Category: Luận Văn Thạc Sĩ – Cao Học – Tiến Sĩ

  • Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Giới thiệu sàn giao dịch bất động sản và vai trò của sàn bất động sản trong nền kinh tế thị trường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ng%E1%BA%A1ch-chuy%C3%AAn-vi%C3%AAn-Tranh-ch%E1%BA%A5p-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-th%E1%BB%ABa-k%E1%BA%BF-l%C3%A0-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BA%A5t-ch%C6%B0a-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-c%E1%BA%A5p-gi%E1%BA%A5y-ch%E1%BB%A9ng-nh%E1%BA%ADn-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thừa uỷ quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Nội vụ tỉnh Đồng Nai đã phối hợp với Học viện Hành chính quốc gia tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính cho cán bộ lãnh đạo tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Đồng Nai (thời gian học từ 04/6 đến 11/9/2009) về bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý hành chính nhà nước.

    Qua thời gian ba tháng học tập, được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, được Quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính Quốc gia tranh thủ, tận tình chuyển tải những kiến thức và kỹ năng quí báu, sát tình hình thực tế công việc về quản lý hành chính nhà nước gồm những nội dung:

    • Nhà nước và pháp luật;
    • Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính;
    • Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.

    Đây là những nội dung vô cùng bổ ích và cần thiết cho người cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Qua gần 30 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời cũng nhận thức được rằng muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý, cần phải nhạy bén, nắm chắc được các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới Luật, vận dụng sáng tạo, kết hợp linh hoạt với thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ được giao.

    Vận dụng những kiến thức được học từ quý Thầy, Cô em mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng” để

    thực hiện tiểu luận cho chương trình “Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính”.

    Trang 2

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Thực tiễn cho thấy trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của công dân đúng cấp, đúng thẩm quyền và kịp thời không những đảm bảo được lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân mà còn góp phần ổn định an ninh – trật tự xã hội. Qua đó, góp phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí của công và các tệ nạn xã hội khác, xây dựng được khối đại đoàn kết trong nhân dân, tạo được niền tin của nhân dân đối với hệ thống bộ máy hành chính nhà nước. Mặt khác, thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ giảm thiểu tình trạng khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp. Đồng thời, nhiều cấp, nhiều ngành kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những sai sót, lệch lạc, những yếu kém trong công tác quản lý hành chính, kiến nghị với cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách, pháp luật sát với thực tiễn cuộc sống, xử lý nghiêm minh những người sai phạm hoặc tránh né trách nhiệm.

    Tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước là bài kiểm tra cuối khoá nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức lý luận vào điều kiện thực tiễn của hoạt động quản lý Nhà nước hiện hành. Thông qua đó, các học viên có vai trò như là người cán bộ, công chức có chức năng, thẩm quyền đưa ra phương hướng xử lý thực sự phù hợp với điều kiện thể chế; phong tục tập quán Việt Nam, phong tục từng vùng, miền. Song, những yêu cầu của tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước không đơn giản chỉ là việc giải quyết đơn thuần mà trong đó phải hàm chứa đầy đủ khả năng phân tích cơ sở lý luận, các quy định; đánh giá ưu, khuyết điểm của từng vấn đề… làm cơ sở cho việc đề xuất những kiến nghị theo từng nội dung. Do đó, mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thân có hạn, nên bài viết này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

    Trang 3

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN I

    GIỚI THIỆU TÌNH HUỐNG

    Ông Phạm Văn Sơn, nghề nghiệp làm ruộng, ngụ tại ấp Cầu Hang, xã Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và bà Trần Thị Bích Ngọc đã lấy nhau hơn 4 năm nhưng không sinh con. Vào năm 1980, Ông Bà Sơn đến Trung tâm Cô Nhi Đồng Nai xin con nuôi và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin nhận con nuôi có tên là Phạm Văn Đáp (lúc đó Đáp được 01 tuổi). Từ khi có anh Đáp, ba năm sau vợ chồng ông sinh thêm được 02 người con gái nữa lần lượt có tên là Đẹp và Đào.

    Đầu năm 1993, hộ gia đình ông Sơn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho 5 hécta đất nông nghiệp để trồng cà phê và cây ăn trái. Ông Sơn đã trồng cà phê và cây ăn trái trên hết diện tích đất nói trên. Hiện tại đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Vào năm 2004, anh Đáp lập gia đình và xin ra ở riêng, tại xã Tam An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Gia đình anh Đáp sinh sống bằng nghề làm ruộng và đã tự mua được 01 hécta đất để trồng cây cà phê và cây ăn trái.

    Năm 2007, Ông Sơn bị bệnh hiểm nghèo và qua đời. Trong lúc tang gia, mọi người xúm nhau dọn dẹp nhà cửa thì phát hiện di chúc của Ông Sơn (có công chứng của cơ quan nhà nước). Ông Sơn lập di chúc vào năm 2006 và để thừa kế lại cho anh Đáp 01 hécta đất trong tổng số 05 hécta đất nông nghiệp trồng cây cà phê và cây ăn trái; 01 xe gắn máy do ông Sơn đứng tên. Sau khi mở thừa kế, anh Đáp đã nhận 01 hécta đất, 01 xe gắn máy và Anh Đáp đầu tư hệ thống ống tưới tiêu để chăm sóc cho cà phê và cây ăn trái. Anh Đáp được hưởng thừa kế và làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng thì các em gái không đồng ý.

    Thế là Bà Ngọc và các con đồng ký đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã Hóa An khởi kiện đòi lại 01 hécta đất mà Anh Đáp được hưởng thừa kế và 01 xe gắn máy với lý do như sau:

    Trang 4

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được

    phân chia tài sản.

    • Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được để

    thừa kế cho con nuôi.

    • Gia đình duy nhất có 01 xe gắn máy làm phương tiện (Ông Sơn vẫn còn

    đứng tên) nên không thể giao cho Anh Đáp.

    • Anh Đáp không tận tình chăm sóc trong thời gian ông Sơn bị bệnh nên

    không được hưởng thừa kế của ông Sơn.

    Sau khi nhận đơn của bà Ngọc, Ủy ban nhân dân xã Hóa An đã chuyển hồ sơ lên Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa.

    Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa đã tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ký quyết định hành chính chấp thuận nội dung khởi kiện của bà Ngọc, buộc anh Đáp phải giao lại 01 hécta đất trồng cây cà phê và cây ăn trái cho bà Ngọc. Anh Đáp vẫn được sử dụng xe gắn máy do ông Sơn cho, tặng (vì giá trị xe gắn máy không đáng kể). Mặt khác, bà Ngọc phải trả lại cho anh Đáp 15 triệu đồng, số tiền mà anh Đáp đã bỏ ra để đầu tư hệ thống ống ngầm tưới tiêu phục vụ cho việc trồng trọt và công chăm sóc cây cối.

    Bất ngờ trước quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, anh Đáp đã làm đơn khiếu nại gửi đến phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

    Nhằm làm rõ hơn vấn đề, chúng ta phân tích nguyên nhân và hậu quả để có được định hướng chung trong việc đưa ra giải pháp xử lý cho thích hợp.

    Trang 5

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN II

    PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

    1. NGUYÊN NHÂN:

    1.1 . Về khách quan:

    Do quá trình đô thị hóa, phát triển các Trung tâm thương mại, khu công nghiệp, nhà cao tầng… đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại quỹ đất. Theo đó, giá trị đất nông nghiệp cũng ngày một tăng lên, dẫn đến phát sinh khiếu nại đòi lại, tranh chấp đất nông nghiệp ngày một gia tăng.

    Thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu. Việc tuyên truyền pháp luật ở cở sở chưa tốt dẫn đến người dân chưa hiểu hết trách nhiệm – nghĩa vụ và quyền lợi của mình.

    Bộ máy chính quyền cấp phường, xã bấy lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí có thể nói là bị xem thường. Khi tuyển dụng cán bộ, viên chức cấp xã không chú trọng việc đề ra chuẩn mực trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nhất định (chủ yếu tuyển dụng bằng “Mối quan hệ”). Vì thế, đội ngũ cán bộ, viên chức cấp xã vừa thiếu, vừa yếu.

    1.2 . Về chủ quan:

    Cán bộ, công chức là người thực thi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế công tác không phải tất cả cán bộ, công chức đều hiểu và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, một cách đúng đắn, phù hợp với chức trách nhiệm vụ được giao. Trong tình huống này hoặc do đưa đẩy, tránh né trách nhiệm hoặc do thiếu hiểu biết về pháp luật (như công chức xây dựng – điạ chính xã Hóa An) đã làm cho vụ việc thêm phức tạp. Đó là một trong những nguyên nhân của tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài gây khó khăn không đáng có.

    Người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật đã kiện sai nhưng không được giải thích ngay từ cơ sở; cán bộ quản lý hành chính nhà nước không nắm chắc

    Trang 6

    Tiểu luận tốt nghiệp

    các quy định của pháp luật nên đã tự tiện giải quyết vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình. Do đó dẫn đến việc ra quyết định hành chính sai.

    2. HẬU QUẢ:

    2.1. Tại Ủy ban nhân dân xã Hóa An:

    Trước tiên phải xác định nội dung của vụ kiện giữa bà Ngọc, các con và anh Đáp là tranh chấp tài sản thừa kế theo di chúc của Ông Sơn. Thực tế là kiện đòi lại quyền sử dụng đất nông nghiệp, tài sản trên đất cũng như tài sản là xe gắn máy.

    Trong chương VI, tại mục 2, điều 135 Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004) qui định:

    • “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc

    giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở”.

    • Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Uỷ ban

    nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai”.

    Như vậy Ủy ban nhân dân xã Hóa An sau khi nhận đơn của bà Ngọc đã không tiến hành tổ chức hòa giải giữa bà Ngọc và anh Đáp mà chuyển ngay đơn đến Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa là trái với qui định của pháp luật.

    Cũng trong chương VI, tại mục 2, điều 136, khoản 1- Luật đất đai năm 2003 qui định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

    “Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết

    như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5

     

    Trang 7

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”.

    Do hộ Ông Sơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho 5 hécta đất nông nghiệp để trồng cà phê và cây ăn trái bằng quyết định hành chính, nên theo qui định, khi đã tiến hành hoà giải mà không thành thì Ủy ban nhân dân xã Hóa An phải hướng dẫn cho các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân chứ không phải tự ý chuyển hồ sơ qua Ủy ban nhân dân thành phố.

    2.2. Tại Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa:

    Theo qui định, sau khi nhận được đơn kiện của bà Ngọc, do Ủy ban nhân dân xã Hóa An chuyển đến, Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa phải giải quyết như sau:

    – Xem xét hồ sơ: Nếu Ủy ban nhân dân xã Hóa An chưa tiến hành hòa giải thì trả hồ sơ lại và yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Hóa An tổ chức hòa giải giữa bà Ngọc và anh Đáp theo luật định.

    – Nếu đã hòa giải rồi mà không thành thì chỉ đạo và chuyển hồ về Ủy ban nhân dân xã Hóa An để hướng dẫn các đương sự nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết vụ khởi kiện tranh chấp. Vì như đã nêu trên, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là cây cà phê và cây ăn trái giữa bà Ngọc và anh Đáp là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

    Như tình huống đã đưa ra, Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận theo nội dung đơn kiện của bà Ngọc là không đúng với qui định:

    Như vậy việc Uỷ ban nhân dân thành phố Biên Hoà ra quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có gắn với tài sản trên đất (cây cà phê và cây ăn trái) là sai với thẩm quyền.

    Nội dung xử lý đơn khởi kiện sai với qui định của Pháp luật. Cụ thể là:

    Trang 8

    Tiểu luận tốt nghiệp

    1. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được phân chia tài sản. Nội dung kiện này sai. Vì đất của hộ gia đình ông Sơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất (đầu năm 1993 có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước) và đã sử dụng ổn định, lâu dài đến nay. Mặc dù hiện tại hộ gia đình ông Sơn chưa làm thủ tục để xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn là đất được giao hợp pháp.
    1. Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được thừa kế cho con nuôi. Vì đất nông nghiệp ở đây là đất trồng cây lâu năm (cây cà phê, cây ăn trái). Theo chương IV, mục 3, điều 113, khoản 5 – Luật đất đai qui định: “Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    Như vậy, ông Sơn có quyền để lại thừa kế cho anh Đáp trong phần diện tích đất của ông trong thành viên hộ gia đình (05 hécta chia 05 người, gồm Ông Sơn, Bà Ngọc, Chị Đẹp, Chị Đào và Anh Đáp: mỗi người là 01 hécta).

    1. Gia đình duy nhất có 01 xe gắn máy làm phương tiện (Ông Sơn vẫn

    còn đứng tên) nên không thể giao cho Anh Đáp. Trong thời gian ông Sơn bị bệnh, anh Đáp không tận tình săn sóc ông Sơn nên không được hưởng thừa kế của ông Sơn.

    Nội dung kiện như trên là sai. Vì theo quy định tại phần thứ tư, chương XXII, điều 631-Bộ Luật dân sự “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Theo điều 648 của chương XXIII thì anh Đáp hoàn toàn có đủ điều kiện để hưởng thừa kế của ông Sơn (thừa kế theo di chúc).

    Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa đã giải quyết vụ khởi kiện nói trên không đúng quy định của pháp luật.

    Trang 9

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Qua phân tích ở trên ta thấy rằng: vụ kiện giữa bà Ngọc và anh Đáp có thể giải quyết được ngay tại Ủy ban nhân dân xã Hóa An, thông qua bước hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã. Có như vậy sẽ hạn chế tình trạng kiện tụng, khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều nơi, gây phức tạp mà vẫn không giải quyết đến nơi, đến chốn, đúng pháp luật.

    Trang 10

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN III

    XÁC ĐỊNH YÊU CẦU MỤC TIÊU KHI XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

    * Mục tiêu chung:

    • Đảm bảo kỷ cương pháp luật, phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà Hiến pháp đã nêu: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân.
    • Giảm tối đa các mức thiệt hại kinh tế (nếu có), bảo vệ lợi ích của nhà

    nước, lợi ích chính đáng của công dân.

    • Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh

    tế – xã hội và tính pháp lý.

    • Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Mục tiêu của việc xử lý tình huống được đưa ra là vụ kiện về tranh

    chấp tài sản thừa kế theo di chúc giữa hộ gia đình bà Ngọc và anh Đáp. Vậy ta phải xác định rõ:

    • Đối tượng cần giải quyết?
    • Cấp nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ khởi kiện trên đúng theo quy định của pháp luật?
    • Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vụ kiện được xác định như

    thế nào?

    • Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp.
    • Làm thế nào để giải quyết nhanh, có hiệu quả cao đối với các vụ việc

    hành chính trong bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, mang lại sự hài lòng cho người dân.

    Thế nhưng do cách giải quyết của các cấp chính quyền ở thành phố Biên Hòa (từ xã đến thành phố) không đúng theo quy định của pháp luật nên đã dẫn đến hậu quả là:

    • Từ vụ kiện tranh chấp quyền thừa kế trở thành vụ khiếu nại đối với

    quyết định hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

    Trang 11

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Đã làm phức tạp thêm tình hình, từ khởi kiện rồi đến khiếu nại kéo dài, qua nhiều cấp, nhiều nơi giải quyết nhưng vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn

    trong tranh chấp.

    Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải căn cứ vào cơ sở pháp luật. Phân tích được nguyên nhân và hậu quả của vụ việc. Từ đó tìm ra giải pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề. Đồng thời cũng qua đó đúc kết được kinh nghiệm quý báu trong việc giải quyết vụ việc hành chính đối với cơ quan quản lý hành chính Nhà nước sao cho hợp tình, hợp lý.

    Trang 12

    Tiểu luận tốt nghiệp

     

    PHẦN IV

    XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN

    PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

    Như đã phân tích ở trên, phương án giải quyết tình huống đã đặt ra như

    sau:

    A. Phương án 1: giả thuyết.

    Nếu mọi công dân đều được tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến nơi đến chốn thì sẽ không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

    Tất cả cán bộ, công chức từ phường, xã đến thành phố đều làm việc tập trung, có trách nhiệm cao; nắm vững luật pháp, quy trình… thì không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

    B. Phương án 2: thuyết phục, giáo dục.

    Phương án này áp dụng đối với các trường hợp đơn giản, tính chất mức độ sự việc không nghiêm trọng. Chỉ đạo tổ dân phố và các tổ chức đoàn thể để thuyết phục, giải quyết.

    • Ưu điểm: đơn giản, không tốn kém, giữ được mối quan hệ tình cảm,

    láng giềng, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới tại cộng đồng khu dân cư, văn minh, lịch sự.

    • Nhược điểm: Phải xây dựng được các tổ chức đoàn thể đủ mạnh, uy tín,

    có kiến thức, có hiểu biết về pháp luật thì mới giải quyết có tình có lý, hài hòa giữa hai bên. Ngược lại, kỷ cương, phép nước dễ bị xem nhẹ.

    C. Phương án 3: các cơ quan chuyên môn cùng cấp sẽ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình đề ra biện pháp hợp lý, đúng pháp luật.

    Ưu điểm:

    Thực hiện đúng kỷ cương, phép nước. Thể hiện được tính nghiêm minh của Pháp luật và quyền lực của nhà nước.

    • Khuyết điểm:

    Trang 13

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Nếu xử lý không khéo thì đây là cơ hội phát sinh cho tiêu cực, nhũng

    nhiễu.

    Cụ thể:

    1 – Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai:

    Đơn của anh Đáp là khiếu nại đối với quyết định hành chính đầu tiên. Do đó, phải chuyển đơn về ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa để giải quyết khiếu nại (theo điều 2 và điều 3 Luật Khiếu nại, tố cáo).

    Phát hiện được Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định hành chính không đúng thẩm quyền, bỏ qua trình tự hòa giải từ cơ sở. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành Quyết định hành chính của mình. Đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã Hóa An giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

    2 – Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa:

    Sau khi nhận được đơn khiếu nại của anh Đáp do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chuyển đến, cùng ý kiến chỉ đạo thì Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa cần tiến hành:

    • Nhanh chóng ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính của mình (theo điều 35 – Luật khiếu nại tố cáo).

    Chuyển đơn của hộ gia đình bà Ngọc cùng hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã Hóa An. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã Hóa An tiến hành hòa giải tranh chấp quyền thừa kế tài sản theo quy định của Pháp luật.

    3 – Đối với Ủy ban nhân dân xã Hóa An:

    Sau khi nhận lại đơn của hộ bà Ngọc do Ủy ban nhân dân thành phố chuyển đến, tiến hành mời đương sự và các bên liên quan tiến hành hòa giải theo quy định của Pháp luật về quyền thừa kế tài sản.

    • Nếu hòa giải thành thì lập biên bản hòa giải thành và kết thúc vụ việc.

    Trang 14

    Tiểu luận tốt nghiệp

    + Nếu hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết.

    1. Phương án 4: chuyển hồ sơ qua Tòa án nhân dân giải quyết.

    Ưu điểm:

    Đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Khuyết điểm:

    • Có thể mất đi tình làng nghĩa xóm.
    • Kỷ cương pháp luật dễ bị xem nhẹ nếu xử lý không hợp lý.

    Sau khi nhận được đơn và các hồ sơ pháp lý liên quan của người khởi kiện, căn cứ vào các quy định của Pháp luật Toà án nhân dân xem xét:

    • Năng lực hành vi của các chủ thể.
    • Loại đất được hưởng thừa kế.
    • Tính hợp pháp của di chúc để thừa kế.
    • Diện tích đất để thừa kế theo di chúc so với phần diện tích của mỗi

    thành viên hộ gia đình ông Sơn.

    • Tổng diện tích đất sau khi được hưởng thừa kế của hộ gia đình anh Đáp

    so với hạn mức quy định của Pháp luật.

    • Tính hợp pháp về quyền sử dụng đất đã để thừa kế.
    • Đối tượng sử dụng đất sau khi được hưởng thừa kế, có thuộc đối tượng

    sử dụng đất hay không.

    Toà án nhân dân xem xét và thụ lý vụ án, đồng thời thông báo cho người khởi kiện đến làm thủ tục nộp tạm ứng án phí.

    Trang 15

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN V

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN

    Phân tích các phương án giải quyết tình huống nêu trên:

    • Phương án 1: giả thuyết, không chọn.
    • Phương án 2: Vì đã có quyết định hành chính sai nên áp dụng phương án

    này không khả thi.

    Vậy ta chọn phương án 3 kết hợp với phương án 4: các cơ quan chuyên môn cùng cấp sẽ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình thực hiện phương án. Cụ thể là cơ quan địa chính các cấp từ tỉnh đến xã sẽ tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp giải quyết theo phương án 3. Nếu giải quyết không thành thì chuyển sang phương án 4. Cụ thể như sau:

    1.     Các cấp Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố:

    Sẽ tiến hành giải quyết như đã trình bày ở phần phương án 3.

    2.     Đối với Ủy ban nhân dân xã:

    Trong quá trình hòa giải phải luôn luôn tôn trọng ý chí của mỗi bên đương sự tham gia khiếu kiện. Nếu như các bên đương sự khởi kiện (hộ bà Ngọc và anh Đáp) cùng thống nhất ý chí (và kết quả giải quyết khác so với ban đầu thì cũng phải ghi biên bản hòa giải thành theo ý chí mà họ đã cùng thống nhất).

    Trường hợp hòa giải không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên và nhất thiết phải đưa ra Tòa án nhân dân để giải quyết.

    3.Đối với Tòa án nhân dân:

    Nếu hòa giải không thành ở Ủy ban nhân xã thì Tòa án nhân dân tiến hành giải quyết như sau:

    • Tổ chức hoà giải giữa hộ bà Ngọc và anh Đáp Trường hợp hòa giải

    không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên để giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Trang 16

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Về chủ thể tham gia vụ kiện: Tất cả các thành viên (bà Ngọc, chị Đẹp,

    chị Đào và anh Đáp) đều đủ năng lực hành vi để tham gia xét xử trước Tòa. Chị Đẹp và Chị Đào là giáo viên tiểu học, vẫn chưa lập gia đình, phụ giúp công việc cùng bà Ngọc.

    • Loại đất để thừa kế là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (cà phê và cây

    ăn trái) của hộ gia đình đã có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sử dụng ổn địng từ năm 1993 đến nay. Do đó, đất được sử dụng hợp pháp, được quyền để thừa kế.

    Do vậy, các thành viên trong gia đình đều là đồng sở hữu diện tích đất tương ứng và được nhận thừa kế, để lại thừa kế cho người khác sau khi chết. Theo chương IV, mục 3, điều 113, khoản 5 – Luật đất đai qui định: “Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    • Hộ gia đình anh Đáp là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp nên thuộc đối tượng được sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm.
    • Di chúc của ông Sơn được lập trước khi ông qua đời có công chứng của nhà nước: Là di chúc hợp pháp.
    • Anh Đáp không phải con ruột của vợ chồng ông Sơn nhưng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin

    nhận con nuôi. Trong quá trình chung sống, Anh Đáp đã từng tham gia canh tác, trồng trọt, chăm sóc; do đó, anh Đáp vẫn có quyền được hưởng 01 hécta đất trong 05 hécta mà được nhà nước giao cho hộ ông Sơn vào năm 1993 (đồng sở hữu). Hơn nữa, Tòa xem xét quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm đó là giao đất canh tác cho số nhân khẩu trong một hộ gia đình.

    Trang 17

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Anh Đáp có quyền hưởng thừa kế theo di chúc của ông Sơn (theo điều

    648 – chương XXIII – Bộ luật dân sự). Diện tích đất 01 hécta để lại cho anh Đáp theo di chúc là phần đất của ông Sơn trong khối tài sản chung của hộ gia đình (05 hécta chia đều cho năm người, mỗi người là 01 hécta). Tuy nhiên, trong bản di chúc của ông Sơn không được sự thống nhất của gia đình bà Ngọc và các con gái. Ông không nhắc đến vợ và các con gái của ông (có lẽ ông đã dự báo trước được tình trạng đối xử của vợ và các con ruột đối với con nuôi sau khi ông mất). Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong gia đình; đặc biệt là thể hiện được nguyện vọng của Anh Đáp là luôn giữ mối quan hệ tình cảm tốt đẹp là truyền thống và đạo lý của người Việt Nam.

    Vì thế, Tòa căn cứ vào điều 669 – Bộ luật dân sự năm 2005: Là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc để quyết định việc phân chia 01 hécta đất và 01 xe gắn máy do Ông Sơn để lại trong di chúc: ”Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này”.

    Theo đó, Bà Ngọc là người được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

    Cụ thể như sau:

    Theo Điều 674, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định và Điều 676, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, Bà Ngọc là vợ, Chị Đẹp, Chị Đào con ruột và Anh Đáp là con nuôi. Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì 01 hécta đất nông nghiệp của ông Sơn để lại được chia ra

    Trang 18

    Tiểu luận tốt nghiệp

    làm 4 phần: gồm Bà Ngọc 0,25 ha, Chị Đẹp 0,25 ha, Chị Đào 0,25 ha và Anh Đáp 0,25 ha, nhưng Ông Sơn đã lập di chúc để lại toàn bộ 1 ha cho Anh Đáp.

    Do đó, theo quy định trên Bà Ngọc đuợc hưởng 2/3 của suất thừa kế theo pháp luật tương đương với 0,167 ha và Anh Đáp được hưởng 0,883 ha (Chị Đẹp và Chị Đào không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện cả hai chị đang là giáo viên của trường tiểu học xã Hóa An.

    • Tương tự đối với chiếc xe gắn máy (01 chiếc) tuy là do ông Sơn đứng tên nhưng tòa đã xác định đây là tải sản chung sau hôn nhân. Do đó, sau khi tính

    giá trị (10 triệu đồng) thì Ông Sơn và Bà Ngọc được chia đôi: Mỗi người được hưởng 5 triệu đồng. Nếu Anh Đáp toàn quyền sở hữu xe gắn máy thì phải trả một số tiền tương đương với 2/3 của suất thừa kế theo pháp luật đối với chiếc xe cho Bà Ngọc là 83.333 đồng (Chị Đẹp và Chị Đào không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện cả hai chị đang là giáo viên của trường tiểu học xã Hóa An.

    Căn cứ vào các quy định trên của pháp luật, Tòa án sẽ xử lý vụ kiện

    như sau:

    • Bảo vệ quyền được hưởng 01 hécta đồng sở hữu và hưởng thừa kế 0,833 hécta đất trồng cây cà phê và cây ăn trái của do ông Sơn để lại theo di chúc cho anh Đáp: tổng cộng 1,833 hécta.
    • Anh Đáp được quyền sở hữu xe gắn máy do Ông Sơn để lại theo di

    chúc với điều kiện phải trả một số tiền cho Bà Ngọc là 83.333 đồng.

    Trang 19

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN VI

    KẾT LUẬN : ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

    Tất cả các vụ khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất có thể giải quyết thành ở cấp cơ sở (cấp xã) khi cán bộ quản lý hành chính nhà nước cấp xã thông hiểu pháp luật, có kiến thức chuyên môn và có tinh thần trách nhiệm cao. Ngược lại, thì làm cho sự việc hành chính trở nên rắc rối; phát sinh khiếu nại từ cơ sở, gây ra sự mất đoàn kết và xáo trộn trong nội bộ nhân dân, gây mất niềm tin trong nhân dân.

    Do đó, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước yêu cầu về tiêu chuẩn hóa các chức danh cán bộ, công chức và đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng công chức nhà nước thành đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết pháp luật, có năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân là hết sức cần thiết và bức bách hiện nay.

    Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã đề ra Nghị quyết về việc “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách một bước nền hành chính nhà nước”. Trong đó ghi rõ: “Tiến hành sửa đổi bổ sung thể chế và đề cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các khiếu nại của công dân không cần đưa xử ở Tòa án”. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn là việc làm hết sức cần thiết. Cần phải chú trọng tối đa đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở cơ sở. Có chế độ đãi ngộ và chế độ thu hút xứng đáng để họ an tâm làm việc hết mình, nâng cao hiệu suất công tác phục vụ nhân dân.

    Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước bằng chủ trương, đường lối của Đảng. Đảng phải thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chủ trương, đường lối của mình.

    Quốc hội thành lập Ủy ban chuyên trách nghiên cứu làm luật. Phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nước cùng tham gia xây dựng luật. Nên thành lập

    Trang 20

    Tiểu luận tốt nghiệp

    “Công ty Ý tưởng” để buôn bán, trao đổi, hiến kế… nhằm làm giàu kho chất xám phục vụ cho các đề án, công trình nghiên cứu lớn cấp quốcgia hay xây dựng, bổ sung cho các bộ Luật.

    Quản lý nhà nước được thực hiện theo pháp luật là cơ sở chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, mọi vấn đề thuộc về quản lý phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm.

    Cần tăng cường tổ chức việc giáo dục pháp luật đến tận cơ sở; làm cho mọi người thông hiểu pháp luật. Thực hiện “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”. Giáo dục pháp luật cho công dân phải được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi. Các bộ luật cơ bản của nước ta phải được đưa vào thành môn học ngoại khóa cho học sinh phổ thông và tổ chức sinh hoạt theo tình huống tháng hoặc tuần/lần; sắm vai hoặc phiên tòa giả định sao cho thật sự thu hút, vui, dễ nhớ. Để sau này các em có một số kiến thức cơ bản, không chỉ góp phần nào cho sự hiểu biết về pháp luật của bản thân mà còn tham gia thuyết phục cho người thân trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

    Phải thực hiện cải cách hành chính trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai nhà ở, tránh gây phiền hà, hạch sách nhũng nhiễu nhân dân. Cần lưu ý nhất là khâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở sao cho nhanh chóng, dễ dàng. Trên thực tế, rất ít nơi thực hiện đúng cam kết này. Cũng như rất ít người dân làm được thủ tục này mà không qua đối tượng “trung gian”, người ta thường gọi là “cò”.

    Và điều sau cùng là thường xuyên tạo điều kiện nâng cao trình độ về mọi mặt nhất là kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ từ cơ sở đến thành phố, tỉnh… những người thường xuyên trực tiếp làm việc với người dân./.

    Trang 21

    Tiểu luận tốt nghiệp

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình quản lý hành chính nhà nước của Học viện hành quốc gia.

    2.Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm

    2004).

    3.Luật khiếu nại, tố cáo và các Nghị định hướng dẫn thi hành năm 2004.

    4.Bộ luật dân sự năm 2005.

    5.Một số tài liệu khác.

    Trang 22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-nh%E1%BA%B1m-gia-t%C4%83ng-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bài bản PDF tại đây: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

           I.            Những hiểu biết về môi trường đầu tư :

    1.      Khái niệm :

    Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp luật, kinh tế, xã hội, văn hóa và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan. Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    2.      Kết cấu :

    • Môi trường chính trị và pháp luật.
    • Môi trường văn hóa
    • Môi trường kinh tế và tài nguyên
    • Môi trường tài chính
    • Môi trường cơ sở hạ tầng
    • Môi trường lao động.

       II.            Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư :

    1.      Đối với những người quản lý nhà nước :

    Theo nhóm em, những người quản lý nhà nước khi nghiên cứu môi trường đầu tư sẽ hoàn thiện về những văn bản luật (Luật Đầu Tư,Luật Doanh nghiệp …) tạo nhiều điều kiện, chính sách ưu đãi hơn để thu hút vốn đầu tư.Cải thiện tình trạng cơ sở hạ tầng,giao thông.Ngoài ra còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước khác.Tăng khả năng phát triển kinh tế và hội nhập với nền kinh tế Thế giới.Tăng khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế của các nước khác, phát huy lợi thế.

    2.      Đối với các nhà đầu tư :

    Khi họ nghiên cứu môi trường đầu tư thì sẽ biết những ngành(nghề),lĩnh vực hoặc sản phẩm mà họ muốn đầu tư hoặc kinh doanh.

    Họ sẽ biết được những thuận lợi và khó khăn ở môi trường đầu tư đó để có những kế hoạch hoạt động hoặc có những quyết định có nên đầu tư (tiếp tục đầu tư) hay ko?

    III.            Thứ hạng về môi trường đầu tư của Việt Nam :

     

    Việt nam và các nước trong khu vực.

     

    Nền kinh tế Xếp hạng “Dễ dàng thực hiện kinh doanh” Bắt đầu kinh doanh Đăng ký giấy phép Tuyển nhân viên Đăng ký tài sản
    Viet nam 104 97 25 104 34
    Thailand 18 28 3 46 18
    Malaysia 25 71 137 38 66
    Philippines 126 108 113 118 98
    Indonesia 135 161 131 140 120
    Campuchia 143 159 159 124 100
     Lao PDR 159 73 130 71 148
    Timor 174 160 173 115 172

    (Nguồn của Bộ Tài Chính)

    Để biết rõ chi tiết về thứ hạng môi trường kinh doanh ở Việt Nam, ta hãy xem bảng sau :

    Vietnam
    Region: East Asia & Pacific
    Income category: Low income
    Population: 82,966,000
    GNI per capita (US$): 620.00
    Country laws: see our Law Library
     
    Ease of… 2006 rank 2005 rank Change in rank
    Doing Business 104 98 -6
    Starting a Business 97 89 -8
    Dealing with Licenses 25 28 +3
    Employing Workers 104 137 +33
    Registering Property 34 30 -4
    Getting Credit 83 76 -7
    Protecting Investors(bảo vệ cho nhà  đầu tư) 170 170 0
    Paying Taxes 120 116 -4
    Trading Across Borders(buôn bán qua biên giới) 75 68 -7
    Enforcing Contracts(hiệu lực của những hợp đồng) 94 90 -4
    Closing a Business(đóng cửa doanh nghiệp) 116 105 -11

    Starting a Business (2006)

    The challenges of launching a business are shown below. Included are: the number of steps entrepreneurs can expect to go through to launch, the time it takes on average, and the cost and minimum capital required as a percentage of gross national income (GNI) per capita.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 11 8.2 6.2
    Time (days) 50 46.3 16.6
    Cost (% of income per capita) 44.5 42.8 5.3
    Min. capital (% of income per capita) 0.0 60.3 36.1
    • Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 44,5% thu nhập bình quân đầu người. Các con số tương ứng trong khu vực là 8,2 bước thủ tục, 46,3 ngày và 42,8% thu nhập bình quân. Ưu điểm của Việt Nam trong tiêu chí này là không đòi hỏi mức vốn tối thiểu cần có khi thành lập doanh nghiệp

    Dealing with Licenses (2006)

    Shown below are the procedures, time, and costs to build a warehouse, including obtaining necessary licenses and permits, completing required notifications and inspections, and obtaining utility connections.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 14 17.6 14.0
    Time (days) 133 147.4 149.5
    Cost (% of income per capita) 56.4 207.2 72.0
    • Giải quyết giấy phép :Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh doanh ở Việt Nam tương đối gọn nhẹ so với khu vực nhờ những nỗ lực cải cách hành chính liên tục trong lĩnh vực kinh doanh. Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 133 ngày và 56% thu nhập bình quân đầu người; trong khi mức bình quân toàn khu vực là 17,6 bước thủ tục, 147,4 ngày và 207,2% mức thu nhập bình quân. Việc thực hiện tiêu chí này ở Việt Nam thậm chí còn tốt hơn các nước phát triển trong khối OECD và đã tăng ba bậc, từ hạng 28 lên hạng 25

    Employing Workers (2006)

    The difficulties that employers face in hiring and firing workers are shown below. Each index assigns values between 0 and 100, with higher values representing more rigid regulations. The Rigidity of Employment Index is an average of the three indices.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Difficulty of Hiring Index 0 23.7 27.0
    Rigidity of Hours Index 40 25.2 45.2
    Difficulty of Firing Index 70 19.6 27.4
    Rigidity of Employment Index 37 23.0 33.3
    Nonwage labor cost (% of salary) 17.0 9.4 21.4
    Firing costs (weeks of wages) 86.7 41.7 31.3
    • Thuê mướn nhân công :Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở sáu yếu tố:độ khó khi thuê người, tính cứng nhắc của giờ giấc làm việc, độ khó khi sa thải, độ linh hoạt của việc sử dụng lao động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương) và chi phí sa thải (số tuần lương phải bồi hoàn). So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam là nơi dễ tuyển lao động nhất, nhưng năm yếu tố còn lại đều khó khăn hơn. Ví dụ độ khó trong việc sa thải lao động ở các nước trong khu vực là 19,6% trong khi ở Việt Nam là 70%, chi phí sa thải lao động tương đương 41,7 tuần lương trong khi ở Việt Nam là 86,7 tuần lương. Tuy nhiên, so với năm ngoái tiêu chí này đã tăng 33 bậc, từ hạng 137 lên 104.

    Registering Property (2006)

    The ease with which businesses can secure rights to property is shown below. Included are the number of steps, time, and cost involved in registering property.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 4 4.2 4.7
    Time (days) 67 85.8 31.8
    Cost (% of property value) 1.2 4.0 4.3
    • Đăng ký tài sản :Doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không? Ở Việt Nam doanh nghiệp cần trải qua bốn bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có được sự bảo đảm này. Các chỉ số này tốt hơn so với mức bình quân khu vực (4,2 bước thủ tục, 85,5 ngày và 4% giá trị tài sản) nhưng tiêu tốn nhiều thời gian hơn các nước phát triển.

    Getting Credit (2006)

    Measures on credit information sharing and the legal rights of borrowers and lenders are shown below. The Legal Rights Index ranges from 0-10, with higher scores indicating that those laws are better designed to expand access to credit. The Credit Information Index measures the scope, access and quality of credit information available through public registries or private bureaus. It ranges from 0-6, with higher values indicating that more credit information is available from a public registry or private bureau.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Legal Rights Index 4 5.0 6.3
    Credit Information Index 3 1.9 5.0
    Public registry coverage (% adults) 2.7 3.2 8.4
    Private bureau coverage (% adults) 0.0 10.1 60.8
    • Đi vay :Tiêu chí này xem xét các biện pháp chia sẻ thông tin tín dụng, quyền lợi hợp pháp của người vay và người cho vay. Ở Việt Nam, quyền lợi hợp pháp này chỉ được đánh giá ở mức điểm 4/10, nghĩa là sự tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp còn bị hạn chế trong khi mức bình quân của khu vực là 5/10 và ở các nước OECD là 6,3/10. Doanh nghiệp khó thu nhận được thông tin về quy mô, cách tiếp cận và chất lượng của tín dụng thông qua các văn phòng đăng ký công cộng. Chỉ số thông tin tín dụng ở Việt Nam là 3/6; cao so với khu vực (1,9/6) nhưng rất thấp so với khối OECD (5/6). Văn phòng tư nhân trong lĩnh vực thông tin tín dụng gần như không tồn tại.

    Protecting Investors (2006)

    The indicators below describe three dimensions of investor protection: transparency of transactions (Extent of Disclosure Index), liability for self-dealing (Extent of Director Liability Index), shareholders’ ability to sue officers and directors for misconduct (Ease of Shareholder Suits Index) and Strength of Investor Protection Index. The indexes vary between 0 and 10, with higher values indicating greater disclosure, greater liability of directors, greater powers of shareholders to challenge the transaction, and better investor protection.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Disclosure Index 4 5.2 6.3
    Director Liability Index 0 4.4 5.0
    Shareholder Suits Index 2 6.1 6.6
    Investor Protection Index 2.0 5.2 6.0
    • Bảo vệ nhà đầu tư :Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6 xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2/10 trong khi khu vực là 5,2/10 và khối OECD là 6/10. Yếu kém nhất là chỉ số về trách nhiệm của giám đốc (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10 và 4/10). So với năm ngoái, thứ hạng của tiêu chí này không thay đổi.

    Paying Taxes (2006)

    The data below shows the tax that a medium-size company must pay or withhold in a given year, as well as measures of the administrative burden in paying taxes. These measures include the number of payments an entrepreneur must make; the number of hours spent preparing, filing, and paying; and the percentage of their profits they must pay in taxes.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Payments (number) 32 29.8 15.3
    Time (hours) 1,050 290.4 202.9
    Profit tax (%) 21.6 19.7 20.7
    Labor tax and contributions (%) 19.7 10.9 23.7
    Other taxes (%) 0.2 11.6 3.5
    Total tax rate (% profit) 41.6 42.2 47.8
    • Thuế khóa :Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam không nặng, mức chính thức là 28% nhưng tính ra doanh nghiệp phải chi đến 41,6% lợi nhuận cho thuế thu nhập doanh nghiệp, có thể vì ngành thuế không chấp nhận nhiều khoản chi phí khấu trừ. Mức này chưa bằng mức 42,2% của khu vực và 47,8% ở các nước OECD. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việc trong khi ở các nước trong khu vực là 29,7 lần nộp và 290,4 giờ làm việc. So với năm ngoái giảm bốn bậc, từ 116 xuống 120.

    Trading Across Borders (2006)

    The costs and procedures involved in importing and exporting a standardized shipment of goods are detailed under this topic. Every official procedure involved is recorded – starting from the final contractual agreement between the two parties, and ending with the delivery of the goods.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Documents for export (number) 6 6.9 4.8
    Time for export (days) 35 23.9 10.5
    Cost to export (US$ per container) 701 885 811
    Documents for import (number) 9 9.3 5.9
    Time for import (days) 36 25.9 12.2
    Cost to import (US$ per container) 887 1,037 883
    • Buôn bán xuyên biên giới :Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 35 ngày và tốn 701 đô la. Con số này ở các nước trong khu vực là 6,9 loại hồ sơ, 23,9 ngày và 885 đô la. Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có chín loại hồ sơ, mất 36 ngày và 887 đô la. Con số tương tự ở khu vực là 9,3 loại hồ sơ, 25,9 ngày và 1.037 đô la.

    Enforcing Contracts (2006)

    The ease or difficulty of enforcing commercial contracts in is measured below. This is determined by following the evolution of a payment dispute and tracking the time, cost, and number of procedures involved from the moment a plaintiff files the lawsuit until actual payment.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 37 31.5 22.2
    Time (days) 295 477.3 351.2
    Cost (% of debt) 31.0 52.7 11.2
    • Thực hiện hợp đồng :Ở Việt Nam, việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng thương mại tương đối thuận lợi. Doanh nghiệp chỉ phải trải qua 37 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trị món nợ là hợp đồng được thi hành, trong khi ở khu vực bình quân phải qua 31,5 bước thủ tục, tốn 477,3 ngày và 52% giá trị khoản nợ.

    Closing a Business (2006)

    The time and cost required to resolve bankruptcies (phá sản) is shown below. The data identifies weaknesses in existing bankruptcy law and the main procedural (thủ tục) and administrative bottlenecks (tắc nghẽn) in the bankruptcy process. The recovery rate, expressed in terms of how many cents on the dollar claimants recover from the insolvent firm, is also shown.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Time (years) 5.0 2.4 1.4
    Cost (% of estate) 14.5 23.2 7.1
    Recovery rate (cents on the dollar) 18.0 27.5 74.0

    (Theo nguồn của World Bank)

    • Đóng cửa doanh nghiệp :Việc phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiêu khê. Thủ tục phá sản phải mất ít nhất năm năm, tốn kém đến 14,5% giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì cứ 1 đồng tiền đầu tư chỉ thu hồi được 18 xu. Ở các nước, thủ tục phá sản chỉ cần 2,4 năm, chi tiêu 23,2% giá trị tài sản doanh nghiệp và thu hồi được 27,5 xu cho mỗi đồng đầu tư.

     IV.            Những thành công và những hạn chế trong môi trường đầu tư ở Việt Nam :

    1.      Thành công :

    • Việt Nam đã tổ chức thành công APEC, gia nhập WTO và được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận trao Quy chế quan hệ mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR). Những thành quả này đã thúc đẩy những tiến bộ của môi trường thương mại và đầu tư Việt Nam, được minh chứng do những kết quả xuất sắc về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), số lượng dự án ODA và tăng trưởng thương mại quốc tế.
    • GDP (danh nghĩa) : ước khoảng 60 tỷ USD,tức là khỏang 974 ngàn tỷ đồng tăng trưởng GDP ở mức 7,5-8%.
    • Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006: đạt : 8.17%.
    • VN cải thiện 3 bậc trong bảng xếp hạng về tham nhũng.
    • VN đã đạt điểm tiến bộ hơn khi từ hạng 13 năm ngoái (7,91 điểm) nhảy lên hạng 10 (7,54 điểm, với điểm 0 là tốt nhất và điểm 10 là tham nhũng nhất), theo kết quả xếp hạng mức độ tham nhũng của Trung tâm Tư vấn rủi ro về chính trị và kinh tế (PERC, trụ sở tại Hong Kong) công bố ngày 13-3.

    Dưới đây là xếp hạng về tham nhũng của 13 nền kinh tế châu Á:

    (Theo nguồn www.tuoitre.com.vn ngày 14/03/2007)

    Nước Xếp hạng
    Singapore 1
    Hong Kong 2
    Nhật Bản 3
    Ma Cau 4
    Đài Loan 5
    Malaysia 6
    Trung Quốc 7
    Hàn Quốc 8
    Ấn Độ 9
    Việt Nam 10
    Indonesia 11
    Thái Lan 12
    Philippines 13
    • Hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là cảng biển, đường hàng không, đường bộ tại Việt Nam đang được cải thiện và mở rộng tới nhiều trung tâm kinh tế trong khu vực.
    • Tăng trưởng kinh tế mạnh, quá trình công nghiêp hóa nhanh, chính trị ổn định.
    • Xếp hạng rủi ro kinh tế, chính trị: VN xếp thứ 7/12 nền kinh tế châu Á : Theo báo cáo so sánh độ rủi ro các quốc gia năm 2007 (CCRR) vừa được Tổ chức Tư vấn rủi ro kinh tế và chính trị (PERC) công bố, VN là một trong những nước châu Á có độ rủi ro về kinh tế, chính trị và xã hội ở mức thấp. Đây là kết quả khảo sát do PERC thực hiện trên gần 1.500 doanh nghiệp tại 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á, cùng với Mỹ và Úc.
    • dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2007 đã tăng thêm 3 tỷ USD, đạt mức 15 tỷ USD”.

    2.      Hạn chế :

    • Việc thực hiện các chính sách đều hành vĩ mô đối với môi trường kinh doanh còn yếu kém, làm mất nhiều thời gian của các nhà kinh doanh .
    • Nạn tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ, tính minh bạch và có thể dự báo của hệ thống pháp luật, chất lượng hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng.
    • Vẫn còn nạn thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
    • Tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông đang là vấn đề cấp bách nhưng chưa được giải quyết triệt để
    • Chưa giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam .

        V.            Những giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư :

    • Chính phủ tăng cường hỗ trợ thông tin về thương mại, tài chính, công nghệ cho doanh nghiệp thông qua cho phép hình thành Trung tâm Thông tin độc lập ứng dụng công nghệ truyền thông đa phương tiện để doanh nghiệp có thể nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhất, nhằm đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
    • Việt Nam cần phải cải thiện hệ thống giáo dục vì giáo dục trực tiếp ảnh hưởng đến các chọn lựa và tiềm năng của thế hệ tương lai.
    • Nâng cao bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
    • Sớm có các qui định hướng dẫn thực hiện luật.
    • Nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng,và hiệu quả làm việc của hệ thống hành chính.
    • Cải thiện tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông và giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam, để nhằm biến Việt Nam thành một điểm đến đầu tư thân thiện và hấp dẫn hơn.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUI HOẠCH CÁC CƠ SỞ LOGISTICS KINH DOANH THƯƠNG MẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-LOGISTICS-VI%E1%BB%86T-NAM-KH%C3%94NG-NHANH-C%E1%BA%A2I-TI%E1%BA%BEN-S%E1%BA%BC-CH%E1%BA%ACM-%C4%90%C3%80-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

     

    LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN

    1.Thực trang và những yêu cầu bức thiết đối với ngành logistics Việt Nam

    Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ, logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể hơn 30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Những kiến thức về logistics và các hoạt động logistics mới thâm nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, trước hết và chủ yếu thông qua hoạt động của các công ty vận tải giao nhận nước ngoài và một số người được đào tạo tại nước ngoài.
    Thực tế thì logistics được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, quân sự và trong từng lĩnh vực đó mục tiêu, phạm vi hoạt động cũng như tiêu chí đánh giá là hết sức khác nhau. Nhìn từ góc độ vĩ mô, có thể hiểu logistics theo hai cấp độ cơ bản: cấp độ vi mô (trong lĩnh vực quản trị sản xuất của doanh nghiệp) và cấp độ vĩ mô như một ngành kinh tế.
    Trên tầm vĩ mô thì điều quan tâm là xây dựng một mạng lưới logistics đa dạng, uyển chuyển cho phép chuyển tối ưu bộ phận sang tối ưu toàn bộ nhằm mục đích tối ưu hiệu quả của vòng quay tăng trưởng, vòng quay thu mua hàng hoá, sản xuất, phân phối bán hàng, vận tải, tái chế và sử dụng lại các nguồn nguyên vật liệu từ các công ty đơn lẻ đến toàn bộ ngành công nghiệp thông qua sự hợp tác.Như vậy, hoạt động logistics đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, lưu thông, phân phối của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong kinh doanh xuất nhập khẩu.Mục tiêu cần đạt được của logistics trên bình diện quốc gia là khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực quốc gia trong các hoạt động vận tải, giao nhận, lưu trữ hàng hoá và những hoạt động khác có liên quan. Để làm được điều này chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng logistics và một hệ thống các văn bản luật – kinh tế phù hợp điều chỉnh các hoạt động có liên quan đến logistics và dịch vụ logistics, tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển logistics cũng như dịch vụ logistics.

    Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên dịch vụ logistics, nhưng doanh nghiệp dịch vụ logistics thực sự thì không nhiều. Nói một cách giản đơn theo nghĩa đen thì những nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói Door to Door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những người tích hợp hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển Door to Door.

    Ở Việt Nam dịch vụ logistics (giao nhận – kho vận) là chuỗi các hoạt động thương mại từ vận tải, kho bãi, thủ tục xuất nhập cảng, phân phối, lưu thông hàng hóa, chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Theo thống kê năm 2007 thì cả nước có khoảng 900 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics tại Việt Nam đang có những bước phát triển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics, và mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ khổng lồ này. Ngành công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời kỳ phôi thai, phần lớn của hệ thống logistics chưa được thực hiện ở một cách thức thống nhất và  quy mô của phần lớn các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, nguồn nhân lực còn hạn chế nhiều mặt, thiếu kinh nghiệm thương trường…

                Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại Việt Nam nói chung còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, bố trí bất hợp lý. Về tổ chức bộ máy, do vốn và nhân lực ít nên việc tổ chức bộ máy của các doanh nghiệp này rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp trong logistics không có. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có văn phòng đại diện của chính công ty mình đặt tại nước ngoài. Các thông tin từ nước ngoài, công việc phải giải quyết ở nước ngoài của một số công ty lớn hơn đều do hệ thống đại lý thực hiện, cung cấp.Bên cạnh đó hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container.
    Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như TSN, Nội Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt Việt Nam vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ. Và khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.

    Hạn định 2009 mở cửa lĩnh vực logistic không còn xa. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà. Áp lực cạnh tranh rất lớn từ việc hội nhập quốc tế, sự lớn mạnh không ngừng của thị trường cũng như những đòi hỏi ngày càng tăng từ phía khách hàng cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp logistic. Một điều đáng buồn nữa là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước tuy quy mô nhỏ, manh mún nhưng lại chưa biết liên kết lại, mà kinh doanh theo kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch vụ để giành được hợp đồng. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp là dịch vụ vận tải (đường bộ, đường sắt, hàng không); dịch vụ môi giới thuê tàu biển; dịch vụ giao nhận; kho bãi… nhưng do hệ thống giao thông vận tải trên EWEC chưa được cải  thiện và đồng bộ đã làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh. Chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt  động logistics tại các đơn vị còn rất thấp. Đáng ngại hơn, hiện tại các doanh nghiệp logistics tại Đà Nẵng phần lớn là những doanh nghiệp “mua bán phí”, các doanh nghiệp thực sự có tiềm lực về năng lực vận chuyển, thiết bị bốc xếp, kho bãi… chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp Nhà nước. Và chủ yếu là hạ giá thành thuê container, điều này chỉ có các doanh nghiệp trong nước bị thiệt, còn doanh nghiệp nước ngoài là những người chủ tàu sẽ đóng vai trò ngư ông đắc lợi. Một thực tế khác là trong khi các doanh nghiệp của ta còn đang mải “đá nhau” thì các tập đoàn hàng hải lớn trên thế giới như APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics, NYK Logistics…, những tập đoàn hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước. Ví dụ khi nhà máy Canon ở Quế Võ, Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn gói vận chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL Vietnam, Dragon Logistics đều tham gia đấu thầu. Cuối cùng doanh nghiệp thắng là doanh nghiệp chào giá dưới giá thành ở công đoạn chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy giá vận tải biển bù lại. Như vậy, các doanh nghiệp không có tàu biển chắc chắn phải chịu thua độc chiêu này.

    Từ những yêu câu bức thiết trên nếu Logistics Việt Nam không nhanh cải tiến thì nền kinh tế sẽ chậm đà phát triển ,trở nên lạc hậu so với các nước đang phát triển.

    2.Cơ hội khi gia nhập WTO:

    Gia nhập WTO, áp lực với cạnh tranh trong ngành logistics của Việt Nam ngày một cao hơn. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam.

    Mặc dù còn thực hiện theo lộ trình nhưng ngành logistics của Việt Nam đã thực sự gia nhập WTO, một tổ chức thiết lập các nguyên tắc và quy tắc nhằm tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển trong thương mại dịch vụ cũng như mở rộng xuất khẩu dịch vụ của các nước này thông qua việc tăng cường khả năng cạnh tranh trong nước. Đó là mục tiêu gia nhập WTO của ngành thương mại dịch vụ và như vậy logistics VN đã có cơ hội lớn hơn để xã hội hóa dịch vụ của mình.

    Thực tế trong thời gian qua, một số doanh nghiệp logistics Việt Nam đã cung cấp dịch vụ logistics ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia và phối hợp với bạn hàng nước ngoài để thắng thầu cung cấp dịch vụ logistics từ nước thứ ba quá cảnh Việt Nam đi Trung Quốc, Lào hay Campuchia. Đây thực sự là những sản phẩm dịch vụ đã xuất khẩu và thu ngoại tệ về cho đất nước, cho doanh nghiệp Việt Nam.

    Tiếp cận, hợp tác, liên kết với các bạn hàng nước ngoài một cách bình đẳng, đặc biệt là những bạn hàng thuộc các nước đã có nghề logistics phát triển cao để học hỏi kinh nghiệm về tổ chức, quản lý nghề nghiệp, chính là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp khách hàng nước ngoài ngay trên đất nước mình.

    Và theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp trên 25% GDP cả nước. Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo, đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU. Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.
    Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển. Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn.

    3.Biện pháp cải tiến:

    Để Logictisc Việt Nam có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì tất cả các cơ quan bộ liên quan nhanh chóng cải tiến và khắc phục những khó khăn mà hiện nay logictisc Việt Nam đang gặp phải.

    – Nhà nước cần phải có chính sách qui định, cụ thể rõ ràng:

    + Nhanh chóng có biện pháp đầu tư, hổ trợ hợp lý để cải tiến đường xá cầu cống, cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, đường sông, kho bãi trang thiết bị, ngân hàng, bảo hiểm…theo một kế hoạch tổng thể, có khả năng tương tác và hỗ trợ qua lại lẫn nhau một cách có hiệu quả nhằm tạo thuận tiện cho việc lưu thông vận chuyển hàng hoá, phát triển Logistics.

    + Đầu tư và nâng cấp hạ tầng giao thông vận tải, khuyến khích vận tải contarner đường sắt, chú trọng đầu tư xây dựng cảng nước sâu trung chuyển khu vực.

    + Khuyến khích Công ty đa quốc gia, các Công ty logistics quốc tế và các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác bằng các chính sách ưu đãi để họ vào hoạt động trong khu vực các khuyến khích các hình thức liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp logistics trong và ngoài nước nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng dịch vụ logistics, đẩy mạnh việc phát triển các khu công nghiệp, khu thương mại tự do như là một phần của chính sách mở rộng cảng nhằm mục tiêu tăng lưu lượng hàng hóa cho cảng và tạo ra dịch vụ giá trị gia tăng để thu hút các trung tâm logistics của các công ty đa quốc gia tham gia  cung ứng.Từ đó tạo ra thêm việc làm và thu nhập cho địa phương, tăng sắc màu cho hoạt động logistics. Để khai thác lợi thế của cảng đầu mối, có kế hoạch đẩy mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ cho việc khai thác logistics trong tương lai như: đảm bảo kỹ thuật, sửa chữa bảo dưỡng phương tiện vận tải, cung ứng xăng dầu, cứu hộ, ăn nghỉ… trên EWEC.

    + Xây dựng hành lang khung pháp lý mở và chọn lọc đảm bảo tính nhất quán thông thoáng và hợp lý trong các văn bản, quy định liên quan đến lĩnh vực Logistics.

    + Các trường đại học,cao đẳng mở khóa đào tạo dài hạn, ngắn hạn nhằm giải quyết vấn đề thiếu nguồn nhân lực cho ngành logistics.Tuy nhiên để đầu ra nguồn nhân lực này có chất lượng, các công ty cần “bắt tay” với những trường ở địa phương đào tạo ngành này.Ví dụ như có chương trình hỗ trợ sinh viên kiến tập, thực tập về thực tiễn hoạt động theo đặc thù của công ty hoặc có thể đóng góp vật chất và chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp việc  đào tạo có hiệu quả và phù hợp với nền kinh tế thị trường

    – Tìm kiếm nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cho các chương trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước. Phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức FIATA, IATA và các tổ chức phi chính phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên hơn. Mặt khác các doanh nghiệp cũng cần phải kết hợp chặt chẻ với hiệp hội, thông báo với hiệp hội nhu cầu đào tạo nhân lực của mình để hiệp hội có hướng giải quyết.

    – Thị trường logistics Việt Nam đang ở trong giai đoạn cực kỳ phân tán và manh mún. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chỉ thuần tuỳ hoạt động trong một số phạm vi hẹp và truyền thống như vận tải, giao nhận hoặc kho bãi mà thiếu một tư duy chiều sâu. Đã đến lúc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần ngồi lại với nhau cùng hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin- đây là hai thế mạnh rất nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài. Cùng với xu hướng cổ phần hoá mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở lên rất khả thi. Gần đây đã có nhiều công ty đi theo mô hình này mà cụ thể là giữa các công ty dịch vụ cảng, kho bãi và vận chuyển. Song việc liên kết hợp tác không chỉ là việc 1+1 mà là một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu, quá trình ấy đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện việc tái lập đến tận gốc dễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết, họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công .
    Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước đã đi trước để xây dựng một hệ tiêu chuẩn hướng dẫn cho doanh nghiệp mà ở đây vai trò của nhà nước và hiệp hội, mà cụ thể là hiệp hội logistics là cực kỳ cần thiết.
    Đầu tư và xây dựng lại hệ thống thông tin mới để hỗ trợ cho chuỗi cung ứng.

    –  Xác định chuỗi cung ứng là một trong những lợi thế cạnh tranh.

    –  Nâng cao sự cộng tác (collaboration) với các đối tác trong chuỗi cung ứng.

    – Phải nâng cao uy tín và niềm tin với các vị trí khác trong chuỗi cung ứng, trong đó quan trọng nhất là giữ uy tín với người tiêu dùng, và giá phải rẻ.

    – Phát huy thế mạnh và giảm dần các thế yếu, từ từ sẽ nâng cao giá trị, tích lũy nhiều kinh nghiệm để ngày càng trở thành một vị trí khó có thể thay thế.

    – Phải khắc phục các điểm yếu như: không bám sát thị trường nên chậm giảm giá dù giá thị trường nơi tiêu thụ đã giảm. Yếu về tầm nhìn xa nên sản phẩm còn thiếu độ tin cậy, bị lỗi, bị vướng về các quy định tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế như về quan hệ lao động, về bảo vệ môi trường, về vệ sinh an toàn thực phẩm…

     

     

    4. Kết Luận:

    Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và bao gồm cả vận chuyển các tài nguyên – yếu tố đầu vào và đầu ra từ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
    Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Nắm được hệ thống phân phối chính là nắm được phần thắng trong tay. Và logistics là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy. Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả họat động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của đất nước.
    Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài tóan đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
    Hiện đối với các doanh ngiệp Việt Nam, chi phí cho giao nhận kho vận còn chiếm tới 20% giá thành sản phẩm; trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ vào khoảng 8 – 12%. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp nước ngoài vốn đã rất mạnh.

    Logistics là hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia.Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi

    Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi

    Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-Th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c-c%E1%BB%A7a-s%E1%BB%B1-thay-%C4%91%E1%BB%95i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi

    Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi

    • Nhận thức về khái niệm nguồn nhân lực
    • Các quan điểm về nguồn nhân lực
    • Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực và các hoạt động quản trị nguồn nhân lực
    • Những xu hướng của quản trị nguồn nhân lực
    • Thách thức của sự thay đổi

    Nhận thức về khái niệm nguồn nhân lực

    • Khi mô tả về nguồn nhân lực, chúng ta sẽ nói điều gì?
    • Khái niệm: nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của những người lao động
    • Mô tả nguồn nhân lực:
    • Quy mô và cơ cấu theo các đặc tính nhận diện nguồn nhân lực (giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề,…)
    • Các mô tả về các đặc điểm sự tận tâm, nỗ lực, khả năng thích nghi, sáng tạo,…

    Hệ thống các quan điểm về nguồn nhân lực

    Quản trị nguồn nhân lực

     

    “Quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiệ n các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệ u nhấ t cho tổ chức, bao g ồm các lĩnh vực như hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và l ựa chọn, đào tạo và phát triển, đánh giá thành tích và thù lao; sức khoẻ và an toàn lao động và tương quan lao động,…”

    Các hoạt động trong lĩnh vực nguồn nhân lực

    • Hoạch định nguồn nhân lực
    • Phân tích và thiết kế công việc
    • Chiêu mộ và lựa chọn
    • Đánh giá thành tích
    • Thù lao
    • An toàn và sức khoẻ
    • Tương quan lao động

    Mô hình quản trị nguồn nhân lực

    Những xu hướng chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực

    • Tiếp cận chiến lược
    • Tính chất quốc tế hoá của quản trị nguồn nhân lực
    • Duy trì hành vi và những chuẩn mực
    • Định chuẩn và đánh giá hiệu quả nguồn nhân lực

    Thách thức của sự thay đổi

    • Toàn cầu hoá (Globalization)
    • Thay đổi nhanh chóng về công nghệ (Techological Advances)
    • Stress của thời đại thông tin
    • Tái cấu trúc tổ chức ở câc công ty
    • Tăng trưởng chậm
    • Tính đa dạng của lực lượng lao động
    • Mong muốn của người lao động
    • Trách nhiệm thực hiện các mục tiêu xã hội

    Toàn cầu hoá (Globalization)

    • Đầu tư ra nước ngoài, hợp tác quốc tế (80% các bộ phận của xe Toyota Camry sản xuất ở Mỹ; Các công ty Ford và GM cùng chia sẻ thị trường Châu Âu với các c/ty của Nhật và Châu Âu,… )
    • Lưu thông hàng hoá, tài chính, nguồn nhân lực và các loại nguồn lực khác nhau
    • Văn hoá, thể thao,…

    Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ: Ba làn sóng văn minh

    Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ:

    – Phát triển công nghệ thông tin

    • Internet & Communications
    • Định luật Moore
    • Phát triển công nghệ sinh học + Nhân bản cừu Dolly

    + Khả năng về nhân bản con người

    Stress của thời đại hậu công nghiệp

    • Nhận thức về nguy cơ của thiên tai
    • Nhận thức sự bất ổn về những vấn đề tôn giáo, vấn đề xã hội, khủng bố quốc tế
    • Nỗi lo lắng về sự bất ổn trong chính sách của các nước và nguy cơ lan rộng của các xung đột cục bộ

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ph%C3%A2n-bi%E1%BB%87t-gi%E1%BB%AFa-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-nh%C3%A2n-s%E1%BB%B1-v%C3%A0-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và

    quản trị nguồn nhân lực

    Quản trị Nhân sự khác gì so với Quản trị nguồn nhân lực?

    Mình xin mạo mụi nói lên nhận xét kểu conbo.

    Thứ nhất về mặt từ ngữ:

    Dĩ nhiên là khác nhau xa rồi. Nhân sự với nguồn nhân lực đâu có giống nhau. Nhưng cái conbo nói ở đây chính là sự hiểu từ ngữ đó vào ứng dụng thực tế thì có sự khác biệt. Một người đều hành về nhân sự sẽ khác một người đều hành về nguồn nhân lực. Human resources: Tiếng Anh

    dịch sang thì là nguồn nhân lực. Nhưng theo mô hình quản trị trung Hoa thì được dịch là Nhân sự. Trước đây, chưa có sự tiếp cận khoa học quản trị phương Tây thì hầu hết các công ty Việt Nam đều chỉ có 1 chức danh đó là Nhân sự. Nhưng khi tiếp cận Cách quản trị phương Tây thì từ được hiểu đúng nghĩa hơn và sát với công việc hơn nên nhiều công ty đã đổi tên thành Nguồn nhân lực.

    Thứ hai về mặt nội dung:

    Thực chất Hai mà là một, hai chức danh đều làm một nội dung công việc. Có thể công ty này dùng từ nhân sự và công ty kia dùng từ nguồn nhân lực. Như tác giả Nổi tiếng về Sách Quản trị Nguồn nhân lực : Nguyễn Hữu Thân trước đây cũng sử dụng tựa đề sách là “Quản Trị Nhân Sự” nhưng xuất bản gần đây thì đổi tên thành “Quản Trị Nguồn Nhân Lực” cùng tác giả và cùng nội dung.

    Tuy nhiên do cách hiểu từ ngữ để vận dụng vào thực tế thì sẽ xuất hiện sự khác biệt. Nếu hiểu theo nghĩa Nhân Sự thì sẽ có quan điểm ôn hòa, con người là trung tâm của sự việc; Quản trị theo mô hình tình cảm và hòa thuận, động viên và khuyến khích làm việc tập thể; Giải quyết mâu thuẫn giữa con người với con người.

    Còn hiểu theo từ Quản trị Nguồn nhân lực thì rõ ràng sự quản lý về đội ngũ nhân viên, đội ngũ lao động. Đề cao tinh thần trách nhiệm giữa nhân viên với công ty. Mang tính chất điều hành nhân viên và thấy được Con người là Tài Sản của Công ty. Con người là Một Nguồn lực của Doanh nghiệp cần phải chăm sóc và bảo vệ.

    Sự khác biệt giữa quản trị nhân sự (QTNS) và quản trị nguồn nhân lực (QT NNL).

    1.     Quan niệm QTNS tại các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập

    trung:

    1. Quan điểm, triết lý về nhân viên trong DN: nhân viên là chủ nhân của

    DN

    1. Mục tiêu quan tâm hàng đầu:ý nghĩa, lợi ích chính trị trong các hoạt động sản xuất, dịch vụ.
    1. Quan hệ giữa nhân viên và chủ doanh nghiệp: không rõ ràng
    1. Cơ sở của năng suất, chất lượng: Tổ chức + công nghệ, kỹ thuật
    1. Quyền thiết lập các chính sách, thủ tục cán bộ: Nhà nước
    1. Định hướng hoạt động: Dài hạn
    1. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con người với chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức: Tách rời

    2.Quan niệm QTNS tại các nước khác:

    Quan điểm, triết lý về nhân viên trong DN: lao động là yếu tố chi phí đầu

    vào

    1. Mục tiêu quan tâm hàng đầu:lợi ích của tổ chức, doanh nghiệp.
    1. Quan hệ giữa nhân viên và chủ doanh nghiệp: quan hệ thuê mướn
    1. Cơ sở của năng suất, chất lượng: công nghệ, kỹ thuật + quản trị
    1. Quyền thiết lập các chính sách, thủ tục cán bộ: Nhà nước + tổ chức, doanh nghiệp
    1. Định hướng hoạt động: Ngắn hạn và trung hạn
    1. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con người với chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức: Phục vụ cho chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức

    3.Quan niệm QT NNL cho các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: (*)

    Quan điểm, triết lý về nhân viên trong DN: con người là tài sản quý, nguồn nhân lực cần được đầu tư phát triển.

    1. Mục tiêu quan tâm hàng đầu:Cả lợi ích của tổ chức lẫn lợi ích của nhân

    viên.

    1. Quan hệ giữa nhân viên và chủ doanh nghiệp: Quan hệ hợp tác bình

    đẳng, hai bên cùng có lợi.

    1. Cơ sở của năng suất, chất lượng: Quản trị + chất lượng nguồn nhân lực
    • công nghệ, kỹ thuật
    1. Quyền thiết lập các chính sách, thủ tục cán bộ: Nhà nước + tổ chức, doanh nghiệp
    1. Định hướng hoạt động: Dài hạn
    1. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con người với chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức: Phục vụ cho chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức.

    những

    (*) Đối với các nước công nghiệp phát triển, quản trị nguồn nhân lực sẽ có yêu             cầu             cao             hơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Dự toán xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Quan-%C4%91i%E1%BB%83m-to%C3%A0n-di%E1%BB%87n-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0o-s%E1%BB%B1-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-CNXH-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đó cũng có những điểm khác so với trước đây.

    Trước những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến những thất bại to lớn như sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Liên xô và các nước Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm đã dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chính trị.

    Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm.

    Thực tiễn hơn 10 năm đổi mớỉ nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên. Đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng đã khẳng định”xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chinhs sách đối nội đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác.

    Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về nhiệm vụ xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tôi đã lựa chọn đề tài Quan

    điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay“.

     

    1

    Đề tài tập trung nghiên cứu Quá trình xây dựng CNXH ở Việt nam từ trước và sau đổi mới đến nay, và một số kiến nghị vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam.

    Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, thế giới quan duy vật biện chứng, căn cứ vào một số quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI.

    Kết cấu đề tài, ngoài lời nói đầu và kết luận gồm hai chương Chương 1: Lý luận chung về quan điểm toàn diện

    Chương 2: Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam.

    Do điều kiện thời gian cũng như trình độ am hiểu về vấn đề này còn hạn chế, nên không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đánh giá của thầy cô giáo và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn.

    CHƯƠNG1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

     

    2

    1.1- NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

    Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những liên hệ hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Một số người theo quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhưng laị phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau.

    Ngược lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một chỉnh thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.

    Về nhân tố quy định sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới, chủ nghĩa duy tâm cho rằng cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại giữa các sự vật và hiện tượng là các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức,

    • cảm giác của con người. Xuất phát từ quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là cảm giác. Đứng trên quan điểm duy tâm khách quan, Hêghen lại cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng là ở ý niệm tuyệt đối.

    Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới.

    Theo quan điểm này, các sự vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc

    3

    con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.

    Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, các quá trình, mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, có mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động, phát triển qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau, tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng.

    Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng.

    Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định, Hơn nữa, nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định.

    4

    Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên cũng có tính chất tương tự như đã nói ở trên. Ngoài ra chúng còn có những nét đặc thù. Chẳng hạn như, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này lại là cái tất nhiên khi xem xét trong mối liên hệ khác, ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất yếu, hiện tượng là hình thức biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất. Đó là những hình thức đặc thù của sự biểu hiện những mối liên hệ tương ứng.

    Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá như vậy có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật và hiện tượng.

    Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người, phép biện chứng duy vật, tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung, mang tính chất phỏ biến. Những hình thức và những kiểu liên hệ riêng biệt trong các bộ phận khác nhau của thế giới là đôí tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.

    1.2 – QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

    Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức

    Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng. Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). đề cập đến hai nội dung này, V.I. Lênin viết “muốn thực sự hiểu

    5

    được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”.

    Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn. Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, “cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đè phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc.”

    Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhaunhững thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.

    Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng. Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó.

    Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để

    6

    để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật.

    Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện. Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật. Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn. Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt , những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng.

    CHƯƠNG 2

    VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO SỰ NGHIỆP

    XÂY DỰNG CNXH Ở NƯỚC TA

     

    7

    2.1-QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, BỎ QUA CHẾ ĐỘ TBCN Ở VIỆT NAM LÀ MỘT TẤT YẾU LỊCH SỬ.

    Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu lịch sử bởi vì:

    • Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Thực tiễn đã khẳng định CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Cho dù hiện nay, với những cố gắng để thích nghi với tình hình mới, CNTB thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. CNTB không phải là tương lai của loài người. Quá trình cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa không phải là quá trình cải lương, duy ý chí mà là quá trình cách mạng sôi động trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan phù hợp với quy luật của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và loài người tiến bộ đang vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đại diện lợi ích của những người lao động, là hình thái xã hội cao hơn CNTB. Quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự nghiệp phát triển tự do và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người. Đi theo dòng chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.

    -Cách mạng Việt nam phát triển theo con đường độc lập dan tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm

    • của thế kỷ XX. Nhờ đi con đường ấy, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng Tám thành công, đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay, chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững được độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc, mới thực hiện đựoc

    8

    mục tiêu làm cho mọi người được ấm no, tự do hạnh phúc. Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta như vậy là sự lựa chọn cuả chính lịch sử dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó cũng thể hiện sự quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là một tất yếu lịch sử.

    Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là; trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạnbần cùng,làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Quán triệt tư tưởng cơ bản đócủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta đã khẳng định: “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

    -Do nhân dân lao động làm chủ

    -Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế đọ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

    -Có nền văn hoá tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc

    -Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hành phúc, có điều kiện phát triển cá nhân.

    -Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

    -Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới

    Mục tiêu của CNXH ở nước ta là: xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.

    2.2- VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CNXH Ở VIỆT NAM

     

    9

    Để đảm bảo có được nhận thức đúng đắn về một vấn đề, chúng ta phải xem xét vấn đề đó theo quan điểm toàn diện. Điều này có nghĩa là phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của sự vật, hiện tượng cũng như trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đối với các sự vật khác và trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.

    Với mục đích có được nhận thức đúng đắn, từ đó đề ra những chủ trương, chính sách đúng nhằm góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cao cả là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam cuả nhân dân ta thì trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải có một cái nhìn toàn diện đối với các nhân tố cuẩ lực lượng sản xuất cũng như các nhân tố của quan hệ sản xuất trong mối quan hệ qua lại với nhau một cách biện chứng, không xem nhẹ hay bỏ qua bất cứ một nhân tố nào, có như vậy các chủ trương, chính sách đưa ra mới góp phần vào thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    2.2.1 Đánh giá những thành tựu và những hạn chế của CNXH trong thời gian qua

    Thực tiễn cho thấy, CNXH trong quá trình hình thành và phát triển đã đạt được những thành tựu về nhiều mặt có ý nghĩa lịch sử to lớn như:

    Một là: Đã xây dựng một hệ thống giá trị riêng của mình, đã phát triển lực lượng sản xuất, đã xoá bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, đã thực hiện một chế độ phúc lợi xã hội và giáo dục văn hoá quốc tế cho toàn dân.

    Hai là: Cứu loài người ra khỏi thảm hoạ phát xít, là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách mạng thế giới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    10

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, là những sai lầm và thiếu sót. Đó là sự vận dụng không đúng đắn, thiếu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cuộc sống, cũng như việc chậm tổng kết những bài học từ thực tiễn xây dựng CNXH để bổ sung phát triển đường lối, chính sách phát triển lý luận; Như vội vã xó bỏ mọi thành phần kinh tế hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá mà không tính đến hiệu quả của các công trình được xây dựng, coi nhẹ hoặc phủ nhận cuọc đấu tranh giai cấp, thiết chế một nền dân chủ nặng về hình thức, chưa đảm bảo nhân dân lao động thực sự làm chủ mọi mặt của đời sống xã hội; thực hiện chính sách bao cấp tràn lan, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại; coi nhẹ công tác xây dựng đảng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.v..v..

    Những khuyết tật mang tính giáo điều, chủ quan duy ý chí, quan liêu xa rời quần chúng nói trên đã làm cho tính ưu việt của CNXH lâm vào khủng hoảng toàn diện.

    Nguyên nhân của những khuyết tật trên bao gồm nhiều nguyên nhân mà một trong những nguyên nhân chính là xa rời hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng không đúng đắn sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm toàn diện trong chủ nghĩa Mác-Lênin. Không xem xét sự việc trong mối liên hệ với sự việc khác, quá nhấn mạnh coi trong nhiệm vụ này mà xa rời hoặc thậm chí là phủ nhận mục tiêu khác.v.v..

    2.2.2 Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Đi lên CNXH là con đường tất yếu của nước ta. Chúng ta phê phán những khuyết tật, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH nhưng không quan niệm những lệch lạc đó là khuyết tật của bản thân chế độ, coi khuyết điểm là tất cả, phủ định thành tựu, từ đó dao động về mục tiêu và con

    11

    đường đi lên CNXH. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu CNXH, mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

    Điều cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng CNXH và đi đến thành cônglà trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.

    Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm thích hợp. Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên từng lĩnh vực, nội dung của đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt; từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt kết quả mong muốn. Đồng thời trong mỗi bước đilại phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu khác và lĩnh vực khác.

    Về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Kinh tế và chính trị là hai mặ cốt lõi của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì kinh tế giữ vai trò quyết định chính trị, vì.

    Kinh tế là nội dung vật chất của chính trị, còn chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế.

    Cơ sở kinh tế với tính cách là kết cấu hiện thực sản sinh ra hệ thống chính trị tương ứng với quy định hệ thống đó. Nói cách khác, tính chất xã hội, giai cấp của chính trị bao giờ cũng phản ánh tính chất xã hội và gia cấp của cơ sở hạ tầng. Từ đó dẫn đến ự biến đổi căn bản của kinh tế lẫn chính trị.

    12

    Sự tác động của chính trị đói với kinh tế: Chính trị được biểu hiện tập trung bằng nhà nước, có sức mạnh vật chất tương ứng. Nhà nước có tác dụng quyết định năng lực hiện thực hoá những tất yếu kinh tế. Ănghen nói” Bạo lực ( quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế”.

    Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, chúng ta chủ chương tiến hành đổi mới đồng bộ phải kết hợp ngay từ đầu, đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội. Trong đó, đổi mới kinh tế là trọng tâm, còn đổi mới chính trị thúc đẩy đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế chính là đổi mới ở lĩnh vực CSHT, đó là đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, phương thức phân phối, quy trình công nghệ…nhằm làm cho nền kinh tế nước ta phát triển hoà nhập với trình độ phát triển kinh tế thế giới.

    Đổi mới kinh tế là tiền đề cho đổi mới chính trị, nó tạo ra nền tảng vật chất cho ổn định về chính trị xã hội, nó làm nảy sinh nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, làm cho nó năng động và trở thành động lực thực sự của sự phát triển kinh tế.

    Đổi mới chính trị phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới kinh tế, phải phù hợp với đổi mới kinh tế.

    Đổi mới chính trị chính là đổi mới ở bộ phận quan trọng của KTTT, đổi mới chính trị thể hiện ở đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh đạo của Đảng, dân chủ hoá trước hết từ trong Đảng.

    Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế

    Khi đường lối chính trị, thiết chế chính trị được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng cho phát triển kinh tế. Đồng thời tạo môi trường phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế và chính trị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái do đổi mới kinh tế đưa đến.

    13

    Một trong những đặc trưng cơ bản của CNXH đó là nền kinh tế nhiều thành phần, trước đây do nhận thức sai lầm chúng ta đã xó bỏ mọi thành phần kinh tế, chỉ còn 2 lại thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, thì nay chúng ta phải chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải đi đôi với vai trò tăng cường quản lý của nhà nước về kinh tế-xã hội.

    Trước đại hội VI, chúng ta đã nóng vội và nhất loạt xây dựng QHSX một thành phần dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, làm như vậy là chúng ta đã đẩy QHSX đi quá xa so với trình độ phát triển của LLSX tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là LLSX thấp kém với một bên là QHSX được xã hội hoá giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của LLSX làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội.

    Từ đại hội VI đến nay, khắc phục sai lầm trên, chúng ta thực hiện xây dung nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xuất phát từ tính chất và trình độ của LLSX nước ta là đa dạng, không đồng đều và chưa cao.

    Thực tiễn 15 năm đổi mới đã khẳng định chủ chương xây dung nền kinh tế nhiều thành phần là phù họp với phát triển LLSX ở nước ta. Nó đã thực sự giải phóng, phát triển, khơi dây các tiềm năng của sản xuất, khơi dậy năng lực sáng tạo chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất, đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội.

    Việc xây dựng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cũng có nghĩa là chúng ta chấp nhận đa dạng hoá các hình thức sở hữu để phát triển kinh tế nước nhà.

    KẾT LUẬN

    Nước ta quá độ lên CNXH từ xuất phát điểm rất thấp; nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cấzp tự túc, còn ở tình trạng phổ biến của tái sản

    14

    xuất giản đơn, lực lượng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, quan hệ sản xuất yếu kém…

    Để xây dựng thành công CNXH, đảm bảo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đòi hỏi chúng ta phải có chủ trương đổi mới toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, phải kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo mọi điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển, có như vậy mới tạo ra nhiều của cải vật chất tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của CNXH

    15


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi và bài tập marketing căn bản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Từ nhiều thập kỷ qua, các tổ chức kinh tế đã nhận thức được rằng : trong các yếu tố để phát triển nhanh và bền vững của doanh nghiệp, của nền kinh tế thì nguồn lực con người là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất. Bởi lẽ con người vừa là người sáng tạo ra, vừa là người sử dụng phương tiện, phương pháp công nghệ để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất cho xã hội, cho doanh nghiệp và cho bản thân họ. Tuy nhiên, nguồn nhân lực phát huy được vai trò của nó không phải do ưu thế về số lượng mà là ở chất lượng. Vì vậy, vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Một chiến lược đào tạo, phát triển hợp lý sẽ phát huy được nội lực cao nhất, phát huy được khả năng làm việc, khả năng sáng tạo của người lao động, nâng cao trách nhiệm, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh.

    Hiện nay đất nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới sau khi đã hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu hóa, với những cơ hội và thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng. Mặt khác chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay được đánh giá là còn thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển của xã hội. Chính vì vậy nhu cầu đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động càng trở nên quan trọng và cần thiết. Thực tế đã chứng minh rằng đầu tư vào nguồn nhân lực có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Đó cũng chính là lý do vì sao mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm của Mỹ và Nhật đều chú trọng hàng đầu đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh chung của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 – ICON4, thuộc Tổng Công ty xây dựng Hà nội. Qua tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực của Công ty trong những năm gần đây, em nhận thấy công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn luôn giữ một vai trò quan trọng và trở thành công tác thường xuyên được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, môi trường kinh doanh thay đổi…thì công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong công ty còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Do vậy làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Công ty nhằm nâng cao trình độ cho người lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời với sự thay đổi? Đây chính là lý do em đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 ”.

    • Mục đích nghiên cứu đề tài:

    Về mặt lý luận: Đề tài góp phần đưa ra những ý kiến, quan điểm chung nhất nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần tổng hợp và tạo ra một hệ thống các biện pháp có tính khả thi, có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung tìm hiểu công tác đào tạo và phát triển tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4, hiệu quả của công tác và những yếu tố làm ảnh hưởng dẫn đến những tồn tại.
    • Phương pháp nghiên cứu: Áp dụng hệ thống phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, bảng biểu, thống kê, phương pháp bảng hỏi, khảo sát nhằm đánh giá hiệu quả công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong công tác này của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    Nội dung của bài chuyên đề được chia làm 3 chương như sau:

          Chương I: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

          Chương II: Phân tích thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    Chương III: Một số phương hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    CHƯƠNG I:

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP

    I.                   BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    1.    Khái niệm về Nguồn nhân lực

    Nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực trong từng con người, bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp, chân tay. Nguồn lực phản ánh khả năng lao động của từng con người và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội.

    Nguồn nhân lực của một tổ chức chính là tập hợp những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Nó được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người, do chính giá trị sức lao động của con người tạo ra. Để nâng cao vai trò của con người, của nguồn nhân lực trong tổ chức thì việc quan tâm đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một yếu tố cần thiết và quan trọng đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.

    2.    Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là hệ thống các biện pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập giúp con người tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đó là tổng thể các hoạt động có tổ chức được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổi cho người lao động đối với công việc của họ theo chiều hướng tốt hơn.

    Theo chiều hướng này, phát triển được phản ánh qua 3 hoạt động: Đào tạo, giáo dục và phát triển:

    • Đào tạo: Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu đào tạo không thể thiếu được bởi vì không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng tuyển được những người mới có đủ trình độ, kỹ năng phù hợp với những công việc đặt ra.
    • Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp mới, thích hợp hơn trong tương lai.
    • Phát triển: Là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.

    Đào tạo, giáo dục và phát triển đếu có điểm tương đồng dùng để chỉ một quá trình tương tự như nhau. Đó là quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, các kỹ năng mới, thay dổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đào tạo, giáo dục và phát triển đều sử dụng các phương pháp tương tự nhau nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức kỹ năng thực hành. Tuy nhiên, đào tạo và phát triển được phân biệt căn cứ vào mục đích của các hoạt động đó.

      Đào tạo Phát triển
    1. Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai
    2. Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức
    3. Thời gian Ngắn hạn Dài hạn
    4. Mục đích Khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng hiện tại Chuẩn bị cho tương lai

    3.    Lý do, mục đích và vai trò, ý nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

    • Lý do:
    • Để đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức, chuẩn bị và bù đắp những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống giúp doanh nghiệp hoạt động trôi chảy.
    • Để đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của người lao động. Nghiên cứu về nhu cầu của con người ta thấy rằng nhu cầu tự hoàn thiện là nhu cầu cao nhất của con người, theo đó, con người luôn muốn được học tập để tiến bộ, để đạt được tiềm lực của mình và tự tiến hành công việc.
    • Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào nguồn lực con người, là hoạt động sinh lời đáng kể. Bởi vì con người là một yếu tố rất quan trọng của sản xuất, tác động đến tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất. Suy cho cùng con người là yếu tố quyết định đến sự thành hay bại của một doanh nghiệp.
      • Mục đích:
    • Giúp doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có.
    • Giúp doanh nghiệp có thể chủ động đáp ứng nhu cầu nhân lực cho chiến lược phát triển dài hạn trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp.
    • Nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn vè nghề nghiệp của mình.
    • Nâng cao khả năng thích ứng của nhân viên với các công việc trong tương lai.
    • Nâng cao khả năng thích ứng của tổ chứcvới sự thay đổi của môi trường.
    • Chuẩn bị đội ngũ các bộ quản lý, chuyên môn kế cận. Đào tạo và phát triển giúp cho nhân viên có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết.
    • Thoả mãn nhu cầu phát triển của nhân viên.
      • Vai trò, ý nghĩa:
    • Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng do các nguyên nhân:

    + Việc áp dụng các trang bị công nghệ, kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất làm cho lao động thủ công dần dần được thay thế bằng lao động máy móc. Người công nhân cần phải có kiến thức kỹ thuật mới có thể điều khiển, sử dụng tối đa công suất máy móc, thiết bị, đưa ra các kiến nghị cải tiến kỹ thuật, nâng cao các thông số kỹ thuật làm cho máy móc thiết bị phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lý của con người.

    + Việc áp dụng máy móc kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất khiến cho tỷ trọng thời gian máy làm việc tăng lên trong quỹ thời gian ca. Điều này dẫn đến khả năng mở rộng phạm vi và các chức năng hoạt động của nhân viên, phải biết thêm nghề thứ hai, thứ ba…Vì vậy, nhân viên phải được đào tạo ở diẹn rộng, có thể thực hiện nhiều nghề, nhiều chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất.

    + Sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tính chất phức tạp của sản xuất ngày càng tăng, nhiều mặt hàng, sản phẩm mới ra đời để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng cũng làm tăng nhu cầu đào tạo.

    + Trong quá trình lao động, nhân viên sẽ tích luỹ được các thói quen và kinh nghiệm làm việc nhưng quá trình tự đào tạo này diễn ra lâu với lượng ít. Chỉ có thể thực hiện đào tạo mới có thể nhanh chóng cung cấp một số lượng công nhân viên kỹ thuật cần thiết cho quá trình sản xuất.

    • Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung cũng như đối với các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động nói riêng:

    + Đối với doanh nghiệp:

    Đào tạo được xem là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, và giúp cho doanh nghiệp thích ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội. Quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thành công sẽ mang lại những lợi ích sau:

    • Cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
    • Giảm bớt được sự giám sát, vì khi người lao động được đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát được.
    • Tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động.
    • Đạt được yêu cầu trong công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực.
    • Giảm bớt được tai nạn lao động
    • Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo giữ vững hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo dự trữ để thay thế.

    + Đối với người lao động:

    Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức mà nó còn giúp chop người lao động  cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật. Nhờ có đào tạo và phát triển mà người lao động tránh được sự đào tahỉ trong quá trình phát triển của tổ chức, xã hội. Và nó còn góp phần làm thoả mãn nhu cầu phát triển cho người lao động.

    + Đối với nền kinh tế xã hội:

    Giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực của người lao động có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đào tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước phát triển mạnh trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật…Sự phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    II.               NỘI DUNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP.

    1. Các phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
      • Các phương pháp đào tạo trong công việc.

    Đào tạo trong công việc là một phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ học được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn.

    • Ưu điểm: Không yêu cầu một không gian hay những trang thiết bị riêng biệt đặc thù; học viên được làm việc và có thu nhập trong khi học; học viên có thể nhanh chóng nắm vững được các kỹ năng công việc và đòi hỏi ít chi phí để thực hiện.
    • Nhược điểm: Lý thuyết được trang bị không có hệ thống; học viên có thể bắt chước những kinh nghiệm, thao tác không tiên tiến của người dạy.

    Điều kiện để đào tạo trong công việc đạt được hiệu quả là các giáo viên dạy nghề phải được lựa chọn cẩn thận và phải đáp ứng những yêu cầu chương trình đào tạo về trình độ chuyên môn, mức độ thành thạo công việc và khả năng truyền thụ; quá trình đào tạo phải được tổ chức chặt chẽ và có kế hoạch.

    Đào tạo trong công việc bao gồm các phương pháp sau:

    • Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc

    Đây là phương pháp phổ biến dùng để dạy các kỹ năng thực hiện công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả một số công việc quản lý. Quá trình đào tạo bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải thích của người dạy về mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước về cách quan sát , trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng dẫn và chỉ dẫn chặt chẽ của người dạy.

    • Đào tạo theo kiểu học nghề

    Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bắt đầu bằng việc học lý thuyết ở trên lớp, sau đó các học viên được đưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề trong một vài năm; được thực hiện các công việc thuộc nghề cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề. Phương pháp này dùng để dạy một nghề hoàn chỉnh cho công nhân.

    Phương pháp này thực chất là sự kèm cặp của công nhân lành nghề đối với người học và là phương pháp thông dụng ở Việt Nam.

    • Kèm cặp và chỉ bảo

    Phương pháp này dùng để giúp cho các cán bộ quản lý và các nhân viên giám sát có thể học được các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc trước mắt và công việc trong tương lai thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của người quản lý giỏi hơn. Có 3 cách để kèm cặp là:

    • Kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp
    • Kèm cặp bởi một cố vấn
    • Kèm cặp bởi người quản lý có kinh nghiệm hơn
      • Luân chuyển và thuyên chuyển công việc.

    Là phương pháp mà người học viên được luân chuyển một cách có tổ chức từ công việc này sang công việc khác để nhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong tổ chức. Những kinh nghiệm và kiến thức thu được qua quá trình đó sẽ giúp cho họ có khả năng thực hiện được những công việc cao hơn trong tương lai.

    Luân chuyển và thuyên chuyển công việc có thể thực hiện theo 3 cách:

    • Luân chuyển đối tượng đào tạo đến một bộ phận khác với một cương vị không thay đổi.
    • Người quản lý được cử đến nhận cương vị công tác mới ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ.
    • Luân chuyển người học viên trong nội bộ một lĩnh vực chuyên môn.
      • Các phương pháp đào tạo ngoài công việc.

    Đào tạo ngoài công việc là các phương pháp đào tạo trong đó người học được tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế.

    • Ưu điểm: người học sẽ có điều kiện học tập một cách tập trung, nỗ lực và sáng tạo.
    • Nhược điểm: sự chuyển giao kỹ năng thực tế, sử dụng kỹ năng học được vào làm việc thực tế bị hạn chế hơn đào tạo trong công việc.

    Đào tạo ngoài công việc bao gồm các phương pháp sau:

    1.2.1. Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp

    Đối với những nghề tương đối phức tạp, hoặc các công việc có tính đặc thù, thì việc đào tạo bằng kèm cặp không đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Các doanh nghiệp có thể tổ chức các lớp đào tạo với các phương tiện và thiết bị dành riêng cho học tập.

    Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bao gồm hai phần: Lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết được giảng dạy tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách. Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các phân xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Phương pháp này giúp cho học viên học tập có hệ thống hơn.

    1.2.2. Cử đi học ở các trường chính quy

    Các doanh nghiệp cũng có thể cử người lao động đến học tập ở các trường dạy nghề hoặc quản lý do các Bộ, ngành hoặc do Trung ương tổ chức.

    Trong phương pháp này, người học sẽ được trang bị tương đối đầy đủ cả kiến thức lý thuyết lẫn kỹ năng thực hành. Tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều thời gian và kinh phí đào tạo.

    1.2.3. Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo

    Phương pháp này dùng chủ yếu để đào tạo kỹ năng, cung cấp kiến thức cần thiết chủ yếu cho cán bộ quản lý, lãnh đạo trong doanh nghiệp.

    Các buổi giảng bài hay hội nghị có thể được tổ chức tại doanh nghiệp hoặc ở một hội nghị bên ngoài, có thể được tổ chức riêng hoặc kết hợp với các chương trình đào tạo khác. Trong các buổi thảo luận, học viên sẽ thảo luận theo từng chủ đề dưới sự hướng dẫn của người lãnh đạo nhóm và qua đó học được các kiến thức, kinh nghiệm cần thiết.

    1.2.4. Đào tạo theo kiểu chương trình hoá, với sự trợ giúp của máy tính

    Đây là phương pháp đào tạo kỹ năng hiện đại mà ngày nay nhiều công ty ở nhiều nước đang sử dụng rộng rãi. Trong phương pháp này, các chương trình đào tạo được viết sẵn trên đĩa mềm của máy tính, người học chỉ việc thực hiện theo các hướng dẫn của máy tính. Phương pháp này có thể sử dụng để đào tạo rất nhiều kỹ năng mà không cần có người dạy.

    Có 3 cách để có chương trình dạy qua máy tính:

    • Thiết kế chương trình.
    • Mua chương trình.
    • Đặt hàng chương trình.

    1.2.5. Đào tạo theo phương thức từ xa

    Là phương pháp đào tạo mà giữa người dạy và người học không trực tiếp gặp nhau tại một dịa điểm và cùng thời gian mà thông qua phương tiện nghe nhìn trung gian. Phương tiện trung gian này có thể là sách, tài liệu học tập, băng hình, băng tiếng, đĩa CD và VCD, Internet. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin các phương tiện trung gian ngày càng đa dạng.

    Phương pháp đào tạo này có ưu điểm nổi bật là người học có thể chủ động bố trí thời gian học tập cho phù hợp với kế hoạch của cá nhân; có thể đảm bảo được chất lượng đào tạo mà không cần đưa giáo viên đến tận người học và do đó tiết kiệm được chi phí đào tạo. Nhược điểm của phương pháp này là thiếu sự trao đổi trực tiếp giữa người học và người dạy, đồng thời các phương tiện cũng phải thiết kế hoặc mua nên cũng phải tính toán cho hợp lý.

    1.2.6. Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm

    Phương pháp này bao gồm các cuộc hội thảo học tập trong đó sử dụng các kỹ thuật như: bài tập tình huống, diễn kịch, mô phỏng trên máy tính, trò chơi quản lý hoặc là các bài tập giải quyết vấn đề. Đây là cách đào tạo hiện đại ngày nay nhằm giúp cho người học thực tập giải quyết các tình huống giống như trên thực tế.

    1.2.7. Đào tạo kỹ năng xử lý công văn, giấy tờ

    Đây là một kiểu bài tập, trong đó người quản lý nhận được một loạt các tài liệu, các bản ghi nhớ, các tường trình, báo cáo, lời dặn dò của cấp trên và các thông tin khác mà một người quản lý có thể nhận được khi vừa tới nơi làm việc và họ có trách nhiệm sử lý nhanh chóng và đúng đắn. Phương pháp này giúp cho người quản lý học tập cách ra quyết định nhanh chóng trong công việc hàng ngày.

    1.2.8. Mô hình hóa hành vi

    Đây cũng là phương pháp diễn kịch nhưng các vở kịch được thiết kế sẵn để mô hình hóa các hành vi hợp lý trong các tình huống đặc biệt.

    2.    Tiến trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Trình tự xây dựng một chương trình đào tạo – phát triển như sau:

    • Xác định nhu cầu đào tạo.

    Nhu cầu đào tạo là khoảng cách giữa những gì hiện có và những gì mong muốn trong tương lai xét về khía cạnh thái độ của người quản lý và người lao động trong doanh nghiệp.

    Xác định nhu cầu đào tạo là quá trình thu thập và phân tích thông tin nhằm làm rõ nhu cầu cần cải thiện kết quả thực hiện công việc và xác định đào tạo hiện có phải là giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc, khả năng phát triển với từng cán bộ, nhân viên cụ thể.

    Phân tích nhu cầu đào tạo là một quá trình mang tính hệ thống nhằm xác định và xếp thứ tự các mục tiêu, định lượng các nhu cầu và quyết định các mức độ ưu tiên cho các quyết định trong lĩnh vực đào tạo.

    Công tác đào tạo và huấn luyện phải giúp ích cho việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp, hay nói một cách khác là không có sự khác biệt giữa mục tiêu của doanh nghiệp với mục tiêu của việc đào tạo nhân viên. Chính vì vậy nhu cầu đào tạo nhân viên được xem xét bắt đầu từ nhu cầu của chính bản thân doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải tự trả lời các câu hỏi:

    – Thách thức của môi trường kinh doanh đặt ra cho doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn là gì?

    – Nhân viên của doanh nghiệp có khả năng đáp ứng đến đâu các đòi hỏi của thị trường?

    – Nhân viên của doanh nghiệp còn thiếu gì để thực hiện chiến lược của doanh nghiệp?

    Nhu cầu đào tạo của mỗi nhân viên là có những điểm khác biệt do kiến thúc cơ bản, tiềm năng và hoài bão phát triển của họ không giống nhau. Do vậy các hoạt động đào tạo phải hướng tới việc thiết kế chương trình sao cho đáp ứng được yêu cầu của từng đối tượng.Nhu cầu đào tạo quyết định phương pháp đào tạo. Không có bất kỳ chương trình hay phương thức nào phù hợp với mọi nhu cầu. Các chương trình đào tạo được chọn lựa trên cơ sở dung hoà mong muốn của các cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp, trong đó hiệu quả kinh doanh được đưa ra làm tiêu chí ảnh hưởng có tính quyết định. Nhiều thất bại trong công tác phát triển nhân sự là nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến hiệu quả đào tạo, không đánh giá được tác động của việc đào tạo tới quá trình thực hiện nhiệm vụ của mỗi nhân viên.

    2.1.1. Cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo:

    1. Phân tích mục tiêu, kế hoạch, chiến lược, chỉ số hiệu quả về mặt tổ chức của doanh nghiệp:

    Phân tích chỉ số hiệu quả về mặt tổ chức bao gồm việc phân tích các tiêu thức tổ chức như: Năng suất, chất lượng thực hiện công việc , tỷ lệ thuyên chuyển, kỷ luật lao động…

    Mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp cho biết định hướng phát triển của doanh nghiệp.

    Kế hoạch hóa nguồn nhân lực là quá trình xác định các nhu cầu về nhân lực của tổ chức một cách có hệ thống để phục vụ các mục tiêu của tổ chức,…

    1. Phân tích công việc

    Phân tích công việc là nghiên cứu công việc một cách chi tiết nhằm làm rõ các nhiệm vụ, trách nhiệm và các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đối với người thực hiện công việc. Từ đó tiến hành các chương trình đào tạo phù hợp.

    Trong trường hợp này, sử dụng bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện là rất hữu ích. Sử dụng biểu mẫu phân tích công việc:

    • Liệt kê các nhiệm vụ công việc chính
    • Xác định mức độ thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ, công việc
    • Tiêu chuẩn mẫu thực hiện công việc
    • Điều kiện thực hiện công việc.
    • Các kỹ năng và kiến thức cần thiết giảng dạy cho nhân viên
    • Nhiệm vụ sẽ được học cách thực hiện tốt nhất “tại” hay “ngoài” nơi làm việc.

    Việc xác định nhu cầu đào tạo có thể được thực hiện thông qua phương pháp đánh giá nhu cầu cổ điển như phân tích công việc:

    Lý do đào tạo Bối cảnh nảy sinh nhu cầu đào tạo Kết cục
    Luật pháp

     

    Thiếu các kỹ năng cơ bản

    Thực hiện nhiệm vụ tới

    Công nghệ mới

    Đòi hỏi của khách hàng

    Tiêu chuẩn thực hiện cao hơn

    Công việc mới, sản phẩm mới

    Người lao động cần đào tạo điều gì?

     

    Phân tích tổ chức

    Nảy sinh nhu cầu đào tạo có thứ tự ưu tiên.

    Sự ủng hộ và hỗ trợ của giới quản lý và đồng sự

    Chiến lược của tổ chức đi đến đâu, nhằm mục tiêu  gì?

    Các nguồn lực cho đào tạo: Ngân sách, thời gian, chuyên môn, trình độ

    Phân tích con người

    Đặc tính cá nhân: Kiến thức, kỹ năng và thái độ.

    Đầu vào, đầu ra

    Kết cục: ảnh hưởng, năng suất, chất lượng

    Phân tích nhiệm vụ

    Chọn công việc để phân tích

    Phát triển danh mục các nhiệm vụ.

    Khẳng định danh mục các nhiệm vụ.

    Nhận dạng kiến thức, kỹ năng thái độ cần thiết cho việc thực hiện thành công mỗi nhiệm vụ

    Người học cần học điều gì?

     

    Ai cần đào tạo?

    Loại hình đào tạo?

    Tần số đào tạo?

    Đào tạo hay thực hiện thông qua các hình thức khác như tuyển lựa, thiết kế lại công việc?

    (Nguồn: http://bkeps.com/thong-tin/phat-trien-mo-hinh-dao-tao-trong-doanh-nghiep-tren-mo-hinh-he-thong.html)

    1. Phân tích thực hiện công việc:

    Là nghiên cứu kỹ lưỡng việc thực hiện công việc để xây dựng quy trình thực hiện công việc tối ưu cũng như là để huấn luyện, đào tạo nhân viên khả năng thực hiện công việc. Việc phân tích này chú trọng đến các năng lực và các đặc tính cá nhân của nhân vien, được sử dụng để xác định ai là người có thể đảm đương được công việc và họ thiếu những kiến thức, kỹ năng gì, để từ đó xác định cần chú trọng đào tạo những kiến thức, kỹ năng nào.

    Quá trình phân tích thực hiện công việc gồm các bước sau:

    1. Ngoài ra, còn có thể sử dụng các thông tin khác để xác định nhu cầu đào tạo:
    • Theo báo cáo của viên giám thị.
    • Theo yêu cầu quản trị.
    • Căn cứ vào thành tích, chỉ tiêu cá nhân đạt được.
    • Trách nghiệm kiến thức.
    • Bản câu hỏi điều tra.

    Kết quả thực hiện mức lao động.

    2.1.2. Xác định nhu cầu đào tạo kỹ thuật:

    1. Phương pháp tính toán căn cứ tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật cần thiết cho từng loại sản phẩm và quỹ thời gian lao động của loại nhân viên kỹ thuật tương ứng.

    Nhu cầu (công) nhân viên thuộc nghề (chuyên môn) i

    Tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i cần thiết để sản xuất

    Quỹ thời gian lao động của một (công) nhân viên kỹ thật thuộc nghề (chuyên môn) i

    Khả năng hoan thành vượt mức ở kỳ triển vọng của (công) nhân viên kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i

    1. Phương pháp tính toán căn cứ vào số lượng máy móc thiết bị kỹ thuật cần thiết cho quá trình sản xuất , mức đảm nhiệm của một (công) nhân viên kỹ thuật và hệ số ca làm việc của máy móc thiết bị

    SM: Số lượng máy móc trang thiết bị kỹ thuật cần thiết ở kỳ triển vọng

    Hệ số ca làm việc của máy móc trang thiết bị

    N: Số lượng máy móc trang thiết bị do công nhân viên kỹ thuật phải tính

    1. Phương pháp chỉ số

    Phương pháp này sử dụng công thức:

       

    Chỉ số tăng công nhân viên kỹ thuật

    Chỉ số tăng sản phẩm

    Chỉ số tăng tỷ trọng công nhân viên kỹ thuật trên tổng số

    Chỉ số tăng NSLĐ

    Phương pháp này cho số liệu không chính xác bằng cách tính ở hai phương pháp trên. Thường dùng để dự đoán nhu cầu công nhân viên kỹ thuật của các công ty lớn trong các kế hoạch dài hạn.

    Căn cứ vào bản phân tích công việc và việc đánh giá tình hình thực hiện công việc, căn cứ vào cơ cấu tổ chức, Công ty sẽ các định được số lượng, loại lao động và loại kiến thức kỹ năng cần đào tạo.

    1. Phương pháp trực tiếp:

    Căn cứ vào bản phân tích công việc, căn cứ vào tình hình thực hiện công việc, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp để trực tiếp xác định số lượng nhân viên kỹ thuật của từng nghề cần thiết trong từng bộ phận, phân xưởng, sau đó tổng hợp lại thành nhu cầu của toàn doanh nghiệp.

    Sau khi xác định được nhu cầu nhân viên kỹ thuật cần có ở kỳ kế hoạch, nhu cầu đào tạo ( nhu cầu bổ sung ) sẽ được xác định theo công thức:

    Nhu cầu tăng để phát triển sản xuất = Nhu cầu cần có – Số đã có
    Nhu cầu bổ sung = Nhu cầu tăng để phát triển sản xuất + nhu cầu thay thế

    Trong quá trình đào tạo, thường có một tỷ lệ nhất định học viên bị rớt hoặc không đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu tuyển sinh đào tạo bao giờ cũng lớn hơn nhu cầu thực tế cần đào tạo, và được xác định theo công thức:

    Dtsđt = Dđt / ( 1- % rơi rớt trong đào tạo )

    Trong đó :

    • Dtsđt : Nhu cầu tuyển sinh đào tạo
    • Dđt : Nhu cầu đào tạo ( nhu cầu bổ sung )
      • Xác định mục tiêu đào tạo

    Là xác định các kết quả cần đạt được của hoạt động đào tạo. Bao gồm:

    + Những kỹ năng cụ thể cần được đào tạo và trình độ kỹ năng có được sau đào tạo

    + Số lượng và cơ cấu học viên

    + Thời gian đào tạo

    Việc xác định mục tiêu đào tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và là cơ sở để đánh giá trình độ chuyên môn của người lao động trong mỗi công ty, tổ chức. Các mục tiêu đào tạo phải rõ ràng, cụ thể và có thể đánh giá được.

    • Lựa chọn đối tượng đào tạo

    Là lựa chọn người cụ thể để đào tạo, dựa trên:

    • Nghiên cứu nhu cầu và động cơ đào tạo của người lao động
    • Tác dụng của đào tạo đối với người lao động
    • Triển vọng nghề nghiệp của từng người

    Việc lựa chọn người để đào tạo đảm bảo phải đào tạo đúng người cần đào tạo, tức là phải lựa chọn người đúng khả năng, nguyện vọng học tập…để tránh tình trạng đào tạo nhầm đối tượng, làm tổn thất về thời gian và chi phí không cần thiết.

    • Xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo.

    Chương trình đào tạo là một hệ thống các môn học và các bài học cần được dạy, cho thấy những kiến thức, kỹ năng nào cần được dạy và dạy trong bao lâu. Trên cơ sở đó lựa chọn các phương pháp đào tạo phù hợp.

    Chương trình đào tạo phải được xây dựng thật cụ thể về: số môn học, các môn học sẽ cung cấp trong chương trình, số giờ học, tiết học của từng môn, chi phí cho mỗi môn, mỗi tiết, các phương tiện cần thiết cho chương trình như: giáo trình, tài liệu, trang thiết bị,…

    Chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở nhu cầu đào tạo và mục tiêu đào tạo đã xác định. Sau đó doanh nghiệp sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể về năng lực tài chính, cơ sở vật chất…để chọn phương pháp đào tạo cho phù hợp.

    Có nhiều phương pháp đào tạo khác nhau để lựa chọn và mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng của nó. Doanh nghiệp có thể lựa chọn một phương pháp hoặc kết hợp nhiều phương pháp đào tạo. Phương pháp đào tạo phải phù hợp với nội dung chương trình đào tạo, chi phí phải thấp và là phương pháp đem lại hiệu quả lớn nhất.

    • Xác định chi phí đào tạo

    Chi phí đào tạo quyết định việc lựa chọn các phương án đào tạo, bao gồm các chi phí cho việc học, chi phí cho việc đào tạo.

    • Những chi phí về học tập: là những chi phí phải trả trong quá trình người lao động học việc, bao gồm: Những khoản tiền cho người lao động trong khi học việc, chi phí nguyên vật liệu dùng cho học tập, giá trị hàng hoá bán do gia công không đúng khi thực tập, giá trị sản lượng bị giảm xuống do hiệu quả làm việc thấp của học sinh học nghề…
    • Những chi phí về đào tạo: Bao gồm: Tiền lương của những người quản lý trong thời gian họ quản lý bộ phận học việc; tiền thù lao cho giáo viên hay những nhân viên đào tạo và bộ phận giúp việc của họ; những dụng cụ giảng dạy như: Máy chiếu phim, tài liệu, sách báo, bài kiểm tra, chương trình học tập,…

    Doanh nghiệp phải tính toán để xác định chi phí đào tạo cho hợp lý và có hiệu quả.

    • Lựa chọn và đào tạo giáo viên

    Doanh nghiệp có thể lựa chọn giáo viên theo 2 phương án sau:

    • Lựa chọn những công nhân lành nghề, những người quản lý có kinh nghiệm trong doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Phương án này vừa tiết kiệm chi phí vừa cung cấp cho học viên những kỹ năng thực hiện công việc có tính sát với thực tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng còn những hạn chế như: khó cập nhật những thông tin, kiến thức mới đồng thời có thể ảnh hưởng đến công việc mà người được chọn làm giáo viên đảm nhiệm.
    • Lựa chọn giáo viên từ cơ sở đào tạo bên ngoài ( giảng viên của các trường đại học, trung tâm đào tạo…). Theo phương án này có thể cung cấp những kiến thức, những thông tin cập nhật theo kịp được sự tiến bộ của ngành nghề. Tuy nhiên phương án này có nhược điểm là khả năng thực hiện thấp, không sát thực với doanh nghiệp, chi phí thường cao.

    Giáo viên phải được tập huấn để nắm vững mục tiêu và cơ cấu của chương trình đào tạo nói chung.

    • Thiết lập quy trình đánh giá
      • Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo
    1. Các giai đoạn đánh giá:
    • Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu đặt ra có đạt hay không? ( Có 2 phương pháp )

    + Phương pháp 1: Kiểm tra kiến thức, kinh nghiệm của học viên sau khóa học.

    + Phương pháp 2: Dùng phiếu đánh giá.

    Giai đoạn 2: Tiến hành thu thập thông tin về kết quả học tập của các học viên sau đào tạo.

    Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo đó là việc kiểm tra xem sau khi đào tạo các học viên đã áp dụng các kiến thức đã học được vào trong thực tế để thực hiện công việc như thế nào? Hoặc có thể thống kê năng suất lao động, sự thuyên chuyển trong công việc…

    1. Các phương pháp đánh giá:
    • Phân tích thực nghiệm:

    Chọn hai nhóm thực nghiệm, ghi lại kết quả thực hiện công việc của mỗi nhóm lúc trước khi áp dụng chương trình đào tạo. Chọn một nhóm tham gia vào quá trình đào tạo, còn nhóm kia vẫn thực hiện công việc bình thường. Sau thời gian đào tạo ghi lại kết quả thực hiện về cả số lượng và chất lượng giữa hai nhóm: nhóm đã được đào tạo và nhóm không được đào tạo. Phân tích, so sánh kết quả thực hiện công việc giữa hai nhóm với chi phí đào tạo sẽ cho phép xác định mức độ hiệu quả của chương trình đào tạo.

    • Đánh giá hiệu quả đào tạo theo 4 vấn đề cơ bản:
    • Phản ứng: Cần đánh giá phản ứng của học viên đối với chương trình đào tạo. Họ có thích chương trình hay không? Nội dung chương trình có phù hợp với nội dung công việc thực tế hay không?…
    • Hành vi: hành vi của người được đào tạo có thay đổi gì do kết quả tham dự khoá học hay không?
    • Học thuộc: Kiểm tra xem các học viên đã nắm vững những nguyên tắc, kỹ năng, các vấn đề theo yêu cầu của khoá đào tạo chưa?
    • Mục tiêu: Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất. Kết của cuối cùng của học viên có đạt được mục tiêu đào tạo hay không?
      • Đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo nói chung:
    1. Đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo thông qua chất lượng lao động.

    Đánh giá chất lượng lao động của doanh nghiệp sau đào tạo xem trình độ lao động được nâng lên như thế nào và đã đáp ứng được đến đâu yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đánh giá này thông qua các chỉ tiêu như: sự thực hiện công việc, sự chênh lệch về năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sự hoàn thành nhiệm vụ được giao,…của người lao động sau khi được đào tạo với trước khi được đào tạo .

    1. Đánh giá bằng cách lượng hóa hiệu quả công tác đào tạo và phát triển:
    • Bước 1: Xác định tổng chi phí đầu tư cho nguồn nhân lực

    Bao gồm:

    • Tổng tiền lương trả cho người lao động và các khoản thu nhập khác của người lao dộng có tính chất lương được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
      ( W )
    • Tổng tiền thưởng ( R )
    • Tổng chi phí cho phúc lợi và dịch vụ ( B )
    • Tổng chi phí cho đào tạo và phát triển ( K )

    Như vậy tổng chi phí đầu tư cho nguồn nhân lực ( T ) là:

    T = W + R + B + K

    • Bước 2: Tính tỷ lệ chi phí đào tạo trong tổng chi phí đầu tư cho nguồn nhân lực ( S )

    K

    S = ­­­­­­­­­­­————– x 100%

    T

    • Bước 3: Xác định phần đóng góp của đào tạo và phát triển và phát triển nguồn nhân lực vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu giả thiết rằng S cũng bằng tỷ lệ giữa phần đóng góp của đào tạo trong tổng lợi nhuận thì ta có:

    Mo = P x S

    Trong đó: Mo : là phần đóng góp của đào tạo năm n-1 vào lợi nhuận năm n

    P : là lợi nhuận năm n

    Hiệu quả của công tác đào tạo có thể được đánh giá qua chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí đào tạo ( HM )

    Mon

    HMn-1 = ————–­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

    Kn-1

    Trong đó: Kn-1 : là chi phí đào tạo và phát triển năm n-1

    HMn-1 : là lợi nhuận trên một đơn vị chi phí đào tạo, phản ánh hiệu quả đào tạo năm n-1

    Mon : là phần đóng góp của đào tạo vào lợi nhuận năm n

    Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đơn vị chi phí cho đào tạo năm trước thì năm sau thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận, cho biết khả năng sinh lợi của đầu tư vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

    III.            CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP.

    1.    Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp.

    • Mục tiêu, chiến lược, chính sách của doanh nghiệp.

    Mỗi một doanh nghiệp đều có những mục tiêu, chiến lược riêng cho từng giai đoạn phát triển. Những mục tiêu chiến lược này chi phối tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động dào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi cơ cấu tổ chức, công nghệ,…thì người lao động cần phải được đào tạo lại để có những kiến thức, kỹ năng phù hợp với những thay đổi đó.

    Chính sách, triết lý quản lý, những tư tưởng, quan điểm của người quản lý cấp cao của tổ chức về cách quản lý con người trong tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    • Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.

    Quy mô của doanh nghiệp càng lớn thì công tác đào tạo của doanh nghiệp càng phức tạp và ngược lại.

    Cơ cấu tổ chức càng đơn giản thì việc ra quyết định càng nhanh chóng, sự trao đổi thông tin thuận lợi và mức độ gắn kết các bộ phận càng cao. Ngược lại, tổ chức bộ máy càng cồng kềnh, phức tạp thì quản lý càng khó, dẫn đến trong công tác đào tạo tiến trình đào tạo sẽ khó thực hiện một cách đồng bộ và linh hoạt. Ngoài ra sự thay đổi cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo trong doanh nghiệp.

    • Lực lượng lao động hiện tại của doanh nghiệp.

    + Trình độ của người lao động: Nghiên cứu chất lượng lao động của lực lượng lao động hiện tại sẽ cho thấy những ai cần phải đào tạo? Đào tạo những gì?

    + Cơ cấu lao động theo độ tuổi, giới tính:

    Về độ tuổi, nếu một doanh nghiệp có cơ cấu lao động trẻ hơn doanh nghiệp kia thì nhu cầu đào tạo sẽ có khả năng cao hơn doanh nghiệp kia. Điều này xuất phát từ đặc điểm tâm lý của người lao động là càng lớn tuổi thì nhu cầu học tập càng giảm đi.

    Giới tính cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo của một doanh nghiệp. Thông thường trong một doanh nghiệp nếu tỷ lệ nữ cao hơn nam giới thì nhu cầu đào tạo sẽ thấp và ngược lại.

    • Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

    Nếu doanh nghiệp làm ăn phát đạt thì doanh nghiệp đó sẽ có điều kiện thuận lợi để đầu tư cho hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Ngược lại nếu doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ thì kinh phí cho đào tạo có thể phải cắt giảm.

    • Điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ cho đào tạo và phát triển:

    Điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Bởi vì khi điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ được đảm bảo thì công tác đào tạo và phát triển mới tiến hành một cách có hiệu quả, và ngược lại.

    2.    Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp.

    Môi trường pháp lý của doanh nghiệp: Không chỉ riêng hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mà tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều bị giới hạn bởi những khuôn khổ pháp lý do Nhà nước quy định, phải đảm bảo không bị trái pháp luật.

    • Môi trường kinh tế, môi trường chính trị cũng ảnh hưởng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Khi nền kinh tế phát triển, môi trường chính trị ổn định thì người lao động thường có nhu cầu đào tạo lớn và công tác đào tạo cũng không bị ảnh hưởng lớn.
    • Sự tiến bộ của khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ càng hiện đại tiên tiến kéo theo trình độ của người lao động phải được nâng lên để có thể nắm vững các thao tác, quy trình của công nghệ khi thực hiện công việc.
    • Thị trường của doanh nghiệp: Thị trường rộng, hàng hoá bán nhiều, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng dần từ đó nó sẽ quyết định đến nguồn kinh phí trích vào quỹ đào tạo và phát triển.

    IV.             SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    Ngày nay nền kinh tế của đất nước ta đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu hoá đã tạo ra những thuận lợi, những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng đặt ra cho Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 những nhiệm vụ hết sức nặng nề, phải nhanh chóng vươn lên, không ngừng phát triển mới có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để tồn tại và phát triển được. Vì vậy, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần phải được quan tâm đúng mức.

    Với việc mở rộng quy mô sản xuất tạo ra hàng loạt việc làm mới cho cán bộ công nhân viên trong công ty. Vì vậy Công ty cần phải thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo cho các cán bộ công nhân viên trong Công ty để họ cập nhật được kiến thức, kỹ năng mới, giúp cho họ thực hiện công việc tốt hơn.

    Đặc thù của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 là một Công ty trực thuộc Tổng Công ty xây dựng Hà Nội và có nhiều xí nghiệp thành viên nên thường xuyên có sự điều phối, thuyên chuyển đội ngũ cán bộ quản lý, đòi hỏi Công ty phải chuẩn bị đội ngũ lao động kế cận. Vì vậy đào tạo và phát triển sẽ giúp cho cán bộ công nhân viên trong Công ty có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II:

    PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    I.                   NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

    – Tên công ty: Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    – Tên tiếng Anh: Investment and construction joint stock company No4.

    – Tên viết tắt: ICON4.

    – Địa chỉ: 243A Đê La Thành – Láng Thượng – Đống Đa – Hà Nội

    – Số điện thoại: 04.8348976

    – Fax               : 04.8348863

    Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 được thành lập ngày 18 tháng 10 năm 1959, tiền thân là công trường xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc và công ty kiến trúc khu bắc Hà nội. Qua nhiều thời kỳ sát nhập đến năm 1955 Bộ có quyết định nhập công ty xây dựng số 4 vào Tổng Công ty xây dựng Hà nội, từ đó đến nay công ty xây dựng số 4 là một doanh nghiệp Nhà nước được xếp hạng I trực thuộc Tổng công ty xây dựng Hà nội.

    Trụ sở của công ty hiện nay : 243A – Đê La Thành – Láng Thượng – Đống Đa – Hà Nội.

    Giấy phép kinh doanh số 314258 cấp ngày 06/04/2001

    Vốn điều lệ: 45.000.000.000 đồng.

    Người đại diện : Tổng giám đốc: Nguyễn Minh Cương

    Qua hơn 45 năm hoạt động từ tiền thân là công trường xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc và công ty kiến trúc khu bắc Hà nội, sự trưởng thành và phát triển của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 có thể khái quát bằng 4 giai đoạn sau :

    • Giai đoạn 1959-1965:

    Công ty xây dựng số 4 ra đời vào lúc bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1961-1965), Đảng và Nhà nước ta chủ trương hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng và khôi phục nền kinh tế Miền Bắc. Với tinh thần đó, nhiệm vụ đầu tiên của công ty là xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc(1960). Việc thi công này gặp rất nhiều khó khăn như cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế, lao động thủ công là chủ yếu và đa phần là bộ đội…,song với tinh thần lao động cần cù sáng tạo, vừa sản xuất vừa học tập nâng cao tay nghề nên đã hoàn thành tốt kế hoạch chỉ tiêu đặt ra.

    • Giai đoạn 1965-1975:

    Thời kỳ này đất nước ta trải qua cuộc chiến đấu chống chiến tranh xâm lược khốc liệt, vừa chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, vừa xây dựng XHCN, đánh dấu một thời kỳ khó khăn ác liệt song tập thể công ty xây dựng số 4 trong giai đoạn này cũng đã đạt được nhiều thành tích trong lao động. Thời kỳ này công ty được giao thi công hàng loạt các công trình quân sự như sân bay Kép, sân bay Gia Lâm, sân bay Hoà Lạc, kho vật tư kỹ thuật quân sự và các công trình khác như đài phát thanh 69-14, đường Hữu Nghị…Bên cạnh đó với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, công ty đã điều hàng trăm xe tải vận chuyển vật tư kỹ thuật quân sự chi viện cho chiến trường Miền Nam, hàng ngàn thanh niên của công ty cũng hăng hái lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Ngoài các công trình về quốc phòng công ty vẫn đảm nhiệm thi công các công trình công nghiệp, dân dụng khác như nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy cơ khí Đông Anh, bệnh viện Lạng Sơn, nhiệt điện Hà Bắc…Đây là thời kỳ của sáng tạo, dũng cảm quên mình phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc của tập thể CBCNV số 4

    • Giai đoạn 1975-1986:

    Trong giai đoạn này công ty xây dựng số 4 đã tiến hành phương thức phân công, phân cấp tự chủ trong sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi, tổ chức lại các xí nghiệp theo hướng chuyên ngành, theo vùng…

    Thời kỳ này nhiều công trình được đánh giá cao được thi công bởi công ty như nhà máy xe lửa Gia Lâm, cơ khí Hà Bắc, nhà máy kính Đáp Cầu, nhà máy ô tô 1 tháng 5, nhiệt điện Phả Lại, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, học viện kỹ thuật quân sự Vĩnh Phú, đài vệ tinh mặt đất Hoa Sen I và Hoa Sen II, trại giống lúa Đồng Văn, nhà máy in sách giáo khoa Đông Anh,…

    Thời kỳ này được coi là thời kỳ của sáng kiến cải tiến và quản lý chất lượng đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ CBCNV xây dựng số 4 trong quản lý cũng như điều hành tổ chức thi công. Với những thành tích đạt được, công ty xây dựng số 4 được đánh giá là một trong những đơn vị mạnh của Tổng công ty xây dựng Hà nội, và được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng nhiều bằng khen và bằng lao động sáng tạo.

    • Giai đoạn 1986-nay:

    Đây là thời kỳ bắt đầu của sự đổi mới, từ nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Sự cạnh tranh trên thị trường nói chung và thị trường xây dựng nói riêng diễn ra gay gắt. Các đơn vị thiếu việc làm, lao động dôi dư nhiều. Trong khi đó cơ sở vật chất công ty còn nghèo nàn, trang thiết bị đã thiếu lại còn lạc hậu, lực lượng lao động hầu hết được đào tạo trong thời kỳ bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ đổi mới, chưa quen với hoạt động của nền kinh tế thị trường. Tất cả những khó khăn trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của công ty.

    Trước những khó khăn chồng chất đó công ty xây dựng số 4 dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, các cấp lãnh đạo công ty cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của Bộ xây dựng, Tổng công ty xây dựng Hà nội và các ban ngành đoàn thể…đã chủ động kết hợp cùng với sự hăng say, thi đua lao động sản xuất của tập thể cán bộ công nhân viên, công ty đưa ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo đà phát triển để đảm bảo sự tồn tại và không ngừng phát triển của công ty.

    Những công trình thi công đạt chất lượng cao của công ty trong thời kỳ này tiêu biểu như Nhà họp Chính Phủ, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, văn phòng Quốc hội, nhà hát lớn Thành phố, đại sứ quán Pháp, trung tâm điều hành thông tin di động VMS, nhà máy chế biến thức ăn Hoa Kì, Thư viện Quốc gia Hà nội, trường đại học Tài chính, bưu điện Phủ Lý, khách sạn Opera Hilton Hà nội, khách sạn Melia-44 Lý Thường Kiệt-Hà nội, dự án thoát nước Hà nội giai đoạn I,…

    Với hàng chục công trình đạt huy chương vàng chất lượng và sự đánh giá tin tưởng của khách hàng trong và ngoài nước là bằng chứng khẳng định vị trí và sự phát triển của công ty trong thời kỳ mới. Công ty xây dựng số 4 đã được Đảng, Nhà nước, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ xây dựng, Công đoàn ngành xây dựng Việt Nam, Thành phố Hà nội tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua cao quý cho công ty và các cá nhân của đơn vị cụ thể như:

    –     01 Huân chương độc lập Hạng Nhì

    • 03 Huân chương độc lập Hạng Ba
    • 12 Huân chương lao động các hạng
    • Nhiều Bằng khen, cờ thưởng luân lưu, bằng chứng nhận của Chính phủ, Bộ xây dựng, Tổng liên đoàn Lao động, các tỉnh thành phố trực thuộc tặng

    Hàng năm có nhiều đồng chí là CBCNV của Công ty được Chính phủ, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ xây dựng…tặng huân chương Lao động, bằng khen, giấy khen và các danh hiệu khác

    2. Ngành nghề kinh doanh của công ty.

         – Nhận thầu, tổng thầu xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, hạ tầng kỹ thuật; đường dây và trạm biến thế điện; trang trí ngoại, nội thất.

    – Tư vấn, tổng thầu tư vấn đầu tư và xây dựng các dự án đầu tư xây dựng bao gồm : Lập và thẩm tra dự án đầu tư; Tư vấn đấu thầu và quản lý dự án; Tư vấn công nghệ thiết bị và tự động hoá; Khảo sát địa hình địa chất thuỷ văn, đo đạc công trình, thí nghiệm; Thiết kế lập tổng dự toán và thẩm tra thiết kế tổng dự toán; Thiết kế quy hoạch chi tiết các khu dân cư, khu chức năng đô thị, khu công nghiệp; Kiểm định chất lượng công trình

    –  Sửa chữa, phục hồi và phục chế các công trình di tích lịch sử

    –  Đầu tư, kinh doanh phát triển nhà và hạ tầng đô thị, khu dân cư, khu công nghệ cao, khu kinh tế mới, khu chế xuất, khu công nghiệp; Kinh doanh bất động sản, dịch vụ cho thuê nhà, quản lý khai thác dịch vụ các khu đô thị mới

    –  Khai thác, sản xuất, chế biến, kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông đúc sẵn; Vận tải, bốc xếp, dịch vụ giao nhận hàng hoá

    –  Đầu tư, kinh doanh du lịch, thương mại dịch vụ, nhà hàng, khách sạn, hàng thủ cong mỹ nghệ, rượu, bia, nước giải khát, nước sạch, hàng tiêu dùng

    –  Kinh doanh xuất, nhập khẩu vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, phụ tùng, phương tiệ vận tải

    –   Cung cấp, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành điều hoà không khí, điện lạnh, thiết bị phòng cháy nổ, thang máy, sửa chữa xe máy thi công xây dựng.

    3. Cơ cấu tổ chức và chức năng – nhiệm vụ của các phòng ban trong công ty.

    3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

    Khái niệm cơ cấu tổ chức: Là sự phân chia tổng thể ra những bộ phận nhỏ theo những tiêu thức chất lượng khác nhau, những bộ phận đó thực hiện các chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm phục vụ mục tiêu chung. Tổ chức bao hàm một chỉnh thể hoạt động độc lập, có chính danh và tôn chỉ mục đích hoạt động

    Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Ta có thể thấy cơ cấu của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng. Đây là cơ cấu tổ chức khá hợp lý và có khoa học phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của công ty.Cơ cấu tổ chức này có ưu điểm là để đảm bảo được tính thống nhất trong quản lý, đảm bảo chế độ một thủ trưởng và cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt, sự phối hợp chặt chẽ giữa các phong ban. Tuy nhiên cơ cấu này lại bộc lộ những nhược điểm là: chức năng quản lý không được chuyên môn hoá nên không có điều kiện để đi sâu thực hiện từng chức năng một, không tận dụng được đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực quản lý và dễ dẫn đến tình trạng quá tải về công tác đối với người lãnh đạo.

    3.2. Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận.

    3.2.1. Hội đồng quản trị (HĐQT):

    HĐQT Công ty có 3 thành viên, trong đó có 1 thành viên là giám đốc công ty

    Hoạt động của HĐQT Công ty được quy định rất cụ thể trong quy chế hoạt động của HĐQT Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 do tổng Công ty xây dựng Hà nội ban hành kèm theo quyết định số 617/QĐ-HĐQT ngày 14/07/2003.

    3.2.2. Giám đốc công ty (GĐCT).

           GĐCT là đại diện pháp nhân của công ty, có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo chế độ một thủ trưởng và có tránh nhiệm cao nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước theo đúng pháp luật. Giám đốc Công ty do Hội đồng Quản trị của Tổng công ty xây dựng Hà Nội bổ nhiệm và miễn nhiệm.

    Giám đốc Công ty trực tiếp chỉ đạo một số công tác:

    • Công tác sản xuất kinh doanh.
    • Công tác tổ chức cán bộ.
    • Công tác tài chính, thống kê, kế toán.
    • Công tác kiểm tra, thanh tra.
    • Công tác đối ngoại.
    • Công tác thương mại gồm: Xuất khẩu, nhập khẩu, vận tải hàng hoá, vật liệu nổ công nghiệp quá cảnh.
    • Công tác đầu tư liên doanh cà hợp tác sản xuất kinh doanh với nước ngoài.
    • Quan hệ với các đoàn thể trong công ty.
    • Chủ tịch hội đồng thi đua khen thưởng Công ty.
    • Trực tiếp chỉ đạo phòng tổ chức cán bộ, Phòng kiểm toán nội bộ- thanh tra, phòng thống kê – kế toán, tài chính, phòng thương mại.
    • Sinh hoạt hành chính tại phòng tổ chức cán bộ.

    3.2.3. Phó giám đốc:

    Là người giúp việc giám đốc công ty điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo phân công của Giám đốc. Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền thực hiện.

    3.2.4. Kế toán trưởng:

    Giúp Giám đốc công ty chỉ đạo, thực hiện công tác hạch toán kế toán , thống kê, tài chính của công ty. Kế toán trưởng thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại pháp lệnh kế toán thống kê và điều lệ Kế toán trưởng.

    3.2.5. Các phòng nghiệp vụ chuyên môn của công ty.

    Khối văn phòng cơ quan công ty là khối bao gồm các phòng ban nghiệp vụ được thành lập theo quyết định của chủ tịch Hội đồng quản trị công ty để tham mưu, giúp tổng giám đốc công ty trong việc thực hiện các chức năng quản lý của công ty theo từng lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ.

    Khối văn phòng ban công ty bao gồm các phòng ban sau :

    • Phòng kỹ thuật thi công
    • Phòng tài chính kế toán
    • Phòng kinh tế thị trường
    • Phòng tổ chức lao động
    • Phòng dự án
    • Ban bảo hộ lao động Công ty
    • Văn phòng Công ty
    1. Phòng kinh tế thị trường.

    Là phòng tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc Công ty nhằm triển khai, chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện về lĩnh vực tiếp thị, các hợp đồng kinh tế trong và ngoài công ty, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng quý, hàng năm, báo cáo thống kê theo quy định, công tác đầu tư của toàn công ty và thực hiện ISO 9001-2000. Chỉ đạo nghiệp vụ các mặt công tác:

    • Công tác kế hoạch và quản lý kinh tế.
    • Công tác Marketing
    • Công tác đầu tư
    1. Phòng kỹ thuật thi công.

    Là phòng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc Công ty và lãnh đạo Công ty triển khai chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các công trình trực thuộc Công ty và các đơn vị trực thuộc về tiến độ thi công, chất lượng sản phẩm, khoa học công nghệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, triển khai việc thực hiện ISO 9001 – 2000 của Công ty. Giúp Công ty thực hiện các mặt công tác:

    –    Công tác thi công

    –    Công tác khoa học kỹ thuật

    1. Phòng tài chính kế toán.

    Là phòng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc và lãnh đạo Công ty để triển khai tổ chức thực hiện công tác tài chính kế toán và hạch toán kinh tế toàn Công ty, đồng thời kiểm tra kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính của Công ty theo điều lệ hoạt động và quy chế quản lý tài chính đã được Hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông phê duyệt. Chỉ đạo nghiệp vụ các mặt công tác:

    –     Công tác tài chính

    –     Công tác kế toán

    1. Phòng tổ chức lao động

    Là phòng tham mưu giúp việc Tổng Giám đốc và lãnh đạo Công ty tổ chức, triển khai, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chủ trương đường lối của lãnh đạo Công ty đối với các đơn vị trực thuộc về các lĩnh vực công tác: tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, dân quân tự vệ và các chế độ khác đối với CBCNV. Thực hiện ISO 9001 – 2000. Các mặt công tác mà phòng thực hiện:

    • Công tác tổ chức
    • Công tác lao động
    • Công tác định mức lao động
    • Công tác đào tạo, thi đua khen thưởng
      1. Phòng dự án Công ty

    Là phòng tham mưu, giúp việc cho Tổng Giám đốc Công ty trong công tác đấu thầu, kiểm soát công tác đấu thầu và đề xuất việc thực hiện sau đấu thầu trong toàn Công ty.

    Chức năng nhiệm vụ của phòng là:

    • Mua hồ sơ thầu và nghiên cứu hồ sơ dự thầu;
    • Chủ trì thực hiện việc lập Hồ sơ dự thầu bao gồm: Tất cả các công việc cần thiết đáp ứng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu: Hồ sơ pháp lý, kỹ thuật và giá dự thầu. Giải quết các vướng mắc liên quan đến Hồ sơ dự thầu.
    • Đối với các dự án do các xí nghiệp lập: Phòng có chức năng cung cấp tài liệu pháp lý cho các đơn vị, có thể tham gia thực hiện một phần hoặc chủ trì thực hiện dự án khi cần thiết.
    • Kiểm soát việc thực hiện công tác đấu thầu trên toàn Công ty bao gồm: Việc đăng ký hồ sơ dự thầu của các đơn vị, kiểm soát các tài liệu pháp lý của hồ sơ dự thầu.

    Đề xuất biện pháp thực hiện sau đấu thầu đồng báo cáo định kỳ với Tổng Giám đốc về công tác đấu thầu trên toàn Công ty.

    1. Văn phòng Công ty

    Là phòng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc và lãnh đạo Công ty để tổ chức triển khai tình hình hoạt động của Công ty, nắm bắt thông tin, phản ánh của các đơn vị; công tác hành chính, quản trị để thực hiện các hoạt động tác nghiệp; quản lý đất đai các khu tập thể của Công ty hiện đang quản lý và thực hiện ISO 9001 – 2000.

    1. Phòng khoa học kỹ thuật

    Giúp Giám đốc quản lý, hướng dẫn công tác khoa học kỹ thuật và tiếp thu công nghệ mới; Phổ biến áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đề xuất vận dụng khoa học tiên tiến vào SXKD; Chủ trì nghiên cứu phương án đầu tư chiều sâu; Phối hợp với phòng tổ chức lao động xây dựng chương trình đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân…

         4. Những đặc điểm về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm qua.

    Kể từ khi thành lập đến nay Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tạo dựng được năng lực cơ sở sản xuất mới. Các cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, nơi làm việc, phương tiện vận tải được đầu tư sửa chữa, nâng cấp và đầu tư mới, sản xuất ngày một phát triển, đời sống tinh thần và thu nhập của người lao động ngày càng tăng.

    Kết quả sản xuất Của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

                          Năm

     

    Chỉ tiêu

    2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006
    Δ % Δ %
    1.GTSXKD (tr.đ) 861135 904191 1412305 43056 4,99 508114 56,19
    2.Doanh thu   (tr.đ) 576000 578724 610348 2724 0,47 31624 5,46
    3.Lợi nhuận  (tr.đ) 3500 4250 5380 750 21,43 1130 26,59
    4.Số lao động (người) 6418 6498 6679 80 1,25 181 2,78
    5.Quỹ tiền lương (tr.đ) 101220 117480 133305 16260 16,06 15825 13,47
    6.Nộp ngân sách (tr.đ) 1980 2250 2415 270 13,64 165 7,33
    7.Thu nhập bình quân (tr.đ) 1,600 1,750 1,950 0,15 9,375 0,2 11,43
    8.TLBQ (tr.đ) 15,77 18,08 19,96 2,31 14,65 1,88 10,40
    9.NSLĐ bình quân (tr.đ) 134,17 139,15 211,45 4,98 3,71 72,3 51,96

                                                                        Nguồn: Phòng tổ chức hành chính

    Theo bảng kết quả sản xuất của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 ta thấy:

    Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm vừa qua rất tốt, giá trị sản xuất kinh doanh, doanh thu tăng lên đáng kể qua các năm. Đặc biệt là thu nhập bình quân của người lao động đã tăng lên từ 1.600.000 đồng năm 2005 lên 1.950.000 đồng năm 2007 ( tăng 21,87 % ) góp phần cải thiện đời sống của CBCNV, khuyến khích họ tích cực cống hiến vì sự ổn định và phát triển của Công ty.

    Ta thấy TLBQ cũng tăng lên đáng kể, cụ thể tăng từ 18,08 ( tr.đ ) năm 2006 lên 19,96 ( tr.đ ) năm 2007, tức là tăng 1,88 ( tr.đ ), tương ứng tăng 10,40 %. Điều này rất hợp với quy luật phát triển, sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc có hiệu quả hơn.

    NSLĐ bình quân năm 2006 so với năm 2005 tăng 4,98 (tr.đ), tương ứng tăng 3,71%. Năm 2007 so với năm 2006 tăng 72,3 (tr.đ), tương ứng tăng 51,96%. Điều này phản ánh lên rằng trong năm 2007 là một năm phát triển vượt bậc. Nguyên nhân là do trong năm 2007, công ty đã có những thay đổi hợp lý trong quản lý, chất lượng nguồn nhân lực cũng được cải thiện rõ rệt…

    So sánh tốc độ tăng NSLĐ bình quân với tốc độ tăng TLBQ ta thấy NSLĐ bình quân tăng nhanh hơn TLBQ. Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất của công ty.

    Những kết quả mà Công ty đạt được trong sản xuất kinh doanh những năm qua là khá cao. Tuy nhiên, với tư cách là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, Công ty cần phải năng động hơn nữa trong sản xuất kinh doanh. Để làm được điều đó, công tác đào tạo và phát triển phải luôn bám sát mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh, đào tạo sâu về kiến thức quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của người lao động trong doanh nghiệp.

    Tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi đã tạo điều kiện cho công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực của Công ty. Nguồn kinh phí đào tạo tăng lên qua các năm do được trích từ lợi nhuận của Công ty. Bên cạnh đó, với những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh, Công ty đã tạo dựng được lòng tin và sự ủng hộ, đầu tư ngày càng lớn của Nhà nước. Vì thế, nguồn kinh phí đào tạo do Nhà nước cấp ngày càng tăng, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Công ty có nhiều thuận lợi.

         5. Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    5.1. Sản phẩm và thị trường tiêu thụ

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ có tính tổng quát là tái sản xuất tài sản cố định của sản xuất và không sản xuất cho các ngành kinh tế và dịch vụ xã hội. Sản xuất và tiêu dùng xã hội ngày càng cao về quy mô và trình độ thì nhu cầu về sản phẩm xây dựng ngày càng phải gia tăng về cả số lượng lẫn chất lượng.

    Ngoài việc tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân dưới hình thức xây dựng mới, trong quá trình sử dụng, tài sản cố định không ngừng bị hao mòn hữu hình và vô hình; Vì vậy, với Công ty nói riêng và ngành xây dựng nói chung còn có nhiệm vụ khôi phục, sửa chữa, mở rộng và hiện đại hoá các loại tài sản cố định đã được sản xuất trong những chu kỳ trước đó. Tỷ trọng giữa xây dựng mới và sửa chữa, khôi phục, hiện đại hoá… tài sản số định có mối tương quan xác định.

    5.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật

    Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã đặt cho Công ty đứng trước một thử thách mới là nếu không đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất thì Công ty sẽ bị tụt hậu do năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo. Chính vì vậy trong những năm qua, Công ty xây dựng số 4 đã tiến hành đầu tư mua sắm hàng loạt máy móc thiết bị thi công tiên tiến hiện đại như hệ thống khoan cọc nhồi,  máy khoan đá,  trạm trộn bê tông AFPHAN, máy trải thảm, máy lu, xúc, ủi,… Đồng thời hệ thống máy móc thiết bị văn phòng cũng được đầu tư trang bị đầy đủ như hệ thống thiết bị liên lạc, FAX, điện thoại, hệ thống máy Vi tính , máy Foto vv.. đảm bảo đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý điều hành sản xuất nhanh, kịp thời, đạt hiệu quả.

    THỐNG KÊ MÁY MÓC TRANG THIẾT BỊ

    TT Tên tài sản Số lượng Đang  SD Tình trạng
    1 Ô tô vận tải tự đổ 21 19 Chất lượng còn 70%-90%
    2 Ô tô con 10 10 Chất lượng còn 80%-100%
    3 Máy xúc-ủi thuỷ lực 10 10 Chất lượng còn 50%-80%
    4 Máy đóng cọc 6 6 Chất lượng còn 60%-80%
    5 Máy khoan cọc nhồi 4 4 Chất lượng còn 80%-90%
    6 Máy ép cọc thuỷ lực 1 1 Chất lượng còn 70%
    7 Máy trộn bê tông 10 10 Chất lượng còn 60%-80%
    8 Các máy cắt uốn 15 15 Chất lượng còn 60%-80%
    9 Máy cưa, bào 17 17 Chất lượng còn 60%-90%
    10 Máy đầm các loại 24 24 Chất lượng còn 70%-80%
    11 Máy lu 4 4 Chất lượng còn 80%-90%
    12 Cẩu tháp 3 3 Chất lượng còn 60%-85%
    13 Vận thăng chở người 4 4 Chất lượng còn 70%-85%
    14 Máy vận thăng 8 8 Chất lượng còn 60%-85%
    15 Cẩu tự hành 4 4 Chất lượng còn 70%-85%
    16 Thiết bị đo 15 15 Chất lượng còn 75%-90%
    17 Máy vi tính 35 35 Chất lượng còn 80%-95%

    Qua bảng thống kê trên, có thể thấy rằng việc cung ứng trang thiết bị trong Công ty là tương đối đầy đủ. Hệ số sử dụng trang thiết bị khá cao, chứng tỏ Công ty đã có sự đầu tư, quan tâm đến việc sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguyên vật liệu. Điều đó không chỉ làm giảm chi phí trang bị máy móc thiết bị, chi phí sửa chữa mà còn thể hiện ý thức bảo vệ, bảo quản tài sản của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Chi phí sữa chữa, chi phí trang bị máy móc thiết bị giảm sẽ làm tăng doanh thu, góp phầm làm tăng quỹ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Công ty.

       6. Đặc điểm về lao động

    Biên chế thực tế CBCNV của Công ty hiện  nay có Tổng số trong danh sách hợp đồng dài hạn   là: 818 người –  Đây là một đội ngũ cán bộ công nhân viên kỹ thuật có tri thức, có tay nghề cao, đã từng quản lý thi công nhiều công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, luôn yêu nghề và không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề. Nhưng trong quá trình thi công các công trình, do thi công ở những địa điểm khác nhau nên Công ty phải thuê một lực lượng lao động thời vụ rất lớn tới hàng ngàn người, trong đó có nhiều lao động giản đơn, lực lượng này thường không ổn định vì nhiều người coi đây chỉ là công việc tạm bợ, luôn tìm cách chuyển nghề để mong tìm được việc khác đỡ nặng nhọc, vất vả mưa nắng lại tích luỹ được kinh nghiệm nâng cao tay nghề. Do công nghệ và kỹ thuật xây dựng mới không ngừng phát triển, Công ty cũng đã có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại để tiếp thu nhưng với đặc điểm trên, việc đào tạo huấn luyện cũng như thực thi các quy trình quản lý khá khó khăn. Bảng dưới đây cho biết số lượng và chất lượng lao động hịên có :

                    Năm 2007 2006 2005 2007/2006 2006/2005
    Chỉ tiêu Tuyệt đối

     

    (người)

    Tỷ trọng

     

    (%)

    Tuyệt đối

     

    (người)

    Tỷ trọng

     

    (%)

    Tuyệt đối

     

    (người)

    Tỷ trọng

     

    (%)

    % Δ

     

    (Người)

    % Δ

     

    (Người)

    Tổng số lao động 6679 100 6498 100 6418 100 2,7 181 1,2 80
    Theo chức năng:

     

    – Lao động trực tiếp

    – Lao động gián tiếp

    5826

     

    853

    87,23

     

    12,77

    5664

     

    834

    87,16

     

    12,84

    5600

     

    818

    87,25

     

    12,75

    2,8

     

    2,3

    162

     

    19

    1,1

     

    1,9

    64

     

    16

    Theo trình độ chuyên môn:

     

    – ĐH

    – CĐ

    – TC

    – THPT

    318

     

    542

    635

    5184

    4,76

     

    8,11

    9,51

    77,62

    352

     

    512

    608

    5026

    5,42

     

    7,88

    9,36

    77,34

    286

     

    495

    588

    5049

    4,46

     

    7,71

    9,16

    78,67

    – 9,66

     

    5,86

    4,44

    3,14

    – 34

     

    30

    27

    158

    23,1

     

    3,43

    3,4

    -0,45

    66

     

    17

    20

    -23

    Theo độ tuổi:

     

    – 18 – 30

    – 31 – 45

    – 46 – 55

    –     > 55

    2368

     

    3015

    794

    502

    35,45

     

    45,14

    11,89

    7,52

    2014

     

    2895

    824

    765

    30,99

     

    44,55

    12,68

    11,78

    1989

     

    2714

    912

    803

    30,99

     

    42,28

    14,21

    12,52

    17,57

     

    4,14

    -3,64

    -34,4

    354

     

    120

    -30

    -263

    1,26

     

    6,67

    -9,65

    -4,73

    25

     

    181

    -88

    -38

    Theo giới tính:

     

    – Nam

    – Nữ

    4846

     

    1833

    72,55

     

    27,45

    4215

     

    2283

    64,87

     

    35,13

    4011

     

    2407

    62,49

     

    37,51

    204

     

    -124

    631

     

    -450

    5,08

     

    -5,15

    204

     

    -124

                                                                                    Nguồn: Phòng tài vụ

    Như vậy, tính đến cuối năm 2007, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 có tổng số lao động là 6679 người. Trong đó lao động trực tiếp là 5826 người, chiếm 87,23% tổng số cán bộ công nhân viên; lao động nam là 4846 người, chiếm 72,55%.

    Độ tuổi trung bình của người lao động là 36 tuổi, đây là độ tuổi vẫn đang ở mức sung sức. Số người trong độ tuổi < 30 tuổi và từ 31 – 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao. Cụ thể là: số người trong độ tuổi < 30 tuổi là 2368 người, chiếm 35,45% tổng số cán bộ công nhân viên; số người trong độ tuổi 31 – 45 tuổi là 3015 người, chiếm 45,14%. Đây là nhân tố tích cực giúp cho công ty ngày càng phát triển nhưng cũng đặt ra cho ban lãnh đạo Công ty những khó khăn trước mắt về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Số lao động có trình độ đại học là 318 người, chiếm 4,76%; cao đẳng là 542 người, chiếm 8,11%; lao động trung cấp là 5184 người, chiếm 77,62%. Điều này cho thấy trình độ lao động chưa tương xứng với yêu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại của Công ty. Vì vậy để đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài thì Công ty phải có kế hoạch đào tạo và phát triển hiệu quả nhằm nâng cao trình độ chuyen môn, nghiệp vụ cho người lao động.

        7. Những yếu tố thực tế đã ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    7.1. Các yếu tố thuận lợi.

    – Ban lãnh đạo công ty luôn đặt công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực lên hàng đầu.

    – Cán bộ công nhân viên trong công ty đều là những người có tư tưởng “cầu tiến”, ham học hỏi.

    – Cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất của công ty khá tốt.

    7.2. Các yếu tố khó khăn.

    – Địa bàn hoạt động của công ty trải khắp cả nước, công ty lại có nhiều xí nghiệp, đơn vị thành viên trực thuộc nên việc lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng nhân sự của công ty tương đối khó khăn

    – Là một doanh nghiệp nhà nước nên còn chịu nhiều ảnh hưởng của cơ chế, lề lối làm việc cũ như: tư duy, tác phong làm việc ở một số bộ phận còn lạc hậu, tính tự giác của người lao động chưa cao

    – Đội ngũ cán bộ quản lý trong công ty vừa thiếu lại vừa yếu.

    1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NNL TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    Quy trình thực hiện công tác đào tạo nhân sự của công ty:

    1. Cách xác định nhu cầu đào tạo tại công ty

    – Hàng năm dựa theo kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm đó, kế hoạch hóa nguồn nhân lực, tình hình lực lượng lao động thực tế…để xác định nhu cầu đào tạo thực tế

    – Vào quí một hàng năm, người phụ trách có liên quan cần xác định các nhu cầu đào tạo chung cho nhân viên của bộ phận mình quản lý gửi cho Trưởng phòng Tổ chức-Lao động/Người được uỷ quyền. Nhu cầu đào tạo có thể được xác định trên các cơ sở :

    + Nhân viên mới tuyển dụng

    + Yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật

    +  Các yêu cầu xuất phát từ hành động khắc phục và phòng ngừa

    + Kết quả của xem xét lãnh đạo

    Ngoài các nhu cầu đào tạo được xác định như trên, Người phụ trách có liên quan có thể đưa ra các nhu cầu đào tạo đột xuất khi thấy cần thiết để đáp ứng được yêu cầu.

    Đối với nhân viên mới tuyển dụng theo hợp đồng dài hạn, trong vòng 6 tháng kể từ ngày tuyển dụng phải được đào tạo các nội dung chủ yếu sau đây:

    + Các quy định nội quy của Công ty

    + Cơ cầu tổ chức của Công ty

    + Chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng

    + Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001-2000 của Công ty

    Đối với công nhân mới tuyển dụng theo hợp đồng ngắn hạn, thời vụ cho các dự án, trong vòng 2 tháng kể từ ngày tuyển dụng cần phải được đào tạo các nội dung chủ yếu sau đây:

    + Các quy định nội quy của Công ty

    + Biện pháp thi công, đảm bảo an toàn

    + Chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng

    + Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001- 2000 của Công ty

    + Các yêu cầu về kỹ thuật khi thấy cần thiết

    – Căn cứ số lượng, chất lượng lao động hiện có; khối lượng, mức độ phức tạp của công việc, đặc điểm thiết bị máy móc; yêu cầu kỹ năng và trình độ cần thiết để lên kế hoạch đào tạo sao cho phù hợp.

    * Nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp qua 3 năm gần đây ngày càng tăng thể hiện qua bảng dưới đây:

                   Năm

     

    Chỉ tiêu

    2005 2006 2007
    Nhu cầu đào tạo và phát triển 789 849 900
    Số người được đào tạo và phát triển 769 835 891
    Tỷ lệ phần trăm được đào tạo và phát triển ( %) 97,46 98,35 99,00

    Từ bảng trên ta thấy nhu cầu đào tạo của Công ty luôn cao hơn số người đước đào tạo là do các nguyên nhân như: phải hoãn việc học để thực hiện nhiệm vụ mới tại cơ sở mới; bị điều động nhận nhiệm vụ khác; hạn chế về trình độ văn hoá…

    Nhu cầu đào tạo tăng nhanh trong năm 2007 là do Công ty đã xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh viên chức, yêu cầu cán bộ công nhân viên chức học tập, nâng cao trình độ tay nghề…

    2.    Xác định mục tiêu đào tạo

    Từ nhu cầu đào tạo, công ty xác định mục tiêu đào tạo. Với mỗi loại nhu cầu đào tạo khác nhau, công ty có những mục tiêu đào tạo tương ứng.

    Dưới đây là bảng mục tiêu đào tạo cho các đối tượng cần được đào tạo của Công ty:

    Đối tượng. Các loại hình đào tạo. Yêu cầu, mục tiêu đặt ra.
    Công nhân trực tiếp sản xuất Đào tạo nâng bậc 100% đạt yêu cầu nâng bậc.
    Đào tạo mới Nắm vững được kiến thức và kỹ năng sau khi được đào tạo.
    Đào tạo sử dụng trang thiết bị công nghệ mới Nắm vững nguyên lý chuyển động, cấu tạo của máy, sử dụng thành thạo và an toàn máy móc thiết bị mới.
    Đào tạo an toàn lao động Sau khi được đào tạo, giảm thiểu được tối đa số vụ tai nạn lao động.
    Cán bộ, nhân viên trong Công ty. Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ CBNV phải nắm vững được kiến thức, kỹ năng  liên quan đến công việc.
    Đào tạo tin học Sau khoá học đảm bảo CBNV ứng dụng kiến thức, phần mềm quản lý để vận dụng vào công việc có hiệu quả.
    Đào tạo ngoại ngữ. Có thể áp dụng được vào thực tế công việc hoặc làm việc được với chuyên gia nước ngoài.

                                                                            Nguồn: phòng hành chính

    Như vậy, ở mỗi chương trình đào tạo, Công ty đều đặt ra những yêu cầu, mục tiêu cụ thể tương ứng với mỗi nội dung đào tạo.Việc đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng đối tượng và áp dụng cho từng loại hình đào tạo đã khiến cho việc tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả được tốt hơn. Tuy nhiên, những mục tiêu này còn chưa cụ thể. Những yêu cầu đối với học viên cũng chỉ theo ý kiến chủ quan  của người xây dựng và chưa được sử dụng một cách thực sự có hiệu quả vào công tác đánh giá hiệu quả đào tạo. Mục tiêu là cái đích mà khi thực hiện một hoạt động nào đó cần phải đạt được.do vậy, đây cũng chính là một hạn chế của công tác đào tạo.

    3.    Lựa chọn đối tượng đào tạo.

    Sau khi nhu cầu đào tạo được xác định, chỉ tiêu đào tạo được phân bổ cho các đơn vị, quy định rõ cho từng cấp đào tạo, hội đồng tuyển chọn do Giám đốc Công ty làm chủ tịch tiến hành lựa chọn đối tượng đào tạo. Hội đồng sẽ xem xét kỹ yêu cầu của việc bố trí, sắp xếp lao động để đảm bảo nhiệm vụ và không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời phải chọn đúng đối tượng cần tiến hành đào tạo.

    Căn cứ vào hồ sơ nhân viên và trình độ chuyên môn nghiệp vụ hiện tại của họ để xác định xem ai còn thiếu bằng cấp, chứng chỉ thì thuộc diện đào tạo.

    Nhìn chung công tác lựa chọn đối tượng đào tạo của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 khá bài bản, các tiêu chuẩn lựa chọn được quy định cụ thể và rõ ràng.

    Dưới đây em xin được đưa ra một vài góp ý cho việc lựa chọn đối tượng đào tạo phù hơp thông qua bảng hỏi về nhu cầu đào tạo:

     
     
    BẢNG HỎI VỀ NHU CẦU ĐÀO TẠO

     

    “ Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phòng Tổ chức, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4, tiến hành nghiên cứu, thăm dò về nhu cầu đào tạo của cán bộ công nhân viên trong Công ty. Xin anh (chị) vui lòng điền vào phiếu này ”:

    Họ và tên: ( Có thể có hoặc không )               Nam ( Nữ ):

    Tuổi:                                                                Chức danh công việc:

    Bộ phận:                                                          Trình độ học vấn:

    Thâm niên công tác:                                        Trình độ chuyên môn:

    Câu 1: Các kiến thức, kỹ năng mà anh ( chị ) đã được đào tạo?

    Chuyên ngành:……………………………………………………………..

    Tốt nghiệp trường: …………………………………………………………

    Câu 2: Anh ( chị ) có cảm thấy hài lòng với công việc hiện tại?

    * Rất hài lòng.                                       * Bình thường.

    * Hài lòng                                              * Không hài lòng

    Câu 3: Anh ( chị ) có muốn được đào tạo thêm không?

    * Rất muốn                                            * Bình thường

    * Muốn                                                  * Không muốn

    Câu 4: Ngành nghề mà anh ( chị ) muốn được đào tạo là gì?

    ………………………………………………………………………………

    Câu 5: Để nâng cao hiệu quả trong công việc, anh ( chị ) mong muốn được đào tạo thêm những kiến thức, kỹ năng gì?

    ……………………………………………………………………………….

    Câu 6: Anh ( chị ) muốn được đào tạo thêm nhằm mục đích gì?

    * Thực hiện tốt hơn công việc hiện tại

    * Tăng lương

    * Thăng tiến

    * Học hỏi thêm

    Câu 7: Anh ( chị ) muốn được đào tạo vào thời điểm nào:…………………….

    Trong bao lâu:…………………….

    Câu 8: Anh ( chị ) mong muốn được Công ty hỗ trợ nguồn kinh phí là:

    * 100%                                                   * 50%

    * 75%                                                     * 25%

    Ý kiến khác: ……………………………………………………………………

    “ Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác, giúp đỡ của Anh ( chị )!”

    1. Xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo
      • Xây dựng chương trình đào tạo

    Để xây dựng chương trình đào tạo thì phòng Tổ chức cán bộ phải phối hợp với các phòng ban khác trong công ty chủ động lập kế hoạch đào tạo cho cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Chương trình đào tạo của công ty được lập có những nội dung sau:

    • Số lượng đào tạo bao nhiêu?
    • Phương pháp đào tạo
    • Chi phí đào tạo cụ thể như thế nào?
    • Địa điểm đào tạo
    • Lựa chọn giáo viên như thế nào?
    • Thời gian đào tạo
    • Phương tiện dùng trong đào tạo
    • Cán bộ trực tiếp phụ trách, cán bộ giúp đỡ
    • Hội đồng đánh giá kết quả đào tạo

    Phòng tổ chức lao động lập chương trình đào tạo, sau đó trình Giám đốc Công ty ký duyệt và làm công văn thông báo cho các đơn vị thành viên trực thuộc thực hiện theo kế hoạch được giao.

    • Các phương pháp đào tạo và phát triển tại công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    Hiện nay, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 áp dụng một số loại hình đào tạo và phát triển như sau:

    • Đào tạo mới
    • Đào tạo lại
    • Đào tạo nâng bậc
    • Bồi dưỡng nghiệp vụ

    Các phương pháp đào tạo được sử dụng tại Công ty:

    • Đào tạo tại chỗ: Với mục đích để người lao động có khả năng làm việc hiệu quả trong từng công việc cụ thể, Công ty đã tiến các hành hình thức đào tạo tại chỗ như: Dạy kèm, luân chuyển công việc, mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân kỹ thuật tại các xí nghiệp của Công ty.
    • Gửi đi đào tạo tại các trường chính quy: Công ty thường cử các cán bộ quản lý cấp cao đi học theo chỉ tiêu do Tổng Công ty xây dựng Hà nội giao xuống. Ngoài ra Công ty còn cử cán bộ công nhân viên đi học tại các trường chính quy của Nhà nước như: Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Luật,…Hình thức này thường áp dụng đối với các nhân viên văn phòng, cán bộ chuyên môn và cán bộ lãnh đạo Công ty.
    • Dự các cuộc hội nghị, hội thảo: Công ty sẽ cử những người cần thiết tham gia vào các cuộc hội thảo , hội nghị do Tổng Công ty Xây dựng Hà nội tổ chức nhằm học hỏi, nắm bắt được những thông tin cần thiết để từ đó rút ra kinh nghiệm.

    Hiện nay Công ty ngày càng chú trọng việc đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn cho công nhân kỹ thuật. Hàng năm Công ty thực hiện tổ chức các cuộc thi như chọn thợ giỏi, thi nâng bậc,… đã khuyến khích được người lao động tích cực tự nâng cao tay nghề chuyên môn của mình để có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, đồng tời tăng được số công nhân có tay nghề giỏi lên cao.

    4.    Phân tích cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn kinh phí đảm bảo cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty.

    • Việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đào tạo ở Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 khá đầy đủ và hiện đại. Công ty có địa bàn hoạt động rộng, có nhiều chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trong cả nước là điều kiện thuận lợi cho việc mở các lớp đào tạo ở nhiều nơi.
    • Nguồn kinh phí đào tạo: Huy động chủ yếu từ 3 nguồn:
    • Nguồn 1: Do tổng công ty xây dựng Hà Nội cấp, một phần cấp bằng tiền, một phần cấp dưới các hình thức mở các lớp học cho các cán bộ lãnh đạo của các công ty trực thuộc.
    • Nguồn 2: Do công ty tự bỏ ra. Nguồn này được trích từ quỹ đào tạo – phát triển mà hàng năm Công ty trích 2% lợi nhuận cho quỹ này.
    • Nguồn 3: Người lao động tự nguyện bỏ tiền ra học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của mình để tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp.

    Hàng năm công ty dự tính chi phí đào tạo bằng cách:

    + Với hình thức gửi người đi đào tạo tại các trường chính quy, hay thuê giáo viên ngoài về dạy tại Công ty thì Công ty liên hệ với các trường, các giáo viên đó và qua đó dự tính được chi phí đào tạo cần thiết.

    + Với hình thức đào tạo tại Công ty và các đơn vị trực thuộc thì căn cứ vào quy định của Công ty về chi phí đào tạo cho cán bộ kiêm chức và chi phí tiền lương trả cho công nhân trong thời gian học tập sẽ xác dinh được chi phí đào tạo theo hình thức này.

    * Quỹ đào tạo, phát triển và tình hình sử dụng quỹ tại công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 được thể hiện qua bảng sau:

    Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. Từ trên hỗ trợ Trđ 437,350 387,500 350,250
    2. Từ lợi nhuận công ty 489,527 565,950 685,950
    3. Từ nguồn khác 144,350 146,269 192,304
    Tổng số 1071,227 1099,719 1228,504
    4. Kinh phí sử dụng từ quỹ ĐTPT 971,215 999,719 1128,254
    5. Tình hình sử dụng quỹ % 90,66 90,91 91,84

              ( Nguồn : Báo cáo công tác đào tạo và phát triển hàng năm của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 )

    Nhìn vào bảng ta thấy quỹ đào tạo – phát triển của Công ty chưa cao. Mặt khác, do một phần quỹ đào tạo được trích từ lợi nhuận của Công ty nên quỹ đào tạo phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Đây là một điều bất lợi vì khi Công ty sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, lợi nhuận thấp sẽ dẫn đến quỹ đào tạo và phát triển giảm. Điều này gây khó khăn cho công tác đào tạo và phát triển của Công ty.

    Tình hình sử dụng quỹ là khá cao, cho thấy nhu cầu đào tạo của Công ty là rất lớn. Đây có thể coi là thuận lợi ban đầu vì vừa đáp ứng được phần lớn nhu cầu đào tạo và phát triển của cán bộ công nhân viên trong Công ty, vừa tích lũy được kinh phí cho đào tạo.

    Trong thực tế, việc lập kế hoạch và quản lý kinh phí đào tạo của Công ty được thực hiện tương đối tốt. Công ty đã chủ động trong việc dự tính chi phí, phân bổ chi phí cho từng khâu đào tạo, từng nội dung đào tạo một cách cụ thể, chi tiết, tạo điều kiện cho các chương trình đào tạo được thực hiện dễ dàng hơn.

    5.    Lựa chọn và đào tạo giáo viên.

    Đối với hình thức đào tạo tại chỗ thì công ty sẽ lựa chọn các cán bộ quản lý, kỹ thuật có kinh nghiệm, chuyên môn, tay nghề cao…để đảm nhiệm công tác giảng dạy.

    Đối với hình thức đào tạo gửi đi các trường chính quy thì công ty sẽ quan tâm nhất vào việc lựa chọn các trường có uy tín, tiếp đó là lựa chọn trường thuận lợi cho việc đi lại học tập của cán bộ công nhân viên và sau cùng là chi phí học tập thấp nhất.

    Trong những năm qua công tác lựa chọn giáo viên của Công ty là khá tốt. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên chỉ được tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong thời gian ngắn nên chưa đủ để họ có nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Điều này gâp khó khăn trong việc truyền đạt cho học viên.

    6.    Tổ chức và quản lý công tác đào tạo.

    Công tác này được công ty quy định rõ trong trách nhiệm của các phòng trong công ty. Đặc biệt đối với Phòng Tổ chức lao động của Công ty có những trách nhiệm sau:

    • Xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí đào tạo; dự kiến phân bổ chỉ tiêu đào tạo. Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện các kế hoạch đã được phê duyệt.
    • Tập hợp các đề nghị của các đơn vị, đề xuất trình lãnh đạo Công ty duyệt các đối tượng thuộc diện đào tạo hàng năm. Thực hiện các thủ tục cử cán bộ, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng tại các trường trong và ngoài Công ty.
    • Theo dõi, tổng hợp báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng định kỳ tháng, quý, năm với lãnh đạo Công ty, Tổng Công ty quy định .
    • Phối hợp cùng các phòng để thực hiện các hoạt động thi đua, khen thưởng, kỷ luật và kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị.
    • Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên kiêm chức về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, giảng dạy tay nghề tại Công ty, đơn vị.
    • Tập hợp đề xuất báo cáo Giám đốc Công ty xem xét quyết định thu tiền bồi dưỡng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ công nhân viên bỏ việc, chuyển khỏi Công ty vì lý do cá nhân khi chưa đủ thời gian phục vụ trong Công ty quy định.

    7.    Đánh giá hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    1. Các căn cứ đánh giá.
    • Đối với cán bộ công nhân viên được cử đi học tại các trường chính quy thì Công ty căn cứ vào bảng điểm kết quả đào tạo sau khóa học của họ để đánh giá trình độ năng lực của họ.
    • Đối với công nhân được đào tạo theo kiểu kèm cặp tại Công ty thì Công ty đánh giá kết quả đào tạo thông qua việc thi sát hạch cả về lý thuyết, thực hành và tác phong công nghiệp sau mỗi khóa học.

    Qua đây ta thấy việc đánh giá hiệu quả đào tạo của Công ty được thực hiện khá tốt.

    • Ngoài ra việc đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực còn được thực hiện thông qua phiếu đánh giá hiệu quả đào tạo:
    PHIẾU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO

     

    1.      Anh/chị hiện đang làm việc ở bộ phận:

    ………………………………………………………………………………………

    2.      Theo anh /chị, tham gia các khóa đào tạo trong công ty là:

    * Rất có ích                                                     * Bình thường

    * Lãng phí

    Lý do: ……………………………………………………………………………….

    3.      Đánh giá của anh/chị về các phương pháp đào tạo được áp dụng trong các khóa học

    * Rất phù hợp                                                   * Phù hợp

    * Bình thường                                                   * Không phù hợp

    * Rất không phù hợp

    4.      Đánh giá của anh/chị về giáo viên giảng dạy trong các khóa đào tạo:

    * Rất tốt                                                            * Chư nhiệt tình

    * Chuyên môn nghề thấp                                  * Không quan tâm

    * Ý kiến khác, cụ thể:…………………………………………………………..

    5.      Đánh giá của anh/chị về các vấn đề sau của chương trình đào tạo.

    Nội dung Mức độ
    Kém Trung bình Khá Tốt
    Ý nghĩa thực tiễn        
    Giúp ích cho công việc đang làm        
    Mức độ hiệu quả trong sử dụng thời gian        
    Rõ ràng, dễ hiểu        
    Tài liệu học tập được trang bị        
    Cơ sở vật chất và trang bị phục vụ khóa học        
    Khả năng vận dụng những kiến thức được học vào công việc thực tế        

    6.      Những gì anh/chị muốn được học thêm từ khóa học?

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    7.      Anh/chị có đề nghị gì về việc sửa đổi các khóa học không?

    ………………………………………………………………………………………

    III. Hiệu quả cụ thể của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    1. Số lượng đào tạo:
    Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. Số lượng người được đào tạo Người 769 835 891
    2. Tỷ lệ đạt yêu cầu % 100 100 100
    3. Tỷ lệ khá giỏi % 40,2 52,4 60,5
    4. Tổng chi phí cho đào tạo Trđ 971,215 999,719 1128,254
    5. Chi phí đào tạo bình quân/người Trđ 1,26 1,19 1,27

    ( Nguồn: Báo cáo công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 )

    Nhìn vào bảng ta thấy số lượng người được đào tạo qua các năm liên tục tăng, điều này cho thấy Công ty ngày càng chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển cho cán bộ công nhân viên.

    1. Chất lượng đào tạo

    Cũng qua bảng trên ta thấy chất lượng đào tạo của Công ty ngày càng tăng, thể hiện: Tỷ lệ đạt yêu cầu luôn ở mức 100%, tỷ lệ khá giỏi tăng hàng năm, cụ thể: năm 2005 là 40,2%, năm 2006 là 52,4%, và năm 2007 là 60,5%.

    1. Hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của công ty còn được biểu hiện qua sự tăng lên của năng suất lao động. Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng dưới đây:
    Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. NSLĐ bình quân của 1 lao động Tr.đ/người 134,17 139,15 211,45
    2. TNBQ đầu người 1,60 1,75 1,95
    3. Tỷ lệ tăng NSLĐ %   + 3,71 + 51,96
    4. Tỷ lệ tăng thu nhập %   + 9,375 + 11,43

                                                                   ( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính )

    Nhìn vào bảng ta thấy nhờ có công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mà trình độ năng lực tay nghề chuyên môn của người lao động được nâng lên đáng kể góp phần làm tăng NSLĐ bình quân của 1 lao động qua các năm. Đặc biệt so với năm 2006 thì NSLĐ bình quân 1 lao động trong năm 2007 tăng lên một cách đáng kể, cụ thể tăng từ 139,15 (triệu đồng / người) lên 211,45 ( triệu đồng / người ), tương ứng tăng 51,96%. Kết quả tăng lên đáng kể này là do trong năm 2007 Công ty đã tiến hành phương thức sản xuất kinh doanh mới; máy móc thiết bị được trang bị mới, hiện đại; lực lượng lao động được đào tạo mới và đào tạo lại một cách bài bản đã làm cho trình độ tay nghề của lực lượng lao động được nâng lên đáng kể. Điều này tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất hiệu quả hơn, doanh thu của Công ty cũng tăng lên đáng kể. Do đó TNBQ đầu người trong năm 2007 tăng lên 11,43% so với năm 2006.

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG III:

    MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NNL TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    1. ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰCCỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    1.    Quan điểm, định hướng chiến lược, mục tiêu của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    • Quan điểm, định hướng chiến lược về đào tạo và phát triển
    • Thống nhất quản lý công tác đào tạo – phát triển trong toàn Công ty…
    • Xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực dài hạn trong toàn Công ty để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH.
    • Tập trung chủ yếu vào đào tạo nhân lực có tri thức
    • Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác đào tạo, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo, phát triển
    • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
      • Mục tiêu đào tạo và phát triển

    Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao trình độ năng lực cho cán bộ công nhân viên trong toàn công ty…để ngày càng nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên  trong toàn Công ty.

    II.               MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    1.    Hoàn thiện việc xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Để xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực một cách chính xác thì công tác phân tích công việc và đánh giá khả năng thực hiện công việc của cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 phải được thường xuyên.

    Để đánh giá chính xác việc thực hiện công việc thì Công ty cần thực hiện tốt một số công việc sau:

    • Xác định mục tiêu đánh giá thực hiện công việc
    • Lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp
    • Lựa chọn thời điểm và chu kỳ đánh giá
    • Lựa chọn và huấn luyện những người làm công tác đánh giá
    • Công tác đánh giá phải tiến hành một cách công khai, nghiêm túc, công bằng, phải có thông tin phản hồi về nội dung, phạm vi và các kết quả đánh giá với cán bộ công nhân viên của mình.

    Phân tích công việc là tiến trình xác định một cách có hệ thống các nhiệm vụ và các kỹ năng cần thiết để thực hiện các công việc trong một tổ chức. Đối với từng công việc, phân tích công việc cho thấy đó là công việc gì? Để thực hiện công việc đó, người lao động cần phải thực hiện những nhiệm vụ gì và phải có những kiến thức, kỹ năng nào cần phải đào tạo cho công nhân viên. Để tiến trình phân tích công việc được thành công, Công ty phải thực hiện tuần tự các bước sau:

    • Bước 1: Tiến hành xác định mục đích sử dụng phân tích công việc
    • Bước 2: Xác định những công việc hay là vị trí đặc trưng cần phân tích.
    • Bước 3: Tiến hành lựa chọn các phương pháp khác nhau cho phù hợp với mục tiêu của phân tích công việc
    • Bước 4: Tiến hành thu thập thông tin
    • Bước 5: Tiến hành tổng hợp thông tin theo mục tiêu ban đầu đặt ra và kiểm tra xác minh lại mức độ chính xác của thông tin
    • Bước 6: Tiến hành xây dựng mô tả bản công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện

    2.    Nâng cao cơ sở vật chất cho học tập.

    Cơ sở vật chất cho đào tạo đóng vai trò rất lớn trong việc quyết định hiệu quả của công tác đào tạo. Với cơ sở vật chất hiện đại, các học viên sẽ tiếp thu được những kiến thức dễ dàng hơn, đồng thời tiếp cận được với những công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến rất có lợi cho học viên. Ngược lại, với cơ sở vật chất yếu kém thì việc giảng dạy sẽ rất khó khăn và gây nhiều cản trở cho người học.

    Cơ sở vật chất cho đào tạo của Công ty không quá yếu kém nhưng việc đầu tư cho công tác Đào tạo & Phát triển luôn là cần thiết và phải được quan tâm đúng mức. Việc khối lượng lớn các học viên được học tập hàng năm đã khiến cho cơ sở vật chất của Công ty dần dần không đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Mặt khác đó lại là những cơ sở vật chất được sử dụng nhiều năm qua, ít được cập nhật nên việc tăng cường cơ sở vật chất cho đào tạo là rất cần thiết.

    Nhìn qua chi phí đào tạo của các khoá đào tạo ta có thể thấy hàng năm Công ty đã chi rất nhiều cho công tác đào tạo, vì vậy việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng của việc học tập sẽ giúp cho Công ty giảm bớt được chi phí cho đào tạo trong tương lai, hơn nữa còn tạo được sự hài hoà giữa nội dung chương trình đào tạo và cơ sở vật chất của nó. Nếu mỗi năm Công ty trích khoảng 10% chi phí đào tạo để nâng cấp cơ sở vật chất thì có thể đảm bảo rằng hệ thống đào tạo của Công ty không những đáp ứng được nhu cầu đào tạo mà nó còn là hệ thóng đào tạo hiện đại với công nghệ cao.

    Nhưng ngoài các khoá đào tạo được tổ chức tại Công ty , còn rất nhiều khoá học phải tổ chức ở ngoài, cơ sở vật chất hoàn toàn là của các trung tâm, trường lớp nhận đào tạo. Do đó việc lựa chọn nguồn cung cấp dịch vụ đào tạo cũng được quan tâm đúng mức. Thực ra công tác này không được coi trọng lắm vì Công ty có rất ít sự lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo.

    3.    Tạo động lực cho người được đào tạo

    Đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho cán bộ công nhân viên mới chỉ là yếu tố quan trọng ban đầu, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để bộ máy quản trị Công ty hoạt động có hiệu quả. Nhân viên có năng lực, điều đó chưa có nghĩa là họ làm việc tốt. Vậy làm thế nào để phát huy khả năng tiềm tàng trong mỗi nhân viên, làm thế nào để nhân viên trung thành với công ty, làm việc tận tụy hết mình và luôn có gắng tìm tòi sáng tạo để đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn? Đó là khoa học và nghệ thuật lãnh đạo của các quản trị gia. Để làm được điều này, Công ty cần phải tạo động lực để kích thích người lao động.

    Tạo động lực sẽ làm cho người lao động trở lên hưng phấn, hăng hái hơn trong công việc, họ có ý thức hoàn thiện mình hơn. Chính vì vậy Công ty nên áp dụng các hình thức sau:

    • Người lao động sau khi được đào tạo phải được Công ty bố trí công việc phù hợp với trình độ khả năng của họ.
    • Tăng cường công tác thưởng, phạt đối với người lao động: thưởng cho những ai hoàn thành tốt chương trình đào tạo, có kết quả học tập cao, có những sáng kiến mang lại lợi ích cho Công ty, tạo cơ hội thăng tiến cho người được đào tạo như đề bạt, tăng lương…Ngược lại, những ai không hoàn thành chương trình đào tạo, không qua các đợt thi giữ bậc nếu không bị hạ bậc lương thì cũng phải bị giảm trừ tiền thưởng trong tháng hoặc tiền thưởng cuối năm.
    • Hàng năm, Công ty nên thường xuyên tổ chức các cuộc thi thợ giỏi ở một số nghề chủ yếu. Đây cũng là một hình thức khuyến khích, tác động tích cực đến tinh thần học tập, sáng tạo của người lao động trong Công ty.
    • Ngoài ra, để tạo bầu không khí hăng say, tích cực học tập, nâng cao trình độ của người lao động và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực ở từng chi nhánh, xí nghiệp, Công ty nên tổ chức các đợt thi đua giữa các đơn vị xem đơn vị nào có hiệu quả đào tạo cao nhất.

    4.    Mở rộng các hình thức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Mỗi phương pháp đào tạo và phát triển đều có những điểm mạnh và yếu riêng của nó nên Công ty cần áp dụng một cách linh hoạt các phương pháp khác nhau để đào tạo và phát triển, không nên chỉ áp dụng cứng nhắc một vài phương pháp nhất định. Tuy nhiên, để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thực sự thành công thì trong bất kỳ hình thức nào, bộ phận làm công tác này trong Công ty cũng cần lưu ý một số nguyên tắc sau:

    • Khi bắt đầu đào tạo phải cung cấp cho học viên kiến thức chung về các vấn đề sẽ học.
    • Sử dụng nhiều ví dụ để minh họa khi cung cấp cho học viên các tư liệu, kiến thức mới.
    • Cố gắng tối đa để các tình huống trong đào tạo giống với thực tế .
    • Học viên tiếp thu kiến thức bằng thực hành sẽ mau nhớ, lâu quên.
    • Để đạt được các kết quả tốt, học viên cần phải tham gia tích cực, chủ động vào quá trình đào tạo. Công ty thường xuyên nên tham gia vào các cuộc hội thảo, thảo luận nhóm, trình bày trước các học viên khác ý kiến của mình, các cuộc thi giữa các nhóm…để thu hút học viên tham dự.

    5.    Mở rộng và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đào tạo, phát triển.

    Như phân tích ở trên ta thấy nguồn kinh phí cho đào tạo – phát triển của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 khá hạn hẹp. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tính hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển của Công ty. Chính vì vậy quỹ đào tạo phải được tăng cường sẽ làm cho cán bộ quản lý mạnh dạn hơn trong việc hoạch định và thực hiện phương pháp đào tạo.

    Để tăng nguonf kinh phí cho đào tạo, Công ty nên trích một khoản từ lợi nhuận của Công ty. Bên cạnh đó cần đề nghị Tổng Công ty xây dựng Hà nội tăng cường thêm cho quỹ đào tạo. Muốn được như vậy cần có chính sách và chiến lược cụ thể về công tác đào tạo và phát triển.

    6.    Xây dựng hệ thống đánh giá kết quả đào tạo và phát triển chi tiết, chính xác

    Việc đánh giá hiệu quả công tác đào tạo và phát triển của Công ty sau mỗi khóa học vẫn chưa được tổ chức thường xuyên và kỹ càng, mới chỉ dừng lại ở việc xem xét kết quả học tập của học viên thông qua bảng điểm, chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp,…Để việc đánh giá kết quả đào tạo được chính xác, Công ty cần có thêm các biện pháp như sau:

    • Thu thập thông tin phản hồi thông qua các bảng hỏi, các phiếu điều tra hoặc trực tiếp phỏng vấn.
    • Phỏng vấn, sát hạch những kiến thức, kỹ năng mà học viên đã được học để xem họ áp dụng vào thực tế như thế nào.
    • Tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý, cấp trên trực tiếp của những người mới được đào tạo về những tiến bộ, những hạn chế còn tồn tại của họ sau quá trình đào tạo.
    • Tiến hành sao sánh những người được đào tạo và chưa qua đào tạo để thấy được sự chênh lệch.

    7.    Một số biện pháp khác

    • Gắn năng suất lao động với kết quả của đào tạo và phát triển.

    Việc đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo là rất quan trọng vì nó giúp cho doanh nghiệp có những thay đổi nhằm cải thiện chất lượng lao động thông qua nâng cao hiệu quả của nó. Việc đánh giá này có thể dựa trên nhiều tiêu thức nhưng tiêu thức quan trọng nhất là hiệu quả thực hiện công việc của người lao động sau đào tạo. Hiệu quả đó được thể hiện thông qua năng suất lao động. Mục tiêu của đào tạo là tăng cường hiệu quả thực hiện công việc, nếu không làm được điều này thì doanh nghiệp không cần phải thực hiện đào tạo cho phí thêm một khoản chi phí. Do đó nếu năng suất lao động tăng lên chứng tỏ hiệu quả của công tác đào tạo được nâng lên một mức. Và nhìn vào năng suất lao động có thể thấy được hai điều đó là doanh nghiệp đang thực sự phát triển và thứ hai là công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp được thực hiện rất tốt. Có thể coi năng suất lao động là một chỉ tiêu dựa vào đó hoàn thiện hơn công tác Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    • Có biện pháp sử dụng hợp lý lao động sau đào tạo:

    Việc sử dụng nguồn nhân lực sau khi đào tạo là rất quan trọng và cũng rất phức tạp. Nếu sử dụng hợp lý nguồn lực này sẽ tạo ra một tác dụng to lớn đối với việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Nguồn nhân lực sau đào tạo có chất lượng cao hơn, không những có thể thực hiện tốt hơn các công việc hiện tại mà còn có thể đảm nhiệm được những công việc ở vị trí cao hơn, tạo ra giá trị nhiều hơn cho Công ty. Nếu không sử dụng tốt , sẽ gây lãng phí các nguồn lực. Nhưng thực tế việc sử dụng, bố trí nguồn lực này rất phức tạp vì sau khi được đào tạo, trình độ của người lao động được tăng lên và có thể làm việc ở những vị trí cao hơn nhưng nếu không có những vị trí cao hơn nào trống thì họ vẫn phải làm việc tại vị trí cũ.

    Có những nhân viên, sau khi được đào tạo, tay nghề được nâng lên sau đó đã chuyển khỏi Công ty. Đây là thực tế không nhiều những cũng gây lãng phí quỹ đào tạo và cần phải được kiểm soát chặt chẽ hơn. Người lao động sau khi được đào tạo luôn muốn được thăng tiến, chính vì thế có thể sử dụng nó để níu giữ nhân tài.

    • Sử dụng kết quả của công tác quản lý nhân sự khác vào việc quản lý đào tạo.

    Quản lý nhân sự là một hoạt động quản lý mang tính hệ thống và các hoạt động của nó có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Trong công tác Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực thì việc sử dụng các kết quả của các công tác quản lý khác là rất cần thiết vì nó sẽ tăng cao mức độ khoa học và chính xác, loại bỏ những sai xót. Một số công cụ có thể sử dụng như kết quả phân tích công việc, các bảng đánh giá thực hiện công việc, …

    KẾT LUẬN

     

    Hiện nay khoa học và công nghệ ngày càng phát triển như vũ bão, nhưng cho dù khoa học và công nghệ có phát triển như thế nào đi chăng nữa, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò ngày càng trở nên quan trọng trong tổ chức. Con người được đào tạo, phát triển với đầy đủ trình độ kiến thức và kỹ năng cần thiết sẽ là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của bất kỳ một tổ chức nào.

    Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty và hiểu được đào tạo – phát triển là cách tốt nhất để có thể sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đó, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đã, đang và chú trọng hơn nữa đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhan lực nhằm có được một đội ngũ lao động có dủ trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề cần thiết đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc và sự phát triển vững chắc của Công ty trong môi trường kinh tế đầy cạnh tranh hiện nay.

    Qua thời gian thực tập, tìm hiểu và thực hiện đề tài này ở Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4, em nhận thấy công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng tác động đến việc tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Mai Quốc Chánh và các cô chú, anh chị trong phòng Tổ chức lao động – Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài chuyên đề này.

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     Sách:

    1. Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu. (2000). Kinh tế lao động. NXB Lao động
    2. Lê Thanh Tâm; Ngô Kim Thanh.(2003). Giáo trình quản trị doanh nghiệp. NXB Lao động xã hội.
    3. Lưu Thị Hương.(2005). Giáo trình tài chính doanh nghiệp.NXB thống kê.
    4. Ngô Hoàng Thy.(2004). Đào tạo nguồn nhân lực. NXB Trẻ.
    5. ThS.Nguyễn Vân Điềm & PGS.TS.Nguyễn Ngọc Quân.(2004). Quản trị nhân lực. NXB Lao Động-Xã Hội.

    Internet:

    1. Đánh giá nhu cầu đào tạo như thế nào

    www.business.gov.vn/advice.aspx?id=210 – 27k

    1. Đào tạo và huấn luyên nhân viên

    www.unicom.com.vn/forum/Default.aspx?g=posts&t=191 – 21k

    1. Đào tạo theo yêu cầu công việc

    http://irv.moi.gov.vn/sodauthang/nghiencuutraodoi/2005/5/14253.ttvn

    1. Xây dựng chương trình đào tạo

    http://tamly.hnue.edu.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=17


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-Th%E1%BB%9Di-c%C6%A1-trong-CMT8-1945-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-v%C3%A0-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối

    Đề tài: Bài học thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay. Liên hệ vai trò của sinh viên trong việc vận dụng bài học này đối với quá trình đổi mới và hội nhập.

    Lời mở đầu

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và việc khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Đây là kết hợp của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật  chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán và có hiệu quả. Thắng lợi này đã để lại những bài học to lớn trong nghệ thuật tạo và chớp  thời cơ không chỉ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước mà còn trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng ta ko thể phủ nhận vai trò của SV_1 tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ đã có nhg đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước.

    I.          Bài học thời cơ trong CMT8/1945.

    1. Thời cơ trong CMT8/1945.

    2.1.       Hoàn cảnh

    Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan) mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi.

    Trong nước: Một là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3-1945 của dân tộc Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ chưa từng có.

    Hai là, Đội tiền phong lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản thống nhất về ý chí và hành động, phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, chủ động đưa phong trào quần chúng đi tới cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ba là, kẻ thù chính của cách mạng là quân Nhật và chính quyền phong kiến tay sai đã suy yếu và hoang mang cực điểm.

    Quốc tế: Phe Phát- xít có nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II. Nhật gặp phải những cuộc tấn công ko ngừng của quân Đồng Minh.

    2.2.       Nghệ thuật tạo thời cơ trong CMT8/1945.

    Chuẩn bị để đón thời cơ: từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng, chuẩn bị, chờ thời cơ để làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

    Để chuẩn bị về nhân lực, vật lực cho khởi nghĩa, các chiến khu được xây dựng ở các địa bàn hiểm trở, có lợi thế về phòng thủ và phát triển lực lượng, cơ sở vật chất, trong đó nổi bật nhất là hai chiến khu Cao-Bắc-Lạng và Thái-Hà-Tuyên.

    Về chính trị – tư tưởng: lấy nền tảng là CN M-LN, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập với tinh thần: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, phát huy cao độ tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng.

    Về tổ chức: Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng họp vào tháng 5 – 1941 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên: “Việt Nam độc lập đồng minh” (Gọi tắt là Việt Minh) và các tổ chức tập thể cứu quốc trên cả nước.

    Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12-3-1945). Bản chị thị xác định kẻ thù mới của ta là phát xít Nhật, chuẩn bị cho toàn Đảng, toàn dân tộc tâm thế và tư thế để chủ động và sáng tạo

    2.3.       Nghệ thuật chớp thời cơ trong CMT8/1945.

    Về đoán định thời cơ: Ngay từ năm 1940, khi mà chủ nghĩa phát xít đang thắng thế cả ở châu Âu lẫn châu Á. Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn của thời đại đã nhận định: Liên Xô và Đồng minh sẽ thắng; Nhật – Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau; Việt Nam lúc đó sẽ có thời cơ để giành lại độc lập. dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật;  hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

    Tận dụng triệt để thời cơ: trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

    Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh nạn đói ở nước ta – hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo của Nhật, Pháp – đang diễn ra trầm trọng. Đảng đã kịp thời nêu chủ trương phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo, tạo nên một sinh lực mới cho phong trào.

    2.4.       Kết quả

    Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc.

    Đó là sự vùng dậy của cả một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta được sự dẫn dắt của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong tổ chức Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân. Đó là kết quả của tinh thần năng động, sáng tạo của hệ thống tổ chức đảng và Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở trên tất cả các địa bàn của cả nước. Đó là sự chủ động chuẩn bị và phát triển thực lực cách mạng, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi.

    2. Bài học về thời cơ trong CMT8/1945.

    Bài học về nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý.

    Thứ hai, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển phù hợp.

    Thứ ba, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”,

    Thứ tư là thu phục lòng dân từ chính những quyết sách, định hướng phát triển đúng đắn, hợp lý đã được đề ra

    II.        Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    1.            Bối cảnh hội nhập quốc tế.

    • Thuận lợi:
    • Trong nước: Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. TNTN đa dạng, phong phú; cơ cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào
    • Quốc tế: Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khu vực năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất hiện nay.thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
    • Khó khăn:
    • Trong nước: Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới, nền kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. thế lực phản động ko ngừng tác động nhằm lật đổ chế độ chính trị còn non trẻ của ta…
    • Quốc tế: tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của Việt Nam.

    2.            Thời cơ cho sự phát triển của VN hnay.

    2.1.    Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 để tạo và chớp thời cơ trong hoàn cảnh hnay.

    Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.

    Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Vận dụng “bất biến” tức là không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ của tổ chức, cá nhân nào đó mà bất chấp nguyên tắc, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tập thể. Phải tuyệt đối đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của chủ nghĩa xã hội lên trên hết. Thực hiện phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế cũng phải luôn “ứng vạn biến”, biết phân tích, dự đoán và mau lẹ chớp lấy thời cơ, nắm chắc và tận dụng có hiệu quả thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là thước đo bản lĩnh cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.

    Chúng ta đã và còn phải chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các yếu tố, những điều kiện để tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức. Cụ thể là:

    – Về nhận thức và tư tưởng: Phát huy lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự trọng của dân tộc để không cam chịu đói nghèo và lạc hậu, để đem sức ta mà xóa nghèo đi lên giàu mạnh – không ai làm thay và cũng chẳng có ai làm thay cho chúng ta cả

    – Về tổ chức, con người và nguồn lực:

    Tất cả các yếu tố cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, nhất quán và được tập hợp trong một “thế trận” thống nhất hướng vào mục tiêu chung: Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    – Chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

    Phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng là đòi hỏi tất yếu để quá trình chuẩn bị cho việc tận dụng thời cơ cũng là quá trình hành động để biến thời cơ thành hiện thực.

    Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thể hiện trong trình độ tư duy lý luận, vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan để đề ra Cương lĩnh, đường lối thích hợp, tăng cường sức mạnh tổ chức, kỷ luật và năng lực tổ chức thực tiễn

    2.2.    Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    Chưa bao giờ thế và lực của đất nước lớn mạnh và có điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Là kết quả của sự phát triển qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới đã tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Chế độ chính trị, xã hội ổn định, sức mạnh quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7.3%,  GDP liên tục tăng( năm 2011 khoảng 100 tỷ $) Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt trên 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lạm phát được kiểm soát và đẩy lùi . Xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là 13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%.

    Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Những bước tiến thần kỳ của đất nước thời kỳ đổi mới có một phần là do Đảng ta nắm vững và vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    3.            Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt.

    Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu mới trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới những năm vừa qua nhưng chúng ta vẫn đang phải  đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,tình trạng mất công bằng xã hội,lạm phát, thất nghiệp gia tăng, ô  nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng…  nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ngày đêm ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta.

    Vì vậy, đòi hỏi cao nhất đối với Đảng, Nhà nước ta, đối với mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là tích cực nghiên cứu, vận dụng tốt những bài học lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nam từ 1986 đến nay.

    III.       Liên hệ vai trò của sinh viên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

    Hiện nay tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, kém phát triển, kinh tế, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục đói nghèo, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội đang là mục tiêu cháy bỏng của nhân dân ta. Vì thế, nếu như các thế hệ cha anh trước đây đã rửa được cái nhục mất nước, thì thanh niên hiện tại phải rửa được cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Tổ quốc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

    Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, tri thức trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất, là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất. Việc học tập trở thành vấn đề xã hội hoá, hình thành nên một “xã hội học tập”. Thế hệ trẻ muốn khỏi lạc hậu với khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, và bất cứ lúc nào cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học. Tất cả chúng ta đều biết một câu nói bất hủ của V. I. Lenin “Học, học nữa, học mãi”. Nếu phân tích bản chất của câu nói thì ý Lênin không phải là học nữa, học mãi ở trường, ở lớp mà là sau khi đã nắm bắt được một lượng kiến thức cơ bản ở trường thì học sinh, sinh viên phải đem kiến thức đó phục vụ cho cuộc sống, và trong lúc làm việc, chúng ta phải tranh thủ thời gian để đọc thêm sách báo, xem thêm phim ảnh có ích và bổ sung những kiến thức trên trường đời.

    Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới. Để có thể đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình hội nhập và quá trình toàn cầu hoá thì mỗi thanh niên có trách nhiệm trang bị cho mình phương tiện không thể thiếu là ngoại ngữ. Phải thành thạo bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) ít nhất là một ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… Nhờ vậy, chúng ta mới có khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu nước ngoài và có thể giao tiếp, học tập với nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa hầu hết các công việc đều ít nhiều gắn với ngoại ngữ. Thị trường lao động sẽ cần đến những người vừa tài về chuyên môn, vừa giỏi về ngoại ngữ. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải có khả năng làm chủ công nghệ thông tin. Có trình độ tin học nhất định thì máy vi tính sẽ giúp chúng ta tự học tốt, giảm thời gian tra cứu tài liệu, thu thập thông tin cập nhật để xử lý công việc một cách nhanh chóng có hiệu quả. Thanh niên phải là lực lượng xung kích phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà, có khả năng chuyển giao, sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến và cũng là lực lượng truyền bá phổ biến khoa học công nghệ trong cộng đồng. Có làm được những điều này, tuổi trẻ chúng ta mới xứng đáng là những chủ nhân hôm nay và tương lai của đất nước. Đúng như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định trong buổi lễ phát động Năm Thanh niên 2000: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tự hào về các bạn, về thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên hôm nay. Với lực lượng xung kích ấy và những lực lượng xung kích kế tiếp, cha truyền con nối, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tổ quốc Việt Nam sẽ được bảo vệ vững chắc, dân tộc Việt Nam trường tồn, chủ nghĩa xã hội được xây dựng thắng lợi”.

    IV.       Kết luận.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận án Tiến sĩ Kinh tế công nghiệp Đo lường hình ảnh điểm đến của du khách quốc tế – trường hợp thành phố Đà Nẵng

    Luận án Tiến sĩ Kinh tế công nghiệp Đo lường hình ảnh điểm đến của du khách quốc tế – trường hợp thành phố Đà Nẵng

    Luận án Tiến sĩ Kinh tế công nghiệp Đo lường hình ảnh điểm đến của du khách quốc tế – trường hợp thành phố Đà Nẵng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu luyện thi TOEIC


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận án Tiến sĩ Kinh tế công nghiệp Đo lường hình ảnh điểm đến của du khách quốc tế – trường hợp thành phố Đà Nẵng

    Chương 1 – GIỚI THIỆU

    1.1.     Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

    1.1.1.  Bối cảnh du lịch quốc tế và tình hình du lịch đến Việt Nam

    Sau năm 2008 và 2009 đối diện với sự ảnh hưởng của khủng hoảng

    kinh tế toàn cầu, ngành du lịch bình phục dần dần và du lịch quốc tế đã

    tăng tốc trở lại trong năm 2010 và đạt được mức đỉnh của thời kỳ trước

    khủng hoảng. Năm 2011, tổng đóng góp kinh tế của ngành, tính cả những

    đóng góp gián tiếp, là 6,3 nghìn tỷ đô la GDP, 255 triệu việc làm, 743 tỷ

    đầu tư và 1,2 nghìn tỷ xuất khẩu, (WTTC, 2012). Du lịch toàn cầu sẽ

    tăng trưởng khoảng 2.8% trong năm 2012 này và được dự báo tăng

    trưởng trung bình năm đạt 4% từ nay đến 2022 (WTTC, 2012). Vì thế du

    lịch vẫn tiếp tục được coi là giữ vị trí then chốt của nền kinh tế thế giới.

    Đối với Việt Nam, hiện nay du lịch đặc biệt là du lịch quốc tế đến

    được xem là ngành công nghiệp rất quan trọng. Tuy nhiên, kết quả năm

    2011, cạnh tranh du lịch của Việt Nam mới chỉ đứng 80 trong danh sách

    xếp hạng 139 nước trên toàn thế giới và đứng ở thứ hạng 14 trong 26

    nước của khu vực Châu Á Thái Bình Dương (Blanke và Chiesa, 2011).

    Theo báo cáo, mặc dầu đã tăng được 9 thứ hạng so với lần xếp hạng

    trước đó (2009) nhưng Việt Nam còn hạn chế trong khả năng cạnh tranh.

    1.1.2.  Du lịch quốc tế đến Đà Nẵng

    1.1.2.1. Tiềm năng của Đà Nẵng đối với du lịch quốc tế

    Đà Nẵng là thành phố trọng điểm của vùng kinh tế miền Trung và

    Tây Nguyên. Với đặc điểm về tự nhiên, văn hóa và con người và cơ sở

    hạ tầng du lịch, Đà Nẵng đã phát triển đa dạng loại hình du lịch: du lịch

    biển, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa để đáp ứng nhu cầu

    cho du khách nói chung và du khách quốc tế nói riêng.

    1.1.2.2.  Du lịch quốc tế đến của Đà Nẵng trong thời gian qua

    Mặc dầu tính chung du khách đến Đà Nẵng tăng liên tục những

    năm gần đây nhưng riêng khách quốc tế mới chỉ chiếm một tỷ lệ thấp

    2

    trong lượng du khách quốc tế của cả nước. Khách du lịch quốc tế đến Đà Nẵng với mục đích tham quan là chủ yếu, thời gian lưu trú của du khách quốc tế khi đến Đà Nẵng khá ngắn, chi tiêu của phần lớn du khách quốc tế khi đến với Đà Nẵng chỉ ở mức thấp (SVHTTDL, 2011).

    1.1.2.3.  Mục tiêu của du lịch Đà Nẵng trong thời gian tới

    Với tiềm năng to lớn về du lịch, Đà Nẵng đã xác định là trung tâm du lịch và dịch vụ, du lịch sẽ là một trong các ngành có mức đóng góp quan trọng vào GDP thành phố. Mục tiêu cụ thể của việc tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế là khoảng 700 ngàn lượt khách vào năm 2015 và 1,4 triệu lượt khách vào năm 2020.

    1.1.3. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

    Để thực hiện nhiệm vụ thu hút du khách nói chung và du khách quốc tế nói riêng, cải thiện và phát triển để có được hình ảnh điểm đến Đà Nẵng tích cực có ý nghĩa rất quan trọng, bởi hình ảnh mà du khách có được về một điểm đến ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của du khách tiềm năng, đóng vai trò chủ yếu trong quyết định chọn điểm đến du lịch của du khách (Mayo, 1973; Crompton, 1979; Gartner, 1986; Chon, 1992).

    Mặc dầu hình ảnh điểm đến là quan trọng nhưng nghiên cứu về hình ảnh điểm đến nói chung và đo lường hình ảnh cho một điểm đến cụ thể chưa thực sự được quan tâm ở Việt Nam. Muốn xúc tiến thành công ở các thị trường mục tiêu, một trong những phương diện quan trọng nhất của marketing điểm đến Đà Nẵng là phải có được những thông tin khách quan về hình ảnh được đánh giá từ du khách (cầu) và luôn nỗ lực để tạo nên hình ảnh tích cực, khác biệt trên cơ sở những tiềm năng có được của điểm đến và biết cách xúc tiến, quản lý nó hữu hiệu.

    Với tầm quan trọng của hình ảnh điểm đến cũng như thực tế về sự thiếu hụt thông tin về điểm đến hiện nay từ phía cầu cho các quyết định quản lý ở Việt Nam nói chung, luận án thực hiện nghiên cứu đo lường về hình ảnh điểm đến, thực hiệnvới điểm đến Đà Nẵng.

    3

    1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu hình ảnh điểm đến trên thế

    giới và trong nước

    Hình ảnh điểm đến được nghiên cứu trên thế giới bắt đầu từ những

    năm 1970 và sau đó trở thành chủ đề được quan tâm phổ biến trong lĩnh

    vực du lịch. Tình hình nghiên cứu về hình ảnh điểm đến trên thế giới

    trong một số giai đoạn có thể được hiểu biết khá cụ thể thông qua những

    bài viết tổng hợp các nghiên cứu về hình ảnh điểm đến đã được thực hiện

    bởi một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này.

    –   Nghiên cứu của Chon’s (1990) –   Nghiên cứu của Pike (2007)
    Echtner và Ritchie (1991) Tasci và ctg (2007)
    Nghiên cứu của Pike (2002) Các nghiên cứu gần đây

    Trong nước: một nghiên cứu về marketing du lịch Việt Nam liên quan

    đến hình ảnh điểm đến Việt Nam đối với du khách Nhật bản (Anh, 2010)

    1.3.     Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

    Luận án có những mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:

    • Tổng hợp cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu liên quan đến hình

    ảnh điểm đến

    • Xác định các thành phần hình ảnh điểm đến Đà Nẵng trong tâm trí du khách quốc tế theo mô hình 3 thành phần của Echtner & Ritchie 1991 cùng với thang đo hình ảnh trên cơ sở thuộc tính của điểm đến Đà Nẵng.
    • Xác định những nhân tố và thuộc tính hình ảnh được đánh giá thuận lợi nhất và kém thuận lợi nhất của điểm đến Đà Nẵng.
    • Xác định sự khác biệt về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng giữa các nhóm du khách có động cơ và hành vi du lịch khác nhau góp phần củng cố đồng thời phát triển thêm biến số trong mô hình về các yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến.
    • Hàm ý một số chính sách quản lý.

    1.4.     Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

    – Đối tượng: Đo lường hình ảnh điểm đến, sự ảnh hưởng của động

    4

    cơ và một số yếu tố hành vi du lịch của du khách đến hình ảnh điểm đến.

    • Phạm vi: Hình ảnh điểm đến của thành phố Đà Nẵng đối với du khách quốc tế.

    1.5.  Phương pháp nghiên cứu

    Đề tài kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

    • Nghiên cứu tài liệu: Các tài liệu lí thuyết và các nghiên cứu thực tế được tổng hợp để có hệ thống lí luận và thực tiễn làm nền tảng chọn phương pháp đo lường và phát triển mô hình nghiên cứu của luận án.
    • Nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp phỏng vấn với các câu hỏi mở thu thập dữ liệu sơ cấp để đo lường định tính hình ảnh điểm đến Đà Nẵng và làm cơ sở phát triển các biến thang đo định lượng hình ảnh điểm đến trên cơ sở thuộc tính cho điểm đến Đà Nẵng.
    • Nghiên cứu định lượng: Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bản câu hỏi để phát triển và kiểm định thang đo được phát triển, đánh giá định lượng về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng cùng với kiểm định về mối quan hệ giữa các biến ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến trong mô hình nghiên cứu đề xuất.

    1.6.   Đóng góp của nghiên cứu

    Trên phương diện lý thuyết, thứ nhất, luận án góp phần khẳng

    định thêm tính hợp lý và hữu ích khi sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp định tính và định lượng để đo lường hình ảnh điểm đến ở Việt Nam. Phương pháp tiếp cận này sẽ cung cấp nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu đóng góp vào lý thuyết hình ảnh trong việc phát triển thang đo hình ảnh trên cơ sở các thuộc tính cho riêng một điểm đến cụ thể theo tiến trình phát triển thang đo của Churchill (1979). Tiến trình này có thể mở rộng áp dụng cho các điểm đến khác ở thị trường Việt Nam. Thứ ba, nghiên cứu này đóng góp cho mô hình về các yếu tố ảnh hưởng hình ảnh điểm đến về đặc điểm động

    5

    cơ và hành vi của du khách còn ít được nghiên cứu thực nghiệm, bổ sung

    thêm một biến hành vi về hình thức đi du lịch của du khách chưa từng

    được nghiên cứu trước đây để khẳng định vai trò quan trọng của các đơn

    vị lữ hành trong tạo lập hình ảnh của một điểm đến.

    Về mặt thực tiễn, thứ nhất, nghiên cứu này là nghiên cứu chuyên

    sâu đầu tiên thực hiện đo lường hình ảnh điểm đến Đà Nẵng đối với du

    khách quốc tế. Vì thế nó cung cấp các thông tin hữu ích và đầy đủ về

    hình ảnh điểm đến Đà Nẵng cho các nhà quản lý điểm đến và các nhà

    quản lý kinh doanh du lịch. Thứ hai, trên cơ sở những kết quả có được từ

    nghiên cứu, luận án cũng đã đưa ra những hàm ý đối với hoạt động quản

    lý để tăng cường hình ảnh cho điểm đến Đà Nẵng đối với thị trường

    khách du lịch quốc tế.

    Tổng1.7.thCểấu trúc của luận án

    (Holistic) Luận án gồm 5 chương. Chương 1 giới thiệu tổng quan. Chương

    • tổng hợp các nghiên cứu trước đây trên thế giới để cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về đo lường hình ảnh điểm đến du lịch. Mô hình với các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất được trình bày ở chương 3 cùng với phương pháp nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, chương 5 đưa ra các kết luận, các đóng góp hàm ý cho nhà quản lý, những hạn chế của nghiên cứu và định hướng nghiên cứu trong tương lai.

    Chương 2 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐO

    LƯỜNG HÌNH ẢNH ĐIỂM ĐẾN

    2.1.      Tổng quan về du lịch

    2.1.1.  Khái niệm về du lịch

    • Theo WTO (1995).
    • Theo pháp lệnh Du lịch của Việt Nam (1999).

    2.1.2.  Sản phẩm du lịch

    Sản phẩm du lịch là các hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho du khách.

    6

    Nó được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội và sử dụng các nguồn lực cơ sở vật chất, con người ở địa điểm, một thành phố, vùng hay quốc gia nào đó (Đính và Hòa, 2004).

    2.1.3.  Khách du lịch

    Nghiên cứu hình ảnh điểm đến đối với khách du lịch quốc tế với mục đích quản lý điểm đến nhằm thu hút và duy trì du khách quốc tế, khái niệm khách du lịch quốc tế được xem xét theo quan điểm định nghĩa của các hội nghị và các tổ chức quốc tế liên quan đến du lịch. Tiếp cận theo quan điểm của các tổ chức này (Đính và Hòa, 2004), khách du lịch là tất cả những người khởi hành đến để giải trí, vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khỏe; những người khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công việc; những người khởi hành vì mục đích kinh doanh, học tập; những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển, thậm chí họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24 giờ.

    2.1.4.  Điểm đến du lịch

    Điểm đến là một khu vực địa lý trong đó chứa đựng một nhóm các nguồn lực về du lịch và các yếu tố thu hút, cơ sở hạ tầng, thiết bị, các nhà cung cấp dịch vụ, các lĩnh vực hỗ trợ khác và các tổ chức quản lý mà họ tương tác và phối hợp các hoạt động để cung cấp cho du khách các trải nghiệm họ mong đợi tại điểm đến mà họ lựa chọn (Rubies, 2001).

    2.2.      Hình ảnh điểm đến du lịch

    2.2.1.  Định nghĩa hình ảnh điểm đến du lịch

    2.2.1.1. Một số vấn đề trong nghiên cứu hình ảnh

    Nghiên cứu hình ảnh điểm đến có thể được xem như là một tập hợp con trong phạm vi chung hơn của đo lường hình ảnh. Theo MacInnis. & Price (1987), hình ảnh được xác định bởi các nhà tâm lý học như là một cách riêng của việc xử lý và ghi nhận thông tin vào bộ nhớ. Thông tin sản phẩm thường là sự kết hợp cả thông tin rời rạc, riêng có về nó và theo

    7

    hình ảnh. Nói cách khác, các sản phẩm được nhận thức cả về các thuộc

    tính riêng và ấn tượng tổng thể. Trong khi một số nhà nghiên cứu tranh

    cãi về ưu điểm của việc đo lường ấn tượng tổng thể và các thuộc tính

    riêng lẻ cũng như các đặc điểm chức năng và đặc điểm tâm lý thì có một

    số nghiên cứu điển hình đã chỉ ra rằng cần đạt trọn vẹn, đầy đủ hơn tất cả

    các thành phần đó của hình ảnh (Dichter, 1985).

    2.2.1.2. Định nghĩa hình ảnh điểm đến du lịch:

    Hình ảnh điểm đến du lịch được nghiên cứu bắt đầu từ những năm

    1970 và chủ đề này trở nên một trong những chủ đề phổ biến nhất trong

    lĩnh vực du lịch trong ba thập niên sau đó (Pike 2002) và tiếp tục được

    quan tâm nhiều trên thế giới trong những năm gần đây (Pike 2007). Có

    nhiều định nghĩa khác nhau về hình ảnh điểm đến và nhiều tác giả đã cố

    gắng để hiểu được nó về cơ bản

    Cùng quan điểm với nhiều các nhà nghiên cứu về hình ảnh nói

    chung cũng như các nhà nghiên cứu hình ảnh điểm đến du lịch nói riêng

    là thừa nhận hình ảnh điểm đến là ấn tượng tổng thể, đa phương diện và

    mỗi điểm đến có những đặc điểm riêng có, do đó, định nghĩa của

    Crompton (1979) và định nghĩa của (Echtner và Ritchie 1991): hình ảnh

    điểm đến   là nhận thức về các thuộc tính cá nhân của điểm đến và ấn

    tượng tổng thể về điểm đến đó. Nó gồm các đặc tính chức năng, liên

    quan đến các phương diện hữu hình hơn của điểm đến và các đặc tính

    tâm lý, liên quan đến các phương diện vô hình hơn. Hơn nữa nó có thể

    được sắp xếp theo thứ tự liên tục từ những đặc điểm có thể sử dụng

    chung để so sánh tất cả điểm đến đến những đặc điểm là riêng với rất ít

    điểm đến là những định nghĩa hình ảnh điểm đến được tiếp cận trong

    nghiên cứu này.

    2.2.2. Các thành phần của hình ảnh điểm đến du lịch

    Từ các định nghĩa về hình ảnh điểm đến cho thấy hình ảnh điểm đến

    khá trừu tượng, không được biểu thị cụ thể là các nhà nghiên cứu đang

    8

    xem xét hình ảnh trên cơ sở thuộc tính hay tổng thể hay cả hai. Tuy nhiên khi nghiên cứu về các phương pháp được sử dụng để đo lường hình ảnh điểm đến, người ta thấy hình ảnh phần lớn được các nhà nghiên cứu khái niệm hóa theo danh sách các thuộc tính mà ít theo ấn tượng tổng thể. Mặt khác, mặc dầu các nhà nghiên cứu nói chung nhất trí rằng hình ảnh điểm đến thể hiện một ấn tượng chung, nhưng họ lại có ý kiến khác nhau về các thành phần tạo nên ấn tượng chung đó. Theo Crompton (1979)

    Theo Echtner and Richie (1991/2003,1993)

    Theo Gartner 1996, Dann 1996

    Theo Baloglu và Brinberg, 1997 một số nhà nghiên cứu khác 2.2.3. Các thuộc tính của hình ảnh điểm đến du lịch

    Thiếu đi sự nhất trí về định nghĩa hình ảnh điểm đến nên đưa đến sự không đồng nhất về việc đo lường nó. Có sự khác biệt về các thuộc tính được sử dụng để đánh giá hình ảnh điểm đến. Nghiên cứu các tài liệu cho thấy rằng khó khăn đối với các nhà nghiên cứu điểm đến là không có một tập hợp cố định các thuộc tính hình ảnh điểm đến. Nói cách khác, khi thực hiện nghiên cứu, nhà nghiên cứu điểm đến luôn phát triển riêng các thuộc tính hình ảnh cho riêng điểm đến được nghiên cứu. Việc lựa chọn các thuộc tính được sử dụng trong nghiên cứu hình ảnh điểm đến phần lớn là dựa vào các đặc tính hấp dẫn của từng điểm đến theo nghiên cứu, và dựa vào những mục tiêu của nghiên cứu.

    2.2.4. Đo lường hình ảnh điểm đến du lịch và phát triển thang đo

    2.2.4.1. Tầm quan trọng của đo lường hình ảnh điểm đến

    Thông tin có được về hình ảnh một điểm đến sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định hợp lý cho việc tạo lập hoặc tăng cường hình ảnh tích cực, cải thiện những hình ảnh tiêu cực trên thị trường mục tiêu.

    2.2.4.2. Đo lường hình ảnh điểm đến

    Bản chất phức tạp của của cấu trúc hình ảnh điểm đến dẫn đến

    9

    thách thức lớn đối với việc đo lường nó. Hạn chế của nhiều nghiên cứu

    về hình ảnh điểm đến là liên quan đến các phương pháp mà các nhà

    nghiên cứu sử dụng để đo lường. Nghiên cứu đo lường hình ảnh điểm

    đến Đà Nẵng được tiếp cận theo mô hình của Echtner và Ritchie (1991)

    bằng kết hợp đo lường giữa phương pháp phi cấu trúc và phương pháp

    cấu trúc để đảm bảo cấu trúc hình ảnh điểm đến là khách quan, phù hợp

    với hình ảnh thực tế trong tâm trí du khách với đầy đủ các thành phần

    thuộc tính – tổng thể, chức năng – tâm lý, chung- riêng.

    2.2.4.3. Phát triển thang đo lường

    Một mô hình để phát triển một đo lường tốt cho một khái niệm

    trong lĩnh vực marketing đã được đưa ra bởi Churchill (1979) là một tiến

    trình bao gồm 8 bước.

    2.2.5. Quá trình tạo lập hình ảnh điểm đến du lịch của du khách

    Hai khía cạnh trong tạo lập hình ảnh điểm đến là điểm đến và người

    nhận. Hình ảnh được thiết lập theo kế hoạch và hình ảnh nhận được

    không luôn như nhau vì sự biến đổi qua thông điệp truyền thông.

    – Mô hình của Gunn (1988).                     – Mô hình của Chon (1990)

    – Fakeye và Crompton (1991)                  – Suosheng Wang (2003)

    Chương 3 – MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    3.1. Một số đề xuất nghiên cứu từ các nghiên cứu đã thực hiện

    3.1.1. Đo lường mô tả hình ảnh điểm đến với mô hình của Echtner &

    Ritchie (1991)

    Tổng hợp các nghiên cứu hình ảnh điểm, Tasci & ctg (2007) khẳng

    định  rằng  những  đề  xuất   từ  nghiên  cứu  của  Echtner  &  Ritchie

    (1991,1993) đưa đến sự hưởng ứng rộng rãi trong nghiên cứu hình ảnh

    điểm đến. Tuy nhiên theo bảng tổng hợp về phương pháp luận các nghiên

    cứu của Tasci & ctg (2007), các nghiên cứu kết hợp cả định tính và định

    lượng cũng chưa thực sự là nhiều và các thành phần hình ảnh được đo

    10

    lường chủ yếu là chỉ thành phần nhận thức hoặc thành phần nhận thức và thành phần cảm xúc, ấn tượng tổng thể hầu như là rất hiếm và các nghiên cứu kết hợp này không quan tâm đến thành phần duy nhất của điểm đến.

    Cũng theo nghiên cứu đó, vẫn còn có một số vấn đề mà hai ông chưa đề cập hoặc chỉ mới đề cập nhưng chỉ ở bề ngoài, cần phải được chú ý xáng đáng hơn như giá trị và độ tin cậy và các hàm ý cho quản lý. Các đề xuất của Echtner và Ritchie (1991) chưa được xem xét một cách đầy đủ trong các nghiên cứu sau đó hoặc còn hạn chế. Trong tiến trình phát triển thang đo lường hình ảnh điểm đến, Echtner và Ritchie (1991,1993) đã thực hiện nghiên cứu định tính với phương pháp phi cấu trúc bằng 3 câu hỏi mở vừa xác định thuộc tính để phát triển thang đo định lượng. Tuy nhiên, với mục đích nghiên cứu của mình, Echtner và Ritchie (1991, 1993) mới chỉ dừng lại ở 4 bước đầu của mô hình. Ngoài ra, các thuộc tính được sử dụng trong phát triển thang đo chỉ tập trung vào các thuộc tính chức năng và tâm lý chung nhằm so sánh giữa các điểm đến. Vì vậy, đề xuất nghiên cứu thứ nhất của luận án là đo lường mô tả hình ảnh điểm đến Đà Nẵng theo mô hình ba thành phần của Echtner và Ritchie (1991) đối với du khách quốc tế trong đó nghiên cứu định lượng được thực hiện cả giai đoạn khẳng định thang đo và hình ảnh điểm đến được đánh gia trên cơ sở thuộc tính chung và riêng nhằm có được thông tin quản lý và cải thiện điểm đến Đà Nẵng.

    3.1.2. Nghiên cứu sự khác biệt hình ảnh điểm đến trên các nhóm du khách có động cơ và hành vi du lịch khác nhau

    Hình ảnh điểm đến được thừa nhận là yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình ra quyết định chọn điểm đến du lịch và ý định trong tương lai của du khách. Hình ảnh điểm đến có được không chỉ bởi nguồn thông tin mà còn có thể ảnh hưởng bởi sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến và đặc điểm của du khách. Tasci và ctv (2007) đã đưa ra một bảng tổng hợp về các nghiên cứu hình ảnh điểm đến và mối quan hệ với các biến. Khá

    Động cơ du lịch
    của du khách

    11

     

     

    nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa các

     

    biến như nguồn thông tin, đặc điểm của du khách để đạt được sự rõ ràng

     

    về tiến trình tạo lập hình ảnh. Tuy nhiên, trong số các biến về đặc điểm

     

    của du khách ảnh hưởng đến tạo lập và phát triển hình ảnh điểm đến thì

     

    biến đặc điểm nhân khẩu được quan tâm khá nhiều trong khi biến đặc

     

    điểm động cơ của du khách mới chỉ có ít nghiên cứu thực nghiệm. Các

     

    nghiên cứu về hành vi du lịch liên quan đến sự trải nghiệm ảnh hưởng

     

    đến hình ảnh là còn rất hạn chế. Vì đây là những vấn đề cơ bản cho thực

     

    tiễn hoạt động tiếp thị đối với một điểm đến nên theo tác giả các nghiên

     

    cứu thực nghiệm cần được thực hiện nhiều hơn để làm sáng tỏ chủ đề

     

    này trong nghiên cứu hình ảnh điểm đến và có những thông tin hữu ích

     

    cho việc ra quyết định đối với một điểm đến cụ thể. Vì vậy, đề xuất thứ

     

    hai của luận án liên quan đến ảnh hưởng của động cơ, hành vi du lịch đến

     

    hình ảnh của điểm đến.

     

    3.2. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

     

    3.2.1. Mô hình nghiên cứu Hành vi du lịch
    của du khách
    Hình ảnh
    –  Du lịch cùng gia đình và
    Hình ảnh dựa
    tổng thể, duy không cùng gia đình
    nhất trên thuộc tính Tham gia tour
    (Holistic and Unique (Attributed-based Số lần đến
    Image) –  Thời gian lưu trú
    Image)

     

    Hình 3.1. Mô hình nghiên cứu về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng của luận án

    Trên cơ sở các phân tích để đưa ra các đề xuất nghiên cứu ở trên,

     

    luận án thực hiện nghiên cứu đo lường mô tả thông tin về hình ảnh điểm

     

    đến Đà Nẵng đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của các biến đặc điểm của

     

    du khách đến hình ảnh, nhưng chỉ tập trung vào một số biến đang ít được

     

    quan tâm nghiên cứu.

    12

    3.2.2.  Phát triển các giả thuyết nghiên cứu

    3.2.2.1. Mối quan hệ giữa hành vi du lịch và hình ảnh điểm đến

    Hình thức đi du lịch theo gia đình và không theo gia đình:

    Giả thuyết H1: Có sự khác biệt có ý nghĩa về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng giữa những người đến theo hình thức đi với gia đình và không đi cùng gia đình.

    Hình thức đi du lịch theo tour và không đi theo tour:

    Giả thuyết H2: Có sự khác biệt có ý nghĩa về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng giữa những người đến theo hình thức theo tour của các hãng du lịch tổ chức và đi tự do.

    Số lần đi du lịch tới điểm đến của du khách

    Giả thuyết H3: Hình ảnh điểm đến và số lần trải nghiệm du lịch của du khách ở Đà Nẵng có mối quan có ý nghĩa thống kê

    Độ dài của kỳ nghỉ (thời gian lưu trú tại điểm đến)

    Giả thuyết H4: Hình ảnh điểm đến và thời gian lưu trú tại Đà Nẵng của du khách có mối quan có ý nghĩa thống kê.

    3.2.2.2. Mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến và động cơ của du khách Giả thuyết H5: Có sự khác biệt có ý nghĩa về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng giữa những người đến theo các động cơ du lịch khác nhau.

    3.3. Phương pháp nghiên cứu

    3.3.1.  Thiết kế tiến trình nghiên cứu

    Nghiên cứu ứng dụng thực hiện đo lường hình ảnh điểm đến Đà Nẵng với sự kết hợp giữa nghiên cứu phi cấu trúc và cấu trúc (hình 4.1).

    3.3.2.  Nghiên cứu định tính

    Được thực hiện với một bản câu gồm 3 câu hỏi mở để có các liên tưởng tự do của du khách quốc tế về điểm đến Đà Nẵng với mẫu là 250 người nước ngoài đến Đà Nẵng. Dữ liệu được phân tích với Nvivo 8.

    13
    Nghiên cứu Nghiên cứu
    định tính Thang đo phác thảo tài liệu
    Tần suất
    Nghiên cứu định lượng Chú ý:
    ( dữ liệu lần 1)
    :Nội dung nhiệm vụ
    Hình ảnh tổng thể
    Alpha & EFA : Kết quả
    và duy nhất
    :Kỹ thuật phân tích
    Nghiên cứu định lượng
    ( dữ liệu lần 2)
    Đặc điểm Động cơ Thang đánh giá sơ Hành vi du lịch
    Nhân khẩu du lịch bộ/thanh lọc
    Frequencies Frequencies Frequencies

    Đặc điểm

    nhân khẩ u

    của mẫu

    Mô tả CFA Mô tả
    động cơ hành vi
    Hình ảnh Mean Thang đo Mean Hình ảnh
    kém thuậ n lợi
    thuận lợi hình ảnh đã
    nhất khẳng định nhất

    ANOVA                 ANOVA      t-test

     

    Quan hệ giữa

    hình ảnh

    điểm đến và

    động cơ của

    du khách

    Quan    hệ      giữa

    hình    ảnh    điểm

    đến và số lần trải

    nghiệm, thời gian

    lưu   trú   của   du

    khách

    Khác biệt về hình ảnh giữa du khách đế n cùng gia đình và không cùng; đi theo tour và đi tự do

    Hình 3.2 Tiến trình tổ chức thực hiện nghiên cứu

     

    14

    3.3.3. Nghiên cứu định lượng thanh lọc thang đo hình ảnh điểm đến

    3.3.3.1. Thiết kế bản câu hỏi

    Danh sách tập hợp 30 biến đo lường hình ảnh điểm đến Đà Nẵng đã được sử dụng trong nghiên cứu định lượng với thang Likert với bản câu hỏi 6 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Thái Lan và Lào.

    3.3.3.2. Điều tra thử để hoàn thiện bản câu hỏi

    Bản câu hỏi được kiểm tra với mẫu 50 du khách.

    3.3.3.3. Lấy mẫu và thu thập dữ liệu

    Tổng thể mục tiêu của nghiên cứu này là du khách quốc tế đến Đà Nẵng. Mẫu được lấy theo hạn mức châu lục Việc thu thập dữ liệu đã được tiến hành vào năm 2010 tại Đà Nẵng với qui mô 750 du khách.

    3.3.3.4. Kiểm tra dữ liệu, xử lý dữ liệu khuyết và dò tìm số liệu ngoại lai Dữ liệu khuyết xảy ra với tỷ lệ nhỏ được giữ và xử lý được bằng kỹ

    thuật hồi qui (regression imputation). Những giá trị được đánh giá khác biệt nhiều được xem xét để loại bỏ.

    3.3.3.5. Phân tích dữ liệu

    Phân tích nhân tố được thực hiện để xác định các nhân tố với các biến đo lường hình ảnh điểm đến Đà Nẵng. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo được thực hiện với hệ số Cronbach’s Alpha. Phân tích dữ liệu này được thực hiện bằng phần mềm SPSS 16.0.

    3.3.4. Nghiên cứu kiểm định đánh giá thang đo hình ảnh điểm đến Đà Nẵng và các giả thuyết nghiên cứu

    3.3.4.1. Thiết kế công cụ thu thập dữ liệu

    Bản câu hỏi cấu trúc với 6 thứ tiếng được sử dụng để thu thập dữ liệu với ba phần. Phần thứ nhất là các câu hỏi về hành vi và động cơ của du khách quốc tế đến Đà Nẵng. Phần thứ hai là các câu hỏi về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng của du khách quốc tế với 29 biến đã có từ nghiên cứu trước. Phần thứ ba là các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu của du khách.

    3.3.4.2. Lấy mẫu và thu thập dữ liệu

     

    15

    Tổng thể mục tiêu của nghiên cứu này là du khách quốc tế du lịch

    tại Đà Nẵng với một qui mô mẫu là 725 được lấy bằng phương pháp theo

    hạn mức theo ba tiêu chuẩn: châu lục, động cơ du lịch Đà Nẵng, thời

    gian lưu trú ở Đà Nẵng. Việc thu thập dữ liệu được tiến hành vào cuối

    năm 2010 và đầu năm 2011 tại Đà Nẵng.

    3.3.4.3. Kiểm tra dữ liệu, xử lý dữ liệu khuyết và dò tìm số liệu ngoại lai

    Thực hiện tương tự giai đoạn nghiên cứu khám phá thang đo.

    3.3.4.4. Phân tích dữ liệu

    Kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và nhiều kỹ thuật

    thống kê khác được sử dụng gồm thống kê mô tả với các bảng tần suất và

    tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn; kiểm định sự khác biệt trung bình

    giữa hai nhóm độc lập (t-test); phân tích ANOVA và hậu kiểm (post

    hoc). Phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS và phần mềm AMOS.

    Chương 4- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    4.1.     Kết quả của nghiên cứu định tính

    4.1.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

    Có 246 bản câu hỏi đạt yêu cầu để phân tích.

    4.1.2. Hình ảnh thuộc tính chức năng của điểm đến Đà Nẵng:

    Kết quả từ Nvivo 8 cho thấy có 275 từ đã được 246 du khách nêu

    lên từ câu hỏi mở đầu tiên và được sắp xếp theo tần suất từ cao nhất là

    • đến thấp nhất là 1. Trong đó 46 từ có tần suất từ 5 trở lên tức ít nhất
    • người đã nêu ra, 68 từ có tần suất từ 4 trở lên, 89 từ có tần suất từ 3 trở lên và 128 từ có tần suất từ 2 trở lên. Các từ có nghĩa tương tự được nhóm gộp với nhau, được tính tần suất và % theo 246 người.

    Những ấn tượng mạnh nhất đủ để coi là hình ảnh tổng thể chức năng trong tâm trí của du khách quốc tế là biển (56.1%) và sông Hàn với những cây cầu bắc qua (22%).

    16

    Các điểm thăm quan du lịch được ngành du lịch Đà Nẵng đầu tư thu hút và phục vụ du khách nhưng liên tưởng còn rất khiêm tốn. Bà Nà (11.4%); Sơn Trà (6.5%); đèo Hải Vân (0.8%); bảo tàng Chàm (8.5%). Riêng điểm du lịch Non nước được khá nhiều du khách liên tưởng (19.5%). Những bức tượng Phật lớn cùng các ngôi chùa được một tỷ lệ tương đối lớn du khách liên tưởng (10.2% và 6.5%). Những hình ảnh được khá nhiều du khách liên tưởng khác là món ăn hải sản (13.4%); các yếu tố về hạ tầng cơ sở vận chuyển (13.4%), thành phố mới, hiện đại/phát triển của Việt Nam (12.2%), sự thân thiện của người dân (11.8%); các khu resort mới, lớn dọc bãi biển (11.4%); gần, thuận tiện để đến những điểm đến khác (10.2%); thành phố đẹp (9.4%); sạch sẽ (9.4%), yên tĩnh (5.7%).

    Khá nhiều du khách liên tưởng đến những hình ảnh của Hội An như nêu tên Hội An, liên tưởng về Cầu Nhật Bản, đèn lồng, phố cổ, các cửa hiệu may quần áo, di sản thế giới, thánh địa Mỹ Sơn (10.2%). Một số liên tưởng tiêu cực về điểm đến Đà Nẵng mặc dầu tần suất không cao có nhiều xe cộ và đường sá đông đúc, nóng, không thú vị. Đặc biệt còn có một số ít du khách cho rằng Đà Nẵng không được coi là một điểm đến du lịch, ít du khách (3.7%).

    4.1.3. Bầu không khí/tâm trạng du khách cảm nhận khi du lịch

    • từ đã được 246 du khách nêu lên từ câu hỏi mở thứ hai này và được sắp xếp theo tần suất từ cao nhất là 32 đến thấp nhất là 1. Trong đó 39 từ có tần suất từ 5 trở lên, 42 từ có tần suất từ 4 trở lên, 53 từ có tần suất từ 3 trở lên và 68 từ có tần suất từ 2 trở lên. Có 5.3% không trả lời.

    Điểm đến Đà Nẵng được nhiều du khách ấn tượng về bầu không khí thân thiện, hiếu khách, chân thành (27.6%); cảm giác được thư giãn nghỉ ngơi (23.2%) và cảm nhận sự yên tĩnh (22,4%). Một số liên tưởng cũng khá mạnh đó là: xanh, sạch, ít ô nhiễm (19.1%); cho rằng Đà Nẵng nóng, ấm áp với ánh nắng mặt trời (18.3%) cũng gần tương đương với

    17

    cho rằng thời tiết Đà Nẵng là mát mẻ dễ chịu (16.3%); đặc trưng của văn

    hóa Việt Nam (12.6%). Những tâm trạng tích cực khác: lý thú (8.9%),

    hạnh phúc (6.9%), an toàn (5.3%), khám phá (4.9%), vui thích (4.1%),

    tốt (1.6%), sự thoáng đãng (1.2%). Một số ý kiến tiêu cực như bầu không

    khí buồn (6.9%), không có bầu không khí của một điểm du lịch, khá gặp

    khó khăn với ngôn ngữ tiếng Anh, đường sá đông đúc.

    4.1.4. Sự khác biệt duy nhất du khách quốc tế nghĩ về Đà Nẵng

    • từ đã được 246 du khách nêu lên sắp xếp theo thứ tự giảm dần về tần suất là 72 đến 1. Trong đó 25 từ có tần suất từ 5 trở lên, 28 từ tần suất từ 4 trở lên, 42 từ tần suất từ 3 trở lên và 69 từ tần suất từ 2 trở lên. Có 16 người tức 6.5% trả lời không biết, 0.8% trả lời không có gì.

    Biển/bãi biển là yếu tố được nhiều du khách nhất coi là yếu tố riêng có của Đà Nẵng (42.7%). Thực tế đây không hẳn là đặc trưng riêng có vì nhiều điểm khác cũng có biển. Khá nhiều người nói về biển Đà Nẵng với tên Chinabeach. Các đặc điểm khác được khá nhiều du khách nêu ra tiếp theo là núi Non nước và hàng đá thủ công mỹ nghệ (26%), Bà Nà (19.5%); viện cổ Chàm (18.3%); sông Hàn và những cây cầu bắc qua sông (17.9%); các nhà hàng, món ăn đặc sản biển (13.4%). Những tượng Phật to lớn là hình ảnh mà một số du khách quan tâm (9.8%). Sơn Trà là địa danh du lịch được quan tâm đầu tư nhưng còn được ít người liên tưởng (chỉ 4.1%). Một số du khách quan tâm đến sự thân thiện, dễ thương và sẵn sàng giúp đỡ của người dân địa phương (6.5%). Lễ hội bắn pháo hoa quốc tế hầu như du khách quốc tế không coi là đặc trưng riêng (0.4%). Các lễ hội khác như Lễ hội Quán Thế Âm không được du khách nhắc đến. Có tới 9.4% đã liên tưởng những đặc trưng riêng của Hội An là của Đà Nẵng như là đèn lồng, phố cổ Hội An, Mỹ Sơn, cầu Nhật Bản…; thắng cảnh đèo Hải vân là một nét đẹp riêng của Đà Nẵng chỉ được hai du khách (0.8%) liên tưởng đến, ngoài bảo tàng Chăm được khá nhiều người biết đến thì các tài nguyên nhân văn khác của Đà Nẵng

    18

    như thành cổ điện Hải, đình Hải Châu, Đại Nam, Tuý Loan không hề có trong tâm trí của du khách. Có 6.5% trả lời “không biết” và có hai du khách khẳng định “nothing”.

    4.2. Kết quả nghiên cứu khám phá/đánh giá sơ bộ thang đo hình ảnh điểm đến

    4.2.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

    Với 750 du khách được khảo sát, sau khi xử lý về dữ liệu khuyết và dữ liệu được đánh giá là giá trị ngoại lai, cuối cùng dữ liệu của 718 bản câu hỏi được đưa vào phân tích.

    4.2.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA):

    Sau bước phân tích nhân tố khám phá đầu tiên, một biến quan sát bị loại bỏ. Kết quả hệ số alpha và phân tích nhân tố khám phá với 29 biến còn lại cho kết quả thang đo 7 nhân tố chính với tổng phương sai trích được là 65.463 %. Các biến quan sát đều có hệ số tải trên 0.5 và mỗi biến quan sát có hệ số tải cao chỉ vào một nhân tố nên thang đo đảm bảo tính đơn hướng. Hệ số Alpha Cronbach của các nhân tố chính cũng như tổng thể thang đo đều lớn 0.7 nên đảm bảo tin cậy.

    4.3. Kết quả khẳng định thang đo hình ảnh điểm đến Đà Nẵng và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

    4.3.1. Đặc điểm nhân khẩu của mẫu khảo sát

    Với 725 du khách khảo sát năm cuối năm 2010 và đầu năm 2011, dữ liệu chấp nhận về giá trị khuyết là 675 và xem xét thêm dữ liệu giá trị ngoại lai cuối cùng dữ liệu 655 người được đưa vào phân tích.

    4.3.2. Đặc điểm động cơ và hành vi du lịch của du khách khảo sát

    Du khách được hỏi đến với mục đích khám phá điểm đến Đà Nẵng (34.5%), muốn được thư giãn, giải trí chiếm 13.0%, tìm cơ hội đầu tư chiếm 9.8%; dự hội nghị, hội thảo, triển lãm là 10.2%; làm việc học tập 16.8%; giao lưu bạn bè và thăm người thân là 7.2%. Chiếm 7.8% là để tới điểm đến khác. Khách đến lần đầu chiếm 60.2%; vài ba lần 23.8%;

    19

    trên ba lần 14.4%. Khách đi du lịch với các thành viên của gia đình

    chiếm 27.6%, không cùng gia đình là 72.4%. Khách ở ít hơn 1 ngày là

    30.5%; trong một tuần chiếm 48.3 %; hơn 1 tuần là 107 người (19.6%).

    4.3.3. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

    Mặc dầu giá trị  c 2 đạt được là 1114.195 với p =0.000 nhưng

    • 2 thường phụ thuộc vào qui mô mẫu. Các chỉ số khác ít nhạy với qui mô mẫu được sử dụng để đánh giá: RMR = 0.032; RMSEA = 0.057;

     

    • 2 /df = 3.130 là nhỏ nên mô hình được chấp nhận phù hợp tổng thể.
    e18 Các giá trị NFI, IFI, TLI và CFI lần
    V11 .81
    e17 V12 .80
    e16 V13 .83 DV&G lượt: 0.892, 0.924, 0.913 và 0.923
    .77
    e15 V14 .72
    e19 V15 .73
    cho thấy có sự phù hợp khá tốt của
    e20 V16 .34
    e33 V21 .65 mô hình đề nghị.
    e32
    .79
    V22 .87 MT&XH .40
    e31 V23
    .85
    e30 V24 .76 .46 Các giá trị trọng số chuẩn hoá lớn
    e29 V25
    .43
    e11 V31 .72 .54 hơn 0.5 với p bằng 0.000 cho thấy
    e10 V32 .73 CSHTC .42
    .82
    Chi-square= 1114.195 ; df= 356 ; P=.000 ; e9 V33 .76 .42 thang đo đạt giá trị hội tụ. CR đều có
    Chi-square/df= 3.130 ; e8
    V34 .42 .35
    GFI= .894 ;TLI= .913 ;CFI= .923 ; e28 V41 .74
    IFI=.924, RMR= .032 .39
    e27 V42 .77 BKKDL .40 giá trị lớn hơn 0.7 và các giá trị AVE
    MRSEA= .057 .53
    .70
    e26 V43 .69 .38
    e25 V44 .49 đều lớn hơn 0.5 nên thang đo đạt yêu
    .47
    e4
    V51 .73 .48 .29
    e3 V52 .79 cầu về độ tin cậy. Hệ số tương quan
    HTDL
    e2 V53 .78
    .76 .53
    e1 V54 .78 .53 các cặp nhân tố đều không vượt quá
    e14 V61
    .78 TNVH .43
    e13 V62 .69 0.85 cho thấy các nhân tố  thỏa mãn
    e12 V63 .51
    e7 V71 .72
    e6 V72 .79 PCTN giá trị phân biệt.
    .73
    e5 V73

    Hình 4.2. Kết quả CFA thang đo hình ảnh Đà Nẵng (chuẩn hoá)

    4.3.4.  Đánh giá thuận lợi nhất và kém thuận lợi nhất về Đà Nẵng

    Phần lớn bảy nhân tố và các thuộc tính hình ảnh Đà Nẵng được

    nhìn nhận tích cực nhưng không được đánh giá cao, đánh giá cao nhất là

    nhân tố là 3.75 và thuộc tính là 3.97. Nhân tố bầu không khí du lịch và

    phong cảnh tự nhiên được đánh giá thuận lợi nhất, mức đánh giá trung

    bình lần lượt là 3.75 và 3.68. Những thuộc tính được đánh giá thuận lợi:

    nhiều bãi biển đẹp (3.95), trải nghiệm văn hoá Việt Nam (3.97), các món

    ăn hải sản tươi ngon (3.91); người dân địa phương thân mật, hiếu khách

    20

    (3.81); bầu không khí thư giãn, nghỉ ngơi (3.79); sự an toàn (3.67) và sự yên tĩnh thanh bình (3.58), sông và bờ sông đẹp với nhiều cây cầu (3.67) và khí hậu dễ chịu (3.58). Hai nhân tố được đánh giá kém hơn là cơ sở hạ tầng chung (3.30); và môi trường và xã hội (3.33). Những thuộc tính đánh giá ít thuận lợi nhất: cuộc sống về đêm (2.92), rào cản về ngôn ngữ (2.89), dịch vụ nhà hàng, khách sạn (3.08); sự đa dạng của hoạt động du lịch (3.10); hệ thống giao thông tốt (3.14).

    4.3.5.  Kết quả hình ảnh điểm đến Đà Nẵng theo mô hình Echtner và

    Ritchie (1991) Đặc điểm chức năng
    – Phong cảnh tự nhiên (3.68) – Các bãi biển dài và đẹp
    Khí hậu (3.58)
    – Sông Hàn có hai bờ sông xinh
    – Món ăn (3.91)
    đẹp với nhiều cây cầu bắc qua
    Cơ sở lưu trú (3.61)
    Thuộc tính Giá cả (3.51) Tổng thể
    Văn hóa Việt –   Người dân thân thiện,
    Nam(3.97)
    thật thà, hiếu khách
    Thân thiện (3.81)
    –   Bầu không khí yên tĩnh,
    Thư giãn (3.81)
    thư giãn
    An toàn (3.68)
    Yên tĩnh(3.59) Đặc điểm tâm lý
    Hình 4.3. Thành phần thuộc tính/tổng thể và chức năng/tâm lý của hình
    ảnh Đà Nẵng Đặc điểm chức năng
    – Phong cảnh tự nhiên (3.68) – Các bãi biển
    – Ngũ Hành Sơn với sản phẩm mỹ nghệ
    Khí hậu (3.58)
    – Bà Nà
    Cơ sở lưu trú (3.61)
    – Bảo tàng Chăm
    – Món ăn (3.91)
    – Sông Hàn có hai bờ sông xinh đẹp
    Giá cả (3.51)
    với nhiều cây cầu bắc qua Duy nhất
    – Văn hóa Việt Nam(3.97)
    Nghỉ ngơi, thư giãn và trải nghiệm văn
    Chung– Thân thiện (3.81) hóa Việt Nam với bầu không khí yên
    Thư giãn (3.81) tĩnh, môi trường trong sạch, không
    An toàn (3.68) gian thoáng đãng.
    Yên tĩnh(3.59) Đặc điểm tâm lý

    Hình 4.4. Thành phần chung/riêng và chức năng/tâm lý của hình ảnh

     

    điểm đến Đà Nẵng

     

    Tổng thể

    21

     

    Chung (Common)

     

     

    • Phong cảnh tự nhiên (3.68)
    • Khí hậu (3.58)
    • Cơ sở lưu trú (3.61)

    – Giá cả  (3.51)

    • An toàn (3.68)
    • Thân thiện (3.81)

    Thuộc tính

    • Sông Hàn
    • Món ăn hải sản
    • Văn hóa Việt Nam
    • Resort mới ven biển
    • Các bãi biển dài & đẹp

    Người dân địa phương thân thiện, thật thà, hiếu khách

    • Nghỉ ngơi, thư giãn trong bầu không

    khí yên tĩnh

     

    Ngũ Hành Sơn và sản phẩm đá thủ công mỹ nghệ

     

    Duy nhất

     

    Hình 4.5. Thành phần thuộc tính/ tổng thể và chung/riêng của hình ảnh

     

    điểm đến Đà Nẵng

     

    4.3.6. Kết quả về kiểm định các giả thuyết về sự khác biệt hình ảnh

    điểm đến Đà Nẵng giữa các nhóm du khách

     

    • Có 4 nhân tố có sự khác biệt giữa nhóm đi du lịch cùng gia đình và không cùng gia đình với mức ý nghĩa p <0.05 và một nhân tố có sự khác biệt với mức ý nghĩa p<0.1. Nhóm đi du lịch cùng gia đình đánh giá tốt điểm đến du lịch Đà Nẵng hơn.
    • Có 5 nhân tố hình ảnh điểm đến Đà Nẵng có sự khác biệt giữa hai nhóm du khách đi tự do và đi theo tour của các hãng lữ hành thiết kế với mức ý nghĩa p <0.05. Ba nhân tố được nhóm đi theo tour của các hãng lữ hành nhận thức thuận lợi hơn. Hai nhân tố được du khách đi tự do đánh giá tốt hơn.
    • Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0.05 về 5 nhân tố đối với 3 nhóm du khách có số lần đến khác nhau. Kết quả so sánh các giá trị trung bình (Multiple Comparisons) và sắp xếp các tập con đồng nhất (Homogeneous Subsets) từ Post hoc và mức đánh giá trung bình để xác định sự khác biệt giữa các nhóm đối với mỗi nhân tố.
    • Hình ảnh điểm đến Đà Nẵng sự khác biệt với P<0.05 giữa các du khách có thời gian lưu trú khác nhau về hai nhân tố.

    22

    • Các nhóm động cơ khác nhau có sự khác biệt với mức ý nghĩa 0.05 đối với 4 nhân tố.

    Như vậy, trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm các giả thuyết nghiên cứu

    đề xuất về mối quan quan hệ giữa đặc điểm hành vi và động cơ của khách du lịch quốc tế với hình ảnh điểm đến Đà Nẵng là được chấp nhận.

    Chương 5 – KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

    5.1. Các kết luận từ nghiên cứu

    Nghiên cứu đã có được những thông tin cụ thể về:

    Thứ nhất: Hình ảnh định tính tổng thể, duy nhất của điểm đến Đà Nẵng

    Thứ hai: Hình ảnh định lượng trên cơ sở thuộc tính điểm đến Đà Nẵng Thứ ba: Những nhân tố và thuộc tính hình ảnh điểm đến Đà Nẵng được đánh giá thuận lợi nhất và ít thuận lợi nhất

    Thứ tư: Hình thức đi du lịch ảnh hưởng đến hình ảnh du khách quốc tế có được về điểm đến Đà Nẵng:

    Thứ sáu: Động cơ du lịch là một yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh mà du khách quốc tế có đối với Đà Nẵng

    5.2.     Hàm ý đối với chính sách quản lý

    • Đo lường hình ảnh điểm đến là cần thiết để các nhà quản lý điểm đến Việt Nam nói chung và các điểm đến khác nhau ở Việt Nam có một thông tin khách quan về những ấn tượng, suy nghĩ của du khách để có những quyết định quản lý phù hợp.
    • Để có được kết quả hoàn chỉnh, khách quan, khi nghiên cứu về hình ảnh điểm đến chúng ta cần kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
    • Kết quả nghiên cứu cho thấy liên tưởng của du khách về điểm đến Đà Nẵng còn khá mờ nhạt và sơ sài về các đặc điểm thu hút nổi bật cùng với lợi ích và giá trị mà nó mang lại. Do đó các nhà quản lý điểm đến ở đây cần có các giải pháp để đạt được điều này. Cụ thể:

    23

    Lựa chọn định vị cho điểm đến Đà Nẵng

    Chọn và điều chỉnh thông điệp truyền thông để tạo một hình ảnh tốt hơn

    cho điểm đến Đà Nẵng:

    Có chiến lược phát triển sản phẩm du lịch theo hướng định vị đã xác

    định cho thương hiệu điểm đến Đà Nẵng:

    Định hướng du khách thu hút cho điểm đến Đà Nẵng:

    Xác định và đầu tư thêm những yếu tố thu hút phù hợp cho điểm đến Đà

    Nẵng:

    Giải pháp đối với những điểm được đánh giá yếu kém để cải thiện hình

    ảnh điểm đến Đà Nẵng

    Phát triển sản phẩm và thiết kế tour hiệu quả cho việc tạo lập hình ảnh

    điểm đến Đà Nẵng và phù hợp các phân đoạn thị trường khác nhau

    5.3. Hạn chế của nghiên cứu:

    Mặc dù đã nỗ lực để thực hiện nghiên cứu, tuy nhiên vẫn có một số

    hạn chế trong nghiên cứu này.

    Thứ nhất, vì không thể xác định được khung lấy mẫu và nguồn lực

    nghiên cứu hạn chế nên phương pháp lấy mẫu phi xác suất sẽ hạn chế tính

    đại diện cho tổng thể.

    Thứ hai, các câu hỏi mở thường khó khăn có được sự hợp tác từ phía

    người trả lời. Kết quả là hạn chế về dữ liệu có được.

    Thứ ba, vì có khá nhiều các biến nên các du khách hầu như không

    muốn dành nhiều thời gian chú tâm vào việc trả lời, đặc biệt là du khách

    đến Đà Nẵng trong thời gian ngắn, nên các dữ liệu thu thập được có thể

    không hoàn toàn chính xác.

    Thứ tư, vì nghiên cứu hình ảnh điểm đến Đà Nẵng chưa từng được

    thực hiện nên nghiên cứu này được thực hiện chỉ tập trung vào đánh giá

    một cách đầy đủ về hình ảnh chỉ riêng cho điểm đến Đà Nẵng. Cấu trúc

    thang đo không được sử dụng để đo lường cho nghiên cứu cho các điểm

    đến khác nhằm thực hiện sự so sánh.

    24

    5.4. Đề xuất cho các nghiên cứu trong tương lai:

    Phương pháp tiếp cận này có thể sử dụng để xây dựng bức tranh về hình ảnh cũng như tạo lập thang đo cho các điểm đến khác ở Việt Nam và cho điểm đến Việt Nam.

    Nghiên cứu trong tương lai nên phối hợp với ngành du lịch, hàng không và ga Đà Nẵng để tái tạo mẫu xác suất để mẫu đại diện hơn. Nên dự báo số lượng và cơ cấu du khách quốc tế đến trong thời gian tới để lấy mẫu hợp lý hơn. Việc đo lường hình ảnh điểm đến nên được thực hiện thường xuyên bởi hình ảnh điểm đến có thể thay đổi qua thời gian.

    Để có một chiến lược cạnh tranh tốt cho Đà Nẵng, hình ảnh điểm đến Đà Nẵng nên được so sánh với hình ảnh các điểm đến cạnh tranh. Nghiên cứu này chỉ giới hạn cho điểm đến Đà Nẵng. Có thể thiết lập thang đo với các thuộc tính chung cho điểm đến Đà Nẵng và các điểm đến cạnh tranh trực tiếp với Đà Nẵng để từ đó thể xây dựng bản đồ nhận thức của du khách quốc tế đối với các điểm đến cạnh tranh trực tiếp.

    Hiện nay mạng xã hội kênh truyền miệng ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn đi du lịch. Với các phần mềm phân tích nội dung hiện nay như Nvivo, WordStat…nên mở rộng phân tích hình ảnh điểm đến thông qua những trang thông tin đó.

    Hình ảnh điểm đến Đà Nẵng cũng nên được thực hiện đo lường cả với du khách quốc tế tiềm năng và thực hiện riêng cho các nhóm thị trường mục tiêu cụ thể cần thu hút để có giải pháp Marketing phù hợp.

  • Bài tập lớn môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Bài tập lớn môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Bài tập lớn môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Vi điều khiển


    [toc]


    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-Nh%E1%BB%AFng-nguy%C3%AAn-l%C3%BD-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-M%C3%A1c-L%C3%AAnin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Bài tập lớn môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Câu 1

    Phân tích quan điểm của Mác về lượng giá trị hàng hóa. Theo quan điểm của Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hóa thì lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ biến đổi theo chiều hương nào? Giải thích quan điểm trên có ý nghĩa như thế nào đối với các doanh nghiệp ở nước ta trong lĩnh vực sản xuất?

    Trả lời

    Phân tích quan điểm của Mác về lượng giá trị hàng hóa Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng.

    Chất giá trị hàng hóa là do lao động trựu tượng cuảngười sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.

    Lượng giá trị hàng hóa là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định.

    • Thước đo lượng giá trị của hàng hóa

    Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động v.v… Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định. Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình đọ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khác nhau. Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra. Vậy phải chăng lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra. Vậy phải chăng lao động cả biệt nào càng lười biếng, vụng về, phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa đó càng có nhiều giá trị?

    Mác viết “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy”.

    Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.

    2

    Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình đọ khéo léo trung bình và cường đọ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.

    Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đọa boọ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường.

    • Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa

     

    Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định. Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:

    • Năng suất lao động.

    Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó được tình bàng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.

    Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội. trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt mà là giá trị xã hội. Vì vậy, năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chình là năng suất lao động xã hội.

    Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược lại năng suất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội. Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi dơn vị hàng hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.

    3

    Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình đọ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên.

    Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệt nhọc của người lao động. Vì vậy khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lược sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương ứng còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm thì không đổi. Xét về bản chất, tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động.

    • Mức độ phức tạp của lao động

    Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

    Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được.

    Lao đông phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện về nghề nghiệp mới có thể tiến hành được.

    Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên.

    Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.

    Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình.

    • Cấu thành lượng giá trị hàng hóa

    Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động sống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm

    4

    mới. trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sản phẩm (ký hiệu là c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện ở sự hao phí lao động sống trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giá trị mới trong sản phẩm (ký hiệu v+m) Vì vậy, cầu thành lượng giá trị hàng hóa bao gồm hai bộ phận

    · Giá trị cũ tái hiện ñKý hiệu W = c+v+m  
    · Giá trị mới
       

    Theo quan điểm của Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hóa thì lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ biến đổi theo chiều hướng giảm dần

    Lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào năng suất lao động. Lượng của một đơn vị hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động. Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình đọ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên. Cùng với sự phát triển của sản xuất sự phát triển của khoa học – kỹ thuật càng tăng lên, trình độ người lao động trở nên vững vàng, được đào tạo rèn luyện lành nghề hơn. Sự phát triển trao đổi hàng hóa làm tăng hiệu quả của tư liệu sản xuất. Vì thế năng suất lao động xã hội tăng lên cùng với sự phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hóa. Điều đó giải thích lượng giá trị hàng hóa trong mỗi đơn vị sản phẩm biến đổi theo chiều hướng giảm dần.

    Quan điểm trên có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp ở nước ta trong lĩnh vực sản xuất như sau:

    Việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là rất cần thiết. Thứ nhất, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa đã xác định được giá cả của hàng hóa đã làm ra. Bởi vì khi

    5

    nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa cho biết: “ Thời gian lao động xã hội cần thiết giản đơn trung bình để sản xuất ra một hàng hóa là thước đo lượng giá trị hàng hóa và từ đó xác định được giả cả của hàng hóa nào cao hơn của hàng hóa nào.

    Thứ hai, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa tìm ra được các nhân tố tác động đến nó, từ đó tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: tăng năng suất lao động, đầu tư vào khoa học kỹ thuật hiện đại, đầu tư đào tạo giáo dục chất xám… mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên thị trường, đây chính là điều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch.

    Thứ ba, bởi vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau. Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức tạp đòi hỏi nhiều chất xám. Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề và áp dụng những biện pháp tiên tiến.

    Đối với Việt Nam, đi lên từ một nước nông nghiệp, với những tập quán canh tác nhỏ lẻ lạc hậu, lại chịu nhiều thiệt hại của chiến tranh nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển. Từ năm 1986, Đảng và nhà nước đã quyết định chính sách đổi mới đất nước và đạt được nhiều thành tựu. Bên cạnh đó vẫn còn nhều khó khăn trong quá trình phát triển đặc biệt là lao động lành nghề, sản xuất với công nghệ đơn giản nên lượng giá trị hàng hóa cao mà giá trị sử dụng lại thấp, không đáp ứng được nhu cầu trong nước cũng như ngoài nước. Ví dụ như: gạo ở Việt Nam sản xuất với thời gian lao động xã hội cần thiết lớn, nhiều nhân lực, nhưng chất lượng gạo lại không cao, bán với giá thấp trên thị trường thế giới. Từ đó đặt ra một yêu cầu làm thế nào để làm giảm lượng giá trị mà vẫn giữ nguyên hoặc tăng thêm giá trị của hàng hóa.

    Để giảm lượng giá trị hàng hóa thì nước ta cần phải chú trọng đầu tư phát triển những ngành lao động tri thức, nâng cao năng suất lao động bằng cách áp

    6

    dụng nhiều công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại; đầu tư đào tạo đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao, tiến tới xây dựng một nền kinh tế tri thức.

    Đồng thời với việc xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước cần kiên quyết đẩy lùi những tệ nạn tham ô tham nhũng; cải cách hành chính thật hiệu quả minh bạch; hạn chế những thủ tục rườm rà trong quản lý kinh tế; đồng thời đưa ra các biện pháp kích thích kinh tế, khuyến khích đầu tư các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao.

    Câu 2

    Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vai trò kinh tế của Nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước. Cho biết ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu với nước ta hiện nay.

    Trả lời

    Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vai trò kinh tế của Nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước

    Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư sản thành một thiết chế và thể chế thống nhất, trong đó nhà nước tư sản bị phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền và can thiệp vào các quá trình kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản.

    Vai trò của Nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được hình thành trong quá trình chủ nghĩa tư bản độc quyền phát triển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Nguyên nhân của sự phát triển lên chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước góp phần làm rõ vai trò này.

    • Nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có vai trò trung tâm điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, yêu cầu kế hoạch hóa tập trung. Với chủ nghĩa tư bản độc quyền, sự tích tụ và tập trung tư bản càng lớn dẫn đến tích tụ

    7

    và tập trung sản xuất càng cao. Sự phát triển hơn nữa của trình độ sản xuất đã dẫn đến yêu cầu khách quan là nhà nước đóng vai trò đại biểu cho toàn bộ xã hội quản lý nền sản xuất. Lực lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng cao, mâu thuẫn gay gắt với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, do đó tất yếu đòi hỏi phải có một hình thức mới của quan hệ sản xuất để lực lượng có thể tiếp tục phát triển trong điều kiện còn sự thống trị của chủ nghĩa tư bản. hình thức mới đó là chủ nghĩa độc quyền tư bản nhà nước.

    • Nhà nước giữ vai trò kinh doanh chủ yếu trong một số ngành đặc thù. Trong sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận, nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản… Chính vì thế nhà nước đảm nhiệm vai trò đầu tư vào các ngành này.
    • Nhà nước ổn định tình hình xã hội. Đối với chủ nghĩa tư bản độc quyền thì sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Nhà nước sẽ đứng ra giảm bớt mâu thuẫn với những chính sách để xoa dịu những mâu thuẫn đó như trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phát triển phúc lợi xã hội…
    • Nhà nước đóng vai trò điều tiết đối với các quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế bởi cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường thế giới. Nhà nước bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc quyền bằng vị thế chính trị trong quan hệ đối ngoại.
    • Nhà nước can thiệp trực tiếp vào đời sống kinh tế của đất nước. Việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, đấu tranh với chủ nghĩa xã hội hiện thực và tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại cũng đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào đời sống kinh tế.

    8

    Vai trò của nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được thể hiện ở bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn của chủ nghĩa tư bản.

    Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư bản thành một thiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền.

    Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự thống nhất của ba quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau:

    +tăng sức mạnh của các tổ chức độc quyền +tăng vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế

    +kết hợp sức mạnh kinh tế của độc quyền tư nhân với sức mạnh chính trị của nhà nước trong một thể thống nhất và bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền.

    Từ đó ta thấy rằng, nhà nước có vai trò rất lớn, can thiệp sâu rộng vào nền kinh tế. Tuy nhiên nhà nước không tự nhiên có thể can thiệp vào nền kinh tế mà nhà nước gắn bó chặt chẽ với sức mạnh kinh tế của độc quyền tư nhân đồng thời phát huy sức mạnh chính trị của mình. Sức mạnh kinh tế nhà nước được tăng cường nhưng càng gắn bó và phụ thuộc vào tổ chức độc quyền. Nhà nước vì thế vừa liên kết vừa bảo vệ cho tư bản độc quyền.

    V.I. Lênin chỉ ra rằng: “Bọn đầu sỏ tài chính dùng một mạng lưới dày đặc những quan hệ lệ thuộc để bao trùm hết thảy các thiết chế kinh tế và chính trị… đó là biểu hiện rõ rệt nhất của sự độc quyền ấy”.

    Trong cơ cấu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nhà nước đã trở thành một tập thể tư bản khổng lồ. Nó cũng là chủ sở hữu những xí nghiệp, cũng tiến hành kinh doanh, bóc lột lao động làm thuê như một nhà tư bản thông thường.

    9

    Nhưng điểm khác biệt là ở chỗ, nhà nước còn có chức năng chính trị và các công cụ trấn áp xã hội như quân đội, cảnh sát, nhà tù, … Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội chứ không phải chỉ là một chính sách trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản

    Vai trò kinh tế của nhà nước có sự biến đổi thích hợp đối với từng giai đoạn của chủ nghĩa tư bản. Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản chủ yếu can thiệp bằng bạo lực và theo lối cưỡng bức siêu kinh tế. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nhà nước tư sản ở bên trên, bên ngoài quá trình kinh tế, vai trò của nhà nước chỉ dừng lại ở việc điều tiết bằng thuế và pháp luật. Ngày nay, vai trò của nhà nước tư sản đã có sự biến đổi, không chỉ can thiệp vào nền sản xuất xã hội bằng thuế, luật pháp mà còn có vai trò tổ chức và quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước, điều tiết bằng các biện pháp đòn bẩy kinh tế vào tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất: sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, làm cho chủ nghĩa tư bản thích nghi với điều kiện lịch sử mới.

    Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước với những biểu hiện chủ yếu là sự kết hợp về nhân sự giữa tổ chức độc quyền và nhà nước; sự hình thành và phát triển sở hữu nhà nước; sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản, càng minh chứng rõ hơn cho vai trò của nhà nước.

    Tóm lại nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước đóng vai trò quan trong. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ với các tổ chức độc quyền mà nhà nước đã nắm trong tay cả sức mạnh kinh tế để can thiệp sâu vào nền kinh tế cũng như sức mạnh chính trị để giải quyết các mẫu thuẫn giai cấp và các vấn đề đối nội, đối ngoại. Nhà nước là nhà tư bản tập thể lý tưởng để tạo điều kiện cho tư bản độc quyền phát triển thông qua đầu tư công đồng thời bảo vệ lợi ích của tổ chức tư bản. Sự hình thành những vai trò mới của nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền

    10

    nhà nước so với chủ nghĩa tư bản độc quyền mang tính cấp thiết, tất yếu để đảm bảo sự phát triển hát triển ngày càng cao của tư bản độc quyền.

    Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu với nước ta hiện nay

    Nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chương II về “ Chế độ kinh tế” trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ một số luận điểm sau:

    • Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng (điều 15).
    • Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới (điều 16)
    • Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào

    các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân (điều 17)

    • Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân (điều 19)

    11

    • Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh (điều 21)

    Việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước nói chung và vai trò của nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước nói riêng là một việc làm quan trọng trong quá trình xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách phát triển. Chúng ta không phủ nhận thành tựu và những ưu điểm mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế nhưng cũng cần đúc rút những bài học, kinh nghiệm để áp dụng vào thực tiễn đất nước.

    Nhà nước trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có vai trò trung tâm điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, yêu cầu kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước ta cũng được xác định rõ vai trò quản lý, điều tiết kinh tế xã hội.

    Chúng ta không phủ nhận kinh tế tư nhân, mà luôn tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình dựa trên những quy định của pháp luật. Kinh tế tư nhân được xem là động lực của nền kinh tế được định hướng phát triển và quản lí theo vùng, ngành, sao cho vừa đem lại lợi ích cho từng gia đình và phát triển kinh tế đất nước.

    Từ nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản cũng cần xác định rõ bản chất của Nhà nước ta, sự khác biệt về bản chất của Nhà nước ta với các nhà nước tư bản chủ nghĩa để tránh những biểu hiện sai lệch. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Các cơ quan Nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật. Bản thân Nhà nước đặt mình trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước mang bản chất giai cấp, là tổ chức để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam thông qua quyết

    12

    định các chủ trương, đường lối và thông qua việc đưa đảng viên của mình vào nắm giữ các chức danh quan trọng của Nhà nước.

    Trong cuộc lấy ý kiến toàn dân về dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi có rất nhiều ý kiển về một số điều mang tính hệ trọng đến đường lối phát triển đất nước lâu dài như vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (điều 4); chế độ kinh tế và vai trò của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế… Các thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại, tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc đòi đa nguyên đa đảng đi theo chủ nghĩa tư bản. Vì thế chúng ta cần phải cũng cố tư tưởng chính trị vững vàng, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là tất yêu khách quan cũng như con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Nền kinh tế nước ta có cơ chế là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường xuất phát và mang bản chất của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên chúng ta cần nghiên cứu kĩ về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước để xác định được rằng

    • Xây dựng nền kinh tế thị trường để phát triển đất nước phù hợp với tình hình chung của thế giới, sớm thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu từ đó xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
    • Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, không thể vội vàng dẫn đến sai lầm. Việc chuyển từ nền kinh tế thị trường sang nền kinh tế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cần có lộ trình cụ thể và thời cơ thích hợp. Không thể để lập lại sai lầm như giai đoạn bao cấp 1975-1986 dẫn đến khủng hoảng, lạm phát, tham nhũng, đầu cơ…

    Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta học hỏi mô hình của các nước tư bản chủ nghĩa song nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích toàn dân vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, nó khác xa với kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước liên hệ chặt chẽ, bảo vệ lợi ích của tư bản đặc biệt là các độc quyền tư bản.


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]