Category: Luận Văn Thạc Sĩ – Cao Học – Tiến Sĩ

  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-MARKETING-%C4%90%E1%BB%8AA-PH%C6%AF%C6%A0NG-NH%E1%BA%B0M-THU-H%C3%9AT-KH%C3%81CH-DU-L%E1%BB%8ACH-%C4%90%E1%BA%BEN-S%C6%A0N-LA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

     

    Lê Ngọc Nương*, Nguyễn Hải Khanh

    Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Hoạt động marketing ngày nay không chỉ giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp hay một ngành nghề cụ thể mà còn phát triển trong phạm vi của một vùng, khu vực, địa phương hay quốc gia. Marketing như vậy được gọi là marketing địa phương và có thể được vận dụng trong một tỉnh (thành phố). Sơn La là một tỉnh miền núi nằm phía Tây Bắc tổ quốc, có nền văn hoá đa sắc màu cùng với những ưu đãi của thiên nhiên. Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trên cung đường du lịch Tây Bắc với nhiều lợi thế về phát triển du lịch. Tuy nhiên, trên thực tế tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Sơn La chưa được khai thác một cách hiệu quả để xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng khai thác, phát triển du lịch và xây dựng những giải pháp marketing địa phương nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương và thu hút khách du lịch đến Sơn La ngày một nhiều hơn.

    Từ khóa: Marketing địa phương, Sơn La.

     

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Sơn La là một tỉnh miền núi nằm phía Tây Bắc tổ quốc, vị trí địa lý nằm sâu trong lục địa với trung tâm là thành phố Sơn La, cách Hà Nội 320 km theo trục Quốc lộ 6 Hà Nội – Sơn La – Điện Biên – Lai Châu. Có thể nói Sơn La là một tỉnh có nền văn hoá đa sắc màu với 12 dân tộc anh em sinh sống, cùng với những ưu đãi của thiên nhiên như nguồn nước nóng, các hang động, thung lũng, núi non hùng vĩ… cho thấy Sơn La có một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch địa phương.

     

    Nhân dịp cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 năm 2011 (từ ngày 27/8 đến 2/9/2011) lần đầu tiên những sản phẩm du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử nổi tiếng tại Sơn La và vùng Tây Bắc đã được tỉnh Sơn La tổ chức, giới thiệu trong chương trình du lịch “Qua miền Tây Bắc, Sơn La – 2011”. Chương trình đã nhận được sự quan tâm, quảng bá rộng khắp của các cơ quan thông tấn, báo chí, mọi người trong và ngoài nước.

     

    Sự kiện lớn này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước dành cho ngành du lịch Sơn La. Bởi lẽ Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trên cung đường du lịch Tây Bắc

     

    • Tel: 0973282586

    với nhiều lợi thế về phát triển du lịch, có thể kể đến như khu du lịch cao nguyên Mộc Châu, du lịch lòng hồ Thủy điện Sơn La – thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, các di tích lịch sử, văn hóa cộng đồng… Tuy nhiên, trên thực tế tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Sơn La chưa được khai thác một cách hiệu quả để xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Trong khi đó, tại Sơn La chưa có nghiên cứu ứng dụng nào đề cập đến vận dụng lý luận marketing địa phương để tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương và thu hút khách du lịch đến Sơn La ngày một nhiều hơn.

     

    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

     

    Đánh giá thực trạng khai thác, phát triển du lịch Sơn La trong giai đoạn 2008 – 2012, khảo sát – đánh giá các nguồn lực, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách cần thiết cho phát triển du lịch bền vững và xây dựng những giải pháp marketing địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến Sơn La giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020.

     

    ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Đối tượng  nghiên  cứu:  Chủ  thể  là

    Marketing địa phương, khách thể là ngành du lịch Sơn La.

     

    141

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng du lịch

    Sơn La từ năm 2008 – 2012 tại địa bàn tỉnh Sơn La.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả thực hiện đề tài sử dụng các phương pháp sau:

    Phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, nhóm tác giả tiến hành công việc tổng hợp phân tích, đánh giá.

     

    Phân tích – so sánh: Những thông tin và số liệu thu thập trong một thời kỳ nhất định, nhóm tác giả sử dụng để so sánh, phân tích đánh giá giữa các thời kỳ khác nhau

     

    Điều tra, phỏng vấn: thiết kế bảng hỏi, chọn mẫu và tiến hành thu thập dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

    Phân tích – dự báo: Sau khi tổng hợp được tất cả các thông tin, trên cơ sở đó đưa ra những dự báo cho vấn đến nghiên cứu trong những năm tiếp theo.

     

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Phương pháp và kết quả điều tra xã hội học về du lịch Sơn La

     

    Nhóm tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi và phát ngẫu nhiên cho 140 khách du lịch tại TP. Sơn La, Mộc Châu và Mường La. Số phiếu thu về, sử dụng được là 140 phiếu. Trong đó, 50 phiếu tại Thành phố Sơn La, 45 phiếu tại Mộc Châu và 45 phiếu tại Mường La. Đặc điểm của đối tượng được khảo sát cụ thể như sau:

     

       

    Bảng 1. Đối tượng khách du lịch được khảo sát

         
                     

    (Đơn vị tính: người)

       

    Giới tính

         

    Độ tuổi

         
     

    Du khách

    Nam

     

    Nữ

    <18

    18-24

     

    25-34

    35-55

    >55

     
     

    1. Khách nội địa

    69

    56

    5

    23

    36

    52

    9

     
     

    Miền Bắc

    36

    26

    3

    12

    17

    25

    5

     
     

    Miền Trung

    21

    17

    2

    8

    13

    18

    2

     
     

    Miền Nam

    12

     

    13

    0

    3

     

    6

    9

    2

     
     

    2. Khách Quốc tế

    8

    7

    0

    2

    4

    7

    2

     

    Bảng 2. Mức độ đánh giá của du khách về du lịch Sơn La

     

    (Đơn vị tính: %)

     

    Những ý kiến về cơ sở hạ tầng và chất lượng phục vụ tại các điểm du lịch Sơn La

     

    1. Hệ thống giao thông thuận lợi
    1. Giá cả sinh hoạt hợp lý
    1. Cảnh quan thiên nhiên đẹp
    1. Có những nét văn hóa đặc trưng của địa phương
    1. Con người tại địa phương thân thiện, hiếu khách
    1. Phòng ở tiện nghi, thoải mái
    1. Các điểm du lịch có nhà vệ sinh sạch sẽ
    1. Dễ dàng lựa chọn phương tiện đi lại
    1. Những di tích lịch sử được bảo tồn tốt
    1. Các lễ hội văn hóa độc đáo
    1. Hệ thống điện, nước tại các điểm du lịch tốt
    1. Có nhiều đoàn khách khác cùng đến tham quan
    1. Có sẵn những chỉ dẫn thông tin du lịch
    1. Hướng dẫn viên, thuyết minh viên địa phương nhiệt tình, chuyên nghiệp
    1. Hài lòng khi du lịch đến Sơn La
     

    Thang đánh giá

       

    Rất

    Không

     

    Trung

     

    Đồng

     

    Rất

    không

    đồng

     

    lập

     

    ý

     

    đồng

    đồng

    ý

             

    ý

    ý

                 

    24%

    67%

    7%

    2%

    0%

    2%

    19%

    25%

    51%

    3%

    1%

    9%

    14%

    34%

    42%

    27%

    41%

    18%

    12%

    2%

    3%

    8%

    10%

    44%

    35%

    15%

    21%

    32%

    24%

    8%

    21%

    39%

    26%

    11%

    3%

    22%

    36%

    28%

    13%

    1%

    26%

    35%

    27%

    9%

    3%

    20%

    33%

    20%

    18%

    9%

    19%

    28%

    29%

    19%

    5%

    14%

    29%

    34%

    17%

    6%

    25%

    40%

    25%

    8%

    2%

    19%

    33%

    22%

    21%

    5%

    8%

    29%

    54%

    13%

    4%

    142

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    Qua bảng 1 chúng ta thấy tỉ lệ khách du lịch là nam đi du lịch nhiều hơn (55%), độ tuổi đi du lịch nhiều nhất là từ 35 đến 55 tuổi. Với khách nội địa thì đa số du khách đến Sơn La là từ miền Bắc (chiếm 48%). Số liệu cho thấy lượng khách có độ tuổi từ 18 đến 34 chưa nhiều và đối tượng khách trên 55 còn thấp, đối tượng khách dưới 18 tuổi còn rất ít. Thực tế này sẽ định hướng cho ngành du lịch Sơn La phát triển những sản phẩm du lịch dành cho lứa tuổi chiếm đa số là từ 35 đến 55 tuổi.

     

    Qua số liệu bảng 2, chúng ta cần lưu ý những điểm tốt và chưa tốt, cụ thể như sau:

     

    • Những điểm được đánh giá chưa tốt:

    Cơ sở vật chất phục vụ du lịch: Về hệ thống giao thông, có đến 67% không đồng ý là giao thông thuận lợi, có đến 58% người cho rằng việc lựa chọn phương tiện đi lại không dễ dàng. Điều này ảnh hưởng đến việc quyết định đi du lịch của du khách và ảnh hưởng đến việc du khách có quyết định quay lại Sơn La hay không. Về phòng ở tiện nghi, thoải mái: chỉ có 32% số người đồng ý, còn lại cho rằng không đồng ý và ý kiến trung lập không đánh giá rõ rệt.

     

    Ấn tượng địa phương: Có đến 68% số người cho rằng Sơn La chưa có những điểm đặc trưng riêng về du lịch. Các lễ hội chưa gây ấn tượng khó phai trong du khách (có 53% số người không đồng ý). Nghĩa là việc tạo dựng ấn tượng, các lễ hội và hình tượng của địa phương chưa hiệu quả và chưa được chú trọng gìn giữ và phát huy đúng mức.

     

    Tại các điểm du lịch: Các nhà vệ sinh bị đánh giá là không tốt, có đến 60% du khách cho rằng nhà vệ sinh chưa đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh. Hệ thống điện nước cũng bị đánh giá là chưa tốt (47% không đồng ý và 29% là ý kiến trung lập). Thông tin chỉ dẫn về du lịch cũng không sẵn có tại các điểm du lịch (65% số người không đồng ý và rất không đồng ý). Những di tích lịch sử chưa được bảo tồn đúng mức (61%).

     

    • Những điểm được đánh giá tốt

    Về cảnh quan thiên nhiên được đa số du khách đánh giá là đẹp (chiếm 76%), giá cả

    sinh hoạt và tiền thuê phòng được cho là hợp lý (chiếm 54%), con người tại địa phương được đánh giá là rất thân thiện, hiếu khách (chiếm 79%).

     

    Về mức độ hài lòng sau khi đi du lịch Sơn La, số liệu khảo sát chưa kết luận được về mức độ hài lòng, ý kiến trung lập chiếm 54%, số cho là hài lòng chiếm 17% và số cho là không hài lòng chiếm 37%. Nghĩa là du lịch Sơn La chưa xác định rõ được nhu cầu và mong muốn của du khách, chưa có những giải pháp hiệu quả thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của du khách tốt hơn những địa phương khác trong toàn quốc.

     

    Thực trạng marketing địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến Sơn La

     

    • Số lượt khách du lịch đến Sơn La

    Năm 2012, lượng khách đến với Sơn La đạt hơn 400.000 lượt, tăng 4,8 lần so với năm 2003, trong đó có 63.606 lượt khách quốc tế.

     

    Qua đồ thị 1, chúng ta thấy rằng lượt khách đến Sơn La tăng vọt từ năm 2008 sang 2009, sau đó tiếp tục giữ được mức tăng trong các năm tiếp theo. Trong đó, việc thu hút khách nội địa tăng cao hơn so với lượng khách quốc tế. Sự việc này do công tác phát triển và xúc tiến du lịch được quan tâm mạnh mẽ của chính quyền địa phương.

     

    * Thu nhập từ du lịch Sơn La

     

    Đồ thị 2 cho thấy thu nhập từ du lịch năm 2012 đạt hơn 200 tỷ đồng, tăng 6,5 lần so với năm 2003, nâng cao vai trò của du lịch ở địa phương. Ngày càng khẳng định ngành du lịch Sơn La hoàn toàn có thể trở thành ngành mũi nhọn góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế xã hội Sơn La phát triển.

     

    * Nguồn lực ngành du lịch Sơn La

     

    Sau hơn 10 năm thực hiện chiến lược phát triển du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú và dịch vụ hỗ trợ đã phát triển khá nhanh, thu hút trên 150 tổ chức, doanh nghiệp và cùng nhiều thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực phát triển du lịch, tạo việc làm cho trên 2.000 lao động trực tiếp trong ngành và trên

     

    4.000 lao động gián tiếp, được thể hiện qua đồ thị 3.

     

    143

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

     

     

     

    Đồ thị 1. Lượt khách du lịch đến Sơn La trong giai đoạn 2003-2012

     

     

     

    Đồ thị 2. Thu nhập du lịch đến Sơn La trong giai đoạn 2003-2012

     

    Đồ thị về tỷ lệ cơ cấu trình độ trong nguồn lực du lịch cho thấy rằng tỷ lệ những người có trình độ đại học và trên đại học còn hạn chế (dưới 10%), điều này khó có thể thúc đẩy và nâng tầm du lịch Sơn La lên mức đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, ngang tầm đẳng cấp với ngành du lịch trên toàn quốc và trong khu vực, dẫn đến sức cạnh tranh yếu trong thu hút du khách. Số lượng nhân lực chưa qua đào tạo và làm việc trái ngành chiếm tỷ lệ lớn (trên 60%), điều này dẫn đến chất lượng phục vụ trong ngành du lịch không chuyên nghiệp do không được đào tạo đúng chuyên ngành, cần phải đào tạo lại và đào tạo bổ sung cho lực lượng lao động này.

     

    144

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

     

     

     

    Đồ thị 3. Cơ cấu trình độ nguồn nhân lực ngành du lịch

     

     

    NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

     

    Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Tổ quốc. Diện tích tự nhiên rộng đứng thứ 3 cả nước, nhưng Sơn La lại là một trong 7 tỉnh nghèo nhất nước. Cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch còn nhiều khó khăn, hạn chế. Đường giao thông, đường sông chất lượng chưa cao, chưa đa dạng về loại hình vận tải. Bên cạnh đó hệ thống khách sạn nhà nghỉ, nhà hàng, chất lượng và số lượng buồng phòng còn hạn chế.

     

    Nền kinh tế còn chậm phát triển do điểm xuất phát của nền kinh tế Sơn La thấp. Mặc dù mấy năm gần đây, kinh tế của tỉnh đã có khởi sắc, xuất hiện một số điển hình là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển của tỉnh. Tuy nhiên, kinh tế Sơn La nói riêng và kinh tế Tây Bắc nói chung vẫn phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả nước. GDP/người chỉ bằng 61% so với mức trung bình của cả nước, thu không đủ chi, cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm.

    Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, khả năng cạnh tranh chưa cao. Mặc dù có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng sản phẩm nhưng các sản phẩm chưa tạo được đặc trưng rõ nét, chưa đa dạng để đáp ứng những nhu cầu du lịch phong phú của khách hàng du lịch tiềm năng. Nguyên nhân là do chưa có những chuyên gia, tổ chức chuyên nghiệp về du lịch tư vấn và triển khai những loại hình du lịch hấp dẫn hướng về khách hàng.

     

    Môi trường kinh doanh, đầu tư du lịch chưa thực sự hấp dẫn cho nên cho thu hút được đầu tư vào du lịch Sơn La. Những điểm du lịch mặc dù có tiềm năng nhưng không được đầu tư đúng mức thì vẫn đủ sức hấp dẫn để lôi cuốn khách hàng đến với Sơn La. Các chính sách ưu đãi về đầu tư cho du lịch, chế độ miễn giảm thuế, ưu đãi về thuê đất cho lĩnh vực du lịch chưa đồng bộ và rõ nét.

     

    Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế, dẫn đến khách du lịch, nhất là khách du lịch nước ngoài rất thiếu thông tin về Sơn La. Hiện nay, chủ yếu thông qua hoạt động triển lãm hàng năm để quảng bá về du lịch.

     

    145

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    Các loại hình tuyên truyền, quảng bá chưa phong phú và chưa được tiến hành thường xuyên.

     

    CÁC GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN TỈNH SƠN LA

     

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch

     

    Để thực hiện tốt hoạt động Marketing địa phương cần phải hết sức coi trọng đến lực lượng phục vụ trong du lịch bởi chính những người này sẽ có một sự tác động mạnh mẽ tới du khách. Đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các trường cao đẳng nghề, cao đẳng cộng đồng hoạt động để từ đó có thể dễ dàng thu hút các học sinh tốt nghiệp phổ thông theo học nghề, giúp cho họ có một tay nghề kỹ thuật vững chắc, góp phần vào sự nghiệp phát triển du lịch của thành phố.

     

    Đa dạng hóa sản phẩm du lịch hướng về khách hàng

     

    Dựa trên nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng có thể phát triển các loại hình du lịch đặc trưng có sức hấp dẫn du khách như du lịch khám phá, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch giúp đỡ người nghèo…

     

    hướng về thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách du lịch. Bên cạnh đó cần chú trọng đến đầu tư hoặc khuyến khích xây dựng các tụ điểm vui chơi giải trí để giữ chân khách như casino, vũ trường hiện đại, khách sạn đầy đủ tiện nghi.

     

    Rà soát lại quy hoạch du lịch

     

    Sơn La hiện nay chủ yếu khai thác yếu tố thiên nhiên mà chưa có một quy hoạch tương xứng với những gì mình có. Vì thế cần rà soát lại quy hoạch để Sơn La trong tương lai sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn, trở thành điểm đến du lịch bền vững. Sự quy hoạch du lịch cần tính đến sự liên hoàn giữa các khu du lịch, sự kết nối tạo thành chuỗi giá trị không những trong ngành du lịch và hỗ trợ tạo điều kiện lẫn nhau trong việc thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

     

    146

    Tăng cường quảng bá du lịch

     

    Để hình ảnh Sơn La trở nên quen thuộc với mọi người cần chú ý đến hoạt động quảng bá du lịch. Quảng bá Sơn La bằng cách thành lập bộ phận chuyên trách hoặc thuê một công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài để tổ chức các sự kiện lớn nhằm quảng bá cho Sơn La.

     

    Bên cạnh đó cần hoàn thiện khâu cung cấp thông tin du lịch qua website, email, liên kết với các web tìm kiếm nổi tiếng như Google, Yahoo, MSN… để du khách nước ngoài dễ tìm kiếm.

     

    Nâng cao ý thức người dân

     

    Sự thân thiện và lòng hiếu khách của người dân Sơn La hiện nay đang được du khách đánh giá cao, địa phương cần tập trung vào thế mạnh này. Bởi lẽ cộng đồng địa phương có một vai trò rất lớn trong sự phát triển du lịch, các hoạt động du lịch đều có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Vì thế, để nâng cao khả năng thu hút khách cần tác động đến ý thức của cộng đồng để họ thực sự trở thành những người bảo vệ các đối tượng du lịch.

     

    Thực hiện công tác liên kết phát triển du lịch

     

    Trong quá trình cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì liên kết hợp tác trong phát triển du lịch để cùng nhau phát triển lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hoạt động liên kết giữa các tỉnh khu vực Tây Bắc, đặc biệt các tỉnh trên cung đường quốc lộ 6 như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên cần được triển khai thực hiện đồng bộ. Các địa phương cũng phối hợp nhau để tổ chức các sự kiện lớn như Festival qua miền Tây Bắc, Hành trình “Điện Biên năm xưa”, liên hoan văn hóa du lịch Tây Bắc. Chính hoạt động liên kết sẽ khai thác được các nét đặc trưng cũng như phát huy được các thế mạnh về du lịch của các tỉnh để phát triển du lịch của khu vực.

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch

     

    • Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch
    • Đường bộ: những tuyến đường được xác

    định là lộ trình du lịch với hành trình dài cần

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    xây dựng và hình thành trạm dịch vụ dừng chân dọc theo các tuyến đường bộ với khoảng cách hợp lý. Thường xuyên duy tu, sửa chữa các tuyến đường hiện có.

     

    • Đường không: Xúc tiến quá trình cải tạo và xây dựng sân bay Nà Sản trở thành một sân bay quốc tế hiện đại… Có chủ trương hỗ trợ đối với các đường bay mới, ít khách để có thể duy trì hoạt động.
    • Đường sông: Nghiên cứu thiết lập đa dạng các tuyến du lịch bằng đường sông đến Sơn La qua dòng sông Đà. Xây dựng những điểm ven sống thành chợ hàng hóa kết hợp du lịch, xây dựng khu bán hàng lưu niệm, ẩm thực phục vụ khách du lịch văn minh, sạch đẹp.
    • Hoàn chỉnh hệ thống viễn thông – công nghệ thông tin; xây dựng đồng bộ và hiện đại hoá hệ thống biển báo, chỉ dẫn giao thông và du lịch; xây dựng và cải tạo mạng lưới cấp điện, nước cho các khu đô thị và du lịch.

    * Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

     

    • Phát triển cả số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú nhằm đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch, đạt tiêu chuẩn 3 sao, 4 sao thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ chất lượng cao của phân khúc thị trường cao cấp.
    • Kiểm tra, lựa chọn và thông báo rộng rãi những khách sạn, nhà hàng, dịch vụ ăn uống, điểm mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ở các điểm du lịch, giúp du khách có cơ sở để lựa chọn và quyết định.
    • Ban hành những chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút và lựa chọn những dự án xây dựng khách sạn cao cấp với quy mô lớn, đẳng cấp quốc tế, kêu gọi xây dựng hạ tầng xanh thân thiện với môi trường mà lại tiết kiệm được chi phí.
    • Nâng cấp và xây dựng thêm các khu vui chơi giải trí, các resort, các khu mua sắm lớn, hiện đại và đa dạng hóa về chủng loại hàng hóa, các khu thể thao phù hợp với điều kiện địa hình của thành phố.
    • Phát triển các khu mua sắm để tăng chi tiêu của du khách và có những chính sách ưu đãi với những gian hàng của các làng nghề trong khu mua sắm;
    • Cần xây dựng một số khu vui chơi giải trí hiện đại mang đặc trưng và sự khác biệt so với những nơi khác.
    • Nâng cao hơn nữa chất lượng các dịch vụ kèm theo như dịch vụ vận chuyển, viễn thông, y tế, ngân hàng… và đầu tư nâng cấp, trùng tu các khu bảo tàng, văn hóa, sinh thái.

    Phát triển du lịch gắn kết với cộng đồng địa phương

     

    Gia tăng sự hiểu biết về phát triển du lịch bền vững, hướng tới cân bằng lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và vấn đề bảo vệ môi trường. Đảm bảo sự tham gia của cộng đồng dân cư vào quá trình xây dựng quy hoạch phát triển du lịch. Muốn vậy phải để người dân địa phương tham gia từ việc đánh giá thực trạng du lịch bền vững, lấy

     

    • kiến người dân về những biện pháp, đề ra những nội quy để phát triển du lịch bền vững. Khi người dân được tham gia và cùng trải nghiệm quá trình này thì bản thân mỗi người

    đã ý thức được trách nhiệm đối với môi trường du lịch.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nguyễn Văn Mạnh (2009), Giáo trình marketing du lịch, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
    1. Vũ Thị Thoa (2012), “Phát triển du lịch bền vững”, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, http://www.vtr.org.vn/index.php?options=items&c ode=2979
    1. Kai Partale (2012), “Quản lý điểm đến cho 8 tỉnh miền núi Tây Bắc”, Chương trình Phát triển

    Năng lực Du lịch có trách nhiệm với Môi trường

     

    và Xã hội, http://www.esrt.vn/default.aspx? portalid=1&tabid=356&itemid=16

     

    1. Hoàng Vượng (2012), “Bộ thương hiệu du lịch tám tỉnh Tây Bắc mở rộng”, Du lịch Việt Nam – 2012 – Số Xuân (2) – Tr. 50-51.
    1. Sở Thương mại & Du lịch Sơn La (2006), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sơn La giai đoạn 2007 -2020.
    1. Vũ Trí Dũng, ThS Nguyễn Đức Hải (2011), Marketing lãnh thổ, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.

    147

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    SUMMARY

     

    LOCAL MARKETING SOLUTIONS TO ATTRACT TOURISTS

    IN SON LA PROVINCE

     

    Le Ngoc Nuong*, Nguyen Hai Khanh

    College of Economics and Business Administration TNU

     

    Today’s marketing activities are not limited in the scope of the business or a particular industry but are developed in the scope of area, region, local or nation. This marketing is called local marketing and can be applied in a province (city). Son La is a mountainous province located northwest of the country, with colorful culture along with the good conditions in terms of nature. Son La has an important strategic position with many advantages of tourism development. However, Son La tourism has not been developed effectively as key economic sectors which contribute to promote the social and economic development of the province. Research has shown reality of development, tourism development and built local marketing solutions to create competitive advantages and to attract more tourists to Son La.

     

    Key words: Local marketing, Son La

     

     

     

     

     

    Ngày nhận bài: 12/3/2014; ngày phản biện: 09/4/2014; ngày duyệt đăng: 26/9/2014

     

    Phản biện khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Anh – Trường Đại học Kinh tế & QTKD – ĐH Thái Nguyên

     

    • Tel: 0973282586

     

    148


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-marketing-h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-v%C3%A0-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-c%E1%BA%A1nh-tranh-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p-du-l%E1%BB%8Bch-t%E1%BA%A1i-t%E1%BB%89nh-Th%E1%BB%ABa-Thi%C3%AAn-Hu%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Tạp chí Khoa học công nghệ và Thực phẩm 16 (1) (2018) 140-152

     

    NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA YẾU TỐ NĂNG LỰC MARKETING, HÌNH ẢNH THƢƠNG HIỆU VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

     

    Nguyễn Văn Ít1*, Hoàng Thị Chỉnh2, Trần Anh Minh3

    1Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM 2Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 3Trường Đại học Văn Lang *Email: [email protected]

     

    Ngày nhận bài: 19/7/2018; Ngày chấp nhận đăng: 30/8/2018

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mối quan hệ và đo lường ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch trên cơ sở khảo sát 490 lãnh đạo doanh nghiệp (doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài) thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 7 năm 2018. Phân tích dữ liệu bằng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình cấu trúc (SEM). Kết quả xác định được mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Nghiên cứu này còn đưa ra hàm ý quản trị phù hợp giúp các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh doanh tốt.

     

    Từ khóa: Văn hóa tổ chức, năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh.

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp du lịch đã và đang tìm mọi cách để đạt hiệu quả kinh doanh bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng là các doanh nghiệp du lịch cần nắm bắt được một trong những công cụ cơ bản là xây dựng năng lực marketing hiệu quả, hình ảnh thương hiệu tốt làm tăng khả năng cạnh tranh và từ đó tác động tích cực đến hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp [1]. Cũng như văn hóa tổ chức tác động đến năng lực cạnh tranh, từ đó sẽ tạo ra hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh [2]. Hiệu suất kinh doanh là đánh giá của bất kỳ chiến lược kinh doanh nào của doanh nghiệp và cải tiến hiệu suất là trọng tâm của doanh nghiệp. Như vậy, để đánh giá mối quan hệ và ảnh hưởng của các yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch là thật sự cần thiết đối với đối với các doanh nghiệp du lịch. Thừa Thiên Huế là tỉnh đại diện cho miền Trung Việt Nam được lựa chọn để nghiên cứu, bởi vì hiện tại còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp du lịch.

     

    140

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    2.1. Một số khái niệm

     

    2.1.1. Năng lực marketing

     

    Marketing là một quá trình mà các doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ với khách hàng mạnh mẽ để nắm bắt giá trị từ khách hàng đem lại cho doanh nghiệp [3]. Năng lực marketing của doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc liên tục theo dõi và đáp ứng được những thay đổi của khách hàng cùng với đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực du lịch, năng lực marketing đóng một vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng, phản ứng với đối thủ cạnh tranh, thích ứng với biến đổi của môi trường cũng như việc cải thiện chất lượng mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và đối tác.

     

    2.1.2. Hình ảnh thương hiệu

     

    Hình ảnh thương hiệu là sự tin tưởng của khách hàng vào một tổ chức và tổng hợp tất cả những ấn tượng của khách hàng bởi hình ảnh thương hiệu được phân biệt rõ trong tâm trí của họ dựa trên những lợi ích chức năng và cảm xúc mà khách hàng cảm nhận được [4]. Hình ảnh của doanh nghiệp du lịch, khu du lịch được xác định là tất cả các niềm tin, ý tưởng và ấn tượng. Ngày càng có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng hình ảnh của doanh nghiệp du lịch, khu du lịch bao gồm 2 khía cạnh: nhận thức và tình cảm, phát triển hình ảnh doanh nghiệp thành tài sản của doanh nghiệp, quản lý hình ảnh ấn tượng tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp đó.

     

    2.1.3. Văn hóa tổ chức

     

    Văn hóa là một hệ thống nhận thức được chia sẻ, tâm trí con người tạo ra văn hóa bằng trung bình của một số quy tắc hữu hạn các tổ chức, các hệ thống có kiến thức nằm trong mạng lưới các ý nghĩa chủ quan hoặc kinh tế các thành viên chia sẻ với các mức độ khác nhau và xuất hiện hoạt động theo cách giống như quy tắc [5]. Văn hóa tổ chức là hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên và nó có tác dụng phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác [6]. Chính vì vậy chúng còn được gọi là “bản sắc riêng” hay “bản sắc văn hóa” của một tổ chức mà mọi người có thể xác định được và thông qua đó nhận ra được quan điểm và triết lý đạo đức của một tổ chức doanh nghiệp. Văn hóa tổ chức bao gồm các khía cạnh dựa trên bản sắc doanh nghiệp và được nhận dạng bởi các thành viên trong tổ chức đó. Vì vậy, văn hóa tổ chức cần được xem xét duy trì và phát triển bản sắc của doanh nghiệp.

     

    2.1.4. Năng lực cạnh tranh

     

    Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là năng lực thiết kế, năng lực marketing của một doanh nghiệp về sản phẩm hoặc dịch vụ vượt trội so với những gì được cung cấp bởi các đối thủ cạnh tranh [7]. Một doanh nghiệp được cho là có lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp đó tạo ra giá trị kinh tế cao hơn đối thủ cạnh tranh, giá trị kinh tế được đề cập là so sánh lợi ích nhận được với chi phí bỏ ra của khách hàng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ đã mua. Lợi thế cạnh tranh là cơ sở cho một chiến lược tốt, đồng thời một chiến lược tốt sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh. Do đó, năng lực cạnh tranh rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi vì điều đó giúp phân biệt doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh [8]. Trong thực tế, cách tốt nhất để đạt được lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp lớn và nhỏ là cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng.

     

    141

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    2.1.5. Hiệu quả kinh doanh

     

    Hiệu quả kinh doanh là một bộ tiêu chí nhằm định lượng tính năng suất và hiệu quả các mặt hoạt động trong doanh nghiệp và nó được kiểm định bởi 3 cấp độ: cá nhân, mục tiêu của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá đó với môi trường hoạt động (văn hóa, thỏa mãn khách hàng, chiến lược phát triển) [8]. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là thành công của những nỗ lực để đạt được mục tiêu, thu được từ sáng tạo và có thể áp dụng, được nhìn thấy từ những nỗ lực của các nhân viên khi doanh nghiệp của họ tốt hơn so với giai đoạn trước như vốn, quy mô hoạt động và mở rộng kinh doanh, quan điểm về tài chính của nó hiệu suất bao gồm tính khả dụng, tính thanh khoản, khả năng thanh toán và hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Đối với các khía cạnh khác nhau của việc xác định thành công của doanh nghiệp là hiệu quả hoạt động kinh doanh được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm mối quan hệ của các yếu tố và năng lực cạnh tranh tác động đến hiệu quả kinh doanh như mở rộng quy mô, tăng lợi nhuận và sự tin tưởng của khách hàng ngày càng tăng.

     

    2.2. Mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu

     

    2.2.1. Văn hóa tổ chức và năng lực marketing

     

    Marketing được xác định dựa trên một nền văn hóa tổ chức riêng biệt của doanh nghiệp đó, sự phát triển định hướng khách hàng trong các doanh nghiệp liên quan đến văn hóa tổ chức của doanh nghiệp đó [9]. Giai đoạn phát triển tiếp theo của chiến lược lập kế hoạch thị trường phải bao gồm sự tích hợp chính thức của văn hóa tổ chức được cân đối, nội bộ nhất quán và cũng phải phù hợp với chiến lược, nếu chiến lược đó được triển khai [10], đây là yếu tố quyết định làm tăng hiệu quả marketing. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và năng lực marketing.

     

    2.2.2. Văn hóa tổ chức và hình ảnh thương hiệu

     

    Văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu, hàng ngày tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và khách hang. Để phát triển hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp thì văn hóa tổ chức là yếu tố quyết định hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp đó [11]. Văn hóa tổ chức tạo ra hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Hình ảnh của tổ chức thông qua sự nhận dạng của các thành viên trong tổ chức, đặc trưng về “bản sắc” riêng của từng tổ chức giúp phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, tạo nên hình ảnh thương hiệu khác nhau cho các doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và hình ảnh thương hiệu.

     

    2.2.3. Văn hóa tổ chức và năng lực cạnh tranh

     

    Văn hóa tổ chức là một lợi thế tạo ra cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp, quản lý văn hóa tổ chức như một nguồn lực cạnh tranh trong doanh nghiệp, một cái nhìn dựa trên nhận dạng về lợi thế cạnh tranh bền vững [12]. Trong việc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp không thể thiếu văn hóa tổ chức, chiến lược cạnh tranh và thực tiễn quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp [2]. Định hướng thị trường theo quan điểm văn hóa được hiểu như là văn hóa tổ chức; trong đó, thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh tạo thành trục trung tâm trong phương pháp làm việc của doanh nghiệp, định hướng này hàm ý sự tồn tại của một tập hợp các giá trị và thái độ trong tổ chức. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và năng lực cạnh tranh.

     

    142

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    2.2.4. Năng lực marketing và hình ảnh thương hiệu

     

    Doanh nghiệp thể hiện hình ảnh thương hiệu rõ ràng, có thể giao tiếp hiệu quả với khách hàng về các dịch vụ, giá cả và thái độ của khách hàng [13]. Do đó, các chương trình marketing hiệu quả dựa trên xây dựng hình ảnh thương hiệu là quan trọng, bởi vì thông qua đó nâng cao nhận thức và kết nối hình ảnh thương hiệu với khách hàng. Trong đó bao gồm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẵn sàng chi trả một mức giá cao cho hình ảnh thương hiệu. Tầm quan trọng của bộ phận marketing, đặc biệt là nhân viên marketing, làm tăng trưởng về thương hiệu và phân khúc thị trường đã kích thích nhu cầu của khách hàng. Marketing được coi là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra hình ảnh thương hiệu thành công. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và hình ảnh thương hiệu.

     

    2.2.5. Năng lực marketing và năng lực cạnh tranh

     

    Các nguồn lực ảnh hưởng đến năng lực cạnh của doanh nghiệp bao gồm: khả năng phát triển sản phẩm, chất lượng dịch vụ khách hàng, hiệu quả trong sản xuất, năng lực marketing. Năng lực cạnh tranh của các cửa hàng Đài Loan bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như là chiến lược kinh doanh, năng lực tài chính, cơ sở vật chất các tiện nghi, sản phẩm hàng hóa, chất lượng dịch vụ, marketing, nguồn nhân lực. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hungary gồm: Lập kế hoạch, marketing, đảm bảo chất lượng, phương pháp tổ chức và kiểm soát tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [14]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H5: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và năng lực cạnh tranh.

     

    2.2.6. Hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh

     

    Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được hình thành từ năng lực nội bộ của doanh nghiêp, nguồn lực hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Nguồn lực vô hình và hữu hình ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, nguồn lực hữu hình chính là tài sản vật chất mà một doanh nghiệp có thể quan sát và đếm được như các nguồn lực tài chính, nguồn lực tổ chức, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ [15]. Nguồn lực vô hình chính là các tài sản mà doanh nghiệp không thể đếm được như nguồn lực con người, nguồn lực đổi mới, nguồn lực về danh tiếng (sức mạnh thương hiệu, danh tiếng với khách hàng). Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, cần nhấn mạnh vai trò của các yếu tố ảnh hưởng như: chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, năng lực hoạt động, khả năng sáng tạo, nguồn lực hữu hình và vô hình khác. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh.

     

    2.2.7. Năng lực marketing và hiệu quả kinh doanh

     

    Khi cạnh tranh trong ngành du lịch trở nên dữ dội hơn, ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động marketing trong kinh doanh du lịch để thu hút khách hàng cũng như giúp khách hàng phân biệt mình với đối thủ cạnh tranh. Các hoạt động marketing tốt có liên quan tích cực đến hiệu quả kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp dịch vụ muốn thực hiện tốt thì phải phân tích được thị trường, lập kế hoạch, thực hiện các chiến lược marketing đúng cách; doanh nghiệp cần tập trung đẩy mạnh chiến lược marketing sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được hiệu quả kinh doanh ngay cả trong cuộc khủng hoảng kinh tế [16]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H7: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và hiệu quả kinh doanh.

     

    143

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    2.2.8. Hình ảnh thương hiệu và hiệu quả kinh doanh

     

    Thương hiệu là chìa khóa thành công của doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thương hiệu dựa trên nhận thức của khách hàng và nó quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp [17]. Khi du lịch là sản phẩm thì hình ảnh thương hiệu giúp người tiêu dùng có sự lựa chọn và giảm thiểu rủi ro trong việc đưa ra quyết định, một thương hiệu mạnh có thể giúp phân biệt sản phẩm dịch vụ của mình với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh [18]. Quá trình xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp du lịch, khu du lịch là rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh dài hạn, hiệu quả kinh doanh trên thị trường thông qua thương hiệu của doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H8: Có mối quan hệ cùng chiều giữa hình ảnh thương hiệu và hiệu quả kinh doanh.

     

    2.2.9. Năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

     

    Trên góc độ giá trị khách hang, một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp khác khi khách hàng có thể nhận thấy được giá trị dành cho họ là cao nhất. Trong đó, giá trị dành cho khách hàng là phần chênh lệch giữa tổng giá trị và tổng chi phí của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh là để đạt được hiệu suất cao, một doanh nghiệp phải phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm gia tăng khả năng mở rộng và phát triển thị phần, làm tăng hiệu quả tài chính, tăng sự ổn định và phát triển bền vững trong tương lai [19]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H9: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

     

    3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Dựa trên các nghiên cứu của Haluk & Özgül (2007), Prasad & Dev (2000), Li (2011)

    [16, 17, 19] và thông qua kết quả định tính, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Năng lực

     

    marketing

     

    H1

       

    H7

         
     

    H5

           
     

    H4

           
               
                 

    Văn hóa

    H3

    Năng lực

     

    H9

    Hiệu quả

       
       

    tổ chức

     

    cạnh tranh

       

    kinh doanh

    H6

    H2

    H8

     

    Hình ảnh

     

    thương hiệu

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

     

    4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu

     

    Phương pháp định tính: Thông qua việc thống kê, tổng hợp, phân tích: các lý thuyết về năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và các

     

    144

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    nghiên cứu trước đây từ các tạp chí kinh tế trong nước, ngoài nước để khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thành phần tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, các thang đo đối với từng yếu tố. Tác giả đã thảo luận trực tiếp với 9 chuyên gia nhằm xem xét mô hình và thang đo. Các chuyên gia này là những người am hiểu về lĩnh vực du lịch cả lý thuyết và thực tiễn, và các nhà quản trị đang trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

     

    Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu, áp dụng mô hình đã đề ra và dùng SPSS-AMOS để phân tích dữ liệu nhằm đánh giá mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Phương pháp này giúp tác giả kiểm định các thang đo và mối quan hệ cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh.

     

    4.2. Thu thập dữ liệu

     

    Mẫu và thông tin mẫu: Đối tượng chọn mẫu là các nhà quản lý, bao gồm: giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Sử dụng thang đo Likert 5 bậc (1: Hoàn toàn không đồng ý; 2: Không đồng ý; 3: Trung lập; 4: Đồng ý; 5: Hoàn toàn đồng ý). Thu thập 490 đơn vị mẫu đưa vào phân tích.

     

    Thu thập và phân tích dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20 và AMOS, tiến hành kiểm định thông qua các bước: (1) đánh giá sơ bộ thang đo, đo lường độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số Cronbach’s alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory factor analysis) để xác định độ hội tụ (factor loading) và tính phân biệt của các nhóm yếu tố, (2) kiểm định các thang đo với dữ liệu thu thập bằng phân tích khẳng định CFA, (3) phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm xác định các mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch.

     

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    5.1. Thống kê mô tả mẫu

     

    Các mẫu được lựa chọn bằng phương pháp phi xác suất. Các cấu trúc nhân khẩu học, đặc điểm tổ chức của người được khảo sát, Trong đó công ty TNHH chiếm cao nhất là 51,1%, vị trí quản lý là giám đốc doanh nghiệp chiếm cao nhất 66,1%, số năm công ty hoạt động từ 5 đến 10 năm chiếm 44,3%, độ tuổi khảo sát phần lớn (52,4%) từ 35 đến 45 tuổi. Kết quả được trình bày ngắn gọn trong Bảng 1 và Bảng 2.

     

    Bảng 1. Thống kê mô tả

     

     

    Đặc điểm

    Tần số

    (%)

             
       

    Doanh nghiệp tư nhân

    56

    11,4

       

    Công ty TNHH

    265

    54,1

    Loại hình doanh nghiệp

     

    Công ty cổ phần

    144

    29,4

       

    Khác

    25

    5,1

             
       

    Giám đốc

    324

    66,1

    Vị trí quản lý

     

    Phó giám đốc

    103

    21,0

           
       

    Trưởng phòng kinh doanh

    63

    12,9

             

    145

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    Đặc điểm

     

    Tần số

    (%)

             
       

    < 5

    69

    14,1

    Số năm công ty được thành lập

     

    5 – 10

    217

    44,3

     

    10 – 15

    148

    30,2

       
       

    ≥ 15

    56

    11,4

             
       

    1 – 5

    169

    34,5

    Công ty có số lượng công ty thành

     

    5 – 10

    209

    42,7

    viên, chi nhánh và văn phòng đại

     

    10 – 15

    98

    20,0

    diện

     
       

    ≥ 15

       
       

    14

    2,9

             
       

    < 5

    29

    5,9

    Quy mô doanh nghiệp

     

    5 – 10

    217

    44,3

    (Số người)

     

    10 – 15

    177

    36,1

       

    ≥ 15

    67

    13,7

             
       

    18 – 25

    16

    3,3

    Số tuổi của đối tượng tham gia

     

    25 – 35

    86

    17,6

           

    khảo sát

     

    35 – 45

    257

    52,4

       
       

    ≥ 45

    131

    26,7

             

    Bảng 2. Thống kê mô tả các nhà quản lý

     

    Nhà quản lý

    Loại hình doanh nghiệp

    Tần số

     
           
     

    Doanh nghiệp tư nhân

    30

     
           

    Giám đốc

    Công ty TNHH

    190

     
         

    Công ty cổ phần

    90

     
     
           
     

    Khác

    14

     
           
     

    Giám đốc

    10

     

    Phó giám đốc

    Phó giám đốc

    50

     
         

    Trưởng phòng kinh doanh

    40

     
     
           
     

    Khác

    3

     
           
     

    Giám đốc

    16

     
           

    Phó giám đốc

    Phó giám đốc

    25

     
         

    Trưởng phòng kinh doanh

    14

     
     
           
     

    Khác

    8

     

    5.2. Phân tích độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha

     

    Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha các biến độc lập. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo thuộc yếu tố độc lập. Trong đó, trừ thang đo VHTC3,

     

    146

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    NLMT2 và HATH4 có hệ số tương quan biến – tổng (Corrected item – Total correlation) < 0,3, tác giả tiến hành loại biến và chạy lại. Kết quả chạy lại cho thấy các yếu tố còn lại đều có hệ số tương quan biến – tổng phù hợp (Corrected item – Total correlation) ≥ 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha > 0,6 nên các biến đều chấp nhận được và thích hợp đưa vào các phân tích tiếp theo. Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha các biến phụ thuộc. Kiểm định độ tin cậy của thang đo các yếu tố phụ thuộc hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch: các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng phù hợp (Corrected item – Total correlation) ≥ 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha > 0,6 nên các biến đều chấp nhận được và thích hợp đưa vào các phân tích tiếp theo.

     

    Bảng 3. Kết quả hệ số tin cậy Cronbach’s alpha thang đo các thành phần

     

    STT

    Các khái niệm

    Ký hiệu thành

    Số biến

    Cronbach’s

    Hệ số tương quan

     

    phần

    quan sát

    alpha

    biến tổng bé nhất

     
       
                 

    1

    Văn hóa tổ chức

    VHTC

    4

    0,864

    0,659

     
                 

    2

    Năng lực marketing

    NLMT

    6

    0,928

    0,712

     
                 

    3

    Hình ảnh thương hiệu

    HATH

    5

    0,912

    0,757

     
                 

    4

    Năng lực cạnh tranh

    NLCT

    4

    0,929

    0,825

     
                 

    5

    Hiệu quả kinh doanh

    HQKD

    4

    0,909

    0,774

     
                 

    5.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm xem xét mức độ hội tụ của các thang đo theo từng thành phần và giá trị riêng biệt giữa từng yếu tố. Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến độc lập cho thấy, 19 thang đo thuộc về biến yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh được nhóm thành 4 yếu tố như sau: NLMT, NLCT, HATH, VHTC. Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến phụ thuộc cho thấy, 4 thang đo thuộc về biến phụ thuộc hiệu quả kinh doanh được nhóm thành 1 yếu tố, các chỉ số phù hợp tiêu chuẩn [20] cụ thể: Hệ số tải nhân tố (Factor loading) đều > 0,5 nên các thang đo đều quan trọng trong nhân tố và có ý nghĩa thiết thực, mỗi thang đo có sai biệt về hệ số tải nhân tố đều > 0,30 đảm bảo sự phân biệt giữa các yếu tố. Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) = 0,922 là phù hợp (0,5 < KMO < 1), chứng tỏ phân tích nhân tố EFA phù hợp với dữ liệu. Tổng phương sai trích được là 69,879 % nên phù hợp (> 50%) cho biết các nhân tố trích rút ra giải thích được 69,879% biến thiên của dữ liệu, do vậy các thang đo rút ra được chấp nhận. Thống kê Chi-square của kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa Sig = 0,000 nên phù hợp (sig < 5%) chứng tỏ các thang đo có tương quan trong tổng thể.

     

    5.4. Phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory factor analysis)

     

    Trong nghiên cứu này, các tiêu chuẩn được sử dụng để xác định mô hình tốt nhất là kết quả của hệ số bình thường Chi-square χ2/Df ≤ 3, CFI > 0,9, GFI > 0,9, TLI > 0,9, RMSEA< 0,05. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA các biến độc lập như được trình bày ở Bảng 5.

     

    Các trọng số chưa chuẩn hóa đều có ý nghĩa thống kê (p-value < 0,05), và các trọng số chuẩn hóa > 0,5. Từ bảng 5 ta có tất cả các chỉ số đều đạt yêu cầu, đảm bảo tính nhất quán, sự hội tụ và sự phù hợp của mô hình.

     

    147

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    Bảng 4. Nhân tố khám phá (EFA)

     

                 

    Nhân tố

             
                             
       

    1

     

    2

     

    3

    4

     

    5

     
                             
     

    NLMT3

    0,917

                     
                             
     

    NLMT7

    0,914

                     
                             
     

    NLMT5

    0,854

                     
                             
     

    NLMT4

    0,851

                     
                             
     

    NLMT1

    0,696

                     
                             
     

    NLMT6

    0,691

                     
                             
     

    HATH6

         

    0,920

                 
                             
     

    HATH2

         

    0,842

                 
                             
     

    HATH5

         

    0,819

                 
                             
     

    HATH1

         

    0,818

                 
                             
     

    HATH3

         

    0,695

                 
                             
     

    NLCT4

             

    0,894

             
                             
     

    NLCT2

             

    0,886

             
                             
     

    NLCT3

             

    0,860

             
                             
     

    NLCT1

             

    0,858

             
                             
     

    HQKD2

               

    0,904

         
                             
     

    HQKD1

               

    0,828

         
                             
     

    HQKD4

               

    0,813

         
                             
     

    HQKD3

               

    0,796

         
                             
     

    VHTC2

                     

    0,908

     
                             
     

    VHTC4

                     

    0,828

     
                             
     

    VHTC1

                     

    0,698

     
                             
     

    VHTC5

                     

    0,624

     
                           
         

    Bảng 5. Kết quả kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn

         
                         
     

    STT

     

    Chỉ số

       

    Tiêu chuẩn

       

    Kết quả

     
                       
     

    1

     

    Chi-square /df

     

    ≤ 3

       

    2,146

     
                         
     

    2

     

    TLI

       

    ≥ 0,9

       

    0,965

     
                         
     

    3

     

    CFI

       

    ≥ 0,9

       

    0,970

     
                         
     

    4

     

    GFI

       

    ≥ 0,9

       

    0,923

     
                         
     

    5

     

    RMSEA

       

    ≤ 0,08

       

    0,048

     
                             

    148

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

     

     

     

     

    Hình 2. Kết quả phân tích mô hình CFA

     

    5.5. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural equation modeling-SEM)

     

    Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh. Phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Các chỉ số đạt kết quả tốt, cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu thu thập và kết quả các tác động có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

     

    Bảng 6. Kết quả kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn

     

    STT

    Chỉ số

    Tiêu chuẩn

    Kết quả

           

    1

    Chi-square /df

    ≤ 3

    2,198

           

    2

    TLI

    ≥ 0,9

    0,964

           

    3

    CFI

    ≥ 0,9

    0,968

           

    4

    GFI

    ≥ 0,9

    0,921

           

    5

    RMSEA

    ≤ 0,08

    0,049

           

    149

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

     

     

    Hình 3. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

     

    Kết quả cho thấy tất cả các chỉ số đều đạt yêu cầu, đảm bảo tính nhất quán, sự hội tụ và sự phù hợp của mô hình tái khẳng định năng lực marketing, hình ảnh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch.

     

    Bảng 7. Kết quả SEM

     

     

    Quan hệ

     

    Hệ số

    S.E.

    C.R.

    p

                 

    NLMT

    <—

    VHTC

    0,576

    0,049

    11,792

    ***

                 

    HATH

    <—

    VHTC

    0,305

    0,056

    5,428

    ***

                 

    HATH

    <—

    NLMT

    0,168

    0,052

    3,237

    0,001

                 

    NLCT

    <—

    VHTC

    0,315

    0,066

    4,777

    ***

                 

    NLCT

    <—

    NLMT

    0,121

    0,059

    2,061

    0,039

                 

    NLCT

    <—

    HATH

    0,123

    0,057

    2,154

    0,031

                 

    HQKD

    <—

    NLCT

    0,111

    0,032

    3,421

    ***

                 

    HQKD

    <—

    HATH

    0,355

    0,039

    9,159

    ***

                 

    HQKD

    <—

    NLMT

    0,278

    0,036

    7,751

    ***

                 

    Kết quả nghiên cứu bao gồm 9 giả thuyết đều tác động thuận chiều như kỳ vọng. Trong đó, yếu tố hình ảnh thương hiệu tác động lớn nhất (0,355), tiếp đến là năng lực marketing (0,278) và năng lực cạnh tranh tác động yếu nhất (0,111) đến hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa tổ chức tác động lần lượt tích cực đến năng lực marketing (0,576), năng lực cạnh tranh (0,315) và hình ảnh thương hiệu (0,305), năng lực marketing tác động tích cực (0,168) đến hình ảnh thương hiệu.

     

    5.6. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

     

    Căn cứ kết quả điều tra thực tế 10 doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế, mối quan hệ giữa năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh thể hiện qua biểu đồ sau:

     

    150

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    Điểm6 đánh giá

     

    5

     

    4

     

    3

    NLMT

     

    2

    HATH

     

    1

    NLCT

     

    0

    HQKD

     

    Doanh nghiệp

     

    Hình 4. Hiệu quả kinh doanh

     

    Biểu đồ trên cho thấy mối quan hệ thuận chiều năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

     

    6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

     

    Kết quả nghiên cứu xác định được các mối quan hệ và ảnh hưởng tác động tích cực từ năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp như sau:

     

    Một là, duy trì củng cố thêm hình ảnh của tổ chức đối với khách hàng và cộng đồng, cần một động lực thực sự, có một tầm nhìn rõ ràng, phác họa hình ảnh cụ thể mà tổ chức mong muốn trong tương lai cũng như văn hóa tổ chức luôn được duy trì dựa trên giá trị của tổ chức, phù hợp với mục tiêu cũng như hài hòa với giá trị cá nhân của các thành viên trong tổ chức và người lao động phải được xem là nguồn lực quan trọng có giá trị, luôn được tôn trọng.

     

    Hai là, để xây dựng hình ảnh thương hiệu bền vững, các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế cần đi đúng hướng như phân tích đánh giá thông tin qua hoạt động nghiên cứu marketing, xây dựng tầm nhìn thương hiệu, hoạch định chiến lược thương hiệu, định vị thương hiệu và xây dựng hệ thống bộ nhận diện thương hiệu.

     

    Ba là, thực hiện tốt chính sách khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng, tăng cường công tác tư vấn hỗ trợ khách hàng, trong suốt quá trình giao dịch cần xử lý công việc nhanh chóng hiệu quả cho khách hàng, luôn giữ gìn sự hài lòng và tăng cường hợp tác với khách hàng.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Craig J. B., Dibrell C., Davis P. S. – Leveraging family‐based brand identity to enhance firm competitiveness and performance in family businesses, Journal of Small Business Management 46 (3) (2008) 351-371.
    1. Chan L. L., Shaffer M. A., Snape E. – In search of sustained competitive advantage: the impact of organizational culture, competitive strategy and human resource management practices on firm performance, The International Journal of Human Resource Management 15 (1) (2004) 17-35.
    1. Kotler P, Amstrong G. – Principle of marketing (14th), Pearson Prentice Hall (2012) 32-33.
    1. Knapp D. E. – The Brand Mindset, McGraw-Hill, New York (2000) 56-58.
    1. Smircich L. – Concepts of culture and organizational analysis, Administrative Science Quarterly (1983) 339-358.
    1. Nguyễn Mạnh Quân. – Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2011) 8-9.

    151

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    1. Handaru A. W., Kartini D., Effendi N., Febrian E. – Firm competitiveness: Findings from five stars hotels in Jakarta, Indonesia, International Journal of Business and Commerce 5 (8) (24-39).
    1. Smith J. L., Flanagan W. G. – Creating competitive advantage: Give customers a reason to choose you over your competitors, Doubleday, New York (2006) 56-57.
    1. Bonoma T.V. – Making your marketing strategy work, Harvard Business Review 62 (2) (1984) 69-76.
    1. Schwartz H., Davis S. M. – Matching corporate culture and business strategy, Organizational Dynamics 10 (1) (1981) 30-48.
    1. Dowling G. R. – Developing your company image into a corporate asset, Long Range Planning 26 (2) (1993) 101-109.
    1. Fiol C. M. – Managing culture as a competitive resource: An identity-based view of sustainable competitive advantage, Journal of Management 17 (1) (1991) 191-211.
    1. Brown J. R., Ragsdale C. T. – The competitive market efficiency of hotel brands: An application of data envelopment analysis, Journal of Hospitality and Tourism Research 26 (4) (2002) 332-360.
    1. Kadocsa G. – Research of competitiveness factors of SME, Acta Polytechnica Hungarica 3 (4) (2006) 71-84.
    1. Man T. W., Lau T., Chan K. – The competitiveness of small and medium enterprises, Journal of Business Venturing 17 (2) (2002) 123–142.
    1. Haluk Köksal M., Özgül E. – The relationship between marketing strategies and performance in an economic crisis, Marketing Intelligence and Planning 25 (4) (2007) 326-342.
    1. Prasad K., Dev C. S. – Managing hotel brand equity: A customer-centric framework for assessing performance, Cornell Hotel and Restaurant Administration Quarterly 41 (3) (2000) 22-31.
    1. Lim K., O’Cass A. – Consumer brand classifications: An assessment of culture-of-origin versus country-of-origin, Journal of Product and Brand Management 10 (2) (2001) 120-136.
    1. Li V. – The methodology to assess the competitiveness of real estate developers in China, Queensland University of Technology (2011) 15-16.
    1. Hair J. F., Black, W. C., Babin B. J., Anderson R. E., Tatham R.L. – Mutilvariate data analysis, Prentice Hall, Upper Saddle River NJ (2010).

    ABSTRACT

     

    RESEARCH ON IMPACT OF MARKETING CAPABILITIES, BRAND IMAGES

     

    AND COMPETITIVENESS ON BUSINESS PERFORMANCE OF TOURIST ENTERPRISES IN THUA THIEN HUE PROVINCE

     

    Nguyen Van It1*, Hoang Thi Chinh2, Tran Anh Minh3

    1Ho Chi Minh City University of Food Industry

    2University of Economics Ho Chi Minh City

    3Van Lang University

    *Email: [email protected]

     

    The research on progress relationship and impacts of marketing capabilities, brand images, competitiveness on business efficiency of tourist enterprises was conducted on the basis of a survey of 490 tourism enterprises’ managers in Thua Thien Hue from March 2018 to July 2018. This study analyzed the data by Explorary Factor Analysis (EFA), Structural Equation Modeling (SEM). The results determined the relationship and level impacts of marketing capabilities, brand images, competitiveness on business performance of tourist enterprises. Based on these results, some implications are also considered to improve business efficiency for tourist enterprises.

     

    Keywords: Organizational culture, marketing capabilities, brand images, competitiveness, business performance.

     

    152


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/sinh_benh_hoc_cua_virus_prrs_chung_doc_luc_cao_tren_heo_rung_lai_8613SINH-B%E1%BB%86NH-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-VIRUS-PRRS-CH%E1%BB%A6NG-%C4%90%E1%BB%98C-L%E1%BB%B0C-CAO-TR%C3%8AN-HEO-R%E1%BB%AANG-LAI-QUA-G%C3%82Y-B%E1%BB%86NH-TH%E1%BB%B0C-NGHI%E1%BB%86M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    Vietnam J. Agri. Sci. 2019, Vol. 17, No. 1: 47-54                              Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(1): 47-54

     

    www.vnua.edu.vn

     

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

     

    Đỗ Tiến Duy*, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

     

    *Tác giả liên hệ: [email protected]

     

    Ngày nhận bài: 23.11.2018                                                  Ngày chấp nhận đăng: 05.03.2019

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu này nhằm xác định khả năng gây bệnh của virus (tên đầy đủ) (PRRSV) chủng độc lực cao (HP-PRRSV) trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm. Tổng cộng 28 heo rừng lai 42-49 ngày tuổi khỏe mạnh có nguồn gốc từ trại heo rừng âm tính với PRRSV và dịch tả heo được phân chia ngẫu nhiên vào hai lô thí nghiệm. Kết quả đánh giá dấu hiệu lâm sàng và bệnh lý cho thấy giai đoạn cấp tính của bệnh diễn ra từ ngày 5 đến 14 sau gây nhiễm. Các biểu hiện lâm sàng chính gồm sốt, bỏ ăn, rối loạn hô hấp, mắt sưng-chảy ghèn, run giật, chết. Viêm phổi kẽ nặng trên tất cả heo gây nhiễm; phổi viêm kẽ kèm theo xuất huyết xảy ra trên heo chết bệnh. Các chỉ tiêu cận lâm sàng (hàm lượng virus ở máu, mô; điểm kháng nguyên qua IHC, kháng thể, IL-1b) tương ứng với các triệu chứng và bệnh lý lâm sàng giai đoạn cấp tính trên heo sau gây nhiễm. Sự phân bố kháng nguyên ở mô giao động khác nhau qua các thời điểm sau gây nhiễm. Virus lần đầu tiên được ghi nhận nhiễm ở tế bào biểu mô tiểu phế quản, dạ dày, thận, ống dẫn mật và tế bào gan. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng HP-PRRSV có thể gây bệnh lý nặng, nhiễm trên nhiều cơ quan nội tạng và có thể gây chết trên heo rừng.

     

    Từ khóa: Sinh bệnh học, HP-PRRSV, heo rừng lai, gây bệnh.

     

    Pathogenesis of Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus in Crossbred Wild Pigs through Experimental Innoculation

     

    ABSTRACT

     

    The objective of this study was to examine the pathogenesis of highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome virus (HP-PRRSV) in crossbred wild pigs through experimental infection. Twenty eight healthy crossbred-wild pigs, 42-49 day-old, originated from CSFV-PRRSV-negative farms were allocated in two experimental groups.The findings in clinical signs and pathology showed that the acute phase of infection took place from 5 to 14 days post infection. The major manifestations were fever, anorexia, respiratory failure, eye discharge and swelling, shivering and death. Severe interstitial pneumonia happened in all infected animals and interstitial pneumonia accompanied with hemorrhage recorded in died pigs. The laboratory indicators (viremia in the blood/tissues, IHC score, IgG antibodies, IL-1b) were in homology with clinical pathology in acute phase of the disease. There were variations of the antigen distribution in various tissues over time-points post infection. This virus was first detected in the epithelial cells of bronchioles, stomach, kidney, bile duct and hepatic cells. The study results demonstrated that HP-PRRSV might cause severe pathology, wide antigenic distribution in visceral organs and could be fatal in crossbred-wild pigs.

     

    Keywords: Pathogenesis, HP-PRRSV, crossbred wild pigs.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) là bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra bởi virus PRRS (porcine reproductive and respiratory syndrome virus) (Zimmerman et al., 2006). Biến

     

    chủng virus PRRS mới là chủng độc lực cao (HP-PRRSV) xảy ra đầu tiên ở Trung Quốc (2006), sau đó lây lan nhanh chóng và gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho các nước láng giềng như Việt Nam (2007), Thái Lan (2010), Phillipines (2010), Lào, Campuchia (2010), Myanmar (2011), Nga và Ấn

     

    47

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

    Độ (2013) (Tian et al., 2007; Helen et al., 2009; Zhou et al., 2010).

    • khía cạnh dịch tễ học, heo rừng được xem là nguồn lưu trữ nhiều mầm bệnh truyền nhiễm như virus dịch tả heo, virus gây hội chứng còi trên heo, virus cúm heo và virus Parvo gây rối loạn sinh sản trên heo (Meng et al., 2009). Sự lưu hành PRRSV trên heo rừng được khảo sát ở nhiều quốc gia (Bonilauri et al., 2006; Ruiz-Fons et al., 2008; Choi et al., 2012; Roic et al., 2012). Tỷ lệ lưu hành PRRSV trên heo rừng châu Âu và châu Mỹ tương ứng khoảng 6,2% và 14,2% (Saliki et al., 1998; Zupancic et al., 2002; Plagemann, 2003; Ruiz-Fons et al., 2006; Hammer et al., 2012). Ở châu Á, 4/267 (kháng thể dương tính) và 8/246 (kháng nguyên dương tính) trong một khảo sát ở Hàn Quốc (Choi et al., 2012). Tỷ lệ lưu hành PRRSV 24% trong khảo sát trên heo rừng Thái Lan (Wiratsudakul et al., 2013).

    Heo rừng được thuần hóa và nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam do nhu cầu về thực phẩm và cải thiện thu nhập cho người nông dân (Larson et al., 2005). Mặc dù vậy, khả năng PRRSV gây bệnh trên heo rừng hay vai trò heo rừng là nguồn chứa PRRSV vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ (Meng et al., 2009). Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định khả năng gây bệnh của HP-PRRSV trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm.

     

    2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

     

    2.1. Bố trí thí nghiệm

     

    Tổng cộng 28 heo rừng lai 42-49 ngày tuổi khỏe mạnh có nguồn gốc từ trại heo rừng âm tính với virus PRRS và dịch tả heo qua đánh giá kháng thể (ELISA) và kháng nguyên (RT-PCR), được phân chia ngẫu nhiên vào hai lô thí nghiệm: 21 heo ở lô B (có gây nhiễm) và 7 heo ở lô A (không gây nhiễm). Heo ở 2 lô được nuôi nhốt tách biệt nhau tại thời điểm gây nhiễm. Virus PRRS chủng độc lực cao được phân lập thực địa (Bệnh viện Thú y, Trường đại học Nông Lâm TPHCM) và giải trình tự ở ba phân đoạn gen NSP2, ORF5ORF7. NSP2 có đặc điểm

     

    đột biến mất đoạn không liên tục 30 axit amin (kết quả không trình bày) và ORF5ORF7 có sự tương đồng cao với chủng JXA1 (Trung Quốc), 07QN và SR07 (Việt Nam). Heo được gây nhiễm HP-PRRSV với 3 mL huyễn dịch tế bào MARC-145 ở nồng độ 105,5/TCID50, tiêm bắp. Heo thí nghiệm gây nhiễm và heo đối chứng được nhốt ở heo ô chuồng tách biệt thuộc khu nuôi thú thí nghiệm thuộc Khoa chăn nuôi thú y, Trường đại học Nông Lâm TPHCM.

     

    Sau gây nhiễm, heo thí nghiệm được theo dõi thân nhiệt, triệu chứng lâm sàng hằng ngày cho đến 28 ngày sau gây nhiễm. Ba heo ở lô B, 1 heo ở lô A được chọn ngẫu nhiên để mổ khám toàn diện đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng như bệnh lý phổi, miễn dịch, virus huyết, kháng nguyên hiện diện vào ngày 3, 5, 7, 10, 14, 21 và 28 sau gây nhiễm.

     

    2.2. Theo dõi thân nhiệt, triệu chứng và bệnh tích lâm sàng

    Heo ở 2 lô thí nghiệm được theo dõi thân nhiệt bởi nhiệt kế điện tử (Microlife MT200, Thụy Sĩ) 2 lần/ngày theo hướng dẫn của nghiên cứu trước đây (Thoresen et al., 2001). Dấu hiệu lâm sàng đồng thời được ghi nhận cùng thời điểm đo thân nhiệt. Điểm hô hấp lâm sàng được đánh giá dựa theo thang điểm từ 0 (bình thường), 1, 2, 3 và 4 (hiệu chỉnh từ mô tả của Halbur et al., 1995).

     

    • mỗi thời điểm khảo sát, 3 heo ở lô B và 1 heo lô A được chọn ngẫu nhiên để mổ khám nhằm đánh giá bệnh lý phổi và các cơ quan nội tạng khác. Bệnh tích viêm kẽ phổi đại thể được đánh giá theo thang điểm 0-100, theo tỷ lệ% diện tích bề mặt các thùy phổi trong tổng bề mặt phổi (Halbur et al., 1995). Sau đó, 3 vị trí mô phổi ở ba thùy (đỉnh, giữa, đuôi) được cắt, cố định trong formalin 10% đệmvà xử lý mô để làm tiêu bản vi thể đánh giá bệnh lý viêm kẽ vi thể với thang điểm từ 1 đến 4 (Halbur et al., 1995).

    2.3. Đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng

     

    2.3.1. Lượng virus trong huyết thanh và phổi

     

    Lượng virus huyết (huyết thanh) và phổi được xác định qua các thời điểm -3, 0, 3, 5, 7, 10,

     

    48

     

    14, 21 và 28 ngày gây nhiễm. Tổng 500 ml huyết thanh (500 g phổi) được tách chiết RNA tổng số bằng dung dịch TRIzolÒ Reagent (Ambion – Mỹ). ARN tách chiết (2 ml) được tổng hợp sang cDNA cùng với 18 ml Master-mix (TopscriptTM RT DryMIX dT18 plus; Enzynomics, Daejeon – Hàn Quốc), ở phản ứng nhiệt 50°C trong 1 giờ và 95°C trong 5 phút. cDNA được bào quản ở -20°C sẵn sàng cho xác định lượng virus huyết bởi SYBRÒGreen real-time PCR. Đoạn mồi đặc hiệu cho HP-PRRSV: F-5’-CTT GAC ACA GTT GGT CTG GTT ACT-3’ và R-5’-GTT CTT CGC AAG CCT AAT AAC G-3’ được sử dụng để nhân bản sản phẩm với kích thước 187 bp; kết quả được đọc và phân tích bởi phần mềm PikoRealTM 2.2.

     

    2.3.2. Hàm lượng kháng thể IgG và IL-1b trong máu

     

    Hàm lượng kháng thể được xác định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn của bộ kít thương mại (PRRS ELISA SK103, Biocheck, Hà Lan). Thời điểm thu mẫu huyết thanh tương tự như phần đánh giá hàm lượng virus huyết. Kháng thể dương tính khi chỉ số S/P ≥0,4 và ước lượng sự đáp ứng kháng thể trên heo thí nghiệm qua chỉ số trung bình S/P ± SD.

     

    Hàm lượng IL-1b được xác định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn của bộ kít thương mại (IL-1 beta Pig ELISA Kit, Abcam, Hàn Quốc).

     

    2.3.3. Xác định kháng nguyên tại mô

     

    Sự phân bố kháng nguyên virus gây nhiễm được xác định tại tất cả cơ quan nội tạng của heo thí nghiệm vào các thời điểm mổ khám bởi kỹ thuật hóa mô miễn dịch (IHC). Kháng thể đặc hiệu sử dụng cho IHC tại mô là kháng thể đơn dòng SR30 (Rural Technologies Inc., Mỹ). Kháng thể đơn dòng SR30 có thể gắn đặc hiệu với protein N của virus PRRS.

     

    Điểm phân bố kháng nguyên virus trên một đơn vị diện tích nhất định của mô phổi, hạch và tuyến ức sau gây nhiễm được đánh giá qua kỹ thuật hóa mô miễn dịch. Sự định lượng được tính toán dựa trên diện tích vi trường trên kính hiển vi (0,95 mm2); ở vi trường đó, số lượng tế bào dương tính tại phổi được xác định và cho

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    điểm từ 0 đến 4 (Halbur et al., 1996), trong đó: 0

     

    • không có tế bào dương tính tại mô; 1 = có 1-10 tế bào dương tính; 2 = có từ 11-30 tế bào dương tính; 3 = có từ 30-60 tế bào dương tính và 4 = có lớn hơn 60 tế bào dương tính.

    2.4. Xử lý số liệu

     

    Nhiệt độ trực tràng, điểm hô hấp lâm sàng, kháng thể, virus huyết được so sánh giữa hai lô thí nghiệm bởi Pair-wise test (SPSS software). Không so sánh thống kê bệnh tích đại thể, vi thể và điểm phân bố kháng nguyên do số heo đối chứng nhỏ trong mỗi lần mổ khám.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thân nhiệt, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể

     

    Heo gây nhiễm tăng thân nhiệt từ ngày thứ 2 sau gây nhiễm. Trung bình nhiệt độ trực tràng cao hơn có ý nghĩa (P <0,01) so với heo không gây nhiễm từ ngày 4 đến 19 (Hình 1A). Triệu chứng lâm sàng xuất hiện trên heo gây nhiễm gồm sốt cao ³39,5°C (từ ngày 5 đến 10 sau gây nhiễm), bỏ ăn, sưng mắt – chảy ghèn, ho/thở khó/hắt hơi (Hình 1B), miễn cưỡng di chuyển và run giật. Triệu chứng lâm sàng tập trung vào ngày 5, 7, 10 và 14 sau gây nhiễm. 5/21 heo chết vào ngày 11 và 13 sau gây nhiễm. 2/21 heo gây nhiễm giảm thân nhiệt và triệu chứng từ ngày 21 và sống đến cuối thí nghiệm. Heo đối chứng (không gây nhiễm) có thân nhiệt và triệu chứng bình thường trong thí nghiệm.

     

    Bệnh tích quan sát trên phổi heo được gây nhiễm đặc trưng bởi viêm kẽ nặng, lan tỏa và kèm theo sung huyết và xuất huyết trên một số heo ở ngày 10 đến 14 sau gây nhiễm (Hình 3B). Viêm phổi kẽ làm dày vách phế nang do sự tăng sinh mạnh mẽ tế bào biểu mô phế nang typ-2 (pneumocyte type 2) và sự xâm nhập bởi nhiều bạch cầu đơn nhân. Điểm bệnh tích đại thể và vi thể phổi tăng cao nhất vào ngày 10 sau gây nhiễm (Hình 2A, B). Ngoài ra, heo chết bệnh có các bệnh tích toàn thân khác như sưng lớn-sung huyết hạch toàn thân, xuất huyết biểu mô dạ dày (Hình 3C), sung huyết lách và xuất huyết vỏ-tủy thận.

     

    49

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

     

     

     

     

    Hình 1. A. Nhiệt độ trực tràng, B. Điểm hô hấp lâm sàng, C. Kháng thể đáp ứng, D. hàm lượng IL-1b trên heo thí nghiệm

     

     

    3.2. Chỉ tiêu cận lâm sàng

     

    3.2.1. Hàm lượng kháng thể IgG và IL-1b trong máu

     

    Kháng thể dương tính (S/P ³0,4) chỉ được tìm thấy trên heo gây nhiễm từ ngày 14 (Hình 1C). Kháng thể tăng rất cao ở ngày 21 (S/P = 1,72) và 28 (2,02). Sự khác biệt có ý nghĩa giữa heo gây nhiễm và không gây nhiễm ở ngày 5, 7, 10 (P <0,05), 14 (P <0,01) và 21, 28 (P <0,001).

     

    Hàm lượng IL-1b (pg/mL) trong máu tăng cao trong 5 heo chết bệnh với biểu hiện lâm sàng và bệnh lý toàn thân (kết quả tính theo trung bình ở ngày mổ khám 14; Hình 1D). Heo đối chứng có hàm lượng kháng thể và IL-1b âm tính trong suốt thí nghiệm.

     

    3.2.2. Hàm lượng virus ở huyết thanh và phổi

     

    Tại thời điểm trước gây nhiễm không có virus trong máu ở hai nhóm heo thí nghiệm.

    Sau gây nhiễm, virus huyết được xác định vào ngày thứ 3 và tăng cao nhất ở ngày 10 (8,2 log10 copies); trong khi hàm lượng virus tại phổi tăng cao nhất vào ngày 14 (7,3 log10 copies) sau gây nhiễm. Kết thúc thí nghiệm (28 ngày), virus vẫn hiện diện trong máu và mô phổi heo gây nhiễm (Hình 2C).

     

    3.2.3. Xác định kháng nguyên tại mô

     

    Kháng nguyên được tìm thấy tại phổi và các nội quan khác trên heo sau gây nhiễm từ ngày 3 đến hết thí nghiệm (Bảng 1), không phát hiện virus ở tim, não và biểu mô ruột. Kháng nguyên virus chủ yếu tìm thấy ở tế bào chất của đại thực bào tại mô (phổi, hạch, lách, tuyến ức, gan, thận, mảng Peyer’s ruột). Đặc biệt, virus còn được xác định ở biểu mô tiểu phế quản hô hấp, biểu mô dạ dày, biểu mô ống thận, biểu mô ống mật và tế bào gan (Hình 3D, E, F).

     

    Điểm phân bố kháng nguyên giao động khác nhau giữa tuyến ức, hạch bạch huyết và

     

    50

     

    phổi (Hình 2D). Sau gây nhiễm, virus hiện diện

     

    • tuyến ức rất cao vào ngày 3 và 5; trong khi virus tập trung cao nhất ở phổi và hạch vào ngày 14 sau gây nhiễm. Virus vẫn còn tồn tại ở tuyến ức, hạch bạch huyết và phổi cho đến cuối thí nghiệm.

    Bệnh tích viêm phổi kẽ nặng cho thấy HP-PRRSV có độc lực cao trên heo rừng lai. Khả năng gây bệnh tích phổi khác nhau trên các giống heo khác nhau được ghi nhận ở các nghiên cứu trước đây (Halbur et al., 1998). Hàm lượng virus huyết, virus tại mô phổi cao tương quan với bệnh lí viêm phổi kẽ trên phổi heo gây nhiễm qua một thí nghiệm trước đây (Han et al., 2013).

     

    Sự phát hiện đầu tiên PRRSV nhiễm ở biểu mô tiểu phế quản hô hấp và tế bào gan được xác định bởi hóa mô miễn dịch. Ở các nghiên cứu trước, HP-PRRSV được phát hiện ở biểu mô dạ dày, ống lượn thận (Li et al., 2012). Chưa có nghiên cứu nào báo cáo sự nhiễm PRRSV tại tế bào biểu mô tiểu phế quản và tế bào gan.

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    PRRSV có các thụ thể nhận diện ở đại thực bào (CD169, CD163, CD151 và heparan sulphate) (Delputte et al., 2002; Vanderheijden et al., 2003; Calvet et al., 2007). Kết quả nghiên cứu này gợi ý loại thụ thể khác hiện diện ở biểu mô tiểu phế quản và tế bào gan. Biểu mô tiểu phế quản có vai trò quan trọng trong thanh thải mầm bệnh; khi mầm bệnh tấn công và gây hư hại sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh kế phát gây bệnh phức hợp ở mô phổi.

     

    Nhiều nghiên cứu sinh bệnh học do PRRSV trên các giống heo như Large White, Landrace, Hampshire, Duroc và Meishan đã được thực hiện nhưng chưa thấy nghiên cứu trên heo rừng hoặc heo rừng lai cả trong và ngoài nước được thực hiện để có thể so sánh các đặc điểm bệnh lý (Halbur et al., 1998, Meng et al., 2009). Do đó, để xác định sâu hơn về đặc điểm gây bệnh, đáp ứng miễn dịch và vai trò của heo rừng trong dịch tễ học của HP-PRRSV cần có các nghiên cứu tiếp theo sau này.

     

     

     

     

     

    Hình 2. A. Bệnh tích phổi đại thể, B. Bệnh tích phổi vi thể

     

    1. Lượng virus trong máu và phổi, D. Điểm kháng nguyên ở các tuyến ức, hạch và phổi

     

     

    51

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

     

     

    Hình 3. A. Heo thí nghiệm, B. Phổi viêm kẽ-xuất huyết, C. Niêm mạc dạ dày xuất huyết,

     

    1. Biểu mô tiểu phế quản dương tính với SR30, IHC, 10X,
    1. biểu mô ống lượn thận dương tính với SR30, IHC, 10X;
    1. tế bào gan dương tính với SR30, IHC, 20X

    Bảng 1. Sự phân bố kháng nguyên sau gây nhiễm heo thí nghiệm

     

    (A, không gây nhiễm; B, gây nhiễm)

     

    Nội tạng

     

           

    Ngày sau nhiễm

           
                           

    3

    5

    7

    10

    14

    21

    28

     
         
                               

    Phổi

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Tim

     

    B

     
       

    A

     

    Não

     

    B

     
       

    A

     

    Tuyến ức

     

    B

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Hạch amidan

     

    B

    +

    +

    ++

    ++

    +

    +

     
       

    A

     

    Hạch phổi, bẹn cạn

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

     

    và hạch màng treo ruột

     

    A

     
       

    Gan

     

    B

    +

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Thận

     

    B

    +

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Lách

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    +

     
       

    A

     

    Dạ dày

     

    B

    +

    ++

     
       

    A

     

    Hồi tràng

     

    B

    ++

    ++

     
       

    A

     
                               

    Ghi chú: Mật độ dương tính: -: âm tính; +: thấp, ++: trung bình; +++: cao

     

     

    52

     

    4. KẾT LUẬN

     

    HP-PRRSV gây bệnh lý nặng và có thể gây chết trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm. Sự phân bố kháng nguyên ở máu và trên nhiều cơ quan nội tạng đã gây bệnh lý toàn thân trên heo sau nhiễm virus.

     

    Sự phát hiện virus nhiễm ở tế bào biểu mô tiểu phế quản, dạ dày, thận, ống dẫn mật và tế bào gan cho thấy sự đa dạng tính hướng mô của virus, đo đó nghiên cứu xác định cơ chế gây nhiễm trên các tế bào này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế sinh bệnh của HP-PRRSV.

     

    LỜI CẢM ƠN

     

    Tác giả chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng đồng, BVTY – Trường ĐHNL TP.HCM, Phòng chẩn đoán xét nghiệm – Cơ quan thú y vùng VI TP. HCM và Bộ môn Bệnh lý thú y – Trường đại học quốc gia Seoul, Hàn Quốc.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Bonilauri P., Merialdi G., Dottori M. & Barbieri I.

     

    (2006). Presence of PRRSV in wild boar in Italy.

    Veterinary Record. 21: 107-108.

     

    Calvert J.G., Slade D.E., Shields S.L., Jolie R., Mannan R.M., Ankenbauer R.G. & Welch S.K. (2007). CD163 expression confers susceptibility to porcine reproductive and respiratory syndrome viruses. Journal of Virology. 81: 7371-7379.

     

    Choi E.J., Lee C.H., Hyun B.H., Kim, J.J., Lim S.I., Song J.Y. & Shin Y.K. (2012). A survey of porcine reproductive and respiratory syndrome among wild boar populations in Korea. Journal of Veterinary Sciences. 13: 377-383.

     

    Delputte P.L., Vanderheijden N., Nauwynck H.J. & Pensaert M.B. (2002). Involvement of the matrix protein in attachment of porcine reproductive and respiratory syndrome virus to a heparinlike receptor on porcine alveolar macrophages. Journal of Virology. 76: 4312-4320.

     

    Halbur P.G., Paul P.S., Frey M.L., Landgraf J., Eernisse K., Meng X-J., Lum M.A., Andrews J.J.

     

    • Rathje J.A. (1995). Comparison of the pathogenicity of two US porcine reproductive and respiratory syndrome virus isolates with that of the Lelystad virus. Veterinary Pathology. 32: 648-660.

    Halbur P.G., Rothschild M.F., Thacker B.J., Meng X.J., Paul P.S. & Bruna J.D. (1998). Differences in

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    susceptibility of Duroc, Hampshire and Meishan pigs to infection with a high virulence strain (VR2385) of porcine reproductive and respiratory syndrome virus (PRRSV). Journal of Animal Breeding and Genetics. 115: 181-189.

     

    Han K., Seo H.W., Park C., Oh Y., Kang I. & Chae C. (2013). Comparative pathogenesis of type 1 (European genotype) and type 2 (North American genotype) porcine reproductive and respiratory syndrome virus in infected boar. Virology Journal. 10: 1-9.

     

    Hammer R., Ritzmann M., Palzer A., Lang C., Hammer B., Pesch S. & Ladinig A. (2012). Porcine reproductive and respiratory syndrome virus and porcine circovirus type 2 infections in wild boar (Sus scrofa) in southwestern Germany. Journal of Wildlife Diseases. 48: 87-94.

     

    Helen R, Papadopoulou C, Drew T, Gresham A. & Sabirovic M. (2009). Highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome. Int Dis Monit Situa Assess 23: 1-10.

     

    Larson G., Dobney K., Albarella U., Fang M., Matisoo-Smith E., Robins J., Lowden S., Finlayson H., Brand T., Willerslev E., Rowley-Conwy P., Andersson L.

     

    • Cooper A. (2005). Worldwide phylogeography of wild boar reveals multiple centers of pig domestication. Science. 307: 1618-1621.

    Li L., Zhao Q., Ge X., Teng K., Kuang Y., Chen Y., Guo X. & Yang H. (2012). Chinese highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome virus exhibits more extensive tissue tropism for pigs. Virology Journal. 9: 203-209.

     

    Meng X.J., Lindsay D.S. & Sriranganathan N. (2009). Wild boars as sources for infectious diseases in livestock and humans. Philosophical Transactions of The Royal Society B. 364: 2697-2707.

     

    Roic B., Jemersic L., Terzoc S., Keros T., Balatinec J.

     

    • Florijancic T. (2012). Prevalence of antibodies to selected viral pathogens in wild boars (Sus scrofa) in Croatia in 2005-06 and 2009-10. Journal of Wildlife Diseases. 48: 131-137.

    Ruiz-Fons F., Segalés J. & Gortázar C. (2008). A review of viral diseases of the European wild boar: Effects of population dynamics and reservoir role. The Veterinary Journal. 176: 158-169.

     

    Ruiz-Fons F., Vicente J., Vidal D., Höfle U., Villanúa D., Gauss C., Segalés J., Almería S., Montoro V. & Gortázar C. (2006). Seroprevalence of six reproductive pathogens in European wild boar (Sus scrofa) from Spain: The effect on wild boar female reproductive performance. Theriogenology. 65: 731-743.

     

    Plagemann P.G.W. (2003). Porcine Reproductive and

     

    Respiratory Syndrome Virus: Origin Hypothesis.

     

    Emerging Infectious Diseases. 9: 903-908.

     

    53

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

    Saliki J.T., Rodgers S.J. & Eskew G. (1998). Serosurvey of selected viral and bacterial diseases in wild swine from Oklahoma. Journal of Wildlife Diseases. 34: 834-838.

     

    Tian K., Yu X., Zhao T., Feng Y., Cao Z., Wang C., Hu Y., Chen X., Hu D., Tian X., Liu D., Wang X., Jin P., Wang S., Kitamura Y., Yan J. & Gao G.F.

     

    (2007). Emergence of fatal PRRSV variants: unparalleled outbreaks of atypical PRRS in China and molecular dissection of the unique hallmark. PLoS One. 2007(2): e526.

     

    Vanderheijden N., Delputte P.L., Favoreel H.W., Vandekerchhove J., Van Damme J., van Woensel P.A. & Nauwynck H.J. (2003). Involvement of sialoadhesin in entery of porcine reproductive and respiratory syndrome virus into porcine alveolar macrophages. Journal of Virology. 77: 8207-8215.

     

    Wiratsudakul A., Prompiram P., Pholtep K., Tantawet S., Suraruangchai D., Sedwisai P., Sangkachai N.

     

    • Ratanakorn1 P. (2013). A Cross-Sectional Study of Porcine Reproductive and Respiratory

    Syndrome Virus and Mycoplasma hyopneumoniae in Wild Boars Reared in Different Types of Captive Setting in Thailand. Journal Veterinary Science and Technology. 4: 1-4.

     

    Zimmerman J.J., Benfield. D.A., Murtaugh M.P., Osorio F., Stevenson G.W. & Torremorell M. (2006). Porcine reproductive and respiratory syndrome virus (porcine arterivirus). In: Straw B.E., Zimmerman J.J., D’Allaire S., Taylor D.J. (Eds). Diseases of Swine. Blackwell Publishing, Ames. pp. 387-417.

     

    Zhou L. & Yang H. (2010). Porcine reproductive and respiratory syndrome in China. Virus Research. 154: 31-37.

     

    Zupancic Z., Jukic B., Lojkic M., Cac Z., Jemersic L.

     

    • Staresina V. (2002). Prevalence of antibodies to classical swine fever, Aujeszky’s disease, porcine reproductive and respiratory syndrome, and bovine viral diarrhea viruses in wild boars in Croatia.

    Journal    of    Veterinary     Medicine     Series     B.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%B3m-t%E1%BA%AFt-Lu%E1%BA%ADn-%C3%A1n-ti%E1%BA%BFn-s%C4%A9-Kinh-t%E1%BA%BF-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-c%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BB%99-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-Nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    1

     

    MỞ ĐẦU

     

    1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

     

    Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, nông nghiệp thay đổi theo hướng công nghiệp hóa của ngành, khoa học công nghệ phát triển tương đối mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 6,21% (Tổng cục Thống kê, 2016). Việc phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế đặt ra yêu cầu ngày càng sâu và rộng về mặt cơ sở hạ tầng xét trên cả khía cạnh về chất lượng và số lượng, trong đó hệ thống giao thông là một trong những khía cạnh được quan tâm lớn nhất khi nói đến hệ thống cơ sở hạ tầng.

     

    Để đáp ứng những yêu cầu đó, ngành Giao thông vận tải đã đề ra những chính sách, chiến lược phát triển giao thông đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông về mặt số lượng bên cạnh đó là nâng cao chất lượng các công trình giao thông trên toàn lãnh thổ. Cụ thể, Bộ Giao thông vận tải đã tập trung giải quyết các vấn đề như tái cơ cấu, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo cơ chế thuận lợi thu hút các dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải…

     

    Thành quả thu được từ những nỗ lực đó là hàng loạt các công trình giao thông trọng điểm ra đời, tạo ra nền tảng và đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của các ngành khác, cụ thể như tính đến hết năm 2016, tổng chiều dài đường bộ nước ta vào khoảng 417204 km (Tổng cục Đường bộ Việt Nam, 2016), trong đó chiều dài đường quốc lộ khoảng 22660 km và chiều dài cao tốc khoảng 114146km. Tuy nhiên, với đặc điểm đầu tư phát triển giao thông vận tải nói riêng, đầu tư phát triển trong các lĩnh vực khác nói chung, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, các công trình được xây dựng chiếm một tỷ trọng không nhỏ là các dự án, công trình công cộng… Thêm vào đó, các dự án này với nhu cầu vốn lớn cộng thêm thời gian thực hiện dài, khả năng rủi ro của các dự án là không tránh khỏi, chính vì vậy việc huy động và sử dụng vốn là một vấn đề được quan tâm của không chỉ với

    2

     

    các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ngoài ra, việc thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển trong lĩnh vực giao thông vận tải như thế nào cũng là một câu hỏi cần những câu trả lời cho cả các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu.

     

    Để đạt được những kết quả tích cực cho hoạt động đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này có vị trí tương đối quan trọng. Có các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như các nhân tố về vốn đầu tư, các nhân tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, các nhân tố thuộc về các đơn vị liên quan thực hiện dự án (chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị thi công…), các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến quyết định đầu tư và kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chính vì vậy, cần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư phát triển nhằm đạt được những kết quả đầu ra theo mong muốn.

     

    Thực tế đã chứng minh vị trí và vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, mảng vấn đề này không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu. Cụ thể,

     

    Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến việc huy động và sử dụng sao cho hiệu quả các nguồn lực, trong khi đó các nhà nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm trù đầu tư này, với những mảng kiến thức khác nhau, những phương pháp nghiên cứu khác nhau được lựa chọn để có thể tìm ra những quy luật cho vấn đề nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét đến khía cạnh đầu tư phát triển. Về đầu tư phát triển có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hệ thống những lý luận, những chỉ tiêu nền tảng khi nghiên cứu về đầu tư phát triển theo ngành, theo lĩnh vực như nghiên cứu của tác giả Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2013), đến những nghiên cứu cụ thể trong từng lĩnh vực như trong đầu tư phát triển cảng biển của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013), hay xem xét đến việc quản lý hoạt động đầu

     

    3

     

    tư xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư của tác giả Nguyễn Thị Bình (2009) khi nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải.

     

    Tuy nhiên, những nghiên cứu đang dừng lại ở việc xem xét chủ yếu về thực trạng đầu tư tại các ngành, chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét về mặt định lượng, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư phát triển nhưMức độ ảnh hưởng của các nhân tố như thế nào đến quyết định đầu tư, kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước?

     

    Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát trin kết cu h tng giao thông đường b s dng vn ngân sách Nhà nước Vit Nam” theo tác giả là cần thiết.

     

    2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nướcở Việt Nam. Bởi vậy, nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau:

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam?
    • Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước?

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân

    sách Nhà nước ở Việt Nam?

     

    3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

     

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    4

     

    Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

     

    Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2012- đến năm2016

     

    Phạm vi không gian:

     

    • Nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
    • Nguồn vốn của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ từ vốn Trung ương

     

    Phạm vi nội dung: Nghiên cứu xem xét đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    4. Phương pháp nghiên cứu

     

    4.1. Cách tiếp cận

     

    Nghiên cứu sinh thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước, sau đó, với những dự án đã được quyết định đầu tư, nghiên cứu sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước. Sử dụng hàm sản xuất cobb-douglas làm cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, bất cứ hoạt động sản xuất để đảm bảo cho hoạt động sản xuất phát triển cũng cần có những yếu tố cơ bản như: vốn (máy móc, thiết bị, vốn đầu tư…), lao động (số lượng lao động, trình độ lao động…), và trình độ khoa học kỹ thuật & khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước (Yếu tố tổng hợp)

     

    Đầu ra của quá trình phát triển sản xuất kinh doanh hay kết quả của quá trình chuẩn bị đầu tư là có được quyết định đầu tư, sau khi có quyết định đầu tư bắt đầu thực hiện đầu tư phát triển kết quả đầu ra là kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước.

     

    Chính vì vậy, hai mô hình nghiên cứu cụ thể NCS sử dụng trong luận án:

     

    5

     

    Mô hình 1: Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Mô hình 2: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

     

    4.2.1. Phương pháp thu thp d liu th cp

     

    Các số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố như: số liệu thống kê của các cấp, các báo cáo về tình hình thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư của Bộ Giao thông vận tải, báo cáo tổng kết năm và phương hướng hoạt động của Bộ Giao thông vận tải,… Ngoài ra, các báo cáo khoa học, tạp chí, các văn bản pháp quy…, được sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập.

     

    4.2.2. Phương pháp thu thp d liu sơ cp

     

    Thông qua phỏng vấn các cá nhân am hiểu về hoạt động đầu tư tại các cơ quan trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, các Sở Giao thông vận tải và các đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển của ngành giao thông, tác giả thực hiện phỏng vấn các cá nhân để xem xét đánh giá của các cá nhân đó về mức độ ảnh hưởng, tầm quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố đến hoạt động đầu tư phát triển trong ngành giao thông ở Việt Nam.

     

    Đối với phân tích hồi quy đa biến: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo

     

    công thức là: 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996)

     

    Như vậy, số lượng mẫu tối thiểu cho nghiên cứu của tác giả là 205 mẫu, tác giả thực hiện phỏng vấn 300 quan sát sau đó kết quả thu được sẽ được làm sạch và được xử lý dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0

     

    Sau khi thu thập dữ liệu, có 50 phiếu khảo sát không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của phiếu khảo sát: Thiếu thông tin trả lời trong phiếu khảo sát. Tác giả thực hiện loại bỏ những phiếu khảo sát này và sử dụng 250 quan sát đạt yêu cầu thực hiện phân tích các phép toán thống kê.

     

    +) Quy trình thiết kế bảng hỏi

    6

     

    Bước 1: Tác giả kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trước đó khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển và xây dựng bảng hỏi các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

     

    Bước 2: Tác giả sử dụng bảng câu hỏi đã được xây dựng để khảo sát thử với 10 cán bộ làm việc trực tiếp trong hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, những cán bộ này làm việc tại các ban quản lý dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước như Ban quản lý dự án Cửu Long, cán bộ quản lý thuộc Bộ Giao thông vận tải, cán bộ thuộc ban quản lý dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi… Căn cứ vào kết quả khảo sát thử, tác giả điều chỉnh những chi tiết bất hợp lý để lập bảng hỏi chính thức và thực hiện việc thu thập dữ liệu toàn bộ.

     

    +) Phương pháp điều tra mẫu

     

    Tác giả sử dụng phiếu điều tra đã được chuẩn hóa để gửi đi phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm việc tại các đơn vị, cơ quan liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nếu không gặp được trực tiếp được các cán bộ này tác giả lựa chọn các phương án thay thế: Gửi email phiếu điều tra để chờ phúc đáp hoặc gửi lại phiếu điều tra tại cơ quan và sẽ đến nhận lại phiếu sau 10 ngày.

     

    Sau khi hoàn thành việc thu thập số liệu sơ cấp, tác giả làm sạch số liệu và tiến hành việc phân tích số liệu.

     

    Số lượng quan sát là 250 đáp ứng yêu cầu số lượng mẫu tối thiểu thực hiện các phép phân tích thống kê.

     

    Thời gian khảo sát: Tác giả thực hiện khảo sát thu thập số liệu sơ cấp từ ngày 10 tháng 12 năm 2016 đến ngày 9 tháng 3 năm 2017.

     

    *) Phương pháp phỏng vấn sâu

     

    Phương pháp phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện nhằm có dữ liệu phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn sau khi phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam. Cụ thể, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu các 04 cán bộ quản lý Nhà nước trong đó có: 01 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và 02 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc

    7

     

    Bộ Xây dựng, 01 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc Bộ Tài chính, các cán bộ này có hiểu biết sâu sắc về hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Đồng thời, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn sâu 03 cán bộ, trong đó 02 cán bộ thuộc đơn vị thi công và 01 cán bộ đơn vị giám sát dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 6 năm 2017, tác giả xin lịch hẹn với các đối tượng được phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn tại văn phòng với các cán bộ quản lý Nhà nước và tại công trường với các cá nhân là cán bộ đơn vị thi công và cán bộ giám sát.

     

    Phỏng vấn sâu được thực hiện tập trung vào khía cạnh xem xét đánh giá của các đối tượng được phỏng vấn về mức độ quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, thực tế các vấn đề phát sinh tại các dự án đầu tư.

     

    Kết quả phỏng vấn sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng của tác giả về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông bộ ở Việt Nam.

     

    4.3. Phương pháp phân tích số liệu

     

    Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được tác giả xử lý, làm sạch, nhập dữ liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình và phép tính toán định lượng để xử lý số liệu. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích theo dãy số thời gian, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp hồi quy binary logistic, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp hồi quy đa biến được tác giả sử dụng trong nghiên cứu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

     

    1. Kết cấu của luận án

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:

    8

     

    Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

     

    Chương 2: Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển và các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Chương 3: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Chương 4: Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Đầu tư phát triển đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách, nguồn vốn sử dụng trong hoạt động đầu tư phát triển khá đa dạng: Nguồn vốn ngân sách, vốn viện trợ phát triển chính thức, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… Đầu tư phát triển được thực hiện theo các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực thực hiện có những đặc thù riêng nhưng vẫn mang những điểm chung nhất về đầu tư phát triển. Các hoạt động đầu tư phát triển có thể thực hiện theo dự án, theo hạng mục công trình hoặc các phương thức thực hiện khác (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013)

     

    1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và ảnh hưởng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế

     

    Tiếp cận theo khía cạnh xem xét về kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số quốc gia khác nhau qua việc sử dụng ngân sách Nhà nước, tác giả Bernard Myers và Thomas Laursen (2008) đã tổng kết lại kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước thành viên EU, dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được tác giả thu thập từ năm 2000 đến hết năm 2006, chủ yếu tập trung vào việc khảo sát kinh nghiệm quản lý trong khoản mục đầu tư này ở nước Anh và một số nước có nền kinh tế

     

    9

     

    phát triển. Trong giai đoạn nghiên cứu của tác giả, các nước thuộc khối EU là các nước có nợ công thuộc vào nhóm các nước có nợ công lớn của thế giới, đây cũng có thể là bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó có thể tránh được phần nào nợ công tăng mạnh và không có khả năng kiểm soát.

     

    1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    1.3.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Để hoạt động đầu tư phát triển nói chung đạt được những kết quả nhất định cả về mặt tài chính và những ảnh hưởng lan tỏa khác, các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cần đảm bảo các quyết định đầu tư chính xác.

     

    Theo quan điểm của Robbins và Coulter (1996) để ra quyết định đầu tư, quy trình ra quyết định gồm bảy bước: (i)xác định vấn đề,(ii) đưa ra các tiêu chuẩn của quyết định, (iii) lượng hóa các tiêu chuẩn, (iv) xây dựng phương án,

     

    • đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu, (vi) tổ chức thực hiện phương án và cuối cùng là (vii) đánh giá hiệu quả của quyếtđịnh. Với mỗi đơn vị đầu tư, quyết định đầu tư chính là quyết định sử dụng vốn và các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm tăng thêm tài sản mới, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực.

    Gilomre và cộng sự (2003) cho rằng các nhân tố sau ảnh hưởng đến quyết địnhđầutư: (1) Quan điểm của Chính phủ và các khuyến khích tài chính – Nếu Chính phủ của nước chủ nhà hoạt động tích cực để thu hút đầu tư, thì quốc gia/địa phương hoặc khu vực đó sẽ hấp dẫn hơn so với một nơi mà một nhà đầu tư phải mất nhiều thời gian và thủ tục để dự án đầu tư được phêduyệt. (2) Lạm phát, chính sách kinh tế, mức thuế suất và cơ cấu thuế – là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầutư. (3) Giao thông vận tải, vật liệu và chi phí lao động – Đây là các chi phí quan trọng mà các công ty/đơn vị đầu tư đi vào xem xét khi tiến hành đầutư. (4) Công nghệ – Công nghệ được coi là một

    10

     

    trong những nhân tố quan trọng nhất liên quan đến quyết định đầu tư. (5) Sự ổn định chính trị là nhân tố mang lại sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

     

    1.3.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Với các dự án, sau khi đã có quyết định đầu tư, quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư sao cho hiệu quả nhất cũng chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau:

     

    Theo quan điểm của Era Dabla-Norris, Jim Brumby và cộng sự (2011), Esfahani và Ramirez (2003), Haque và Kneller (2008), Flyvbjerg (2003), kết quả nghiên cứu cho thấy có sự đồng nhất tương đối lớn về các nhân tố cũng như chiều tác động của các nhân tố tới hoạt động đầu tư công ở các quốc gia – là địa bàn nghiên cứu được các tác giả lựa chọn nghiên cứu. Trong nghiên cứu, các tác giả chỉ ra rằng các nhân tố như: Thể chế, mức độ quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước, việc lựa chọn các dự án đầu tư, chi phí đầu tư,… có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận đầu tư cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư.

     

    1.4. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu

     

    Tóm lại, đầu tư phát triển đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ góp phần tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, từ đó góp phần tạo lợi thế trong các hoạt động thu hút vốn, nền tảng cho việc lưu thông hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế chung của không chỉ các địa phương mà còn của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh vị trí quan trọng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, các nghiên cứu về mặt lý luận đã được thực hiện, tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung cho ngành giao thông, hoặc đầu tư phát triển cho các lĩnh vực khác. Trong khi đó, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước có đạt được kết quả tốt hay không, đáp ứng được các mục tiêu đề ra hay không lại phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng từ quyết định đầu tư đến quá trình thực hiện đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước.

     

    Chính vì vậy, việc tác giả thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố

     

    11

     

    ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam” là việc làm cần thiết và vẫn đảm bảo tính mới trên cơ sở kế thừa nghiên cứu trước đó, cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, dữ liệu tác giả sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ các nguồn dữ liệu đa dạng từ dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà nước, các đơn vị tham gia vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước; Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát những cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước dựa vào bảng hỏi được chuẩn hóa- kết quả thu thập dữ liệu được phân tích sẽ cho tác giả cái nhìn tổng quan hơn về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộtừ các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình này.

     

    Thứ hai, nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng nhằm phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, việc phân tích này nhằm chỉ ra mức độ ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư.

     

    Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng kiểm định sự khác biệt giữa một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước giữa hai nhóm dự án: Có đầu tư và Không đầu tư.

     

    Với những dự án đã được quyết định đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nghiên cứu tiếp tục phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, mô hình phân tích hồi quy đa biến và phân tích nhân tố sẽ được tác giả sử dụng cho nghiên cứu này. Đồng thời, tác giả sử dụng mô hình lượng hóa để phân tích mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcphần lớn được thực hiện theo các dự án, với nghiên cứu này tác giả sẽ xem xét các dự án đã và đang được thực hiện, các cán bộ được tác giả lựa chọn phỏng vấn cho nghiên cứu này là những cán bộ thực hiện các dự án hoặc tham gia vào một chu trình của dự án đầu tư phát triển bên cạnh các cán bộ quản lý Nhà nước. Kết quả của nghiên cứu sẽ chỉ ra được về mặt định lượng

    12

     

    mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộsử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó làm căn cứ đề xuất các kiến nghị góp phần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Đồng thời, dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn sâu cũng sẽ được nghiên cứu sử dụng nhằm bổ trợ và lý giải rõ ràng hơn cho những con số từ kết quả định lượng.

     

    Thêm vào đó, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ phân tích thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam để thấy được sự biến động về đầu tư phát triển, những kết quả đạt được và hạn chế của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    CHƯƠNG 2

     

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

     

    2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Theo Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: “Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra một cách bình thường”.

     

    Theo Luật giao thông đường bộ Việt Nam (2008) quy định: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ”. Như vậy có thể thấy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả hai hình thái vật chất và hình thái phi vật chất.

     

    13

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận của đầu tư phát triển, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như xây dựng công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ, nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra thêm các tài sản vật chất, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.

     

    Đối với đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là khả năng tài chính của Nhà nước, các nguồn lực để có thể khai thác hoặc sử dụng để thực hiện mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    2.2. Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển kinh tế

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển xã hội

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    quản lý Nhà nước

     

    2.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển trong ngành thường được thể hiện thông qua ba chỉ tiêu: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện; Tài sản cố định huy động hay Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.

     

    Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013). Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kĩ thuật… Theo phạm vi tác động của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội.

    14

     

    Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi quản lý tài chính. Hiệu quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Theo cách tính toán, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.

     

    2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    2.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    • Điều kiện kinh tế xã hội
    • Điều kiện tự nhiên
    • Kết quả dự kiến của dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    2.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    • Nhân tố điều kiện tự nhiên
    • Nhân tố về kinh tế
    • Nhân tố về chính trị, văn hóa, xã hội
    • Nhân tố về quản lý nhà nước
    • Nhân tố về đơn vị thực hiện

    2.5. Kinh nghiệm của một số nước về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và bài học cho Việt Nam

     

    Trên thế giới cả các nước phát triển và đang phát triển đều có những quá trình phát triển hệ thống giao thông đường bộ với những cơ chế, chính sách và điều kiện khác nhau, tất cả đều là những bài học quý giá cho Việt Nam trong việc đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh đã sử dụng bài học của Nhật Bản, bài học của Trung Quốc, bài học của Hàn Quốc và bài học của Singapore trong đầu tư hệ thống giao thông đường bộ, từ đó đề xuất bài học cho Việt Nam

     

    15

     

    CHƯƠNG 3

     

    NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCỞ VIỆT NAM

     

    3.1. Thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam

    Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 380000 tỷ đồng, tăng bình quân 38%/năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước và có tính chất ngân sách Nhà nước144 nghìn tỷ đồng (chiếm 38%); Trái phiếu Chính phủ 113 nghìn tỷ đồng (30%); Còn lại huy động ngoài ngoài ngân sách khoảng 121 nghìn tỷ đồng (32%).

     

    Bảng 3.6: Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

     

    giai đoạn 2011-2015

     

    Đơn vtính: Nghìn tỷ đồng

     

                 

    Tổng

    Tăng

     

    TT

    Nguồn vốn

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2011-

    cấu

    trưởng

     
                 

    2015

    (%)

    (%)

     
                         

    I

    NSNN

    13,545

    23,666

    29,98

    34,13

    42,88

    144,201

    38,0

    33,4

     
                         

    1

    ODA

    11,385

    20,127

    21,768

    31,5

    33,164

    117,944

    31,1

    30,6

     
                         

    2

    NSNN

    2,16

    3,539

    8,212

    2,63

    9,716

    26,257

    6,9

    45,6

     
                         

    II

    Trái phiếu CP

    11,078

    16,038

    14,768

    35,545

    36,376

    113,806

    30,0

    34,6

     
                         

    III

    Ngoài  NSNN

    8,787

    8,005

    21,761

    41,3

    41,98

    121,833

    32,1

    47,8

     

    (BOT, PPP)

                       
                         
     

    Tổng số

    33,411

    47,709

    66,509

    110,975

    121,236

    379,84

    100

    38,0

     
                         

    Ngun: V Kế hoch Đầu tư -B Giao thông vn ti

     

    Trong giai đoạn 2011-2015, vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có xu hướng tăng dần trong kỳ nghiên cứu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, cụ thể năm 2011 vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

    16

     

    giao thông đường bộ khoảng 13,545 nghìn tỷ đồng thì con số này đã tăng lên khoảng hơn 33% trong giai đoạn nghiên cứu với mức đầu tư khoảng 42,88 nghìn tỷ đồng. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có từ hai nguồn vốn cơ bản chính là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn ngân sách Nhà nước, trong đó nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức có đóng góp khá lớn trong các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 với khoảng 31% tổng số vốn đầu tư.

     

    3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Nghiên cứu sử dụng hồi quy Binary Logistic nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Bảng 3.13: Các tham số hồi quy Variables in the Equation

         

    B

     

    S.E.

     

    Wald

     

    df

     

    Sig.

     

    Exp(B)

     
                                 
     

    Quy_hoach

     

    ,899

     

    ,351

     

    6,570

     

    1

     

    ,010

     

    2,457

     
     

    Hodan_anhhuo

                             
       

    ,611

     

    ,335

     

    3,322

     

    1

     

    ,068

     

    1,843

     
                   
     

    ng

                 
                               
     

    Step 1a  DKTN

     

    ,873

             

    1

             
                   
         

    ,359

     

    5,912

       

    ,015

     

    2,394

     
     

    LN_LUU_LUO

     

    ,560

     

    ,301

     

    3,450

     

    1

     

    ,063

     

    1,750

     
     

    NG

                 
                               
     

    Constant

     

    -12,193

     

    2,080

     

    34,371

     

    1

     

    ,000

     

    ,000

     
                                 
    1. Variable(s) entered on step 1: NNDT, Hodan_anhhuong, Danh_gia_GT, LN_LUU_LUONG.

    Ngun: Kết qu tính toán ca tác gi

     

    Từ kết quả phâ tích hồi quy Logistic, phương trình tương quan Logistric như sau:

     

    Ln [(P(Y=1)/ P(Y=0)] = -12,193 + 0,899*(Quy_hoach) + 0,611*(Hodan_anhhuong) + 0,873*(DKTN) + 0,56*9LN_Luu_luong)

     

    17

     

    3.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Kế thừa các các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu có sự điều chỉnh các thang đo cho phù hợp với nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    3.2.1. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện tự nhiên, nhân tố này có 2 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình cụ thể như sau:

     

    FACĐKTN = 0.847 ĐKTN1 + 0.847 ĐKTN2

     

    3.2.2. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến kết quả đầu tư phát

     

    triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện kinh tế, nhân tố này có 7 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình:

     

    FAC_ĐKKT = 0.532 ĐKKT1 + 0.838 ĐKKT2 + 0.656 ĐKKT3 + 0.865 ĐKKT4 + 0.775 ĐKKT5 + 0.681 ĐKKT6 + 0.751 ĐKKT7

     

    3.2.3. Phân tích ảnh hưởng của chính trị, văn hóa, xã hội đến kết quả đầu tư

     

    phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, nhân tố này có 3 thang đo quan sát được trích thành một nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình nhân tố cụ thể như sau:

     

    FAC_VHXH = 0.746 VHXH1 + 0.754 VHXH2 + 0.491 VHXH3

     

    Với hệ số của thang đo VHXH2: Sự ủng hộ của người dân với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng với hệ số điểm là 0.754 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng lớn nhất, thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố về văn hóa, lịch sử, tập quán của người dân với hệ số điểm ảnh hưởng là 0.491.

     

    3.2.4. Phân tích ảnh hưởng của cơ quan quản lý Nhà nước tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    18

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_QLNN = 0.819 QLNN1+ 0.872 QLNN2 + 0.644 QLNN3 + 0.604 QLNN4

     

    Nhóm nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, với hệ số điểm của thang đo QLNN2: Trình độ chuyên môn của cán bộ Nhà nước liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là 0.872, đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất tới nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhóm nhân tố có ảnh hưởng thấp nhất là nhân tố kế hoạch giải ngân của các dự án.

     

    3.2.5. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố chủ đầu tư đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chủ đầu tư, nhân tố này có 8 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_CĐT = 0.290 CĐT1 + 0.672 CĐT2 + 0.738 CĐT3 + 0.897 CĐT4 + 0.846 CĐT5 + 0.551 CĐT6 + 0.646 CĐT7 + 0.525 CĐT8

     

    Với hệ số của thang đo CĐT4: Năng lực đấu thầu của cán bộ QLDA là 0.897, đây là thang đo có hệ số điểm ảnh hưởng lớn nhất, thang đo năng lực quản lý của chủ đầu tư có hệ số điểm là 0.29 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất theo quan điểm của đối tượng được khảo sát.

     

    3.2.6. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố nhà thầu đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố nhà thầu, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_NT = 0.692 NT1 + 0.934 NT2 + 0.700 NT3 + 0.907 NT4

     

    Với hệ số của thang đo NT2: Kinh nghiệm thi công của nhà thầu là 0.934 – đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất đến nhân tố, thang đo có ảnh hưởng thấp nhất là năng lực quản lý của nhà thầu với điểm số ảnh hưởng là 0.692.

    3.2.7. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố khác đến kết quả đầu tư phát triển

     

    kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố khác, nhân tố này có 6 thang đo

     

    quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    19

     

    FAC_K = 0.183 K1 + 0.477 K2 + 0.419 K3 + 0.809 K4 + K5 + 0.646 K6

     

    3.2.8. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Từ số liệu thu thập qua quá trình khảo sát các cán bộ tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, kết hợp với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất nhằm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ:

     

    Bảng 3.51: Kết quả hồi quy mô hình

     

    Coefficientsa

       

    Unstandardized

    Standardized

       

    Model

     

    Coefficients

     

    Coefficients

    t

    Sig.

             
       

    B

     

    Std.

    Beta

       
         

    Error

       
                 
                   
     

    (Constant)

    1.011E-16

     

    .041

     

    .000

    1.000

                   
     

    FAC_ĐKKT

    .664

     

    .056

    .664

    11.874

    .000

                   
     

    FAC_VHXH

    .254

     

    .052

    .254

    4.900

    .000

                   

    1

    FAC_CĐT

    .387

     

    .052

    .387

    7.443

    .000

                   
     

    FAC_NT

    -.239

     

    .047

    -.239

    -5.078

    .000

                   
     

    FAC_K

    -.073

     

    .042

    -.073

    -1.742

    .083

                   
     

    FAC1_ĐKTN

    -.267

     

    .059

    -.267

    -4.522

    .000

                   

    Ngun: Tng hp ca tác gi t kết qu nghiên cu

     

    Từ bảng kết quả cho thấy, tất cả các biến trong nghiên cứu đều có ý nghĩa thống kê với sai số là 0,1, các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ với các mức độ khác nhau

     

    3.3. Kiểm định sự khác biệt về một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    20

     

    (1) Tiêu chí vn đầu tư ca Nhà nước

     

    Kết quả nghiên cứu có thể cho thấy rằng tiêu chí vốn đầu tư của Nhà nướccó sự khác biệt giữa hai nhóm quyết định đầu tư và không đầu tư, kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có quy mô vốn đầu tư của Nhà nước lớn hơn 3820.438 tỷ đồng so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (2) Tiêu chí phù hp vi quy hoch phát trin kinh tế – xã hi

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềtiêu chí phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,562 > 0,05 nên sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig (kiểm định

    1. = 0,000 < 0,05;
    • nh hưởng ca dán vmt xã hi

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềảnh hưởng của dự án về mặt xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,777 > 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05. Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.594 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (4) Chiu dài ca d án

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềchiều dài dự kiến của cácdự án do kiểm định F có hệ số Sig = 0,025 <0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có chiều dài của thực hiện của các dự án có quyết định đầu tư ngắn hơn khoảng 18.063 km so với nhóm không được duyệt đầu tư

     

    (5) Lưu lượng xe di chuyn d kiến

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về tiêu chí lưu lượng xe di chuyển dự kiến do kiểm định F có hệ số Sig = 0,000 < 0,05 nên ta

     

    21

     

    sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có lưu lượng xe di chuyển dự kiến là 8270.313 PCU/ ngày đêm lớn hơn so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (6) nh hưởng ca d án đến các h dân

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về ảnh hưởng mặt xã hội của dự ándo kiểm định F có hệ số Sig = 0,001< 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.406 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    CHƯƠNG 4

     

    GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC TỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

     

    4.1. Mục tiêu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô ở Việt Nam đến năm 2030

     

    4.2. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đến năm 2030

     

    4.3. Một số giải pháp

     

    4.3.1. Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách

     

    nhà nước có ý nghĩa lớn, góp phần nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy

    22

     

    phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nếu việc quyết định đầu tư các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ không chính xác sẽ dẫn đến vốn đầu tư không được sử dụng hiệu quả, vô hình chung ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư. Chính vì vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có định hướng và lựa chọn chính xác các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô sử dụng ngân sách Nhà nước, đảm bảo các dự án được đầu tư đúng và trúng, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đồng thời, các đơn vị thực hiện có liên quan cần có sự chuẩn bị chi tiết cho các báo cáo tiền khả thi trước khi trình biểu quyết quyết định đầu tư đối với dự án

     

    4.3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    4.3.2.1. Giải pháp về nguồn nhân lực

     

    Nguồn lực con người là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ quản lý đầu tư đến thực hiện hoạt động đầu tư trong đó bao gồm cả cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị thực hiện.

     

    Mục tiêu của giải pháp này nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng chuyên môn của các cán bộ tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện các hoạt động đầu tư từ chuẩn bị đầu tư đến thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Nếu chất lượng của đội ngũ cán bộ chuyên môn tốt sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro cho hoạt động đầu tư và ngược lại.

     

    4.3.2.2. Giải pháp về đầu tư máy móc, trang thiết bị, công nghệ phục vụ cho công việc

     

    Đây là giải pháp được đề xuất cho các đơn vị thực hiện dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các dự án được triển khai có được kết quả như dự kiến hay không phụ thuộc vào năng lực của các đơn vị thực hiện trong đó có năng lực về kỹ thuật (máy móc thiết bị, công nghệ) phục vụ cho thực hiện dự án. Nếu các đơn vị thực hiện có máy móc thiết bị, công nghệ triển khai hiện đại sẽ góp phần đảm bảo tiến độ, tránh rủi ro cho các dự án, ngược lại nếu các đơn vị thực hiện máy móc thiết bị không đáp

     

    23

     

    ứng được yêu cầu tối thiểu, máy móc thường xuyên hư hỏng có thể ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án.

     

    4.3.2.3. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp về tạo vốn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Tăng cường hiệu quả công tác kiểm soát sử dụng nguồn vốn đầu tư

     

    4.3.2.4. Giải pháp về nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một trong những thang đo quan trọng của điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư cũng như kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch nhằm đảm bảo các dự án được thực hiện phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

     

    KẾT LUẬN

     

    Đầu tư phát triển, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcđã nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, những nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được tác giả tổng hợp, so sánh và phân tích để có thể tìm ra khoảng trống nghiên cứu.

     

    Kế thừa nghiên cứu trước đó, tác giả đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcở Việt Nam

     

    24

     

    Dựa trên cơ sở khung lý thuyếtvà tổng quan các nghiên cứu trước đó, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu cho luận án, những chỉ tiêu phân tích đã được tác giả trình bày để thực hiện nghiên cứu

     

    Từ những dữ liệu được thu thập được từ báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết giai đoạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, những mặt đạt được, những mặt hạn chế của hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích thông qua những biến động về lượng vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu, quy trình và thực trạng quản lý hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    Tác giả cũng sử dụng dữ liệu khảo sát để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Những nhân tố nào có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích cụ thể trong nghiên cứu.

     

    Trên cơ sở những phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn tới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

    Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

    Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kinh tế thế giới và Việt Nam quý 1 năm 2019, triển vọng và hàm ý cho Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-thu%E1%BA%ADn-l%E1%BB%A3i-h%C3%B3a-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BA%BFn-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-ASEAN-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-tr%E1%BB%8Dng-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    Original Article

     

    Research the Impact of Trade Facilitation on Trade between Vietnam and ASEAN:

     

    Empirical Analysis Based on the Commercial Gravity Model

     

    Cui Ri Ming, Dao Van Day*

     

    School of Economics, Liaoning University,

    No. 66, Chongshan Middle Road, Huanggu District, Shenyang, Liaoning Province, China

     

    Received 25 March 2019

    Revised 26 March 2019; Accepted 26 March 2019

     

    Abstract: This research aims to calculate and measure the level of trade facilitation of ASEAN countries. The research selected five indicators of trade facilitation, including infrastructure, customs environment, e-commerce, policies environment and financial environment, to measure the degree of trade facilitation of ASEAN countries and used the Gravity model to empirically analyze the effect of trade facilitation of the ASEAN countries to trade between Vietnam – ASEAN. The study shows that trade facilitation profoundly affects Vietnam’s export and import flow. Based on the analysis results, the paper suggests some recommendations to boost Vietnam’s trade facilitation.

     

    Keywords: Trade facilitation, trade, gravity model of trade, ASEAN.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4205

    60

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN:

    Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

     

    Cui Ri Ming, Đào Văn Dậy*

     

    Khoa Kinh tế, Đại học Liêu Ninh

    Số 66, Đường Sùng Sơn, Khu Hoàng Cô, Thành phố Thẩm Dương, Tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc

     

    Nhận ngày 14 tháng 3 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm tính toán đo lường mức độ thuận lợi hóa thương mại các nước ASEAN. Nghiên cứu lựa chọn 5 chỉ tiêu của thuận lợi hóa thương mại gồm cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, thương mại điện tử, môi trường thể chế và môi trường hải quan, để đo lường mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN và sử dụng mô hình trọng lực để phân tích thực nghiệm tác động của thuận lợi hóa thương mại các nước ASEAN đến thương mại Việt Nam – ASEAN. Kết quả cho thấy thuận lợi hóa thương mại tác động sâu sắc đến lưu lượng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam, từ đó nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam và các nước ASEAN.

     

    Từ khóa: Thuận lợi hóa thương mại, thương mại, mô hình trọng lực, ASEAN.

     

    1. Đặt vấn đề*

     

    Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế và thương mại của Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tiếp đó năm 207 gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đến nay, Việt Nam đã thực thi 12 FTA ( trong đó 7 FTA với tư cách là thành viên ASEAN, 5

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4205

    FTA còn lại với Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu – EEC, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

     

    • CPTPP), Hiệp định CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 14/1/2019. Sau hơn 32 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 6,6%/năm. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới. Tăng trưởng thương mại tăng mạnh chính là một trong những yếu tố góp phần vào tăng trưởng GDP của Việt Nam trong thời gian qua. ASEAN là đối tác thương mại quan trọng và hàng đầu trong số các đối tác thương mại của Việt Nam.

    61

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    Năm 2016 và 2017, ASEAN là một trong ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam (Bảng 1). Chỉ tính riêng giai đoạn 2007-2017, quy mô thương mại của Việt Nam so với ASEAN tăng từ 23,97 tỷ USD lên 50,25 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 109%. Có thể thấy, thương mại Việt Nam – ASEAN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia. Để thương mại Việt Nam – ASEAN đạt được những kết quả đó thì thuận lợi hóa thương mại

     

    đóng vai trò then chốt quyết định đến tăng trưởng thương mại của Việt Nam – ASEAN. Việc thúc đẩy thương mại Việt Nam – ASEAN cũng sẽ là chìa khóa cho sự phát triển thành công của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà chủ nghĩa bảo hộ thương mại và các xung đột thương mại đang ngày càng trỗi dậy thì thuận lợi hóa thương mại lại càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thương mại Việt Nam.

     

    Bảng 1. Quan hệ thương mại của Việt Nam với các đối tác thương mại chủ yếu

     

       

    Năm 2016

       

    Năm 2017

     
                     

    Đối tác

    Xuất khẩu

     

    Nhập khẩu

     

    Xuất khẩu

     

    Nhập khẩu

     
                   
     

    Giá trị

    Vị trí

    Số tiền

    Vị trí

    Giá trị

    Vị trí

    Giá trị

    Vị trí

     

    (tỷ USD)

    (tỷ USD)

    (tỷ USD)

               

    Trung Quốc

    21,96

    2

    50,02

    1

    35,40

    2

    58,59

    1

    Hàn Quốc

    11,41

    5

    32,16

    2

    14,82

    5

    46,96

    2

    Hoa Kỳ

    38,45

    1

    8,70

    5

    41,59

    1

    9,35

    5

    Nhật Bản

    14,67

    4

    15,06

    4

    16,86

    4

    16,98

    4

    ASEAN

    17,45

    3

    24,04

    3

    21,72

    3

    28,30

    3

                     

    Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2016 và 2017.

     

    Có nhiều học giả quốc tế và trong nước đã nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại. Trong đó, các học giả quốc tế nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại chủ yếu trên các phương diện sau:

     

    Thứ nhất, tác động của thuận lợi hóa đến thương mại: giúp giảm chi phí thương mại và thúc đẩy tăng trưởng thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh. Các học giả quốc tế thường sử dụng mô hình trọng lực và mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để đánh giá tác động của thuận lợi hóa thương mại đối với thương mại. Điển hình như Wilson và cộng sự (2003)nghiên cứu mối quan hệ giữa thuận lợi hóa thương mại và lưu lượng thương mại tại 75 quốc gia giai đoạn 2000-2001, áp dụng mô hình trọng lực phân tích tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại, sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá thuận lợi hóa thương mại bao gồm: cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, môi trường thể chế và thương mại điện tử [1]. Kết quả nghiên cứu cho thấy thuận lợi hóa thương mại tăng 1% làm thương mại tăng 9,7%, tương đương 377 tỷ USD, cải

    thiện hải quan làm thương mại tăng trưởng 330 tỷ USD (0,8%), cải thiện môi trường thể chế làm thương mại tăng trưởng 83 tỷ USD (2,1%), cải thiện cơ sở hạ tầng làm thương mại tăng 154 tỷ USD (4%). Hertel và Mirza (2009) cũng sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại của Wilson và cộng sự (2003) đã chỉ ra rằng việc tạo thuận lợi thương mại có tác động nhất định đến quy mô thương mại giữa Nam Á và phần còn lại của thế giới [2]. Cải cách thuận lợi hóa thương mại sẽ làm tăng thương mại nội địa thêm 5,8 tỷ USD (75%), trong khi thương mại nước ngoài sẽ tăng thêm 30,8 tỷ USD (22%). Ấn Độ và Pakistan là những nước phát triển nhanh nhất trong khu vực. Việc thuận lợi hóa thương mại có tác động lớn hơn đến thương mại giữa hai bên. Shepherd (2009) nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại các nước Nam Á cho thấy thuận lợi hóa thương mại tăng 1% làm thương mại tăng 7,5% tương đương 22 tỷ USD. Nghiên cứu của Zhang Ya Bin (2016) cho thấy thuận lợi hóa thương mại của các nước trong vành đai con đường tơ lụa

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    63

    tăng 1% thì xuất khẩu của Trung Quốc tăng 4,35% [3]. Ran Qi Zhao và Yang Dan Ping (2018) nghiên cứu thuận lợi hóa thương mại của các nước EU tăng 1% thì xuất khẩu của Trung Quốc tăng 17864% [4].

     

    Thứ hai, về chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại: Ban đầu các học giả quốc tế dựa vào 4 chỉ tiêu cấp 1 đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại của Wilson và cộng sự (2003) để tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên lại có sự khác nhau ở các chỉ tiêu cấp 2. Chẳng hạn như Ran Qi Zhao và Yang Dan Ping (2018) sử dụng 15 chỉ tiêu cấp 2, Zhang Shu Hui (2018) sử dụng 19 chỉ tiêu cấp 2. Về sau, do sự phát triển không ngừng của kinh tế, môi trường tài chính ảnh hưởng rất lớn đến thuận lợi hóa thương mại, do đó nhiều học giả như Zhang Ya Bin (2016), Gao Zhi Gang và Song Ya Dong (2018)… đã thêm chỉ tiêu môi trường tài chính để hình thành nên 5 chỉ tiêu cấp 1 để đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại [5].

     

    Thứ ba, về xác định trọng số của các chỉ tiêu: Chủ yếu có 2 phương pháp là phương pháp bình quân và phương pháp phân tích thứ bậc. Chẳng hạn như nghiên cứu của Ran Qi Zhao và Yang Dan Ping (2018) đã áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc để xác định trọng số.

     

    Nghiên cứu về tác động của thuận lợi hóa thương hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN chưa được các học giả quốc tế tập trung. Các nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại Việt Nam và ASEAN chỉ mới được các tổ chức như APEC (2004), OECD (2012) đề cập, hoặc một số ít tác giả như Shepherd và Wilson (2009) cho rằng dòng chảy thương mại

     

    • Đông Nam Á đặc biệt nhạy cảm với cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin và truyền thông, việc cải thiện các cơ sở hạ tầng cảng làm lưu lượng thương mại tăng tới 7,5% hoặc 22 tỷ USD hay nghiên cứu của Itakura (2014) về thuận lợi hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia thành viên ASEAN cho thấy việc giảm các rào cản thương mại có tác động tích cực đáng kể đến thương mại [6].

    Hiện nay chưa có nghiên cứu về tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại

     

    Việt Nam – ASEAN của các học giả trong nước. Các học giả trong nước chỉ quan tâm đến các khía cạnh như thuận lợi hóa thương mại và hài hòa chính sách logistics tại các quốc gia ASEAN [7], Hiệp định thuận lợi hóa thương mại WTO tạo ra cơ hội và thách thức đối với Việt Nam [8]…

     

    Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy mặc dù có sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu, chỉ tiêu đánh giá thuận lợi hóa thương mại nhưng việc thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại sẽ thúc đẩy tăng trưởng thương mại. Tuy nhiên, thực tế chưa có nghiên cứu riêng biệt nào đánh giá cụ thể tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xác định mức độ tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN bằng mô hình trọng lực. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN như thế nào? Biện pháp thuận lợi hóa thương mại nào hiệu quả hơn? Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN cũng như tác động cụ thể của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN. Thông qua kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất các biện pháp và chính sách thúc đẩy xuất nhập khẩu của Việt Nam.

     

    2. Xây dựng và đo lường hệ thống chỉ tiêu

    đánh giá thuận lợi hóa thương mại

     

    2.1. Lựa chọn chỉ tiêu

     

    Trong rất nhiều phương pháp đánh giá thuận lợi hóa thương mại, phương pháp đánh giá thuận lợi hóa thương mại của Wilson và cộng sự (2003) là kinh điển nhất. Bài viết dựa vào phương pháp đánh giá thuận lợi hóa thương mại đó và các nghiên cứu trước, dựa vào mục tiêu nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại Việt Nam – ASEAN và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thuận lợi hóa thương mại lựa chọn các chỉ tiêu: cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, môi trường thể chế, thương

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    mại điện tử, môi trường tài chính làm chỉ tiêu cấp 1 để xác định mức độ thuận lợi hóa thương mại và hệ thống 21 chỉ tiêu cấp 2 được xây dựng để đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại.

     

    2.2. Nguồn và xử lý số liệu

     

    Nghiên cứu chọn lựa 21 chỉ tiêu cấp 2 từ năm 2010-2017 được lấy từ Báo cáo cạnh tranh toàn cầu (The Global Competitiveness Report) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum – WEF) công bố và Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index – CPI) do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố từ năm 2008 đến 2017. Phạm vi của các chỉ tiêu là không giống nhau, hầu hết các chỉ tiêu dao động từ 0 đến 7, có 2 chỉ tiêu có phạm vi từ 0-100 là chỉ số tham nhũng và số người sử dụng mạng Internet. Điểm số của mỗi chỉ số càng cao thì mức độ thuận lợi hóa thương mại càng cao.

     

    Từ phân tích trên, các nguồn dữ liệu của các chỉ tiêu cấp 2 về thuận lợi hóa thương mại không hoàn toàn tương đồng và các dữ liệu này cần phải được xử lý chuẩn hóa. Việc chuẩn hóa các chỉ số sẽ giúp cho việc so sánh và tính tổng các chỉ số về thuận lợi hóa thương mại được

     

    thuận tiện. Áp dụng phương pháp như sau: Xij = Zij/Zjmax, trong đó Zij là giá trị ban đầu của chỉ tiêu mức độ thuận lợi hóa thương mại cấp 2 được xây dựng, Zjmax là giá trị cực đại của chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại cấp 2, Xij là giá trị thuận lợi hóa thương mại tiêu chuẩn hóa ban đầu sau khi tiêu chuẩn hóa, chỉ tiêu này nhận giá trị từ 0-1.

     

    2.3. Xác định trọng số của hệ thống chỉ tiêu đánh giá thuận lợi hóa thương mại

     

    Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP do Saaty (1980) đưa ra để xác định chỉ tiêu trọng số. Đầu tiên là điều tra thu thập ý kiến chuyên gia về mức độ ưu tiên để thiết lập thứ bậc (các chuyên gia sẽ dựa vào các thang đánh giá mức độ so sánh ở Bảng 2 để đánh giá), sau đó thiết lập các ma trận so sánh cặp.

     

    Sau đó, nghiên cứu tính toán trọng số cho từng mức (từng cấp), từng nhóm yếu tố. Tính tỷ số nhất quán CR để kiểm tra tính nhất quán. Cách tính CR như sau: CR = CI/RI, trong đó RI (chỉ số ngẫu nhiên) được xác định từ Bảng 3 cho sẵn.

     

    Bảng 2. Thang đánh giá mức độ so sánh

     

    Mức độ quan trọng       Định nghĩa                                                      Giải thích

     

    1

     

    3

     

    5

     

    7

     

    9

     

    2, 4, 6, 8

    Quan trọng bằng nhau

     

    Sự quan trọng yếu giữa một yếu tố này trên yếu tố kia

     

    Quan trọng nhiều giữa yếu tố này và yếu tố kia

     

    Sự quan trọng biểu lộ rất mạnh giữa yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Sự quan trọng tuyệt đối giữa yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Mức trung gian giữa các mức nêu trên

     

    Hai yếu tố có mức quan trọng như nhau Kinh nghiệm và nhận định hơi nghiêng về yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Kinh nghiệm và nhận định nghiêng mạnh về yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Một yếu tố được ưu tiên rất nhiều hơn yếu tố kia và được biểu lộ trong thực hành

     

    Sự quan trọng hơn hẳn của một yếu tố ở trên mức có thể

     

    Cần sự thỏa hiệp giữa hai mức độ nhận định

     

    Nguồn: Phương pháp phân tích thứ bậc AHP.

     

    Bảng 3. Bảng phân loại chỉ số ngẫu nhiên RI

     

     

    n

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

     

    RI

    0,58

    0,9

    1,12

    1,24

    1,32

    1,41

    1,45

    1,49

    Nguồn: Phương pháp phân tích thứ bậc AHP.

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    65

    Trong đó n là số lượng yếu tố trong ma trận so sánh. IC (chỉ số nhất quán) được xác định theo các bước sau đây:

     

    • Tính vector tổng có trọng số = ma trận so sánh x vector trọng số.
    • Tính vector nhất quán = vector tổng có trọng số / vector trọng số.
    • Xác định λmax (giá trị riêng ma trận so sánh) và CI:

    + λmax = trị trung bình của vector nhất quán.

     

    + CI = (λmax – n) / (n – 1).

     

    Tỷ số nhất quán phải nhỏ hơn hay bằng 10%, khi đó trọng số được xác định là đúng, nếu lớn hơn thì cần thực hiện lại. Hiện nay, việc xác định trọng số được thực hiện thông qua các phần mềm. Nghiên cứu này sử dụng phần mềm Matlab để xác định trọng số của các chỉ tiêu cấp

     

    1. Kết quả trọng số của các chỉ tiêu cấp 1 như sau (Bảng 4): Tỷ số nhất quán CR = 0,048 < 0,1, đảm bảo tính nhất quán. Tương tự cách tính trọng số đối với các chỉ tiêu cấp 1, ta cũng tính được trọng số của các chỉ tiêu cấp 2. Trọng số

    ưu tiên = trọng số riêng x trọng số yếu tố cấp 1 tương ứng (Bảng 5).

     

    3.   Phân tích kết quả tính toán mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN

     

    Trên cơ sở xử lý dữ liệu và trọng số của các chỉ tiêu liên quan đến thuận lợi hóa thương mại, nghiên cứu rút ra công thức tính toán tổng chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại như sau:

     

    TFIj = W11X11 + W12X12 + W13X13 + W14X14 + W21X21 + W22X22 + W23X23 + W24X24 + W31X31 + W32X32 + W33X33 + W34X34 + W35X35 + W36X36 + W37X37 + W39X39 + W41X41 + W42X42 + W43X43 + W44X44 + W51X51 + W52X52

     

    • W53X53 + W54X54

    Trong đó: Xij là giá trị của chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại cấp 2 sau khi đã xử lý, Wij là quyền trọng của chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại cấp 2 và tổng hợp để đạt được TFI của các nước ASEAN. Kết quả tính toán chỉ số thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN năm 2017 như sau:

     

    Để đánh giá phân loại mức độ thuận lợi hóa thương mại, các học giả trong và ngoài nước đã phân chia mức độ thuận lợi hóa thương mại thành các cấp độ khác nhau. Nghiên cứu này sử dụng cách đánh giá phân loại mức độ thuận lợi hóa thương mại của Ceng Zheng và Zhou Qian (2008), theo đó mức độ thuận lợi hóa thương mại được chia làm 4 cấp độ: Nếu TFI ³ 0,8 thì mức độ thuận lợi hóa thương mại rất thuận lợi, 0,7 £ TFI <0,8 thì mức độ thuận lợi hóa thương

     

    mại ở mức độ tương đối thuận lợi, nếu 0,6 £ TFI <0,7 thì mức độ thuận lợi hóa thương

     

    mại ở mức thuận lợi bình thường, nếu TFI < 0,6 thì mức độ thuận lợi hóa thương mại thuộc về mức không thuận lợi.

     

    Bảng 4. Ma trận so sánh cặp và trọng số

     

    Chỉ tiêu đánh giá thuận lợi

    Môi trường

    Cơ sở hạ

    Môi   trường

    Thương

    Môi trường

    Trọng

    hóa thương mại

    thể chế

    tầng

    hải quan

    mại điện tử

    tài chính

    số

                 

    Môi trường thể chế

    1

    1.0

    1

    2,00

    2,00

    0,251

    Cơ sở hạ tầng

    1,00

    1

    1

    1

    3

    0,234

    Môi trường hải quan

    1,00

    1,00

    1

    1,00

    1

    0,194

    Thương mại điện tử

    0,50

    1,00

    1,00

    1

    3,0

    0,209

    Môi trường tài chính

    0,50

    0,33

    1,00

    0,33

    1

    0,113

                 

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    Bảng 5. Các chỉ số thuận lợi hóa thương mại ở các cấp

     

    Chỉ tiêu

    Trọng

     

    Trọng

    Trọng

    Ký hiệu

    Phạm

    Ký hiệu

     

    Chỉ tiêu cấp 2

    số

    số ưu

    trọng số

    chỉ tiêu

     

    cấp 1

    số

    vi

     

    riêng

    tiên

    ưu tiên

    cấp 2

     
           
                     
       

    Chất lượng cơ sở hạ tầng đường bộ

    0,3116

    0,0728

    W11

    1-7

    X11

     
                     

    Cơ sở

    0,2337

    Chất lượng cơ sở hạ tầng đường sắt

    0,1277

    0,0298

    W12

    1-7

    X12

     
                 

    hạ tầng

    Chất lượng cơ sở hạ tầng cảng biển

    0,2804

    0,0655

    W13

    1-7

    X13

     
     
       
                     
       

    Chất lượng cơ sở hạ tầng hàng không

    0,2804

    0,0655

    W14

    1-7

    X14

     
                     
       

    Rào cản thương mại

    0,2188

    0,0424

    W21

    1-7

    X21

     
                     

    Môi

     

    Thuế quan thương mại

    0,0938

    0,0182

    W22

    1-

    X22

     

    trường

    0,1937

           

    100

       

    hải quan

     

    Gánh nặng thủ tục hải quan

    0,5938

    0,1150

    W23

    1-7

    X23

     
                   
       

    Chỉ số tham nhũng

    0,0938

    0,0182

    W24

    1-

    X24

     
       

    100

                   
       

    Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    0,2066

    0,0519

    W31

    1-7

    X31

     
                     
       

    Niềm  tin  của  công  chúng  đối  với

    0,0611

    0,0153

    W32

    1-7

    X32

     
       

    chính phủ

                   
       

    Độc lập tư pháp

    0,0611

    0,0153

    W33

    1-7

    X33

     

    Môi

                   
     

    Gánh nặng các quy định của Chính

    0,0966

    0,0243

    W34

    1-7

    X34

     

    trường

    0,2512

    phủ

    thể chế

                 
     

    Hiệu quả pháp luật  của  Chính phủ

    0,1953

    0,0491

    W35

    1-7

    X35

     
       
       

    trong việc giải quyết các tranh chấp

                   
       

    Minh bạch chính sách

    0,2290

    0,0575

    W36

    1-7

    X36

     
                     
       

    Chi phí kinh doanh do tội phạm và

    0,1503

    0,0378

    W37

    1-7

    X37

     
       

    bạo lực gây ra

                   
       

    Tính  khả  dụng  của  các  công  nghệ

    0,7235

    0,1510

    W41

    1-7

    X41

     

    Thương

     

    mới

                 
                   

    mại điện

    0,2087   Sử dụng kỹ thuật cấp công ty

    0,1932

    0,0403

    W42

    1-7

    X42

     

    tử

                   
     

    Số người sử dụng Internet

    0,0833

    0,0174

    W43

    1-

    X43

     
       
       

    100

                   

    Môi

     

    Tính tiện lợi của dịch vụ tài chính

    0,7143

    0,0806

    W51

    1-7

    X51

     
                   
     

    Năng lực tài chính thị trường chứng

               

    trường

    0,1129

    0,1429

    0,0161

    W52

    1-7

    X52

     

    khoán địa phương

    tài chính

                 
     

    Dễ tiếp cận các khoản vay

    0,1429

    0,0161

    W53

    1-7

    X53

     
       
                     

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Bảng 6. Kết quả tính toán mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN từ năm 2008-2017

     

    TT

    Nước

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    2017

                           

    1

    Campuchia

    0,454

    0,478

    0,515

    0,538

    0,561

    0,530

    0,487

    0,480

    0,494

    0,485

    2

    Indonesia

    0,524

    0,558

    0,575

    0,568

    0,571

    0,592

    0,600

    0,581

    0,591

    0,613

    3

    Malaysia

    0,728

    0,703

    0,712

    0,739

    0,736

    0,726

    0,749

    0,753

    0,734

    0,728

                           
     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    67

     
                             

    4

    Philippines

    0,507

    0,496

    0,501

    0,510

    0,537

    0,554

    0,561

    0,542

    0,516

    0,510

     

    5

    Singapore

    0,880

    0,880

    0,869

    0,867

    0,867

    0,855

    0,853

    0,858

    0,861

    0,862

     

    6

    Thái Lan

    0,628

    0,626

    0,630

    0,606

    0,605

    0,606

    0,589

    0,585

    0,587

    0,602

     

    7

    Brunei

    0,656

    0,665

    0,662

    0,632

    0,642

    0,662

    0,762

    0,666

    0,582

    0,600

     

    Darussalam

                           

    8

    Lào

    0,515

    0,549

    0,539

    0,574

    0,584

    0,555

    0,542

    0,519

    0,519

    0,524

     

    9

    Myanmar

           

    0,368

    0,371

    0,378

    0,377

    0,457

    0,538

     

    10

    Việt Nam

    0,506

    0,526

    0,526

    0,497

    0,491

    0,501

    0,510

    0,527

    0,534

    0,528

     
                             

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Bảng 6 cho thấy trong giai đoạn 2008-2017, mức độ thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia, Philippines được xếp vào mức độ không thuận lợi. Còn Brunei Darussalam, Thái Lan thuận lợi hóa thương mại ở mức bình thường, Indonesia có 2 năm 2014 và 2017 thuận lợi hóa thương mại ở mức bình thường. Malaysia thuận lợi hóa thương mại ở mức độ tương đối thuận lợi. Singapore thuận lợi hóa thương mại ở mức rất thuận lợi.

     

    4.   Phân tích tác động của thuận lợi hóa thương mại đối với thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam

     

    4.1. Xây dựng mô hình và mô tả dữ liệu

     

    Để nghiên cứu các vấn đề thương mại quốc tế, các học giả trong và ngoài nước thường sử dụng mô hình lực trọng lực. Đây là mô hình

    được phát triển bởi Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) dựa trên định luật hấp dẫn của Newton được sử dụng trong thương mại, dự đoán rằng trao đổi thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế và khoảng cách giữa chúng. Về sau có rất nhiều học giả ứng dụng và tiếp tục phát triển mô hình này như Anderson (1979), Bergstrand (1985), Gbetnkom và Sunday (2002)… Căn cứ vào các nghiên cứu hiện có kết hợp với mục tiêu của nghiên cứu, cũng như căn cứ vào các biến lượng cơ bản của mô hình trọng lực, bài viết bổ sung thêm các biến mới vào mô hình gồm thuận lợi hóa thương mại, độ mở của nền kinh tế, BORDER. Khi đó, mô hình lực trọng lực có dạng như sau:

     

    LnTradeijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDISTij + α5LnTFIjt + α6 BORDERij + εij (2)

     

    Bảng 7. Giải thích ý nghĩa của các biến, mô tả lý thuyết và nguồn gốc của dữ liệu

     

     

    Tên biến

    Hàm nghĩa

    Ý nghĩa

    Dấu

    Nguồn dữ liệu

     

    mong đợi

             
     

    TRADEij

    Kim ngạch

    Phản ánh mức độ thương mại giữa Việt

    /

    UN

       

    thương mại song

    Nam và các nước ASEAN

     

    COMTRADE

       

    phương giữa Việt

    (i là Việt Nam, j là các nước còn lại trong

     

    (Đơn vị: USD)

       

    Nam và nước j

    khu vực ASEN)

       
     

    GDPjt

    Tổng sản phẩm

    Phản ánh nhu cầu thương mại tiềm năng,

    +

    Ngân hàng

       

    quốc nội của nước

    quy mô kinh tế càng lớn thì lưu lượng

     

    Thế giới

       

    j năm t

    thương mại càng cao

     

    (Đơn vị: USD)

     

    POPjt

    Quy mô dân số

    Dân số càng lớn, nhu cầu thương mại quốc

    Không

    Ngân hàng

       

    của nước j năm ttế càng cao và nó cũng có thể làm giảm

    xác định

    Thế giới

         

    thương mại quốc tế do phân công lao động

     

    (Đơn vị: người)

         

    trong nước

       
    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73
     

    DISTij

    Khoảng cách

    Đại biểu cho chi phí vận chuyển, khoảng

    https://www.tim

       

    đường thẳng giữa

    cách vận chuyển giữa hai nước càng xa thì

     

    eanddate.com/w

       

    các thủ đô của hai

    chi phí vận chuyển càng cao, điều này

     

    orldclock/distan

       

    nước

    không có lợi cho thương mại quốc tế

     

    ce.html

             

    (Đơnvị: Km)

     

    OPENjt

    Độ mở thương

    Độ mở thương mại càng cao thì nhu cầu

    +

    UN

       

    mại của nước j

    thương mại quốc tế càng lớn

     

    COMTRADE

       

    năm t

         
     

    TFIjt

    Mức độ thuận lợi

    Thuận lợi hóa thương mại làm giảm chi phí

    +

    Tác giả tự

       

    hóa thương mại

    thương mại và giảm các trở ngại, thúc đẩy

     

    tính toán đề xuất

       

    của nước j năm t

    thương mại song phương

       
     

    BORDE

    Biến giả, các

    Nhận giá trị là 0 nếu không có biên giới trên

    +

     
     

    Rij

    nước có chung

    đất liền với Việt Nam, nhận giá trị 1 nếu có

       
       

    biên giới trên đất

    chung biên giới trên bộ với Việt Nam

       
       

    liền với Việt Nam

         
         

    Nguồn: Các tác giả tự xây dựng.

       

    4.2. Kết quả phân tích thực nghiệm

     

    Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng về thương mại của Việt Nam – ASEAN giai đoạn 2008-2017 để tiến hành phân tích hồi quy; sử dụng phần mềm Stata 14.0 để tiến hành phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam bằng mô hình trọng lực theo các phương pháp OLS, tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM). Để lựa chọn mô hình thích hợp, nghiên cứu tiến hành Kiểm định F để lựa chọn giữa OLS và FEM, Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM. Qua việc kiểm định ta thấy mô hình REM là phù hợp và đáng tin cậy. Để kết quả mô hình hồi quy đạt được tính hiệu quả, tác giả kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan đối với mô hình FEM, kiểm định đa cộng tuyến thông qua kiểm định Vif đối với Pooled OLS. Kết quả phát hiện mô hình vừa có

    hiện tượng phương sai của sai số thay đổi vừa có hiện tượng tự tương quan của sai số, không có hiện tượng đa cộng tuyến. Theo Wooldridge (2002), cách khắc phục khi phương sai sai số thay đổi và tự tương quan của sai số đó là chọn mô hình hồi quy bình phương bé nhất tổng quát

     

    • Generalized Least Squares (GLS). GLS thực chất là phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) áp dụng cho các biến đã được biến đổi từ một mô hình mới thỏa mãn các giả thiết cổ điển. Do đó, các tham số ước lượng từ mô hình mới sẽ đáng tin cậy hơn. Chính vì những lý do trên, bài viết chỉ sử dụng kết quả của mô hình hồi quy với phương pháp GLS trong bảng sau để phân tích cũng như giải thích kết quả.

    * Phân tích tổng thể

     

    Tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam:

     

    Bảng 8. Kết quả phân tích bằng mô hình trọng lực

     

    Tên biến

    OLS

    FEM

    REM

    FGLS

             

    LnGDPjt

    1,188*** (2,37)

    0,917*** (2,70)

    0,21***(0,03)

    0,21***(0,03)

    LnPOPjt

    3,90*** (1,53)

    0,02*** (0,07)

    0,751***(5,65)

    0,751***(5,90)

    LnOPENjt

    1,38*** (1,86)

    0,21***(0,56)

    0,706***(3,31)

    0,706***(3,46)

    LnDISTij

    0,12*** (-0,53)

    (0,50) *** (-0,74)

    -0,570*** (-2,15)

    -0,570*** (-2,24)

    LnTFIjt

    0,32*** (0,25)

    1,43***(1,21)

    3,782***(4,18)

    3,782***(4,36)

    BORDERij

    0,00(.)

    2,786*** (3,10)

    1,474***(4,44)

    1,474***(4,64)

             

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    69

               

    _cons

    -79,25****(-2,11)

    1,02***(0,14)

    11,59***(3,71)

    11,59***(3,87)

     

    N

    86

    86

    86

    86

     

    R-squared

    0,8836

    0,7600

         

    Kiểm

    99,96 (P = 0,0000)

    11,11(P = 0,0000)

         

    nghiệm F

         
             

    Kiểm định lựa chọn mô hình

     

    F-test

     

    Kiểm định Hausman

    Prob > F = 0,0000 < 0,05 chứng tỏ mô hình

    OLS không phù hợp

     

    Prob > chi2 =  0,0145 > 0,05 chứng tỏ mô hình

    FEM không phù hợp, lựa chọn mô hình REM

     

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Bảng 9. Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, đa cộng tuyến và tự tương quan

     

     

    Kiểm định

    Giá trị

    Kết quả

     

    Đa cộng tuyến

    VIF < 10

    Không có hiện tượng đa cộng tuyến

     

    Phương sai thay đổi

    Prob > chi2 = 0,0000

    Có hiện tượng phương sai thay đổi

     

    Tự tương quan

    Prob > F = 0,0000

    Có hiện tượng tự tương quan

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Tương tự như việc phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương mại của các đối tác – ASEAN, tác giả cũng tiến hành phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương

    mại đến xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam – ASEAN. Kết quả phân tích được tổng hợp ở Bảng 10.

     

    Bảng 10. Tác động của thuận lợi hóa thương mại đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

     

     

    Phân tích tổng hợp

     

    Phân tích chỉ tiêu

     
     

    Tên biến

    Xuất khẩu

    Nhập khẩu

    Tên biến

    Xuất khẩu

    Nhập khẩu

     

    LnGDPjt

    0,422**(-2,84)

    0,874***(3,98)

    LnHT

    0,44***(-0,64)

    1,44***(1,61)

     

    LnPOPjt

    1,151***(9,94)

    0,350***(2,04)

    LnHQ

    2,026***(2,58)

    0,53***(0,50)

     

    LnOPENjt

    0,718***(3,87)

    1,271***(4,61)

    LnTC

    2,553***(3,50)

    1,09***(1,07)

     

    LnDISTij

    -0,637**(-2,76)

    -1,374***(-4,01)

    LnDT

    0,69***(0,93)

    3,168***(3,53)

     

    BORDERij

    1,456***(5,04)

    0,52**(1,20)

    LnTCI

    2,226***(3,35)

    2,384***(2,70)

     

    LnTFIjt

    4,498***(5,70)

    2,657***(2,27)

         
     

    _cons

    15,83***(5,82)

    (2,04)***(-0,50)

         

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Kết quả hồi quy cho thấy mô hình có mức độ phù hợp cao, kết quả hồi quy của các biến giải thích khác phù hợp với kỳ vọng, đảm bảo tính tin cậy thông qua các kiểm đinh. Từ các hệ số hồi quy của các biến số, ta thấy mức độ thuận lợi hóa thương mại của 9 nước ASEAN

    khác (gọi tắt là các nước ASEAN) có tác động lớn nhất đến thương mại của Việt Nam – ASEAN, cứ 1% tăng lên thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN sẽ làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN tăng 3,782%, xuất khẩu tăng 4,498%, nhập khẩu tăng 2,65%. Tác

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    động của tổng sản phẩm quốc nội các nước ASEAN cho thấy cứ mỗi 1% tăng tổng sản phẩm quốc nội các nước ASEAN làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN tăng 0,21%, xuất khẩu tăng 0,422%, nhập khẩu tăng 0,874%. Tác động của dân số các nước ASEAN cho thấy cứ mỗi 1% tăng của dân số các nước ASEAN làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN tăng 0,751%, xuất khẩu tăng 1,151%, nhập khẩu tăng 0,35%. Tác động của độ mở nền kinh tế các nước ASEAN cho thấy cứ mỗi 1% tăng của độ mở nền kinh tế làm cho thương mại của Việt Nam tăng 1,38%, xuất khẩu tăng 0,718%, nhập khẩu tăng 1,271%. Về khoảng cách địa lý làm giảm thương mại, cứ 1% tăng thêm của khoảng cách sẽ làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN giảm 0,57 %, xuất khẩu giảm 0,637%, nhập khẩu giảm 1,374%. Hệ số của biến giả BORDER dương chứng tỏ các nước biên giới giúp thương mại xuất nhập khẩu Việt Nam tăng.

     

    * Phân tích chỉ tiêu

     

    Để làm rõ ảnh hưởng cụ thể của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại, các tác giả tiếp tục nghiên cứu tác động của các chỉ tiêu thuận lợi

     

    hóa thương mại đối với thương mại của Việt Nam. Dựa trên hồi quy tổng thể, nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định để phân tích tác động của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại. Nghiên cứu lần lượt phân tích tác động của cơ sở hạ tầng (HT), môi trường hải quan (HQ), môi trường thể chế (TC), thương mại điện tử (DT), môi trường tài chính (TCI), hình thành 5 phương trình hồi quy đánh giá tác động đến thương mại Việt Nam – ASEAN như sau:

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnHTjt + α6BORDERij + εij (1)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnHQjt + α6BORDERij + εij (2)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnTCjt + α6BORDERij + εij (3)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnDTjt + α6BORDERij + εij (4)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistijt + α5LnTCIjtt + α6BORDERij + εij (5)

     

    Bảng 11. Kết quả hồi quy theo chỉ tiêu

     

    Tên biến

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

               

    LnGDPjt

    0,595***(3,58)

    0,365***(2,44)

    0,319***(2,29)

    0,437***(2,97)

    0,20***(1,30)

               

    LnPOPjt

    0,312***(2,33)

    0,512***(4,04)

    0,563***(4,77)

    0,423***(3,66)

    0,518***(4,65)

               

    LnOPENjt

    1,301***(5,24)

    0,939***(4,11)

    0,813***(3,70)

    1,034***(4,41)

    0,936***(4,63)

               

    LnDISTij

    -0,627***(-2,15)

    (0,54) ***(-1,86)

    -0,555*(-2,01)

    -0,733*(-2,42)

    -0,619*(-2,26)

               

    BORDERij

    2,028***(5,89)

    2,113***(6,18)

    2,195***(6,67)

    1,933***(5,65)

    1,824***(5,63)

               

    LnHTjt

    0,31***(-0,98)

           

    LnHQjt

     

    1,58***(1,91)

         
               

    LnTCjt

       

    2,428***(3,17)

       
               

    LnDTjt

         

    0,79***(1,03)

     
               

    LnTCIjt

           

    2,246***(3,26)

               

    _cons

    (0,71)***(-0,22)

    4,13***(1,63)

    5,420***(2,25)

    4,17***(1,26)

    8,898***(2,91)

               

    N

    86,00

    86,00

    86,00

    86,00

    86,00

               

    R-squared

    0,86

    0,86

    0,87

    0,86

    0,87

               

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    71

    Bảng 11 cho thấy mức độ tác động của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại đến thương mại của Việt Nam – ASEAN khác nhau đều làm tăng thương mại của Việt Nam – ASEAN. Cụ thể, cứ mỗi 1% tăng lên của cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, môi trường thể chế, thương mại điện tử, môi trường tài chính làm thương mại Việt Nam tăng lần lượt là 0,31%, 1,58%, 2,428%, 0,79%, 2,246%; xuất khẩu tăng 0,44%, 2,026%, 2,553%, 0,69%, 2,226%; nhập khẩu tăng 1,44%, 0,53%, 1,09%, 3,168%, 2,384%.

     

    5. Kết luận và kiến nghị

     

    5.1. Kết luận

     

    Dựa trên phân tích mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN, phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương mại 9 nước ASEAN khác tới thương mại Việt Nam – ASEAN nghiên cứu rút ra các kết luận sau:

     

    Thứ nhất, mức độ thuận lợi hóa thương mại có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại của Việt Nam. So với các yếu tố như GDP, dân số, độ mở thương mại mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN có vai trò lớn trong việc thúc đẩy thương mại của Việt Nam. Điều này cho thấy càng thuận lợi hóa thương mại thì càng giúp thương mại Việt Nam được mở rộng.

     

    Thứ hai, các chỉ số của thuận lợi hóa thương mại có tác động khác nhau đối với thương mại Việt Nam. Điều này cho thấy sự phát triển của thương mại điện tử, xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng, cải cách thể chế, môi trường hải quan, môi trường tài chính của các nước ASEAN có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam.

     

    Thứ ba, nghiên cứu cho thấy ngoài các nước Singapore và Malaysia có mức độ thuận lợi hóa thương mại ở mức thuận lợi thì các nước ASEAN còn lại đều ở mức trung bình và thấp.

     

    5.2. Kiến nghị

     

    Thứ nhất, tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và các nước ASEAN khác trong các khía cạnh của thuận lợi hóa thương mại như môi trường thể chế, môi trường hải quan, cơ sở hạ tầng, môi trường tài chính và thương mại điện tử nhằm thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại. Chẳng hạn như việc hợp tác trong lĩnh vực hải quan: chia sẻ dữ liệu hải quan, quy định hải quan tăng cường biên giới và quản lý thủ tục hải quan, cải thiện kiểm tra hải quan và kiểm dịch, hải quan hiệu quả giải phóng hàng hóa. Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng: đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết nối hạ tầng giữa Việt Nam và các nước ASEAN khác. Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính giúp cho thị trường tài chính minh bạch, chống tham nhũng, huy động các khoản vốn dễ dàng tiện lợi, từ đó thúc đẩy thương mại. Loại bỏ các rào cản không thuận lợi như các thủ tục hành chính, kiểm tra hải quan… tạo điều kiện thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam – ASEAN.

     

    Thứ hai, Việt Nam và các nước ASEAN khác cần tăng cường cải cách nghiệp vụ hải quan và nâng cao hiệu quả thông quan. Hải quan có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Cải cách các chính sách pháp luật về hải quan, áp dụng hệ thống thông quan tự động… giúp đẩy nhanh việc thông quan, từ đó giảm chi phí thương mại. Thực hiện tốt Hiệp định Hải quan ASEAN (2012) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của các nước xuất khẩu, quá cảnh, chuyển tải qua lãnh thổ của các bên như đơn giản hóa thủ tục hải quan và quy định kiểm soát hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin, quyết định trước, công nhận lẫn nhau Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên (AEO), quản lý biên giới phối hợp…

     

    Thứ ba, các nước ASEAN giữ vững ổn định thị trường tài chính. Thị trường tài chính phải giúp cho các doanh nghiệp có được sự tiện lợi trong việc huy động vốn khi cần thiết, giữ ổn định về tỷ giá, có nhiều kênh huy động vốn với chi phí sử dụng vốn thấp… Ngoài ra, cần có các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    của toàn bộ nền kinh tế. Tất cả các biện pháp này sẽ giúp giảm chi phí, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, từ đó thúc đẩy thương mại.

     

    Thứ tư, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng. Các nước ASEAN cần nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng của mình. Tăng cường xây dưng cơ sở hạ tầng cảng, nâng cao hiệu quả cảng. Đặc biệt quan tâm các cơ sở hạ tầng có ý nghĩa then chốt giúp thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại và mang tính chất cốt yếu. ASEAN tăng cường kết nối và phát triển cơ sở hạ tầng bền vững.

     

    Thứ năm, các nước ASEAN cần phát triển nhanh chính phủ điện tử và ứng dụng thương mại điện tử. Thúc đẩy thương mại điện tử giúp tăng cường thuận lợi hóa thương mại. Thương mại điện tử là thương mại không giấy tờ, ứng dụng công nghệ thông tin điện tử để hoàn thành tất cả các khía cạnh của giao dịch. Do đó, dù ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào, các cá nhân, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành được các giao dịch thương mại điện tử. Muốn thương mại điện tử phát triển thì cần sự đóng góp của các doanh nghiệp, cá nhân và chính phủ, tổ chức nghề nghiệp có liên quan cũng như các tổ chức quốc tế. Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng viễn thông, bảo đảm chất lượng đường truyền. Tăng cường bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin. Việc phát triển nhanh chính phủ điện tử sẽ giúp thuận lợi hóa thương mại nhanh hơn.

     

    Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước: Áp dụng cơ chế một cửa quốc gia và quốc tế, đơn giản hóa thủ tục và quy trình giải quyết thủ tục hành chính, rà soát loại bỏ nhanh các thủ tục hành chính không còn phù hợp; thúc đẩy xây dựng mô hình chính quyền điện tử, trung tâm dịch vụ hành chính công, hải quan điện tử nhằm xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và ổn định; đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm và kiểm tra, giám sát; đẩy nhanh tiến độ ra quyết định của các cơ quan nhà nước; thực hiện công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý, quy trình tác nghiệp, chống phiền hà, nhũng nhiễu, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân giám sát việc thực hiện.

     

    Thứ bảy, Việt Nam cần tăng cường cải cách hơn nữa về môi trường thể chế, môi trường hải quan, môi trường tài chính. Tăng cường đầu tư nâng cao hiệu quả của các cảng, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đường bộ, đường sắt và cơ sở hạ tầng hàng không. Xây dựng cơ sở hạ tầng kết nối với các nước khác trong khu vực ASEAN để tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa. Việt Nam cần đơn giản hóa thủ tục hải quan, cải thiện tính minh bạch của hải quan, cải thiện môi trường pháp lý và tăng cường phát triển thương mại điện tử. Hoàn thiện các quy định của pháp luật giúp thúc đẩy thương mại, giảm bớt các rào cản thương mại. Đặc biệt cần ưu tiên đầu tư cho thương mại điện tử nhằm thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại nhanh hơn. Ngoài ra, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm của các nước có sự phát triển thuận lợi hóa thương mại (như Singapore).

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • S. Wilson, C.L. Mann, T. Otsuki, Trade Facilitation and Economic Development: A New Approach to Measuring the Impact [J], World Bank Economic Review. 17(3) (2003) 367-389.
    • Hertel, T. Mirza, “The Role of Trade Facilitation in South Asian Economic Integration”, Study on Intraregional Trade and Investment in South Asia. ADB, 2009.
    • Zhang Ya Bin, “Thuận lợi hóa thương mại các nước thuộc vành đai con đường tơ lụa và tiềm năng thương mại của Trung Quốc”, Tạp chí Kinh tế Trung Quốc. 5 (2016) 112-122.
    • Ran Qi Zhao, Yang Dan Ping, “Nghiên cứu thực chứng ảnh hưởng của thuận lợi hóa thương mại các nước EU đến thương mại Trung Quốc”, Tạp chí Kỹ thuật và Quản lý. 2 (2018) 33-40.
    • Gao Zhi Gang, Song Ya Dong, “Ảnh hưởng của thuận lợi hóa thương mại các nước thuộc vành đai con đường đến thương mại Trung Quốc”, Tạp chí

    Khoa học Xã hội Quý Châu. 7 (2018) 100-108.

     

    • Shepherd, J.S. Wilson, “Trade Facilitation in ASEAN Member Countries: Measuring progress and assessing priorities [J]”, Social Science Electronic Publishing. 20 (2009) 367-383.
    • “Thuận lợi hóa thương mại và hài hòa chính sách logistics tại các quốc gia ASEAN”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại – Đại học Ngoại thương. Số 63

    (03/2014).

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    73

    • Trịnh Thị Thu Hương, Phan Thị Thu Hiền, “Hiệp định thuận lợi hóa thương mại WTO cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại – Đại học Ngoại thương. Số 71

    (03/2015).

     

    • Nordås, R. Piermartini, “Infrastructure and trade”, WTO Staff Working Paper ERSD, 2004.
    • Felipe, U. Kumar, “The Role of Trade Facilitation in Central Asia: A Gravity Model”, The Levy Institute Working Paper. 628 (2010).
    • N. Kumar,  “Prospects  of  Regional  Economic

    Cooperation in South Asia”, Woodhead Publishing Limited. (2012) 101-115.

     

    • APEC’s Trade Facilitation Action Plan: AMid-TermAssessment[R], 2004.
    • Tinbergen, Shaping the world economy: A suggestions for an international economic policy [M], New York: The Twentieth Century Fund, 1962.
    • A. Poyhonen, Tentative model for the volume of trade between countries [J], Weltwirtschatlliches Archiv. 90 (1963) 1.
    • APEC, Assessing APEC Trade Liberalization and

    Facilitation: 1999 update[R], Economic Committee, Sigapore. (1999) 11.

     

    • Itakura, “Impact of liberalization and improved connectivity and facilitation in ASEAN”, Journal of Asian Economics. 35 (2014) 2-11.
    • APEC’s Trade   Facilitation   Action   Plan:   A

    Mid-Term Assessment [R], 2004.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-h%C3%ACnh-th%C3%A0nh-Khu-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-kinh-t%E1%BA%BF-qua-bi%C3%AAn-gi%E1%BB%9Bi-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-t%E1%BA%A1i-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Original Article

     

    Factors Needed to Establish Cross Border Economic Zones:

    Some Assessments for Cao Bang

     

    Nguyen Anh Thu*, Vu Thanh Huong

     

    VNU University of Economics and Business,

     

    144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam

     

    Received 18 March 2019

    Revised 28 March 2019; Accepted 28 March 2019

     

    Abstract: In recent decades, border economic cooperation has developed under various forms. A cross-border economic zone (CBEZ) is a form that has been increasingly studied by academics as well as policymakers in Vietnam and neighbouring countries. This paper analizes the previously studied conditions to develop a CBEZ in the case of Lao Cai province so as to identify strengths and weaknesses and propose implications. It is found that in order to develop a CBEZ and to better faciliate trade and investment which is considered as an important chain to link with the market of China, Cao Bang province should focus on infrastructures, linkages and a harmonized mechanism of cooperation with China.

     

    Keywords: Cross border economic cooperation, cross-border economic zone, Cao Bang.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4208

    1

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới:

    Một số đánh giá tại Cao Bằng

     

    Nguyễn Anh Thu*, Vũ Thanh Hương

     

    Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 18 tháng 3 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Trong những thập kỷ gần đây, hợp tác kinh tế biên giới phát triển ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Khu hợp tác kinh tế qua biên giới (CBEZ) là một hình thức được các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và các quốc gia láng giềng quan tâm nghiên cứu cũng như triển khai. Bài viết này sẽ vận dụng các điều kiện hình thành CBEZ được phát triển từ các nghiên cứu trước đây vào trường hợp của tỉnh Cao Bằng để tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của tỉnh, từ đó đề xuất một số hàm ý. Bài viết chỉ ra rằng để có thể hiện thực hóa CBEZ, tiến tới thuận lợi hóa hơn nữa thương mại và đầu tư, phát triển khu vực biên giới như một mắt xích kết nối với thị trường Trung Quốc, hai điểm quan trọng mà Cao Bằng cần đầu tư là kết nối cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ chế hợp tác hài hòa với Trung Quốc.

     

    Từ khóa: Hợp tác kinh tế biên giới, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, Cao Bằng.

     

    1.   Mở đầu *

     

    Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên hơn 6.690km2, chiếm 2,12% diện tích của cả nước. Tỉnh Cao Bằng có 1 cửa khẩu quốc tế (Tạ Lùng), 3 cặp cửa khẩu quốc gia (Trà Lĩnh, Sóc Giang và Lý Vạn) và nhiều cặp cửa khẩu phụ, lối mở khác với Trung Quốc. Vị trí địa lý này đã đem lại cho Cao Bằng những lợi thế tiềm năng trong việc xây dựng CBEZ với Trung Quốc.

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4208

    Tuy nhiên, Cao Bằng là tỉnh còn nhiều khó khăn trong các điều kiện nội tại để phát triển kinh tế. Đây là tỉnh nông nghiệp khó khăn nhất cả nước với trên 90% dân số là người dân tộc thiểu số. Tỉnh còn phụ thuộc nhiều vào nguồn ngân sách và nguồn lực xã hội hóa chưa nhiều. Cơ sở hạ tầng của tỉnh còn kém phát triển và cho đến nay đường bộ là loại hình giao thông duy nhất trên địa bàn [1, 2]. Với những điều kiện tự nhiên, con người và nguồn tài chính như vậy, việc tìm được nguồn lực, nhất là nguồn nội lực tại địa phương để phát triển kinh tế – xã hội là rất khó khăn. Do đó, việc thành lập CBEZ được kỳ vọng sẽ mang lại cơ hội mới cho tỉnh để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại và đầu tư.

     

    2

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    3

    Hiện nay, bức tranh hợp tác kinh tế biên giới rất đa dạng và các khu hợp tác kinh tế biên giới tồn tại dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau [3, 4]. Hơn thế nữa, các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) hiện có chưa phát huy được vai trò phát triển kinh tế cho khu vực biên giới [5]. Việc xây dựng các CBEZ đóng vai trò quan trọng trong việc thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của toàn vùng và nâng cao hợp tác kinh tế biên giới lên mức độ cao hơn. Bài viết đưa ra các điều kiện hình thành CBEZ và tiến hành đánh giá từng điều kiện của tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra một số hàm ý để hỗ trợ Cao Bằng hiện thực hóa CBEZ.

     

    2.   Điều kiện hình thành CBEZ và phương pháp đánh giá

     

    2.1. Điều kiện hình thành CBEZ

     

    Hiện nay đã có một số mô hình đề xuất về CBEZ, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về một mô hình chuẩn. Các nghiên cứu của Lord và Tangtrongjita (2014), Lalkaka và cộng sự (2011) hay Wallack và cộng sự (2011) là các

     

    nghiên cứu tiêu biểu đã đề xuất các cấu phần của CBEZ [6-8]. Cốt lõi của CBEZ vẫn là một khu kinh tế nhằm mục tiêu thuận lợi hóa thương mại và đầu tư. Do đó, các cấu phần quan trọng của CBEZ sẽ bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cứng như hệ thống giao thông vận tải, kho bãi, các khu thương mại và sản xuất; và hệ thống cơ sở hạ tầng mềm liên quan đến cơ chế chính sách quản lý khu; dịch vụ tài chính, thông tin.

     

    Bài viết này sử dụng mô hình CBEZ nền tảng, bao gồm 8 nhóm cấu phần cụ thể được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở các nghiên cứu của Lord và Tangtrongjita (2014), Lalkaka

     

    và cộng sự (2011), Wallack và cộng sự (2011) [6-8] và được phát triển trong nghiên cứu của Nguyễn Anh Thu và Nguyễn Thị Thanh Mai (2017) [9]. Tám cấu phần của mô hình bao gồm: (1) Điểm cửa khẩu tiên tiến; (2) Kết nối hạ tầng hiện đại; (3) Khu thương mại; (4) Khu doanh nghiệp; (5) Khu dịch vụ logistics; (6) Các chính sách ưu đãi; (7) Cơ chế quản lý hợp tác chung giữa hai nước; (8) Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới liên kết vùng (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Các yếu tố cấu thành CBEZ

     

     

    Các yếu tố cấu thành

     
           
     

    Khu ngoại quan

    AB 1

     
           
     

    Kiểm tra một cửa (bao gồm hải quan, biên phòng, kiểm dịch, kiểm hóa)

    AB 2

     
           
     

    Hệ thống hải quan điện tử

    AB 3

     
           

    1. Điểm

    Thanh toán điện tử các khoản thuế, phí liên quan đến thương mại qua biên giới

    AB 4

     
         

    Yêu cầu về chứng từ cửa khẩu có sự hài hòa, thống nhất giữa các cơ quan quản lý

    AB 5

     

    cửa khẩu

    (CQQL) trong nước

       

    tiên tiến

       
         

    Yêu cầu về chứng từ cửa khẩu có sự hài hòa, thống nhất giữa các CQQL của Việt Nam

    AB 6

     

    (AB)

     

    và CQQL nước bạn

       
           
     

    Thống nhất, hài hòa hóa về thủ tục giữa Việt Nam và nước bạn ở các điểm cửa khẩu

    AB 7

     
           
     

    Thống nhất, hài hòa hóa về ngày và giờ làm việc giữa Việt Nam và nước bạn ở các

    AB 8

     
     

    điểm cửa khẩu

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường bộ giữa các tỉnh giáp biên với các trung tâm

    MC 1

     
     

    kinh tế trong nước

       
           

    2. Kết nối

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường bộ giữa các tỉnh giáp biên với các cảng biển

    MC 2

     

    hạ tầng

    trong nước

       

    hiện đại

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường sắt giữa các tỉnh giáp biên và các trung tâm

    MC 3

     

    (MC)

    kinh tế trong nước

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường sắt giữa các tỉnh giáp biên và các cảng biển

    MC 4

     
     

    trong nước

       
           
    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13
     

    Sự hoàn chỉnh của hệ thống giao thông nội bộ khu vực cửa khẩu

    MC 5

     
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường bộ của Việt Nam và các trung tâm kinh

    MC 6

     
     

    tế của nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường bộ của Việt Nam và các cảng biển của

    MC 7

     
     

    nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa hệ thống đường sắt của Việt Nam và các trung tâm kinh

    MC 8

     
     

    tế của nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường sắt của Việt Nam và các cảng biển của

    MC 9

     
     

    nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển của chợ thương mại biên giới

    TA 1

     
           

    3. Khu

    Sự phát triển của khu dịch vụ tài chính ngân hàng

    TA 2

     
         

    thương

    Sự phát triển của khu mua sắm hàng miễn thuế

    TA 3

     

    mại (TA)

         

    Sự phát triển của khu hội chợ, triển lãm quốc tế

    TA 4

     
     
           
     

    Sự phát triển của khu du lịch qua biên giới

    TA 5

     
           
     

    Sự phát triển của khu chế xuất

    EA 1

     
           

    5. Khu

    Sự phát triển của khu công nghiệp

    EA 2

     
         

    Sự phát triển của khu công nghệ cao

    EA 3

     

    dịch vụ

         

    Sự  phát  triển  của  vườn  ươm  doanh  nghiệp  (tập  trung  hỗ  trợ  doanh  nghiệp  mới

    EA 4

     

    logistics

    khởi nghiệp)

       

    (LA)

       
         
     

    Sự phát triển của khu dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (cấp vốn mạo hiểm; vốn hạt giống

    EA 5

     
     

    ban đầu; tư vấn kinh doanh, dịch vụ kế toán…)

       
           
     

    Giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân với các ngành

    PP 1

     
     

    nghề ưu tiên

       
           
     

    Giảm hoặc miễn thuế quan, thuế VAT đối với một số hàng hóa trao đổi trong khu kinh

    PP 2

     

    6. Các

    tế qua biên giới

       
         

    Chính sách ưu đãi về xuất nhập cảnh

    PP 3

     

    chính sách

    ưu đãi (PP)

    Chính sách ưu đãi về đất đai, sử dụng kết cấu hạ tầng

    PP 4

     
           
     

    Chính sách khuyến khích, bảo hộ đầu tư

    PP 5

     
           
     

    Chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng

    PP 6

     
           
     

    Chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

    PP 7

     
           
     

    Cơ chế chính sách về thương mại của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 1

     
           
     

    Cơ chế chính sách về đầu tư của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 2

     
           
     

    Cơ chế chính sách về di chuyển lao động của Việt Nam và nước láng giềng có

    BC 3

     
     

    sự tương đồng

       
           

    7. Cơ chế

    Cơ chế chính sách về du lịch của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 4

     

    quản lý

         

    Thành lập một cơ quan qua biên giới để quản lý khu kinh tế qua biên giới

    BC 5

     

    hợp tác

         

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong kiểm tra xuất nhập cảnh

    BC 6

     

    chung giữa

         

    hai nước

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong kiểm tra biên phòng

    BC 7

     

    (BC)

         

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động hải quan

    BC 8

     
     
           
     

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động kiểm dịch

    BC 9

     
           
     

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động thanh toán

    BC 10

     
           
     

    Trao đổi thông tin, cơ sở dữ liệu điện tử về hải quan giữa hai bên

    BC 11

     
           

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    5

     
           

    8. Danh

    Sự liên kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp trong nước

    EP 1

     

    nghiệp

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp nước ngoài

    EP 2

     

    tham gia

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với khách hàng tiêu thụ/phân phối trong nước

    EP 3

     

    vào chuỗi

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với khách hàng tiêu thụ/phân phối nước ngoài

    EP 4

     

    giá trị và

         

    mạng lưới

    Sự hợp tác của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực

    EP 5

     

    liên kết

       

    vùng (EP)

         
           

    Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng.

     

    2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

     

    Sử dụng mô hình lý thuyết CBEZ đã xây dựng, việc thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua hoạt động phỏng vấn sâu, hỏi ý kiến chuyên gia và điều tra khảo sát đã được tiến hành. Dữ liệu sơ cấp chính là nguồn dữ liệu chủ yếu, quan trọng để phân tích nhu cầu xây dựng cũng như đánh giá điều kiện hình thành CBEZ mà nhóm tác giả đề xuất.

     

    Đối tượng khảo sát của nghiên cứu bao gồm: (i) các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hoạt động tại khu vực biên giới được khảo sát và nằm trong danh sách được Bộ Công thương phê duyệt; (ii) các cán bộ quản lý cấp địa phương làm việc tại các Sở, ban ngành ở các tỉnh được khảo sát. Quy mô mẫu điều tra khảo sát tại Cao Bằng là 144 phiếu. Đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm: Cán bộ quản lý cấp Bộ, ngành Trung ương và cán bộ quản lý cấp địa phương (UBND tỉnh, Ban quản lý Khu kinh tế, Sở Công Thương, Cục Hải quan, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải, bộ đội biên phòng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Khoa học Công nghệ, Sở Ngoại vụ).

     

    Với dữ liệu thu thập được từ khảo sát, nhóm tác giả đã tiến hành mã hóa, làm sạch và nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS (cùng với số liệu của 5 tỉnh khác được khảo sát). Nhóm tác giả cũng đã tiến hành kiểm định để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (Explanatory Factor Analysis – EFA) nhằm rút gọn các biến quan sát tạo thành một tập biến các nhân tố có ý nghĩa hơn. Điểm cho mỗi cấu phần được tính dựa theo đánh giá của các đối tượng được khảo sát và phỏng vấn. Các đối tượng khảo sát được yêu cầu đánh giá các cấu

    phần theo thang đo Likert 5 mức độ từ Rất không tốt (1) tới Rất tốt (5). Điểm của mỗi cấu phần sau đó được tính toán theo phương pháp trung bình giản đơn của tất cả các biến quan sát, thể hiện đánh giá của người được khảo sát về mức độ sẵn sàng của cấu phần đó trong việc hình thành CBEZ.

     

    3.   Đánh giá điều kiện hình thành CBEZ tại tỉnh Cao Bằng

     

    Tháng 6/2008, CBEZ Trà Lĩnh (Cao Bằng)

     

    • Long Bang (Quảng Tây) được hai nước đồng ý đưa vào quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc. Trong đó, đối với tỉnh Cao Bằng, KKTCK Cao Bằng dự kiến sẽ trở thành một phần quan trọng của đề xuất CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. KKTCK Cao Bằng được thành lập vào năm 2014 và đã trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Ở KKTCK Cao Bằng, cửa khẩu Trà Lĩnh là một trung tâm kết nối các hoạt động thương mại của Cao Bằng và Quảng Tây. Trong những năm gần đây, Cao Bằng đã tích cực chuẩn bị cho việc thành lập CBEZ trong tương lai thông qua một loạt các hoạt động (Hình 1).

    Theo kết quả điều tra khảo sát, Cao Bằng đã có sự chuẩn bị tốt nhất cho “Khu dịch vụ logistics” với số điểm 3,67, tiếp theo là “Chính sách ưu đãi” và “Khu vực thương mại” với số điểm 3,66 cho mỗi nhóm điều kiện (Hình 1). Các doanh nghiệp tham gia điều tra khảo sát cũng đánh giá Cao Bằng đã thực hiện tương đối tốt với nhóm “Điểm cửa khẩu tiên tiến”. Trong khi đó, sự chuẩn bị của tỉnh Cao Bằng được đánh giá là thấp nhất đối với nhóm điều kiện

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    “Kết nối hạ tầng hiện đại”. Mức điểm chi tiết của từng nhóm yếu tố được thể hiện trong Bảng 2.

     

     

     

    Hình 1. Điểm đánh giá 8 nhóm điều kiện cụ thể của

    tỉnh Cao Bằng.

     

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát.

     

    Bảng 2. Điểm chi tiết 8 nhóm điều kiện cụ thể của tỉnh Cao Bằng

     

     

    Chỉ tiêu

    Điểm

     

    Điểm cửa khẩu tiên tiến (AB)

    3,64

     

    AB1

    3,51

     

    AB2

    3,66

     

    AB3

    3,63

     

    AB4

    3,49

     

    AB5

    3,65

     

    AB6

    3,60

     

    AB7

    3,78

     

    AB8

    3,82

     

    Kết nối hạ tầng hiện đại (MC)

    2,45

     

    MC1

    3,54

     

    MC2

    3,57

     

    MC3

    1,07

     

    MC4

    1,07

     

    MC5

    3,74

     

    MC6

    3,37

     

    MC7

    3,55

     

    MC8

    1,07

     

    MC9

    1,07

     

    Khu vực thương mại (TA)

    3,66

         
     

    TA1

    3,73

     

    TA2

    3,66

     

    TA3

    3,58

     

    TA4

    3,62

     

    TA5

    3,70

     

    Khu vực doanh nghiệp (EA)

    3,52

     

    EA1

    3,53

     

    EA2

    3,54

     

    EA3

    3,47

     

    EA4

    3,54

     

    EA5

    3,53

         
     

    Khu vực dịch vụ logistics (LA)

    3,67

         
     

    LA1

    3,72

     

    LA2

    3,76

     

    LA3

    3,84

     

    LA4

    3,47

     

    LA5

    3,62

     

    LA6

    3,60

         
     

    Các chính sách ưu đãi (PP)

    3,66

         
     

    PP1

    3,70

     

    PP2

    3,61

     

    PP3

    3,74

     

    PP4

    3,72

     

    PP5

    3,55

     

    PP6

    3,61

     

    PP7

    3,70

         
     

    Cơ chế quản lý hợp tác chung (BC)

    3,10

         
     

    BC1

    2,59

     

    BC2

    2,71

     

    BC3

    2,49

     

    BC4

    2,12

     

    BC5

    2,13

     

    BC6

    3,79

     

    BC7

    3,78

     

    BC8

    3,91

     

    BC9

    3,62

     

    BC10

    3,52

     

    BC11

    3,42

     

    Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi

    3,29

     

    giá trị và mạng lưới khu vực (EP)

     
     

    EP1

    3,15

     

    EP2

    3,21

     

    EP3

    3,34

     

    EP4

    3,31

     

    EP5

    3,45

         

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát.

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    7

    3.1. Điểm cửa khẩu tiên tiến

     

    Kết quả điều tra khảo sát cho thấy các doanh nghiệp tương đối hài lòng với hoạt động tại các cửa khẩu ở Cao Bằng (3,64 điểm). Đây là nhóm có điểm số đứng thứ 4 trong 8 nhóm yếu tố. Cục Hải quan Cao Bằng đã triển khai VNACCS/VCIS từ năm 2005, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm thời gian và thủ tục xuất nhập khẩu. Do đó, các doanh nghiệp hầu như không có vướng mắc về các thủ tục hải quan. Mục tiêu trong thời gian tới của tỉnh là đảm bảo hàng nhập khẩu thông quan dưới 41 giờ, hàng xuất khẩu dưới 36 giờ. Sự hài hòa giữa giờ làm việc và thủ tục hải quan giữa Việt Nam và Trung Quốc (AB8) cũng được các doanh nghiệp khảo sát đánh giá cao. Điểm thấp nhất trong nhóm yếu tố này là thanh toán điện tử (AB4) và kho ngoại quan (AB1).

     

    3.2. Kết nối hạ tầng hiện đại

     

    Mặc dù tỉnh Cao Bằng đã có nhiều nỗ lực để nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng, đây là nhóm điều kiện được đánh giá có điểm thấp nhất (2,45 điểm) trong 8 nhóm.

     

    Về cơ sở hạ tầng kết nối thông suốt giữa Cao Bằng và thị trường trong nước (từ MC1 đến MC5), tỉnh đã ưu tiên tập trung đầu tư 80% nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng KKTCK Trà Lĩnh. Tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng từ năm 2011 đến 2016 đạt trên 603 tỷ đồng và được bố trí cho 44 dự án. Một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào khai thác như đường tỉnh lộ 205 cũ (nay là Quốc lộ 34 kéo dài), hệ thống đường giao thông vào khu vực các cửa khẩu, đường vào lối mở Nà Đoỏng (cửa khẩu Trà Lĩnh). Với những nỗ lực trên, các doanh nghiệp đánh giá kết nối hạ tầng đường bộ giữa Cao Bằng với thị trường trong nước ở mức điểm cao nhất trong nhóm điều kiện Kết nối hạ tầng hiện đại với điểm tương ứng cho MC1, MC2 và MC5 tương ứng là 3,54; 3,57 và 3,74.

     

    Về cơ sở hạ tầng kết nối thông suốt giữa tỉnh Cao Bằng và thị trường của Trung Quốc (từ MC6 đến MC9), trong thời gian qua, tỉnh Cao Bằng và Khu tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc đã nỗ lực trao đổi, thảo luận

     

    về việc kết nối hạ tầng về giao thông giữa hai bên. Các nỗ lực được ghi nhận gồm: (i) Ngày 16/3/2011 tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc về thúc đẩy phát triển vận tải hàng hóa, hành khách đường bộ quốc tế; (ii) Ngày 27/6/2011 tại thị xã Cao Bằng nay là thành phố Cao Bằng, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về thông tuyến vận tải ô tô quốc tế song phương giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (iii) Ngày 01/3/2012 tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về vận tải đường bộ quốc tế giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (iv) Ngày 27/8/2012 tại thị xã Cao Bằng nay là thành phố Cao Bằng, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về việc thông tuyến vận tải ô tô quốc tế song phương giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (v) Ngày 08/7/2015, hai bên đã ký Biên bản ghi nhớ về vấn đề giao thông vận tải giữa Đoàn đại biểu Giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng và Đoàn đại biểu Giao thông vận tải thành phố Bách Sắc. Trên thực tế, tỉnh Cao Bằng và phía Trung Quốc đã tổ chức thi công đấu nối trung tâm lưu thông trung chuyển hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc tại lối mở Nà Đoỏng. Đây là hạng mục kết nối đầu tư của CBEZ thí điểm Trà Lĩnh

     

    • Long Bang để thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu. Ngày 18/7/2013, hai bên đã hợp tác tổ chức Lễ thông tuyến vận tải hành khách, hàng hóa đường bộ quốc tế Cao Bằng, Việt Nam – Bách Sắc, Trung Quốc và tuyến du lịch biên giới Cao Bằng, Việt Nam – Tịnh Tây, Bách Sắc, Trung Quốc. Với những nỗ lực trên, các doanh nghiệp đã đánh giá kết nối giao thông đường bộ giữa Cao Bằng và Trung Quốc với số điểm là 3,37 cho MC6 và 3,55 cho MC7.

    Tuy nhiên, đây là nhóm điều kiện có điểm thấp nhất trong 8 nhóm, chỉ đạt 2,45. Trên thực tế, tiềm năng kết nối Cao Bằng với Quảng Tây và Bách Sắc nói riêng và với thị trường ASEAN nói chung là một trong những yếu tố quyết định chính thúc đẩy Việt Nam xây dựng thí điểm CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Hiện tại,

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới đường cao tốc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó có tuyến đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) – Trà Lĩnh (Cao Bằng). Khi đường cao tốc này hoàn thành kết hợp với CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang, hàng hóa từ thị trường nội địa của Việt Nam sẽ nhanh chóng tiếp cận thị trường Trung Quốc và ASEAN, tạo ra động lực mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội của Cao Bằng nói riêng và Việt Nam nói chung cũng như hình thành kết nối sản xuất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, mặc dù với những tiềm năng và cơ hội do CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang mang lại như trên, kết nối cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng với số điểm 2,45 được đánh giá là thấp nhất trong 8 nhóm điều điện. Kết quả khảo sát cho thấy do đặc điểm địa hình miền núi phức tạp, Cao Bằng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong kết nối giao thông không chỉ trong nội bộ tỉnh mà còn với cả nước, đặc biệt là các cảng lớn của đất nước. Mặc dù Cao Bằng dự kiến sẽ phát triển trở thành điểm trung chuyển, nhưng hiện tại kênh giao thông duy nhất giữa Cao Bằng và thị trường nội địa là đường bộ và hầu hết trong số đó là đường cấp thấp. Các tuyến đường kết nối giữa cửa khẩu Trà Lĩnh đến trung tâm Cao Bằng và các tỉnh quan trọng phía Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Nội và Lạng Sơn đang bị xuống cấp. Việc lưu thông các xe container trọng tải lớn từ Lạng Sơn đến Cao Bằng khó khăn và mất an toàn lưu thông. Toàn hệ thống quốc lộ trên địa bàn tỉnh có chất lượng mặt đường loại tốt 302,7km, chiếm 44,0%; khá và trung bình 386,0km, chiếm 56,0%. Chất lượng mạng lưới đường nội bộ của tỉnh còn thấp, nhìn chung chưa đạt chất lượng kỹ thuật vì trong quá trình thiết kế và thi công còn nhiều hạn chế về các yếu tố kỹ thuật. Diện tích đường nhỏ hẹp, kết cấu mặt đường xấu, nhiều tuyến đường chưa được nâng cấp rải nhựa hoặc xuống cấp nhiều. Việc giao thông liên vùng, chuyên chở hàng hóa khối lượng lớn, đặc biệt hàng hóa xuất nhập khẩu không hiệu quả, không tạo được sức hấp dẫn, thu hút hàng hóa đi/đến/chuyển tải qua khu vực. Do đó, kết nối cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng còn kém phát triển và được các doanh nghiệp đánh giá là

     

    có chất lượng thấp nhất so với các tỉnh thí điểm CBEZ khác tại Việt Nam.

     

    Bên cạnh đó, việc kết nối hạ tầng cứng giữa Cao Bằng và phía Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới có sự đầu tư vào hạ tầng giao thông từ phía Trung Quốc, dẫn đến sự bất đối xứng trong giao thông giữa cửa khẩu Việt Nam và Trung Quốc, từ đó cản trở dòng thương mại và đầu tư tại các cửa khẩu giữa hai bên. Trung Quốc là quốc gia có lợi thế về vốn đầu tư và khả năng tự chủ tài chính. Việc Chính phủ Trung Quốc thực hiện chiến lược đại khai phá miền Tây, thành lập và triển khai Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây là cơ hội đem đến cho Quảng Tây nguồn vốn đầu tư rất lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế. Do đó, đối với Khu cửa khẩu Long Bang (Bách Sắc, Quảng Tây), hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng cứng đã được đẩy nhanh. Trung Quốc đã khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc nối từ huyện Tịnh Tây đến cửa khẩu Long Bang với chiều dài khoảng 30km và nối vào hệ thống đường cao tốc của quốc gia. Sau khi tuyến đường cao tốc này được hoàn thành thì từ cửa khẩu Long Bang (đối diện cửa khẩu Trà Lĩnh) đi các tỉnh, thành của Trung Quốc sẽ được kết nối thông qua hệ thống đường cao tốc. Đây sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc qua cửa khẩu Trà Lĩnh, nhất là mặt hàng nông sản. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nghiên cứu để xây dựng thêm đường sắt nối đến cửa khẩu Long Bang. Hiện nay, Trung Quốc không chỉ bỏ vốn đầu tư đối với hành lang giao thông của Việt Nam, mà còn chú trọng đầu tư hành lang giao thông đường bộ và đường sắt với các nước tiểu vùng sông Mê Kông (GMS). Nếu Việt Nam không kết nối được với hệ thống giao thông của khu vực theo hướng Đông – Tây (bao gồm các tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang đến cảng Hải Phòng hay nối trục với đường Hồ Chí Minh) thì với sự phát triển nhanh chóng của Myanmar, Lào, Thái Lan… sẽ làm giảm lợi thế của Việt Nam do các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Trung Quốc sẽ lựa chọn tuyến hành lang giao thông mới này để tiếp cận dễ dàng hơn với cảng biển, kéo theo việc giảm lượng hàng hóa đáng kể đi qua các

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    9

    cửa khẩu tại biên giới Việt Nam. Nếu tình huống đó xảy ra, Việt Nam có thể sẽ nằm ngoài mạng lưới giao thông mới do Trung Quốc và các nước GMS thiết lập; các tỉnh khó khăn như Cao Bằng sẽ bị “bỏ rơi” và lợi thế về cửa khẩu biên giới sẽ giảm sút đáng kể. Thực tế cho thấy kết nối hạ tầng giữa Cao Bằng với Trung Quốc vừa là điều kiện, vừa là yếu tố thúc đẩy hình thành CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Do đó, với những khó khăn trong kết nối cơ sở hạ tầng, thời gian tới Cao Bằng cần nỗ lực cải thiện nhóm yếu tố này.

     

    3.3. Khu vực thương mại

     

    Nhóm điều kiện “Khu vực thương mại” đạt được số điểm 3,66, trong đó các doanh nghiệp cho điểm cao nhất với tiêu chí “Chợ thương mại biên giới” (TA1) và “Phát triển du lịch qua biên giới” (TA5). Những thách thức đối với Cao Bằng trong việc phát triển khu thương mại nằm chủ yếu ở sự yếu kém của dịch vụ tài chính ngân hàng (TA2), hiệu quả hoạt động thấp của các cửa hàng miễn thuế (TA3) và trung tâm triển lãm quốc tế (TA4).

     

    Cao Bằng đã hoàn thành xây dựng trung tâm mua sắm Trà Lĩnh và ưu tiên phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại. Tuy nhiên, đa số các trung tâm thương mại, siêu thị trong KKTCK tỉnh Cao Bằng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng và hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Hệ thống chợ trong toàn tỉnh, nhất là các chợ biên giới hầu như chưa đạt tiêu chí “chợ” trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hoạt động dịch vụ tại KKTCK phát triển chậm. Tình trạng yếu kém của các nhà hàng, khách sạn, thiếu các dịch vụ tài chính, tín dụng, bưu chính viễn thông… làm cho hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế tại KKTCK chưa đáp ứng được yêu cầu.

     

    Một trong những thành tựu nổi bật của Cao Bằng là tích cực hợp tác với Quảng Tây để phát triển khu du lịch qua biên giới thông qua rất nhiều chương trình du lịch giữa hai tỉnh. Tháng 4/2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng đón Đoàn đại biểu Cục Du lịch thành phố Bách Sắc sang thăm, khảo sát, hội đàm và ký Bản ghi nhớ về hợp tác khai thông tuyến du lịch biên giới từ Tịnh Tây, Bách Sắc tới Cao Bằng.

     

    Hai bên thống nhất xây dựng chương trình tour du lịch biên giới 2 ngày, 1 đêm; chỉ định đơn vị lữ hành quốc tế có đủ năng lực tham gia “Liên minh Du lịch Quốc tế Cao Bằng, Việt Nam – Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc” là Công ty Cổ phần Du lịch Cao Bằng, Việt Nam và Liên minh Du lịch miền Tây, Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 18/7/2013, hai bên đã hợp tác tổ chức Lễ thông tuyến du lịch biên giới Cao Bằng, Việt Nam – Tịnh Tây, Bách Sắc, Trung Quốc. Ngày 26/4/2016, hai bên ký kết Bản ghi nhớ giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng và Huyện ủy Long Châu, Quảng Tây về hợp tác chương trình du lịch đỏ về xe tự lái từ Pác Bó, Cao Bằng, Việt Nam đến Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc. Hai bên cũng đã chủ động thúc đẩy các hoạt động triển khai Kế hoạch tổ chức thực hiện Hiệp định Hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Việt Nam) – Đức Thiên (Trung Quốc), đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1806/QĐ-TTg. Tuy nhiên, mặc dù du lịch là một lợi thế của Cao Bằng, số lượng khách du lịch đến Cao Bằng vẫn còn ít, thời gian lưu trú của khách du lịch còn ngắn, tỷ lệ khách quay lại chưa cao do hạn chế về sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng và giao thông kém.

     

    3.4. Khu vực doanh nghiệp

     

    “Khu vực doanh nghiệp” tại Cao Bằng bị đánh giá là kém phát triển, xếp thứ 5 trong 8 nhóm yếu tố và đạt 3,52 điểm. Trong nhóm điều kiện này, sự chuẩn bị thấp nhất của Cao Bằng nằm ở khía cạnh “Phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao” (EA3).

     

    Hiện nay, khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh là Khu công nghiệp Đề Thám. Khu công nghiệp này chủ yếu hoạt động về các lĩnh vực cơ khí như công nghiệp chế tạo cơ khí chính xác, công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, công nghiệp hàng tiêu dùng (dệt may, giày dép, gốm sứ…) và một số ngành công nghiệp khác như sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, bao bì, lắp ráp chế tạo phụ tùng ô tô xe máy, công nghiệp chế biến nông lâm sản. Tỉnh cũng đang đầu tư một dự án để phát triển Khu công nghiệp Chu Trinh với các hạng mục liên quan đến đường vào và khu xử lý nước thải đang được

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    triển khai [10]. Nhìn chung, tỉnh chưa chú trọng phát triển các khu doanh nghiệp, thiếu các vườn ươm doanh nghiệp và các khu công nghệ cao để thúc đẩy sự sáng tạo của doanh nghiệp.

     

    3.5. Khu vực dịch vụ logistics

     

    “Khu vực dịch vụ logistics” được các doanh nghiệp đánh giá là nhóm điều kiện phát triển nhất ở Cao Bằng hiện nay so với 7 nhóm điều kiện còn lại với số điểm là 3,67. Trong các chỉ số của nhóm điều kiện này, “Dịch vụ kho bãi” (LA3), “Dịch vụ hải quan” (LA1) và “Dịch vụ vận tải, bốc xếp hàng hóa tại cửa khẩu” (LA2) được xếp hạng cao nhất. “Dịch vụ logistics tích hợp tại cửa” (LA5) và “Hệ thống kho bãi” (LA4) có điểm thấp nhất.

     

    Trong những năm gần đây, Cao Bằng đã chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kho bãi như kho hàng hóa, kho ngoại quan, kho đông lạnh và trung tâm lưu thông hàng hóa. Hiện tại Cao Bằng có 32 dự án đầu tư kho bãi tại các khu vực cửa khẩu, trong đó có 17 dự án đang hoạt động để cung ứng các loại hình dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu. Dự án kho ngoại quan, kho đông lạnh cũng đã được các doanh nghiệp đầu tư đồng bộ tại khu vực cửa khẩu và đi vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận, lưu giữ hàng hóa tại cửa khẩu. Các dự án còn lại đang trong quá trình triển khai dự án đầu tư theo tiến độ đã cam kết. Tỉnh cũng đang tiếp tục triển khai hoàn thiện các dự án kho hàng hóa tại lối mở Nà Đoỏng, Nhà trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu và hệ thống hạ tầng cửa khẩu. Phía Long Bang (Trung Quốc) cũng đang xây dựng các khu kiểm dịch và kho chứa hàng đông lạnh cùng đội ngũ quản lý và điều hành. Riêng tại cửa khẩu Trà Lĩnh đã có 9 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 1.000 tỷ đồng, đã có 4 dự án đi vào hoạt động gồm: Kho ngoại quan, Địa điểm kiểm tra hàng hóa biên giới, Kho tập kết hàng hóa và Chợ gia súc. Một số dự án đang làm thủ tục đầu tư như Cảng cạn quốc tế ICD (20 ha), Cấp nước sạch cửa khẩu Trà Lĩnh (theo hình thức PPP), Trung tâm trung chuyển hàng hóa.

     

    Tỉnh Cao Bằng đã tiến hành cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty Cổ phần Đầu tư vận tải biển và thương mại Sao Vàng (Việt Nam)

     

    đầu tư dự án Trung tâm trung chuyển hàng hóa thương mại và gia công chế biến nông, lâm, thủy hải sản xuất khẩu Sao Vàng tại KKTCK Trà Lĩnh với tổng mức đầu tư là 298,214 tỷ đồng, diện tích sử dụng đất khoảng 69 ha. Hiện nay, chủ đầu tư đang phối hợp với chính quyền địa phương đưa ra phương án giải phóng mặt bằng và triển khai lập quy hoạch chi tiết tổng mặt bằng dự án cũng như gấp rút đưa dự án đi vào triển khai. Khu trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu Trà Lĩnh được xây dựng để tập trung hàng hóa, giải quyết tình trạng ách tắc đối với hoạt động xuất – nhập tại cửa khẩu, nhất là đối với hàng hóa nông sản xuất khẩu. Tỉnh đề ra mục tiêu xây dựng Khu trung chuyển hàng hóa với hạ tầng đồng bộ, hiện đại đáp ứng được nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa là nông lâm sản, thủy hải sản qua cửa khẩu Trà Lĩnh; là trung tâm tiếp nhận, tái chế, đóng gói, bảo quản, giao dịch mua bán; là nơi kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu, thông quan các thủ tục về kiểm dịch, hải quan… Hàng hóa được hải quan kiểm tra một lần tại đây, được công nhận hải quan và giao hàng tại Bách Sắc. Ngoài ra, Khu trung chuyển hàng hóa còn gắn kết thêm các loại hình công trình dịch vụ để phục vụ các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa như: Khu nhà ở và văn phòng cho thuê, khu dịch vụ vận tải, khu giới thiệu sản phẩm…

     

    Về hệ thống cảng cạn, đến nay đã có 2 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư để thực hiện. Công ty Cổ phần Interserco VCI được cấp giấy chứng nhận đầu tư thực hiện dự án Xây dựng Trung tâm Logistics tại huyện Trà Lĩnh để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa trong giai đoạn tới và góp phần hình thành cơ sở hạ tầng đồng bộ của CBEZ. Công ty Cổ phần Đầu tư thương mại và dịch vụ quốc tế được cấp giấy chứng nhận thực hiện dự án Xây dựng Khu trung chuyển dịch vụ xuất nhập khẩu tại huyện Trà Lĩnh. Mỗi dự án có vốn đăng ký khoảng 3,2 nghìn tỷ đồng, quy mô sử dụng đất khoảng trên 50 ha. Tỉnh còn có 2 dự án đầu tư xây dựng cảng cạn ICD vào giai đoạn 2 của dự án với khoản đầu tư mỗi dự án trên 2,2 nghìn tỷ đồng và hiện nay đã bắt đầu triển khai thi công.

     

    Với những nỗ lực trong việc phát triển các hoạt động logistics, nhóm điều kiện về Khu vực

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    11

    dịch vụ logistics của tỉnh Cao Bằng được các doanh nghiệp đánh giá cao nhất trong 8 nhóm. Tuy nhiên, theo phản hồi của các doanh nghiệp được khảo sát, dịch vụ logistics tại các cửa khẩu của tỉnh vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và hoạt động với chi phí cao. Chất lượng hoạt động dịch vụ logistics tại KKTCK còn thấp ở tất cả các khâu như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng… Trên thực tế, thông tin về thị trường còn hạn chế, các hoạt động xúc tiến thương mại chưa chuyên nghiệp và việc phổ biến các chính sách phát triển kinh tế chưa được tỉnh quan tâm đúng mức, từ đó hạn chế thu hút các nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh trong KKTCK.

     

    3.6. Các chính sách ưu đãi

     

    “Các chính sách ưu đãi” được đánh giá cao thứ hai với số điểm là 3,66. Các doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đã nhận được các ưu đãi khác nhau khi hoạt động tại KKTCK Cao Bằng như chính sách liên quan đến xuất nhập cảnh” (PP3), thuê đất (PP4), thuế thu nhập (PP1), thuế xuất nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (PP2), ưu đãi về tài chính tín dụng ( PP6).

     

    Hiện nay, do CBEZ nằm trong KKTCK của tỉnh theo Quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập KKTCK Cao Bằng nên được áp dụng ưu đãi theo một số chính sách chủ yếu sau: (i) Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg ngày 26/11/2013 quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với KKTCK; (ii) Chính sách ưu đãi về sử dụng đất đai theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật đầu tư; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

     

    • Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, theo đánh giá của các doanh nghiệp, vẫn còn thiếu các ưu đãi đặc thù cho các doanh nghiệp hoạt động tại CBEZ và có rất ít các ưu đãi riêng của tỉnh.

    3.7. Cơ chế quản lý hợp tác chung

     

    Xây dựng một cơ chế quản lý chung là thách thức lớn đối với Cao Bằng trong việc phát triển CBEZ. Nhóm điều kiện này đạt số điểm là 3,10, xếp thứ 7 trong số 8 nhóm điều kiện điều tra. Theo đánh giá của doanh nghiệp, Cao Bằng và Quảng Tây đã phát triển nhiều hoạt động hợp tác quản lý về hải quan (BC8), xuất nhập cảnh (BC6) và kiểm tra biên phòng (BC7). Tuy nhiên, sự hợp tác giữa hai bên còn yếu trong việc xây dựng các chính sách du lịch chung (BC4) và thành lập một cơ quan quản lý chung (BC5).

     

    Trong những năm qua, Cao Bằng và Quảng Tây luôn giữ mối quan hệ láng giềng hữu nghị, ổn định, hợp tác giao lưu trên nhiều lĩnh vực như: mở, xây dựng và nâng cấp các cặp cửa khẩu, cặp chợ biên giới; hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, nông lâm nghiệp, văn hóa, giáo dục, du lịch; tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và kết nối giao thông, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm qua biên giới… Cao Bằng và Quảng Tây đã ký một số thỏa thuận khung để thúc đẩy thương mại, đầu tư, giao thông, du lịch, nông nghiệp và giáo dục. Đến năm 2015, hai bên đã ký 9 thỏa thuận về tăng cường thực hiện hợp tác toàn diện. Lãnh đạo Cao Bằng và Quảng Tây cũng đã có những hoạt động giao ban để tháo gỡ các khó khăn, tổ chức hội thảo quốc tế, hội nghị kết nối thương nhân giữa hai nước. Đặc biệt, từ năm 2015 đến nay, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng và Ban quản lý Khu thực nghiệm cải cách mở cửa dọc biên giới thành phố Bách Sắc đã duy trì cơ chế hội đàm định kỳ 4 lần/năm để thống nhất nội dung về quy hoạch các lĩnh vực đầu tư, đầu nối hạ tầng, công tác kiểm tra giám sát dịch vụ trong CBEZ.

     

    Tuy nhiên, việc thành lập CBEZ đòi hỏi sự nghiêm ngặt về các chính sách và cơ chế chung thay vì chỉ đơn thuần có những hoạt động hợp tác tại biên giới. Trên thực tế, do CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang chưa chính thức được phê duyệt ở cấp chính phủ nên thiếu khung pháp lý để Cao Bằng và Quảng Tây phát triển một cơ quan và chính sách chung để điều hành CBEZ trong tương lai. Một khó khăn khác là sự phối

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    hợp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc xây dựng CBEZ còn ở mức độ thấp, trong đó Cao Bằng dựa chủ yếu vào các chính sách của Trung Quốc và cố gắng theo kịp các thay đổi chính sách và trọng tâm phát triển của Quảng Tây, dẫn đến định hướng phát triển kinh tế không bền vững cho Cao Bằng. Ví dụ: Cửa khẩu Tà Lùng đã được công nhận là cửa khẩu quốc tế ở phía Việt Nam nhưng chưa được Chính phủ Trung Quốc công nhận. Đến năm 2010, Việt Nam lại xác định cửa khẩu Trà Lĩnh là trọng điểm chủ yếu do quan điểm từ phía Trung Quốc. Qua hội đàm, tỉnh Cao Bằng cũng đề nghị tạo điều kiện cho các mặt hàng của Việt Nam qua Trung Quốc nhưng Trung Quốc thường tránh không bàn đến vấn đề này.

     

    3.8. Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới khu vực

     

    Sự tham gia của các doanh nghiệp hoạt động tại Cao Bằng vào chuỗi giá trị và mạng lưới khu vực ở mức thấp. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp và nhà cung cấp cũng như khách hàng đều rất yếu. Một trong những lý do lý giải cho sự tham gia thấp này là các doanh nghiệp ở Cao Bằng chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ với năng lực thấp về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực. Chỉ có một số doanh nghiệp hoạt động tại Cao Bằng có đóng góp về thuế cho địa phương. Hiện nay có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động thường xuyên trên địa bàn Cao Bằng nhưng cũng có chỉ có khoảng 30-50 doanh nghiệp của Cao Bằng, trong đó có khoảng 10 doanh nghiệp Cao Bằng đóng góp ngân sách thường xuyên cho tỉnh. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Cao Bằng với các doanh nghiệp trong cả nước để đẩy mạnh xuất khẩu còn nhiều hạn chế.

     

    4.   Kết luận

     

    Cao Bằng đã nỗ lực triển khai nhiều hoạt động để chuẩn bị cho sự hình thành CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Theo đánh giá, “Khu dịch vụ logistics” được chuẩn bị tốt nhất, tiếp theo là “Chính sách ưu đãi” và “Khu vực thương mại”. Ngược lại, doanh nghiệp đánh giá thấp nhất về

     

    sự chuẩn bị của Cao Bằng đối với nhóm điều kiện “Cơ chế quản lý hợp tác chung” và “Kết nối hạ tầng hiện đại”. Như vậy, để có thể hiện thực hóa CBEZ, tiến tới thuận lợi hóa hơn nữa thương mại và đầu tư, phát triển khu vực biên giới như một mắt xích kết nối với thị trường Trung Quốc, hai điểm quan trọng mà Cao Bằng cần đầu tư là cơ sở hạ tầng kết nối với trong và ngoài nước và hệ thống cơ chế hợp tác hài hòa với Trung Quốc.

     

    Trên thực tế, kết nối hạ tầng giao thông của Cao Bằng với nội địa còn khá khó khăn, tuy nhiên, kết nối từ Long Bang tới thành phố lớn của Trung Quốc là Bách Sắc lại rất thuận lợi. Định hướng của Trung Quốc là xây dựng thành phố Bách Sắc thành thành phố trọng điểm của Trung Quốc và ASEAN. Đây là thành phố có mạng lưới giao thông tốt, hàng ngày có khoảng 10-12 toa tàu vận chuyển hàng đông lạnh đi khắp Trung Quốc. Bách Sắc cũng có vị trí thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp khoảng 30% sản phẩm nông nghiệp cho Trung Quốc. Để kết nối với thành phố Bách Sắc thì đi qua Cao Bằng là ngắn nhất. Nếu Cao Bằng kết nối được với Bách Sắc thì sẽ giúp Cao Bằng trở thành nơi cung cấp hàng nông sản cho Bách Sắc, từ đó đi sang các nước ASEAN khác, giúp các doanh nghiệp Cao Bằng kết nối được với mạng lưới doanh nghiệp trong nước cũng như khu vực, đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi giá trị khu vực.

     

    Cơ chế hợp tác quản lý hài hòa với tỉnh biên giới nước láng giềng không chỉ được cần chú trọng ở Cao Bằng mà còn ở hầu hết các tỉnh khác có chung đường biên giới với Trung Quốc. Do đó, điều quan trọng là cần có sự triển khai hợp tác biên giới thông qua các thỏa thuận cụ thể và minh bạch, vừa hỗ trợ thúc đẩy thương mại và đầu tư, vừa hạn chế những hoạt động mang tính tự phát, gây bất ổn cho việc quản lý ở khu vực biên giới.

     

    Lời cảm ơn

     

    Bài viết nằm trong khuôn khổ Đề tài KX.01.09/16-20 “Luận cứ khoa học cho sự hình thành và phát triển các Khu kinh tế xuyên biên giới ở Việt Nam”.

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    13

    Tài liệu tham khảo

    Indonesia-Malaysia-Thailand   Growth

    Triangle

     

    (IMT-GT), 2014.

     
    • UBND Tỉnh Cao Bằng, Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2018, Cao Bằng: UBND Tỉnh Cao Bằng, 2008a.
    • UBND Tỉnh Cao Bằng, Tình hình kinh tế -xã hội, định hướng, chính sách phát triển tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng: UBND Tỉnh Cao Bằng, 2018b.
    • Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Minh Phương, Hợp tác thương mại biên giới: Kinh nghiệm của Mỹ – Mexico và một số gợi ý đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Chiến lược. Số 6, 6(2018).
    • Nguyễn Kiên Cường, Bài trình bày tại Hội thảo quốc tế “Cơ sở lý thuyết cho việc hình thành và phát triển các Khu kinh tế qua biên giới tại Việt Nam”, Cao Bằng, tháng 10/2017.
    • Nguyễn Anh Thu, Vũ Thanh Hương, Sự phát triển của các Khu kinh tế cửa khẩu tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á. Số 7 (220) (2018) 30-38.
    • Lord, P. Tangtrongjita, Scoping Study for the Special Border Economic Zone (SBEZ) in the

    e

    e

     

    • Lalkaka, Nguyen Quan, Y. Xiaohui, Lộ trình Khu Kinh tế xuyên biên giới, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, ADB, 2011.
    • L. Wallack,  W.  Zhaohui,  Nguyen  Anh  Thu,

    Phát triển thể chế và Tăng cường năng lực, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt

     

    Nam, ADB, 2011.

     

    • Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Thanh Mai, Mô hình khu hợp tác kinh tế biên giới và một số gợi mở, Tạp chí những vấn đề Kinh tế chính trị thế giới. Số 6 (2017) 29-40.
    • Lô Minh Tuyên, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp đầu xuân Mậu Tuất năm 2018, Truy cập

    ngày 10/9/2018 tại http://banqlkkt.caobang.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/ban-quan-ly-khu-kinh-te-tinh-cao-bang-to-chuc-hoi-nghi-gap-mat-cac-doanh-nghiep-dau-xuan-mau-tuat-nam-2018-144.html.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-N%C3%82NG-CAO-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-V%E1%BB%80-V%E1%BA%ACN-T%E1%BA%A2I-%C4%90A-PH%C6%AF%C6%A0NG-TH%E1%BB%A8C-TR%C3%8AN-H%C3%80NH-LANG-H%E1%BA%A2I-PH%C3%92NG-H%C3%80-N%E1%BB%98I-L%C3%80O-CAI-C%C3%94N-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

     

    SOME SOLUTIONS TO IMPROVE STATE ADMINISTRATION OF MULTIMODAL TRANSPORT ON THE CORRIDOR HAIPHONG – HANOI – LAOCAI – CONMINH

     

    PGS.TS. NGUYỄN HỒNG VÂN

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Vận tải đa phương thức (VTĐPT) ra đời mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Hành lang VTĐPT Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh (Trung Quốc) phù hợp cho việc áp dụng mô hình VTĐPT đường sắt – đường bộ – đường biển. Tuyến hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh là một bộ phận quan trọng trong khu vực tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN. Trong thời gian qua, mặc dù đã có một số chính sách cụ thể hóa (VTĐPT, logistics,…) của Nhà nước nhưng trong công tác triển khai vẫn còn chậm, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đất nước. Với lý do trên, nghiên cứu Quản lý Nhà nước về VTĐPT trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh là cần thiết và cấp bách để phát triển VTĐPT ở các tỉnh Miền Bắc của nước ta.

     

    Abstract

     

    Multimodal Transport (VTĐPT) brings many benefits to the parties involved. The Haiphong – Hanoi – Lao Cai – ConMinh (China) Multimodal Transport Corridor is suitable for applying the mode of Multimodal Transport by rail – road – sea. This economic Corridor is an important part of a free trade area of China – ASEAN. In recent years, although there have been a number of specific Stage policies about Multimodal Transport, Logistics,….the work is still under slow deployment, policy mechanism is not

     

    synchronized, affecting the economic development of the country. For this reason, it is necessary and urgent to research State Administration of Multimodal Transport on the Haiphong – Hanoi – Lao Cai – ConMinh hallway to develop Multimodal Transport in the Northern provinces of Viet Nam.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Nhận thức về tầm quan trọng của tuyến vận tải trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai

     

    • Côn Minh, Đảng, Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã thống nhất tạo sự phát triển kinh tế của hai nước thông qua chủ trương hai hành lang – một vành đai kinh tế, trong đó có tuyến hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi và hạ tầng giao thông có sẵn, hành lang này có vai trò đặc biệt trong việc kết nối các tỉnh phía Tây Trung Quốc với các nước ASEAN theo con đường ngắn nhất, khai thác lợi thế của cảng biển Hải Phòng. Hiện nay, dịch vụ vận tải đã được kết nối từ Hải Phòng tới tận Côn Minh. Bên cạnh đó, hành lang này có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh vận tải hàng hoá quốc tế và trong nước. Tuyến hành lang kinh tế này cùng với vùng tam giác kinh tế trọng điểm Quảng Ninh – Hà Nội – Hải Phòng sẽ hoàn thiện để kết nối vào vùng kinh tế Bắc Bộ, thúc đẩy khu vực này cùng cả nước tăng trưởng mạnh mẽ. Như vậy cần có chính sách nâng cao hiệu quả quản lý trên tuyến vận tải này.

    2. Nội dung

     

    Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động hàng hải, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không thuộc ngành Giao thông vận tải đều được điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành như: Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Hàng không dân dụng. Trong khi đó, loại hình vận tải đa phương thức này chưa có Luật riêng và chỉ mới chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và bất cập. Chính vì vậy, việc làm cấp thiết hiện nay là hoàn thiện khung pháp lý và các cơ chế chính sách nhằm quản lý cũng như hỗ trợ tối đa cho các hoạt động kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc nói chung và trên tuyến vận tải Hải Phòng- Hà Nội-Lào Cai- Côn Minh nói riêng.

     

    Trong các luật chuyên ngành, duy nhất chỉ có Bộ luật Hàng hải Việt Nam có một Điều (Điều 119 – Hợp đồng vận tải đa phương thức) có quy định những nội dung liên quan đến

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               105

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    vận tải đa phương thức quốc tế. Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của Điều luật này chỉ quy định về mối quan hệ, giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức vớ i người gửi hàng. Còn lại các luật chuyên ngành khác không có nội dung nào quy định về hoạt động vận tải đa phương thức, mà chỉ quy định các vấn đề liên quan đến an toàn, kết cấu hạ tầng đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ…; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường thủy nội địa…; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường sắt, đường sắt đô thị…; quản lý Nhà nước về hàng không dân dụng, cảng hàng không dân dụng, bảo đảm an toàn hàng k hông… Như vậy, giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các luật chuyên ngành chưa có “tiếng nói chung” về hoạt động vận tải đa phương thức.

     

    Về văn bản dưới luật, ở Việt Nam nói chung cũng như trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh nói riêng, những vấn đề liên quan đến vận tải đa phương thức được quy định trong một số văn bản dưới luật sau: Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức thay thế Nghị định 125/2003/NĐ-CP về vận tải đa phương thức; Nghị định 89/2011/NĐ- CP sửa đổi bổ sung Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức; Văn bản hợp nhất 03/VBHN- BGTVT năm 2013 hợp nhất Nghị định về vận tải đa phương thức do Bộ Giao thông vận tải ban hành ngày 12 tháng 07 năm 2013; Thông tư 45/2011/TT-BTC về quy định thủ tục Hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định thủ tục Hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát Hải quan, trong đó có Điều 17 hướng dẫn về thủ tục Hải quan đối với hàng hóa chuyển khẩu và Điều 19 hướng dẫn về thủ tục Hải quan đối với hàng hóa quá cảnh. Nghị định này sẽ được thay thế bằng Nghị định 08/2015/NĐ-CP Qui định chi tiết và biện pháp thi hành luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát, kiểm soát Hải quan (có hiệu lực từ 15.3.2015). Công văn 3038/TCHQ-GSQL thực hiện Thông tư 45/2011/TT-BTC; Thông tư số 08/2004/TTLT-BTM- BTC-BGTVT, ngày 17/12/2004 của 03 Bộ: Thương mại, Tài chính, Giao thông vận tải về việc hướng dẫn thực hiện dịch vụ trung chuyển hàng container tại các cảng biển Việt Nam. Thông tư này được xem là phù hợp với nhu cầu tất yếu, khách quan của thị trường và đáp ứng với nguyện vọng của các doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ này, bởi lẽ Thông tư áp dụng đối với các doanh nghiệp cảng biển và các tổ chức, cá nhân có liên quan, không giới hạn đối tượng áp dụng, mà chỉ quy định các điều kiện về cảng biển, hàng hóa, xử lý hàng hóa và thanh toán dịch vụ trung chuyển hàng container. Nếu doanh nghiệp nào, tổ chức cá nhân nào thấy đủ điều kiện là có quyền đăng ký kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng container tại cảng biển mà không cần phải xin phép. Đó là “tính mở” của Thông tư 08 đối với loại hình dịch vụ này mà trước đây bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng container đều phải xin giấy phép.

     

    Qua đánh giá các văn bản pháp quy liên quan đến vận tải đa phương thức hiện nay ở Việt Nam có thể thấy, nếu so sánh với Công ước vận tải đa phương thức quốc tế do Liên Hợp Quốc ban hành và Hiệp định khung của ASEAN về vận tải đa phương thức mà Việt Nam tham gia thì Nghị định 87/2009/NĐ-CP ở Việt Nam có qui định thêm hình thức vận tải đa phương thức nội địa. Tuy nhiên sự tách biệt giữa hai loại hình vận tải này vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi từ hai phía là doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, bởi sự tách biệt này đang gây ra một số khó khăn cho chính các doanh nghiệp vận tải trong nước so với các doanh nghiệp vận tải nước ngoài vì ngày 15/3/2010, Bộ Tài chính ban hành Công văn 3055/BTC-TCT về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vận tải quốc tế. Theo Công văn này, các hợp đồng vận tải quốc tế, bao gồm cả chặng vận tải nội địa… đều được hưởng mức thuế GTGT là 0%. Trong khi hiện nay, tất cả các hợp đồng vận tải trong nước, kể cả theo hình thức đa phương thức, hiện đều phải chịu thuế GTGT 10%. Như vậy, về nguyên tắc, vận tải nội địa đã bị thiệt so với vận tải đa phương thức quốc tế.

     

    Mặt khác, nếu doanh nghiệp trong nước được thuê vận tải hàng hóa quốc tế chặng nội địa, thì đương nhiên thuế GTGT tại hóa đơn do doanh nghiệp vận tải trong nước xuất ra sẽ hoàn lại cho người thuê. Như vậy, không những doanh nghiệp có hợp đồng vận tải đa phương thức quốc tế đã không mất thuế GTGT, mà ngược lại còn được hoàn thuế cho những chặng vận tải thuộc nội địa.

     

    Thông tư 45/2011/TT-BTC về quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế còn rườm rà và yêu cầu nhiều chứng từ hơn đối với hàng hóa quá cảnh và chuyển khẩu thông thường.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               106

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    • Những hạn chế của quản lý Nhà nước về VTĐPT trên hành lang Hải Phòng- Hà Nội-Lào Cai – Côn Minh.

    Từ những phân tích ở trên, ta thấy những khó khăn, bất cập và nguyên nhân hạn chế của quản lý Nhà nước về VTĐPT gồm:

     

    • Nguyên nhân về chính sách quản lý để phát triển tuyến vận tải Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh là do sự bất cập về hệ thống luật pháp. Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động đường bộ, đường sắt,.. thuộc ngành Giao thông vận tải đều được điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành như Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt,… Trong khi đó, loại hình vận tải đa phương thức này chỉ mới chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và bất cập.
    • Ngoài ra, tính ổn định của các văn bản về lĩnh vực vận tải không cao, các Nghị định, Thông tư thay đổi nhiều lần làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh vận tải của doanh nghiệp. Ví dụ như Nghị định 89/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều trong Nghị định số 87/2009/NĐ-CP liên quan đến quy định các đối tượng được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế.

    Cho đến thời điểm này, tức là gần 4 năm thực hiện theo Nghị định sửa đổi đã phát sinh nhiều điều kiện vô tình gây thiệt hại cho các doanh nghiệp vận tải đa phương thức nội địa, do việc phân chia thành doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài (trong Nghị định) đã làm cho các doanh nghiệp vận tải nội địa phải chịu mức thuế giá trị gia tăng là 10%, trong khi các doanh nghiệp vận tải nước ngoài được hưởng mức thuế là 0%.

     

    Nghị định 87/ NĐ- CP 2009 mới chỉ qui định điều kiện kinh doanh và cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT chứ không qui định chế tài đối với doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT mà không có giấy phép kinh doanh VTĐPT. Mặt khác, việc quản lý các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT nói chung và trên hành lang Hà Nội- Hải Phòng- Lào Cai- Côn Minh nói riêng còn buông lỏng, Bộ Giao thông vận tải chỉ quản lý các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT thông qua việc cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT, xác nhận mẫu chứng từ VTĐPT mà không biết doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT trong quá trình thực hiện VTĐPT có gặp khó khăn gì không.

     

    Các quy định về vận tải hàng hóa còn thiếu nhiều nội dung, chưa được chặt chẽ, đặc biệt là đối với vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng. Gần đây nhất, Tổng cục đường bộ mới đề xuất đề án “Đổi mới quản lý vận tải đường bộ theo hướng hiện đại, hiệu quả theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải và giảm thiểu tai nạn giao thông”.

     

    • Các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn giao thông và chất lượng dịch vụ vận tải chưa được chi tiết cụ thể, chưa có quy định về một quy trình quản lý an toàn giao thông và chất lượng dịch vụ vận tải để có thể áp dụng toàn quốc.

    Tổ chức vận tải trong từng phương thức trên hành lang (vận tải bộ, sắt) được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên kết nối giữa các phương thức vận tải còn nhiều hạn chế. Quan trọng hơn là vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào để phối hợp hiệu quả vận tải đa phương thức trên hành lang này. Chính bởi vậy, các chính sách đề xuất từ phía các cơ quan địa phương còn mang tính manh mún.

     

    • Chưa có đủ các quy định để đẩy mạnh, khuyến khích việc áp dụng công nghệ tin học, phương pháp quản lý mới trong công tác quản lý.

    Từ số liệu dự báo Bảng 1, 2, 3 dưới đây, chúng ta thấy rằng số lượng hàng hóa vận chuyển trên các khu đoạn trên tuyến Hải Phòng – Lào Cai bằng đường bộ, đường sắt và khối lượng hàng XNK và quá cảnh chở bằng container trên tuyến đường sắt, đường bộ Hải Phòng- Lào Cai có xu hướng tăng theo các năm, điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển VTĐPT trên hành lang này bằng đường sắt và đường bộ.

     

    Bảng 1. Dự báo khối lượng hàng hóa vận chuyển container trên các khu đoạn tuyến đường sắt Hải Phòng – Lào Cai (chưa kể hàng quá cảnh của Trung Quốc)

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2003

    2005

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Hải Phòng – Yên Viên

    7.3

    14

    36

    70

    130

    152

    191

    Yên Viên – Việt Trì

    6.2

    12

    31

    61

    114

    133

    168

    Việt Trì – Lào Cai

    3.5

    7

    19

    37

    70

    82

    103

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               107

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    Bảng 2. Dự báo tỉ lệ vận chuyển container trên các khu đoạn trên tuyến đường bộ Hải Phòng – Lào Cai (chưa kể hàng quá cảnh của Trung Quốc)

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2003

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Số lượng

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    339

    510

    699

    960

    1.097

    1.277

    Yên Viên – Việt Trì

    117

    175

    240

    330

    377

    439

    Việt Trì – Lào Cai

    20

    30

    41

    56

    64

    75

    Nhịp tăng

               

    Hải Phòng – Yên Viên

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Yên Viên – Việt Trì

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Việt Trì – Lào Cai

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    Bảng 3. Khối lượng hàng XNK và quá cảnh chở bằng container trên tuyến đường sắt, đường bộ Hải Phòng – Lào Cai.

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2005

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Đường sắt

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    20

    76

    138

    230

    289

    358

    Yên Viên – Việt Trì

    18

    71

    129

    214

    270

    334

    Việt Trì – Lào Cai

    12

    59

    105

    170

    217

    269

    Đường bộ

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    339

    510

    699

    960

    1.140

    1.345

    Yên Viên – Việt Trì

    117

    175

    240

    330

    392

    462

    Việt Trì – Lào Cai

    20

    30

    41

    56

    67

    78

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    1. Kết luận

    Qua khảo sát thực tế và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực, việc phát triển và nâng cấp tuyến đường sắt từ Hà Nội và Hải Phòng có vai trò chiến lược quan trọng đối với sự phát triển của toàn hành lang. Ngoài ra, theo phương án đề xuất của Bộ giao thông vận tải là chuyển dịch thị phần vận chuyển container bằng đường bộ trên hành lang này sang vận chuyển bằng đường sắt, nhằm giảm tải cho mạng lưới giao thông đường bộ. Nếu phương án này được tổ chức thực hiện sẽ giảm đáng kể lượng xe container trên các quốc lộ 5 và 70. Để đạt được hiệu quả cân bằng cả về phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cần thiết có sự hỗ trợ Nhà nước trong việc nâng cấp cải tạo đường sắt trong các khu vực đầu mối như cảng Hải Phòng, cảng Chùa Vẽ, đóng mới toa xe, tiến tới giảm chi phí vận chuyển đường sắt. Song song với nó, cơ quan quản lý cũng cần có chế tài nghiêm để xử phạt vi ệc vận chuyển container loại 40 feet trở lên trên hành lang đường bộ từ Hà Nội – Hải Phòng.

     

    Tóm lại, các cơ chế chính sách quản lý để phát triển vận tải trên hành lang nên tập trung vào các vấn đề sau:

     

    Thứ nhất, đề xuất các giải pháp đồng bộ, tổng thể để tái cơ cấu lại thị phần đảm nhận của từng phương thức trên hành lang, cụ thể để tăng thị phần vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trên tuyến đường dài, giảm tỷ lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               108

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    Thứ hai, xây dựng cơ chế chính sách mang tính chất kết nối các phương thức, liên hoàn trong khâu dịch vụ, tạo thuận lợi cho các chủ hàng, doanh nghiệp tham gia hoạt động trên hành lang.

     

    Cụ thể các biện pháp về cơ chế chính sách quản lý vận tải trên hành l ang này sẽ tập trung vào các nội dung sau:

     

    • Hoàn thiện chính sách và luật pháp nhằm phát triển có hiệu quả vận tải đa phương thức.

    Hiện phần lớn doanh nghiệp vận tải nước ta mới tham gia vận chuyển hàng hóa ở một vài công đoạn trong hoạt động VTĐPT, chỉ số ít doanh nghiệp có đủ năng lực vận chuyển hàng hóa theo VTĐPT quốc tế. Đây là vấn đề đáng lo cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Nếu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics không tiến tới VTĐPT quốc tế và dịch vụ logistics trọn gói sẽ rất khó cạnh tranh, khi năm 2014, doanh nghiệp nước ngoài được tham gia 100% vốn vào thị trường Việt Nam.

     

    Vì vậy, để các doanh nghiệp kinh doanh khai thác VTĐPT nói chung và khai thác VTĐPT nói riêng trên hành lang Hải Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh mạnh lên, ngoài sự nỗ lực của các doanh nghiệp, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc:

     

    • Ban hành luật về kinh doanh VTĐPT. Trước mắt, cần chỉnh sửa hệ thống văn bản dưới Luật như bỏ khái niệm về VTĐPT trong Điều 2 và Qui định về kinh doanh VTĐPT nội địa (Điều 9) trong Nghị định 87/ 2009/NĐ- CP về vận tải đa phương thức cho phù hợp với thông lệ quốc tế vì không có định nghĩa VTĐPT nội địa trong các Công ước, qui tắc cũng như Hiệp định khung ASEAN về VTĐPT. Sửa đổi Điều 2, Điều 3 trong Thông tư 45/ TT- BTC 2011 hướng dẫn thủ tục Hải quan về hàng hóa VTĐPT là hàng hóa VTĐPT khi làm thủ tục Hải quan là doanh nghiệp chỉ cần xuất trình chứng từ chứng minh hàng hóa mình đang vận chuyển là hàng VTĐPT như: Nộp 01 bản photocopy từ bản chính Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế do Bộ Giao thông vận tải cấp (chỉ nộp lần đầu khi làm thủ tục hải quan tại một Chi cục Hải quan) và xuất trình bản chính để công chức hải quan kiểm tra, đối chiếu; Nộp 01 bản chính chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế (theo mẫu đã được đăng ký với Bộ Giao thông vận tải) và nộp 01 bản chính bản khai hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế (bao gồm các tiêu chí sau: Số thứ tự, tên hàng, số lượng, trọng lượng, trị giá) mà không phải xuất trình thêm Bộ hồ sơ yêu cầu đối với thủ tục hàng hóa quá cảnh hay hàng chuyển cảng để tạo thuận lợi cho thủ tục hải quan đối với hàng hóa

    VTĐPT.

     

    • Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT thông qua việc tăng cường kiểm tra giám sát các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT. Cần có chế tài buộc các công ty kinh doanh giao nhận kho vận nói chung và kinh doanh VTĐPT nói riêng phải xin giấy phép kinh doanh VTĐPT, đăng ký mẫu vận đơn VTĐPT.
    • Có những chính sách khuyến khích cụ thể về thuế cho doanh nghiệp vận tải trong nước kinh doanh VTĐPT như giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 5% để khuyến khích các doanh nghiệp vận tải nội địa nâng cao khả năng cạnh tranh của mình khi khai thác VTĐPT.
    • Hỗ trợ lãi suất, nguồn vốn để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết, nâng cấp dịch vụ theo phương thức VTĐPT quốc tế để nâng cao sức cạnh tranh, giữ thị trường nội địa cho các doanh nghiệp Việt Nam.
    • Ngoài các cơ chế trên, cơ chế đặc thù cho tuyến này là việc việc quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí sử dụng lề đường, bến bãi, mặt nước đối với các phương tiện vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu ra, vào bến, bãi chỉ nên áp dụng tại một điểm trên hành lang, nếu hàng vận chuyển chiều từ Hải Phòng đến Lào Cai thì chỉ nên thu phí sử dụng lề đường, bến bãi tại Hải Phòng, và chiều ngược lại, phí này nên chỉ thu tại Lào Cai, tránh trường hợp thu phí sử dụng lề đường, bến bãi cả hai đầu khiến cho chi phí vận chuyển hàng hóa tăng quá cao.
    • Cần bổ sung vào Nghị định thư đường sắt biên giới Việt Trung là Trung Quốc hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cấp tuyến đường sắt từ khổ đường 1000mm lên khổ 1435 mm để đẩy nhanh tiến độ nâng cấp đường sắt khổ rộng của Việt Nam từ Hải Phòng đi Lào Cai và nối với đường sắt khổ 1435mm tại Côn Minh (Trung quốc).

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               109

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    • Xây dựng khung chính sách phát triển vận tải đa phương thức, các chính sách khuyến khích phát triển Vận tải đa phương thức như sau:
    • Có chính sách khuyến khích đầu tư vốn phát triển kết cấu hạ tầng GTVT cho phương thức vận tải được ưu tiên và phương tiện vận tải tạo cơ sở vật chất cho Vậ n tải đa phương thức, tập trung cho lĩnh vực đường sắt, đường bộ trong VTĐPT hàng container.
    • Ban hành chính sách cho phép các nhà kinh doanh Vận tải đa phương thức của Việt Nam liên doanh với các nhà kinh doanh Vận tải đa phương thức có tiềm năng của nước ngoài để tìm thị trường cho dịch vụ Vận tải đa phương thức của ta. Hiện nay việc mở rộng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp nói chung chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp quy như Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài; hay Nghị định 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của ngành dầu khí; Nghị định 17/2009/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định 121/2007/NĐ-CP,….Thực tế thì chỉ có ngành dầu khí là đã xây dựng được bộ văn bản bao gồm quy định về cấp phép, quản lý hoạt động, chuyển vốn đầu tư, quản lý tài chính là tương đối đầy đủ. Điều này đã hỗ trợ tương đối tốt cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí mở rộng địa bàn kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam. Như vậy về mặt dài hạn, kinh nghiệm của ngành dầu khí sẽ rất hữu ích để Bộ GTVT phối hợp Bộ Kế hoạch đầu tư nghiên cứu đề xuất các văn bản pháp quy tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp VTĐPT của Việt Nam tham gia hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
    • Ban hành chính sách bảo hộ ngành vận tải trong nước. Trong lĩnh vực vận tải quốc tế, nhiều nước đã có những quy định rất cụ thể nhằm khuyến khích việc chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng các phương tiện vận tải của quốc gia đó. Sự khuyến khích đó được thể hiện qua chính sách kinh tế, tài chính như: Ưu đãi về thuế, tài trợ đầu tư phương tiện, quản lý chặt sự tham gia thị trường vận tải của các doanh nghiệp nước ngoài. Để hướng tới mục tiêu tăng thị phần hàng hoá xuất nhập khẩu cho đội tàu biển quốc gia, nhà nước cần có những chính sách và biện pháp thiết thực để điều tiết thị trường vận tải, bảo hộ đội tàu nước ngoài mở thêm tuyến, đưa thêm tàu về khai thác thị trường Việt Nam khi các đội tàu Việt Nam có đủ năng lực đảm nhận, đặc biệt là vận tải container và vận tải nội địa. Ngoài ra để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, cần có sự quản lý của nước ta đối với những trường hợp các hãng tàu nước ngoài vi phạm các quy định về mở tuyến vận tải, đăng ký mức cước hoặc có những hành động cạnh tranh không lành mạnh khác để giảm thuế.
    • Cần tiến hành đổi mới toàn diện cơ chế chính sách, tạo động lực cho sự phát triển ngành vận tải hàng hoá đường bộ. Đối với ngành vận tải hàng hóa đường bộ trong giai đoạn hiện nay có những đặc trưng rất cơ bản đó là hạt nhân chính của ngành là khối kinh tế tư nhân. Để lực lượng này tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả vào hoạt động vận tải, về phía Nhà nước cần tập trung vào các vấn đề như: Đơn giản hóa các thủ tục có liên quan đến vận tải và giao nhận hàng hóa; Xây dựng hệ thống pháp lý hoàn chỉnh, rõ ràng, minh bạch, nhất quán; Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được vận tải đa phương thức; Phối hợp chặt chẽ giữa các phương thức vận tải; Có chính sách khuyến khích đối với vận tải đa phương thức.

    Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, không cần phải tất cả các phương thức vận tải tham gia phục vụ chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế phải mạnh mới thực hiện quyền vận tải hàng hoá, mà trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, phải coi trọng việc tăng cường liên kết các công ty vận tải giữa trong nước và quốc tế để cho thị trường vận tải được thông suốt. Việc liên kết Vận tải đa phương thức giúp cho người kinh doanh VTĐPT thâu tóm được tất cả mọi khâu của quá trình đưa hàng xuất nhập khẩu từ nơi sản xuất đến cơ sở của người mua.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nghi ̣đi ̣nh số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chinh́ phủvềvận tải đa phương thức, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2009.
    • Nghi ̣ đi ̣nh số 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 của Chinh́ phủsửa đổi, bổsung một số điề u của Nghi ̣đinḥ số87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủvềvận tải đa phương thức, cóhiệu lực kểtừ ngày 25/11/2011.
    • Nghị định thư sửa đổi và thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 11/10/2011.
    • Công văn 3055/BTC-TCT của Bộ Tài chính về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vận tải quốc tế 15/3/2010.

    Người phản biện: PGS.TS. Đặng Công Xưởng; TS. Nguyễn Hữu Hùng

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               110


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BB%83-ch%E1%BA%BF-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-qu%E1%BB%91c-gia-%C4%91ang-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-ch%C3%A2u-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI CHÂU Á

     

    QUALITY OF INSTITUTIONS AND FINANCIAL DEVELOPMENT:

     

    EVIDENCE FROM DEVELOPING ASIAN COUNTRIES

     

    Nguyễn Thị Mỹ Linh1

     

    Ngày nhận: 24/7/2018             Ngày nhận bản sửa: 7/9/2018              Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Các nghiên cứu về phát triển tài chính đã nhận định chất lượng thể chế là yếu tố tạo nên sự khác biệt về phát triển tài chính giữa các quốc gia. Bài viết này đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, độ mở tài chính và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á bằng phương pháp thực nghiệm. Bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM cho dữ liệu bảng từ 18 quốc gia trong giai đoạn 2000–2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có tác động âm có ý nghĩa tới phát triển tài chính. Trong khi đó độ mở tài chính không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính tồn tại mối quan hệ phi tuyến có hình chữ U. Các phát hiện này đưa đến một số hàm ý chính sách cho Chính phủ các quốc gia đang phát triển tại khu vực này. Từ khóa: Chất lượng thể chế, phát triển tài chính, GMM.

     

    Abstract

     

    Recent studies of financial development have confirmed that the quality of institutions was the crucial element of financial development difference among various countries. This paper focus on investigating the effect of economic growth, trade openness, financial opennes and institutional quality on financial development in developing Asian countries. Using Generalized Method of Moments (GMM) to analyse a panel data of 18 countries spanning from 2000 to 2015, we find that economic growth and trade openness have significantly negative influences on financial development. Meanwhile, financial openness has no statistical significance. Especially, there’s U-shaped relationship between financial development and quality of institutions. Our results have several significant contributions to policy makers of these countries. Keywords: Quality of Institutions, financial development, GMM.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các lý thuyết kinh tế tài chính trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của hệ thống

    __________________________________________

    tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng. Các lý thuyết đó cũng hướng tới việc cung cấp câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số quốc gia lại phát triển tài chính hơn những quốc gia khác. Trong

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

    11

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bối cảnh này, một sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của sự phát triển thị trường tài chính ngày càng trở nên cần thiết hơn cho việc thiết kế các chính sách để thúc đẩy sự phát triển tài chính, bởi phát triển tài chính sẽ̃ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà các nghiên cứu thực nghiệm rộng rãi đã minh chứng.

     

    Gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu đã xác định rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển tài chính của một quốc gia liên quan đến các đặc điểm thể chế của nó, bao gồm khung pháp lý (Arestis và Demetriades, 1996). Claessens và Leaven (2003) chỉ ra rằng việc phân bổ tài sản được cải thiện do bảo vệ quyền sở hữu tài sản tốt hơn có ảnh hưởng đến tăng trưởng do nó làm gia tăng giá trị ngành nghề tương đương với sự cải thiện khả năng tiếp cận tài chính phát sinh từ sự phát triển tài chính mạnh mẽ̃ hơn. Garretsen và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn xã hội và văn hóa giúp giải thích sự khác biệt trong phát triển tài chính xuyên quốc gia. Demetriades và Andrianova (2004) cho rằng sức mạnh của các thể chế, như quy định tài chính và tuân thủ pháp luật, có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cải cách tài chính. Chinn và Ito (2006) cho rằng các hệ thống tài chính có mức độ phát triển pháp lý/thể chế cao hơn thường có lợi ích nhiều hơn từ tự do hóa tài chính so với các hệ thống tài chính có mức độ phát triển thấp hơn. Như vậy thể chế mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến phát triển tài chính. Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính dựa trên phân tích dữ liệu bảng thu thập cho các quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động để ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến của các biến trong mô hình. Trong đó, thước đo chất lượng thể chế sử dụng trong

    nghiên cứu được xây dựng bởi Kaufmann và cộng sự (2008) bao gồm một tập hợp các biến khác nhau, có thể đánh giá một cách đa chiều ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính.

     

    2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    Cơ sở lý luận giải thích cho sự phát triển tài chính xuất phát từ bốn giả thuyết bao gồm giả thuyết cung ứng vốn, giả thuyết luật và tài chính, giả thuyết mở cửa đồng bộ và giả thuyết thể chế kinh tế.

    Giả thuyết cung ứng vốn (The endowment hypothesis) của Acemoglu và cộng sự (2001) xác nhận tầm quan trọng của một thể chế vững mạnh đến sự phát triển tài chính và cho rằng chất lượng thể chế khác nhau giữa các quốc gia là do sự thay đổi cung ứng vốn ban đầu. Nói một cách đơn giản, giả thuyết này cho rằng môi trường không thuận lợi do các cường quốc thuộc địa châu Âu gây ra trong nhiều thế kỷ ở quá khứ là nhân tố chính làm chậm lại sự thành lập các thể chế có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong dài hạn. Vì vậy, giả thuyết cho rằng các cường quốc thuộc địa châu Âu đã thành lập nên các thể chế khai thác không phù hợp, không tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng trong dài hạn.

     

    Giả thuyết luật và tài chính (The law and finance hypothesis) của La Porta và cộng sự (1997) đưa ra ý tưởng về các hệ thống dựa trên nền tảng luật thông thường, có nguồn gốc từ luật pháp Anh là tốt hơn các hệ thống dựa trên luật dân sự cho sự phát triển của thị trường vốn. Điều này là bởi luật pháp Anh được hình thành để bảo vệ tài sản tư nhân từ Chính phủ các quốc gia quân chủ chuyên chế. Trong khi đó, luật pháp Pháp được phát triển với mục tiêu giải quyết tham nhũng của bộ máy tư pháp và gia tăng quyền lực của Nhà nước. Qua thời gian,

     

    12

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    điều này cho thấy luật pháp Anh bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ tốt hơn nhiều so với luật pháp Pháp, được cho rằng có lợi hơn cho sự phát triển của thị trường vốn.

    Giả thuyết mở cửa đồng bộ (The simultaneous openness hypothesis) được đưa ra bởi Rajan và Zingales (2003) cho rằng các nhóm lợi ích, đặc biệt là những người giữ chức vụ trong ngành công nghiệp và tài chính thường bị mất đi ích lợi do phát triển tài chính, bởi mở cửa sẽ̃ tạo ra cạnh tranh làm xói mòn đặc quyền của họ. Giả thuyết cho rằng sự kháng nghị của các cán bộ đương nhiệm sẽ̃ trở nên yếu hơn khi nền kinh tế mở cửa cho cả dòng chảy thương mại và vốn. Do đó, sự mở cửa đồng bộ đối với tài khoản thương mại và vốn chính là chìa khóa cho sự phát triển tài chính thành công. Điều này không chỉ bởi vì độ mở thương mại và tài chính làm giới hạn khả năng của cán bộ đương nhiệm ngăn chặn sự phát triển của thị trường tài chính mà còn bởi những cơ hội mới được tạo ra từ mở cửa, làm sản sinh đủ lợi nhuận mới cho họ có giá trị hơn những ảnh hưởng tiêu cực của cạnh tranh gia tăng.

     

    Giả thuyết thể chế kinh tế (The economic institutions hypothesis) gần nhất được đưa ra bởi Acemoglu và cộng sự (2004), được xây dựng trên giả thuyết cung ứng vốn, đề xuất về một khung kinh tế chính trị năng động mà trong đó sự khác biệt về kinh tế trong các thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phát triển kinh tế khác nhau. Các thể chế kinh tế trong đó xác định các động lực khuyến khích và kiềm hãm các chủ thể kinh tế. Các thể chế chính trị và phân phối thu nhập là các lực lượng động kết hợp với nhau hình thành nên các thể chế kinh tế và kết quả đầu ra. Các lập luận cho rằng tăng trưởng thúc đẩy các thể chế kinh tế khi các thể chế chính trị (i) phân bổ quyền lực cho các nhóm có lợi ích trong việc thực thi quyền sở

    hữu tài sản rộng rãi, (ii) tạo ra các hạn chế hiệu quả đối với người nắm giữ quyền lực và khi có ít đặc lợi chiếm giữ bởi người cầm quyền.

    Hai giả thuyết đầu nhấn mạnh yếu tố lịch sử bất biến theo thời gian có thể chỉ giải thích một phần nhất định cho sự thay đổi của phát triển tài chính xuyên quốc gia. Giả thuyết thứ ba và thứ tư có thể giải thích cho sự phát triển tài chính xuyên quốc gia và cả sự thay đổi của phát triển tài chính qua thời gian, bởi chúng đều có tính chất động, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố biến đổi qua thời gian. Mặc dù cả hai giả thuyết đều xác nhận tầm quan trọng của các tinh hoa chính trị, nhưng nó vẫn nhấn mạnh các cơ chế khác nhau của phát triển tài chính. Giả thuyết thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và như vậy mang đến một hàm ý chính sách đương đại rõ ràng. Giả thuyết thứ tư cho thấy mặc dù các cơ chế chính trị phức tạp có ở công sở (bao gồm cả xung đột xã hội phát sinh từ việc thay đổi lực lượng chính trị như sự gia tăng dân chủ đại chúng và những thay đổi trong phân phối thu nhập), nhưng giả thuyết thể chế kinh tế này đã cung cấp lập luận hữu ích giúp định hình cho phát triển kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào.

     

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Levine (2001) xem xét mối liên kết giữa môi trường pháp lý và phát triển tài chính, sau đó truy xuất mối liên kết này thông qua tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thứ nhất nghiên cứu cho rằng môi trường pháp lý và luật lệ có vai trò quan trọng đối với phát triển tài chính. Các quốc gia với hệ thống pháp lý và quy định ưu tiên cho các chủ nợ nhận được giá trị hiện tại đầy đủ của các khoản cho vay đối với các tập đoàn, có chức năng trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia nơi hệ thống pháp lý cung cấp sự hỗ trợ yếu ớt cho các chủ nợ. Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc thực thi hợp

     

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    đồng là rất quan trọng quyết định đến sự phát triển tài chính. Các quốc gia áp đặt sự tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả và thực thi các hợp đồng bao gồm cả những hợp đồng của Chính phủ có xu hướng phát triển các định chế tài chính trung gian tốt hơn nhiều so với các quốc gia mà việc tuân thủ lỏng lẻo hơn. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiết lộ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định phát triển tài chính. Chẳng hạn tại các quốc gia nơi mà các công ty công bố báo cáo tài chính tương đối toàn diện và chính xác thì phát triển các trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia mà việc công bố thông tin kém tin cậy hơn.

     

    Baltagi và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về đóng góp của độ mở thương mại và thể chế kinh tế đến phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia cho các mẫu các quốc gia đang phát triển với khoảng thời gian nghiên cứu từ 1980–2003. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều mang tác động quan trọng tiềm tàng đến các mức độ phát triển tài chính. Tuy nhiên độ mở thương mại có hiệu quả đáng kể hơn là độ mở tài chính trong việc thúc đẩy phát triển tài chính cho các quốc gia.

     

    Law và Azman – Saini (2008) sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng động thu thập từ các quốc gia phát triển và đang phát triển và kết luận chất lượng thể chế làm gia tăng sự phát triển tài chính, đặc biệt là sự phát triển của khu vực ngân hàng trong đó chỉ tiêu tín dụng khu vực tư được sử dụng trong phân tích. Mặc dầu vậy một số dẫn xuất của thể chế có tầm ảnh hưởng hơn một số dẫn xuất còn lại. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng tuân thủ pháp luật, sự ổn định chính trị và hiệu quả của Chính phủ đóng vai trò cơ bản đối với sự phát triển của khu vực ngân hàng. Bên cạnh đó, GDP thực bình quân đầu người cũng là yếu tố quyết định đến phát triển tài chính. Tuy nhiên

    độ mở tài chính lại làm suy yếu sự phát triển của thị trường này. Trong sáu chỉ số phản ánh chất lượng thể chế, chỉ số chất lượng quản lý cho thấy tồn tại mối quan hệ có hình dạng chữ U với phát triển tài chính.

    Như vậy các giả thuyết và nghiên cứu ngoài nước trên cho rằng tự do hóa tài chính, hệ thống pháp luật, nền kinh tế chính trị, độ mở thương mại là nguồn gốc của phát triển tài chính. Trong đó, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều lĩnh vực. North (1990) định nghĩa các thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa. Khi các quy tắc thay đổi liên tục hoặc không được tôn trọng, tham nhũng phổ biến, việc thực thi quy tắc còn mong manh hoặc khi quyền đối với tài sản không được xác định rõ ràng, thì đó vấn đề về chất lượng thể chế. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế quy mô và tăng cường phân công lao động xã hội. Ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ̃ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế. Baumol (1990, 1993) cho rằng khi cơ cấu thể chế không khuyến khích tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế sẽ̃ thấp đi. Các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế dẫn đến sự gia tăng tính không chắc chắn, gửi tín hiệu gây

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    hiểu lầm đến thị trường, do đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

    3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng

     

    • Mô hình nghiên cứu

     

    Trên cơ sở lý thuyết, nền tảng của các nghiên cứu trước và của Law và Saini (2008), mô hình thực nghiệm được thể hiện như sau:

     

    (FD)it = β0 + β1(FD)(it-1)  + β2(GDPG)it + β3(INS)

     

    it  + β4(TO)it + β5(FO)it + εit     (3.1)

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính có thể là phi tuyến. Cải cách thể

    chế nhìn chung có tác động tích cực đến phát triển tài chính. Tuy nhiên độ lớn của tác động có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ của phát triển kinh tế. Nghiên cứu giả thiết rằng tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính là chưa rõ ràng tại mức phát triển thấp trong khi nó sẽ̃ trở nên tích cực bởi tiến trình phát triển hay đây chính là mối quan hệ có hình dạng chữ U giữa hai yếu tố này. Để xem xét mối quan hệ phi tuyến trên, biến thể chế bình phương được đưa vào phương trình (3.1) và vì vậy mô hình hồi quy được viết lại như sau:

     

    (FD)it = β

    0

    + β

    (FD)

    it-1

    + β

    (GDPG)

    it

    + β

    (INS)

    it

    + β (INS2)

    it

    + β

    (TO)

    it

    + β

    (FO)

    it

    + ε

    it

    (3.2.)

     

    1

     

    2

     

    3

     

    4

    5

     

    6

         

    với kỳ vọng β3 < 0 và β4 > 0.

                                 
               

    Bảng 1. Mô tả biến và nguồn dữ liệu

                 

    Ký hiệu biến

    Mô tả

                           

    Nguồn

       
             

    FD

       

    Sự phát triển tài chính, đo bằng tín dụng nội địa được

    World Development

         

    cung ứng bởi khu vực tài chính/GDP

             

    Indicator – WDI

    GDPG

       

    Tốc độ tăng trưởng GDP

                   

    WDI

         

    INS

       

    Chất lượng thể chế, sử dụng chỉ số đánh giá trong bộ chỉ

    World

    Governance

         

    số Quản trị công toàn cầu với giá trị xấp xỉ từ – 2,5 đến 2,5

    Indicator – WGI

    TO

       

    Độ mở thương mại, bằng Xuất khẩu + Nhập khẩu/GDP

    WDI

         

    FO

       

    Độ mở tài chính, sử dụng chỉ số Chinn – Ito

           

    Chinn-Ito website

    Dữ liệu được thu thập cho 18 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á giai đoạn 2000– 2015 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Armenia, Bhutan, Kyrgyz, Mông Cổ, Nepal, và Georgia. Trong đó, chỉ tiêu tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia. Do tính chất nguồn dữ liệu có giới hạn số liệu không được cập nhật nên bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất chỉ tiêu này. Đây cũng là thước đo được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển tài chính. Bên cạnh đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng thể chế sử dụng trong nghiên cứu là bộ chỉ số “Quản trị công toàn cầu” do

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    WB công bố với sáu biến đo lường gồm: tham nhũng; hiệu quả Chính phủ; ổn định chính trị; chất lượng quản lý; tuân thủ luật pháp; tiếng nói và trách nhiệm giải trình. Đây được xem là một đánh giá khá đầy đủ về chất lượng thể chế của một quốc gia và cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Law và Saini (2008). Đối với chỉ số Chinn-Ito (Kaopen) là chỉ số đo mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia. Chỉ số này ban đầu được giới thiệu trong Chinn và Ito (Tạp chí Journal of Development Economics, 2006). Kaopen được xác định dựa trên các biến giả nhị phân mã hóa hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới được báo cáo trong Báo cáo thường niên của IMF về các thỏa thuận giao dịch và hạn chế giao dịch.

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3.2. Phương pháp ước lượng

     

    Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng GMM do một số vấn đề sau đây có thể phát sinh và dẫn đến các kết quả ước lượng phương trình (3.1) bị chệch:

     

    • Do tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô, thường có tác động hai chiều, ví dụ như biến GDPG có thể là biến nội sinh khi nó tác động tới phát triển tài chính và ngược lại phát triển tài chính cũng tác động tới phát triển kinh tế. Điều này cũng tương tự với biến FO. Vì thế, việc hồi qui các biến này có thể dẫn đến sự tương quan với sai số và một số biến khác có thể có những thuộc tính tương tự.
    • Các đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian như là địa lý, văn hóa và nhân chủng học, có thể tương quan với các biến giải thích (các tác động cố định). Các tác động cố định này hiện diện trong đại lượng sai số của các phương trình thực nghiệm.
    • Sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc FDit-1 đưa đến khả năng tự tương quan cao.

    Các vấn đề nêu trên có thể khiến hồi quy OLS không nhất quán và ước lượng bị chệch, hay vấn đề nội sinh của các biến chưa thể xử lý triệt để bằng các phương pháp như FE, RE, 2SLS. Phương pháp hồi quy GMM sai phân được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt hơn các vấn đề trên. Tính phù hợp của các biến công cụ trong ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng được đánh giá thông qua thống kê Sargan và thống kê Arellano-Bond. Kiểm định Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ có tính ngoại sinh, nghĩa là nó không tương quan với sai số. Vì thế p-value của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để phát hiện tự tương quan chuỗi ở sai phân bậc 1. Vì thế, kết quả kiểm định tương quan chuỗi bậc một AR(1) không cần quan tâm trong khi tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) được kiểm định dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan bậc 1 của nó.

     

    4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

     

    Bảng 2. Thống kê mô tả giá trị của các biến trong mô hình

     

    Các biến

    Obs

    Mean

    Std.Dev.

    Min

    Max

    FD

    283

    56.37612

    42.37533

    2.942829

    193.4096

    GDPG

    288

    6.121962

    3.199587

    -14.14999

    17.92582

    FO

    288

    -0.1772923

    1.16868

    -1.90359

    2.374419

    TO

    288

    86.15815

    42.05665

    26.27484

    220.4073

    COR

    288

    -0.5388194

    0.5470128

    -1.5

    1.28

    POS

    288

    -0.6288889

    0.866287

    -2.81

    1.28

    RUL

    288

    -0.4327431

    0.4815948

    -1.37

    0.59

    VOI

    288

    -0.5435417

    0.6074961

    -1.78

    0.47

    GEF

    288

    -0.2013889

    0.5165398

    -1.21

    1.27

    REG

    288

    -0.3154514

    0.4845701

    -1.41

    1.29

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

     

    Ghi chú: FD = Financial Development (Phát triển tài chính), GDPG = GDP Growth (Tăng trưởng

     

    GDP), FO = Financial Openness (Độ mở tài chính), TO = Trade Opennes (Độ mở thương mại),

     

    COR = Control of Corruption (Kiểm soát tham nhũng), POS = Political Stability (Ổn định chính

     

    trị), RUL = Rule of Law (Tuân thủ pháp luật), VOI = Voice and Accountability (Tiếng nói và trách

     

    nhiệm), GEF = Government effectiveness (Hiệu quả Chính phủ), REG = Regulatory quality (Chất

     

    lượng quản lý)

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu

     

     

    FD

    GDPG

    FO

    TO

    COR

    POS

    RUL

    VOI

    GEF

    REG

    FD

    1.0000

                     

    GDPG

    -0.0423

    1.0000

                   

    FO

    -0.3367

    0.0009

    1.0000

                 

    TO

    0.2617

    0.0212

    0.2471

    1.0000

               

    COR

    0.3093

    0.0598

    -0.1025

    0.2862

    1.0000

             

    POS

    0.0563

    0.2388

    0.2302

    0.5479

    0.4886

    1.0000

           

    RUL

    0.4341

    0.0040

    -0.0857

    0.2863

    0.8429

    0.4082

    1.0000

         

    VOI

    -0.1451

    -0.1461

    0.2925

    -0.0191

    0.1796

    -0.0871

    0.3894

    1.0000

       

    GEF

    0.5292

    -0.0222

    -0.0081

    0.4638

    0.7572

    0.3720

    0.7705

    0.1921

    1.0000

     

    REG

    0.3658

    -0.0959

    0.4001

    0.4033

    0.3840

    0.1626

    0.5269

    0.3385

    0.6621

    1.0000

     

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

    Bảng 2 thể hiện giá trị các biến trong mô

    GDPG, FO, VOI và có tương quan thuận với

    hình nghiên cứu, qua đó tỷ lệ tín dụng nội địa

    tất cả các biến còn lại trong mô hình. Điều này

    được cung ứng bởi khu vực tài chính trung bình

    cho thấy đa số các biến thể chế thực sự có tương

    ở các quốc gia trong mẫu đạt giá trị dương 56.3.

    quan dương với phát triển tài chính. Tuy nhiên,

    Chỉ số đánh giá chất lượng thể chế ở các quốc

    kết quả với FO và VOI không như mong đợi

    gia này còn thấp khi mà giá trị trung bình của

    theo lý thuyết tiêu chuẩn, dù vậy đây không

    các chỉ số đều mang dấu âm. Bảng 3 chỉ ra sự

    phải là nghiên cứu đầu tiên có kết quả này.

    phát triển tài chính có tương quan nghịch với

     

    Bảng 4. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình tuyến tính, phương trình 3.1)

     

                 

    Các biến

    Mô hình 1a

    Mô hình 2a

    Mô hình 3a

    Mô hình 4a

    Mô hình 5a

    Mô hình 6a

    FD (-1)

    0.708***

    0.643***

    0.746***

    0.787***

    0.788***

    0.751***

     

    (0.096)

    (0.107)

    (0.096)

    (0.093)

    (0.083)

    (0.100)

    GDPG

    -0.615*

    -0.576*

    -0.763**

    -0.646*

    -0.752**

    -0.689*

     

    (0.344)

    (0.341)

    (0.360)

    (0.353)

    (0.358)

    (0.352)

    FO

    0.509

    0.963

    1.472

    1.934

    1.094

    1.784

     

    (2.627)

    (2.509)

    (2.564)

    (2.546)

    (2.649)

    (2.562)

    TO

    -0.333***

    -0.364***

    -0.287***

    -0.293***

    -0.258***

    -0.287***

     

    (0.094)

    (0.096)

    (0.091)

    (0.101)

    (0.093)

    (0.092)

    COR

    15.703*

             
     

    (8.914)

             

    POS

     

    9.098**

           
       

    (4.176)

           

    RUL

       

    11.394

         
         

    (10.844)

         

    VOI

         

    1.850

       
           

    (7.258)

       

    GEF

           

    9.660

     
             

    (8.701)

     

    REG

             

    9.611

               

    (11.247)

    AR (2) test

    0.26

    0.41

    0.35

    0.38

    0.27

    0.22

    Sargan test

    0.46

    0.49

    0.39

    0.36

    0.42

    0.42

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là sai số chuẩn.

     

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng tại Bảng 4 kết quả thực nghiệm của mô hình tuyến tính (phương trình 3.1) bằng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng động GMM, với các mô hình từ 1a đến 6a lần lượt từng biến thể chế được đưa vào. Biến trễ phụ thuộc FD(-1) có ý nghĩa thống kê, ngụ ý rằng GMM là một phương pháp ước lượng thích hợp và có thể dựa vào kết quả thực nghiệm để thực hiện suy luận thống kê. Trong đó, hai biến thể chế COR và POS mang tác động dương còn GDPG và TO mang tác động âm có ý nghĩa thống kê tới phát triển tài chính. Kết quả về sự tác động nghịch chiều của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính tuy ngược với kỳ vọng nhưng tương đồng với nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2007) và có thể được giải thích thông qua tính nghịch chu kỳ của chính sách tiền tệ. Thực vậy các tử số của biến phụ thuộc là tín dụng nội địa thường được các ngân hàng trung ương lựa chọn là mục tiêu trung gian rõ ràng hoặc ngầm định của chính sách tiền tệ, kết hợp với sự tịnh tiến của mẫu số là GDP. Do đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa GDP và các chỉ số ngân hàng về phát triển tài chính không là sự bất thường, đặc biệt là ở tần suất hàng năm, trùng với các hoạt động của chính sách tiền tệ. Tương tự, độ mở thương mại cũng tác động âm có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính. Trên khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho kết quả rất khác nhau. Anutechia (2010) không phát hiện ảnh hưởng của độ mở thương mại đến phát triển tài chính. Hu và Iyke (2018) kết luận độ mở thương mại làm gia tăng phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên xét trong ngắn hạn, tác động của nó đến phát triển tài chính là không rõ ràng và có xu hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến phát triển tài chính. Khi các quốc gia được phân chia thành hai nhóm có thu nhập thấp và thu nhập trung bình

    thì độ mở tài chính có tác động tích cực đến phát triển tài chính đối với nhóm trước trong khi đó lại nó tác động bất lợi cho phát triển tài chính đối với nhóm sau. Bayar (2017) cho rằng chất lượng thể chế và quy định là cần thiết cho sự tương tác tích cực giữa sự mở cửa thương mại và sự phát triển của tài chính. Do đó, sự tương tác không đáng kể hay tiêu cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính là kết quả của sự phát triển không đầy đủ của thể chế. Trong khi đó, với sáu biến dẫn xuất cho vấn đề thể chế lần lượt được đưa vào mô hình, có hai biến là tham nhũng và sự ổn định chính trị tác động dương có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính, phù hợp với giả thuyết thể chế kinh tế của Acemoglu và cộng sự (2004). Kết quả về sự ảnh hưởng của ổn định chính trị đến phát triển tài chính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Roe và Siegel (2008) cho rằng bất ổn chính trị cản trở phát triển tài chính, ổn định chính trị chính là yếu tố then chốt giải thích cho sự phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng của phương trình (3.2), kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa phát triển tài chính và thể chế. Việc bổ sung thêm yếu tố thể chế được bình phương cho phép hình thành chuyển động có dạng U của yếu tố này. Kết quả thực nghiệm cho thấy ngoại trừ hai dẫn xuất VOI và GEF không có

     

    • nghĩa thống kê, bốn dẫn xuất còn lại đều có mối quan hệ phi tuyến với tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính. Các hệ số của thể chế và thể chế bình phương lần lượt là âm và dương. Điều này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hình chữ U về chất lượng thể chế phát triển tài chính. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Law và Saini (2008). Giá trị ngưỡng của chất lượng thể chế là các biến COR, POS, RUL, REG cũng được xác định cho các quốc gia trong mẫu nhằm làm sáng tỏ hơn về mặt

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    định lượng tầm quan trọng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, theo đó giá trị của chúng lần lượt là 0.37, 0.26, 0.54 và 0.62. Điều này có nghĩa là trong bối cảnh chất lượng thể chế của các quốc gia thấp hơn hay bằng mức ngưỡng, chất lượng thể chế có tác động tiêu

    cực đến phát triển tài chính, tức là phát triển tài chính bị suy giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Tuy nhiên, khi chất lượng thể chế vượt ngưỡng, tác động của chất lượng thể chế đến sẽ̃ trở nên tích cực. Nói cách khác, việc cải cách thể chế dẫn đến phát triển tài chính.

     

    Bảng 5. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình phi tuyến tính, phương trình 3.2)

     

    Các biến

    Mô hình 1b

    Mô hình 2b

    Mô hình 3b

    Mô hình 4b

    Mô hình 5b

    Mô hình 6b

    FD (-1)

    1.150***

    1.096***

    0.924***

    1.089***

    1.036***

    1.082***

     

    (0.066)

    (0.063)

    (0.080)

    (0.067)

    (0.077)

    (0.063)

    GDPG

    -0.022

    -0.738**

    -0.097

    -0.029

    0.048

    -0.431

     

    (0.231)

    (0.344)

    (0.317)

    (0.232)

    (0.184)

    (0.320)

    FO

    1.981

    0.631

    3.044

    1.503

    -1.416

    -1.830

     

    (3.095)

    (3.227)

    (3.142)

    (2.935)

    (1.608)

    (1.771)

    TO

    -0.067

    -0.020

    -0.269**

    -0.273**

    -0.069

    -0.078

     

    (0.081)

    (0.088)

    (0.115)

    (0.116)

    (0.072)

    (0.084)

    COR

    -43.586**

             
     

    (22.180)

             

    COR2

    32.993**

             
     

    (16.510)

             

    POS

     

    -23.682**

           
       

    (11.932)

           

    POS2

     

    12.227*

           
       

    (6.378)

           

    RUL

       

    -48.128***

         
         

    (15.814)

         

    RUL2

       

    51.589***

         
         

    (17.012)

         

    VOI

         

    -12.957

       
           

    (12.753)

       

    VOI2

         

    9.816

       
           

    (11.145)

       

    GEF

           

    37.091**

     
             

    (18.215)

     

    GEF2

           

    -29.983

     
             

    (18.860)

     

    REG

             

    -39.638*

               

    (23.783)

    REG2

             

    48.951**

               

    (23.280)

    AR (2) test

    0.83

    0.71

    0.93

    0.70

    0.70

    0.49

    Sargan test

    0.21

    0.50

    0.60

    0.18

    0.21

    0.65

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là

     

    sai số chuẩn.

     

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Cả hai nhân tố phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế (Law và Azman-Saini, 2008). Trong đó, nghiên cứu này xem xét vai trò của chất lượng thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 2000–2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế mà đặc biệt là yếu tố tham nhũng là sự ổn định chính trị làm gia tăng đáng kể sự phát triển tài chính mà yếu tố tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng trong phân tích. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại cũng là hai yếu tố có tầm quan trọng về mặt thống kê đối với phát triển tài chính, tuy nhiên tác động của chúng đến phát triển tài chính là nghịch chiều. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tác động của chất lượng thể

     

    Tài liệu tham khảo

    chế đến phát triển tài chính không đơn điệu và phụ thuộc vào các dẫn xuất của thể chế. Trong số sáu chỉ số chất lượng thể chế, chỉ số tham nhũng, sự ổn định chính trị, tuân thủ pháp luật và chất lượng quản lý có mối quan hệ hình chữ U với sự phát triển tài chính. Kết quả này cho thấy chất lượng thể chế đóng góp vào phát triển tài chính khi mà nó vượt mức ngưỡng. Do đó việc cải thiện chất lượng thể chế hơn nữa có vai trò then chốt nhằm phát triển thị trường tài chính hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Chính phủ của các nền kinh tế này nên áp dụng các chính sách quản lý hoạt động thị trường tài chính cho khu vực tư nhân một cách có kỷ luật và tăng cường cơ sở hạ tầng thể chế nhằm khai thác các khía cạnh có lợi của các thể chế cụ thể, khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính.

     

    Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2004). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. NBER Working paper 10481.

     

    Demetriades, P., & Andrianova, S. (2004). Finance and growth: what we know and what we need to know. In Financial development and economic growth (pp. 38-65). Palgrave Macmillan, London.

    Anutechia, A. S. (2010). Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries. MPRA paper no. 26926.

     

    Arestis, P., & Demetriades, P. (1997). Financial development and economic growth: assessing the evidence. The economic journal, 107(442), 783-799.

     

    Baltagi, B. H., Demetriades, P. O., & Law, S. H. (2009). Financial development and openness:

     

    Evidence from panel data. Journal of development economics, 89(2), 285-296.

     

    Baumol, W. (1993). Entrepreneurship, Management and the Structure of Payoffs. London: The MIT Press.

     

    Bayar, Y., Akyuz, F., & Erem, I. (2017). Openness and Financial Development in Central and Eastern European Countries. Studies in Business and Economics, 12(3), 5-16.

     

    Chinn, M. D., & Ito, H. (2002). Capital account liberalization, institutions and financial development: cross country evidence (No. w8967). National Bureau of Economic Research.

     

    Claessens, S., & Leaven, L. (2003). What Drives Bank Competition, Some International Evidence World Bank Policy, Working Paper 3113.

     

    20

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Garretsen, H., Lensink, R., & Sterken, E. (2004). Growth, financial development, societal norms and legal institutions. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 14(2), 165-183.

    Ho, S. Y., & Njindan Iyke, B. (2018). Short-and Long-term Impact of Trade Openness on Financial Development in Sub-Saharan Africa. MPRA Working Paper 84272.

     

    Kaufman, D. (10). Myths about Governance and Corruption,”. Finance and Development, 42(3), 2005.

     

    La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). Legal determinants of external finance. The journal of finance, 52(3), 1131-1150.

     

    Law, S. H., & Azman-Saini, W. N. W. (2008). The quality of institutions and financial development.

     

    MPRA paper no. 12107.

     

    Levine, R. (2001). International financial liberalization and economic growth. Review of international Economics, 9(4), 688-702.

     

    North, D. C. (1991). Institutions. Journal of economic perspectives, 5(1), 97-112.

     

    Rajan, R. G., & Zingales, L. (2003). The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century. Journal of financial economics, 69(1), 5-50.

     

    Roe, M. J., & Siegel, J. I. (2009). Finance and politics: A review essay based on Kenneth Dam’s analysis of legal traditions in the law-growth nexus. Journal of Economic Literature, 47(3), 781-800.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-H%C3%A0ng-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn.

     

    Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn. Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của mình. Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn THTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM. Với những suy nghĩ trên, đồng thời trong quá trình thực tập em nhận thấy công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có vai trò sức quan trọng đối với các doanh nghiệp và NHTM nên em đã chọn đề tài

     

    “Thẩm định dự án đầu tư của NHTM”

     

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: PSG.TS Vương Trọng Nghĩa đã giúp đỡ em rất nhiều về mặt kiến thức và đặc biệt là về mặt tinh thần để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    1.    ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    1.1 Đầu tư và dự án đầu tư.

     

    1.1.1 Hoạt động đầu tư.

     

    Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:

     

    • =f(C,T,L,R)
    • khả năng phát triển của một quốc gia C:khả năng về vốn
    • công nghệ

    L:lao động

     

    R: tài nguyên thiên nhiên

     

    Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.

     

    Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ.

     

    1.1.2 Dự án đầu tư.

     

    Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ, các tổ chức tài chính.

     

    Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

     

    Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:

     

    3

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu

    Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nhất định và khoảng thời gian nhất định.

     

    Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.

     

    • Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.

     

    • Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại kết quả tương ứ

    *Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.

     

    Phân loại dự án đầu tư

     

    Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:

     

    Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.

     

    Theo phạm vi: trong nước quốc tế.

     

    Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.

     

    Theo nội dung và theo tính chất loại trừ.

     

    Với dự án của doanh nghiệp thường quan tâm đến hai cách phân loaị

     

    cuối.

     

    • Theo nội dung có:

    Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    khoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ.

     

    Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng loại cho thị trường.

     

    Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ.

     

    Theo tính chất loại trừ:

     

    Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ cho vay đối với dự án khác.

     

    Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.

     

    Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:

     

    Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các

     

    công việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu

     

    5

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    tiền khả thi sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)

     

    Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.

     

    Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối cùng thanh lí và đánh giá.

     

    Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.

     

    Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.

     

    1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

     

    Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định trước hết thường là quyết định tài chính. Đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, đồng thời đặc điểm của các dự án đầu tư là thường yêu cầu một lượng vốn lớn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, các dự án thường bị lạc hậu ngay từ lúc có ý tưởng đầu tư. Sai lầm trong việc dự toán vốn ban đầu có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định có tính chiến lược, đòi hỏi cần phải được phân tích và cân nhắc kỹ lương trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

     

    6

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.

     

    Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

     

    Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.

     

    1.3. Thẩm định dự án đầu tư.

     

    1.3.1. Khái niệm, vai trò:

     

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình phân tích và làm sáng tỏ một loạt các vấn đề liên quan đến tính khả thi trong việc thực hiện dự án như: công suất, kỹ thuật, thị trường, tài chính, tổ chức… Với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết được sử dụng trong quá trình lập dự án đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đạt được mục tiêu xã hội hay không? Có hiệu quả kinh tế, tài chính không?

     

    Hoạt động này trước hết là phục vụ chính cho nhà đầu tư, nhà tài trợ rồi đến cơ quan quản lý Nhà nước.

     

    – Đối với chủ đầu tư:

     

    Lập kế hoạch phối hợp giữa chính sách tài chính, marketing, nhân sự, tác nghiệp một cách chính xác nhất có thể để lựa chọn phương án tốt nhất và qua đó chủ đầu tư sẽ đạt được hiệu quả của tài chính mong muốn.

     

    • Với cơ quan Nhà nước: Giúp cho cơ quan nhà nước quyết định cho phép, chấp nhận dự án đó đi vào thực hiện có phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành, vùng, lãnh thổ?
    • Với nhà tài trợ: Có thể vay được lãi cao, thu hồi vốn gốc đúng hạn và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài.
    • Với Ngân hàng: Cho vay theo dự án có đặc điểm đem lại nguồn lợi tức lớn vì dự án thông thường là có thời hạn dài, quy mô lớn, tình tiết phức tạp.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Bên cạnh đó, thông tin về dự án đều do người chủ đầu tư (đi vay ngân hàng) lập nên, cung cấp nên không khỏi có những ý kiến chủ quan nhất định “rộng” với dự án. Điều đó buộc NH phải tự mình tiến hành thẩm định dự án một cách toàn diện về lợi ích cũng như rủi ro khi tham gia dự án của khách hàng để quyết định có nên cho vay hay không?

     

    Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến, bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.

     

    Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng. Như vậy trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của Ngân hàng.

     

    8

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án được xem xét và đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định dự án đầu tư như sau:

     

    Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.

     

    Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi – hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không được chấp nhận. Tuy nhiên nhận định “tồi “, “khả thi “, “hiệu quả”… ở khía cạnh nào đó còn phụ thuộc vào góc độ của người thẩm định và khi đó họ sẽ đạt được những mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.

     

    NHTM với tư cách là “Bà đỡ” về mặt tài chính cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án. Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án là một việc không thể thiếu được

     

    1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư * Về phía nhà đầu tư

     

    Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề,

     

    9

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    những chi tiết kỹ thuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

     

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.

     

    * Về phía Ngân hàng

     

    Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:

     

    • Xem xét trước khi cho vay
    • Thực hiện cho vay
    • Thu gốc thu lãi

    Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.

     

    Để có một khoản vay chất lượng là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của NHTM. Nhưng nó là một điều cực kỳ khó khăn và NHTM vẫn thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã hội và thị trường luôn tồn tại không cân xứng về thông tin đầy đủ về nhau, do đó dẫn đến những hiểu biết sai lệch. Giữa NHTM và người vay cũng xảy ra tình trạng như vậy. Ngân hàng không có những thông tin đầy đủ về khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm. Đứng trước những rủi ro đó thì NHTM phải luôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định những khách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

     

    Do vậy trong ba giai đoạn trên, việc xem xét trước khi cho vay (bao gồm quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng) có ý nghĩa

     

    10

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    cực kì quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả các khoản vay và các hoạt của giai đoạn sau. Giai đoạn này được Ngân hàng tiến hành rất kĩ lưỡng với nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù để đảm bảo, an toàn chất lượng.

     

    Hơn nữa, với chức năng quản lí và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có tính chất đặc thù riêng mà các ngành khác không có được. Như đã nói ở trên, so với kinh doanh của các ngành kinh tế khác thì hoạt động Ngân hàng có nhiều rủi ro hơn cả. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, ngành Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc Ngân hàng cho vay không thể không cần biết doanh nghiệp sử dụng vốn làm gì, quan niệm đơn giản là chỉ cần trả nợ, hoàn toàn là một quan niệm sai lầm và thụ động. Theo quan niệm kinh doanh hiện nay thì Ngân hàng và doanh nghiệp là bạn hàng. Mà đã là bạn hàng của nhau thì khi xác lập quan hệ phải tìm hiểu và thăm dò lẫn nhau, đặt ra cho nhau những điều kiện đảm bảo lợi ích cho cả đôi bên. Chính vì vậy, mà NHTM trước khi quyết định cho vay phải luôn đối mặt với hàng loạt câu hỏi khác nhau:

     

    Cho ai vay?

     

    Vay như thế nào?

     

    Cho vay trong thời gian bao lâu?

     

    Quản lí các khoản vay như thế nào? Thu gốc và lãi ra sao?

     

    Bên cạnh đó một nguồn vốn quan trọng được Ngân hàng sử dụng cho vay là tiền gửi của khách hàng. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, Ngân hàng còn phải đảm bảo an toàn và thanh khoản tức là phải hoạt động có trách nhiệm với những đồng tiền của khách hàng và phải thoả mãn bất cứ một nhu cầu rút tiền nào của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào.

     

    Đây là bài toán phức tạp mà Ngân hàng cần phải tìm lời giải đáp.

     

    11

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Quá trình tìm lời giải đúng cho bài toán này chính là công tác thẩm định các khoản cho vay.

     

    Trong quan hệ tín dụng, vấn đè cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để đưa ra một quyết định cho vay là hiệu quả và an toàn vốn của Ngân hàng.

     

    Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài, do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải dự án nào cần vốn Ngân hàng cũng đáp ứng. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có khả thi, tính đựơc khả năng sinh lời của dự án… Muốn vậy Ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp vào Ngân hàng dự án đầu tư trên cơ sở dự án đầu tư cùng với các nguồn thông tin khác, Ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án để đưa ra quyết định về tính khả thi của dự án.

     

    Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện:

     

    Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận một cách lôgíc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

     

    Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.

     

    Thế nhưng muốn xem xét hiệu quả thực sự cho hoạt động tín dụng thì Ngân hàng không chỉ cần dừng lại ở giai đoạn kiểm tra trước mà phải tiếp

     

    12

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    tục kiểm tra trong, sau quá trình cho vay, đảm bảo vốn của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, đem lai hiệu quả thực sự.

     

    * Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan

     

    Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta. Trong điều kiện hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay thì việc đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, với nguồn vốn hạn hẹp, số lượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quan trọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội. Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.

     

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.

     

    Tóm lại, vài nét nêu trên đã phần nào khắc hoạ được vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư. Chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một công việc hết sức quan trọng. Nó có vai trò trên cả tầm vĩ mô (xã hội) và tầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp). Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm định không những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh. Chính các yếu tố đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trình thẩm định dự án đầu tư.

     

    13

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    2.    PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

     

    2.1   Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.

     

    2.1.1 Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

     

    Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh liên quan đến dự án đầu tư:

     

    • Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của dự án, và các báo cáo tài chính…
    • Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp cung cấp.

    Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

     

    Như xem xét tính chính xác của thông tin, tính toán các chỉ tiêu, so sánh chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

     

    Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay không? Nếu có thì các điều khoản như thế nào?

     

    2.1.2 Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

     

    Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế, người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

     

    * Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

     

    Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Công thức tính:

     

    NPV = Co + PV

     

    Trong đó:

     

    NPV là giá trị hiện tại ròng

     

    Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu

     

    tư)

     

    PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại

     

    trong thời gian hữu ích của nó. PV được tính

         

    PV =

    C1

    +

    C2

    +

    C3

    + . . . . . +

    Ct

     
             

    (1 +r)

    (1+r)2

    (1+r)3

    (1+r)t

     
           

    Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

     

    • nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi phí bình quân của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện dự án…

    Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

     

    Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mô nguồn vốn, các dự án có NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0 ⇒ bác bỏ dự án

     

    15

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được chọn.

     

    Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu nhược điểm sau:

     

    Ưu điểm:

     

    Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

     

    Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.

     

    Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.

     

    Nhược điểm:

     

    Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ ⇒NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó khăn.

     

    Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).

     

    Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án. Đây là việc tính toán phức tạp mất thời gian.

     

    * Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

     

     

    16

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án. Về mặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

     

     

    C1

       

    C2

     

    CT

    NPV = C0   +

       

    +

       

    +…. +

       

    = 0

         

    (1 +IRR)

     

    (1+IRR)2

    (1+IRR)T

    • nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh.

    Người ta sử dụng hai cách:

     

    Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của dự án đầu tư.

     

    Phương pháp nội suy tuyến tính:       thường được sử dụng. Đầu tiên

     

    chọn 2 mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1 ⇒ có NPV1> 0

     

    Với r2⇒ có NPV2< 0

     

    Áp dụng công thức:

     

    IRR = r1

    +

    NPV

    1 (r1 r2)

     

    NPV 1

    NPV 2

     
       

    Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối đúng.

     

    Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

     

    17

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRRĐM (IRR định mức thông thường đó chính là chi phí cơ hội)

     

    So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mô nguồn vốn, các dự án có IRR ≥ IRRĐM được chấp nhận.

     

    Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn

     

    nhất.

     

    Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

     

    Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.

     

    Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm. Với dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác.

     

    Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư.

     

    Ngoài ra còn tính theo phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR) MIRR là tỉ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí đầu tư bằng giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của các luồng tiền ròng thu từ dự án với giả định luồng tiền này được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất bằng chi phí vốn. Đây cũng chính là điểm ưu việt của phương pháp MIRR so với phương pháp IRR.

     

    18

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Về mặt toán học, phương pháp tính NPVvà IRR luôn cùng đưa đến quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đói với những dự án độc lập. Tuy nhiên có thể có hai kết luận trái ngược cho những dự án loại trừ. Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai phương pháp, việc lựa chọn dự án đầu tư theo phương pháp NPVcần được coi trọng hơn bởi những phân tích đã chỉ ra rằng: phương pháp NPV ưu việt hơn phương pháp IRR.

     

    • Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)

    Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu.

     

    Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu (quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).

     

     

     

     

     

    19

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Công thức tương tự nhau

     

     

    Số năm trước năm

     

    Số năm ngay trước

     
     

    các luồng tiền

     

    Thời gian hoàn vốn =

     

    năm các

     

    của DA đáp ứng

    +

     

    Luồng tiền thu được

     
     

    được chi phí

     
       

    trong năm

     
         

    Việc tính toán có thể được thực hiện trên cơ sở lập bảng:

     

    Công thức tính thời gian hoàn vốn cung cấp một thông tin quan trọng rằng vốn của công ty bị trói buộc vào mỗi dự án là bao nhiêu thời gian. Thông thường nhà quản trị có thể đặt ra khoảng thời gian hoàn vốn tối đa và sẽ bác bỏ dự án đầu tư có thời gian hoàn vốn lâu hơn.

     

    Sử dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo nguyên tắc: Dự án có thời gian hoàn vốn càng nhỏ càng tốt, chọn dự án có thời gian hoàn vốn nhỏ nhất trong các dự án loại trừ nhau.

     

    Ưu điểm: của phương pháp này:

     

    Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc. Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết. Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án.

     

    Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giải pháp để rút ngắn thời hạn đó.

     

    Hạn chế: Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ không được đề cập. Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được

     

    20

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    hiệu quả tài chính của cả đời dự án. Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá. Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu.

     

    * Phương pháp tỷ số lợi ích / chi phí (Benefit-Cost Ratio: BCR)

     

    Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư (quy về thời điểm hiện tại).

     

    Bi

    i

     
     

    n

         
           

    BCR =

    i=0

    (1+r)

     

    Ci

    i

     
     

    n

         

    i=0 (1+r)

     

    Bi: Luồng tiền dự kiến năm i

     

    Ci: Chi phí năm i

     

    Nguyên tắc đánh giá: nếu có dự án có BCR ≥ 1. Suy ra được chấp nhận (khả thi về mặt tài chính).

     

    BCR là chỉ tiêu chuẩn để xếp hạng các dự án theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho dự án có BCR cao hơn.

     

    Ưu điểm: nó cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ đó giúp chủ đầu tư lựa chọn, cân nhắc các phương án có hiệu quả.

     

    Nhược điểm: là một chỉ tiêu tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông thường các dự án có BCR lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.

     

    * Phương pháp điểm hoà vốn:

     

    Điểm hoà vốn là điểm tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn (không lỗ, không lãi).

     

    21

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng mức sản lượng hoặc doanh

     

    thu:

     

    Sản lượng hoà vốn: Qhv

     

    Q

     

    =

    FC

     

    HV

    P V

     
       

    Trong đó:   FC: là tổng chi phí

     

    P : giá bán đơn vị sản phẩm

     

    • : chi phí biến đổi một sản phẩm (P-V. lãi gộp một đơn vị sản phẩm) Doanh thu hoà vốn

    RHV = QHV × P = P ×

    FC

    =

    FC

     

    P V

       
     

    1−

    V

     
     

    P

     
             

    Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm

     

    Nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì tính thêm trọng số của từng loại sản phẩm.

     

    RHV =

    FC

    n

     

    ∑(1−

    V i

    ) × wi

    i=1          Pi

     

    Thông thường người ta chọn một năm đặc trưng để tính. Dự án có điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt.

     

    Khả năng thu lợi nhuận càng cao ⇒ Khả năng thua lỗ càng nhỏ (hay vùng an toàn cao).

     

    22

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Sau khi có điểm hoà vốn, có thể xác định thêm chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn. Tính:

     

    Doanh thu hoà vốn

    Mức hoạt động hoà vốn =

     

    x 100%

     

    Doanh thu lý thuyết

     

    Doanh thu lí thuyết là doanh thu tính theo công suất thiiết kế. Mức hoạt động vốn cho thấy khả năng phát triển của dự án.

     

    Điểm hoà vốn chỉ xét riêng cho từng dự án cụ thể vì thực tế dự án thuộc các ngành khác nhau, có cơ cấu vốn đầu tư khác nhau.

     

    Nếu cùng một dự án mà có nhiều phương án khác nhau thì có thể nên ưu tiên cho những phương án có điểm hoà vốn nhỏ hơn.

     

    Ưu điểm: của phân tích điểm hoà vốn

     

    Đưa ra những chỉ tiêu về mức độ hoat động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lợi nhuận.

     

    Nó cho biết sản lượng hoà vốn là bao nhiêu, do đó lầm chủ đầu tư tìm cách đạt đến điểm hoà vốn trong thời gian ngắn nhất.

     

    Hạn chế: Điểm hoà vốn không cho biết quy mô lãi ròng của cả đời dự án cũng như hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra.

     

    Mặt khác, việc phân tích trở nên phức tạp và tính chính xác không cao khi có đầu tư bổ sung thay thế.

     

    Một yếu tố không kém phần quạn trọng cần được xem xét là.

     

    * Độ nhạy của dự án:

     

    Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiều mặt cấp độ khác nhau. Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án qua các chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài.

     

    23

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Để có một cách đánh giá khách quan toàn diện hơn về dự án, thông thường để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi có sự biến đổi của một số nhân tố:

     

    +Giá bán sản phẩm.

     

    • Giá đầu vào thay đổi. +Vốn đầu tư.

    +Tỷ giá lên xuống.

     

    Trên thực tế khi tính độ nhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thay đổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu %.

     

    • nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án là giúp cho ngân hàng có thể khoanh được hành lang cho sự đầu tư của doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, thẩm định dự án còn tiến hành thêm phân tích tài chính dự án đầu tư trong đó thường sử dụng các phương pháp phân tích sau.

     

    Phân tích diễn biến nguồn vốn sử dụng.

     

    Phân tích luồng tiền mặt.

     

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian.

     

    Kết hợp giữa đánh giá hiệu quả tài chính với phân tích tài chính dự án trong thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ cho Ngân hàng một kết qủa chính xác hơn, toàn diện hơn và bao quát hơn được toàn bộ dự án vừa xem xét trên từng góc độ cấp khác nhau.

     

    Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh. Tuy nhiên mức độ không như nhau. Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu

     

    24

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    chuẩn qua so sánh chỉ tiêu khác). Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêu chuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề. Như vậy qua việc thẩm định bằng một hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luận mang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệt tầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá. Mặt khác, kết luận chung đôi khi cũng cần tính linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khía cạnh nào đó của dự án.

     

    Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xác định chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở các dòng lợi ích, chi phí của dự án.

     

    Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự án phải là số liệu sau thuế. Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vào nghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại. Bên cạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuận sau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu động ròng thu hồi và giá trị thanh lí tài sản cố định. Khi thẩm định Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia.

     

    Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác động tới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng khác nhau. Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định. Tuy nhiên việc phân tích dự án trong điều kiện có lạm phát dự tính vẫn theo nguyên tắc cơ bản như trường hợp không có rủi ro lạm phát, có thể dùng dòng tiền danh

     

    25

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    nghĩa hoặc dòng tiền theo sức mua nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán (nghĩa là sử dụng tương ứng với tỉ suất chiết khấu danh nghĩa và tỉ suất chiết khấu thực). Trong thực tế, thường giá cả các yếu tố đầu vào, ra trong thời gian hoạt động của dự án được điều chỉnh theo một diễn tiến mà người thẩm định giả định cho các thời kì tương lai, phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối của giá trong tương lai cũng như dự đoán được tác động của lạm phát. Một yếu tố không kém phần quan trọng mà ta cần phải nói tới đó là độ nhạy của dự án.

     

    2.2      Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.

     

    2.2.1 Nhân tố chủ quan.

     

    Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.

     

    • Nhân tố con người.

    Con người được coi là động lực của sự phát triển xã hội với ý nghĩa họ chính là chủ thể đồng thời là đối tượng phục vụ mà các hoạt động xã hội hướng tới. Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau. Song ở đây, ta chỉ tập trung đề cập đến nhân tố con người dưới giác độ là đối tượng trực tiếp tổ chức, thực hiện thẩm định dự án đầu tư (cán bộ thẩm định).

     

    Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    có ý nghĩa nếu cán bộ thẩm định không thể không cố gắng sử dụng chúng một cách có hiêụ quả.

     

    Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế – xã hội. Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ sở các tri thức đã tích luỹ. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng như thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc tính toán theo những mẫu biểu sãn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định cố phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ công việc, mối quan hệ Ngân hàng – khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định.

     

    Những sai lầm trong thẩm định dự án tài chính đầu tư từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng như khả năng hoà trả vốn vay Ngân hàng, do đó Ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh.

     

    • Quy trình thẩm định:

    Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm định thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ. Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó. Quy trình thẩm định được xây

     

    27

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế mạnh và đặc trưng của Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính. Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng trên giác độ Ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng, nguồn, tiến độ …) hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án. Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá.

     

    Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng. Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn.

     

    Thực tế những năm vừa qua, các Ngân hàng thương mai Việt Nam đẫ chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển.

     

    Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn.

     

    * Phương pháp thẩm định:

     

    Đội ngũ cán bộ thực hiện quy trình thẩm định: Trình độ chuyên môn, hiểu biết các lĩnh vực liên quan tới dự án đầu tư như: Quản trị kinh doanh, kỹ thuật, đạo đức của cán bộ… đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả thẩm định. Thiếu hiểu biết sẽ làm công tác này mất thời gian, chi

     

    28

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    phí cho cả ngân hàng, doanh nghiệp ( có thể mất cơ hội kinh doanh, rồi có thể gặp rủi ro nợ không trả được…)

     

    * Nội dung thẩm định:

     

    Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình tài chính quá khứ, tài sản đảm bảo…kiểm soát sau vay đều ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án.

     

    • Các nhân tố khác:

    Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

     

    Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự án. Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.

     

    Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định. Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ tín dụng có thể yêu càu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những thông tin đó. Tuy nhiên như đã đề cập ở phần trước, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của dự án, hoặc không nhìn nhặn thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả thi trước Ngân hàng, do vậy không phải là nguồn thông tin duy nhất để Ngân hàng xem xét. Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt nhất những nguồn thông tin có thể được từ Ngân hàng Nhà nước, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho phân tích. Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

     

    Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào. Đánh giá trong điều

     

    29

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    kiện thông tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác. Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin.

     

    Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chấtt lượng thẩm định, quan hệ Ngân hàng – khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt.

     

    Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật. Công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngành Ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ thông tin đầy đủ, nhanh chóng. Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời.

     

    Tổ chức điều hành

     

    Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện, cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác. Như vậy việc tổ chức, điều hành hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng thẩm định.

     

    2.2.2 Nhân tố khách quan.

     

    Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể khắc phục và thích nghi.

     

    * Từ phía doanh nghiệp

     

     

    30

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thẩm định do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế rủi ro dự án tạo hoạt động không hiệu quả như dự kiến càng lớn với Ngân hàng – người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào dự án.

     

    Mặt khác tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho Ngân hàng về: tình hình sản xuất kinh doamh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong dự án… cũng như mọi vấn đề.

     

    * Môi trường kinh tế

     

    Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực phổ biến của chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành… chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.

     

    * Môi trường pháp lí

     

    Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự án). Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đỏi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống

     

    31

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng như khó khăn cho Ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau).

     

    3.    THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

     

    3.1   Khái quát về Ngân hàng thương mại.

     

    3.1.1   Khái niệm về Ngân hàng thương mại.

     

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát minh ra lửa” hay “sự phát minh ra bánh xe”…

     

    Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội.

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính). Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất.

     

    Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:

     

    Vốn

     

    -Người cho vay

     

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    -Chính phủ

     

    -Người nước ngoài

    Các trung gian tài chính.

     

    NHTM, Công ty tài chính,

     

    bảo hiểm

     

    -Người cho vay

     

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

     

    Vốn                                   -Chính phủ

     

    -Người nước ngoài

     

    Các thị trường tài

     

    chính

     

    Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam.

     

    Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trưng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại

     

    • lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

    33

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.

     

    3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại.

     

    3.1.2.1. Huy động vốn.

     

    Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

     

    * Huy động bằng tiền gửi

     

    – Tiền gửi không kỳ hạn:

     

    Thực chất là tiền gửi giao dịch của tổ chức, cá nhân. Với NH đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại có quy mô lớn thường là trên dưới 20% tổng nguồn huy động.

     

    Người sử dụng tài khoản loại này phần lớn để thanh toán cho khách hàng bằng cách phát hành séc hay rút tiền mặt. Đây vừa là tài sản có của khách hàng vừa là tài sản nợ của NH và NH có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó giúp cho NH huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng, qua đó thu chi phí dịch vụ và sử dụng tài sản này của khách hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh với chi phí rất thấp. Nhưng nó cũng yêu cầu NH phải dự trữ thường xuyên lớn nên nhiều khi bỏ qua cơ hội kinh doanh, ngược lại nếu dự trữ ít thì sẽ phải đi vay với chi phí cao.

     

    34

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Tuy nhiên với xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến nhờ ưu điểm an toàn, tiện lợi, chi phí lưu thông thấp và mục tiêu quan trọng nhất: Kiểm soát tốt hơn lượng tiền cung ứng thì tài khoản tiền gửi ở các NHTM Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.

     

    – Tiền gửi tiết kiệm:

     

    Là tài khoản có thời hạn cố định hoặc mức giới hạn về số tiền, tài khoản này đáp ứng nhu cầu của dân cư, hộ gia đình kinh doanh là chủ yếu vì họ có những món tiền nhỏ bé gửi vào rút ra bất thường.

     

    • Khác với hai loại trên tiền gửi có kỳ hạn là loại tài khoản có xác

     

    định trước số tiền gửi vào và thời gian rút ra. Về mức lãi có thể cố định hoặc giao động tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. ở Mỹ, tính trung bình thì khoản tiền gửi định kỳ này chiếm khoảng 30% tiền gửi NH. Có thể chia ba loại:

     

    • Tiền gửi có kỳ hạn ngắn ( dưới 1 năm)
    • Tiền gửi trung hạn ( từ 1-5 năm)
    • Tiền gửi dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

    Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn.

     

    Hai loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lợi chứ không phải để giao dịch như tài khoản không kỳ hạn. Vì vậy, nó có những ưu nhược điểm:

     

    Ưu điểm:

     

    • Tiền gửi tiết kiệm mang lại nguồn vốn lớn nhất trong các nguồn vốn huy động được, có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn.
    • Tiền gửi kỳ hạn là nguồn mang tính ổn định do hoạt động của NH, giúp NH chủ động trong ký kết hợp đồng tín dụng về lãi suất, thời hạn.

    Nhược điểm:

     

     

    35

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Tiền gửi tiết kiệm có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và NH phảI dự trữ lượng tiền lớn để chi trả và đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh.

    +Nếu lãi suất của loại tiền gửi kỳ hạn biến động lớn thì cũng gây khó khăn cho NH trong việc huy động cũng như cho vay.

     

    * Huy động bằng cách đi vay:

     

    • Đầu tiên các NH thường xét đến việc đi vay các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các NH khác. Khi mà họ cần cấp tín dụng với số lượng lớn cho khách hàng. Vì các tổ chức tín dụng thường xuyên có quan hệ giao dịch, thanh toán, hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và phát triể
    • Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ( nhưng thường là kỳ phiếu ở Việt Nam ).
    • Bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng bằng các chứng chỉ tiền gử Ngoài ra, còn có thể bán nợ.
    • Vay ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước), bằng tái chiết khấu thương phiế Hiện nay ở Việt Nam chỉ có hình thức cho vay tái cấp vốn cho các NHTM.

    * Nhận các quỹ uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế để cho vay đối tượng đã được lựa chọn.

     

     

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư …

    Ngân hàng có thể tạo nguồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là từ tiền gửi các cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ quan theo các loại hình thức khác nhau: ngắn, trung, dài hạn…Bên cạnh đó là hoạt động vay từ cá nhân, tổ chức… hoặc ngân hàng phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay từ các hình thức khác.

     

    3.1.2.2. Sử dụng vốn.

    Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:

     

    Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường không sinh lời.

     

    Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân

     

    37

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.

     

    Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.

     

    Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.

     

    Tuy nhiên, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án.

     

    Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương

     

    mại.

     

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần được đáp

     

    38

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được tăng lên gấp bội.

     

    Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ.

     

    Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.

     

    Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống

     

    39

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

     

    Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

     

    Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/người.

     

    Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong nước phải đảm bảo từ 20 – 25 tỷ USD.

     

    Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

     

    Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng

     

    40

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.

     

    Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.

     

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có

     

    41

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…

     

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết.

     

    Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?

     

    Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại * Đối với các doanh nghiệp.

     

    Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

     

    Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.

     

    42

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:

     

    Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm.

     

    Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.

     

    Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh.

     

    Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh

     

    44

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    sao cho có hiệu quả.

     

    * Đối với Ngân hàng.

     

    Các khoản cho vay trung – dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp.

     

    Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.

     

    Đối với nền kinh tế.

     

     

    45

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội.

     

    Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh.

     

    Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.

     

    Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn

     

    46

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng tham gia

     

    Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.

     

    Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng

     

    Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm

     

    Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn

     

    Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.

     

    Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.

     

    Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

     

    Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).

     

    Kiểm tra thẩm định xét                              Kiểm tra sử dụng vốn vay                        Kiểm tra xử lí, thu

     

    duyệt cho vay        trong khi cho vay       hồi nợ

     

    47

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào … nhằm đảm bảo có khoản cho vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định cho vay.

     

    3.2      Thẩm định dự án đầu tư của khách hàng.

     

    Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm định, các dự án đầu tư cần được nghiên cứu phân tích và kiểm tra một cách khoa học, theo các kinh nghiệm quản lý thực tế và theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng cácn bộ thẩm định không làm lại toàn bộ công tác của người lập dự án, tìm hiểu những nhược điểm, tồn tại của dự án để từ đó có quyết định về việc nên bỏ vốn đầu tư hay không hoặc đề suất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh đối với dự án trước khi tiến hành thẩm định. Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộthẩm định chính.

     

    Bước thẩm định sơ bộ.

     

    • Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu caauf chủ đầu tư bổ xung hoàn, tất kịp thời.

    48

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
    • Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
    • Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).

    Bước thẩm định chính thức.

     

    A.THẨM ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP VAY VỐN.

     

    1. THẨM ĐỊNH PHI TÀI CHÍNH.

    Mục đích của việc Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho Ngân hàng hay không khi thẩm định chủ đầu tư cần xem xét những vấn đề sau. Xem xét nguyện vọng của chủ đầu tư. Nguyện vọng của chủ đầu tư có chính đáng không ?

     

    Xem xét về cách pháp nhân của chủ đầu tư như: quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, biên bản bầu hội đồng quản trị, điều lệ hoạt động… Để biết chủ doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không.

     

    Phân tích về uy tín của chủ đầu tư. Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng về những người chủ đầu tư có uy tín lớn họ sẵn sàng tìm đủ mọi cách

     

    49

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    để trả nợ Ngân hàng. Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.

     

    Khi đánh giá những vấn đề này, cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng khách hàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc Ngân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ăn không có hiệu quả vay.

     

    2.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

     

    * Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

    Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:

     

    Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gần đây.

     

    Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).

     

    Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?

     

    Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.

     

    Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi cần thiết.

     

    50

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    * Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

     

    Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính của doanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tài sản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tình hình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như: Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng hay không? Quản lý tài sản(tình hình xử dụng tài sản cố định,tài sản lưu động như thế nào? tình hình kho tàng, máy móc, nhà xưởng, thiết bị ra sao?) Phân tích hiệu qủa tài chính: xác định cá hiệu qủa về tài chính, khả năng thanh toán, hiệu qủa kinh doanh, tình hình thực hiện ngân sách…

     

    Sau đây là nhưng chỉ tiêu cụ thể mà cán bộ tín dụng cần phải thẩm định.

     

    +Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay.

     

    Hệ số

    =

     

    Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp

    tài trợ

       

    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng.

    Trong đó: Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là vốn tự có.

     

    Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng bao gồm tổng tài sản nợ của doanh nghiệp.

     

    Hệ số tài trợ kỳ này mà lớn hơn kỳ trước và lớn hơn 0,5 là tốt. Nó thể hiện doanh nghiệp có sự tự chủ cao về tài chính.

     

    Năng lực đi vay: Là khả năng xin vay vốn của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay vốn.

     

    Năng lực

    =

    Nguồn vốn hi ện có của doanh nghiệp

     

    đi vay

    Vốn thường xuyên.

     
     

    51

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trả các khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhân viên. Trong một thời điểm nhất định. Khả năng thanh toán liên quan tới tổng số vốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiền ngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách.

    Khả năng thanh toán được phản ánh trên báo cáo tài chính và bản dự kiến luân chuyển tiền mặt. Nó được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán cuối cùng. Đây là nhóm chỉ tiêu tập trung sự chú ý nhiều nhất của Ngân hàng. Bởi vì thông qua đó, Ngân hàng có thể biết được số tiền doanh nghiệp dùng để thanh toán và số tiền doanh nghiệp phải thanh toán.

     

     

     

     

     

     

    52

     

     

    Chuyên đề thực tập

     

    Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

                   
       

    TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NHGIỆP

       

    TỪ NĂM 2000-2002

                 
       

    Các chỉ tiêu

    Đơn vị tính

    Năm 2000

    Năm 2001

    Năm 2002

     

    I. Tình hình sản xuất kinh

             
     

    doanh

             
     

    1.Giá trị tổng sản lượng

             
     

    2.Giá trị sản lượng hàng hoá

             
     

    tiêu thụ

             
     

    Sản phẩm A

             
     

    Sản phẩm B

             
     

    3. Tổng chi phí

             
     

    4. Kết quả SXKD

             
     

    II.Tình hình tài chính

             
     

    1.Vốn tự có

             
     

    2.Vốn huy động

             
     

    3.Vốn vay

             
     

    Vay ngắn hạn

             
     

    Vay trung- dài hạn

             
     

    4.Các khoản phải thu

             
     

    Trong đó: nợ khó đòi

             
     

    5.Các khoản phải trả

             
     

    6.Tổng tài sản lưu động

             
     

    8.Số lượng lao động

             
     

    9.Thu nhập bình quân

             
     

    III. Các chỉ tiêu kinh tế.

             
                   
    • Khả năng thanh toán chung: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình về khả năng thanh toán của doanh nghiệp

    Khả năng thanh toán chung

    Số tiền dùng để thanh toán

    =

     

    Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán

    Trong đó:

     

    ÖSố tiền để thanh toán gồm vốn bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá thành tiền (các khoản phải thu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho đã

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                       Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    loại trừ các khoản nợ khó đòi và hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, kém, mất phẩm chất)

     

    • Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người bán, người mua, các khoản phải trả công nhân, các khoản nợ Ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.

    Khả năng

    =  Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu ngắn hạn và có khả năng phải

           

    thu Thanh toán nhanh

    Các khoản nợ đến hạn

             

    Các hệ số hơn 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu nhỏ hơn một là khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu. Riêng hệ số khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt.

     

    Khả năng

     

    TT cuối cùng

    Tài sản

     

    Tài  sản

     

    Chênh lệch tỷ

    có lưu

    +

    thiếu chờ

    +

    giá và chỉ số

    động

    xử lý

    giá chưa xử lý

         

    =

     

    Nợ ngắn hạn Ngân

    Các khoản

    hàng và các tổ chức +

    nợ phải trả

    kinh doanh khác

     

    Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp rất xấu.

     

    • Các chỉ tiêu về sinh lãi: Ngoài các chỉ tiêu đã được xem xét trong bảng kết quả sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cần quan tâm một số chỉ tiêu sau:

    Doanh lợi

    =

    Lợi nhuận sau thuế

     

    Tổng tài sản có.

     

    vốn

     

    Đây là chỉ tiêu để đánh gía xem doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản có sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để so sánh với chi phí vốn(lãi tiền vay) khi xem xét cơ cấu

     

    54

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    của mình để sử dụng nguồn vay có lợi hơn hay kinh doanh vốn tự có lợi hơn.

     

    Doanh thu

     

    Tổng tài sản có

     

    Đây là chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá khả năng kinh doanh khi bỏ ra một đồng tài sản có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

     

    Bên cạnh việc đánh gía khả năng tự cân đối tài chính và khả năng tự thanh toán, việc xác định công nợ đòi hỏi sự thẩm định của cán bộ tín dụng: Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh giá tình hình quan hệ thẩm định, tình hình thanh toán với người mua, người bán và tình hình thực hện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của đơn vị xin vay vốn để từ đó đánh giá tính trung thực và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, uy tín trong quan hệ thanh toán.

     

    Thẩm định và phân tích chu đáo phần trên đây sẽ góp phần đảm bảo cơ sở vững chắc để dự án được đầu tư có hiệu quả và đơn vị có khả năng trả nợ Ngân hàng theo cam kết. Bản thẩm định này chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiếp tục thẩm định vào phần quan trọng nhất. Thẩm định dự án đầu tư. Nếu ở phần này Ngân hàng không hài lòng về tư cách của người xin vay thì Ngân hàng sẽ không đánh giá tiếp các yếu tố còn lại.

     

    B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    Mỗi dự án là một mắt vùng hay lãnh thổ. Mặt khác, không nhỏ đến thị trường, cụ động đến hoạt động xuất nhập quan trọng.

    xích quan trọng chương trình phát triển của việc một dự án được đầu tư sẽ có ảnh hưởng thể là tác động đến cung cầu hàng hoá, tác khẩu khác. Vì vậy việc thẩm định dự án là rất

     

    Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định những nội dung sau.

     

    55

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    1.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG

     

    Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án. Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước). Đối với những nguyên vật liệu mang tính thời vụ, cần tính toán dự trữ hợp lý để đảm bảo cung cấp thường xuyên tránh lãng phí không nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp để tránh bị ép giá. Cũng cần xem xét nguồn cung cấp, điện, nước, lao động… Nói tóm lại theo yêu cầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giao thông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của các phương án, xử lý nhân tố đó. Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học bởi đây là khâu hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành bại của dự án.

     

    Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu của sản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án cới giá cả thị trường hiện nay, tương lai dự báo những biến động về giá cả thị trường trong nước, ngoài nước … Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, các hợp đồng tiêu thụ, bao nhiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng biên bản đàm phán…

     

    Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuất thích hợp

     

    Phân tích dự đoán thị trường là công việc hết sức phức tạp nhưng quan trọng. Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cần phải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với

     

    56

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    số liệu thống kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đề liên quan.

     

    1. THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT.

    Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý. Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án. Để có thể có đầu ra như dự kiến, những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản…

     

    Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án.Thẩm dịnh mặt này nhằm trả lời câu hỏi liệu dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không? Mức độ công nghệ kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu dự kiến về sản phẩm dịch vụ.

     

    3.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:

     

    Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, quản lý trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu tư, nó tác động đến tiến độ thực hiện dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… Điều đó đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng cho việc vận hành có hiệu quả không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban, phân xưởng.

     

    Thẩm định về mặt lựa chọn địa điểm xây dựng dự án: để xem xét địa điểm xây dựng xem địa điểm xây dựng dự án có thuận tiện hay không?

     

    4.THẨM ĐỊNH KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xem xét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi

     

    57

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    ích đó. Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án. Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích và chi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự của nền kinh tế. Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá một cách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường – xem mức độ gây ô nhiễm môi trường có thể chấp nhận được hay không và khả năng, giải pháp cải thiện nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

     

    5.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:

     

    Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

     

    Sau 5 bước thẩm định trên Ngân hàng sẽ đi vào thẩm định tài chính dự án đầu tư với các nội dung cụ thể sau:

     

    Thứ nhất:

     

    +Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.

     

    +Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.

     

    + Xác định tiến độ cần bỏ vốn.

     

    Khi một dự án đầu tư mang đến Ngân hàng xin vay vốn thì dự án đầu tư đó đã được nhều cấp, ngành phê duyệt. Tổng vốn đầu tư được xác định. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn tiến hành xem xét laịi trên cơ sở những kết quả thẩm định khác của Ngân hàng. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư sẽ

     

    58

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    giúp cho các dự án thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả dự án đầu tư.Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

     

    Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí vốn làm giảm hiệu qủa của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí:

     

    • Chi phí lập dự án.
    • Chi phí thuê gia sư tư vấn soạn thả
    • Chi phí mua thông tin, tài liệ
    • Chi phí khảo sát thăm dò.
    • Chi phí hành chính.

    Chi phí đầu tư tài sản cố định.

     

    • Chi phí xây dựng nhà xưở
    • Chi phí mua máy móc.
    • Chi phí lắp đặt, vận hành chạy thử. -Chi phí thuê chuyên gia, công nghệ.
    • Chi phí tài sản lưu động.

    Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:

     

    • Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấ
    • Nguồn bên ngoài:

    +Từ nhà nước.

     

    +Từ NHTM.

     

    +Từ các nguồn khác.

     

    Ngân hàng xem xét, xác định số vốn đầu tư cho vay và một điều quan trọng nữa NHTM phải xem xét lại tiến độ bỏ vốn theo tiến độ thi công xây

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    lắp… có đúng lịch trình đã đề ra hay không? Và Ngân hàng cũng sẽ xây dựng được một lịch trình cho vay của mình phù hợp với yêu cầu và tiến độ bỏ vốn của dự án.

     

    Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.

     

    Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm định chính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính.

     

    +Xem xét tính toán các bảng tài chính.

     

    +Bảng dự trù chi phí sản xuất năm.

     

    +Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi.

     

    +Bảng dự trù cân đối kế toán.

     

    +Bảng dự trù cân đối thu chi.

     

    Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tính toán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác.

     

    Vấn đề xem xét và đánh giá cơ cấu nguồn vốn là hợp lí hay không còn tuỳ thuộc vào tính chất và điều kiện thực tế của dự án. Hơn nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hiệu quả của khả năng trả nợ của dự án.

     

    Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.

     

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu sau: NPV, IRR. Ngoài ra con căn cứ vào một số thông số khác như: thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn . . .

     

    Thứ tư:    Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.

     

    60

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo.

     

    Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phải đảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn. Quá trình này đòi hỏi sự cố gắng của cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.

     

     

     

     

     

     

     

     

    61

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    KẾT LUẬN

     

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ là một trong những khái cạnh cần phải tiến hành xem xét đối với mỗi dự án trước khi ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư dự án, đặc biệt dưới góc độ NHTM – nhà tài trợ lớn.

     

    Sau thời gian nghiên cứu và được viết chuyên đề “Thẩm định tài dự án đầu tư của NHTM”, em nhận thấy rằng những kiến thức được biết và được viết quả thực rất hạn hẹp và còn nhiều bất cập. Nhưng sự phát triển của ngành Ngân hàng nói chung và công tác thẩm định nói riêng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế của chúng ta như hiện nay chưa thích ứng với những phương pháp thẩm định tiên tiến, nhưng không hẳn là chúng ta bỏ qua những phương pháp thẩm định đó mà cần phải nắm vững nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

     

    Chủ đề nghiên cứu này không phải là hoàn toàn mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Từ những kiến thức đã được tổng hợp và phân tích đã được diễn giải thành bài viết, do đó bài viết chứa đựng những kiến thức cơ bản được học tại trường và thực tiễn, bên cạnh đó là những đề xuất mang tính chủ quan được xuất phát từ phương pháp nghiên cứu tư duy biện chứng, được gắn với thực tiễn của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

     

    Đề tài của luận văn tuy khá hạn hẹp song rất có ý nghĩa bởi tính phức tạp cũng như tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động của NHTM.

     

    Kính mong được sự giúp đỡ của thầy.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    62

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]