Category: Luận Văn Thạc Sĩ – Cao Học – Tiến Sĩ

  • Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp


    [toc]


    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-m%C3%B4-h%C3%ACnh-qu%C3%A1n-%C4%91i%E1%BB%83m-c%C3%A0-ph%C3%AA-Trung-Nguy%C3%AAn-d%C3%A0nh-cho-gi%E1%BB%9Bi-tr%E1%BA%BB-t%E1%BA%A1i-Th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

    Phán đoán đƣợc giới trẻ là một phân khúc mà Trung Nguyên bấy lâu nay chƣa chú tâm đến một cách sâu sắc Nhóm nghiên cứu đã phân tích rõ đ y là thị phần tiềm năng trong tiêu dùng cà phê của giai đoạn tới Thông qua những bảng hảo sát định tính và định lƣợng làm nền tảng cung cấp những thông tin về chất lƣợng cà phê trong lòng ngƣời tiêu dùng, về xu hƣớng tiêu dùng cà phê của độ tuổi đƣợc cho là giới trẻ và bảng hảo sát về thiết lập mô hình quán, nhóm nghiên cứu đã lấy đó làm căn cứ xác thực để áp dụng phân tích những vấn đề mà giới trẻ quan tâm ngày nay, đặc biệt là những yếu tố xoay quanh sản phẩm, giá cả, cách thức lựa chọn không gian, cách trang trí nội thất cũng nhƣ phong cách phục vụ và phong cách quán. Bên cạnh việc phân tích thực tế các bảng hảo sát, nhóm đã tiến hành phân tích các mô hình SWOT, 5 áp lực, Marketing Mix dựa trên những thông tin, số liệu thu thập đƣợc từ chính trang web Trung Nguyên và các trang web thống kê uy tín khác nhằm tìm ra một chiến lƣợc phát triển phù hợp với tình hình hiện tại của Trung Nguyên trong thị trƣờng cà phê nói chung và thị phần giới trẻ nói riêng. Sau khi đã phân tích và lên chiến lƣợc xong, để xây dựng đƣợc một quán điểm, nhóm đã quan sát và tìm hiểu các mô hình quán mới xuất hiện gần đ y đƣợc giới trẻ quan tâm. Từ đó nhóm đã thiết lập định hƣớng mô hình quán sắp tới cho thị phần giới trẻ đầy năng động này là một mô hình quán mở với bốn không gian khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của giới trẻ Bên cạnh đó, để đảm bảo việc tạo ra lợi nhuận cho quán điểm mới này, nhóm đã thu thập, phân tích định tính các chi phí mà Trung Nguyên đã đầu tƣ, làm cơ sở để tính toán mức chi phí cơ bản khi triển khai quán điểm cho thị phần giới trẻ Phân tích các bài đánh giá của chuyên gia trong lĩnh vực thức uống, các bài báo cáo số liệu, nhóm đƣa ra mô hình quán thu hút giới trẻ, các tiêu chí về giá trong loại hình quán mới này để tạo ra doanh thu bù đắp những chi phí cao bỏ ra trong việc xây dựng quán điểm này. Cuối cùng, với những thông tin số liệu liên quan, nhóm vận dụng phƣơng pháp phân tích, xử lý dữ liệu bằng công cụ SPSS để có căn cứ cho việc thiết lập nên mô hình quán cà phê phù hợp cho mục đ ch nghiên cứu đã nêu.

    1

    NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    1.     PHẦN MỞ ĐẦU

     

    1.1.   Lí do chọn đề tài

     

    Ngày nay, khi nói đến cà phê không chỉ ngƣời dân Việt Nam mà cả những bạn bè

    hắp nơi trên thế giới, ngƣời ta đều nghĩ ngay đến thƣơng hiệu cà phê Trung Nguyên của Việt Nam. Với sự phát triển vƣợt bậc những năm gần đ y, hình ảnh cà phê Trung Nguyên đã lan rộng hắp nơi và thâm nhập vào hầu hết các thị trƣờng, đặc biệt là thị trƣờng cấp cao. Thƣơng hiệu này cũng đã góp phần tôn lên hình ảnh đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Chính vì là một thức uống thơm ngon, mang đến cảm giác sảng khoái cho ngƣời dùng mà cà phê Trung Nguyên đã từng bƣớc chinh phục nhiều đối tƣợng, đặc biệt là những ai phải học tập và làm việc thƣờng xuyên, cần một thức uống để tỉnh táo và tập trung cũng nhƣ giải tỏa những căng thẳng, mệt mỏi trong công việc

    Qua các năm, cà phê Trung Nguyên đã không chỉ đƣợc nhiều giới doanh nhân chọn lựa nhƣ thức uống trong công việc, mà còn đƣợc chọn là cách thức để giải quyết công việc, đàm phán hợp đồng, …

    Thông qua tài liệu, báo chí và những thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông cùng với những con số thống kê hết sức thuyết phục về danh tiếng, sự tiêu thụ sản phẩm cà phê Trung Nguyên, rất dễ dàng nhận thấy đƣợc ngay cà phê Trung Nguyên đã chinh phục đƣợc ngƣời đi làm, doanh nhân và những ngƣời thuộc giới thƣợng lƣu khác. Việt Nam hiện là một quốc gia có nền dân số trẻ Trong những năm gần đ y, việc giới trẻ Việt Nam đang có xu hƣớng sử dụng cà phê ngày một nhiều là một trong những lý do mà các thƣơng hiệu cà phê nổi tiếng thế giới xâm nhập vào thị phần giới trẻ Việt Nam một cách nhanh và mạnh Họ mở rộng khai thác nhanh chóng để chiếm lĩnh phân khúc thì trƣờng này. Cùng với xu thế phát triển hiện đại, giới trẻ Việt Nam đã dần tiếp nhận và sử dụng những thƣơng hiệu này. Còn Trung Nguyên thì sao? Liệu rằng cà phê Trung Nguyên có phải đã khai thác hiệu quả thị phần này tại Việt Nam hay chƣa? Để khai thác một phân khúc ở hiện tại và tƣơng lai, nâng cao và bảo vệ một thƣơng hiệu cà phê việt lớn mạnh trong lòng giới trẻ Việt Nam, đồng thời mở rộng và tăng vị thế cạnh tranh của cà phê

    2

    Trung Nguyên trên thị trƣờng thức uống cà phê, một mô hình quán độc đáo, mới lạ chƣa từng có, giành cho giới trẻ của Trung Nguyên sẽ đƣợc nhóm xây dựng, đó chính là lý do nhóm chọn đề tài “xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh”

    1.2.     Mục tiêu nghiên cứu

    Trình bày tổng quan về Trung Nguyên. Trong bài nghiên cứu này, nhóm trình bày thực trạng của Trung Nguyên qua các năm gần đ y và đánh giá sức hấp dẫn của thị trƣờng giới trẻ lấy đó làm cơ sở xây dựng về mặt lý thuyết một mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ

    Khảo sát và phân tích những yếu tố ảnh hƣởng đến xu hƣớng tiêu dùng, mức độ thỏa mãn của giới trẻ khi sử dụng cà phê để ết luận các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thức uống cà phê của giới trẻ

    Từ những phân tích trên, xây dựng một mô hình quán điểm của cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ, qua đó góp phần giúp Trung Nguyên có cái nhìn mới về phân khúc thị trƣờng này, đồng thời mang cà phê Trung Nguyên đến với ngƣời d n Việt Nam ngày càng gần gủi hơn

    1.3.     Đối tƣợng nghiên cứu

    Trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm đã giới hạn xác định giới trẻ là những ngƣời có độ tuổi từ 15 đến 25, thuộc các thành phần học sinh, sinh viên, ngƣời mới ra trƣờng hay đã đi làm, sống học tập và làm việc tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thuộc các quận 10, quận 3, quận 5.

    1.4.     Phạm vi nghiên cứu

    Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện dựa trên các số liệu thống kê do nhóm tự thực hiện và những số liệu thống kê có sẵn do các tổ chức uy tín thực hiện tập trung tại các khu vực đông dân cƣ trong nội thành Thành phố Hồ Chí Minh.

    Phạm vi thời gian: Các thông tin đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu đƣợc thu thập từ năm 2003 đến năm 2013.

    1.5.     Nguồn dữ liệu

     

    3

    Để có đầy đủ thông tin phục vụ cho bài nghiên cứu, nhóm đã tận dụng từ các nguồn dữ liệu thứ cấp nhƣ thu thập từ sách báo, các nghiên cứu có liên quan, trang điện tử công ty Trung Nguyên và các trang thông tin hác…và nguồn dữ liệu sơ cấp từ hảo sát giấy và hảo sát qua mạng do nhóm tự thực hiện

    1.6.     Phƣơng pháp nghiên cứu

    Sử dụng những phƣơng pháp cần thiết để thực hiện thống kê và phân tích dữ liệu

    Nhóm đã vận dụng các phƣơng pháp chủ yếu nhƣ sau:

    1.6.1.  Phƣơng pháp chọn vùng nghiên cứu

    Nhóm nghiên cứu đã chọn vùng nghiên cứu là Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung thu thập số liệu tại các quận 3, quận 5, quận 10 trong phạm vi nội thành. Vì có phần đông giới trẻ sống và làm việc ở phạm vi này.

    1.6.2.  Phƣơng pháp thu thập thông tin

    Thông tin thứ cấp: Báo cáo tình hình đầu tƣ của Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên từ năm 2005 đến 2008. Và thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu đƣợc đăng tải trên các trang điện tử

    Thông tin sơ cấp: nhóm nghiên cứu đã thực hiện thu thập dữ liệu thông qua 3 bảng hảo sátbằng bảng câu hỏi trắc nghiệm sau:

    –      Bảng hảo sát tìm hiểu xu hƣớng tiêu dùng cà phê Trung Nguyên của giới trẻ. Số lƣợng: 165 bản

    • Bảng hảo sát mức độ thỏa mãn khách hàng về sản phẩm cà phê Trung Nguyên. Số lƣợng: 100 bản
    • Bảng hảo sát xây dựng mô hình quán điểm cà phê dành cho giới trẻ. Số lƣợng: 136 bản

    1.6.3.  Phƣơng pháp phân tích

    Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này để phân tích thực trạng xây dựng một quán điểm cà phê của Trung Nguyên, từ đó đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp tổng hợp tạo động lực thúc đẩy cho việc phát triển mô hình quán điểm sau này.

    4

    Phƣơng pháp thống kê: Tất cả các thông tin dữ liệu đƣợc thu thập chủ yếu bằng phƣơng pháp thống kê, sau đó sử dụng các phần mềm xử lý số liệu nhƣ: SPSS 20.0, EVIEW để phân tích các nhân tố và thực hiện iểm định ANOVA 2 yếu tố, và phân tích sâu ANOVA.

    Phƣơng pháp so sánh: là phƣơng pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách so sánh với một chỉ tiêu cơ sở, cụ thể so sánh yếu tố thị phần tiêu thụ với công ty Vinacafe từ đó định hƣớng phát triển hoàn thiện chiến lƣợc Marketing để giữ vững và mở rộng thị phần

    Một số phƣơng pháp khác: ngoài ra, đề tài cũng ết hợp thêm một số phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ phƣơng pháp: phân tích điểm mạnh điểm yếu SWOT, phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh, phân tích mô hình 4P, 4C.

    1. Nội dung nghiên cứu

    2.1. Cơ sở lí luận

     

    Theo Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con ngƣời hƣớng tới sự thỏa mãn

    nhu cầu và ƣớc muốn thông qua các tiến trình trao đổi.

    Theo Johnson và Schole định nghĩa: Chiến lƣợc là định hƣớng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt đƣợc lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trƣờng thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng và thỏa mãn ỳ vọng của các bên hữu quan.

    Kế hoạch Marketing là một ế hoạch chức năng, là công cụ để điều hành hoạt động Marketing của doanh nghiệp. Các nhà quản trị Marketing phải xây dựng các ế hoạch Marketing để làm cơ sở tổ chức thực hiện. Mỗi bản ế hoạch Marketing với nội dung xác định thị trƣờng mục tiêu, các mục tiêu Marketing cụ thể, ngân sách cho hoạt động Marketing, chiến lƣợc và một chƣơng trình Marketing bao gồm biện pháp Marketing với thời gian thực hiện cụ thể

    Marketing – mix là sự tập hợp các phƣơng thức marketing có thể iểm soát đƣợc mà doanh nghiệp phối hợp sử dụng để tạo nên sự đáp ứng cần thiết trong thị trƣờng mục tiêu nhằm đạt đƣợc mục tiêu marketing của mình.

    5

    Chiến lƣợc Marketing cạnh tranh là sử dụng các biện pháp chính sách và nghệ thuật Marketing nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu cạnh tranh trên thị trƣờng.

    Chiến lƣợc định vị cho một thƣơng hiệu là việc doanh nghiệp lựa chọn và xây dựng trong tâm trí khách hàng một hình ảnh rõ nét và có giá trị về thƣơng hiệu này so với các thƣơng hiệu cạnh tranh.

    2.2.     Giới thiệu khái quát vềTrung Nguyên

    2.2.1.  Lịch sử hình thành và phát triển

    Ra đời vào giữa năm 1996 Trung Nguyên là một nhãn hiệu cà phê non trẻ của Việt Nam, nhƣng đã nhanh chóng tạo dựng đƣợc uy tín và trở thành thƣơng hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với ngƣời tiêu dùng cả trong và ngoài nƣớc

    • 16/06/1996: Bắt đầu sản xuất và kinh doanh trà, cà phê tại Buôn Mê Thuột.
    • 1998: Trung Nguyên xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minhvới khẩu hiệu “Mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” và con số 100 quán cà phê Trung Nguyên.
    • Năm 2000: Đánh dấu sự phát triển bằng sự hiện diện tại Hà Nội và lần đầu tiên nhƣợng quyền thƣơng hiệu ở Nhật Bản.
    • Năm 2001: Trung Nguyên có mặt rộng khắp toàn quốc và tiếp tục nhƣợng quyền tại Singapore, Campuchia, Thái Lan.
    • Năm 2002: Sản phẩm Trà Tiên ra đời.
    • Năm 2003: Ra đời cà phê hòa tan G7
    • Năm 2004: Mở thêm quán cà phê Trung Nguyên tại Nhật Bản, mạng lƣới 600 quán cà phê tại Việt Nam, 121 nhà phân phối, 7000 điểm bán hàng và 59000 quán điểm bán lẻ sản phẩm.
    • Năm 2005: Khánh thành nhà máy rang xay tại Buôn Ma Thuột và nhà máy cà phê hòa tan lớn nhất Việt Nam tại Bình Dƣơng với công suất rang xay là 10, 000 tấn/năm và cà phê hòa tan là 3, 000 tấn/năm Đạt chứng nhận EUREPGAP (Thực hành nông nghiệp tốt và Chất lƣợng cà phê ngon) của thế giới. Chính thức khai trƣơng hu du lịch văn hóa Trà Tiên Phong Quán tại L m Đồng. Phát triển hệ thống quán cà phê lên đến 1.000 quán cà phê và sự hiện diện của nhƣợng quyền

    6

    quốc tế bằng các quán cà phê Trung Nguyên tại các nƣớc Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc, Ucarine, Mỹ, Ba Lan.

    • Năm 2006: Đầu tƣ và xây dựng phát triển hệ thống phân phối G7 Mart lớn nhất Việt Nam. Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống nhƣợng quyền trong nƣớc, đẩy mạnh phát triển nhƣợng quyền ở quốc tế. Ra mắt công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) có trụ sở đặt tại Singapore.
    • Năm 2008: Khánh thành Làng cà phê Trung Nguyên tại Buôn Ma Thuột. Khai trƣơng Hội quán sáng tạo Trung Nguyên tại Hà Nội, đầu tƣ trên 40 triệu USD xây dựng nhà máy chế biến cà phê với công nghệ hiện đại nhất thế giới tại Buôn Ma Thuột.
    • Năm 2009: Các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn là thống lĩnh thị trƣờng nội địa, chinh phục thị trƣờng thế giới, cụ thể:
    • Dịch chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu.
    • Đầu tƣ về ngành.
    • Phát triển hệ thống nhƣợng quyền trong nƣớc và quốc tế.

    –      Năm 2010, xuất hẩu cà phê đến hơn 60 quốc gia trên toàn cầu nhƣ Mỹ, Canada, Nga, Anh, Đức, Nhật Bản, …

    • Năm 2012:Trung Nguyên khánh thành nhà máy ở Bắc Giang lớn nhất Đông Nam Á.
    • Đi tiên phong trong việc áp dụng mô hình kinh doanh nhƣợng quyền tại Việt Nam, Trung Nguyên đã có một mạng lƣới gần 1000 quán cà phê nhƣợng quyền trên cả nƣớc và 8 quán ở nƣớc ngoài nhƣ: Mĩ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraina. Sản phẩm cà phê Trung Nguyên và cà phê hòa tan

    G7 đã đƣợc xuất hẩu đến 43 quốc gia trên thế giới với các thị trƣờng trọng điểm nhƣ Mĩ, Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Nguyên cũng đã xây dựng đƣợc một hệ thống hơn 1000 quán điểm tiện lợi và trung tâm phân phối G7 Mart trên toàn quốc

    2.2.2.  Thị phần

    7

    Tổng quan về thị trƣờng cà phê Việt Nam: Cà phê là một trong những ngành có sức hấp dẫn cao tại Việt Nam.

    Tình hình tiêu thụ cà phê trong nƣớc:

    • Thị trƣờng bán lẻ cà phê Việt Nam đã đạt 127, 33 triệu USD trong năm 2008 và tăng lên hoảng 287, 34 triệu USD năm 2012 Mintel dự đoán sẽ tăng đến 573, 75 triệu USD vào năm 2016.
    • Thị trƣờng cà phê Việt Nam đƣợc chia thành 2 phân khúc rõ ràng. Cà phê rang

    xay (cà phê phin) chiếm hoảng 2/3 lƣợng cà phê đƣợc tiêu thụ; còn lại là cà phê hòa tan.

    • Thị phần chủ yếu là của 3 ông lớn: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafe Biên Hòa.

    Về sản xuất:

    • Hiện nay ngành cà phê Việt Nam mới chỉ có 5 Doanh nghiệp chế biến cà phê hòa

    tan với công suất hoảng 35, 000 – 40, 000 tấn tƣơng đƣơng 100, 000 tấn cà phê nhân (chiếm hoảng 5% sản lƣợng cà phê nhân hằng năm)

    • Tại các điểm bán lẻ sản phẩm cà phê hiện nay có rất nhiều loại của các hãng khác nhau nhƣ: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafe Biên Hòa, Maccoffee, Highlands Coffee, Mê Trang… theo đó Trung Nguyên có tới 34 sản phẩm; Neslé có 7 sản

    phẩm; Vinacafe Biên Hòa có 22 sản phẩm

    Thị trƣờng cà phê hòa tan và rang xay của Việt Nam vẫn đang hấp dẫn đối với các doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở chỗ các nhà máy của Nestlé, Vinacafe Biên Hòa, Trung Nguyên đều đã hoạt động hết công suất và họ đều đang mở rộng qui mô sản xuất

    2.2.3.  Cơ cấu sản phẩm

    Đa dạng cả về cà phê rang xay lẫn cà phê hòa tan với hoảng 34 sản phẩm. Có nhiều cách phân loại cơ cấu sản phẩm, dƣới đ y là một vài cách phân loại:

    Phân loại theo cách chế biến:

    • Cà phê rang xay: cà phê đóng gói, cà phê hạt
    • Cà phê hòa tan: các sản phẩm G7, G7 Capuchino, Passiona, … Phân loại theo dòng sản phẩm:
    • Sản phẩm cao cấp:

    8

    • Weasel: cà phê Chồn là loại đặc sản quý hiếm và đắt giá nhất thế giới
    • Diamond Collection: với năm hƣơng vị khác nhau.
    • Legendee: Công nghệ ủ men sinh học độc đáo.
    • Classic Blend: Hƣơng thơm lâu và quyến rũ, nƣớc pha màu nâu nhạt
    • Sản phẩm trung cấp: dòng cà phê G7, dòng cà phê sáng tạo 1, 2, 3, 4, 5 …
    • Sản phẩm phổ thông: loại 1, Nâus-Sức sống, loại 2: I-khát vọng, loại 3: S-chinh phục

    Phân loại theo đối tƣợng khách hàng:

    • Cà phê dành cho phái đẹp: Passiona, cà phê nụ hồng
    • Cà phê cho phái mạnh: G7 gu mạnh X2, dòng G7

    2.2.4.  Vài nét về chiến lƣợc Marketing hiện tại của Trung Nguyên

    • Chiến lƣợc sản phẩm:
    • Bao bì: Trung Nguyên coi bao bì là một ngƣời bán hàng thầm lặng mà hiệu quả. Trƣớc hi xác định đƣa ra mẫu bao bì mới cho sản phẩm, Trung

    Nguyên đã hảo sát để biết đƣợc nhận xét đánh giá của ngƣời tiêu dùng đối với các sản phẩm trên thị trƣờng. Bao bì của Trung Nguyên luôn khai thác hết t nh năng của nó với mẫu mã hiện đại, sáng tạo và đậm chất cà phê, sản phẩm G7 là một ví dụ điển hình Đối với quán điểm của chúng ta, để khách hàng nhớ đến và dễ dàng giới thiệu cho bạn bè cần phải có những nét riêng của quán điểm. Cụ thể: Với những khách hàng mua mang đi, cà phê sẽ đƣợc đựng trong ly giấy cách điệu, tông màu chủ đạo của ly là trắng và nâu. Đồng thời chiếc ly cũng sẽ nhƣ một ngƣời bán hàng âm thầm khi chúng ta giới thiệu về quán điểm trên chiếc ly đó về tên quán điểm, địa điểm, số điện thoại đặt cà phê, email góp ý hay những câu slogan mang tính sáng tạo. Tƣơng tự nhƣ chiếc ly, có thể với túi đựng ly mang đi cũng có thể sáng tạo và đầu tƣ nhƣ vậy Đối với những khách hàng uống tại quán điểm, chúng ta có thể thiết kế nhiều kiểu ly riêng cho từng nhóm hách hàng để tạo sự thích thú, loại ly phù hợp với loại thức uống là cà phê mà đƣợc giới trẻ khá ƣa chuộng nhƣ: ly sứ trắng, ly thủy tinh…

    9

    • Chủng loại, danh mục sản phẩm: Trung Nguyên cung cấp đầy đủ sản phẩm cho cả phân khúc khách hàng cao cấp, trung cấp, phổ thông. Từ hộp sang trọng đến hộp giấy bình thƣờng, dây, gói…chúng ta sẽ thể hiện điều này lên menu sản phẩm của quán điểm. Tất cả sẽ đƣợc thiết kế mang đậm chất cà phê mà không thiếu đi phần trẻ trung tƣơi sáng để phù hợp hơn với giới trẻ. Tên thức uống sẽ đƣợc sáng tạo Đầu menu sẽ là thức uống phổ thông, giá cả phổ thông. Cuối menu sẽ là những loại cà phê có giá cao hơn để có thể vẫn đáp ứng một số khách hạng sang gần đ y, ghé qua quán điểm. Có thể tham khảo một số menu đặc sắc của các quán điểm khác. Sản phẩm sẽ đƣợc trƣng bày trực tiếp tại quầy, tạo niềm tin vững chắc cho khách hàng là hàng chất lƣợng cao thƣơng hiệu Trung Nguyên.
    • Xây dựng một nhãn hàng tốt: Trung Nguyên luôn làm việc với tiêu chí thuyết phục khách hàng bằng chất lƣợng cho nên Trung Nguyên đã đƣa ra một công thức: nguyên liệu tốt, công nghệ cao và bí quyết phƣơng đông, đi

    kèm với nó là một quan điểm mới về cà phê. Cà phê có khả năng giúp   hởi

    động trí não, duy trì thƣờng xuyên sự tỉnh táo sẽ là nguồn năng lƣợng mới

    cho khả năng tƣ duy của con ngƣời và cho một nền kinh tế sáng tạo của

    tƣơng lai. Nhiều vĩ nh n trên thế giới cũng từng là những t n đồ cà phê nhƣ

    Balzac, Napoléon, Sebastian Bach… Napoléon từng có câu nói nổi

    tiếng: “Ch nh trị mà không có cà phê thì chính trị chỉ có mùi mà không có

    vị”

    • Sản phẩm mới: Để lấp đầy những chỗ trống trên thị trƣờng, Trung Nguyên đã phải dày công nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, thực hiện

    tiếp thị quảng cáo cho sản phẩm, để sản phẩm gần gũi với hách hàng hơn và thể hiện đẳng cấp ngƣời dùng hơn. Ví dụ về việc đƣa ra sản phẩm cà phê gu mạnh X2, góp phần tiết kiệm thời gian chi ph cho ngƣời dùng bởi đặc tính riêng của sản phẩm là tăng gấp đôi về số lƣợng, chất lƣợng nhƣ đúng cái tên của nó. Một ví dụ khác là việc tung ra sản phẩm cà phê tƣơi duy nhất chỉ có ởTrung Nguyên vào năm 2012. Sản phẩm này đƣợc thị trƣờng

    10

    chấp nhận với những ƣu điểm nhƣ dễ sử dụng, dễ bảo quản, tƣơi, thơm, ngon, đảm bảo chất lƣợng, tiết kiệm thời gian…Bắt kịp với việc đƣa ra sản phẩm mới của Trung Nguyên và đáp ứng nhu cầu của khách hàng, quán điểm cũng phải thƣờng xuyên cập nhật menu đồng thời giới thiệu đến khách hàng về loại cà phê mới.

    • Tốc độ sáng tạo của các chuyên gia cà phê Trung Nguyên khá cao, trung bình cứ 3 tháng ra một sản phẩm mới và liên tục dẫn dắt thị trƣờng, tạo xu hƣớng trên thị trƣờng nhờ vào việc liên tục tìm tòi nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của ngƣời tiêu dùng.
    • Chu kì sản phẩm: bất cứ sản phẩm nào cũng đều trải qua 4 chu kì: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. T nh cho đến nay, các sản phẩm của Trung Nguyên vẫn đang tiếp tục phát triển và đáp ứng ngƣời tiêu dùng, cho nên nó vẫn hoạt động trên thị trƣờng một cách ổn định. Riêng đối với

    quán điểm có thể linh hoạt đối với những sản phẩm hông đƣợc khách hàng ƣa chuộng, hoặc có biểu hiện không hài lòng. Nếu không khắc phục đƣợc những điểm yếu của sản phẩm để làm hài lòng khách hàng thì chúng ta không nên tiếp tục đối với sản phẩm đó nữa, bởi nó sẽ làm ảnh hƣởng đến uy tín của Trung Nguyên nói chung và quán điểm nói riêng.

    • Chiến lƣợc giá
    • Giá là biểu tƣợng giá trị của sản phẩm, là chi phí bằng tiền mà ngƣời mua bỏ ra để có đƣợc những lợi ích mà họ tìm kiếm ở sản phẩm. Chiến lƣợc giá là những định hƣớng dài hạn về giá nhằm đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của một doanh nghiệp không chỉ trong nƣớc mà còn cả ra nƣớc ngoài.
    • Giá là một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh trên thị trƣờng ngày nay. Nhận thức đƣợc điều này, Trung Nguyên luôn coi trọng việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm để n ng cao năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng, tăng doanh số bán hàng cũng nhƣ lợi nhuận của công ty.
    • Thực hiện chính sách thiết thực cho khâu sản xuất nhƣ:

    11

    • Trung Nguyên đầu tƣ vào d y chuyền công nghệ để tăng năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm.

     

    • Cải tiến phƣơng pháp inh doanh, quản lý, động viên khuyến khích công nhân làm việc, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị nhằm n ng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm.

     

    • Có những ch nh sách đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, quản lý, cũng nhƣ ch nh sách mềm dẻo trong giá cả để thu hút thêm hách hàng và tăng t nh cạnh tranh.

     

    • Trung Nguyên cũng có những ch nh sách giá ƣu đãi, phân biệt đối với từng nhóm khách hàng Đối với những khách hàng trung gian Trung Nguyên cũng có những điều khoản về tài chính hợp lý, nhằm tạo sự ràng buộc giữa Trung Nguyên và những khách hàng trung gian.
    • Giá cả sẽ thay đổi phù hợp tùy theo sự biến động của thị trƣờng, xu hƣớng tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh trong tƣơng lai. Tập trung nổ lực nhấn mạnh sự khác biệt về chất lƣợng, lợi ích của sản phẩm để ngƣời tiêu dùng chấp nhận mức giá thay đổi thay vì chạy đua về giá theo đối thủ cạnh tranh.

    Đồng thời tổ chức theo dõi chặt chẽ sự biến động của thị trƣờng, xu hƣớng tiêu dùng để có những biện pháp hiệu quả nhằm từng bƣớc điều chỉnh giá trong tƣơng lai

    • Trên thị trƣờng, mức giá của Trung Nguyên luôn đƣợc ngƣời tiêu dùng ủng hộ, vì giá rẻ hơn so với đối thủ, định giá nhƣợng quyền thƣơng hiệu thấp hơn đối thủ, thêm vào đó chất lƣợng cà phê tốt và thƣơng hiệu nổi tiếng, n ng cao đẳng cấp cho ngƣời thƣởng thức. Có các mức giá khác nhau cho các sản phẩm khác nhau, Trung Nguyên áp dụng các mức giá riêng đối với bán sỉ cho quán điểm, đại lý và bán lẻ. Thông tin giá đƣợc niêm yết công

    hai trên các trang web đại lý cà phê Trung Nguyên. Tuy trong nƣớc Trung Nguyên định giá ở mức thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh, nhƣng ra ngoài các nƣớc khác thì lại định giá cao hơn, điều này nhằm khẳng định thƣơng hiệu, chất lƣợng cà phê việt và đẳng cấp của nó.

    12

    • Quán điểm phải thống nhất giá ngay từ đầu, tham khảo giá thị trƣờng, mặt bằng chung của các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là đối thủ vùng lân cận địa điểm quán điểm và đƣa ra mức giá phù hợp. Không nên vì một số lí do mà thay đổi menu gây hoang mang cho khách hàng và dẫn đến sự không hài lòng hông đáng có
    • Chiến lƣợc phân phối

    Hiện tại với 10 công ty thành viên, Trung Nguyên có tham vọng trở thành nhà

    cung cấp, phân phối lớn của Việt Nam. Với mặt hàng chính là cà phê, Trung Nguyên đã tận dụng cả những hình thức phân phối truyền thống và hiện đại để đạt đƣợc ết quả lớn nhất. Ta thấy hiên tại Trung Nguyên đã và đang sử dụng một hệ thống đa kênh trong việc thực hiện đƣa sản phẩm của mình đến tay ngƣời tiêu dùng. Cụ thể: Trung Nguyên đã thiết lập 5 chi nhánh tại các địa điểm sau: Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh (trụ sở chính), Lâm Đồng, Cần Thơ Là đơn vị đầu tiên ứng dụng nhƣợng quyền thƣơng hiệu vào Việt Nam, công ty duy trì hệ thống nhƣợng quyền bao gồm hơn 1.000 quán cà phê trên hắp đất nƣớc Việt Nam và 8 quán ở nƣớc ngoài nhƣ: Mĩ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraina. Đồng thời phát huy tối đa hiệu quả của trung gian phân phối truyền thống và kênh phân phối truyền thống, xây dựng đƣợc các nhà máy lớn tại Bình Dƣơng, Đắc Lắc và mới đ y nhất là nhà máy tại Bắc Giang vào tháng 3/2012. Ngoài ra Trung Nguyên còn có một hệ thống phân phối hiện đại, dẫn chứng là hệ thống phân phối cho sản phẩm G7 của Trung Nguyên là G7 mart: hệ thống bán lẻ theo hình thức nhƣợng quyền đầu tiên ở Việt Nam với hoảng 200 nhà cung cấp cho toàn bộ chuỗi quán điểm G7 trên cả nƣớc. Điểm nổi bật nhất của G7 mart, theo nhƣ tầm nhìn của Trung Nguyên chính là việc đáp ứng thói quen mua sắm nhỏ, lẻ của ngƣời Việt Nam và thƣờng mua gần nhà. Cho nên Trung Nguyêndàn dựng những G7 mart nhƣ những quán điểm nhỏ len lỏi trong các con hẻm. Việc ra đời hệ thống G7 mart thể hiện tầm nhìn chiến lƣợc và tham vọng muốn giành thế vững trên hệ thống phân phối của Việt Nam.

    Nhờ việc ngày càng sáng tạo và phát triển hệ thống phân phối mà Trung Nguyên có thể giảm đƣợc chi phí, bớt đi đƣợc nhiều khâu trung gian giúp ngƣời tiêu dùng hƣởng

    13

    mức giá thấp hơn mà chất lƣợng không đổi. Đồng thời dần dần thống nhất hệ thống luân chuyển sản phẩm, tính chuyên nghiệp hóa sẽ cao hơn

    • Chiến lƣợc xúc tiến:

    Xúc tiến là một bƣớc đà quan trọng trong việc đƣa tên tuổi sản phẩm tới gần hơn, nhanh hơn với ngƣời tiêu dùng. Quảng cáo là một phần trong chiến lƣợc xúc tiến sản phẩm của Trung Nguyên. Nội dung quảng cáo luôn nói lên đƣợc tính đậm đà bản sắc dân tộc của sản phẩm. Bên cạnh đó Trung Nguyên còn khai thác yếu tố tinh thần qua việc vận động thuyết phục khách hàng, các nhà phân phối ủng hộ hàng Việt chất lƣợng tốt Khơi dậy tình cảm với doanh nghiệp khi đang cố gắng vực dậy nền nông sản Việt Nam. Ngoài ra, Trung Nguyên cũng dùng những hình ảnh mang đậm màu sắc văn hóa Việt Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng để quảng cáo cho hình ảnh sản phẩm. Các quảng cáo đều rất ngắn gọn, lắng đọng và cố gắng làm nổi bật sự tinh tế trong phong cách uống cà phê chắt chiu từng “giọt đắng đại ngàn”, “ hơi nguồn sáng tạo”. Đối với các quán điểm cà phê nhƣợng quyền, Trung Nguyên sử dụng âm nhạc nhẹ nhàng, tạo một phong cách hƣởng thụ cà phê mới mẻ và tuyệt vời

    Trung Nguyên rất ít khi có chƣơng trình huyến mãi, thay vào đó Trung Nguyên cho ra nhiều dòng sản phẩm thỏa mãn hầu hết nhu cầu của mọi ngƣời. Đến năm 2011, Trung Nguyên mới tổ chức chƣơng trình huyến mãi mang tên “uống cà phê đẳng cấp, gặp vận may lớn”với nhiều giải thƣởng hấp dẫn cho ngƣời tham gia. Năm 2012, Trung Nguyên tiếp tục tổ chức chƣơng trình huyến mãi mang tên: “sáng tạo cùng Trung Nguyên, khám phá thế giới” Ông lớn này cũng rất quan tâm đến ý iến của ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ các đại lý phân phối, quán điểm bán lẻ của mình, điều này đƣợc thể hiện thông qua chƣơng trình “ngày hội bán hàng”, cho đến nay ngày hội này đã tổ chức đƣợc 10 năm tại nhiều tỉnh khác nhau.

    Ngày nay phƣơng tiện truyền thông tin đến mọi ngƣời khá phổ biến đó là facebook, các trang báo mạng. Đặc biệt với các bạn trẻ, các bạn khá nhạy bén trƣớc các kênh thông tin này. Để thực hiện tốt chiến lƣợc xúc tiến, quán điểm có thể lập một fanpage, thƣờng xuyên cập nhật các thông tin về sản phẩm, mức giá, các hoạt động của quán điểm (khuyến mãi hay tuyển dụng…), hay tổ chức các cuộc thi online với phần

    14

    thƣởng hấp dẫn là một ly cà phê miễn phí tại quán điểm, hay một cuốn sách đang đƣợc các bạn trẻ yêu thích nhằm gây hiệu ứng đám đông lên giới trẻ. Tƣơng tự nhƣ việc tổ chức các buổi giao lƣu vào cuối mỗi tháng với một ngƣời thành đạt mục đ ch thu hútnhiều bạn trẻ đến với quán điểm hơn, ngoài ra có thể tổ chức những hoạt động khác nếu tài chính cho phép.

    Về mảng PR, lần đầu tiên Trung Nguyên gây sự chú ý với ngƣời tiêu dùng là sự iện thử mù tại Dinh Thống Nhất năm 2003, với số ngƣời tham gia lên tới 11, 000 ngƣời, ết quả thử mù đã đập tan định  iến đồ ngoại tốt hơn đồ nội, từ đó G7 đã đi vào cuộc sống. Đặc biệt trong trận chiến năm 2013 vừa rồi khi Starbucks vào Việt Nam, ông Đặng Lê Nguyên Vũ đã có những phát biểu gây sốc. Tuy nó có những tiêu cực nhƣng đồng thời cũng đem lại hiệu ứng cho cả 2 thƣơng hiệu này hơn. Ngoài ra, Trung Nguyên còn phối hợp với đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh xây dựng chuỗi, các chƣơng trình dài hạn với mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ sáng tạo vì khát vọng Việt. Tặng 100 triệu cuốn sách  hởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên Việt Nam, và dành tặng riêng 10,000 cuốn sách “nghĩ giàu làm giàu”cho thanh niên Hà Nội. Xây dựng quỹ học bổng  hơi nguồn sáng tạo tài năng trẻ  huyến khích các bạn có hoàn cảnh khó  hăn và đạt đƣợc thành tích nổi bật trong học tập. Đồng hành cùng lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột. Với một quán điểm, không thể có nguồn tài chính để làm những chƣơng trình lớn, nhƣng không phải là không thể. Thậm chí chúng ta còn có thể làm nhiều những chƣơng trình hơn, miễn là phù hợp với

    đối tƣợng khách hàng, với sản phẩm và với phạm vi tài chính.

    2.2.5.  Phân tích SWOT về Trung Nguyên

    2.2.5.1. Điểm mạnh

    Nguồn nguyên liệu đặc biệt nhất, là sự  ết của 5 loại cà phê nổi tiếng nhất thế giới:

    • Việt Nam: cà phê Robusta Buôn Ma Thuột đƣợc đánh giá cao trên thế giới với khẩu vị mạnh mẽ.
    • Ethiopia: đậm đà hƣơng vị cà phê nguyên gốc đến từ quê hƣơng Ethiopia
    • Jamaica: hạt Arabica thơm ngon của vùng đất Jamaica.
    • Brazil: thƣơng hiệu cà phê xuất khẩu nổi tiếng hàng đầu thế giới.
    • Colombia: loại cà phê mang nhều hƣơng vị khác biệt.

    15

    Công nghệ chế biến hiện đại nhất Châu Âu: Trung Nguyên đƣợc chuyển giao công nghệ hiện đại bậc nhất từ các tập đoàn hàng đầu thế giới. Đạt tiêu chuẩn HAACP (là những nguyên tắc đƣợc sử dụng trong việc thiết lập hệ thống quản lý an toàn thực phẩm) tạo ra những hạt cà phê sạch tuyệt vời nhất, đạt các tiêu chuẩn hắt khe của tổ chức FDA

    để xuất    hẩu vào các thị trƣờng Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản

    Kết hợp với bí quyết chế biến cà phê phƣơng Đông truyền thống, không thể sao

    chép, các phụ chất đƣợc theo dõi một cách chặt chẽ

    Kênh phân phối hiện đại, mạng lƣới quán điểm rộng        hắp, chuỗi quán điểm G7

    mart theo hình thức nhƣợng quyền thƣơng mại

    Đa dạng chủng loại sản phẩm từ rang xay đến cà phê hoà tan. Từ những nguồn

    nguyên liệu giống nhau Trung Nguyên đã tạo ra   hoảng 34 sản phẩm cà phê.

    Các chƣơng trình xúc tiến, truyền thông rất có hiệu quả. Ví dụ nhƣ: 23/11/2013 tổ chức ngày hội sáng tạo vì khát vọng Việt, thu hút 60,000 ngƣời tham, 14,000 lời chúc và 350 bài viết tại lễ hội, 30,000 lƣợt truy cập website, 15,000,000 ngƣời biết về lễ hội, chỉ hai tháng sau lƣợt truy cập website đã tăng lên 300,000 và 80,000 lời chúc đƣợc gửi về cho chƣơng trình “Cùng Trung Nguyên tôi chúc cho Việt Nam”

    2.2.5.2. Điểm yếu

    Không quản lý đƣợc các công ty, quán cà phê sử dụng thƣơng hiệu nhƣợng quyền

    của Trung Nguyên ồ ạt, thiếu nhất quán và đang bị vƣợt tầm  iểm soát.

    Sự thay đổi liên tục hệ thống bảng hiệu, màu sắc, iểu dáng, bao bì làm cho hệ thống vận hành một cách chậm chạp, dẫn tới sự mất dần tính ổn định và niềm tin của chính những ngƣời đang làm trong công ty. Đồng thời gây nên sự hoang mang về phía khách hàng trong việc nhận diện đ u là quán điểmTrung Nguyên thật, giả, Trung Nguyên nhƣợng quyền, Trung Nguyên cấp 1.

    Quá tham vọng hƣớng tới một tập đoàn đa ngành gây phân tán nguồn lực của công ty trong khi ngành chính của Trung Nguyên là cà phê lại không đƣợc chăm sóc ỹ trong bối cảnh là ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh từ hắp nơi trên thế giới và nhu cầu ngƣời tiêu dùng ngày càng cao hơn. Thất bại rõ nhất là việc đầu tƣ chuỗi quán điểm G7, và sự xuống cấp của cácquán điểm cà phê nhƣợng quyền

    16

    2.2.5.3. Cơ hội

    Cà phê đƣợc nhà nƣớc bảo hộ về quyền lợi và thƣơng hiệu, hỗ trợ giá thành sản phẩm và tạo điều iện xuất hẩu ra nƣớc ngoài, bên cạnh đó nhà nƣớc còn thành lập Hiệp Hội Cà Phê – Ca Cao để điều hành và phát triển cà phêViệt Nam.

    Năm 2007 sự gia nhập WTO đã giúp cho ngành cà phê Việt Nam có bƣớc chuyển mình lớnđặc biệt cà phê Trung Nguyên đƣợc biết đến không chỉ trong nƣớc mà còn cả trên thị trƣờng nƣớc ngoài, tạo thêm nhiều định hƣớng phát triển đồng thời có nhiều cơ hội và lợi thế để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.

    2.2.5.4. Thách thức

    Xu hƣớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới ngày càng lan rộng đã tác động mạnh mẽ tới tất cả các ngành sản xuất cà phê ở nƣớc ta. Nổi bật là gần đ y, nhiều thƣơng hiệu cà phê nƣớc ngoài đã có mặt tại TP Hồ Chí Minh nhƣ Starbucks, Macdonald. Cộng với xu hƣớng hƣớng ngoại, đám đông rất nhiều khách hàng đặc biệt là giới trẻ lại thích các nhãn hiệu nƣớc ngoài này. Vì vậy nguy cơ mất thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh đáng gờm nhƣ Nescafe của Nestle, Vinacafe của công ty cổ phần cà phê Biên Hoà, Vinamilk cà phê của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk, Maccoffe của Food Empire Holaddings, …

    Mặt khác nguồn nguyên liệu trong nƣớc dồi dào nhƣng giá cả biến động lớn theo từng năm gây khó hăn trong việc thu mua và chi phí nguyên vật liệu đầu vào không ổn định cũng là một trở ngại lớn trong việc ƣớc lƣợng và tính giá thành sản phẩm đầu ra.

    Thu nhập và mức sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao nên đòi hỏi về chất lƣợng sản phẩm cũng nhƣ phục vụ cũng cao hơn, đ y cũng là một thách thức cho Trung Nguyên phải không ngừng sáng tạo đƣa ra nhiều sản phẩm mới lạ nhƣng đồng thời phải nâng cao hơn nữa chất lƣợng của từng sản phẩm cũng nhƣ dịch vụ chăm sóc khách hàng kèm theo.

    Trƣớc xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Nguyên nên tận dụng cơ hội thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng nguồn vốn kinh doanh và quảng bá rộng rãi thƣơng hiệu mình ra thế giới Bên cạnh đó, cũng cần lập ế hoạch đối phó với thách thức từ các thƣơng hiệu nƣớc ngoài đang dần chiếm lĩnh thị phần giới trẻ và nguy cơ mất thị phần

    17

    hiện tại vào tay các đối thủ trong nƣớc Nguồn nguyên liệu đầu vào cũng là nhân tố quan trọng tạo nên thƣơng hiệu nổi tiếng nhƣ hiện tại, vì vậy Trung Nguyên cần phát huy điểm này ết hợp với quy trình công nghệ hiện đại tạo nên những sản phẩm độc đáo chất lƣợng để giữ vũng thị phần hiện tại vừa thu hút thêm khúc thị phần giới trẻ Một vấn đề cần cân nhắc đó là Trung Nguyên nên iểm soát chặt chẽ hơn chuỗi hệ thống G7 mart và hệ thống nhƣợng quyền

    2.3. Xác định độ hấp dẫn của thị trƣờng giới trẻ và tiềm năng phát triển ở hiện tại và tƣơng lai

    Để làm rõ hơn vấn đề thị phần giới trẻ chúng tôi đi vào phân tích thực trạng tiêu dùng cà phê của giới trẻ qua mô hình 4P thấy rõ tác động của từng P lên phân khúc này. Các ết quả hảo sát, chạy dữ liệu sẽ làm cơ sở cho các vấn đề đƣợc trình bày ở trên, qua đó cho thấy yếu tố nào nổi trội có quyết định nhất sẽ đƣợc vận dụng để xây dựng ế hoạch bán sản phẩm trong thị trƣờng này.

    2.3.1.  Xác định thị trƣờng giới trẻ

    Thị trƣờng giới trẻ mà chúng tôi nghiên cứu chủ yếu nằm trong độ tuổi hoảng từ 15-25, không phân biệt thu nhập và nghề nghiệp trong xã hội. Tính đến năm 2012, dân số toàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt gần 7,750,900 ngƣời, với diện tích 2,095.6 km², mật độ dân số đạt 3,699 ngƣời/ m². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6,433,200 ngƣời, dân số sống tại nông thôn đạt 1,317,700 ngƣời. Dân số nam đạt 3,585,000 ngƣời, trong khi đó nữ đạt 3,936,100 ngƣời. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phƣơng tăng 7,4‰, Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 2,966,400 lao động có độ tuổi từ 15 trở lên, trong đó 139 nghìn ngƣời ngoài độ tuổi lao động nhƣng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2008, lực tƣợng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên trên địa bàn thành phố gồm có 3,856,500 ngƣời, năm 2009 là 3,868,500 ngƣời, năm 2010 đạt 3,909,100 ngƣời, nhƣng đến 2011 còn số này đạt 4,000,900 ngƣời. Theo nguồn mà chúng tôi tìm hiểu có biểu đồ

    18

    về     tháp      tuổi      và      giới      tính      tại      Thành      phố    Hồ      Chí     Minh      nhƣ     sau    :

    Nguồn: Chương trình nghiên cứu đô thị vì sự phát triển (dự án PRUD số 45) Theo hình ta thấy tỷ lệ giới trẻ độ tuổi từ 15 đến 25 trong cơ cấu dân số tại Thành

    phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn từ đó cho ta biết một thị trƣờng tiềm năng cho việc phát triển thị trƣờng cà phê vào giới trẻ, tuy phía dƣới đáy hình tháp ở độ tuổi 0-14 có sự thu hẹp về số lƣợng do vấn đề chính sách ế hoạch hóa gia đình và quan niệm mới về sinh sản nhƣng nó vẫn là thị trƣờng tiềm năng phát triển trong tƣơng lai. Ngoài lí do trên giới trẻ có nhu cầu giao tiếp phát triển, họ độc lập tự chủ trong việc mua những sản phẩm phục vụ cho bản thân, mong muốn sử dụng những sản phẩm độc đáo có cá tính, họ rất thông minh trong lựa chọn sản phẩm (sản phẩm hiện đại, phù hợp với thu nhập…), dễ chạy theo mốt, quan tâm đến kiểu dáng, hình thức của sản phẩm và những chỉ tiêu khác. Với độ tuổi từ 15 đến 25, đa số họ vẫn đang trong tình trạng độc thân, những ngƣời nhóm này thƣờng ít mang gánh nặng về tài chính. Đây cũng là nhóm ngƣời tiên phong với những cái mới mẻ, năng động, phong cách. Họ thƣờng không suy nghĩ quá phức tạp về lựa chọn của mình vì họ thích thay đổi, không thích những gì quá bền chặt. Nắm bắt đƣợc điều này, quán điểm sẽ có những chiến lƣợc phù hợp với tâm lý giới trẻ hơn

    2.3.2.  Phân tích thực trạng tiêu dùng cà phê của giới trẻ

    Jonny – Chuyên gia Phân tích đồ uống toàn cầu của Mintel nhận định Việt Nam có ết cấu dân số vô cùng lý tƣởng với 89 triệu ngƣời phần lớn thuộc thế hệ trẻ có trình độ và tầng lớp trung lƣu đang nổi lên nhanh chóng với khát vọng tiếp cận các thƣơng hiệu

    19

    quốc tế. Tổ chức BMI dự báo đến năm 2016 mức tăng trƣởng trung bình hàng năm đối với doanh thu mặt hàng cà phê là 7%. Những năm vừa qua với nền kinh tế tăng trƣởng, nhu cầu về các lƣơng thực và đồ uống có giá trị cao trong đó có cà phê ngày càng tăng mạnh. Ngoài ra, ở độ tuổi bắt đầu đi làm, thu nhập đƣợc cải thiện thì họ sẽ có điều iện hơn để sử dụng các sản phẩm cà phê giá trị cao. Theo ết quả hảo sát ban đầu cứ 165

    ngƣời thì có 64.8% ngƣời sử dụng cà phê hoảng 1-3 lần/tuần và có 18 8 ngƣời sử dụng cà phê từ 4 lần/tuần trở lên (số liệu bảng 1 phụ lục trang 80) Từ đó ta thấy triển vọng lớn trong vấn đề sử dụng cà phê của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, thị trƣờng tiêu thụ cà phê của giới trẻ hiện nay có xu hƣớng sử dụng các thƣơng hiệu cà phê nổi tiếng của nƣớc ngoài, đ y thực sự là vấn đề khó hăn cho việc một quán điểm của Trung Nguyên mở ra cho giới trẻ có thể cạnh tranh tốt trên thị trƣờng, đòi hỏi quán điểm mới đáp ứng đƣợc các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ của giới trẻ để tạo lợi thế cạnh tranh riêng cho quán điểm của mình.

    Thu nhập của giới trẻ hiện nay là tƣơng đối cao

    Mức thu nhập hiện tại của bạn trong tháng (tổng thu nhập chính, thu

    nhập phụ, thu nhập khác, chu cấp của gia đình)

     

    20

      Frequenc Percent Valid Cumulative
      y   Percent Percent
             
    <1.500 54 32.7 32.7 32.7
    1.500-3.000 79 47.9 47.9 80.6
    3.000-7.000 26 15.8 15.8 96.4
    Valid  7.000-12.000 4 2.4 2.4 98.8
    12.000-18.000 1 .6 .6 99.4
    >18.000 1 .6 .6 100.0
    Total 165 100.0 100.0  
             

    Với  ết quả  hảo sát 165 đối tƣợng ta có 47.9% ngƣời có thu nhập từ 1,500,000-3,000,000 ngƣời/tháng và 19 4    có thu nhập từ 3,000,000 trở lên. Đ y là điều  iện để tạo ra thị trƣờng có sự hấp dẫn cho quán điểm mới. Tuy nhiên với việc  iểm định sự phụ thuộc của hai biến mức thu nhập trong tháng và mức độ sử dụng cà phê trong tuần cho ết quả r2<0 1 cho thấy sự phụ thuộc là thấp (số liệu bảng 3 phụ lục trang 80), bảng tần số chéo giữa hai biến cho thấy đa số ngƣời có thu nhập từ 1,500,000-3,000,000 sử dụng cà phê hiều hơn so với nhóm còn lại, thu nhập từ 3,000,000 trở lên ban đầu sử dụng rất  t nhƣng càng về sau thì mức độ sử dụng càng cao. Đ y là một trong đặc điểm cho biết trong giới trẻ có tập trung thành phần  hác biệt, chịu chi tiêu ở mức độ cao và sử dụng nhiều cà phê hơn. Vậy  hi x y dựng quán điểmmới Trung Nguyên nên xem xét tạo ra các

    hông giancho những ngƣời có chung nhu cầu để ra sự hác biệt để đáp ứng yêu cầu cho sử dụng cà phê của một phần giới trẻ. Sau khi xem xét mức độ sử dụng và hả năng sử dụng của giới trẻ, chúng tôi tìm hiểu mức độ quan t m của giới trẻ đến Trung Nguyên nhƣ thế nào và sự quan t m tập trung vào vấn đề nào nhiều hơn để đƣa ra các giải pháp hoạt động. Có 66 4 số ngƣời tham gia hảo sát quan t m tới Trung Nguyên, có đến 89 7 trong số họ quan t m về chất lƣợng hơn các yếu khác, 84.2% quan tâm về giá, và có 79.4% quan tâm về chủng loại ở mức bình thƣờng trở lên. Từ những thông tin trên ta thấy giới trẻ đã bắt đầu quan t m nhiều hơn đến thƣơng hiệu cà phê trong nƣớc và tập

    21

    trung ở các vấn đề thƣờng tiếp xúc nhất hi vào quán cà phê. Vì vậy hi x y dựng quán điểm này Trung Nguyên cần phát huy lợi thế về dòng sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại để tạo ra thực đơn phong phú đáp ứng các nhu cầu, quan t m hác nhau của hách hàng nhƣ về giá, loại…

    Tiếp đến chúng tôi xem xét các yếu tố tác động việc sử dụng cà phê của giới trẻ Trong 165 ngƣời tham gia hảo sát, sau hi dùng iểm định ANOVA giữa mức độ sử dụng cà phê và 5 yếu tố tác động gồm bạn bè và ngƣời thân, thần tƣợng, cá nhân, thƣơng

    hiệu và mốt Kết quả cho thấy bạn bè và ngƣời thân, cá nh n và thƣơng hiệu có chỉ số sig<0 05 nên ta ết luận các yếu tố có tác động đến mức độ sử dụng cà phê của giới trẻ

    (bảng phân tích ANOVA 11, 12, 13, 14, 15, 16 phụ lục trang 83, 84, 85,86). Bạn bè và ngƣời th n có ảnh hƣởng lớn đến tiêu dùng cá nhân của giới trẻ, tâm lý bầy đàn đặc biệt đối với những ngƣời sống chung với gia đình hay đang đi học thì tác động này sẽ mạnh hơn, sau hi iểm định sâu ANOVA ta thấy tác động của các yếu tố này là gần nhƣ nhau

    đối với những ngƣời có mức độ thỏa mãn cao, tuy nhiên có sự hác nhau đối với những ngƣời có mực độ thỏa mãn thấp, nghĩa là nếu một ngƣời còn chƣa thỏa mãn đối với sản phẩm cà phê củaTrung Nguyên thì việc tác động từ gia đình bạn bè sẽ quyết định họ có sử dụng hay hông sử dụng sản phẩm

    Tiếp tục kiểm định sâu ANOVA về yếu tố thƣơng hiệu, đ y là yếu tố thƣờng tác động đến giới trẻ một cách thƣờng xuyên trong suốt quá trình tiêu dùng. Sự hác biệt, mới lạ, uy t nh, nổi tiếng, … sẽ là những điểm thu hút hấp dẫn giới trẻ vì vậy phải xem xét đổi mới tạo ra nét riêng, là nền tảng thu hút và giữ đƣợc hách hàng

    Yếu tố cá nhân thì trái ngƣợc với yếu tố gia đình và bạn bè. Đối với những ngƣời chƣa hài lòng với sản phẩm của Trung Nguyên thì yếu tố cá nh n tác động không nhiều, nhƣng một hi đã sử dụng thì nó lại quyết định, ảnh hƣởng rất nhiều đến việc sử dụng và

    cách thức sử dụng của họ. Bản th n cá nhân sẽ tự quyết định hi họ đã xác định rõ vấn đề là gì, vì vậy việc đáp ứng cá nhân là bƣớc quan trọng để giữ hách hàng đồng thời cũng

    tạo ra cơ hội cho quán điểm có thêm hách hàng mới. Tuy nhiên cũng không xem nhẹ các yếu tố theo ết quả chƣa đƣợc quan tâm nhƣ yếu tố thần tƣợng, thƣơng hiệu, …bởi chúng sẽ hổ trợ cho những yếu tố trên nếu biết vận dụng hợp lý

    22

    2.3.3.  Ph n t ch tác động của mô hình 4P tới nhu cầu của giới trẻ

    Về sản phẩm, chiều rộng danh mục sản phẩm của Trung Nguyên không lớn, nhƣng chiều dài của danh mục sản phẩm thì ngày càng tăng Hiện nay, danh mục sản phẩm của Trung Nguyên đang đƣợc tiếp tục mở rộng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu cà phê của tất cả các nhóm khách hàng, từ sản phẩm mang phong thái truyền thống cà phê phin tới những sản phẩm tiện dụng, tiết iệm thời gian cho khác hàng nhƣ cà phê hòa tan, cà phê tƣơi. Chất lƣợng là công cụ chủ yếu để định vị sản phẩm trên thị trƣờng mục tiêu, bao gồm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành và sửa chữa. Chất lƣợng thể hiện

    • việc chọn lọc 4 vùng nguyên liệu ngon nhất thế giới: hạt cà phê Robusta Buôn Ma

    Thuột nổi tiếng nhất Việt Nam, cà phê nguyên gốc đến từ vùng đất quê hƣơng của cà phê Ethiopia; hạt Arabica thơm ngon đầy quyến rũ của vùng đất Jamaica; thƣơng hiệu nổi tiếng của cà phê xuất hẩu hàng đầu thế giới Brazil,… Tất cả đƣợc hội tụ, chắt lọc để nguyên liệu tạo nên những sản phẩm cà phê đặc biệt nhất Phát triển sản phẩm cũng là một vấn đề cực kì quan trọng trong chiến lƣợc sản phẩm của doanh nghiệp, là yếu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp nhƣng nó cũng hàm chứa những rủi ro, thậm chí có thể thất bại vì nhiều nguyên nh n Với quán cà phê mới chúng ta có đủ tiềm lực tạo ra những loại thức uống phối hợp của cà phê, ngoài ra có thể sử dụng thức uống này ết hợp với các loại thức ăn nhẹ để phù hợp hơn với phong cách giới trẻ ngày nay. Không những thế chất lƣợng và thƣơng hiệu sản phẩm luôn đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn, đ y là điều thuận lợi cho việc xây dựng thực đơn quán phong phú và đa dạng, việc phát triển không ngừng sản phẩm mới là yếu tố giúp nâng cao sức cạnh tranh của loại hình quán mới này. Nhƣng điều chúng tôi quan tâm là ết hợp sáng tạo loại thức uống sao cho hài hòa với không gian riêng của từng khu vực mà chúng tôi tạo ra, đảm bảo tạo sự khác lạ cho sản phẩm của mình.

    Giá cả của các sản phẩm cà phê của Trung Nguyên khá đa dạng, tùy thuộc vào loại sản phẩm, phân khúc thị trƣờng mà sản phẩm hƣớng tới và càng ngày giá thành càng hợp lý hơn thể hiện Trung Nguyên đã nỗ lực cao trong đầu tƣ máy móc, công nghệ mới trong sản xuất cà phê. Sản phẩm của Trung Nguyên có nhiều mức giá cả phụ thuộc vào chất lƣợng của sản phẩm, giá thành nguyên liệu đầu vào và quy trình sản xuất tức chi phí sản

    23

    xuất, ngoài ra giá cả của các sản phẩm của Trung Nguyên còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại vi nhƣ thị trƣờng và nhu cầu, yếu tố tâm lí của khách hàng, sản phẩm và giá cả của đối thủ cạnh tranh, chu kì sống của sản phẩm và một số yếu tố ngoại vi khác nhƣ luật pháp, điều iện kinh tế, xã hội, đặc biệt Trung Nguyên cũng sử dụng chính sách giá phân biệt với từng thị trƣờng . Đây là điều quan trọng đối với giới trẻ trong việc quyết định có nên bỏ ra chi phí để thƣởng thức ly cà phê trong loại hình quán mới này hay không. Với nhiều loại cà phê với gía cả khác nhau sẽ đáp ứng đƣợc yêu cầu khó hăn của giới trẻ trong xã hội hiện đại ngày nay, làm sao vừa phù hợp với túi tiền của từng ngƣời mà vẩn đảm bảo doanh thu của công ty và chất lƣợng sản phẩm. Ngoài ra giá cả còn là sự hấp dẫn, là thế mạnh cạnh tranh trên thị trƣờng hốc liệt, tuy nhiên vì nhiều lý do mà chúng ta không nên huyến khích điều này.

    Một yếu tố không thể thiếu đó là việc phân phối sản phẩm đến ngƣời tiêu dùng. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch HĐQT Công ty G7 đã nói: “Mục tiêu của hệ thống các quán điểm G7 là hỗ trợ mạnh mẽ chiến lƣợc phát triển thƣơng hiệu Việt và trở thành hệ thống phân phối địa phƣơng làm đối trọng với các tập đoàn phân phối nƣớc ngoài”. Có rất nhiều các hoạt động cụ thể hƣớng tới mục tiêu này nhƣ chuyên nghiệp hoá chất lƣợng phục vụ khách hàng để mở rộng thị trƣờng mạnh mẽ. Đối với quán ca phê mới giành cho giới trẻ này, chúng tôi muốn tạo ra sự khác biệt dựa trên sự đa dạng, độc đáo của loại hình phục vụ trong quán, với mong muốn đáp ứng đƣợc tối đa các yêu cầu của khách hàng nhƣ : phục vụ tận nơi, tự phục vụ, ết hợp cả hai, phục vụ riêng. Để làm đƣợc điều này quán điểm sẽ phải đào tạo một đội ngũ nhân viên phục vụ chuyên nghiệp, năng động, nhiệt tình, hòa đồng trong không gian trẻ, để nó đúng chất là một quán cà phê của giới trẻ

    Cuối cùng là xúc tiến, đ y là việc làm thƣờng xuyên và định kì mà chúng tôi quan tâm, nhằm đáp ứng xu hƣớng khách hàng và môi trƣờng cạnh tranh ngày nay. Những chƣơng trình ết nối bạn trẻ Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là chủ đề đƣợc quán xây dựng để tuyên truyền, vận động bên cạnh việc áp dụng các chƣơng trình huyến mãi và quà tặng cá nhân, nhóm hay các cặp đôi hò hẹn Xúc tiến thông qua các màn hình ti vi, loa thông báo và tờ rơi xẽ đƣợc quán vận dụng tùy thời điểm, ngoài ra

    24

    còn có sự tƣơng tác giữa khách hàng với nhau và với nhân viên trong quán thể hiện tinh

    thần trẻ trung, năng động, nhiệt tình và sự chuyên nghiệp trong phục vụ của nhân viên.

    2.3.4.  Một số    ết quả   hác của phân tích số liệu khảo sát thực tế

    Xem xét việc quyết định sử dụng cà phê hi thu nhập thay đổi Kết quả chung cho thấy hi thu nhập tăng thì họ vẫn sử dụng cà phê nhƣ thƣờng, tuy có sự thay đổi nhƣng rất nhỏ. Vậy việc thu nhập thay đổi hông tác động hay tác động t, điều này giúp cho

    việc dự đoán và t nh toán các vấn đề dễ dàng hơn hi mức sử dụng có thể xem là dao động hông nhiều. Cùng với đó chúng tôi xem xét sự thay đổi của giá với mức độ sử dụng nhƣ thế nào, có hoảng 43 63 số ngƣời vẫn sử dụng cà phê hi giá sản phẩm tăng

    1,000-3,000 VND, có hơn 26% ngƣời vẫn sử dụng cà phê hi giá tăng >3,000 VND (số liệu phân tích bảng 22 phụ lục trang 88). Với ết quả trên việc xem xét mức giá sản phẩm cao hơn so với quán bên ngoài khác để bù đắp chi ph là điều có thể, đồng thời trong danh

    mục sản phẩm quán cũng nên có những loại sản phẩm có giá tƣơng đối cao để đáp ứng

    nhu cầu của khách hàng.

    Theo nhƣ 41 9 ý iến tham gia hảo sát cho rằng xu hƣớng tiêu dùng cà phê sắp tới là mang đi, 23% là dùng tại quán và 25.7% là dùng tại văn phòng công ty. (bảng 21 phụ lục trang 88). Để tạo sự tiện lợi đáp ứng nhu cầu của khách hàng, quán mới này cần mở một quầy cung cấp nhanh sản phẩmcho khách hàng, quầy này có thể đặt bên trong hay bên ngoài cửa hàng tùy theo đặc điểm hu vực d n cƣ xung quanh và vị tr của quán

    Khi mở quán mới của Trung Nguyên, một yếu tố tạo nên sự thành công của quán

    đó là mức độ quan t m trƣớc đó của hách hàng đối với Trung Nguyên. Có 66 1 giới trẻ tiếp nhận và sử dụng cà phê Trung Nguyên ở mức độ từ bình thƣờng trở lên, tuy mức độ này chƣa cao nhƣng cũng cho thấy triển vọng trong việc chấp nhận một sản phẩm của sinh viên. Tuy số lƣợng học sinh có nhu cầu uống cà phê là chƣa cao nhƣng sẽ là tầng lớp thay thế cho sinh viên ph a trƣớc, vì vậy cần có cách để đón đầu trƣớc những khách hàng tiềm năng này

    Địa điểm mở cửa hàng quyết định sự ph n phối sản phẩm đến ngƣời sử dụng, giá cả của sản phẩm trong cửa hàng. Có hoảng 62 6 ý iến cho rằng sẽ mua cà phê ở một địa điểm nào đó gần hu vực ở hoặc tiện trên đƣờng về Trong đó có 58 ngƣời cho rằng

    25

    mua tiệm tập hóa và l do gần nhà ở, 43 8 ngƣời cho rằng mua quán ven đƣờng là do tiện đƣờng về. Vì vậy nên chọn x y dựng cửa hàng nơi đông d n cƣ có nhiều giới trẻ hoạt động, cụ thể các đặc điểm sẽ đƣợc chúng tôi đề cập đến trong phần chọn địa điểm x y dựng quán (bảng 17, 18, 19, 20 phụ lục trang 86, 87).

    Có 43 6     ý   iến cho rằng việc uống cà phê là tùy hứng hay theo thói quen, 24 1

    • iến là tụ tập bạn bè, đồng nghiệp (bảng 28 phụ lục trang 90). Ở đ y cho thấy phù hợp với xu hƣớng giới trẻ, việc uống cà phê của họ nhằm nhiều mục đ ch, đặc biệt là đối với

    sinh viên, học sinh thì càng khó cố định, tuy nhiên hi càng lớn tuổi hơn họ có xu hƣờng dần rõ ràngtrong việc sử dụng cà phê với công việc hay gặp gỡ hàng ngày hơn Vì vậy hi tạo một cửa hàng riêng, cần phải tạo ra nhiều hông gian để đáp ứng mục đ ch khác nhau của giới trẻ, đồng thời tạo sự cố định chung trong từng không gian riêng để hông ảnh

    hƣơng tới những  hông gian  hác Việc th ch nghi đáp ứng những nhu cầu này của giới trẻ sẽ tăng sức cạnh tranh, tạo sự  hác biệt của cửa hàng mới tuy nhiên chi ph  gắn liền với vấn đề trên cũng lên cao. C n đối giữa  hông gian đáp ứng nhu cầu và chi ph  tạo ra hông gian đó là vấn đề lớn cần đƣợc Trung Nguyên t nh toán  ĩ lƣỡng trƣớc  hi thiết lập

    cửa hàng

    2.4.     Phƣơng hƣớng thiết lập

    Việc xây dựng và thiết lập quán căn cứ theo văn hóa cà phê Việt Nam nói chung và của giới trẻ nói riêng bởi văn hóa dùng cà phê là điều quyết định sẽ xây dựng quán nhƣ thế nào, không gian ra, phong cách và mô hình quán ra sao. Ngoài ra chúng tôi giới thiệu một số mô hình quán cà phê đƣợc ƣa thích hiện nay của giới trẻ và đƣa ra mô hình chung về quán cà phê của chúng tôi.

    Theo một bài viết về văn hóa cà phê, Cà phê có nguồn gốc từ phƣơng Tây, theo chân ngƣời Pháp vào Việt Nam từ thời thuộc địa. Ban đầu thức uống này chỉ dành riêng cho giới quý tộc, các quan chức Pháp hay tầng lớp trí thức nơi thành thị. Cà phê dần dần trở thành thức uống phổ biến trong cuộc sống của ngƣời dân Việt Nam đặc biệt tại 2 thành phố lớn nhƣ Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô hà nội. Có sự khác nhau rõ rệt giữa phong cách uống cà phê của ngƣời dân 2 vùng miền này. Hà Nội có phong cách thƣởng thức khác với ngƣời châu Âu: nhâm nhi và suy tƣởng Gọi một ly đen đá nhìn những giọt

    26

    cà phê tí tách rơi, rồi vừa nhấp từng ngụm nhỏ vừa đọc báo, nghe nhạc, trò chuyện cùng bạn bè, cùng đối tác làm ăn hay ngồi làm việc, và còn để suy ngẫm về cuộc sống, về con ngƣời. Có lẽ chính vì gu thƣởng thức khác lạ nhƣ vậy mà những quán cà phê Hà Nội mang một nét đặc biệt: nhỏ, không gian yên tĩnh, bàn ghế đã phai màu thời gian. Cà phê Sài thành có một văn hóa rất riêng, thoạt nhìn thì thấy bát nháo, xô bồ nhƣng thực ra rất đa phong cách, có thể dung nạp rất nhiều “t n đồ”cà phê của các nền văn hóa khác nhau. Tối ngày sáng đêm, bất ể lúc nào ngƣời Sài Gòn cũng có thể uống cà phê. Ở Sài Gòn,

    • u đ u cũng có sự hiện diện của quán cà phê, từ góc hẻm nhỏ đến những đại lộ Không ai có thể thống kê chính xác có bao nhiêu quán cà phê tại Sài Gòn vì biểu đồ cà phê ở đ y

    chi chít và biến đổi liên tục. Sự tiện dụng của các quán cà phê ở Sài Gòn phổ biến tới mức xuất hiện hầu hết trong cuộc sống đời thƣờng của ngƣời dân nơi đ y. Đãi khách, bàn công việc, gặp gỡ bạn bè, muốn yên tĩnh chiêm nghiệm bản thân – cuộc đời, muốn thƣ giãn,… đều đƣợc thực hiện ở quán cà phê. Đó có thể là một quán cà phê cầu ỳ sang trọng với máy lạnh, vật dụng trang trí đắt tiền Hay có khi quán cà phê chỉ là một rổ nhựa chứa vài cái ly cũ ỹ nơi góc cột điện với dăm chiếc ghế thấp dành cho khách ngồi. Mới hôm qua thôi, trên con đƣờng đi làm quen thuộc, bạn còn nhận thấy một quán cà phê đông ngƣời thì có thể sáng nay nó đã biến đi không tăm hơi, một sự biến mất để lại chút gì tiếc nuối trong bạn. Và biết đ u khi vừa mở cửa, trƣớc nhà bạn lại là một quán cà phê không mời mà tới! Tại sao cà phê Sài Gòn lại có một sức sống mãnh liệt nhƣ thế? Nhƣ những nơi khác trên hắp Việt Nam, giới trẻ Sài thành cũng thích thƣởng thức cà phê, ở đ y họ không tập trung uống vào những thời điểm nhất định nhƣ những ngƣời lao động trung niên khác mà tùy hứng và tùy sở thích của họ, nhƣng nhìn chung họ thƣờng uống nhiều vào buổi sớm. Có thể là do thói quen bắt đầu ngày một cách tỉnh táo với ly cà phê trên tay hay ly cà phê là một chất xúc tác để tạo động lực làm việc vào xế chiều, khi muốn thƣ giãn, tụ họp gặp gỡ bạn bè ngồi nhâm nhi từng chút để trò chuyên với nhau lâu hơn Gần đ y việc thƣởng thức ly cà phê không chỉ đơn thuần là ly cà phê ngon hay phục vụ tốt nữa mà khách hàng đã dần hình thành nên những nhu đòi hỏi hắt khe hơn khi đến với quán.

    27

    Sài Gòn có vô số các quán cà phê khác nhau phù hợp với nhu cầu và sở thích của mỗi ngƣời Hiện nay đến quán cà phê không đơn giản chỉ là tìm không gian thƣ giãn, đắm chìm hƣơng vị cà phê mà còn có thể đọc sách, xem bóng đá, lƣớt web,…Và có một xu hƣớng quán cà phê hiện nay khá phát triển đối với những bạn trẻ đó là cà phê xem phim HD. Nói nôm na, cà phê HD là nơi bạn có thể chiêm ngƣỡng rất nhiều bộ phim đẳng cấp theo phong cách riêng của mình. Nơi đ y biển thành một rạp chiếu phim mini nhƣng bạn sẽ vừa nhâm nhi tách cà phê vừa đƣợc trải nghiệm cảm giác thú vị khi xem những bộ phim với âm thanh chất lƣợng và hình ảnh thật sắc nét. Một quán cà phê HD trong tóp 10 đƣợc giới trẻ thành phố yêu thích Cà phê HD Nguyễn Hồng Đào trở thành địa chỉ quen thuộc với các bạn trẻ Sài Gòn yêu thích phong cách uống cà phê xem phim HD. Quán cà phê mang phong cách rất trẻ trung, không gian rộng, thiết ế khá bắt mắt với những gam màu sáng tối Quán có 8 phòng, mỗi phòng có sức chứa từ 2 – 25 ngƣời, thích hợp để hẹn hò hay cả họp mặt, tổ chức sinh nhật bạn bè. Quán cà phê ở đ y đƣợc xem nhƣ một rạp chiếu phim mini, mỗi phòng đều có cách trang trí khác nhau. Quán liên tục cập nhật những bộ phim mới, bạn sẽ đƣợc tha hồ lựa chọn theo sở thích của mình. Ngoài việc áp dụng các công nghệ, ĩ thuật tạo ra không gian và đáp ứng nhu cầu quen thuộc của khách hàng, có những quán điểm còn ết hợp những loài động vật gần gủi với con ngƣời hằng ngày nhƣ chó, mèo, … vào không gian riêng của quán, điều này cũng tạo nên nét đặc sắc riêng cho quán, thu hút đƣợc lƣợng lớn giới trẻ yêu thích loại hình này, một ví dụ, Ailu Cat Cà phê (284 Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh) đƣợc nhiều bạn trẻ đón nhận với vẻ đẹp đặc sắc từ những bộ lông và bƣớc đi uyển chuyển của rất đông các em mèo chạy nhảy tung tăng hắp quán. Hội tụ các giống mèo khác nhau nhƣ mèo Ba Tƣ, mèo Pháp, mèo Nga, mèo Mỹ lông dài, mèo Exotic… Và còn đƣợc đặt cho những cái tên dễ thƣơng nhƣ Lạc Lạc, Đậu Đậu, Đỗ Đỗ, Nhọ Nhọ…Ch nh cái tên Ailu cũng đƣợc rút ngắn từ tên của một vị thần của Ai Cập cổ đại là Ailuros, vị thần có diện mạo của một con mèo. Quán 2 tầng với sức chứa hoảng 100 khách, trong đó quán dành hẳn tầng 1 làm không gian dành cho cà phê mèo. Khắp nơi trong quán là những ngôi nhà gỗ nhỏ đƣợc thiết ế dành riêng cho chúng, đƣợc dựng cao cho các cô cậu mèo tha hồ leo trèo ẩn nấp Không dừng lại ở đó, việc tạo ra những quán với tên,

    28

    không gian, iến trúc độc đáo cũng hút trí tƣởng tƣợng, tò mò của giới trẻ nhƣ: cà phê nhện, cà phê âm phủ, cà phê cổ tích, cà phê take away, cà phê phố cổ… một loại hình phổ biến là cà phê sân vƣờn, nhƣng loại hình cà phê sân vƣờn thƣờng đƣợc các bạn trẻ ƣa chuộng bởi vẻ đẹp độc đáo và không gian lãng mạn. Cà phê Ân Nam tại 52 trƣơng định, phƣờng 7, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu một không gian xanh và yên tĩnh để bạn lắng nghe những giai điệu quen thuộc của các tình khúc đi cùng năm tháng của Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn . Bên ly cà phê thơm đắng Quán đƣợc trang trí rất cổ kính theo phong cách Á Đông tạo cho bạn cảm giác gần gũi và thân thiện. Đội ngũ nhân viên lịch thiệp, luôn tự làm mới mình để không tạo sự nhàm chán đối với thực khách, nhất là đối với giới trẻ. Tuy nằm trên con đƣờng khá sầm uất nhƣng cũng có thể tạo cho bạn một không gian riêng để tán chuyện cùng bạn bè, đồng nghệp hay đối tác…

    Việc xây dựng quán cà phê của Trung Nguyên giành cho giới trẻ là điều cần thiết nhƣng cũng sẽ có những khó hăn nhất định đối với một thƣơng hiệu nổi tiếng này, làm sao vừa thu hút giới trẻ nhƣng vẩn giữ đƣợc nét độc đáo riêng của cà phê Trung Nguyên. Mô hình quán mà chúng tôi xây dựng là một không gian mở, đa dạng và dành riêng cho giới trẻ Quán sẽ chia nhiều không gian khác nhau với phong cách khác nhau để đáp ứng

    nhu cầu đa dạng của khách hàng, nhƣng tập trung vào những không gian riêng biệt mà đa

    số giới trẻ yêu thích và thƣờng gặp nhất theo     hảo sát của chúng tôi tại thành phố hcm

    nhƣ (yên tĩnh, riêng tƣ cho những ai thích học tập, họp bàn công việc, hay hẹn hò, vui nhộn sôi động cho những cuộc họp bạn bè, độc đáo cho những ngƣời thích khám phá tƣởng tƣợng hay mơ mộng, … Sẽ cần có những thay đổi nhỏ trong màu sắc, trang trí, thực đơn và phong cách phục vụ trong quán so với các quán điểm cà phê Trung Nguyên hiện tại những vẩn đảm bảo là quán cà phê thực sự mang văn hóa cà phê riêng của ngƣời việt, không chỉ tạo ra cái mới tức thời mà có hả năng duy trì lâu dài. Chúng tôi mang đến sự ết hợp hài hòa giữa cà phê việt với giới trẻ việt cả trong thực đơn phục vụ và phong cách quán.

    2.5.     Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh đối với Trung Nguyên

    Trong cuốn sách “Competitve strategy”, M.Porter đã đƣa ra mô hình 5 áp lực cạnh tranh tạo thành bối cảnh cạnh tranh trong một ngành sản xuất kinh doanh.

    29

        entrants)potential(Newngành nhậpngườiNhững    
        Đe dọa của những    
        người gia nhập ngành    
        Những nhà cạnh    
    Những người cần cung Sức mạnh trả gía tranh trong ngành Sức mạnh trả giá Những người mua
       
    cấp (Suppliers) của nhà cung cấp Mật độ của các nhà của người mua (Buyers)
           
        cạnh tranh    
        Đe dọa của    
        sản phẩm thay thế    
        Những sản phẩm thaythế(Subsitute products)    

    Sơ đồ: mô hình 5 áp lực cạnh tranh

    Nguồn: Michael E  Porter “Competitve Strategy”New York: Free Press, 1985.

    Từ hình vẽ ta thấy, sức mạnh của các áp lực cạnh tranh trong ngành sẽ quyết định mức độ của đầu tƣ, cƣờng độ cạnh tranh, và mức lợi nhuận của ngành. Vì vậy khi muốn kinh doanh trên ngành bất kì, công ty cần nghiên cứu hiện trạng và xu hƣớng của các áp lực cạnh tranh, căn cứ vào những điều iện bên trong của mình để quyết định chọn một vị tr th ch hợp trong ngành nhằm đối phó với các áp lực cạnh tranh một cách tốt nhất hoặc có thể tác động đến chúng theo cách có lợi cho mình ta sẽ phân tích từng áp lực để thấy rõ điều này.

    2.5.1.  Sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn

    Thị trƣờng thức uống cà phê Việt Nam hiện nay nói chung đã có những đơn vị lớn mạnh chiếm lĩnh thị trƣờng. Các đối thủ đó gồm các đơn vị nƣớc ngoài và trong nƣớc, hiện tại đã ph n chia thị phần trên thị trƣờng gần nhƣ ro ràng, vì vậy rào cản gia nhập vào nghành ở đ y há cao Hiện nay trên thị trƣờng trƣớc áp lực gia nhập vào nghành cà phê hòa tan lớn, dƣờng nhƣ số đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng thức uống cà phê hông th y đổi trong thời gian dai, nếu tiếp tục duy trì rào cản này thì hó có những đối thủ mới gia

    30

    nhập ngành để có thể cạnh tranh với một thƣơng hiệu lớn nhƣ cà phê Trung Nguyên hiện nay.

    Sự trung thành với nhãn hiệu của khách hàng. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay thì việc xây dựng lòng trung thành của khách hàng về sản phẩm đối với doanh nghiệp đó là mục tiêu phát triển. Mức độ trung thành của khách hàng với dịch vụ và sản phẩm ở mỗi thời điểm là khác nhau. Có sáu mức độ trung thành của khách hàng là tiềm năng, triển vọng, khách hàng mua lần đầu, khách hàng mua lần hai, khách hàng thƣờng xuyên và khách hàng luôn ủng hộ nhiệt tình. Để khách hàng mua lần hai thì doanh nghiệp cần có chiến lƣợc cụ thể để thỏa mãn khách hàng về sản phẩm, giá cả, dịch vụ, … Eric Anderson, giáo sƣ marketing tại trƣờng đào tạo quản lý Kellog thuộc đại học Northwestern cho biết: “yếu tố giá cả và các chƣơng trình khuyến mãi đang ngày càng đƣợc ngành bán lẻ quan tâm nhiều hơn vì hách hàng trung thành sẽ bị tác động bởi giảm giá”, đ y là một trong các yếu tố tác động quan trọng đến việc mua của hách hàng, tuy nhiên việc vẫn dụng phải hết sức cẩn thận bởi đ y cũng là con dao hai lƣỡi

    Theo Khảo sát của nhóm nghiên cứu thực hiện trên 100 ngƣời sử dụng ít nhất 1 lần cà phê trên 1 tuần thì đã phát hiện ra có 66% ngƣời thƣờng quan tâm theo dõi về thị trƣờng cà phê, sản phẩm cà phê của Trung Nguyên. Theo đó có 64.1% câu trả lời rằng họ vẫn chấp nhận sử dụng cà phê cũ khi thu nhập tăng lên, 60.6% sẽ vẫn sử dụng cà phê Trung Nguyên khi giá tăng từ 1,000-10,000 ngàn đồng, có 52% hài lòng về cà phê Trung Nguyên và có 69.7% khách hàng sẽ giới thiệu bạn bè, ngƣời thân của mình về sản phẩm cà phê Trung Nguyên. (theo bảng 35 phụ lục trang 92)

    2.5.2.  Quyền lực thƣơng lƣợng từ phía các nhà cung ứng

    Số lƣợng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, thƣờng chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hƣởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, hiện nay, Trung Nguyên có một hệ thống sản suất hoạt động vô cùng hiệu quả Khi mà các nguồn nguyên liệu dùng cho quá trình sản xuất cà phê khác, đều là bắt nguồn từ các nông trại trồng cà phê do chính Trung Nguyên đầu tƣ và quản lý. Hay nói cách khác Trung Nguyên chính là nhà cung cấp

    31

    nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất của mình. Vì vậy, áp lực cạnh tranh từ nhà cung cấp là vấn đề mà Trung Nguyên t phải đối mặt hiện nay.

    Hiện nay, Trung Nguyên đang có chƣơng trình mở rộng 1,000 ha cà phê bền vững ở Da La góp phần tăng diện t ch nguồn nguyên liệu cà phê bền vững của Trung Nguyên lên 2,500 ha với 1,500 hộ nông dân tham gia. Nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nguyên liệu để tạo nên những sản phâm cà phê đặc biệt Áp dụng các tiêu chuẩn UTZ cho các vùng nguyên liệu Qua đó, công ty Trung Nguyên đảm bảo việc truy nguồn gốc sản phẩm, góp phần bảo vệ môi trƣờng, tuân thủ các qui định về thƣơng mại và công ƣớc lao động quốc tế, đáp ứng các tiêu chuẩn hắt khe của thị trƣờng đặc biệt là thị trƣờng thế giới

    2.5.3.  Quyền lực thƣơng lƣợng từ phía khách hàng

    Áp lực từ phía khách hàng: giảm giá và chất lƣợng phục vụ tốt Trong hầu hết các lĩnh vực, những ngƣời mua có thể đƣợc xem nhƣ một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu cầu giá thấp hơn hoặc khi họ yêu cầu dịch vụ tốt hơn mà có thể dẫn đến tăng chi phí hoạt động. Chính điều này làm cho các đối thủ cạnh tranh chống lại nhau, tất cả những điều đó làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành. Ngƣợc lại, khi ngƣời mua yếu, công ty có thể tăng giá và có đƣợc lợi nhuận cao hơn

    –    Áp lực từ phía khách hàng xuất phát từ các điều   iện sau:

    Khi số lƣợng ngƣời mua là nhỏ thì đe dọa đối với ngƣời bán là rất lớn. Những ngƣời bán phụ thuộc rất lớn vào những ngƣời mua này và một vài ngƣời mua này có thể ết hợp thông đồng với nhau gây sức ép lên ngƣời bán. Đây là một khó  hăn lớn của Trung Nguyên trong những ngày đầu thành lập vào những năm 1990, khi thu nhập bình quân của ngƣời Việt Nam mới chỉ 250 USD. Lúc này Trung Nguyên đã táo bạo lựa chọn chiến lƣợc phát triển thƣơng hiệu cà phê cao cấp, nên số lƣợng khách hàng đầu tiên của Trung Nguyên thật khiêm tốn  Khách hàng vào thời điểm này dễ dàng  ết hợp với nhau gây áp lực lên Trung Nguyên. Vậy làm sao để quán điểm của chúng ta có thể vƣợt qua đƣợc áp lực này? Trong các phƣơng tiện truyền thông hiện nay, tivi là một phƣơng tiện phổ biến nhất, Trung Nguyên cũng đầu tƣ mạnh cho các quảng cáo trên phƣơng tiện truyền thông này. Thật vậy, có đến 44.1 % câu trả lời đồng ý rằng biết đến Trung

    32

    Nguyênqua phƣơng tiện truyền thông này. Cũng có 24.8% câu trả lời lại cho rằng biết đến phƣơng tiện truyền thông này qua mạng internet, và 19, 3% qua báo chí. Chính vì vậy, quán điểm chúng tôi sẽ đẩy mạnh về truyền thông qua các trang mạng, báo chí, …để thu hút giới trẻ tới với quán điểm, nhằm giải quyết vấn đề số lƣợng ngƣời mua nhỏ Sử dụng sự khác biệt nhƣ trang trí nội thất ngoài và trong quán điểm, sản phẩm, dịch vụ, … để giữ chân và thu hút thêm khách hàng (số liệu theo bảng 31 phụ lục trang 91).

    Khi ngƣời mua mua một số lƣợng lớn và tập trung, điều này có nghĩa làsự tồn tại và phát triển của ngƣời bán bị chi phối mạnh bởi ngƣời mua do đó dẫn đến tăng sức mạnh đàm phán cho ngƣời mua. Dù có thể quán điểm tập trung vào phục vụ thức uống giải khát cà phê tại quán điểm hay mang về Khi ngƣời mua chiếm một tỷ trọng lớn trong số lƣợng của ngƣời bán, sức đàm phán, trả giá của ngƣời mua sẽ tăng lên rất lớn. Trong trƣờng hợp này sự tồn tại của ngƣời bán hoàn toàn phụ thuộc vào ngƣời mua và vì vậy ngƣời mua có thể thao túng và ép giá ngƣời bán. Điều này sẽ đúng hơn với quán điểm bán sản phẩm cà phê bột rang xay, nhƣng quán điểm của chúng tôi chỉ cung cấp cà phê pha sẵn uống tại quán điểm hoặc cà phê mang đi. Điều này có thể vẫn đúng nếu có những đối tƣợng khách hàng mua một số lƣợng lớn cà phê ví dụ mua cà phê sáng cho nhân viên trong công ty mỗi ngày. Có thể áp dụng những cách sau để giữ chân những khách hàng này: đƣa ra mức chiết hấu thích hợp, làm thẻ hách hàng v dụ tích điểm tƣơng tự nhƣ các siêu thị vẫn làm, nhƣng ở quán điểm của chúng tôi thì điểm sẽ tùy thuộc vào số ly cà phê của quán điểm đƣợc tiêu thụ bởi chủ thẻ, hay dựa trên tổng số tiền chủ thẻ bỏ ra mua cà phê tại quán điểm, dựa trên số điểm tích lũy để tri ân khách hàng, có thƣ cảm ơn hay quà tặng phù hợp, làm cho khách hàng cảm thấy đƣợc sự quan trọng của họ với quán điểm, tạo thiện chí. Không những sẽ giúp duy trì mối quan hệ mà còn có thể mở rộng quan hệ kinh doanh, nếu phục vụ tốt có thể sẽ đƣợc giới thiệu với nhiều những khách hàng có nhu cầu khác. Các sản phẩm không có tính đặc biệt và là sản phẩm cơ bản thì khách hàng dễ dàng có đƣợc sản phẩm từ các nguồn cung ứng khác nhau. Điều này đẩy ngƣời bán vào thế cạnh tranh giành khách hàng, thị trƣờng, dẫn tới những cuộc chiến về giá đ y là một sự thật đối với các mặt hàng nhƣ cà phê.

    33

    Ngƣời mua có đầy đủ thông tin về nhu cầu, giá cả thực tế của thị trƣờng, thậm chí là về giá thành của ngƣời cung ứng, thƣờng đem lại lợi thế cho khách hàng khi mặc cả giá. Với những thông tin đầy đủ khách hàng nhận đƣợc mức giá dễ chịu và phủ nhận sự đe dọa của ngƣời cung ứng về sự tồn tại của họ, ngày này giá các loại thức uống có thể biến động theo phƣơng thức pha chế của quán. Ngƣời tiêu dùng có thể tham hảo và so sánh giá tại các quán điểm khác nhau của Trung Nguyên, tuy nhiên quán điểm của chúng tôi là một dạng quán điểm đi theo hƣớng hoàn toàn mới, hƣớng đến đối tƣợng là giới trẻ, đồng thời qua nghiên cứu hảo sát cũng phân tích đƣợc giá là yếu tố có tầm ảnh hƣởng đến mức độ sử dụng sản phẩm cà phê của giới trẻ. Cụ thể: qua ết quả hảo sát và phân tích thì có đên 46% các bạn đƣợc hỏi có thu nhập trong hoảng 1,5 -3 triệu đồng/tháng, có 34% các bạn có thu nhập <= 1,5 triệu đồng/tháng. Chính vì vậy các bạn thƣờng chỉ uống cà phê 2-4 lần/tháng, và có 51% các bạn đƣợc hảo sát cho rằng mỗi lần đến quán cà phê thì các bạn chỉ chi hoảng 20- 40 ngàn đồng (số liệu phân tích theo bảng 3 phụ lục trang 80). Điều này có thể cho thấy rằng yếu tố về giá thực sự có sức ảnh hƣởng đối với đối tƣợng mà nhóm hảo sát. Dựa trên ết luận này để quán điểm đƣa ra mức giá tùy thuộc vào từng loại thức uống sao cho phù hợp với chuỗi cửa truyền thống của Trung Nguyên, phù hợp với thị trƣờng cụ thể là đối thủ cạnh tranh, làm sao vẫn đảm bảo lợi nhuận cho quán điểm, để đƣợc giới trẻ chấp nhận

    Ngƣời mua có thể ra yêu cầu với công ty hay không tùy thuộc vào quyền lực tƣơng đối của họ với công ty. Theo Porter ngƣời mua có quyền lực nhất trong các trƣờng hợp sau :

    • Khi ngành cung cấp đƣợc tạo bởi nhiều công ty nhỏ và ngƣời mua là một số ít và lớn. Trƣờng hợp này cho phép ngƣời mua lấn át các công ty cung cấp
    • Khi ngƣời mua thực hiện mua sắm khối lƣợng lớn. Trong trƣờng hợp đó ngƣời mua có thể sử dụng quyền lực mua sắm nhƣ một đòn bẩy thƣơng lƣợng để giảm giá Đối với các quán điểm cà phê, các quán điểm nƣớc giải khát lớn, nhà hàng,… Có thể nói họ là những ngƣời mua sắm khối lƣợng lớn của Trung Nguyên nên công ty phải đề ra những chính sách chiết khấu hay đƣa ra mức giá phù hợp mà vẫn đảm bảo thƣơng hiệu của mình trên thị trƣờng Đặc biệt Trung Nguyên phải

    34

    kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các đối tác, đơn vị nhƣợng quyền của mình trong hơn 13 năm qua

    Nhƣ vậy để hạn chế các áp lực từ phía khách hàng, công ty phải xem xét lựa chọn của các nhóm khách hàng nhƣ một quyết định tối quan trọng. Công ty có thể cải thiện vị trí của mình bằng cách chọn lựa những khách hàng có ít quyền lực với họ nhất. Nói cách khác, đó là việc xây dựng chiến lƣợc lựa chọn khách hàng. Riêng với Trung Nguyên hiện tại đang lựa chọn chiến lƣợc đa dạng khách hàng, tức là Trung Nguyên có đủ sản phẩm phục vụ các đối tƣợng khác nhau. Các sản phẩm đa dạng về hƣơng vị, phong cách, hƣớng đến nhiều đối tƣợng, với mức giá đƣợc công khai trong các đơn vị nhƣợng quyền của Trung Nguyên. Không dừng lại ở việc tạo sự khác biệt mà còn phải luôn đảm bảo đƣợc chất lƣợng của sản phẩm, chất lƣợng của các dịch vụ của quán điểm.

    Giới trẻ có số lƣợng lớn nhƣng sức mua t và hông tập trung đối với các thức uống cà phê của Trung Nguyên hiện tại, bài học từ Starbucks:

    Giới trẻ có số lƣợng lớn, đ y là một phần nhỏ lý do để một hãng lớn nhƣ Starbucks chọn Việt Nam làm điểm đến trong chiến lƣợc kinh doanh của mình năm 2013 vừa qua. Vậy tại sao Trung Nguyên không tận dụng điều này hay tận dụng mà chƣa thực sự hiệu quả. Chƣa ể đến việc doanh nghiệp Việt có nhiều lợi thế mà các doanh nghiệp nƣớc ngoài không thể có.

    Theo lời nhận xét của chuyên gia Hoàng Tùng. Theo số liệu của WorldBank, năm 2011, thu nhập bình quân đầu ngƣời của Việt Nam đạt hơn 1,400 USD là quốc gia có thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp nhất trong số những thị trƣờng có sự xuất hiện của Starbucks. Dựa vào thu nhập và mức giá trung bình của Starbucks (80,000VND quy đổi theo giá 1 ly cà phê bán tại Indonesia) thìthu nhập trung bình một ngày của một ngƣời Việt Nam chƣa đủ để mua 1 cốc cà phê. Nhƣng ông lớn này đã định vị thị trƣờng ngƣời trƣởng thành thành thị có thu nhập và đi đến quyết định mở quán điểm đầu tiên ngay quận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Theo số liệu báo cáo năm 2011 của Cục thống kê TPHCM, thu nhập bình quân đầu ngƣời của thành phố lớn nhất Việt Nam là 3,000 USD/ngƣời Hơn nữa thị trƣờng TPHCM cũng rất tiềm năng với dân số gần 8 triệu ngƣời năm 2011, theo số liệu của Tổng cục Thống kê. Tại nƣớc Mỹ, nghiên cứu của một nhóm

    35

    tại trƣờng kinh doanh Harvard vào năm 2008 cho thấy Starbucks nhắm vào đối tƣợng trong độ tuổi 18 tới 24 (trong bài nghiên cứu này của chúng tôi xem nhóm khách hàng ở độ tuổi này là giới trẻ). Nhóm khách hàng này chiếm tới 61% lƣợng khách của Starbucks. Lý do đầu tiên mà nhóm khách hàng này nêu lên là do giá cả hợp lý. Với Việt Nam cũng nhƣ Indonesia, ông lớn này cho rằng nên quan tâm hơn đến những khách hàng có thu nhập ổn định trên 19 tuổi

    Tháp dân số Việt Nam năm 2011. Nguồn: Tổng cục thống kê.

    Nhìn vào tháp dân số 2011 ta thấy độ tuổi giới trẻ đang chiếm số đông trong tổng dân số Việt Nam. Thêm vào đó, thu nhập tại thị trƣờng Việt Nam ngày càng tăng, dân số trẻ dễ phù hợp với văn hóa mới cộng với thói quen sử dụng cà phê, đã đang vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Trung Nguyên bởi lẽ nhiều những thƣơng hiệu khác cũng nhận ra điều này và đang tiến cũng có những chiến lƣợc nhất định để tận dụng nó triệt để Dù trƣớc nay Trung Nguyên vẫn đang thực hiện đa dạng khách hàng, nhƣng gần nhƣ Trung Nguyên chƣa thực sự có một nƣớc đi nào dành riêng cho nhóm đối tƣợng hách hàng là giới trẻ Qua bài báo trên chúng ta thấy các hãng cà phê nƣớc ngoài đã đi vào tăm lý giới

    36

    trẻ Việt Nam, mong chiếm lĩnh húc thị trƣờng này, vậy Trung Nguyên tại sao lại phải bỏ qua, sau hi chiếm đƣợc húc thị trƣờng giới trẻ việc x m nhập vào húc thị trƣờng hác của các công ty nƣớc ngoài lại dể dàng hơn và dẩn tới cạnh tranh mạnh hơn với Trung Nguyên, nếu hông xác định lại vấn đề này về l u dai sẽ trở thành vấn đề nản giải của Trung Nguyên.

    • Sự khác biệt về sản phẩm so với đối thủ:

    Sở hữu công thức riêng biệt độc đáo: Nguyên liệu tốt nhất thế giới cộng công nghệ

    hàng đầu thêm bí quyết không thể sao chép và đam mê sống chết với cà phê, mỗi sản phẩm cà phê của Trung Nguyên là sự ết tinh từ đam mê sáng tạo không ngừng của các chuyên gia cà phê. Trung Nguyên đã nghiên cứu và phát triển 34 loại cà phê pha chế có hƣơng vị riêng biệt, tạo ra 9 loại mức độ hƣơng vị khác nhau cho sản phẩm của mình. Với nỗ lực của mình Trung Nguyên đã cho ra đời những sản phẩmcà phê thƣợng hạng nhƣ: cà phê chồn, một loại cà phê đắt nhất thế giới và cũng hiếm nhất thế giới để xuất

    hẩu sang các nƣớc phát triển. Các sản phẩm nhƣ sản phẩm cà phê hòa tan G7 đƣợc đầu tƣ ỹ lƣỡng từ cách đặt tên, bao bì sản phẩm, hệ thống quảng bá, … Với tham vọng chinh phục thị trƣờng 7 nƣớc phát triển. Thể hiện ở 3 dòng sản phẩm:

    • Sản phẩm phổ thông: Nhóm sản phẩm này gồm ba loại: Loại 1: Nâu – Sức sống,

    loại 2: I – Khát vọng, loại 3: S – Chinh phục.

    • Sản phẩm trung cấp: Gồm các sản phẩm: Passiona, Cà Phê Sáng Tạo, Gourmet Blent, House Blend, Cà Phê Chế Phin, Hạt Rang Xay…
    • Sản phẩm cao cấp: Gồm các sản phẩm: Weasel, Diamond Collection (Legendee, Classic Blend)

    Các sản phẩm cà phê hòa tan của Trung Nguyên không chỉ là những sản phẩm có

    giá trị tiêu dùng đơn thuần mà còn là minh chứng thể hiện khát vọng lớn, tƣ duy đột phá, sự sẵn sàng đối đầu và cạnh tranh trực tiếp với các thƣơng hiệu đến từ các công ty đa quốc gia bằng tinh thần sáng tạo của ngƣời Việt. Công nghệ hiện đại và duy nhất chỉ có trong quá trình sản xuất cà phê hòa tan của Trung Nguyên là hả năng chiết xuất độc đáo: chỉ lấy những phần tinh túy nhất chỉ có trong từng hạt cà phê để cho ra đời sản phẩm cà phê hòa tan với hƣơng vị khác biệt, đậm đặc và đầy quyến rũ. Chính những đặc biệt trên

    37

    đã và đang tạo nên sự khác biệt riêng cho cà phê hòa tan mà không một sản phẩm mà cà phê hòa tan nào trên thị trƣờng có đƣợc. Riêng trong dòng sản phẩm G7, khách hàng cũng đã thấy đƣợc sự đa dạng sản phẩm cà phê của Trung Nguyên.

    Đối với một quán điểm của Trung Nguyên hƣớng đến ngƣời tiêu dùng giới trẻ, sản phẩm phải khác những của hàng bình thƣờng khác: hƣơng vị sản phẩm đa dạng nhƣ tên của nó, có hòa tan, có rang xay, phù hợp với cả nam và nữ. Chất lƣợng sản phẩm phải đảm bảo, tránh để ảnh hƣởng đến uy tín của các quán điểm khác của công ty. Dựa trên những nền tảng về sự khác biệt sản phẩm mà Trung Nguyên đang có để tạo nên uy tín và sự ƣa thích trong khách hàng. Đối với giới trẻ mà nói, sự đa dạng trong hƣơng vị, sự mới mẻ, độc đáo có lẽ sẽ thu hút đƣợc tính tò mò, ƣa khám phá của họ. Chính vì vậy, sự đa dạng trong hệ thống sản phẩm cuả Trung Nguyên sẽ là nền tảng để quán điểm chúng tôi phát triển danh mục sản phẩm cho phù hợp. Đi kèm với những ly cà phê của quán điểm chúng tôi sẽ có thêm những món ăn đi kèm nhƣ bánh bích quy, bánh brioches (bánh ngọt nhiều bơ và trứng), hay bánh sừng bò (croissant),… có thể những điểm nhỏ này sẽ là điểm cuốn hút với giới trẻ nhƣ một sự khác biệt Dù cho có bất cứ sự khác biệt nào thì quán điểm chúng tôi sẽ luôn đảm bảo về chất lƣợng sản phẩm thức uống cho khách hàng cũng nhƣ đảm bảo làm tốt nhất có thể dịch vụ quán điểm.

    2.5.4.  Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành.

    Nescafe của Nestle là nhãn hiệu cà phê hòa tan hàng đầu trên thế giới xuất hiện trên thị trƣờng từ nhữung năm 1866 tại thụy sỹ. Bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam năm 1990, mỗi năm đơn vị này tại VN thu mua khoảng 50.000 tấn cà phê có chứng nhận bền vững tại Việt Nam. 70% sản phẩm của nhà máy mới sẽ phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, 30% còn lại xuất khẩu sang các nƣớc ASEAN và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng. Nestlé hiện chiếm hơn 45 thị phần cà phê hòa tan tại Việt Nam, có tiềm lực tài chính dồi dào, hoạt động tiếp thị mạnh mẽ vì vậy đã trở nên quen thuộc với hầu hết mọi ngƣời. Hiện tại, Nescafe có một nhà máy sản xuất hòa tan với công suất 1,000 tấn/năm cho phép công ty có khả năng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. (số liệu theo báo cáo tài chính Neslte 2012).

    38

    Vinacafe của công ty Cổ Phần cà phê Biên Hòa bắt đầu đi vào sản xuất từ năm 1979 và hiện tại là hãng cà phê chiếm thị phần cao tại Việt Nam. Đến năm 2013 đã đƣợc công nhận vào top 50 công ty kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam, và là một thƣơng hiệu mạnh của Việt Nam. Với nhà máy sản xuất cà phê hòa tan với công suất 3,000 tấn/năm Vinacafe đã trở thành doanh nghiệp lớn nhất về năng lực sản xuất và dẫn đầu về công nghệ sản xuất cà phê hòa tan.

    (Nguồn: Báo cáo tài chính của Vinacafe Biên Hòa)

    Vinamikcà phê của công ty Cổ Phần sữa Vinamik Việt Nam, hiện tại, Vinamik có một nhà máy với tổng vốn đầu tƣ gần 20 triệu USD, trên diện tích khuôn viên với 60,000 m2 tại Bình Dƣơng. Nhà máy có công suất 1.500 tấn/năm, đƣợc trang bị một dây chuyền sản xuất cà phê cực kì hiện đại ở mọi công đoạn. Mặc dù trƣớc đ y, ngƣời ta chỉ biết đến Vinamik là một công ty chuyên sản xuất sữa, nhƣng với tham vọng đa dạng hóa sản phẩm, Vinamik đã nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm cà phê hòa tan lần đầu tiên xuất hiện trên thị trƣờng vào tháng 7/2006. Với bí quyết riêng giúp giữ nguyên hƣơng vị đậm đà nhƣ cà phê truyền thống Việt Nam. Đồng thời Vinamik cà phê đã có một hệ thống

    39

    phân phối rộng hắp do sản phẩm sữa Vinamik đã xây dựng đƣợc trên thị trƣờng Việt Nam. Tuy ra đời sau Nescafe, Vinacafe và Trung Nguyên nhƣng với những nỗ lực không ngừng của mình thì trong thời gian không xa Vinamik có thể tìm ra chỗ đứng của mình trên thị trƣờng này.

    Nhìn chung tình hình các doanh nghiệp cà phê trong nƣớc: Sau giai đoạn tăng trƣởng nóng với hàng loạt thƣơng hiệu tham gia, thị trƣờng cà phê hòa tan Việt Nam đang dần gói gọn lại trong tay 3 ông lớn: Vinacafe Biên Hòa – Nestle – Trung Nguyên.

    Dẫn chứng về sự vƣợt bậc của Trung Nguyên đƣợc thể hiện qua việc Nescafe có những phản ứng rõ rệt trƣớc sự chuyển biến của Trung Nguyên. Với tâm lý của ẻ mạnh, đi trƣớc, sau khi chính thức vào thị trƣờng Việt Nam, thƣơng hiệu Nescafe đã nhanh chóng đánh bại vị trí độc tôn của Vinacafe để dẫn đầu. Với hẩu hiệu toàn cầu “Khởi đầu ngày mới”truyền thông rầm rộ, Nescafe đƣợc xem là ngƣời dẫn dắt, đem “hƣơng vị cà phê toàn cầu”giới thiệu rộng rãi cho ngƣời tiêu dùng Việt. Thế nhƣng, sự thay đổi cục diện thị trƣờng ngành cà phê Việt Nam đã phá vỡ giấc mơ nhanh chóng thôn tính thị trƣờng của những tập đoàn đa quốc gia. Ngay sau thời điểm thƣơng hiệu cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên ra đời với lời kêu gọi ủng hộ thƣơng hiệu nông sản Việt Nam, Nescafe buộc thay đổi slogan của mình, từ “Khởi đầu ngày mới”qua “100 cà phê Việt Nam”với chiến dịch truyền thông “Hƣơng vị Việt Nam hơn”. Đặc biệt, với phƣơng pháp “thử mù”(blind test) trong ngày đƣa ra nhãn hiệu G7 tại Dinh Thống Nhất (TP.HCM) cho

    ết quả 89% ngƣời tiêu dùng chọn G7 và 11% còn lại chọn Nescafe, đã hẳng định chất lƣợng của sản phẩm cà phê 100% Việt Nam đ ch thực. Việc Nescafe cho ra đời Nescafe Việt chỉ dành riêng cho thị trƣờng Việt Nam là sự iện chƣa từng có trong lịch sử phát triển của Nescafe . Đây là lần đầu tiên Nescafe phải tạo ra một sản phẩm riêng biệt để đáp ứng ngƣời tiêu dùng, cạnh tranh cùng thƣơng hiệu địa phƣơng. Điều này phần nào chứng tỏ sức ảnh hƣởng của Trung Nguyên lên 2 ông lớn trong làng cà phê việt này. Tuy hệ thống phân phối của Trung Nguyên không có gì đặc biệt khi vẫn sử dụng mạng lƣới phân phối truyền thống, và mức chiết hấu cao hay thấp phụ thuộc vào doanh số của các đại lý nhƣng cho đến nay về riêng cà phê hòa tan, ngay cả doanh nghiệp sừng sỏ nhất trong

    40

    ngành cà phê hòa tan là Nestlé cũng phải nhƣờng vị trí dẫn đầu thị trƣờng cà phê hòa tan tại Việt Nam cho Trung Nguyên và bị Việt hóa.

    Một số doanh nghiệp cà phê nổi tiếng khác: Highlands Coffee, Gloria Jean’s, hay The Coffee Bean, Starbucks, …. Kết quả một nghiên cứu thị trƣờng hảo sát ngƣời uống cà phê tại Việt Nam gần đ y về liên tƣởng hình ảnh thƣơng hiệu, Highland đƣợc xem là thƣơng hiệu cà phê năng động cho doanh nhân (100% ngƣời đƣợc hỏi), Coffee Bean có liên tƣởng là cà phê sang trọng dành cho giới trí thức (gần 90% ngƣời đƣợc hỏi). Trong khi đó Trung Nguyên tuy đã có những bƣớc đi đáng ghi nhận nhƣng vẫn phải tiếp tục đối mặt với một ông lớn cà phê của thế giới là Starbucks, lại cũng phải giải quyết những rắc rối xung quanh việc nhƣợng quyền, vấn đề chất lƣợng và định hình rõ đối tƣợng khách hàng. Về phần Highlands Coffee, năm 2011, Highlands Coffee bán lại 49% bộ phận kinh doanh ở Việt Nam cho Jollibee. Jollibee với kinh nghiệm và sức mạnh tài chính của một đại gia đồ ăn nhanh hàng đầu châu Á, từng đánh bại thƣơng hiệu lớn KFC tại sân nhà hoàn toàn đủ sức đối đầu các doanh nghiệp khác nhƣ Starbucks hay Trung Nguyên. Nhắc đến Gloria Jean’s là ta nhắc đến một phong cách cà phê rất “Úc”tại Hồ Chí Minh. Gloria Jean’s hiện đang hoạt động ở 25 nƣớc, với hơn 723 quán cà phê và phục vụ hơn 8.5 triệu khách mỗi ngày. Dù cho đế Việt Namtừ năm 2007, hãng cà phê này đã gặp nhiều bất cập nhƣng sƣ tồn tại và phát triển cho đến ngày nay của thƣơng hiệu này thật đáng để học hỏi. Coffee bean lại có một hƣớng đi riêng cho mình, họ không có những phản ứng mạnh mẽ nhƣ Trung Nguyên hay các thƣơng hiệu khác khi Starbucks bƣớc vào Việt Nam. Bởi họ luôn tự tin rằng thƣơng hiệu của mình đã thực sự quen thuộc đối với ngƣời dân Thành phố Hồ Chí Minh. Thƣơng hiệu cà phê này luôn có những chƣơng trình chăm sóc khách hàng đặc biệt. Để mang đến một hình ảnh thuần việt hơn trong mắt khách hàng dùng cà phê, Coffee bean đã thay đổi trang phục đồng bộ cho toàn bộ nhân viên, menu mới, mức giá hợp lý hơn. Điều đặc biệt của coffee bean là menu của học có phần đa dạng hơn vì có nhiều món ăn, chứ không chỉ dừng lại ở thức uống nhƣ cà phê. Điều này đem lại nhiều thích thú cho khách hàng. Về phần Starbucks, trƣớc khi vào Việt Nam thì ông lớn này đã là nguồn cảm hứng cho biết bao bài báo, bao nhiêu ông chủ cà phê khác, điều này cũng cho thấy sức ảnh hƣởng của thƣơng hiệu cà phê đƣợc đánh giá số 1 thế giới này. Bắt đầu

    41

    vào Việt Nam từ tháng 2/2013 với của hàng đầu tiên của mình, và doanh thu quán điểm này đã vƣợt chỉ tiêu (theo nhận định của đại diện Starbucks tại Việt Nam). Tuy đến quán điểm thứ 2 số lƣợng khách hàng không đạt nhƣ ý muốn nhƣng chính điều này đã thức tỉnh Starbucks để có những bƣớc đi chậm mà chắc sau này. Ngoài 4 ông lớn trên thì còn rất nhiều những thƣơng hiệu khác cũng đang không ngừng nỗ lực để lôi kéo khách hàng ủng hộ mình, tất cả họ đều là những đối thủ không đƣợc xem nhẹ của Trung Nguyên.

    Định luật cạnh tranh để tồn tại luôn đúng    ể cả trong bối cảnh ngày nay, đặc biệt

    trong kinh doanh quán điểm cà phê. Những quán điểm cà phê yếu kém về chất lƣợng, dịch vụ, thiếu các hoạt động huyến mãi đối với khách hàng sẽ mất lợi thế. Những quán điểm đắt đỏ về giá cả sẽ cũng nhƣ những quán điểm không biết tự đi tim khách hàng mà cứ chờ khách hàng tìm đến cũng sẽ mất lợi thế. Ngoài những tên tuổi lớn là đối thủ đối với Trung Nguyên, nhƣng với một quán điểm nhỏ thì đối thủ của họ còn rộng hơn hết, bao gồm cả các quán điểm cà phê lề đƣờng, trong hẻm. Có thể bạn nghĩ rằng thị trƣờng đã bão hòa nhƣng không, bạn có thể tìm một hoảng trống nhỏ trong phân khúc thị

    trƣờng hiện tại và lấp đầy chúng. Cũng không hẳn tìm cách để quá đặc biệt, khác lạ, nó sẽ lạ nhƣng nhanh chán. Quan trọng nhất là phải chú trọng chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, sau đó mới dồn hết lực cho sáng tạo mà khác biệt Luôn nắm bắt ịp thời đƣợc xu hƣớng thay đổi để có những chiến thuật trong kinh doanh phù hợp. Ví dụ lấy thông tin khách hàng để sau này đến ngày sinh nhật của họ có thể gửi tặng một món quà nhỏ xinh, đó cũng là một cách để cạnh tranh với các đối thủ

    2.5.5.  Sản phẩm thay thế

    Theo kinh tế học, Hàng hóa thay thế (hay còn gọi là sản phẩm thay thế) là hàng hóa có thể thay thế các loại hàng hóa khác tƣơng đƣơng về công dụng (hoặc tiêu thụ) khi có các điều iện thay đổi Hàng hóa thay thế có thể có chất lƣợng tốt hơn hoặc thấp hơn mặt hàng nó thay thế và đa số có mức giá rẻ hơn Sự tồn tại của các sản phẩm thay thế gần gũi biểu hiện một sự đe dọa cạnh tranh, làm giới hạn hả năng đặt giá cao và do đó giới hạn hả năng sinh lợi của nó. Tuy nhiên, nếu sản phẩm của công ty có ít sản phẩm thay thế gần gũi, và các yếu tố khác là bình thƣờng, công ty sẽ có cơ hội tăng giá và nhận đƣợc lợi nhuận tăng thêm. Kết quả là, chiến lƣợc của nó sẽ đƣợc thiết ế để giành lợi thế

    42

    cạnh tranh từ thực tế này. Cà phê là một thức uống đặc biệt, giúp tìm nguồn cảm hứng, tỉnh táo trong công việc, tuy nhiên ngày này uống cà phê dần trở thành giải khát và là thói quen, chúng ta có thể dựa vào điểm này để khai thác triệt để nhu cầu sử dụng của giới trẻ, hạn chế việc sử dụng các loại thức uống hác để th y thế

    2.6.     Phân tích nguồn lực của Trung Nguyên trong việc xây dựng quán điểm mới

    2.6.1.  Thế mạnh tài chính của công ty

    Vì việc lấy số liệu báo cáo tài chính của công ty gặp nhiều khó khăn và mục đ ch nghiên cứu đƣa ra một ý tƣởng về mô hình cà phê dành cho giới trẻ của Trung Nguyên không đi sâu vào việc lên ế hoạch tài chính chi tiết cho dự án mới này, nên chúng tôi không đi sâu vào phân tích tài chính về mặt số liệu trên báo cáo tài chính của công ty mà phân tích thông qua các dữ liệu thứ cấp thu thập đƣợc, các nhận định, đánh giá của chuyên gia và một số trang xã hội nổi tiếng khác, lấy đó làm cơ sở dự toán tài chính sơ lƣợc đƣa ra các quyết định cho việc xây dựng quán cà phê của công ty và phục vụ cho việc nghiên cứu.

    Trung Nguyênkhông chỉ chinh phục trên thị trƣờng cà phê phin Việt Namnhiều năm qua mà cònđáp ứng những khách hàng yêu thích cà phê hòa tan bằng nhiều sản phẩm, thành công nhất phải kể đến là dòng sản phẩm cà phê hòa ta G7. Trung Nguyên đã phải đầu tƣ cho một dây chuyền sản xuất cà phê hoà tan lên tới 10 triệu USD, công suất 200 tấn/năm Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, tổng giám đốc công ty Trung Nguyên cho biết: “công ty phải dồn tổng lực cho cuộc cạnh tranh, nhờ đó G7 đã chiếm một thị phần nội địa đáng ể về cà phê hòa tan. Nhƣng lớn hơn cái lợi kinh tế vì cà phê hòa tanTrung Nguyên chủ yếu xuất khẩu và qua đó G7 đã góp phần đáng ể vào phong trào ngƣời Việt dùng hàng Việt, nâng cao ý thức doanh nghiệp trẻ dám đƣơng đầu với các tập đoàn quốc tế ngay trên s n nhà”. Về nhãn hiệu cà phê, các hộ đƣợc điều tra tại Hà Nội và TP HCM đã cho biết về các nhãn hiệu cà phê chủ yếu mà họ mua bao gồm: Trung Nguyên, Highlands, Vinacafe, Nescafe, Nestle và các nhãn hiệu khác. Trong đó, cà phê nhãn hiệu Trung Nguyên đƣợc tiêu dùng nhiều nhất, chiếm khoảng 45% ở Hà Nội và khoảng 59% ở TP Hồ Chí Minh. Theo điều tra của Công ty cà phê Trung Nguyên đối với 2,000 khách hàng trong và ngoài quán cà phê thì trong số các loại đồ uống, cà phê đóng vai trò há quan trọng. Họ uống 7 lần/tuần.

    43

    Trong số các loại nƣớc uống tại quán, có tới 43% số hách đƣợc hỏi tới quán để uống cà phê.

    50

    45

    40

    35

    30

    25

    20

    15

    10

    5

    0

     Nha   Quan   Nha/Quan

    Nguồn: Công ty cà phê Trung Nguyên (2003)

    Về các loại cà phê đƣợc bán tại quán, trong 2004 hách hàng đƣợc hỏi thì có 71 thƣơng hiệu đƣợc nhắc đến đầu tiên. Trong đó thƣơng hiệu đƣợc khách hàng nhắc đến nhiều nhất, lặp lại nhiều nhất đứng đầu là cà phê Trung Nguyên (chiếm 80%), đứng thứ nhì là Nescafe chiếm 6%, đứng thứ ba là Vinacafe chiếm 2%. Những thƣơng hiệu cà phê vừa đƣợc nói ở trên là những thƣơng hiệu đƣợc biết đến hầu hết trên toàn quốc, do đó có số lƣợng khách hàng biết đến nhiều.

    44

    90

    80

    70

    60

    50

    40

    30

    20

    10

    0

    T.Nguyen Vina Nes Cafe BMT   Mehyco Me Trang
                   
      TPHCM Ha Noi Da NangCan Tho        
             
             
                   

    Nguồn: Công ty cà phê Trung Nguyên (2003)

    Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên ngày càng lớn mạnh vƣợt bậc, đang dẫn đầu thị trƣờng cà phê hòa tan nội địa, với 40% thị phần cho mặt hàng G7, đứng trƣớc cả 2 thƣơng hiệu có vốn ngoại là Nescafe (31%) và Vinacafe (26%), theo đánh giá công bố quý I/2012 bởi 2 công ty nghiên cứu thị trƣờng hàng đầu thế giới là Kantar Worldpanel và Nielsen Việt Nam. Vài con số nói lên lợi ích đáng ể từ nghề chế biến cà phê bột, cà phê hòa tan mà doanh nghiệp này đã đóng góp cho xã hội, nhƣ sau: Năm 2011, thu mua

    trên 100 nghìn tấn cà phê nhân, chế biến tiêu thụ nội địa 78%, xuất hẩu 22%, trả lƣơng cho 2,647 nhân viên, đóng thuế các loại trên 163 tỉ đồng

    Trong thời gian từ 12 – 19/12, một đoàn doanh nghiệp Singapore, trong đó có các nhà quản lý quỹ đầu tƣ quốc tế do Công ty VGG giới thiệu, đã đến TPHCM tìm hiểu năng lực một số doanh nghiệp Việt Nam nhằm chuẩn bị lộ trình đƣa lên sàn giao dịch chứng khoán tại Singapore. Đó là thông tin ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Tổng giám đốc Công ty cà phê Trung Nguyên vừa cho báo chí biết. Đoàn doanh nghiệp Singapore đã làm việc với Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam tại TPHCM, để xây dựng những chƣơng trình hành động cụ thể hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hả năng cạnh tranh sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng nhƣ hả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các quỹ đầu tƣ quốc tế và niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán. Công ty cổ phần

    45

    Trung Nguyên nằm trong số các doanh nghiệp này. Trung Nguyêncó 2 nhà máy, nhà máy Bình Dƣơng: khu công nghiệp Tân Đồng Hiệp A- Huyện Dĩ An-Bình Dƣơng với diện tích 30, 000 m2. Đây là nhà máy sản xuất cà phê nhãn hiệu G7 với công suất 3, 000 tấn/năm. Nhà máy Buôn Ma Thuột: Khu tiểu thủ công nghiệp Tân An, Phƣờng Tân An, Tp.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc với diện tích 50,000 m2. Đây là nhà máy chế biến cà phê rang xay có công suất 10,000 tấn/năm Với mức đầu tƣ trên 40 triệu USD.Hiện Trung Nguyên có hoảng 3,000 nhân viên, doanh thu năm 2012 đạt 200 triệu USD, tăng 32% so với năm 2011. Dự iến doanh thu năm 2013 sẽ tăng gấp đôi do nhu cầu cà phê đóng gói

    • các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, … tăng mạnh. Trung Nguyên đặt ra

    mục tiêu đạt doanh thu 1 tỷ USD vào năm 2016. Từ những điều trên ta có thể thấy rằng tiềm lực tài chính của công ty Trung Nguyên hiện nay rất mạnh, có hả năng đầu tƣ cao vào các quán điểm. Theo một thông tin mà chúng tôi tìm đƣợc nhƣ là một ví dụ cho thấy đầu tƣ quán điểm của Trung Nguyêngiai đoạn 2005-2008.

    Nguồn vốn đầu tƣ vào hệ thống quán điểm tại công ty CP cà phê Trung Nguyên

    STT NĂM/CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ 2005 2006 2007 2008
          7, 8,    
    1 Tổng vốn đầu tƣ Triệu đồng 834.09 570.67 18, 724.36 79, 667.23
    2 Tốc độ tăng liên hoàn %   9.4 118.47 325.47
          5, 6,    
    3 Vốn tự có Triệu đồng 569.15 362.34 12, 365.19 62, 356.65
    4 Tốc độ tăng liên hoàn %   14.24 94.35 404.29
    5 Vốn vay Triệu đồng   500 3, 200 10, 000
    6 Tốc độ tăng liên hoàn %     540 212.5
          2, 1,    
    7 Vốn huy động thêm Triệu đồng 264.94 176.02 1, 549.26 4, 762.43
    8 Tốc độ tăng liên hoàn %   -48.08 31.74 207.4
    9 Nguồn vốn  hác Triệu đồng   532.31 1, 627.91 2, 548.15
    10 Tốc độ tăng liên hoàn %     205.82 56.53

    Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Tổng số vốn của công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên vào hệ thống quán điểm trong những năm qua liên tục tăng và tăng với tốc độ nhanh và cao nếu nhƣ năm 2006 chỉ tăng 9.4% thì đến năm 2008 tốc độ tăng là 325.47%. Trong năm 2005 công ty bắt đầu xây

    46

    dựng quán điểm Trung Nguyên đầu tiên của mình do vậy mà lƣợng vốn đầu tƣ năm này ít nhƣng đến năm 2008, nhận thấy tiềm năng phát triển cũng nhƣ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc tăng do sự biến động không ngừng của thị trƣòng công ty đã tăng lƣợng vốn đầu tƣ của mình để phát triển thƣơng hiệu cũng nhƣ sản phẩm của mình tại các hệ thống quán và hiện nay hệ thống hơn 1,000 quán cà phê nhƣợng quyền trên cả nƣớc. Nguồn huy động vốn tại công ty cũng liên tục tăng và tăng với tốc độ nhanh và lớn nhƣ tốc độ tăng lƣợng vốn đầu tƣ. Ví dụ nhƣ nguồn vốn tự có của công ty năm 2006 tốc độ tăng nguồn vốn này là 14.24%, năm 2007 là 94.35%, nhƣng đến năm 2008 tốc độ tăng của nguồn vốn này là 404.29%. Cũng nhƣ nguồn vốn vay tín dụng nếu xét lƣợng tăng tuyệt đối từ nó vẫn tăng so với năm trƣớc, năm 2007 là 3, 200 triệu đồng đến năm 2008 là 10,000 triệu đồng. Bên cạnh đó nguồn vốn huy động thêm cũng tăng nhƣng năm 2006 nó lại giảm so với năm 2005 đó là vì bắt đầu từ năm 2006 công ty có thêm hai nguồn huy động vốn mới là vốn vay tín dụng và nguồn vốn khác để nhằm phân tán rủi ro cho nguồn vốn của mình và mặt khác giúp công ty có nhiều sự lựa chọn trong việc huy động vốn.

    Vậy với việc xây dựng quán cà phê mới dành cho giới trẻ Trung Nguyên cần xem xét, tính toán phù hợp trong nguồn vốn đầu tƣ vào quán điểm này. Hệ thống quán điểm cần xây dựng trong ế hoạch của mình, với nguồn lực tài chính mạnh mẽ của Trung Nguyên việc này là có thể trong hả năng của họ. Ngoài chi phí nhƣ những quán điểm trƣớc đ y, có thể giai đoạn đầu loại hình quán điểm này sẽ đẩy chi phí cao hơn do có sự khác biệt và mới mẻ trong thị hiếu của khác hàng mới. Nếu Trung Nguyên nhận ra hả năng sinh lợi mạnh mẽ và hấp dẫn của thị trƣờng này, có cách quan tâm khai thác hợp lý nguồn vốn bỏ ra thì có thể sẽ mang về nhiều hơn những gì mà họ dự đoán

    Để làm đƣợc công việc trên chúng ta hãy xem xét Trung Nguyên đã tiếp cận, huy động các nguồn vốn để xây xựng các quán điểm trƣớc đ y nhƣ thế nào? Hàng năm Trung Nguyên đã có những phƣơng án huy động vốn hả thi để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ của công ty. Nguồn huy động vốn của công ty chủ yếu từ vốn tự có, vốn vay, vốn huy động thêm và nguồn vốn khác. Cơ cấu các nguồn vốn từ 2005-2008 đƣợc thể hiện theo bảng sau:

    47

    Cơ cấu vốn đầu tƣ theo nguồn hình thành vốn

    STT NĂM/CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ 2005 2006 2007 2008
    1 Tổng vốn đầu tƣ % 100 100 100 100
    2 Vốn tự có % 71.09 74.23 66.04 78.27
    3 Vốn vay % 0 5.83 17.09 12.55
    4 Vốn huy động thêm % 28.91 13.72 8.27 5.98
    5 Nguồn vốn  hác % 0 6.21 8.69 3.2

    Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Nguồn vốn tự có: Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên sử dụng một tỷ trọng lớn vốn tự có của mình vào đầu tƣ phát triển hệ thống quán điểm. Nguồn vốn tự có của công ty thƣờng xuyên chiếm trên 70 % cơ cấu vốn Phần lớn nguồn vốn này để đầu tƣ vào các dự án, điều này cho thấy hả năng tự chủ về tài chính, hả năng đứng vững trên thị trƣòng và hả năng thực hiện các phƣơng án đầu tƣ hiệu quả mà không quá phụ thuộc vào thị trƣờng bên ngoài. Nguồn vốn tự có bao gồm vốn điều lệ và trích từ lợi nhuận giữ lại qua các năm tại các hệ thống quán đã hoạt động của công ty. Nguồn vốn vay tín dụng là nguồn vốn không thể thiếu để vận hành hoạt động kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào hiện nay. Nó có thể đáp ứng vốn trong ngắn hạn và dài hạn, có thể huy động đƣợc một lƣợng vốn lớn, tức thời. Trong năm 2005 công ty không sử dụng nguồn vốn này, nhƣng từ năm 2006 công ty đã huy động và sử dụng khá hiệu quả. Để làm đƣợc điều này cần phải chú ý đến cơ cấu vốn của công ty để đảm bảo sử dụng hợp lý, đúng mục đ ch, quản lý tốt dòng tiền bởi nó nhƣ con dao 2 lƣỡi. Một mặt có thể mang lại cho doanh nghiệp những hoản tiết iệm thuế do lãi vay đƣợc tính làm chi phí trả trƣớc khi tính lợi nhuận trƣớc thuế, mặt khác sử dụng nguồn vốn này cũng gây áp lực trả nợ cho công ty thậm chí làm mất hả năng thanh toán. Trong thời gian qua tỷ trọng vốn vay công ty có xu hƣớng giảm cụ thể năm 2008 giảm xuống còn 12.55%. Hiện nay tình hình tài chính biến động khá phức tạp, lãi suất tại các ngân hàng thay đổi liên tục lúc tăng, lúc giảm nên công ty đã hạn chế dùng nguồn vốn này để đầu tƣ. Nguồn vốn huy động thêm từ các thành viên: trên cơ sở tiềm lực tài chính cá nhân, các thành viên huy động vốn theo tiến độ thực hiện dự án. Đây là một lựa chọn huy động vốn khá mới mẻ của công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên. Nguồn vốn này thƣờng đƣợc huy động vào các năm mà dự án mới

    48

    đƣợc thực hiện Lúc này, nhu cầu về vốn của công ty thƣờng tăng cao, nguồn vốn tự có không đáp ứng ịp nhu cầu, trong khi vay tín dụng cho dự án chƣa biết ết quả ra sao gây

    ra rủi ro cao cho công ty. Việc huy động vốn từ các thành viên là một lựa chọn hữu hiệu để bù đắp lƣợng vốn thiếu hụt của công ty trong năm và tạo ra sự liên ết giữa công ty với các thành viên. Nguồn vốn khác: Đ y là nguồn vốn đƣợc trích từ nguồn vốn bổ sung của công ty. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn đầu tƣ vào hệ thống quán điểm của công ty nhƣng nó có những đóng góp nhất định trong việc huy động vốn cho nhu cầu đầu tƣ hàng năm

    Qua đ y ta thấy công ty có nhiều nguồn vốn và đƣợc huy động bằng các hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn trong xây dựng quán điểm. Với nguồn lực vững mạnh của mình, công ty sử dụng nguồn vốn tự có tăng tính ổn định và hả năng chống chịu các tác động bên ngoài. Đứng trƣớc một dự án mới công ty cần xem xét với tình hình kinh tế hiện nay, công ty có nên sử dụng quá nhiều vốn tự có của mình cho việc mở loại hình quán mới này hay không hay đƣa ra cấu trúc vốn mới hơn, phù hợp hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn trong việc chi ra hoảng đầu tƣ cao vào thị trƣờng chƣa hết chỗ này. Vậy để có vốn xây dựng quán điểm mới này Trung Nguyên nên xem xét có cần thêm hình thức thu hút vốn đầu tƣ khác hay không bởi sự hấp dẫn của loại hình quán mới đối với những khách hàng tiềm năng này có thể là lợi thế thu hút vốn đầu tƣ, vì vậy có thể tăng tính năng động của nguồn vốn cả đầu vào và đầu ra, đồng thời chia sẽ rủi ro đầu tƣ giúp tình hình tài chính linh động hơn trong nhiều trƣờng hợp khó hăn

    2.6.2.  Nhu cầu nhân lực phục vụ cho thị trƣờng mới

    Hiện nay, tập đoàn Trung Nguyên có hoảng 3, 000 nhân viên làm việc cho công ty cổ phần Trung Nguyên, công ty cổ phần thƣơng mại và dịch vụ G7 tại 3 văn phòng, 2 nhà máy và 5 chi nhánh trên toàn quốc cùng với công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) hoạt động tại Singapore. Ngoài ra, Trung Nguyên còn gián tiếp tạo công ăn việc làm cho hơn 15,000 lao động qua hệ thống 1,000 quán cà phê nhƣợng quyền trên cả nƣớc. Đội ngũ quản lý của tập đoàn Trung Nguyên hầu hết là những ngƣời trẻ, đƣợc đào tạo bài bản, cùng với các chuyên gia tƣ vấn có kinh nghiệm làm việc trong các tập đoàn nƣớc ngoài Với chiến lƣợc trở thành một tập đoàn kinh tế bao gồm 10 công ty thành

    49

    viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực: trồng, chế biến, xuất hẩu, chăn nuôi, truyền thông, bất động sản, … tập đoàn Trung Nguyên luôn cần bổ sung một đội ngũ nhân lực trẻ, năng động, tâm huyết và sáng tạo, sẵn sàng xây dựng Trung Nguyên thành một tập đoàn kinh tế hùng mạnh của Việt Nam. Đội ngũ nhân viên của tập đoàn Trung Nguyên luôn đƣợc tạo những điều iện làm việc tốt nhất để có thể học hỏi, phát huy hả năng và cống hiến với tinh thần “cam ết – trách nhiệm – danh dự”

    Trong mỗi hệ thống quán của Trung Nguyên nhân lực sẽ có sự thay đổi về nhân viênphục vụ tuỳ thuộc vào diện tích mỗi quán mở ra thì tổng số lƣợng sẽ thay đổi, nhƣng nhìn chung cơ cấu nhân sự mỗi quán đều phải theo một mực chuẩn nhƣ vậy. Với phƣơng châm tạo ra nhiều công ăn việc làm phát triển nghề nghiệp cho mọi ngƣời. Trung Nguyên đang ngày càng hẳng định rõ hơn vai trò của mình trong việc tạo công ăn việc làm cho rất nhiều đối tƣợng trong xã hội, từ những sinh viên mới ra trƣờng cấp bậc đại học, cao đẳng, trung cấp lẫn những nhân viên muốn tìm iếm một mục tiêu và thử thách mới hay

    cả những ngƣời chỉ mơi tốt nghiệp cấp 3 cũng có thể tìm một chỗ làm phù hợp với trìnhđộ của mình tại mỗi quán mà Trung Nguyên mở ra. Hoạt động đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên mang nhiều nội dung khác nhau, nhƣng nội dung chủ yếu mà công ty hƣớng tới là: đầu tƣ cho đào tạo nguồn nhân lực, đầu tƣ cho công tác tuyển dụng, đầu tƣ cho việc đảm bảo các phúc lợi cho ngƣời lao động và nâng cao đời sống của nhân viên. Trong giai đoạn 2005-2008 quy mô vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của công ty ngày càng gia tăng, đó là do sự mở rộng quy mô hệ thống quán của năm sau so với năm trƣớc, cùng với sự gia tăng diện tích hệ thống quán làm cho số lƣợng nhân viên phục vụ tăng lên do vậy chi phí bình quân cho phát triển nguồn nhân lực sẽ tăng qua các năm, thể hiện qua bảng số liệu sau:

    Vốn đầu tƣ phát triển nguồn nh n lực giai đoạn 2005-2008

    STTT NĂM/CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ 2005 2006 2007 2008
    1 Tổng vốn đầu tƣ Triệu đồng 7, 834.1 8,570.7 18, 724/36 79, 667
    2 VĐT phát triển NNL Triệu đồng 325.24 365.58 784.65 3406.5
    3 Lƣợng tăng tuyệt đối Triệu đồng   40.34 419.07 2621.8
    4 Tốc độ tăng định gốc %   12.4 141.25 947.38
                50          
      5   Tốc độ tăng liên hoàn   %     12.4   114.63  
                334.14
      6   Tỷ trọng so với VĐT   %   4.15 4.27   4.19 4.28

    Nguồn: Phòng nhân sự công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Qua bảng thống kê về vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2005-2008. Số liệu do phòng nhân sự công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên cung cấp thì lƣợng vốn đầu tƣ cho phát triển nguồn nhân lực, tại Trung Nguyên ngày càng tăng và tăng với tốc độ nhanh chóng. Tổng vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của công ty giai đoạn 2005-2008 là 4,881.96 triệu đồng, trong đó nhìn chung quy mô của năm sau cao hơn năm trƣớc từ 325.24 triệu đồng năm 2005 đến 3,406.49 triệu đồng năm 2008, có sự gia tăng lớn về lƣợng vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của công ty cho hệ thống quán nhƣ trên đó là do năm 2008 công ty mở hàng loạt các quán từ số lƣợng chỉ có một quán năm 2005 thì năm 2008 con số này đã lên tới 8 quán mở thêm mới Do đặc thù của loại hình kinh doanh này đó là bán sản phẩm trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng, tiếp xúc trực tiếp với tất cả ngƣời tiêu dùng từ khó tính đến uống cà phê chỉ đam mê nên công tác nhân viên phục vụ cho hệ thống quán luôn đƣợc công ty chú trọng bởi nó ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi ích hình ảnh công ty cũng nhƣ có còn thu thú khách hàng đến với quán nữa không một phần nhỏ không thể không quan tâm đó chính là các nhân viên chuyên nghiệp, đáp ứng và giải đáp nhu cầu của khách hàng một cách khéo léo. Bất kì một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đƣợc thì yếu tố con ngƣời phải đƣợc coi trọng và nguồn nhân lực của công ty là yếu tố sống còn để công ty có thể phát triển đƣợc hay không. Ngƣời lao động luôn là tài sản quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp để có thể duy trì và phát triển đƣợc bộ máy hoạt động của các quán điểm không phải là một vấn đề đơn giản, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động nhiệt tình với công việc. Nhận thức đƣợc rõ đƣợc vấn đề này, Trung Nguyên luôn coi nhân viên là nhân tố mang lại sự thành công cho công ty.

    Trong giai đoạn 2005-2008 khi bắt đầu xây dựng hệ thống quán cà phê cao cấp đầu tiên hay hệ thống quán điểm Trung Nguyên, công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên đã rất chú trọng và phát triển nó thành một hệ thống rộng hắp và có sự đầu tƣ ĩ lƣỡng

    51

    cho từng công trình, từng quán. Vốn đầu tƣ xây dựng quán luôn chiếm tỉ lệ vốn lớn nhất, cao nhất trong giai đoạn này là năm 2008 với 46, 429 triệu đồng, bên cạnh đó ta cũng có thể thấy vốn đầu tƣ mua sắm máy móc thiết bị và công nghệ cho hệ thống quán cũng chiếm một tỷ trọng khá cao và tăng với tốc độ cao. Tổng vốn đầu tƣ cho xây dựng và mua sắm máy móc thiếy bị cho sự vận hành của quán luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đầu tƣ vào hệ thống quán của công ty. Trong khi đó, vốn đầu tƣ cho phát triển nguồn nhân lực và hoạt động Marketing tăng đều đặn và tăng với tốc độ phù hợp với từng chiếm lƣợc phát triển của công ty. Đặc biệt do mô hình hoạt động kinh doanh của hệ thống quán, xây dựng nhằm tạo hình ảnh thƣơng hiệu Trung Nguyên trên thị trƣòng mà trong tổng vốn đầu tƣ vào hệ thống quán công ty phải trích phần không nhỏ trong thiết ế mô hình quán, với trung bình mỗi quán chiếm hoảng 300 triệu đồng. Tìm hiểu và phân tích sâu hơn, ta nghiên cứu cơ cấu vốn mà công ty đầu tƣ vào hệ thống quán điểm đƣợc thể hiện ở bảng sau đ y:

    Cơ cấu vốn đầu tƣ phát triển của công ty CP cà phê Trung Nguyên cho hệ thống quán giai đoạn 2005-2008

        ĐƠN        
    STT NĂM/CHỈ TIÊU VỊ 2005 2006 2007 2008
    1 Tổng vốn đầu tƣ % 100 100 100 100
    2 VĐT cho thiết  ế quán % 3.83 4.2 4.51 4.32
    3 VĐT cho x y dựng quán % 58.36 56.73 56.82 58.28
      VĐT mua sắm MMTB và Công          
    4 nghệ % 29.81 27.52 27.23 27.4
    5 VĐT cho phát triển NNL % 4.15 4.27 4.19 4.28
    6 VĐT cho hoạt động Mar eting % 3.85 7.29 7.25 5.73

    Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Qua phân tích tỷ trọng tổng vốn đầu tƣ có thể thấy tỉ lệ vốn cho nhân lực tại công ty còn chiếm tỷ một tỷ trọng vốn đầu tƣ khá khiêm tốn vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực chiếm hoảng 4% nhƣng điều này cũng dễ hiểu bởi những năm này là những năm đầu tiên công ty bắt đầu xây dựng hệ thống quán nên vốn đầu tƣ sẽ tập trung triển khai xây

    52

    dựng và mua sắm máy móc thiết bị, khi mà hệ thống quán đƣợc hoàn tất đi vào hoạt động thì lƣợng vốn đầu tƣ cho lĩnh vực trên sẽ gia tăng nhanh chóng và có sự đầu tƣ ĩ lƣỡng và hợp lý hơn. Đó là nhìn lại tình hình chung về nguồn vốn đầu tƣ vào nguồn nhân lực của công ty giai đoạn đầu xây dựng quán điểm. Nhƣng đến thời điểm này với sự trƣởng thành của mình và thƣơng hiệu trên thị trƣờng, đầu tƣ nguồn nhân lực của công ty là ở mức cao trong cơ cấu đầu tƣ vào các lĩnh vực. Với quan điểm mới này việc đầu tƣ vào thiết ế không gian quán thì việc đầu tƣ vào nhân lực là yêu cầu đòi hỏi để thành công trong thị trƣờng mà khách hàng vừa dể tính lại vửa khó tính này. Vậy cần nâng cao hơn nữa tỷ trọng vốn đầy tƣ phát triển nguồn nhân lực đối với quan điểm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem đến chất lƣợng tốt nhất với chi phí thấp nhất có thể, đặt biệt là sự ết hợp về số lƣợng và chất lƣợng của tập thể nhân viện trong loại hình quán này là cần thiết bởi tính chất đặc biệt của khách hàng giới trẻ hôm nay khác so với quá khá và khách hàng khác. Với mô hình quán mới yêu cầu về số lƣợng nhân viên nhiều hơn so các quán điểm cũ của Trung Nguyên là điều không thể tránh hỏi bởi quy mô về không gian và sự sẵn sàng của quán với lƣợng khách hành lớn là có thể. Việc đáp ứng tốt ban đầu này sẽ tạo tiền đề cho những quán điểm tƣơng tự mọc lên sau này là điều cần thiết. Nhân lực nó chính là nguồn sáng tạo ra các nguồn lực khác. Trình độ của nguồn nhân lựcthể hiện ở trình độ quản lý của ngƣời lãnh đạo, thể hiện sự am hiểu từng công việc củanh n viên công ty, thể hiện ở trình độ văn hoá ứng xử nơi làm việc của ngƣời lao động Trình độ nguồn nhân lực góp phần nâng cao lên hình ảnh của công ty, đáp ứng đƣợc nhucầu của thị trƣòng khi đó sẽ tăng đƣợc uy tín của công ty trên thị trƣờng tiêu thụ. Nhờmột phần đó công ty có thể mở rộng thị trƣờng, nâng cao hả năng cạnh trạnh của công ty so với các thủ khác trên thị trƣờng. Nhận thức rõ đƣợc tầm quan trọng của chất lƣợng nguồn nhân lực mà hàng năm công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên chi một lƣợng vốn lớn cho công tác tuyển dụng và đào tạo nhân lực của mình. Một trong những phân khúc khách hàng mà Trung Nguyên hƣớng tới là giới trẻ năng động, thích sự sáng tạo và tìm hiếu văn hoá cà phê, do vậy mà trong việc tuyển dụng nhân viên cho các hệ thống quán công ty thƣờng tuyển những ngƣời trẻ, đầy nhiệt huyết với công ty, bởi vì họ sẽ hiếu đƣợc khách hàng trẻ cần gì, muốn gì, và dễ dàng nắm bắt đƣợc xu hƣớng của giới trẻ bây trẻ. Nhƣng

    53

    bên cạnh đó khi tuyển đƣợc ngƣời trẻ làm việc công ty có thể khai thác đƣợc tính sáng tạo lớn ở lứa tuổi này. Sáng tạo đó là thứ mà chúng ta thấy ở mỗi ly cà phê Trung Nguyên, ở cách làm việc của mỗi nhân viên Trung Nguyên. Nhƣng tuyển ngƣời trẻ thƣờng không có kinh nghiệm trong quá trình làm việc và có sự nóng vội sơ suất, do vậy hàng năm sau công tác tuyển dụng những nhân viên cho từng hệ thống quán thì công ty phải giành một lƣợng vốn đầu tƣ cho công việc đào tạo nhân viên của mình. Công ty sẽ có một chƣơng trình tổng hợp dành cho tất cả nhân viên mới. Chƣơng trình sẽ giới thiệu về lịch sử công ty, văn hoá tại nơi làm việc, các chế độ chính sách, chiến lƣợc, các công cụ phát triển và nguyên tắc, trình tự làm việc tại hệ thống quán. Các nhân viên từng quán sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của tổng quản lý và dƣới sự giám sát của trợ lý hệ thống quán. Đặc thù của hệ thống quán là kinh doanh sản phẩm cho nên cơ cấu nhân viên cũng khác nhau, có những vị trí cần phải có trình độ đại học, có kinh nghiêm nhƣ tổng quản lý và trợ lý hệ thống quán. Nhƣng có những vị trí nhƣ trƣởng ca, thu ngân chỉ cần cao đẳng hay trung cấp Hay các vị trí nhƣ trƣởng chế biến, đầu bếp lại cần những công nhân có tay nghề, đƣợc đào tạo. Nhƣng còn các vị trí nhƣ Nhân viên phục vụ chỉ cần tốt nghiệp cấp 3. Do tính chất của từng công việc từng vị trí khác nhau nên việc tuyển dụng cũng nhƣ đào tạo của Trung Nguyên rất đa dạng. Ta có thể thấy cơ cấu lao động tại hệ thống 12 quán điểm của công ty cổ phần Trung Nguyên nhƣ sau:

    Cơ cấu nh n sự hệ thống quán 2005-2008

      2005   2006 2007   2008  
    CHỈ TIÊU Số     Số   Số     Số    
      ngƣời   % ngƣời % ngƣời   % ngƣời   %
    Đại học 7   17.95 10 19.61 24   19.05 105   19.52
    Cao đẳng-Trung cấp 27   69.23 34 66.67 81   64.28 344   63.94
    Lao động  hác 5   12.82 7 13.72 21   16.67 89   16.54
    Tổng 39   100 51 100 126   100 538   100

    Nguồn: Phòng hành chính công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Theo bảng số liệu trên đội ngũ lao động tại hệ thống quán Trung Nguyên đa phần là trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm khoảng trên 60 cơ cấu lao động tại các quán. Các

    54

    nhân viên của công ty đƣợc đào tạo theo nhiều hình thức nhƣng hình thức đào tạo trực

    tiếp thƣờng là đào tạo tại chỗ, riêng bên quản lý hệ thống quán và trợ lý sẽ đƣợc đi đào

    tạo thực tế, đƣa họ vào các quán đã hoạt động sẵn trong TP HCM để có thể nắm bắt đƣợc

    quy luật hoạt động của quán. Công ty luôn chú trọng đến các chƣơng trình đào tạo và

    • ng cao trình độ học vấn của đội ngũ nh n lực bởi vì công ty luôn đòi hỏi cao về khả năng sáng tạo và kỹ năng giao tiếp của mọi nhân viên và họ chỉ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ khi họ có một kiến thức vững chắc và luôn cập nhật kiến thức của mình.

    Việc tuyển dụng nhân viên trong loại hình quán này cũng không khác so với công tác tuyển dụng cho các quán điểm trƣớc đ y. Tuy nhiên việc đào tạo ban đầu những nhân viên này sẽ khó hăn hơn so với những quán điểm đã hoạt động lâu năm hiện nay của

    công ty, bởi sự mới lạ về quán, văn hóa quán và văn hóa khách hàng mới chƣa hình thành

    và cố định rõ nét. Đôi khi việc tuyển dụng đầu vào cũng là hắc khe ban đầu cao hơn đối với những ngƣời trẻ để đảm bảo việc đào tạo, chất lƣợng phục vụvà sự dụng nhanh nguồn nhân lực mới, tiết iệm chi phí hơn. Hoặc công ty có thể tuyển mới và phân bớt phần lực lƣợng những nhân viên từ quán cũ và đào tạo lại trong quán mới tuy nhiên việc này có thể sinh ra một số vấn đề nhƣ sự hòa nhập, thói quen, mâu thuẫn trong công tác quản lý,… trong môi trƣờng này. Tại các quán cà phê Trung Nguyên hiện nay phần lớn sử dụng lao động là trình độ cấp 3 hoặc trung cấp nên khi phục vụ khách hàng nƣớc ngoài thì trình độ sử dụng ngoại ngữ không có, gây rất nhiều khó hăn cho công ty, cùng với đó phát triển các ĩ năng mềm nhƣ giao tiếp, ứng xử còn kém, do vậymà công ty hàng năm vẫn phải tiêu tốn rất nhiều tiền để đào tạo lại nguồn nhân lực này vì vậy yêu cầu trong cơ cấu nhân viên, cần có sẵn lực lƣợng nhân viên có trình độ ngoại ngữ để sẳn sàng phục vụ khách hàng là giới trẻ nƣớc ngoài và một số chƣơng trình giao lƣu tiếng anh với bạn trẻ trong nƣớc cũng là nhu cầu đang nổi trội hiện nay.

    2.6.3.  Tổ chức chiến lƣợc tiếp thị-kinh doanh-bộ phận kinh doanh

    • Chiến lƣợc giới thiệu quảng bá về quán điểm mới

    Quán điểm là quán điểm kinh doanh một mặt hàng hẹp nhƣng rất chuyên sâu, quy

    mô quán điểm ở mức trung bình, đội ngũ nhân viên bán hàng thƣờng đƣợc đào tạo khá chuyên nghiệp với những phong cách nhất định phù hợp với từng ngành hàng. Là điểm

    55

    đến ăn uống vui chơi của những ngƣời quan tâm và có nhu cầu tới các sản phẩm dịch vụ của quán điểm

    Tên quán điểm là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc đƣợc, là thƣơng hiệu gắn liền với sự thành công trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ: T&T coffee, … Dấu hiệu của nhãn hiệu bao gồm biểu tƣợng, hình vẽ, màu sắc hay iểu chữ đặc thù, … là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết đƣợc nhƣng không thể đọc đƣợc. Bảng hiệu của công ty là một trong những biểu tƣợng quan trọng nhất mà doanh nghiệp nói về lĩnh vực hoạt động của mình, trên mỗi bảng hiệu thƣờng có logo công ty để tiện cho việc nhận dạng thƣơng hiệu. Nhìn chung, vật liệu làm bảng hiệu quảng cáo hiện nay rất đa dạng. Những ngƣời làm bảng hiệu thƣờng tách riêng các yêu cầu về chữ trên bảng hiệu và các yêu cầu về vật liệu nền. Vật liệu thông dụng hiện nay : Sắt, alumiun, mica, đồng, inox, gỗ, PP, Hiflex silk, …

    • Chiến lƣợc thu hút khách hàng mục tiêu của quán điểm

    Để tồn tại và phát triển lâu dài thì quán điểm cần có chiến lƣợc Marketing về các

    mảng khác nhau để thu hút và lôi kéo khách hàng vì mỗi mảng đều có những giá trị và hiệu quả nhất định Giới trẻ là nhóm khách hàng có tƣ duy sáng tạo, thích khám phá, có nhu cầu bộc lộ cá tính, phong cách qua sự lựa chọn thức uống. Vì vậy, tạo ra sự khác biệt để đem lại sự hài lòng cho khách hàng là điều mà quán điểm cần để thu hút, giữ chân khách hàng và cạnh tranh với đối thủ của mình. Nhóm nghiên cứu xin đƣa ra một số mảng khác nhau để tạo nên sự thành công lâu dài cho quán điểm:

    Về dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của nguời tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về ết quả dịch vụ đó. Chất lƣợng dịch vụ bao gồm bốn thành phần sau: chất lƣợng sản phẩm, hả năng phục vụ của nhân viên, cách trƣng bày sản phẩm, mức độ tin cậy và an toàn. Ta xét mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ của quán, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng đối với quán điểm cà phê.

    Về sản phẩm, yêu cầu về chất lƣợng sản phẩm ở đối tƣợng giới trẻ là khá cao, bao gồm chất lƣợng thơm ngon, hƣơng vị khó quên, đặc điểm  iểu dáng ấn tƣợng, với thiết ế sang trọng, sạch sẽ đẹp mắt, … Vì vậy quán điểm cần thƣờng xuyên cập nhật sản

    56

    phẩm có chất lƣợng nhằm gia tăng sự hài lòng của khách hàng. Giá trị mà sản phẩm mang lại cho khách hàng có thật sự đáp ứng yêu cầu của họ Không chỉ vậy, khách hàng còn quan tâm đến danh tiếng của thƣơng hiệu sản phẩm Ƣu thế đặc biệt của sản phẩm tạo nên sự khác biệt của quán so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng của mình. Ngoài ra, còn tìm hiểu về những sản phẩm của đối thủ để nắm rõ những ƣu thế cạnh tranh của sản phẩm của quán, từ đó giới thiệu cho khách hàng về những giá trị sản phẩm một cách hiệu quả nhất. Tìm hiểu ý iến hay tiến hành hảo sát khách hàng về những sản phẩm của quán đã đáp ứng đƣợc nhu cầu của họ chƣa, để từ đó có chiến lƣợc phát triển sản phẩm phù hợp với quán. Sản phẩm bao hàm những yếu tố vật chất và phi vật chất, là tất cả những gì có thể thỏa mãn nhu cầu hay ƣớc muốn đƣợc đƣa ra với mục đ ch để khách hàng mua và sử dụng. Sản phẩm của cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ sẽ bao gồm hai sản phẩm chính đó là sản phẩm mang giá trị cốt lõi và sản phẩm mang giá trị hiện thực. Sản phẩm mang giá trị cốt lõi nhiều khi ngƣời tiêu dùng không biết đến, ví dụ cà phê chứa nhiều chất chống oxy hóa có thể ngăn chặn quá trình hƣu hại tế bào và các loại bệnh tim mạch, ung thƣ, giảm c n… Sản phẩm mang giá trị hiện thực là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng, các đặc tính nhƣ mẫu, bao bì, iểu dáng, …

    Theo hảo sát của nhóm nghiên cứu, thì trong 165 ngƣời đƣợc hảo sát uống cà phê Trung Nguyên thì ngƣời hảo sát quan tâm đến sản phẩm của cà phê Trung Nguyên nhƣ sau: 25.5% mẫu mã sản phẩm, 33.9% theo giá, 30.3% iểu dáng, 14.5% chất lƣợng…(số liệu phân tích bảng 5, 6, 7, 8, 9, 10 phụ lục trang 81, 82). Từ đó ta thấy, khách hàng ít quan tâm đến chất lƣợng mà quan tâm nhiều hơn đến giá và iểu dáng của sản phẩm. Vì giới trẻ là những ngƣời năng động, trẻ trung, thích những sản phẩm với mẫu mã tốt, dễ chấp nhận nếu giá cả phải chăng, hợp với túi tiền vì có 32.73% ngƣời thu nhập <1,500,000 VND và 47.88% ngƣời có thu nhập trong hoảng 1,500,000-3,000,000 VND

    Thêm vào đó, cần xây dựng mối thiện cảm với khách hàng vì thái độ và hành vi của nhân viên phục vụ ảnh hƣởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ của quán điểm Khách hàng dễ chấp nhận, thỏa mãn với sản phẩm và những nhân

    57

    viên mà họ có thiện cảm đồng nghĩa họ sẽ có thể trung thành với quán điểm lâu dài, là cơ sở cho mức độ tin tƣởng và an toàn của quán điểm

    Nhƣ vậy, có thể thấy có nhiều yếu tố góp phần vào sự giải thích mức độ thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng, việc chất lƣợng dịch vụ tốt rất quan trọng trong việc phát triển quán điểm, đƣa sản phẩm tới gần hơn với ngƣời tiêu dùng hơn, quán điểm cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh của mình.

    Đội ngũ nhân viên phải xây dựng mối thiện cảm với khách hàng vì khách hàng dễ chấp nhận và hài lòng với những ngƣời mà họ có thiện cảm hơn. Với thời đại công nghệ hiện nay, giới trẻ có xu hƣớng sử dụng máy tính xách tay lên mạng và ít quan tâm tới những chƣơng trình truyền hình, quán có thể tận dụng ƣu điểm này để thực hiện đẩy mạnh quảng cáo qua mạng thông qua một Website quảng cáo. Các quán có thể đặt banner, sản phẩm lên các trang báo điện tử uy tín. Sử dụng các trang mạng để truyền thông rất hiệu quả nhƣ: Facebook, ZingMe, … Tuy nhiên cũng cần tránh đƣa mẫu quảng cáo của quán lên các trang không uy tín để tránh giảm lòng tin ngƣời đọc

    Quảng cáo báo chí là loại hình lâu đời nhất so với các loại hình quảng cáo hiện nay nhƣng vẫn đƣợc tin dùng nhiều. Tuy đối tƣợng khách hàng giới trẻ rất ít khi đọc báo truyền thống và thay vào đó là đọc các trang báo mạng điện tử nhƣng loại hình này vẫn có những ƣu điểm mà quán nên tận dụng là các mẫu quảng cáo của bạn sẽ đƣợc chính ngƣời tiêu dùng lƣu trữ, truyền tai nhau mở rộng phạm vi quảng bá với chi phí tƣơng đối thấp. Tờ rơi cũng là hình thức phù hợp với các quán vừa thành lập, có nền tảng tài chính chƣa vững mạnh Ƣu điểm của loại hình này là có mức chi phí tƣơng đối thấp và dễ tiếp cận với sinh viên hơn khi tổ chức phát tờ rơi tại các cổng trƣờng đại học cao đẳng… nên hình thức này có phần phù hợp hơn so với 2 hình thức trên. Tuy vậy, nhiều ngƣời cầm tờ rơi trên tay thƣờng sẽ xem sơ nội dung sau đó thẳng tay ném vào sọt rác. Có 1 số ít ngƣời quan tâm sẽ lƣu lại nhƣng không ai dám đảm bảo rằng về nhà họ sẽ nhớ tới nó.

    Mar eting dƣới hình thức sử dụng ngƣời nổi tiếng: Sự quảng bá của ngƣời nổi tiếng có thể xây dựng mối quan hệ sâu sắc và lâu dài. Tuy nhiên, hình thức này có thể ẩn chứa nhiều rủi ro khi nhân vật nổi tiếng d nh vào scandal hay hông đƣợc giới trẻ yêu thích nữa.

    58

    Tổ chức sự iện: loại hình này đƣợc xem là mang lại hiệu quả nhất đối với quán khi muốn khách hàng tới quán mình. Tuy nhiên các doanh nghiệp phải lƣu ý đến thời

    gian tổ chức sự iện vì điều này ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả đem lại Hình thức tổ chức sự iện đƣợc các quán ƣa chuộng hiện nay. Nhƣ đã đề cập, nhóm lựa chọn doanh nhân thành đạt hay những diễn giả nổi tiếng đƣợc giới trẻ biết đến và yêu thích để tổ chức những buổi giao lƣu, trao đổi theo chủ đề tại quán. Về lịch trình sẽ đƣợc thông báo trực tiếp tại quán và trên tất cả các kênh thông tin còn lại của quán.

    Một số chƣơng trình hoạt động của quán để thu hút giới trẻ: Quay số may mắn đầu tháng, khách hàng may mắn sẽ đƣợc miễn phí 2 ly cà phê Trung Nguyên tự chọn Giảm giá 15% cho những hóa đơn lớn hơn 200 ngàn đồng Phát thẻ hách hàng miễn phí và tích điểm cho mỗi lần đến quán. Số điểm cao sẽ nhận đƣợc phần trăm giảm giá cao hơn. Tổ chức các sự iện theo tháng, theo chủ đề

    2.7.     Mô hình quán điểm cà phê dành cho giới trẻ

    2.7.1.  Địa điểm xây dựng quán điểm

    Có một địa điểm tốt chiếm tới 40% sự thành công của quán cà phê. Các tiêu chí lựa chọn địa điểm để xây dựng của hàng cà phê cho giới trẻ:

    • Địa điểm yên tĩnh
    • Không gian xung quanh gần trung tâm thƣơng mại hay chợ, siêu thị, nhà sách, …
    • Quán có một trệt, hai lầu. Mong muốn tìm đƣợc một mặt bằng có diện tích: chiều rộng từ 4m-6m, chiều dài từ 14m-18m, tƣơng đƣơng với diện tích này, mỗi lầu sẽ có thiết ế riêng.
    • Giá thuê phù hợp với chi ph mà Trung Nguyên t nh toán, nhƣng nên chọn những địa điểm có cơ sở vật chất sẵn để hạn chế chi ph xây dựng, sữa chữa, trang tr …

    Lý do chọn các chỉ tiêu trên:

    –      Trong 136 ngƣời tham gia      hảo sát có 64         ngƣời tham gia chon nơi yên tĩnh

    trong hẻm, 21 3 chọn gần đƣờng lớn và 12 5 gần các trung tâm, ngoài ra thực tế cho thấy đa số các quán cà phê hiện nay đều mở trong các hẻm hay đƣờng nhỏ, việc giới trẻ đến đ y thƣởng thức đã trở thành thói quen, chỉ cần yêu cầu khu an ninh, có chỗ để xe và sạch sẽ (số liệu phân tích bảng 38 phụ lục trang 93).

    59

    • Việc gần các trung t m thƣơng mại, nhà sách, hu d n cƣ… giúp cho quán có cơ hội tiếp cận với hách hàng cao hơn, đồng thời việc thu hút, tìm iếm hách hàng

    cũng dễ dàng do đ y là những hu vực thƣờng tập trung nhiều thành phần giới trẻ – Việc lựa chọn diện t ch và ƣớc lƣợng số lƣợng hách để đảm bảo bù đắp đƣợc chi

    ph quán, phù hợp với thực tế một số quán cà phê bình thƣờng hiện này cũng có hả năng phục vụ tối đa hoảng 100-150 ngƣời cho một lƣợt khách.

    • Chọn giá thuê tùy theo việc nghiên cứu của Trung Nguyên sao cho phù hợp với mục tiêu mong muốn của họ, nhƣng trong nghiên cứu của chúng tôi mong muốn

    đem lại lợi  ch cho cả ngƣời bán và ngƣời mua ở góc độ  inh tế và văn hóa

    Từ những vấn đề trên, nhóm đề xuất nghiên cứu và xây dựng cửa hàng ở các quận 10, quận 3, quận 5 do có nhiều địa điểm có thể đáp ứng đƣợc các tiêu ch trên. Ngoài ra

    • y là hu vực trung t m giao thƣơng trong thành phố, tập trung các tuyến giao thông quan trọng, cũng nhƣ các trƣờng đại học lớn. Tập trung nhiều giới trẻ học tập, sinh sống,

    làm việc tại những quận này và các quận lân cận. Tuy nhiên cần c n nhắc việc x y dựng ngay bên trong các quận hay xung quoanh những quận này cũng là giải pháp thây thế, đảm bảo đáp ứng yêu cầu và tối thiểu chi ph x y dựng cửa hàng

    2.7.2.  Bố cục quán điểm

    Dựa trên ết quả hảo sát của nhóm và thực tiễn về nhu cầu, sở thích giới trẻ hiện nay, chúng tôi đƣa ra phƣơng án xây dựng quán điểm với 4 không gian đầy sáng tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của giới trẻ ngày nay đồng thời mang hƣơng vị cà phê Việt đến cho giới trẻ một cách gần gũi, dễ tiếp nhận và phù hợp với thực trạng Việt Nam ngày nay.

    Do mô hình chia làm nhiều không gian nên việc chọn địa điểm rộng và làm chi phí tăng là điều không thể tránh hỏi trong giai đoạn đầu tƣ ban đầu vào loại hình quán điểm này. Nếu dự toán chi phí là cao thì chúng ta có thể phải xem qua dự toán về doanh thu và lợi nhuận bên dƣới để có thể thấy đƣợc đ y là dự án hả thi của mô hình.

    Với 4 không gian bao gồm: không gian mở hiện đại và sôi động; không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng; không gian cho hội họp, công việc, học tập; cuối cùng là không gian cho phong cách, cá tính, độc đáo và sáng tạo

        60  
    Đối với không gian mở hiện đại và sôi động: Đ y là  hu vực rộng, tập trung thu
      hút nhiều thành phần giới trẻ, sôi động và náo nhiệt không thể nào tránh khỏi tiếng
      ồn vì vậy hông gian này nên đƣợc bố trí riêng phần tầng trệt bên dƣới quán và
      ngăn cách riêng với những không gian còn lại một cách  ĩ lƣỡng và tránh gây ra
      tác động với khu vực bên ngoài. Trong không gian này bạn hay bạn bè bạn sẽ cùng
      hòa vào hông  h  vui chơi, trò chuyện, tán gẫu theo nhóm… hả năng phục vụ
      tối đa cho tầng trệt ƣớc chừng khoảng 50 ngƣời, diện tích khu vực này đƣợc chúng
      tôi đánh giá là rộng nhất do thực tế giới trẻ đa phần tập trung số đông vào  hông
      gian sôi động, vui nhộn này, điều đó còn đƣợc thể hiện thông qua kết quả khảo sát
      trong 136 ngƣời tham gia khảo sát thì có 48 5   ngƣời chọn  hông gian này (số
      liệu bảng 36 phụ lục trang 92).  
    Không gian cho phong cách, cá tính, độc đáo và sáng tạo, đ y là hông gian tạo ra
      những thứ mới lạ. Tại đ y giới trẻ đƣợc tha hồ thể hiện phong cách, cá tính của
      mình bằng việc hòanhập vào không gian trang trí kiểu 3D với những tấm gƣơng
      lồi, lõm, …  hông những thế tại đ y giới trẻ có thể tự sáng tạo pha chế thức uống

    cà phêkết hợp nguyên liệu hác đƣợc chuẩn bị sẵn, ngoài ra các bạn còn đƣợc ngƣời hƣớng dẫn giúp để chắc rằngthức uống mà họ tạo ra là của riêng họ Đây là khu vực tạo ra tiếng ồn đáng ể nên với sự cá tính và sáng tạo của giới trẻ nó chiếm gần hết diện tích lầu một. Tại lầu một là khu vực pha chế sao cho đảm bảo sự liên thông liền mạch giữa tầng trệt và lầu hai, làm cho dịch vụ đến với khách hàng là phù hợp nhất. Lầu 2 có thể phục vụ tối đa 30 ngƣời cho một lƣợt khách.

    • Không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng và không gian cho hội họp, công việc, học tập. Cuối cùng là hai không gian không thể thiếu trong vấn đề đáp ứng nhu cầu của giới trẻ ngày nay, chúng đƣợc bố trí tầng cao nhất, bố trí hai không

    gian đối diện nhau qua hành lang ngắn và chia hai khu vực trên cùng một tầng với diện tích bằng nhau bởi chúng có chung một số đặc điểm về không gian và trang trí nên trong quá trình hoạt động, nếu xảy ra sự quá tải của một trong hai hông gian này thì có thể dùng không gian còn lại để phục vụ hách cũng có thể thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Với hông gian thƣ giãn, hò hẹn thơ mộng họ có thể thả

    61

    mình vào bản nhạc, giấc ngủ hay tâm sự mà khó có sự làm phiền nào xảy ra xung quanh. Còn nếu họ đang ở không gian cho hội họp, công việc, học tập thì đòi hỏi sự tập trung cao độ và nghiêm túc là điều hiển nhiên sẽ đƣợc tạo ra trong không gian này, ngoài ra chúng tôitạo ra một số tiện nghi phục vụ họ trong nhu cầu trên. Toàn bộ không gian trên lầu hai này có thể phục vụ đƣợc tối đa hoảng 40 ngƣời cho một lƣợt khách.

    2.7.3.  Trang trí nội thất của quán điểm

    Trong giai đoạn 2005-2008 công ty đã tiến hành đƣa 12 quán điểm Trung Nguyên vào hoạt động trên thị trƣờng, từ năm 2007 với chiến lựơc nhằm phát triển cà phê trong nƣớc công ty đã cho lắp ráp hệ thống pha cà phê Cappuchino tại mỗi hệ thống quán, cùng với nó là cho mua sắm hàng loạt các thiết bị vật dụng khác phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong kinh doanh cà phê. Dƣới đ y là danh sách chi tiết máy móc thiết bị, vật dụng, thiết bị mà bất kì quán nào củaTrung Nguyên cũng phải có.

    Danh sách máy móc thiết bị cho quán điểm Trung Nguyên

          Đơn Số    
      Thiết bị cần dùng vị lƣợng Đơn giá Thành tiền
    Phòng trƣng bày và điều hành        
                216, 000,
    1 Máy lạnh loại 1 5HP Bộ 24 9, 000, 000 000
    2 Bồn rửa tay Inox cho pha chế đối chứng Bộ 12 500, 000 6, 000, 000
      ệ trƣng bày sản phẩm, bàn ph  chế đối     12, 000, 144, 000,
    3 chứng   Bộ 12 000 000
      Cửa đi, Khung kính, hình ảnh, hạt cà phê        
    4 mặt tiền   Bộ 24 3, 000, 000 72, 000, 000
      Khung nh hình hạt hạt cà phê đầu phòng        
    5 trƣng bày Bộ 12 800, 000 9, 600, 000
    6 Máy xịt phòng dùng mùi cà phê Bộ 12 450, 000 5, 400, 000
    7 Bình chữa cháy Bộ 24 800, 000 19, 200, 000
              15, 000, 180, 000,
    8 Thiết bị m thanh (Loa, ampli, VCD, …) Bộ 12 000 000
    9 Đèn Signal Bộ 24 2, 000, 000 48, 000, 000
    Khu thƣởng thức cà phê ngoài trời, trong nhà        
                900, 000,
    1 Dù vuông 2m x 2m Cái 180 5, 000, 000 000
      62          
              104, 400,  
               
    2 Đèn sƣởi Cái 180 580, 000 000  
    3 Card wifi ngoài trời Cái 60 600, 000 36, 000, 000  
              141, 120,  
    4 Bàn ngoài trời (bàn gỗ tròn) Cái 144 980, 000 000  
              123, 600,  
    5 Bàn trong nhà (vuông) Cái 120 1, 030, 000 000  
              126, 720,  
    6 Ghế ngoài trời Cái 576 220, 000 000  
              297, 600,  
    7 Ghế trong nhà Cái 480 620, 000 000  
    Nhà bếp          
            40, 000, 480, 000,  
    1 Quầy Bar Bộ 12 000 000  
    2 Card wifi Bộ 24 600, 000 14, 400, 000  
    3 Thùng đựng rác bằng nhựa (tròn 60 l t) Bộ 12 150, 000 1, 800, 000  
    4 Thùng inox đựng nƣớc đá (40 x 60cm) Bộ 12 1, 200, 000 14, 400, 000  
            25, 000, 300, 000,  
    5 Máy xay cà phê Espresso và máy Espreso Bộ 12 000 000  
              262, 980,  
    6 Vật dụng đựng và pha sản phẩm cà phê Cái 40200 463, 950 000  
            72, 835, 982, 892,  
    7 Vật dụng cho nhà bếp Cái 7584 620 400  
              132, 000,  
    8 Đồng phục nam phục vụ Bộ 600 220, 000 000  
              132, 000,  
    9 Đồng phục nữ phục vụ Bộ 600 220, 000 000  
            20, 630, 247, 560,  
    10 Tủ lạnh và tủ đông Bộ 72 000 000  
            63, 700, 644, 400,  
    11 Tủ trƣng bày bánh Bộ 24 000 000  
    Văn phòng phẩm          
    1 Vi tính Bộ 12 5, 000, 000 60, 000, 000  
    2 Máy in Bill Bộ 12 2, 000, 000 24, 000, 000  
    3 Máy tính tay Cái 48 52, 000 2, 496, 000  
    4 Đầu DVD Cái 12 605, 000 7, 260, 000  
    5 Loa Cặp 36 1, 430, 000 51, 480, 000  
    6 Súp điện Cái 12 2, 750, 000 33, 000, 000  
    7 Ampli Cái 12 2, 420, 000 29, 040, 000  
    8 ệ để giàn  m thanh Cái 12 300, 000 3, 600, 000  
        63              
      9   ệ đựng đĩa CD   Cái   70, 000   840, 000  
          12    
      10   Bộ đĩa hoà tấu   Cái 240 12, 000   2, 880, 000  
      11   Vật dụng văn phòng phẩm   Cái 948 132, 850   5, 299, 920  
      Nhà vệ sinh              
      1   Bình nƣớc nóng gián tiếp Aristone 30 l t   Bình 12 1, 700, 000   20, 400, 000  
      2   Loa loại nhỏ   Cái 24 1, 430, 000   34, 320, 000  
      3   Quạt hút gió loại lớn   Cái 24 800, 000   19, 200, 000  
                      226, 032,  
      4   Nội thất phòng vệ sinh   Bộ 204 6, 118, 000   000  
                      6, 161, 920,  
      5   Tổng cộng           320  

    Nguồn: Phòng nhượng quyền công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Những vật dụng vừa liệt kê ở bảng trên theo nhóm chúng tôi đánh giá là cần thiết trong loại quán điểm nới này bởi đó là những tiêu chuẩn chung của Trung Nguyên. Tuy nhiên vì quy mô và phục vụ những khách hàng mới nên chắc rằng sẽ có một số thay đổi trong thiết bị máy móc. Xu hƣớng mà chúng tôi xem xét với chi phí thấp hiệu quả cao, thêm vào đó là nhu cầu đa dạng và quy mô của một quán thí điểm dành cho giới trẻ là vừa phải. Việc xem xét vấn đề này đòi hỏi Trung Nguyên phải nghiên cứu ĩ về tình hình tài chính, thị trƣờng nguyên vật liệu, có thể xem xét ết quả phân tích của nhóm chúng tôi sao cho đáp ứng đủ và phù hợp với từng không gian, vì vậy Trung Nguyên nên đƣa ra mức kinh phí của quán mới này so với các quán điểm mà mình đã xây dựng sao cho phù hợp để đạt hiệu quả cao.

    • Trang trí nội thật bên ngoài quán điểm

    Việc trang trí bên ngoài quán điểm bắt mắt, ấn tƣợng nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng là vấn đề quan trọng Qua nghiên cứu giới trẻ, nhóm chúng tôi thấy đặc điểm thu hút giới trẻ có nhiều yếu tố nhƣng yếu tố mà nhóm đánh giá cao là sự sáng tạo trong việc trƣng bày tên quán và khung cảnh trƣớc quán, đảm bảo nhận diện quán rõ từ xa, lại gần và tạo ấn tƣợng khó quên. Ngoài bảng hiệu của Trung Nguyên nhƣ thƣờng lệ phía trên, bên dƣới có thể sẽ là những hình ảnh con vật hoặc ngƣời, kí tự hay chữ viết vui nhộn, … nhƣ hình ảnh cung hoàng đạo ngày hôm nay, hay nhân vật nổi tiếng trong ngày,

    64

    chữ cái may mắn, … đƣợc quán điểm thay đổi cho mới mẻ, có thể theo tuần, tháng hoặc theo mùa. Ngoài ra hệ thống đèn hoặc bảng hiệu chiếu sáng là điều không nên xem nhẹ trong việc thu hút khách, có thể vừa làm trang trí vào buổi sáng và thắp sáng gây sự nhận biết quán vào buổi tối, tất cả cần phải tránh sự đan xen, che lẫn nhau mà nên tận dụng hoảng không gian bên trên và phần mái hiên phía trƣớc, mái hiên có thể treo nhiều loại

    chuông gió làm bằng ống lồ ô đón gió để tạo ra tiếng kêu gợi nhớ về Tây Nguyên.

    Ngay tại cửa ra vào tầng trệt là những họa tiết đƣợc trang trí bằng hình dán, có thể linh động tháo gở đề phù hợp với việc trang trí theo theo mùa, theo ngày lễ để thu hút. Phía trƣớc bên dƣới quán có thể trang trí các bảng hiệu hình thức uống hay đồ ăn nhằm thu hút sự chú ý và có thể dùng để giới thiệu sản phảm mới, chƣơng trình mới… Ngoài ra chúng ta nên chƣng ra một phần menu phía trƣớc quán để cung cấp thêm thông tin cho khách hàng, tạo độ tin cậy, quảng cáo sản phẩm giới thiệu cho mọi ngƣời

    • Trang trí nội thất bên trong quán điểm
    • Không gian mở hiện đại và sôi động

    Theo hảo sát của chúng tôi về bàn ghế dùng trong nơi nhộn nhịp có 39 4 chọn ngồi bệt, 33 8 bàn ghế cao bình thƣờng, 26 8 chọn bàn ghế thấp; trong hông gian trẻ trung sôi động có 43 9 chọn ngồi bệt, 28 8 bàn ghế cao bình thƣờng, 27 3 chọn bàn ghế thấp (số liệu phân tích bảng 42 phụ lục trang 94). Theo đó trong hông gian này giới trẻ có sự lựa chọn đa dạng về bàn ghế làm cho phần trăm sự lựa chọn đối với những ngƣời thuộc cùng hông gian gần bằng nhau, tuy nhiên để thỏa mãn nhu cầu đa dạng chúng tôi

    đề xuất nên có cả 3 loại, tuy nhiên thực tế hông gian mở sôi động của giới trẻ thƣờng là ngồi bệt hoặc bàn ghế thấp, vậy có thể xếp một phần nhỏ bàn ghế thấp ở gần cửa ra vào để trang tr và tạo cảm giác sang trọng, tiếp đến là các bộ bàn và những tấm nệm iểu cách dùng ngồi bệt, tạo sự hòa đồng thoải mái hi di chuyển hay có các hoạt động bạn bè

    Nhạc trong hông gian này là nhạc không lời, nhạc trẻ việt hay nhạc trẻ việt hông lời Do có 43 66 ngƣời tham gia hảo sát chọn nhạc hông lời, 29 58 chọn nhạc trẻ việt đối với nơi nhộn nhịp; có 34 85 ngƣời chọn nhạc hông lời và 28 79 chọn nhạc

    trẻ việt hi hông gian trẻ trung sôi động (số liệu phân tích bảng 41 phụ lục trang 94). Việc chọn chọn nhạc theo ết quả hảo là giai đoạn ban đầu, việc m nhạc trong hông

    65

    gian này cần xem xét, hảo sát thƣờng xuyên để th y đổi theo nhu cầu. Bởi giới trẻ trong hông gian này thƣờng có sở th ch thay đổi trong hoảng thời gian nhất định, việc cố

    định loại nhạc tạo ra sự nhàm chán tại  hông gian này

    Đa số ngƣời tham gia     hảo sát chợn nơi nhộn nhịp và      hông gian trẻ trung sôi

    động đều th ch đƣợc phục vụ (số liệu bảng 43 phụ lục trang 95), vì thế quán sẽ phải chuẩn bị một lực lƣợng nh n viên phù hợp đảm bảo hông quá thừa hay thiếu đối với vấn đề phục vụ hách hàng

    nh sáng trong   hông gian này đƣợc nhóm đề xuất sử dụng ánh sáng tự nhiên vào

    ban ngày đối với nhửng ngày nắng yếu hay những vùng ánh sáng  hông tới đƣợccó thể ết hợp với đèn chiếu sáng bình thƣờng của quán, vào chiều tối việc chiếu ánh sáng sẽ ph n  hông gian bên dƣới thành hai  hu  hu có ánh sáng đèn bình thƣờng,  hu có ánh

    sáng đèn yếu ết hợp với nhựng đèn mùa chiếu sáng hác làm ánh sáng có thể tháp hơn hu vực ia nhƣng có tạo ra vùng màu sắc tƣơi trẻ hông quá chói hay g y cảm giác hó

    chịu

    Quán trang trí khoảng không có tấm ngăn giữa bàn ghế, có trang bị hai ệ hai bên, trên ệ có để các loại đồ chơi, giải tr gồm báo, tạp ch , truyện, rút gỗ, cờ cá ngựa (số liệu bảng 47 phụ lục trang 96). Ngoài ra quán còn có hai màn hình ti vi dùng để chiếu phim, xem tivi, tin tức, … Bố trí một cái ở phía trong gần cửa ra vào và một cái ở đối diện. Những hình ảnh có liên quan nhằm giới thiệu Trung Nguyên đƣợc trang tr theo phong cách hác lạ trên tƣờng của quán.

    • Không gian cho phong cách, cá tính, độc đáo với sáng tạo.
    • y là không gian đặc biệt cho các bạn trẻ muốn thử sức sáng tạo và giải phóng

    một chút năng lƣợng để vui vẻ với những sáng iến mới lạ. Nó đƣợc trang trí bằng vận dụng sự khúc xạ và phản xạ của gƣơng cầu lòi, cầu lõm, gƣơng pha lệ, …làm không gian

    nhƣ rộng ra, bí hiểm, ết hợp ánh đèn có màu sắc g y cảm giác mát mẽ sinh động khác nhau tạo sự độc đáo m nhạc trong hông gian này thƣờng là những bài nhạc hông lời

    có phần sôi động để tạo cảm giác giảng hoái cho việc suy nghĩ, chế biến, … Ngay cửa ra vào là một quầy để các nguyên liệu, dụng cụ cần thiết để tạo ra các loại thức uống có cà phê của riêng khách hàng.

    66

    Do đ y là hu vực đặt biệt nên đƣợc trang tr riêng biệt đảm bảo đáp ứng nhu cầu đa dạng, tuy nhiên việc cố định bàn ghế trong hu vực sáng tạo này là hông thể bởi nó

    tùy thuộc vào chƣơng trình sáng tạo mà quán sáng tạo để  ết hợp cách bố tr bàn ghế cho
    phù hợp với hách hàng và tiết iệm ch  ph  cho quán. Trong giai đoạn này nhóm đề xuất
    nên trang tr bàng ghế thấp phù hợp với việc chế biến thức uống cho riêng  hách hàng và
    tiện cho việc vệ sinh  hi cần    
    Bên trong phòng có từ 1 đến 2, thậm chí là 3 ngƣời phục vụ nhằm giúp cho việc
    sáng tạo của khách hàng thêm hả thi và phù hợp. Tại đ y bạn có thể tự viết ế hoạch về
    chƣơng trình cho quán cà phê nhằm nâng cao hơn việc thu hút khách hàng, ết nối mọi
    ngƣời với nhau, có thể là cuộc thi, cuộc hội thảo… nếu xét thấy phù hợp và hả thi.Nó có

    thề đƣợc áp dụng trong hoảng thời gian nhất định và dỉ nhiên khách hàng sẽ đƣợc phần thƣởng xứng đáng. Tại đ y quán còn tạo ra một số mô hình thử sức sáng tạo cho những bạn vào chƣa có phƣơng hƣớng bằng một số trò chơi trí tuệ nhƣ thiết ế thiệp, dụng cụ, đồ dùng trang trí đƣợc làm từ giấy…nơi đ y cũng là không gian mở không ngăn cách, các bạn vừa sáng tạo vừa thƣởng thức món cà phê mới, vừa trao đổi đƣợc iến thức mới mẻ về cà phê hay iến thức hác với nhau và tƣơng tác với ngƣời phục vụ có chuyên môn.

    • Không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng và không gian cho hội họp, công việc, học tập.
    • y là hai không gian cần sự yên tĩnh nhất định. Đối với những ngƣời chọn nơi

    hông gian riêng thì có 40 những ngƣời tham gia hảo sát chọn ngồi bệt, 32 bàn ghế bình thƣờng, 28 bàn ghế thấp; đối với những ngƣời chọn hông gian lãng mạn thì có 42 1 chọn ngồi bệt, 36 8 bàn ghế cao bình thƣờng và 21 1 bàn ghế thấp. Tại nơi đ y nhu cầu giới trẻ cũng đa dạng (số liệu phân tích bảng 42 phụ lục trang 94) Vậy việc trang

    tr  ghế trong hai   hu vực này gồm cả 3 loại bàn ghế nhƣng đối với mỗi loại   hông gian sẽ

    có sự ƣu tiên   hác nhau về số lƣợng và bố tr  bên trong.

    Đối với những ngƣời chọn       hoảng    hông gian riêng thì có 35 9             chọn nhạc

    hông lời, 28 2        chọn   hông muốn nghe nhạc; đối với những ngƣời chọn       hông gian

    lãng mạn có 26 9     chọn nhạc   hông lời, 23 07       chọn nhạc nƣớc ngoài. Đây cũng là hai

    67

    hông gian cần sự yên tĩnh nhất định, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu   hách hàng chúng tôi

    đề xuất có tai nghe cho những ngƣời muốn nghe nhạc, mở nhạc hông lời rất nhẹ, hông mở nhạc. Việc ết hợp nhƣ thế nào tùy vào không gian. Đối với hai hông gian này đa số ngƣời tham gia đều th ch đƣợc phục vụ nh sáng trong hai hông hac là hác nhau vì mục đ ch của chúng hác nhau, nên thiết ế phù hợp với từng không gian.

    Không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng : tại đ y khách hàng hòa vào tiếng nhạc trầm, nhẹ, du dƣơng, khi khí lạnh lạnh, bàn thấpcó thể ngồi bệt một cách thoải mái hoặc ngồi trên những chiếc ghế thấp, … êm nhẹ để thả mình vào giấc ngủ, vào các cuộc tâm tình bất tận. Có trang bị tai phone nghe nhạc riêng theo sở thích của bạn. Bên trong không gian này đƣợc ngăn cách bằng những tấm chắn nhựa cao, nếu họ ngồi ngay sát tƣờng sẽ có cửa kính nhỏ nhìn ra bên ngoài. Ở giữa là một ệ đƣợc thiết ế hình trụ dùng

    đựng truyện, tiểu thuyết…ph a trên tủ là hồ cá điện tử cũng hình trụ, khung chứa từ 2 đến 4 ngƣời, ánh sáng trong phòng sáng vừa phải, có cả đèn phụ cho những phòng hông có cửa nh thông với bên ngoài

    Không gian cho hội hợp, công việc, học tập: khách hàng có thể học tập, học nhóm, hợp nhóm bàn công việc thỏa thích tại đ y. Bố tr các loại bàn ghế cao, các loại bàn ghế thấp, bàn cho ngồi bệt nh sáng trong hu vực này sáng nhất tạo cho ngƣời dùng cảm giác thoải mái nhất để vận động trí nảo. Nếu nhóm quá đông có thể ghép bàn lại với nhau một cách dể dàng. Phía trƣớc là những dãy bàn đặt trong không gian mở rộng, phía sau là những đặt trong những khu nhỏ có tắm chắn ngăn cách. Tất cả bàn trong phòng đều trang bị dây phone nghe nhạc đặt cố định. Ngoài ra ngăn giữa khu có tắm chắc và khu rộng là

    ệ sách, từ điển, tài liệu, …cung cấp iến thức học tập cho mọi ngƣời Phòng tận dụng ánh sáng mặt trời vào ban ngày, cung cấp thêm ánh sáng từ đèn của quán để đủ độ sáng học tập cho các bạn vào ban đêm.

    Nhóm nghiên cứu đã thiết ế để mô phỏng các không gian ở các tầng khác nhau nhằm để hiểu rõ mô hình quán điểm mà nhóm đã trình bày (biểu đồ phụ lục trang 96, 97, 98).

    3.                 Kết luận

     

    3.1.   Tóm tắt lại nội dung của đề tài

     

    68

    Phán đoán đƣợc giới trẻ là một phân khúc mà Trung Nguyên bấy lâu nay chƣa chú tâm đến một cách sâu sắc. Nhóm nghiên cứu đã phân tích rõ đ y là thị phần tiềm năng trong tiêu dùng cà phê của giai đoạn tới

    Thông qua những bảng hảo sát định tính và định lƣợng làm nền tảng cung cấp những thông tin về chất lƣợng cà phê trong lòng ngƣời tiêu dùng, về xu hƣớng tiêu dùng cà phê của độ tuổi đƣợc cho là giới trẻ (để biết xu hƣớng tiêu dùng cà phê của các đối tƣợng này) và bảng hảo sát về thiết lập mô hình quán, nhómnghiên cứu đã lấy đó làm căn cứ xác thực để áp dụng phân tích những vấn đề mà giới trẻ quan tâm ngày nay, đặc biệt là những yếu tố xoay quanh sản phẩm, giá cả, cách thức lựa chọn không gian, cách trang trí nội thất cũng nhƣ phong cách phục vụ và phong cách quán.

    Bên cạnh việc phân tích thực tế các bảng hảo sát, nhóm đã tiến hành phân tích các mô hình SWOT, Marketing Mix dựa trên những thông tin, số liệu thu thập đƣợc từ chính trang web Trung Nguyên và các trang web thống kê uy tín khác nhằm tìm ra một chiến lƣợc phát triển phù hợp với tình hình hiện tại của Trung Nguyên trong thị trƣờng cà phê nói chung và thị phần giới trẻ nói riêng.

    Sau hi đã ph n t ch và lên chiến lƣợc xong, để xây dựng đƣợc một quán điểm, nhóm đã quan sát và tìm hiểu các mô hình quán mới xuất hiện gần đ y đƣợc giới trẻ quan tâm. Từ đó nhóm đã thiết lập định hƣớng mô hình quán sắp tới cho thị phần giới trẻ đầy năng động này là một mô hình quán mở với bốn không gian khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của giới trẻ nhiều.

    Bên cạnh đó, để đảm bảo việc tạo ra lợi nhuận cho quán điểm mới này, nhóm đã thu thập, phân tích định tính các chi phí mà Trung Nguyên đã đầu tƣ, làm cơ sở để tính toán mức chi phí cơ bản khi triển khai quán điểm cho thị phần giới trẻ. Ngoài ra phân tích các bài đánh giá của chuyên gia trong lĩnh vực thức uống, các bài báo cáo số liệu, nhóm đƣa ra mô hình quán thu hút giới trẻ, các tiêu chí về giá trong loại hình quán mới này để tạo ra doanh thu bù đắp những chi phí cao bỏ ra trong việc xây dựng quán điểm này.

    Cuối cùng, với tất cả những thông tin số liệu liên quan, nhóm đã vận dụng phƣơng pháp phân tích, xử lý dữ liệu SPSS để có căn cứ cho việc thiết lập nên mô hình quán cà phê phù hợp cho mục đ ch nghiên cứu đã nêu.

    69

    3.2.     Dự báo

    Sau khi đã xây dựng mô hình quán, nhóm đƣa ra các tiêu chí chung để đánh giá hoạt động của quán khi ứng dụng vào thực tiễn Cụ thể nhƣ sau:

    Số lƣợng khách trung bình đến quán trong một tuần: theo dõi con số này cụ thể trong bốn tuần đầu để tổng ết xem tháng đầu tiên có đạt đƣợc chỉ tiêu đề ra hay không. Con số này thể hiện rõ nét nhất mức độ ảnh hƣởng của cửa hàng đến giới trẻ trong phạm vi nghiên cứu Với hả năng phục vụ tối đa một lƣợng khách cho mỗi tầng, mỗi phòng thì số lƣợng khách thực đến quán đã vận dụng bao nhiêu phần trăm trong hả năng phục vụ của quán? Phần trăm càng lớn thì cửa hàng càng có cơ hội hơn

    Mức chi tiêu khách chi ra cho mỗi lần đến với quán thể hiện phần nào xu hƣớng sử dụng cà phê của khách hàng. Tiêu chí này dùng để cửa hàng nhận biết dòng sản phẩm nào đang đƣợc khách hàng ƣa chuộng, từ đó đƣa ra những phƣơng thức đầu tƣ hợp lý cả về chất lƣợng và phục vụ

    Không gian nào trong 4 không gian thiết ế của quán đƣợc giới trẻ quan tâm nhất? Thể hiện dựa trên số lƣợng khách hàng lui tới trung bình cho mỗi không gian trong mỗi tuần Qua tháng đầu ta có thể có một nhận định khá khách quan về điều này. Từ nhận định này để điều chỉnh trong cách phân bổ nhân viên phục vụ cho các tầng, các phòng cho phù hợp

    Quán sẽ áp dụng một bảng đáng giá ết quả hoàn thành công việc cho từng nhân viên. Kết quả cuối tháng sẽ cho thấy mức độ nhiệt tình, thái độ phục vụ trong công việc và nhiều yếu tố khác của nhân viên. Nhà quản lý sẽ dựa trên những điều này để hoàn thiện đội ngũ nhân viên của quán đồng thời phần nào hạn chế đƣợc những phản hồi tiêu cực từ phía khách hàng.

    Bằng cách nào đó để biết đƣợc mức độ hài lòng của khách hàng hiện tại của quán, tìm hiếu về mức hiệu quả của các kênh thông tin mà quán đang sử dụng Có thể nhờ sự thân thiện trong giao tiếp để tìm hiểu những điều này, một mặt hoàn thiện đội ngũ nhân viên hơn, một mặt tìm hiểu đƣợc quán của mình đang ở đ u trong lòng khách hàng qua phản ứng, thái độ hay những phản hồi từ phía khách hàng…

    70

    Quan trọng hơn hết vẫn là việc chúng ta có thể tiếp tục duy trì quán hay không? Dựa vào doanh thu của tháng đầu, con số này liệu có bù đắp đƣợc chi phí hay mục tiêu của quán đã đề ra trƣớc đó Câu trả lời là có hay không thì các nhà quản lý đều phải có hƣớng đi tiếp theo cho quán trong bất kì tình huống nào?

    Đề tài dựa trên những    hảo sát mong muốn của giới trẻ về quán của trung nguyên

    đƣợc thiết   ế đặc biệt về phong cách, có phần khác biệt và mới lạ khi           ết hợp nhiều

    không gian trong cùng một quán nên đƣợc kì vọng sẽ thu hút đƣợc một lƣợng khách hàng

    thuyết phục Tuy nhiên, không có một dự án nào là hoàn hảo, việc chấp nhận mở một quán cà phê cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang phải đối mặt với những rủi ro nhất định chẳng hạn nhƣ: ết quả hoạt động kinh doanh không nhƣ mong đợi, hệ thống quản lý chƣa ịp hoàn thiện, bị tác động bởi những rủi ro từ thị trƣờng…dẫn đến tình hình quán không hả thi nhƣ mong đợi Bởi vậy, quán cần đề ra những giải pháp hắc phục biến cố có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của quán. Một số hƣớng hắc phục mà chúng tôi đề xuất nhƣ: có hệ thống đánh giá iểm tra chất lƣợng dịch vụ thƣờng xuyên, đào tạo nhân viên, xem xét và đổi mới hệ thống tiếp thị của quán.

    3.3.     Đóng góp của đề tài

    Nghiên cứu này đã giúp ngƣời đọc có cái nhìn tổng quan về xu hƣớng sử dụng và mức độ thỏa mãn của giới trẻ khi sử dụng cà phê Trung Nguyên ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tìm hiểu đƣợc phần nào về những mong muốn của giới trẻ đối với quán cà phê Trung Nguyên.

    Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đối với các quán hiện tại của Trung Nguyên, mở ra cho họ những ý tƣởng mới, hƣớng đi mới trong việc đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng hiện tại và tìm iếm khách hàng tiềm năng trong tƣơng lai.

    Phát hiện ra giới trẻ có số lƣợng lớn, đa phần đều có quan tâm đến Trung Nguyên nhƣng lƣợng tiêu thụ còn hạn chế. Trong khi Trung Nguyên vẫn có phục vụ cho phân khúc thị trƣờng này, nó cho thấy giới trẻ vẫn chƣa đƣợc Trung Nguyên chú trọng và khai thác.

    Chứng minh phân khúc thị trƣờng giới trẻ là tiềm năng đối với Trung Nguyên ở hiện tại và tƣơng lai.

    71

    Đƣa ra những cách thức giúp Trung Nguyên có thể xâm nhập mạnh hơn vào thị trƣờng giới trẻ để cạnh tranh với các đối thủ khác. Cho thấy giải pháp mới để nâng cao vị thế cạnh tranh và tạo ra một văn hóa cà phê riêng của Trung Nguyên đối với giới trẻ

    Đƣa ra ý tƣởng về mô hình quán cà phê mới dành cho giới trẻ của Trung Nguyên với nhiều đặc điểm khác biệt Phác họa những tiêu chí giúp Trung Nguyên có cơ sở định

    hình rõ hơn về mô hình quán điểm sẽ xây dựng dành cho giới trẻ

    3.4.   Hạn chế của và hƣớng phát triển của đề tài sau nếu có

    Do nhiều điều   iện khách quan, bài nghiên cứu còn chứa đựng những hạn chế sau:

    Nhóm nghiên cứu đƣa ra ý tƣởng về mô hình quán cà phê dành cho giới trẻ của Trung Nguyên tại Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên bảng hảo sát thực tế. Mặc dù việc chọn đối tƣợng và địa điểm có sự chọn lọc để mỗi bảng hảo sát thu đƣợc ết quả tốt

    nhất. Tuy nhiên số lƣợng bảng  hảo sát còn hạn chế, chƣa đến 200 bảng cho mỗi loại hảo sát, để đánh giá cho khu vực Thành phố Hồ Chí Minh làm cho  ết quả chƣa có tính tổng quát cao. Đề tài đƣợc thực hiện dừng lại ở các khu vực cục bộ trong Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy đề tài phát triển sắp tới có thể mở rộng trên hầu hết địa bàn thành phố để đảm bảo tính xác thực và  hả thi cao khi áp dụng nghiên cứu để ứng dụng vào thực

    tiễn

    Nghiên cứu trình bày dựa trên những thông tin, số liệu báo chí uy tín trong hoảng thời gian từ năm 2003 đến 2013, đó là một hoảng thời gian khá dài, nhiều số liệu đã cũ, khác so với hiện tại làm cho những thông tin cung cấp và dự báo tƣơng lai bị hạn chế. Việc nghiên cứu đánh giá số liệu qua các kênh thông tin còn hạn hẹp, nhóm sẽ phải tìm hiểu thêm các số liệu cần thiết khi triển khai mô hình vào thực tiễn, đồng thời cần quan tâm đến các quan điểm của chuyên gia khi nhìn nhận sự xoay chuyển trong thời gian tới của nền kinh tế nói chung và thị trƣờng cà phê nói riêng. Việc phân tích của nhóm chỉ dựa trên số liệu thực tại và thông tinquá hứ, nhóm sẽ phải tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam trong tổng thể và các yếu tố riêng biệt ảnh hƣởng đến việc tiêu thụ cà phê trong thị phần giới trẻ

    Mặc dù đã vận dụng nhiều phƣơng pháp từ thống kê thực tế qua hảo sát, đến tƣ duy biện chứng qua phân tích các mô hình đã đƣợc học trong trƣờng. Nhóm nghiên cứu

    72

    nhận thấy còn nhiều hạn chế cho việc nghiên cứu vấn đề mới của một thƣơng hiệu lớn. Ngoài ra, trong khi phân tích, nhóm vẫn chƣa sử dụng triệt để các công cụ của phần mềm phân tích dữ liệu SPSS. Bài nghiên cứu chỉ đƣa ra các ý tƣởng mô hình ban đầu, vẫn chƣa xoáy sâu phân tích lời lỗ dòng tiền, dự báo của quán. Đây có thể là một đề tài khác bổ sung thêm để hoàn thiện và làm rõ hơn về tiến trình xây dựng quán.

    73

    PHỤ LỤC

    BẢNG KHẢO S           T TÌM HIỂU XU HƢỚNG TIÊU DÙNG CÀ PHÊ

        CỦA KH  CH HÀNG
    1. Bạn hãy cho biết giới tính của mình .
      ○ Nam ○ Nữ
    2. Tình trạng hôn nhân.  
      ○ Độc thân ○ Đã lập gia đình
      ○ Đang ly thân ○ Đã lập gia đình và ly hôn
    • Khác
    1. Mức độ thƣờng xuyên sử dụng cà phê của bạn trong một tuần.

    ○ 0                ○ 1                        ○ 2                        ○ 3                        ○ 4                        ○ >4

    1. Độ tuổi của bạn nằm trong hoảng nào

    ○ 15-20                             ○ 20-25                             ○ 25-35                             ○ >35

    1. Việc sử dụng hay thay đổi loại cà phê của bạn thƣờng chịu tác động bởi những đối

    tƣợng, yếu tố nào với mức độ bao nhiêu ( đánh dấu Pvào mức độ : 1- không ảnh hƣởng. 2-ảnh hƣởng rất ít, 3-bình thƣờng, 4-ảnh hƣởng khá nhiều, 5-ảnh hƣởng hoàn toàn).

    Đối tƣợng 1 2 3 4 5
    Bạn bè, ngƣời thân          
    Thần tƣợng          
    Cá nhân ( sở thích, cá tính, kiến thức …)          
    Thƣơng hiệu (giá, dịch vụ, sản phẩm, chƣơng          
    trình…)          
    Mốt          
    1. Bạn đang quan t m vấn đề nào trong sản phẩm cà phê Trung Nguyên với mức độ

    (đánh dấu P vào ô : 1-không quan tâm, 2-hơi quan t m, 3-quan tâm, 4-quan tân khá nhiều, 5-rất quan tâm).

    Vấn đề 1 2 3 4 5
    Mẫu          
               
    Kiểu dáng          
    Bao bì          
    Giá bán          
               
    Chất lƣợng          
    Chủng loại          
               
     
    Nơi mua
    Tiệm tập hóa Quán ven đƣờng Chợ
    Siêu thị

    74

    1. Bạn cho biết mức thu nhập hiện tại của bạn là bao nhiêu trong tháng (tổng thu nhập chính, thu nhập phụ, thu nhập khác, chu cấp của gia đình)
    Đơn vị: VND  
    ○ <1, 500, 000 ○ 1, 500, 000-3, 000, 000
    3, 000, 000-7, 000, 000 ○ 7, 000, 000-12, 000, 000
    12, 000, 000-18, 000, 000 ○ >18, 000, 000
    1. Khi thu nhập tăng bao nhiêu thì bạn có những quyết định sau: (đánh dấu P vào ô)
      Thu nhập tăng   Sử   dụng Vẫn sử Sử  dụng  ít Sửdụng   Sử   dụng
      Đơn vị: VND   nhiều hơn dụng nhƣ hơn thƣơng   hoàn  toàn
            thƣờng   hiệu cà phê   loại cà phê
                  khác   khác
      < 500,000                
      500,000-1,500,000                
      >= 1,500,000                
    9.  Bạn có xu hƣớng vẫn mua loại cà phê đang sử dụng khi nó lên giá bao nhiêu.  
      ○ <1,000 VND     ○ 1,000-3,000 VND      
      ○ 3,000-10,000 VND   ○ >10,000 VND      
    1. Bạn nghĩ xu hƣớng uống cà phê sắp tới tại các thành phố lớn của Việt Nam nhƣ thế nào (nhiều lựa chọn)

    ¨ Mang đi                                  ¨ Dùng tại quán

    ¨ Văn phòng công ty ¨ Tại nhà                                    ¨ Khác                         `

    1. Theo bạn giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê Trung Nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (1-không, 2-hơi có, 3-bình thƣờng, 4-cao, 5-rất cao). Bạn thuộc đối tƣợng nào đánh dấu P vào ô.
    Đối tƣợng 1 2 3 4 5
    Học sinh          
    Sinh viên          
    Sinh viên đã tốt nghiệp          
    Khác          

    Bạn thuộc đối tƣợng nào trong các đối tƣợng nêu trên: …

    1. Bạn thƣờng mua cà phê Trung Nguyên ở đ u và tại sao (đánh dấu Pvào ô )
    Lý do Gần Tiện Sở Thói Tuy theo giá bán khác
      khu đƣờng thích quen từng nơi  
      vực ở về        
                 

    75

    1. Bạn thƣờng uống cà phê khi nào.

    ¨ Theo chế độ riêng bản thân                ¨ Thói quen, tùy hứng

    ¨ Sau những giờ làm việc căng thẳng             ¨ Khi tụ họp bạn bè đồng nghiệp

    ¨ Trƣớc khi bắt đầu làm việc                     ¨ Bàn công việc với  hách hàng

    1. Nhận định của bạn về hệ thống phân phối của cà phê Trung Nguyên dƣới đ y

    (đánh dấu P vào ô : 1- rất kém, 2-hơi          ém, 3-bình thƣờng, 4-tốt, 5-rất tốt).

    Nhận định   1 2 3 4 5
    Số lƣợng chi nhánh, trung gian phân phối rộng            
    Hệ thống phân phối nhanh, mạnh, chuyên nghiệp            
    Chủng loại, số lƣợng, chất lƣợng trong từng hệ thống, kênh,          
    nơi cung cấp.            
    Cảm ơn bạn đã hoàn thành bảng hảo sát của chúng tôi      
    chúc bạn ngày tốt lành, vui vẻ và thành công!        

    BẢN KHẢO SÁT MỨC ĐỘ THỎA MÃN KHÁCH HÀNG VỀ SẢN PHẨM CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN

    1. Bạn có thƣờng quan tâm theo dõi về thị trƣờng cà phê, sản phẩm cà phê…của Trung Nguyên hay không?

    ○ Có                                    ○ Không                                            ○ Bình thƣờng

    1. Bạn thƣờng uống cà phê Trung Nguyên 1 tuần bao nhiêu lần:

    ○ 0 lần                          ○ 1-3 lần                           ○ 3-5 lần                       ○ > 5 lần

    1. Bạn hãy cho biết giới tính của mình .
    1. Tình trạng hôn nhân

    ○ Độc thân                                                                              ○ Đã lập gia đình

    1. Độ tuổi của bạn nằm trong hoảng nào

    ○ 15-20                                ○ 20-25                             ○ 25-35                           ○  >35

    1. Bạn biết đến thông tin cà phê Trung Nguyên qua phƣơng tiện nào.

    ¨ Báo ¨ Đài ¨ Tivi ¨ Intenet ¨ Khác:……………

    1. Đánh giá mức độ hài lòng về cà phê Trung Nguyên (đánh dấu P vào ô 1: hoàn

    toàn hông hài lòng; 2: hài lòng t; 3: bình thƣờng; 4: há hài lòng; 5: hoàn toàn hài lòng)

    76          
               
    Sản phẩm 1 2 3 4 5
    Cà phê Trung Nguyên đảm bảo chất lƣợng thơm ngon          
    Hƣơng vị cà phê Trung Nguyên khiến bạn khó quên          
    Đặc điểm, kiểu dáng sản phẩm cà phê Trung Nguyên để lại cho          
    bạn ấn tƣợng          
    Bao bì sản phẩm cà phê Trung Nguyên tiện dụng cho bạn          
    Thiết  ế sang trọng, sạch sẽ, đẹp mắt phù hợp với yêu cầu của          
    khách hàng          
    Bạn hài lòng với cung cách phục vụ trong các cửa hàng Trung          
    Nguyên          
    Giá cả sản phẩm          

    Giá cả của các sản phẩm Trung Nguyên là phù hợp với ngƣời tiêu dùng

    Bạn mua sản phẩm với số lƣợng nhiều và đƣợc chiết khấu 1 phần

    Sản phẩm mua với số lƣợng nhiều đƣợc giao tới tận nơi có giá hông tăng lên so với bình thƣờng.

    Phân phối sản phẩm

    Bạn dễ dàng tiếp cận đƣợc các loại sản phẩm cà phê Trung

    Nguyên

    Bạn mua sản phẩm cà phê trực tiếp từ ngƣời sản xuất

    Xúc tiến thƣơng mại

    Bạn có thể nhớ và phân biệt lô-gô cà phê Trung Nguyên với các sản phẩm cà phê khác.

    Bạn biết đến hầu hết các chƣơng trình         huyến mãi của Trung

    Nguyên

    Khi nhắc đến cà phê thì bạn thì bạn nghĩ ngay đến cà phê Trung

    Nguyên

    1. Theo bạn những dòng sản phẩm mang thƣơng hiệu cà phê Trung Nguyên có

    mang tính sáng tạo, đột phá  không?

    ○ Không có                      ○ Bình thƣờng                               ○ Có

    1. Việc sử dụng hay thay đổi loại cà phê của bạn thƣờng chịu tác động bởi những

     

    đối tƣợng với mức độ bao nhiêu (đánh dấu Pvào mức độ: 1-không ảnh hƣởng, 2-ảnh hƣởng rất ít, 3-vừa phải, 4-ảnh hƣởng khá nhiều, 5-ảnh hƣởng hoàn toàn)

    Đối tƣợng 1 2 3 4 5
    Bạn bè, ngƣời thân          
    Thần tƣợng          
    Cá nhân ( sở thích, cá tính, kiến thức …)          
    Thƣơng hiệu (giá, dịch vụ, sản phẩm, chƣơng trình…)          
    Mốt          

    77

    1. Khi thu nhập tăng bao nhiêu thì bạn có những quyết định sau: đánh dấu P vào ô)
    Thu nhập tăng Sử   dụng Vẫn sử Sử  dụng  ít Sửdụng Sử   dụng
    Đơn vị: VND nhiều hơn dụng nhƣ hơn thƣơng hoàn  toàn
        thƣờng     hiệu cà phê loại cà phê
              khác khác
    < 500,000            
    500,000-1,500,000            
    >= 1,500,000            
    1. Bạn vẫn mua loại cà phê đang sử dụng khi nó lên giá bao nhiêu:

    ○ <1,000 VND ○ 1,000-3,000 VND ○ 3,000 – 10,000 VND ○ >10,000 VND

    1. Sự hài lòng của bạn khi sử dụng cà phê với thƣơng hiệu Trung Nguyên

    ○ Rất không hài lòng ○ Bình thƣờng ○ Không hài lòng ○ Hài lòng

    • Rất hài lòng
    1. Bạn sẽ giới thiệu những ngƣời thân của bạn về sản phẩm cà phê Trung Nguyên không?

    ○ Chắc chắn                                  ○ Có thể                                                            ○ Không

    1. Nhìn chung, bạn thấy cà phê Trung Nguyên nhƣ thế nào?

    ○ Trên cả tuyệt vời                                           ○ Tuyệt vời

    ○ Th ch                                                                      ○ Bình thƣờng

    ○ Tạm đƣợc

    Cảm ơn bạn đã hoàn thành bảng   hảo sát của chúng tôi

    chúc bạn ngày tốt lành, vui vẻ và thành công.

      XÂY DỰNG MÔ HÌNH QU  N ĐIỂM CÀ PHÊ CỦA GIỚI TRẺ
    Câu 1 : Trung bình một tháng bạn đến tịệm   Câu 2: Trung bình bạn chi tiêu bao nhiêu
     
    cà phê bao nhiêu lần :   cho 1 lần đến quán cà phê?
    ¡<2 ¡ 2- 4   ¡<20,000 ¡ 20,000 – 40,000
    ¡ 4-8 ¡>8   ¡ 40,000 – 60,000 ¡> 60,000

    78

    Câu 3: Trung bình bạn dành bao nhiêu thời gian tại quán cà phê?

    ¡< 1 giờ   ¡ 1-2 giờ
    ¡ 2- 4 giờ   ¡>4 giờ
    Câu 4 : Bạn thƣờng đến quán cà phê  vào
    thời điểm nào trong ngày nhất ?
           
    ¡ Buổi sáng   ¡ Buổi chiều
    ¡ Buổi tối   ¡ Lúc rảnh rỗi

    Câu 5: Bạn muốn địa điểm quán nhƣ thế nào nhất?

    • Gần trạm xe buýt

     

    • Nơi trong hẻm, yên tĩnh

     

    • Gần đƣờng tấp nập

     

    • Gần các trung tâm mua sắm

    Câu 6: Mục đ ch Bạn đến quán cà phê là gì?

    o Đọc sách                   o Lƣớt web

    oThƣ giãn                    o Làm việc

    o Học tập                      o Làm việc nhóm

    o Trò chuyện, tán gẫu          o Khác

    Câu 7: Bạn th ch hông gian quán đƣợc trang trí theo phong cách nào nhất?

    • Cổ điển ¡ Hiện đại

    ¡ Đồng quê ¡ Phong cách trẻ ¡ Khác Câu 8: Bạn thích uống cà phê tại quán điểm nhƣ thế nào?

    • Chỉ bán cà phê và nƣớc giải khát khác

     

    • Cà phê + nƣớc giải khác + phục vụ đồ ăn nhanh
    • Thêm có vật dụng giải trí (truyện + cờ

    cá ngựa + xếp hình)

    • Thêm điểm tâm buổi sáng (Phở, Bún,

    Bánh mì) + cơm trƣa văn phòng

    • Khác.

    Câu 9: Bạn thích trong quán có những dịch vụ – trò chơi nào?

    o Truyện                       o Sách

    o Báo, tạp chí o Cờ cá ngựa o Cờ Domino o wifi o Ráp hình o Rút gỗ o Khác

    Câu 10 : Bạn thích uống cà phê tại không gian quán điểm nhƣ thế nào nhất?

    • Ngoài trời

     

    • Phòng máy lạnh

     

    • Nơi nhộn nhịp

     

    • Có khoảng không gian riêng

    Câu 11: Bạn thích uống cà phê tại quán điểm có phong cách nhƣ thế nào nhất?

    ¡Tao nhã, sang trọng            ¡Lãng mạn

    ¡Trẻ trung, sôi động             ¡Ấm cúng

    C u 12: Bạn th ch iểu bàn ghế trong quán
    cafe nhƣ thế nàonhất?
    ¡Bàn ghế thấp     ¡ Ngồi bệt
    ¡Bàn ghế cao bình thƣờng
           

    Câu 13: Bạn muốn nghe thể loại nhạc nào trong quán điểm nhất?

    ¡ Không muốn nghe

    79

    ¡Nhạc Trịnh, hải ngoại, tiền chiến

    ¡Nhạc Việt trẻ

    ¡Nhạc nƣớc ngoài

    ¡Nhạc cổ điển,   hông lời

    • u 14: Bạn mong muốn nh n viên có thái độ phục vụ nhƣ thế nào nhất?

    ¡Thân thiện, niềm nở ¡Lịch sự, chuyên nghiệp

    • Năng động, trẻ trung

    Câu 15: Bạn thích hình thức phục vụ nào nhất?

    • Tự phục vụ

     

    • Đƣợc phục vụ

    Câu 16: Bạn hãy sắp xếp theo mức độ quan tâm của bạn theo thứ tự ưu tiên từ 1-

    • (4 là cao nhất, 1 là thấp nhất).

     

    • Sản phẩm
    • Giá cả
    • Đặc điểm, vị trí cửa hiệu
    • Các chƣơng trình và dịch vụ của quán

    Xin vui lòng cho biết thông tin cá nhân:

    Bạn cho biết giới tính của bạn :

    ¡ Nam                             ¡ Nữ

    Hiện tại bạn đang là :

    ¡ Sinh viên                  ¡ Đang tìm việc

    ¡ Học sinh                   ¡ Đã đi làm

    Thu nhập hiện tại của bạn là bao nhiêu mỗi tháng :

    ¡<= 1,5 triệu ¡ 1,5 triệu – 3 triệu ¡ 3 triệu – 5 triệu ¡> 5 triệu

    Cảm ơn bạn đã hoàn thành bảng         hảo sát của chúng tôi chúc bạn ngày tốt

    lành, vui vẻ và thành công.

     

    80

    BẢNG BIỂU

    Kết quả ph n t ch xu hƣớng tiêu dùng

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
    Valid 0 27 16.4 16.4 16.4
      1 48 29.1 29.1 45.5
      2 41 24.8 24.8 70.3
      3 14 8.5 8.5 78.8
      4 4 2.4 2.4 81.2
      >4 31 18.8 18.8 100.0
      Total 165 100.0 100.0  
               

    Bảng 1: : Bảng tần số thể hiện mức độ thƣờng xuyên sử dụng cà phê trong một tuần

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
             
    Valid  <1.500 54 32.7 32.7 32.7
    1.500-3.000 79 47.9 47.9 80.6
    3.000-7.000 26 15.8 15.8 96.4
    7.000-12.000 4 2.4 2.4 98.8
    12.000-18.000 1 0.6 0.6 99.4
    >18.000 1 0.6 0.6 100.0
    Total 165 100.0 100.0  
             

    Bảng 2: Bảng tần số thể hiện thu nhập

    Model R   R Square Adjusted  R Std. Error of the Estimate
      Square
             
               
    1   .195a .038 .032 1.655
               

    Bảng 3: Bảng hồi quy thể hiện sự phụ thuộc của số lần uống vào thu nhập và sự phù hợp của mô hình

    81

        Responses   Percent
              of Cases
        N   Percent
    Valid Không quan tâm 152   15.4% 92.1%
      Hơi quan t m 181   18.3% 109.7%
      Quan tâm 278   28.1% 168.5%
      Quan t m  há nhiều 206   20.8% 124.8%
      Rất quan t m 173   17.5% 104.8%
    Total   990   100.0% 600.0%

    Bảng 4: Bảng tần số thể hiện sự quan t m của giới trẻ về sản phẩm của Trung Nguyên

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
             
    Valid   Không quan tâm 43 26.1 26.1 26.1
    Hơi quan t m 51 30.9 30.9 57.0
    Quan tâm 42 25.5 25.5 82.4
    Quan t m  há nhiều 21 12.7 12.7 95.2
    Rất quan t m 8 4.8 4.8 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 5: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Mẫu)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
             
    Valid  Không quan tâm 35 21.2 21.2 21.2
    Hơi quan t m 50 30.3 30.3 51.5
    Quan tâm 50 30.3 30.3 81.8
    Quan t m  há nhiều 23 13.9 13.9 95.8
    Rất quan t m 7 4.2 4.2 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 6: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Kiểu dáng)

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
    Valid  Không quan tâm 34 20.6 20.6 20.6
      Hơi quan t m 43 26.1 26.1 46.7
      Quan tâm 57 34.5 34.5 81.2
        82            
      Quan t m  há nhiều   13.3   13.3   94.5  
      22      
      Rất quan t m 9 5.5   5.5   100.0  
      Total 165 100.0   100.0      

    Bảng 7: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm  (Bao bì)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid  Không quan tâm 13 7.9 7.9 7.9
    Hơi quan t m 13 7.9 7.9 15.8
    Quan tâm 56 33.9 33.9 49.7
    Quan t m  há nhiều 46 27.9 27.9 77.6
    Rất quan t m 37 22.4 22.4 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 8: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Giá bán)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid   Không quan tâm 9 5.5 5.5 5.5
    Hơi quan t m 8 4.8 4.8 10.3
    Quan tâm 24 14.5 14.5 24.8
    Quan t m  há nhiều 41 24.8 24.8 49.7
    Rất quan t m 83 50.3 50.3 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 9: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Chất lƣợng)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid  Không quan tâm 18 10.9 10.9 10.9
    Hơi quan t m 16 9.7 9.7 20.6
    Quan tâm 49 29.7 29.7 50.3
    Quan t m  há nhiều 53 32.1 32.1 82.4
    Rất quan t m 29 17.6 17.6 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 10: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Chủng loại)

    83

      Sum of Df   Mean F Sig.
      Squares     Square
               
    Between Groups 357.912   4 89.478 134.980 .000
    Within Groups 106.064   160 .663    
    Total 463.976   164      
                   

    Bảng 11: Bảng iểm định ANOVA thể hiện sự tác động của yếu tố bạn bè, ngƣời th n tới mức độ sử dụng cà phê

        Sumof   Df   Mean   F   Sig.  
                 
        Squares     Square      
                       
                           
    Between Groups   356.697     4 89.174   132.998   .000  
    Within Groups   107.279     160 .670          
    Total   463.976     164            
                         
    Bảng 12: Bảng iểm định ANOVA thể hiện sự tác động của yếu tố cá nh n  

    tới mức độ sử dụng cà phê

      Sum of df   Mean   F   Sig.
      Squares   Square    
                 
    Between Groups 28.046   4   7.012   2.573 .040
    Within Groups 435.930   160   2.725      
    Total 463.976   164          
                     

    Bảng 13: Bảng iểm định ANOVA thể hiện sự tác động yếu tố thƣơng hiệu tới mức độ sử dụng cà phê

    84

    Tukey HSD

            Mean       95% Confidence
              Std.   Interval  
    (I) BAN BE NGUOI THAN Difference   Sig.  
      Error Lower Upper
            (I-J)    
                  Bound Bound
                   
    Không ảnh hƣởng Ảnh hƣởng rất  t -.697* .187 .003 -1.21 -.18
          Vừa phải -1.622* .179 .000 -2.12 -1.13
          Ảnh hƣởng  há nhiều -3.617* .197 .000 -4.16 -3.07
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.831* .216 .000 -4.43 -3.24
    Ảnh hƣởng rất  t Không ảnh hƣởng .697* .187 .003 .18 1.21
          Vừa phải -.925* .193 .000 -1.46 -.39
          Ảnh hƣởng  há nhiều -2.920* .209 .000 -3.50 -2.34
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.134* .227 .000 -3.76 -2.51
    Vừa phải   Không ảnh hƣởng 1.622* .179 .000 1.13 2.12
          Ảnh hƣởng rất  t .925* .193 .000 .39 1.46
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.995* .202 .000 -2.55 -1.44
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -2.209* .220 .000 -2.82 -1.60
    Ảnh hƣởng Không ảnh hƣởng 3.617* .197 .000 3.07 4.16
    nhiều     Ảnh hƣởng rất  t 2.920* .209 .000 2.34 3.50
          Vừa phải 1.995* .202 .000 1.44 2.55
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.214 .235 .892 -.86 .43
    Ảnh hƣởng hoàn Không ảnh hƣởng 3.831* .216 .000 3.24 4.43
    toàn     Ảnh hƣởng rất  t 3.134 * .227 .000 2.51 3.76
           
          Vừa phải 2.209* .220 .000 1.60 2.82
          Ảnh hƣởng  há nhiều .214 .235 .892 -.43 .86
                       

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

    Bảng 14: : Bảng ph n t ch s u ANOVA về mức độ ảnh hƣởng của yếu tố bạn bè, ngƣời th n tới mức độ sử dụng cà phê

    85

    Tukey HSD

                    95%  Confidence
            Mean       Interval  
            Difference Std.   Lower Upper
    (I) CA NHAN     (I-J)   Error Sig. Bound Bound
    Không ảnh hƣởng Ảnh hƣởng rất  t -.294 .309 .876 -1.15 .56
          Vừa phải -1.085* .265 .001 -1.82 -.35
          Ảnh hƣởng  há nhiều -2.103* .270 .000 -2.85 -1.36
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -4.100* .263 .000 -4.83 -3.37
    Ảnh hƣởng rất  t Không ảnh hƣởng .294 .309 .876 -.56 1.15
          Vừa phải -.791* .232 .007 -1.43 -.15
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.808* .238 .000 -2.47 -1.15
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.806* .230 .000 -4.44 -3.17
    Vừa phải   Không ảnh hƣởng 1.085* .265 .001 .35 1.82
          Ảnh hƣởng rất  t .791* .232 .007 .15 1.43
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.017* .177 .000 -1.51 -.53
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.015* .166 .000 -3.47 -2.56
    Ảnh hƣởng Không ảnh hƣởng 2.103* .270 .000 1.36 2.85
    nhiều     Ảnh hƣởng rất  t 1.808* .238 .000 1.15 2.47
          Vừa phải 1.017* .177 .000 .53 1.51
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -1.997* .175 .000 -2.48 -1.51
    Ảnh hƣởng hoàn Không ảnh hƣởng 4.100* .263 .000 3.37 4.83
    toàn     Ảnh hƣởng rất  t 3.806 * .230 .000 3.17 4.44
           
          Vừa phải 3.015* .166 .000 2.56 3.47
          Ảnh hƣởng  há nhiều 1.997* .175 .000 1.51 2.48
                       

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

    Bảng 15: Bảng ph n t ch s u ANOVA mức độ ảnh hƣởng của yếu tố cá nh n tới mức độ sử dụng cà phê

    Tukey HSD

      Mean     95%   Confidence  
      Std.   Interval    
    (I) THUONG HIEU Difference Sig.    
    Error Lower Upper  
      (I-J)  
          Bound Bound  
           
    Không ảnh hƣởng   Ảnh hƣởng rất  t -.841 .470 .384 -2.14 .46  
                 
            86                
          Vừa phải   .412   .881   -1.53   .75  
          -.388        
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.122 .457   .106   -2.38   .14  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -1.174 .487   .118   -2.52   .17  
    Ảnh hƣởng rất  t Không ảnh hƣởng .841 .470   .384   -.46   2.14  
          Vừa phải .453 .379   .753   -.59   1.50  
          Ảnh hƣởng  há nhiều -.281 .427   .965   -1.46   .90  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.333 .459   .950   -1.60   .93  
    Vừa phải   Không ảnh hƣởng .388 .412   .881   -.75   1.53  
          Ảnh hƣởng rất  t -.453 .379   .753   -1.50   .59  
          Ảnh hƣởng  há nhiều -.735 .362   .258   -1.73   .27  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.787 .400   .286   -1.89   .32  
    Ảnh hƣởng Không ảnh hƣởng 1.122 .457   .106   -.14   2.38  
    nhiều     Ảnh hƣởng rất  t .281 .427   .965   -.90   1.46  
          Vừa phải .735 .362   .258   -.27   1.73  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.052 .446   1.000   -1.28   1.18  
    Ảnh hƣởng hoàn Không ảnh hƣởng 1.174 .487   .118   -.17   2.52  
    toàn     Ảnh hƣởng rất  t .333 .459   .950   -.93   1.60  
                 
          Vừa phải .787 .400   .286   -.32   1.89  
          Ảnh hƣởng  há nhiều .052 .446   1.000   -1.18   1.28  
                             

    Bảng 16: Bảng ph n t ch s u ANOVA về mức độ ảnh hƣởng của yếu tố thƣơng hiệu tới mức độ sử dụng cà phê

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
               
    Valid Gần  hu vực ở 80 48.5 58.0 58.0
      Tiện đƣờng về 25 15.2 18.1 76.1
      Sở th ch 5 3.0 3.6 79.7
      Thói quen 12 7.3 8.7 88.4
      Tùy theo giá bán từng nơi 9 5.5 6.5 94.9
      Khác 7 4.2 5.1 100.0
      Total 138 83.6 100.0  
    Missing System 27 16.4    
    Total   165 100.0    
               

    Bảng 17: : Bảng tần số thể hiện lý do chọn tiệm tập hoá

    87

                  Frequency   Percent Valid Cumulative  
                    Percent Percent  
                         
                             
        Valid Gần hu vực ở 17 10.3 13.3 13.3  
          Tiện đƣờng về 56 33.9 43.8 57.0  
          Sở th ch 21 12.7 16.4 73.4  
          Thói quen 14 8.5 10.9 84.4  
          Tùy theo giá bán từng nơi 9 5.5 7.0 91.4  
          Khác   11 6.7 8.6 100.0  
          Total   128 77.6 100.0    
        Missing System 37 22.4      
        Total     165 100.0      
                         
        Bảng 18: Bảng tần số thể hiện lý do chọn quán ven đƣờng      
                             
                  Frequency   Percent Valid Cumulative  
                    Percent Percent  
                         
        Valid Gần hu vực ở   30 18.2 25.2 25.2  
          Tiện đƣờng về   38 23.0 31.9 57.1  
          Sở th ch   9 5.5 7.6 64.7  
          Thói quen   10 6.1 8.4 73.1  
          Tùy theo giá bán từng nơi   17 10.3 14.3 87.4  
          Khác     15 9.1 12.6 100.0  
          Total     119 72.1 100.0    
        Missing System   46 27.9      
        Total       165 100.0      
                       
        Bảng 19: Bảng tần số thể hiện lý do chọn chợ          
                             
                  Frequency   Percent Valid Cumulative  
                    Percent Percent  
                         
        Valid Gần hu vực ở   36   21.8 25.9 25.9  
          Tiện đƣờng về   18   10.9 12.9 38.8  
          Sở th ch   25   15.2 18.0 56.8  
          Thói quen   36   21.8 25.9 82.7  
          Tùy theo giá bán từng nơi   12   7.3 8.6 91.4  
          Khác   12   7.3 8.6 100.0  
          Total   139   84.2 100.0    
        Missing System   26   15.8      
        Total       165   100.0      
                             

    Bảng 20: Bảng tần số thể hiện lý do chọn siêu thị

    88

        Responses   Percent of
        N Percent Cases  
    Valid Mang đi 80 41.9%   49.7%
      Dùng tại quán 44 23.0%   27.3%
      Văn phòng công ty 49 25.7%   30.4%
      Tại nhà 17 8.9%   10.6%
      Khác 1 .5%   .6%
    Total   191 100.0%   118.6%
               

    Bảng 21: Bảng tần số thể hiện xu hƣớng uống cà phê tại các thành phố lớn trong tƣơng lai

        Bạn có xu hƣớng vẫn mua loại cà phê đang sử dụng hi nó lên giá bao
        nhiêu                
        <1, 000 đ 1, 000-3, 000 đ 3, 000-10, 000 đ >10, 000 đ
          Column     Column   Column   Column
        Count N % Count   N % Count N % Count N %
    Mức 0 9 25.7% 11   15.3% 6 14.3% 1 6.3%
    độ 1 10 28.6% 23   31.9% 11 26.2% 4 25.0%
    thƣờng 2 7 20.0% 18   25.0% 14 33.3% 2 12.5%
    xuyên 3 0 0.0% 7   9.7% 4 9.5% 3 18.8%
    sử  
    4 1 2.9% 2   2.8% 1 2.4% 0 0.0%
    dụng  
    >4 8 22.9% 11   15.3% 6 14.3% 6 37.5%
    cà  phê  
                       
    của                    
    bạn                    
    trong                    
    một                    
    tuần                    
      TỔNG                  
      CỘNG 35 100% 72   100% 42 100% 16 100%
    Bảng 22: Bảng tần số chéo thể hiện quyết định hi giá loại cà phê đang sử dụng tăng lên

    Bảng tần số thể hiện mức độ quan t m của giới trẻ nói chung

        Responses    
        N Percent Percent of Cases
    GHEP CAU 12a Không 97 11.8% 58.8%
      Hơi có 183 22.2% 110.9%
          89              
        Bình thƣờng     25.5%   127.3%  
          210    
        Cao   271 32.8%   164.2%  
        Rất cao   64 7.8%   38.8%  
      Total     825 100.0%   500.0%  
                     
      Bảng 23: Bảng tần số thể hiện mức độ quan t m của giới trẻ nói chung    
                       
                  Valid Cumulative  
              Frequency Percent Percent Percent  
      Valid Không   47 28.5 28.5 28.5  
        Hơi có   60 36.4 36.4 64.8  
        Bình thƣờng   39 23.6 23.6 88.5  
        Cao   12 7.3 7.3 95.8  
        Rất cao   7 4.2 4.2 100.0  
        Total   165 100.0 100.0    
                         

    Bảng 24: Bảng tần số giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê trung nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (Học sinh)

            Valid Cumulative
        Frequency Percent Percent Percent
    Valid Không 18 10.9 10.9 10.9
      Hơi có 32 19.4 19.4 30.3
      Bình thƣờng 66 40.0 40.0 70.3
      Cao 39 23.6 23.6 93.9
      Rất cao 10 6.1 6.1 100.0
      Total 165 100.0 100.0  
               

    Bảng 25: Bảng tần số thể hiện giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê trung nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (Sinh viên)

            Valid Cumulative
        Frequency Percent Percent Percent
    Valid Không 9 5.5 5.5 5.5
      Hơi có 12 7.3 7.3 12.7
        90            
      Bình thƣờng   25.5   25.5   38.2  
      42      
      Cao 75 45.5   45.5   83.6  
      Rất cao 27 16.4   16.4   100.0  
      Total 165 100.0   100.0      
                     

    Bảng 26: Bảng tần số giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê trung nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (sinh viên đã tốt nghiệp)

            Valid Cumulative
        Frequency Percent Percent Percent
    Valid Không 21 12.7 12.7 12.7
      Hơi có 20 12.1 12.1 24.8
      Bình thƣờng 62 37.6 37.6 62.4
      Cao 42 25.5 25.5 87.9
      Rất cao 20 12.1 12.1 100.0
      Total 165 100.0 100.0  
               

    Bảng 27: Bảng tần số thể hiện giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê Trung

    Nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (đối tƣợng hác)          
                               
                          Percent
                  Responses     of Cases
                  N     Percent      
      Valid  Theo chế độ riêng của bản than     29 12.0% 17.6%
        Thói quen, tùy hứng       105 43.6% 63.6%
        Sau những giờ làm việc căng thẳng     23 9.5% 13.9%
        Khi tụ tập bạn bè đồng nghiệp       58 24.1% 35.2%
        Trƣớc hi bắt đầu làm việc       21 8.7% 12.7%
        Bàn công việc với  hách hàng       5 2.1% 3.0%
      Total           241 100.0% 146.1%
                           
    Bảng 28: Bảng tần số thời điểm uống cà phê                
    KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ THOẢ MÃN            
                           
            Frequency Percent Valid   Cumulative  
            Percent   Percent      
                           
        Valid   66 66.0 66.0     66.0    
          Không   22 22.0 22.0     88.0    
          Bình thƣờng   12 12.0 12.0     100.0    
          Total   100 100.0 100.0          

    91

    Bảng 29: Sự quan t m theo dõi thị trƣờng cà phê

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
               
    Valid 1-3 lần 82 82.0 82.0 82.0
      3-5 lần 9 9.0 9.0 91.0
      >5 lần 9 9.0 9.0 100.0
      Total 100 100.0 100.0  

    Bảng 30: Bảng tần số thể hiện số lần uống/tuần

        Responses   Percent
           
        N Percent of Cases
    Valid Báo 31 19.3% 32.0%
      Đài 13 8.1% 13.4%
      Tivi 71 44.1% 73.2%
      Internet 40 24.8% 41.2%
      Khác 6 3.7% 6.2%
    Total   161 100.0% 166.0%

    Bảng 31: Phƣơng tiện thông tin đại chúng đƣợc tiếp nhận

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
    Valid Không hài lòng 5 5.0 5.1 5.1
      Bình thƣờng 26 26.0 26.5 31.6
      Hài lòng 51 51.0 52.0 83.7
      Rất hài lòng 16 16.0 16.3 100.0
      Total 98 98.0 100.0  
    Missing System 2 2.0    
    Total   100 100.0    

    Bảng 32 Sự hài lòng      hi sử dụng cà phê Trung Nguyên:

    92

            Responses       Percent of
            N     Percent   Cases  
        Valid Không ảnh hƣởng     123     24.8%       123.0%
          Ảnh hƣởng rất  t     65     13.1%       65.0%
          Vừa phải     136     27.4%       136.0%
          Ảnh hƣởng  há nhiều     109     22.0%       109.0%
          Hoàn toàn ảnh hƣởng     63     12.7%       63.0%
        Total       496     100.0%       496.0%
    Bảng 33: Sự tác động của các yếu tố nói chung tới việc uống cà phê          
                                     
                Responses           Percent of
                N   Percent     Cases  
        Valid Không hài lòng   101   8.5%     102.0%
          Hài lòng ít   192   16.2%     193.9%
          Bình thƣờng   500   42.1%     505.1%
          Khá hài lòng   279   23.5%     281.8%
          Hoàn toàn hài lòng   115   9.7%     116.2%
        Total       1187   100.0%     1199.0%
    Bảng 34: Sự hài lòng nói chung đối với các thông điệp của Trung Nguyên  
                             
                  Responses       Percent of
                  N   Percent       Cases  
        Valid  Sử dụng cà phê nhiều hơn   40   8.4%   40.8%
          Vãn sử dụng cà phê nhƣ thƣờng   301   63.5%   307.1%
          Sử dụng cà phê  t hơn   66   13.9%   67.3%
          Có sử dụng loại cà phê  hác   54   11.4%   55.1%
          Chuyển hoàn toàn sang nhãn hiệu cà   13   2.7%   13.3%
          phê khác                        
        Total         474   100.0%   483.7%
                                       

    Bảng 35: Quyết định chung khi thu nhập tăng

    93

    KẾT QUẢ BẢNG MÔ HÌNH

          Frequency   Percent   Valid   Cumulative
              Percent   Percent
                       
      Valid Tao nhã, sang trọng 27     19.9   19.9 19.9
        Trẻ trung, sôi động 66     48.5   48.5 68.4
        Lãng mạn 19     14.0   14.0 82.4
        Ấm cúng 24     17.6   17.6 100.0
        Total 136     100.0   100.0    
      Bảng 36: Bảng tần số thể hiện hông gian quán đƣợc chọn        
                             
            Frequency Percent   Valid   Cumulative
              Percent   Percent
                         
      Valid Ngoài trời     40 29.4   29.4   29.4
        Nơi nhộn nhịp     71 52.2   52.2   81.6
        Có  hoảng  hông gian riêng   25 18.4   18.4   100.0
        Total     136 100.0   100.0    

    Bảng 37: Bảng tần số thể hiện phong cách quán

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Gần trạm xe buýt 3 2.2 2.2 2.2
    Nơi trong hẻm, yên tĩnh 87 64.0 64.0 66.2
    Gần đƣờng tấp nập 29 21.3 21.3 87.5
    các trung t m mua sắm 17 12.5 12.5 100.0
    Total 136 100.0 100.0  

    Bảng 38: Bảng tần số thể hiện địa điểm đƣợc chọn

                         
              Trò     Làm    
      Đọc   Thƣ Học chuyện, lƣớt Làm việc   Tota
      sách   giãn tập tán gẫu web việc nhóm khác l
    Gần trạm xe buýt   1 1 1 2 0 1 2 0 3
    Nơi trong hẻm, yên   13 62 16 58 23 5 21 8 87
    tĩnh                    
    Gần đƣờng tấp nập   1 13 5 22 7 5 7 0 29
                         
            94                          
      Gần các trung t m   6   2   14   5   2   2   0   17  
      0                
      mua sắm                                  
        15 82   24   96   35   13   32   8   136  

    Bảng 39: Bảng tần số thể hiện mối quan hệ giữa mục đ ch đến quán và địa điểm đƣợc chọn

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid   Bàn ghế thấp 37 27.2 27.2 27.2
    Bàn ghế cao bình thƣờng 47 34.6 34.6 61.8
    Ngồi bệt 52 38.2 38.2 100.0
    Total 136 100.0 100.0  
             

    Bảng 40: Bảng tần số về loại bàn ghế trong quán

      Responses    
      N Percent Percent of Cases
    Valid   Không muốn nghe 27 14.1% 19.9%
    Nhạc Trịnh, hải ngoại, tiền chiến 14 7.3% 10.3%
    Nhạc Việt trẻ 36 18.8% 26.5%
    Nhạc nƣớc ngoài 29 15.1% 21.3%
    Nhạc cổ điển 30 15.6% 22.1%
    hông lời 56 29.2% 41.2%
    Total 192 100.0% 141.2%

    Bảng 41: Bảng tần số thể hiện loại âm nhạc đƣợc chọn

        Ngoài trời   Nơi nhộn nhịp Có    hoảng hông
          gian riêng    
                     
        Count   Column Count Column Count   Column
          N % N %   N %
                 
    Câu  Bàn ghế thấp 11   27.5% 19 26.8% 7     28.0%
    12 Bàn  ghế  cao  bình 15   37.5% 24 33.8% 8     32.0%
           
      thƣờng                  
      Ngồi bệt 14   35.0% 28 39.4% 10     40.0%

    Bảng 42: Bảng tần số chéo thể hiện mối liên hệ giữa hông gian đƣợc chọn và bàn ghế trong quán

    95

          Câu 15            
          đƣợc phục vụ   tự phục vụ    
            Row  N Table     Row  N  
          Count Total  N Count   Table Total N %
          %   %
            %      
                     
    Câu Ngoài trời 30 75.0% 22.1% 10   25.0% 7.4%
    10 Nơi nhộn 56 78.9% 41.2% 15   21.1% 11.0%
      nhịp                
      hoảng 20 80.0% 14.7% 5   20.0% 3.7%
      không gian              
      riêng                

    Bảng 43: Bảng tần số chéo về mối quan hệ giữa cách phục vụ trong từng hông gian đƣợc chọn

        Responses   Percent of
        N Percent Cases  
    Ghép câu 6 Đọc sách 15 4.9%   11.0%
      Thƣ giãn 82 26.9%   60.3%
      Học tập 24 7.9%   17.6%
      Trò chuyện, tán gẫu 96 31.5%   70.6%
      lƣớt web 35 11.5%   25.7%
      Làm việc 13 4.3%   9.6%
      Làm việc nhóm 32 10.5%   23.5%
      Khác 8 2.6%   5.9%
    Total   305 100.0% 224.3%

    Bảng 44: Bảng tần số mục đ ch đến quán

        Câu 15          
        đƣợc phục vụ   tự phục vụ  
          Row N Table   Row N Table
        Count Total N Count Total N
        % %
          %   %
               
    Câu  Tao nhã, sang trọng 21 77.8% 15.4% 6 22.2% 4.4%
    11 Trẻ trung, sôi động 49 74.2% 36.0% 17 25.8% 12.5%
     
      Lãng mạn 17 89.5% 12.5% 2 10.5% 1.5%
      Ấm cúng 19 79.2% 14.0% 5 20.8% 3.7%
                   

    Bảng 45: Bảng tần số chéo về mối quan hệ giữa cách phục vụ và phong cách quán

    96

      Responses   Percent  of
         
           
      N Percent Cases
           
    $gheps8a Chỉ bán cà phê và nƣớc giải khát khác 15 8.1% 11.0%
    Cà phê + nƣớc giải khác + phục vụ đồ ăn nhanh 78 41.9% 57.4%
    Thêm có vật dụng giải trí (truyện + cờ cá ngựa + 70 37.6% 51.5%
    xếp hình)      
    Thêm  điểm tâm buổi sáng (Phở, Bún, Bánh mì) 13 7.0% 9.6%
    + cơm trƣa văn phòng      
    Khác. 10 5.4% 7.4%
    Total 186 100.0% 136.8%
           
    Bảng 46: Bảng tần số thức ăn  èm trong quán      

    $gheps9 Frequencies

        Responses   Percent   of
        N Percent Cases
      Truyện 49 12.7% 36.0%
      Báo, tạp chí 58 15.1% 42.6%
      Cờ Domino 29 7.5% 21.3%
      Ráp hình 24 6.2% 17.6%
    $gheps9 Sách 10 2.6% 7.4%
      Cờ cá ngựa 59 15.3% 43.4%
      Wifi 23 6.0% 16.9%
      Rút gỗ 102 26.5% 75.0%
      Khác 31 8.1% 22.8%
    Total   385 100.0% 283.1%

    Bảng 47: Bảng tần số các trò chơi trong quán

    97

    Bản vẽ 1: tầng trệt

     

    98

    Bản vẽ 2: lầu 1

     

    99

    Bản vẽ 3: lầu 2

     

    100

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tiếng Việt

    1. Báo cáo tình hình đầu tƣ của công ty Cổ Phần cà phê Trung Nguyên, 2005-2008
    1. Báo cáo điều tra tiêu dùng của công ty Trung Nguyên, 2005
    1. Chương trình nghiên cứu đô thị vì sự phát triển (dự án PRUD số 45), 2012
    1. PGS TS Trƣơng Đình Chiến, Giáo trình Quản Trị Marketing, NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
    1. Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan, Quản trị chiến lược phát triển vị thế cạnh tranh, in lần thứ 1, NXB giáo dục, 1998
    1. Website công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên
    1. Báo cáo tình hình đầu tư của Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên, 2006
    1. Tổng cục thống kê, năm 2003 đến nay
    1. Trần Thị Quỳnh Chi, Muriel Figue, Trần Thị Thanh Nhàn, Nghiên cứu tiêu thụ phê trong nước tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu của viện chính sách và chiến lƣợc phát triển nông nghiệp nông nghiệp Hà Nội, 2006

     

    1. Nguyễn Ninh Tuấn, Định hướng mới đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, 2008.
    1. Báo cáo tài ch nh Phòng nhƣợng quyền công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên
    1. Hiệp hội cà phê – cao Việt Nam
    1. Báo cáo tài chính của Vinacafe Biên Hòa, năm 2013
    1. Báo cáo tài chính Neslte, năm 2012
    1. Philip Kotler, Mar eting căn bản, NXB Hà Nội
    1. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1, 2.

     

    1. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang, Nghiên Cứu Thị Trƣờng, NXB Đại Học Quốc Gia TP.HCM, 2007
    1. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang, Nguyên Lý Marketing, NXB Lao Động.

    Tiếng Anh

    1. Philip Kotler, Marketing Insights from A to Z
    1. Philip Kotler, Kevin Lane Keller, Marketing Management, 1967
    1. Michael E. Porter, Competitve Strategy, New York: Free Press, 1985.

    MÃ SỐ: ………….

    TÊN CÔNG TRÌNH:

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUÁN ĐIỂM CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN DÀNH CHO GIỚI TRẺ TẠI THÀNH

     


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]
  • Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-ph%C6%B0%C6%A1ng-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-v%C3%A0-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-trong-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    MỞ ĐẦU

    1. TÝnh cÊp thiÕt:

    Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm tạo thế đứng cho doanh nghiệp mình đang ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt. Để có thể đứng vững trong môi trường đó, doanh nghiệp cần phải tạo ra được những ưu thế riêng có của mình như: Chất lượng sản phẩm, giá cả, mẫu mã, tính hiện đại tiện dụng…

    Để có được những ưu thế trên, ngoài yếu tố khoa học kĩ thuật, công nghệ và trình độ quản lý kinh doanh thì điều kiện tối cần thiết để doanh nghiệp đứng vững và có uy tín trên thị trường chính là việc quản lý nguyên vật liệu hiệu quả. Đảm bảo quản lý nguyên vật liệu cho sản xuất là một yêu cầu khách quan, thường xuyên của mọi đơn vị sản xuất và nó có tác động rất lớn tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, đúng chất lượng là điều kiện quyết định khả năng tái sản xuất mở rộng và góp phần đảm bảo tiến độ sản xuất trong doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất, nguyên vật liệu là bộ phận trực tiếp tạo nên sản phẩm, nó chiếm 60-70% trong cơ cấu giá thành sản phẩm. Do đó, nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm.

    Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của nguyên vật liệu cũng như công tác quản lý nguyên vật liệu như đã nêu trên, tôi chọn đề tài: “Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp” và thực hiện tại công ty Vật Liệu Xây Dựng Bưu Điện Hà Nội với mong muốn mở rộng tầm nhìn thực tế và hiểu biết thêm về mô hình quản lý của

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                1

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề án được trình bày qua 3 chương:

    Chương I: Nguyên vật liệu và quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    Chương II: Thực trạng công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng Bưu Điện Hà Nội.

    Chương III: Một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng Bưu Điện Hà Nội.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                2

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Chương I

    Nguyên vật liệu và quản lý nguyên vật liệu.

    1.1 Khái niệm và vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    1.1.1 Khái niệm:

    Một doanh nghiệp muốn kinh doanh, sản xuất hiệu quả thì phải chú trọng tới nhiều yếu tố. Nhóm yếu tố quan trọng đầu tiên là nhóm yếu tố đầu vào.

    Trong đó nguyên vật liệu là yếu tố đáng chú ý nhất vì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo nên thực thể sản phẩm. Thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn hoặc không tiến hành được. Nguyên vật liệu là từ tổng hợp dùng để chỉ chung nguyên liệu và vật liệu. Trong đó, nguyên liệu là đối tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu. Tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa nguyên liệu và đối tượng lao động là sự kết tinh lao động của con người trong đối tượng lao động, còn với nguyên liệu thì không. Những nguyên liệu đã qua công nghiệp chế biến thì được gọi là vật liệu.

    Nguyên vật liệu trong quá trình hình thành nên sản phẩm được chia thành nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ. Nguyên vật liệu chính tạo nên thực thể sản phẩm, ví dụ như bông tạo thành sợi để từ sợi tạo nên thực thể vải hay kim loại tạo nên thực thể của máy móc thiết bị… Vật liệu phụ lại bao gồm nhiều loại có loại thêm vào nguyên liệu chính để làm thay đổi tính chất của nguyên liệu chính nhằm tạo nên tính chất mới phù hợp với yêu cầu của sản phẩm. Có loại lại dùng để tạo điều kiện cho sự hoạt động bình thường của tư liệu lao động và hoạt động của con người…

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                3

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Việc phân chia như thế này không phải dựa vào đặc tính hoá học hay khối lượng tiêu hao mà căn cứ vào sự tham gia của chúng vào quá trình tạo ra sản phẩm. Vì vậy, mỗi loại nguyên vật liệu lại có vai trò khác nhau đối với đặc tính của sản phẩm.

    1.1.2 Vai trò của nguyên vật liệu.

    Là một yếu tố trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm, do vậy, chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ về số lượng chất lượng chủng loại… có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cho sản xuất còn là một biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm.

    Nguyên vật liệu liên quan trực tiếp tới kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, cung ứng nguyên vật liệu kịp thời với giá cả hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Xét cả về mặt hiện vật lẫn về mặt giá trị, nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu trong bất kì quá trình sản xuất nào, là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động. Chính vì vậy, quản lý nguyên vật liệu chính là quản lý vốn sản xuất kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp.

    1.1.3 Phân loại nguyên vật liệu.

    Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau. Để có thể quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ thì nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp cần thiết phải phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp nguyên vật liệu thành từng loại, từng nhóm khác nhau căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                4

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài). Đối với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm như sắt, thép chế tạo nên máy cơ khí, xây dựng cơ bản… Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trinh sản xuất sản phẩm ví dụ như sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được gọi là nguyên vật liệu chính.
    • Nguyên vật liệu phụ: cũng là đối tượng lao động nhưng chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất được sử dụng cùng với nguyên vật liệu chính để làm thay đổi một số tính chất lí hoá của nguyên vật liệu chính (hình dáng, màu sắc, mùi vị…) hoặc phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động, phục vụ cho lao động của công nhân viên chức, phục vụ cho công tác quản lý.
    • Nguyên vật liệu khác: là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như gỗ, sắt, thép vụn hay phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định.

    Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý mà từng loại nguyên vật liệu lại được chia thành từng nhóm, từng thứ quy cách một cách chi tiết, cụ thể hơn. Việc phân loại cần lập thành sổ danh điểm cho từng thứ vật liệu, trong đó mỗi nhóm được sử dụng một ký hiệu riêng.

    1.2 Bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    1.2.1 Công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu.

    1.2.1.1 Bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.

    1.2.1.1.1 Các quan điểm và chỉ tiêu đánh giá nguyên vật liệu trong sản xuất.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                5

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Như chúng ta đã biết nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất (sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động), nội dung cơ bản của đối tượng lao động là nguyên vật liệu. Nếu xét về mặt vật chất thì nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chất lượng sản phẩm. Chất lượng của nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Xét về mặt giá trị thì tỷ trọng các yếu tố nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành. Còn xét về lĩnh vực vốn thì tiền bỏ ra mua nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của các doanh nghiệp. Do đó, việc đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là yêu cầu cấp bách đặt ra đối với mọi đơn vị sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:

    • Đảm bảo cung cấp kịp thời nguyên vật liệu cho sản xuất. Tính kịp thời là yêu cầu về mặt lượng của sản xuất. Phải luôn đảm bảo để không xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.
    • Đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, chủng loại và quy cách của nguyên vật liệu. Tính kịp thời phải gắn liền với đủ về số lượng và đúng về chất lượng. Đây là một yêu cầu của công tác phục vụ. Nếu cung cấp kịp thời nhưng thừa về số lượng và chất lượng không đảm bảo thì hiệu quả sản xuất sẽ không cao. Về mặt quy cách và chủng loại cũng là yếu tố quan trọng, nếu cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng nhưng sai quy cách và chủng loại sẽ gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, thậm chí sản xuất còn bị gián đoạn.
    • Đảm bảo cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ trong cung cấp cũng có ý nghĩa tương tự như tính cân đối trong sản xuất. Tính đồng bộ hoàn toàn không phải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm quyết định. Ví dụ định mức tiêu hao nguyên liệu để sản xuất một máy tiện T616 thì cần 2188 Kg gang, 540 Kg thép và 0,4 Kg kim loại màu. Như vậy, nếu sản xuất 10 máy thì đòi hỏi phải cung cấp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                6

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.2.1.1.2 Vai trò của công tác bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.

    Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp. Thước đo để đánh giá trình độ bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất chính là mức độ đáp ứng của 3 yêu cầu: cung cấp kịp thời, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại và cung cấp đồng bộ.

    Việc đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ, đồng bộ, kịp thời là điều kiện tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất, cho sự nhịp nhàng đều đặn của quá trình sản xuất. Đó chính là cơ sở để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu của thị trường về mặt số lượng. Bất cứ một sự không đầy đủ, kịp thời và đồng bộ nảo của nguyên vật liệu đều có thể gây ra ngừng trệ sản xuất, gây ra sự vi phạm các quan hệ kinh tế đã được thiết lập giữa các doanh nghiệp với nhau, gây ra sự tổn thất trong sản xuất kinh doanh.

    Nguyên vật liệu được đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó mà tăng doanh thu, tăng quỹ lương và đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện.

    Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là vấn đề quan trọng để đưa các mặt quản lý đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao như quản lý lao động, định mức, quỹ lương, thiết bị, vốn… Đảm bảo sản xuất kinh doanh có lợi, tăng khả năng sinh lời

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                7

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Như vậy, công tác bảo đảm trong sản xuất có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất. Việc đảm bảo này ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp, đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm đầu tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.

    1.2.1.1.3 Nội dung của công tác đảm bảo nguyên vật liệu.

    • Lập kế hoạch mua nguyên vật liệu:

    Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất-kĩ thuật-tài chính của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ này, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu bảo đảm yếu tố vật chất để thực hiện các kế hoạch khác, còn các kế hoạch khác là căn cứ để xây dựng mua sắm nguyên vật liệu. Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hoạt động dự trữ, tiêu thu, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    • Trước hết phải xác định lượng vật liệu cần dùng. Lượng vật liệu cần dùng là lượng vật liệu được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm trong kỳ kế hoạch (thường là 1 năm). Lượng vật liệu cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về mặt hiện vật và giá trị, đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu vật liệu cho chế thử sản phẩm mới, tự trang tự chế, sửa chữa máy móc thiết bị…Lượng vật liệu cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại theo quy cách, cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng, sau đó tổng hợp lại cho toàn doanh nghiệp. Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một sản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa trong kỳ kế hoạch. Tuỳ thuộc vào từng loại nguyên vật liệu, từng loại sản phẩm, đặc

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                8

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu chính cần dùng được tính theo công thức:

    Vcd = Σ [(Si*Dvi)(1+Kpi)(1-Kdi)]

    Trong đó:

    Vcd: lượng vật liệu cần dùng.

    Si: số lượng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch.

    Dvi: định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm loại i.

    Kdi: tỷ lệ phế liệu dùng lại loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.

    Kpi: tỷ lệ phế phẩm cho phép loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.

    • Xác định lượng nguyên vật liệu dự trữ. Để đảm bảo cho quá trình tiến hành được liên tục, hiệu quả đói hỏi phải có một lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý. Lượng nguyên vật liệu dự trữ (còn gọi là định mức dự trữ nguyên vật liệu) là lượng nguyên vật liệu tồn kho cần thiết được quy định trong kỳ kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và bình thường. Căn cứ vào tính chất, công dụng, nguyên vật liệu dự trữ được chia thành ba loại: dự trữ thường xuyên, dự trữ theo mùa và dự trữ bảo hiểm.

    + Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành bình thường giữa hai lần mua sắm nguyên vật liệu.

    Công thức xác định:

    Vdx = Vn*tn

    Trong đó:

    Vdx: lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên lớn nhất.

    Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.

    tn: thời gian dự trữ thường xuyên.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                9

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu dùng bình quân tuỳ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp còn thời gian dự trữ tuỳ thuộc vào thị trường mua, nguồn vốn lưu động và độ dài của chu kỳ sản xuất.

    • Lượng nguyên vật liệu dự trữ bảo hiểm: là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất được tiến hành bình thường.

    Công thức xác định:

    Vdb = Vn*N.

    Trong đó:

    Vdb: lượng vật liệu dự trữ bảo hiểm.

    Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.

    N: số ngày dự trữ bảo hiểm.

    Số ngày dự trữ bảo hiểm được tính bình quân, số ngày lỡ hẹn mua trong năm.

    • Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa: trong thực tế có những loại nguyên vật liệu chỉ mua được theo mùa như mía cho doanh nghiệp đường, trái cây cho doanh nghiệp thực phẩm đồ hộp… Hoặc có những loại nguyên vật liệu vận chuyển bằng đường thuỷ, mùa mưa bão không vận chuyển được thì cũng phải dự trữ theo mùa.

    Công thức xác định:

    Vdm = Vn*tm.

    Trong đó:

    Vdm : Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa .

    Vn : Lượng nguyên vật liệu tiêu hao bình quân .

    Tm : Số ngày dự trữ theo mùa .

    Xác định lượng nguyên vật liệu cần mua để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch vốn lưu động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán chính xác lượng nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm. Lượng nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm phụ thuộc vào ba yếu tố:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             10

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu cần dùng (Vcd).

    Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ (Vd1).

    Lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ (Vd2).

    Công thức xác định:

    Vc = Vcd + Vd2 – Vd1

    Với Vc là lượng nguyên vật liệu cần mua. Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ được tính theo công thức:

    Vd1 = (Vk+Vnk)-Vx.

    Trong đó

    Vk là lượng nguyên vật liệu tồn kho ở thời điểm kiểm kê.

    Vnk: lượng nhập kho từ sau kiểm kê đến cuối năm báo cáo.

    Vx: lượng xuất cho các đơn vị sản xuất từ sau kiểm kê đến cuối năm báo

    cáo.

    Đối với các doanh nghiệp không có dự trữ theo mùa, lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối năm kế hoạch chính là lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên và lượng nguyên vật liệu bảo hiểm.

    –      Xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu.

    Sau khi đã xác định được lượng nguyên vật liệu cần dùng, cần dự trữ và cần mua trong năm, bước tiếp theo là phải xây dựng kế hoạch tiến độ mua. Thực chất của kế hoạch này là xác định số lượng, chất lượng, quy cách và thời điểm mua của mỗi lẫn. Khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu phải căn cứ trên các nguyên tắc sau:

    • Không bị ứ đọng vốn ở khâu dự trữ.
    • Luôn đảm bảo lượng dự trữ hợp lý về số lượng chất lượng và quy cách.
    • Góp phần nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
    • Khi tính toán phải tính riêng cho từng loại, mỗi loại tính riêng cho từng thứ.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             11

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Xuất phát từ những nguyên tắc trên, khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm phải dựa vào các nội dung sau:

    • Kế hoạch tiến độ sản xuất nội bộ.
    • Hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm.
    • Các hợp đồng mua bán vật tư và giao nộp sản phẩm cho khách hàng.
    • Mức độ thuận tiện và khó khăn của thị trường mua, bán vật tư.
    • Các chỉ tiêu của kế hoạch mua nguyên vật liệu trong năm.
    • Phương tiện vận chuyển và phương thức thanh toán.
    • Hệ thống kho tàng hiện có của đơn vị.

    Phương pháp xây dựng tiến độ mua sắm: Với nội dung kế hoạch tiến độ đã trình bày ở trên, việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch được thực hiện theo 2 phương pháp:

    • Đối với các loại nguyên vật liệu đã có định mức tiêu hao thì tính trực tiếp: Lấy số lượng sản phẩm nhân với định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm đó.
    • Đối với những loại nguyên vật liệu chưa xây dựng được định mức thì dùng phương pháp tính gián tiếp. Lấy mức tiêu hao kỳ trước làm gốc nhân với tỷ lệ tăng sản lượng của kỳ cần mua sắm.
    • Tiến hành mua nguyên vật liệu.

    Sau khi có kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu, công tác mua và vận chuyện về kho của doanh nghiệp do phòng vật tư (thương mại hoặc kinh doanh) đảm nhận. Giám đốc hoặc các phân xưởng có thể ký các hợp đồng với phòng vật tư về việc mua và vận chuyển nguyên vật liệu. Hợp đồng phải được xác định rõ số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách mua, giá và thời gian giao nhận. Hai bên phải chịu bồi thường về vật chất nếu vi phạm hợp đồng. Phòng vật tư chịu trách nhiệm cùng cấp kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng cho các đơn vị sản xuất. Nếu vì lý do gì đó không cung cấp kịp, phòng vật tư phải báo cáo với giám

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             12

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.2.2 Công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp:

    Việc quản lý nguyên vật liệu là cần thiết khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý nguyên vật liệu cũng khác nhau. Làm thế nào để cùng một khối lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Việc quản lý nguyên vật liệu có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng trách nhiệm của cán bộ quản lý. Để quản lý nguyên vật liệu một cách có hiệu quả còn phải xem xét trên các khía cạnh sau:

    1.2.2.1 Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.

    Tiếp nhận nguyên vật liệu là một khâu quan trọng và là khâu mở đầu của việc quản lý. Nó là bước chuyển giao trách nhiệm trực tiếp bảo quản và đưa vật liệu vào sản xuất giữa đơn vị cung ứng và đơn vị tiêu dùng. Đồng thời nó là ranh giới giữa bên bán và bên mua, là cơ sở hạch toán chính xác chi phí lưu thông và giá cả nguyên vật liệu của mỗi bên. Việc thực hiện tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho người quản lý nắm chắc số lượng, chất lượng và chủng loại, theo dõi kịp thời tình trạng của nguyên vật liệu trong kho từ đo làm giảm những thiệt hại đáng kể cho hỏng hóc đổ vỡ, hoặc biến chất của nguyên vật liệu. Do tính cấp thiết như vậy, tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ:

    Một là, tiếp nhận một cách chính xác về chất lượng, số lượng, chủng loại nguyên vật liệu theo đúng nội dung, điều khoản đã ký kết trong hợp đồng kinh tế, trong hoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển…

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             13

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Hai là, phải vận chuyển một cách nhanh chóng nhất để đưa nguyên vật liệu từ địa điểm tiếp nhận vào kho của doanh nghiệp tránh hư hỏng, mất mát và đảm bảo sẵn sàng cấp phát kịp thời cho sản xuất.

    Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ này công tác tiếp nhận phải tuân thủ những yêu cầu sau:

    • Nguyên vật liệu khi tiếp nhận phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ tuỳ theo nguồn tiếp nhận khác nhau trong ngành, ngoài ngành hay trong nội bộ doanh nghiệp.
    • Nguyên vật liệu khi nhập phải qua đủ thủ tục kiểm nhận và kiểm nghiệm. Phải xác định chính xác số lượng, chất lượng, chủng loại hoặc phải làm thủ tục đánh giá, xác nhận nếu có hư hỏng mất mát.
    • Nguyên vật liệu sau khi tiếp nhận sẽ được thủ kho ghi số thực nhập và người giao hàng cùng với thủ kho ký vào phiếu nhập kho. Phiếu nhập kho sẽ được chuyển cho bộ phận kế toán ký nhận vào sổ giao nhận chứng từ. Trong cơ

    chế mới, các doanh nghiệp được phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.

    Bên doanh nghiệp và bên cung ứng phải thống nhất địa điểm tiếp nhận, cung ứng thẳng hay qua kho của doanh nghiệp. Những vật tư mẫu theo kế hoạch hoặc hợp đồng đặt hàng thì theo quy định “ Những xí nghiệp có nhu cầu vật tư ổn định, trước hết là những hộ tiêu thụ lớn được nhân thẳng hợp đồng dài hạn về mua bán vật tư “.

    1.2.2.2. Tổ chức quản lý kho :

    Kho là nơi tập trung dự trữ nguyên vạt liệu , nhiên liệu , thiết bị máy móc , dụng cụ chuẩn bị cho quá trình sản xuất , đồng thời cũng là nơi thành phẩm của công ty trước khi tiêu thụ.Do tính chất đa dạng và phức tạp của nguyên vật liệu nên hệ thống kho của doanh nghiệp phải có nhiều loại khác nhau phù hợp với

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             14

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Do vậy, tổ chuéc quản lý kho phải thực hiện những nhiệm bụ sau :

    • Bảo quản toàn ven số lượng, nhuyên vật liệu, hạn chế ngăn ngừa hư hỏng , mất mát đến mưc tối thiểu.
    • Luôn nắm chắc tình hình nguyên vật liệu vào bất kỳ thời điểm nào nhằm đáp ứng một cách nhanh nhất cho sản xuất.
    • Bảo đảm thuân tiện cho việc xuất nhập kiểm tra bất cứ lúc nào.
    • Bảo đảm hạ thấp chi phí bảo quản , sử dụng hợp lý và tiết kiêm diện tích kho

    .

    Để thực hiện những nhiệm vụ trên công tác quản lý bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

    • Công tác sắp xếp nguyên vật liệu : dựa vào tính chất , đặc điểm ngyên vật liệu và tình hình cụ thể của hệ thống kho để sắp xếp nguyên vật liệu một cách hợp lý, khoa hoc, đảm bảo an toàn ngăn nắp , thuân tiện cho việc xuất nhập kiểm kê.Do đó, phải phâm khu , phân loại kho , đánh số , ghi ký hiệu các vị trí nguyên vật liệu một cách hợp lý .
    • Bảo quản nguyên vật liệu : Phải thưc hiện đúng theo quy trình , quy phạm nhà nước ban hành để đảm bảo an toàn chất lượng nguyên vật liệu
    • Xây dựng và thực hiện nội quy về chế độ trách nhiệm và chế độ kiểm tra trong việc bảo quản nguyên vật liệu .

    1.2.2.3 . Tổ chức cấp phát nguyên vật liệu:

    Cấp phát nguyên vật liệu là hình thức chuyển nguyên vật liệu từ kho xuống các bộ phận sản xuất. V iệc cấp phát một cách nhanh chóng , kịp thời , chính xác và khoa học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng có hiệu quả cao năng xuất lao động của công nhân ,máy móc thiết bị làm cho sản xuất được tiến hành liên

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             15

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Việc cấp phát nguyên vật liệu có thể tiến hành theo các hình thức sau:

    + Cấp phát theo yêu cầu của các bộ phận sản xuất.

    Căn cứ vào yêu cầu của nguyên vật liệu của từng phân xưởng , bộ phận sản xuất đã báo trước cho bộ phận cấp phát của kho từ một đến ba ngày để tiến hành cấp phát . Số lượng nguyên vật liệu được yêu cầu được tính toán dựa trên nhiệm vụ sản xuất và hệ thống định mức tiêu dùng nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã tiêu dùng.

    • Ưu điểm: đáp ứng kịp thời tiến độ sản xuất đối với từng bộ phận của doanh nghiệp , tránh những lãng phí và hư h ỏng không cần thiết .
    • Hạn chế : bộ phận cấp phát của kho chỉ biết được yêu cầu của bộ phận trong thởi gian ngắn, việc cấp phát kiểm tra tình hình sử dụng gặp nhiều khó khăn , thiếu tính kế hoạch và chủ động cho bộ phận cấp phát.
    • Cấp phát theo tiến độ kế hoạch.( cấp phát theo hạn mức):

    Đây là hình thức cấp phát quy định cả số lượn và thời gian nhằm tạo sự chủ động cho cả bộ phận sử dụng và bộ phận cấp phát.Dựa vào khối lưọng sản xuất cũng như dựa vào định mức tiêu dùng nguyên vật liệu trong kỳ kế hoạch, kho cấp phát nguyên vật liệu cho các bộ phận sau từng kỳ sản xuất doanh nghiệp quyết toán vật tư nội bộ nhằm so sánh số sản phẩm đã sản xuất ra với số lượng nguyên vật liệu đã tiêu dùng . Trưòng hợp thừa hay thiếu sẽ đựoc giải quuyết một cách hợp lý và có thể căn cứ vào một số tác đọnh khách quan khác. Thực tế cho thấy hình thưc cấp phát này đạt hiệu quả cao, giúp cho việc giám sát hạch toán tiêu dùng nguyên vật liệu chính xác , bộ phận cấp phát có thể chủ động triến khai việc chuẩn bị nguyên vật liệu một cách có kế hoạch, giảm bớt giấy tờ , đỡ thao tác tính toán . Do vậy , hình thức cấp phát này đạt hiệu qủa cao và được áp dụng

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             16

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ngoài hai hình thức cơ bản trên , trong thực tế còn có hình thức : “bán nguyên vật liệu mua thành phẩm ”. Đây là bước phát triển cao cùa công tác quản lý nguyên vật liệu nhằm phát huy đầy đủ quyền chủ dộng sáng tạo trong các bộ phận sử dụng vật tư , hạch toán chính xác, giảm sự thất thoát đến mức tối thiểu .

    Với bất kỳ hình thức nào muốn quản lý tốt nguyên vật liệu cần thực hiện tốt công tác ghi chép ban đầu , hạch toán chính xácviệc cấp phát nguyên vật liệu thực hiện tốt các quy định của nhà nước và của doanh nghiệp .

    1.2.2.4. Thanh , quyết toán nguyên vật liệu :

    Đây là bước chuyển giao trách nhiệm giữa các bộ phận sử dụng và quản lý nguyên vật liệu . Đó là sự đối chiếu giữa lượng nguyên vật liệu nhận về với số lượng sản phẩm giao nộp , nhờ đó mới đảm bảo được việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu bảo đảm hạch toán đầy đủ chính sách nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm . Khoảng cách và thời gian để thanh quyết toán là tuỳ thuộc vào chu kỳ sản xuất , nếu chu kỳ sản xuất dài thì thực hiên một quý một lần , nếu ngắn thì được thanh quyết toán theo từng tháng .

    Nếu gọi :

    A            : Lượng nguyên vật liệu đã nhận về trong tháng .

    Lsxsp : Lượng nguyên vật liệu sản xuất ra sản phẩm trong tháng.

    Lbtp  : Lượng nguuyên vật liệu bán thành phẩm kho .

    Lspd  : Lượng nguyên vật liệu trong sản phẩm dở dang .

    Ltkp  : Lượng nguyên vật liệu tồn kho phân xưởng .

    Theo lý thuyết ta có :

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             17

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    A = Lsxsp + Lbtp +Lspd + Ltkpk

    Trong thực tế , nếu A > tổng trên thì tức là có hao hụt . Do vậy , khi thanh toán phải làm rõ lượng hao hụt , mất mát này . Từ đó đánh giá dược tình hình sử dụng nguyên vạt liệu và có các biện pháp khuyến khích hay bắt bồi thường chính đáng .

    1.2.2.5 .Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu :

    Có thể nói , sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu đã trở thành một nguyên tắc , một đạo đức , một chính sách kinh tế của các doanh nghiệp .Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp được thực hiện theo những phương hướng và biện pháp chủ yếu sau :

    • không ngừng giảm bớt phế liệu , phế phẩm , hạ thấp định mức tiêu dùng nguyên vật liệu . Giảm mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm là yếu tố quan trọng đề tiết kiệm vật tư trong quá trình sản xuất song khi muốn khai thác triệt để yếu tố này cần phải phân tích cho được các nguuyên nhân làm tăng , giảm mức tiêu hao vật tư trong sản xuất . Từ đó đè ra các biện pháp cụ thể nhằm tiết kiệm dượcnhiều vật tư trong sản xuất . Mức tiêu hao vật tư trong một đơn vị sản phẩm thường bị tác động bởi nhiều nhân tố như: Chất lượng vật tư , tình hình trang bị kỹ thuật cho sản xuất , trình độ lành nghề của công nhân , trọng lượng thuần túy của sản phẩm .

    Để thực hiện có hiệu quả phương hướng này , doanh nghiệp cần tập trung giải quyết các vấn đề :

    • Hợp lý hoá sản xuất , cải tiến kỹ thuật , nâng cao trình độ tay nghề của công nhân , thực hiện đúng các chế độ về bảo quản sử dụng máy móc thiết bị , coi trọng hạch toán nguyên vật liệu , xây dựng chế độ thưởng phạt nhằm kích thích sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu .

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             18

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Xoá bỏ mọi hao hụt mất mát , hư hỏng nguyên vật liệu do nguên nhân chủ quan gây ra .

    Để thực hiện tốt phương hướng này cần nâng cao trách nhiệm trong công tác thu mua , vận chuyển , bao gói , bốc dở, kiểm nghiệm nguyên vật liệu trong kho và cấp phát nguyên vật liệu cho sản xuất .

    • Cải tiến quy trình công nhgệ , đổi mới máy móc thiết bị , tổ chức sản xuất hợp lý cũng góp phần giảm các tổn thất trong quá trình sản xuất.

    +Tăng cường giáo dục về ý thức tiết kiệm ,lợi ích của tiết kiệm đối với xí nghiệp, đối với từng người.

    • Nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ , trình độ tay nghề của công nhân.
    • Có các biện pháp khuyến kh ích vật chất, tinh thần thích đáng, kịp thời đối với việc tiết kiệm.
    • Sử dụng nguyên vật liệu thay thế : Việc lựa chọn nguyên vật liệu thay thế đựoc tiến hành cả trong khâu cung ứng và thiết kế chế tạo sản phẩm . Đây là một biện pháp quan trong, nó cho phép sử dụng những nguyên vật liệu có sẵn trong nước và từ đó giảm bớt việc thay thế phải đảm bảo tính hiệu quả king tế của doanh nghiệp vạ đặc biệt là vẫn phải b ảo dảm chất lượng và đáp ứng được yêu cầu của công nghệ sản xuất.
    • Sử dụng lại phế liệu – phế phẩm: tức là sử dụng tối đa vật liệu tiêu dùng trong sản xuất . thu hồi và tận dụng phế liệu – phế phẩm không những là yêu cầu trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài của doanh nghiệp .Việc tận dụng sẽ góp phần làm giảm định mức tiêu dùng nguyên vật liệu và hạ giá thành sản phẩm . Nó cũng có thể đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp nếu thực hiện bán phế liệu , phế phẩm cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp .

    Như vậy, để đảm bảo quản lý nguyên vật liệu trong xí nghiệp một cách có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quản lý thu mua sao cho đúng chủng loại , chất lượng theo yêu cầu sử dụng với giá mua hợp lý , tránh thất thoát vật liệu để hạ thấp gíá

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             19

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             20

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Chương II

    Thực trạng công tác bảo đảm , quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng bưu điện.

    2.1. Giíi thiÖu chung vÒ c«ng ty

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

     

    Tiền thân của Công ty Vật liệu xây dựng Bưu điện là xưởng sản xuất cột bê

    tông thuộc Công ty công trình Bưu điện được thành lập theo quyết định số 834 ngày 13 / 5 / 1959 . Xưởng được khởi công xây dựng từ năm 1959 và đi vào sản xuất năm 1961 với sản phẩm chủ yếu là cột bê tông để trang bị cho các đường dây thông tin .

    Sau khi đòi hỏi của thị trường cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp được mở rộng không chỉ phục vụ cho ngành Bưu điện mà còn phục vụ cho ngành khác . Để phù hợp với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường thay đổi .Ngày 21 /10 1989 , xưởng sản xuất cột bê tông đổi tên thành xí nghiệp bê tông và xây lắp bưu điện .Trong giai đoạn này , xí nghiệp sản xuất các sản phẩm chính là cột điện bê tông , tấm lợp nhà , gạch lát hoa , tấm đan … Nhận các công trình trong và ngoài ngành bưu điện .

    Từ đây xí nghiệp đã chuyển sang một giai đoạn mới trong quá trình sản xuất kinh doanh . Hoạt động sản xuất cũng như tiêu thụ của xí nghiệp đã từng bước hoà nhập cơ chế thị trường . Năm 1955 ,xí nghiệp có sự chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất và thay đổi quy mô sản xuất . Ngoài những sản phẩm truyền thông như cống cáp thông tin, cột điện bê tông các loại, tấm panen… Xí nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất ống nhựa với các sản phẩm như ống DSF (ống nhựa PVC 3 lớp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             21

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty vật liệu xây dựng Bưu điện đã được phê duyệt theo quyết định số 357/QĐ-TCCP/HĐQT ngày 26/11/1996 của hội đổng quản trị tổng công ty Bưu chính Việt Nam.

    Trong thời kỳ này tốc độ tăng trưởng của công ty rất lớn. Năm 1996 công ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất ống nhựa thứ hai. Đầu tư thêm dây chuyền ống nhựa ф34, ống hai nửa.

    Mấy năm gần đây tuy tốc độ phát triển có chậm lại nhưng hàng năm công ty vẫn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra.

    Sự phát triển và trưởng thành của công ty vật liệu xây dựng Bưu điện trong những năm gần đây được thể hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:

    STT Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
             
    1 Doanh thu thuần 71.486.783.212 84.634.222.957 87.850.714.250
             
    2 Tổng chi phí 62.060.856.360 64.213.290.988 66.127.547.699
             
    3 Nộp ngân sách 3.378.849.708 3.071.569.744 3.529.509.988
             
    4 Tổng lợi nhuận 6.047.077.802 7.734.936.223 7.989.621.573
             
    5 Thu nhập bình quân 1.100.000 1.200.000 1.250.000
             

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             22

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.1.2. Một số đặc điểm của công ty.

    2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất:

    Công ty vật liệu xây dựng Bưu điện là một doanh nghiệp có qui mô vừa chuyên ngành sản xuất các sản phẩm phục vụ cho ngành Bưu điện và một số ngành khác như điện lực, cấp thoát nước.

    Công ty vật liệu xây dựng Bưu điện có bốn thành viên và một văn phòng đại diện khu vực phía nam: Xí nghiệp nhựa, xí nghiệp bê tông Bưu điện II, xí nghiệp bê tông Bưu điện III, xí nghiệp xây lắp I. Các xí nghiệp có trụ sở tại các địa bàn khác nhau trừ xí nghiệp nhựa nằm trên cùng địa bàn với công ty. Các xí nghiệp có chức năng và nhiệm vụ sản xuất như sau: xí nghiệp bê tông Bưu điện II, xí nghiệp bê tông Bưu điện III chuyên sản xuất các cần cẩu kiện bê tông, xí nghiệp xây lắp I – xây dựng và lắp đặt các công trình Bưu điện, các công trình dân dụng. Xí nghiệp nhựa chuyên sản xuất các sản phẩm bằng chất dẻo. Văn phòng đại diện giao dịch bán các sản phẩm của công ty tại khu vực phía nam.

    Dưới đây là sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất ống nhựa dẫn cáp tại xí nghiệp nhựa thuộc công ty vật liệu xây dựng Bưu điện.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             23

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Vật liệu chính            
          Phụ gia ổn định, tự
    PVC 800.1000         gia công
                   
                   
                   
          Sấy trộn     Cần pha chế  
               
                   

    Lập chương trình

    máy điều khiển   Điện trên máy

    tốc độ, nhiệt độ

    Địa hình chân không

    Làm mát sản phẩm

    In nhận sản phẩm

    Cắt thành hình bán sản phẩm

    Nong đầu, tạo khớp nối

    Kiểm tra ngoại quang, trọng lượng, kích thước, cơ lý, phân loại sản phẩm

    Nhập kho

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             24

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Xem xét qui trình công nghệ thấy chu kì sản xuất ngắn, qui trình sản xuất hàng loạt lớn. Không có bán thành phẩm, không có sản phẩm dở dang do đó việc cung ứng, dự trữ và sử dụng vật tư có thể tính toán trước được.

    2.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.

    Do đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty nên bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo hình thức trực tuyến chức năng. Mỗi xí nghiệp có bộ máy quản lý riêng và chịu sự lãnh đạo của bộ máy quản lý Công ty. Cơ cấu lãnh đạo của bộ máy Công ty bao gồm: Giám đốc, ba phó giám đốc và sáu phòng quản lý, nghiệp vụ.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

    Ban giám đốc Công ty

    Phòng tổ   Phòng kinh   Phòng KH   Phòng   Phòng   Phòng
    chức hành   doanh   thị trường   kĩ thuật   cung ứng   kế toán
    chính               vật tư   TC
                         

    Sơ đồ tổ chức

    Công ty Vật liệu xây

    dựng Bưu điện

      Xí nghiệp     Xí nghiệp       Xí nghiệp            
                  Xí nghiệp   Văn phòng đại   25
      SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2 bê tông      
      nhựa bưu     bê tông           xây lắp I   diện tại MN    
      điện     BĐII         BĐIII        
                             
                                   

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             26

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Giám đốc: Ngoài phụ trách chung, trực tiếp phụ trách lĩnh vực tổ chức cán bộ, lao động và lĩnh vực tổ chức kinh doanh.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kinh tế: Phụ trách toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kỹ thuật.
    • Phụ trách lĩnh vực theo dõi, quản lý máy móc, thiết bị, xác định mức tiêu hao vật tư cho từng loại sản phẩm, xác định vật tư kỹ thuật cho mỗi công trình.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực tiếp thị: Phụ trách việc giao dịch tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm nghiên cứu, xây dựng các phương thức bán hàng và tổ chức thực hiện.
    • Các phòng nghiệp vụ.
    • Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý về công tác tổ chức kế toán, bổ trì cán bộ sắp xếp lao động, tuyển dụng và cho lao động nghỉ việc theo chế độ.
    • Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý về công tác tổ chức kế toán, thống kê của các xí nghiệp và của Công ty, cung cấp số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra và phân tích hoạt động kế toán, tài chính, phục vụ công tác lập, theo dõi và thực hiện kế hoạch phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế.
    • Phòng kế hoạch thị trường: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
    • Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các phương thức bán hàng, đôn đốc, tổ chức thực hiện các hợp đồng bán sản phẩm của Công ty.
    • Phòng kỹ thuật: Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, thực hiện các qui trình qui phạm trong sản xuất và an toàn lao động, kiểm tra chất lượng sản phẩm.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             27

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Phòng cung ứng vật tư: Có nhiệm vụ giúp giám đốc lập kế hoạch cung ứng vật tư cho hoạt động sản xuất (chủ yếu cho xí nghiệp nhựa). Kiểm tra thực hiện, cân đối định mức vật tư cho sản phẩm, theo dõi số lượng vật tư tồn kho.

    2.2. T×nh h×nh qu¶n lý vμ sö dông nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty vËt

    liÖ x©y dùng b−u ®iÖn

    2.2.1. Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu.

    2.2.1.1. Đặc điểm nguyên vật liệu

    Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện có 4 xí nghiệp thành viên nhưng chỉ có xí nghiệp nhựa chịu sự chỉ đạo sản xuất của Công ty, còn các xí nghiệp kia hạch toán đối lập. Vì vậy Công ty chỉ quản lý và cung cấp nguyên vật liệu cho xí nghiệp nhựa: sản phẩm nhựa của Công ty gồm các loại ống nhựa phục vụ ngành Bưu điện là chủ yếu và một số ngành khác như điện lực, cấp thoát nước. Nguyên vật liệu sử dụng ở Công ty rất đa dạng và phong phú được sử dụng với khối lượng lớn. Có tới 30 loại nguyên vật liệu chính và hơn 3000 loại phụ tùng, công cụ dụng cụ. Mỗi chủng loại nguyên vật liệu lại bao gồm hàng chục loại khác nhau. Có thể kể đến những loại nguyên vật liệu chính của Công ty như bọt PVC – 1000, bọt PVCP 800, bọt AC – 629A, CA – ST, DBL, ILS, bọt hoá chất CaCO3, các loại vật liệu phụ như: dung môi, bột màu, mực in, keo dán. Tất cả các loại nguyên vật liệu của Công ty đều được mua ngoài, một số bột hoá chất phải nhập từ nước ngoài.

    Hiện nay, chi phí về nguyên vật liệu chiếm khoảng 80% trong giá thành sản phẩm. Vì vậy muốn hạ giá thành sản phẩm Công ty phải có biện pháp giảm chi phí về nguyên vật liệu nhưng lại không được làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             28

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Từ những đặc điểm trên cho thấy việc quản lý nguyên vật liệu tại Công ty phải được thực hiện chặt chẽ chỉ ở tất cả các khâu thu mua, bảo quản, dự trưc, sử dụng, để đảm bảo tính hiệu quả tính tiết kiệm, hạn chế tới mức thấp nhất việc hư hỏng mất mát.

    2.2.1.2. Phân loại nguyên vật liệu.

    Nguyên vật liệu (xí nghiệp nhựa) được phân loại như sau:

    • Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của Công ty khi tham gia vào quá trình sản xuất là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên thực thể

    của sản phẩm bao gồm: Bọt PVC – P1000, bọt PVC – P800, AC – AT, DBL, AD/PP hạt, bọt hoá chất STA, CaCl3.

    • Nguyên vật liệu phụ: góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản

    phẩm bao gồm: dung môi, hạt màu, mực in, nước rửa…

    • Nhiên liệu: xăng dầu.
    • Vật liệu, thiết bị máy móc: trục vít, dòng can nhiệt, rơle
    • Phế liệu thu hồi: ống hỏng, bột quét kho sản xuất.

    *Nguồn nhập, mục đích xuất nguyên vật liệu.

    Tất cả các loại nguyên vật liệu của Công ty đều được mua ngoài. Và đều được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất sản phẩm, phục vụ công tác quản lý, bán hàng, xây dựng cơ bản tại Công ty.

    Vật tư của Công ty do phòng cung ứng vật tư và nhân viên làm việc tại kho chịu trách nhiệm quản lý. Công ty có hệ thống kho gồm kho nguyên vật liệu chính (kho Công ty và kho xí nghiệp nhựa) và một kho phụ tùng, CCDC.

    Phòng cung ứng vật tư căn cứ vào định mức vật tư kỹ thuật để dự trữ, cấp phát vật tư. Định mức vật tư do phòng kỹ thuật xây dựng.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             29

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.1.3. Đánh giá nguyên vật liệu.

    • Đối với nguyên vật liệu nhập kho, nguyên vật liệu của Công ty chủ yếu là mua ngoài, chỉ có một phần nhỏ thu hồi từ sản xuất (Công ty áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ).

    – Đối với nguyên vật liệu mua ngoài nhập kho.

    Giá thực tế nguyên vật liêu nhập kho = giá mua ghi trên hoá đơn (không có thuế GTGT)

    Chi phí thu mua được phân bỏ vào chi phí sản xuất trong kỳ. Do chi phí thu mua thường nhỏ hoặc không có do giá trị của nguyên vật liệu mua là giá giao tại kho của Công ty nên các chi phí vận chuyển, bốc dỡ và các chi phí khác đều do bên bán chịu. Ví dụ:

    Ngày 8/2/2002: Nhập kho 99.000kg bột PVC – S65 theo hoá đơn ngày 29/1/2002 – giá đơn vị (chưa có thuế GTGT) ghi trên hoá đơn là 14200/kg.

    + Giá thực tế

    Bọt PVC = S65 = 99.000 x 14.200 = 1.405.800.000đ.

    • Đối với phế liệu thu hồi nhập kho: Phế liệu thu hồi là nhựa thu hồi từ sản xuất mà đơn vị đem đi tạo hạt lại để tiếp tục sử dụng. Giá thực tế của phế liệu do phòng cung ứng vật tư xác định và đưa ra cho một kỳ hạch toán chỉ có một đơn vị cho tất cả các loại phế liệu thu hồi.
    • Đối với nguyên vật liệu xuất kho: tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện, giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho được tính theo phương pháp nhập trước xuất trước, lô hàng nào nhập kho trước sẽ được xuất trước.

    2.2.2. Tổ chức quản lý và sử dụng nguyên vật liệu tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện.

    2.2.2.1. Công tác bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất.

    • Về mặt kịp thời:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             30

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Điều kiện quan trọng để đảm bảo cho sản xuất của xí nghiệp hoàn thành tốt và nhịp nhàng là phải bảo đảm cho nó những loại vật tư cần thiết một cách kọp thời trong cả một thời gian dài (năm hay quý). Xí nghiệp luôn đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, không để xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.

      Ngày Số lượng Bảo đảm nhu cầu Còn lại không  
    Nguồn NVL trong tháng
    dùng trong  
    nhập (m) Tính bằng  
      (m) tháng  
          ngày
               
    Tồn đầu 1/4 5578 (1/4-12/4) 5578    
    tháng            
                 
    Nhập lần 1 13/4 387.7 13/4-22/4 387.7    
                 
    Nhập lần 2 23/4 3786.5 (23/4-30/4) 300 3486.5  
                 
    Tổng   9752.2 30 6265.7 3486.5  
                 

    Qua bảng trên ta thấy tồn đầu tháng tư là 5578m, có thể tiêu dùng đến 12 ngày và sau đó ngày 13/4 nhập 387.7m. Như vậy việc nhập nguyên vật liệu một cách kịp thời đã không làm gián đoạn sản xuất. Với số lượng nhập như trên đã đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất tiến hành được liên tục, điều đó có nghĩa là xí nghiệp đã hoàn thành kế hoạch về mặt kịp thời. * Về mặt đồng bộ.

    Để đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, xí nghiệp đã thực hiện tương đối tốt yêu cầu cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ không phải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm. quyết định. Trong quá trình thực hiện kế hoạch nếu có loại nguyên vật liệu nào đó không đảm bảo yêu cầu thì các nguyên vật liệu khác hoặc là không thể sử dụng được hoặc là sử dụng một phần tương xứng với tỷ lệ loại nguyên vật liệu nhập không đảm bảo yêu cầu với tỷ lệ thấp nhất.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             31

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             32

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Tình hình thực hiện kế hoạch nguyên vật liệu về mặt đồng bộ.

    Tên nguyên Đơn Kế Thực Hoành Số sử dụng được  
    vật liệu vị hoạch nhập thành kế      
    % Số lượng  
             
      tính nhập   hoạch      
                   
    Đồng ф 46 Kg 135 158 117.03 105.5 142.43  
                   
    Đồng ф 42 Kg 180 191 106.10 105.5 190  
                   
    Nhựa kíp Kg 468.6 104.16 104.16 105.5 162.04  
                   
    Tổng     509 108.60 105.5 494.47  
                   

    Qua đó ta thấy tình hình nhập vật tư vào xí nghiệp đã đảm bảo được tính đồng bộ. Đây là thành tích chủ quan của xí nghiệp, gãp phần giải quyết tình trạng ứ đọng nguyên vật liệu ở xí nghiệp, tạo vốn cho sản xuất.

    2.2.2.2. Công tác mua sắm nguyên vật liệu của Công ty.

    Thủ tục nhập nguyên vật liệu, ở Công ty là mua ngoài. Đối với những lô hàng có giá trị lớn, Công ty tổ chức đấu thầu. Còn với những lô hàng có giá trị nhỏ, số lượng ít, Công ty uỷ quyền cho phòng vật tư mua.

    Khi vật tư mua về đến kho, phòng cung ứng vật tư căn cứ vào hoá đơn, hợp đồng kinh tế tiến hành làm phiếu nhập hàng, phiếu nhập kho theo biểu 01 – VT. Phiếu nhập kho được ghi đầy đủ các thông tin cần thiết và số lượng nhập kho trên chứng từ có liên quan. Phiếu nhập kho, phiếu nhập hàng và các chứng từ có liên quan được chuyển xuống kho nhập hàng, thủ kho căn cứ vào các chứng từ trên kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, chất lượng và quy cách của vật tư, sau đó tiến hành nhập kho. Thủ kho ghi vào phiếu nhập kho số lượng vật tư thu nhập, đồng thời tiến hành ghi thủ kho. Phiếu nhập kho và các chứng từ có liên quan được chuyển lên phòng kế toán.

    VD: Ngày 8/2/2002, Công ty nhập bọt nhựa PVC – S65 theo hợp đồng kinh tế đã ký vởi Công ty cổ phần hoá chất nhựa.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             33

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    MÉu ho¸ ®¬n:            
      Biểu số 1:            
            HOÁ ĐƠN Mẫu số: 01GTKT – 3LL.
            Ngày 29 tháng 1 năm 2002 N0: 034214
                   
    Đơn vị bán hàng: Công ty cổ phần hoá chất nhựa.      
    Địa chỉ: Số 7 Vọng đức – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội – Số tài khoản…
    Điện thoại: 8247087.            
    Mã số: 0 1   0 0 9 4 2 2 0 5 1        
    Họ và tên người mua hàng: Đặng Quang Vinh.      
    Đơn vị: Công ty VLXD            
    Đơn chỉ: Phú Diễn – Từ Liêm … Số tài khoản.      
    Hình thức thanh toán: HĐKT 081638 ngày 5 tháng 1 năm 2002.
    Mã số:  0 1    0 0 6 8 7 1 8 5 1        
                     
      TT Tên hàng hoá, Đơn vị Số lượng   Đơn giá Thành tiền  
        dịch vụ tính    
                   
      A   B C 1   2 3=1×2  
                   
    1 Bột PVC kg 99.000   14.200 1.405.800.000  
        (Indonesia)            
                       
          Cộng tiền hàng:     1.405.800.000  
             
          Thuế suất GTGT: 10T: Tiền thiếu GTGT:    140.580.000  
               
          Tổng cộng tiền thanh toán: 1.546.380.000  
           
        Số tiền viết bằng chữ: Một tỷ năm trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm  
            tám mươi ngàn đồng chẵn.    
    Người mua hàng kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
    (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, họ tên)

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             34

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trên đây cơ sở hợp đồng kinh tế và hoá đơn trên phòng vật tư tiến hành lập phiếu nhập hàng và phiếu nhập kho.

    2.2.2.3. Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.

    • xí nghiệp, mua cũng như bán vật tư, bán thành phẩm và thành phẩm phải thông qua hợp đồng kinh doanh. Giám đốc giao hàng cho phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng kế hoạch chuẩn bị hợp đồng. Các trưởng phòng phải kiểm tra hợp đồng về quy cách, số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả cũng như thời hạn giao nhận. Tất cả các hợp đồng kinh tế do giám đốc ký, phòng kế toán, phòng kinh doanh có trách nhiệm theo dõi để kiểm tra việc thực hiện và thanh lý hợp đồng. Các hoá đơn vật tư hàng hoá mua về đều có hoá đơn đỏ của bộ tài chính. Tuỳ từng loại vật liệu mà có những hình thức cân, đong, đo đếm khác nhau.

    Việc kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu được tiến hành từ thấp đến cao, từ ngoài vào trong. Trước hết, nhân viên tiếp nhận xem xét kích thước, tình hình bao bì và những ký hiệu ghi trên bao bì có phù hợp với những điều kiện quy định trong hợp đồng giao hàng hay không.

    Do có sự thống nhất trong hợp đồng nên khi giao hàng diễn ra hết sức thuận lợi.

    Khi kiểm tra số lượng và chất lượng xong, nếu là những loại nguyên vật liệu có giá trị lớn thì xí nghiệp kiểm nghiệm và lập “Biên bản kiểm kê”.

    Ví dụ:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             35

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    BIÊN BẢN KIỂM KÊ

    Hôm nay, ngày 31/12/2002 – tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện (Phú

    Diễn – Từ Liêm). Chúng tôi gồm:

    1. Đại diện phòng kế toán – tài chính.
    1. Bà Hoàng Thị Minh – Phó phòng kế toán – tài chính
    1. Bà Vũ Thị Minh Nguyệt – Kế toán vật liệu.
    1. Đại diện phòng vật tư.
    1. Bà Vũ Thị Xuân – Phó phòng vật tư.
    1. Bà Nguyễn Hoài Phương – Thủ.
    • Đại diện xí nghiệp nhựa.
    1. Ông Bùi Văn Xã – giám đốc xí nghiệp.
    1. Bà Nguyễn Thị Thu – kế toán xí nghiệp.
    1. Bà Đoàn Thị Thuỷ – thủ kho xí nghiệp.

    Chúng tôi cùng nhau kiểm kê kho vật liệu chính ở kho xí nghiệp và kho Công ty, kiểm kê phụ tùng, công cụ dụng cụ ở kho Công ty, số liệu cụ thể như sau: *Vật liệu chính:

    TT Tên nguyên ĐVT Số lượng Tổng cộng
      liêu, vật liệu       kiểm kê
          Kho công Kho xí  
          ty nghiệp  
    1 AC-5000F Kg 2250,0 58,85 2308,85
    2 VV-10506 Kg 325,0 10,00 335,0
    3 DBL Kg 1800 196,85 1996,85
    4 STA-2718 Kg 6800 409,3 7209,3
    5 PP hạt Kg 2775 0 2755,0
    6 AID Kg 9800 194,84 9994,84
    7 Bột vàng Kg 125 158,6 283,6
    8 HIPS Kg 4900 0 4900
    9 TLS Kg 1575 372,65 1947,65
    10 CA-ST Kg 925 142,6 1067,6
    …..

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             36

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    C¨n cø vμo biªn b¶n kiÓm nghiÖm nÕu nguyªn vËt liÖu ®ñ tiªu chuÈn nhËp kho th× phßng kÕ ho¹ch kü thuËt sÏ tiÕn hμnh lËp phiÕu nhËp kho . Thñ kho kh«ng ®−îc tù ý nhËp sè nguyªn vËt liÖu trªn nÕu ch−a cã ý kiÕn cña phßng kinh doanh . Do thñ kho thuéc phßng kinh doanh nªn mäi nhu cÇu nhËp xuÊt ®Òu t¹i phßng kinh doanh ®Ó tiÖn cho viÖc qu¶n lý . PhiÕu nhËp kho ®−îc lËp thμnh ba liªn :

    • Phßng kinh doanh l−u mét liªn .

     

    • Thñ kho gi÷ mét liªn ®Ó ghi thÎ kho , sau ®ã chuyÓn cho kÕ to¸n vËt t−.

     

    • Mét liªn do ng−¬i ®i mua gi÷ ho¸ ®¬n mua giao l¹i cho kÕ to¸n lam c¬ s¬ thanh to¸n sau nμy .

    C¨n cø ®Ó viÕt phiÕu nhËp kho cña xÝ nghiÖp nhËp t¹i kho cña xÝ nghiÖp lμ

    c¸c ho¸ ®¬n b¸n hμng cña nhμ cung cÊp . Ho¸ ®¬n nμy ph¶i cã ®ãng dÊu cña bé tμi chÝnh vμ dÊu cña ®¬n vÞ b¸n , ®ång thêi ph¶i cã x¸c nhËn cña thñ kho lμ hμng ®· nhËp kho .

    VÝ dô :

    PhiÕu nhËp kho                                   MÉu sè : 01 – VT

    Ngμy 8 th¸ng 2 n¨m 2002  Q§ Sè 1141 TC/ Q§ / C§KT

    Sè : 22                                   Ngμy 1/11/1995 cña bé TC

    Nî :TK 152

    Cã : TK 331

    Hä tªn ng−êi giao hμng : §Æng Quang Vinh

    Theo: .H§. Sè 034214. Ngμy 29/1/2002 cña C«ng ty cæ phÇn ho¸ chÊt nhùa.

    Tªn nh·n   Sè l−îng   §¬n  
    hiÖu, quy §VT Theo chøng tõ   Thu nhËp Thμnh tiÒn
    tt tr×nh vËt t−       gi¸
             
      (SP hμng ho¸)              
    A B C D 1   2 3 4
                     
    1 Bét PVC-S65   Kg 99.000   99.000 14.200 1.405.800.000
                     

    Céng tiÒn hμng: 1.405.800.000

    ThuÕ suÊt GTGT: 10% tiÒn thuÕ thuÕ GTGT:140.580.000

    Tæng céng tiÒn thanh to¸n: 1.546.380.000

    Sè tiÒn b»ng ch÷: Mét tû n¨m tr¨m bèn m−¬i s¸u triÖu ba tr¨m t¸m m−¬i ngh×n ®ång ch½n

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             37

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Phô tr¸ch cung          Ng−êi giao hμng  Thñ kho              KÕ to¸n tr−ëng        Thñ tr−ëng ®¬n

    tiªu                                                                                                                                                                  

    (Ký, hä tªn)                (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)               (Ký, hä tªn)

    2.2.2.4. Qu¶n lý kho :

    Tuú theo ®Æc ®iÓm vμ tÝnh chÊt cña tõng lo¹i nguyªn vËt liÖu khi nguyªn vËt liÖu ®−îc nhËp kho vÒ xÝ nghiÖp nã sÏ ®−îc ®−a vμo c¸c kho kh¸c nhau nh»m ®¶m b¶o an toμn mét cÊch tèi ®a cho nguyªn vËt liÖu .

    Nh×n chung , nguyªn vËt liÖu trong kho cña xÝ nghiÖp ®−îc s¾p xÕp khoa häc , theo dóng quy c¸ch , thùc hiÖn khÈu lÖnh dÔ t×m , dÔ thÊy , dÔ lÊy ,dÔ kiÓm tra ph¸t hiÖn nh»m thuËn lîi cho viÖc thùc hiÖn nguyªn t¾c : NhËp tr−íc xuÊt tr−íc, nhËp sau xuÊt sau . Víi nh÷ng lo¹i nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp hiÖn nay th× viÖc qu¶n lý nguyªn vËt liÖu lμ rÊt dÔ dμng v× do c¸c nguyªn vËt liÖu kh«ng bÞ hao hôt , nguyªn vËt liÖu dÔ mua nªn khèi l−îng nguyªn vËt liÖu tån kho Ýt . Kho lμ ®iÓm xuÊt ph¸t vμ lμ ®iÓm cuèi cïng cña qu¸ tr×nh s¶n xuÊt .Do ®ã viÖc tæ chøc vμ b¶o qu¶n kho nguyªn vËt liÖu, b¸n thμnh phÈm cña xÝ nghiÖp ®Òu ®−îc ghi theo v¨n b¶n .

    Khi nhËp hay xuÊt kho , thñ kho ph¶i kiÓm nhËn theo chøng tõ . B¸n , xuÊt vËt t− ra ngoμi xÝ nghiÖp ph¶i th«ng qua gi¸m ®èc ký duyÖt . Cßn xuÊt trong néi bé th× gi¸m ®èc uû quyÒn cho phã gi¸m ®èc ký .

    Phßng kinh doanh cña xÝ nghiÖp liªn kÕt chÆt chÏ víi phßng b¶ovÖ ®Ó qu¶n lý nguyªn vËt liÖu . Hμng ngμy , b¶o vÖ ph¶i më sæ theo dâi kh¸ch ®i ®Õn xÝ nghiÖp hoÆc c¸c lo¹i vËt t− hμng ho¸ xÝ nghiÖp ra vμo ®¬n vÞ ghi râ thêi gian , sè l−îng , chñng lo¹i vμ ph−¬ng tiÖn vËn chuyÓn .

    TÊt c¶ c¸c kho tμng cña xÝ nghiÖp ®Ìu ®−îc dïng hai kho¸ ®Ó ®¶m b¶o ®é ch¾c ch¾n , thñ kho qu¶n lý mét ch×a , b¶o vÖ qu¶n lý mét ch×a . §Ó ®¶m b¶o ®é an toμn , mçi quý xÝ nghiÖp thay kho¸ mét lÇn .Trong xÝ nghiÖp cã hμnh

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             38

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • trém c¾p nguyªn vËt liÖu th× mäi ng−êi ®Òu cã ý thøc tr¸ch nhiÖm ®Êu tranh c¸c hμnh vi tiªu cùc .

     

    xÝ nghiÖp cã mét hÖ thèng néi quy an toμn , quy chÕ kho nh− néi quy ra vμo , néi quy b¶o qu¶n , néi quy xuÊt nhËp , néi quy phßng ch¸y næ . V× thÕ c«ng t¸c b¶o qu¶n kho ®i vμo nÒn nÕp chÆt chÏ ë cöa kho cã biÓn kh«ng cã nhiÖm vô tuyÖt ®èi kh«ng ®−îc vμo kho .

     

    Thñ kho lu«n n¾m ch¾c sè l−îng , chÊt l−îng , chñng lo¹i tõng nguyªn vËt liÖu , tuyÖt ®èi gi÷ bÝ mËt vμ chØ cung cÊp sè liÖu cho nh÷ng ng−êi ®−îc gi¸m ®èc ®ång ý . Hμng ngμy , thñ kho ghi mét c¸ch chónh x¸c sè l−îng xuÊt – nhËp tån .

     

    Hμng n¨m xÝ nghiÖp tiÕn hμnh kiÓm kª ®¸nh gi¸ ®Þnh kú t×nh h×nh nguyªn vËt liÖu , viÖc b¶o qu¶n vμ cÊp ph¸t t¹i kho. Tõ biªn b¶n kiÓm kª , c¸c phßng chøc n¨ng cã quyÕt ®Þnh xö lý mét c¸ch hîp lý ®èi víi nh÷ng nguyªn vËt liÖu thõa , thiÕ hay h− háng hoÆc hÕt h¹n sö dông .

    2.2.2.5. CÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu:

    ViÖc tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu chÝnh x¸c, kÞp thêi sÏ ®¶m b¶o cho s¶n xuÊt cña xÝ nghiÖp tiÕn hμnh nhÞp nhμng, gãp phÇn n©ng cao n¨ng suÊt lao ®éng, gi¶m gi¸ thμnh s¶n phÈm, tiÕt kiÖm ®−îc nguyªn vËt liÖu vμ n©ng cao ®−îc søc c¹nh tranh cña s¶n phÈm. NhËn thøc ®−îc tÇm quan träng ®ã, xÝ nghiÖp lu«n ®¶m b¶o cÊp ph¸t c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu cho c¸c ph©n x−ëng ®−îc ®ång bé, ®ñ sè l−îng, ®óng quy c¸ch, phÈm chÊt vμ kÞp vÒ thêi gian ViÖc tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu ë xÝ nghiÖp ®−îc tiÕn hμnh theo møc, ngo¹i trõ mét sè dông cô kh¸c lμ cÊp ph¸t theo h×nh thøc: B¸n vËt t− Mua thμnh phÈm . Hμng th¸ng, phßng KÕ ho¹ch kü thuËt vμ phßng kinh doanh tiÕn hμnh ®èi chiÕu gi÷a l−îng vËt t− nhËn vÒ vμ l−îng s¶n phÈm giao

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             39

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nép. C¨n cø vμo hÖ thèng ®Þnh møc ®· cã, hai bªn cã thÓ tÝnh to¸n vμ biÕt ®−îc t×nh h×nh sö dông nguyªn vËt liÖu trong th¸ng ®Ó tõ ®ã cã kÕ ho¹ch s¶n xuÊt trong th¸ng.

    C¨n cø vμo kÕ ho¹ch s¶n xuÊt vμ hÖ thèng ®Þnh møc tiªu dïng do phßng kü thuËt thùc hiÖn, c¸n bé ®Þnh møc cña xÝ nghiÖp lËp tøc göi ®Þnh møc vμ s¶n l−îng kÕ ho¹ch xuèng c¸c ph©n x−ëng, theo ®ã c¸c ph©n x−ëng cö c¸n bé xuèng kho lÜnh vËt t−. Hμng ngμy, tuú theo yªu cÇu cña s¶n xuÊt vμ yªu cÇu dù tr÷ mμ c¸n bé c¸c ph©n x−ëng trùc tiÕp lªn phßng kinh doanh viÕt ho¸ ®¬n, dïng ho¸ ®¬n xuèng kho ®Ó lÜnh vËt t−. Thñ kho cã tr¸ch nhiÖm cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu theo ®óng sè l−îng, chñng lo¹i, chÊt l−îng ®· ghi theo ho¸ ®¬n xuÊt kho.

     

    VÝ dô:  
    §¬n vÞ: PhiÕu xuÊt kho
    §Þa chØ: Ngμy 8 th¸ng 2 n¨m 2002

    Sè 49A MÉu sè C123 H

    Q§ sè 999 TC/Q§KT Ngμy 1/11/1995 cña bé TC

     

    Hä tªn ng−êi nhËn hμng: §oμn ThÞ Thuý – §Þa chØ: (bé phËn) XN nhùa

    Lý do xuÊt kho: S¶n xuÊt hμng th¸ng 2/2002

    XuÊt t¹i kho: C«ng ty

    Tªn nh·n hiÖu,   Sè l−îng §¬n  
    quy tr×nh vËt t− §VT Theo chøng   Thu nhËp Thμnh tiÒn
    tt (SP hμng ho¸)   gi¸  
             
    A B C   D 1 2 3 4
    1 Bét PVC  K66 Kg 750 750 10.800 8.100.000
    2 Bét PVC  S65 Kg 28.500 28.500 14.200 404.700.000
      Céng         412.500.000

    Sè tiÒn b»ng ch÷: Bèn tr¨m m−êi hai triÖu t¸m tr¨m ngμn ®ång ch½n

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             40

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Phô tr¸ch cung          Ng−êi giao hμng        Thñ kho           KÕ to¸n tr−ëng       Thñ tr−ëng ®¬n

    tiªu                                                                                                                                                                                    

    (Ký, hä tªn)                (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)               (Ký, hä tªn)

    2.2.2.6. T×nh h×nh dù tr÷ – cung øng              sö dông vËt t− cña c«ng ty:

    VËt t− cña c«ng ty do phßng vËt t− vμ nh©n viªn lμm viÖc t¹i kho chÞu tr¸ch nhiÖm qu¶n lý. HiÖn nay, hÖ thèng kho cña c«ng ty gåm hai kho:

    • Kho nguyªn vËt liÖu chÝnh

     

    • Kho nguyªn vËt liÖu phô, phô tïng vμ CCDC

    2.2.6.1. T×nh h×nh dù tr÷ nguyªn vËt liÖu, CCDC

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             41

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    B¶ng 1:

    ChØ tiªu Dù tr÷ theo ®Þnh Dù tr÷ thùc tÕ Tû lÖ thùc
    Danh ®iÓm møc   hiÖn
           
    1.Nguyªn vËt liÖu chÝnh 2924378304 3070597219 105%
           
    2. Nguyªn vËt liÖu phô 195945591 2055742871 105%
           
    3. Phô tïng thay thÕ 194024442 201785420 104%
           
    4. PhÕ liÖu 114673267 115820000 101%
           
    5. C«ng cô dông cô 181660243 182593448 102%
           
    Céng 3610681847 3779238958  
           

    Qua b¶ng trªn cho thÊy t×nh h×nh dù tr÷ nguyªn vËt liÖu, c«ng cô dông cô cña c«ng ty t−¬ng ®èi s¸t víi ®Þnh møc vËt t− kü thuËt do c«ng ty x©y dùng nªn. Do vËy ®¶m b¶o ®ñ nguyªn liÖu cho ®Çu kú s¶n xuÊt sau ®ång thêi tr¸nh t×nh tr¹ng bÞ ®äng vèn trong dù tr÷ qu¸ nhiÒu. Nguyªn vËt liÖu, CCDC dù tr÷ cuèi n¨m 2002 ®−îc ®¶m b¶o ®Çy ®ñ ®Ó cung cÊp cho ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña c«ng ty vμo ®Çu n¨m 2003. C«ng ty kh«ng dù tr÷ nhiªn liÖu.

    Ngoμi ra c«ng ty ®· x¸c ®Þnh ®−îc møc dù tr÷ tõng lo¹i vËt liÖu trong kho. §èi víi vËt liÖu trong n−íc s¶n xuÊt, møc dù tr÷ ®ñ cung øng cho s¶n xuÊt 15 ngμy, 30 ngμy víi vËt liÖu nhËp kho.

    2.2.6.2. T×nh h×nh thùc hiÖn cung øng vËt t−:

    ViÖc tæ chøc cung øng vËt t− t¹i c«ng ty lu«n ®Çy ®ñ kÞp thêi theo ®óng tiÕn ®é s¶n xuÊt, ®¶m b¶o vÒ sè l−îng còng nh− chÊt l−îng. C¨n cø vμo kÕ ho¹ch s¶n xuÊt kinh doanh n¨m tiÕp theo, phßng vËt t− lËp kÕ ho¹ch thu mua.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             42

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Danh ®iÓm Dù tr÷ theo ®Þnh Dù tr÷ thùc tÕ Tû lÖ thùc
    møc   hiÖn
       
           
    1.Nguyªn vËt liÖu chÝnh 4685185957   105%
           
    2. Nguyªn vËt liÖu phô 3141850659 47326740546 105%
           
    3. Phô tïng thay thÕ 1773131356 1778450750 104%
           
    4. PhÕ liÖu 1267764301 1280441944 100,3%
           
    5. C«ng cô dông cô 1433124862 1440290436 101%
           
    Céng 54474030135 55123866917 100,5%
           

    Qua b¶ng trªn cho thÊy t×nh h×nh cung øng vËt t− cña c«ng ty n¨m 2003 ®−îc thùc hiÖn rÊt tèt.

    2.2.6.3.T×nh h×nh sö dông nguyªn vËt liÖu trong s¶n xuÊt s¶n phÈm cña c«ng ty:

    Phßng kÕ ho¹ch kü thuËt, phßng vËt t− ®· x©y dùng ®Þnh møc tiªu hao vËt t− cho ®óng lo¹i s¶n phÈm. Tõ ®ã lμm c¨n cø x¸c ®Þnh sè l−îng nguyªn vËt liÖu, CCDC xuÊt cho s¶n xuÊt

    T×nh h×nh thùc hiÖn kÕ ho¹c vÒ sö dông nguyªn vËt liÖu n¨m 2002

    ChØ tiªu KÕ ho¹ch Thùc hiÖn Tû lÖ % hoμn thμnh
           
    1. Chi phÝ vÒ NVL 54878936323 54269780130 98,089%
           
    2. Tæng chi phÝ 6693741344 66127547699 98,79%
           

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             43

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Tû lÖ hoμn thμnh   Tæng møc NVL sö dông thùc tÕ
    kÕ ho¹ch sö dông =
    NVL  
     
    (Cã liªn hÖ kÕt qu¶   Tæng møc NVL Sö dông KH x Error!
    SX)  
       

    ViÖc sö dông NVL, CCDC ë c«ng ty ®· hoμn thμnh tèt so víi kÕ ho¹ch. Chi phÝ vÒ NVL gi¶m t−¬ng øng víi tæng chi phÝ gi¶m nh−ng tæng gi¸ trÞ s¶n l−îng thùc tÕ t¨ng so víi kÕ hoach chøng tá hiÖu qña sö dông NVL ®−îc n©ng lªn

    2.2.2.7. C«ng t¸c thanh quyÕt to¸n nguyªn vËt liÖu:

    C«ng t¸c quyÕt to¸n NVL ®−îc xÝ nghiÖp thùc hiÖn mét c¸ch ®Òu ®Æn theo hμng quý. ViÖc quyÕt to¸n nguyªn vËt liÖu cã ý nghÜa quan träng trong viÖc qu¶n lý sö dông vËt t− trong s¶n xuÊt

    C¬ së ®Ó tiÕn hμnh quyÕt to¸n vËt t− cho c¸c s¶n phÈm ®−îc xÝ nghiÖp dùa trªn:

    • Þnh møc chi phÝ vËt t−: nguyªn, nhiÖn liÖu do mét ®¬n vÞ s¶n phÈm mμ xÝ nghiÖp ®· ban hμnh trong kú tr−íc.

     

    • C¨n cø vμo t×nh h×nh s¶n xuÊt thùc tÕ cña xÝ nghiÖp, bao gåm t×nh tr¹ng m¸y mãc thiÕt bÞ, vËt t− ®−a vμo s¶n xuÊt.

     

    2.3. §¸nh gi¸ chung vÒ t×nh h×nh qu¶n lý vμo sö dông nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty vËt liÖu x©y dùng

    2.3.1. Nh÷ng thμnh tÝch ®¹t ®−îc trong c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty:

    Qua thêi gian thùc tËp ë c«ng ty em nhËn thÊy c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu nh×n chung tiÕn hμnh nÒn nÕp, chÊp hμnh ®óng c¸c quy ®Þnh. C¸c phßng ban xÝ nghiÖp còng phèi hîp chÆt chÏ víi phßng kÕ to¸n, ®¶m b¶o viÖc h¹ch

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             44

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    to¸n, qu¶n lý nguyªn vËt liÖu diÔn ra ®Òu ®Æn, nhÞp nhμng phï hîp víi ®iÒu kiÖn cña c«ng ty, ®¸p øng ®−îc yªu cÇu cña c«ng t¸c qu¶n lý.

    C«ng ty ®· x©y dùng ®−îc hÖ thèng ®Þnh møc vËt t− cho tõng lo¹i s¶n phÈm t−¬ng ®èi chÝnh x¸c. §©y lμ −u ®iÓm rÊt lín cña c«ng ty trong c«ng t¸c qu¶n lý vμ h¹ch to¸n nguyªn vËt liÖu. Qua ®ã, c«ng ty cã thÓ tÝnh to¸n ®−îc møc thu mua, dù tr÷ sö dông vËt liÖu, gãp phÇn qu¶n lý chÆt chÏ nguyªn vËt liÖu, CCDC.

    Do ®Æc ®iÓm cña nguyªn vËt liÖu s¶n xuÊt s¶n phÈm nhùa lμ dÔ biÕn chÊt, dÔ ch¸y nªn c«ng ty ®· x©y dùng kho vËt t− ®¶m b¶o ®Çy ®ñ tiªu chuÈn quy ®Þnh vÒ b¶o qu¶n vËt liÖu. HÖ thèng kho ®−îc bè trÝ phï hîp víi ®Þa bμn s¶n xuÊt. C«ng ty ®· cã sù ph©n c«ng qu¶n lý râ rμng, ®éi ngò c¸n bé c«ng nh©n viªn cã tinh thÇn tr¸ch nhiÖm cao. Do vËy viÖn b¶o qu¶n dù tr÷ nguyªn vËt liÖu ®−îc tiÕn hμnh kh¸ tèt.

    VÒ tr×nh tù lu©n chuyÓn chøng tõ ®−îc thùc hiÖn chÆt chÏ; chøng tõ lu©n chuyÓn theo ®óng chu tr×nh.

    Trong c«ng t¸c qu¶n lý kho, do s¾p xÕp mét c¸ch cã hÖ thèng vμ hîp lý nªn gi¶m bít ®−îc diÖn tÝch kho, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho viÖc nhËp xuÊt nguyªn vËt liÖu, ®¶m ®¶m b¶o dÔ t×m, dÔ thÊy, dÔ lÊy, s½n sμng cÊp ph¸t kÞp thêi theo nhu cÇu s¶n xuÊt. ViÖc thùc hiÖn kiÓm kª th−êng xuyªn vμ xö lý thõa thiÕu nguyªn vËt liÖu kÞp thêi gãp phÇn qu¶n lý chÆt chÏ, h¹n chÕ l−îng nguyªn vËt liÖu h− háng, mÊt m¸t.

    XÝ nghiÖp sö dông ph−¬ng thøc giao vËt t− t¹i n¬i lμm viÖc, ®©y lμ ph−¬ng thøc tiÕn bé, t¹o ®iÒu kiÖn cho ng−êi l·nh ®¹o tËp trung søc lùc vμ thêi gian vμo viÖc ch¨m lo s¶n xuÊt, t¹o ®iÒu kiÖn cho tæ chøc nhËp, xuÊt kho mét c¸ch khoa häc, lμm cho phßng kinh doanh vμ phßng kÕ ho¹ch kü thuËt ®iÒu

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             45

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    khiÓn s¶n xuÊt ®i s¸t s¶n xuÊt h¬n, hiÓu râ nhu cÇu cña c¸c ph©n x−ëng ®Ó tõ ®ã tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu ®−îc tèt h¬n.

    2.3.2.Mét sè thiÕu sãt, tån t¹i cÇn kh¾c phôc:

    Ngoμi nh÷ng −u ®iÓm trªn, c«ng ty vÉn cßn mét sè thiÕu sãt tån t¹i cÇn kh¾c phôc ®Ò hoμn thiÖn c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu. – VÒ c«ng t¸c nhËp kho nguyªn vËt liÖu

    viÖc kiÓm tra sè l−îng, quy c¸ch, phÈm chÊt cña vËt t− kh«ng ®−îc ghi vμo

    v¨n b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− do ®ã sÏ khã trong viÖc quy hÕt tr¸ch nhiÖm

    trong viÖc b¶o qu¶n vμ thanh to¸n.

    – VÒ hÖ thèng sæ kÕ to¸n:

    hÖ thèng sæ kÕ to¸n t−¬ng ®èi ®Çy ®ñ theo quy ®inh. Tuy nhiªn, nh×n chung c«ng ty ch−a më sæ: Sæ ®¨ng ký chøng tõ, ghi sæ c¸c nghiÖp vô kinh tÕ ph¸t sinh theo thêi gian (NhËt ký). Do ®ã viÖc qu¶n lý l−îng chøng tõ ghi sæ vÉn ch−a chÆt chÏ. Khi nhËp l¹i nguyªn vËt liÖu xuÊt thõa kh«ng dïng hÕt ph¶i lËp riªng mét chøng tõ ghi sæ.

    • VÒ ý thøc tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu: C«ng nh©n vÉn ch−a cã ý thøc tiÕt kiÖm triÖt ®Ó nguyªn vËt liÖu, do ®ã vÉn cßn g©y l·ng phÝ nguyªn vËt liÖu.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             46

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ch−¬ng 3

    Mét sè ph−¬ng h−íng vμ gi¶i ph¸p nh»m t¨ng c−êng

    c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i

    C«ng ty vËt liÖu x©y dùng b−u ®iÖn

    • Ó n©ng cao hiÖu qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh trong thêi gian tíi, xÝ nghiÖp cÇn ph¸t huy nh÷ng −u ®iÓm s½n cã cña m×nh ®ång thêi kh¾c phôc nh÷ng ®iÓm cßn tån t¹i trong c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu. §Ó nh»m t¨ng c−êng, hoμn thiÖn c«ng t¸c b¶o ®¶m, qu¶n lý nguyªn vËt liÖu ë xÝ nghiÖp s¶n xuÊt vμ cung øng vËt t−, t«i xin ®−a ra mét sè ý kiÕn ®Ò xuÊt vÒ ph−¬ng h−íng vμ gi¶i ph¸p sau:

    3.1. KiÕn nghÞ 1: hoμn thiÖn c«ng t¸c lËp sæ danh ®iÓm vËt t−

    Víi sù ®a d¹ng, phong phó cña nguyªn vËt liÖu vÒ chñng lo¹i. ViÖc ch−a lËp sæ g©y khã kh¨n trong c«ng viÖc sö dông nguyªn vËt liÖu vμ trong c«ng t¸c kiÓm kª cuèi th¸ng. §Ó kh¾c phôc mÆt h¹n chÕ nμy, xÝ nghiÖp nªn lËp sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu ®Ó gióp cho viÖc qu¶n lý vËt t− ®−îc thuËn lîi.

    Mçi nhãm nguyªn vËt liÖu sÏ ®−îc ghi trªn mét trang sæ, trong ®ã nhãm nguyªn vËt liÖu sÏ ghi ®Çy ®ñ c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu nhãm ®ã. vÝ dô: nguyªn vËt liÖu chÝnh ®ång = 1521.01

    sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu nμy ®−îc x¸c ®Þnh trªn c¬ së sè liÖu cña lo¹i nguyªn vËt liÖu, nhãm nguyªn vËt liÖu, chñng lo¹i nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp. Sæ nμy sÏ ®−îc chia thμnh tõng phÇn mçi phÇn dμnh riªng mét sè trang nhÊt ®Þnh ®Ó ghi sè d− vËt liÖu cña xÝ nghiÖp hiÖn cã, mçi nhãm nguyªn vËt liÖu ®uîc m· ho¸ theo sè hiÖu riªng.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             47

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    C¸ch x¸c ®Þnh sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu vÒ phæ biÕn lμ kÕt hîp gi÷a sè liÖu tμi kho¶n vμ viÖc ph©n chia vËt t− cho mçi lo¹i ®−îc ®¸nh sè liªn tôc theo quy −íc cña lo¹i ®ã. Gi÷a c¸c lo¹i ®Ó trèng phßng khi cã c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu míi ghi bæ sung. Víi nguyªn t¾c nμy sÏ gióp cho kÕ to¸n nhËn biÕt ®−îc nguyªn vËt liÖu mét c¸ch nhanh chãng th«ng qua sæ danh ®iÓm vËt t−.

    Sæ danh ®iÓm ®−îc sö dông thèng nhÊt trong ph¹m vi toμn xÝ nghiÖp ®¶m b¶o cho c¸c bé phËn trong xÝ nghiÖp phèi hîp chÆt chÏ trong c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu ®−îc dÔ dμng, thuËn tiÖn.

    3.2. KiÕn nghÞ 2: LËp biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t−

    KÕt qu¶ cña viÖc kiÓm nghiÖm vËt t− ph¶i ®−îc ghi vμo Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− ®Ó lμm c¨n cø quy tr¸ch nhiÖm trong thanh to¸n vμ b¶o qu¶n. Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− th−êng ®−îc ¸p dông cho c¸c lo¹i vËt t− kiÓm nghiÖm trong nh÷ng tr−êng hîp sau:

    • NhËp kho víi sè l−îng lín
    • c¸c lo¹i vËt t− cã tÝnh chÊt lý ho¸ phøc t¹p
    • C¸c lo¹i vËt t− quý hiÕm

    Ban kiÓm nghiÖm ph¶i ghi râ sè l−îng, chÊt l−îng cña tõng thø, lo¹i vËt liÖu vμo. Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− , ghi râ ý kiÕn vÒ sè l−îng, chÊt l−îng, nguyªn nh©n ®èi víi vËt t− kh«ng ®óng vÒ sè l−îng, quy c¸ch phÈm chÊt vμ ®−a ra c¸ch xö lý.

    3.3. KiÕn nghÞ 3: VÒ c«ng t¸c qu¶n lý kho

    C«ng t¸c s¾p xÕp nguyªn vËt liÖu ch−a gän gμng, kh«ng cã lèi tho¸t ngang do ®ã thñ kho ph¶i s¾p xÕp nguyªn vËt liÖu mét c¸ch hîp lý, khoa häc, ®¶m b¶o an toμn ng¨n n¾p, thuËn tiÖn cho viÖc xuÊt – nhËp – kiÓm kª. xÝ nghiÖp nªn mua nhiÒu gi¸ ®Ó ®ùng hμng, tr¸nh ®Ó hμng ho¸ xuèng ®Êt v× do ®Æc ®iÓm cña mét sè nguyªn vËt liÖu nh− nhùa b¹t PVC, ®ång, s¾t thÐp dÔ

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             48

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Èm −ít, hao mßn do ®ã sÏ ¶nh h−ëng ®Õn qu¸ trinh s¶n xuÊt. Thùc tÕ hiÖn nay, nhμ kho ®ang bÞ xuèng cÊp trÇn nhμ phÝa ngoμi bÞ hë, t−êng bong v«i do ®ã xÝ nghiÖp cÇn ph¶i söa sang l¹i ®Ó tr¸nh hao hôt, h− háng nguyªn vËt liÖu.

    Cã thÓ nãi viÖc sö dông chung nguyªn vËt liÖu nhËp vÒ, nguyªn vËt liÖu dù tr÷ cïng mét kho ®· g©y kh«ng Ýt khã kh¨n cho xÝ nghiÖp. Bëi vËy, xÝ nghiÖp nªn cã kho dù tr÷ ®Ó tr¸nh lÉn lén víi nh÷ng nguyªn vËt liÖu kh¸c, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu khi cÇn thiÕt. ViÖc dù tr÷ hμng ho¸ gióp cho qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®−îc tiÕn hμnh mét c¸ch liªn tôc.

    Dù tr÷ kh«ng cã nghÜa lμ dÉn ®Õn t×nh tr¹ng ø ®äng nguyªn vËt liÖu, ø ®äng vèn. §Ó ®¶m b¶o ®ñ nguyªn vËt liÖu cho s¶n xuÊt vμ tr¸nh t×nh tr¹ng d÷ tr÷ qu¸ nhiÒu, xÝ nghiÖp cÇn ph¶i tiÕn hμnh ®Þnh møc dù tr÷ s¶n xuÊt. §Þnh møc dù tr÷ s¶n xuÊt lμ sù quy ®Þnh ®¹i l−îng vËt t− cÇn thiÕt ph¶i cã theo kÕ ho¹ch ë xÝ nghiÖp ®Ó ®¶m b¶o cho qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®−îc tiÕn hμnh liªn tôc vμ ®Òu ®Æn. ViÖc quy ®Þnh ®óng ®¾n møc dù tr÷ cã ý nghÜa rÊt lín, nã cho phÐp gi¶m c¸c chi phÝ vÒ b¶o qu¶n hμng ho¸, gi¶m hao hôt mÊt m¸t.

    3.4. KiÕn nghÞ 4: T¨ng c−êng sö dông hîp lý – tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu. Sö dông hîp lý vμ tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu ®· trë thμnh mét nguyªn

    t¾c, ®¹o ®øc, mét chÝnh s¸ch kinh tÕ cña xÝ nghiÖp. Song viÖc sö dông hîp lý

    • tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp ch−a ®−îc thùc hiÖn mét c¸ch triÖt ®Ó, s©u s¸t. TiÕt kiÖm ph¶i ®−îc thùc hμnh ë mäi kh©u trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt vμ biÖn ph¸p quan träng nhÊt ®Ó thùc hμnh tiÕt kiÖm lμ biÖn ph¸p c«ng nghÖ tiªn tiÕn.

    Tr−íc hÕt, xÝ nghiÖp ph¶i kh«ng ngõng gi¶m bít phÕ liÖu, phÕ phÈm, h¹ thÊp ®Þnh møc tiªu dïng nguyªn vËt liÖu. Gi¶m møc tiªu hao vËt t− cho mét ®¬n vÞ s¶n phÈm lμ yÕu tè quan träng ®Ó tiÕt kiÖm vËt t− trong qu¸ tr×nh

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             49

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    s¶n xuÊt. Song muèn khai th¸c triÖt ®Ó yÕu tè nμy ph¶i ph©n tÝch cho ®−îc c¸c nguyªn nh©n lμm t¨ng, gi¶m møc tiªu hao vËt t−, tõ ®ã ®Ò ra c¸c biÖn ph¸p cô thÓ nh»m tiÕt kiÖm ®−îc nhiÒu vËt t− trong s¶n xuÊt.

    XÝ nghiÖp ®· x©y dùng c¸c ®Þnh møc tiªu hao vËt liÖu song khi ®i vμo s¶n xuÊt ch−a kiÓm tra chÆt chÏ c«ng nh©n cã thùc hiÖn ®óng víi møc ®Ò ra ch−a, bëi vËy cßn g©y ra l·ng phÝ nguyªn vËt liÖu. Do ®ã, trong thêi gian tíi, c¸c qu¶n ®èc ph©n x−ëng cÇn theo dâi chÆt chÏ h¬n t×nh h×nh thùc hiÖn møc trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt cña c¸c c«ng nh©n. Ng−êi c«ng nh©n lμ ng−êi trùc tiÕp sö dông c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt, hä biÕt râ gi¸ trÞ cña c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu vμ c«ng dông cña chóng. V× vËy, cÇn ¸p dông h¬n n÷a c¸c biÖn ph¸p sau:

    • T¨ng c−êng gi¸o dôc vÒ ý thøc tiÕt kiÖm, lîi Ých tiÕt kiÖm ®èi víi tõng ng−êi. Hμng th¸ng xÝ nghiÖp nªn tæ chøc c¸c buæi nãi chuyÖn, th¶o luËn, ®Ò cao tÇm quan träng cña viÖc tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu cho c«ng nh©n ®Ó hä hiÓu râ h¬n tõ ®ã hä lμm viÖc cã ý thøc h¬n.
    • Bªn c¹nh ®ã, xÝ nghiÖp nªn cã biÖn ph¸p khuyÕn khÝch vÒ vËt chÊt vμ tinh thÇn thÝch ®¸ng, kÞp thêi ®èi víi viÖc tiÕt kiÖm. Khi tæ s¶n xuÊt hay c¸ nh©n nμo ®ã ph¸t huy ý thøc tiÕt kiÖm trong s¶n xuÊt th× qu¶n ®èc ph©n x−ëng, gi¸m ®èc cã thÓ th−ëng cho hä tiÒn, biÓu d−¬ng tr−íc xÝ nghiÖp .
    • N©ng cao tr×nh ®é tay nghÒ cho mäi c«ng nh©n b»ng c¸ch häc hái tõ nh÷ng thî bËc cao hay tæ chøc thi tay nghÒ cho hä. Thùc tÕ hiÖn nay ë xÝ nghiÖp cã mét sè m¸y mãc ®· ë t×nh tr¹ng l¹c hËu, cò kü do ®ã xÝ

    nghiÖp nªn ®Çu t− mua thªm m¸y míi ®Ó s¶n xuÊt ®−îc tèt h¬n.

    3.5. KiÕn nghÞ 5: Sö dông hiÖu qu¶ nguån vèn ®Ó ®¸p øng kÕ ho¹ch mua s¾m nguyªn vËt liÖu

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             50

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    KÕ ho¹ch mua s¾m vËt t− lμ mét bé phËn quan träng cña kÕ ho¹ch s¶n xuÊt – kü thuËt – tμi chÝnh cña doanh nghiÖp. Vèn cã t¸c ®éng rÊt lín ®èi víi viÖc mua s¾m nguyªn vËt liÖu. Thùc tÕ hiÖn nay, c«ng t¸c tμi chÝnh cña xÝ nghiÖp ch−a lμm tèt xÝ nghiÖp lu«n trong t×nh tr¹ng thiÕu vèn. C¸c kho¶n nî ph¶i thu vμ nî ph¶i tr¶ cßn nhiÒu lμm ¶nh h−ëng ®Õn kh¶ n¨ng thanh to¸n. ViÖc thiÕu vèn ¶nh h−ëng ®Õn c«ng t¸c mua s¾m nguyªn vËt liÖu, ®Õn kÕt qu¶ kinh doanh. NhiÒu khi xÝ nghiÖp vÉn mua chÞu nguyªn vËt liÖu cña b¹n hμng, ®iÒu nμy cã thÓ ¶nh h−ëng ®Õn uy tÝnh cña xÝ nghiÖp, ®Õn kh¶ n¨ng cung øng nguyªn vËt liÖu.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             51

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    VÝ dô:

    ChØ tiªu N¨m 2001 N¨m 2002 So s¸nh 2001/2002
           
    Tû  lÖ  ph¶i  tr¶/Tæng  tμi 94 85 (-9)
    s¶n(%)      
           
    Kh¶ n¨ng thanh to¸n      
           
    – TSL§/Nî NH(%) 93 84 (-9)
           
    – TiÒn hiÖn cã/ Nî NH 0.4 1 0.6
           
    • Ó n©ng cao chÊt l−îng hiÖu qu¶ c«ng t¸c qu¶n trÞ vèn, trong thêi gian tíi, xÝ nghiÖp cÇn:
    • T¨ng c−êng h¬n n÷a c«ng t¸c thu håi c«ng nî vμ coi ®©y lμ biÖn ph¸p chÝnh ®Ó ®¶m b¶o vèn cho s¶n xuÊt kinh doanh.
    • a d¹ng ho¸ c¸c biÖn ph¸p thu håi c«ng nî nh− thu håi qua c«ng ty hay thu trùc tiÕp.
    • ¦u tiªn vèn cho s¶n xuÊt kinh doanh mét c¸ch hîp lý kh«ng ®Ó vËt t− hμng ho¸ ø ®äng hoÆc chËm lu©n chuyÓn.
    • Thùc hμnh tiÕt kiÖm vμ chi tiªu hîp lý

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             52

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    KÕt luËn

    Qua thêi gian thùc tËp t¹i xÝ nghiÖp Bª t«ng c«ng ty vËt liÖu x©y dùng b−u ®iÖn, t«i thÊy ®−îc t×nh h×nh b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu cho s¶n xuÊt lμ mét yªu cÇu kh¸ch quan, cã t¸c ®éng rÊt lín tíi kÕt qu¶n ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña xÝ nghiÖp. ViÖc sö dông hîp lý vμ tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu ¶nh h−ëng trùc tiÕp ®Õn hiÖu qu¶ sö dông vèn kinh doanh cña xÝ nghiÖp. Nguyªn vËt liÖu ®−îc ®¶m b¶o ®Çy ®ñ, ®óng chÊt l−îng, ®ång bé lμ ®iÒu kiÖn quyÕt ®Þnh kh¼ng n¨ng t¸i s¶n xuÊt më réng. C«ng ty ®· tæ chøc c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu kh¸ tèt sö dông nguyªn vËt liÖu hîp lý – tiÕt kiÖm – hiÖu qu¶. Víi sù nç lùc kh«ng ngõng cña ban l·nh ®¹o xÝ nghiÖp vμ tËp thÓ c¸n bé c«ng nh©n viªn trong toμn xÝ nghiÖp, viÖc b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i xÝ nghiÖp ngμy cμng ®−îc t¨ng c−êng vμ hoμn thiÖn, gãp phÇn n©ng cao kÕt qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh, c¶i thiÖn ®êi sèng cho CBCNV, thùc hiÖn ®Çy ®ñ nghÜa vô cña m×nh víi nhμ n−íc. Song, bªn c¹nh nh÷ng thμnh tÝch ®· ®¹t ®−îc, xÝ nghiÖp vÉn cßn tån t¹i mét sè h¹n chÕ nh− ®· tr×nh bμy trong bμi kho¸ luËn nμy. Em xin m¹nh d¹n ®−a ra mét sè ý kiÕn nh− trªn nh»m gãp phÇn kh¾c phôc nh÷ng thiÕu sãt, tån t¹i cña xÝ nghiÖp. Tuy nhiªn, do thêi gian t×m hiÓu thùc tÕ vμ tr×nh ®é cßn cã h¹n nªn kh«ng tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt, em mong r»ng sÏ nhËn ®−îc c¸c ý kiÕn ®ãng gãp cña c¸c c« chó trong xÝ nghiÖp vμ ®−îc sù h−íng dÉn cña thÇy NguyÔn H÷u ChÝ ®Ó bμi b¸o c¸o ®−îc hoμn thiÖn h¬n .

    Cuèi cïng em xin ch©n thμnh c¶m ¬n sù h−íng dÉn nhiÖt t×nh cña thÇy gi¸o vμ c¸c c« chó trong c«ng ty.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             53

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Hμ Néi, th¸ng 5 n¨m 2004

    Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Kim Th−

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-tr%C3%AAn-truy%E1%BB%81n-h%C3%ACnh-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-tri%E1%BB%83n-v%E1%BB%8Dng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Khoá luận tốt nghiệp

    Lời cảm ơn

    Luận văn này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Văn Thoan, giảng viên bộ môn Marketing, trường ĐH Ngoại Thương. Cùng với kiến thức chuyên môn sâu rộng và sự yêu nghề, thầy đã giúp tôi có cơ hội tìm hiểu sâu sắc hơn những tri thức trong lĩnh vực Marketing nói chung, lĩnh vực quảng cáo nói riêng và kiên trì giúp tôi hoàn thành bài khoá luận này.

    Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị, tổ chức, các cá nhân: Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình, Đài Truyền hình Việt Nam – TVAd, phòng quảng cáo Đài truyền hình Hà nội, Công ty quảng cáo và thiết bị truyền hình, Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nelson Sofres, phòng tư liệu Bộ văn hóa thông tin, thư viện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thư viện Quốc gia,… đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu cũng như đưa ra những lời khuyên, góp ý cho luận văn được hoàn thành tốt đẹp.

    Hà nội, ngày 15/12/2003

    Sinh Viên

    Trần Xuân Thành

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Hiện nay, tất cả các công ty dù hay nhỏ đều phải để ý không chỉ đến sản xuất, cung ứng mà còn phải quan tâm đến khâu tiêu thụ sản phẩm, cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thương trường. Một trong những công cụ hiệu quả để thu hút, thuyết phục khách hàng, thúc đẩy hoạt động bán hàng là hoạt động quảng cáo. Đối với các doanh nghiệp, bên cạnh việc để ý đến các yếu tố như chất lượng, giá cả hay dịch vụ, họ còn quan tâm đến quảng cáo như một vũ khí sắc bén, lợi hại nhằm thu hẹp khả năng chiếm lĩnh và cuối cùng đánh bại các đối thủ cạnh tranh trên thị trường mà mình hoạt động.

    Mặc dù mới chỉ hơn một thập kỉ kể từ khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng ngành quảng cáo của Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình.Trong nhiều năm tới, do thị trường canh tranh vô cùng khốc liệt, cho nên hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam sẽ vẫn còn vươn mình mạnh mẽ. Tuy nhiên, do mới chỉ hình thành và phát triển trong hơn 10 năm qua, nên quan điểm và cách tiếp cận quảng cáo trên truyền hình còn chưa được hiểu và đánh giá một cách đúng mực, phương pháp và quá trình quảng cáo vẫn còn mang tính tự phát. Hoạt động quảng cáo trên truyền hình nước ta cho đến nay vẫn trong tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả và đôi khi còn gây tác hại cho người tiêu dùng. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để cải thiện tình hình và nâng cao hiệu quả hoạt động quảng cáo để từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như tạo lợi ích cho người tiêu dùng cũng như cho toàn xã hội.

    Bài khoá luận của tôi có tựa đề “ Quảng cáo trên truyền hình ở Việt

    Nam: Thực trạng và triển vọng “ được kết cấu thành 3 chương :

    Chương 1: Lý luận chung về quảng cáo và quảng cáo trên truyền hình

    Chương 2: Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam

    Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Khoá luận tốt nghiệp

     

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO VÀ QUẢNG CÁO

    TRÊN TRUYỀN HÌNH

    1. QUẢNG CÁO

    1.1. Khái niệm về quảng cáo

    Trên thế giới hiện nay, quảng cáo đã trở thành một phần không thể tách rời cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Nó xuất hiện khắp nơi, gõ cửa đến các góc cạnh của cuộc sống đời thường. Mặc dù được áp dụng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, nhưng hiên nay vẫn chưa có một định nghĩa nào mang tính chất khái quát nhất, chung nhất về một nghiệp vụ vốn mang trong mình những nội hàm đầy phức tạp và tinh vi như nghiệp vụ quảng cáo. Do vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau, ở mỗi hiệp hội khác nhau, trong mỗi nền kinh tế khác nhau, khái niệm về quảng cáo lại được trình bày và được hiểu theo những cách khác.

    (i). Ở những nước phát triển, đặc biệt là ở Hoa Kì, quảng cáo đã trở thành một ngành công nghiệp: Ngành công nghiệp quảng cáo. Theo hiệp hội quảng cáo Mĩ (American Advertising Association), một hiệp hội quảng cáo lâu đời và uy tín nhất trên thế giới, “ Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”.

    (ii). Philip Kotler, một trong những cây đại thụ trong ngành Marketing nói chung và ngành quảng cáo nói riêng trên thế giới lại đưa ra cho mình những khái niệm khác nhau về quảng cáo. Trong cuốn sách “Marketing căn bản”, năm 1998, nhà xuất bản thống kê, trang 376, ông định nghĩa: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí.

    Khoá luận tốt nghiệp

    (iii). Tuy nhiên, trong giáo trình “Quản trị Marketing” (Marketing Management ), chương 20, trang 678, của mình, Philip Kotler lại đưa ra một khái niêm khác về quảng cáo: “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được người bảo trợ nhất điinh trả tiền.

    (iv). Một cách đơn giản hơn, theo giáo trình nguyên lý Marketing của trường Đại học Ngoại Thương, trang 108 “Quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ dẫn đến hành động mua những sản phẩm dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và để xuất.”

    Ngay ở Việt Nam, một quốc gia mới bước vào nền kinh tế thị trường từ cuối những năm 80, với ngành công nghiệp quảng cáo đang dần được hình thành, cũng đã có rất nhiều những khái niệm khác nhau về hoạt động quảng cáo.

    (v). Theo pháp lệnh về quảng cáo số 39/ 2001 PL- UBTVQH10 ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, quy định: “ Hoạt động quảng cáo bao gồm việc giới thiệu và thông báo rộng rãi về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, biểu tượng theo nhu cầu hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”.

    (vi). Hay trong giáo trình “Nghiệp vụ quảng cáo và tiếp thị”,( do Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật phát hành năm 1994, trang 7) Quảng cáo được định nghĩa như sau: “ Quảng cáo là dịch vụ kinh doanh thông tin mang tính phi cá nhân về sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hay ý tưởng do bên thuê mua thông báo qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thuyết phục hay ảnh hưởng tới hành vi của một số đối tượng nào đó”.

    Các khái niệm về quảng cáo nêu trên tuy có một số điểm khác nhau về ngôn ngữ cũng như cách thế hiện, song nhìn chung vẫn toát nên được những đặc tính cơ bản của quảng cáo. Những đặc tính đó là: Quảng cáo là một thông điệp được đáp lại, quảng cáo thường đưa ra thông tin trên các thông tin đại chúng, quảng cáo nhằm mục đích thông báo thuyết phục mọi người về một

    Khoá luận tốt nghiệp

    sản phẩm hay dịch vụ để họ quan tâm, tin tưởng rồi tiến tới mua sản phẩm hay dịch vụ đó.

    Tựu chung, trong một thế giới kinh doanh canh tranh khốc liệt, Quảng cáo đã, đang và sẽ vẫn là một trong năm vũ khí đắc lực chủ yếu của hoạt động yểm trợ trong hoạt động Marketing hỗn hợp (Quảng cáo, bán hàng cá nhân, hội chợ triển lãm, quan hệ công chúng và xúc tiến bán hàng) mà hầu hết các công ty sử dụng để truyền bá, thuyết phục và sau cùng là bán được hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng. Nói chung, kết quả cuối cùng của hoạt động quảng cáo là tăng lượng bán, tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận cho người cung ứng hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng, là sự chủ động của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hoá và dich vụ, là tối thiểu hoá thời gian thu thập, tìm kiếm thông tin về các hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng cần.

    1.2. Chức năng của quảng cáo

    Quảng cáo không phải là mục đích sau cùng mà chỉ là một phương tiện, một công cụ giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu mình. Nói chung, tuỳ thuộc vào mục tiêu chiến lược marketing của doanh nghiệp mà hoạt động quảng cáo có những chức năng sau.

    1.2.1. Đặc trưng hoá sản phẩm

    Trong một môi trường canh tranh gay gắt, các doanh nghiệp luôn luôn cố gắng làm cho sản phẩm của mình có những tính năng khác so với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh thông qua hoạt động quảng cáo. Bên cạnh đó, Hoạt động quảng cáo không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý, sự thích thú của khách hàng hiện tại cũng như các khách hàng tiềm năng đối với các sản phẩm đã được đặc trưng hoá mà còn nâng cao hơn nữa uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp. Đặc trưng hoá sản phẩm dẫn đến đặc trương hoá nhãn hiệu, tên tuổi của doanh nghiệp trên thương trường là một trong những chức năng cơ bản nhất của hoạt động quảng cáo. Nó giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được lòng

    Khoá luận tốt nghiệp

    tin từ phía khách hàng, thực hiện được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá doanh thu bán hàng, đồng thời đạt được mức lợi nhuận cao nhất.

    1.2.2. Cung cấp thông tin về sản phẩm

    Hoạt động quảng cáo là công cụ hiệu quả nhất mà các doanh nghiệp sử dụng để thực hiện chức năng thông tin sản phẩm. Đối với một sản phẩm mới, việc cung cấp các thông tin chính xác về sản phẩm là vô cùng cần thiết. Mặt khác, không một công cụ yểm trợ, xúc tiến hỗ trợ kinh doanh nào lại tác động cùng một lúc đến đông đảo khách hàng với đạt hiêu quả lan truyền nhanh như ở hoạt động quảng cáo. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền các thông tin về sản phẩm thông qua hoạt động quảng cáo còn có tác dụng lôi kéo một lượng lớn cách khách hàng tiềm năng chưa sử dụng sản phẩm hay các khách hàng đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp. Mới đây, công ty Yamaha có tiến hành một loạt các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu với khách hàng về mẫu sản phẩm mới có nhãn hiệu là MIO.

    1.2.3. Hướng dẫn sử dụng sản phẩm

    Đối với một số sản phẩm có tính năng sử dụng tương đối phức tạp hoặc cần phải có một số những hiểu biết nhất định mới có thể sử dụng được như máy móc, mỹ phẩm. .. thì hoạt động quảng cáo là phương tiện tốt nhất để tiếp cận với một lượng lớn khán giả trong một thời gian ngắn. Hoạt động quảng cáo thực hiện chức năng hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm thực chất là nhằm tạo cho khách hàng cảm thấy an tâm hơn khi mua sản phẩm của công ty. Và đây cũng là con bài để nâng cao uy tín hình ảnh của công ty trước mắt người tiêu dùng.Chẳng hạn như các chương trình quảng về dược phẩm thường nêu ra một số hướng dẫn cũng như cấm chỉ định đối với một số trường hợp như “ không cho trẻ em dưới 2 tuổi và phụ nữ mang thai sử dụng” hay “ không sử dụng khi lái xe”…

    5

    Khoá luận tốt nghiệp

    1.2.4. Mở rộng mạng lưới phân phối

    Mục đích của các hoạt động và xúc tiến kinh doanh là nhằm đẩy nhanh lượng bán và mở rộng hơn nữa mạng lưới bán hàng, tăng thị phần của mình trên thị trường. Bằng việc thực hiện các chương trình quảng cáo, doanh thu từ việc bán hàng sẽ tăng lên thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng hơn nữa số lượng các nhà phân phối, các đại lý, các nhà bán buôn, bán lẻ để đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Ví dụ, công ty bia Sài Giòn tiến hánh khá nhiều chương trình quảng bá sản phẩm bia của mình trên truyền hình trên cả nước, nhằm lấy đà mở rộng mạng lưới bán hàng ra các tỉnh phía bắc.

    1.3. Các nguyên tắc trong quảng cáo

    • bất cứ quốc gia nào trên thế giới, khi các doanh nghiệp tiến hành triển khai hoạt động quảng cáo cần phải thực hiện được các nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng như tạo một môi trường canh tranh lành mạnh.

    1.3.1. Tính pháp lý

    Người quảng cáo (hay chủ thể tiến hành quảng cáo) chịu trách nhiệm về các tin tức quảng cáo, đảm bảo được đúng các yêu cầu của luật pháp các nước khi tiến hành quảng cáo ở quốc gia đó như thời lượng quảng cáo, các đợt quảng cáo, ngôn ngữ trong quảng cáo.. .Theo pháp luật Việt Nam, tất cả các cá nhân, tổ chức đều được phép quảng cáo, tuy nhiên chỉ có những cá nhân, tổ chức có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh mới có quyền kinh doanh dịch vụ quảng cáo.

    1.3.2. Trung thực

    Các thông tin về quy cách phẩm chất, giá cả, kiểu dáng, chủng loại, nhãn hiệu, công dụng, bao bì , xuất xứ, thời gian sử dụng, thời gian bảo hành, dịch vụ hậu mại khi đưa ra quảng cáo cần phaie trung thực, đúng với hàng hóa được bán ra thị trường, không đánh lừa người tiêu dùng. Những quảng cáo có thể gây ra sự hiểu lầm từ phía người tiêu dùng làm tôn hai đến người tiêu

    Khoá luận tốt nghiệp

    dùng về các mặt sức khoẻ, sự an toàn, kinh tế ở các nước đều được coi là vi phạm các quy định của pháp luật.

    1.3.3. Không so sánh

    Khi tiến hành quảng cáo, các doanh nghiệp không được nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá , dịch vụ của người khác, không dùng danh nghĩa, hình ảnh của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân khác để quảng cáo mà không được sự chấp thuân của tổ chức, các nhân, hoặc doanh nghiệp đó.

    1.3.4. Văn hoá – thẩm mĩ

    Các hoạt động quảng cáo có tính chất kì thị chủng tộc, ảnh hưởng đến tự tín ngưỡng, sử dụng các ngôn từ, hình ảnh, minh hoạ hay gợi ý ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục, truyền thồng, đạo đức của quốc gia mà hoạt động quảng cáo được tiến hành đều bị ngăn cấm.

    1.4. Các phương tiện quảng cáo

    Quảng cáo được coi là nghệ thuật trong hoạt động kinh doanh. Do đó, hoạt động quảng cáo được sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau nhằm thực hiện được chức năng của mình. Về phương tiện quảng cáo, hoạt động quảng cáo gồm những nhóm phương tiện chính sau đây:

    (i). Nhóm các phương tiện quảng cáo nghe nhìn: Quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo trên đài phát thanh, và quảng cáo trên internet.

    (ii). Nhóm các phương tiện quảng cáo in ấn: Quảng cáo trên báo chí, quảng cáo trên tạp chí, quảng cáo trên Catalogue, tờ rơi, lịch quảng cáo..

    (iii). Nhóm các phương tiện quảng cáo ngoài trời: Panô quảng cáo, biển quảng cáo điện tử, biển tôn có đèn rọi, hộp đèn quảng cáo, đèn màu uốn.

    (iv). Nhóm các phương tiện quảng cáo di động: quảng cáo trên các phương tiện giao thông ,quảng cáo tên các vật liệu quảng cáo( chẳng hạn như áo phông, mũ mang biểu tượng và logo của doanh nghiệp)

    Khoá luận tốt nghiệp

    (v). Nhóm các phương tiện quảng cáo khác: Quảng cáo băng cá sự kiện kì là, quảng cáo nhờ trên các sản phẩm khác.

    2. QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH

    2.1. Khái niệm quảng cáo trên truyền hình

    Quảng cáo trên truyền hình là một loại hình quảng cáo khá phổ biến được sử dụng từ những năm 50 của thế kỉ 20. Do là loại hình quảng cáo hiệu quả nên, quảng cáo trên truyền hình ngày càng phát triển. Cùng với sự thành công của ngành công nghiệp truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống hàng này của mọi người.

    Quảng cáo trên truyền hình là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua phương tiện truyền hình đến nhiều người.

    Do là một bộ phận của hoạt động quảng cáo và xúc tiến kinh doanh nên quảng cáo trên truyền hình cũng có nhiều đặc điểm tương tự như các hoạt động trên. Tuy nhiên, khái niệm về quảng cáo trên truyền hình có phạm vi nhỏ hơn so với các khái niệm của quảng cáo nói chung. Khái niệm về quảng cáo trên truyền hình đã đặc định hoá phương tiện truyền thông tin từ người thuê quảng cáo đến người tiêu dùng.

    2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quảng cáo trên truyền hình

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình bị tác động bởi rất nhiều nhân tố khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, có một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình hiện hữu rõ nét nhất đó là : nhân tố kinh tế-xã hội, vấn đề văn hoá và tôn giáo, trình độ kĩ thuật, đặc tính của sản phẩm , chi phí và giá thành.

    2.2.1. Nhân tố kinh tế- xã hội

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình được xem như là một phần của hoạt động kinh doanh nên nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi yếu tố kinh tế xã hội. ở môi trường kinh tế xã hội khác nhau, chiến lược quảng cáo trên

    Khoá luận tốt nghiệp

    truyền hình sẽ được tiến hành và diễn biến khác nhau cho tường nhóm sản phẩm khác nhau. Nhân tố kinh tế xã hội thể hiện ở mức thu nhập bình quân cá nhân hay mức độ bình quân hộ gia đình, sự phân bổ chi phí tiêu dùng hàng ngày cơ cấu dân số, phân bố dân cư, trình độ học vấn của người tiêu dùng…

    Trong khi tiến hành hoạt động quảng cáo trên truyền doanh nghiệp phải xem xét kĩ lưỡng ảnh hưởng của các yếu tố trên.

    2.2.2. Vấn đề văn hoá và tôn giáo

    Do các dân tộc khác nay có các nền văn hoá, tôn giáo khác nhau, nên khi triển khai một chương trình quảng cáo, doanh nghiệp phải tính đến yếu tố văn hoá và tôn giáo. Một chương trình quảng cáo trên truyền hình có thể được diễn ra thành công ở nước này song khi đem sang nước khác rất có thể sẽ thất bại thảm hại do doanh nghiệp không lường hết được các yếu tố văn hóa và tôn giáo. Chẳng hạn như một chương trình quảng cáo trên truyền hình có hình ảnh các cô gái “ thiều vải” được thực hiện sẽ là bình thường đối với các nước phương tây song nó lại có tác động phản cảm đối với người tiêu dùng ở các nước phương đông đặc biệt là các nước theo đạo hồi.

    2.2.3. Trình độ kĩ thuật

    Trình độ kĩ thuật cũng góp phần quan trọng trong việc xác lập chiến lược quảng cáo trên truyền hình của doanh nghiệp. Trình độ kĩ thuật giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều sáng tạo trong quảng cáo trên truyền hình nhằm mục ngày càng thu hút sự chú ý của khán giả theo dõi chương trình quảng cáo của mình. Tuy nhiên,do trình độ kĩ thuật ở các nước khác nhau nêu chất lượng các chương trình quảng cáo, hiệu quả thông tin của các chương trình quảng cáo là rất khác nhau.

    2.2.4. Đặc tính của sảm phẩm

    Các nhóm sản phẩm khác nhau sẽ có những đặc tính khác nhau, tập chung vào các nhóm khách hàng khác nhau. Do đó việc nghiên cứu đặc tính của sản phẩm từ đó xác định nhóm khách hàng mục tiêu cũng như xác định

    9

    Khoá luận tốt nghiệp

    chương trình quảng cáo phù hợp là vô cùng cần thiết. Vì thế hiển nhiên các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm được sử dụng hàng ngày sẽ được lên chương trình quảng cáo nhiều hơn so với các sản phẩm mang tính chất thời vụ và các sản phẩm mang tính chất kĩ thuật.

    2.2.5. Chi phí, giá thành

    Một doanh nghiệp sẽ thực hiện chương trình quảng cáo trên truyền hình chỉ khi chương trình đó đem lại hiệu quả nhất định đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, có rất nhiều các doanh nghiệp nhận thức được hiệu quả của quảng cáo trên truyền hình song lại không có đủ khả năng đáp ứng các chi phí đắt đỏ của một chương trình quảng cáo trên truyền hình hoặc doanh lợi thu được từ hoạt động bán hàng không đủ bù đắp được các khoản chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Có thể nói, chi phí và giá thành cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    2.3. Đối tượng của quảng cáo trên truyền hình

    Quảng cáo trên truyền hình là một dịch vụ kinh doanh nên tham gia vào hoạt động quảng cáo trên truyền hình phải có ít nhất 2 đối tượng là bên thuê quảng cáo và phương tiện truyền thông hay đài truyền hình. Tuy nhiên trong nền kinh tế đang ngày càng được phân công hoá, do trình độ và kĩ thuật quảng cáo ngày càng được nâng cao thì công việc quảng cáo lên các chương trình quảng cáo được các công ty thuê quảng cáo giao phó cho các công ty quảng cáo thực hiện. Ngoài ra còn xuất hiện các thành viên thực hiện các dịch vụ hỗ trợ. Do đó trong quá trình quảng cáo trên truyền hình hiện đại thường xuất hiện bốn đối tượng tham gia.

    2.3.1. Bên thuê quảng cáo trên truyền hình

    Bên thuê quảng cáo trên truyền hình là các cá nhân hay tổ chức tìm cách bán sản phẩm của mình hoặc ảnh hưởng đến đối tượng khách hàng thông qua quảng cáo trên truyền hình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    2.3.2. Công ty quảng cáo

    Công ty quảng cáo là một tổ chức độc lập chuyển hoạch định, phát triển và thực hiện chiến dich quảng cáo nói chung và chiến dịch quảng cáo trên truyền hình noí riêng thay mặtt cho bên thuê quảng cáo

    2.3.3. Phương tiện truyền thông

    Phương tiên truyền thông trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình là các đài truyền hình. Đây là kênh thông tin mà qua đó thông điệp cần được quảng cáo sẽ tiếp cận đến đối tượng mà bên thuê quảng cáo cần nhằm tới.

    2.3.4. Các dịch vụ hỗ trợ

    Các dịch vụ hỗ trợ là các cá nhân hay tổ chức tham gia trong quá trình sản xuất mẫu quảng cáo trên truyền hình. Các dịch vụ này có thể độc lập hoặc là một bộ phận trong công ty quảng cáo chẳng hạn như diễn viên, người lồng tiếng…

    2.4. Phân loại quảng cáo trên truyền hình

    Truyền hình xuất hiện từ rất lâu và được coi là một phương hữu hiệu để truyền đi các thông điệp quảng cáo từ phía người sản xuất, kinh doanh đến khách hàng. Quảng cáo trên truyền hình có những ưu điểm vượt trội mà các loại hình quảng cáo khác không có.

    Dưới đây mới chỉ là những điểm mạnh chủ yếu của hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Một là, quảng cáo trên truyền hình có phạm vi truyền thông tin quảng cáo rất rộng, khả năng tiếp cận được thị trường lớn. Có thể thấy rằng, khó có một phương tiện truyền thông nào qua mặt được truyền hình khi muốn tiếp cận được thị trường rộng lớn trong một thời gian ngắn. Một nguyên nhân đơn giản đó là truyền hình thuộc về mọi người. Nói chung, truyền hình hầu như không có tính chọn lọc khán giả như những phương tiện truyền thông khác như quảng cáo trên báo chí (chỉ tập chung ở tầng lớp chí thức) hay có thời

    Khoá luận tốt nghiệp

    lượng quảng cáo nhiều như Internet 24/24 giờ (song số lượng người truy cập thấp chỉ chiếm khoảng 4-5% dân số) nên quảng cáo trên truyền chiếm được lượng khán giả theo dõi nhiều nhất trong số các loại phương tiện truyền thông.

    Hai là, quảng cáo trên truyền hình tạo sự sức hút mạnh mẽ do các thông điệp rong quảng cáo trên truyền hình là sự kết hợp giữa hình ảnh của quảng cáo ấn phẩm và quảng cáo ngoài trời, âm thanh của quảng cáo trên radio, cử động, các kĩ sảo truyền hình do đó tạo sự chú ý, cuốn hút, kích thích trí tò mò của khán giả để đạt được mục tiêu quảng cáo.

    Ba là, các mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể dễ dàng chuyển sang phương tiên truyền thông khác. Chẳng hạn, hình ảnh quảng cáo trong mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể chuyển thành các mẫu quảng cáo trên báo chí, in ấn, hay quảng cáo ngoài trời.. Bên cạnh đó, âm thanh trong mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể được biến thành mẫu quảng cáo trên radio..

    Bốn là, truyền hình là một phương tiện để giao lưu văn hoá giưã các quốc gia do đó các mẫu quảng cáo trên truyền hình ở nước này có thể được mang sang quảng cáo ở nước khác. Hình ảnh, cảnh vật cũng như diễn viên của nước này có thể xuất hiện ở trên các chương trình quảng cáo ở nước khá mà vấn tạo được hiệu quả quảng cáo, cũng như đạt được ý đồ của công ty quảng cáo hay bên thuê quảng cáo.

    Hiện nay trên thế giới tồn tại hai loại truyền hình: truyền hình vô tuyến và truyền hình hữu tuyến hay còn gọi là truyền hình cáp. Do có sự khác nhau giữa 2 loại hình truyền hình này mà bên thuê quảng cáo cũng như công ty quảng cáo cần phải cân nhắc để lựa chọn loại hình quảng cáo trên truyền hình nào là tối ưu nhất, đem lại hiệu quả nhất. Nói chung, hai loại quảng cáo trên truyền hình nêu trên hỗ trợ cho nhau khá ăn khớp, yếu điểm của hình thức này thường lại là ưu điểm của hình thức kia.

    12

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 1.1: So sánh ưu nhược điểm của quảng cáo trên vô tuyến truyền hình và quảng cáo trên truyền hình hữu tuyến

    Chỉ tiêu Quảng cáo trên truyền Quảng cáo trên truyền hình
      hình vô tuyến hữu tuyến ( truyền hình cáp)
         
    Tính chọn lọc đối Thấp Cao
    tượng    
         
    Chi phí thuê quảng Cao Thấp
    cáo    
         
    Hiệu quả chi phí Cao Thấp
    quảng cáo    
         
    Độ năng động trong Thấp Cao
    thời lượng quảng    
    cáo    
         

    Nguồn: Lê Hoàng Quân, năm 1994, Nghiệp vụ quảng cáo và Marketing, trang 272.

    Nhìn chung, việc lựa chọn quảng cáo trên truyền hình vô tuyến hay quảng cáo trên truyền hình hữu tuyến còn phụ thuộc vào đặc tính của sản phẩm, nguồn ngân sách dành cho quảng cáo trên truyền hình cũng như những nghiên cứu, đánh giá khác nhau về việc tiếp cận khán giả thông qua việc đánh giá chỉ số tiếp cận khán giả hay việc xem xét đến hiệu quả chi phí tiếp cận khán giả mục tiêu thông qua việc xác định chỉ số CPP (Cost Per ratings Point) (chỉ số này cho biết để tiếp cận 1% khán giả mục tiêu, doanh nghiệp cần phải chi bao nhiêu tiền.. .

    3. QUY TRÌNH QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH

    3.1. Mục đích của quảng cáo trên truyền hình

    Mục đích cuối cùng của bất kĩ hoạt động quảng cáo, xúc tiến kinh doanh nào cũng là nhằm doanh số, tăng thị phần và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, nếu ta xét chi tiết hơn thì quảng cáo trên truyền hình thực hiện nhằm vào 3

    Khoá luận tốt nghiệp

    mục đích chính: thông tin, thuyết phục và nhắc nhở. Trong toàn bộ chu kì sống của sản phẩm, các mục đích quảng cáo trên truyền hình thể hiện với những mức độ khác nhau. Do đó, tuỳ thuộc vào chu kì của sản phẩm mà các chương trình quảng cáo được sử dụng với đúng mục đích chính và thể hiện rõ được nhiệm vụ của nó. Chẳng hạn trong giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm: giai đoạn giới thiệu sản phẩm, thì quảng cáo trên truyền hình có mục đích chính là thông tin giới thiệu sản phẩm. Trong thời kì cuối của giai đoạn

    • và giai đoạn 2: giai đoạn tăng trưởng thì quảng cáo trên truyền hình lại thực hiện nhiệm vụ thuyết phục cũng như hình thành sự ưu thích nhãn hiệu. Còn ở giai đoạn chín muồi, quảng cáo thường thực hiện mục đích là nhắc nhở.

    3.1.1. Quảng cáo thông tin

    Mục đích của quảng cáo thông tin là thông báo cho thị trường biết về sản phẩm mới, thuyết minh những ứng dụng mới của hàng hoá hiện có. Ngoài ra còn thông báo cho người tiêu dùng biết những thông tin sau:

    • Thông báo sự thay đổi về giá của sản phẩm hoặc/và dịch vụ,
    • Giải thích nguyên tắc hoạt động của hàng hoá,
    • Mô tả dịch vụ,
    • Đính chính những quan niệm không đúng hay giảm sự sợ hãi, e ngại của người tiêu dùng,
    • Hình thành hình ảnh của công ty.

    3.1.2. Quảng cáo thuyết phục

    Mục đích của quảng cáo thuyết phục là hình thành sự ưa thích nhãn hiệu, xây dựng lòng tin của khách hàng đối với nhãn hiệu của công ty từ đó tạo dựng đội ngũ các khách hàng trung thành đối với nhãn hiệu cũng như đối với công ty. Ngoài ra quảng cáo thuyết phục còn nhằm những mục đích sau:

    • Khuyến khích chuyển sang nhãn hiệu của mình
    • Thay đổi sự chấp nhận của người tiêu dùng về tính chất của hàng hoá
    • Thuyết phục người tiêu dùng mua ngay sản phẩm của công ty.

    14

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.1.3. Quảng cáo nhắc nhở

    Mục đích chủ yếu của quảng cáo nhắc nhở là gợi cho khách hàng nhớ đến sản phẩm mà họ có thể cần đến trong thời gian tới, nhắc nhở người tiêu dùng về nơi bán sản phẩm, lưu lại trong trí nhớ của người tiêu dùng những hiều biết về hàng hoá …

    3.2. Các hình thức quảng cáo trên truyền hình.

    3.2.1. Bảo trợ

    Bảo trợ trên truyền hình là hành động doanh nghiệp bỏ chi phí ra để tiến hành sản xuất hoặc mua phát hành một hay nhiều chương trình có bản quyền nào đó trên truyền hình.Khi doanh nghiệp chọn hình thức bảo trợ trên truyền hình, doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc sản xuất và mua phát sóng chương trình truyền hình đó và cùng với chương trình bảo trợ của mình, doanh nghiệp có quyền được quyền phát sóng các quảng cáo của mình trong chương trình đó. Hiện nay trên truyền hình xuất hiện hai kiểu bảo trợ. Một là tiến hành bảo trợ các chương trình phim truyện (thường là dài tập) có bản quyền, lấy ví dụ như chương trình phim truyện dài tập “Tiếu Ngạo Giang Hồ” đang được phát sóng trên đài truyền hình Hà Nội do nhãn hiệu Omo của công ty Unilever tài trợ. Hai là tiến hành bảo trợ cho các chương trình giải trí, ca nhạc…chẳng hạn như chương trình “Hành trình văn hoá” phát sóng hàng tuần trên đại VTV3 do nhãn hiệu Double Rich của tập đoàn LG tài trợ..

    Mặc dù phí bảo trợ khá cao, nhưng hình thức quảng cáo này vẫn được sử dụng nhiều bởi những ưu điểm của nó. Thứ nhất là khán giả có thể thấy tên của nhà bảo trợ, Logo của nhà tài trợ và nghe một đoạn thông điệp ngắn giới thiệu về nhà bảo trợ trước và sau chương trình này. Thứ hai là tạo được uy tín tới trong nhận thức của người xem.

    3.2.2. Tự giới thiệu

    Hình thức tự giới thiệu là hành động doanh nghiệp mới phóng viên của đài truyền hình đều đến quay và giới thiệu về hoạt động và sản phẩm của

    Khoá luận tốt nghiệp

    mình như một đoạn phóng sự. Hình thức quảng cáo này có hai ưu điểm chính: Một là doanh nghiệp không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn như hình thức bảo trợ các chương trình truyền hình. Hai là, hình thức tự giới thiệu thương trông không giống như quảng cáo mà giống như bài phóng sự đưa tin do phóng viên của đài truyền hình biên tập do đó hiệu quả trong việc truyền thông tin có vể khách quan và dễ dàng được khách hàng tin tưởng và chấp nhận. Nhược điểm của hình thức này là không được phát nhiều lần như các phim quảng cáo khác.Ví dụ, gần đây, tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam có tiến hành một “show” quảng cáo tự giới thiệu về hoạt động kinh doanh và sảm xuất của công ty mình.

    3.2.3. Mua Spot

    Một hình thức quảng cáo khác trên truyền hình ít tốn kém hơn là hình thức mua Spot quảng cáo, mỗi Spot bằng với thời gian một phim quảng cáo dao động từ 15 đến 30 giây. Hình thức này có ưu điểm cho phép doanh nghiệp thuê nhiều khoảng thời gian ngắn trên nhiều đài truyền hình khác nhau. Một ưu điểm khác là doanh nghiệp có thể tiếp cận đựơc khán giả mục tiêu mà ngân sách của mình không bị lãng phí nhiều, họ có thể mua nhiều hoặc ít Spot tại các phân đoạn thị trường mà doanh nghiệp xét thấy phù hợp với mình nhất. Tuy nhiên việc mua Spot cũng có một vài nhược điểm đó là việc mua Spot tại nhiều đài khác nhau có thể trở nên phức tạp vì doanh nghiệp phải liên hệ, thương lượng giá phát sóng, lên lịch phát sóng … với nhiều đài cùng một lúc. Tuy nhiên, hiện nay việc mua Spot là hình thức phổ biến và mang lại hiệu quả nhất cho các doanh nghiệp cũng như cho các đài truyền hình.3.3. Lịch quảng cáo

    Trong một chiến dịch quảng cáo người làm quảng cáo cần phải lên lịch quảng cáo chung cũng như lịch quảng chi tiết cho từng chương trình.

    16

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.3. Lịch quảng cáo

    3.3.1. Lịch quảng cáo chung

    Lịch quảng cáo chung được xem như thời gian biểu phù hợp cho chiến dịch quảng cáo sản phẩm của công ty. Dựa vào những phân tích đánh giá lượng khách hàng theo dõi các chương trình trên truyền hình, mức thu nhập của khách hàng, tính chất của hàng hoá dịch vụ mà xác định xem việc quảng cáo được tiến hành theo thời vụ hay không theo thời vụ hay được tiến hành liên tục trong năm.

    3.3.2. Lịch quảng cáo chi tiết

    Dựa vào việc phân bổ ngân sách dành cho quảng cáo trên truyền hình cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến lịch quảng cáo trên truyền hình khác như số lần tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trên truyền hình của khán giả để có thể đưa ra được lịch quảng cáo trên truyền hình một cách chi tiết đồng thời đạt hiệu quả tác động cao nhất.

    Số lần tiếp xúc thông điệp quảng cáo trên truyền hình nói trên được tính bằng phạm vi tác động của thông điệp quảng cáo nhân với tấn suất tác động của thông điệp. Trong đó, phạm vi tác động được tính trên số người hay hộ gia đình khác nhau được tiếp xúc với mục tiêu quảng cáo trên truyền hình ít nhất một lần trong một thời kì , còn tần suất tác động được tính trên số lần mà một người hay một hộ gia đình tiếp xúc với một thông tin quảng cáo trên truyền hình. Hai nhân tố dùng để xác định số lần tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trên truyền hình có mức độ tác động hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn, trong thời khi mới tung sản phẩm thị trường hay đối với sản phẩm có mức độ sử dụng thường xuyên thì phạm vi tác động được coi là quan trọng hơn. Trái lại, trong một thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh thì tần suất được xem là quan trọng hơn.

    Các kiểu lên lịch quảng cáo này hình thành trên dượi trên số lần xuất hiện trên truyền hình. Số lần xuất hiện trên truyền hình có thể tập trung vào

    Khoá luận tốt nghiệp

    một thời điểm, gián đoạn hay liên tục trong cả thời kì. Bên cạnh đó, Nó còn hình thành dựa trên cường độ tác động. Cường độ tác động có thể là tăng dần, giảm dần, thay đổi hay đều đặn trong cả thời kì.

    Mô hình 1.1 : Các kiểu lên lịch quảng cáo trên truyền hình

    Ổn định Tăng dần Giảm dần Thay đổi

    Trung bình

    Liên tục

    Gián đoạn

    Nguồn: Mô hình hoá lịch quảng cáo trên truyền hình, Lê Hoàng Quân, năm 1994, Nghiệp vụ quảng cáo và Marketing, trang 272.

    3.4. Thông điệp quảng cáo

    Khi mở một chiến dịch quảng cáo, doanh nghiệp luôn phải xác định rõ thông điệp quảng cáo. Trước hết, thông điệp quảng cáo phải trung thực. Thông điệp quảng cáo trên truyền hình có thể nói nên điều gì đó mà khách hàng đang mong đợi hay thể hiện được những đặc trưng của hàng hoá dịch vụ mà các nhãn hiệu khác không có… Các thông điệp quảng cáo khác nhau có thể tác động đến các góc độ thoả mãn khác nhau như: thông điệp quảng cáo nằm vào lợi ích của khách hàng (hay còn gọi là nhằm vào sự thỏa mãn lý trí),

    Khoá luận tốt nghiệp

    thông điệp quảng cáo nhằm vào tình cảm hay cảm xúc của khách hàng… Tựu chung, một thông điệp quảng cáo nhất thiết phải đáp ứng được những cầu sau:

    • Lôi cuốn sự chú ý
    • Tạo hứng thú
    • Gây lòng ham muốn
    • Hướng tới hành động mua hàng.

    Do thời gian quảng cáo của các chương trình quảng cáo trên truyền hình có hạn nên nhiêm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của một chương trình quảng cáo trê n truyền hình là nắm bắt được sự chú ý, sự tò mò của đối tượng khán giả trong vòng 3 đến 5 giây đầu tiên. Nếu không gây được sự chú ý, cũng như sự tò mò trong khoảng thời gian này, thì những quãng thời gian còn lại coi như không có tác dụng. Sau khi gây được sự chú ý, nhiệm vụ tiếp theo của một chương tình quảng cáo là truyền tải thông điệp của người thuê quảng cáo đồng thời duy trì sự quan tâm của đối tượng (khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng). Từ việc quan tâm đến sản phẩm đối tượng theo dõi có thể dẫn đến mong muốn có được hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo. Và cuối cùng là hành động mua hàng của khách hàng.

    Khác với quảng cáo trên báo chí cũng như quảng cáo ngoài trời, thông điệp quảng cáo trên truyền hình được đặc trưng hoá, hay nói cách khác là “mã hoá” trong sự kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ.. tạo thành những cảnh sinh động thu hút sự chú ý của khán giả xem truyền hình.

    3.4.1. Hình ảnh trong quảng cáo trên truyền hình

    Truyền hình là một phương tiện để xem và quảng cáo trên truyền hình nên sử dụng triệt để lợi thế của loại phương tiện truyền thông này. Sử dụng quảng cáo trên truyền hình người quảng cáo có thể trình bày thông điệp một cách hấp dẫn bằng cách thay đổi cảnh trí thông qua một chuỗi các hình ảnh kế tiếp nhau, trong khi hình ảnh của quảng cáo trên báo chỉ có một cảnh hoặc

    19

    Khoá luận tốt nghiệp

    một bố cục. Cơ hội thay đổi cảnh giúp cho người quảng cáo có thể sử dụng tốt bối cảnh thích hợp trong trình tự hợp lý để đạt ý tưởng chính.

    Kỹ thuật hình ảnh trong một quảng cáo truyền hình có thể mang nhiều hình thức và được thể hiện theo nhiều mô típ khác nhau nhằm thu hút sự chú

    • của khán giả. Trong đó có một số hình thức, hay mô típ được sử dụng tương đối phổ biến như: Sử dụng pháp ngôn viên đưa ra những bằng chứng khoa học hay các bằng chứng thử nghiệm, giải thích lợi ích sản phẩm cúng đưa ra những chỉ tiêu kĩ thuật, cảnh mô tả tinh huống trong thực tế cuộc sống hoặc cảnh câu chuyện kể liên quan đến sản phẩm, phỏng vấn khách hàng sử dụng, so sánh sản phẩm của hãng so với các sản phẩm cùng loại, nhân vật biểu tượng để nhân cách hoá sản phẩm

    3.4.2. Âm thanh trong quảng cáo trên truyền hình

    Mặc dù lợi thế của quảng cáo truyền hình là yếu tố hình ảnh nhưng yếu tố âm thanh cũng là một phần cơ bản và thống nhất trong quảng cáo trên truyền hình. Hình ảnh hiếm khi truyền tải hết được nội dung thông điệp. Chính lời nói, âm nhạc và hiệu quả âm thanh sẽ mang lại ý nghĩa cho toàn bộ bức tranh quảng cáo. Hình ảnh đưa ra cho đối tượng một bức tranh hay, ấn tượng, còn âm thanh trình bày và nhấn mạnh các chi tiết của bức tranh đó.

    Ngôn ngữ cũng như lời nói thuyết minh trong các chương trình quảng cáo thường được sử dụng theo 2 hướng khác nhau. Hướng thứ nhất sử dụng những ngôn ngữ, lời thuyết minh đơn giản nhẹ nhàng như thực tế đời thường, Trái lại hướng thứ hai tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ, lời thuyết lại đi sau vào chiều sâu, hàm chứa nhiều ý nghĩa, tạo cho khán giả xem truyền hình phải đăm đo, suy nghĩ từ đó hình thành hình ảnh nhãn hiệu trong trí nhớ của người xem.

    20

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.5. Ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    3.5.1. Các phương pháp xác lập ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Đối với một doanh nghiệp, nguồn kinh phí dành cho quảng cáo chi phối trực tiếp nhất đến việc lựa chọn xây dựng các chương trình quảng cáo trên truyền hình, thời gian quảng cáo trên truyền hình và phạm vi quảng cáo trên truyền hình… Do đó để xây dựng thành công một chương trình quảng cáo trên truyền hình, doanh nghiệp cần phải xác định rõ nguồn ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình là bao nhiêu?. Dưới đây là một số cách thực khác nhau để xác ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Một là, phương pháp tỉ lệ % doanh số bán: Phương pháp này xác định chi phí quảng cáo trên truyền hình của doanh nghiệp bằng tỉ lệ % nhất định của doanh số bán dự kiến. Chi phí quảng cáo trên truyền hình ở đây sẽ thay đổi tuỳ theo khả năng dự kiến của doanh nghiệp. Phương pháp này thể hiện khá rõ đến mối liên hệ giữa chi phí dành cho sản xuất và chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ ước lượng và tính toán đến việc tiêu thụ sản phẩm, ít đề cập đến mức độ nhận biết, mức độ trung thành đối với nhãn nhiệu của doanh nghiệp.

    Hai là, phương pháp cân bằng cạnh tranh: Phương pháp này xác định ngân sách quảng cáo trên truyền hình của dựa theo nguyên tắc đảm bảo ngang bằng với chi phí của đối thủ cạnh tranh, Nhiều ý kiến cho rằng chi phí của các đối thủ cạnh tranh thể hiện sự sáng suốt tập thể của ngành và duy trì cân bằng cạnh tranh.Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là khó xác định được chi phí của đối thủ cạnh tranh. Mặt khác, do nhãn hiệu, sản phẩm của các doanh nghiệp khác nhau có mức độ tin cậy và mức độ trung thành khác nhau, nên việc xác định ngân sách theo phương pháp này sẽ là bất hợp lý.

    Ba là, phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ: Phương pháp này đòi hỏi người làm Marketing phải xác định cụ thể mục tiêu của mình và xác định những nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được những mục tiêu rồi

    Khoá luận tốt nghiệp

    ước tính chi phí để thực hiện nhiệm vụ đó. Theo phương pháp này, quảng cáo trên truyền hình được coi là một hoạt động đầu tư, trong đó các mục tiêu là mục đích kinh doanh dài hạn còn nhiệm vụ là công việc kinh doanh ngắn hạn.

    Ngoài ra, còn có một số phương pháp xác định khác để xác định ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chẳng hạn như xác định dựa trên khả năng tài chính có thể vươn tới của doanh nghiệp, hay xác định dựa trên thị phần quảng cáo trên một thị trường cụ thể…

    Nói chung các phương pháp đều có những mặt ưu nhược điểm khác nhau do đó không nên áp đặt một phương pháp cho tất cả hoàn cảnh mà phải dựa vào tình hình cụ thể ( như khả năng của doanh nghiệp, thực tế của thị trường, đặc tính của sản phẩm, đặc trương của nhóm khách hàng mục tiêu….) mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình phương pháp phù hợp nhất.

    3.5.2. Quy trình lập ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Dưới đây là quy trình để thiết lập ngân sách quảng cáo trên truyền hình. Quy trình được diễn ra theo 4 bước chính: bước 1: phân tích mục tiêu và các thông tin hiệ có, bước 2: áp dụng các biện pháp xác đinh ngân sách, bước 3: đánh giá dữ liệu và các nguồn ngân sách thiết lập, bước 4: đưa ra một nguồn ngân sách phù hợp nhất.

    Bước thứ nhất của quá trình lập ngân sách là nghiên cứu mục tiêu marketing, mục tiêu quảng cáo trên truyền hình cũng như xem xét cách ngân sách đã được thực hiện trong quá khứ, điều tra thu thập các thông liên quan đến chi phí quảng cáo của đối thủ cạnh tranh, tính toán thị phần và doanh thu dự kiến của doanh nghiệp, xem xét giai đoạn trong vòng đới sản phẩm, ước lượng khả năng thay thế sản phẩm… Nói chung, bước đầu tiên cần phải đánh giá toàn cảnh thị trường, đặc trưng sản phẩm, vòng đới sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, nguồn tài chính hiện có…

    22

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bước thứ hai trong quá trình lập ngân sách sẽ dựa vào những kết qủa phân tích, thu thập ở bước thứ nhất, xác định nguồn ngân sách thông qua các phương pháp xác lập khác nhau. Do các cách thức tính toán khác nhau nên các kết quả tính toán nguồn ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ khác nhau.

    Mô hình 1. 2: Quy trình lập ngân sách quảng cáo trên truyền hình.

    Bước 1: Phân tích  
    mục tiêu và các thông  
    tin hiện có Không hợp lý
     
    Bước 2: Áp dụng   Bước 3: Đánh giá
    các phương pháp   dữ liệu và các
    xác định ngân sách   nguồn ngân sách
        thiết lập
         

    Hợp lý

    Bước 4: Đưa ra

    nguồn ngân sách

    phù hợp nhất

    Bước thứ ba trong quá trình lập ngân sách sẽ xem xét lại các thông số đã phân tích trong bước thứ 1đồng thới sẽ đánh giá các kết quả tính toán ở bước thứ 2. Nếu thấy những phân tích cũng như những giả định là không phù hợp với mục tiêu quảng cáo, doanh nghiệp sẽ quay trở về phân tích, tính toán lại những dữ liệu cũng như những thông tin ở bước thứ nhất và bước thứ 2, còn nếu thấy hợp lý sẽ được chuyến sang bước thứ tư.

    23

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bước thứ tư trong quá trình lập ngân sách là đưa ra một nguồn ngân sách phù hợp nhất dựa trên những tính toán khả thi cũng dựa trên kinh nghiệm sẵn có của doanh nghiệp.

    Nói chung, các doanh nghiệp luôn luôn muốn hướng tới một ngân sách quảng cáo thấp nhấp đồng thới đem lại cho doanh nghiệp lơi ích lớn nhất. Do đó, một quyết định đúng đắn sẽ tạo cho chương trình quảng cáo trên truyền hình mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.

    3.6. Đánh giá hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    3.6.1. Hiệu quả truyền thông và hiệu quả thương mại

    Việc xác định nguồn ngân sách quảng cáo trên truyền hình, tung ra các chương trình quảng cáo trên truyền hình là nhằm nâng cao đường cong nhu cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp…Tuy nhiên, mức độ nâng cao hình ảnh của doanh, cũng như nhu cầu về sản phẩm lên bao nhiêu, hiệu quả chi phí cho hoạt động quảng cáo là như thế nào cần phải có sự đánh giá hợp lý:

    Nói chung có 2 các định lượng hiệu quả của một chương trình quảng cáo trên truyền hình: đó là phương pháp định lượng hiệu quả truyền thông và phương pháp định lượng hiệu quả thương mại.

    Phương pháp hiệu qủa truyền thông nói lên mức độ đảm bảo truyền thông đạt hiệu quả như thế nào. Phương pháp này có thể được thực hiện thông qua việc phỏng vấn khách hàng trước và sau khi mở chiến dịch quảng cáo trên truyền hình, từ đó ước lượng mức độ nhận biết hàng hoá đó cuả người tiêu dùng tiềm năng, mức độ ưa thích, trung thành nhãn hiệu sản phẩm của người tiêu dùng hiện tại….

    Phương pháp hiệu quả thương mại xác định khối lượng tiêu thu sản phẩm do hoạt quảng cáo trên truyền hình mang lại. Việc định lượng chính xác khối lượng trên là không dễ dàng bởi mức độ tiêu thu sản phẩm còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như giá cả, chất lượng sảm phẩm, thời vụ tiêu thụ sản

    Khoá luận tốt nghiệp

    phẩm…. Do đó muốn xác định được mức độ  tiêu thụ tương đối chính xác

    nhấtdo hoạt động quảng cáo mang lại cần dựa trên những phân tích lâu dài trong việc tiêu thụ sản phẩm, loại bỏ đi các yếu tố chủ quan cũng như khách quan nêu trên.

    3.6.2. Tác động của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đến hành vi của người tiêu dùng

    Peter Drucker, một nhà quản lý nổi tiếng của Mĩ trong cuốn sách “the Practice of Management” có nói rằng “ Nếu cần định nghĩa kinh doanh là gì thì chỉ có một định nghĩa có thể tin cậy đó là tạo ra khách hàng. Để tạo cho hoạt động kinh doanh thành công, doanh nghiệp cần phải hiểu rõ được nhu cầu của khách hàng, động cơ mua hàng của khách hàng cũng như thói quen mua hàng của khách hàng.

    3.6.2.1. Nhận thức nhu cầu, động cơ mua xắm và hành động của khách hàng.

    “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được”, Philip Kolter. Xác định nhu cầu và thoả mãn nhu cầu là nhiệm vụ của hoạt động marketing nói chung và hoạt động quảng cáo truyên truyền hình nói riêng. Tuy nhiên nhu cầu của con người khá đa dạng và phức tạp. Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã tiến hành phân cấp các nhu cầu. Mặt khác, theo tâm lý học khi một nhu cầu nào đó được thoả mãn thí lại xuất hiện sự đòi hỏi những nhu cầu tiếp theo ở cấp độ cao hơn.

    25

    Khoá luận tốt nghiệp

    Mô hình 1.3: Thứ bậc nhu cầu của A. Maslow.

    Nhu cầu

    tự khẳng

    Nhu cầu được tộn

    trọng

    Nhu cầu xã hội

    Nhu cầu an toàn

    Nhu cầu sinh lý

    Thứ bậc nhu cầu theo Abraham Maslow

    Nguồn: Giáo trình nguyên lý Marketing trường ĐH Ngoại Thương ( trang 4)

    Một là nhu cầu sinh lý. Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản, mang tính sống còn của con người như thức ăn, nhà ở …

    Hai là nhu cầu an toàn. Nhu cầu an toàn là những nhu cầu đảm bảo sự an toàn cho sức khoẻ, tính mạng của người sử dụng.

    Ba là nhu cầu xã hội. Nhu cầu xã hội là những nhu cầu tương tác giữa cá nhân và xã hội bao gồm những nhu cầu được yêu thương, chấp nhận.

    Bốn là được tôn trọng. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu được thể hiện mình, được kính trọng, được công nhận.

    Năm là nhu cầu tự khẳng định. Nhu cầu tự khẳng định là bất kĩ nhu cầu nào làm cho con người có thể thể hiện được mọi tiềm năng, nhân cách của mình để chứng minh mình là người rất đặc biệt

    26

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tất cả những nhu cầu nêu trên tạo nên động cơ mua sắm. Khi nhu cầu xuất hiện sẽ thúc đẩy người tiêu dùng tìm kiến thông tin liên quan đến hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Nếu như cường độ động cơ hướng tới hàng hoá và dịch vụ cụ thể để thoả mãn nhu cầu của mạnh thì ngoài những thông tin vốn có, người tiêu dùng sẽ bổ sung thông tin về đối tượng được hướng tới thông qua nguồn thông tin các nhân, cũng như những nguồn thông tin khác, trong đó có những thông tin từ các chương trình quảng cáo trên truyền hình…

    Sau khi động cơ mua sắm và thông tin liên quan đến đối tượng đã được bao phủ, người tiêu dùng sẽ tiến hành lựa chọn các phương án để đưa ra quyết định, hành động mua xắm của mình.

    Nhìn chung thì quá trình dẫn đến hành động mua sắm của người tiêu dùng thường được diễn biến trong 3 giai đoạn chính : Hiểu biết – Cảm nhận – Hành vi

    3.6.2.2. Phản ứng đáp lại của người tiêu dùng

    Một chương trình quảng cáo trên truyền hình thành công phải dẫn dắt người tiêu dùng từ chỗ xuất hiện nhu cầu về hàng hoá hay dịch vụ đến hành động mua sắm hay hành động chấp nhận nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp. Có thể nói, quá trình phản ứng đáp lại của người tiêu dùng là một quá trình rất phức tạp. Tuy nhiên, ta có ta có thể mô hình hoá quá trình phản ứng tích cực của người tiêu dùng dựa theo 3 giai đoạn chính của quá trình hình thành quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Ba giai đoạn chính trong quá trình hình thành quyết định mua sắm của mgười tiêu dùng là : giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức. giai đoạn 2: giai đoạn cảm nhận và giai đoạn 3: giai đoạn hành vị.

    Mô hình 3: Quá trình phản ứng của người tiều đối với hoạt động quảng cáo

     

    27

    Khoá luận tốt nghiệp

    Giai đoạn Mô hình Mô hình thứ bậc Mô hình chấp Mô hình
      AIDA của hiệu quả nhận đổi mới xử lý
            thông tin
             
        Để ý   Tiếp xúc
    Giai đoạn Chú ý     Để ý
    Nhận thức     Biết đến  
        Hiểu biết   Nhận biết
             
      Quan tâm Thích   Thái độ
          Quan tâm  
    Giai đoạn   Ưa thích    
    cảm nhận        
      Mong muốn Tin tưởng Đánh giá Có ý định
          Dùng thử
    Giai đoạn Hành động Mua Hành vi
    Hành vi     Chấp nhận

    Nguồn: G. Belch & M. Belch, Advertising and Promotion, trang 147

    Các mô hình trên đã đặc định hoá là phản ứng tích cực của người tiêu dùng đối với các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Trong các mô hình trên, kết quả hành vi thu được là khác nhau đối với từng mô hình. Bởi phản ứng đáp lại của từng nhóm khác nhau là khác nhau. Đối với những người luôn muốn đổi mới thường dẫn đến hành vi mua hàng sau khi xem chương trình quảng cáo trên, truyền hình, còn đối với những người thuộc nhóm bàng quan

    28

    Khoá luận tốt nghiệp

    thì dẫn đến hành vi dùng thử trước khi chấp nhận sản phẩm, cuối cùng đối với nhóm người xem khó chấp nhận thì chỉ dẫn đến hành vi để ý tới các dịch vụ hàng hóa được quảng cáo trên truyền hình.

    Tuy nhiên trên thực tế, một số các chương trình quảng cáo lại gây ra phản ứng tiêu cực từ phía người tiêu dùng đối với hàng hóa dịch vụ được quảng cáo. Và kết quả thật rõ ràng nhân thấy đó là hành động người tiêu dùng sẽ từ chối mua sản phẩm vĩnh viễn và đổi sang sử dụng nhãn hiệu khác.

    29

    Khoá luận tốt nghiệp

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở

    VIỆT NAM

    1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH QUẢNG CÁO MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

    1.1. Vài nét về tình tình quảng cáo ở các nước phát triển

    • các nước phát triển, hoạt động quảng cáo trên truyền hình đã từ lâu trở thành một vũ khí quan trọng trong cạnh tranh. Ngành công nghiệp quảng cáo trên truyền hình là một trong những ngành đóng góp một phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của các nước này. Trên thế giới, Mĩ được coi là cường quốc số một trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình. Theo số liệu của Ac Nielsen ( www. Ac neilsen.com) năm 2001, chi phí quảng cáo cáo của Mĩ là 227,7 tỷ USD trong dó chi phí quảng cáo trên truyền chiếm 60% (tương đương với hơn 125 tỷ USD), đạt mức tăng trưởng thấp 0,8% so với năm 2001. Ngân sách dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của một công ty lớn hàng năm thường ở mức trên 200 triệu.

    Bảng 2.1: 10 công ty thuê quảng cáo hàng đầu nước Mĩ.

    Stt   Công ty thuê quảng cáo Chi phí quản cáo trên truyền
          hình
          (triệu USD)
    1   P & G 641,3
    2   General Motors 500,9
    3   Phillp Morris 475,3
    4   Johnson & johnson 388,6
    5   Pepsi 362,1
    6   Ford Motor 360,3
    7   McDonald’s 622,4
    8   Kellogg 271,7
    9   Chrysler 239,7
    10   Unilever 232,6
        Nguồn : G. Belch & M. Belch, Advertising and Promotion, trang 342
      Đi cùng với những nỗ lực để giới thiệu, nhắc nhở, thuyết phục khách

    hàng sử dụng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ của các công ty thuê quảng cáo là

    Khoá luận tốt nghiệp

    hoạt động lập chiến lược quảng cáo trên truyền hình, sản xuất các chương trình quảng trên truyền hình, đánh giá hoạt động quảng cáo trên truyền hình của các công ty quảng cáo trên truyền hình. Cũng riêng ở Mĩ, một công ty quảng cáo trên truyền hình lớn hàng năm cũng thu được một khoản thu nhập trên 100 triệu USD. Dưới đây là danh sách 10 công ty quảng cáo hàng đầu nước Mĩ .

    Bảng 2.2 : 10 công ty quảng cáo hàng đầu nước Mĩ

    Stt Công ty quảng cáo Tổng thu nhập
        (triệu USD)
    1 Leo Burnett Co. 370,6
    2 J.Walter Thompson Co. 347,0
    3 Grey Advertising 326,7
    4 DDB Needham Worldwide 284,7
    5 McCann-Erickson Worldwide 279,6
    6 Saatchi & Saatchi Advertising 275,5
    7 BBDO Worldwide 259,5
    8 Foote, Cone & Belding Communications 244,2
    9 Ogilvy & Mather Worldwide 209,5
    10 Young & Rubicam 205,8

    Nguồn : Advertising and Promotion ( Belch & Belch), trang75.

    Một số nước khác như Nhật Bản, Đức, Anh cũng đã có một ngành công nghiệp quảng cáo trên truyền hình hết sức hiện đại và chuyên nghiệp. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của các nước này thường đạt nước tăng trưởng 5-8%.(đánh giá chi phí quảng cá o truyền hình của một số nước phát triển của Ac Nielsen _www.acnielsen.com)

    Nếu Mĩ được coi là cường quốc số 1 về quảng cáo trên truyền hình trên thế giới thì Nhật Bản được xem như một “ông vua nhỏ “ ở khu vực châu á. Quảng cáo trên truyền hình ở Nhật chiếm 52% tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Năm 2001 chi phí cho hoạt động quảng cáo đạt 2079,2 tỷ Yên, đạt mức tăng trưởng 8,7% so với năm 2000. Cũng giống như ở Mĩ các công ty quảng cáo ở Nhật Bản cũng làm ăn khá tốt. Hàng năm các

    31

    Khoá luận tốt nghiệp

    công ty này thu về một khoản thu nhập khá lớn khoảng 100 tỷ Yên. Dưới đây là 10 công ty quảng cáo có thu nhập lớn nhất ở Nhật.

    Bảng 2.3 : 10 công ty quảng cáo hàng đầu Nhật Bản.

    Stt Công ty quảng cáo Tổng thu nhập
        (tỷ Yên)
    1 Denstu 1476
    2 Hakuhodo 740
    3 Asatsu DK 341
    4 Tokyo Agency 197
    5 Daiko 158
    6 Yomiruri-Kokokusha 117
    7 I&S BBDO 100
    8 JR Higashinihon Kikaku 92
    9 McCann-Erickson 79
    10 Asahi Kokoku 60

    Nguồn: Avertising Economy Institute năm 2002, www.afa.com

    Trong xu thế hội nhập ngày càng cao, bên cạnh việc vươn mình ra thế giới của các công ty, các tập đoàn sản xuất khổng lồ của các nước phát triển như Mĩ, Nhật, Anh, Đức.. là hoạt mở rộng thị trường trên toàn thế giới của các công ty quảng cáo vốn có thiết bị hiện đại, đội ngũ kĩ thuật chuyên nghiệp cũng như một bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các công ty quảng cáo này đã, đang và sẽ vẫn làm mưa làm gió trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình.

    1.2. Vài nét về tình hình quảng cáo ở các nước đang phát triển.

    Trong thế giời của các đang phát triển, nền công nghiệp quảng cáo trên truyền hình mới đang dần được hình thành và phát triển. Tốc độ gia tăng ngân sách dành cho hoạt quảng cáo trên truyền hình ngày một tăng, với mức trung bình luôn khoảng 2 con số. Một nguyên nhân chủ yếu cho việc gia tăng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở các nước này một phần là do sự phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế . Mặt khác là do mức độ cạnh tranh trong các ngành kinh tế ở các nước này đang ngày càng khốc liệt. Do đó, muốn không bị loại

    Khoá luận tốt nghiệp

    ra khỏi ngành các công ty ra sức thực hiện các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh trong đó quảng cáo trên truyền hình là một công cụ quan trọng nhất ở các nước này.

    Trong thế giới các nước đang phát triển, Trung Quốc được coi là một tiềm lực kinh tế hiện nay. Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế kết hợp với sự hoạt động của hơn 1000 đài truyền hình từ trung uơng đến địa phương (trong đó có 8 kênh truyền hình trung ương), hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Trung Quốc luôn có mức tăng trưởng trên 20% ( riêng năm 1997 mức độ tăng trưởng trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc là 47%) và đứng thứ 2 châu á (sau Nhật Bản) nếu xét về tồng chi phí dành hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Theo như số liệu của AC Nielson thì chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc đạt 8,1 tỷ USD năm 2001 đạt mức tăng trưởng 17% (chiếm tỷ trọng 70% trong tổng chi phí quảng cáo ở Trung Quốc). Trong các sản phẩm được quảng cáo trên truyền hình ở Trung Quốc, thì các sản phẩm y dược luôn luôn đứng đầu. Trong số 10 công ty quảng cáo hàng đầu của Trung Quốc, có 8 công ty dược phẩm Trung Quốc và 2 công ty bia cũng của Trung Quốc. Nói chung, trong tương lai gần, hoạt động quảng cáo trên truyền hình của đất nước trên tỷ dân này sẽ ngày càng phát triển do các chính sách kinh tế ngày càng được mở rộng hơn nữa, đặc biệt sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO cùng với sự thâm nhập của các công ty, các tập đoàn kinh tế hàng đầu trên thế giới vào mảnh đất đầy béo bơ nay.

    Hàn Quốc, với mức thu nhập trung bình 8581 USD một năm, cùng với tỷ lệ sử hữu tivi trên 98%, là nước có hoạt động quảng cáo trên truyền hình mạnh thứ 3 châu á chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc. Chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Hàn Quốc năm 2001 là 1,520 tỷ USD giảm đi so với năm 2000 là 5,1% ( chi phí quảng cáo trên truyền hình của Hàn Quốc năm 2000 là 1,601 tỷ USD). Tỷ trọng của quảng cáo trên truyền hình của Hàn

    33

    Khoá luận tốt nghiệp

    Quốc không lớn như các nước châu á khác chỉ chiếm khoảng 35% trên tổng chi phí dành cho quảng cáo của cả nước này.

    Trong các nước Đông Nam á, Philịppin là quốc gia có chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình nhiều nhất. Mức tăng trưởng trong hoạt động quảng cáo hàng năm trăng trung bình 15%. Chi phí quảng cáo trên truyền hình ở Philippin luôn chiếm tỷ trọng khoảng 65% tổng chi phí quảng cáo. Theo số liệu của AC Neilson, năm 2001 Philippin có chi phí cho quảng cáo trên truyền hình là 907 triệu USD tăng 14,8% so với năm 2000 (trong số đó chi phí quảng cáo trên truyền hình vô tuyến là 859 triệu USD tăng 13% so với năm 2000, chi phí quảng cáo trên truyền cáp là 48 triệuUSD tăng 59% năm). Sau Philippin, Thái Lan cũng là nước có hoạt động quảng cáo trên truyền hình diễn ra mạnh mẽ. Tổng chi phí quảng cáo năm 2001 của Thái Lan là 1,2 tỷ USD trong đó quảng cáo trên truyền hình chiếm 62% tương đương với 747 triệu USD đạt mức tăng trưởng là 7,9% so với năm 2000. Inđônêsia là nước có tốc độ gia tăng ngân sách quảng cáo trên truyền hình lớn nhất luôn đạt trên 20%, năm 2001 chi phí quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ trọng 67% tổng chi phí quảng cáo tương ứng với mức chi phí là 611,7 triệu USD, với mức tăng trưởng 23,6% so với năm 2000. Tiếp theo phải kể đến là Singapo và Malaysia, với chi phí quảng cáo trên truyền hình namư 2001 tương ứng là 310 triệu USD (đạt mức tăng trưởng 11%) và 231 triệu USD (giảm so với năm 2000 6%). Các nước Đông Nam á kể trên được coi là 5 nước có ngành côn nghiệp quảng cáo trên truyền hình phát triển vượt trội so với các nước khác trong khu vực.

    (tất cả các số liêu nêu trên là những đánh giá về chi phí quảng cáo của các nước châu Á Thái Bình Dương năm 2000, 2001, 2002 của công ty AC Nielsen _www.acnielsen.com)

    34

    Khoá luận tốt nghiệp

    2. KHÁI QUÁT CHUNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, thì nhu cầu về thông tin, giải trí ngày càng lớn. Mặt khác, theo số liệu thống kê của công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, hiện nay ở 4 thị trường chủ lực là vùng đồng bằng bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), vùng duyên hải miền trung (Đà nẵng, Huế), vùng đông nam bộ ( Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương), và vùng đồng băng sông cửu long (Cần Thơ) có khoảng gần 90% số hộ gia đình có sở hữu ít nhất một chiếc Tivi ( trong đó có 95% hộ gia đình ở thành thị, và 84% hộ gia đình ở nông thôn. Nếu đem so sánh tỷ lệ con số sở hữu tivi theo hộ gia đình ở Việt Nam so với các nước trong khu vực thì có thể nói là cao, thâm chí vượt cả Trung Quốc ( Tỷ lệ sở hữu tivi ở Trung Quốc ước khoảng 75%). Trong những năm gần đây, số lượng người nghe đại có xu hướng giảm dần và trong khi số lượng người xem cũng như thời lượng xem ngày càng tăng lên. Theo bản điều tra về thói quen nghe và xem các chương trình trên các đài phát thanh và truyền hình của các khán giả từ 15 tuổi trở lên, số lượng người xem truyền hình lớn gấp 12 lần so với nghe đài

    Bảng 2.4 : So sánh lượng khán giả và thời lượng

    xem truyền hình và nghe Radio.

    Loại hình Số lượng khán giả (%) Thời lượng (%)
         
    Truyền hình 14,8 87,5
         
    Radio 1,5 25,5
         

    Nguồn: Báo Vietnam Economic Times, tháng 3 năm 2001, trang 14.

    Trong số lượng khán giả xem cáo chương trình trên các đài truyền hình tính từ năm 1990 trở lại đây, thì tỷ lệ nữ giới luôn chiếm vị trí đa số, khoảng 53 – 54 %, trong khi đó các khàn giả là nam giới chỉ chiếm có 46 – 47%. Nhìn chung, dựa trên tỷ lệ khản giả xem truyền hình, các công ty thuê quảng cáo cũng như các công ty quảng cáo sẽ định vị tốt hơn được các chương trình quảng cáo của mình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nếu xem xét đến độ tuổi xem truyền hình, thì đổ tuổi từ 35 đến 49 chiếm tỷ lệ cao nhất với mức 24% trong khi đó số lượng người xem ở độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ thấp nhất ở mức 18%.Còn các độ tuổi từ 15 đến 34 có mức độ xem tương đối hơn so với các nhóm tuổi khác chiếm 40% lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình. ( tuổi từ 15-24 chiếm 20%, 25-34 chếm 20% lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình.

    Biểu 1:Số lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình chia theo giới tính và lứa tuổi.

    18%                         19%

    Nam     20%
    46% 24%  
    54%      
          20%  
      4-14 15-24 25-34 35- 49

    Nguồn: Công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam.,năm 2002

    Nhưng nhìn chung, số lượng người xem truyền hình tính theo lứa tuổi không có sự chênh lệch rõ nét như số lượng tính theo giới tính ở trên và tính theo thu nhập ở dưới đây.

    Biểu 2.2 : Phân bổ khán giả theo dõi các chương trình truyền hình theo thu nhập

    15%

    26%

    34%

    25%

     trªn $500  $350-500  $36150-350  d−íi $150

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nguồn: Công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002

    Các hộ gia đình có thu nhập ở mức trung bình thường xem các chương tình truyền hình nhiều hơn nhiều so với số lượng các hộ gia đình có số thu nhập hàng tháng cao hoặc thấp hoặc tương đối thấp. Các hộ gia đình có mức thu nhập trên 500 USD một tháng chỉ chiến có 15% trong tổng số các khán giả theo dõi các chương trình truyền hình, trong khi các hộ có mức thu nhập trung bình chiếm 57% lượng khán giả dõi theo các chương trình truyền hình trên cả nước.

    Mặt khác, trên các đài truyền hình, hàng ngày các chương trình truyền hình đuợc phân phối theo các chủ đề như tin tức, chính trị, kinh tế, giải trí, phim truyện, giáo dục … với thời lượng phát sóng khác nhau. Các chương trình truyền hình trên cũng thu hút số lượng khán giả xem khác nhau. Do vậy, các doanh nghiệp muốn thực hiện được các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình của mình được hiệu quả hơn cần phải đánh giá, đo lường được chính xác số lượng khán giả xem các chương trình khác nhau,.

    Bảng 2.5: Phân bố thời lượng phát sóng và số lượng khán giả theo các loại chương trình truyền hình.

    Loại chương trình truyền hình Thời lượng phát sóng Số lượng
      (%) khán giả (%)
         
    Tin tức, chính trị, kinh tế 15,3 9,3
         
    Phim dài tập 22 25,5
         
    Thể thao 9,8 7,8
         
    Phóng sự, tài liệu 2,9 7,2
         
    Giáo dục 2,4 2,9
         
    Giải trí 13,2 13,7
         
    Đời sống 1,6 3,5
         
    Các vấn đề được quan tâm chung 19,5 6,9
         
    Phim truyện 3,2 9,3
         

    37

    Khoá luận tốt nghiệp

    Các chương trình khác 10,2 13,9
         

    Nguồn : Tổng hợp báo cáo của Tayor Nelson Sofres Việt Nan, năm 2002

    Theo như tổng kết của công ty nghiên cứu thị trường Tayor Nelson Sofres Việt Nam, số lượng khán giả theo dõi các chương trình phim truyện dài tập chiếm số lượng cao nhất, tiếp theo là các giải trí, trong khi số lượng người xem các chương trình giáo dục đào tạo, đới sống là thấp nhất.Các chương trình phim dài tập chiếm 22 % tổng thời lượng phát sóng và thu hút hơn 25% lượng khái giả theo dõi các chương trình truyền hình.. Các chương trình giả trí tuy có thới lường lượng phát sóng không thực sự nhiều song lại có tỷ lệ khái giả xem khá đông, chiếm hơn 13 % tổng lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình. Trong khi đ, các chương trình giáo dục, đào tạo có tính chọn lọc khán giả cao nhất nên có lượng khán giả theo dõi ít nhất khoảng gần 3%.

    Tựu chung, do số lượng người xem truyền hình ngày càng lớn dẫn đến việc rất nhiều doanh nghiệp tiến hành khuyếch trương, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình thông qua hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Hiện nay, bên cạnh các chương trình truyền hình vô tuyến và hữu tuyến được phát sóng trên hơn 60 kênh truyền hình trong nước là các chương trình thông tin quảng cáo. Các chương trình quảng cáo giờ đây đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống.

    3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM TRONG MỘT SỐ NĂM TRỞ LẠI ĐÂY.

    3.1. Chi phí quảng cáo trên truyền hình trong một số năm trở lại đây

    Có thể nói rằng, chỉ khi nước ta chính thức thi hành mô hình cơ chế thị trường và áp dụng các biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp, thì ngành quảng cáo trên truyền hình mới thực sự phát triển một cách chóng mặt với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn vượt 100% trong những năm đầu tiên, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình từ năm

    38

    Khoá luận tốt nghiệp

    1993- 1996 luôn ở mức năm sau tăng gần gấp đôi năm trước. Chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1995 tạt 34 triệu USD tăng 180% so với năm 1994, năm 1994 so vơi năm 1993 tăng 150% chỉ đạt 13 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng như vũ bão của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đánh giá từ góc độ chi phí quảng cáo trên truyền hình đólà sự xuất hiện của các công ty liên doanh nước ngoài, cùng với các nhãn hiệu mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam của các doanh nghiệp liên doanh này. Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển này, ngành quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam chủ yếu phát triển về quy mô theo hướng tự phát, chất lượng của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong giai đoạn này vẫn chưa thực sự được chú ý.

    Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng của hoạt động quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây.

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 ước tính
                  2003
    Chi phí quảng cáo 42843 41604 47443 70793 81072 92442 105000
    (1000 USD)              
    Tỷ lệ tăng trưởng   97,1% 114% 149,2% 114,5% 114,0% 113,6%
    (%)              
    Tốc độ tăng trưởng   – 2,9% 14% 49,2% 14,5% 14% 13,6%
    (%)              
    Tốc độ tăng trưởng       14,53%      
    trung bình (%)              

    Nguồn: Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam.

    Trong một số năm trở lại đây, hoạt động quảng cáo trên truyền hình bắt đầu hướng tới con đường chuyên nghiệp hơn. Tốc độ tăng trưởng xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình so vời thời kì trước có phần chững lại. Tốc độ tăng trưởng trung bình từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2003 vào khoảng 14.5% năm. Tuy nhiên nếu đem so sánh với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Malaysia thì tốc độ tăng trưởng trong khoảng thời gian này vẫn được xem như là coi số mơ nước, đặc biệt ấn tượng khi mà các hoạt động quảng cáo trên mà hoạt động quảng cáo trên truyền

    39

    Khoá luận tốt nghiệp

    hình ở Việt Nam bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển ổn định. Cũng trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của quảng cáo trên truyền hình ở Malyisa gần như không tăng, thậm chí năm 2001 còn xuất hiện tình trạng tăng trưởng âm (- 6,1%) so với năm 2000, Thái Lan tuy có khá hơn song mức tăng trưởng trung bình trong thời kì này cũng chỉ đạt mức dưới 2 con số, khoảng 7,5% năm, còn Singapore cũng chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này là 10 % năm.

    Trong khoảng từ năm 1997-2003, năm 1998 có tốc độ tăng trưởng được coi là thấp nhất kể từ khi ngành quảng cáo trên truyền hình bắt đầu thức sự xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1998, mức chi phi dành cho quảng cáo trên truyền hình là 41,6 triệu USD, tăng trưởng âm 2,9% so với namư 1997. Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn, thậm chí tăng trưởng âm so với các năm khác chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu á vào cuối năm 1997 đầu năm 1998. Trái với năm 1998, năm 2000 có tốc độ tăng trưởng nhảy vọt, tăng 49% so với năm 1999 lớn nhất trong 7 năm qua. Chi phí quảng cáo trên truyền hình của riêng năm 2000 là 70,793 triệu USD. Những lí do giải thích cho sự nhảy vọt trong chi phí quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam là do tình hình kinh tế các nước đã thoái ra khỏi thỏi kì khủng hoảng tài chính, cũng như những những biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp trong nước phát triển…của nhà nước như tiến hành áp dụng luật doanh nghiệp cuối năm 1999, cũng như thi hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sửa đổi…Trong khi đó, từ 2001 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng quảng cáo trên truyền hình duy trì ở mức ổn định 14% năm, tăng nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước trong cùng thời kì, điều đó có nghĩa là mức độ đóng góp của quảng cáo trên truyền hình vào GDP ngày càng tăng nên, vị trí của quảng cáo trên truyền hình ngày các trở nên quang trọng trong việc phát triển

    40

    Khoá luận tốt nghiệp

    xây dựng doanh nghiệp mà còn trong việc góp phần xây dựng, phát triển đất nước.

    Trong toàn bộ lĩnh vực quảng cáo, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn ở mức trên 50% trong tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp. Theo thống kê của công ty phân tích thị trường AC Nelson năm 2002, tỷ trọng các loại hình quảng cáo ở Việt Nam như sau:

    Bảng 2.7: Tỷ trọng các loại hình quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Loại hình quảng cáo Tỷ trọng (%)
       
    Truyền hình 56%
       
    Tạp chí, ấn phẩm 27%
       
    Ngoài trời 10%
       
    Radio 5%
       
    Các loại hình khác 2%
       
    Tổng 100%
       

    Nguồn : Dựa trên số liệu AC Nielsen Việt Nam.

    Có thể nói, hoạt động quảng cáo trên truyền hình là loại hình có chi phí lớn nhất, ưu việt nhất hiện nay ở Việt Nam. Chi phí quảng cáo trên truyền hình gấp11 lấn so với hoạt động quảng cáo trên radio, gấp trên 5 lần so với chi phí cho các dịch vụ quảng cáo ngoài trời.

    Chỉ xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo của hoạt động quảng cáo trên truyền hình và quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm là hai hoạt động quảng cáo có chi phí lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo nói chung, chiếm trên 80% tổng chi phí quảng cáo chung và cũng là hai loại hình quảng cáo khá phổ biến

    • Việt Nam hiện nay. Trong một vài năm trở lại đây, Chi phí quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm thường chiếm tỷ trọng khoảng 25-28% năm, tốc độ tăng

    41

    Khoá luận tốt nghiệp

    trưởng trung bình hàng năm của hoạt động quảng cáo này cũng luôn đạt 2 con số. Tuy nhiên, nêu đem so sánh với mặt chi phí với quảng cáo trên truyền hình, thì quảng cáo trên tạp chí, ấn phẩm luôn chỉ bằng khoảng gần một nửa. Tính riêng năm 2002, chi phí quảng cáo trên tạp chí, ấn phẩm có mức tăng trưởng 27% so với năm 2001, đạt 54, 531 triệu USD, song cũng chỉ bằng 68% chi phí của quảng cáo trên truyền hình trong năm đó.

    Biểu 2.3: Chi phí quảng cáo trên truyền hình và trên tạp chí ấn phẩm trong một năm gần đây

    1000 USD

    150000

    100000

    50000

    0

    1998                 1999                2000                 2001                2002             −íc tÝnh

    2003

     

            N¨m
             
        Chi phÝ qu¶ng c¸o truyÒn h×nh   Chi phÝ qu¶ng c¸o t¹p chÝ, ©n phÈm
         
         
             

    Nguồn: Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002

    Trong một năm, chi phí quảng cáo nhìn chung cũng phân bổ không đều mà chia theo từng đợt một.

    Xem bảng phân bổ chi phí quảng cáo theo từng tháng cho thấy, thường chi phí quảng cáo trên truyền hình thường cao ở các tháng cuối năm và tháng đầu năm sau đó, cũng như một số tháng giữa năm, tạo thành một số đợt rõ rệt.

    42

    Khoá luận tốt nghiệp

    Lấy thí dụ năm 2002, chi phí dành cho quảng cáo cho tháng 1, tháng 5,6 và tháng 12 luôn luôn ở mức cao hơn so với các tháng khác. Việc phân bổ không đều của chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình theo từng tháng chủ yếu hình thành trên các đợi quảng cáo của các doanh nghiệp, tuy nhiên nguyên nhân chính ở đây lại là nhận thức về các đợi, các mùa mua xắm của người tiêu dùng. Chẳng hạn, tháng 1 và tháng 12 là các tháng gần tết, nhu cầu mua xem của người tiêu dùng luôn lớn nhất trong cả năm. Do đó, muốn lôi kéo khách hàng, thông tin nhắc nhở khách hàng về các sản phẩm, nhãn hiệu của doanh nghiệp mình, các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh hoạt động quảng cáo trên truyền hình vào các tháng then chốt này. Trong khi đó, tháng 2 là tháng có nhu cầu mua xăm nói chung ít nhất trong năm, nên chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của các doanh gnhiệp thường rất thấp, thường chỉ bằng 60% so với chi phí quảng cáo trên truyền hình vào tháng 1 hay tháng 12 năm trước đó.

    Bảng 2.8: Chi phí quảng cáo trên truyền hình chi tiết theo tháng.

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    T1 3582 3436 3589 5522 7184 8034 9915
    T2 2521 2236 3039 3477 4520 5254 5622
    T3 2944 2672 3041 4987 5496 5398 9140
    T4 2908 2934 3492 6187 5678 7336 10427
    T5 3343 3449 3948 6011 7186 8585 10476
    T6 3481 4212 4042 7572 7218 9719 11446
    T7 3599 3815 3456 5604 6455 7390 10228
    T8 3473 3172 3902 5734 7585 8152  
    T9 3576 3202 3898 5293 8157 7812  
    T10 4043 3501 4128 5046 6062 7377  
    T11 4267 4014 5050 6938 7302 7429  
    T12 5106 4961 5858 8422 8229 9956  
    Chi phí quảng 42843 41604 47443 70793 81072 92442 67254
    cáo 1000 USD              

    Nguồn: Số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam

    Tóm lại, quảng cáo trên truyền hình là loại hình quảng cáo được các doanh nghiệp chi phí cho nhiều nhất trong hoạt động quảng cáo nói chung.

    43

    Khoá luận tốt nghiệp

    Chi phí quảng cáo trên truyền hình tăng trưởng với tốc độ vừa cao vừa ổn định, trung bình trong một vài năm trở lại đây là 14,5%. Chi phí cho các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo biến động theo từng tháng và có xu hướng gắn liền với vòng quay mua xắm của người tiêu dùng Việt Nam.

    3.2. Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam theo lĩnh vực sản phẩm

    Các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong những gần đây tập trung vào các sản phẩm như mĩ phẩn và các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm , đồ uống, các sản phẩm gia dụng, dược phẩm là chủ yếu.

    Biểu 2.4 : Phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam

     

    44

    Khoá luận tốt nghiệp

    T û lÖ ph © n bæ c h i ph Ý the o lÜnh v ùc qu ¶ n g c ¸ o

    1 0 0 %

    9 0 %

    8 0 %

    7 0 %

    6 0 %

    5 0 %

    4 0 %

    3 0 %

    2 0 %

    1 0 %

    0 %

    1 9 9 9 2 0 0 0 2 0 0 1 2 0 0 2 2 0 0 3
        N ¨ m    
    K h ¸c      
    ¤ t« , X e m ¸y      

     T h ù c p h Èm

     D − î c p h Èm

     C¸c s¶m p h Èm lμm s¹ch tro n g g ia ® ×n h

    • å u è n g

     M Ü p h Èm v μ c¸c s¶m p h Èm lμm ® Ñp

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002.

    Có thể nói rằng trong một vài năm trở lại đây, các sản phẩm làm đẹp, mĩ phẩm luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo (thường chiếm khoảng 25% tổng chi phí quảng cáo), điểm hình như các sản phẩm như sữa rửa mặt, các sản phẩm làm trắng da của các hãng sản xuất tên tuổi như P & G, Unilever, Kao, LG.. . Cũng chiếm một tỷ trọng không kém lĩnh vực làm đẹp, các sản phẩm đồ uống cũng chiếm một vị trí đáng kể trong tổng số chi phí chi cho quảng cáo trên truyền hình, khoảng 15-17% với những sảm phẩm nổi tiếng như nước ngọt của Coca Cola, Pepsi Cola, nước tăng lực Number 1 của công ty bia Bến Thành, nước uống tinh khiết Vital, các sản phẩm bia nổi tiếng như Tiger, Heineken của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam… Các sản phẩm khá cá biệt như dược phẩm cũng được quảng cáo một

    45

    Khoá luận tốt nghiệp

    cách khá công phu và tốn kém với chi phí quảng cáo chiếm khoảng 6%, Mức độ quảng cáo các sản phẩm thực phẩm, Các sản phẩm làm sạch trong nhà cũng có chi phí quảng cáo trên truyền hình tương tự ( cũng khoảng 6%). Số chi phí còn lại giành cho quảng cáo các sản phẩm như ô tô, xe máy, các sản phẩm điên tử..

    Cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình như vậy là hợp lý. Bởi các sản phẩm như đồ uống, thực phẩm, các sản phẩm làm đẹp, các sản phẩm làm sạch trong gia đình là các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, do đó quảng cáo trên truyền hình hàng ngày là mồt biện pháp trực quan vô cùng hữu hiệu nhằm mục đích nhắc nhở người tiêu dùng nhớ đến các sản phẩm của doanh nghiệp mình. Một lí do khác là số lượng các doanh nghiệp trong các lĩnh vực nêu trên khá lớn, thị trường cạnh tranh khốc liệt, do đó dẫn đến một thực tế là muốn tồn tại các doanh nghiệp buộc phải thực hiên các biện pháp để yểm trợ, xúc tiến hoạt động bán hàng và không một biện pháp tiếp cận nào lại có thể thu hút người tiêu dùng một cách nhanh nhất với lượng nhiều nhất như

    • hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Lí do tiếp theo để giải thích sự hợp lí trong cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực đó là kênh phân phối. Các doanh nghiệp, các tập đoàn sản xuất các sản phẩm nêu trên chỉ có thể tiếp cận gián tiếp đến người tiêu dùng thông quan mạng lưới các đại lý, các nhà bán lẻ.. . do vậy để tiếp cận một cách “ trực tiếp “ với người tiêu dùng các doanh nghiệp này chỉ còn có mỗi một biện pháp hữu hiệu để giới thiệu một cách chính xác nhất các đặc tính, các công dụng của sảm phẩm đó là quảng cáo trên truyền hình.

    3.3. Các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong những năm gần đây.

    Tính đến giữa năm 2002 số lượng các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt nam là 680 chỉ tăng 4 đơn vị thuê quảng cáo trên truyền hình so với năm 2001 (báo Vietnam Economic Times số tháng 7 năm 2002).

    46

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nhìn chung, các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đa phần là các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc các công ty liên doanh. Với một ngân sách quảng cáo khổng lồ, các doanh nghiệp này tiến hành các chiến lược quảng cáo rầm rộ trên truyền hình với nhiều đợt quảng cáo khác nhau. Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước do có nguồn vốn hạn chế, ngân sách dành cho quảng cáo bị bó hẹp nên việc quảng cáo trên truyền hình có phần âm thầm và lẻ tẻ không hình thành các chiến dịch quảng cáo cũng như các đợt quảng cáo, chỉ có một vài các doanh nghiệp thực sự thực hiện được các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình một cách chuyên nghiệp và bài bản chẳng hạn như công ty bia Bến Thành, công ty bia Hà Nội hay công ty bia Halida.. Dưới đây là 4 công ty thuê quảng cáo lớn nhất ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây.

    Trong 5 năm qua, Unilever Việt Nam vẫn khẳng định mình là nhà thuê quảng cáo hàng đầu ở Việt Nam với chi phí quảng cáo trung bình trong năm

    • triệu USD ( theo số liệu của AC Nelsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam). Trong năm 1999, Unilever Việt Nam chi khoảng 14 triệu USD cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đến năm 2000 con số đạt mức kỉ lục là 20 triệu USD tương đương với 34% tổng chi phí dành cho quảng cáo ở Việt Nam của năm 2000. Trong 7 tháng đầu năm 2003 các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình tuy không rầm rộ bằng năm 2002 song cũng tốn kém khoảng hơn 6 triệu USD.

    Tiếp theo phải kể đến đối thủ số một của Unilever ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đó là P&G . Với số lượng nhãn hiệu kinh doanh ở Việt Nam ít hơn nên chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình của hãng cũng ít hơn nhiều so với Unilever. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của P&G Việt Nam hàng năm chỉ vào khoảng 3-4triệu USD, trong đó chi phí quảng cáo trên truyền hình của hãng năm 1999 là 4.118.000 USD, năm 2000 là 3.290.000 USD và ước tính năm 2003 chi phí quảng cáo trên truyền hình của P&G Việt Nam ước tính cũng khoảng gần 4 triệu USD.

    47

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được nhiều thành công đáng kể, chiếm được thị phần khá lớn trên thị trường đồ uống Việt Nam. Thông qua hai công ty quảng cáo hàng đầu trên thế giới là Bates Worldwide và Lowe & Partners, tập đoàn các nhà máy Việt Nam đã trình diễn những chương trình quảng cáo ngoạn mục theo những trường phái khác nhau cho 2 loại sản phẩm bia là Tiger và Heineken.Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của công ty trong những năm qua vào khoảng 2,4 triệu USD( trong đó năm 1999 là 1.668.000 USD, năm 2000 là 2.056.000 USD, năm 2002 với show quảng cáo “ The Quest” với thời lượng kỉ lục 120 giây đã làm cho chi phí cho quảng cáo trên truyền hình của hãng tăng lên đáng kể hơn 4 triệu USD.

    Coca Cola Việt Nam, tuy không còn rấm rộ như một vài năm trước song vẫn đứng trong top 10 nhà thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây. Với chi phí quảng cáo trên truyền hình lên tới hàng triệu USD, Coca Cola luôn tạo ra những chương trình quảng cáo trẻ trung, mới lạ , Hàng năm công ty bỏ ra khoảng 2,5 triệu USD phục vụ hoạt động quảng bá thương hiệu của mình trên truyền hình (chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1999 là 2.721.000 USD, năm 2000 là 3.452.000 USD, năm 2003 với chiến dịch quảng cáo “anthem” Coca cola cũng bỏ ra khoảng gần 2 triệu USD).

    3.4. Các nhãn hiệu được quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây.

    Từ năm 1999 trở lại đây, đã có nhiều chiến dịch quảng cáo trên truyền hình khác nhau được tung ra để khẳng định các nhãn hiệu cũng như thương hiệu của các doanh nghiệp. Bằng việc xuất hiện nhiều lần trên truyền hình mà tên của một số nhẫn hiệu đã được người tiêu dùng sử dùng để thay thế cho tên một mặt hàng nào đó.

    Năm1999, nhãn hiệu bột giặt Omo được Unilever cho xuất hiện trên truyền với số lần phát sóng nhiều nhất trong 5 năm trở lai đây hơn 3000 lần.

    48

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tiếp theo phải kể đến là chương trình quảng cáo giới thiệu sản phẩm xe máy Future mới của công ty Honda Việt Nam, các chiếc xe Future lần lượt xuất hiện trên truyền hình đến 1549 lần trong năm 1999. thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam. Hai nhãn hiệu khác của Unilever là đầu gội đầu Sunsil và Clear cũng được trình làng khá thuyết phục với số lần xuất hiện trên truyền hình trên 2000 lần.

    Bảng 2.9: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 1999.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 1999 (1000USD) truyền hình
    Bột giặt Omo 1862 3225
    Xe máy Honda 1391 1549
    Dầu gội đầu Sunsil 1334 2322
    Nước ngọt Coca – 1118 1858
    cola    
    Dầu gội đầu Clear 1097 2087

    Nguồn: Tổng kết số liệu của AC Nelsen Việt Nam/ Vietnam Consumers and Advertising, năm 2000.

    Trong năm 2000, nhãn hiệu dầu gôi đầu Clear của Unilever Việt Nam vươn lên vị trí số 1 xét về số lần quảng cáo trên truyền hình. Số lần được quảng cáo trên truyền hình của nhãn hiệu này trong năm 2000 là 2010 là, vượt xa nhãn hiệu thứ 2 là kem đánh răng P/S. Nhãn hiệu P/S cũng của Unilever Việt Nam có số lần phát sóng trên truyền hình là 1609 lần.Đứng thứ 3 cũng là một nhãn hiệu khác của Unilever Việt Nam, đó là nhãn hiệu bột giặt Omo, xuất hiện trên truyên hình tận 1204 lần. Nhãn hiệu Coca cola vẫn giữ được vị trí so với năm trước và có số lần phát sóng là 1200 lần trong năm 2000. Tuy có chi phí quảng cáo thấp, song nhãn hiệu Doublemin lại có số lần phát sóng tương đối lớn, 1195 lần, đứng thứ năm trong bản tổng sắp 5 nhãn hiệu có số lần quảng cáo

    49

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.10 : Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2000.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 2000 (1000USD) truyền hình
    Dầu gội đầu Clear 920 2010
    Kem đánh răng P/S 905 1609
    Bột gặt Omo 826 1204
    Nước ngọt Coca – cola 1038 1200
    Kẹo cao su Doublemin 396 1195

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2001

    Trong năm 2001, nhãn hiệu nước tăng lực Number 1, của một doanh nghiệp trong nước đầu tiên, công ty bia Bến Thành được xếp vào trong top 5 nhãn hiệu, có số lần phát sóng truyên truyền hình 1495, chỉ đứng sau nhãn hiệu Lifebouy của P&G với số lần xuất hiện trên truyền hình là 1785lần và nhãn hiệu Cool air 1698 lần. Nhãn hiệu Number 1,vượt qua cả nhãn hiệu kem đánh răng P/S với số lần xuất hiện là 1139 lần và Doublemin 898 lần.

    Bảng 2.11: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2001.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên Số lần xuất hiện trên
      truyền hình 2001 truyền hình
      (1000USD)  
    Xà phòng tắm Lifebouy 590 1485
    Kẹo Cool air 526 1698
    Nước tăng lực Number 156 1495
    1    
    Kem đánh răng P/S 449 1139
    Kẹo cao su Doublemin 243 898

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2002.

    Năm 2002, với những chương trình quảng cáo truyền hình rầm rộ, oộng với hàng loại các chương trình tài trợ trên truyền hình, nhãn hiệu bia Tiger của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam được đưa lên truyền hình nhiều nhất vớí số lần xuất hiện là 1918. Xếp thứ hai là một loạt các sản phẩm điện gia dụng mang nhãn hiệu Toshiba với số lần phát sóng là 1485 lần. Nhãn hiệu nước tăng lực Number

    50

    Khoá luận tốt nghiệp

    1của công ty bia Bến Thành tụt xuống vị trí thứ 4 với số lần phát sóng là 1039 lần, đứng sau nhãn hiệu Doublemin với 1209 lần. Đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng 5 nhãn hiệu có số lần phát sóng nhiều nhất là nhãn hiệu làm đẹp Hazeline của Unilever với số lần xuất hiện trên truyền hình là 982 lần.

    Bảng 2.12: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2002

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 2002 (1000USD) truyền hình
    Bia Tiger 1218 1918
    Toshiba 654 1485
    Keo cao su Doublemin 257 1209
    Nước tăng lực Number 1 71 1039
    Mĩ phẩm Hazeline 283 972
         

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2003.

    Trong 6 tháng đầu năm 2003, nhãn hiệu bia Tiger vẫn giữ nguyên phong độ so với năm 2002 dẫn đầu với số lần phát sóng1803 lần, tiếp theo là sản phẩm nước làm mền vải Comfort của Unilever Việt Nam với số lần phát sóng là 1602 lần. Đứng thứ 3 và 4 là hai nhãn hiệu của các công ty 100% vốn trong nước là nhãn hiệu nước tăng lực Number 1 và nhãn hiệu bột gặt Viso chanh với số lần phát sóng trên truyền hình lần lượt là 1585 và 1086 lần. Cuối cùng trong nhóm 5 nhãn hiệu có số lần phát sóng nhiều nhất là nhãn hiệu Toshiba.

    Bảng 2.13: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình 6 tháng đầu năm 2003.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền hình 6 Số lần xuất hiện
      tháng đầu năm 2003 (1000USD) trên truyền hình
    Bia Tiger 1147 1803
    Nước mền vải Comfort 849 1602
    Nước tăng lực Number 1 368 1585
    Bột gặp Viso 616 1084
    Toshiba 572 952

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, 6 tháng đầu 2003.

     

    51

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tuy nhiên, bảng xếp loại các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình này chỉ tính đến 6 thàng đầu năm 2003. Thứ tự của các nhãn hiệu này sẽ thay đổi rất lớn, do cuối năm các doanh nghiệp thường đua nhau tiến hành các chương trình quảng cáo trên truyền hình nhăm thu hút sự chú ý của khách hàng, đặc biệt là những tháng gần tết. Bởi đầy là thời kì người tiêu dùng mua xắm nhiều nhất trong năm.

    3.5.Các chương trình quảng cáo nổi bật trong một số năm trở lại đây

    Trong những năm trở lại đây, càng ngày càng có nhiều hơn các chương trình quảng cáo chất lượng tốt, có nội dụng nổi bật. Dưới đây là một số các chương trình được đánh giá là nổi bật nhất.

    Trước tiên phải kể đến là các chương trình quảng cáo của nhãn hiệu bia Heineken. Bền bỉ và rất sáng tạo, các chương trình quảng cáo ( như mẫu quảng cáo tắt đèn, hay rào cản khó khăn) của Heineken hầu như loại bỏ đi những lời thuyết minh, tập trung đưa ra những hình ảnh hấp dẫn và luôn kết thúc với tagline ‘Chỉ có thể là Heineken” đã gấy được nhiều ấn tượng tốt đối với người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là đối với giới trê Việt Nam. Lấy ví dụ mẫu quảng cáo rào cản khó khăn, một chàng trai trong quàn bả phải vất vả lục tay xuống tận đáy thùng nước đá, mò mẫn mãi mới được chia Heineken mong ước, lúc này tay chàng trai đã run lên lập cập vì lạnh. Mẫu quảng cáo được đánh giá là mẫu quảng cáo tiêu biểu mang phong cánh rất Heineken, trong đó người làm quảng cáo đã rất kéo léo trong việc gắn kết nhãn hiệu Heineken với bản lính và các tính của người đàn ông hiện đại.

    Trái với các mẫu quảng cáo độc đáo của Heineken, chương trình quảng cáo của nhãn hiệu dich vụ S-fone lại hướng đến những hình ảnh giàu cảm xúc, có tính liên tưởng cáo nhằm thể hiện tần quan trọng của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Với lời thuyết minh khá ngắn gọn và xúc tích, nhất quán trong từng hình ảnh minh họa: lời nói theo suôt cuộc đời, lời nói truyền cảm hứng, lời nói

    52

    Khoá luận tốt nghiệp

    làm nhói đau…Tất cả các thông điệp và hình ảnh đều nhằm lm nổi bật thông điệp

    “ Lời nói sẽ thên sức mạnh với S-fone”. Mẫu quảng cáo này cũng được đánh giá rất cao, nó vừa có tính liên tưởng cao, song lại vẫn dễ hiểu, dễ cảm nhận, tác động mạnh mẽ đến nhiều đối tượng tiêu dùng khác nhau.

    Khác so với 2 mô hình quảng cáo ở trên, các mẫu quảng cáo của Kotex lại hướng vào đới sống sôi động hàng ngày của thanh niên hiện nay. Các mẫu quảng cáo Kotex sử dụng tốt đa hiệu ứng âm thanh. Những lời hát nền trong mẫu quảng cáo Kotex như “ tôi muốn vô tư cùng bạn bè đi khắp nơi…” khá độc đáo và dễ đi vào lòng người, đặc biệt ấn tượng đối giới trẻ nữ.

    Ba mẫu quảng cáo với 3 phong cách thể hiện khác nhau ( mẫu một chú ý đến tình huống, mẫu thứ 2 tập trung vào những hình ảnh giàu cảm xúc, mấu thứ 3 chú ý khai thác tốt đa hiệu ứng âm thanh) trong rất nhiều các mẫu chương trình quảng cáo trên truyền hình đặc sắc và nổi bật. Nói chung, các mẫu quảng cao muốn thành công cần phải đảm bảo trước hết các nguyên tắc trong quảng cáo nói chung (như tính trung thực, tính pháp lý và đặc tính thẩm mĩ, văn hoá), tiếp tới phải tận dụng tối đa được các yêu tố kĩ thuật của hoạt động quảng cáo trên truyền hình: đó là yếu tố hinh ảnh, âm thanh, nội dung, tình huống, cốt truyện…

    3.6. Môt số bất cập trong các chương trình quảng cáo hiện nay ở Việt Nam

    Hoạt động quảng cáo trên truyên hình hiện nay đang ngày càng đi theo con đường chuyên nghiệp. Các chương trình quảng cáo trên truyền bắt đầu gây được nhiều ấn tưởng sâu sắc, có chất lượng và nội dung ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tốt của đạt được, hoạt động quảng cáo trên truyền hình vẫn còn một số bất cập. Đó là các hiện tượng quảng cáo phóng đại, quảng cáo lừa bịp, quảng cáo gây nhầm lẫn và gay bực bội cho người xem.

    53

    Khoá luận tốt nghiệp

    Các chương trình quảng cáo với những lời thuyết minh quá phóng đại, những lời thuyết minh mập mờ lừa bịp về chất lượng của sản phẩm dịch vụ vẫn còn xuất hiện khá nhiều trên truyền hình như sản phẩn dịch vụ “số một thế giới”, sản phẩm dịch vụ “có chất tốt nhất” mà không đưa ra một bằng chứng cụ thể nào. Thâm chí một số chương trình quảng cáo còn đưa ra những thông tin hoàn toàn sai lệch về công dụng của hàng hóa. Mới đây trên chương trình thới sự ngày 14 tháng 12 năm 2003 có nêu lên hiện tượng một số sản phẩm y dược có nội dung quảng cáo không đúng với công dung của sản phẩm.

    Ngoài ra, còn có một số chương trình quảng cáo đưa ra những hiệp hội này, hiệp hội kia để lừa bịp khách hàng. Lấy quảng cáo về kem làm trắng răng là một ví dụ. Cả ba cơ quan như Tổ chức Quản lý Dược và Thực phẩm, Cục Thương mại Liên bang và Hiệp hội về Răng (Mỹ) đều không thể nào xác định thế nào là kem đánh răng làm trắng răng, các thành phần hay công nghệ sản xuất của nó ra sao. Thế mà, Close-Up cam đoan làm cho răng ngày càng trắng hơn, P/S hứa hẹn đẩy lùi các vết ố… Trên thực tế, kem đánh răng chỉ làm sạch răng, làm chúng có vẻ trắng hơn. Mặt khác, theo chí Consumer Reports (Bản tin Người tiêu dùng của Mỹ) đã thử nghiệm 14 loại kem đánh răng được quảng cáo là làm trắng răng thì không sản phẩm nào có thể làm trắng men răng. Như vậy, các quảng cáo như trên là sai sự thật, đó là hành vi lừa gạt tâm lý người tiêu dùng.

    Bên cạnh những quảng cáo mập mờ, phóng đại thậm chí lừa bịp người tiêu dùng, là những chương trình quảng cáo gây xúc phạm. Nhìn chung, các chương trình quảng cáo luôn phải thể hiện tính văn hoá, trách gây ra những liên tưởng gây xúc pham đến người xem. Mới đây, Unilver Việt Nam có tiến hành quảng cáo nhãn hiệu P/S sữa mới với hình ảnh một chàng bác sĩ cho bò nghe nhạc Briney Spear để có được nhiều sữa hơn cho việc sản xuất kem

    54

    Khoá luận tốt nghiệp

    đánh răng P/S làm cho người xem cảm thấy thực sự bị xúc phạm đặc biệt là người yêu quý những bài hát của nữ ca sĩ Briney Spear.

    Ngoài ra, cón có một số chương trình quảng cáo gây cho người xem bực bội, nguyên nhân chủ yếu là do có sự khác biệt về các giá trị đạo đức cũng như sự phác biệt về thuần phòng mĩ tục. Gần đây, tập đoàn LG có tung ra một chương trình quảng cáo cho máy bơm Wilo. Hình ảnh những thiếu nữ trong những chiếc áo dài truyền thống vốn chỉ trưng diện trong các ngày lễ hộ trang trọng, uy nghiệm thì lại được các nhà quảng cáo cho nhảy múa dưới những vòi nước với những chiếc áo dài trắng ướt sũng bó sát cơ thể, làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy vô cùng bực bội, đặc biệt là những khán giả nữ giới.

    Trên đây chỉ là một trong số những ví dụ về những bất cập trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam. Những bật cập nêu trên cần phải được xoá bỏ nhằm cho hoạt động quảng cáo trở nên lành mạnh hơn, thực sự tạo cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình là cầu nối vững chắc nhất giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

    3.7. Các tổ chức quảng cáo ở Việt Nam

    3.7.1. Các tổ chức quảng cáo trong nước

    Chỉ trong vòng vài năm trở lại đây số lượng các công ty quảng cáo trong nước tăng lên đáng kể. Hiện nay số lượng các công ty quảng cáo trong nước có khoảng gần 300 công ty. Các công ty quảng cáo trong nước nhìn chung chưa cơ sở và kĩ thuật thực sự hiên đại để sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình thực sự xuất sắc như các tổ chức quảng cáo trên truyền hình nước ngoài. Tuy nhiên, các công ty, các tổ chức quảng cáo lại có lợi thế tuyệt đối về mức phí để sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Thông thường mức phí để sản xuất một chương trình quảng cáo trên truyền hình do công ty quảng cáo trong nước thực hiện giao động trong khoảng từ 10 đến 300 triệu ( tức là khoảng 1500 USD) hay khoảng từ 2 – 4 % tổng chi

    Khoá luận tốt nghiệp

    phí dành cho quảng cáo của một doanh nghiệp tuỳ thược vào mức độ kĩ sản dựng hình. Chẳng hạn như, chi phí để sản xuất chương trình quảng cáo cho pin con ó Đồng Nai là 15 triệu, hay cho ổn áp Rôbốt là 18 triệu. Nếu đem so sánh với mức phí sản xuất một chương trình quảng cáo trên truyền hình của một tổ chức quảng cáo nước thì mức phí này là quá thấp chỉ bằng khoảng 20-25%. Nói chung giá sản xuất các chương quảng cáo do các tổ chức quảng cáo trong nước thực hiện khá phù hợp với đa số các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam. Với một mức phí không lớn, các công ty có nguồn vốn hạn chế cũng có thể có cơ hội thực hiện các chương trình giới thiệu các sản phẩm của mình trên truyền hình.Tuy số lượng các công ty quảng cáo trong nước nhiều song chỉ có khoảng vài chục công ty là có quy mô nổi bật nhất như trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình thuộc đạic truyềnhình VIệt Nam (TVAd), công ty dịch vụ quảng cáo và thương mại Vinadex, công ty quảng cáo và hội chợ thương mại Vinexad, công ty quảng cáo VMC, công ty quảng cáo Trẻ,côngty quảng cáo Đất Việt, công ty quảng cáo Sài Gòn, côngty quảng cáo Goldsun ..

    3.7.2. Các công ty quảng cáo nước ngoài

    Sau khi luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ban hành tháng 12/1989 và có hiêu lực vào đầu năm 1990, các công ty sản xuất và cung cấp các dịch vụ trong đó có một số công ty quảng cáo lớn trên thế giới lác đác có mặt tại Việt Nam để khai thác những tiềm năng to lớn của thị trường đầy mới mẻ này. Đặc biệt là sau khi Mĩ rỡ bỏ lệnh cấm vân kinh tế Việt Nam, số lượng các công ty, các tập đoàn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng đầu của thế giới bắt đầu tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, kéo theo sự gia tăng của các công y sản xuất là các tập đoàn, các công ty dịch vụ đặc biệt là các công ty quảng cáo nôit tiếng trên thế giới như công ty quảng cáo Bates của Mĩ, Claude của Pháp, Denstu của Nhật bản, Optel Media của úc…

    56

    Khoá luận tốt nghiệp

    Sau khi tham gia vào thị trường Việt Nam, với một bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo, các công ty quảng cáo nước ngoài băt đầu tiến hành những khâu cơ bản trong nghiệp vụ quảng cáo. Đó là việc khai thác các thị trường quảng cáo mới thông qua các cuộc điều tra về thị trường, các cuộc điều tra xã hội học và tâm lý học cũng như những cuộc điểu tra về phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp Việt Nam. Sau khi đã nắm bặt đước sự phát triền của dich vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam cũng như những hành vi tiêu dùng của người Việt Nam, trong một thời gian ngắn các công ty đã bắt đầu thiết kế những chương trình quảng cáo khá ấn tượng.

    Nhìn nhận thực tế là các tập đoàn lớn thường không thuê các công ty quảng cáo trong nước trực tiếp làm quảng cáo cho họ. Bởi do các công ty này yêu cầu những công ty quảng cáo phải thực sự chuyên nghiệp trong việc xây dựng các chiến dịch quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình noi riêng, thực hiện các chiến dịch quảng cáo nghiêp cứu và đánh giá các chương trình quảng cáo. Đồng thời các công ty quảng cáo nước ngoài có công nghệ, máy móc chuyên dụng trong việc thực hiện các đoạn phim quảng cáo.

    Mặt khác, các công ty nước ngoài thường đã có các hợp đồng dài hạn kí với các công ty quảng cáo nước ngoài thậm chí trước khi đặt chân lên thị trường Việt Nam. Chẳng hạn, Công ty Denstu làm các dịch vụ quảng cáo cho Honda trên toàn thế giới, cũng như ở đâu có Heineken thì ở đó có Bates & Worldwide. Sở dĩ các công ty sản xuất thường thực hiện hợp đồng dài hạn với các côngty quảng cáo bởi các công ty quảng cáo hiện thời đã có cái nhìn tổng quát về thực tế kinh doanh và sản xuất của các công ty trên.

    Bên cạnh đó, Các công ty sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam lại chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ, khả năng trang trải cho các chương trình quảng cáo truyền hình đồ sộ là không khả thi, nên cũng rất ít công ty trong nước thuê các công ty quảng cáo nước ngoài thực hiện các chương trình quảng cáo cho mình. Một thí dụ thực tế đơn giản, công ty Honda Việt Nam hiện đang

    57

    Khoá luận tốt nghiệp

    tiến hành chiến dịch quảng cáo lấy tên “ Tôi yêu Việt Nam” thông qua công ty quảng cáo Denstu Việt Nam với chỉ chi phí làm phim thôi cũng đã mất khoảng hơn 80.000 USD. Nói chung các chi phí thủ lao cho các công ty quảng cáo nước ngoài thường vào khoảng 15- 20% tông chi phí thực hiện chương trình quảng cáo, con số này gấp 2 lần so với chi phí bỏ ra để thuê các công ty quảng cáo trong nước. Tuy khoản phí giành cho quảng cáo tuy lơn nhưng cũng phải nói rằng chất lượng của các chương trình quảng cáo luôn có chất lượng tốt. Chính vì thế mà rất nhiều các công ty quảng cáo lớn đã và đang đăng kí kinh doanh ở Việt Nam.

    Trong số các công ty quảng cáo nước ngoài hiện nay, có khoảng hơn 20 công ty quảng cáo nước làm ăn phát đạt, đồng thời chiếm lính hầu hết các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Có thể liêu kê một số các công ty tiêu biểu:

    Bảng 2.14 : Một số công ty, văn phòng đại diện quảng cáo nước ngoài ở Việt Nam

    Stt Tên công ty Địa chỉ
         
    1 J. Watlter Thompson Co. 2E, Nguyễn Thành ý, Q1, HCM.
         
    2 Bates Worldwide 88 Mạc Đĩnh Tri, Q1 , HCM
           
    3 Leo Burnett Co. 27 Nguyễn Trung Trực, Q1, HCM.
           
    4 Saatchi & Saatchi Advertsing 72 Võ Thị Sáu, Q1, HCM
         
    5 Ogilvy & Mather 55 Hồ Văn Hơn, Q1, HCM.
         
    6 BBOO Worldwide 1A, Công trường Mê Linh , Q1, HCM
           
    7 Grey Indochina 35 Nguyễn Huệ, Q1, HCM
         
    8 Optel Media 120 Nguyễn Văn ThụmQ1, HCM
         
    9 McCann Erickson Worldwide 429 Võ Văn Tần, Q3, HCM
         
    10 Hakuhodo 65 Lê Lợi, Q1, HCM
         
    11 Denstu 115 Nguyễn Huệ, Lầu 8, Q1, HCM
         
    12 Dai – Ichi Kikaku 115 Nguyễn Huệ, Lầu 8, Q1, HCM
           

    58

    Khoá luận tốt nghiệp

    13 Prakit- FCB 106 Nguyễn Đình Chiểu, Q1, HCM
         
    14 Denstu Young – Rubicam 8 Nguyễn Huệ Q1, HCM
         
    15 Asatsu – DK 115 Nguyễn Huệ, Q1, HCM
         

    Nguồn : www. svhtt.hochiminh.vn/thông tin/quảng cáo

    3.8. Các tổ chức truyền thông

    Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 60 đài truyền hình cả trung ương lẫn địa phương.Tất cả các đài truyền hình trên cả nước được coi là các tổ chức, các doanh nghiệp nhà nước nhằm phục nhu cầu phát triển đất nước cũng như nhu cầu thông tin giải trí cho nhân dân. Tuy là các tổ chức thuộc sở hữu nhà nước, song tất cả các đài tuyền hình trên cả nước đều thực hiện dịch vụ cho thuê phát sóng quảng cáo trên các đài truyền hình của mình với các mức phí cho thuê phát sóng khác nhau. Tuy nhiên, Hoạt động cung cấp các phát sóng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là sự cạnh tranh giữa

    • đài truyền hình lớn: đài truyền hình Việt Nam, đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, và đài truyền hình Hà Nội.

    Đài truyền hình Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về phạm vi phủ sóng. Các chương trình truyền hình được phát trên đài truyền hình Việt Nam được thu phát trên toàn quốc, tuy nhiên chi phí cho thuê phát song lại tương đối cao so với các đài truyền hình khác.

    Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và đài truyền hình Hà Nội tuy có diện phủ sóng nhỏ hơn rất nhiều so với đài truyền hình Việt Nam, song đối với tổ chức thuê quảng cáo thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đươc coi là

    • trọng điểm kinh tế lớn nhất trong cả nước, ngoài ra chi phí quảng cáo tại hai đài này lại khá phải chăng so với đài truyền hình Việt Nam.

    Các đài truyền hình thương thực hiện các hình thức kinh doanh như: thực hiện các phòng sự, phim chuyên quảng cáo nhằm giới thiệu doanh nghiệp, sảm phẩm của daonh nghiệp (các phim chuyên quảng cáo theo nghi định 24/2003 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo có thời lượng

    Khoá luận tốt nghiệp

    phát sóng liên tục trên 10 phút), bán spot quảng cáo, kêu gọi tài trợ cho các chương trình phát sóng trên truyền hình có bản quyền như các chương trình khoa học, phim truyện cũng như tài trợ cho các chương trình vui chơi giải trí…

    Được biết, mức doanh quảng cáo trên truyền hình của chỉ ba đài truyền hình kể trên năm 2002 đạt khoảng 83 triệu USD (chiếm khoảng 90% tổng doanh thu từ hoạt động quảng trên truyền hình trong cả nước. Trong 3 đài truyền hình kể trên thì đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh được coi là hoạt động có hiệu quả nhất, mức doanh thu hàng năm của của đài thường chiếm khoảng 40 – 45 % tổng doanh thu quảng cáo trên truyền hình trong cả nước. Đài truyền hình Việt Nam có mức doanh thu thường chiếm 20-24 % tổng doanh thu quảng cáo trên truyền hình

    4. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHI PHÍ QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    Các nhân tố ảnh tác động trực tiếp đến chi phí quảng cáo trên truyền hình gồm có phí quảng cáo và hành lang pháp luật.

    4.1. Phí quảng cáo trên truyền hình

    Yếu tố phí quảng cáo trên truyền hình nêu ra ở đây bao gồm các chi phí sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình và phí phát sóng quảng cáo trên truyền hình.

    Mức phí sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình rất đa dạng. Nó phụ thuộc vào yếu tố kĩ thuật hình thành nên chương trình quảng cáo, cũng như phụ thuộc vào công ty quảng cáo sản xuất chương trình quảng cáo đó. Các chương trình quảng cáo đơn gian, có thời lượng quảng cáo ngắn, sử dụng ít kỹ xảo sản xuất thường có mức phí sản xuất từ 1000- 10.000 USD, trong khi các chương trình quảng cáo có chất lượng kĩ thuật cao, có quy mô lớn thường có chi phí cao hơn nhiều. Chi phí sản xuất chương trình quảng cáo trên truyền hình của các công ty trong nước sản xuất thời thấp hơn từ 4-5 lần

    Khoá luận tốt nghiệp

    so với các chương trình quảng cáo được sản xuất bởi các công ty liên doanh và các công ty nước ngoài. Chi phí sản xuất quảng cáo do các công ty liên doanh thường chiếm khoảng 15-20% tổng chi phí dành cho cả chương trình quảng cáo của các doanh nghiệp. Trong khi đó, chi phí sản xuất các chương trình quảng cáo của các công ty trong nươc chỉ chiếm khoảng 3 – 5% tổng chi phí dành cho cả chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo.

    Cũng giống như chi phí sảm xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình, chi phí phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình cũng khá đa dạng. Chi phí phát sóng các chương trình quảng cáo có sự khác biệt không chỉ giữa các đài truyền hình khác nhau mà còn sự khác biệt trong từng thời điểm phát sóng. Mức phí quảng cáo còn có sự phân biệt đối với các sản phẩm dịch vụ nước ngoài, liên doanh với các hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước.

    Chẳng hạn như biểu giá quảng cáo trên truyền hình năm 2003 của đài truyền hình Việt Nam (VTV) (xem phụ lục), Chi phí quảng cáo tối thiểu cho

    • giây quảng cáo trên truyền hình vào lúc 6 giờ đến 12 giờ ngoài các chương trình phim và giải trí là 1,5 triệu đối với các sản phẩm và dịch vụ nước ngoài, liên doanh và 1,125 triệu đối với các sản phẩm dịch vụ trong nước. Chi phí lớn nhất cho 10 giây quảng cáo là vào lúc 20 giờ đến 23 giờ trong các chương trình phim và giải trí đối với sản phẩm dịch vụ trong nước là 11,063 triệu và đối với sản phẩm dịch vụ liên doanh và nước ngoài là 13,750 triệu. Chi phí phát sóng này sẽ tăng lên theo thời lượng phát sóng, như cho 10 giây, 15 giây, 20, 30 giây phát sóng. Ngoài ra, VTV còn ấn định mức phí phát sóng các chương trình quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp có độ dài từ 3 phút đến 10 phút voí mức phí là 15 triệu một phút cho các doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài, liên doanh, và 12 triệu/phút cho các doanh nghiệp trong nước.

    61

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.15: Biểu giá tối thiểu và tối đa của một số đài truyền hình cho 30 giây quảng cáo áp dụng cho 2003

              Đơn vị: đồng
             
      Sản phẩm dịch vụ trong nước Sản phẩm dịch vụ liên doanh, nước
          ngoài  
               
      Giá tối thiểu Giá tối đa Giá tối thiểu   Giá tối đa
               
    VTV 2.250.000 22.125.000 3.000.000   29.500.000
               
    HTV 480.000 7.650.000 810.000   17.010.000
               
    EAC 260.000 3.900.000 150.000   1.950.000
               

    Nguồn: Tổng hợp biều giá quảng cáo của VTV,HTV và EAC, năm 2003.

    Trên đây là biểu phí quảng cáo của 3 đài truyền hình: đài truyền hình Việt Nam (VTV), đài truyền hình Hà Nội (HTV) và công ty quảng cáo và thiết bị truyền hình (EAC) cho 30 giây quảng cáo.

    Các đài truyền hình khác nhau có đưa ra những biểu phí phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình khác nhau. Nguyên nhân giải thích sự khác biệt trong biểu phí của các đài truyền hình là do yếu tố cạnh tranh cũng như phạm vi phủ sóng. Chẳng hạn như, biểu giá quảng cáo của đài truyền hình Hà Nội luôn thấp hơn so với biểu phí quảng cáo của đài truyền hình Việt Nam, do phạm vi phủ sóng của đài truyền hình Việt Nam lớn hơn nhiều so với đài truyền hình Hà Nội.

    Ngoài ra, ta có thể nhận thấy biểu phí quảng cáo của các đài truyền hình có xu hướng tăng lên theo thời gian, đặc biệt là đối với các hàng hoá dịch vụ trong nước. Nếu như giá tối thiểu cho 30 phút/ lần phát sóng của VTV năm 2001 đối với sản phẩm dịch vụ trong nước là 1,5 triệu đồng, thì đến năm 2003 mức giá tối thiểu này đã tăng lên 525.000 đồng tức là giá tối thiểu hiện nay là 2,25 triệu đồng. Biểu phí quảng cáo cho các hàng hoá dịch vụ nước ngoài là liên doanh cũng có tăng nhưng tỷ lệ tăng thấp hơn so với các sản phẩm dịch vụ trong nước.

    62

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.16: Biểu giá tối thiểu và tối đa của một số đài truyền hình cho 30 giây quảng cáo áp dụng cho 2001

              Đơn vị: đồng
             
      Sản phẩm dịch vụ trong nước Sản phẩm dịc vụ liên doanh, nước
          ngoài  
               
      Giá tối thiểu Giá tối đa Giá tối thiểu   Giá tối đa
               
    VTV 1.500.000 5.500.000 6.000.000   24.500.000
               
    HTV 240.000 3.500.000 120.000   17.500.000
               

    Nguồn: Tổng hợp biểu giá của VTV và HTV cho năm 2001.

    Bên cạnh việc đưa ra biểu phí quảng cáo, các đài truyền hình còn đưa ra những mức giảm giá và tỷ lệ giảm giá khác nhau. Mức độ giảm giá này có sự khác biệt rõ ràng giữa các sản phẩm trong nước và các sản phẩm dịch vụ nước ngoài , liên doanh. Bên cạnh đó, các đài truyền hình còn ấn định tỷ lệ giảm giá tương đối khác nhau đối với các khách hàng. Các công ty quảng cáo thường được hưởng mức giảm giá cao hơn so với các đối tượng khác. Mức giảm giá của đài truyền hình Hà Nội theo mức độ giảm giá có tỷ lệ giảm giá cao hơn 2% so với các đối tượng khác. Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm giá nhiều hơn này, là do các công ty quảng cáo là những khách hàng thường xuyên của các đài truyền hình. ( Mức độ và tỷ lệ giảm giá chi tiết trong phụ lục).

    4.2. Quản lý nhà nước đối với quảng cáo trên truyền hình

    Tổng chi phí quảng cáo trên truyền hình hình thành trên cơ sở các loại phí quảg cáo trên truyền hình cũng như thời lượng quảng cáo trên truyền hình.

    Hiện nay, ở Việt thời lượng quảng cáo bị chi phối trực tiếp bởi các quy định của luật pháp. Theo Nghị đinh 24/ 2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo, thời lượng quảng cáo cũng như các quy định về đợt quảng cáo trên truyền hình là vô cùng khắt khe. Mỗi chương trình phim truyện trên đài truyền hình không được ngắt quảng cáo quá 2 lần, mỗi lần

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo không quá 5 phút, mỗi chương trình vui chơi giải trí không được quảng cáo quá 5 phút. Mỗi đợt phát sóng quảng cáo cho một sản phẩm không được quá 8 ngày liên tục. Ngoài ra, một số các sản phẩm còn bị cấm quảng cáo như không được quảng cáo giấy vệ sinh, và bao cao su vào những giờ ăn…

    Bên cạnh đó, việc xét duyệt các chương trình quảng cáo của các doanh nghiệp cũng bị chi phối bởi rất nhiều các bộ chủ quản chẳng hạn như Bộ Văn hoá-Thông tin, và các bộ chức năng như Bộ y tế hợp tác trong việc xét duyệt đối với các chương trình quảng cáo các sản phẩm y dược, đổ uống, thực phẩm, Bộ khoa học công nghệ hợp tác trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, bộ kế hoạch và đầu tư phụ trách việc cấp phép kinhdoanh cho các doanh nghiệp, các công ty quảng cáo, các văn phòng đại diện của các công ty qyảng cáo…Do mối liên kết giữa các bộ phận nhà nước có liên quan chưa thật sự đồng bộ nên cũng ảnh hưởng khá lớn đến đến việc phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình.

    Nói chung, những quy định luật pháp càng rườm rà bao nhiêu càng ảnh hưởng đến ngành quảng cáo trên truyền hình bấy nhiêu.

    CHƯƠNG 3

    NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TRÊN VỌNG QUẢNG

    CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    1. Triển vọng phát triển của hoạt động quảng cáo ở Việt Name

    1.1. Tính tất yếu của hoạt động hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Hoạt động quảng cáo ở nhiều nước, kể cả những nước Đông Nam á, hiện đang trở thành một ngành kinh tế có tiềm năng lớn, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Ở Việt Nam, chỉ qua một thời gian ngắn phát triển, quảng cáo đã khẳng định được vị trí của mình trong nền

    Khoá luận tốt nghiệp

    kinh tế quốc dân, thể hiện ở sự đóng góp ngày một tích cực vào các lĩnh vực kinh tế cũng như trong đời sống xã hội .

    Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình tăng khá nhanh, luôn ở mức hai con số. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình mỗi năm đạt hàng trăm triệu USD. Nguồn thu từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đó thường chiếm tỷ trọng khoảng 60% tổng doanh thu từ hoạt động quảng cáo nói chung. Mặt khác, đóng góp của quảng cáo trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) ở nước ta cũng rất đáng kể. Theo ước tính, quảng cáo đã chiếm 4,6% GDP khu vực dịch vụ nói riêng và 1,8% GDP nói chung. Trong khi đó, tỉ lệ của quảng cáo nói chung đối với GDP nước ta trong năm 1996 chỉ là 1,1%. Vì vậy, có thể nói, quảng cáo phát triển mạnh đã có những đóng góp ngày càng đáng kể làm tăng thu nhập quốc dân của đất nước.

    Quảng cáo cũng góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Với mức thuế đối với các loại hình quảng cáo hiện nay là 10%, hàng năm Nhà nước ta đã thu được hàng chục triệu USD từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Nếu Nhà nước có những quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động của các văn phòng đại diện của công ty nước ngoài, thì nguồn thu cho ngân sách nhà nước của hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình thúc đẩy sản xuất do tác động kích cầu của nó. Thông qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình, người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu chất lượng cũng như giá cả của mình. Nhờ đó, danh mục hàng hoá trên thị trường nước ta ngày càng phong phú, đa dạng hơn đủ đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng. Từ đó, quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng kích thích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá

    65

    Khoá luận tốt nghiệp

    thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hoá dịch vụ của daonh nghiệp mình.

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình đem lại việc làm cho hàng nghìn người, bao gồm những người làm quảng cáo chuyên nghiệp trong các đơn vị kinh doanh quảng cáo như hoạ sĩ, nhà thiết kế, nhà tạo mẫu, người xây dựng, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, nhà nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, … Mặt khác, nhờ quảng cáo, hàng hoá được tiêu thụ mạnh hơn, sản xuất được mở rộng, do đó thu hút thêm được nhiều lao động vào quá trình sản xuất.

    Hơn nữa, cùng với xu hướng thế phát triển hiện nay, các đài truyền hình

    • Việt Nam bắt đầu tách ra khỏi sự bao cấp của nhà nước để tiến hành tự hạch toán kinh doanh. Do đó, để tạo nguồn thu phục vụ cho hoạt động của mình, các đài truyền hình bắt đầu dựa dần vào hoạt động quảng cáo trên truyền hình thông qua các dịch vụ như cho thuê phát sóng, thu hút tài trợ các chương trình truyền hình…. Có thể nói rằng, trong tương lai không xa, hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ là nguồn thu chính của các đài truyền hình ở Việt Nam. Các khoản đầu tư để nâng cấp, đổi mới trang thiết bị kĩ thuật của các đài truyền hình cũng sẽ được lấy từ nguồn thu do hoạt động quảng cáo trên truyền hình màng lại.

    Không chỉ có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc dân, hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn có nhiều tác dụng tích cực đối với đời sống văn hoá – xã hội của người dân Việt Nam.

    Thông qua các hình thức tài trợ, các nhà sản xuất, các hãng quảng cáo đã không tiếc tiền để đưa tên tuổi của mình đến với công chúng một cách văn hoá như tài trợ cho các cuộc thi đấu thể thao … Hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng đã hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá thể thao có những bước khởi sắc mới. Lấy một ví dụ tiêu biểu, nhờ có các hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền

    66

    Khoá luận tốt nghiệp

    hình nói riêng giúp Việt Nam giảm khá nhiều kinh phí cho việc tổ chức đại hội thể thao các nước đông nam á SEAGAME 22 đang diễn ra ở Việt Nam. Quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn giúp cho các vận động viên đạt được nhiều thành tích hơn trong thi đấu. Nói chung, hiện nay, theo số liệu của Bộ Văn hoá và Thông tin, có hơn 70% kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động kể trên là từ nguồn tài trợ quảng cáo của các doanh nghiệp.

    Ngoài ra, thông qua việc tài trợ cho các chương trình ca múa nhạc, các nhà sản xuất, các công ty quảng cáo một mặt có thể quảng bá rộng rãi thương hiệu của mình, mặt khác nâng cao hơn đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Nam.

    Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn tiến hành nhiều chương trình khuyến học, các chương trình trao học bổng cho các sinh viên, học sinh xuất sắc có hoàn cảnh khó khăn… chẳng hạn như chương trình” Đèn đom đóm” của công ty sữa cô gái Hà Lan, chương trình “ OMO ngời sáng tương lai” của Unilever Việt Nam hay chương trình “Super Dream vun đắp những ước mơ” của Honda Việt Nam…Các chương trình khuyến học, các chương trình trao học bổng cho các sinh viên, học sinh xuất sắc có hoàn cảnh khó khăm.. nêu trên có ảnh hưởng vô cùng tích cực, đem lại hiệu quả xã hội rất lớn cho sự phát triển của Việt Nam.

    Quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn giúp Chính phủ tăng cường tuyên truyền và nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho các chương trình nhân đạo xã hội. Mặc dù mục đích của các chương trình này không được coi là đối tượng quảng cáo của các doanh nghiệp, nhưng việc quảng cáo các sản phẩm liên quan đã có tác dụng không nhỏ đối với việc triển khai sâu rộng các chương trình đó. Chẳng hạn, quảng cáo bao cao su giúp ích cho chương trình kế hoạch hoá gia đình và phòng chống AIDS, quảng cáo

    67

    Khoá luận tốt nghiệp

    muối iốt là một phần quan trọng trong chương trình toàn dân sử dụng muối iốt phòng ngừa bệnh bướu cổ, giảm tỉ lệ trẻ em mắc bệnh đần độn …

    Các hình ảnh đẹp, cũng như những ngôn từ văn minh hiện trong hoạt động quảng cáo trên truyền cũng làm ảnh hưởng tích cực đối vợi một số tầng lớp người dân. Thông qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình, rất nhiều người nhận ra những nét hay nét đẹp trong các chương trình quảng cáo đó từ đó thay đổi một cách tích cực hơn trong đời sống văn hoá ứng xử cũng như trong thói quen ăn mặc hàng ngày.

    Tóm lại, sự tồn tại và phát triển của hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng là một tất yếu khách quan đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như ở Việt Nam. Có thể khẳng đinh rằng: Hoạt động quảng cáo trên truyền hình đem lại nhiều nguồn lợi cho người người xem truyền hình, cho người sản xuất, cho các đài truyền hình, cho nhà nước và cho toàn xã hội. Bởi lẽ đối với người xem truyền hình, nhờ có các chương trình quảng cáo trên truyền hình mà họ nắm được thông tin về sản phẩm mới, được xem những chương trình hay, được mua hàng với giá rẻ hơn rất nhiều; đối với truyền hình, quảng cáo trên truyền hình giúp đầu tư thiết bị, nâng cấp chương trình phát sóng, nhờ đó phục vụ tốt hơn cho đông đảo khán giả, bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng được tạo cơ hội tốt quảng bá sản phẩm trước đông đảo người tiêu dùng, đối với nhà nước, hoạt động quảng cáo trên truyền hình cũng đem lại nhiều nguồn thu cho ngân sách nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các chương trình xã hội một cách dễ dàng hơn, đối với xã hội, hoạt động quảng cáo trên truyền hình làm cho đời sống văn hoá, nghệ thuật của nhân dân trở nên phong phú hơn

    1.2. Triển vọng phát triển hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong một vài năm tới

    Hiện nay, hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đã thoát khỏi thời kỳ tự phát và bắt đầu bước vào giai doạn phát triển mang tính

    68

    Khoá luận tốt nghiệp

    chuyên nghiệp hơn, hướng vào chất lượng quảng cáo cao hơn, đồng thời cũng đi vào giai đoạn ổn định hơn.

    Có thể dự đoán chắc chắn rằng, nền kinh tế Việt Nam trong vài năm tới vẫn giữ được đà tăng trưởng như 2 năm trở lại đây. Đời sống xã hội sẽ vẫn trên con đường cải thiện một cách đáng kể. Bên cạnh đó, nhà nước cũng có nhiều biện pháp hỗ trợ khuyến khích hơn đối với các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Những yếu tố nêu trên một phần tạo đà phát triển ồn định cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong những năm tới đây.

    Ngoài ra, việc ban hành pháp lệnh quảng cáo cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh quảng cáo cũng là một phần tăng thế ổn định cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đồng thời loại bỏ được rất nhiều bất cập trong giai đoạn bùng nổ tự phát của hoạt động quảng cáo trên truyền hình, như hiện tượng quảng cáo sai, phóng đại, quảng cáo gây hiểu lầm…

    Các chương trình truyền quảng cáo trên truyền hình trong những năm tới sẽ hướng nhiều hơn đến yếu tổ mĩ thuật, nghệ thuật và ngày càng gần gũi hơn đối với các giá trị truyền thống, các giá trị đạo đức, cũng như nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam.

    Do rất nhiều yếu tố thuận lợi tác động nên tốc độ tăng trưởng trung bình trong một vài năm tới có thể sẽ cao hơn so với tôc độ tăng trưởng trong một vài năm vừa qua, và đạt mức khoảng 16% năm. Đến năm 2005, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ đạt 145 triệu USD.

    Tốc độ tăng trưởng tuy đạt mức cao, song vẫn chỉ phân bổ chỉ yếu cho các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như mĩ phẩm và các sản phẩm làm đẹp, đồ uống, thực phẩm, dược phẩm, các sản phẩm điện gia dụng, các sản phẩm ô tô, xe máy

    Trong một vài năm tới, số lượng các công ty quảng cáo sẽ không tăng nhiều, hay nói cách kháclà có xu hướng ổn định. Các công ty quảng cáo, đặc biệt là các công ty quảng cáo trong nước sẽ buộc phải hoạt động hiệu quả hơn, chú ý đến chất lượng cũng như chất sàng tạo nhiều hơn trong việc sản

    69

    Khoá luận tốt nghiệp

    xuất các chương trình quảng cáo. Ngoài ra, các công ty quảng cáo cũng sẽ mở rộng hơn nữa lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

    Nếu như số lượng các công ty quảng cáo không có xu hướng tăng nhiều, thì số lượng các doanh nghiệp thuê quảng cáo đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn 100% trong nước sẽ tăng với một lượng lớn, do cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên khốc liệt hơn.

    Tóm lại, có thể nói rằng triển vọng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong một vài năm tới là vô cùng khả quan.

    2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CÁO HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    2.1. Đối với nhà nước

    Do mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng khoảng hơn chục năm trở lại đây, cho nên ngành quảng cáo nói chung và ngành quảng cáo trên truyền hình nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt đông quảng cáo trên truyền hình nói riêng diễn ra lộn xộn, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hình thức quảng cáo này còn chồng chéo, thiếu tính khoa học do tính chất đặc thù vốn vô cùng phức tạp của hoạt động quảng cáo.

    Để quản lý tốt hơn hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng, nhà nước Việt Nam đã bãi bỏ một số các văn bản pháp luật như nghị định 194/CP năm 1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, chường 2(từ điều 11 đến diều 25) của nghị định 32/1999/NĐ-CP của chính phủ về khuyến mại, quảng cáo thương mại, hộ chợ và triểm lãm thương mại… và ban hành pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 cùng với nghị định 24/2003/ND-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo. Tuy đã được phân chia rõ trách nhiệm quản lý đối với hoạt động quảng cáo giữa các bộ ban ngành, song trên thực tế sự liên kết, phối hợp giữa các bộ còn nhiều bất cập. Nhà nước cần có đưa ra những quy

    Khoá luận tốt nghiệp

    định chi tiết hơn nũa về trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận liên quan đến hoạt động quản lý hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo nói riêng, đặc biệt đưa ra mức thời hạn thẩm định của các bộ phậm chức năng nhằm mục đích đảm bảo không qua 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ văn hoá thông tin, hoặc sở văn hoá thông tin có thể cấp phép thực hiện quảng cáo.

    Bên cạnh đó, nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến nội dung, hình ảnh các chương trình quảng cáo. Điều 3 của nghị định 24/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo mới chỉ nêu ra một số hành vi nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, những quy định nêu trong nghị định quá chung chung, đặc biệt là vấn đề ngôn ngữ dùng trong hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Ngoài ra, do hoạt động quảng cáo một mặt tác động đến hoạt động kinh doanh, đời sống kinh tế, mặt khác tác động xâu sắc đến lối sống, văn hóa của quần chúng nhân dân do đó cần phải gắn những giá trị truyền thống, những thuần phong mĩ thục tốt đẹp của Việt Nam. Xin lấy một ví dụ nhỏ, theo như nghị định trên trên thì việc quảng cáo lấy hình ảnh một cô gái ăn mặc “thiếu vải” sẽ được sẽ được quảng cáo, trong khi hình ảnh đó lại có tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá của người Việt Nam. Bên cạnh đó , nhà nước cầm có những biện pháp khuyến kích các chương trình quảng cáo trên truyền hình được sảm xuất tại Việt Nam, dùng hình ảnh Việt Nam, dùng hình ảnh con người Việt Nam để quảng cáo. Trái lại, đối với các chương trình quảng cáo trên hình nhập ngoại, có hình ảnh, ngôn ngữ nước ngoài… nhà nước cần phải có những biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ, đồng thời áp đặt một mức thuế cao.

    Mặt khác, quảng cáo trên truyền hình là hoạt động kinh doanh của các đài truyền hình, trong khi các đài truyền hình đều nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Vì thế, nhà nước cần mở rộng quyền tự chủ kinh doanh hơn nữa cho các đài truyền hình trên cả nước, đồng thời hỗ trợ trang thiết bị kỹ thuật,

    71

    Khoá luận tốt nghiệp

    áp dụng các biện pháp ưu đãi cho các đài truyền hình trên cả nước. Tuy nhiên, cũng để tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các đài truyền hình, nhà nước nên đưa ra quy định về mức giá sàn cho từng thời lượng quảng cáo trên truyền hình.

    Về thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo, cũng như các đợt phát sóng cần được tăng cường hơn nữa nhằm tạo cho hoạt động quảng cáo đem lại nhiều hiệu quả hơn cho cácdoanh nghiệp, các công ty tiến hành quảng cáo đồng thời tạo tăng thêm doanh thu cho các đài truyền hình.

    Theo xu thế hội nhập và hợp tác trên thế giới, Việt Nam đã băt đầu cho cho phép các công ty quảng cáo nước ngoài được phép kinh doanh sinh lợi trên lãnh thổ Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với tổ chức và cá nhân Việt Nam. Nhìn chung việc tham gia vào thị trường quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam của các công ty nước ngoài là vô cùng cần thiết. Sự có mặt của các công ty đến từ các quốc gia đã có nền kinh tế phát triển sẽ đưa đến cho Việt Nam nhiều bài học quý giá trong xây dựng chiến lược quảng cáo, trong lĩnh vực quản lý, thực hiện để phát triển tốt hơn ngành quảng cáo non trẻ của Việt Nam. Do đó, nhà nước nên có những biện pháp thiết thực nhằm thu hút tổ chức này thông qua những ưu đãi về thuế quan, về thủ tục hành chính….

    Bên cạnh những chính sách khuyến khích nhằm thu hút các công ty quảng cáo nước ngoài, Nhà nước cũng hình thành một số những hàng rào bảo hộ quảng cáo trong nước. Đây là điều kiện có tính sống còn, tránh cho các công ty quảng cáo trong nước khỏi tình trạng bị chiếm mất thị phần hoặc “bị chết yểu” do không thể cạnh tranh được với các công ty quảng cáo nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các công ty quảng cáo mới được thành lập trong vòng trên dưới 10 năm, nguồn vốn kinh doanh hạn chế, điều kiện vật chất kỹ thuật, đọi ngũ lao động chuyên nghiệp còn nhiều thiếu thốn chưa đủ để đảm nhiệm công việc của một công ty quảng cáo lành nghề…Những biện

    72

    Khoá luận tốt nghiệp

    pháp bảo hộ nói chung chỉ nhằm mục đích giúp các công ty quảng cáo trong nước khắc phục những khó khăn trong giai đoạn đầu phát triển của ngành, đồng thời đẩy lùi hiện tượng quá ỷ lại vào hoạt đông bảo hộ của các công ty quảng cáo trong nước.

    Ngoài những biện pháp bảo hộ quảng cáo trong nước, nhà nước cần có biệt pháp giúp đỡ đào tạo nguôn nhân lực, đội ngũ kĩ thuật chuyên nghiệp phục vụ cho ngành quảng cáo. Hiện nay, đội ngũ làm hoạt động quảng cáo nói chung chỉ đông về số lượng chứ chưa đạt chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu là chưa có một trường đại học nào đào tạo những kĩ năng cơ bản về chuyên ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Nguyên nhân thứ hai là công việc quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình đòi hỏi những kĩ năng sâu rộng bao phủ một loạt các lĩnh vực từ khả năng ngôn ngữ, kĩ năng đồ hoạ, thiết kế, đến những kiến thức về marketing, bán hàng, tâm lý học… Do đó nhà nước nên khuyến khích, tạo điều kiện hình thành nhiều hơn nữa các trung tâm đào tạo chuyên ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng tại một số trường đại học, cao đẳng…

    2.2. Đối với các công ty thuê quảng cáo

    Thông tin, quảng cáo là yếu tố vô cùng quan trọng đặc biệt lá đối với các doanh nghiệp mới đi vào kinh doanh hoặc đối với loại hàng hoá mới tung ra thị trường. Chi phí dành cho hoạt động quảng cáo, trong đó có quảng cáo trên truyền hình cần phải ở mức 25-30% doanh thu. Tuy nhiên, rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam cho rằng không cần thiết phải bỏ ra qua nhiều chi phí cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến hỗ trợ kinh doanh nói chung và chi phí cho quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Nhìn chung, đó cũng là một lý do mà rất nhiều các sản phẩm của họ tuy có chất lượng tốt, giá cả hợp lý song vẫn chứa tạo ra được tiếng vang trên thị trường. Để khỏi bị bỏ lại đằng sau, trong một thế giới bị chàn ngập thông tin, các công ty Việt Nam cấn nhìn nhận lại chiến

    Khoá luận tốt nghiệp

    lược phát triển lâu dài, đồng thời có cái nhìn chiến lược hơn nữa đối với các hoạt động yểm trợ, xúc tiến bán hàng, đặc biệt là hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Nói chung, để hoạt động có hiệu quả hơn các doanh nghiệp Việt Nam cần cân nhắc đế những vấn đề sau:

    Một là, Doanh nghiệp cần phải xác lập chiến lược marketing cũng như chiến lược quảng cáo nói chung và chiến lược quảng cáo trên truyền hình trong ngắn hạn và dài hạn.

    Hai là, Dựa vào chiến lược quảng cáo và các phân tích tình hình thị trường, tình hình tài chính hiện tại, doanh nghiệp sẽ hình thành ngân sách hợp lý. Ngân sách dành cho quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình cần phải cân nhắc một cách khoa học không nên chỉ dựa vào số lượng hàng hóa sắp bán ra.

    Ba là, doanh nghiệp cần tạo dựng thông điệp quảng cáo trên hình thật ấn tượng nhằm thu hút sự chú ý, tính tò mò cũng như lôi kéo, khêu gợi đến lợi ích và tạo ra sự ham muốn sở hữu sảm phẩm từ phía khán giả xem truyền hình. Thông điệp quảng cáo của doanh nghiệp ngoài chức năng thông tin công dụng sản phẩm mà còn phải hàm chứa tính nghệ thuật và mĩ thuật cao trong đó, trách lặp lại lối mòn của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trước đây vốn chỉ chú ý đến công dụng sản phẩm, thiếu sự xem xét đến tính thầm mĩ của thông điệp nên đôi khi gây phản cản đối với người xem.

    Bốn là, duy trì số lần phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình ở một mức độ nhất định. Nói chung, quảng cáo trên truyền hình hầu như không mang lại hiệu quả cho doanh. Do đó, doanh nghiệp cần phải lập lên một lịch quảng cáo hiệu quả phù hợp với ngân sách dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình nhằm mục đích truyền tải được thông tin quảng cáo đến một lượng lớn khán giả, hình thành hình ảnh, tên nhãn hiệu trong trí nhở của người xem, dần dần hướng người xem đến lựa chọn sản phẩm của doangh nghiệp mình.

    74

    Khoá luận tốt nghiệp

    Năm là, tiến hành đánh giá hiệu quả của hoạt động quảng cáo trên truyền hình thông qua việc đánh giá số lượng hàng hoá bán ra, đánh giá uy tín hình ảnh của doanh nghiệp, của thương hiệu… ước lượng số khách hàng trung thành tăng hay giảm, số lượng người thử các hàng hoá dịch vụ của daonh gnhiệp mình, ước lượng số lượng khách hàng để ý đến nhãn hiệu của doanh nghiệp…

    2.3. Đối với công ty quảng cáo

    Hiện nay, số lượng các công ty quảng cáo ở Việt Nam tương đối nhiều đặc biệt là các công ty quảng cáo trong nước. Tuy nhiên, hầu hết các công ty quảng cáo này đều thiếu tốn các thiết bị kĩ thuật hiện đại, hoạt động quản lý và phương thức kinh doanh còn nhiều bất cập. Do không có đủ các trang thiết bị hiện đại cho nên một số chương trình quảng cáo trên truyền hình được sản xuất ở các công ty này thường không tải hết được những nội dung thông điệp mà người thuê quảng cáo yêu cầu. Chính vì lẽ đó, mà rất nhiều các chương trình quảng cáo không đến tay những công ty sản xuất, thực hiện các chương trình quảng cáo trên truyền hình như vậy. Vì thế, để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong quá trình hoạt động các công ty quảng cáo đặc biệt là các công ty quảng cáo truyền hình trong nước cần tăng cường đầu tư để đổi mới và cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng chương trình quảng cáo sản xuất ra, đảm bảo sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được với nhu cầu của thị trường. Đặc biệt, chú ý đến việc đầu tư cho những thiết bị chuyên dùng phục vụ quá trình sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Ngoài ra, các công ty cần tận dụng tối đa những công cụ, những thiết bị hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của người thuê quảng cáo.

    Cùng với việc đầu tư cho thiết bị kĩ thuật phục vụ quá trình sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình, các công ty quảng cáo cũng cần đầu tư để đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp làm công tác quảng cáo, đồng thời tuyển dụng thêm các nhân viên mới nhiệt tình, có óc sáng táo, có chuyên môn cao trong lĩnh vực quảng cáo đặc biệt là trong lĩnh

    Khoá luận tốt nghiệp

    vực quảng trên truyền hình. Nói chung, yếu tố con người trong hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình là yếu tố quang trọng nhất. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các công ty quảng cáo. Một công ty quảng cáo dù được trang bị kĩ thuật tối tân hiện đại đến đâu chăng nữa nhưng nếu thiếu đi một ê kíp các nhân viên quảng cáo có chuyên môn cao, cótinh thần đổi mới cũng như ó óc sáng tạo phong phú thì cũng không thu hút được các doanh nghiệp tiến hành thuê quảng cáo.

    Bên cạnh các dịch vụ sản xuất các chương trình quảng cáo nói chung và các chương trình quảng cáo trên truyền hình nói riêng, các công ty quảng cáo cần mở rộng các hoạt động kinh doanh liên quan đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình như tư vấn các chiến lược quảng cáo trên truyền hình, các tư vấn liên quan đến thông điệp quảng cáo trên truyền hình, tư vấn về thời điểm, cường độ và mức độ quảng cáo trên truyền hình, thực hiện các dịch vụ đánh giá hiệu quả các chương trình quảng cáo trên truyền hình…Tuy nhiên, để mở rộng được các hoạt động kinh doanh nêu trên, doanh nghiệp ngoài việc có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp. Trước khi thực hiện các chương trình tư vấn lên kế hoạt chiến lược quảng cáo trên truyền hình, tư vấn thông điệp quảng cáo trên truyền hình, các công ty quảng cáo cần phải hiểu rõ được chiến lược phát triển chung của công ty thuê tư vấn, hiểu rõ các chiến lược phát triển trong ngành hàng công ty thuê tư vấn đang hoạt động, hiểu rõ được khả năng cạnh tranh, thị phần của doanh nghiệp trong ngành…Để có thể dễ dàng bao quát tất cả các thông tin liên quan đến thị trường của các công ty thuê tư vấn, các công ty quảng cáo cần phải tạo ra nhiều mối quan hệ chặt chẽ với các công ty nghiên cứu thị trường, các tổ chức, các trung tâm nghiên cứu tâm lý học, nghiên cứu dư luận xã hội…

    Mặt khác các doanh nghiệp quảng cáo cần có sự liên kết, hợp tác lẫm nhau, tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hai đến hoạt động kinh doanh của các công ty quảng cáo .Ngoài ra, các doanh nghiệp

    76

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo, đặc biệt là các doanh nghiệp quảng cáo trong nước nên xúc tiến tham gia, gia nhập vào các hiệp hôi quảng cáo trong nước và quốc tế, chẳng hạn như Hiệp hội quảng cáo Việt Nam hay Hiệp hội quảng cáo Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tham gia, gia nhập vào các hiệp hội sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích khác nhau. Nói chung, khi trở thành thành viên trong hiệp hội, các quyền lợi của các doanh nghiệp quảng cáo được đảm bảo một cách bình đẳng. Ngoài ra, hiệp hội quảng cáo được coi là nhịp cầu mối giữa các doanh nghiệp quảng cáo và các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời tiến hành giải quyết những vướn mắc, những tranh chấp của các doanh nghiệp quảng cáo là thành viên của hiệp hội.Khi tham gia vào các hiệp hội quảng cáo công ty có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý, trình độ tổ chức… của các công ty thành viên khác.

    2.4. Đối với các đài truyền hình

    Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 60 đài truyền hình trung ương và địa phương thực hiện hoạt động cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình. Do đó, sự cạnh tranh giữa các đài truyền hình là không thể tránh khỏi. Ngoài pháp như áp dụng mức giá quảng cáo thấp, các đài truyền hình áp dụng hình thức giảm giá quảng cáo trong năm, cho phép ký hợp đồng vào những thời điểm thích hợp. Nói chung, các giải pháp về giá chỉ là những giải pháp tạm thời. Muốn phát triển bền vững, lâu dài, các đài truyền hình cần tiến hành các biện pháp nhằm đầu tư, nâng cấp trang thiết bị kĩ thuật, cũng như nội dung, chất lượng các chương trình truyền hình nhằm thu hút nhiều hơn nữa lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình của mình. Khi nội dung cũng như chất lượng các chương trình truyền hình trở nên hấp dẫn hơn, tốt hơn, số lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình nhiều hơn, các đài truyền hình sẽ dễ dàng thu hút được các doanh nghiệp thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bên cạnh đó, các đài truyền hình cũng cần tiến hành đào tạo, đào tại lại đội ngũ nhân viên. Việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân viên là vô cùng cần thiết. Nó giúp cho các đài truyền hình có thể triệt để tận dụng các trang thiết bị hiện có, cũng như khai thác tốt đa các thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm có được các chương trình truyền hình có chất lượng tốt nhất phục vụ người xem truyền hình.

    Ngoài ra, với mục đích nhằm nâng cao doanh từ hoạt động quảng cáo, các đài truyền hình địa phương và trung ương nên tăng thời lượng phát sóng truyền hình. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một đài truyền nào tiến hành phủ sóng truyền hình 24/24 giờ. Do nhà nước Việt Nam áp dụng việc ấn định một thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo trước, trong và sau các chương trình truyền hình là khá cố định, cho nên việc tăng thời lượng phát sóng các chương trình truyền hình, đông nghĩa với việc tạo điều kiện cho các đài truyền hình thu được nhiều tiền hơn từ hoạt động cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình do tăng thời lượng phát sóng quảng cáo trong khoảng thời gian phát sóng thêm của các đài truyền hình.

    Cùng với việc cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình, các đài truyền hình nên tăng cường mở rộng các hạng mục kinh doanh như làm phim quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp, sản xuất băng hình quảng cáo cho các doanh nghiệp thuê quảng cáo. Do có những thiết bị chuyên dụng cùng với một đội ngũ kĩ thuật giàu kinh nghiệm, các đài truyền hình dễ dàng có thể tiến hành là các chương trình chuyên quảng cáo có thời lượng phát sóng tương đối dài thường trên 10 phút để giới thiệu hình ảnh các doanh nghiệp muồn quảng bá thương hiệu hoặc/ và nhãn hiệu của danh gnhiệp mình.

    Gần đây, các đài truyền hình lớn như đại truyền hình Việt Nam, đài truyền hình Hà Nội và đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiên khá nhiêu biện pháp nhằm thu hút tài trợ, bảo trợ các chương trình phim truyện, thể thao giải trí phát sóng, thực hiện đổi quảng cáo lấy các chương trình

    78

    Khoá luận tốt nghiệp

    truyền hình…Thiết nghĩ, đây cũng là một hình thức mà các đài truyền hình khác nên học hỏi. Bởi nếu không được tài trợ, đài truyền hình muốn có những chương trình truyền hình hay, có chất lượng tốt buộc phải mình bỏ một khoản tiền khá lớn để mua bản quyền các chương trình nêu trên.

    2.5. Đối với người tiêu dùng

    Hiện nay, một số người Việt Nam vẫn có nhận thức không thật sự đúng về hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Đôi khi một số người xem truyền hình cảm thấy bực bội khi các chương trình quảng cáo trên hình chen ngang các chương trình yêu thích của họ. Một số người khác lại kêu ca răng thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình là quá dài… Tuy nhiên, cùng với thời gian, rất nhiều người Việt Nam đã có một cái nhìn thân thiện hơn với hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Các chương trình quảng cáo trên truyền hình mang đến cho người xem nhiều thông tin chính xác nhất. Bởi những thông tin nêu trong các chương trình quảng cáo trên truyền hình là những thông tin mà người sản xuất và cung ứng mong muốn gửi đến các khách hàng của mình nhằm mục đích thu hút, lôi cuốn khách mua sản phẩm dịch vụ của mình. Về phía người tiêu dùng, họ có thể lựa chọn được những hàng hoá và dịch vụ vừa có chất lượng tốt vừa có giá cả phù hợp thông qua các thông tin trực tiếp từ phía người sản xuất và cung ứng.

    Mặt khác, trong một cơ chế thị trường diễn ra vô cùng sôi động, người Việt Nam trở nên năng động hơn cùng với nhịp sống công nghiệp đầy vội vã. Do đó, người tiêu dùng Việt Nam càng ngày càng có ít thơì gian hơn trong vấn đề mua sắm. Do bị hạn chế về thời gian, người tiêu dùng nên sử dụng các thông tin trên các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Bởi lẽ, đó là những thông tin chính xác nhất liên quan đến các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.

    Thêm vào đó, người xem truyền hình Việt Nam cũng bắt đầu hiểu được rằng cuộc sống của các đài truyền hình chủ yếu là nhờ vào hoạt động cho thuê

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo trên truyền hình. Đồng thời, ngoài những thông tin liên quan đến các hàng hoá dịch vụ ma người xem truyền hình cần, họ còn nhận được từ hoạt động quảng cáo nhiều lợi ích khác. Một lợi ích mà người xem truyền nào cũng nhận thấy là nhờ có những chương trình quảng cáo trên truyền hình mà họ có được các chương trình thể thao, phim truyện, các chương trình giải trí hấp dẫn…, nhờ có hoạt động quảng cáo trên truyền hình, người xem có cơ hội được thưởng thức những chương trình truyền hình có chất lượng ngày càng tốt hơn.

    80

    Khoá luận tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Hiện nay ở Việt Nam, các hoạt động kinh doanh diễn ra vô cùng sôi động, kèm theo đó là sự canh tranh khốc liệt. Để khỏi bị thua cuộc trong của cuộc chiến kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã tìm kiếm đến vũ khí quảng cáo trên truyền hình.

    Quảng cáo trên truyền hình hiện nay là một hoạt động khá quan trọng có vai trò. Nó góp phần quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Nếu quảng cáo có hiệu quả sẽ giúp cho khách hàng hiểu biết, tin tưởng vào hàng hoá của doanh nghiệp, góp phần đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, đồng thời khuyếch trương được danh tiếng, tên tuổi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo trên truyền hình vẫn được xem như là một bài toán khó khăn và tốn kém đối với bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường, đặc biệt là trong nền công nghiệp quảng cáo trên truyền hình vẫn đang được hình thành và phát triển như ở Việt Nam.

    Nhận thức được điều này nên trong quá trình học tập tôi đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam: thực trạng và triển vọng ”.

    Đề tài đã giải quyết được những nội dung và yêu cầu cơ bản sau:

    • Chương 1: Trình bày một cách khái quát các lý luận chung về quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến quy trình tiến hành một chương trình quảng cáo trên truyền hình.
    • Chương 2: Nêu lên vài nét về tình hình quảng cáo trên truyền hình trên thế giới và đặc biệt là nêu được tổng quan hoạt động quảng cáo trên truyền hình hiện nay ở Việt Nam.

    -Chương 3: Nêu ra tính tất yếu và triển vọng phát triển của hoạt động quảng cáo trên truyền hình trong một vài năm tới, gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao triển vọng phát triển quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Một lần nũa tôi xun chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Thoan đã giúp tôi hoàn thành bài khoá luận này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý Marketing, trường Đại Học Ngoại Thương
    1. Philip Kotler, Marketing căn bản, năm 1998, nhà xuất bản ( NXB) Thống kê.
    1. Quản Trị Marketing ( Marketing Management), Phipip Kotler, năm 2002, NXB Prentice Hall Inc..
    2. Otto Klepper, Thomas Russell, Glenn Verrill, Công nghệ quảng cáo, năm 1992, nhà xuất bản khoa học kĩ thuật.
    3. Lê Hoàng Quân, Nghiệp vụ quảng cáo và marketing, năm 1994, NXB khoa học kĩ thuật.
    4. George E Belch & Micheal A. Belch, Advertising and Promotion, năm 1998, NXB McGraw Hill.
    5. Retail Marketing Management, Chương 12: Quảng cáo, năm 1999
    1. Nguyễn Cao Vân, Marketing quốc tế, năm 1997, NXB giáo dục
    1. Các qui định của pháp luật về hoạt động quảng cáo ( Nghi định 194/1994/CP, Nghị định 24/2003/NĐ-CP, Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001, Luật thương mại 1997)
    2. Nghiên cứu về quảng cáo ở Việt Nam của công ty Tayor Neislon Sofres đang trên tạp chí Vietnam Economic Times 2000- 9/2003
    1. Công ty Ac Nielsen Việt Nam, VietNam FactBook, năm 2003.
    1. Những đánh giá về các chương trình quảng cáo trên truyền hình trên tạp chí “Nhà quản trị”
    2. Báo doanh nghiệp các số 12-2002, 1-2003,7-2003, 10-2003
    1. Ngô Việt Đức, khoá luận tốt nghiệp năm 2001, “Hoạt động kinh doanh quảng cáo của đài truyền hình Việt Nam: Thực trạng và hướng phát triển”
    2. Trang web afaa.com
    1. .Trang web www.acnielsen.com

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤC LỤC

    PHỤ LỤC 1

     

    ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

    TRUNG TÂM TVAD

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    * * *

    THÔNG BÁO

    Giá – Mức và tỷ lệ giảm giá quảng cáo năm 2003

    1. Giá quảng cáo năm 2003

    BIỂU GIÁ QUẢNG CÁO THỰC HIỆN NĂM 2003 TRÊN VTV ÁP DỤNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨ M DỊCH VỤ NƯỚC NGOÀI VÀ LIÊN DOANH Ban hành kèm theo thông tư số 947/QC – THVN

    Đơn vị: 1000VNĐ/spot

            Thời Thời điểm   Giá quảng cáo  
        Hiệu     gian Quảng cáo        
    10 giây 15 giây 20 giây 30 giây
                  VTV1 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ A   Từ 6h – 17h          
                                     
        A1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 7.000
        A2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 3.600 4.320 5.400 7.200
        A3     8h – 10h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A4   10h -12h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A5   12h – 14h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A6   14h – 17h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        GIỜ B     Từ 17h –          
                  24h            
                             
        B1   17h – 17h Ngoài Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
            50                
        B2   17h – 17h Trong Phim và Giải trí 8.000 9.600 12.000 16.000
            50                
        B3                 Trước 18h 6.000 7.200 9.000 12.000
        B4                 Trước 19h 7.500 9.000 11.250 15.000
        B5     19h45 Sau Bản tin thời sự 10.800 12.960 16.200 21.600
        B6 19h50 – 23h Ngoài Phim và Giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
        B7 19h50 – 23h Trong Phim và Giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
        B8                 Sau 23h 7.500 9.000 11.250 15.000
                  VTV3 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ D                          
                         
              Từ 6h – 12h Cả tuần        
                                     

    Khoá luận tốt nghiệp

      D1   6h – 8h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D2   6h – 8h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
      D3   8h – 10h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D4   8h – 10h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
                        Từ thứ 2 đến thứ 6        
      D5 10h – 12h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D6 10h – 12h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
      GIỜ C                        
                               
          Từ 12h-24   Từ thứ 2 đến thứ 6        
      C1 12h – 14h   Ngoài Phim và Giải trí 4.000 4.800 6.000 8.000
      C2 12h – 14h   Trong Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
      C3 14h – 16h   Ngoài hoặc Trong Phim và Giải 6.500 7.800 9.750 13.000
                        trí        
      C4.1 16h – 19h   Ngoài Phim và Giải trí 8.250 9.900 12.375 16.500
      C4.2 16h – 19h   Trong Phim và Giải trí 11.000 13.200 16.500 22.000
            Từ 10h –   Thứ bảy – Chủ nhật        
              24h              
      C5 10h   11h   Ngoài GNCT,Olympia 10.000 12.000 15.000 20.000
      C6.1 10h – 11h   Trong GNCT,Olympia 13.250 15.900 19.875 26.500
      C6.2 11h-11h 30   Ngoài trong chươn trình thiếu 12.000 14.400 18.000 24.000
                        nhi        
      C7 12h -13h 30   Ngoài CNKD, ONCN 11.000 13.200 16.500 22.000
      C8               Trong CNKD, ONCN 13.750 16.500 20.625 27.500
      C9               Ngoài Phim VNCN 9.250 11.100 13.875 18.500
      C10               Trong Phim VNCN 12.000 14.400 18.000 24.000
      C16               Ngoài Phim ĐACT7 7.500 9.000 11.250 15.000
      C17               Trong Phim ĐACT7 10.000 12.000 15.000 20.000
      C11               Ngoài phim và giải trí 9.250 11.100 13.875 18.500
      C12               Trong phim và giải trí 12.250 11.700 18.375 24.500
                        Buổi tối các ngày        
      C13 19h45 – 21h   Ngoài phim và giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
      C14 19h45 – 21h   Trong phim và giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
      C18 21h – 22h30   Ngoài phim và giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
      C19 21h – 22h30   Trong phim và giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
      C20 22h30 – 23h   Trong (ngoài) chương trình 5.850 7.020 8.775 11.700
      C15               Sau 23 5.850 7.020 8.775 11.700
      Giờ F             VTV2 : ( 10h -24h) 2.500 3.000 3.750 5.000

    Khoá luận tốt nghiệp

    BIỂU GIÁ QUẢNG CÁO THỰC HIỆN NĂM 2003 TRÊN VTV ÁP DỤNG

    ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ TRONG NƯỚC

    Ban hành kèm theo thông tư số 947/QC – THVN

    1. GIÁ QUẢNG CÁO ( đơn vị tính 1.000đ/spot quảng cáo)
            Thời Thời điểm   Giá quảng cáo  
        Hiệu     gian Quảng cáo        
    10 giây 15 giây 20 giây 30 giây
                  VTV1 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ A       Từ 6h – 17h            
                               
        A1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.813 3.750
        A2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 2.700 3.240 4.050 5.400
        A3     8h – 10h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A4     10h -12h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A5     12h – 14h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A6     14h – 17h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        GIỜ B     Từ 17h – 24h            
                       
        B1   17h – 17h 50 Ngoài Phim và Giải trí 4.500 5.400 6.750 9.000
        B2   17h – 17h 50 Trong Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
        B3             Trước 18h 4.500 5.400 6.750 9.000
        B4             Trước 19h 5.625 6.750 8.438 11.250
        B5     19h45 Sau Bản tin thời sự 8.100 9.720 12.150 16.200
        B6   19h50 – 23h Ngoài Phim và Giải trí 10.313 12.375 15.469 20.625
        B7   19h50 – 23h Trong Phim và Giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
        B8             Sau 23h 5.625 6.750 8.438 11.250
                  VTV3 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ D                      
                             
                  Từ 6h – 12h   Cả tuần        
                           
        D1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
        D3     8h – 10h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D4     8h – 10h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
                          Từ thứ 2 đến thứ 6        
        D5     10h – 12h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D6     10h – 12h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
        GIỜ C                      
                           
                Từ 12h – 24h Từ thứ 2 đến thứ 6        
        C1     12h – 14h Ngoài Phim và Giải trí 3.000 3.600 4.500 6.000
        C2     12h – 14h Trong Phim và Giải trí 4.500 5.400 6.750 9.000
        C3     14h – 16h Ngoài hoặc Trong Phim và Giải 4.875 5.850 7.313 9.750
                          trí        
        C4.1     16h – 19h Ngoài Phim và Giải trí 6.188 7.425 9.281 12.375
        C4.2     16h – 19h Trong Phim và Giải trí 8.250 9.900 12.375 16.500
                Từ 10h – 24h Thứ bảy – Chủ nhật        
                                   

    Khoá luận tốt nghiệp

    C5 10h – 11h   Ngoài GNCT,Olympia 7.500 9.000 11.250 15.000
    C6.1 10h – 11h   Trong GNCT,Olympia 9.938 11.925 14.906 19.875
    C6.2 11h-11h 30   Ngoài trong chươn trình thiếu 9.000 10.800 13.500 18.000
          nhi        
    C7 12h -13h 30   Ngoài CNKD, ONCN 8.250 9.900 12.375 26.500
    C8     Trong CNKD, ONCN 10.313 12.375 15.469 20.625
    C9     Ngoài Phim VNCN 6.938 8.325 10.406 13.875
    C10     Trong Phim VNCN 9.000 10.800 13.500 18.000
    C16     Ngoài Phim ĐACT7 5.625 6.750 8.438 11.250
    C17     Trong Phim ĐACT7 7.500 9.000 11.250 15.000
    C11     Ngoài phim và giải trí 6.938 8.325 10.406 13.875
    C12     Trong phim và giải trí 9.188 11.025 13.781 18.375
          Buổi tối các ngày        
    C13 19h45 – 21h   Ngoài phim và giải trí 10.1313 12.375 15.469 20.625
    C14 19h45 – 21h   Trong phim và giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
    C18 21h – 22h30   Ngoài phim và giải trí 10.1313 12.375 15.469 20.625
    C19 21h – 22h30   Trong phim và giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
    C20 22h30 – 23h   Trong (ngoài) chương trình 9.375 11.250 14.063 18.750
    C15     Sau 23h 4.388 5.265 6.581 8.775
    Giờ F   VTV2 : ( 10h -24h) 1.875 2.250 2.813 3.750
    1. CÁC HÌNH THỨC QUẢNG CÁO KHÁC: (như insert logo, chạy chữ, panel…)

    Tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu hai bên sẽ thoả thuận và kí hợp đồng.

    III. GHI CHÚ

    – Giá bào gồm cả thuế giá trị gia tăng 10% Chọn vị trí :cộng thêm 5% trên đơn giá gốc

    Các spots quảng cáo được tính theo mức chuẩn 10’’, 15’’, 20’’, 30’’, 45’’, 60’’, 120’’, các spots quảng cáo có thới lượng quảng cáo cáo trên mức chuẩn được tính theo giá các mức chuẩn có thời lượng cao hơn kế tiếp.

    Các spots quảng cáo phát sóng trên VTV phải qua khâu xét duyệt. Các loại thông tin không mang tính chất quảng cáo: Phát sóng giờ B3 + Thông tin cổ động tuyên truyền miễn phí

    + Thông tin mang tính chất nhân đạo: 200.000 đồng/lần

    + Tuyển sinh,mới họp và một số thông tin đặc biệt :1.200.000đồng/ 30 giây

    Khoá luận tốt nghiệp

    B.MỨC VÀ TỶ LỆ GIẢM GIÁ QUẢNG CÁO NĂM 2003

    1. Nguyên tắc :
    1. Ưu tiên cho khách thường xuyên, có ký hợp động quảng cáo dài hạn cả năm, khách hàng có doanh số quảng cáo lớn, các khách hàng có các chương trình hay hợp tác với VTV và các khách hàng thanh toán tiền trước.
    1. Ưu tiên cho khách hàng là nhà sản xuất, các sản phẩm mới sản xuất.
    1. Quy định về mức và tỷ lệ giảm giá trên đơn giá
    1. Đối với khách hàng là các đơn vị hoạt động quảng cáo tại Việt Nam.  
               
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ  
    trong nước (1.000 VND) LD & NN (1.000) giảm (%)  
       
               
    1   Từ 90.000 – 300.000 Từ 420.000 – 1.260.000 08  
               
    2   Trên 300.000 – 450.000 Trên 1.260.000 -2.520.000 10  
               
    3   Trên 450.000 – 600.000 Trên 2.520.000 – 4.200.000 12  
                 
    4   Trên 600.000 – 750.000 Trên 4.200.000 – 6.300.000 14  
                 
    5   Trên 750.000 – 1.500.000 Trên 6.300.000 – 8.400.000 16  
               
    6   Trên 1.500.000 Trên 8.400.000 18  
                 
    1. Đối với khách hàng là các nhà sản xuất và các đối tượng khác ( như các đại lý, các doanh nghiệp…) có sản phẩm được phép quảng cáo tại Việt Nam.
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ  
    trong nước (1.000 VND) LD & NN (1.000) giảm (%)  
     
             
    1 Từ 15.000 – 30.000 Từ 420.000 – 140.000 4  
               
    2 Trên 30.000 – 90.000 Trên 140.000 – 420.000 6  
             
    3 Trên 90.000 – 150.000 Trên 420.000 – 8.400.000 8  
               
    4 Trên 150.000 – 200.000 Trên 8.400.000 – 1.400.000 10  
               
    5 Trên 200.000 – 250.000 Trên 1.400.000 – 2.100.000 12  
               
    6 Trên 250.000 – 350.000 Trên 2.100.000 – 2.800.000 13  
             
    7 Trên 350.000 – 1.050.000 Trên 2.800.000 – 6.000.000 15  
             
    8 Trên 1.050.000 Trên 6.000.000 18  
                 

    Khoá luận tốt nghiệp

    Ghi chú : Mức tính giảm giá được tính = Đơn giá ( theo từng khung giá)* thời lượng quảng cáo.

    III.Chế độ giảm giá bổ xung.

    Áp dụng cho những khách hàng có doanh số quảng cáo đã vượt quá mức được hưởng giảm giá cao nhất, khách hàng có các chương trình hợp tác với Đài mang lại hiệu quả lớn, khách hàng thanh toán tiền trước .. .cụ thể cho các trường hợp sau:

    1. Khách hàng nếu thực hiện việc thanh toán tiền trước khi phát sóng quảng cáo (doanh số quảng cáo tính theo thực tế từng tháng), được hưởng thêm 1,5 % giảm giá ngoài mức giảm giá theo quy định.
    1. Khách hàng trong năm đạt doanh số vượt trên 350% so với mức được hưởng giảm giảm gía18% và thanh toán đầy đủ, thì ngoài mức giảm giá 18%, sẽ được hưởng thên giảm giá bổ sung. Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình sẽ căn cứ vào tình hình thực tế quảng cáo và thanh toán tiền của từng đơn vị để xét vào cuối năm.
    2. Khách hàng có doanh số quảng cáo vượt trên 40 tỷ đồng, ngoài việc được hưởng giảm giá bổ sung ngoài mục B.III.2, riêng phần doanh số vượt đó sẽ được hưởng mức giảm giá ít nhất là 23%.
    1. Khách hàng trong năm đạt tổng doanh số quảng cáo sản phẩm trong nước và sản phẩm nước ngoài và liên doanh nước ngoài => 20 tỷ đồng thì tổng doanh số này sẽ được lấy là mức để xác định tỷ lệ giảm giá chung cho khách hàng đó.
    2. Khách hàng đăng ký quảng cáo nhãn hiệu vào một thời gian quảng cáo nhất định trên sóng VTV trong cả năm đạt mức doanh số trên 1,5 tỷ đồng thì ngoài tỷ lệ giảm giá theo quy định, được hưởng thêm tỷ lệ giảm giá khuyến mại khuyến khích 1% cho riêng nhãn hiệu sản phẩm đó.
    3. Nhãn hiệu mới được sản xuất ở Việt Nam, khi quảng cáo trên sóng VTV và đạt doanh số => 500.000.000 đồng thì ngoài tỷ lệ khuyến khích 1% cho riêng nhãn hiệu sản phẩm đó.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Khách hàng trong năm có tham gia tài trợ để sản xuất các chương trình trên các kênh VTV, thì số tiền tài trợ được cộng vào để tính doanh số xét quyền lợi của khách hàng vào cuối năm

    VI.Chương trình giới thiệu doanh nghiệp.

    Là những chương trình có độ dài khoảng 3 phút đến 10 phút, giới thiệu về công nghệ, quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, về khả năng tài chính, quản lý đầu tư.. .

    Giá phát sóng chương trình giới thiệu doanh nghiệp

    Doanh nghiệp NN và LDNN Doanh nghiệp trong nước
    15.000.000 đ/phút 12.000.000 đ/phút
    1. Hoa hồng môi giới.

    Các cá nhân, tổ chức thực hiện công việc môi giới quảng cáo thông qua các hợp đồng với trung tâm Quảng Cáo, được hưởng tỷ lệ hoa hồng 1% trên trị giá quảng cáo và đã trả tiền cho Trung tâm 9 nếu là cá nhân phải khấu trừ thuế thu nhập.

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤ LỤC 2

    QUY ĐỊNH VỀ QUẢNG CÁO VÀ DỊCH VỤ NĂM 2003 CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI (Thực hiện từ 01/01/2003)

    1- ĐIỀU KIỆN KÝ HỢP ĐỒNG VÀ PHÁT HÀNH QUẢNG CÁO:

    • Đơn vị kinh doanh dịch vụ quảng cáo ký Hợp đồng với Đài phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
    • Đơn vị quảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ của mình phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
    • Hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ được quảng cáo phải có đủ các điều kiện theo quy định.

    – Quảng cáo phải được duyệt trước khi phát hành.

    2- HÌNH THỨC PHÁT HÀNH QUẢNG CÁO:

    • Trên sóng phát thanh và truyền hình Hà Nội.
    • – Trên truyền hình cáp hữu tuyến Hà Nội (HCATV).
    • Trên website của Đài Phát thnah – Truyền hình Hà Nội (hanoitv.org.vn; www.htv.org.vn).

    3- GIÁ QUẢNG CÁO VÀ DỊCH VỤ:

    3.1. Giá quảng cáo ban hành kèm theo quy định này.

    3.2. Quảng cáo có thời lượng < 10 giây được tính theo quảng cáo 10 giây.

    3.3. Chọn vị trí ưu tiên trong chương trình quảng cáo: đầu, cuối cộng (+) 8%; các vị trí thứ 2,3 và sát cuối, áp sát cuối cộng (+) 5%, tính theo mức giá chuẩn 30 giây trở lên.

    3.4. Các thông tin như: Thông báo, Tuyển sinh, Mời họp, Lễ hội…: 500.000/1 lần phát (giờ C4; C5; S1; S3). Các giờ T1, T2 thu bằng 50% đơn giá QC.

    3.5. Các thông tin phát sóng vào thời điểm quy định: Tin tang lễ, Lời cảm ơn tang lễ, Tìm trẻ lạc, Rơi giấy tờ: 200.000đ/ 1 lần phát (giờ C4;S1;S3); riêng lời cảm ơn tang lễ nếu khách hàng có nhu cầu phát thêm nội dung (tối đa không quá 90’’) thu 500.000đ/ 1lần phát.

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.6. Các thông tin kinh tế, giới thiệu sản phẩm, giới thiệu doanh nghiệp…dưới

    03 phút tính theo giá quảng cáo, từ 03 phút trở lên phát sóng ngoài các

    chương trình Phim và Giải trí, thu bằng 30% đơn giá quảng cáo. Giá trị trên

    được cộng vào giá trị hợp đồng quảng cáo dài hạn (nếu có).

    1. CHẾ ĐỘ GIẢM GIÁ VÀ KHUYẾN KHÍCH:

     

    • Doanh số trên HĐ là doanh số còn lại sau khi giảm giá.
    • Mức giảm giá được tính bằng:

    Đơn giá (theo từng khung giá) x Thời lượng QC – Giá trị giảm giá được hưởng

    4.1. Giảm giá trên Hợp đồng:

    4.1.1. Đối với khách hàng là Công ty Quảng cáo:

    Mức Doanh số quảng cáo sản phẩm   Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ
    dịch vụ trong nước (1.000 VND)   LD & NN (1.000) giảm (%)
       
             
    1 Từ 50.000 – 150.000   Từ 500.000 – 1.000.000 08
             
    2 Trên 150.000 – 350.000   Trên 1.000.000 -1.500.000 10
             
    3 Trên 350.000 – 500.000   Trên 1.500.000 – 1.500.000 12
             
    4 Trên 500.000 – 650.000   Trên 2.500.000 – 3.500.000 14
             
    5 Trên 650.000 – 800.000   Trên 3.500.000 – 4.500.000 16
             
    6 Trên 800.000 – 1.000.000   Trên 4.500.000 – 6.000.000 18
             
    7 Trên 1.000.000   Trên   6.000.000 20
             
    4.1.2. Đối với khách hàng là đối tượng khác:      
           
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ   Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ
    trong nước (1.000 VND)   LD & NN (1.000) giảm (%)
       
             
    1 Từ 30.000 – 50.000   Từ 100.000 – 200.000 06
             
    2 Trên 50.000 – 90.000   Trên 200.000 – 500.000 08
             
    3 Trên 90.000 – 165.000   Trên 500.000 – 1.000.000 10
             
    4 Trên 165.000 – 275.000   Trên 1.000.000 – 1.500.000 12
             
    5 Trên 275.000 – 90.000   Trên 1.500.000 – 2.000.000 14
             
    6 Trên 390.000 – 550.000   Trên 2.000.000 – 3.000.000 16
             
    7 Trên 550.000   Trên 3.000.000 18
             

    Khoá luận tốt nghiệp

    4.2. Giảm giá bổ sung:

    4.2.1. Khách hàng có doanh số đạt trên 12 tỷ đồng sản phẩm LD & NN hoặc

    • tỷ đồng sản phẩm trong nước sẽ được hưởng mức giảm giá 22 %. Khách hàng có doanh số đạt trên 15 tỷ đồng sẽ được hưởng mức giảm giá 24%.
    • 2. Khách hàng ký hợp đồng quảng cáo dài hạn (doanh số trên 01 tỷ đồng đối với sản phẩm LD & NN; trên 500 triệu đồng đối với sản phẩm trong nước) thực hiện việc thanh toán tiền trước và phát sóng quảng cáo sau (tính theo từng tháng), được giảm giá bổ sung 1,5% ngoài mức giảm giá theo quy định.
    • Chế độ khuyến khích:

     

    • 1. Khách hàng đạt doanh số trên 15 tỷ đồng sẽ được quyền tính gộp doanh số các sản phẩm và hưởng tỷ lệ giảm giá chung cho toàn bộ Hợp đồng.
    • 2. Đối với khách hàng tham gia tài trợ sản xuất và phát sóng các trương trình của Đài, doanh số tài trợ sẽ cộng vào tổng doanh số của Hợp đồng quảng cáo (nếu có).
    • Các chương trình tự giới thiệu doanh nghiệp sản xuất tại Đài được giảm 10% so với giá ở mục 3.6. Các bảng quảng cáo sản phẩm và dịch vụ sản xuất tại Đài được giảm giá 20% so với bảng giá cho 05 lần phát sóng đầu tiên.
    • 4- Chế độ hoa hồng:

     

    Khách hàng không hưởng giảm giá trên hợp đồng sẽ được hoa hồng, nếu giá trị quảng cáo đạt từ 3.000.000đ trở lên được hưởng mức 03% với điều kiện phải nộp 100% tiền mặt ( nếu các nhân thì phải khấu trừ thuế thu nhập).

     

    • 5- Chế độ miễn phí:

     

    Miễn phí đối với các thông tin đặc biệt về chính tri, xã hội của Thành phố, các thông tin tìm tung tích nạn nhân, Lệnh truy nã của C.A từ cấp thành phố trở lên.

     

    5- VIỆC DUYỆT BĂNG QUẢNG CÁO:

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Các mẫu mã quảng cáo phải được Đài duyệt trước khi phát hành từ 5 -7

    ngày.

    • Nội dung xét duyệt sẽ được xác nhận bằng “ Phiếu nghiệm thu”.
    • Các mẫu quảng cáo sau khi được duyệt sẽ có mã số để đưa vào sản xuất và phát sóng theo hợp đồng.

    Quy định này thực hiện kể từ ngày 01/01/2003 và thay thế cho các quy định về quảng cáo trên sóng Phát thanh – Truyền hình Hà Nội trước đây. Trường hợp đặc biệt Giám đốc Đài sẽ có quyết định cụ thể.

    BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO TRÊN 6 KÊNH TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI

    Thực hiện từ ngày 01/01/2003

    Ban hành theo quy định số 869/QĐ-PTTH ngày 05/12/2002

    (Đơn giá 30 giây cho 1 lần phát sóng)

          Đơn vị tính: 1.000USD  
               
      CHƯƠNG TRÌNH QUẢNG GIÁ SP GIÁ SP  
    THỜI GIAN TRONG
    HIỆU CÁO LD & NN  
      NƯỚC
             
        BUỔI SÁNG      
               
    06h00 – 06h45 S1 Ngoài Bản tin, Chuyên đề sáng 480 810  
               
    06h45 – 08h30 S2 Trước Phim & Giải trí sáng 600 1.020  
               
    08h30 – 09h50 GTs1 Trong Phim & Giải trí sáng 1.350 3.000  
               
    09h50 – 11h45 S3 Trước Bản tin trưa 750 1.260  
               
    11h45 – 12h00 S4 Trước Phim & Giải trí trưa 3.300 5.520  
               
    12h00 – 13h00 GTs2 Trong Phim & Giải trí trưa 4.740 10.500  
               
        BUỔI CHIỀU      
               
    13h00 – 15h00 C1 Sau Phim & Giải trí trưa 480 810  
               
    15h00 – 16h00 C2 Sau Bản tin chiều 480 810  
               
    16h00 – 17h00 C3 Trước Chương trình thiếu nhi 480 810  
               
    17h00 – 17h30 TNc Trong Chương trình thiếu nhi 630 1.410  
               
    17h30 – 17h40 C4 Trước Phim & Giải trí chiều 1.200 2.010  
               
    17h40 – 18h25 GTc Trong Phim & Giải trí chiều 3.390 7.500  
               
    18h25 – 18h30 C5 Trước Thời sự chiều 3.000 5.010  
               
        BUỔI TỐI      
               
    18h55 – 19h00 T1 Trước thời sự THVN 4.500 7.500  
               
    19h45 – 20h30 T2 Sau thời sự THVN 4.500 7.500  
               

    Khoá luận tốt nghiệp

    20h30 – 21h00 T3 Trước Phim và Giải trí tối 6.000 10.020  
               
    21h00 – 21h50 GTt1 Trong Phim và Giải trí tối 7.650 17.010  
             
    GTt2 Trong bóng đá Italia 4.500 10.020  
     
               
    21h50 – 22h45 T4 Sau Phim và Giải trí tối 3.000 5.010  
               
    Sau 22h45 GTt3 Trong CT Thể thao (T2 – T7) 1.800 3.000  
               
    • Giá trên đã bao gồm thuế GTGT
    • Quảng cáo có thời lượng < 10 giây được tính theo giá quảng cáo 10 giây.
    • Giá quảng cáo được tính theo các mức chuẩn 10’’, 20’’, 30’’, 35’’…(khoảng cách giữa các mức chuẩn là 05’’), quảng cáo có thời lượng trên mức chuẩn được tính theo giá của mức chuẩn cao hơn kế tiếp.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤ LỤC 3

    CÔNG TY DỊCH VỤ QUẢNG CÁO VÀ THIẾT BỊ TRUYỀN HÌNH (EAC)

    Địa chỉ: 65 Lạc Trung, Hà Nội

    Số điện thoại : (04) 6364007, Fax : (04)6364005

    BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO TRÊN CÁC KÊNH TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ

    1. Bảng giá quảng cáo cho năm 2003

    Đơn giá 30 giây cho 1 lần phát sóng (VND)

    Ký hiệu Thời gian Thời điểm quảng cáo Giá quảng cáo
         
             
          Sản phẩm và dịch vụ đối với
               
          Trong nước   Nước ngoài
               
      Bóng đá quốc tế trên kênh ESPN, STAR SPORT  
               
    A1 19:30 – 23:00 Trước và giữa 2 hiệp 3.900.000   1.950.000
               
    A2 Sau 23:00 Trước và giữa 2 hiệp 2.600.000   1.300.000
               
      Phim nước ngoài trên các kênh HBO,CINEMAX, MTV    
               
    B1 0:00 – 24:00 Trong phim 2.600.000   1.300.000
             
      CARTOON NETWORK, DISCOVERY, ANIMAL PLANET, CNN
               
    C1 19:30 – 23:00   1.300.000   650.000
               
    C2 Sau 23:00   900.000   450.000
               
        Các kênh Việt Nam  
               
    D1 19:30 – 23:00   1.950.000   1.000.000
               
    D2 Sau 23:00   1.500.000   800.000
               
        DW, CCTV4, TV5    
               
      19:30   400.000   150.000
               
      Sau 23:00   260.000   130.000
               

    Lưu ý: Giá ghi trên bao gồm 10% thuế VAT

    Khoá luận tốt nghiệp

    1. Tỷ lệ và mức giảm giá

    1.Đối với khách hàng thực hiện quảng cáo ở Việt Nam

    Mức Doanh số quảng cáo (VND) Tỷ lệ giảm (%)
      Từ Đến  
    1 Dưới 30.000.000   10%
    2 30.000.000 50.000.000 15%
    3 50.000.000 100.000.000 18%
    4 100.000.000 200.000.000 20%
    5 200.000.000 300.000.000 25%
    6 Trên 300.000.000   30%
    1. Đối với các khách hàng là nhà sản xuất
    Mức Doanh số quảng cáo (VND)   Tỷ lệ giảm (%)
      Từ Đến    
    1 10.000.000     10%
    2 10.000.000   20.000.000 12%
    3 20.000.000   30.000.000 15%
    4 30.000.000   50.000.000 18%
    5 Trên 50.000.000     20%

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÂU HỎI ÔN TẬP CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CÓ ĐÁP ÁN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-C%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-ho%C3%A1-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-ho%C3%A1-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-qu%E1%BB%91c-d%C3%A2n-l%C3%A0-nhi%E1%BB%87m-v%E1%BB%A5-trung-t%C3%A2m-trong-su%E1%BB%91t-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-qu%C3%A1-%C4%91%E1%BB%99-%C4%91i-l%C3%AAn-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công cuộc xây dựng xã hội mới phải được tiến hành toàn diện trên các mặt: quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, nền văn hoá và những con người của xã hội đó. Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Xây dựng cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước. Tuy nhiên, tuỳ từng nước khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên không giống nhau nên cách thức tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại sẽ không giống nhau.

    Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như nước ta, nền sản xuất nhỏ, là thuật thủ công là chủ yếu… công nghiệp hoá là quá trình chủ mang tính quy luật để tạo ra cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Chính vì vậy tại đại hội VIII Đảng ta khẳng định: tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước đi lên CNXH – là nhiệm vụ sắp tới của dân tộc ta.

    Những thành tựu sau 10 năm đổi mới, đặc biệt là kết quả thực hiện vượt mức những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm1991 – 1995 đã đưa nền kinh tế nước ta khỏi khủng hoảng và tạo được nhứng tiền đề cho phép chuyển sang giai đoạn của sự phát triển đất nước.

    Cũng tại đại hội lần thứ VIII của Đảng công sản Việt Nam xuất phát từ nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Từ điều kiện và khả năng thực tế của đất nước trong bối cảnh và xu thế của thời đại ngày nay đã khẳng định quyết tâm

    1

    phấn đấu đưa nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào khoảng năm 2020.

    Từ lý do trên em quyết định chọn đề tài “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Cho bài tiểu luận này.

    Với chút hiểu biết ít ỏi của mình, em mạnh dạn xin được trình bày một số ý kiến cá nhân mình với hy vọng góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm hệ thống lý luận trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề tài này để bài viết hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn và trân trọng ý kiến đóng góp.

    2

    PHẦN NỘI DUNG

    I.                   Những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.

     

    1. Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến độ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

    2. Tình tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Cơ sở vật chất – kỹ thuật của một xã hội toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.

    Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở – vật chất – kỹ thuật của một xã hội là: sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển khoa học – kỹ thuật, tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.

    Nói cơ sở vật chất kỹ thuật là một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở vật chất kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương thức sản xuât đó được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất và được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất cũ và được phát triển trên cơ sở bản thân đó.

    Đặc trưng của cơ sở vật chất – kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Cơ sở

    vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của nó là nền đại công nghiệp cơ khí hoá vàchỉ đến khi xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới trở thành phương thức sản xuất thống trị.

    Chủ nghĩa xã hội – giai đoạn phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản – đòi hỏi một cơ sở vật chất – kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ, kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại.

    Do vậy có thể hiểu: cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hôị sẽ là nền công nghiệp lớn hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và được thực hiện thông qua công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Đố là vì, cơ sở vật chất – kỹ thật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên quan đến sự phát triển về chất đổi mới với lực lượng sản xuất và năng suất lao động, đối với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối với sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.

    3. Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

    Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá có ý nghĩa lớn lao, như vậy nó phải được thực hiện triệt để, sâu rộng trong toàn nhân dân. Có nghĩa là phải tập trung mọi lực lượng trong nhân dân, khuyến khích phát triển nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích mọi doanh nghiệp, các nhân trong và ngoài nước cùng tham gia vào sự nghiệp chung góp phần

    tăng trưởng kinh tế -xã hội của đất nước như lời: tổng bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu tại hội nghị lần thứ VI ban chấp hành trung ương Đảng VIII:” Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nắng vững lợi thế so sánh, dựa vào sức mạnh nôi lực, phát huy cao độ nỗ lực của mọi người, mọi cấp, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, nắm thời cơ, tranh thủ nguồn từ bên ngoài vượt qua khó khăn thách thức, giữ vững ổn đinh và phát triển kinh tế xã hội, từng bước tạo điều kiện để cần thiết cho phát triển nhanh và bền vững khi có điều kiện”.

    Điều kiện quan trọng ở đây là:” phát huy mọi nguồn lực trong nhân dân, phát triên nhiều thành phần kinh tế nhưng trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo vận hành theo cơ chế thị trường cơ sự quản lý của nhà nước”. Đây chính là một bài học quan trọng mà Đảng rút ra sau 10 năm đổi mới. Sở dĩ chúng ta giành được những thắng lợi khả quan sau 10 đổi mới, ngoài những bài học khác thì một phần nhờ vào việc Đảng ta xác định chính sách kinh tế đúng đắn. Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.

    Kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu thế, tác động tích cực tới sự phát ytiển kinh tế -xã hội nhưng đồng thời nó cũng có những mặt tiêu cực, khuyết tật ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế- xã hội như hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, chèn ép lẫn nhau, phân hoá giàu nghèo dần đến khủng hoảng hoặc gây rối loạn xã hội, làm cho kinh tế phát triển không ổn định, gẵn liền với hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội… Vì thế nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN. Do đó Nhà nước phải nâng cao năng lưc quản lý vĩ mô nhằm phát huy tính tích tích cực đi đôi với ngăn ngừa và hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp văn minh. Cạnh tranh vì lợi

    5

    ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau làm chệch hướng đi lên chủ nghĩa xã hội

    Muốn vậy cần phải xác định rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ( đó là các doanh nghiệp nhà nước), phải làm sao để cho kinh tế nhà nước thực sự làm ăn có hiệu quả, phát huy tối đa vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã, phấn đấu dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

    Tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng an ninh. Đây là những ngành kinh tế chính yếu, là “bộ xương sống” của toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

    II công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam

    1.Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tự trang bị.

    Thế giới đã trải qua hai cuộc chiến tranh kỹ thụât: cuộc cách mạng kỹ thuật mà nội dung chủ yếu của nó là cơ khí hoá xuất hiện đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ 17 và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ 19. Đến khoảng giữa thế kỷ 20 xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại. Mấy thập niên đã trải qua, nhất là thập niên gần đây loài người đang chứng kiến những thay đổi rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.

    Từ nội dung của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, mặc dù còn có thể có ý kiến nào đó khác nhau, song ý kiến nhất trí cho rằng cuộc cách mạng nàycó hai đặc trưng chủ yếu:

    Một là, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách đây hơn một trăm năm. Các Mác đã dự đoánvề mối quan hệvà sự phát triển giữa khoa

    6

    học và lực lượng sản xuất. Người viết: “ Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu xe lửa, điện báo… Tất cả các thứ đólà thành quả sáng tạo của bộ óc con người, được bàn tay con người tạo ra là sức mạnh tri thức đã được vật hoá. Sự phát triển của vốn cố định là chỉ tiêu cho thấy rằng tri thức xã hội chung đã biến thành lực lượng sản xuất với mức độ bào, và do đó cũng là chỉ tiêu nói lên mức độ phụ thuộc và biến đổi của chính những điều kiện hoạt động đối với trí tuệ chung”

    Nói khoa học trở thành lực lượng sản xuất trưc tiếp là nó bao gồm cả khoa học tự nhiên- kỹ thuật lẫn khoa học xã hội, nhất là khoa học kinh tế, nó do con người toạ ra thông qua con người- nhân tố trung tâm- nhân tố chủ thể-đến lực lượng sản xuất. Nó đòi hỏi phải có chính sách đầu tư đúng đắn cho khoa học- kỹ thuật. Ngày nay, bất cứ một tiến bộ nào của kỹ thuật “công nghệ” sản xuất đều phải dựa trên những thành tựu khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó.

    Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế chio phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại, phạm vi ứng dụng của một thành tựu khoa học vào sản xuất đời sống ngày càng mở rộng.Đặc trưng này làm cho tài sản cố trong qúa trình sử dụng thậm trí vừa mới xây dựng xong không chỉ bị hao mòn hữu hình mà còn bị hao mòn vô hình nhanh chóng hơn trước. Nó đòi hỏi cần được kêt hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học –kỹ thụât với chiến lược kinh tế –xã hội.

    • nước ta, một nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá được tiến hành trong điều kiện thế giới trải qua hai cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn ra trong xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá. Trong hoàn cảnh đó công cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuât ở nước ta phải bao gồm cả cơ khí hoá và hiện đại hoá, coi nó là then chốt và coi khoa học- công nghệ là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững.

    7

    2. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội

    Từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa trong quá trinh công nghiệp hoá tất yếu phải phân công lại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động, tức là sự chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong nội bộ và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân. Nhân công lao động có tác động to lớn: nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệvà năng xuất lao động; cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự phân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau:

    • Tỷ trọng vầ số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày càng tăng
    • Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội.

    +Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng nhanh hơn mức độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.

    Nước ta hàng chục năm xây dựng cơ cấu kinh tế đã đem lại những thành công nhất định. Song trong việc bố trí cơ cấu kinh tế có những sai lầm không nhỏ về cơ cấu ngành, chạy theo công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí quá nhiều, công nghiệp lạc hậu… Qua nhiều lần đại hội, dưới ánh sáng của sự đổi mới nói chung, trong đó có đổi mới việc xây dựng cơ cấu kinh tế, đến nay đã đưa lại chuyển động bước đầu quan trọng. Thông qua cách mạng khoa học-kỹ thuật và phân công lại lao động với những tính quy luật vốn có của nó, thích ứng với điều kiện nước ta. Đảng ta đã xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà “ bộ xương” của nó là: “cơ cấu kinh tế công nông nghiệp- dịch vụ gắn liền với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng, sẽ cho phép nước ta kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

    8

    Cơ cấu nói trên ở nước ta trong thời kỳ qúa độ được thực hiện theo phương châm: Kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn- tiên tiến vừa vận dụng được nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép rút ngắn khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nước, lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính quy mô lớn nhưng phải là quy mô hợp lý và có điều kiện. Giữ được nhịp độ phát triển hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa các ngành hàng hoá, các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong nền kinh tế.

    III.Những điều kiện- giải pháp để thực hiện công nghiệp hoá, hiện

    đại hoá

    Sự nghiệp công nghiệp hoá mà sự thắng lợi của nó phụ thuộc vào nhưng điều kiện tiền đề (nhất là ở những nước có nền kinh tế kém pháp triển như ở nước ta) có 4 loại điều kiện tiền đề sau đây:

    1. Tạo nguồn vốn tích luỹ để công nghiệp hoá

    Công nghiệp hoá là để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật ngày một hiện đại, nên đòi hỏi nhiều vốn. Nguồn gốc của tích luỹ vốn là lao động thặng dư, cơ sở tự nhiên và cũng là biện pháp cơ bản tăng năng suất lao động. Cơ cấu vốn tích luỹ để công nghiệp hoá bao gồm: Tích luỹ vốn từ nguồn trong nước và tích luỹ vốn từ nguồn bên ngoài. ở nước ta, nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp cũng như nhiều nước kém hoặc đang phát triển, thời kỳ đầu đều phải dựa vào nguồn vốn nước ngoài, nước ta không thể là ngoại lệ.Tất nhiên phải rất coi trọng tạo ra chính sách đối ngoại hữu hiệu và việc sử dụng vay vốn có hiệu quả, có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi.

    2. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.

    Vị trí then chốt của khoa học- kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta đòi hỏi phải đặt khoa học và công nghệ như một “quốc sách”. Chính nó đã góp phần đưa nền kinh tế hàng hoá ở nước ta phát triển cả về chiều rộng

    lẫn chiều sâu, nhất là chiều sâu góp phần nâng cao năng lực tích luỹ vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.

    3. Làm tốt công tác về điều tra cơ bản

    Nước ta, công nghiệp hoá mới chỉ bắt đầu, tài nguyên khoáng sản tương đối nhiều nhưng chưa được khai thác. Do vậy, điều tra cơ bản thăm dò địa chất là điều kiện tiền đề không thể thiếu của công nghiệp hoá. Sẽ mất lợi thế nếu khai thác chậm, trước sự bùng nổ của vật liệu do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tác động và tạo ra khả năng thay thế nguyên liệu tự nhiên trong thế kỷ 21 và tiếp theo.

    4. Đào tạo cán bộ khoa học- kỹ thuật , khoa học quản lý và công nhân lành nghề cho công nghiệp hoá.

    Sự nghiệp công nghiệp hoá là sự nghiệp của quần chúng lao động xây dựng nên, trong đó cán bộ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và nhân công có tay nghề cao có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, phải làm cho họ có tri thức phải đào tạo họ.

    Những điều kiện tiền đề nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, nó đòi hỏi phải có mới tiến hành công nghiệp hoá được. Nước ta không thể không hoà nhập với các nước trong cộng đồng quốc tế, không thể không nẵm bắt những lý thuyết hiện đại để ứng dụng cho các nước kém phát triển.

    • Lý thuyết về lợi thế so sánh
    • Lý thuyết cân bằng
    • Lý thuyết cất cánh

    Mỗi lý thuyết về nội dung của nó đều có mặt tích cực và mặt hạn chế của nó,do vậy trong việc vận dụng phải biết vận dụng và phát huy mặt tích cực, khắc phục một cách có hiệu quả những hạn chế của nó. Bằng cách đó sớm đưa sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta nhanh đến thắng lợi

    10

    KẾT LUẬN

    Tóm lại, nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm tạo ra năng xuất lao động và tổ chức xã hội ngày càng tiên tiến.

    Nhiệm vụ ấy chỉ có được trên cơ sở công nghiệp hoá ,hiên đại hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và hiệu quả. Do đó, tiến hành công nghiệp hoá ,hiện đại hoá để xây dựng nền cơ cấu nền kinh tế hợp lý là nhiệm vụ quan trọng, đó là nền tảng chiến lược đưa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng van minh sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

    11

    12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-%C3%9D-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-tri-th%E1%BB%A9c-trong-%C4%91%E1%BB%9Di-s%E1%BB%91ng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết

    LỜI MỞ ĐẦU.

    [ [ [

    • thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có. ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin). Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn. Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực của
    • thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng.

    Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế-kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt đựoc những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gian ngắn hay không? Chung ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học- công nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới. Như vậy có nghĩa là ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học. Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người. Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả.Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá- tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc. Chức năng của các giá trị văn hoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức. Không có tính đạo đức thì tất cả các dạng giá trị ( giá trị vật chất và tinh thần) sẽ mất đi mọi ý

    Tiểu luận triết

    nghĩa.Còn cách mạng tư tưởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần-xã hội, xây dựng mối quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con người.Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước.

    Như vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống xã hội là các vấn đề khoa học- văn hoá- tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng. Tìm hiểu về

    • thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội.

    Trong bài tiểu luận này em chọn đề tài: “Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội” do thời gian và trình độ còn hạn chế vì vậy bài viết này chắc chắn sẽ không tránh được những thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp chỉ dạy của các thầy cô.

    Lớp: K40 – 1107                                                         2

    Tiểu luận triết

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG CỦA TRIẾT HỌC

    VỀ Ý THỨC VÀ TRI THỨC

    1.1- Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức.

    1.1.1. Khái niệm về ý thức

    Để đưa ra được định nghĩa về ý thức,con người đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài,nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ,sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học.

    Ngay từ thời cổ xưa,từ khi con người còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản thân vì chưa lý giải được các sự vật hiện tượng xung quanh mình. Do chưa giải thích được giấc mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cư trú trong cơ thể và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển được suy nghĩ tình cảm của con người mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con người. Nếu linh hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ thể chết.

    Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con người nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế giới, quan niệm về hồi tưởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn phổ biến không chỉ ở trong con người mà cả trong các sự vật, hiện tượng, trong thế giới cõi người và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới.

    Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm gíac và cho rằng cảm giác của con người chi phối thế giới…Như vậy, cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa duy tâm đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là tính thứ nhất, sáng tạo ra thế giới vật chất ..

    Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể tách rời cơ thể và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo thành.

    Tiểu luận triết

    Khi khoa học tự nhiên phát triển, con người đã chứng minh được sự phụ thuộc của các hiện tượng tinh thần, ý thức vào bộ óc con người thì một bộ phận nhà duy vật theo chủ nghĩa duy vật máy móc cho rằng óc trực tiếp tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.

    Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao gồm cả tâm lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan. Định nghĩa này chưa chỉ rõ được vai trò của xã hội, của ý thức.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ. Theo triết học Mac-Lênin “ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của người thông qua lao động ngôn ngữ”

    Nói vấn đề này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến đi trong đó.

    • thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức.

    Tự ý thức là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy vật coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện hướng về bản thân mình, tự khẳng định “cái tôi” riêng biệt tách rời những quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng tự ý thức là ý thức hướng về bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt được mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức mình như là một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, đặc biệt trong giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con người phải nhận thức rõ bản thân mình, tự điều chỉnh mình tuân theo các tiêu chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con người có thể đặt ra và trả lời các câu hỏi:

    Tiểu luận triết

    Mình là ai? Mình phải làm gì? Mình được làm gì? Làm như thế nào? Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò là “gương soi” giúp con người tự ý thức được bản thân.

    Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trước nhưng gần như đã trở thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể. .

    Tình cảm là những xúc động của con người trước thế giới xung quanh đối với bản thân mình. Cảm gíac yêu ghét một cái gì đó, một người nào đó hay một sự vật, hiện tượng xung quanh.

    Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới. Nói đến tri thức là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con người nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên. Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí. Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực.

    Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức và luôn hướng tới tri thức.

    1.1.2- Nguồn gốc của ý thức.

    1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên

    Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát triển từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho

    Lớp: K40 – 1107                                                         5

    Tiểu luận triết

    tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động tâm lý của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con người. Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.

    Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.

    chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thương thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối loạn.

    Phản ánh cũng là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chát khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh.

    Trong thế giới vô cơ có hình thức phản ánh cơ học,vật lý, hóa học. Đây là phản ánh đơn giản, thụ động không lựa chọn. Tất cả những biến đổi cơ lý hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhau gây ra và phụ thuộc vào các vật phản ánh khác nhau, nhưng chúng đều là phản ánh của vật chất vô sinh.

    Giới hữu sinh có tổ chức cao hơn giới vô sinh. Song bản thân giới hữu sinh lại tồn tại những trình độ khác nhau tiến hóa từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể hiện ở

    Lớp: K40 – 1107                                                         6

    Tiểu luận triết

    trình độ khác nhau tương ứng. Tính kích thích là hình thức phản ánh đặc trưng cho thế giới thực vật và các động vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh. Tính cảm ứng hay là năng lực có cảm giác là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh. Nét đặc trưng cho phản ánh này là ngay trong quá trình hệ thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể và môi trường bên ngoài thông qua phản xạ bẩm sinh hay phản xạ riêng biệt. Do vậy, sinh vật phản ánh có tính lựa chọn đối với các tính chất riêng biệt của sự vật thành các cảm giác khác nhau rất đa dạng và phong phú.

    Phản ánh tâm lý là hình hức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung ương. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đưa lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật. Nhờ vậy mà nó có thể lường trước được tất cả những tình huống có thể xảy ra và chủ động điều chỉnh, lựa chọn đưa ra hành động thích hợp nhất. Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có khi xuất hiện con người và xã hội loài người. Sự phản ánh này không thể hiện ở cấp độ cảm tính như cảm gíac, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng buộc sự vật bộc lộ ra những đặc điểm của chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển xã hội.

    1.1.2.1- Nguồn gốc xã hội.

    • thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.

    Lớp: K40 – 1107                                                         7

    Tiểu luận triết

    Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người. Chính nhờ lao động mà con người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển.

    Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài người là vượn, người nguyên thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lượm, săn bắt và ăn thức ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vượn người đã sáng tạo ra các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến hóa thành con người. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa để sinh hoạt và nướng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán ccầu não phát triển làm tăng khả năng nhận biết, phản ứng trước các tình huống khách quan. Mặt khác, lao động là hoạt động có tính toán, có phương pháp mục đích do đó mang tính chủ động.

    Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động của con người vào thế giới khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho con người hiểu biết thêm về thế giới xung quanh, thấy sự vật hiện tượng xung quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay chưa có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên có thê mang thuộc tính, đặc điểm của sự vật trước đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới.

    Thêm vào đó lao động là qúa trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng triệu lần phương pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tư duy trừu tượng của con người.

    Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức. Con người thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà người ta nói “Một kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi”, bởi.vì trứơc khi xây một ngôi nhà người kiến trúc sư đã phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà còn con ong chỉ là xây tổ theo bản năng. Qua lao động bộ óc con người hình thành và hoàn thiện. Ăng ghen nói” Sau lao đọng và

    Lớp: K40 – 1107                                                         8

    Tiểu luận triết

    đồng thời với lao động là ngôn ngữ, nó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần chuyển biến thành bộ óc người.”

    Sau đây ta xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức. Ngôn ngữ được coi là ‘cái vỏ vật chất” của tư duy, khi mà con người có biểu hiện liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức lao động tất yếu dẫn đến nhu cầu ” cần nói với nhau một cái gì” đó chính là ngôn ngữ.Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành “hiện thực trực tiếp”, trở thành tín hiệu vật chất tác động vào giác quan của con người, gây ra cảm giác. Do vậy, qua ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ ngôn ngữ mà phản ánh ý thức mới

    có thể thực hiện như là sự phản ánh gián tiếp, khái quát và sáng tạo. Vì vậy ngôn ngữ trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa hay nói cách kháclà của quá trình hình thành, thực hiện ý thức. Nhờ khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa mà con người có thể đi sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tượng? đồng thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy và văn hóa con người và xã hội loài người.

    1.1.3- Bản chất của ý thức.

    1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo.

    • thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài, từ vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín phản ánh quy định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan.

    Lớp: K40 – 1107                                                         9

    Tiểu luận triết

    • thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân lao đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người.
    • thức không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ quan của ý thức.
    • thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có chọn lọc tồn tại dưới hình thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách quànva sự vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính.

    Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hiện thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo. Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức. Vì vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đã được di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong đó. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Biểu hiện của sự phản ánh và sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tư tưởng. Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dưới hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng mới, tự nhiên “mới” tự nhiên “thứ hai” của con người.

    1.1.3.2- Bản tính xã hội.

    • thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người. Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. Do đó mà khái niệm hoạt đọng xã hội ra đời. ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm

    Lớp: K40 – 1107                                                        10

    Tiểu luận triết

    của xã hội, ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã hội. Do đó ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định. Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân loại nói chung. Tự tách ra khỏi môi trường xã hội con người không thể có ý thức, tình cảm người thực sự. Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản thân và xã hội. Ta phải học làm người qua môi trường xã hội lành mạnh.

    Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức,

    • quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người.

    1.1.4 – Sự tác động trở lại vật chất của ý thức

    Vật chát quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con người. Nhưng nếu chỉ thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức mà không thấy được tính năng động tích cực của ý thức đối với vật chất thì sẽ mắc phải khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng :”ý thức của con người không phải là sự phản ánh giản đơn ,mà là sự phản ánh tích cực của thế giới vật chất “

    Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con người phát triển song song với quá trình đó và có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất.Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiện nào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiện thực.

    Lớp: K40 – 1107                                                        11

    Tiểu luận triết

    Khi con người có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tích cực.Con người sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ra những mực tiêu ,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất, thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn.

    Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất.Do những tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến chiến , đến những chiến lược phát triển kinh tế không hiệu quả…No kéo lùi sự phát triển của xã hôị. ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống ,những tâm tư tình cảm của con người không phụ thuộc vào vật chẩt .Dựa vào đặc tính này của vật chất con người có thể cố phấn đấu đi lên bắng lao động và học tập ,xây dựng đất nước và xã hội giàu mạnh hơn ,công bằng hơn.

    1.2.-Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội.

    1.2.1- Khái niệm về khoa học

    Khoa học có nhiều định nghiã khác nhau. Với tính cách là một lĩnh vực đặc thù của con người khoa học bao gồm hoạt động tinh thần, hoạt động vật chất, hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn xã hội. Với tính cách là một hình thái xã hội, khoa học là một hệ thống tri thức khái quát, được hình thành, phát triển và kiểm nghiệm trên cơ sở thực tiễn. Khoa học phản ánh một cách chân thực các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

    Từ đó thấy rằng: Khoa học khác tôn giáo ở chỗ phản ánh một cách chân thực hiện thực, sự hình thành, phát triển của thế giới khách quan và được kiểm nghiệm qua thực tiễn; còn tôn giáo phản ánh hiện thực một cách hư ảo với niềm tin mù quáng xa rời thực tiễn. Sự phản ánh của khoa học khác với các hình thái ý thức xã hội khác ở chỗ phản ánh đúng đắn, chân thực những gì đang diễn ra và đi sâu vào các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động phát triển của hiện thực. Hình thức biểu hiện chủ yếu của khoa học là các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Tiểu luận triết

    Đối tượng nghiên cứu của khoa học bao hàm cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người, các lĩnh vực vật chất, tinh thần và cả các hình thái ý thức xã hội.

    1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động

    thực tiễn. Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội.

    Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những nghành sản xuất mới, công nghệ mới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức không thể thiếu được của người lao động, biến người lao đọng thành người điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ngày một đông. Bản thân khoa học cũng trở thành một lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn.

    Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, các khoa học xã hội như kinh tế học, luật học, xã hội học… cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư duy sáng tạo, tầm nhìn sâu rộng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm được cơ sở khoa học thực tế thì mới hoạch định được chính sách, đường lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia.

    Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh tiến bộ.

    Lớp: K40 – 1107                                                        13

    Tiểu luận triết

    CHƯƠNG 2

    VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC ĐỐI VỚI THỰC TIỄN

    NƯỚC TA HIÊN NAY

    2.1. Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt

    Nam.

    Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học được xem là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nước. Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học đã giúp Đảng có một sự định hướng đúng đắn về đuường lối chính sách phát triển của đất nước; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: Công nghiệp, Nông nghiệp, du lịch dịch vụ, Khoa học công nghệ…Nói đến vai trò nền tảng và động lực của tri thức Khoa học trong công cuộc đổi mới là nối đến con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở Khoa học và công nghệ, coi khoa học-công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu. Quan điểm này cho tấy rõ sự quyết tâm và lựa chọn sáng suốt của đảng ta trong đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm và đổi mới phương thức phát triển phù hợp với những đòi hởi phải tiến hành công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững trong những thập niên đầu của thế kỷ 21.

    Nhìn lại thế kỷ 20 đã qua chúng ta thấy có những đổi thay to lớn do khoa học-công nghệ mang lại. Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm nước mới công nghiệp hoá( NIC ) sau chiến tranh thế giới tthứ 2 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng lan toả của các thành tựu khoa học – công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các nước NIC đã tận dụng được cơ hội tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, thay đổi phương thức sản xuất cũ vốn dựa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu để chuyển sang aps dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra các giá trị gia tăng cao thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế. Nhờ đi theo con đường

    công nghiệp hoá dự hẳn vào Khoa học-công nghệ mà một số nước đã rút ngán được thời gian cần thỉ\ết để làm tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người. Trước kia, nước Anh phải mất 58 năm, Mỹ mất 47 năm thì giờ đây Braxin chỉ mất 18 năm, Hàn Quốc 11 năm và Trung quốc chỉ trong vòng

    10 năm. Ta có thể so sánh Hàn Quốc và Gana vào những năm 60 và bây giờ. Điểm xuất phát hai nước đều có mức thu nhập bình quân đầu người như nhau, đều là các quốc gia chậm phát triển. Vậy mà ngày nay, thu nhập đầu người của Hàn Quốc đã gấp 6 lần của Gana. vì sao có sự cách biệt lớn lao như vậy? Đó là do Hàn Quốc đã thu nhận và sử dụng trí thức Khoa học sáng tạo và phù hợp với thực tiễn hơn.

    Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy: ở đâu có sự sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp về Khoa học-công nghệ thì

    • đó có sự tiến bộ vượt bậc. Thử hỏi nếu Việt Nam vẫn giữ nền kinh tế tập trung bao cấp chưa chuyển sang nền kinh ế hàng hoá nhiều thành phần thì hiện giờ đất nước chúng ta sẽ ra sao.

    Về Nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại. Chính sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn. Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển. ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân.

    Lớp: K40 – 1107                                                        15

    Tiểu luận triết

    Về công nghiệp qua trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới – Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi. Ví dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk từ tình trạng vô cùng khó khăn đã vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại.

    Trong các ngành, Bưu chính viễn thông, khia thác dầu khí và các ngành nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào Kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn đinh. Văn hoá-giáo dục được nâng cấp, đầu tư cơ sở một cách thoả đáng.

    Thự tế cho thấy sau 15 năm đổi mới dựa vào tiềm năng của đất nước và sự trợ giúp của Khoa học-Công nghệ chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.

    Về kinh tế tổng sản lượng trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay đã sản xuất đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định huqướng XHCN. Đời sống của nhân dân dần được cải thiện. Đất nước đã ra khỏi khủng hoanmgr kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị trường. kinh tế tăng trưởng tương đối cao: Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông -lâm-ngư ngiệp tăng bình quân 5,7%/ năm. trong đó: Nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp 0,4% và ngư nghiệp tăng 8,9%. Công nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13,5%. Dầu tư sản xuất ra sản phẩm có triều sâu, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. dịch vụ

    Lớp: K40 – 1107                                                        16

    Tiểu luận triết

    phát triển vứi giá trị trung bình là 6,8%/ năm. Lạm phát giảm đáng kể: Năm 1986 là 587,2% thì năm 1990 chỉ còn 52,8%.

    Về chính trị xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Nhờ kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho quá trình chuẩn bị các văn kiện hội nghị trung ương khoá VIII, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm sau và đonmgs góp cho việc chenr bị văn kiện Đại hội IX vừa qua. Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng và việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản dưới luật, các chính sách và hiệp định quốc tế, trong đó có hiệp định thương mại Việt-Mỹ, khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như: Vấn đề toàn cầu hoá, quốc tế hoá, công nghiệp hoá-hiện đại hoá… Các vấn đề tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do vậy văn hoá phát triển lành mạnh với phương châm ” Hoà nhập nhưng không hoà tan “. Bên cạnh việc tiếp thu văn hoá thế giới chúng ta không quên giữ gìn và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Giáo dục ngày càng được chú trọng. Các quốc gia phát triển đã rút ra một điểm quan trọng là: Giáo dục là con đường ngắn nhất để phát triển để tiến tới nền kinh tế trí thức hay còn gọi là nền kinh tế chất xám. ở Việt Nam từ năm 1997 đến nay, nhân lực Khoa học-Công nghệ cả nước đã tăng 1,5 lần. Cán bộ Khoa học-Công nghệ có trình độ đại học đạt xấp xỉ 1,3 triệu và hàng năm bổ xung thêm khoảng

    • nghìn người. Cán bộ có trình độ tiến sĩ đã tăng lên gần 13 nghìn vào năm 2000. Trình độ, năng lực cán bộ trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện, bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực. Bắt đầu từ năm 2000 chính phủ đã bố trí khoản ngân sách riêng để

    Lớp: K40 – 1107                                                        17

    Tiểu luận triết

    hàng năm chủ động gửi sinh viên cán bộ Khoa học-Công nghệ có năng lực đi đào tạo dài hạn tại các nước có nền Khoa học tiên tiến.

    Khoa học-Công nghệ đã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng…Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước do thực tiễn đặt ra được các lực lượng Khoa học-Công nghệ nghiên cứu và giải quyết như: Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai, các phương pháp sản xuất Vacxin phòng bệnh…

    Rõ ràng, quan niệm về vai trò nền tảng và động lức phát triển của Khoa học – Công nghệ đối với sự phát triển vừa có cơ sở thực tiễn trong nước vừa hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khi lợi thế tương đối của các yếu tố lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang các yếu tố tri thức Khoa học – Công nghệ.

    2.2. Những yếu kém và hạn chế của Khoa học-Công nghệ ở nước ta hiện nay.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được hoạt động Khoa học-Công nghệ ở nước ta cũng còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và chưa thực sự đóng vai trò động lực- nền tảng cho phát triển. Sau đây là một số biểu hiện:

    • Tiềm lực Khoa học-Công nghệ vẫn còn ở mức thấp so với thế giới và khu vực chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu câù phát triển. Tỉ lệ cán bộ Khoa học – Công nghệ trên tổng số dân chưa cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, còn thiếu rất nhiều chuyên gia đầu ngành, việc đào tạo và đào tạo lại tiến hành chậm, nguy cơ hụt hẫng trong đội ngũ rất lớn, nhất là trong những ngành mũi nhọn như công nghệ tin học, sinh học, cơ khí, chế tạo máy. Việc xếp loại các cơ quan Khoa học-Công nghệ còn lúng túng, việc sử dụng đội ngũ trí thức còn lãng phí cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học còn thấp xa so với nhu cầu thực tiễn.

    Lớp: K40 – 1107                                                        18

    Tiểu luận triết

    • Cơ chế quản lí kinh tế chưa thực sự gắn kết các hoạt động Khoa học-Công nghệ với kinh tế xã hội, tạo động lực thực sự và nguồn lực dồi dào cho hoạt động Khoa học-Công nghệ phát triển.
    • Cơ chế quản lí Khoa học-Công nghệ chậm và chưa được đổi mới một cách căn bản mặc dù tư tưởng đổi mới cơ chế quản lí đã xuất hiện từ rất sớm. Chưa có sự liên thông giữa cơ chế quản lí kinh tế và cơ chế quản lí Khoa học – Công nghệ. Chưa đảm bảo được quyền lợi vật chất và tôn vinh xứng đáng đối với các nhà khoa học có cống hiến lớn. Cơ chế hình thành, quản lí, đánh giá các đề tài Khoa học-Công nghệ vẫn còn nhiều khó khăn để có thể chuyển đổi theo tinh thần đổi mới của luật Khoa học-Công nghệ.
    • Thị trường Khoa học-Công nghệ còn manh nha chưa phát triển. Mặc dù giá trị các hợp đồng kí kết giữa các cơ quan Khoa học-Công nghệ với các tổ chức kinh tế xã hội, giữa trong nước và nước ngoài đang tăng lên nhưng vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng.

    2.3. Những giải pháp cần thiết và cấp bách cho nền kinh tế Viêt Nam hiên nay.

    Việt Nam là nước đi sau có nhiều khả năng tiếp nhận những thành tựu Khoa học-Công nghệ của thế giới. Do đó có thể rút ngắn được quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước ở các nước công nghiệp phát triển, kinh tế tri thức đang có những bước phát triển mạnh. Việt Nam không chỉ phải tích cực chuẩn bị cho bước phát triển này, mà cần phải tiếp nhận kinh tế tri thức ở những ngành, lĩnh vực mà ta có khả năng, ưu thế. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực vừa đặt ra những thách thức song cũng cho ta nhiều cơ hội để nâng cao trình độ Khoa học – Công nghệ và xây dựng tiềm lực khoa học. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã vạch ra chiến lược:

    Phát triển đồng bộ các ngành khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để Khoa học-Công nghệ thực sự là động lực phát triển, vừa đảm bảo thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá vừa tạo

    Lớp: K40 – 1107                                                        19

    Tiểu luận triết

    ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Đồng thời xây dựng tiềm lực Khoa học-Công nghệ, xây dựng cơ sở để từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. cụ thể là một số giải pháp sau.

    • Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nghị quyết đại hội IX của Đảng, nâng cao nhận thức toàn dân và các cấp, các ngành về vai trò nền tảng và động lực của Khoa học-Công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
    • Hai là, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản lí kinh tế nhằm tạo lập môi trường kinh tế-xã hội theo hướng tạo điều kiện, vừa khuyến khích, vừa ràng buộc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao tính cạnh tranh thị trường trong nước và nước ngoài.
    • Ba là, đưa luật Khoa học-Công nghệ vào cuộc sống rộng rãi hơn. Tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động Khoa học-Công nghệ những năm qua và kịp thời thể chế hoá những mô hình tốt, cách làm hay đã được thực tiễn thử thách và chứng minh. Đồng thời tích cực đổi mới về cơ bản cơ chế quản lí Khoa học-Công nghệ ttheo tinh thần luật Khoa học-Công nghệ để nhanh chongs nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khoa học-Công nghệ.
    • Bốn là, tháo gỡ các khó khăn, các ách tắc để mở rộng và phát triển khai thông thị trường Khoa học-Công nghệ. đây là nhiệm vụ hết sức cấp bách, cơ bản và lâu dài, để phát huy hết vai trò động lực của Khoa học-Công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
    • Năm là, chú trọng và ưu tiên cho nghiên cứu và thực thi các chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài tri thức khoa học bên cạnh các biện pháp chăm lo đào tạo nhân lực Khoa học-Công nghệ.
    • Sáu là, Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng Khoa học-Công nghệ để nhanh chóng hội nhập với thế giới và khu vực, đặc biệt là cơ sở hạ tầng

    Lớp: K40 – 1107                                                        20

    Tiểu luận triết

    về thông tin Khoa học – Công nghệ, trang thiết bị nghiên cứu cho các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.

    Đó là những giải pháp cho nền kinh tế nước ta hiện nay.

    Lớp: K40 – 1107                                                        21

    Tiểu luận triết

    KẾT LUẬN

    Vật chất và ý thức ta thấy rằng chúng cũng có tính độc lâp và tác động qua lại với nhau.Nếu ta áp dụng những tri thức khoa học để cải biến thế giới nó sẽ cho ta những kết quả như ý muốn, những tri thức sai lầm luôn đưa ta đến thất bại.Vai trò của tri thức khoa học ngày càng quan trọng. Đứng trước thế kỉ 21 – thế kỉ có nhiều biến đổi sâu sắc và phổ biến trên tất cả các lĩnh vực của đồi sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là thử thách đồng thời là thời cơ nghiệt ngã cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Cả thế giới đang dần tiến tới xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Nhờ áp dụng các kỹ thuật Khoa học-Công nghệ của thế giới mà chúng ta có thể đi thẳng tới nền kinh tế tri thức mà không qua kinh tế công nghiệp. Đó là sự lựa chọn hợp lí và đúng đắn. Vấn đề là phải hiểu biết và vận dụng nó để đưa tri thức khoa học vào tất cả các lĩnh vực hoạt động chứ không phải xây dựng nền kinh tế tri thức riêng biệt cho một khu vực nào đó. Kinh tế tri thức theo cách hiểu nào đó là của mọi người, nó phải được thẩm thấu vào trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội. Đất nước Việt Nam đã đi qua chiến tranh thắng lợi rất vẻ vang, vậy tại sao chúng ta không thể chiến thắng trong việc xây dựng và phát triển đất nước? Nhất định chúng ta sẽ làm được và làm tốt bởi mang trong mình sức mạnh đoàn kết dân tộc và bản tính thông minh lao động sáng tạo của con người Việt Nam. Những thắng lợi bước đầu của công cuộc đổi mới đã cho thấy rõ điều đó. Và bây giờ nhiệm vụ của chúng ta là:

    Tìm hiểu những tri thức mới, cập nhật và làm chủ những tiến bộ khoa học của loài người.

    Lớp: K40 – 1107                                                        22

    Tiểu luận triết

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình triết học Mac-Lênin (Tập 2 ) Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    2. Lí luận chính trị

    Số 11( 2001)

    Tạp chí nghiên cứu của học viện chính trị quốc gia HCM 3. Sinh hoạt lí luận

    Số 4( 47- 2001)

    Học viện chính trị quốc gia HCM- phân viện Đà Nẵng. 4. Tạp chí cộng sản

    Số 3( 2- 1999 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 10( 5-2001 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 13( 7-2001 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 19( 10-2001 )

    Lớp: K40 – 1107                                                        23

    Tiểu luận triết


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-CHI%E1%BA%BEN-TRANH-NH%C3%82N-D%C3%82N-B%E1%BA%A2O-V%E1%BB%86-T%E1%BB%94-QU%E1%BB%90C-VI%E1%BB%86T-NAM-X%C3%83-H%E1%BB%98I-CH%E1%BB%A6-NGH%C4%A8A-TRONG-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-M%E1%BB%9AI..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    Chuyên đề 1

    CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM

    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI.

    + Mục đích: Nhằm nâng cao trình độ nhận thức của cán bộ đảng viên ở cơ sở về âm mưu gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch và tính chất, đặc điểm của cuộc chiến tranh toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; những quan điểm, tư tưởng cơ bản trong đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự của Đảng, trong lãnh đạo nhân dân thực hiện chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, giành thắng lợi, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

    + Yêu cầu: Mỗi cán bộ, đảng viên ở cơ sở cần nắm rõ tính chất, đặc điểm, nội dung; phương châm chỉ đạo, tư tưởng chiến lược, biện pháp tổ chức cuộc chiến tranh toàn dân bảo vệ Tổ quốc đồng thời thấy rõ được âm mưu thủ đoạn xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch để lật đổ Việt Nam.

    + Nội dung: toàn bài có 3 phần chính:

    -Phần I. Những vấn đề chung về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    -Phần II. Nội dung cơ bản của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    -Phần III. Một số biện pháp chính.

    +Thời gian:           toàn bài 5 tiết.

    + Thời gian giải lao 01 lần mỗi lần 15 phút.

    + Tài liệu và phương pháp tổ chức:

    – Giáo trình giáo dục Quốc Phòng bồi dưỡng kiế thức quốc phòng-An ninh cho đảng viên và cán bộ chủ chốt thôn, làng ( đối tượng 4-5 ) do nhà nước xuất bản Quân đội nhân dân Việt Nam, xuất bản năm 2006.

    – Liên hệ ở cơ sở địa phương; tốc độ chậm.

    – Đối với người học, nghe, ghi tóm lược những ý chính để có cơ sở viết thu hoạch.

     

    MỞ ĐẦU

    Vũ trang toàn dân tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một trong những quan điểm, tư tưởng cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng, là nghệ thuật, đồng thời là quy luật ( vì chống ngoại xâm là chính nghĩa …) giành thắng lợi của dân tộc ta trong bảo vệ thành quả cách mạng, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

    Học tập chuyên đề này, người học cần nắm vững những vấn đề cơ bản nhất, gồm: tính chất, đặc điểm, nội dung của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, phương châm chỉ đạo, phương thức tiến hành chiến tranh, một số giải pháp chuẩn bị đất nước sẵn sàng tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

    1. Khái niệm:

    Chiến tranh nhân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh do toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    – Mục tiêu là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu đó đã được Đảng ta xác định:

    -“Một là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

    -Hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước XHCN.

    -Ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    -Bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

    -Năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa.

    -Sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    – Lực lượng tiến hành chiến tranh là lực lượng toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, bao gồm lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.

    – Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện ngày này là sự kế thừa tinh hoa quân sự của lịch sử nhân loại, kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc, phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân lên một trình độ mới, với chất lượng cao hơn. Đó là nghệ thuật phát động toàn dân chung sức đánh giặc, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, đánh bằng mọi loại vũ khí kết hợp với đánh bằng các loại vũ khí, phương tiện hiện đại, đáp ứng với yêu cầu của chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao.

    – Phương pháp tiến hành chiến tranh là kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp tác chiến bằng chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực.

    2. Tính chất, đặc điểm:

    1. a) Tính chất của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Đây là cuộc chiến tranh mang tính chất tự vệ, hoàn toàn chính nghĩa, tính chất cách mạng triệt để, tính chất nhân dân thực sự và tính Quốc tế sâu sắc. Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là chính nghĩa. Vì đây là một cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại chiến trang xâm lược, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Đây là nguồn sức mạnh vô tận có ý nghĩa quyết định việc xây dựng tiền lực chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội trong chiến tranh, là cơ sở để huy động lực lượng tạo thành thức mạnh tổng hợp của cả nước đánh giặc; đồng thời giành được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất cách mạng triệt để. Vì đây là một cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lược của các lực lượng phản động, hiếu chiến để bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập dân tộc và công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ( giống như đối tượng kẻ xấu đến nhà mình quậy phá gia đình, lớn hơn nữa là anh, em, họ hàng tập trung đánh đuổi ra khỏi nhà để bảo vệ gia đình…là cuộc chiến không mong muốn, là sự tự vệ phản kháng khi kẻ thù đến nhà mình đánh mình)

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc. Mục đích của chiến tranh là vì lợi ích của nhân dân lao động và chính quần chúng nhân dân tham gia một cách tự giác, tích cực vào sự nghiệp củng cố quốc phòng và tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đây là một trong những nguyên nhân quyết định thắng lợi của chiến tranh.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất quốc tế sâu sắc. Mục tiêu cuộc chiến tranh này thể hiện sự thống nhất lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự đóng góp tích cực của cách mạng nước ta đối với cách mạng thế giới trong điều hiện hiện nay, là cơ sở để xây dựng khối liên minh, đoàn kết quốc tế, là điều kiện để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới. Đây cũng là cơ sở để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    1. b) Đặc điểm của chiến tranh trong nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh mang đặc điểm toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và quyết liệt, phức tạp.

    Là cuộc chiến tranh toàn dân: Cuộc chiến tranh này phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, phải động viên, phát huy cao độ sức mạnh vật chất và tinh thần của toàn dân trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt mới có thể giành được thắng lợi trước cuộc tiến công của kẻ thù hung bạo.

    – Là cuộc chiến tranh toàn diện: Mục đích chiến tranh xâm lược của địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, buộc ta phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng đánh ta bằng mọi thủ đoạn, trên mọi lĩnh vực. Bởi vậy, chúng ta phải tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao … Thông qua các mặt đấu tranh đó mà toàn dân tham gia trực tiếp, gián tiếp vào cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Các mặt đấu tranh này đều diễn ra hết sức phức tạp, quyết liệt, đan xen nhau ngay từ đầu cũng như suốt quá trình chiến tranh, trong đó đấu tranh quân sự với địch trên chiến trường giữ vai trò chủ yếu, mang ý nghĩa quyết định.

    Là cuộc chiến tranh được tiến hành với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường: Trong điều kiện mới của đất nước, chúng ta tiến hành cuộc chiến tranh có nhiều thuận lợi do công cuộc đổi mới đem lại. Nhưng chúng ta đang phải đối phó với kẻ thù xâm lược, có tiềm lực về kinh tế, quân sự, có vũ khí công nghệ cao, trong lúc nguồn viện trợ của các nước đối với ta như trong chiến tranh giải phóng trước đây không còn nữa. Bởi vậy, chúng ta phải dựa vào sức mình là chính, phải phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực tự cường của toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của các cấp, các ngành, các địa phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng địch.

    Là cuộc chiến tranh quyết liệt và phức tạp: Nếu chiến tranh xảy ra thì ta vẫn là một nước nhỏ phải lấy vũ khí, trang bị kém hiện đại chống lại kẻ thù có vũ khí có công nghệ cao, vẫn phải lấy sức mạnh tổng hợp để đánh thẳng kẻ thù có sức mạnh về kinh tế, vũ khí, trang bị hiện đại. Điều cơ bản là phải phát huy truyền thống nghệ thuật quân sự của dân tộc ta: lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao, sức sức mạnh tổng hợp của toàn dân để đánh lại kẻ thù có quân số đông, vũ khí, trang bị hiện đại, có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự.

    Trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc hiện nay, chiến sự diễn ra rất quyết liệt, phức tạp, khẩn trương ngay từ đầu; hình thái chiến tranh xen kẽ, không phân tuyến, không có sự phân biệt rõ ràng giữa hậu phương và tiền tuyến. Chúng ta vừa phải chống cuộc tiến công đường không, vừa chống cuộc tiến công đường bộ với sức mạnh của vũ khí công nghệ cao từ ngoài vào, đồng thời vừa phải đối phó với lực lượng phản động gây bạo loạn từ bên trong. Quy mô chiến tranh lớn diễn ra từ đầu thương vong về người, tiêu hao về vật chất kỹ thuật sẽ rất lớn, nhu cầu bảo đảm cho chiến tranh đòi hỏi rất cao và khẩn trương. Đặc điểm này của cuộc chiến tranh sẽ tác động rất mạnh đến tinh thần, tâm lý của quân và dân ta, đòi hỏi công tác chuẩn bị chính trị, tinh thần cho quân và dân ta phải rất chu đáo cùng các mặt chuẩn bị khác để giành và giữ quyền chủ động đánh địch ngay từ đầu cũng như trong suốt quá trình chiến tranh nhằm giành được thắng lợi cuối cùng.

    II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

    1. Đối tượng tác chiến của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    1. a) Đối tượng tác chiến:

    Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã dự báo tình hình quốc tế, khu vực và trong nước là: “Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới. Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có bước tiến mới”. Trong tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững đối tượng chiến lược của cách mạng và đối tượng tác chiến để khắc phục tư tưởng mơ hồ mất cảnh giác “để có phương án chủ động phòng ngừa, tránh bị động phòng ngừa, tránh bị động đối đầu, cô lập. Kiên quyết không để xảy ra những diễn biến xấu. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không để lâm vào bị động, đảm bảo đủ sức đối phó thắng lợi.

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX của Đảng ta đã xác định: Đối tượng trực tiếp của cách mạng nước ta là tất cả những thế lực cản trở, xâm hại đến sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đối tượng tác chiến của quân và dân ta là những lực lượng gây bạo loạn lật đổ, gây xung đột vũ trang và gây chiến tranh xâm lược.

    1. b) Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch:

    Xuất phát từ bản chất phản động, hiếu chiến, chủ nghĩa đế quốc đang lợi dụng “vấn đề khủng bố” và “chống khủng bố” để thi hành học thuyết “đánh đòn phủ đầu”, nhằm áp đặt các giá trị của chúng đối với các quốc gia, dân tộc. Âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta là mục tiêu nhất quán của của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ và khi điều kiện cho phép, chúng sẽ sẵn sàng tiến hành phát động chiến tranh với việc sử dụng vũ khí công nghệ cao để xâm lược nước ta. Hiện nay, chúng đang triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, để tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Cho nên, chúng ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phải tỉnh táo, thận trọng trong xử lý các “điểm nóng” không thể để địch tạo nguyên cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta hoặc tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta.

    Nếu địch tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, chúng sẽ triệt để sử dụng ưu thế vũ khí công nghệ hiện đại để đánh phủ đầu, liên tục ngày đêm trong phạm vi cả nước với phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh, nhằm triệt phá tiềm lực kinh tế – quân sự, quốc phòng làm mất khả năng đề kháng của quân và dân ta, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh đánh chiếm những mục tiêu quan trọng.

    Tuy nhiên, cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù cũng bộc lộ những mặt yếu cơ bản không thể khắc phục được: Cuộc chiến tranh đó là phi nghĩa, phản cách mạng sẽ bị nhân dân trong nước và trên thể giới phản đối mạnh mẽ, phát sinh nhiều mâu thuẫn nội bộ, khó thực hiện được chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh, dễ bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp. Chúng buộc phải phân tán, đối phó khắp nơi, vấp phải mâu thuẫn khó giải quyết của chiến tranh xâm lược, dẫn đến bị động, lúng túng, tinh thần hoang mang dao động, giảm sút ý chí.

    Địa hình, thời tiết nước ta hiểm trở, phức tạp nên vũ khí hiện đại của địch không thể triển khai và phát huy hiệu quả. Mỗi loại vũ khí trang bị đều có nhược điểm của nó và nhất định quân và dân ta cũng sẽ tìm được cách đối phó thắng lợi trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp. Chi phí chiến tranh công nghệ cao rất lớn, bảo đảm vật chất kỹ thuật tốn kém và gặp nhiều khó khăn, nhất là khi chiến tranh kéo dài. Do đó, chúng ta nhất định bị thất bại.

    2. Phương châm chỉ đạo chiến tranh của nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện; đánh địch trên các chiến trường, tập trung sức đánh bại địch trên các hướng (khu vực) trọng điểm; thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian chiến tranh; vừa chiến đấu vừa xây dựng, dựa vào sức mình là chính, ra sức tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi trong hoàn cảnh mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại ý chí xâm lược của địch, giành thắng lợi trong chiến tranh.

    1. a) Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện.

    Đây là nội dung chủ yếu của phương châm chỉ đạo, là nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp, đồng thời cũng là quy luật giành thắng lợi trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

    * Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công:

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất cách mạng, triệt để. Do vậy, tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt là tiến công; tiến công kiên quyết, liên tục. Đây là tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động trong quá trình chuẩn bị cũng như tiến hành chiến tranh.

    Ngày nay, trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc chúng ta càng có đầy đủ các điều kiện để tiến công và tiến công có hiệu quả, đánh bại kẻ thù xâm lược.

    * Tiến hành chiến tranh toàn dân:

    – Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất hoàn toàn chính nghĩa và tính chất nhân dân thực sự. Vì vậy, phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, phải huy động được sức mạnh tinh thần và vật chất của mọi tầng lớp nhân dân, phải huy động mọi lực lượng tham gia chiến đấu tạo nên thế trận “thiên la địa võng” đẩy địch vào thế bị động, bị tiêu hao lớn về sinh lực, vật lực và cuối cùng nhất định địch phải chịu thất bại.

    – Thực hiện toàn dân đánh giặc phải lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ.

    – Phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các đơn vị chủ lực để thực hiện việc tiêu hao địch rộng rãi và thực hiện hững đòn tiêu diệt tập trung với quy mô vừa và lớn.

    * Tiến hành chiến tranh toàn diện:

    Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa và tư tưởng, trong đó lấy đấu tranh vũ trang là chủ yếu, lấy thắng lợi trên chiến trường là quyết định.

    – Về đấu tranh vũ trang:

    Đây là một hình thức đấu tranh cơ bản, giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân sự của địch. Đấu tranh vũ trang được tiến hành bởi lực lượng của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt.

    – Về đấu tranh chính trị:

    Đây là một hình thức đấu tranh cơ bản, thông qua đó mà nêu cao được chính nghĩa của ta, vạch trần bản chất xâm lược, phi nghĩa và tội ác dã man của địch. Tiến hành đấu tranh chính trị sẽ góp phần đập tan mọi luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, lừa gạt và chia rẽ của địch, làm cho bọn hiếu chiến, xâm lược ngày càng bị cô lập và suy yếu về chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt trận đấu tranh khác. Nội dung đấu tranh về chính trị rất phong phú. Trong đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn thể nhân dân hiểu rõ bản chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược do địch tiến hành, vạch trần bộ mặt “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” giả hiệu và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của chúng. Đồng thời, khẳng định tính đúng đắn của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khơi dậy trong nhân dân truyền thống quật cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, ý chí độc lập, tự chủ, tự giác, tự cường, lòng căm thù giặc sâu sắc, làm cho mọi người đồng lòng chống giặc.

    – Về đấu tranh tư tưởng, văn hoá:

    Đây là cuộc đấu tranh nhằm “nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, góp phần làm thất bại một bước “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng; kiên định mục tiêu, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Nội dung đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa bao gồm nhiều vấn đề, trong đó cần phải chủ động tiến công làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch ngay tại địa phương, cơ sở. Phải đấu tranh chống địch xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phải nắm chắc mọi diễn biến, kịp thời xử trí những tình huống phức tạp, đề phòng nguy cơ “tự diễn biến” từ trong nội bộ. Đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng; đấu tranh loại trừ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và đầy lùi các tệ nạn xã hội tại cường cơ sở địa phương, giữ gìn và phát huy những tinh hoa trong bản sắc văn hóa dân tộc.

    – Về đấu tranh kinh tế:

    Phải làm thất bại âm mưu và hành động phá hoại về kinh tế của địch, bảo vệ bằng được tiềm lực kinh tế của ta, bảo vệ các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất trước mọi thủ đoạn đánh phá của địch, bảo vệ sản xuất và ổn định đời sống cho nhân dân, bảo vệ định hướng xã hội chủ nghĩa trong pháttriển kinh tế. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, phát triển sản xuất ở các địa phương, góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế cho đất nước; đồng thời phải sử dụng tốt mọi nguồn viện trợ của các nước, các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

    – Về đấu tranh ngoại giao:

    Đây là mặt trận đấu tranh có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm phát huy thế mạnh của ta trên trường quốc tế. Phải vạch trần bản chất xâm lược phi nghĩa của địch, tính chất chính nghĩa của ta, triệt để lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngủ địch làm cho chúng ngày càng bị cô lập, lúng túng và bị động trên chiến trường, trong nước và trên thế giới.

    Phải thực hiện chính sách nhất quán thêm bạn bớt thù và nguyên tắc lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.

    1. b) Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt trên cả nước và từng khu vực, thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian chiến tranh:

    * Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt trên cả nước và từng khu vực.

    Đây là nhiệm vụ vừa là giải pháp trọng yếu, cấp bách và thường xuyên. Nó bao gồm mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành chuẩn bị nhằm tăng nhanh các tiềm lực của từng địa phương, của đất nước, bảo đảm đủ khả năng chủ động, tự lực đánh địch giành thắng lợi trong bất cứ tình huống nào, bảo vệ vững chắc địa phương, góp phần bảo vệ vững chắc đất nước. Nội dung chuẩn bị phải toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh, không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới.

    * Thu hẹp không gian chiến tranh:

    Chiến tranh xâm lược của địch nếu xảy ra có thể sẽ diễn ra cả trên bộ, trên biển, trên không, trên biên giới, trong đất liền, hải đảo. Chúng ta phải tạo được thế, tạo được lực, tạo thời cơ để thu hẹp không gian chiến tranh, không cho địch mở rộng chiến tranh ra phạm vi cả nước.

    Đối với từng địa phương cơ sở phải tự lực đánh địch, bảo vệ địa phương mình, thực hiện tỉnh giữ tỉnh, huyện giữ huyện, xã giữ xã; phải bám trụ kiên cường để chủ động đánh địch, kìm giữ địch, buộc địch phải đối phó mọi nơi, tạo điều kiện cho quân chủ lực đánh đòn quyết định.

    * Rút ngắn thời gian chiến tranh :

    Trong chiến tranh tương lai, địch vẫn dựa vào vũ khí trang bị hiện đại, tiềm lực kinh tế, quân sự hơn chúng ta để thực hiện chiến lược “đánh  nhanh, giải quyết nhanh” nhằm đạt mục đích chiến tranh xâm lược. Đối với ta, để đánh bại ý đồ đó, một mặt ta buộc chúng phải sa lầy kéo dài chiến tranh, mặt khác ta phải tập trung mọi nỗ lực tạo ra thời cơ có lợi, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi trong thời gian ngắn để hạn chế bớt tổn thất.

    Từng địa phương phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ thời bình. Khi chiến tranh xảy ra cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, của toàn dân, vận dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp đấu tranh với sự nỗ lực cao nhất, tạo ra điều kiện, thời cơ có lợi cho bộ đội chủ lực và cùng với bộ đội chủ lực khi thời cơ xuất hiện thì kịp thời nắm lấy thời cơ, tiến công kiên quyết và mạnh mẽ, đánh bại ý chí xâm lược của địch trong thời gian ngắn hoặc tương đối ngắn.

    1. c) Kết hợp tác chiến với xây dựng, vừa tác chiến vừa ra sức sản xuất thực hành tiết kiệm, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng của ta để càng đánh càng mạnh.

    Đây là quan điểm cơ bản của Đảng ta chỉ đạo xuyên suốt quá trình đấu tranh cách mạng, thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay trong quá trình chiến tranh.

    Muốn duy trì được sức mạnh đánh thắng kẻ thù xâm lược, phải kiên cường trụ bám, củng cố và giữ vững hậu phương chiến lược và hậu phương trên từng hướng chiến trường, trên từng địa phương. Từng địa phương cũng như cả nước phải phát huy cao nhất nội lực vừa chiến đấu, vừa xây dựng, vừa tích cực đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, tích cực lấy vũ khí của địch để đánh địch. Vừa đánh địch vừa bồi dưỡng lực lượng của ta, thực hiện càng đánh càng mạnh.

    3. Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tương lai vẫn thực hiện theo phương thức kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực.

    1. a) Tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương:

    Chiến tranh nhân dân địa phương được thực hiện ở từng địa phương, bao gồm các hoạt động tác chiến của nhân dân, của các lực lượng vũ trang địa phương, có thể cả các đơn vị bộ đội chủ lực đang làm nhiệm vụ tác chiến ở địa phương.

    – Vị trí, tác dụng:

    Chiến tranh nhân dân địa phương có vị trí chiến lược quan trọng, có tác dụng đánh địch nhanh nhất, kịp thời nhất ở mọi nơi, mọi lúc. Mọi người đều tham gia đánh địch ngay tại địa phương mình, bằng mọi thứ vũ khí, với một hình thức, thủ đoạn tác chiến.

    Chiến tranh nhân dân địa phương có tác dụng kìm giữ địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó khắp nơi, tạo thế trận chiến tranh xen kẽ, đánh địch ở phía trước, ở bên sườn, sau lưng địch, làm rối loạn đội hình, phá thế bố trí hoàn chỉnh của địch.

    Chiến tranh nhân dân địa phương phát triển có tác dụng to lớn trong việc tổ chức động viên toàn dân đánh giặc trên từng địa phương cũng như trong cả nước; cho phép phát huy sức mạnh tại chỗ đánh địch kịp thời giành và giữ quyền chủ động trong mọi tình huống, đồng thời bảo vệ và duy trì, phát triển được tiềm lực mọi mặt trong quá trình chiến tranh.

    Chiến tranh nhân dân địa phương giữ vai trò chủ yếu quyết định trong việc đập tan bạo loạn lật đổ xảy ra tại địa phương; cùng với lực lượng an ninh, duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cơ quan Đảngm chính quyền các cấp ở địa phương. Đồng thời cùng với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực hình thành ệh thống phòng không rộng khắp, nhiều tầng trong khu vực phòng thủ, sẵn sàng đánh trẻ tiến công bằng hỏa lực của địch ngay từ đầu.

    – Lực lượng tiến hành:

    Là lực lượng toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt. Các lực lượng này được tổ chức, bố trí trên từng khu vực địa bàn chiến đấu, phòng thủ để thực hiện các nhiệm vụ được giao; khi cần thiết có thể điều động sang địa phương, khu vực khác tham gia tác chiến.

    Các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng làng, xã vững mạnh toàn diện, xây dựng địa bàn an toàn làm chủ. Trên cơ sở đó, khi chiến tranh xảy ra, kịp thời triển khai xây dựng thành làng, xã chiến đấu theo phương án tác chiến phòng thủ. Đồng thời phải chuẩn bị các kế hoạch, trong đó chú ý đến kế hoạch phòng thủ dân sự, kế hoạch phòng tránh, đánh địch tiến công bằng hỏa lực, hạn chế tổ thất về người, trang bị vật chất kỹ thuật, kịp thời chuyển địa phương sang thời chiến, chủ động đánh địch.

    1. b) Tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực:

    Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực bao gồm các hoạt động tác chiến tập trung của các binh đoàn chủ lực cơ động của Bộ, của các quân khu, quân chủng, binh chủng tiến hành các trận đánh vừa và lớn, các chiến dịch trên các chiến trường cả nước hay trên từng hướng chiến lược quan trọng, nhằm tiêu diệt vừa và lớn lực lượng quân chủ lực địch, tạo bước ngoặt quyết định hoặc cục diện chiến trường có lợi trên từng chiến trường, trong từng giai đoạn chiến tranh hay cả cuộc chiến tranh.

    – Vị trí tác dụng:

    – Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực giữ vai trò quyết định trực tiếp tiêu diệt lực lượng vừa và lớn quân địch, tạo nên sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho ta, làm thất bại mọi âm mưu, kế hoạch chiến lược của chúng, bảo vệ vững chắc các mục tiêu chiến lược của quốc gia.

    Lực lượng tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực được bố trí trên các địa bàn chiến lược, trên chiến trường cả nước hoặc trên một số hướng quan trọng, cùng với các khu vực phòng thủ hình thành thế trận vững chắc trên từng địa phương; khi cần cũng có thể bố trí và làm nhiệm vụ tác chiến trên từng địa phương.

    Khi bộ đội chủ lực hoạt động tác chiến trên địa phương, địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực và phối hợp hoạt động tác chiến với bộ đội chủ lực.

    1. c) Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các bình đoàn chủ lực.

    Trong việc kết hợp hai phương thức tiến hành chiến tranh tạo ra sức mạnh tổng hợp, thì chiến tranh nhân dân địa phương luôn luôn là cơ sở của chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Chiến tranh nhân dân địa phương lớn mạnh có khả năng đánh địch rộng khắp, kìm giữ, tiêu hao địch rộng rãi, buộc địch phải phân tán đối phó khắp nơi, thì khi đó các đơn vị bộ đội chủ lực mới có điều kiện thuận lợi tập trung lực lượng đánh tiêu diệt lớn lớn địch, phát huy sức mạnh của mình và không ngừng phát triển. Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân địa phương giữ vững và phát triển.

    Nội dung sự kết hợp đó là kết hợp giữa các lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, các quy mô, các cách đánh, các loại vũ khí trang bị; kết hợp giữa đánh tập trung của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với đánh phân tán, rộng khắp của dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và lực lượng của toàn dân đánh giặc; là sự kết hợp giữa đánh tiêu hao với đánh tiêu diệt trên mọi chiến trường, mọi không gian và thời gian chiến tranh.

    Hai phương thức này kết hợo chặt chẽ với nau sẽ tạo ra địa bàn, thế trận, thời cơ, bổ sung lực lượng cho nhau, hỗ trợ cho nhau, phát huy được mặt hạnh, khắc phục được mặt yếu của nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong mọi lúc mọi nơi.

    4. Sự lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vì cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ta là nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn lịch sử đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trước đây.

    Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc đề ra đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, đủ khả năng để quy tụ sức mạnh của quốc gia, dân tộc và quốc tế tạo thành sức mạnh tổng hợp và cụ thể hóa đường lối đó thành ý chí, quyết tâm và hành động cách mạng của toàn dân, toàn quân. Nó còn thể hiện ở vai trò tiền phong, gương mẫu của lớp lớp Đảng viên luôn nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, kiên định vững vàng, không ngại gian khổ, ác liệt hy sinh, bồi dưỡng và tổ chức nhân dân phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần và vật chất to lớn để đánh thắng địch. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang trong chiến tranh là nhân tố bảo đãm cho lực lượng vũ trang thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước, làm nòng cốt  cho toàn dân đánh giặc, giành thắng lợi trong chiến tranh. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiện nay cần phải tập trung xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Phải tổ chức động viên được toàn dân, phát huy được sức mạnh toàn dân, của cả hệ thống chính trị ở địa phương, chuẩn bị đầy đủ mọi mặt và sẵn sàng đối phó có hiệu quả với mọi tình huống chiến tranh, giành thắng lợi. Phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo lựclượng vũ trang, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang.

    III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHÍNH:

    1. Xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt.

    Xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt là cách tốt nhất để bảo vệ đất nước, giữ vững hòa bình, ổn định lâu dài. Do đó:

    – Phải thực hiện thắng lợi các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, không ngừng chăm lo đến đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; thực hiện tốt chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Đây là nền tảng vững chắc để động viên sức mạnh của toàn dân đánh giặc. Đồng thời, phải chủ động đề phòng và kiên quyết đẩy lùi các nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, làm cho dân tin Đảng, tin chính quyền, tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng được “thế trện lòng dân”.

    – Phải tăng cường giáo dục quốc phòng làm cho mọi người dân nhận thức được quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mì nhtrong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhận thức được âm mưu, thủ đoạn của địch, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng; có kiến thức nhất định về quốc phòng – an ninh, quân sự.

    – Phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh ở tất cả các cấp, các ngành, ở mọi lĩnh vực.

    – Xây dựng các tổ chức Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, phát huy được vai trò và hiệu lực điều hành của chính quyền và quyền làm chủ của nhân dân.

    – Hoàn thành các kế hoạch động viên thời chiến: Kế hoạch đồng viên kinh tế, động viên công nghiệp, động viên lực lượng vũ trang; tăng cường xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng các làng, xã vững mạnh toàn diện, khi chiến tranh xảy ra triển khai thành làng, xã chiến đấu.

    – Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đối với từng địa phương cơ sở phải hết sức chú ý xây dựng dân quân tự vệ, xây dựng và quản lý lực lượng dự bị động viên mạnh về mọi mặt, đặc biệt chất lượng về chính trị.

    2. Chuẩn bị đất nước sẵn sàng chống xâm lược.

    1. a) Chuẩn bị về chính trị, tinh thần cho nhân dân.

    Việc chuẩn bị về chính trị, tinh thần cho nhân dân cần tập trung vào giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam, làm cho nhân dân thấy rõ tính chất chính nghĩa của ta, tính chất phi nghĩa của địch, các điểm yếu của vũ khí công nghệ cao, nâng cao lòng tin vào khả năng đánh thắng của ta để nhân dân sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh, bám trụ kiên cường, vừa chiến đấu vừa sản xuất. Đồng thời, huấn luyện cho nhân dân làm tốt công tác phòng thủ dân sự để nhân dân tự bảo vệ tính mạng, tài sản của mình. Trong thời bình hiện nay, cần gắn nội dung phòng tránh, sơ tán cho nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể trong diễn tập tác chiến trị an của xã, phường, diễn tập khu vực phòng thủ của huyện, tỉnh.

    1. b) Chuẩn bị về kinh tế:

    Chuẩn bị kế hoạch sẵn sàng chuyển mọi hoạt động về kinh tế của địa phương theo yêu cầu của chiến tranh, duy trì phát triển sản xuất vừa bảo đảm ổn định đời sống cho nhân dân vừa đáp ứng theo yêu cầu cần chiến tranh. Có kế hoạch dự trữ các loại nguyên liệu, nhiêu liệu…

    1. c) Chuẩn bị lực lượng vũ trang:

    Phải chuẩn bị toàn diện nhưng đối với địa phương, cơ sở cần tập trung vào chuẩn bị phát triển lực lượng vũ trang (dân quân tự vệ) theo yêu cầu thời chiến, tổ chức quản lý chặt chẽ lực lượng dự bị động viên sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ động viên quân dự bị bảo đảm đúng, đủ, bí mật, an toàn; chuẩn bị vật chất kỹ thuật bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu.

    3. Chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến:

    1. a) Yêu cầu:

    Phải nắm bắt âm mưu và diễn biến hành động của địch; chuyển đất nước, chuyển địa phương sang thời chiến chính xác, kịp thời, bảo đảm hạn chế thấp nhất tổn thất trong thời gian đầu chiến tranh, nhanh chóng tăng cường sức mạnh trên từng địa phương, góp phần tạo sức mạnh của cả nước để sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.

    Chuyển đất nước và địa phương sang thời chiến phải rất khẩn trương, bảo đảm bí mật, an toàn, trên cơ sở chuẩn bị tốt từ thời bình để trong một thời gian ngắn phải phát triển lực lượng, triển khai thế trận … Các địa phương phải hoàn thành các chỉ tiêu động viên trước khi chiến tranh xảy ra, có vậy mới đáp ứng yêu cầu chiến tranh.

    1. b) Nội dung chuyển đất nước, chuyển địa phương sang thời chiến:

    Chuyển toàn diện, chiến tranh cần cái gì phải chuyển cái đó, trọng tâm là:

    – Chuyển hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền sang hoạt động ở trạng thái thời chiến để bảo đảm thường xuyên, liên tục lãnh đạo điều hành chiến tranh và mọi hoạt động của xã hội.

    – Chuyển lực lượng vũ trang sang thời chiến. Đối với địa phương, cơ sở là chuyển lực lượng dân quân tự vệ và phương tiện kỹ thuật bổ sung cho lực lượng bộ đội thường trực và mở rộng lực dân quân tự vệ sang trạng thái thời chiến, bảo đảm cho dân quan tự vệ kịp thời đánh địch bảo vệ xóm làng.

    – Chuyển mọi hoạt động về kinh tế sang thời chiến, bảo đảm cao nhất nhu cầu chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang, đồng thời bảo đảm ổn định đời sống cho nhân dân.

    1. c) Phương pháp chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến:

    Đối với cả nước, phải chuyển từng ngành, từng bộ phận, từng khu vực đến chuyển toàn bộ. Đối với từng địa phương cơ sở, chuyển toàn bộ cùng lúc. Trong quá trình chuyển sang thời chiến, cần phải có biện pháp lãnh đạo tốt đổ ổn định tinh thần, tâm lý và đời sống của nhân dân.

     

     

    KẾT LUẬN:

    Qua nghiên cứu bài học cho chúng ta rõ bản chất, âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn luôn nuôi dã tâm chống phá, xâm lược các nước Xã hội Chủ nghĩa, đặc biệt chúng lấy Việt Nam làm tâm điểm để chống phá, cũng qua nghiên cứu về lý luận, nguyên nhân, tính chất, đặc điểm, nội dung và các giải pháp để tiến cuộc chiến tranh nhân nhằm trang bị những kiến thức cơ bản bước đầu cho các đồng chí; trong tương lai nếu địch tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, để bảo vệ Tổ quốc chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh nhân dân. Tuy nhiên, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhằm đối phó với chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao là vấn đề còn mới mẻ. Bởi vậy, các cấp lãnh đạo, chỉ huy cần phải tiếp tục nghiên cứu, nắm vững âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, phương thức tiến hành chiến tranh để vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với điều kiện tác chiến mới, bảo đảm thắng lợi cho cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. / . Cảm ơn người học!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Nh%E1%BB%AFng-n%E1%BB%99i-dung-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-ph%C3%A9p-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-duy-v%E1%BA%ADt-v%C3%A0-%C3%BD-ngh%C4%A9a-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Phép biện chứng duy vật: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triến
    1. Bản chất của phép biện chứng duy vật

    Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.

    Phép biện chứng duy vật bao gồm 2 nguyên lý cơ bản, những phạm trù và những nguyên lý cơ bản, vừa là lý luận duy vật biện chứng, vừa là lý luận nhận thức khoa học, vừa là logic của chủ nghĩa Mác.
    – Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật :
    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: khái quát bức tranh toàn cảnh những mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). PBCDV khẳng định rằng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau.
    * Ý nghĩa :
    + Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ
    + Trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để thấu hiểu bản chất của sự vật.
    + Từ bản chất của sự vật quay lại hiểu rõ toàn bộ sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn đề trong đời sống. Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình.
    Nguyên lý về phát triển: phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới. Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
    PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới (vô cơ và hữu cơ; tự nhiên, xã hội và tư duy) đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
    Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng và về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển.
    Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo của thế giới.
    * Ý nghĩa :

    Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và phát triển của nó, phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức được cái mới và ủng hộ cái mới. Phát triển không loại trừ sự thụt lùi, tức sự thoái hóa, sự diệt vong của cái cũ, cái lạc hậu, cái lỗi thời. Thậm chí cái mới cũng phải trải qua những thất bại tạm thời. Tuy nhiên, thụt lùi là khuynh hướng không chủ đạo, chẳng những không ngăn cản sự phát triển, mà trái lại là tiền đề, là điều kiện cho sự phát triển
    Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Đó là 3 quy luật:
    + Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập: còn được gọi là quy luật mâu thuẫn. Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, Nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật. Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng. linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
    + Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại: gọi là quy luật lượng – chất. Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:
    > Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất. Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn.
    > Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ.
    > Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển.

    + Quy luật phủ định của phủ định: Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển.
    Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ. Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai.
    Các cặp phạm trù không cơ bản
    Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao gồm các cặp phạm trù không cơ bản:
    + cặp phạm trù cái riêng – cái chung
    + tất nhiên – ngẫu nhiên
    + nguyên nhân – kết quả
    + bản chất – hiện tượng
    + khả năng – hiện thực
    + nội dung – hình thức.
    Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng.
    2. Ý nghĩa của phương pháp luận của phép biện chứng duy vật

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của PBCDV là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc phát triển.
    a) Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
    Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.
    Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:
    – Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp.
    – Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng thời phải xác định khâu then chốt. Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới tư duy.
    Đối lập với nguyên tắc toàn diện của PBC, quan điểm siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời sự vật khác.
    Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau. Thuật nguỵ biện thì cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu.
    b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
    Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào?
    c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
    Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

    Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

    Ttrong triết học Mác – Lênin là các quy luật cơ bản trong phương pháp luận của triết học Mác – Lênin và được áp dụng để giải thích về sự phát triển của sư vật, hiện tượng, ba quy luật này hợp thành nguyên lý về sự phát triển. Ba quy luật cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin, nó là một trong những nền tảng, cơ bản cấu thành phép biện chứng duy vật cũng như một trong những nội dung quan trọng của toàn bộ triết học Mác-Lenin.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thể hiện qua sáu cặp phạm trù được sử dụng là Cái chung và cái riêngBản chất và hiện tượngNội dung và hình thứcTất nhiên và ngẫu nhiênNguyên nhân và kết quảKhả năng và hiện thực.

    Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng – chất và quy luật phủ định. Trong đó:

    Ba quy luật cơ bản này còn có ý nghĩa trong nhận thức và hành động. Những kết luận về mặt phương pháp luận của nó luôn được coi là “kim chỉ nam” cho hoạt động cách mạng của những người cộng sản.

    Theo Các Mác: Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giao điếu của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái đang tồn tại, phép biện chứng cũng bao hàm cả quan niệm, sự phủ định cái đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó, vì mỗi hình thái đều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức xét cả mặt nhất thời của hình thái đó;… vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng.

    Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ ra hình thức chung nhất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó, đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của tư duy biện chứng.

    Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức và tính chất của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó.

    Các quy luật này định hướng cho việc nghiên cứu của những quy luật đặc thù và đến lượt mình, những quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới, của nhận thức và những hình thức cụ thể của chúng chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với những quy luật đặc thù.

    Theo triết học Mác-Lênin thì mối quan hệ qua lại giữa các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật với các quy luật đặc thù của các khoa học chuyên ngành tạo nên cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với các khoa học chuyên ngành.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Kỹ thuật phân tích chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-c%C6%B0%C6%A1ng-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-c%E1%BB%A7a-sinh-vi%C3%AAn-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-S%C6%B0-ph%E1%BA%A1m-K%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-s%E1%BB%91ng-th%E1%BB%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong xã hội phát triển ngày nay, con người dường như có xu hướng hiện đại hóa cả lối sống cũng như suy nghĩ của mình. Với một nên kinh tế hội nhập, cũng tạo điều kiện cho văn hóa các nước du nhập vào Việt Nam, đặc biệt văn hóa phương Tây đang dần đi sâu vào lối sống vào lối sống của giới trẻ làm mất dần bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam đồng thời cũng dẫn đến nhiều hệ lụy. Giới trẻ hiện tại có cách nghĩ và lối sống hiện đại hơn, quan niệm về giới tính “thoáng” hơn so với trước đây.

    Một vấn đề đang cấp thiết và gây nhức nhối trong xã hội lúc bấy giờ đó là tình yêu giới trẻ. Tình yêu là thứ tình cảm tốt đẹp, thiêng liêng nhất của lứa đôi nhưng kết quả của tình yêu chỉ được xã hội công nhận khi nó đi đến hôn nhân hợp pháp. Thế nhưng ngày nay, giới trẻ, đặc biệt là sinh viên , họ đang có xu hướng hiện đại trong tình yêu, yêu hết mình và vượt qua mọi giới hạn, rào cản. Từ “ tình yêu” đang dần mất đi ý nghĩa đích thực của nó. Nhiều cặp thanh niên yêu nhau đã quyết định sống chung với nhau như vợ chồng trước hôn nhân, đó là tình trạng cộng đồng xã hội ngày nay gọi là “sống thử”.

    Sống thử hay còn được gọi là sống chung trước hôn nhân là tình trạng nam nữ thanh niên, sinh viên xa nhà tự đến sống với nhau như vợ chồng mà chưa được sự đồng ý của cha mẹ hai bên. Đây là hiện tượng đang tăng lên trong xã hội Việt Nam trong những năm gần đây, hiện tượng này không chỉ diễn ra tại các khu công nghiệp, các trường đại học, cao đẳng và các trường chuyên nghiệp tại các thành phố, khu đô thị lớn như ở Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… mà nó cũng đang xảy ra ở các trường chuyên nghiệp đóng trên các địa bàn khác trong cả nước.

    Trong xã hội truyền thống như ở Việt Nam việc mỗi cá nhân hoàn toàn tự quyết định hôn nhân là điều ít xảy ra. Hôn nhân là việc của gia đình, dòng tộc chứ không phải là chuyện riêng của mỗi cá nhân. Trong cuốn “Công trình góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam ” tác giả Nguyễn Văn Huyên đã viết: “Cha mẹ quyết định, con cái chỉ có nghe theo. Tình yêu giữa cô dâu và chú rể không quan trọng. Nếu người con không bằng lòng người chồng hay người vợ mà bố mẹ chọn cho thì chỉ có một cách hành động đó là bỏ nhà đi. Lúc đó người con bị xem là đứa con bội bạc, và cha mẹ có thể tước quyền thừa kế của anh ta”. Và để trở thành vợ chồng, được chung sống với nhau, nam nữ thanh niên phải trải qua nhiều nghi lễ khác nhau, các nghi lễ chính như lễ giạm hay lễ vấn danh, lễ hỏi hay là lễ nạp tệ, lễ rước dâu. Có thể nói, quan hệ hôn nhân trong thời kì này thường bị chi phối bởi gia đình, nam nữ thanh niên chỉ là vợ chồng và được phép chung sống khi họ thực hiện các nghi lễ hôn nhân trước sự chứng kiến của gia đình, dòng tộc và hàng xóm.

    Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã là thay đổi mọi mặt của đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống vật chất, tinh thần của con người ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa cũng là thay đổi hệ thống những giá trị, chuẩn mực và hành vi sống của các nhóm xã hội trong đó có giới trẻ.

    4

    Hiện nay, nhóm thanh niên được sinh ra trong khoảng thời gian từ 1980 trở lại đây đang hướng đến những quan niệm và hành vi mới về cuộc sống, tình bạn, tình yêu và hôn nhân. Thực tế cho thấy họ thể hiện quan hệ tình yêu của mình một cách công khai với mọi người xung quanh, với gia đình, họ hàng… Trong hoảng hơn 10 năm trở lại đây xuất hiện hiện tượng nam nữ thanh niên sống chung với nhau trước hôn nhân tại các khu công nghiệp, khu xóm trọ của sinh viên ở các trường chuyên nghiệp, các trường đại học,cao đẳng trong cả nước và phổ biến ở các khu đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh…và khái niệm “sống thử” được thường xuyên nhắc đến trong các nhóm đối tượng này.

    Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về việc sống thử, sống chung trước hôn nhân, có

    • kiến thì đồng tình, ủng hộ, có ý kiến thì phê phán, không chấp nhận nhưng cũng có những ý kiến mang tính trung lập không đồng tình cũng không phản đối. Nhưng một thực tế không thể phủ nhận được là việc “sống thử” đã ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung ngày nay.

    Trong đề tài nhóm tôi chọn trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh là địa bàn nghiên cứu vì trường nằm trên địa bàn quận Thủ Đức TP.HCM, là một trường đại học đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho TP.HCM và một số ít các tỉnh thành khác, đặc biệt nhóm ngành chuyên về kỹ thuật chiếm đến hơn 50% là sinh viên của trường. Trong các đề tài nghiên cứu đã thực hiện về nhận thức của sinh viên nói riêng và của giới trẻ nói chung về “sống thử” thường tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng… và cách nhìn nhận về sống thử chủ yếu do tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do sự du nhập lối sống phương Tây vào Việt Nam làm cho giới trẻ có những quan niệm mới về các mối quan hệ như tình bạn, tình yêu và tình dục.

    Xuất phát từ những vấn đề trên nên nhóm tôi chọn đề tài “Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử” để phần nào có thể khái quát về nhận thức của sinh viên ngày nay về sống thử. Vậy chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Việc sống thử của sinh viên đem lại những lợi ích gì? Tác hại ra sao? Câu trả lời không còn là vấn đề của các nhà chức trách mà đang trở thành một vấn đề rất nóng hổi của toàn xã hội. Để hiểu rõ hơn về vấn để “sống thử”, sau đây nhóm tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay. Từ đó đưa ra những mặt tiêu cực và tích cực của nó để có những cái nhìn đúng đắn về vấn đề này.

    1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
    • Đánh giá được thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay.
    • Đưa ra các nguyên nhân dẫn đến việc sống thử, hậu quả của việc sống thử.
    • Phân tích giúp chúng ta thấy được các mặt tồn tại của vấn đề đáng báo động này để từ

    đó xem xét các nguyên nhân, thực trạng cũng như nhằm đưa ra các giải pháp cho hiện tượng này.

    5

    2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được mục tiêu của đề tài, nhóm chúng tôi đề ra ba nhiệm vụ chính cần giải quyết như sau:

    • Thứ nhất là nghiên cứu tình trạng sống thử của sinh viên hiện nay.
    • Thứ hai là nhận thức, đánh giá thực trạng cũng như mức độ quan tâm của sinh viên đối với việc sống thử.
    • Cuối cùng là tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tình trạng sống thử cảu sinh viên hiện nay từ đó đưa ra các kiến nghị và biện pháp phù hợp.
    1. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
    • Sống thử đã xuất hiện ở các nước phương Tây từ khá lâu , nhưng mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 90 trở lại đây. Đây được xem là hiện tượng khá phổ biến ở Việt

    Nam cũng như các nước Châu hiện nay. Hiện tượng này càng ngày càng gia tăng ở giới trẻ nhất là đối với thanh niên và sinh viên.

    • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử.
    • Khách thể nghiên cứu: sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh tuổi từ 18 đến 24.
    1. Giả thuyết nghiên cứu

    Sinh viên quan niệm sống thử là hiện tượng tất yếu trong xã hội hiện đại. Ngày nay, giới trẻ có xu hướng ngày càng nhiều trong việc lựa chọn hình thức sống thử vì giới trẻ (chủ yếu là sinh viên) là nhóm người tiếp cận nhanh với cuộc sống hiện đại, thích thử nghiệm cuộc sống của mình. Vì vậy, họ lựa chọn sống thử để trải nghiệm bản thân, để khẳng định mình và có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống gia đình sau này.

    Sự lựa chọn sống thử của sinh viên còn xuất phát từ bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý. Ngoài ra sự tác động từ bên ngoài như do sống xa gia đình, do lối sống hiện đại đem lại quan niệm yêu là phải dành trọn cho nhau, do tác động môi trường sống, của các phươg tiện thông tin truyền thông như Internet, phim ảnh thì phong tục tập quán cũng là một trong những yếu tố tác động đến quyết định sống thử hay sống chung trước hôn nhân của nam nữ sinh viên.

    1. Phƣơng pháp nghiên cứu

    Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thống kê để đưa ra các số liệu phân tích thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay.

    Sử dụng phương pháp phân tích để đưa ra các nguyên nhân, hậu quả và kết quả của việc sống thử.

    1. Dàn ý của nội dung công trình nghiên cứu

     

    Gồm 3 phần:

    6

    Mở đầu

    Nội dung

    Kết luận và khuyến nghị

    Tài liệu tham khảo và phụ lục

    7

    Nội dung

    Chƣơng I:    Cơ sở lý luận

    1.  Tổng quan nghiên cứu về sống thử

    Sống thử hay sống chung trước hôn nhân không chỉ có ở Việt Nam mà còn xuất hiện

    • các nước phương Tây từ những năm 60-70 của thế kỉ trước. So với xã hội truyền thống thì quan niệm sống thử lại khá cởi mở trong việc quyết định chung sống của các cặp đôi. Đây cũng là một vấn đề mà xã hội cần quan tâm nghiên cứu.

    1.1 Nghiên cứu trên thế giới

    Các tranh luận và nghiên cứu chuyên sâu về đề tài sống chung trước hôn nhân ở các nước phương Tây và một số quốc gia khác trên thế giới trở thành những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm do sự gia tăng quá nhanh số cặp đôi sống chung trước hôn nhân. Các nghiên cứu này không chỉ đưa ra các khái niệm mà còn thống kê tỉ lệ sống chung trước hôn nhân như là một chỉ báo trong đời sống gia đình nhằm giải thích các lý do dẫn đến quyết định sống chung và đánh giá kết quả của việc sống chung trước hôn nhân của các cặp đôi.

    Trong xã hội phương Tây đại diện là Mỹ và Anh việc nghiên cứu về vấn đề sống chung trước hôn nhân chủ yếu tập trung vào tỉ lệ số cặp đôi sống chung qua các thời kỳ, theo số liệu thống kê tỉ lệ sống chung không kết hôn ngày càng cao và điều đó cho thấy tỉ lệ kết hôn ngày càng giảm xuống. Ví dụ ở Mỹ từ năm 1995 đến năm 2005 tỉ lệ các cặp sống chung không đăng ký kết hôn tăng từ 13% lên 53%.

    Tại Trung Quốc, các cuộc tranh luận của sinh viên trên một số báo điện tử về quyền được quan hệ tình dục, quyền được sống chung trước hôn nhân đã dấy lên phong trào sống chung và trở thành mốt của giới trẻ Trung Quốc, đặc biệt là trong sinh viên . Tỉ lệ thanh niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng đáng kể và vấn đề này trở thành chủ đề chính cho những cuộc tranh luận. Các chuyên gia và giới lãnh đạo rất đau đầu về hiện tượng này và cho rằng đây là một hiện tượng không lành mạnh.

    Từ các cách nhìn nhận trên ta thấy rằng đây là hiện tượng xã hội mà các nhà nghiên cứu và giới lãnh đạo của các nước này rất quan tâm nghiên cứu là căn cứ cho các nhà hoạch định có cơ sở xây dựng chiến lược nhằm phát triển và ổn định xã hội.

    1.2 Các nghiên cứu trong nƣớc về sống thử

    Sống thử là một hiện tượng nảy sinh trong quá trình của nền kinh tế thị trường, do nhu nhập của văn hóa phương Tây tác động đến quan niệm sống, đến các giá trị mới trong xã hội hiện đại.

    Vấn đề sống thử, sống chung trước hôn nhân không còn là một hiện tượng mới trong cuộc sống của giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng. Đã từ lâu hiện tượng này đã được nhắc tới trên một số báo viết như: Phụ nữ Việt Nam, Gia đình, Thanh niên, Tuổi trẻ… và

    trên các báo điện tử như: Dân trí, Vnexpress, Vietnamnet, tienphong, thanhnien…và một số trang web khác.

    Có thể nói phần lớn các bài viết đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng sinh động mô tả hiện tượng sống thử, sống chung trước hôn nhân đang lan tràn trong giới sinh viên ngoại tỉnh sống và học tập tại các thành phố lớn ở nước ta hiện nay. Các gia đình của sinh viên đều ở các tỉnh xa, họ có thể công khai sống chung ở các phòng trọ gần các trường cao đẳng và đại học, không chịu sự kiểm soát của nhà trường và gia đình.

    Các bài viết cũng đã nêu lên được nguyên nhân xã hội dẫn đến sống chung như: để tiết kiệm chi tiêu, để chia sẻ tình cảm, chia sẻ công việc nội trợ và để thỏa mãn nhu cầu tình dục, do không có bố mẹ kiểm soát, để trải nghiệm hôn nhân… Các bài viết cũng chỉ ra tham gia sống chung cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập. Nhưng bên cạnh đó có một số bài viết cũng cho rằng sống chung giúp cho họ trưởng thành hơn, biết cách chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, giúp nhau trong học tập và sinh hoạt hàng ngày.

    2. Một số khái niệm

    2.1 Khái niệm

     

    2.1.1  “Sống thử”

    Sống thử là một hiện tượng xã hội, theo đó các cặp nam nữ về sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không tổ chức hôn lễ, không đăng kí kết hôn.

    Dưới góc độ của bài nghiên cứu này có thể hiểu sống thử là quá trình sống chung của các cặp đôi nam nữ sinh viên khi chưa đăng kí kết hôn và cũng chưa tổ chức đám cưới. Trên phương diện pháp lý những cặp đôi này chưa được công nhận là vợ chồng nhưng trên thực tế học đã ở chung, ăn chung, ngủ chung sinh hoạt như một đôi vợ chồng thật. Đề tài này chúng tôi muốn dùng khái niệm sống thử để khu biệt nhóm đối tượng là sinh viên , trong thực tế còn có những hiện tượng sống chung thuộc nhiều đối tượng và độ tuổi khác.

    Có thể so sánh giữa sống thử và hôn nhân thực tế có những điểm giống và khác nhau như sau:

      Sống thử Hôn nhân thực tế
         
    Giống Chung sống với nhau như vợ chồng
         

    9

    • Không được sự đồng ý của gia đình, dòng họ, cộng đồng nơi họ sống
    • Mang tính chất thử nghiệm trước khi đi đến quyết định sống chung lâu dài
    Khác   Xuất hiện trong xã hội hiện đại, nơi
      tập  trung  nhiều  thanh  niên  (sinh
      viên)
    Không có sự chứng kiến của gia
      đình, họ hàng nên chia tay dễ dàng,
      khi có mâu thuẫn xảy ra thì tự giải
      quyết, không có sự can thiệp của
      gia đình, người thân
    • Được sự đồng ý của gia đình, dòng họ, cộng đồng
    • Một cuộc hôn nhân chính thức, phải thực hiện nghĩa vụ gia đình thực sự
    • Xuất hiện trong xã hội truyền thống, tồn tại ở nhiều vùng miền
    • Khi có mâu thuẫn xảy ra nếu không được giải quyết sẽ có sự can thiệp của gia đình, họ hàng…

    Từ những so sánh trên ta có thể thấy được sống thử chỉ xuất hiện trong xã hội hiện đại. Hiện tượng này được xem xét ở ba khía cạnh: thực trạng, nguyên nhân và những yếu tố tác động đến nhận thức về vấn đề sống thử.

    2.1.2   Sinh viên tham gia sống thử

    Trong nghiên cứu này nói đến hiện tượng sinh viên tham gia sống thử có nghĩa là chỉ những cặp một nam và một nữ sinh viên tham gia sống chung với nhau, ăn, ở, ngủ chung với nhau trọng một phòng trọ. Họ cùng nhau chia sẻ tài chính, việc nội trợ, học tập và có quan hệ tình dục… hình thức sống chung của họ chưa được gia đình biết, cộng đồng và pháp luật không thừa nhận.

    2.1.3   Nhận thức

    Nhân thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình do con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó.

    Trong nghiên cứu này có thể hiểu khái niệm nhận thức là cách nhìn nhận, đánh giá của sinh viên về sống thử. Là quá trình phản ánh của một hiện tượng xã hội thông qua một số đối tượng mà cụ thể trong nghiên cứu này là sự nhìn nhận, là việc đánh giá, sự thể hiện thái độ của sinh viên với vấn đề sống thử.

    2.1.4     “Kết thúc có hậu”

    Khái niệm “kết thúc có hậu” ở trong bài nghiên cứu này được hiểu là đi đến cuối cùng của tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc.

    2.1.5    Thời kỳ giải phóng tình dục

    10

    Nền văn minh phương Tây đi qua thời kì cách mạng tình dục vào thập niên 1960-1970, thời kì mà người ta đã phản ứng ngược lại với những giá trị đạo đức, xã hội, khi đó

    quan hệ tình dục dự do, phóng khoán.

    2.1.6    Cái tuổi “chẳng thể dừng đƣợc”

    Lứa tuổi mà mọi ham muốn về tình cảm đều mới lạ, sự tò mò kích thích sự đòi hỏi tìm hiểu lẫn nhau.

    2.2 Quan niệm về sống thử trong xã hội

    2.2.1    Tình yêu và hôn nhân trong xã hội Việt Nam

    • Trong xã hội truyền thống

    Trong giai đoạn từ trước năm 1945 trở về trước, theo các tư liệu văn hóa dân tộc học cho thấy trong truyền thống người Việt (người Kinh) đã coi quan hệ tình yêu, tình dục trước hôn nhân là một hoạt động cấm kị. Thể hiện là các bài gia huấn do các nhà nho đã soạn ra cho họ tộc của mình trong việc răn dạy con gái và phụ nữ phải đứng đắn, đoan trang, giữ gìn tiết hạnh. Tình yêu nam nữ trước hôn nhân hầu hết là không có, tình yêu chỉ xuất hiện sau hôn nhân.

    Về quyền quyết định hôn nhân trong thời kỳ này không coi trọng tình yêu nam nữ mà đề cao vai trò của cha mẹ, ông bà. Hôn nhân của mỗi cá nhân có vị trí cực kì quan trọng đối với gia đình và dòng họ. Chính vì vậy, hôn nhân không được coi là vấn đề riêng của mỗi đôi thanh niên nam nữ mà chủ yếu là kết quả sắp xếp bàn bạc giữa hai gia đình. Trong các cuộc hôn nhân đó lợi ích của người con thường không được coi trọng và những mục tiêu riêng của các bậc cha mẹ thường được đưa lên hàng đầu.

    Giai đoạn từ năm 1945 đến 1985, đây là giai đoạn hình thành một nhà nước Việt Nam mới – Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và bắt đầu công cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Bối cảnh xã hội đó đã tạo điều kiện cho quan hệ tình yêu và hôn nhân của người Việt phát triển theo hướng mới.

    Bối cảnh xã hội thời kì này có vẻ như rất thuận lợi cho quan hệ tình yêu và hôn nhân tự do. Xuất hiện phong trào phản đối các quan niệm cũ về phân biệt nam nữ, về hôn nhân sắp đặt, về quyền uy tuyệt đối của quyền gia trưởng… Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ban hành năm 1946 nhấn mạnh quyền bình đẳng nam nữ, đã khuyến khích người phụ nữ tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Tiếp đó Luật Hôn nhân và gia đình năm 1960 công nhận quyền tự do yêu đương và lựa chọn của con cái càng có ý nghĩa quan trọng trong sự biến đổi của tình yêu, hôn nhân.

    11

    Nhưng trên thức tế quan hệ tình yêu, hôn nhân trong giai đoạn này không thể phát triển theo hướng cá nhân. Người ta cho rằng đó không phải là lúc để nghĩ đến những tình cảm cá nhân mềm yếu mà cần phải tập trung đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này viết về tình yêu lãng mạn không được cổ vũ mà thậm chí còn phê phán, lên án mạnh mẽ. Trong xã hội bấy giờ đấu tranh cho tình yêu nam nữ tự do nhưng đồng thời phải lên án gay gắt những quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, coi đó là một tội lỗi hết sức nghiêm trọng. Những người vi phạm nếu bị phát hiện sẽ phải chịu những hình thức kỉ luật nặng nề mà từ đó địa vị và nhân phẩm của họ trong mắt người khác có thể sẽ không bao giờ phục hồi được nữa.

    Còn đối với bậc cha mẹ, quan hệ tình yêu mà có quan hệ tình dục trước hôn nhân của con gái là một việc làm không thể tha thứ vì nó là một nổi nhục của cả dòng họ. Vì vậy, gia đình phải giám sát mối quan hệ bạn bè khác giới của cô gái rất chặt chẽ. Mặc dù có sự kiểm soát nghiêm ngặt của gia đình và xã hội nhưng quan hệ tình yêu và quan hệ tình dục vẫn xảy ra nhưng không nhiều, chủ yếu tập trung vào các đối tượng công nhân ngoại tỉnh sống xa nhà và nhóm sinh viên học tại các trường đại học, cao đẳng. Do sống xa nhà được tự do yêu đương nên một số người đã vượt quá giới hạn. Những vi phạm này nếu bị phát hiện sẽ bị buộc thôi học, thôi việc hoặc phải cưới sớm. Nhìn chung trong thời kì này, quan hệ tình dục trước hôn nhân có nhưng không nhiều.

    • Trong xã hội hiện đại

    Việc mở rộng và đa dạng hóa thành phần kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tiền đề thúc đẩy sản xuất phát triển và đặt ra nhu cầu đạo tạo nguồn nhân lực lớn phục vụ cho việc xây dựng đất nước. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam đã tạo tiền đề phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Bên cạnh đổi mới thì quá trình hội nhập kinh tế và văn hóa quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng. Thực tế này tất yếu dẫn đến sự biến đổi trong xã hội về quan niệm tình yêu và hôn nhân. Quyền tự do của cá nhân trong quan hệ tình yêu được khẳng định, địa vị của người phụ nữ được cải thiện rõ rệt do có cơ hội nâng cao thu nhập và độc lập về kinh tế. Những biến đổi văn hóa xã hội là cơ hội để người dân, điển hình là giới trẻ có điều kiện tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phim ảnh, sách báo và internet. Những biến đổi trong quan hệ tình yêu giới trẻ đang diễn ra mạnh mẽ nhất là

    • các thành phố lớn.

    2.2.2   Quan hệ tình yêu, hôn nhân và tình dục trong giới trẻ

    Quan hệ tình yêu hôn và hôn nhân trong giai đoạn này bắt đầu có sự biến đổi rõ rệt. Tình bạn, tình yêu trong giới trẻ được thể hiện công khai với gia đình, bạn bè… thậm chí trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo giấy, báo mạng có riêng một chuyên mục viết về tình bạn, tình yêu dành cho giới trẻ.

    12

    Sự tràn ngập của các chủ đề này trên các phương tiện thông tin có thể ảnh hưởng đến thanh thiếu niên vì các bài báo hay phim ảnh còn có tác dụng phụ là kích thích và khuyến khích lớp trẻ sống thoải mái, bất chấp hậu quả.

    2.2.3    Sự xuất hiện của hiện tƣợng sống thử

    Qua thông tin trên báo chí trong những năm gần đây có thể thấy rằng quan niệm của người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ với vấn đề tình yêu, tinh dục và hôn nhân thay đổi nhiều. Nếu trong những năm 90 của thế kỉ trước dư luận xã hội sôi nổi đề cập đến vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân như một biểu hiện của nền đạo đức bị đi xuống thì ngày nay người ta chỉ xem nó là chuyện bình thường.

    Từ những phân tích trên ta thấy hiện tượng sống thử chỉ xuất hiện trong xã hội hiện đại. Hiện tượng sống chung, sống thử không chỉ xuất hiện ở các đô thị lớn mà nó cũng đã xuất hiện ở trường đại học, cao đẳng trong khắp cả nước.

    Chƣơng II: Những yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên về sống thử và xu hƣớng sống thử

    1.  Những yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên về sống thử

    1.1 Yếu tố cá nhân

    Sinh viên Số lượng %  
    Mức độ
         
           
    Tốt 7 23,3  
           
    Bình thường 10 33,3  
           
    Xấu 13 43,3  
           

    Theo kết quả đánh giá, tổng số những bạn cho rằng sống thử là xấu trong tổng số 30 trường hợp thì có đến 13 trường hợp (tỉ lệ 43,3%), đánh giá ở mức độ bình thường có 10 trường hợp (tỉ lệ 33,3%) và 7 trường hợp còn lại cho là tốt (tỉ lệ 23,3%).

    Qua đó ta thấy các bạn có nhận thức khá đa dạng về sống thử, đa phần các bạn cho là xấu nhưng cũng có một số bạn đã có nhận thức thoáng hơn về vấn đề sống thử nói chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân nói riêng.

    13

    1.2 Yếu tố xã hội

    Truyền thông đại chúng ngày càng có vai trò quan trọng và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Đối tượng truyền thông đại chúng bao gồm tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, từ tầng lớp tri thức đến người nông dân, từ già đến trẻ đều là đối tượng của truyền thông đại chúng. Một lực lượng xã hội chịu tác động lớn của truyền thông đại chúng là sinh viên, là những người chủ tương lai của đất nước. Truyền thông đại chúng trong xu thế toàn cầu đang có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến nhận thức, đến lối sống của sinh viên hiện nay. Các thông tin của phương tiện truyền thông đại chúng tác động vào sinh viên, hình thành nên thái độ nhận thức, cách nhìn nhận mới. Sự thay đổi về nhận thức tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hành vi, lối sống. Trong nghiên cứu này chúng tôi muốn xem xét tác động của truyền thông đại chúng tác động đến sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử để biết được nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử.

    Để tìm hiểu sự tiếp cận của sinh viên tới các nguồn thông tin về sống thử, các sinh viên tham gia điều tra được hỏi về các nguồn thông tin họ đã tiếp cận theo một danh sách gồm 3 kênh cung cấp thông tin về lĩnh vực này, gồm: qua sách báo, tivi, Internet; qua bạn bè; qua quan sát cuộc sống xung quanh.

      Số lượng %  
           
    Qua sách báo, tivi, 26 86,7  
    internet
         
           
    Qua bạn bè 22 73,3  
           
    Qua quan sát cuộc 28 93,3  
    sống xung quanh
         
           

    Kết quả cho thấy truyền thông trực tiếp đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên trong việc tiếp nhận thông tin về vấn đề sống thử, số liệu bảng trên cho chúng ta thấy hầu hết đa số sinh viên được sống thử qua quan sát cuộc sống xung quanh với 93,3% và thông qua bạn bè với 73,3%. Đối với sách báo, tivi, internet cũng góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên với 86,7%.

    1.3 Yếu tố gia đình

    Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi cá nhân, tất cả những vấn đề ngoài xã hội được cá nhân tiếp nhận thông qua chất xúc tác đầu tiên là gia đình. Trong hệ thống cấu trúc xã hội, gia đình là một bộ phận, có những chức năng riêng, thỏa mãn những nhu

    14

    cầu nhất định của xã hội đó là thực hiện các chức năng kinh tế, sinh sản, xã hội hóa cá nhân và thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý. Gia đình là một tập hợp nhiều cá nhân. Mỗi cá nhân là một yếu tố cấu thành nên gia đình và có vai trò và chức năng riêng như vai trò của người cha, người mẹ và người con… trong gia đình. Trong xã hội truyền thống hay hiện đại gia đình đều có những nguyên tắc tồn tại độc lập, riêng biệt thông qua những quy định gọi là gia phong hay nề nếp, truyền thống gia đình. Giữa các loại gia đình khác nhau (gia đình hai thế hệ, gia đình nhiều thế hệ…) cũng có những khác biệt, điều đó tác động đến từng cá nhân. Do vậy, gia đình luôn có ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên về các vấn đề xã hội, trong đó có sống thử.

    2.  Xu hƣớng sống thử của sinh viên thông qua nhận thức của họ về sống thử

    Ngày nay có thể nói sống thử bắt đầu trở thành một hiện tượng tương đối phổ biến trong giới trẻ ở Việt Nam nói chung và trong giới sinh viên nói riêng. Về khía cạnh nhân khẩu học, sống thử nói riêng và đời sống tình dục nói chung là một phần của kết quả nam, nữ kết hôn muộn, tuổi kết hôn trung bình của dân số cao hơn so với tuổi trưởng thành về giới tính.

    Trong cuộc phỏng vấn, các bạn đều cho rằng sống thử ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng hóa hơn. Nếu như sống thử ban đầu chỉ xuất hiện ở nhóm sinh viên năm cuối hoặc năm thứ ba thì hiện nay ngay cả các bạn sinh viên năm nhất cũng đã tha giam sống thử. Xét theo thuyết sự lựa chọn hợpp lý, các sinh viên sẽ tìm đến sống thử như sự kết hợp hợp lý kinh tế (thử nghiệm đời sống vật chất của gia đình, cân đối chi phí khi sống chung) và hợp lý văn hóa (thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý của cá nhân khi chuẩn mực xã hội thay đổi). Quan niệm của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung về sống thử có thể chia làm ba nhóm đồng tình (tốt), phản đối (không tốt) và không đồng tình cũng không phản đối (bình thường). Tuy nhiên trong nghiên cứu này cho thấy sự ủng hộ cũng có hai khía cạnh đối lập. Một nhóm là sự hùa theo xu hướng cho rằng sống thử để sau này khỏi nhầm khi sống thật và nhóm thứ hai cho rằng sống thử là để trải nghiệm cuộc sống gia đình, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ… khi trinh tiết của người phụ nữ không phải là tuyệt đối, là thang đo để đánh giá phẩm chất người con gái. Chính sự tương phản này dẫn đến những hệ quả khác nhau và cùng làm cho quan niệm xã hội về sống thử dao động theo con lắc giữa đồng tình và phản đối.

    Hiện nay, theo các bạn sinh viên cho biết còn nhiều lối sống thử theo kiểu “biến hóa” để tránh dư luận của xã hội, không bị mang tiếng và không bị phê phán. Ví dụ, thuê 2 phòng cạnh nhau, hoặc nam đến phòng nữ một vài ngày hoặc ngược lại. Có trường hợp là thuê các phòng nghỉ nhằm những ngày nghỉ lễ hoặc cuối tuần sống cùng nhau “như vợ chồng” hết thời gian nghỉ ai lại về nhà đấy.

    15

    Với bản chất của sinh viên là luôn tìm hiểu, áp dụng những kiểu sống để làm sao cho phù hợp với hoàn cảnh, thời gian và không gian vì vậy trong lối sống của họ vô cùng đa dạng. Để có sự thay đổi, yếu tố quan trọng nhất là tự bản thân mỗi sinh viên và bắt nguồn từ nhận thức cá nhân của mỗi người. Gia đình, nhà trường và cộng đồng đều có những ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên về vấn đề này và để cùng tác động một cách tích cực đến nhận thức của sinh viên, để là sao cho sinh viên nhận thức một cách đúng đắn nhất khi quyết định tham gia sống chung, sống thử.

    Chƣơng III: Thực trạng và nguyên nhân sống thử của sinh viên Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh

    1.  Giới thiệu vài nét về địa bàn nghiên cứu

    Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên cơ sở Ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật – thành lập ngày 05/10/1962. Ngày 21/09/1972, Trường được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức và được nâng cấp thành Trường đại học Giáo dục Thủ Đức vào năm 1974. Năm 1984, Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức hợp nhất với Trường trung học Công nghiệp Thủ Đức và đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh. Năm 1991, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh sát nhập thêm Trường Sư phạm Kỹ thuật 5 và phát triển cho đến ngày nay.

    Nằm ở cửa ngõ phía bắc Tp.Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km, tọa lạc tại số 1 Võ Văn Ngân, quận Thủ Đức, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh tập hợp được các ưu điểm của một cơ sở học tập rộng rãi, khang trang, an toàn, nằm ở ngoại ô nhưng giao thông bằng xe buyết vào các khu vực của thành phố, đến sân bay và các vùng lân cận rất thuận tiện.

    Chức năng và nhiệm vụ:

    • Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, các trường phổ thông trung học.
    • Đào tạo đội ngũ kỹ sư công nghệ và bồi dưỡng nguồn nhân lực lao động kỹ thuật thích ứng với thị trường lao động.
    • Nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất trên các lĩnh vực giáo dục chuyên nghiệp và khoa học công nghệ.
    • Quan hệ hợp tác với các cơ sở khoa học và đào tạo giáo viên kỹ thuật ở nước ngoài.

    2.  Đặc điểm và khách thể nghiên cứu

    16

    Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu toán học, với tổng mẫu nghiên cứu là 30 sinh viên thuộc khối sư phạm. Tỉ lệ sinh viên theo năm học: 30,8% năm thứ hai, 50,2% năm thứ ba, 19% năm thứ tư. Trong nhóm sinh viên nghiên cứu, có 63,5% sinh viên đã có người yêu, trong số thời gian quen nhau duới 3 tháng là 7,4%, từ 3 tháng đến dưới 6 tháng là 11,2%, từ 6 tháng đến dưới 1 năm là 16,0% và từ 1 năm trở lên chiếm 65,4%.

    Nơi ở hiện nay của sinh viên cũng khá đa dạng. Số sinh viên thuê bên ngoài ở một mình chiếm tỷ lệ cao nhất 30,3%. Tiếp theo đó là ở ký túc xá 28,3%, ở trọ với bạn bè 16,7%, ở cùng với bố mẹ là 12,3% và ở cùng với họ hàng là 2,7%.Và có 0% sinh viên thuê ở cùng với người yêu.

    3.  Quan niệm của sinh viên về vấn đề sống thử

    Ngày nay hiện tượng sống thử trong giới trẻ nói chung và trong giới sinh viên nói riêng không còn là vấn đề mới mẻ nữa, hiện tượng này xảy ra ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên cả nước, hiện tượng này cũng đang diễn ra tại các khu nhà trọ của sinh viên các trường đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh nói riêng. Vậy thực trạng nhận thức của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử thông qua việc nhận biết, đánh giá của sinh viên về hiện tượng sống thử, lợi ích và những bất cập trong quá trình tham gia sống thử.

    Khi được hỏi bạn có biết về hiện tượng sống thử và hiện tượng đó có xảy ở Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh không, thì điều đáng ngạc nhiên là 100% số sinh viên được hỏi đều biết về hiện tượng đó và 99,7% thừa nhận ở trường có hiện tượng các sinh viên sống thử. Khi hỏi suy nghĩ của họ về hiện hiện tượng sống thử của sinh viên, có 23,3% sinh viên cho rằng sống thử là tốt, 33,3% là bình thường và 43,3% là không tốt.

    Từ kết quả trên ta thấy rằng, sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh hiện nay đã có cái nhìn thoáng hơn trong việc đánh giá về sống thử. Với số sinh viên cho rằng sống thử là tốt chiếm tỉ lệ không nhiều (23,3%) nhưng ta cũng thấy có một vấn đề cần chú ý ở đây đó là cách nhìn nhận, đánh giá về lối sống của họ liệu có quá dễ dãi, thoáng không? Ở đây cũng cần đánh giá theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Nếu các bạn cho rằng sống thử là do các bạn tò mò, muốn thử để biết, để “thể hiện” hoặc thả mình theo kiểu sống “Tây hóa”… thì đó là cách nhìn nhận, cách sống theo chiều hướng tiêu cực. Nhưng nếu xuất phát từ sự nhận thức khá chín chắn, như một số sinh viên cho rằng “sống chung là một thử nghiệm hội nhập vợ chồng, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ của nhau, cùng quyết định chi tiêu, cùng nhượng bộ, chấp nhận lẫn nhau và bày tỏ mong muốn của mình trong quá trình sống chung” nếu hiểu theo chiều cạnh này thì sống thử không phải là vấn đề đáng chê trách mà còn có các khía

    17

    cạnh tốt và tình dục ở đây chỉ là một phần nhỏ trong đời sống tâm lý, tình cảm dù là rất quan trọng nhưng không phải là tất cả trong sự lựa chọn cách sống thử, điều này càng có

    • nghĩa hơn khi ta nhìn nhận được rằng đó là một hành động có ý thức, bao hàm cả việc giữ gìn cái vô giá của tình yêu – sự hi sinh và sự tự chủ của bản thân chứ không chứ không phải là một sự thỏa mãn lợi dụng nhau trong quá trình sống thử.

    Với 33,3% số sinh viên được hỏi cho rằng hiện tượng sống thử là một hiện tượng xã hội bình thường trong xã hội hiện đại, điều đó cho thấy rằng quan niệm về tình bạn, tình yêu và hôn nhân của sinh viên – đại diện cho thế hệ trẻ đã khác rất nhiều so với các quan niệm trước đây. Họ không phản đối cũng không đồng tình. Nếu như trước đây quan hệ

    tình yêu nếu vượt quá giới hạn cho phép thì sẽ bị các tổ chức đoàn thể phê bình, lên án, thậm chí là kỉ luật, bạn bè thì khinh bỉ, tẩy chay… còn trong xã hội hiện nay tất cả những việc đó thuộc về cá nhân họ phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định của bản thân. Từ

    những suy nghĩ như vậy mới tạo ra cách đánh giá, nhìn nhận về hiện tượng sống thử một cách chung chung, không phản đối cũng không đồng tình, có thể trong số này về một khía cạnh nào đấy họ cũng ủng hộ lối sống này nhưng trong tâm lý người Việt Nam nhiều khi ngại nói thật, chính vì vậy mới tạo ra cách đánh giá chung chung như vậy.

    Mặc dù 100% số sinh viên được hỏi cho rằng biết có hiện tượng sống thử và 99,7% biết hiện tượng đó có xảy ra ở trường nhưng trong số đó có 43,3% cho rằng sống thử là không tốt, điều đó cho thấy một bộ phận không nhỏ sinh Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh hiện nay vẫn có cách nhìn về tình bạn, tình yêu nghiêng về truyền thống. Họ cho rằng, nên giữ cho tình bạn, tình yêu một khoảng cách vì tình yêu sinh viên thường là tình cảm đầu đời, nếu không tiến đến được hôn nhân thì vẫn có cái nhìn trong sáng về nhau, không phải hối hận khi đã từng là người bạn tâm tình, là người yêu một thời trong quãng đời sinh viên tươi đẹp.

    Với câu hỏi theo bạn sống thử là như thế nào hầu hết các bạn sinh viên đều trả lời

    sống thử là sống chung như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn, không có sự

    chứng kiến của hai bên gia đình chiếm 91%, 35,3% trả lời câu hỏi sống chung với nhau và có quan hệ tình dục 3,3% trả lời sống chung với nhau và không có quan hệ tình dục và 7,3% trả lời chỉ có quan hệ tình dục nhưng không sống chung với nhau. Hầu hết sinh viên trong mẫu điều tra đều nhận thức được đầy đủ về hiện tượng sống thử.

    4.  Các nguyên nhân dẫn đến sống thử

    4.1.1    Lý do cá nhân

    Trong nghiên cứu này chỉ ra rằng nguyên nhân đầu tiên qua đánh giá của các bạn sinh viên về vấn đề sống thử là nhằm thỏa mãn tân lý, tình yêu, tình dục. Có thể giải thích điều này như sau.

    18

    Nếu như, trong xã hội Việt Nam ngày xưa, việc dựng vợ ngả chồng là rất sớm , còn có câu thành ngữ “gái thập tam, nam thập lục”, có nghĩa là con gái đến mười ba tuổi là bắt đầu “dậy thì” cũng là lúc bắt đầu gả chồng được, nam giới thì “dậy thì” nuộn hơn, bước vào tuổi mười sáu cũng là độ tuổi trưởng thành về mặt thể chất và tâm sinh lý. Gia đình có con trai ở độ tuổi này cũng bắt đầu nhờ mai mối để cưới vợ cho con. Từ việc lấy vợ, gả chồng cho con trước tiên là để có người làm, có người sinh con để duy trì nòi giống thì nhìn ở khía cạnh khác có thể thấy rằng nam nữ đến tuổi trưởng thành (trong độ tuổi 13 đối với nữ, 16 đối với nam) cũng đã được giải quyết về vấn đề thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, về quan hệ tình dục.

    Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, điều kiện kinh tế, đời sống của người dân ngày càng tăng cao, do vậy việc chăm lo sức khỏe cả về đời sống tinh thần và vật chất cho mọi người nhất là trẻ em được gia đình và xã hội ngày càng quan tâm. Do ăn uống đủ chất nên cơ thể của trẻ em ngày nay phát triển sớm hơn trẻ em ngày xưa. Về mặt sinh học, trẻ em ngày nay dậy thì sớm hơn, bên cạnh đó sự tác động của một số phương tiện truyền thông đại chúng như phi ảnh về đề tài tình yêu, một số trang mạng xã hội trên Internet nói về chủ đề tình yêu, tình dục biến các em tò mò tìm hiểu. Ở một phía cạnh khác, do độ tuổi xây dựng gia đình kéo dài hơn so với trước đây, việc học phổ thông kéo dài 12 năm cộng với một số năm học ngành nghề và đều quan trọng nhất là do quan niệm của xã hội không còn có cách nhìn khắt khe như ngày trước nữa, mọi quyết định đều tự cá nhân và do cá nhân.

    Như phần trình bày trong phần tổng quan, nghiên cứu ở một số nước phương Tây chỉ ra rằng việc cá nhân đi đến quyết định tham gia sống thử với người bạn tình khác giới trong một căn phòng riêng thường bị chi phối bởi các lý do như là kinh tế, chia sẻ công việc nội trợ và có quan hệ tình dục dễ dàng… Việc lựa chọn sống thử hay sống chung của một số nam nữ sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh cũng xuất phát từ thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, có nhiều thời gian ở bên nhau hơn, được chia sẻ tình cảm, có thời gian chăm sóc nhau, và một lý do thứ yếu nữa là sống chung để tiết kiệm. Những lý do trên cũng phản ánh sự lựa chọn cái “được” hay cái “lợi” của sống thử. Đây cũng là lý do việc vận dụng lý thuyết trao đổi và sự lựa chọn hợp lý, tác giả muốn lý giải hiện tượng của nhóm sinh viên quyết định lựa chọn cách sống chung, sống thử.

    Kết hợp với câu hỏi “nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sống thử là do đâu?” hầu hết các bạn sinh viên tham gia trong mẫu điều tra đều tích vào câu “sống thử để trải nghiệm cuộc sống gia đình” (19/30 phiếu) chiếm 64% sau đó mới đến các nguyên nhân khác như do tác động từ phiá người yêu (13/30 phiếu) chiếm 43,7%, do thiếu thốn tình cảm, sống thử để có nhiều điều kiện quan tâm chăm sóc nhau nhiều hơn (8/30 phiếu) chiếm 26,7%.

    19

    Những lý do dẫn đến quyết định sống chung, sống thử:

    • Lý do tình cảm là chính, khi yêu nhau rồi mình muốn có nhiều thời gian bên nhau để quan tâm và được chăm sóc nhau nhiều hơn. Đặc biệt khi đã yêu một người con gái nào rồi người nam luôn muốn người con gái đó luôn ở bên mình để thường xuyên

    được nghe giọng nói, nhìn thấy nụ cười của họ. Lý do kinh tế chỉ là phụ thôi vì khi đi học cả hai đều được gia đình chu cấp tiền cho khá đầy đủ rồi .

    • Lý do mình quyết định chung sống với bạn trai là để có người cùng chia sẻ học tập và đặc biệt là mình có thể chia sẻ tình cảm với người bạn trai của mình.

    Qua những thông tin phỏng vấn sâu chúng tôi đã biết được các lý do chi phối động cơ tham gia sống thử của nam, nữ sinh viên ở Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh hiện nay. Chúng tôi nhận thấy rằng mỗi trường hợp, mỗi hoàn cảnh và động cơ đi đến sống thử, sống chung của họ cũng không hoàn toàn giống nhau. Nhưng đa số trường hợp tham sinh viên gia sống chung, sống thử để “được” chia sẻ tình cảm, chăm sóc cho nhau, và thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Trong số sinh viên chọn sống thử để được người sống cùng che chở, bảo vệ an toàn, có người gíup đỡ, phục vụ việc nội trợ hàng ngày; có trường hợp để “được” chia sẻ học tập, hỗ trợ kinh tế. Qua câu hỏi lợi ích của sống thử là gì ta thấy nhóm ý kiến cho rằng để thỏa mãn nhu cầu tình cảm , tình yêu, tình dục chiếm 70,3%, sau đó mới đến các lựa chọn khác như sống thử để có thời gian bên nhau nhiều hơn (66%) sống thử trước hôn nhân giúp tiết kiệm (50,3%). Theo một số nghiên cứu trước thì cho rằng sống chung giúp các bạn tiết kiệm hơn như trước thì phải trả tiền 2 phòng trọ thì giờ chỉ phải trả một phòng,không mất thời gian đi lại,được sinh hoạt cùng nhau… nhưng trong nghiên cứu này thì lý do tiết kiệm chỉ là một trong những lý do các bạn chọn còn lý do chính được các bạn chọn nhiều nhất là thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình yêu, tình dục. Qua một số dẫn chứng và phân tích trên chúng ta thấy mỗi sinh viên với hoàn cảnh và lý do của mỗi người khác nhau.Chúng tôi cho rằng quyết định tham gia sống thử của sinh viên cũng phản ánh một sự tính toán, lựa chọn của các bên tham gia. Có khác biệt giới rõ rệt vì lý do sống chung, sống thử. Sinh viên nam tìm đến hình thức sống chung vì mong muốn có người chăm sóc phục vụ hàng ngày, có cả mong muốn thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý chứ không phải chỉ vì lợi ích của cả hai. Trong khi sinh viên nữ tham gia sống thử vì muốn được động viên, an ủi, che chở, bảo vệ thậm chí có cả việc hỗ trợ về mặt kinh tế. Trong quan hệ này sinh viên nam đảm nhận sự che chở, bảo đảm an toàn, chu cấp kinh tế, tiền bạc cho các khoản chi tiêu riêng tư của cả hai để đổi lấy việc sinh viên nữ chấp nhận việc ở cùng và chấp nhận vai trò nguời phục vụ, việc nội trợ ,cơm nước, giặt giũ hay nói cách khác là chăm sóc bạn trai. Điều này cho thấy mỗi cá nhân có lựa chọn và mong đợi khác nhau từ việc lựa chọn sống thử.

    4.1.2    Lý do xã hội

    20

    Trong các nguyên nhân dẫn đến sống thử qua mẫu điều tra chúng tôi thấy rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến quyết định sống thử của nam nữ sinh viên là do thấy bạn bè sống thử nên muốn thử cho biết chiếm đến 64%. Tỉ lệ này nói lên hiện tượng thể hiện, đua đòi theo bè bạn, thấy bạn sống thử mình cũng muốn thử theo. Có thể thấy rằng khái niệm sống thử không còn xa lạ với sinh viên. Do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, do điều kiện, hoàn cảnh… sinh viên là đối tượng rất dễ bị tác động bởi bạn bè vì phần đông các bạn ở tỉnh khác, ở huyện về trọ học, sống xa gia đình, ít chịu sự kiểm soát của bố mẹ, người thân…Từ dẫn chứng trên có thể thấy rằng sinh viên sống xa nhà không chịu sự kiểm soát của bố mẹ, người thân nên các bạn sinh viên có thể tự do quyết định cuộc sống của chính mình. Điều này đã tạo cơ hội cho sinh viên lựa chọn cuộc sống cho riêng mình, thể hiện quan hệ tình yêu theo ý muốn của bản thân và trái với những mong đợi của gia đình. Nhiều bạn sinh viên có quan niệm rất đơn giản là đã yêu thì phải dành trọn tình yêu cho người mình yêu vì họ quan niệm đã yêu thì phải lấy được nhau chính vì vậy họ chung sống với nhau.

    Tóm lại, từ những dẫn chứng và phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc nhận thức về sống thử của sinh viên đều bị chi phối bởi lý do xã hội hay nói cách khác là cơ chế kiểm soát ở bên ngoài cá nhân. Cụ thể là sự suy yếu của thiết chế hôn nhân, của gia đình truyền thống, nhà trường và cộng đồng. Mặc dù sống thử không được các thế hệ cha mẹ chấp nhận nhưng hiện nay nó đã được thế hệ con cái cho là bình thường. Sự kiện con cái thoát li gia đình đến các trường chuyên nghiệp để học tập khiến cha mẹ không thể kiểm soát suy nghĩ, lối sống và các quan hệ xã hội mới, trong đó có quan hệ tình yêu của sinh viên.

    Do sinh viên có quyền lựa chọn nơi sống của mình, nếu sinh viên lựa chọn sống ở nhà trọ bên ngoài nhà trường thì nhà trường không thể bao quát và kiểm soát sinh hoạt của cá nhân. Cơ chế kiểm soát của cộng đồng, đặc biệt là dư luận xã hội về sống thử của những người khác giới khi chưa là vợ chồng cũng suy yếu. Chính điều này cũng là cơ hội cho nam, nữ sinh viên dễ dàng quyết định tham gia chung sống cùng nhau. Hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến tại các trường đại học, cao đẳng trên cả nước.

    Cơ chế và biện pháp kiểm soát của thiết chế phi chính thức như gia đình, bạn bè, cộng đồng, chủ nhà trọ và các thiết chế chính thức như nhà trường, cán bộ quản lý sinh viên , chính quyền sở tại đối với hiện tượng sống thử của sinh viên còn lỏng lẻo, thực tế này đã chi phối gián tiếp đến quá trình nhận thức và quyết định lựa chọn hình thức sống của sinh viên. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với luận điểm cơ bản của thuyết kiểm soát xã hội.

    5.  Đánh giá về lợi ích và bất lợi của sống thử

    Qua đánh giá về lợi ích của sống thử trước hôn nhân 50,3% ý kiến cho rằng sống thử trước hôn nhân giúp tiết kiệm; 66,0% ý kiến cho rằng sống thử để có thời gian bên nhau

    21

    nhiều hơn, giúp đỡ nhau trong học tập; 70,3% ý kiến cho rằng sống thử là để thỏa mãn nhu cầu, tình yêu tình dục.

    Về đánh giá lợi ích của sống thử đa số sinh viên cho rằng sống thử là là để thỏa mãn nhu cầu, tình yêu tình dục. Khi đã có tình cảm với nhau thì nhu cầu được ở bên nhau là điều dễ hiểu. Số sinh viên cho rằng sống thử sẽ giúp cho họ có thể có nhiều thời gian ở bên nhau, giúp đỡ nhau trong học tập chiếm 66,0%. Tuy nhiều khi các cặp đôi dành cho nhau quá nhiều thời gian và họ lại có sự đồng cảm với nhau khi chia sẻ tình cảm cho nhau thì những nhu cầu tâm sinh lý có thể sẽ nảy sinh. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tỉ lệ đánh giá của sinh viên về vấn đề sống thử phần lớn là để nhằm thỏa mãn tình dục khá cao (70,3%). Bên cạnh đó việc sống thử cũng giúp cho họ có thể tiết kiệm được tiền (50,3%) như tiết kiệm được tiền phòng, tiết kiệm chi phí đi lại, quà cáp… Nếu như trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Chiện khi nghiên cứu về chung sống trước hôn nhân của nam nữ sinh viên trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội không nhằm mục đích tiết kiệm trong chi tiêu, khi tác giả so sánh giữa các cặp sinh viên nam, sinh viên nữ và cặp đôi nam nữ chung sống với nhau thì cho thấy kết quả cặp đôi nam nữ chi phối cho sống chung cao hơn (13 khoản) so với cặp sinh viên nam và cặp sinh viên nữ sống cùng nhau (11 khoản). Điều này cho thấy rằng việc sống chung trước hôn nhân của cặp đôi nam nữ sinh viên trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội không nhằm mục đích tiết kiệm chi phí sinh hoạt hàng ngày mà ngược lại chi phí còn tốn kém hơn so với việc không sống chung. Điều này có thể cũng phù hợp vì sinh viên sống và học tập tại thủ đô và các thành phố lớn và cũng là nơi có nhiều địa điểm du lịch, các khu vui chơi giả trí vì vậy khi đã tham gia sống chung với nhau và nhu cầu giải trí nhiều hơn. Chính vì vậy việc sống chung của các cặp đôi nam nữ sinh viên tất yếu sẽ tốn kém hơn những sinh viên không tham gia sống chung.

    Đánh giá về những bất cập khi tham gia sống thử, các bạn lại cho rằng sống thử sẽ không có thời gian cho học tập và tham gia các hoạt động của trường chiếm 69%, còn các bất cập bị ràng buộc, ảnh hưởng đến sức khỏe chiếm 50,3%, số sinh viên cho rằng sống thử không có bất cập gì chiếm 5,6%.

    Nhìn chung khi hỏi về những bất cập khi tham gia sống thử thì phần lớn cho rằng khi tha gia sống thử thì thời gian giành cho học tập nghiên cứu sẽ không có nhiều vì thời gian dành cho những việc như đi chợ , nấu nướng, giặt giũ… chiếm thời gian hơn nhiều. Còn những ảnh hưởng khác như không có thời gian cho hoạt động tập thể, bị ràng buộc, hạn chế giao tiếp với bạn bè… Trong số này thì có 5,6% cho rằng không có bất cập gì. Khi kiểm định lại số sinh viên cho rằng số thử không có bất cập gì, nhận thấy phần lớn những sinh viên đó là người đánh giá , nhìn nhận cho rằng hiện tượng sống thử là tốt.

    22

    Kết luận và khuyến nghị

    1.  Kết luận

    Trong nhận thức của sinh viên sống thử không hẳn là một hiện tượng xấu, đáng lên án. Các cặp đôi sống thử họ chọn cách sống này như là một sự lựa chọn hợp lý với các yếu tố như tình cảm, tâm sinh lý và chứa đựng trong đó cả vấn đề kinh tế nữa. Khi xem xét trên những phía cạnh đó ta thấy nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử khá toàn diện. Qua điều tra, khảo sát và phân tích, nhóm chúng tôi xin đưa ra một vài kết luận như sau:

    1.1 Phần lớn sinh viên có suy nghĩ chấp nhận sống thử vì cho rằng đó là một lối sống mới, một hệ quả tất yếu trong quá trình xã hội Việt Nam giao thoa với nền văn hóa phương Tây. Ảnh hưởng đó tác động đến xã hội Việt Nam từ chính các nước Châu đã chịu ảnh hưởng từ trước đó.

    1.2 Trong các nguyên nhân dẫn đến sống thử, các sinh viên cho rằng yếu tố thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình yêu, tình dục là nguyên nhân lớn nhất ảnh hưởng đến quyết định tham gia sống thử. Sự khác biệt giữa xã hội truyền thống và xã hội hiện đại là nhóm các bạn trẻ này dám bước qua bức ngăn của chuẩn mực đạo đức xã hội và họ muốn tạo dựng lên lối sống mới.

    1.3 Yếu tố phong tục tập quán, quan niệm cởi mở, phóng khoáng trong tình yêu của các bạn trẻ là một trong những nhân tố tác động dẫn đến quyết định tham gia sống thử của sinh viên Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM.

    1.4 Sự biến đổi toàn diện môi trường kinh tế – văn hóa – xã hội đã tác động vào mọi mặt đời sống xã hội. Trong các yếu tố đó, sự cạnh tranh về văn hóa giữa một phương Tây hiện đại và một phương Đông truyền thống đã tạo nên sự khác biệt trong nhận thức của các nhóm sinh viên. Sự can thiệp sâu sắc nhất thể hiện gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và sự tác động qua thực tế cuộc sống của chính các nhóm sinh viên tham gia sống thử đến quá trình nhận thức của sinh viên nói chung.

    1.5    Một số vấn đề đặt ra cho những nghiên cứu sau này:

    Do hạn chế của nghiên cứu mới chỉ đánh giá, nhìn nhận về thực trạng nhận thức của sinh viên và các nguyên nhân dẫn đến sống thử. Các yếu tố tác động cũng mới chỉ xem xét trên một vài khía cạnh nhỏ cá nhân, gia đình và xã hội (truyền thống, phong tục tập quán). Qua đây cũng gợi mở ra một số vấn đề nghiên cứu sâu hơn:

    • Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến hôn nhân của giới trẻ sinh viên thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    23

    • Nhận thức của sinh viên về giá trị văn hóa truyền thống trong tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại.
    • Hiểu biết về sức khỏe sinh sản với sống thử trong sinh viên.

    2.  Khuyến nghị

    2.1 Cần coi sống thử như một hiện tượng xã hội mới trong xã hội Việt Nam. Vì vậy cần phải có những định hướng cho giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng có một cách đánh giá, nhìn nhận đúng đắn về nó để từ đó mỗi sinh viên khi tham gia vào đó phải tự chịu trách nhiệm với những hậu quả nó để lại.

    2.2 Trong các chương trình giáo dục sức khỏe giới tính trong trường phổ thông và trường đại học, cao đẳng cần thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, ngoại khóa về giáo dục sức khỏe giới tính, an toàn tình dục, riêng với các trường đại học, cao đẳng và các trường chuyên nghiệp Đoàn trường kết hợp với Hội sinh viên tổ chức những hội nghị, hội thảo, ngoại khóa… hoặc tuyên truyền trên đài phát thanh, mạng nội bộ của trường các chương trình, bài viết bàn về sống thử, sống chung trước hôn nhân để sinh viên có nhận thức đúng đắn về hiện tượng xã hội này và giúp cho những đôi có quyết định tham gia sống thử chuẩn bị được tâm lý, biết cách phòng tránh những hậu quả do sống thử để lại như có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bạo lực…

    2.3 Cần có sự gắn kết giữa gia đình, nhà trường và địa phương nơi cư trú để kiểm tra, giám sát tình hình của con em mình trong quá trình học tập cũng như trong các mối quan hệ xã hội khác.

    2.4 Cần có những nghiên cứu, điều tra về sống thử sâu rộng hơn về không gian, thời gian để thấy được kết quả của quá trình sống thử để lại. Để từ đó có những dẫn chứng cần thiết trong công tác tuyên truyền hiểu biết về vấn đề sống thử làm cho sinh viên nhận thức đúng đắn và đi đến quyết định riêng cho mình nên hay không nên sống thử.

    2.5 Về phía Nhà nước nên có những quy định là cơ sở pháp lý cho cuộc sống thử nói riêng và chung sống trước hôn nhân nói chung để là căn cứ xử lý trong những trường hợp có xung đột, bạo lực, tranh chấp tài sản, con cái…

    2.6 Để thực hiện được những giải pháp trên cần có sự đồng thuận, quan tâm một cách có hệ thống và mang tính chiến lược giữa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và tự bản thân của mỗi người.

    24

    Tài liệu tham khảo và phụ lục

    1. Tài liệu tham khảo
    • Báo tuổi trẻ,sức khỏe và đời sống
    • Website: www.dantri.com
    • Website: www.vnexpress.net
    • Các sách báo nói về sức khỏe giới tính và hôn nhân.

    –     Sách Chung , Nguyễn Đình Tấn. Nghiên cứu xã hội học. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

    • Sách Vũ Tuấn Huy (chủ biên). Xu hướng gia đình ngày nay (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệp tại Hải Dương). NXB Khoa học xã hội, 2004.
    • Sách Lê Ngọc Văn. Gia đình và biến đổi gia đình Việt Nam ngày nay. NXB Khoa học xã hội, 2012.
    • Sách Nguyễn Thu Nguyệt. Vấn đề hôn nhân – gia đình và trẻ em qua góc nhìn báo chí NXB Khoa học xã hội, 2007.
    • Bùi Vân Anh (2006) “Bước đầu tìm hiểu thái độ của nữ sinh viên về sống thử” Tạp chí Tâm lý học số 2.
    • Nguyễn Đức Chiện (2011) “Sống chung trước hôn nhân của nam nữ sinh viên hiện nay (nghiên cứu trường hợp trường đại học Nông nghiệp Hà Nội)”, Luận án tiến sĩ xã hội học, Thư viện Xã hội học.
    • Nguyễn Đức Chiện (2004), “Lựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn hiện nay”, tạp chí nghiên cứu Phụ nữ, số 2.
    • Thu Hòe. “Giật mình với tỉ lệ nạo phá thai của học sinh, sinh viên ”, nguồn: http://giaoduc.net.vn , ngày 26/12/2011.
    • Vương Linh. “Các đôi sống thử dễ li hôn sau cưới”, nguồn: http://www.baomoi.com ngày 27/6/2012.
    • Đào Thị Tuyết Mai (2009) “Nhận thức của sinh viên đại học về sống thử”, luận văn thạc sĩ xã hội học, trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội.
    • Phương Thảo. “Chung sống như vợ chồng sẽ được luật hóa”. Nguồn:www.baomoi.com ngày 29/7/2012.
    • Linh Vũ. Indonesia có thể bỏ tù các cặp đôi sống thử. Nguồn: http://Vietnamplus.vn, ngày 09/3/2013.

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ng%E1%BA%A1ch-chuy%C3%AAn-vi%C3%AAn-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-khi%E1%BA%BFu-n%E1%BA%A1i-v%E1%BB%81-tai-n%E1%BA%A1n-lao-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer] 

    Tải ngay bản PDF tại đây:Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    LỜI MỞ ĐẦU

    ——-0***0——-

    Lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên, do Trường Chính trị Thị xã Sađéc Đồng Tháp mở từ ngày 20 tháng 04 năm 2009 đến ngày  6 tháng 7 năm 2009. Chương trình gồm ba phần:

    Phần I: Nhà nước và pháp luật.

    Phần II: Quản lý hành chính và công nghệ hành chính.

    Phần III: Quản lý nhà nước đối với ngành- lĩnh vực.

    Thời gian giành cho khóa học không dài, nhưng với sự biên soạn nội dung, chương trình ngắn gọn, đầy đủ và sự nhiệt tình của các Thầy, Cô của Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp đã truyền đạt những kiến thức cơ bản cho toàn thể học viên lớp học là những công chức nhà nước làm việc tại tỉnh Đồng Tháp, sẽ và đang làm việc với trình độ ở ngạch chuyên viên. Bản thân luôn cố gắng, đã nổ lực học tập để nâng cao năng lực trong lĩnh lực quản lý nhà nước với mục đích là mong muốn vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm đã được học đưa vào thực tiển công tác mà Đảng và Nhà nước đã phân công.

    Sau 03 tháng được bồi dưỡng kiến thức, qua liên hệ thực tiển trong công tác tôi nhận thấy vấn đề “An toàn để sản xuất” và “Sản xuất phải an toàn” luôn là khẩu hiệu hành động của tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Những năm gần đây khi quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu thì vấn đề an toàn trong lao động không chỉ là vấn đề của riêng khu vực sản xuất kinh doanh mà trở thành vấn đề đáng quan tâm của mọi người lao động trong tất cả các cơ quan, đơn vị và mọi thành phần kinh tế.

    Ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ Luật Lao động; trong đó có một chương riêng gồm các Điều qui định về vấn đề Bảo hộ lao động. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1995. Ngày 02/4/2002 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá X đã ban hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2003.

    Việc triển khai và tổ chức thực hiện Bộ luật Lao động tại hầu hết các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong Tỉnh Đồng Tháp được tiến hành đồng bộ và đạt nhiều kết quả khả quan; đã phát huy tác dụng nhằm đảm bảo các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên giữa người lao động và người sử dụng lao động.

    Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình thực hiện Bộ Luật Lao động cũng bộc lộ một số yếu kém, bất cập như: Công tác tuyên truyền giáo dục chưa được tiến hành thường xuyên, chưa đến được đều khắp các doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân; một số trường hợp vi phạm pháp luật lao động chậm được xử lý hoặc xử lý không đúng pháp luật. Thậm chí vì những lý do khác nhau đã không được xử lý. Xuất phát từ tình hình trên Tôi xin trình bày tiểu luận cuối khoá với đề tài :

    Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động”

    Hy vọng đề tài góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn đinh tình hình an ninh – trật tự tại địa phương. Do kiến thức và thời gian chuẩn bị có hạn, tài liệu tham khảo không nhiều nên chắc hẳn tiểu luận không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót.

    Kính mong được Quí Thầy, Cô và đồng nghiệp đóng góp ý kiến.

    Xin thành thật biết ơn./.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG:

     

    Đầu tháng 11/2007, ngành lao động của Tỉnh có nhận được đơn khiếu nại của chị Lê thị N, 35 tuổi, ngụ tại Xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, đề nghị can thiệp giúp đỡ cho chị về bồi hoàn tai nạn lao động. Theo nội dung đơn thì chị N nhà nghèo, học đến hết lớp 4 thì nghỉ và đi làm công nhân cho doanh nghiệp sản xuất gạch ngói Trung Thành  đặt tại Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, do ông Nguyễn Thành Nhân làm chủ.

    Chủ doanh nghiệp phân công chị N vào tổ chuyên nhào trộn, ép đất nguyên liệu do Ông Trần Văn Tuấn làm tổ trưởng, cùng làm việc với chị N còn có chị Bùi Thị K, công nhân mới được nhận vào làm việc hơn 6 tháng. Công việc chính của Chị N là đưa đất vào máy ép để nhào trộn – đây là công đoạn đầu tiên và rất quan trọng của qui trình chế biến gạch ngói nung và đây cũng là công đoạn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm cho người lao động trực tiếp. Một số chi tiết quan trong được ghi trong hợp đồng lao động giữa chị N với chủ doanh nghiệp: tiền công là 45.000đ/ngày; mỗi tháng nhận 2 lần vào ngày 1 và ngày 15 của tháng. Do xa nhà nên chị N được bố trí ở tạm trong khu tập thể của doanh nghiệp.

    Qua hơn 01 năm làm việc, chị N nhận được đầy đủ các lợi ích được ghi trong hợp đồng, ngoài ra, trong dịp tết cổ truyền chị còn được chủ doanh nghiệp thăm hỏi và tặng quà.

    Ngày 08/1/2007, một sự cố nghiêm trọng đã xãy ra tại nơi làm việc của Chị N:  Như thường lệ, sau khi khởi động máy và bắt đầu thao tác được gần 2 giờ đồng hồ thì bộ phận lưới sắt dùng để che chắn, bảo vệ miệng trục lăn của máy ép bị hỏng mối hàn cố định với chân đế nên chị N và chị K quyết định cho dừng máy để tháo dỡ ra mang đến với người quản lý là ông Nguyễn Văn Hùng (người này được chủ cho phép thay mặt mình giải quyết các vấn đề liên quan đến kỹ thuật tại máy ép – trộn này) để báo cáo và yêu cầu cho phép sửa chữa, khắc phục để đảm bảo an toàn và tiếp tục sản xuất. Được sự đồng ý của ông Hùng, Chị N đã mang đến cơ sở hàn tiện gần đó để hàn sửa.

    Mọi thông tin đã được chị N phản hồi đầy đủ đến Ông Tuấn và ông Hùng, về nguyên tắc an toàn lao động, trong điều kiện này người công nhân không được tiếp tục vận hành máy nhưng do nóng lòng thực hiện các chỉ tiêu sản phẩm, phần cũng thấy rằng việc thiếu thốn khung thép bảo vệ tuy có “thiếu một chút về an toàn” nhưng “nếu” kỷ lưỡng thì chắc “không có vấn đề gì”. Thế là tổ nhào nặn đất khởi động lại máy và tiếp tục vận hành, sau hơn 40 phút tiếp tục làm việc, do sơ xuất, một vạc áo của chị N bị trục ép của máy cuốn vào trong máy. Do phản xạ tự nhiên, Chị N dùng tay chống đỡ theo hướng ngược lại nhưng lần này do độ trơn trượt của đất sét nên cánh tay phải của chị lại tự đưa vào trục cuốn của máy ép. Chị N và cả tổ tri hô lên và nhận được sự trợ giúp của các đồng nghiệp. Máy được dừng lại, chị N được cứu thoát chết nhưng cánh tay thì bị máy cuốn dập nát. Trước tai nạn nghiêm trọng đó, các ông Tuấn, Hùng đã nhanh chống gọi phương tiện, xe đưa Chị N đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Đồng Tháp.Vì vết thương khá nặng nên sau đó được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị.

    Ngày 10/4/2007, Chị N được xuất viện, được chủ doanh nghiệp thanh toán tất cả các chi phí về thuốc men, ăn uống, đi lại trong quá trình điều trị với tổng số tiền là 30 triệu đồng và được đưa về tận quê nhà. Không có việc làm, không có thu nhập vết thương chưa lành hẳn, phải tiếp tục điều trị, hoàn cảnh rơi vào tình thế khó khăn gay gắt. Chị N đến  gặp chủ doanh nghiệp cầu cứu sự giúp đỡ để có thể tiếp tục sống, điều trị vết thương nhưng ông Nhân – chủ doanh nghiệp Trung Thành từ chối với lý do ông đã làm hết trách nhiệm.

    Trên đây là tóm tắt nguyên nhân dẫn đến việc chị N gửi đơn khiếu nại đến cơ quan chức năng nhờ can thiệp, giải quyết. Qua đơn của Chị N, các ngành chức năng đã tham gia giải quyết như sau:

    Ngày 29/10/2007, đoàn kiểm tra gồm:

    + Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội Huyện;

    + Đại diện Trung tâm y tế Huyện;

    + Đại diện Liên đoàn lao động Huyện.

    Đoàn kiểm tra đã trực tiếp đến cơ sở sản xuất Gạch ngói Trung Thành để xác định diễn tiến tai nạn lao động và tiến hành các bước điều tra theo đơn khiếu nại và theo các qui định của pháp luật. Xác định tình trạng thương tích của chị N:

    + Theo giấy ra viện do Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/4/2007 xác nhận: Chị N bị tai nạn làm dập nát một phần bàn tay và cả khuỷu tay phải. Bệnh viện đã tiến hành cắt lóc, khâu hở xương quai trụ, xương cánh tay phải, nắn khớp khuỷu và khâu vá nhiều vết trên mu và lòng bàn tay phải. Chị N được chuyển sang Trung Tâm chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị vết thương theo chuyên khoa và được xuất viện, trở về nhà tiếp tục điều trị và tái khám kiểm tra theo định kỳ 3 tháng /lần.

    + Kiểm tra tại nơi làm việc của chị N, đoàn kiểm tra ghi nhận như sau :

    . Khu vực đặt máy không có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.

    . Người lao động phải vận hành máy trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động.

    . Người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp) không tiến hành huấn luyện và hướng dẫn các qui trình, qui phạm, các biện pháp an toàn khi vận hành máy, …, không được trang cấp dụng cụ bảo hộ lao động theo qui định (quần áo, phương tiện bảo hộ lao động cá nhân, . . .)

    II- MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:

    1- Mục đích:

    Nhằm xử lý, giải quyết thoả đáng, hợp lý, đúng qui định của pháp luật các vấn đề thuộc về an toàn lao động, các vụ tai nạn lao động góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, của người sử dụng lao động, ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội; tạo sự gắn bó giữa người sử dụng lao động và người lao động để họ cùng an tâm sản xuất kinh doanh.

    2- Yêu cầu :

    Vấn đề an toàn lao động và giải quyết hậu quả của một vụ,việc tai nan lao động – đặc biệt là các tai nạn lao động nghiêm trọng – luôn là vấn đề phức tạp. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết một vụ tai nạn lao động là trước hết phải nắm vững pháp luật về lao động nói chung và các qui định về bảo hộ lao động, một số kiến thức cơ bản về tâm sinh lý học, v .v .Trên cơ sở đó, kết hợp với những hoàn cảnh cụ thể đã và đang xãy ra mà tìm hiểu vụ việc, nghiên cứu tường tận các khía cạnh của vụ việc, trách nhiệm của các bên liên quan.

    3- Mục tiêu cần giải quyết:

     

    – Chị N phải được chủ doanh nghiệp chi trả toàn bộ tiền thuốc men trong suốt quá trình điều trị cho đến khi khỏi bệnh.

    – Chị N được chủ doanh nghiệp đưa ra Hội đồng Giám định Y Khoa để Giám định phần sức khoẻ bị giảm sút, tỉ lệ thương tật do tai nạn lao động.

    – Trách nhiệm pháp lý của mỗi bên theo qui định của pháp luật. Trước mắt là giải quyết vấn đề hỗ trợ để chị N có đủ điều kiện tiếp tục điều trị và sinh sống trong thời gian chưa thể tiếp tục công việc hoặc chưa tìm được công việc mới.

    III- PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHIẾU NẠI VÀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT:

    Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng đi đúng của Đảng và Nhà nước ta. Trong Những năm qua, định hướng đó đã góp phần hết sức to lớn giúp cho đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử; cả nước hiện có hàng vạn doanh nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đã ăn nên làm ra, có những doanh nghiệp nhanh chóng trưởng thành, tạo được uy tín trên thương trường quốc tế.

    Nhằm đáp ứng với tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật tạo khung pháp lý để điều chỉnh, định hướng và phát huy vai trò chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, thúc đẩy cho từng doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, người lao động có việc làm ổn định, đời sống được nâng lên.

    Kế thừa và phát triển pháp luật, pháp luật lao động nước ta từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Bộ luật Lao động năm 1995 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động năm 2002, 2006 đã thể chế đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các vấn đề về lao động, sử dụng và quản lý lao động được ghi trong  Hiến pháp 1992, 2002.

    Bộ Luật lao động bảo vệ quyền được có việc làm, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng khác của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều kiện và hành lang pháp lý phát triển  mối quan hệ lao động, tạo không khí hài hoà và ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm phát huy trí sáng tạo, tài năng của người lao động và người quản lý lao động nhằm tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

    Trong Bộ luật Lao động có hẳn những chương, Điều qui định về quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động như: Hợp đồng lao động, kỹ luật lao động, an toàn – vệ sinh lao động, các chế độ thử việc, học nghề, chế độ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội,…,các văn bản dưới luật được ban hành khá kịp thời, đáp ứng nhu cầu và  yêu cầu xử lý các phát sinh mới trong quan hệ lao động. Trên thực tế, vẫn còn nơi này nơi khác, lúc này, lúc khác hoạt động quản lý Nhà nước về lao động chưa được tổ chức thực hiện nghiêm, vẫn còn nhiều địa phương, đơn vị nhất là các doanh nghiệp tư nhân, việc nắm và thực thi pháp luật lao động còn nhiều hạn chế. Mặt khác, cũng có tình trạng lách luật thậm chí cố tình không áp dụng luật. Từ đó trong quá trình thực hiện có những vi phạm mà lẻ ra không đáng có như tình huống được nêu ra ở phần trên.

    A – NGUYÊN NHÂN :

    Qua nghiên cứu, phân tích tình huống có thể làm sáng tỏ mấy vấn đề sau:

    1- Công tác quản lý nhà nước về  lao động :

    – Cơ quan thẩm quyền tại địa phương đã không thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động tại các doanh nghiệp, cụ thể là thực hiện Bộ Luật lao động như: vi phạm chế độ hợp đồng lao động, chế độ an toàn vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Luật công đoàn và một số quyền và lợi ích khác.

    – Không kịp thời trong việc giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về quyền lợi của người lao động; chậm trể trong việc điều tra, xác minh, kết luận nhằm hướng dẫn, yêu cầu, thậm chí thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo luật định nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

    2- Về tổ chức công đoàn :

    Tại doanh nghiệp nơi xãy ra tai nạn lao động có hơn 40 công nhân đã và đang làm việc từ 6 tháng trở lên, (tức hội đủ điều kiện để thành lập tổ chức công đoàn cơ sở) nhưng Liên đoàn lao động Huyện chưa kịp thời tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người lao động tham gia vào tổ chức công đoàn.

    3- Đối với người sử dụng lao động:

    Chủ doanh nghiệp chưa thực hiện đúng theo qui định của pháp luật lao động khi đứng ra thành lập và điều hành doanh nghiệp cụ thể như sau:

    – Tuyển dụng công nhân vào làm việc không đúng các qui định về hình thức hợp đồng lao động. Tại các điều 26, điều 27 và điều 65 Bộ luật lao động có qui định: Đối với doanh nghiệp sử dụng người lao động thông qua vai trò trung gian của người quản lý thì người chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm chính, phải đảm bảo người quản lý đó thực hiện đầy đủ các qui định của pháp luật lao động.

    – Chủ doanh nghiệp đã vi phạm các thủ tục hành chính về quản lý lao động; không khai trình lập sổ lao động, sổ lương, bảo hiểm xã hội, không đăng ký nội qui lao động với ngành lao động. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp còn vi phạm qui định về việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Nơi đặt máy móc làm việc không có treo các bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.

    – Khi tai nạn lao động xãy ra đã không kịp thời khai báo với cơ quan chức năng về lao động; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bồi thường vật chất đối với người bị tai nạn lao động.

    – Chị N làm việc ở khâu nhào trộn đất, có vận hành máy điện nhưng chỉ được hướng dẫn sơ sài về cách vận hành máy, chưa được huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động, chưa được trang bị đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động theo qui định của nhà nước.

    4- Đối với người bị tai nạn lao động :

    – Do có nhu cầu về việc làm và thu nhập nên khi được nhận vào làm việc, được giải quyết nơi ở tạm, được hưởng lương theo chế độ khoán sản phẩm (không có bảo hiểm xã hội) lại là người có trình độ văn hoá thấp, nhận thức về pháp luật lao động chưa đầy đủ, không có tay nghề nên Chị N đã vì quyền lợi trước mắt mà dễ dàng chấp nhận công việc (theo kiểu nghề dạy nghề, người có thâm niên trong nghề hướng dẫn, kềm cặp người mới vào).

    – Chị N phạm vào lổi chủ quan khi xem thường các qui trình, qui phạm cũng như mối nguy hiểm khi vận hành, sử dụng máy móc thiết bị. Không đủ hiểu biết và bản lĩnh từ chối khi phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động.

    B- HẬU QUẢ:

     

    Tai nạn lao động luôn mang đến điều bất lợi cho người sử dụng lao động và ngườì lao động, trong đó, người lao động trong hầu hết trường hợp là người chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, gặp khó khăn về đời sống, có khi còn phải mang thương tật, thậm chí phải chịu tàn phế hoặc nguy hiễm đến tính mạng.

    Về phía người sử dụng lao động, khi tai nạn lao động xãy ra sẽ có ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh, phải chịu các phí tổn bồi thường, có trường hợp phải chịu trách nhiệm pháp lý, thậm chí có trường hợp phải thua lỗ, phá sản (hoả hoạn, cháy nổ)….

    Xuất phát từ việc thiếu kiểm tra, đôn đốc, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội; việc chấp hành pháp luật lao động của doanh nghiệp chưa nghiêm dẫn đến vi phạm pháp luật kéo dài không được phát hiện, ngăn chặn đã làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc làm và đời sống của người lao động. Tổ chức công đoàn chưa kịp thời tuyên truyền, vận động tổ chức công đoàn cơ sở để thông qua đó tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để người lao động hiểu biết và thực hiện tốt; đồng thời có thể tự đấu tranh để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.

    Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì tình trạng chậm chạp, xử lý chưa đến nơi, đến chốn của cơ quan chức năng đối với các bên liên quan khi tai nạn lao động xãy ra cũng sẽ tạo ra sự giãm sút niềm tin vào pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hậu quả sâu xa nhất là vấn đề pháp luật chưa được tôn trọng triệt để, pháp chế xã hội chủ nghĩa và pháp luật Nhà nước chưa được thực thi nghiêm chỉnh làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động, đến sản xuất – kinh doanh; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đất nước ta bước vào giai đọan hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, vấn đề cạnh tranh – một vấn đề sống còn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế- đang đặt ra hết sức gay gắt.

    IV- PHƯƠNG ÁN GIAI QUYẾT TÌNH HUỐNG :

     

    Để giải quyết nội dung đơn khiếu nại của Chị N, cần chú ý rằng đây là trường hợp tai nạn lao động nặng, có hậu quả khá nghiêm trọng và có thể kéo dài. Qua kết quả điều tra, phân tích như đã nêu ở phần trên thì nguyên nhân chính của tai nạn lao động thuộc về lỗi của người sử dụng lao động: chủ doanh nghiệp Thành Trung đã vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Tôi xin đưa ra một số phương án giải quyết đồng thời phân tích tìm phương án tối ưu nhất.

     

    1/- Cơ sở pháp luật :

    Trước hết, dựa trên cơ sở các điều luật có liên quan cần phân tích, làm rõ mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động (giữa Chị N và ông Nhân).

    a/- Điều 26, điều 27 và điều 65 của Bộ Luật lao động qui định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động. Đối với doanh nghiệp sử dụng người qua trung gian người quản lý thì chủ doanh nghiệp – người đứng ra ký hợp đồng lao động vẫn phải là người chịu trách nhiệm chính. Trong trường hợp này, ông Nhân là chủ doanh nghiệp nên phải tuân theo các điều chỉnh của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các lợi ích khác của người lao động.

    b/- Khoản 1, điều 39, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, điều trị, điều dưỡng theo quyết định thầy thuốc, của cơ quan y tế có thẩm quyền.

    c/- Điều 9, điều 10, điều 11 và điều 12 của Nghị định 110/2002/NĐ-CP ngày 21/12/2002 của Chính Phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 06/1996/NĐ-CP ngày 20/01/1996 của Chính Phủ, nội dung, trách nhiệm của sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động theo điều 105, điều 106 và điều 107 của Bộ Luật lao động được qui định như sau:

    – Phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu tại chỗ người bị tai nạn lao động, sau đó đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất;

    – Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nặng thì phải giữ nguyên hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động và báo ngay với cơ quan thanh tra Nhà nước về lao động và cơ quan công an địa phương.

    – Khi xảy ra tai nạn lao động phải tổ chức việc điều tra, lập biên bản có sự tham gia của Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Biên bản phải ghi đầy đủ diễn tiến của tai nạn lao động, thương tích của nạn nhân, mức độ thiệt hại, nguyên nhân xãy ra tai nạn lao động, trách nhiệm của các bên liên quan.

    – Chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí cho người lao động từ khi sơ cấp cứu đến khi chấm dứt quá trình điều trị; đồng thời phải bồi thường cho người bi tai nạn lao động một khoản tiền bằng ít nhất 30 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) nếu tai nạn lao động làm suy giảm khả năng lao động.

    Trường hợp tai nạn lao động xãy ra do lổi của người lao động thì với mức độ thương tật như trên, người lao động cũng được bồi thường một khoản tiền bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có).

    – Các trường hợp mức thương tật được xác định từ 5% đến dưới 81% thì trách nhiệm của người sử dụng lao động và các mức bồi thường được qui định tại thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 18/4/2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

    d/- Nghĩa vụ của sử dụng người lao động được qui định tại Điều 95, điều 98 và điều 102 Bộ Luật Lao dộng; Nghị định 06/1995/NĐ-CP ngày 20/01/1995 của Chính Phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động:

    – Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động và cải thiện điều kiện làm việc.

    – Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động đối với người lao động theo qui định của Nhà nước.

    – Cử người giám sát việc thực hiện các qui định, nội qui, biện pháp an toàn lao động  trong doanh nghiệp.

    – Tại nơi làm việc cần xây dựng nội quy, qui định an toàn lao động theo chuẩn qui định của Nhà nước phù hợp với từng loại máy móc, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị.

    – Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, qui định, biện pháp an toàn đối với người lao động.

    – Chấp hành nghiêm chỉnh qui định về khai báo, điều tra tai nạn lao động và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo với Sở Lao động Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động về kết quả, tình hình thực hiện các biện pháp an toàn lao động.

    – Người sử dụng lao động có quyền buộc người lao động phải tuân thủ các thủ tục, nội qui, qui định về an toàn vệ sinh lao động; khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động.

    – Nghĩa vụ của người lao động: chấp hành đầy đủ các qui định, nội qui về an toàn lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.

    – Người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động, trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; huấn luyện, thực hiện các biện  pháp, qui trình, qui phạm về an toàn vệ sinh lao động; có quyền từ chối làm các công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xãy ra tai nạn lao động hoặc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của mình.

    đ/- Điều 107 Bộ Luật lao động qui định: Người lao động bị tàn tật do tai nạn lao động được giám định y khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, xếp hạng thương tật. Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu cho đến khi quá trình điều trị chấm dứt; người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động. Nếu doanh nghiệp vì lý do nào đó chưa thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì chủ doanh nghiệp phải trả một khoản tiền chi phí tương đương với mức qui định trong điều lệ Bảo hiểm xã hội.

    e/- Điều 153 Bộ Luật lao động qui định: ở những doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, đang hoạt động nhưng chưa có tổ chức công đoàn thì sau 6 tháng kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương có trách nhiệm thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp này để đại diện, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và tập thể người lao động. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn sớm được thành lập và hoạt động.

    2/- Các phương án đề xuất:

    Từ thực tế tai nạn lao động của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành; căn cứ biên bản của đoàn điều tra tai nạn lao động liên cơ quan gồm Phòng Lao động Thương Binh và xã hội huyện Cao Lãnh, Liên đoàn lao động huyện Cao Lãnh, tôi xin đề xuất một số phương án xử lý như sau:

     

    Phương án thứ nhất :

    Xác định tai nạn lao động trên đây là trường hợp tai nạn lao động khá nghiêm trọng, cần nhanh chóng thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm :

    – Đại diện Sở Lao động Thương binh và xã hội;

    – Đại diện Sở Y tế;

    – Đại diện Liên đoàn lao động Tỉnh

    Quyết định thành lập đoàn điều tra do Giám đốc Sở Lao động Thương Binh và xã hội ký. Các bước làm việc gồm :

    + Bước 1 :

    Đoàn điều tra tiến hành tiếp xúc với Chị N tìm hiểu về quá trình chữa trị vết thương; việc chăm sóc, chi trả các khoản chi phí và các quyền lợi khác của người sử dụng lao động.

    + Bước 2 :

    Đoàn điều tra làm việc trực tiếp với chủ doanh nghiệp để xác minh nội dung đơn, đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ về quản lý lao động tại doanh nghiệp, xác minh hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động; việc thực hiện các kiến nghị về an toàn vệ sinh lao động của các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động trước đây; tình hình thực hiện các qui định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, việc bồi thường tai nạn lao động trước đây (nếu có) và bồi thường cho trường hợp của chị N.

    + Bước 3 :

    Đoàn điều tra làm việc với các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động trước đây để vừa kiểm tra vừa thu thập thêm thông tin làm cơ sở so sánh đối chiếu thông tin giữa 3 bước.

    + Bước 4 :

    Tổng hợp nội dung, kết quả làm việc của từng bước và kết quả của từng nội dung, mức độ phạm lỗi do mỗi bên gây ra để từ đó hướng dẫn các biện pháp, giải pháp khắc phục hậu quả; tổ chức cuộc họp để nghe ý phản ảnh trực tiếp của 2 bên. Trên cơ sở đó, căn cứ vào các qui định của pháp luật, đưa ra kết luận giải quyết sự việc thấu tình, đạt lý.

    Phân tích:

     

    – Ưu điểm của phương án :

    + Thông qua các cuộc gặp gở, đoàn điều tra có thời gian và điều kiện để thẩm tra thông tin do 2 bên cung cấp, có thời gian để thu thập thêm chứng cứ, số liệu; từ đó có thể đưa ra những kết luận, những giải pháp, biện pháp, hình thức xử lý chính xác, khách quan, thấu tình, đạt lý, có tính thuyết  phục cao.

    + Chủ doanh nghiệp và người lao động có thời gian, điều kiện để suy nghĩ, nhận ra những chỗ đúng, chỗ sai của mình. Bên có lỗi sẽ dễ dàng nhận lỗi, có biện pháp khắc phục một cách tự giác. Bên khiếu nại dễ dàng chấp nhận các kết luận của đoàn điều tra, nhận ra những chỗ còn chưa đúng của mình, từ đó có thiện chí cùng hợp tác với người sử dụng lao động khắc phục hậu quả tai nạn lao động.

    – Nhược điểm của phương án :

    + Người sử dụng lao động, người lao động và đoàn điều tra phải tốn nhiều thời gian. Trước mắt, người lao động sẽ gặp nhiều khó khăn, thiệt thòi.

    + Đoàn điều tra phải đi lại nhiều lần để xác minh nên phải tốn nhiều chi phí cho công tác.

    Phương án thứ hai :

    – Thành lập đoàn điều tra như phương án thứ nhất:  Đoàn điều tra cũng tiến hành làm việc với chủ doanh nghiệp và người bị tai nạn lao động, nghe 2 bên trình bày ý kiến về từng vụ việc cụ thể, có giải trình chi tiết theo trình tự thời gian diễn tiến của vụ việc.

    – Đoàn điều tra tổng hợp các ý kiến và kết luận về mức độ sai phạm của từng bên, từng sự việc cụ thể. Từ đó đưa ra được nguyên nhân để từng bên nhận ra và cam kết có biện pháp khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết điểm và thực hiện đúng chế độ, chính sách đúng với các qui định của pháp luật hiện hành.

    Nếu mức độ sai phạm của chủ doanh nghiệp đúng như đơn khiếu nại của chị N thì đoàn điều tra sẽ đề nghị xử phạt theo Nghị định số 38/1996/NĐ-CP ngày 25/6/1996 của Chính phủ Qui định về việc xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.

    Phân tích :

     

    – Ưu điểm của phương án :

    Thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn, sớm giải toả được mâu thuẫn và tâm lý căng thẳng giữa 2 bên, sớm ổn định sản xuất kinh doanh. Người lao động và chủ doanh nghiệp sẽ tốn ít  thời gian cho việc hội họp, đón tiếp đoàn điều tra, tập trung cho sản xuất kinh doanh.

    – Nhược điểm của phương án :

    Do sự việc mỗi bên đưa ra chưa có đủ cơ sở vững chắc, các cứ liệu chưa chính xác; không có thời gian hội ý, tham khảo ý kiến của mỗi bên để đưa ra những phân tích xác đáng mà chỉ được lắng nghe ý kiến của mỗi bên, vừa phân tích, vừa tổng hợp để chỉ rõ chỗ đúng, chỗ sai, nên việc hoà giải sẽ gặp khó khăn hơn.

    Trong những trường hợp phức tạp phương án này có thể làm cho đoàn điều tra không thể thực hiện đạt các yêu cầu đề ra khi khi giải quyết vụ tai nạn lao động .

    Phương án thứ ba :

    – Thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Huyện để theo dõi, giải quyết, thu thập tin tức. Trên cơ sở đó sẽ tìm ra thông tin, hướng xử lý vụ việc, hướng làm việc với chủ doanh nghiệp và người lao động.

    – Nếu vụ việc giải quyết không thoả mãn được nguyện vọng của các bên thì cần thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh. Sau đó sẽ quay về thực hiện các bước như phương án thứ hai.

    – Ưu điểm của phương án:

    + Có khả năng không phải thành lập đoàn điều tra cấp Tỉnh hoặc không mất nhiều thời gian của đoàn điều tra cấp Tỉnh, tiết kiệm được thời gian, kinh phí.

    + Người sử dụng lao động và người lao động sẽ tốn ít  thời gian cho việc hội họp, tiếp xúc và làm việc với đoàn điều tra.

     

    – Nhược điểm của phương án:

    + Nếu đoàn điều tra cấp huyện không đủ sức giải quyết thì có thể dẫn đến những quyết định không công bằng gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng sản xuất kinh doanh, tình hình an ninh – trật tự tại địa phương.

    + Đoàn điều tra cấp huyện có thể không đủ sức giải quyết vụ việc. Khi đó phải tiến hành thành lập đoàn kiểm tra cấp Tỉnh. Do đó, sẽ kéo dài thời gian giải quyết, tạo tâm lý căng thẳng cho 2 bên.

    3/- Lưạ chọn phương án:

    Qua các phương án và việc phân tích một số ưu khuyết điểm như trên, theo Tôi, với trường hợp tai nạn lao động cụ thể của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành  thì đây là loại tai nạn lao động nghiêm trọng nên cần chọn theo phương án thứ nhất.

    V- KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

    1- Kế hoạch:

    Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh căn cứ Thông tư số 03/1995/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và xã hội ra quyết định thành đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm:

    – Cán bộ thanh tra Sở Lao động thương binh và xã hội làm trưởng đoàn.

     

    Các thành viên gồm :

    – Cán bộ thanh tra Sở Y tế.

    – Cán bộ Ban Thi đua – Kinh tế – Chính sách xã hội Liên đoàn lao động Tỉnh.

    Thời gian để hoàn thành công việc là 2 ngày với các nội dung, chương trình làm việc chia làm 2 giai đoạn như sau :

    Giai đoạn I :

    – Làm việc với chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp Thành Trung đang hoạt động (Uỷ ban nhân dân Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp).

    – Làm việc với chủ doanh nghiệp, thông báo để chủ doanh nghiệp biết những yêu cầu cụ thể.

    – Tiếp xúc chị  N, một số công nhân cùng làm việc với chị N để thu thập thêm thông tin về việc thực hiện các vấn đề như hợp đồng lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tình trạng trang thiết bị làm việc, nội qui lao động.

    – Tiếp tục làm việc với chủ doanh nghiệp để thu thập thông tin, nghe ý kiến phản hồi từ phía người sử dụng lao động; đồng thời kiểm tra, xác minh một số vấn đề có liên quan.

    – Tổ chức buổi gặp gỡ 3 bên gồm: Đoàn điều tra, người sử dụng lao động, người lao động để nghe ý kiến đối thoại của các bên liên quan. Trong buổi họp này có thể mời thêm một số công nhân để làm nhân chứng (nếu thấy cần thiết).

     

    Giai đoạn II :

    – Đoàn điều tra hội ý, trao đổi, phân tích các kết quả thu được qua làm việc ở giai đoạn I. Trên cơ sở đó thống nhất các nội dung đánh giá, lập biên bản kết luận điều tra.

    – Thông qua biên bản kết luận điều tra tai nạn lao động tại doanh nghiệp Trung Thành, tại buổi họp này có mời đại diện Phòng Lao động Thương binh và xã hội, đại diện Liên đoàn lao động Huyện, đại diện Trung tâm Y tế Huyện và đại diện thường trực Uỷ ban nhân xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh.

    Dự kiến rằng các thành phần tham dự họp sẽ thống nhất các nội dung và hai bên cam kết thực hiện.

    Sau đó, đoàn điều tra gửi văn bản báo cáo đến Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Tỉnh Đồng Tháp để theo dõi việc khắc phục hậu quả tai nạn lao động theo như cam kết của chủ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gạch Trung Thành.

    2- Kết quả:

    Với phương án tối ưu và cách làm việc tích cực của đoàn điều tra nên công việc đạt kết quả tốt đẹp, đúng tiến độ, kế hoạch, đạt các yêu cầu đề ra và đáp ứng đầy đủ theo các qui định của pháp luật. Từ đơn khiếu nại của chị N, đoàn điều tra đã ghi nhận và tập hợp các thông tin đưa vào biên bản như sau:

    a/- Doanh nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanh gạch ngói Trung Thành  được thành lập từ năm 2002, có 45 công nhân thường xuyên làm việc; cơ sở vật chất chủ yếu được sang nhượng lại từ một doanh nghiệp gạch ngói khác đã giải thể do làm ăn không hiệu quả nên cơ sở vật chất của doanh nghiệp Trung Thành  còn nhiều thiếu thốn, máy móc thiết bị lạc hậu, phương tiện, điều kiện làm việc chưa đảm bảo an toàn lao động; các công đoạn sản xuất chủ yếu là thủ công, doanh nghiệp vốn ít nên gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chủ doanh nghiệp ít am hiểu pháp luật, đặc biệt là pháp luật về lao động, Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn từ đó đã không thể phát huy được vai trò tích cực của tổ chức công đoàn trong việc tham gia giám sát thực hiện pháp luật lao động.

    b/- Người lao động chủ yếu xuất thân từ nông thôn, học vấn kém, tay nghề thấp; trình độ nhận thức pháp luật không cao nên họ ít khi quan tâm đến việc tìm hiểu pháp luật – kể cả các qui định có liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của chính mình, họ chỉ quan tâm đến quyền lợi trước mắt, đó là vấn đề có thu nhập, thu nhập càng cao càng tốt.

    – Chỉ có 45 công nhân được chủ doanh nghiệp ký kết hợp đồng lao động có thời hạn từ một đến 2 năm, số công nhân còn lại làm việc theo chế độ khoán công việc. Việc trả lương tiến hành dưới hình thức khoán tiền mặt, không thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

    – Công nhân chưa được huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, người lao động chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động, thậm chí không dám từ chối làm việc trong những điều kiện thiếu an toàn lao động.

    Chính những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến các tai nạn lao động, thân thể người lao động bị thương tật, việc làm bị ảnh hưởng, cuộc sống đã vất vã nay càng khó khăn hơn và đến lúc này họ mới quay lại nhờ vào sự can thiệp của pháp luật.

    Sau khi đoàn điều tra xác minh, xác định được lỗi của doanh nghiệp và có hành vi vi phạm pháp luật lao động từ việc ký hợp đồng lao động, không tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, không trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động, chi trả tiền thuốc điều trị cho chị N không đầy đủ, không đúng với các yêu cầu, nhu cầu điều trị….Chủ doanh nghiệp cam kết sẽ thực hiện đầy đủ các kiến nghị của đoàn điều tra. Trước mắt chi trả tiền thuốc men và tiếp tục chi phí điều trị cho chị B đến khi lành bệnh, sau đó tiến hành các thủ tục đưa chị N ra giám định lại sức khoẻ và xác định mức độ thương tật để có cơ sở giải quyết các quyền lợi khác theo qui định của pháp luật.

    c/- Về các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chưa được thực hiện là do chủ doanh nghiệp chưa nắm được các qui định của pháp luật. Sau sự việc này, chủ doanh nghiệp nhận ra thiếu sót và tiến hành việc đăng ký đóng bảo hiểm xã hội cho tất cả công nhân có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ 3 tháng trở lên theo qui định tại điều 141 Bộ luật lao động; đồng thời truy nộp các khoản nợ đọng bảo hiểm xã hội từ trước đến nay cho công nhân.

    Về bảo hiểm y tế, chủ doanh nghiệp bắt đầu thực hiện ngay sau khi đoàn điều tra có kiến nghị.

    d/- Đoàn điều tra cũng kiến nghị Liên đoàn lao động Huyện Cao Lãnh và chủ doanh nghiệp tiến hành thành lập Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho tổ chức công đoàn giúp đỡ người lao động tiến bộ trong nghề nghiệp, có cơ hội học tập, tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người lao động, có tổ chức bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

    e/- Đối với các sai phạm của doanh nghiệp, căn cứ các qui định tại Nghị định số 38/1996/NĐ-CP ngày 25/6/1996 của Chính Phủ, đoàn điều tra tai nạn lao động đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật lao động đối với doanh nghiệp Gạch ngói Trung Thành  bằng hình thức phạt tiền.

    Ngoài ra, căn cứ vào Thông tư số 08/TT-LĐTBXH ngày 14/4/1995 và Thông tư số 23/TT-LĐTBXH ngày 15/9/1995 của Bộ lao động Thương binh và xã hội thì chủ doanh nghiệp còn phải thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tai nạn lao động như: xây dựng nội qui, qui trình an toàn lao động dành cho máy nghiền trộn đất sét, thực hiện các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn máy móc, thiết bị đang được sử dụng tại doanh nghiệp.

    VI- NHỮNG KIẾN NGHỊ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHẰM ĐẢM BẢO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG:

    Từ tình huống như trên, để đảm bảo pháp luật lao động được người sử dụng lao động thực hiện một cách nghiêm chỉnh nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người lao động tại các doanh nghiệp, Tôi xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau :

    1- Đối với các cơ quan cấp Bộ và Chính phủ:

    – Cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ ban hành các văn bản dưới luật, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật lao động, quyền công đoàn.

    – Củng cố, kiện toàn lực lượng thanh tra chuyên ngành có liên quan đến công tác an toàn vệ sinh lao động. Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, góp phần làm trong sạch hơn nữa đội ngũ công chức làm công tác thanh tra lao động, an toàn vệ sinh lao động.

    2- Đối với các cơ ngành liên quan:

    – Hiện nay tình trạng từng ngành hoạt động riêng lẽ theo chức năng nhiệm vụ của mình nên dẫn đến tình trạng trùng lắp hoặc bỏ sót trong công tác kiểm tra, hướng dẫn, hỗ trợ đơn vị, cơ sở thực hiện an toàn vệ sinh lao động. Để khắc phục, đề nghị Sở Lao động Thương binh và xã hội tham mưu Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đồng Tháp thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động cấp Tỉnh và chỉ đạo hướng dẫn thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động cấp Huyện – Thị, thống nhất chỉ đạo công tác Bảo hộ lao động trong toàn Tỉnh.

    – Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động Phòng chống cháy nổ và an toàn vệ sinh lao động. Tuỳ theo chức năng của từng cấp, từng ngành cần có Kế hoạch phổ biến sâu rộng những văn bản hướng dẫn các biện pháp bảo đảm an toàn trong sản xuất kinh doanh. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách có liên quan đến người lao động. Quá trình kiểm tra cần dành thời gian tiếp xúc với người lao động và người sử dụng lao động để lắng nghe ý kiến tâm tư nguyện vọng của từng đối tượng nhằm kịp thời có những đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền, góp phần hoàn chỉnh các văn bản pháp luật.

    – Các cấp, các ngành cần tăng cường công tác thông tin kiến thức pháp luật nói chung, Bộ Luật Lao động nói riêng để người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế nắm vững và thực hiện đúng các qui định của pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mỗi bên.

    Đối với Tỉnh Đồng Tháp, gần đây các doanh nghiệp sản xuất thường tập trung trong các khu công nghiệp, công nhân thường xuyên làm việc tăng ca, ít có điều kiện tập trung nên hoạt động tuyên truyền pháp luật cần có sự thay đổi về phương thức tuyên truyền như dùng hệ thống phóng thanh có công suất đủ lớn đặt gần các khu vực có nhiều công nhân ở trọ để đưa thông tin đến với người lao động nhiều lần vào những thời điểm thích hợp trong ngày. Ngoài ra cũng cần duy trì việc in và cấp phát miễn phí các tờ rơi, các hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiên thông tin đại chúng.

    3- Đối với Liên đoàn lao động Tỉnh:

     

    – Phát huy Trung tâm kỹ thuật và dịch vụ Bảo hộ lao động; tăng cường và đổi mới công tác truyên truyền và huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động cho cán bộ bảo hộ lao động, cán bộ công đoàn và người lao động ở cơ sở; tiếp tục hướng dẫn các đơn vị cơ sở xây dựng và củng cố đội ngũ làm công tác Bảo hộ loa động trong hệ thống công đoàn, trong đó có Hội đồng Bảo hộ lao động và mạng lưới an toàn vệ sinh viên.

    – Phát động và tổ chức có hiệu quả việc kiểm tra, chấm điểm phong trào “Xanh – Sạch – Đẹp; bảo đảm an toàn vệ sinh lao động” ở các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    4- Đối với tổ chức công đoàn:

    Cần dành nhiều thời gian hơn nữa cho việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục công nhân lao động; chú ý công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về lao động, về Luật công đoàn, điều lệ công đoàn. Nhanh chóng tuyên truyền, vận động thành lập các tổ chức Công đoàn cơ sở ở những nơi đủ điều kiện theo qui định của Luật công đoàn và Nghị định 133/HĐBT hướng dẫn thi hành Luật công đoàn.

    VII -KẾT LUẬN:

     

    Từ giải quyết vụ việc khiếu nại trên đây giúp chúng ta phát hiện thêm nhiều vấn đề hết sức quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về lao động. Cho thấy, với vai trò của tổ chức công đoàn, vấn đề tham gia, giám sát, đại diện nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động ngày càng trở nên bức xúc. Một thực trạng là còn không ít doanh nghiệp cố tình vi phạm các qui định pháp luật về các chế độ đối với người lao động như trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, không ký kết thoả ước lao động tập thể, . v. v..

    Trong các vi phạm nêu trên, thì vấn đề giải quyết tình trạng vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động là vấn đề bức xúc nhất, quan trọng nhất.

    Với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, kinh tế khu vực nhân doanh đang phát triển với tốc độ nhanh chóng đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, để sự tăng trưởng đó đáp ứng yêu cầu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về một sự phát triển bền vững thì việc giải quyết một cách hài hoà, tốt đẹp các mối quan hệ, các lợi ích xã hội là vấn đề cần phải đặt ra và đòi hỏi được giải quyết tốt ngay trên từng chặng đường tăng trưởng kinh tế. Xu hướng phát triển trong những năm gần đây cho thấy cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp – dịch vụ thì cũng đồng thời diễn ra quá trình chuyển dịch mạnh mẽ lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị. Thực trạng về chất lượng của đội ngũ lao động này như đã nêu ở phần trên đòi hỏi các cấp các ngành có liên quan cần tăng cường nhiều hơn nữa sự quan tâm chăm lo cho vấn đề an toàn vệ sinh lao động và các vấn đề liên quan ở khu vực này. Làm tốt các biện pháp đảm bảo có hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao động chính là thành công ngay từ bước đầu tiên sự “che chắn của xã hội” đối với sức khoẻ người lao động, thể hiện sự trân trọng và bảo vệ vốn quí nhất của xã hội: đó là con người, sức khoẻ của con người. Con người với ý nghĩa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững ./.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ——///***///——

    1- Bộ Luật Lao động (1995) và Luật bổ sung, sửa đổi một số Điều của Bộ Luật Lao động ( 2002,2006).

    2- Lụât Công đoàn (1990) và Nghị định 133/HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Hướng dẫn thi Luật Công đoàn.

    3- Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội (1995) và Luật Bảo hiểm xã hội (2006).

    4- Tài liệu phục vụ Hội nghị Tổng kết 5 năm thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ của Ban chỉ đạo Tuần lễ quốc gia AT-VSLĐ, Phòng cháy chữa cháy Tỉnh Đồng tháp (tháng 7/2006).

    5- Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2005 của Trung Tâm Dịch vụ và Kỹ thuật Bảo hộ lao động thuộc Liên đoàn lao động Tỉnh Đồng Tháp (tháng 11/2005).

    6- Một số tài liệu khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-xo%C3%A1-%C4%91%C3%B3i-gi%E1%BA%A3m-ngh%C3%A8o-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%93ng-b%C3%A0o-c%C3%A1c-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-thi%E1%BB%83u-s%E1%BB%91-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-hi%E1%BB%87n-nay-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Lời nói đầu

    Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn đề phân biệt giầu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại. Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giầu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc gia. Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị. Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giầu có. Trong thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung đột.

    Trong nền kinh tế thị trường, Quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong quốc gia. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giầu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới.

    Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển. ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hoá giầu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giầu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ đối với những  vùng gặp khó khăn, những hộ gặp rủi ro vươn lên xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Trong nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng đã nhấn mạnh coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Do đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là đối tượng chính của nhiệm vụ xoá đói giảm nnghèo, bởi vì họ còn ở trình độ dân tri thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường. Việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số được thực hiện tốt là một trong những yếu tố cơ bản để thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc ở nước ta  cùng tiến lên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ các chương trình chính sách xoá đói giảm nghèo được triển khai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các ngành Trung ương và địa phương cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số thực sự đã góp phần quan trọng, tạo được chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề bức xúc ở vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên những thành tựu này mới chỉ là bước đầu những tồn tại và khó khăn còn nhiều, để khắc phục nó cần có sự nỗ lực của toàn đảng toàn dân và đặc biệt là từ phía bản thân đồng bào các đân tộc thiểu số, cùng với cả nước xoá đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    Nghiên cứu chính sách xoá đói giảm nghèo và tác động của chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ  giúp chúng ta hiểu thêm về thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thấy được những kết quả đã đạt được và những yếu kém cần được khắc phục trong quá trình thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta ,để từ đó có kiến nghị và đề xuất giải pháp tốt hơn, có hiệu quả hơn trong công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

    Đề án gồm ba phần chính:

    Chương I Cở sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Chương II Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây.

               

    Chương III   Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

     

     

     

    Chương I

    Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với vùng đồng bào các đân tộc thiểu số ở nước ta.

    I Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội

         1 Các khái niệm cở bản về chính sách kinh tế xã hội.

    1.1 Khái niệm chính sách

    Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.

    Chính sách giúp các nhà quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể. Từ đó chính sách sẽ hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

    1.2 Khái niệm chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các giải pháp và công cụ do nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội xây dựng và tổ chức thực hiện để giải quyết những vấn đề chính sách nhằm thực hiện mục tiêu bộ phận theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.

         2 Đặc trưng cơ bản của chính sách kinh tế xã hội

    • Chính sách kinh tế xã hội là các hình thức mà Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Thông qua các quyết định của nhà nước tác động lên các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế hướng họ theo mục tiêu chung của quốc gia trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành.
    • Chính sách kinh tế xã hội là hành động can thiệp của nhà nước trước một vấn đề chính sách chín muồi. Đó là những vấn đề lớn có phạm vi ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước cần được giải quyết ngay.
    • Các mục tiêu của chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu bộ phận, có thể mang tính ngắn hạn huặc dài hạn và được thực hiện trên cơ sở hướng vào mục tiêu tổng thể của đất nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội không chỉ là những cách thức được đưa ra mà nó còn bao hàm cả quá trình thực hiện chính sách đó. Khi Nhà nước đưa ra văn bản về chính sách đã được các cấp có thẩm quyền thông qua thì đó vẫn chưa phải là chính sách. Chính sách kinh tế xã

    hội bao hàm cả hành vi thực hiện những kế hoạch được thể hiện         trong chính sách và đưa lại những những kết quả thực tế tiễn.Việc hiểu chính sách kinh tế xã hội một cách giản đơn là những chủ trương, chế độ mà nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách và những kết quả thực tiễn thu đựơc thì chính sách đó chỉ là những khẩu hiệu.

    • Mục tiêu chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu chung của nhiều nguời huặc của xã hội. Tuy nhiên một chính sách khó có thể đều đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, khi đó chính sách được lựa chọn là chính sách đem lại lợi ích cho đa số mọi người. Thước đo chính để đánh giá, so sánh và lựa chọn chính sách phù hợp là lợi ích mang tính xã hội mà chính sách đó đem lại.
    • Việc xây dựng chính sách kinh tế xã hội có sự tham gia từ nhiều phía nhiều tổ chức khác nhau trong đó Nhà nước với tư cách là người tổ chức và quản lý xã hội xây dựng và chịu trách nhiệm tổ chức thực thi. tuy nhiên ngày nay chính sách kinh tế xã hội không chỉ do các cơ quan tổ chức của nhà nước xây dựng mà nó có sự tham gia của nhiều cơ quan tổ chức ngoài nhà nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội có phạm vi ảnh hưởng lớn, nó tác động đến nhiều đối tượng, đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.

         3 Giải pháp và công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    3.1 Giải pháp chính sách kinh tế xã hội

    Giải pháp chính sách  kinh tế xã hội là phương thức hành động của nhà nước để đạt được mục tiêu. Để đạt được mục tiêu nhà nước phải xác định một hệ thống các giải pháp và mỗi chính sách đều có giải pháp riêng của mình. Có thể phân loại các giải pháp dưới nhiều tiêu trí khác nhau một trong những cách đó là phân loại theo phương thức tác động bao gồm các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu và các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu của chính sách. Với các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu, Nhà nước tham gia vào thị trường, vào đời sống kinh tế xã hội thông qua những chính sách những quy định cụ thể về các hoạt động kinh tế xã hội từ đó tác động tới mục tiêu một cách trục tiếp. Các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu được sử dụng nhằm tạo ra những phản ứng có lợi cho việc mục tiêu từ những chủ thể kinh tế xã hội.

    3.2 Những nhóm công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    • Nhóm công cụ kinh tế là các ngân sách, các quỹ, hệ thống đòn bẩy và khuyến khích kinh tế như thuế, lãi suất, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, tỷ giá hối đoái…
    • Nhóm các công cụ hành chính tổ chức bao gồm các công cụ mô hình các tổ chức, bộ máy và đọi ngũ cán bộ, công chức, các công cụ hành chính là các kế hoạch của nhà nước và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
    • Nhóm công cụ tuyên truyền, giáo dục là hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống thông tin chuyên ngành, hệ thống giáo dục và đào tạo, hệ thống các tổ chức tổ chức chính trị, xã hội và đoàn thể.
    • Các công cụ kỹ thuật, nghiệp vụ đặc trưng cho từng chính sách.

         4 Vai trò của chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội có vai trò hết sức to lớn thể hiện ở những chức năng cơ bản sau:

    • Chức năng định hướng giúp các củ thể kinh tế xã hội có được những chỉ dẫn ra quyết định vạch ra phạm vi giới hạn cho phép của những quyết định, hướng suy nghĩ hành động của các chủ thể vào việc thực hiện mục tiêu chung của quốc gia. Chính sách kinh tế xã hội cũng định hướng việc huy động phân bổ và sử dụng nguồn lực nhằm giải quyết những vấn đề chính sách một cách kịp thời và có hiệu quả.
    • Chức năng điều tiết của những chính sách do Nhà nước ban hành giúp Nhà nước giải quuyết những vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội , điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động xã hội theo các mục tiêu đề ra.
    • Chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển đây chức năng quan trọng nhất của chính sách xây dựng và nâng cấp các yếu tố quyết định sự phát triển như giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hệ thống thông tin và các thị trường vốn.
    • Chức năng khuyến khích sự phát triển đây là chức năng tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội. Bản thân mỗi chính sách khi hướng vào giải quyết một vấn đề bức xúc đã làm cho sự vật phát triển thêm một bậc. Đồng thời khi giải quyết vấn đề đó thì chính sách lại tác động lên vấn đề khác, làm nẩy sinh những vấn đề mới.

    II Vấn đề nghèo đói

         1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói

    1.1 Theo cách tiếp cận hẹp

    Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác.

    Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giầu nhất. Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tương đối. Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn.

    Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay. Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống.

    1.2  Theo cách tiếp cận rộng

    Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội. Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giầu nghèo. Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất, xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá. Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giầu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp. Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và trong hoàn cảnh nhất định. Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giầu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo.

    Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau:

    • Phân hoá giầu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp người giầu lớp người nghèo. Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội.
    • Phân hoá giầu nghèo là hiện tượng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy nếu không xử lý kịp thời, huặc không có cơ chế duy trì sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách giữa lớp người giầu và lớp người nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra.
    • Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cư là Nhà nước, tuy nhiên do bản chất nhà nước ở các chế độ, cũng như định hướng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng như tính triệt để của các giải pháp xủ lý hố ngăn cách giầu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định.

         2 Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay

    Cho đến nay dường như đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội. Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo. Tuy nhiên khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian.

    ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu. Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống. Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác. Do vậy khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, một khái niệm tương đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ tuỳ theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế.

    2.1 Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB)

    – Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh gía WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở, giá trị hàng hoá lâu bền. Tuy nhiên báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề.

    – WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:

    + Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực.

    + Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung.

    – Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998  là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày. Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực. Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó. Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm.

    – Cách xác định ngưỡng nghèo chung

    Ngưỡng nghèo chung  =(ngưỡng nghèo lương thực)+(ngưỡng nghèo phi lương thực)

    Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là 503038 đồng/người/năm từ đó ta có ngưỡng nghèo chung là 1789871 đồng/người/năm.

    2.2  Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế(ILO)

    -Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng rổ hàng hoá cho người nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm. Rổ lương thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người nghèo. Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với người nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất .

    – ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương thực thục phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lương thực trong rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ  gạo và 25% kcalo có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511000 đồng/người/năm.

    2.3 Quan điểm của tổng cục thống kê Việtnam

    – Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việtnam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời gía vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người. Những người có mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo.

    2.4 Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội

    – Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực.

    – Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau :

    + Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một     tháng quy ra gạo được 13 kg.

    + Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng.

    Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo.

    Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo.

    Vùng thành thị dưới 25 kg gạo.

    2.5 Các phương pháp đánh giá các chính sách của chính phủ về giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội

         2.5.1  Phương pháp đường cong Lorenz

    Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ % dân số được cộng dồn với tỷ lệ thu nhập được cộng dồn tương ứng. Phương pháp này được mô tả bằng đồ thị sau :

    100%                                                               A

                            % thu

                             nhập

    cộng                                                      A

    dồn     50

    L2        

    L1

    25

    B

    0             25            50                           100%

    % Dân số được cộng dồn          

    Vì dân số được cộng dồn và thu nhập được cộng dồn tương ứng nên mọi điểm nằm trên đường phân giác 0A phản ánh một sự phân phối tuyệt đối công bằng.

    Các đường cong Lorenz nói lên trong phạm vi dân số đã biết thì tỷ lệ % thu nhập tại các nhóm dân cư là khác nhau. Nhìn trên đồ thị ta thấy đường cong Lorenz càng gần đường phân giác bao nhiêu thì sự phân phối công bằng càng công bằng bấy nhiêu ( đường L2 gần đường phân giác hơn đường L1 ).

    Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy rằng, khi nền kinh tế chưa phát triển, đường cong Lorenz khá gần đường phân giác 0A. Khi đó mọi người cảm thấy có sự công bằng nhưng nhưng công bằng trong nghèo khổ. Khi nền kinh tế thị trường dần dần phát triển thì đường cong Lorenz cũng dần dần nhích xa đường phân giác 0A, tức Lorenz là xuất hiện sự mất công bằng trong phân phối thu nhập. Một số có thu nhập cao nên giầu có, số khác có thu nhập thấp trở nên nghèo khổ. Và đến một lúc nào đó sự mất công bằng phân phối trở thành rào cản của sự phát triển. Khi đó chính phủ phải dùng chính sách tác động đến phân phối thu nhập để kéo đường cong Lorenz tiến dần về phía đường phân giác 0A.

    Để lượng hoá phương pháp đường cong Lorenz, người ta sử dụng hệ số Gini.

    Nếu gọi diện tích được giới hạn bởi đường phân giác và đường cong Lorenz là A và diện tích nằm phía dưới đường cong Lorenz là B, thì hệ số Gini được xác định bằng biiêủ thức :

    B = A/(A+B) = A/(1/2) = 2A

    Hệ số Gini nhận các giá trị từ 0 đến 1.

    G = 0 phản ánh một mức phân phối tuyệt đối công bằng.

    G = 1 phản ánh một sự phân phối tuyêt đối mất công bằng.

    Cả hai trường hợp G = 0 và G = 1 chỉ có ý nghĩa lý thuyết, không có trong thực tế.

    Tên thực tế G nhận các gía trị trong đoạn [ o,1 ], tức Là: 0<G<1 hệ số Gini càng gần 0 thì phản ánh sự phân phối càng công  bằng.

         2.5.2  Chỉ số nghèo khó

    Một chỉ số khác thường được dùng trong phân tích đánh giá chính sách là chỉ số nghèo khó.

    Chỉ số nghèo khó được xác định bằng tỷ lệ % giữa số dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó với toàn bộ dân số .

    Ip = ( Số dân ở dưới mức tối thiểu)/(Tổng dân số)

    Chỉ số này cho ta biết những thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người thật sự nghèo với những sự thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người khá giả không quan trọng bằng những thay đổi có khả năng chuyển các cá nhân nằm dưới đường nghèo khổ lên trên đường này. Chỉ số này có thể dánh giá mức độ nghèo khổ của một huyện một tỉnh, hay cả nước.

    III Chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta

         1 Khái niệm, mục tiêu, đối tượng chính sách xoá đói giảm nghèo

    Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội giầu đẹp.

                Mục tiêu  của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc diện nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xã hội,  nhằm mục tiêu tổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.      

    Đối tượng  là đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu vùng xa nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn và có cuộc sống cách biệt với đời sống kinh tế xã hội của cả nước.

         2 Những chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

    2.1 Chương trình phát triển nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

         2.1.1 Chương trình về thuỷ lợi, giao thông

    Đây là chương trình đầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫn được tiếp tục. Đa số người người nghèo tập trung nhiều nhất ở những vùng sâu vùng xa mà chính những nơi này giao thông thuỷ lợi lại rất yếu kếm do đó Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ cho những khu vực này với khẩu hiệu nhà nước và nhân dân cùng làm. Việc phát triển giao thông và thuỷ lợi sẽ tạo đà cho sự hoà nhập giữa miền ngược và miền xuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, tăng năng suất lao động góp phần bình ổn lương thực trong vùng.

         2.1.2 Chương trình định canh định cư

    Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận vấn đề định canh định cư có tầm vóc cực kỳ quan trọng nhằm làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội miền núi, vùng dân tộc thực tế đây là cách sống ổn định văn minh, tiến bộ. Nó tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm của nhân dân các dân tộc thiểu số, từng bước xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, bất lợi cho sự phát triển để hoà nhập vào sự phát triển chung. Chương trình này bắt đầu từ 1968, và nó đã trở thành một chương trình rất đắc lực trong việc giảm nghèo đói . Mục tiêu của nó nhằm biến người du canh du cư thành định cư, tức là giúp những người nghèo nhất những người dễ bị rủi ro nhất trở thành những người sống ổn định, nó có đối tượng phục vụ cụ thể và rất thiết thực đói với người nghèổ miền núi.

         2.1.3 Chương trình tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ

    Đây là một chương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế miền núi theo hướng chuyển dịch cơ cầu giống cây trồng mới và sản xuất hàng hoá tập trung. Nó được hiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự án triển khai trên diện rộng, chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông, khuyến lâm, khoa học kỹ thuật, vật tư sản xuất, tín dụng nông thôn.

    2.2 Chương trình giải quyết việc làm

    Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11-4-1992 một chương trình có tầm quan trọng tác động tới việc xoá đói giảm nghèo đó là chương trình xúc tiến việc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyết gánh nặng nhân lực trong qúa trình tổ chức, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu đổi mới, cung cấp tín dụng, bồi thường, trợ cấp cho người ra khỏi biên chế nhà nước để tự tạo việc làm, buôn bán nhỏ và các hoạt động kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường.

    2.3 Chương trình tín dụng

    Nhà nước ta đã có chủ trương thực hiện các khoản tín dụng cho vay mở rộng tới hộ nông dân, và theo quyết định số 525/TTg ngày 31-8-1995 của thủ tướng chính phủ cho phép thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo để giúp người nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Ngân hàng phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vồn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác nhà nước cho phép được lập quỹ cho người nghèo vay thực hiện chương trình của chính phủ đối với người nghèo.

    Hoạt động của ngân hàng người nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện việc cho vay trực tiếp đến hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được cho vay để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn, và theo lãi suất quy định. Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro trong quá trình hoạt động phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của bộ tài chính.

    Sau bẩy năm họat động ngay 4-10-2002 chính phủ đã ban hành nghị định 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác trong đó ghi rõ thành lập ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng người nghèo đưa ngân hàng người nghèo trở thành một ngân hàng hoàn chỉnh giúp cho việc thực hiện các chức năng của mình hiệu quả hơn.

    2.4 Chương trình giáo dục y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

         2.4.1 Chương trình giáo dục

    Có thể gói gọn chương trình giáo dục trong khuôn khổ đóng góp huặc tác động vào vào việc xoá đói giảm nghèo gồm:

    • Chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp.
    • Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học.
    • Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dục phi chính thức.
    • Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thị trường.
    • Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú.

         2.4.2 Chương trình y tế

    Chương trình y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân nói chung vốn có thâm niên từ trước rất lâu so với chương trình xoá đói giảm nghèo. Trong chương trình chung lại có chương trình bảo vệ bà mệ trẻ em, đó là hai đối tượng dễ bị tổn thương và rủi ro trong cuộc sống xã hội và gia đình. Những chương trình hoạt động chính trong khuôn khổ xoá đói giảm nghèo bao gồm chương trình phòng chống bệnh bướu cổ, phòng chống bệnh sốt rét, nước sạch cho sinh hoạt nông thôn, tiêm chủng mở rộng, xoá xã trắng về y tế. Những chương trình này nhằm cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    2.5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Chương trình quốc gia số 06/cp là chương trình về phòng chống và kiểm soát ma tuý theo nghị quyết số 60/CP của chính phủ ra ngày 29-01-1993. Chương trình này này được triển khai nhằm mục tiêu phòng và kiểm soát ma tuý mang ý nghĩa chính trị xã hội và quốc tế rộng lớn. Song quá trình thực hiện nó lại có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận động đồng bào dân tộc từ bỏ trồng cây thuốc phiện và thay thế cây trồng vật nuôi để bù đắp sự hẫng hụt từ việc mất nguồn thu từ cây thuốc phiện.

    2.6 Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn

    Chương trình này bắt đầu từ năm 1992, mục tiêu nhằm vào các dân tộc thiểu số khó khăn và có dân số ít ( trên dưới một vạn người ). Đa số những dân tộc này nằm ở vùng sâu vùng xa khó khăn về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, y tế, giao thông, văn hoá thông tin… Những dân tộc quá cách biệt với các khu vực kinh tế đang năng động và hầu như chưa được cơ chế thị trường ảnh hưởng và tác động tới. Tính đặc biệt của chương trình này là đầu tư không hoàn lại tức là cho không .

    2.7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Có thể nói những năm qua, chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ môi trường, chi phí cho việc bảo vệ môi trường năm sau lớn hơn năm trước mà nổi bật là chương trình 327 phủ xanh đất chống đồi trọc. Chương trình bảo vệ môi trường mà nước ta triển khai nhằm mục tiêu nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ thuật cho đồng bào miền núi. Những yêu cầu, biện pháp bảo vệ môi trường dễ hiểu, thiêt thực đối với họ. Đồng thời có các chương trình chyển giao khoa học kỹ thuật để họ có thể thâm canh tăng năng suất lao động trên đất nông nghiệp hiện có và quan trọng hơn là không mở rộng diện tích canh tác khi dân số tăng huặc do thiếu đất bằng cách chuyển đất rừng làm nương rẫy. Tuy trọng tâm của những chương trình được triển là tập trung vào việc xoá đói giảm nghèo giải quyết những bức xúc của người nghèo nhưng không cho phép xâm hại phá vỡ tính ổn định của tự nhiên. nói cách khác xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi  trường là hai mặt của một quá trình cải thiện tính bên vững của môi trường sống, có giá trị lâu bền với đồng bào các dân tộ thiểu số.

     

    Chương II

    Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

    I Thực trạng và nguyên nhân về tình trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn trước đây

         1 Thực trạng về tình hình nghèo đói ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong những giai đoạn gần đây

    Chính sách đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay và nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/TƯ ngày 27-11- 1989 của bộ chính trị “ Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế _ xã hội miền núi “ và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) “ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế  xã hội miền núi “ nhằm cụ thể hoá việc phát triển kinh tế xã hội vùng cao, miền núi ngày càng đạt được nhiều thành tựu. Có thể nói chưa bao giờ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn quen với một cuộc sống có nhu cầu thấp về tiêu thụ và hưởng thụ.

    Trong tình hình đó sự phân hoá giầu nghèo ngày càng rõ nét. Một nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên. Một nhóm lớn vẫn còn loay hoay chưa dám mạnh dạn thay đổi., kiếm tìm nguồn lực, phương sách tăng thu nhập. Nhóm đa số thực sự chỉ trông vào hạt ngô hạt lúa, hứng chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng. Không có lương thực cũng có nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập, không có tiền để đầu tư vào vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên. Phương sách đơn giản và đỡ tốn kém nhất là đốt phá rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc phiện để tạo thu nhập cho cuộc sống.

    Tuy chưa có cuộc điều tra riêng rẽ chính xác cho vùng dân tộc thiểu số, nhưng hai cuộc điều tra chung ở nông thôn cả nước đều cho thấy kết quả là mức độ nghèo đói diễn ra trầm trọng nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc, vùng duyên hải Trung bộ và Tây nguyên. Kết quả cuộc điều tra năm 1992 về các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng, Mông, Ơ Đu, Khơmú, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng trên địa bàn miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã cho một kết luận đáng chú ý về tỷ lệ phân hoá giầu nghèo như sau:

    • Giàu, khá : 9,3%
    • Trung bình : 45%
    • Nghèo : 45,7%

    Sự giầu nghèo giữa các dân tộc thiểu số là một vấn đề cần được quan tâm để tìm ra phương sách phù hợp. Cùng một vùng, khi người giầu huặc khá ở dân tộc Nùng là 10% thì dân tộc Giáy chưa có sự hình thành tầng lớp này. ở dân tộc Thái là 8 – 10 % trong khi người Mông ở Nghệ An lại là 31,25% do còn lén lút trong trồng bán thuốc phiện.

    Lấy mốc cuộc điều tra năm 1993 mức độ giầu khá, trung bình tính chung cả nước gấp gần 2,5 lần so với các tỉnh trung du và gần 4 lần so với các tỉnh miền núi phía bắc. Trong cuộc điều tra này đã phát hiện một vấn đề rất đáng quan tâm là chỉ số nghèo đói ở Việtnam được xếp ở mức độ rất thấp. Tỷ lệ chi phí cho nhu cầu lương thực chiếm tới 70% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nhất và là 66% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nói chung. Mức chi phí từ 66% – 70% là qua cao so với nhu cầu về nhiều mặt khác của một gia đình như dinh dưỡng từ những thực phẩm thịt động thực vật, chi phí học hành, hưởng thụ văn hoá- thông tin…

    Trong việc phân chia mức độ nghèo đói, có thể phân chia ra các nhóm như sau:

    Nhóm thứ nhất : một số hộ đói nghèo chủ động tìm kiếm cơ hội thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Họ tìm đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học tập kinh nghiệm, tìm tòi các địa điểm, địa phương có điều kiện làm việc để có thu nhập cao hơn. Họ mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất, tìm kiếm để mở rộng sản xuất ngoài nông nghiệp và chăn nuôi.

    Nhóm thứ hai : Nhóm này ít năng động hơn có thể khá lên thoát khỏi đói nghèo nhờ vào các chương trình phát triển giao thông, có đường sá tốt để giao lưu buôn bán trao đổi hàng hoá và nhờ vào được hưởng các dự án kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhưng nhóm này tỏ ra kèm năng động hơn nhóm thứ nhất và cũng đễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa bàn kết thúc. Đó là nhóm thiếu bền vững.

    Nhóm thứ ba : Đây là nhóm chiếm đa số là những người không huặc rất ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển. Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương huặc phát đồi rừng làm nương để hy vọng có lương thực khá  hơn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra huặc không giám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống. Tâm lý dân tộc thiểu số quen sống dựa vào tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số họ là nhữg người neo đơn, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền kinh tế không ngừng tăng trưởng.

    Mặc nhiên hộ là dân tộc thiểu số hay đa số nhưng khi cư trú ở các khu vực miền núi có khó khăn thì họ phải chịu đựng những thiệt thòi chung. Dù cho sự thiệt thòi có khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng tạo thu nhập, sáng kiến của các dân tộc. Trong cuộc điều tra năm 1992 người Tày đông đứng đầu trong các dân tộc thiểu số sống tập trung ở Việt Bắc, có tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 58,1%. Ngoài sự khác biệt về vùng có chênh lệch khá lớn thì một thực tế cho thấy trong 53 dân tộc thiểu số cũng có sự phân cách nhất định giữa các nhóm đầu bản, giữa bảng và cuối bảng về mức độ giầu nghèo. Những dân tộc Thái, Mường, Tày thường đứng ở những bậc thang cao hơn cả. Họ vùa có số dân đông, nơi cư trú khá thuận lợi, trình độ dân trí cao.

    Một nhóm dân tộc quá ít người thường chịu những thiệt thòi hơn. Có thể là do lịch sử để lại những yếu kém tồn tại. Họ không đủ lực để tranh chấp những vùng đất mầu mỡ huặc họ đến sau những nơi tươi tốt đã thuộc về dân tộc khác đến trước. Có thể họ bị chèn ép, họ tự ý dắt nhau đi sâu vào những vùng hoang vắng. Những vấn đề ấy trong lịch sử của bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể diễn ra, không phải là hiện tượng cá biệt. Di chứng lịch sử để lại nên họ đành phải chấp nhận một số phận ít may mắn hơn các dân tộc khác và vì thế độ đói nghèo cũng nhiều hơn. Các dân tộ trong nhóm này gồm: Lào, La Hủ, Phù Lá, Lự, Chứt, Cờ Lao, La Ha, Cống, Pu Péo, Ơ Đu, La Chí, Kháng, Pà Thẻn, Lô Lô, Mảng, Bố Y, Ngái, Shi La, Rơ Măm, BRâu.

    Một nhóm dân tộc thiểu số khác cũng cần đề cập đến là những người du canh du cư một cách khá thường xuyên huặc di dân tự do. Nhóm này gồm cả một bộ phận dân tộc có số dân đông như Mông, Ba Na, Gia Rai và gần đây là cả Tày, Nùng và Giao vào các vùng đất còn rừng và mầu mỡ ở Tây Nguyên. Đây là một nhóm người mà cuộc sống cũng rất bấp bênh và còn nhiều khó khăn chưa ổn định cuộc sống.

    Một nhóm nữa là một vài dân tộc còn khá lạc hậu, tồn tại nhiều phong tục tập quán cổ hủ và có nguy cơ giảm dân số huặc suy thoái nòi giống, còn giữ những nét hoang dã, chưa hoà nhập được với cuộc sống lao động sản xuất, vẫn quen hái lượm săn bắn, dựa vào thiên nhiên. Nhà ở tạm bợ, ăn uống thiếu vệ sinh, luôn trong tình trạng đói nghèo đã làm cho những dân tộc này tăng dân số rất chậm. Năm 1995, dân tộc Chứt ở bản Rào Tre, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có 19 hộ với 103 nhân khẩu trưởng bản là một bà tên là Đại, người bé như một đứa trẻ 11 – 12 tuổi, nặng chừng 30 kg do suy thoái nòi giống. Trước đó 2 năm một dự án định canh định cư đã được thực hiện ở đây. Bản có ruộng nước, được cấp trâu bò, xây nhà cho các hộ, đào giếng nước ăn, mở lớp học… nhưng điểm quan trọng cần lưu ý là số ruộng đó lại do người kinh phát canh. Mùa đến, tuỳ theo người kinh cho bao nhiêu gạo thì cho, bản lúc nào cũng vắng tanh, chỉ có phụ nữ và trẻ con, đàn ông thì đi rừng hết, họ đi hàng tháng, đêm ngủ trong hang đá huặc leo lên cây… nghĩa là họ vẫn quen cuộc sống dựa vào thiên nhiên, không chịu làm ruộng mặc dù đã có ruộng và trâu bò.

         2 Những nngyuên nhân cơ bản về tình trạng nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

    2.1 Sự phân cách trầm trọng kéo dài

    Đây là nguyên nhân bao trùm dẫn dến tình trạng nghèo đói đối với các hộ dân tộc thiểu số. Những dân tộc thiểu số chịu sự phân chia về địa hình và sự cách biệt về xã hội. Chiến lược phát triển giao thông vận tải đã đưa ra những con số gần đây cho thấy rõ những yếu kém và sự quá tải của hệ thống giao thông nước ta. Hiện nay cả nước vẫn còn khoảng 657 xã chưa có đường ôtô vào trung tâm xã ước tính độ dài đường cần phải làm là 6.400 Km và cần dựng thêm 2.708 cầu trên các tuyến đường vao trung tâm các xã mà chủ yếu là cầu nhỏ dân sinh. Riêng miền núi phía bắc còn có trên 400 xã chưa có đường ôtô đi vào, chiếm trên hai phần ba số xã miền núi trong toàn quốc.

    Đó là chưa thể so sánh con đường đó với những đường chỉ có ngựa thồ và người đi bộ từ các làng bản xa và cao xuống đường xương cá gắn với đường trục. Các chòm bản các hộ cách xa nhau là đặc điểm bắt buộc của những cư dân sống bằng nương rẫy. Do luân chuyển các hạt nương và năng suất đạt thấp nên gia đình cần có một khoảng canh tác rộng để có đủ lương thực sống. Hầu như họ rất ít đi chợ, mỗi lần đi chợ họ mua dự trữ những mặt hàng thiết yếu dầu thắp, muối ăn, và một vài thứ khác.

    Sự phân cách về mặt địa lý đã làm cho việc đi lại trở nên khó khăn. Việc đi lại cách trở, xa các chợ, thị tứ, thị trấn đã làm cho họ rất thiếu thông tin kiến thức về kinh tế thị trường, tính toán đầu vào đầu ra để có kết quả tốt nhất. Bên cạnh đó là sự thiếu thốn về giáo dục làm cho trình độ dân trí của các dân tộc thiểu số có sự cách biệt đáng kể. Số người được học hành để có bằng cấp là rất ít do vậy nên khả năng tham gia của nhười dân tộc vào các hoạt động của xã hội hiện đại là rất hạn chế. Những nỗ lực nhằm từng bước hoà nhập đời sống xã hội của đồng đồng bào các dân tộc thiểu số vào xã hội đương thời ở nước ta chính là cách xoá dần sự chênh lệch cách biệt. Các chương trình mở trường học, xoá mù chữ, dậy tiếng Việt trong nhà trường đã được tiến hành nhưng hiện tượng tái mù chữ vẫn xẩy ra do sau khi học xong thì họ ít có cơ hội tiếp xúc với những phương tiện thông tin để có thể vận dụng những chữ đã được học trong nhà trường.

    Song cho dù chương trình có tốt đến đâu, có hay đến đâu nếu không có kinh phí thì cũng không thể tiến hành được.Đây là một thực trạng khó khăn cho chúng ta hiện nay. Nguồn kinh phí chi cho những công tác này còn rất eo hẹp, cộng thêm với đội ngũ cán bộ thực hiện những chương trình đó thì chưa có đủ trình độ do đó dẫn đến sự kếm hiệu quả của những chương trình đã được triển khai.

     

     

     

    2.2 Những rủi ro tai hoạ đột xuất

    Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi, điều quan tâm nhất của họ trong đời sống là vấn đề cái ăn. Vì vậy có được sự an toàn về lương thực là vấn đề ưu tiên số một. Nhìn lại mấy chục năm qua, tình trạng thiếu lương thực luôn đè nặng lên cuộc sống của họ. Đa phần họ sống trên những vùng đất rốc, núi đá, không thuận lợi cho việc canh tác và năng suất lao động kém. Các vùng và tiểu vùng nơi họ sống thường rất thất thường và khắc nghiệt. Độ ẩm, gió Lào, độ mưa, độ lạnh luôn gây khó khăn cho cây vật nuôi, quá trình sản xuất, và kết quả là mất mùa đối với cây trồn, bệnh dịch đối với gia súc, cây trồng, vật nuôi kém phát triển tất nhiên dẫn đến năng suất thấp ít hiệu quả. Điều quan trọng là do cư trú ở những vùng sinh thái thiếu sự đảm bảo ổn định, tài nguyên rừng, nước ngày càng cạn kiệt. Do lối canh tác ngày càng lạc hậu cây con truyền thống, phụ thuộc nhiều vào khí hậu thời tiết nên dẫn đến thường xuyên đói lương thực và bị đe doạ đứt bữa vào những kỳ giáp hạt.

    Rủi ro và những phát sinh bất thường chính là do sự thiếu bền vững, có thể nói đó là hai mặt gắn liền với sự đói nghèo. Môi sinh mỏng manh, đất đai dễ bị sói mòn, bạc mầu, rừng bị tàn phá thu hẹp dần, nguồn nước mất kéo theo mất luôn nguồn thuỷ sản. Thêm vào đó là thiên tai thường xẩy ra hàng năm và bất ngờ đẩy cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào hoàn cảnh rất bấp bênh. Mặc dù có nhiều chương trình được thực hiện để củng cố tính bền vững của môi trường như chương trình định canh định cư và chương trình 327 nhưng hiệu quả đem lại chưa cao.

    2.3 Nguồn lực và năng lực

         2.3.1 Nguồn lực

    Có thể nói một cách nhắn gọn nguồn lực bao gồm tất cả những khâu thuộc đầu vào để tạo ra nguồcn thu nhập gồm  tức là đầu ra. Nguồn lực của những người nông dân bao gồm : đất đai, lao động, vốn sản xuất kỹ năng sản xuất. Muốn thực hiện xoá đói giảm nghèo thì phải cung cấp cho họ những điều kiện để họ sản xuất.Trong các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, ở nước ta ngoài các dân tộc thiểu số như Mường, Tày, Nùng đã canh tác ruộng nước có hệ thống dẫn nước để tưới tiêu học ở người kinh còn lại đa số các đân tộc thiểu số quen phương thức canh tác trên đất đốc và khô. Để ngăn chặn nạn du canh du cư, phá rừng làm rẫy ngày 14-7-1993 tại kỳ họp thứ ba của Quốc Hội khoá IX đã thông qua luật đất đai cho phép xác định tính pháp lý của người có quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đất chia rừng cho các hộ gia đình quản lý diễn ra chậm chạp. Và nếu không có giấy tờ sở hữu đầy đủ thì các hộ dân tộc thiểu số sẽ bị lợi dụng huặc xâm chiếm đất đai bởi những cư dân tự do mới đến.

    Có được đất đai rồi muốn tổ chức sản xuất cần có lao động. Nhìn chung chất lượng lao động ở các dân tộc thiểu số bị yếu kém ở hai khía cạnh chính là : Thể trạng yếu mệt suy dinh dưỡng và kỹ năng lao động kém do đó làm cho năng suất trong lao động rất thấp. Bên cạnh đó nguồn vốn eo hẹp. Có nhiều hộ chỉ quen trông chờ vào nông nghiệp, chăn nuôi nên khi chưa có phương sách gì hơn để tạo thu nhập vốn nhiều khi chưa phải là cần thiết.

         2.3.2 Năng lực

    Năng lực muốn nói ở đây là mức độ tham gia của các dân tộc thiểu số vào xã hội hiện thời. Trước hết quyền tham gia vào các lĩnh vực chính trị – kinh tế, xã hội của các công dân thiểu số đã được xác lập cùng với sự ra đời của nhà nước Việt Nam. Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho con em của đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện được học  ở những lớp chuyên ngành và đại học

    II Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

         1 Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

    1.1 Thuỷ lợi, giao thông

    Thập kỷ cuối của thế kỷ XX, việc phát triển giao thông nông thôn được phát triển trong toàn quốc, với phương châm nhà nước và nhân dân cừng làm đã huy động được nhiều nguồn nhân lực, vật lực, tiền của, phát triển được trên 150.000 Km đường bộ và 35.700 Km đường thuỷ. Nhưng ở miền núi còn rất nhiều khó khăn, làm một Km đường rất tốn kém vì núi đá và địa hình phức tạp, đóng góp của dân về tiền của không nhiều và cuối cùng là ngân sách của Nhà nước đầu tư cho giao thông miền núi còn xa mới đáp ứng được nhu cầu.                         

    1.2 Chương trình định canh định cư

    Vấn đề định canh định cư từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nó được thể hiện rõ nét nhất qua chương trình 327 được hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết định ngày 15/9/1992. Chương trình này nhằm vào mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, bãi cát sông biển và đối tượng của nó mở rộng tói nhiều hộ gia đình thiểu số dân tộc miền núi. Ngay trong hai năm đầu triển khai chương trình đã được vay 67 tỷ 230 triệu đồng (1 triệu đồng/hộ) để phát triển 400.495 ha đất thành kinh tế hộ, trồng được 19.500 ha cao su, 11.500 ha chè, 7.000 ha cà phê, 18.500 cây ăn quả; và giải quyết việc làm cho 68.300 hộ trải dài trên địa bàn gần 220 huyện, 700 xã miền núi.

    Tính đến 1998 cả nước ta còn có 356.000 hộ với 2,246 triệu nhân khẩu ở 1.939 xã của 38 tỉnh thuộc đối tượng định canh định cư, trong đó có 82.300 hộ, 507.000 khẩu cơ bản đã hoàn thành định canh định cư. Đối tượng còn lại tiếp tục định canh định cư có 25.714 hộ với 157.000 nhân khẩu đang còn du canh du cư.

     

    1.3 Tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học kỹ thuật

    Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX dịch vụ này đã có sự tiền bộ đáp ứng tương đối tốt nhu cầu đầu vào cho sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp. Nhiều hộ nghèo đã được hưởng lợi ích từ chương trình này, và họ đã tìm được cho mình cuộc sống ổn định. Song miền núi, vùng dân tộc thiểu số, thậm trí cho tới nay cũng mới chỉ số ít địa phương có dược những chương trình hiệu quả kiểu này. Thực chất những nội dung lớn của chương trình này chưa được hoạt động mạnh mẽ, phần lớn chỉ khuôn lại ở khuyến nông và khuyến lâm, chỉ đơn thuần là việc đưa giống mới cho người sản xuất để tăng thu nhập. Sự chuyển giao công nghệ theo đúng nghĩa của nó thì chưa làm được bao nhiêu, mới chỉ dừng lại ở cây chè, cây cà phê, cây cao su. Hiệu quả hoạt động của trên 200 trạm khuyến nông cấp huyện và 61 trạm cấp tỉnh chưa đạt yêu cầu, đặc biệt ở những huyện miền núi trạm chưa đủ cán bộ, mạng lưới mỏng khó có thể tiếp cận được với đồng bào các dân tộc thiểu số.

    Nhưng khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện chương trình này qua tìm hiểu từ hai phía nhà đầu tư và người được đầu tư cho thấy:

    Về phía đầu tư  do đi lại khó khăn, thiếu cán bộ khoa học tâm huyết lên với đồng bào miền núi vì chế độ, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng để khuyến khích chất xám khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất ở miền núi; mặt khác, mức độ thử nghiệm gặp rủi ro cao…

    Về phía được đầu tư  đồi hỏi phải có một trình độ nhận thực nhất định mới có thể tiếp thu được công nghệ. Những hộ nghèo rất hiếm có được trình độ hiểu biết do phía đầu tư yêu cầu. Người được nhận những chương trình loại này đa phần lại rơi vào các hộ khá và hộ giầu; nên vô hình chung người nghèo lại bị loại khỏi cuộc chơi.

    Một vấn đề rất cần quan tâm đến ở miền núi là công nghệ bảo quản sau thu hoạch và công nghệ chế biến nông phẩm. Vì vậy vấn đề nan giải trước mắt là lo đầu ra cho sản phẩm làm ra của người nghèo. Do không phát huy được những việ kể trrên nên dẫn đến việc tổn hại không nhỏ do bảo quản thiếu kỹ thuật, số lượng thực dư thừa chỉ biết chế biến thành rượu chứ không biết bán cho ai.

    Những vấn đề đặt ra đã cho thấy chương trình trợ giúp công nghệ hiện nay còn hết sức hạn chế. Nhu cầu dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật ở miền núi chưa được đáp ứng tương xứng, nên không thể có hàng hoá đủ tiêu chuẩn chất lượng cho thị trường hiện nay và không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

         2 Chương trình giải quyết việc làm

                Với mục tiêu là giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách xoá đói giảm nghèo thì một hệ  thống trung tâm xúc tiến việc làm đã được hình thành trên cả nước, góp phần tích cực để có thêm nhiều người có thu nhập và ổn định cuộc sống.Từ khi thực hiện chương trình đến nay đã có hàng vạn lao động đã được hưởng lợi ích tù chương trình này. Song nhìn vào những kết quả người ta chỉ nhận ra là chương trình xúc tiến việc làm chủ yếu tập trung ở những thành phố lớn, thành thị., còn ở nông thôn đặc biệt là những dân tộc thiểu số dường như chưa có sự ưu đãi, hưởng lợi từ chương trình này.

    Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vấn đề cần phải cảnh báo là: khả năng tham gia vào chương trình này là rất yếu kém. Đặc thù này dẫn đến một yêu cầu không thể thiếu được là cần chú ý huấn luyện, bồi dưõng để nâng cao năng lực cho đồng bào dân tộc ngay lúc ban đầu, thậm trí phải bầy ra công việc để hướng họ vào làm việc đó tức là tạo ngành nghề vừa với khả năng thói quen truyền thống của họ và mở ra các công việc mới mẻ cho lớp trẻ tham gia làm quen và nâng cao tay nghề của họ.

    Vì vậy chương trình xúc tiến việc làm ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số sẽ khó khăn và nặnh nề hơn nhiều lần so với ở đồng bằng. Một điều cấp thiết nữa là cần có người biết tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và hướng dẫn cách làm. Đội ngũ này hiện nay dường như chưa đáng kể, chưa đủ tiêu chuẩn am hiểu về tiếng và chưa đủ về lượng để phân phối cho một địa bàn rộng lớn chiếm 2/3 diện tích cả nước.

         3 Chương trình tín dụng

    Thực tế cho thấy từ năm 1991 chúng ta đã thực hiện khoản tín dụng cho vay mở rộng đối tới hộ nông dân, nhưng chỉ một số trong diện hộ nghèo mới có cơ hội vay vốn từ ngân hàng nhà nước và số vốn vay còn rất hạn chế. Tháng 3 năm 1995 quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo phát triẻn sản xuất ra đời, đó là tổ chức tín dụng tiền thân của ngân hàng phục vụ người nghèo nay là ngân hàng chính sách xã hội. Quỹ cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo đầu tiên đến với hộ nghèo đánh dấu sự đi lên với giấc mơ đẹp với người nghèo biết làm ăn và sản xuất vuơn lên. Cuối năm 2002 tổng nguồn vốn của ngân hàng người nghèo là 7.083 tỷ VND, trong đó vốn điều lệ là 1.105 tỷ dồng bằng tiền vay từ ngân hàng nhà nước, ngoài ra còn nhận vốn uỷ thác từ ngân sách địa phương và huy động vốn của hộ nghèo 398 tỷ đồng. Từ nguồn vốn khiêm tốn đó sau 7 năm hoạt động đã cho vay tổng doanh số 14.895 tỷ đồng, số lượng hộ nghèo được vay trên 7,7 triệu hộ. Số hộ còn dư nợ là 2,8 triệu hộ. Bình quân mỗi hộ được vay 2,5 triệu đồng và đến năm 2001 là 5 triệu đồng. Đáng chú ý là có 55 vạn hộ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số được vay với dư nợ 1300 tỷ. Tính đến 31-12-2002, nhân hàng người nghèo đã đưa 64 vạn hộ thoát nghèo trong đó có  7,6 vạn hộ thuộc dân tộc thiểu số, và cứ 8 hộ thì có 1 hộ thoát nghèo. Về chất lượng tín dụng thì chỉ có 1,71% là nợ quá hạn. Kết quả tài chính bước đầu khả quan. Tổng thu nhập 2.435 tỷ đồng, số lượt hộ nghèo được vay 7,7 triệu hộ. Những thành tựu trên thật đáng khích lệ, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo.

    Một mặt tồn tại trong hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo là do thụ động trông chờ vào vốn từ Trung ương rót xuống và không có mạng lưới, chi nhánh riêng nên ngân hàng phục vụ người nghèo chưa có một cơ chế hoạt động rõ ràng. Cuối cùng nó lại rơi vào tình trạnh của ngân hàng nông nghiệp, tức là vẫn còn những khoảng trống rât lớn ở vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Trong số những người nghèo thì người nghèo thuộc dân tộc thiểu số bao giờ cũng chịu nhiều bất lợi hơn. Đến nay ngân hàng phục vụ người nghèo chưa tác động được bao nhiêu đến các hộ đặc biệt khó khăn ở vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa.

    Vấn đề thiết thực cần bàn đến là với mức lãi suất ưu đãi hiện nay, nhiều hộ người nghèo miền núi còn e ngại. Thông qua một số chương trình cho vay của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, SIDA, IFAD, và UNDP, Hà Lan và một số tổ chức phi chính phủ thông qua hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tỏ ra có hiệu quả. Những chương trình này đã tạo ra một bài học thực tế là nguồn tín dụng phải được chặt chẽ, gắn liền với việc huấn luyện phương pháp thích hợp để tăng thu nhập. Nếu không có hai yếu tố trên thì mức độ rủi ro sẽ cao và người nghèo sẽ phải gánh chịu hậu quả. Như vậy yếu tố tín dụng phải đi song song với việc cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao giống và công nghệ mới. Bản thân người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số không có khả năng lập kế hoạch sản xuất và tiến hành đầu tư khôn ngoan để có thể sinh lãi. Họ cần có cả tiền vốn và kiến thức về kinh tế, những dịch vụ cho sản xuất, mà trước hết là những vật tư cho sản xuất nông nghiệp thiết yếu như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới và các dịch vụ thú y để hạn chế thấp nhất mức rủi ro.

         4 Chương trình giáo dục, y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

    4.1 Chương trình giáo dục

    Phổ cập giáo dục xoá nạn mù chữ là một mục tiêu mà Nhà nước ta rất ưu tiên, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và đây chính là một cách thức hiệu quả nâng cao trình độ dân trí cho họ, giúp hộ hoà nhập với xã hội tiên tiến là con đường để họ có thể tự nhận thức và vươn lên xoá đói giảm nghèo. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi khuyến khích cho những giáo viên về công tác tại bản làng, đồng thời mở nhiều trường dậy học ở vùng cao xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành giáo dục nơi đây. Tuy nhiên do sự cách biệt về mặt địa lý nên công tác giáo dục nơi đây chưa làm được nhiều, con em của đồng bào dân tộc được học hành đầy đủ còn ít nhưng đó cũng là tín hiệu đáng mừng cho việc thay đổi bộ mặt nơi đây. Đã có nhiều sinh viên là con em các dân tộc sau khi học xong trở lại xây dựng quê nhà, thêm vào đó là những chương trình dậy nghề đã giúp cho họ có được nhiều việc làm tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động.

    Trong những nhóm chương trình được tiến hành thì chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp hầu như chưa có tác động trực tiếp tới học sinh nghèo vì hệ thống chủ yếu tập trung phục vụ cho chương trình này là các thiết bị cao cấp, kể cả máy vi tính. Điều đó là quá xa vời đối với học sinh là con em nhà nghèo. Với dân tộc thiểu số thì đó quả là một giấc mơ. Chương trình dậy nghề đối với học sinh dân tộc miền núi, vì nó không thuộc khu vực ưu tiên nên nó chưa có một hệ thống trung tâm dậy nghề và ít có khả năng với tới nguồn kinh phí ít ỏi của nhà nước dành cho lĩnh vực này và nguồn viện trợ từ nước ngoài.

    Điều đáng lưu ý nhất là trẻ em nghèo không có khả năng kinh tế để học lên các lớp trên nên không đủ tiêu chuẩn văn hoá để vào học các lớp dậy nghề; chính vì vậy có thể nói con nhà nghèo chưa được hưởng lợi từ chương trình này.

    4.2 Chương trình y tế          

    Bên cạnh chương trình giáo dục, chương trình y tế cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Những chương trình y tế nhìn chung đã phát huy tác dụng cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra xưa và nay ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Việc ưu tiên dành hàng chục tỷ đồng cấp phát muối iốt cho vùng dân tộc thiểu số và hàng chục tỷ đồng trợ cước vận chuyển tới vùng cao, nhờ đó tỷ lệ bướu cổ đã từ 54% năm 1991 xuống dưới 40% năm 1996. Đến nay người dân miền núi và cả nhiều vùng miền xuôi đã quen dùng muối iốt và không cần phải tuyên truyền vận động như những năm trước đây.

    Chương trình nước sạch cho sinh hoạt cũng là một chương trình có ý nghĩa không nhỏ để cải thiện sức khoẻ sinh hoạt và đời sống xã hội đối với người nghèo. Chương trình này đã có 20 năm thực hiện (1982-2002) dưới sự trợ giúp của UNICEF. Kết quả của sự đầu tư gần 20 triệu USD và của UNICEF và trên 40 tỷ đồng của chính phủ Việt Nam là hơn 1/3 dân số nông thôn được dùng nước sạch, tuy nhiên số dân miền núi và dân tộc thiểu số được hưởng từ chương trình này là quá nhỏ bé, cần có sự điều chỉnh hợp lý hơn về vốn đầu tư dành cho những vùng đặc biệt khó khăn ở miền núi. Theo những số liệu của bộ y tế thì chương trình tiêm chủng mở rộng và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em đã thu được kết quả rất khả quan, Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thiếu trọng lượng tiêu chuẩn khi mới sinh, trẻ em chết dưới một tuổi giảm. Tuy vậy tỷ lệ trẻ em trên dưới 40% ở lứa tuổi dưới một tuổi và suy dinh dưỡng dưới năm tuổi vẫn là con số khá cao đòi hỏi cần có sự đầu tư hơn nữa trong công tác y tế ởvùng cao.

         5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Năm năm thực hiện chương trình quốc gia số 06/CP diện tích trồng cây thuốc phiện từ 15.495 ha ở 11 tỉnh miền núi phía bắc đã giảm nhanh chóng xuống còn 12.787 ha vụ 1993; 3.296 ha vụ 1994; 2.363 ha vụ 1995. Cho đến nay cơ bản cây thuốc phiện đã được huỷ bỏ trên địa bàn miền núi nước ta. Trong số các địa bàn xoá bỏ cây thuốc phiện thì có 30% trong số các địa bàn đó đã ổn định cuộc sống nhờ vào các dự án xoá bỏ cây thuốc phiện và các chương trình xoá đối giảm nghèo. Còn 30% số vùng xoá bổ cây thuốc phiện đan còn gặp khó khăn, chưa ổn định, còn du canh , chưa tạo ra được nguồn thu nhập để thay thế cây thuốc phiện, lúng túng  trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tức cuộc sống còn bấp bênh. Có 20% số vùng đã xoá bỏ cây thuốc phiện nhưng đang có hiện tượng tái trồng lại . 20% còn lại là những vùng quá xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống du canh du cư mà chương trình chưa vươn tới huặc chưa có tác dụng.

         6 Chương trình hỗ trợ dân tộc dặc biệt khó khăn

    Theo cuộc điều tra đã thống kê ra 41 dân tộc trong đó có 27 dân tộc đói nghèo dưới mức quy chuẩn của Bộ lao động thương binh và xã hội tức là có thu nhập bình quân đầu người dưới 60.000đ/tháng. Theo số liệu điều tra có tới 65,85% số hộ nơi này dơi vào tình trạng đói nghèo, 990,7% là nhà tạm tranh tre nứa lá, 82,96% là không có nước sạch dùng trong sinh hoạt. Từ thực trạng những khó khăn trên chương trình đã được triển khai với cơ cấu nguồn vốn như sau:

    • 30% hàng hoáỗ trợ đời sống: lương thực, chăn màn, quần áo sửa chữa nhà cửa.
    • 57% mua trâu bò, lập vườn hộ, chăn nuôi để tạo thu nhập hỗ trợ sản xuất.
    • 10% củng cố thuỷ lợi nhỏ, trạm xá, lớp học …
    • 3% dùng trong hướng dẫn kỹ thuật và quản lý chỉ đạo chương trình.

    Qua một thời gian thực hiện, tình hình thu nhập của các hộ thuộc các diện được hỗ trợ trong chương trình này đã nhích lên trên mức đối nghèo. Thu nhập thấp nhất là dân tộc Chứt và La Chí từ 65.000đ đến 65.790đ/người/tháng, với các dân tộc khá hơn như Ơ Đu và M Nông là 82.300đ đến 87.300đ/người/tháng.

         7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Trong số những chương trình về bảo vệ môi trường được triên khai thì chương trình 327 là chương trình có ý  nghĩa nhất đối với đồng bào dân tộc. Các chương trình về môi trường đã góp phần làm tăng độ tre phủ của rừng từ 25% năm 1992 lên 30% năm 1996, bình quân riêng chương trình 327 đã làm tăng thêm từ 110.000 ha lên 130.000 ha rừng trồng. Có rừng tức là có nguồn nước, chống được xói mòn, tạo cho đất đai thêm mâu mỡ, bền vững là cơ sở tăng năng suất trong nông nghiệp ở vùng núi. Chính điều này  lại tác động trở lại vào việc xoá đói giảm nghèo.               

                   

                            

     

     

    chương III

    Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của nước ta

     

    I Những vấn đề cần lưu ý và giải pháp khắc phục trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

         1 Vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

    1.1 Khuyến nông, khuyến lâm

    Để giải quyêt vấn đề nghèo đói hiện nay ở miền núi, một điều dễ nhìn thấy là phải khai thác triệt để những ruộng nương, ao hồ, sông, suối, bãi bồi để trồng trọt và chăn nuôi… Với việc bùng nổ dân số thì việc phá rừng là một biện pháp hiệu quả nhất cho các dân tộc thiểu số để có diện tích đất canh tác, bên cạnh đó có thể tăng thu nhập bằng cách săn bắn thú quý trái phép và dùng thuốc nổ hay điện để bắt cá. Những biện pháp trên là kể thù của môi trường và không thể chấp nhận được trong yêu cầu phát triển bền vững hiện nay.

    Đặt vấn đề trên cũng coi như là khẳng định giải pháp kỹ thuật , chuyển dịch cơ cấu sản xuất với các loại giống mới với năng suất cao và xây dựng loại mô hình VACR ( vườn, ao, chuồng, rừng ) là trọng tâm của công tác khuyến lâm miền núi. Tuy nhiên để đảm trách được công việc này cần có một hệ thống khuyến nông từ Tung ương đến các địa phương, các trung tâm nghiên cứu các dự án chương trình, kế hoạch trong khuôn khổ quỹ xoá đói giảm nghèo. Quy trình khuyến nông, lâm, ngư  như sau:

    • Các trung tâm nghiên cứu đào tạo cán bộ khuyến nông, trang bị kiến thức cho họ bằng những thông tin mới nhất và kỹ nghệ tiên tiến sát với yêu cầu thực tế của nông dân miền núi và của thị trường.
    • Hệ thống khuyến nông chính quy bao gồm cục khuyến nông của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và các trung tâm của tỉnh, huyện.
    • Hệ thống khuyến nông tự nguyện bao gồm các viện, trường cao đẳng, đại học, các hội, các tổ chức đoàn thể, các tình nguyện viên, các hộ nông dan sản xuất giỏi.

    Đối với những người, những đơn vị tham gia khuyến nông tự nguyện tuy họ làm như vậy mà không đòi hỏi gì nhưng cũng cần có hìn thức khuyến khích động viên huặc tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong công việc. Trong tình hình miền núi nước ta hiện nay giải pháp khuyến nông Nhà nước vẫn cần được duy trì và mở rộng, và vẫn phải trợ cước, trợ giá để đỡ bớt gánh nặng đầu vào trong quy trình sản xuất cho người nghèo.

    1.2 Tín dụng

    Phần lớn các hộ dân tộc thiểu số nghèo đều ngại vay tiền trong hệ thống dịch vụ tài chính mà Nhà nước cung cấp phục vụ cho mọi đối tượng dân cư. Đối với họ thì hình thức hấp dẫn phải với điều kiện là thời gian đầu cho vay không lãi, sau đó lãi suất thấp. Tức là mô hình ưu đãi kiểu mô hình người nghèo đã áp dụng. Tuy nhiên loại tín dụng ưu đãi này chỉ đến được với rất ít người nghèo trong hàng chục vạn hộ nghèo ở vùng cao miền núi. Lý do mà những người dân tộc thiểu số ngại vay tín dụng vì những lý do chính sau:

    • Không biết cách sử dụng vốn để sinh lãi.
    • Sợ rủi ro trong sản xuất, chăn nuôi (bão, lũ, lụt, dịch bệnh trong chăn nuôi).

    Muốn thu hút được người dân tộc thiểu số tiếp cận ngày càng đông với tín dụng thì thì phải giải quyết được những khúc mắc ngần ngại này.

    Có một thực tế hiện nay là với nguồn lực hiện nay thì việc huy động một nguồn tài chính khổng lồ như vậy là rất khó khăn. Ngân sách dành cho ngân hàng người nghèo là có hạn vì vậy càn phải huy động từ nguồn lực khác nhau từ những quỹ tín dụng hợp tác xã, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nông thôn… ở những nơi mà ngân hàng người nghèo chưa vươn tới được huặc không có khả năng cung cấp tín dụng do nhu cầu quá cao. Đối với dân tộc thiểu số thì những uỹ tín dụng như vậy có lẽ phù hợp với điều kiện dân cư phân tán, đường sá khó đi, chi phí vận chuyển cao, khó tiếp cận với ngân hàng nhà nước. Những quỹ tín dụng thôn, xã, nhóm hộ dễ tiếp cận hơn, dễ kiểm soát đồng vốn vay, biết được các hộ đầu tư vào công việc gì. Nó còn phù hợp ở chỗ đáp ứng được vốn vay nhỏ cải thiện đời sống.

    Đông thời cũng cần cải cách dần dần chính sách lãi suất hợp lý để thu hút được vốn đầu vay cho hộ nghèo, khuyến khích các tổ chức tài chính huy động các nguồn vốn từ cộng đồng, cá nhân và coi trọng quyền tự chủ của họ. Bên cạnh đó cần xem xét xen kẽ vốn ngắn hạn và dài hạn nếu cùng một lúc hộ nghèo có kế hoạch đầu tư vào sản xuất ngắn hạn và dài hạn. Song, dù dưới hình hức nào, kiểu nào cũng phải tăng hạn mức vay và kéo dài thời gian vay để người nghèo có đủ thời gian cho cây, con lớn trưởng thành đến khi thu hoạch.

    1.3 Giao thông vận tải

    Vấn đề số một hiện nay là giao thông được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự cách biệt, nhưng nếu giải quyết tốt sẽ tạo là cơ hội cho ngưòi nghèo ở vùng dân tộc thiểu số vươn lên. Với phương chân Nhà nước và nhân dân cùng làm đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên số dự án xây dựng đường giao thông ở miền núi vẫn còn ít, trong khi đó nhu cầu thì rất nhiều. Một khó khăn đó là vấn đề vốn đầu tư cho những dự án này đòi hỏi chúng ta cần phải có một cơ chế, chính sáh ưu đãi về vốn vay, thu phí giao thông… để các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng giao thông miền núi.

    Một vấn đề hết sức quan trọng là việc duy trì, bảo dưỡng đường miền núi. Do địa hình dốc, phức tạp, độ xói mòn lớn, mưa gió bất thường nên đường thường xuyên hỏng. Biện pháp tốt nhất để giải quyết là nên giao công việc này cho cơ quan địa phương phối hợp cùng với các cơ quan ngành giao thông và được sự giúp đỡ của cơ quan nhà nước. Vấn đề lâu dài cần có kế hoách từng bước nâng cấp đường giao thông theo hướng nhựa hoá tỉnh lộ,  đá hoá huyện lộ, cơ giới hoá xa lộ và mở rộng đường liên thôn, liên bản để xe ngựa và xe máy có thể đi lại dễ dàng.

    1.4 Giao đất giao rừng

    Tình trạng mất đất do mua bán, sang nhượng huặc thiếu đất canh tác đang diễn ra rất trầm trọng ở khắp các địa phương kể cả đồng bằng và miền núi. Đối với đa phần các dân tộc thiểu số thì đất đai là nguồn lực quan trọng nhất để duy trì cuộc sống. Trong điều kiện hiện nay, đối với miền núi, vùng dân tộc thiểu số nơi phức tạp bởi các phong tục tập quán truyền thống việc chia đất khoán rừng nên thực hiện theo những  bước sau:

    • Lập một bản đồ tổng thể ở các xã, bản có cán bộ địa chính và chính quyền xã, già làng, truởng bảntham gia.
    • Tổ chúc các cuộc họp lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân.
    • Xác định mốc giới trên thực địa có mặt các hộ và cấp sổ đỏ sử dụng đất.

    Nghiên cứu cấp sỏ đỏ và chia đất khoán rừng theo nguyên tắc gán với nơi cư trú của các hộ và tuỳ vào khả năng canh tác và số nhân khẩu. Một số đất đai dự trữ dành cho sự phát triển dân số giao cho tập thể cộng đồng quản lý và sử dụng. Cần có sự hướng dẫn viẹc sử dụng dất đai khai thác rừng, giữ gìn và bảo vệ rừng đầu nguồn, dừng đặc vụ… để đảm bảo tính bền vững lâu dài cho môi trường sinh thái. Những nơi không có khả năng sản xuất thì giãn đi nơi khác. Hướng giải quyết đất đai ưu tiên trước hết là giãn trong nội huyện, nội tỉnh, tránh tối đa sự xáo trộn quá nhiều ảnh hưởng tới đời sống kinh tế và xã hội trong vùng.

    1.5 Chuyển giao khoa học kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu sản xuất

    Thực tế cho thấy nếu biết ứng dụng khoa học tiên tiến, tìm kiếm giống mới, thâm canh thì không cần tăng diện tích vẫn có thể làm giầu được. Tuy đất đai rất quan trọng nhưng nó không phải là tất cả. Cho nên với một mức độ nào đó, người nghèo ở miền núi phải được tập huấn và tạo nên một cách làm ăn mới. Bỏ dần cây, con và cách canh tác truyền thống, thay vào đó là những cây, con mới hoàn toàn huặc lai tạo với giống địa phương có khả năng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái ở địa phương.

    Để giúp đỡ bà con các dân tộc dần dần xoá đói giảm nghèo nên chăng ở mỗi huyện cần có một trung tâm chuyển giao hướng dẫn khoa học kỹ thuật, mà trước hết là những kỹ thuật đơn giản cho nhân dân miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trung tâm này mở các lớp huấn luyện ngắn hạn cho một số người có học vấn tối thiểu ở các xã, các bản theo múa vụ của cây con, rồi từ đó họ sẽ toả xuống các bản xóm chỉ dẫn kỹ thuật cho đồng bào ngay trên thực địa. Cách làm này hiệu quả mà chi phí lại ít và phù hợp với điều kiện dân cư phân tán ở miền núi.               

         2 Các vấn đề xã hội

    2.1 Y tế

    Về tình hình y tế miền núi , vùng dân tộc hiện nay, cần lưu ý mấy vấn đề sau:                     

    • Sự kém hiểu biết của nguời miền núi về bảo vệ sức khoẻ và phòng chống bệnh dịch thường dẫn đến tình trạng phát bệnh đến giai đoạn trầm trọng, mãn tính nên rất khó chữa trị.
    • Các bệnh nguy hiểm lại thường bắt nguồn từ những bệnh rất thông thường. Do một lý do nào đó, người dân ơi đây đã coi thường huặc ngại đi đến các cơ sở khám chữa bệnh, không có thuốc men… nên từ bệnh này lan sang bệnh khác càng khó chữa trị.
    • Các phương pháp chữa trị dân gian tỏ ra có hiệu quả và rẻ tiền dễ kiếm ở địa phương, nhưng một tình trạng vẫn đang xẩy ra là một số bà con ở vùng sâu vùng xa lạc hậu hoặc bị lừa bịp với cách chữa trị thiếu khoa học của thầy mo, thầy cúng nên thường đãn đến nguy hiểm cho tính mạng.
    • Hệ thống y tế dường như nặng về hình thức, thiếu khả năng chuyên môn, thuốc thang và cán bộ để phục vụ trên địa bàn rộng thì phân tán.

    Từ những vấn đề trên một số giải pháp để khắc phục những vấn đề này là:

    • Phổ biến rộng khắp mạng lưới y tế viên cộng đồng gồm các giáo viên phổ thông, người có trình độ học vấn, cán bộ các đoàn thể…kết hợp công tác chuyên trách với công tác y tế cộng đồng.
    • Cung cấp đủ số thuốc thông thường cho các túi thuốc thôn bản.
    • Kết hợp với sự giúp đỡ về y tế của lực lượng y tế bộ đội biên phòng ở các đồn vùng sâu vùng xa.
    • Tập hợp các bà lang, ông lang có uy tín ở địa phương để cùng hợp tác chữa bệnh. Khuyến khích chữa bệnh bằng thuốc nam, thuốc lá và xây dựng vườn thuốc thôn bản.
    • Tổ chức những đợt khám chữa bệnh lưu động và miễn phí định kỳ xuống thôn bản. Phát hiện kịp thời để đưa các bệnh nhân nặng về tuyến y tế huyện, tỉnh chữa trị.
    • Cấp thuốc nhân đạo cho các trưồng hợp quá khó khăn và đối tượng thuộc chính sách xã hội.

    2.2 Giáo dục

    Những vấn đề nổi cộm hiện nay:

    • Mù chữ và tái mù chữ còn nhiều.
    • Việc phổ cập giáo dục tiểu học đối với trẻ em nhà nghèo còn chưa đạt yêu cầu.
    • Sự bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái còn phổ biến. Các trẻ em gái có tỷ lệ bỏ học lớn hơn so với em trai, và càng học lên cao thì tình trạng rơi rụng càng nhiều.
    • Đội ngũ dậy học và sách giáo khoa còn thiếu nghiêm trọng.
    • Đội ngũ thầy cô giáo mỏng, còn thiếu về số lượng, yếu kém về trình độ chuyên môn, đặc biệt là tình trạng thiếu giáo viên là người dân tộc thiểu số.
    • Cơ sở hạ tầng trường lớp xuống cấp, chất lượng học sinh yếu so với mặt bằng giáo dục phổ thông chung.

    Từ thực trạng trên cho thấy muốn giúp người nghèo được hưởng thụ chương trình giáo dục nâng cao đân trí để tiếp bước xoá đói giảm nghèo, cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

    • Cần có cơ chế chính sách ưu tiên với đối tượng nghèo và con con em của họ đảm bảo xoá được nạn mù chữ và phổ cập tiểu học, được miễn hoàn toàn về học phí và các khoản đóng góp khác.
    • Mở các nhóm xoá mù chữ tại các chòm xóm, bản; người biết khá dậy người biết kém, người biết kém dậy người chưa biết chút nào… Người tình nguyện dậy có kết quả tốt sẽ được hỗ trợ một khoản tiền hay vật chất để khuyến khích.
    • Mở rộng loại hình lớp học bán trú dân nuôi thành một quy định đóng góp của toàn dân(bằng ngô, lúa, lương thực tự có).
    • Dần dần đào tạo thay thế hệ thống giáo viên thôn bản bằng giáo viên dân tộc và có chế độ đãi ngộ để họ đủ sống, yên tâm bám trường lớp giảng dậy.       
    • Cải thiện đời sống văn hoá tinh thần cho thầy trò nhà trường ở miền núi( trang bị một số thiết bị như báo, tranh ảnh, vi deo, đài…).
    • Mở rộng việc kết nghĩa giữa các đơn vị quân đội, đoàn thể nhân dân với nhà trường nhằm giúp đỡ, ủng hộ về vật chất, ngày công sửa trường lớp và đồ dùng sách vở học tập.
    • Cần trích hợp lý một phần nhỏ kinh phí từ các chương trình dự án trên địa bàn để hỗ trợ cho giáo dục và con em nhà nghèo.

    2.3 Về bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số

    Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi muốn giữ được bản sắc văn hoá trước hết phải có thông tin đúng và thường xuyên về chính sách văn hóa đối với từng dân tộc, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước. Vấn đề quyết định là phải có chế độ, chính sách thoả đáng trong việc đầu tư cho phong trào văn hoá quần chúng ở cơ sở, đẩy mạnh hơn nữa công tác văn hoá , thông tin lưu động, cổ động trực quan phục vụ đồng bào dân tộc và miền núi. Tăng cường hơn nữa công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số qua các hoạt động xuất bản, phát hành, thư viện. Đẩy mạnh hơn nữa phong trào đọc sách báo qua các thư viện, tủ sách cơ sở, các trường học. Bên cạnh đó cần có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về văn hoá của các dân tộc thiểu số, tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm, tập huấn về các chủ đề truyền thống các dân tộc, chủ động giao lưu văn hoá giữa ác dân tộc, tiếp thu nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới làm phong phú thêm ban sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta.

         3 Trợ giúp đối tượng chính sách xã hội

    3.1 Người có công với nước và gia đình họ

    Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi với những đối tượng thuộc diện này, hàng năm chúng ta đã dành ra hàng ngàn tỷ đồng giúp đỡ đối tượng này. Tuy vậy đối tượng này vẫn gặp không ít khó khăn và chỉ trông chờ vào số tiền trợ giúp của Nhà nước huặc một số rất nhỏ có sổ tiền tiết kiệm thì chưa thể giải quyết được đời sống ổn định. Vì vậy cần có một chính sách ưu tiên rộng lớn và phong phú hơn, đa dạng về hình thức sản xuất hàng hoá để giúp cho những đối tượng này có được mức sống bằng và dần dần cao hpưn mặt bằng đời sống ở địa phương.

    Có thể áp dụng những hình thức ưu tiên, giúp đỡ sau dây:

    • Ưu tiên đất canh tác tốt hơn khi chia đất khoán rừng và có cự ly gần nhà để tiện chăm sóc.
    • Ưu tiên việc đầu tư giống mới, cấp cho không(hạt, giống) huặc miễn một phần chi phí dịch vụ hay vật tư nông nghiệp…
    • Ưu tiên cho con em họ khi sắp xếp việc làm, ngành nghề.     
    • Cấp sổ khám bệnh và miễn phí trong trường hợp bệnh nặng cần số tiền lớn để điều trị…
    • Các tổ chức đoàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm chăm sóc, động viên các hộ nghèo theo hướng sản xuất tiên tiến bằng cả vật chất và tinh thần trong điều kiện cho phép.

    3.2 Người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi

                Đây là đối tượng rất đông đảo do nguyên nhân chiến tranh, do điều kiện sống quá thiếu thốn nghèo đói gây ra. Nhà nước đã có nhiều quyết định và được thể chế hóa và hướng dẫn tiêu chuẩn, chế độ cho từng loại đối tượng. Tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa giải quyết được so với yêu cầu và sự bình đẳng giữa các địa phương có người tàn tật, cô đơn chưa công bằng và chưa được chuẩn hóa. Trước khó khăn để hỗ trợ cho họ, những đối tượng loại này cũng cần được nghiên cứu tìm nhữnh khả năng phù hợp để mở rộng các hình thức và biện pháp giúp đỡ họ theo hướng sản xuất và ngành nghề phù hợp. Các địa phương cần có những lớp dậy nghề phù hợp cho từng loại đối tượng, nên khuyến khích và có chế độ giảm thuế đối với những cơ sổ sản xuất nhận người tàn tật, trẻ mồ côi…

         4 Cứu tế, viện trợ khẩn cấp

                Hàng năm, nhà nước dùng khoản chi phí trên dưới 40-60 tỷ đồng cho các đối tượng thuộc diện cần cứu trợ khẩn cấp. Nguồn viện trợ này chủ yếu được sử dụng trong những trường hợp: cứu tế khi bị thiên tai, cứu tế khi giáp hạt, trong đó chủ yếu là thuốc men, lương thực và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu. Hiện nay Nhà nước đã cho phép các địa phương thành lập các quỹ dự trữ để khắc phục các hậu quả do thiên tai. Tuy nhiên khi có thiên tai xẩy ra thường bị động và cung cấp chậm những nhu cầu khẩn cấp. Để chủ động hơn nữa việc phòng chống thiên tai chúng ta cần chủ động dự báo trước các hiện tượng thiên tai trên mọi phương tiện thông tin và cách phòng chống cho mọi nguời. Bên cạnh đó trước mùa mưa lũ, nên tập kết các loại vật chất thiết yếu để viện trợ kịp thời khi có thiên tai xẩy ra.

         5 Chốngtệ nạn xã hội và xây dựng nếp sống văn hoá

    Tệ nạn chủ yếu ở miền núi hiện nay là tệ nghiện hút thuốc phiện, ma chay cưới xin lạc hậu, tốn kém đã ảnh hưởng lớn tới kinh tế gia đình và làm cho hộ nghèo càng nghèo hơn. Từ khi có trương trình quốc gia số 06/CP mỗi năm nguồn kinh phí cho chương trình nay là vài ba chục tỷ đồng, tuy đã đem lại nhiều kết quả khả quan nhưng chươg trình này là chưa đủ để có thể xoá hết những tệ nạn, phong tục tập quán lạc hậu đang tồn tại là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nghèo đói.

    Để giúp người nghèo thoát khỏi những tệ nạn này, biện pháp tập trung cai nghiện hoặc cải tạo gái mại dâm ở miền núi là khó có thể triển khai trên diện rộng, do khó khăn về kinh phí và các khoản khó khăn về chi phí cho xây dựng cơ sở hạ tầng và bộ máy quản lý. Biện pháp tốt nhất là tuyên truyền phát động phong trào bỏ hút thuốc phiện, tác động từ phía những người thân ruột thịt trong gia đình. Trợ giúp thuốc cai nghiện tại nhà phù hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số sống phân tán và không muốn xa nhà. Nên có nguồn kinh phí sủ dụng để vận động trợ giúp, tập huấn, tuyên truuyền đồng bào bỏ các tệ nạn xã hội. Đồng thời xây dựng các quy ước văn hoá cộng đồng, xây dựng các chuẩn mực văn hoá phù hợp với vùng dân tộc và cho từng dân tộc. Việc chống tệ nạn xã hội cần phải có sự tham gia của đông đảo mọi người, bên cạnh hình thức tuyên truyền thì Nhà nước cần từng bước thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật để đưa những đối tượng này vào kỷ cương phép nước.

     

     

     

     

     

    II Bài học kinh nghiệm trong công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta

    1. Sự nghiệp xoá đói giảm nghèo là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả mọi người cùng tham gia mà trước hết là những cơ quan tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước về công tác xoá đói giảm nghèo. Để có thể thành công bản thân các cơ quan tổ chức này cần xây dựng cho mình một bộ máy vững mạnh có đủ năng lực và trình độ, nhiệt tình trong công việc. Bên cạnh đó cần có một cái nhìn khách quan và toàn diện về hiện tượng nghèo đói để có được phương pháp tiếp cận, công cụ thực hiện một cách có hiệu quả nhất.
    2. Muốn xoá đói giảm nghèo thành công, một vấn đề quan trọng là cần phải có sự thống nhất cao trong nhận thức về trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, của các tổ chức đoàn thể nhân dân; có hệ thống chính sách, cơ chế phù hợp, có kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cụ thể ở từng xã, thôn, bản và đến từng hộ.
    3. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể giữa các cấp, các ngành, phát huy vai trò của tổ chức đòan thể: hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh…
    4. Các giải pháp đưa ra để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược thường có liên quan tới nhiều cấp nhiều ngành, do đó cần có cơ chế vận hành chương trình hiệu quả để có thể phối hợp các cơ quan liên quan nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ chiến lược đã đề ra. Cơ chees vận hành và sự phối kết hợp phải tạo ra được sự phù hợp về trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan.
    5. Phải có quy hoạch sắp xếp lại dân cư, bố trí xen kẽ và hợp lý các hộ thuộc dân tộc Kinh có kinh nghiệm sản xuất giỏi với các hộ chưa biết cách làm ăn, giúp nhau phát triển sản xuất, thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
    6. Phải có tổ chức điều tra, xác định rõ nguyên nhân, quản lý chắc các hộ nghèo ở từng xã và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, phát huy dân chủ cơ sở tạo cơ hội cho người nghèo trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch xoá đói giảm nghèo.
    7. Đa dạng hoá nguồn lực, trước hết là phát huy nguồn lực tại chỗ, huy động nguồn lực cộng đồng, mở rộng hợp tác quốc tế về kinh nghiệm và kỹ thuật, tài chính cho xoá đói giảm nghèo.
    8. Có sự lồng ghép và có kế hoạch tổ chức các hoạt động xoá đói, giảm nghèo các chương trình dự án trên địa bàn miền núi, tránh trùng lặp để có được hiệu quả cao.

    Kết luận

    Xoá đói giảm nghèo từ lâu là vấn đề mà Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu ưu tiên thực hiện, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Thông qua chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, chúng ta đã đạt được nhiều thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo , tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức đòi hỏi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa. Qua quá trình nghiên cứu đề tài “ Chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp “ phần nào đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và có một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghèo đói, thấy được những thành công đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo. Xoá đói giảm nghèo là một vấn đề lớn và phức tạp, nó là vấn đề thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới. Bởi vai trò và tính chất phức tạp của công tác xoá đói giảm nghèo, vấn đề xoá đói giảm nghèo không thể giải quyết ngay mà nó cần phải giải uyết từng bước và cần có sự đóng góp nỗ lực của tất cả mọi người. Với khả năng có hạn của mình, em xin đóng góp một số ý kiến để hoàn thiện hơn công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta. Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hồng Thuỷ đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề án này. Tuy bản thân đã có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về kiến thức nên đề án không tránh khỏi có nhiều thiếu xót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô để đề án được hoàn thiện hơn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]