Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%C3%A2u-thu%E1%BA%ABn-m%E1%BA%B9-ch%E1%BB%93ng-%E2%80%93-n%C3%A0ng-d%C3%A2u-trong-gia-%C4%91%C3%ACnh-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    I. Lý do chọ n đề tài

    Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình là một quan hệ rất nhạy cảm. Dướ i thờ i phong kiế n, nàng dâu thườ ng về nhà chồ ng vớ i tư cách là “gả bán”, nên họ về nhà chồ ng có quyề n uy tuyệ t đố i. Nên làm trái ý bà, bà có thể tống nàng dâu ra khỏi cửa hoặc cưới vợ khác cho con. Ngày nay tư thế người làm dâu về nhà chồng đã khác hẳn. Hầu hết người con gái bước lên xe hoa khi đã trưởng thành, nhiều người có học vấn, có việc làm, có tài sản riêng. Họ về làm dâu cũng không phải do “gả bán” mà yêu nhau thì tự nguyện về chung sống với nhau, chứ không phải cốt bám vào gia đình nhà chồng mới tồn tại được. Cho nên, cảnh đi làm dâu thời nay đã khác hẳn xưa. Xã hội ngày nay đã thay đổi cơ bản, vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội đã khác xưa và do đó vai trò làm dâu cũng khác. Ngày nay, các cô gái trẻ may mắn và hạnh phúc hơn nhiều so với các thế hệ phụ nữ trước đây khi bước vào hôn nhân. Khoảng cách giữa hai thế hệ đã dần dần được

           
    Nhóm sinh viên: K53 Công tác xã hội  
    Khoa : Xã hội học Page 1

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    thu hẹp lại, mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu cũng được cải thiên một cách rõ rệt: mẹ chồng coi con dâu như con ruột và ngược lại con dâu chăm sóc cho mẹ chồng và gia đình bên chồng một cách tận tụy, chu đáo, mẹ chồng, con dâu làm tròn bổn phận và vai trò của mình trong gia đình…

    Tuy nhiên dù có khác thế nào đi chăng nữa, nàng dâu vẫn là một thành viên mới của gia đình nhà chồng. Người con dâu có tìm được hạnh phúc hay không một phần cũng dựa trên mối quan hệ tốt đẹp với gia đình nhà chồng. Không phải gia đình nào cũng có hoàn cảnh giống nhau, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn tồn tại một số hạn chế như những mâu thuẫn, những xung đột vẫn còn xảy ra, tồn tại

    • một số gia đình Việt Nam thời hiện đại. Sự bất hòa trong mối quan hệ mẹ chồng và nàng dâu là một trong những vấn đề nổi bật đang được quan tâm. Bởi qua thực tế, chúng ta đã nhận thấy các nàng dâu hiện đại đã thoát khỏi phận “ăn

    gửi, ở nhờ”, nhiều khi giống như “người làm mướn không công” của thời phong kiến nhưng họ lại vấp phải những khó khăn mới mà không phải ai cũng vượt qua được. Số vụ ly hôn gần đây có nguyên nhân không phải do mâu thuẫn vợ chồng mà do nàng dâu mầu thuẫn với mẹ chồng hoặc cả gia đình chồng chiếm một tỷ lệ không nhỏ.

    Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu là rất khó tránh khỏi và thường gay gắt khi một bên là quyền uy và sự đòi hỏi quá cao, còn một bên là tình cảm, lòng tự trọng bị tổn thương, khả năng đáp ứng cũng như sức lực và sự chịu đựng của con người chỉ có hạn. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu một thứ luật pháp không thành văn đã đổi thay về chất. Quan hệ này không mất đi nhưng nó được chuyển từ quan hệ quyền uy sang quan hê tình cảm.

    Trước tiên để tìm hiểu những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu, chúng ta cần tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới những mâu thuẫn này.

           
    Nhóm sinh viên:  K53 Công tác xã hội  
    Khoa :  Xã hội  học Page 2

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    II. Nội dung chính:

    1. Các công cụ khái niệm và lý thuyế t ứng dụng:

    1.1 Khái niệm gia đình:

    Gia đình là mộ t cộng đồ ng ngườ i số ng chung và gắn bó vớ i nhau bởi các mối quan hệ tình cả m, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống,[1] quan hệ nuôi dưỡng và/hoặ c quan hệ giáo dục. Gia đình có lị ch sử từ rấ t sớ m và đã trả i qua một quá trình phát triển lâu dài.( Gia đình học, Lê Thị Quý- Đặ ng Cải Khanh,

    NXBĐHQGHN,)

    1.2. Lý thuyết xung đột:

    1.2.1. Nộ i dung lý thuyết.

    Thuyết xung được xem như một bước phát triển của thuyết cấu trúc – chức năng

    Thuyết xung đột có nhiều nguồn gốc khác nhau như thuyết Marx, tác phẩm của Simmel về xung đột xã hội…

    Trong những năm 1950-1960 nó đã thay thế cho thuyết chức năng- cấu trúc.

    Thuyết xung được xem như một bước phát triển của thuyết cấu trúc – chức năng

    Thuyết xung đột có nhiều nguồn gốc khác nhau như thuyết Marx, tác phẩm của Simmel về xung đột xã hội…

    Trong những năm 1950-1960 nó đã thay thế cho thuyết chức năng- cấu trúc

    1.2.2. Gia đình tiếp cận dướ i góc độ lý thuyết xung đột:

    Gia đình là một nhóm xã hội gồm nhiều cá nhân có nhân cách, lý tưởng, giá trị, sở thích, mục đích… khác nhau.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 3
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Xung độ t là mộ t bộ phậ n tự nhiên trong đờ i số ng gia đình. Mỗi cá nhân không phải bao giờ cũng hòa hợp với nhau. Các gia đình thường có bất đồng từ nhỏ đến lớn. Họ chỉ khác nhau về tần số, mức độ, tính chất, biểu hiện và cách giải quyết xung đột.

    1.2.3 Cơ sở xung độ t của gia đình.

    • Cá nhân nào nắm được quyền lực sẽ đạt được mục đích của mình trong xung đột

    Trong các gia đình thời xưa cũng như gia đình hiện đại thì mâu thuẩn giữa mẹ chồng và nàng dâu cũng rất phổ biến. Chính việc xác định được cơ sở của mâu thuẩn đã tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẩn mẹ chồng nàng dâu được tốt hơn.

    1.3. Lý thuyết tương tác biểu trưng:

    Khái niệm lý thuyết tương tác biểu trưng là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lý giải chúng. Tất cả các nhà tương tác biểu trưng đều nhất trí về vai trò trung tâm của con người là khả năng tạo nên và sử dụng những biểu trưng.

    Theo Steven L. Nock (1978), một cách tiếp cận đặc biệt thành công của các nhà tương tác biểu trưng là nghiên cứu về gia đình như một hệ thống các vai trò.

    Vận dụng lý thuyết này vào xử lý các vấn đề gia đình, các nhà xã hôi học thấy rằng sẽ rất có ý nghĩa nếu ta coi gia đình như một màn kịch, trong đó các thành

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 4
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    viên đóng vai trò nhấ t định. Như vậ y mỗ i thành viên đều phụ thuộc vào thành viên kjacs khi đóng vao trò của mình. Khi đó:

    Mỗ i thành viên phả i xác định vai trò của mình

    Những đòi hỏ i chức năng của gia đình

    Khi các thành viên được nhận định trong các vị trí nhất định, sẽ biểu hiện sự thỏa hiệp của họ, để tránh đi sự phá vỡ vai trò.

    Muốn tạo nên sự bình đẳng thì sự đòi hỏi của vai trò nên đặt trong sự phù hợp giữa các tài năng và kỹ năng. Không có sự ngang bằng nhau ở mọi sự vật (hiện tượng) có vai trò dễ dẫn tới uy tín và thành công, có vai trò dễ thực hiện hơn vai trò khác. Như vậy các vai trò nhận được những phần thưởng không ngang nhau, khi đó gia đình phải mặc cả, thỏa thuận.

    Các vai trò trong gia đình là sự mặc cả và luôn luôn phát triển.

    Như vậy, khi áp dụng vào xử lý vấn đề mâu thuẫn giữa mẹ chồng – nàng dâu ta có thể để hai bên xác định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ bổn phận của mình trong gia đình. Hơn nữa, mối quan hệ này ngày nay đã không còn là mối quan hệ quyền uy nữa mà là mối quan hệ tình cảm nên việc điều chỉnh tâm lý, tình cảm của mỗi người là cần thiết. Dưới đây là những việc mọi người trong gia đinh nên làm, đặc biệt là mẹ chồng – nàng dâu cần thực hiện với vai trò của mình để tránh mâu thuẫn, cải thiện mối quan hệ.

    Việc xác định được nguyên nhân gây ra xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu là điều kiện để giải quyết những bất hòa trong gia đình được tốt hơn.

    2. Nguyên nhân gây ra mâu thuẩn giữ a mẹ chồng và nàng dâu.

    Các nguyên nhân chính dẫn đến các mâu thuẫn trong mối quan hệ mẹ – chồng nàng dâu:

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 5
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    • Trong đời sống hôn nhân luôn tồn tại hai phía của tình yêu: Vợ chồng yêu nhau là một phía; Còn một phía khác của tình yêu mà các cặp vợ chồng ít nhìn thấy, đó là mẹ yêu con trai.

    Trong tình yêu luôn có yếu tố sở hữu: Anh là của em, con là của mẹ. Người mẹ mang nặng đẻ đau, vất vả nuôi con suốt hai, ba chục năm trời nên tình yêu mẹ dành cho con lớn như biển cả và không thể lấy tình yêu của người con gái dành

    cho người con trai mà so sánh được. Vậy mà chỉ sau một lễ cưới, tình yêu của con trai lại nghiêng hẳn về phía một người con gái trước đây rất xa lạ. Đó là sự mất mát lớn lao đầu tiên của người mẹ khi con trai họ lấy vợ.

    Đã là tình yêu ắt sẽ có ghen tuông. Tình yêu người mẹ dành cho con trai cũng là một phía tình yêu và cũng có ghen tuông. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới những xung đột gay gắt giữa mẹ chồng và nàng dâu. Có những người mẹ rất hiền từ nhưng khi có con dâu thì trở nên đáo để, xét nét, bắt lỗi con dâu đủ điều. Đó không phải là bản tính quá quắt của các bà mẹ chồng, cũng không phải do “khác máu tanh lòng” mà do bị sự ghen tuông thúc đẩy. Tâm lý người của người mẹ khi có con dâu thường tìm cách bới móc con dâu vì thấy con trai yêu vợ hơn mình. Với tư tưởng con dâu cướp tình yêu thương, sự quan tâm mà vốn dĩ trước đây con trai luôn dành cho mẹ. Đây là xung đột ngầm ít thể hiện ra bên ngoài

    Xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu diễn ra gay gắt nhất trong thời gian đầu con trai lấy vợ. Trai yêu vợ mới, đó là những ngày nồng nàn nhất, anh chồng yêu chiều vợ nhiều nhất. Anh ta nói với vợ những lời ngọt ngào nhất, mua quà cho vợ, luôn tranh thủ đỡ đần vợ. Tất cả những hành động đó không lọt qua mắt của một phía tình yêu khác, đó là người mẹ. “Tại sao nó mua quà cho vợ nó mà không mua quà cho mình, vì một đứa con gái mà nó có thể quên mình được ư? Cả đời nó chưa hề giặt quần áo hộ mẹ, vậy mà bây giờ nó giặt cả quần con cho vợ nó”. Những ý nghĩ âm thầm đó nung nấu tâm can của một người phụ nữ tự nhận rằng mình đã bị bỏ rơi. Và ngứa ghẻ hờn ghen, người chịu đòn là cô con dâu. Tình trạng “ghen ăn tức ở” này sẽ giảm dần theo thời gian nếu nàng dâu biết nhịn và biết quan tâm đến

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 6
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    mẹ chồ ng. Nếu không, sự ghen tuông sẽ ngày càng nặng nề hơn, mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng cũng ngày mộ t quyết liệt hơn. Hơn nữa, ngườ i chồng là cầu nối của mẹ và vợ, nếu anh ta bất lực trong việc hòa giải thì mâu thuẫn ngày càng tăng lên hoặc là anh ta hướng về phía mẹ hay là vợ mình thì mâu thuẫn càng lên đến đỉnh điểm.

    • Hai con người khác nhau về tư duy và lối sống. Mẹ chồng luôn có tư tưởng mà con dâu cho ràng là “cổ hủ”. Các bà mẹ chồng vẫn giữ tư tưởng của thế hệ cũ, còn con dâu thế hệ ngày nay lại có suy nghĩ và hành động khác. Do sự khác biệt về
    • thức, thói quen dẫn đến khoảng cách và sự bất hòa giữa mẹ chồng nàng dâu.
    • Bất đồng về quan điểm sống và hoàn cảnh sống. mẹ chồng hay lấy cớ bắt lỗi con dâu. Mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu còn xảy ra khi nàng dâu không biết làm việc nhà nhất là nội trợ. Có thể người con dâu này xuất thân trong một gia đình giàu sang không phải làm gì, nên khi phải làm gì người con dâu đó không biết làm được.

    Ví dụ: mẹ chồng muốn việc chăm sóc con cháu phải theo ý bà nhưng con dâu lại tỏ ra không thích như thấy tay mẹ chồng bẩn không đảm bảo vệ sinh khi cho cháu ăn. Điều này thường xảy ra ở nông thôn khi mẹ chồng làm nghề nông trong khi con dâu làm ở nhà nước.

    • Cách cư xử của các nàng dâu thời hiện đại có học vấn thường muốn độc lập về kinh tế là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn với mẹ chồng. Đối với họ tư tưởng

    ăn bám luôn len lỏi trong đầu óc. Khi họ sống cùng gia đình nhà chồng, họ không muốn dựa dẫm vào nhà chồng đẻ mang tiếng là ăn bám. Ngược lại học vấn cũng gây mâu thuẫn khi đồng lương chênh lệch nhau. Ví dụ như lương của mẹ chồng thấp hơn của con dâu mà lại sống chung trong một gia đình, mức đóng góp vào

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 7
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    trong sinh hoạ t cũng khác nên họ mâu thuẫn với nhau. Nhất là khi hoàn cảnh gia đình nghèo thì càng nả y sinh mâu thuẫ n,căng thẳ ng. Nhưng cũng có khi mâu thuẫn xảy ra là vì ngườ i mẹ chồ ng cư xử không công bằ ng về kinh tế vớ i các con, chỉ đem tiền cho con gái mà không để ý tới vợ chồng con trai, khiến nàng dâu thấy bất bình.

    Ví dụ: Bước chân về làm dâu, Vân (Hoàn Kiếm, Hà Nội) đã biết ngoài ngôi nhà đang ở, Tú_ chồng cô còn đứng tên một mảnh đất khác ở vùng ngoại ô. Bố chồng mất sớm, cô em chồng cũng đã yên bề gia thất nên trong nhà chỉ còn vợ chồng Vân sống chung với mẹ chồng.

    Do làm ăn thua lỗ nên cô em dâu và mẹ chồng ngấm ngầm bán đất. Mẹ chồng Vân đưa lại cho con trai ¼ số tiền bán đất được mà không nói với con dâu nửa lời. Vân cảm thấy bất mãn vì cách cư xử của mẹ chồng. Dù gì từ hồi về làm dâu, Vân luôn cố gắng chu toàn mọi chuyện bên nhà chồng. Mỗi tháng một lần vào dịp lĩnh lương, Vân không quên mua biếu mẹ chồng khi thì hộp sữa giàu canxi, lúc thì chiếc áo mới… Thế mà, mẹ chồng Vân vẫn coi con dâu như người dưng, tự quyết định bán đất mà không thèm bàn bạc với cô một câu.

    Bất mãn vì cách cư xử của mẹ chồng, lại hậm hực với anh chồng nhu nhược, Vân đưa ý kiến xin mẹ chồng để vợ chồng cô được ăn riêng. Từ giờ, Vân quyết không “phục vụ” không công cho mẹ chồng nữa vì bản thân con dâu có tốt mà không được mẹ chồng đền đáp lại thì tách riêng cho đôi bên khỏi ức chế.

    • Con dâu bất hoà với gia đình, ví dụ giữa nàng dâu với em gái của chồng, nàng dâu với em trai của chồng, hoặc với em dâu của chồng xảy ra xung đột, làm cho mẹ chồng không vui, trách tội con dâu. Hoặc là do nghe lời bàn tán, châm chọc của những người xung quanh (hàng xóm hoặc họ hàng) mẹ chồng với con dâu cũng rất dễ xảy ra xung đột.
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 8
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    3. Nhữ ng mâu thuẫn trong mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu

    Trạ ng thái quan hệ mẹ chồ ng nàng dâu phản ánh trạng thái quan hệ tổng thể của mộ t gia đình. Mẹ chồng và nàng dâu thường có sự bất hòa về:

    2.1 Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày:

    • Nhiề u việ c tưở ng chừng như nhỏ nhấ t những đó cũng chính là lý do khiến mẹ chồng nàng dâu bất hòa, ví dụ như trong chuyện ăn uống, không hợp khẩu vị hay cách thức nấu ăn khác nhau cũng khiến mẹ chồng nàng dâu xích mích. Từ xa xưa người ta đã coi phụ nữ trong nhà là người “giữ lửa”, nghĩa là người phụ nữ ấy phải biết nấu bát cơm ngon canh ngọt cho chồng, cho con. Chính bữa ăn ấy là nơi

    cả nhà đoàn tụ, quây quần, chia sẻ với nhau sau một ngày làm việc, học tập vất vả.

    Nhịp sống hiện đại, những công việc xã hội bận bịu kéo theo hệ quả là nhiều nàng dâu trẻ không biết hoặc không muốn vào bếp – lí do cơ bản dẫn đến xung đột với mẹ chồng.

    • Không chỉ ăn uống mà nhiều bà mẹ chồng còn xét nét con dâu từ cách ăn mặc đến ứng xử lối sống. Nhiều bà mẹ than phiền con dâu của mình ăn mặc “Tây quá!”, có khi là nói bóng gió trước mặt con dâu. Tuy nhiên cũng có trường hợp cô con dâu quá hiện đại, phóng khoáng, vô tư, nhiều khi thành vô ý tứ khiến không chỉ mẹ chồng mà mọi người xung quanh cũng thấy khó chịu.
    • Trong sự lựa chọn vui chơi giải trí của mẹ chồng nàng dâu cũng khác biệt

    nhau rõ rang, ví dụ như con dâu trẻ thích hát karaoke, nghe nhạc trẻ sôi động còn mẹ chồng chỉ thích tuồng chèo, cải lương. Việc bắt đối phương phải thay đổi sở thích, quan điểm theo người kia là rất khó khăn, chính vì thế mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 9
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Ví dụ: Khi con dâu mặ c váy ngắ n đi làm mẹ chồ ng lạ i có ý kiến làm con dâu khó chịu. Nhưng các nàng đau lại cho rằng phải ăn mặc hợp mốt. Chính vì cách nhìn nhận mỗi thời mỗi khác nhau nên có sự đối lập nhau.

    Hoặc là mâu thuẫn vì mẹ chồng mê tín, như: Khi chị An có mang vào năm Hợi, bà nhất định bắt chị bỏ con vì không hợp tuổi. Dĩ nhiên, chị và chồng không đồng

    • Thế là từ khi cấn bầu đến ngày sinh, chị phải chịu tiếp cảnh cúng bái trong nhà.Không chỉ vậy, bà còn cắm bốn cành dong ở bốn góc nôi của con chị, nhờ một ông thầy tay này đốt nhúm vàng mã, tay kia cầm lá bùa nhảy loi choi khắp căn phòng. Đứa trẻ khóc thét vì ngộp mùi nhang khói và ồn ào.Tức giận, chồng chị quát ầm ĩ lên và đuổi thầy ra khỏi nhà. Sau vụ đó, bà giận hai vợ chồng chị đến hơn tháng trời. Hết giận, bà lại lao vào… cúng giải hạn.Dù rất phiền lòng nhưng

    thương bà, chị cố nín nhịn cho qua. Thế nhưng, có một sự việc quả thật đã là giọt nước là tràn ly. Đứa nhỏ cảm vặt đã mấy hôm. Chiều hôm đó, vợ chồng chị xin về sớm để đưa con đi bác sĩ. Bước vào nhà, chị hoảng vía khi thấy con khóc ngằn ngặt trên tay bà. Mẹ chồng đang cố đổ nước gì đó vào miệng cháu. Chị hốt hoảng: “Mẹ cho cháu uống gì vậy?”. Bà hồ hởi: “Nước phép đó con, có pha tro và một ít đất thiêng của cô Ba. Thằng nhỏ uống vào là hết bệnh ngay”.Quá tức giận, chị giằng lấy con trên tay bà, thu dọn quần áo về nhà mẹ ruột, mặc kệ chồng năn nỉ hết lời.

    • Điều kiện nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng của mẹ chồng nàng dâu cũng cõ thể là một trong những yếu tố gây ra mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu. Con dâu đi làm về, ngày hè nóng nực, mệt mỏi chỉ muốn bật điều hòa, trong khi đó mẹ chồng vì

    tiết kiệm hoặc không thích không khí của điều hòa nên chỉ muốn mở cửa số hặc dùng quạt điện. Mỗi người một ý kiến, một sở thích, và đều có lí lẽ của riêng mình nên rất khó để dung hòa cả hai.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 10
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    2.2. Tranh dành quyền lự c và ảnh hưởng trong việc nuôi dạy con cháu:

    -Giữa những cặp vợ chồng trẻ, lần đầu có con, dễ xảy ra xung đột, song cũng dễ hàn gắn, bởi họ vừa có chung một “tài sản” vô giá. Song cuộc chiến giữa các bà mẹ chồng và con dâu mới đích thực là gian nan. Ai cũng tìm cách chứng tỏ mình giữ vai trò quan trọng đối với đứa bé.

    Bà mẹ chồng thì dựa vào kinh nghiệm nuôi trẻ còn cô con dâu ỷ vào thế sanh ra đứa trẻ và đang cập nhật các phương pháp nuôi dưỡng trẻ hiện đại.

    Có vẻ như mâu thuẫn này là tất-lẽ-dĩ-ngẫu vì cứ theo Triết học mà nói, có sở hữu cá nhân là ắt nảy sinh mâu thuẫn. “Hòa bình” có vẻ như rất quý hiếm khi hai người cùng “sở hữu” một tài sản, nhất là khi chủ sở hữu lại là… hai người đàn bà.

    Nếu như câu cửa miệng của “chủ sở hữu 1” là: “Ngày xưa, mẹ toàn thế này, thế kia, có sao đâu…”, thì “chủ sở hữu 2” lại “bật”: “Bây giờ khác rồi, khoa học hiện đại thế này, thế kia…” .

    Ví dụ: Từ hồi về làm dâu đến khi chưa sinh con, chị Quỳnh Hoa (Khu TT Thanh Xuân Bắc, Hà Nội) với mẹ chồng rất hoà hợp. Nhưng từ khi bé Kitty ra đời, mẹ chồng nàng dâu thành ra lục đục. Chung quy cũng chỉ vì quan điểm nuôi dưỡng trẻ.

    Bà vì có kinh nghiệm nên rất tin vào cách nuôi con của mình, còn chị, với trình độ sau đại học chị cũng tin vào những kiến thức tiên tiến mình “update” được. Vậy là cuộc chiến giữa hai thế hệ xoay quanh một cục cưng bắt đầu.

    Thoạt đầu là việc hễ cháu khóc là bà dỗ bằng cách bật tivi, bật đĩa. Con bé dần dà nghiện, im bặt. Chị Hoa sợ hại mắt con góp ý với bà, lại mang cả sách ra đọc cho mẹ chồng nghe. Ai dè, bà nổi đóa rồi hờn mát, nói xa nói gần chuyện nàng dâu nhiều chữ về bắt bẻ mẹ chồng.

    Việc cho bé ngủ cũng không đơn giản. Trẻ con cần ngủ rất nhiều, nhưng bà lại chẳng quan trọng đến việc nó ngủ. Hôm nào bà cũng thức đến 12h lướt đủ các

           
    Nhóm sinh viên:  K53 Công tác xã hội  
    Khoa :  Xã hội  học Page 11

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    kênh, đến khi cô phát thanh viên chúc ngủ ngon, bà mới chịu cho nhà đài nghỉ và cũng mớ i cho cháu ngủ. Chị Hoa xót con thì bà gắt: “Nó muốn ngủ bao nhiêu nó ngủ, không việc gì phải lo. Trẻ buồ n ngủ, khắc ngủ, không nên ép”.

    Chưa kể đến chuyệ n chị Hoa quán triệ t quan điể m là không bế con nhiều kể cả lúc đi ngủ, cho bé quen, nhưng bà nộ i thì lúc nào cũng khư khư bế cháu. Nói ra thì bà trách là không muố n cho bà bế cháu. Kinh nhấ t là trong vố n kiến thức của bà luôn có cả mớ những bài thuốc dân gian, mỗ i lần cháu ốm là bà lập tức ra tay.Cháu mọc răng, số t, đau bụng, đi ngoài, viêm họng… là bà bôi, giã, đắ p hết lá nọ, lá kia. Bà nhấ t đị nh không cho cháu uống kháng sinh vớ i lý do sẽ cọ c ngườ i đi, không lớn được. Trong khi nàng dâu như ngồi đống lửa vì muốn cho con đi khám để xem bệnh tình thế nào cho an tâm. Có những bài thuốc của các bà khiến y học bó tay, nhưng với bà vẫn đúng vì bà “đã nuôi thằng bố nó khỏe mạnh, lực lưỡng đấy thôi”!

    -Một tâm lý bình thường của người phụ nữ sau sinh là hay cáu gắt và khó nhẫn nhịn. Chính vì vậy, những bất đồng giữa mẹ chồng và con dâu về mọi việc, đặc biệt là trong phương pháp chăm sóc trẻ, hơn thế nếu lại không có được sự hậu thuẫn cũng như cảm thông của chồng thì rất dễ xảy ra những hệ lụy không tốt đẹp.

    • Khoảng cách thế hệ là một trong những nguyên do dẫn đến những xung khắc này. Mẹ chồng thường dựa vào kinh nghiệm bản thân, theo truyền thống để chăm cháu, còn nàng dâu lại muốn vận dụng kiến thức khoa học trong cách nuôi dạy con. Có bà mẹ chồng cứ bắt hai mẹ con mới sinh nằm trên lò than cho ấm, nhất quyết không nghe con dâu giải thích khí carbon có thể gây độc hại cho trẻ và mẹ bé còn yếu

    Bên cạnh đó, cùng là phụ nữ và luôn muốn được giữ vai trò là người chủ gia đình, cả mẹ chồng và nàng dâu đều muốn mình có “tiếng nói” trong việc nuôi dạy

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 12
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    con cháu. Nhưng nhiề u khi, hai tiếng nói ấ y lạ i không thố ng nhấ t, thậm chí mâu thuẫn ra mặt với nhau. Và khi ấy đứa trẻ sẽ không định hướng được thế nào là đúng, là sai.

    Ví dụ: Chị Quách Thu Nga (Bán hàng, 42 tuổi):

    Vợ chồng tôi đã 3 lần viết đơn li dị, không phải vì chồng tôi có bồ hay tôi không đảm đang, xấu xí, mà tất cả là do… mẹ chồng tôi. Ai đời con tôi đứt ruột đẻ ra mà bà hiển nhiên coi đó là tài sản riêng của mình. Việc ăn, ngủ, học hành của cháu bà giành quản lí hết.

    Bà thương cháu là điều đáng mừng, nhưng tôi không an tâm về cách giáo dục của bà. Con tôi thích bất cứ cái gì bà cũng chiều. Cơm dọn ra nó kêu thức ăn chán bà vội vàng mang tô đi mua phở. Tối ngồi vào bàn học nó kêu ồn ào, bà bắt cả nhà “nhịn” xem ti vi cho cháu tập trung. Thậm chí bà còn có “tài khoản riêng” để cháu chơi điện tử!

    Nhiều lúc không chịu được, tôi góp ý với bà thì bà nổi cáu, thế là không xảy ra “chiến tranh nóng” cũng có “chiến tranh lạnh”. Dĩ nhiên, sau đó chồng tôi được nghe rất nhiều điều xấu về tôi. Chồng tôi là người tốt, nhưng lại sợ mẹ. Hậu quả là chúng tôi suốt ngày dọa đưa nhau ra tòa. Đến nay thì “bộ sưu tập” đơn li dị đã lên đến con số 3

    • Ngày nay, nhiều bậc cha mẹ do bận công tác xã hội hay mải bươn chải làm ăn mà đành phải gửi con về quê cho ông bà “nuôi hộ”, hoặc “khoán trắng” việc

    chăm sóc, dạy dỗ con cho ông bà. Từ đó, hình thành nên tình trạng giáo dục cách thế hệ. Phương thức giáo dục gia đình này thường ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành nhân cách của trẻ, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 13
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    2.3. Quan điểm giá trị củ a mỗi cá nhân:

    • Sự cách biệt về thói quen sinh hoạ t, hai môi trườ ng khác nhau, thờ i đại khác nhau, bố i cả nh cuộc số ng khác nhau,khi hai thế hệ sống chung vớ i nhau sẽ s ảy ra những mâu thuẫn trong các vấn đề về quan niệ m ăn uố ng, nghỉ ngơ i, vui chơ i giải trí…
    • Trong vấn đề ăn uố ng: khi cùng nhau ngồ i cùng mộ t mâm thì sẽ sinh ra vấn đề. Cả hai lớ p ngườ i đều muốn cả i biến đố i phươ ng, dẫ n đến quan hệ mẹ chồng

    nàng dâu trở nên căng thẳng: mẹ chồng và con dâu không hợp khẩu vị, con dâu nấu ăn không ngon, quan ni ệm v ề chất dinh d ưỡng trong mỗi bữa ăn của mỗi người khác nhau, không thống nhất…

    +Trong vấn đề sinh con và nuôi dạy con cái:có sự sai biệt về sinh con đẻ cái và việc quản lý giáo dục con cái. Mẹ chồng nào cũng muốn sớm có cháu để bế, nếu con dâu về nhà chồng một thời gian dài mà không đẻ, hoặc là mẹ chồng có quan miệm rất nặng nề về trọng nam khinh nữ, mà con dâu lại sinh con gái, thì mẹ chồng khó tránh khỏi có chuyện.. Còn yêu cầu về mặt quản lý giáo dục con cái, mẹ chồng không mạnh mẽ và nghiêm khắc như con dâu, do đó mà về phương diện giáo dục nuôi dưỡng con cái, giữa mẹ chồng nàng dâu rất dễ nảy sinh những ý kiến khác nhau: Mẹ chồng thường nuông chiều cháu, nhiều khi lại kể tội mẹ nó. Còn con dâu thường qu ản lý con mình khắt khe hơn, không nuông chiều như mẹ chồng vì nghĩ nuông chiều sẽ làm con thêm hư, hay bắt con cái mình học thêm nhiều môn học ngoài giờ…

    + Trong vấn đề đối nhân xử thế:( quan hệ họ hàng, làng xóm, công việc..):

    – Quan hệ họ hàng ruộ t thịt, hàng xóm: mẹ chồng luôn mong muốn con dâu đối xử tốt với những người trong họ hàng gia đình bên ch ồng, luôn có những đòi hỏi khắt khe và mong muốn con dâu mình sẽ thực hiện và thực hiện tốt. Người con dâu làm tròn bổn phận và đối nhân xử thế cho h p lý nhưng vẫn bị trách m óc,

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 14
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    chỉ trích, soi x ét, tạ o ra áp lực lớn cho họ. Con dâu bấ t hoà vớ i gia đình, ví dụ giữa nàng dâu vớ i em gái của chồ ng, nàng dâu với em trai của chồng, hoặc với em dâu của chồng xả y ra xung độ t, làm cho mẹ chồng không vui, trách tội con dâu…

    • Trong công việ c: mẹ chồng luôn muốn con dâu chăm lo cho gia đình mình được chu đáo do vậy họ luôn có tư t ưởng muốn con d âu c ủa m ình ngh ỉ việc ở cơ quan về nh à làm nội trợ vừa giúp gia đình, vừa nuôi dạy con cái được tốt hơn. Con dâu muốn khẳng định vị thế của mình trong xã h ôi trong công việc nên hăng say làm việc có thể bỏ quên gia đình…

    2.4 Trong lĩnh vực kinh tế:

    Sự tranh chấp về quyền lực, nói chung tiêu điểm tranh chấp của vấn đề mẹ chồng nàng dâu thường là quyền quyết sách và quyền kinh tế của gia đình:

    • Vì công sức đóng góp cho gia đình hoặc sự thống nhất của các thành viên trong gia đình mà vị trí người mẹ luôn được đề cao và ủng hộ. Người mẹ luôn thấy được “chủ quyền” của mình trong nhà nói chung và với cậu con trai yêu quý

    nói riêng sau bao năm chăm bẵm và kỳ vọng của mình.Nhưng sau khi đã có con dâu, tình hình đã thay đổi, vai diễn ấy đã bị con dâu thay thế, quyền lực bị tước mất, địa vị cũng bị thay đổi. Mẹ chồng sinh ra bất mãn, không có cách nào thích ứng được với sự chuyển biến này. Đối với mẹ chồng: “Chủ quyền” tầm ảnh hưởng và tình cảm với người con trai bị san sẻ. Các quyết định trong ăn uống, sinh hoạt… của gia đình sẽ không còn được các thành viên trong gia đình nhất nhất ủng hộ như trước. Và người mẹ sẽ cảm thấy cần phải thể hiện, khẳng định hoặc tìm cách để giữ được vị thế của mình trong gia đình. Khi không được như ý sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Quá khứ là của mẹ chồng còn hiện tại và tương lai là của mình. Mong muốn ban đầu là ít nhất giữ được “chủ quyền” và ảnh hưởng đối với người chồng. Sau nữa là với con mình khi sinh ra. Do sống lâu với mẹ đẻ, được chăm sóc chiều chuộng vô điều kiện nên trong thâm tâm khi về làm dâu cũng đòi hỏi ở mẹ

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 15
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    chồng như vậy. Mặt khác do đời sống hiện đại khi tự chủ được về kinh tế con dâu cũng đủ tự tin để tự quyết định nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống riêng của mình. Khi không được như ý sẽ nảy sinh mâu thuẫn.

    • Lợi ích kinh tế, về mặt tiền nong, mẹ chồng thường đóng vai trò là người ban phát; con dâu đóng vai trò tiếp nhận. Phía tiếp nhận thì cho rằng tiền chi không đủ, chê là cho không công bằng. Giữa mẹ chồng nàng dâu nếu lấy tiền tài làm sợi dây níu kéo, thì gia đình sẽ biến thành thị trường, quan hệ mẹ chồng nàng dâu sẽ vĩnh viễn lắc lư trên cái cân mua bán.Ngược lại, nếu con dâu làm ra nhiều tiền của, giữ vai trò là người ban phát có thể khinh rẻ mẹ chồng, cho rằng họ ăn bám không làm ra tiền.

    Chuyện mẹ chồng, nàng dâu xung quanh chuyện tiêu tiền giống như nghìn lẻ một chuyện… vụn vặt. Nhưng từ những vụn vặt ấy là mầm mống ung nhọt của gia đình. Không dễ bằng đôi ba câu khuyên giải là ổn. Có một người, hình như cũng nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống gia đình với vô vàn những chuyện… vụn vặt không đâu đã tìm đến một con đường ngắn nhất.

    Ngay cả khi mâu thuẫn đã tích tụ thành ung nhọt lớn, cảnh báo một nguy cơ đổ vỡ, vẫn có thể cứu vãn được bằng sự cởi mở và thiện chí. Lời nhà tư vấn gia đình khuyên, có lẽ là chí lý. Tôi chỉ xin được góp thêm một ý nho nhỏ: Các cụ ta đã dạy, “Nhập gia tùy tục”. Khi mẹ chồng vốn tằn tiện, chi tiêu có cân nhắc thì cô con dâu dù có khấm khát tiền nong đến đâu cũng phải ý tứ một chút.

    Không hẳn chỉ bận tâm tiêu tiền đó cho ai, nhằm mục đích gì, mà phải quan tâm đến mức độ mình tiêu tiền để người khác khỏi xót, dù không phải tiền của mình, khỏi tủi thân vì một đời tằn tiện, khỏi tức tối vì thấy ỷ nhiều tiền mà phung phí, khinh khi thiên hạ. Đồng tiền đem lại nhiều lợi ích lắm, ai cũng rõ, nhưng quá vô tư trong chi tiêu, đôi khi cũng gặp nhiều phiền lụy.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 16
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    4. Hướng giải quyết

    Xử lý mố i quan hệ mẹ chồ ng – nàng dâu tố t hay xấu, có ý nghĩa đặc biệt với quan hệ gia đình. Bở i vì trong các gia đình hiện đại, vai trò của phụ nữ nặng hơn nam giớ i nhiều, thu nhậ p của phụ nữ đủ để nuôi số ng bả n thân họ, hoặc ngang bằng, có khi còn hơn của nam giới.

    Nhưng có rấ t nhiều quan hệ có liên quan đến gia đình, mà đa phần là quan hệ đến giớ i nữ chứ không phả i vớ i giớ i nam. Cho nên trạ ng thái quan hệ mẹ chồng nàng dâu phả n ánh trạ ng thái quan hệ tổ ng thể của một gia đình. Nguyên tắ c xử lý mố i quan hệ mẹ chồng nàng dâu, kỳ thực chính là nguyên tắc xử lý mố i quan hệ gia đình. Do vậy ở mỗi người cần có những thái độ hợp lý để giải quyết mâu thuẩn:

    4.1 Đố i vớ i nàng dâu cần làm gì?

    • Có một điểm quan trọng nhất là phải hiếu kính mẹ chồng, phải coi trọng sự tồn tại của mẹ chồng và giá trị địa vị của bà.
    • Phải sống chan hoà với em gái của chồng, phải hoà mình vào gia đình nhà

    chồng.

    • Phải trau dồi hứng thú và sở thích giống như mẹ chồng.
    • Nếu có sai lầm thì phải dũng cảm thừa nhận và phải phục tùng, phải nhẫn

    nhịn.

    • Phải quan tâm đến sức khoẻ mẹ chồng, phải biết phương thức tính cách, hứng thú, sinh hoạt của mẹ chồng, không thể ép mẹ chồng thay đổi thói quen đã nhiều năm.
    • Nếu mẹ chồng có quá nuông chiều cháu, thì nên khéo léo dùng lời khuyên ngăn, không được dùng lời ác độc để cãi lại mẹ chồng, làm phương hại đến tình
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 17
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    cả m toàn gia đình. Phả i biết sống yên ổ n, giữ gìn kỷ cươ ng, cần cù tiế t kiệm, thường xuyên xin ý kiến mẹ chồ ng về công việc gia đình.

    • Về lợi ích kinh tế không nên đòi hỏi sự công bằng, cũng không nên so đo kỳ kèo. Nếu quyền kinh tế ở trong tay bạn thì đừng quên hàng tháng biếu mẹ tiền tiêu vặt.
    • Không nên chỉ mua quần áo mới cho mình, cũng cần làm đẹp cho mẹ chồng, phải biết giữ thể diện cho mẹ chồng, đó cũng là điều vẻ vang của con dâu.
    • Ðôi khi cũng phải để cho mọi người được thưởng thức những khẩu vị mới, nhưng không nên bắt cả gia đình phải ăn theo khẩu vị của mình.
    • Phải biết lo liệu công việc gia đình, không thể không làm gì, cũng không thể tự tiện làm tất cả mà phải nghĩ đến mẹ chồng. Không để cho mẹ chồng cảm thấy phải gánh vác nhiều quá hoặc cảm thấy không có đất dụng võ, phải tôn trọng bà mẹ chồng có kinh nghiệm phong phú.
    • Phải giữ thái độ lễ phép với mẹ chồng, phải ca ngợi mẹ chồng đúng nơi, đúng lúc, phải quan tâm đến mẹ chồng và phải vui vẻ tiếp thu sự giúp đỡ có thiện chí của mẹ chồng.
    • Không nên nói nhiều đến chuyện nhà mẹ mình, đặc biệt là không nên luôn luôn gửi tiền về nhà mẹ đẻ.
    • Vợ chồng không nên quá thân mật trước mặt mẹ chồng, nhất là mẹ chồng đã goá bụa, rất dễ gặp cảnh sinh tình, sinh ra ý ghen tuông, do đó mà không ngăn được căm ghét nàng dâu.
    • Không được cãi cọ với chồng trước mặt mẹ chồng.
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 18
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    4.2 Đố i vớ i mẹ chồng:

    Mẹ chồ ng vớ i tư cách là mộ t ngườ i mẹ mẫ u mực để con cháu noi theo. Cần có thái độ hợp lý để giữ mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu không quá căng thẳng để tạo mối hòa hợp trong gia đình.

    4.3 Đố i vớ i ngườ i đàn ông cần làm gì?

    Cụ thể, khi mẹ chồng và nàng dâu có mâu thuẫn thì các anh nên :

    Trước hết, các anh cần tránh im lặng bởi im lặng chỉ khiến mâu thuẫn thêm căng thẳng. Sự im lặng của các anh lúc này sẽ thể hiện thái độ vô trách nhiệm hoặc bất lực của mình trước xung đột gia đình đồng thời khiến mẹ và vợ thấy khó chịu.

    Thứ hai, không giữ im lặng không có nghĩa các anh phải chọn cách bênh mẹ hoặc bênh vợ. Cần tránh thiên về một bên nào hay đứng hẳn về một phía nào. Việc bênh người này hơn sẽ khiến người còn lại thấy bị tổn thương, bị bỏ rơi và sinh ác cảm với nhau hơn.

    Nhiều anh có người chủ trương phải bênh mẹ vì mẹ chỉ có một mà vợ thì có thể mất người này, lấy người khác. Những người này vì bênh mẹ mà sẵn sàng trách mắng vợ bất kể mẹ sai hay đúng. Như thế là không nên bởi vì vợ chính là mẹ của các con mình, người sẽ vai trò và tác động lớn đến sự khôn lớn của các con anh.

    Thứ ba, thay vào đó, các anh hãy trở thành cầu nối giữa mẹ và vợ để hóa giải mâu thuẫn giữa hai người phụ nữ này. Và thật ra, cũng chỉ có các anh mới là người có thể hóa giải mâu thuẫn đó mà thôi. Chính cách xử sự của người chồng sẽ quyết định mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu được cải thiện hay tiếp tục xuống dốc.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 19
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Vì thế , hãy thậ t khách quan và công bằ ng. Các anh phả i có quan điểm riêng và phả i biết phân biệ t đúng, sai. Những điều đó sẽ khiến cả hai càng thêm quý trọng và nể phục các anh. Cũng vì thế mà họ sẽ nhường nhịn và cả m thông với nhau hơn.

    Thứ tư, hãy họ c cách lắng nghe. Phụ nữ có nhu cầ u tâm sự rấ t lớn. Khi mẹ và vợ có mâu thuẫn và họ tìm đến anh để tâm sự, các anh nên cố gắng lắng nghe cả hai.

    Khi mẹ tâm sự, thật ra bà cũng chỉ muốn các anh biết “dạy vợ” và phải chia sẻ tình cảm cho bà nhiều hơn cho vợ. Vì thế, để mẹ vui lòng, các anh hãy nói với mẹ đại ý là con sẽ bảo lại vợ con.

    Còn với vợ, khi họ kể cho các anh nghe những mâu thuẫn với vợ, không hẳn là họ muốn các anh phải bênh họ đâu mà đôi khi chỉ để xả, để giải tỏa và tìm sự thông cảm, sẻ chia. Những lời an ủi, động viên của các anh sẽ khiến họ cảm thấy đỡ buồn hơn rất nhiều.

    Hãy cư xử khéo léo để làm sao cả mẹ và vợ đều thấy các anh tôn trọng họ và yêu thương họ.

    Đồng thời, sự lắng nghe sẽ giúp các anh có dầy đủ thông tin hai chiều để phân tích và có cách giải quyết hợp tình, hợp lý.

    Thứ năm, khi đã nghe mẹ và vợ tâm sự, các anh hãy suy xét thật kỹ để tìm ra nguyên nhân và biết được ai đúng ai sai để có cách giải quyết hợp lý. Đừng vì bênh mẹ mà bất chấp sai trái mắng mỏ vợ, cũng không nên vì bênh vợ mà có những lời không hay với mẹ. Vì như thế chỉ như đổ thêm dầu vào lửa.

    Thứ sáu, trong trường hợp mẹ và vợ đôi co trực tiếp thì người chồng nên đứa giữa không nghiêng bên nào mà cố gắng tìm cách xoa dịu mâu thuẫn lúc đó như tìm

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 20
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    cách để mẹ và vợ tách nhau ra, đi đâu đó một lúc, rồi khi không có mẹ, bạn hãy dạy bảo vợ, còn khi không có vợ, bạn hãy lựa lời để khuyên mẹ.

    IV. Kế t luận

    Dù ở thời đại nào gia đình cũng phải có nền tảng nguồn cội của nó, có lễ nghĩa, phép tắc và tôn ti trật tự, nề nếp gia phong đàng hoàng, kể cả cách đối nhân xử thế, giữa cha mẹ, con cái trong gia đình. Người phụ nữ là người giữ lửa trong gia đình. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu hòa thuân thì gia đình êm ấm, mẹ chồng – nàng dâu mâu thuẫn dẫn đến xung đột, cãi vã, đôi khi làm hạnh phúc gia đình tan vỡ. Vì vậy mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu không chỉ là vấn đề trong gia đình mà còn là vấn đề xã hội. Việc mẹ chồng đối xử cay nghiệt với nàng dâu và nàng dâu luôn đối phó với mẹ chồng không thể tồn tạ mãi và thưc tế đang có những thay đổi theo bước phát triển, nhịp sống văn minh của xã hội, ở đất nước ta.

    NGUỒ N TÀI LIỆ U THAM KHẢO:  
       
       
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 21
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    1. Gia đình họ c, Đặ ng Cảnh Khang – Lê Thị Quý, Nhà xuấ t bản Chính trị – Hành chính.
    1. Bài giả ng môn Gia đình học
    1. vn
    1. net
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 22
    Khoa : Xã hội học

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận toán cao cấp C2


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Vi%E1%BB%87c-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-FDI-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    1         VIỆC SỬ DỤNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM

    1.1       MỞ ĐẦU

    1.1.1     NỘI DUNG

    1.2       Vai trò của FDI đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam

    • FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

    Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước. Trong đó, vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI. Đối với các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển, thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn thì FDI lại càng đặc biệt quan trọng. FDI cung cấp một lượng vốn cần thiết cho nền kinh tế, thúc đẩy các nước này đầu tư để phát triển, hay nói cách khác, nguồn vốn FDI góp phần tạo ra “một cú huých lớn”, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp các nước nghèo và các nước đang phát triển thoát khỏi “vòng đói nghèo luẩn quẩn” .

    • FDI giúp tạo việc làm, cải thiện nguồn nhân lực

    Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là hai nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư, làm cho số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ở các nước này ngày càng tăng nhanh. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân ở những nước được đầu tư này.

    FDI cũng có tác động tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực của nước được đầu tư thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Các cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng. Thông qua các tác động kể trên, chất lượng nguồn nhân lực ỏ những nươc nhận đầu tư càng tăng lên đáng kể, thậm chí còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.

    • FDI góp phần chuyển giao và phát triển công nghệ

    Công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.

    Chính vì vậy, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) lại càng được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Bởi vì các cơ sở vật chất, kĩ thuật công nghệ của các doanh nghiệp FDI cuối cùng cũng sẽ được chuyển giao lại cho nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, khả năng phát triển công nghệ còn phụ thuộc vào quá trình chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà.

    Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện bởi các các công ty xuyên quốc gia( TNC), dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủ nhà thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như  tiến bộ công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing.

    Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các TNC còn góp phần làm tăng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà. Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh), các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ  công nghệ nguồn, sau đó cải tiến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển.

    • FDI giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu

    Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh các yếu tố sản xuất của nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Thực tế hiện nay, các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế. Do đó, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này. Thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC có vị thế và uy tín trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế thực hiện. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích thông qua việc sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất và thực hiện chuyên môn hóa sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.

    • FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó, các quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho FDI hoạt động. Ngược lại, chính FDI cũng lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề mới; nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển năng suất lao động ở nhiều ngành kinh tế. Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xóa.

    1.2.1     Hạn chế của việc sử dụng vốn FDI

    Thứ nhất, thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn FDI chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những mặt hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước.

    Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra. Do đó, hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà, ba tiền thóc”.

    Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.

    Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI, nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. Đặc biệt, các dự án xây dựng sân golf ở đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.

    1.2.2     Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI

    • Số vốn FDI đăng kí

    (Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Năm 2006 cả nước thu hút được 10,2 tỷ USD vốn đăng ký.

    Năm 2007 tăng lên 20,3 tỷ USD. Tăng 100% so với năm 2006 với 1406 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2008 đạt kỷ lục trên 64 tỷ USD, tăng trên 5 lần so với năm 2006 với 1171 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2009, ước đạt 21,48 tỷ USD bằng 1/3 so với năm 2007.

    Trong quí 1 năm 2010 vốn đăng ký là 2,139 tỷ USD, bằng 29% so với cùng kỳ năm 2009.

    • Cơ cấu FDI trong nền kinh tế
    1. Theo khu vực kinh tế

    Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 56,7%,

    Khu vực dịch vụ chiếm 41,8%,

    Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm 1,2% tổng vốn đăng ký.

    Dựa vào số liệu trên, ta nhận thấy có sự phân hóa nguồn vốn FDI ở các khu vực kinh tế. Nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; trong khi ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỷ lệ vốn đầu tư FDI rất thấp.

    Ngoài ra, ta cũng có thể nhận thấy hiện trạng sau đây: Luồng vốn FDI vẫn tiếp tục chảy vào lĩnh vực bất động sản và du lịch. Đây là lĩnh vực chiếm rất nhiều diện tích trong đó có cả diện tích đất nông nghiệp có giá trị tăng cao vì nằm ở những khu đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung, khu du lịch. Trong các dự án đầu tư vào bất động sản, nguồn vốn thực các doanh nghiệp đầu tư vào chỉ khoảng 15% đến 20%, còn lại chủ yếu là vay của các ngân hàng thương mại và huy động từ khách hàng. Thế nhưng kiểu kinh doanh này lại đem lại lợi nhuận rất cao, làm xuất hiện tình trạng một lượng lớn vốn FDI đổ vào các dự án bất động sản có thể phá vỡ quy hoạch phát triển trong lĩnh vực này và dẫn đến nhiều hệ lụy. Riêng trong năm 2008, ước tính khoảng 30% tổng vốn đầu tư đã thực hiện nằm trong ngành bất động sản và khách sạn, so với 13% đầu tư vào ngành công nghiệp nhẹ và 3% trong ngành nông nghiệp và thực phẩm. Đến năm 2009 con số FDI đầu tư vào bất động sản đã tăng lên 40%. Những khu vực này không tạo được nhiều việc làm và có xu hướng thâm dụng nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thanh toán. Thực trạng này dẫn tới hệ lụy là lạm phát, thất nghiệp đã tác động trực tiếp đến chi phí sinh hoạt và tiền lương thực tế.

    1. Theo địa phương

    Cơ cấu FDI theo vùng có sự chuyển dịch tích cực. Ngoài hai vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, nguồn vốn FDI thời gian gần đây đã dịch chuyển đáng kể sang một số điạ bàn khác thuộc các tỉnh Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long như Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Phú Yên, Kiên Giang…  là những địa bàn gặp nhiều khó khăn hơn.

    • Thực trạng thu hút đầu tư hiện nay
    • Về công tác quy hoạch:

    Nhiều địa phương cấp phép tràn lan, khai tăng vốn đăng ký của dự án để có thành tích, dẫn đến việc cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng của thị trường, gây lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp ( đơn cử như trường hợp cấp phép các dự án sản xuất thép, sân Golf, dự án cảng biển…). Các ưu đãi quá mức về thuế (đã biến tướng để tránh các quy định của Nhà nước về thuế), đất đai, lao động… được nhiều tỉnh  tự ý “phá rào” đưa ra làm thiệt hại quyền lợi đất nước.

    Hiện nay, một số địa phương chạy đua thu hút vốn đầu tư dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Các địa phương này tìm mọi cách để thu hút FDI; họ thực hiện những ưu đãi quá mức cần thiết làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh thái, du lịch vô giá của đất nước có thể bị bán rẻ. Hệ quả là phần lợi nhuận mang lại cho Việt Nam từ FDI không tương xứng với giá trị của nguồn tài nguyên vĩnh viễn bị mất đi. Mặt khác, một số dự án đầu tư không được kiểm duyệt kĩ dẫn đến hậu quả là không những chất lượng dự án không cao, không tạo ra được nhiều việc làm và giá trị xuất khẩu mà thậm chí còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    Trong khi dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam thì số việc làm được tạo ra vẫn có tăng, song chủ yếu lại là lao động rẻ mạt, không có kỹ năng. Theo điều tra năm 2007, các công ty nước ngoài đầu tư ở Việt Nam nhận cả những công nhân mù chữ và đã mở các lớp “xóa mù” chỉ để đảm bảo công nhân có thể đọc được các thông báo an toàn và những chỉ dẫn cơ bản. Về danh nghĩa, các doanh nghiệp FDI được tiếng là thu hút nhiều lao động nhưng thực chất hiện nay các doanh nghiệp này đang tìm cách khai thác triệt để nguồn lao động rẻ tiền, “vắt kiệt” mồ hôi của công nhân mà không quan tâm đào tạo trình độ và kỹ năng cho họ. Trên thực tế, mặc dù khu FDI thu hút 1,7 triệu lao độngnhưng đều là những lao động không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn ngày. Một điểm bất cập khác là dòng vốn đầu tư nước ngoài hầu như chỉ rót vào những ngành có công nghệ tương đối thấp, nặng về lắp ráp, gia công mà một số doanh nghiệp thực chất là các phân xưởng của công ty mẹ bên nước ngoài.

    • Về vấn đề đất đai và công tác giải phóng mặt bằng:

    Công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục. Nhiều địa phương đang lâm vào tình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp phép đầu tư. Việc thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay.

    Vấn đề quy mô vốn và diện tích sử dụng đối với một số dự án FDI quy mô lớn cũng đang là vấn đề đặt ra cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Việc khai tăng nhu cầu sử dụng đất sẽ tạo ra áp lực lớn cho nhà nước về tài chính cũng như các vấn đề xã hội trong quá trình giải phóng mặt bằng khu vực dự án, đồng thời cũng gây lãng phí nguồn lực về đất đai của quốc gia vốn ngày càng hạn hẹp. Không nên chia bãi biển cho các dự án quá nhỏ, manh mún (như ở “thành phố resort” Phan Thiết), cũng không nên tạo đặc quyền cho các dự án quá lớn, trải khắp một bãi biển rộng (như đoạn đường từ Đà Nẵng đi Cửa Đại, Hội An), vì như vậy sẽ làm cho các dự án nhỏ không đủ quy mô để phát huy lợi thế về thiên nhiên của địa phương và hiệu quả không cao, còn các dự án lớn thì tạo nguy cơ chiếm dụng đất trong tương lai, khi các bãi biển của chúng ta trở thành những khu du lịch có sức hút, những mảnh đất hiện tại được cấp với giá thấp sau này sẽ biến những người chủ sở hữu trở thành những kẻ thống trị những bãi biển giàu có đó.

    • Về xúc tiến đầu tư:

    Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực.

    • Thực trạng thực hiện vốn FDI
    1. Số vốn FDI thực hiện

    Vốn thực hiện của các dự án cũng có sự tăng trưởng đáng kể:

    • Năm 2006 là 4,1 tỷ USD
    • Năm 2007 đạt 8 tỷ USD
    • Năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD,( gấp gần 3 lần năm 2006 va đạt mức cao nhất trong hơn 20 năm qua)
    • Năm 2009 ước đạt 10 tỷ USD số vốn này chỉ giảm khoảng trên 10% so với năm 2008. Đây là kết quả đáng khích lệ trong điều kiện vốn FDI quốc tế giảm nhiều và FDI của nhiều nước trong khu vực giảm 20-30%. Thực trạng này phản ánh độ tin cậy khá cao của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam, và với triển vọng tình hình kinh tế – xã hội năm 2010 được dự báo khá lạc quan có thể hy vọng FDI sẽ lại khởi sắc mạnh mẽ tại Việt Nam.

    Tuy nhiên tốc độ giải ngân vốn vay còn rất thấp: Tỷ lệ giải ngân so với vốn đăng ký của năm 2006 là 46,6%, năm 2007 là 37,6%, năm 2008 là 17,9% năm 2009 là 46,6% . Báo cáo tình hình FDI 3 tháng đầu năm 2010 vừa được công bố cho thấy, giải ngân vốn FDI trong tháng 3/2010 đã nhảy một bước dài khi đạt kỷ lục 1,4 tỷ USD nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong quí 1 năm 2010 lên 2,5 tỷ USD.

    Tỷ lệ vốn giải ngâp thấp, theo đánh giá của các chuyên gia là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của suy giảm kinh tế Việt Nam và tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nước ta cùng với xuất nhập khẩu suy giảm, chứng khoán khó khăn.

    Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh “Tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn tiền đổ vào khiến chúng ta đang đứng trong một vòng luẩn quẩn. Ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động dẫn đến việc tăng lãi suất cho vay. Gánh nặng này đè lên vai các doanh nghiệp và họ “chia sẻ” nó sang hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ… khiến cho giá cả tăng vọt và kẻ chịu trận cuối cùng chính là người tiêu dùng”.

    1. Hiệu quả của các dự án đầu tư

    Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp có FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao và đổi mới công nghệ cho nền kinh tế. Nhưng trên thực tế, một báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm từ 2007 – 2009, đã đánh giá: “khu vực FDI kém hiệu quả nhất, hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ”. Tại sao lại như vậy?

    Có một bộ phận những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng những hình thức rất tinh vi được gọi là “chuyển giá ” để trốn thuế. Chuyện này thường xảy ra trong các công ty con đặt tại Việt Nam và công ty mẹ đặt tại nước ngoài.

    Các cuộc điều tra cũng đã cho thấy, khi nhập hàng vào gia công, các công ty con thường khai khống giá thành nguyên liệu nhập của công ty mẹ lên rất cao và khai thấp đi giá bán hàng khi xuất; kê khai giá nhập thiết bị cao chót vót để rồi hạch toán khấu hao lớn, làm tăng chi phí giá thành sản phẩm, dẫn đến việc trong sổ sách chứng từ kế toán họ triền miên khai thua lỗ.

    • Tác động đến sự phát triển kinh tế
    1. Tác động đến môi trường, tài nguyên, sinh thái

    Một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải, sự cố tràn dầu,…  trong các dự án FDI đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái trong khi các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện.

    FDI cũng ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái, sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống và  nơi cư trú của các động – thực vật hoang dã đã bị xáo trộn, phá hủy.

    Sự việc công ty Vedan phá hoại môi trường Việt Nam suốt 14 năm được lấy làm ví dụ điển hình nói về tác động của các doanh nghiệp FDI tới môi trường Việt Nam và việc quản lý của các cấp chính quyền với các dự án đầu tư . Sự vi phạm nghiêm trọng những quy chuẩn về bảo vệ môi trường của nhiều công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh hiện nay và sự làm ngơ của chính quyền địa phương đã , đang, và sẽ phá hủy những tài sản chung của xã hội chỉ để phục vụ mục đích riêng của một nhóm người thiểu số .

    “Không chỉ có Vedan, thống kê hiện nay trong số hơn 100 khu công nghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Bộ TN&MT đã, đang và sẽ tổ chức nhiều đoàn thanh tra đi khắp các địa phương, lập danh sách đen các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, có khả năng bị đóng cửa, trong đó sẽ đặc biệt chú ý đến các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, Khánh Hoà, lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy….” – Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết. Sự “đặc biệt chú ý” này có thể giải quyết được bao nhiêu phần trăm tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đang hiện hữu ở các khu công nghiệp? Và tại sao lại chỉ quan tâm đến những doanh nghiêph gây ô nhiễm “ nghiêm trọng”? Chúng ta cần phải có những biện pháp thiết thực chứ không phải là những lời nói suông như thế. Tài nguyên thiên nhiên, sinh thái của nước ta có thể bi bán rẻ cho đến khi có một biện pháp được thực hiên một cách hiệu quả để giải quyết thực trạng này, nếu không thì cái giá phải trả có thể lớn hơn rất nhiều so với lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng ngắn hạn.

    1. Tác động đến dân cư những vùng có dự án đầu tư

    Các cộng đồng dân cư nghèo ven biển buộc phải hy sinh nhà cửa, ruộng vườn để nhường chỗ cho những resort 5 sao lộng lẫy hay các sân golf thênh thang, có được đền bù thỏa đáng hay không? Thật sự là không thể không lo ngại khi hàng loạt mảnh đất đắc địa chạy dọc “mặt tiền” bờ biển Quảng Nam, Đà Nẵng đều được “cắt” để “chia lô” cho các dự án resort, sân golf, khu biệt thự có vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi các dự án đến các địa phương, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, nông dân – đối tượng đông nhất trong xã hội mà trên 83% lao động chưa qua đào tạo bị mất kế sinh nhai, khiến cho nền kinh tế phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Tình trạng thiếu việc làm khiến thu nhập và mức sống của nông dân ngày càng thấp tương đối so với mặt bằng chung của xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

    • Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án

    Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng chỉ số ICOR  của khu vực FDI rất cao,làm giảm hiệu quả dầu tư của khu vực này. Để có cái nhìn toàn diện về vấn đề nay, hãy xem xét một số ví dụ sau đây:

    Vào thời điểm cấp phép, tháng 3/2007, dự án xây dựng nhà máy thép cán nóng liên doanh trị giá 527 triệu USD của Tập đoàn ESSAR Steel, Ấn Độ (65% vốn) với Tổng Công ty Thép Việt Nam (20% vốn) và Tổng Công ty Cao su Việt Nam (15% vốn) đã hoàn chỉnh hồ sơ mời thầu để có thể khởi công vào cuối năm 2007. Đáng tiếc là việc vay vốn ngân hàng của ESSAR bị trục trặc nên dự án đã không động thổ được. Năm 2008, đối tác này đã đề nghị tạm dừng triển khai dự án để nhượng bớt phần vốn pháp định cho đối tác khác. Đến nay, tập đoàn đã phải xin rút tên ra khỏi dự án và nếu như 2 tổng công ty của Việt Nam không xoay xở được thì dĩ nhiên, dự án cũng có nguy cơ bị huỷ bỏ.

    Dự án khổng lồ gần 10 tỷ USD – khu liên hợp thép Cà Ná tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cũng sẽ bị rút giấy phép đầu tư. Đây cũng là dự án FDI có qui mô vốn lớn nhất từ trước tới nay. Dự án là “sản phẩm” liên doanh giữa Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Vinashine (30% vốn) và Tập đoàn Lion Group – Diverssifie Holding Behard (70% vốn) của Malaysia.

    Dự án liên hợp thép Tycoon – E.United ở Dung Quất, Quảng Ngãi, được cấp phép vào tháng 9/2006 với tổng vốn 1,2 tỷ USD, dự án này đã gây xôn xao dư luận và khởi động cho một chuỗi các dự án FDI “tỷ đô” ồ ạt vào Việt Nam sau đó .Thực tế, nhà máy thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy sự thay đổi như chong chóng của phía các nhà đầu tư. Ban đầu, chủ đầu tư là liên doanh giữa Tập đoàn Tycoon (Đài Loan) và Jinnan (Trung Quốc). Chỉ sau gần 1 năm, Jinnan đã rút tên khỏi dự án và thay vào đó là Công ty E-United của Đài Loan với tỷ lệ góp vốn là 90%. Tycoon chỉ còn góp 10% vốn, đồng thời, nâng vốn đăng ký đầu tư lên 3 tỷ USD.

    Mỗi dự án liên hợp thép đã chiếm ít nhất từ 1000-3000 ha đất, chưa kể diện tích cảng biển và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Khi dự án bị treo thì đồng nghĩa một diện tích đất lớn, cái mà nghìn hộ dân đã phải nhường mặt bằng, đã bị chiếm dụng trong nhiều năm, lãng phí hiệu quả kinh tế có thể thu được trên mảnh đất đó, làm lỡ mất cơ hội cho các nhà đầu tư khác đủ năng lực hơn và lỡ cả cơ hội có được lợi nhuận nếu như dự án đúng tiến độ.

    Cùng với thép, vốn FDI đổ quá nhiều vào bất động sản nằm trong tầm soi của nhiều chuyên gia kinh tế. Đây là những dự án đầu tư không lành mạnh, không có ích cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng, không chuyển giao công nghệ cao trong khi lại chiếm dụng nhiều đất đai.

    Chẳng hạn như dự án về khách sạn Lotus. Dự án có tổng vốn đầu tư là 500 triệu USD, nằm trong diện các công trình trọng điểm chào đón Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Dự án đã được cấp phép cho nhà đầu tư Riviera Corporation của Nhật Bản vào năm 2007 và nhà đầu tư này đã cam kết sẽ hoàn thành công trình vào cuối năm 2009. Thế  nhưng, tin tức trên VietNamNet cho thấy Riviera Corporation đã chính thức có văn bản xin rút tên khỏi dự án. Lý do chính vẫn là không thu xếp được tài chính.

    Cũng nằm trong mục tiêu hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội và cũng đứng trước nguy cơ đổ bể là dự án tổ hợp trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê cao 65 tầng mang tên Hanoi City Complex của nhà đầu tư Coralis, Luxembourg. Vào thời điểm được cấp phép cuối năm 2006 với tổng vốn đăng ký 114 triệu USD, tổ hợp này đã được quảng cáo hoa mỹ là toà nhà chọc trời của Hà Nội, là dự án có qui mô vốn FDI lớn nhất của Hà Nội. Nhà đầu tư đã cam kết sẽ triển khai trong 3 năm và phấn đấu hoàn thành trước năm 2010.

    Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung uơng, Bộ Kế hoạch đầu tư đã bóc tách các con số này: năm 2008, ước khoảng 70%  vốn của các dự án  FDI đều là vốn vay, trong đó, một phần không nhỏ là vay trong nước. Một trong các hệ lụy, theo phân tích của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, là số vốn FDI được công bố không phản ánh đúng đồng vốn thực mà các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.Điều nay dẫn đến khi nguồn vốn trong nước bị thiếu hụt thì các dự án cũng chỉ có cách là nằm chờ hoặc rút lui. Hậu quả để lại, tất nhiên lại là nhân dân. Đây là hệ quả của việc cấp phép dễ dãi tại các địa phương. Việc thẩm định năng lực chủ đầu tư của chính quyền cấp tỉnh rõ ràng là có vấn đề.

    Nhìn chung, tuy Việt Nam thu hút được nhiều vốn FDI nhưng sự phân bổ vốn lại không đều giữa các ngành, nghề, các thành phần kinh tế. Việc giải ngân vốn cững chưa hiệu quả, quy trình xem xét và thẩm định dự án còn nhiều bất cập. Các yếu tố trên dẫn đến kết quả là việc sử dụng vốn FDI của Việt Nam không hiệu quả.

    1.2.3     Nguyên nhân sử dụng vốn FDI không hiệu quả

    Bên cạnh những nguồn lực nội tại của ngành kinh tế, FDI giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Một câu hỏi được đặt ra là: liệu nguồn vốn này đã được sử dụng một cách hiệu quả? Theo dõi số liệu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì chúng ta dễ dàng nhận thấy lượng vốn đầu tư đã gia tăng đáng kể, với mức kỉ lục của năm 2008 hơn 64 tỉ USD. Nhưng lượng giải ngân chưa nhiều; việc sử dụng vốn chưa thực sự đạt hiệu quả.

    Ta có hai chỉ số chính để đo lường hiệu quả của đầu tư FDI: ICOR (đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp). ICOR càng cao thì càng là dấu hiệu xấu, chứng tỏ vốn đầu tư trở thành yếu tố quá quan trọng trong khi các nhân tố tăng trưởng khác lại không phát huy. Ngược lại, TFP càng cao càng là dấu hiệu tốt. Trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Vậy Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả  là thấp nhất. Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công “cũng có mang lại đổi mới công nghệ”. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). “Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ mạt, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết”.

    Đó là một thực trạng đã và đang tồn tại. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn này còn gặp nhiều khó khăn, báo điện tử Vneconomy có điểm qua  các “nút thắt” lớn trong vấn đề này:

    Thứ nhất, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa các luật chung và luật chuyên ngành. Bên cạnh đó thủ tục hành chính rườm rà, nhiêu khê là một cản trở không nhỏ. Bài “Thủ tục hành chính “ngáng chân” doanh nghiệp FDI” số ra ngày 21/05/2009 trên báo Đời sống & Pháp Luật: “Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam cho hay, qua khảo sát ý kiến thì có 5% doanh nghiệp Hàn Quốc có ý định giảm qui mô kinh doanh ở Việt Nam và có 2% doanh nghiệp muốn chuyển đầu tư từ Việt Nam sang nước khác.” Thủ tục hành chính phức tạp như chuyện giải thích về luật rất khác nhau là một trong những lý do lớn để số doanh nghiệp Hàn Quốc này muốn rời bỏ Việt Nam trong tương lai.

    Thứ hai, công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung.

    Thứ ba, sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu,

    Thứ tư, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội… mà còn ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương…

    Theo nguồn tin từ trang tinmoi.vn thì việc tìm kiếm lao động lành nghề, nhân lực quản lý cấp trung gian có trình độ là vấn đề đau đầu của đa số các Doanh nghiệp FDI. Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Thái Lan tại Việt Nam, ông Panat Krairojananan lo lắng, các DN nước ngoài khi mới đến Việt Nam, đôi khi vẫn phải thuê người nước ngoài vào làm, bởi lẽ họ khó mà tìm được người giỏi ở Việt Nam ngay. Tuy nhiên, mức thuế thu nhập cá nhân  đối với lao động nước ngoài khá cao, xu hướng sắp tới là công ty Thái Lan sẽ phải cắt giảm lao động nước ngoài và họ sẽ phải tìm người Việt Nam cho các vị trí quan trọng. Thế nhưng, đây là việc vốn dĩ vô cùng khó, bởi vì: “Một số sinh viên Việt Nam đã ra trường mà những tính toán cơ bản lại không tính được”( Harry Beirnaert, Chủ tịch Hiệp hội DN Bỉ – Luxembourg tại Việt Nam).

    Trong thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài hầu như chỉ mới khai thác nguồn lao động chi phí thấp chứ chưa thực hiện nhiều việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao và đào tạo nhân lực để phát triển công nghiệp nội địa. TS. Nguyễn Quang Hồng, Đại học Kinh tế quốc dân đã dẫn kết quả một cuộc khảo sát của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) được thực hiện trong hơn 100 doanh nghiệp điện tử gần đây, cho thấy các công ty trong nước tuyển dụng từ 10 – 64% lao động có trình độ cao đẳng trở lên, trong khi đó con số tuyển dụng cùng trình độ tương ứng ở khu vực FDI chỉ ở mức từ 4 – 10%.

    Sau sự kiện Công ty Sanyo thành lập nhà máy sản xuất linh kiện điện tử đầu tiên bằng  vốn FDI, các ngành công nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chỉ sản xuất được những mặt hàng đơn giản, những sản phẩm công nghệ cao cũng mới chỉ là lắp ráp. Chính vì các công đoạn cần kỹ thuật cao chưa phải do lao động Việt Nam đảm nhận, nên việc học hỏi, tích lũy kinh nghiệm qua thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp FDI của nhân lực trong nước chưa được nhiều. Xu hướng của các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài đang tăng lên, trong đó gần 50% lao động phổ thông và chỉ có gần 45% có trình độ đại học trở lên.

    Báo cáo của Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế Tp.HCM (nay là Viện Nghiên cứu phát triển), cho biết lao động không có chuyên môn kỹ thuật tại Tp.HCM đến năm 2010 chiếm tỷ lệ khoảng 65,6%; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật kể cả công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng và đại học chỉ khoảng 34,4%. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải có giải pháp để tăng cường năng lực kỹ thuật cho lao động Việt Nam để tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI.

    Thứ năm, công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục trong môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nói chung và yêu cầu  thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng. Nhiều địa phương đang lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

    Việc đền bù thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay, đặc biệt đối với dự án 100% vốn nước ngoài. Bên cạnh đó là tình trạng cho thuê đất với “giá rẻ bất ngờ” của một số địa phương, điển hình là vụ việc xảy ra ở tỉnh Quảng Nam. Tỉnh này đã cho một doanh nghiệp nước ngoài thuê đất với giá 2,75 đồng một năm trên 1 mét vuông, rẻ hơn gấp nhiều lần so với giá 1 điếu thuốc lá- báo điện tử Vietnamnet đã đưa tin.

    Thứ sáu, chủ trương phân cấp trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài là đúng đắn. Tuy nhiên, trong điều kiện hệ thống quy hoạch chưa đồng bộ, kịp thời, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại một số địa phương còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ nên đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh thiếu lành mạnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, thiếu sự liên kết vùng, khu vực, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư.

    Một số địa phương không thẩm tra kỹ về năng lực của các nhà đầu tư trong các dự án có quy mô lớn, chạy đua với nhau trong việc cấp phép các dự án lớn có quy mô hàng tỷ USD. Do vậy, khả năng triển khai các dự án này sẽ rất khó khả thi theo đúng cam kết của nhà đầu tư.

    Thứ bảy, việc xử lý chất thải của các dự án đầu tư nước ngoài tập trung tại các khu công nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điểm đã và đang ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên cũng như xã hội, trong đó đặc biệt là đối với các dự án sản xuất quy mô lớn.

    Cuối cùng, công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Nguyên nhân chính là do chưa có một chiến lược tổng thể về xúc tiến đầu tư, làm cho công tác xúc tiến đầu tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống; trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động; công tác quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do còn thiếu một văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này.

    Cũng theo bài “Cảnh báo hiệu quả của FDI” trên trang đời sống & Pháp luật, hiệu quả đầu tư thấp còn có nguyên nhân rất lớn từ phía công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém. Việc thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương đang “thoáng” tới mức không cân nhắc thật cẩn trọng ba yếu tố mấu chốt: quỹ đất; vấn đề đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ; chất lượng sản phẩm đầu ra. Hai yếu tố sau có liên quan trực tiếp tới công nghệ. Tuy nhiên việc “thoáng” như thế đã gây ra hệ quả là các công ty ở Việt Nam giống như các “phân xưởng” của công ty mẹ ở nước ngoài: lương lao động  rất rẻ, bệnh nghề nghiệp nhiều. Có nhà máy mấy chục ngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuần gọi là “đào tạo”, nhập các máy móc, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Như vậy việc quản lý yếu kém của các nhà chức năng đã dẫn tới việc biến nước ta thành nơi chứa dựng các thiết bị lạc hậu và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt ở nước ta để sinh lợi cho họ. Chính “Bộ KH-ĐT cũng thừa nhận rằng phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý đầu tư và xây dựng còn kém, thường lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chính sách, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để trục lợi bất chính nhưng lại chưa được xử lý triệt để.”- theo báo dautuxaydung.com.

    Như vậy để đạt được hiệu quả cao có lẽ phải bắt đầu từ việc xem lại cơ chế chính sách trong quản lý đầu tư và tính nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật. Đồng thời việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cũng là một vấn đề cấp thiết cần quan tâm.

    1.3       KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

    1.3.1     Kiến nghị

    1.3.2     Giải pháp

    Trên cơ sở những phân tích tổng quan, tình hình, thực trạng sử dụng FDI … ở Việt Nam, các nhà kinh tế, các chủ doanh nghiệp, các chuyên viên phân tích đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết tình trạng sử dụng nguồn vốn FDI sẵn có không hiệu quả  như sau:

    Thứ nhất, cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện. Mạnh dạn hơn nữa trong việc cho phép và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhất là những công trình hạ tầng đang xây dựng dở dang và đã kéo dài nên được hoàn thành tránh sự lãng phí không đáng có.

    Thứ hai, rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác nước ngoài có liên quan đều lo ngại về những luật lệ và quy định mới, do đó cần đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

    Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

    Thứ tư, từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Phải xác định cho đúng những đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất  lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu.

    Thứ năm, cần xây dựng những quy định cụ thể, chặt chẽ để ngăn chặn các hoạt động huy động vốn đầu tư trong nước của các nhà đầu tư nước ngoài ở nhiều dự án, nhất là các dự án bất động sản xây dựng căn hộ và văn phòng cho thuê. Hình thức này đang gây ra tình trạng thu hút vốn của các doanh nghiệp trong nước, tạo thêm trở ngại cho việc phát triển khu vực kinh tế trong nước trong điều kiện khó khăn hiện nay. Ðặc biệt, các cơ quan quản lý cần chú trọng hơn nữa đến những ảnh hưởng về môi trường và các thiệt hại về tài nguyên trong việc cấp phép các dự án FDI; giám sát chặt chẽ việc thực hiện các cam kết không gây ô nhiễm môi trường của các dự án đầu tư; nghiêm khắc xử lý những hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường, làm thiệt hại lợi ích của nhân dân.

    Ðể tận dụng những lợi thế và biến thách thức thành thời cơ trong thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI, nhiều chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, và đẩy mạnh giải ngân, trong đó chú trọng đến các địa phương có tiềm năng, song chưa tạo được bước đột phá trong thu hút FDI. Tập trung giải quyết những yếu kém về kết cấu hạ tầng giao thông, điện nước; về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng; về năng lực của bộ máy quản lý nhà nước; tháo gỡ những khó khăn về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn FDI đăng ký. Cần rà soát chặt chẽ và kiên quyết xử lý những dự án “treo” kéo dài, chủ đầu tư không có khả năng thu xếp vốn, dự án chuyển đổi mục đích… tạo cơ hội cho các đối tác khác vào đầu tư, tránh lãng phí về cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất, kinh doanh.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận toán cao cấp C2

    Tiểu luận toán cao cấp C2

    Tiểu luận toán cao cấp C2

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-to%C3%A1n-cao-c%E1%BA%A5p-C2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận toán cao cấp C2

    CHƯƠNG I : ĐẠO HÀM VÀ VI PHÂN

    A.LÝ THUYẾT:

    1.1 Đạo hàm riêng:

              Định nghĩa:Cho hàm 2 biến f:

    X:  tập xác định

    Xét

         1.2 VI PHÂN:

    * Định nghĩa:

    Cho hàm số z = f (x,y) đạo hàm riêng của hàm số theo biến x, kí hiệu là:

    là giới hạn

    * Vi phân hai biến:

    Định nghĩa:

    Cho hàm số z = f(x,y) thì

    Tổng quát:

              B. BÀI TẬP:

    Câu 1: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 2: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 3 : Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 4: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 5: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 6: Cho hàm số Tính

    Câu 7: Tìm vi phân cấp một của hàm số:

    Giải:

    Ta có:

    z = x2 + 4y

    z/x = (x2 + 4y )/ =  2x

    z/y =  (x2 + 4y )/ = 4y.ln4

    dz = 2xdx + 4yln4dy

    Câu 8: Tìm vi phân cấp một của hàm số:

    Giải:

    Ta có:

    z =

    z/x = =  =

    z/y =  =  =

    Câu 9: Tím vi phân cấp một của hàm số:

    Giải:

    Ta có:

    z =

    z/x

    z/y

    Câu 10:  Tìm vi phân dz của hàm:

    Giải:

    Câu 11:  Tính vi phân cấp 2 của hàm:

    Giải:

    Câu 12: Cho hàm hai biến , tính

    Giải:

    Câu 13:  Tìm vi phân cấp hai  của hàm hai biến

    Giải:

    Ta có:

    Câu 14: Tìm vi phân cấp hai  của hàm hai biến

    Giải:

    Ta có:

    Câu 15: Tìm vi phân cấp hai  của hàm hai biến

    Giải:

    Câu 16: Tìm vi phân cấp hai của hàm hai biếnn

    Giải:

    Ta có:

    CHƯƠNG II:  CỰC TRỊ

    A. LÝ THUYẾT:

    1.1.  CỰC TRỊ TỰ DO:

    Cho hàm số z = f(x,y) xác định trên miền D R2

    Điểm P(a,b) được gọi là cực trị địa phương của hàm z =f(x,y) nếu:

    giả thiết: lân cận điểm P

    Cực tiểu địa phương

    Cực trị = cực đại + cực tiểu

    Điểm dừng:

    Nếu  tồn tại cực trị địa phương thì nó đạt cực trị địa phương tại các điểm dừng

    *Phương pháp tìm cực trị tự do:

    Z = f(x,y), D

    Tìm cực đại:

    Bước 1:

    được gọi là điểm dừng.

    Bước 2:

    Tính

    Bước 3:

    Đặt

    Xét

    Nếu  <0  điểm (xo,yo) không phải là cực trị

    Nếu  là cực trị

    Với A>0  (xo,yo) là điểm cực tiểu

    Với A<0  (xo,yo) là điểm cực đại

    dùng phương pháp khác hoặc chưa thể kết luận

    1.2 CỰC TRỊ CÓ ĐIỀU KIỆN:

    Cho hàm số z = f(x,y) và hàm số Điểm (xo,yo) được gọi là điểm cực trị của hàn số f(x,y) với điều kiện  nếu nó là cực trị của z = f(x,y) và thoả mãn

    * Điều kiện cần:

    Giả sử (xo,yo) là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện . Ta giả thiết thêm các hàm f(x,y) ; có các đạo hàm riêng liên tục trong lân cận của điểm (xo,yo). Khi đó sẽ tồn tại một số thoả:

    (I)

    Khi đó (xo,yo) gọi là điểm dừng

    : nhân tử Lagreange

    * Phương pháp tìm cực trị có điều kiện :

    Cách 1: Từ  ta tính . Thay vào

    ta được hàm một biến theo

    Cách 2:

    * Giải hệ (I) để tìm điểm dừngvà

    *

    Xét

    Nếu  hàm không có cực trị tại

    Nếu  hàm  có cực trị

    + là điểm cực tiểu

    + là điểm cực đại

     

    B. BÀI TẬP:

    Câu 17: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Ta có :

    Giải hệ phương trình:

    điểm M(1,0) là điểm dừng

    Đặt:

    Ta có:  Hàm có cực trị.

    Và A = 2 > 0 Hàm đạt cực tiểu tại điểm M(1,0)

    Câu 18: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 3 điểm dừng

    Vậy M1(0;0) không phải là cực trị của hàm số

    Vậy M2(2;0) là điểm cực tiểu của hàm

    Vậy M3(-2;0) là điểm cực tiểu của hàm

    Câu 19: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Ta có :

    Giải hệ phương trình:

    điểm M(0,0) là điểm dừng.

    Đặt:

    Hàm z không có cực trị tại M(0;0)

    Câu 20: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Có 1 điểm dừng

    là cực trị

    Và là cực tiểu của hàm z

    Câu 21: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Ta có :

    Giải hệ phương trình:

    điểm là điểm dừng

    Đặt:

    Hàm z có một điểm dừng nhưng không có cực trị.

    Câu 22: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    ;   hệ vô nghiệm, không có điểm dừng

    Câu 23 : Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt:

    là điểm cực tiểu

    Câu 24 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Vậy hàm Z không có cực trị tại

    Câu 25: Tìm cực trị của hàm số:   với điều kiện

    Giải:

    Từ (1) => = 4 (1/)

    (3) => y =  – 1 (2/)

    thế (1/), (3/) vaò (2) ta có:

    2(-1) – 2 + 4 = 0

    2 – 2 – 2 + 4 =0

    6 – 4 = 0

    => y =

    là cực tiểu

    Câu 26 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Vậy hàm Z không có cực trị tại

    Câu 27 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Và là điểm cực tiểu của hàm z

    Câu 28 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    hệ vô nghiệm

    Không có điểm dừng. Vậy hàm z không có cực trị

    Câu 29 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    điều này vô lý hệ vô nghiệm

    Không có điểm dừng. Vậy hàm z không có cực trị

    Câu 30 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Vậy hàm z không có cực trị tại

    Câu 31 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 2 điểm dừng

    * Xét điểm  :

    Đặt :

    Và là điểm cực đại của hàm z

    Có 2 điểm dừng

    * Xét điểm  :

    Đặt :

    Và là điểm cực đại của hàm z

    Câu 32 : Cho hàm   với điều kiện

    Giải:

    Đặt

    Vậy hàm số đạt cực tiểu tại điểm

     

    Câu 33 : Cho hàm   với điều kiện

    Giải:

    Vậy hàm số đạt cực đại tại điểm  và

    Câu 33 : Cho hàm   với điều kiện

    Giải:

     
       

     

     

     

     

    Vậy hàm số đạt cực đại tại điểm , đạt cực tiểu tại

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ngô Thành Phong. Giáo trình toán cao cấp ĐHKHTN 2003
    2. Nguyễn Đình Trí và nhiều tác giả khác
    3. Trang wed Google.com

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    1.     Chính sách tiền tệ

     

    1.1. Khái niệm:

    Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế.

    Tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:

    Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – chính sách tiền tệ chống thất nghiệp).

    Chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

    1.2. Vị trí chính sách tiền tệ

    Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại.

    Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.

    1.3. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ

    1.3.1. Mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền

    NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng không, vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được. Trong điều kiện nền kinh tế trì trệ thì kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại.

    Nhóm IV 3

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    1.3.2. Mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

    CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng.

    1.3.3. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế

    Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.

    1.3.4. Ổn định thị trường tài chính

    Tình trạng khủng hoảng tài chính có thể làm giảm khả năng của thị trường tài chính trong việc tạo ra kênh dẫn vốn cho người có cơ hội đầu tư vào sản xuất, qua đó làm giảm quy mô hoạt động kinh tế. Bởi vậy, việc tạo ra hệ thống tài chính ổn định hơn, tránh được các cuộc khủng hoảng tài chính là mục tiêu quan trọng của NHTW.

    Sự ổn định thị trường tài chính được hỗ trợ bởi sự ổn định của lãi suất, bởi vì sự biến động của lãi suất tạo ra sự bất định lớn cho các định chế tài chính. Sự gia tăng lãi suất tạo ra các tổn thất lớn về vốn cho trái phiếu dài hạn và các khoản cho vay cầm cố, cũng như những tổn thất này có thể làm cho các định chế tài chính nắm giữ nó sụp đổ.

    1.3.5. Ổn định thị trường hối đoái

    Với tầm quan trọng ngày càng tăng của tỷ giá hối đoái trong thương mại quốc tế, ổn định tỷ giá trở thành mục tiêu mong muốn của CSTT. Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trong nước so với nước ngoài. Ngoài ra, ổn định tỷ giá giúp cho các doanh nghiệp và cá nhân trao đổi hàng hoá với nước ngoài dễ dàng lập kế hoạch hơn.

    1.3.6. Ổn định thị trường lãi suất

    Sự biến động của lãi suất có thể tạo ra tính bất định trong nền kinh tế và khó khăn trong lập kế hoạch cho tương lai. Biến động của lãi suất ảnh hưởng tới lượng dự trữ, mức chi tiêu của người dân và đồng thời ảnh hưởng tới khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

    Nhóm IV 4

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

    • Các công cụ của chính sách tiền tệ

    2.1. Công cụ trực tiếp

    2.1.1. Kiểm soát hạn mức tín dụng

    Khái niệm:Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.Để hạn chế việc tạo tiền quá mức của NHTM, NHTW quy định hạn mức tín dụng tối đa cho từng NHTM.

    Ưu điểm: là công cụ quan trọng khi các công cụ truyền thống kém hiệu quả.

    Nhược điểm: khống chế hạn mức tín dụng làm lãi suất thị trường tăng, làm giảm cạnh tranh giữa các NHTM.

    2.1.2. Quản lý lãi suất của Ngân hàng thương mại

    NHTW có thể trực tiếp quy định khung lãi suất đối với các NHTM. (gồm có lãi suất trần và lãi suất sàn với các khoản huy động hoặc cho vay của NHTM).

    Ưu điểm: tác động nhanh, trực tiếp đến lãi suất của các NHTM, nhờ đó tác động đến tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Đây là một công cụ quan trọng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả.

    Nhược điểm:là một công cụ cứng nhắc, kiểm soát lã suất sẽ triệt tiêu cạnh tranh của các NHTM, dễ gây tác động xấu tới hoạt động tiết kiệm và đầu tư. Vì vậy, nó thườngchỉ được sử dụng trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, hay cácyếu tố thị trường chưa phát triển hoàn chỉnh. Ngoài ra, các NHTM có thể ngầm không tuân theo khung lãi suất quy định của NHTW.

    2.2. Công cụ gián tiếp

    Bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu và dự trữ bắt buộc.

    2.2.1. Nghiệp vụ thị trường mở

    Khái niệm: Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, chủ yếu là tín phiếu kho bạc, nhằm làm tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng. Đây là công cụ quan trọng nhất của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng.

    Nhóm IV 5

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Hàng hoá: (Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, trái phiếu chính phủ)

    Cơ chế tác động:

    • Bán các giấy tờ có giá: thu hẹp tín dụng.
    • Mua các giấy tờ có giá: mở rộng tín dụng. Ưu điểm:
    • NHTW có thể kiểm soát hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường mở.
    • Linh hoạt và chính xác cao.
    • NHTW có thể dễ dàng đảo ngược tình thế của mình.
    • Nhanh chóng, ít tốn kém chi phí và thời gian.

    Nhược điểm: là công cụ được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào chủ thể khác trên thị trường (các Ngân hàng thương mại, …).Ở Việt Nam do thị trường chứng khoán chính phủ chưa phát triển nên NHNN phát hành tín phiếu NHNN để điều tiết việc cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên do thị trường loại tín phiếu này chỉ diễn ra giữa một bên là NHNN và một bên là các NHTM nên hiệu quả điều tiết không cao, chỉ chủ yếu tác động vào dự trữ của các NHTM. Hiện nay trên thị trường mở chủ yếu là kỳ hạn 7 ngày, các kỳ hạn dài hơn hầu như chưa có.

    2.2.2. Chính sách chiết khấu

    Khái niệm: Chính sách chiết khấu là công cụ của NHTW trong việc thực thi chính sáchtiền tệ, bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh.

    Cơ chế tác động: NHTW tăng hoặc giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu phụthuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là nới lỏng hay thắt chặt.

    Ưu điểm: NHTW là người cho vay cuối cùng, kiểm tra chất lượng tín dụng của các NHTM, bơm tiền vào nền kinh tế, NHTM sẽ có chỗ dựa là NHTW.

    Nhược điểm: NHTW thường bị động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng. NHTWchỉ có thể thay đổi lãi suất chiết khấu nhưng không thể bắt các NHTM đến vay chiết khấu ở NHTW.

    2.2.3. Dự trữ bắt buộc

    Khái niệm: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được dùng để cho vay hoặc đầu tư. Mức dự trữ cho NHTW quy đinh và bằng một tỉ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi củakhách hàng tại các tỏ chức tín dụng.

    Cơ chế tác động:

    Nhóm IV 6

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo bội số tiền gửi của các NHTM. NHTW tăng hoặc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên.
    • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của NHTM. Khi tỉ lệ này tăng,đòi hỏi NHTM tăng lãi suất cho vay, khả năng cho vay của NHTM giảm, lượng tiềncung ứng giảm. (và ngược lại)

    Ưu điểm:

    • Ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngân hàng.
    • Là công cụ có ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng.
    • Phức tạp, kém linh hoạt, không thể thực hiện những thay đổi nhỏ trong lượng tiềncung ứng bằng công cụ dự trữ bắt buộc.
    • Ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM.
    • Dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng.
    Nhóm IV 7

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM

    1. Tổng quan chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

    Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

    Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ, xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung Ương 3 (khóa XI).

    1. Thực trạng việc áp dụng các công cụ chính sách tiền tệ

    Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã được Ngân Hàng Nhà Nước sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín dụng, ..

    2.1. Công cụ lãi suất

    Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, Ngân Hàng Nhà Nước trực tiếp quyết định các mức lãi suất như: lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường mở, trần lãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc 4 đối tượng ưu tiên đối với nền kinh tế của các Tổ chức Tín dụng.

    Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của Ngân Hàng Nhà Nước được điều hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: lãi suất tái chiết khấu < lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn, biên độ 1-2%.

    Cơ chế điều hành các loại lãi suất được điều chỉnh linh hoạt, hợp lý và đồng bộ hơn so với những năm trước đây. Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà Nước đã liên tiếp thực hiện giảm mặt bằng lãi suất, điều chỉnh giảm 4 lần đối với lãi suất tái cấp vốn từ 15% xuống 9%, lãi suất chiết khấu từ 13% xuống 8%. Lãi suất trên thị trường mở giảm 6 lần. Điều chỉnh giảm 4 lần trần lãi suất tiền gửi tối đa bằng VNĐ, từ 14%/năm xuống 9%/năm

    Nhóm IV 8

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng đến 12 tháng; từ 6%/năm xuống 2% năm đối với tiền gửi không kỳ hạn. Đồng thời, áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với bốn lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành công nghiệp hỗ trợ), lãi suất điều chỉnh giảm từ 15% xuống còn 13%, cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14 – 17%/năm. Đặc biệt, vào thời điểm cuối năm 2012 lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh 8 – 9%/năm so với đầu năm, thị trường tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011.

    Đồ thị 1: Diễn biến lãi suất năm 2005 – đầu năm 2013

    (Nguồn: Website Ngân hàng Nhà Nước http://www.sbv.gov.vn)

    Mới đây, theo Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3/2013 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với các Ngân hàng, NHNN thông báo chính thức điều chỉnh giảm 1% các lãi suất chủ chốt kể từ ngày 26/3/2013, cụ thểđiều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9%/năm xuống còn 8%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 7%/năm xuống 6%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong

    thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 10%/năm xuống 9%/năm.

    Đồng thời, NHNN quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VNĐ của tổ chức, cá nhân tại Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đối với các khoản tiền kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng giảm từ 8%/năm xuống 7,5%/năm. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do Tổ chức tín dụng ấn định trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường (theo Thông tư số 08/2013/TT-NHNN ngày 25/3), lãi suất cho vay ngắn hạn tối

    Nhóm IV 9

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    đa bằng VNĐ của Tổ chức tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên còn 11%/năm, giảm 1%/năm so với trước đó (Thông tư số 09/2013/TT-NHNN ngày 25/3)

    Biểu đồ 2: Diễn biến tình hình lãi suất huy động và cho vay

    (Nguồn: http://www.tinmoitonghop.com/k ho-giam-lai-suat)

    Sự đổi mới cơ chế lãi suất nói trên đã khuyến khích các Tổ chức tín dụng huy động vốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN không còn cơ hội cho các Tổ chức tín dụng lợi dụng vay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất lớn.

    2.2. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

    Cơ chế điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ), thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010.

    Theo cơ chế nói trên, chính sách dự trữ bắt buộc được căn cứ vào tính chất kỳ hạn tiền gửi (ngắn, trung, dài hạn), loại tiền gửi (VND và ngoại tệ) và ưu tiên đối tượng cho vay nông nghiệp, nông thôn. Đối với Tổ chức Tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40% thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam bằng 1/5 (một phần năm) và 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi.

    Nhóm IV 10

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các Tổ chức tín dụng đối với tiền gửi VND cố định 3% và không thay đổi. NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6 tháng 2012. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh toán và cho vay của Tổ chức tín dụng. Vì vậy hạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của hệ thống Tổ chức tín dụng

    Chính sách dự trữ bắt buộc áp dụng một mức chung cho tất cả các NHTM Việt Nam, làm cho công cụ dự trữ bắt buộc hoàn toàn trở thành vô tác dụng.

    2.3. Tái cấp vốn

    Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn của NHNN đã phát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các NHTM tuy nhiên vẫn còn một số điểm hạn chế như chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các Tổ chức tín dụng, chưa tác động được nhiều đến cung

    cầu vốn và các loại lãi suất trên thị trường.

    Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ được cho vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức đã được Chính phủ duyệt hàng năm; nhiều Tổ chức tín dụng cần vay nhưng không đủ điều kiện được vay tái cấp vốn; một số Tổ chức Tín dụng đủ điều kiện vay vốn nhưng không có nhu cầu vay. Do đó, doanh số cho vay và dư nợ tái cấp vốn đối với các Tổ chức tín dụng không lớn; mức độ

    tác động tới lãi suất và cung cầu vốn trên thị trường hạn chế.

    Với mức chênh lệch cao giữa lãi suất cho vay thỏa thuận của các Tổ chức Tín dụng với khách hàng và lãi suất cho vay thỏa thuận giữa các Tổ chức tín dụng với nhau so với lãi suất tái cấp vốn, sẽ tạo ra những cơ hội cho một số Tổ chức tín dụng tìm mọi cách để vay tái chiết khấu có lợi hơn huy động vốn từ nền kinh tế, hoặc để cho vay lại

    trên thị trường với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất.

    Tại Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3, NHNN điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9%/năm xuống còn 8%/năm, cùng với các lãi suất khác với mục đích NHNN muốn triển khai các giải pháp tiền tệ, tín dụng ngân hàng theo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh

    tế ở mức hợp ý theo chỉ đạo của Chính phủ.

    Nhóm IV 11

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    2.4. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)

    Trong thời gian vừa qua, NHNN điều hành công cụ nghiệp vụ thị trường mở theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ- NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-NHNN.

    Trong thời gian qua, nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày càng được mở rộng, góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh doanh cho các Tổ chức tín dụng, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tổng

    lượng tiền cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.

    Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và cho vay của tổ

    chức tín dụng, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

    Đánh giá một cách khách quan, trong năm 2012, NHNN điều hành nghiệp vụ thị

    trường mở OMO chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn thời gian trước đó.

    Tuy nhiên, một số vấn đề còn tồn tại như Quy chế nghiệp vụ thị trường mở chậm được điều chỉnh, sửa đổi kịp thời để đồng bộ với các văn bản pháp luật mới (đặc biệt là các quy định mới về phát hành giấy tờ có giá, tiêu chuẩn giấy tờ có giá, định giá giấy tờ có giá, ..) nếu không sớm điều chỉnh sẽ phát sinh các rủi ro về pháp lý, rủi ro về kinh tế

    cho các Tổ chức tín dụng và làm giảm hiệu quả của công cụ thị trường mở.

    Bên cạnh do, cơ chế mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở hiện hành chủ yếu là đấu thầu khối lượng, các mức lãi suất giao dịch thực tế phản ánh chưa chính xác quan hệ cung cầu vốn, không khuyến khích cạnh tranh thực sự giữa các Tổ chức tín dụng với mục tiêu hạ lãi suất thị trường. Khối lượng giao dịch bị hạn chế trong mức cung tiền mục tiêu hàng năm và khả năng, điều kiện tham gia thị trường mở của các Tổ chức tín dụng,

    làm giảm hiệu quả điều tiết, tác dụng của công cụ thị trường mở.

    Trong 2012, lạm phát giảm xuống nhanh dưới một con số, tăng trưởng tín dụng quá thấp so với mục tiêu, công cụ thị trường mở phải nhằm mục tiêu bơm tiền ra để hạ lãi suất, kích thích tăng trưởng tín dụng, nhưng lại mâu thuẫn với khả năng hấp thụ vốn của

    doanh nghiệp rất thấp, các Tổ chức tín dụng thừa tiền không cho vay được.

    2.5. Kiểm soát hạn mức tín dụng

    Nhóm IV 12

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp, mang tính hành chính của NHNN, được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.

    Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao và các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu lực.

    Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho từng NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các quy định. Theo đó, các nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn mức như sau: Nhóm thứ 1 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%; nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4 thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng trưởng tín dụng.

    Đến tháng 6/2012, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng tăng 1,51% so với cuối năm 2011, NHNN đã cho phép tăng chỉ tiêu đối với 10 Tổ chức tín dụng có tính hình tài chính lành mạnh, đã có tăng trưởng tín dụng đạt trên 50% chỉ tiêu thông báo của NHNN từ đầu năm.

    Công cụ hạn mức tăng trưởng tín dụng mà NHNN đưa ra trong 2012 đã phát huy tác động tích cực thúc đẩy các Tổ chức tín dụng đổi mới và tái cơ cấu hoạt động theo quan điểm và mục tiêu của chính sách tiền tệ của Chính Phủ trên các mặt sau:

    • Thúc đẩy các NHTM phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả và các chỉ số an toàn hoạt động để được xếp hạng tín nhiệm cao và có được hạn mức tăng trưởng cao.
    • Điều chỉnh, hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, góp phần cải thiện tính thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ thống hệ thống, giảm áp lực lạm phát.
    • Tác động mạnh mẽ và có hiệu quả đến mục tiêu tái cơ cấu, sát nhập các NHTM yếu kém, tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kiểm soát hạn mức tín dụng của NHNN trong thời gian qua đã cho thấy một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung nhằm phát huy hiệu quả cao hơn:

    Thời điểm áp dụng công cụ hạn mức tín dụng chưa phù hợp với giai đoạn suy kiệt tín dụng và giảm tổng cầu của nền kinh tế, nên công cụ hạn mức tín dụng không phát huy được tác dụng với nhiều tổ chức tín dụng.

    Nhóm IV 13

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Chưa xây dựng được bộ tiêu chí phân loại các Tổ chức tín dụng và phương pháp tính toán các tiêu chí phân loại để làm căn cư phân bổ hạn mức tín dụng cho từng tổ chức tín dụng.

    3.                 Nhận định tổng quát về chính sách tiền tệ Việt Nam

     

    3.1. Những kết quả tích cực:

     

    • Những chủ trương định hướng và quan điểm chỉ đạo điều hành về chính sách tiền tệ thể hiện trong các Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, nghị quyết 01/2012/NQ-CP và nghị quyết 13/2012/NQ-CP là sự điều chỉnh đúng hướng, phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sự diễn biến của kinh tế vĩ mô và thị trường, đã kiểm soát cung tiền ở mức hợp lý, mà nhất là tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
    • Vai trò của tự chủ của NHNN trong hoạch định, điều hành thực thi chính sách tiền tệ được nâng cao và phát huy nhiều hơn trong việc quyết định, lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra.
    • Giữ được hệ thống tổ chức tín dụng không bị đổ vỡ, kiềm chế lạm phát từ mức rất

    cao 18,13% năm 2011 xuống ở mức khoảng 7% cuối 2012;

    • Thị trường tiền tệ năm 2012 đã diễn biến theo xu hướng tích cực, những áp lực tăng lãi suất năm 2011 đã chuyển hướng bằng xu hướng giảm lãi suất mạnh mẽ trong 9 tháng đầu năm và tiếp tục giảm sau đó.
    • Chínhsách tiền tệ và chính sách tài khóa ngày càng có sự kết hợp đồng bộ hơn, hiệu quả hơn so với những thời kỳ trước đây.

    Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế được điều chỉnh theo hướng hợp lý và tích cực hơn: giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực đầu cơ bất động sản, chứng khoán và tăng tỷ trọng tín dụng cho 4 lĩnh vực ưu tiên: sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất phụ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ;

    • Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở có những bước phát triển mới, tạo ra những chuyển biến tích cực hơn trên thị trường tiền tệ. NHNN đã chủ động hơn trong việc thu thập các thông tin về lãi suất và khối lượng giao dịch trên thị trường tiền tệ để sử dụng các công cụ phù hợp điều tiết cung cầu vốn trên thị trường.
    Nhóm IV 14

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    3.2. Một số vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu xử lý

    Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam 2010 đã quy định mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, nhưng trong các văn bản chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ thể hiện phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu có mức ưu tiên như nhau như: mức cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD. Do đó các giải pháp và công cụ điều hành chính sách tiền tệ nhiều khi phải ưu tiên giải quyết các mục tiêu trước mắt nhằm hỗ trợ tăng trưởng để ổn định kinh tế vĩ mô, nên kết quả chưa đảm bảo được tính bền vững và mục tiêu trung dài hạn.

    Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được kết quả khi chỉ số lạm phát xuống mức thấp dưới 2 con số nhưng kết quả chỉ mang tính thời điểm, chưa ổn định và bền vững. Khả năng kiểm soát lạm phát theo mục tiêu còn nhiều thách thức và khó khăn dài hạn.

    Những yếu tố và nguyên nhân cơ bản từ nội tại nền kinh tế làm cho lạm phát bùng phát trở lại vẫn chưa được giải quyết; nhiều biến số tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông vượt ra khỏi tầm kiểm soát của NHNN; nguồn lực tài chính của Nhà nước chưa đủ mạnh để can thiệp điều chỉnh có hiệu quả quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ.

    Công cụ lãi suất còn một số bất cập về phương pháp xác định các và cơ chế điều hành. Lãi suất huy động và cho vay của các TCTD mang nặng tính hành chính, nhiều khi chưa sát với CPI và chưa điều chỉnh kịp thời với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.

    Lãi suất tín dụng tuy đã giảm nhiều so với 2011 nhưng vẫn còn ở mức cao vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Hệ thống chính sách và cơ chế tín dụng chưa thực hiện được chức năng phân bổ vốn tín dụng cho khu vực hiệu quả, chưa giải quyết được tình trạng “suy kiệt tín dụng”, tác động tiêu cực đến phát triển trung dài hạn của nền kinh tế.

    Tiến trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu vẫn còn khá chậm, gây tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong năm 2012, tỉ lệ nợ xấu cao khiến chi phí của ngân hàng tăng mạnh khi phải dự phòng rủi ro lớn. Đồng thời các NHTM cũng dè dặt và chặt chẽ hơn trong việc cho vay đối với doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy về mặt danh nghĩa, lãi suất cho vay tuy có giảm nhưng nguồn vốn tín dụng vẫn chưa thực sự đến được với doanh nghiệp.

    Nhóm IV 15

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN III. GIẢI PHÁP

    Theo đó, để giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong điều hành chính sách tiền tệ hiện nay, NHNN cần thực hiện các giải pháp sau đây:

    • Thứ nhất: Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát tiền tệ hợp lý, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

     

    • Thứ hai: Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường tiền tệ để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tháo gỡ khó khăn chi phí vay vốn của doanh nghiệp và nền kinh tế.

     

    • Thứ ba: Xây dựng phương án và thực hiện linh hoạt các biện pháp kiểm soát tín dụng, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tình hình hoạt động của các TCTD .
    • Thứ tư: Phối hợp với bộ, ngành, địa phương quyết liệt triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân vay vốn ngân hàng một cách hiệu quả.

     

    • Thứ năm: Tập trung các biện pháp xử lý và giảm thiểu nợ xấu.

     

    • Thứ sáu: Điều hành linh hoạt tỷ giá, thu hẹp phạm vi hoạt động ngoại hối kết hợp với xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động ngoại hối, góp phần ổn định thị trường ngoại hối, hạn chế tình trạng đô la hóa, ổn định tỷ giá.

     

    • Thứ bảy: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
    • Thứ tám: Công tác báo cáo thống kê được củng cố đáp ứng nguồn thông tin, số liệu cho công tác phân tích, dự báo phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành.
    • Thứ chín: Hoạt động thông tin, truyền thông được đổi mới, chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin, báo chí về tiền tệ, hoạt động ngân hàng để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho doanh nghiệp và công chúng đối với các giải pháp điều hành của NHNN.

    Bên cạnh đó trong thời gian qua, NHNN đã đưa ra 6 giải pháp quan trọng sau đây:

     

    • Tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường:

     

    NHNN đã ban hành Chỉ thị chỉ đạo toàn hệ thống tổ chức thực hiện chính sách

    tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2013 theo sát các chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013 về những giải pháp chủ yếu

    Nhóm IV 16

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

    Cụ thể, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện các giải pháp tín dụng, lãi suất đã triển khai trong năm 2012 để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, chuyển dịch cơ cấu tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    Phối hợp với Bộ Xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ.

    Triển khai đề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011-2015, khẩn trương hoàn thiện đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và đề án thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam; quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và mở rộng mạng lưới của các TCTD theo hướng thận trọng hơn đảm bảo sự phát triển an toàn,lành mạnh của hệ thống TCTD.

    – Định hướng tổng phương tiện thanh toán khoảng 14-16%, tín dụng tăng 12%:

    NHNN đưa ra định hướng điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát thấp hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; sử dụng chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán hợp lý, đáp ứng yêu cầu thanh toán của nền kinh tế; điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến tiền tệ và các cân đối vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát.

    Theo đó, NHNN đưa ra định hướng tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng14-16%, tín dụng tăng khoảng 12%, tùy theo diễn biến và tình hình thực tế điều chỉnh phù hợp. Để kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo định hướng 12% trong năm 2013, NHNN tiếp tục thông báo tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD để đảm bảo việc mở rộng tín dụng đi đôi với việc đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng cũng như hoạt động của TCTD.

    – Điều hòa lưu thông tiền mặt:

    NHNN tập trung đảm bảo công tác điều hòa lưu thông tiền mặt, đáp ứng khả năng thanh toán, chi trả trong dịp Tết Quý Tỵ vừa qua, triển khai tốt công tác an toàn kho

    Nhóm IV 17

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    quỹ. Trên cơ sở cơ cấu mệnh giá trong lưu thông, NHNN đưa tiền ra lưu thông với cơ cấu hợp lý, đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân; việc điều chuyển tiền mặt phục vụ Tết Quý Tỵ đã được hoàn thành ngay trong tháng 01/2013.

    – Mua lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối:

    NHNN điều hành linh hoạt các kênh cung ứng tiền để kiểm soát tiền tệ hợp lý. Trong điều kiện cung cầu ngoại tệ cải thiện, xu hướng nắm giữ ngoại tệ giảm, NHNN đã mua một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, đồng thời ổn định tỷ giá (qua đó không làm VND mạnh lên, gây khó khăn cho xuất khẩu); song song với mua ngoại tệ giữ ổn định tỷ giá, NHNN tiếp tục thực hiện trung hòa lượng tiền đưa ra mua ngoại tệ thông qua nghiệp vụ phát hành tín phiếu NHNN, giảm áp lực cung tiền tới lạm phát. Bên cạnh đó, NHNN cũng thực hiện thu nợ đối với các khoản cho vay tái cấp vốn đến hạn.

    – Điều hành linh hoạt qua thị trường mở:

    NHNN điều hành chủ yếu thông qua nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD một cách nhanh nhạy và kịp thời, nhất là vào dịp giáp Tết Quý Tỵ khi nhu cầu rút tiền của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội thường tăng cao. Trong 2 tháng đầu năm, NHNN chào mua giấy tờ có giá với khối lượng hợp lý, phù hợp với tình hình vốn khả dụng của các TCTD; kỳ hạn 7 ngày và mở rộng lên cả kỳ hạn 14 ngày vào giáp Tết để tránh đáo hạn ngay sau Tết. Nhờ vậy, thị trường diễn biến ổn định, thanh khoản hệ thống đảm bảo, không còn là tác nhân gây ra xáo trộn về lãi suất thị trường.

    • Theo dõi sát tình hình lãi suất của TCTD:

     

    Về điều hành lãi suất, sau khi điều chỉnh giảm 1%/năm vào cuối năm 2012, trong

    năm 2013 NHNN giữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng ở mức 10%/năm, giảm lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm và lãi suất tái chiết khấu ở mức 6%/năm.

    Ngoài ra, NHNN theo dõi sát và tăng cường giám sát tình hình chấp hành quy địnhlãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND của tổ chức, cá nhân tại các TCTD.

    Nhóm IV 18

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Kinh tế Vĩ Mô – Nhà xuất bản ĐH Kinh Tế Quốc Dân – 2010
    1. http://thuvienphapluat.vn/archive/Chi-thi-01-CT-NHNN-nam-2013-thuc-hien-chinh-sach-tien-te-dam-bao-hoat-dong-vb168744.aspx
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/Chinh-sach-tien-te-va-nhung-tac-dong-den-doanh-nghiep-trong-thoi-gian-qua/23904.tctc
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Phoi-hop-chinh-sach-tai-khoa-voi-tien-te-trong-giai-quyet-cac-van-de-kinh-te-vi-mo/24000.tct
    1. http://www.baomoi.com/Viet-Nam-lua-chon-chinh-sach-tien-te-nao/126/2914320.epi
    1. http://radiovietnam.vn/theo-dong-su-kien/2013/03/chinh-sach-tien-te-nam-2013-giam-lai-suat-tang-du-no-tin-dung/
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/6-giai-phap-quan-trong-ve-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-thoi-gian-qua/22825.tctc
    Nhóm IV 19

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    DANH SÁCH NHÓM

    1. Nguyễn Thị Dung

     

    1. Bạch Thị Xuân Mai

     

    1. Trần Phan Tú My

     

    1. Nguyễn Huỳnh Nam

     

    1. Ngô Minh Nghĩa

     

    1. Lê Thị Hồng Ngọc

     

    1. Nguyễn Thị Bích Ngọc

     

    1. Nguyễn Thị Thanh Nguyệt
    Nhóm IV 20

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-x%E1%BA%A3-Stress.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Đề tài : phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả stress

     

    Chúng tôi sẽ phân tích trên các góc độ chủ yếu như sau :

    1. Giới thiệu dự án
    2. Kế hoạch sản phẩm
    3. Chiến lược Marketing
    4. Công nghệ và kỹ thuật của dự án
    5. Tài chính của dự án
    6. Hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án
    7. Tổ chức quản lý dự án
    8. Phương án quản trị rủi ro

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1, Giới thiệu dự án :

      1.1. Giới thiệu tóm lược công ty :

    Vị trí : Công ty do mới thành lập nên vị trí trong ngành về lý thuyết là chưa cao, tuy nhiên đây là loại hình dịch vụ còn khá mới mẻ ở nước ta, hơn nữa đối thủ cạnh tranh dường như không có cho nên có thể nói là công ty có vị trí rất thuận lợi dù xuất phát điểm rất thấp.

    Mục tiêu : của công ty trong ngắn hạn là sẽ chiếm lĩnh toàn bộ thị trường Hà Nội tiếp đến sẽ là TP Hồ Chí Minh và toàn các thành phố lớn trong cả nước. Lợi nhuận trong năm đầu tiên là 500 triệu VND và sẽ tăng trưởng với tốc độ 25% / năm trong các năm tiếp theo.

    Đường lối phát triển hoạt động kinh doanh của công ty là luôn sáng tạo và cung cấp những giá trị vượt trên những gì mà khách hàng mong muốn nhận được từ chúng ta.

       1.2. Đánh giá tổng quát môi trường kinh doanh của công ty :

    Điểm mạnh của công ty: là tiên phong trong khai phá thị trường trong nước do đó ưu thế về sự độc tôn về dịch vụ là rất lớn.

    Điểm yếu của công ty: kinh nghiệm còn ít, khả năng nắm bắt nhu cầu khách hàng có thể chưa được nhạy bén.

    Thuận lợi: Công ty với đội ngũ tràn đầy khí thế của “ người đi khai phá vùng đất mới ” khao khát thành công, không sợ khó khăn. Việt Nam là một nước đang phát triển với một tốc độ rất nhanh lượng người bị căng thẳng mệt mỏi vì thế không ngừng tăng lên do áp lực công việc ngày càng lớn, vì vậy đây là thị trường rất tiềm năng là một mỏ vàng đang chờ khai thác.

    Khó khăn: Quỹ đất của công ty không có do đó phải đi thuê mặt bằng, để thuê được một nơi có vị trí đẹp rất tốn kém trong khi nguồn vốn của công ty là hạn chế do mới thành lập nên chưa thể đi vay vì uy tín không có trên thị trường.

    Từ những lý do trên chúng tôi thấy dự án này rất cần thiết đối với công ty trong việc thực hiện đường lối, vì nó sẽ là sản phẩm đầu tiên để toàn thể mọi người trong công ty thỏa sức sáng tạo ra những giá trị hữu ích làm hài lòng khách hàng, qua đó mang lại lợi nhuận cho công ty, từng bước tạo vị thế vững chắc trong lòng khách hàng. Mặt khác nó cũng góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn vì khi con người được giải tỏa căng thẳng ức chế thì sẽ không có xung đột, gây hấn giữa mọi người, mặt khác nó tạo ra nguồn thu cho ngân sách của địa phương bằng tiền thuế các khoản phí lệ phí nộp hàng năm.

    1.3. Giới thiệu ngành nghề kinh doanh của dự án:

    – Ngành nghề kinh doanh của dự án là cung cấp dịch vụ giúp con người giải tỏa stress trong công việc và cuộc sống.

    + Tầm quan trọng: đây là một loại hình dịch vụ rất quan trọng bởi vì nó giúp con người lấy lại cảm giác thoải mái, dễ chịu, vì vậy nâng cao khả năng làm việc tăng chất lượng sống, giảm thiểu bạo lực trong gia đình và xã hội.

    + Đặc tính: đây là loại hình rất đặc biệt vì nó giúp con người trút mọi bực tức, căm giận ra ngoài do đó phương pháp và cách làm sẽ khác các loại dịch vụ thông thường khác.

    + Mức độ cạnh tranh: Hiện tại mức độ cạnh tranh gần như là bằng không tại Việt Nam

    – Khả năng sinh lời và sự phát triển của loại hình dịch vụ này ở Việt Nam là rất tiềm năng vì cho tới thời điểm hiện tại hầu như chưa có một cá nhân hay tổ chức nào tiến hành đầu tư vào loại hình này. Trong tương lai đây có thể là vùng đất màu mỡ cho mọi người khai thác với khả năng sinh lời tương đối cao.

    – Chính quyền địa phương rất ủng hộ với loại hình dịch vụ này vì nó có khả năng làm số lượng người gây rối trật tự xã hội giảm xuống, điều này sẽ làm giảm tải cho bộ máy quản lý trật tự trị an từ đó họ có thể chuyển sang hoạt động mặt khác như phòng chống ma túy, buôn người….

    2, Kế hoạch sản phẩm:

     2.1. Nghiên cứu phân tích thị trường

        2.1.1. Xác định rõ loại thị trường và đoạn thị trường sản phẩm, dịch vụ mà dự án sẽ tham gia.

    Công ty chúng tôi lựa chọn khách hàng của mình theo tuổi tác và thu nhập, tâm lý, địa vị xã hội. Tất nhiên là lứa tuổi của khách hàng có thể được chia nhỏ hơn: những khách hàng ở độ tuổi 25 có thể khác xa những người ở độ tuổi 39 về các nhu cầu tài chính. Tiềm năng sinh lời của khách hàng cũng phụ thuộc vào tài sản của họ. Một số người có thu nhập cao nhưng lại có ít tài sản, và một số khác thu nhập còn ở mức trung bình, chưa có sự tích lũy về mặt tài sản cho bản thân (ví dụ như những người mới đi làm). Tuy vậy việc lựa chọn đối tượng khách hàng căn cứ theo tuổi tác, thu nhập tâm lý, địa vị xã hội sẽ góp phần tạo ra những dịch vụ khách nhau cho những đối tượng khách hàng khác nhau.

     

    Bảng số liệu phân tích đặc điểm những khách hàng mục tiêu của dự án

      Từ 25-39 tuổi
    –         Thu nhập trung bình hàng tháng  
     + Dưới 3 triệu Trẻ, thu nhập thấp
     + 3triệu-10 triệu Trẻ, thu nhập trung bình
     + Trên 10 triệu Trẻ, thu nhập cao
    –         Đặc điểm khách hàng Có thu nhập cao, nghề nghiệp chuyên môn cao, ở thành phố.
    –    Tâm lý Là những người thích ăn ngon, thích thời trang, yêu nghệ thuật và hoạt động văn hóa, thích đi du lịch nước ngoài, thích các trò chơi giải trí.
    –         Địa vị xã hội Trí thức, những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế.

    Nhân tố địa vị xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sở thích của khách hàng về quần áo, đồ đạc trong nhà, nhu cầu sử dụng các dịch vụ giải trí…do vậy, công ty thiết kế dịch vụ xả stress cho những khách hàng có địa vị xã hội nhất định.

    Ngoài ra, lựa chọn đoạn thị trường dựa trên thu nhập của khách hàng cũng rất quan trọng. Tuy nhiên thu nhập không dự báo trước khách hàng tốt nhất đối với sản phẩm dịch vụ nhất định của công ty.

    2.1.2.  Xác định nhu cầu và nhu cầu có khả năng thanh toán đối với sản phẩm, dịch vụ của dự án (gồm cả nhu cầu hiện tại và tương lai) theo từng loại và từng đoạn thị trường.

    Sức ép công việc ngày càng lớn, đòi hỏi trong công việc ngày càng cao, hơn nữa tìm được một công việc ngày càng khó… những vấn đề này dường như ai cũng gặp phải trong suốt quá trình làm việc của mình.

    Hơn thế, nhóm khách hàng mục tiêu của công ty là những trí thức , những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế luôn phải phấn đấu để hoàn thiện mình, để giữ vững được vị trí và để thăng tiến. Những người này có nguy cơ mắc bệnh stress cao nên nhu cầu xả stress là rất lớn.

    * Đặc điểm của nhóm khách hàng này
    – Thời gian làm việc dài: Đây là đặc điểm điển hình nhất, 1 ngày làm việc 8 tiếng hầu như là không đủ đối với họ, vì làm thêm, đi sớm về muộn.
    – Áp lực công việc lớn .                                              
    – Thời gian nghỉ ngơi ít:
    Do làm việc quá giờ một cách thường xuyên, không ít  người lợi dụng thời gian nghỉ cuối tuần để ngủ bù. Nhưng như thế cũng làm họ mất đi cơ hội tham gia các hoạt động vui chơi, cuộc sống ngày càng thu hẹp lại và bệnh nghề nghiệp ngày càng nhiều. Công việc quá khắc khổ làm cho họ bị rất nhiều bệnh nghề nghiệp như mỡ máu cao, mỡ gan, các bệnh về dạ dày tiêu hoá. Lại thêm các bệnh do máy tính, điều hoà, bệnh về mắt cũng “không mời mà đến”.
    – Có khoảng cách với người thân trong gia đình: Đối với những người chưa kết hôn thì phải cách một quãng thời gian dài mới được nghỉ phép về thăm bố mẹ, còn đối với những người đã có gia đình thì sáng sớm đi ra khỏi nhà khi con còn chưa thức dậy, tối khi về đến nhà thì con đã ngủ từ lâu rồi.
     – Cơ hội giao lưu ít: Ngoài ra, đối tượng khách hàng của công ty là những khách hàng có thu nhập trung bình và thu nhập cao. Do đó, tùy thu nhập và đặc điểm của khách hàng công ty sẽ cung cấp những sản phẩm dịch vụ nhất định, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng.

    2.1.3. Phân tích và đánh giá sự biến động cũng như xu hướng phát triển của thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án .

    Với xu thế và mức độ phát triển như hiện nay thì nhu cầu xả stress của xã hội là rất lớn và rất cấp bách và cũng là vấn đề mà xã hội đang quan tâm hàng đầu hiện nay. Hiện nay, nhiều công ty cung ứng dịch vụ xả stress ngày càng có xu hướng tăng nhanh đáp ứng nhu cầu của xã hội như karaoke, hồ bơi, tennis…Do vậy, cung ứng những sản phẩm dịch vụ xả stress hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng có nhu cầu xả stress là mục tiêu mà công ty chúng tôi hướng tới.

        2.1.4  Đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường, hoạt động tiếp thị của dự án ( giao tiếp, khuyếch trương, quảng cáo…)

    Theo như chúng tôi được biết thì mô hình xả stress đã hình thành ở Nhật Bản cũng rất thành công. còn ở Việt Nam thì quá mới mẻ và chưa có một mô hình nào có thể đáp ứng được nhu cầu ấy . Cuộc sống hiện đại với biết bao áp lực công việc và những lo toan đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho căn bệnh stress được dịp sinh sôi, nảy nở. Không dừng lại ở những liệu pháp quen thuộc như massage, spa, yoga, giờ đây, dịch vụ xả stres của công ty chúng tôi còn cho ra đời nhiều dịch vụ xả stress độc đáo.

      Hoạt động tiếp thị dự án:

    – Quảng cáo trên truyền hình và thông tin đại chúng (như báo, đài, internet).

    – Trên các tờ rơi và băng rôn áp pích .

    – Liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn

    2.1.5 Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên tất cả các phương diện quy mô, thị phần, điểm mạnh, điểm yếu, lợi thế cạnh tranh và xu hướng phát triển…

    Phân tích những đối thủ cạnh tranh gần nhất của công ty. Đó là những đối thủ tìm cách thỏa mãn cùng những khách hàng và những nhu cầu giống nhau và cung cấp những dịch vụ tương tự.

    Thu thập thông tin về những chiến lược, mục tiêu, mặt mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh. Khi biết được các chiến lược của từng đối thủ cạnh tranh, công ty có thể phát hiện ra những đối thủ cạnh tranh gần nhất và có bước đi phù hợp. Biết được mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh tranh, công ty có thể hoàn thiện dịch vụ của mình để giành ưu thế trước những hạn chế của đối thủ cạnh tranh đồng thời tránh được những dịch vụ sản phẩm là thế mạnh của đối thủ cạnh tranh.

    Qua tìm hiểu thị trường thì đối thủ cạnh tranh chủ yếu của công ty là:

    + Những trung tâm chiếu phim

    + Những quán karaoke

    – Quy mô: khá lớn, đông người qua lại, ở đường lớn

    – Điểm mạnh:

    Rạp chiếu phim: cung cấp dịch vụ chiếu phim, kèm theo dịch vụ giải trí nhằm giúp khách hàng cảm thấy thoải mái, thư giãn khi sử dụng dịch vụ, nhân viên phục vụ nhiệt tình. Chất lượng rạp tốt, có chỗ gửi xe rộng, chất lượng hình ảnh tốt (ví dụ như rạp chiếu phim quốc gia, …

    – Điểm yếu: những dịch vụ giải trí rạp cung cấp chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng trong thời gian ngắn trong khi nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng ngày càng tăng cao

    … những lọai hình dịch vụ này cũng không là trở ngại lớn đối với chúng tôi . vì một khi công ty chúng tôi ra đời là chúng tôi đã đáp ứng đấy đủ mọi điều kiện chăm sóc khách hàng một cách tốt nhất .

    3, Chiến lược Marketing

    Theo một nghiên cứu gần đây, tại Việt Nam, tỉ lệ người rơi vào tình trạng căng thẳng, mệt mỏi là 52%. Ở Hà Nội và TP.HCM, con số này kên đến 55%. Điều này cho thấy stress gần như là căn bệnh gắn liền với xã hội công nghiệp.

    3.1. Đoạn thị trường cung ứng dịch vụ:

    Thị trường mục tiêu của dự án kinh doanh dịch vụ xả stress là những đối tượng trí thức, những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế , hàng ngày luôn phải đối mặt với áp lực cao trong công việc nên nhu cầu để xả stress là rất lớn , để họ trực tiếp có thể tự mình xả stress rũ bỏ hết phiền muộn sau một ngày làm việc .

    Tuổi tác: 22 tuổi đến độ tuổi trung niên.

    Xác định các thông số về các giai đoạn chu kỳ đời sống gia đình

    Giai đoạn vòng đời Nhu cầu xả stress
    1.  Tuổi trẻ  
    1.1  Sống độc thân tách khỏi bố mẹ   Tăng nhẹ
    1.2  Kết hôn, chưa có con   Tăng
    1.3 Vợ chồng trẻ có con cái (1-2con, dưới 10 tuổi) Giai đoạn này gia đình thường rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong việc thỏa mãn các nhu cầuànhu cầu xả stress tăng mạnh.
    2.  Tuổi trung niên  
    2.1  Sống độc thân Tăng
    2.2  Kết hôn chưa có con Tăng
    2.3  Kết hôn có con nhỏ (dưới 10 tuổi) Tăng
    2.4  Gia đình con cái ở tuổi thành niên Giảm dần

    – Nghề nghiệp: nhân viên văn phòng, thương nhân…

    – Tình trạng kinh tế: thu nhập trung bình, thu nhập cao.

    – Nhân cách khách hàng: tính tự tin, tính thận trọng, tính tự lập, tính khiêm nhường, tính thích hơn người (hiếu thắng), tính ngăn nắp, dễ dãi, tính năng động, tính cởi mở, tính bảo thủ.

    à Hiểu được nhân cách người tiêu dùng sẽ tạo được sự thiện cảm ở họ khi chào bán sản phẩm, dịch vụ, thuyết phục mua và truyền thông.

    3.2. Những thuộc tính cơ bản của dịch vụ:

    – Tính độc đáo: Bạn đang bị stress nặng nhưng lại không biết làm cách nào để giải toả? Bạn đang đau khổ và muốn tìm một nơi yên tĩnh để “ tự kỉ” một chút ? Bạn đang bực dọc và muốn trút giận vào đâu đó nhưng lại chẳng biết chỗ nào? Vậy giải pháp cho tất cả những điều trên là gì? Là gì? Và là gì ?

    + Xả stress với phòng xả stress.

    Ví dụ như phòng cách âm, phòng đập chén đĩa. Tại sao lại gọi là phòng xả stress ( hay gọi là phòng tự sướng hoặc phòng tự kỉ đều được )? Nó có điểm gì khác so với các căn phòng bình thường khác?

    Phòng xả stress gọi như vậy vì chức năng chính của phòng là để xả stress. Bạn có thể vào phòng để lá ó, hò hét, đấm đá, khóc lóc hay tự kỉ và tự sướng nhiều kiểu tuỳ thích mà không sợ bị ca thán hay làm phiền( nói chung đây là một chốn riêng tư hết mức). Vậy nên, nó có thể giúp bạn giải toả bớt những bực dọc và phiền muộn. Mặt khác, nó cũng giúp bạn tránh một số rắc rối do va chạm xã hội trọng khi đang có tâm trạng.Đó có lẽ là những khác biệt ( và có thể coi như là ưu điểm) của căn phòng này so với các căn phòng bình thường khác.

    – Cấu trúc : Để đảm bảo việc xả stress của bạn không bị gián đoạn bởi những tiếng la ó khác bên ngoài, bạn cần cách âm cho phòng.

    Công ty chúng tôi cũng có thể sắm bất cứ thứ gì cho căn phòng nếu bạn muốn: giàn loa để nghe nhạc tự kỉ, gấu bông,hình nộm, gối, giấy, bóng bay, đồ thuỷ tinh, sành sứ, gậy  …. Chúng tôi mở cửa và phục vụ khách hàng ngày cũng như đêm và suốt bảy ngày trong tuần. Với số tiền từ 100.000 đến 200.000VND, bạn sẽ nhận bát đĩa, những vật bằng sành sứ, thuỷ tinh dễ vỡ …và thoả thích đập trong mười phút. Đồng thời, khách hàng được mặc những trang phục bảo hiểm để tránh bị thương. Những bức tường được gắn đèn neon sáng choang, kích thích khách hàng trút hết bực dọc vào đó.

    – Tính bảo mật: Những căn phòng như thế này gần như là không gian riêng của bạn khi bạn ở trong đó. Nên có thể nói tính riêng tư và độ bảo mật là khá cao.

    + Xả stress với phòng có những hình nộm và bạn muốn đấm bốc để xả cơn giận của mình lên những thân hình nộm đó.

    Mỗi người mỗi ngày hay mỗi tuần đều có những phút bực bội hay vui sướng tột độ, hoặc đơn giản chỉ là “ngứa chân, ngứa tay”. Trong những lúc như thế họ thường “chia sẻ” tâm sự bằng một vận động tay chân mạnh, như đập bàn, đấm gối bông, hay phát vào ai đó thân thiết một cái thật mạnh. Từ thực tế trên, công ty chúng tôi đã có ý tưởng làm những con bù nhìn hình dáng ngộ nghĩnh (ví dụ, Bin Laden, hay một cô gái sexy, hoặc một con quỷ) bằng chất liệu mềm, như cao su mềm, bị bông cho võ sĩ boxing chẳng hạn, trong đó có cơ chế thu và chuyển cơ năng thành điện năng.

    Khi bạn cần xả stress, chia sẻ nỗi bực dọc, và bạn muốn đấm bốc để xả cơn giận của mình lên những thân hình nộm đó thì những hình nộm đó sẽ nhận được một năng lượng đáng kể. Để cho hấp dẫn, công ty chúng tôi có đặt thêm một đồng hồ đo lực đấm để mọi người biết cú đấm của mình “trị giá” bao nhiêu về năng lượng.

    Với cách thu năng lượng đó, không những có thể giúp mọi người giải trí, mà cách thiết kế cơ chế thu năng lượng cũng đơn giản, đầu tư ít.. đồng thời tạo sự thoải mái tốt nhất cho bạn sau những lấn làm việc căng thẳng, giúp bạn lấy lại sự tự tin của bản thân , đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn, không những vậy mà còn góp một phần nhỏ cho xã hội đẩy lùi được căn bệnh stress này.

    + Xả stress với phòng massage

    Phòng massage thư giãn là một không gian hoàn hảo, màu sắc đủ êm dịu cho sự thanh thản, một chút âm thanh nhẹ nhàng, sâu lắng và trong sáng. Tại đó công ty chúng tôi có các nhân viên massage chuyên nghiệp được đào tạo bài bản, có hiểu biết và đôi tay điêu luyện của nhà vật lý trị liệu, phong cách giao tiếp cởi mở, nhẹ nhàng phù hợp với những khách hàng có lứa tuổi, nghề nghiệp và mức thu nhập khác nhau… nhằm đem đến hiệu quả thư giãn tuyệt đối.

    Với mức thu nhập trung bình, khách hàng vẫn có đủ khả năng được hưởng thụ cảm giác thư giãn trong bất kỳ một salon chuyên nghiệp nào.

    Tác dụng tuyệt vời của massage: liệu pháp massage cung cấp nhiều lợi ích sức khỏe quan trọng bao gồm:

    • Cải thiện lượng máu lưu thông
    • Thư giãn cơ thể
    • Tăng mức độ endorphin (chất hóa học trong cơ thể làm cho bạn cảm thấy khỏe hơn)

    3.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) về địa điểm kinh doanh của dịch vụ:

    Chọn địa điểm kinh doanh ở HN, đặc biệt là ở những trung tâm thương mại lớn .vì ở đây là nơi tập trung một đội ngũ công nhân viên , những người trí thức , những thương nhân làm ăn … đang trực tiếp phải đối mặt với những áp lực cao trong công việc ..Dự kiến mặt bằng lựa chọn có diện tích khoảng 130m2.

    Chúng tôi dự định sẽ thuê tầng hầm của những trung tâm thương mại lớn. Tầng hầm này được chia thành nhiều phòng tương ứng với mỗi dịch vụ công ty cung cấp. Mỗi phòng sẽ được trang trí bằng các hình vẽ, hoạ tiết hay hình thù kỳ lạ, bắt mắt. Đó có thể là hình một khuôn mặt đang giận dữ, nhăn nhó hay cười khoe răng. Thậm chí,có phòng công ty đã sử dụng các hoạ tiết của nghệ thuật graffiti để trang trí. Tại căn phòng này, chúng tôi lắp đặt các dụng cụ xả stress như hình nộm, bát đĩa..

    3.4  Xác định kênh phân phối dịch vụ đối với khách hàng với mục đích đảm bảo cho khách hàng được hưởng quyền lợi chính đáng

    + Kênh phân phối sản phẩm: Sử dụng kênh phân phối trực tiếp, công ty kinh doanh dịch vụ xả stress bán trực tiếp sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ công ty sử dụng lực lượng tiếp thị, quảng cáo dịch vụ đến từng hộ gia đình thông qua phát tờ rơi, băng rôn áp pích hay thiết kế catalog bắt mắt, ấn tượng có in hình ảnh, những thuộc tính cơ bản của các sản phẩm, dịch vụ… công ty cung cấp. Điều này cho phép người tiêu dùng lựa chọn dịch vụ họ mong muốn trước khi họ có nhu cầu tìm đến với các dịch vụ của công ty.

    Ngoài ra, công ty có thể sử dụng một số phương thức quảng cáo khác như:

    – Quảng cáo trên truyền hình và thông tin đại chúng (như báo, đài, internet): Ví dụ, khi công ty mới khai trương, một trong số những cách tiếp cận khách hàng nhanh và hiệu quả nhất đó là công ty mời người nổi tiếng đến tham quan và mời họ sử dụng thử các dịch vụ do công ty cung cấp. Tiếp đó, thông qua các phương tiện  quảng cáo trên truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng, công ty có thể thu hút được lượng khách hàng mới đáng kể.

    – Liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn:

    3.5  Dự kiến chính sách giá cả, các khung giá và mức giá cụ thể:

    – Theo nghiên cứu mới nhất của chúng tôi là, khách hàng có thể phải bỏ ra tới 500.000VND trở lên để có thể xả stress với những hình thức thông thường mà khách hàng hay lui tới.

    – Còn với chúng tôi thì chỉ phải bỏ từ 100.000 đến 200.000VND là có thể được xả stress một cách khoa học, đem lại cảm giác thư thái và lấy lại sự tự tin trong cuộc sống , mà dần dần căn bệnh stress này có thể bị đẩy lùi và biến mất .

    + Dự kiến khung giá, mức giá cụ thể cho các sản phẩm dịch vụ

    Danh mục Mức giá
    1. Phòng cách âm để có thể khách hàng la hét

     

    2. Phòng có những hình nộm cho những ai muốn đấm bốc để xả cơn giận

    3. Phòng đập chén đĩa, đồ thủy tinh dễ vỡ

    100.000-200.000 VNĐ
    4. Phòng nghỉ trưa, phòng ngủ oxi  
    5. Tâm lý trị liệu …  
    6. Phòng massage . 400.000-500.000VNĐ

    3.6 Xác định ngân sách cho hoạt động Marketing cho toàn bộ dự án và cho từng mặt hàng, dịch vụ chủ yếu.

    Ngân sách cho hoạt động marketing cho toàn bộ dự án là 80.000.000 VNĐ sẽ được phân ra hai phần ba dành cho truyền hình, báo chí và một phần ba dành cho việc quảng cáo bằng các tờ rơi và băng rôn áp phích, liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn.

     

     

     

    Bảng ngân sách cho hoạt động marketing cho từng dịch vụ:

    Danh mục Ngân sách marketing
    1. Phòng cách âm để có thể khách hàng la hét

     

    2. Phòng có những hình nộm cho những ai muốn đấm bốc để xả cơn giận

    3. Phòng đập chén đĩa, đồ thủy tinh dễ vỡ

    10.000.000VNĐ
    4. Phòng nghỉ trưa, phòng ngủ oxi 25.000.000VNĐ
    5. Tâm lý trị liệu … 10.000.000VNĐ
    6. Phòng massage . 15.000.000VNĐ
    7. Phòng đội ngũ chuyên gia tư vấn tâm lý chuyên nghiệp

     

    8. Câu lạc bộ trò chuyện

    20.000.000VNĐ

    Nội dung quảng cáo sẽ nhấn mạnh đến việc đem lại sự thoải mái, lấy lại trạng thái cân bằng về tâm lý, giúp cho khách hàng yên tâm hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống. Quan điểm thực hiện quảng cáo sẽ xoay quanh chủ đề mở một công ty về dịch vụ xả stress , vừa có thể giúp bản thân mình ,vừa giúp mọi người có thể tự xả stress cho bản thân.

    4, Công nghệ và kỹ thuật của dự án:

          Đây là loại hình dịch vụ xả stress nên công nghệ kỹ thuật áp dụng không phải là những dây chuyền trang thiết bị giống như dự án sản xuất, mà chúng tôi chỉ sử dụng những máy móc cần thiết theo loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Cụ thể như sau:

    – Phòng cách âm: Công nghệ kính cách âm, tường cách âm theo tiêu chuẩn Nhật Bản.

    – Phòng massage: Phương pháp massage cổ truyền ( châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, tắm thảo dược…) kết hợp hiện đại máy massage, thiết bị tạo xung động cơ giúp hết đau mỏi, xông hơi nước, xông hơi khô, tắm tia, bể xục nóng, bể xục lạnh và các bồn ngâm thuốc. Ngoài ra còn có máy điều hòa, giường, ghế massage…

    – Phòng ngủ oxi: Thiết bị lọc bụi bẩn vi khuẩn giúp không khí trong lành, máy tạo oxi làm giàu lượng oxi, thiết bị cách âm.

    – Phòng xả giận, đập phá: công nghệ cách âm, bao bố hình nộm kỳ dị cho mọi người thỏa sức đấm đá, gào thét; bát, đĩa …đồ sành sứ để khách hàng có thể thỏa sức đập phá ( tương ứng với số tiền bỏ ra ).

    Trong tất cả các phòng còn sử dụng công nghệ âm thanh stereo, ánh sáng tương ứng mỗi phòng là một loại nhạc phù hợp với tâm trạng cũng như ý đồ phục vụ của chúng tôi.

    5, Phương án tài chính.

     

    STT Loại tài sản Đơn vị Diện tích Đơn giá Thành tiền
     

    Nhà cửa vật kiến trúc                    SL

    1 Nhà kho 1 m2 9 600 5.400
    2 Phòng điều khiển trung tâm 1 m2 20 1.000 20.000
    3 Phòng tiếp khách 1 m2 15 800 12.000
    4 Phòng tư vấn 1 m2 15 1.000 15.000
    5 Nhà vệ sinh 2 m2 20 500 10.000
    6 Phòng ngủ oxi 1 m2 15 800 12.000
    7 Phòng massage 1 m2 20 1.000 20.000
    8 Phòng đập phá, la hét 2 m2 30 1.000 30.000
    9 Phòng karaoke, chiếu phim 1 m2 30 1.000 30.000
    10 Phòng bảo vệ – 1 phòng 1 m2 8 500 4.000
     

    Tổng cộng

    158.400

    Bảng dự trù về thiết kế và lắp đặt cho dự án                                                                  Đơn vị 1000 đồng

     

     Dự trù về thiết bị cho dự án

    Đơn vị: 1000đ

    STT Thiết bị SL Đơn giá Thành tiền
    1 Máy tính để bàn 5 5.000 25.000
    2 Máy điều hòa 9 4.000 36.000
    3 Máy chiếu 1 15.000 15.000
    4 Dàn karaoke 1 15.000 15.000
    5 Máy lọc không khí 2 5.000 10.000
    6 Điện thoại: 4 để bàn, 2 di động T.bé   10.000
      Tổng cộng     110.000

    Bảng dự trù nguồn vốn cho dự án

    Đơn vị: 1000 đồng

    STT Nội dung Thành tiền  
    1 Vốn thuê đất (1 năm) 480.000  
    2 Vốn thiết kế và lắp đặt 158.400  
    3 Vốn thiết bị 110.000
    4 Vốn nguyên vật liệu (1 năm) 102.606  
    5 Chi phí khác 30.000  
    6 Tổng cộng 881.006  
    7 Dự phòng 15% 132.150  
      Tổng vốn của dự án 1.013.156  
             

     

    5.1 Cơ cấu nguồn vốn:

    • Tổng vốn đầu tư dự án 1.013.156.000
    • Vốn góp: 215.000.000
    • Vay ngân hàng: 800.000.000
    • Lái suất 11%/năm
    • Thời hạn vay: 3 năm
    • Phương thức thanh toán: mỗi năm trả nợ gốc + lãi

    5.2  Dự kiến kế hoạch trả nợ

     

    Năm D­ự nợ đầu năm Trả nợ trong năm D­ư nợ cuối năm
    Trả nợ gốc Tiền lãi

    Tổng cộng

     

    Lãi suất

    11%      
    Năm 1 800.000.000 266.666.667 88.000.000 354.666.667 445.333.333
    Năm 2 445.333.333 266.666.667 48.986.667 315.653.334 129.679.999
    Năm 3 129.679.999 266.666.667 14.264.799 280.931.466  0

     

    5.2.1  Dự kiến doanh thu năm đầu:

    1 tỷ/năm, số vốn đầu tư còn lại sẽ thu hồi trong  2 năm sau.

    5.2.2  Xác định chi phí dự án bao gồm:

     

     

     

     

    + Chi phí nguyên vật liệu đầu vào

    STT Tên nguyên vật liệu Đơn vị Sl cả năm Đơn giá (ko VAT) Thành tiền
    1. Chén, đĩa, bát Kg 10.000 3.000 3.000.000
    2. Hình nộm Con 100 70.000 7.000.000
    3. Phim hài DVD 100 6.000 600.000
    4. Truyện hài Quyển 200 10.000 2.000.000
    5. Điện KWH 45.375 1.058 48.006.750
    6. Thông tin liên lạc Tháng 12 1.000.000 12.000.000
    7. Vật liệu khác       30.000.000
      Tổng cộng       102.606.750

     

    + Chi trả lương người lao động: 90.000.000

    + Chi phí sửa chữa: 30.000.000

    + Chi phí trả lãi vay đầu tư: 151.251.466

    Năm 1: 88.000.000

    Năm 2: 48.986.667

    Năm 3: 14.264.799

    + Chi phí thuê đất đai: 480.000.000/năm

    + Chi phí quản lý: 1% doanh thu = 12.000.000

    + Chi phí quảng cáo: 10% doanh thu = 120.000.000

    TT

    Nội dung

       
    Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5  
    1 Nguyên vật liệu 102.606.750 102.606.750 102.606.750 102.606.750 102.606.750  
    2 Chi phí lao động 90.000.000 90.000.000 90.000.000 90.000.000 90.000.000  
    3 Chi phí sửa chữa (khấu hao) 30.000.000 30.000.000 30.000.000 30.000.000 30.000.000  
    4 Chi phí trả lãi vay 88.000.000 48.986.667 14.264.799 0 0  
    5 Chi phí thuê đất 480.00.000 480.00.000 480.00.000 480.00.000 480.00.000  
    6 Chi phí quản lý 12.000.000 14.000.000 14.000.000 14.000.000 14.000.000  
    7

    Chi phí quảng cáo

    120.000.000 140.000.000 160.000.000 100.000.000 90.000.000  
     

    Tổng

    1.040.606.750 905.593.417 850.871.549 816.606.750 806.000.000  

    Bảng xác định chí phí hoạt động kinh doanh năm

    TT

    Chỉ mục

     

     

    Năm1

    Năm2  

     

    Năm3

     

     

    Năm4

     

     

    Năm5

    1 Tổng doanh thu 1.000.000.000 1.200.000.000 1.400.000.000 1.600.000.000 1.800.000.000
    2 Tổng chi phí 1.040.606.750 905.593.417 850.871.549 816.606.750 806.000.000
    3 Thu nhập chịu thuế -40.606.750 294.406.683 549.128.451 783.393.250 994.000.000
    4 Thuế thu nhập 0 73.601.646 137.282.113 195.848.313 248.500.000
    5 Lợi nhuận ròng -40.606.750 220.805.012 441.846.338 587.554.973 745.500.000

    Bảng dự trù lỗ lãi

    5.3   Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án

      5.3.1  Thời gian hoàn vốn

    Thời gan hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án thu lại những chi phí đã bỏ ra , nói cách khác thời gian hoàn vốn là thời gian cần phải chờ đợi trước khi dự án bắt đầu sinh lợi nhuận .

    Xác định thời gian hoàn vốn :

    * Phương pháp không tính đến giá trị thời gian của tiền:

    – Thời gian hoàn vốn đầu tư từ lợi nhuận thuần:

    Ta có :

    Trong đó :

    Ti: thời gian thu hồi vốn

    K: tổng số vốn đầu tư

    LR:lãi ròng hàng năm

    LR =  ( -40606750 + 220805012+441846338+587554973+745500000) /  5

    = 391019914.6 (đ)

    Ti    =  1,013,156,000 / 391,019,914.6   = 2.591 (năm)

    • Thời gian thu hồi vốn đầu tư từ lợi nhuận thuần và khấu hao :

    Ti  =

    Với tỷ lệ khấu hao tài sản cố định 10%/ năm , tổng giá trị khấu hao :

    KH = 268,400,0000.1 5 = 134, 200,000 (đ)

    Thời gian thu hồi vốn :

    Ti  = 1,013,156,000/ ( 391,019,914.6 + 134,200,000) =1.929 (năm)

    * Phương pháp có tính đến giá trị thời gian của tiền

    5.3.2  Điểm hòa vốn:

    Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu từ cung cấp dịch vụ từ đầu đời dự án bằng tổng chi phí khả biến từ đầu đời dự án đến điểm đó cộng vói tổng định phí của cả đòi dự án

    Tổng chi phí cố định bao gồm :chi phí quản lý , chi phí thuê mặt bằng , chi phí sử dụng vốn, chi phí quảng cáo . Tổng chi phí cố định của toàn bộ dự án : 3,221,251,466 đ

    Biến phí của 1 đơn vị sản phẩm: 31,801

    • Số lượng hòa vốn = 3,221,251,466 /(200,000-31,801) = 19151
    • Doanh thu hòa vốn = 200,000 19151 = 3,830,200,000 đ
    • Mức hoạt động hòa vốn : là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng hòa vốn so với tổng sản lượng hoặc doanh thu hòa vốn với tổng doanh thu

    Tổng sản lượng của dự án : 35,000

    Mức hoạt động hòa vốn =   100% = 54.47%

    Mức hoạt động hòa vốn của dự án khá cao chứng tỏ công ty phải hoạt động trong một thời gian tương đối lâu để đạt được tới điểm hòa vốn .

    5.3.3  Giá trị hiện tại thuần (NPV)

    NPV là hiện giá thu hồi thuần của dòng lợi ích gia tăng

    NPV  = –

    Trong đó :

    -Bi : lợi ích thuần trong năm i

    – r: lãi suất

    – n : tuổi thọ của dự án

    – Ci: chi phí trong năm i

    +  Hệ số chiết khấu :

    ở đây ta chọn hệ số chiết khấu bằng với lãi suất ngân hàng : 11%

    + Xác định giá trị hiện tại của:

    Các khoản chi :

    +  3,310,879,365 đ

    Các khoản thu :

    +Xác định NPV:

    NPV  =  5,020,697,704  –  3,310,879,365  = 1,709,818,339  đ    > 0

    Với giá trị NPV đã được xác định như trên cho thấy việc đầu tư vào dự án này là xứng đáng bởi nó đem lại cho nhà đầu tư một khoản lợi nhất định hay dự án có khả năng sinh lời .

    5.3.4  Hệ số hoàn vốn nội bộ ( IRR)

    Hệ số hoàn vốn là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu ,chi phí của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng doanh thu sẽ cân bằng với tổng chi  hay  NPV=0 . Nghĩa là các nguồn tiền của dự án chỉ đủ để hoàn vốn đầu tư  và trả lãi suất cho việc sử dụng nguồn vốn đó .

    Vì trong quá trình hoạt động dự án ko có sự thay đổi về vốn lưu động nên ta có

    Dòng tiền ròng (NCF )= lợi nhuận sau thuế + khấu hao (M­­­i)

    Tổng chi cho các thiết bị, máy móc là 110.000.000

    Khấu hao tài sản bằng pp thời hạn sử dụng giảm dần

    M­­­i = 110,000,000 x Ti

    STT Số năm sd còn lại Ti M­­­i = 110,000,000 x Ti

     

    (4)

    Lợi nhuận sau thuế

     

    (5)

    NCF

     

    (6) = (4) + (5)

    1. 5 5/15 36.666.667 -40.606.750 -3.940.083
    2. 4 4/15 29.333.333 220.805.012 250.138.345
    3. 3 3/15 22.000.000 441.846.338 463.646.338
    4. 2 2/15 14.666.667 587.554.973 602.221.640
    5. 1 1/15 7.333.333 745.500.500 752.833.833
    Tổng = 15          

    Căn cứ vào bảng trên dùng excel tinh IRR

    IRR = 20%

    5.3.5   Tỷ lệ lợi ích/ Chi phí ( B/C)

    Với lãi suất r = 11%

    B/C =    =  = 1.516

    Trong đó :

    Bi: lợi ích ở năm i

    Ci : chi phí ở năm i

    r: lãi suất trong năm

    Tỷ lệ B/C >1 chứng tỏ dự án này có khả năng bù đắp chi phí và có lãi nên công ty nên lựa chọn đầu tư vào dự án này

    5.3.6  Tỷ lệ lợi ích thuần / vốn đầu tư ( NB/ K)

         Tỷ lệ NB/K là chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn vốn đầu tư ban đầu của dự án bằng dòng lợi ích thuần . Tỷ lệ NB/K được xác định bằng quan hệ tỷ lệ giữa tổng giá trị hiện tại của dòng lợi ích thuần khi dòng này nhận giá trị dương chia cho giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu .

    – Xác định giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu:

    1,013,156,000(    =          3,744,520,239  đ

    – Xác định giá trị hiện tại lợi ích thuần :

    NB/K  =   = 0.358

    5.3.7  Mức độ an toàn về vốn và khả năng thanh toán

    Mức an toàn vốn thể hiện ở 2 chỉ tiêu :

    – Tỷ lệ vốn riêng :

    215,000,000/ 1,013,156,000  =  0.2122

    – Tỷ lệ vốn tự có và vốn vay :

    215,000,000 /800,000,000  =  0.26875

    Qua hai chỉ tiêu trên ta nhận thấy mức độ an toàn về vốn và khả năng thanh toán của dự án là rất thấp .Tuy nhiên , đây là một dự án khá triển vọng nên các chỉ số trên có thể cho phép thấp hơn so với mức trung bình một chút.

    6, Hiệu quả kinh tế xã hội

    Việc công ty dịch vụ chúng tôi ra đời đã một phần nào đó làm giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Giúp cho những người đang hàng ngày phải đối mặt với áp lực công việc cao, cảm thấy thoải mái tự tin hơn, lấy lại được tinh thần và sức khỏe sau những làm việc căng thẳng, không những vậy mà dần dần có thể giảm stress và đẩy lùi được căm bệnh này. Không những vậy mà còn giúp cho những thanh thiếu niên có hướng đi đúng và nhận thức rõ hơn về bản thân mình đối với xã hội, không lao vào những trò xả strees vô bổ gây hại cho bản thân, gia đình và xã hội.

    – Việc ra đời loại hình dịch vụ này đã dần từng bước giúp xã hội đẩy lùi được căn bệnh stress mà giờ nó rất phổ biến đối với những nước có nến kinh tế phát triển và đang phát triển như Việt Nam, cũng có nghĩa là giảm được một chi phí không nhỏ cho nhà nước về các vấn đề xã hội .

    – Với nhu cầu xả stress ngày càng lớn của xã hội, thì việc ra đời của công ty đã góp một phần không nhỏ vào nhu cầu chung đó của xã hội .

    – Nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên và xã hội ngày một hoàn thiện hơn .

    Về mặt kinh tế sau khi ra đời công ty sẽ tạo một khoản thu cho ngân sách địa phương nhờ việc đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại phí lệ phí. Chúng tôi cũng sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội trong phạm vi khả năng cho phép của ngân quỹ tài chính công ty.

     7, Tổ chức quản lý

    7.1  Lựa chọn hình thức tổ chức dự án

    Do dự án này có tầm quan trọng chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của công ty nên chúng tôi quyết định sử dụng hình thức “tổ chức theo dự án”

     

    Sơ đồ tổ chức theo dự án

     

     

    7.2 Quản trị thời gian và tiến độ dự án

     

    Xác định các công việc dự án ,mỗi quan hệ và trình tự thực hiện các công việc:

      Thứ tự Công việc Thời gian (tháng)      Mối liên hệ
         A1 Nghiên cứu thị trường 6 Không có
         A2 Thống kê tài sản 2           Không có
         A3 Tham gia khóa học thêm về lĩnh vực mình kinh doanh. 4 Sau A1
         A4 Tuyển lao động 2 Sau A3
         A5 Đào tạo lao động 8 Sau A4
         A6 Thuê mặt bằng và đăng ký kinh doanh 2 Sau A2
         A7 Xây dựng cơ sở vc-kt 10 Sau A6
         A8  Mua và Lắp đặt trang thiết bị 12 Sau A7
         A9 Chiến dịch marketing 3 Sau A4,A8

       

     A2Theo sơ đồ trên ta thấy có  3 tiến trình cơ bản:

    + Tiến trình 1: Bao gồm  A1—-A3—-A4——-A5

    +Tiến trình 2:                    A2—-A6—–A7—–A8—-A9

    Như vậy tiến trình có tổng thời gian lớn nhất là  tiến trình 1 (29 tháng) là tiến hành Gantt. Các công việc A2, A6, A7, A8, A9 là các công việc của Gantt.Thời gian Gantt của dự án là 29 tháng đây là thời gian để hoàn thành dự án theo sơ đồ PERT

     

    8, Phương án quản trị rủi ro

    8.1 Các loại rủi ro

    Đây là loại hình dịch vụ còn mới mẻ ở  Việt Nam, nên có thể nhiều người còn chưa biết tới và không tin tưởng để bỏ những thói quen xả stress thông thường để đến với công ty.

    Từ trước đến nay, người Việt Nam thường quen với các kiểu xả stress thông thường như: vào các  trung tâm massage hay các rạp chiếu phim, nghe ca nhạc, chơi thể thao, tệ hơn là có thể mắng chửi vợ, con hay những người xung quanh hoặc gây gổ đánh nhau….họ chưa nghe đến dịch vụ  này bao giờ. Bởi vậy, thay đổi thói quen không  phải việc dễ dàng với họ, đòi hỏi cần phải có thời gian. Bên cạnh đó, một số người còn chưa hiểu rõ về stress, đơn giản họ chỉ thấy mệt mỏi rôì đi đâu đó hay làm cái gì mình thích là được nên có thể trung tâm không có mấy khách.

    –  Vì là một công ty mới bước vào thương trường kinh doanh, nên có thể còn có nhiều hạn chế và kinh nghiệm trong trong kinh doanh, nắm bắt nhu cầu, đặc điểm của những khách hàng khó tính.

    Khi bắt đầu kinh doanh một dịch vụ mới, công ty nào cũng phải đương đầu với các rủi ro về tài chính, thị trường hoặc về chất lượng, hình thức dịch vụ… những rủi ro đó có thể khiến khách hàng xa lánh công ty. Viêc thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh là vấn đề không phải nhỏ chính vì vậy, đây là một trong những điểm làm tăng mức độ rủi ro của dự án.

    – Rủi ro về các đối thủ cạnh tranh, (như các trung tâm và các loại hình dịch vụ có liên quan..) . Như những trung tâm massage, những câu lạc bộ chiếu phim, những khu giải trí tổng hợp như Thiên Đường Bảo Sơn …

    Như ở trên chúng tôi đã nói ở trên, để thay đổi thói quen của một người không phải dễ mọi người đã quá quen thuộc với các cách giải trí trước đây, trong khi các trung tâm giải trí này đã có từ lâu. Họ trang bị cho mình kinh nghiệm đúc rút qua từng thời kỳ kinh doanh nên đối thủ cạnh tranh của công ty không phải là tầm thường, chúng ta cũng phải kể đến số lượng đối thủ  không phải là ít.

    8.2  Phương án quản trị rủi ro.

    Vì đây là loại hình dịch vụ khá  mới mẻ, mặt khác người Việt Nam có tính tò mò và hiếu kỳ rất cao, nên đây cũng là điểm mạnh để cho khách hàng có thể tìm hiểu và tới để thử xả stress theo một cách mới hơn.

    Do đó để thu hút khách hàng chúng tôi sẽ sử dụng những chiêu thức Marketing độc đáo như:

    – Tạo ra những quảng cáo gây tò mò, những video độc đáo để thu hút sự chú ý của khách hàng, có thể và cần thiết chúng tôi sẽ mời những ca sĩ diễn viên nổi tiếng để PR cho dịch vụ này.

    – Luôn tạo sự quan tâm tốt nhất cho khách hàng. Khách hàng đến với công ty chúng tôi sẽ được hưởng những dịch vụ sau bán như được gửi thư chúc mừng sinh nhật, các ngày lễ, tết; các phương pháp luyện tập để lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống.

    – Luôn tạo ra sự khác biệt trong chiến lược kinh doanh.

    – Vì chúng tôi có những phương pháp khoa học và có những hướng đi đúng giúp khách hàng có thể cân bằng lại tâm hồn và thể xác của mình, giúp họ lấy lại được sự tự tin, vui vẻ trong cuộc sống và công việc.

    – Công ty có một độ ngũ nhân viên có trình độ và luôn quan tâm tới khách hàng một cách ân cần và với phong cách chuyên nghiệp nhất.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

          Với một sản phẩm dịch vụ mới khá độc đáo, chúng tôi tự tin là sẽ tạo ra một trào lưu mới về phương pháp stress của người dân Việt Nam. Bằng những chiến lược và chiến thuật kinh doanh cụ thể, các mục tiêu tài chính, kinh tế tài chính và văn hóa của công ty được xác định rõ ràng trong cả ngắn và dài hạn thì có thể nói rằng dự án này nhất định sẽ thành công.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/H%C6%AF%E1%BB%9ANG-D%E1%BA%AAN-L%C3%80M-TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    PHƯƠNG PHÁP LÀM TIỂU LUẬN

    Phần I:

    YÊU CẦU CỦA TIỂU LUẬN

    _Làm tiểu luận là một trong những công việc mà người sinh viên phải thực hiện trong quá trình học tập tại trường đại học. Để làm tốt tiểu luận, cần phải nắm được các yêu cầu của tiểu luận. Phần này sẽ trình bày vắn tắt các yêu cầu đó, bao gồm : Yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hình thức, yêu cầu về phương pháp.

    I.1: Yêu cầu về nội dung

    _Tiểu luận là một bài tập nghiên cứu khoa học sau khi học xong một môn học nào đó. Nội dung của tiểu luận phải có liên quan đến môn học, góp phần giải đáp, mở rộng hoặc nâng cao kiến thức về một vấn đề khoa học thuộc môn học. Người làm cần phải đưa ra những nghiên cứu riêng, ý kiến riêng của mình về vấn đề khoa học được đề cập tới trong tiểu luận. Không nên dừng ở mức độ chỉ tổng hợp các tài liệu và ý kiến có sẵn.

    I.2: Yêu cầu về hình thức

    _Tiểu luận cần được soạn thảo bằng máy tính, trình bày đúng qui cách, bao gồm các điểm chính :

    +Tiểu luận được làm trên khổ giấy A4.

    +In kiểu chữ Times, cỡ chữ 13, nên in 1 mặt.

    +Số dòng in trong một trang là 26-27 dòng (dãn cách dòng 1,5 lines).

    +Không nên lạm dụng các tính năng trình bày của máy tính, chỉ nên trình bày rõ ràng, sáng sủa. Tiểu luận cần được viết với văn phong giản dị, trong sáng, sử dụng chính xác các thuật ngữ chuyên môn, đặc biệt, không được mắc các lỗi chính tả và ngữ pháp. Muốn vậy, sau khi hoàn thành xong về nội dung, trước khi in, cần phải đọc lại và sửa chữa kỹ lưỡng về chính tả, ngữ pháp, câu văn và cách trình bày trang in.

    _Về hình thức, tiểu luận bao gồm các thành phần chính sau :

    +Bìa : Ngoài cùng của tiểu luận là bìa tiểu luận. Bìa được làm bằng giấy cứng, phía trên cùng đề tên trường và khoa, giữa trang đề tên đề tài bằng khổ chữ to, góc phải cuối trang đề họ tên người hướng dẫn, người thực hiện đề tài, lớp và năm học. Trang bìa có thể đóng khung cho đẹp.

    +Trang bìa : Là bản chụp của bìa, in trên giấy bình thường.

    +Lời cảm ơn (nếu cần)

    +Mục lục

    +Phần nội dung chính: Đây là phần trình bày kết quả nghiên cứu của tiểu luận. Phần này gồm nhiều phần nhỏ, được trình bày chi tiết ở mục sau (xem mục II.3).

    +Danh mục tài liệu tham khảo

    +Phụ lục (nếu cần)

    I.3: Yêu cầu về phương pháp

    _Viết tiểu luận là tập nghiên cứu khoa học, tiểu luận có thể được coi là một công trình khoa học nho nhỏ. Do vậy cần phải xác định rõ phương pháp thực hiện tiểu luận bao gồm các phương pháp nghiên cứu của ngành học cùng với các phương pháp hỗ trợ khác, trong đó phương pháp sử dụng máy tính để soạn thảo văn bản.

    Phần II:

    CÁC BƯỚC THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

    _Sau khi xác định được các yêu cầu của tiểu luận, cần phải phân chia việc thực hiện tiểu luận thành các công việc nhỏ hơn và đơn giản hơn, định rõ thứ tự thực hiện các công việc đó, thời gian cần thiết cho từng công việc. Tức là phải xác định các bước thực hiện tiểu luận. Kết quả của việc này là một bản kế hoạch thực hiện tiểu luận được giáo viên hướng dẫn chấp thuận.

    _Phần này trình bày các bước chính để thực hiện một tiểu luận (*), bao gồm các bước :

    +Xác định đề tài

    +Tập hợp thông tin,

    +Lập đề cương

    +Giải quyết từng mục trong nội dung nghiên cứu

    +Hoàn thiện tiểu luận

    (*) Tất nhiên, tùy theo môn học và đề tài mà có thể phải có thêm bớt các bước.

    II.1: Xác định đề tài

    _Trước tiên cần tìm kiếm và lựa chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài có thể do người hướng dẫn nêu ra nhưng cũng có khi sinh viên phải tự tìm kiếm. Có thể tìm kiếm đề tài trong chương trình học hoặc trong thực tiễn liên quan tới ngành hoặc môn học.

    _Cần phải xác định rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài như giới hạn về nội dung, về mức độ nghiên cứu, đối với một số ngành còn phải giới hạn về thời gian, không gian của sự kiện, điều kiện thực hiện…. Vì thời gian làm tiểu luận có hạn nên cần chọn những đề tài vừa sức và phải đưa ra những giới hạn phù hợp, đừng nên chọn những đề tài quá khó, quá rộng.

    _Khi trình bày với giáo viên hướng dẫn, cần phải nói rõ nội dung đề tài, lý do chọn đề tài, phương pháp nghiên cứu đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu và cuối cùng là tên đề tài (tên đề tài ngắn gọn, chính xác với nội dung và giới hạn của đề tài).

    II.2: Tập hợp thông tin

    _Sau khi đã xác định được đề tài nghiên cứu của tiểu luận, cần phải tập hợp các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, ví dụ như :

    _Các nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí, kỷ yếu khoa học… được lưu trữ trong các thư viện hoặc trên Internet.

    _Các kết quả có được từ các thí nghiệm, thực nghiệm, thực địa, thực tập, điều tra,…

    v.v

    _Kết quả của việc tập hợp thông tin là một bản danh mục các tài liệu tham khảo, trong đó các tài liệu được sắp thứ tự theo tên tác giả hoặc tên tài liệu…

    II.3: Lập đề cương

    _Đề cương là cái khung của tiểu luận. Đề cương là các nét chính về phương cách giải quyết vấn đề nghiên cứu được nêu ra. Ở bước này, cần nêu ra được nội dung tiểu luận sẽ gồm bao nhiêu phần, chương, mục; cách bố trí ra sao, nội dung chủ yếu của mỗi mục là gì. Tất nhiên đây chỉ là những dự kiến, sau này có thể còn thay đổi.

    _Nói chung, nội dung tiểu luận gồm các phần chính sau:

    _Phần mở đầu : Trong phần này cần nêu rõ nội dung đề tài nghiên cứu, lý do và mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.

    _Phần thân : Phần này bao gồm nhiều phần nhỏ (chương) I, II, III…. Đây là nội dung chủ yếu của tiểu luận, thuộc chuyên môn ngành học. Mỗi phần nhỏ có thể gồm nhiều mục, thể hiện quá trình giải quyết vấn đề nêu trong đề tài, các kết quả trong quá trình nghiên cứu, các nhận định, đánh giá… Phần này có thể được viết nhiều lần, sửa chữa, bổ sung trong suốt quá trình nghiên cứu. Đây là phần chủ yếu thể hiện công sức và trình độ nghiên cứu của người thực hiện tiểu luận.

    _Phần kết luận : Trong phần này cần tóm tắt quá trình giải quyết vấn đề các kết quả nghiên cứu. Nêu lên được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, Nêu ra những vấn đề chưa giải quyết được và hướng phát triển của đề tài.

    II.4: Giải quyết nội dung nghiên cứu

    _Đây là bước chiếm nhiều công sức nhất trong quá trình làm tiểu luận. Người thực hiện tiểu luận cần phải tiến hành:

    +Nghiên cứu

    +Làm thí nghiệm

    +Thực nghiệm

    +Điều tra

    +Phỏng vấn, tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích dữ liệu, suy nghĩ và đưa ra những nhận xét, đánh giá, … cho từng mục trong tiểu luận. Sau đó viết những kết quả nghiên cứu của mình vào tiểu luận.

    _Trước hết nên viết dưới dạng bản thảo tất cả những thông tin, những kết quả có được, những ý tưởng đã có cho đề tài cho dù còn lộn xộn, chưa chắc chắn. Trong các bước tiếp theo sẽ sửa chữa, sàng lọc, sắp xếp, hoàn chỉnh lại.

    II.5: Hoàn thiện tiểu luận

    _Sau khi đã viết được hầu hết nội dung tiểu luận, cần phải đọc lại và hoàn thiện tiểu luận. Chính trong phần này, việc soạn thảo tiểu luận bằng máy tính sẽ phát huy tác dụng rất tốt. Với máy tính, ta có thể thêm, bớt, xóa, sửa văn bản tiểu luận một cách hết sức tự do, có thể chèn các hình ảnh, biểu bảng, sơ đồ, công thức, … rất tiện lợi.

    _Trong bước này, cần phải :

    +Điều chỉnh nội dung và bố cục tiểu luận cho phù hợp với quá trình và kết quả nghiên cứu, đồng thời khiến các phần được liên kết với nhau một cách mạch lạc, rõ ràng. Lược bỏ những phần, những ý chưa thật chắc chắn hoặc quá lan man.

    +Sửa chữa lỗi chính tả, câu văn và ý tứ sao cho tiểu luận được trình bày một cách chính xác, dễ hiểu và trong sáng.

    +Chỉnh sửa nội dung và hình thức các bảng, biểu, hình ảnh…. Nhập Danh mục tài liệu tham khảo.

    +Điều chỉnh định dạng các phần của văn bản tiểu luận như các tiêu đề, chú thích, tham chiếu, …. Tạo các phần cần thiết cho văn bản tiểu luận như : Trang bìa, Mục lục, Header/Footer,…

     

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN MÔN HỌC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn

    – Lí do lí luận: khái quát tính chất, tầm quan trọng của vấn đề (đối tượng) nghiên cứu trong đề tài;

    – Lí do thực tiễn: khái quát những yếu kém, bất cập trong thực tiễn so với vị trí, yêu cầu nêu trên.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Mục đích nghiên cứu là cơ sở để đề ra nhiệm vụ nghiên cứu, thường thể hiện 2 vấn đề cơ bản sau:

    • Mô tả và phân tích thực trạng;
    • Đề xuất biện pháp.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Là tiêu điểm mà đề tài cần tập trung giải quyết. Đối tượng nghiên cứu của một đề tài có thể là thực trạng, biện pháp, giải pháp, v.v.

    4.  Phạm vi nghiên cứu

    Là sự xác định (khu biệt, giới hạn, cụ thể hoá) đối tượng nghiên cứu của đề tài. Sự xác định phạm vi nghiên cứu thường thể hiện ở các mặt: không gian – nội dung; thời gian.

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu

    – Hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan tới đề tài;

    – Mô tả thực trạng;

    – Phân tích, đánh giá thực trạng;

    – Đề xuất biện pháp, khuyến nghị.

    5.  Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp nghiên cứu là công cụ nghiên cứu khoa học trong thực hiện nhiệm vụ đề tài. Tổng kết quả của các phương pháp nghiên cứu khoa học phải đủ thực hiện tổng nhiệm vụ đề tài.

    Mỗi phương pháp nghiên cứu nên phân tích thành:

    • Mục đích của phương pháp: nhằm thực hiện nhiệm vụ gì của đề tài
    • Đối tượng của phương pháp: được chứa đựng ở khách thể nghiên cứu của cơ sở nghiên cứu (cần phân biệt đối tượng của phương pháp nghiên cứu với đối tượng của đề tài)
    • Nội dung phương pháp (kĩ thuật sử dụng phương pháp): nên đưa vào phụ lục (thường sử dụng cho phương pháp điều tra, phỏng vấn)

    Phần thứ hai

    – Thực trạng vấn đề cần nghiên cứu:

    * Mô tả, phân tích thực trạng vấn đề cần trình bày

    * Đánh giá môi liên hệ, tác động của vấn đề nghiên cứu

    –  Đề xuất các giải pháp cho vấn đề nghiên cứu

    Kết luận, kiến nghị

    + Tóm tắt vấn đề nghiên cứu

    + Đánh giá quá trình nghiên cứu

    + Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo.

    • Tài liệu tham khảo
    • Phụ lục

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Marketing-ph%C3%A2n-t%C3%ADch-SWOT-c%C3%B4ng-ty-b%C3%A1nh-k%E1%BA%B9o-Bibica.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Chương I :

    TÌM HIỂU CHUNG VỀ MA TRẬN SWOT

          1.1 :-Khái niệm ma trận Swot

    Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh. Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty, phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp. Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát triển sản phẩm và cà trong các báo cáo nghiên cứu .. đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.

     

    1.2:- Nguồn gốc của ma trận swot

    Mô hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 công ty có doanh thu cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện Nghiên cứu Standford trong thập niên 60-70, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch. Nhóm nghiên cứu gồm có Marion Dosher, Ts. Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert Stewart và BirgerLie.

    Việc Du Pont lập kế hoạch kinh doanh dài hạn vào năm 1949 đã khơi mào cho một phong trào “tạo dựng kế hoạch” tại các công ty. Cho tới năm 1960, toàn bộ 500 công ty được tạp chí Fortune bình chọn đều có “Giám đốc kế hoạch” và các “Hiệp hội các nhà xây dựng kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp”, hoạt động ở cả Anh quốc và Hoa Kỳ.

    Tuy nhiên, tất cả các công ty trên đều thừa nhận rằng các kế hoạch dài hạn này không xứng đáng để đầu tư công sức bởi không có tính khả thi, chưa kể đây là một khoản đầu tư tốn kém và có phần phù phiếm.

    Trên thực tế, các doanh nghiệp đang thiếu một mắt xích quan trọng: làm thế nào để ban lãnh đạo nhất trí và cam kết thực hiện một tập hợp các chương trình hành động mang tính toàn diện mà không lệ thuộc vào tầm cỡ doanh nghiệp hay tài năng của các chuyên gia thiết lập kế hoạch dài hạn.

    Để tạo ra mắt xích này, năm 1960, Robert F. Stewart thuộc Viện Nghiên cứu Standford, Menlo Park, California, đã tổ chức một nhóm nghiên cứu với mục đích tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp nhằm tìm ra giải pháp giúp các nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc hoạch định, điều mà ngay nay chúng ta gọi là “thay đổi cung cách quản lý”.

    Công trình nghiên cứu kéo dài 9 năm, từ 1960 đến 1969 với hơn 5000 nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1100 công ty, tổ chức. Và sau cùng, nhóm nghiên cứu đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp hiệu quả.

    Tiến sĩ Otis Benepe đã xác định ra “Chuỗi lôgíc”, hạt nhân của hệ thống như sau:
    1. Values (Giá trị)

    1. Appraise (Đánh giá)
    2. Motivation (Động cơ)
    3. Search (Tìm kiếm)
    4. Select (Lựa chọn)
    5. Programme (Lập chương trình)
    6. Act (Hành động)
    7. Monitor and repeat steps 1 2 and 3 (Giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3).

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, không thể thay đổi giá trị của nhóm làm việc hay đặt ra mục tiêu cho nhóm làm việc, vì vậy nên bắt đầu bước thứ nhất bằng cách yêu cầu đánh giá ưu điểm và nhược điểm của công ty. Nhà kinh doanh nên bắt đầu hệ thống này bằng cách tự đặt câu hỏi về những điều “tốt” và “xấu” cho hiện tại và tương lai. Những điều “tốt” ở hiện tại là “Những điều hài lòng” (Satisfactory), và những điều “tốt” trong tương lai được gọi là “Cơ hội” (Opportunity); những điều “xấu” ở hiện tại là “Sai lầm” (Fault) và những điều “xấu” trong tương lai là “Nguy cơ” (Threat). Công việc này được gọi là phân tích SOFT.
    Khi trình bày với Urick và Orr tại Hội thảo về Lập kế hoạch dài hạn tại Dolder Grand, Zurich, Thụy Sĩ năm 1964, nhóm nghiên cứu quyết định đổi chữ F thành chữ W và từ đó SOFT đã chính thức được đổi thành SWOT.

    Sau đó, SWOT được Urick và Orr quảng bá tại Anh quốc như một dạng bài tập cho tất cả mọi người. Những điều cần phải làm trong khi lập kế hoạch chỉ là phân loại các vấn đề theo một số danh mục được yêu cầu.

    Bước thứ hai được điều chỉnh thành “Nhóm sẽ làm gì?” với từng phần trong danh mục. Quá trình lập kế hoạch này sau đó được thiết kế thông qua phương pháp “Thử và sai” mà kết quả là một quá trình gồm 17 bước, bằt đầu bằng SOFT/SWOT với mỗi mục ghi riêng vào từng trang.

    Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và xuất bản năm 1966 dựa trên hoạt động của công ty Erie Technological Corp. ở Erie Pa. Năm 1970, phiên bản này được chuyển tới Anh dưới sự tài trợ của công ty W.H.Smith & Sons PLC và được hoàn thiện năm 1973. Phương pháp phân tích này cũng đã được sử dụng khi sáp nhập các cơ sở xay xát và nướng bánh của CWS vào J.W.Frenhch Ltd.

    Kể từ đó, quá trình này đã được sử dụng thành công rất nhiều lần ở nhiều doanh nghiệp và tổ chức thuộc các lĩnh vực khác nhau. Và tới năm 2004, hệ thống này đã được phát triển đầy đủ, đã chứng minh được khả năng giải quyết hàng loạt các vấn đề hiện nay trong việc xác lập và nhất trí các mục tiêu mang tính thực tiễn hàng năm của doanh nghiệp mà không cần dựa vào các cố vấn bên ngoài.

         

           

     

     

     

     1.3 ;- Vai trò và ý nghĩa:

             1.3.1: – Vai trò :

                SWOT là một trong những kỹ năng hữu ích nhất. Nhờ công cụ này, nhà lãnh đạo làm việc hiệu quả, giảm thiểu stress, cải tiến khả năng quyết định, tối đa hóa hiệu quả cá nhân và còn nhiều hơn nữa.

                Phân tích SWOT (SWOT Analysis) là một kỹ thuật phân tích rất mạnh trong việc xác định Điểm mạnhĐiểm yếu để từ đó tìm ra được Cơ hộiNguy cơ.

                Sử dụng trong ngữ cảnh kinh doanh,nó giúp bạn hoạch định được thị trường một cách vững chắc.

         1.3.2: – Ý nghĩa:

    Phân tích SWOT rất đơn giản nhưng là một cơ chế rất quan trọng để dánh giá  Điểm mạnh yếu cũng như phân tích Cơ hội, nguy cơ mà bạn phải đối mặt. Nó là một sự đánh giá khả năng trong nhận xét và phán đoán bản thân cũng như các nhân tố bên ngoài của chính bạn.Vận dụng thành công sẽ giúp bạn có một trong những kỹ năng phân tích và đánh giá tình huống tốt.

    Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào.SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ…

    Điều gì làm cho Phân tích SWOT trở nên có sức  mạnh như vậy, đơn giản mà nghĩ, nó có thể giúp bạn xem xét tất cả các cơ hội mà bạn có thể tận dụng được. Và bằng cách hiểu được điểm yếu của bạn trong kinh doanh, bạn sẽ có thể quản lý và xóa bỏ các rủi ro mà bạn chưa nhận thức hết.

    Hơn thế nữa, bằng cách sử dụng cơ sở so sánh và phân tích SWOT giữa bạn và đối thủ cạnh tranh, bạn có thể phác thảo một chiến lược mà giúp bạn phân biệt bạn với đối thủ cạnh tranw, vì thế mà giúp bạn cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương II :

     PHÂN TÍCH SWOT TRONG KINH DOANH

           2.1:- Các bước phân tích Swot

    Albert Humphrey, nhà kinh tế, thành viên Ban quản trị của cùng lúc 5 công ty đồng thời là chuyên gia cố vấn cho hơn 100 công ty tại Anh, Mỹ, Mê-hi-cô, Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Na Uy và Đan Mạch, đã cụ thể hóa SWOT thành 6 mục hành động           sau:
    1. Sản phẩm (Chúng ta sẽ bán cái gì?)

    1. Quá trình (Chúng ta bán bằng cách nào?)
    2. Khách hàng (Chúng ta bán cho ai?)
    3. Phân phối (Chúng ta tiếp cận khách hàng bằng cách nào?)
    4. Tài chính (Giá, chi phí và đầu tư bằng bao nhiêu?)
    5. Quản lý (Làm thế nào chúng ta quản lý được tất cả những hoạt động đó?)

    6 mục trên cung cấp một cái khung để phát triển các vấn đề trong SWOT. Đây có thể coi là một “bước đột phá”, vì vậy, chắc hẳn cần phải giải thích thêm đôi chút. Các yêu cầu trong SWOT được phân loại thành 6 mục như trên sẽ giúp đánh giá các mục theo cách định lượng hơn, giúp các nhóm làm việc có trách nhiệm hơn trong bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp hay tổ chức, từ đó dễ dàng quản lý các hành động hơn. Mục tiêu hết sức quan trọng của quá trình là đạt được cam kết giữa các nhóm tham gia – phần này được giải thích bằng mô hình TAM (Team Action Management Model – Mô hình quản lý hoạt động nhóm) của Albert Humphrey.
    Chừng nào còn phải xác định các hành động được cụ thể hóa từ SWOT, các nguyên nhân và mục đích phân tích SWOT, chừng đó, khả năng và quyền hạn quản lý nhân viên của bạn còn đóng vai trò quan trọng trong việc đưa đến một sự nhất trí về ý tưởng và phương hướng hoạt động.

    Dựa vào bối cảnh cụ thể, một mô hình phân tích SWOT có thể đưa ra một, hay một vài mục trong danh sách 6 bước hành động nói trên. Dù trong trường hợp nào đi nữa, SWOT về cơ bản cũng sẽ cho bạn biết những gì là “tốt” và “xấu” trong công việc kinh doanh hiện tại hay đối với một đề xuất mới cho tưong lai.
    Nếu đối tượng phân tích SWOT của bạn là công việc kinh doanh, mục tiêu phân tích là cải thiện doanh nghiệp, thì SWOT sẽ được hiểu như sau:

    Điểm mạnh    (Duy trì, xây dựng và làm đòn bẩy)

    Cơ hội    (Đánh giá một cách lạc quan)

    Điểm yếu    (Phương thuốc để sửa chữa hoặc để thoát khỏi điểm yếu)

    Nguy cơ    (Các trở ngại)

    Nếu phân tích SWOT được dùng để đánh giá một ý tưởng hay đề xuất, nó có thể chỉ ra rằng ý tưởng hay đề xuất đó quá yếu (đặc biệt khi so sánh với việc phân tích các đề xuất khác) và không nên đầu tư vào đó. Trong trường hợp này, không cần đưa ra các kế hoạch hành động tiếp theo.

    Nếu phân tích cho thấy ý tưởng hay đề xuất nào đó thực sự có khả năng

    thành công, bạn có thể coi đây là một công việc kinh doanh, và chuyển các mục trong SWOT thành hành động phù hợp.

    Trên đây là nội dung chính lý thuyết của Albert Humphrey liên quan đến việc phát triển các mục trong phân tích SWOT thành hành động nhằm mục tiêu thay đổi doanh nghiệp hoặc tổ chức.

    Ngoài ra, SWOT còn có một số cách áp dụng khác, tùy theo hoàn cảnh và mục đích của bạn, chẳng hạn, nếu bạn chỉ tập trung vào một bộ phận chứ không phải cả doanh nghiệp, bạn nên sắp xếp lại 6 mục nêu trên sao cho nó có thể phản ánh đầy đủ các chức năng của bộ phận, sao cho các mục trong SWOT có thể được đánh giá cụ thể nhất và được quản lý tốt nhất.

          2.2 :-Khung phân tích SWOT

    Mô hình phân tích SWOT được áp dụng trong việc đánh giá một đơn vị kinh doanh, một đề xuất hay một ý tưởng. Đó là cách đánh giá chủ quan các dữ liệu được tổ chức theo một trình tự lô-gíc nhằm giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề, từ đó có thể thảo luận và ra quyết định hợp lý và chính xác nhất.

    Khung phân tích SWOT dưới đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ một cách chuyên nghiệp và đưa ra quyết định ở thế chủ động chứ không chỉ dựa vào các phản ứng bản năng hay thói quen cảm tính.

    Khung phân tích SWOT thường được trình bày dưới dạng lưới, bao gồm 4 phần chính thể hiện 4 nội dung chính của SWOT: Điểm mạnh, Điểu yếu, Cơ hội và Nguy cơ, một số các câu hỏi mẫu và câu trả lời được điền vào các phần tương ứng trong khung. Những câu hỏi nêu dưới đây chỉ là ví dụ, người đọc có thể thay đổi cho phù hợp với từng đối tượng phân tích cụ thể. Một điều cần hết sức lưu ý, đó là đối tượng phân tích cần được xác định rõ ràng, vì SWOT chính là tổng quan của một đối tượng – có thể là một công ty, một sản phẩm, một dự án, một ý tưởng, một phương pháp hay một lựa chọn…

    Sau đây là ví dụ về những đối tượng tiềm năng có thể được đánh giá thông qua phân tích SWOT:

    – Một công ty (Vị thế của công ty trên thị trường, khả năng tồn tại,…)

    – Một phương pháp phân phối hoặc bán hàng.

    – Một sản phẩm hoặc một nhãn hiệu.

    – Một ý tưởng kinh doanh.

    – Một sự lựa chọn chiến lược, chẳng hạn như thâm nhập thị trường mới hay tung ra sản phẩm mới.

    – Một cơ hội thực hiện sát nhập.

    – Một đối tác kinh doanh tiềm năng.

    – Khả năng thay đổi nhà cung cấp.

    – Khả năng thuê ngoài (outsource) một dịch vụ hay nguồn lực.

    – Một cơ hội đầu tư.

     

     

     

     

     

    Sau đây là khung phân tích SWOT

     

     

     

     

     

    Chương III

    MA TRẬN SWOT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BIBICA

          3.1 :- Giới thiệu về Công ty cổ phần Bibica

    Lĩnh vực kinh doanh:

    – Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trên các lĩnh vực về công nghiệp chế biến       bánh-kẹo-nha.
    – Xuất khẩu các sản phẩm bánh – kẹo – nha và các loại hàng hóa khác.

    – Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của Công ty.

                Sơ lược quá trình phát triển:

    – Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa được thành lập từ việc cổ phần hóa  03 phân xưởng: bánh, kẹo, nha thuộc Công ty Đường Biên Hòa.

    – Ngày 17/12/2001, BBC chính thức niêm yết trên sàn Hostc.

    – Ngày 30/08/2006, BBC phát hành thêm cổ phiếu với tỷ lệ 10:2.

    – Ngày 20/4/2007, BBC trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100:12.

    – Ngày 14/12/2007, BBC trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100: 6.

    – Vốn điều lệ hiện tại của BBC là 154,2 tỷ đồng.

     

     

     

    3.1.1:- Năng lực và công nghệ

     
    Dây chuyền kẹo

    Sản phẩm kẹo cứng và kẹo mềm của Công ty được sản xuất trên các dây chuyền liên tục với các thiết bị của Châu Âu. Với năng suất : 10.000 tấn/năm, Công ty là một trong những nhà sản xuất kẹo lớn nhất của Việt nam. Do được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu chất lượng cao, đặc biệt là mạch nha, nên sản phẩm kẹo cứng của Công ty có hương vị vượt trội so với các sản phẩm cùng loại khác.

     
    Dây chuyền nha

    Sản phẩm mạch nha của Công ty được sản xuất bằng công nghệ Enzym và tẩy màu bằng than hoạt tính và trao đổi ion. Có thể nói sản phẩm mạch nha của chúng tôi có chất lượng hàng đầu ở Việt Nam. Sản phẩm của Công ty có thể đạt độ màu nhỏ hơn 10 độ Icumsa.

     
    Dây chuyền layer cake

    Sản phẩm layer cake (bánh bông lan kẹp kem) được sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Ý: đồng bộ, khép kín, áp dụng các nguyên tắc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt. Do đó, sản phẩm của Công ty có thời hạn sử dụng tới 1 năm, trong khi các sản phẩm bánh tươi khác chỉ có thể sử dụng trong vòng 1 tuần. Công ty là nhà sản xuất bánh kẹo đầu tiên ở Việt nam đầu tư sản xuất loại sản phẩm này với sản lượng hàng năm hơn 1500 tấn.Sản phẩm chocolate của Công ty  Công ty  có chất lượng không hề thua kém các sản phẩm của Châu Âu. Bởi vì, ngoài các nguyên liệu đều nhập từ Châu Âu, chocolate của Công ty còn được sản xuất theo công nghệ và thiết bị của Anh. Hàng năm, chúng tôi có thể sản xuất được hơn 600 tấn chocolate các loại Ngoài các sản phẩm trên, Công ty còn có các sản phẩm khác: bánh biscuit các loại (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Anh); bánh cookies (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Mỹ); bánh xốp phủ chocolate; snack các loại; kẹo dẻo… Tổng cộng hàng năm, Công ty cung cấp cho thị trường hơn 15.000 tấn bánh kẹo các loại.

     

    3.1.2 :-   Các thành tựu:

    Chứng nhận “Hàng Việt Nam Chất lưọng cao” 1997-2006 Tiêu chuẩn ISO 9001: 2000

     

    Năm 2004

    Top 5 ngành hàng bánh kẹo Chứng nhận “Thương hiệu mạnh”
    Cúp vàng “Thương hiệu an toàn vì sức khoẻ cộng đồng” Siêu cúp “Thương hiệu nổi tiếng vì sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ và phát triển cộng đồng “
    Huy chương vàng “Mumsure& Growsure” Chứng nhận “Doanh nghiệp có giải pháp thị trường xuất khẩu tốt nhất sang thị trường các nước và khu vực”

     

     

    3.1.3 Bộ máy tổ chức:

     

      3.2:- Các phân tích Swot với Công ty Cổ phần Bibica

    3.2.1:- Thông tin về kế toán và kết quả kinh doanh

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Triệu VNĐ)                                        

      31/12/2006 31/12/2007 30/09/2008
    TÀI SẢN 242,977 379,172 628,911
     TSNH 156,307 179,079 417,172
      Tiền & tương đương tiền 22,569 44,423 19,801
      Khoản đầu tư ngắn hạn 35,000 14,055 220,055
      Khoản phải thu ngắn hạn 33,167 30,318 76,795
      Hàng tồn kho 63,823 86,851 92,569
      TSNH khác 1,748 3,432 7,952
    TSDH 86,670 200,093 211,738
      Khoản phải thu dài hạn
      Tài sản cố định 64,627 149,435 179,983
      Đầu tư dài hạn
      BĐS đầu tư 9,753 38,499 19,709
      TSDH khác 12,290 12,159 12,046
    NGUỒN VỐN 242,977 379,172 628,911
     Nợ phải trả 59,618 172,177 146,116
      Nợ ngắn hạn 56,439 141,006 132,702
      Nợ dài hạn 3,179 31,170 13,414
     Vốn CSH 183,359 206,996 482,795

     

    KẾT QUẢ KINH DOANH (Triệu VNĐ)

    Chỉ tiêu 2006 2007 Quý III/2008 9 tháng đầu 2008 Chỉ tiêu TC (30/09/2008) 2006 2007 9 tháng đầu 2008
    Doanh thu thuần 341,331 453,975 146,135 377,842 TSNH/Tổng TS (%) 64.33% 47.23% 66.33%
    Giá vốn hàng bán 254,909 335,662 109,781 290,302 Nợ PT/ VCSH (lần) 0.33 0.83 0.30
    Lợi nhuận trước thuế 25,332 33,325 12,581 9,177 KH TT Nhanh (lần) 1.02 0.41 1.81
    Lợi nhuận sau thuế 19,183 24,443 11,019 5,865 Giá vốn/ DTT (%) 74.68% 73.94% 76.83%
              ROA (%) 7.89% 6.45% 0.93%
              ROE (%) 10.46% 11.81% 1.21%
              ROS (%) 5.62% 5.38% 1.55%
              EPS (đồng) 2,134 2,269 380
              BV (đồng) 20,396 19,218 31,306

    CƠ CÂU CỔ ĐÔNG (BCB 31/12/2008)                                                                  

     

     

      Cá nhân Tổ chức Số lương Tỷ lệ%
    Tổng số cổ phần 7.570.097 3.200.685 10.770.782 100
    Chưa lưu ký 108.315 5.533 113.848 1,06
    Lưu ký 7.461.782 3.195.152 10.656.934 98,94
    Trong nước 7.278.938 1.037.524 8.316.462 77,21
    Nước ngoài 291.159 2.163.161 2.454.320 22,79
    Cổ đông lớn :        
    Cổ đông sở hữu

     

    1-5%

    4.273.089 2.133.556 6.406.645 59,48
    Cổ đông sở hữu

     

    5-10%

    1.116.074 999.215 2.115.289 19,64
    THÔNG TIN GIAO DỊCH (10/12/2008)

     

    _______________________________________________

    Tổng số CP                                                     :   15,421,700 cp

    Số CP niêm yết                                               :   15,421,700 cp

    Số CP đang lưu hành                                      :   15,421,700 cp

    Giá cao nhất từ khi niêm yết                           :  107.000 đồng

    Giá thấp nhất từ khi niêm yết                          :  13.200 đồng

    Vốn hóa thị trường                                          :   207 tỷ đồng

    Giá hiện tại                                                      :   13.400 đồng

    P/E    (10/12/2008)                                          :   16,5 lần

    P/B    (10/12/2008)                                          :    0,43 lần

     

    3.2.2:- Phân tích Swot

    Điểm mạnh:

    – Thương hiệu Bibica luôn được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn đạt danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1997-2006. Thương hiệu Bibica được chọn là thương hiệu mạnh trong top 100 thương hiệu mạnh tại Việt Nam.

    – Sản phẩm của Công ty được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước. Doanh thu tiêu thụ trong nước chiếm 96% – 97% tổng doanh thu của Công ty, doanh thu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, 42 nhà phân phối  tại khu vực Đông Nam Bộ, 23 nhà phân phối tại khu vực miền Trung và 30 nhà phân phối tại khu vực miền Bắc. Đến nay, sản từ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3% – 4% tổng doanh thu với sản phẩm xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm nha.

    – Công ty hiện có 108 nhà phân phối, trong đó 13 nhà phân phối phẩm của Công ty đã được tiêu thụ trên phạm vi cả nước.

    Điểm yếu:

    – Bánh kẹo không phải là nhu yếu phẩm, không phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người, và cũng có rất nhiều những sản phẩm khác để sử dụng thay thế, do đó sức mua của người dân giảm sẽ tác động làm sụt giảm doanh thu của Công ty.

    – Hàng năm Công ty phải nhập khẩu một số nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất như bột mì, hương liệu, bột sữa… Do vậy, khi tỷ giá biến động kéo theo chi phí đầu vào thay đổi, tác động lên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Cơ hội:

    – Nên kinh tế Việt Nam những năm gần đây tăng trưởng 7-8%/năm, điều này sẽ kích thích nhu cầu người dân cho tiêu dùng, đó sẽ là cơ hội cho BBC tăng trưởng kinh doanh.

    Thách thức:

    – Khi Việt Nam gia nhập AFTA, thuế suất thuế nhập khẩu các sản phẩm bánh kẹo sẽ giảm xuống. Giá bán các sản phẩm này do đó có thể cạnh tranh hơn, vì vậy có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty.

    – Nguyên vật liệu nhập khẩu và đường nguyên liệu chiếm khoảng 20% giá thành các sản phẩm của Công ty. Do vậy, những thay đổi trong các thông tư, nghị định liên quan đến nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp đến giá nguyên vật liệu đầu vào.

    – Sản phẩm nhập khẩu chiếm 30% thị phần (bao gồm chính thức và phi chính thức), chủ yếu từ Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Hồng Kông và Trung Quốc… Một số sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu hiện nay các đơn vị trong nước vẫn chưa sản xuất được.

    -Thị trường trong nước, BCC phải cạnh tranh với công ty Kinh Đô, công ty bánh kẹo Hải Hà, công ty bánh kẹo Hải Châu.

                    PHÂN TÍCH NGÀNH

     

     

    Bánh Kẹo
    Ma  

     

    GIÁ

     

    Vốn hóa thị trường kết quả kinh doanh Chỉ số tài chính Cơ cấu vốn
    DTT LNST ROA (%) ROE (%) ROS (%) EPS  (Đồng) BV (Đồng) P/E P/B Nợ/VCSH Tỷ trọng đầu tư tài chính
    BBC 13.4 2,066,387,200 377,842 5,865 0.93 1.22 1.55 380 31,308 35.2 0.4 30.3 49.9
    HHC 15.5 848,625,000 282,011 9,681 4.76 9.49 3.43 1768 19,470 8.8 0.8 90.8
    NKD 24.8 2,499,765,600 451,714 35,473 5.82 13.11 7.85 3519 27,263 7.0 0.9 121.9 71.2
    KDC 26.5 15,135,422,000 1,046,095 129,551 3.89 5.46 12.38 2268 42,834 11.7 0.6 37.3 68.1

    Chú giải :   Mã       BBC : Công ty Cổ phần Bibica

    HHC : Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà

    NKD : Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm Kinh đô

    KDC : Công ty Cổ phần Kinh Đô

    – Tỷ lệ nợ phải trả trên VCSH của công ty khá thấp cho thấy công ty đã hạn chế sử dụng nguồn vốn vay, điều này sẽ giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh của công ty. Mặc dù vậy, các chỉ số về khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của công ty khá tốt cho thấy công ty kinh doanh khá hiệu quả.

    – BBC là công ty có EPS thấp nhất ngành và P/E cao nhất ngành, điều này cho thấy công ty đang được đánh giá cao hơn giá trị.

     

                    TỪ CÁC PHÂN TÍCH TRÊN CHÚNG TA ĐƯA RA CHIẾN LƯỢC KINH DOANH    

    Bibica mở rộng thị trường, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao công nghệ; có khả năng tư vấn, định hướng chiến lược, tư vấn quản trị điều hành, tư vấn quản trị tài chính, tư vấn các cơ hội, các dự án đầu tư mới.

    – Tập trung phát triển thực phẩm dinh dưỡng gồm: Thực phẩm bổ sung vi chất và thực phẩm chức năng trở thành sản phẩm chiến lược của Bibica, cụ thể doanh thu nhóm sản phẩm dinh dưỡng đưa mức tăng trưởng lên 150%.

    – Củng cố và phát triển hệ thống phân phối Công ty:

    + Thị phần nội địa BBC: mỗi năm cần phải tăng 3 – 5% thị phần bánh kẹo so với năm trước.

    + Phát triển điểm bán lẻ: hiện nay 10% trên tổng số điểm bán lẻ có bán sản phẩm + Mở rộng quy mô và phạm vi các kênh phân phối, phát triển thị trường tới những vùng sâu vùng xa thông qua hệ thống đại lý và nhà phân phối. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, cùng hợp tác cùng phát triển với các nhà cung ứng, nhà phân phối, đại lý.

    – Phát triển thị trường xuất khẩu:

    Thị trường: Philippines, Bangladesh, Cambodia, Taiwan, Japan, Singapore, Hong Kong (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Thailand, Reunion, Laos, các nước Trung Đông, Châu Phi doanh số xuất khẩu: 1,5 triệu USD .

                 KẾT LUẬN VỀ BIBICA

    – BIBICA là một doanh nghiệp đã khẳng định thương hiệu vững chắc tại thị trưòng bánh kẹo trong nước .Với chiến lược phát triển rõ ràng với hàng loạt dự án lớn đã và đang triển khai sẽ là lực đẩy  cho quá trình tăng trưởng và phát triển của BBC trong tương lai .Đặc biệt ,với việc kí kết hợp đồng  hợp tác chiến lược với công ty Lotte Hàn quốc là một bước ngoặt quan trọng  trong quá trình phát triển của Công ty, mở ra cơ hội rất lớn trong việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,hướng đến mục tiêu trở thành Công ty dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo tại Việt Nam.

    – Cổ phiếu cảu BBC là một cổ phiếu tốt và đã được thị trường đánh giá cao từ lâu ,cộng với Bibica là doanh nghiệp có nhiều khả năng tăng trưởng cao trong tương  lai nên sẽ là địa chỉ đáng tin cậy để nhà đầu tư quan tâm

       

     

     

     

     

     

     

     

                                             


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-kh%C3%A1i-ni%E1%BB%87m-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-%C4%91%E1%BB%83-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A5u-tranh-%C4%91%E1%BB%83-ch%E1%BB%91ng-l%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-quan-%C4%91i%E1%BB%83m-xuy%C3%AAn-t%E1%BA%A1c-c%E1%BB%A7a-k%E1%BA%BB-th%C3%B9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    CHỦ ĐỀ 1:

    Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù.

    1. Quá trình nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trước năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991) có điểm mới là “nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”, và khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc ta”. Cương lĩnh 1991 khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.

    Sau 10 năm, với những thành tựu to lớn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước, tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

    2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    Nội hàm của khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nó không phải là một tập hợp đơn giản những ý tưởng, suy nghĩ cụ thể của Hồ Chí Minh trong những giai đoạn cụ thể.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khái niệm khoa học, vì thế hết sức cô đọng, chặt chẽ, có nội hàm lý luận cao, có sức sống mãnh liệt và giá trị lý luận, thực tiễn rất to lớn không những với cách mạng Việt Nam mà còn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng loài người trên phạm vi toàn thế giới.

    3. Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc

    1. Nhận thức kẻ thù

    – Loại 1: Ác ý: Cho rằng người Việt Nam không có tư tưởng mà đó chỉ là sự bắt chước như vẹt của đông tây chứ bản thân không tạo ra tư tưởng.

    – Loại 2: Cho rằng trong cách mạng và kháng chiến Việt Nam thì có nhà lý luận và nhà tư tưởng nhưng đó là Võ Nguyên Giáp và Lê Duẫn chứ không phải Hồ Chí Minh.

    – Loại 3: Hồ Chính Minh không phải nhà tư tưởng vì hầu như Người không có tác phẩm lý luận nào.

    1. Mục đích xuyên tạc

    Từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản

    – Muốn “hạ bệ thần tượng”

    – Từ sự bất mãn của một số cá nhân.

    1. Đấu tranh chống xuyên tạc chống phá

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là chìa khóa để chống lại một cách có hiệu quả những luận điệu thù địch và sai trái.

    b1. Trước hết phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    “Hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” là nhiều quan điểm liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện rõ tính liên tục, nhất quán. “Toàn diện” là bao quát nhiều lĩnh vực. Đó là tư tưởng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quân sự, ngoại giao…

    Đại hội đồng UNESCO khẳng định Hồ Chí Minh “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại…; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

    “Toàn diện nhưng sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và CNXH; về mục đích cách mạng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, đoàn kết quốc tế; về nền tảng lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: động viên toàn dân, tổ chức toàn dân; v.v.. Tóm lại, đó là “giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

    à Nhận thức như vậy tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

    Đáng phê phán nhất là các quan điểm hết sức nguy hiểm. Họ thừa nhận những vấn đề nêu trên (sau khi không đủ khả năng bác bỏ), nhưng lại cho rằng hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc đó chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không có trong cách mạng XHCN.

    Để phê phán quan điểm này, cần nhận thức rõ trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh có nói “từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN”. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là trở lại cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần nêu mấy điểm chính.

    Một là, Hồ Chí Minh khẳng định cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tức là giành được độc lập dân tộc rồi phải đi tới CNXH.

    Hai là, trong di sản để lại, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải đi tới cách mạng XHCN thì mới thắng lợi triệt để. Người có trên hai mươi lần nêu quan điểm của mình như là những định nghĩa về CNXH.

    Ba là, các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh cho ta một cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam.

    b2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Một số ý kiến cho rằng những vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản như mục tiêu, lực lượng, lãnh đạo, phương pháp, đoàn kết, nền tảng lý luận, v.v… đều đã được đề cập trong học thuyết Mác-Lênin; thậm chí đã được Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, ông cha ta trong lịch sử hàng nghìn năm bàn tới.

    Chúng ta không phủ nhận nhiều vấn đề đã được Mác, Ăngghen, Lênin, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, cha ông ta đề cập. Nhưng chúng ta phải phủ nhận quan điểm cho rằng hễ đã có người đi trước đề cập thì người sau chỉ là nói theo, nói lại.

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh nói rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Rõ ràng là khái niệm cho ta biết Hồ Chí Minh nắm chắc chủ nghĩa Mác-Lênin và hiểu rõ điều kiện nước ta. Điểm chốt ở đây là “điều kiện cụ thể của nước ta”. Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Điều kiện nước ta không giống các nước khác, ít nhất trên hai điểm: Truyền thống lịch sử, văn hóa, con người và nước thuộc địa thời cận đại. Hai điểm này không hoàn toàn tách bạch, mà có sự tiếp nối. Nhưng cũng có nội dung chỉ có trong thời kỳ thuộc địa. Nhận thức như vậy để thấy rằng Hồ Chí Minh không viết lại, nói lại các bậc thầy và những gì trong truyền thống dân tộc; ngược lại, Người đã khắc phục những hạn chế của truyền thống và thiếu hụt trong chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Hạn chế lớn nhất của giá trị truyền thống là lý luận khoa học. Thiếu hụt lớn nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin là những tư liệu lịch sử của các nước thuộc địa phương Đông. Hồ Chí Minh đã lấp đầy những khoảng trống đó. Chỉ cần nêu một số điểm tiêu biểu cũng thấy rõ rằng, nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta thì không thể có thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Thứ nhất, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Còn ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với bọn đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.

    Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng ở Việt Nam trước hết nhằm mục đích giải phóng dân tộc. Vấn đề này ở các nước tư bản châu Âu cơ bản đã được giai cấp tư sản làm. Vì vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin bàn trước hết tới đấu tranh giai cấp và giải phóng giai cấp.

    Thứ ba, quan điểm về Đảng và xây dựng Đảng ở các nước thuộc địa cũng không giống ở các nước tư bản châu Âu. Đảng Cộng sản ra đời ở nước Việt Nam thuộc địa phải có thêm yếu tố phong trào yêu nước và ngay từ đầu Đảng đã cắm rễ sâu trong lòng dân tộc.

    Thứ tư, quan điểm về đoàn kết theo Mác “Giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, và Lênin “Giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” không thể áp dụng máy móc vào Việt Nam, nơi phải đoàn kết “đồng bào”, toàn dân tộc, mọi con dân nước Việt, con Lạc cháu Hồng.

    Thứ năm, ở nước Việt Nam hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và gần trăm năm dưới chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là thực hành dân chủ và đạo đức.

    Thứ sáu, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một nước vốn là thuộc địa, kinh tế và tư duy nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển không thể làm theo cách mà các nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản như ở châu Âu. v.v…

    Vì không nhận thức sâu sắc những vấn đề nêu trên nên có người nghĩ rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng giống Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong lúc đó sự khác nhau là rõ rệt. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cách mạng vô sản: đánh đổ giai cấp tư sản, mục đích là thiết lập nền chuyên chính vô sản, lực lượng công-nông là chủ yếu, quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội… Còn cách mạng Việt Nam tháng 8-1945 là cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản: đánh đổ bọn đế quốc xâm lược, mục đích là giành độc lập dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, quá độ gián tiếp lên CNXH…

    Nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng hệ thống lý luận cách mạng soi đường cho cách mạng Việt Nam thì làm sao chúng ta có thắng lợi nhanh gọn trong thời gian chưa đầy hai tuần của Tháng Tám năm 1945? Và tiếp theo là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, quá độ lên CNXH khi cả nước có chiến tranh với tư duy “chủ nghĩa xã hội thời chiến”.

    Trong “khái niệm” có nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều này cần được hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải xuất hiện từ một mảnh đất trống không, mà trên nền dân tộc. Điều cần nhấn mạnh là dưới ánh sáng cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng cao các giá trị truyền thống lên một chất mới, trình độ mới, tạo nên sức mạnh mới trong thời đại mới. Hồ Chí Minh cũng tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại. Người đã làm giàu trí tuệ của mình và trí tuệ dân tộc bằng những giá trị văn hóa phương Đông như đạo đức, chủ nghĩa tập thể, lòng từ bi hỷ xả…

    Hiện nay, có một số lực lượng thù địch đang cố tình đưa ra những quan điểm thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ và cuối cùng đi tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh song cũng lại có một số quan điểm sai trái, lệch lạc do không nghiên cứu thấu đáo dẫn tới không hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này – hoặc vô tình hay hữu ý – đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch. Để phê phán và chống lại các quan điểm sai trái phủ nhận hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần hiểu đúng, hiểu sâu, nắm chắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người. Phải coi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là chìa khóa mở cửa đi vào nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

    4. Biện pháp

    Đẩy mạnh việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    – Tăng cường giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

    – Nâng cao ý thức cảnh giác và tăng cường đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc.

    5. Tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác

    – TTHCM soi đường cho Đảng và nhân dân VN trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

    – Thông qua việc học tập, nghiên cứu TTHCM để bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm CM trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, TTHCM; kiên định mục tiêu ĐLDT gắn liền với CNXH; tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, bảo vệ CN Mác – Lênin và TTHCM.

    1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị

    – TTHCM giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất CM cho cán bộ, đv và toàn dân.

    – Trên cơ sở đã được học, SV vận dụng vào cuộc sống, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng theo con đường mà HCM và Đảng ta đã lựa chọn.

     

     

     

    CHỦ ĐỀ 2:  Phân tích  cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    – Chính quyền triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

    – Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hóa, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện tạo ra những tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.

    – Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư”, “tân báo” và trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam, trào lưu yêu nước chuyển dần sang xu hướng tiểu tư sản.

    – Các sĩ phu Nho học có tư tưởng tiến bộ, thức thời, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã cố gắng tổ chức và vận động cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp với mục tiêu và phương pháp mới, nhưng tất cả đều thất bại.

    Vì vậy, phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi, phải đi theo một con đường mới.

    b. Bối cảnh thời đại

    – Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.

    – Nhiều cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản diễn ra, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”, lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người.

    – Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3/1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc.

    2.  Tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Giá trị truyền thống dân tộc

    Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng – lý luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Đó là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng, ý chí vươn lên, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài…

    – Trong các giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người. Chính chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

    b. Tinh hoa văn hóa nhân loại

    Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây – chính là nét đặc sắc trong qua trình hình thành nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh.

    – Tinh hoa văn hóa phương Đông

    + Nho giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo, đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.

    + Phật giáo: Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng; chủ trương sống không xa lánh đời mà gắn bó với nhân dân, tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc.

    + Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Hồ Chí Minh tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện của nước ta”, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

    – Tinh hoa văn hóa Phương Tây

    + Hồ Chí Minh nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.

    + Tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1791; các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776.

    c. Chủ nghĩa Mác – Lênin

    Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục, tiếp xúc, tìm hiểu văn minh phương Đông và phương Tây. Nhưng bước ngoặt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ xẩy ra khi Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin:

    – Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy được chắt lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt động vì mục tiêu cứu nước và giải phóng dân tộc.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin một cách chọn lọc, theo phương pháp macxit, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở.

    – Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: “Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin vừa làm công tác thực tế dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới; “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

    – 7/1920: Hồ Chí Minh đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Tác động của “Luận cương” đối với Hồ Chí Minh rất mạnh mẽ và to lớn, sâu sắc, mở ra cho Hồ Chí Minh một chân trời mới, nhận thức mới về cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Hồ Chí Minh lựa chọn “tán thành quốc tế III và hoàn toàn tin theo Lênin”.

    – Luận cương của Lênin không chỉ tạo ra bước ngoặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có ý nghĩa mở đầu một thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam: Đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga – Con đường cách mạng vô sản do Đảng cộng sản lãnh đạo.

    – Qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, từ giữa những năm 20 của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã đi đến một sự lựa chọn và khẳng định dứt khoát: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

    – Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không những chỉ chân chính nhất, cách mạng nhất, chắc chắn nhất mà còn khoa học nhất, vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Người. Đây là nguyên nhân căn bản khiến Hồ Chí Minh không một phút xa rời học thuyết Mác – Lênin. Kể cả trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất di bất dịch và lòng trung thành vô hạn đối với chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy trong ứng xử, Người giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược đi đôi với sách lược linh hoạt mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biết, ứng vạn biến”.

    – Đối với Hồ Chí Minh, việc “học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận” nhằm nắm vững phép biện chứng, bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn. Vì vậy, Hồ Chí Minh không những vận dụng sáng tạo mà còn góp phần bổ sung và phát triển những nội dung mới làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin có sức sống mãnh liệt và đưa cách mạng Việt Nam đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt là cách mạng giải phóng thuộc địa.

     

    Trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và hãy cho biết tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò như thế nào đối với cách mạng Việt Nam?

    Đáp án:

    Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Thời kỳ 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân, sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp, băn khoăn trước thất bại của sĩ  phu yêu nước chống Pháp, ham học, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hoá tiên tiến của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Châu Âu.

    –  Trong thời kỳ này ở Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước thương dân tha thiết, bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    1. Thời kỳ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

    Nơi Hồ Chí Minh đến đầu tiên trong công cuộc đi tìm đường cứu nước là Pháp – nơi đã sản sinh ra tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái. Người còn đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, sống và hoạt động với những người dân bị áp bức ở Phương Đông và những người làm thuê ở phương Tây. Tham gia Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga, học tập và tìm hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin.

    – Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng: từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành chiến sĩ Cộng sản Việt Nam. Đây là bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. Thời kỳ 1921 – 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.

    Là thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động thực tiễn sôi nổi, phong phú. Trong thời kỳ này tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản. Người đã nghiên cứu xây dựng lý luận kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

    1. Thời kỳ 1930 – 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.

    – Trong những năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, Ban chấp hành trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Với bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng công bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    – Đây là mốc lịch sử quan trọng không chỉ mở ra kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự do độc lập của các dân tộc trên thế giới.

    1. Thời kỳ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thời kỳ này có những nội dung lớn sau:

    – Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc.

    – Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

    – Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    – Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền.

    Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò:

    * Thân thế và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh luôn gắn với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có vai trò, vị trí vô cùng to lớn, không thể thiếu và là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng Việt Nam. Tài sản vô giá trong kho tàng lý luận của cách mạng Việt Nam và thế giới tiến bộ.

    * Vạch ra con đường và dẫn dắt đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn: Từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    * Đảng ta khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Nó được biểu hiện trên một số mặt chủ yếu:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam, vì vậy, vạch rõ những quy luật của cách mạng Việt Nam: Đó là con đường từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng CNXH, vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ với toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam, là cơ sở nhận thức cho việc xây dựng lòng tin vào sự tất thắng của cách mạng Việt Nam, dù nó phải kinh qua nhiều gian khổ, thử thách cam go của lịch sử.

    – Với bản chất khoa học và cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần to lớn vào việc hình thành thế giới quan phương pháp luận, nhân sinh quan đúng đắn cho mỗi con người Việt Nam trong mọi tình huống. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng và nhân dân ta nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã cơ bản vượt qua khủng hoảng, vững bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, tinh thần ấy có vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

     

    Câu 32: Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh?

    Trả lời:

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cuộc đời của Người – cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho giải phóng nhân loại và từng con người. Tư tưởng đó thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

    * Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

    – Có lòng thương yêu vô hạn đối với con người, thông cảm sâu sắc với mọi đau khổ của con người. Từ đó tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây ra cho con người.

    – Ra đi tìm đường cứu nước, nhìn thấy nỗi đau của các dân tộc thuộc địa. Và vì thế lòng thương yêu người Việt đã trở thành lòng yêu thương nhân dân bị áp bức toàn thế giới. Khát vọng giải phóng dân tộc đã trở thành khát vọng giải phóng loài người.

    Người chỉ ra rằng, dù màu da có khác nhau, nhưng trên đời này chỉ có 2 giống người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Và chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ cho các dân tộc.

    – Có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người.

    – Có ý chí đấu tranh để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người.

    * Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng:

    – Hồ Chí Minh đưa ra một khái niệm về con người rất cụ thể, con người trong các mối quan hệ xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là gia đình, họ hàng, anh em, bầu bạn; là đồng bào cả nước.

    – Con người, với tư cách là mục tiêu của cách mạng: mọi chủ trương, đường lối, chính sách… của Đảng đều là vì con người, luôn luôn tin ở sức mạng của con người trong cách mạng và thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng là vì con người.

    – Con người – động lực của cách mạng: Đây là sự cụ thể hoá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Tuy nhiên, sức mạnh của con người phải được tổ chức, giáo dục và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    * Trồng người là chiến lược hàng đầu của cách mạng.

    – Hồ Chí Minh đã xuất phát từ vai trò của yếu tố con người.

    – Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” và “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

    – Chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh phải là “vừa hồng, vừa chuyên”. Có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoạt động thực tiễn và có phẩm chất chính trị vững vàng.

    Tóm lai, Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra các nội dung rất sâu sắc, cụ thể mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho Đảng và cách mạng Việt Nam ngày nay trong thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà vấn đề có ý nghĩa quyết định đó là yếu tố con người – mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới.

    Câu 33: là sinh viên đại học An Giang bạn nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào trong sự nghiệp xây dựng con người mới XHCN ở nước ta?

    Trả lời:

    * Những di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh để lại cho Đảng, dân tộc và nhân dân ta không chỉ có giá trị to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa thời sự trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đặc biệt là việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Về tư tưởng, đạo đức, lối sống:

    – Việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ vị trí, vai trò của thế giới quan, phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc hình thành và xây dựng nhân cách và bản lĩnh của người Việt Nam nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà chủ nghĩa xã hội đang gặp nhiều khó khăn trước sức công phá của chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” của chủ nghĩa đế quốc.

    – Xây dựng, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên chiến thắng đói nghèo và lạc hậu. Không chỉ dừng lại yêu nước chung chung mà phải gắn với yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và bằng ý chí quyết tâm, nghị lực và khả năng của mình, vươn lên chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

    – Giữ gìn đạo đức, nhân phẩm, lương tâm, danh dự; sống giản dị, ít ham muốn vật chất. Đây là một yêu cầu cao trong việc xây dựng và rèn luyện con người mới. Vì vậy phải tích cực gắn giữa xây với chống, lý luận với thực tiễn để sàng lọc, xây dựng các điển hình tiên tiến; đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay.

    Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh

    Lòng nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh là sự kết tinh của nhân ái, khoan dung Việt Nam trong thời đại mới. Làm cơ sở cho ta mở cửa, hội nhập, hướng tới tương lai trong việc thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

    * Rèn luyện thói quen tự học, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ và thông tin, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu hội nhập với thế giới.

    Đứng trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay, nếu ta thụ động trong việc tự học và tiếp cận công nghệ thông tin hoặc không chú trọng việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta sẽ bị các nền văn hoá ngoại lai thôn tính, bị tụt hậu trên mọi lĩnh vực, và vì thế không thể xây dựng xã hội chủ nghĩa và không thể thực hiện xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0o-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-cho-%C4%91%E1%BB%99i-ng%C5%A9-c%C3%A1n-b%E1%BB%99-%C4%91%E1%BA%A3ng-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    A. PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

     

    I. LỜI NÓI ĐẦU:

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra.

    Rất nhiều điều Bác nói về đạo đức đã qua hàng bốn, năm mươi năm hay lâu hơn nữa, nhưng nay vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Bác nói về những trường hợp cụ thể, cho những đối tượng cụ thể song ai nghe cũng cảm nhận đó là lời dạy cho mình. Nhìn lại và nhớ tới từng cử chỉ, từng hành động, từng lời nói và việc làm của Bác trong đời sống thường ngày, lúc sinh thời, ai mà không xúc động? Ai mà không cảm thấy có một cái gì đó không phải khi làm sai những điều Bác dạy.

    Trong giai đoan hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã luôn ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà yếu tố hàng đầu là nâng cao đạo đức cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức”. Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong hơn 20 năm qua.

    Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước nhiều thách thức, yếu kém cần phải vượt qua. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định một trong những thách thức đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Những suy thoái này còn kéo theo những suy thoái về đạo đức trong gia đình, nhà trường và trong xã hội. Những sự suy thoái đó đang là “nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

    Là một đảng viên công tác và sinh hoạt chính trị trong môi trường y tế, tôi nhận thức toàn diện những vấn đề cấp bách nói trên đặc biệt là trong ngành Y tế. Trên nền tảng kiến thức đã được học tập, nghiên cứu trong học phần I.4: Tư tưởng Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm thực tiễn nơi mình công tác cùng với sự tâm đắc về ý nghĩa thiết thực của đề tài, Tôi đã mạnh dạng chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ mới 2010-2015” để viết Tiểu luận tốt nghiệp Lớp trung cấp lý luận Chính trị – Hành chính tại chức khoá 33.

    Xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô khoa Lịch sử Đảng – Xây dựng Đảng, cám ơn các đồng chí trong Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã giúp đỡ tôi hoàn thành tiểu luận này.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Tác giả của tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp tổng hợp, điều tra, thống kê có phân tích và dự báo để hoàn thành đề tài.

    III. MỤC TIÊU ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI:

    – Tiểu luận nêu lên được một cách khái quát nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, sự cần thiết phải nâng cao nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

    – Đánh giá được thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong nhiệm vụ xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên tại Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú. Phân tích nguyên nhân và đề ra những giải pháp giúp cho Chi uỷ Trung tâm y tế nói riêng và Đảng uỷ y tế Long Phú nói chung nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

    – Thông qua tiểu luận tốt nghiệp, tác giả muốn bày tỏ lòng kính yêu vô hạn của mình đến lãnh tụ Hồ Chí Minh, một bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Là một hành động thiết thực của tác giả hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    – Tác giả cũng hy vọng rằng đề tài này sẽ là tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các khoá học sau.

    IV. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

    1. Đối tượng nghiên cứu:

    Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ đảng viên thuộc Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

    2. Thời gian nghiên cứu:

    Giới hạn thời gian từ khi Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, từ năm 2007 đến năm 2009 và định hướng 2010-2015.

    B. PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

     

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

    1. Đạo đức cộng sản trong học thuyết Mác-Lênin

    Theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

    Đạo đức là một hình thái cơ bản của ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển lịch sử. Nó nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội mà trước hết là nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong phân phối sản phẩm đề tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống đạo đức cũng theo đó mà ngày càng được nâng cao, mở rộng, phong phú, phức tạp.

    Đạo đức và pháp luật cùng tác động đến hành vi con người, nhưng pháp luật thực hiện dựa vào sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, còn đạo đức thực hiện dựa vào sức mạnh của dư luận xã hội, của tập quán phong tục truyền thống, niềm tin. Uy tín đạo đức của mỗi người không gắn với bất cứ quyền lực, cấp bậc, chức vụ… cũng như bất cứ quyền hạn chính thức nào. Đạo đức là sản phẩm của lịch sử. Mỗi hoạt động, những nhu cầu của con người khi thay đổi, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong đánh giá các giá trị đạo đức để phù hợp với sự phát triển của lịch sử.

    Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp có những lợi ích riêng và do đó cũng có những quan niệm đạo đức, có nền đạo đức riêng. Tuy nhiên, nền đạo đức được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là nền đạo đức của giai cấp thống trị, mặc dù trong cuộc sống hàng ngày mỗi giai cấp vẫn ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của mình.

    Cũng theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, các giá trị đạo đức phổ biến của nhân loại sẽ không ngừng được sáng tạo và phát triển qua mọi thời đại và được kế thừa trong đạo đức cộng sản – một nền đạo đức mang tính nhân loại phổ biến của xã hội tương lai.

    Tóm lại, đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân. Các tiêu chuẩn đạo đức hướng tới chân, thiện, mỹ thực chất là hướng tới cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng tới phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đó là một nền đạo đức đối lập về chất so với nền đạo đức phong kiến và đạo đức tư sản.

    2. Vai trò của đạo đức cách mạng đối với cách mạng nước ta

    Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

    Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

    Do đó, đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc và là phẩm chất mỗi con người.Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới – con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Bằng những hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã bền bỉ, dẻo dai và kiên nhẫn trong việc tìm kiếm con đường, biện pháp để thực hiện mục tiêu: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, Đảng ta chính thức bắt đầu kêu gọi “toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong, đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch” và chỉ ra rằng “sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta” và khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

    Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng năm 2001, ghi rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, điều làm cho tôi nhiều cảm xúc và tâm đắc nhất chính là những tư tưởng của Người về về đạo đức cách mạng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê  trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Người.

    3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    3.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới khác về chất so với nền đạo đức cũ, nhằm phát triển toàn diện con người trong thời đại mới. Hồ Chí Minh xây dựng nền đạo đức cách mạng với hai nội dung cơ bản:

    Một là, xây dựng hệ thống những chuẩn mực của nền đạo đức mới. Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể…

    Hai là, xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới. Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ.

    3.2. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống đạo đức dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại, đạo đức cộng sản Mác-Lênin và sự tu dưỡng, rèn luyện không mệt mỏi của Hồ Chí Minh.

    1. Truyền thống đạo đức dân tộc

    Truyền thống đạo đức của dân tộc được hình thành và phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước. Nhiều giá trị đạo đức từ đó được tích luỹ như: đạo lý yêu quê hương đất nước, yêu thương, quý trọng con người; đồng cam cộng khổ cứu giúp lẫn nhau; cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm hy sinh trong đánh giặc cứu nước sống có thuỷ chung, có tình có nghĩa; uống nước nhớ nguồn; đói cho sạch rách cho thơm rất lạc quan yêu đời nhưng cũng rất căm ghét cái ác, căm thù bọn cướp nước hiếu thảo với cha mẹ; trọng tình nghĩa vợ chồng, anh em, tiết kiệm và dung dị trong đời sống… Tất cả những giá trị đạo đức ấy đã đi vào tâm hồn Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nằm trong nôi ngày càng nồng đượm trở thành khát vọng thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước.

    1. Tinh hoa đạo đức nhân loại

    Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng nhiều tinh hoa đạo đức như: Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Mặc gia…  Người viết “học thuyết của Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”. Thế nhưng Người vẫn phê phán và loại bỏ lập trường phong kiến của Khổng Tử trên các mặt: tôn thờ chế độ phong kiến, phân biệt đẳng cấp; trọng nam khinh nữ; phân biệt nghề nghiệp… Hồ Chí Minh còn kế thừa mặt tiến bộ trong tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên và tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản… để xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta.

    Hồ Chí Minh viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng bác ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách “tam dân” thích hợp với điều kiện nước ta… tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

    1. Đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế

    Đạo đức mà Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị lý luận, phương pháp luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng đạo đức mới là đạo đức học Mác-Lênin – đạo đức của giai cấp vô sản.

    Nội dung cơ bản của đạo đức học Mác-lênin là các phạm trù và các tiêu chuẩn đạo đức được hình thành trên nền tảng của cách mạng vô sản, của chủ nghĩa tập thể vô sản, lấy việc giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, con người làm mục đích tối cao; coi hạnh phúc không phải chỉ là thoả mãn nhu cầu của cá nhân mà cái chính là phục vụ cho tất cả mọi người theo tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đây chính là điểm khác nhau căn bản, sự tiến bộ về chất của đạo đức vô sản so với đạo đức cũ. Hồ Chí Minh đã nhận rõ điều đó và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng ở nước ta.

    1. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của Hồ Chí Minh

    Cả cuộc đời Người là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Hồ Chí Minh đã nâng Người lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm… của thế kỷ XX, khiến kẻ thù cũng phải kính phục, bị cảm hóa và nhân loại tin tưởng noi theo.

    Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu con người và dân tộc Việt Nam, mà còn thương yêu thương yêu nhân loại. Người không chỉ muốn cứu nước Việt Nam mà còn muốn cứu giúp các dân tộc khác. Chính quyền Pháp nhiều lần dụ dỗ, đe doạ, tử hình vắng mặt, nhưng Hồ Chí Minh không sợ hãi mà càng tăng thêm quyết tâm hoạt động cách mạng. Sau này Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”.

    3.3. Những đặc điểm của đạo đức cách mạng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là kết tinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại trong lịch sử, cơ bản là đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin – đạo đức cộng sản được vận dụng phù hợp với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong hệ thống các tiêu chuẩn đạo đức của Người về hình thức chúng ta thấy có nhiều khái niệm, phạm trù, mệnh đề của đạo đức truyền thống, nhưng nội dung là của nền đạo đức mới.

    Các tiêu chuẩn đạo đức của Hồ Chí Minh rất toàn diện nhưng không chung chung trừu tượng mà rất cụ thể, dễ thực hiện; có cả những tiêu chuẩn đạo đức chung, nhưng cũng có cả những tiêu chuẩn thích ứng cho mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, mỗi tổ chức… Trong đó, Người đặc biệt chú ý tới đạo đức của cán bộ đảng viên và nói về vấn đề này nhiều nhất.

    Hồ Chí Minh là người xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức mới, nhưng cũng là người thực hiện những tiêu chuẩn đó một cách mẫu mực nhất, có sự thống nhất cao giữa lời nói với việc làm. Đặc điểm này làm cho Hồ Chí Minh tỏa sáng và trở thành tấm gương đạo đức vĩ đại.

    4. Nội dung chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

    Những chuẩn mực đạo đức cần phải thường xuyên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người, trước hết là của cán bộ, đảng viên:

    1. Trung với nước hiếu với dân

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tận trung với nước là chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là lẽ phải, là chân lý. Nước mất thì nhà tan, mỗi người dân sẽ thành nô lệ. Do đó, là người công dân thì phải tận trung với nước, tận lực phụng sự Tổ quốc: suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; không phản bội, quy hàng kẻ địch… Tận trung với nước cũng chính là tận trung với Đảng, quyết tâm đưa đất nước phát triển theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, Đảng là người đại diện cho nước, cho dân, “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh trung với nước, với Đảng và hiếu với dân là hai mặt thống nhất của một vấn đề, gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Đã tận trung với nước thì phải tận hiếu với dân. Tận hiếu với dân nghĩa là thấy rõ sức mạnh, vai trò thực sự của nhân dân. Phải làm hết sức mình để nhân dân hiểu được quyền cũng như trách nhiệm của người chủ đất nước.

    Từ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành tận trung với nước tận hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.

    1. Yêu thương và giúp đỡ con người, sống có nghĩa, có tình

    Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể, sâu sắc và bao dung. Hồ Chí Minh chẳng những thương yêu tất cả những người lao động, mà còn đặc biệt thương yêu những người bị áp bức, bóc lột, bị đọa đầy đau khổ, bị nô dịch giai cấp và dân tộc Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng “trắc ẩn”, mà còn được nâng lên ở tầm cao của nhận thức tư tưởng.

    Sống có nghĩa, có tình, giúp người, cứu người, hướng tới giải phóng triệt để con người là động cơ mạnh mẽ, là mục tiêu lý tưởng cao cả của Hồ Chí Minh. Người nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Do đó, để giải phóng triệt để con người thì  không chỉ đánh đổ bọn thực dân xâm lược, giải phóng dân tộc mà còn xoá bỏ tình trạng người bóc lột người. Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện được mục tiêu đó thì “không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    Cần là thường xuyên cố gắng, luôn chăm chỉ, trong suốt cả cuộc đời. Cần còn là biết chủ động và sắp xếp công việc có kế hoạch, có sáng tạo, biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng để có thể làm việc lâu dài, đạt kết quả cao. Cần còn được hiểu là tăng năng suất trong công tác. Cần là phải chống bệnh chây lười biếng nhác, ỷ lại, thụ động, vô kỷ luật…

    Kiệm là tiết kiệm công sức, tiền của và thời gian, sử dụng chúng sao cho có ích nhất, hiệu quả nhất. Kiệm cũng có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi trong sản xuất và đời sống. Tiết kiệm theo Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngược với bủn xỉn. Người nói: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”.

    Theo Hồ Chí Minh, liêm là “Không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”, “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Người nói: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chỉnh phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng”. Vì vậy cán bộ, công chức trong các công sở trước hết phải giữ lấy chữ liêm làm đầu.

    Chính là không tà, là thẳng thắn và đứng đắn. Theo Hồ Chí Minh: trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia ra làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc CHÍNH là người THIỆN, làm việc Tà là người ÁC. Cán bộ, công chức là những người làm việc công cho nên chính còn là sự công tâm, công đức khi giải quyết công việc. Hồ Chí Minh nói: chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Người còn nhấn mạnh, cán bộ, công chức phải tự mình “chính” trước mới giúp được người khác “chính”, nếu mình không “chính” mà muốn người khác “chính” là vô lý.

    Chí công vô tư: cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, tức là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Người nhấn mạnh, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

    1. Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

    Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc trưng của đạo đức cộng sản, bắt nguồn từ vai trò của giai cấp công nhân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế chính là quan hệ hữu nghị, hợp tác, giúp đỡ, tương trợ với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người yêu hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới. Chủ nghĩa quốc tế chỉ có thể tốt đẹp khi mỗi quốc gia phải phát huy tinh thần chủ động, tự lực tự cường và phải hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình, chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nước lớn. Đó là tinh thần quốc tế cao đẹp mà Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần và rèn luyện trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, phát triển và tiến bộ trên toàn thế giới.

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, định hướng lâu dài cho việc bồi dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng ở mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    5. Học tập quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tổ chức Đảng các cấp

    Ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Mục đích của cuộc vận động là: “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức… đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

    Tỉnh uỷ Sóc Trăng rất quan tâm đến công tác xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho toàn Đảng bộ. Thông tri số 07-TT/TU ngày 09/01/2007 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Sóc Trăng và Kế hoạch số 11-KH/TG ngày 29/01/2007 của Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ về việc Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.

    Ngày 08/05/2007 Đảng uỷ Y tế huyện Long Phú triển khai Kế hoạch số 07-KH/ĐUYT, bắt đầu thực hiện cuộc vận động, tạo được phong trào thi đua hành động các mạng sôi nổi trong cán bộ, đảng viên toàn ngành y tế. Đặc biệt là tinh thần tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của tập thể Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Từ những lý luận khoa học về đạo đức cách mạng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, giúp cho tác giả đề tài quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về rèn luyện đạo đức cách mạng, là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận trong vận dụng thực tiễn khi nghiên cứu đề tài.

    II. THỰC TRẠNG

    1. Đặc điểm tình hình:

    1.1. Đặc điểm chung:

    Trung tâm y tế huyện Long Phú là đơn vị trực thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế; xây dựng kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở; phòng và chống các bệnh gây thành dịch, các bệnh xã hội và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa bàn huyện Long Phú. Sau khi tách 04 xã thuộc huyện Trần Đề theo Nghị quyết số 64/NQ-CP, ngày 23/12/2009 của Chính phủ, huyện Long Phú còn lại 26.372,12 ha diện tích tự nhiên và 110.952 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Long Phú và các xã: Long Phú, Tân Hưng, Tân Thạnh, Trường Khánh, Hậu Thạnh, Đại Ngãi, Song Phụng, Long Đức, Châu Khánh, Phú Hữu. Dân số gồm 03 dân tộc chính: Kinh, Khơ-me, Hoa, sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Trình độ dân trí, kiến thức y tế nhìn chung còn tương đối thấp. Tình hình tổ chức nhân lực của Trung tâm như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số cán bộ 30 30 31
    Số cán bộ nữ 14 14 14
    Số cán bộ người dân tộc Khơ-me 9 9 9
    Số cán bộ có trình độ sau đại học 0 2 3
    Số cán bộ có trình độ đại học 3 1 2
    Số cán bộ có trình độ trung cấp 26 24 22

    Bảng 1: Tổng hợp tình hình cán bộ viên chức của Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú trực thuộc Đảng bộ Y tế được thành lập ngày 14-11-2005, đến nay đã qua 2 kỳ Đại hội. Có nhiệm vụ chính trị là lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tình hình đảng viên trong Chi bộ như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số đảng viên trong chi bộ 9 10 14
    Phát triển đảng viên mới 3 2 1
    Đảng viên chuyển đến 0 0 3
    Đảng viên chuyển đi 1 1 1
    Số đảng viên nữ 3 4 6
    Số đảng viên người dân tộc Khơ-me 0 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị đại học 1 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận CT trung cấp 0 1 2
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị sơ cấp 3 5 5
    Tuổi đời trung bình của đảng viên trong chi bộ 38 38 42

    Bảng 2: Tổng hợp tình hình đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    1.2. Thuận lợi:

    Qua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng viên Đảng bộ Y tế huyện, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân của Chi bộ Trung tâm y tế có những thuận lợi cơ bản do tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị huyện nhà tiếp tục chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước.

    Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ và đầu tư. Chủ trương xã hội hóa Y tế từng bước được tăng cường và nhân rộng. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã tạo ra nền tảng tư tưởng quan trọng, nâng cao nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị về công tác Y tế. Từ đó toàn ngành đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, đầu tư kịp thời của các cấp Uỷ, chính quyền và sự phối hợp nhịp nhàng của ban ngành, đoàn thể địa phương.

    Bên cạnh đó, còn có sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức của tập thể cán bộ, đảng viên trong ngành, cùng với việc thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 43/NĐ-CP; mạng lưới Y tế cơ sở được củng cố và phát triển; cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng, nâng cấp, trang thiết bị được bổ sung; tinh thần phục vụ, Y đức và trình độ chuyên môn từng bước được nâng cao.

    1.3. Khó khăn:

    – Mặt bằng dân trí chưa đồng đều, ý thức phòng chống bệnh tật trong cộng đồng chưa cao; thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước; tình trạng ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải chậm cải thiện; nguy cơ bùng phát dịch bệnh luôn tiềm ẩn.

    – Tỷ lệ giường bệnh, số lượng cán bộ Y tế, nhất là bác sỹ trên dân số khá thấp; chế độ, chính sách đối với ngành Y tế tuy được bổ sung, điều chỉnh nhưng chưa thật sự thỏa đáng; tình trạng thiếu nhân lực kéo dài, cơ cấu trình độ chưa cân đối, thiếu một số cán bộ chuyên môn có tay nghề và cán bộ làm công tác dự phòng.

    – Ngân sách cấp chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; đời sống của phần lớn cán bộ, công chức, viên chức Y tế chậm cải thiện; công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình có từng lúc chưa được quan tâm đúng mức; cơ chế khám chữa bệnh bảo hiểm y tế còn một số bất cập, chậm được hướng dẫn một cách thống nhất mặc dù Luật bảo hiểm y tế đã được ban hành.

    2. Thành tựu và hạn chế:

    2.1. Thành tựu:

    1. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    – Công tác tổ chức, nhân sự và phát triển mạng lưới Y tế: Đến cuối năm 2009, có 12/15 xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã; 10/15 xã có bác sỹ. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân: 90 cơ sở trên địa bàn.

    – Công tác khám chữa bệnh: Chất lượng điều trị, tinh thần thái độ phục vụ, sự tín nhiệm của người bệnh từng bước được nâng lên; không xảy ra sai sót chuyên môn, tai biến điều trị do thiếu tinh thần trách nhiệm. Thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế, trung tâm y tế huyện đã phối hợp với Bệnh viện Đa khoa cử 05 bác sỹ hỗ trợ 04 trạm Y tế chưa có bác sỹ.

    – Công tác phòng bệnh: Được BCH Chi uỷ xác định là nhiệm vụ hàng đầu và tập trung chỉ đạo mọi nguồn lực thực hiện.

    + Quản lý và chăm sóc sức khỏe trên 90% đối tượng chính sách, học sinh, người cao tuổi và tàn tật.

    + Năm 2009, tình hình các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tiêu chảy, lỵ trực trùng, quai bị, sởi… có xu hướng gia tăng; bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp với 942 cas mắc, tử vong 01; đặc biệt là dịch cúm A H1N1 bùng phát với 248. Toàn ngành đã huy động mọi nguồn lực triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn đã kịp thời khống chế, dập tắt dịch.

    + Hàng năm duy trì việc tạo miễn dịch đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi 98% số đối tượng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 6 tuổi cuối năm 2009 còn 16,64%.

    + Thực hiện đạt yêu cầu chỉ tiêu các dự án mục tiêu Y tế quốc gia: quản lý và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên 95% cơ sở chế biến, kinh kinh doanh, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm; kiểm tra vệ sinh môi trường 100% cơ sở cung cấp nước, trường học và cơ sở Y tế công và tư nhân, lập hồ sơ vệ sinh lao động cho 100% cơ sở; khám thai, khám và điều trị phụ khoa đạt trên 93%, tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 135,3%;

    – Công tác khác: Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ Y học ngày càng chuyển biến rõ nét. Kết hợp chặt chẽ giữa quân và dân y trong diễn tập, phòng chống dịch, khám tuyển nghĩa vụ quân sự và sỹ quan dự bị. Hoạt động văn hóa, văn nghệ ngày càng phong phú và đạt được một số thành tích trong Hội thao, Hội thi do huyện, tỉnh tổ chức.

    Từ những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ qua, Trung tâm Y tế huyện được UBND tỉnh tặng 01 Cờ Thi đua đơn vị xuất sắc năm 2009 và nhiều Bằng khen, Giấy khen cho các tập thể, cá nhân trong ngành đạt thành tích tốt. Ngoài ra, còn có 01 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”; trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sức khỏe nhân dân” cho 6 cá nhân.

    1. Về xây dựng hệ thống chính trị:

    – Công tác xây dựng Đảng:

    Quy chế làm việc của BCH Chi uỷ được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, giúp các Chi uỷ viên, đảng viên trong Chi bộ nắm rõ và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo.

    Đảng bộ luôn quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức học tập quán triệt các nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành. BCH chi uỷ chú trọng giáo dục nâng cao Y đức, kỹ năng giao tiếp, thực hành tiết kiệm, xây dựng nếp sống văn minh, tinh thần đoàn kết, đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực, bè phái, cục bộ… gắn liền với sinh hoạt Chi bộ.

    Thực hiện tốt Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2), Chi bộ từng bước đổi mới nội dung sinh hoạt, thường xuyên phê bình và tự phê bình gắn liền với đánh giá thực hiện nhiệm vụ đảng viên, những điều Đảng viên không được làm, các tiêu chí “xây” và “chống” trong ngành Y tế. Nhất là từ năm 2007 đến nay, với xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chi uỷ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt các chuyên đề theo đúng tinh thần chỉ đạo của Huyện uỷ. Qua cuộc vận động này, 100% đảng viên, người lao động viết bản cam kết phấn đấu thực hiện những nội dung cụ thể, phù hợp vị trí đang công tác; đồng thời củng cố nhận thức chính trị, có lập trường quan điểm vững vàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, có hành động thiết thực trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, sửa đổi lề lối làm việc. Nhìn chung, Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng công việc.

    Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, kịp thời phát hiện đảng viên có biểu hiện sai phạm, chưa làm tốt nhiệm vụ đảng viên để có biện pháp giáo dục, uốn nắn. Nhiệm kỳ qua không có đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật Đảng.

    Trong 3 năm qua, kết nạp mới 05 đảng viên. Ngoài ra còn 04 hồ sơ phát triển đảng đang chờ Huyện uỷ xem xét. Lập thủ tục chuyển sinh hoạt 03 đồng chí, tiếp nhận công tác 04 đồng chí, phát thẻ đảng viên cho 06 đồng chí.

    Bảng 3: Biểu đồ phát triển đảng viên từ năm 2007-2009.

    Qua đánh giá phân loại đảng viên cuối năm 2009, 3/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 9/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ và 2 đồng chí đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ; không có đảng viên xếp loại yếu kém.

    Bảng 4: Biểu đồ tỷ lệ xếp loại đảng viên cuối năm 2009.

    – Công tác xây dựng chính quyền:

    BCH Chi uỷ luôn quan tâm và trực tiếp lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, phát triển mạng lưới… nhằm xây dựng bộ máy quản lý ngày càng vững mạnh, đủ năng lực điều hành mọi hoạt động. Kiến thức, kỹ năng module IV, V được chú trọng áp dụng trong việc quản lý các lĩnh vực công tác, nhất là quản lý kế hoạch và giám sát Y tế cơ sở. Thực hiện nghiêm túc chế độ thủ trưởng, quy định của ngành và quy chế chi tiêu nội bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng, đã ngăn ngừa tiêu cực một cách hiệu quả.

    – Công tác xây dựng đoàn thể:

    Quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện hoạt động Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban “Vì sự tiến bộ Phụ nữ” theo Quy chế làm việc toàn khóa, thông qua việc ban hành nghị quyết, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát hoạt động. Đồng thời, thường xuyên cùng với Ban lãnh đạo đơn vị, Ban Chấp hành đoàn thể trao đổi, bàn bạc tìm biện pháp chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần, thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động, phát động phong trào thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, vận động đóng góp nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa…

    – Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ:

    Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, chính quyền kết hợp các đoàn thể thường xuyên tiếp thu ý kiến xây dựng. Hàng quý, công khai tình hình sử dụng ngân sách, các nguồn quỹ. Các vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự, đào tạo được Ban chấp hành bàn bạc thống nhất trước khi đưa ra chi bộ xem xét quyết định.

    2.2 Hạn chế, tồn tại:

    – Hạn chế trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    + Mạng lưới Y tế cơ sở tuy phát triển, hoàn thành chỉ tiêu xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về Y tế nhưng chất lượng hoạt động và tính bền vững chưa cao, Bác sỹ về công tác tại trạm Y tế chỉ đạt 76,9% chỉ tiêu. Một số bộ phận tuyến huyện thiếu cán bộ kéo dài, việc bố trí nhân lực còn mang tính tình thế.

    + Trình độ cán bộ và kiến thức Y học của người dân còn thấp và chưa đồng đều; tình hình vệ sinh môi trường chậm cải thiện.

    + Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, song nhìn chung sức thu hút người bệnh tại trạm Y tế chưa cao. Việc sử dụng trang thiết bị được cung cấp còn hạn chế.

    – Hạn chế trong xây dựng hệ thống chính trị:

    Đây là một trong những nội dung quan trọng trong đề tài, là cơ sở cho việc đưa ra nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể và hiệu quả cho công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong thời gian tới.

    + Công tác xây dựng, phát triển số lượng đảng viên của chi bộ còn tương đối chậm, Trong 3 năm phát triển được 5 đảng viên, hiện tại Chi bộ có 14 đảng viên trên 31 cán bộ là tương đối ít. Số lượng đảng viên nữ còn hạn chế. Đặc biệt chỉ có 01 đảng viên người dân tộc Khơ-me trong chi bộ.

    Bảng 5: Biểu đồ tình hình phát triển đảng viên

    + Trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong chi bộ còn tương đối thấp, chưa tương xứng với quy mô và trình độ chuyên môn của đảng viên trong Chi bộ, điều này cho thấy công tác cán bộ còn hạn chế, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị tại Chi bộ chưa được quan tâm đúng mức.

    Bảng 6: Biểu đồ thống kê trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong Chi bộ.

    + Đạo đức cách mạng, tác phong gương mẫu trong đảng viên còn những vấn đề cần phải quan tâm. Một số ít cán bộ, đảng viên ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, chưa gương mẫu trong công tác và trong rèn luyện đạo đức, tác phong. Còn hiện tượng nói nhiều, làm ít, làm qua loa, trong việc làm còn mang nặng tính hình thức.

    + Thực hiện chế độ phê bình và tự phê bình của một số đảng viên chưa nghiêm túc, còn nể nang, cầu an… cho nên tinh thần đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong một số hiện tượng chưa thật sự triệt để.

    + Ý thức thực hành tiết kiệm trong dự phòng và điều trị bệnh chưa triệt để thực hiện. Sử dụng các nguồn kinh phí cho phòng bệnh mang lại hiệu quả chưa cao. Trong điều trị việc kê đơn thuốc đôi lúc chưa chưa hợp lý, chưa giảm được chi phí thấp nhất cho người bệnh.

    + Còn một số ít cán bộ, đảng viên chưa đặt nặng trách nhiệm với công việc, với nhân dân; thiếu chủ động, còn ngán ngại với khó khăn; thiếu tự giác nhìn nhận và chậm khắc phục khuyết điểm của bản thân.

    2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế:

    1. Nguyên nhân thành tựu:

    Đạt được kết quả trên, trước hết nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng; sự quan tâm lãnh đạo,.chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, Sở Y tế và các chuyên khoa đầu ngành tuyến tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền, ban ngành, đoàn thể cơ sở; tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phát huy nội lực của tập thể cán bộ, đảng viên ngành Y tế; sự năng động trong lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Đảng uỷ; sự điều hành tập trung của Ban lãnh đạo các đơn vị; những thành quả tích lũy từ nhiệm kỳ qua… đã tạo ra động lực thúc đẩy toàn ngành phát triển khá toàn diện.

    1. Nguyên nhân tồn tại:

    Về khách quan có nhiều nguyên nhân như:

    – Cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Y tế chậm đổi mới, chưa có chế độ thu hút bác sỹ về phục vụ ở cơ sở; xuất phát điểm của ngành còn thấp so với các tỉnh lân cận, còn thiếu nhiều cán bộ có tay nghề và trang thiết bị kỹ thuật cao; nguồn đầu tư của trên còn chậm, một số lĩnh vực chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển; thời tiết diễn biến phức tạp, nguy cơ dịch bệnh luôn tiềm ẩn, có khả năng bùng phát trên diện rộng…

    – Hạn chế của đảng viên về đạo đức cách mạng còn do những nguyên nhân khách quan thuộc mặt trái của nền kinh tế thị trường; là sự bùng nổ thiếu kiểm soát thông tin trên mạng intemet và giao lưu quốc tế đã tạo điều kiện cho những mặt tiêu cực của văn hóa và lối sống bên ngoài du nhập vào nước ta; là trong xã hội ta hiện nay vẫn còn những tàn dư của đạo đức phong kiến, thực dân và âm mưu “diễn biến hòa bình” của kẻ thù.

    Song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, đó là:

    – Tư duy đổi mới của không ít cán bộ, đảng viên chưa theo kịp với yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;

    – Năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chuyên môn của một vài cán bộ chủ chốt còn hạn chế; còn một số đảng viên nói nhiều, làm ít, ngại khó, sợ va chạm, thiếu gương mẫu, tự thỏa mãn với bản thân;

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của tập thể BCH Chi uỷ về công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra. . . và trong một vài tình huống còn lúng túng, thiếu cương quyết;

    – Bước vào thời kỳ mới, ngành Y tế nước ta có nhiều điều kiện phát triển, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều tiến bộ và cống hiến to lớn, nhưng cũng đứng trước những thách thức mới, trong đó có sự xuống cấp về y đức.

    – Riêng về công tác giáo dục chính trị, đạo đức thì có những nguyên nhân chủ quan, trước hết là có biểu hiện buông lỏng việc giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong một thời gian khá dài do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của đạo đức cách mạng. Thêm vào đó là những hiện tượng xử lý không nghiêm minh đối với những cán bộ xa rời đạo đức cách mạng…

    III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

    1. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng vào công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong giai đoạn mới 2010-2015:

    * Những nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng

    1. Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, chủ yếu trong thực tiễn cách mạng

    Theo Hồ Chi Minh, đã tham gia vào đời sống cộng đồng thì mỗi người – không phải là thánh nhân – ít nhiều đều mắc sai lầm, khuyết điểm. Người nói: “người nào không mắc khuyết điểm mới là lạ”. Người so sánh sự tu dưỡng đạo đức cách mạng giống như người trồng lúa, phải có công chăm bón, diệt cỏ, trừ sâu lúa mới tốt; còn cái ác giống như cỏ dại, nếu không diệt thì nó mọc tràn lan, sinh sôi nảy nở. Do đó, phải phấn đấu, tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, sao cho phần thiện ngày càng nảy nở như hoa mùa xuân, còn phần ác ngày càng ít đi.

    Tu dưỡng đạo đức cách mạng tốt nhất là trong hoạt động thực tiễn. Chỉ trong thực tiễn cách mạng mới hiện rõ thiện, ác, tốt, xấu. Nhờ đó mới biết rõ phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, hành động đạo đức như thế nào? Đấu tranh chống phi đạo đức ra sao? đấu tranh chống các hiện tượng phi đạo đức cũng là tu dưỡng đạo đức. Hồ Chí Minh kết luận: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

    Chỉ có trong thực tế công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, người cán bộ y tế mới có đầy đủ điều kiện rèn luyện mình một cách toàn diện.

    1. Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm

    Hồ Chí Minh coi trọng sự gương mẫu trong thực hành đạo đức, nói đi đôi với làm, nói được phải làm được. Đó là một nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới. Người nhấn mạnh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã”.

    Đạo làm gương, nói đi đôi với làm phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi lĩnh vực: từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đến nhà trường, gia đình, xã hội… Trong lĩnh vực y tế cũng thế, phải tôn trọng nhân dân, bệnh nhân. Phải mẫu mực trong lời nói, cử chỉ và hành động, tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân. Trong chuyên môn khi phát ngôn phải dựa trên trình độ và khả năng của mình, chức năng của đơn vị mình… tránh hiện tượng đề cao cá nhân, khoe tài, địa vị…

    1. Luôn đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức, nhất là chống chủ nghĩa cá nhân

    Xây dựng đạo đức cách mạng là để giải phóng dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Thế nhưng, như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Chúng ta sinh trưởng trong xã hội cũ, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình vết tích xấu xa của xã hội cũ về tư tưởng, nhất là những tiêu chuẩn đạo đức cũ đã lỗi thời và cả cái ác, cái xấu, cái vô đạo đức. Chúng đang là “kẻ địch ở trong lòng” ngăn trở to lớn đến việc xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên nhân sâu xa của những cái ác, cái xấu, cái phi đạo đức chính là chủ nghĩa cá nhân.

    Chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, việc gì cũng chỉ đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết; chỉ muốn mọi người vì mình, “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan tham ô, lãng phí, óc hẹp hòi, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chủ nghĩa”… “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ  nghĩa cá nhân”.

    Tuy nhiên, cần có nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có lợi ích của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Hồ chí Minh khẳng định, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

    Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện. Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới. Từ những phân tích đánh giá về thực trạng, Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú ngoài mục tiêu, nhiệm vụ về chăm sóc sức khỏe nhân dân, cần đặc biệt quan tâm thực  những nhiệm vụ và các giải pháp rèn đạo đức cách mạng tại Chi bộ trên mấy điểm chính sau đây:

    2. Nhiệm vụ:

    – Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân.

    Nhiệm vụ của người cán bộ Y tế xã hội chủ nghĩa là chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người, đó là một nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Lương y phải như Từ mẫu. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    – Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

    Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

    – Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.

    Rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

    – Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân.

    Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

    3. Các giải pháp:

    Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:

    Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống.

    Cần tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên qua sinh hoạt ở tổ chức đảng. Trong sinh hoạt chi bộ và cấp ủy không chỉ có phần đánh giá công việc, mà còn phải kiểm điểm, đánh giá về đạo đức cán bộ. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, nhấn mạnh: Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên.

    Đối với cán bộ y tế, rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức đặc biệt: Từ tấm lòng lương y như từ mẫu mà nảy sinh ra những đức tính cần thiết của người cán bộ y tế như niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc, tận tình, cẩn trọng, chu đáo khi chăm sóc, ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò và trong những trường hợp khó khăn, nguy kịch thì sẵn sàng chịu khó, chịu khổ, hy sinh, quên mình để làm tròn phận sự cứu người. Có tình thương của người mẹ hiền thì người thầy thuốc tránh được những thói xấu như cầu lợi, kể công, phân biệt đối xử giữa giàu, nghèo, sang, hèn, hách dịch, lạnh lùng khi tiếp xúc, qua loa, tắc trách trong phục vụ, đố kỵ, kèn cựa với đồng nghiệp… “Thầy thuốc như mẹ hiền” là cốt lõi của đạo đức ngành y. Do đó rất cần những cán bộ đảng viên không những có kiến thức y học tốt mà còn có tư tưởng đạo đức cách mạng cao, có tấm lòng yêu hòa bình, yêu thương nhân loại, yêu thương tất cả loài người, có tinh thần chí công vô tư, dành tình thương cho tất cả người bệnh, có tinh thần quốc tế, đoàn kết hợp tác với nền y học các nước vì sự phát triển của y học thế giới. Có như thế mục tiêu phát triển con người của Đảng và nhân dân ta chắc chắn sẽ thành công.

    Kết hợp sáng tạo và khoa học giữa giáo dục đạo đức, lối sống với thực hiện nhiệm vụ chính trị của Chi bộ là bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Chú trọng đến mặt chất lượng trong xây dựng Đảng, trong phát triển Đảng. Đặc biệt tổ chức thực hiện tốt 12 điều Y đức – Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế – (Ban hành kèm theo quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Phấn đấu giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

    Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả.

    Nhà nước đã ban hành pháp lệnh và phát triển thành luật phòng ngừa và chống tham nhũng, lập ra các cơ quan chống tham nhũng. Cấp ủy đảng và Ban Giám đốc Trung tâm y tế phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở đơn vị. Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở đơn vị thì tùy theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp ủy và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm đúng pháp luật. Đó là những biện pháp rất cần thiết và mạnh mẽ cần được thực hiện triệt để.

    Tăng cường hoạt động của Ủy ban kiểm tra Đảng, ban Thanh tra nhân dân tại đơn vị, nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ y tế, hết lòng hết sức phục vụ sức khỏe nhân dân. Xây dựng được ý thức đấu tranh chống tiêu cực, tạo sự bình đẳng trong khám và điều trị bệnh, tạo điều kiện cho mọi người dân ai cũng có thể tiếp cận được với những kỹ thuật y tế tiên tiến trong nhu cầu chăn sóc sức khỏe.

    Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    Bác Hồ là một con người giản dị, Người đã từng sống bên cạnh chúng ta, chân thật, gần gũi như một người bình thường. Những điều Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, công chức về đạo đức cách mạng là những điều được rút ra từ thực tiễn cuộc đời Người đã sống và hoạt động cách mạng. Do đó, công tác tuyên truyền cần tập trung làm cho mọi người hiểu được và nhận thức một cách chân thực về tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là việc làm sung sướng nhất, vẻ vang nhất như lời căn dặn của Người. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng chỉ rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài”.

    Từ nội dung của giải pháp này, Chi bộ xây dựng triển khai thực hiện các chuyên đề của cuộc vận động, nhất là Chuyên đề năm 2010: “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”. Chú ý gắn với các hoạt động chuyên môn, gắn với nhiệm vụ của ngành y tế sao cho thật cụ thể có chiều sâu, có tác động mạnh mẽ đến nhận thức tư tưởng và hành động của cán bộ ngành Y tế.

    Tích cực nâng cao y đức trong công việc hàng ngày như: Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cũng như phương pháp điều trị cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục bệnh. Thường xuyên giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức phòng bệnh cho nhân dân.

    Thứ tư, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể.

    Nhiều tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng của các đồng chí lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ cần được tuyên truyền học tập. Đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người Bộ trưởng Y tế đáng kính, chỗ nào có dịch, có bệnh là ông tìm đến. Phạm Ngọc Thạch đã vượt qua bom đạn, rừng núi vào tận chiến trường với quyết tâm tìm ra phương thức, cách chữa đạt hiệu quả cao đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam và ông đã hy sinh trên chiến trường trong khi thực hiện sứ mệnh cao cả đó. Đó là Giáo sư Tôn Thất Tùng với hai “bàn tay vàng” đã cứu sống biết bao nhiêu người, bằng phương pháp mổ gan không chảy máu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, người thầy thuốc có công to lớn trong công cuộc chống sốt rét ở nước ta thời chống Pháp và chống Mỹ. Đó là tấm gương Bác sỹ Đặng Thùy Trâm và biết bao đồng chí khác là biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cao đẹp. Trong ngành Y tế hiện nay cũng xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên tiêu biểu, nêu cao y đức, đạo đức, thật sự vì sự nghiệp Y tế. Cần phải tập trung nêu gương, động viên, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng để đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái thấp hèn.

    C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    I. KẾT LUẬN

    Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề lên trang đầu Tư cách một người cách mệnh, và nhấn mạnh sự: cần kiệm, cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng tham muốn về vật chất… Trải qua 30 năm Đảng ta lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Trước khi đi xa, Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Về nâng cao chất lượng đảng viên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”. Như vậy, một lần nữa khẳng định rằng: giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

    Những di sản tinh thần của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là cực kỳ to lớn và quý báu. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã xuất hiện những điều kiện thuận lợi và cả những vấn đề mới, thách thức mới. Vấn đề cốt lõi là các cấp ủy đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: bất kỳ việc gì cũng vì hạnh phúc nhân dân. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động là đợt sinh hoạt chính trị lớn có nhiều ý nghĩa quan trọng, trong đó việc quán triệt về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, tác phong và những lời dạy của Người về đạo đức cách mạng của người đảng viên càng có ý nghĩa thiết thực. Điều này cũng khẳng định rằng: Làm tốt công tác xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên chính là góp phần giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng.

    Cán bộ đảng viên ngành y cần phải nhận thức rằng, đạo đức của Bác không phải là cái gì cao siêu, xa vời, chỉ để chiêm ngưỡng, ca ngợi, mà đạo đức đó rất thiết thực, cụ thể, mọi người đều có thể học tập và làm theo. Bác không chỉ nói nhiều về đạo đức của người cách mạng mà bản thân cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng và cao đẹp. Tuy nhiên đạo đức cách mạng của người đảng viên không thể có được trong một sớm một chiều mà phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ lâu dài trong hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, Nghề Y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh, những người thầy thuốc phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức mới thực hiện được lời dạy của Bác. Đối với cán bộ y tế tư tưởng của Bác về y đức vừa là hệ thống lý luận gắn liền với thực tiễn dễ đi vào lòng người, rất dễ nhớ, dễ làm đồng thời còn là những lời dạy bảo thân thương, chân tình mà mỗi người đều thấm nhuần. Vì vậy, trong thời kỳ kinh tế thị trường như hiện nay, mỗi cán bộ y tế cần phải nghiên cứu vận dụng y đức, đạo đức cách mạng vào từng vị trí công tác của mình một cách thường xuyên liên tục để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, đó chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, thực hiện lời dạy bảo đồng thời cũng là mệnh lệnh thiêng liêng xuất phát từ trái tim, từ tấm lòng tôn kính đối với Bác Hồ, vị Cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

    II. KIẾN NGHỊ

    – Ban Tuyên giáo Trung ương – cơ quan thường trực giúp Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành và địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy vận dụng vào thực tế tỉnh nhà xây dựng chương trình hành động cụ thể, có kế hoạch đào tạo lâu dài trình độ lý luận chính trị cho cán bộ trẻ. Thường xuyên chỉ đạo các cơ quan liên quan như Sở Văn hoá – Thông tin thể thao, Đài truyền thanh, truyền hình tiếp tục tuyên truyền về những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sức lan toả, thúc đẩy cuộc vận động cả chiều rộng và chiều sâu.

    – Thường trực Huyện uỷ và Ban tuyện giáo Huyện ủy tăng cường vai trò của các cấp ủy, trưởng các đơn vị trong việc triển khai cuộc vận động tại đơn vị trực thuộc của mình. Các thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện phụ trách các cơ sở Đảng cần tăng cường công tác nắm tình hình, kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời các nội dung có liên quan.

    – Đảng ủy Y tế huyện Long Phú cần ban hành hướng dẫn cụ thể về việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức cách nạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chính trị của các chi bộ phù hợp với đặc thù của ngành Y tế.

    – Ban chấp hành Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cuộc vận động. Tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các đơn vị khoa, phòng. Lồng ghép triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với các phong trào thi đua khác của ngành y tế. Trên cơ sở đó, xây dựng các tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn bình chọn các cá nhân, tập thể điển hình thực hiện tốt cuộc vận động.

    – Mỗi năm, Chi bộ cần tổ chức hội nghị sơ kết nhằm đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện và tuyên dương các tập thể, cá nhân điển hình thực hiện tốt cuộc vận động./.

     

     

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    2. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Triết học Mác-Lênin.  Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2002.
    4. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia – năm 1993.
    5. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
    6. Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
    7. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2006.
    8. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
    9. Đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, năm 2007.
    10. Website Đảng Cộng sản Việt Nam: http://www.cpv.org.vn
    11. Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng: http://www.soctrang.gov.vn
    12. Văn kiện Đại hội Đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú lần thứ II (nhiệm kỳ 2006-2008); lần thứ III (nhiệm kỳ 2008-2010); lần thứ IV (nhiệm kỳ 2010-2012).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-ph%C3%A2n-t%C3%ADch-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-toyota.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOYOTA MOTOR CORPORATION

    1. Giới thiệu chung:

    Toyota Motor Corporation (gọi tắt là Toyota) là một tập đoàn sản xuất ô tô xuyên quốc gia có trụ sở chính đặt tại Nhật Bản. Toyota được thành lập vào ngày 28/08/1937 bởi Kiichiro Toyota từ một phần tách ra khỏi Toyota Industries. Sau một thời gian dài phát triển, đến nay Toyota đã vươn lên trở thành tập đoàn sản xuất xe lớn nhất thế giới xét về doanh số bán hàng. Theo báo cáo thường niên năm tài chính 2009 (từ ngày 01/04/2008 tới ngày 31/03/2009), Toyota cung cấp việc làm cho 320.808 người lao động, có 529 công ty con, với tổng số vốn của công ty lên tới 397,05 tỷ yên.

    Hoạt động chủ yếu của công ty là thiết kế, lắp ráp và bán các loại xe hơi, xe đua, xe tải, xe chuyên chở và các loại phụ tùng liên quan. Toyota được biết đến với những nhãn hiệu xe nổi tiếng như Prius (dòng xe nhiên liệu sạch hybrid), Lexus và Scion (dòng xe sang trọng), Tundra (dòng xe tải)…Toyota sở hữu một lượng cổ phần lớn trong các hãng xe hơi Daihatsu và Hino, Fuji Heavy Industries, Isuzu Motors, Yamaha Motors, và tập đoàn Mitsubishi Aircraft. Ngoài sản xuất xe ô tô, Toyota còn cung cấp các dịch vụ tài chính (Toyota Financial Services), tham gia chế tạo robot, công nghệ sinh học…

    Thị phần của Toyota trải rộng toàn thế giới. Trong số đó 26% tại Nhật Bản, 29% tại Bắc Mỹ, 14% tại Châu Âu… Toyota xây dựng những nhà máy tại mọi nơi trên thế giới, sản xuất hoặc lắp ráp xe phục vụ nhu cầu tại chính thị trường đó. Những nhà máy này có mặt tại Apan, Úc, Ấn độ, Sri Lanka, Canada, Indonesia, Ba Lan, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Colombia, Anh, Mỹ, UAE, Pháp, Brazil, Bồ Đào Nha, Argentina, Cộng hòa Séc, Mexico, Malaysia, Thailand, Pakistan, Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam, Venezuela, Philippine, và Nga.

    Toyota bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2010. Với Toyota 2009 là năm thua lỗ đầu tiên trong vòng 70 năm trở lại đây. Toyota ngập trong nợ và phải vay 270 tỷ từ ngân hàng tài trợ bởi chính phủ Nhật Bản. Trong năm 2010, hình ảnh Toyota bị giảm sút nặng nề khi công ty buộc phải thực hiện những vụ thu hồi xe lớn trên toàn Châu Âu và Châu Mỹ do các lỗi ở chân ga và phanh xe.

          2. Triết lý của công ty Toyota

    Công ty Toyota toàn tâm toàn ý để cung cấp xe ôtô cho khách hàng. Việc bán xe chỉ có thể được coi là hoàn tất khi khách hàng đã sử dụng xe và hoàn toàn hài lòng về nó. Triết lý của Toyota đặt ra những thứ tự ưu tiên như sau:

    1. Khách hàng
    2. Đại lý/Nhà phân phối
    3. Nhà sản xuất

    II. PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TOYOTA.

    1 Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện hữu

    1.1. Tốc độ tăng trưởng ngành

    Theo như ước tính thì thị trường ôtô toàn cầu sẽ tăng trưởng từ 65,2 triệu chiếc trong năm 2006 lên 77,6 triệu chiếc đến năm 2014 tương đương 19,1%. Phần lớn của sự gia tăng này là ở các thị trường đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ trong khi đó các quốc gia phát triển được kì vọng là chỉ chiếm 1/3 mức tăng trưởng này. Liên minh Châu Âu EU kì vọng tăng khả năng sản xuất trong năm 2014 lên 6,6% trong khi đó Bắc Mỹ tăng 4,5%. Tại Nhật Bản-  một trong những quốc gia phát triển nhất tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì lại kì vọng vẫn giữ nguyên mức cũ.

    1.2. Phân biệt sản phẩm

    Toyota luôn đặt ra nhiệm vụ quan trọng nhất cho mình: đổi mới không bao giờ tự thỏa mãn và luôn đi trước một bước so với xu hướng trên thị trường. Khâu phát triển sản phẩm hàng ngày tại các trung tâm nghiên cứu vận tải của Toyota đã và đang tạo ra các cải tiến liên tục từ mẫu xe này tới mẫu xe khác. Tuy nhiên đặc điểm nổi bật của Toyota là nó đột phá theo định kỳ từ khuôn mẫu truyền thống và phát triển một mẫu xe mới với cách tiếp cận mới mẻ. Chẳng hạn như trong giai đoạn đầu Toyota tập trung vào sản xuất những mẫu xe có chất lượng tốt, hiệu suất nguyên liệu cao, giá thành hợp lý. Tuy nhiên khi nhận thấy rõ tiềm năng phát triển của các loại xe hạng sang, Toyota đã cho ra mắt một thương hiệu mới nhằm đến những khách hàng có điều kiện tài chính cao hơn với sự trải nghiệm về những chiếc xe hơi đầy đủ tiện nghi và thoải mái. Đây là kết quả của sự không thỏa hiệp với những yêu cầu khắt khe tưởng chừng như không thể thực hiện được dành cho các kĩ sư thiết kế.

    Hiện nay Toyota đang tập trung vào việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất đại trà những dòng xe thân thiện môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Theo chiến lược phát triển sản phẩm này, chiếc Prius, dòng xe hybrid sản xuất đại trà đầu tiên của thế giới, đã được ra mắt vào tháng 10/1997. Chiếc xe không chỉ mang ý nghĩa mở ra một định hướng mới cho sản xuất của Toyota cho thời đại vấn đề môi trường được đặt lên hàng đầu; mà còn khẳng định đẳng cấp của công ty này. Toyota chỉ mất có 12 tháng để có thể cho ra mắt một sản phẩm xe mới trong khi đó các công ty sản xuất ô tô khác phải mất tới 2 năm.. Sau đây là một vài đặc điểm của một số dòng xe Toyota

    Toyota Venza: xuất hiện đầu năm 2009 với giá trên 60.000 USD. Venza có kích thước rộng rãi nhưng lại không quá cồng kềnh phù hợp cho mục đích sử dụng cá nhân hay gia đình. Xe sử dụng hệ thống 4 bánh toàn thời gian AWD, điều hoà tự động 2 vùng, sưởi hàng ghế trước, khởi động không dùng chìa. Khoảng sáng gầm của Venza cao hơn Camry 66mm đủ để khách hàng yên tâm trước những con đường ngập nước trong mùa mưa.

    Toyota Camry: mang đến hình thức mới với lưới tản nhiệt, cản sốc trước thay đổi, đèn pha lớn với kiểu dáng mới. Trong cabin Camry tuỳ chọn hệ thống âm thanh tích hợp cổng USB, công nghệ Bluetooth, radio vệ tinh, đầu đọc CD và MP3. Hơn thế nữa phiên bản Camry Hybrid có mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình ấn tượng 6,92L/100km

    Toyota Fortuner: được xem là đối thủ trực tiếp của Ford Everest  và Chevrolet Captiva và là sản phẩm khu vực hoá của Toyota. Xe có mức giá phù hợp với người có thu nhập trung bình ở các nước Đông Nam Á ( 38.300 USD). Khoản sáng của gầm xe cao hơn Innova 29mm – yếu tố lấy điểm trong mắt người tiêu dùng của Fortuner. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách xe còn được đa dạng tới 4 phiên bản động cơ.

    Toyota Vios trang bị động cơ 1.5 với 16 van DOHC và công nghệ VVT-i nên động cơ xe luôn được vận hành và tăng tốc ở chế độ ổn định, đốt cháy triệt để và tiết kiệm nhiên liệu, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Được đánh giá là hình ảnh của sự trẻ trung và năng động, Vios mới 2010 có các màu xanh (8S9), đỏ (3PO) dành cho Vios 1.5G và Vios 1.5E, đen (209) dành cho Vios 1.5C

    Toyota Innova là sản phẩm của dòng xe đa dụng hiện đại mang tính toàn cầu (IMV). Ngay từ tên gọi, Innova đã thể hiện sự đổi mới, tân tiến. Với động cơ thế hệ mới 2.0 lít có trang bị van điều tiết thông minh nên hoạt động của Innova mạnh mẽ hơn, tiết kiệm hơn và thân thiện với môi trường.

    1.3. Rào cản rời ngành

    Chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối kế toán của Toyota là tài sản cố định chiếm 75,6% tổng tài sản trong đó tài sản cố định hữu hình( nhà máy, trang thiết bị, công nghệ sản xuất) chiếm 33% tài sản cố định. Năm 2009 Toyota đã đầu tư134,5 tỷ Yên vào tài sản, nhà máy và trang thiết bị để chuẩn bị cho việc tung ra sản phẩm mới, đổi mới và nâng cấp công nghệ sản xuất, đẩy mạnh R&D trong đó đầu tư vào tài sản, trang thiết bị và nhà máy chiếm52,8 tỷ Yên. Với mức đầu tư lớn như trên thì thiệt hại do lỗi sản phẩm đã gây ra cho công ty thiệt hại không nhỏ.

    Ngoài ra, Toyota còn sở hữu một tài sản vô hình là nền tảng để tạo nên thành công của mình đó là Hệ thống sản xuất Toyota (TPS). TPS không thể bắt chước vì nó không chỉ đơn giản là gắn kết các kỹ thuật sản xuất mà là sự liên kết tất cả các nhân tố lại với nhau thành một hệ thống mà yếu tố quan trọng vào bậc nhất là con người. TPS được hình thành dựa trên 14 nguyên lý cơ bản chia thành 4 nhóm chính

    1. Triết lý dài hạn
    2. Quy trình đúng mang lại kết quả đúng
    • Giải quyết liên tục vấn đề gốc rễ định hướng học hỏi trong tổ chức
    1. Gia tăng giá trị cho tổ chức bằng cách phát triển con người và đối tác

    Các nguyên lý này giúp các nhà lãnh đạo công ty đưa ra được những quyết định trong dài hạn. Điều này được thể hiện rõ trong việc đầu tư vào công nghệ mới từ rất sớm của Toyota và không ngừng tiên phong trong những dòng sản phẩm có nhiều tính năng mới. Tuy vậy, lại rất ít công ty có thể đạt được thành công như Toyota. Đó chính là vì họ không làm được theo những nguyên lý hướng về con người. Đây là yếu tố kết nối mọi hoạt động và tạo ra giá trị bền vững cho Toyota.

    2. Nguy cơ nhập cuộc của những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

    2.1 Sức hấp dẫn của ngành

    Hiện nay thị trường ôtô đang tồn tại rất nhiều các nhà sản xuất có danh tiếng cùng với những dòng xe chất lượng cao như Volkswagen, Mercedes Benz, BMW, Opel, Cadilac…  Mặc dù các công ty đều bị ảnh hưởng không nhỏ bởi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tuy nhiên nhờ các gói kích cầu của Chính phủ các nước cùng chính sách ” đổi ôtô cũ lấy ôtô mới” của các nhà sản xuất làm cho thị trường ôtô vấn không kém phần sôi động và hấp dẫn.

    Dự kiến trong năm 2010 triển vọng dường như không sáng sủa bằng năm 2009 do dấu hiệu phục hồi nền kinh tế toàn cầu còn khá mong manh, điều này sẽ làm cho thị trường ôtô trở nên cạnh tranh khắc nghiệt hơn. Tại thị trường Mỹ nơi đã từng mang lại thành công cho Toyota – doanh thu của /Toyota đã giảm 25% do sự cố kĩ thuật trong khi đó hãng Volkswagen của Đức lại vẫn trụ vững trong khủng hoảng nhờ hướng tới các thị trường mới nổi.

    2.2. Tính kinh tế của quy mô

    Tính đến 31 tháng 3 năm 2009 Toyota có:

    Với quy mô phát triển rộng rãi ra toàn cầu như của Toyota với mạng lưới đại lí phân phối, chế tác, nhà cung cấp lớn ở các thị trường không chỉ trong nước Nhật mà ngoài thế giới, chi phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ nhỏ hơn so với các hãng ô tô qui mô nhỏ khác.

    2.2. Lợi thế người dẫn đầu

    Trong bất cứ một ngành công ngiệp nào thì uy tín về chất lượng cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Đối với người dẫn đầu họ có thể đặt ra các tiêu chuẩn một ôt ô như thế nào là đạt yêu cầu về chất lượng hay học ó khả năng tiếp cận với những nhà cung cấp đầu vào giá rẻ thậm chí họ cũng  có thể giành được sự ưu đãi từ phía chính phủ . Để có được uy tín đó thì Toyota đã phải bỏ ra hàng thập kỉ cần mẫn đầu tư, nghiên cứu và chinh phục thị trường. Toyota, một trong những công ty lớn hàng đầu của Nhật bản luôn được chính phủ nước này dành cho rất nhiều ưu đãi về thuế. Bên cạnh đó, do quy mô và uy tín của mình, Toyota đã xây dựng được hệ thống khách hàng và nhà cung cấp trung thành nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và phát triển thị trường xe của công ty.

    2.3. Tiếp cận phân phối và mối quan hệ

    Sự hạn chế về khả năng sản xuất trong việc mở rộng các kênh phân phối và chi phí cao để phát triển các kênh mới  là những rào cản lớn đối với những đối thủ mới. Những công ty mới gia nhập ngành ôtô không dễ gì vượt qua được mạng lưới phân phối của những người đi trước. Toyota đặc biệt đã xây dựng cho mình hệ thống phân phối rộng khắp không chỉ tại Nhật mà còn rất nhiều quốc gia khác trên thế giới.

    3. Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế:

    Có thể thấy, các sản phẩm xe ô tô chính của Toyota là xe hơi, xe 7 chỗ, xe chuyên dụng.Trên thực tế, không có nhiều sản phẩm thay thế nào được coi là mối đe dọa nghiêm trọng của ô tô bởi tính tiện dụng của chúng. Hiện có một số sản phẩm thay thế cơ bản cho phương tiện giao thông này như: xe máy, xe đạp, tàu điện ngầm, tàu hỏa, máy bay…

    Mối đe dọa của các sản phẩm thay thế này có thể phụ thuộc vào vị trí địa lý của người tiêu dùng. Ví dụ: ở một số thành phố như New York hoặc Chicago, tàu điện ngầm lại là phương tiện giao thông thuận tiện hơn cả. Còn ở những vùng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đường còn hẹp và khó đi, chưa có khu vực đậu xe an toàn thì sản phẩm thay thế tốt nhất của ô tô có thể là xe đạp hoặc xe máy. Nhằm mở rộng thị trường, Toyota đã cho ra đời một loạt các dòng xe với nhiều tính năng khác nhau, đáp ứng được phần lớn nhu cầu khách hàng (về giá cả cũng như các loại xe thích hợp với từng kiểu địa hình). Trên thực tế, ô tô vẫn được coi là một phương tiện giao thông cực kỳ tiện lợi và phổ biến bởi tính ưu việt mà chúng mang lại cho người tiêu dùng, chẳng hạn như: ô tô có thể cho phép chở được số lượng người nhiều hơn xe máy hoặc xe đạp; tàu điện ngầm sẽ khiến người tiêu dùng bị phụ thuộc về thời gian và địa điểm trong khi sử dụng ô tô thì sẽ giúp họ chủ động hơn… Do đó thị trường xe của Toyota ngày càng được mở rộng.

    Một mối đe dọa lớn có thể kể đến cho các dòng ô tô hiện nay, cụ thể là các dòng ô tô của Toyota, đó là ô tô cũ đã qua sử dụng. Với mức giá thấp hơn giá xe ô tô mới rất nhiều, (giá xe Toyota mới nằm trong khoảng từ 15,000 – 66,000 USD) ô tô cũ đã qua sử dụng có thể trở thành lựa chọn của nhiều khách hàng có thu nhập thấp và trung bình. Một khi mà tính năng của dòng ô tô cũ đã qua sử dụng không có điểm gì khác biệt quá lớn với dòng ô tô mới, thì đây có thể được coi là một sản phẩm thay thế tiềm năng, một mối đe dọa lớn đối với ngành sản xuất ô tô nói chung và đối với công ty Toyota nói riêng. Bởi sự sẵn sàng chuyển đổi của khách hàng sang sử dụng dòng ô tô cũ đã qua sử dụng sẽ tạo nên sức ép giảm giá cho các hãng sản xuất ô tô và điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của các hãng này.Tuy nhiên, nếu xét về thời hạn sử dụng còn lại của sản phẩm thì việc tiếp tục tiêu dùng ô tô cũ, không ảnh hưởng nhiều lắm tới doanh số của các hãng sản xuất ô tô. Bởi vậy, mối đe dọa của các sản phẩm thay thế trong ngành này có thể coi là chưa đến mức nghiêm trọng.

    4. Sức mạnh mặc cả

    4.1. Sức mạnh mặc cả từ người cung cấp của Toyota.

    Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp khá là thấp trong ngành công nghiệp ô tô nói chung và Toyota nói riêng. Để làm nên một chiếc xe hoàn chỉnh cần rất nhiều bộ phận. Ban đầu, khi các công ty ô tô chưa tự sản xuất được một số linh kiện quan trọng, rất nhiều nhà cung cấp đã đứng ra sản xuất. Và hiện nay, khi có quá nhiều nhà cung cấp trong ngành công nghiệp ô tô, thì chi phí chuyển đổi của người sản xuất giảm xuống tương đối thấp. Điều này cũng có nghĩa, nhà cung cấp không có sức mạnh mặc cả cao trong lĩnh vực này.

    Hơn nữa, Toyota luôn áp dụng nguyên tắc: Đối xử với đối tác và nhà cung cấp như một phần mở rộng công việc kinh doanh của bạn.” Điều này có nghĩa Toyota duy trì nguyên tắc hiệp hội, xem các nhà cung cấp như các đối tác làm ăn. Toyota đòi hỏi ở các nhà cung cấp khá tỉ mỉ và gắt gao về mặt chất lượng cũng như các thông số kỹ thuật. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, nhà cung cấp nào được Toyota lựa chọn đều coi đó một điều may mắn lớn. Vì như thế họ đã khẳng định được độ tín nhiệm của mình trên thị trường sản xuất ô tô. Toyota thường đặt hàng hợp đồng dài hạn và ít thay đổi người cung cấp trừ khi xảy ra sai lầm tai họa. Ngoài ra thì các nhà cung cấp cũng được Toyota hướng dẫn và cùng phát triển. Tất cả những điều này đã làm sức mặc cả của nhà cung cấp cho Toyota giảm đi đáng kể.

    4.2. Sức mạnh mặc cả của khách hàng

    Chi phí chuyển đổi: Hiện nay trên thị trường ô tô có rất nhiều hãng xe đang cạnh tranh nhau khắt khe. Người mua có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn chiếc xe riêng cho mình. Chi phí chuyển đổi xe ô tô cũng rất thấp, nếu họ thích, chỉ cần bán chiếc xe cũ đi và mua một xe mới là ổn thỏa. Ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, các hang xe còn cho khách hàng trả góp, trả chậm để mua ô tô. Điều này càng làm chi phí chuyển đổi giảm xuống.

    Hơn nữa, hiện nay thong tin liên quan tới sản phẩm ô tô của các hang xe khá rõ rang giúp cho người mua kịp thời nắm bắt được các thong tin quan trọng , các thong số kĩ thuật, từ đó họ có thể so sánh sự ưu việt của các sản phẩm. Càng làm sức mặc cả của khách hàng tăng lên.

    Ngoài ra, chi phí để mua một chiếc ô tô cũng là khá đắt đỏ, do đó, khách hàng thường rất nhạy cảm với giá cả của mặt hàng này.

    Quay trở lại với Toyota, sản phẩm của hang đều vượt trội về chất lượng, kiểu dáng. Trong chiến lược phát triển của mình, Toyota luôn chú trọng tới việc giảm tối đa chi phí sản xuất nhằm giảm giá thành sản phẩm, đồng thời cũng tìm cách chế tạo sao cho giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng cho khách hàng. Sản phẩm của Toyota rất đa dạng , đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mọi tầng lớp mua xe (từ những người có nhu cầu thu nhập trung bình, tới những tầng lớp thượng lưu ưa chuộng kiểu dáng sang trọng của dòng xe Lesus, Camry), mọi nhu cầu về xe ô tô (xe đi du lịch, đi các loại địa hình…). Khách hàng hoàn toàn an tâm với các sản phẩm tới từ Toyota.

    Toyota bên cạnh đó cũng rất quan tâm tới dịch vụ khách hàng (các thủ tục mu axe đơn giản), dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng làm cho khách hàng (tổ chức các party khách hàng)  khó long có thể tìm một hang xe thứ 2 tốt hơn để lựa chọn.

    Với chiến lược tiếp cận khách hàng hợp lí, Toyota đã giảm tối đa sức mặc cả của người mua xe ô tô, tạo điều kiện để Toyota căng buồm đi tới.

         III.  PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG

    Mô hình PEST bao gồm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô cũng có tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp và Toyota cũng không ngoại lệ. Sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến Toyota trong phạm vi Nhật Bản và phạm vi quốc tế sẽ lần lượt được đề cập.

    1. Các yếu tố Thể chế – Pháp luật (Political)

    Môi trường chính trị – pháp luật Nhật Bản có ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản trong đó có Toyota. Thời gian gần đây, tình hình chính trị Nhật Bản có rất nhiều biến động. Chỉ trong vòng 3 năm 2007 – 2009, chính trường Nhật Bản đã chứng kiến 3 lần từ chức của tổng thống Shinzo Abe, Yasuo Fukuda và  Taro Aso trước khi thủ tướng đương nhiệm Yukio Hatoyama lên nắm quyền. Các vị trí chủ chốt trong nội các cũng theo đó mà thay đổi. Toyota vốn là một công ty có được sự ủng hộ lớn từ chính phủ Nhật Bản nên những biến động dồn dập trên chính trường Nhật Bản sẽ làm cho mối quan hệ này bị lung lay.

    Một vấn đề không kém phần quan trọng là chính sách của chính phủ Nhật. Chính sách thương mại của Nhật Bản là chủ yếu tập trung hướng về xuất khẩu.  Nhật Bản thực hiện các chính sách thuế quan nhằm hạn chế và bảo hộ trong nước làm giảm sức mua của người Nhật Bản, giảm hàng nhập khẩu và tăng hàng xuất khẩu. Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu được hàng hoá của mình, Nhật Bản đã áp dụng biện pháp khuyến khích và ưu đãi cho các nhà xuất khẩu như: miễn giảm thuế cho các công ty xuất nhập khẩu; thông qua các ngân hàng phát triển của Nhật Bản và ngân hàng xuất nhập khẩu, cấp vốn với lãi suất thấp, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Đặc biệt, chính phủ đã thành lập các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu trong lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm các thị trường bên ngoài. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu để hỗ trợ tín dụng cho cho những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như trong đó có ô tô. Nhật Bản có một chính sách kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu rất khắt khe nhằm không cho hàng kém phẩm chất lọt ra thị trường bên ngoài để giữ uy tín. Chính việc kiểm tra chặt chẽ chất lượng hàng xuất khẩu của Nhật Bản đã làm cho những nhà nhập khẩu tin tưởng vào hàng của Nhật và góp phần thúc đẩy việc tăng xuất khẩu của nước này. Với chính sách ưu tiên xuất khẩu như vậy, Toyota nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ Nhật Bản. Như vậy xét chung về môi trường chính trị – pháp luật trong nước, Toyota có được nhiều thuận lợi.

    Vì Toyota là một công ty xuyên quốc gia nên tất nhiên chịu ảnh hưởng của môi trường chính trị của các thị trường nước ngoài cũng như  môi trường chính trị quốc tế. Trung Quốc là một trong những thị trường lớn nhất của Toyota. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất thế giới nhưng chính sách thuế của Trung Quốc lại nhằm hạn chế nhập khẩu ô tô, điều này khiến cho Toyota gặp phải khó khăn khi muốn xuất khẩu ô tô nguyên chiếc sang Trung Quốc, thay vào đó phải phát triển loại hình công ty con tại Trung Quốc.

    2. Các yếu tố Kinh tế (Economic)

    Giai đoạn 2007-2009, kinh tế Nhật Bản cũng như kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thoái.

    Nhật Bản đang hồi phục dần sau khủng hoảng, tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng âm và tỷ lệ thất nghiệp cao vẫn đang là  những vấn đề nan giải.

    Bảng 1. Báo cáo kinh tế hàng tháng của Nhật Bản (tháng6/2009)

      Số liệu mới nhất Số liệu trước đó
    Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế 

     

    (hàng quý)

    Quý I /2009

     

    -3,8%

    Quý IV/2008

     

    -3,6%

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP tính theo năm -14,2% -13,5%
    Tỷ lệ thất nghiệp (hàng tháng, được điều chỉnh theo mùa) Tháng 5/2009

     

    5.2% / 3.470.000 người

    Tháng 4/2009

     

    5.0% / 3.460.000 người

    Chỉ số giá tiêu dùng ( hàng tháng) 100.5 100.7
    Tỷ giá ngoại tệ (hàng tháng) Tháng 6/2009

     

    1 USD = 95.56 JPY

    1 EURO = 135,53  JPY

    Tháng 5/2009

     

    1 USD = 96,45 JPY

    1 EURO = 134,65  JPY

    (Nguồn: Văn phòng Ni các Nhật Bản)

    Tỷ lệ thất nghiệp cao dẫn đến việc giá tiêu dùng năm 2009 giảm 1,7% so với năm 2008. Chỉ số tiêu dùng chính, giảm 9 tháng liên tiếp, dẫn đến hiện tượng giảm phát và gây thiệt hại cho tăng trưởng kinh tế bởi lợi nhuận của công ty thấp, người tiêu dùng cũng tiết kiệm hơn và do đó nhu cầu sẽ giảm…Kinh tế khó khăn sẽ làm giảm lượng cầu sản phẩm của Toyota.

    Trước tình hình kinh tế suy thoái, chính sách trong ngắn hạn của chính phủ Nhật Bản là nỗ lực duy trì một đồng yên yếu (tỷ giá USD/JPY, EUR/JPY luôn được cố gắng giữ ở mức cao) nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu. Với chính sách tỷ giá như vậy và với các gói kích cầu của chính phủ Nhật Bản, Toyota cũng nhận được sự trợ giúp nhất định.

    Tuy nhiên xét trong dài hạn, Nhật Bản đã là một nước phát triển nên ít nhiều sẽ chịu ảnh hưởng của xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp sang dịch vụ. Xu hướng này sẽ gây khó khăn cho một công ty trong ngành công nghiệp chế tạo như Toyota khi mà ưu tiên cho ngành này đang dần giảm sút.

    Xét đến môi trường ngoài nước, điển hình như Mỹ – thị trường lớn nhất của Toyota, kinh tế suy thoái đã gây nhưng ảnh hưởng nặng nề đến các doanh nghiệp sản xuất ô tô, trong đó có Toyota. Mỹ phải đối đầu với vấn đề tăng trưởng thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, vấn đề lạm phát. Khủng hoảng kinh tế làm cho Mỹ – một thời là “con nghiện tiêu dùng” – trở nên hạn chế chi tiêu tiêu dùng. Điều này chắc chắn làm cho việc duy trì doanh số bán xe, xây dựng thêm nhà máy tại Mỹ của Toyota trở nên khó khăn.

    Tóm lại, dưới tác động của khủng hoảng tài chính vừa qua, môi trường kinh tế tác động đến Toyota theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn là tích cực.

    3. Các yếu tố Văn hóa – Xã hội (Social)

    Các yếu tố này tác động đến Toyota trên cả phương diện hoạt động sản xuất, quản lý và định hướng khách hàng.

    Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những gì du nhập vào để chúng biến thành kiểu Nhật Bản. Xã hội Nhật Bản tôn vinh lao động xả thân vì doanh nhân và vì xã hội.Có một câu nói rằng: “Người Nhật kết hôn 2 lần trong cuộc đời của mình, một là với công việc, hai là với người vợ, chồng của mình“. Người Nhật Bản coi trọng lao động hơn tất cả, gắn bó với doanh nhân hơn với gia đình của mình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức. Là một doanh nghiệp Nhật Bản, Toyota cũng kế thừa và phát huy phẩm chất của người Nhật Bản. Toyota giai đoạn mới thành lập cũng phải học hỏi chế tạo sản phẩm dựa theo xe ô tô của Mỹ nhưng không sao chép hoàn toàn mà tính năng, chất lượng sản phẩm bao giờ cũng được nâng cao. Lãnh đạo Toyota cũng lấy đại cục làm trọng: Chủ tịch Toyota Kiichiro Toyoda đã tự nguyện từ chức vào năm 1950 để làm nguôi ngoai những công nhân trước tình trạng thất nghiệp gia tăng thời kỳ hậu Thế chiến II. Với sự ảnh hưởng tính cách, văn hóa dân tộc như vậy chắc chắn Toyota sẽ góp phần vực dậy kinh tế Nhật Bản trong thời gian sau cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính.

    Bản thân thị trường Nhật Bản cũng là thị trường tiêu thụ lớn thứ 2 của Toyota nên những đặc điểm về văn hóa xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đặc điểm sản phẩm. Nhật Bản là một nước phát triển có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới hiện nay. Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm. Đối với người tiêu dùng Nhật, giá cả là một tín hiệu của chất lượng. Bên cạnh lương tháng, hầu hết người lao động được thưởng một năm hai lần. Tiền thưởng mỗi lần bằng khoảng 1 đến 3 tháng lương. Đối với người lao động, các chi phí sinh hoạt bình thường hàng ngày được thanh toán từ lương tháng còn tiền thưởng dùng tiết kiệm hay chi cho mua sắm tốn kém như là mua ô tô. Về cơ cấu chi tiêu, chi tiêu cho đi lại chỉ đứng sau thực phẩm, hơn nữa chi tiêu cho đi lại của các hộ gia đình Nhật Bản lại có xu hướng tăng lên trong những năm vừa qua. Đây là ảnh hưởng thuận lợi và định hướng sản phẩm cho Toyota thiên về chất lượng cao, kiểu dáng không cần quá thời trang và giá cả phải chăng.

    Tương tự như vậy các yếu tố cơ cấu dân số, thu nhập, trình độ văn hóa, … của các nước khác mà Toyota coi là thị trường tiêu thụ cũng ảnh hưởng đến đặc điểm của sản phẩm Toyota tại thị trường đó. Với một công ty đa quốc gia có thị trường rộng khắp thì cần phải có sản phẩm đa dạng về mức giá, kiểu dáng…

    4. Yếu tố về Công nghệ (Technological)

    Toyota cũng được hưởng lợi từ chính sách nghiên cứu – phát triển công nghệ của Nhật Bản. Hiện nay Nhật Bản vẫn là nước có tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu trong GDP lớn nhất thế giới. Hơn nữa việc hợp tác nghiên cứu công nghệ hiện đại giữa chính phủ và doanh nghiệp lại được ủng hộ. Như vậy, môi trường nghiên cứu khoa học – công nghệ trong nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao nói chung cũng như Toyota nói riêng.

    Tham gia ngành ô tô – một ngành mà yếu tố công nghệ có vai trò nhất định, Toyota cũng chịu tác động của việc công nghệ thường xuyên được cải tiến, điều này buộc cho Toyota phải không ngừng tự nghiên cứu, áp dụng công nghệ hiện đại vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm. Công nghệ hiện đại cho phép năng lượng sử dụng ngày càng giảm, trọng lượng, kích thước của xa ngày càng giảm, độ an toàn càng cao. Đặc biệt gần đây, công nghệ hybrid nổi lên như một tiến bộ mới trong việc tiết kiệm năng lượng, hạn chế khí thải ô nhiễm môi trường. Tính không ngừng cập nhật, không ngừng đổi mới của khoa học – công nghệ đòi hỏi Toyota phải nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới liên tục để cắt giảm chi phí, giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, tạo những sản phẩm hiệu quả về cả mặt kinh tế cũng như môi trường.

          IV.CÁC CHIẾN LƯỢC NHẰM TẠO RA LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA TOYOTA

    Ngành sản xuất ô tô bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Điều này được thể hiện rõ bằng sự sụp đổ của tập đoàn General Motor. Tính đến 31/12/2009, Toyota là tập đoàn sản xuất ô tô lớn nhất thế giới với doanh thu quý cuối đạt 5.292.890 triệu yên. Toyota đã đạt được những thành công từ quá trình phát triển để trở thành hãng sản xuất ô tô uy tín trong nước rồi tiếp tới vươn ra trở thành tập đoàn toàn cầu.

    * Chu kỳ ngành: Hiện nay, ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, châu Âu, ngành công nghiệp ô tô đang ở trong giai đoạn tăng trưởng bền vững. Các hãng sản xuất đang đua nhau cho ra đời sản phẩm mới, và họ đang tập trung vào các loại xe sử dụng ít nhiên liệu hoặc năng lượng sạch như điện hay năng lượng mặt trời.

    Ở các quốc gia châu Á, ngành lại đang ở thời kì đầu. Các hang sản xuất không đủ cầu, doanh số bán hàng tăng mạnh, lợi nhuận thu về rất lớn, và là một thị trường tiềm năng hưa hẹn cho các hang sản xuất xe ô tô.

    1.   Phương thức sản xuất độc đáo

    Trong quá trình phát triển của mình Toyota đã dần hình thành nên một phương thức sản xuất đặc trưng, nổi tiếng hiệu quả trong việc giảm chi phí đến mức tối đa, có thể cung cấp cùng một dòng xe cùng chất lượng nhưng lại có giá thấp hơn rất nhiều so với đối thủ. Phương thức này tập trung vào 3 yếu tố chính: luồng một sản phẩm, quan hệ với nhà cung cấp và vận chuyển, con người.

    1. Luồng 1 sản phẩm

    Có thể hiểu luồng một sản phẩm qua ví dụ đơn giản trong việc sản xuất ô tô được tổ chức thành 3 phòng riêng biệt: phòng 1 sản xuất động cơ, phòng 2 lắp ráp khung, phòng ba thử xe. Theo cách thức sản xuất thông thường (quy trình sản xuất quy mô lớn), phòng vật tư sẽ quyết định chuyển mỗi lần một lô gồm 10 sản phẩm. Mỗi phòng mất 1 phút để làm ra sản phẩm theo chức năng của mình. Do đó sẽ mất 10 phút để lô sản phẩm 10 chiếc trải qua từng phòng khác nhau. Như vậy nếu không tính đến thời gian giao vật tư giữa các phòng khác nhau thì cũng phải mất 30 phút để hoàn thành và thử nghiệm xong một lô đầu gồm 10 sản phẩm để đem giao cho khách hàng. Phải mất 21 phút để có được chiếc ô tô đầu tiên, mặc dù công việc này chỉ cần đến 3 phút.

    Phòng sản xuất động cơ

    ;;;;;;;;;;

    Phòng lắp ráp khung

    Phòng kiểm nghiệm xe

    þþþþýþþþþþ

    Luồng 1 sản phẩm: chỉ lấy những thiết bị máy móc cần thiết để làm động cơ từ bộ phận sản xuất động cơ, thiết bị máy móc để lắp ráp khung từ phòng lắp khung, và bộ kiểm nghiệm từ phòng kiểm nghiệm và đem cả ba cái này nhập làm một. Có nghĩa là ta đã tạo ra một bộ phận mà sẽ làm theo luồng một sản phẩm. Những người trực tiếp sản xuất không được phép để tồn kho trong suốt quá trình sản xuất. Ví dụ, người sản xuất động cơ không được phép sản xuất một động cơ khác nếu người lắp ráp khung chưa lắp xong khung. Nói cách khác, mọi người chỉ được phép sản xuất những gì đang cần đến ngay tức khắc. Kết quả là những người trực tiếp sản xuất trong một tổ luồng một sản phẩm chỉ mất 12 phút để sản xuất ra 12 chiếc ô tô, trong khi quy trình sản xuất theo lô lớn phải mất hơn 30 phút mới sản xuất được 10 cái. Thực tế là 3 phút là thời gian tạo ra giá trị gia tăng.

    • Chiếc xe thứ nhất xong trong 3 phút.
    • 10 xe xong trong 12 phút.

    ;

    þþþþýþþþþþ

    Theo quy trình sản xuất này, luồng một sản phẩm không tạo ra hàng tồn kho. Như vậy sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí lưu kho. Đặc biệt hơn, luồng một sản phẩm giúp kiểm lỗi một cách dễ dàng. Trong hình trên một chiếc ô tô đã bị lỗi trong quá trình sản xuất, mà được đánh dấu X. Chiếc xe này bị phát hiện ra trong quá trình thử nghiệm. Theo phương pháp sản xuất theo lô lớn trước khi phát hiện lỗi, có ít nhất 21 bộ phận trong quá trình sản xuất bị hỏng. Và nếu sản phẩm hỏng này xảy ra ở phòng sản xuất động cơ, phải mất đến 21 phút trong phòng thử nghiệm thì mới tìm ra được sản phẩm hỏng. Ngược lại, trong luồng một sản phẩm, khi chúng ta phát hiện sản phẩm hỏng có thể chỉ có hai chiếc xe trong quá trình sản xuất có hỏng hóc và thời gian tối đa phát hiện ra hỏng hóc của hai chiếc xe là hai phút kể từ khi bị hỏng hóc. Thực tế là trong quy trình sản xuất lô lớn, có khi phải mất đến một tuần làm việc hoặc thậm chí vài tuần hoặc vài tháng mới phát hiện ra sản phẩm hỏng. Rồi khi mọi dấu vết về nguyên nhân hỏng hóc hầu như không còn nữa thì gần như không thể hiểu tại sao lại hỏng.

    Tuy nhiên luồng một sản phẩm vấp phải một nhược điểm quan trọng về vấn đề vận chuyển. Vấn đề này nếu không được giải quyết công ty đi ngược lại lợi thế quy mô lớn.

    1. Nhà vận chuyển và cung cấp

    Để tạo ra luồng một sản phẩm thành công Toyota buộc phải có những nhà cung cấp có khả năng đáp ứng những phụ tùng chất lượng cao kịp thời. Những nhà cung cấp trong ngành xe hơi đều cho rằng Toyota là khách hàng tốt nhất của họ đồng thời cũng khó tính nhất. Khó tính không có nghĩa là khó mà giao thiệp hay tỏ ra vô lý. Nó có nghĩa Toyota đặt ra các tiêu chuẩn rất cao về sự tuyệt hảo và kỳ vọng mọi đối tác đều vươn tới những chuẩn mực đó. Quan trọng hơn, Toyota sẽ giúp các đối tác làm được điều đó. Phòng mua bán vật tư của Toyota có những chuyên gia về hệ thống sản xuất Toyota và chất lượng của riêng nó để giao dịch với các nhà cung cấp mỗi khi có xảy ra trục trặc, mà trục trặc nghiêm trọng nhất là khi một nhà cung cấp khiến dân chuyền lắp ráp của Toyota phải ngừng hoạt động do sự cố về chất lượng hoặc không đủ sản phẩm. Một ví dụ điển hình về vấn đề này xảy ra tại nhà máy TMI, một nhà cung ứng của Toyota. Máy tính của TMI ngừng chạy chỉ trong ba tiếng đồng hồ nhưng với hệ thống rất tinh gọn của TMI (được các chuyên gia của Toyota giúp đỡ tạo nên), điều đó cũng đủ để làm ngưng trệ dây chuyền của Toyota. Ngay lập tức một phái đoàn chuyên gia chất lượng của Toyota xuống ngay nhà máy TMI và ở đó hàng ngày trong 2 tuần. TMI được gán cho điểm 2 trong thang điểm xếp hạng nhà cung cấp của Toyota, nghĩa là họ bị vào vòng kiểm soát và phải báo cáo hàng tháng về những cải tiến dựa trên phân tích nguyên nhân gốc và những biện pháp giải quyết rõ ràng. Thực tế là TMI đã có nhiều điểm đen về giao linh kiện trước đây và Toyota xem đây là một dấu hiệu nữa của một vấn đề sâu xa hơn. Giải pháp của Toyota: phân tích mọi khía cạnh của công ty này, bao gồm hoạch định chất lượng, quá trình tuyển chọn nhân công, việc huấn luyện, cơ cấu nhóm làm việc, quy trình giải quyết sự cố, hệ thống kéo và các nghiệp vụ chuẩn. Cơ bản là cấp quản lý gần như tái tạo lại công ty. Nhờ những trợ giúp của Toyota, TMI giờ đây thường xuyên được xếp hạng là nhà cung cấp ghế ô tô hàng đầu về chất lượng.

    Trong vấn đề vận chuyển, Toyota xây dựng nên các bãi tập kết hàng để nhận những đơn hàng từ những nhà cung cấp ở xa một vài lần trong ngày, tạm thời lưu giữ chúng và rồi đóng vào xe để gửi đến nhà máy lắp ráp dưới dạng những lô hàng hỗn hợp chừng 12 lần một ngày. Các nhà máy sẽ nhận được những lô hàng thường xuyên và các xe tải luôn đầy hàng từ nhà cung cấp tới bãi tập kết và từ bãi tách hàng đến nhà máy lắp ráp. Bãi tách hàng này ứng dụng mọi nguyên tắc của hệ thống sản xuất Toyota. Nó là một cơ sở xuyên suốt, các nhân viên tham gia vào quá trình cải tiến liên tục, các bảng biểu bằng hình ảnh và các công cụ kiểm lỗi được dán khắc nơi để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy, còn các tài xế xe tải nắm được vai trò của mình trong việc giao nhận với những yêu cầu khắt khe về thời hạn, đồng thời với việc tham gia kiểm tra chất lượng sản phẩm.

    Do có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà cung cấp, nhà vận chuyển và các nhà máy, người ta có thể điều khiển nhịp nhàng dòng chảy của các linh kiện giao đến nhà máy và các công-ten-nơ rỗng trả lại thông qua bãi tách hàng. Cơ bản là trao đổi một – đối – một giữa các thùng chứa rỗng và các công-ten-nơ rỗng trả lại. Toyota đã nỗ lực trong việc sắp xếp kế hoạch cho nhà máy lắp ráp, nhờ đó cân đối được việc giao nhận trong toàn mạng lưới.

    1. Con người

    Bất kỳ ai tại Toyota khi nói về hệ thống sản xuất Toyota đều đề cao tầm quan trọng của tinh thần tập thể. Tất cả cơ cấu ở đó là dùng để hỗ trõ cho nhóm làm việc thực hiện các công việc mang lại giá trị gia tăng. Nhưng nhóm làm việc không làm tăng giá trị, mà chính là các cá nhân. Toyota đã thiết lập một sự cân bằng tuyệt hảo giữa công việc cá nhân và công việc theo nhóm cũng như giữa thành tích cá nhân và hiệu quả của tập thể. Mặc dù tinh thần tập thể là quan trọng, nhưng tập hợp mọi người làm việc chung một nhóm sẽ không đủ bù đắp nếu thiếu đi sự vượt trội của một cá nhân hay thiếu sự am hiểu cá nhân đối với hệ thống của Toyota. Các cá nhân làm việc xuất sắc được đòi hỏi bù đắp cho tập thể. Điều này lý giải tại sao Toyota lại bỏ ra nhiều công sức để tìm kiếm và sàng lọc nhiều nhân viên tiềm năng. Họ muốn có được nhân sự tốt để có thể giao quyền làm việc trong nhóm. Khi Toyota chọn ra được một từ hàng trăm người xin việc sau nhiều tháng, họ sẽ gửi đi một thông điệp trong đó nêu rõ những khả năng và khí chất quan trọng đối với một cá nhân. Người ta sẽ bỏ ra nhiều năm để từng cá nhân phát triển sâu rộng kiến thức kỹ thuật, các kỹ năng làm việc. Một sự am hiểu gần như tự nhiên về những triết lý của công ty sẽ nói lên tầm quan trọng của cá nhân đó trong hệ thống của Toyota. Chính yếu tố con người tạo nên văn hóa công ty khiến khó có công ty nào có thể bắt chước phương thức sản xuất Toyota một cách hoàn hảo.

    Gốc rễ thành công của Toyota rút lại chỉ một dòng: biến công việc thành một chuỗi các thực nghiệm đan xen và diễn ra cùng một lúc. Làm thế nào để cụ thể hóa điều này? Có bốn bí quyết, được coi là “chìa khóa vàng”.

    Thứ nhất: Quan sát công việc. Tại Toyota, mọi người phải quan sát, nắm chắc công việc phải làm trước khi bắt tay vào việc. Điều đó có nghĩa là nghĩ kỹ trước khi hành động. Công nhân phải quan sát các quy trình động tác của mình. Lãnh đạo phải quan sát công nhân để tìm cách sắp xếp hợp lý các thao tác.

    Một nhà quản lý phải bỏ ra 12 tuần, đó là thời gian ngồi quan sát thao tác của các công nhân, nghiên cứu từng động tác, quy trình để có khi chỉ đổi một cái nút bấm từ bên trái sang bên phải chẳng hạn. Hoặc là thay đổi vị trí các linh kiện để giảm thời gian đi lại, mang vác.

    Toyota coi trọng việc tìm cách cải thiện quy trình, tính tới việc giải quyết các lỗi có thể phát sinh, hơn là đi giải quyết các sự cố đã xảy ra.

    Thứ hai:  Mọi thay đổi lãnh đạo muốn làm, đều phải coi là thử nghiệm. Không phải cứ lãnh đạo cho ý kiến đều là đúng cả. Các nhà quản lý phải được trang bị tư tưởng này và sẵn sàng cùng thử nghiệm. Nguyên tắc này giúp tìm ra khá nhiều những giải pháp đúng và tốt hơn hết.

    Thứ ba: Cả công nhân lẫn các nhà quản lý, luôn luôn thử nghiệm để đổi mới, càng nhiều càng tốt. Toyota muốn tiến hành nhiều thí nghiệm nhỏ để học hỏi trước khi bắt tay vào các thí nghiệm lớn hơn. Điều này giúp các sai lầm nếu xảy ra cũng không quá lớn và có thể được nhanh chóng sửa chữa.

    Thứ tư:  Người quản lý đóng vai trò như các huấn luyện viên và để cho nhân viên tiến hành các công việc cụ thể và thực hiện những thay đổi cần thiết. Điều này giúp cả hai phía cùng phải thử nghiệm thực tế, phát triển sáng tạo.

    2.   Chiến lược phát triển của Toyota cho từng mảng thị trường

    Toyota luôn hướng tới việc đáp ứng nhu cầu của từng đất nước và khu vực. Theo đó, chiến dịch sản phẩn cơ bản từ 2000 đến nay của Toyota là cung cấp mọi loại xe cho tất cả các nước, tất cả các khu vực. Tính đến năm 2009 Toyota đã hình thành nên một mạng lưới toàn cầu với 11 trung tâm nghiên cứu phát triển, 75 trung tâm sản xuất tại Nhật Bản và nước ngoài; mạng lưới bán hàng đã có mặt tại hơn 170 nước và vùng miền. Tuy nhiên, giữa những điều kiện thị trường ô tô khắc nghiệt như ngày nay, việc mở rộng theo cách thức này trở nên khó khăn hơn trong khi Toyota vẫn phải thực hiện vai trò của mình như một nhà sản xuất ô tô góp phần vào một xã hội phong phú, tăng trưởng kinh tế và tương lai môi trường của trái đất. Vì vậy, trong thời gian tới Toyota phải xác định nơi nó muốn cạnh tranh và những vùng cần có những bước đi cẩn thận.

    Hiện nay, Toyota đã xây dựng chiến lược riêng dành cho mỗi mảng thị trường lớn trên thế giới: với các nước đang phát triển (đặc biệt là Trung Quốc) cạnh tranh bằng chiến lược giá, thị trường nội địa tập trung vào chất lượng sản phẩm, thị trường Bắc Mỹ phát triển theo hướng tự cung tự cấp, thị trường Châu Âu sử dụng lợi thế của dòng xe nhiên liệu sạch.

    Bảng 1: Tỷ trọng doanh thu theo vùng của Toyota trong năm tài chính 2009

    1. Chiến lược mở rộng thị phần tại các thị trường đang phát triển để thu lợi nhuận.

    Đây là chiến lược được Toyota đặt lên hàng đầu trong thời điểm lập báo cáo thường niên năm tài chính 2009 (kết thúc ngày 31/3/2009). Trung quốc và các quốc gia mới nổi tại châu Á, Trung và Nam Mỹ hứa hẹn trở thành động lực quan trọng cho sự tăng trưởng trong tương lai của Toyota. Đặc biệt, thị trường Trung Quốc có tiềm năng phát triển tương đương thị trường Mỹ. Toyota đang trong quá trình hình thành một mô hình giúp các kỹ sư chế tạo nhìn nhận vấn đề theo con mắt của khách hàng. Đối với những nước châu Á còn lại cũng như Nam Mỹ và những vùng khác, vẫn còn có những vùng mà thị phần của Toyota rất thấp trong khi nhu cầu thì ngày càng tăng. Sản phẩm chiến lược là những chiếc xe chất lượng cao, giá hợp lý. Toyota cũng sẽ phát triển những sản phẩm IMV (Innovative International Multipurpose) như những mô hình chiến lược quan trọng.

    1. Những thay đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng tại thị trường Nhật Bản

    Tại Nhật Bản, doanh số bán hàng kể cả xe mới và cũ đạt tổng số 12 triệu chiếc năm tài chính 2009. Trong đó xe mới đóng góp xấp xỉ 3 triệu chiếc. Trong khi đó 75 triệu xe được đăng ký tại Nhật Bản trong năm tài chính 2009. Điều này cho thấy Toyota vẫn còn rất nhiều cơ hội phát triển trong nước. Để có thể khai thác tối đa cũng cơ hội này, chiến lược phát triển của Toyota tập trung vào những biến đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng.

    Sự nhận thức về môi trường của khách hàng Nhật đang ngày càng gia tăng. Chính phủ Nhật đẩy mạnh thực hiện các chương trình nhằm thay thế những dòng xe cũ và tăng nhu cầu sử dụng dòng xe thân thiện môi trường. Toàn ngành sản xuất ô tô Nhật cũng nhấn mạnh vấn đề môi trường và năng lượng. Từ thực tế như vậy Toyota tiếp tục đẩy mạnh việc quản cáo chiếc Prius và các dòng xe hybrid khác.

    Thêm vào đó công ty dự định phát triển những ý tưởng mới phù hợp với nhu cầu tiềm năng của khách hàng và tái cấu trúc những sản phẩm của mình để có thể tạo nên những chiếc xe thực sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

    1. Đẩy mạnh mô hình tự cung tự cấp trong nghiên cứu phát triển và sản xuất tại Bắc Mỹ

    Bắc Mỹ là một thị trường cực kì quan trọng đối với Toyota. Chiến lược trong thời gian tới của Toyota tại Bắc Mỹ là đẩy mạnh xây dựng mạng lưới các cơ quan nghiên cứu phát triển và các nhà máy sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu khu vực.

    1. Đẩy mạnh quá trình xâm nhập và dành được những thị trường lớn tại Châu Âu

    Châu Âu có nhiều nhà sản xuất xe hơi truyền thống lớn thống lĩnh thị trường khu vực. Đối với Toyota, cách tốt nhất để tiếp cận thị trường này không chỉ đơn giản là bán nhiều xe hơn hoặc tăng thị phần mà phải hình thành được thương hiệu với những sự khác biệt hóa. Châu Âu  là một thị trường quan trọng đối với Toyota. Với những quy tắc môi trường được quản lý gắt gao, Toyota dự định khai thác kỹ thuật hybrid kết hợp với các hoạt động nhằm củng cố hình ảnh của mình trên thị trường.

    3.   Chiến lược dịch vụ hoàn hảo của Toyota

    Những hoạt động Dịch vụ chất lượng Toyota đã được thiết lập để gắn kết chặt chẽ Đại lý và TMC nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng bao gồm:

    • Cung cấp sản phẩm có chất lượng số 1:

    Điều này có nghĩa là cung cấp những chiếc xe thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và phù hợp với môi trường sử dụng.

    • Dịch vụ sau bán hàng số 1:

    Điều này có nghĩa là cung cấp dịch vụ tốt nhất trong khu vực. Nó cũng có nghĩa là cung cấp tốt hơn các đối thủ để sao cho chiếc xe của khách hàng luôn ở trong tình trạng tốt nhất. Vì vậy, khách hàng luôn tự tin khi vận hành xe.

    • Dịch vụ chăm sóc khách hàng:

    Khách hàng có 4 điều trông đợi ở dịch vụ sau bán hàng như sau:

    1. Đối xử chân thành
    2. Sửa chữa chính xác và tin cậy
    3. Giá cả hợp lý
    4. Sửa chữa hiệu quả và nhanh chóng

    Nhiều khách hàng cũng trông đợi”những điều đặc biệt”, như sự giúp đỡ có ích, cung cấp những dịch vụ phụ như tra dầu vào bản lề cửa bị kêu, hay đưa ra những lời khuyển chuyên nghiệp về lái xe ở vùng núi.

    Không ngừng nâng cao sự hài lòng của khách hàng sẽ không chỉ giúp đem lại thịnh vượng cho công ty của bạn mà nó còn nâng cao sự hài lòng về công việc của chính bản thân bạn. Điều đó cũng có nghĩa là sự hài lòng của khách hàng sẽ phản ánh vào sự đánh giá của công ty bạn.

    Nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn. Ví dụ, môi trường làm việc có thể được cải thiện, bạn sẽ được đối xử tốt hơn (thu nhập, thăng tiến v.v.) từ phía công ty, và bạn có thể có được công việc ổn định.

     

    Đánh giá:

    Với phương thức sản xuất hình thành trong suốt quá trình hoạt động lâu dài, Toyota sở hữu một giá trị nội tại bền vững. Văn hóa công ty cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị công ty. Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển quá nhanh chóng của công ty, mở rộng quy mô với tốc độ quá lớn khiến công ty phải đối mặt với những vấn đề về chất lượng. Hiện nay, sau một loạt các vụ thu hồi xe, Toyota đã thay đổi chiến lược trung hạn của mình từ tập trung thống lĩnh thị trường sang nâng cao chất lượng sản phẩm. Nâng cao niềm tin chất lượng sản phẩm, khôi phục danh dự của thương hiệu sẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất của Toyota trong năm 2010. Nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này, Toyota có cơ hội phát triển hơn nữa và thu lợi nhuận khổng lồ từ lợi thế người dẫn đầu.

    V. PHÂN TÍCH SWOT

    1. Các điểm mạnh (strengths)

    Toyota là một trong những hang xe hàng đầu xét trên phạm vi 170 quốc gia trên thế giới. Với doanh số bán hàng phát triển không ngừng qua các năm. Toyota có sức mạnh tài chính cao, doanh thu tăng trưởng khoảng 29,3%/ năm. Toyota được thế giới biết đến như một thương hiệu lớn mạnh về cả chất lượng sản phẩm, số lượng sản phẩm, sự thân thiện với môi trường của sản phẩm, và hệ thống khách hàng rộng lớn trên toàn thế giới. Đây là một công ty đi đầu trong ngành, khuếch đại lới nhuận dựa vào những nguyên tắc chặt chẽ và hiệu quả riêng của Toyota như quản lý tổng quát chất lượng, “just in time”, cải tiến các chức năng và bước đi của sản phẩm( điều này đã được đề cập tới ở mục phân tích chiến lược cạnh tranh của công ty).

    Ngoài ra, thị phần chính của Toyota là Nhật bản và Mỹ. Đây là hai thị trường tiềm năng vì người dân các nước này rất chuộng sử dụng xe ô tô. Chính phủ Nhật bản dành cho công ty rất nhiều ưu đãi như một doanh nghiệp xuất khẩu lớn của Nhật.

    2. Yếu điểm (weaknesses)

    Toyota tuy có rất nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó vẫn bộc lộ những hạn chế của mình. Rất nhiều chuyên gia về xe đều đánh giá phần thiết kế của Toyota là hơi thô, không thời trang như các hang xe lớn khác. Sản phẩm của Toyota đôi khi vẫn có lỗi kỹ thuật (có thể kể tới vụ Toyota thu hồi xe do hỏng bàn đạp chân ga đầu năm 2010). Ngoài ra, là một hãng xe thâm nhập vào thị trường lớn như Mỹ, Toyota bị người dân Mỹ nhìn dưới con mắt là một hãng xe nhập khẩu của Nhật, điều này phần nào tạo nên một rào cản vô hình cho người tiêu dùng ở Mỹ với hãng.

    3. Cơ hội (opportunities)

    Trong tình hình giá xăng dầu thế giới đang leo thang, khách hàng sử dụng xe có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm tiết kiệm xăng dầu hoặc sử dụng nguồn năng lượng sạch. Toyota đang theo đuổi dự án chế tạo xe chạy bằng khí ga và hydro bằng cách áp dụng những thành tựu và kỹ thuật tân tiến của thế giới và kết quả của hoạt động R&D. Trong khi khách hàng đang tìm kiếm nguồn thay thế dầu thì đây quả là một dự án béo bở cho công ty.

    Hiện nay ở rất nhiều quốc gia nơi nhu cầu về xe là lớn nhưng nguồn cung vẫn còn hạn chế. Toyota có thể mở rộng thị trường ra các quốc gia này. Chế tạo thêm xe đáp ứng các yêu cầu của điều kiện địa lí, mở rộng khách hàng mục tiêu ra các giới trẻ hiện đại cũng là những cơ hội giúp Toyota nâng cao thị phần của mình.

    4. Thách thức (Threats)

    Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều các hãng xe khác trên thế giới đã và đang gia nhập thị trường. Điều này là một thách thức lớn cho Toyota khi vừa phải nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các hãng xe hiện hữu, vừa phải tìm cách để cạnh tranh với các đối thủ tiềm tàng. Bên cạnh đó, việc thay đổi tỉ giá giữa đồng USD và JPY cũng dẫn tới lợi nhuận của công ty bị sụt giảm, chi phí nguyên liệu thô tăng lên, gây khó khăn cho việc sản xuất.

    Sau đợt khủng hoảng kinh tế kéo dài này, chính phủ các nước được dự báo là sẽ ban bố chính sách thắt chặt chi tiêu, dân tới doanh số và doanh thu của các hãng xe sẽ giảm. Chính phủ các nước cũng đang khuyến khích người dân thay vì sử dụng những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường như ô tô, xe máy thì nên sử dụng những phương tiện công cộng để di chuyển như xe lửa, bus, tàu cao tốc.

    Bên cạnh đó, việc thay đổi nhân khẩu học như các gia đình giờ chuộng sử dụng những mẫu xe lớn, sự thay đổi trong cách sử dụng xe của gia đình như sử dụng ít xe hơn trong việc đưa trẻ tới trường, các dịch vụ giao hàng tận nhà, cũng làm giảm cầu của các dòng xe giảm xuống đáng kể.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]