hiện kiểm tra CMT gốc hoặc số CMT bị mờ không chính xác khi chấp nhận phát hành thẻ ATM cho khách hàng
    – Không thẩm định kỹ thông tin về khách hàng đăng ký làm đơn vị chấp nhận thẻ/ Điểm ứng tiền mặt
    – Không thẩm định kỹ tư cách chủ thẻ, khả năng thanh toán khi mở thẻ tín dụng quốc tế cho khách hàng

     Phát hành và gia hạn thẻ

    – Phát hành ATM tập thể: Doanh nghiệp cung cấp CMT bị mờ, không chính xác
    – Sai tên chủ thẻ, sai hạng thẻ, thiếu các thông tin khác
    – Giao phong bì thẻ ATM bị mất niêm phong cho khách hàng
    – Giao nhầm thẻ cho khách hàng
    – Giao thẻ có họ tên thẻ trùng nhau cho khách hàng mà không kiểm tra chứng minh thư để xác định chủ thẻ hoặc có kiểm tra CMT nhưng không kết nối được với máy trạm để kiểm tra
    – Giao nhận thẻ không đúng quy trình ( trao thẻ và PIN cho khách hàng mà không hướng dẫn khách hàng ký vào phiếu xác nhận đã nhận thẻ hoặc không ghi ngày giờ nhận )
    – Không kích hoạt thẻ mới phát hành
    – In thẻ làm chậm / PIN nhòe không rõ số
    – Hết phôi in thẻ không thông báo sớm để điều chỉnh ngày hẹn giao thẻ với khách hàng
    – Trung tâm thẻ gửi nhầm số PIN hoặc nhầm thẻ của chi nhánh này sang cho chi nhánh khác
    – Kế hoạch phát hành thẻ không sát với thực tế nhu cầu
    – Thẻ in chậm, không giao cho khách hàng đúng hẹn
    – Cung cấp sai số PIN/ số tài khoản cho khách hàng
    – Mất thẻ do trung tâm thẻ gửi bằng đường bưu điện
    – Không gia hạn thẻ cho khách hàng

    Bảo mật


    – Một cán bộ làm nhiều việc một lúc ( cán bộ vừa năm chìa khóa ATM, vừa có user chương trình quản lý thẻ MOSAIC, vừa đang giữ thẻ bị nuốt …)
    – Thành viên tiếp quỹ lộ mã khóa két khoang chứa tiền máy ATM
    – Lộ trình kế hoạch tiếp quỹ các ATM ngoài trụ sở bị lộ
    – Đặt lại PIN tại các máy trạm Mosaic không xác thực đúng chủ thẻ
    – CB cho mượn mã truy cập
    – CB để lộ mật khẩu ( Password) , mã truy cập
    – Số dư TK thẻ của khách hàng bị tiết lộ
    – Phân cấp, phân quyền trên trạm MOSAIC không đúng quy định

    Giao dịch chuyển tiền từ TK thẻ:


    – CB ngân hàng chuyển tiền vào thẻ ATM sai tài khoản/ sai số thẻ
    – KH chuyển nhầm tiền vào tài khoản người khác khi thực hiện chuyển khoản
    – Phong tỏa tài khoản thẻ do chuyển nhầm tài khoản
    – Nhập sai số tiền khách hàng nộp vào thẻ ATM

     Hạch toán kế toán:

    – Chi tiền cho khách hàng tại quầy quên ghi nợ tài khoản khách hàng hoặc ghi nợ chậm
    – Hạch toán kế toán nhầm người hưởng, nhầm tài khoản, nhầm số tiền, loại tiền
    – Nhầm lẫn trong bàn giao hồ sơ mở thẻ giữa phòng tổng hợp tiếp thị và kế toán
    – Thu phí thừa hoặc thiếu/ Quên không thu phí
    – Tiền tồn quỹ ATM có sai lệch giữa báo cáo ATM và thực tế
    – Thu nợ thẻ tín dụng quốc tế thừa/ thiếu

    Rủi ro trong xử lý sự cố:

    – Xử lý các giao dịch không thành công
    – Xử lý trường hợp máy ATM nuốt thẻ không kịp thời theo quy định
    – Thẻ hỏng, ngừng xử dụng chưa xóa khỏi hệ thống
    – Sự cố hết giấy, hết tiền tại máy ATM không xử lý kịp thời
    – Không phong tỏa tài khoản kịp thời khi chủ thể bị mất cắp, thất lạc
    – Rút tiền nhưng KH chưa nhận được tiền thì trên tài khoản đã bị trừ tiền
    – Giao dịch không thành công nhưng tài khoản khách hàng vẫn bị trừ tiền phí giao dịch
    – Đơn vị chấp nhận thẻ có những giao dịch nghi ngờ gian lận nhưng giao dịch viên vẫn báo có cho đơn vị chấp nhận thẻ
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ/ ứng tiền mặt in nhiều hóa đơn thanh toán cho 1 thẻ
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ không đối chiếu, kiểm tra chữ ký, hộ chiếu và đặc điểm an toàn thẻ khi chủ thẻ thực hiện giao dịch
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ thao tác sai, cà nhầm số tiền giao dịch
    – Đơn vị chấp nhận thẻ thực hiện tổng kết muộn quá thời gian quy định
    – Đơn vị chấp nhận thẻ/điểm ứng tiền mặt ko theo quy trình, nguyên tắc chấp nhận thanh toán thẻ

     Rủi ro trong kiểm tra, rà soát:

    – Các báo cáo ATM chưa được chấm đối chiếu hằng ngày
    – Không kiểm tra chặt chẽ khi thực hiện đổi mã PIN
    – Thực hiện chi tiền mặt tại quầy mà không vấn tin tài khoản trước khi chi trả/ không ghi nợ tài khoản khách hàng
    – Không chấm kịp thời sổ chi tiết ở TK TM 10105 ở các máy ATM
    – Không thường xuyên kiểm tra tình trạng ATM làm ảnh hưởng đến giao dịch của khách

     Máy thanh toán thẻ (EDC)

    – Máy EDC tại đơn vị chấp nhận thẻ không thanh toán được thẻ tín dụng quốc tế
    – Tổng kết giao dịch trên EDC muộn
    – Máy EDC hỏng không sửa chữa kịp thời
    – Máy EDC tại đơn vị chấp nhận thẻ vẫn thể hiện 16 số thẻ TDQT Visa ( không tuân thủ theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế VISA)
    – Kĩ thuật viên cài sai thông số cho các máy EDC ( nhầm ngoại tệ với nội tệ, nhầm thông số của các DVCNT khác)

     Nhập tiền vào máy ATM:

    – Kỹ thuật viên quên không đóng chu kỳ cũ và mở chu kỳ mới dẫn đến sai lệch số tiền tồn quỹ giữa hai chu kỳ
    – Kỹ thuật viên không khai báo số tiền mới nạp vào máy ATM dẫn đến kiểm quỹ chênh lệch giữa sổ kế toán và báo cáo tồn quỹ ATM
    – Tiền không đủ khay
    – Nhập tiền vào máy ATM không đủ thành phần
    – Đặt nhầm loại tiền vào hộc tiền

     Gian lận thẻ:


    – Lấy cắp thẻ của khách hàng
    – Trộm dữ liệu dưới nhiều hình thức khác nhau ( quay camera, qua vai..)
    – Cài đặt các thiết bị ăn cắp dữ liệu thẻ
    – Dùng điện thoại gắn camera để ghi hình chụp ảnh và sử dụng toàn bộ thông tin đó vào mục đích phạm pháp
    – Làm thẻ TDQT giả và rút tiền từ máy ATM ( truy cập Internet lấy trộm thông tin
    – Chủ thẻ thường xuyên dùng thẻ TDQT để rút tiền lớn vượt hạn mức rút tiền mặt từ các máy ATM
    – Chủ thẻ thường xuyên dùng thẻ TDQT để chi tiêu vượt hạn mức thẻ tín dụng quốc tế

    Rủi ro trong việc sử dụng thẻ:

    Hoạt động Thanh toán thẻ cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro, trong đó có sự tham gia của Ngân hàng, chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ và các thiết bị đầu cuối (ATM, POS…). Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán thẻ bao gồm:

    • Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) giả mạo (Fraudulen Merchant)
    • ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ: đánh cắp dữ liệu thẻ sử dụng vào mục đích bất hợp pháp hoặc thông đồng với chủ thẻ chấp nhận thanh toán thẻ giả;
    • Thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ qua các phương tiện viễn thông qua thư, điện thoại, Internet: Thay đổi số tiền trên hóa đơn, đánh cắp tiền trong tài khoản
    • Nhân viên ĐVCNT in nhiều hoá đơn thanh toán của một thẻ (Multiple imprint)
    • Các ĐVCNT có tỷ lệ rủi ro cao (High Risk Merchant): Hàng hóa, dịch vụ có giá trị lớn, có tính chất dễ chuyển đổi sang tiền mặt;
    • ĐVCNT gian lận: Thực hiện giao dịch không đúng loại hình giao dịch đã đăng ký, sửa đổi số tiền giao dịch, không xin chuẩn chi theo thoả thuận qui định;
    • Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (fraudulent use of account): Sử dụng trong môi trường thanh toán không phải xuất trình thẻ (thanh toán qua thư/điện thoại hoặc thương mại điện tử);
    • Chủ thẻ để lộ số PIN
    • Thẻ bị mất/mất trộm (lost/stolen card)
    • Thẻ giả (counterfeit): thẻ thật đã bị thay đổi thông tin, thẻ chỉ giả mạo thông tin trên dải băng từ hoặc thẻ bị sao chép làm giả hoàn toàn.
    • Dữ liệu băng từ (skimming) hoặc dữ liệu trên đường truyền (tapping) bị đánh cắp.

    Rủi ro trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương

    Theo số liệu thống kê gần đây của Tổ chức Visa – khu vực, rủi ro đối với hoạt động thanh toán thẻ trong khu vực như sau:
    • Gần 50% là rủi ro thẻ giả (counterfeit). Đây là loại rủi ro phổ biến nhất với thẻ Tín dụng và là loại rủi ro chiếm tỷ trọng thứ hai với thẻ ghi nợ trong khu vực. Nó cũng là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn trong các rủi ro của hoạt động thanh toán thẻ. Loại rủi ro này đang gia tăng nhanh chóng, mối lo ngại ở các nước trong khu vực thông qua hình thức ăn cắp thông tin trên đường truyền.
    • 27% là sự lợi dụng tài khoản thẻ trong môi trường thanh toán không sử dụng thẻ. Đây là sự cảnh báo cho các loại giao dịch gián tiếp không dùng thẻ;
    • Hiện tượng gian lận thẻ đang chuyển hướng sang các nước: Đài Loan, Thái Lan. Các nước như Australia, Hồng Kông đã đầu tư cho việc phòng ngừa gian lận đã làm giảm tỷ lệ rủi ro trong lĩnh vực này.
    • Ở Việt Nam, thẻ giả mạo là loại hình rủi ro phổ biến nhất, chiếm 75% tổng các loại rủi ro trong Phát hành thẻ; Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng công tác phòng ngừa rủi ro với loại hình đang phát triển hiện nay là giả mạo thẻ bằng cách ăn cắp thông tin trên đường truyền.

     

    Chương II. Thực trạng phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

    I.             Giới thiệu chung về ACB:

     

    Tên gọi:      Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

    Tên giao dịch quốc tế:    ASIA COMMERCIAL BANK

    Tên viết tắt:          ACB

    Trụ sở chính:        442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh.

    Điện thoại:  (08) 929 0999.

    Website:      www.acb.com.vn

    Logo:

    Vốn điều lệ:          1.100.046.560.000 đồng.

    Giấy phép thành lập:     Số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/1993.

    Giấy phép hoạt động:    Số 0032/NH-GP do Thống đốc NHNN cấp ngày 24/4/1993.

    Giấy CNĐKKD:   Số 059067 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp cho đăng ký lần đầu ngày 19/5/1993, đăng ký thay đổi lần thứ chín ngày 23/2/2006.

    Mã số thuế: 0301452948.

    Ngành nghề kinh doanh:

    Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;

    Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định;

    Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;

    Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được NHNN cho phép;

    Hoạt động bao thanh toán.

    1. Cơ cấu tổ chức của ACB:

     

    • Bảy khối : Khách hàng cá nhân, Khách hàng doanh nghiệp, Ngân quỹ, Phát triển kinh doanh, Giám sát điều hành, Quản trị nguồn lực, Công nghệ thông tin;

    Bốn ban: Kiểm tra– Kiếm soát nội bộ, Chiến lược, Đảm bảo chất lượng, Chính sách và Quản lý tín dụng.

    • Hai phòng : Quan hệ Quốc tế, Thẩm định tài sản (trực thuộc Tổng giám đốc).

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của ACB:

    BỘ MÁY QUẢN TRỊ VÀ ĐIỀU HÀNH

     

    • Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Ngân hàng.

    Hội đồng quản trị: do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hàng năm; chỉ đạo và giám sát hoạt động của Ngân hàng thông qua Ban điều hành và các Hội đồng.

    • Ban kiểm soát: do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân hàng; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán; hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của Ngân hàng.
    • Các Hội đồng: Do HĐQT thành lập, làm tham mưu cho HĐQT trong việc quản trị ngân hàng, thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh; đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an toàn và đúng mục tiêu đã đề ra. Hiện nay, Ngân hàng có bốn Hội đồng, bao gồm:
    • Hội đồng nhân sự: có chức năng tư vấn cho Ngân hàng các vấn đề về chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực để phát huy cao nhất sức mạnh của nguồn nhân lực, phục vụ hiệu quả cho nhu cầu phát triển của Ngân hàng.
    • Hội đồng ALCO: có chức năng quản lý cấu trúc bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng, xây dựng và giám sát các chỉ tiêu tài chính, tín dụng phù hợp với chiến lược kinh doanh của Ngân hàng.
    • Hội đồng đầu tư: có chức năng thẩm định các dự án đầu tư và đề xuất ý kiến cho cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.
    • Hội đồng tín dụng: quyết định về chính sách tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên toàn hệ thống Ngân hàng, xét cấp tín dụng của Ngân hàng, phê duyệt hạn mức tiền gửi của Ngân hàng tại các tổ chức tín dụng khác, phê duyệt việc áp dụng biện pháp xử lý nợ và miễn giảm lãi theo Quy chế xét miễn giảm lãi.
    • Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước HĐQT, trước pháp luật về hoạt động hàng ngày của Ngân hàng. Giúp việc cho Tổng giám đốc là các Phó Tổng giám đốc, các Giám đốc khối, Giám đốc tài chính, Kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ.

    2. Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB:

     

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    TTS 15.419.534 24.272.864 38.177.588
    Tổng vốn huy động 14.353.766 22.341.236 31.670.517
    Tổng dư nợ 6.759.675 9.563.198 14.464.327
    Tổng thu nhập kinh doanh 475.638 687.654 787.943
    Thuế và các khoản phải nộp (**) 74.367 102.179 101.298
    Lợi nhuận trước thuế 282.148 391.550 457.684
    Lợi nhuận sau thuế 214.091 299.201 369.293
    Tỷ lệ chia cổ tức (%) 36,7 28 38 (*)
    Bằng tiền mặt (% trên mệnh giá ) 12 12 08 (*)
    Bằng cổ phiếu (% trên số lượng) 24,7 16 30 (*)

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Các chỉ tiêu khác.

    Thu nhập.

    ĐVT: triệu đồng

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Thu nhập tín dụng 350.295 73,65% 514.265 74,79% 576.092 73,11%
    Thu nhập phi tín dụng 125.343 26,35% 173.389 25,21% 211.851 26,89%
    Tổng thu nhập 475.638 100,00% 687.654 100,00% 787.943 100,00%

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Chi phí.

    ĐVT: triệu đồng

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Lương và chi phí liên quan 71.035 108.538 132.044
    Chi phí khấu hao 17.874 25.520 30.588
    Chi phí hoạt động khác 93.064 157.255 147.431
    Tổng chi phí kinh doanh 181.973 291.313 310.063

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Về tỷ lệ khấu hao TSCĐ.

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Tòa nhà 4,0% 4,0% 4,0%
    Thiết bị văn phòng 20,0% 33,0% 33,0%
    Xe cộ 10,0% 14,0% 14,0%
    Tài sản cố định khác 20,0% 20,0% 20,0%
    Phần mềm vi tính 12,5% 12,5% 12,5%

    Nguồn: ACB.

    Hoạt động đầu tư.

    ĐVT: triệu đồng

    STT Loại hình Số dư đầu tư 2004 Tỷ trọng Số dư đầu tư 2005 Tỷ trọng Số dư đầu tư 30/9/2006 Tỷ trọng
    1 Đầu tư trái phiếu 2.891.750 98,3% 4.823.767 97,2% 3.705.280 91,6%
    2 Góp vốn đầu tư 51.273 1,7% 136.716 2,8% 338.231 8,4%
    Tổng cộng 2.943.023 100% 4.960.483 100% 4.043.511 100%

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Ghi chú:

    Đầu tư trái phiếu bao gồm:

    Sẵn sàng để bán và

    Giữ đến ngày đáo hạn.

    CHI TIẾT CÁC KHOẢN GÓP VỐN ĐẦU TƯ TÍNH ĐẾN THÁNG 09/2006

    ĐVT: triệu đồng

    STT Tên doanh nghiệp Vốn góp thực tế
    ACB
    1 Công ty CP Bảo hiểm Nhà Rồng(BẢO LONG) 15.400
    2 Công ty CP Sài Gòn- Phú Quốc 1.958
    3 Công ty CP Thương mại và Du lịch Sài Gòn (SP Co) 638
    4 Công ty CP Mắt kính Sài Gòn 1.076
    5 Công ty CP Thể Thao ACB 300
    6 Công ty CP TM DV Đông Anh 1.000
    7 Công ty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối 1.067
    8 Công ty CP địa ốc ACB 2.500
    9 Công ty CP dịch vụ bảo vệ Ngân hàng Á Châu 100
    10 Công ty CP Sài Gòn Kim Hoàn ACB – SJC 1.000
    11 Công ty CP Thủy Tạ 4.100
    12 Công ty CP Song Tân 16.000
    13 Công ty CP lương thực Bình Trị Thiên 2.654
    14 Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang 10.000
    15 Lợi nhuận đóng góp từ các công ty liên kết (ACBR, ACB-SJC, ACBD) 431
    Tổng cộng 58.224
    ACBS
    1 Nagarjuna Int’l Vietnam Ltd. 31.047
    2 Công ty CP Thủy Tạ 8.682
    3 Công ty may Phương đông 7.462
    4 Công ty CP Tơ tằm Á châu 1.000
    5 Eximbank 16.684
    6 Giadinh bank 1.000
    7 Công ty dược phẩm 3 tháng 2 3.710
    8 Viconship 2.527
    9 Saigon tourist 15.158
    10 Công ty Thủy sản Việt Long 9.188
    11 Công ty CP địa  ốc Gò Môn 1.583
    12 Ngân hàng Đại Á 37.400
    13 Công trái giáo dục 20.000
    14 Công ty TNHH đào tạo ngân hàng 310
    15 Công ty TNHH Tân Tạo 35.000
    16 Ngân hàng Việt Á 866
    17 Công ty CP Chuyển mạch tài chánh quốc gia 10.000
    18 Công ty CP ĐT PT Bình Thắng 3.643
    19 Golf Hoa Việt 436
    20 Golf sông Bé 492
    21 Công ty CP khu công nghiệp Đức Hoà 3 15.938
    22 Công ty CP Đại Cát Hoàng Long 476
    23 Công ty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối 4.162
    24 Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang 10.000
    25 Công ty CP địa ốc ACB 3.750
    26 Tổng cộng 240.513
    ACBA
    1 Công ty CP địa ốc ACB 6.000
    2 Công ty LT Bình Trị Thiên 6.758
    3 Công ty Khoan và dịch vụ Khoan dầu khí 17.680
    Tổng cộng 30.438
    Công ty CP Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn
    1 Các khoản đầu tư của công ty CP Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn 9.055
    Tổng cộng 338.231

    Nguồn: ACB.

    Các chỉ tiêu khác.

     Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Thu nhập ròng từ lãi/TTS bình quân 2,70% 2,60% 1,84%
    Thu nhập ngoài lãi/TTS bình quân 0,90% 0,80% 0,68%
    Chi phí hoạt động/TTS bình quân 1,30% 1,40% 0,99%
    Lợi nhuận trước thuế/TTS bình quân 2,10% 1,90% 1,47%
    Lợi nhuận ròng/TTS bình quân 1,60% 1,50% 1,18%
    Suất lợi nhuận/ Vốn tự có (ROE) 33,65% 30,02% 23,87%

    Nguồn: ACB

    Ghi chú: Số liệu tính toán dựa theo Báo cáo tài hợp nhất chính năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    II. Thực trạng phát hành thẻ thanh toán tại ACB:

    ACB là một trong các ngân hàng Việt Nam đi đầu trong việc giới thiệu các sản phẩm thẻ quốc tế tại Việt Nam. ACB chiếm thị phần cao về các loại thẻ tín dụng quốc tế như Visa và MasterCard. Trong năm 2003, ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam đưa ra thị trường thẻ thanh toán và rút tiền toàn cầu Visa Electron.

    • Năm 2004, ACB tiếp tục phát hành thẻ MasterCard Electronic. Trong năm 2005, ACB đã đưa ra sản phẩm thẻ MasterCard Dynamic là loại thẻ thanh toán quốc tế kết hợp những tính năng của thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
    • Ngoài ra, để đáp ứng các nhu cầu thanh toán nội địa, ACB đã phối hợp với các tổ chức như Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, hệ thống siêu thị Co-opmart, Maximark, Citimart để phát hành các loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu cho khách hàng nội địa. Thẻ ACB đã góp phần tạo nên thương hiệu ACB trên thị trường và tạo nguồn thu dịch vụ đáng kể.

    CÁC SỐ LIỆU VỀ THẺ NĂM 2004, 2005 VÀ ĐẾN 30/9/2006

    Nội dung Đơn vị tính Năm 2004 Năm 2005 30/9/2006
    Số lượng thẻ phát hành Thẻ 80.601 145.267 193.207
    Thẻ quốc tế Thẻ 62.767 123.063 170.270
    Thẻ nội địa Thẻ 17.834 22.204 22.937
    Số lượng đại lý Đại lý 4.790 5.584 5.972
    Doanh số giao dịch chủ thẻ Triệu đồng 841.516 1.265.800 1.261.164

    Nguồn: ACB.

     Các sản phẩm thẻ hiện có của ACB:

    Thẻ tín dụng quốc tế ACB Visa/MasterCard (24/05/10)

    Thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Electron/MasterCard Electronic (19/05/10)

    Thẻ thanh toán và rút tiền nội địa ACB E. Card (19/05/10)

    Thẻ ghi nợ nội địa 365 Styles (19/05/10)

    Thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Prepaid/MasterCard Dynamic (19/05/10)

    Thẻ tín dụng nội địa (04/12/09)

    Thẻ ATM2+ Năng động sánh bước cùng bạn. (14/10/09)

    ACB phát hành thẻ ATM2+

    Ngày 24/8, được sự chấp nhận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Chi nhánh TP.HCM), Ngân hàng ACB đã chính thức đưa thẻ ATM2+ và hệ thống gần 100 máy ATM hiện đại tham gia thị trường thẻ ngân hàng trên toàn quốc.

    ATM2+ là thẻ kết nối trực tiếp với tài khoản tiền gởi thanh toán, là sản phẩm thẻ kết hợp với thương hiệu VISA. Bên cạnh tiện ích được chấp nhận thanh toán tại hàng ngàn đại lý chấp nhận thanh toán thẻ VISA, chủ thẻ còn có thể dùng thẻ ATM2+ rút tiền tại tất cả các máy ATM của ACB và các máy ATM mang thương hiệu VISA tại Việt Nam.

    Dịch vụ này thích hợp cho khách hàng có tài khoản tiền gởi thanh toán và các doanh nghiệp có nhu cầu chi trả lương qua tài khoản tiền gởi thanh toán tại ACB, các cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ cho các hoạt động chuyển khoản, thanh toán, rút tiền… Từ ngày 24/8 – 31/12/2007, ACB sẽ miễn phí phát hành thẻ và phí thường niên năm đầu tiên cho khách hàng.

    TP.HCM ngày 7 tháng 10 năm 2008 Ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, và JCB International (JCBI), chi nhánh quốc tế của JCB, chính thức công bố: ACB bắt đầu triển khai mạng lưới chấp nhận thẻ và đang phát triển thêm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ JCB. ACB dự kiến hợp tác với khoảng 4.000 đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ JCB tính đến cuối tháng 1 năm 2009. Thỏa thuận này sẽ gia tăng đáng kể tiện ích cho các chủ thẻ JCB khi du lịch tới Việt Nam.

    5. Đánh giá về hoạt động phát hành, thanh toán thẻ của Ngân hàng ACB:

     

     

    Chương III. Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

    I. Định hướng phát triển Ngân hàng và thẻ thanh toán:

     

    1.Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của ACB:

     

    Cơ sở cho việc xây dựng chiến lược hoạt động qua các năm là:

    • Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu khách hàng và hướng tới khách hàng.
    • Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để đảm bảo cho sự tăng trưởng được bền vững.
    • Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn cao, tối ưu hóa việc sử dụng vốn cổ đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính vững mạnh, có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh doanh còn chưa hoàn hảo của ngành ngân hàng Việt Nam.
    • Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên chuyên nghiệp nhằm đảm bảo quá trình vận hành của hệ thống liên tục, thông suốt và hiệu quả. Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống một cách xuyên suốt. ACB đang từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa.
    • Chiến Lược Tăng Trưởng Ngang: Thể Hiện 3 Hình Thức:
      1. Tăng trưởng thông qua mở rộng hoạt động: hiện nay trên phạm vi toàn quốc, ACB đang tích cực phát triển mạng lưới kênh phân phối tại thị trường mục tiêu, khu vực thành thị Việt Nam, đồng thời nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới để cung cấp cho thị trường đang có và thị trường mới trong tình hình yêu cầu của khách hàng ngày càng tinh tế và phức tạp. Ngoài ra, khi điều kiện cho phép, ACB sẽ mở văn phòng đại diện tại Hoa Kỳ.
    1. Tăng trưởng thông qua hợp tác, liên minh với các đối tác chiến lược: hiện nay, ACB đã xây dựng được mối quan hệ với các định chế tài chính khác, ví dụ như các tổ chức thẻ quốc tế (Visa, Master Card), các công ty bảo hiểm (Prudential, AIA, Bảo Việt, Bảo Long), chuyển tiền Western Union, các ngân hàng bạn (Banknet), các đại lý chấp nhận thẻ, đại lý chi trả kiều hối, v.v… Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ACB đang quan hệ hợp tác với các định chế tài chính và doanh nghiệp khác để cùng nghiên cứu phát triển các sản phẩm tài chính mới và ưu việt cho khách hàng mục tiêu, mở rộng hệ thống kênh phân phối đa dạng. Đặc biệt, ACB đã có một đối tác chiến lược là Ngân hàng Standard Chartered, một ngân hàng nổi tiếng về các sản phẩm của ngân hàng bán lẻ. ACB đang nỗ lực tham khảo kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn cũng như công nghệ của các đối tác để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình cho quá trình hội nhập.
    1. Tăng trưởng thông qua hợp nhất và sáp nhập: ACB ý thức là cần phải xây dựng năng lực tiếp nhận đối với loại tăng trưởng không cơ học này và thực hiện chiến lược hợp nhất và sáp nhập khi điều kiện cho phép.
    • Chiến Lược Đa Dạng Hóa

    – Đa dạng hóa là một chiến lược tăng trưởng khác mà ACB quan tâm thực hiện, ACB đã có Công ty chứng khoán (ACBS), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (ACBA), đang chuẩn bị thành lập Công ty Cho thuê tài chính và Công ty Quản lý quỹ. Với vị thế cạnh tranh đã được thiết lập khá vững chắc trên thị trường, trong thời gian sắp tới, ACB có thể xem xét thực hiện chiến lược đa dạng hóa tập trung để từng bước trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính toàn diện thông qua các hoạt động sau đây:

    – Cung cấp và tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm để phối hợp cung cấp các giải pháp tài chính cho khách hàng.

    Nghiên cứu thành lập công ty thẻ (phát triển từ trung tâm thẻ hiện nay), công ty tài trợ mua xe

    – Nghiên cứu khả năng thực hiện hoạt động dịch vụ ngân hàng đầu tư.
    Tuy ACB đã khẳng định được mình nhưng luôn nhận thức rằng thách thức vẫn còn phía trước và phải nỗ lực rất nhiều, đẩy nhanh hơn nữa việc thực hiện các chương trình trợ giúp kỹ thuật, các dự án nâng cao năng lực hoạt động, hướng đến áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để có khả năng cạnh tranh và hội nhập khu vực thành công. Do vậy, từ năm 2005, ACB đã bắt đầu cùng các cổ đông chiến lược xây dựng lại chiến lược mới. Đó là chương trình Chiến lược 5 năm (2006-2011) và tầm nhìn 2015.

    2. Định hướng phát triển thanh toán thẻ của Ngân hàng TMCP Á Châu trong thời gian tới;

     

    • Phát triển thẻ thanh toán nội địa:

    Thẻ tín dụng nội địa cung cấp phương tiện thanh toán hiện đại, an toàn cho người tiêu dùng do không phải mang theo một lượng lớn tiền mặt khi đi muasắm, giải trí, du lịch, công tác… và đối phó với rủi ro bị mất tiền. Khi mất thẻ thì vẫn giữ được tiền nếu thông báo kịp thời cho Trung tâm thẻ ACB. Ngoài ra, trên thẻ còn có ảnh và chữ ký của chủ thẻ đề phòng khi mất thẻ người khác cũng không sử dụng được. Đồng thời đây cũng thực sự là phương tiện thanh toán đem lại hiệu quả kinh tế nhất định cho người tiêu dùng, do ngân hàng sẽ chi trả thay chủ thẻ ngay khi thực hiện giao dịch thanh toán tại các đạị lý bán hàng hóa, dịch vụ, sau đó hằng tháng chủ thẻ mới thanh toán lại cho ngân hàng các khoản chi tiêu của mình, như vậy mặc nhiên người sử dụng thẻ đã được ngân hàng cho vay miễn lãi một thời gian nhất định khoảng từ 16 đến 45 ngày tùy thời điểm thanh toán. Nếu đến hạn thanh toán, chủ thẻ vẫn chưa có điều kiện và nhu cầu thanh toán cho ngân hàng, các khoản chi tiêu đó sẽ chuyển thành khoản tín dụng với mức lãi suất 0,04%/ngày.

    Dự kiến trong đợt phát hành thẻ đầu tiên, Trung tâm thẻ sẽ phát hành khoảng 1.000 thẻ, chủ yếu là cho các chủ thẻ quốc tế hiện tại của Trung tâm thẻ và một số đối tượng khác. Sau đó, chơng trình sẽ được quảng bá rộng rãi đến các đối tượng được cấp thẻ tín chấp (miễn ký quỹ). Đó là các đối tượng: Lãnh đạo các cơ quan, công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp, các bác sĩ, giáo sư đại học, giáo viên cán bộ công nhân viên có thu nhập ổn định, có tài khoản lương tại ACB, các cá nhân đang có quan hệ tín dụng với ACB, có tài sản đảm bảo, các đối tượng đang được cho vay tín chấp theo chương trình cho vay tiêu dùng 10 triệu đồng tại ACB… Còn các đối tượng khác nếu có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng nội địa có thể mở sổ tiết kiệm hoặc tài khoản. Trong thời gian sử dụng thẻ, số dư sổ tiết kiệm hoặc tài khoản vẫn được hưởng lãi bình thường.

    • Tăng kênh tiêu thụ, phát triển thương hiệu:

    Ngân hàng Thương mại Á Châu (ACB) và Công ty Đông Hưng đã công bố chương trình hợp tác phát hành thẻ Visa Electron. Chương trình hợp tác này không chỉ mang lợi ích cho người sử dụng thẻ mua hàng, mà còn tạo ra hiệu quả kinh tế cho tổ chức tín dụng ACB và hệ thống bán lẻ Citimart của Công ty Đông Hưng. Với thẻ Visa Electron, người tiêu dùng mua hàng tại các siêu thị của Citimart sẽ được ACB thanh toán hộ (tất nhiên, người tiêu dùng phải đóng tiền trước để được cấp thẻ). Cái lợi của người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ này là mua hàng không cần mang theo tiền, thêm vào đó họ được giảm 3% trên tổng giá trị hóa đơn mua hàng. Còn đối với ACB và Citimart, thông qua chương trình hợp tác cùng nhau bán hàng, họ có thêm nhiều khách hàng mới.

    Liên kết tiêu thụ:

    ACB và Standard Chartered liên kết ATM, hợp tác phát hành thẻ tín dụng

    Khách hàng của hai ngân hàng này có thể sử dụng miễn phí hơn 270 máy ATM trong mạng lưới hợp tác, ACB cũng sẽ phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng của Standard Chartered.

    II. Những thuận lợi và khó khăn

     

     

    1.Thuận lợi:

    • Mạng lưới kênh phân phối: Gồm 80 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc.
    • Là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế: Visa, MasterCard.
    • Thẻ thanh toán đồng thương hiệu: Saigontourist; Saigon Co-op; Mai Linh Taxi; HSBC; Vera; VDC; Vietravel; Citimart.
    • Bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng: Prudential, AIA.
    • Xếp hạng Tín nhiệm Quốc tế:Bắt đầu từ năm 2001, Fitch (tổ chức đánh giá xếp hạng quốc tế) đã có đánh giá xếp hạng tín nhiệm ACB. Tháng 4/2004, Fitch đánh giá tiêu chí năng lực bản thân của ACB là D, và xếp hạng theo tiêu chí hỗ trợ từ bên ngoài là 5T.
    • Các giải thưởng quốc tế:Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2006; Ngân hàng bán lẻ xuất sắc nhất Việt Nam 2006; Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 2006; Sản phẩm dịch vụ xuất sắc lĩnh vực tài chính ngân hàng 2006; Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2005;..v.v

    2.Khó khăn:

    • Gánh nặng từ và chip:

    Các tổ chức phát hành thẻ thế giới như Master, Visa Card  đề nghị, bắt đầu năm  2006 các ngân hàng phải chuyển đổi hệ thống theo chuẩn EMV trên thẻ để đảm bảo tính bảo mật, tức phải chuyển thẻ từ sang thẻ chip. Các tổ chức này khuyến cáo, nếu sau giai đoạn này mà các ngân hàng không chuyển đổi xong, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm cho những rủi ro xảy ra đối với thẻ từ như bị hacker, điều mà trước đây họ phải gánh thay cho NH.

    Ông Lê Vũ Kỳ, Phó Tổng giám đốc ACB và là Giám đốc khối công nghệ thông tin ACB, cho rằng ngoài chi phí, thì công nghệ cũng là một trong những vấn đề của việc chuyển đổi. Việc tích hợp thông tin từ thẻ từ sang thẻ chip, lại phải đảm bảo tính kết nối của những ngân hàng liên kết với nhau, đòi hỏi giải pháp kỹ thuật cao và chi phí cho kỹ thuật này cũng không nhỏ.

    III. Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

     

    1. Giải pháp vĩ mô:

    1.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước:

    1. Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    2. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.
    3. Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
    4. Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
    5. Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    1.2. Đối với Ngân hàng ACB:

     

    Cần có một đội ngũ phát triển thẻ để thu thập thông tin thị trường, tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng để hoàn thiện sản phẩm hiện có, nghiên cứu phát triển thêm các sản phẩm mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu về tâm lí khách hàng, thu nhập, thói quen, sự ưu tiên trong tiêu dùng, dự báo những thay đổi trong nhu cầu theo sự thay đổi của thu nhập, tuổi, giới, địa vị… để phục vụ khách hàng tốt hơn. Nghiên cứu thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhằm đưa ra những chiến lược hợp lý.

    – Hoàn thiện quy định về quy trình nghiệp vụ, đạt tiêu chuẩn chất lượng.

    – Xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu càng ngày càng khắt khe của khách hàng

    – Tăng cường quảng bá sản phẩm, tiến hành các đợt giảm giá khuyến mãi thu hút các đối tượng sử dụng thẻ.

    – Ngân hàng cũng nên có chính sách khuyến mãi với những khách hàng thường xuyên giao dịch và có số dư bình quân trên tài khoản tiền gửi ổn định ở mức độ nhất định.

    – Củng cố hạ tầng kỹ thuật và công nghệ cung cấp dịch vụ ngân hàng

    – Chủ động tham gia hội nhập và thực thi những thông lệ khu vực và thế giới

    IV. Một số kiến nghị:

     

     

    1.    Đối với chính phủ:

     

    – Nhà nước cần áp dụng các biện pháp mạnh, có quy định cụ thể đối với tổ chức và cá nhân được phép thanh toán bằng tiền mặt với mức tiền cụ thể, phù hợp với tình hình phát triển chung của nền kinh tế. Ví dụ, hiện nay nên quy định đối với cá nhân, thanh toán dưới 5 triệu đồng, đối với tổ chức dưới 10 triệu đồng được sử dụng tiền mặt, trên mức đó phải thanh toán KDTM. Đồng thời phải xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

    – Nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.

    • Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
    • Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
    • Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.

    2.    Đối với Ngân hàng Nhà nước:

     

     

    • Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    • Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.
    • Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động thanh toán, ngay từ việc sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng để củng cố vị thế pháp lý của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt; đồng thời hoàn thiện các văn bản dưới Luật liên quan đến các phương tiện, hình thức thanh toán hiện đại để đảm bảo tính ổn định, an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và sự giám sát hợp lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tăng cường lòng tin của người sử dụng và giới doanh  nghiệp vào hệ thống thanh toán quốc gia.

    3. Đối với ACB:

    – Phát triển mạng lưới của mình,

    – Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ.

    – Phát triển các nhánh dịch vụ, đặc biệt là các kênh phân phối

    – Chú trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh mạnh

    – Lựa chọn các sản phẩm “lõi” của mình

    – Đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể

    – Thị trường: Xác định thị trường tiềm năng là khối dân doanh – ngoài quốc doanh, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (kể cả các công ty cổ phần, công ty TNHH).

    Ngoài ra, khách hàng cá nhân là khách hàng to lớn và lâu dài của thị trường thẻ. Chú ý tới khách hàng trẻ tiềm năng trong độ tuổi 21-29 (65% dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 30) vì tính năng động trong tiếp cận sản phẩm và tính sẵn sàng sử dụng DVNH

    – Chú trọng đến vấn đề bảo mật và an toàn cho khách hàng sử dung thẻ.

     

    Kết luận:

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Việc phát

    triển  thanh  toán không dùng  tiền mặt nói chung, bằng  thẻ  thanh  toán nói riêng  là một bước quan trọng trong việc xây dựng một nền văn minh tiền tệ, phù hợp với xu hướng chung của  thế giới. Thẻ  thanh  toán có vai  trò quan  trọng và những  lợi  ích không  thể phủ nhận. Hiện nay, thẻ thanh toán vẫn còn tiềm năng phát triển rất lớn trong nước và trên thế giới. Việc phát triển dịch vụ thẻ có ý nghĩa ngày càng to lớn trong chiến lược phát  triển  thời  kỳ mới  của  các  ngân hàng Việt Nam nói chung  và ngân hàng TMCP Á Châu ACB nói riêng.

    Trên cơ sở mục đích, đối  tượng nghiên cứu đã được xác định, với nội dung “Giải

    pháp  phát  triển  thẻ  thanh  toán  tại Ngân Hàng TMCP Á Châu ACB”, tiểu luận đã tập trung giải quyết được những vấn đề cơ bản sau:

    1)  Tiêủ luận đã nghiên cứu  những  vấn  đề  lý  luận  c ơ  bản  về  thẻ  thanh  toán.

    Trong  đó, đề tài tiểu luận cũng  nêu  rõ  tầm  quan  trọng,  ý  nghĩa  thẻ  thanh  toán,

    những lợi  ích to lớn của việc sử dụng thẻ thanh toán đem lại không chỉ cho

    người sử dụng, cho ngân hàng mà cho cả nền kinh tế.

    2)  Bằng phương pháp  tiếp cận  thực  tế,  thu  thập  thông tin, phân tích, đánh giá,

    luận văn đã nêu rõ được thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng

    TMCP Á Châu ACB trong  những  năm  vừa  qua   có  những  bước phát triển mạnh mẽ với nhiều kết quả đáng khích lệ.

    3)  Tuy  nhiên,  bên  cạnh những  thành  tựu đạt được  thì quá  trình phát  triển  thẻ

    thanh  toán  tại ngân hàng TMCP Á Châu ACB còn bộc  lộ nhiều  khó khăn,

    tồn  tại  cần  khắc  phục  như  phạm  vi  sử  dụng  thẻ  c òn  hạn  chế,  tiện  ích  thẻ

    chưa nhiều…Từ đó luận văn cũng xác định rõ những nguyên nhân dẫn đến

    hạn chế trong việc phát triển thẻ thanh toán, gồm nguyên nhân xuất phát từ

    chính ngân hàng, nguyên nhân từ phía người sử dụng thẻ và các yếu tố pháp

    lý tác động.

    4)  Từ  những  kết  quả  phân  tích  về  mặt  lý  luận  ở  chương  1  và  thực  tiễn  ở

    chương 2,  luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những  tồn

    tại, cũng như đưa  ra các giải pháp phát  triển  thẻ  thanh  toán của ngân hàng

    TMCP Á Châu trong tương lai. Các giải pháp đưa ra hết sức cần thiết.

    (**) Bao gồm tất cả các khoản thuế phải nộp trong  kỳ báo cáo.

    (*) Dự kiến đến 31/12/2006.

  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-KTVN-trong-nh%E1%BB%AFng-n%C4%83m-g%E1%BA%A7n-%C4%91%C3%A2y-2003-2008.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    • Năm 1986 ,đại hội Đảng đã chấp thuận chính sách đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường .Đến giữa thập niên 90 ,Việt Nam đã bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế ,cho tới nay nước ta đã có rất nhiều các hoạt động mang tầm chiến lược phát triển quốc gia như: 1995 gia nhập ASEAN , hiện nay là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc ,Cộng đồng Pháp ngữ ,APEC, ngày 11-1-2007 chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thê giới .Nhiệm kỳ 2008-2009 Việt Nam được bầu làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc
    • Với những cố gắng và nỗ lực hểt mình nhằm cải cách chính sách để hội nhập nền kinh tế thế giới ,nền kinh tế nước nhà đã có những cơ hội phát triển trông thấy ,biểu hiện là sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng tăng dần qua từng thời kỳ ,lạm phát được đẩy lùi xuống dưới hai con số ,cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể .Qua đó từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội ,đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo ,đời sống nhân dân được cải thiện và ngày càng được nâng cao
    • Để nghiên cứu chi tiêt về thực trạng tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây ,để từ đó có thể đưa ra được các giải pháp để phát huy tối đã những nguồn lực cà thuận lợi trong và ngoài nước ,đồng thời có các biện pháp khắc phục các yếu kém còn tồn đọng trong nền kinh tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta phát triển lên một tầm cao mới .Tôi quyết đinh nghiên cứu bức tranh kinh tế nước ta trong vòng 5 năm gần đây nhất 2004-2008
    • Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biết của t«i còn hạn chế,bài tiểu luận khó tránh khỏi những sai sót.Mong thầy và các bạn thông cảm.Rất mong nhận được ý kiến đóng góp để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn!

    I-t¨ng tr­ëng kinh tÕ

    1-Định nghĩa

    Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

    Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

    Một trong những thành quả nổi bật của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khá ổn định. Thời kỳ từ năm 1986 tới nay là thời kỳ đæi mới, tốc độc tăng trưởng bình quân 1986-1990 là 4,5%, thời kỳ 1991-1995 là 8,2%, thời kỳ 1996-2000 là 7% và từ 2001-2007 là 7,6%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngang bằng Hàn Quốc và chỉ đứng sau Trung Quốc. Bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua, đã có những chuyển dịch tích cực. Xem xét cơ cấu kinh tế theo ba ngành (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) thì thấy rằng tỉ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm và tỉ trọng công nghiệp đã tăng lên tương ứng, nếu như năm 1995 tỷ trọng nông nghiệp là 27,18% thì năm 2006 xuống còn 20,36% trong khi đó công nghiệp đã tăng từ 28,76% lên 41,56%. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cũng có những chuyển biến tích cực, tỷ trọng của khu vực nhà nước có xu hướng giảm, tỷ trọng của khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học công nghệ còn hạn chế nên tăng trưởng kinh tế ở nước ta vẫn chủ yếu dựa vào tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên do đó sự tăng trưởng này chưa thực sự vững chắc.

    BiÓu ®å t¨ng tr­ëng vµ thÊt nghiÖp trong c¸c chu kú kinh tÕ

    2-Tình hinh thực tế

    2.1-năm 2004

    2.1.1-Tình hình chung

    Mặc dù gặp khó khăn nhiều mặt: thiên tai, dịch cúm gia cầm và biến động bất lợi của thị trường thế giới, nhưng năm 2004, kinh tế – xã hội của nước ta vẫn phát triển toàn diện và tăngtrưởngkhá.

    Năm 2004 tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 361,4 tỷ đồng (giá 1994) ước tính tăng 7,6% so với năm 2003 (kế hoạch đề ra từ 7,5-8%) trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản  tăng 3,3%.khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,3%, dịch vụ tăng 7,3%, xu hướng tăng trưởng khá ổn định ;quý sau tăng cao hơn quý trước

    Do kinh tế tăng trưởng khá, cho nên thu ngân sách cả năm vượt dự toán 11,8% và tăng 17% so với năm 2003. Có 33 trong 64 địa phương đạt số thu thuế hơn 500 tỷ đồng. Chi ngân sách vượt dự toán 9,8% và tăng 16,7% so với năm 2003. Bội chi ngân sách bằng 4,9% GDP, thấp hơn mức Quốc hội cho phÐp
    Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷ đồng (giá năm 1994), tăng 16% so với năm 2003, trong đó khu vực Nhà nước tăng 11,4%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 22,8% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 15,7%. Nguyên nhân chính là do nhu cầu sản phẩm công nghiệp của thị trường trong nước và xuất khẩu tăng; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm công nghiệp như thủy sản chế biến, sản phẩm gỗ chế biến, dệt may, giày dép,… có nhiều tiến bộ.

    Vượt qua những khó khăn về thiên tai cà dịch bệnh ,nông nghiệp vẫn được mùa ,thủy sản tăng trưởng khá. Sản lượng lương thực ước đạt 39,1 triệu tấn ,mức cao nhất từ trước tới nay ,tăng 4,2% so với năm 2003 .Chăn nuôi chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa rõ hơn ,cơ cấu cà tốc độ tăng trưởng đàn gia súc , gia cầm có nhiều thay đổi .Sản lượng thủy sản cả năm đạt 3.890.000 tấn  ,tăng 8,2% so với năm 2003

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng trở lại sau nhiều năm tăng chậm ,tính chung cho cả năm đã thu hút 4,1 tỷ USD ,trong đó : 2,3 tỷ USD vốn đăng ký mới và 1,8 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung, đạt mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Các dự án tập trung vào ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 60,5% số vốn đăng ký, các tỉnh, thành phố phía nam chiếm 64,6%, các tỉnh, thành phố phía bắc chiếm 35,4% số vốn đăng ký. Đáng chú ý là, bên cạnh nguồn vốn đầu tư của các dự án mới, năm 2004 còn thu hút thêm vốn đầu tư bổ sung của các dự án cũ, đạt mức cao nhất trong những năm qua. Đó là dấu hiệu tốt lành chứng minh môi trường đầu tư ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể và hiệu quả của các dự án đầu tư đang được nâng lên .Lượng  khách du lịch đến Việt Nam đạt kỷ lục mới hơn 2,9 triệu lượt người ,lượng kiều hối tăng nhanh đạt trên 3 tỷ USD ,chủ yếu gửi về nước dưới dạng đầu tư

    Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tính chung năm 2004 tăng 18,7% so năm 2003. Về giá hàng hóa và dịch vụ chung cả năm tăng 9,4% so tháng 12-2003. Dù chưa đạt chỉ tiêu đề ra nhưng tốc độ tăng giá đã được khống chế dưới hai con số. Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 26 tỷ USD, tăng 30% so năm 2003, bình quân một tháng đạt 2,16 tỷ USD. Hầu hết các mặt hàng chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu tăng so với năm 2003. Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2 tỷ USD có tốc độ tăng cao trong năm nay là: dầu thô tăng 53%, hàng dệt may tăng 19,6%, giày dép tăng 17,3%. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực tăng khá, trong đó cà-phê tăng 33,4%, cao-su tăng 35%, chè tăng 57%, hạt tiêu tăng 40%, hạt điều tăng 48%, thủy sản tăng 7%.

    Tổng kim ngạch xuất khẩu qua các năm. Đơn vị tính: tỷ USD

    2.1.2.Những tồn tại
    Bên cạnh những thành tựu to lớn và cơ bản đã đạt được, tình hình kinh tế – xã hội nước ta năm 2004 vẫn còn những yếu kém. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung còn ở mức thấp so với kế hoạch. Chất lượng tăng trưởng, tính bền vững và độ đồng đều chưa cao. Điều này được thể hiện trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Trong công nghiệp, giá trị sản xuất tăng 16% nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 0,7%. Tốc độ tăng trưởng của một số sản phẩm công nghiệp khai thác còn phụ thuộc vào thị trường thế giới. Giá hàng hóa, dịch vụ trong nước tăng cao. Mục tiêu giảm tỷ lệ sinh 0,04% không đạt kế hoạch đề ra. Tỷ lệ sinh con thứ ba tăng so với các năm trước đang tiềm ẩn khả năng bùng nổ dân số.
    2.1.3 Giải pháp khắc phục và phương hướng

    -Để gi¶i quyÕt  nhøng tån t¹i trªn cÇn cã c¸c  giải pháp tích cực, đồng bộ, với sự chỉ đạo sát sao và tổ chức thực hiện nghiêm túc của các ngành, địa phương, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước.

    -Tập trung nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất công, nông nghiệp, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và chống thất thoát trong xây dựng cơ bản.

    -Tạm ngừng các công trình chưa cần thiết. Giảm chi phí trung gian trong các ngành sản xuất, nhất là trong công nghiệp để tăng tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành này.

    -Phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ, nhất là dịch vụ ngân hàng, tài chính, viễn thông, du lịch… Giải ngân nguồn vốn của các nhà tài trợ 3,4 tỷ USD để tăng nhanh vốn đầu tư phát triển và nâng cấp cơ sở hạ tầng

    -Thu hút mạnh các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ để khai thác cao nhất tiềm năng và lợi thế hiện có. Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hành tiết kiệm, tạo động lực tinh thần, khơi dậy tiềm năng sức lực và trí tuệ của cả dân tộc

    2.2.Năm 2005

    2.2.1-Tình hình chung

    Năm 2005 là năm hoàn thành kế hoạch năm 5 lần thứ tư (2001-2005) của nước ta. Đây cũng là năm đánh dấu mốc tăng trưởng cao nhất từ năm 1997  đến nay.Với tốc độ tăng trưởng 8,4% đã giúp cho tốc độ tăng trưởng trung bình  5 năm đat mức 7,5%

    BiÓu ®å t¨ng tr­ëng kinh tÕ tõ 1998-2005

    trong ®ã

      2001 2002 2003 2004     2005 2001-2005
    Tốc độ tăng (%)
    GDP 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
    Nông-lâm-thủy sản 2,98 4,17 3,62 4,36 4,04 3,84
    Công nghiệp-xây dựng 10,39 9,48 10,48 10,22 10,65 10,24
    Dịch vụ 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 6,97
    Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm phần trăm
    GDP 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
    Nông-lâm-thủy sản 0,69 0,93 0,79 0,92 0,82 0,83
    Công nghiệp-xây dựng 3,68 3,47 3,92 3,93 4,19 3,84
    Dịch vụ 2,52 2,68 2,63 2,94 3,42 2,84
    GDP 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
    Nông-lâm-thủy sản 10,07 13,20 10,76 11,80 9,78 11,12
    Công nghiệp-xây dựng 53,39 48,95 53,37 50,48 49,71 51,18
    Dịch vụ 36,54 37,85 35,86 37,72 40,52 37,70
                             

    Bảng 1: Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo ngành, 2001-2005

     

    Do chiếm tỷ trọng lớn trong GDP và có tốc độ tăng giá trị tăng thêm cao nhất (10,6%), nên năm 2005 công nghiệp và xây dựng vẫn là khu vực có đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trưởng chung, chiếm tới 49,7% .giá trị sản xuất công nghiệp toàn nghành ước đạt 416,863 tỷ đồng ,tăng 17,2% so năm 2004. Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng từ 40,1% năm 2004 lên 40,8% năm 2005 . Khu vực nông – lâm – thủy sản chịu nhiều tác động bất lợi của thời tiết, dịch cúm gia cầm và biến động của thị trường; tốc độ tăng trưởng của khu vực nông-lâm-thủy sản ước đạt 4,0%, đóng góp 9,8% . Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ ước tăng 8,5%. Năm 2005 là năm khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1997 và lần đầu tiên cao hơn mức tăng trưởng GDP của tòan bộ nền kinh tế. Kết quả là khu vực dịch vụ đóng góp tới 40,5%  một mức đóng góp lớn nhất trong 5 năm qua.Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 38,1% năm 2004 lên 38,5% năm 2005 Chuyển dịch cơ cấu ngành đã có sự biến đổi nhưng chưa nhiều và mạnh

    Thực hiện vốn đầu tư xã hội năm 2005 theo giá thực tế ước đạt 326 nghìn tỷ VNĐ, tương đương với 38,9% GDP. Theo giá so sánh, vốn đầu tư xã hội năm 2005 chỉ tăng khoảng 10,5% và mức tăng này vẫn thấp hơn mức 11,6% của năm 2004. Trong ba thành phần kinh tế, vốn đầu tư của khu vực FDI tăng nhanh nhất, khoảng 16,4%, cao gấp gần 2,8 lần mức tăng của vốn nhà nước. Khu vực ngoài quốc doanh cũng có mức tăng trưởng rất cao, gần bằng khu vực có vốn ĐTNN (15,7%). Vốn đầu tư nhà nước chỉ tăng 5,9%, do đó, tỷ trọng của khu vực này giảm nhanh hơn so với năm 2004.

    Năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng rất mạnh, ước đạt tới 32,2 tỷ USD,2 tăng 21,6% so với năm 2004 .Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2005 ước đạt 36,98 tỷ USD, tăng 4,93 tỷ USD hay 15,4% so với năm 2004. Tuy nhiên, đây là năm có tốc độ tăng nhập khẩu hàng hóa thấp nhất kể từ n¨m 2002

    Thương mại nội địa năm 2005 tiếp tục khởi sắc. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội (TMBLHH&DTDVXH) ước đạt khoảng 475,4 nghìn tỷ VNĐ. Nếu loại trừ yếu tố lạm phát thì TMBLHH&DTDVXH thực tăng 12,1%. Đây là năm TMBLHH&DTDVXH đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 5 năm lại đây.

    2.2.2.Những khó khăn và thách thức

    Tuy nhiên cùng với sự tăng trưởng này nền kinh tế nước ta đã phải chịu mức lạm phát cao ở mức 8,4%( mức cao thứ 3 kể từ năm 1998 ) vượt xa chỉ tiêu 6,5% Chính Phủ đề ra. Giá tăng gây lo lắng trong dân chúng vì tiền lương và các khoản  hưu trí chưa kịp điều chỉnh hợp lý để đuổi kịp giá cả đang tăng cao

    Mức đầu tư cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp sẽ hạn chế khả năng tăng trưởng của Việt Nam trong dài hạn.

    -Dịch cúm gia cầm đang tạm lắng xuống, nhưng nguy cơ tái bùng phát khi thời tiết lạnh hơn vào tháng 2 và tháng 3 còn rất cao.

    -Xuất khẩu các mặt hàng truyền thống có tính cạnh tranh thấp và tăng chủ yếu trong năm 2005 do yếu tố giá tăng, không mang tính bền vững và lành mạnh.

    -Các doanh nghiệp quốc doanh tiếp tục hoạt động trì trệ hơn các thành phần khác, và cần được cải tổ dứt khoát hơn.

    -Bất đồng giữa người lao động và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về vấn đề lương bổng và điều kiện làm việc có dấu hiệu gia tăng.

    -Vì nhiều lĩnh vực kinh tế sẽ được mở rộng hơn nữa trong năm tới, nên cạnh tranh nước ngoài sẽ trở thành một trong những thử thách lớn nhất mà các nhà sản xuất trong nước phải đối mặt trong năm 2006.

    2.2.3.Giải pháp

    -Đề ra chỉ tiêu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ năm 2006-2010 một cách toàn diện và sát thực, chú trọng đến vấn đề lạm phát đang còn tồn tại

    -Cải cách luật pháp sao cho gon nhẹ nhưng phải cứng rắn ,chính sách thông thoáng nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực thế mạnh của nước nhà

    -Cải tạo hệ thống giao thông vận tải ,thủy lợi là vấn đề cấp thiết đối với phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập.

    2.3-Năm 2006

    Nền kinh tế nước ta năm 2006 vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu do Quốc hội đề ra đều đạt và vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng gần 8,2% (kế hoạch 8%), trong đó khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,23% (kế hoạch 3,8%), khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,46% (kế hoạch 10,2%), riêng công nghiệp tăng 10,28% và khu vực dịch vụ tăng 8,26%, kế hoạch tăng 8%). Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước

    Thu chi ng©n s¸ch : Do kinh tế tăng trưởng khá nên tình hình tài chính lành mạnh. Tổng thu ngân sách năm 2006 ước đạt trên 261,1 nghìn tỉ đồng vượt dự toán 9,8% (dự toán là 237,9 nghìn tỉ đồng), tăng 20,3% so năm 2005. Các khoản thu lớn trong nước đều tăng khá và đạt kế hoạch đề ra. Tổng chi ngân sách ước đạt trên 315 nghìn tỉ đồng, vượt dự toán (dự toán 294,4 nghìn tỉ đồng) và tăng 20% so với năm 2005. Các khoản chi lớn như: đầu tư phát triển, lương và bảo hiểm xã hội, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục, điều chỉnh lương tối thiểu, chi đột xuất hỗ trợ vùng bị thiên tai, phòng chống dịch bệnh, sâu bệnh… đều được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng

    N«ng l©m thñy s¶n : Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn tăng trưởng. Giá trị sản xuất khu vực này năm 2006 ước tăng 4,15% so năm 2005, trong đó nông nghiệp tăng 3,1%, lâm nghiệp, tăng 1,0%, thủy sản tăng 8,5%. Dù bị thiên tai, sâu bệnh phá hoại nặng nề nhưng sản xuất lương thực vẫn phát triển. Diện tích lúa cả năm 2006 đạt 7,32 triệu héc ta, xấp xỉ năm 2005, năng suất đạt 48,9 tạ/ha, tăng 0,1% và sản lượng đạt 35,83 triệu tấn, bằng năm 2005. Sản xuất lâm nghiệp tuy có khó khăn về nguồn vốn, nhưng diện tích rừng trồng tập trung năm 2006 vẫn tăng 2,9% so năm 2005.

    Chăn nuôi tiếp tục phát triển và một số đàn tăng trưởng khá: đàn bò đạt 6,5 triệu con tăng 17,5%, chủ yếu tăng đàn bò thịt… Đàn lợn đạt 26,9 triệu con, tăng khoảng 3%. Đàn gia cầm đã khôi phục sau dịch cúm, đạt 214,5 triệu con xấp xỉ cùng kỳ năm 2005. Sản lượng thịt hơi các loại tăng đạt 3,1 triệu tấn, tăng 9,3%. Thủy sản vẫn tăng khá, nhất là nuôi trồng thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản năm 2006 ước đạt trên 3,68 triệu tấn tăng khoảng 8% so với năm 2005.Trong ®ã sản lượng thủy sản khai thác ước đạt khoảng 2 triệu tấn, tăng 1% so năm 2005. Đối với khai thác nội địa, năm nay lũ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn so với năm trước nên tôm cá về nhiều, người dân được mùa khai thác.

    Sản xuất công nghiệp tăng khá, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 ước tăng 17% so với năm 2005, trong đó khu vực nhà nước tăng 9,4%, khu vực ngoài nhà nước tăng 22,4% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 19,5%.

    Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao, trong đó: than ước tăng 20,8%, sản xuất thực phẩm và đồ uống tỷ trọng 21,5%, trong đó giá trị xuất khẩu thủy sản chế biến tăng 24,6%; sản xuất các sản phẩm từ da giày tỷ trọng 4,7% tăng 18,4%; sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tỷ trọng 2%, tăng 23,15 (trong đó giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tăng 24,6%); sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tỷ trọng 5,25, tăng 26,8% (trong đó giá trị xuất khẩu các sản phẩm nhựa tăng 38%);  sản xuất các phương tiện vận tải khác (chủ yếu là đóng mới và sửa chữa tàu thuyền) tỷ trọng 4,3% và tăng 22,8%; quần áo may sẵn tăng 18,5%, Nét mới của công nghiệp năm 2006 là một số sản phẩm đã đạt chất lượng cao đứng vững trên thị trường trong nước và xuất khẩu, trong đó đáng chú ý là công nghiệp đóng tàu xuất sang EU với công suất lớn, đi biển dài ngày, sản xuất phân hóa học, sản xuất và lắp ráp điện tử, tin học, sản phẩm đồ gỗ…

    Đầu tư xây dựng có tiến bộ, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 ước đạt khoảng 41% GDP, là mức cao nhất trong nhiều năm qua (vốn của các doanh nghiệp dân doanh chiếm tỷ trọng gần 33%). Đây là sự cố gắng lớn trong việc huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển và là yếu tố thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài là điểm sáng nổi bật nhất trong bức tranh kinh tế Việt Nam. Năm 2006, tổng số vốn FDI đăng ký mới và đầu tư bổ sung đạt trên 10,2 tỉ USD, mức cao nhất kể từ năm 1988 (8,6 tỉ USD năm 1995). Vốn bình quân 1 dự án 8,4 triệu USD, tăng 1,2 triệu USD năm 2005. Chỉ trong 1 ngày trong tháng 11-2006, Việt Nam đã thu hút 2 tỉ USD vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, đạt mức kỷ lục so với các năm trước.

    Nét nổi bật trong thương mại năm 2006 có 3 sự kiện lớn: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam và xuất khẩu đạt 39,6 tỉ USD vượt xa kế hoạch đầu năm, tăng 22,1% so với năm trước. Ba sự kiện đó đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

    Thị trường trong nước vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ toàn xã hội năm 2006 ước tăng 20,4%, nếu loại trừ tốc độ trượt giá cũng tăng 11%; doanh thu du lịch tăng 28,5%.

    Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 40 tỉ USD, tăng 24% so năm 2005. Điều đáng chú ý là hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng trưởng cao và đạt kim ngạch cao. Đã có 9 mặt hàng có giá trị xuất khẩu đạt trên 1 tỉ USD là gạo, cao su, dầu thô, hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, thủy sản, điện tử, máy tính, hàng hóa khác…

    Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2006 ước đạt 44 tỉ USD tăng 20% so năm trước. Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, phụ liệu dệt may. Hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng nhỏ. Nhập siêu năm 2006 ước đạt 4,4 tỉ USD, bằng 10,4% kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn năm 2005.

    Hoạt động du lịch tuy chưa đều nhưng lượng khách quốc tế đến Việt Nam cả năm đạt khoảng trên 3,56 triệu lượt người, tăng gần 3,7% so năm 2005. Khách đến từ các nước ASEAN, châu Á và châu Âu tăng mạnh, trong đó từ Xin-ga-po tăng 24,3%, từ Ma-lai-xi-a tăng 23,4%, từ Hàn Quốc tăng 29,3%, từ Thái Lan tăng 38%, từ Na Uy tăng 24,8%; từ Đan Mạch tăng 21%…

    2.3.2-những yếu kém còn tồn tại

    Bên cạnh thành tựu và tiến bộ, tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2006 vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập. Tốc độ tăng GDP chưa vững, chưa đều và còn thấp so với tiềm năng. Chất lượng của sự tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và không đều. Tình trạng thất thoát nguồn lực tài chính, tài nguyên thiên nhiên và lao động còn lớn. Tham nhũng, lãng phí tài sản nhà nước, ngân sách quốc gia vẫn còn nghiêm trọng. Công tác cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm và không đạt kế hoạch. Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế – tài chính chưa vững chắc. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém, nhất là vùng nông thôn, miền núi. Một số vấn đề về phát triển kinh tế bền vững… còn nhiều hạn chế. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO và có PNTR còn nhiều bất cập. Nợ nước ngoài đã chạm ngưỡng khung an toàn… Những hạn chế và bất cập đó thể hiện rõ trong từng ngành và lĩnh vực kinh tế.

    2.3.3-nguyên nhân

    -Trong nông nghiệp chỉ đạo chưa kiên quyết ,sát sao trong khi dịch bệnh bùng phát trên diện rộng và có vẫn có nguy cơ bùng phát lại

    -Trong chăn nuôi :dịch cúm gia cầm đã được khống chế nhưng công tác kiểm dịch chưa nghiêm, tình trạng giết mổ gia cầm phân tán còn phổ biến >>nguy cơ tái dịch khó lường có thể xảy ra

    -Thủy lợi chưa đảm bảo ,đến khi có lũ lụt xảy ra thì thiệt hại vô cùng nặng nề

    -Trong công nghiệp :chất lượng và sức cạnh tranh của một số sản phẩm trong công nghiệp khu vực nhà nước còn hạn chế ,cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm ,cơ sở hạ tầng yếu kém ,luật kinh tế chưa đồng bộ ,công tác quản lý va trình đọ kỹ thuật của cán bộ và công nhân chưa theo kịp yêu cầu chất lượng

    -Nhiều quy hoạch chưa hoàn thiện,vốn giải phóng mặt bằng ,giá cả vật tư ,nhiên liệu tăng nhanh và không ổn đinh .Vấn đề thu hút vốn FDI lại quá tập trung vào công nghiệp và dịch vụ ,ít quan tâm đến nông nghiệp trong khi nông nghiệp lại là ngành thế mạnh của nước ta

    -Tốc độ xuất khẩu cao nhưng chưa vững…

    2.3.4-gi¶i ph¸p

    -Cải cách hành chính và pháp luật để chuẩn bị gia nhập WTO, chuẩn bị cả tinh thần và trí lực để hội nhập nền kinh tế thế giới .Chúng ta đã có luật Đầu tư và Doanh nghiệp năm 2005 nên cần cụ thể hóa và tiến hành rà soát lại các thủ tục cần thiết ,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư

    -Trong nông lâm thủy sản cần có những biện pháp chỉ đạo sát sao ,kịp thời không để dịch bệnh lây lan ,có các biện pháp phòng tránh kịp thời khi có thiên tai bão lũ xảy ra ,han chế tối đa thiệt hại

    -Rà soát lại toàn bộ các quy hoạch để xóa các quy hoạch treo ,vì quy hoạch có đóng góp rất lớn trong nền kinh tế đang phát triển như nước ta

    -Tiếp tục khắc phục các điểm yếu về cơ sở hạ tầng  ,nhà nước cần tính toán ,thống nhất lại quy hoạch để xây dựng những cơ sở hạ tầng quan trọng có tác động lớn tới phát triển kinh tế .Tìm kiếm và đề xuất nguồn lực để trong những năm tới có sự chuyển biến về hạ tầng

    2.4-Năm 2007

    2.4.1 – Bối cảnh chung

    Trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi, song dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, sự điều hành sát sao của Chính phủ, các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp và hàng chục triệu hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong cả nước đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi để phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh dịch vụ. Nhờ đó kinh tế cả nước trong năm 2007 tiếp tục phát triển toàn diện và hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.

    Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ là thành tựu nổi bật nhất, cơ bản nhất của nền kinh tế Việt Nam năm 2007. Tổng sản phẩm trong nước ước tăng 8,44%, đạt kế hoạch đề ra (8,0 – 8,5%), cao hơn năm 2006 (8,17%) và là mức cao nhất trong vòng 11 năm gần đây. Với tốc độ này, Việt Nam đứng vị trí thứ 3 về tốc độ tăng GDP năm 2007 của các nước châu Á sau Trung Quốc (11,3%) và Ấn Độ (khoảng 9%) và cao nhất trong các nước ASEAN (6,1%). Tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 khu vực kinh tế chủ yếu đều đạt mức khá

    Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá cao. Tính chung năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) ước tăng 17,0% so với năm 2006, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 10,4% (trung ương quản lý tăng 13,4%; địa phương quản lý tăng 3,5%); khu vực ngoài nhà nước tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,0% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,37%, các ngành khác tăng 23,1%).

    Nếu không có thiên tai, dịch bệnh lớn như vừa trải qua, tốc độ tăng GDP chắc chắn còn cao hơn 8,5%. Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dich theo hướng tích cực. Tỷ trọng GDP khu vực nông – lâm nghiệp – thủy sản giảm còn dưới 20,0%/ so với 20,81% năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm trên 41,7% so với 41.56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08% trong 2 năm tương ứng. Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao và tốc độ tăng khá ổn định, quý sau cao hơn quý trước, trong điều kiện có khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng trong bối cảnh hội nhập WTO

    Bảng  – Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 – 2007 (%)

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
    GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,44
    NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
    CNXD 12,62 8,33 7,68 10,07 10,39 9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,4
    DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5

    (Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, tr 69)

    Thu chi chÝnh phñ: Do kinh tế tăng trưởng cao nên tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép. Theo Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt 287.900 tỉ đồng, vượt dự toán cả năm (dự toán 281.900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với năm 2006. Tổng số chi ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt dự toán năm. Bội chi ngân sách cả năm ước đạt 5% GDP.

    Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt mức kỷ lục: Ước tính vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm của các dự án cũ bổ sung cả năm 2007 đạt trên 20,3 tỉ USD, tăng 8,3 tỉ USD, so năm 2006 (12 tỉ USD), vượt kế hoạch 7 tỉ USD và là mức cao nhất từ trước đến nay. Tổng số vốn FDI năm 2007 đạt mức gần bằng vốn đầu tư của 5 năm 1991 – 1995 là 17 tỉ USD và vượt qua năm cao nhất 1996 là 10,1 tỉ USD. Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào dịch vụ 63,7% và công nghiệp 35,0%, ngành nông – lâm nghiệp thủy sản 1,3%Vốn đầu tư thực hiện năm 2007 ước đạt 5,1 tỉ USD, tăng 1,2 tỉ USD (30,7%) so năm 2006 (39,56 tỉ USD).

    Cùng với tăng vốn FDI, lượng kiều hối đổ về Việt Nam tiếp tục tăng cao. Dự kiến cả năm 2007, lượng kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài gửi về qua kênh chính thức đạt 5,5 tỉ USD so với mức 4,7 tỉ USD năm 2006 và gấp 157 lần năm 2001. Tốc độ tăng bình quân 37%/năm đưa lượng kiều hối gửi qua kênh chính thức được thực hiện từ năm 1991 đến 2007 lên con số 29,4 tỉ USD, chiếm 70% vốn FDI, tính từ năm 1998 và cao gấp rưỡi vốn ODA được giải ngân kể từ 1993. Nguồn vốn kiều hối năm 2007 chủ yếu là giúp người thân trong nước đầu tư chứng khoán, kinh doanh địa ốc, một phần mua sắm tài sản, hàng hóa, lễ hội vào dịp cuối năm.

    Xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao: Ước tính cả năm kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỉ USD, tăng 21% so năm 2006 (7,9 tỉ USD) và vượt 15,5% so kế hoạch. Trong đó khu vực kinh tế trong nước chiếm 42% và tăng 22,3%; khu vực FDI chiếm 58% và tăng 18,4%, (kể cả dầu thô) nếu không có dầu thô, tăng 30,4% so với năm 2006). Có 10 mặt hàng đạt trên 1 tỉ USD. Hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất là: dệt may đạt 7,8 tỉ USD, tăng 31% vượt qua dầu thô; dầu thô giảm bằng 97,7%, giày dép tăng 9,5%; thủy sản, tăng 11,9%; sản phẩm gỗ tăng 23,7%; điện tử, máy tính tăng 24,6%. Gạo xuất khẩu đạt 4,5 triệu tấn giảm 3, 4% nhưng kim ngạch là 1,5 tỉ USD tăng 14 % do giá xuất khẩu thế giới tăng. Cà phê tăng 52,3%, cao su tăng 5,3% so với năm 2006.

    Du lịch khởi sắc: Năm 2007 cả nước đã đón trên 4,3 triệu lượt khách quốc tế, tăng 19% so cùng kỳ 2006, là mức cao nhất từ trước đến nay. Khách đến với mục đích du lịch tăng cao 25,4%, khách đến vì công việc tăng 13,7%; khách đến thăm thân nhân tăng 7,3%. Lượng khách đến du lịch Việt Nam tăng nhanh trong năm 2007 là Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po. Pháp, I-ta-li-a, Nga, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ, LB. Đức. Hoạt động du lịch nội địa khởi sắc, chất lượng du lịch đã được cải thiện đáng kể so năm 2006.

    Những thành tựu trên đây đã nâng vị thế của Việt Nam lên tầm cao mới. Quy mô nền kinh tế đã lớn mạnh hơn so năm 2006. Thu nhập quốc dân theo GDP năm 2007 tính bình quân đầu người đạt 835 USD, tăng 15 USD so kế hoạch. Dự trữ ngoại tệ đạt 20 tỉ USD, là mức cao so với các năm trước. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh của năm 2007, những kết quả đạt được về kinh tế như trên là những thành tựu to lớn, cơ bản và rất đáng tự hào. Nguyên nhân của những thành tựu đó có nhiều, trong đó đường lối đổi mới của Đảng và các chính sách kinh tế tài chính có tác dụng kích thích sản xuất, mở rộng dịch vụ của Nhà nước và sự điều hành của Chính phủ có vai trò quyết định.

    2.4.2-nh÷ng tån t¹i

    -Sau 1 năm gia nhập WTO nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tưu đáng kể,song cũng còn không ít những bất cập còn tồn tại trong nền kinh tế

    -Sự tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào chiều rộng. Kinh tế tăng trưởng, nhưng tính chất của nền kinh tế gia công và khai khoáng chưa thay đổi nhiều

    -Hiện tượng lạm phát chưa kiểm soát được;  bong bóng của thị trường bất động sản căng phồng và đang như “con ngựa bất kham” trước Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ…

    -Những điểm yếu  của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạ tầng yếu kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tai năm 2007… không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độ cao. Do vậy khả năng phòng chống thiên tai, dịch bệnh hạn chế, thiệt hại gây ra rất nặng nề, hậu quả để lại là rất nghiêm trọng và lâu dài.Cụ thể là vụ  sập nhịp cầu Cần Thơ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. …

    -Sự phát triển thị trường lao động không gắn liền với chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nên dẫn đến tình trạng vừa thừa và thiếu trong quan hệ cung – cầu. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nghịch lý: Thừa vốn, thiếu lao động (lao động có kỹ năng, được đào tạo), mà đúng ra phải là ngược lại. và khai khoáng hoàn toàn chưa thay đổi

    2.4.3-gi¶i ph¸p

    -Cần đặc biệt tập trung vào những vấn đề quan trọng, bức thiết nhằm mục tiêu ưu tiên hàng đầu hiện nay là kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, quan tâm vấn đề an sinh xã hội, hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý để bảo đảm cho sự phát triển cao, bền vững ở những năm sau

    -Chú trọng nâng cao cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

    -Tập trung vào công tác đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng ,có phẩm chất đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp đang đầu tư vào nước ta trong những  năm tới

    2.5-năm 2008

    2.5.1-tình hình chung

    Năm 2008, kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng. Nhiều nền kinh tế lớn đang vật lộn với khủng hoảng tài chính nặng nề. ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, nhất là đợt rét đậm lịch sử đầu năm, 10 cơn bão kéo theo lũ lụt lịch sử kéo dài từ giữa năm đến cuối năm, trên diện rộng, từ Bắc vào Nam. Mưa lớn gây ngập úng ở thủ đô Hà Nội, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư, kết cấu hạ tầng… Thuận lợi tuy có, nhưng không nhiều: năm thứ 2 gia nhập WTO, nên thị trường xuất khẩu được mở rộng, nguồn lực các năm trước, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2007 chuyển sang khá lớn; thành quả và kinh nghiệm tích lũy trong hơn 20 năm đổi mới…

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ trong việc tổ chức thực hiện 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nên tình hình kinh tế cả nước năm 2008 vẫn phát triển toàn diện và có mức tăng trưởng khá.

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%.
    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2008 tính theo giá so sánh 1994 ước tăng 5,6% so với năm 2007, bao gồm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,4%; lâm nghiệp tăng 2,2%; thủy sản tùng 6,7%.
    Tuy gặp nhiều khó khăn do giá cả đầu vào tăng nhanh, đặc biệt giá dầu không ổn định nhưng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính vẫn tăng 14,6% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế nhà nước tăng 4%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 18,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%, trong đó dầu khí giảm 4,3%.
    Hoạt động dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2008 ước tính tăng 31% so với năm 2007, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 20,4%; kinh tế cá thể tăng 32,2%, kinh tế tư nhân tăng 34,3%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,9%. Xét theo ngành kinh doanh, thương nghiệp tăng 31,5%; khách sạn, nhà hàng tăng 26,2%; dịch vụ tăng 31,3% và du lịch tăng 41,8%Hoạt động bưu chính – viễn thông tiếp tục phát triển, nhất là dịch vụ viễn thông. Tổng số điện thoại cố định của cả nước tính đến hết tháng 12-2008 là 13,1 triệu thuê bao, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường internet tiếp tục phát triển.
    Số khách quốc tế đến nước ta năm 2008 ước tính đạt 4,3 triệu lượt người, tăng 0,6% so với năm trước, trong đó khách đến với du lịch, nghỉ dưỡng là 2,6 triệu lượt người, tăng 1%; đến vì công việc là 844,8 nghìn lượt người, tăng 25,4%.
    Kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô  Nhờ xác định rõ các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng lạm phát liên tục tăng cao trong năm 2008, Đảng và Chính phủ đã điều chỉnh và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như thắt chặt tiền tệ, tín dụng, điều chỉnh cơ chế lãi suất, tỷ giá; tiết kiệm chi tiêu ngân sách, sắp xếp lại kế hoạch đầu tư, cắt giảm các dự án đầu tư kém hiệu quả; điều chỉnh thuế quan, khuyến khích xuất khẩu và tăng cường quản lý nhập khẩu, giảm nhập siêu; chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp giảm chi phí sản xuất, chống đầu cơ, tăng cường quản lý thị trường giá cả; tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, cân đối cung – cầu…Nhờ vậy, tình hình thị trường đang từng bước ổn định trở lại.
    Tốc độ tăng giá tiêu dùng so với tháng trước của những tháng đầu năm liên tục tăng 2-3%, nhưng đến tháng 7-2008 chỉ còn tăng 1,13% và đến tháng 12-2008 đã giảm được 0,68%. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8% dự toan nùm. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9 % dự toán năm.
    Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao. Tính đến ngày 19-12-2008, cả nước đã thu hút được 64 tỉ USD vốn đăng ký, gấp gần 3 lần năm 2007. Thu hút vốn ODA có nhiều chuyển biến tích cực. Tại Hội nghị tổ chức tại Hà Nội đầu tháng 12-2008, các nhà tài trợ quốc tế cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trên 5 tỉ USD.
    Cán cân thương mại được cải thiện vào những tháng cuối năm. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2008 ước tính đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007. Tám nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỉ USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính và cà phê. Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam năm 2008 là Mỹ, ASEAN, EU, Nhật Bản.
    Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2008 ước đạt 80,4 tó USD, tăng 28,3% so với năm 2007. Nhập siêu hàng hóa đã được kiềm chế và giảm dần từ mức gần 2,2 tỷ USD (tháng 1-2008), xuống còn 500 triệu USD vào tháng 12-2008. Tổng nhập siêu năm 2008 ước tính là 17,5 tỉ USD, bằng 27,8% trị giá xuất khẩu.

    Các cam kết hội nhập vẫn được Việt Nam tôn trọng nghiêm túc. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang có những dấu hiệu rất tốt, đặc biệt kết quả thu hút FDI đạt mức kỷ lục với vốn đăng ký khoảng 65 tỷ USD. Vốn cam kết ODA của các nhà tài trợ trong năm 2008 đạt tới 5,43 tỷ USD. Đầu tư gián tiếp nước ngoài có dấu hiệu tăng trở lại, với 46 quỹ ĐTNN chuyên đầu tư vào Việt Nam, chủ yếu nhằm vào thị trường BĐS và tài chính ngân hàng. Tỷ trọng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đang tăng dần và hiện chiếm trên 20% thị phần TTCK Việt Nam…

    Tổ chức Tư vấn và Kiểm toán thế giới PriceWaterHouseCoopers xếp Việt Nam thứ nhất trong số 20 nền kinh tế đang lên và có sức hấp dẫn cao với các nhà đầu tư vào ngành sản xuất, trong đó có công nghiệp phụ trợ.

    II-Đánh giá chung

    Sau hơn 20 năm cải cách nền kinh tế nước ta đã có được những thành tích đáng ghi nhận :nền kinh tế ngày càng ổn định và phát triển,lạm phát  được đẩy lùi , đời sống dân cư được nâng cao ,cơ cấu kinh tế đã và đang có sự chuyển đổi theo hướng tích cực…được quốc tế đánh giá là một nền kinh tế có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong khu vực, những thành quả đạt được đã đưa nước ta lên một tầm cao mới trên trường quốc tế ,ngày càng được các nước trên thế giới biết đến và công nhận

    Nguyên nhân mà nền kinh tế nước ta đạt được những thành tựu như trong những năm gần đây là Nước ta có đủ các điều kiện về cả tài nguyên thiên nhiên ,lao động ,sức hút đầu tư ,khoa học kỹ thuật để phát triển một nền kinh tế toàn diện và năng động

    • Nước ta nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo ,mưa nhiều .Mặt khác có một bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt rất thuận lợi cho giao thông và phát triển nông lâm ngư nghiệp
    • Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ,với những khoáng sản có trữ lượng lớn ,là nguồn nguyên liệu và nguồn xuất khẩu rất lớn .Một mặt thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp trong nước ,mặt khác cũng là một nguồn thu lớn cho chính phủ
    • Với nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc ,những nét văn hoá đặc sắc,những khu du lịch nổi tiếng đã được xếp hạng trên thế giới là một thế mạnh du lịch của nước ta ,Hàng năm thu hút hàng chục triệu lượt khách du lịch, đó là một nguồn thu không nhỏ của nhà nước
    • Dân số nước ta được xếp vào nước có dân số trẻ ,số người trong độ tuổi lao động khá lớn ,với sự chăm chỉ ,càn  cù  và  khả năng  tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh ,giá lao động khá rẻ  là một lợi thế để phát triển nền kinh tế trong nước đang trong thời kỳ phát triển và thu hút đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam
    • Cơ sở vật chất ,hạ tầng ngày càng được cải thiện ,tuy chưa đáp ứng được sự tăng trưởng bền vững của kinh tế những cũng đã phần nào tạo đà để nền kinh tế tiếp tục  phát triển
    • Khoa học kỹ thuật được áp dụng vào hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế từ nông ,công nghiệp cũng như các ngành khác , đem lại năng suất lao động cao ,giảm công lao động đồng nghĩa với hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
    • Đặc biệt những chính sách , đường lối đúng đắn, kiên quyết của Đảng và Nhà nước đã mở ra rất nhiều cơ hội mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài nhằm thu hút đầu tư ,giao thương buôn bán ,chuyển giao công nghệ ,giao lưu văn hoá

    Thành tựu đạt được thì không thể phủ nhận song bên cạnh đó nền kinh tế nước ta cũng còn rất nhiều những khó khăn và hạn chế nhất định như

    • Thiên tai và dịch bệnh xảy ra thường xuyên gây ra những thiệt hại vô cùng nặng nề đã chứng tỏ khả năng phòng chống của chúng ta chưa thực sự tốt,mặt khác cũng cho thấy cơ sở hạ tầng của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu
    • Chúng ta là một nước giàu tài nguyên và khoáng sản xong quản lý và khai thác chưa có hiệu quả cao, gây thất thoát lớn và ô nhiễm môi trường
    • lực lượng lao động có tay nghề và trình độ cao còn thiếu nhiều,chưa đáp ứng được với yêu cầu của các doanh nghiệp
    • Nhập siêu và lạm phát còn ở mức khá cao;thất nghiệp chưa thể giải quyết
    • Thu hút đầu tư còn quá chú trọng vào hai nhóm ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ,trong khi ít quan tâm đến ngành nông nghiệp là thế mạnh của nước ta
    • Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ đang ngày càng được cải thiện song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế
    • một số chính sách kinh tế còn rờm rà ,thiếu tính khách quan ,còn gây cản trở cho các doanh nghiêp
    • Tuy đã hội nhập WTO nhưng một số cán bộ,công nhân còn chưa nắm rõ được tầm quan trọng và thách thức khi chúng ta hội nhập đã gây ra yếu kém trong khâu quản lý một phần nhất định

    …..

    Để có thể tận dụng một cách tối đa những thuận lợi và khắc phục triệt để những khó khăn và yếu kém còn tồn tại, chúng ta cần có các giải pháp ,phương hướng để đưa nền kinh tế phát triển ổn đinh ,toàn diện hơn nữa. Đó là:

    Trong tình hình kinh tế đang suy thoái chúng ta cần phải cố gắng giữ vững tinh thần để  đưa ra những quyết sách và đối sách hợp lý. Tiếp tục tập trung tổ chức tốt bộ máy lãnh đạo ,chỉnh sửa các thủ tục pháp lý và hàng rào thuế quan để tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

    • Kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần là một muc tiêu rất quan trọng ,ngoài ra cần ổn định kinh tế vĩ mô ,trước hêt là chính sách tài chính và tiền tệ
    • Đẩy mạnh phát triển sản xuất và kinh doanh, giúp hàng hóa trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài
    • Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng về chiều sâu, nhằm đáp ứng nhu cầu về lao động của các doanh nghiêp
    • Tiếp thu khoa học kỹ thuật sản xuất mới, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng
    • Thay đổi cơ cấu kinh tế ,giảm tỷ trọng nông nghiệp ,tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ .Đặc biêt cần có những biện pháp để tăng tỷ trọng ngành dịch vụ bởi nước ta có những địa điểm du lịch rất nổi tiếng hàng năm thu hút hàng chục triệu lượt khách tham quan du lịch, là một nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước ,tạo công ăn việc làm cho nhiều người
    • Chú ý phân bố dân cư và đầu tư kinh doanh hiệu quả cho các vùng kinh tế ,quan tâm nhiều hơn đến các vùng kinh tế khó khăn và kỹ thuật lạc hậu.Tập trung phát triển thế mạnh của từng vùng ,xây dựng các ngành và các khu công nghiệp trọng điểm để phát triển kinh tế của toàn bộ vùng đó
    • Nâng cao chất lượng giáo dục , đào tạo ,y tế ,văn hóa ,giáo dục .Tiếp tục cải thiện tiền lương , đồng thời với việc triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ cho người nghèo ,người có thu nhập thấp …

    III-kết luận

    Sau khi đã phân tích chi tiết về tình hình tăng trưởng kinh tế của nước ta trong 5 năm gần đây, chúng ta đã thấy được những thành quả mà nhà nước ta đã đạt được , đồng thời cũng thấy được rằng nền kinh tế của nước nhà còn rất nhiều khó khăn ,hạn chế và yếu kém. Vì vậy trong những năm tới đây chúng ta cần nỗ lực cao hơn nữa để có thể bắt kịp với các nền kinh tế trên thế giới

    the end

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-t%E1%BA%ADp-%C4%91o%C3%A0n-Mai-Linh-MLG-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2010-2020.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng copy những thành tựu của bạn về chất lượng hiệu quả nhưng không nên và không thể copy những định vị về chiến lược – điều phân biệt của công ty bạn với các đối thủ khác1. Như vậy có thể nói, chiến lược là duy nhất và là điểm khác biệt lớn nhất giữa công ty này và công ty khác. Các công ty khác nhau cùng kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ như nhau nhưng chỉ có một thiểu số rất ít các công ty thành công. Nguyên nhân có phải là do họ quản trị sản xuất tốt? Nhân lực của họ được đào tạo bài bản? Tài chính công ty họ mạnh? Marketing của họ chuyên nghiệp? Câu trả lời cho các vấn đề này có thể là “có”, mà cũng có thể là “không”. “Một công ty có vượt qua được các đối thủ cạnh tranh khi và chỉ khi nó có thể tạo ra những khác biệt mà nó có thể gìn giữ (“A company can outperform rivals only if it can establish a difference that it can preserve”2). Rõ ràng chính chiến lược kinh doanh sẽ quyết công ty hướng đi như thế nào, tuyển dụng nhân sự ra sao, sản xuất tập trung vào sản phẩm nào, tìm hiểu những phân khúc khách hàng nào,… Chiến lược bao trùm toàn bộ các hoạt động khác của công ty. Một chiến lược đúng sẽ giúp chúng ta đi đúng hướng, tiết kiệm tối đa các chi phí, tối đa hóa lợi nhuận. Đây là lý do đầu tiên chúng tôi chọn bộ môn “Quản trị chiến lược” làm cơ sở nghiên cứu chính của đề tài này.

    Theo số liệu của Sở giao thông vận tải, riêng tại thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 12,550 xe. Trong thời gian qua, đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào ngành vận tải taxi. Nhưng không phải ai cũng thành công trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt: nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, xóa sổ, hoặc tìm đường liên doanh, hoặc chuyển hướng sang lĩnh vực khác… Trong khi đó thì cung vẫn không đủ cầu. Hiện nay các doanh nghiệp vận tải đều đang tập trung làm thương hiệu. “Mai Linh chúng tôi xây dựng và phát triển thương hiệu trên một bề dày kinh nghiệm 14 năm. Chúng tôi xác định, trước hết phải tạo ra sự khác biệt đối với khách hàng và muốn khẳng định thương hiệu của mình thì phải tạo ra một sức mạnh cạnh tranh. Bên cạnh đó, sự khác biệt của Mai Linh ở đây là sự có mặt của

    • Michael M.Porter (1996), What is Strategy, Havard Business Review.

     

    • Michael M.Porter (1996), What is Strategy, Havard Business Review.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 6

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Mai Linh ở 52 tỉnh thành từ Bắc đến Nam. Chúng tôi có một bản sắc văn hóa riêng mà không phải doanh nghiệp nào cũng có được. Bản sắc văn hóa Mai Linh không phải tạo ra trong một hai ngày mà ngay trong những ngày đầu thành lập chúng tôi đã có ý tưởng phải tạo cho mình một nét riêng trong ngành kinh doanh vận tải, cụ thể là thể hiện qua màu xanh3.

    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam không được nhà nước bảo hộ nữa, thay vào đó, các doanh nghiệp phải đối mặt với những vấn đề của cạnh tranh, của nguy cơ khi mở cửa. Xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với đặc điểm và nguồn lực của công ty nhằm tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt trở thành nhu cầu cấp thiết đối với bản thân công ty.

    Những năm gần đây kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, thu nhập người dân ngày càng cao. Chính vì thế đòi hỏi của người dân đối với nhu cầu đi lại ngày càng cao. Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh (MLG) là doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ vận tải, taxi. Trong hoàn cảnh nhu cầu của người dân ngày càng cao, và ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này, Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh cần có định hướng kinh doanh chiến lược nhằm giữ vững vị trí hàng đầu và tiếp tục phát triển bền vững trong tương lai.

    Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, nhóm chúng tôi xin lựa chọn đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010-2020”.

    1. Mục tiêu nghiên cứu

    Dựa trên cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh, nhóm tác giả đã nghiên cứu thực trạng và xu hướng phát triển của ngành vận tải tại Việt Nam, đi sâu vào phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh để xác định những mặt mạnh – mặt yếu, xác định được những cơ hội – mối đe dọa đối với sự phát triển của công ty; từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh và các giải pháp thực hiện của công ty trong giai đoạn 2010-2020.

    • Theo ông Trương Quang Mẫn, Phó chủ tịch hội đồng quản trị Mai Linh Group
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 7

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1. Phạm vi nghiên cứu

    Đề tài này chỉ được nghiên cứu trong phạm vi của một doanh nghiệp. Cụ thể là nghiên cứu trên cơ sở số liệu, tình hình thực tiễn của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh. Do đó, các kết quả giải pháp đưa ra trong đề tài này chỉ là đề cập cho Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh. Đề tài cũng chỉ phân tích những vấn đề tổng quát, trong mối quan hệ tương hỗ với chiến lược phát triển của ngành vận tài, phục vụ cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010-2020, không đi sâu vào phân tích những vấn đề mang tính chuyên môn cao.

    1. Phƣơng pháp nghiên cứu

    Đề tài nghiên cứu dựa trên việc phân tích những yếu tố ảnh hưởng, những thế mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức đối với hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh, để từ đó xác định chuỗi giá trị của công ty, những tiềm lực cạnh tranh làm cơ sở xây dựng các chiến lược kinh doanh của công ty giai đoạn 2010-2020

    1. Kết cấu đề tài

    Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chương chính sau:

    • Chương 1: Cơ sở lý luận cho việc xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp
    • Chương 2: Phân tích thực trạng Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh
    • Chương 3: Chiến lược kinh doanh và các giải pháp phát triển cho Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010-2020

    Do lần đầu tiên áp dụng lý thuyết chiến lược kinh doanh vào việc xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty CP Tập đoàn Mai Linh; do thời gian nghiên cứu có hạn và những hạn chế về mặt kiến thức, đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót; rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của giảng viên hướng dẫn – TS. Hoàng Lâm Tịnh, để đề tài có thể được hoàn thiện hơn và cũng góp phần bổ túc cho phần kiến thức đang khiếm khuyết của nhóm.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 8

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CHƢƠNG I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC XÂY DỰNG

    CHIẾN LƢỢC CHO DOANH NGHIỆP

    1. Khái niệm chiến lƣợc và quản trị chiến lƣợc

    1.1. Khái niệm chiến lƣợc

    Thuật ngữ “chiến lược” được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, sau đó được ứng dụng trong linh vực kinh doanh. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược.

    Theo cách tiếp cận của giáo sư đại học Havard, Alfred Chandler thì “chiến lược là tiến trình xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, xác định các hành động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó”.

    Theo Fred R. David, tác giả cuốn sách Concepts of Strategic Management thì “chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn

    Hoặc theo quan điểm của phương pháp C3 thì “chiến lược thực chất là một giải pháp mang tính chất lâu dài nhằm củng cố vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

    Từ các cách tiếp cận trên chúng ta có thể có khái niệm:

    Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát: xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và các chính sách điều hành việc thu nhập, sử dụng và bố trí các nguồn lực, để đạt được mục tiêu cụ thể, làm tăng sức mạnh một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững đối với các đối thủ cạnh tranh khác. Chiến lược là phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.

    1.2.     Quản trị chiến lƣợc

    Có rất nhiều những khái niệm khác nhau về quản trị chiến lược, tuy nhiên có thể tập hợp các khái niệm ấy theo ba cách tiếp cận phổ biến sau:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 9

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Cách tiếp cận về môi trƣờng: “Quản trị chiến lược là một quá trình quyết định nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và đe dọa của môi trường bên ngoài”. Đặc điểm của cách tiếp cận này là làm cho công ty định hướng theo môi trường, khai

    thác cơ hội và tránh né rủi ro.

    • Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: “Quản trị chiến lược là một hệ thống những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn của một công ty”.

    Cách tiếp cận này cho phép các nhà quản trị xác định chính xác hơn mục tiêu của tổ chức, đó là nền tảng của quản trị đồng thời cũng cho phép quản trị sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của tổ chức.

    • Cách tiếp cận các hành động: “Quản trị chiến lược là tiến hành xem xét môi

    trường hiện tại và tương lai, tạo ra những mục tiêu của tổ chức, ra quyết định, thực thi những quyết định và kiểm soát việc thực hiện quyết định nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai”.

    1. Vai trò của quản trị chiến lƣợc đối với doanh nghiệp

    Không thể tìm được mối liên hệ trực tiếp của quản trị chiến lược với sự gia tăng lợi nhuận của công ty vì trong môi trường có rất nhiều biến số tác động và rất phức tạp, do đó việc cô lập sự tác động của một mình nhân tố quản trị chiến lược đến lợi nhuận của công ty là không thể được. Tuy nhiên không thể phủ nhận những đóng góp gián tiếp vào lợi nhuận của quản trị chiến lược thông qua việc khai thác cơ hội và giành ưu thế trong cạnh tranh.

    2.1.        Lợi ích của quản trị chiến lƣợc

    • Thứ nhất, quá trình quản trị chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của mình.
    • Thứ hai, điều kiện môi trường mà các tổ chức gặp phải luôn biến đổi. Những biến

    đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và các nguy cơ bất ngờ. Dùng quản trị chiến lược giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai. Nhờ thấy rõ điều kiện môi trường tương lai mà nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng hết các cơ hội đó và giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 10

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Thứ ba, nhờ có quá trình quản trị chiến lược, doanh nghiệp sẽ gắn liền các quyết

    định đề ra với các điều kiện môi trường liên quan.

    • Thứ tư, phần lớn các công trình nghiên cứu cho thấy các công ty nào vận dụng quản trị chiến lược thì đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với kết quả mà họ đạt được trước đó

    và các kết quả của các công ty không vận dụng quản trị chiến lược.

    2.2.        Một số nhƣợc điểm của quản trị chiến lƣợc

    Mặc dù các ưu điểm nêu trên là rất quan trọng, quản trị chiến lược vẫn có một số nhược điểm.

    • Thứ nhất, quản trị chiến lược cần nhiều thời gian và nổ lực.
    • Thứ hai, là các kế hoạch chiến lược có thể bị coi tựa như chúng được lập ra một cách cứng nhắc khi đã được ấn định thành văn bản. Đây là sai lầm nghiêm trọng của việc vận dụng không đúng đắn môn quản trị chiến lược..
    • Thứ ba, sai sót trong việc dự báo môi trường dài hạn có thể lớn.
    • Thứ tư, một số hãng dường như vẫn ở giai đoạn kế hoạch hóa và chú ý quá ít đến vấn đề thực hiện. Hiện tượng này khiến một số nhà quản trị nghi ngờ về tính hữu ích của quá trình quản trị chiến lược.
    1. Các giai đoạn của quản trị chiến lƣợc

     

    Một chiến lược khi được hoạch định có hai nhiệm vụ quan trọng và hai nhiệm vụ đó

    quan hệ mật thiết với nhau là việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược. Hai nhiệm vụ này được cụ thể hóa qua ba giai đoạn tao thành một chu trình khép kín

    Ø Giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lƣợc: là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp

    Ø Giai đoạn triển khai chiến lƣợc: là quá trình triển khai những mục tiêu chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp. Đây là giai đoạn phức tạp và khó khăn, đòi hỏi một nghệ thuật quản trị cao

    Ø Giai đoạn kiểm tra – điều chỉnh – thích nghi với chiến lƣợc: là quá trình đánh giá và kiểm soát kết quả, tìm các giải pháp để thích nghi chiến lược với hoàn cảnh môi trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 11

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    XÂY DỰNG & PHÂN

    TÍCH CHIẾN LƯỢC

    TRIỂN KHAI

    CHIẾN LƯỢC

    KIỂM TRA – ĐIỀU

    CHỈNH – THÍCH NGHI

    Hình 1: Các giai đoạn của quá trình quản trị chiến lược

    Ba giai đoạn trên phản ánh chu trình Plan Do – Check trong quản trị học hiện đại, được áp dụng rộng rãi trong công tác quản lý doanh nghiệp hiện nay.

    Các giai đoạn và các hoạt động trong quá trình quản trị chiến lược được minh họa bằng sơ đồ sau

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 12

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    GIAI ĐOẠN   HOẠT ĐỘNG    
    Hình thành        
      Thực hiện Hợp nhất trực Đưa ra quyết  
    chiến lược định  
    nghiên cứu giác và phân tích
         
    Thực thi Thiết lập mục Đề ra các Phân  phối
     
      tiêu ngắn hạn chính sách các nguồn lực

    chiến lược

    Đánh giá

    chiến lược Xem xét lại các So sánh kết quả Thực hiện  
    yếu tố bên trong với tiêu chuẩn
    điều chỉnh  
      và bên ngoài  
           

    Hình 2: Sơ đồ các hoạt động trong quản trị chiến lược

    Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ tập trung đi sâu vào giai đoạn hoạch định chiến lược. Theo sơ đồ trên, giai đoạn này gồm:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 13

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

      Thực hiện   Hợp nhất phân tích và trực     Lựa chọn    
      nghiên cứu   giá để xây dựng chiến lược     chiến lược    
                     
                     

    P.tích bên ngoài

    x.định các cơ X.định hội/nguy cơ

    nhiệm vụ

    KD và

    Đ.chỉnh

    CL h.tại

    nhiệm vụ

    KD của

    DN

    P.tích b.trong

    x.định điểm

    mạnh/ đ.yếu

    Xây dựng các

    mục tiêu dài

    hạn

    L.chọn các

    chiến lược

    theo đuổi

    Xây dựng các

    mục tiêu hằng

    năm

    Phân bổ

    nguồn

    lực

    Xây dựng các

    chính sách

    Đo

    lường,Đ.

    giá kết

    quả

    Hoạch định     Thực thi   Đánh giá
       
    chiến lược           chiến lược
        chiến lược  
                 

    Hình 3: Quy trình xây dựng chiến lược

    3.1.        Phân tích môi trƣờng bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp

    Người ta thường cho rằng: Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố, các điều kiện

    có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Xét

    theo cấp độ tác động đến quản trị doanh nghiệp thì môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    có 3 cấp độ chính, được thể hiện qua sơ đồ sau:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 14

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Môi trường kinh kế vĩ mô

    Môi trường tác nghiệp

    Hoàn cảnh nội

    bộ của DN

    Hình 4: Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    3.1.1.    Môi trường kinh tế vĩ mô

    Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm 5 nhóm yếu tố về kinh tế, chính trị – pháp luật, văn hóa – xã hội, yếu tố tự nhiên, yếu tố công nghệ.

    3.1.2.    Môi trường tác nghiệp

    Môi trường tác nghiệp hay còn được gọi là môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp. Nó quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó. Trong phân tích môi trường vi mô chú ý mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E.Porter

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 15

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Các đối thủ mới

    dạng tiềm ẩn

    Nguy cơ có các đối thủ

    cạnh tranh mới

          Các đối thủ cạnh tranh Khả năng ép  
          giá của người  
    Ngƣờ i     trong ngành  
        mua Ngƣời
    cung cấp Khả năng ép      
            mua
             
      giá của người          
               
      cung cấp Sự cạnh tranh của các DN    
           
          hiện có trong ngành    
                 
          Nguy cơ do các sản  
          phẩm và dịch vụ mới  
            thay thế  
          Hàng thay thế  
               
                 

    Hình 5: Mô hình cạnh tranh 5 áp lực của Michael E.Porter

    Nguồn: Michael E.Porter (1985)

    Để đề ra một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố này để doanh nghiệp thấy được mặt mạnh, mặt yếu, nguy cơ, cơ hội mà ngành kinh doanh đó gặp phải.

    3.1.3.    Phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp

    Phân tích môi trường nội bộ là nhằm tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, qua đó xác định các năng lực phân biệt và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc phân tích môi trường nội bộ cơ bản bao gồm

    3.1.3.1. Dây chuyền giá trị của doanh nghiệp

    Là tổng hợp các hoạt động có liên quan của doanh nghiệp làm tăng giá trị cho khách hàng. Việc thực hiện hiệu quả dây chuyền giá trị sẽ quyết định hiệu quả hoạt động chung và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các hoạt động của doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm: nhóm hoạt động chủ yếu: gồm những hoạt động được gắn trực tiếp với các sản

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 16

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó là: hoạt động đầu vào, vận hành, các hoạt động đầu ra, marketing và bán hàng và dịch vụ; và nhóm hoạt động hổ trợ: quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, thu mua và cấu trúc hạ tầng của công ty.

    Hình 6: Sơ đồ chuỗi giá trị của của công ty

    Nguồn: Michael E.Porter. “Competitive Advantage”. NewYork: Free Press, 1985

    3.1.3.2. Các vấn đề khác trong phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp

    Để có một cách đánh giá hoàn hảo về môi trường nội bộ của tổ chức chúng ta cần xem xét thêm các nhân tố sau: phân tích tài chính – nhằm đánh giá vị trí tài chính của công ty, văn hoá và tổ chức lãnh đạo – yếu tố này cho thấy cách thức công ty tiến hành hoạt động kinh doanh, có ảnh hưởng quan trọng đến các mục tiêu chiến lược và các chính sách, tính hợp pháp và danh tiếng của công ty.

    3.2.        Công cụ xây dựng chiến lƣợc – Ma trận SWOT

    Kỹ thuật phân tích SWOT (Strengths-Weaknesses-Opportunities-Threats) là công cụ giúp cho các nhà quản trị trong việc tổng hợp kết quả nghiên cứu môi trường và đề ra chiến lược một cách khoa học. Sau đây là một số khía cạnh quan trọng của kỹ thuật phân tích SWOT.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 17

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    3.2.1.    Xác định những cơ hội, nguy cơ, điểm yếu, điểm mạnh then chốt

    • Những cơ hội và nguy cơ chủ yếu: Các nhà quản trị cần phải xác định các cơ

    hội và nguy cơ chủ yếu mà doanh nghiệp cần phải quan tâm trong quá trình hình thành chiến lược.

    • Các cơ hội chủ yếu: là những cơ hội mà tích số giữa các mức độ tác động đối với doanh nghiệp khi nó được tận dụng và xác suất mà doanh nghiệp có thể tranh thủ được cơ

    hội đó đạt giá trị lớn nhất.

    • Nguy cơ chủ yếu: là những nguy cơ mà tích số giữa mức tác động khi nguy cơ xảy ra đối với doanh nghiệp và xác suất nguy cơ xảy ra đó đạt giá trị lớn nhất.

    Những điểm mạnh và điểm yếu cốt lõi:

    Việc phân tích đánh giá môi trường bên trong của doanh nghiệp có thể rút ra những nhân tố cốt lõi có thể ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh và việc thực hiện những mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.

    3.2.2.    Liên kết các yếu tố bên trong và điều kiện bên ngoài

    Sau khi liên kết các yếu tố cơ bản của các điều kiện bên trong và bên ngoài, các nhà quản trị cần tiến hành phân tích và đề xuất các chiến lược về môi trường theo bảng tóm tắt ở dưới.

    NHỮNG ĐIỂM MẠNH – S NHỮNG ĐIỂM YẾU – W
    1. 1.
    2. 2.
    3. Liệt kê những điểm mạnh 3. Liệt kê những điểm yếu
    4. 4.
    ….. …….
    CÁC CƠ HỘI – O CÁC CHIẾN LƢỢC SO CÁC CHIẾN LƢỢC WO
    1. Sử  dụng  các  điểm  mạnh  đểKết  hợp  khắc  phục  điểm
    2. tận dụng cơ hội. yếu để tận dụng cơ hội
    3. Liệt kê các cơ hội 1. 1.
    4. 2. 2.
    3. 3.
      4. 4.
      ……. …….
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 18

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CÁC MỐI ĐE DOẠ – CÁC CHIẾN LƢỢC ST CÁC CHIẾN LƢỢC WT  
    T Sử   dụng   các   điểm   mạnh Khắc  phục  điểm  yếu  để  
    1. để ứng phó đe doạ ứng phó đe doạ.  
    1.  
    2 1.
    2.  
    3.  Liệt  kê  các  mối  đe 2.
    3.  
    doạ 3.
    4.  
    4. 4.
    …….  
    …… …….
       

    Hình 7 : Mô hình ma trận SWOT

    3.2.3.    Tổng hợp xem xét lại các chiến lược

    Bước cuối cùng trong quy trình phân tích SWOT là tổng hợp xem xét lại các chiến lược bằng cách:

    • Phân nhóm chiến lược.

     

    • Phối hợp các chiến lược thành một hệ thống có tính hỗ trợ nhau và loại bỏ bớt các chiến lược lượt nào không đảm bảo tính hệ thống.

    3.3.        Lựa chọn chiến lƣợc

    Qua quá trình phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, xác định được những nguy cơ, thách thức, điểm yếy, điểm mạnh, căn cứ vào tình hình thực tế, doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược kinh doanh cho mình

    3.3.1.    Các chiến lược tăng trưởng tập trung

    • Chiến lược thâm nhập thị trường: mục đích là tăng thị phần hiện tại của doanh

    nghiệp

    • Chiến lược phát triển thị trường: mục đích mở rộng thêm các thị trường mới nhằm tối đa hóa số bán các sản phẩm hiện tại

     

    • Chiến lược phát triển sản phẩm: nhằm cải tiến sản phẩm hoặc đưa sản phẩm mới

     

    ra thị trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 19

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    3.3.2.    Chiến lược hội nhập về phía trước

    Là chiến lược tăng trưởng các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua sự kiểm soát đối với các nhà tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp như hệ thống bán hàng và phân phối hàng.

    3.3.3.    Chiến lược tăng trưởng đa đạng hóa

    • Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: tăng trưởng bằng cách hướng vào thị trường mới với sản phẩm mới

     

    • Chiến lược đa dạng hóa hàng ngang: thêm vào những sản phẩm mới với những công nghệ mới.

    Kết luận

    Việc nghiên cứu môi trường là phân tích sự kết hợp bên trong và bên ngoài nhằm tận dụng điểm mạnh của tổ chức để tiến hành khai thác cơ hội và nhận rõ điểm yếu của mình mục đích né tránh các mối đe dọa của môi trường. Đồng thời, phân tích và xác định được chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược cũng góp phần to lớn cho việc xác định hướng đi chính yếu của doanh nghiệp, xác định được các tác nhân ảnh hưởng đến chiến lược. Đây chính là các dữ liệu quan trọng làm cơ sở cho việc thực hiện các chức năng trong quản trị chiến lược, bắt đầu từ giai đoạn hoạch định đến khả năng tổ chức và kiểm soát quá trình rồi tiếp tục chương trình này.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 20

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CHƢƠNG II

    PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

    1. Giới thiệu về Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh

     

    • Lịch sử hình thành và phát triển

    Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh, tiền thân là Công ty TNHH Du lịch Thương mại Vận tải Hành khách Mai Linh, được thành lập vào ngày 12/07/1993, với 100% vốn trong nước. Dưới sự điều hành của Ông Hồ Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc và là người sáng lập, Công ty đã liên tục gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Với vốn thành lập ban đầu chỉ là 300 triệu đồng, 2 chiếc xe du lịch 4 chỗ và 25 nhân viên, đến nay Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai linh (Mai Linh Group – MLG) đã tạo được những bước đi vững chắc, liên tiếp gặt hái thành công trên nhiều lĩnh vực: Từ 01/07/2002 chuyển đổi thành công ty cổ phần theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103001038 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) cấp, ngày 01/11/2007 Công ty Cổ phần Mai Linh đổi tên thành Công ty Cổ phần tập đoàn Mai Linh.

    • Ngành nghề kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Dịch vụ du lịch lữ hành nội địa, quốc tế. Kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, bằng xe buýt, bằng taxi, theo hợp đồng, kinh doanh vận tải hàng; Vận tải khách đường thuỷ nội địa theo tuyến cố định và không theo tuyến cố định; vận tải hành khách đường thuỷ nội địa ngang sông, qua biên giới Việt Nam; kinh doanh xếp dỡ tại cảng, bến thuỷ nội địa; bảo dưỡng, sửa chữa xe ô tô, máy kéo, phương tiện xây dựng, phương tiện vận tải; sửa chữa, đóng mới trang thiết bị, phương tiện vận tải thuỷ bộ; Gia công cơ khí, phụ tùng ô tô; Mua bán xe có động cơ , phương tiện vận tải, phụ tùng và bộ phận phụ trợ của xe có động cơ, nhớt, xăng, dầu, gas; Đào tạo dạy nghề; Môi giới bất động sản; Dịch vụ nhà đất; Quản lý bất động sản; Xây dựng và kinh doanh dịch vụ bãi đỗ xe; Đại lý vận tải, dịch vụ cho thuê văn phòng; Dịch vụ bán vé máy bay, tàu thuỷ, tàu lửa; Dịch vụ bến xe, bãi đỗ xe; Sản xuất
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 21

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    quần áo may sẵn, bảo hộ lao động, caravat, mũ, các đồ phụ trợ quần áo, valy, túi xách, yên đệm xe. Mua bán máy đếm cây số và phụ kiện; Dịch vụ nhận, chi trả ngoại tệ; Đại lý đổi ngoại tệ, mua bán chế tác, gia công đá quý, vàng bạc, đồ trang sức; Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá; Mua bán đồ điện gia dụng, hàng gia dụng. hàng trang trí nội thất, vật liệu trải sàn, rèm, mành treo, giường, tủ, bàn ghế; Tư vấn du học, dịch vụ cho thuê kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu; dịch vụ chuyển giao công nghệ; mua bán thiết bị y tế, điện, điện tử, viễn thông, điện thoại cố định, di động, bộ đàm; Bảo trì, lắp đặt, sửa chữa điện thoại; Bán sim, thẻ cào điện thoại di động, Dịch vụ thu hộ các chi phí tiêu dùng: điện thoại; đại lý ký gửi hàng hoá; đại lý dịch vụ viễn thông; Dịch vụ giới thiệu việc làm, kinh doanh dược; Mua bán mỹ phẩm, thực phẩm thiết bị y tế; Dịch vụ săn sóc da mặt (trừ kinh doanh các hoạt động dịch vụ gây chảy máu); trồng rừng, đầu tư xây dựng thuỷ điện; cho thuê nhà ở, văn phòng; cho thuê nhà phục vụ các mục đích kinh doanh (kiốt, trung tâm thương mại); Đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng; Đào tạo ngoại ngữ; Đại lý bảo hiểm; Hoạt động nhà bảo tàng (không kinh doanh các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng); đào tạo lái xe cơ giới đường bộ…

    • Trụ sở chính của Công ty: số 64-68 Hai Bà Trưng, Phường Bến Nghé, Quận 1, TPHCM.

    Điện thoại: 08.38298888, Fax: 38225999.

    Công ty Cổ phần (CP) Tập đoàn Mai Linh là một trong những doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách, lữ hành…Trong đó, mảng kinh doanh chính là dịch vụ taxi. Tập đoàn bao gồm công ty mẹ – Công ty CP Tập đoàn Mai Linh (MLG) và hơn 70 công ty con. Trong đó có 13 công ty con do MLG nắm giữ trực tiếp và các công ty con của các công ty con này.

    Công ty CP Tập đoàn Mai Linh đã trải qua quá trình hình thành và phát triển sau:

    Hiện nay, Mai Linh đã mở rộng hoạt động kinh doanh tại 52 tỉnh thành trong cả nước với trên 100 công ty thành viên thuộc 8 lĩnh vực ngành nghề, Mai Linh đã thu hút được trên 15 000 cán bộ nhân viên làm việc tại 6 khu vực trong cả nước và nước ngoài.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 22

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.2.        Sơ đồ tổ chức

    Hình 8 : Sơ đồ tổ chức Mai Linh Group

    1.3.     Lĩnh vực hoạt động

    Mai Linh Group tập trung hoạt động trong các lĩnh vực chính sau

    1.3.1.    Vận tải

    Là lĩnh vực chủ lực trong 8 ngành nghề kinh doanh của Tập đoàn Mai Linh (MLG) gồm Du lịch, Đào tạo, Thương mại, Tài chính, Xây dựng, Vệ sỹ, Công nghệ Thông tin, kinh doanh vận tải của MLG không chỉ khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành vận tải của Việt Nam mà còn là ước mơ vươn xa ra thị trường quốc tế.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 23

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Kinh doanh vận tải của Mai Linh hiện có 3 phương thức chủ yếu: taxi, tốc hành đường dài (MaiLinh Express) và xe cho thuê. Trong đó taxi là trọng điểm của kinh doanh vận tải với số lượng trên 5.000 xe, trải dài trên 52 tỉnh thành trong cả nước. Hệ thống MaiLinh Express trên 500 xe từ 16 đến 45 chỗ với 48 tuyến nội địa và một tuyến liên vận quốc tế TP.HCM – Phnompenh – TP.HCM, khởi hành 16 chuyến mỗi ngày đi và về. Xe cho thuê cũng là thế mạnh của Mai Linh với gần 300 xe đời mới phục vụ cho khách du lịch, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam… Toàn bộ xe của Mai Linh đều là dòng xe chất lượng cao như Mercedes, Lexux, BMW, Toyota Camry, Toyota Landcruise, Ford, Huyndai….

    Vị thế dẫn đầu luôn là mục tiêu mà MLG hướng tới trong hoạt động kinh doanh vận tải. Trong định hướng phát triển đến năm 2012, Mai Linh không chỉ dừng ở quy mô là doanh nghiệp có số lượng xe taxi nhiều nhất Việt Nam như hiện nay mà tiếp tục phát triển hệ thống taxi của mình lên đến con số 10.000 xe. Mai Linh sẽ liên tục thay mới dòng xe cũng như đầu tư tập trung hơn vào những dòng xe có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như Toyota, Mitsubish, Mercedes, Ford, Huyndai…. Cũng trong định hướng phát triển này, đến năm 2010

    dịch vụ taxi của Mai Linh sẽ phủ kín 64 tỉnh thành trong cả nước. Mai Linh đang đưa vào sử dụng dịch vụ Taxi Mai Linh Việt Nam với số điện thoại 1900 8989 sử dụng chung trên toàn quốc, khách hàng dù đứng nơi đâu cũng chỉ cần bấm gọi một số điện thoại này để được phục vụ. Cùng với taxi, vận tải tốc hành đường dài cũng sẽ mở rộng đến tất cả các nơi trong nước, khách hàng muốn đặt vé, giữ chỗ chỉ cần gọi 1900 8686. Đây là chương trình hành động của ngành vận tải Mai Linh, nối tất cả mạng lưới xe liên tỉnh lại với nhau tạo nên hình ảnh Mai Linh có mặt trên toàn quốc.

    Các tuyến liên vận quốc tế là mục tiêu trong chặng đường phát triển sắp tới của Mai Linh. Ngày 25-3 vừa qua, Tập đoàn Mai Linh đã được lãnh đạo thành phố Xiêm Riệp (Campuchia) trao giấy phép đầu tư vận chuyển hành khách bằng taxi. Như vậy, ngoài MaiLinh Express đã và đang hoạt động tuyến Xiêm Riệp – Phnompenh – TP.HCM và ngược lại, việc MLG được cấp giấy phép đầu tư kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe taxi tại Xiêm Riệp một lần nữa đánh dấu sự vươn xa của Tập đoàn Mai Linh. Không chỉ dừng lại ở đó, Mai Linh còn dự định sẽ tiếp tục mở các tuyến liên vận quốc tế qua Lào, Trung Quốc, vươn tới các thị trường khác trong khu vực Châu Á, mang thương hiệu Mai Linh cũng như niềm tự hào của Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 24

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.3.2.     Hoạt động Du lịch

    Với một đội ngũ nhân viên đông đảo, chuyên nghiệp và nhiệt tình, Mailinhtourism không ngừng phát triển, luôn đổi mới nhằm khẳng định năng lực, đa dạng các chương trình du lịch, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn trong lĩnh vực du lịch trong nước và du lịch nước ngoài. Ngoài ra, Mailinhtourism còn thiết kế và tổ chức chương trình du lịch theo nhu cầu của Quý khách, nhằm tạo nên sự hài lòng tốt nhất nơi Quý khách.

    Mailinhtourism là thành viên của Hiệp hội du lịch quốc tế PATA, JATA, được bạn đọc Tạp chí Du Lịch TP.HCM bình chọn là 1 trong 10 đơn vị lữ hành tốt nhất năm 2007

    Mailinhtourism tập trung kinh doanh các tour nội địa, tour outbound và inbound, phát triển đa dạng nhiều sản phẩm mới, hiện đại, chuyên nghiệp như TRANS INDOCHINA TOURS; YOUTHACTION – Adventure & Teambuilding; Du lịch dành cho cựu chiến binh; Du lịch về nguồn; Du lịch dã ngoại…v..v… Đồng thời, Mailinhtourism cũng kinh doanh nhiều dịch vụ phục vụ khách hàng khác như Đặt vé máy bay; Đặt khách sạn toàn quốc; Dịch vụ visa và Cho thuê xe du lịch.

    1.3.3.     Hoạt động đào tạo

    Trường trung học Dân lập kỹ thuật nghiệp vụ Mai Linh: Được thành lập theo Công văn số 4560/TCCB của Bộ Giáo dục & Đào tạo ngày 6 tháng 6 năm 2005 và Quyết định thành lập số 3403/QĐ-UB ngày 8 tháng 7 năm 2005 của UBND Tp. Hồ Chí Minh. Là một thành viên trực thuộc Công ty CP Mai Linh với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có trình độ quốc tế cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung và phục vụ nhu cầu nguồn nhân lực cho tất cả các công ty thành viên của Mai Linh tại các tỉnh thành trên cả nước.

    Trung Tâm Tư Vấn Du Học & Giới Thiệu Việc Làm Mai Linh (Mai Linh OSCC) ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của con em CB-NV hệ thống Mai Linh và xã hội, làm cầu nối giữa người lao động Việt Nam và các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài.

    Ngoài ra MLG còn thành lập trung tâm dạy nghề, trung tâm ngoại ngữ và tin học

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 25

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.3.4.    Đánh giá về tình hình tài chính của công ty

    1.3.4.1. Phân tích chi tiết bảng cân đối kế toán: (xem chi tiết bảng cân đối kế toán ở phần phụ lục 1)

    • Tổng Tài sản:

     

    • Tổng Tài sản của công ty tại thời điểm 31/12/2009 đạt 5.072.298.159,096 đồng, tăng 19% so với năm 2008 và 64% so với năm 2007.
    • Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp năm 2009: tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng 22%, tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng 78%. Cơ cấu này là hợp lý, phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty, tài sản cố định chiếm tỷ lệ cao (chiếm 83%/ tài sản dài hạn, 65% /tổng tài sản).
    • Vốn bằng tiền:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008 đạt 49.751.106.768 đồng, chiếm tỷ lệ 5% trong tài sản ngắn hạn của công ty;
    • Tại thời điểm 31/12/2009 đạt 61.695.297.485 đồng, chiếm tỷ lệ 6% trong tài sản ngắn hạn của công ty
    • Đối với các khoản phải thu:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008: Các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đạt 537.739.636.646 đồng, chiếm tỷ lệ 54% trong tài sản ngắn hạn của công ty, tập trung vào các khoản phải thu khác và phải thu của khách hàng.
    • Tại thời điểm 31/12/2009: Các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đạt 654.100.648.948 đồng, chiếm tỷ lệ 58% trong tài sản ngắn hạn của công ty, tập trung vào các khoản phải thu khác và phải thu của khách hàng.
    • Phân tích hàng tồn kho:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008: Hàng tồn kho của công ty đạt 45.040.749.758 đồng, chiếm tỷ lệ 5% trong tài sản ngắn hạn của công ty.
    • Tại thời điểm 31/12/2009: Hàng tồn kho của công ty đạt 68.528.023.273 đồng, chiếm tỷ lệ 6% trong tài sản ngắn hạn của công ty, tăng không đáng kể so với thời

    điểm 31/12/2008.

    • Tỷ lệ hàng tồn kho không lớn, chứng tỏ công ty lưu chuyển hàng hóa tốt.
    • Phân tích tài sản cố định:

     

    • Tài sản dài hạn của công ty tại thời điểm 31/12/2008 trị giá 3.285.790.880.674 đồng chiếm 77% trong tổng tài sản của công ty, chủ yếu là tài sản cố định….
    • Tại thời điểm 31/12/2009, tài sản dài hạn của công ty đạt 3,952,091,865,386 đồng chiếm 78% trong tổng tài sản của công ty, tăng so với năm 2008 do công ty đầu tư mua thêm xe, máy móc, thiết bị…
    • Nợ phải trả:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008 chiếm 72% tổng nguồn vốn, trong đó chiếm tỷ lệ cao theo thứ tự giảm dần là vay và nợ ngắn hạn, các khoản phải trả,phải nộp ngắn hạn khác và phải trả người bán.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 26

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Tại thời điểm 31/12/2009: chiếm 78% tổng nguồn vốn, tăng so với thời điểm

    31/12/2008, đặc biệt khoản vay và nợ ngắn hạn tăng cao (tăng 44% so với cuối năm 2008).

    • Tỷ lệ này phù hợp với mô hình công ty kinh doanh vận tải, vì chi phí đầu tư ban đầu lớn, cần vốn vay nhiều và chứng tỏ công ty có khả năng chiếm dụng khoản phải trả cao. Tuy nhiên tỷ lệ nợ phải trả cao cũng đi kèm với rủi ro mất khả năng thanh khoản cao.
    • Vốn chủ sở hữu:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008 đạt 1.175.508.181.329 đồng, chiếm tỷ lệ 28% tổng nguồn vốn của công ty.
    • Tại thời điểm 31/12/2009 đạt 1.119.945.117.032 đồng, chiếm tỷ lệ 22% tổng nguồn vốn của công ty, giảm so với năm 2008 chủ yếu do cổ phiếu quỹ và thặng dư vốn cổ phần giảm nhiều.
    • Điểm đáng chú ý là cổ phiếu quỹ và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Tuy nhiên có bổ sung của phần vốn khác của chủ sở hữu, điều này thể hiện quyết tâm tránh lệ thuộc vào nguồn vốn ngoài công ty và giúp cho công ty tiết giảm đáng kể chi phí sử dụng vốn
    • Nhận xét: Nhìn chung, Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh là một công ty có quy mô lớn, có nhiều công ty con và hệ thống trải rộng trên nhiều tỉnh thành. Cơ cấu nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn hợp lý . Cụ thể năm 2008 công ty đã sử dụng nguồn vốn dài hạn (chủ yếu là nợ phải trả 5.072.298.159.096 đồng, không có nợ dài hạn) để tài trợ tài sản dài hạn (3.952.091.865.386 đồng), phần còn lại (1.120.206.293.710 đồng) công ty để tài trợ tài sản ngắn hạn, cơ cấu nguồn vốn, tài sản công ty không mất cân đối, nhưng tỷ lệ nợ vay khá cao, nên sẽ dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao, ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận công ty. Về cơ bản công ty đã tạo được chỗ đứng trên thị trường, tuy nhiên kết quả kiểm toán thì lợi nhuận kinh doanh của công ty đang âm.
            Đơn vị tính: đồng
                   
                   
      Cân đối nguồn vốn – sử dụng vốn 2007 2008 2009      
                   
      Mức độ đảm bảo vốn cố định            
                   
      Nguồn vốn dài hạn 2,503,387,536,201 3,043,003,698,678 3,349,359,866,235  
               
      Vốn chủ sở hữu (vốn góp) 1,149,536,265,231 1,175,508,181,329 1,119,945,117,032  
                   
      Nợ dài hạn, KQ dài hạn, nợ dài hạn            
      đến hạn trả 1,353,851,270,970 1,867,495,517,349 2,229,414,749,203  
               
      Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 1,881,227,485,111 3,285,790,880,674 3,952,091,865,386  
                   
                   
                   
      HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 27

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Chênh  lệch  (-,  mất  cân  đối  tài          
    chính) 622,160,051,090 (242,787,181,996) (602,731,999,151)
               
    Mức độ đảm bảo vốn lƣu động          
               
    Nguồn vốn ngắn hạn 1,334,664,518,925 1,270,743,573,097 1,331,699,726,598
           
    Vốn CSH hình thành TSLĐ 622,160,051,090 (242,787,181,996) (602,731,999,151)
           
    Nợ ngắn hạn 712,504,467,835 1,513,530,755,093 1,934,431,725,749
           
    Tài sản lưu động 1,209,758,548,146 987,208,385,569 1,120,206,293,710
               
    Chênh  lệch  (-,  mất  cân  đối  tài          
    chính) 124,905,970,779 283,535,187,528 211,493,432,888
               
               

    1.3.4.2. Phân tích cáo cáo kết quả kinh doanh: (xem chi tiết bảng báo cáo kết quả hoạt động kinnh doanh ở phần phụ lục 2)

    • Phân tích tăng trưởng về mặt doanh thu:

     

    • Doanh thu năm 2008 đạt 2.089.643.095.436 đồng, tăng 73% so với năm 2007.

    Tổng doanh thu của năm 2008 chiếm 132,67% của tổng giá vốn hàng bán của năm 2008 (1.537.299.421.674đồng) và hàng tồn kho năm 2007 (37,821,334,299 đồng).

    Điều này chứng tỏ công ty có khả năng bán được sản phẩm của mình có lợi nhuận so với giá vốn

    • Doanh thu năm 2009 đạt 2.428.984.904.341 đồng, tăng 16,24% so với năm 2008.

    Tổng doanh thu của năm 2009 chiếm 130,94% của tổng giá vốn hàng bán của năm 2009 (1.809.938.946.427 đồng) và hàng tồn kho năm 2008 (45.040.749.758 đồng), tỷ lệ này giảm so với năm 2008.

    • Phân tích cơ cấu giá vốn:

     

    • Năm 2008, giá vốn hàng bán chiếm 53% doanh thu của năm 2008;
    • Năm 2009, giá vốn hàng bán chiếm 75% doanh thu của năm 2008, tăng cao so với tỷ lệ năm 2008, chứng tỏ công ty đang có khó khăn về đầu ra, hiệu quả bán hàng giảm so với năm 2008.
    • Phân tích cơ cấu chi phí hoạt động: Phần chi phí hoạt động và chi phí bán hàng chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 15% doanh thu ở cả năm 2008 và năm 2009). Tỷ lệ này khá

     

    ổn định qua 2 năm 2008 và 2009 .

    Nhận xét: Tổng lợi tức sau thuế cả 03 năm (2007, 2008, 2009) theo kết quả kiểm toán đều âm, có thể khiến công ty gặp khó khăn về nguồn vốn. Theo giải trình từ phía Ban Giám Đốc trong Đại Hội Cổ Đông thì nguyên nhân chủ yếu là do công ty đầu tư mua thêm nhiều phương tiện và đầu tư vào nhiều công trình đang dở dang chưa thu hồi vốn.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 28

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Khả năng thanh toán:
             
      Khả năng thanh toán 2007 2008 2009
             
      Chỉ tiêu      
             
      Khả năng thanh toán ngắn hạn 1.70 0.65 0.58
             
      Khả năng thanh toán nhanh 1.22 0.39 0.37
             
      Khả năng thanh toán bằng tiền 0.22 0.03 0.03
             
             
    • Khả năng thanh toán ngắn hạn (khả năng thanh toán hiện hành) của công ty ở hai năm 2008 và 2009 đều nhỏ hơn 1 rất nhiều: công ty mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trong ngắn hạn;
    • Khả năng thanh toán nhanh ở hai năm 2008 và 2009 đều nhỏ hơn 0,5: công ty khôngcó khả năng chuyển hóa một số khoản mục thành tiền nhanh để thanh toán nợ ngắn hạn.
    • Khả năng thanh toán bằng tiền (khả năng thanh toán tức thời) ở hai năm 2008 và 2009 đều là 0,03: rất thấp, chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty rất kém.
    • Hệ số nợ:
           
    Nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ 2007 2008 2009
           
    Hệ số đòn bẩy 1.7 2.64 3.53
           
    Hệ số nợ 0.63 0.72 0.78
           
           
    • Hệ số đòn bẩy năm 2009 là 3,53 > 3: chứng tỏ mức độ sử dụng nợ trên vốn chủ sở hữu khá cao, vượt tỷ lệ có thể chấp nhận (≤ 3).
    • Hệ số nợ năm 2009 là 0,78 > 0,75: chứng tỏ mức độ sử dụng nợ trên tổng tài sản khá cao, vượt tỷ lệ có thể chấp nhận (≤ 0,75)
    • Theo giải trình từ Ban Giám Đốc trong Hội nghị Cổ Đông vừa qua thì các hệ số này gia tăng do việc gia tăng tài sản bằng nguồn vốn vay.
    • Vòng quay vốn:
                 
        Vòng quay vốn 2007 2008 2009  
                 
        Chu kỳ sản xuất kinh doanh        
                 
        Vòng quay các khoản phải thu 13.94 10.66 7.49  
                 
                 
                 
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19   29

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

      Số ngày phải thu bình quân 26 34 49
             
      Vòng quay hàng tồn kho 53 37 26
             
      Số ngày dự trữ hàng tồn kho bình quân 7 10 14
             
      Vòng quay các khoản phải trả 64 54 32
             
      Số ngày phải trả bình quân 6 7 11
             
      Vòng quay vốn lưu động 2.00 1.90 2.17
             
      Số ngày hoàn thành 1 chu kỳ SXKD 182 192 168
             
             
    • Số ngày dự trữ hàng tồn kho lớn hơn số ngày phải trả bình quân là không hợp lý.
    • Vòng quay các khoản phải thu thấp hơn nhiều so vòng quay các khoản phải trả, chứng tỏ khả năng chiếm dụng khoản phải trả của công ty khá thấp.
    • Vòng quay vốn lưu động nhỏ (từ 1,90 đến 2,17), không phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty.
    • Khả năng sinh lời:
      Khả năng sinh lời 2007 2008 2009
             
      Chỉ tiêu      
             
      Tốc độ tăng trưởng doanh thu   73% 16%
             
      Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận   83% -90%
             
      Lợi nhuận ST / Doanh thu (ROS) -5.19% -5.51% -0.47%
             
      Lợi nhuận ST / Vốn chủ sở hữu (ROE) -5% -10% -1%
             
      Lợi nhuận ST/ Tổng tài sản (ROA) -2.03% -2.69% -0.23%
             
      Giá vốn hàng bán / doanh thu 83.00% 73.57% 74.51%
             
      Tỷ lệ lợi nhuận gộp / doanh thu 17.00% 26.43% 25.49%
             
      Chi phí bán hàng và quản lý / doanh thu 15.27% 15.24% 15.35%
             
             
    • ROS, ROE, ROA đều âm qua 03 năm liên tiếp, chứng tỏ tình hình hoạt động của công ty đang gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên năm 2009 có nhiều cải thiện so với năm 2008.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 30

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    2.                 Phân tích môi trƣờng kinh doanh bên ngoài Công ty CP Tập Đoàn Mai Linh

     

    2.1.    Môi trƣờng vĩ mô

    2.1.1.    Môi trường kinh tế

    Là một quốc gia vừa hội nhập WTO, có nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài nên Việt Nam đã và đang chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, xuất khẩu gặp khó khăn, nhập siêu tăng đột biến, các cam kết đầu tư trực tiếp bị hoãn hoặc ngưng, hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước bị thu hẹp đáng kể, thị trường bất động sản bị đóng băng, thị trường chứng khoán tuột dốc, thị trường tiền tệ biến động ngoài dự đoán… Những điều này gây ảnh hưởng rõ nét tới hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế từ các doanh nghiệp đến người lao động và gia đình của họ.

    Thêm vào đó, việc chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng cao trong ba quý đầu năm 2008 và việc suy giảm tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm khiến thu nhập thực tế giảm đáng kể, người tiêu dùng và các doanh nghiệp Việt Nam đã phản hứng bằng cách thắt chặt chi tiêu (tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng năm 2008 chỉ là 3,9% so với mức 9,6% của năm 2007 và tỷ lệ này tiếp tục suy giảm trong năm 2009).

    Trong bối cảnh thắt chặt chi tiêu, giao thông vận tải và vận chuyển hành khách công cộng trong năm 2008 bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Cụ thể như: Giá xăng dầu đã liên tục biến động đến 11 lần lên cao điểm là 19.000 đồng/lít; Tỷ giá hối đoái có thời điểm biến động khá đáng kể, tác động không nhỏ đến giá phương tiện và các trang thiết bị , phụ tùng sửa chữa, bảo dưỡng; Thị trường ôtô thiếu nguồn cung nghiêm trọng, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư, thanh lý, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các đơn vị…

    Hình 9: Biểu đồ diễn biến cước taxi, giá nhiên liệu trong nước và giá dầu thô thế giới

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 31

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Tiếp đó, năm 2009 cũng là năm có nhiều biến động, tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn biến hết sức phức tạp và khó lường. Dư chấn của cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối năm 2008 vẫn ảnh hưởng nặng nề trong năm 2009 đối với hầu hết các quốc gia.Đồng thời giá vàng, giá USD và đặc biệt là giá dầu thô thế giới biến động liên tục, làm cho giá cả xăng dầu trong nước năm 2009 cũng thay đổi đến 7 lần cũng đã gây nhiều trở ngại cho các đơn vị kinh doanh vận tải.

    Bên cạnh đó, hạ tầng giao thông đô thị ngày càng hạn chế với các cung đoạn sửa chữa và các điểm kẹt xe, ngâp lụt ngày càng nhiều dẫn đến tiêu hao nhiên liệu cao hơn, sửa chữa nhiều hơn và giảm thời gian hoạt động hiệu quả một cách đáng kể…

    2.1.2.    Môi trường chính trị, pháp luật

    Năm 2008, lãi suất ngân hàng tăng đột biến từ 14%/năm lên 21%/năm (tương đương lãi suất cơ bản 14%), lệ phí trước bạ ôtô được điều chỉnh từ 2% lên 10% vào tháng 10/2008 (gấp 5 lần), bảo hiểm thân vỏ xe tăng lên đến 3,9%/năm (gấp 3 lần), chi phí hoa hồng bến bãi ngày càng cao, các trạm thu phí cầu đường ngày càng nhiều cũng tạo áp lực không nhỏ cho các doanh nghiệp.

    Tiếp theo, có thể kể đến chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ để chống lạm phát vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009. Với chính sách này thì việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng, phục vụ cho đầu tư đổi mới phương tiện của các doanh nghiệp nói chung và tập đoàn Mai Linh nói riêng khó khăn hơn nhiều so với những năm trước.

    Bên cạnh những khó khăn cơ bản, thì đối với ngành kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách công cộng nói chung và dịch vụ taxi nói riêng sang cuối năm 2009 và đầu năm 2010 có đan xen một số điều kiện thuận lợi. Đó là chính sách kích cầu của chính phủ với việc tung ra gói kích cầu số 1 với sự hỗ trợ 4% lãi suất. Với chính sách này thì việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã thuận lợi hơn đồng thời làm tăng mức tiêu dùng của xã hội. Và chính sách giảm 50% lệ phí trước bạ xe ôtô cũng là một thuận lợi cho kinh doanh vận tải trong năm 2009.

    Đồng thời, theo Quyết định số 62/2009/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ miễn tiền thuê đất để xây dựng trạm bảo dưỡng, sửa chữa, bãi đỗ xe của doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách công cộng bắt đầu từ ngày 15/6/2009.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 32

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Ngoài ra, Sở Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) vừa giao Trung tâm Quản lý điều hành vận tải hành khách công cộng tạm thời “chốt” số lượng xe taxi đang hoạt động của từng doanh nghiệp. Hạn chót hoàn thành công tác này là ngày 31/05/2010. Từ ngày 01/06/2010 chỉ cho phép các doanh nghiệp thay thế 1 xe cũ bằng 1 xe mới cho đến khi có quyết định mới của UBND TPHCM. Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải TPHCM nêu trên, trong giai đoạn 2010-2015 TPHCM sẽ có khoảng 9.500 xe taxi. Tuy nhiên số lượng xe taxi hiện nay đã hơn 12.550 xe, vượt hơn 3.000 xe so với dự kiến. Sở Giao thông Vận tải dự định “chốt” số lượng taxi theo số lượng phù hiệu taxi dán trên mỗi xe do Trung tâm Quản lý điều hành vận tải hành khách công cộng phát hành. Hiệp hội Taxi đề nghị bổ sung thêm phương thức: thống kê số lượng taxi bằng danh sách xe taxi đăng ký tại cơ quan công an hoặc bằng số lượng metter taxi các doanh nghiệp taxi đưa đi kiểm định ở cơ quan chức năng. Tạm ngưng phát triển taxi để chấn chỉnh, rà soát, rất cần thiết trong bối cảnh trật tự an toàn giao thông TPHCM đang diễn biến phức tạp. Thế nhưng, ở góc độ khác, cũng có nghĩa là đang… bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh taxi. Hành khách không có thêm nhiều taxi mới để lựa chọn, các doanh nghiệp kinh doanh taxi hiện hữu càng “có giá”. Hiện nay, về nguyên tắc, Nhà nước không quản lý giá cước vận tải nói chung và giá cước taxi nói riêng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi người dân, hành khách đi taxi, TPHCM cần sớm nghiên cứu ban hành các quy chế quản lý mới phù hợp trong điều kiện này nhằm vừa chấn chỉnh trật tự an toàn giao thông vừa không để quyền lợi chính đáng của hành khách bị xâm phạm.

    2.1.3.    Môi trường văn hóa, xã hội

    Một khó khăn rất đặc thù của Việt Nam đó là việc mua xe ôtô – phương tiện chủ yếu của kinh doanh vận tải trong năm 2009 – cũng gặp khó khăn do lượng cung không đủ cầu, mặc dù giá cả xe cao hơn so với năm 2008.

    Năm 2009, Miền Trung còn phải gánh chịu hai cơn bão số 9 và số 11 đã gây thiệt hại rất lớn về tài sản của nhà nước và nhân dân các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, trái với dự báo năm 2009, lượng khách du lịch nội địa về Miền Trung tăng đột biến làm tăng nhu cầu đi lại bằng taxi ở các thành phố du lịch như Huế, Hội An, Đà Nẵng…

    Tất cả các yếu tố liên quan đến chi phí đầu vào và vận hành đều tăng rất cao nên giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách tăng mạnh, trong khí đó giá cước đầu ra, do ảnh

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 33

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    hưởng tổng cầu giảm mạnh, mật độ cạnh tranh tăng và cũng để hưởng ứng kêu gọi cùng chính phủ giảm lạm phát (do giá thành vận tải ảnh hưởng rất mạnh đến giá thành các sản phẩm khác) nên tăng không đáng kể. Điều này làm cho tình hình hoạt động của ngành vận tải hành khách công cộng và việc đảm bảo đời sống người lao động ngày càng khó khăn hơn.

    2.1.4.    Môi trường dân số

    Thị trường taxi tập trung vào 3 thị trường là TPHCM, Bình Dương và Đồng Nai, 3 tỉnh và thành phố này chiếm khoản 40% tổng GDP của cả nước và là khu vực có tốc độ và mức độ phát triển kinh tế cao nhất Việt Nam. Hiện tại, khu vực này có dân số 12 triệu người và khoảng 12.000 chiếc taxi đang hoạt động, tương đương cứ 1 chiếc taxi trên 1.000 người, thấp hơn nhiều so với mức 1 chiếc taxi trên 300-350 người tại Thái Lan và 200 người tại Singapo. Tỷ lệ thâm nhập của dịch vụ taxi vẫn còn khá thấp.

    Trong 5 năm qua, GDP của TPHCM tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân là 12,1%/năm và số lượng khách đi xe taxi (tính bằng tổng số chuyến taxi) tăng với tốc độ tăng bình quân là 23,9%/năm. Quy mô của thị trường taxi tính theo doanh thu tăng gần gấp 2 lần tốc độ tăng GDP.

    Với mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước từ 7-8% trong 5 năm tới (2010-2015), GDP của TPHCM có thể tăng trưởng với tốc độ xấp xỉ 11%/năm, đạt mức cao nhất cả nước. Dự báo doanh thu taxi có thể tăng trưởng với tốc độ gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP.

    Mục tiêu tăng trưởng GDP theo giá so sánh của tỉnh Đồng Nai ở mức 8,5%/năm trong giai đoạn 2010-2015, và Bình Dương là 13%/năm. Dựa trên tốc độ tăng trưởng GDP nói trên, dự báo doanh thu của thị trường dịch vụ taxi của Đồng Nai và Bình Dương sẽ tăng trưởng lần lượt là 15% và 25%.

    Dự tính sơ bộ mức tăng trưởng doanh thu bình quân cho ngành dịch vụ taxi là 20% cho khu vực TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương. Trong khu vực 3 thị trường nói trên, có khoảng 12.000 xe taxi hoạt động tính cho tới cuối năm 2009. Dự báo doanh thu của thị trường dịch vụ taxi sẽ tăng với tốc độ gộp bình quân là 20%/năm trong 5 năm tới và sẽ đạt quy mô 9.809 tỷ đồng vào năm 2014.

    Theo Ủy ban nhân dân TPHCM, năng lực chuyên chở của các phương tiện vận tải hành khách công cộng bao gồm taxi và xe bus mới chỉ đáp ứng 6,2% nhu cầu đi lại của người

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 34

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    dân. Hầu hết người dân đi làm bằng xe gắn máy hoặc xe đạp. Mặc dù tỷ lệ sở hữu ô tô riêng đang tăng nhanh nhưng vẫn còn ở mức thấp thì dự báo tổng nhu cầu đối với dịch vụ taxi sẽ tăng cùng với xu hướng tăng của quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số đang diễn ra tại tất cả các thành phố lớn tại Việt Nam.

    Đặc biệt xét về việc đi lại trong nội bộ các thành phố và giữa các tỉnh, người dân sẽ ngày càng sử dụng nhiều dịch vụ taxi do tính tiện lợi, thoải mái và do thiếu phương tiên giao thông công cộng có thể thay thế taxi tại TPHCM.

    Đối tượng sử dụng dịch vụ taxi chủ yếu là người sống và/hoặc làm việc và đi lại giữa nơi ở và nơi làm việc hoặc đi đến những điểm vui chơi giải trí. Khách du lịch và người đi công tác cũng đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho ngành kinh doanh dịch vụ taxi. Do đó, doanh thu taxi (và nhu cầu đi lại) liên hệ mật thiết với mức sống và tần suất của các hoạt động kinh doanh, du lịch và vui chơi

    Trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ taxi ở một mức độ nào đó có tính chu kỳ, thì trong từ 5 đến 10 năm nữa nhu cầu này sẽ tăng trưởng mạnh. Mặt khác, vì không có sự kiểm soát giá cước hay những hạn chế về số lượng giấy phép lái xe taxi được cấp như hiện nay hay trong tương lai gần, thì thị trường taxi sẽ tăng trưởng ngang bằng với tăng trưởng của nhu cầu.

    Thị trường taxi tại TPHCM có mức độ tập trung cao với 3 hãng taxi đứng đầu chiếm 56% thị phần. Có khoảng hơn 40 hãng taxi trên thị trường này với hầu hết các hãng có đội xe dưới 50 chiếc. Tuy nhiên, trong năm ngoái, thị trường này đã bắt đầu hợp nhất lại.

    Trên thực tế, năm 2008 là năm chuyển giao của thị trường taxi TPHCM. Trong năm 2008, Vinasun mở rộng đội xe của mình thêm 1,052 chiếc mặc dù kinh tế gặp khủng hoảng. Bước đi ngược với hoàn cảnh kinh tế khi đó đã tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trên thị trường taxi và quá trình hợp nhất của ngành kinh doanh taxi bắt đầu.

    Trong mô hình dự báo của mình, HSC đã giả định rằng số lượng xe taxi trong khu vực

    • thị trường TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương (TPHCM được lấy làm đại diện) sẽ tăng với tốc độ gộp bình quân là 12%/năm trong 5 năm tới và đây là con số tăng trưởng được đưa ra

    một cách thận trọng. Trên thực tế, chỉ đơn giản để theo kịp mức độ tăng trưởng của dân số thì số lượng xe taxi sẽ phải tăng 3,5%/năm. Tốc độ tăng trưởng 15% cũng thấp hơn một chút so với dự báo mục tiêu tăng trưởng GDP đầu người hàng năm.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 35

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    2.2.     Môi trƣờng vi mô

    Hình 10: Mô hình cạnh tranh 5 áp lực của ngành vận chuyển hành khách

    2.2.1.    Đối thủ cạnh tranh

    Hiện tại, có hơn khoảng 40 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ taxi ở các tỉnh phía Nam như Mai Linh, Vinasun (VNS), Hoàng Long (HLG), Future, Happy, Taxi gas Saigon Petrolimex (PGT) và một bộ phận của PV Trans (PVT)… trong đó, Mai Linh và Vinasun chiếm hơn 80% thị phần.

    So sánh hoạt động kinh doanh năm 2009

    Nguồn: HSC (01/04/2010)

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 36

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Hiện Taxi Mai Linh đang có thị phần lớn nhất ở phía Nam, nhưng trong phạm vi TPHCM thì Vinasun là công ty đứng đầu trong mảng dịch vụ taxi xét về quy mô đội xe và doanh thu từ kinh doanh dịch vụ taxi. Vinasun có đội xe tổng cộng là 2.846 chiếc, trong đó 86% hoạt động tại khu vực TPHCM và 7% hoạt động tại 2 tỉnh lớn của khu vực phía Nam là Bình Dương và Đồng Nai. Không những thế, doanh thu ngày bình quân của Vinasun hiện tại cao hơn 25% so với Mai Linh tại thị trường quan trọng nhất là TPHCM. VNS có đội xe taxi chất lượng tốt với tuổi xe bình quân là khoản 2,1 năm. Đội xe chủ yếu gồm xe Innova được trang bị TV và tạo cảm giác dễ chịu cho hành khách khi đi xe.

    Vào cuối 2009, TPHCM có số lượng xe taxi tổng cộng lên đến 10.710 chiếc. Nếu theo quy mô đội xe, thì hiện tại Vinasun chiếm 23% thị phần tại thị trường TPHCM. Vinasun gần đây đã trở thành hãng taxi đứng đầu tại thị trường TPHCM, là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của công ty Mai Linh.

    Có thể khẳng định, Vinasun là đối thủ lớn nhất của Mai Linh tại các thị trường Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương. Tại các thị trường này, Vinasun đều là doanh nghiệp có thị phần lớn nhất.

    Bảng dưới đây so sánh một số chỉ tiêu tài chính năm 2009 giữa MLG và VNS

    Một số chỉ tiêu tài chính của MLG và VNS năm 2009

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 37

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    (Nguồn: BCTC hợp nhất kiểm toán)

    Hiện tại, Vinasun và Mai Linh đang có đội xe với quy mô lớn với thương hiệu được khách hàng nhận dạng. Đây là lợi thế tuyệt đối đối với các hãng taxi trong bối cảnh hiện tại có rất nhiều hãng taxi kinh doanh tại thị trường TPHCM.

    Công ty Mai Linh hoạt động dàn trải khắp đất nước và doanh thu của Mai Linh tại thị trường TPHCM chỉ đạt 678 tỷ đồng, tương đương 19% thị phần trong năm 2009. 54% thị phần còn lại tại thị trường TPHCM do 38 hãng taxi nắm giữ, tương đương mỗi hàng bình quân nắm giữ 1,4% thị phần.

    2.2.2.    Khách hàng tiềm năng

    2.2.2.1. Cơ cấu khách hàng của Mai Linh

    Theo báo cáo thường niên 2009 thì cơ cấu khách hàng của Mai Linh như sau

    • Khách hàng MCC: chiếm 9,32%
    • Khách hàng cứng của lái xe (liên lạc trực tiếp với lái xe): chiếm 3%
    • Khách hàng từ các điểm tiếp thị: chiếm 20%
    • Khách hàng vãng lai, dân cư: chiếm 367,68%

    Hình 11: Cơ cấu khách hàng Mai Linh

    2.2.2.2. Các khách hàng kiêm đối tác chiến lược

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 38

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Đối với các điểm tiếp thị: nhóm khách hàng chủ lực của Mai Linh bao gồm: Nhà ga, sân bay, bệnh viện, các resort, khách sạn lớn… và phần nhiều trong số đó ký hợp tác độc quyền với Mai Linh.

    Ngày 15/09/2009, Tập đoàn Mai Linh ký kết hợp tác chiến lược đặc biệt trong lĩnh vực quản trị tài chính với Tập đoàn Golden Bridge (Hàn Quốc). Theo đó, Tập đoàn Golden Bridge hợp tác với Tập đoàn Mai Linh trong việc tăng cường hiệu quả hoạt động cũng như tư vấn cấu trúc tài chính của Tập đoàn Mai Linh; phát triển bất động sản do Mai Linh hoặc các công ty con làm chủ sở hữu; tư vấn trong trường hợp cổ phiếu của Mai Linh được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài; giới thiệu và tiến cử các đối tác chiến lược từ nước ngoài để hợp tác với Tập đoàn Mai Linh khi Mai Linh mở rộng quy mô hoạt động hoặc phát triển ngành nghề tại nước ngoài.

    Ngày 19/09/2009, Tập đoàn Mai Linh đã ký kết “biên bản ghi nhớ” giữa Tập đoàn Mai Linh và Công ty Du lịch Quốc tế Century Holiday (Thẩm Quyến – Trung Quốc) về nội dung hợp tác phát triển du lịch. Hai bên sẽ trao đổi các kinh nghiệm về quản lý và điều hành hoạt động du lịch lữ hành; hợp tác trong việc khai thác – kinh doanh – điều hành đối với khách du lịch từ Trung Quốc sang Việt Nam và ngược lại; bố trí trao đổi phối hợp nhân sự hợp tác làm việc trong quá trình kinh doanh, khai thác những thị trường chung

    2.2.3.    Nhà cung cấp

    Tháng 07/2009, Tập đoàn Mai Linh đã ký kết với Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam (CHLB Đức) biên bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực bảo trì, sửa chữa ô tô với tập đoàn Mai Linh tại TPHCM. Theo đó, Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam và tập đoàn Mai Linh sẽ triển khai mô hình nhà xưởng Bosch Car Service ủy quyền trên cả nước để bảo dưỡng và sửa chữa các loại xe động cơ xăng và xe động cơ dầu. Trên cơ sở các nhà xưởng hiện tại của Mai Linh và các trạm dừng nghỉ của Mai Linh đang và sẽ xây dựng trong tương lai, Bosch sẽ đánh giá và tư vấn xây dựng cho phù hợp với tiêu chuẩn của mô hình Bosch Car Service (Đức). Khi hoàn thành các xưởng Bosch Car Service, Robert Bosch Việt Nam sẽ cung cấp phụ tùng cho khoảng 6.000 xe taxi và gần 500 xe tuyến cố định đường dài và 400 xe cho thuê của tập đoàn Mai Linh.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 39

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Ngày 23/07/2009, Công ty cổ phần Xăng dầu An Pha đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên lần thứ nhất với đại diện các cổ đông tham dự. Công ty cổ phần Xăng dầu An Pha có vốn điều lệ 100 tỷ đồng, trong đó có Công ty cổ phẩn Tập đoàn Mai Linh và ông Hồ Huy – Chủ tịch HĐQT góp 25% số vốn điều lệ. Ngay sau chương trình đại hội, đã diễn ra buổi lễ ký kết “Hợp đồng nguyên tắc kinh doanh xăng dầu” giữa Công ty cổ phần Xăng dầu An Pha và Tập đoàn Mai Linh. Theo đó, với thời hạn hợp đồng 15 năm, An Pha được độc quyền kinh doanh xăng, dầu, gas trên toàn hệ thống Mai Linh bao gồm các trạm dừng nghỉ, phương tiện vận chuyển, nhà máy, xí nghiệp… với hàng đúng chủng loại, đảm bảo số lượng và chất lượng, giá cả cạnh tranh.

    Ngày 26/10/2009, Tập đoàn Mai Linh đã ký kết hợp đồng ghi nhớ với Công ty cổ phần Đầu tư phát triển Gas đô thị (Gas City). Theo đó, Gas City sẽ là nguồn cung cấp gas cho các tòa nhà do Mai Linh đầu tư xây dựng trên cả nước, bên cạnh sẽ cung cấp nhiên liệu năng lượng sạch cho các dòng xe taxi Mai Linh hiện đại sau này chạy bằng khí hóa lỏng LPG, góp phần giảm bớt lượng chất thải CO2 vào không khí và cải thiện không khí, môi trường sống tốt hơn. Điều này còn cho thấy bên cạnh việc tập trung vào hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế, Tập đoàn Mai Linh còn luôn quan tâm đến trách nhiệm xã hội và chấp hành các quy định về an toàn lao động, môi trường sống và làm việc. Đó cũng là một trong những công việc Tập đoàn Mai Linh quan tâm hàng đầu.

    2.2.4.    Môi trường nội bộ ngành (rào cản xâm nhập)

    Ngành kinh doanh taxi tại TPHCM và các tỉnh lân cận có đặc điểm là mức độ cạnh tranh về giá tương đối thấp. Tất cả các hãng taxi đều có mức cước tương tự nhau bất chấp việc chất lượng và loại xe cũng như dịch vụ cung cấp khác nhau. Và đến một mức độ nào đó thì các hãng taxi nhỏ lẻ thậm chí còn lấy cước cao bất hợp lý. Tuy nhiên các hãng taxi này sẽ không tồn tại được lâu dài.

    Trong vài năm tới, những lái xe tự do và những công ty taxi nhỏ với số lượng xe dưới

    • chiếc sẽ bị đào thải và 5 công ty taxi lớn nhất trong ngành sẽ giành thị phần từ các công ty nhỏ và lái xe tự do bị đào thải này. Với áp lực cạnh tranh, Vinasun, Mai Linh và các hãng taxi lớn khác cũng đang hiện đại hóa đội xe của mình.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 40

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Nhân tố chính tạo ra lợi thế cạnh tranh trong ngành kinh doanh taxi sẽ là dịch vụ tốt thay vì là giá cả. Việc đưa ra dịch vụ đồng nhất trên toàn bộ đội xe là điểm chính phân biệt các đối thủ cạnh tranh. Bất kỳ công ty taxi nào có đội xe hiện đại, đời mới cũng sẽ tạo ra được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Các hãng taxi lớn đã dần đẩy các hãng taxi nhỏ ra khỏi ngành kinh doanh này.

    Dự báo sẽ không có thêm công ty mới gia nhập ngành. Trên thực tế, rào cản gia nhập ngành đã tăng mạnh trong những năm gần đây do (1) chi phí đầu tư đội xe mới (2) chi phí bảo hiểm (3) chi phí nhiên liệu.

    Việc trang bị một đội xe hiện đại có thể cần chi phí xấp xỉ 34,000 USD/xe vào thời điểm hiện tại, cao gấp 2 lần so với 3 năm trước đây và quá khả năng của hầu hết các công ty taxi nhỏ. Và khả năng tiếp cận với nhiều hình thức huy động vốn, thì những công ty có số lượng xe lớn như Vinasun và Mai Linh có lợi thế hơn hẳn so với các công ty taxi nhỏ.

    Với chi phí nhiên liệu và chi phí bảo hiểm xe dự kiến tăng với tốc độ bình quân gộp 10% và 20%/năm trong vài năm tới, thì các công ty taxi nhỏ sẽ ngày gặp phải bất lợi trong cạnh tranh. Với lợi thế kinh tế theo quy mô; một đội xe hiện đại và việc cung cấp dịch vụ đồng nhất và có chất lượng cao, các công ty taxi lớn sẽ dành thị phần từ tay các các công ty taxi nhỏ.

    1. Phân tích môi trƣờng bên trong của Công ty CP Mai Linh

     

    • Tình hình hoạt động hiện tại

    Trải qua hơn 16 năm hoạt động, với tiêu chí phục vụ “An toàn – Chất lượng – Mọi lúc

    • Mọi nơi”, Công ty Cổ phần Tập Đoàn Mai Linh (MLG) đã gặt hái được nhiều thành công

    trên 8 lĩnh vực kinh doanh, với mạng lưới thông tin rộng khắp 50 tỉnh thành tại Việt Nam và dự kiến đến năm 2007 sẽ phủ kín 64 tỉnh thành và các nước lân cận: Trung Quốc, Lào, Campuchia,…giải quyết công việc cho hơn 10.000 người. Có văn phòng đại diện kinh doanh tại: Mỹ, Campuchia, Nga và đang xúc tiến tại các nước Anh, Pháp, Nhật, Singapore, Thái Lan,…

    Trong các ngành hoạt động, Vận tải được xem là nồng cốt, chủ lực cho sự phát triển lâu dài với những dự án đầu tư lớn: 1.000 xe bus chất lượng cao phục vụ tuyến cố định liên

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 41

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tỉnh và quốc tế 5.000 xe taxi và cho thuê, 50 trạm dừng chân ở các tuyến trục lộ xuyên Á, xuyên Việt, hệ thống định vị bằng vệ tinh,…

    Bên cạnh đó, các ngành nghề khác cũng tăng cường đầu tư: dự án Thủy điện LaLa, dự án du lịch “Con đường di sản Văn hóa Miền Trung”, dự án đầu tư khách sạn 5 sao tại Tp.HCM và Hà Nội…

    Trong năm 2009, công ty đã đầu tư được 241 xe và là năm thành công nhất về công tác đầu tư phương tiện kể từ khi thành lập , nâng tổng số đầu xe lên 704 xe, chiếm 50% số đầu xe phương tiện taxi trên địa bàn từ Quảng Ngãi đến Quảng Bình

    3.2.        Marketing

    3.2.1.    Biểu tượng công ty

    Ngày nay, tập đoàn Mai Linh được mọi người biết đến không còn đơn thuần là tên của một công ty, mà nó đã là tên của một thương hiệu nổi tiếng trên đất nước Việt Nam. Về ý nghĩa của thương hiệu Mai Linh, thì từ “Mai” nói lên hình ảnh của hoa mai trong ngày tết cổ truyền, của sự may mắn và niềm hạnh phúc đầu Xuân, đồng thời cũng là một từ dùng để chỉ về tương lai, về một ngày mai tốt đẹp. Còn từ “Linh” là mang ý nghĩa của từ tinh nhanh, sự linh hoạt, linh động trong giải quyết công việc. Và tô điểm cho thương hiệu của mình, ông Hồ Huy – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ (người sáng lập MLG) – đã chọn màu xanh lá cây vì rằng đó là màu của hy vọng, màu của mùa xuân trên đất nước, màu của môi trường tươi đẹp. Đến với Mai Linh, Khách hàng có thể cảm nhận được một thiên nhiên tươi đẹp, một giá trị nhân nghĩa đích thực mà Mai Linh tâm niệm và xây dựng thành một logo làm biểu trưng cho thương hiệu của mình. Đó là hình ảnh của những ngọn núi hùng vĩ được tạo nên bởi 2 chữ ML cách điệu, là một dòng sông hiền hòa được tạo thành từ 3 nét vẽ nằm ngang và cũng là ý nghĩa của sự hòa hợp giữa Thiên, Địa, Nhân. Phía trên là hình ảnh của chim hạc, là nơi “Đất lành chim đậu”, nơi an lành hạnh phúc của mọi người.

    Kết hợp tất cả các hình ảnh, màu sắc và ý nghĩa trên lại với nhau, Mai Linh muốn hướng đến một ý nghĩa sâu sắc: Mai Linh – Màu xanh cuộc sống. Tất cả vì ngày mai tươi đẹp của con em chúng ta, vì sự phát triển vững bền và lợi ích của ba bên – Công ty, Khách hàng và Xã hội

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 42

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    3.2.2.    Giá trị cốt lõi

    • Tầm nhìn: “Trở thành nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất nơi chúng tôi có mặt!” (“To be the best service provider wherever we are!”).
    • Sứ mạng: “Mang sự hài lòng đến cho mỗi người, vì cuộc sống tốt đẹp hơn!”

    (“Provide better satisfaction for better life!”)

    • Giá trị cốt lõi : Hiệu quả – Làm chủ – Dẫn đầu – Chuyên nghiệp – Chung sức, chung long (Effectiveness – Ownership – Leadership – Proffesionalism – Teamwork).

    3.2.3.     Các hoạt động quảng cáo, từ thiện

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh luôn luôn ý thức thực hiện trách nhiệm tri ân của mình đối với xã hội. Mỗi cán bộ, nhân viên công ty luôn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội.

    Công ty thường xuyên tự tổ chức các phong trào nhân các ngày lễ lớn, hoặc phong trào do các tổ chức, ban ngành đoàn thể phát động, chẳng hạn như:

    • Hiến máu nhân đạo
    • Lá lành đ m lá rách: nạn nhân thiên tai, học bổng cho học sinh nghèo, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa: 119 triệu đồng (năm 2000), 85 triệu đồng (năm 2001), 371 triệu đồng (năm 2002), 474 triệu đồng (năm 2003), 1 tỷ 750 triệu đồng năm 2004 trong chương trình “Thăm lại chiến trường xưa” và riêng chương trình “Vang mãi khúc quân hành” nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 04/2005 là 6 tỷ đồng.
    • ng hộ, gây qu giúp đ nạn nhân chất độc da cam: Mai Linh tổ chức thu thập hơn 100.000 chữ ký đòi công lý, 4000 người tham gia diễu hành , tổ chức chương trình ca nhạc “Thắp lên niềm hy vọng” với số tiền quyên góp của các tổ chức, cá nhân là hơn tỉ đồng, riêng Mai Linh là 400 triệu đồng
    • Chương trình Lửa ấm về các miền quê: Trao tặng trâu và áo ấm trị giá 4,5 tỉ đồng cho bà con các tỉnh phía Bắc chịu ảnh hưởng của đợt rét đậm, rết hại năm 2008

    3.2.4.    Các danh hiệu đã được trao

    Tập Đoàn Mai Linh vinh dự được các tổ chức xét thưởng uy tín trao nhiều cúp, giải thưởng: Sao vàng đất Việt, Thương hiệu mạnh, Giải thưởng chất lượng Việt Nam,…và nhận nhiều bằng khen, giấy khen của các Bộ, Ngành, đặc biệt Bằng khen của Thủ tướng chính phủ

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 43

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    và Huy chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước cho hoạt động kinh doanh năm 2006, công ty cung cấp dịch vụ taxi đầu tiên của Việt Nam đạt được giấy chứng nhận Hệ thống Quản lý Chất lượng phù hợp tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2000, một trong số các thương hiệu đầu tiên nhận được giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2003-2005…

    Tháng 08/2008, Tập đoàn Mai Linh Đông Bắc Bộ đã vinh dự nhận được “Cúp vàng Văn hoá Doanh nghiệp” khẳng định cho quá trình nỗ lực của tập thể CBNV xây dựng một môi trường văn hóa kinh doanh trên nền tảng bản sắc văn hoá dân tộc.

    Ngày 28/04/2009, Taxi Mai Linh đạt danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất 2009” do Báo Sài Gòn Tiếp Thị bình chọn.

    Tập đoàn Mai Linh vừa được đánh giá nằm trong danh sách Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009 (VNR500). Danh sách này được Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) công bố

    3.3.        Quản lý nguồn nhân lực

    Trong kinh doanh vận tải, mặc dù chất lượng xe rất quan trọng, nhưng con người mới là yếu tố chính để hoạt động kinh doanh trở thành chuyên nghiệp. Trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hiện nay giữa các tập đoàn vận tải, hầu như không khó để các tập đoàn trang bị những chiếc xe hiện đại nhất để cạnh tranh, vì vậy cái khác biệt để thể hiện tính chuyên nghiệp và làm khách hàng hài lòng chính là đội ngũ nhân viên phục vụ. Nâng cao chất lượng dịch vụ về con người là mục tiêu lâu dài của công ty.

    Chính vì vậy, đội ngũ lái xe của Mai Linh được tuyển chọn rất cẩn thận và chặt chẽ với các tiêu chí về tay nghề, thể chất và cả ngoại hình. Sau khi tuyển dụng, các lái xe được qua lớp đào tạo khoảng 2 tháng về tay nghề, kiến thức kinh doanh, văn hóa để phục vụ khách hàng, tạo cho khách sự an tâm nhất khi sử dụng dịch vụ vận tải của Mai Linh. Cam kết của MaiLinh Express với khách hàng sử dụng là: chạy đúng giờ, đến đúng giờ, đúng tuyến, đúng lộ trình và không đón khách dọc đường. Từ khi đưa vào hoạt động, Mai Linh luôn thực hiện đúng cam kết khiến khách hàng rất vừa lòng. Mai Linh đang cố gắng phục vụ với cung cách tốt nhất để khách hàng cảm thấy hài lòng, thỏai mái và an tâm khi sử dụng dịch vụ vận tải của Mai Linh.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 44

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Trong năm 2009, công ty đã làm tốt công tác nâng cao chất lượng dịch vụ bằng các công việc cụ thể là đào tạo và đào tạo lại đội ngũ nhân sự lái xe và cán bộ quản lý.

    Trong khủng hoảng, hàng loạt doanh nghiệp phải tìm cách cắt giảm chi phí sản xuất và đội ngũ nhân sự nhưng, công ty Mai Linh đã thực hành tiết kiệm tối đa và tái cấu trúc theo tiêu chí luôn lấy con người làm trọng tâm, mở rộng thị trường tuyển dụng thêm hàng ngàn cán bộ, nhân viên.

    Công ty liên tục tổ chức và duy trì các lớp đào tạo nâng cao cho cán bộ nhân viên và khóa huấn luyện nghiệp vụ cho nhân viên lái xe về kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, ngoại ngữ và đạo đức nghề nghiệp… Thành quả của công tác này là nhân viên lái xe phục vụ khách hàng ngày càng chuyên nghiệp. Rất nhiều lần lái xe taxi của công ty đã trả lại tài sản quý giá của khách hàng để quên, dũng cảm ngăn chặn và bắt cướp, giúp đỡ khách hàng, đỡ đẻ cho sản phụ; tiêu biểu là tấm gương của lái xe Nguyễn Trung Dũng – Mai Linh Quảng Ninh đã trả lại tài sản cho khách trị giá 700 triệu đồng.

    Chính phong cách phục vụ chuyên nghiệp, lịch sự, tận tụy, trung thực của hơn 2000 cán bộ nhân viên đã làm khách hàng hài lòng và tín nhiệm sử dụng dịch vụ taxi và các dịch vụ khác của tập đoàn.

    3.4.        Hệ thống thông tin

    Công ty đã chủ động ứng dụng phần mềm quản lý ôtô thông qua hệ thống định vị vệ tinh (GPS) đã giảm thiểu đáng kể số lượng va quẹt, đảm bảo an toàn giao thông.

    Năm 2009, công ty đã triển khai nâng cấp hệ thống tổng đài điều hành taxi bằng việc cài đặt phần mềm tổng đài và huấn luyện đội ngũ nhân viên tổng đài. Do vậy mà công tác điều hành taxi qua tổng đài đã có nhiều tiến bộ. Hiện nay đã triển khai xong tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Huế. Các công ty còn lại sẽ triển khai trong 2010.

    Mai Linh là một trong những đơn vị đi đầu trong ứng dụng GIS (Geographic Information System – hệ thống thông tin địa lý) vào quản lý, điều hành hệ thống vận tải. Với công cụ điều hành này, dù các xe đang hoạt động tại nơi đâu, chỉ cần nhìn vào hệ thống định vị thì người quản lý ngồi tại văn phòng vẫn biết xe chạy với vận tốc bao nhiêu, đang ở vị trí nào, dừng ở đâu…. để điều chỉnh, hướng dẫn. Cũng nhờ quản lý sát sao bằng phương tiện tiên

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 45

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tiến nên Mai Linh là một trong những thương hiệu xe chạy an toàn nhất. Để quản lý bằng GIS, mỗi xe được đầu tư khoảng 1.000USD và hiện đã có gần 100 xe đường dài của công ty được trang bị GIS.

    Các dịch vụ khép kín của Mai Linh cũng là một trong những điều làm khách hàng vừa lòng. Cùng với sự ra đời của MaiLinh Express là các trạm dừng chân được xây dựng dọc theo quốc lộ. Các trạm dừng chân này được xây dựng theo mô hình khép kín với các kho xăng dầu, nhà hàng khách sạn, khu thương mại dịch vụ để khách hàng mua sắm và giải lao trong lúc dừng xe…. Từ khi có dự án trạm dừng chân của Mai Linh, khách đi xe tránh được tình trạng cơm tù chặt chém, được nghỉ ngơi trong không gian thoáng mát dễ chịu, giá cả phải chăng.

    Tính chuyên nghiệp của Mai Linh còn được thể hiện rõ ở việc kinh doanh và điều hành kinh doanh hiệu quả. Trong điều kiện nguyên liệu chính cho vận tải là xăng dầu liên tục biến động giá theo chiều hướng tăng nhưng với một ngành đang cạnh tranh khốc liệt như vận tải thì không thể dễ dàng tăng giá để bảo đảm lợi nhuận. Cũng vì vậy mà Mai Linh đã phải tìm ra một phương thức để bảo đảm hiệu quả kinh doanh mà vẫn không đổ hết mọi thiệt thòi cho người sử dụng dịch vụ. Để làm điều này, Mai Linh đã nghiên cứu phương thức hoạt động và thực hành tiết kiệm. Taxi của Mai Linh vừa được hợp nhất thành một tổng đài chung với số gọi ở Hà Nội là (04)8 22 25 55 và TP.HCM là (08) 8 26 26 26 để công tác điều hành được nhịp nhàng và hiệu quả, tránh tình trạng xe chạy không khách, giảm được rất nhiều nhiên liệu. Mặc khác, công ty cũng sẽ tiếp tục gắn định vị vệ tinh cho hệ thống xe taxi để điều phối xe hoạt động hiệu quả hơn.

    3.5.        Xác định chuỗi giá trị của công ty:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 46

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Hình 12: Chuỗi giá trị Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh

    3.5.1.    Các hoạt động cung ứng đầu vào

    • Trong tình hình kinh tế khó khăn, giá xăng dầu đã liên tục biến động đến 11 lần lên cao điểm là 19.000 đồng/lít; Tỷ giá hối đoái có thời điểm biến động khá đáng kể, tác động không nhỏ đến giá phương tiện và các trang thiết bị, phụ tùng sửa chữa, bảo dưỡng; Thị trường ôtô thiếu nguồn cung nghiêm trọng, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư, thanh lý, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các đơn vị… Thế nhưng MLG vẫn đang là người dẫn đầu với số lượng xe nhiều nhất.

    Chính sách thắt chặt số lượng xe là một thuận lợi lớn cho Mai Linh, với số lượng xe hiện tại đang vượt mức, MLG không sợ thiếu nguồn cung ứng vì cứ 1 xe cũ đổi 1 xe mới.

    • Bên cạnh việc mua sắm các phương tiện vận tải để phục vụ cho quá trình cung ứng dích vụ, tài xế lái xe cũng được xem là một trong những đầu vào của Mai Linh. Vì thế, Mai Linh luôn có những tiêu chuẩn khá khắt khe với nguồn nhân lực của mình.

    Tiêu chuẩn tuyển tài xế lái xe: Ứng viên có bằng lái xe dấu B2, tuổi từ 21 trở lên, có hộ

    khẩu lý lịch rõ ràng, ký quỹ 3,5 triệu đồng. Ứng viên là bộ đội xuất ngũ, người có hoàn cảnh khó khăn chỉ đóng tiền ký quỹ là 1,5 triệu đồng, phần còn lại công ty cho trả dần. Riêng lái xe

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 47

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    cao cấp, ứng viên phải có hai năm kinh nghiệm, chứng chỉ A Anh văn, nhân dáng thuyết phục.

    -Đánh giá: kém

    3.5.2.    Hoạt động vận hành

    • Với sự thành công của xe taxi và xe tốc hành Mai Linh Express, MLG còn phát triển thêm tuyến xe buýt trợ giá và được sự tín nhiệm khá cao của khách hàng. Với tiêu chí luôn

    hướng đến khách hàng, tiêu chí hoạt động hàng đầu của vận tải Mai Linh là “an toàn”. Đây là cách mà doanh nghiệp xây dựng uy tín thương hiệu cho mình.

    – Với phần mềm quản lý ôtô thông qua hệ thống định vị vệ tinh (GPS) đã giảm thiểu đáng kể số lượng va quẹt, đảm bảo an toàn giao thông. Đồng thời, công ty đã triển khai nâng cấp hệ thống tổng đài điều hành taxi bằng việc cài đặt phần mềm tổng đài và huấn luyện đội ngũ nhân viên tổng đài. Do vậy mà công tác điều hành taxi qua tổng đài đã có nhiều tiến bộ.

    -Đánh giá: tốt

    3.5.3.    Hoạt động cung ứng đầu ra

    • Tập đoàn Mai Linh là một trong những doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách, lữ hành…Trong đó, mảng kinh doanh chính là dịch vụ taxi Trụ sở chính đặt tại số 64-68 Hai Bà Trưng, Phường Bến Nghé, Quận 1, TPHCM nhưng Mai Linh đã phủ màu xanh của mình lên khắp các tỉnh thành trên cả nước.
    • Sự ra đời của Công Ty cổ phần sữa chữa ôtô Mai Linh là hệ quả tất yếu của sự phát

    triển của MAILINHCORPORATION theo định hướng phát triển trở thành một tập đoàn khép kín và vững mạnh có 3 chi nhánh đầu tiên tại TP. Hồ Chí minh . Còn ở phía Bắc , Công Ty Mai Linh thăng Long đảm nhận nhiệm vụ này. Riêng mỗi đơn vị thành viên đều có xưởng bảo trì và bảo dưỡng hằng ngày nhằm đảm bảo việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng là tốt nhất.

    -Đánh giá: trung bình

    3.5.4.    Marketing

    – Hiện Mai Linh có 6 đơn vị xe: Xe cao cấp cho thuê, Taxi Deluxe, Saigon Taxi, ML Taxi, Gia Định Taxi, Chợ Lớn Taxi. Với những danh hiệu như Sao vàng đất Việt, Thương hiệu mạnh, Giải thưởng chất lượng Việt Nam,…và nhận nhiều bằng khen, giấy khen của các Bộ, Ngành, đặc biệt Bằng khen của Thủ tướng chính phủ và Huy chương lao động hạng 3 của

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 48

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Chủ tịch nước cho hoạt động kinh doanh năm 2006, công ty cung cấp dịch vụ taxi đầu tiên của Việt Nam đạt được giấy chứng nhận Hệ thống Quản lý Chất lượng phù hợp tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2000, một trong số các thương hiệu đầu tiên nhận được giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2003-2005… Mai Linh đã có được sự tín nhiệm của khách hàng khá cao.

    • Đánh giá: tốt

    3.5.5.    Dịch vụ khách hàng.

    Trung tâm dịch vụ khách hàng của Mai Linh được thành lập nhằm:

    • Giải quyết các khiếu nại của khách hàng về dịch vụ của Mai Linh.
    • Hỗ trợ và cung cấp thông tin cho khách hàng.
    • Cung cấp dịch vụ cho thuê xe ô tô điện, xe ô tô từ 4 chỗ đến 45 chỗ các loại.
    • Đặt phòng khách sạn.
    • Đại lý bán vé máy bay, tàu lửa, xe tuyến cố định Mai Linh chất lượng cao.
    • Đại lý cung cấp nước khoáng Mai Linh.
    • Điểm bán vé Tour du lịch và các sản phẩm của Mai Linh Tourism.
    • Điểm bán vé tàu du lịch Mai Linh đi tham quan các tuyến đảo Nha Trang.
    • Điểm bán vé tuyến Liên vận quốc tế Nha Trang – Gia Lai – Chămpasak (Lào).
    • Đại lý chuyển phát nhanh thư từ cho Mailinh, Viettel, Saigon post,…..
    • Dịch vụ thu đổi ngoại tệ, kiều hối.
    • Đại lý cung cấp văn phòng phẩm…

    Bên cạnh đó, tài xế Mai Linh luôn có thái độ phục vụ rất tốt. Mai Linh không thiếu những tấm gương sang về tính thật thà, dũng cảm, nghĩa hiệp của các bác tài. Những điều đó giúp Mai Linh đạt được danh hiệu “dịch vụ được hài lòng nhất 2009”.

    • Đánh giá: tốt
    • Nhận xét: mặc dù ở hoạt động Cung ứng đầu vào, công ty có gặp một vài khó khăn, nhất là việc biến động tỷ giá ảnh hưởng đến nguồn cung phương tiện vận tải và chi phí xăng; nhưng nhờ quá trình vận hành tốt và dịch vụ khách hàng chu đáo, Mai Linh đã xây dựng được một giá trị thương hiệu vô cùng quý báu.

     

    1. Xác định lợi thế cạnh tranh
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 49

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    4.1.        Dự báo nhu cầu giao thông vận tải đƣờng bộ đến năm 2020

    4.1.1.    Tình hình gia tăng phương tiện vận tải đường bộ

    Năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân của phương tiện đường bộ trên toàn quốc là 13-17%/năm, trong đó xe con dưới 9 chỗ là 13-18%/năm, xe khách trên 10 chỗ là 16-22%/năm và xe tải là 12-14%/năm. Từ năm 2011-2020, tốc độ tăng trưởng bình quân của phương tiện đường bộ trên toàn quốc là 7-12%/năm, trong đó xe con dưới 9 chỗ là 5-14%/năm, xe khách trên 10 chỗ là 6-12%/năm và xe tải là 8-10%/năm. Dự kiến, đến năm 2020, toàn quốc có khoảng 2,8 ÷ 3 triệu xe ô tô các loại, trong đó xe ô tô con 1,5 triệu chiếc, xe ô tô khách 0,5 triệu chiếc, xe ô tô tải 0,8 triệu chiếc.Với tình hình này, cần hạn chế tốc độ tăng trưởng xe máy và kiểm soát sự gia tăng xe con cá nhân, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Trong năm 2010 khống chế tăng trưởng xe máy dưới 7%/năm (theo hướng giảm dần) và xe con 10-15%/năm; từ năm 2010 trở đi, tại các đô thị lớn, không phát triển xe máy mà phát triển mạnh vận tải công cộng. Tại Tp.HCM, từ 01/06/2010 chính thức hạn chế việc phát triển taxi, chỉ cho phép các doanh nghiệp thay thế 1 xe cũ bằng 1 xe mới. Bởi với đà tăng trưởng trên thì đến cuối tháng 6/2010, lượng taxi trên địa bàn TPHCM có khả năng lên đến con số 15.000 chiếc, vượt xa quy hoạch phát triển taxi đến năm 2020 của TP (12.700 xe).

    4.1.2.     Hệ thống cơ sở hạ tầng phương tiện đường bộ

    Hệ thống đường bộ Việt Nam dài hơn 200.000 km, trong đó mới có khoảng 19% đường được trải nhựa, đây hiện là kênh vận chuyển chính ở trong nước nhờ giá thành rẻ và tiện dụng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2000 – 2006 của lĩnh vực này là 7,3% sản lượng hàng hóa và 9.7% số hành khách vận chuyển và có xu hướng tăng mạnh.

    Nếu so sánh về năng lực cạnh tranh theo thang điểm từ thấp đến cao là 1 – 7 thì ngành đường bộ Việt Nam hiện nay mới đạt 2.98 điểm, đứng sau tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á được xếp hạng như Thái Lan, Malaysia, Philippines…

    Định hướng của ngành GTVT là phải phát triển trên phạm vi toàn quốc một mạng lưới đường bộ cao tốc ít nhất 22 tuyến với tổng chiều dài 5.873km trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và các năm tiếp theo. Trong số này, khu vực phía Bắc có 7 tuyến hướng tâm dài

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 50

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.099km kết nối với thủ đô Hà Nội, khu vực phía Nam được hoạch định 6 tuyến dài gần

    1.000km; Khu vực miền Trung và Tây Nguyên gồm 3 tuyến dài 264km. Riêng thủ đô Hà Nội và TPHCM còn có thêm hệ thống đường vành đai cao tốc dài hơn 260km. Bên cạnh hệ thống đường cao tốc là mạng lưới quốc lộ dàn trải đều khắp. Tại miền Trung, ngoài các trục dọc Bắc-Nam còn chú ý hệ thống các đường ngang nối liền vùng đồng bằng ven biển miền Trung với khu vực Tây nguyên, hoặc nối các cảng biển tới cửa khẩu quốc tế qua Lào và Campuchia. Các đường ngang phải đạt chuẩn cấp III, cấp IV, phục vụ 2 làn xe.

    4.1.3.     Nhu cầu giao thông đường bộ trong tương lai

    Với việc phát triển hệ thống các đường cao tốc và nâng cấp các tuyến quốc lộ trên cả nước tạo điều kiện cho ngành giao thông vận tải đường bộ phát triển trong những năm tới, giảm được tình trạng quá tải trong các dịp lễ, tết. Sự phát triển kinh tế trong giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng 2008 dẫn đến nhu cầu về vận chuyển hàng hóa sẽ tăng với tốc độ tương tự. Ngoài ra, khi thu nhập được cải thiện (tăng 7.8%/năm) thì nhu cầu giao thương, du lịch của người dân cũng sẽ tăng mạnh.

    Song song với việc phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là các phương thức vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đảm bảo tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách công cộng ở các thành phố lớn đạt 25-30% trong năm 2010 và 50-60% vào năm 2020. Theo Quy hoạch đã được phê duyệt, phấn đấu đến năm 2020, vận chuyển 5,5 tỷ hành khách với 165,5 tỷ hành khách luân chuyển, tăng bình quân 11,2%/năm về hành khách luân chuyển; khối lượng hàng hóa vận chuyển là 760 triệu tấn với 35 tỷ tấn hàng hóa luân chuyển, tăng bình quân 7,5%/năm về tấn luân chuyển.

    Theo tính toán dựa trên số liệu dự báo của dự án Nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững hệ thống Giao thông vận tải Việt Nam (VITRANSS2), nhu cầu GTVT của Việt Nam từ nay đến giai đoạn 2030 sẽ tăng rất mạnh. Cụ thể, về lượt hành khách và tấn hàng hóa sẽ tăng 300% – 400% so với năm 2008. Về hành khách/km và tấn/km sẽ tăng trên 700% – 800% so với năm 2008. Đến năm 2030, nhu cầu hành khách trên hành lang vận tải Bắc – Nam sẽ là 534.000 hành khách/ngày, tương đương 195 triệu hành khách/năm (chỉ tính những chuyến đi liên tỉnh) trong đó năng lực của các loại phương thức vận tải trên hành lang vận tải

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 51

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Bắc – Nam gồm đường ô tô cao tốc 4 làn xe đạt khoảng 88 triệu hành khách/năm, tuyến đường Quốc lộ 1 nâng cấp chủ yếu phục vụ vận tải nội vùng.

    Định hướng đến năm 2030 thoả mãn được nhu cầu vận tải và dịch vụ vận tải của xã hội với chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhanh chóng, êm thuận, an toàn; kết nối được với các phương thức vận tải khác, nhất là các điểm chuyển tải hành khách đường dài với vận tải hành khách đô thị.

    4.2.        Khả năng và cơ hội của công ty trong tƣơng lai

    4.2.1.    Khả năng của công ty trong tương lai

    Hiện nay thương hiệu Mai Linh đã được biết đến khắp các tỉnh thành trong cả nước, là doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng đầu ở Việt Nam, có số lượng xe kinh doanh vận tải lớn nhất Việt Nam. ML phấn đấu đến cuối năm 2010 sẽ có mặt khắp 63 tỉnh thành, mở rộng các tuyến nối liền tất cả các huyện thị Việt Nam.

    Tận dụng cơ hội Việt Nam gia nhập WTO, ML đã mạnh dạn mở rộng thị trường kinh doanh vận tải ra nước ngoài là Lào và Campuchia.

    Tiềm lực tài chính vững mạnh với số vốn 700 tỷ đồng, 11 công ty con trực tiếp và 51 công ty con gián tiếp phủ khắp các tỉnh thành Việt Nam cộng với bề dày kinh nghiệm, Mai Linh có khả năng giữ vững vị trí ngọn cờ đầu trong lĩnh vực kinh doanh vận tải ở Việt Nam trong tương lai.

    4.2.2.    Cơ hội của công ty trong tương lai

    Với chính sách phát triển vận tải của Chính phủ Số 35/2009/QĐ-TTg ngày 03/03/2009 về việc phê duyệt điều chỉnh chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

    – Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải; thành lập tập đoàn vận tải có vốn của Nhà nước để phục vụ các tuyến có nhu cầu vận tải lớn như tuyến Bắc – Nam, vận tải hành khách công cộng đô thị, vận tải phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo và các nhiệm vụ đột xuất khác khi cần thiết.

    – Hỗ trợ cho các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng và vận tải phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn với nhiều hình thức như: ưu đãi tín dụng, ưu đãi sau đầu

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 52

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tư mua sắm phương tiện hoặc trợ giá. Khuyến khích sử dụng phương tiện lắp ráp trong nước để vận chuyển hành khách công cộng bằng các hình thức như bán trả chậm, bán trả góp, có chính sách ưu đãi trong việc nhập khẩu phụ tùng, thiết bị mà trong nước chưa sản xuất được…

    • Phát triển đa dạng các loại hình vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đảm bảo chất lượng, nhanh chóng, an toàn, tiện lợi, tiết kiệm chi phí xã hội. Phát triển mạnh vận tải đa phương

    thức và dịch vụ logistics trong vận tải hàng hóa.

    Bên cạnh đó là chính sách đơn giản hóa các thủ tục trong kinh doanh vận tải đường bộ bao gồm: rút gọn thành phần hồ sơ, giảm thời gian thực hiện, bỏ những yêu cầu không cần thiết… Đặc biệt, chi phí tuân thủ sáu thủ tục có thể cắt giảm đến 93% với khoản tiền tiết kiệm được 75 tỉ đồng mỗi năm cho cộng đồng doanh nghiệp (DN), giảm được gánh nặng trên vai DN, tiết kiệm thời gian và chi phí.

    Với sự khuyến khích và hỗ trợ của Chính phủ cho các DN vận tải đường bộ, đồng thời với việc nâng cao hệ thống vận tải đường bộ mở ra cơ hội phát triển của ngành giao thông vận tải đường bộ nói chung và của công ty Mai Linh nói riêng.

    1. Phân tích ma trận SWOT: Điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – thách thức
        ĐIỂM MẠNH – S     ĐIỂM YẾU – W
        S1: mạng lưới thông tin – W1: lỗ ròng 224 tỷ đồng
        và văn phòng rộng khắp Việt từ  2007-2009,  vay  nợ  tăng
        Nam và các nước lân cận   làm tăng áp lực trả nợ
        S2:   thương hiệu nổi – W2: chi phí không hợp lý,
        tiếng được nhiều người  ưa
        phát sinh nhiều công ty con
        thích, đạt top  500  DN lớn
        hoạt động không hiệu quả.
        nhất Việt Nam (2009)  
           
        S3: đội ngũ lãnh đạo có  
        tầm, có tâm; nhân viên nhiệt  
        tình            
        S4:  nguồn  vốn  đầu  
        lớn, số  lượng  phương  tiện  
        vận tải nhiều.      
                     
                     
                     
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 53

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CƠ HỘI – O CÁC CHIẾN LƢỢC SO CÁC CHIẾN LƢỢC WO  
    O1: trung bình 1000 -S1,4+O1,2,3: Mạng lưới phủ – W2  + O1,2: tập trung mũi  
    người/xe,  tiềm  lực  thị rộng  và  tài chính  mạnh  + nhọn   vào   lĩnh vực   vận  
    trường lớn tiềm  lực  và   nhu  cầu  thị chuyển.    
      – W1+O3:  hạn chế  không  
    O2: đời sống xã hội trường lớn à mở rộng thêm
        đầu  tư  vào  những  ngành  
    du  lịch  phát  triển, các  thị  trường  mới  để  gia
    không có sự hỗ trợ hoặc vốn  
    nhu cầu đi lại càng cao tăng thị phần    
        đầu tư quá lớn.    
    O3: sự khuyến khích            
                 
    sử dụng phương tiện đi              
    lại công cộng của chính              
    phủ                
    THÁCH THỨC – T CÁC CHIẾN LƢỢC ST CÁC CHIẾN LƢỢC WT
    –  T1:   kinh   tế   thị – S2,3+T2: đào tạo và huấn – W1+T 1:  cần  quản  lý  có
    trường chưa ổn định ảnh luyện nhân viên về trình độ hiệu quả việc sử dụng và bảo
    hưởng đến nguồn cung ô chuyên môn và phong cách dưỡng phương tiện vận tải.
    phục vụ.  
     
    – S4+T2:  tối thiểu  hóa  chi  
    –  T2:  cạnh  tranh  về  
    phí để có mức giá cạnh tranh  
    giá và chất lượng phục  
    tốt nhất.  
    vụ ngày càng gay gắt  
       
    1. Định hƣớng phát triển công ty đến năm 2020

    6.1.        Sứ mạng

    • Thỏa mãn nhu cầu ngày càng gia tăng và tạo niềm tin của khách hàng thông qua việc cung cấp một cách tối ưu những sản phẩm chất lượng cao và ổn định.

     

    • Phấn đấu chiếm lĩnh vị thế cạnh tranh trên tất cả các thị trường thông qua hoạt

    động sản xuất, phân phối, và bán hàng có hiệu quả.

    • Phát triển nguồn nhân lực toàn diện và chế độ đãi ngộ công bằng.

     

    • Vun đắp cho văn hóa công ty mang bản sắc riêng biệt – quan hệ hợp tác chân thành và cởi mở.

    6.2.        Mục tiêu phát triển của công ty đến năm 2020

    6.2.1.    Mục tiêu dài hạn:

    • Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu là 15% vào năm 2015 và 20% vào năm 2020.
    • Phấn đấu đến năm 2020, thị phần ngành du lịch là 30%.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 54

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Xây dựng Mai Linh thành thương hiệu mạnh nhất, nổi tiếng nhất trong lĩnh vực giao thông vận tải.
    • Nâng doanh thu đến năm 2020 đạt trên 60.000 tỉ đồng.

    6.2.2.    Mục tiêu ngắn hạn:

    • Gia tăng thị phần qua mỗi năm về số tuyệt đối và tương đối
    • Đảm bảo 100% tài xế đầu được huấn luyện chuyên nghiệp

    6.2.3.    Mục tiêu chiến lược:

    • Đẩy mạnh thâm nhập thị trường giao thông vận tải ở Lào và Campuchia.
    • Trở thành một trường dạy nghề hàng đầu tại Việt Nam.
    • Nhân rộng mạng lưới taxi ở tất cả các tỉnh thành trong nước.
    • Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và quản lý tốt

    6.2.4.    Tiêu chuẩn của mục tiêu chiến lược:

    1. Thâm nhập thị trường nước ngoài: Hiện tại Mai Linh đã có văn phòng đại diện kinh doanh tại: Mỹ, Campuchia, Nga và đang xúc tiến tại các nước Anh, Pháp, Nhật, Singapore, Thái Lan,… Mai Linh cần đẩy mạnh chất lượng dịch vụ ở những nước đã có nền móng của mình trước tiên là 2 nước lân cận.
    1. Doanh thu phải tiếp tục tăng qua các năm, trung bình 15-20% cả về số tuyệt đối lẫn tương đối.Theo số liệu thống kê tình hình tăng doanh thu qua các năm như sau.

    Hình 13: Biểu đồ Doanh thu của Công ty CP Tập đoàn Mai Linh qua các năm

    1. Biểu đồ Tình hình tăng trưởng phương tiện qua các năm
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 55

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Hình 14: Biểu đồ Tình hình tăng trưởng phương tiện công ty CP Tập đoàn Mai Linh qua các năm

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 56

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CHƢƠNG III

    CHIẾN LƢỢC KINH DOANH VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH GIAI ĐOẠN 2010-2020

    1. Phƣơng án chiến lƣợc cấp công ty:

     

    • Mục đích

    Mai Linh là một tập đoàn lớn với hơn 70 công ty con kinh doanh đa ngành nghề. Một số công ty con hoạt động không hiệu quả đã dẫn đến lỗ ròng.. Để khắc phục tình trạng đó, MLG cần xác định chiến lược phù hợp trong giai đoạn tới. tập trung vào những ngành ưu thế hoặc những ngành có khả năng sinh lời cao. Như thế mới tập trung được nguồn lực để cạnh tranh với các đối thủ trong môi trường khốc liệt hiện nay. Vạch chiến lược là để trả lời câu hỏi con đường nào để đạt được mục tiêu.

    1.2.        Ma trận thị phần tăng trƣởng BCG

    Lựa chọn phương án chiến lược bằng ma trận BCG ta dựa vào 2 yếu tố là tỷ lệ tăng trưởng của thị trường và thị phần tương đối của MLG so với đối thủ cạnh tranh.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 57

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Cao

    20%

    Tỷ

    Lệ

    tăng                       Trung bình

    trưởng                                   10%

    của

    thị                                           Thấp

    trường

    0%

    10                                                5                                                       0

    Thị phần tương đối

    Hình 15: Ma trận BCG của MLG

    • SBU1: dịch vụ taxi
    • Tăng trưởng thị trường: 16,2%
    • Thị phần tương đối: 2,2
    • Thời kỳ Chưa Ổn Định

    Đối với dịch vụ Taxi: tuy tỷ lệ tăng trưởng của thị trường cao, nhưng thị phần tương đối còn thấp. Hiện nay, ở ba thị trường TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai Vinasun hiện đang chiếm thị phần cao hơn Mai Linh. Vì vậy, Mai Linh cần đẩy mạnh nâng cao chất lượng dịch vụ với mức giá hợp lý nhất để giữ được một thị phần như monh muốn.

    • SBU2: dịch vụ xe khách
    • Tăng trưởng thị trường: 17,8%
    • Thị phần tương đối: 6,4
    • Thời kỳ Hoàng Kim

    Đối với dịch vụ xe khách đường dài: có thể nói đó là một thành công lớn của Mai Linh. Là hãng taxi đầu tiên chạy thử nghiệm “những chuyến xe không khói thuốc” từ TP.HCM đi khắp mọi miền. Tuy nhiên, trong lĩnh vực xe khách đường dài, Mai Linh phải đối

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 58

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    mặt với một bộ phận không nhỏ các nhà xe tư nhân. Vì thế, muốn giúp khách hàng phân biệt được Mai Linh, ngoài Logo và thương hiệu, ta còn có thể giúp khách hàng nhận biết Mai Linh qua phong cách phục vụ chu đáo. Đó cũng là một thế mạnh của Mai Linh.

    1.3.        Cơ sở thực hiện chiến lƣợc

    Dựa trên những lợi thế sẵn có của doanh nghiệp và những cơ hội do môi trường mang đến cho doanh nghiệp. Ta có thể tin vào những ưu thế như sau:

    • Theo quyết định của Sở, ngày 31/5/2010 là hạn chót cho các hang taxi nộp hồ sơ chốt số lượng xe của hãng, đồng thời từ ngày 1/6/2010 chỉ cho phép các doanh nghiệp thay thế 1 xe cũ bằng 1 xe mới. Việc khống chế số lượng xe cũng giúp bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh taxi. Hành khách không có thêm nhiều taxi mới để lựa chọn, các doanh nghiệp kinh doanh taxi hiện hữu càng “có giá”, “Không có thêm đối thủ mới trong cạnh tranh, các hãng taxi chỉ có lợi”.
    • Thêm vào đó, hiện nay Nhà nước cũng không quản lý giá cước vận tải nói chung và giá cước taxi nói riêng. Đó là một thuận lợi cho các hang taxi lớn và có số lượng xe nhiều như Mai Linh.
    • Với những sự kiện về các tài xế dũng cảm, tên tuổi của Mai Linh thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, đó là một ưu thế rất lớn của Mai Linh trong vấn đề mở rộng quy mô hoạt động.
    1. Chiến lƣợc kinh doanh trên thị trƣờng quốc tế:

    2.1.        Các yếu tố chính tạo ra ƣu thế cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế

    –     Trải qua hơn 16 năm hoạt động, với tiêu chí phục vụ “An toàn – Chất lượng – Mọi lúc – Mọi nơi”, Công ty Cổ phần Tập Đoàn Mai Linh (MLG) đã gặt hái được nhiều thành công trên 8 lĩnh vực kinh doanh, với mạng lưới đã phủ ra các nước lân cận: Trung Quốc, Lào, Campuchia,… Có văn phòng đại diện kinh doanh tại: Mỹ, Campuchia, Nga và đang xúc tiến tại các nước Anh, Pháp, Nhật, Singapore, Thái Lan,…

    • Trong các ngành hoạt động, Vận tải được xem là nồng cốt, chủ lực cho sự phát triển lâu dài với những dự án đầu tư lớn: 1.000 xe bus chất lượng cao phục vụ tuyến cố định liên
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 59

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tỉnh và quốc tế 5.000 xe taxi và cho thuê, 50 trạm dừng chân ở các tuyến trục lộ xuyên Á, xuyên Việt, hệ thống định vị bằng vệ tinh,…

    • Ngoài ra, giá thành sản phẩm dịch vụ của Mai Linh khi chuyển sang ngoại tệ rẻ hơn các nước. Đồng thời, khi kinh doanh tại nước ngoài, Mai Linh có thể mua được phương tiện vận tải với giá rẻ hơn trong nước do miễn được vài loại thuế. Đó là những ưu thế về chi phí thấp.

    2.2.        Các phƣơng án chiến lƣợc chính vƣơn ra thị trƣờng quốc tế

    • Vận tải là ngành mũi nhọn của MLG, vì vậy, khi nguồn lực chưa đủ lớn và trong giai đoạn

    đầu xâm nhập thị trường thế giới, ta nên lựa chọn chiến lược “ tiêu điểm toàn cầu”.

    • Khi mới bắt đầu gia nhập thị trường toàn cầu này, nên lựa chọn những nước có nền văn hóa, điều kiện sống tương đồng với Việt Nam. Do đó, những nước lân cận trong khu vực được xếp đầu danh sách đầu tư.

    2.3.     Các bƣớc xâm nhập thị trƣờng Quốc tế của Mai Linh:

    • Chọn quốc gia: Thái Lan. Lào và Campuchia là 2 nước làng giềng, và MLG đã có được vị trí ở 2 nước này. Bước tiếp theo MLG nên chọn Thái Lan vì Thái Lan cũng có những điều kiện tương đồng với 2 quốc gia trên. Ngoài ra, Thái Lan còn có ưu thế là du lịch phát triển khá mạnh, đó là sự thuận lợi lớn cho ngành taxi.
    • Chọn thời điểm thâm nhập: vì là công ty khá lớn tại Việt Nam, nên thời điểm xâm nhập vào thị trường Thái Lan hơi chậm hơn so với những công ty nhỏ. Sau khi đã khá vững vàng tại thị trường nội địa, MLG mới xâm nhập vào thị trường Thái Lan. Xét về thời gian, thì hơi muộn, nhưng xét về cách làm, thì đây là phương thức mang lại hiệu quả cao hơn, hạn chế được những rủi ro do không tìm hiểu và xâm nhập trước vào thị trường mới.
    • Tốc độ xâm nhập: nên thực hiện chiến lược xâm nhập tập trung với một tốc độ vừa phải. Không nên xâm nhập cùng lúc nhiều thị trường, tránh tình trạng phân tán quá tầm kiểm soát như trường hợp đối với những công ty con của MLG vừa qua.
    • Các dạng sở hữu xâm nhập: mặc dù có đủ nguồn lực để tự doanh trên thị trường mới nhưng chiến lược tốt nhất vẫn là lien doanh với những đơn vị sở tại. Điều đó sẽ giúp cho MLG hạn chế được những rủi ro và giảm bớt chi phí xâm nhập thị trường. Các đại gia như
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 60

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Coca và Pepsi đã rất thành công khi gia nhập vào thị trường Việt Nam dưới hình thức liên doanh.

    3.                 Chiến lƣợc các đơn vị cơ sở và các chiến lƣợc chức năng

    3.1.     Chiến lƣợc về tài chính

    • Cần có phương án khắc phục lỗ khả thi (lỗ luỹ kế 31/12/2009 là 277 tỷ đồng), đồng thời

    tìm kiếm ký hợp tác với các ngân hàng thương mại lớn có chi phí vay vốn rẻ nhằm giảm áp lực về trả lãi vay ngân hàng (hiện nay các ngân hàng TM lớn như VCB, BIDV có lãi suất vay vốn thấp hơn so với các ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh). Phương án khắc phục lỗ có thể tập trung vào thanh lý, chuyển nhượng các dự án đầu tư kém hiệu quả, tập trung đầu tư vào những ngành nghề công ty có thế mạnh và đang có thương hiệu như vân tải, taxi, du lịch…

    • Loại bớt những công ty con làm ăn kém hiệu quả, cắt giảm những ngành nghề kinh doanh không liên quan đến hoạt động chính, nghiên cứu chuyển nhượng những dự án bất động sản không phục vụ sản xuất kinh doanh để thu hồi vốn, trả nợ vay và đầu tư vào ngành nghề khác. Cụ thể, Mai Linh sẽ bán dự án y tế gồm các nhà thuốc, phòng khám; bán Công ty Tư vấn đào tạo Tân Hương, Công ty cung cấp mực in Việt Hồ, Công ty in ấn Năng Động…
    • Tiếp tục tái cơ cấu tổ chức, tinh gọn bộ máy quản lý, không đầu tư dàn trải mà tập trung vào 3 nhóm ngành nghề kinh doanh chính là vận tải, du lịch, sản xuất – thương mại. Trong đó, vận tải là lĩnh vực nòng cốt với ít nhất 70% vốn đầu tư, bảo đảm duy trì hình ảnh là đơn vị số một trong ngành vận tải và các dịch vụ cho ngành vận tải như trạm dừng nghỉ, bến xe, trạm xăng dầu.
    • Cũng như năm 2008 (lỗ gần 118 tỉ đồng), nguyên nhân thua lỗ của Mai Linh trong năm

    2009 là do chi phí lãi vay cao (164 tỉ đồng), chiếm 28,7% tổng doanh thu (năm 2008, số lãi phải trả của Mai Linh là 336 tỉ đồng). Mặt khác, việc đầu tư mở rộng địa bàn mới, đầu tư vào các ngành nghề, dự án mới chưa đạt kết quả như mong muốn. Chi phí đầu tư vào và vận hành như mua phương tiện, các loại phí, bảo hiểm, lương, nhiên liệu… tăng nhanh hơn nhiều so với mức độ tăng doanh thu.

    • Đưa kế hoạch đầu tư mới nhằm nâng cao năng lực kinh doanh như đầu tư thêm xe ô tô các loại để hoạt động taxi, vận tải và du lịch.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 61

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Nghiên cứu kế hoạch huy động vốn qua thị trường chứng khoán, liên doanh, liên kết, nhằm huy động được nguồn vốn để bổ sung cho việc vay vốn tại các ngân hàng thương mại. Có phương án tăng vốn điều lệ khả thi: Tăng vốn điều lệ nhằm giảm hệ số nợ của Công ty (nợ phải trả /vốn chủ sở hữu 31/12/2009 là rất cao: 3,4 lần), giảm gánh nặng chi phí tài chính.
    • Trong lĩnh vực kinh doanh taxi: Mai linh cần tăng cường công tác Marketing với các doanh nghiệp, thương gia tại các khu vực thành phố, khu công nghiệp để cung cấp thẻ quẹt thanh toán cước taxi cho các khách hàng này.
    • Luôn luôn ổn định giá, ổn định chi phí nhân công đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng.

    3.2.     Chiến lƣợc về nguồn nhân lực

    • Mở rộng các hình thức đào tạo, đào tạo lại; xã hội hóa công tác đào tạo để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, công chức, viên chức và người lao động; áp dụng chế độ tuyển dụng công khai thông qua thi tuyển, thử việc.
    • Có chính sách tiền lương và các chế độ ưu đãi đối với người lao động trong điều kiện lao

    động đặc thù của ngành giao thông vận tải, đặc biệt là công tác bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông ở các vùng sâu, vùng xa, lao động nặng nhọc, nguy hiểm…

    • Cần có sự đầu tư tập trung nâng cao năng lực và trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo, huấn luyện để nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Tăng cường sự phối hợp và gắn kết giữa các công ty sử dụng nguồn nhân lực với các cơ sở đào tạo, huấn luyện để đảm bảo đáp ứng nhu cầu thực tế và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo.

    3.3.     Chiến lƣợc về công nghệ

    • Triển khai và phát triển hệ thống POS (công nghệ thanh toán online) nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ thẻ taxi hiện nay.
    • Xây dựng và triển khai phương thức thanh toán hiện đại, sử dụng công nghệ thẻ chip, khách hàng có thể dùng thẻ ATM, Visa, Master, American Express, …thay thế MCC.
    • Hiện đại hóa phương tiện vận tải, thiết bị xếp dỡ; áp dụng các công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics.
    • Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành và khai thác.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 62

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    KẾT LUẬN

    Quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và cả phương pháp xử lý. Sự kết hợp có hiệu quả của những nhân tố này sẽ trợ giúp cho phương hướng chiến lược và cung cấp dịch vụ hoàn hảo. Đây là một hoạt động liên tục để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của một tổ chức; quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết những tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh.

    Sở hữu thương hiệu Mai Linh với màu xanh lá nổi tiếng nên Công ty Cổ phần Mai Linh thường được các nhà đầu tư cá nhân, khách hàng biết đến với cái tên Công ty taxi Mai Linh. Nhưng đây là tập đoàn với gần 100 công ty thành viên trải rộng khắp cả nước, kinh doanh đa ngành nghề, trong đó vận tải là ngành kinh doanh chủ lực để phát triển các lĩnh vực khác như thương mại, du lịch, công nghệ thông tin và viễn thông, xây dựng, tư vấn quản lý.

    Bất cứ một doanh nghiệp nào khi bắt tay vào thành lập cũng phải nghĩ ngay đến việc xây dựng thương hiệu cho mình. Nhưng thương hiệu không chỉ đơn giản là logo hay một sản phẩm. Thương hiệu của một doanh nghiệp phải là tổng thể hài hòa giữa cảm xúc và trí tuệ mà doanh nghiệp ấy tạo nên ấn tượng mạnh mẽ cho mọi người khi họ nghe, nhìn, biết và nghĩ về doanh nghiệp ấy. Và đó chính là sức mạnh giúp doanh nghiệp khẳng định vị thế của mình trên thương trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 63

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    PHỤ LỤC

    Phụ lục 1: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

                        đơn vị : Đồng   đơn vị : Đồng             đơn vị : Đồng            
                                                                 
                Chỉ tiêu   2007   2008           2009            
                                                               
                                    Tỉ   Tăng         Tỉ   Tăng
                        Giá Trị   Giá Trị   trọng   trưởng   Giá Trị   trọng   trưởng
                                                               
                TÀI SẢN       3,090,986,033,257     4,272,999,266,243     100%     38%     5,072,298,159,096     100%     19%  
                                               
                                                           
                                               
                                                               
                                                     
        A     A. TÀI SẢN NGẮN HẠN       1,209,758,548,146     987,208,385,569     23%     -18%     1,120,206,293,710     22%     13%  
                                                       
                                                 
                                                               
                I – Tiền và các khoản tƣơng                   5%     -68%           6%     24%  
                                                     
          I     đƣơng tiền       155,642,359,392     49,751,106,768             61,695,297,485          
                                                       
                                                     
                                                                 
      1     1. Tiền mặt   155,642,359,392   49,751,106,768               60,695,297,485                
                                               
                                                               
      2     2. Các khoản tương đương tiền               1,000,000,000                
                                           
                                                               
                II – Các khoản đầu tƣ tài                   1%     -95%           0%     -69%  
                                                     
        II     chính ngắn hạn       183,187,926,410     8,773,231,548             2,739,436,875          
                                                     
                                                   
                                                                 
      1     1. Đầu tư ngắn hạn   183,187,926,410   11,258,231,548               3,138,436,875                
                                               
                                                               
                2. Dự phòng giảm giá ĐTNH                                              
      2   (*)     2,485,000,000               399,000,000                
                                                       
                                                       
        III     III – Các khoản phải thu       526,880,672,171     537,739,636,646     54%     2%     654,100,648,948     58%     22%  
                                                       
                                                 
                                                               
      1     1. Phải thu của khách hàng   173,592,395,913   218,324,859,596               324,201,834,083                
                                               
                                                               
      2     2. Trả trước cho người bán   64,794,850,263   62,162,240,286               61,358,774,587                
                                               
                                                               
      3     3. Phải thu nội bộ ngắn hạn                            
                                         
                                                               
                4. Phải thu theo tiến độ kế                                              
      4     hoạch hợp đồng xây dựng                            
                                                               
      5     5. Các khoản phải thu khác   288,928,906,195   259,341,932,168               272,321,495,456                
                                               
                                                               
                6. Dự phòng phải thu ngắn hạn                                              
      6     khó đòi (*)   435,480,200   2,089,395,404               3,781,455,178                
                                                       
                                                                 
                IV – Hàng tồn kho                   5%     19%           6%     52%  
                                             
        IV             37,821,334,299     45,040,749,758                 68,528,023,273                
                                                 
                                                             
                                                                 
                                                             
          HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19                   64    

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

      1       1. Hàng tồn kho 37,821,334,299   46,837,183,160               69,257,762,695                
                                               
                                                               
                2. Dự phòng giảm giá hàng tồn                                            
      2       kho (*) 1,796,433,402               729,739,422                
                                                             
        V     V – Tài sản ngắn hạn khác     306,226,255,874     345,903,660,849     35%     13%     333,142,887,129     30%     -4%  
                                         
                                                       
                                           
                                                               
      1     1. Chi phí trả trước ngắn hạn 217,506,006,523   222,232,173,974               228,546,924,564                
                                               
                                                             
      2     2. Thuế GTGT được khấu trừ 52,537,063,434   69,005,897,825               56,807,459,959                
                                               
                                                             
                3. Thuế và các khoản khác phải                                            
      3       thu Nhà nước 1,234,814,703   2,825,494,809               5,424,426,457                
                                                               
      5       5. Tài sản ngắn hạn khác 34,948,371,214   51,840,094,241               42,364,076,149                
                                               
                                                   
                                                   
        B       B. TÀI SẢN DÀI HẠN     1,881,227,485,111     3,285,790,880,674     77%     75%     3,952,091,865,386     78%     20%  
                                                       
                                                 
                                                             
                I – Các khoản phải thu dài                 0%     -6%           0%     1112%  
                                                   
          I       hạn     909,519,319     858,109,708             10,402,505,821          
                                                       
                                                     
                                                               
                1. Phải thu dài hạn của khách                                            
      1       hàng                          
                                                             
                2. Vốn kinh doanh ở đơn vị trực                                            
      2       thuộc                          
                                                               
      3       3. Phải thu dài hạn nội bộ                          
                                         
                                                               
      4       4. Phải thu dài hạn khác 909,519,319   858,109,708               10,402,505,821                
                                               
                                                             
                5. Dự phòng phải thu dài hạn                                            
      5       khó đòi                          
                                                   
                                                   
        II       II – Tài sản cố định     1,417,409,679,930     2,800,723,688,371     85%     98%     3,289,091,182,770     83%     17%  
                                                       
                                                 
                                                             
                                                             
      1     1. Tài sản cố định hữu hình     920,708,072,355     1,835,947,224,497                 2,288,677,495,375                
                                                     
                                               
                                                                 
          – Nguyên giá 1,048,348,654,133   2,155,874,474,974               2,821,469,680,672                
                                             
                                                           
      Giá trị hao mòn lũy kế (*) 127,640,581,778   319,927,250,477               532,792,185,297                
                                             
                                                             
                                                             
      2     2. Tài sản cố định thuê tài chính     287,139,719,260     341,828,015,880                 286,368,203,644                
                                                     
                                               
                                                               
          – Nguyên giá 374,807,865,625   468,409,267,663               385,625,245,486                
                                             
                                                               
          – Khấu hao (*) 87,668,146,365   126,581,251,783               99,257,041,842                
                                             
                                                               
                                                               
      3       3. Tài sản cố định vô hình     114,490,845,078     286,808,157,554                 335,466,881,685                
                                                     
                                               
                                                               
          – Nguyên giá 115,097,345,025   287,955,956,292               337,232,492,615                
                                             
                                                               
                                                                 
                                                               
          HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19                   65    

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

          – Khấu hao (*) 606,499,947   1,147,798,738               1,765,610,930        
                                     
                                                       
                4. Chi phí xây dựng cơ bản dở                                      
                                                     
      4       dang     95,071,043,237     336,140,290,440                 378,578,602,066        
                                     
                                                         
                  III – Bất động sản đầu tƣ                 1%                  
                                               
        III           157,692,000,000     37,168,000,000         0.7643     37,168,000,000        
                                             
                                   
                                                       
                  – Nguyên giá 157,692,000,000   37,168,000,000               37,168,000,000        
                                             
                                                   
              Giá trị hao mòn lũy kế (*)                        
                                             
                                       
                                               
        IV       IV – Bất động sản đầu tƣ     161,838,019,261     208,939,896,720     6%     29%     298,984,865,255   8% 43%
                                               
                                         
                                                       
      1       1. Đầu tư vào công ty con                  
                                 
                                                     
                2. Đầu tư vào công ty liên kết,                                    
      2       liên doanh 87,083,280,348   25,920,718,782               68,169,257,022        
                                                       
      3       3. Đầu tư dài hạn khác 74,754,738,913   183,019,177,938               230,815,608,233        
                                       
                                                     
                4. Dự phòng giảm giá đầu tư dài                                    
      4       hạn (*)                  
                                       
                                               
        V       V – Tài sản dài hạn khác     143,378,266,601     238,101,185,875     7%     66%     316,445,311,540   8% 33%
                                               
                                         
                                                       
      1       1. Chi phí trả trước dài hạn 85,869,258,191   102,593,386,932               185,790,422,070        
                                       
                                                     
                2. Tài sản thuế thu nhập hõan                                    
      2       lại 11,201,253,174   25,265,081,920               22,410,329,944        
                                                       
      3       3. Tài sản dài hạn khác 46,307,755,236   110,242,717,023               108,244,559,526        
                                       
                                       
                                               
                                               
                  NGUỒN VỐN     3,090,986,033,257     4,272,999,266,243     100%     38%     5,072,298,159,096   100% 19%
                                                   
                                             
                                               
                                               
        A       A – NỢ PHẢI TRẢ     1,941,449,768,026     3,097,491,084,914     72%     60%     3,952,353,042,064   78% 28%
                                               
                                         
                                               
                                               
          I       I. Nợ ngắn hạn     712,504,467,835     1,513,530,755,093     49%     112%     1,934,431,725,749   49% 28%
                                                 
                                           
                                                       
      1       1. Vay và nợ ngắn hạn 280,567,395,572   748,213,520,819               1,078,206,723,660        
                                       
                                                       
      2       2. Phải trả người bán 124,905,970,779   283,535,187,528               211,493,432,888        
                                       
                                                     
      3     3. Người mua trả tiền trước 31,219,291,117   25,790,642,903               55,718,359,918        
                                       
                                                     
                4. Thuế và các khoản phải nộp                                    
      4       nhà nước 28,616,141,047   29,825,440,977               53,092,281,309        
                                                       
      5       5. Phải trả người lao động 32,239,941,683   54,545,553,493               69,977,633,460        
                                       
                                                   
      6       6. Chi phí phải trả                                    
                                                       
                                                         
                                                       
          HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19               66  

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

                6,123,659,292   17,215,346,958               13,650,609,376                  
                                                             
    7     7. Phải trả nội bộ                            
                                       
                                                             
            8. Phải trả theo tiến độ kế hoạch                                              
    8     HĐXD                                  
                                                             
            9. Các khoản phải trả,phải nộp                                              
    9     ngắn hạn khác 208,832,068,345   354,405,062,415               452,292,685,138                  
                                                             
    10   10. Dự phòng phải trả ngắn hạn                            
                                     
                                                             
      II     II. Nợ dài hạn     1,228,945,300,191     1,583,960,329,821       51%   29%     2,017,921,316,315     51%       27%    
                                           
                                                     
                                       
                                                             
    1     1. Phải trả dài hạn người bán 5,968,417,399                              
                                         
                                                           
    2     2. Phải trả dài hạn nội bộ                            
                                       
                                                           
    3     3. Phải trả dài hạn khác 17,149,877,196   31,711,620,911               56,466,126,052                  
                                             
                                                           
    4     4. Vay và nợ dài hạn 1,211,770,065,966   1,546,131,890,447               1,954,442,589,888                  
                                             
                                                           
            5. Thuế thu nhập hoãn lại phải                                              
    5     trả 4,453,395   4,889,440               6,785,489,015                  
                                                           
            6. Dự phòng trợ cấp mất việc                                              
    6     làm 20,903,634   143,511,624               227,111,360                  
                                                           
    7     7. Dự phòng phải trả dài hạn                                  
                                             
                                   
                                                   
      B     B. VỐN CHỦ SỞ HỮU     1,149,536,265,231     1,175,508,181,329       28%   2%     1,119,945,117,032     22%       -5%    
                                                     
                                               
                                                   
      I     I. Vốn chủ sở hữu     805,949,673,756     712,210,071,760       61%   -12%     655,232,892,272     59%       -8%    
                                           
                                                     
                                               
                                                           
    1     1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 707,164,270,000   707,164,270,000               875,901,380,000                  
                                             
                                                           
    2     2. Thặng dư vốn cổ phần 214,290,002,903   225,200,535,598               52,771,431,252                  
                                             
                                                           
    3     3. Vốn khác của chủ sở hữu             420,000,000                  
                                         
                                                           
    4     4. Cổ phiếu quỹ (420,400,000)             (1,448,300,269)                
                                       
                                                           
    5     5. Chênh lệch đánh giá lại TS                            
                                       
                                                           
    6     6. Chênh lệch tỷ giá hối đoái 4,393,358                              
                                         
                                                           
    7     7. Quỹ đầu tư phát triển 1,248,422,060   1,514,820,326               2,349,525,569                  
                                             
                                                           
    8     8. Quỹ dự phòng tài chính 1,439,490,600   2,052,239,047               2,364,098,338                  
                                             
    • Quỹ khác thuộc vốn chủ sở
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 67

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

            hữu                              
                                                         
            10. Lợi nhuận sau thuế chưa                                          
    10   phân phối (118,196,905,165) (223,301,393,211)             (277,125,242,618)            
                                                         
    11   11. Nguồn vốn đầu tư XDCB                        
                                 
                                                         
            II. Nguồn kinh phí và quỹ                 39%     35%           41%     0%  
                                               
      II     khác     343,586,591,475     463,298,109,569             464,712,224,760          
                                               
                                           
                                                         
    1     1. Quỹ khen thưởng, phúc lợi 1,911,962,831   1,310,973,362               998,069,827              
                                         
                                                       
    2     2. Nguồn kinh phí                              
                                         
                                                       
            3. Nguồn kinh phí hình thành                                          
    3     TSCĐ 341,674,628,644   461,987,136,207               463,714,154,933              
                                                         
                                                         
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 68

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Phụ lục 2: BẢNG TỔNG KẾT KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

    Đơn vị tính: đồng

    S   Chỉ tiêu       2008         2009        
    TT   2007                  
                                               
                                                     
              Giá trị         Tỉ   Tăng         Tỉ   Tăng
                Giá Trị   trọng   trưởng   Giá trị   trọng   trưởng
                             
                                                     
    1   Tổng doanh thu     1,210,152,205,184     2,089,643,095,436     100%     73%     2,428,984,904,341     100%     16.24%  
                                   
                                                     
        Các khoản giảm trừ                                          
                                                 
    2   không tính thuế 9,896,688,305   14,225,503,393             14,100,150,131         -0.88%  
                                 
    3   Doanh thu thuần 1,210,152,205,184   2,089,643,095,436   100% 73% 2,428,984,904,341   100%    
              16.24%  
                                 
    4   Giá vốn hàng bán 1,004,408,735,576   1,537,299,421,674   74% 53% 1,809,938,946,427   75%    
              17.73%  
                                   
                                   
    5   Lợi tức gộp     205,743,469,608     552,343,673,762     26%     168%     619,045,957,914     25%     12.08%  
                                   
                                                     
    6   Chi phí bán hàng 23,077,696,664   60,349,115,465 3%       79,436,950,400 3%   31.63%  
                                 
    7   Chi phí qlý DN 161,758,517,758   258,180,931,119 12%       293,438,744,622 12%    
                13.66%  
                                                   
        Lợi tức thuần từ                                            
                                     
    8   HĐKD     20,907,255,186     233,813,627,178     11.2%     1018%     246,170,262,892     10.1%     5.28%  
                                   
                                                     
        Lợi tức từ HĐ tài                                          
                                                 
    9   chính (87,309,351,888) -344,484,317,849               -281,673,832,891           -18.23%  
                                         
    10   Lợi tức bất thường 11,705,008,786   21,545,940,691             54,204,757,669         151.58%  
                                                   
        Tổng lợi tức trƣớc                                          
                                       
                                       
    11   thuế     (54,697,087,916)     -89,124,749,980     -4.3%     63%     18,701,187,670     0.8%     120.98%  
                                                     
        Thuế lợi tức phải                                          
    12   nộp 8,108,947,814   26,007,043,709             30,225,974,658 1%   16.22%  
                                                   
        Tổng lợi tức sau                                          
    13   thuế (62,806,035,730) -115,131,793,689 -5.5%   83%   -11,524,786,988 -0.5%     -89.99%  
                                                     
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 69

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Phụ lục 3: CHỈ SỐ TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

             
    Khả năng sinh lời 2007 2008 2009  
             
    Chỉ tiêu        
             
    Tốc độ tăng trưởng doanh thu   73% 16%  
             
    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận   83% -90%  
             
    Lợi nhuận ST / Doanh thu (ROS) -5.19% -5.51% -0.47%  
             
    Lợi nhuận ST / Vốn chủ sở hữu (ROE) -5% -10% -1%  
             
    Lợi nhuận ST/ Tổng tài sản (ROA) -2.03% -2.69% -0.23%  
             
    Giá vốn hàng bán / doanh thu 83.00% 73.57% 74.51%  
             
    Tỷ lệ lợi nhuận gộp / doanh thu 17.00% 26.43% 25.49%  
             
    Chi phí bán hàng và quản lý / doanh        
    thu 15.27% 15.24% 15.35%  
             
             
                               
        Khả năng thanh toán   2007   2008     2009  
                               
        Chỉ tiêu                  
                               
        Khả năng thanh toán ngắn hạn       1.70   0.65   0.58  
                               
        Khả năng thanh toán nhanh       1.22   0.39   0.37  
                               
        Khả năng thanh toán bằng tiền       0.22   0.03   0.03  
                               
                               
                               
        Cân đối nguồn vốn – sử                    
        dụng vốn   2007   2008   2009  
                               
        Mức độ độc lập tài chính                      
                         
        Hệ số đòn bẩy   1.7   2.64   3.53  
                       
        Hệ số nợ   0.63   0.72   0.78  
                             
        Mức độ đảm bảo vốn cố                      
        định                      
                             
                         
        Nguồn vốn dài hạn   2,503,387,536,201   3,043,003,698,678   3,349,359,866,235  
                         
        Vốn chủ sở hữu (vốn góp)   1,149,536,265,231         1,119,945,117,032  
                               
                               
                               
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19   70

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

                    1,175,508,181,329          
                                   
      Nợ dài hạn, KQ dài hạn,                          
      nợ dài hạn đến hạn trả   1,353,851,270,970   1,867,495,517,349     2,229,414,749,203
                                   
      Tài sản cố định và đầu tư                          
      dài hạn   1,881,227,485,111   3,285,790,880,674     3,952,091,865,386
                                   
      Chênh lệch (-, mất cân đối                          
      tài chính)   622,160,051,090   (242,787,181,996)   (602,731,999,151)
                                   
      Mức độ đảm bảo vốn lƣu                            
      động                            
                                 
                                   
      Nguồn vốn ngắn hạn   1,334,664,518,925   1,270,743,573,097   1,331,699,726,598
                                 
      Vốn   CSH   hình   thành                          
      TSLĐ   622,160,051,090   (242,787,181,996)   (602,731,999,151)
                                 
      Nợ ngắn hạn   712,504,467,835   1,513,530,755,093     1,934,431,725,749
                                 
      Tài sản lưu động   1,209,758,548,146   987,208,385,569     1,120,206,293,710
                                 
      Chênh lệch (-, mất cân                          
      đối tài chính)   124,905,970,779   283,535,187,528     211,493,432,888
                                   
                                   
                             
      Vòng quay vốn     2007     2008         2009
                     
      Chu kỳ sản xuất kinh doanh                        
      Vòng quay các khoản phải thu         13.94 10.66   7.49
      Số ngày phải thu bình quân         26 34   49
      Vòng quay hàng tồn kho         53 37   26
      Số  ngày  dự  trữ  hàng  tồn  kho  bình                      
      quân         7 10   14
      Vòng quay các khoản phải trả         64 54   32
      Số ngày phải trả bình quân         6 7   11
      Vòng quay vốn lưu động         2.00 1.90   2.17
      Số ngày hoàn thành 1 chu kỳ SXKD       182 192   168
                                   
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 71

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    TIẾNG VIỆT:

    1. Công ty cổ phần chứng khoán TPHCM – HSC (17/11/2009), Báo cáo cập nhật công ty cổ phần Ánh Dương Việt Nam, http://stox.vn/stox/download.asp?id=2092 .
    1. Công ty cổ phần chứng khoán TPHCM – HSC (01/04/2010), Công ty Cổ Phần Ánh

    Dương Việt Nam (VNS – HoSE) – Nhận định đầu tư và khuyến nghị mua, http://www.stox.vn/stox/download.asp?id=2412 .

    1. Dương Ngọc Dũng (2008), Chiến Lược Cạnh Tranh Theo Lý Thuyết Của Michael Porter, Nhà Xuất Bản Tổng Hợp, TPHCM.
    1. Hoàng Lâm Tịnh (2009), Đề cương môn học quản trị chiến lược,
    1. Michael E.Porter, dịch giả Nguyễn Ngọc Toàn (2009), bản dịch Chiến Lược Cạnh Tranh – Những K Thuật Phân Tích Ngành Công Nghiệp Và Đối Thủ Cạnh Tranh, Nhà Xuất Bản Trẻ TPHCM.
    1. Michael E.Porter, bản gốc The Competitive Advantage of Nations, dịch giả Nguyễn Ngọc Toàn (2008), bản dịch Lợi Thế Cạnh Tranh Quốc Gia, Nhà Xuất Bản Trẻ

    TPHCM

    1. Trang web: http://www.mailinh.vn/

    TIẾNG ANH:

    1. Michael E.Porter (1996), What is Strategy, Havard Business Review.
    1. Michael E.Porter (1985), Competitive Advantage, Free Press, NewYork.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 72

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%C3%A2u-thu%E1%BA%ABn-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-v%C3%A0-bi%E1%BB%83u-hi%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3-trong-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trong hoạt động kinh tế, mặt trận cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung – cầu, tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xi nghiệp, từng công ty và tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hàng hoá … Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi một sự vật mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành…

    Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã dành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những chuyển biến đó đã đạt được nhiều thành công to lớn nhưng trong những thnàh công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới. Đòi hỏi phải được giải quyết và nếu được giải quyết sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của nền kinh tế.

    Với mong muốn tìm hiểu thêm những vẫn đề của nền kinh tế, quan điểm lý luận cũng như những vướng mắc trong giải pháp, quy trình xử lý các vấn đề chính trị – xã hội có liên quan đến quá trình tiến hành cải cách trong việc chuyển nền kinh tế tôi chọn Mâu thuẫn biện chứng và biểu

    hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    làm đề tài cho tiểu luận môn triết học Mác- Lê nin.

    Em xin chân thành cảm ơn thày !

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG:

    Mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều là một thể thống nhất được cấu thành bởi các mặt, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau….. ở đây chúng ta chia làm hai phần.

    1.Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất:

    Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó. Do đó, cân phải phân biệt rằng bất kỳ hi mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bời vì trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại hai mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật hiện tượng có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập. Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (Sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật) thì có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn. “Thống nhất” của hai mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đững cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại. Nếu thiêu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật. Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào.

    • Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật

    tạo nên.

    Ví dụ: Trong nền kinh tê tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trường là điều kiện cho sự tồn tại của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, hai nền kinh tế khác nhau hoàn toàn về bản chất và những biểu hiện của nó nhưng nó lại hết sực quan trọng. Vì nó có sự thống nhất này nên nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể tồn tại với ý nghĩa là chính nó.

    Ví dụ: Lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển thì cùng với nmó quan hệ sản xuất cũng phát triển. Hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của phương thức sản xuất. Nhưng trong quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:

    • Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khai quát từ các mặt

    phù hợp khác nhau phản ánh được banr chất của sự phù hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    • Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của quan hệ sản

    xuất và lực lượng sản xuất.

    • Thứ ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ý nghĩa

    nhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được coi là thoả đáng phái có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượng sản xuất.

    Tuy nhiên, khái niệm thống nhất này chỉ mang tính tương đối. Bản thân nội dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: Thống nhất của cái đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập.

    Đấu tranh các mặt đối lập.

    Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của

    4

    bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuât lạc hậu kìm hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản.

    Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ây mới hình thành bước đầu cuả một mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành độc lập. Sự vật cu mất đi, sự vật mới hình thành. Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn. mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới xuất hiện. Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên cao. Chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đôi lập”.

    Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đáa tranh của các mặt đối lập, Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa là chính nó – nhừ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: “sự thống nhất (phù

    5

    hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mtặ đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua trong tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lậpbài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động tuyệt đối”.

    1. Chuyển hoá của các mặt đối lập:

    Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phất triển đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện càn thiết mới dẫn đến chuyển hoá, bài trừ và phủ định nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người.

    Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy moc. Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:

    + Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.

    Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.

    + Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.

    Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn được

    6

    giải quyết, sự vật cũng mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới.

    Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quá phát triển.

    II.                TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DƯỢNG NỀN KINH TẾ

    THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM :

    1.     Kinh tế thị truờng và những đặc điểm :

    Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử. Nó nhằm dẫn đến những mục tiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng. Nó thay cũ đôi mới hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn, cả về kinh tế và chu trình xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.

    Như chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng, tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung, cơ chế vận hành và quảnlý kinh tế này được duy trì trong một thời gian khá dài và xem như là một đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa xã hội, là cái đổi lập với cơ chế thị trường của CNTB. Sự thực thì không phải hoàn toàn như vậy, nền kinh tế tập trung không chỉ là sản phẩm riêng biệt của CNXH, cũng như nên kinh tế thị trường không phải duy nhất được thiết lập trong CNTB. Nền kinh tế tập trung đã được các nước tư bản áp dụng từ trước nhiều nước nước xác lập chế độ XHCN. Nhưng các nước TBCN đã xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sau khi chiến tranh kết thúc và đã đạt được những thành tựu lớn về kinh tế, xã hội. Nhưng công bằng mà nói, nền kinh tế thị trường cũng chưa phải là cái duy nhất bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển của xã hội.

    Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thị trường – bước phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá – là lẽ đương nhiên. Như vậy, có thể nói rằng nền kinh tế thị trường cũng như

    nền kinh tế tạp trung không phải là thuộc tính đặc thù, cố hữu riêng của một chế độ xã hội nào vấn đề áp dụng mỗi nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn cảnh lịch sử nào cho phù hợp để danh hiệu quả cao nhất. Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên CNXH, bởi thế việc phát triển nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan. Mới chỉ có hơn chục năm đổi mới vữa qua, Việt Nam đã cho nhân dân thế giới ngỡ ngàng. Từ chỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã hội nhập được với các nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Tất cả những thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt được khi chuyển sang nên kinh tế thị trường đã nói lên công cuộc đổi mới ở nước ta là một cuộc cách mạng thực sự.

    Ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không kém phần quan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.

    Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta một lần nữa khẳng định những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

    1. Chuyển sang nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan trong

    quá trình phát triển nền kinh tế đất nước :

    Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo hướng thị trường có sự diều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.

    • nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phương

    thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH.

    Nền kinh tế nước ta hiện nay chỉ có thể nói đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh

    8

    tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo đinh hướng XHCN. Do vậy, những đặc điểm của gia đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề rất có ý nghĩa, rất cần được nghiên cứu, xem xét. Nhận thức được nhứng đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối những đặc điểm đó, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.

    Như chúng ta đã biết, trong nên kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng kinh tế – xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của Nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối… khá nặng nề. ở nước ta trước đây, chế độ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.

    Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta dã từng bước chuyển sang nên kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa. Và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, những thành tự cho phép chúng ta “điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa hcọ và thực tiễn”. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp khả năng của kinh tế thị trường trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nước.

    Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết, là một kiểu quan hệ kinh tế – xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với thị trường, tức là gắn chặt với quân hệ hàng hoá – tiền tệ. với quan hệ cung – cầu …

    Trong nền kinh tế thị trường, nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xa hội quan hệ hàng hoá.

    9

    Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất với hai thành phần tập thể và quốc doanh, thì hiện nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sử hữu đó, trong thực tế vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau, đối khi chúng còn có mâu thuẫn với nhau. Song về tổng htể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh té thị trường.

    Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức, trên thực tếđã đem lại những kêt quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện nhận thức.

    Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, hiện đã dược chúng ta hiểu là không đối lập với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thnàh phần ở nước ta, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với thị trường, một mặt làm cho nền kinh tế nước ta thực sự trở thành một thị trường thống nhất- thống nhất trong cả nước và thống nhất với thị trường thế giới- mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế phải tự khẳng định khả năng và vai trò của mình trong thị trường.

    Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội; nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội.

    10

    Do vậy, những quan niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng CNXH với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    11

    III.             MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG

    NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM :

    1.     Thực chất nền kinh tế thị trường ở Việt Nam :

    1.1. Khái niệm kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó, sản xuất xã hội gắn chặt với thị trường, tức là gắn chặt chẽ với quan hệ hàng hoá

    • tiền tệ, với quan hệ cung cầu… Trong nền kinh tế thị trường nét biểu hiện

    có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá, hay ít nhất thì cũng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá như mắt khâu trung gian.

    1.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

    Thành tựu của 10 năm đổi mới vừa qua ở nước ta đã có tác dụng làm cho nước ta quen dần với các quan hệ hàng hoá. Hàm lượng kinh tế trong các hoạt động xã hội ngày càng được chú ý. Những kế hoạch những hoạt động xã hội bất chấp kinh tế hoặc phi kinh tế đã giảm đáng kể. Bước chuyển sang kinh tế thị trường này đương nhiên không tránh khỏi có những mặt tiêu cực của nó, nhưng dẫu sao nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của những quan hệ thị trường “ở Việt Nam, dù nền kinh tế thị trường mới chỉ đang hình thành, còn đang trong những bước chập chững ban đầu và được điều tiết một cách có ý thức theo định hướng XHCN, song cũng tác động khá rõ đến mọi mặt của đời sống xã hội và để lại đó những dấu ấn của mình…” Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu thuần nhất với hai thành phần kinh tế tập thể và quốc doanh, thì hiện nay cùng với thành phần sở hữu chủ đạo chủ đạo là sở hữu nhà nước thì còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác, về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thị trường.

    12

    Trên con đường CNH – HĐH, việc chúng ta bắt đầu sử dụng thị trường như một công cụ,một phương thức để đảm bảo tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, đã đem lại những kết quả tích cực về cả phương diện, thực tiễn lẫn phương diện nhận thức.

    Một hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới cho chúng ta là, sản xuất hàng hoá cùng với “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường” hiện nay đã được chúng ta hiểu là không mâu thuẫn với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài. Kinh tế thị trường rõ ràng là khách quan là tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH.

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với thị trường, một mặt là nền kinh tế nước ta thực sự trở thành một thị trường thống nhất – thống nhất trong cả nước và thống nhất với thị trường thế giới, mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế buộc phải tự khẳng định mình – vai trò của mình trong thị trường.

    2.     Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta :

     

    +) một số vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin về

    qua hệ giữa kinh tế và chính trị :

    Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì kinh tế quyết định chính trị: “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Trong lịch sử phát triển xã hội loại người không phải báo về cũng có vấn đề chính trị. Xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội xuất hiện giai cấp và Nhà nước thì vấn đề chính trị mới hình thành. Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trung tâm của vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp , các lực lượng xã hội nhằm giành và giữ chình quyền nhà nước và sử dụng chính quyền đó làm công cụ dể xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. Bản thân vấn đềm chính trị ra đời hoàn toàn lad do kinh

    13

    tế quyết định. Chính trị không phải là mục đích, mà chỉ là phưưong tiện để thực hiện mục đích kinh tế. Khi phê phán quan niệm của Đuyrich cho rằng bạo lực chính trị quyết định kinh tế, F.Engen đã khẳng định”bạo lực chỉ là phương tiện, còn lợi ích kinh tế là mục đích”. Trong tác phẩm “Lútvích Phoiơbăc và sự cáo chung của triết học cổ điểnĐức”, F.Engen đã chỉ rõ” để thoả thuận những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng là một phương tiện đơn thuần.

    Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế đọ xã hội. Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho giai cấp đó thực hiện được sự thống trị về kinh tế. Đấu tranh giai cấp, về thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh, được thực hiện thông qua đấu tranh chính trị. Theo F.Engen, “bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh chính trị, xét đến cùng, đều xoay quoanh vấn đề giải phóng về kinh tế”. Để nhấn mạnh vai trò của chính trị V.I.Lenin đã khẳng định” chính trị không thể chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế”Khẳng định đó của Lenin không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò quyết định của kinh tế đối voứi chính trị, mà muôns nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó được xem xét giải quết theo một lập trường chinhs trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền cũng hướng kinh tế phát triển theo lập trường chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Và lập trường chính trị đúng hay sai sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. V.I>Lenin còn khẳng định “không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ vững đuực sự thống trị của mình và do đó cúng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vục sản xuất “. Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêu câùphát triển kinh tế thì kinh tế tất yếu sẽ mở đường đi. Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế là điều kiện quyết định để thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị là thống nhất và biện chứng với nhau trên nền tảng quyết

    14

    định là kinh tế. Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhận thức công cuộc đổi mới ở Việt Nam nói riêng.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991). Đảng ta đã khẳng định:

    “Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cuả CNXH, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mởi trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến tất cả các mối quan hệ đặc biệt nhạy cảm và phức tạp trong xã hội, nên việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn. Nhưng không vì thế mà tiến hành chậm chễ đổi mới chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các bộ, các mối quan hệ giữ Đảng và Nhà nước và cá đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế , xã hội và thực hiện dân chủ.” Điều đó cho thấy Đảng ta đã không tách rời đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đảng ta khẳng định răng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế và đồng thời với đổi mới kinh tế phải tiền hành từng bước đổi mới chính trị, nhưng phải thận trọng không gây mất ổn định về chính trị.

    Tư tưởng trên đã được tiếp tục phát triển một cáh rõ ràng hơn ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7 năm 1996) của Đảng ta. Khi tổng kết các bài học của 10 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế vưới đổi mới chính trị. Đây là một bài học khái quát mới, hoàn toàn khoa học. Nó vừa phù hợp với lý luận của chú nghĩa Mác – Lênin vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta.

    15

    Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn định chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tưởng như một ngịch lý nhưng hoàn toàn có lý và khoa học.

    Ổn định về chính trị, nói một cách khái quát là giai cấp cầm quyền phải tăng cường quyền lực chính trị của mình; Nhà nước của giai cấp đó phải mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh; chế độ xã hội đã xác lập phải được giữ vững. Đối với nước ta hiện nay, ổn định về chính trị thực chất là giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường vai trò của Nhà nước XHCN, bảo vệ và xây dựng thành công CNXH.

    Thực tiẽn trên thế giới chó thây, ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơ bản để phát triển kinh tế. Nó tạo ra môi trường để thu hút nguồn đầu tư trong nước và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh. Những thành tựu trong 10 năm đổi mới vừa qua ở nước ta cũng khẳng định điều đó. Những thành từu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ được ổn định về chính trị.

    Ổn định về chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhưng đổi mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để giữ vững ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cương vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN. Đổi mới chính trị phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có thể tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN, và nhừ đó mới giữ vững ổn định về chịnh trị. Song đổi mới về kinh tế cũng không phải đổi mới một cách tuỳ tiện mà theo một định hướng nhất định. Đó là chuyển từ nền kinh tế kấ hoạch hoá tập trung sang “nền kinh tế nhiều thành phàn, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” hay nói ngăn gọn là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là nhằm thực hiện mục tiêu “dân

    16

    giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, và đó cũng là cơ sở để giứ vững ổn định về chính trị.

    Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đổi lập nhưng thống nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới đổi mới, và đổi mới là điều kiện để ổn định, Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế.

    Như vậy, chúng ta thấy trong quá trình đổi mới ở nước ta, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng bước phù hợp với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế.

    Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm của 10 năm đổi mới vừa qua là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủa nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở Viêt Nam. Khía quát đó hoàn toàn khoa học và có giá trị định hướng cho giai đoạn phát triển tiếp theo – giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    +) Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quân hệ sản xuất:

    Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, mâu thuẫn giữa hai lực lượng này và những biểu hiện của nó xét trên phương diện triết học Mác – Lênin, theo đó lực lượng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình đọ

    17

    phst triển của lực lượng sản xuất. Chính quan hệ sản xuất tự phát triển để phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đó là quy luật kinh tế chung cho sự phát triển xã hội.

    Quá trình mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hế sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt, quyết liệt và cần được giải quyết. Nhưng giải quyết nó bằng cách nào? đó chính là các cuộc cách mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta là một ví dụ. Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện tích chất cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nước ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

    Công nghiệp hiện đại hoá đất nước là chủ trương, biện pháp vừa mang tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nói đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là nói đến nền sản xuất tiên tiến và đó chính là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói đến khoa học, đến sự anh minh, trí tuệ, là nói đến một phương thức tối ưu để thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, nhằm tạo điều kiện và cơ sở vật chất cho CNXH được xây dựng và phát triển. Không thể ăn đói, mặc rách với cái cuốc trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết CNXH, chuyển sang nền kinh tế thị trường. Khẳng định cái mới, đúng đắn tự bản thân nó đã bao gồm cả ý nghĩa phủ định gạt bỏ cả quan niệm cũ sai lầm về điieù kiện và cách thức xây dựng chủ nghĩa xa hội ở nước ta. Trước đây chúng ta thiếu quan tâm đúng mức đến vai trò của trí tuệ; khoa học, đến việc tạo lập cơ sở kinh tế vật chất của CNXH. Bằng chứng là một thời chúng ta đã coi trọng không đúng mức tầng lớp trí thức và khoa học trong môi trường tương quan với đội ngũ những nguời lao động khác. Do thế, hậu quả tất yếu đã xảy ra là khoa học ở nước ta chậm hoặc ít có điều kiện môi trường phát triển, đất nước không thoát khỏi nền sản xuất nhỏ,

    18

    nông nghịp lạc hậu và cũng không thể nói dến công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    +) Mâu thuẫn giữa các hình thái sở hữu trước đây và trong kinh tế thị trường:

    Trước đây người ta quan niệm những hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội là : sở hữu XHCN tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi những điều kiện lịch sử khi tiến hành cách mạng CNXH và XDCNXH quyết định. Sau khi giành được chíh quyền giai cấp công nhân đứng trước hai hình thức sở hữu tư nhân khác nhau. Sở hữu tư nhân tư bản chủ nghiõa và sở hữ tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân phải có thái độ và phát triển giải quyết khác nhau. Đối với hình thức sở hữu tư nhân tư bản chue nghĩa bằng cách tước đoạt hoặc chuộc lại để chuyển thẳng lên sở hữu toàn dân, còn đói với hình thức sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ thì không thể dùng những biện pháp như trên, mà phải kiên trì giáo dục, thuyết phục tổ chức họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng con đường hợp tác hoá hai hình thức. Sở hữu đó là hai con đường đặc thù tiến lên CNCS của giai cấp công nhân và nông dân tập thể.

    Các hình thức sở hữu trước đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.

    Hơn mưòi năm đổi mới đát nước theo định hướng Xhcn ở nước ta đã chúng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xướngvà lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực tiến đã cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu, chứ không phải chỉ có hai thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể như quan niệm trước đây…

    Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm nhiều hình thức sở hữu như sở hữu toàn dân, sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở

    19

    hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này khái quát lại chỉ có hai hình thức sở hữu cơ bản là công hữ và tư hữu, còn các hình thức khác chỉ là hình thức trung gian, quá đọ hoặc hỗn hợp. ở đây , mỗi hình thức lại có nhiều phương thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau. Chúng được hình thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực quản lý.

    Về sở hữu toàn dân : trước đây nguời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng với sở hữu Nhà nước.

    Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần thì đương nhiên là nó bao gồm nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh. Nhà nước quản lý kinh tế với tư cách là cơ quan có quyền lực đại diện cho lợi ích của nhân dân và là đại diện đối với tài sản sở hữu của toàn dân.

    Ở nước ta hiện nay, như hiến pháp và luật đất đai đã quy định rõ :” đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Xét về mặt kinh tế đất đai là phương tiện tồn tại cơ bản của cả một cộng đồng xã hội. Xét về mạt xã hội đất đai là lãnh thổ nơi cư trú của cả một cộng đồng. Thế nhưng khi xét trên cả hai phương diện có thể nói rằng đất đai không thể là đối tượng sở hữu của riêng ai. Tuy nhiên, suy cho cùng, đất đai cũng là tư liệu sản xuất, hay nói chính xác hơn, đó là một bộ phận quan trọng của tư liệu sản xuất. Bởi thế , dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hoá, nó vẫn phải vận động theo quy luật của thị trường và chịu sự điều tiết của quy luật đó. Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện sở hữu và quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân , kể cả quyền chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đai nếu biết giải quyết cụ thể các vấn đề sở hữu , biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng. Chẳng hạn như ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân song nguời nông dân có quyền sử dụng ổn định lâu dàithì có thể đem lại một sức bật cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và

    20

    sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Văn kiện Đại hội VII của Đảng ta đã chỉ rõ:”trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất đuợc giao cho nguời nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề về thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất….” (Đảng cộng sản Việt Nam

    văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII – Nhà xuất bản sự thật- Hà nội năm1991). Như vậy hình thức sở hữu toàn dân ở nước ta hiện nay đã được xác định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế.

    Về sở hữu nhà nước

    Trong thời kỳ bao cấp trước đây không chỉ có nước ta mà còn có những nước khác trong hệ thống các nước xã hội chủ nghiã thưòng đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy mà trong một thời gia khá lâu , ngường ta thường bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước chỉ quan tâm đặc biệt đến sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưói hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết vơí sự phát triển của khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta ra sức quốcdoanh hó nền kinh tế với niềm tin cho rằng chỉ như vậy mới có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàn dân đã trở thành sở hữu không phải của một chủ thể cụ thể nào cả.

    Trong xã hội mà Nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều kiện vận động trrên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nước xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên trong của sở hữu nhà nước ở nước ta có lẽ chủ yếu thể hiện

    • quyền sở hữu đó ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp nhà nước.

    Về sở hữu tập thể:

    Ở nước ta trước đây sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức HTX ( gồm cả HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Vì vậy với hình thức sở hữu này, quyền mua bán hoặc chuyển

    21

    nhượng tư liệu sản xuất, trong thực tế sản xuất và lưu thông hàng hó ở nước ta dễn ra hết sức phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường rất hạn chế, song đôi khi lại có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân trá hình cũng là hiện tượng phổ biến. Để thoát khỏi tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị truờng hiện nay cần phải xác định rõ quyền mua bán và chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất kinh doanh. Chỉ có như vậy thì sở hữu tập thể mới có thể trở thành hình thức sở hữu có hiệu qủa.

    Chúng ta đã biết, HTX không phải là hình thức riêng có, đặc trưng cho CNXH, nhưng nó là một hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chúng ta duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi xây dựng chủ nghĩa xã hội như V.I Lenin đã khẳng định,” chế độ của người xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”.

    HTX là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá. Khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏ phát triển tới một trình độ nhất địng, nó sèt húc đẩy quá trình hợp tác. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá, các nhu cầu về vốn, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm .. đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển. Chính nhu cầu đó đã liên kết những nguời lao động lại với nhau làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta hiện nay đã có những hình thức HTX kiểu mới ra đời do nhu cầu tồn tại và phát triển cuả cơ chế thị trường” HTX đã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao độngvà theo cổ phần, mỗi xã viên cóquyền như nhau đối với công việc chung”(Đảng cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội- 1996 ). Điều này cho thấy kết cấu bên trong của sở hữu tập thể đã thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn ở đất nước ta hiện nay.

    22

    +) Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN

    Chủ tịch Hồ Chí MInh cho rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người XHCH. Yếu tố con người giứ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng , bởi vì con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá. Con nguời phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH . Chúng ta phải bắt đầu từ con người làm điểm xuất phát.

    Kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con nguời với con nguời được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ trên thị trường,.Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với nguời sản xuất và người tiêu dùng. Do nẩy sinh và hoạt động một cách khách quan trong điều kiện lịch sử nhất định Kinh tế thị trường phản ánh đầy đủ trình độ văn minh và phát triển xã hội là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật như sự cạnh tranh lạnh lùng , tính tự phát mù quáng dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ.

    Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nước ta hiện nay , không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị trường. Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển , của cơ chế tập trung quan liêu bao câp,..nền kinh tế nước ta đa xtụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, kinh tế thị trường là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng và phát triển , phục hồi sản xuất, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại. Trên cơ sở đó , đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, những nhu cầu sinh hoạt vật chất cơ bản ngày càng được đápứng một cách đầy đủ và nhanh chóng. Con nguời không

    23

    thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các điều kiện y tế hiện đại để chăm sóc giữ gìn sức khoẻ. Con nguời không thể có trí tuệ minh mẫn, phát triểnnếu các điều kiện vật chất tiến hành các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học không được đáp ứng. Việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN cũng đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển con người cho thế kỷ XXI.

    Trong những năm qua, kinh tế thị trường ở nước ta đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng sáng tạo, làm cho nền kinh tế sống động hơn, bộ mặt thị trường được thay đổi và sôi động hơn. Đây là những kết quả đáng mừng, đáng được phát huy. Nó thể hiện sự phát hiện và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của xã hội. Quá trình biện chứng đi lên CNXH từ khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.

    Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến : kinh tế thị truờng ở nước ta hiện nay không chỉ tạo điều kiện vật chất để xây dựng, phát huy nguồn lực con người mà còn tạo ra môi trường thích hợp cho con người phát triển hoàn toàn, toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều đó buộc con người phải năng động sáng tạo , linh hoạt , có tác phong nhanh nhạy, có đầu óc quan sát , phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả . Từ đó, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con nguời góp phần làm giảm đi sự chậm chạp và trì trệ vốn có của người lao động trong nền kinh tế lạc hậu từ ngần đời con người Việt Nam. Kinh tế thị trường tạo ra những điều kiện thích hợp cho con người mở rộng các quan hệ buôn bán giao lưu, từ đó hình thành các chuẩn mực văn hoá đạo đức theo tiêu trí thị trường như chữ tín trong chất lượng và giao dịch…. Đây cũng là một hướng tốt đẹp bù đắp những thiếu hụt trong hệ giải trí của con người Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế thị trường là những phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con người . Có

    24

    những lúc, những nơi, kinh tế thị trường không những không làm cho người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn, mà ngược lại , còn làm tha hoá bản chất con người, biến con người thành gã nô lệ sùng bái đồng tiền hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích cá nhân , sẵn sàng trà đạp lên nhân phẩm, văn hoá, đạo đức, luân lý… Bên cạnh những tác động tích cực , kinh tế thị trường cũng có nhiều khuyết tật, hạn chế gây ra những tác động xấu. Đơn giản ví dụ như: tệ nạ thương mại hoá trường học, xem nhẹ truyền thống tôn sư trọng đạo. Quan hệ hàng hóa- tiền tệ làm sôi động thị trường nhưng cũng làm sói mòn nhân cách và phẩm chất con người. Ngoài ra, đi kèm với kinh tế thị trường là hàng loạt các tệ nạn xã hội đễ đưa đến rối loạn, khủng hoảng cho gia đình, hạt nhân – tế bào của xã hội . Nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma tuý, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng… là những căn bệnh trầm kha không dễ bề khắc phục trong kinh tế thị trường. Thật không sai khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu.dùng không cẩn thận sẽ bị đứt tay.

    Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường là mục tiêu xây dựng con người XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây chính là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh. Kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng, phát huy những nguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố huỷ hoại đầu độc con nguời. Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không hề đơn giản. Đối với nước ta mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, bằng sự quản lý của Nhà nước theo định hướng CNXH. Đảng ta xác định “sản xuất hàng hoá không đối lập với CHXH mà là thành tựu phát triển nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng XHCN và cả khi CNXH đã được xây dựng”Như vậy Đảng ta vạch rõ sự thống nhất giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa . Việc áp dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm

    25

    vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác nhận đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt các vấn đề này sẽ phát huy được những tác động tích cực to lớn cũng như ngăn ngừa hạn chế khắc phục những tiêu cực, khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vụ công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động văn hoá giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý coi thường các giá trị nhân văn, phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần nhân đạo, thẩm mỹ, các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc như nôị dung của Nghị quyết TW 5 đã nêu. Đây chính là công cụ, là phương tiện quan trọng để tác động, góp phần giải quyết mâu thuẫn đã nêu trên.

    26

    KẾT LUẬN

    Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan phổ biến hình thành từ nhữnh cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự vật, hiện tượng trong bản thân thế giới khách quan… do đó trong hoạt động thực tiễn phân tích từng mặt độc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức được bản chất khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật hiện tượng.

    Cần nắm vững nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ những cái cũ để thiết lập cái mới tiến bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu ttranh cần được coi là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.

    Trong thời kỳ chuyền nền kinh tế ở Việt Nam từ kế hoạch tập chung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướnh Xã Hội Chủ Nghĩa. Chủ chương lãnh đạo của Đảng là rất đúng đắn tuy nhiên trong thực hiện còn nhiều thiếu sót, mâu thuẩn giữa các vấn đề nẩy sinh, nhưng những mâu thuẫn đó lại đòi hỏi chúng ta phải giải quyết có như thế nền kinh tế mới phát triển theo đúng nghĩa đổi mới của nó.

    27

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ————–

    1. Tài liệu hướng dẫn
    1. Giáo trình triết học Mác Lênin tập 2 ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia).
    1. Tạp chí triết học số 1(101) tháng 2 năm 1998.
    1. Tạp chí triết học số 1(107) tháng 2 năm 1999.
    1. Tạp chí triết học số 3(103) tháng 6 năm 1998.
    1. Việt nam chuyển sang nền kinh tế thị trường ( Học viện chính trị quốc gia).
    1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII.

    8 . Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII.

    1. Báo nhân dân ngày 8 tháng 1 năm 1999.

    28


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận toán cao cấp C2


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Vi%E1%BB%87c-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-FDI-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    1         VIỆC SỬ DỤNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM

    1.1       MỞ ĐẦU

    1.1.1     NỘI DUNG

    1.2       Vai trò của FDI đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam

    • FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

    Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước. Trong đó, vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI. Đối với các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển, thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn thì FDI lại càng đặc biệt quan trọng. FDI cung cấp một lượng vốn cần thiết cho nền kinh tế, thúc đẩy các nước này đầu tư để phát triển, hay nói cách khác, nguồn vốn FDI góp phần tạo ra “một cú huých lớn”, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp các nước nghèo và các nước đang phát triển thoát khỏi “vòng đói nghèo luẩn quẩn” .

    • FDI giúp tạo việc làm, cải thiện nguồn nhân lực

    Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là hai nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư, làm cho số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ở các nước này ngày càng tăng nhanh. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân ở những nước được đầu tư này.

    FDI cũng có tác động tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực của nước được đầu tư thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Các cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng. Thông qua các tác động kể trên, chất lượng nguồn nhân lực ỏ những nươc nhận đầu tư càng tăng lên đáng kể, thậm chí còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.

    • FDI góp phần chuyển giao và phát triển công nghệ

    Công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.

    Chính vì vậy, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) lại càng được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Bởi vì các cơ sở vật chất, kĩ thuật công nghệ của các doanh nghiệp FDI cuối cùng cũng sẽ được chuyển giao lại cho nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, khả năng phát triển công nghệ còn phụ thuộc vào quá trình chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà.

    Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện bởi các các công ty xuyên quốc gia( TNC), dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủ nhà thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như  tiến bộ công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing.

    Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các TNC còn góp phần làm tăng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà. Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh), các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ  công nghệ nguồn, sau đó cải tiến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển.

    • FDI giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu

    Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh các yếu tố sản xuất của nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Thực tế hiện nay, các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế. Do đó, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này. Thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC có vị thế và uy tín trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế thực hiện. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích thông qua việc sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất và thực hiện chuyên môn hóa sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.

    • FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó, các quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho FDI hoạt động. Ngược lại, chính FDI cũng lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề mới; nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển năng suất lao động ở nhiều ngành kinh tế. Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xóa.

    1.2.1     Hạn chế của việc sử dụng vốn FDI

    Thứ nhất, thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn FDI chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những mặt hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước.

    Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra. Do đó, hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà, ba tiền thóc”.

    Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.

    Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI, nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. Đặc biệt, các dự án xây dựng sân golf ở đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.

    1.2.2     Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI

    • Số vốn FDI đăng kí

    (Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Năm 2006 cả nước thu hút được 10,2 tỷ USD vốn đăng ký.

    Năm 2007 tăng lên 20,3 tỷ USD. Tăng 100% so với năm 2006 với 1406 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2008 đạt kỷ lục trên 64 tỷ USD, tăng trên 5 lần so với năm 2006 với 1171 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2009, ước đạt 21,48 tỷ USD bằng 1/3 so với năm 2007.

    Trong quí 1 năm 2010 vốn đăng ký là 2,139 tỷ USD, bằng 29% so với cùng kỳ năm 2009.

    • Cơ cấu FDI trong nền kinh tế
    1. Theo khu vực kinh tế

    Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 56,7%,

    Khu vực dịch vụ chiếm 41,8%,

    Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm 1,2% tổng vốn đăng ký.

    Dựa vào số liệu trên, ta nhận thấy có sự phân hóa nguồn vốn FDI ở các khu vực kinh tế. Nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; trong khi ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỷ lệ vốn đầu tư FDI rất thấp.

    Ngoài ra, ta cũng có thể nhận thấy hiện trạng sau đây: Luồng vốn FDI vẫn tiếp tục chảy vào lĩnh vực bất động sản và du lịch. Đây là lĩnh vực chiếm rất nhiều diện tích trong đó có cả diện tích đất nông nghiệp có giá trị tăng cao vì nằm ở những khu đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung, khu du lịch. Trong các dự án đầu tư vào bất động sản, nguồn vốn thực các doanh nghiệp đầu tư vào chỉ khoảng 15% đến 20%, còn lại chủ yếu là vay của các ngân hàng thương mại và huy động từ khách hàng. Thế nhưng kiểu kinh doanh này lại đem lại lợi nhuận rất cao, làm xuất hiện tình trạng một lượng lớn vốn FDI đổ vào các dự án bất động sản có thể phá vỡ quy hoạch phát triển trong lĩnh vực này và dẫn đến nhiều hệ lụy. Riêng trong năm 2008, ước tính khoảng 30% tổng vốn đầu tư đã thực hiện nằm trong ngành bất động sản và khách sạn, so với 13% đầu tư vào ngành công nghiệp nhẹ và 3% trong ngành nông nghiệp và thực phẩm. Đến năm 2009 con số FDI đầu tư vào bất động sản đã tăng lên 40%. Những khu vực này không tạo được nhiều việc làm và có xu hướng thâm dụng nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thanh toán. Thực trạng này dẫn tới hệ lụy là lạm phát, thất nghiệp đã tác động trực tiếp đến chi phí sinh hoạt và tiền lương thực tế.

    1. Theo địa phương

    Cơ cấu FDI theo vùng có sự chuyển dịch tích cực. Ngoài hai vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, nguồn vốn FDI thời gian gần đây đã dịch chuyển đáng kể sang một số điạ bàn khác thuộc các tỉnh Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long như Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Phú Yên, Kiên Giang…  là những địa bàn gặp nhiều khó khăn hơn.

    • Thực trạng thu hút đầu tư hiện nay
    • Về công tác quy hoạch:

    Nhiều địa phương cấp phép tràn lan, khai tăng vốn đăng ký của dự án để có thành tích, dẫn đến việc cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng của thị trường, gây lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp ( đơn cử như trường hợp cấp phép các dự án sản xuất thép, sân Golf, dự án cảng biển…). Các ưu đãi quá mức về thuế (đã biến tướng để tránh các quy định của Nhà nước về thuế), đất đai, lao động… được nhiều tỉnh  tự ý “phá rào” đưa ra làm thiệt hại quyền lợi đất nước.

    Hiện nay, một số địa phương chạy đua thu hút vốn đầu tư dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Các địa phương này tìm mọi cách để thu hút FDI; họ thực hiện những ưu đãi quá mức cần thiết làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh thái, du lịch vô giá của đất nước có thể bị bán rẻ. Hệ quả là phần lợi nhuận mang lại cho Việt Nam từ FDI không tương xứng với giá trị của nguồn tài nguyên vĩnh viễn bị mất đi. Mặt khác, một số dự án đầu tư không được kiểm duyệt kĩ dẫn đến hậu quả là không những chất lượng dự án không cao, không tạo ra được nhiều việc làm và giá trị xuất khẩu mà thậm chí còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    Trong khi dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam thì số việc làm được tạo ra vẫn có tăng, song chủ yếu lại là lao động rẻ mạt, không có kỹ năng. Theo điều tra năm 2007, các công ty nước ngoài đầu tư ở Việt Nam nhận cả những công nhân mù chữ và đã mở các lớp “xóa mù” chỉ để đảm bảo công nhân có thể đọc được các thông báo an toàn và những chỉ dẫn cơ bản. Về danh nghĩa, các doanh nghiệp FDI được tiếng là thu hút nhiều lao động nhưng thực chất hiện nay các doanh nghiệp này đang tìm cách khai thác triệt để nguồn lao động rẻ tiền, “vắt kiệt” mồ hôi của công nhân mà không quan tâm đào tạo trình độ và kỹ năng cho họ. Trên thực tế, mặc dù khu FDI thu hút 1,7 triệu lao độngnhưng đều là những lao động không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn ngày. Một điểm bất cập khác là dòng vốn đầu tư nước ngoài hầu như chỉ rót vào những ngành có công nghệ tương đối thấp, nặng về lắp ráp, gia công mà một số doanh nghiệp thực chất là các phân xưởng của công ty mẹ bên nước ngoài.

    • Về vấn đề đất đai và công tác giải phóng mặt bằng:

    Công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục. Nhiều địa phương đang lâm vào tình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp phép đầu tư. Việc thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay.

    Vấn đề quy mô vốn và diện tích sử dụng đối với một số dự án FDI quy mô lớn cũng đang là vấn đề đặt ra cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Việc khai tăng nhu cầu sử dụng đất sẽ tạo ra áp lực lớn cho nhà nước về tài chính cũng như các vấn đề xã hội trong quá trình giải phóng mặt bằng khu vực dự án, đồng thời cũng gây lãng phí nguồn lực về đất đai của quốc gia vốn ngày càng hạn hẹp. Không nên chia bãi biển cho các dự án quá nhỏ, manh mún (như ở “thành phố resort” Phan Thiết), cũng không nên tạo đặc quyền cho các dự án quá lớn, trải khắp một bãi biển rộng (như đoạn đường từ Đà Nẵng đi Cửa Đại, Hội An), vì như vậy sẽ làm cho các dự án nhỏ không đủ quy mô để phát huy lợi thế về thiên nhiên của địa phương và hiệu quả không cao, còn các dự án lớn thì tạo nguy cơ chiếm dụng đất trong tương lai, khi các bãi biển của chúng ta trở thành những khu du lịch có sức hút, những mảnh đất hiện tại được cấp với giá thấp sau này sẽ biến những người chủ sở hữu trở thành những kẻ thống trị những bãi biển giàu có đó.

    • Về xúc tiến đầu tư:

    Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực.

    • Thực trạng thực hiện vốn FDI
    1. Số vốn FDI thực hiện

    Vốn thực hiện của các dự án cũng có sự tăng trưởng đáng kể:

    • Năm 2006 là 4,1 tỷ USD
    • Năm 2007 đạt 8 tỷ USD
    • Năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD,( gấp gần 3 lần năm 2006 va đạt mức cao nhất trong hơn 20 năm qua)
    • Năm 2009 ước đạt 10 tỷ USD số vốn này chỉ giảm khoảng trên 10% so với năm 2008. Đây là kết quả đáng khích lệ trong điều kiện vốn FDI quốc tế giảm nhiều và FDI của nhiều nước trong khu vực giảm 20-30%. Thực trạng này phản ánh độ tin cậy khá cao của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam, và với triển vọng tình hình kinh tế – xã hội năm 2010 được dự báo khá lạc quan có thể hy vọng FDI sẽ lại khởi sắc mạnh mẽ tại Việt Nam.

    Tuy nhiên tốc độ giải ngân vốn vay còn rất thấp: Tỷ lệ giải ngân so với vốn đăng ký của năm 2006 là 46,6%, năm 2007 là 37,6%, năm 2008 là 17,9% năm 2009 là 46,6% . Báo cáo tình hình FDI 3 tháng đầu năm 2010 vừa được công bố cho thấy, giải ngân vốn FDI trong tháng 3/2010 đã nhảy một bước dài khi đạt kỷ lục 1,4 tỷ USD nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong quí 1 năm 2010 lên 2,5 tỷ USD.

    Tỷ lệ vốn giải ngâp thấp, theo đánh giá của các chuyên gia là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của suy giảm kinh tế Việt Nam và tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nước ta cùng với xuất nhập khẩu suy giảm, chứng khoán khó khăn.

    Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh “Tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn tiền đổ vào khiến chúng ta đang đứng trong một vòng luẩn quẩn. Ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động dẫn đến việc tăng lãi suất cho vay. Gánh nặng này đè lên vai các doanh nghiệp và họ “chia sẻ” nó sang hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ… khiến cho giá cả tăng vọt và kẻ chịu trận cuối cùng chính là người tiêu dùng”.

    1. Hiệu quả của các dự án đầu tư

    Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp có FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao và đổi mới công nghệ cho nền kinh tế. Nhưng trên thực tế, một báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm từ 2007 – 2009, đã đánh giá: “khu vực FDI kém hiệu quả nhất, hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ”. Tại sao lại như vậy?

    Có một bộ phận những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng những hình thức rất tinh vi được gọi là “chuyển giá ” để trốn thuế. Chuyện này thường xảy ra trong các công ty con đặt tại Việt Nam và công ty mẹ đặt tại nước ngoài.

    Các cuộc điều tra cũng đã cho thấy, khi nhập hàng vào gia công, các công ty con thường khai khống giá thành nguyên liệu nhập của công ty mẹ lên rất cao và khai thấp đi giá bán hàng khi xuất; kê khai giá nhập thiết bị cao chót vót để rồi hạch toán khấu hao lớn, làm tăng chi phí giá thành sản phẩm, dẫn đến việc trong sổ sách chứng từ kế toán họ triền miên khai thua lỗ.

    • Tác động đến sự phát triển kinh tế
    1. Tác động đến môi trường, tài nguyên, sinh thái

    Một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải, sự cố tràn dầu,…  trong các dự án FDI đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái trong khi các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện.

    FDI cũng ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái, sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống và  nơi cư trú của các động – thực vật hoang dã đã bị xáo trộn, phá hủy.

    Sự việc công ty Vedan phá hoại môi trường Việt Nam suốt 14 năm được lấy làm ví dụ điển hình nói về tác động của các doanh nghiệp FDI tới môi trường Việt Nam và việc quản lý của các cấp chính quyền với các dự án đầu tư . Sự vi phạm nghiêm trọng những quy chuẩn về bảo vệ môi trường của nhiều công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh hiện nay và sự làm ngơ của chính quyền địa phương đã , đang, và sẽ phá hủy những tài sản chung của xã hội chỉ để phục vụ mục đích riêng của một nhóm người thiểu số .

    “Không chỉ có Vedan, thống kê hiện nay trong số hơn 100 khu công nghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Bộ TN&MT đã, đang và sẽ tổ chức nhiều đoàn thanh tra đi khắp các địa phương, lập danh sách đen các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, có khả năng bị đóng cửa, trong đó sẽ đặc biệt chú ý đến các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, Khánh Hoà, lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy….” – Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết. Sự “đặc biệt chú ý” này có thể giải quyết được bao nhiêu phần trăm tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đang hiện hữu ở các khu công nghiệp? Và tại sao lại chỉ quan tâm đến những doanh nghiêph gây ô nhiễm “ nghiêm trọng”? Chúng ta cần phải có những biện pháp thiết thực chứ không phải là những lời nói suông như thế. Tài nguyên thiên nhiên, sinh thái của nước ta có thể bi bán rẻ cho đến khi có một biện pháp được thực hiên một cách hiệu quả để giải quyết thực trạng này, nếu không thì cái giá phải trả có thể lớn hơn rất nhiều so với lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng ngắn hạn.

    1. Tác động đến dân cư những vùng có dự án đầu tư

    Các cộng đồng dân cư nghèo ven biển buộc phải hy sinh nhà cửa, ruộng vườn để nhường chỗ cho những resort 5 sao lộng lẫy hay các sân golf thênh thang, có được đền bù thỏa đáng hay không? Thật sự là không thể không lo ngại khi hàng loạt mảnh đất đắc địa chạy dọc “mặt tiền” bờ biển Quảng Nam, Đà Nẵng đều được “cắt” để “chia lô” cho các dự án resort, sân golf, khu biệt thự có vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi các dự án đến các địa phương, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, nông dân – đối tượng đông nhất trong xã hội mà trên 83% lao động chưa qua đào tạo bị mất kế sinh nhai, khiến cho nền kinh tế phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Tình trạng thiếu việc làm khiến thu nhập và mức sống của nông dân ngày càng thấp tương đối so với mặt bằng chung của xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

    • Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án

    Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng chỉ số ICOR  của khu vực FDI rất cao,làm giảm hiệu quả dầu tư của khu vực này. Để có cái nhìn toàn diện về vấn đề nay, hãy xem xét một số ví dụ sau đây:

    Vào thời điểm cấp phép, tháng 3/2007, dự án xây dựng nhà máy thép cán nóng liên doanh trị giá 527 triệu USD của Tập đoàn ESSAR Steel, Ấn Độ (65% vốn) với Tổng Công ty Thép Việt Nam (20% vốn) và Tổng Công ty Cao su Việt Nam (15% vốn) đã hoàn chỉnh hồ sơ mời thầu để có thể khởi công vào cuối năm 2007. Đáng tiếc là việc vay vốn ngân hàng của ESSAR bị trục trặc nên dự án đã không động thổ được. Năm 2008, đối tác này đã đề nghị tạm dừng triển khai dự án để nhượng bớt phần vốn pháp định cho đối tác khác. Đến nay, tập đoàn đã phải xin rút tên ra khỏi dự án và nếu như 2 tổng công ty của Việt Nam không xoay xở được thì dĩ nhiên, dự án cũng có nguy cơ bị huỷ bỏ.

    Dự án khổng lồ gần 10 tỷ USD – khu liên hợp thép Cà Ná tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cũng sẽ bị rút giấy phép đầu tư. Đây cũng là dự án FDI có qui mô vốn lớn nhất từ trước tới nay. Dự án là “sản phẩm” liên doanh giữa Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Vinashine (30% vốn) và Tập đoàn Lion Group – Diverssifie Holding Behard (70% vốn) của Malaysia.

    Dự án liên hợp thép Tycoon – E.United ở Dung Quất, Quảng Ngãi, được cấp phép vào tháng 9/2006 với tổng vốn 1,2 tỷ USD, dự án này đã gây xôn xao dư luận và khởi động cho một chuỗi các dự án FDI “tỷ đô” ồ ạt vào Việt Nam sau đó .Thực tế, nhà máy thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy sự thay đổi như chong chóng của phía các nhà đầu tư. Ban đầu, chủ đầu tư là liên doanh giữa Tập đoàn Tycoon (Đài Loan) và Jinnan (Trung Quốc). Chỉ sau gần 1 năm, Jinnan đã rút tên khỏi dự án và thay vào đó là Công ty E-United của Đài Loan với tỷ lệ góp vốn là 90%. Tycoon chỉ còn góp 10% vốn, đồng thời, nâng vốn đăng ký đầu tư lên 3 tỷ USD.

    Mỗi dự án liên hợp thép đã chiếm ít nhất từ 1000-3000 ha đất, chưa kể diện tích cảng biển và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Khi dự án bị treo thì đồng nghĩa một diện tích đất lớn, cái mà nghìn hộ dân đã phải nhường mặt bằng, đã bị chiếm dụng trong nhiều năm, lãng phí hiệu quả kinh tế có thể thu được trên mảnh đất đó, làm lỡ mất cơ hội cho các nhà đầu tư khác đủ năng lực hơn và lỡ cả cơ hội có được lợi nhuận nếu như dự án đúng tiến độ.

    Cùng với thép, vốn FDI đổ quá nhiều vào bất động sản nằm trong tầm soi của nhiều chuyên gia kinh tế. Đây là những dự án đầu tư không lành mạnh, không có ích cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng, không chuyển giao công nghệ cao trong khi lại chiếm dụng nhiều đất đai.

    Chẳng hạn như dự án về khách sạn Lotus. Dự án có tổng vốn đầu tư là 500 triệu USD, nằm trong diện các công trình trọng điểm chào đón Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Dự án đã được cấp phép cho nhà đầu tư Riviera Corporation của Nhật Bản vào năm 2007 và nhà đầu tư này đã cam kết sẽ hoàn thành công trình vào cuối năm 2009. Thế  nhưng, tin tức trên VietNamNet cho thấy Riviera Corporation đã chính thức có văn bản xin rút tên khỏi dự án. Lý do chính vẫn là không thu xếp được tài chính.

    Cũng nằm trong mục tiêu hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội và cũng đứng trước nguy cơ đổ bể là dự án tổ hợp trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê cao 65 tầng mang tên Hanoi City Complex của nhà đầu tư Coralis, Luxembourg. Vào thời điểm được cấp phép cuối năm 2006 với tổng vốn đăng ký 114 triệu USD, tổ hợp này đã được quảng cáo hoa mỹ là toà nhà chọc trời của Hà Nội, là dự án có qui mô vốn FDI lớn nhất của Hà Nội. Nhà đầu tư đã cam kết sẽ triển khai trong 3 năm và phấn đấu hoàn thành trước năm 2010.

    Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung uơng, Bộ Kế hoạch đầu tư đã bóc tách các con số này: năm 2008, ước khoảng 70%  vốn của các dự án  FDI đều là vốn vay, trong đó, một phần không nhỏ là vay trong nước. Một trong các hệ lụy, theo phân tích của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, là số vốn FDI được công bố không phản ánh đúng đồng vốn thực mà các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.Điều nay dẫn đến khi nguồn vốn trong nước bị thiếu hụt thì các dự án cũng chỉ có cách là nằm chờ hoặc rút lui. Hậu quả để lại, tất nhiên lại là nhân dân. Đây là hệ quả của việc cấp phép dễ dãi tại các địa phương. Việc thẩm định năng lực chủ đầu tư của chính quyền cấp tỉnh rõ ràng là có vấn đề.

    Nhìn chung, tuy Việt Nam thu hút được nhiều vốn FDI nhưng sự phân bổ vốn lại không đều giữa các ngành, nghề, các thành phần kinh tế. Việc giải ngân vốn cững chưa hiệu quả, quy trình xem xét và thẩm định dự án còn nhiều bất cập. Các yếu tố trên dẫn đến kết quả là việc sử dụng vốn FDI của Việt Nam không hiệu quả.

    1.2.3     Nguyên nhân sử dụng vốn FDI không hiệu quả

    Bên cạnh những nguồn lực nội tại của ngành kinh tế, FDI giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Một câu hỏi được đặt ra là: liệu nguồn vốn này đã được sử dụng một cách hiệu quả? Theo dõi số liệu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì chúng ta dễ dàng nhận thấy lượng vốn đầu tư đã gia tăng đáng kể, với mức kỉ lục của năm 2008 hơn 64 tỉ USD. Nhưng lượng giải ngân chưa nhiều; việc sử dụng vốn chưa thực sự đạt hiệu quả.

    Ta có hai chỉ số chính để đo lường hiệu quả của đầu tư FDI: ICOR (đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp). ICOR càng cao thì càng là dấu hiệu xấu, chứng tỏ vốn đầu tư trở thành yếu tố quá quan trọng trong khi các nhân tố tăng trưởng khác lại không phát huy. Ngược lại, TFP càng cao càng là dấu hiệu tốt. Trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Vậy Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả  là thấp nhất. Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công “cũng có mang lại đổi mới công nghệ”. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). “Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ mạt, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết”.

    Đó là một thực trạng đã và đang tồn tại. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn này còn gặp nhiều khó khăn, báo điện tử Vneconomy có điểm qua  các “nút thắt” lớn trong vấn đề này:

    Thứ nhất, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa các luật chung và luật chuyên ngành. Bên cạnh đó thủ tục hành chính rườm rà, nhiêu khê là một cản trở không nhỏ. Bài “Thủ tục hành chính “ngáng chân” doanh nghiệp FDI” số ra ngày 21/05/2009 trên báo Đời sống & Pháp Luật: “Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam cho hay, qua khảo sát ý kiến thì có 5% doanh nghiệp Hàn Quốc có ý định giảm qui mô kinh doanh ở Việt Nam và có 2% doanh nghiệp muốn chuyển đầu tư từ Việt Nam sang nước khác.” Thủ tục hành chính phức tạp như chuyện giải thích về luật rất khác nhau là một trong những lý do lớn để số doanh nghiệp Hàn Quốc này muốn rời bỏ Việt Nam trong tương lai.

    Thứ hai, công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung.

    Thứ ba, sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu,

    Thứ tư, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội… mà còn ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương…

    Theo nguồn tin từ trang tinmoi.vn thì việc tìm kiếm lao động lành nghề, nhân lực quản lý cấp trung gian có trình độ là vấn đề đau đầu của đa số các Doanh nghiệp FDI. Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Thái Lan tại Việt Nam, ông Panat Krairojananan lo lắng, các DN nước ngoài khi mới đến Việt Nam, đôi khi vẫn phải thuê người nước ngoài vào làm, bởi lẽ họ khó mà tìm được người giỏi ở Việt Nam ngay. Tuy nhiên, mức thuế thu nhập cá nhân  đối với lao động nước ngoài khá cao, xu hướng sắp tới là công ty Thái Lan sẽ phải cắt giảm lao động nước ngoài và họ sẽ phải tìm người Việt Nam cho các vị trí quan trọng. Thế nhưng, đây là việc vốn dĩ vô cùng khó, bởi vì: “Một số sinh viên Việt Nam đã ra trường mà những tính toán cơ bản lại không tính được”( Harry Beirnaert, Chủ tịch Hiệp hội DN Bỉ – Luxembourg tại Việt Nam).

    Trong thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài hầu như chỉ mới khai thác nguồn lao động chi phí thấp chứ chưa thực hiện nhiều việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao và đào tạo nhân lực để phát triển công nghiệp nội địa. TS. Nguyễn Quang Hồng, Đại học Kinh tế quốc dân đã dẫn kết quả một cuộc khảo sát của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) được thực hiện trong hơn 100 doanh nghiệp điện tử gần đây, cho thấy các công ty trong nước tuyển dụng từ 10 – 64% lao động có trình độ cao đẳng trở lên, trong khi đó con số tuyển dụng cùng trình độ tương ứng ở khu vực FDI chỉ ở mức từ 4 – 10%.

    Sau sự kiện Công ty Sanyo thành lập nhà máy sản xuất linh kiện điện tử đầu tiên bằng  vốn FDI, các ngành công nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chỉ sản xuất được những mặt hàng đơn giản, những sản phẩm công nghệ cao cũng mới chỉ là lắp ráp. Chính vì các công đoạn cần kỹ thuật cao chưa phải do lao động Việt Nam đảm nhận, nên việc học hỏi, tích lũy kinh nghiệm qua thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp FDI của nhân lực trong nước chưa được nhiều. Xu hướng của các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài đang tăng lên, trong đó gần 50% lao động phổ thông và chỉ có gần 45% có trình độ đại học trở lên.

    Báo cáo của Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế Tp.HCM (nay là Viện Nghiên cứu phát triển), cho biết lao động không có chuyên môn kỹ thuật tại Tp.HCM đến năm 2010 chiếm tỷ lệ khoảng 65,6%; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật kể cả công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng và đại học chỉ khoảng 34,4%. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải có giải pháp để tăng cường năng lực kỹ thuật cho lao động Việt Nam để tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI.

    Thứ năm, công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục trong môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nói chung và yêu cầu  thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng. Nhiều địa phương đang lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

    Việc đền bù thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay, đặc biệt đối với dự án 100% vốn nước ngoài. Bên cạnh đó là tình trạng cho thuê đất với “giá rẻ bất ngờ” của một số địa phương, điển hình là vụ việc xảy ra ở tỉnh Quảng Nam. Tỉnh này đã cho một doanh nghiệp nước ngoài thuê đất với giá 2,75 đồng một năm trên 1 mét vuông, rẻ hơn gấp nhiều lần so với giá 1 điếu thuốc lá- báo điện tử Vietnamnet đã đưa tin.

    Thứ sáu, chủ trương phân cấp trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài là đúng đắn. Tuy nhiên, trong điều kiện hệ thống quy hoạch chưa đồng bộ, kịp thời, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại một số địa phương còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ nên đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh thiếu lành mạnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, thiếu sự liên kết vùng, khu vực, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư.

    Một số địa phương không thẩm tra kỹ về năng lực của các nhà đầu tư trong các dự án có quy mô lớn, chạy đua với nhau trong việc cấp phép các dự án lớn có quy mô hàng tỷ USD. Do vậy, khả năng triển khai các dự án này sẽ rất khó khả thi theo đúng cam kết của nhà đầu tư.

    Thứ bảy, việc xử lý chất thải của các dự án đầu tư nước ngoài tập trung tại các khu công nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điểm đã và đang ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên cũng như xã hội, trong đó đặc biệt là đối với các dự án sản xuất quy mô lớn.

    Cuối cùng, công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Nguyên nhân chính là do chưa có một chiến lược tổng thể về xúc tiến đầu tư, làm cho công tác xúc tiến đầu tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống; trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động; công tác quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do còn thiếu một văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này.

    Cũng theo bài “Cảnh báo hiệu quả của FDI” trên trang đời sống & Pháp luật, hiệu quả đầu tư thấp còn có nguyên nhân rất lớn từ phía công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém. Việc thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương đang “thoáng” tới mức không cân nhắc thật cẩn trọng ba yếu tố mấu chốt: quỹ đất; vấn đề đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ; chất lượng sản phẩm đầu ra. Hai yếu tố sau có liên quan trực tiếp tới công nghệ. Tuy nhiên việc “thoáng” như thế đã gây ra hệ quả là các công ty ở Việt Nam giống như các “phân xưởng” của công ty mẹ ở nước ngoài: lương lao động  rất rẻ, bệnh nghề nghiệp nhiều. Có nhà máy mấy chục ngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuần gọi là “đào tạo”, nhập các máy móc, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Như vậy việc quản lý yếu kém của các nhà chức năng đã dẫn tới việc biến nước ta thành nơi chứa dựng các thiết bị lạc hậu và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt ở nước ta để sinh lợi cho họ. Chính “Bộ KH-ĐT cũng thừa nhận rằng phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý đầu tư và xây dựng còn kém, thường lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chính sách, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để trục lợi bất chính nhưng lại chưa được xử lý triệt để.”- theo báo dautuxaydung.com.

    Như vậy để đạt được hiệu quả cao có lẽ phải bắt đầu từ việc xem lại cơ chế chính sách trong quản lý đầu tư và tính nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật. Đồng thời việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cũng là một vấn đề cấp thiết cần quan tâm.

    1.3       KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

    1.3.1     Kiến nghị

    1.3.2     Giải pháp

    Trên cơ sở những phân tích tổng quan, tình hình, thực trạng sử dụng FDI … ở Việt Nam, các nhà kinh tế, các chủ doanh nghiệp, các chuyên viên phân tích đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết tình trạng sử dụng nguồn vốn FDI sẵn có không hiệu quả  như sau:

    Thứ nhất, cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện. Mạnh dạn hơn nữa trong việc cho phép và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhất là những công trình hạ tầng đang xây dựng dở dang và đã kéo dài nên được hoàn thành tránh sự lãng phí không đáng có.

    Thứ hai, rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác nước ngoài có liên quan đều lo ngại về những luật lệ và quy định mới, do đó cần đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

    Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

    Thứ tư, từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Phải xác định cho đúng những đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất  lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu.

    Thứ năm, cần xây dựng những quy định cụ thể, chặt chẽ để ngăn chặn các hoạt động huy động vốn đầu tư trong nước của các nhà đầu tư nước ngoài ở nhiều dự án, nhất là các dự án bất động sản xây dựng căn hộ và văn phòng cho thuê. Hình thức này đang gây ra tình trạng thu hút vốn của các doanh nghiệp trong nước, tạo thêm trở ngại cho việc phát triển khu vực kinh tế trong nước trong điều kiện khó khăn hiện nay. Ðặc biệt, các cơ quan quản lý cần chú trọng hơn nữa đến những ảnh hưởng về môi trường và các thiệt hại về tài nguyên trong việc cấp phép các dự án FDI; giám sát chặt chẽ việc thực hiện các cam kết không gây ô nhiễm môi trường của các dự án đầu tư; nghiêm khắc xử lý những hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường, làm thiệt hại lợi ích của nhân dân.

    Ðể tận dụng những lợi thế và biến thách thức thành thời cơ trong thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI, nhiều chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, và đẩy mạnh giải ngân, trong đó chú trọng đến các địa phương có tiềm năng, song chưa tạo được bước đột phá trong thu hút FDI. Tập trung giải quyết những yếu kém về kết cấu hạ tầng giao thông, điện nước; về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng; về năng lực của bộ máy quản lý nhà nước; tháo gỡ những khó khăn về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn FDI đăng ký. Cần rà soát chặt chẽ và kiên quyết xử lý những dự án “treo” kéo dài, chủ đầu tư không có khả năng thu xếp vốn, dự án chuyển đổi mục đích… tạo cơ hội cho các đối tác khác vào đầu tư, tránh lãng phí về cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất, kinh doanh.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]