Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

    TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

    TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%80I-CH%C3%8DNH-VI-M%C3%94-C%E1%BB%A6A-NG%C3%82N-H%C3%80NG-CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-X%C3%83-H%E1%BB%98I-V%E1%BB%9AI-CH%C6%AF%C6%A0NG-TR%C3%8CNH-GI%E1%BA%A2M-NGH%C3%88O-B%E1%BB%80N-V%E1%BB%AENG-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

     

    MICROFINANCE OF VIETNAM BANK FOR SOCIAL POLICIES TO SUSTAINABLE POVERTY REDUCTION PROGRAMMES IN VIETNAM

     

     

    TÓM TẮT

     

    Trong những thập kỷ gần đây, hoạt động tài ch́nh vi mô trên thế gíi đang phát trỉn nhanh chóng, góp phần mang đến thành công trong cuộc chiến xóa đói nghèo. Tại Việt Nam, thực hiện Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, Ngân hàng Ch́nh sách xã hội (Vietnam Bank for Social Policies – VBSP) được thành lập năm 2002 v́i mục đ́ch đ̉ thực hiện ch́nh sách t́n dụng ưu đãi đối v́i ngừi nghèo. Bằng khoản vay t́n dụng nh̉, điều kiện tiếp cận phù hợp, VBSP đã giúp hàng triệu hộ nghèo được tiếp cận các khoản vay, qua đó, nhiều ngừi đã thoát kh̉i đói nghèo và nâng cao thu nhập. Tuy nhiên do không v̀ mục đ́ch lợi nhuận nên VBSP rất khó khăn trong việc huy động tiền gửi, chưa thu hút được khoản tiết kiệm nh̉ từ ngừi nghèo như các mô h̀nh tài ch́nh vi mô cho ngừi nghèo thành công trên thế gíi. Bài viết sẽ đánh giá những thành công và những hạn chế c̉a VBSP trong hoạt động tài ch́nh vi mô nhằm thực hiện ch́nh sách xoá đói nghèo bền vững tại Việt Nam, qua đó, đề xuất một số hàm ý ch́nh sách cho quá tr̀nh phát trỉn VBSP.

     

    Từ khoá: Tài chính vi mô; Ngân hàng chính sách xã hội; Giảm nghèo

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Tài chính vi mô (TCVM) đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong công cuộc giảm nghèo đói tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Sự phát

     

    Nguyễn Thế Bính(*), Phạm Anh Thủy(**) ABSTRACT

     

    In recent decades, microinance activities all over the world have been developing very fast and contributing to the success of hunger eradication and poverty reduction. In Vietnam, in order to implement National Strategy on hunger eradication and poverty reduction, Vietnam Bank for Social Policies – VBSP) was established in 2002 to perform preferential credit policies for the poor. With small credit loans and suitable approach, VBSP has helped millions of poor families to get access to loans, escape from poverty and increase their income. However, VBSP has a lot of dificulties in mobilizing deposits due to its non-proit aim and has yet to draw small savings from the poor like successful microinance models for the poor in the world.

     

    This article will evaluate VBSP’s successes and limitations in microinance activities to implement sustainable policies on hunger eradication and poverty reduction in Vietnam and propose a number of policies for VBSP’s growth.

     

    Key words: Vietnam Bank for Social Policies; Microinance; Poverty Reduction

     

    triển mạnh mẽ của TCVM về phạm vi tiếp cận và các dịch vụ cung ứng, đặc biệt là các dịch vụ về tín dụng trong những năm qua đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho công cuộc giảm nghèo.

    Vai trò của TCVM đối với giảm nghèo cũng

     

     

    • TS, Trường đại học Ngân hàng TP.HCM, 36 Tôn hất Đạm, Q.1, TP.Hồ Chí Minh – ĐT: 0989959497

     

    – Email: [email protected].

    (**) TS, Trường đại học Ngân hàng TP.HCM, 36 Tôn hất Đạm, Q.1, TP.HCM.

     

     

    44

     

    Tài chính vi mô của ngân hàng . . .

     

    được khẳng định thông qua các nghiên cứu lý thuyết (Legerwood, 1999; ADB, 2000; Morduch and Haley, 2002; Khandker, 2003). Tầm quan trọng của tài chính vi mô đã được khẳng định trong thực tế thông qua giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 đã được trao cho Giáo sư Mohamet Yunus – người sáng lập ra Grameen Bank – ngân hàng vi mô dành cho người nghèo nổi tiếng tại Banglades.

     

    Tại Việt Nam, trong suốt gần ba thập kỷ qua, TCVM đã và đang khẳng định được tầm quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo được tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách thuận tiện và phù hợp. Trong các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính

     

    • mô tại Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) là tổ chức có quy mô và địa bàn hoạt động rộng khắp. Được thành lập năm 2002, là một tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào trợ cấp “Cho vay theo chính sách xã hội” dành cho các hộ người nghèo. Với mức độ bao phủ 100% các xã trên toàn quốc, kể từ ngày thành lập, đã có trên 23,4 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn ưu đãi, góp phần giúp 3,2 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, góp phần giúp tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm từ 26% (năm 2003) xuống còn khoảng 7,8% (năm 2014). Dù bối cảnh chung của nền kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng các chương trình cho người nghèo được vay vốn ưu đãi vẫn đang được NHCSXH tiếp tục hoàn thiện và tăng cường để việc thoát nghèo của người dân thực sự bền vững.

     

    Với cách tiếp cận về tài chính vi mô của Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) trong xây dựng Chiến lược tổng thể để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính vi mô của người nghèo và người thu nhập thấp cho Việt Nam(1), các quy chuẩn xác định người nghèo và tiêu chí giảm nghèo được sử dụng tại các chương trình mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam, nghiên cứu đánh giá những đóng góp của NHCSXH trong cung cấp tài chính vi mô góp phần giảm nghèo

     

    • Ngân hàng Thế gíi (2007), Việt Nam: Xây dựng Chiến lược tổng th̉ đ̉ tăng cừng khả năng tiếp cận dịch vụ tài ch́nh vi mô [c̉a ngừi nghèo] – Tăng cừng phạm vi, hiệu quả và t́nh bền vững

    tại Việt Nam cũng như gợi ý những chính sách nhằm thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới.

     

    2. TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ VẤN ĐỀ GIẢM NGHÈO ĐÓI TẠI VIỆT NAM

     

    Tài chính vi mô bao gồm các dịch vụ tài chính gửi tiền, tín dụng, bảo hiểm, chuyển tiền

     

    • cho những hộ nghèo, có thu nhập thấp, và những doanh nghiệp của họ, trong đó, tín dụng vi mô là hình thức phổ biến nhất. Việc cấp tín dụng vi mô cho người nghèo, một hình thức tín dụng đã trở nên phổ biến từ những năm 1980 theo kiểu một hệ thống tín dụng được cung cấp thông qua việc sử dụng các công cụ thay thế vật thế chấp để cấp và thu hồi những khoản vay vốn lưu động ngắn hạn cho những doanh nghiệp vi mô nghèo theo mô hình thành công của Ngân hàng Grameen tại Banglades mà cha đẻ của nó là GS. Mohamet Yunus, người được trao giải Nobel Hòa bình năm 2006.

    Tại Việt Nam có hàng trăm tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô thuộc ba khu vực: Khu vực chính thức (gồm, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, NHCSXH và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn); khu vực bán chính thức (gồm, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước và chương trình của các tổ chức xã hội) và khu vực phi chính thức (các nhóm cho vay tương hỗ dưới hình thức phường, họ, hụi, thậm chí vay nặng lãi…)(2). Tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng (cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, giáo dục tài chính cho khách hàng lập ngân sách và tiết kiệm, hỗ trợ tài chính kịp thời cho khách hàng gặp khó khăn), giúp người nghèo hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng các khoản thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, như từ tiểu thủ công nghiệp, thương mại, kinh doanh doanh nhỏ. Đồng thời, góp phần giúp người nghèo tránh, giảm rủi ro về kinh tế và cuộc sống, từ đó, tăng thu nhập hộ gia đình.

     

    • Nhóm công tác Tài ch́nh vi mô (2013), Tài ch́nh vi mô – Quy định ch́nh sách cho Tài ch́nh vi mô tại Việt Nam, số 19

     

     

    45

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Đa số người nghèo Việt Nam sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp với năng suất lao động thấp, ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và kiến thức. Tài chính vi mô có khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và đóng góp cho xã hội. Mặc dù, vốn vay của tài chính vi mô không lớn như ngân hàng thương mại hay ngân hàng chính sách nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vì những khoản vay này đến được với người nghèo trong thời điểm cần thiết nhất, giúp họ khởi tạo sản xuất kinh doanh, tạo dựng tài sản, ổn định chỉ tiêu và bảo vệ họ khỏi nghèo đói.

     

    Một khảo sát mới đây được Nhóm công tác Tài chính vi mô Việt Nam(3) tiến hành nhằm đánh giá mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam cho thấy, 90% đối tượng khảo sát bày tỏ sự hài lòng của mình khi vay vốn tại các tổ chức Tài chính vi mô vì sự thuận tiện và phù hợp với nhu cầu bản thân họ; 95,3% người được hỏi cho rằng, muốn được vay vốn từ tổ chức này. Những con số trên chứng tỏ nhu cầu vay vốn của nhiều dân nghèo từ các tổ chức tài chính vi mô là rất lớn.

     

    Trong những năm qua, với với sự đóng góp của các dịch vụ tài chính vi mô, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân thông qua việc thực hiện đồng loạt các chương trình trọng điểm, duy trì mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo… Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2010 (áp dụng chuẩn nghèo cũ): Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% (năm 2005) xuống còn 18,1% (năm 2006); 14,75% (năm 2007); 12,1% (năm 2008); 11,3% (năm 2009) và 9,45% (năm 2010). Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn 62 huyện nghèo giảm xuống còn 37%. Đối với giai đoạn 2010 – 2014 (áp dụng chuẩn nghèo mới): Tỷ lệ hộ nghèo cả

     

    • Nhóm Công tác Tài ch́nh vi mô Việt Nam (MFWG)

     

    (2011), Tài ch́nh vi mô v́i giảm nghèo tại Việt Nam: Kỉm định và so sánh, NXB Thống kê;

     

    nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011) và 9,6% (năm 2012), năm 2013 còn khoảng 7,6%-7,8%, năm 2014 còn khoảng 5,8%-6%(4). Đặc biệt, ngày 16/6/2013, tại Italia, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã tổ chức Sự kiện đặc biệt “Công nhận thành tích nổi bật trong đấu tranh xóa đói giảm nghèo” cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

     

    3. TÀI CHÍNH VI MÔ CHO NGƯỜI NGHÈO TẠI NHCSXH VIỆT NAM

     

    Thực hiện chủ trương xây dựng chế độ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số…, thông qua việc mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp, năm 1993 Chính phủ Việt Nam đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng góp. Quỹ được sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức cho vay 500.000 đồng/hộ, người vay không phải bảo đảm tiền vay. Sau hai năm thực hiện Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo(5) (NHNNg), đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất. Ngân hàng Phục vụ người nghèo thiết lập kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo ở Việt Nam với các chính sách tín dụng hợp lý, giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo

     

    • Ngân hàng thế gíi (2012), Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012; Ban chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 (2014), Báo cáo giảm nghèo năm 2014 và kế hoạch năm 2015.

     

    • Quyết định số 525/QĐ-TTg, ngày 31/8/1995 c̉a Th̉ tứng Ch́nh ph̉ về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ ngừi nghèo

     

     

    46

     

    Tài chính vi mô của ngân hàng . . .

     

    công ăn việc làm, tăng thu nhập và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo. Năm 2002, thực hiện cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, từng bước tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, đồng thời căn cứ vào chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Chính phủ đã ban hành Quyết thành lập NHCSXH(6) trên cơ sở tổ chức lại NHNg nhằm tập trung các nguồn vốn ngân sách tài trợ cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, cụ thể là cho vay hộ nghèo, tạo việc làm, cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn … NHCSXH được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước. NHCSXH là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

     

    Sau hơn 12 năm hoạt động, NHCSXH với tổng nguồn vốn đạt trên 141.000 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt trên 136.000 tỷ đồng. Nợ quá hạn chiếm tỷ lệ 0,42%/tổng dư nợ. Vốn chính sách đã góp phần giúp hơn 3,6 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, thu hút tạo việc làm cho trên 11,8 triệu lao động, trong đó trên 104 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, xây dựng được 6,6 triệu công trình nước sách, vệ sinh môi trường nông thôn, hỗ trợ 3,3 triệu học sinh sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn

     

    • Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg, ngày 04/10/2002 c̉a Th̉ tứng Ch́nh ph̉ về việc thành lập NHCSXH

    được vay vốn học tập, xây dựng được 484 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách, 700 chòi tránh lũ, trên 102 nghìn ngôi nhà vượt lũ cho hộ gia đình vùng đồng bằng Sông Cửu Long(7)

     

    Về tín dụng vi mô cho người nghèo, tổng dư nợ của NHCSXH tính đến 30/6/2014 đạt 126.666 tỷ đồng, gấp trên 18 lần so với thời điểm thành lập (năm 2002), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 29,4%. Hiện có gần 7 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ, tăng hơn 4 triệu khách hàng so với thời điểm thành lập với dư nợ bình quân hơn 18 triệu đồng/khách hàng (tăng hơn 15 triệu đồng/khách hàng). Dư nợ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ là 9.796 tỷ đồng với hơn 422 nghìn khách hàng còn dư nợ. Với mức độ bao phủ 100% các xã trên toàn quốc, kể từ ngày thành lập, đã có trên 23,4 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn ưu đãi, góp phần giúp 3,2 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, góp phần giúp tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm từ 26% (năm 2003) xuống còn khoảng 7,8% (năm 2014); thu hút, tạo việc làm cho trên 10 triệu lao động, trong đó trên 102 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn

     

    • nước ngoài; giúp 3.236 nghìn học sinh sinh viên được vay vốn học tập…(8).

    Mặc dù vậy nhu cầu về tài chính vi mô hiện nay còn chưa được đáp ứng, thống kê cũng cho thấy, dù được Nhà nước hỗ trợ về nguồn lực tài chính song NHCSXH cũng chỉ giúp được khoảng 50% số hộ nghèo tiếp cận tài chính vi mô. Trong khi đó, hoạt động của nhóm bán chính thức còn manh mún, dàn trải… Một vấn đề đặt ra hiện nay

     

    • Ngân hàng ch́nh sách xã hội Việt Nam, Báo cáo thừng niên 2009 – 2013

     

    • Ngân hàng ch́nh sách xã hội Việt Nam, Báo cáo thừng niên 2009 – 2013

     

     

    47

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    đối với NHCSXH là theo cơ chế hoạt động, suốt những năm qua, ngân hàng đều nhận được sự trợ cấp của nhà nước. Mặt khác, người nghèo vay vốn tại ngân hàng cũng được vay với lãi suất thấp, dao động từ 0 – 10,8%/năm, thấp hơn cả lãi suất tiền gửi tại các NHTM, do vậy, NHCSXH rất khó khăn trong việc huy động tiền gửi. Bên cạnh đó, cho vay người nghèo vẫn là hoạt động TCVM giúp giảm nghèo đói mà NHCSXH đang triển khai mà chưa tập trung nhiều đến tiết kiệm vi mô của người nghèo.

     

    4. MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

     

    Đối với NHCSXH. Để thực hiện thành công Chiến lược giảm nghèo, NHCSXH cần tận dụng tối đa sức mạnh của hệ thống toàn quốc và sự gắn kết với các cơ quan đoàn thể. Mục tiêu hoạt động của NHCSXH trong thời gian tới là: nâng cao hiệu quả hoạt động của NHCSXH hướng tới bền vững về hoạt động và tài chính, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn của Chính phủ cho hoạt động.

     

    Do vậy, giải pháp ngắn hạn của NHCSXH tập trung vào các vấn đề như: Cải tiến và đơn giản hóa các sản phẩm tín dụng, hướng tới mục tiêu thu hồi vốn nhanh hơn; áp dụng chính sách định giá tín dụng hợp lý, đảm bảo đủ bù đắp chi phí, mở rộng và trang trải các chi phí thanh khoản, các khoản lỗ tín dụng dự kiến; hoàn thiện việc cung cấp các sản phẩm khác, đặc biệt các sản phẩm huy động tiết kiệm nhằm xử lý vấn đề nguồn vốn, chuyển tiền kiều hối, sản phẩm thu chi hộ, hỗ trợ tài chính khởi nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khôi phục làng nghề truyền thống, tham gia một số công đoạn của hoạt động bảo hiểm vi mô…. Tại cấp trung ương,

     

    chuẩn bị báo cáo phân tích khe hở kỳ hạn theo tháng để đảm bảo kỳ hạn nguồn và tài sản phù hợp với nhau, và nếu có khe hở âm, cần đề xuất giải pháp tìm các nguồn vốn sẵn có để xử lý khe hở nhằm ngăn chặn rủi ro thanh khoản tiềm ẩn.

     

    Về trung và dài hạn: hoàn thiện cơ chế tài chính theo hướng ổn định, tạo thế chủ động

     

    cho NHCSXH; tích cực chuẩn bị các điều kiện để chuyển sang thực hiện cơ chế tự bù đắp chi phí hoạt động sớm; có thể xem xét tới lựa chọn chuyển đổi NHCSXH thành đơn vị tài chính vi mô “bán buôn” để tận dụng lợi thế với các tổ chức bán lẻ là các Tổ chức Tài chính vi mô.

    Tài chính vi mô có rất nhiều hoạt động, không chỉ cung cấp dịch vụ tín dụng mà còn các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, các dịch vụ xã hội… vậy nhưng đến nay, rất nhiều người vẫn còn nhầm lẫn tài chính vi mô với tín dụng vi mô. Mặt khác, việc cung cấp các dịch vụ tài chính và dịch vụ xã hội không phải là một hoạt động từ thiện. Đặc trưng của tài chính vi mô là thực hiện hai chức năng: Chức năng xã hội là giúp đỡ những người nghèo; chức năng kinh tế là phải thu đủ bù chi, tự nuôi sống mình để tồn tại và phát triển. Từ đó, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tài chính vi mô cũng như tăng cường phổ biến kinh nghiệm và các mô hình hoạt động tài chính vi mô hiệu quả

     

    Đối với Nhà nước. Cần xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động tài chính vi mô như: Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật; ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp; chính sách thuế, phí phù hợp; phát triển hoạt động bảo hiểm vi mô theo hướng chuyên nghiệp;

     

    Xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô thuận lợi cho tài chính vi mô phát triển, trọng tâm là chính sách lãi suất, lãi suất phải đủ bù đắp được chi phí hoạt động, tình trạng mất vốn, lạm phát của tài chính vi mô trong quá trình mới thành lập. Còn trong quá trình hoạt động, khi các tổ chức tài chính vi mô theo đuổi các mục tiêu xã hội, Chính phủ xem xét miễn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Thêm vào đó, cần phải bổ sung điều chỉnh những chính sách tài chính vi mô cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn sao cho phù hợp thiết thực hiệu quả và khả thi.

     

     

    48

     

    Tài chính vi mô của ngân hàng . . .

     

    1. KẾT LUẬN

    Có thể khẳng định rằng, tài chính vi mô tại Việt Nam đã và đang có những đóng góp to lớn cho chiến lược xoá đói nghèo. Tiềm năng phát triển dịch vụ tài chính này cũng tương đối thuận lợi bởi nhận được sự ủng hộ về mặt chính sách từ Chính phủ, bên cạnh đó, năng lực và khả năng tiềm tàng của các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ tài chính vi mô đa dạng và chuyên nghiệp, cộng với nhu cầu ngày càng tăng đối với các dịch vụ tài chính vi mô. Tuy vậy, những khó khăn và thách thức cho sự phát triển tài chính

     

    • mô trong thời gian tới tại Việt Nam còn rất lớn. Để tăng cường hiệu quả của tài chính vi mô, tác động tốt tới vấn đề giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống, có rất nhiều việc phải làm trong thời gian tới. Cả khách hàng, nhà quản lý

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • AFD, BMZ, DFID và WB, “Thực hiện tăng trưởng v̀ ngừi nghèo – nghiên cứu trừng hợp Việt Nam”;

     

    • Ban chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2015 (2014), Báo cáo giảm nghèo năm 2014 và kế hoạch năm 2015;

     

    • Ban công tác tài chính vi mô (2014), Báo cáo về tài chính vi mô năm 2014;

     

    • Bộ KH&ĐT (2007), Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam – Thành tựu, thách thức và giải pháp, Hà Nội;
    • Đào Văn Hùng (2005), Phát trỉn hoạt động Tài ch́nh vi mô ở Việt Nam, NXB Lao Động – Xã hội;
    • Ngân hàng chính sách xã hội, Thôn tin và Đặc san Ngân hàng Ch́nh sách Xã hội Việt Nam từ số 55 (2011) đến số 67 (2014);

     

    • Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, Báo cáo thừng niêm các năm 2008 – 2013

     

    • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Hệ

    và các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô đều cần nỗ lực nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức

     

    Với NHCSXH, hành trình của nguồn vốn tín dụng ưu đãi vì an sinh xã hội ở nước ta đã tròn 20 năm, kể từ năm 1995 do NHNg – tiền thân của NHCSXH đảm nhận đã thu được những thành tựu nổi bật là tập trung huy động các nguồn lực tài chính để tạo lập nguồn vốn, đồng thời vừa mở rộng, vừa tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách. Thành tựu này được các đại biểu Quốc hội Việt Nam nhận xét là một “điểm sáng” và là một trong những “trụ cột” trong hệ thống các chính sách giảm nghèo

     

    • Việt Nam. ghi nhận của NHCSXH trong hơn 12 năm qua. Điều này đã góp phần vào mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững.

    thống các tổ chức t́n dụng Việt Nam, t́nh đến ngày 01/12/2014;

    • Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam (MFWG) (2011), Tài ch́nh vi mô v́i giảm nghèo tại Việt Nam: Kỉm định và so sánh, NXB Thống kê;

     

    • Nhóm công tác Tài chính vi mô (2013), Tài ch́nh vi mô – Quy định ch́nh sách cho Tài ch́nh vi mô tại Việt Nam, số 19.
    • Ngân hàng thế giới – WB (2012), Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012;
    • UNDP (11/2009), Rà soát tổng quan các chương tr̀nh dự án giảm nghèo ở Việt Nam, Hà Nội;
    • UNDP (2010), Ch́nh sách công nghiệp c̉a Việt Nam – Thiết kế ch́nh sách đ̉ phát trỉn bền vững;

     

    • Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2012), Xoá đói giảm nghèo, Trung tâm Thông tin – Tư liệu;

     

     

    49


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%E1%BA%A4U-TR%C3%9AC-V%E1%BB%90N-%C4%90%E1%BA%BEN-T%E1%BB%B6-SU%E1%BA%A4T-L%E1%BB%A2I-NHU%E1%BA%ACN-R%C3%92NG-BI%C3%8AN-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

     

    IMPACT OF CAPITAL STRUCTURE ON THE NET INTEREST MARGIN OF THE COMMERCIAL BANK IN VIETNAM

     

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết này xem xét tác động c̉a cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài ch́nh c̉a 19 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014. Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được thống kê c̉a World Bank. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp h̀i quy trên dữ liệu bảng. Bao g̀m: phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM) và Random effects model (REM). Sau đó, nghiên cứu áp dụng phương pháp b̀nh phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để đảm bảo tính vững và hiệu quả của mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn ch̉ sở hữu trên

     

    tổng tài sản (CAPi,t ), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOANi,t ), tỷ lệ lạm phát hàng năm (CPIt ) và tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (GDPt ) tác

     

    động có ý nghĩa đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên c̉a NHTM Việt Nam.

     

    Từ khóa: cấu trúc vốn, tỷ suất lợi nhuận ròng biên, ngân hàng thương mại, Việt Nam

     

    Đoàn Thị Thu Trang(*)

     

    ABSTRACT

     

    This paper examines the impact of capital structure on the net interest margin of the Commercial bank in Vietnam. The data used for the research were collected from the inancial reports of 19 Commercial bank in Vietnam during the period 2007-2014. In addition the research also use the economic growth rate (GDP) and the inlation rate (CPIt ) were the World Bank’s statistics. The research applies the panel data regression models, including the OLS Model, the Fixed Effect Model (FEM) and the Random Effect Model (REM). Next, the research employs the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) technique to ensure the viability and effectiveness of the research model. The research result shows that the capital to assets ratio (CAPi,t ). The loans to assets ratio (LOANi,t ), the inlation rate (CPIt ) and the economic growth rate (GDPt ) have an impact on the net interest margin of the Commercial bank in Vietnam.

     

    Keywords: capital structure, the net interest margin, commercial bank, Vietnam

     

     

    • GV. Khoa Tài ch́nh – Ngân hàng, trừng Đại ḥc Công nghiệp thành phố H̀ Ch́ Minh. ĐT: 0935 98 98 97. Email: [email protected]

     

     

    27

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Từ khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007, Việt Nam đã đón nhận nhiều cơ hội cũng như thách thức cho mọi lĩnh vực ngân hàng – một lĩnh vực hết sức nhạy cảm. Việc mở cửa thị trường tài chính, làm các NHTM Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh cao hơn từ các ngân hàng nước ngoài. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô và Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố tỷ suất lợi nhuận ròng biên (NIM) của hầu hết các NHTM Việt Nam trong những năm gần đầy đều có xu hướng giảm, đặc biệt là trong hai năm 2013 và 2014.

     

    Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi biên (Net Interest Margin – NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất.

     

    Ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng đã là một đề tài tranh luận giữa các nhà nghiên cứu và học giả. Các nghiên cứu khác nhau đã được tiến hành để tìm hiểu tác động của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng. Các nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau và các phương pháp và đã có những ý kiến khác nhau về kết quả. Một số nghiên cứu cho thấy rằng có tác động tích cực của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng. Mặc dù có một số nghiên cứu định lượng đã được tiến hành nhằm xác định tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng ở nhiều nước trên thế giới nhưng theo hiểu biết của các tác giả, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này

     

    được thực hiện tại Việt Nam.

     

    Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra câu trả lời về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Dựa vào kết quả này giúp các NHTM có thể xác định cấu trúc vốn hợp lý để góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng nói riêng và hệ thống NHTM Việt Nam nói chung.

     

    2. CƠ SƠ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

     

    Tỷ suất lợi nhuận ròng biên là thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi (chủ yếu là thu từ cho vay, đầu tư) so với mức tăng trưởng của chi phí lãi (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ). Tỷ suất lợi nhuận ròng biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Do vậy nếu có cấu tài sản nợ, tài sản có hợp lý, tối ưu thì sẽ làm cho tỷ lệ này gia tăng qua các năm. (Trịnh Hồng Hạnh, 2015).

     

    Tổng hợp một số nghiên cứu gần đây có liên quan được tóm tắt ở bảng 1 sau đây:

     

    28

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    Bảng 1: Tổng hợp các nghiên cứu trức

     

       

    Biến phụ

     

    Các biến độc lập tác động có ý nghĩa

    Tác giả

    Dữ liệu nghiên cứu

         
       

    Chiều

    thuộc

     

    Tên biến

         
             

    tác động

     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    Tỷ lệ vốn

    (+)

             

    Sehrish Gul

    Tỷ suất sinh

     

    Tỷ lệ cho vay trên tổng tài

    (+)

    2005-2009

     
     

    sản

    & các cộng

    Dữ liệu 15 NHTM ở

    lợi biên

       

    sự (2011)

    (NIM)

         
     

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP

    (-)

    Pakistan

     
             
           

    Tỷ lệ lạm phát

    (+)

               
     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

    Tỷ suất sinh

     

    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu

    (+)

    Bashir

    1993 – 1998

         

    lợi biên

         
         

    (2000)

    Dữ liệu tám quốc gia ở

     

    Tỷ lệ dư nợ cho vay trên

     

    (NIM)

     

    (+)

     

    khu vực Trung Đông

     
         

    tổng tài sản

           
               
     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản

    (-)

    Khalaf Taani

    2007-2011

    Tỷ suất sinh

         
         

    & các cộng

    Dữ liệu 12 NHTM niêm

    lợi biên

         

    sự (2011)

    yết trên sàn chứng khoán

    (NIM)

     

    Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

    (-)

     

    Amman

           
               
           

    Tỷ lệ nợ dài hạn trên Vốn

    (-)

     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    chủ sở hữu

    Mubeen

         

    Tỷ suất sinh

         
         

    2008-2012

     

    Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên Vốn

     

    mụahid &

    lợi biên

     

    (-)

    các cộng sự

    Dữ liệu các ngân hàng ở

     

    chủ sở hữu

    (NIM)

       

    (2014)

    Pakistan

         
     

    Tỷ lệ tổng nợ trên Vốn chủ

    (-)

         
           
           

    sở hữu

             
               
         

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng để tìm ra sự tác động của một số yếu tố đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

     

    3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Căn cứ vào kết quả của các bài nghiên cứu trước có liên quan, mô hình nghiên cứu dự kiến có phương trình như sau:

     

    NIMit = β0 + β1CAPit + β2 LOANit + β3 INFt + β4GDPt + εit

     

    Trong đó:

     

    Biến phụ thuộc NIMit: Tỷ suất lợi nhuận ròng biên

     

    Các biến độc lập: Tỷ lệ vốn (CAPit), tỷ lệ cho vay (LOANit), tỷ lệ lạm phát (INFt), tăng trưởng kinh tế (GDPt).

     

     

    29

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2: Các biến sử dụng trong mô h̀nh nghiên cứu

     

     

    Biến

    Ký hiệu

    Đo lường

    Giả thuyết

               

    Biến phụ thuộc

    Tỷ  suất  lợi  nhuận

    NIM

    i,t

    Thu nhập lãi ròng / Tài sản có sinh lãi

     
     

    ròng biên

         

    Biến độc lập

    Tỷ lệ vốn

    CAPi,t

    Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản

    +

             

    Các biến kiểm

    Tỷ lệ cho vay

    LOANi,t

    Tỷ lệ cho vay / Tổng tài sản

    +

    Lạm phát

    CPI

     

    Tỷ lệ lạm phát hàng năm

    +

    soát

     

    t

         
             
     

    Tăng trưởng kinh tế

    GDPt

    Tỷ lệ tăng GDP hàng năm

    4. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

     

    4.1. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thông qua hồi quy tuyến tính đa biến để lượng hóa sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trong các mô hình. Trước tiên, nghiên cứu sẽ kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình thông qua hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF), nếu hệ số VIF lớn hơn hoặc bằng 10 thì hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là nghiêm trọng (Gujrati, 2003). Tiếp theo đó, nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi. Nếu không có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng. Tuy nhiên, nếu có hiện tượng tự tương quan và

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ chuyển sang phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS). Wooldridge (2002) cho rằng, phương pháp này rất hữu dụng khi kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi.

     

    4.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được c̉a 19 NHTM Việt Nam trong giai đoạn

     

    2007-2014. Riêng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được lấy từ số liệu thống kê của World Bank.

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    • Thống kê mô tả

    Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 19 NHTM trong giai đoạn 2008 – 2014 với các biến số được thống kê mô tả trong bảng 3 sau đây:

     

     

    Bảng 3: Thống kê mô tả các biến

     

    Biến

    Số quan sát

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Giá trị nhỏ nhất

    Giá trị lớn nhất

               

    NIMi,t

    152

    0.0346482

    0.0152211

    0.008193

    0.104947

    CAPi,t

    152

    0.1267721

    0.0900562

    0.042556

    0.614083

    LOANi,t

    152

    0.5298685

    0.1369904

    0.156097

    0.944218

    CPIt

    152

    0.107225

    0.0618049

    0.0409

    0.2312

    GDPt

    152

    0.059375

    0.0059932

    0.0525

    0.0713

               
         

    Nguồn:

    Kết quả phân t́ch

    c̉a tác giả

     

     

    30

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    5.2. Phân tích tương quan

     

    Hệ số tương quan giữa các biến được mô tả ở bảng 4 sau đây:

     

    Bảng 4: Hệ số tương quan giữa các biến

     

     

    NIMi,t

    CAPi,t

    LOANi,t

    CPIt

    GDPt

               

    NIMi,t

    1.0000

           
               

    CAPi,t

    0.7284

    1.0000

         
               

    LOANi,t

    0.3494

    0.1885

    1.0000

       
               

    CPIt

    0.0887

    0.0423

    -0.0320

    1.0000

     
               

    GDPt

    -0.1943

    -0.0380

    -0.0910

    0.0045

    1.0000

               

    Dựa vào bảng phân tích tương quan trên, ta thấy:

     

    • Biến độc lập CAPi,t tác động cùng chiều đến NIMi,t.
    • Các biến kiểm soát LOANi,t, INFt tác động cùng chiều đến NIMi,t.
    • Biến kiểm soát GDPt tác động ngược chiều đến NIMi,t.
    • Không có  hiện  tượng  đa  cộng  tuyến

    5.3. Kiểm định các giả thuyết hồi quy

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    nghiêm trọng (tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình) do các hệ số tương quan có giá trị khá thấp (cao nhất là 0.1885, chuẩn so sánh theo Farrar & Glauber (1967) là 0.8).

     

    Kết quả tương quan trên phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước trên thế giới và phù hợp với kỳ vọng của tác giả trong giai đoạn nghiên cứu này tại Việt Nam.

     

     

    Bảng 5: Kết quả kỉm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập

     

    Kiểm định VIF

     

    Biến

    VIF

    1/VIF

         

    LOANi,t

    1.05

    0.955888

    CAPi,t

    1.04

    0.961693

    GDPt

    1.01

    0.991268

    CPIt

    1.00

    0.996543

     

    Giá trị trung bình = 1.02

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

     

    Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình tương quan tuyến tính với nhau. Nghiên cứu tiến hành kiểm định giả thuyết không bị hiện tượng đa cộng tuyến bằng cách

    dùng chỉ tiêu VIF. Kết quả cho thấy VIF của tất cả các biến độc lập đều nhỏ hơn 10 nên hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình được đánh giá là không nghiệm trọng (Gujrati, 2003).

     

     

    31

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 6: Kỉm định phương sai c̉a sai số thay đổi và kỉm định tự tương quan

     

    Kiểm định phương sai của sai số thay đổi

    Kiểm định tự tương quan

       

    White’s test

    Wooldridge test

       

    Chi2 (14) = 70.80

    F (1, 18) = 52.478

       

    Prob > chi2 = 0.0000*

    Prob > F = 0.0000*

       

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

     

    • Phương sai của sai số thay đổi sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng phương pháp OLS vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi quy không còn đáng tin cậy. Từ đó dẫn đến hiện tượng ngộ nhận các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa, lúc đó kiểm định hệ số hồi quy và R bình phương không dùng được. Bởi vì phương sai của sai số thay đổi làm mất tính hiệu quả của ước lượng, nên cần thiết phải tiến hành kiểm định giả thuyết phương sai của

     

    sai số không đổi bằng kiểm định White, với giả thuyết H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi. Với mức ý nghĩa alpha= 1%, kiểm định White cho kết quả là: Prob = 0.0000. Vậy, Prob

     

    • 01 nên bác bỏ giả thuyết H0. Tức là có hiện tượng phương sai thay đổi.
      • Giữa các sai số có mối quan hệ tương quan với nhau sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng phương pháp OLS vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Nghiên cứu tiến hành

     

    kiểm định giả thuyết không bị tự tương quan trên dữ liệu bảng, với giả thuyết H0: không có sự tự tương quan. Với mức ý nghĩa alpha = 1%,

     

    kiểm định cho kết quả là: Prob = 0.0000. Vậy, Prob < 0.01 nên bác bỏ giả thuyết H0. Tức là có sự tự tương quan.

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Tổng hợp kết quả kiểm định

     

    Qua kết quả kiểm định từng phần ở trên, ta thấy: mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là không nghiêm trọng. Tuy vậy, mô hình có sự tự tương quan giữa các sai số và có hiện tượng phương sai thay đổi. Hiện tượng này sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng các phương pháp hồi quy thông trường trên dữ liệu bảng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Do vậy, tác giả dùng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (theo Wooldridge (2002)).

     

    5.4. Kết quả hồi quy

     

    Tiếp theo, nghiên cứu áp dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm: Phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM) và Random effects model (REM). Mô hình nghiên cứu có hiện tượng tự tương quan giữa các sai số, hiện tượng này có thể được kiểm soát bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (Wooldridge, 2002). Kết quả các mô hình nghiên cứu như sau:

     

     

    32

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    Bảng 7: Kết quả mô h̀nh nghiên cứu

     

    NPLit

     

    Hệ số hồi quy

           
                   

    OLS

    FEM

     

    REM

     

    FGLS

       
             
                     

    Hằng số

    0.0285146

    0.0378517

     

    0.0312934

     

    0.0166779

       
                     

    CAPi,t

    0.1149903*

    0.0840991*

     

    0.1084794*

     

    0.0973284*

       
                     

    LOANi,t

    0.0233054*

    0.0163841**

     

    0.0206192*

     

    0.0216005*

       
                     

    CPIt

    0.0165636

    0.0179918

     

    0.0167786

     

    0.0293592*

       
                     

    GDPt

    -0.3801066*

    -0.4122199*

     

    -0.3894229*

     

    -0.1717714**

       
                     

    R2

    60.39%

    59.83%

     

    60.36%

           
                     
     

    F( 4,  147) =

    F(4,129)

    =

    Wald chi2(4)

     

    Wald chi2(4)

       
     

    13.14

     

    = 142.28

     

    = 99.04

       

    F-test

    56.03

           

    Prob > F

    =

    Prob > chi2

    =

    Prob > chi2

    =

     
     

    Prob > F = 0.0000*

     

    0.0000*

     

    0.0000*

     

    0.0000*

       
               
                 
     

    Ghi chú: *, *****

    có ý nghĩa tương ứng

    ở mức 1%, 5% và 10%

       
           

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Với biến phụ thuộc là NIMi,t, sau khi dùng phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả, ta có kết quả như sau:

     

    NIMit = 0.0167 + 0.0973 CAPit + 0.0216 LOANit + 0.0294 INFt – 0.1718 GDPt + εit

     

     

    Biến độc lập, tỷ lệ vốn (CAPi,t) có mối tương quan dương và mạnh nhất (0.0973) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Sehrish Gul & các cộng sự (2011), Bashir (2000), Khalaf Taani & các cộng sự (2011) và Mubeen mụahid & các cộng sự (2014), và có thể được giải thích rằng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên của NHTM càng cao và ngược lại. Điều này chứng tỏ quy mô vốn chủ sở hữu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam.

     

    Biến kiểm soát, tỷ lệ cho vay (LOANi,t) có mối tương quan dương (0.0216) với tỷ suất lợi

    nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có

     

    • nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Sehrish Gul & các cộng sự (2011) và Bashir (2000), và có thể được giải thích rằng, các NHTM Việt Nam càng mở rộng quy mô cho vay thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên càng tăng. Tại Việt Nam hoạt động truyền thống và chủ yếu của các ngân hàng vẫn là cho vay (chiếm khoản 70 – 80% hoạt động của ngân hàng). Chính vì vậy, đa số các ngân hàng thường có xu hướng tập trung vào hoạt động cho vay, kênh chính để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    Biến kiểm soát, lạm phát (INFt) có mối tương quan dương (0.0294) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa

     

     

    33

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    thống kê với mức ý nghĩa 1%. Thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014 cho thấy, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao tăng đến 19.89% trong năm 2008 và 18.58% trong năm 2011 và kéo theo sự gia tăng lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi mặc dù với những tỷ lệ khác nhau, với quy định về trần lãi suất huy động đã làm hạn chế gia tăng lãi suất huy động và kết quả là làm hệ số NIM tăng lên.

     

    Biến tăng trưởng kinh tế (GDPt) có mối tương quan ngược chiều (– 0.1718) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%. Thực tế từ năm 2007 – 2014 cho thấy, khi các hoạt động kinh tế tăng sẽ làm tăng giá trị vay của khách hàng (lãi suất huy động được điều chỉnh giảm liên tục từ đó kéo theo lãi suất cho vay cũng giảm đáng kể, do đó làm giảm chênh lệch lãi suất và giảm tỷ suất lợi nhuận ròng biên.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    Bài nghiên cứu kiểm định sự tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại 19 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2014. Tác giả đã áp dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm: Phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM), Random effects model (REM), tiếp đó là phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất lợi nhuận ròng biên bị tác động bởi

     

    lập tỷ lệ vốn (CAPi,t), tỷ lệ cho vay (LOANi,t), Lạm phát (INFt)và tăng trưởng kinh tế (GDPt).

     

    Kết quả nghiên cứu đã góp phần giúp cơ quan quản lý, các ngân hàng thương mại, nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện hơn về tỷ suất lợi nhuận ròng biên và những yếu tố nào tác động đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số gợi ý nhằm giúp các cơ quan quản

     

    lý, ngân hàng thương mại và nhà đầu tư có kế hoạch cụ thể góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, phát triển ổn định và bền vững. Cụ thể:

     

    Về vấn đề tăng tỷ lệ vốn ch̉ sở hữu: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều mạnh nhất đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng tăng thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên càng tăng. Vì vậy NHTM cần nâng cao hơn nữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Tại NHTM có rất nhiều cách để tăng vốn chủ sở hữu của mình như: phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường, bán cổ phần cho đối tác chiến lược là các ngân hàng trong nước và nước ngoài, các tổng công ty trong nước và nước ngoài, thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hay sử dụng thặng dư vốn cổ phần của những năm trước để lại để tăng vốn cho năm nay hoặc trích lập các quỹ từ nguồn lợi nhuận năm trước. Tùy theo thế mạnh của từng ngân hàng và tình hình cụ thể trong từng thời kỳ, ngân hàng sẽ có những lựa chọn phương thức tăng vốn chủ sở hữu đảm bảo nguồn vốn bền vững và đảm bảo lợi ích của các cổ đông trong ngân hàng.

     

    Về vấn đề tăng tỷ lệ cho vay : Tỷ lệ cho vay có tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tăng tỷ lệ cho vay sẽ giúp tỷ suất lợi nhuận ròng biên gia tăng. Nhưng khi tăng tỷ lệ cho vay mà không kiểm soát được chặt chẽ thì điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng ngoài ra còn thúc đẩy lạm phát quốc gia tăng cao. Vì vậy các ngân hàng muốn tăng tỷ lệ cho vay sẽ phải chấp nhận đánh đổi rủi ro, nhưng phải đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

     

    Về vấn đề lạm phát : Lạm phát có tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, khi tỷ lệ lạm phát gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng lãi suất

     

     

    34

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    cho vay và lãi suất tiền gửi với những tỷ lệ khác nhau, điều này có thể làm cho tỷ suất lợi nhuận ròng biên có thể gia tăng hoặc giảm sút. Khi mức lạm phát được kiềm chế, các ngân hàng có thể duy trì mức lãi suất thực dương mà không cần dựa vào các chi phí lãi suất ngầm để thu hút khách hàng, sẽ giúp gia tăng tỷ suất lợi nhuận ròng biên.

     

    Về vấn đề tăng trưởng GDP: Tỷ lệ tăng trưởng GDP có tác động ngược chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Bởi vì khi các chủ trương, cơ chế chính sách hỗ

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bashir, A. (2000), Determinants of proitability and rates of return margins in Islamic banks: some evidence from the Middle East, Grambling State University Mimeo.
    • Sehrish Gul (2011), Factors affecting bank proitability in Pakistan, The Romanian Economic Journal
    • Gujarati (2003), Basic Econometrics (4th edn), New York: McGraw-Hill.

    trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh được ban hành như lãi suất cho vay, hỗ trợ các doanh nghiệp tăng trưởng sản xuất sẽ làm giảm chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động, làm giảm tỷ suất lợi nhuận ròng biên. Vì vậy, khi kích thích tăng trưởng GDP, nhà nước nên lưu ý điều hành linh hoạt, chủ động các công cụ chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa để điều chỉnh lãi suất ở mức hợp lý và cần đẩy mạnh cải cách hạnh chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường chống tham nhũng, lãng phí.

     

    • Khalaf Taani (2013), Capital Structure Effects on Banking Performance: A Case Study of Jordan. International Journal of Economics, Finance and Management Sciences. Vol. 1, No. 5, 2013, pp. 227-233.

     

    • Mubeen Muajahid (2014), Impact of Capital Structure on Banking Performance, Vol.5, No.19, 2014, pp. 2222-2847

     

    • Wooldridge (2002), Introductory Econometrics: A Mordern Approach, 2nd, South-Western College.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Lý thuyết tìm kiếm của người mua nhà Ảnh hưởng của căn nhà đang ở lên quyết định của người mua nhà


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Truy%E1%BB%81n-d%E1%BA%ABn-c%E1%BB%A7a-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-%C4%91%E1%BA%BFn-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-kinh-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN

     

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

     

    MONETARY POLICY TRANSMISSION TO

     

    ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM

     

    Hồ Thủy Tiên, Chu Thị Thanh Trang, Hồ Thu Hoài1

     

    Ngày nhận: 11/12/2018            Ngày nhận bản sửa: 30/12/2018            Ngày đăng: 15/02/2019

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ (CSTT) đến tăng trưởng kinh tế thông qua sử dụng mô hình SVAR, số liệu phân tích được lấy theo quý từ Quý 1/2000 đến Quý 4/2016. Tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích để đánh giá cơ chế truyền dẫn từ các biến công cụ và biến trung gian trong cơ chế điều hành CSTT. Kết quả nghiên cứu cho thấy kênh lãi suất là kênh chủ đạo, tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn phản ứng nhanh trước thay đổi của tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối và chỉ số giá chứng khoán. Phân tích phân rã phương sai thông qua các kênh cho thấy tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt theo thời gian giữa các kênh.

     

    Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, truyền dẫn chính sách tiền tệ, SVAR.

     

    Abstract

     

    Studying the transmission of monetary policy to economic growth by using the SVAR model, the data is conducted quarterly from Q1/2000 to Q4/2016. The authors uses a combination of analytical methods to evaluate the transmission mechanism from instrument variables and intermediate variables in the monetary policy. The result shows that interest rate channel is the main channel, strongly impact on economic growth. In addition, economic growth has responded quickly to changes in exchange rates, foreign exchange reserves and stock price indices. Analysis of variance decomposition across channels shows that economic growth varies over time between channels.

     

    Key words: Economic Growth, Monetary Policy Transmission, SVAR.

     

    1. Giới thiệu

     

    CSTT là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, đồng thời kiểm soát lạm phát thông qua các kênh truyền dẫn của CSTT như kênh lãi suất, kênh giá tài sản, kênh tín dụng,… Vì vậy, để có thể

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    vận dụng thành công CSTT qua đó kiểm soát tốt lạm phát thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì các nhà hoạch định chính sách cần hiểu rõ cơ chế truyền dẫn và xem xét các cú sốc của CSTT đến nền kinh tế. Hiểu rõ được tầm quan trọng của CSTT đối với nền kinh tế, trong thời gian

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    qua, nhiều các nghiên cứu từ hàn lâm đến thực nghiệm đều xem xét và đo lường riêng lẻ hiệu quả của một số kênh truyền dẫn hoặc là tổng hợp các kênh truyền dẫn của CSTT đến nền kinh tế. Hầu hết kết quả của các nghiên cứu này chỉ ra rằng cú sốc của CSTT tác động rõ rệt đến sản lượng và lạm phát với mức độ và thời gian tác động của từng kênh truyền dẫn trong CSTT là khác nhau. Ở Việt Nam đã có một số các nghiên cứu về truyền dẫn CSTT nhưng tập trung nghiên cứu ở kênh lãi suất và tỷ giá, còn các nghiên cứu tổng hợp các kênh truyền dẫn của CSTT đến nền kinh tế còn khá khiêm tốn và hầu như chỉ nghiên cứu cho giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam những năm gần đây đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính 2008 đã điều hành khá hiệu quả CSTT thông qua tổng hòa các kênh truyền dẫn đã kiểm soát tốt lạm phát và duy trì tăng trưởng. Trong đó kênh truyền dẫn nào có vai trò lớn nhất? Và sự thay đổi trong cấu trúc kênh truyền dẫn hiệu quả của CSTT như thế nào? Nhóm nghiên cứu tiếp tục chọn đề tài Truyền dẫn chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000

     

    – 2016 để giải quyết các vấn đề đặt ra trên đây.

     

    2. Các nghiên cứu trước đây có liên quan

     

    Chủ đề về các kênh truyền dẫn CSTT tác động đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đã thu hút khá đông các nhà nghiên cứu quốc tế thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm. Có thể kể đến các nghiên cứu như sau:

     

    Borys và Horváth (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của CSTT ở Séc. Sử dụng kỹ thuật mô hình VAR, bài nghiên cứu tìm thấy giá cả và sản lượng suy giảm trong khoảng một năm sau

    cú sốc thắt chặt CSTT, điều này phù hợp với mục tiêu của ngân hàng Trung ương nước này. Nghiên cứu cũng chỉ ra phản ứng của giá hàng hóa thương mại đối với cú sốc thắt chặt tiền.

     

    Deepak Mohanty (2012) nghiên cứu về kênh truyền dẫn lãi suất ở Ấn Độ. Bằng cách sử dụng mô hình SVAR, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng chính sách tăng lãi suất có ảnh hưởng trái chiều đến tăng trưởng sản lượng với độ trễ 2 quý và tác động giảm nhẹ lạm phát với độ trễ 3 quý. Thời gian đạt trạng thái cân bằng kéo dài khoảng 8 – 10 quý.

     

    Theo John H. Cochrane (2014), phân tích về CSTT với việc cho thấy CSTT có thể tác động đến lãi suất danh nghĩa, và điều chỉnh về lạm phát dự tính. Khi giá cả chậm thay đổi thì CSTT cũng có thể tác động lên lãi suất thực và sản lượng, mặc dù khi lãi suất cao hơn thì kéo theo sản lượng tăng cùng với lạm phát. Vì vậy cần sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và CSTT. Và từ đó đưa ra những gợi ý kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ một cách tối ưu trong một khung chính sách mới dựa trên những lý thuyết mới của mô hình Keynesian.

     

    Kitamura và các tác giả (2015), nghiên cứu truyền dẫn lãi suất thị trường sang lãi suất cho vay ở các ngân hàng Nhật bản. Các tác giả phân tích các yếu tố trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng truyền dẫn đến lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Kết quả trên mẫu toàn bộ các ngân hàng cho thấy hệ số truyền dẫn nhỏ đối với các ngân hàng có tỷ lệ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn hơn; hệ số truyền dẫn cũng thấp với các ngân hàng cho mức độ tập trung thị trường lớn hơn. Nghiên cứu này chưa tìm thấy bằng chứng thống kê ảnh hưởng của

     

    26

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    quy mô ngân hàng và hệ số an toàn vốn đến lãi suất cho vay, trong khi tỷ lệ thanh khoản có tác động cùng chiều với lãi suất cho vay của các ngân hàng. Các đặc điểm nợ của ngân hàng như tỷ lệ vay bằng chứng từ thương mại và trái phiếu công ty trên tổng các khoản vay; tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và hệ số khả năng thanh toán lãi vay có tương quan cùng chiều với lãi suất cho vay của ngân hàng. Trong các nghiên cứu các yếu tố quyết định lãi suất cho vay dựa trên dữ liệu bảng của 122 quốc gia, Perera và Wickramanayake (2016) tìm thấy điều chỉnh lãi suất cho vay liên quan đến các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính ngân hàng cũng như các yếu tố liên quan đến đặc điểm ngân hàng và chất lượng quản trị. Trong các yếu tố, mức độ phát triển của thị trường tài chính, sức mạnh thị trường và minh bạch chính sách của ngân hàng trung ương vẫn là yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng quyết định lãi suất cho vay.

     

    Tại Việt Nam, chủ đề này cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013) sử dụng mô hình SVAR để xác định độ lớn và thời gian CSTT truyền dẫn đến các biến mục tiêu. Kết quả là có một số puzzle (mô tả hiện tượng trái ngược lý thuyết) tồn tại trong đó có price puzzle. Kênh lãi suất phản ứng trễ với biến lạm phát trong khi lạm phát lại có phản ứng tức thì trước cú sốc tỷ giá hối đoái. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

     

    • Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013) tìm thấy hiện tượng bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam. Các ngân hàng bị giới hạn về nguồn vốn thì lãi suất cho vay cao đối với nhóm còn lại và truyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất cho vay không rõ ràng. Cao Thị Ý Nhi & Lê

    Thu Giang (2015) sử dụng mô hình SVAR để phân tích kênh truyền dẫn CSTT Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có price puzzle nhưng lại tồn tại puzzle khác. Cú sốc tăng cung tiền M2 dẫn đến suy giảm sản lượng trong kỳ tiếp theo, tăng nhẹ trong kỳ thứ 2 và sau đó giữ xu hướng giảm các kỳ kế tiếp. Đối với cú sốc tỷ giá, sản lượng tăng trong kỳ đầu và giảm ngay trong kỳ tiếp theo. Nguyễn Duy Sữu & Nghiêm Quý Hào (2016) nghiên cứu kênh tín dụng trong truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam cho kết quả mặc dù có sự liên kết mạnh giữa lãi suất cho vay và lãi suất chiết khấu, nhưng sự truyền tải từ lãi suất cho vay đến tín dụng, từ tín dụng đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát còn yếu. Nguyễn Phúc Cảnh và cộng sự (2016), nhóm tác giả thu thập dữ liệu về CSTT và thị trường cổ phiếu Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 để nghiên cứu quá trình truyền dẫn của CSTT qua kênh giá tài sản tài chính bằng mô hình tự hồi quy cấu trúc (SVAR). Kết quả tại Việt Nam, CSTT có truyền dẫn mạnh qua thị trường chứng khoán thông qua cung tiền, trong khi đó lãi suất không có tác động lớn đến thị trường chứng khoán ở cả hai chỉ số VN-Index và HNX-Index và làm cho giá cả thay đổi.

     

    Nhìn chung các nghiên cứu trong nước và nước ngoài đều đưa ra các kết quả khác nhau về hiệu lực của các kênh truyền dẫn CSTT đến nền kinh tế của từng quốc gia do đặc thù khác nhau và các giai đoạn nghiên cứu khác nhau. Với đặc thù Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi với qui mô nền kinh tế nhỏ nhưng độ mở lại lớn vì vậy các cú sốc từ bên ngoài chắc chắn có sự tác động rất lớn đến CSTT trong nước vì vậy sẽ không tránh khỏi

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    hiệu lực truyền dẫn của CSTT đến nền kinh tế, đặc biệt là giai đoạn những năm gần đây. Cho nên việc thực hiện đề tài trong giai đoạn hiện nay là vẫn cần thiết.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian đại diện cho các kênh truyền dẫn của CSTT và chuỗi dữ liệu thời gian đại diện cho tăng trưởng kinh tế như sản lượng, chỉ số giá cả,… giai đoạn Quý 1 năm 2000 – Quý 4 năm 2016. Sau khi kiểm tra tính dừng, kiểm tra tính đồng liên kết để xác định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến, nhóm nghiên cứu sẽ dùng phương pháp SVAR để đo lường phản ứng của nền kinh tế trước những cú sốc của chính sách tiền tệ trong nước cũng như một số các cú sốc ngoại sinh lan truyền đến các công cụ của CSTT ở Việt Nam như thế nào. Phương pháp SVAR được xem là

    linh hoạt vì có thể chứa nhiều mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô dựa trên lý thuyết kinh tế và lần lượt cho phép chúng ta xác định được những cú sốc (shock) tiền tệ trực giao.

     

    Mô hình bao gồm các biến ngoại sinh đại diện cho yếu tố mở của nền kinh tế Việt Nam bao gồm: Biến tăng trưởng kinh tế Mỹ (GDPUt) là biến đại diện tăng trưởng kinh tế bên ngoài; Biến lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ (RDUt) đại diện cho thay đổi CSTT bên ngoài ảnh hưởng đến mục tiêu bên trong của nền kinh tế Việt Nam.

     

    Ba nhóm biến nội sinh bao gồm (i) nhóm biến mục tiêu của chính sách bao gồm GDPt, CPIt; (ii) nhóm biến trung gian bao gồm: M2Gt, VNIt, MIGt, EXGt, RLBt; (iii) nhóm biến đại diện các kênh truyền dẫn bao gồm: RDSt, EXUt, RGUt.

     

     

     

     

     

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Mô hình SVAR lý

     

    thuyết

     

    Các kênh truyền

     

    dẫn CSTT

     

    Biến ngoại sinh

    Mô hình SVAR

    Xt= f(GDPUt,

    Yt= f (GDPt, CPIt,

    RDUt)

    M2Gt, RDSt)

    Thêm

     

    biến lãi

     

    suất cho

     

    vay

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, M2Gt, RLBt, RDSt)

     

    Thêm

     

    biến tỷ

     

    giá

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, M2Gt, RLBt, EXUt, RDSt)

     

    Thêm

     

    biến tăng

     

    trưởng dự

     

    trữ ngoại

     

    hối

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, M2Gt, RLBt, EXUt, RGUt,

     

    RDSt)

     

    Thêm

     

    biến chỉ

     

    số giá

     

    chứng

     

    khoán

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, VNIt, M2Gt, RLBt, EXUt, RGUt, RDSt)

     

    Truyền dẫn CSTT bao gồm các biến công cụ và biến mục tiêu

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh lãi suất

     

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh tỷ giá

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh tín dụng

     

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh giá cả tài

     

    sản tài chính

     

    Nguồn: Thiết kế của tác giả

     

    Hình 1. Thiết kế mô hình SVAR đo lường truyền dẫn CSTT tại Việt Nam

     

     

    29

     

       

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

       

    Bảng 1. Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình

           

    STT

    Biến

    Diễn giải

    Nguồn

           

    1

    GDPt

    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF

           

    2

    CPIt

    Lạm phát giá tiêu dùng, đại diện lạm phát

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF, Tổng cục

       

    tại Việt Nam

    Thống kê Việt Nam

    3

    GDPUt

    Tăng trưởng kinh tế Mỹ

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

           

    4

    RDSt

    Lãi suất tái cấp vốn, đại diện lãi suất chính

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

       

    sách tại Việt Nam

     

    5

    RLBt

    Lãi suất cho vay bình quân (Bình quân của

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF

       

    NHTM lớn tại Việt Nam: (ACB, VCB,

     
       

    STB, CTG, ABI) đại diện lãi suất cho vay

     
       

    trên thị trường tài chính Việt Nam

     

    6

    M2Gt

    Tăng trưởng cung tiền M2

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF, Ngân hàng

         

    Châu Á Thái Bình Dương (ADB)

    7

    EXUt

    Tỷ giá hối đoái USD/VND

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

           

    8

    RGUt

    Tăng trưởng dự trữ ngoại hối

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF

           

    9

    VNIt

    Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam

    Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM

         

    (HOSE)

    10

    MIGt

    Tăng trưởng nhập khẩu

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

           

    11

    EXGt

    Tăng trưởng xuất khẩu

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

           

    12

    RDUt

    Lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ, đại diện

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

       

    lãi suất chính sách bên ngoài nền kinh tế

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    Đầu tiên, nhóm tác giả thực hiện các bước kiểm định chuỗi dữ liệu thời gian lần lượt như sau:

     

    Kiểm định tính dừng: Tác giả sử dụng kiểm định Dickey – Fuller để kiểm định nghiệm đơn vị cho thấy 6 chuỗi dữ liệu dừng ở chuỗi gốc và 7 chuỗi dữ liệu dừng ở sai phân bậc 1. Hầu hết các chuỗi dữ liệu đều có mức thống kê 1%. Với kết quả này, các chuỗi dữ liệu hoàn toàn phù hợp với ràng buộc khi ứng dụng mô hình SVAR.

     

    Xác định độ trễ tối ưu: Việc xác định độ trễ tối ưu rất quan trọng trong việc nghiên cứu về sự

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    tác động CSTT truyền dẫn. Tác giả xác định độ trễ tối ưu được đánh giá nhiều nhất dựa trên các tiêu chuẩn LR, FPE, AIC, SC và HQ. Kết quả cho thấy độ trễ tối ứu được lựa chọn là 4 quý.

     

    Kiểm định đồng liên kết: nhóm kiểm định đồng liên kết bằng kiểm định Johansen (Johansen Cointergation Test) nhằm xác định có hay không mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại 8 đồng liên kết với mức ý nghĩa 5%. Dựa vào kết quả trên, các biến có mối quan hệ dài hạn và tác động mạnh với nhau.

     

    30

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

       

    Kiểm định sự phù hợp của mô hình: Kết quả

    kiện ổn định của mô hình. Vì thế, kết quả phân

    cho thấy các nghiệm đều nằm trong vòng tròn

    tích đưa ra đảm bảo độ tin cậy của mô hình

    đơn vị. Nghĩa là, kết quả đáp ứng được điều

    nghiên cứu.

       
       

    Bảng 2. Kết quả hồi quy

       
                 
     

    Variables independent

    Variable dependent (GDP)

       
               
     

    Coefficient

    t-statistics

     

    Probability

     
           
                 
     

    GDPU (-1)

    0.427751

    2.54586

     

    5%

     
                 
     

    RDS (-3)

    -0.57102

    -2.86346

     

    5%

     
                 
     

    EXU (-1)

    -0.00418

    -5.31286

     

    10%

     
                 
     

    RGU (-2)

    -0.018651

    2.53697

     

    5%

     
                 
     

    VNI (-3)

    0.039182

    2.30407

     

    5%

     
                 
     

    C

    12.36211

    3.29503

     

    5%

     
                 
     

    R-squared

    0.856585

    Log likelihood

     

    -56.5653

     
                 
     

    Adj. R-squared

    0.741854

    Akaike AIC

     

    2.673915

     
                 
     

    Sum sq. resids

    21.94789

    Schwarz SC

     

    3.652159

     
                 
     

    S.E. equation

    0.791885

    Mean dependent

     

    6.684747

     
                 
     

    F-statistic

    7.465988

    S.D. dependent

     

    1.558581

     
                 

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

     

    Với kết quả hồi quy có được ta thấy GDP chịu tác động thuận từ tăng trưởng kinh tế Mỹ với độ trễ 1 quý, có nghĩa khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng sẽ mang đến thông tin tốt cho nền kinh tế Việt Nam. Tác động từ các chính sách hỗ trợ từ Mỹ sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng.

     

    Ngoài ra, lãi suất tái cấp vốn (RDS) tăng tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm cho tăng trưởng kinh tế giảm với độ trễ của chính sách là 3 quý. Khi lãi suất tăng, phản ứng ngay lập tức là cầu vốn sẽ giảm. Nhưng một thời gian sau, lãi suất tăng tác động tiêu cực đến nền kinh tế thông qua áp lực lên chi phí vốn các doanh nghiệp, làm cho chi phí đầu vào tăng dẫn đến hiệu quả kinh doanh giảm. Hơn nữa, khi lãi suất tái cấp vốn tăng kéo theo lãi vay các công cụ tài chính khác tăng, do đó làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp, doanh nghiệp hạn chế vay

    vốn để sản xuất kinh doanh và cuối cùng là làm cho sản lượng giảm trong ngắn lẫn dài hạn.

     

    Tỷ giá hối đoái (EXU), dự trữ ngoại hối (RGU) tăng tác động nghịch với tăng trưởng kinh tế và tác động trễ lần lượt 1 quý, 2 quý. Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua luôn trong tình trạng nhập siêu, chính vì vậy mà khi tỷ giá tăng tác động mạnh đến chi phí nhập khẩu. Chi phí nhập khẩu tăng làm cho chi phí đầu vào của hoạt động sản xuất tăng và cuối cùng tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Đồng thời, mặc dù dự trữ ngoại hối cao sẽ gia tăng mức an toàn vốn quốc gia cao, tuy nhiên trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, nền kinh tế rất cần một lượng vốn dồi dào để phát triển. Chính vì vậy việc gia tăng dự trữ cao trong giai đoạn này sẽ tác động không tốt đến nền kinh tế, nhất là khi mà đất nước còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay bên ngoài.

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Chỉ số giá chứng khoán (VNI) tăng góp phần làm cho tăng trưởng kinh tế tăng. Có thể nói thị trường chứng khoán Việt Nam những năm gần đây đóng góp rất lớn cho nền kinh tế. Bên cạnh là kênh huy động vốn hiệu quả thì thị trường chứng khoán còn là kênh cung cấp thông tin hữu ích cho nền kinh tế. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là nơi tựu trung những công ty có

    quy mô vốn lớn, do vậy thị trường tăng trưởng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp ngày càng gia tăng về quy mô lẫn chất lượng.

     

    Tiếp theo, nhóm tác giả sẽ xem xét phản ứng của tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn khác nhau bằng phân tích phản ứng sốc và phân rã phương sai.

     

    Kênh lãi suất

     

     

    Response to Cholesky One S.D. Innovations ± 2 S.E.

     

       

    Response of GDP_SA to RLB_SA

           

    Response of GDP_SA to GDP_SA

       

    1.6

                     

    1.6

                     

    1.2

                     

    1.2

                     

    0.8

                     

    0.8

                     

    0.4

                     

    0.4

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.4

               

    8

    9

    10

    -0.4

                     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

       

    Response of RLB_SA to RLB_SA

           

    Response of RLB_SA to GDP_SA

       

    1.6

                     

    1.6

                     

    1.2

                     

    1.2

                     

    0.8

                     

    0.8

                     

    0.4

                     

    0.4

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.4

                     

    -0.4

                     

    -0.8

                     

    -0.8

                     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    Response to Cholesky One S.D. Innovations ± 2 S.E.

     

       

    Response of GDP_SA to RDS_SA

           

    Response of GDP_SA to GDP_SA

       

    1.5

                     

    1.5

                     

    1.0

                     

    1.0

                     

    0.5

                     

    0.5

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.5

               

    8

    9

    10

    -0.5

                 

    9

    10

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

       

    Response of RDS_SA to RDS_SA

           

    Response of RDS_SA to GDP_SA

       

    1.2

                     

    1.2

                     

    0.8

                     

    0.8

                     

    0.4

                     

    0.4

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.4

                     

    -0.4

                     

    -0.8

                     

    -0.8

                     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả.

     

    Hình 2. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của lãi suất

     

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Phản ứng của tăng trưởng kinh tế trước cú sốc lãi suất tiền gửi bắt đầu tăng nhẹ từ Quý 1 đến Quý 2. Sau đó tăng trưởng đột ngột giảm mạnh hơn 4% và dần ổn định ở các quý sau đó. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết CSTT. Nghĩa là, khi ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất tiền gửi, nhà đầu tư có xu hướng chọn việc gửi tiền vào ngân hàng thay vì đầu tư vào những khoản rủi ro khác. Thế nhưng, CSTT thắt chặt bằng lãi suất tiền gửi chỉ có tác dụng trong ngắn hạn. Mặt khác, khi tăng lãi suất tái cấp vốn ngân hàng Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam phản ứng giảm nhẹ ở những quý đầu và đảo chiều với ghi nhận tại đỉnh hơn 3% ở Quý

     

    1. Từ sau Quý 3, tăng trưởng kinh tế phản ứng chậm lại và không còn bị tác động bởi lãi suất cho vay bình quân từ Quý 4 trở đi. Tóm lại, tăng trưởng kinh tế chỉ phản ứng trong ngắn hạn trong truyền dẫn kênh giá lãi suất.

    Tuy nhiên, cơ chế truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường và cuối cùng là đến tăng trưởng kinh tế cần xem xét nhiều hơn. Phân rã phương sai của lãi suất tái cấp vốn, tăng trưởng kinh tế bắt đầu chịu tác động của cú sốc lãi suất tái cấp vốn và Quý thứ 2 và mạnh nhất là 9.6% tại Quý 8. Đối với lãi suất cho vay bình quân, tăng trưởng kinh tế phản ứng nhanh hơn, nhưng không mạnh bằng lãi suất tái cấp vốn. Phản ứng bắt đầu vào Quý thứ 2 và đạt mức độ cao nhất vào Quý 3 là 4.7%. Kết quả này cho thấy giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay, thì tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào việc điều hành lãi suất chính sách, trong đó lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết lãi suất của nền kinh tế.

     

    Kênh tỷ giá

     

     

     

     

     

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả. Hình 3. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của tỷ giá

     

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam có biến động mạnh trước cú sốc của tỷ giá. Cụ thể, tăng trưởng kinh tế giảm khoảng 3% ở 2 quý đầu và đột ngột tăng mạnh từ Quý 2 đến hơn 7% và bắt đầu điều chỉnh phản ứng trước cú sốc tỷ giá đến hết cuối kỳ 8.

     

    Kết quả của phân rã phương sai cho thấy, tỷ giá ảnh hưởng mạnh nhất đến tăng trưởng kinh tế so với các cú sốc vĩ mô khác, với 7.596% ở Quý 3. Mặt khác cú sốc tăng trưởng nhập khẩu tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam

     

    mạnh hơn cú sốc tăng trưởng xuất khẩu với (7.08% ở quý 20 của nhập khẩu so với 3.105%

     

    • Quý 2 của xuất khẩu). Mặc dù nền kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu vào xuất khẩu, tuy nhiên tác giả tìm thấy được sự tác động của cú sốc tăng trưởng nhập khẩu ảnh hưởng đến tăng trưởng mạnh hơn cú sốc tăng trưởng xuất khẩu. Vì vậy, kết quả dẫn tới tỷ giá có xu hướng thay đổi theo chu kỳ kinh doanh khiến cho khó có thể tìm được thông tin.

    Kênh tín dụng

     

     

     

     

    Hình 4. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi dự trữ ngoại hối

     

     

    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam phản ứng mạnh nhất trước cú sốc tăng trưởng tổng dự trữ ngoại tệ trong kênh tín dụng so với các kênh truyền dẫn khác. Sự tăng trưởng kinh tế phản ứng ngay từ những quý đầu tiên và đạt 4% ở Quý 3, sau đó trở về mức cân bằng ở Quý 5. Từ những quý sau, cú sốc tăng trưởng tổng dự trữ ngoại tệ tác động vừa phải đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Dự trữ ngoại tệ đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn ngoại tệ. Nhưng nếu dự trữ quá mức sẽ tác động đến tiêu cực đến nền kinh tế.

     

    Kết quả phân rã phương sai cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam phản ứng mạnh nhất

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả.

     

    dưới cú sốc tăng trưởng tổng dự trữ ngoại tệ với 5.9% ở Quý 4. Mặc dù mức độ phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của dự trữ ngoại hối còn thấp so với lãi suất và tỷ giá. Nhưng xét về thời gian phản ứng thì tăng trưởng kinh tế phản ứng trước thay đổi của dự trữ ngoại hối nhanh hơn so với lãi suất (4.7% so với 3.2% tại quí thứ 3). Kết quả này có thể giải thích rằng, dự trữ ngoại hối tác động trực tiếp đến nguồn cung ứng vốn trong nền kinh tế, nhưng vì quy mô dự trữ không cao do vậy mà tác động đến tăng trưởng kinh tế thấp. Trong khi lãi suất tác động hầu hết các thành phần của nền kinh tế.

     

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Kênh giá cả tài sản

     

     

     

    Hình 5. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của chỉ số chứng khoán

     

     

    Chỉ số chứng khoán VN-Index được xem biến đại diện chính cho kênh giá tài sản. Tăng trưởng kinh tế phản ứng sốc trước thay đổi của chỉ số giá chứng khoán, tăng nhẹ đến gần 2% ở Quý 2 và chạm đỉnh ở Quý 5 ở khoảng 6%. Sau đó cú sốc VNI khiến tăng trưởng kinh tế giảm mạnh hơn 3.5%. Kết quả đưa ra trái ngược với lý thuyết Tobin và mô hình chu kỳ sống của Modigliani. Thông thường, thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc dự báo khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, kết quả đưa ra có sự biến động trong 1 khoảng thời gian dài. Điều đó có nghĩa, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn là thị trường dạng yếu và chưa có thể đánh giá tăng trưởng kinh tế một cách hiệu quả nhất. Thị trường chứng khoán đóng vai trò là kênh huy động vốn dài hạn, tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát huy tốt về điều này. Hay nói cách khác TTCK Việt Nam thời gian qua chỉ đáp ứng nhu cầu đầu cơ ngắn hạn, điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa hiệu quả. Mặc dù

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả.

     

    thị trường vẫn cung cấp thông tin cho nền kinh tế, tuy nhiên thông tin đa chiều, chưa đáng tin cậy, hiện tượng thao túng thị trường vẫn diễn ra. Chính những điều trên làm cho chỉ số giá chứng khoán thay đổi thất thường, gây thiệt hại cho nhà đầu tư nhỏ lẻ và và làm cho nền kinh tế khó dự đoán.

     

    1. Kết luận

    Kết quả nghiên cứu là bằng chứng giúp cho việc định hướng chính sách, dự báo tăng trưởng nền kinh tế trong thời gian tới. Từ đó, giúp cho nhà làm chính sách cảnh giác với những biến động bên ngoài trong việc đưa ra cơ chế điều hành phù hợp.

     

    Đối với các kênh truyền dẫn, kênh lãi suất vẫn là kênh chủ đạo, tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế. Không giống như những kênh khác, kênh lãi suất tác động trực tiếp và rõ ràng nhất, trong đó lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng Nhà nước là biến tác động rõ ràng đến tăng trưởng. Cơ chế truyền dẫn thông qua lãi suất truyền dẫn nhanh đến các biến vĩ mô như cung

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    tiền, tỷ giá, chỉ số giá chứng khoán, từ đó tác động trở lại đến tăng trưởng kinh tế, kết quả trên đồng thuận với Deepak Mohanty (2012), Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013).

     

    Phân tích phản ứng sốc của tăng trưởng kinh tế trước thay đổi của các biến đại diện các kênh trong cơ chế truyền dẫn cho thấy thông qua kênh lãi suất, tăng trưởng kinh tế phản ứng nhanh trước lãi suất tái cấp vốn, nhưng lại phản ứng chậm trước lãi suất cho vay bình quân. Thông qua kênh tỷ giá cho thấy tăng trưởng kinh tế phản ứng nhanh trước tỷ giá, nhưng lại phản ứng chậm trước xuất khẩu và nhập khẩu. Thông qua kênh tín dụng cho thấy tăng trưởng phản ứng nhanh, mạnh trước thay đổi dự trữ ngoại hối. Thông qua kênh giá cả tài sản, tăng

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Việt

    trưởng kinh tế phản ứng nhanh trước thay đổi của chỉ số giá chứng khoán theo hướng tích cực.

     

    Phân tích phân rã phương sai thông qua các kênh cho thấy tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt theo thời gian giữa các kênh. Thông qua kênh lãi suất, lãi suất tái cấp vốn vẫn là biến tác động mạnh đến tăng trưởng trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Bên cạnh đó, lãi suất cho vay bình quân vẫn đóng góp đáng kể đến tăng trưởng trong ngắn hạn. Thông qua kênh tỷ giá, tỷ giá vẫn là biến giải thích tăng trưởng kinh tế mạnh nhất và đạt mức độ lớn nhất vào quý thứ 3. Kênh tín dụng qua việc phát hiện mới biến dự trữ ngoại hối tác động đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

     

    Cao Thị Ý Nhi, Lê Thu Giang (2015), Ứng dụng mô hình SVAR nghiên cứu kênh truyền dẫn tiền tệ và gợi ý chính sách tiền tệ ở Việt Nam, Tạp chí kinh tế & phát triển, Đại học kinh tế Quốc dân, 2015.

     

    Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013). Truyền dẫn chính sách tiền tệ Tại VN. Tạp chí Phát triển & hội nhập, 13(23),15-22.

     

    Trần Ngọc Thơ & cộng sự (2013). Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở VN. Tạp chí Phát triển

     

    • hội nhập, 10(20), 8-16.

     

    Tiếng Anh

     

    Borys, M. M., & Horvath, R. (2008). The Effects of Monetary Policy in the Czech Republic: An Empirical Studyµ, William Davidson Institute, Working Paper No. 922.

    Cochrane, J. H. (2014). Monetary policy with interest on reserves. Journal of Economic Dynamics and Control, 49, 74-108.

     

    Deepak Mohanty. (2012). Evidence of Interest Rate Channel of Monetary Policy Transmission in India. RBI working paper

    Kitamura, T., Muto, I., & Takei, I. (2015). How do Japanese banks set loan interest rates?:

     

    Estimating pass-through using bank-level data (No. 15-E-6). Bank of Japan.

     

    Perera, A., & Wickramanayake, J. (2016). Determinants of commercial bank retail interest rate adjustments: Evidence from a panel data model. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 45, 1-20.

     

    36


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-FDI-kh%C3%B4ng-th%E1%BB%83-h%E1%BB%A7y-ngang-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CÁC NHÂN TỐ BẤT ĐỊNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ TRONG DỰ ÁN FDI KHÔNG THỂ HỦY NGANG TẠI VIỆT NAM

     

    UNCERTAINTIES AFFECTING INVESTMENT DECISION IN FDI-IRREVERSIBLE PROJECTS IN VIETNAM

     

    Lê Quốc Thành1

     

    Ngày nhận: 16/10/2018           Ngày nhận bản sửa: 29/10/2018           Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn được ưu tiên bởi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt với các nước đang phát triển do nhiều lợi ích của FDI mang lại. Quyết định đầu tư của công ty nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định tại Việt Nam luôn đối mặt với nhiều nhân tố bất định. Nghiên cứu này hướng đến việc khám phá các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của công ty nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số nhân tố bất định mới hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản trị và các chuyên gia tư vấn trong công tác thu hút đầu tư FDI tại Việt Nam.

     

    Từ khóa: quyết định đầu tư, dự án đầu tư, nhân tố bất định, FDI.

     

    Abstract

     

    Attracting foreign direct investment (FDI) is always given priority of Goverments and policy makers, especially developing countries due to benefits of FDI. Investment decision of foreign companies into fixed asset project is always facing many uncertainties. This study is aming at discovering uncertainties affecting investment decision of foreign companies into fixed asset projects in Vietnam. Research results show that there are several new uncertainies which are useful to policy makers, managers and investment consultant in attracting FDI into Vietnam. Key words: investment decision, investment project, uncertainties, FDI.

     

    1. Giới thiệu

     

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khái niệm chỉ dòng vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài, đa phần là các công ty đa quốc gia (MNE/MNC) vào thị trường nội địa của một quốc gia, chủ yếu là vào các dự án đầu tư tài sản cố định như nhà xưởng máy móc nhằm sản xuất hàng hóa cung cấp dịch vụ. Loại hình đầu tư này đã trở thành một phần quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới (UNCTAD, 2004). Nghiên cứu về

     

    __________________________________________

    FDI phát triển mạnh từ những năm 1960-1970, Hymer (1960) và Caves (1971) cho rằng FDI là công cụ để khai thác các lợi thế về tài sản cố định của doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài, tiếp cận nguồn nguyên liệu dễ dàng, phân công chuyên môn hóa trong chu trình sản xuất trên toàn hệ thống của công ty đa quốc gia. Dunning (1971) phát hiện FDI có vai trò như một bước đi chiến lược có tính chất phòng thủ của doanh nghiệp tránh đầu tư quá tập trung vào quốc gia chính quốc, đa dạng hóa nhằm giảm

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    43

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    rủi ro toàn hệ thống; Watters (1995) chứng minh rằng đầu tư FDI nhằm hạn chế các khó khăn của thị trường nội địa chính quốc nhất là khi thị trường đó ngày càng tiến đến bão hòa. Các nghiên cứu đánh giá lợi ích do FDI mang lại có thể kể đến như sau: (1) gia tăng thu nhập cho người lao động thông qua tiền lương, tăng việc làm (UNCTAD, 2004); (2) sử dụng nguyên vật liệu và nhiều yếu tố đầu vào cho sản xuất từ địa phương, thúc đẩy đầu tư nội địa, (3) tạo hiệu ứng lan tỏa từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp nội địa (Javorcik &ctg, 2007; Kneller

     

    • Pisu, 2007); (4) chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước và góp phần tăng năng suất (Kokko & ctg, 1996; Gorg & Strobl, 2001; UNCTAD, 2004; Potterie & Lichtenberg, 2001); (5) góp phần gia tăng xuất khẩu và ngoại tệ cho quốc gia nhận đầu tư (Nigel Pain & Katharine, 2002); (6) giúp chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa ( Dunning
    • Narula, 2003).

    FDI từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển tăng mạnh trong thời gian gần đây. Theo Peters (2009) thống kê từ năm 1992-2008, thế giới phương Tây đầu tư ngày càng nhiều ra các nước đang phát triển và nhập khẩu trở lại chính quốc với giá trị tăng gần gấp đôi trong vòng gần 20 năm. Việt Nam hiện là một nước đang phát triển có nhu cầu lớn về thu hút đầu tư FDI, đặc biệt là FDI vào các dự án có giá trị tài sản cố định lớn (hay giá trị đầu tư ban đầu lớn lên đến hàng tỷ USD). Theo dự báo viễn cảnh đầu tư vào hạ tầng thế giới do Trung tâm Hạ tầng toàn cầu (GI Hub – Global Infrastructure Hub) và Oxford Economics dự báo từ 2016 đến 2040 Việt Nam cần đầu tư vào hạ tầng cơ sở khoảng 608 tỷ USD (Global Infrastructure Outlook, 2007 & Oxford Economics).

     

    Các dự án đầu tư tài sản cố định lớn này còn được giới học thuật gọi là dự án đầu tư không

    thể hủy ngang/không thể đảo ngược được1, có vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian chuẩn bị đầu tư dài và đến thời điểm ra quyết định đầu tư dự án, doanh nghiệp phải chi một lượng chi phí khá lớn có thể đến 10% tổng vốn đầu tư dự án cho công tác nghiên cứu thị trường, khảo sát thiết kế kỹ thuật, lập báo cáo tiền khả thi và khả thi dự án (Burke, 2003). Các dự án này có thể chia làm 3 loại theo Archibald & Voropaev (2004) bao gồm: (1) Dự án hạ tầng giao thông vận tải, hạ tầng viễn thông; (2) Dự án hạ tầng năng lượng (nhà máy lọc dầu, nhà máy điện các loại); (3) Dự án sản xuất hàng hóa cơ bản của nền kinh tế (sắt thép, nguyên vật liệu, hóa chất…). Có thể thấy ngay các dự án này có tầm quan trọng thiết yếu cho bất kỳ một nền kinh tế mạnh nào trên thế giới. Do vậy, khuyến khích đầu tư vào loại hình dự án luôn là chính sách ưu tiên của các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, FDI vào các dự án không thể hủy ngang tại các nước đang phát triển luôn đi kèm nhiều nhân tố bất định.

     

    Chính vì vậy nghiên cứu về các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án FDI lớn tại Việt Nam sẽ̃ đem lại nhiều lợi ích, có thể kể đến bao gồm: (1) Nghiên cứu sẽ̃ giúp các nhà hoạch định chính sách am hiểu hành vi đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào các dự án FDI lớn tại Việt Nam, nhờ đó công tác thiết kế chính sách và hoạch định các cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài tốt hơn; (2) Nghiên cứu sẽ̃ giúp các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà quản trị dự án, các chuyên gia tư vấn am hiểu về các nhân tố bất định, cơ chế ảnh hưởng của các bất định đến quyết định đầu tư mà nhờ

     

    • “Dự án đầu tư không thể hủy ngang hay không thể đảo ngược được” là các dự án đầu tư vào tài sản cố định lớn/có vốn đầu tư ban đầu lớn (Irreversible project) theo McDonald & Siegel (1986)

    44

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    vậy giúp chủ động nghiên cứu, làm rõ giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các bất định này, nâng cao khả năng thành công dự án tại Việt Nam. (3) Nghiên cứu này sẽ̃ góp phần làm giàu kiến thức liên quan đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài trong trường hợp bất định nói riêng, góp phần vào công tác đào tạo chuyên ngành cho sinh viên các cấp học khác sau.

     

    2. Tổng quan lý thuyết

     

    Doanh nghiệp được định nghĩa đơn giản nhất là một pháp nhân thành lập theo luật định có mục đích vì lợi nhuận và luôn tối đa hóa lợi nhuận (Chandler, 1992). Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều trực tiếp hay gián tiếp hướng đến lợi nhuận trong cả ngắn, trung và dài hạn. Hình thái hiện đại của doanh nghiệp hiện nay là mô hình doanh nghiệp công nghiệp (industrial organization), bắt đầu xuất hiện từ những năm 1880s và ngày càng phát triển (Chandler & Hikino, 2009). Hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới trong danh mục S&P 500 đều là các doanh nghiệp công nghiệp lớn. Bên cạnh việc đóng vai trò nhà sản xuất cung cấp hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao ra thị trường, doanh nghiệp công nghiệp còn đóng vai trò nhà đầu tư2 nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong trung và dài hạn, duy trì vị thế trên thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường tiềm năng (Carlton & Perloff, 2015). Do vậy, các doanh nghiệp công nghiệp này có xu hướng tập trung tìm kiếm, đánh giá và ra quyết định đầu tư trong các dự án công nghiệp lớn hay còn gọi là dự án đầu tư không thể hủy ngang. Các doanh nghiệp công nghiệp lớn, nhất là các công ty đa quốc gia (MNC/MNE), kể cả doanh nghiệp quản trị bởi gia đình, thông thường được lãnh đạo và quản trị bởi một nhóm các nhà quản

     

    • Trong toàn bộ nghiên cứu này, Nhà đầu tư luôn được hiểu là doanh nghiệp công nghiệp đầu tư vào dự án thâm dụng vốn lớn hay còn gọi là “Dự án không thể đảo ngược được” (Irreversible project).

    trị có quan hệ chặt chẽ̃ dựa trên các quy định quản trị nội bộ (corporate governance) nhằm đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp được quản trị hướng đến tối đa hóa lợi nhuận, hay tối đa hóa cổ tức cho các cổ đông, được thống nhất và tuân thủ triệt để bởi các thành viên hội đồng quản trị (Bernard S. Black, Hasung Jang

     

    • Woochan Kim, 2006). Do vậy các quyết định của doanh nghiệp với tư cách nhà đầu tư luôn có xu hướng ra quyết định duy lý (Carlton & Perloff, 2015). Nhà đầu tư duy lý luôn ra quyết định trên cơ sở các thông tin tốt nhất, các bằng chứng đáng tin cậy và lý lẽ̃ phù hợp, hạn chế các quan điểm cảm tính. Do vậy, các nhà đầu tư duy lý luôn có xu hướng nghiên cứu, tìm hiểu làm rõ nhằm làm giảm các nhân tố bất định ảnh hưởng đến dự án mà họ đang cân nhắc ra quyết định đầu tư.

    Một đặc tính quan trọng liên quan đến khía cạnh ra quyết định đầu tư của dự án lớn là tính chất không thể đảo ngược/hủy ngang (irreversibility) được McDonald & Siegel (1986) đề cập lần đầu tiên vào năm 1986 và mở ra một nhánh nghiên cứu về việc ra quyết định đầu tư vào loại hình dự án này (Bertola, 1998). Pindyck (1990) cho rằng hầu hết các dự án đầu tư hữu hình lớn đều có 2 đặc tính quan trọng là: (1) Không thể đảo ngược hay hủy ngang là: trong quá trình chuẩn bị đầu tư hay thực hiện đầu tư, nếu nhà đầu tư dừng hay hủy ngang, toàn bộ chi phí tính đến thời điểm dừng sẽ̃ bị mất do kết quả của dự án đến thời điểm hủy ngang không thể sử dụng cho mục đích kinh tế nào khác dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư luôn trì hoàn chờ thông tin tốt hơn nhằm giảm các nhân tố bất định về số lượng và cả mức độ bất định; (2) Dự án không thể đảo ngược/hủy ngang có thể được tạm dừng (Wait & See status) theo Bjerksund & Ekern (1990); Stokey (2016) nhằm chờ đợi những thông tin tích cực hơn cho

     

    45

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    việc ra quyết định đầu tư, như giá cả của sản phẩm dịch vụ dự án sẽ̃ cung cấp tăng, chi phí đầu tư ban đầu giảm, thay đổi chính sách theo hướng tích cực cho dự án.

    Đối với doanh nghiệp, ra quyết định đầu tư vào trong các dự án đầu tư không hủy ngang (Dixit & Pindyck, 1994), là một trong các quyết định tài chính chiến lược bên cạnh các quyết định tài chinh quan trọng khác như quyết định phân chia cổ tức (dividend policy), quyết định tài trợ (financing decision). Ngay trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư khi doanh nghiệp còn đầu tư rất ít chi phí, nếu phát triển dự án tốt và thực tốt công tác quan hệ công chúng quảng bá, giá trị thị trường của dự án có thể tăng, giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp nói chung (Fuss & Vermeulen, 2008).

     

    Nghiên cứu về “Quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong trường hợp có nhiều yếu tố bất định3 – Investment decision under uncertainties” là những hướng nghiên cứu hàn lâm điển hình trong giới học thuật trên thế giới, phát khởi từ những năm 1960 (Hirshleifer, 1965), được phát triển bởi một số học giả điển hình như Lucas Jr & Prescott (1971); Abel (1983); Dixit & Pindyck (1994); và Abel & Eberly (1994, 1997); hiện rất phổ biến trên thế giới. Các nghiên cứu này chia làm 2 hướng chính: (1) Phát hiện và khẳng định các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp hay đến dòng vốn FDI;

     

    • Đo lường tác động của một vài nhân tố lên quyết định đầu tư hay tác động lên các nhân tố khác như vốn, công nghệ hay lao động trong dự án đầu tư. Nghiên cứu này được phát triển theo hướng thứ nhất là phát hiện và khẳng định các nhân tố bất định mới.
    • Uncertainty được hiểu là tình huống không chắc chắn hay “nhân tố bất định” là nhân tố mà doanh nghiệp chưa có thông tin đầy đủ đáng tin cậy để lượng hóa thành rủi ro hoặc có thể lượng hóa nhưng có sai số rất lớn.

    Từ những năm 1970, nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến FDI tại các nước phát triển ở cấp độ vĩ mô – quốc gia, cấp độ ngành và cấp độ doanh nghiệp. Các nhân tố có thể được tổng kết như: mức độ phát triển hạ tầng, lãi suất/chi phí vốn tại thị trường nội địa, tỷ giá hối đoái, thuế, thể chế, vị trí của quốc gia nhận đầu tư, mức độ bảo hộ thương mại, tác động của các cam kết thương mại.

     

    Một ví dụ điển hình là nhân tố bất định thuế mà doanh nghiệp FDI phải chi trả. Theo Niemann (2004), sự bất định của thuế suất sẽ̃ ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền sau thuế và lãi suất của vốn đầu tư. Đối với thuế suất dự kiến trong tương lai không xác định, các nhà đầu tư duy lý thường phải giả định một mức thuế nhất định như họ mong đợi. Một số nghiên cứu về thuế ảnh hưởng đến đầu tư như Alvarez

     

    • ctg (1998) phát hiện ra rằng nếu các nhà đầu tư cho rằng thuế suất sẽ̃ giảm, họ có xu hướng đẩy nhanh đầu tư và ngược lại; Hassett & Metcalf (1999) và Agliardi (2001) kết luận rằng những bất định trong chính sách thuế chắc chắn sẽ̃ trì hoãn các dự án đầu tư.

    Tại Việt Nam một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư FDI nói chung đã được phát triển, điển hình là nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa & Bùi Bích Phương (2014) và Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017). Cả hai nghiên cứu đều áp dụng phương pháp định lượng nhằm khẳng định các nhân tố định lượng có quan hệ với đầu tư FDI vào Việt Nam như GDP, tổng dự trữ ngoại hối, mức độ phát triển hạ tầng, chi phí nhân công lao động, độ mở thương mại quốc gia, chất lượng lao động, mức độ đô thị hóa, mức độ tập trung của các doanh nghiệp trong nước. Các nghiên cứu này có ý nghĩa lớn trong xây dựng chính sách vĩ mô thu hút đầu tư.

     

    46

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Qua phần tổng quan lý thuyết, có thể kết luận rằng có nhiều nhân tố bất định, bao gồm cả định lượng và định tính tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định lớn. Theo kết quả khảo cứu tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định lớn không thể hủy ngang. Một số nghiên cứu gần liên quan đến thu hút FDI của Việt Nam chưa hướng đến phát hiện các nhân tố bất định mới. Thế nên, chúng ta có thể kết luận là hiểu biết của chúng ta về các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào dự án đầu tư không thể hủy ngang là hết sức hạn chế. Do vậy nghiên cứu này được thiết kế theo hướng nghiên cứu khám phá (exploratory research) theo Strauss & Corbin (1990), sử dụng cách tiếp cận nghiên cưu đinh tinh sư dung công cu phong vân sâu cho phép phat hiên va xac đinh cac nhân tô bất định mới chưa được các nghiên cứu trước đây đề cập. Nhăm đam bao chât lương nghiên cưu đinh tinh, tác giả tuận thủ quy trinh nghiên cưu đinh tinh, sô tay phong vân bao gồm nhưng khuyên cao nhăm đao bao chât lương nghiên cưu đinh tinh theo Lincoln

     

    • Guba (1985) va Kvale (1995) sẽ đươc tuân thu triêt đê. Trinh tư thưc hiên nghiên cưu đinh tinh băng phong vân sâu nhiêu vong thiêt kê theo Seidman (2013); Okoli va Pawlowski (2004). Cũng theo (Okoli & Pawlowski, 2004), chất lượng chuyên gia ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu, nên các chuyên gia đang làm việc cho các công ty tư vấn kiểm toán lớn như KPMG, PWC, Ersnt & Young và Deloitte (Big Four)4, hoặc các công ty tư vấn luật quốc tế tại Việt Nam là phù hợp. Sô lương chuyên gia
    • Xếp hạng theo doanh thu của tổ chức Statista năm 2017: Revenue of the Big Four accounting / audit firms worldwide in 2017 (in billion U.S. dollars). (https://www.statista.com/statistics/250479/big-four-accounting-firms-global-revenue/)

    phong vân dư kiên dưới 10 chuyên gia (Crouch

     

    • McKenzie, 2006). Phong vân sẽ kêt thuc khi không phat hiên cac nhân tô mơi (có xu hướng bao hoa) trong 2-3 lân phong vân sau cung (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Trình tự phỏng vấn các chuyên gia được yêu cầu:
    • Nghiên cưu cac nhân tố bất định băng ca tiêng Viêt lẫn tiêng Anh, binh luân vê ngư nghia tiêng Viêt cua cac nhân tố bất định trong bôi canh Viêt Nam. Thông qua bươc nay, tên cac nhân tố bất định băng tiêng Viêt sẽ đươc chuân hoa.
    • Loai bo cac nhân tố bất định ma chuyên gia cho răng không xuât hiên trong bôi canh FDI tai Viêt Nam hoăc co tac đông qua nho đên quyết định đầu tư vào dự án

    không hủy ngang.

     

    • Bô sung cac nhân tố bất định mơi ma trong danh sach chưa co, giai thich vê nôi dung cua cac nhân tố bất định mơi nay va cơ chế tac đông giưa cac nhân tố bất định nay vơi quyết định đầ tư vào dự án FDI không hủy ngang.
    • Xêp hang cac nhân tố bất định theo mưc đô tac đông (đươc xac đinh bơi cac chuyên gia) lên quyết định đầu tư vào dự án FDi không hủy ngang.

    Sau môi lân phong vân, kêt qua phong vân sẽ đươc tông kêt va gưi đên chuyên gia nhăm khăng đinh lai xem co sư khac biêt trong ghi nhân vê nôi dung phong vân hay không trươc khi sư dung cho phân tich va đơt phong vân kê tiêp. Kết quả phỏng vấn đợt này được cập nhật vào Bảng câu hỏi cũng như Sổ tay phỏng vấn nhằm phục vụ cho lần phỏng vấn kế tiếp.

     

    4. Thảo luận kết quả nghiên cứu

     

    • Kết quả nghiên cứu

     

    Sau bảy vòng phỏng vấn, thông tin có xu

     

    hướng lặp lại rõ rệt trong hai lần cuối, do vậy, quá trình phỏng vấn kết thúc (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Các nhân tố bất định quan trọng được các chuyên gia đề xuất, khẳng định và xếp hạng được tổng hợp và trình bày trong Bảng 4.1 như sau.

     

    47

     

       

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     
     

    Bảng 4.1 Các nhân tố bất định được phát hiện và khẳng định

     

    STT

    Tên nhân tố

    Giải thích

    Xếp hạng

    Nhân

    tố bất định cấp độ vĩ mô

     

    1

    Tỷ giá hối đoái

    Doanh nghiệp đầu tư bằng đồng ngoại tệ, chuyển vào và

    3

       

    chuyển đổi sang đồng Việt Nam. Trong trung và dài hạn,

     
       

    khi doanh nghiệp bắt đầu chuyển lợi nhuận ra khỏi Việt

     
       

    Nam, chênh lệch tỷ giá hối đoái thời điểm đầu tư và thời

     
       

    điểm chuyển lãi có ảnh hưởng đến lợi nhuận chuyển ra của

     
       

    doanh nghiệp FDI

     

    2

    Ổn định chính

    Đây là rủi ro có khả năng/xác xuất xảy ra nhỏ nhưng nếu

    6

     

    trị và quan hệ

    xảy ra tổn thất có thể rất lớn và có thể là tổn thất toàn bộ

     
     

    ngoại giao

    (nếu xảy ra chiến tranh), ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình

     
       

    hình “sức khỏe tài chính” của cả công ty mẹ. (Trường hợp

     
       

    Dự án nhà máy lọc dầu của Mitsui tại Iran khi chiến tranh

     
       

    Iran-Iraq xảy ra 1980-1988)

     

    3

    Bất định về

    Chính sách đầu tư không nhất quán, không rõ ràng, hay

    4

     

    chính sách

    thay đổi làm gia tăng chi phí đầu tư ban đầu cũng như gián

     
     

    đầu tư

    tiếp tăng chi phí hoạt động kinh doanh

     

    4

    Bất định về

    Một số ngành nhà đầu tư nước ngoài chưa được đầu tư đa

    3

     

    chính sách tiếp

    phần vốn để có thể quyết định ứng dụng các quy trình quản

     
     

    cận và mở rộng

    trị hiện đại, kiểm soát hiệu quả hoạt động kinh doanh, như

     
     

    thị trường

    cảng biển, viễn thông,… hay ngành điện vẫn phải bán buôn

     
       

    điện cho Điện lực Việt Nam. Đây là một số hạn chế tạo nên

     
       

    khiến nhà đầu tư nước ngoại thận trọng.

     

    Nhân

    tố bất định cấp độ doanh nghiệp – nhà đầu tư

     

    5

    Bất định về

    Bất định về thuế có ảnh hưởng trực trực tiếp làm giảm lợi

    1

     

    Thuế

    nhuận dự án. Các nhà đầu tư luôn cố gắng làm rõ các khoản

     
       

    thuế phí phải trả theo luật định cũng như đánh giá khả năng

     
       

    chính phủ tăng thuế suất và các sắc thuế mới trong tương

     
       

    lai như thuế môi trường, thuế phát thải…

     

    6

    Không rõ ràng

    Đây là nhân tố được các chuyên gia rất quan tâm do tiến

    2

     

    về các thủ tục

    trình này tốn nhiều thời gian, làm nản long nhà đầu tư cũng

     
     

    và diễn giải các

    như như mất cơ hội đầu tư. Cải cách thủ tục hành chính

     
     

    nội dung trong

    trong đầu tư cũng như công tác làm rõ các quy trình thủ tục,

     
     

    quá trình đầu

    mẫu biểu và tài liệu giải trình về cả thể thức nội dung là rất

     
     

    tư bao gồm các

    cần thiết nhằm giúp các nhà đầu tư làm rõ các thủ tục này.

     
     

    giấy phép con

       

    7

    Bất định về giá

    Dao động về giá bán sản phẩm tại nội địa và xuất khẩu ảnh

    3

     

    bán sản phẩm/

    hưởng trực tiếp đến doanh thu dự án. Tuy nhiên, dao động

     
     

    dịch vụ

    này cũng ảnh hưởng chung lên các đối thủ của dự án FDI.

     

    48

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    4.2. Thảo luận các kết quả nghiên cứu Tât ca cac chuyên gia tham gia phong vân

     

    đêu nhân định răng “quyết định đầu tư” vào dự án nói chung tại nước ngoài là một hoạt động đầy thách thức cho các doanh nghiệp, bởi một số nguyên nhân :

    • Xét theo góc độ doanh nghiệp: (1) Quyết định đầu tư là một trong vài loại quyết định chiến lược của doanh nghiệp và dường như các nhà quản trị doanh nghiệp coi là quan trọng nhất vì dự án đầu tư tiêu tốn một lượng vốn lớn và có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong trung và dài hạn; (2) Ngay trong thời kỳ nghiên cứu chuẩn bị đầu tư, doanh nghiệp đã phải tiêu tốn một chi phí đang kể và thông tin về tiến độ thực hiện dự án có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp; (3) Quyết định đầu tư ra nước ngoài nơi khác biệt hoàn toàn về văn hóa, chính trị, thị trường, môi trường luật pháp,… tạo ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp.

     

    • Xét theo góc độ nhà quản trị doanh nghiệp: Cá nhân các nhà quản trị được giao nhiệm vụ thay mặt doanh nghiệp thực hiện các công tác chuẩn bị phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư có trách nhiệm rất lớn trước hội đồng quản trị doanh nghiệp. Sự nghiệp và con đường phát triển nghề nghiệp của các cá nhân được giao chịu trách nhiệm công việc này phụ thuộc nhiều vào kết quả thành công của dự án đầu tư.
    • Xét theo tính chất phức tạp và tầm quan trọng của việc ra quyết định đầu tư: Ra quyết định đầu tư liên quan đến rất nhiều nhóm công việc phải thực thi để có cơ sở ra quyết định, bao gồm: (1) Tìm hiểu và phân tích thị trường xác định thị phần làm cơ sở cho một dự án đầu tư; (2) Thực hiện công tác lập dự án đầu tư bao gồm công tác nghiên cứu chi tiết, thiết kế xây dựng tổng mức đầu tư dự án; (3) Đánh

    giá các nhân tố bất định và rủi ro. Tất cả các hoạt động trên đều liên quan đến rất nhiều yếu tố ngoài doanh nghiệp, do vậy tính phức tạp và bất định rất cao.

    Do vậy, ngoài công tác chuẩn bị dự án, các doanh nghiệp luôn cập nhật thông tin, làm rõ các nhân tố bất định nhằm đủ thông tin và đưa các nhân tố bất định này về thành các rủi ro và nhờ vậy doanh nghiệp có thể áp chi phí để quản trị các rủi ro này và đưa chi phí quản trị rủi ro này vào tính toán các chỉ số tài chính của dự án. Trong trường hợp không đầy đủ thông tin, doanh nghiệp bắt buộc phải áp chi phí quản trị rủi ro với sai số lớn hơn và do vậy ảnh hưởng đến kết quả tính toán các chỉ số tài chính dự án. Các nghiên cứu thực nghiệm về nhân bất định ảnh hưởng đến lợi nhuận dự án đã cho thấy, với dự án điện chạy than, để đảm bảo dự án khả thi, giá điện đã phải tính tăng từ 5 – 10% do bất định về thuế phát thải carbon (William, & ctg, 2007).

     

    1. Khuyến nghị về chính sách và quản trị Qua kết quả nghiên cứu có thể thấy có nhiều

    nhân tố bất định, bao gồm cả cấp độ vĩ mô và cấp độ doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lợi nhuận mong đợi của dự án mà doanh nghiệp dự kiến đầu tư và do đó có ảnh hưởng lớn đến hành vi ra quyết định đầu tư vào dự án của doanh nghiệp. Trên cơ sở các nhân tố bất định phát hiện và khẳng định thông qua phỏng vấn chuyên gia, một số đề xuất hoàn thiện chính sách và gợi ý cho nhà quản trị, chuyên gia tư vấn dự án đầu tư FDI vào Việt Nam như sau.

     

    + Khuyến nghị về mặt chính sách:

     

    Cam kết ổn định luật liên quan đến đầu tư: Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách cần xây dựng luật với tầm nhìn trung và dài hạn cũng như việc sửa đổi luật cần thực hiện với sự tham vấn thích đáng của các nhà doanh nghiệp/ nhà đầu tư trong ngành nhằm tránh các sửa đổi

     

    49

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    ngoài mong đợi. Đồng thời Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành cần có cơ chế phát tín hiệu tích cực với thị trường về sự ổn định hệ thống luật và chính sách dưới luật liên quan đến đầu tư nói chung, các luật chuên ngành và cơ chế dưới luật. Điều này đã được nhiều nghiên cứu khẳng định mà điển hình là nghiên cứu của White & ctg (2013) về bất định trong chính sách năng lượng sạch tại Na Uy đã làm mất niềm tin của nhà đầu tư. Nghiên cứu cũng khẳng định bất định trong chính sách đầu tư rõ ràng tác động tiêu cực đến mức độ đầu tư.

     

    Ổn định vĩ mô: Với các nhà hoạch định chính sách, rõ ràng để thu hút đầu tư cần xây dựng chính sách hướng đến bình ổn kinh tế vĩ mô thông qua ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô như lãi suất cơ bản, tỷ giá hối đoái, lạm phát bình ổn sẽ̃ góp phần thu hút FDI nói chung. Ngoài ra việc cam kết xây dựng và duy trì các luật lệ có ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh cần được xây dựng theo quan điểm dài hơi, tạo ổn định lâu dài.

     

    • Khuyến nghị về mặt quản trị: Với các nhà quản trị của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các tư vấn đầu tư cần tập trung vào các nhân tố bất định cấp độ doanh nghiệp như bất định thuế, bất định về khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường, bất định về giá bán, cụ thể như sau.

     

    Bất định về thuế: Đây là nhân tố bất định tác động trực tiếp vào lợi nhuận dự án và có

     

    Tai liêu tham khao

    tác động lâu dài nếu xảy ra, do vậy, cần tham vấn, phân tích và dự báo trước các loại thuế trong tương lai có thể được áp dụng theo thong lệ quốc tế mà các loại thuế liên quan đến môi trường như thuế phát thải carbon là một ví dụ điển hình. Đây là sắc thuế đã được nhiều quốc gia áp dụng và rất có thể trong tương lai xuất hiện tại Việt Nam theo nhu cầu thực tiễn nâng cao nguồn lực bảo vệ môi trường cũng như thực hiện các cám kết quốc tế như Nghị định thư Kyoto (1997) về chống biến đổi khí hậu.

     

    Bất định về khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường cũng như bất định về giá bán: Với một số ngành, nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào dự án tại Việt Nam có thể chưa được trực tiếp tiếp cận thị trường trực tiếp và/hoặc bị giới hạn ( như điện, cảng biển, viễn thông,…), và chi phí đầu tư phụ thuộc một phần vào các giấy phép chuyên ngành như xây dựng, môi trường,…, nhà đầu tư cần sử dụng các chuyên gia tư vấn nhiều kinh nghiệm nhằm làm rõ các thủ tục và chi phí này, giảm thiểu nguy cơ chậm trể tiến độ dự án ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Ngoài ra cần chú trọng công tác nghiên cứu thị trường, nâng cao mức độ chính xác của dự báo về khách hàng/doanh thu nhằm nâng cao độ tin cậy của các chỉ số tài chính trong thẩm định và ra quyết định đầu tư vào dự án.

     

    Abel, A. B. (1983). “Optimal investment under uncertainty”, American Economic Review, 73, 228-233.

     

    Abel, A. B. and J. C. Eberly (1994). “A unified model of investment under uncertainty”, American Economic Review, 84(5), 1369-1384.

     

    Abel, A.B. & J. C. Eberly (1997). “An exact solution for the investment and value of a firm facing uncertainty, adjustment costs, and irreversibility”, Journal of Economic Dynamics and Control, 21, 831-852.

     

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Agliardi,E. (2001).Taxation and investment decisions: a real options approach. Australian Economic Papers 40(1), 44-55.

     

    Alvarez, L. H., Kanniainen, V., & Sodersten, J. (1998). Tax policy uncertainty and corporate investment: A theory of tax-induced investment spurts. Journal of Public Economics 69(1), 17-48.

    Andrew B. Abel (1983). Optimal Investment Under Uncertainty (effects of uncertainty on investment). The American Economic Review, Vol. 73, No. 1 (Mar., 1983), pp. 228-233.

     

    Archibald Russell D & Vladimiri Voropaev. (2004). Project catergories and life cycle models: Report on the 2003 IPMA Global Survey, 18th IAPM Project Management World Congress, Budapest, June 18-21, 2004.

    Bernard S Black, Hasung Jang & Woochan Kim (2006). Does Corporate Governance Predict Firms’ Market Values? Evidence from Korea, The Journal of Law, Economics, and Organization.

     

    Bertola Giuseppe. (1998). Irreversible investment, Research in Economics (1998) 52, 3–37.

     

    Bjerksund P & S Ekern (1990). Managing Investment Opportunities under Price Uncertainty: From “Last Chance” to “Wait and See”, Strategies- Financial Management, JSTOR.

     

    Carlton DW & Perloff JM. (2015). Modern industrial organization. Pearson Higher Education.

     

    Crouch, M., & McKenzie, H. (2006). The logic of small samples in interview-based qualitative research. Social science information, 45(4), 483-499.

     

    Caves RE (1971). International corporations: The industrial economics of foreign investment, Economica, JSTOR.

     

    Chandler AD Jr. (1992). What is firm? A historical perspective. European Economic Review 36(1992) 483-994 North-Holland.

     

    Chandler AD & Hikino T. (2009). Scale and scope: The dynamics of industrial capitalism, Havard University Press.

     

    Dixit AK. (1992). Investment and hysteresis, Journal of economic perspectives, VOL. 6, NO. 1, WINTER 1992, (pp. 107-132).

     

    Dixit, A. K., & Pindyck, R. S. (1994). Investment under uncertainty. Princeton university press.

     

    Dunning, J. (1971). The Multinational, George Allen & Unwin Ltd, London.

     

    Dunning J.& Narula R. (2003). Foreign direct investment and governments: catalysts for economic restructuring, Routledge Taylor Francis Group.

     

    Fuss, C., & Vermeulen, P. (2008). Firms’ investment decisions in response to demand and price uncertainty. Applied Economics, 40(18), 2337-2351.

     

    Hassett, K. A., & Metcalf, G. E. (1999). Investment with uncertain tax policy: Does random tax policy discourage investment. The Economic Journal, 109(457),372-393.

     

    Harrison, A. (1994). The role of multinationals in economic development: the benefits of FDI. The Columbia Journal of World Business, 29(4), 6-11.

     

    Hirshleifer J. (1965). Investment Decision under Uncertainty: Choice—Theoretic Approaches, The Quarterly Journal of Economics, Volume 79, Issue 4, 1 November 1965, Pages 509–536.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Javorcik, Beata Smarzynska & Mariana Spatareanu (2007): “To Share or Not To Share: Does Local Participation Matter for Spillovers from Foreign Direct Investment?”, Journal of Development Economics, forthcoming.

    Kokko, A., Tansini, R., & Zejan, M. C. (1996). Local technological capability and productivity spillovers from FDI in the Uruguayan manufacturing sector. The Journal of Development Studies, 32(4), 602-611.

     

    Kneller, I.R., & Pisu, M., (2007). Industrial linkages and export spillovers from FDI. The World Economy, 30(1), 105-134.

     

    Lucas RE Jr & Prescott EC. (1971). Investment under uncertainty, Econometrica: Journal of the Econometric Society, – JSTOR.

     

    Myers, S.C., (1977). The determinants of corporate borrowing. Journal of Financial Economics 5, 147–175.

     

    McDonald R & Siegel D. (1986). The value of waiting to invest. The quarterly journal of economics, Volume 101, Issue 4 (Nov.,1986), 707-728.

     

    Nigel Pain & Katharine Wakelin (2002). Export Performance and the Role of Foreign Direct Investment, The Manschester School, Wiley Online Library.

     

    Niemann, R. (2004). Tax rate uncertainty, investment decisions, and tax neutrality. International Tax and Public Finance, 11(3), 265-281.

     

    Okoli, C., & Pawlowski, S. D. (2004). The Delphi method as a research tool: an example, design considerations and applications. Information & management, 42(1), 15-29.

     

    Peters, G. P., Minx, J. C., Weber, C. L., & Edenhofer, O. (2011). Growth in emission transfers via international trade from 1990 to 2008. Proceedings of the National Academy of Sciences, 108(21), 8903-8908.

     

    Potterie BP & Lichtenberg F, (2001). Does foreign direct investment transfer technology across borders? Review of Economics and Statistics, MIT Press.

     

    Pindyck, R. S. (1990). Irreversibility, uncertainty, and investment (No. w3307). National Bureau of Economic Research.

     

    Reilly FK & Brown KC. (2002). Investment analysis and portfolio management, South-Western Cengage Learning.

     

    Stokey, N. L. (2016). Wait-and-see: Investment options under policy uncertainty. Review of Economic Dynamics, 21, 246-265.

     

    William Blyth, & Richard Bradley & Derek Bunnc, & Charlie Clarked & Tom Wilsond & Ming Yang (2007). Investment risks under uncertain climate change policy. Energy Policy, 35(11), 5766-5773.

    White W, Lunnan A, Nybakk E & Kulisic B. (2013). The role of governments in renewable energy: The importance of policy consistency, Biomass and bioenergy, Volume 57, October 2013, Pages 97-105.

     

    52


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%B1-do-h%C3%B3a-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-%C4%91%E1%BA%BFn-m%E1%BB%91i-quan-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-gi%E1%BB%9Bi-h%E1%BA%A1n-t%C3%A0i-tr%E1%BB%A3-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH

     

    ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA GIỚI HẠN TÀI TRỢ VÀ ĐẦU TƯ

     

    THE IMPACTS OF FINANCIAL LIBERALIZATION ON THE RELATIONSHIP BETWEEN THE FUNDING CONSTRAINTS AND INVESTMENT

     

    Nguyễn Thị Liên Hoa1, Nguyễn Ngọc Thụy Vy2

     

    Ngày nhận: 20/8/2018            Ngày nhận bản sửa: 30/8/2018            Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư tại các doanh nghiệp phi tài chính ở 5 quốc gia Asean bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua việc xây dựng hàm đầu tư theo phương trình Euler đề xuất bởi Abel (1980), hàm đầu tư được ước lượng bằng mô hình chuyển đổi trong đó trạng thái tài chính và hành vi đầu tư của doanh nghiệp được xác định đồng thời. Kết quả chính yếu cho thấy tự do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp bị giới hạn tài trợ, cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền (đại diện cho giới hạn tài trợ). Từ khóa: giới hạn tài trợ, mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh, tự do hóa tài chính.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impacts of financial liberalization on the relationship between funding constraints and investment in non-financial enterprises in five ASEAN countries, including Indonesia, Malaysia and the Philippines, Thailand and Vietnam for the period 2006-2016. The research method was conducted through constructing the investment function by the Euler equation, which was proposed by Abel (1980); the investment function was estimated by the transformation model in which the financial states and investment behaviors of the corporation were defined concurrently. The main outcomes showed that financial liberalization had negative impacts on firms, which were under funding constraints; particularly, financial liberalization would increased the sensitivity of investments followed by the cash flows (representing the funding constraints).

     

    Keywords: funding constraints, endogenous switching regression models, financial liberalization.

     

    1. Giới thiệu

     

    Giới hạn tài trợ là những cản trở về mặt tài chính khiến doanh nghiệp khó tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài (Ismail và cộng sự, 2010). Giới

    hạn tài trợ xuất hiện khi thị trường tài chính tồn tại những bất hoàn hảo (Laeven, 2003), lúc này chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài trở nên đắt đỏ. Sự tồn tại của hạn chế tài chính dẫn đến

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
    • Trường Đại học Ngoại thương

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    mối liên hệ giữa tài sản ròng, chi phí tài trợ bên ngoài và mức đầu tư của doanh nghiệp (Laeven, 2003). Như vậy, trong thị trường tài chính bất hoàn hảo, khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài của doanh nghiệp là hữu hạn. Do đó doanh nghiệp buộc phải giữ lại phần lớn lợi nhuận và hạn chế chi trả cổ tức để đảm bảo có đủ nguồn tài chính cho các khoản đầu tư trong tương lai. Kết quả đầu tư của doanh nghiệp trở nên nhạy cảm trước các nguồn tài trợ khả dụng nội bộ (chẳng hạn như lợi nhuận giữ lại) hay nói cách khác doanh nghiệp bị giới hạn tài trợ. Tuy nhiên, giới hạn tài trợ không tương đồng giữa các doanh nghiệp mà phụ thuộc vào mức độ hạn chế tài chính của từng doanh nghiệp.

     

    Fazzazi, Hubbard và Petersen (1988) là các nhà nghiên cứu tiên phong tìm hiểu mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp trong điều kiện có hạn chế tài chính. Bằng cách sử dụng độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền dại diện cho giới hạn tài trợ và tỷ lệ chi trả cổ tức làm đại diện cho hạn chế tài chính, Fazzazi và cộng sự (1988) kết luận về sự khác biệt trong mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư tùy thuộc vào “loại hình” doanh nghiệp, cụ thể mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền cao ở những doanh nghiệp có mức độ hạn chế tài chính lớn (tỷ lệ chi trả cổ tức thấp). Các nghiên cứu tiếp theo của các nhà kinh tế trên thế giới cũng tiếp tục phát triển chủ đề này theo các hướng khác nhau. Tuy nhiên cách tiếp cận của Fazzazi và cộng sự (1988) có một số hạn chế: (i) Hạn chế đầu tiên là tiêu chí phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính là ngoại sinh và được giả định không đổi trong suốt thời kỳ nghiên cứu (Farre-Mensa và Ljungqvist, 2016). Nếu những đặc trưng của doanh nghiệp thay đổi theo thời gian thì các chỉ tiêu sử dụng ban đầu sẽ̃ không còn phản ánh chính xác tình trạng tài

    chính của doanh nghiệp và kết quả ước lượng hàm đầu tư trong trường hợp này sẽ̃ không còn chính xác. (ii) Về cách đo lường cơ hội đầu tư theo Q, Q không thể đo lường hết cơ hội đầu tư, đặc biệt trong trường hợp thị trường kém hiệu quả, thông tin không được phản ánh đầy đủ vào giá.

     

    Vai trò của tự do hóa tài chính đối với tăng trưởng kinh tế là một lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm từ giới nghiên cứu. Các nghiên cứu tiên phong ủng hộ tự do hóa tài chính, cho rằng tự do hóa tài chính làm tăng tính hiệu quả của đầu tư (về mặt chất cũng như mặt lượng) qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tác động của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng kinh tế thường được phân tích thông qua “kênh” đầu tư của doanh nghiệp (O’Toole và Newman, 2015), tự do hóa tài chính giúp làm giảm giới hạn tài trợ, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bumann và cộng sự, 2013), O’Toole và Newman (2015). Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây (2007–2008) đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại vai trò của tự do hóa tài chính (Adler, 2014). Stiglitz (2002) lập luận tự do hóa tài chính không giúp giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin và do đó không làm tăng hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính. Về mặt thực nghiệm, Nair (2009) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ. Cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng giới hạn tài trợ của doanh nghiệp, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ. Lúc này việc huy động vốn đầu tư sẽ̃ trở nên khó khăn hơn và do đó làm giảm mức đầu tư của doanh nghiệp cũng như sản lượng của nền kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới cho đến nay cũng chỉ tập trung vào việc nghiên cứu về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp và kết quả nghiên cứu tồn tại khá nhiều

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bằng chứng trái chiều về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp. Riêng tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư hầu như chưa được các nhà nghiên cứu khai thác.

    Trong bối cảnh trên, bài viết này được thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp. Phạm

    • nghiên cứu của bài viết giới hạn ở các doanh nghiệp phi tài chính của 5 quốc gia đang phát triển ASEAN bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh và sử dụng dạng rút gọn của phương trình Euler để nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa đầu tư và giới hạn tài trợ.

    2.           Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

     

    • Lý thuyết về tự do hóa tài chính

     

    Tự do hóa tài chính đề cập đến chính sách của Chính phủ nhằm bãi bỏ kiểm soát lãi suất cũng như kiểm soát tín dụng, dỡ bỏ hàng rào gia nhập ngành cho các định chế tài chính nước ngoài, tư nhân hóa các định chế tài chính trong nước và chấm dứt các biện pháp kiểm soát giao dịch tài chính có yếu tố nước ngoài (Bumann và cộng sự, 2013). Như vậy tự do hóa tài chính bao gồm khía cạnh trong nước và khía cạnh quốc tế. Khi xem xét tác động của tự do hóa tài chính dưới góc độ doanh nghiệp, Laeven (2003) với dữ liệu của các doanh nghiệp tại 13 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1988-1998 kết luận tự do hóa tài chính góp phần làm giảm giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. Với giới hạn tài trợ giảm, các doanh nghiệp ít phụ thuộc vào các nguồn tài trợ nội bộ và ít gặp khó khăn trong việc

    huy động vốn đầu tư bên ngoài. Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Guermazi (2014), Harris, Schiantarelli và Siregar (1994), Koo và Shin (2004) và O’Toole và Newman (2015) cũng đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu vai trò của tự do hóa tài chính với dữ liệu vi mô của từng quốc gia riêng lẻ. Bên cạnh các bằng chứng ủng hộ, tự do hóa tài chính cũng gặp không ít bằng chứng phản đối khi xem xét dưới góc độ doanh nghiệp. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ. Cơ sở lý thuyết hiện nay tồn tại khá nhiều bằng chứng trái chiều về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp. Thị trường tài chính tại các quốc gia ASEAN thường có quy định giám sát và thực thi ít hiệu quả đồng thời mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư thấp dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao (Gochoco-Baustia và cộng sự, 2014), do đó doanh nghiệp tại các quốc gia ASEAN thường gặp khó khăn trong huy động nguồn tài trợ bên ngoài (vốn cổ phần hoặc nợ). Vì lý do này đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia ASEAN có nhiều khả năng chịu tác động của giới hạn tài trợ và nhạy cảm hơn trước mức độ tự do hóa tài chính. Chỉ số tự do hóa tài chính có thể đo lường theo Abiad và cộng sự (2010) sẽ̃ được trình bày cụ thể trong phần 3.

     

    2.2. Lý thuyết Q về đầu tư

     

    Lý thuyết Q bắt đầu bằng việc kết hợp cho phí điều chỉnh vốn trong mô hình đầu tư. Chi phí điều chỉnh vốn, theo Abel (1983), là phần sản lượng mất đi khi doanh nghiệp phát sinh các khoản đầu tư mới. Theo lý thuyết Q, các khoản đầu tư mới làm phát sinh chi phí điều chỉnh, lúc này doanh nghiệp chỉ có thể tối đa hóa giá trị khi lợi ích biên bằng với chi phí biên. Với cách thiết lập này, tỷ lệ đầu tư sẽ̃ được quyết định bởi q biên (marginal q), giá ẩn của vốn, dòng chiết

     

    24

     

     

    Hàm đầu tư có thể dễ dàng sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm do có thể đo lường một cách đơn giản dựa trên dữ liệu về giá trị thị trường của doanh nghiệp (giá chứng khoán trong trường hợp các doanh nghiệp niêm yết) và giá trị thay thế của vốn (thường dựa trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp). Yếu tố kỳ vọng trong mô hình được giải quyết thông qua việc chứng minh biến kỳ vọng tương lai không thể quan sát (q biên) bằng biến có thể quan sát (q trung bình). Trong mô hình đầu tư này, q trung bình đại diện cho tất cả lợi nhuận kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp. So với các mô hình đầu tư

     

    khấu của các khoản thu nhập biên trong tương lai của một khoản đầu tư. Dưới một số giả định (Hayashi, 1982), q biên có thể được đại diện bởi q trung bình hay còn gọi là Tobin’s Q được đo lường bằng tỷ số giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và giá trị sổ sách của vốn.

    Các mô hình thực nghiệm: v Mô hình Q

    Hàm đầu tư có thể viết dưới dạng:

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

     

     

    • t

     

    K t

     

     

       

    1

     

    Vt

         

    1

    (qtA − 1) ptI

     

    =

     

    ptI

    + τ t  =

    α

    Kt

    α

               

     

    Với Qt  = (qtA − 1) ptI

     

           

    dạng rút gọn, mô hình Q có các ưu điểm nổi bật:

     
           

    (i) Có cơ sở lý thuyết vững chắc do được suy

     
           

    ra trực tiếp từ bài toán tối đa hóa giá trị doanh

     
           

    nghiệp; (ii) Có xét đến yếu tố kỳ vọng hợp lý

     
           

    và (iii) Sai số của mô hình đại diện cho cú sốc

     
           

    năng suất. Với ưu điểm này mô hình Q được sử

     
           

    dụng phổ biến trong dòng lý thuyết kiểm định

     
           

    sự tồn tại của giới hạn tài trợ mà chúng ta sẽ̃

     
       

    1

     

    thảo luận trong phần 2.2.

     

    + τ t  =

    Qt + τt

    v Mô hình Abel – Blanchard

     

    α

       

    Abel và Blanchard (1986) gợi ý ước lượng

     
           

     

    • giá trị ẩn của vốn bằng cách sử dụng mô hình kinh tế lượng phụ trợ cụ thể thông qua kết quả dự báo lợi nhuận biên kỳ vọng của vốn từ mô hình VAR. Cách tiếp cận này yêu cầu chúng ta

    phải xác định cụ thể dạng hàm cho năng suất biên của vốn, chi phí điều chỉnh biên cũng như hệ số chiết khấu ngẫu nhiên. Mô hình đầu tư trong Abel và Blanchard (1986) vẫn có dạng tuyến tính và do đó phụ thuộc chặt chẽ̃ vào dạng hàm bình phương của chi phí điều chỉnh vốn.

     

    • Mô hình Euler equation

     

    Cách tiếp cận Euler Equation đề xuất bởi Abel (1980) có thể nới lỏng giả định về dạng tuyến tính đơn điệu của hàm lợi nhuận và tránh sử dụng dữ liệu giá chứng khoán.

     

     

    I t

     

    + ptI  = FK ( K t , Lt ;τ t ) − GK ( K t , Lt ;τ t ) + β (1

     

    It +1

       

    + β (1 − δ )Et ptI+1

       

    α

    ut

    δ )α Et

    ut +1

     

    (2)

     

    K t

    Kt +1

                     

     

    Để kiểm định thực nghiệm mô hình đầu tư theo phương trình Euler, chúng ta cần thay thế giá trị kỳ vọng bằng giá trị quan sát cộng với

    sai số dự báo. Đặt Xt+1 = Et(Xt+1)) + t+1 với t+1 là sai số dự báo và khai triển hàm chi phí điều

     

    chỉnh vốn, chúng ta có:

     

    I t

    = cons + β (1 − δ )

    I t +1

    +

     

    1

    FK ( K t , Lt ;τ t ) +

    1

     

    It +1

    2

    +

    β (1 − δ )

    ptI+1

     

    1

    ptI +  t +1

    (3)

     
       

    K t

    K t +1

    α

    2

     

    α

    α

           

    Kt +1

             

    Với ∈t +1 là hằng số và là tổng các sai số dự báo cho đầu tư và chi phí vốn.

     

     

    Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương trình Euler tiêu biểu gồm Whited (1992), Bond và Meghir (1994), Hubbard, Kashyap và Whited (1995) và Laeven (2003).

    2.3. Giới hạn tài trợ

     

    Giới hạn tài trợ xuất hiện khi thị trường tài chính tồn tại những bất hoàn hảo (Laeven, 2003). Với sự hiện diện của hạn chế tài chính,

     

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài trở nên đắt đỏ. Hạn chế tài chính chủ yếu bắt nguồn từ do tình trạng bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể tham gia thị trường (Tirole, 2006). Bất cân xứng thông tin dẫn đến việc bên cung cấp vốn đòi hỏi một phần bù (phần bù tài trợ bên ngoài) để bù đắp chi phí xác minh thông tin về bên huy động vốn khiến chi phí tài trợ bên ngoài cao hơn chi phí của nguồn tài trợ nội bộ (Myers và Majluf, 1984). Nguyên nhân thứ hai đến từ vấn đề đại diện giữa chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp (Oliner và Rudebusch, 1992). Nguyên nhân thứ ba là chi phí giao dịch

     

    liên quan đến việc phát hành cổ phần cũng như phát hành nợ.

    Sự tồn tại của hạn chế tài chính dẫn đến mối liên hệ giữa tài sản ròng, chi phí tài trợ bên ngoài và mức đầu tư của doanh nghiệp (Laeven, 2003). Trong mô hình đầu tư tân cổ điển với hạn chế tài chính, một sự suy giảm trong giá trị tài sản ròng (độc lập với cơ hội đầu tư) sẽ̃ làm tăng phần bù tài trợ bên ngoài và qua đó giảm khả năng huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp và ngược lại. Tuy nhiên giới hạn tài trợ này không giống nhau giữa các doanh nghiệp mà phụ thuộc vào mức độ hạn chế tài chính của từng doanh nghiệp.

     

    Bất cân xứng thông tin

     

    Vấn đề đại diện

     

    Chi phí giao dịch

     

    HẠN CHẾ

    GIỚI HẠN

    ĐẦU TƯ

     

    TÀI

    TÀI TRỢ

       

    CHÍNH

         

    Hình 1. Mối quan hệ giữa hạn chế tài chính, giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp

     

     

    Nghiên cứu về sự tồn tại của giới hạn tài trợ và mức độ ảnh hưởng của giới hạn này đến đầu tư là một trong những chủ đề chính trong lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư của doanh nghiệp (Bond và Van Reenen, 2007). Đầu tư của doanh nghiệp bị giới hạn hay nói cách khác doanh nghiệp gặp giới hạn tài trợ nếu một sự gia tăng bất ngờ trong nguồn cung vốn nội bộ dẫn đến một sự gia tăng trong chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp (Bond và Van Reenen, 2007). Trong mô hình Q, doanh nghiệp không bị giới hạn tài trợ do đầu tư của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào thu nhập biên hiện tại và tương lai của vốn được phản ánh trong q biên với mức giá và lãi suất cho trước.

     

    Để kiểm định sự hiện diện của giới hạn tài trợ, cơ sở lý thuyết hiện tại đề xuất hai hướng tiếp cận: (i) Kiểm định độ nhạy cảm quá mức của đầu tư theo các biến tài chính – phù hợp với mô hình đầu tư dạng cấu trúc như mô hình Q và

    Nguồn: Tác giả tự xây dựng mô hình Euler Equation hơn là mô hình đầu tư dạng rút gọn; (ii) Kiểm định sự khác biệt trong hệ số co dãn của đầu tư theo các biến tài chính giữa các nhóm doanh nghiệp.

     

    Nghiên cứu của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) cho thấy mô hình đầu tư theo q trung bình thường gặp hiện tượng tương quan chuỗi trong phần dư – một dấu hiệu cho thấy mô hình chưa được định dạng phù hợp. Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) bổ sung mô hình Q với biến dòng tiền – một biến tài chính và phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính dựa trên tỷ lệ chi trả cổ tức. Kết quả cho thấy đầu tư có tương quan dương với dòng tiền ngay cả khi đã kiểm soát q trung bình và hệ số này cao hơn ở nhóm chi trả cổ tức thấp. Các tác giả diễn dịch độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền là bằng chứng về sự tồn tại của giới hạn tài trợ và các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính có mức độ giới hạn tài trợ cao hơn các

     

    26

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    doanh nghiệp khác. Cách tiếp cận của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) được các nghiên cứu về sau áp dụng rộng rãi với một vài điều chỉnh. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính có thể là tỷ lệ chi trả cổ tức; quy mô, thời gian hoạt động và tỷ lệ tăng trưởng (Devereux và Schiantarelli, 1990); xếp hạng tín dụng (Whited, 1992); sự phân tán trong tỷ lệ sở hữu cổ phần (Schaller, 1993); liên kết với tập đoàn lớn (Hoshi, Kashyap và Scharfstein, 1991); liên kết với ngân hàng (Elston, 1993).

     

    Nhược điểm quan trọng của dòng lý thuyết này là chúng ta vẫn chưa xây dựng được một mô hình đầu tư dạng cấu trúc bao gồm giới hạn tài trợ có tính thuyết phục.

     

    2.4. Hạn chế tài chính

     

    Có hai cách tiếp cận về hạn chế tài chính thường được sử dụng trong cơ sở lý thuyết liên quan. Cách tiếp cận đầu tiên dựa trên nghiên cứu của Stiglitz và Weiss (1981), Almeida và Campello (2007) và Whited và Wu (2006) trong đó hạn chế tài chính được định nghĩa là độ cong của đường cung vốn. Doanh nghiệp bị hạn chế tài chính nếu doanh nghiệp phải đối mặt với đường cung vốn có mức độ kém co dãn cao. Khi này doanh nghiệp khó có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài dù doanh nghiệp sẵn sàng chịu mức lãi suất cao. Cách tiếp cận thứ hai, đến từ Fazari, Hubbard và Petersen (1988), xem hạn chế tài chính là chênh lệch giữa chi phí cơ hội của nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp và chi phí huy động nguồn tài trợ bên ngoài. Doanh nghiệp bị hạn chế tài chính chỉ có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài tại mức lãi suất cao hơn mức lãi suất phản ánh mức độ rủi ro thực tế của doanh nghiệp. Một số phương pháp đo lường mức độ giới hạn tài trợ phổ biến như chỉ số như KZ (Kaplan and Zingales, 1997), chỉ số SA (Hadlock và Pierre, 2010) và chỉ số WW (Whited và Wu, 2006). Một cách tiếp

    cận phổ biến khác dựa trên xếp hạng tín dụng. Doanh nghiệp không có xếp hạng tín dụng được xem là doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và ngược lại. Cách tiếp cận trên bắt nguồn từ lập luận doanh nghiệp không có xếp hạng tín dụng không có khả năng tiếp cận thị trường nợ thông qua việc phát hành trái phiếu mà phải huy động từ các trung gian tài chính với các điều khoản kém thuận lợi như lãi suất cao (Faulkender and Petersen 2006).

     

    Cách phân loại mức độ hạn chế tài chính của doanh nghiệp theo các chỉ tiêu KZ, SA và WW trên mang tính ngoại sinh, đòi hỏi chúng ta phải biết trước về tình hình giới hạn tài trợ của doanh nghiệp (Hovakimian và Titman, 2006). Bên cạnh đó Farre – Mensa và Ljungqvist (2016) chứng minh các chỉ số KZ, SA và WW không thực sự đo lường mức độ hạn chế tài chính. Nhằm khắc phục hạn chế về việc phân loại tình hình tài chính doanh nghiệp, Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007) đề xuất sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (endogenous switching regression model) trong đó việc phân loại doanh nghiệp không dựa trên các tiêu chí ngoại sinh mà được quyết định nội sinh bởi những đặc trưng của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho phép chúng ta ước lượng riêng biệt hàm đầu tư khi doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và khi không bị hạn chế tài chính mà không cần phân loại trước các doanh nghiệp này.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nhằm xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa đầu tư của doanh nghiệp và giới hạn tài trợ, đầu tiên chúng ta xây dựng mô hình hành vi đầu tư của doanh nghiệp trong đó bao gồm giới hạn tài trợ. Do mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia đang phát triển trong khu vực ASEAN với điều kiện

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    thị trường tài chính kém hiệu quả, chúng ta xây dựng hàm đầu tư theo phương trình Euler đề xuất bởi Abel (1980) thay vì mô hình Q vốn dựa trên giả định thị trường hiệu quả. Sau khi thiết lập hàm đầu tư theo phương trình Euler, chúng ta cho phép tự do hóa tài chính (đại diện bởi chỉ số tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự, 2010) tương tác với giới hạn tài trợ trong hàm đầu tư trên. Tiếp đến chúng ta sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh theo đề xuất của Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007) để ước lượng và kiểm định hàm đầu tư. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh cho phép xác định đồng thời tình trạng tài chính và hành vi đầu tư của doanh nghiệp trong từng trạng thái tài chính, đồng thời cho phép khắc phục các khuyết tật của mô hình hồi quy. Các chỉ tiêu nhằm xác định nội sinh tình trạng hạn

    chế tài chính của doanh nghiệp dựa trên đề xuất của Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007). Nhằm đảm bảo tính vững của kết quả hồi quy, chúng ta lần lượt thay thế chỉ số tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự bằng chỉ số kiểm soát vốn theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). Cũng với mục đích đảm bảo tính vững, bên cạnh mô hình hồi quy chuyển đội nội sinh, hàm đầu tư cũng được ước lượng theo phương pháp System GMM. Lúc này trạng thái tài chính của doanh nghiệp được xác định một cách ngoại sinh dựa trên các chỉ tiêu phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại bao gồm quy mô doanh nghiệp và chỉ số KZ.

     

    3.1. Mô hình nghiên cứu

     

    3.1.1. Giới hạn tài trợ

     

    Hàm đầu tư theo phương trình Euler có dạng:

     

     

    I

     

    I

     

    2

     

    Y

    CF

     

    2

     
         

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

       

    + α 4

       

    + α 5

     

    + f i + dt + εit

    (4)

           

    K

     
     

    it

     

    K  it −1

     

    K  it −1

     

    it

     

    it

     

    it

     

    Trong đó, Iit, Kit, Yit, CFit, Dt lần lượt là chi tiêu cho đầu tư, tổng vốn, doanh thu thuần,

     

    dòng tiền hoạt động và nợ của doanh nghiệp i tại thời điểm t; fi là hiệu ứng cố định theo doanh nghiệp; dt là hiệu ứng cố định theo thời gian; εit là phần dư nhiễu trắng. Biến CFK đại diện cho giới hạn tài trợ của doanh nghiệp là biến giải thích chính chúng ta quan tâm. Biến YK dùng để

    kiểm soát điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo.

    Biến          2  thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa

    K

     

    quyết định đầu tư và quyết định vay mượn. Để xem xét tác động của tự do hóa tài chính

    đến giới hạn tài trợ, chúng ta sẽ̃ điều chỉnh phương trình (22) bằng cách cho biến tự do hóa tài chính FLI tương tác với biến giới hạn tài trợ.

     

     

    I

     

    I

     

    2

     

    Y

    CF

    CF

     

    2

    (5)

         

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

       

    + α 4

       

    + α 5

       

    FLIt + α 6

     

    + f i + dt + εit

           

    K

    K

     
     

    it

     

    K  it −1

     

    K  it −1

     

    K  it

     

    it

     

    it

     

    it

     

    3.1.2. Đo lường tự do hóa tài chính

     

    Cơ sở lý thuyết hiện tại sử dụng 03 nhóm thang đo đo lường tự do hóa tài chính bao gồm:

     

    • tự do hóa tài khoản vốn, (ii) tự do hóa thị trường vốn và (iii) tự do hóa khu vực ngân hàng. Ngoài các thang đo riêng biệt, chúng ta còn có các thang đo đa chiều bao gồm tất cả các khía cạnh nêu trên. Thang đo tự do hóa tài chính đa chiều xem xét đồng thời các khía cạnh của

    tự do hóa tài chính. Một thang đo đa chiều tiêu biểu đến từ Abiad và cộng sự (2010) với 07 chỉ tiêu liên quan đến tự do hóa tài chính bao gồm:

     

    • kiểm soát tín dụng và yêu cầu dự trữ, (ii) kiểm soát lãi suất, (iii) rào cản gia nhập lĩnh vực ngân hàng, (iv) sở hữu nhà nước trong khu vực ngân hàng, (v) kiểm soát tài khoản vốn, (vi) quy định an toàn và giám sát khu vực ngân hàng và
    • chính sách đối với thị trường chứng khoán.

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Với mục tiêu đánh giá tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp, nghiên cứu áp dụng phương pháp đo lường tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự (2010).

     

    3.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Để phân tích tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ cũng như giới hạn tài sản thế chấp và mức đầu tư của doanh nghiệp tại các nước đang phát triển trong khu vực Asean, chúng ta sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp niêm yết tại 05 quốc gia bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Các doanh nghiệp niêm yết được lựa chọn nghiên

    cứu do thông tin kế toán đến từ các doanh nghiệp này có chất lượng tốt hơn các doanh nghiệp không niêm yết. Giai đoạn nghiên cứu được lựa chọn từ năm 2006 nhằm đảm bảo độ cân xứng của dữ liệu. Nếu như thị trường chứng khoán các quốc gia như Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan đã hình thành từ những năm 1970 thì thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ được thành lập năm 2000. Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, số lượng doanh nghiệp niêm yết và giá trị vốn hóa thị trường rất hạn chế và chỉ thực sự tăng trưởng mạnh mẽ̃ từ năm 2006 và do đó việc lựa chọn thời gian nghiên cứu từ thời điểm này sẽ̃ giúp đảm bảo tính cân xứng của dữ liệu.

     

     

    Bảng 1. Danh sách biến và nguồn dữ liệu

     

    Biến

    Định nghĩa

    Cách đo lường

    Nguồn

    Phương trình đầu tư

       
     

    Chi phí đầu tư kỳ t

     

    Báo cáo tài chính của

       

    DEP: khấu hao

    các doanh nghiệp niêm

         

    yếu trong cơ sở dữ liệu

     

    Tổng lượng vốn kỳ t

    Giá trị tài sản cố định thuần

         

    Thompson Reuters

     

    Giá trị khấu hao kỳ t

     
       

    Datastream

     

    Sản lượng của doanh

    Doanh thu thuần

       
     

    nghiệp kỳ t

       
     

    Dòng tiền hoạt động

    Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao

     
     

    kỳ t

       
     

    Tổng dư nợ kỳ t

    Tổng nợ phải trả

     
     

    Giới hạn tài sản thế

    Tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình/Tổng

     
     

    chấp kỳ t

    tài sản

     

    Phương trình chuyển đổi

       
     

    Quy mô doanh

    Log (Tổng tài sản)

    Báo cáo tài chính của

     

    nghiệp

     

    các doanh nghiệp niêm

         

    yếu trong cơ sở dữ liệu

     

    Tuổi doanh nghiệp

    Log(Số năm hoạt động)

         

    Thompson Reuters

     

    Biến giả chi trả cổ

    Nếu doanh nghiệp có chi trả cổ tức

     

    tức

    bằng tiền mặt trong kỳ t. Ngược lại,

    Datastream

       

    DIVt = 0.

     
     

    Nợ ngắn hạn

    Tỷ lệ Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản

     
     

    Nợ dài hạn

    Tỷ lệ Nợ dài hạn/Tổng tài sản

     
     

    Cơ hội tăng trưởng

    MTB – chỉ số giá thị trường trên giá

     
       

    sổ sách.

     
     

    Thặng dư tài chính

    Tỷ lệ Tiền và chứng khoán có tính

     
       

    thanh khoản cao/Biến trễ của tổng tài

     
       

    sản

     
     

    Tài sản cố định

    Tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình/Tổng

     
       

    tài sản

     

    29

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

         
             

    Biến

    Định nghĩa

    Cách đo lường

     

    Nguồn

    Chỉ số tự

    do hóa tài chính

             

    FLI

    Chỉ số tự do hóa tài

    Tác giả tính toán theo cách tiếp cận

    Báo

    cáo

    thường  niên

     

    chính

    của Abiad và cộng sự (2010)

    của

    Ngân Hàng Trung

         

    Ương, báo cáo quốc gia

         

    của World Bank và IMF.

    KACON

    Chỉ  số  kiểm  soát

    Fernandez và cộng sự (2016)

    Website

    của

    Columbia

     

    vốn

     

    University:

     
         

    http://www.columbia.

         

    edu/~mu2166/fkrsu/

    KAOPEN

    Chỉ số KAOPEN

    Chinn – Ito (2006)

    Website

    của

    Portland

         

    State University:

         

    http://web.pdx.edu/~ito/

         

    Chinn-Ito_website.htm

    Dữ liệu trước khi sử dụng để ước lượng và kiểm định mô hình sẽ̃ được lọc bỏ các giá trị dị biệt. Đầu tiên chúng ta lọc bỏ dữ liệu tại phân vị thứ nhất và thứ 99 nhằm kiểm soát tác động của các giá trị dị biệt đến kết quả hồi quy. Tiếp theo, theo Laeven và cộng sự (2003), chúng ta loại trừ các quan sát có giá trị đầu tư và doanh thu nhỏ hơn 0. Cuối cùng chúng ta tiếp tục loại trừ các quan sát có tỷ lệ I/K, Y/K và D/K cao bất thường. Sau khi làm sạch dữ liệu của chúng ta gồm 1,394 quan sát đến từ 493 doanh nghiệp niêm yết tại 05 quốc gia Asean.

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Chỉ số tự do hóa tài chính

     

    Chỉ số tự do hóa tài chính đo lường theo Abiad và cộng sự (2010) cho các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2006 -2016 được trình bày trong Hình 4.1. Bên cạnh chỉ số tự do hóa tài chính FLI, Hình 4.1 đồng thời thể hiện chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Frenandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN theo Chinn và Ito (2006). Trong 5 quốc gia nghiên cứu, Malaysia và Phillipines là hai quốc gia có mức độ tự do hóa tài chính cao và ổn định nhất do 2 quốc gia này đã sớm thực thi các chính sách tự do hóa tài chính từ cuối những năm 1970 và 1980. Thái Lan tuy tiến

    hành tự do hóa tài chính muộn hơn Malaysia và Philippines (cụ thể vào cuối những năm 1990) nhưng quốc gia này có mức độ tự do hóa nhanh và cho đến năm 2016, chỉ số tự do hóa tài chính của Thái Lan tương đương Malaysia (ở mức 0.8). Chỉ số tự do hóa tài chính của Indonesia hiện duy trì ở mức trung bình trên 0.5 sau một thời gian sụt giảm đáng kể do các chính sách kiểm soát vốn ban hành sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008. Việt Nam là quốc gia có mức độ tự do hóa tài chính thấp nhất trong mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ số tự do hóa tài chính của Việt Nam đang có xu hướng tăng từ sau năm 2008 và tính đến năm 2016 chỉ số này của Việt Nam xấp xỉ mức 0.5. Khi xem xét đồng thời chỉ số tự do hóa tài chính FLI và chỉ số kiểm soát vốn theo Fernandez và cộng sự (2016), chúng ta nhận thấy hai chỉ số này có biến động ngược chiều trong hầu hết các trường hợp (trừ Philippines). Khi so sánh chỉ số tự do hóa tài chính FLI và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN, chúng ta thấy mức độ dao động trong chỉ số KAOPEN có phần khiêm tốn hơn. Tất cả các quốc gia trừ Việt Nam đều có sự sụt giảm mạnh trong chỉ số KAOPEN giai đoạn sau cuộc khủng hoảng 2008.

     

    30

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Hình 2. Chỉ số tự do hóa tài chính cho 5 quốc gia trong khu vực Asean

     

           

    Indonesia

                   

    Malaysia

           

    .75

                       

    .9

                       

    .70

                       

    .8

                       

    .65

                       

    .7

                       
                                             

    .60

                       

    .6

                       
                                             

    .55

                       

    .5

                       
                                             
                         

    .4

                       

    .50

                       

    .3

                       
                                             

    .45

                       

    .2

                       
                                             

    .40

                       

    .1

                       

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

         

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

               

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

         
                                       
           

    Philippines

                   

    Thailand

           

    .9

                       

    .9

                       

    .8

                       

    .8

                       

    .7

                       

    .7

                       

    .6

                       

    .6

                       

    .5

                       

    .5

                       

    .4

                       

    .4

                       

    .3

                       

    .3

                       

    .2

                       

    .2

                       

    .1

                       

    .1

                       

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

         

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

               

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

         

    Vietnam

     

    1.0

     

    0.9

     

    0.8

     

    0.7

     

    0.6

     

    0.5

     

    0.4

     

    0.3

     

    0.2

     

    0.1

     

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    FLI         KAOPEN          KCON

     

    Ghi chú: Chỉ số tự do hóa tài chính FLI được nhóm tác giả tính toán theo cách tiếp cận của Abiad và cộng sự (2010). Chỉ số kiểm soát vốn KACON đến từ Fernandez và cộng sự (2016). Chỉ số độ mở tài chính KAOPEN đến từ Chinn và Ito (2006).

     

    4.2. Mô tả dữ liệu doanh nghiệp                                      Các dữ liệu trong bài nghiên cứu được trình

     

    bày trong Bảng 2.

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 2. Kết quả thống kê mô tả

     

    Chỉ tiêu

    I/K

    Y/K

    CF/K

    D/K

    MTB

    CC

    FLI

    Số

     

    quan sát

     
                   

    Phần A. Thống kê toàn bộ mẫu

                 
                       

    Trung bình

    0.40

    7.43

    0.81

    3.68

    1.93

    0.56

     

    1,394

     
                       

    Trung vị

    0.21

    3.53

    0.41

    1.61

    1.25

    0.49

     

    1,394

     
                       

    Độ lệch chuẩn

    0.69

    11.58

    1.41

    6.52

    2.14

    0.38

     

    1,394

     
                       

    Phần B. Thống kê theo quốc gia

                 
                       

    Indonesia

    0.27

    5.52

    0.60

    3.03

    3.09

    0.60

    0.59

    271

     
                     

    0.18

    3.71

    0.35

    1.53

    2.23

    0.52

    0.58

    271

     
     
                       

    Malaysia

    0.20

    1.63

    0.32

    1.48

    2.96

    0.58

    0.83

    76

     
                     

    0.17

    1.74

    0.24

    1.45

    1.65

    0.53

    0.84

    76

     
     
                       

    Philippines

    0.52

    4.43

    0.77

    4.24

    1.95

    0.59

    0.69

    311

     
                     

    0.26

    2.32

    0.37

    1.73

    1.55

    0.54

    0.70

    311

     
     
                       

    Thailand

    0.31

    5.04

    0.57

    2.01

    2.60

    0.83

    0.67

    161

     
                     

    0.15

    2.40

    0.30

    1.07

    1.67

    0.88

    0.66

    161

     
     
                       

    Vietnam

    0.46

    11.40

    1.07

    4.45

    1.05

    0.45

    0.40

    575

     
                     

    0.23

    6.18

    0.58

    2.21

    0.86

    0.35

    0.44

    575

     
     
                       

    Phần C. Thống kê theo quy mô

                 
                       

    Lớn

    0.41

    8.42

    0.76

    4.46

    1.85

    0.51

     

    703

     
                     

    0.21

    4.50

    0.46

    1.98

    1.14

    0.42

     

    703

     
       
                       

    Nhỏ

    0.40

    6.44

    0.86

    2.90

    2.02

    0.61

     

    691

     
                     

    0.20

    2.71

    0.37

    1.46

    1.33

    0.54

     

    691

     
       
                       

    Phần D. Thống kê theo thời gian niêm yết

               
                       

    Dài

    0.36

    5.33

    0.61

    2.75

    2.16

    0.62

     

    785

     
                     

    0.19

    2.60

    0.35

    1.48

    1.45

    0.55

     

    785

     
       
                       

    Ngắn

    0.46

    10.14

    1.07

    4.88

    1.63

    0.48

     

    609

     
                     

    0.46

    10.14

    1.07

    4.88

    1.63

    0.48

     

    609

     
       
                       

    Phần E. Thống kê theo chỉ số KZ

                 
                       

    KZ thấp

    0.53

    11.26

    1.34

    5.39

    2.10

    0.44

     

    692

     
                     

    0.26

    6.19

    0.78

    2.01

    1.34

    0.35

     

    692

     
       
                       

    KZ cao

    0.28

    3.67

    0.30

    2.00

    1.76

    0.68

     

    702

     
                     

    0.17

    1.98

    0.24

    1.48

    1.15

    0.61

     

    702

     
       
                       

    Phần F. Thống kê theo chỉ số SA

                 
                       

    SA thấp

    0.37

    5.14

    0.67

    2.73

    2.29

    0.64

     

    703

     
                     

    0.20

    2.43

    0.34

    1.45

    1.56

    0.58

     

    703

     
       
                       

    SA cao

    0.44

    9.77

    0.96

    4.65

    1.56

    0.48

     

    691

     
                     

    0.23

    5.30

    0.52

    2.11

    1.03

    0.38

     

    691

     
       
                       

    Ghi chú: phần B, C, D, E, F thể hiện giá trị trung bình và trung vị (số in nghiêng) của các biến.

     

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Trong phần phân tích về tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ và giới hạn tài sản thế chấp, bên cạnh việc sử dụng mô hình chuyển đổi nội sinh nhằm xác định trạng thái tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cũng phân loại tình trạng tài chính của doanh nghiệp theo các thang đo phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại như quy mô doanh nghiệp (đại diện bởi giá trị tổng tài sản) và chỉ số KZ. Các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường có mức độ hạn chế tài chính cao hơn các doanh nghiệp quy mô lớn (Laeven, 2003 và Nam Hoai Tran và Chi Dat Le, 2017). Trong phân tích của chúng ta, các doanh nghiệp được xem có quy mô nhỏ khi giá trị tổng tài sản nhỏ hơn giá trị trung vị mẫu. Chỉ số KZ là thang đo mức độ hạn chế tài chính phổ biến nhất hiện tại theo số lượng trích dẫn trên Google Scholar. Các doanh nghiệp có chỉ số KZ cao đồng nghĩa với doanh nghiệp có mức độ hạn chế tài chính cao (Lamont, Polk và Saa-Requejo, 2001). Chúng ta quy ước doanh nghiệp có chỉ số KZ cao khi chỉ số này lớn hơn giá trị trung vị mẫu. Khi so sánh giữa nhóm doanh nghiệp bị hạn chế tài chính (quy mô nhỏ hoặc chỉ số KZ cao) và nhóm không bị hạn chế tài chính (quy mô lớn hoặc chỉ số KZ thấp), chúng ta thấy các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính có tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ doanh thu và tỷ lệ dòng tiền trên tổng lượng vốn cao hơn các doanh nghiệp vị hạn chế.

     

    4.3. Tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ Kết quả ước lượng hàm đầu tư với giới hạn tài trợ (4) và (5) theo mô hình hồi quy chuyển đổi được trình bày lần lượt trong Bảng 3 – Phần A. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh giúp chúng ta xác định đồng thời hàm đầu tư cho các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Bên cạnh đó mô hình còn giúp xác định các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng hạn chế

    tài chính của doanh nghiệp. Kết quả ước lượng phương trình chuyển đổi được trình bày trong Bảng 3 – Phần B.

    Một cách tổng quát hành vi đầu tư của các doanh nghiệp thuộc hai trạng thái tài chính có sự tương đồng trong cách thức phản ứng với mức đầu tư trong quá khứ. Hệ số co dãn của tỷ lệ đầu tư theo biến trễ của tỷ lệ đầu tư được ước lượng khoảng 0.43 cho các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và 0.25 cho các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Hệ số này cho thấy hành vi đầu tư của doanh nghiệp có quán tính đáng kể. Một mức đầu tư cao trong quá khứ hàm ý mức đầu tư cao trong tương lai. Kết quả về quán tính của đầu tư phù hợp với giả định xem vốn hữu hình là một yếu tố sản xuất bán cố định. Tỷ lệ doanh thu trên tổng lượng vốn đại diện cho cơ hội tăng trưởng chỉ tương quan với tỷ lệ đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thể hiện qua hệ số của dương và có ý nghĩa thống kê. Đối với các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, doanh thu không giúp giải thích hành vi đầu tư. Mối quan tâm chính yếu của chúng ta trong kết quả hồi quy phương trình (4) và (5) là hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền đại diện cho giới hạn tài trợ. Chúng ta không tìm thấy bằng chứng ủng hộ sự hiện diện của giới hạn tài trợ trong cả hai trường hợp doanh nghiệp niêm yết và không niêm yết. Cụ thể hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền của các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính không có ý nghĩa thống kê trong khi hệ số này tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, hệ số này có ý nghĩa thống kê nhưng mang dấu âm. Mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư và dòng tiền cũng đã được Bushman và cộng sự (2011) lưu ý khi các tác giả phân tích độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền với các biến đại diện dòng tiền khác nhau.

     

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Phần A – Giới hạn tài trợ

     

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với FLI

     

    Phần A: Hàm đầu tư

    (I)

     

    (II)

     

    Biến phụ thuộc

    Doanh nghiệp không

     

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp không

     

    Doanh nghiệp

     

    hạn chế tài chính

     

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

     

    hạn chế tài chính

     

    0.429

     

    0.284

    0.431

     

    0.231

                 
     

    (3.88)***

     

    (3.62)***

    (3.90)***

     

    (2.66)***

                 
     

    -0.024

     

    -0.041

    -0.024

     

    -0.027

                 
     

    (0.99)

     

    (1.84)*

    (1.00)

     

    (1.11)

                 
     

    0.012

     

    -0.002

    0.013

     

    0.000

                 
     

    (3.79)***

     

    (0.57)

    (3.87)***

     

    (0.01)

                 
     

    -0.009

     

    -0.110

    -0.072

     

    -0.409

                 
     

    (0.43)

     

    (2.12)**

    (0.85)

     

    (2.01)**

                 
     

    0.000

     

    0.002

    0.000

     

    0.001

                 
     

    (0.66)

     

    (4.78)***

    (0.33)

     

    (1.81)*

                 
           

    0.125

     

    0.888

                 
           

    (0.77)

     

    (2.62)***

                 

    Constant

    0.253

     

    0.093

    0.251

     

    0.051

     

    (1.25)

     

    (0.77)

    (1.24)

     

    (0.47)

                 
                 

    Industry fixed effects

     

     

    Year fixed effects

     

     

    Số quan sát

    764

     

    764

    764

     

    764

    Ghi chú: Phần A Bảng 4.2 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh lần lượt cho hai hàm đầu tư:

    I1it = Xit α1 + ε1it

    I2it = Xitα2 + ε2it     lần lượt cho hai hàm đầu tư:

    y*

    = Z

    itφ

    + u

    it

    it

       
     

    I

           

    I

           

    2

       

    Y

       

    CF

       

    2

    (I)

               

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

         

    + α 4

         

    + α 5

       

    + f i + dt + εit

           

    K

         

    K

    K

     

    K

    it

       

    it −1

         

    K  it −1

     

    it

       

    it

     

    it

    (II)

    I

         

    I

         

    2

       

    Y

     

    CF

     

    CF

         

    2

           

    = c + α1

         

    + α 2

         

    + α 3

       

    + α 4

         

    + α 5

         

    FLIt + α 6

       

    + f i + dt + εit

               

    K

           
     

    K

    it

     

    K  it −1

       

    K  it −1

       

    it

       

    it

     

    K

     

    it

         

    it

                                                                           

    Phương trình chuyển đổi nội sinh cho phép xác định một cách nội sinh tình trạng tài chính của doanh nghiệp giữa không bị hạn chế và bị hạn chế. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016. Giá trị thống kê t được thể hiện trong ngoặc đơn dưới hệ số ước lượng. ***, ** và * lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Về tác động của tự do hóa tài chính đến giới

    chí tự do hóa tài chính còn có khả năng trầm

    hạn tài trợ thể hiện qua biến , tự do hóa tài chính

    trọng hóa giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp

    không giúp làm giảm giới hạn tài trợ tại các

    này. Tác động của tự do hóa tài chính đến giới

    doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thậm

    hạn tài trợ tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    chính thể hiện rõ nét qua hệ số dương có độ lớn đáng kể và có ý nghĩa thống kê. Hệ số của trong trường hợp doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính là 0.89. Điều này có nghĩa 1% gia tăng trong mức độ tự do hóa tài chính có thể khiến giới hạn tài trợ hay nói cách khác hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền tăng 0.89%. Kết quả này đi ngược với luận điểm ủng hộ tự do hóa tài chính khi cho rằng tiến trình tự do hóa tài chính có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế trong Laeven (2003), Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Harris, Schiantarelli và Siregar

    (1994), Koo và Shin (2004) và Koo và Maeng

     

    (2005). Điều này có thể được giải thích theo Chan và cộng sự (2012) cho rằng tự do hóa tài chính không khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin giữa loại hình doanh nghiệp này và bên cung cấp vốn. Do đó các doanh nghiệp nhỏ khó có thể hưởng lợi từ quá trình tự do hóa tài chính. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ.

     

               

    Bảng 3. Phần B – Giới hạn tài trợ

     
       

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinhvới FLI (tiếp theo)

           
     

    Phần B – Phương trình chuyển đổi

    Hàm đầu tư (I)

    Hàm đầu tư (II)

               

    SIZE

    0.060

    0.039

                 

    (2.47)**

    (1.57)

               

    AGE

    0.057

    0.122

                 

    (0.80)

    (1.73)*

               

    DIV

    -0.883

    -0.628

                 

    (3.54)***

    (2.38)**

               

    STD

    0.623

    0.543

                 

    (3.08)***

    (2.86)***

               

    LTD

    1.057

    0.873

                 

    (3.57)***

    (2.63)***

               

    GRO

    -0.054

    -0.036

                 

    (3.59)***

    (2.01)**

               

    FSK

    -0.525

    -0.467

                 

    (5.01)***

    (4.37)***

               

    TAN

    0.314

    0.227

                 

    (3.01)***

    (2.18)**

               

    Constant

    -0.214

    -0.259

                 

    (0.61)

    (0.74)

                     
               

    Số quan sát

    764

    764

     

    Ghi chú: Phần B Bảng 4.2 thể hiện kết

    quả ước lượng hàm chuyển

    đổi trong mô hình chuyển đổi

    y*

    = Z

    itφ

    + u

    it

    nội sinh lần lượt cho hai hàm đầu tư (I) và (II).

     
     

    it

             

    y*it

    được quy ước bằng 0 khi doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và bằng 1 khi doanh nghiệp bị

    hạn chế tài chính, bao gồm các biến quy mô (SIZE), số năm niêm yết (AGE), biến giả chi trả cổ tức (DIV), tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD), tỷ lệ nợ dài hạn (LTD), cơ hội tăng trưởng (MTB), thặng dự tài chính (FSK) và tỷ lệ tài sản cố định (TAN). Hệ số dương (âm) hàm ý doanh nghiệp có nhiều khả năng không bị giới hạn tài chính khi giá trị của biến giải thích trong hàm chuyển đổi cao (thấp) hơn.

     

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng phương trình chuyển đổi thể hiện trong Bảng 3 Phần B cho thấy hầu hết các biến trong phương trình lựa chọn có vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng tài chính và do đó tác động đến hành vi đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó các doanh nghiệp có quy mô lớn, được niêm yết lâu năm, có mức độ thặng dư tài chính thấp và có ít cơ hội đầu tư và có giá trị tài sản hữu hình cao thường được xem là những doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Kết quả trên phù hợp với suy luận thông thường đồng thời phù hợp với các nghiên cứu với cách tiếp cận tương tự như Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007). Trái với các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính, các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thường là các doanh nghiệp nhỏ, thời gian niêm

    yết ngắn, có mức độ thặng dư. Bên cạnh việc xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ thông qua mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh, chúng ta cũng ước lượng hệ số này theo cách tiếp cận phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại. Đầu tiên các doanh nghiệp sẽ̃ được phân loại thành doanh nghiệp bị và không bị hạn chế tài chính dựa trên tiêu chí về quy mô hoặc chỉ số KZ. Sau đó phương pháp System GMM được sử dụng để ước lượng mô hình đầu tư cho từng nhóm doanh nghiệp hoặc với biến giả xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kết quả hàm đầu tư ước lượng theo System GMM thể hiện trong Bảng 4. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc có chỉ số KZ cao được xem là các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính.

     

    Bảng 4 – Giới hạn tài trợ – Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình System GMM

     

    Biến phụ thuộc

     

    (I)

       

    (II)

       

    (I.1)

    (I.2)

    (I.3)

    (II.1)

    (II.2)

    (II.3)

     
     
     

    0.340

    0.296

    0.326

    0.406

    0.409

    0.387

     
     

    (2.45)**

    (2.28)**

    (2.45)**

    (3.10)***

    (3.40)***

    (3.08)***

     
     

    -0.024

    -0.019

    -0.018

    -0.032

    -0.036

    -0.024

     
     

    -0.90

    -0.76

    -0.67

    -1.24

    -1.48

    -0.96

     
     

    0.034

    0.027

    0.028

    0.034

    0.017

    0.027

     
     

    (3.00)***

    (2.35)**

    (2.73)***

    (3.25)***

    (1.74)*

    (2.77)***

     
     

    0.004

    0.198

    0.005

    -0.240

    -0.976

    -0.240

     
     

    -0.15

    0.98

    -0.20

    0.40

    (3.24)***

    (2.44)**

     
     

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

     
     

    -0.60

    -0.42

    -0.89

    -0.93

    -0.19

    -0.87

     
       

    -0.188

       

    -1.295

       
       

    (2.15)**

       

    (4.30)***

       
         

    -0.595

       

    -0.840

     
         

    (2.30)**

       

    -0.73

     
           

    0.471

    1.700

    0.499

     
           

    (2.49)**

    (2.92)***

    (2.70)***

     
             

    2.361

       
             

    (4.08)***

       
               

    0.467

     
               

    -0.25

     
                   

    Industry fixed effects

     

    Year fixed effects

     

    Số quan sát

    764

    764

    764

    764

    764

    764

     

    Ghi chú: Bảng 4 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình System GMM lần lượt cho hai hàm đầu tư. Biến giả Small và HighKZ được sử dụng để xác định ngoại sinh tình trạng hạn chế tài chính của doanh nghiệp. Small bằng 1 cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn giá trị trung vị mẫu và HighKZ bằng 1 cho các doanh nghiệp có chỉ số KZ cao hơn trung vị mẫu. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016.

     

     

    36

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả mô hình System GMM căn bản khẳng định kết quả mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh: Tự do hóa tài chính làm gia tăng giới hạn tài trợ của tất cả các doanh nghiệp và đặc biệt trầm trọng hóa tình trạng này tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thể hiện qua hệ số dương và có ý nghĩa thống kê của các

     

    biến (CF/K)it × FLIt, (CF/K)it × FLIt × Smallit và (CF/K)it × FLIt × HighKZit.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng mô hình hồi sinh chuyển đổi cho hàm đầu tư (23) khi thay thế chỉ số tự do hóa tài chính xây dựng theo Abiad và cộng sự (2011) bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN theo Chinn và Ito (2006). Do chỉ số kiểm soát vốn có hàm ý ngược với tự do hóa tài chính, chúng

    ta kỳ vọng hệ số của chỉ số kiểm soát vốn sẽ̃ mang dấu âm. Hệ số âm hàm ý việc gia tăng các hình thức kiểm soát vốn sẽ̃ làm giảm giới hạn tài trợ trong khi việc nới lỏng các biện pháp kiểm soát vốn sẽ̃ làm tăng giới hạn tài trợ. Như thể hiện trong Bảng 5 – Phần A, hệ số của biến (CF/K)it × KACONt đều nhỏ hơn không trong cả hai trường hợp doanh nghiệp bị và không bị hạn chế tài chính. Kết quả này một lần nữa khẳng định kết quả thu được từ mô hình hồi quy chuyển đổi.Các yếu tố xác định tình trạng tài chính của doanh nghiệp thể hiện trong mô hình chuyển đổi cũng có dấu và độ lớn tương tự khi chúng ta hồi quy với FLI. Điều này có nghĩa các doanh nghiệp trẻ, có quy mô nhỏ và có nhiều cơ hội đầu tư thường là những doanh nghiệp chịu ràng buộc về mặt tài chính.

     

    Bảng 5. Phần A – Giới hạn tài trợ

     

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với KACON và KAOPEN

     

               

    Phần A –

    KACON

    KAOPEN

     

    Hàm đầu tư

             

    Biến phụ

    Doanh nghiệp không

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp không

    Doanh nghiệp

     

    thuộc

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

     
     

    0.422

    0.283

    0.430

    0.289

     
     

    (3.80)***

    (3.62)***

    (3.90)***

    (3.62)***

     
     

    -0.023

    -0.040

    -0.024

    -0.051

     
     

    -0.950

    (1.84)*

    -1.000

    (2.17)**

     
     

    0.012

    -0.002

    0.013

    -0.003

     
     

    (3.75)***

    -0.590

    (4.04)***

    -0.670

     
     

    -0.110

    0.164

    0.088

    0.327

     
     

    -0.630

    -0.420

    -1.450

    1.13

     
     

    0.000

    0.002

    0.000

    0.002

     
     

    -0.730

    (4.77)***

    -0.100

    (5.65)***

     
     

    -0.115

    -0.063

         
     

    -0.590

    -0.140

         
         

    -0.265

    -0.524

     
         

    (1.70)*

    -1.490

     

    Constant

    0.259

    0.091

    0.262

    0.076

     
     

    -1.280

    -0.750

    -1.300

    -0.630

     
               

    Industry fixed

     

    effects

             

    Year fixed

     

    effects

             

    Số quan sát

    764

    764

    764

    764

     

    Ghi chú: Phần A Bảng 5 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh. Trong đó chỉ số tự do hóa tài chính FLI lần lượt được thay thế bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). Phương trình chuyển đổi nội sinh cho phép xác định một cách nội sinh tình trạng tài chính của doanh nghiệp giữa không bị hạn chế và bị hạn chế. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007–2016.

     

    37

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 5. Phần B – Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với KACON và KAOPEN (tiếp theo)

    Phần B – Hàm chuyển đổi

    Hàm đầu tư với KACON

    Hàm đầu tư với KAOPEN

    SIZE

    0.061

    0.051

     

    (2.47)**

    (1.98)**

    AGE

    0.059

    0.070

     

    -0.810

    -0.950

    DIV

    -0.877

    -0.860

     

    (3.49)***

    (3.47)***

    STD

    0.620

    0.664

     

    (3.06)***

    (3.24)***

    LTD

    1.049

    1.067

     

    (3.49)***

    (3.50)***

    MTB

    -0.053

    -0.049

     

    (3.35)***

    (3.18)***

    FSK

    -0.523

    -0.520

     

    (4.99)***

    (4.96)***

    TAN

    0.313

    0.323

     

    (3.01)***

    (3.12)***

    Constant

    -0.226

    -0.174

     

    -0.630

    -0.490

         

    Số quan sát

    764

    764

    Ghi chú: Phần B Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng hàm chuyển đổi y*it= Zitφ + uit trong mô hình hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh. Trong đó chỉ số tự do hóa tài chính FLI lần lượt được

     

    thay thế bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). y*it được quy ước bằng 0 khi doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và bằng 1 khi doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Zit bao gồm các biến quy mô (SIZE), số năm niêm yết (AGE), biến giả chi trả cổ tức (DIV), tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD), tỷ lệ nợ dài hạn (LTD), cơ hội tăng trưởng (MTB), thặng dự tài chính (FSK) và tỷ lệ tài sản cố định (TAN). Hệ số dương (âm) hàm ý doanh nghiệp có nhiều khả năng không bị giới hạn tài chính khi giá trị của biến giải thích trong hàm chuyển đổi cao (thấp) hơn.

     

     

    Về tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ thể hiện qua biến (CF/K)it × FLIt, tự do hóa tài chính không giúp làm giảm giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thậm chí tự do hóa tài chính còn có khả năng trầm trọng hóa giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp này. Tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thể hiện rõ nét qua hệ số dương có độ lớn đáng kể và có ý nghĩa thống

    kê. Hệ số của (CF/K)it × FLIt trong trường hợp doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính là 0.89. Điều này có nghĩa 1% gia tăng trong mức độ tự do hóa tài chính có thể khiến giới hạn tài trợ hay nói cách khác hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền tăng 0.89%. Kết quả này đi ngược với luận điểm ủng hộ tự do hóa tài chính khi cho rằng tiến trình tự do hóa tài chính có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế trong Laeven

     

    38

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    (2003), Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Harris, Schiantarelli và Siregar (1994), Koo và Shin (2004) và Koo và Maeng (2005).

    Một giải thích khả dĩ cho tác động gia tăng giới hạn tài trợ của tự do hóa tài chính đến từ Chan và cộng sự (2012). Chan và cộng sự (2012) trong khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cải cách tài chính và giới hạn tài trợ cũng tìm thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ. Các tác giả cho rằng quá trình tự do hóa tài chính làm giảm vai trò của hoạt động cho vay dựa trên quan hệ (relationship-based lending) giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Do vậy các doanh nghiệp lớn thường mất dần ưu đãi từ các ngân hàng trong hoạt động cho vay dẫn đến khó khăn trong quá trình huy động vốn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, Chan và cộng sự (2012) cho rằng tự do hóa tài chính không khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin giữa loại hình doanh nghiệp này và bên cung cấp vốn. Do đó các doanh nghiệp nhỏ khó có thể hưởng lợi từ quá trình tự do hóa tài chính. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ.

     

    1. Kết luận

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ và đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính tại 05 quốc gia Asean bao

     

    Tài liệu tham khảo

    gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Kết quả chính yếu cho thấy tại 05 quốc gia Asean thuộc mẫu nghiên cứu tự do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến giới hạn tài trợ và giới hạn tài sản thế chấp tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền (đại diện cho giới hạn tài trợ) tại các doanh nghiệp này. Một nguyên nhân có thể giải thích cho sự tác động không mong muốn của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển trong khu vực Asean là trình độ phát triển của thị trường tài chính tại các quốc gia này. Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển ở trình độ thấp với chất lượng thể chế chưa cao và cơ chế quản trị kém hiệu quả, tự do hóa tài chính làm gia tăng tình trạng bất cân xứng thông tin trong khi làm giảm chất lượng mối quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và bên cung cấp tài chính. Khi này doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc huy động vốn tài trợ đầu tư. Kết quả về tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp trong nghiên cứu này gợi ý các chính sách tự do hóa tài chính nên được đánh giá cẩn trọng trước khi áp dụng nhằm tránh gây bất lợi cho đầu tư của doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp hiện đang trong tình trạng hạn chế tài chính. Tự do hóa tài chính chỉ có thể phát huy tác dụng trong trường hợp thị trường tài chính trong nước có sự vững mạnh nhất định.

     

    Abel A. B. (1983). Optimal Investment under Uncertainty.American Economic Review, 73, 228– 233.

     

    Abel, A. B. (1980). Empirical investment equations: An integrative framework. In: Brunner, K., Meltzer, A.(Eds.), On the State of Macroeconomics. In: Carnegie–Rochester Conference Series, vol. 12, pp. 39–93.

    Abel, A. B. and Blanchard, O.J. (1986). The Present Value of Profiits and Cyclical Movements in Investment.Econometrica 54, 249–273.

     

    39

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Abiad A., Detragiache E. and Tressel T. (2010). A New Database of Financial Reforms. IMF Staff Papers, Palgrave Macmillan, vol. 57(2), pages 281-302, June.

     

    Adler D. (2014). The New Economics of Liquidity and Financial Frictions. The CFA Institute Research Foundation: www.cfapubs.org.

     

    Almeida, H. and M. Campello (2007). Financial Constraints, Asset Tangibility and Corporate Investment.The Review of Financial Studies, 20 (5): 1429-1460.

     

    Bhaduri, N. S. (2005). Investment, Financial Constraints and Financial Liberalization: Some Stylized Facts from a Developing Economy, India. Journal of Asian Economics, 16 (2005) 704–718.

    Bond, S. and C. Meghir (1994). Dynamic Investment Models and the Firm’s Financial Policy.

     

    Review of Economic Studies, 61, 197-222.

     

    Bond, S., and van Reenen, J. (2007). Microeconometric Models of Investment and Employment.In James Heckman and Edward Leamer (Eds.), Handbook of Econometrics, vol. 6A. Amsterdam: Elservier.

    Bumann S., Hermes, N. and Lensink R. (2013). Financial Liberalisation and Economic Growth: A Meta-Analysis. Technical report. Journal of International Money and Finance, 33 (2013) 255–281 Financial liberalization Campbell, J.Y., Kyle, A.S. (1993).Smart money, noise trading and stock-price behaviour.Review of Economic Studies, 60, 1–34.

     

    Bushman, Robert M. and Smith, Abbie J. and Zhang, Frank (2011). Investment Cash Flow Sensitivities Really Reflect Related Investment Decisions. Available at http://dx.doi.org/10.2139/ ssrn.842085.

     

    Chan, Kenneth S.; Dang, Vinh Q. T. and Yan, Isabel K.M. (2012). Financial reform and financing constraints: Some evidence from listed Chinese firms. China Economic Review, Vol. 23, No. 2, 06.2012, p. 482-497.

    Chinn, Menzie D. and Hiro Ito (2006). What Matters for Financial Development? Capital Controls, Institutions, and Interactions. Journal of Development Economics, Volume 81, Issue 1, Pages 163-192 (October).

    Devereux, M. and F. Schiantarelli (1990). Investment, Financial Factors, and Cash Flow: Evidence from U.K. Panel Data. In R. G. Hubbard (Ed.), Asymmetric information, corporate finance, and investment. Chicago: University of Chicago Press.

     

    Elston, J. (1993). Firm ownership structure and investment: Theory and evidence from German manufacturing. WZB Discussion Paper no. FS IV 93-28. Berlin.

     

    Farre-Mensa J. and Ljungqvist A. (2016). Do Measures of Financial Constraints Measure Financial Constraints? The Review of Financial Studies, Volume 29, Issue 2, 1 February 2016, Pages 271–308, https://doi.org/10.1093/rfs/hhv052.

    Faulkender, M., Petersen, M. (2006). Does The Source of Capital Affect Capital Structure.Volume 19, Issue 1, 1 March 2006, Pages 45–79.

     

    Fazzari, S. M., Hubbard, R. G. and Petersen, B. C. (1988). Financing Constraints and Corporate Investment.Brookings Papers on Economic Activity, 1, 141–195.

     

    40

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Fernandez, A., Klein M., Rebucci A., Schindler M., and Uribe M. (2016). Capital Control Measures:

     

    A New Dataset.IMF Economic Review, 64, 2016, 548-574.

     

    Forbes, K. J. (2003). One cost of the Chilean capital controls: Increased financial constraints for smaller trade firms. NBER Working Paper 977.

     

    Gelos, R. G., and A. M. Werner (2002). Financial Liberalization, Credit Constraints, and Collateral: Investment in the Mexican Manufacturing Sector. Journal of Development Economics, 67, 1–27.

    Gochoco-Bautista, M.S., Sotocinal, N.R. and Wang, J. (2014). Corporate investments in Asian markets: financial conditions, financial development, and financial constraints. World Development, Vol.57(C), pp. 63–78.

    Guermazi A. (2014). Financial Liberalization, Credit Constraints and Collateral: The case of Manufacturing Industry in Tunisia. Procedia Economics and Finance, 13 (2014), 82 – 100.

     

    Hadlock, C. J., and Pierce Joshua R. (2010). New Evidence on Measuring Financial Constraints:

     

    Moving Beyond the KZ Index. The Review of Financial Studies, 23 (5): 1909-1940.

     

    Harris, J., F. Schiantarelli and M. Siregar (1994). The Effect of Financial Liberalization on Firms’ Capital Structure and Investment Decisions: Evidence from aPanel of Indonesian Manufacturing Establishments, 1981–1988. World Bank Economic Review, 8, 17–47.

     

    Hayashi F. (1982). Tobin’s Marginal q and Average q: A Neoclassical Interpretation. Econometrica, Vol. 50, No. 1. (Jan., 1982), pp. 213-224.

     

    Hermes, N. and R. Lensink (1998). Financial Reform and Informational Problems in Capital Markets: An Empirical Analysis Of The Chilean Experience, 1983–1992. Journal of Development Studies, 34, 27–43.

    Hoshi, T., Kashyap, A.K., Scharfstein, D. (1991). Corporate structure, liquidity and investment:

     

    Evidencem from Japanese industrial groups. Quarterly Journal of Economics, CVI, 33–60.

     

    Hovakimian, G. and S.Titman (2006). Corporate Investment with Financial Constraints: Sensitivity of Investment to Funds from Voluntary Asset Sales. Journal of Money, Credit and Banking, Vol. 38, No. 2 (Mar., 2006), pp. 357-374.

    Hubbard R. G, Kashyap A. K. and Toni M. Whited (1995). Internal Finance and Firm Investment.

     

    Journal of Money, Credit and Banking, Vol. 27, No. 3 (Aug., 1995), pp. 683-701.

     

    Ismail M. A, Ibrahim H. M., Yusoff M. and Zainald M-P (2010). Financial Constraints and Firm Investment in Malaysia: An Investigation of Investment-Cash Flow Relationship. International Journal of Economics and Management, 4(1): 29 – 44 (2010).

    Jaramillo, F., F. Schiantarelli and A. Weiss (1996). Capital market imperfections before and after financial liberalization: An Euler Equation Approach to Panel data for Ecuadorian Firms. Journal of Development Economics, 51, 367–386.

    Kaplan N. S. and Zingales L. (1997). Do Investment-Cash Flow Sensitivities Provide Useful Measures of Financing Constraints? The Quarterly Journal of Economics, Vol. 112, No. 1 (Feb., 1997), pp. 169-215.

    Koo, J. and K. Maeng (2005). The effect of financial liberalization on firm’s investments in Korea.

     

    Journal of Asian Economics, 16, 281–297.

     

    41

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Koo, J. and S. Shin (2004). Financial Liberalization and Corporate Investments: Evidence from Korean Firm Data. Asian Economic Journal, 18, 277–292.

     

    Laeven, L. (2003). Does Financial Liberalization Reduce Financial Constraints? Financial Management, 32, 5-34.

     

    Lamont O., Polk C. and Saa-Requejo J. (2001). Financial Constraint and Stock Returns. The Review of Financial Stuties, Vol. 14, No.2, pp. 529-554.

     

    Mensa J. F., and Ljungqvist A. (2016). Do Measures of Financial Constraints Measure Financial Constraints? The Review of Financial Studies, 29 (2): 271-308. DOI: https://doi.org/10.1093/ rfs/hhv052.

    Myers, S. C. and N. S. Majluf (1984). Corporate Financing and Investment Decisions When Firms Have Information That Investors Do Not Have. Journal of Financial Economics, 13, 187–221.

     

    Nair V. R. P. (2009). Does Financial Liberalisation Reduce Credit Constraints: A Study of Firms in The Indian Private Corporate Sector.Proceedings of FIKUSZ ’09 Symposium for Young Researchers, 2009, 147-160. Hungary: Budapest.

    Nam Hoai Tran and Chi Dat Le (2017). Financial conditions and corporate investment: evidence from Vietnam. Pacific Accounting Review, Vol. 29 Iss 2.

     

    O’Toole C. and Newman C. (2015). Investment Financing and Financial Development: Evidence from Viet Nam. Review of Finance, 2015, 1–36.

     

    Oliner, S. D. and G. D. Rudebusch (1992). Sources of the Financing Hierarchy for Business Investment.Review of Economics and Statistics, 74, 643–654.

     

    Schaller, H. (1993). Asymmetric Information, Liquidity Constraints, and Canadian Investment.

     

    Canadian Journal of Economics, 26, 552–574.

     

    Stiglitz, J. and A. Weiss (1981). Credit Rationing in Markets with Imperfect Information.American Economic Review, 71, 393–410.

     

    Stiglitz, J. E. (2002). Globalization and Its Discontents. New York: W.W. Norton.

     

    Tirole, J. (2006). The Theory of Coprorate Finance. New Jersey: Princeton University Press.

     

    Whited, T. M, and Wu G. (2006). Financial Constraints Risk.Review of Financial Studies, 19, 531–559.

     

    Whited, T. M. (1992). Debt, Liquidity Constraints, and Corporate Investment: Evidence from Panel Data. Journal of Finance, 47, 1425–1460.

     

     

     

    42


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

    Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

    Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-t%E1%BA%A7m-quan-tr%E1%BB%8Dng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-d%C3%B2ng-ch%E1%BA%A3y-FDI-v%C3%A0o-v%C3%B9ng-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%90%C3%B4ng-Nam-B%E1%BB%99.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

     

    Ths. Cao Tấn Huy*

    Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

     

    Bài báo này được thực hiện với mục tiêu chính là nghiên cứu tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Nghiên cứu đã sử dụng 5 nhân tố gồm: cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ công, thương hiệu địa phương, nguồn nhân lực, chính sách đầu tư nhằm xem xét tầm quan trọng của các nhân tố này đến dòng chảy

     

    FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Bằng phương pháp phân tích tần số, phân tích tương quan và phân tích nhân tố khám phá (EFA), kết quả cho thấy có bảy nhóm nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và có mức độ quan trọng khác nhau bao gồm: nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, liên kết vùng, chính sách đầu tư, thương hiệu địa phương, chất lượng dịch vụ công, môi trường sống và làm việc. Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, các khuyến nghị đã được đưa ra và để xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp nhằm thu hút nhiều cơ hội đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong tương lai phù hợp với nhận thức của các doanh nghiệp FDI.

     

    Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, vùng kinh tế Đông Nam Bộ

     

    Assessing the importance of factors affecting FDI flows into the Southeastern economic region

     

    This paper is carried out with the main objective of studying the importance of factors affecting FDI inflows into the Southeastern economic region. The study used 5 factors including: infrastructure, quality of public services, local brands, human resources and investment policies to consider the importance of these factors to FDI inflows. By the method of frequency analysis, correlation analysis and exploratory factor analysis (EFA), the results show that there are seven groups of factors affecting FDI inflows into the Southeastern economic region and of relative importance, including: human resources, infrastructure, regional links, investment policies, local brands, quality of public services, and living and working environments. Based on the results of this study, recommendations were made and to develop appropriate investment incentive policies to attract more foreign direct investment opportunities into the Southeastern economic region in the future. consistent with the perception of FDI enterprises.

     

    Key words: FDI, Southeastern economic region.

     

    1. Đặt vấn đề

    nước phát triển trên thế giới cũng vẫn rất quan tâm

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để nền

    thu hút nguồn vốn này.

     

    kinh tế của đất nước phát triển thì vốn đầu tư là

    Tại Việt Nam, vùng kinh tế Đông Nam Bộ là

    một nhân tố không thể thiếu. Bên cạnh nguồn vốn

    một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả

    từ trong nước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    nước. Với những điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi,

    là một nguồn vốn có vai trò vô cùng quan trọng.

    nhiều tài nguyên quý giá, hệ thống kết cấu hạ tầng

    Nguồn vốn này không những quan trọng đối với

    phát triển, đồng bộ, có nguồn nhân lực chất lượng

    các nước đang phát triển mà ngay cả đối với những

    cao đồng thời là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước

       

    * Trường Đại học Tài chính – Marketing

     
    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    cũng như cửa ngõ giao thương quốc tế, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu là địa điểm lựa chọn ưa thích, hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều dự án có số lên đến hàng tỷ USD đã được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại vùng. Có rất nhiều các nhân tố tác động tới việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế, nó có cả các nhân tố thuộc về trong và bên ngoài do vậy để tiếp tục thu hút được nguồn vốn này thì chúng ta cần phải có những chính sách tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư và cần phải xét tới những nhân tố đã tác động tới nguồn vốn này. Bằng việc phân tích tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và xem xét mối quan hệ giữa các biến số, nắm được xem nhân tố nào là quan trọng nhất trong các nhân tố có ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    Như vậy, để phát huy hết tất cả lợi thế về thiên nhiên, địa lý và nguồn lực của vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội. Cần phải tìm hiểu tầm quan trọng của những

     

     

     

     

    nhân tố tác động đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng để từ đó gợi mở những giải pháp thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ cả về lượng và chất.

     

    2. Tổng quan lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu

     

    Theo Dunning, một công ty tiến hành đầu tư nước ngoài khi có các lợi thế OLI – bao gồm Ownership Advantage (O – lợi thế sở hữu), Location Advantage (L – lợi thế về vị trí), và Internalization Incentives (I – lợi thế nội bộ hóa). Cụ thể, Dunning cho rằng các công ty có lợi thế sở hữu (bằng sáng chế, công nghệ mới, thương hiệu hoặc khả năng quản lý) nên duy trì lợi thế cho lợi ích riêng của họ thay vì bán hoặc cấp giấy phép sử dụng lợi thế đó cho các công ty khác. Những công ty có lợi thế nội bộ hóa nếu ký kết hợp đồng với các công ty ở thị trường nước ngoài là một lựa chọn nguy hiểm, nó có thể dẫn đến tiết lộ lợi thế sở hữu cụ thể cho các công ty ở thị trường nước ngoài, và do đó các công ty liên doanh hiện tại có thể là đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong tương lai. Lợi thế về vị trí hàm ý rằng các công ty cần phải thu được lợi ích từ việc đầu tư tại một vị trí ở nước ngoài, nếu không họ

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 55

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    sẽ không cần phải thực hiện đầu tư ra nước ngoài.

     

    Mô hình lý thuyết OLI của Dunning cho thấy ảnh hưởng của lợi thế sở hữu, lợi thế vị trí và lợi thế nội bộ hóa đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Trong đó, lợi thế sở hữu và lợi thế nội bộ hóa phản ánh lợi thế thuộc về các công ty đa quốc gia, nó nằm ngoài sự kiểm soát của nước thu hút đầu tư, ngược lại lợi thế vị trí lại là nền tảng cho sự can thiệp của Chính phủ trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư tại một quốc gia bao gồm nhóm nhân tố về chính sách, nhóm nhân tố về kinh tế và nhóm nhân tố về tài nguyên. Dunning (1993) cho rằng các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vị trí của các doanh nghiệp FDI liên quan đến các nhân tố lợi thế kinh tế truyền thống như quy mô thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng… có thể ảnh hưởng đến động cơ và hiệu quả đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia (Coughlin và cộng sự, 1991; Head và cộng sự, 1995; Chenga và Kwan, 2000; Sun và cộng sự, 2002; Chen, 2009).

     

    Krugman (1991) phát triển lý thuyết Hiệu ứng tích tụ liên quan đến các nhân tố phân bổ không gian của FDI giữa các vùng trong một quốc gia. Sự tích tụ đề cập đến sự tập trung về vị trí của các hoạt động kinh tế làm phát sinh nền kinh tế quy mô và ngoại tác tích cực. Krugman lập luận rằng các công ty sẽ được hưởng lợi từ các doanh nghiệp khác trong cùng ngành nằm ở những vị trí vùng, khu vực lân cận bởi sự kết hợp quy mô sản xuất và chi phí vận chuyển, nó sẽ khuyến khích người tiêu dùng và nhà cung cấp đầu vào trung gian co cụm gần nhau hơn. Tích tụ sẽ giúp làm giảm tổng chi phí vận chuyển và hình thành các trung tâm sản xuất lớn cũng như các nhà cung cấp đa dạng hơn. Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp tập trung tại một khu vực địa điểm. Tác động tích tụ theo đó sẽ ảnh hưởng đến FDI thông qua một số cách: (1) Đầu tư FDI tại nơi các công ty khác trong cùng ngành tồn tại;

     

    • đầu tư FDI mới nằm gần các doanh nghiệp FDI hiện có; (3) đầu tư FDI mới nằm gần các doanh nghiệp FDI có cùng quốc gia xuất xứ.

    Sự phân bổ không gian dòng vốn FDI tại từng khu vực cụ thể trong phạm vi quốc gia còn có thể bị ảnh hưởng bởi nhân tố thể chế. Vai trò của nhân tố thể chế có thể tác động làm giảm chi phí giao dịch và chi phí thông tin thông qua việc giảm sự bất ổn và thiết lập sự ổn định, tạo điều kiện hợp tác (Hoskisson và cộng sự, 2000). Các quy định pháp lý của Chính phủ cũng như chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương được xem là một nền tảng kinh tế ảnh hưởng đến chiến lược của công ty và do đó ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu suất kinh doanh của họ. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, các hạn chế và ưu đãi được tạo ra bởi các quy định của chính phủ hay chất lượng điều hành kinh tế của Chính quyền địa phương có thể có lợi cho một số giao dịch nhưng cũng có thể đem lại bất lợi cho họ. Điều này buộc các công ty khi đầu tư cần xác định chiến lược và làm thế nào để tránh những bất lợi cũng như hưởng các lợi ích từ quy định của pháp luật. Bên cạnh nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến việc quyết định vị trí vốn đầu tư nước ngoài ở cấp quốc gia, các nhà nghiên cứu cho rằng việc thực thi pháp luật hay điều hành kinh tế của chính quyền địa phương cũng có thể ảnh hưởng đến phân bố không gian của FDI giữa các vùng trong một quốc gia. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, cải cách ban đầu liên quan chủ yếu ở cấp trung ương, sau đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các cải cách ở cấp độ địa phương. Tuy nhiên, việc thực thi hệ thống pháp luật ở cấp địa phương có thể thay đổi tùy theo các khía cạnh nhận thức của chính quyền địa phương.

     

    Trên cơ sở các lý thuyết trên cho thấy có 3 nhóm nhân tố có thể ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI vào vùng kinh tế trong một quốc gia, bao gồm nhóm nhân tố phản ánh hiệu ứng tích tụ, nhóm nhân tố lợi thế kinh tế truyền thống và nhóm nhân tố điều hành kinh tế của chính quyền địa phương.

     

    3. Mô hình nghiên cứu

     

    Phương pháp nghiên cứu: Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), kích thước mẫu cần cho nghiên cứu phụ thuộc vào nhiều nhân tố như phương pháp phân tích dữ liệu và độ tin cậy cần thiết. Hiện nay,

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    các nhà nghiên cứu xác định cỡ mẫu cần thiết thông qua công thức kinh nghiệm cho từng phương pháp xử lý. Trong EFA, cỡ mẫu thường được xác định dựa vào 2 nhân tố là kích thước tối thiểu và số lượng biến đo lường đưa vào phân tích. Hair & ctg (2006) (trích trong Nguyễn Đình Thọ, 2011) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát (observations)/ biến đo lường (items) là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát, tốt nhất là tỉ lệ 10:1 trở lên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp EFA nên cỡ mẫu được chọn trên nguyên tắc mẫu càng lớn càng tốt. Với 35 biến quan sát, số lượng mẫu tối thiểu cần thiết là: 35 * 5 = 175 mẫu. Vì vậy, tác giả chọn điều tra trên số mẫu 250 là phù hợp.

     

    Tác giả thực hiện điều tra khảo sát 02 lần: (i) Lần 1: thực hiện phỏng vấn trực tiếp 50 ứng viên là các đối tượng khảo sát thông qua bảng câu hỏi chi tiết theo phương pháp lấy mẫu phân tầng thuận tiện để điều chỉnh và xác định lại cấu trúc thang đo; (ii) lần 2: thực hiện phỏng vấn trực tiếp 250 ứng viên là các đối tượng khảo sát để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Số phiếu thu về 215 phiếu, số phiếu hợp lệ 190 phiếu (76%).

     

    Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để phân tích tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Dữ liệu được thu thập thông qua các bảng câu hỏi và được phân tích bằng các bảng tần số, độ lệch chuẩn, trung bình và phân tích tương quan, thống kê mô tả được sử dụng để diễn giải và sắp xếp lại nếu cần thiết. Phân tích tương quan của Pearson được sử dụng để nghiên cứu mối tương quan tuyến tính giữa các nhân tố ảnh hưởng đến FDI và mức độ quan trọng. Ngoài ra, tác giả nhóm các nhân tố bằng phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratary Factor Analysis).

     

    Mô hình nghiên cứu: Cơ sở hạ tầng, Chất lượng dịch vụ công, Thương hiệu địa phương, Nguồn nhân lực, Chính sách đầu tư là những nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và tìm hiểu tầm quan trọng của các nhân tố này đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam

    Bộ (Dunning,1993; Krugman, 1991; Hoskisson và cộng sự, 2000).

     

    4. Kết quả nghiên cứu và kết luận

     

    Bảng: 1.1. Vị trí của người trả lời phỏng vấn tại công ty

     

    STT

    Chức vụ

    Tần số

    Tỷ lệ (%)

     

    1

    Chief Executive

    36

    19%

     

    Officer

           

    2

    Managing Director

    54

    28%

     

    3

    General Manager

    63

    33%

     

    4

    Director

    37

    19%

     
     

    Tổng cộng

    190

    99%

     

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

     

    Thang đo Likert (Likert, 1932) là loại thang đo trong đó có một chuỗi các phát biểu liên quan đến thái độ trong các câu hỏi được nêu ra và người trả lời sẽ chọn một trong các trả lời đó. Tác giả sử dụng thang đo Likert nhằm đo lường tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Điểm số càng cao thì các biến càng trở thành tiêu chí đánh giá càng quan trọng. Năm thang điểm được sử dụng để đo tầm quan trọng của các nhân tố theo cách mà điểm số trung bình có thể được tính toán để xác định tầm quan trọng của các nhân tố đối với dòng chảy FDI. Với thang điểm năm, khoảng cách đo mỗi biến được tính như sau:

     

    5 – 1/5 = 0.8

     

    Bảng: 1.2. Mức ý nghĩa của thang đo khoảng cách

     

    STT

    Khoảng cách

    Mức ý nghĩa

    1

    4.20 – 5.00

    Rất quan trọng

    2

    3,40 – 4,19

    Khá quan trọng

    3

    2,60 – 3,39

    Quan trọng

    4

    1,80 – 2,59

    Ít quan trọng

    5

    1,00 – 1,79

    Rất ít quan trọng

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 57

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Dữ liệu thu thập được qua các bảng câu hỏi được xử lý bởi SPSS về tần số, trung bình, độ lệch chuẩn. Tất cả các biến được nhóm lại và được sử dụng để xác định tầm quan trọng của các nhân

    tố này để thu hút FDI vào vùng Đông Nam Bộ. Trong các bảng dưới đây, trung bình, độ lệch chuẩn và mức độ quan trọng của từng nhân tố được xác định.

     

    Bảng: 1.3. Tầm quan trọng của các nhân tố (5 nhân tố)

     

    Nhóm nhân tố

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Số quan sát

    Mức độ quan trọng

    Cơ sở hạ tầng

    3.4862

    .37474

    190

    Khá quan trọng

    Chính sách đầu tư

    3.5599

    .38826

    190

    Khá quan trọng

    Chất lượng dịch vụ công

    3.1516

    .39114

    190

    Quan trọng

    Thương hiệu địa phương

    3.2967

    .39700

    190

    Quan trọng

    Chất lượng nguồn nhân lực

    3.6325

    .46307

    190

    Khá quan trọng

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

     

     

    Bảng 1.3 cho thấy, ý kiến của người trả lời về tầm quan trọng của các nhân tố khác nhau. Trong số 5 nhân tố, chất lượng nguồn nhân lực được xếp hạng cao nhất (khá quan trọng) với số điểm trung bình là 3,63 và độ lệch chuẩn là 0,46, xếp thứ 2 là chính sách đầu tư với số điểm trung bình là 3.59 và độ lệch chuẩn là 0.388, xếp thứ 3 là cơ sở hạ tầng với số điểm trung bình là 3.48 và độ lệch chuẩn là 0.37, xếp thứ 4 là nhân tố thương hiệu địa phương

    với số điểm trung bình là 3.229 và độ lệch chuẩn là 0.297 và đứng cuối trong nhóm nhân tố là chất lượng dịch vụ công với số điểm trung bình là 3.15 và độ lệch chuẩn là 0.39.

     

    Dữ liệu thu thập được phân tích theo phương pháp tương quan Pearson nhằm giải thích tại sao dòng FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và làm thế nào để có thể tăng hiệu quả trong tương lai.

     

    Bảng: 1.3. Tầm quan trọng của các nhân tố (5 nhân tố)

     

     

    Cơ sở hạ

    Chính sách

    Chất lượng

    Thương hiệu

    Chất lượng

     

    tầng

    đầu tư

    dịch vụ công

    địa phương

    nguồn nhân lực

    Cơ sở hạ tầng

    1

    -0.124

    0.108

    0.211

    -0.029

    Chính sách đầu tư

    -0.124

    1

    0.097

    -0.031

    -0.134

    Chất lượng dịch vụ công

    0.108

    0.097

    1

    0.089

    -0.022

    Thương hiệu địa phương

    0.211

    -0.031

    0.089

    1

    0.079

    Chất lượng nguồn nhân lực

    -0.029

    -0.134

    -0.022

    0.079

    1

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

     

     

    Tương quan Pearson (Pearson correlation coefficient, kí hiệu r) đo lường mức độ tương quan tuyến tính giữa hai biến vì đây là phương pháp phổ biến được sử dụng thường xuyên. Nguyên tắc cơ bản, tương quan Pearson sẽ tìm ra một đường thẳng phù hợp nhất với mối quan hệ tuyến tính của 2 biến. Hệ số tương quan Pearson (r) sẽ nhận giá trị từ +1 đến -1. r > 0 cho biết một sự tương quan dương giữa hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến này tăng thì sẽ làm tăng giá trị của biến kia và ngược lại. r < 0 cho biết một sự tương quan âm giữa

    hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến này tăng thì sẽ làm giảm giá trị của biến kia và ngược lại. Giá trị tuyệt đối của r càng cao thì mức độ tương quan giữa 2 biến càng lớn hoặc dữ liệu càng phù hợp với quan hệ tuyến tính giữa hai biến. Giá trị r bằng +1 hoặc bằng -1 cho thấy dữ liệu hoàn toàn phù hợp với mô hình tuyến tính. Mối quan hệ có thể không hoàn hảo, bởi vì, các nhà đầu tư trong lĩnh vực khác nhau sẽ có thái độ và nhận thức khác nhau. Do đó, chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng các nhà đầu tư sẽ có thái độ tích cực hoặc tiêu cực nhằm giải thích

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    cho chúng ta sự biến đổi của thái độ của nhà đầu tư trong các nhân tố liên quan đến việc họ đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ.

     

    Phân tích nhân tố khám phá, gọi tắt là EFA, dùng để rút gọn một tập hợp k biến quan sát thành một tập F (với F < k) các nhân tố có ý nghĩa hơn. Trong nghiên cứu, chúng ta thường thu thập được một số lượng biến khá lớn và rất nhiều các biến quan sát trong đó có liên hệ tương quan với nhau. Thay vì đi nghiên cứu 20 đặc điểm nhỏ của một đối tượng, chúng ta có thể chỉ nghiên cứu 4 đặc điểm lớn, trong mỗi đặc điểm lớn này gồm 5 đặc điểm nhỏ có sự tương quan với nhau. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và kinh phí nhiều hơn cho người nghiên cứu.

     

    Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số của KMO phải đạt giá trị 0.5 trở lên (0.5

    • KMO ≤ 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là phù hợp. Kết quả cho thấy hệ số KMO là 0.743 > 0.5, thì phân tích nhân tố phù hợp với tập dữ liệu nghiên cứu.

    Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) dùng để xem xét các biến quan sát trong nhân tố có tương quan với nhau hay không. Chúng ta cần lưu ý, điều kiện cần để áp dụng phân tích nhân tố là

    các biến quan sát phản ánh những khía cạnh khác nhau của cùng một nhân tố phải có mối tương quan với nhau. Điểm này liên quan đến giá trị hội tụ trong phân tích EFA được nhắc ở trên. Do đó, nếu kiểm định cho thấy không có ý nghĩa thống kê thì không nên áp dụng phân tích nhân tố cho các biến đang xem xét. Kết quả kiểm định Bartlett có

     

    • nghĩa thống kê (sig Bartlett’s Test là 0.00 < 0.05), chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong nhân tố.

    Trị số Eigenvalue là một tiêu chí sử dụng phổ biến để xác định số lượng nhân tố trong phân tích EFA. Kết quả nghiên cứu cho thấy trị giá Eigenvalue là 1.984 ≥ 1 nên 7 nhân tố được giữ lại trong mô hình phân tích.

     

    Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) là 58.555 % ≥ 50% cho thấy mô hình EFA là phù hợp. Coi biến thiên là 100% thì trị số này thể hiện các nhân tố được trích cô đọng được bao nhiêu % và bị thất thoát bao nhiêu % của các biến quan sát.

     

    Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) hay còn gọi là trọng số nhân tố, giá trị này biểu thị mối quan hệ tương quan giữa biến quan sát với nhân tố. Hệ số tải nhân tố càng cao, nghĩa là tương quan giữa biến quan sát đó với nhân tố càng lớn và ngược lại.

     

    Bảng: 1.5. Kết quả phân tích EFA

     

    Component

     

     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    Điểm vui chơi giải trí hấp dẫn

    .759

               

    Hệ thống y tế đáp ứng được nhu cầu

    .741

               

    Môi trường không bị ô nhiễm

    .733

               

    Các bất đồng giữa công nhân và DN được giải quyết

    .706

               

    thỏa đáng

                 

    Người dân thân thiện

    .693

               

    Hệ thống trường học đáp ứng được nhu cầu

    .670

               

    Thông tin liên lạc thuận tiện (điện thoại, internet)

     

    .760

             

    Giao thông thuận lợi (thời gian và chi phí)

     

    .712

             

    Hệ thống ngân hàng đáp ứng được yêu cầu

     

    .706

             

    Hệ thống cấp nước, thoát nước đầy đủ

     

    .693

             

    Mặt bằng đáp ứng được yêu cầu

     

    .670

             

    Hệ thống cấp điện đáp ứng được yêu cầu

     

    .651

             

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 59

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Hệ thống thuế rõ ràng (cán bộ thuế không lợi dụng

    .835

    để trục lợi)

     

    DN sẽ vẫn đầu tư nếu địa phương không có những

    .750

    chính sách hấp dẫn

     

    Văn bản về luật pháp được triển khai nhanh đến công

    .749

    ty

     

    Chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn

    .735

    Lãnh đạo địa phương năng động trong hỗ trợ DN

    .729

    Dễ dàng tuyển dụng cán bộ quản lý giỏi tại địa phương

    .751

    Nguồn lao động phổ thông dồi dào (lao động không

    .750

    có kỹ năng)

     

    Công ty không gặp trở ngại về ngôn ngữ

    .708

    Khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ của lao

    .690

    động tốt

     

    Trường đào tạo nghề đáp ứng được yêu cầu của DN

    .663

    Lao động có kỷ luật cao

    .625

    Tỉnh X ở vùng Đồng Nam Bộ là một thương hiệu ấn

    .825

    tượng

     

    Tôi nghĩ nhiều người đầu tư thành công tại tỉnh X ở

    .820

    vùng Đồng Nam Bộ và tôi muốn như họ

     

    Tôi đầu tư ở đây chỉ đơn giản là vì muốn đầu tư vào

    .813

    tỉnh X ở vùng Đồng Nam Bộ

     

    Tôi nghĩ tỉnh X ở vùng Đồng Nam Bộ đang là điểm

    .806

    đến của các nhà đầu tư

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây

    .816

    có hoạt động phối hợp tổ chức sản xuất giữa các tỉnh

     

    trong vùng

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây có

    .803

    các ngành công nghiệp phụ trợ đặt tại các tỉnh/thành

     

    phố trong vùng

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây có

    .770

    sự phối hợp giữa các tỉnh trong xúc tiến thương mại

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây có

    .756

    chuỗi ngành hàng phù hợp với hoạt động của doanh

     

    nghiệp

     

    Các trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại có hỗ trợ

    .838

    tốt cho DN

     

    Thủ tục hành chính đơn giản, nhanh chóng

    .831

    Chính quyền địa phương hỗ trợ chu đáo khi DN cần

    .799

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

       

    Từ kết quả phân tích nhân tố được thực hiện

    thành 7 nhóm nhân tố bao gồm 5 nhóm nhân tố

     

    trên cơ sở 34 biến sử dụng phân tích thành phần

    cũ (cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ công, thương

     

    sau khi loại bỏ 2 biến không có mối tương quan

    hiệu địa phương, nguồn nhân lực, chính sách đầu

     

    đáng kể với các biến số khác. Bảng 1.5 cho thấy từ

    tư) và 2 nhóm nhân tố mới (môi trường sống và

     

    5 nhóm nhân tố ban đầu sau khi phân tích nhân

       

    tố khám phá EFA, các biến quan sát đều hội tụ tạo

    làm việc, liên kết vùng).

     
    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    Bảng: 1.6. Tầm quan trọng của các nhân tố (7 nhân tố)

     

    Nhóm nhân tố

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Số quan sát

    Mức độ quan trọng

    Nguồn nhân lực

    3.6325

    .46307

    190

    Khá quan trọng

    Cơ sở hạ tầng

    3.6237

    .46865

    190

    Khá quan trọng

    Liên kết vùng

    3.6158

    .55314

    190

    Khá quan trọng

    Chính sách đầu tư

    3.5274

    .53054

    190

    Khá quan trọng

    Thương hiệu địa phương

    3.3329

    .59097

    190

    Quan trọng

    Chất lượng dịch vụ công

    3.1197

    .46626

    190

    Quan trọng

    Môi trường sống và làm việc

    3.1137

    .52344

    190

    Quan trọng

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

     

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, liên kết vùng, chính sách đầu tư có mức độ ưu tiên cao hơn so với các nhân tố thương hiệu địa phương, chất lượng dịch vụ công, môi trường sống và làm việc. Cụ thể:

     

    • Nhân tố nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ là nhân tố hấp dẫn để thu hút các doanh nghiệp có trình độ công nghệ không cao và thâm dụng lao động; lao động có kỹ năng và có kỷ luật thích hợp cho những dây chuyền sản xuất công nghiệp; và đặc biệt là lao động quản lý, lao động kỹ

    thuật có trình độ ngoại ngữ làm việc cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

     

    • Cơ sở hạ tầng đầu tư: Đây là nhân tố quan trọng thứ 2 là nhân tố cơ bản và cần thiết cho việc SXKD của bất kỳ công ty nào. Các nhân tố này bao gồm các nhân tố về hạ tầng cơ bản như điện, nước, giao thông, mặt bằng và các nhân tố hạ tầng kỹ thuật như thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng.
    • Liên kết vùng: Liên kết vùng để thu hút đầu tư theo tư tưởng của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là một nhiệm vụ mới, đòi hỏi

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 61

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    phải có định hướng mới trong phân công và hợp tác giữa các địa phương cũng như sự quan tâm nhiều hơn đến nhân tố khoa học – công nghệ của sản xuất và sự lựa chọn các đối tác cũng như dự án đầu tư.

     

    • Chế độ chính sách đầu tư: Chính sách của chính quyền địa phương về ưu đãi đối với đầu tư; tính năng động của chính quyền trong hỗ trợ DN đầu tư về thủ tục hành chính, pháp lý, thuế; các văn bản, chính sách rõ ràng, minh bạch và được triển khai nhanh đến DN để cán bộ công quyền không thể trục lợi hay nhũng nhiễu DN.
    • Thương hiệu địa phương: Một doanh nghiệp có thể coi là hoạt động hiệu quả khi các mục tiêu mà nó đề ra đạt được như ý muốn. Các nhà đầu tư thường tìm đến những địa phương có thương hiệu để đầu tư vì họ có thể tiết kiệm được chi phí tìm hiểu môi trường đầu tư và tránh được rủi ro.
    • Chất lượng dịch vụ công: Chất lượng dịch vụ công thể hiện trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cần thiết trong hoạt động đầu tư và SXKD cũng như hưởng lợi từ những hỗ trợ của Nhà nước
    • những khu vực mà nhà nước có lợi thế và DN khó có khả năng tự tiếp cận.
    • Môi trường sống và làm việc: Môi trường sống và làm việc thể hiện qua các nhân tố về văn hoá, giáo dục, y tế, chất lượng môi trường sống, vui chơi, sinh hoạt, sự hoà hợp và chi phí hợp lý thể hiện một môi trường sống chất lượng và phù hợp với nhà đầu tư và người lao động để có thể hoạt động hiệu quả và gắn bó lâu dài với địa phương.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chen, Y. (2009). Agglomeration and location of foreign direct investment: The case of China. China economic review, 20(3), 549-557;

     

    1. Cheng, L. K., & Kwan, Y. K. (2000). What are the determinants of the location of foreign direct investment? The Chinese experience. Journal of international economics, 51(2), 379-400;
    1. Coughlin, C. C., Terza, J. V., & Arromdee, V. (1991). State characteristics and the location of foreign direct investment within the United States. The Review of economics and Statistics, 675-683;

     

    1. Dunning, J. H. (1977), ‘Trade, location and economic activity and the multinational enterprise: A search for a eclectic approach’, in Ohlin, B., Hesselborn, P.O., and Wijkman, P.M. (Ed): The international allocation of economic activity, London: Macmillan;

     

    1. Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of international business studies, 19(1), 1-31;

     

    1. Dunning, J. H., & Rojec, M. (1993). Foreign Privatization in Central & Eastern Europe (No. 2). Central and Eastern European Privatization Network;
    2. Dunning, J. H. (2001). The eclectic (OLI) paradigm of international production: past, present and future. International journal of the economics of business, 8(2), 173-190;

     

    1. Head, K., Ries, J., & Swenson, D. (1995). Agglomeration benefits and location choice: Evidence from Japanese manufacturing investments in the United States. Journal of international economics, 38(3-4), 223-247;

     

    1. Hoskisson, R. E., Eden, L., Lau, C. M., & Wright, M. (2000). Strategy in emerging economies. Academy of management journal, 43(3), 249-267;
    • Krugman, P. (1991). Increasing returns and economic geography. Journal of political economy, 99(3), 483-499;

     

    1. Sun, Q., Tong, W., & Yu, Q. (2002). Determinants of foreign direct investment across China. Journal of international money and finance, 21(1), 79-113;
    • Thọ, N. Đ. (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nhà Xuất bản Lao động-Xã hội, 593.

     

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%9D-ki%E1%BA%BFn-v%E1%BB%81-s%E1%BB%ADa-%C4%91%E1%BB%95i-lu%E1%BA%ADt-thu%E1%BA%BF-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-gia-t%C4%83ng-theo-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-t%C4%83ng-thu%E1%BA%BF-su%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    PGS.TS. Phan Duy Minh*

    Hiện Bộ Tài chính đang có Đề án đề nghị Chính phủ trình Quốc hội cho sửa đổi, bổ sung 6

     

    Luật thuế (Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập cá nhân, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế Tài nguyên, Thuế XK & NK). Việc xem xét, đề xuất sửa đổi các văn bản pháp luật nói chung, các luật thuế nói riêng sau một

    thời gian áp dụng để phù hợp hơn với hoạt động thực tiễn vốn thay đổi, biến động không ngừng, đó là công việc bình thường, rất cần thiết. Để bổ sung sửa đổi cùng một lúc 6 luật thuế sẽ bao gồm rất nhiều vấn đề, với nhiều nội dung khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn bàn một vấn đề là điều chỉnh thuế suất thuế Giá trị gia tăng theo hướng tăng lên trên các khía cạnh cả về lý luận và thực tiễn.

     

    Từ khóa: Sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT, tăng thuế suất.

     

    Comments on amending the Law on Value Added Tax along the direction of increasing the tax rate

     

    Currently, the Ministry of Finance is proposing to the Government to submit to the National Assembly amendments and supplements to 6 tax laws (Law on Value Added Tax, Law on Corporate Income Tax, Law on Personal Income Tax, Law on Consumption Tax Special and Resource Tax Laws). Considering and proposing to amend general legal documents and tax laws in particular after a period of time of application so that they are more suitable with practical activities that change incessantly is ordinary and necessary type of work. At the same time amending 6 tax laws will cover a wide range of issues, with varying content. Within the scope of this article, we limit ourselves to the issue of adjusting the VAT rate in the direction of increasing both theoretical and practical aspects.

     

    Key words: Amending and supplementing the VAT Law, increasing the tax rate.

     

     

    1.   Cần có nhận thức đúng hơn về bản chất của Thuế Giá trị gia tăng

     

    Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) được triển khai áp dụng ở nước ta tính đến nay là sắp tròn 18 năm (1999 – 2017). Luật được kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9 thông qua và được ban hành bởi Sắc lệnh số 57/1997/L-CTN ngày 10/05/1997 của Chủ tịch nước và có giá trị thi hành từ ngày 01/01/1999

     

    thay cho Luật Thuế Doanh thu. Sau đó, Luật được bổ sung, sửa đổi bằng Luật số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội khóa 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.

     

    Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế Doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954 (Theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajou tée – TVA, còn theo tiếng

     

    *Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  13

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

     

    Anh gọi là Value Added Tax gọi là – VAT). Ngày nay, phần lớn các nước trên thế giới (năm 2016 là 166 nước) đều áp dụng thuế này. Đó là các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU), Châu Phi, Châu Mỹ và một số quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam.

     

    Theo cách hiểu chung của thế giới cũng như theo quy định của Luật thuế GTGT của Việt Nam thì đây một loại thuế gián thu. “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (Điều 1 – Luật Thuế GTGT 1997) và tại Luật Thuế GTGT sửa đổi năm 2008 thì quy định này vẫn được giữ nguyên (Điều 2). Nói cách khác, thuế GTGT là khoản được cộng thêm vào giá cả hàng hóa của người sản xuất và cơ sơ để tính khoản thuế này là một tỷ lệ nhất định của phần giá trị gia tăng được thực hiện ở các khâu sản xuất, lưu thông trước khi bán cho người tiêu dùng. Như vậy, thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ và hoàn toàn do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng các dịch vụ đó.

     

     

     

     

     

    Thuế GTGT theo chúng tôi luôn phải được hiểu đúng như trên, nhưng trên thực tế thì đáng tiếc không ít người, kể cả người hướng dẫn luật lại không hiểu đúng như vậy. Họ cho rằng, thuế GTGT được “đánh” trên GTGT của hàng hóa, dịch vụ. Cách hiểu như thế này vô tình đã đánh đồng thuế GTGT với một số thuế trực thu khác như Thuế Thu nhập cá nhân, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, coi khoản thuế là điều tiết một phần GTGT vừa được tạo ra về cho Nhà nước. Phải chăng vì cách hiểu như vậy mà khá nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn cố tình trốn các khoản thuế GTGT bằng cách không xuất hóa đơn cho người mua khi bán hàng và cơ quan thuế chưa thực sự quyết liệt để thu bằng được các thuế này về cho Nhà nước.

     

    Dưới đây xin được đề cập sâu hơn một chút về bản chất kinh tế của khoản thuế GTGT như sau.

     

    Để cho vấn đề được đơn giản, chúng tôi gộp các chủ thể cụ thể có liên quan thành ba chủ thể lớn là Nhà sản xuất (bao gồm cả người sản xuất và người làm công tác lưu thông hàng hóa, dịch vụ), Người tiêu dùng và Nhà nước.

     

    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Chúng ta đều biết, sau khi sản xuất hoàn thành, sản phẩm trước khi đến Người tiêu dùng, giá bán sản phẩm của Nhà sản xuất là Giá sản xuất (Pp). Giá này bao gồm Giá thành (Z) và phần Lãi gộp, hay đó chính là phần GTGT (Va). Giá thành (Z)

     

    • đây tập hợp các chi phí hữu hình, cụ thể, có thể hạch toán và phân bổ được gắn với quá trình sản xuất kinh doanh (còn gọi là các chi phí có hóa đơn). Chúng gồm Chi phí sản xuất (Chi phí tiêu hao vật tư nguyên liệu, khấu hao TSCĐ, tiền công… – Cc), Chi phí quản lý (Cm), Chi phí hữu hình khác (Các chi phí trong khâu lưu thông, các khoản thuế, phí… phải nộp “đầu vào”…). Còn Va bao gồm Lãi vay ngân hàng (Rl – nếu có), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (Te) và phần Lợi nhuận (f) của Nhà sản xuất. Cụ thể

    Pp = Z + Va ; trong đó

     

    Z = Cp + Cm + Co

     

    Va = Rl + Te + f

     

    Nên Giá của nhà sản xuất giờ đây được viết lại như sau:

     

    Pp = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f (1)

     

    Khi người tiêu dùng mua sản phẩm phải trả theo Giá tiêu dùng (Pc), gồm Giá sản xuất (Pp) và cả phần thuế GTGT (VAT) nộp cho Nhà nước. VAT được tính trên cơ sở GTGT (Va) và Thuế suất (t). Tức là:

     

    Pc = Pp + VAT ; với VAT = Va . t = (Rl + Te + f).t , nên

     

    Pc = Pp + (Rl + Te + f).t (2)

     

    Kết hợp (1) và (2) ta có

     

    Pc = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f + (Rl + Te + f).t (3)

     

    Như chúng ta đã biết, trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà sản xuất trong quá trình tạo ra sản phẩm đã phải tiêu tốn nhiều loại sản phẩm, vật tư, nguyên liệu, nhân công, dịch vụ hữu hình và chúng đã được tính vào giá thành, nếu có chi phí vốn vay

    thì phải trả lãi vay… Song trong quá trình đó, họ đã được hưởng rất nhiều hàng hóa công cộng (HHCC) thuần túy, vô hình do Nhà nước cung cấp (Giữ gìn nền hòa bình, bình yên, an toàn xã hội, được quyền giao lưu tự do quốc tế… do các hoạt động quốc phòng, an ninh, quản lý xã hội, đối ngoại… của Nhà nước mang lại). Để có được những HHCC ấy Nhà nước đã tiêu tốn rất nhiều chi phí, nguồn lực…, nhưng do chúng thuần túy, vô hình nên Nhà sản xuất khi hưởng thụ chúng để phục vụ quá trình sản xuất đã chưa trả tiền cho Nhà nước và Nhà nước cũng không thể loại trừ được việc thụ hưởng đó. Vì thế, trong giá của Nhà sản xuất (Pp), cả phần Giá thành (Z) cũng như phần GTGT (Va) đều chưa hề có khoản chi phí trả cho các HHCC vô hình này của Nhà nước, thì giờ đây, theo quy luật Trao đổi ngang giá của thị trường, Nhà nước phải cộng thêm vào Giá của Nhà sản xuất (Pp) phần chi phí của mình do đã cung cấp HHCC để thu hồi về dưới dạng thuế GTGT (VAT) là hoàn toàn thỏa đáng.

     

    Qua phân tích trên cho thấy, thuế GTGT không phải là một phần của GTGT (Va), nên nó không “đánh” vào GTGT, mà thực chất đây là việc thu hồi lại các khoản chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra để sản xuất cung cấp HHCC thuần túy vô hình cho xã hội mà Nhà sản xuất đã được hưởng trước đây nhưng chưa trả cho Nhà nước; còn cơ sở để tính số thuế này là một tỷ lệ % (thuế suất) nhất định của phần GTGT. Nhà sản xuất có trách nhiệm thu hộ khoản thuế này và nộp trả về cho Nhà nước.

     

    2.   Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tăng thuế suất thuế GTGT

     

    Giá mà Người tiêu dùng phải trả (Pc) theo công thức (3) trên đây giờ đây có thể được viết lại như sau:

     

    Pc = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f + (Rl + Te + f).t

     

    Pc = (Cp + Cm + Co) + (Rl + Te + f).(1 + t)

     

    Pc = Z + Va.(1 + t) (4)

     

    Như vậy, tại công thức (4), giá cả sản phẩm mà

     

    (1) Ở những nước này là Thuế Tiêu thụ, Thuế Hàng hóa (GST). Về bản chất, các thuế này cũng tương tự như VAT.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  15

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

    người tiêu dùng phải trả đều có quan hệ tỷ lệ thuận với cả 3 yếu tố: Giá thành (Z), GTGT (Va) và Thuế suất thuế GTGT (t). Dó đó, Pc sẽ tăng hoặc giảm khi có ít nhất 1 trong 3 yếu tố trên tăng hoặc giảm. Vì thế, nếu Nhà nước có ý định tăng Thuế suất thuế GTGT (t) thì về lý thuyết giá cả tiêu dùng sẽ tăng là điều có lẽ không có gì phải bàn cãi.

     

    Với đề xuất của Bộ Tài chính sẽ tăng thuế suất thuế GTGT thêm 1 đến 2%, xin được bàn luận thêm một số khía cạnh sau.

     

    Thứ nhất, Tác động đến tăng giá cả hàng hóa.

     

    Như trên đã chỉ ra, việc tăng thuế suất thuế GTGT (và cả với các loại thuế gián thu khác được cộng vào giá cả hàng hóa) thì về lý thuyết đều làm tăng giá cả hàng hóa. Tuy vậy, ở đây thuế suất chỉ điều chỉnh tăng thêm 1 đến 2%, thì giá chỉ tăng thêm một phần, 1 đến 2% của phần GTGT. Theo con số thống kê, GTGT chiếm trong giá tiêu dùng của nền kinh tế bình quân 10%, thì khi tăng thuế suất như dự định, mặt bằng giá chỉ có thể tăng thêm 0,1 đến 0,2% mà thôi. Tuy nhiên, tác động đến giá cả còn do rất nhiều yếu tố khác nhau, như do cung – cầu, cạnh tranh, tâm lý tiêu dùng…

     

    Thứ hai, Cơ sở để đề xuất tăng thuế suất.

     

    Bản Đề án có đưa ra các căn cứ để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT dựa trên một số yếu tố, gồm

     

    – Mặt bằng thuế suất của nhiều nước trên thế

    giới đều cao hơn nhiều so với thuế suất hiện tại của Việt Nam. Thuế suất thuế GTGT của Việt Nam hiện có 3 mức là 0%, 5% và 10%; trong đó, diện chịu mức thuế 10% là phổ biến nhất. Trong khi đó nhiều nước, thuế suất bình quân là 15 đến 20%, thậm chí cao hơn. Tuy vậy, qua báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) thì các nước có thuế suất cao chủ yếu là thuộc EU, Trung Quốc và một số quốc gia khác. Còn ở Châu Á nói

     

    chung, ASEAN nói riêng, trừ Myanmar, còn lại đều có thuế suất trung bình 10% trở xuống (Nhật Bản 8%, Hàn Quốc 10%, Singapore 7%, Malaysia 6%, Thái Lan 7%, sẽ là 10% từ 10/2018, Idonesia, Lào, Căm pu chia đều 10%). Vậy, Việt Nam hiện tại có thuế suất trung bình gần 10% là khá phù hợp với mặt bằng chung của khu vực.

     

    • Tỷ lệ thu thuế GTGT trong tổng thu NSNN của Việt Nam tương đối thấp. Qua số liệu báo cáo của Bộ Tài chính (và cũng đã được kiểm toán bởi KTNN), thuế GTGT trong tổng thu NSNN về thuế từ năm 2009 đến năm 2012 lần lượt là 21,25%, 24,38%, 27,55%, 27,28%, 26,08% (Theo Báo cáo của Bộ Tài chính kèm theo Tờ trình Chính phủ số 06/TTr-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2013); trong các năm từ 2013 đến 2016, tỷ lệ đó dao động từ 26 đến 27%. Như vậy, nếu tổng thu NSNN của Việt Nam bình quân 20 đến 21% GDP, thì phần thu từ thuế GTGT tương ứng 5 đến 5,5% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ này của các nước thuộc EU trung bình là 7%GDP, của Trung Quốc là 7,36% GDP (Theo báo cáo của WB). Đối với các nước thuộc ASEAN, mặc dù hiện chưa có báo cáo thống kê chính thức, nhưng số thuế GTGT cũng chỉ chiếm trên dưới 5% GDP. Từ đó cho thấy, so với EU và Trung Quốc, tỷ lệ huy động GDP vào NSNN qua thuế GTGT của Việt Nam là tương đối thấp, nhưng so với khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ này không thấp, thậm chí theo
    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    một số chuyên gia thì lại vào loại cao nhất khu vực.

     

    Theo chúng tôi, việc thu thuế GTGT là cao hay thấp, có lẽ cần so sánh với một yếu tố khác nữa không kém phần quan trọng. Đó là quy mô của các khoản chi NSNN có nguồn gốc từ thuế GTGT, hay nói cách khác, thu thuế GTGT là để thu hồi các chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra cho các hoạt động đó.

     

    Hiện nay, theo Luật NSNN 2015 mặc dù quy định, các khoản thu NSNN về thuế, phí, lệ phí… không gắn với các nhiệm vụ chi cụ thể (Điều 7), nhưng như đã phân tích ở trên về bản chất kinh tế của thuế GTGT, thì đây là khoản thu hồi những chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra để sản xuất, cung cấp các HHCC thuần túy vô hình cho xã hội, tức là các khoản chi cho quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. (Thực chất một vài thuế khác cũng có bản chất kinh tế tương tự như thuế này, như Thuế Thu nhập cá nhân, Thuế Thu nhập doanh nghiệp…, nhưng có lẽ thuế GTGT là điển hình nhất). Số chi NSNN cho quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước hàng năm đều được thể hiện khá cụ thể và Bộ Tài chính có thể thống kê tổng hợp chúng khá dễ dàng. Vậy hiện nay số chi này là bao nhiêu về số tuyệt đối và tương ứng bằng bao nhiêu trong Tổng chi NSNN? Là bao nhiêu %GDP? So với số thu từ

     

     

     

     

    thuế GTGT hàng năm là nhiều hơn hay ít hơn. Trường hợp thu từ thuế GTGT ít hơn các khoản chi này thì đây là một căn cứ để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT.

     

    Tuy vậy, theo chúng tôi, đất nước ta đang trong thời kỳ có lẽ là thanh bình nhất, các nguy cơ chiến tranh có thể nổ ra có thể nói là rất thấp, thậm chí bằng 0. Chúng ta lại chủ trương thực hiện một nền quốc phòng toàn dân, không thực hiện chạy đua vũ trang… Nên đây là giai đoạn hoàn toàn có thể giảm thấp chi tiêu cho quốc phòng về con số tương đối. Các chi tiêu khác về an ninh, quản lý nhà nước cũng có nhiều cơ hội, điều kiện để tiết giảm. Vậy nếu những khoản chi này hàng năm vượt quá 5% GDP của quốc gia (khoảng 20% tổng chi NSNN) là chưa hợp lý. Vì thế, đây có lẽ không phải là áp lực lớn để chúng ta tăng thuế suất thuế GTGT.

     

    Ngoài ra, với đề xuất mở rộng diện đối tượng chịu thuế GTGT, vẫn giữ 3 mức thuế suất như hiện tại, theo chúng tôi cơ bản là hợp lý, nhưng cũng cần tính toán, cân nhắc thêm.

     

    Về mở rộng diện chịu thuế. Theo lý thuyết, bất cứ Nhà sản xuất nào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa đều được thụ hưởng những

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  17

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

    HHCC thuần túy, vô hình do Nhà nước cung cấp, nhưng chưa hề trả chi phí thụ hưởng này trong bất cứ khoản mục nào của giá bán, thì phải cộng thêm khoản thuế GTGT vào giá bán cuối cùng cho Người tiêu dùng để giúp Nhà nước thu hồi các chi phí đã bỏ ra là hoàn toàn hợp lý. Vì thế, về lý thuyết, trong giá bán cho Người tiêu dùng của mọi hàng hóa, dịch vụ nào đều phải có phần thuế GTGT trả cho Nhà nước (Người sản xuất thu hộ thuế để trả cho Nhà nước). Tuy vậy, bất cứ một sắc thuế nào cũng thường có khá nhiều chức năng. Thông thường, bên cạnh chức năng Tài khóa (Tạo thu nhập cho NSNN), chúng còn có các chức năng khác, như chức năng Bảo hộ sản xuất trong nước; chức năng Điều tiết thu nhập; chức năng Khuyến khích, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng… Do đó, có thể có những sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế, nhưng cần phải bảo hộ, hay khuyến khích sản xuất… Nhà nước có thể chưa thu thuế bằng cách áp dụng mức thuế suất bằng 0% là rất cần thiết.

     

    Giữ nguyên 3 mức thuế suất, trong đó có mức thuế 0%. Đây là điều có thể cần phải tính toán, cân nhắc thêm. Nếu cứ giữ 3 mức thuế suất và tăng thêm 1 đến 2% cho mỗi mức thuế suất theo chúng tôi chưa hẳn đã là phương án hay. Vì cách này dễ gây ra tâm lý trong xã hội là Nhà nước thuế! Phải chăng, có thể nghiên cứu chọn thêm những hướng khác. Như (i) Có thể quy định bổ sung thêm một mức thuế suất 15% cho một số mặt hàng cần phải chịu mức thuế suất cao; (ii) Điều chỉnh một số mặt hàng đang từ thuế suất 0% sang mức 5%, đang từ 5% sang 10%… chẳng hạn. Bên cạnh đó, việc áp thuế suất cho các mặt hàng cũng cần lưu ý đến nhiều yếu tố, như:

     

    • Những sản phẩm hàng hóa thiết yếu đối với đời sống, sản xuất… cần áp dụng mức thuế suất thấp, thậm chí tạm miễn thuế theo mức thuế suất 0%;
    • Những sản phẩm hàng hóa cần bảo hộ thì áp mức thuế suất cao. Ngược lại, các sản phẩm cần khuyến khích xuất khẩu thì áp mức thuế suất thấp, thậm chí với thuế suất bằng 0%;
    • Những sản phẩm không thật thiết yếu, có

    nhiều mặt hàng thay thế, độ co dãn của cầu lớn…, có thể áp dụng mức thuế suất cao…

     

    Nếu làm như vậy sẽ góp phần phát huy đầy đủ hơn các chức năng của thuế GTGT và sử dụng chúng một cách uyển chuyển, hiệu quả trong tay Nhà nước.

     

    Kết luận

     

    Thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay xét cả về thuế suất, số thu cũng như tỷ trọng trên GDP của nền kinh tế so với các nước EU, Trung Quốc… là tương đối thấp, nhưng so với các nước ASEAN và một số nước Châu Á khác là không thấp, thậm chí còn tương đối cao. Số thu thuế GTGT hàng năm của chúng ta chiếm khoảng 25 đến 27% tổng thu NSNN, tương đương 5 đến 5,5% GDP, có thể trang trải đủ các nhiệm vụ chi về quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. Việc đề xuất tăng thuế suất thêm 1 đến 2% trên thực tế có thể mang lại một khoản thu không đáng kể, nhưng rất có thể tạo ra những tác động mạnh về tâm lý xã hội và bất ổn định về kinh tế vĩ mô, nên rất cần phải được tính toán thận trọng và tốt nhất nên theo hướng giữ ổn định trong giai đoạn này. Ngược lại, mở rộng diện chịu thuế, có thể thiết kế thêm một mức thuế suất 15%, vẫn giữ mức thuế suất 0%, linh hoạt điều chỉnh các mặt hàng chịu những mức thuế suất phù hợp với điều kiện cụ thể… Đồng thời, tích cực áp dụng các biện pháp khác để chống thất thu thuế GTGT thì không cần tăng thuế suất, chúng ta vẫn có thể tăng được số thu từ sắc thuế này như mong muốn.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Kinh tế học công cộng, Joseph Siglitz, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, 1994;

     

    1. Báo cáo của Bộ Tài chính kèm theo Tờ trình Chính phủ số 06/TTr-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2013;

     

    1. Báo cáo của Bộ Tài chính về Kinh nghiệm cải cách chính sách thuế trên thế giới – 2017;

     

    1. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính và một số tài liệu khác.

     

     

    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%C6%B0-nh%C3%A2n-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TƯ NHÂN ĐỐI VỚI

     

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

    Hà Huy Huyền1

     

    TÓM TẮT

     

    Những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội to lớn trong hơn 30 năm đổi mới của đất nước ta có một phần đóng góp không nhỏ của khu vực kinh tế tư nhân. Từ những thực tiễn sinh động đó, Đại hội XII của Đảng năm 2016 đã khẳng định:“kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

     

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (tháng 6-2017) đưa ra mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). Nghị quyết được đánh giá là một bước tiến mới, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế. Đây là nguồn cổ vũ cho tinh thần khởi nghiệp, đổi mới và sáng tạo, tạo sức sống và đột phá phát triển mạnh mẽ đất nước ta trong giai đoạn tới.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân, tăng trưởng kinh tế, Đồng Nai

     

    1. Giới thiệu

    thế  mạnh  của  KTTT,  không  thể  khai

    Kinh tế tư nhân (KTTN) là chủ thể

    thác hết nguồn lực phát triển to lớn của

    quan trọng nhất trong nền kinh tế thị

    xã hội [1].

    trường (KTTT) hiện đại. Mặc dù quy

    Từ tinh thần của Đại hội XII cũng

    mô của khu vực tư nhân có thể khác

    cần nhấn mạnh và làm rõ, việc xác định

    nhau trong các mô hình KTTT đa dạng,

    kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và

    song có một điều chắc chắn rằng, nếu

    KTTN là một động lực quan trọng trong

    không có khu vực KTTN thì sẽ không

    nền kinh tế không hàm ý phân biệt đối

    có nền KTTT theo đúng nghĩa của nó.

    xử, mà với  ý nghĩa là  tùy thuộc vào

    Dù không hoàn hảo, song KTTT vẫn

    chức năng của mỗi thành phần kinh tế

    chứng tỏ là một cơ chế huy động, phân

    để  xác  định  vai  trò  của  chúng.  Nhà

    bổ nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo và phát

    nước với các nguồn lực, công cụ, chính

    triển  được  coi  là  tốt  nhất  hiện  nay.

    sách sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc

    Chính hoạt động của khu  vực KTTN

    định hướng và điều tiết nền kinh tế, bảo

    giúp vận hành cơ chế đó. Một khu vực

    đảm các cân đối lớn cho nền kinh tế,

    KTTN phát triển chưa  chắc mang lại

    kiểm soát các nguồn tài nguyên chiến

    một nền KTTT hoàn hảo. Tự thân khu

    lược, phát triển kết cấu hạ tầng và dịch

    vực  KTTN  không  giúp  khắc  phục

    vụ công có vốn đầu tư lớn, luân chuyển

    những khiếm khuyết và “thất bại” của

    chậm, lợi nhuận không cao, rất cần thiết

    thị trường. Tuy nhiên, nếu không phát

    cho nền kinh tế – xã hội mà khu vực tư

    triển KTTN sẽ không thể phát huy hết

    nhân  không  sẵn  sàng  đảm  nhận;  các

         

    1Trường Đại học Đồng Nai

    28

    Email: [email protected]

         

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    lĩnh vực quốc phòng – an ninh, một số hoạt động đầu tư mạo hiểm… Như vậy, để thấy rằng, Đảng ta tiếp tục xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo với nội hàm mới, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013).

     

    Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể, tất cả các tầng lớp nhân dân đã chuyển sang ý thức chủ động và tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội.

     

    Những thay đổi về tư duy và nhận thức quan trọng đó đã tạo điều kiện giúp khu vực KTTN ở nước ta từng bước phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá thể, nước ta đã có những tập đoàn kinh tế lớn. Từ chỗ chủ yếu hoạt động trong khu vực phi chính thức, KTTN đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hoạt động trong khu vực chính thức của nền kinh tế, phạm vi kinh doanh đã rộng khắp ở những ngành mà pháp luật không cấm. Đặc biệt, trong những năm qua một làn sóng khởi nghiệp đã và đang diễn ra, đem lại một sức sống mới cho nền kinh tế. Có thể thấy, khu vực KTTN đang đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội của đất nước.

     

    Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Thậm chí, tỷ trọng của các doanh nghiệp siêu nhỏ đã tăng

    mạnh trong những năm gần đây. Do quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính yếu kém nên năng lực cạnh tranh của các DNTN thường thấp hơn các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhiều DNTN còn kinh doanh theo hình thức ngắn hạn, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn; ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước còn hạn chế. Đội ngũ doanh nhân của khu vực tư nhân chưa thực sự lớn mạnh, còn thiếu kinh nghiệm trên thương trường quốc tế và chưa được đào tạo sâu về quản lý sản xuất, kinh doanh. Một bộ phận doanh nhân còn hạn chế về kiến thức, sự am hiểu pháp luật và năng lực kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, khả năng cạnh tranh và hội nhập. Một số doanh nhân còn thiếu trách nhiệm với xã hội, vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, làm tăng thêm các tiêu cực xã hội, môi trường [2].

     

    Năng lực công nghiệp của khu vực KTTN trên thực tế là rất nhỏ và yếu, mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển. Phần lớn sản xuất công nghiệp của các DNTN là gia công lắp ráp, chủ yếu sử dụng máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu. Các công đoạn sản xuất đưa lại giá trị gia tăng cao, như thiết kế, tạo kiểu dáng, marketing… đều được thực hiện bởi đối tác nước ngoài. Sự phân tầng trình độ công nghệ đang diễn ra trong từng ngành và trong nhiều doanh nghiệp; công nghệ lạc hậu, trung bình và tiên tiến cùng đan xen tồn tại; công nghệ

     

    29

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    tiên tiến, hiện đại chỉ tập trung vào một số ít DNTN, ở một số ít lĩnh vực. Chênh lệch về trình độ công nghệ bộc lộ rõ: các DNTN thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước và thua xa doanh nghiệp FDI. Do trình độ công nghệ thấp, các DNTN không có khả năng kết nối cũng như tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, nhất là không thể tận dụng được hiệu ứng lan tỏa từ các doanh nghiệp FDI đang tăng trưởng nhanh.

     

    Các DNTN phần lớn vẫn hoạt động

     

    • thị trường trong nước, chỉ rất ít DNTN lớn vươn được ra thị trường nước ngoài ở một mức độ khiêm tốn. Ngay cả ở thị trường trong nước, dưới sức ép cạnh tranh gay gắt các DNTN lớn cũng bắt đầu có xu hướng rút khỏi các ngành sản xuất công nghiệp, nhường lại sân chơi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sự rút lui này cũng diễn ra trong một số lĩnh vực dịch vụ như phân phối và bán lẻ được ưu tiên và có nhiều tiềm năng của nền kinh tế [3].

    Số lượng DNTN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít. Trong khi đó, nhiều chính sách “cởi trói” giúp nông nghiệp, nông thôn phát triển trong thời kỳ sau đổi mới đã tới giới hạn. Mô hình kinh tế hộ truyền thống tồn tại lâu nay ở nông thôn không còn phù hợp với điều kiện mới; yêu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất đang được đặt ra cho việc triển khai những mô hình hiện đại như kinh tế trang trại quy mô lớn. Việc giải quyết lao động trong ngành nông nghiệp chưa đạt hiệu quả mong muốn

    có nguyên nhân chủ yếu là sự phát triển của lực lượng doanh nghiệp ở nông thôn không đủ mạnh nên chưa thúc đẩy chuyển dịch nhanh lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp. Với những vấn đề phân tích ở trên, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam [4].

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong quá trình thực hiện chuyên đề này gồm: phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, phương pháp phỏng vấn chuyên gia.

     

    Phương pháp nghiên cứu tại bàn được sử dụng để hệ thống hóa lý luận, kinh nghiệm trong nước, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyên đề. Từ đó giới thiệu được tổng quan phát triển của kinh tế tư nhân nói riêng và các thành phần kinh tế khác nói chung.

     

    Thu thập và phân tích các số liệu về tình hình của kinh tế tư nhân trong những năm qua. Trên cơ sở đó xây dựng được các kiến nghị phù hợp với thực tiễn. Xử lý, phân tích hệ thống các thông tin, số liệu thu được từ các báo cáo thống kê.

     

    Các phương pháp thống kê: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp tài liệu.

     

    Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn trước để phỏng vấn các chuyên gia, những nhà quản lý của doanh nghiệp tư nhân và một số nhà quản lý, đại lý có kinh nghiệm làm việc kinh doanh và

     

    30

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    nghiên cứu trong cùng lĩnh vực tư nhân để tham khảo ý kiến của họ.

     

    3. Kết quả nghiên cứu

     

    • Tăng trưởng kinh tế

     

    Tăng trưởng kinh tế là một trong

     

    những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia.

     

    Tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên để khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng.

     

    Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hóa… phát triển.

     

    Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp. Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hóa dưới tên gọi quy luật Okun1. Quy luật này

    xác định, nếu GDP thực tế tăng 2,5% trong vòng một năm so với GDP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1%.

     

    Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển và phát triển. Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Thực tế cho thấy không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt. Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “quá nóng”, gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững. Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

     

    Mặc dù Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong giai đoạn trước khủng hoảng (2008), nhưng sự tăng trưởng này chỉ tập trung nhiều vào quy mô tăng trưởng, do đó Việt Nam đã không đủ nguồn lực cần thiết để giúp phục hồi kinh tế trong giai đoạn sau

     

    31

     

       

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019

    ISSN 2354-1482

     
             
       

    khủng hoảng. Sự tăng trưởng thiên về

    yếu còn lại là lao động và năng suất

     
       

    số lượng chứ không chú trọng về chất

    các nhân tố tổng hợp (TFP) thì rất thấp.

     
       

    lượng của nền kinh tế Việt Nam được

    Theo tính toán của nhiều nhà nghiên

     
       

    biểu hiện ở tình trạng tăng trưởng dựa

    cứu,  đóng  góp  của  TFP  vào  tăng

     
       

    quá nhiều vào nguồn vốn, dẫn đến việc

    trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những

     
       

    đầu tư tràn lan và sử dụng vốn không

    năm gần đây dao động trong khoảng

     
       

    hiệu quả.

         

    6%  –  10%  (bảng  1),  nhưng  tỷ  trọng

     
         

    Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    đóng  góp  của  TFP  thì  dường  như

     
       

    trong những năm gần đây chủ yếu dựa

    không thay đổi, chỉ tăng khoảng 2,14%

     
       

    vào vốn, trong khi đóng góp của hai

    trong giai đoạn 2006-2012.

     
         

    Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015

     
                       

    Đơn vị tính %

     
       

    TT

    Khu vực kinh tế

     

    2011-2015

    2016

     

    2017

     
                         
         

    Tổng số

       

    111,9

    108,9

     

    112,1

     
                     
       

    1Kinh tế Nhà nước

     

    106,8

    107,3

     

    106,7

     
                     
       

    2Kinh tế tư nhân

     

    112,8

    109,5

     

    116,8

     
                       
       

    3

    Kinh  tế  có  vốn  đầu

    119,9

    110,4

     

    112,8

     
         

    nước ngoài

                 
         

    (Nguồn: [5])

                 
         

    Bảng 1 cho thấy: thực hiện vốn đầu

    bao gồm: vốn khu vực Nhà nước đạt

     
       

    tư phát triển toàn xã hội năm 2017 đạt

    594,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng

     
       

    khá, đặc biệt là vốn tư nhân và khu vực

    vốn và tăng 6,7% so với năm trước; khu

     
       

    có  vốn  đầu  tư  trực  tiếp  nước  ngoài.

    vực kinh tế tư nhân đạt 676,3 nghìn tỷ

     
       

    Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

    đồng, chiếm 40,5% và tăng 16,8%; khu

     
       

    năm 2017 theo giá hiện hành ước tính

    vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

     
       

    đạt 1.667,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1%

    đạt 396,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,8%

     
       

    so với năm 2016 và bằng 33,3% GDP,

    và tăng 12,8%.

         
           

    Bảng 2: Hệ số ICOR tính theo vốn của các khu vực kinh tế

     
                           
           

    Bình

             

    Bình

     
                     

    quân

     
         

    Năm

    quân

    2015

     

    2016

    2017

    2018

     
           

    2015-

     
           

    2011-2015

               
                     

    2018

     
                         
                         
       

    Tốc độ tăng

    5,92

    6,68

     

    6,21

    6,81

    7,08

    6,695

     
       

    trưởng (%)

       
                       

    (Nguồn: [5])

     

    Bảng 2 cho thấy: với một nền kinh tế tăng trưởng dựa chủ yếu vào nguốn vốn, vốn luôn đóng góp trên 50% vào

     

    tốc độ tăng trưởng GDP, thậm chí lên đến khoảng 80% kể từ sau khủng hoảng thì Việt Nam lại chưa chú trọng vào

     

    32

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Tỷ số vốn/sản lượng tăng thêm của Việt Nam (ICOR – Incremental Capital Output Ratio) hiện vẫn cao so với trong khu vực và có xu hướng tăng lên trong các năm gần đây.

     

    Chỉ số ICOR của Việt Nam cao nguyên nhân chủ yếu là do đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng các nguốn vốn, nhất là nguồn vốn nhà nước. Ngoài ra, đối với nguồn lực tăng trưởng thứ ba là lao động thì nguồn lực này ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm. Lực lượng lao động ở Việt Nam tuy đông về số lượng nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, ít qua đào tạo. Hiện tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề mới chỉ chiếm khoảng 35%. Chính vì thực trạng này mà các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào Việt Nam chỉ hướng tới việc tận dụng nguồn lao động phổ thông chi phí rẻ, chứ không hướng tới các lao động có trình độ cao hơn.

     

    3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Sau hơn 30 năm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý, KTTN nước ta đã hồi phục và phát triển nhanh chóng, đầy sinh lực với một sức bật mạnh mẽ. Vai trò của khu vực KTTN được thể hiện ở những điểm sau:

     

    Thứ nhất, khu vực KTTN góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân. Vai trò này của khu vực KTTN được thể hiện thông qua một số điểm:

    Khu vực KTTN đã góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất (LLSX) phát triển. Khu vực KTTN phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh tế nước ta trở nên đa dạng hơn. Sự biến đổi của quan hệ sản xuất đã kéo theo sự biến đổi của quan hệ quản lý và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX vốn còn thấp và phát triển không đều giữa các vùng, các ngành trong cả nước. Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thông qua việc phát triển KTTN mà quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy, đó là cơ sở để mở rộng quyền làm chủ của nhân dân về chính trị, văn hóa, xã hội.

     

    Khu vực KTTN góp phần quan trọng thu hút vốn nhàn rỗi của xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương. Việc thành lập các doanh nghiệp thuộc KTTN không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là với doanh nghiệp quy mô nhỏ. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư. Mặt khác, trong quá trình hoạt động các loại hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN) có thể dễ dàng huy động vốn vay dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè… Chính vì vậy, việc đẩy mạnh các loại hình DNTN được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong

     

    33

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng. Các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN thường có quy mô vừa và nhỏ, lại được phân tán ở hầu hết các địa phương, các vùng lãnh thổ nên chúng có khả năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm sản xuất các ngành nghề truyền thống của địa phương.

     

    Khu vực KTTN đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Thống kê cho thấy hiện nay đóng góp vào ngân sách của khu vực KTTN tuy còn nhỏ (chưa tới 10%) nhưng đang có xu hướng tăng lên. So với đóng góp vào ngân sách trung ương thì đóng góp của khu vực KTTN vào nguồn thu ngân sách địa phương còn lớn hơn nhiều. Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN còn có sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, đường sá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác.

     

    Thứ hai, khu vực KTTN đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực KTTN đều đặn và xấp xỉ với tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển nhanh của KTTN đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của cả nước.

     

    Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước thường được ưu tiên xây dựng thành các khu cụm công nghiệp, dịch vụ tổng hợp và

    các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của một quốc gia. Chính sự phát triển của KTTN góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng. Nó sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển nhanh các ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền.

     

    Thứ ba, KTTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động. Hiện nay, ở nước ta, khu vực KTNN chỉ giải quyết việc làm được cho khoảng trên 3 triệu lao động, trong khi đó chỉ tính riêng các loại hình doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã tạo việc làm cho khoảng 6 triệu lao động. Khu vực KTTN có ưu thế hơn hẳn về khả năng tạo việc làm. Nhìn chung lợi thế nổi bật của KTTN là có thể thu hút một lực lượng lao động đông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất lượng từ lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng, miền của đất nước, ở tất cả mọi tầng lớp dân cư… Như vậy, KTTN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động.

     

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    Ngoài việc tạo công ăn việc làm, do những đòi hỏi để đứng vững trong cạnh tranh, các DNTN phải luôn tìm những biện pháp tổ chức lao động, quản lý có hiệu quả nhất, vì vậy kỹ thuật lao động được thực hiện rất nghiêm ngặt. Chính điều này đã góp phần vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong công nghiệp. Đồng thời thông qua quá trình này, khu vực KTTN cũng được xem là nơi đào tạo, rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển các doanh nghiệp lớn.

     

    Thứ tư, khu vực KTTN góp phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam muốn phát triển nhanh cần phải hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thu hút vốn và công nghệ vào nền kinh tế của mình. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

     

    Quá trình hội nhập có thể thực hiện bằng nhiều con đường như: nhà nước liên doanh với nước ngoài, nhà nước cho nhóm đầu tư nước ngoài thuê đất hay các tổ chức kinh tế và KTTN liên doanh, liên kết với nước ngoài. Trong những hình thức này, hiện nay nổi bật nhất vẫn là con đường thứ ba, sự liên kết thông qua khu vực KTTN. Cũng thông qua quá trình đó, KTTN với những đặc tính của mình là chủ động đổi mới và lựa chọn công nghệ thích hợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… Từ đó, KTTN góp phần thúc đẩy chuyển giao

    công nghệ, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và kinh nghiệm quản lý. Đồng thời nó góp phần thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới.

     

    Thông qua những vấn đề phân tích trên, có thể thấy tính chất nhiều thành phần là đặc trưng của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các thành phần kinh tế luôn vận động và phát triển trong mối quan hệ, tác động qua lại và đan xen với nhau.

     

    Thời cơ: Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Hầu hết các loại giá hàng hóa, dịch vụ được xác lập theo cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Các cơ chế, chính sách đã chú trọng kết hợp giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tạo cơ hội cho người dân tham gia và nhận được thành quả từ quá trình phát triển kinh tế. Phương thức lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Nhà nước từng bước được đổi mới phù hợp hơn với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    Thách thức: Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thực hiện còn chậm. Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán; còn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Việc tiếp cận một số nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế. Cải cách hành chính còn chậm. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ. Quyền sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thực thi nghiêm minh. Một số loại thị trường chậm hình thành và phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả. Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu chưa được xác lập thật sự theo cơ chế thị trường. Thể chế bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều bất cập. Bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu – nghèo có xu hướng gia tăng. Xóa đói, giảm nghèo còn chưa bền vững.

     

    3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

     

    Thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Công tác phổ biến, quán triệt và tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN chưa được thực hiện

    thường xuyên, đầy đủ, sâu rộng. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân hiệu quả chưa cao, chưa nghiêm.

     

    Vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với sự phát triển của khu vực KTTN còn bất cập; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả, chậm đổi mới theo yêu cầu thực tiễn; chưa làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.

     

    Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân còn thấp. Đội ngũ doanh nhân mới hình thành và đang trong quá trình phát triển, hạn chế về năng lực quản trị kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân.

     

    4. Kết luận

     

    Khu vực tư nhân đang ngày càng lớn mạnh về quy mô và tiềm lực, song vẫn cần không gian chính sách lớn hơn để thúc đẩy phát triển. Điều này càng quan trọng trong bối cảnh Nhà nước ngày càng giảm vai trò trong các hoạt động kinh tế. Tổng vốn đầu tư phát triển của khu vực nhà nước đã được kế hoạch hóa, ổn định trong chu kỳ 5 năm, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp ngày càng giảm và chủ trương sẽ tiếp tục giảm. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục chủ động thoái vốn khỏi các doanh nghiệp.

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    Hội nghị Trung ương 5 Khóa 12 đã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân với mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng lẫn tỷ trọng trong tổng sản phẩm nội địa. Đây sẽ là nền tảng quan trọng hiện thực hóa mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020.

     

    Tuy nhiên, với thực trạng của doanh nghiệp tư nhân hiện nay vẫn rất khó để khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững, trở thành động lực chính của nền kinh tế. Do đó, Nhà nước cần đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong mọi ứng xử đối với thị trường.

     

    Tập trung vào việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để tuyên truyền về chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân hoạt động một cách thực chất; thực hiện triệt để cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Thông qua việc xây dựng cơ chế “một cửa điện tử”, thống nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý hồ sơ; hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính; giảm thời gian, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính.

     

    Vấn đề hiện nay không còn dừng lại

     

    • khía cạnh xem xét để xóa bỏ hay ưu tiên thành phần kinh tế nào mà cần nhận thấy mỗi thành phần kinh tế có bản chất riêng, có quy luật kinh tế riêng, dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư

    liệu sản xuất. Vì vậy, điều quan trọng là phải nắm vững bản chất của từng thành phần kinh tế và sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất để đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, chủ động mở cửa hội nhập sâu hơn nữa vào kinh tế quốc tế giúp cho nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh.

     

    1. Kiến nghị chính sách

    5.1. Củng cố nền tảng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

     

    Điều này đã được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XII như là vấn đề căn cốt của quá trình cải cách thể chế kinh tế, giúp đem lại động lực phát triển mới của nước ta trong giai đoạn tới. Việt Nam đã cam kết thực hiện và đáp ứng các tiêu chí để được công nhận là nền KTTT đầy đủ; trong số đó có những tiêu chí phổ biến của một nền KTTT hiện đại, như không phân biệt đối xử; bảo đảm cạnh tranh lành mạnh; thực hiện minh bạch trong chính sách… là những điều kiện nền tảng để khu vực KTTN phát triển. Tiến trình cải cách kinh tế trong nước phải nhằm bảo đảm những tiêu chí này để đồng bộ với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong hơn 30 năm đổi mới, việc hình thành và đa dạng hóa các hình thức sở hữu đã quy định các thành phần kinh tế tương ứng. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để có một nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại. Phải thực sự xác lập, thực thi phổ biến và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tư nhân về tài sản. Chỉ khi quyền sở hữu tư nhân

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    được tôn trọng và bảo vệ, các cá nhân mới có thể phát huy được các tiềm năng của mình, mới có thể tự do và độc lập trong việc tiến hành các hoạt động sản xuất, trao đổi nhằm tối đa hóa các lợi ích cá nhân.

     

    5.2. Thực hiện Nhà nước liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân

     

    Nhà nước liêm chính là nhà nước nói không với tham nhũng; có các quy định thưởng phạt nghiêm minh và đề cao ý thức thượng tôn pháp luật cho tất cả mọi người; từ đó thực sự tạo được niềm tin của người dân, của doanh nghiệp vào vai trò của Chính phủ trong điều hành đất nước. Cần ngăn chặn lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ chính sách ngay từ khi khởi xướng; cần xử lý một cách quyết liệt nạn tham nhũng, quan liêu – rào cản và gánh nặng chi phí đối với phát triển của khu vực KTTN; củng cố, xây dựng bộ máy, tuyển dụng người tài, rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để tránh chồng chéo, mâu thuẫn và gắn với cải cách hành chính.

     

    Cần áp dụng mạnh mẽ chính phủ điện tử và chính phủ số ở mọi lĩnh vực để giảm thiểu và hiện đại hóa thủ tục hành chính, hạn chế tham nhũng, tăng cường tính minh bạch trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách. Đây cũng là những biện pháp góp phần đẩy nhanh quá trình chính thức hóa nền kinh tế và thị trường lao động. Cần duy trì và nhân rộng các nỗ lực đó trên toàn quốc, đặc biệt ở những tỉnh nằm ngoài “cực tăng trưởng” và giúp trung hòa xu

    hướng doanh nghiệp thường tập trung ở những vùng trọng điểm [6].

     

    Định hướng cải cách thời gian tới là Chính phủ phải chuyển mạnh từ vai trò can thiệp trực tiếp sang quản lý và phục vụ phát triển [4], trong đó chú trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập các cơ hội kinh doanh và khởi nghiệp; thiết lập khuôn khổ pháp luật, chính sách và bộ máy thực thi nhằm bảo đảm các loại thị trường liên tục được hoàn thiện; bảo đảm sự minh bạch và có hiệu quả; đoạn tuyệt dứt khoát với cơ chế “xin – cho”.

     

    5.3. Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế tư nhân

     

    Các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đáp ứng được các điều kiện khắt khe để tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Do thiếu mối liên kết chặt chẽ nên hiệu ứng lan tỏa, nhất là lan tỏa về công nghệ, từ khu vực FDI sang khu vực trong nước rất hạn chế. Vì vậy, cần có các chính sách giúp tăng cường liên kết giữa các DNTN trong nước và khu vực nước ngoài sử dụng nhiều công nghệ. Để kết nối được với các tập đoàn đa quốc gia (TNC), trước mắt Việt Nam cần thúc đẩy các hoạt động phát triển công nghệ tầm trung phù hợp với trình độ phát triển hiện tại, như thiết lập các cụm liên kết ngành sản xuất linh kiện đòi hỏi quy mô đầu tư vốn vừa phải và độ tinh vi công nghệ ở mức trung bình. Việt Nam cũng cần nắm bắt được làn sóng khởi nghiệp của các doanh nghiệp

     

    38

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    công nghệ và thúc đẩy các hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm giúp các doanh nhân vượt qua rào cản về vốn, rủi ro, nguồn nhân lực… để hiện thực hóa các ý tưởng của mình liên quan đến công nghệ và đổi mới sáng tạo [7].

     

    5.4. Phát triển mạnh lực lượng doanh nghiệp trong nông nghiệp và ở nông thôn

     

    Tầm quan trọng và tính nhạy cảm của khu vực nông nghiệp, nông thôn khiến vấn đề này tiếp tục chiếm vị trí trung tâm trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam giai đoạn tới. Muốn tạo đột phá phát triển phải thoát ra khỏi tư duy của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, chuyển mạnh từ chỗ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang chú trọng chất lượng, giá trị và hiệu quả [4], chuyển từ mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chủ yếu ở quy mô hộ gia đình sang mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, dựa vào doanh nghiệp và trang trại, hoạt động theo cơ chế thị trường và đủ sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cần chú trọng vai trò của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ xanh và công nghệ sạch trong việc nâng cao chất lượng và giá trị của các sản phẩm nông nghiệp. Cần giải quyết một số “điểm nghẽn”, như các vấn đề về kết cấu hạ tầng, tích tụ, tập trung đất đai, phát triển nguồn nhân lực, hợp đồng sản xuất… thông qua những thay đổi chính sách để thu hút được nhiều

    đầu tư hơn từ khu vực KTTN vào khu vực nông nghiệp và nông thôn. Để làm được điều này, cần có sự tham gia tích cực của Nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương, với vai trò điều phối, bảo lãnh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người nông dân để giúp tháo gỡ, xử lý những khó khăn mà cả hai bên khó vượt qua được.

     

    5.5. Phát triển nguồn nhân lực cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp

     

    Trong thời gian qua, giáo dục đại học ở Việt Nam quá chú trọng đến các ngành, như kinh tế, tài chính, ngân hàng… khiến nhu cầu học các ngành này rất cao và học sinh rời xa các ngành khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng lao động đối với một số ngành thuộc nhóm công nghệ, kỹ thuật, cơ khí và các ngành liên quan đến toán học (STEM) ngày càng lớn, đặc biệt trong làn sóng khởi nghiệp ở lĩnh vực công nghệ hiện nay. Bởi vậy, cần đổi mới căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đó gắn giáo dục – đào tạo với hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần làm chủ, thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp, có định hướng rõ rệt ưu tiên về chính sách và các nguồn lực cho các ngành STEM. Kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cho thấy, cần tạo dựng văn hóa sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình thành ý chí tự thân lập nghiệp để sẵn sàng cho tương lai.

     

    39

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Văn phòng Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
    1. Nguyễn Xuân Thắng (2016), “Một số luận điểm mới về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị
    1. Phòng Thương mại và công nghiệp (2015), Điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Bộ Công thương, Hà Nội
    1. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2018), Báo cáo Kinh tế thế giới và Việt Nam 2016 – 2017
    1. Tổng cục Thống kê (2018), Báo cáo tổng kết kinh tế xã hội năm 2017
    1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
    1. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia (2018), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân

    ROLE OF PRIVATE INVESTMENT

     

    IN THE ECONOMIC GROWTH OF VIETNAM

     

    ABSTRACT

     

    The great achievements of socio-economic development of our country over the past 30 years have been results of a significant contribution from the private sectors. From these lively practices, the Party Congress XII in 2016 affirmed: “The private sector of economy is playing an important driving force” of the socialism-oriented market economy.

     

    The 5th Conference’s resolution of the 12th Party Central Committee (June 2017) has been put forward for the goals of developing the private economy to become an important driving force in the socialism-oriented market economy; getting private economy to grow fast and sustainably along high growth rates in terms of quantity, size, quality and proportion in the gross domestic product (GDP). The resolution is considered a new step creating a driving force for the development of the private sector and the entire economy. This is a source of encouragement for entrepreneurship, innovation and creativity; and it also creates vitality and breakthrough for a thriving development of our country in the coming period.

     

    Keywords: Private economy (PE), economic growth, Dong Nai

     

    (Received: 1/12/2018, Revised: 15/2/2019, Accepted for publication: 7/5/2019)

     

    40


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bảng mức lương cơ bản và phụ cấp chức danh công việc theo bậc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-chuy%E1%BB%83n-gi%C3%A1-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-doanh-nghi%E1%BB%87p-c%C3%B3-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-tr%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%8Ba-b%C3%A0n-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

     

    Nguyễn Tuấn Anh

     

    Trường Đại học Thương mại

     

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận:  01/03/2019                        Ngày nhận lại:     15/03/2019               Ngày duyêt đăng: 19/03/2019

     

    • iện tượng chuyển giá và quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đã

    được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu cũng như các phương tiện truyền thông bình luận, phân tích và cho thấy, đấu tranh nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi chuyển giá không hề dễ dàng. Mặc dù, các văn bản pháp lý (Thông tư 66/2010/TT-BTC, Nghị định 20/2017/NĐ-CP, Thông tư 41/2017/TT-BTC) đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyển giá, nhưng kết quả đạt được còn khiêm tốn. Thực tế có những DN FDI báo cáo thua lỗ liên tục trong nhiều năm liền nhưng vẫn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Hiện ở Việt Nam có khoảng hơn 17.000 DN FDI, riêng địa bàn thành phố Hà Nội có trên 6.400, trong đó số lượng DN có kê khai giao dịch liên kết là hơn 1.100.

     

    Trên cơ sở nguồn thông tin thứ cấp về DN FDI và thực trạng kiểm soát chuyển giá đối với nhóm doanh nghiệp này, tác giả bài viết phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong thanh tra giá chuyển nhượng (chuyển giá) của DN FDI trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất một vài giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động kiểm soát chuyển giá của các cơ quan quản lý nhà nước thời gian tới.

     

    Từ khóa: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giá, giá chuyển nhượng, giao dịch liên kết, kiểm soát chuyển giá.

    1. Thực trạng DN FDI trên địa bàn Hà Nộihạn, chuyển cơ quan thuế quản lý, không hoạt

    Đến cuối năm 2018, tổng số DN FDI trên

    động tại địa chỉ đã đăng ký). Tuy nhiên, kết

    địa bàn Hà Nội đã được cấp mã số thuế là

    quả kinh doanh của khối DN FDI trên địa bàn

    8.688 DN, trong đó số DN đang hoạt động là

    không mấy khả quan. Theo số liệu thống kê

    6.423 DN, chiếm 73,9% (2.265 DN còn lại ở

    từ báo cáo tài chính của các DN FDI do Cục

    trạng thái ngừng hoạt động, đã chấm dứt hiệu

    thuế TP Hà Nội quản lý, số DN lỗ năm 2016

    lực mã số thuế, tạm ngừng kinh doanh có thời

    – 2017 nhiều hơn DN lãi, chiếm tới 55 –

       

    khoa học

     
         

    23

       

    thương mại

    Sè 127/2019

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Bảng 1: Số lượng DN FDI trên địa bàn Hà Nội

     

    Chæ tieâu

    2016

    2017

    2018

           

    Soá löôïng DN ñaõ caáp maõ soá thueá*

    7.417

    8.259

    8.688

           

    Soá löôïng DN thöïc teá ñang hoaït ñoäng*

    5.180

    5.999

    6.423

           
    • Số liệu lũy kế đến cuối các năm Nguồn: Cục Thuế TP Hà Nội

    57%/tổng số DN (xem bảng 2). Thời gian gần

    hành Quyết định số 141/QĐ-TCT ngày

    đây, công tác quản lý thuế của Cục cho thấy

    15/02/2012 thành lập Tổ Quản lý thuế đối với

    hàng loạt DN FDI đang hoạt động trên địa

    hoạt động chuyển giá thuộc Tổng cục thuế.

    bàn thành phố Hà Nội có kê khai kết quả kinh

    Đây là bộ phận đầu tiên chuyên trách tư vấn

    doanh lỗ liên tục, nhưng vẫn tiếp tục đầu tư,

    tham mưu cho TCT. Ngày 12/06/2012, Cục

    mở rộng SXKD tăng doanh thu; nhiều DN có

    Thuế TP Hà Nội ban hành Quyết định số

    lỗ cộng dồn lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu.

    14373/QĐ-CT-TCCB thành lập Tổ công tác

    Có những DN FDI đầu tư 10 năm lỗ, 15 năm

    triển khai chuyên đề Quản lý giá chuyển

    cũng lỗ, cá biệt có trường hợp hơn 20 năm lỗ

    nhượng đối với lĩnh vực xây dựng và kinh

    liên tục nhưng vẫn đầu tư mở rộng sản xuất

    doanh bất động sản. Năm 2014, Cục Thuế TP

    kinh doanh.

     

    Hà Nội thành lập Tổ triển khai công tác thanh

     

    Bảng 2: Kết quả kinh doanh của DN FDI trên địa bàn Hà Nội

    tra các DN liên kết có dấu

                   

    hiệu  chuyển  giá.

    Ngày

       

    Chæ tieâu

    2016

    2017

     
         

    16/11/2015,

    Cục

    thuế TP

       

    Soá DN kinh doanh coù laõi (%)

     

    45

    43

     
           

    Hà Nội tổ chức hội nghị

       

    Soá DN kinh doanh loã (%)

     

    55

    57

     

    công bố Quyết định số

       

    Soá loã cuûa DN (tyû ñoàng)

    10.601

    6.785

     

    1483/QĐ-BTC

     

    ngày

       

    Toång Nôï phaûi traû (tyû ñoàng)

    172.497

    495.068

     

    29/7/2015

    của

    Bộ

    Tài

                   

    chính và công bố nhân sự.

       

    Voán chuû sôû höõu (tyû ñoàng)

    746.610

    216.517

     
                 

    Phòng                             Thanh                tra            giá

    Nguồn: Báo cáo sức khỏe doanh nghiệp – Cục thuế TP Hà Nội chuyển          nhượng            (GCN)

     

    chính thức đi vào hoạt

     

    2. Thực trạng tổ chức thanh tra và

    động từ ngày 16/11/2015, thực hiện chức

    những khó khăn, vướng mắc trong kiểm

    năng nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định

    soát chuyển giá đối với DN FDI trên địa

    số 1574/QĐ-TCT ngày 01/9/2015 của Tổng

    bàn Hà Nội

    cục Thuế. Ban đầu thành lập, Phòng thanh tra

    * Thực trạng tổ chức thanh tra giá chuyển

    GCN có 14 người, trong đó có 1 trưởng

    nhượng

    phòng, 2 phó phòng và 11 thanh tra viên. Đến

    Trước năm 2011, Cục Thuế TP Hà Nội

    tháng 8/2018, Phòng thanh tra GCN có 17

    chưa có bộ phận chuyên trách nào về chuyển

    người và thành lập 6 Đoàn thanh tra (xem

    giá. Năm 2012 Tổng Cục Thuế (TCT) ban

    Hình 1). Nhân sự của Phòng được điều động

     

    khoa học

     

    24

    thương mại

     

    Sè 127/2019

           

    từ các phòng thanh tra, kiểm tra, kê khai và kế toán thuế, tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế (NNT), quản lý và cưỡng chế nợ thuế.

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    • Tổ chức thu thập thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của các DN có quan hệ liên kết.

    CUÏC TRÖÔÛNG

     

    1 PHOÙ CUÏC TRÖÔÛNG PHUÏ TRAÙCH KHOÁI THANH TRA, KIEÅM TRA

     

    PHOØNG THANH TRA GIAÙ CHUYEÅN

     

    NHÖÔÏNG

     

    (01 TRÖÔÛNG PHOØNG)

     

    2 PHOÙ CUÏC TRÖÔÛNG PHUÏ TRAÙCH CAÙC MAÛNG COÂNG VIEÄC KHAÙC

     

    4 PHOØNG THANH TRA, 6 PHOØNG

     

    KIEÅM TRA TUAÂN THUÛ

     

    01 PHOÙ TRÖÔÛNG

     

    01 PHOÙ TRÖÔÛNG PHOØNG PHUÏ

     

    01 PHOÙ TRÖÔÛNG PHOØNG

    PHOØNG PHUÏ TRAÙCH

     

    TRAÙCH MAÛNG CHÍNH SAÙCH,

     

    PHUÏ TRAÙCH MAÛNG BAÙO

    MAÛNG CÔ SÔÛ DÖÕ LIEÄU

     

    QUY TRÌNH, PHOÁI HÔÏP

     

    CAÙO, ÑAÛNG ÑOAØN, THI

         

    ÑUA KHEN THÖÔÛNG

           
             

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

    tra thueá 1

     

    tra thueá 2

     

    tra thueá 3

     

    tra thueá 4

     

    tra thueá 5

     

    tra thueá 6

                         

    Nguồn: Cục thuế TP Hà Nội

     

    Hình 1: Bộ máy quản lý hoạt động thanh tra giá chuyển nhượng tại Cục thuế TP Hà Nội

     

     

    Thời gian đầu đi vào hoạt động, với nguồn nhân lực còn hạn chế, Phòng Thanh tra giá chuyển nhượng triển khai đồng bộ các nhiệm vụ được giao, đồng thời chú trọng đến hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản sau:

     

    • Tham gia biên soạn tài liệu đào tạo và tham gia đào tạo công chức thuế về giá chuyển nhượng thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế.
    • Tổ chức thực hiện công tác thanh tra giá chuyển nhượng theo chương trình kế hoạch thanh tra của Cục Thuế; thanh tra giá chuyển nhượng các trường hợp do Phòng Thanh tra thuế, Phòng Kiểm tra thuế, Chi cục Thuế đề nghị hoặc theo yêu cầu của CQT cấp trên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    • Phối hợp với các phòng chức năng của Cục Thuế và các cơ quan chức năng khác trong việc thanh tra giá chuyển nhượng.
     

    khoa học

     
       

    25

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Trực tiếp đề xuất, tiếp nhận hỗ trợ của Tổng cục Thuế trong quá trình thanh tra giá chuyển nhượng.

     

    • Tổng hợp, báo cáo, đánh giá chất lượng công tác thanh tra giá chuyển nhượng; nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra giá chuyển nhượng.

    * Những khó khăn, vướng mắc trong thanh tra giá chuyển nhượng đối với DN FDI trên địa bàn Hà Nội

     

    Khó khăn, vướng mắc từ Cục thuế TP Hà Nội

     

    Các DN FDI trên địa bàn thành phố Hà Nội là các công ty con được thành lập bởi các công ty mẹ ở nước ngoài, thuộc các công ty liên kết trong hệ thống công ty đa quốc gia. Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các công ty này đều có các giao dịch liên kết trong hệ thống, có dấu hiệu chuyển giá. Tuy nhiên, trong quá trình thanh tra để xác định có hay không hành vi chuyển giá của các DN này, Cục thuế TP Hà Nội đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc.

     

    Một là, cơ sở dữ liệu của Cục thuế TP Hà Nội còn thiếu và chưa đồng bộ, Cục thuế TP Hà Nội chưa sử dụng cơ sở dữ liệu thương mại để so sánh, ấn định tỷ suất lợi nhuận mà vẫn chủ yếu sử dụng cơ sở dữ liệu nội bộ của ngành thuế (còn gọi là dữ liệu bí mật). Do hạn chế về kinh phí nên việc mua cơ sở dữ liệu thương mại của các công ty chuyên cung cấp dữ liệu của nước ngoài đối với ngành thuế là rất khó khăn, phải chờ Tổng cục Thuế (Vụ hợp tác quốc tế) đấu thầu trong một thời gian dài, đến nay vẫn chưa có kết quả. Trong đấu tranh chống chuyển giá, mỗi bên (DN và CQT) sử dụng một dữ liệu riêng dẫn đến việc thiếu thống nhất và dễ gây tranh cãi về tỷ suất lợi nhuận thị trường. Cơ sở dữ liệu khác nhau sẽ cho ra kết quả tỷ suất lợi nhuận khác nhau, bên nào cũng bảo vệ tỷ suất của mình nên

     

    việc khó tìm được điểm chung, dẫn đến nhiều cuộc thanh tra chuyển giá bị kéo dài.

     

    Hai là, Cục thuế TP Hà Nội chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu về giá cả của các loại hàng hóa được giao dịch giữa các công ty độc lập và các công ty liên kết với nhau. CQT khai thác thông tin chủ yếu từ hồ sơ khai thuế và các thông tin này chỉ hỗ trợ và đáp ứng một phần rất nhỏ của công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá. Các ứng dụng về thông tin NNT của ngành thuế còn phân tán không đầy đủ, không có sự kết nối thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các bên khác. Vì vậy, khi một hoạt động nghiệp vụ mua bán nội bộ xảy ra, giữa các công ty có giao dịch liên kết, công ty cùng tập đoàn xảy ra thì CQT rất khó khăn trong việc tìm kiếm một nghiệp vụ mua bán tương đương để so sánh xem nghiệp vụ mua bán nội bộ này của DN có đảm bảo tuân thủ theo nguyên tắc giá thị trường hay không. Đặc biệt, qua thanh tra một số DN chỉ sản xuất một loại sản phẩm hàng hóa bán cho bên liên kết, có DN sản xuất, gia công cho duy nhất DN mẹ mà không có giá giao dịch độc lập trong nội bộ DN để so sánh hoặc DN tự khai mục tiêu hoạt động SXKD của DN không vì lợi nhuận sẽ khó khăn cho việc xác định tỷ suất lợi nhuận để yêu cầu kê khai giao dịch độc lập.

     

    Ba là, công tác tuyên truyền phổ biến cho DN và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện theo Thông tư 66/2010/TT-BTC, Nghị định 20/2017/NĐ-CP, Thông tư 41/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính còn hạn chế, chưa triệt để nên các DN hầu như không tự điều chỉnh đối với các trường hợp có quan hệ giao dịch kinh doanh liên kết và CQT chưa đủ điều kiện để áp dụng các biện pháp mạnh đối với các trường hợp không chấp hành. Do đó, việc triển khai thực hiện Thông tư số 66/2010/TT-BTC, Nghị định 20/2017/NĐ-

     

    26

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    CP, Thông tư 41/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính thời gian qua chưa thực hiện được nhiều do tính phức tạp của việc chuyển giá, hướng dẫn của các phương pháp điều chỉnh giá giao dịch độc lập và giá giao dịch liên kết còn chưa thực sự cụ thể nên chưa áp dụng được nhiều trong thực tiễn.

     

    Bốn là, việc thanh tra các DN có dấu hiệu chuyển giá thường phải phân tích số liệu, thu thập thông tin chiếm nhiều thời gian so với thanh tra DN khác. Việc kiểm tra, thanh tra giá chuyển nhượng để có kết quả phải mất nhiều thời gian đối chiếu, phân tích thông tin và phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp thông tin của các bên khi xác định giá thị trường, trong khi thời gian thanh tra, kiểm tra theo quy định lại có giới hạn.

     

    Năm là, công chức thuế tham gia công tác thanh tra chống chuyển giá còn nhiều hạn chế về kỹ năng thanh tra chống chuyển giá, chưa có kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra lĩnh vực này, trình độ ngoại ngữ yếu kém. Các phương pháp xác định giá thị trường rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ thuế phải có kỹ năng chuyên sâu nhưng hiện nay cán bộ thuế vẫn còn bỡ ngỡ, chưa có kinh nghiệm nhiều trong lĩnh vực này; vừa nghiên cứu văn bản, vừa học hỏi, vừa áp dụng thực tiễn và rút kinh nghiệm dần dần. Số lượng cán bộ thanh tra không tăng, nguồn nhân lực thực hiện công tác thanh tra chống chuyển giá còn thiếu và hạn chế: qua 3 năm biên chế của bộ phận thanh tra giá chuyển nhượng của Cục thuế TP Hà Nội mới chỉ tăng từ 14 (năm 2015) lên 17 cán bộ (năm 2018). Đồng thời Cục thuế TP Hà Nội phải huy động cán bộ thanh tra có trình độ nghiệp vụ, hiểu biết về nghiệp vụ thanh tra chống chuyển giá hoặc đã qua nhiều lần được bồi dưỡng kiến thức chống chuyển giá của ngành, hiện nay số cán bộ này qua công tác luân phiên công việc đã được điều chỉnh sang các

     

    bộ phận khác của Cục Thuế hoặc đã chuyển công tác ra khỏi ngành thuế nên ngành thuế càng gặp nhiều khó khăn hơn.

     

    Khó khăn, vướng mắc từ môi trường pháp lý

    Thứ nhất, hiện nay, văn bản pháp luật hiện hành chưa quy định rõ cơ chế phối hợp hoặc quy định trách nhiệm của các cơ quan chức năng có liên quan trong việc phối hợp với CQT, hỗ trợ xác minh về thông tin của các công ty ở nước ngoài tham gia giao dịch liên kết, giá cả thị trường khách quan (cơ quan xuất nhập cảnh, cơ quan ngoại giao, đại sứ quán, tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài). Sự phối hợp trong cung cấp và trao đổi thông tin giữa CQT Việt Nam và CQT các nước còn hạn chế, nên việc tìm kiếm xác định giá thị trường rất khó khăn không đủ cơ sở để ấn định thuế. Do đó còn thu hẹp về đối tượng thực hiện là thuế và DN, chưa thu hút được sự “vào cuộc” của một số đơn vị có liên quan kể cả chính quyền địa phương (UBND tỉnh). Hơn nữa, CQT vẫn chưa có chức năng điều tra thuế… nên không xử lý được các trường hợp vi phạm có tính phức tạp, phạm vi rộng ngoài lãnh thổ Việt Nam.

     

    Thứ hai, chưa có chế tài đủ mạnh, nhằm buộc các DN phải kê khai chính xác về giá đối với các hoat động giao dịch liên kết (phạt về hành vi gian lận thuế, trốn thuế; truy cứu trách nhiệm hình sự; cấm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam…). Căn cứ pháp lý về chống chuyển giá chưa hoàn thiện. Xét ở cấp độ văn bản luật thì quy định về chuyển giá và chống chuyển giá chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng; mới chỉ có Điểm e Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế quy định một nội dung có liên quan có thể được vận dụng làm cơ sở để đấu tranh chống chuyển giá. Vì vậy, chưa có biện pháp chế tài đủ mạnh, nhằm ràng buộc các DN phải kê khai chính xác

     

     

    khoa học

     
       

    27

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Khó khăn, vướng mắc từ DN FDI

     

    Một là, các DN FDI có dấu hiệu chuyển giá chủ yếu rơi vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài, đang được hưởng ưu đãi thuế và đa số có số lỗ lớn, do đó khi tiến hành thanh tra thông thường theo quy trình thanh tra không mang lại hiệu quả về số thu nộp NSNN mà chủ yếu chỉ giảm lỗ.

     

    Hai là, các DN FDI thường thuê công ty kiểm toán làm hồ sơ xác định giá thị trường hết sức công phu với đầy đủ lập luận và lý lẽ để nguỵ biện cho kết quả kinh doanh lỗ hoặc tỷ suất lợi nhuận quá thấp của mình, điều này khiến cho cán bộ thanh tra hết sức khó khăn trong khâu phân tích, lập luận để bác các lập luận trong hồ sơ xác định giá thị trường.

     

    Ba là, một số DN FDI khi bị thanh tra giá chuyển nhượng thường cố tình không ký vào Biên bản thanh tra vì tâm lý lo sợ: nếu một công ty ở Việt Nam bị kết luận là chuyển giá, toàn bộ tập đoàn (hoặc công ty mẹ ở nước ngoài) sẽ bị mất uy tín, dẫn đến hiệu ứng lan truyền là các công ty con ở các quốc gia khác trong cùng tập đoàn cũng bị nghi ngờ là “có vấn đề”, do đó việc đấu tranh của CQT đối với DN là hết sức khó khăn vì CQT thường có xu hướng ấn định trên cơ sở phải đạt được sự đồng thuận với DN.

     

    2.           Các biện pháp hoàn thiện kiểm soát chuyển giá đối với DN FDI trên địa bàn

     

    Hà Nội

     

    Đối với Cục thuế TP Hà Nội

     

    Chống chuyển giá là công việc trọng tâm, thường xuyên và lâu dài. Để thực hiện được mục tiêu nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra giá chuyển nhượng, Cục thuế TP Hà Nội cần tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

    Về phương pháp thanh tra

     

    Triển khai, mở rộng công tác thanh kiểm tra thuế chống chuyển giá theo hướng: lồng ghép công tác chống chuyển giá đối với các DN nằm trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm, xác định những giao dịch liên kết có khả năng thực hiện được (DN liên kết có giao dịch độc lập, kể cả đầu vào, đầu ra; DN có giao dịch đơn giản, ít mặt hàng).

     

    Thay đổi một số nội dung, phương pháp trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm có thể phát hiện và xử lý các hành vi chuyển giá: cần đào sâu vào báo cáo xác định giá thị trường để tìm hiểu các nguyên nhân, những lập luận nguỵ biện cho các nguyên nhân lỗ lớn hoặc lãi không đáng kể. Kỹ năng bác hồ sơ xác định giá thị trường là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà cán bộ thanh tra giá chuyển nhượng cần nắm vững.

     

    Phương pháp và các bước cụ thể để có thể tiến hành cuộc thanh tra chống chuyển giá từ khâu nhận dạng ban đầu đến các chứng cứ và cơ sở pháp lý xác định được giá thị trường khách quan.

     

    Về công tác tuyên truyền

     

    Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tranh thủ sự đồng thuận của các cấp chính quyền, xã hội và cộng đồng các DN. Đồng thời tích cực tuyên truyền để cho các DN biết là CQT đang tiến hành các biện pháp trong công tác chống chuyển giá nhằm cảnh báo, phòng ngừa các hành vi chuyển giá. Quá trình thực hiện cần kịp thời tổng hợp các khó khăn, vướng mắc báo cáo Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính theo dõi chỉ đạo.

     

    Về đôn đốc kê khai thuế

     

    Tiếp tục theo dõi đôn đốc, kiểm tra xử lý đối với các DN chưa thực hiện kê khai giao

     

    28

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    dịch liên kết theo Mẫu số 01 Nghị định 20/2017/NĐ-CP. Đôn đốc, giám sát DN kê khai đầy đủ các giao dịch liên kết theo mẫu. Đối tượng kê khai không chỉ là các DN có vốn đầu tư nước ngoài mà còn bao gồm cả các DN có quan hệ liên kết trong nước. Đây là tiền đề quan trọng để CQT phân loại người nộp thuế, từ đó nhận dạng và “định vị” chính xác các trọng tâm cần thanh tra.

     

    Về cơ sở dữ liệu

     

    Cần hoàn thiện và xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin đầy đủ về NNT nói chung và phục vụ cho hoạt động chống chuyển giá nói riêng; Xây dựng cơ sở dữ liệu về tỷ suất lợi nhuận và giá cả giao dịch để CQT, các cơ quan hữu quan và DN có thể tra cứu và làm căn cứ khi xem xét giao dịch mua bán tại DN có thực hiện thủ thuật chuyển giá hay không hay tuân thủ theo nguyên tắc giá thị trường.

     

    Về phối hợp nội ngành

     

    Để nâng cao hiệu quả thanh tra chống chuyển giá, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận thanh tra và bộ phận quản lý thuế các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Sự phối hợp này phải tập trung vào trao đổi thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về NNT là các DN có vốn đầu tư nước ngoài.

     

    Về công khai dữ liệu về giá thị trường Ngành thuế cần công khai tỷ suất lợi

     

    nhuận bình quân cho từng ngành vào các năm khác nhau. Cục thuế TP Hà Nội và Tổng cục Thống kê cần phải cùng nhau phối hợp xây dựng và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin để cho các cơ quan quản lý thuế cơ sở và các DN trên địa bàn Thành phố Hà Nội thống nhất áp dụng. Bảng tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành là cơ sở pháp lý giúp cho cơ quan thanh tra thuế thực hiện thanh tra khi

     

    thấy DN có những dấu hiệu bất thường về tỷ suất lợi nhuận như quá cao hay quá thấp so với tỷ lệ bình quân ngành.

     

    Về tổ chức thu thập thông tin

     

    Ngoài thông tin trong ngành Thuế, thông tin ở DN cần phải thu thập thêm thông tin của các đối tác khác có liên quan ở trong nước và nhất là ở nước ngoài.

     

    Cục thuế TP Hà Nội cần xây dựng, thành lập một bộ phận chuyên trách về thu thập thông tin phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nói chung và chống chuyển giá nói riêng từ trung ương đến địa phương phục vụ cho công tác quản lý thuế đối với hoạt động chống chuyển giá. Nâng cao chức năng nhiệm vụ của bộ phận thanh tra giá chuyển nhượng, đồng thời lập bộ phận chuyên thu thập thông tin, dữ liệu để cung cấp và phục vụ cho công tác phân tích, so sánh xác định giá thị trường trong công tác thanh tra chống chuyển giá.

     

    Công tác đào tạo, phổ biến kinh nghiệm Từ kết quả tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế một số DN FDI điển hình có dấu hiệu chuyển giá, Cục Thuế TP Hà Nội nên xây dựng thành phương pháp, kinh nghiệm cho các cán bộ thanh tra, kiểm tra toàn ngành học tập, rút ra kinh nghiệm. Tổ chức một số cuộc thanh tra thuế toàn diện đối với các DN FDI theo phân tích rủi ro để đúc kết những bài học kinh nghiệm và phổ biến cho cán bộ thuế nắm và vận dụng vào tình hình thực tế ở mỗi địa phương. Hỗ trợ 30 Chi cục thuế quận, huyện, thị xã trên địa bàn về việc phân tích thu thập thông tin, làm rõ một số quan hệ giao dịch không được quy định cụ thể trong văn bản

    pháp luật;

     

     

    khoa học

     
       

    29

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Cục Thuế TP Hà Nội cần mở các lớp tập huấn chuyên đề về thanh tra chống chuyển giá cho công chức thuế nhằm nâng cao kỹ năng thanh tra, kiểm tra, chú trọng đào tạo theo từng kỹ năng chuyên sâu về phương pháp thanh tra chống chuyển giá, kỹ năng thanh tra một số chuyên ngành để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác. Đồng thời Cục thuế TP Hà Nội cử một số đoàn thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá làm điểm tại Chi cục thuế (có tham gia của cán bộ kiểm tra chi cục thuế) để các Chi cục Thuế học tập kinh nghiệm.

     

    Bên cạnh đó, cần ban hành sổ tay nghiệp vụ thanh tra thuế theo chuyên đề chống chuyển giá để triển khai cho cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra. Cục thuế TP Hà Nội thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong toàn ngành.

     

    Đối với Tổng cục Thuế

     

    Tổng cục Thuế (Vụ Thanh tra) cần chủ động trong công tác chống chuyển giá qua việc phối hợp với Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Doanh nghiệp lớn để thanh tra các DN lớn do Tổng Cục Thuế trực tiếp quản lý hoặc Cục Thuế quản lý.

     

    Tổng Cục Thuế nên tích cực triển khai áp dụng hình thức thỏa thuận giá trước (APA) trong việc đấu tranh chống chuyển giá. Nghĩa là, trước khi DN đầu tư, DN và cơ quan thuế (CQT) thỏa thuận giá trước để hạn chế những vướng mắc sau này. CQT sẽ tính toán, tham khảo với CQT của nước ngoài để đưa ra mức thuế. Nhà đầu tư sẽ tính toán đầu vào, đầu ra và thấy mức thuế hợp lý thì chấp thuận hoặc trao đổi lại. Theo số liệu thống kê, các vụ APA gần đây chưa nhiều vì trình

     

    tự, thủ tục APA còn rất nhiều khó khăn, DN và CQT cũng phải thống nhất về tỷ suất lợi nhuận và lại quay lại bài toán về cơ sở dữ liệu, CQT muốn 1 tỷ suất cao hơn nhưng DN lại muốn 1 tỷ suất thấp hơn để giảm số thuế (coi như thuế khoán) phải nộp. Số vụ APA không tăng nghĩa là gánh nặng lại đặt lên vai bộ phận thanh tra chống chuyển giá. Vì vậy, càng làm tốt APA thì sẽ giảm tải được số lượng cũng như mức độ phức tạp trong thanh tra chuyển giá.

     

    Đối với Bộ Tài chính

     

    Sửa đổi các phương pháp xác định giá giao dịch thị trường theo hướng ít phương pháp, gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện và có căn cứ để thực hiện. Nghị định 20/2017/NĐ-CP bản chất là gộp 5 phương pháp trong thông tư 66 vào thành 3 phương pháp, tuy nhiên tổng số phương pháp thành phần để xác định giá thị trường trong Nghị định 20/2017/NĐ-CP thì hầu như vẫn giữ nguyên. Cần rút gọn các phương pháp và đơn giản hóa để DN dễ vận dụng trong thực tế, phù hợp với nguồn cơ sở dữ liệu thương mại mà DN thu thập được, đồng thời cũng thuận tiện cho CQT trong thanh kiểm tra.

     

    Đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý đối với các DN có số lỗ luỹ kế lớn hơn số vốn góp theo hướng yêu cầu cơ quan cấp phép rút giấy phép đầu tư, yêu cầu DN làm thủ tục phá sản. Vì căn cứ Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005 quy định pháp nhân phải có đủ các điều kiện sau đây: “Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Căn cứ vào quy định

     

    30

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    đó, những DN lỗ hết vốn sẽ không còn tư cách pháp nhân.

     

    Cho phép cơ quan quản lý thuế được quyền áp dụng những biện pháp tạm dừng hoàn thuế GTGT đối với các DN khai báo kết quả kinh doanh lỗ quá vốn chủ sở hữu cho đến khi DN khắc phục được tình trạng liên tục kê khai lỗ, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đồng bộ với Bộ Luật Dân sự của Việt Nam quy định về các điều kiện tồn tại pháp nhân kinh tế. Ban hành chính sách đối với các trường hợp có quan hệ kinh doanh liên kết sau một thời gian nhất định không tự điều chỉnh, hoặc không phát sinh thu nhập tính thuế trong thời gian 3 năm từ khi thành lập sẽ phải nộp theo một tỷ lệ nhất định theo từng ngành nghề lĩnh vực như đối với thuế nhà thầu.

     

    Thay đổi, bổ sung hoặc sửa đổi một số nội dung trong Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 quy định về xử lý phạt vi phạm hành chính trong việc thực hiện kê khai giao dịch liên kết theo mẫu…, Hiện tại chưa có quy định cụ thể xử lý trong trường hợp DN chưa kê khai giao dịch liên kết.

     

    Thông báo về các thông tin giá cả thị trường, tỷ suất lợi nhuận ngành nghề… trên phạm vi các vùng miền cả nước để các địa phương có cơ sở pháp lý khi áp dụng các phương pháp điều chỉnh quy định tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP. Có giải pháp trong việc trao đổi thông tin với CQT các nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với Việt Nam.

     

    Tham mưu Chính phủ đề nghị bổ sung các luật liên quan như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp về các chế tài thu hồi giấy phép đầu tư/giấy chứng nhận đầu tư, chấm dứt hoạt động khi các DN FDI có số lỗ kéo dài nhiều

     

    năm hoặc lỗ quá vốn chủ sở hữu. Về chính sách, cơ chế điều hành quản lý cần có những bổ sung và thay đổi: thu hẹp các ưu đãi thuế; bổ sung nội dung chống chuyển giá, quyền điều tra cho CQT vào Luật Quản lý thuế (trước mắt ở cấp Tổng cục Thuế); Nâng cao tính pháp lý của chính sách thuế có liên quan đến chống chuyển giá, ngoài nghiệp vụ để ấn định thuế cần có các quy định về thu thập thông tin, mối quan hệ giữa các ngành có liên quan kể cả chính quyền địa phương. Trước hết, cần bổ sung một điều luật về chống chuyển giá vào Luật Quản lý thuế, về lâu dài nên ban hành Luật Chống chuyển giá; xây dựng các biện pháp chế tài đủ mạnh cho ngành thuế, xem chuyển giá là hành vi vi phạm tương đương với trốn thuế để đảm bảo tính răng đe, ngăn ngừa, trong đó có cả biện pháp xóa bỏ ưu đãi thuế thu nhập DN khi phát hiện chuyển giá nhằm buộc các DN phải kê khai chính xác về giá đối với các hoạt động giao dịch liên kết.

     

    Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tăng cường công tác quản lý đầu tư, thông qua việc kiểm soát hiệu quả thực hiện dự án đầu tư và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các dự án không đạt mục tiêu đề ra (kết quả kinh doanh lỗ lớn, không đảm bảo điều kiện hoạt động liên tục). Có biện pháp quản lý đối với các dự án đầu tư góp bằng tài sản, máy móc thiết bị theo hướng yêu cầu chủ đầu tư cam kết giá trị tài sản, máy móc thiết bị đem góp vốn được xác định theo giá thị trường.

     

    Đối với Chính phủ: Có văn bản chỉ đạo quy định nhiệm vụ cụ thể cho các ngành có liên quan như: hải quan, công an, viện kiểm sát, ngân hàng,… thực hiện tốt việc phối hợp theo thẩm quyền với ngành thuế nhằm trao

     

     

    khoa học

     
       

    31

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    đổi, cung cấp thông tin, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động giao dịch liên kết và chuyển giá của các DN đầu tư nước ngoài.

     

    Kết luận: Chuyển giá tuy không mới nhưng vẫn là cách DN, đặc biệt là các DN FDI, các tập đoàn lách luật phổ biến hiện nay. Kẽ hở của luật còn lớn và chế tài áp dụng chưa đủ mạnh, năng lực của thanh tra chuyển giá còn chưa đáp ứng được yêu cầu… đòi hỏi ngành thuế phải sớm chuyển đổi phương thức quản lý thuế theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa để kiểm soát hình thức trốn – tránh, gian lận thuế thông qua chuyển giá, chống thất thu thuế, đồng thời nâng cao tính tuân thủ của NNT và tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho NNT.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Chính phủ (2017), Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
    1. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 v/v hướng dẫn thực hiện xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
    1. Tổng cục Thuế (2015), Quyết định số 1574/QĐ-TCT ngày 01/09/2015 v/v quy định chức năng, nhiệm vụ phòng thanh tra giá chuyển nhượng thuộc cục thuế tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai.
    1. Cục thuế TP Hà Nội, Kế hoạch thanh tra các doanh nghiệp liên kết, có dấu hiệu chuyển giá các năm 2016, 2017, 2018.

    khoa học

    1. Cục thuế TP Hà Nội, Báo cáo Tổng kết, Tham luận thanh tra chuyên đề các doanh nghiệp liên kết, có dấu hiệu chuyển giá năm 2016, 2017, 2018.

    Summary

     

    Transfer Pricing and state administration on transfer pricing of foreign-invested enter-prises in Vietnam have been discussed and analyzed by many administrators, researchers and media. It is illustrated that the struggle to prevent and eliminate transfer pricing is by no means easy. Although legal documents (Circular No. 66/2010/TT-BTC, Decree No. 20/2017/NĐ-CP, Circular No. 41/2017/TT-BTC) have been issued to create the legal framework for state administration agencies to supervise and control transfer pricing, the outcome remains limited. In fact, many FDI enterprises report losses in many successive years but keep expanding production activi-ties. At present, Vietnam has a total of 17,000 FDI enterprises, with 6,400 located in Hanoi, of which over 1,100 enterprises involve in integration transaction declaration.

     

    Based on the secondary data on FDI enter-prises and the reality of transfer pricing con-trol on these enterprises, the article analyses and evaluates the difficulties and barriers in inspecting transfer pricing of FDI enterprises in Hanoi, then proposes some solutions to complete the controls of state administration agencies in the coming time.

     

    32     thương mại                                                                                                                                   Sè 127/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

    GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

    GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ LIÊN KẾT GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM CHÈ THÁI NGUYÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-THU-H%C3%9AT-V%C3%80-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-V%E1%BB%90N-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-C%E1%BB%A6A-T%E1%BB%88NH-L%C3%80O-CAI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 177 – 184

    e-ISSN: 2615-9562

     

    GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

     

    Nguyễn Thanh Minh*, Nguyễn Thị Vân, La Quý Dương, Nguyễn Thị Hương Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu có mục đích phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách của tỉnh Lào Cai, các hoạt động hỗ trợ của tỉnh, đề xuất giải pháp đặc thù nhằm tăng cường thu h t và s dụng v n đ u tư vào Lào Cai. Với cách tiếp cận hệ th ng và các yếu t tác động, s dụng các phương pháp nghiên cứu như th ng kê mô tả, phân tổ th ng kê, so sánh, nhóm tác giả đã phản ánh thực trạng cơ chế, chính sách và phân tích, đánh giá các hoạt động hỗ trợ của tỉnh trong đ u tư xây dựng cơ sở hạ t ng, cải cách thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, thanh tra, kiểm tra sau cấp phép đ u tư. Giai đoạn (2015-2017) tỉnh Lào Cai đã thu h t được nhiều nhà đ u tư, doanh nghiệp với hàng ngàn tỷ đồng góp ph n tạo nên một diện mạo mới, tăng thu ngân sách và đang từng bước nâng cao chất lượng cuộc s ng cho người dân. Nhóm tác giả chỉ ra những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của nó trong thực hiện cơ chế, chính sách của đ a phương, từ đó đề xuất nhóm giải pháp thu h t và s dụng hiệu quả v n đ u tư vào tỉnh Lào Cai.

     

    Từ khóa: Cơ chế, chính sách kinh tế; hoạt động hỗ trợ nhà đầu tư; thu hút vốn đầu tư; sử dụng vốn đầu tư; thực trạng thu hút và sử dụng; giải pháp thu hút và sử dụng.

     

    Ngày nhận bài: 16/4/2019; Ngày hoàn thiện: 19/6/2019; Ngày duyệt đăng: 19/6/2019

     

    SOLUTIONS TO ATTRACT AND USE INVESTMENTS

    IN LAO CAI PROVINCE

     

    Nguyen Thanh Minh*, Nguyen Thi Van

    La Quy Duong, Nguyen Thi Huong

     

    TNU –  University of Economics and Business Administration

     

    niversity of Economics and Business Administration

    ABSTRACT

     

    The study aims to analyze and assess the status of the mechanism and policies of Lao Cai province, support activities of the province, propose specific solutions to enhance the attraction and use of investment capital in Lao Cai. With a systematic approach and impact factors, using research methods such as descriptive statistics, statistical analysis, comparison, authors’ group reflected the current status of mechanism, policy and analysis and assess the province’s support activities in investment in infrastructure construction, administrative procedure reform, ground clearance, inspection and post-investment inspection. In the period 2015-2017, Lao Cai province has attracted many investors and businesses with thousands of billion dongs, contributing to creating a new face, increasing budget revenue and gradually improving the quality of life for people. The authors pointed out limitations, shortcomings and causes in implementing local mechanisms and policies, thereby proposed a group of solutions to attract and effectively use investment capital in Lao Cai province.

     

    Keywords: Economic mechanisms and policies; activities to support investors; attract investment; using investment capital; actual situation of attraction and use; solutions to attract and use.

     

    Received: 16/4/2019; Revised: 19/6/2019; Approved: 19/6/2019

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         177

     

    Nguyễn Thanh Minh và Đtg      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 177 – 184

     

    1. Đặt vấn đề

     

    • u tư là yếu t quyết đ nh tới sự phát triển và là chìa khoá cho sự tăng trưởng của mỗi qu c gia [1]. Một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để thu h t ngày càng nhiều nhà đ u tư (NĐT), doanh nghiệp (DN) sẵn sàng đ u tư v n vào hoạt động sản xuất kinh doanh góp ph n phát triển kinh tế ở từng đ a phương. Đây là bài toán c n có lời giải sắc bén và t i ưu. Thực tiễn đã chỉ ra ở đ a phương nào, qu c gia nào có cơ chế, chính sách và các hỗ trợ liên quan đến đ u tư được thực thi, đảm bảo sự hài hoà lợi ích các bên trong đó đặc biệt là NĐT/ DN sẽ khích lệ họ tăng cường v n đ u tư nhằm thu được lợi ích kinh tế cao hơn (Vĩnh Ph c với Tập đoàn Honda, Thái Nguyên với Tập đoàn Samsung…). Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới trong những năm qua đã có những cơ chế, chính sách và hoạt động hỗ trợ để thu h t các nguồn v n đ u tư vào đ a bàn, góp ph n thay đổi diện mạo và phát triển kinh tế – xã hội đ a phương. Tuy nhiên, cũng còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại. Bài viết sẽ tập trung làm rõ những cơ chế, chính sách kinh tế mà tỉnh Lào Cai đã thực hiện, phân tích các hoạt động hỗ trợ của đ a phương cho NĐT/ DN, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế tồn tại, nguyên nhân của hạn chế tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thu h t và s dụng v n đ u tư cho phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai trong thời gian tới.

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    • Cách tiếp cận: Tiếp cận hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước, của tỉnh Lào Cai liên quan đến thu h t và s dụng các nguồn v n đ u tư (NVĐT), làm rõ thuận lợi, hạn chế

    của cơ chế, chính sách đến thu h t và s dụng các NVĐT tại tỉnh Lào Cai; tiếp cận theo các yếu tố tác động: xem xét, phân tích các yếu t tác động đến thu h t và s dụng các nguồn

     

    • n đ u tư vào tỉnh Lào Cai, chỉ ra những mặt hạn chế và nguyên nhân. Từ đó đề xuất giải pháp khắc phục nhằm thu h t và s dụng có

    hiệu quả các NVĐT vào tỉnh Lào Cai.

     

    Để biết được nhận đ nh, đánh giá về cơ chế, chính sách và các hoạt động hỗ trợ của tỉnh, nhóm tác giả tiến hành điều tra, khảo sát NĐT/ DN theo mẫu phiếu hỏi in sẵn, việc chọn mẫu phiếu được áp dụng theo công thức tính Slovin n=N/(1+ N*e2). Trong đó N là NĐT/ DN = 1000, độ chính xác là 95% sai s tiêu chuẩn e là 5%, cỡ mẫu n được xác đ nh là 285, Các tiêu chí đánh giá theo thang đo Likert 5 bậc, bậc 1 tương ứng 1 điểm… bậc 5 là 5 điểm.

     

    Phương pháp: S dụng phương pháp điều tra, khảo sát để thu thập thông tin sơ cấp, dùng ph n mềm Word và Excel để x lý thông tin; s dụng phương pháp th ng kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia để phân tích thực trạng và các yếu t tác động; phân tích chỉ s năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), bộ chỉ s đánh giá năng lực cạnh tranh và cảm nhận của doanh nghiệp về môi trường đ u tư, kinh doanh của cấp huyện, thành ph và các sở, ban, ngành của tỉnh (DCI) và hiệu quả quản tr và hành chính công cấp huyện (PAPI).

     

    1. Th c ng  hu h                      ng     n đầu

    ư   nh L o Cai

     

    3.1.    h  c tr ng thu h  t v n đ u t        t i t nh

     

    Lào Cai

     

    Để thu h t các NĐT/ DN, ngoài sự cam kết với chín nội dung [2] thiết thực và xác đ nh sự thành công, th nh vượng, phát đạt của các NĐT/ DN chính là sự phát triển của Lào Cai trong giai đoạn từ 2012-2017, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai đã áp dụng một loạt chính sách và biện pháp hỗ trợ trong các hoạt động như:

     

    Quy hoạch: Tỉnh đã có quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH và quy hoạch ngành, lĩnh vực trên đ a bàn giai đoạn năm 2012 đến năm 2017. Bên cạnh đó, các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm của huyện thành đã được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt và cho phép thực hiện. Vào đ u tháng 5/2017, Hội đồng nhân dân (HĐND)

     

    178                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    tỉnh Lào Cai đã thông qua Ngh quyết nâng cấp huyện Sa Pa thành th xã Sa Pa, nhằm xây dựng Sa Pa không chỉ là khu du l ch qu c gia mà phấn đấu trở thành khu du l ch qu c tế, đây là thông tin rất quan trọng để thu h t NĐT/ DN. Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 300 ha tại th trấn Sa Pa và các xã Sa Pả, Tả Phìn, Trung Chải, San Sả Hồ, Tả Giàng Phìn và Tả Van [3].

     

    Thủ tục hành chính: Thành lập tổ hỗ trợ DN về thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực đ u tư trên đ a bàn tỉnh theo QĐ s 638/QĐ-UBND ngày 18/3/2012 của UBND tỉnh; tổ chức rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để đưa đi đào tạo, nâng cao chất lượng chuyên môn và tác phong làm việc chuyên nghiệp; thường xuyên rà soát các TTHC theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, đề xuất cấp có thẩm quyền loại bỏ những thủ tục không c n thiết, riêng năm 2017 các cơ quan, đơn v đã xây dựng kế hoạch kiểm soát TTHC, lập danh mục đăng ký cắt giảm 30% thời gian giải quyết TTHC [2]; hàng năm tổ chức tổng kết công tác cải cách hành chính (CCHC) để đánh giá kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và có giải pháp khắc phục; tổ chức triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trên nền tảng xây dựng chính quyền điện t như: ph n mềm quản lý văn bản và điều hành, thư điện t , cổng thông tin điện t (đến năm 2017, cổng thông tin điện t của tỉnh đã đăng tải trên 200 TTHC, h u hết các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh đều được đưa vào triển khai thực hiện d ch vụ công hành chính mức độ 2 [2]), ph n mềm ứng dụng tại bộ phận “một c a”, d ch vụ công trực tuyến (ph n mềm một c a tích hợp d ch vụ công trực tuyến với 314 d ch vụ, trong đó 287 d ch vụ công mức độ 2 và 29 d ch vụ công mức độ 3 [2]) và chỉ

     

    • năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Lào Cai liên tục tăng qua các năm 2015, 2016 đến 2017 với điểm tương ứng 62,32; 62,32 và 64,98 [3].

    Cơ sở hạ t ng: UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, các cấp quan tâm ph i hợp để đẩy

     

    nhanh tiến độ công tác giải phóng mặt bằng (GPMB); chi phí bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái đ nh cư với các dự án đ u tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ t ng khu công nghiệp (KCN) được ngân sách tỉnh ứng trước 30% chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái đ nh cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt với mức

     

    • i đa không quá 50 tỷ đồng cho một dự án; với các dự án đ u tư thuộc danh mục kêu gọi đ u tư theo quyết đ nh của UBND tỉnh, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, trong các khu du l ch được ngân sách tỉnh ứng trước 50% chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Hỗ trợ NĐT/ DN: NĐT/ DN được ưu đãi (trừ Khu kinh tế c a khẩu Lào Cai) thời gian thuê đất bằng thời gian của đời dự án, t i đa 50 năm; miễn tiền thuê đất 7 năm với dự án

     

    • u tư thông thường; miễn tiền thuê đất 11 năm với các dự án đ u tư thuộc danh mục khuyến khích đ u tư; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 4 năm kể từ năm đ u tiên có thu nhập ch u thuế; giảm 50% thuế TNDN trong 9 năm tiếp theo; các cơ quan chức năng liên quan sẽ hỗ trợ NĐT triển khai các bước theo quy đ nh để GPMB, tạo mặt bằng sạch cho NĐT; hỗ trợ t i đa 30% kinh phí GPMB trong hàng rào của dự án tại các KDL, riêng dự án du l ch có t m quan trọng đặc biệt, UBND tỉnh th ng nhất với Thường trực hội đồng nhân dân tỉnh có quy đ nh cụ thể, NSNN cấp 100% kinh phí GPMB trong các KCN; dự án đ u tư vào các KCN, khu du l ch (KDL) được các ngân hàng thương mại qu c doanh trên đ a bàn tỉnh cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và cho thuê tài chính với lãi suất giảm từ 5% – 10% so với lãi suất cho vay v n và lãi suất cho thuê tài chính đ i với khách hàng bình thường, miễn thu phí d ch vụ tư vấn vay v n và tư vấn xây dựng dự án kinh tế khi ngân hàng tư vấn cho DN; giảm 10% – 15% mức phí cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro.

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          179

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    Kết quả thu h t v n đ u tư tại tỉnh Lào Cai

     

    giai đoạn 2015 – 2017 được cụ thể là: năm

     

    2015 đạt 16.080.469 triệu đồng, năm 2016 là

     

    17.960.918 triệu đồng, đến năm 2017 tăng lên

     

    19.307.282 triệu đồng [4].

     

    Giai đoạn 2015-2017 cũng chứng kiến sự thu

     

    • t đáng kể v n đ u tư nước ngoài vào Lào Cai, rất nhiều dự án có quy mô lớn đã được triển khai thực hiện. Tính đến tháng 10/2017 Lào Cai có 744 dự án đ u tư trực tiếp trong nước (DDI) và 24 dự án đ u tư trực tiếp nước ngoài (FDI) [3]. Năm 2017, tỉnh Lào Cai đã rà soát và công b quy hoạch chi tiết đ nh hướng phát triển tỉnh Lào Cai, nhờ đó mà đã thu h t thêm 4 dự án đ u tư với tổng v n đ u tư là 5.240 tỷ đồng [5].

    3.2. h c tr ng s d ng v n đ u t t i t nh Lào Cai

     

    Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 1 cho thấy, v n đ u tư giai đoạn 2015-2017 ở Lào Cai được s dụng nhiều vào lĩnh vực thương mại

     

    – du l ch, tiếp đó là lĩnh vực xây dựng đô th , nông lâm ngư nghiệp, riêng các lĩnh vực Văn hóa-y tế – giáo dục, công nghiệp thì ít được đ u tư, chi tiết phản ánh trên bảng 1. Sở dĩ có hiện tượng trên là do Lào Cai có nhiều lợi thế cạnh tranh về du l ch, cùng với cơ chế chính sách thông thoáng, gợi mở và thu hút các nhà đ u tư.

     

    Sự tăng trưởng v n đ u tư kéo theo tăng trưởng kinh tế tỉnh Lào Cai, t c độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) năm

    2017 đạt 10, 15%, duy trì cơ cấu kinh tế tích cực, hợp lý (Ngành công nghiệp – xây dựng 43,2%; d ch vụ chiếm 42,56%; nông nghiệp 14,24%); GRDP bình quân đ u người đạt 51,2 triệu đồng, tăng 11,3% so năm 2016. Nông lâm thủy sản tăng 6,23%; Công nghiệp

     

    • Xây dựng tăng 11,59%; D ch vụ tăng 10,08% [4]. Chỉ tính riêng huyện Sa Pa đã thu h t hơn 10 dự án đ u tư vào hệ th ng khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp, mỗi dự án có v n đ u tư từ vài chục đến vài trăm tỷ đồng với các nhà đ u tư lớn như: Tổng công ty Du l ch Sài Gòn TNHH một thành viên (Saigontourist); Công ty CP Đ u tư Indochina; Tập đoàn D u khí Việt Nam, Tập đoàn Cao su Việt Nam… S dự án trong lĩnh vực khách sạn ngày càng gia tăng với nhiều cơ sở lưu tr cao cấp đáp ứng nhu c u đa dạng của khách du l ch. Hiện tại Sa Pa đã có 320 cơ sở lưu tr với trên 3.000 phòng phục vụ du khách; trong đó, có 80 cơ sở đạt chất

    lượng từ 1 – 4 sao, 100 nhà nghỉ lưu tr tại gia ở các thôn bản phát triển du l ch cộng đồng [2]. S lượng khách du l ch, s ngày lưu tr của khách và doanh thu từ các hoạt động du l ch không ngừng tăng lên. Năm 2017 có khoảng 85.000 lượt khách, trong đó khách nước ngoài chiếm 44%, khách trong nước chiếm 56%, tăng 280% so với năm 2010. Doanh thu từ 23.068 triệu đồng năm 2010 tăng lên 111.883 triệu đồng năm 2015 và năm 2017 là 123.000 triệu đồng. S ngày lưu tr đạt 1,66 ngày đêm/khách du l ch [2].

     

    Bảng 1. Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2017

     

               

    ĐVT: Tỷ đồng

                 
     

    2015

     

    2016

     

    2017

     

    V n đầu  ư

                 

    V n đầu  ư

    Cơ cấu

    V n đầu  ư

    Cơ cấu

    V n đầu  ư

    Cơ cấu

     

    (%)

    (%)

    (%)

     
             

    Xây dựng đô th

    3.222,525

    20,04

    3.143,160

    17,50

    2.488,708

    12,89

     

    Công nghiệp

    649,650

    4,04

    908,822

    5,06

    1.029,078

    5,33

     

    Thương mại – Du l ch

    9.728,683

    60,5

    11.441,104

    63,70

    12.825,827

    66,43

     

    Nông lâm ngư nghiệp

    1.611,263

    10,02

    1.706,287

    9,50

    1.660,426

    8,60

     

    Văn hóa-y tế – giáo dục

    868,345

    5,40

    761,542

    4,24

    1.303,241

    6,75

     

    Tổng

    16.080,469

    100,00

    17.960,918

    100,00

    19.307,282

    100,00

     

    Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lào Cai

     

    180                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    3.3. Đánh giá khả năng thu h t và s d ng v n đ u t của t nh Lào Cai

     

    Chỉ s năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 3 năm 2015, 2016 và 2017 luôn trong t p 11 tỉnh, thành ph đứng đ u cả nước. Trong 10 chỉ s thành ph n PCI 2016, Lào Cai có 6 chỉ

     

    • tăng điểm (chi phí gia nhập th trường, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin, chi phí không chính thức, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, đào tạo lao động,

    thiết chế pháp lý) và 4 chỉ s giảm điểm (tiếp cận đất đai và tính ổn đ nh trong việc s dụng đất, chi phí thời gian trong thực hiện các TTHC, cạnh tranh bình đẳng, d ch vụ hỗ trợ doanh nghiệp) [3]. Có thể khẳng đ nh thời gian qua Lào Cai đã có chuyển biến tích cực trong nhiều lĩnh vực, như thủ tục thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký đ u tư, x c tiến đ u tư, thương mại. Chỉ s DCI các huyện, thành ph tỉnh Lào Cai năm 2017 cụ thể như: TP Lào Cai 79,77, Văn Bàn 78,42, Bắc Hà 77,48, Bát Sát 69,14, Sa Pa 62,70, Mường Khương 53,56, Bảo Thắng 51,44 và Bảo Yên 39,63 [3]. Thông qua chỉ s này mà các huyện thành đã có giải pháp đột phá, thể hiện quyết tâm của chính quyền trong việc CCHC, cải thiện môi trường kinh doanh, thể hiện sự tôn trọng của chính quyền đ i với tiếng nói của cộng đồng DN.

     

    Bảng 2. Kết quả đánh giá của nhà đầu tư/

    doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai

    STT

    Tiêu chí đánh giá

    Điểm

     

    trung bình

     
         

    1

    Cơ chế và chính sách của tỉnh

    3,90

     

    Lào Cai

     
           

    2

    Năng  lực

    quản  lý  điều  hành

    3,46

     

    của CBCC

     
           

    3

    Hệ  th  ng

    cơ  sở  hạ  t ng  kỹ

    3,79

     

    thuật tỉnh Lào Cai

         

    4

    V  trí đ a lý, tiềm năng lợi thế

    4,05

     

    5

    Nguồn nhân lực của tỉnh Lào Cai

    3,05

     

    Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của nhóm tác giả

     

    Kết quả điều tra được tính toán và tổng hợp trên bảng 2. Từ s liệu trên bảng 2 cho thấy NĐT/ DN hoàn toàn hài lòng với v trí đ a lý, tiềm năng lợi thế, cơ chế chính sách và hệ th ng cơ sở hạ t ng kỹ thuật tỉnh Lào Cai.

     

    Đây là động lực thu h t NĐT/ DN trong thời gian qua. Tuy nhiên, năng lực quản lý điều hành của cán bộ, công chức và nguồn nhân lực của tỉnh Lào Cai vẫn kém hấp dẫn NĐT/ DN, đây là những hạn chế c n sớm được khắc phục.

     

    3.4.      n ch    t n t i và nguy n nh n

     

    3 4 1 Hạn chế tồn tại

     

    • rong thu h t v n đ u t : Quy hoạch ngành, lĩnh vực đã được xây dựng nhưng chất lượng chưa cao, tính khả thi thấp và chưa hấp dẫn NĐT, nhiều dự án lớn khi vào đ u tư phải bổ sung quy hoạch; cơ chế, chính sách chưa thật sự hấp dẫn NĐT; hạ t ng khu kinh tế đang được đ u tư xây dựng theo quy hoạch nhưng thiếu v n, đ u tư dàn trải, hạ t ng thiết yếu còn thiếu như x lý nước thải, cấp nước sạch,…; cải cách hành chính còn chậm, vẫn còn phiền hà, rườm rà làm nản lòng các NĐT; công tác giải phóng mặt bằng rất khó khăn, chậm trễ, kéo dài.

    * Trong s  d  ng v n đ u t  : S     lượng các dự

     

    án đi vào triển khai hoạt động còn thấp hơn nhiều so với đăng ký, v n thực hiện của các dự án đạt thấp (chỉ chiếm 30,63% v n đăng ký), tiến độ triển khai của các dự án còn chậm (trung bình 01 dự án đưa vào hoạt động mất từ 1-3 năm); việc chấp hành chính sách pháp luật về đ u tư của một s NĐT còn hạn chế, s lượng các dự án không triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ so với cam kết tăng; lực lượng lao động của Lao Cai dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa cao, lao động đã qua đào tạo không phù hợp, h u như DN phải đào tạo lại sau tuyển dụng; d ch vụ cho cá nhân và gia đình người nước ngoài chưa đáp ứng được yêu c u do chưa có các trường học qu c tế, các d ch vụ chất lượng cao,…

     

    3.4.2. Nguyên nhân

     

    • rong thu h t v n đ u t : Tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế qu c gia đang trong thời kỳ cơ cấu lại làm giảm dòng v n đ u tư công và DNNN; hệ th ng cơ sở hạ t ng chung tuy có lợi thế so với các tỉnh khác trong khu vực

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          181

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    nhưng các hạ t ng thiết yếu mà NĐT c n gắn với dự án, khu, cụm công nghiệp chưa đáp ứng được yêu c u; chi phí đ u tư tại Lao Cai cao do chi phí GPMB và san nền cao, đã ảnh hưởng đến quyết đ nh lựa chọn đ a bàn ưu tiên đ u tư của các NĐT, nhất là các NĐT nước ngoài; hệ th ng pháp luật, chính sách và thủ tục đ u tư chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và thay đổi nhanh, chồng chéo giữa hệ th ng pháp luật đ u tư, Luật doanh nghiệp và các luật chuyên ngành… chưa đủ sức hấp dẫn đ i với một s ngành, lĩnh vực c n khuyến khích

     

    • u tư như lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ; môi trường đ u tư còn thiếu sự ph i hợp của các cấp, các ngành trong thu h t
    • u tư.

    * rong s d ng v n đ u t : Công tác tham mưu, chỉ đạo điều hành chưa quyết liệt, chưa k p thời; vai trò người đứng đ u của một s cấp, ngành còn yếu; phân công, phân cấp còn

     

    • ng t ng, kiểm tra, đôn đ c thực hiện chưa t t; cấp ủy đảng, chính quyền và cộng đồng dân cư chưa hiểu hết lợi ích thiết thực và lâu dài trong thu h t các dự án đ u tư để tạo sự đồng thuận và nhất trí trong thu h t đ u tư. Cán bộ, công chức; năng lực, phẩm chất và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức chưa cao, kỹ năng hành chính thiếu chuyên nghiệp, tư duy, phương pháp làm việc còn chậm đổi mới, nặng l i mòn, thiếu chủ động; chỉ đạo, giải quyết vướng mắc cho NĐT chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án. V n đ u tư cho xây dựng cơ sở hạ t ng như giao thông, điện, nước, nhất là trong các KCN, CCN còn thấp, một s hạng mục đã đ u tư nhưng lại chưa phát huy được hiệu quả. Đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu c u của NĐT.
    1. Đề uấ m            giải pháp nh m    hu h

          ng     n đầu  ư    i   nh L o Cai

     

    4.1.    uan đi         đ nh h    ng nh        thu h  t

     

    và s   d  ng v n đ u t      của t nh Lào Cai

     

    Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ th ng chính tr vào

     

    cải thiện mạnh mẽ môi trường đ u tư, đặc biệt là CCHC có hiệu quả thiết thực. Tập trung khắc phục có hiệu quả những nguyên nhân gây trở ngại làm ảnh hưởng đến môi trường

     

    • u tư kinh doanh của tỉnh. Nhất quán trong cơ chế, chính sách thu h t đ u tư để tạo niềm tin và sự an tâm cho các NĐT trong việc triển khai thực hiện Dự án.

    Lào Cai đ nh hướng thu h t đ u tư trên từng lĩnh vực cụ thể là: Phát triển thương mại – d ch vụ trong đó khuyến khích đ u tư các dự án phát triển d ch vụ tại khu kinh tế c a khẩu Lào Cai, khu đô th thành ph Lào Cai; du l ch, nông nghiệp ôn đới công nghệ cao trong đó ưu tiên thu h t các dự án phát triển du l ch tại đ a phương có nhiều thế mạnh đặc thù, phát triển về du l ch tại các huyện Sa Pa, Bắc Hà; các dự án nông nghiệp quy mô sản xuất lớn, công nghệ cao; công nghiệp – xây dựng cơ bản… Giai đoạn 2017-2020 Lào Cai đ nh hướng kêu gọi thu h t đ u tư vào 42 dự án với tổng v n dự kiến là 43.950 tỷ đồng [6].

     

    4.2. Nh giải pháp thu h t v n đ u t t i t nh Lào Cai

     

    Giải pháp về quy ho ch cơ ch   chính sách

     

    • Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020, có tính đến 2030; quy hoạch đô th TP Lao Cai, Sa Pa, quy hoạch phát triển khu du l ch qu c gia Sa Pa để làm căn cứ xây dựng và triển khai các quy hoạch ngành, lĩnh vực để vận động, thu h t đ u tư; rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch khu đô th , các khu du l ch, khu nông nghiệp công nghệ cao,… cho phù hợp với tình hình mới, gắn với hiệu quả, ít ảnh hưởng đến nhân dân vùng quy hoạch.
    • Rà soát cơ chế, chính sách ưu đãi đ u tư trên đ a bàn tỉnh, huyện để điều chỉnh bổ sung phù hợp với tình hình thực tế và nguồn v n ngân sách đ a phương; c n nghiên cứu và có chính sách vận động thu h t đ u tư từ các NĐT/ DN phù hợp với đ nh hướng thu h t đ u tư của tỉnh, huyện (phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường).

    182                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thanh Minh và Đtg         Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 177 – 184

     

    Giải pháp về cải cách hành chính

     

    Soát xét thủ tục đ u tư, kiên quyết loại bỏ các thủ tục rườm rà, không c n thiết, pháp luật không quy đ nh, nhập các thủ tục có thể nhập được để đơn giản, gọn nhất các thủ tục đ u tư; rà soát, điều chỉnh quy đ nh nhằm bảo đảm hoạt động hiệu quả thực sự một c a liên thông, NĐT chỉ đến nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một c a liên thông; thiết lập đường dây nóng để các NĐT/ DN phản ánh những trường hợp cán bộ, công chức gây nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm trong quá trình x lý hồ sơ dự án đ u tư; tăng cường thanh tra công vụ đ i với việc tiếp nhận, x lý, giải quyết các TTHC tại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đ u tư; công khai minh bạch trên Internet về TTHC và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, đơn v nơi trực tiếp giải quyết TTHC; xây dựng, ứng dụng ph n mềm tiếp nhận và trả kết quả liên thông giữa các cơ quan gắn với việc xây dựng chính quyền điện t .

     

    Phát tri n cơ sở h   t ng

     

    Chỉ đạo xây dựng các cơ sở hạ t ng quan trọng thiết yếu phục vụ thu h t đ u tư; cân đ i dành v n hàng năm để GPMB, chủ động tạo quỹ đất sạch hợp lý sẵn sàng đón các NĐT; tranh thủ t i đa các nguồn lực để đ u tư phát triển kết cấu hạ t ng, đặc biệt là nguồn v n ngoài ngân sách nhà nước; s dụng hình thức hợp tác Nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ t ng (PPP).

     

    Về hỗ trợ nhà đ u t

     

    Tiếp tục chỉ đạo xóa bỏ những lực cản trong công tác bồi thường, GPMB và tái đ nh cư; hỗ trợ nhà đ u tư có được mặt bằng nhanh chóng, thuận lợi; hỗ trợ cung ứng và đào tạo lao động.

     

    4.3. Nh giải pháp s d ng v n đ u t t i t nh Lào Cai

     

    Giải pháp về cơ ch  chính sách

     

    Rà soát, điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách

     

    ưu đãi cho NĐT trên đ a bàn tỉnh để có sự nhất quán và tạo niềm tin, sự an tâm cho các NĐT triển khai thực hiện dự án; c n nghiên cứu và có chính sách vận động thu h t đ u tư từ các NĐT, DN trọng điểm phù hợp với đ nh hướng thu h t đ u tư của tỉnh, huyện.

     

    Về cải cách hành chính

     

    Xác đ nh rõ trách nhiệm NĐT, trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước trong giải quyết các thủ tục hành chính cho NĐT, nhất là người đứng đ u trong giải quyết thủ tục cho NĐT; thiết lập đường dây nóng để các NĐT/ DN phản ánh những trường hợp cán bộ, công chức gây nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm trong quá trình x lý hồ sơ dự án đ u tư; tăng cường thanh tra công vụ trong tiếp nhận, x lý, giải quyết các TTHC tại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đ u tư; công khai minh bạch trên Internet về TTHC và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, đơn v nơi trực tiếp giải quyết TTHC.

     

    ỗ trợ nhà đ u t

     

    Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các DN và cơ sở s dụng lao động, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ NĐT giải quyết nhanh các TTHC về xin cấp phép đ u tư hoặc điều chỉnh giấy phép đ u tư và các TTHC khác; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án d ch vụ: trường học qu c tế, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, điện, nước, tài chính ngân hàng…

     

    1. Kế luận

    Thực tiễn ở nước ta và nhiều nước trên thế giới cho thấy, thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế, đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng cơ chế, chính sách thích hợp với điều kiện thực tế. Tỉnh Lào Cai là tỉnh miền n i ở phía Bắc của tổ qu c, trong những năm qua, lãnh đạo và các cấp chính quyền đ a phương rất năng động, sáng tạo đã

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          183

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

    đề ra nhiều chủ trương, chính sách cởi mở và hấp dẫn cùng với sự nỗ lực, quyết tâm vào cuộc của cả hệ th ng chính tr cũng như các hoạt động hỗ trợ NĐT/ DN nên đã thu hút và

     

    • dụng được một lượng v n lớn từ các NĐT/ DN trong và ngoài nước. Từng bước thay đổi diện mạo và phát triển KT – XH của tỉnh Lào Cai. Qua phân tích thực trạng cơ chế, chính sách và các hoạt động hỗ trợ từ phía tỉnh Lào Cai bài viết cũng chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong cơ chế, chính sách đặc thù và các hoạt động hỗ trợ của tỉnh từ đó đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm thu h t và s dụng hiệu quả hơn NVĐT vào tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu này cũng đã góp ph n giải quyết một ph n nội dung nghiên cứu của đề tài Mã s ĐH 2017 – TN08 – 04.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    Cai, Báo cáo tổng kết công tác quản lý các khu công nghiệp và các cửa khẩu năm 2018; Phương hướng nhiệm vụ năm 2019 2019.

     

    [3]. Sở kế hoạch và đ u tư tỉnh Lào Cai, Báo cáo tình hình thực hiện thu hút đầu tư vào huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai năm 2015, 2016, 2017, 2015, 2016, 2017.

    • Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai 2017.
    • UBND tỉnh Lào Cai, Quyết đ nh 3601/QĐ-UBND; Quyết đ nh 5557/QĐ-UBND về Phê duyệt bổ sung dự án thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2017, 2017.
    • UBND tỉnh Lào Cai, Quyết đ nh 2284/QĐ-UBND tỉnh Lào Cai ngày 24 tháng 7 năm 2015 về Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, 2015.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]