Category: Luận Văn Thạc Sĩ – Cao Học – Tiến Sĩ

  • Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHƯƠNG THỨC LỰA CHỌN TỪ NHÂN VIÊN BÁN HÀNG ĐẾN GIÁM ĐỐC BÁN HÀNG KHU VỰC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-m%E1%BA%A1ch-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-m%C3%B4-ph%E1%BB%8Fng-%C4%91%C3%A1p-%E1%BB%A9ng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BA%BF-b%C3%A0o-th%E1%BA%A7n-kinh-v%E1%BB%9Bi-k%C3%ADch-th%C3%ADch-xung-%C4%91i%E1%BB%87n-m%E1%BB%99t-chi%E1%BB%81u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    XÂY DỰNG MẠCH ĐIỆN TỬ MÔ PHỎNG ĐÁP ỨNG CỦA TẾ BÀO ThẦN KINH VỚI KÍCH THÍCH XUNG ĐIỆN MỘT CHIỀU

    Tạ Q uốc Giáp1*, Nguyễn Lê Chiến1, Lê Kỳ Biên2

    Tóm tắt: N ghiên cứu xây dựng mô hình mạch điện tử của tế bàoo thần kinnh, mô phỏng hoạt độộng điệện của tế bàoo thần kinnh thônng qua việệc thayy đổi các thaam số đầu vàào về cường độ và tần số xuung kícch thích. Qua đó, kiểmm chứnng giá trị điệện áp đầu ra của mô hìnnh mô phỏng so vớới cách đáp ứng thhực tế của tếế bào thần kinh. Việc khảo sátt sự thay đổi cường độ và tần số kích thích xung điện một chiều và đánh giá định lượng tại giá trị nào của tham số kích thíchh chho ra điệnn thế đáp ứng là lớn nhất nhất thông qua mô hình mạch điện tử của tế bào đã xâyy dựng. Kết quả củủa nghiên cứu này góóp phần hiểu biết sâu hơn về cơ chế hoạt độngg điện của mànng tế bào thôngg quua hoạt động củủa các kênnh ion trên màng như Na+, K+ và các ion khác.

    Từ khóa: Mô hình mạch điện tử; Tế bào thần kinh; Kích thích xung điện mộtt chiiều; Điện thế hoạt động.

    1. MỞ ĐẦUU

    Não người có 1010-1011 tế bào thần kinh (còn gọi là các nơroon) liên kết chặặt chẽ vớii nhhau qua mạng lưới sợi trụục và đuôi gaai. Bản thân các nơron lại được đệm đỡ và bổ trợ bởii các tế bào thần kinh đệm. Một nơron có thể nhận tín hiệu từ 103-105 các nơrron khác [[10]].

    Kích thích dòng điện m ột chiều có vai trò quuan trọng trong y sinhh, như ứng dụng trong khử rung tim, trong phụục hồi chức năng và giảmm đau trong vật lý trị liệu… Đặặc biệt, trong ngghiêên cứu hành vi độnng vật mà đáng quan tâm hơơn cả là kích thíích điện nội sọ do những ứnng dụng mà nó có thể mang lại.

    Kích thích lên tế bào sống với một xung điện đủ lớn sẽẽ gây ra đáp ứnng làm thay đổii điện thế màng. Khi tham số kích thích tới một ngưỡng nhất định sẽ làm phát sinh điiện thế hoạt độnng của tế bào. Sau đáp ứng này, điện thhế mànng sẽ dần trởở về giiá trị điện thế nghỉỉ ban đầu của nó. Nếu xuung kícch thích không đủ lớn thì tế bào sẽ khônng được kích hooạt. Sự đáp ứng củủa mànng cho loại kích thích này maang tínnh bị động. Nếu xung kích thích đủ mạnhh, điện thếế màngg đạt tới ngưỡng và m àng tạo ra một xung điện đặc trưng là xung thần kinh (hình 1).

    Hìnhh 1. Thhay đổi điện thế màng tế bàoo (BB) dưới tác dụngg cáác loại xung kích thích (CC) gây ứcc chhế (1) và gây hưưng phấn (2, 3, 4). Xung (2) chưa đạt ngưỡng kích thhích nên chỉ gây ra được một đáp ứnng bị động. Xung (3) chạm ngưỡng kích thích có thể gây ra được điệện thế đápp ứng (3b). Xung (4) vượt quá ngưỡng, điệnn thế đáp ứng luuôn xuất hiện.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3911

    Đo lường – Tin học

    Điện thế màng của một tế bàoo đưược định nghhĩa là chênh lệch điiện thế giữa mặt trong và mặt ngoài mànng mà nguyêên do là do sự chênh lệch giữa các ion hai bên màng tế bào. Trị số điện thế màng troong trạng tháái yên nghỉ (còn gọi là trạng thái phân cực – polarizzation) Ek do ioon K+ quyyết địnnh được tính theo phươnng trình Nernst và thường daoo động trong khhoảng -70 mV đến -90 mV [[111]].

    .          (        )

    =       . lnn (            )

    Khi tế bào hưng phấn, điệện thế màng bị thay đổi do thaay đổi tính thấmm của màng vớii ion N a+. Kêênh Naa+ được mở ra, các ion N a+ ở mặt ngoài mààng ùa vào trrong tế bào làm táii phhân bố các ioon hai bên m àng: số lượng các ion mang điện tícch dương ở mặt trong màng nhhiều hơn so với ở mặt ngoài mààng. Lúc nàyy, màng bị đổi cực từ trạng thái phhân cực sang trạng tháái khử cực và xuất hiện điện thế hưng phhấn hay điện thếế hooạt độnng. Điện thế nàyy sẽ theo sợi trụục lan truyền tới các tế bào khác. Trị số điện thế hoạt động có thểể đạt tới 120 mV nhưng vì ở xuất phát điể m điện thế m àng đã có trị số là -90 m V nên điện thế trên thực tế đạt khhoảng +300mV.

    ạ  độ

     =

    .

    ln

    (

    )

     
     

    .

    (

    )

     

    Saau khi hưng phấn, màng tế bào dần trở về trrạng thhái ban đầầu, nghhĩa là diễn ra quá trình tái cực mànng nhờ hooạt động của bơm Na+/K + trrên mààng tế bào, làm tái lập trrạng thhái cân bằng điệện tích hai bên mànng tế bào như trước lúúc hưng phấnn [[2]]. Giai đoạn này được gọii là giai đoạn táii cựực (deppolaarization).

    Hìnnh 2. Đáp ứnng của màng tế bào đối với các kích thích có cường độ thay đổi (B) theo đưườnng cong cườnng độ thời giann. Mức cường độ kích thích nhỏ nhất gây ra được đááp ứng được gọi là ngưỡng cơ sở (Rheobaase). Thời gian cực tiểu cần thiết cho 1 xung kíích thích có cường độ gấp đôi ngưỡng cơ sở để khởi động quá trình khử cực gọii là thời trị (Chroonaxy).

    Nhữnng hiểuu biiết về phảản ứng điệện của các tế bào có thể kích thhíchh được và các phương phháp mô tả gắn với các khái niệmm về m ạch điện tử và với các công thức biểu diễn các phản ứnng của chúng. Từ các luận điểm nàyy, chúnng ta có thể tiến hànhh các phưương pháp nhận biết các mạch điện tử tương đương về mặtt vậật lý chho các tế bào có khả năngg kích thích.

    3992        T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điệện tử … xung điện một chiều.”

     

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    Hìnnh 3. Mô hình điện tế bào thần kinnh của Hoodgkin và Huuxleey

    và lý thuyết điện thế hoạt động.

    Đã có nhiều nghiên cứuu, đề xuất mô hình hóa m àng tế bào tương tự như một mạcch điện tử như mô hình điện tế bào của Hodgkkin và Huxley [[5]]. Đây cũng là mô hình cơ bản để các nghiên cứu kế tiếp phát triểnn và đề xuất các mô hìnhh điiện nơron: m ô hình điện nơron của Lewis [[8]]], mô hình điệnn nơron của Harmon [[4]]], mô hìnnh điệnn nơron của Roy [[6]] và mô hìnhh điện nơronn của Maedaa và Makkino [[7]]. Tronng đó, mô hình của Maeda và Makino mang nhiiều ưu điểm do mô phhỏng đượcc điện thế mạng neuroon theo thời gian thhực,, dễ dàng thaay đổi các tham số của mạch điiện và có thể xây dựng được mô hìnhh toán học từ mạch này. Xuất phát từừ nhữnng vấn đề trên, nghiên cứu được tiến hành với mục đích xây dựng mạch điện mô phỏngg hoạt động điệện của màng tế bào thần kinh ứng với kíchh thhích xung điện một chiều, từ đóó giải thícch các cơ chế tạạo ra điện thế hoạt động của tế bào thần kinh và đáp ứnng kíchh thích của tếế bào thầnn kinh với xuung điện mộtt chhiều. Là cơ sở để đánh giá đáp ứng hành vi trêên động vật thực nghiệm đốối với tín hiệu kích thích xuung điệện mộtt chiều đã được mô phhỏng.

    2. M Ô PH ỎNG CÁC T HAM SỐ KÍÍC H THÍÍCHH TRÊN

    MÔ HÌÌN H MAEDA VÀ MAKKIN O BẰ N G PHẦẦN MỀM NI MULTISIM

    Maedda và Makino chỉ ra phươngg thức mô hình hóa m ột nơrron sử dụng 3 bóng bán dẫn cho một tế bàoo thần kinh FitzHughNagumo (FHN) [[3]] (được đơn giản hóa từ công thức Hodggkin-Huxley). FitzHughNagumo đề xuất thay thế dòngg Na+ nhanh của mô hình Hodggkin-Huxley với quá trìnnh khử cựực nhanh, khhử cựcc, kích hooạt và thaay thế quá trình khử hoạt động Na+ chậm và làm chậm, táái phân cựực, K+ bằng một quá trình khử hoạt tính chậm đơn thuần. Bằng cácch thêm một quuá trình táái phân cực hơnn, được mô hình hoá bởii hai bóng báán dẫn,, chúng có thhể tạo ra một nơron điện với đáp ứng “bùng nổ”.

    Trrong mạch điện trên hình 4 gồm 2 thànnh phần dao động cơ bản, kênh Na+ được mô hình hóaa bởi 02 transitoor (Q1 – trannsitor ngược, Q2 – traansiitor thuận) mắc kiểểu Dalington có nhhiệmm vụ khuếch đại tín hiệu kênh Na+ được nối với nguồnn DC 5V; kênh K+ được mô hình hóa bởi transitor ngược Q3 xác định ngưỡnng tín hiệệu kích thích và được nối vớii ngguồn DC 0,04V. Khi có tín hiệệu kích thhíchh là xuung điện 1 chiều có cường độ và tần số xác định thì cáác trransitoor được mở hoặc đóng nhhanh hay chậm tương ứng với các kênh Na+ và K+ được mở và đóng nhannh hoc chậm. Điệện áp đầu ra được biểu diễn trên độ lớn và dạng tín hiệệu.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3933

    Đo lường – Tin học

    Hìnhh 4. Mô hình điện tế bào thần kinh củủa Maeeda và Makino được kích thích

    bằng xung điện 1 chiều.

    Trrong báo cáo này, nhóóm nghhiên cứu áp dụng lý thuyết, mô hìnnh Maeda và Makino do:

    • Mô hình mạch điện đơn giản nhưng có khả năng giải thích được hoạt độngg điiện thế màng tế bào;
    • Một số tham số của mạchh ngguyên lý được thay đổổi để phù hợp với nghiên cứu;
    • Các phhần tử transistor đóng vaai trò khóa đóngg mở kênh ioon Na+, K + và các ion khhác,, cũng như khuếch đạii tínn hiệu điện;
    • Sử dụnng chuỗi xunng với các thham số xáác địnhh kích thích vào mạchh nguyên lý và xác định đáp ứnng của mạch. Xung để m ở transistor có yêu cầu: sườn dốc thẳng đứng đảm bảo yêu cầu transistorr mở tức thì khi cóó xung điều khiiển (thường gặp là xung ki m hoặc xung vuuông); đủ độ rộnng (độ rộnng xung lớn hơnn thời gian m ở của transistor); đủ cônng suất. Song troong kích thích điện vào mô sinh học nói chungg, tế bào thầnn kiinh nói riêng cần giữ cho độ rộng xung khôông được quá lớớn để giả m thiểu bất kỳ phản ứng điệện hóa nào xảy ra trên bề mặt điện cựực.

    KẾT QUUẢ MÔ PH ỎNG VÀ T HẢO LUẬN

    Mô phỏng các tham số kích thích bằng phần mềm NI Muultissim.

    Với mô hìnnh điệnn tế bào thần kinh được mô tả thể hiện trênn hình 4, các tác giiả đã kích thíích bằng chuỗi xuung kích thícch kéo dài 0,5s gồm các xungg kích thíích vuông cathode 0,3ms (hìnhh 5), có tần số và cườnng độ có thể tùy biến.

    Hình 5. Dạng xung kích thhíchh 1 chiều với tham số xác định.

    Qua các bááo cáo đã được công bố trước đây [1,12] cho thấy đáp ứnng xunng kíchh thhích của tế bào thầnn kinh trên chuột nhắt có cường độ trong khoảng 10 – 120μA (đááp ứng tối ưu

    3994        T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điệện tử … xung điện một chiều.”

     

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    khhoảng 1000 μA), tần số trrong khoảảng 10 – 120Hz (đđáp ứnng tối ưu khoảnng 100Hz). Đáp ứnng của mạạch điện được khảo sát trongg cáác điều kiện cố định tầần số xung kích thích ở mức 800Hz hoặc cường độộ xuung kích thícch được cố định ở mứức 70 μA. Các điềuu kiện này được đặt tương ứng với bááo cáo của N guyễn Lê Chiến và cs. [10] troong một khảo sát tươnng ứng trêên chuột nhắt.

    Chùmm xung điện ápp khi đáp ứng với xungg kích thích có cưườnng độ và tầnn số vượtt nggưỡng kích thích (ở tần số 80Hz và cườnng độ 70μA) được thể hiệện trên hình 6.

    Hình 6. Dạng điệện áp đáp ứnng của mô hình khi kícch thích vượt ngưỡng.

    3.1. Đáp ứng khi cố định tầnn số tại 80Hz, biến đổổi cường độ dòng điện

    Kết quả thểể hiện trên hình 7 biểu thị thay đổổi của xung điện áp đáp ứng với kích thhích bằng xung điện 1 chiều khi giữ nguyên tần số tạại 80Hz, thay đổổi cường độ với bước 10μA. Qua kết quả này cho thấy điện áp đápp ứng tăng lên tươơng ứnng với cườngg độ kích thíích. Tuuy nhiên, sự biến thiên này là không tuyến tính với khoảng “bùng nổ” điện áp đáp ứngg từ giá trị cường độ vào khoảnng 5-100μAA.

    Hình 7. Sự thay đổi điiện áp theeo cường độ kích thích tại tầần số 80H z.

    Kết quả thể hiiện trên hình 8 cho thấy đáp ứng điệện áp trên cùùng một đơn vị thờời gian biểu diễn mối quan hệ của cường độ kích thíích tươơng ứnng 10 μA so vớii 200μAA (hìnhh 8.A);; 100μA với 100μA hình 8.B); 110μA với 100μA (hình 8.C) và 100μA với 90μA hìnhh 8.D). Qua kết quả khảo sát chho thấy cườnng độ xung điện trong khhoảng 100μA chho đáp ứng điện áp ra bùng nổ nhất biểu thị bằng số lượng xuung ở hình 8C và điệnn ápp ghhi đo được tạại hình

    1. Đối với cường độ lớn hơn 1000μAA thì số xungg nhhỏ hơn (hình 8CC) và điện ápp đááp ứng lạii bùùng nổ không kiểm sooát, giải thích nguy cơ đánhh thủng các kênnh dẫn điện trong tế bào. Bêên cạnh đó, kết quả thhể hiện trên hình 7 và hìnnh 8 còòn cho thấy các đáp ứng điệện áp biến đổi chậmm khi thay đổổi cường độ kích thhích và đááp ứng lớn nhất ở khoảng cường độ 100μA.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3955

    Đo lường – Tin học

    Hình 8. Kích thích bằng xuung điệện 1chiiều ở tần số tại 80Hz, cườngg độ thhay đổi.

    3.2. Đáp ứng khi cố định cườngg độ, thay đổi tần số dòng điện

    Hình 9. Thay đổi điện áp thheo tần số kích thícch, giữ cường độ 80μAA.

    Kết quả trên hìnhh 9 cho thấy khi thhay đổi giá trị tần số từ 0 – 110Hz, điệnn ápp đááp ứng có xuu hướnng tăng nhannh và đạt giá trrị cực đại tại khoảảng tần số 100Hz và thể hiện xu hướng giảm ở tần số lớn hơn.

    3996        T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điệện tử … xung điện một chiều.”

     

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    Hình 10. Kíích thích bằnng xung điện 1 chiềều cường độ tại 80μA, thay đổi tần số.

    Kết quả thểể hiện trên hình 10 chho thấy đááp ứng điện áp trênn cùng một đơn vị thờời gian biểu diễn mối quan hệ củaa tần số kích thích tương ứng 0Hz khônng có đáp ứnng xung điện áp so với 10Hz có đáp ứngg chhậm , không có đáp ứnng xung trrong khoảng thời giann từ 0 đến 0,5s (hìnnh 10.A); tại 20Hz đáp ứng xung chậậm hơn nhiều và số xungg ít hơn so với 1000Hz (hình 10.B)); tại 90H z đáp ứnng xung chậm hơn và trong cùùng khhoảng thời gian từ 0 đến 0,5s số lượng xunng ít hơn so với 100Hz (hình 10.C) và 100 Hz số xunng “bùng nổ”” nhhiềuu so với 110Hz (hình 10.D). Điện áp ra bùng nổ nhất và đáp ứnng nhanh nhất ở khoảng tần số 1000Hz biểu thị bằng số lượng xung đááp ứng lớn nhất troong cùng đơn vị thhời gian và điện áp hiển thị trên thiết bị ghhi đo điện thế là lớn nhất. Với các tầần số nhỏ hơn hoặc lớớn hơn 1000Hz thì đáp ứng điện thế hoạt động chậậm hơn (hhay độ trễ đááp ứng với các tần số đó lớn hơơn), điện áp trunng bìnhh hiển thị trên thhiết bị đo điện thế là nhỏ hơn.

    1. KẾT LUẬ N

    Trrong bài báo này, chúng tôi quaan tâm đến khảoo sáát các tham số cường độ dònng điện và tần sốố kíích thích của xuung điệện một chiều phhù hợp và ở giá trị nào của cường độ và tần số của xung điện kích thích là tối ưu. Đó là cơơ sở đề xuất xây dựng mô hình và thuật toán kích thícch xung điện một chiều với cường độ và tầnn số tối ưu đối với tế bào thần kinh được thực nghhiệ m trên động vật tương ứnng với giá trị thaam số cường độ và tầnn sốố xuung điện mộtt chiều đã khảo sát trong mô phỏng sẽ được các tác giả sớm công bố trong cácc nghiên cứu tiếp theo.

    TÀI LIIỆUU THAAM KHẢO

    • Carlezzon Jr WA & Chartofff EH. “Intracraniial self-stimuulation (ICSS) in rodents to study the neurobioologgy of m otivation”. Nat. prot., 2 (111), 2987-2995. 2007.
    • Gulrajjani RM, Rooberge FA, Mathieu PA . “Thhe modellingg of a bursst-geneerating neuuron with a fieldd-efffect transsistor analog”, Biool C ybern. 255(4):2227- 40. 19977.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3977

    Đo lường – Tin học

    • FitzHugh, R. “Impulses and physiological states in theoretical models of nerve membrane”. Biophys. J. 1, 445–466. 1961.
    • Harmon L. D., “Problems in neural modeling”. In: Neural theory and modeling, edit.

    by R.F. REISS. Stanford: Stanford University Press 1964.

    • Hodgkin AL, Huxley AF. “A quantitative description of membrane current and its application to conduction and excitation in nerve”. J Physiol 117: 500– 554.1952.
    • Roy, Guy, “A simple electronic analog of the squid axon membrane”, IEEE Trans Biomed Eng. 19(1):60-3; 1972 Jan.
    • Maeda, Y and Makino H, “A pulse-type hardware neuron model with beating, bursting excitation and plateau potential”, BioSystems 58 (2000) 93-100.
    • Lewis E.R. “An Electronic Model of Neuroelectric Point Processes”, 1968.
    • Wise RA. “Addictive drugs and brain stimulation reward”. Annu. Rev. Neurosci. 19: 319-40. 1996.
    • Nunez PL & Srinivasan R. “Electric fields of the brain: the neurophysics of EEG”. 2nd Oxford university press. The Oxford, USA. 1981.
    • Bộ môn Sinh lý học, Học viện Quân y. “Những khái niệm cơ bản trong Sinh lý học”.

    Trong: Giáo trình Sinh lý học, tập I (Tái bản lần thứ nhất). NXB QĐND, Hà Nội, 2007, trang 31-34.

    • Nguyễn Lê Chiến, Trần Hải Anh (2012) “Mô hình Gompertz’s và hành vi tự kích thích nội sọ”. Tạp chí Sinh lý học, 16(2).

    ABSTRACT

    BUILDING UP A CIRCUIT SIMULATION

    FOR NEURONAL RESPONSES TO DC PULSE

    To build up a circuit simulation for neuronal network, this study investigated responses of the circuit with changes in intensity and frequency of stimulation pulses. The circuit would have been accessed for the highest voltage responses as consequences of stimulation parameters changed. The results contributed to understanding of membrane electrical activities via membrane sodium and potassium channels.

    Keywords: Circuit simulation; Neuron; DC stimulation; Action potentials.

    Nhận bài ngày 01 tháng 7 năm 2018

    Hoàn thiện ngày 10 tháng 9 năm 2018

    Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 9 năm 2018

    Địa chỉ: 1Học viện Quân y;

    2Viện Điện tử – Viện Khoa học và Công nghệ quân sự.

    398           T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điện tử … xung điện một chiều.”


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-Y%C3%8AU-C%E1%BA%A6U-%C4%90%E1%BA%B6T-RA-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-GI%E1%BA%A2NG-D%E1%BA%A0Y-B%E1%BA%ACC-%C4%90%E1%BA%A0I-H%E1%BB%8CC-THEO-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-GI%E1%BA%A2NG-D%E1%BA%A0Y-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-K%C4%A8-N%C4%82NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    • NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

    MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    HOÀNG VĂN TIẾN

    Học viện Khoa học Quân sự

    TÓM TẮT

    Đường hướng giảng dạy phát triển kỹ năng ra đời đáp ứng yêu cầu khắt khe và luôn biến động của thị trường lao động, đòi hỏi giáo dục đại học phải luôn đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy để tạo ra các sản phẩm người học được trang bị đủ tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết khi ra trường.

    Từ khóa: chương trình đào tạo, đào tạo bậc đại học, giảng dạy theo kỹ năng, kỹ năng, phương pháp giảng dạy tích cực

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong xã hội Việt Nam luôn biến động, dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, sự điều chỉnh, thay đổi các chương trình đào tạo đại học; khả năng người học đáp ứng các yêu cầu của thị trường lao động được xem như là kim chỉ nam cho những người có trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo và cũng là mục tiêu quan trọng cho sự phát triển cũng như khả năng hoà nhập thị trường lao động của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, các tổ chức luôn thay đổi phương thức quản lí cũng như các tiêu chí tuyển dụng đối với người lao động theo biến động của môi trường kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp. Khả năng “có thể sử dụng được” của các sinh viên sau khi ra trường đang đặt ra yêu cầu giải quyết mâu thuẫn

    giữa năng lực chuyên môn của sinh viên và yêu cầu của các nhà tuyển dụng. Ngoài ra, các chương trình đào tạo đại học ngày nay không còn được xem như là sự đảm bảo chắc chắn cho việc lĩnh hội thành công các năng lực, kỹ năng thực hành chuyên môn cần thiết ở người học cho hoạt động nghề nghiệp sau này. Do đó, nhà tuyển dụng luôn trông chờ ở giảng dạy đại học có thể trang bị cho người học các kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp cần thiết. Vấn đề phát triển các kĩ năng nghề nghiệp trong các chương trình đào tạo đại học được đặt ra như yêu cầu cấp thiết. Đã đến lúc phải xem xét lại các chương trình đào đạo của các trường đại học để đánh giá khả năng trang bị các năng lực nghề nghiệp cần thiết cho người học sau khi ra trường dưới góc nhìn của đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng.

    70

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 3 – 9/2016

       

    2. NỘI DUNG

    2.1. Đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng

    Khái niệm kĩ năng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học quản lí, khoa học giáo dục, tâm lí học, kinh tế học và trở thành thước đo trình độ trong nhiều lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp. Việc phát triển và đánh giá các kĩ năng nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng yếu được xã hội giao cho ngành giáo dục-đào tạo, đặc biệt là đào tạo ở bậc đại học.

    Trước hết, thế nào là một kĩ năng? Kĩ năng là “khả năng áp dụng một tập hợp có tổ chức các tri thức, hành động và thái độ cho phép hoàn thành một số nhiệm vụ nào đó. Nó không quay lưng lại với tri thức, văn hóa hay tư duy; trái lại, nó phát triển các tri thức sống, các phương tiện tư duy và hành động trong quá trình đào tạo cũng như trong môi trường xã hội” (Romainville M., 2012). Như vậy, kĩ năng là khả năng kiểm soát hành động một cách hiệu quả trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhờ có những tri thức cần thiết và khả năng vận dụng sáng tạo, kịp thời các tri thức này để nhận diện, giải quyết hiệu quả vấn đề gặp phải. Dưới góc độ sư phạm, kĩ năng là khả năng thực thi các nhiệm vụ hay giải quyết một vấn đề thông qua việc tiến hành theo đúng trình tự các bước và huy động các kiến thức và năng lực phù hợp của bản thân trong một tình huống cụ thể.

    Đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng ra đời trước tiên nhằm “đáp ứng yêu cầu của đào tạo nghề, với mục tiêu là hoàn thiện các kĩ năng nghề cho đội ngũ nhân viên và tăng năng suất lao động. Đây là phương pháp sư phạm có tính mục đích cao bằng cách xác định rõ các kĩ năng cần đạt được khi kết thúc quá trình đào tạo cho một vị trí công việc cụ thể” (Tazek Ghazel, 2012) . Đường hướng này chủ yếu quan tâm đến đào tạo các kĩ năng hoạt động nghề nghiệp của người học. Việc lựa chọn giảng dạy một nội dung nào đó đều phải nhằm đến mục tiêu cao nhất là hình thành và phát triển các kĩ năng ở người được đào tạo. Trong quá trình học, “người học luôn được đặt vào các tình huống có vấn đề cần giải quyết liên quan đến một lĩnh vực hoạt động gần gũi và họ phải vận dụng trong vô số các kiến thức lĩnh hội được những tri thức và hành động thích hợp nhất để tìm ra giải pháp; qua đó các kĩ năng nghề nghiệp được phát triển” (Romainville M. 2012).

    NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI v

    Trong điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội có nhiều thay đổi của Việt Nam với sự xuất hiện những nhu cầu mới của thị trường lao động đối với đào tạo đại học, nhiệm vụ điều chỉnh các chương trình đào tạo ở bậc đại học cho phù hợp với yêu cầu xã hội về các kĩ năng nghề nghiệp cần thiết ở người lao động là rất cấp bách. Những giải pháp cho nhiệm vụ đó nằm ở nhiều cấp độ khác nhau trong quy trình đào tạo đại học như quá trình xây dựng các chương trình đào tạo, việc thực hiện đưa vào giảng dạy các chương trình đào tạo đó, trong đó có hoạt động kiểm tra đánh, giá chất lượng đào tạo. Và như vậy, những người tham gia xây dựng, quản lý và thực hiện các chương trình đào tạo nói chung, ở bậc đại học nói riêng phải hợp tác chặt chẽ, thống nhất để xây dựng một nền giáo dục đại học hiện đại, hướng về thị trường lao động, thực hiện thành công sứ mệnh, nhiệm vụ chuẩn bị chu đáo cho các sinh viên bước vào thị trường lao động thông qua việc trang bị các kĩ năng nghề nghiệp phù hợp cho họ.

    Theo các phương pháp giảng dạy truyền thống, quá trình giảng dạy chủ yếu tập trung vào truyền đạt nội dung kiến thức cho người học; các kĩ năng thực hành chỉ được xem nhẹ và không được phát triển một cách hệ thống. Người ta chỉ quan tâm đến lượng kiến thức đã được giảng dạy trong một chương trình đào tạo mà không quan tâm nhiều đến việc người học có khả năng làm được gì sau khi hoàn thành khoá học. Chẳng hạn như trong giảng dạy tiếng Pháp theo phương pháp này, trong các giáo trình dạy tiếng Pháp và trong các giờ lên lớp, người ta chú trọng đến việc dạy các nội dung kiến thức ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và văn học-đất nước học, và đương nhiên khi kiểm tra-đánh giá, họ cũng chỉ quan tâm xem người học có nắm được những kiến thức đó không, còn khả năng thực hành, sử dụng các kiến thức đó vào trong thực tế giao tiếp xã hội thì gần như bị bỏ qua. Và hậu quả là các kĩ năng giao tiếp tiếng Pháp của sinh viên không được chú trọng phát triển trong suốt quá trình đào tạo.

    Còn về đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng, một số người chỉ trích đường hướng này coi nhẹ các nội dung giảng dạy mà chỉ chú trọng vào các năng lực mang nặng tính kĩ thuật, thao tác. Như chúng ta đã đề cập bên trên, đường hướng này ưu tiên việc phát triển các kĩ năng cần thiết ở người học theo yêu cầu của định hướng nghề nghiệp mà người học

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    71

    Số 3 – 9/2016

    • NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

    đang theo học. Do đó, theo chúng tôi, việc giảng dạy theo đường hướng phát triển kĩ năng không chỉ giới hạn trong việc phát triển các kĩ năng đơn thuần bởi vì để có thể hình thành và phát triển các kĩ năng giải quyết các vấn đề phải có các kiến thức tích luỹ trong quá trình học tập. Hơn nữa, đường hướng này cũng mang tính xã hội cao bởi nó định hướng việc giảng dạy theo các nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động. Thực sự đường hướng phát triển kĩ năng đã đặt ra những vấn đề lớn của giáo dục đại học hiện nay. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến sự thay đổi vai trò của người dạy và của người học trong lớp học tiếng Pháp, việc thiết kế và lập kế hoạch các chương trình đào tạo cũng như áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, đổi mới công tác kiểm tra-đánh giá hướng vào đo mức độ thành thục các kỹ năng nghề nghiệp của người học.

    2.2. Thay đổi vai trò của người dạy và người học trong quá trình dạy và học

    Theo các phương pháp giáo dục hiện đại lấy người học làm trung tâm, vai trò của người dạy và người học trên lớp thay đổi rất nhiều. Ngày nay, ít có giảng viên nào còn quan niệm người học như là những “bể chứa thụ động” và phải “lấp đầy chúng bằng các kiến thức”. Giảng viên nhận thức được rằng, họ không còn là “người nắm giữ tri thức duy nhất” dưới con mắt người học (Trần Bá Hành, 2003). Trong thực tế, phần lớn các phương pháp giảng dạy hiện đại, trong đó có phương pháp giảng dạy theo kĩ năng là kết quả của các nghiên cứu thực tiễn quá trình dạy và học của các nhà sư phạm, nhà giáo dục để tìm ra một phương pháp giáo dục tích cực. Giảng dạy theo các kĩ năng đưa ra một cái nhìn tổng thể, thống nhất và hợp lí về quá trình giảng dạy; từ đó xác định lại vai trò của người dạy và người học trong quá trình học tập trên lớp.

    Các phương pháp truyền thống tập trung vào việc dạy kiến thức với mô hình quen thuộc là thầy đọc và trò chép. Người học chỉ có nhiệm vụ nghe, cố gắng hiểu, làm bài tập và áp dụng các kiến thức tiếp thu để làm các bài kiểm tra kiến thức và được chấm điểm theo kết quả các bài kiểm tra đó. Người học thực hiện một cách bị động các yêu cầu của người dạy. Người dạy có quyền quyết định hay áp đặt mọi thứ đối với người học.

    Theo phương pháp sư phạm giải quyết tình huống như đường hướng dạy theo kĩ năng, người học tham gia vào thực hiện các nhiệm vụ chung của nhóm, thông qua đó hình thành và phát triển các kĩ năng của bản thân. Người học có quyền được thử nghiệm, được quyền mắc sai lầm vì các sai lầm của người học có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức cũng như các kĩ năng nghề nghiệp của bản thân. Họ thường xuyên được khuyến khích nói ra những mong muốn ở khoá học, hoài nghi của bản thân, cách thức tư duy cũng như phương pháp học tập của họ. Trong quá trình học tập, người học trở thành một dạng nhà thực hành linh hoạt. Còn người dạy đóng vai trò là người tổ chức và hướng dẫn người học trong suốt quá trình đào tạo: giúp người học hiểu nhiệm vụ cần thực hiện, biết huy động những tri thức cần thiết, biết thực hiện đúng quy trình công việc cần làm (Nguyễn Kỳ, 1996). Nhưng chú ý rằng, quyền quyết định luôn thuộc về người học (Romainville M., 2012). Trong mối quan hệ như vậy, cần phải xây dựng chương trình đào tạo đại học thống nhất, liên thông giữa các môn học và liên tục bổ sung, chỉnh sửa các nội dung chương trình cũng như các mục tiêu đào tạo cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.

    2.3. Thiết kế chương trình và lập kế hoạch đào tạo

    Để thiết kế chương trình và lập kế hoạch đào tạo, phải tiến hành theo các bước sau:

    2.3.1. Xác định các mục tiêu tổng quan và chuyên biệt của chương trình đào tạo

    Giai đoạn đầu tiên cần xác định các mục tiêu tổng quan của chương trình đào tạo. Những mục tiêu này được xác định trên cở sở phân tích các nhu cầu xã hội (của người học, của thị trường lao động) đối với một chương trình đào tạo (Nguyễn Đức Chính, 2008). Tiếp theo, các mục tiêu chuyên biệt gắn với từng môn học cấu thành chương trình đào tạo, cho phép thiết kế các chương trình đào tạo đa dạng phù hợp với nhiều đối tượng người học dù cùng thuộc một lĩnh vực hoạt động. Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Pháp bậc đại học, cần xác định các nhu cầu của xã hội và của người học đối với ngôn ngữ này (trong trao đổi khu vực và quốc tế, tuyển dụng hay trong giao tiếp hàng ngày, tiếng Pháp chuyên ngành sư phạm hay biên-phiên dịch…), từ đó xây dựng các mục tiêu tổng quan và chuyên biệt cho mỗi môn học hay cả một khoá đào

    72

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 3 – 9/2016

       

    tạo tiếng Pháp. Đây là những định hướng lớn để xác định các nội dung kiến thức, phương pháp tiến hành (tiếng Pháp thương mại, tiếng Pháp du lịch và nhà hàng, tiếng Pháp luật, tiếng Pháp tài chính-kế toán…) phục vụ hình thành và phát triển các kĩ năng nghề nghiệp ở người học. Trong nội dung chương trình đào tạo, luôn có những nội dung mở, thường xuyên được cập nhật và bổ sung theo sự phát triển của xã hội, của thị trường lao động trong quá trình chuẩn bị bài giảng và lên lớp của giảng viên.

    Trong đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng, người học phải xác định được trước các mục tiêu đào tạo. Do đó, sẽ là hợp lí nhất khi người học được tham dự vào quá trình xây dựng mục tiêu đào tạo của khoá học trong giai đoạn phân tích các nhu cầu của người học và nhà tuyển dụng đối với chương trình đào tạo. Các mục tiêu, nội dung, chương trình đã xây dựng được cụ thể hóa trong hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy và các phương pháp giảng dạy phù hợp trên lớp cho các đối tượng người học (các môn và phân môn, ứng với các học phần tính theo các đơn vị tín chỉ).

    Những mục tiêu đào tạo này sẽ giúp người xây dựng chương trình xác định được nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy và cách thức tiến hành kiểm tra-đánh giá trong và cuối quá trình đào tạo gắn với chuẩn đầu ra và quy định về nội dung kiến thức chuyên môn, kĩ năng thực hành, khả năng nhận thức và giải quyết vấn đề, công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp (Bộ Giáo dục-Đào tạo, 2010).

    2.3.2. Xây dựng thời gian biểu đào tạo

    Việc phân tích các mục tiêu tổng quan và chuyên biệt của một chương trình đào tạo sẽ cho phép chúng ta xác định các chủ điểm nội dung kiến thức và kĩ năng mà người học cần phải lĩnh hội trong khoá học. Vậy nếu khoá học nhằm phát triển nhiều kĩ năng thì nó cũng phải bao gồm nhiều hoạt động học tập, thực hành khác nhau. Việc tổ chức của khoá học phải được thực hiện thành nhiều giai đoạn nối tiếp, thường được chia thành các học phần khác nhau (chương trình đào tạo theo tín chỉ). Cần đảm bảo tính logic của chương trình môn học, kết thúc của học phần này là cơ sở cho phép người học bắt đầu một nội dung học tập tiếp theo. Trong cùng một giai đoạn đào tạo, các kiến thức và các kĩ năng cần lĩnh hội cũng phải

    NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI v

    đảm bảo tính liên tục, phát triển và có sự tương hỗ lẫn nhau.

    Cần phải nói thêm rằng, trong một chương trình đào tạo theo đường hướng phát triển kĩ năng, người ta phải dành nhiều thời gian cho phần thực hành, rèn kỹ năng hơn là giảng dạy lí thuyết. Nhìn chung, người ta chỉ dành khoảng 30% thời gian cho dạy lí thuyết và 70% cho phần thực hành, rèn và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho người học.

    2.3.3. Xác định mục tiêu đào tạo cho từng giai đoạn cụ thể

    Trong quá trình lập kế hoạch một khoá đào tạo, người xây dựng chương trình phải xác định rõ các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn đào tạo trong tổng thể khóa học. Chẳng hạn như Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, ở trình độ Bậc 3 xác định người học “…Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm”. Mục tiêu đó được cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể trong phần dạy kĩ năng viết thư như khả năng nhận biết những nét khác biệt giữa các thể loại văn bản đơn giản (thư tín, bài thơ, bài báo, quảng cáo…) hay giữa một bức thư gửi bạn bè và một bức thư hành chính; sau đó có khả năng viết được một bức thư theo đúng hình thức và phong cách văn bản. Ứng với mỗi đơn vị học tập đều phải có ít nhất một mục tiêu cụ thể.

    Việc xác định được các mục tiêu chuyên biệt ở từng giai đoạn cho phép định hướng công tác kiểm tra-đánh giá vào đo chính xác mức độ thành thạo các kỹ năng thực hành giao tiếp ở người học.

    2.4. Áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực

    Chìa khoá thành công của phương pháp giảng dạy theo các kĩ năng là sự tham gia tích cực của người học. Để làm được điều đó, giảng viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực dựa trên hoạt động thực hành thao tác nhằm hình thành và phát triển kỹ năng thay vì những giờ dạy/học nặng tính lí thuyết (Trần Bá Hành, 2003). Giảng viên phải nắm vững các nguyên tắc và phương pháp giảng dạy để phát triển các kĩ năng ở người học thông qua việc huy động họ tham gia tích cực vào quá trình học tập. Như vậy, vai trò chính của người dạy là người thiết kế, tổ chức, hỗ trợ người học tiếp thu và làm chủ các kĩ năng nghề nghiệp.

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    73

    Số 3 – 9/2016

    • NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

    Các phương pháp giảng dạy rất đa dạng tuỳ theo các hoạt động nhằm phát triển một kĩ năng cụ thể nào đó. Đường hướng phát triển theo các kĩ năng ngôn ngữ cũng không loại trừ việc sử dụng các phương pháp truyền thống như học thuộc, làm bài tập viết tại lớp. Tuy nhiên, việc phát triển các kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu được thực hiên trên cơ sở thực hành giao tiếp trong các tình huống gần gũi với đời sống sinh hoạt và làm việc của người học cũng như thực tế xã hội. Và người dạy phải biết lựa chọn và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau theo dạng kĩ năng cần giảng dạy. Các phương pháp đó giúp người học vừa tiếp thu kiến thức, phát triển các kĩ năng mới, vừa củng cố kiến thức và kĩ năng đã học trước đó.

    Một phương pháp được khuyến khích theo đường hướng này là phân chia người học thành các nhóm kĩ năng hay còn gọi là nhóm hoạt động ngôn ngữ. Việc phân chia nhóm không dựa theo tiêu chí thời điểm bắt đầu học ngoại ngữ mà theo nhu cầu của họ đối với các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ đó (Nghe, Đọc, Nói, Viết). Cách sắp xếp này đã tính đến sự khác biệt về trình độ ngôn ngữ nên cho phép người học có thể phát triển các kĩ năng giao tiếp cần tăng cường, hoàn thiện hơn. Đương nhiên, người học hoàn toàn có thể chuyển từ một nhóm kĩ năng này sang một nhóm khác tuỳ thuộc vào những tiến bộ cũng như nhu cầu của bản thân. Đây chính là bước đột phá của phương pháp giảng dạy theo các kĩ năng vì nó cho phép phân chia người học một cách hợp lí nhất theo bốn kĩ năng giao tiếp cơ bản. Như vậy, mỗi nhóm đều mang những nét đặc thù nên các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cho từng nhóm cũng phải mang tính chuyên biệt cao.

    2.5. Kiểm tra-đánh giá hướng vào kỹ năng

    Theo quan điểm giáo học pháp hiện đại như các tác giả Tardif (2006), Bourguignon (2007), công tác kiểm tra-đánh giá là một bộ phận không thể tách rời quá trình đào tạo. Mục tiêu của công tác này là đo được mức độ đạt được so với các mục tiêu đề ra đối với một học phần/khóa học. Hoạt động kiểm tra-đánh giá diễn ra từ trước (test diagnostique: kiểm tra chẩn đoán), trong (évaluation formative: đánh giá quá trình) và vào cuối quá trình đào tạo (évaluation normative: đánh giá tổng kết). Một bài kiểm tra-đánh giá được coi là “tốt”, “chuẩn” khi đáp ứng được các

    tiêu chí: khách quan, hiệu lực và tin cậy cao (Nguyễn Quang Thuấn, 2011).

    Trong giảng dạy ngoại ngữ cần tập trung đánh giá trình độ kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ của người học trong các hoàn cảnh giao tiếp đa dạng. Đây là những hoạt động ngôn ngữ có thể quan sát, đánh giá bằng những tiêu chí cụ thể trong thực tế giao tiếp (nội dung, logic, ngữ âm, ngữ điệu, từ vựng, ngữ pháp, chiến lược giao tiếp…). Có rất nhiều công cụ kiểm tra-đánh giá khác nhau phù hợp với từng kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết), cần lựa chọn, kết hợp linh hoạt các công cụ kiểm tra-đánh giá của người dạy.

    Phương pháp kiểm tra-đánh giá này đòi hỏi người học sử dụng tổng hợp, linh hoạt và sáng tạo các kiến thức đã học về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, khả năng tương tác bằng ngoại ngữ, kỹ năng ứng xử phù hợp với văn hóa đích… để thực hiện thành công một tình huống giao tiếp cụ thể bằng ngoại ngữ (đọc hiểu, nghe hiểu, diễn đạt viết hay nói, dịch viết, dịch nói…).

    Để đánh giá hiệu quả của một chương trình đào tạo, người ta chắc chắn cần phải đưa nó vào dạy thử nghiệm, phân tích các thông tin phản hồi từ các bên có liên quan (nhà tuyển dụng, người học, người dạy,…) (Scallon G., 2005). Ngoài ra, người ta cũng cần phải tính đến các điều kiện cho phép thực thi việc giảng dạy như đội ngũ giảng viên, giáo trình, trang thiết bị dạy học đi kèm… Một chương trình đào tạo được xây dựng trên những căn cứ khoa học như đã trình bày trên sẽ đáp ứng tốt các mục tiêu đào tạo đề ra và cho phép phát triển các kĩ năng nghề nghiệp ở người được đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

    3. KẾT LUẬN

    Đào tạo đại học chuẩn bị cho người học bước vào thị trường lao động bằng cách trang bị cho họ những kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp cần thiết liên quan đến các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp sau này. Đường hướng phát triển theo kĩ năng ra đời đáp ứng đòi hỏi về đổi mới phương pháp giảng dạy và thực hiện chức năng của đào tạo đại học nói chung. Để thích ứng với những yêu cầu đó, giảng dạy đại học đã, đang và tiếp tục có nhiều thay đổi về nội dung, chương trình, về vai trò của người dạy và người học trong lớp, về phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của CNTT, đổi mới công tác kiểm tra-đánh giá hướng vào các kỹ năng… Tất cả những thay đổi đó đều nhằm

    74

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 3 – 9/2016

       

    NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI v

    đến một mục tiêu là hình thành, phát triển các kĩ năng nghề nghiệp cần thiết cho người học, hành trang không thể thiếu để chinh phục thị trường lao động sau khi ra trường./.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Bộ Giáo dục-Đào tạo (2010), Hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo, Hà Nội.
    1. Nguyễn Đức Chính (2008), Thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
    1. Trần Bá Hành (2003), “Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực”, Tạp chí Giáo dục, Số 32.
    1. Nguyễn Kỳ (1996), Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, Trường Cán bộ quản lý giáo dục-đào tạo I.
    1. Scallon G. (2005), Approche par compétences et Évaluation, Montréal.
    1. Nguyễn Thanh Sơn (2014), “ Phát triển chương trình đào tạo đại học theo định hướng chuẩn đầu ra”, Bản tin Khoa học và Giáo dục.
    1. Nguyễn Quang Thuấn (2011), “Chuẩn đánh giá trong dạy và học ngoại ngữ”, Tạp chí Khoa học (2), Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.115-123.
    1. Romainville M. (2012), Approche par compétences à l’université, Cours de formation initiale à l’Université Saint-Joseph, Beyrouth.
    1. Tazek Ghazel (2012), Approche par compétences: définition et principes, In Tazek Ghazel.

    REQUIREMENTS FOR THE UNDERGRADUATE TEACHING

    UNDER THE SKILLS DEVELOPMENT APPROACH

    HOANG VAN TIEN

    Abstract: The skills development approach is born to meet rigorous and unstable requirements of the labor market. The undergraduate teaching has to renovate permanently content, programs and teaching methods to make students who have enought knowledge and professional skills when they have graduated.

    Keywords: programs, undergraduate teaching, skills development approach, skills, active teaching methods

    Ngày nhận: 05/9/2016

    Ngày phản biện: 08/9/2016

    Ngày duyệt đăng: 14/9/2016

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    75

    Số 3 – 9/2016


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 8 CÁCH QUẢN LÍ NHÂN VIÊN HIỆU QUẢ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-GI%C3%81O-D%E1%BB%A4C-H%C3%80NH-VI-V%C4%82N-H%C3%93A-TRONG-GIAO-TI%E1%BA%BEP-%E1%BB%A8NG-X%E1%BB%AC-CHO-TR%E1%BA%BA-6-11-tu%E1%BB%95i-TRONG-GIA-%C4%90%C3%8CNH-HI%E1%BB%86N-NAY.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    ThS. NguyÔn Ph-¬ng Lan1

    TÓM TẮT

    Giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 – 11 tuổi là vô cùng quan trọng và cần thiết vì đây là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành phát triển toàn diện và bền vững nhân cách của mỗi cá nhân. Cùng với nhà trường và xã hội, gia đình cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ để giúp nhân cách các em phát triển. Thường xuyên tổ chức các hoạt động, rèn luyện hành vi và thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình trẻ sẽ lĩnh hội được các chuẩn mực hành vi và có thói quen hành vi đúng đắn.

    Từ khóa: Biện pháp, trẻ, giáo dục, hành vi văn hoá, thói quen hành vi văn hóa.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Lứa tuổi tiểu học là giai đoạn đầu của tuổi học sinh, là thời kỳ thuận lợi nhất cho việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, bởi lẽ các phẩm chất nhân cách của cá nhân đều đƣợc hình thành từ khi còn nhỏ và đây chính là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành phát triển toàn diện và bền vững nhân cách của mỗi cá nhân. Cùng với nhà trƣờng và xã hội, gia đình có trách nhiệm chăm lo tới giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Tuy nhiên, trong thực tiễn việc hình thành thói quen nề nếp, lối sống có văn hoá cho trẻ không phải lúc nào cũng đạt đƣợc nhƣ mong muốn của nhà giáo dục. Vì nƣớc ta đang đổi mới từng ngày dƣới tác động của nền kinh tế thị trƣờng, hàng loạt các chính sách mở của đang đƣợc thực hiện với mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh nhƣ vậy, chúng ta chịu sự tác động của thời đại trong sự hòa nhập với nền văn minh nhân loại, nó sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến các định hƣớng giá trị của chúng ta. Do đó, quan tâm đến việc vun đắp, giáo dục hành vi văn hóa trong giao tiếp ứng xử cho trẻ nhất là ở lứa tuổi tiểu học ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng, đây là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.

    2. THỰC TRẠNG

    Để xác định các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình, chúng tôi đã tiến hành điều tra 88 phụ huynh (44 nam và 44 nữ) trên địa bàn thành phố Thanh Hoá.

    Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về giáo dục HVVH trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình.

    • Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

    26

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Giới tính

    Tổng

    TT

    Mức độ cần thiết

    Nam

    Nữ

    SLYK

    ( %)

    SLYK

    (%)

    SLYK

    (%)

    1

    Rất cần thiết

    23

    52

    24

    54,5

    47

    53,4

    2

    Cần thiết

    18

    41

    19

    43,2

    37

    42,1

    3

    Bình thƣờng

    3

    7

    1

    2,3

    4

    4,5

    4

    Không cần thiết

    0

    0

    0

    0

    0

    Qua bảng số liệu cho thấy: Số lƣợng ý kiến của các bậc cha mẹ cho rằng việc giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình là “rất cần thiết” chiếm tỉ lệ cao nhất (53,4% tổng số ý kiến trả lời), số ý kiến trả lời “cần thiết” chiếm 42,1% và số ý kiến cho rằng công việc này bình thƣờng chiếm tỉ lệ rất ít 4,5% và không có ý kiến nào cho rằng, công việc này là không cần thiết. Nhƣ vậy, hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hình thành thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử văn hoá cho con trong độ tuổi này. Một số ít cha mẹ trả lời bình thƣờng là do họ chƣa thực sự quan tâm đến việc giáo dục, uốn nắn con cái trong độ tuổi này và họ quá đề cao đời sống vật chất, ít chú ý tới đời sống tinh thần của trẻ.

    Để hiểu rõ hơn sự quan tâm của các bậc cha mẹ đối việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hƣởng, thời gian cha mẹ dành cho con cái…

    Bảng 2: Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục trong gia đình của các bậc cha mẹ.

    Giới tính

    Tổng

     

    TT

    Biện pháp giáo dục

    Nam

    Nữ

     
     

    ĐTB

    ĐTB

    ĐTB

     
     

    2.1

    Khuyên bảo, giảng giải, nhắc nhở

    2,80

    2,85

    2,82

     
     

    2.2

    Khen thƣởng, động viên, khích lệ

    2,86

    2,85

    2,85

     
     

    2.3

    Nghiêm khắc, trách phạt, kỷ luật

    2,59

    2,48

    2,54

     
     

    2.4

    Nói qua loa

    1,24

    1,28

    1,26

     
     

    2.5

    Mắng chửi thậm tệ

    1,19

    1,20

    1,20

     
     

    2.6

    Tổ chức các cuộc thảo luận trong gia đình

    2,55

    2,39

    2,47

     
     

    2.7

    Giúp các con biết cách xử lí các tình huống

    2,6

    2,39

    2,5

     

    ứng xử với bản thân và mọi ngƣời

     
     

    2.8

    Cha mẹ làm gƣơng cho con

    2,82

    2,85

    2,83

     
     

    2.9

    Giao công việc và kiểm tra hàng ngày

    2,6

    2,71

    2,65

     
     

    2.10

    Tuỳ theo sở thích của trẻ để trẻ tự do

    1,42

    1,51

    1,46

     
     

    27

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Qua kết quả ở Bảng 2, chúng tôi có một số nhận xét sau: Các biện pháp: 2.1; 2.2; 2.3; 2.4; 2.5; 2.6; 2.7; 2.8; 2.9 có ĐTB từ 2,21 đến 2,86 chứng tỏ cha mẹ đã chú ý sử dụng ở mức độ thƣờng xuyên.

    Biện pháp mà các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhất là biện pháp “Khen thƣởng, động viên, khích lệ” và biện pháp “Cha mẹ làm gƣơng cho con” có ĐTB đạt 2,85. Trong độ tuổi này trẻ chƣa có khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá các hành động, hành vi của bản thân và ngƣời lớn, trẻ thiên về bắt chƣớc và làm theo. Do đó, cha mẹ luôn uốn nắn mình, làm gƣơng cho con cái là rất cần thiết. Việc cha mẹ sử dụng các biện pháp này thƣờng xuyên chứng tỏ họ đã ý thức đƣợc tính chất giáo dục bằng sự làm gƣơng trong gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đến trẻ và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. Khen thƣởng, động viên khuyến khích là biện pháp uốn nắn hành vi của trẻ, giúp trẻ phân biệt cái tốt, cái xấu, cái đƣợc phép và không đƣợc phép rất hiệu quả. Còn biện pháp “mắng chửi thậm tệ” các bậc cha mẹ không hoặc rất ít sử dụng. ĐTB chỉ 1.20 thấp nhất chứng tỏ các bậc cha mẹ không sử dụng hoặc rất ít khi sử dụng. Các bậc cha mẹ nhận thức rất rõ nếu thƣờng xuyên chửi mắng con sẽ làm trẻ bị tổn thƣơng về mặt tinh thần và làm cho trẻ trở nên bƣớng bỉnh hơn, chống đối, cãi lại cha mẹ và ảnh hƣởng đến cách cƣ xử của trẻ với mọi ngƣời…

    Từ kết quả điều tra thực trạng cùng với quan sát cuộc sống của một số gia đình, phỏng vấn cha mẹ có con trong độ tuổi, nghiên cứu, trao đổi với các chuyên gia về giáo dục gia đình, các giảng viên ở trƣờng ĐH… Chúng tôi rút ra một số nhận xét về về hành vi văn hoá của trẻ 6-11 tuổi trong gia đình nhƣ sau:

    Phần lớn trẻ đã bắt đầu nhận thức đƣợc những yêu cầu cần phải thực hiện theo đúng chuẩn mực, nhƣng đó chỉ là những hành vi đơn giản và mang tính bắt buộc cao. Các bậc cha mẹ đã nhận thức đƣợc sự cần thiết phải hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp tốt trong gia đình. Họ đã tích cực tổ chức cuộc sống nề nếp ngăn nắp và tạo cho các em những mối quan hệ trong gia đình theo yêu cầu chuẩn mực văn hoá, đạo đức xã hội. Nhiều bậc bậc cha mẹ ý thức rất rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Họ đã áp dụng tốt những mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em độ tuổi tiểu học… Nhƣng nhìn chung, các bậc cha mẹ tập chung đầu tƣ nhiều cho con học tốt các môn văn hoá, mong muốn con đỗ đạt cao còn vấn đề giáo dục đạo đức lối sống, quan hệ ứng xử hàng ngày cho trẻ còn coi nhẹ và còn lúng túng trong việc xử dụng các biện pháp giáo dục con trong gia đình.

    Một trong những vấn đề mà các bậc cha mẹ còn hạn chế trong giáo dục trẻ hiện nay là:

    • Họ tạo mọi điều kiện vật chất tốt nhất cho cuộc sống, sinh hoạt của con nhƣng chƣa có sự theo dõi, kiểm soát chặt chẽ. Hình thức này thƣờng gặp ở các gia đình kinh doanh, buôn bán hoặc ở những gia đình bố mẹ làm ở các công ty lớn yêu cầu công việc cao.

    28

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    • Nhiều cha mẹ giáo dục con theo kiểu hình thức, tự nhiên, khi con bắt đầu có những biểu hiện hành vi sai lệch mới vội vàng tìm cách ngăn ngừa.
    • Một bộ phận cha mẹ quá đề cao giáo dục nhà trƣờng, gần nhƣ khoán trắng con cho nhà trƣờng còn sự theo dõi của gia đình chỉ là thứ yếu…

    Sở dĩ các bậc cha mẹ còn tồn tại những vấn đề trên là do ảnh hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng, chính sách mở cửa giao lƣu kinh tế, văn hoá trong giai đoạn hiện nay đã có những tác động đến nhận thức và hành vi của trẻ, cũng nhƣ của cha mẹ học sinh. Thời gian dành cho trẻ quá ít nên việc rèn luyện, hƣớng dẫn cho con không thƣờng xuyên trong khi đó hàng ngày, hàng giờ có nhiều hành vi, lối sống từ bên ngoài tác động vào trẻ làm cho các em bắt chƣớc và thay đổi hành vi của mình. Phần lớn các cha mẹ kiến thức hiểu biết về tâm sinh lí của con chƣa đầy đủ nên cách giáo dục con còn áp đặt, phiến diện một chiều, nhiều cha mẹ đặt lợi ích của bản thân nhiều hơn là mong muốn phát triển con cái theo đúng nhu cầu và sự phát triển của trẻ. Trong khi đó, sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và các tổ chức xã hội chƣa thực sự có sự thống nhất chặt chẽ.

    3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HOÁ CHO TRẺ TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    Để xác định biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, chúng tôi dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục, xuất phát từ cơ sở lí luận tâm lí, ý thức, nhân cách đƣợc hình thành và phát triển thông qua hoạt động, từ kết quả thực tiễn nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp nhƣ sau:

    3.1. Xây dựng ý thức hành vi văn hoá cho trẻ thông qua việc bồi dưỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình nói chung và nâng cao nhận thức cho cha mẹ về nhiệm vụ, vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Bồi dƣỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình cho các bậc cha mẹ để họ nắm đƣợc một số kiến thức cơ bản nhất trong giáo dục con cái. Biết cách xây dựng chƣơng trình, kế hoạch và nội dung giáo dục con cái phù hợp với từng độ tuổi.

    Yêu cầu

    Các kiến thức đƣa ra, cha mẹ có thể hiểu và áp dụng trong giáo dục con cái mọi nơi, mọi tình huống ở gia đình. Các bậc cha mẹ nhận thức đúng đắn trách nhiệm của mình trong giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Nhận thức đƣợc sự cần thiết, cũng nhƣ tầm quan trọng của việc dạy dỗ, giáo dục con cái…

    Mục tiêu nội dung giáo dục phù hợp với sự phát triển chung của lứa tuổi, mục tiêu của giáo dục tiểu học.

    29

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Cách thức tổ chức

    Các kiến thức về giáo dục trẻ em trong gia đình có thể chuyển tải đến cha mẹ dƣới các hình thức: Tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện, trao đổi và phổ biến các kinh nghiệm giáo dục gia đình cho các bậc cha mẹ. Các đối tƣợng tham gia tuyên truyền và tổ chức có: Nhà trƣờng, Hội phụ nữ xã, phƣờng, thành phố, các tổ chức xã hội khác…

    Các buổi hội thảo, tuyên truyền, tập huấn, tập trung vào các nội dung:

    • Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giáo dục gia đình, các điều kiện cần thiết cho giáo dục gia đình, những nội dung cơ bản của giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, một số phƣơng pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình.
    • Giáo dục cho trẻ biết cách quan tâm đến mọi ngƣời, phát triển tính độc lập, tự chủ và kỹ năng khắc phục khó khăn để vƣơn lên hoàn thiện nhân cách.
    • Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ vì cái đẹp tồn tại trong hành vi văn hoá của con ngƣời…
    • Cung cấp một số kiến thức về sự phát triển tâm sinh lí trẻ em ở từng độ tuổi để cha mẹ thực sự hiểu trẻ.
    • Các kiến thức về khoa học giáo dục con cái có thể cung cấp đến cha mẹ thông qua các kênh thông tin: Truyền hình, internet, sách, báo… Xây dựng giáo trình, tài liệu về giáo dục gia đình có thể cung cấp cho các bậc cha mẹ tham khảo và vận dụng.
    • Cung cấp cho các gia đình nội dung giáo dục hành vi văn hoá, những chuẩn mực hành vi chung.

    Công tác tuyên truyền giáo dục này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, định kỳ theo quy định của xã, phƣờng nhân ngày 8/3; ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm.

    3.2. Cha mẹ tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình, để giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn mực hành vi văn hoá theo yêu cầu.

    Hoạt động, giao lƣu là con đƣờng cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời. Qua hoạt động, giao lƣu trẻ biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của bản thân và phát triển năng lực tinh thần và biểu hiện các hành vi ra bên ngoài.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Qua tổ chức các hoạt động cho trẻ, giúp các em biết xác định mục tiêu, kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập và rèn luyện mà gia đình đã vạch ra.

    Cha mẹ cần bám sát cuộc sống của trẻ để phát hiện ra những hành động, thói quen sinh hoạt của trẻ, trên cơ sở đó thiết kế và tổ chức lại các hoạt động của trẻ cho phù hợp với chuẩn mực hành vi văn hoá.

    Trẻ tích cực tham gia, thực hiện tốt các loại hình hoạt động giúp trẻ có đƣợc những tri thức về kỹ năng, thao tác thực hành. Đồng thời giúp trẻ hiểu thêm các chuẩn mực hành vi văn hoá, hình thành năng lực định hƣớng giá trị trong cuộc sống, biết phân biệt cái đúng –

    30

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    cái sai, cái thiện – cái ác… bồi dƣỡng cho trẻ những cảm xúc, tình cảm tích cực. Xây dựng những nề nếp, thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi trong sinh hoạt hàng ngày.

    Yêu cầu

    Các hoạt động phải tạo đƣợc hứng thú, hấp dẫn và cha mẹ cần phải tổ chức phối

    kết hợp nhiều loại hình hoạt động nhƣ giải trí, lao động, học tập…

    Các hoạt động phải mang tính sáng tạo, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí lứa

    tuổi các em…

    Cách thức tổ chức

    Khi tổ chức thực hiện các hoạt động cho con cái trong gia đình đạt kết quả cao, cha mẹ cần nắm rõ quy trình giáo dục HVVH cho trẻ:

    • Cha mẹ cung cấp cho trẻ những biểu tƣợng về HVVH bằng cách sử dụng hình thức kể chuyện, hƣớng dẫn, quan sát và tổ chức đàm thoại trong gia đình

    Biểu diễn HVVH mẫu và tổ chức cho trẻ làm theo mẫu hành vi.

    Ví dụ: Chuẩn mực HVVH thể hiện sự chăm sóc ông bà, cha mẹ bao gồm những việc cụ thể:

    • Hàng ngày làm vui lòng ông bà, cha mẹ bằng việc đi xin phép, về chào hỏi, lễ phép, vâng lời, lấy tăm, rót nƣớc mời ông bà…
    • Sẵn sàng giúp đỡ ông bà, cha mẹ làm những việc phù hợp
    • Tổ chức cho trẻ thực hiện hành vi văn hoá trong đời sống hàng ngày
    • Lặp lại những hành vi đã trải nghiệm có ý nghĩa để trở thành nề nếp, thói quen trong cuộc sống và quan hệ hàng ngày.

    Tổ chức các hoạt động sao cho cân bằng, trong giáo dục trí tuệ, đức, thể, mỹ…

    trong cuộc sống gia đình.

    3.3. Cha mẹ thường xuyên rèn luyện thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho con

    Thói quen hành vi văn hoá bao gồm sự lễ phép với mọi ngƣời, thái độ ân cần tôn trọng ngƣời lớn tuổi, ngôn ngữ đúng đắn, dáng điệu nghiêm chỉnh… mỗi nét tính cách bền vững đều đƣợc biểu hiện trong những thói quen tƣơng ứng. Song thói quen sẽ yếu đi và mất đi khi điều kiện thay đổi. Do đó, cần phải giáo dục thói quen, HVVH một cách liên tục, thƣờng xuyên.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Tất cả những thói quen, HVVH, từ cử chỉ, hành động ổn định trở thành nhu cầu của con ngƣời, nếu nhu cầu đƣợc thoả mãn, con ngƣời cảm thấy vui vẻ, dần dần sẽ mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Để đạt đƣợc sự ổn định, bền vững cần tập luyện thƣờng xuyên, liên tục, trong đó cha mẹ cần:

    31

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    • Tổ chức cho con lặp đi, lặp lại thƣờng xuyên những hành động, cử chỉ, hành vi phù hợp với chuẩn mực.
    • Cha mẹ giúp con hình dung đƣợc những thao tác cụ thể và tiến hành thao tác đó một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
    • Tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện và thƣờng xuyên giúp đỡ trẻ trong quá trình luyện tập.

    Yêu cầu

    Luyện tập thói quen hành vi văn hoá càng phong phú, đa dạng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khác nhau thì giá trị giáo dục càng cao. Không nên gò ép, trẻ, mà nên tạo ra nhiều tình huống phong phú, cho trẻ cơ hội tiếp xúc, bộc lộ càng tốt. Cha mẹ cần theo dõi, kiểm tra nhắc nhở trẻ kịp thời sửa lỗi.

    Luyện tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với sự vận động, phát triển tâm sinh lí lứa tuổi. Cha mẹ cần kiên trì, không nóng vội, phải làm đi làm lại nhiều lần để củng cố hoàn thiện trở thành thói quen hành vi.

    Cách thức tổ chức

    Giáo dục thói quen hành vi cho trẻ, cha mẹ cần đi từ các bƣớc sau:

    • Bƣớc thứ nhất: Tập làm, nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng cụ thể để thực hiện các thói quen đạo đức, thói quen văn hoá.
    • Làm mẫu
    • Kèm cặp
    • Chỉ dẫn
    • Bƣớc thứ hai: Khích lệ, động viên thƣờng xuyên để tạo hứng thú, xây dựng tính tự giác, tích cực cho trẻ thực hiện HVVH . Ở bƣớc này cha mẹ có thể:
    • Nêu gƣơng
    • Nhắc nhở
    • Quan sát
    • Bƣớc ba: Rèn luyện, ôn tập: Để hình thành thói quen, HVVH một cách bền vững, chắc chắn.
    • Đúng tình huống
    • Nhận xét

    4. KẾT LUẬN

    Giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ là một quá trình lân dài, bền bỉ không thể nóng vội vì hành vi của trẻ chƣa mang tính ổn định cao mà phải tạo điều kiện cho trẻ tham gia rèn luyện củng cố thƣờng xuyên trong một thời gian nhất định thì mới có hiệu quả.

    32

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế việc sử dụng biện pháp giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình cho thấy: Các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ nhƣng vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc sử dụng các biện pháp giáo dục, việc dành thời gian cho trẻ, phƣơng pháp giáo dục của các bậc cha mẹ đều xuất phát từ những kinh nghiệm rời rạc. Vì vậy hiệu quả chƣa cao, để giúp các bậc cha mẹ có đƣợc các biện pháp giáo dục thích hợp, góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng đắn vai trò trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái trƣởng thành và việc làm đầu tiên đối với mỗi ngƣời làm cha, mẹ là nâng cao hiểu biết về giáo dục gia đình nói chung và những kiến thức về giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Giáo dục con cái cần xuất phát từ lợi ích và quy luật phát triển tự nhiên về tâm sinh lí của trẻ, cũng nhƣ xuất phát từ thực tế cuộc sống, hoàn cảnh hiện tại của gia đình để rèn luyện những thói quen, hành vi văn hoá cho con theo chuẩn mực.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phạm Khắc Chƣơng, Nguyễn Thị Bích Hồng. Giáo dục gia đình, NXBGD 1999.
    1. Trần Tuyết Oanh. Giáo dục học, tập 2, NBĐHSP, 2008).
    1. Nguyễn Thanh Bình. Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con cái ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay. NXBĐHQG, 2001.
    1. Một số biện pháp giúp cha mẹ giáo dục hành vi đạo đức cho con cái trong gia đình theo chương trình lớp 1, 2 bậc tiểu học. Luận án thạc sĩ GDH, 2003.

    MEASURES IN EDUCATINY CULTURAL BECHAVIOURS IN COMMUNICATION FOR 6 – 11 YEAR OLD CHILDREN

    Nguyen Thi Phuong Lan

    ABSTRACT

    The cultural behavior education for 6-11 year old children is necessary and crucial as this is the first foundation for the for mativi, and comprehensive and sustainable development of each individuals. The parents need to determine their responsibilities and roles to cooperate with schools and society to educate the cultural behaviors for their children during this developement stage. To orgauize activities and pratise habits and cultural behaviours in communication more regularly for children in cach family that cluldren can perceive standardized habits and cultural behaviours.

    Keywords: measures, chilren, edcation, cultural behaviours, culturally habitual behaviours.

    Ngƣời phản biện: PGS.TS. Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 02/11/2013; Ngày

    thông qua phản biện: 29/11/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

    33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: QUY ĐỊNH ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-k%E1%BB%B9-n%C4%83ng-thuy%E1%BA%BFt-tr%C3%ACnh-c%E1%BB%A7a-sinh-vi%C3%AAn-s%C6%B0-ph%E1%BA%A1m-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-%C4%90%E1%BB%93ng-Nai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦA

    SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI

    Nguyễn Thị Thu Trang1

    TÓM TẮT

    Kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng cần thiết của sinh viên nói chung và đối với sinh viên sư phạm nói riêng. Theo kết quả điều tra 200 sinh viên K42 của khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non trường Đại học Đồng Nai cho thấy kỹ năng thuyết trình của sinh viên ở mức độ trung bình và yếu. Nguyên nhân chủ yếu là do bản thân sinh viên chưa tích cực, chủ động trong việc rèn luyện kỹ năng này.

    Từ khóa: Sinh viên, thuyết trình,  kỹ năng thuyết trình, rèn luyện kỹ năng

     

    thuyết trình

    1. Đặt vấn đề

    Kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng rất cần thiết để đem lại sự thành công cho mỗi người trong công việc học tập, nghiên cứu cũng như các hoạt động, giao tiếp xã hội. “Kỹ năng thuyết trình gây được sự chú ý trong giáo dục đại học và kinh doanh, vì nó chính là một trong các năng lực cốt lõi của một chuyên gia” [1].

    Công trình của Lytaeva, M. A., và Talalakina, E. V. [2] đã chỉ ra rằng kỹ năng thuyết trình cần có sự kết hợp việc đọc, viết và trình bày một cách khoa học. Trước tiên, sinh viên cần phải có kỹ năng đọc như lựa chọn thông tin và giải thích thông tin một cách tường minh. Tiếp theo, khi viết, sinh viên có kỹ năng xử lý thông tin, ghi chép, tổng hợp và khái quát. Sau khi làm chủ được hai giai đoạn đầu tiên, sinh viên có thể học cách trình bày kết quả bài viết của mình bằng miệng. Kỹ năng thuyết trình là sự kết hợp của kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng lập luận và kỹ năng trình bày. Do đó, qua việc rèn luyện kỹ năng này sinh viên sẽ có khả năng tư duy logic, lập

    luận chặt chẽ, tổng hợp, khái quát vấn đề và sáng tạo. Rèn cho sinh viên có khả năng nói lưu loát, thuyết phục và tự tin. Công trình của De Grez, L., Valcke, M., và Roozen, I. [3] nghiên cứu các cách thức và phương pháp giảng dạy nhằm phát triển kỹ năng thuyết trình cho sinh viên bằng cách phát triển các kỹ năng phản xạ trong môi trường học tập trực tuyến, thiết kế và phát triển các bài giảng đa phương tiện chuẩn, các hoạt động thực tế và các phản hồi của sinh viên.

    Nghiên cứu của Hu nh Văn Sơn (2012) [4] đã đề cập đến thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên đại học sư phạm. Nghiên cứu đã chỉ ra 20 kỹ năng mềm, như: kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng hoạch định mục tiêu cuộc đời, kỹ năng thuyết trình… Kết quả cho thấy sinh viên khá thuần thục ở một vài kỹ năng nhưng đa phần sinh viên còn khó khăn, lúng túng khi thực hành các kỹ năng mềm. Nghiên cứu đã chỉ ra kỹ năng cần thiết trong quá trình thuyết trình đó là kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tổ chức: n m rõ cấu trúc của một bài

    1Trường Đại học Đồng Nai

    Email: [email protected]

    9

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    thuyết trình để tổ chức s p xếp một bài thuyết trình logic, rõ ràng và mang tính thuyết phục cao; tư duy phản biện, khả năng thiết kế và sử dụng những dụng cụ trực quan hỗ trợ cho bài thuyết trình; khả năng sử dụng ngôn ngữ hình thể trong khi thuyết trình. Đặc biệt nghiên cứu đã chỉ ra những lỗi mà sinh viên thường m c phải khi thuyết trình đó là: tổ chức một bài thuyết trình; thiết kế và sử dụng dụng cụ trực quan hỗ trợ cho bài thuyết trình và khả năng sử dụng ngôn ngữ hình thể còn rất hạn chế.

    Như vậy, các nghiên cứu trên đã đề cập đến kỹ năng thuyết trình nhưng chưa đưa ra được những tiêu chí cụ thể để đánh giá. Trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình và mức độ đạt được các tiêu chí đó ở sinh viên. Mẫu nghiên cứu là 200 sinh viên K42 của khoa Sư

    phạm Tiểu học – Mầm non trường Đại học Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ đạt được các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai còn yếu. Đa phần sinh viên chưa tự tin khi thuyết trình. Ngôn ngữ trình bày không có điểm nhấn, thiếu tính thuyết phục. Trên cơ sở những hạn chế trên, chúng tôi đưa ra những biện pháp hợp lý và khả thi giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng thuyết trình một cách tốt nhất.

    2. Nội dung

    2.1. Nhận thức của sinh viên về vai trò của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình

    Với nội dung này, sinh viên đã nhận thức được ý nghĩa quan trọng và cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.

    Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về vai trò của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình

    STT

    Nhận thức của sinh viên về vai

    Tổng số

    trò của kỹ năng thuyết trình

    Số lượng

    %

    1

    Rất cần thiết

    160

    80

    2

    Cần thiết

    40

    20

    3

    Ít cần thiết

    0

    0

    4

    Không cần thiết

    0

    0

    Qua kết quả ở bảng trên cho thấy:

    ngùng,  xấu  hổ  nữa”.  Còn  sinh  viên

    Tất cả sinh viên đều nhận thức được sự

    Nguyễn Thu L. cho rằng: “Sau này trở

    cần  thiết  của  kỹ  năng  thuyết  trình.

    thành  một  giáo  viên,  kỹ  năng  thuyết

    Trong đó có 80% sinh viên cho rằng là

    trình sẽ giúp cho người giáo viên giảng

    rất cần thiết, còn lại là 20% sinh viên

    bài hay hơn và hấp dẫn hơn”. Như vậy

    cho rằng cần thiết. Qua trao đổi, sinh

    sự cần thiết của kỹ năng thuyết trình mà

    viên Nguyễn Văn Q. cho biết: “Kỹ năng

    sinh  viên  đưa  ra  không  chỉ  giúp  cho

    này rất cần thiết với em, vì nếu em có

    hoạt động giao tiếp mà còn giúp cho

    được kỹ năng này thì em sẽ tự tin đứng

    hoạt động giảng dạy sau này.

    trước bạn  bè  để nói,  không còn ngại

    10

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    2.2. Mức độ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trước khi rèn luyện

    • nội dung này, chúng tôi cho sinh viên tự đánh giá mức độ về kỹ năng

    thuyết trình của bản thân. Ngoài sự tự đánh giá của sinh viên, giáo viên đánh giá kỹ năng thuyết trình qua sản phẩm của sinh viên với các tiêu chí ở bảng 2.

    Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá sản phẩm thuyết trình

    STT

    Nội dung, tiêu chí đánh giá sản phẩm

    Điểm tối

    Điểm

    đa

    thực tế

    1

    Giới thiệu bản thân (họ tên, khóa/đơn vị) và chủ đề bài

    10

    thi nói/thuyết trình

    2

    Nội dung bài thi nói/thuyết trình (có tính khoa học, giáo

    25

    dục, cấu trúc logic, lập luận chặt chẽ…)

    3

    Ngôn ngữ nói/thuyết trình (âm lượng, kiểm soát tốc độ,

    30

    điểm nhấn, phát âm chuẩn…)

    4

    Trang phục và ngôn ngữ cơ thể (ánh m t, cử chỉ, biểu lộ

    25

    cảm xúc, sự di chuyển…)

    5

    Phương pháp thuyết trình (kết hợp sử dụng phương tiện,

    10

    hình ảnh…)

    Tổng điểm (tính theo thang điểm 100, lấy tổng số điểm chia

    100

    cho các nội dung và làm tròn đến hai số thập phân)

    Kết quả tự đánh giá của sinh viên và đánh giá của giáo viên về kỹ năng thuyết trình được thể hiện ở bảng 3.

    Bảng 3: Mức độ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trước khi rèn luyện

    STT

    Mức độ kỹ năng thuyết trình

    Sinh viên tự

    Đánh giá của giáo

    của sinh viên trước khi rèn

    đánh giá

    viên

    luyện

    SL

    %

    SL

    %

    1

    Rất tốt

    2

    1,0

    0

    0,0

    2

    Tốt

    4

    2,0

    0

    0,0

    3

    Khá

    42

    21,0

    35

    17,5

    4

    Trung bình

    57

    28,5

    43

    21,5

    5

    Yếu

    95

    47,5

    122

    61,0

    Kết quả bảng 3 cho thấy, kỹ năng

    giáo viên đánh giá là 0%; sinh viên tự

    thuyết trình của sinh viên là chưa tốt.

    đánh giá ở mức Tốt là 2,0%, còn giáo

    Tuy nhiên đánh giá về kỹ năng thuyết

    viên đánh giá là 0%; mức độ Khá sinh

    trình của sinh viên cao hơn so với đánh

    viên tự đánh giá là 21%, trong khi đó

    giá của giáo viên. Cụ thể: sinh viên tự

    giáo viên đánh giá các em đạt ở mức

    đánh giá ở mức Rất tốt là 1,0%, còn

    này là 17,5%; đánh giá ở  mức độ Trung

    11

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    bình thì sinh viên tự đánh giá là 28,5%,

    cho biết: “Em chưa bao giờ đứng lên

    giáo viên đánh giá là 21,5%; và ở mức

    trước lớp để thuyết trình nên em run

    độ  Yếu  thì  sinh  viên  tự  đánh  giá  là

    l m, không biết phải thể hiện như thế

    47,5%, trong khi đó con số này ở giáo

    nào nữa”. Qua đây cho thấy, kỹ năng

    viên là khá cao 61,0%. Qua quan sát các

    này của các em còn rất hạn chế.

    em thuyết trình, chúng tôi nhận thấy đa

    2.3. Mức độ biểu hiện các kỹ năng

    phần các em còn yếu kỹ năng này. Nội

    thuyết trình của sinh viên

    dung  thuyết  trình  thiếu  sâu  s c,  khả

    2.3.1. Mức độ đạt được các tiêu chí

    năng lập luận chưa chặt chẽ và không

    trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    gây ấn tượng, bài viết lan man, không

    Ở nội dung này, chúng tôi đánh giá

    có trọng tâm. Phong cách trình bày thì

    kỹ năng thuyết trình của sinh viên theo

    lúng túng, cứng nh c, thiếu tự tin. Ngôn

    những  tiêu  chí  như:  nội  dung  thuyết

    ngữ chưa lưu loát, thiếu ngữ điệu, giọng

    trình,  ngôn  ngữ  khi  thuyết  trình  và

    đều đều, không có điểm nhấn. Thậm chí

    phong cách  khi  thuyết  trình.  Kết  quả

    có em khi đứng lên thuyết trình chỉ đọc.

    được thể hiện ở bảng 4.

    Qua trao đổi, sinh viên Trần Ngọc H.

    Bảng 4: Mức độ đạt được các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    STT

    Các tiêu chí

    Mức độ

    Trung bình

    Thứ bậc

    1

    Nội dung bài thuyết trình

    2,61

    2

    2

    Ngôn ngữ thuyết trình

    2,83

    1

    3

    Ngôn ngữ cơ thể

    2,42

    3

    4

    Phương  pháp  và  phương  tiện

    2,38

    4

    thuyết trình

    Kết quả bảng 4 cho thấy, mức độ

    vậy, với mức độ các tiêu chí của kỹ

    đạt  được  các  tiêu  chí  trong  kỹ  năng

    năng thuyết trình ở trên sinh viên cần

    thuyết trình của sinh  viên  chỉ  ở mức

    phải tích cực rèn luyện mới có thể viết

    trung bình, xếp vị trí thứ 1 là Ngôn ngữ

    tốt và nói thuyết phục được.

    thuyết trình là cao hơn cả (ĐTB = 2,83),

    2.3.2. Mức độ biểu hiện các tiêu chí

    tiếp đó đến tiêu chí Nội dung bài thuyết

    trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    trình với ĐTB = 2,61, xếp ở vị trí thứ 3

    Ở nội dung này, chúng tôi đánh giá

    là Ngôn ngữ cơ thể với điểm TB = 2,42

    các mức độ biểu hiện về kỹ năng thuyết

    và cuối cùng là Phương pháp và phương

    trình trong từng tiêu chí. Kết quả được

    tiện thuyết trình với ĐTB = 2,38. Như

    thể hiện ở bảng 5.

    12

    Về nội dung thuyết trình, kết quả ở bảng 5 cho thấy: Thứ nhất, việc chọn chủ đề thuyết trình đối với sinh viên là không khó (ĐTB = 3,0), đa phần sinh viên lựa chọn những vấn đề mang tính thời sự, nóng hổi hoặc những chủ đề

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    Bảng 5: Mức độ biểu hiện các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    Mức độ

    Mức độ

    Tổng

    Trung

    Thứ

    Các biểu hiện

    điểm

    bình

    bậc

    1. Nội dung bài thuyết trình

    1.1.

    Chủ đề phù hợp, mang tính thực tiễn cao

    300

    3,00

    1

    1.2.

    Đặt vấn đề hay, hấp dẫn, gây ấn tượng

    232

    2,32

    16

    1.3.

    Lập luận chặt chẽ, logic

    251

    2,51

    9

    1.4.

    Phong phú, sáng tạo

    252

    2,52

    8

    1.5.

    Thể hiện tính giáo dục

    258

    2,58

    5

    1.6.

    Đưa ra được nhiều minh hoạ thuyết phục

    293

    2,93

    2

    1.7.

    Đưa ra được thông điệp của chủ đề

    255

    2,55

    6

    2. Ngôn ngữ thuyết trình

    2.1.

    Phát âm chuẩn

    347

    3,47

    11

    2.2.

    Rõ ràng, lưu loát

    348

    3,48

    10

    2.3.

    Ngữ điệu trầm bổng theo nội dung thuyết trình

    232

    2,32

    16

    2.4.

    Biết nhấn mạnh những điểm quan trọng

    240

    2,40

    15

    2.5.

    Âm lượng phù hợp với nội dung thuyết trình

    269

    2,69

    3

    2.6.

    Tốc độ nói phù hợp

    341

    3,41

    15

    3. Ngôn ngữ cơ thể

    3.1.

    Ánh m t bao quát khán giả tốt

    253

    2,53

    7

    3.2.

    Sử dụng cử chỉ tay, chân hợp lý

    252

    2,52

    8

    3.3.

    Sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp

    244

    2,44

    12

    3.4.

    Khuôn mặt tươi t n khi thuyết trình

    236

    2,36

    13

    3.5.

    Cảm xúc phù hợp với nội dung thuyết trình

    241

    2,41

    14

    3.6.

    Linh hoạt di chuyển khi thuyết trình

    224

    2,24

    18

    1. Phương pháp và phương tiện thuyết trình

    4.1.

    Tự tin khi thuyết trình

    236

    2,36

    13

    4.2.

    Phối hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ nói và phi ngôn ngữ

    228

    2,28

    17

    4.3.

    Biết tương tác với người nghe bằng những câu hỏi

    261

    2,61

    4

    4.4.

    Phối hợp linh hoạt các phương pháp và phương tiện

    228

    2,28

    17

    g n liền với niềm đam mê, yêu thích của các em như: Bạo lực học đường, tình yêu tuổi học trò, bệnh vô cảm…

    Thứ hai, khả năng đặt vấn đề của sinh viên không tốt, không gây được ấn tượng, không gây được sự chú ý của

    13

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    người nghe (ĐTB=2,33). Có những sinh viên lúng túng không biết đặt vấn đề như thế nào, chỉ viết đúng được một câu về chủ đề cần trình bày, mở bài chưa thâu tóm được nội dung bài.

    Thứ ba, khả năng lập luận, giải quyết vấn đề thiếu tính logic, chặt chẽ (ĐTB=2,51). Qua quá trình quan sát, chúng tôi nhận thấy sinh viên nghĩ được câu gì thì viết câu đó, chưa biết cách viết và giải quyết một vấn đề như thế nào cho phù hợp. Nội dung bài thuyết trình thường thiếu tính chặt chẽ và thuyết phục. Sinh viên thường không biết viết ý khái quát, mổ xẻ những ý nhỏ và phân tích sâu s c vấn đề.

    Thứ tư, yêu cầu về sự phong phú, sáng tạo của nội dung (ĐTB=,93). Một bài viết vừa ng n gọn, vừa đầy đủ về nội dung lại còn phải sáng tạo thì điều này rất khó đối với sinh viên, chính vì yêu cầu như vậy nên đa phần sinh viên không đáp ứng được yêu cầu này.

    Phần kết cũng có tầm quan trọng không kém, một bài thuyết trình hay và hấp dẫn được thể hiện từ lúc mở đầu cho đến kết luận. Dù nội dung hay đến đâu mà phần kết không gây được ấn tượng thì toàn bộ bài viết sẽ trở nên vô nghĩa. Chúng tôi thường yêu cầu các em đưa ra thông điệp cuối cùng cho chủ đề, tuy nhiên hầu hết sinh viên chưa làm được, các em chỉ viết được một vài câu kết luận. Như vậy, có thể thấy rằng khả năng viết của sinh viên còn rất hạn chế. Qua quan sát quá trình rèn kỹ năng thuyết trình cho sinh viên, qua những

    nội dung mà các em đã viết, chúng tôi nhận thấy rằng hiểu biết về xã hội của các em còn rất nhiều hạn chế.

    Về ngôn ngữ trình bày, kết quả ở bảng 5 cho thấy, ngoài việc phát âm chuẩn, âm lượng đạt ở mức độ trên trung bình, còn lại các biểu hiện khác đều ở mức độ thấp. Cụ thể như sau:

    Phát âm chuẩn (ĐTB = 3,47), ở biểu hiện này thì đa phần sinh viên phát âm đúng, tuy nhiên vẫn có một số em nói ngọng đặc biệt là ngọng giữa “n” và “l”, một số em phát âm theo vùng, miền nên đôi khi tiếng không tròn, không rõ.

    Âm lượng phù hợp (ĐTB= 2,69), hơn một nửa sinh viên được điều tra đã đạt được mức độ phù hợp, không to quá mà cũng không nhỏ quá. Số sinh viên còn lại thì thuyết trình với giọng nói nhỏ. Qua quan sát và rèn luyện cho sinh viên, chúng tôi thấy có những em nói nhỏ, giáo viên thường xuyên phải nh c là cần phải nói to lên. Qua giọng nói cũng biết được mức độ tự tin của các em. Những em nói nhỏ là những em thiếu tự tin vào chính bản thân mình, vào bài thuyết trình của mình.

    Tốc độ nói phù hợp (ĐTB= 3,41). Đa phần sinh viên thực hiện tốc độ nói phù hợp, số sinh viên còn lại thường nói chậm, giống như giảng bài. Mặc dù vậy sinh viên chưa biết tốc độ chuẩn khi thuyết trình là như thế nào. Các em thường thuyết trình theo thói quen của bản thân, nói như thế nào thì thuyết trình như vậy.

    14

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    Ngữ điệu trầm bổng (ĐTB=2,32), thể hiện sự lên cao hay xuống thấp của giọng nói. Khi sinh viên đứng lên thuyết trình, đa phần các em đọc hoặc học thuộc nội dung đã viết để trình bày lại nội dung đã nhớ được chứ không phải là thuyết trình. Giọng đều đều, những nội dung vui hoặc buồn hoặc thể hiện sự cấp thiết thì các em không thể hiện được thông qua giọng nói.

    Biết nhấn mạnh những điểm quan trọng (ĐTB=2,40). Như đã phân tích ở trên, sinh viên thể hiện bài thuyết trình với giọng đều đều, những nội dung nổi bật hoặc quan trọng thì sinh viên không diễn đạt được bằng ngôn ngữ của mình để người nghe thấy được tầm quan trọng của vấn đề.

    Thực trạng trên cho thấy sinh viên khi thuyết trình thiếu cảm xúc, do vậy không đem lại cảm hứng cho người nghe. Như vậy, ngôn ngữ nói có vai trò cực k quan trọng, là công cụ truyển tải thông tin, đồng thời là công cụ biểu cảm, gợi cảm. Sau này, các sinh viên sư phạm sẽ trở thành giáo viên, nếu sử dụng ngôn ngữ nói có hồn thì sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy.

    Về ngôn ngữ cử chỉ, hành vi, kết quả ở bảng 5 cho thấy, khả năng thể hiện cử chỉ phi ngôn ngữ của sinh viên còn rất hạn chế. Khả năng thể hiện cảm xúc, thái độ, phong thái khi thuyết trình còn ở mức độ thấp. Cụ thể:

    Ánh m t bao quát khán giả ở mức độ trung bình (ĐTB=2,53). Qua quan sát cho thấy, đa phần sinh viên khi đứng

    lên thuyết trình đều nhìn vào một điểm, ít có sự di chuyển ánh m t từ chỗ này sang chỗ khác. Có sinh viên khi thuyết trình thì cứ nhìn ra ngoài cửa sổ, do vậy không làm cho người nghe hứng thú.

    Sử dụng cử chỉ tay, chân (ĐTB=2,52) cũng ở mức độ trung bình. Khi thuyết trình, sinh viên đứng im một chỗ, từ lúc

    • t đầu cho đến khi kết thúc bài thuyết trình, tay buông thõng, hoặc lúng túng, không biểu đạt được nội dung thuyết trình. Sinh viên không biểu đạt được khi nào cần đưa tay lên cao hoặc hạ tay xuống hoặc di chuyển bước chân từ trái sang phải như thế nào cho hợp lý. Điều này cho thấy dù bài thuyết trình có hay đến mấy mà không thể hiện được qua ngôn ngữ cử chi thì cũng không hấp dẫn người nghe.

    Bên cạnh đó, s c thái khuôn mặt cũng rất quan trọng. Khi thuyết trình phải thể hiện được sự tươi t n trên khuôn mặt. Thể hiện được sự tự tin, bộc lộ được cảm xúc thông qua từng nội dung của bài thuyết trình. Tuy nhiên trong quá trình quan sát, chúng tôi nhận thấy sinh viên rất căng thẳng khi thuyết trình, vẻ mặt lo l ng, lúng túng. Khuôn mặt của sinh viên thể hiện sự căng thẳng, do vậy các em không thể hiện được những cảm xúc vui, buồn trong nội dung bài nói, bài thuyết trình thiếu sự sống động.

    Về phương pháp và phương tiện khi thuyết trình, sự thể hiện của sinh viên cũng chỉ ở mức độ thấp hoặc trung bình. Cụ thể:

    15

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    Sự phối hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ nói và phi ngôn ngữ (ĐTB=2,28), đạt ở mức thấp. Ngôn ngữ cử chỉ của sinh viên chưa tốt nên sự phối hợp giữa lời nói và cử chỉ còn vụng về.

    Khả năng tương tác với người nghe bằng những câu hỏi (ĐTB=2,61) ở mức trung bình. Sinh viên đã biết đưa ra một số câu hỏi để thu hút sự chú ý của người nghe, tuy nhiên khi sinh viên đặt câu hỏi lại thường gọi nhiều người lên trả lời vì vậy sẽ gây mất thời gian. Bên cạnh đó, cách thức đặt câu hỏi chưa gây được sự chú ý: không lên giọng hoặc xuống giọng khi hỏi, không dừng lại trước khi hỏi, do đó câu hỏi chỉ là một thông tin đưa ra cho người nghe.

    Phối hợp linh hoạt các phương pháp và phương tiện ở mức độ thấp (ĐTB=2,28). Điều này được thể hiện khi thuyết trình sinh viên chỉ đứng nói, đọc mà không dùng phấn, bảng hoặc các công cụ khác. Bởi lẽ trong bài thuyết trình có những vấn đề có thể minh họa bằng hình ảnh hoặc con số thống kê, sơ đồ, bảng biểu, hay sử dụng phấn, bảng hoặc các phương tiện hỗ trợ khác để bài thuyết trình sinh động, người nghe sẽ ghi nhớ được lâu hơn.

    Như vậy, có thể thấy rằng, khả năng thuyết trình của sinh viên sư phạm còn hạn chế, thông qua những bài thuyết trình cũng nhận thấy khả năng viết, khả năng lập luận vấn đề cũng như sự hiểu biết xã hội của các em cũng còn kém.

    Vì vậy, sinh viên cần phải rèn luyện và học hỏi nhiều mới có thể có được những kiến thức sâu s c cho bản thân, tạo tiền đề cho sự thành công trong công việc.

    2.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên như: nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình; ý thức rèn luyện kỹ năng thuyết trình; tính tích cực rèn luyện kỹ năng thuyết trình.

    Một số em tuy biết được tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình nhưng chưa có ý thức và tích cực trong quá trình rèn luyện. Mặc dù có cơ hội được rèn luyện nhưng các em thiếu sự chủ động trong hoạt động của mình. Nhiều em thường đánh giá kỹ năng thuyết trình là đơn giản. Nhưng khi b t đầu vào thực hiện mới thấy được sự khó khăn của kỹ năng này. Nhiều em cũng tham gia luyện tập nhưng chưa thực sự cố g ng. Các em luyện tập cho xong mà không có sự cầu thị.

    Bên cạnh những yếu tố chủ quan thì có những yếu tố khách quan như: Yêu cầu của giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình cho sinh viên thông qua dạy học các môn học và các hoạt động của nhà trường để sinh viên có cơ hội tham gia rèn kỹ năng này. Kết quả được biểu hiện trong bảng 6.

    16

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019

    ISSN 2354-1482

    Bảng 6: Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    STT

    Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng

    Mức độ

    Tổng

    Trung

    Thứ

    thuyết trình

    điểm

    bình

    bậc

    1

    Nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng

    386

    3.86

    4

    thuyết trình

    3

    Tính tích cực rèn luyện kỹ năng thuyết trình

    405

    4,05

    1

    4

    Yêu cầu của giáo viên về việc rèn luyện kỹ

    400

    4,00

    2

    năng thuyết trình cho sinh viên trong dạy học

    5

    Các hoạt động của nhà trường trong việc rèn

    337

    3,37

    3

    luyện kỹ năng thuyết trình cho sinh viên

    2.3.4. Kết quả kỹ năng thuyết trình

    việc rèn luyện trên lớp cùng với yêu cầu

    sau khi được rèn luyện

    về  nhà  luyện  tập  thì  kỹ  năng  thuyết

    Với các buổi rèn luyện, mỗi buổi 5

    trình của sinh viên tăng lên đáng kể.

    tiết, sinh viên được giáo viên hướng dẫn

    Sau mỗi đợt rèn luyện, sinh viên sẽ phải

    rèn luyện từng bước của kỹ năng thuyết

    tự quay một video bài thuyết trình nộp

    trình. Giáo viên rèn cho sinh viên cách

    cho giáo viên.

    viết nội dung bài thuyết trình sao cho

    Qua kết quả quan sát và đánh giá

    khoa học, logic. Sau khi nội dung bài

    quá trình rèn luyện của sinh viên và

    tương đối tốt thì yêu cầu từng sinh viên

    thông qua những sản phẩm thuyết trình

    đứng lên trước lớp thuyết trình bài của

    mà  sinh  viên  nộp  cho  giáo  viên  cho

    mình.  Thông  qua  đó  giáo  viên  l ng

    thấy kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    nghe, quan sát và sửa từng cử chỉ, hành

    đã tăng lên rõ rệt. Kết quả thể hiện ở

    vi, ngôn ngữ cho sinh viên. Bên cạnh

    bảng 7.

    Bảng 7: Kỹ năng thuyết trình của sinh viên sau khi được rèn luyện

    STT

    Mức độ

    Tự đánh giá của sinh

    Đánh giá của giáo viên sau

    viên sau khi được rèn

    khi được rèn luyện

    luyện

    Số lượng

    %

    Số lượng

    %

    1

    Rất tốt

    43

    21,5

    22

    11,0

    2

    Tốt

    67

    33,5

    35

    17,5

    3

    Khá

    82

    41,0

    56

    28,0

    4

    Trung bình

    6

    3,0

    69

    34,5

    5

    Yếu

    2

    1,0

    18

    9,0

    Qua bảng 7 cho thấy, mức độ kỹ

    khi được rèn luyện tỷ lệ này tăng lên

    năng thuyết trình của sinh viên đã tăng

    đáng  kể.  Tuy nhiên,  tự  đánh  giá  của

    lên đáng kể so với lúc ban đầu. Biểu

    sinh viên vẫn cao hơn so với đánh giá

    hiện ở chỗ lúc đầu không có sinh viên

    của giáo viên. Cụ thể: Ở mức độ Rất tốt

    nào đạt loại Rất tốt và Tốt, nhưng sau

    tự đánh giá của sinh viên là 21,5%, giáo

    17

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    viên đánh giá là 11%; Mức độ Tốt sinh              như mong muốn. Kết quả nghiên cứu

    viên tự đánh giá là 33,5%, giáo viên                    cho thấy, sinh viên sư phạm còn yếu về

    đánh giá là 17,5%; Mức độ Khá sinh                  kỹ năng thuyết trình. Các yêu cầu của

    viên tự đánh giá là 41,0%, giáo viên                    kỹ năng này đều ở mức độ dưới trung

    đánh  giá  là  28,0%;  Mức  Trung  bình             bình. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ

    sinh viên tự đánh giá là 3,0%, đánh giá              năng   thuyết   trình   của   sinh   viên    sư

    của giáo viên là 34,5%; và ở mức độ                   phạm, trong đó chủ yếu là do ý thức rèn

    Yếu sinh viên chỉ đánh giá có  1,0%,                  luyện   kỹ    năng   chưa   cao.   Sinh   viên

    giáo viên đánh giá với tỉ lệ là 9,0%.                     muốn có được kỹ năng thuyết trình cần

    Qua  quá  trình  quan  sát  và  chấm            phải tích cực, chủ động trong hoạt động

    điểm các bài thuyết trình của sinh viên,             rèn luyện của mình. Giáo viên cũng cần

    chung  tôi   nhận   thấy:   Nội    dung  bài           sát sao, chỉ bảo tận tình, khoa học trong

    thuyết trình logic, khoa học và chặt chẽ            việc rèn luyện kỹ năng này đối với từng

    hơn, sâu s c hơn, thậm chí có những bài           sinh viên trong từng tiết học. Bên cạnh

    viết đã đưa ra được những thông điệp                đó, nhà trường cũng cần tạo điều kiện,

    cho chủ đề bài viết rất ấn tượng. Ngôn              tổ chức các sân chơi để sinh viên có cơ

    ngữ lưu loát, có điểm nhấn, sinh viên sử           hội để rèn luyện và thể hiện bản thân

    dụng ngữ điệu phù hợp hơn và đặc biệt            trong các hoạt động đó. Qua đây cũng

    là phong cách của các em đã thể hiện sự           có thể khẳng định, hoạt động rèn luyện

    tự tin, đĩnh đạc và thuyết phục được                  những môn nghiệp vụ sư phạm, trong

    người nghe.                                                                      đó có kỹ năng thuyết trình rất có ích và

    1. Kết luận cần thiết đối với sinh viên; thông qua

    Kỹ năng thuyết trình là một trong               những buổi rèn luyện, các kỹ năng của

    những kỹ năng tương đối khó, vì vậy                 sinh viên trong đó có kỹ năng thuyết

    đòi  hỏi  sinh  viên  cần  phải  rèn  luyện            trình tăng lên đáng kể.

    thường xuyên mới đạt được hiệu quả

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Natalia   Smirnova;  Irina  V.  Nuzha  (2013),  “Improving  Undergraduate

    Sociology Students’ Presentation Skills through Reflective Learning in an Online Learning Environment”, Journal of Online Learning and Teaching, Vol. 9(9), No. 3

    1. Lytaeva, M. A., & Talalakina, E. V. (2011), “Academic skills: Susnost’, model’, praktika [Academic skills: Nature, model, experience]”, Journal of Educational Studies, 4, 178-201
    1. De Grez, L., Valcke, M., & Roozen, I. (2009), “The impact of an innovative instructional intervention on the acquisition of oral presentation skills in higher education”, Computers & Education, 53(1), tr. 112-120
    1. Hu nh Văn Sơn (2012),” Thực trạng một số kỹ năng mềm của sinh viên đại học Sư phạm”, Tạp chí khoa học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, số 39, tr. 22-28

    18

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    THE REALITY OF PRESENTATION SKILLS OF

    PEDAGOGIC STUDENTS AT DONGNAI UNIVERSITY

    ABSTRACT

    Presentation skill is one of the most important skills for university students in general and for pedagogic students in particular. According to the research on 200 students in K42 studying in the Pedagogy Preschool and Primary faculty at Dong Nai University, it indicates that the students’ presentation skill is at the average or below average level. The main reason is that the students themselves lack their initiatives and activeness in improving these skills.

    Key words: Student, presentation, presentation skills, presentation skill practice

    (Received: 11/9/2018, Revised: 11/10/2018, Accepted for publication: 7/5/2019)

    19


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hội thảo tầm quan trọng của đối thoại xã hội và thương lượng tập thể


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%A2ng-cao-k%E1%BB%B9-n%C4%83ng-giao-ti%E1%BA%BFp-cho-sinh-vi%C3%AAn-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-%E1%BB%9F-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Cao-%C4%91%E1%BA%B3ng-S%C6%B0-ph%E1%BA%A1m-%C4%90i%E1%BB%87n-Bi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Xã hội, Số 13 (6/2018) tr. 8 – 14

     

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN

    NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO Đ NG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

     

    Lò Vũ Điệp

    Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng. Sinh viên người dân tộc gặp những khó khăn và hạn chế nhất định về kỹ năng giao tiếp. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc hình thành các kỹ năng nghề nghiệp sau này. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao kỹ năng này cho các em.

     

     

    Từ khoá:

    Kỹ năng, sinh viên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên.

     

     

    1. Mở đầu

     

    Giao tiếp là một trong những hoạt động c          ản của con người, có vai trò quan trọng

     

    trong s   phát tri n của mỗi cá nhân. Thông qua giao tiếp, mỗi cá nhân trong xã hội có s          gắn

     

    kết với nhau đồng thời t m lý cá nh n cũng được hình thành và phát tri n.

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c          ản, cần thiết đối với s      phát

     

    tri n tâm lý cá nhân. Với sinh viên SV) sư phạm giao tiếp và kỹ năng giao tiếp càng trở nên cần thiết đ họ c th th c hiện tốt hoạt động ạy học và giáo ục học sinh trong quá tr nh hoạt động nghề nghiệp của ản th n. Trong th c tiễn nghiên cứu có rất nhiều tác giả đ t m

     

    hi u về vấn đề này, có những th c nghiệm mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước đề cập đến những vấn đề về kỹ năng giao tiếp của SV người dân tộc vẫn còn hạn chế.

     

    Trên th  c tế học sinh  SV người dân tộc gặp rất nhiều kh    khăn trong giao tiếp và hình

     

    thành kỹ năng giao tiếp cho m nh. Điều này ảnh hưởng không  t đến kết quả học tập và phát

     

    tri n các kỹ năng x     hội của họ.

     

    Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập đến một số       iện pháp sư phạm n ng cao

     

    kỹ năng giao tiếp – với tư cách là một trong số những kỹ năng sống c               ản – của sinh viên

     

    người dân tộc Trường   ao đ ng Sư phạm        ĐSP) Điện    iên.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    – Giao tiếp

     

     

    Có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp

     

    ưới g c độ t m l

     

    giao tiếp được nh n

     

    nhận như sau:

     

    Ngày nhận bài: 14/02/2017. Ngày nhận đăng: 15/6/2017

    Liên lạc:   ò Vũ Điệp, e-mail: [email protected]

    8

     

    Giao tiếp là quá tr nh tác động qua lại giữa con người với con người, th hiện s tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đ con người trao đổi thông tin trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau [4].

     

    • Kỹ n ng giao tiếp

    Theo tác giả Nguyễn Thanh nh kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những bi u hiện bên ngoài và những bi u hiện tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân chủ th giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lý các phư ng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều ch nh điều khi n quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đ ch giao tiếp [1].

     

    2.2.    ự cần thiết phải hình thành kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

     

    Giao tiếp được coi như là một công cụ lao động đặc trưng của người giáo viên. Đối tượng lao động của giáo viên là con người – những nh n cách đang được hình thành và phát tri n mạnh mẽ. Mặt khác, trong quá trình tổ chức các hoạt động người giáo viên phải sử dụng kỹ năng giao tiếp một cách linh hoạt đ đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học cũng như giáo

     

    dục học sinh.

                             
       

    Trong công tác

    ạy học và giáo

    ục học sinh  người giáo viên tất yếu phải giao tiếp

    với học sinh và với cả những đối tượng giao tiếp khác nữa. Đ

    là s

    tiếp xúc

    ày tỏ

    trao đổi

    truyền đạt  t m hi u

    cảm thông giữa các chủ th

    của quá tr nh giao tiếp

    iễn ra trong môi

    trường sư phạm.

                             
       

    ùng với việc r n luyện các phư

    ng pháp

    ạy học

    kỹ năng giao tiếp là một trong

    những thành phần c

    ản tạo nên chất lượng và hiệu quả của các phư  ng pháp

    ạy học.

    mỗi phư  ng pháp

    ạy học, việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp ở các mức độ khác nhau như:

    phư

    ng pháp thuyết tr nh t ch c  c

    phư

    ng pháp đàm thoại

    phư  ng pháp thảo luận nh m

    phư

    ng pháp quan sát… Việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp như thế nào trong mỗi phư

    ng pháp

     

    ạy học sẽ g p phần làm tăng khả năng nhận thức  phát huy t nh t

    giác  chủ động của học

    sinh trong quá tr nh chiếm lĩnh tri thức.

                     
       

    Trong quá tr nh giáo  ục học sinh

    người giáo viên c

    kỹ năng giao tiếp tốt

    khéo léo

    trong ứng xử cũng th

    hiện thái độ tôn trọng nh n cách học sinh  tiếp thu tốt tri thức và h nh

    thành được các kỹ năng

    kĩ xảo thuận lợi h  n. Trong cách giao tiếp và ứng xử  mỗi giáo viên

    là một tấm gư  ng đ

     

    học sinh noi theo

    làm theo.

    h nh v  vậy  người giáo viên phải th

    hiện

    s

    chuẩn m  c của m nh trong giao tiếp

    đặc  iệt là giao tiếp với đối tượng là học sinh.

     
       

    Đối với mỗi sinh viên trong quá tr nh r n luyện ở nhà trường sư phạm cần ý thức được

    s

    cần thiết phải h nh thành và r n luyện cho m nh kỹ năng giao tiếp hiệu quả đ

    c

    th  t

    tin

    trong giao tiếp  th

    c hiện tốt vai trò

    nhiệm vụ của người giáo viên trong th

    c tiễn nghề

    nghiệp sau này.

                             
                                   

    2.3. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc

     

    2.3.1. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát

     

    • Phương pháp nghiên cứu
    • tìm hi u th c trạng, tác giả sử dụng một số phư ng pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phư ng pháp quan sát phư ng pháp phỏng vấn phư ng pháp điều tra bằng phiếu hỏi. Các

    9

     

    phư ng pháp c tác ụng hỗ trợ lẫn nhau nhằm làm rõ h n những nội dung mà tác giả tìm hi u và nghiên cứu.

     

    – Đối tượng khảo sát

     

    150 sinh viên của 3 khoa: Khoa Ti u học – Mầm non, Khoa T nhiên và Khoa Xã hội. Nội dung khảo sát là th c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên (ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, những kh khăn trong giao tiếp, nguyên nhân).

     

    2.3.2. Kết quả đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Trường ĐSP Điện iên SV người n tộc chiếm đa số đến từ các huyện x thuộc vùng s u vùng xa vùng gặp nhiều kh khăn trong t nh. Tổng số SV của hà trường hiện nay là 732 trong đ SV n tộc Thái chiếm đa số (58.8%), xếp thứ hai là SV dân tộc Mông (18.7%), dân tộc Kinh xếp thứ ba (11.2%), còn lại 11.3 % là sinh viên các dân tộc khác như:

     

    Kh    Mú, Hà Nhì, Lào, Kháng, Thổ, Si La, Dao, Tày, Máng, Xinh Mun, Nhắng.

     

    Với những đặc đi m như vậy, nên các em còn gặp nhiều kh khăn trong việc hình thành và phát tri n các kỹ năng sống đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Thông qua tiếp xúc, trò

     

    chuyện và đặc biệt là trong quá tr nh giảng

    ạy  tác giả nhận thấy số SV còn phát

    m chưa

    chuẩn trong giao tiếp  khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế  c  những SV còn rụt r

    ngại tiếp

    xúc ngại phát  i u ý kiến và khả năng thuyết tr nh trên lớp chưa được tốt.

       

    Tác giả cũng t m hi u rõ h  n về th  c trạng trên  kết quả khảo sát cho thấy: về phát  m

    và sử  ụng ngôn ngữ gặp kh  khăn nhiều nhất đối với SV

    n tộc Mông và

    n tộc Thái. Tác

    giả khảo sát trên 150 SV của 3 khoa: Khoa T

    nhiên, Khoa Xã hội và Khoa Ti u học – Mầm

    non thì thấy tỷ lệ nói ngọng của SV cũng c

    s  khác nhau. Cụ th

    c  86/150 SV được khảo

    sát bị nói ngọng, chiếm 57.3%. Kết quả khảo sát được th

    hiện rõ h

    n trong

    i u đồ

    ưới đ y:

               

    50%

     

    45%

     

    40%

     

    35%

     

    30%

     

    Tỉ lệ 25%

     

    20%

     

    15%

     

    10%

     

    5%

     

    0%

    THMN                           Tự nhiên                           Xã hội

     

    Khoa

     

    hư vậy, xét theo khoa, Khoa Ti u học – Mầm non có tỷ lệ SV nói ngọng nhiều nhất (43/86, chiếm 50%), tiếp theo là Khoa Xã hội (27/86, chiếm 31.4%), Khoa T nhiên có tỷ lệ thấp h n 16/86 chiếm 18.6%).

     

    10

     

    Tác giả tìm hi u cụ th  h  n về cách phát âm thì nhận thấy đa số các em thường kh

    ph n

    iệt

    chữ “l” và “ đ”  hoặc đọc từ ngắn

    m   m cụt không rõ tiếng; một số sinh viên dân tộc Thái

    đọc sai dấu ngã thành dấu sắc.   ên cạnh đ  , về phần sử

    ụng từ ngữ như cách

    iễn đạt

    ùng

    từ… cũng gặp rất nhiều kh  khăn:

    iễn đạt ý không rõ

    không  iết cách t m từ phù hợp hoặc

    vốn từ đ  n điệu.

             

    Tác giả cũng t m hi u ở một số tiết tập giảng tiết th  c hành phư  ng pháp

    ạy học

    SV

    còn hạn chế trong tư thế  tác phong  chưa  iết kết hợp ngôn ngữ n i  ngôn ngữ viết với các

    phư  ng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như: cử ch   điệu

    ộ  nét mặt… Do đ

    chất lượng

    ài

    giảng chưa cao chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe khi lên lớp của người giáo viên. Giảng viên Đinh Thanh H. với quá tr nh hướng dẫn SV tập giảng nhiều năm cho iết: “Sinh viên khi đứng trên bục giảng, nhiều em chỉ chú trọng việc học thuộc nội dung câu chữ trong giáo án, chưa biết cách kết hợp ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể nên tiết dạy rất khô cứng,

     

    thiếu sự uyển chuyển, chất lượng bài dạy không cao”.

       

    Bên cạnh đ   trong những tiết th

    c hành, thảo luận, khi yêu cầu SV tr nh  ày trước lớp

    các vấn đề liên quan đến nội dung bài học các em còn th  hiện s

    lúng túng, tác phong trình

    bày còn th

    hiện s  chưa t  tin. Cụ th : có tới 76.6% SV được khảo sát cho biết các em không

    cảm thấy t

    tin khi đứng trước lớp hoặc phải th  c hiện nhiệm vụ học tập như thuyết trình,

    hùng biện… Tác giả cũng t m hi u lý

    o  được biết đa số các em thấy t

    ti vì bị nói ngọng

    (chiếm 54.7%), một số khác cảm thấy thiếu vốn từ (chiếm 25.3%)  cũng c

    một số ít gặp phải

    những trở ngại tâm lý khác (chiếm 20%).

         

    goài ra  SV cũng chưa chủ động trong giao tiếp nên g y ra t m lý ngại giao tiếp

    thiếu t  tin

    không hăng hái trong việc đưa ra ý kiến mà thường r

    i vào thế

    ị động trong giao

             

    tiếp. Điều này sẽ g y cản trở rất lớn cho SV trong quá tr nh tiếp thu và lĩnh hội tri thức kỹ năng nghề nghiệp của người giáo viên.

     

    hư vậy, trong quá trình giao tiếp nói chung, học tập nói riêng, SV người dân tộc Trường ao đ ng Sư phạm Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế về kỹ năng giao

     

     

     

     

     

     

    tiếp đặc biệt là ngôn ngữ nói. Bi u hiện như còn n i ngọng rất nhiều, diễn đạt kh khăn thiếu t tin trong giao tiếp… Do đ cần xác định những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này

     

    của các em đ th c hiện các biện pháp nhằm khắc phục th c trạng trên, nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV.

     

    2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của SV Trường ĐSP Điện Biên, trên c sở khảo sát tìm hi u th c trạng cũng như th c tiễn công tác, giảng dạy tại Trường, tác giả nhận thấy có một số yếu tố như sau:

     

    • Ý thức rèn luyện khả năng giao tiếp nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng của SV còn chưa cao. Một số SV cho rằng, o m nh là người dân tộc thi u số nên chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, khó sửa chữa được nhất là trong ngôn ngữ n i. ũng c sinh viên đ từng học

    11

     

    cách sửa nói ngọng, nói lắp nhưng không kiên tr nên hiệu quả sử dụng ngôn ngữ n i cũng chưa như mong muốn.

     

    • hội được rèn luyện khả năng giao tiếp đối với SV chưa nhiều. Các giờ học trên lớp ch có một số SV nhiệt tình phát bi u ý kiến, số còn lại r i vào trạng thái thụ động ngại bày tỏ ý kiến. Điều này không ch cản trở hiệu quả của tiết học mà còn tạo ra bầu không khí

    không hào hứng, khó kích thích hứng thú của SV. Các giờ tập giảng cũng chưa thật s   thu hút

     

    SV tích c  c tham gia  đ y là c      hội đ    các em rèn cả kỹ năng tr nh     ày   ảng, kỹ năng sử dụng

     

    ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, kỹ năng ứng xử sư phạm…

     

    – Việc tổ chức các hoạt động ngoại kh a còn chưa đa ạng chưa thu hút SV tham gia tích c c. Tâm lý học đ kh ng định: giao tiếp được rèn luyện thông qua quá tr nh con người tham gia các hoạt động. Tuy nhiên, những hoạt động được tổ chức tại trường mới ch thu hút được một bộ phận SV tham gia, chủ yếu tập trung vào các em trong các đội thi đ được l a chọn. Những SV đ rụt rè, nhút nhát lại càng hiếm c c hội tham gia. Chính vì vậy, kỹ năng giao tiếp của các em chưa được rèn luyện nhiều.

     

    – Nội dung giáo dục nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV chưa th c s được quan tâm và chú trọng, các học phần chủ yếu cung cấp cho SV hệ thống các tri thức chuyên môn cần thiết chưa đạt tới các mục tiêu về rèn luyện kỹ năng. ác học phần th c hành cho nội dung này còn rất t như học phần: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, th c hành tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp…

     

    2.5. Một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Đ   c   th   n ng cao kỹ năng giao tiếp cho SV người dân tộc tại các trường cao đ ng sư

     

    phạm n i chung  SV Trường      ĐSP Điện     iên n  i riêng  chúng tôi mạnh     ạn đưa ra một số

     

    iện pháp cụ th   như sau:

     

    Thứ nhất, trong dạy học nói chung, khi th c hiện các phư ng pháp ạy học tích c c, nói riêng cần tăng cường việc rèn luyện ngôn ngữ nói và viết cho SV sư phạm đặc biệt là SV dân tộc Thái và dân tộc Mông ở mọi tình huống, mọi c hội. Cụ th như: phát bi u trước lớp, trao đổi nhóm; viết bảng; báo cáo chuyên đề, thảo luận trong các buổi xê-mi-na; tập giảng; tổ chức các câu lạc bộ và các sinh hoạt khác.

     

    Do đ phư ng ch m r n luyện khả năng ngôn ngữ và giao tiếp cho SV người dân tộc mà mỗi giáo viên cần hướng tới là:

     

    • Gư ng mẫu trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết bài giảng hay giáo trình, khi giảng bài, viết bảng. Điều này cần có ở mọi giáo viên trước khi n i đến việc tổ chức hoạt động, sửa lỗi cho SV.
    • Tăng cường cho SV hoạt động trong lớp, tích c c gọi các em hay mắc lỗi nói ngọng, rụt rè, nhút nhát. Mỗi lần như vậy là dịp uốn nắn lại cách nói, sử dụng từ, cách viết cho SV và

    cần làm thường xuyên, mở rộng tới tất cả SV. Điều này không ch ành cho giáo viên các môn nghiệp vụ sư phạm mà là cho mọi giáo viên khi đứng lớp với SV sư phạm.

     

    12

     

    • Việc sử dụng ngôn ngữ cho SV th hiện rõ ở các giờ tập giảng. SV th hiện ngôn ngữ viết (soạn giáo án, viết bảng), ngôn ngữ nói (khi giảng và bình giảng) còn rất nhiều lỗi. Vì vậy

    giáo viên hướng dẫn tập giảng chịu kh

    đọc giáo án, lắng nghe SV giảng, giảng mẫu trước SV

    thì có th  cải thiện rõ rệt kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp cho các em trước khi đến th

    c tập tại

    các c  sở Giáo dục.

           

    Thứ hai, cần tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khóa khác mang tính trải nghiệm bên

    cạnh các cuộc thi hùng biện  hội thi nghiệp vụ sư phạm cho SV đ

    họ c

    th  phát huy được

    khả năng giao tiếp và c  hội giao lưu

    học hỏi lẫn nhau  tăng cường s  t

    tin và hi u

    iết lẫn

    nhau trong giao tiếp.   goài ra  SV còn c  c  hội được lắng nghe  th

    hiện

    ản th n  chủ động

    • n trong quá tr nh giao tiếp. V vậy  l  a chọn các h nh thức tổ chức sinh hoạt ngoại khóa,

    sinh hoạt tập th  đa  ạng  phong phú cho SV nhằm tăng cường khả năng giao tiếp cho họ là

     

    điều rất cần thiết. ác hoạt động ngoại kh a như: Hoạt động thăm quan các công tr nh và i tích lịch sử như ảo tàng Chiến thắng Đồi A1, hầm Đờ-cát đ giao lưu giao tiếp bằng tiếng

     

    Việt và tiếng nước ngoài; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ kỹ năng sống; các hoạt động tình nguyện h …

     

    Thứ ba, tổ chức các chư  ng tr nh lớp học đào tạo kỹ năng sống cho SV  đặc biệt là SV

     

    người dân tộc.   an đầu

    hà trường có th  hợp tác đào tạo với các trung tâm giáo dục có uy

    tín về kỹ năng sống đ

    mở các lớp học ngoài giờ học ch nh kh  a đ

    các em được tiếp cận và

    n ng cao h

    n khả năng giao tiếp của bản thân. Tiếp đ   tổ chức bồi

    ưỡng kiến thức, kỹ năng

    cho một l

    c lượng giáo viên trong Trường đ  họ c  đủ khả năng th

    c hiện rèn luyện kỹ năng

           

    sống nói chung, kỹ năng giao tiếp n i riêng cho SV. Đ y sẽ là l

    c lượng thường xuyên, gắn

    l u  ài đ

    tổ chức các lớp học giáo dục kỹ năng sống một cách liên tục tại   hà trường.

    Thứ tư  x y

    ng các chủ đi m giáo  ục kỹ năng giao tiếp

    ành cho SV người dân tộc;

    thiết kế các

    ài giảng theo chủ đi m với các nội

    ung khác nhau vừa đ  cho SV hi u và nắm

    ắt các kỹ năng cụ th

    của giao tiếp  h nh thành các kỹ năng giao tiếp một cách c  hiệu quả

    như: kỹ năng n i

    kỹ năng viết  kỹ năng lắng nghe  kỹ năng ứng xử sư phạm…

    ên cạnh đ

    các em sẽ được th

    c hành các kỹ năng nêu trên thông qua ch

    i trò ch  i hoặc tr

    c tiếp tham

    gia đ ng vai

    giải quyết các t nh huống giao tiếp

    x y   ng các t nh huống giao tiếp trong môi

    trường sư phạm và

    kiến cách xử lý các t nh huống kh .

         

    3. Kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c

    ản và c  ý nghĩa quan trọng đối

    với mỗi cá nh n

    đặc

    iệt là sinh viên sư phạm. Sinh viên người dân tộc ở Trường

    ĐSP Điện

    Biên còn gặp một số kh

    khăn trong giao tiếp đặc biệt là sinh viên dân tộc Thái và Mông.

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc trong

    nhà trường  trong đ

    tập trung tới các yếu tố như ý thức rèn luyện của các em; nội dung giáo

    dục chưa phong phú; c  hội được rèn luyện kỹ năng giao tiếp chưa nhiều.

     

    Trên c

    sở phát hiện th  c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường

    ĐSP Điện

                       

    Biên, tác giả đề xuất 4 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho các em. Mỗi biện pháp đều có những ưu  nhược đi m của n    o đ  đ  mang lại hiệu quả cao nhất 13

     

    cần phối hợp sử dụng hợp lý các biện pháp nêu trên trong quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]          guyễn Thanh     nh  2004)  Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống        x   Đại học Sư phạm.

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tài liệu đào tạo giáo viên R n luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.

    [3]          hu Văn Đức  2005)  Kỹ năng giao tiếp      x   giáo    ục.

     

    • Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), (2014), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm.

    IMPROVING COMMUNICATION SKILLS FOR ETHNIC STUDENTS IN DIEN BIEN TEACHER TRAINING COLLEGE

     

    Lo Vu Diep

    Dien Bien Teacher Training college

     

    Abstract: Communication skill is one of the fundamental and important life skills to everyone in general and pedagogical students in particular. Ethnic minority students deal with certain difficulties and limitations in communication skill, which has great influences on the formation of job skills later on. Basing on the investigation into the current state, we propose specific measures to improve communication skill for students at Dien Bien Teacher training college.

     

    Keywords: Skill, student, Dien Bien teacher training college.

     

     

     

     

    14


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-chuy%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%81-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

     

    PGS.TS. Đinh Trọng Hanh*

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán đã được Kiểm toán nhà nước (KTNN) triển khai thực hiện trong nhiều năm, nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết quả nhất định trong việc đánh giá những hoạt động có tính chất chuyên môn, chuyên sâu của các đơn vị được kiểm toán, từ đó, đưa ra các ý kiến tư vấn, kiến nghị quản

    lý có giá trị thực tiễn cho đơn vị. Trong thời gian qua, KTNN đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề, mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng vẫn còn những tồn tại, vướng mắc. Bài viết trình bày khái quát về phương thức kiểm toán chuyên đề và giải pháp phát triển phương thức kiểm toán này.

    Từ khóa: Kiểm toán chuyên đề, Kiểm toán nhà nước

    Solutions to the development of thematic audit methods of SAV

    Thematic auditing is a method of organizing auditing activities that have been implemented by the State Audit of Vietnam (SAV) for many years and in many fields and have yielded certain results in evaluating professional activities of auditees, and therefore, the management consultancy and management proposals are of practical value. Over the past years, SAV carried out many thematic audits, bringing many remarkable results but also the remaining several problems. This article provides an overview of the method of thematic auditing and solutions to develop this audit method.

    Keywords: Thematic audit, SAV

     

    1. Đặt vấn đề

    Kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán đã được Kiểm toán nhà nước (KTNN) triển khai thực hiện trong nhiều năm, nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết quả nhất định trong việc đánh giá những hoạt động có tính chất chuyên môn, chuyên sâu của các đơn vị được kiểm toán, từ đó, đưa ra các ý kiến tư vấn, kiến nghị quản lý có giá trị thực tiễn cho đơn vị.

    Việc tổ chức kiểm toán chuyên đề của KTNN có nhiều ưu điểm: giúp cho KTNN có thể đánh giá theo chiều sâu những vấn đề, hoạt động trọng yếu… của đơn vị được kiểm toán, song, đến nay, do nhiều lý do, hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN còn những hạn chế nhất định, chưa phát

    huy đầy đủ những ưu điểm, thế mạnh của kiểm toán chuyên đề đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán.

    Hoạt động kiểm toán của KTNN, trong đó, chủ yếu là kiểm toán tài chính, trong hơn 20 năm qua đã khá ổn định và phát huy được những tác động tích cực đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán, phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, sự tác động của kiểm toán đối với hoạt động quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công thì hoạt động kiểm toán của KTNN cần tiếp tục được phát triển và nâng cao chất lượng kiểm toán mà một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu đó là cần mở rộng, phát triển phương thức tổ chức kiểm toán chuyên đề.

    *Chuyên gia, Nguyên Kiểm toán trưởng KTNN Khu vực X

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  7

    PHAÙT TRIEÅN PHÖÔNG THÖÙC kieåm toaùn chuyeân ñeà cuûa Kieåm toaùn nhaø nöôùc

    2. Khái niệm, đặc điểm và những vấn đề đặt ra trong kiểm toán chuyên đề

    2.1. Khái niệm

    Kiểm toán chuyên đề, trước tiên, thể hiện ở nội dung cuộc kiểm toán: đó là việc thực hiện kiểm toán được giới hạn ở một hoặc một nhóm hoạt động trong quản lý tài chính công, tài sản công (một chủ đề hay một vấn đề kiểm toán) của đơn vị được kiểm toán. Như vậy, kiểm toán chuyên đề hướng đến một phạm vi hoạt động được kiểm toán hẹp và theo chiều sâu của nội dung kiểm toán.

    Về hình thức tổ chức, kiểm toán chuyên đề: dù được tổ chức thành cuộc kiểm toán độc lập hoặc là một nội dung trong cuộc kiểm toán toàn diện tại đơn vị thì vẫn phải được tổ chức thành các nhóm, tổ Kiểm toán viên (KTV) có chuyên môn chuyên sâu về hoạt động kiểm toán và giữa các KTV có mối quan hệ chặt chẽ trong phối hợp thực hiện các nội dung nghiệp vụ kiểm toán (khác với cuộc kiểm toán tài chính, các KTV được giao các nhiệm vụ, nội dung kiểm toán độc lập).

    Như vậy, từ những đặc thù về nội dung và hình thức tổ chức của cuộc kiểm toán chuyên đề như trên có thể hiểu: kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán hướng đến một hoặc một nhóm hoạt động quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công tại đơn vị được kiểm toán nhằm đánh giá và đưa ra ý kiến tư vấn, kiến nghị chuyên sâu đối với đơn vị.

    2.2. Đặc điểm của kiểm toán chuyên đề

    Hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN có những đặc điểm chủ yếu sau:

    • Mục tiêu kiểm toán: nhằm đánh giá về một chủ đề hoạt động chuyên sâu trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công để tư vấn, kiến nghị về những giải pháp, biện pháp khắc phục những yếu kém, hạn chế của đơn vị được kiểm toán.

     

    • Đối tượng kiểm toán: thường tập trung vào một hoặc một nhóm nội dung kiểm toán có tính trọng yếu hoặc có rủi ro lớn hoặc có “vấn đề” (có dấu hiệu yếu kém, sai phạm…) tại đơn vị được kiểm toán.

     

    • Số 133 – tháng 11/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Phạm vi về khách thể kiểm toán: do đặc thù hoạt động kiểm toán của KTNN nên phạm vi khách thể kiểm toán thường rất rộng, có tính hệ thống (thường thực hiện kiểm toán trong cả hệ thống ngành, địa phương hoặc lĩnh vực kiểm toán).

     

    • Nội dung kiểm toán: do mục tiêu kiểm toán xác định như ở trên nên nội dung kiểm toán khá đa dạng: kiểm toán tuân thủ, kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động hoặc cuộc kiểm toán hỗn hợp.

     

    • Hình thức tổ chức cuộc kiểm toán: thường được tổ chức theo một “chuỗi” cuộc kiểm toán; trong đó, hình thành các cuộc kiểm toán độc lập hoặc là một nhiệm vụ “chuyên biệt” trong một cuộc kiểm toán toàn diện đối với đơn vị được kiểm toán.

    2.3. Những vấn đề đặt ra trong kiểm toán chuyên đề

    Từ thực tiễn kiểm toán chuyên đề của KTNN cho thấy: để nâng cao chất lượng, hoàn thiện tổ chức hoạt động kiểm toán chuyên đề thì cần nghiên cứu, giải quyết một số “vấn đề” sau:

    • Công tác định hướng và quản lý kiểm toán còn nhiều hạn chế: chưa hoạch định được các định hướng, chương trình kiểm toán chuyên đề cho từng ngành, lĩnh vực để có những đánh giá chuyên sâu, có giá để giải quyết các “vấn đề” của ngành, lĩnh vực…; việc lựa chọn chuyên đề kiểm toán, tạo lập chương trình thực hiện (kế hoạch) các chuyên đề kiểm toán chưa được xây dựng trong “kế hoạch kiểm toán trung hạn” để chủ động thực hiện các giai đoạn cần thiết của hoạt động kiểm toán chuyên đề.
    • Việc chọn chủ đề kiểm toán của KTNN hiện nay thường có chủ đề kiểm toán có phạm vi rộng (ví dụ: kiểm toán hoạt động ngân sách huyện; kiểm toán quản lý đất đai của các dự án đô thị, kiểm toán sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ…) nên tính chất “chuyên đề”, mục tiêu “chuyên sâu” bị hạn chế; mặt khác, việc lựa chọn và nghiên cứu chuyên đề kiểm toán của các KTNN chuyên ngành hoặc KTNN khu vực thường tương đối thụ động nên thiếu nghiên cứu thận trọng về vấn đề được lựa chọn kiểm toán.
    • Việc tổ chức công việc kiểm toán về cơ bản tuân thủ quy trình chung của cuộc kiểm toán, song, một số hoạt động kiểm toán có tính đặc thù của kiểm toán chuyên đề: chọn chuyên đề kiểm toán; tổ chức kiểm toán “thử” để xây dựng mô hình cuộc kiểm toán; tổng hợp kết quả và kiến nghị kiểm toán… còn chưa được thực hiện hoặc không đảm bảo sự thống nhất làm hạn chế lớn đến chất lượng cuộc kiểm toán.

    3. Phát triển và nâng cao chất lượng kiểm toán chuyên đề

    3.1. Cơ sở và tính cấp thiết

    Việc KTNN thực hiện nội dung kiểm toán truyền thống (kiểm toán tài chính) là cần thiết, song, việc nâng cao chất lượng và vai trò của KTNN đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công theo hướng phát triển kiểm toán chuyên đề là một định hướng đúng và cấp thiết; cụ thể:

    • Kiểm toán chuyên đề là cơ sở, là điều kiện để kiểm toán đánh giá theo chiều sâu những vấn đề trọng yếu, những hoạt động có rủi ro cao hoặc những hoạt động còn nhiều hạn chế, yếu kém trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công của các đơn vị được kiểm toán.
    • Việc triển khai, phát triển nội dung kiểm toán hoạt động của KTNN là một yêu cầu cấp bách, đáp ứng yêu cầu tăng cường quản lý của chính quyền nhà nước các cấp và sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với các tổ chức quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công mà trong đó, kiểm toán theo “chuyên đề”, “vấn đề” là định hướng chủ đạo của kiểm toán hoạt động.
    • KTNN là một cơ quan có vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào “cuộc chiến” của Đảng, Nhà nước đối với phòng và chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công; hoạt động kiểm toán chỉ có thể hướng đến phát triển kiểm toán theo chiều sâu, kiểm toán chuyên đề.

    3.2. Phương hướng và giải pháp

    Để đáp ứng được yêu cầu cấp bách của thực tiễn

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  9

    PHAÙT TRIEÅN PHÖÔNG THÖÙC kieåm toaùn chuyeân ñeà cuûa Kieåm toaùn nhaø nöôùc

    trên, hoạt động kiểm toán của KTNN, nói chung, và hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN, nói riêng, cần được đổi mới, hoàn thiện theo những phương hướng và giải pháp sau:

    • Đổi mới công tác quản lý hoạt động kiểm toán của KTNN dựa trên cơ sở đổi mới công tác kế hoạch kiểm toán của KTNN; cụ thể gồm 2 giải pháp:
    • Tổ chức một cách có hệ thống công tác xây dựng và quản lý kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán trung hạn (3 năm liên tục), trong đó, nội dung quan trọng (cốt lõi) là xây dựng các chương trình kiểm toán (kế hoạch và tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán) chuyên đề, kiểm toán hoạt động cho những ngành, lĩnh vực có những “vấn đề” để tổ chức thực hiện đạt được những mục tiêu có giá trị đối với quản lý ngành, lĩnh vực.
    • Nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý kế hoạch kiểm toán năm trong mối quan hệ hữu cơ với kế hoạch kiểm toán trung hạn; đây là cơ sở cho việc thực hiện các cuộc kiểm toán chuyên đề vượt khỏi giới hạn của từng “cuộc kiểm toán”, giải quyết được những “vấn đề” có tính hệ thống, tác động rộng đối với hệ thống các đơn vị được kiểm toán.
    • Đa dạng hóa các hình thức tổ chức kiểm toán chuyên đề phù hợp với đặc điểm của “vấn đề” kiểm toán và khách thể kiểm toán; cụ thể gồm 2 hình thức cơ bản sau:
    • Tổ chức kiểm toán chuyên đề theo mô hình hình thành “chuỗi” các cuộc kiểm toán đối với những chuyên đề ở phạm vi rộng cả một lĩnh vực, ngành, địa phương. Các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán này có thể được tổ chức trong 2 – 3 năm liên tục để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kiểm toán.
    • Tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề lồng ghép trong các cuộc kiểm toán tài chính (bộ, ngành, địa phương) đối với các chuyên đề hướng vào đánh giá những “vấn đề” phát sinh trong từng đơn vị được kiểm toán (kiểm toán việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, bảo vệ và phục hồi môi trường…).
    • Xây dựng quy trình kiểm toán phù hợp với những đặc thù của các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán chuyên đề; cụ thể gồm các giai đoạn sau:
    • Giai đoạn 1: Nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn chuyên đề cho các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán chuyên đề của KTNN. Đây là giai đoạn đầu tiên của quy trình kiểm toán, có ý nghĩa quyết định trong định hướng hoạt động kiểm toán. Giai đoạn này cần thực hiện cả việc nghiên cứu qua các tài liệu, báo cáo của ngành, lĩnh vực, đồng thời cần thực hiện khảo sát thực tế tại các đơn vị được kiểm toán để chọn đúng “vấn đề” có tính trọng yếu, hoạt động yếu kém hoặc hàm chứa nhiều rủi ro trong hoạt động.

     

    • Giai đoạn 2: Tổ chức các “cuộc kiểm toán thử nghiệm” tại một số đơn vị thuộc lĩnh vực, ngành, địa phương có các hoạt động thuộc chuyên đề kiểm toán đến (gồm 3 giai đoạn cơ bản của cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán của KTNN). Đây là bước triển khai kiểm toán thực tế tại các đơn vị được kiểm toán, việc chọn mẫu các đơn vị được kiểm toán phải đảm bảo đại diện cho các loại hình đơn vị trong chương trình kiểm toán để làm cơ sở thực tiễn cho việc xác định, điều chỉnh chủ đề kiểm toán là xác định đầy đủ, chính xác các đơn vị được kiểm toán.

     

    • Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá kết quả kiểm toán và xây dựng “mô hình chuẩn” của cuộc kiểm toán chuyên đề. Dựa trên kết quả kiểm toán của giai đoạn 2, ban chỉ đạo chương trình kiểm toán phải tiến hành phân tích, đánh giá kết quả kiểm toán so với các mục tiêu của cuộc kiểm toán; đánh giá việc xác định nội dung, phạm vi và cách thức tổ chức các cuộc kiểm toán, việc bố trí nhân sự và chỉ đạo hoạt động kiểm toán…; từ đó, xác định, hoàn chỉnh các mục tiêu, nội dung, phạm vi cuộc kiểm toán và “chuẩn hóa” cách thức tổ chức cuộc kiểm toán để mô hình hóa, chuẩn hóa cách tổ chức cuộc kiểm toán. Trong “mô hình chuẩn” cần chú trọng đến xác định thống nhất các tiêu chí kiểm toán và tiêu chuẩn đánh giá kiểm toán để đảm bảo sự thống nhất trong các cuộc kiểm toán thành phần.

     

    • Số 133 – tháng 11/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Giai đoạn 4: Tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề thành phần theo “mô hình chuẩn” (gồm 3 giai đoạn cơ bản của cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán của KTNN). Đây là giai đoạn mở rộng việc thực hiện kiểm toán chuyên đề. Trong giai đoạn này, cần chú trọng đến hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán để đảm bảo cho việc hoàn thành các mục tiêu của cuộc kiểm toán một cách đồng bộ tại tất cả các cuộc kiểm toán thành phần, làm cơ sở trực tiếp cho việc tổng hợp có hệ thống, toàn diện kết quả của chương trình kiểm toán.

     

    • Giai đoạn 5: Tổng hợp kết quả và đề xuất các kiến nghị kiểm toán của cuộc kiểm toán chuyên đề tổng hợp của KTNN. Đây là giai đoạn cuối cùng rất quan trọng của việc thực hiện kiểm toán. Kết quả kiểm toán phải được tổng hợp theo những tiêu chí kiểm toán đã được xác định và phải được đánh giá theo các tiêu chuẩn của cuộc kiểm toán. Việc tổng hợp, phân tích kết quả kiểm toán một cách khoa học là cơ sở thực tiễn để KTNN đưa ra những đánh giá chính xác, kết luận và đề xuất các kiến nghị có giá trị đối với ngành về những vấn đề được kiểm toán.

    Với việc tổ chức cuộc kiểm toán theo quy trình như trên nên việc tổ chức từ hoạt động định hướng chuyên đề kiểm toán đến tổng hợp kết quả kiểm toán cần được xây dựng và tổ chức thực hiện thống nhất, gắn kết kế hoạch của từng cuộc kiểm toán với kế hoạch kiểm toán trung hạn và kế hoạch kiểm toán năm mới đảm bảo được sự thành công.

    • Vận dụng các phương pháp kiểm toán phù hợp với đặc thù của kiểm toán chuyên đề; cụ thể gồm các định hướng sau:
    • Đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán: chuyển từ phương pháp tiếp cận kiểm toán toàn diện trong kiểm toán tài chính sang phương pháp tiếp cận “vấn đề” (tập trung vào những hoạt động trọng yếu, có rủi ro cao hoặc đang tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế) để tập trung vào các việc “then chốt” mà khi khắc phục được những mặt yếu kém, hạn chế sẽ có tác động “lan tỏa” tích cực đến các hoạt động khác của đơn vị được kiểm toán cũng như đối

    với ngành, lĩnh vực, địa phương được kiểm toán;

    • Chuyển từ việc áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán truyền thống trong kiểm toán tài chính (kiểm tra, đối chiếu, so sánh…) sang các phương pháp kiểm toán chuyên sâu (khảo sát, nghiên cứu chuyên sâu; phân tích, điều tra…), đồng thời, mở rộng phạm vi cơ sở dữ liệu kiểm toán từ dữ liệu tài chính, kế toán sang dữ liệu thống kê kinh tế, điều tra xã hội học…;

    Ngoài ra, cùng với những phương hướng và giải pháp đổi mới trên, KTNN, các KTNN chuyên ngành, các KTNN khu vực cần đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức thông tin kiểm toán (đặc biệt là xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm toán), công tác quản lý hoạt động kiểm toán chuyên đề và các cuộc kiểm toán chuyên đề, công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán phù hợp với đặc điểm của các cuộc kiểm toán chuyên đề.

    Kết luận

    Việc phát triển kiểm toán chuyên đề trong hoạt động kiểm toán của KTNN là một yêu cầu cấp bách, phù hợp với xu hướng vận động trong hoạt động kiểm toán của các nước có nền kiểm toán phát triển. Yêu cầu của thực tiễn đó đòi hỏi KTNN cần đề ra và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp đổi mới và hoàn thiện kiểm toán chuyên đề: công tác quản lý hoạt động kiểm toán; xây dựng và tổ chức quy trình kiểm toán chuyên đề; phương pháp tiếp cận và áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán; tổ chức thông tin kiểm toán, quản lý cuộc kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán của KTNN năm 2015, 2016, 2017;

     

    1. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng kế hoạch kiểm toán trung hạn của KTNN – Đề tài khoa học cấp bộ của KTTT, năm 2012;

     

    1. Quy trình kiểm toán của KTNN.

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  11


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BB%B1a-ch%E1%BB%8Dn-%C4%91%E1%BB%91i-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-n%E1%BB%99i-b%E1%BB%99-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-r%E1%BB%A7i-ro-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    ThS. Phan Thị Thùy Linh

     

    Trong mỗi tổ chức, nguồn lực kiểm toán nội bộ (KTNB) thường có sự hạn chế, “khan hiếm” một cách tương đối so với nhu cầu, do vậy, việc lựa chọn đối tượng kiểm toán hợp lý để đạt được mục tiêu kiểm toán và giảm thiểu rủi ro kiểm toán là vấn đề hàng đầu mà bộ phận KTNB quan

     

    tâm. Điều đó đòi hỏi KTNB cần có phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán một cách khoa học để phục vụ tốt nhất cho hoạt động kiểm toán và phục vụ cho hoạt động quản lý của tổ chức.

     

    Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, rủi ro kiểm soát, đối tượng kiểm toán

     

    Selection of audit subjects of internal audit based on control risk assessment

     

    In each organization, internal audit resources are often limited, “scarce” in a way relative to demand, so the selection of auditor objectively to achieve the Auditing objects and mitigating audit risks are top issues that Internal audit Depts concerned about. This requires Internal audit Depts to have a method of selecting audit subjects in a scientific way to best serve the audit activities and serve the management activities of the organization.

     

    Key words: Internal audit, control risk, audit objects

     

     

    Trong hoạt động kiểm toán hiện đại, các tổ chức kiểm toán (trong đó, gồm cả KTNB) thường thực hiện kiểm toán dựa trên phương pháp tiếp cận rủi ro. Một trong những vấn đề của KTNB là cần lựa chọn các đối tượng kiểm toán thích hợp với mục tiêu quản lý, phù hợp với năng lực kiểm toán (số lượng KTV và thời gian kiểm toán) và giảm thiểu rủi ro kiểm toán. Vấn đề đó có thể được giải quyết hợp lý thông qua việc ứng dụng đánh giá rủi ro kiểm soát để lựa chọn các đối tượng kiểm toán; đó là chủ đề mà Tác giả nghiên cứu trong bài viết này.

     

    1.   Kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát

     

    1.1. Mục tiêu và nội dung kiểm toán nội bộ

     

    Trong văn bản “Quy định về trách nhiệm KTNB” do IIA ban hành, xác định: “KTNB là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một

    tổ chức để kiểm tra và đánh giá những hoạt động của tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức” [(1)].

     

    Từ định nghĩa trên, có thể xác định những mục tiêu của KTNB là: i) Giúp cho tổ chức hoàn thành trách nhiệm; ii) Thúc đẩy hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu; iii) Hoàn thành mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả thông qua việc KTNB thực hiện kiểm tra, phân tích, đánh giá, kiến nghị, tư vấn về các thông tin liên quan đến hoạt động được kiểm toán.

     

    Để thực hiện được những mục tiêu đó, KTNB cần thực hiện ba nội dung kiểm toán cơ bản, gồm:

     

    1. Kiểm toán thông tin hay kiểm toán báo cáo tài chính (đánh giá độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động của tổ chức); ii) Kiểm toán tuân thủ (đánh giá sự tuân thủ pháp luật và các quy định có tác động đến hoạt động của tổ chức) và iii) Kiểm

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  47

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

     

     

     

    toán hoạt động (đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong sử dụng các nguồn lực của tổ chức).

     

    1.2. Mục tiêu và nội dung kiểm soát nội bộ

     

    Để thực hiện được “sứ mệnh” trong dài hạn và các mục tiêu ngắn hạn của mình, mỗi tổ chức cần hoạch định chiến lược phát triển và các kế hoạch hành động. Mặt khác, để có thể duy trì được các hoạt động theo kế hoạch và đạt được các mục tiêu của tổ chức thì mỗi tổ chức đều cần sử dụng một công cụ, phương thức tác động đến toàn bộ hoạt động của tổ chức, đó là KSNB. KSNB có vị trí rất quan trọng, có tác động quyết định đến mức độ thực thi các mục tiêu và kế hoạch hoạt động của tổ chức.

     

    KSNB của một tổ chức là việc thiết kế và tổ chức thực hiện một hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời những rủi ro xảy ra trong hoạt động để đảm bảo cho tổ chức quản lý và sử dụng tốt nhất các nguồn lực, thực hiện được các mục tiêu đề ra.

     

    Các mục tiêu chính của KSNB, gồm: “i) Đảm bảo độ tin cậy và tính trung thực của thông tin;

    1. Đảm bảo sự tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và quy định; iii) Đảm bảo về tài sản; iv) Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn

     

     

     

    lực; v)Hoàn thành các mục tiêu hoạt động”. (CM 300.05[2]).

     

    Nội dung của KSNB thể hiện ở 2 mặt cơ bản: i) Hệ thống KSNB (các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ) được thiết kế phù hợp với yêu cầu của quản lý và mục tiêu của tổ chức; ii) Tổ chức thực hiện KSNB là việc áp dụng các quy định của KSNB trong quá trình tổ chức sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động của tổ chức. Mặt tổ chức thực hiện là mặt quyết định vai trò, tác dụng của KSNB; tuy nhiên, mặt thiết kế hệ thống KSNB với mức độ chất lượng khác nhau sẽ là cơ sở và là điều kiện, tác động đến hiệu lực thực tiễn của hoạt động KSNB.

     

    1.3. Rủi ro kiểm soát

     

    Trong hoạt động KTNB, việc đánh giá rủi ro kiểm toán là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kiểm toán một cách khoa học và hiệu quả: lựa chọn đối tượng kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán, chọn mẫu các nghiệp vụ trong kiểm toán; trong đó, dựa trên đánh giá rủi ro để chọn đối lượng kiểm toán trong KTNB là một ứng dụng quan trọng của việc đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Trong các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm toán (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện) thì rủi ro KSNB (thường gọi là rủi ro kiểm soát) là yếu tố trung tâm và cũng là yếu tố quan trọng nhất

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    để Kiểm toán viên (KTV) đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Rủi ro KSNB (sau đây gọi là rủi ro kiểm soát) là khả năng mà hệ thống KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém trọng yếu tác động đến hoạt động của tổ chức. Như vây, khi xác định rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV chưa xét đến hoạt động kiểm soát và hiệu lực thực tiễn của hệ thống KSNB.

     

    Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thống KSNB. Hệ thống KSNB bao gồm 3 nhóm yếu tố: i) Nhóm yếu tố môi trường kiểm soát (môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức; ii) Nhóm yếu tố tổ chức hệ thống thông tin và truyền thông (tổ chức thông tin kế toán, thống kê… và tổ chức giám sát, báo cáo);

    • Các thủ tục kiểm soát (hệ thống các quy định về chính sách, thủ tục, quy trình…). Nếu chưa xét đến hiệu lực thực tiễn của việc tổ chức thực hiện KSNB thì mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB sẽ tác động đến khả năng hoạt động KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém có thể xẩy ra trong hoạt động của tổ chức. Có thể hiểu: hệ thống KSNB (gồm các nhóm và các yếu tố của hệ thống KSNB) có khả năng (ở mức độ cụ thể khác nhau) tác động đến khả năng xẩy ra rủi ro kiểm soát.

    2. Quy trình và phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    2.1. Đối tượng của kiểm toán nội bộ

     

    Đối tượng của KTNB gồm các hoạt động quản lý và sử dụng các nguồn lực hoặc tác động đến việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của tổ chức hoặc của các bộ phận của tổ chức phù hợp với mục tiêu, kế hoạch hoạt động của tổ chức. Các hoạt động chủ yếu được kiểm toán gồm:

     

    • Báo cáo tài chính của tổ chức và của các đơn vị trực thuộc;
    • Các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định về quản lý và sử dụng các nguồn lực;
    • Các trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư;
    • Các số dư tài khoản, các nghiệp vụ tài chính;
    • Các hệ thống thông tin;
    • Các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức;
    • Các dự án, chương trình hoạt động;
    • Các bộ phận trong tổ chức hoặc các đơn vị trực thuộc tổ chức…

    Mỗi đối tượng kiểm toán trên có những đặc điểm trong hoạt động khác nhau và cũng tồn tại rủi ro kiểm soát. Rủi ro kiểm soát của mỗi hoạt động đó đều chịu sự tác động của các yếu tố của hệ thống KSNB.

     

    2.2. Quy trình lựa chọn đối tượng kiểm toán nội bộ

     

    Việc lựa chọn các đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát, về tổng quan, gồm các bước công việc sau:

     

    • Tổng hợp, phân nhóm và lập danh sách các đối tượng kiểm toán. KTV phải tổng hợp danh sách của tất cả các đối tượng kiểm toán phù hợp với phạm vi và các tiêu chí phân nhóm các đối tượng kiểm toán. Việc sắp xếp các đối tượng kiểm toán vào một nhóm cần đảm bảo có sự tương đồng về tính chất hoạt động để phục vụ cho việc lựa chọn đối tượng kiểm toán và áp dụng các phương pháp kiểm toán thích hợp…
    • Đánh giá rủi ro kiểm soát, phân loại rủi ro kiểm soát và sắp xếp các đối tượng kiểm toán theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát và lập bản tổng hợp sắp xếp đối tượng kiểm toán của mỗi nhóm theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm toán (theo 2 tiêu chí là: theo tổng điểm rủi ro kiểm soát và theo điểm trung bình rủi ro kiểm soát).
    • Xác định đối tượng kiểm toán lựa chọn. KTV phải dựa trên mục tiêu kiểm toán để xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán. Trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại rủi ro kiểm soát và các nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đưa ra quyết định về các đối tượng kiểm toán lựa chọn.

    2.3. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát và lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    2.3.1. Các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm soát

     

    Để đánh giá rủi ro kiểm soát, trước hết, cần

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  49

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

    xác định các yếu tố cụ thể, chủ yếu tác động đến rủi ro kiểm soát (thực chất là các yếu tố của hệ thống KSNB). Vận dụng theo hướng dẫn của IIA tại Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán 520.04 [(2)], có thể xác định các yếu tố chủ yếu tác đọng đến rủi ro kiểm soát gồm:

     

    Các yếu tố môi trường kiểm soát:

     

    Môi trường bên ngoài:

     

    • Những thay đổi về pháp luật và các chính sách của Nhà nước;
    • Những biến động của nền kinh tế, ngành kinh tế;
    • Tác động của các đối thủ cạnh tranh;
    • Tác động của hoạt động ngoại kiểm (Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập, thanh tra …);

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Môi trường bên trong:

     

    • Tổ chức – nhân sự: những thay đổi về tổ chức – nhân sự; năng lực và đạo đức của nhà quản lý và nhân viên quản lý;
    • Kinh tế: tình trạng kinh tế, tài chính của tổ chức; quy mô tài sản hoặc vốn của hoạt động;
    • Tính chất phức tạp của nghiệp vụ hoặc sự phân tán trong hoạt động;
    • Những thay đổi về cơ chế quản lý, công nghệ;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về hệ thống thông tin, giám sát:

     

    • Tổ chức công tác kế toán, thống kê;
    • Tổ chức truyền thông (công khai, minh bạch, kịp thời…);
    • Các quy định về giám sát, ủy quyền;
    • Kết quả KTNB kỳ trước và khoảng các giữa 2 lần KTNB;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về các thủ thục, quy trình kiểm soát:

    • Sự tuân thủ pháp luật và phù hợp với mục đích, mục tiêu của tổ chức và của hoạt động;
    • Sự đầy đủ, toàn diện của các quy định đối với các đối tượng kiểm soát;
    • Sự hữu hiệu: tính khả thi của các quy định trong thực hiện kiểm soát;
    • Sự thích ứng: khả năng thích ứng của các quy định đối với sự biến động từ môi trường kiểm soát.

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    2.3.2. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát là một tiến trình có tính hệ thống để đánh giá và tổng hợp những xét đoán mang tính chuyên môn về tình trạng hoặc sự kiện có thể xảy ra, gây tác hại cho hoạt động của tổ chức.

     

    Việc đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện như sau:

     

    • Lựa chọn các yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát. Trong thực tế, KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thường không dựa trên việc đánh giá đối với tất cả các yếu tố tác động (quá nhiều) mà dựa trên việc lựa chọn những yếu tố chủ yếu (có thể ở mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB lựa chọn 2 yếu tố để đánh giá hoặc nhiều hơn ở một nhóm nào đó, tùy theo nhận định của KTV). Việc chọn yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát phải được thống nhất trong mỗi nhóm đối tượng kiểm toán; mặt khác, những yếu tố của hệ thống KSNB của một nhóm đối tượng kiểm toán mà được xét đoán là có sự tương đương về mức độ rủi ro kiểm soát thì có thể không đưa vào danh mục các yếu tố để đánh giá.
    • Lượng hóa rủi ro kiểm soát cho từng yếu tố. Dựa trên các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán và nhận định của KTV về mức độ rủi ro kiểm soát do từng yếu tố của hệ thống KSNB tác động (đã được lựa chọn) để lượng hóa rủi ro kiểm soát theo 5 mức độ: rất cao (5 điểm); cao (4 điểm); trung bình (3 điểm); thấp (2 điểm); rất thấp (1 điểm).
    • Xác định trọng số cho rủi ro kiểm soát. Mặc dù là các yếu tố độc lập tương đối tác động đến rủi ro kiểm soát, song, giữa chúng cũng có mức độ
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    “quan trọng” về mức độ tác động đến rủi ro kiểm soát khác nhau (ví dụ: i) Các quy định càng có tính trực tiếp đối với hoạt động KSNB thì có xu hướng tác động “quan trọng” càng lớn: các yếu tố về thủ tục, quy trình kiểm soát có tác động “quan trọng” lớn hơn các yếu tố về môi trường kiểm soát; ii) Các yếu tố có sự biến động lớn sẽ có tác động “quan trọng” hơn các yếu tố ít biến động …). Do vậy, dựa trên những đánh giá về mức độ tác động “quan trọng” của các yếu tố, KTV xác định “trọng số” tác động rủi ro kiểm soát. Có thể xác định ở 3 mức: yếu tố có mức độ tác động “quan trọng” lớn (trọng số 2); mức độ tác động “quan trọng” trung bình (trọng số 1,5); mức độ “quan trọng” thấp (trọng số 1).

     

    • Tổng hợp và phân loại rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở xác định điểm rủi ro và trọng số rủi ro, KTV tính toán sự tác động của từng yếu tố đến rủi ro kiểm soát và tổng hợp rủi ro kiểm soát của các yếu tố (được lựa chọn) cho từng đối tượng kiểm toán trong cùng một nhóm đối tượng kiểm toán. Để tạo cơ sở cho lựa chọn đơn vị được kiểm toán cần phân loại rủi ro kiểm soát. Việc phân loại rủi ro kiểm soát được thực hiện theo phương pháp: i) Xếp loại rủi ro kiểm soát theo thứ tự từ rủi ro cao xuống thấp; ii) Xác định điểm rủi ro bình quân kiểm soát theo phương pháp tính bình quân gia quyền rủi ro của từng đối tượng kiểm toán; iii) Phân loại rủi ro kiểm soát cho từng đối tượng kiểm toán: dựa trên điểm rủi ro bình quân của từng đối tượng kiểm toán, thực hiện xếp loại: rủi ro rất cao (điểm từ trên 4 đến 5 điểm); rủi ro cao (điểm từ trên 3 đến 4 điểm); rủi ro trung bình (điểm từ trên 2 đến 3 điểm); rủi ro thấp (điểm từ 1 đến 2 điểm); rủi ro thấp (điểm từ trên 0 đến 1 điểm).

    2.3.3. Xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    Để lựa chon đối tượng kiểm toán cần xác định các nguyên tắc lựa chọn phù hợp với từng mục tiêu kiểm toán. Có 3 trường hợp lựa chọn như sau:

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán có mức rủi ro trên mức trung bình. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào các đối tượng có rủi ro kiểm soát cao. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (điểm rủi

    ro bình quân) để chọn tất cả các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát được xếp loại cao và rất cao.

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán theo giới hạn khả năng kiểm toán. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc khai thác cao nhất khả năng kiểm toán. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát) để chọn các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát từ cao xuống thấp cho đến khi số lượng phù hợp với dự kiến về khả năng kiểm toán.
    • Chọn đối tượng kiểm toán đại diện cho tổng thể. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc kiểm toán toàn diện các đối tượng kiểm toán đại diện cho các mức rủi ro kiểm soát. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát và theo phân loại rủi ro kiểm soát) để chọn tại mỗi mức rủi ro (5 mức) chọn theo một tỉ lệ (được xác định trước) các đối tượng kiểm toán; trong mỗi mức rủi ro kiểm soát có thể chọn đối tượng theo phương pháp từ trên xuống (theo tổng điểm rủi ro) hoặc theo lựa chọn ngẫu nhiên.

    Kết luận

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát dựa trên phương pháp lượng hóa làm cơ sở cho việc lựa chọn hợp lý các đối tượng kiểm toán trong hoạt động KTNB là một phương pháp mang tính khoa học và khả thi; việc áp dụng phương pháp đó trong thực tiễn KTNB (đặc biệt là tại các tổ chức có quy mô tương đối lớn) sẽ tạo cơ sở cho việc giảm thiểu rủi ro kiểm toán, nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán của KTNB.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Quy định về trách nhiệm của kiểm toán nội bộ của IIA, 1990.

     

    1. Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp Kiểm toán nội bộ của IIA, 1993.

     

    1. Kiểm toán nội bộ – khái niệm và quy trình, NXB Thống kê, 1999.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%E1%BA%A7n-s%E1%BB%9Bm-tri%E1%BB%83n-khai-khung-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%C3%B4ng-v%C3%A0o-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-c%C3%A1c-qu%E1%BB%B9-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

     

    PGS.TS. Đặng Văn Du* ThS. Đặng Văn Duy*

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

     

    Quá nhiều quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và quản lý các quỹ này còn bộc lộ quá nhiều hạn chế; đó là nhận định của hầu hết các nhà chính trị, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý về tài chính công ở nước ta. Thể hiện sự quyết tâm của “Chính phủ kiến tạo’’ đối với lĩnh vực này, ngày 01 tháng 03 năm 2017, Văn phòng Chính phủ đã ban hành

     

    Văn bản số 1861/VPCP-KTTH, về việc quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nhằm tiếp tục chỉ đạo tăng cường quản lý quỹ tài chính nhà nước (TCNN) ngoài ngân sách theo Chỉ thị 22/2015/CT-TTg.

     

    Bài viết này tập trung bàn về cách thức nghiên cứu triển khai nhằm sớm áp dụng “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’ vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Thông qua đó có thể đáp ứng phần lớn yêu cầu tăng cường quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách mà Chính phủ đã đề ra tại Văn bản 1861 nói trên. Hướng tới mục đích đó, kết cấu bài viết được trình bày theo hai phần: (i) Tổng quan về “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’; và (ii) Nghiên cứu triển khai nhằm sớm áp dụng “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’ vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Từ khóa: Quỹ TCNN ngoài ngân sách, khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công, đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Implementation of the perfromance evaluation framework for public financial management in assessment management of outside budget governmental financial funds

     

    Too many outside budget state financial funds and management of these funds reveal too many limitations; This is the opinion of most politicians, researchers, public finance managers in our country. Demonstrating the determination of the “Enabling Government” in this field, on March 1, 2017, the Office of the Government issued Document No. 1861 / VPCP-KTTH, to further direct the management of outside budget financial funds under the Directive 22/2015 / CT-TTg.

     

    This paper focuses on how to study and implement the “Performance Evaluation Framework for Public Financial Management” in the management of outside budget financial funds. Through which, it is possible to meet most of the requirements for strengthening the management ofoutside budget financial funds set by the Government in Document 1861 mentioned above. Toward that end, the text structure is presented in two parts: (i) Overview of the “Public Financial Management Performance Assessment Framework”; and (ii) Research and development for the early implementation of the “Public Financial Management Performance Evaluation Framework” in outside budget financial funds.

     

    Key words: Outside budget financial funds, the framework for assessing the effectiveness of public financial management, the evaluation of the management of outside budget financial funds.

    *Học viện Tài chính

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  33

     

     

    PI-13

    PI-14

    PI-15

    PI-16

    PI-17

     

    PI-12

     

    PI-11

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    1.   Tổng quan về “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’

     

    Khung đánh giá hiệu quả thực hiện Quản lý tài chính công – Public Expenditure and Financial Accountability (PEFA) – là một khuôn khổ giám sát tổng hợp cho phép lượng hóa hiệu quả thực hiện Quản lý tài chính công (QLTCC) của quốc gia theo thời gian. Khung đánh giá này được xây dựng bởi nhóm đối tác PEFA, phối hợp với Tổ công tác về QLTCC của Ủy ban viện trợ phát triển (DAC) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nhằm hình thành một công cụ cung cấp thông tin đáng tin cậy về hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thể chế QLTCC theo thời gian. PEFA cung cấp thông tin nhằm đóng góp cho tiến trình cải cách của Chính phủ qua việc xác định mức độ cải thiện về kết quả do thực hiện cải cách đem lại, cũng như tăng khả năng nắm bắt và học hỏi những thành công từ cải cách. PEFA cũng giúp hài hòa về mặt đối thoại giữa Chính phủ và

    các nhà tài trợ trên một khuôn khổ chung nhằm lượng hóa hiệu quả thực hiện QLTCC và qua đó góp phần giảm các chi phí giao dịch cho các Chính phủ đối tác.

     

    PEFA là một trong những nội dung của phương pháp tiếp cận tăng cường, nhằm hỗ trợ cải cách QLTCC. Nó được thiết kế để lượng hóa hiệu quả thực hiện QLTCC theo thời gian cho những quốc gia ở trình độ phát triển khác nhau. Khung đánh giá kết quả thực hiện bao gồm một bộ chỉ số tổng quan, nhằm lượng hóa và giám sát hiệu quả thực hiện của các hệ thống, quy trình, và thể chế QLTCC cùng một mẫu Báo cáo hiệu quả thực hiện QLTCC (PFM- PR), trong đó hướng dẫn về cách thức báo cáo hiệu quả thực hiện của QLTCC được đo lường bằng bộ chỉ số. Đây là phương pháp tiếp cận nhằm đưa vào hệ thống những thông lệ tốt hơn đã được một số quốc gia áp dụng [Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Phần Giới thiệu].

     

    1.1. Bộ chỉ số của PEFA, được trình bày như sau:

     

    1. Đầu ra QLTCC: Độ tin cậy của ngân sách

    PI-1

    Tổng chi thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-2

    Cơ cấu tổng chi thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-3

    Tổng thu thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-4

    Kiểm kê và giám sát nợ quá hạn thanh toán từ nguồn chi

    B. CÁC VẤN ĐỀ ĐAN XEN: Tính toàn diện và minh bạch

    PI-5

    Phân loại ngân sách

    PI-6

    Tính toàn diện của thông tin trong tài liệu ngân sách

    PI-7

    Quy mô các hoạt động Chính phủ không được báo cáo

    PI-8

    Tính minh bạch của các mối quan hệ tài khóa liên Chính phủ

    PI-9

    Giám sát rủi ro tài khóa tổng thể xuất phát từ các thể nhân khác thuộc khu vực công

    PI-10

    Sự tiếp cận của công chúng đối với thông tin tài khóa chủ đạo

    1. CHU KỲ NGÂN SÁCH

    (i) Lập ngân sách trên cơ sở chính sách

     

    Tính kỷ luật và sự tham gia vào quy trình ngân sách hàng năm

     

    Triển vọng nhiều năm đối với công tác lập kế hoạch tài khóa, chính sách chi và lập ngân sách

     

    (ii) Tính dự báo trước và kiểm soát việc chấp hành ngân sách Tính minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế

     

    Tính hiệu quả của các biện pháp đăng ký đối tượng nộp thuế và khai thuế Tính hiệu quả của việc thu thuế

     

    Tính dự báo trước về quỹ có thể chi tiêu

     

    Ghi sổ và quản lý số dư tiền mặt, nợ và bảo lãnh

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    PI-18

    Tính hiệu quả của việc kiểm soát tiền lương

     

    PI-19

    Cạnh tranh, giá trị tiền tệ và kiểm soát việc mua sắm

     

    PI-20

    Tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ đối với chi phí ngoài lương

     

    PI-21

    Tính hiệu quả của kiểm toán nội bộ

     
     

    (iii) Kế toán, ghi sổ và báo cáo

     

    PI-22

    Tính kịp thời và thường xuyên của công tác đối chiếu số dư tài khoản

     

    PI-23

    Tính sẵn có của thông tin về nguồn mà các đơn vị cung cấp dịch vụ nhận được

     

    PI-24

    Chất lượng và tính kịp thời của báo cáo ngân sách trong năm

     

    PI-25

    Chất lượng và tính kịp thời của báo cáo tài khóa hàng năm

     
     

    (iv) Kiểm tra và kiểm toán bên ngoài

     

    PI-26

    Phạm vi, đặc điểm và thực hiện kiến nghị của kiểm toán bên ngoài

     

    PI-27

    Giám sát của Quốc hội về tính pháp lý của luật ngân sách hàng năm

     

    PI-28

    Giám sát của Quốc hội về tính pháp lý các báo cáo kiểm toán bên ngoài

     
       

    D. THỰC TIỄN TÀI TRỢ

     
         

    D-1

    Tính dự báo trước của các khoản hỗ trợ ngân sách trực tiếp

     

    D-2

    Thông tin tài khóa do nhà tài trợ cung cấp về ngân sách và báo cáo các khoản tài trợ

     

    cho dự án và chương trình

     
     

    D-3

    Tỷ trọng viện trợ được quản lý theo các thủ tục quốc gia

     

    Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Phụ lục 1

     

    28 chỉ số lựa chọn cho hệ thống QLTCC được sắp xếp theo 3 nhóm nội dung đánh giá như sau:

     

    Một là, kết quả thực hiện của hệ thống QLTCC/ đầu ra: Nhằm tìm hiểu kết quả trước mắt của hệ thống QLTCC, được thể hiện qua thực thu và thực chi so với ngân sách gốc được phê duyệt, cũng như mức độ và thay đổi về nợ đọng chi tiêu.

     

    Hai là, đặc điểm chung của hệ thống QLTCC: Nhằm tìm hiểu tính toàn diện và minh bạch của hệ thống QLTCC xuyên suốt toàn bộ chu kỳ ngân sách.

     

    Ba là, chu kỳ ngân sách: Nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thể chế chính trong chu kỳ ngân sách của Chính phủ cấp Trung ương.

     

    Ngoài các chỉ số về hiệu quả thực hiện QLTCC của quốc gia, PEFA còn bao gồm nội dung đánh giá về:

     

    Hoạt động của nhà tài trợ: Nhằm tìm hiểu các yếu tố về thực tiễn hoạt động của các nhà tài trợ có tác động đến hiệu quả hoạt động hệ thống QLTCC.

     

    1.2. Phương pháp thu thập thông tin của PEFA:

     

    Dựa trên các báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị được đánh giá, kết hợp với các hoạt động điều tra thống kê, phỏng vấn… để xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã thu thập được.

     

    1.3. Phương pháp đánh giá của PEFA: Chấm điểm cho các chỉ số theo Phương pháp cho điểm 1 (M1), hoặc Phương pháp cho điểm 2 (M2); tổng hợp kết quả theo điểm để xếp mỗi chỉ số theo 04 mức (A, B, C, D); mỗi mức có 2 bậc (cộng (+) hoặc không cộng) nên thang điểm hình thành 08 bậc (A+, A, B+, B, C+, C, D+, D) nên tính chính xác, khách quan của các chỉ số PEFA tương đối cao, chủ thể được đánh giá dễ thừa nhận.

     

    1.4. Kết quả của PEFA: Bản báo cáo hiệu quả hoạt động QLTCC khoảng 30 – 35 trang, với 05 nội dung chủ yếu sau:

     

    • Phần đánh giá tổng quan (ở đầu báo cáo) sử dụng những phân tích dựa trên bộ chỉ số nhằm đưa ra nhận định tổng thể về hệ thống QLTCC của quốc gia theo sáu nội dung căn bản về hiệu quả thực hiện QLTCC cũng như nhận định về tác động

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  35

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    của những yếu kém được xác định với ba cấp độ về đầu ra điều hành ngân sách gồm kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược, và hiệu suất dịch vụ sự nghiệp.

     

    • Phần giới thiệu nhằm trình bày bối cảnh và quy trình lập báo cáo cũng như cụ thể hóa phạm vi chi tiêu công được phân tích trong báo cáo.
    • Phần thông tin liên quan đến quốc gia là nội dung cần thiết để có thể hiểu được kết quả đánh giá theo chỉ số và kết quả đánh giá tổng quan về hiệu quả thực hiện QLTCC. Phần này mô tả ngắn gọn về tình trạng kinh tế quốc gia, mô tả kết quả điều hành ngân sách qua các nội dung đánh giá về kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược, và mô tả khuôn khổ pháp lý và thể chế QLTCC.
    • Phần nội dung chính của báo cáo trình bày đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thế chế QLTCC theo bộ chỉ số, và mô tả các biện pháp cải cách gần đây hoặc đang được triển khai của Chính phủ.
    • Phần về tiến trình cải cách của Chính phủ trình bày tóm lược những biện pháp cải cách gần đây hoặc đang được triển khai của Chính phủ và đưa ra đánh giá về các yếu tố thể chế có ảnh hưởng tới lập kế hoạch và triển khai cải cách trong tương lai. [Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Mục 4]

    Với cách xác lập chỉ số, phương pháp, kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC như trên, PEFA đã được sử dụng như một công cụ quan trọng để đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC ở từng bộ phận, từng ngành, từng địa phương, và cấp quốc gia; đồng thời kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC cho mỗi chủ thể lại bổ sung nguồn thông tin chung cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về QLTCC và người dân mỗi khi cần thực hiện quyền và trách nhiệm đối với QLTCC.

     

    2.   Nghiên cứu triển khai nhằm áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách

     

    Những nghiên cứu về quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam trong thời gian qua

    đã chỉ ra hàng loạt nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong quản lý đối với các quỹ này, như: Rất nhiều quỹ nhưng không rõ ai quản lý, ai giám sát do thiếu căn cứ pháp lý hoặc bị chồng chéo về thẩm quyền khi chiểu theo các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau [Đặng Thị Hàn Ni (2013)]; Chưa có khung pháp luật quy định chế tài xử lý thống nhất đối với hoạt động của các quỹ TCNN ngoài ngân sách và không bị Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi [Đỗ Quang Minh (2017)]; Hình thành quá nhiều quỹ có nguy cơ dẫn đến phân tán, quản lý lỏng lẻo, tiêu cực, tham nhũng. Việc phát triển nhanh các quỹ, nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng lạm thu, vượt quá khả năng của doanh nghiệp và dân cư [Nguyễn Minh Tân (2013)]; Thiếu cơ chế quản lý đang gây ra khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các quỹ, làm hạn chế tính đầy đủ, chính xác, minh bạch [Cẩm Tú (2017)]… Nhưng các khuyến nghị lại chủ yếu tập trung đề xuất vào ban hành khung pháp lý chung, nên tính khả thi chưa cao. Đặc biệt, rất thiếu các ý kiến đề xuất có liên quan đến đánh giá trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu của các chủ thể có trách nhiệm quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, và các điều kiện để thu hút sự tham gia của công chúng vào quá trình quản lý của các quỹ này.

     

    Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi cho rằng: Triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam là giải pháp cần ưu tiên thực hiện.

     

    2.1. Sự cần thiết phải triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách là cần thiết

     

    Đề xuất của chúng tôi về sớm ưu tiên nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam, do:

     

    Thứ nhất, xuất phát từ tầm quan trọng của các quỹ TCNN ngoài ngân sách là một trong 2 hợp phần quan trọng nhất của tài chính công – xét trên giác độ mục đích tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 đã ghi: “Quỹ tài chính nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    ngoài ngân sách là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.” [Điều 4, khoản 19]. Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 đã quy định: “Tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước; dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; tài chính của các cơ quan nhà nước…” [Điều 3, khoản 10]. Như vậy, các quỹ TCNN ngoài ngân sách là một bộ phận của tài chính công đã được thống nhất cả trong nhận thức lý luận và cả trong quy định pháp lý dùng trong quản lý nhà nước.

     

    Thứ hai, PEFA là công cụ hữu hiệu để quản lý các quỹ. Khi triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách sẽ buộc các chủ thể được giao quản lý, sử dụng các quỹ này phải quan tâm đến sự kết hợp giữa các trụ cột của quản lý nhà nước tốt với các mục tiêu của QLTCC, như: Trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu, sự tham gia với kỷ luật tài khóa tổng thể, hiệu quả phân bổ, và hiệu quả hoạt động. Nhờ đó chất lượng thể chế trong QLTCC sẽ từng bước được nâng cao do sự bắt buộc phải vào cuộc thực hiện

     

     

     

     

    của từng chủ thể có liên quan đến quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Thứ ba, Triển khai áp dụng PEFA khá dễ dàng, thuận lợi. PEFA được lượng hóa theo điểm nên dễ so sánh hiệu quả thực hiện hoạt động giữa các chủ thể có trách nhiệm quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách nên vừa giúp cơ quan nhà nước cấp trên dễ đánh giá phân loại kết quả hoạt động của các cơ quan cấp dưới được giao trách nhiệm quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, vừa giúp cho chính tổ chức được đánh giá tự nhìn nhận lại mình mà lựa chọn cách ứng xử cho phù hợp với yêu cầu quản lý.

     

    Thứ tư, PEFA có độ tin cậy cao các báo cáo của PEFA là bằng chứng xác thực để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các quyết định về việc hoàn thiện hệ thống tổ chức, bộ máy và phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn về quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách cho phù hợp.

     

    Thứ năm, PEFA phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam là bước cụ thể hóa quy định của Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 về yêu cầu đối với báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước; trong đó có yêu cầu đối với báo cáo quyết toán của

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  37

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    các quỹ TCNN ngoài ngân sách là: “Báo cáo quyết toán của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của quỹ.” [Điều 65, khoản 7]

     

    2.2. Nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách

     

    Đây là hoạt động có khối lượng công việc rất đồ sộ, đòi hỏi phải tiêu tốn một lượng không nhỏ các nguồn lực đầu vào tương đương với đề tài cấp bộ trở lên. Trong khuôn khổ của mục này của bài báo, chúng tôi chỉ xin nêu ra một số gợi ý định hướng nghiên cứu triển khai như sau:

     

    Lựa chọn bộ chỉ số: Ưu tiên số 1

     

    Về nguyên tắc, các chỉ số của PEFA đều có thể được lựa chọn và sử dụng trong đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nhưng mỗi quỹ có đặc thù về mô hình tổ chức, về nguồn hình thành và sử dụng quỹ khác nhau; cơ chế quản lý khác nhau nên cần có sự phân loại quỹ TCNN ngoài ngân sách theo các nhóm để làm cơ sở cho xác lập các bộ chỉ số đánh giá quản lý cho phù hợp.

     

    Mặc dù vậy, có một số chỉ số vẫn có thể áp dụng chung cho mọi quỹ TCNN ngoài ngân sách, như:

     

    Các chỉ số PI-1 đến PI-4 thuộc mục A- Độ tin cậy của ngân sách; bởi đây là hoạt động bắt buộc phải có ở mỗi quỹ. Đồng thời thông qua các chỉ số này, người đánh giá có thể đưa ra các nhận xét về trách nhiệm giải trình, tính tiên liệu, tính tuân thủ của người đứng đầu cơ quan quản lý quỹ. Ví dụ, tổng thực chi so với ngân sách gốc được phê duyệt ở tổ chức được đánh giá có độ lệch lớn giữa thực hiện với dự toán, thì trước hết đánh giá về tính tiên liệu của người đứng đầu quỹ đó chỉ đạt mức điểm thấp, sau đó mới xem xét đến các vấn đề có liên quan.

     

    PI-6 cần phải được nghiên cứu áp dụng cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách để đảm bảo tính toàn diện, và là cơ sở cho cơ quan quyền lực nhà nước cân nhắc khoản chi cho quỹ TCNN ngoài ngân sách khi thảo luận và quyết định

    dự toán ngân sách hằng năm.

     

    PI-9 và PI-10 cần được áp dụng chung, do giám sát rủi ro tài chính của các quỹ TCNN ngoài ngân sách là trách nhiệm của các cơ quan quản lý cấp trên; đồng thời cũng là tự thân của nhu cầu kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, sự tham gia của công chúng là một trong 4 trụ cột của quản lý nhà nước tốt đối với quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    PI-12 cần phải được thực hiện do tầm nhìn trung hạn đã được coi là 1 trong 8 căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm [Điều 41, khoản 6].

     

    PI-18 phản ánh hiệu quả kiểm soát lương biên chế có thể vận dụng cho các tổ chức quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, do đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong thường xuyên và có liên quan đến nhiều chính sách khác của Nhà nước ở tầm vĩ mô.

     

    PI-20 thu thập đánh giá về hiệu quả kiểm soát nội bộ với các khoản chi ngoài lương. Nhu cầu này có ở tất cả các tổ chức được giao quản lý, sử dụng quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nội dung chi này thường có các “con số không rõ ràng“ và là nội dung không hề dễ xử lý trong quá trình hoạt động của quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    PI-21 phản ánh hiệu quả kiểm toán nội bộ. Đây là xu hướng tất yếu phải thực hiện đối với tất các đơn vị thuộc khu vực công khi quản trị nền hành chính nhà nước dần thay thế cho quản lý hành chính truyền thống.

     

    PI-22 phản ánh mức độ kịp thời và thường xuyên của việc đối chiếu tài khoản. Điều này đã được xác định trong Luật Kế toán và các luật chuyên ngành khác; trong đó kế toán các quỹ TCNN được xếp vào kế toán công nên càng cần phải làm tốt các yêu cầu của PI-22 này.

     

    PI-24 và PI-25 là yêu cầu của kế toán công khi thực hiện các thao tác nghiệp vụ nhằm tổng hợp và cung cấp thông tin cho quá trình quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách; đặc biệt là ở khâu lập dự toán và lập quyết toán.

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Các chỉ số PI-26 đến PI-28 cần phải đươc thực hiện để đảm bảo có các đánh giá ngoài và hướng tới các tiêu chuẩn chung của tổ chức, và cung cấp các thông tin cần thiết cho cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện quyền giám sát của họ.

     

    Với các quỹ có quyền tự quyết cao cần sử dụng thêm chỉ số PI-19; bởi một phần quan trọng trong chi tiêu công được thực hiện qua hệ thống mua sắm đấu thầu. Hệ thống mua sắm đấu thầu vận hành tốt sẽ đảm bảo vốn được sử dụng đạt hiệu quả và hiệu suất. Cạnh tranh mở qua đấu thầu được coi là cơ sở để đạt hiệu suất cao nhất trong mua sắm đầu vào và đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn trong việc Chính phủ thực hiện các chương trình và các dịch vụ sự nghiệp. Chỉ số này tập trung đánh giá chất lượng và độ minh bạch của khuôn khổ pháp lý về mua sắm, đấu thầu qua việc xác định sử dụng cạnh tranh mở và công bằng là phương pháp mua sắm nên áp dụng, đồng thời xác định các phương pháp phù hợp khác với cạnh tranh mở nếu được biện minh theo hoàn cảnh cụ thể.

     

    Như vậy, có tới 18/28 chỉ số của PEFA có thể lựa chọn nghiên cứu triển khai áp dụng cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách (dưới góc nhìn của chúng tôi). Nếu Chính phủ chỉ đạo tổ chức nghiên cứu triển khai và đưa vào các quy định hướng dẫn quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách kịp thời, sẽ là bước đột phá cho cải cách quản lý đối với các quỹ này.

     

    Hoàn thiện Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách: Các việc cần phải giải quyết

     

    Sau khi đã thống nhất được bộ chỉ số cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách, các việc còn lại cần phải triển khai nghiên cứu là: Xác lập phương pháp thu thập thông tin; Lựa chọn phương pháp đánh giá; và Báo cáo kết quả. Đó là 3 nội dung còn lại thuộc Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nội dung của 3 việc trên khá đồ sộ; tuy nhiên về cơ bản có thể dựa trên nền tảng đã có của PEFA mà triển khai và cụ thể hóa. Ví dụ, phương pháp đánh giá hoàn toàn

    có thể kế thừa 2 phương pháp cho điểm của PEFA (M1 và M2); hay mẫu báo cáo hiệu quả hoạt động quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách cũng có thể mô phỏng dựa theo mẫu của PEFA.

     

    Suy nghĩ của chúng tôi về nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách dựa trên nền tảng pháp lý đã có

     

    • Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán, Luật Đầu tư công và cơ chế quản lý đã có cho mỗi quỹ TCNN ngoài ngân sách; nên không làm xáo trộn khung pháp lý, nhưng lại rất hữu ích cho cụ thể hóa các quy định đã có ở khung pháp lý và thiết thực góp phần tăng cường quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là những nhận định mang tính chủ quan, rất mong có nhiều ý kiến bàn thảo về chủ đề này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ngân hàng Thế giới (2005), Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công, tháng 6.

     

    1. Đỗ Quang Minh (2017), Pháp luật về quỹ tài chính công ngoài NSNN ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017.

     

    1. Đặng Thị Hàn Ni (2013), Quỹ tài chính nhà nước: Cần được luật hóa, Báo Sài Gòn giải phóng ngày 12/09/2013.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/ QH13.

     

    1. Nguyễn Minh Tân (2013), Quản lý và giám sát các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Số 8 (586), tháng 8.
    2. Cẩm Tú (2017), Đề xuất cơ chế quản lý 70 quỹ tài chính ngoài ngân sách, VOV- Trung tâm thông tin, http://vov.vn/kinh-te/de-xu-at-co-che-quan-ly-70-quy-tai-chinh-ngoai-ngan-sach-589183.vov.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-d%E1%BB%AF-li%E1%BB%87u-l%E1%BB%9Bn-%C4%91%E1%BA%BFn-ngh%E1%BB%81-nghi%E1%BB%87p-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    ThS. Nguyễn Vĩnh Khương*

    Bài viết tập trung chủ yếu vào sự phát triển của báo cáo doanh nghiệp trong thời đại kỹ thuật số, về Internet và công nghệ hiện đại nói chung và dữ liệu lớn nói riêng. Bên cạnh đó, tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước đây về tác động của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán. Thảo luận các kết quả nghiên cứu trước đây về vấn đề này và đưa ra các ý tưởng cho nghiên cứu trong tương lai.

    Từ khóa: Dữ liệu lớn, kế toán.

     

    The impacts of big data to professional accounting

     

    The article focuses primarily on the development of enterprise reporting in the digital age, on the Internet and on modern technology in general and on big data in particular. In addition, synthesis and analysis of previous studies on the impact of big data on the accounting profession. Discuss previous research findings on this issue and provide ideas for future research.

     

    Keywords: Big data; accounting.

     

    1. Giới thiệu

     

    Cuộc cách mạng kỹ thuật số trong những thập kỷ qua đã dẫn tới hiện tượng phổ biến dữ liệu lớn (big data) (Moffitt và Vasarhelyi, 2013), trong những năm gần đây đã gây ra sự cường điệu. 90% dữ liệu của thế giới đã được tạo ra từ năm 2010 là một thực tế được nhắc đến nhiều, và nói chung niềm tin là dữ liệu lớn đặt ra cơ hội lớn cho các tổ chức, Chính phủ và cá nhân để cung cấp các giải pháp cho các vấn đề hiện tại và tương lai.

     

    Và dữ liệu lớn đã thể hiện tác động trong bối cảnh công ty (Moffitt và Vasarhelyi, 2013; Vasarhelyi và cộng sự, 2015) đến các hoạt động tiếp thị, hoạt động sản xuất, lập kế hoạch / dự toán ngân sách / dự báo doanh thu là những ví dụ phổ biến khi dữ liệu lớn được sử dụng để cung cấp ước tính chính xác hơn, (Bhimani và Willcocks, năm 2014; Griffin và Wright, 2015; Vasarhelyi và cộng

     

    sự, 2015; Warren và cộng sự, 2015). Tác động của dữ liệu lớn đối với thực tiễn kế toán, hiện tại và tương lai, được mong đợi và chủ yếu được nhìn nhận tích cực (Warren và cộng sự, 2015) mặc dù, có nhiều sự thận trọng để xem xét rủi ro để đối phó (Bhimani và Willcocks, 2014; Payne, 2014). Tuy nhiên, Quattrone (2016) đề cập về vấn đề số hoá kế toán, vì tin rằng các cuộc đối thoại liên quan đến kế hoạch sẽ bị mất nếu chúng ta sử dụng phân tích dữ liệu lớn thay thế. Trong một thế giới tự do, khả năng phân tích giám sát và dự đoán hành động của một người thực sự có thể cần thiết. Tuy nhiên, đối thoại và phân tích dữ liệu lớn không nhất thiết phải là những người có cùng quan điểm – các nhà khoa học dữ liệu tìm cách “kể một câu chuyện từ dữ liệu”, “tạo ra một tường thuật để làm sáng tỏ sự hiểu biết và cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi hóc búa”. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các dữ liệu lớn kết hợp nhiều hơn các cơ sở dữ liệu cực kỳ lớn.

     

    *Trường Đại học Kinh tế – Luật_ĐHQG TP.HCM

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  27

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

     

    Cái gọi là “người bản địa số”, thế hệ thiên niên kỷ (the millennial generation), sử dụng thuật ngữ dữ liệu lớn để biểu thị cách thông tin được khai thác theo những cách mới (Jariwala, 2015), về cơ bản là trạng thái tâm trí, phản ánh những cơ hội mà dữ liệu lớn cung cấp , ổn định và phát triển, không có giới hạn hoặc không di động, và các lập luận chung về hướng thu thập dữ liệu lớn (Jariwala, 2015).

     

    Hệ sinh thái dữ liệu của tổ chức đang được mở rộng liên tục, dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu lớn ngày càng được tích hợp nhiều hơn trong bối cảnh tổ chức (Moffitt và Vasarhelyi, 2013; Vasarhelyi và cộng sự, 2015). Theo khái niệm ‘dữ liệu là dầu mới’ ngụ ý, dữ liệu lớn là tài nguyên chưa được tinh chế và thô, để hữu ích, cần phải được tinh chế, tức là làm sạch, cấu trúc và xử lý để tạo ra thông tin hữu ích. Các đặc điểm, hoặc định nghĩa của dữ liệu lớn, nghĩa là khối lượng, đa dạng, vận tốc, tính xác thực, biến đổi và giá trị (Gandomi và Haidar, 2015) phản ánh các cơ hội nhưng cũng có cạm bẫy liên quan đến khái niệm này. Ví dụ, các hình thức mua hàng khác nhau cung cấp nhiều dữ liệu đầu vào khác nhau, nhưng đồng thời nhiều tổ chức vẫn chưa biết

     

     

     

     

     

    làm thế nào để quản lý dữ liệu được tạo ra như vậy đáng tin cậy, phản ánh tính xác thực của dữ liệu.

     

    Mặc dù, một số nghiên cứu đang điều tra hoặc tranh luận về mối quan hệ tiềm năng của các dữ liệu lớn, báo cáo tài chính, kế toán và những ảnh hưởng của việc số hóa tài khoản kế toán (Bhimani và Willcocks, 2014; Payne, 2014; Quattrone, 2016), điều này chủ yếu có đưa ra khuôn mẫu lý thuyết với ít bằng chứng thực nghiệm cho vấn đề này. Một nghiên cứu định tính đã được thực hiện để thu thập nhận thức của người tham gia, ngoài các dữ liệu phỏng vấn, các tài liệu video và văn bản được quảng cáo bởi nhiều tổ chức khác nhau như các nhà cung cấp giáo dục trực tuyến và các hiệp hội kế toán chuyên nghiệp đã được sử dụng để tăng cường và điều tra các kết quả phỏng vấn. Các câu hỏi phổ biến mà chúng tôi quan tâm trả lời là: Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, liệu có hay sẽ có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động báo cáo của công ty và vai trò của các kế toán trong bối cảnh này? Vai trò tiềm năng của kế toán và các kỹ năng cần thiết liên quan đến dữ liệu lớn và báo cáo của công ty là gì?

     

    Chính vì vậy, các phần tiếp theo sẽ phác thảo

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    các nghiên cứu trước đây liên quan đến phân tích ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến báo cáo doanh nghiệp và kế toán.

     

    2. Quá trình phát triển của báo cáo tài chính trong thời đại kỹ thuật số

     

    Internet đã trở thành một hiện tượng ngày càng phổ biến trong việc phổ biến thông tin của công ty (Fisher và cộng sự, 2004) vì báo cáo tài chính của công ty đã được điều chỉnh và những mẫu báo cáo doanh nghiệp đã được chuyển sang các hoạt động trên Internet. Với việc các tập đoàn số hóa ngày càng tăng đã công bố báo cáo hàng năm trực tuyến nhằm tiếp cận các nhà đầu tư và các bên liên quan nhanh hơn, cung cấp thông tin họ có thể xử lý dễ dàng hơn cho các phân tích của chính họ và tiếp cận đối tượng rộng hơn so với các định dạng in (Fisher and Naylor, 2016).

     

    Thế hệ đầu tiên, của báo cáo doanh nghiệp số bắt đầu từ giữa những năm 1990 ở các nước Châu Âu và ở Mỹ, vào thời điểm kết nối Internet thông qua số điện thoại (dial-up). Vì vậy, các kế toán đã chấp nhận sớm của công nghệ đó. Sau đó, báo cáo của các công ty trên Internet chỉ đơn giản dựa trên việc có một trang web của công ty như là một công cụ thay thế cho việc phân phối các báo cáo hàng năm dựa trên bản in, nói cách khác là công khai bản báo cáo hàng năm của tổ chức thông qua Internet (Hedlin 1999, Lodhia và cộng sự, 2004). Sự ra đời của Hyper Text Markup Language hay tương tự, cho phép các công ty sao chép các báo cáo tài chính bản in bằng cách sử dụng các định dạng điện tử tĩnh như HTML và / hoặc định dạng tài liệu di động (PDF) (Lymer và Debreceny 2003)).

     

    Vào đầu những năm 2000, các tập đoàn bắt đầu tận dụng các tính năng độc đáo và khả năng của Internet như một phương tiện để tiết lộ thêm thông tin (Lymer và Debreceny, 2003). Trong thời gian này, một thế hệ ngôn ngữ trình bày Internet mới, định dạng XML (eXtensible Markup Language) đã được sử dụng để tạo thuận lợi cho việc trình bày trên web vì nó có ưu điểm là siêu liên kết và khả năng thao tác dữ liệu được hiển thị trên màn hình hiển thị (desktop) bằng cách nhập trực tiếp vào các ứng dụng địa phương của người sử dụng (Lymer

    và Debreceny, 2003). Lợi thế chính của báo cáo doanh nghiệp Internet thế hệ thứ hai này liên quan đến sự phát triển của Ngôn ngữ Báo cáo Doanh nghiệp (XBRL) dễ dàng trao đổi thông tin giữa các định dạng của web và cung cấp nhiều cơ hội nghiên cứu để tìm các trang và dữ liệu tài chính cụ thể trên Internet (Beattie và Pratt, 2003). Khi công nghệ phát triển hơn nữa, các cơ hội mới cho báo cáo doanh nghiệp Internet thế hệ thứ ba đang được nghiên cứu. Sự phát triển liên tục của những đổi mới công nghệ, như SoMoClo, là bước tiến ngay lập tức để thay đổi cách báo cáo của công ty, đặc biệt là chuyển các báo cáo của công ty và các ứng dụng có liên quan sang các nền tảng điện toán đám mây. Điều này sẽ cho phép cả các công ty và các bên liên quan giới thiệu dữ liệu, văn bản, âm thanh và giọng nói đã được đăng lên để xây dựng kho dữ liệu và áp dụng phần mềm phân tích dữ liệu để thu thập, đối chiếu và phân tích thông tin khối lượng này, dữ liệu lớn được tạo ra và chia sẻ bởi các công ty và các bên liên quan sử dụng mạng xã hội, thiết bị di động, phân tích và công nghệ đám mây.

     

    Do đó, thế hệ thứ ba của báo cáo doanh nghiệp trên Internet cung cấp cho các bên liên quan các cấp độ tiếp cận khác nhau, tính tương tác, nghiên cứu và khả năng chia sẻ dữ liệu. Các cập nhật thời gian thực có thể thực hiện được trong đám mây (Krahel and Vasarhelyi, 2014), ví dụ như giả định về chi phí cho việc phân phối hàng tồn kho không cần thiết (Moffitt và Vasarhelyi, 2013) và cho phép người dùng trích xuất dữ liệu cho các phân tích.

     

    3. Dữ liệu lớn và kế toán

     

    Các công nghệ hiện đại, chẳng hạn như SoMoClo, đã tạo ra một lượng dữ liệu khổng lồ (Cisco, 2015), làm cho phân tích dữ liệu lớn và khoa học dữ liệu trở thành chủ đề quan trọng trong cả cộng đồng học thuật và doanh nghiệp (Chen và cộng sự, 2012). Các công ty và những người khác có thể thu thập, đối chiếu và phân tích số lượng lớn thông tin, từ nhiều nguồn khác nhau. Trước tiên, dữ liệu đến từ hồ sơ của riêng tổ chức, thường được coi là dữ liệu sạch và đáng tin cậy, chẳng hạn như phân tích chuỗi thời gian của dữ liệu tài chính trong quá khứ, nhưng cũng có thể là từ các nguồn bên

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  29

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    ngoài, như quảng cáo, phương tiện truyền thông xã hội, hoạt động, các dữ liệu đen của công chúng và doanh nghiệp, có thể không có cấu trúc, lộn xộn và được thu thập từ phương tiện truyền thông xã hội, không gian đám mây của người dùng nếu có thể truy cập và các nguồn khác trên Internet (Moffit and Vasarhelyi, 2013). Tuy nhiên, dữ liệu thô này chưa hữu ích đối với các tập đoàn, do đó, các tập đoàn cần phải phân tích dữ liệu thô để tạo ra các câu trả lời có ý nghĩa. Ví dụ: việc áp dụng phân tích dữ liệu lớn có thể được nhìn thấy trong các cộng đồng kinh doanh khác nhau, như Google, Yahoo, Amazon, eBay, Oracle, IBM và Microsoft thông qua việc sử dụng các phần mềm phân tích phức tạp như Google Analytics, MapReduce và Apache Hadoop (Chen và cộng sự năm 2012). Gandomi và Haidar (2015) thảo luận về các định nghĩa khác nhau của dữ liệu lớn và kết luận rằng các tính năng quan trọng nhất là khối lượng, liên quan đến độ lớn của dữ liệu, tính đa dạng, cho thấy sự không đồng nhất về cấu trúc và vận tốc, hàm ý tốc độ tại dữ liệu được tạo ra và do đó cần được phân tích và hành động. Hơn nữa, các nghiên cứu đề cập đến các ‘Vs’ khác, đó là tính xác thực, có nghĩa là sự không tin cậy của một số nguồn dữ liệu, sự thay đổi, đề cập đến tốc độ và giá trị của dữ liệu, cho thấy ở dạng ban đầu dữ liệu lớn có giá trị thấp nhưng giá trị này tăng đáng kể khi dữ liệu đang được phân tích.

     

    Các dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu lớn chỉ mới được giải quyết trong các nghiên cứu kế toán, với số lượng ấn phẩm chỉ tập trung vào một số lượng lớn các dữ liệu lớn. Đối với dân bản địa thời kỳ kỹ thuật số (digital natives), dữ liệu lớn mở rộng vượt quá kích thước của dữ liệu đến trạng thái nhận thức dựa trên văn hóa, kinh nghiệm, tiện ích và mong đợi, về cơ bản là một thế giới theo thực nghiệm (Jariwala, 2015) mà con người tiếp cận với tính tự động và có thể thậm chí không nhận thức được. Thay vì tập trung vào một phương tiện thu thập, thu thập các thông tin đã tồn tại, cung cấp quá trình phản hồi nhanh hơn và liên tục, làm cho phân tích dữ liệu rất quan trọng (Chen và cộng sự., 2012; Earley, 2015). Warren và cộng sự (2015) cho thấy dữ liệu lớn sẽ thay đổi đáng kể kế toán trong tất cả các khía cạnh của thực tiễn và nghề nghiệp.

    Để cải thiện chất lượng báo cáo tài chính và tính xác thực của thông tin kế toán, do đó sự minh bạch và các quyết định của các bên có liên quan sẽ được cải thiện và báo cáo của công ty về việc tạo ra và sàng lọc theo các chuẩn mực sẽ giúp đảm bảo sự tiến triển liên tục của ngành nghề với nền kinh tế thời gian thực (Warren và cộng sự, 2015).

     

    Dữ liệu có kích thước lớn, do đó không thể được phân tích bằng các phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu truyền thống, và có cấu trúc (khoảng 10%) và không có cấu trúc (khoảng 90%). Dữ liệu phi cấu trúc như vậy được tạo ra từ âm thanh, hình ảnh và các nguồn nguyên bản và cần được xử lý và phân tích thêm trước khi nó có thể được sử dụng để báo cáo và ra quyết định (Warren và cộng sự, 2015). Nguồn, cách sử dụng và thách thức của dữ liệu lớn trong kế toán là khác nhau theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kế toán (Griffin và Wright, 2015). Vasarhelyi và cộng sự (2015) cho rằng dữ liệu lớn thay đổi căn bản thông tin của chúng ta – ví dụ như các tổ chức có khả năng cung cấp thông tin theo thời gian thực, trái ngược với kế toán tổng hợp và tổng hợp thông tin được cung cấp định kỳ. Warren và cộng sự (2015) chủ yếu xem xét việc sử dụng dữ liệu lớn trong bối cảnh các quy trình kiểm soát nội bộ, tạo ra mối liên hệ giữa hành vi và mục tiêu có thể dẫn đến các biện pháp thực hiện mới. Krahel và Titera (2015) cho rằng các chuẩn mực kế toán không phản ánh sự phát triển của dữ liệu lớn vì các báo cáo tài chính dựa trên GAAP vẫn chưa đủ mạnh và các tác giả cho rằng những thay đổi này sẽ được thay thế bởi dữ liệu thô mà người dùng cuối có thể tự động trích xuất và xem xét. Các chuẩn mực báo cáo tài chính là cần thiết để duy trì khía cạnh so sánh nhưng cần tập trung vào các dữ liệu cơ bản cần cung cấp về nội dung và thời gian (Moffitt và Vasarhelyi, 2013).

     

    Bhimani và Willcocks (2014) xem xét việc số hóa các hoạt động kế toán có tiềm năng mang lại lợi ích, tuy nhiên lo ngại rằng nhiệm vụ của kế toán trong việc làm cho dữ liệu có thể hiểu được thông qua kiến thức không thể chuyển thành thực tiễn và dữ liệu đó sẽ mang lại cái nhìn sâu sắc nếu chịu phân tích kỹ càng. Trong thời đại kỹ thuật số, các mô hình kinh doanh mới xuất hiện dẫn đến các

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    thực tiễn kế toán mới, không còn giả định mối quan hệ tuần tự giữa chiến lược, cấu trúc và kế toán, nhưng là sự kết hợp của ba mô hình đó có thể đối phó với dữ liệu lớn có cấu trúc và không có cấu trúc liên quan đến khách hàng và xu hướng thị trường. Các hoạt động kế toán cần được điều chỉnh để thu thập dữ liệu, và các báo cáo tài chính sẽ cần phản ánh các sự kiện không có cấu trúc liên quan đến khách hàng ảnh hưởng đến việc tạo ra giá trị kinh tế (Bhimani và Willcocks, 2014). Với lượng dữ liệu khổng lồ, việc thu thập dữ liệu trong tương lai sẽ mang tính tạm thời chứ không phải là tĩnh và được lưu trữ, và do internet mà các nguồn dữ liệu mới sẽ được thực hiện trong hệ thống cần phải được cung cấp trong hệ thống thông tin kế toán của một tổ chức (Krahel và Vasarhelyi, 2014). Payne (2014) cho rằng các công ty thường được khuyên tham gia vào các dữ liệu, phân tích và hình ảnh lớn, tuy nhiên trong thực tế, khó có thể thay đổi hệ thống kế toán và kiểm soát hiện tại vì các hệ thống này thường bị phân mảnh, dựa vào các mục nhập thủ công và thường chỉ được biết đến với một vài thành viên có kinh nghiệm của tổ chức mà không thể dễ dàng nuôi dưỡng kiến thức hiện có vào hệ thống kế toán. Tuy nhiên, tác giả thừa nhận rằng kế toán cần tham gia vào các công nghệ mới, ví dụ: bằng cách áp dụng các công cụ phân tích mới, kế toán đám mây hoặc tương tác truyền thông xã hội, sự chú ý về thời gian và liên tục (Payne, 2014). Quattrone (2016) xem xét việc số hóa tài khoản liên tục là vấn đề, vì ông quan tâm đến việc mất liên lạc và tập trung vào việc phân tích dữ liệu, “cơ sở dữ liệu và mô hình thống kê biết cá nhân tốt hơn so với cá nhân khác và có thể dự đoán mong muốn và hành động trong tương lai. Theo quan điểm này, kế toán dẫn đến các hành động giao tiếp tác động đến quá trình ra quyết định, và quá trình truyền thông quan trọng hơn con số thực trên báo cáo (Quattrone, 2016), điều này trái ngược với phân tích dữ liệu tập trung vào việc cung cấp nhiều nhất số thực. Quattrone (2016) đưa ra câu hỏi làm thế nào có thể đảo ngược quá trình số hóa. Cho dù quá trình này có thể được đảo ngược có lẽ là một câu hỏi thực tế hơn để yêu cầu, cho rằng số hóa đã thâm nhập tất cả các lớp của xã hội và các tổ chức. Tuy nhiên, quan điểm cho rằng công nghệ có thể là

    vấn đề không phải là không phổ biến, và nghịch lý (Arnold, 2003) như sẽ được thảo luận trong phần tiếp theo.

     

    4. Nghịch lý của dữ liệu lớn

     

    Nhiều người thừa nhận tiềm năng tích cực nhưng cũng có quan điểm phê bình về việc kết hợp các dữ liệu lớn vào kế toán và báo cáo của công ty. Ngoài việc điều tra nhận thức về dữ liệu lớn và báo cáo của công ty, sự sẵn sàng kết hợp các dữ liệu lớn trong bối cảnh chuyên nghiệp của các kế toán được phản ánh trong trạng thái dữ liệu đối với báo cáo của công ty và vai trò của kế toán, bài viết cũng nhằm mục đích phân tích những yếu tố nghịch lý vốn có của dữ liệu lớn và báo cáo của công ty. Arnold (2003) giới thiệu khái niệm khuôn mặt Janus (Janus-face) về công nghệ, khuôn mặt của nhân vật thần thoại La Mã nhìn theo hai hướng cùng một lúc. Khái niệm này hàm ý rằng công nghệ có tính chất “mỉa mai và nghịch lý” (Arnold, 2003, trang 231), và gợi ý rằng cùng một công nghệ có thể phát triển theo hai hướng khác nhau (Arnold, 2003). Bản chất nghịch lý này không được xây dựng trong sự phát triển công nghệ mà đúng hơn là hiệu quả phục hồi các nhu cầu và kết quả trong bối cảnh xã hội học và cần được xem xét trong khung phân tích (Arnold, 2003). Arnold (2003) sử dụng khái niệm của Heidegger về thế giới đời sống bị công nghệ giải quyết nhằm cung cấp một lời giải thích về lý do tại sao công cụ hợp lý được tạo ra theo con người sẽ thực hiện nghịch lý. Heidegger gợi ý rằng công nghệ không chỉ đơn thuần là một công cụ mà còn có khả năng thay đổi cách chúng ta nhận thức thế giới, bởi vì thế giới của chúng ta bị công nghệ bẻ cong theo cách không rõ ràng (Arnold, 2003; Jarvenpaa và Lang, 2005).

     

    Arnold (2003) và Jarvenpaa và Lang (2005) đều xác định một số nghịch lý liên quan đến công nghệ di động. ví dụ như cuộc trò chuyện điện thoại di động thường là công cộng nhưng chính điện thoại là một sở hữu riêng, nghĩa là điện thoại báo hiệu rằng người ta luôn có nhu cầu và bận rộn nhưng cũng có sẵn, sản xuất và tiêu thụ, nghĩa là điện thoại di động cho phép người sử dụng có năng suất cao để quản lý thời gian hiệu quả nhưng đồng

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  31

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    thời tiêu tốn tài nguyên và thời gian. Jarvenpaa và Lang (2005), dựa trên những gợi ý của Arnold, đề xuất tính xác thực, tức là chịu trách nhiệm về thời gian của mình mà còn phải liên tục tham gia vào các thiết bị di động, độc lập với sự phụ thuộc, tức là điện thoại di động quản lý nhiều nhiệm vụ cần phải đáp ứng và tương tác, đáp ứng nhu cầu và tạo ra các nhu cầu, tức là các lựa chọn và ứng dụng mới đáp ứng nhu cầu, đồng thời tạo ra một năng lực mới, năng lực và không đủ năng lực, ví dụ như điện thoại di động là những công cụ lập kế hoạch hoàn hảo về mặt kỹ thuật nhưng người dùng thích ứng nhiều hơn do kết nối dễ dàng với người khác, dễ dàng tham gia và loại bỏ, tức là có khả năng liên tục liên lạc với người khác nhưng cùng lúc muốn được chia sẻ công cộng.

     

    5. Kết luận

     

    Bài viết đã tổng hợp các nghiên cứu về báo cáo của công ty và dữ liệu lớn, sự sẵn sàng để kết hợp dữ liệu lớn trong bối cảnh công việc của kế toán, vai trò dự kiến của kế toán trong bối cảnh này và những nghịch lý áp dụng các khái niệm công nghệ mới. Bên cạnh đó, các hàm ý cho tổ chức và xã hội. Kế toán phải tham gia với các bộ phận khác nhau của tổ chức và phải cùng nhau chủ động về các dữ liệu lớn và báo cáo của công ty. Vì kế toán cung cấp số lượng đáng kể dữ liệu cho các bên liên quan và cũng như thu thập và phân tích dữ liệu lớn, kế toán viên cần liên kết với các nhà khoa học dữ liệu để cùng nhau cho ra kết quả có ý nghĩa. Hơn nữa, cung cấp dữ liệu và hiểu biết sâu sắc hơn giúp các tổ chức có thể giảm bớt sự không đối xứng thông tin, có thể có tác động tích cực đến sự tin tưởng của các nhà đầu tư trong thực tiễn kế toán.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Arnold, M. (2003) On the phenomenology of technology: the ‘Janus-faces’ of mobile phones, Information and Organization, Vol. 13, pp. 231 – 256.
    2. Chen, H., Chiang, R. And Storey, V. (2012), Business intelligence and analytics: from big data to big impact, MIS Quarterly, Vol. 36, No. 4, pp. 1165 – 1188.
    1. Cisco White Paper (2015), The Internet of Things, https://www.cisco.com/…/iot_ IBSG_0411FINAL.pdf.

     

    1. Dimitriu, O. and Matei, M. (2015), Cloud Accounting: A New Business Model in a Challenging Context, Procedia Economics and Finance, Vol. 32, pp. 665 – 671.

     

    1. Gandomi, A. And Haidar, M. (2015), Beyond the hype: Big data concepts, methods and analytics, International journal of Information Management Vol. 35, No. 2, pp. 137 – 144.

     

    1. Griffin, P. and Wright, A. (2015), Commentaries on Big Data’s Importance for Accounting and Auditing, Accounting Horizons, Vol. 29, No. 2, pp. 377 – 379.

     

    1. Hopper, T. and Powell, A. (1985), Making Sense Of Research Into The Organizational And Social Aspects Of Management Accounting: A Review Of Its Underlying Assumptions, Journal of Management Studies, Vol. 22, pp. 429–465.
    2. Jariwala, B. (2015), Give the Digital Natives Room to Run,

    available at: https://www.ifac. o r g / g l o b a l – k n o w l e d g e – g a t e w a y /

     

    finance-leadership- development/ discussion/give-digital-natives-room-run;

     

    1. Krahel, J. and Titera, W. (2015), Consequences of Big Data and

    Formalization on Accounting and Auditing Standards, Accounting Horizons, Vol. 29, No. 2, pp. 409 – 422.

     

    1. Lymer, A., Debreceny, R., Gray, G. L., and Rahman, A. (1999). Business reporting on the Internet . London: IASC.
    2. Moffitt, K. and Vasarhelyi, M. (2013), AIS in an Age of Big Data. Journal of Information Systems, Vol. 27, No. 2, pp. 1-19.

     

    1. Payne, R. (2014), Discussion of ‘Digitisation, Big Data and the transformation of accounting information’ by Alnoor Bhimani and Leslie Willcocks, Accounting and Business Research. Vol. 44, no. 4, pp. 491 – 495.

     

    1. Warren, J., Moffitt, K. and Byrnes, P. (2015), How Big Data Will Change Accounting. Accounting Horizons, Vol. 29, No. 2, pp. 397-407.

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước

    Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước

    Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-hi%E1%BB%87n-nay-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước

    Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước

     

    Làm thế nào để phát triển các dự án sản xuất, đầu tư mà không tổn hại tới môi trường là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Trong khuôn khổ bài báo sẽ nghiên cứu một trong những công cụ đang được áp dụng hiện nay là Đánh giá tác động môi trường, những vấn đề về lý luận cũng như thực trạng của công tác Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam, từ đó kiến

     

    nghị một số giải pháp hoàn thiện cũng như xác định vai trò của Kiểm toán nhà nước (KTNN) trong hệ thống các cơ quan quản lý.

     

    Từ khóa: Tác động môi trường

     

    Completing the environmental impact assessment in Vietnam and the role of the State Audit of Vietnam

     

    How to develop production and investment projects without harming the environment is a matter of public concern. Within the limitation of this paper, one of the tools currently being applied is Environmental Impact Assessment, theoretical and practical issues of Environmental Impact Assessment in Vietnam, then recommends a number of possible solutions as well as defining the role of the State Audit Office of Vietnam in the system of management agencies.

     

    Keywords: Environment

     

    1.   Khái quát về đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư

     

    Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động của dự án đầu tư đến môi trường để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án.

     

    Danh mục các dự án cụ thể phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường được Chính phủ quy định tại phụ lục II Nghị định số 18/2015/NĐ-CP (quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường), bao gồm nhóm các dự án về xây dựng, giao thông, điện tử, năng lượng, khai thác rừng, dự án về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, luyện kim, chế biến gỗ, sản xuất thủy tinh, gốm sứ…

     

    Chủ dự án có thể tự mình đánh giá hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường, kết quả được thể hiện dưới hình thức báo cáo đánh giá tác động môi trường. Chi phí lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm.

     

    Để lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, cần phải thực hiện những công việc như: Khảo sát điều kiện địa lý, địa chất, khí tượng, thủy văn…; thu thập và phân tích các mẫu không khí, mẫu nước, mẫu đất trong và xung quanh khu vực dự án. Từ đó đánh giá hiện trạng môi trường khu vực thực hiện dự án, xác định các nguồn gây ô nhiễm, các loại chất thải phát sinh trong quá trình xây dựng

     

    *KTNN Khu vực XI

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    và hoạt động. Xây dựng các biện pháp giảm thiểu

     

    • nhiễm môi trường cho giai đoạn xây dựng dự án, quá trình hoạt động và dự phòng các sự cố. Hiện nay, quy định cũng yêu cầu dự án phải tham vấn ý kiến UBND và UBMTTQ phường nơi thực hiện.

    2.           Thực trạng công tác đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam

     

    2.1. Một số thành tựu đã đạt được

     

    Theo kết quả thống kê chưa đầy đủ của TS Mai Thế Toản và ThS Hoàng Thanh Nguyệt trên Tạp chí Môi trường số 8/2016, cả nước đã phê duyệt khoảng 7.000 báo cáo đánh giá tác động môi trường và 2.500 đề án bảo vệ môi trường chi tiết. Hơn 100 dự án đầu tư trên các lĩnh vực khác nhau đã phải thay đổi địa điểm hoặc không được phê duyệt vì không đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

     

    Yêu cầu lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đã hình thành nên các đơn vị tư vấn đánh giá tác động môi trường, ước tính khoảng gần 1.000 tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ trên phạm vi cả nước, góp phần đưa hoạt động ngày càng mang tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp cao. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay chưa áp dụng hệ thống cấp Chứng chỉ hành nghề tư vấn đánh giá tác động môi trường.

     

     

     

    Trong hơn 20 năm qua, các văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước theo từng giai đoạn phát triển. Luật Bảo vệ Môi trường lần đầu được Quốc hội khóa IX thông qua năm 1993 chưa quy định riêng về đánh giá tác động môi trường. Tới Luật năm 2014 đã quy định khá chi tiết về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, cách thức thực hiện, các nội dung chính, việc thẩm định, phê duyệt báo cáo tác động môi trường cũng như trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan phê duyệt. Dưới Luật là hệ thống các quy định khá đầy đủ về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; xử lý vi phạm pháp luật lĩnh vực bảo vệ môi trường…

     

    2.2. Những hạn chế về đánh giá tác động môi trường hiện nay

     

    Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đánh giá tác động môi trường và quản lý đánh giá tác động môi trường còn nhiều bất cập, đó là:

     

    Thứ nhất: Một số quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với thực tiễn và khoa học, một số quy định trong các luật còn thiếu tính đồng bộ.

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  41

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    Cụ thể, theo Luật Đầu tư, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư không yêu cầu phải nộp quyết định phê duyệt đánh giá tác động môi trường, tuy nhiên theo Luật Bảo vệ Môi trường lại là điều kiện bắt buộc. Trong thực tiễn thi hành, để hoàn thiện được báo cáo đánh giá tác động môi trường rất phức tạp và tốn kém. Nếu chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư mà thực hiện thủ tục này mức độ rủi ro của nhà đầu tư sẽ tăng lên. Mặt khác, thông tin đầu tư chưa đủ, độ chính xác chưa cao, mà báo cáo đánh giá môi trường phải dựa trên cơ sở thực tiễn thiết kế dự án nên chất lượng nếu có cũng không được đảm bảo. Trong quá trình triển khai, chủ đầu tư sẽ bổ sung, sửa đổi rất nhiều hạng mục, thậm chí cả công nghệ, quy mô và vị trí. Mặt khác, việc quy định về đánh giá tác động sức khỏe cộng đồng, xã hội áp dụng cho tất cả các loại hình dự án là khó khả thi.

     

    Quy định các dự án sau khi xây dựng xong thì phải qua bước kiểm tra xem chủ đầu tư có thực hiện đúng đánh giá tác động môi trường hay không thì mới được vận hành bị cho là phiền hà đến doanh nghiệp nên không được áp dụng. Tuy nhiên, thời gian sau đã thấy hàng loạt dự án bộc lộ bất cập. Theo công bố của Chính phủ, Formosa đã thừa nhận 53 sai phạm trong hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó có những nguyên nhân chính như tự ý chuyển đổi công nghệ luyện cốc từ dập cốc khô (dùng khí trơ) sang thải ướt (dùng nước), đặc biệt Fornosa đã không xây lắp bể lọc cho trạm xử lý nước thải sinh hóa như cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.

     

    Thứ hai: Đầu tư cho công tác đánh giá tác động môi trường còn hạn chế.

     

    TS Nguyễn Khắc Kinh, Nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường cho biết, nếu đầu tư báo cáo của một dự án như Thủy điện Hòa Bình hay Thủy điện Sông Tranh, Canada phải mất khoảng 5 năm và chi phí khoảng 5 triệu USD. Báo cáo công phu như vậy chỉ đánh giá tác động về môi trường. Trong khi đó, chúng ta chỉ mất vài tháng và đầu tư 700 – 800 triệu đồng mà

    ngoài đánh giá tác động môi trường còn đánh giá tác động về con người, sức khỏe. Đây là những báo cáo mà họ làm riêng rẽ, đặc biệt đánh giá rủi ro họ làm rất kỹ lưỡng, chúng ta thì bỏ qua.

     

    Đối với các dự án do tư nhân thực hiện, chi phí đánh giá tác động môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của chủ đầu tư nên có chiều hướng làm qua loa cho đủ thủ tục. Hầu hết hiện nay thuê dịch vụ làm báo cáo từ các đơn vị bên ngoài, các đơn vị này lại cạnh tranh nhau bằng giá cả nên chất lượng khó có thể đảm bảo.

     

    Kinh phí để xây dựng cơ sở dữ liệu về đánh giá tác động môi trường còn chưa được chú trọng. Các thông tin dữ liệu về hiện trạng môi trường vật lý, các yếu tố kinh tế – xã hội trên phạm vi toàn quốc còn tản mạn, không đầy đủ và thiếu hệ thống, trong khi đó, đây là những thông tin rất quan trọng phục vụ cho công tác đánh giá tác động môi trường.

     

    Gần đây, việc xây dựng các nhà máy thủy điện diễn ra khá rầm rộ mà thiếu đầu tư đánh giá tác động môi trường đã gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc như thay đổi chế độ thủy văn các dòng sông suối, hệ thủy sinh bị thay đổi làm ảnh hưởng đến môi trường sống và quá trình di chuyển, sinh sản của các loài cá. Nhiều nơi mạch nước ngầm bị cạn kiệt, đời sống của người dân ảnh hưởng nặng nề.

     

    Thứ ba: Việc đánh giá tác động môi trường còn thiếu đồng bộ.

     

    Trong những năm qua có rất nhiều ngành, lĩnh vực và địa phương tiến hành lập Quy hoạch môi trường. Tuy nhiên, chúng ta lại chưa đầu tư nguồn lực để hoàn thành quy hoạch tổng thể trên phạm

     

    • toàn quốc, tầm nhìn quy hoạch còn ngắn. Nghị định 18/2015/NĐ-CP mới quy định quy hoạch bảo vệ môi trường kỳ đầu cho giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Tầm nhìn của quy hoạch chỉ trên 20 năm, như vậy là quá ngắn so với vòng đời của một dự án trọng điểm chứ chưa nói đến sự phát triển của cả một quốc gia.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Việt Nam có những vùng, khu vực tập trung nhiều dự án cùng loại hình và khác loại hình. Từng dự án đều tiến hành đánh giá và đưa ra các giải pháp xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường và các biện pháp giảm thiểu tác động không liên quan đến chất thải của dự án đó. Tuy nhiên, khó có thể bảo đảm môi trường xung quanh sẽ không bị ô nhiễm, suy thoái do thiếu đánh giá tổng hợp, đánh giá tác động tích luỹ. Mặt khác, việc mỗi đơn vị “mạnh ai nấy làm” như hiện nay sẽ thiếu đi các giải pháp môi trường đồng bộ, gây tốn kém tiền của mà hiệu quả lại manh mún.

    Thứ tư: Bất cập trong công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường.

     

    Theo Luật Bảo vệ Môi trường, ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành khác cũng có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc ngành quản lý. Việc phân cấp như hiện tại dẫn đến thiếu tính độc lập trong quá trình thẩm định, chưa nói đến vấn đề năng lực của hội đồng thẩm định. Đặc biệt, trong quá trình đối chiếu nghĩa vụ nộp ngân sách của một số doanh nghiệp có hoạt động khai thác khoáng sản, các doanh nghiệp này cho biết chính cán bộ của cơ quan phê duyệt là người cung cấp luôn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Từ một chủ trương đúng đắn của Nhà nước, về tới địa phương đã biến tướng thành cơ hội kiếm lời của một số công chức được giao chức năng quản lý nhà nước.

     

    Thứ năm: Việc tham vấn ý kiến của cộng đồng.

     

    Một trong những bước quan trọng của báo cáo đánh giá tác động môi trường chính là tham vấn

     

    • kiến cộng đồng. Chủ dự án phải tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án và báo cáo phải có nội dung kết quả tham vấn đó. Tuy nhiên, hiếm có báo cáo nào thực hiện tham vấn đúng nghĩa. Thậm chí, do tình trạng thuê đơn vị làm dịch vụ lập báo cáo nên nhiều báo cáo còn giống nhau cả lỗi chính tả về ý kiến trả lời của UBND cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc. Công tác tuyên truyền chính sách chế độ của Nhà nước còn hạn chế nên người dân chịu tác động của dự

    án cũng không biết theo pháp luật mình có quyền được phản ánh đối với những ảnh hưởng mà các dự án có thể gây ra.

     

    3. Các đề xuất hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

    3.1. Các đề xuất hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường

     

    Từ việc phân tích thực trạng công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay của các dự án đầu tư, bài viết đề xuất một số biện pháp hoàn thiện như sau:

     

    Thứ nhất, cần tiến hành nghiên cứu tổng thể về thực trạng môi trường và đánh giá tác động môi trường của Việt Nam thông qua hoạt động rà soát, đánh giá các điều kiện, nguồn lực thực hiện; hệ thống hóa những tồn tại, khó khăn thách thức, những bài học kinh nghiệm từ các sự cố môi trường trong thời gian qua. Bên cạnh đó, tiến hành nghiên cứu, tham khảo hệ thống đánh giá tác động môi trường của một số nước trên thế giới đã áp dụng thành công.

     

    Thứ hai, khẩn trương hoàn thiện quy hoạch bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc.

     

    Quy hoạch bảo vệ môi trường cần được thực hiện thống nhất trong cả nước do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, có sự tham gia và đồng thuận của các Bộ, ngành, địa phương liên quan làm cơ sở để hài hòa giữa các mục tiêu phát triển, mục tiêu quản lý và bảo vệ môi trường.

     

    Thứ ba, tiến hành nghiên cứu, sửa đổi các quy định về đánh giá tác động môi trường đang được quy định trong các Luật, Nghị định, Thông tư cũng như các quy định, hướng dẫn của từng ngành, từng địa phương, cụ thể:

     

    • Sàng lọc, phân chia dự án thành các nhóm căn cứ vào mức độ nhạy cảm, phức tạp về khía cạnh môi trường từ đó quy định rõ phạm vi, quy trình, các bước đánh giá tác động môi trường và mức độ chi tiết của báo cáo đối với từng nhóm dự án.

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  43

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

     

     

     

    • Nâng cao chất lượng công tác tham vấn cộng đồng theo hướng công khai thông tin cho chính quyền, nhân dân địa phương, các hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp. Đối với các dự án quy mô lớn, nhạy cảm về môi trường, không chỉ tham vấn trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư mà cả sau khi dự án đã chính thức đi vào hoạt động.
    • Quy định rõ về điều kiện được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đánh giá tác động môi trường và trách nhiệm của đơn vị đánh giá đối với chất lượng của báo cáo.
    • Đưa chất lượng của công tác thẩm định báo cáo về thực chất, đối với các dự án trọng điểm, nếu cần thiết có thể xem xét thuê các chuyên gia uy tín trên thế giới.
    • Nghiên cứu cơ chế về ký quỹ bảo vệ môi trường trước khi dự án vận hành thử nghiệm đối với các dự án tiềm ẩn rủi ro gây ô nhiễm cao. Việc bảo vệ môi trường không thể đánh đổi bằng lợi ích kinh tế, tuy nhiên ký quỹ sẽ làm tăng trách nhiệm của chủ đầu tư, giúp họ nhận thức được rằng gian lận trong việc bảo vệ môi trường thì số tiền tiết kiệm được không thể bù lại so với chi phí phải đền bù.

    Thứ tư: Cần xử lý nghiêm các hành vi để xảy ra ô nhiễm môi trường, nhất là trách nhiệm của

     

     

     

     

    người đứng đầu đơn vị để xảy ra vi phạm, bổ sung quy định về chế độ trách nhiệm cho người đứng đầu tổ chức tư vấn và thành viên hội đồng đánh giá tác động môi trường. Hiện nay, đã có nhiều quy định về xử phạt đối với lĩnh vực môi trường, tội phạm môi trường đã được hình sự hóa. Bộ Luật Hình sự năm 2015 xử lý nghiêm các hành vi

     

    • phạm về bảo vệ môi trường, các trường hợp vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tiền đến 3 tỷ đồng hoặc phạt tù đến 07 năm. Tuy nhiên, qua thực tế chủ yếu vẫn là phạt vi phạm hành chính, đền bù thiệt hại về tổn thất kinh tế cho người dân địa phương. Như vụ Công ty cổ phần Mía đường Hòa Bình xả nước thải làm cá chết hàng loạt trên sông Bưởi, đền bù cho các hộ thiệt hại với tổng số tiền hơn 1,4 tỉ đồng, tuy nhiên những thiệt hại lâu dài do ô nhiễm nguồn nước nhất là về mặt sức khỏe của người dân thì không thể đo đếm được. Việc xử phạt còn chưa đủ mạnh nên nhiều doanh nghiệp tái phạm đi tái phạm lại. Cũng liên quan đến vụ việc, có nhà máy chế biến tinh bột sắn thuộc Công ty TNHH MTV Tân Hữu Hưng, đoàn thanh tra liên ngành phát hiện nhà máy có đường ống xả ngầm đường kính 16cm có thể xả thải trực tiếp ra môi trường. Năm 2014, Công ty này đã bị Bộ Tài
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    nguyên và Môi trường phạt 360 triệu đồng và tạm đình chỉ hoạt động. Khi vừa hoạt động lại chừng 60 ngày thì bị phát hiện tiếp tục vi phạm.

     

    3.2. Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc hoàn thiện hệ thống đánh giá tác động môi trường

     

    Thuật ngữ kiểm toán môi trường bắt đầu xuất hiện vào những năm 1970 tại khu vực Bắc Mỹ, được xem như một công cụ quản lý sắc bén và hiệu quả. Hiện nay, kiểm toán môi trường đã trở thành hoạt động chính của nhiều cơ quan kiểm toán tối cao (SAI). Nhóm công tác về kiểm toán môi trường được thành lập năm 1992 và hiện nay là nhóm có nhiều thành viên nhất của INTOSAI. Ở nước ta, nội dung kiểm toán môi trường được đưa vào Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt. KTNN cũng cử thành viên tham gia nhóm công tác về kiểm toán môi trường của INTOSAI và ASOSAI, giao Vụ Hợp tác Quốc tế chủ trì biên dịch tài liệu hướng dẫn về kiểm toán môi trường để các kiểm toán viên tiếp cận, học tập.

     

    Kiểm toán môi trường nói chung và kiểm toán việc đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của KTNN Việt Nam. Vai trò của hoạt động này được xem xét qua 3 khía cạnh cơ bản sau đây:

     

    Thứ nhất: ngăn chặn nguy cơ xấu ảnh hưởng đến môi trường ngay từ khâu xét duyệt dự án.

     

    Hiện nay, việc kiểm toán hầu hết vẫn là hậu kiểm, kiểm toán khi dự án đã đi vào hoạt động nên

     

    • nghĩa của cuộc kiểm toán phần nào bị giảm sút. Tiến tới hoạt động kiểm toán cần được đổi mới đồng bộ để tham gia ngay từ khi lập quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường để lựa chọn hay không lựa chọn dự án đầu tư. Đảm bảo thiết kế hệ thống bảo vệ môi trường thích hợp, hiệu quả ngay từ đầu, tránh thiệt hại do làm đi làm lại hoặc thay đổi thiết bị, công nghệ. KTNN phải là lực lượng nòng cốt kiểm toán môi trường, phác họa bức tranh tổng thể về tình hình quản lý và bảo vệ môi trường của quốc gia, cung

    cấp thông tin cho Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan đưa ra chính sách quản lý vĩ mô và tầm nhìn chiến lược lâu dài.

     

    Thứ hai: góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý và tăng cường năng lực của các cơ quan chức năng.

     

    Thông qua công tác kiểm toán, KTNN rà soát lại những bất cập còn tồn tại trong hệ thống quy định pháp lý về đánh giá tác động môi trường như sự chưa chặt chẽ về quy trình, sự thiếu đồng bộ giữa các quy định, sự chưa rõ ràng về mặt thủ tục…

    Đồng thời cũng chỉ ra hạn chế của các văn bản liên quan đến việc giám sát, quản lý của các cơ quan.

     

    KTNN cũng cần đánh giá thực tiễn hoạt động của các bộ, ngành, địa phương trong công tác đánh giá tác động môi trường như năng lực của Hội đồng thẩm định báo cáo, việc thiết kế và vận hành của chế độ báo cáo, sự giám sát thường xuyên của các cơ quan chuyên môn về lĩnh vực môi trường, các hiện tượng tiêu cực, chưa làm tròn trách nhiệm của mình nếu có.

     

    Thứ ba: giúp tăng cường nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường của chủ dự án đầu tư, phát hiện ngăn ngừa các hành vi nguy hại đến môi trường.

     

    Qua công tác kiểm toán, chủ đầu tư sẽ nhận thức rõ mức độ tuân thủ các chế độ, chính sách hiện hành về môi trường và đánh giá tác động môi trường của đơn vị mình, sự hợp lý trong việc thiết kế và vận hành các công cụ bảo vệ môi trường như việc bảo đảm các tiêu chuẩn, việc thiết kế và hiệu quả của hệ thống quan trắc, kiểm tra độ hợp lý của các phương pháp dự báo và mức chính xác của các kết quả dự báo, tính hiệu lực, hiệu quả của các giải pháp xử lý, phòng ngừa rủi ro.

     

    Cần nêu cụ thể các hạn chế của đơn vị, chỉ ra những bất cập như công nghệ xử lý chất thải chưa phù hợp, quy mô xử lý chưa đảm bảo, chưa đánh giá hết tác động đến môi trường đất, nước, không khí. Chỉ rõ cho đơn vị hiểu những tồn tại không chỉ làm ô nhiễm môi trường mà lâu dài đơn vị sẽ

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  45

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    tốn kém chi phí xử lý hậu quả, và có thể chịu mức phạt nghiêm khắc của pháp luật, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, vị thế của đơn vị. Như việc Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải năm 2008 bị Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên Môi trường ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường với tổng số tiền phạt là 267,5 triệu đồng, buộc truy nộp phí bảo vệ môi trường hơn 127 tỷ đồng. Đáng tiếc hơn, sau sự cố, sản phẩm của Vedan gần như bị tẩy chay trên thị trường Việt Nam.

     

    Kiến nghị của KTNN sẽ có giá trị cao nếu giúp được đơn vị cải tiến để tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu chất thải, thay thế các nguyên liệu phù hợp, thân thiện với môi trường, sử dụng công nghệ thích hợp để hạn chế phế liệu… Mặt khác, những cảnh báo của KTNN sẽ giúp cán bộ công nhân viên nhận thức được nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

     

    Hiện nay, KTNN đang trong giai đoạn thí điểm kiểm toán môi trường với một số cuộc tiêu biểu như: Các vấn đề về nước sông Mê Kông (cuộc kiểm toán giữa 5 nước ASEANSAI); dự án đầu tư xây dựng công trình thoát nước nhằm cải tạo môi trường Hà Nội; chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn… Tuy nhiên, việc kiểm toán vẫn tập trung vào kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ, việc xem xét tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các chương trình, dự án còn hạn chế nên kết quả chưa đáp ứng được mong đợi của cộng đồng, chưa thu hút được sự chú ý của dư luận.

     

    Để nâng cao chất lượng kiểm toán môi trường cũng như kiểm toán đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư trong thời gian tới, KTNN cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp như đẩy mạnh tiền kiểm các dự án; tích cực nghiên cứu, tiếp cận khoa học về kiểm toán môi trường; phát triển nhóm kiểm toán môi trường chuyên sâu cũng như nâng cao địa vị pháp lý, tạo cơ sở cho Kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình, kể cả các chương trình, dự án nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Tuy nhiên, bản chất của đánh giá tác động môi trường là dự báo, do vậy khó có thể tiên lượng chính xác và đầy đủ các giải pháp giảm thiểu rủi ro, sự cố về môi trường và xã hội trong suốt vòng đời của dự án. Điều quan trọng là chủ dự án, cơ quan tư vấn, cơ quan thẩm định, cơ quan quản lý phải nâng cao nhận thức về vấn đề, tự giác chấp hành các quy định, nhận diện các tình huống có thể xảy ra để quyết định mức độ giám sát thích hợp.

     

    Hoạt động của KTNN không thể đứng đơn độc, KTNN chỉ phát huy được vai trò của mình trong công tác bảo vệ môi trường khi nằm trong tổng thể một hệ thống, là công cụ trợ giúp cho việc định hướng và ra quyết định của các cơ quan quản lý có liên quan.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Luật Bảo vệ Môi trường các năm: 1993, 2005, 2014;

     

    1. Bộ Luật Hình sự năm 2015;

     

    1. “Quy hoạch bảo vệ môi trường: Sự thống nhất trong quản lý và tiền đề của phát triển bền vững” – PGS.TS Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Vũ Trung, Nguyễn Gia Cường. Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 11/2014;

     

    1. “Mất bao lâu thì biển miền Trung sẽ phục hồi”- Hạnh Nguyên. Bài đăng trên báo Nhân dân online ngày 03/7/2016;

     

    1. Bài giảng kiểm toán môi trường – Hồ Thị Lam Trà và Cao Trường Sơn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội;

     

    1. “Trao đổi ý kiến về kiểm toán môi trường”

     

    – TS Giang Thị Xuyến, Học viện Tài chính. Bài đăng trên Tạp chí Kiểm toán số 4/2011;

     

    1. “Thực trạng và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá tác động môi trường trong quá trình xét duyệt dự án đầu tư” – TS. Mai Thế Toản, ThS. Hoàng Thanh Nguyệt. Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 8/2016;

     

    1. “Kiểm toán môi trường và những định hướng kiểm toán tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam” – Nguyễn Anh Phương, Văn phòng Kiểm toán nhà nước;

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]