Category: Khoa Học – Kỹ Thuật

  • Bài tập lớn chi tiết máy

    Bài tập lớn chi tiết máy

    Bài tập lớn chi tiết máy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-chi-ti%E1%BA%BFt-m%C3%A1y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn chi tiết máy

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 1

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG XÍCH TẢI

    Z

    Trục dẫn của xích tải

    Hệ thống dẫn động xích tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Bộ truyền đai thang; 3- Hộp giảm tốc bánh răng trụ;

    4- Nối trục đàn hồi; 5- Bộ phận công tác – Xích tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên xích tải, F (N) : …………………

    Vận tốc xích tải, v (m/s) :………………………

    Số răng đĩa xích tải dẫn, Z (răng) :……………

    Bước xích tải, p (mm) : ………………………..

    Thời gian phục vụ, L (năm):…………………….

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ.

    (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:     T1 = …….. ; t1=…………..; T2 =…………. ; t2 =…………….

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền đai thang.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 1

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 3,65 3,0 3,25 2,75 3,25 2,25 2,35 3,25  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 4 4 5 5 4 4 5 5  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,5T 0,4T 0,6T   0,7T 0,3T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 2,45 3,75 3,25 2,75 3,0 2,55 2,85 2,25  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 5 5 4 4 4 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,4T 0,6T   0,8T   0,5T 0,3T 0,6T   0,4T 0,2T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 2

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG BĂNG TẢI

    D

    v

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Nối trục đàn hồi; 3- Hộp giảm tốc bánh răng trụ; 4- Bộ truyền xích ống con lăn; 5- Bộ phận công tác – Băng tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên băng tải, F(N): …………………

    Vận tốc băng tải, v(m/s): ………………………

    Đường kính tang dẫn của băng tải, D (mm): ………………..

    Thời gian phục vụ, L(năm): …………………..

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:

    T1= …………… ; T2 =……………

    t1= …………… ; t2 = ……………

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền xích ống con lăn.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 2

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 3.75 3.65 3.55 3.45 3.35 3.25 3.15 3.05  
    D, mm 400 400 500 315 315 500 500 400  
    L, năm 4 4 4 4 4 4 4 4  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,6T 0,6T 0,6T   0,7T 0,7T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 2.95 2.85 2.75 2.65 2.55 2.45 2.35 2.25  
    D, mm 315 400 500 400 315 500 315 400  
    L, năm 5 5 5 5 5 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,7T 0,6T   0,8T   0,6T 0,7T 0,6T   0,6T 0,7T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 3

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG THÙNG TRỘN

    n (v/ph)

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Nối trục đàn hồi; 3- Hộp giảm tốc bánh răng nón; 4- Bộ truyền xích ống con lăn; 5- Bộ phận công tác – Thùng trộn .

    Số liệu thiết kế:

    Công suất trên trục thùng trộn, P(KW) : …………………….

    Số vòng quay trên trục thùng trộn, n(v/p) : …………………

    Thời gian phục vụ, L(năm) : ………………………………

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ.

    (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền xích ống con lăn.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng nón.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 3

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8
    P, kW 2,5 3,5 4,5 5,5 6,5 7,5 8,5 9,5
    n, vg/ph 80 90 100 110 120 130 140 150
    L, năm 9 9 8 8 7 7 9 8
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    P, kW 10 9 8 7 5 6 5 4  
    n, vg/ph 155 145 135 125 115 105 95 85  
    L, năm 9 9   8 8 7   7 9 8  
                                           

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 4

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG THÙNG TRỘN

    n (v/ph)

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- B ộ truyền đai dẹt; 3- Hộp giảm tốc bánh răng nón; 4- Nối trục đàn hồi; 5- Bộ phận công tác – Thùng trộn .

    Số liệu thiết kế:

    Công suất trên trục thùng trộn, P(KW) : …………………….

    Số vòng quay trên trục thùng trộn, n(v/p) : …………………

    Thời gian phục vụ, L(năm) : ………………………………

    Quay moät chieàu, laøm vieäc hai ca, taûi va ñaäp nheï (1 naêm laøm vieäc 300 ngaøy, 1 ca laøm vieäc 8 giôø)

    Cheá ñoä taûi:

    T1= ………….

    t1= ………….

    ; T2 = ………………..

    ; t2 =    ………………..

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền đai dẹt.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng nón.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 4

    Phöông aùn 1 2 3 4 5 6 7 8  
    P, kW 10 9 8 7 5 6 5 4  
    n, vg/ph 84 90 100 104 110 120 126 80  
    L, naêm 5 5 5 5 5 5 5 5  
    t1, giaây 45 60 15 30 45 60 36 48  
    t2, giaây 44 12 36 48 44 12 30 15  
    T1 T T   T T T   T T T
    T2 0,6T 0,7T   0,8T 0,6T 0,8T   0,7T 0,6T 0,7T
    Phöông aùn 9 10 11 12 13 14 15 16  
    P, kW 2,5 3,5 4,5 5,5 6,5 7,5 8,5 9,5  
    n, vg/ph 126 110 120 104 90 100 84 100  
    L, naêm 6 6 6 6 6 6 6 6  
    t1, giaây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    t2, giaây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    T1 T T   T T T   T T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T 0,6T 0,7T   0,8T 0,6T 0,8T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 5

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG XÍCH TẢI

    Z

    Hệ thống dẫn động xích tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- B ộ truyền đai thang; 3- Hộp giảm tốc trục vít trụ; 4- Nối trục đàn hồi; 5- Bộ phận công tác – Xích tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên xích tải, F(N) : …………………

    Vận tốc xích tải, v(m/s) :………………………

    Số răng đĩa xích tải dẫn, Z (răng) :……………

    Bước xích tải, p(mm) : ………………………..

    Thời gian phục vụ L, năm:…………………….

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ.

    (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:     T1 = …….. ; t1=…………..; T2 =…………. ; t2 =…………….

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền đai thang.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền trục vít trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 5

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 1.3 1.2 1.1 1 0,9 0.8 0.7 0.6  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 4 4 5 5 4 4 5 5  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,5T 0,4T 0,6T   0,7T 0,3T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 0.65 0.6 0.55 0.5 0.45 0.4 0.35 0.3  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 5 5 4 4 4 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,4T 0,6T   0,8T   0,5T 0,3T 0,6T   0,4T 0,2T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 6

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG BĂNG TẢI

    D

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Nối trục đàn hồi; 3- Hộp giảm tốc trục vít trụ; 4- Bộ truyền xích ống con lăn; 5- Bộ phận công tác – Băng tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên băng tải, F(N): …………………

    Vận tốc băng tải, v(m/s): ………………………

    Đường kính tang dẫn, D (mm): ………………..

    Thời gian phục vụ, L(năm): …………………..

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:

    T1                               2

    t1= …………… ; t2 = ……………

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền xích ống con lăn.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền trục vít trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 6

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 1.5 1.4 1.3 1.2 1.1 1.0 0.9 0.8  
    D, mm 400 400 500 315 315 500 500 400  
    L, năm 4 4 4 4 4 4 4 4  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,6T 0,6T 0,6T   0,7T 0,7T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 0.7 0.6 0.5 0.4 0.35 0.3 0.4 0.35  
    D, mm 315 400 500 400 315 500 315 400  
    L, năm 5 5 5 5 5 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,7T 0,6T   0,8T   0,6T 0,7T 0,6T   0,6T 0,7T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Hệ điều hành Window Server 2003


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-C%E1%BA%A4P-THO%C3%81T-N%C6%AF%E1%BB%9AC-%C4%90%C3%94-TH%E1%BB%8A.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    BÀI TẬP LỚN

    QUY HOẠCH CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ

    Đề bài:

    Cho khu dân cƣ có mặt bằng cấp nƣớc nhƣ hình vẽ. Dân số N theo giả thiết trong bản vẽ, tiêu chuẩn cấp nƣớc q = 150 (l/ngƣời.ngđ); lƣu lƣợng tập trung từ trƣờng mầm mon là 5%Qng.đ; từ khu chợ là 8%Qng.đ

    1. Xác định lƣu lƣợng nƣớc cấp cho toàn khu quy hoạch, lập bảng tiêu thụ nƣớc từng giờ trong ngày và vẽ biểu đồ tiêu thụ nƣớc.
    1. Xác định lƣu lƣợng cấp nƣớc tính toán các đoạn ống của mạng lƣới
    1. Xác định đƣờng kính, vận tốc, tổn thất áp lực qua các đoạn ống cho mạng lƣới.

    Xác định số liệu, đề bài:

    Đề số: 08

    Dân số: 3000 + 0218 = 3218 ngƣời

    Diện tích cây xanh: 4470 m2

    Diện tích toàn khu dân cƣ: 61534 m2

    Kngày = 1,2;

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 2
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    1.XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG NƯỚC CẤP CHO TOÀN KHU QUY HOẠCH

    1.1 Lưu lượng nước sinh hoạt:

    Lƣu lƣợng nƣớc sinh hoạt ngày trung bình:

    Lƣu lƣợng nƣớc sinh hoạt ngày lớn nhất:

    1.2 Lưu lượng nước tưới:

    1.3 Lưu lượng nước cấp cho công trình công cộng:

    1.2.1  Lƣu lƣợng nƣớc cho Trƣờng mần non

    1.2.2  Lƣu lƣợng nƣớc cho Chợ

    Tổng lưu lượng nước cấp cho công trình công cộng:

    1.4 Lưu lượng nước rò rĩ

    Tổng lưu lượng nước cấp cho khu quy hoạch

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 3
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

                                                 
      Nƣớc SH   Nƣớc tƣới     Công trình công cộng Nƣớc rò rỉ   Tổng
    Giờ                          
                                               
        Tƣới cây Rửa đƣờng Trƣờng học   Chợ                
                           
      % m3 % m3 % m3 % m3 % m3 % m3 %   m3
    0-1 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    1-2 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    2-3 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    3-4 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    4-5 2.8 16.22 20 3.576 0 0 0   0 6.66   2.57183 4.17   4.739 3.48   27.11
    5-6 5.9 34.18 20 3.576 0 0 0   0 6.66   2.57183 4.17   4.739 5.79   45.06
    6-7 7 40.55 0 0 0 0 5   1.20675 6.67   2.57569 4.17   4.739 6.3   49.07
    7-8 5.5 31.86 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.34   41.59
    8-9 4.5 26.07 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 4.6   35.79
    9-10 5.1 29.54 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.04   39.27
    10-11 6.2 35.91 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.86   45.64
    11-12 6.9 39.97 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 6.38   49.70
    12-13 3.2 18.54 0 0 0 0 5   1.20675 6.67   2.57569 4.17   4.739 3.47   27.06
    13-14 3 17.38 0 0 0 0 5   1.20675 6.67   2.57569 4.17   4.739 3.33   25.90
    14-15 3.5 20.27 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 3.85   30.00
    15-16 5.6 32.44 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.42   42.17
    16-17 6.5 37.65 0 0 0 0 10   2.4135 6.66   2.57183 4.17   4.739 6.09   47.38
    17-18 7.5 43.44 20 3.576 0 0 5   1.20675 6.66   2.57183 4.17   4.739 7.13   55.54
    18-19 7.3 42.28 20 3.576 0 0 0   0 6.66   2.57183 4.17   4.739 6.83   53.17
    19-20 7.2 41.71 20 3.576 0 0 0   0 0   0 4.17   4.739 6.42   50.02
    20-21 5.9 34.18 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 5.16   40.13
    21-22 4.4 25.49 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 4.04   31.44
    22-23 0.9 5.21 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 1.44   11.17
    23-24 0.3 1.74 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 0.99   7.70
    Tổng 100 579.24 100 17.88 100 4.92 100   24.135 100   38.616 100   113.65 100   778.44
                                                 
    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2                         4          
                                     
                                                 

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    8

        %Q       7.13
               
    7           6.83
        6.3 6.38   6.42
           
              6.09
               
    6   5.79   5.86    
        5.34   5.42
             
              5.16
            5.04  
               
    5            
          4.6    
               
                4.04
    4           3.85
      3.48     3.47 3.33
           

    3

    2

    1.44

    0.99

    1        0.76    0.76   0.76   0.76

    0

      Biểu đồ phân bố lƣu lƣợng nƣớc theo giờ
    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2     5  
         
             

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    2.LƯU LƯỢNG CẤP NƯỚC TÍNH TOÁN CÁC ĐOẠN ỐNG CỦA MẠNG LƯỚI.

    2.1 Bảng kê chiều dài thực từng đoạn ống:

    ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU
    ỐNG DÀI ỐNG DÀI ỐNG DÀI
    AB 25 m FG 34 m OP 40 m
    BC 42 m GH 38 m PQ 66 m
    BL 94 m IK 36 m RS 36 m
    CD 76 m LN 36 m RT 10 m
    CE 10 m LM 10 m TX 148 m
    EF 40 m MO 40 m TW 40 m
    EI 92 m MR 128 m XY 34 m
    WZ 124 m        

    Tổng chiều dài đƣờng ống cấp nƣớc một bên là 1144 m

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 6
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    2.2Bảng kê chiều dài tính toán từng đoạn ống:

    Do tất cả các đoạn ồng đều cấp nƣớc một bên, ta có bảng kê chiều dài tính toán các đoạn ống cấp nƣớc:

    ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU
    ỐNG DÀI ỐNG DÀI ỐNG DÀI
    AB 0 m FG 17 m OP 20 m
    BC 21 m GH 19 m PQ 33 m
    BL 47 m IK 18 m RS 18 m
    CD 38 m LN 18 m RT 0 m
    CE 0 m LM 0 m TX 74 m
    EF 20 m MO 20 m TW 20 m
    EI 46 m MR 64 m XY 17 m
    WZ 62 m        

    2.3Tính toán lƣu lƣợng nƣớc dọc đƣờng cho từng đoạn ống:

    • Đoạn ống BC:
    + Các đoạn ống còn lại tính toán tƣơng tự theo công thức   ta có bảng:
        CHIỀU LƢU   CHIỀU LƢU
      ĐOẠN LƢỢNG ĐOẠN LƢỢNG
      DÀI TÍNH DÀI TÍNH
      ỐNG DỌC ỐNG DỌC
      TOÁN (m) TOÁN (m)
        ĐƢỜNG (l/s)   ĐƢỜNG (l/s)
             
      AB 0 0 LM 0 0
      BC 21 0.5166 MO 20 0.492
      BL 47 1.1562 MR 64 1.5744
      CD 38 0.9348 OP 20 0.492
      CE 0 0 PQ 33 0.8118
      EF 20 0.492 RS 18 0.4428
      EI 46 1.1316 RT 0 0
      FG 17 0.4182 TX 74 1.8204
      GH 19 0.4674 TW 20 0.492
      IK 18 0.4428 XY 17 0.4182
      LN 18 0.4428 WZ 62 1.5252

    Các đoạn ống AB, CE, LM và RT không có lƣu lƣợng nƣớc dọc đƣờng do các đoạn ống này chỉ là ống dẫn, không cấp nƣớc bên nào.

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 7
       
                    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ        
                           
                                       
        Chiều Lƣu             Lưu lượng nút            
        dài                        
        lƣợng             (l/s)            
    Đoạn tính                        
    dọc                            
                               
    ống toán                            
    đƣờng A B   C D E F G H I K L M  
        Ltt    
        qdd (l/s)    
        (m)                            
                                     
    AB 0 0                            
    BC 21 0.5166   0.2583   0.2583                    
    BL 47 1.1562   0.5781                   0.5781    
    CD 38 0.9348       0.4674 0.4674                  
    CE 0 0                            
    EF 20 0.4920           0.2460 0.2460              
    EI 46 1.1316           0.5658       0.5658        
    FG 17 0.4182             0.2091 0.2091            
    GH 19 0.4674               0.2337 0.2337          
    IK 18 0.4428                   0.2214 0.2214      
    LN 18 0.4428                       0.2214    
    LM 0 0                            
    MO 20 0.4920                         0.2460  
    MR 64 1.5744                         0.7872  
    OP 20 0.4920                            
    PQ 33 0.8118                            
    RS 18 0.4428                            
    RT 0 0                            
    TX 74 1.8204                            
    TW 20 0.4920                            
    XY 17 0.4182                            
    WZ 62 1.5252                            
    Tổng     0 0.8364   0.7257 0.4674 0.8118 0.4551 0.4428 0.2337 0.7872 0.2214 0.7995 1.0332  

    Bảng phân bố lưu lượng nước tại từng nút ( phần 1 )

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 8
       
                    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ        
                           
                                     
        Chiều Lƣu           Lưu lượng nút          
        dài                    
        lƣợng             (l/s)            
    Đoạn tính                        
    dọc                          
                             
    ống toán                          
    đƣờng N O P Q R S T X Y W Z  
        Ltt  
        qdd (l/s)  
        (m)                          
                                   
    AB 0 0                          
    BC 21 0.5166                          
    BL 47 1.1562                          
    CD 38 0.9348                          
    CE 0 0                          
    EF 20 0.492                          
    EI 46 1.1316                          
    FG 17 0.4182                          
    GH 19 0.4674                          
    IK 18 0.4428                          
    LN 18 0.4428 0.2214                        
    LM 0 0                          
    MO 20 0.492   0.2460                    
    MR 64 1.5744           0.7872              
    OP 20 0.492   0.2460 0.2460                  
    PQ 33 0.8118       0.4059 0.4059                
    RS 18 0.4428           0.2214 0.2214            
    RT 0 0                          
    TX 74 1.8204               0.9102 0.9102        
    TW 20 0.492               0.2460     0.2460    
    XY 17 0.4182                 0.2091 0.2091      
    WZ 62 1.5252                     0.7626 0.7626  
    Tổng     0.2214 0.4920 0.6519 0.4059 1.0086 0.2214 1.1562 1.1193 0.2091 1.0086 0.7626  

    Bảng phân bố lưu lượng nước tại từng nút ( phần 2 )

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 9
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Lƣu lƣợng nƣớc tại các nút ( l/s ):

    Tên nút A B C D E F G H
    Lƣu lƣợng 0.0000 0.8364 0.7257 0.4674 0.8118 0.4551 0.4428 0.2337
    Tên nút I K L M N O P Q
    Lƣu lƣợng 0.7872 0.2214 0.7995 1.0332 0.2214 0.4920 0.6519 0.4059
    Tên nút R S T X Y W Z  
    Lƣu lƣợng 1.0086 0.2214 1.1562 1.1193 0.2091 1.0086 0.7626  

    Xác định lƣu lƣợng tính toán cho từng đoạn ống:

    Tính tƣơng tự cho các đoạn ống còn lại ta đƣợc bảng xác định lƣu lƣợng tính toán cho từng đoạn ống sau:

        Nút Lƣu lƣợng Lƣu lƣợng tính
    Đoạn ống Tên nút   Lƣu lƣợng chuyển qua toán
        ( l/s ) ( l/s ) ( l/s )
         
    WZ Z   0,7626 0,0000 0,7626
    TW W   1,0086 0,7626 1,7712
    XY Y   0,2091 0,0000 0,2091
    TX X   1,1193 0,2091 1,3284
    RT T   1,1562 3,0996 4,2558
    RS S   0,2214 0,0000 0,2214
    MR R   1,0086 4,4772 5,4858
    PQ Q   0,4059 0,0000 0,4059
    OP P   0,6519 0,4059 1,7722
    MO O   0,4920 1,7722 2,2642
    LN N   0,2214 0,0000 0,2214
    LM M   1,0332 7,7500 8,7832
    BL L   0,7995 9,0046 9,8041
    IK K   0,2214 0,0000 0,2214
    EI I   0,7872 0,2214 1,0086
    GH H   0,2337 0,0000 0,2337
    FG G   0,4428 0,2337 1,3469
    EF F   0,4551 1,3469 1,8020
    CE E   0,8118 2,8106 3,6224
    CD D   0,4674 0,0000 0,4674
    BC C   0,7257 4,0898 4,8155
    AB B   0,8364 14,6196 15,456
    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 10
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Riêng các đoạn ống OP và FG ta phải cộng thêm lƣu lƣợng tập trung của Chợ và trƣờng Mầm non.

    ƣờ

    1. Đường kính, vận tốc, tổn thất áp lực của các đoạn ống trong mạng lưới : Tổn thất áp lực :
      Chiều dài Lƣu lƣợng Đƣờng Vận tốc Độ dốc Tổn thức  
    Đoạn ống tính toán kính ống thủy lực áp lực  
    ( m ) (m/s)
      (l/s) (mm) (%) ( m)  
         
    AB 25 15.456 200 0.48 1.05 0.0263  
    BC 42 4.8155 100 0.60 3.50 0.1470  
    BL 94 9.8041 150 0.53 1.75 0.1645  
    CD 76 0.4674 100 0.21 0.49 0.0372  
    CE 10 3.6224 100 0.45 2.08 0.0208  
    EF 40 1.8020 100 0.22 0.55 0.0220  
    EI 92 1.0086 100 0.21 0.49 0.0451  
    FG 34 1.3469 100 0.21 0.49 0.0167  
    GH 38 0.2337 100 0.21 0.49 0.0186  
    IK 36 0.2214 100 0.21 0.49 0.0176  
    LM 10 8.7832 150 0.47 1.41 0.0141  
    LN 36 0.2214 100 0.21 0.49 0.0176  
    MO 40 2.2642 100 0.28 0.86 0.0344  
    MR 128 5.4858 150 0.30 0.59 0.0755  
    OP 40 1.7722 100 0.22 0.55 0.0220  
    PQ 66 0.4059 100 0.21 0.49 0.0323  
    RS 36 0.2214 100 0.21 0.49 0.0176  
    RT 10 4.2558 100 0.52 2.75 0.0275  
    TW 40 1.7712 100 0.22 0.55 0.0220  
    TX 148 1.3284 100 0.21 0.49 0.0725  
    WZ 124 0.7626 100 0.21 0.49 0.0608  
    XY 34 0.2091 100 0.21 0.49 0.0167  

    BẢNG TÍNH TOÁN THỦY LỰC CHO CÁC ĐOẠN ỐNG

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 11
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2   10  
       
           

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập Điện tử công suất (có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-phun-x%C4%83ng-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-EFI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    GiỚi thiỆu hỆ thỐng phun xĂng ĐiỆn tỬ cỦa toyota

    1. Giới thiệu hệ thống điện điều khiển động cơ, hệ thống phun xăng điện tử EFI
      – Trên thế giới hệ thống phun xăng điện tử trên xe hơi đã được sử dụng hết sức phổ biến kể từ những năm cuối thập niên 1980. Qua các thời kỳ hệ thống phun xăng điện tử đã được phát triển và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn
      – Vào thế kỷ 19, một kỹ sư người Pháp ông Stevan đã nghĩ ra cách phun nhiên liệu cho một máy nén khí. Sau đó một thời gian, một người Đức đã cho phun nhiên liệu vào buồng cháy nhưng không mang lại hiệu quả nên không thực hiện. Đầu thế kỷ 20, người Đức áp dụng hệ thống phun nhiên liệu trong động cơ xăng 4 thì tĩnh tại (nhiên liệu dùng trên động cơ này là dầu hoả nên hay bị kích nỗ và hiệu suất rất thấp). Tuy nhiên sau đó sáng kiến này đã được ứng dụng thành công trong việc chế tạo hệ thống cung cấp nhiên liệu cho máy bay Đức. Đến năm 1966, hãng BOSCH đã thành công trong viêc chế tạo hệ thống phun xăng kiểu cơ khí. Trong hệ thống phun xăng này, nhiên liệu được phun liên tục vào trước supap hút nên có tên gọi là K-Jetronic.(K – Konstant-liên tục, Jetronic-phun). K-Jetronic được đưa vào sản xuất và ứng dụng trên các xe của hãng Mercedes và một số xe khác, là nền tảng cho việc phát triển hệ thống phun xăng thế hệ sau như: KE – Jetronic, Mono – Jectronic, L- Jectronic, Motronic,…
      – Tên tiếng anh của K – Jectronic là CIS ( Continuous Injection System) đặc trưng cho các hãng xe châu âu có 4 loại cơ bản cho CIS là: K – Jectronic, K – Jectronic với cảm biến ôxy và KE-Jectronic (có kết hợp điều khiển điện tử) hoặc KE – Motronic (kèm điều khiển góc đánh lửa sớm). Do hệ thống phun cơ khí có nhiều nhược điểm nên đầu những năm 80, BOSCH đã cho ra đời hệ thống phun sử dụng kim phun điều khiển bằng điện. Có hai loại hệ thống L-Jectronic (lượng nhiên liệu được xác định nhờ cảm biến đo lưu lượng khí nạp) và D-Jectronic (lượng nhiên liệu được xác định dựa vào áp xuất trên đường ống nạp).
      – Đến năm 1984 người Nhật (mua bản quyền của BOSCH) đã ứng dụng hệ thống phunh xăng L- Jectronic và D – Jectronic trên các xe của hãng Toyota (dùng với động cơ 4A – ELU). Đến năm 1987 hãng Nissan dùng L-Jetrronic thay cho bộ chế hoà khí của Nissan Sunny.
      Song song với sự phát triển của hệ thống phun xăng, hệ thống điều khiển đánh lửa theo chương trình (ESA – Electronic Spark Advance) cũng được đưa vào sử dụng vào những năm đầu thập niên 80. Sau đó vao đầu những năm 90, hệ thống đánh lửa trực tiếp (DIS-Direct Ignition System) ra đời, cho phép không sử dụng Delco và hệ thống này đã có mặt trên hầu hết các xe thế hệ mới.
      – Ngày nay, gần như tất cả các ôtô đều được trang bị hệ thống điều khiển động cơ cả xăng và Diesel theo lập trình, chúng giúp động cơ đáp ứng các yêu cầu gắt gao về khí xả và tính tiết kiệm nhiên liệu. Thêm vào đó, công suất động cơ cũng được cải thiện rõ rệt.
      – Những năm gần đây, một thế hệ mới của động cơ phun xăng đã ra đời. Đó là động cơ phun trục tiếp: GDI (Gasoline Direct Injection), trong tương lai gần, chắc chắc GDI sẽ được sử dụng rộng rãi.
      Ưu điểm của hệ thống phun xăng:
      – Có thể cấp hỗn hợp khí – nhiên liệu đồng đều đến từng xylanh.
      – Có thể đạt tỷ lệ khí – nhiên liệu chính xác với tất cả các dải tốc độ động cơ.
      – Đáp ứng kiệp thời sự thay đổi góc mở bướm ga.
      – Khả năng hiệu chỉnh hỗn hợp – khí nhiên liệu dễ dàng: có thể làm đậm hỗn hợp khi nhiệt độ thấp hoặc cắt nhiên liệu khi giảm tốc .
      – Hiệu suất nạp hỗn hợp không khí – nhiên liệu cao.
      – Do kim phun bố trí gần supap hút nên dòng khí nạp trên ống góp hút có khối lượng thấp (chưa chộn với nhiên liệu) sẽ đạt tốc độ xoáy lốc cao, nhờ vậy, nhiên liệu sẽ không còn thất thoát trên đường ống nạp và hoà khí sẽ được trộn tốt hơn.
      – Như chúng ta đã biết , hiện nay phần lớn các ôtô sử dụng ở Việt Nam và trên thế giới đều được trang bị hệ thống điều khiển điện tử, để điều khiển các hoạt động của ôtô như: điều khiển phun xăng, điều khiển đánh lửa, điều khiển hệ thống phanh ABS, điều khiển hộp số, điều khiển hệ thống treo…nhằn mục đích thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng, cũng như các tiêu chuẩn về môi trường. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng của ôtô đã nảy sinh vấn đề mới đối với ôtô sử dụng hệ thống phun xăng điện tử ở nứơc ta:
      – Hệ thống phun xăng điện tử còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nên khi sử dụng xe có trang bị hệ thống điều khiển phun xăng điện tử, người sử dụng và thợ sửa xe thường gặp khó khăn trong sửa chửa và thay thế các bộ phận của hệ thống nhiên liệu.
      – Hệ thống phun xăng điện tử chưa được đào tạo rộng rãi và chuyên sâu tại các trường học và trung tâm dạy nghề do thiếu trang thiết bị, mô hình day học và hạng chế trong việc nắm bắt lý thuyết hệ thống phun xăng điện tử của giáo viên.
      – Các ôtô sau một thời gian sử dụng có thể bị hư hỏng hộp điều khiển điện tử ECU hay đều bị dư xăng hoặc thiếu xăng do các nguyên nhân gây ra trong ECU ( nếu tháy mới giá thành rất đắt, trong khi ở Việt Nam chưa chế tạo được hộp điều khiển điện tử ECU). Dẫn đến tình trạng động cơ không hoạt động được hoặc làm giảm tính kinh tế nhiên liệu và làm ô nhiễm môi trường xung quanh.
      – Giá thành phụ tùng thay thế, đặc biệt là hộp ECU khá đắt.
      II.Trình bày nguyên lý cấu tạo và hoạt động của hệ thống phun xăng điện tử EFI, hệ thống điều khiển và các bộ phận liên quan.
      II.1. Trình bày nguyên lý cấu tạo và hoạt động của hệ thống phun xăng điện tử EFI
      Hệ thống EFI sử dụng các cảm biến khác nhau để phát hiện tình trạng của động cơ và điều kiện chạy của xe. Và ECU động cơ tính toán lượng phun nhiên liệu tối ưu và làm cho các vòi phun phun nhiên liệu.

       

      Hình 1:Kết cấu cơ bản của EFI
      – ECU động cơ: ECU này tính thời gian phun nhiên liệu tối ưu dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến.
      – Cảm biến lưu lượng khí nạp hoặc cảm biến áp suất đường ống nạp: Cảm biến này phát hiện khối lượng không khí nạp hoặc áp suất của ống nạp.
      – Cảm biến vị trí trục khuỷu: Cảm biến này phát hiện góc quay trục khuỷu và tốc độ của động cơ.
      Cảm biến vị trí trục cam: Cảm biến này phát hiện góc quay chuẩn và thời điểm của trục cam.
      – Cảm biến nhiệt độ nước: Cảm biến này phát hiện nhiệt độ của nước làm mát.
      – Cảm biến vị trí bướm ga: Cảm biến này phát hiện góc mở của bướm ga.
      – Cảm biến oxy: Cảm biến này phát hiện nồng độ của oxy trong khí xả.
      II.1.1. Các loại EFI: ( hình 2 )
      Có hai loại hệ thống EFI được phân loại theo phương pháp phát hiện lượng không khí nạp.
      a. L – EFI (Loại điều khiển lưu lượng không khí)
      Loại này sử dụng một cảm biến lưu lượng khí nạp để phát hiện lượng không khí chạy vào đường ống nạp.
      Có hai phương pháp phát hiện: Một loại trực tiếp đo khối không khí nạp, và một loại thực hiện các hiệu chỉnh dựa vào thể tích không khí.
      b. D – EFI (Loại điều khiển áp suất đường ống nạp)
      Loại này đo áp suất trong đường ống nạp để phát hiện lượng không khí nạp theo tỷ trọng của không khí nạp.

      Hình 2:các loại EFI
      II.1.2. Hệ thống nhiên liệu:
      II.1.2.1. Mô tả:
      Nhiên liệu được lấy từ bình nhiên liệu bằng bơm nhiên liệu và được phun dưới áp suất bởi vòi phun.
      Áp suất nhiên liệu trong đường ống nhiên liệu phải được điều chỉnh để duy trì việc phun nhiên liệu ổn định bằng bộ điều áp và bộ giảm rung động.
      Các bộ phận chính: ( hình 3 )
      – Bình nhiên liệu.
      – Cụm bơm nhiên liệu.
      – Bơm nhiên liệu .
      – Lưới lọc của bơm nhiên liệu.
      – Bộ lọc nhiên liệu.
      – Bộ điều áp.
      – Ống phân phối.
      – Vòi phun.
      – Bộ giảm rung động.

      Hình 3: các bộ phận chính của hệ thống nhiên liệu.
      a. Bơm nhiên liệu:
      Bơm nhiên liệu được lắp trong bình nhiên liệu và được kết hợp với bộ lọc nhiên liệu, bộ điều áp, bộ đo nhiên liệu, v.v…
      Cánh bơm được mô tơ quay để nén nhiên liệu.
      Van một chiều đóng lại khi bơm nhiên liệu dừng để duy trì áp suất trong đường ống nhiên liệu và làm cho việc khởi động động cơ dễ dàng hơn.
      Nếu không có áp suất dư, dễ xảy ra hiện tượng khoá hơi ở nhiệt độ cao, làm cho việc khởi động lại khó khăn.
      Van an toàn mở ra khi áp suất ở phía cửa ra trở nên quá cao, nhằm ngăn chặn áp suất nhiên liệu trở nên quá cao này.

      Hình 4: Bơm nhiên liệu.
      b. Bộ điều áp:
      Bộ điều áp này điều chỉnh áp suất nhiên liệu vào vòi phun ở 324 kPa (3.3 kgf/cm2). (Các giá trị này có thể thay đổi tuỳ theo kiểu của động cơ)
      Ngoài ra, bộ điều áp còn duy trì áp suất dư trong đường ống nhiên liệu cũng như cách thức duy trì ở van một chiều của bơm nhiên liệu.
      Có hai loại phương pháp điều chỉnh nhiên liệu.
      Loại 1 ( hình 5)
      Loại này điều chỉnh áp suất nhiên liệu ở một áp suất không thay đổi.
      Khi áp suất nhiên liệu vượt quá lực ép của lò xo trong bộ điều áp, van này mở ra để trả nhiên liệu trở về bình nhiên liệu và điều chỉnh áp suất.

      Hình 6
      – Loại 2 ( hình 7)
      Loại này có ống phân phối liên tục điều chỉnh áp suất nhiên liệu để giữ cho áp suất nhiên liệu cao hơn áp suất được xác định từ áp suất đường ống nạp.
      Hoạt động cơ bản cũng giống như loại 1, nhưng độ chân không của đường ống nạp được đặt vào buồng trên của màng chắn, áp suất nhiên liệu được điều chỉnh bằng cách thay đổi áp suất nhiên liệu khi van mở ra theo độ chân không của đường ống nạp.
      Nhiên liệu được trả về bình nhiên liệu qua ống hồi nhiên liệu.

      Hình 7
      c. Bộ giảm rung độnghình 18)
      Bộ giảm rung này dùng một màng ngăn để hấp thụ một lượng nhỏ xung của áp suất nhiên liệu sinh ra bởi việc phun nhiên liệu và độ nén của bơm nhiên liệu

      Hình 8 Bộ giảm rung động.
      d. Vòi phun: ( hình 9)
      Vòi phun phun nhiên liệu vào các cửa nạp của các xi lanh theo tín hiệu từ ECU động cơ.
      Các tín hiệu từ ECU động cơ làm cho dòng điện chạy vào cuộn dây điện từ, làm cho píttông bơm bị kéo, mở van để phun nhiên liệu.
      Vì hành trình của pít tông bơm không thay đổi, lượng phun nhiên liệu được điều chỉnh tại thời điểm dòng điện chạy vào cuộn điện từ này.

      Hình 9 Vòi phun.
      e. Bộ lọc nhiên liệu và lưới lọc của bơm nhiên liệu: ( hình 10 )
      – Bộ lọc nhiên liệu
      Bộ lọc nhiên liệu khử bụi bẩn và các tạp chất trong nhiên liệu được bơm lên bởi bơm nhiên liệu.
      – Lưới lọc của bơm nhiên liệu
      Lưới lọc của bơm nhiên liệu khử bụi bẩn và các tạp chất ra khỏi nhiên liệu trước khi đi vào bơm nhiên liệu.

      Hình 10: Bộ lọc nhiên liệu và lưới lọc.

      II.1.2.2. Điều khiển bơm nhiên liệu:
      a. Hoạt động cơ bản:
      Bơm nhiên liệu chỉ hoạt động khi động cơ đang nổ máy.
      Thậm chí khi khoá điện được bật đến vị trí ON, nếu động cơ chưa nổ máy, thì bơm nhiên liệu sẽ không làm việc.

      Hình 11: sơ đồ mạch điện điều khiển bơm nhiên liệu.
      b. Điều khiển tốc độ của bơm nhiên liệu
      ( hình 12)
      Việc điều khiển này làm giảm tốc độ của bơm nhiên liệu để giảm độ mòn của bơm và điện năng khi không cần nhiều nhiên liệu, như khi động cơ đang chạy ở tốc độ thấp.
      Khi dòng điện chạy vào bơm nhiên liệu qua tiếp điểm B của rơle điều khiển bơm và điện trở, bơm nhiên liệu sẽ làm việc ở tốc độ thấp.
      Khi động cơ đang quay khởi động, khi động cơ đang chạy ở tốc độ cao, hoặc ở tải trọng lớn, ECU động cơ chuyển mạch tiếp điểm của rơle điều khiển bơm nhiên liệu sang A để điều khiển bơm nhiên liệu ở tốc độ cao.

      Hình 12: điều khiển tốc độ bơm nhiên liệu
      c. Hệ thống ngắt bơm nhiên liệu:
      Ở một số xe có một cơ cấu để điều khiển làm ngừng hoạt động của bơm nhiên liệu trong các điều kiện sau đây để duy trì an toàn.
      – Khi túi khí nổ:
      Khi túi khí SRS của lái xe, của hành khách phía trước phồng lên, việc điều khiển ngắt nhiên liệu làm bơm nhiên liệu không hoạt động. ( hình 13 ).
      Khi ECU động cơ phát hiện một tín hiệu phồng lên của túi khí từ cụm cảm biến túi khí trung tâm, ECU động cơ sẽ ngắt rơle mở mạch để ngừng hoạt động của bơm nhiên liệu.
      Sau khi điều khiển ngắt bơm nhiên liệu, việc điều khiển này sẽ được loại bỏ bằng cách tắt khoá điện về vị trí OFF, làm cho bơm nhiên liệu làm việc trở lại.

      Hình 13
      – Khi xe bị đâm hoặc bị lật
      ( hình 14 ).
      Khi xe bị đâm, công tắc quán tính của bơm nhiên liệu sẽ ngắt bơm nhiên liệu để giảm thiểu sự rò rỉ nhiên liệu.
      Công tắc quán tính của bơm nhiên liệu được đặt giữa ECU bơm nhiên liệu và ECU động cơ.
      Khi viên bi trong công tắc này dịch chuyển vì có va đập, công tắc này bị tách khỏi tiếp điểm để xoay nó về vị trí OFF và ngừng hoạt động của bơm nhiên liệu.
      Sau khi cắt nhiên liệu, đẩy công tắc về vị trí ban đầu để ngừng việc điều khiển cắt nhiên liệu, làm cho bơm nhiên liệu hoạt động trở lại.

      Hình 14

      II.2. Trình bày nguyên lý cấu tạo và hoạt động của hệ thống điều khiển và các bộ phân liên quan.
      II.2.1.Mô tả:
      Hệ thống điều khiển động cơ gồm có ba nhóm các cảm biến (và các tín hiệu đầu ra của cảm biến), ECU động cơ, và các bộ chấp hành. Chương này giải thích các cảm biến (các tín hiệu), sơ đồ mạch điện và sơ đồ nối mát, và các điện áp cực của cảm biến. ( hình 15 )
      Các chức năng của ECU động cơ được chia thành điều khiển EFI, điều khiển ESA, điều khiển ISC, chức năng chẩn đoán, các chức năng an toàn và dự phòng, và các chức năng khác. Các chức năng này và các chức năng của bộ chấp hành được giải thích ở các chương riêng.

      Hình 15
      II.2.1.1. Mạch nguồn
      Mạch nguồn là các mạch điện cung cấp điện cho ECU của động cơ. Các mạch điện này bao gồm khoá điện, rơle chính EFI, v.v.
      Mạch nguồn được xe ô tô sử dụng thực sự gồm có 2 loại sau đây.
      – Loại điều khiển bằng khoá điện
      – Loại điều khiển bằng ECU động cơ
      a. Loại điều khiển bằng khoá điện ( hình 16)
      Như trình bày ở hình minh họa này, sơ đồ chỉ ra loại trong đó rơle chính EFI được điều khiển trực tiếp từ khoá điện.
      Khi bật khoá điện ON, dòng điện chạy vào cuộn dây của rơle chính EFI, làm cho tiếp điểm đóng lại. Việc này cung cấp điện cho các cực + B và + B1 của ECU động cơ.
      Điện áp của ắc quy luôn luôn cung cấp cho cực BATT của ECU động cơ để tránh cho các mã chẩn đoán và các dữ liệu khác trong bộ nhớ của nó không bị xóa khi tắt khoá điện OFF.

      Hình 16: Mạch nguồn loại điều khiển bằng khóa điện.
      b. Loại điều khiển bằng ECU:
      Mạch nguồn trong hình minh họa là loại trong đó hoạt động của rơle chính EFI được điều khiển bởi ECU động cơ.
      Loại này yêu cầu cung cấp điện cho ECU động cơ trong vài giây sau sau khi tắt khoá điện OFF. Do đó việc đóng hoặc ngắt của rơle chính EFI được ECU động cơ điều khiển.
      Khi bật khóa điện ON, điện áp của ắc quy được cấp đến cực IGSW của ECU động cơ và mạch điều khiển rơle chính EFI trong ECU động cơ truyền một tín hiệu đến cực M-REL của ECU động cơ, bật mở rơle chính EFI. Tín hiệu này làm cho dòng điện chạy vào cuộn dây, đóng tiếp điểm của rơle chính EFI và cấp điện cho cực +B của ECU động cơ.
      Điện áp của ắc quy luôn luôn cung cấp cho cực BATT có lí do giống như cho loại điều khiển bằng khoá điện.
      Ngoài ra một số kiểu xe có một rơle đặc biệt cho mạch sấy nóng cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu, yêu cầu một lượng dòng điện lớn.

      Hình 17: Sơ đồ mạch nguồn điều khiển bằng ECU.
      II.2.1.2.Mạch nối mát
      ECU động cơ có 3 mạch nối mát cơ bản sau đây.
      – Nối mát để điều khiển ECU động cơ (E1)
      Cực E1 này là cực tiếp mát của ECU động cơ và thường được nối với buồng nạp khí của động cơ.
      – Nối mát cho cảm biến (E2, E21)
      Các cực E2 và E21 là các cực tiếp mát của cảm biến, và chúng được nối với cực E1 trong ECU động cơ.
      Chúng tránh cho các cảm biến không bị phát hiện các trị số điện áp lỗi bằng cách duy trì điện thế tiếp mát của cảm biến và điện thế tiếp mát của ECU động cơ ở cùng một mức.
      – Nối mát để điều khiển bộ chấp hành (E01, E02)
      Các cực E01 và E02 là các cực tiếp mát cho bộ chấp hành, như cho các bộ chấp hành, van ISC và bộ sấy cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu. Cũng giống như cực E1, E01 và E02 được nối gần buồng nạp khí của động cơ.

      Hình 18: Sơ đồ mạch nối mát của ECU.

      II.2.2. Các cảm biến và tín hiệu.
      II.2.2.1. Cảm biến lưu lượng khí nạp:
      Cảm biến lưu lượng khí nạp là một trong những cảm biến quan trọng nhất vì nó được sử dụng trong EFI kiểu L để phát hiện khối lượng hoặc thể tích không khí nạp.
      Tín hiệu của khối lượng hoặc thể tích của không khí nạp được dùng để tính thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa sớm cơ bản.
      Cảm biến lưu lượng khí nạp chủ yếu được chia thành 2 loại, các cảm biến để phát hiện khối lượng không khí nạp, và cảm biến đo thể tích không khí nạp, cảm biến đo khối lượng và cảm biến đo lưu lượng không khí nạp có các loại như sau.
      Cảm biến đo khối lượng khí nạp:
      – Kiểu dây sấy
      Cảm biến đo lưu lượng khí nạp:
      – Kiểu cánh.
      – Kiểu gió xoáy quang học Karman
      Hiện nay hầu hết các xe sử dụng cảm biến lưu lượng khí nạp khí kiểu dây nóng vì nó đo chính xác hơn, trọng lượng nhẹ hơn và độ bền cao hơn.
      Cảm biến đo khối lượng khí nạp kiểu dây sấy:
      – Cấu tạo :
      Như trình bày ở hình minh họa, cấu tạo của cảm biến lưu lượng khí nạp kiểu dây nóng rất đơn giản.
      Cảm biến lưu lượng khí nạp gọn và nhẹ như được thể hiện trong hình minh họa ở bên trái là loại cắm phích được đặt vào đường không khí, và làm cho phần không khí nạp chạy qua khu vực phát hiện. Như trình bày trong hình minh họa, một dây nóng và nhiệt điện trở, được sử dụng như một cảm biến, được lắp vào khu vực phát hiện. Bằng cách trực tiếp đo khối lượng không khí nạp, độ chính xác phát hiện được tăng lên và hầu như không có sức cản của không khí nạp. Ngoài ra, vì không có các cơ cấu đặc biệt, dụng cụ này có độ bền tuyệt hảo.
      Cảm biến lưu lượng khí nạp được thể hiện trong hình minh hoạ cũng có một cảm biến nhiệt độ không khí nạp gắn vào.

      Hình 19:Cảm biến lưu lượng khí nạp loại dây sấy
      – Hoạt động và chức năng:
      Như thể hiện trong hình minh họa, dòng điện chạy vào dây sấy (bộ sấy) làm cho nó nóng lên. Khi không khí chạy quanh dây này, dây sấy được làm nguội tương ứng với khối không khí nạp. Bằng cách điều chỉnh dòng điện chạy vào dây sấy này để giữ cho nhiệt độ của dây sấy không đổi, dòng điện đó sẽ tỷ lệ thuận với khối không khí nạp. Sau đó có thể đo khối lượng không khí nạp bằng cách phát hiện dòng điện đó. Trong trường hợp của cảm biến lưu lượng khí nạp kiểu dây sấy, dòng điện này được biến đổi thành một điện áp, sau đó được truyền đến ECU động cơ từ cực VG.

      Hình 20
      – Mạch điện bên trong: ( hình 21)
      Trong cảm biến lưu lượng khí nạp thực tế, như trình bày ở hình minh họa, một dây sấy được ghép vào mạch cầu. Mạch cầu này có đặc tính là các điện thế tại điểm A và B bằng nhau khi tích của điện trở theo đường chéo bằng nhau ([Ra+R3]*R1=Rh*R2).
      Khi dây sấy này (Rh) được làm mát bằng không khí nạp, điện trở tăng lên dẫn đến sự hình thành độ chênh giữa các điện thế của các điểm A và B. Một bộ khuyếch đại xử lý phát hiện chênh lệch này và làm tăng điện áp đặt vào mạch này (làm tăng dòng điện chạy qua dây sấy (Rh)). Khi thực hiện việc này, nhiệt độ của dây sấy (Rh) lại tăng lên dẫn đến việc tăng tương ứng trong điện trở cho đến khi điện thế của các điểm A và B trở nên bằng nhau (các điện áp của các điểm A và B trở nên cao hơn).
      Bằng cách sử dụng các đặc tính của loại mạch cầu này, cảm bíên lưu lượng khí nạp có thể đo được khối lượng không khí nạp bằng cách phát hiện điện áp ở điểm B.
      Trong hệ thống này, nhiệt độ của dây sấy (Rh) được duy trì liên tục ở nhiệt độ không đổi cao hơn nhiệt độ của không khí nạp, bằng cách sử dụng nhiệt điện trở (Ra). Do đó, vì có thể đo được khối lượng khí nạp một cách chính xác mặc dù nhiệt độ khí nạp thay đổi, ECU của động cơ không cần phải hiệu chỉnh thời gian phun nhiên liệu đối với nhiệt độ không khí nạp.
      Ngoài ra, khi mật độ không khí giảm đi ở các độ cao lớn, khả năng làm nguội của không khí giảm xuống so với cùng thể tích khí nạp ở mức nước biển. Do đó mức làm nguội cho dây sấy này giảm xuống. Vì khối khí nạp được phát hiện cũng sẽ giảm xuống, nên không cần phải hiệu chỉnh mức bù cho độ cao lớn.

      Hình 21
      II.2.2.2. Cảm biến áp suất đường ống nạp ( Cảm biến chân không ).
      Cảm biến áp suất đường ống nạp được dùng cho hệ thống EFI kiểu D để cảm nhận áp suất đường ống nạp. Đây là một trong những cảm biến quan trọng nhất trong EFI kiểu D.
      Bằng cách gắn một IC vào cảm biến này, cảm biến áp suất đường ống nạp cảm nhận được áp suất đường ống nạp như một tín hiệu PIM. Sau đó ECU động cơ xác định được thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa sớm cơ bản trên cơ sở của tín hiệu PIM này.
      Như trình bày ở hình minh họa, một chíp silic kết hợp với một buồng chân không được duy trì ở độ chân không định trước, được gắn vào bộ cảm biến này. Một phía của chip này được lộ ra với áp suất của đường ống nạp và phía bên kia thông với buồng chân không bên trong. Vì vậy, không cần phải hiệu chỉnh mức bù cho độ cao lớn vì áp suất của đường ống nạp có thể đo được chính xác ngay cả khi độ cao này thay đổi.
      Một thay đổi về áp suất của đường ống nạp sẽ làm cho hình dạng của chip silic này thay đổi, và trị số điện trở của chíp này dao động theo mức biến dạng này.
      Tín hiệu điện áp, mà IC biến đổi từ sư dao động của giá trị điện trở này gọi là tín hiệu PIM.

      Hình 22
      II.2.2.3. Cảm biến vị trí bướm ga:
      Cảm biến vị trí bướm ga được lắp trên cổ họng gió. Cảm biến này biến đổi góc mở bướm ga thành điện áp, được truyền đến ECU động cơ như tín hiệu mở bướm ga (VTA). Ngoài ra, một số thiết bị truyền một tín hiệu IDL riêng biệt. Các bộ phận khác xác định nó lúc tại thời điểm chạy không tải khi điện áp VTA này ở dưới giá trị chuẩn.
      Hiện nay, có 2 loại, loại tuyến tính và loại có phần tử Hall được sử dụng. Ngoài ra, đầu ra 2 hệ thống được sử dụng để tăng độ tin cậy.

      Hình 23
      a.Loại tiếp điểm:
      Loại cảm biến vị trí bướm ga này dùng tiếp điểm không tải (IDL) và tiếp điểm trợ tải (PSW) để phát hiện xem động cơ đang chạy không tải hoặc đang chạy dưới tải trọng lớn.
      Khi bướm ga được đóng hoàn toàn, tiếp điểm IDL đóng ON và tiếp điểm PSW ngắt OFF.
      ECU động cơ xác định rằng động cơ đang chạy không tải. Khi đạp bàn đạp ga, tiếp điểm IDL sẽ bị ngắt OFF, và khi bướm ga mở quá một điểm xác định, tiếp điểm PSW sẽ đóng ON, tại thời điểm này ECU động cơ xácđịnh rằng động cơ đang chạy dưới tải nặng.

      Hình 24
      b.Loại tuyến tính:
      Như trình bày trong hình minh họa, cảm biến này gồm có 2 con trượt và một điện trở, và các tiếp điểm cho các tín hiệu IDL và VTA được cung cấp ở các đầu của mỗi tiếp điểm.
      Khi tiếp điểm này trượt dọc theo điện trở đồng thời với góc mở bướm ga, điện áp này được đặt vào cực VTA theo tỷ lệ thuận với góc mở của bướm ga.
      Khi bướm ga được đóng lại hoàn toàn, tiếp điểm của tín hiệu IDL được nối với các cực IDL và E2.
      Một số kiểu sử dụng tín hiệu ra hai hệ thống (VTA1, VTA2) để tăng độ tin cậy

      Hình 25
      c. Loại phần tử Hall:
      Cảm biến vị trí bướm ga loại phần tử Hall gồm có các mạch IC Hall làm bằng các phần tử Hall và các nam châm quay quanh chúng. Các nam châm được lắp ở trên trục bướm ga và quay cùng với bướm ga.
      Khi bướm ga mở, các nam châm quay cùng một lúc, và các nam châm này thay đổi vị trí của chúng. Vào lúc đó, IC Hall phát hiện sự thay đổi từ thông gây ra bởi sự thay đổi của vị trí nam châm và tạo ra điện áp ra của hiệu ứng Hall từ các cực VTA1 và VTA2 theo mức thay đổi này. Tín hiệu này được truyền đến ECU động cơ như tín hiệu mở bướm ga.
      Cảm biến này không chỉ phát hiện chính xác độ mở của bướm ga, mà còn sử dụng phương pháp không tiếp điểm và có cấu tạo đơn giản, vì thế nó không dễ bị hỏng. Ngoài ra, để duy trì độ tin cậy của cảm biến này, nó phát ra các tín hiệu từ hai hệ thống có các tính chất khác nhau.

      Hình 26
      II.2.2.4. Cảm biến vị trí bàn đạp ga:
      Cảm biến vị trí của bàn đạp ga biến đổi mức đạp xuống của bàn đạp ga (góc) thành một tín hiệu điện được chuyển đến ECU động cơ. Ngoài ra, để đảm bảo độ tin cậy, cảm biến này truyền các tín hiệu từ hai hệ thống có các đặc điểm đầu ra khác nhau. Có hai loại cảm biến vị trí bàn đạp ga, loại tu?yến tính và loại phần tử Hall.
      a.Loại tuyến tính:
      Cấu tạo và hoạt động của cảm biến này cơ bản giống như cảm biến vị trí bướm ga loại tuyền tính.
      Trong các tín hiệu từ hai hệ thống này, một là tín hiệu VPA truyền điện áp theo đường thẳng trong toàn bộ phạm vi bàn đạp ga. Tín hiệu khác là tín hiệu VPA2, truyền điện áp bù từ tín hiệu VPA.

      Hình 27
      b.Loại phần tử Hall
      Cấu tạo và hoạt động của cảm biến này cơ bản giống như cảm biến vị trí bướm galoại phần tử Hall.
      Để đảm bảo độ tin cậy cao hơn, phải cung cấp một mạch điện độc lập cho từng hệ thống một.

      Hình 28
      II.2.2.5. Cảm biến nhiệt độ nước và cảm biến nhiệt độ khí nạp ( hình 29 )
      Cảm biến nhiệt độ nước và cảm biến nhiệt độ khí nạp đã được gắn các nhiệt điện trở bên trong, mà nhiệt độ càng thấp, trị số điện trở càng lớn, ngược lại, nhiệt độ càng cao, trị số điện càng thấp. Và sự thay đổi về giá trị điện trở của nhiệt điện trở này được sử dụng để phát hiện các thay đổi về nhiệt độ của nước làm mát và không khí nạp.
      Như được thể hiện trong hình minh họa, điện trở được gắn trong ECU động cơ và nhiệt điện trở trong cảm biến này được mắc nối tiếp trong mạch điện sao cho điện áp của tín hiệu được phát hiện bởi ECU động cơ sẽ thay đổi theo các thay đổi của nhiệt điện trở này. Khi nhiệt độ của nước làm mát hoặc khí nạp thấp, điện trở của nhiệt điện trở sẽ lớn, tạo nên một điện áp cao

      Hình 30: cảm biến nhiệt độ nước làm mát và cảm nhiệt nước làm mát

      a.Cảm nhiệt độ nước làm mát:
      Cảm biến nhiệt độ nước đo nhiệt độ của nước làm mát động cơ. Khi nhiệt độ của nước làm mát động cơ thấp, phải tăng tốc độ chạy không tải, tăng thời gian phun, góc đánh lửa sớm, v.v… nhằm cải thiện khả năng làm việc và để hâm nóng. Vì vậy, cảm biến nhiệt độ nước không thể thiếu được đối với hệ thống điều khiển động cơ.
      b.Cảm biến nhiệt độ khí nạp:
      Cảm biến nhiệt độ khí nạp này đo nhiệt độ của không khí nạp. Lượng và mật độ không khí sẽ thay đổi theo nhiệt độ của không khí. Vì vậy cho dù lượng không khí được cảm biến lưu lượng khí nạp phát hiện là không thay đổi, lượng nhiên liệu phun phải được hiệu chỉnh. Tuy nhiên cảm biến lưu lượng khí nạp kiểu dây sấy trực tiếp đo khối lượng không khí. Vì vậy không cần phải hiệu chỉnh.
      II.2.2.6. Cảm biến ôxy ( cảm biến O2 ) ( hình 31 )
      Đối với chức năng làm sạch khí xả tối đa của động cơ có TWC (bộ trung hoà khí xả 3 thành phần) phải duy trì tỷ lệ không khí-nhiên liệu trong một giới hạn hẹp xoay quanh tỷ lệ không khí-nhiên liệu lý thuyết. Cảm biến oxy phát hiện xem nồng độ ôxy trong khí xả là giàu hơn hoặc nghèo hơn tỷ lệ không khí – nhiên liệu lý thuyết. Cảm biến này chủ yếu được lắp trong đường ống xả, nhưng vị trí lắp và số lượng khác nhau tuỳ theo kiểu động cơ.
      Cảm biến oxy có một phần tử làm bằng ziconi ôxit (ZrO2), đây là một loại gốm. Bên trong và bên ngoài của phần tử này được bọc bằng một lớp platin mỏng. Không khí chung quanh được dẫn vào bên trong của cảm biến này, và phía ngoài của cảm biến lộ ra phía khí thải.
      Ở nhiệt độ cao (400°C [752°F] hay cao hơn), phần tử zirconi tạo ra một điện áp như là do sự chênh lệch lớn giữa các nồng độ của ôxy ở phía trong và phía ngoài của phần tử zirconi này.
      Ngoài ra, platin tác động như một chất xúc tác để gây ra phản ứng hóa học giữa oxy và cácbon monoxit (CO) trong khí xả. Vì vậy, điều này sẽ làm giảm lượng oxy và tăng tính nhạy cảm của cảm biến.
      Khi hỗn hợp không khí – nhiên liệu nghèo, phải có oxy trong khí xả sao cho chỉ có một chênh lệch nhỏ về nồng độ của oxy giữa bên trong và bên ngoài của phần tử zirconi. Do đó, phần tử zirconi sẽ chỉ tạo ra một điện áp thấp (gần 0V). Ngược lại, khi hỗn hợp không khí – nhiên liệu giàu, hầu như không có oxy trong khí xả. Vì vậy, có sự khác biệt lớn về nồng độ oxy giữa bên trong và bên ngoài của cảm biến này để phần từ zirconi tạo ra một điện áp tương đối lớn (xấp xỉ 1 V).
      Căn cứ vào tín hiệu OX do cảm biến này truyền đến, ECU động cơ sẽ tăng hoặc giảm lượng phun nhiên liệu để duy trì tỷ lệ không khí – nhiên liệu trung bình ở tỷ lệ không khí – nhiên liệu lý thuyết.
      Một số cảm biến oxy zirconi có các bộ sấy để sấy nóng phần từ zirconi. Bộ sấy này cũng được ECU động cơ điều khiển. Khi lượng không khí nạp thấp (nói khác đi, khi nhiệt độ khí xả thấp), dòng điện được truyền đến bộ sấy để làm nóng cảm biến này.

      Hình 31: Cảm biến ôxy
      II.2.2.7.Các bộ tạo tín hiệu G và NE
      Tín hiệu G và NE được tạo ra bởi cuộn nhận tính hiệu, bao gồm một cảm biến vị trí trục cam hoặc cảm biến vị trí trục khuỷu, và đĩa tín hiệu hoặc rôto tín hiệu. Thông tin từ hai tín hiệu này được kết hợp bởi ECU động cơ để phát hiện đầy đủ góc của trục khuỷu và tốc độ động cơ.
      Hai tín hiệu này không chỉ rất quan trọng đối với các hệ thống EFI mà còn quan trọng đối với cả hệ thống ESA.
      a. Cảm biến vị trí trục cam (bộ tạo tín hiệu G) ( hình 32 )
      Trên trục cam đối diện với cảm biến vị trí trục cam là đĩa tín hiệu G có các răng. Số răng là 1, 3 hoặc một số khác tuỳ theo kiểu động cơ. (Trong hình vẽ có 3 răng). Khi trục cam quay, khe hở không khí giữa các vấu nhô ra trên trục cam và cảm biến này sẽ thay đổi. Sự thay đổi khe hở tạo ra một điện áp trong cuộn nhận tín hiệu được gắn vào cảm biến này, sinh ra tín hiệu G. Tín hiệu G này được chuyển đi như một thông tin về góc chuẩn của trục khuỷu đến ECU động cơ, kết hợp nó với tín hiệu NE từ cảm biến vị trí của trục khuỷu để xác định TDC (điểm chết trên) kỳ nén của mỗi xi lanh để đánh lửa và phát hiện góc quay của trục khuỷu. ECU động cơ dùng thông tin này để xác định thời gian phun và thời điểm đánh lửa.

      Hình 32: Cảm biến vị trí trục cam.

      b. Cảm biến vị trí của trục khuỷu (bộ tạo tín hiệu NE). ( hình 33 )
      Tín hiệu NE được ECU động cơ sử dụng để phát hiện góc của trục khuỷu và tốc độ của động cơ. ECU động cơ dùng tín hiệu NE và tín hiệu G để tính toán thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa sớm cơ bản.
      Đối với tín hiệu G, tín hiệu NE được tạo ra bởi khe không khí giữa cảm biến vị trí trục khuỷu và các răng trên chu vi của rôto tín hiệu NE được lắp trên trục khuỷu.
      Hình minh họa trình bày một bộ tạo tín hiệu có 34 răng ở chu vi của rôto tín hiệu NE và một khu vực có 2 răng khuyết. Khu vực có 2 răng khuyết này có thể được sử dụng để phát hiện góc của trục khuỷu, nhưng nó không thể xác định xem đó là TDC của chu kỳ nén hoặc TDC của kỳ xả. ECU động cơ kết hợp tín hiệu NE và tín hiệu G để xác định đầy đủ và chính xác góc của trục khuỷu. Ngoài loại này, một số bộ phát tín hiệu có 12, 24 hoặc một răng khác, nhưng độ chính xác của việc phát hiện góc của trục khuỷu sẽ thay đổi theo số răng. Ví dụ, Loại có 12 răng có độ chính xác về phát hiện góc của trục khuỷu là 30°CA.

      Hình 33: Cảm biến vị trí trục khuỷu

      II.2.2.8.Cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu (A/F)
      Giống như cảm biến oxy, cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu phát hiện nồng độ oxy trong khí xả. Các cảm biến oxy thông thường phải làm sao cho điện áp đầu ra có xu hướng thay đổi mạnh tại giới hạn của tỷ lệ không khí – nhiên liệu lý thuyết. Khi so sánh, cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu đặt một điện áp không thay đổi để nhận được một điện áp gần như tỷ lệ thuận với nồng độ của oxy. Điều này làm tăng độ chính xác của việc phát hiện tỷ lệ không khí-nhiên liệu.
      Hình minh họa trình bày một cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu được hiển thị trong máy chẩn đoán cầm tay. Một mạch duy trì điện áp không đổi ở các cực AF+ và AF- của ECU động cơ gắn trong đó. Vì vậy, vôn kế không thể phát hiện tình trạng đầu ra của cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu. Hãy sử dụng máy chẩn đoán này.
      Các đặc điểm đầu ra của cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu làm nó có thể hiệu chỉnh ngay khi có sự thay đổi về tỷ lệ không khí-nhiên liệu, làm cho việc hiệu chỉnh tín hiệu phản hồi tỷ lệ không khí-nhiên liệu nhanh hơn và chính xác hơn.

      Hình 34: cảm biến A/F

      Giống như cảm biến oxy, cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu cũng có một bộ sấy để duy trì hiệu suất phát hiện khi nhiệt độ khí xả thấp. Tuy nhiên bộ sấy của cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu cần nhiều điện hơn các bộ sấy trong các cảm biến oxy.

    Sơ lược về phun dầu điện tử

    Sơ lược về phun dầu điện tử
    1- 1. Sô löôïc veà heä thoáng
    Heä thoáng ñieàu khieån ñoäng cô diesel baèng ñieän töû trong moät thôøi gian daøi chaäm phaùt trieån so vôùi ñoäng cô xaêng. Sôû dó nhö vaäy laø vì baûn thaân ñoäng cô diesel thaûi ra ít chaát ñoäc hôn neân aùp löïc veà vaán ñeà moâi tröôøng leân caùc nhaø saûn xuaát oâ toâ khoâng lôùn. Hôn nöõa, do ñoä eâm dòu khoâng cao neân diesel ít ñöôïc söû duïng treân xe du lòch. Trong thôøi gian ñaàu, caùc haõng chuû yeáu söû duïng heä thoáng ñieàu khieån bôm cao aùp baèng ñieän trong caùc heä thoáng EDC (electronic diesel control). Heä thoáng EDC vaãn söû duïng bôm cao aùp kieåu cuõ nhöng coù theâm moät soá caûm bieán vaø cô caáu chaáp haønh, chuû yeáu ñeå choáng oâ nhieãm vaø ñieàu toác baèng ñieän töû. Trong nhöõng naêm gaàn ñaây, heä thoáng ñieàu khieån môùi – heä thoáng VE baèng ñieän vôùi vieäc ñieàu khieån kim phun baèng ñieän ñaõ ñöôïc phaùt trieån vaø öùng duïng roäng raõi.
    1- 2. Lónh vöïc aùp duïng
    – Phaïm vi öùng duïng roäng raõi (cho xe du lòch vaø xe taûi nhoû coù coâng suaát ñaït ñeán 30 kW/xylanh, cuõng nhö xe taûi naëng, xe löûa, vaø taøu thuyû coù coâng suaát ñaït ñeán 200 kW/xylanh.
    – AÙp suaát phun ñaït ñeán khoaûng 1400 bar.
    – Coù theå thay ñoåi thôøi ñieåm phun nhieân lieäu.
    – Coù theå phun laøm 3 giai ñoaïn: phun sô khôûi (pilot injection), phun chính (main injection), phun keát thuùc (post injection).
    – Thay ñoåi aùp suaát phun tuøy theo cheá ñoä hoaït ñoäng cuûa ñoäng cô.
    1- 3. Hoaït ñoäng vaø chöùc naêng
    Trong bôm cao aùp VE thì nguyeân taéc cuûa daàu thuûy löïc, boä phaän daãn ñoäng. . .hoaøn toaøn gioáng bôm VE thöôøng, noù chæ khaùc nhau cô cheá ñònh löôïng, caùch ghi nhaän vaø phaûn hoài thoâng tin ôû boä ECU
    Vì nhieân lieäu phaûi phun vaøo ñoäng cô ôû aùp suaát cao neân daàu thuûy löïc, bôm cao aùp vaø caùc boä phaän daãn ñoäng ñöôïc duy trì thaønh moät heä thoáng döôùi söï kieåm soaùt cuûa boä ñieàu khieån baèng ñieän töû. Boä daãn ñoäng baèng ñieän töû seõ ñieàu chænh vò trí van ñònh löôïng, nghóa laø ñieàu chænh haønh trình cung caáp nhieân lieäu bôm. Vieäc phun sôùm ñöôïc daãn ñoäng nhôø aùp löïc nhieân lieäutrong bôm qua vieäc ñieàu khieån cuûa moät van ñieän töø.
    Vieäc taïo ra aùp suaát vaø vieäc phun nhieân lieäu hoaøn toaøn taùch bieät vôùi nhau trong heä thoáng VE ñieàu khieån baèng ñieän. AÙp suaát phun ñöôïc taïo ra ñoäc laäp vôùi toác ñoä ñoäng cô vaø löôïng nhieân lieäu phun ra. Nhieân lieäu ñöôïc tröõ vôùi aùp suaát cao trong boä tích aùp aùp suaát cao (high-pressure accumulator) vaø saün saøng ñeå phun. Löôïng nhieân lieäu phun ra ñöôïc quyeát
    ñònh bôûi taøi xeá, vaø thôøi ñieåm phun cuõng nhö aùp löïc phun ñöôïc tính toaùn baèng ECU döïa treân caùc bieåu ñoà ñaõ löu trong boä nhôù cuûa noù. Sau ñoù, ECU seõ ñieàu khieån caùc kim phun taïi moãi xylanh ñoäng cô ñeå phun nhieân lieäu. Moät heä thoáng diesel baèng ñieän töû coù tyû soá neùn (CR) bao goàm:
    – ECU
    – Kim phun (injector)
    – Caûm bieán toác ñoä truïc khuyûu (crankshaft speed sensor)
    – Caûm bieán toác ñoä truïc cam (camshaft speed sensor)
    – Caûm bieán baøn ñaïp ga (accelerator pedal sensor)
    – Caûm bieán aùp suaát taêng aùp (boost pressure sensor)
    – Caûm bieán aùp suaát nhieân lieäu trong oáng (rail pressure sensor)
    – Caûm bieán nhieät ñoä nöôùc laøm maùt (coolant sensor)
    – Caûm bieán ño gioù (air mass sensor)


    Daàu coù aùp töø thanh tích aùp ñöôïc daãn tôùi caùc kim phun baèng caùc oáng daãn cao aùp. Boä tín hieäu trung taâm ñöôïc truyeàn tín hieäu ñeán maïch ñieàu khieån cuûa boä khuyeách ñaïi töø. Luùc naøy maïch khuyeách ñaïi ñieän töø taïo ra tín hieäu cao aùp laøm naâng ñoùt kim cuûa voøi phun, daàu coù aùp ñöôïc phun ra töø caùc loå tia phun vaøo buoàn chaùy. Löôïng phun vaø thôøi ñieåm phun ñöôïc ñieàu chænh baèng thôøi ñieåm nhaác kim phun vaø thôøi gian choát kim phun

    1- 4. Cơ cấu điều khiển.
    Cơ cấu điều khiển trong hệ thống phun dầu điện tử được trình bày như hình 6.42 Có nhiệm vụ nhận tín hiều từ các cảm biến đầu vào
    -Cảm biến tốc đô động cơ
    -Cảm biến nhiệt đô làm mát
    -Cảm biến vị trí bướm ga
    -Cảm biến bàn đạp ga
    -Cảm biến lưu lượng khí nạp
    -Cảm biến áp suất nhiên liệu…vv
    Sau đó, xử lý số liệu và chuyển tín hiệu điều khiển tới cơ cấu chấp hành gọi là tín hiệu ra
    -Tín hiệu nhấc kim phun
    -Tín hiệu áp suất nhiên liệu
    -Tín hiệu sấy nóng không khí nạp
    -Tín hiệu hạn chế tốc độ
    -Tín hiệu hạn chế đường khí nạp…vv
    Các tín hiệu vào và ra bộ xử lý trung tâm phải đồng bộ và linh hoat mới có khả năng đáp ứng được các chế độ hoạt động khắc nghiệt của động cơ diesel. Các động cơ diesel đời mới với xu hướng giảm ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nhiên liệu à độ ồn thấp thì các tín hiệu và cơ cấu chấp hành đồng ra ngoài các yếu tố đồng bộ và linh hoạt thì các cấu chấp hành còn có moat yêu cầu khác là độ nhạy phải cao. Ngoài các yếu tố trên để đáp ưng đầy đủ các yêu cầu điều khiển thì bộ điều khiển trung tâm còn có bộ nhớ lớn mới có đủ khả năng lưu giữ chương trình trinh khiển các chế độ cao động cơ.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập Kinh tế tài nguyên môi trường (Có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-C%C3%81C-LO%E1%BA%A0I-%C3%94-NHI%E1%BB%84M-M%C3%94I-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-NGUY%C3%8AN-NH%C3%82N-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-KH%E1%BA%AEC-PH%E1%BB%A4C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

    Hiện trạng:

    Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng “nhà kính”, mưa axít và suy giảm tầng ôzôn),… Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng.

    Nguyên nhân:

    – Ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp tai các nhà máy, làng nghề,…

    – Ô nhiễm do phương tiện giao thông.

    – Ô nhiễm từ đun nấu tại các gia đình.

    – Ô nhiễm do các hiện tượng tự nhiên: như núi lừa, cháy rừng,…

    Núi lửa Merapi ở Inđônêxia

    Núi lửa Eyjafjallajokull ở Iceland đột ngột “tỉnh giấc” sau 200 năm ngủ yên. Sự phun trào dữ dội của nó đã tạo nên một cột tro bụi bốc cao 11km.

    Một lượng lớn khói bụi thải ra ngoài không khí.

    Cháy rừng tại Nga vào ngày 06/08/2010

    Biện pháp:

    1./ Hạn chế sự gia tăng phương tiện vận chuyển một cách tự phát, tiến tới xây dựng các phương tiện vận tải công cộng hiện đại như xe bus,tàu điện ngầm, tàu điện trên cao…
       2./
    Sử dụng nhiên liệu sạchnhư điện, ga, Hydro, năng lượng mặt trời…   3./ Cải thiện kỹ thuật xe máy nhằm giảm bớt sự phát thải  khí ô nhiễm từ xe cộ và sử dụng các biện pháp đơn giản để giảm sự bay hơi nhiên liệu.    4./ Tăng cường kiểm soát sự phát thải kiểm định kỹ thuật máy móc.
    5./ Biện pháp giáo dục cộng đồng.

    6./ Trồng nhiều cây xanh

     

     

     

    Sử dụng các loại xe “sạch” với mội trường

    Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN

    Hiện trạng:

    Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng… tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người và môi trường sống.

    Nguyên nhân:

    – Do chất thải từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu là rác thải hữu cơ như thực phẩm hư hỏng..
    – Do chất thải từ hoạt động xây dựng gồm đất đá..
    –  Do khai thác khoáng sản bừa bãi.
    – Do gia đình thải ra nhiều loại rác.

    Đồ nhựa, cao su, giấy, thủy tinh,…thải ra từ các nhà máy , công trường.

    – Xác sinh vật, phân thải ra từ nhà máy sản xuất nông nghiệp.

    – Rác thải từ các bệnh viện.

    – Giấy giói, túi nilon…thải ra từ sinh hoạt ở mỗi gia đình….

    Hoạt động khai thác khoáng sản.

    Biện pháp:

    – Chôn lấp và đốt cháy rác một cách khoa học.- Xây dựng thêm nhà máy tái chế chất thải

    – Tuyên truyền mọi người cùng nhau giữ gìn vệ sinh chung

    – Thực hiện đúng các luật giữ gìn môi trường

    Nhà máy xử lí rác thải Vietstar

    Tuyên truyền, kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường.

    Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC

    Hiện trạng:

    Ô nhiễm nguồn nước lên đến mức báo động, hạn chế nguồn nước sạch cung cấp cho sinh hoạt đời sống.

    Nguyên nhân:

    – Sự xả thải vô ý thức các loại rác thải của người dân vào nguồn nước

     

    – Sử dụng giếng khoan không xử lý đúng phương pháp làm cho nước thải dễ dàng ngấm trực tiếp đến các túi nước ngầm trong đất, làm cho tình trạng nhiễm độc nước trầm trọng và lây lan diện rộng.- Môi trường không khí ô nhiễm ( chứa các chất như: SO; NO2..,) các chất này kết hợp với nước mưa, tạo ra mưa axit, gây ô nhiễm nguồn nước khi rơi xuống ao hồ, sông suối.- Các bãi rác khi rác bị phân hủy sẽ tạo ra 1 lượng nước (nước rỉ rác) thấm vào đất theo các mạch nước ngầm dần đến các nguồn nước làm ô nhiễm nặng- Quản lí nhà nước ( địa phuơng) chưa chặt chẽ, dẫn đến việc lén lút xả nước thải chưa xử lý của các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà máy ra môi trường nước.

    Hiện tượng thủy triều đỏ, làm chết nhiều loài sinh vật biển.

    Ống cống xả nước thải ra sông Dương Đông của Công ty Cổ phần Masan Phú Quốc.

    Biện pháp:

    – Xây dựng nhà máy xử lí nước thải

    – Nâng cao nhận thức con người

    – Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các
    chương trình chống ô nhiễm môi trường nước

    – Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thuỷ sản

    – Tổ chức quản lý và kiểm soát chất lượng nguồn nước

     

    Nhà máy xử lí nước thải quy mô lớn tại TP.HCM

    Hưởng ứng Ngày Nước Thế giới

     

    Ô NHIỄM HÓA CHẤT ĐỘC

     

    Hiện trạng:

     

    Khi xã hội phát triển với nhu cầu xây dựng nhiều nhà máy sản xuất phục vụ đời sống thì các hóa chất độc cũng được thải ra càng nhiều từ trưc tiếp các nhà máy, hay qua các sản phẩm hóa chất ấy…chúng ngày càng ảnh hưởng xấu đến môi trường (đất, nước, không khí…) và cuộc sống con người…

     

    Nguyên nhân:

    – Hóa chất độc hại thải ra từ các nhà máy

    -Thuốc trừ sâu dư thừa trong quá trình sản xuất nông nghiệp thấm sâu vào đất.

     

     

     

    Thuốc trừ sâu bị vứt bừa bãi trên đất hay gần nguồn nước sinh hoạt.

     

    Biện pháp:

    -Kêu gọi ý thức mọi người.

    -Bỏ xác thuốc trừ sâu vào nơi tái chế xác thải, tránh vứt bừa bãi ra môi trường.

    -Các nhà máy cần có hệ thống xử lí hóa chất thải.

     

     

    Ô NHIỄM DO SINH VẬT GÂY BỆNH

     

    Sinh vật truyền bệnh cho người và sinh vậy khác như muỗi, ruồi, giun, sán,…

     

     

     

     

     

    Biện pháp:

    – Giữ vệ sinh thân thể.

    – Vệ sinh nhà cửa, phát quang xung quanh.

    – Vệ sinh an toàn thực phẩm.

    – Dùng thuốc sỗ giun theo thời gian hướng dẫn của bác sĩ….

     

     

    Tổng cộng : lần thực hiện


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quan trắc và Phân tích môi trường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-Th%E1%BB%B1c-Tr%E1%BA%A1ng-%C3%94-Nhi%E1%BB%85m-M%C3%B4i-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%E1%BB%9E-Vi%E1%BB%87t-Nam-Hi%E1%BB%87n-Nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Đề Tài : Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay.

    I.                   Xác định đối tượng nghiên cứu :

    • Đối tượng nghiên cứu ở đây là “ Môi Trường Việt Nam hiện nay “

    II.               Các yêu cầu cần đáp ứng :

    1.      Tính cấp thiết của đề tài :

    • Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm. Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên trầm trọng. Điều này khiến nọi người ai cũng phải suy nghĩ…

    2.      Mục đích nghiên cứu :

    • Bài nghiên cứu sẽ làm rõ những thực trạng về vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay,đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó để từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay

    3.      Nhiệm vụ nghiên cứu :

    • Tìm kiếm và xử lý thông tin về vấn đề ô nhiễm môi trường Việt Nam hiện nay.
    • Thực trạng ô nhiễm môi trường việt nam hiện nay.
    • Đưa ra một số giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường Việt Nam.

    4.      Phạm vi nghiên cứu :

    • Môi trường Việt Nam ( Đất,Nước,Không Khí,….).
    • Thời Gian : Đầu thế kỉ XXI trở lại đây.

    III.            Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu :

    • Thu thập tài liệu qua Internet,qua sách báo,thực trạng hiện tại của môi trường bằng quan sát.
    • Sử dụng phương pháp tổng hợp,phân tích,xử lý số liệu,đánh giá,so sánh…

    IV.             Nội Dung :

    Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề đáng lo ngại không những đối với các nước phát triển mà còn là sự thách thức đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.Thực trạng diễn ra ngành càng cấp bách và nan giải,chính vì vậy chúng ta cần có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay ở nước ta.

    1.      Ô nhiễm môi trường nước :

     

    • Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
    • Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
    • Thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 – 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép .
    • Thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
    • Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.
    • Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân. Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
    • Nguyên Nhân : Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước. Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)

    2.      Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí :

    • Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng “nhà kính”, mưa axít và suy giảm tầng ôzôn),… Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng.

     

    • Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí

     

    • Ô nhiễm bụi : Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi trầm trọng, tới mức báo động. Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn và ở gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn.Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở xa đường giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép.

     

    • So sánh với tiêu chuẩn Việt Nam, tại hầu hết các khu vực của Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, nồng độ bụi PM10 các năm gần đây đều vượt quy chuẩn cho phép (50 µg/m3),

     

     Diễn biến nồng độ bụi PM10 trung bình năm trong không khí xung quanh một số đô thị từ năm 2005 đến 2009

    Ghi chú : – Tp. Hồ Chí Minh: số liệu trung bình của 9 trạm tự động liên tục trong thành phố

    – Hà Nội, Đà Nẵng: số liệu từ một trạm tự động liên tục tại 1 vị trí của mỗi thành phố

     

              Nguồn: TTKTTV Quốc gia, 2010; Chi cục BVMT Tp. Hồ Chí Minh, 2010

     

     

    • Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá trình thi công xây dựng nhà cửa, đường sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 – 20 lần.
    • Trên Hình V.5 giới thiệu diễn biến nồng độ bụi trong không khí từ năm 1995 đến hết năm 2002 ở các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp.
     
    • Xét Hình V.5 ta thấy, tuy công nghiệp và đô thị trong thời gian qua phát triển nhanh, nhưng ô nhiễm bụi trong không khí ở các khu dân cư gần một số khu công nghiệp cũ trong các năm gần đây (từ năm 1995 đến nay) có chiều hướng giảm dần, có thể đây là kết quả của việc kiểm soát các nguồn thải công nghiệp ngày càng tốt hơn. Riêng ở gần Cụm Công nghiệp Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) và Khu Công nghiệp Biên Hoà I thì có chiều hướng tăng lên. Ngược lại ô nhiễm bụi ở khu dân cư thông thường trong đô thị ngày càng tăng hơn, có thể là do hoạt động giao thông và xây dựng trong đô thị ngày càng gia tăng.

     

    • Ô nhiễm khí SO2 : Nói chung, nồng độ khí SO2 trung bình ở các đô thị và khu công nghiệp nước ta còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép.Trong các thành phố, thị xã đã quan trắc thì ở các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu, Long An có nồng độ khí SO2 lớn nhất, nhưng vẫn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 2 lần, ở các thành phố khác còn lại, như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho,… nồng độ khí SO2 trung bình ngày đều dưới 0,1 mg/m3, tức là thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần.
    §  Ô NHIỄM KHÍ SO2, NO2 VÀ CO : Nồng độ trung bình 1 giờ, cũng như trung bình ngày của khí SO2, NO2 và CO trong không khí ở gần hầu hết các đô thị Việt Nam đều nhỏ hơn hoặc xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là chưa bị ô nhiễm khí SO2, NO2 và CO. Tuy vậy ở các nút giao thông chính và ở gần một số khu công nghiệp, một số xí nghiệp nung gạch ngói, nồng độ các khí này đã xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, có chỗ tới 2 – 4 lần. Thí dụ như nồng độ khí SO2 ở gần khu lò gạch thôn 6, thôn 7 xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, lớn hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần; ở các khu sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh Hà Nam (Công ty Ba Nhất, Xi măng 77, Xí nghiệp Gạch ngói Bình Lục, xã Mộc Bắc): lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 4 lần; ở gần các Nhà máy Xi măng Sài Sơn, Gạch Vân Đình (Hà Tây): lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 – 1,5 lần; ở Khu Công nghiệp Thái Nguyên và Khu Công nghiệp Sông Công: lớn hơn tiêu chuẩn cho phép khoảng 1,2 lần; ở thị trấn Đông Triều (Quảng Ninh), nồng độ khí SO2 xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép.
    • Ô nhiễm các khí CO, NO2 : Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nồng độ khí CO trung bình ngày dao động từ 2 – 5 mg/m3, nồng độ khí NO2 trung bình ngày dao động từ 0,04 – 0,09mg/m3, chúng đều nhỏ hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là ở các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, nói chung chưa có hiện tượng ô nhiễm khí CO và khí NO2. Tuy vậy, ở một số nút giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí CO và khí NO2 đã vượt trị số tiêu chuẩn cho phép, như ở ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ (thành phố Hồ Chí Minh) trị số trung bình ngày của năm 2001: 0,19, gấp 1,9 lần trị số tiêu chuẩn cho phép, nồng độ CO năm 2001: 15,48 gấp 3,1 lần trị số tiêu chuẩn cho phép; tương tự, năm 2002 nồng độ khí NO2 = 0,191mg/m3 và khí CO = 12,67mg/m3.

     

     

    Biểu đồ : Diễn biến nồng độ CO tại các tuyến đường phố của một số đô thị 2002-2006

     

                    Nguồn: Chi cục BVMT TP. Hồ Chí Minh, Cục BVMT, 2007

     

     

    • Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị : Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ở nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1-7-2001. Số liệu quan trắc ô nhiễm giao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội trung bình năm 2002 giảm đi khoảng 40 – 45% so với cùng thời kỳ năm trước; tương tự, ở thành phố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng 50%.
    • Nguyên Nhân gây ô nhiễm không khí :
    • Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp
    • Công nghiệp hóa càng mạnh thì nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng. Ta thấy nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25 năm tới còn tiếp tục tăng cao (Biểu đồ 3). Nếu các Tiêu chuẩn về chất lượng xăng dầu không được thắt chặt thì chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí đô thị rất nghiêm trọng. Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phát thải các chất độc hại như CO, hơi xăng dầu (HmCn, VOC), SO2, chì, BTX. Phát thải những chất này liên quan chặt chẽ đến chất lượng xăng dầu. Trong cơ cấu tiêu thụ xăng dầu của quốc gia thì GTVT chiếm tỷ trọng lớn nhất (Biểu đồ 4), là nguồn phát thải khí ô nhiễm lớn nhất trong đô thị.

     

    Biểu đồ 3. Nhu cầu xăng dầu của Việt Nam những năm qua và dự báo cho đến năm 2025

     

       Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2006-2015

     

    – Định hướng đến năm 2025, Bộ Công nghiệp, 7/2007

     

     

    • Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải
    • Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạt động xây dựng là những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các khu đô thị. Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%. Xét các nguồn thải gây ra ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao gồm cả khu vực đô thị và khu vực khác), ước tính cho thấy, hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs.
    • Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2007, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm 70%. Xét theo các nguồn thải gây ô nhiễm trên toàn quốc, hoạt động giao thông đóng góp khoảng 85% lượng CO, 95% VOCs.- Mô tô, xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất, chiếm 95% về số lượng và đáp ứng 90% nhu cầu đi lại tại các thành phố lớm. Hàng năm có khoảng 3 triệu mô tô, xe máy và 150.000 ô tô mới tham gia giao thông. Mô tô, xe máy lưu hành chưa được kiểm soát khí thải. Đa số mô tô, xe máy không được bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình sử dụng nên mức phát thải và tiêu hao lớn. Ý thức bảo vệ môi trường kém. Đa số dân không hiểu rõ tác hại của khí thải và tác dụng của bảo dưỡng, sửa chữa đến giảm khí thải độc hại và tiết kiệm tiêu hao nhiên liệu. Tính đến 2010 có 1.394.858 xe ô tô đang lưu hành trong đó xe ô tô con 617.473, ô tô khách 163.514 và ô tô tải 660.324. Tổng số xe mô tô, xe máy đang lưu hành xấp xỉ 33.000.000 chiếc.

    Bảng 3. Ước tính thải lượng các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải chính của Việt Nam năm 2005 (Đơn vị: tấn/năm)

    TT Ngành sản xuất CO NO2 SO2 VOCs
    1 Nhiệt điện 4.562 57.263 123.665 1.389
    3 Sản xuất công nghiệp, dịch vụ, sinh hoạt 54,004 151,031 272,497 854
    4 Giao thông vận tải 301.779 92.728 18.928 47.462
      Cộng 360.345 301.022 415.090 49.705

    Nguồn: Cục BVMT, 2006

    • Biểu đồ 6 cho thấy tỷ lệ phát thải các khí ô nhiễm của các loại phương tiện khác nhau. Xe máy là nguồn đóng góp chính các khí như CO, HmCn và VOCs. Trong khi đó, xe tải lại thải ra nhiều SO2 và NOx.

     

      Biểu đồ 6. Tỷ lệ phát thải chất gây ô nhiễm do các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Việt Nam

    Nguồn: Hội thảo Nhiên liệu và xe cơ giới sạch ở Việt Nam, Bộ GTVT và Chương trình môi trường Mỹ Á, 2004

     

    • Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động xây dựng

    Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống,… rất mạnh và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị. Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xung quanh, đặc biệt là ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động xây dựng vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới 10 – 20 lần.

    • Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân

    Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than. Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (Gas). Đun nấu bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Trong những năm gần đây nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gas thay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả.

    Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002, và năm 2003, ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đặc biệt là ở các thành phố và thị xã của các tỉnh phía Nam, một số gia đình có mức sống cao chuyển từ đun nấu bằng than, dầu sang đun nấu bằng bếp gas ngày càng nhiều. Bếp gas gây ô nhiễm không khí ít hơn rất nhiều so với đun nấu bằng than, dầu. Ngược lại, do giá dầu hoả và giá điện tăng lên đáng kể, rất nhiều gia đình có mức thu nhập thấp đã chuyển sang dùng bếp than tổ ong với số lượng lớn, bình quân mỗi gia đình tiêu thụ khoảng 2kg than/ngày, gây ra ô nhiễm không khí cục bộ nặng nề, nhất là lúc nhóm bếp và ủ than.

    3.      Ô nhiễm môi trường đất :

    • Không chỉ có môi trường nước mà môi trường không khí và môi trường đất cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Về môi trường đất, kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Như tại cụm công nghiệp Phước Long (Bình Phước) hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần. (Cr,Cd,As: các chất hoá học độc hại) Thuốc bảo vệ thực vật cũng gây ảnh hưởng đến đất. Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
    • Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2005 :
    • Ô nhiễm do sử dụng phân hóa học: sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4, KCl, super photphat còn tồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như ion Al3+, Fe3+, Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suất cây trồng.
    • Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối với mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất. Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg ai/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
    • Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt đọng công nghiệp: kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Như tại cụm công nghiệp Phước Long hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần.
    • Nguyên nhân chính gây ô nhiễm đất ở Việt Nam là :

     

    1. Ô nhiễm đất do sử dụng phân hóa học, phân tươi
    2. Ô nhiễm đất do hóa chất BVTV
    3. Ô nhiễm đất do nước thải sinh hoạt đô thị và khu công nghiệp, làng nghề thủ công

    ……………………………………………………………………………………

    4.      . Ngoài các loại ô nhiễm chính trên,Việt Nam chúng ta còn phải đối mặt với 1 số ô nhiễm khác cũng khá cấp bách hiện nay là :

     

    • Ô Nhiễm Tiếng Ồn : Cùng với sự phát triển đô thị là sự tăng trưởng giao thông vận tải trong đô thị. Giao thông vận tải là nguồn chính gây ô nhiễm tiếng ồn đô thị.
    • Kết quả quan trắc từ năm 2000 đến năm 2007 về mức ồn tương đương trung bình ở bên cạnh đường giao thông trong giờ ban ngày (từ 6 giờ sáng đến 18 giờ chiều) của các đường phố chính ở 13 thành phố, thị xã cho thấy phần lớn mức ồn ở cạnh các đường giao thông là từ 70 đến 80dBA, về ban đêm mức ồn giao thông nhỏ hơn 70dBA. Mức ồn giao thông cao nhất là 82 – 85 dBA và xảy ra ở ngã tư Điện Biên Phủ – Đinh Tiên Hoàng (thành phố Hồ Chí Minh). Các đường phố có mức ồn khoảng 80dBA là Quốc lộ 5 tại Sài Đồng (Hà Nội), đường Nguyễn Trãi (Vinh), cạnh Nhà máy Ôxy Đồng Nai (Biên Hoà II), ngã tư Phú Lợi thị xã Thủ Dầu Một, cổng Bệnh viện Quân đoàn 4 (Bình Dương). Đa số các đường phố còn lại có mức ồn từ 65 đến 75dBA.
    • Ô Nhiễm Ánh Sáng : Ô nhiễm ánh sáng là hiện tượng lạm dụng ánh sáng trên mức cần thiết so với khả năng chịu đựng ánh sáng của con người và môi trường. Ô nhiễm ánh sáng đang là nguy cơ đối với cuộc sống hiện đại.
      Xã hội công nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào ánh sáng nhân tạo vì nó là một yếu tố quan trọng góp phần đắc lực trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Ánh sáng được dùng để chiếu sáng tại các địa điểm công cộng, văn phòng, nhà máy, khu dân cư… nhằm đáp ứng và phục vụ cho các hoạt động của xã hội như học tập, làm việc, an ninh, vui chơi, giải trí… Tuy nhiên, khi ánh sáng được sử dụng không hiệu quả, gây ra hiện tượng sáng quá mức lại chính là nguyên nhân của vấn đề ô nhiễm ánh sáng

    Ô nhiễm ánh sáng gây ra các tác hại ở các dạng như: Lãng phí năng lượng và tác động đến môi trường toàn cầu. Gây rối loạn các hệ sinh thái (Các loài sinh vật vốn thích nghi với ánh sáng và bóng tối tự nhiên ),..v.v…

    ………

    • Biện Pháp Cải Tạo và Hạn Chế Ô nhiễm môi trường :

    – Sau đây là một số biện pháp chính giúp cải tạo cũng như hạn chế nhất ảnh hưởng xấu đối với môi trường hiện nay :

    1. Giáo dục nhận thức của mọi người :

    – Truyền thông nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa, đạo đức môi trường cho mọi người dân đô thị, đặc biệt là đối với những người lái xe ô tô, xe máy và chủ các cơ sở sản xuất. Chỉ bằng cách sử dụng các nguồn năng lượng có thể tái tạo lại một cách hiệu quả, chúng ta có thể biến mình thành những người bảo vệ môi trường tốt nhất.

    1. Phát triển công nghiệp xanh

    – Phát triển công nghệ sản xuất sạch hơn ở tất cả các khu công nghiệp và cơ sở công nghiệp ở xung quanh thành phố (phát triển công nghiệp xanh);

     

    1. Cải tạo, nâng cấp giao thông đô thị trở thành giao thông đô thị xanh

    – Cải tạo quy hoạch hệ thống giao thông đô thị sao cho đáp ứng các chỉ tiêu: Tỷ lệ diện tích giao thông động đạt 15-20% tổng diện tích xây dựng đô thị, tỷ lệ diện tích giao thông tĩnh đạt 3-6%, mật độ đường đạt khoảng 6km/1km2;

    – Phát triển giao thông công cộng (đạt trên 40%), giao thông đi bộ và đi xe đạp trong thành phố;

    – Thắt chặt các tiêu chuẩn môi trường có liên quan (tiêu chuẩn xăng dầu, tiêu chuẩn khí thải của các phương tiện giao thông cơ giới);

    – Tiến hành kiểm soát nguồn thải của các loại xe và cấm vận hành đối với các xe không đạt tiêu chuẩn EURO2 về khí thải.

    – Khuyến khích xe cộ sử dụng nhiên liệu sạch hơn (xe chạy bằng khí hóa lỏng (LPG), khí tự nhiên nén (CNG), ethanol, dầu sinh học) và xe điện.

    – Cấm hoặc giảm lượng xe cá nhân chạy ở khu vực trung tâm thành phố, chỉ dành cho người đi bộ và xe công cộng.

    1. Sử dụng năng lượng ánh sáng
      Năng lượng ánh sáng là năng lượng tự nhiên thừa mứa nhất trên hành tinh của chúng ta. Bằng việc sử dụng công nghệ thích hợp, con người sẽ có thừa năng lượng từ ánh sáng mặt trời để sử dụng.

     

    1. Giữ lượng carbon ổn định
      Giữ khí CO2 không thoát ra khí quyển là cách hữu hiệu làm giảm thiểu hiện tượng nóng lên của trái đất. ( VD : Trồng Rừng,Hạn chế dung năng lượng có thải ra CO2,….)

     

    1. Xây dựng nhà máy dây chuyền
      Nhà Máy – Người Tiêu Dùng – Tái Chế – Nhà Máy Xử Lý Rác Thải. Mô hình dây chuyền như vậy sẽ tránh khỏi được ô nhiễm môi trường.

     

    1. Hạn Chế khí thải,nước thải gây ô nhiễm :
      Các phương tiện giao thong cần chuyển đổi sang hình thức dung năng lượng tiết kiệm năng lượng hoặc dùng năng lượng sạch. Các nhà máy lên đầu tư và nâng cấp các thiết bị máy móc cũ nát gây ô nhiễm môi trường. Chú trọng đầu tư tìm kiếm nguồn năng lượng mới

     

    1. Giảm dân số
      Dân số VN hiện nay khoảng trên 86 triệu người đang có chiều hướng tăng cao không lường trước. Theo các chuyên gia, dân số đông ảnh hưởng rất xấu đến môi trường sống cũng như sinh hoạt cộng đồng.
    2. Phát Triển Nông Nghiệp để đáp ứng nhu cầu dân số :

    Nâng cao lợi ích của sản xuất nông nghiệp như đảm bảo một số lượng nông nghiệp tương xứng, đáp ứng được nhu cầu sống của lượng dân số mà hệ thống đó hướng tới

    1. Xấy dựng luật pháp,chế tài mạnh mẽ để xử lý vi phạm ô nhiễm môi trường.

     

     

     

     

    Tài Liệu Tham Khảo

    1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo Môi trường Quốc gia, năm 2007. Môi trường không khí đô thị Việt Nam.
    2. http://vea.gov.vn
    3. http://www.moitruong.com.vn
    4. http://maxreading.com

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quan trắc và Phân tích môi trường

    Quan trắc và Phân tích môi trường

    Quan trắc và Phân tích môi trường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập môn Kế toán Ngân hàng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quan trắc và Phân tích môi trường

    Lời giới thiệu

     

    Quan trắc và phân tích môi trường (QT&PTMT) là một hoạt động quan trọng của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tại các Điều 37 và 38 của Luật Bảo vệ môi trường đã quy định rằng, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên Môi trường) chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và một trong những nội dung cơ bản của công tác này là: “Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường.”

    Để thực hiện các quy định trên của Luật Bảo vệ môi trường, từ năm 1994, Bộ KHCN&MT ( nay là Bộ Tài nguyên & Môi trường) đã từng bước xây dựng Mạng lưới các trạm QT&PTMT quốc gia. Mạng lưới này được xây dựng trên cơ sở phối hợp liên bộ nhằm tận dụng được các năng lực sẵn có về QT&PTMT tại một số bộ, ngành, địa phương và nhanh chóng đưa được Mạng lưới vào hoạt động phục vụ kịp thời các yêu cầu cấp bách về quản lý môi trường. Ngoài Mạng lưới QT&PTMT quốc gia thì vài năm trở lại đây, hàng chục địa phương trong nước cũng bắt đầu xây dựng và bước đầu đưa vào hoạt động các trạm QT&PTMT địa phương. Cùng với sự phát triển của hoạt động QT&PTMT thì nhu cầu về bộ tài liệu pháp quy hướng dẫn việc bảo đảm và kiểm soát chất lượng của hoạt động này ngày càng trở nên bức xúc.

    Bản hướng dẫn này được soạn thảo như là một trong các nỗ lực của Cục Bảo vệ môi trường, Bộ TN&MT, trong việc đảm bảo và kiểm soát chất lượng của hoạt động QT&PTMT nhằm đưa ra được các số liệu quan trắc có độ tin cậy và chính xác cao.

    Bản hướng dẫn đầy đủ sẽ bao gồm nhiều thành phần môi trường khác nhau, bản hướng dẫn đầu tiên này soạn thảo cho quan trắc môi trường nước lục địa bao gồm 2 chương :

    Chương 1 – Những vấn đề chung, bao gồm các khái niệm cơ bản về quan trắc môi trường và hoạt động đảm bảo và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường

    Chương 2 – Hướng dẫn cụ thể về đảm bảo và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường nước lục địa.

    Đối tượng áp dụng Bản hướng dẫn này là tất cả hoạt động QT&PTMT được tiến hành trong Mạng lưới quốc gia và các trạm QT&PTMT địa phương. Bản hướng dẫn cũng có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho hoạt động QT&PTMT của các Bộ/ngành khác.

    Tài liệu này do Cục Bảo vệ môi trường chủ trì biên soạn với sự tham gia của các chuyên gia về quan trắc và phân tích môi trường thuộc các đơn vị sau:

    1. Trung tâm kỹ thuật môi trường Đô thị và Khu công nghiệp, Đại học Xây dựng Hà Nội
    2. Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, Bộ KHCN
    3. Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội;

    Bản hướng dẫn này được coi như cố gắng ban đầu nhưng rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng và đưa dần vào nề nếp hoạt động QT&PTMT tại Việt Nam. Bộ tài liệu hướng dẫn về QT&PTMT sẽ còn được tiếp tục hoàn thiện và bổ theo yêu cầu của thực tế.

    Do thời gian gấp gáp công tác đảm bảo và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường tại Việt Nam còn rất mới mẻ nên Bản hướng dẫn chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Cục Bảo vệ Môi trường mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực QT&PTMT cũng như các lĩnh vực liên quan để tiếp tục triển khai và hoàn thiện bộ tài liệu quan trọng này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 1

    Những vấn đề chung về bảo đảm và kiểm soát chất lượng trong quan trắc và phân tích môi trường

    I.1. Một số khái niệm:

    1. 1. Quan trắc môi trường (QTMT) là một quá trình đo đạc thường xuyên một hoặc nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hoá học và sinh học của các thành phần môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính xác cao và có thể đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường
    2. Bảo đảm chất lượng (QA: Quality Assurance) trong quan trắc môi trường là một hệ thống tích hợp các hoạt động quản lý và kỹ thuật trong một tổ chức nhằm bảo đảm cho hoạt động quan trắc môi trường đạt được các tiêu chuẩn chất lượng đã quy định.
    3. Kiểm soát chất lượng (QC: Quality Control) trong quan trắc môi trường là việc thực hiện các biện pháp để đánh giá, theo dõi và kịp thời điều chỉnh để đạt được độ chính xác và độ tập trung của các phép đo theo yêu cầu của các tiêu chuẩn chất lượng nhằm bảo đảm cho hoạt động quan trắc môi trường đạt các tiêu chuẩn chất lượng này.
    4. Kế hoạch quan trắc môi trường là một chương trình quan trắc được lập ra nhằm đáp ứng một số mục tiêu nhất định, trong đó bao gồm những yêu cầu về thông tin, các thông số, các địa điểm, tần suất và thời gian quan trắc, các yêu cầu về trang thiết bị, phương pháp phân tích, đo, thử; yêu cầu về nhân lực và kinh phí thực hiện.

    Các hoạt động QA/QC gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau và một số nội dung giống nhau, cùng diễn ra trong khuôn khổ hệ thống quản lý chất lượng của tổ chức, với định nghĩa hệ thống quản lý chất lượng là cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, các thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng.

    II.2. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc và phân tích môi trường

    1.2.1. QA/QC trong xác định nhu cầu thông tin

    Đảm bảo chất lượng chỉ có thể thực hiện tốt khi các yêu cầu về sản phẩm được xác định rõ ràng, cụ thể. Các yêu cầu về quan trắc và đánh giá là nhu cầu có tính chất thông tin (nhu cầu thông tin). Nhu cầu thông tin là điểm khởi đầu trong chu trình quan trắc và phân tích môi trường.

    Nhu cầu thông tin chung chung là không có ý nghĩa. Nhưng có những yếu tố làm phức tạp việc xác định các nhu cầu thông tin, đặc biệt là trong hợp tác quốc tế về quan trắc và đánh giá môi trường. Ví dụ: thiếu các thuật ngữ, định nghĩa cần thiết; sự gò bó do chuyên ngành của các chuyên gia; những thoả thuận phải đạt được…

    Nhu cầu thông tin phải phản ánh chính sách hiện hành về quản lý môi trường và phải bao hàm được những cân nhắc, xem xét có tính chất lâu dài. Cơ sở đầu tiên để xác định nhu cầu thông tin là các luật và các văn bản thoả thuận ở tầm quốc gia và quốc tế.  Ngoài ra, những yêu cầu phục vụ việc soát xét các quy định, việc xây dựng một chính sách mới, quan điểm của các nhà quản lý hiện hành, cũng là những cơ sở để xác định nhu cầu thông tin.

     

    Hình 1. Các bước chủ yếu trong quan trắc và phân tích môi trường

    1.2.2. QA/QC trong xác định chương trình quan trắc

    Từ nhu cầu thông tin, phải xác định mục tiêu và nhu cầu quan trắc cụ thể, tức là phải xác định một chiến lược cho việc quan trắc.

    Chiến lược quan trắc phải quyết định rõ loại quan trắc  cần thiết: vật lý, sinh học, hoá học, thuỷ văn, chất thải hoặc cảnh báo sớm … Phải qui định các thông số cần quan trắc, độ chính xác và tin cậy cần thiết v.v… Còn việc thiết kế mạng lưới sẽ xác định nó phải được quan trắc như thế nào. Chiến lược quan trắc cũng phải bao gồm cả việc phân tích số liệu và báo cáo, vì những công việc này có thể có ảnh hưởng tới các yêu cầu của việc thiết kế mạng lưới quan trắc. Chiến lược quan trắc phải được làm thành tài liệu và cần được những người hay cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt

    Các thành phần của một báo cáo chiến lược quan trắc là:

    1. Các nhu cầu thông tin bao gồm trong chiến lược quan trắc và phần nhu cầu thông tin sẽ không bao gồm trong chiến lược quan trắc.
    2. Khái niệm về hệ thống quan trắc và đối tượng quan trắc (vật lý, hoá học, sinh học, thuỷ văn, chất thải…), các thông số cần quan trắc và các điều kiện ban đầu để lựa chọn địa điểm và tần suất lấy mẫu đối với từng biến số (như khoảng cách lớn nhất/ bé nhất tính từ đường biên; độ tin cậy…).
    3. Khái niệm về hệ thống đánh giá, ví dụ như các phương pháp tính toán được sử dụng (để tính toán mức độ đe doạ hoặc khuynh hướng); các tiêu chuẩn quốc tế phù hợp nhất; việc sử dụng đồ thị, công cụ thống kê và các công cụ khác để trình bày số liệu.
    4. Các khía cạnh về mặt tổ chức: tổ chức nào sẽ chịu trách nhiệm về mặt nào của hệ thống quan trắc; những thay đổi cần thiết trong tổ chức, những khó khăn cho việc thực hiện hệ thống quan trắc v.v… sự hợp tác giữa các bộ phận, cơ quan thực hiện.
    5. Kế hoạch để thiết kế và thực hiện mạng lưới quan trắc; những điều kiện ban đầu là gì, kế hoạch của những bước tiếp theo và kế hoạch tài chính.
    6. Sự phân tích về các rủi ro; những vấn đề có thể dẫn tới các thất bại của hệ thống quan trắc và nêu lên biện pháp khắc phục.

    1.2.3. QA/QC trong thiết kế mạng lưới

    Thiết kế mạng lưới phải được một nhóm chuyên gia có kiến thức đa ngành thực hiện. Thiết kế mạng lưới cần xác định thông số nào phải quan trắc, quan trắc ở địa điểm nào và với tần suất bao nhiêu. Trong thiết kế mạng lưới cũng cần đề cập tới việc sử dụng các phương pháp lấy mẫu, các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm và các phương pháp xử lý số liệu.

    Cần đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng thống kê trong thiết kế mạng lưới. Việc sử dụng thống kê học có thể làm giảm đến mức tối thiểu các địa điểm thông qua mối tương quan giữa các trạm. Thống kê học cũng là cơ sở để chọn lựa giữa hai phương án: nhiều địa điểm với tần suất thấp hoặc ít địa điểm với tần suất cao.

    Một vấn đề quan trọng trong thiết kế mạng lưới là xác định tính hiệu quả của thông tin nhận được từ mạng lưới. Cần có sự hiểu biết chi tiết về chi phí và hiệu quả của mạng lưới đã thiết kế.

    Thiết kế mạng lưới phải được tài liệu hoá bằng một văn bản. Văn bản này phải chuyển tới những người phụ trách và quản lý chiến lược quan trắc quốc gia. Từ văn bản này họ sẽ rút ra kết luận là mạng lưới quan trắc có nằm trong chiến lược và mục tiêu quan trắc chung hay không.

    Báo cáo thiết kế mạng lưới gồm các phần sau:

    1. Giải thích phần chiến lược quan trắc được đề cập đến trong thiết kế mạng lưới và phần của thiết kế mạng lưới không có trong chiến lược quan trắc.
    2. Mô tả mạng lưới quan trắc: các biến số cần đo; các địa điểm lấy mẫu và tần suất; việc sử dụng các tiêu chuẩn, ví dụ TCVN; ISO…
    3. Cách thức trình bày và thể hiện các kết quả.
    4. Các khía cạnh về mặt tổ chức. Ví dụ như nhiệm vụ của các tổ chức tham gia đối với từng bước khác nhau trong chương trình quan trắc: thu thập, xử lý và vận chuyển mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm; xử lý số liệu; phân tích số liệu; báo cáo…
    5. Kế hoạch thực hiện của mạng lưới quan trắc.
    6. Các kết quả phân tích chi phí- hiệu quả; mô tả các tranh luận để ra quyết định.
    7. Phân tích các rủi ro. Cái gì sẽ xẩy ra nếu có sai sót và các biện pháp nào có thể thực hiện để tránh hoặc giảm thiểu các thiệt hại.

    1.2.4. QA/QC trong hoạt động tại hiện trường

    Hoạt động tại hiện trường bao gồm lấy mẫu và quan trắc hiện trường. Tuỳ thuộc vào thành phần môi trường mà có các phương pháp tiến hành khác nhau.

    1.2.5. QA/QC trong hoạt động ở phòng thí nghiệm

    QA/QC phòng thí nghiệm chính là việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong đó có sự đan xen, kết hợp các hoạt động QC, theo yêu cầu của ISO/IEC Guide 25 – TCVN 5958: 1995, Yêu cầu chung về năng lực của phòng thử nghiệm/hiệu chuẩn hiện nay đã được chuyển thành một tiêu chuẩn quốc tế mang tên ISO/IEC 17025: 1999, tương ứng với TCVN ISO/IEC 17025: 2001.

    1.2.6. QA/QC trong xử lý số liệu

    Trong một chương trình quan trắc, số liệu thu được để sử dụng thường là rất lớn. Để thuận lợi cho sử dụng, hầu hết các số liệu ngày nay đều được lưu giữ trong các file số liệu của máy tính. Có hai loại số liệu được lưu giữ. Một loại đã được lưu giữ sẵn trong máy tính và một loại là những số liệu đo được của chương trình quan trắc hiện hành. Phải đảm bảo cho các loại số liệu này được phân biệt rõ ràng, không nhầm lẫn với nhau và an toàn.

    Khi sử dụng phần mềm của máy tính, cần phải đặc biệt quan tâm đến việc kiểm tra, phát triển và duy trì hệ thống máy tính. Phần mềm của máy tính cũng có thể thực hiện các chức năng kiểm soát khác nhau, như các phép phân tích tương quan và việc sử dụng các cặp giới hạn.

    1.2.7. QA/QC trong phân tích số liệu

    Phân tích số liệu là giai đoạn chuyển số liệu thô thành thông tin sử dụng được. Để những thông tin nhận được từ số liệu thô có thể so sánh và truy nguyên nguồn gốc, phải triển khai các biên bản phân tích số liệu.

    Phải có phương pháp tư liệu hoá chuẩn mực nhằm biến các số liệu đã có thành cơ sở dữ liệu đễ truy cập và xử dụng khi cần thiết.

    1.2.8. QA/QC trong lập báo cáo

    Mục tiêu cuối cùng của một chương trình quan trắc là chuyển thông tin đã thu thập được tới người sử dụng thông tin. Có thể thực hiện công việc này bằng nhiều cách khác nhau: truyền toàn bộ các phép phân tích số liệu hoặc chỉ là những kết luận ngắn gọn bằng văn bản, lời nói hoặc bảng số… Một số kỹ thuật trình bày số liệu được sử dụng rộng rãi là:

    1/ Các bảng số liệu đo

    Cách liệt kê số liệu đo vào trong các bảng tạo điều kiện để không làm mất số liệu. Tuy nhiên, từ các số liệu trong bảng, người đọc số liệu phải tự tạo thành các thông tin cần thiết cho mình.

    2/ Số liệu đo được xử lý thống kê

    Xử lý thống kê sẽ chuyển đổi số liệu rời rạc thành các giá trị hệ thống thay đổi theo thời gian và không gian. Chúng tạo ra thông tin có thể sử dụng ngay cho người đọc.

    3/ Đồ thị

    Đồ thị giúp cho người đọc nhanh chóng rút ra được những nhận định tổng quát. Bằng việc nêu ra các tiêu chuẩn hoặc các tài liệu tham khảo trên đồ thị, tình hình môi trường được phản ánh đúng thực trạng của nó. Các đồ thị có thể là dạng đường, dạng cột hoặc biểu đồ phần trăm (% )…

    4/ Thông tin được trình bày có tính chất địa lý

    Cách trình bày này giúp hiểu biết tốt hơn tình hình chất lượng của môi trường qua phân bố không gian của các thông số liên quan.

    5/ Thông tin tổng hợp

    Việc tổng hợp lại các số liệu là rất cần thiết để xử lý nhanh một lượng lớn số liệu. Sử dụng các phụ lục là phương pháp hay được dùng để đáp ứng yêu cầu này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 2

    Hướng dẫn đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong quan trắc và phân tích môi trường nước lục địa

     

    II.1. Tổng quan về bảo đảm và kiểm soát chất lượng trong quan trắc nước lục địa

    II.1.1. Mục tiêu

    Các hoạt động quan trắc và phân tích môi trường nước diễn ra ngoài hiện trường (lấy mẫu, bảo quản mẫu, đo đạc một số thông số không bền) và phân tích trong phòng thí nghiệm. Để thu thập được thông tin cần phải tiến hành một loạt hoạt động bao gồm từ khâu lập kế hoạch, thiết kế chương trình, thiết kế mạng lưới, lấy mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm và xử lý số liệu.

    Mục tiêu của chương trình đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong hoạt động quan trắc và phân tích môi trường nước (bao gồm nước lục địa và nước biển) là cung cấp những số liệu tin cậy và đã được kiểm soát về hiện trạng môi trường nước bao gồm các thông số chủ yếu như: nhiệt độ, pH, DO, kim loại nặng, cặn lơ lửng, độ đục, COD, BOD5/TOC (với nước biển), clorua, amoni, tổng P, tổng N, tổng coliform, trầm tích, phù du, vi sinh vật… thoả mãn yêu cầu thông tin cần thu thập, theo mục tiêu chất lượng đặt ra, để:

    • Đánh giá hiện trạng chất lượng nước khu vực/địa phương;
    • Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước theo thời gian;
    • Cảnh báo sớm các hiện tượng ô nhiễm nguồn nước;
    • Theo các yêu cầu khác của công tác quản lý môi trường và phát triển kinh tế.

    II.1.2. QA/QC trong lập kế hoạch/thiết kế chương trình

    Khi lập kế hoạch quan trắc phải bao hàm các nội dung chính như sau:

    • Xác định nội dung nhiệm vụ đợt quan trắc: địa điểm/trạm vị, các thông số cần đo đạc, các loại mẫu cần lấy, thời gian thực hiện.
    • Xác định yêu cầu về nhân lực tham gia (số lượng, lĩnh vực chuyên môn).
    • Yêu cầu về trang thiết bị.
    • Lập kế hoạch lấy mẫu.
    • Phương pháp lấy mẫu và phân tích.
    • Kinh phí cho chương trình quan trắc và QA/QC
    • Các vấn đề đảm bảo an toàn con người, thiết bị cho các hoạt động quan trắc nhất là quan trắc trên sông, bao gồm:

    – Các biện pháp, phương tiện bảo đảm an toàn (người và thiết bị);

    – Phương án cứu hộ;

    – Liệt kê những vùng nước xoáy, bãi cát ngầm trong vùng quan trắc để tàu thuyền né tránh;

    – Những  yếu tố thời tiết bất thường có thể xẩy ra trong thời gian quan trắc.

    II.1.3. QA/QC trong thiết kế mạng lưới

    Thiết kế mạng lưới là sự lựa chọn địa điểm lẫy mẫu, lựa chọn tần suất lấy mẫu, thời gian lấy mẫu và loại mẫu cần phải lấy. Đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng trong thiết kế mạng lưới là lập kế hoạch lấy mẫu đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của chương trình quan trắc và phân tích môi trường.

    – Bố trí cán bộ theo kế hoạch;

    – Diện lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu;

    – Tần suất và thời gian;

    – Các dạng lấy mẫu; mẫu đo tại hiện trường, mẫu mang về PTN.

    – Đảm bảo tính khả thi và an toàn;

    Lựa chọn vùng/điểm lấy mẫu, lựa chọn tần suất,thời gian lấy mẫu và dạng lấy mẫu cho từng loại nước đã được trình bày chi tiết trong các tiêu chuẩn TCVN  5994-1995 (Hướng dẫn lấy nước hồ ao nhân tạo), TCVN 5996-1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước sông và suối), TCVN 5998-1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước thải), TCVN 6000-1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm), ISO 5667-13:1993 (Hướng dẫn lấy mẫu nước, nước thải và bùn) các trạm quan trắc nên nghiên cứu trước khi lập kế hoạch để thiết kế mạng lưới bảo đảm tính khoa học, phản ánh được mục tiêu chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin trong công tác quản lý môi trường.

    II.2. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng  tại hiện trường

    II.2.1. QA/QC trong hoạt động lấy mẫu

    II.2.1.1. Mục tiêu của chương trình kiểm soát chất lượng lấy mẫu

    Mục tiêu chương trình kiểm soát chất lượng lấy mẫu là:

    • Cung cấp được những phương pháp giám sát và phát hiện các sai sót do lấy mẫu và do đó có các biện pháp loại trừ các dữ liệu không hợp lệ hoặc sai lạc.
    • Chứng minh được rằng các sai số lấy mẫu đã được kiểm soát một cách thích hợp.
    • Chỉ ra được các thay đổi của việc lấy mẫu và từ đó truy nguyên các nguồn gốc gây sai số.

    Mục tiêu của việc lấy mẫu là lấy được một thể tích mẫu đủ để vận chuyển và xử lý trong phòng thí nghiệm nhằm phân tích chính xác các thông số cần thiết tại vị trí lấy mẫu.

    Tuỳ thuộc vào mục đích lấy mẫu là để phân tích các chỉ tiêu (thông số) lý học, hoá học hay vi sinh mà lựa chọn phương pháp lấy mẫu thích hợp.

    Mẫu được lấy phải đại diện cho khu vực quan trắc về không gian và thời gian  và đáp ứng được các yêu cầu của chương trình quan trắc và phân tích môi trường.

    II.2.1.2. Đảm bảo chất lượng lấy mẫu

    Một kế hoạch đảm bảo chất lượng lấy mẫu cần phải được thiết lập, bao gồm:

    • Các nhân viên lấy mẫu đều đã được đào tạo và tập huấn.
    • Chuẩn bị công tác thực địa chu đáo: dụng cụ, thiết bị, hoá chất thuốc thử bảo quản mẫu phải đầy đủ và phù hợp.
    • Đảm bảo rằng các phương pháp lấy mẫu đều được phổ biến tới tất cả các nhân viên ở trong nhóm quan trắc.
    • Đảm bảo rằng mỗi một bước lấy mẫu hiện nay và quá trình lấy mẫu trước đây đều tuân theo một văn bản.
    • Đảm bảo rằng dụng cụ lấy mẫu và máy móc đo đạc hiện trường phải được bảo trì và hiệu chuẩn định kỳ, sổ sách bảo trì cần phải được lưu giữ.
    • Quy định thống nhất về nhận dạng mẫu được lấy bao gồm dán nhãn lên tất cả các mẫu được lấy, trên đó ghi chép chính xác ngày tháng, địa điểm, thời gian lấy mẫu và tên người lấy mẫu, số mã hiệu của mẫu bằng mực không thấm nước.
    • Quy định về ghi chép lại tất cả các chi tiết có liên quan đến việc lấy mẫu vào biên bản/nhật ký lấy mẫu, những điều kiện và các biến động bất thường từ kỹ thuật lấy mẫu thông thường đến những yêu cầu đặc biệt.
    • Quy định về điều kiện, nơi để các dụng cụ tránh làm nhiễm bẩn mẫu, làm sạch dụng cụ lấy mẫu, kiểm tra độ sạch và hiệu quả của dụng cụ (bằng cách phân tích mẫu trắng và mẫu so sánh thích hợp).
    • Quy định về tiến hành bảo quản mẫu cho từng thông số chất lượng nước, trầm tích, phù du, vi sinh vật … theo các chỉ dẫn trong các tiêu chuẩn tương ứng.
    • Bảo đảm độ chính xác của các phép đo, phân tích ngoài hiện trường khi các điều kiện môi trường không được đảm bảo. Các thông số hiện trường (nhiệt độ, độ ẩm, áp suất…) cần phải ghi chép khi lấy mẫu để chuyển đổi các giá trị đo được về điều kiện tiêu chuẩn khi lập báo cáo, thí dụ: số liệu pH phải chuyển về điều kiện 250

    Cần phải mô tả chi tiết:

    • Quá trình trao đổi chi tiết để cho những người chưa có nhiều kinh nghiệm vẫn có đủ khả năng để hoàn thành việc lấy và xử lý mẫu;
    • Quá trình chuẩn bị thuốc thử và bảo quản;
    • Hướng dẫn sử dụng dụng cụ lấy mẫu, máy đo hiện trường … bổ xung cho các tài liệu vận hành của nhà sản xuất;
    • Phương pháp chuẩn bị mẫu QC;
    • Tiêu chí kiểm soát chất lượng ( nghĩa là giới hạn chấp nhận);

    Phương pháp lấy mẫu và các tài liệu cần phải xem xét thường xuyên và không được quá 1 năm/một lần. Phương pháp cần phải được phê duyệt lại theo định kỳ đặc biệt có sự thay đổi về thiết bị hoặc con người.

    Khi tài liệu được lưu giữ trong các file máy tính, những thay đổi về phương pháp lấy mẫu cần  phải được phản ánh bằng cách thay đổi các mã số máy tính có liên quan.

    Nguyên nhân gây ra sai số do lấy mẫu:

    Những nguyên nhân gây ra sai số do lấy mẫu có thể là:

    • Nhiễm bẩn:

    Nhiễm bẩn do các thiết bị lấy và chứa mẫu gây ra; do dụng cụ chứa mẫu bẩn; do sự lây nhiễm giữa các mẫu; do cách bảo quản, lưu kho và bố trí vận chuyển mẫu không thích hợp.

    • Tính không ổn định của mẫu:

    – Bản chất của mẫu

    – Tương tác của mẫu với dụng cụ khác

    – ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng

    • Lấy mẫu không chính xác:

    – Quy trình lấy mẫu không phù hợp,

    – Không tuân thủ đúng quy trình lấy mẫu.

    • Vận chuyển mẫu:

    – Do thời gian vận chuyển mẫu quá giới hạn cho phép,

    • Do điều kiện vận chuyển không phù hợp.

    II.2.2. Kiểm soát chất lượng hiện trường

    Kiểm soát chất lượng hiện trường yêu cầu phải tiến hành lấy các loại mẫu trắng, mẫu đúp nhằm kiểm tra mức độ tinh khiết của hoá chất dùng làm chất bảo quản, kiểm tra mức độ nhiễm bẩn của dụng cụ lấy, chứa mẫu, giấy lọc hay các thiết bị khác có liên quan đến công việc thu, bảo quản và vận chuyển mẫu. Mẫu lặp cũng được thu nhằm kiểm tra mức độ tái lặp của việc lấy mẫu. Thời gian và tần xuất lấy mẫu trắng, mẫu đúp và mẫu lặp được xác định khi thiết kế chương trình. Nói chung khoảng 10 lần thu mẫu, tiến hành thu 1 lần các loại mẫu trắng, mẫu đúp, mẫu lặp. Cách thức và ý nghĩa thu các loại mẫu như sau:

    a, Mẫu trắng dụng cụ chứa mẫu

    Lấy một dụng cụ chứa mẫu một cách ngẫu nhiên, sau đó nạp dụng cụ bằng nước cất mang ra hiện trường. Mẫu này được bảo quản, vận chuyển và phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm tương tự như các mẫu thông thường. Mẫu trắng loại này nhằm kiểm soát sự nhiễm bẩn do quá trình rửa, bảo quản dụng cụ.

    b,  Mẫu trắng dụng cụ lấy mẫu

    Dùng nước cất tráng hoặc đổ vào dụng cụ lấy mẫu. Sau đó nạp vào chai chứa mẫu. Mẫu được bảo quản, vận chuyển và phân tích các thông số tương tự như mẫu cần lấy. Mẫu loại này nhằm kiểm soát mức độ ô nhiễm trong quá trình bảo quản, sử dụng dụng cụ lấy mẫu.

    c,  Mẫu trắng thiết bị lọc mẫu

    Nếu mẫu nước cần lọc ở ngoài hiện trường để xác định các hợp phần hoà tan thì các bộ lọc mẫu sẽ được rửa, bảo quản và vận chuyển ngoài hiện trường. Tiến hành lấy mẫu trắng dụng cụ lọc mẫu bằng cách: cho nước cất hai lần lọc qua dụng cụ lọc mẫu. Phần lọc được nạp vào dụng cụ chứa mẫu và được bảo quản vận chuyển về phòng thí nghiệm tương tự như các mẫu đã lấy để phân tích các thông số môi trường.

    1. d) Mẫu trắng vận chuyển và mẫu trắng hiện trường
    • Mẫu trắng vận chuyển: cho vào dụng cụ chứa mẫu một lượng nước cất tinh khiết hoặc nước đã khử ion, đậy kín nắp, chuyển từ phòng thí nghiệm ra ngoài hiện trường và được vận chuyển cùng với mẫu thật. Mẫu trắng vận chuyển dùng để xác định sự nhiễm bẩn có thể xẩy ra khi xử lý, vận chuyển và bảo quản mẫu.
    • Mẫu trắng hiện trường: cho vào dụng cụ chứa mẫu một lượng nước cất tinh khiết/nước khử ion và chuyển từ phòng thí nghiệm ra ngoài hiện trường. Tại hiện trường nắp dụng cụ chứa mẫu được mở ra và xử lý giống như các mẫu thật. Mẫu trắng hiện trường dùng để xác định sự nhiễm bẩn gây ra từ các dụng cụ lấy mẫu, dụng cụ xử lý mẫu (các loại màng lọc) hoặc do các điều kiện khác của môi trường trong quá trình lấy mẫu (do bụi bốc lên chẳng hạn).

    Có thể mô tả cách thức chuẩn bị mẫu trắng theo sơ đồ như sau:

     

    Các thông tin về mẫu trắng hiện trường, mẫu trắng vận chuyển cần phải được thể hiện trong báo cáo cùng với mẫu thật. Khi các chất gây nhiễu đã được nhận biết cần phải điều tra từng nguyên nhân và kịp thời khắc phục.

    1. e) Mẫu đúp (mẫu chia đôi)

    Mẫu đúp được thu bằng cách chia một mẫu thành 2 hay nhiều mẫu giống nhau. Mẫu này sử dụng để đánh giá các sai số ngẫu nhiên và hệ thống do có sự thay đổi trong thời gian lấy và vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm.

    1. f) Mẫu lặp theo thời gian

    Lấy hai hoặc nhiều mẫu tại một địa điểm. Mẫu loại này để đánh giá sự biến động theo thời gian của các thông số môi trường trong khu vực.

    1. g) Mẫu lặp theo không gian

    Lấy hai hoặc nhiều mẫu cùng một lúc trên một lát cắt ngang đã được xác định trước trong thuỷ vực. Mẫu loại này dùng để đánh giá sự biến động theo không gian của các thông số môi trường.

    1. h) Mẫu chuẩn đối chứng hiện trường:
    • Mẫu chuẩn đối chứng vận chuyển là một lượng nước tinh khiết có chứa chất phân tích (chất chuẩn) biết trước nồng độ được chuyển từ phòng thí nghiệm ra hiện trường sau đó quay trở về cùng với mẫu thật. Tại hiện trường không mở nắp đậy mẫu. Mẫu chuẩn đối chứng vận chuyển dùng để xác định cả sự nhiễm bẩn và sự mất mát chất phân tích có thể xảy ra khi xử lý mẫu, vận chuyển và bảo quản mẫu đồng thời cũng để xác định sai số phân tích.
    • Mẫu chuẩn đối chứng hiện trường là lượng nước tinh khiết có chứa chất phân tích (chất chuẩn) biết trước nồng độ được mang từ phòng thí nghiệm ra ngoài hiện trường. Tại hiện trường, nắp đậy được mở ra và tiến hành xử lý như mẫu thật. Mục đích của việc tạo mẫu chuẩn đối chứng hiện trường là xác định sự nhiễm bẩn hoặc sự mất mát chất phân tích xảy ra do dụng cụ lấy mẫu, dụng cụ xử lý mẫu và ảnh hưởng của điều kiện môi trường trong suốt quá trình lấy mẫu cho về đến phòng thí nghiệm.

    Các kết quả phân tích mẫu chuẩn đối chứng hiện trường cần phải được đưa vào báo cáo cùng với mẫu thật. Khi xẩy ra sự sai lệch với giá trị thực không được chỉnh sửa số liệu mà cần phải tiến hành điều tra  và khắc phục kịp thời.

    1. i) Mẫu lặp hiện trường

    Là hai (hoặc nhiều hơn) mẫu được lấy tại cùng một vị trí, sử dụng cùng một thiết bị lấy mẫu và được cùng một cán bộ tiến hành, được xử lý, bảo quản, vận chuyển và phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm tương tự như mẫu thật. Mẫu QC loại này được sử dụng để kiểm soát độ chụm của việc lấy mẫu ngoài hiện trường.

    1. k) Mẫu thêm

    Việc thêm chất phân tích (chất chuẩn) đã biết trước nồng độ vào nước cất hay nước khử ion cùng thời điểm  lấy mẫu ngay tại hiện trường để xem xét sự phân huỷ các thông số kể từ khi lấy mẫu.

    Mẫu thêm được sử dụng khi bắt đầu một kỹ thuật mới hoặc thiết bị mới để bảo đảm rằng phương pháp hoặc thiết bị là thích hợp cho các mẫu đang được lấy có tính phức tạp như vậy. Việc thêm chất chuẩn vào mẫu phải do những cán bộ phân tích có kinh nghiệm thực hiện.

    II.2.3. QA/QC trong vận chuyển mẫu

    II.2.3.1. Đảm bảo chất lượng

    • Vận chuyển mẫu: cần phải có quy trình vận chuyển mẫu phù hợp nhằm bảo toàn mẫu về mặt số lượng và chất lượng. Trong quy trình cần nêu rõ một số điểm chính như sau:
    • Mẫu khi vận chuyển phải có nhãn (ký hiệu) để tránh nhầm lẫn.
    • Thủ tục sắp xếp mẫu nhằm tránh đổ vỡ.
    • Yêu cầu trong quá trình vận chuyển: thời gian vận chuyển và nhiệt độ của mẫu, yêu cầu này dựa theo tiêu chuẩn (TCVN, ISO) đối với từng thông số quan trắc và cách bảo quản mẫu (bảng 2.1).

    Bảng 2.1. Yêu cầu khi vận chuyển mẫu


    TT
    Tên mẫu Các yêu cầu khi vận chuyển Ghi chú
    • Phương tiện vận chuyển: được xác định trên cơ sở yêu cầu của thông số quan trắc (Bảng 2.2).

    Bảng 2.2. Phương tiện vận chuyển và người chịu trách nhiệm

     

    TT Tên mẫu Phương tiện vận chuyển Người chịu

    trách nhiệm

    Thời gian vận chuyển Ghi chú
    • Giao và nhận mẫu: có thể được tiến hành ở hiện trường (nhóm hiện trường bàn giao cho người vận chuyển, và ở phòng thí nghiệm (nhóm hiện trường hay người vận chuyển bàn giao cho phòng thí nghiệm)) theo quy trình với nội dung được thể hiện trong biên bản bàn giao:
    • Họ và tên người bàn giao:
    • Họ và tên người nhận:
    • Thời gian bàn giao:
    • Số lượng mẫu:
    • Tình trạng mẫu khi bàn giao:
    • Ghi chú (những điểm bất thường cần quan tâm):

    Kiểm tra và loại bỏ các mẫu không đạt yêu cầu như đổ vỡ, bật nút,… và tiến hành khôi phục lại các mẫu bị sai sót nếu có thể.

    Khi tiếp nhận mẫu, phải bàn giao đầy đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, ghi chép rõ ràng về tình trạng mẫu, những sai hỏng trong quá trình vận chuyển

    II.2.3.2. Kiểm soát chất lượng

    Để kiểm soát chất lượng trong quá trình vận chuyển mẫu, mẫu kiểm soát chất lượng thường được sử dụng:

    Mẫu trắng vận chuyển: một mẫu nhỏ vật liệu sạch của đối tượng nghiên cứu được vận chuyển cùng với mẫu thật trong cùng một môi trường, được bảo quản, phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm như mẫu thật. Mẫu QC loại này được sử dụng để kiểm soát sự nhiễm bẩn trong quá trình vận chuyển mẫu.

     

    II.2.4. QA/QC trong đo, phân tích tại hiện trường

    Một số thông số không bền như nhiệt độ, pH, DO, chất rắn lơ lửng, độ đục cần được xác định tại chỗ hoặc ngay sau khi lấy mẫu càng sớm càng tốt.

    Khi đo, phân tích tại chỗ các thông số không bền, cần phải chú ý:

    • Lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp để không hoặc ít bị ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài hoặc tạo các điều kiện môi trường thích hợp (như phòng thí nghiệm di động, bố trí buồng làm việc trên tàu …) để bảo đảm kết quả phân tích.
    • Những thay đổi bất thường khi lấy mẫu
    • Tình trạng hoạt động của thiết bị
    • Ngăn ngừa nhiễm bẩn mẫu:

    – Đo đạc hiện trường: Khi đo đạc các thông số bằng máy móc ngoài hiện trường (ví dụ pH, to, độ mặn,…) không được nhúng trực tiếp các thiết bị đo vào máy lấy nước mà phải lấy các mẫu phụ để đo, sau khi đo, mẫu đó phải đổ đi.

    –  Chai lọ chứa mẫu phải được rửa sạch  theo đúng yêu cầu đối với từng thông số. Không được tận dụng các loại chai lọ đã dùng chứa hoá chất trong phòng thí nghiệm để sử dụng cho việc chứa mẫu.

    – Dụng cụ chứa mẫu phải được bảo quản trong môi trường sạch sẽ, tránh bụi, khói và các nguồn gây ô nhiễm khác.

    – Các loại giấy lọc, bộ dụng cụ lọc phải được đóng gói cẩn thận, bọc bằng các chất liệu thích hợp.

    Để đảm bảo các thiết bị hoạt động quan trắc ngoài hiện trường làm việc chính xác ổn định, cần phải định kỳ hiệu chuẩn các thiết bị này theo các quy định của nhà sản xuất.  Tất cả hồ sơ hiệu chuẩn phải được lưu giữ.

    Trong trường hợp không có điều kiện hiệu chuẩn thì phải có các biện pháp để nhận biết tình trạng làm việc của thiết bị đó. Thí dụ: so sánh thường xuyên giữa các thiết bị giống nhau hoặc cùng loại với nhau theo một chỉ tiêu phù hợp.

    Trước mỗi đợt quan trắc cần phải kiểm tra tình trạng hoạt động của thiết bị.

    Đối với những mẫu được phân tích tại hiện trường (chất rắn lơ lửng, độ đục …) cũng phải tiến hành phân tích mẫu QC  để kiểm soát được chất lượng số liệu.

    II.2.5. Thuốc thử hoá chất bảo quản mẫu

    Toàn bộ thuốc thử và hoá chất bảo quản mẫu phải đạt độ tinh khiết theo yêu cầu của mức độ phân tích và có nhãn dán rõ ràng

    Hoá chất và thuốc thử bảo quản có thể được đong đo trước và cho vào các lọ nhỏ hoặc ampul và hàn kín để tránh phải pha chế ngoài hiện trường.

    II.2.6. Nước cất

    Nước cất sử dụng ngoài hiện trường cần phải chú ý:

    • Phù hợp với tiêu chuẩn,
    • Không sử dụng nước cất chưa biết nguồn gốc,
    • Không dùng nước cất đã để quá hạn.

    II.2.7. Dụng cụ chứa mẫu

    • Dụng cụ chứa mẫu phải được phòng phân tích làm sạch trước và đậy nắp. Nếu có điều kiện phải bọc giấy tráng paraphin mỏng để chống bụi.
    • Dụng cụ chứa mẫu phải được kiểm tra định kỳ để phát hiện nhiễm bẩn bằng cách lấy mẫu trắng hoặc thêm chất chuẩn ở nồng độ thấp.
    • Không được đựng mẫu trong dụng cụ chứa mẫu không có nắp đậy.
    • Trong những trường hợp khi phân tích ở độ nhạy cao phải sử dụng dụng cụ chứa mẫu hoàn toàn mới.

    II.2.8. Kiểm soát chất lượng và khắc phục sai sót

    • Các kỹ thuật kiểm soát chất lượng phải được áp dụng cho từng mẫu được lấy, cho một loạt mẫu và các đo đạc được thực hiện tại hiện trường.
    • Cần có sự trao đổi thông tin giữa người lấy mẫu và người phân tích để giải thích số liệu và có biện pháp khắc phục sai sót.
    • Số liệu và kết quả QC phải được tập hợp lại thành báo cáo.
    • Lập biểu đồ kiểm soát lặp để kiểm soát chất lượng số liệu (ISO 5667-14). Nếu kết quả phân tích mẫu QC vượt ra ngoài giới hạn cho phép cần tiến hành các biện pháp khắc phục.

    II.3. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong phòng thí nghiệm

    II.3.1. Các yêu cầu chung về năng lực phòng thí nghiệm phân tích môi trường

    Lựa chọn phương pháp
    Phát triển phương pháp

    Để  có thể cung cấp được những số liệu tin cậy, duy trì các hoạt động kiểm soát chất lượng thường xuyên, một phòng thí nghiệm phân tích môi trường (cố định hoặc di động) phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực quản lý và kỹ thuật theo chuẩn mực của ISO/IEC 17 025: 2002.

    Các yếu tố quyết định mức độ chính xác và độ tin cậy của phép thử do phòng thí nghiệm thực hiện, bao gồm:

    • Cơ cấu tổ chức phù hợp (người quản lý và người thực hiện).
    • Yếu tố con người làm phân tích (công tác tập huấn, kiểm tra tay nghề),
    • Trang thiết bị; quản lý, bảo dưỡng, kiểm chuẩn và hiệu chuẩn thiết bị,
    • Điều kiện, vật chất, tiện nghi và môi trường,
    • Quản lý mẫu thử,
    • Phương pháp phân tích và hiệu lực của phương pháp,
    • Chất chuẩn, mẫu chuẩn,

    Như vậy ngoài yếu tố quản lý, con người,  phòng thí nghiệm phải có đủ cơ sở vật chất để tiến hành các phép thử có chất lượng, thoả mãn mục tiêu chất lượng số liệu.

    Phòng thí nghiệm phải tiến hành các thủ tục kiểm soát chất lượng, bao gồm:

    • Thường xuyên sử dụng chất chuẩn được chứng nhận trong các phép thử,
    • Tham gia các chương trình so sánh liên phòng hoặc thử nghiệm thành thạo,
    • Tổ chức phân tích mẫu QC theo kế hoạch và duy trì thường xuyên .

    II.3.2. Quản lý mẫu

    Phòng thí nghiệm phải tổ chức vận chuyển, tiếp nhận, bảo quản, lưu giữ hoặc thanh lý  mẫu theo các quy định cần thiết và thống nhất nhằm bảo đảm tính trọn vẹn của mẫu trước và sau khi phân tích theo:

    • Bảo quản mẫu nước trong thời gian ngắn: ở 40C
    • Bảo quản mẫu nước trong thời gian dài: -200C
    • Với các mẫu sinh vật, tissue: -200C
    • Với mẫu trầm tích: Tuỳ vào đối tượng phân tích mà sử dụng mẫu ướt hay khô. Nếu sử dụng mẫu khô phải làm khô mẫu trong không khí, nhiệt độ phòng.
    • Có thể bảo quản mẫu bằng cách thêm hoá chất với những lượng thích hợp. Nhưng hoá chất được chọn phải không ảnh hưởng đến việc kiểm tra tiếp theo hoặc ảnh hưởng đến kết quả.
    • Ghi chép lại tất cả các bước bảo quản trong báo cáo kết quả.

    II.3.3. Lựa chọn và công nhận phương pháp phân tích

    Phòng thí nghiệm phải sử dụng những tiêu chuẩn/phương pháp phù hợp với thiết bị sẵn có nhưng phải đáp ứng các mục tiêu chất lượng và theo các vấn đề sau:

    • Thông số phân tích,
    • Yêu cầu giới hạn phát hiện,
    • Độ chính xác của phương pháp (độ chính xác, độ chuẩn xác),
    • Yêu cầu về khả năng so sánh số liệu,
    • Sụ phù hợp của phương pháp với các điều kiện phòng thí nghiệm.

    Phòng thí nghiệm phải tiến hành các thủ tục chấp nhận/phê duyệt phương pháp

    II.3.4. Kiểm soát chất lượng

    Kiểm soát chất lượng bằng mẫu QC

    Mẫu QC phòng thí nghiệm dùng để đánh giá hiệu quả của phương pháp trong phòng thí nghiệm và mẫu QC hiện trường  để đánh giá chất lượng tổng hợp của quá trình thu mẫu ngoài hiện trường và phương pháp trong phòng thí nghiệm.

    • Các kết quả mẫu trắng hiện trường được so sánh với các kết quả mẫu trắng phòng thí nghiệm để phân biệt sự nhiễm bẩn ngoài hiện trường và sự nhiễm bẩn trong phòng thí nghiệm.
    • Mẫu thêm hiện trường được so sánh với mẫu thêm phòng thí nghiệm để phân biệt các vấn đề bảo quản và vận chuyển mẫu ngoài hiện trường và các vấn đề bảo quản mẫu trong phòng thí nghiệm.
    • Mẫu lặp ngoài hiện trường được so sánh với mẫu lặp trong phòng thí nghiệm để phân biệt độ chuẩn xác của việc thu mẫu ngoài hiện trường với độ chuẩn xác của phân tích trong phòng thí nghiệm.

    Để kiểm soát chất lượng số liệu, phòng thí nghiệm phải duy trì phân tích mẫu QC, bao gồm:

    • Mẫu trắng thiết bị (Blanks): sử dụng nước cất để làm mẫu trắng nhằm đánh giá độ nhiễu của thiết bị và xác định giới hạn phát hiện của thiết bị. Giới hạn phát hiện của thiết bị theo quy định bằng 3 lần nhiễu đường nền.
    • Mẫu trắng phương pháp (Method Blanks): sử dụng nước cất + các chất chuẩn bị mẫu (hoá chất tạo môi trường, hoá chất che, thuốc thử hiện màu …) nhưng không có chất định phân tích. Mẫu trắng phương pháp đánh giá gới hạn phát hiện của phương pháp, đánh giá mức độ tinh khiết của hoá chất sử dụng.
    • Mẫu lặp (Replcates/Duplicates): Do tính phức tạp của các phương pháp phân tích mẫu nước nên ta không thể làm được tất cả mẫu lặp để đánh giá độ lệch chuẩn cũng như độ không đảm bảo của phép đo. Nên như đã đề cập ở trên chúng ta chỉ làm một số mẫu lặp/mẫu đúp cho một nhóm mẫu (15Ú20 mẫu) để đánh giá độ tập trung của phép thử.
    • Chuẩn thẩm tra (Control Standards)
    • Chuẩn so sánh (Refrence Standards)
    • Mẫu chuẩn đối chứng (CRMs): Với môi trường nước, mẫu chuẩn đối chứng thông thường là các mẫu lấy tại hiện trường hoặc các mẫu tự tạo có thành phần phức tạp như ngoài môi trường, được đưa đến nhiều phòng thí nghiệm có uy tín để xác định giá trị trung bình và khoảng tin cậy. Mẫu chuẩn đối chứng được làm song song với mẫu thực. Căn cứ vào khoảng tin cậy đó cho phép ta đánh giá kết quả phân tích mẫu thực. Số liệu phân tích mẫu chuẩn đối chứng cần phải lưu trong hồ sơ dưới dạng biểu đồ kiểm tra để đánh giá hiệu quả cũng như sai số hệ thống của phương pháp.
    • Mẫu đồng hành (Surrogate Compounds): mẫu đồng hành là các mẫu có đặc điểm như mẫu thật, các chất phân tích trong đó  cũng có tính chất vật lý hoá học tương tự với  các chất trong mẫu thật nhưng lại không có trong tự nhiên, hoặc sử dụng các chất đồng vị phóng xạ trong thành phần nguyên tố của các chất phân tích (14C, 37..). Mẫu đồng hành thường sử dụng khi phân tích các hợp chất hữu cơ như PAHs, thuốc trừ sâu.

    Kết quả  thực hiện phân tích mẫu QC được đi kèm với số liệu chương trình quan trắc và  phân tích môi trường và trình bày như bảng sau:

    Mẫu Kết quả
    Mẫu trắng thiết bị:
    Mẫu trắng phương pháp:
    Chuẩn thẩm tra:
    Mẫu No.1:
    Mẫu No.2:
    …………
    Mẫu No.n :
    Mẫu lặp No.2:
    Mẫu lặp No.m (m Ì n)
    Mẫu trắng phương pháp:
    CRM/Mẫu đồng hành:
    Chuẩn so sánh:

     

    II.4. QA/QC trong tính toán kết quả, ghi chép số liệu phân tích

    Các kết quả phân tích trước khi ghi chép vào sổ phải được kiểm tra đối chiếu với các sổ sách gốc như: nhật ký thực địa, sổ ghi kết quả phân tích. Việc kiểm tra được thực hiện bởi ít nhất 1 người có trách nhiệm trong phòng thí nghiệm. Kết quả phân tích được ghi vào biểu kết quả phải chứa đựng được một số thông tin quan trọng dưới đây:

    • Ngày tháng phân tích, phương pháp phân tích.
    • Ký hiệu mẫu phân tích.
    • Ký hiệu và kết quả phân tích của mẫu kiểm tra.
    • Các giới hạn kiểm tra và cảnh báo.
    • Các sắc đồ, đồ thị (nếu có).
    • Họ tên người phân tích, người tính toán và người kiểm tra.

    Sau khi số liệu được đối chiếu, kiểm tra, lúc đó mới có giá trị và được sử dụng vào các mục đích khác nhau.

    II.5. QA/QC trong báo cáo kết quả

    Bản báo cáo kết quả phân tích đảm bảo chất lượng phải bao gồm các thông tin sau:

    – Tiêu đề

    – Tên, địa chỉ phòng thí nghiệm tiến hành phân tích

    – Tên, địa chỉ khách hàng

    – Ngày, tháng lấy mẫu

    – Ngày, giờ phân tích

    – Ký hiệu mẫu.

    – Tình trạng mẫu khi đưa vào phân tích

    – Phương pháp phân tích đã sử dụng

    – Sai số cho phép

    – Kết quả phân tích mẫu trắng thiết bị, mẫu trắng phòng thí nghiệm, mẫu đúp và mẫu lặp

    – Kết quả phân tích mẫu

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. APHA, Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater, 19th Edition, 1995
    2. Britsh Columbia Field Sampling Manual, 1996 Edition
    3. Canadian Executive Agency, CPMS-II, Pollution Monitoring and Baseline Studies- Environmental  Monitoring Workbook 1997.
    4. EPA Standard Methods, CD-ROM, Revision 1, July 1992
    5. ISO 5667-14:1998, Water Quality- Sampling, Part 14: Guidance on Quality Assurance of Enviromental Water Sampling and Handling
    6. IUPAC, ISO, AOAC, Harmonised Guidlines for Internal Quality Control in Analitycal Chemistry Laboratory, 1994
    7. Jame P.Dux,Quality Assurance for the Anlytical Chemistry Laboratory, 2d Edition, Van Nostrand Reihold, 1991
    8. Lawrence H.K. et all, Principles of Environmental Analysis, Chem, 1983, 55, 2210-2218
    9. TCVN 5993-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
    10. TCVN 5994-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên nhân tạo
    11. TCVN 5996-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn lấy mẫu nước sông và suối
    12. TCVN 5998-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn lấy mẫu nước thải
    13. UN/ECE Task Force on Monitoring & Assessment, Guidelines on Water-Quality monitoring and Assessment of Tranboudary Rivers, May 1996
    14. UN/ECE Task Force on Monitoring & Assessment, Volumn 4: Quality Assurance, Jaunuary 1996
    15. Villars M.T. Monitoring water quality in the future, Executive summary, Deft, the netherlands, May 1995.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Phụ lục 1:                    Hệ thống quản lý chất lượng phòng thí nghiệm

    Hệ thống quản lý chất lượng của phòng thử nghiệm/ hiệu chuẩn được quy định trong ISO/IEC 17025: 1999 gồm hai nhóm yêu cầu lớn: các yêu cầu về quản lý và các yêu cầu về kỹ thuật.

    Các yêu cầu về quản lý bao gồm:

    1. Tổ chức.
    2. Hệ thống chất lượng.
    3. Kiểm soát tài liệu.
    4. Xem xét các yêu cầu, đề nghị và hợp đồng.
    5. Hợp đồng phụ về thử nghiệm và hiệu chuẩn.
    6. Các dịch vụ mua sắm và nguồn cung cấp.
    7. Dịch vụ đối với khách hàng.
    8. Phàn nàn (hay kiến nghị).
    9. Kiểm soát việc thử nghiệm và/hoặc hiệu chuẩn không phù hợp.
    10. Biện pháp khắc phục.
    11. Biện pháp phòng ngừa.
    12. Kiểm soát hồ sơ.
    13. Đánh giá nội bộ.
    14. Xem xét của lãnh đạo.

    Các yêu cầu về kỹ thuật bao gồm:

    1. Yêu cầu chung.
    2. Nhân sự.
    3. Tiện nghi và điều kiện môi trường.
    4. Phương pháp thử nghiệm, hiệu chuẩn và phê duyệt phương pháp.
    5. Thiết bị.
    6. Tính liên kết chuẩn đo lường.
    7. Lấy mẫu.
    8. Quản lý mẫu thử nghiệm, hiệu chuẩn.
    9. Đảm bảo chất lượng kết quả thử nghiệm và hiệu chuẩn
    10. Báo cáo kết quả.

    Dưới đây hướng dẫn thực hiện một số vấn đề then chốt trong hoạt động QA/QC của phòng thí nghiệm.

    1. Tổ chức và quản lý phòng thí nghiệm

    Để tổ chức và quản lý tốt phòng thí nghiệm, cần thực hiện một số yêu cầu sau:

    a/ Xác định rõ cơ cấu tổ chức của PTN trong tổ chức mà PTN trực thuộc. Phân định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cán bộ, nhân viên trong PTN. Xác định cụ thể người là “cán bộ quản lý kỹ thuật” chịu trách nhiệm về các hoạt động kỹ thuật và người là “cán bộ quản lý chất lượng” chịu trách nhiệm đảm bảo cho các yêu cầu đã được quy định trong hệ thống chất lượng được tuân thủ và thực hiện đầy đủ.

    b/ Phòng thí nghiệm phải thiết lập một hệ thống chất lượng được thể hiện bằng hệ thống các văn bản, tài liệu, gọi chung là “hệ thống tài liệu chất lượng”. Hệ thống tài liệu chất lượng này bao gồm: Sổ tay chất lượng; các quy định, thủ tục điều hành những hoạt động, quá trình có tính chất chung của phòng thí nghiệm; các quy định, tài liệu có tính chất chỉ dẫn công việc cụ thể.

    Có thể hình dung hệ thống tài liệu chất lượng trên bằng sơ đồ kim tự tháp dưới đây. ở trên cùng là Sổ tay chất lượng, càng ở mức dưới, số lượng văn bản, tài liệu càng yêu cầu nhiều hơn.

    Sổ tay

    chất lượng

    Các thủ

    tục điều hành

    Các chỉ dẫn

    công việc cụ thể

    c/ PTN phải định kỳ tiến hành việc đánh giá nội bộ theo các thời hạn (thường là 1 năm) và thủ tục đã định để kiểm tra xem hoạt động của phòng thí nghiệm có liên tục tuân thủ các yêu cầu của hệ thống chất lượng hay không. Cán bộ quản lý chất lượng có trách nhiệm lập kế hoạch và tổ chức đánh giá theo chương trình đã định.

    Khi việc đánh giá phát hiện ra những nghi ngờ về hiệu quả của các hoạt động hoặc về sự đúng đắn của các kết quả phân tích, đo, thử, phòng thí nghiệm phải tiến hành các hoạt động khắc phục kịp thời, phải thông báo bằng văn bản cho các cơ sở có liên quan biết về những sai sót này để hiệu chỉnh chúng.

    d/ Lãnh đạo phòng thí nghiệm phải định kỳ, thường là 1 năm, xem xét lại hệ thống quản lý chất lượng và các hoạt động phân tích, đo, thử của phòng thí nghiệm để đảm bảo sự phù hợp liên tục và tính hiệu quả của chúng và để đưa ra những thay đổi hoặc cải tiến cần thiết.

     

    1. Các phương pháp phân tích, đo thử.

    Yêu cầu chung là PTN phải sử dụng các phương pháp và thủ tục phù hợp với những yêu cầu đã được xác định trong các chương trình quan trắc  và phù hợp với các phép phân tích, đo, thử thuộc phạm vi hoạt động của PTN, bao gồm cả việc lấy mẫu, xử lý, vận chuyển, lưu kho và chuẩn bị mẫu.

    a/ Chọn lựa phương pháp

    Tốt nhất là sử dụng các phương pháp đã tiêu chuẩn hoá, đó là các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn vùng, tiêu chuẩn quốc gia. Phải sử dụng những ấn phẩm mới nhất của các tiêu chuẩn. Khi cần thiết, PTN phải hiệu chỉnh các tiêu chuẩn này bằng những chi tiết bổ sung để đảm bảo sự áp dụng thích hợp.

    PTN cũng có thể chọn các phương pháp thích hợp đã được công bố trong các tạp chí, các sách khoa học. Các phương pháp nội bộ (do PTN tự xây dựng) cũng có thể được sử dụng nếu phù hợp với yêu cầu quy định và phải được thể hiện thành văn bản, được phê duyệt theo thủ tục quy định. Đối với các phương pháp chưa được tiêu chuẩn hoá này cần phải có sự thoả thuận của cơ quan quản lý chương trình quan trắc. Sự thoả thuận này được thể hiện bằng một văn bản quy định rõ ràng về các yêu cầu và mục đích của phép phân tích, đo, thử.

    b/ Phê duyệt phương pháp

     

    PTN phải kiểm tra lại các phương pháp tiêu chuẩn, không tiêu chuẩn và các phương pháp mới để khẳng định các phương pháp này là phù hợp với mục đích sử dụng.

    Hình 1. Hoạt động QA/QC trong phòng thí nghiệm

    Phải ghi lại các kết quả của việc phê duyệt và thủ tục thực hiện việc phê duyệt này. Việc phê duyệt phải dựa trên các thông số của các kỹ thuật phân tích đã được chọn. Các thông số và kết quả phê duyệt phải được thể hiện bằng văn bản và phải được lưu trữ.

    Sự phù hợp của phương pháp có thể kiểm tra bằng cách so sánh với các yêu cầu đặc trưng cho việc sử dụng đã định như độ không đảm bảo của kết quả, giới hạn phát hiện, độ chọn lọc của phương pháp, độ tuyến tính, giới hạn độ lặp lại hoặc độ tái lập, khả năng chống lại các ảnh hưởng bên ngoài …

    Các kỹ thuật được sử dụng để phê duyệt một phương pháp có thể là một hoặc một số trong các cách sau: sử dụng các chuẩn đo lường hoặc mẫu chuẩn; so sánh kết quả với các phương pháp khác; so sánh liên phòng; đánh giá một cách hệ thống những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả; đánh giá độ không đảm bảo của kết quả dựa trên hiểu biết khoa học về các nguyên tắc lý thuyết của phương pháp và kinh nghiệm thực tế.

    c/ Đánh giá độ không đảm bảo

    PTN phải có thủ tục để đánh giá độ không đảm bảo của tất cả các phép phân tích, đo, thử.

    Phải quan tâm đến tất cả các yếu tố góp phần vào độ không đảm bảo. Các yếu tố đó là:

    – Các chuẩn chính, mẫu chuẩn và trang thiết bị sử dụng;

    – Phương pháp phân tích, đo thử được lựa chọn;

    – Điều kiện môi trường;

    – Đặc tính của đối tượng phân tích, đo, thử;

    – Người thao tác.

    Tài liệu cơ bản để đánh giá, trình bày độ không đảm bảo đo hiện nay là ISO/TAG4/WG3 “Guide to expression of uncertainty in measurement”, 1993 và bộ tiêu chuẩn ISO 5725: 1994: Độ chính xác (độ chính xác và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo (ISO 5725: 1994 Accuracy (truness and precsion) of measurement methods and results).

    III.  Trang thiết bị

    a/ Trang thiết bị của phòng thí nghiệm phải đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn hoặc phương pháp tương ứng.

    b/ Trang thiết bị phải được đánh dấu, dán nhãn để phân biệt và nhận dạng được dễ dàng, trong đó phản ánh được tình trạng hiệu chuẩn, kiểm định và thời hạn hiệu chuẩn, kiểm định tiếp theo của nó.

    Phải duy trì và lưu giữ hồ sơ của từng loại trang thiết bị.

    c/ Phải thiết lập các thủ tục bảo dưỡng và thực hiện việc bảo dưỡng trang thiết bị thường xuyên hay định kỳ.

    Trang thiết bị sai hỏng phải được dán nhãn để phân biệt với các trang thiết bị bình thường. Phải ngừng sử dụng nó cho đến khi sửa chữa, hiệu chỉnh xong và việc hiệu chuẩn hoặc kiểm định sau đó chứng minh thiết bị đã hoạt động tốt.

    Khi vì lý do nào đó, trang thiết bị vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát trực tiếp của PTN trong một thời gian nhất định, PTN phải tiến hành kiểm tra để đảm bảo rằng thiết bị vẫn đủ tốt trước khi đưa vào hoạt động trở lại trong PTN.

    d/ Phải đảm bảo tính liên kết chuẩn đo lường của tất cả các trang thiết bị của phòng thí nghiệm.

    Thực chất của yêu cầu đảm bảo tính liên kết chuẩn chính là việc thực hiện một chuỗi phép hiệu chuẩn kế tiếp nhau đối với tất cả trang thiết bị của PTN, làm cho các trang thiết bị này đều được so sánh (trực tiếp hay gián tiếp), và tiếp đó là hiệu chỉnh, theo hệ thống chuẩn đo lường quốc gia hay quốc tế, từ đó đảm bảo cho trang thiết bị đo, thử, phân tích luôn tin cậy và chính xác. Cụ thể phòng thí nghiệm phải thực hiện một số việc sau:

    + PTN phải xây dựng và thực hiện chương trình hiệu chuẩn cho tất cả các trang thiết bị có ảnh hưởng rõ rệt đến giá trị và độ chính xác của các kết quả phân tích, đo, thử trước khi đưa chúng vào sử dụng cũng như trong suốt quá trình sử dụng chúng. Chương trình hiệu chuẩn phải bao gồm cả các phương tiện đo dùng cho các phép đo phụ trợ, ví dụ để đo các điều kiện môi trường.

    + Đối với những trang thiết bị không thể thực hiện được việc hiệu chuẩn nêu trên,  PTN có thể áp dụng các biện pháp sau:

    – Tham gia một chương trình so sánh liên phòng hoặc thí nghiệm thành thạo để có bằng chứng về sự phù hợp của các trang thiết bị liên quan.

    – Sử dụng các mẫu chuẩn mà các giá trị về thành phần và tính chất của nó đã được chứng nhận để kiểm tra trang thiết bị.

    – Sử dụng các chuẩn hoặc các phương pháp đã được các bên liên quan thoả thuận.

     

    1. Tiện nghi và điều kiện môi trường

    a/ Yêu cầu chung là tiện nghi của PTN, bao gồm cả các điều kiện về môi trường, chiếu sáng và các nguồn năng lượng, phải phù hợp để có thể dễ dàng thực hiện một cách đúng đắn các phép phân tích, đo, thử theo yêu cầu. Cần có sự quan tâm đặc biệt khi việc lấy mẫu, hoặc việc phân tích, đo, thử  được thực hiện ở những nơi ngoài địa điểm cố định của PTN. Phải quy định thành văn bản các yêu cầu đối với các tiện nghi và điều kiện môi trường có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích, đo, thử.

    b/ PTN phải có các thủ tục và thực hiện việc giám sát, kiểm tra để chắc chắn rằng môi trường không tác động xấu tới việc lấy mẫu; việc tiến hành phân tích, đo, thử. Việc thực hiện các phép phân tích phải được dừng lại khi các điều kiện môi trường không phù hợp. Cần đặc biệt kiểm soát sự phù hợp với các yêu cầu của các yếu tố như sự vô trùng về mặt sinh học, bụi bẩn, những tín hiệu điện từ gây nhiễu, chất phóng xạ, việc cung ứng điện, nhiệt độ, độ ẩm, rung động, tiếng ồn v.v…

    c/ Trường hợp có những hoạt động ảnh hưởng lẫn nhau, PTN phải phân lập một cách có hiệu quả những khu vực này để tránh những ảnh hưởng xấu qua lại.

    d/ PTN phải thực hiện sự kiểm soát đối với việc sử dụng và ra vào phòng thí nghiệm mà không có nhiệm vụ để hạn chế những ảnh hưởng xấu đến kết quả phân tích, đặc biệt là những nơi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các phép phân tích.

     

    1. Nhân sự

    a/ Ban lãnh đạo PTN phải đảm bảo rằng tất cả kỹ thuật viên vận hành trang thiết bị có đủ trình độ và năng lực cần thiết. Trong PTN các kỹ thuật viên cần thường xuyên được nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu thực tế.

    b/ Nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo và kỹ thuật viên phải được phân công rõ ràng và được thể hiện bằng văn bản.

     

    1. Quản lý mẫu phân tích, đo, thử

    a/ PTN phải có các thủ tục thích hợp cho việc quản lý mẫu đối với từng thông số.

    b/ PTN phải có các cách để nhận dạng và phân biệt mẫu. Những ký hiệu nhận dạng phải được duy trì trong suốt thời gian tồn tại của mẫu trong PTN để đảm bảo không gây ra sự nhầm lẫn các mẫu khi phân tích đo, thử khi luân chuyển, kể cả khi đưa vào hồ sơ, tài liệu.

    c/ Khi tiếp nhận mẫu, PTN phải ghi lại mọi sự không bình thường hoặc sai lệch so với sự mô tả trong các phương pháp phân tích, đo, thử mà PTN sử dụng; phải tham khảo ý kiến của các bộ phận liên quan để họ cho các hướng dẫn cụ thể khi có sự nghi ngờ về sự phù hợp của mẫu.

    d/ PTN phải có các thủ tục và tiện nghi để phòng tránh các hư hỏng đối với mẫu trong quá trình lưu giữ, xử lý, chuẩn bị và tiến hành phân tích, đo, thử. Phải tuân thủ các hướng dẫn kèm theo mẫu.

    VII. Đảm bảo chất lượng các kết quả phân tích

    PTN phải đảm bảo chất lượng kết quả phân tích bằng cách theo dõi liên tục các kết quả. Việc theo dõi phải được lập thành kế hoạch và có thể bao gồm các cách sau:

    • Các sơ đồ kiểm tra chất lượng nội bộ bằng cách sử dụng kỹ thuật thống kê.
    • Tham gia các chương trình so sánh liên phòng hoặc thử nghiệm thành thạo.
    • Sử dụng đều đặn các mẫu chuẩn đã được chứng nhận.
    • Tái tạo lại các phép phân tích bằng các phương pháp giống hoặc khác nhau.
    • Phân tích nghiệm lại các mẫu được lưu giữ.
    • Xem xét sự tương quan giữa kết quả với các đặc trưng khác nhau của mẫu.

    VIII. Kiểm soát chất lượng trong phòng thí nghiệm

    QC phòng thí nghiệm chính là một chương trình đánh giá đan xen vào các hoạt động tại hiện trường và trong phòng thí nghiệm để đánh giá độ chính xác và độ đúng đắn của các phép phân tích đo thử (gọi vắn tắt là các phép đo).

    Các quá trình QC được thực hiện bằng việc phân tích đều đặn mẫu kiểm soát chất lượng (mẫu QC) sau khi một phương pháp đã được chứng minh là thích hợp cho việc sử dụng thông qua  sự phê duyệt phương pháp.

    Các mẫu QC được dùng trong phân tích môi trường gồm hai loại: mẫu QC phòng thí nghiệm và mẫu QC hiện trường.

    Mẫu QC

    Mẫu QC hiện trường xem mục 1.4

    1. Mẫu QC phòng thí nghiệm

    Mẫu QC phòng thí nghiệm gồm hai loại: mẫu QC phương pháp và mẫu QC thiết bị.

    • Mẫu QC thiết bị

    Các mẫu QC thiết bị dùng để đánh giá và kiểm tra chất lượng của kết quả do thiết bị mang lại. Mẫu QC thiết bị bao gồm: chuẩn kiểm soát (control standard); chuẩn thẩm tra (verification standard); mẫu trắng thiết bị (instrument blank).

    + Mẫu trắng thiết bị: một mẫu nhỏ dung môi, thường là nước cất, được cho trực tiếp vào thiết bị để đo sự ô nhiễm do thiết bị gây ra. Mẫu này thường dùng để đánh giá độ ổn định và độ nhiễu của thiết bị.

    + Chuẩn kiểm soát: là chuẩn dùng để kiểm tra độ chính xác của các chuẩn được dùng để chuẩn hoá thiết bị.

    + Chuẩn thẩm tra: là chuẩn để theo dõi độ ổn định của thiết bị theo thời gian.

    • Mẫu QC phương pháp:

    Mẫu QC phương pháp dùng để đánh giá chất lượng tất cả tính năng sử dụng của phương pháp trong phòng thí nghiệm. Mẫu QC phương pháp phòng thí nghiệm gồm: mẫu trắng phương pháp, mẫu lặp phòng thí nghiệm, mẫu thêm phương pháp, mẫu chuẩn được chứng nhận.

    Mẫu trắng phương pháp: Là mẫu bằng vật liệu sạch được trải qua các bước xử lý giống như  với mẫu phân tích, đo,  thử. Mẫu này được dùng  để đánh giá sự ô nhiễm tạo ra trong toàn bộ một thủ tục phân tích, đo,  thử.

     

                Mẫu lặp phòng thí nghiệm: Hai hoặc nhiều hơn các phần của cùng một mẫu tự nhiên được chuẩn bị và phân tích riêng rẽ bằng cùng một phương pháp. Mẫu này dùng để đánh giá độ tập trung của kết quả phân tích , đo,  thử trong phòng thí nghiệm.

    Mẫu thêm phương pháp: Mẫu, vật liệu sạch hoặc thuốc thử được cho thêm vào một lượng đã biết của một hay nhiều yếu tố phân tích và được xử lý giống như khi phân tích, đo,  thử. Mẫu thêm để đánh giá mức độ sai lệch gây ra do ảnh hưởng của nền và sai số của phòng thí nghiệm, các sai số hiệu chuẩn, sai số chuẩn bị mẫuv.v…

    Mẫu chuẩn được chứng nhận:

    Việc phân tích mẫu chuẩn trong phòng thí nghiệm trước hết là để đánh giá sai số, độ đúng, sai số hệ thống của phương pháp được sử dụng.

    1. Tiêu chí chấp nhận của kiểm soát chất lượng và biện pháp khắc phục

     

    Kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua việc phân tích, đo hoặc thử nghiệm một số loại mẫu QC đã nêu trên để nhận dạng các nguồn sai số xác định. Tuy nhiên kết quả phân tích, đo, thử các mẫu QC sẽ chỉ có ý nghĩa khi đưa ra được các giới hạn để so sánh với chúng. Ví dụ khi phân tích mẫu trắng hiện trường, mẫu trắng vận chuyển, mẫu trắng thiết bị… cần có các giá trị định mức thích hợp để biết mức độ ô nhiễm gây ra trong quá trình lấy mẫu, vận chuyển mẫu, hoặc do thiết bị gây ra còn chấp nhận được  hay đẫ tới mức nguy hiểm, cần truy tìm nguyên nhân để loại bỏ nó. Hoặc khi hiệu chuẩn thiết bị bằng cách so sánh với chuẩn, sẽ xác định được sai số số chỉ của thiết bị này. Nhưng cùng với nó phải biết sai số cho phép lớn nhất của thiết bị là bao nhiêu để quyết định xem có cần hiệu chỉnh để đưa sai số về phạm vi cho phép hay không v.v…

    Một ví dụ điển hình là sử dụng các “giới hạn cảnh báo” và “giới hạn kiểm soát”. Như khi phân tích”mẫu lặp phòng thí nghiệm”, ta xác định được độ lệch chuẩn s đặc trưng cho sự phân tán (độ tập trung) của phương pháp (thủ tục) phân tích được sử dụng. Giới hạn cảnh báo được lấy là 2s và giới hạn kiểm soát được lấy là 3s. Giá trị 2s và 3s gọi là giới hạn cảnh báo và giới hạn kiểm soát trên (ký hiệu là UWL và UCL). Giá trị -2s và -3s gọi là giới hạn cảnh báo và giới hạn kiểm soát dưới (ký hiệu là LWL và LCL). Khi sự thành thạo của PTN tăng lên, giá trị của các giới hạn này sẽ nhỏ xuống. Các giới hạn 2s va 3s ứng với mức tin cậy 95,45% và 99,73%.  Điều này có nghĩa là với 100 phép phân tích ta hy vọng nhiều nhất là chỉ có 5 phép phân tích có giá trị vượt quá giới hạn cảnh báo và cứ 300 phép phân tích hy vọng chỉ có 1 giá trị vượt quá giới hạn kiểm soát. Với một giá trị nền xác định ta có biểu đồ kiểm soát sau đây:

    Khi giá trị thu được vượt ra khỏi giới hạn cảnh báo, nghĩa là bắt đầu có những vấn đề  phải quan tâm xem xét và khi giá trị thu được vượt quá giới hạn kiểm soát, có nghĩa là vấn đề đã trở nên nghiêm trọng và nguy hiểm. Các biện pháp khắc phục  phải được đề ra và thực hiện. Bảng dưới đây cho một ví dụ về các hành động khắc phục trong một tình huống cụ thể.

     

    Kế hoạch khắc phục các sai sót của QC

    1. Các giả thiết:
    2. Trung bình có 1 trong 20 điểm đo vượt quá giới hạn cảnh báo (WL) 2 độ lệch chuẩn (2SD) và 1 trong 300 điểm đo vượt quá giới hạn kiểm soát (CL) 3 độ lệch chuẩn (3SD).
    3. Đường trung tâm là x lần giới hạn phát hiện của phương pháp (MDL) với x ít nhất là 20 lần MDL.
    4. Tiêu chuẩn và các hành động xử lý áp dụng cho các điểm đo nằm trên và dưới giới hạn của tham số và không áp dụng nếu các điểm đo nằm trên hai cận của tham số.
    1. Biện pháp khắc phục
    Tham số thống kê Tiêu chuẩn Hành động
    Giới hạn kiểm soát

    (CL) là 3SD (3s)

    1. Một điểm đo vượt quá CL

    2.a. Các phép phân tích lặp lại < CL

    2.b. Các phép phân tích lặp lại > CL

    1.  Lặp lại phép phân tích

    2.a. Tiếp tục phân tích

    2. b. Dừng lại và hiệu chỉnh

    Giới hạn cảnh báo

    (WL) là 2SD (2s)

    1. 2 hoặc 3 điểm đo > WL

    2.a. Điểm đo tiếp theo < WL  2. b. Điểm đo tiếp theo > WL

    1.  Phân tích mẫu khác

    2.  a.  Tiếp tục phân tích

    2. b. Dừng lạivà hiệu chỉnh

    Độ lệch chuẩn (SD) 1. 4 hoặc 5 điểm đo > 1 SD

    2.a. Điểm đo tiếp theo < 1SD

    2.b. Điểm đo tiếp theo > 1SD

    1.  Phân tích mẫu khác

    2.  a. Tiếp tục phân tích

    2.b.Dừng lại và hiệu chỉnh

    Đường trung tâm (CTL) 1. Điểm đo trên CTL

    2.a. Điểm đo tiếp theo ở   dưới CTL

    2.b. Điểm đo tiếp theo ở trên  CTL

    1.  Phân tích mẫu khác

    2.  a. Tiếp tục phân tích

    2. b. Dừng lại và hiệu chỉnh

    1. Sau khi tiến hành các hoạt động khắc phục

    Phân tích lại một nửa số mẫu nằm giữa điểm cuối cùng trong giới hạn kiểm soát và điểm ngoài cùng ngoài giới hạn kiểm soát.

     

    1. So sánh liên phòng thí nghiệm và thử nghiệm thành thạo

    Một trong các biện pháp kiểm soát chất lượng PTN có hiệu quả là việc tổ chức và tham gia so sánh liên PTN và thử nghiệm thành thạo.

    • So sánh liên phòng thí nghiệm (Interlaboratory compairison)

    Là việc tổ chức và thực hiện đánh giá các phép phân tích đối với các mẫu hoặc vật liệu thử hoàn toàn giống nhau hoặc tương tự nhau bởi hai hay nhiều PTN theo sự thoả thuận với những điều kiện được xác định.

    So sánh liên PTN nhằm các mục đích: xác định năng lực của PTN đối với các phép phân tích, đo, thử nghiệm; kiểm tra sự tương thích và nhất quán của số liệu đối với từng cá nhân kỹ thuật viên của PTN; thiết lập các phương pháp phân tích; đo, thử mới; giải quyết sự khác nhau giữa các PTN; xác định giá trị các mẫu chuẩn được chứng nhận v.v…

    • Thử nghiệm thành thạo (proficiency testing)

    Là việc xác định chất lượng thực hiện việc phân tích bằng cách so sánh liên PTN.

    Mục đích của việc thử nghiệm thành thạo chính là nhằm xác định năng lực của PTN đối với các phép phân tích do các PTN công bố.

    Thử nghiệm thành thạo được thực hiện bằng chương trình thử nghiệm liên PTN.

    • Chương trình thử nghiệm liên PTN (interlaboratory testing programmes)

    Là việc so sánh liên PTN trong đó các mẫu của một vật liệu thử đồng nhất được phân phát để thực hiện các phép phân tích thích hợp tại các PTN tham gia.

     

     

     

     

     

    Phụ lục 2.       Xử lý số liệu theo phân bố chuẩn

    (phân bố Gauss)

    1. Độ lệch chuẩn của phương pháp đã biết

    Kết quả của phép đo 1 lần được trình bày như sau:

    Q= X ± ts; với P = 95%

    Trong đó: Q là giá trị thực của đại lượng;

    X là giá trị thu được từ phép đo 1 lần, được coi là kết quả đo (là giá trị của đại lượng đo);

    P là xác suất (mức tin cậy);

    t là hệ số phụ thuộc P (bảng 1 và bảng 2 của phụ lục).

    Điều trên có nghĩa là với xác suất tin cậy P đã chọn, sai số của kết quả đo (X) nằm trong giới hạn ± ts, cũng có nghĩa là giá trị thực Q của đại lượng sẽ nằm trong khoảng từ X – ts đến X + ts. Trường hợp P được lấy bằng 95% (0,95), khi đó hệ số t = 2, có nghĩa là nếu ta tiến hành 100 phép đo theo phương pháp ấy sẽ hy vọng chỉ có 5 lần đo có sai số vượt ra ngoài giới hạn ± 2s. Chọn P bằng bao nhiêu là tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể.

    Ví dụ: Sai số của phép đo một lần có thể bằng bao nhiêu nếu phương pháp đo đã cho có s =0,01 đơn vị và cứ 100 lần đo thì trung bình có 5 lần sai số vượt quá giới hạn quy định. Bài toán này cũng có nghĩa là tìm giới hạn sai số của phép đo với s =0,01 đv và P = 95%.

    Bảng 2 Phụ lục I phân bố chuẩn cho ứng với P=95%, ta có t=2. Sai số của phép đo 1 lần trong trường hợp này là:

    ± ts = ± 2 x 0.01đv = ± 0,02 đv

    1. Trường hợp chưa biết độ lệch chuẩn s của phương pháp

    Thực hiện n lần đo (thử, phân tích)  liên tiếp cùng một đại lượng. Tính giá trị trung bình cộng () và độ lệch chuẩn thực nghiệm như sau:

    trong đó:  x1, x2 ….xn là giá trị thu được ở từng lần đo;

    n là số lần  đo lặp lại.

    Giá trị trung bình  được lấy làm kết quả đo. Độ lệch chuẩn s đặc trưng cho sự phân tán của các giá trị đo riêng rẽ xi xung quanh giá trị trung bình. Giá trị s lớn có nghĩa là các giá trị đo riêng rẽ xi phân tán nhiều quanh, tức phép đo có độ tập trung thấp và ngược lại.

    Kết quả của phép đo được trình bày như sau:

    Q =  Với P = ….

    Trong đó: Q là giá trị thực của đại lượng;

    là giá trị trung bình;

    ts là hệ số phụ thuộc số lần đo lặp n và xác suất tin cậy P đã chọn được tra theo bảng 1 và bẳng 2 phân bố Student (phụ lục)

    s là độ lệch chuẩn thực nghiệm;

    P là xác suất tin cậy.

    Điều trên có nghĩa là với xác suất tin cậy P đã chọn sai số của kết quả đo () nằm trong giới hạn, có nghĩa là giá trị thực của đại lượng sẽ nằm từ                                                       đến.

    Ví dụ: Để xác định chính xác khối lượng một mẫu thử, ta cân liên tiếp 6 lần mẫu đó, được các kết quả sau (đơn vị g):

    72,631          72,344

    72,357          72,346

    73,352          72,340

    Khối lượng thực của mẫu bằng bao nhiêu với xác xuất tin cậy là 99%.

    Tính: =  = 72,350 g

    » 8,06 x 10-3g

    Tra bảng 1 phụ lục I, ứng với n = 6 và P = 99%, có ts = 4,03. Ta có:

    =

    Kết quả đo cuối cùng được thể hiện là:

    m =(72,350 ± 0,013)g, với P = 99%

    1. Làm tròn số

    Khi làm tròn trị số của kết quả đo, người ta căn cứ vào bậc có nghĩa của sai số. Trị số của kết quả đo phải tận cùng bằng con số cùng bậc với trị số của sai số. Ví dụ, khi sai số là ± 5, con số tận cùng sẽ là con số ứng với hàng đơn vị, khi sai số là ± 0,02, con số tận cùng sẽ là số lẻ phần trăm…

    Để làm tròn số, áp dụng các quy tắc sau đây:

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là các con số nhỏ hơn 5 thì khi quy tròn, con số cuối cùng sẽ không thay đổi (quy tròn xuống hay giảm).

    Ví dụ:

    2,12 » 2,1

    6,343 » 6,34

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là các con số lớn hơn 5 thì khi quy tròn, con số cuối cùng sẽ tăng thêm 1 (quy tròn lên hay quy tròn tăng).

    Ví dụ:   3,14159 » 3,1416

    8,248 » 8,25

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 và sau con số 5 có ít nhất một con số khác không thì khi quy tròn con số cuối cùng đó sẽ tăng thêm 1 (quy tròn tăng).

    Ví dụ:

    4,3501 » 4,4

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 và biết rõ con số 5 này đã được quy tròn như thế nào thì con số 5 đó sẽ được quy tròn xuống theo quy tắc a nếu như nó đã được quy tròn lên và sẽ được quy tròn lên theo quy tắc b nếu như nó đã được quy tròn xuống.

    Ví dụ:    6,3149 đã được  quy tròn thành 6,315 nếu tiếp tục sẽ được quy tròn thành 6,31.

    4,1852 đã quy tròn thành 4,185, nếu tiếp tục sẽ quy thành 4,19.

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số đúng 5 (sau nó chỉ toàn là số 0) thì có thể tuỳ ý quy tròn lên hay quy tròn xuống. Nhưng nếu cần sử dụng số quy tròn trong khi tính toán thì nên quy tròn như thế nào để con số cuối cùng là con số chẵn. Như vậy, con số cuối cùng đó sẽ không thay đổi nếu nó đã là con số chẵn và sẽ tăng thêm 1 nếu nó là con số lẻ (quy tắc số chẵn).

    Ví dụ:

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 nhưng không biết nó là con số đúng 5 hay đã được quy tròn, thì xem con số 5 đó là con số đúng và quy tròn theo quy tắc e.
    2. Loại bỏ kết quả đo bất thường

    Kết quả của một lần đo riêng rẽ trong dãy n phép đo cùng một đại lượng được coi là bất thường nếu nó lệch một cách đáng kể so với những giá trị còn lại. Bảng phân bố chuẩn và phân bố Student cho thấy xác suất   a = 1 – P để một kết quả đo riêng rẽ lệch so với giá trị trung bình 3s hoặc 4s là rất nhỏ ( a ứng với ÷xi -÷ > 3s là 0,3% và   ứng với ÷xi -÷ > 4s là 0,01% ). Vậy có kết quả nào lệch với quá giới hạn 3s hoặc 4s (tuỳ theo P được chọn) có thể coi là mắc sai số thô và loại bỏ chúng trong quá trình xử lý kết quả đo.

     

    Bảng 1

    Giá trị tích phân xác suất  theo các giá trị t cho trước

    t F(t) t F(t) t F(t) t F(t)
    0,00

    0,05

    0,10

    0,15

    0,20

    0,25

    0,30

    0,35

    0,40

    0,45

    0,55

    0,60

    0,55

    0,65

    0,60

    0,75

    0,80

    0,85

    0,90

    0,0000

    0,0399

    0,0797

    0,1192

    0,1585

    0,1974

    0,2358

    0,2737

    0,3108

    0,3473

    0,3829

    0,4177

    0,4515

    0,4843

    0,5161

    0,5467

    0,5763

    0,6047

    0,6319

    0,95

    1,00

    1,05

    1,10

    1,15

    1,20

    1,25

    1,30

    1,35

    1,40

    1,45

    1,50

    1,55

    1,60

    1,65

    1,70

    1,75

    1,80

    0,6579

    0,6827

    0,7063

    0,7287

    0,7499

    0,7699

    0,7887

    0,8064

    0,8230

    0,8385

    0,8529

    0,8664

    0,8798

    0,8904

    0,9011

    0,9109

    0,9199

    0.9281

    1,85

    1,90

    1,95

    2,00

    2,05

    2,10

    2,15

    2,20

    2,25

    2,30

    2,35

    2,40

    2,45

    2,50

    2,55

    2,60

    2,65

    2,70

    0,9357

    0,9426

    0,9488

    0,9545

    0,9596

    0,9643

    0,9684

    0,9722

    0,9756

    0,9786

    0,9812

    0,9836

    0,9857

    0,9876

    0,9892

    0,9907

    0,9920

    0,9931

    2,75

    2,80

    2,85

    2,90

    2,95

    3,0

    3,1

    3,2

    3,3

    3,4

    3,5

    3,6

    3,7

    3,8

    3,9

    4,0

    4,,5

    5,0

    0,9940

    0,9949

    0,9956

    0,9963

    0,9968

    0,99730

    0,99806

    0,99862

    0,99904

    0,99932

    0,99954

    0,99968

    0,99978

    0,99986

    0,99990

    0,999936

    0,999994

    0,9999994

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 2

    Giá trị t theo giá trị tích phân xác suất cho trước

    F(t) 1- F(t) t F(t) 1- F(t) t
    0,50

    0,60

    0,70

    0,75

    0,80

    0,85

    0,90

    0,95

    0,96

    0,97

    0,98

    0,99

    0,991

    0,50

    0,40

    0,30

    0,25

    0,20

    0,15

    0,10

    0,05

    0,04

    0,03

    0,02

    0,01

    0,009

    0,675

    0,842

    1,036

    1,150

    1,282

    1,440

    1,645

    2,960

    2,054

    2,170

    2,326

    2,576

    2,612

    0,992

    0,993

    0,994

    0,995

    0,996

    0,997

    0,998

    0,999

    0,9995

    0,9999

    0,99999

    0,999999

    0,9999999

    0,008

    0,007

    0,006

    0,005

    0,004

    0,003

    0,002

    0,001

    5.10-4

    1.10-4

    1.10-5

    1.10-6

    1.10-6

    2,652

    2,697

    2,748

    2,807

    2,878

    2,968

    3,090

    3,219

    3,481

    3,891

    4,417

    4,892

    5,327

    Bảng 3.

     

    Giá trị ts ứng với xác suất tin cậy Ps và số lần đo n khác nhau

    Ps

    n

    0,5 0,6 0,7 0,8 0,9 0,95 0,98 0,99 0,999
    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    ¥

    1,000

    0,816

    0,765

    0,741

    0,727

    0,718

    0,711

    0,706

    0,703

    0,700

    0,697

    0,665

    0,694

    0,692

    0,691

    0,690

    0,689

    0,688

    0,688

    0,674

    1,376

    1,061

    0,978

    0,941

    0,920

    0,906

    0,896

    0,889

    0,883

    0,879

    0,976

    0,873

    0,870

    0,868

    0,866

    0,865

    0,863

    0,862

    0,861

    0,842

    1,963

    1,336

    1,250

    1,190

    1,156

    1,134

    1,119

    1,108

    1,110

    1,093

    1,088

    1,083

    1,079

    1,076

    1,074

    1,071

    1,069

    1,067

    1,066

    1,036

    3,08

    1,886

    1,638

    1,533

    1,476

    1,440

    1,415

    1,397

    1,383

    1,372

    1,363

    1,356

    1,350

    1,345

    1,341

    1,337

    1,333

    1,330

    1,328

    2,282

    6,31

    2,92

    2,35

    2,13

    2,02

    1,943

    1,895

    1,860

    1,833

    1,812

    1,796

    1,782

    1,771

    1,761

    1,753

    1,746

    1,740

    1,734

    1,729

    1,645

    12,71

    4,30

    3,18

    2,77

    2,57

    2,45

    2,36

    2,31

    2,26

    2,23

    2,20

    2,18

    2,16

    2,14

    2,13

    2,12

    2,11

    2,10

    2,09

    1,960

    31,8

    6,96

    4,54

    3,75

    3,36

    3,14

    3,00

    2,90

    2,82

    2,76

    2,72

    2,68

    2,65

    2,62

    2,60

    2,58

    2,57

    2,55

    2,54

    2,33

    63,7

    6,92

    5,84

    4,60

    4,03

    3,71

    3,50

    3,36

    3,25

    3,17

    3,11

    3,05

    3,01

    2,98

    2,95

    2,92

    2,90

    2,88

    2,86

    2,58

    636,6

    31,6

    12,9

    8,61

    6,86

    5,96

    5,40

    5,04

    4,78

    4,59

    4,49

    4,32

    4,22

    4,14

    4,07

    4,02

    3,96

    3,92

    3,88

    3,29

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 4

     

    Giá trị xác suất tin cậy Ps tương ứng với các giá trị ts và n khác nhau

     

    ts

    n

    2 2,5 3 3,5
    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    ¥

    0,705

    0,816

    0,861

    0,884

    0,898

    0,908

    0,914

    0,919

    0,923

    0,927

    0,929

    0,931

    0,933

    0,935

    0,936

    0,937

    0,938

    0,939

    0,940

    0,955

    0,758

    0,870

    0,912

    0,933

    0,946

    0,953

    0,959

    0,963

    0,966

    0,969

    0,970

    0,972

    0,974

    0,974

    0,975

    0,976

    0,977

    0,978

    0,976

    0,988

    0,795

    0,905

    0,942

    0,960

    0,970

    0,976

    0,980

    0,983

    0,985

    0,987

    0,988

    0,989

    0,990

    0,990

    0,991

    0,992

    0,992

    0,992

    0,993

    0,997

    0,823

    0,928

    0,961

    0,975

    0,983

    0,987

    0,990

    0,992

    0,993

    0,994

    0,995

    0,996

    0,996

    0,996

    0,997

    0,997

    0,997

    0,998

    0,998

    0,9995

     

  • Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người. Trước Các Mác, vấn đề bản chất con người chưa được giải đáp một cách khoa học. Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người. Bằng sự phát triển sự phát triển toàn diện thì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ.

    Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độ nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra tri thức mới, chứa dựng những tri thức mới.

    Ở nước ta, từ đại hội Đảng lần thứ III đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Muốn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân…thì không còn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa. Để làm được như vậy thì một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao kỹ thuật, công nghệ, và trong đó đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực.

    Đã có rất nhiều ngành, môn khoa học nghiên cứu về vấn đề con người đây được coi là vấn đề thiết thực nhất đòi hỏi sự phát triển toàn diện nhất trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này chúng ta chỉ đề cập tới một khía cạnh đó là: “Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    I. QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    1.1.  Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.

    Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.

    Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.

    Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.

    Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”.

    Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.

    Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.

    Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.

    Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.

    1..2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội

    Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đén cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.

    Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.

    Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.

    Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

    Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử – xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên. Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”.

    Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.

    Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.

    Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trung khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.

    Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.

    1.3 Sự phát triển xã hội loài người trong nền kinh tế tri thức

    Trong thời gian 150 năm, từ năm 1750 đến 1900 (thời kỳ của cách mạng công nghiệp), chủ nghĩa tư bản và công nghệ đã chinh phục toàn thế giới và tạo ra một nền văn minh thế giới mới. Nét mới quan trọng của tư bản và các phát triển công nghệ trong thời kỳ này là nhịp độ lan truyền và ảnh hưởng có tính toàn cầu của chúng đối với nhiều nền văn hóa, giai cấp và khu vực địa lý. Nhịp độ và phạm vi đó đã biến tư bản thành “chủ nghĩa tư bản”, và biến những tiến bộ về khoa học công nghệ thành cuộc “ Cách mạng công nghiệp”. Chủ nghĩa tư bản và Cách mạng công nghiệp – do nhịp độ và quy mô của chúng – đã tạo ra một nền văn minh thế giới mới.

    Sự chuyển đổi này đã được thúc đẩy bởi những thay đổi căn bản về ý nghĩa tri thức. ở cả phương Đông và phương Tây trước đây, tri thức được quan niệm là phục vụ cho chính nó. Nhưng sau một khoảng thời gian ngắn, tri thức đã được áp dụng vào tổ chức lao động, trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và trở thành một loại hàng hóa công cộng.

    Sự biến đổi ý nghĩa của tri thức trải qua 3 giai đoạn:

    Trong giai đoạn đầu (khoảng 100 năm), tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm. Điều này tạo ra cuộc Cách mạng công nghiệp đồng thời cũng tạo ra điều mà Marx gọi là các giai cấp mới, các cuộc đấu tranh giai cấp và gắn liền với chúng là Chủ nghĩa cộng sản.

    Trong giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ khoảng cuối thể kỷ 19 và kết thúc vào Chiến tranh thế giới thứ 2, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động. Giai đoạn này tạo ra cuộc Cách mạng năng suất trong 75 năm và chuyển những người vô sản trở thành tầng lớp trung lưu với thu nhập gần với tầng lớp thượng lưu.

    Giai đoạn cuối cùng thì tri thức đang được áp dụng cho chính bản thân tri thức. Đó là cuộc cách mạng quản lý. Tri thức trở thành một nhân tố sản xuất, làm giảm vai trò của cả vốn là lao động. Có thể là hấp tấp khi nói rằng chung ta hiện nay đang ở trong “xã hội tri thức”- hiện nay chúng ta mới chỉ có một nền kinh tế tri thức. Nhưng rõ ràng xã hội  của chúng ta hiện nay đã là “xã hội hậu tư bản”

    Các phát minh trong thời trước cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như kính mắt) cũng đã được lan truyền rất nhanh nhưng chúng ta chỉ gắn với một ngành, nghề thủ công hoặc một ứng dụng cụ thể nào đó. Những phát minh trong thời cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như động cơ hơi nước) nhanh chóng được ứng dụng trên diện rộng và tác động đến tất cả các ngành, nghề thủ công.

    Chúng ta hiểu rằng những sự kiện lịch sử trọng đại bắt nguồn không chỉ từ một nguyên nhân duy nhất và một cách giải thích duy nhất mà thường là kết quả hội tụ của nhiều tiến triển riêng rẽ và độc lập. Có thể lấy ví dụ về việc phát triển máy tính phải dựa vào rất nhiều phát minh khoa học trước đó.

    Tuy nhiên, có một nhân tố rất quan trọng mà không có nó thì tư bản và tiến bộ kỹ thuật có lẽ không thể có tác động  lan truyền mang tính xã hội và rộng khắp đến thế trên thế giới. Đó là sự thay đổi căn bản ý nghĩa của tri thức vào những năm 1700 và một thời gian ngắn sau đó.

    Vào thời kỳ Plato (những năm 400 trước công nguyên) có 2 học thuyết ở phương Đông và 2 học thuyết ở phương Tây về ý nghĩa và chức năng của tri thức. Nhà hiền triết Socrates, người phát ngôn của phái triết học Plato, cho rằng chức năng của tri thức là vì chính tri thức: sự phát triển tri thức, đạo đức và tinh thần của cá nhân. Địch thủ của ông ta, nhà triết học Protagoras lại cho rằng mục đích của tri thức là làm cho người có tri thức có thể hiểu được những gì cần phải nói và làm thế nào để nói chúng. Theo Protagoras, tri thức có nghĩa là logich, ngữ pháp và hừng biện (tu từ).

    Ở phương Đông cũng có hai học thuyết tương tự về tri thức. Đối với Khổng giáo, tri thức là biết được những gì cần nói và làm thế nào để nói chúng là con đường dẫn tới tiến bộ và thành công trên trần thế. Theo Đạo Lão và phái Thiền (Phật giáo) thì tri thức là vi tri thức, và là con đường đi đến sự thông thái và khôn ngoan.

    Khác với những người đương thời của mình của mình ở phương Đông, tức là những người theo Khổng giáo ở Trung Quốc, những người coi thường bất cứ những gì không thuộc nghiên cứu sách vở, cả Socrates lẫn Protagoras đều coi trọng kỹ thuật (techne) mặc dù cả hai ông này đều cho rằng kỹ thuật không phải là tri thức dù nó có đáng khâm phục đến đâu. Kỹ thuật gắn với một ứng dụng cụ thể và không có tính nguyên tắc để áp dụng cho tất cả các trường hợp.

    Nền tảng tạo ra 3 giai đoạn của tri thức – Cách mạng công nghiệp, Cách mạng năng suất, và Cách mạng quản lý – là sự thay đổi về căn bản ý nghĩa của tri thức. Chúng ta đã chuyển từ chỗ tri thức là số ít lên tri thức là số nhiều.

    Tri thức theo kiểu truyền thống là một thức chung chung. Còn tri thức bây giờ là những kiến thức cần thiết cực kỳ chuyên sâu.

    Khác với cách hiểu về tri thức trong thời kỳ Plato như đã nói ở trên, tri thức bây giờ được hiểu là tri thức thông minh cho chính nó trong hoạt động. Cái mà bây giờ chúng ta hiểu về tri thức chính là thông tin thực tế đối với hoạt động, thông tin nhấn mạnh đến kết quả. Những kết quả này nằm ngoài một cá nhân- nằm trong một xã hội và một cộng đồng.

    Để có thể thực hiện được công việc, tri thức phải có tính chuyên môn hóa cao. Đây chính là lý do giải thích tại sao trước đây người ta lại coi tri thức chuyên sâu có vị trí tầm thường như kỹ thuật và kỹ xảo. Nó không học được cũng không dạy được; nó cũng không có một nguyên tắc chung nào. Nhưng ngày nay, chúng ta không gọi những tri thức chuyên sâu này là “bí quyết”, chúng ta nói đó là “những môn học”. Đây chính là một sự thay đổi lớn hơn bất cứ sự thay đổi nào trong lịch sử tri thức.

    Mỗi môn học sẽ chuyển một “bí quyết” thành một phương pháp luận, sẽ chuyển từng kinh nghiệm riêng lẻ thành một hệ thống và chuyển giai thoại thành thông tin. Mỗi môn học sẽ chuyển các kỹ năng thành các thứ có thể dậy và học được.

    Bước chuyển từ đơn tri thức lên đa tri thức đã làm cho tri thức có sức mạnh tạo ra một xã hội mới. Nhưng xã hội này phải được xây dựng trên những tri thức có tính chuyên sâu, và những con người có tri thức như là một chuyên gia. Nó cũng đặt ra những câu hỏi cơ bản – về giá trị, về nhân sinh quan, về niềm tin, về tất cả mọi thứ làm cho xã hội gắn kết với nhau và làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa.

    II. NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

    2.1 Vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

    Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta  đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có những nguồn lực cần thiết như : nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý… Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ.

    Ngày nay, đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- công nghệ hiện đại  của các nước phát triển. Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người, còn nhớ rằng công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng. Đó là một điều rất đáng lưu ý.

    Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi những lí do sau:

    Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng, chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý thức của con người. Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và có ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác và gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình CNH-HĐH phát triển kinh tế. Các nguồn lực khác đều là khách thể chịu sự cải tạo và khai thác của con người, vì thế cho nên hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người nếu họ biết cách tác động và chi phối. Do đó trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại.

    –           Thứ hai,  các nguồn khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sinh sản về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lí. Đó là cơ sở làm làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực  tiễn của con người phát triển không ngừng, nhờ vậy con  người đã biết làm chủ  tự nhiên, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, phát minh ra nhiều công cụ sản xuất hiện đại hơn, đưa xã hội chuyển từ thấp đến cao.

    –  Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được  vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển như vũ bão của   cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghiệp hiện đại đang dẫn nền kinh  tế của các nước công nghiệp phát triển và vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Gìơ đây sức  mạnh của trí tuệ đã  đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “ bắt chước’’ hay “phỏng theo’’ những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi thần kỳ trước cả quá trình phát triển của mình.

    –    Thứ tư, kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của phát triển kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như cách tổ chức thực hiện của con người. Cơ cấu lao động cần cho quá trình phát triển kinh tế phải bao gồm : các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề…Nếu không có các nhà chính khách, các học giả thì khó có thể có được những chiến lược những chính sách phát triển đúng đắn. Nếu không có các nhà kinh doanh thì cũng sẽ không có những người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn nhân lực công nghệ. Sự thiếu vắng, kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên  sẽ có hại cho quá trình phát triển kinh tế đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên đây, ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con người có vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, muốn phát trriển kinh tế thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hóa, y tế, giáo dục ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và cũng được coi là  khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    2.2. Thực trạng của vấn đề đào tạo, sử dụng và phát triển con người ở Việt Nam.

    Xét về mặt tổng thể mà nói thì sau 10 năm thực hiện CNH-HĐH, chúng ta đã đi những bước vững chắc và quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình phát triển sau này. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn. Nhưng nhìn lại nguồn lực con người Việt Nam chúng ta không khỏi băn khơăn lực lượng lao động tuy dồi dào, cần cù, sáng tạo song chất lượng còn hạn chế, sự bất hợp lý về phân công lao động, khó khăn về phân bố dân cư. Theo thống kê năm 1989  cho thấy ; nguồn lao động phân bố không đồng đều giữa các ngành các vùng :80%ở nông thôn ,70%làm trong lĩnh vực nhà nước; 14% sống, làm việc trong khu vực nhà nhà nước ; 10% lao động tiểu thủ công nghiệp; 90% lao động thủ công.

    Do năng suất lao động thấp nên tình trạng thiếu việc làm vẫn diễn ra thường xuyên cả ở thành thị và nông thôn, cả số lao động trong khu vực nhà nước và quốc doanh.

    Theo một số nhận định thì trong những năm đầu của thế kỷ này tình trạng dư thừa lao động vẫn diễn ra. Lao động ở nước ta chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp công nhân phần biên chế… Song do nhu cầu CNH, HĐH yêu cầu con người lao động phải có tay nghề, có chuyên môn thì vấn đề việc làm một nan giải.

    Trong quá trình CNH, HĐH đất nước hiện nay đang cần nhiều lao động có trí tuệ, có thể coi đây là điều kiện để đảm bao cho sự phát triển bền vững, nhanh chóng nền kinh tế.

    Trong một số năm gần đây trí thức Việt Nam phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay cả nước có khoản trên 80 vạn trí thức đã đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng đất nước. Song so với yêu cầu thực tế của quá trình CNH, HĐH thì con số đó quả là khiêm tốn và chất lượng còn hạn chế.

    Không những thế, đội ngũ tri thức ở nước ta còn phân bố không đều phần lớn tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội… và một số trung tâm công nghiệp khác. Điều đó là do tác động của cơ chế thị trường đối với sự phân công lao động trong cả nước. Do chính sách đầu tư không đảm bảo cân đối giữa các ngành, giữa các vùng nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. ở những vùng này rất ít trí thức mà nếu có thì chất lượng rất hạn chế do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan do yếu tố tâm lý của người dân tộc nên việc bồi dưỡng, nâng cao việc giáo dục đào tạo lại chưa được chú ý một cách thoả đáng.

    Trong khi số người được đào tạo giảm thì số sinh viên tốt nghiệp, đại học, cao đẳng, không tìm được việc làm lại tăng lên theo thống kê chưa đầy đủ thì từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng ở khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% lên 35,38* đến nay khoảng 40%. Việc số sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm là do một số ngành đào tạo chưa được cơ chế thị trường châps nhận.

    2.2.1. Ưu điểm.

    Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức. Hội nghị Trung ương 6 khoá IX nhận định đội ngũ lao động của Việt Nam đang có bước phát triển mới: “lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng 17,2%/năm từ hơn 800.000 năm 1995 đến 1.300.000 năm 2000. Số lao động qua đào tạo chiếm gần 20% năm 2000”.

    Theo Bộ Lao động thương binh – xã hội thì số người trong độ tuổi lao động là 60-66% dân số (khoảng 48,5 triệu người). Có 40,7 triệu người  từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên (thành thị có 9,7 triệu người, nông thôn có 31 triệu người). Đặc biệt chúng ta có “mỗi năm ta có thêm 1,2 triệu việc làm mới”.

    Ngoài ra thì người lao động còn được các trung tâm xúc tiến và giới thiệu việc làm, trung tâm đào tạo và dạy nghề giúp mình tiếp cận việc làm hoặc tự tạo việc làm cho  mình.

    Không để sự hụt hẫng về thế hệ thì Nhà nước đã quan tâm đến vấn đề giáo dục các cấp, chúng ta đã có những thành công: “Hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập tiểu học trong cả nước, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng, một số thành phố, số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. “Năm học 1999 – 2000 so với năm 1994 – 1995 số học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần. Trung học cơ sở gấp 1,6 lần. Trung học phổ thông gấp 2,3 lần. Đào tạo đại học gấp 3 lần.Đào tạo nghề gấp 1,8 lần”. Ở bậc đào tạo đại học Nhà nước không chỉ quan tâm đến số lượng học sinh vào đại học mà còn quan tâm đến ngành nghề đào tạo để phục vụ cho nhu cầu của đất nước. “Đặc biệt chú trọng đào tạo chất lượng cao một số ngành công nghệ, kinh tế và quản lý Nhà nước để đáp ứng nhu cầu nhân lực và nhân tài của đất nước.

    Vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng được quan tâm điều này thể hiện qua kết quả. Một số bệnh viện được ânước ngoài cấp cải tạo và xây dựng mới. Trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng được hình thành. Nhiều nơi triển khai tốt chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo, gia đình có công với cách mạng.

    2.2.2. Hạn chế.

    Tuy đạt được một số thành công bước đầu nhưng chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế rằng đã có sự chênh lệch giữa lao động nông thôn và thành thị cả về số lượng và chất lượng. Số lao động ở nông thôn là 31 triệu người thì ở thành phố là 9,7 triệu người nhưng số lao động chưa biết chữ ở nông thôn cao gấp 6 lần ở thành thị. Số lao động qua đào tạo ở nông thôn là 11,98% còn ở thành thị là 44,6%

    Cũng như vậy, cơ cấu đào tạo đội ngũ lao động tính theo tỷ lệ giữa lao động có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1:1,75: 2,3 vẫn là cơ cấu bất hợp lý dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, kỹ sư phải đi làm việc của công nhân kỹ thuật

    Hiện nay chúng ta có hơn 1 triệu cán bộ các ngành có trình độ đại học với tỷ lệ sư phạm 33,3%; khoa học kỹ thuật 25,5%; nông nghiệp 8,1%; khoa học tự nhiên 6,8% ta thấy nước ta đang còn là một nước nông nghiệp mà chỉ có 8,1% cán bộ nông nghiệp được đào tạo qua đại học một con số quá ít chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá, bên cạnh đó còn phần lớn sinh viên sau khi ra trường không có việc làm, nếu có thì không đúng với chuyên ngành mà mình được đào tạo dẫn đến lãng phí trong đào tạo.

    Việc học tập ở mọi cấp bị chi phối bởi nhiều tâm lý lấy số lượng đào tạo, lấy bằng cấp. Chưa quan tâm đến chất lượng đào tạo tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan

    Công tác bồi đưỡng và sử dụng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức, chưa có những chính sách đối với những cán bộ khoa học và công nghệ. Cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ cao ở nước ta là rất ít. “Vào cuối năm 2002 chúng ta có 1032 giáo sư và 4563 phó giáo sư”. Trong khi đó các cán bộ này đã cao tuổi, ít có những cán bộ trẻ kế cận. Sự hụt hẫng về cán bộ khoa học nếu không được quan tâm thì sảy ra là điều tất yếu.

    Chế độ khen thưởng và tiền lương cho giáo dục đào tạo chưa hợp lý, còn tồn tại chế độ tiền lương của những giáo viên, giảng viên còn thấp so với người lao động bình thường.

    2.2.3. Nguyên nhân

    1. Về mặt ưu điểm

    Do Nhà nước đã quan tâm đến vấn  đề giáo dục, nhận thức được vấn đề con người và nguồn  nhân lực với sự phát triển của đất nước. Có mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ ngoài có trình độ khoa học, kinh tế, quản lý còn chú ý xây dựng tư tưởng cạnh tranh, tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình. Có lý tưởng XHCN tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học và chí tiến thủ.

    Do đặc điểm của lao động Việt Nam: số lượng lao động lớn đa số là lao động trẻ có thể lực, trí lực dồi dào. Các lao động của thế hệ trước thì cũng nhanh chóng thay đổi được nếp cũ chấp nhận sự năng động, chấp nhận đào tạo lại. Thế hệ trẻ thích nghi nhanh với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

    b.Về mặt nhược điểm

    Chưa có một cơ quan tổ chức cụ thể phát triển và đào tạo nguồn nhân lực. Buông lỏng quản lý cơ cấu đào tạo để phát triển tự phát theo nhu cầu của người dân, còn nặng tâm lý khoa cử chưa quan tâm đến thực nghiệm. Việc đào tạo chưa bám sát cơ cấu lao động, một bộ phận xã hội nhận thức chưa đúng với sứ mệnh đào tạo nghề của giáo dục đại học.

    Mặt khách quan: thị trường lao động chủ mới hình thành làm cho đào tạo của nước ta chưa bám sát vào cơ cấu lao động. Chưa có một chiến lược đào tạ và quản lý nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI Ở VIỆT NAM

    3.1. Đào tạo trước đòi hỏi của kinh tế tri thức

    Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại với đặc trưng là cách mạng tri thức, cách mạng thông tin phát triển như vũ bão, đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong mọi hoạt động của xã hội loài người, từ cách sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đến quan hệ xã hội, văn hóa, lối sống, làm thay đổi cả những khái niệm và phương pháp tư duy. Xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển, loài người đang bước vào nền văn minh trí tuệ. Con người phải có đủ năng lực để thích nghi và thúc đẩy xu thế phát triển đó. Nước nào không có nguồn nhân lực tài năng sẽ bị gạt ra ngoài lề. Trên phạm vi toàn thế giới đang diễn ra một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng để thích ứng với sự phát triển mới.

    Nhân tố cơ bản nhất để phát triển nền kinh tế tri thức là nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên nền giáo dục tiên tiến. Kinh tế tri thức có  nhiều khác biệt cơ bản so với kinh tế công nghiệp, do đó đòi hỏi phải đổi mới, cải cách nền giáo dục. Bởi vì, thứ nhất, trong nền kinh tế tri thức vốn tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên; giáo dục – đào tạo với chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức trở thành ngành sản xuất cơ bản nhất. Do đó, vị trí, vai trò của giáo dục thay đổi cơ bản. Thứ hai, sáng tạo đã trở thành động lực quan trọng nhất. Nếu như trong nền kinh tế công nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh và việc tạo ra giá trị mới chủ yếu là do hoàn thiện, tối ưu hóa cái đã có, thì trong nền kinh tế tri thức việc nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do sáng tạo ra cái mới. Cái có giá trị nhất là cái chưa biết, cái đã biết thì dần sẽ mất đi. Con người không có năng lực thì không có chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Thứ ba tốc độ đổi mới rất nhanh. Trong nền kinh tế công nghiệp, sản phẩm có thể tính bằng thập kỷ, con trong nền kinh tế tri thức, chu kỳ tính bằng năm, thậm chí bằng tháng. Sản phẩm mới tăng lên không ngừng, vòng đời công nghệ và sản phẩm rút ngắn, tốc độ đổi mới ngày càng tăng nhanh trong tất cả các ngành, các doanh nghiệp. Tốc độ trở thành cái trên hết, người ta làm việc theo tốc độ của tư duy. Các doanh nghiệp buộc phải đổi mới, doanh nghiệp nào không kịp thời đổi mới sẽ bị tiêu vong. Cứ mỗi sáng chế mới ra đời là xuất hiện một doanh nghiệp mới, đó là những doanh nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học.

    Hoạt động chính trong nền kinh tế tri thức là tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức. Tạo ra tri thức là mục đích của các hoạt động nghiên cứu sáng tạo do những người được đào tạo tốt tiến hành. Truyền bá tri thức tức là nhân lên vốn tri thức, làm cho vốn tri thức xã hội tăng lên nhanh chóng, đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục. Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức. Vì vậy, người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức. Sử dụng tri thức là quá trình đổi mới, biến tri thức thành giá trị, đưa tri thức vào trong hoạt động xã hội của con người. Đó cũng là nhiệm vụ của giáo dục đặc biệt là giáo dục thường xuyên. Trong thời đại cách mạng thông tin, cách mạng tri thức quá trình tạo ra tri thức, truyền bá tri thức và sử dụng tri thức không còn là quá trình kế tiếp nhau mà trở thành đan xen nhau, tương tác nhau; và cái quan trọng nhất là sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị. Giáo dục phải tạo ra con người có tri thức và biết sử dụng tri thức trong hoạt động thực tiễn để tạo ra nhiều giá trị mới.

    3.2. Cải cách giáo dục để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

    Đảng ta từ rất sớm đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục – đào tạo, coi giáo dục – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến nay đã có hơn 20% số người lao động qua đào tạo trong số đó có khoảng 1,5 triệu người tốt nghiệp đại học và cao đẳng: 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ. Trình độ học vấn của đội ngũ công nghiệp kỹ thuật được nâng cao khá nhanh. Nguồn nhân lực ấy đã góp phần lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa, yêu cầu “đi tắt đón đầu”, đẩy nhanh và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực hiện có của nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập. So với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực của nước ta còn thua kém về số lượng, cơ cấu cũng như về trình độ, năng lực.

    Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, trước hết Nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực (khoa học – công nghệ, quản lý kinh doanh, văn học – nghệ thuật, các nghệ nhân…). Thực hiện việc đánh giá đúng và trả thù lao xứng đáng với kết quả lao động sáng tạo của đội ngũ tri thức, không để lẫn lộn người có tài với kẻ bất tài; có chính sách tích cực để khuyến khích cán bộ khoa học tiến thân bằng những cống hiến do năng lực chuyên môn của mình. Xây dựng và thực hiện cơ chế đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, sàng lọc hợp lý; thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ trí thức. Có sử dụng tốt thì mới có giáo dục tốt. Có trọng dụng người tài thì mới có nhiều người tài.

    Nền giáo dục nước ta phải thực sự đổi mới để đảm bảo đào tạo được một thế hệ trẻ có đủ năng lực làm chủ đất nước. Không có nền giáo dục tốt thì không tạo dựng được nội sinh về khoa học – công nghệ để trụ vững trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay nhằm phát triển nhanh đất nước. Ai đó còn nghĩ rằng nếu có nhiều vốn thì có thể mua tri thức được tri thức, mua công nghệ của nước ngoài để phát triển, thì hãy nhìn lại bài học không thành công ở một số nước giàu tài nguyên mà không có năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ. Truy cập vào kho tri thức toàn cầu, mua công nghệ là việc nhất thiết phải làm đối với những nước đi sau, nhưng nếu không có đủ năng lực tri thức nội sinh thì chỉ có được tăng trưởng nhất thời, sau đó là sự tụt hậu và lệ thuộc.

    Nền giáo dục phải thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản.

    Một là, nâng cao mặt bằng dân trí, mỗi người dân đều có khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức mới cần thiết cho công việc của mình. Mặt bằng dân trí phải theo kịp mức các nước tiên tiến trong khu vực.

    Hai là, phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao thích nghi với sự đổi mới và phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa vào tri thức.

    Ba là, phải chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân tài. Nếu đến năm 2010 nước ta không có được ít nhất một vạn các chuyên giỏi, đầu đàn trong tất cả các lĩnh vực thì khó tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế theo hướng dựa vào tri thức.

    Đi đôi với việc nâng cao chất lượng giáo dục, cần phát triển nhanh quy mô giáo dục. Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào trước năm 2010, phổ cập giáo dục trung học vào năm 2015, nâng số năm đi học bình quân của người trong độ tuổi lao động lên 9 năm vào năm 2010, lên 12 năm vào năm 2020. Nâng tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân ngang với các nước xung quanh. Tuy số người đi học hiện nay so với số dân khá cao, số người đi học đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp tăng khá nhanh, nhưng so với yêu cầu hiện đại hóa dựa vào tri thức cũng như so với yêu cầu của các nước đang phát triển thì còn thấp. Xét về tỷ lệ đi học trong độ tuổiở bậc trung học, số sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân, nước ta kém xa Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a. Hiện nay, có hiện tượng sinh viên học xong ra trường không có việc làm, nhưng đó chỉ là tạm thời, do sản xuất, kinh doanh chưa bùng phát; và cũng do chất lượng đào tạo thấp nên nhiều người không tìm được việc làm bởi họ không đủ năng lực, tiêu chuẩn của nhà tuyển dụng yêu cầu. Nếu đào tạo tốt, người học ra trường có nhiều khả năng sáng tạo, biết tổ chức ra việc làm mới, thì các doanh nghiệp mới sẽ phát triển và thu hút nhiều việc làm. Các doanh nghiệp nếu biết đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm nhanh thì cũng sẽ thu hút đựơc nhiều lao động có tay nghề cao. Một trong những mục tiêu của giáo dục ở nhà trường là đào tạo cho các học sinh, sinh viên khả năng tự tạo việc làm. Như vậy chúng ta phải phát triển nhanh giáo dục phổ thông và giáo dục cho mọi người. Cần hết sức quan tâm giáo dục trẻ thơ vì đó là nền tảng cho cho phát triển nền giáo dục sau này. Đầu tư vào đây nhiều thì sẽ bớt được chi phí cho sự khắc phục những khiếm khuyết về chất lượng giáo dục trong tương lai.

    Phát triển hệ thống học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dưỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn dựa trên tri thức. Trong một nền kinh tế dựa vào tri thức thì mọi người đều phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để có thể thích nghi với sự phát triển và đổi mới nhanh của khoa học – công nghệ, sản xuất, kinh doanh. Xã hội học tập và xã hội thông tin là tiền đề cho nền kinh tế tri thức. Hệ thống giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện cho mọi người ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể tham gia học tập nâng cao trình độ để theo kịp sự phát triển của thời đại. Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục. Huy động sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức cá nhân tham gia phát triển giáo dục; đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước trong việc hình thành xã hội học tập và chế độ học tập suốt đời. Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân và nhân dân tham gia phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập; khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo ở nước ta. Đa dạng hóa phải đi đôi với chuẩn hóa. Coi trọng cả giáo dục cơ bản và giáo dục đại học; cả giáo dục cho mọi người và giáo dục tinh hoa. Nhiệm vụ cấp bách là phải tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong giáo dục, cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, hệ thống giáo dục và phương thức tổ chức quản lý giáo dục – đào tạo.

    Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người có đủ khả năng, bản lĩnh thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện: dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Học là để xây dựng nhân cách, xây dựng năng lực cho con người; học để có thể làm việc trong cộng đồng, cống hiến cho xã hội, để có thể tự khẳng định mình. Kiên quyết khắc phục tình trạng đi học chỉ để lấy bằng cấp, mà không quan tâm đến xây dựng năng lực. Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển.Kiên quyết khắc phục phương pháp giảng dạy cũ kỹ, lac hậu, thầy giảng trò ghi, thụ động một chiều. Nội dung chương trình phải hiện đại nhưng tinh giản. Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản nhất, và giúp người học biết nhân lên vốn tri thức của mình, hướng dẫn người học cách tiếp thu tri thức mới, bồi dưỡng cho họ những kỹ năng cần thiết, phương pháp tư duy, trí sáng tạo…, thông qua các trường hợp điển hình để bồi dưỡng phương pháp và năng lực giải quyết vấn đề. Tăng cường sự tương tác giữa thầy giáo và sinh viên, sử dụng công nghệ mới nhất là công nghệ thông tin trong giảng dạy. Tăng cường dạy công nghệ thông tin trong tất cả các bậc học. Giáo dục đại học đi theo xu thế đào tạo theo diện rộng; đào tạo chuyên ngành hẹp không cònphù hợp với sự thay đổi ngành nghề, thay đổi việc làm đang diễn ra ngày càng nhanh hiện nay.

    Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống – đào tạo kỹ năng để ra làm việc cho đến nghỉ hưu, sang mô hình giáo dục mới: học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa học tập, vừa làm việc suốt đời. Theo mô hình này, khi kết thúc mỗi bậc học, người học có hai khả năng lựa chọn: hoặc là học tiếp hoặc là ra trường vừa lao động vừa tiếp tục học tập.

    Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản lý giáo dục, tập trung vào vấn đề quản lý chất lượng. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, tăng cường thanh tra kiểm tra, thay đổi cách tổ chức thi cử, tuyển sinh, khắc phục tình trạng nặng về quản lý đầu vào, nhẹ quản lý đầu ra; kiên quyết chống bệnh thành tích. Tăng quyền chủ động cho các trường công lập cũng như các trường ngoài công lập. Bộ và các Sở Giáo dục – Đào tạo tăng cường chức năng quản lý Nhà nước, nhất là thanh tra chất lượng giáo dục đối với tất cả các trường, không làm thay các công việc của trường, xóa bỏ cơ chế xin – cho. Các trường chủ động thực hiện quá trình đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo. Trong nền kinh tế thị trường, có thị trường lao động, thì sản phẩm của giáo dục cũng là một thứ hàng hóa, là hàng hóa đặc biệt, là dịch vụ công, phải được thị trường đánh giá, lựa chọn, chấp nhận. Không cho phép thương mại hóa giáo dục, biến trường thành chợ, vì lợi nhuận tối đa; nhưng cần vận dụng cơ chế thị trường để huy động các nguồn lực và tạo thêm động lực cho phát triển giáo dục. Trong một xã hội có hệ thống đánh giá , sử dụng, đãi ngộ đúng đắn thì sự cạnh tranh giữa các trường sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà nước vừa chăm lo xây dựng một số trường trọng điểm chất lượng cao, ngang tầm quốc tế; vừa thực hiện chính sách công bằng xã hội, tạo điều kiện để những người nghèo, những đối tượng chính sách, có hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội học tập để phát huy hết khả năng của mình.

    Mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục – đào tạo với nước ngoài. Cần mở rộng giao lưu về giáo dục với các nước, tiếp cận với những mô hình giáo dục tiên tiến nhất, để vận dụng sáng tạo vào nước ta. Có chính sách tuyển cử đông đảo giáo viên, sinh viên đi học tập , nghiên cứu ở các nước phát triển và thu hút nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài vào nước ta giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm. Mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết các trường đại học ở nước ta với các trường đại học ở nước ngoài để đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các đại học quốc tế ở nước ta, được các trương uy tín trên thế giới cấp bằng.

    Cải cách giáo dục là cuộc cách mạng sâu sắc không chỉ trong ngành giáo dục mà còn trong cẩ xã hội, bắt nguồn từ sự đổi mới tư duy về giáo dục. Ngành giáo dục đã cố gắng xử lý rất nhiều vấn đề, nhưng hầu như mới chỉ là những vấn đề ngọn, cắt gọt được cái này thì phát sinh cái khác, đối phó, giải quyết từng vụ việc, chưa thay đổi tận gốc, có thể do còn vướng mắc trong tư duy. Nếu không có quyết tâm cao trong cải cách giáo dục, không có bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục thì sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước, trước hết là các nước ASEAN. Muốn chấn hưng đất nước cần phải cải cách giáo dục, nhanh chóng đưa nền giáo dục nước ta lên ngang mức tiên tiến các nước trong khu vực.

    KẾT LUẬN

    Trong các ký đại hội VI, VII, VIII của Đảng ta đã chủ trương xã hội nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt bởi chủ trương đó xuất phát từ trình độ và hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta về các mặt. Chúng ta, thực hiện quá trình CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đã khơi dậy năng lực sáng tạo, tính chủ động của con người phát triển. Do đó, mà nền kinh tế của chúng ta đã thực sự được đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn. Từ một nước nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về khoa học kỹ thuật, đói kém, thì nay ta đã đảm bảo cho dân được ăn no, và còn có sp dư thừa để xuất khẩu.

    Mặc dù vậy, chúng ta vẫn còn rất nhiều khó khăn ở phía trước đòi hỏi nhà nước phải có chính sách, biện pháp khắc phục để cho sự nghiệp CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đạt được kết quả.

    Hơn nữa, chúng ta phải đặt vấn đề nhân lực con người lên hàng đầu phát triển đồng bộ giữa các ngành, giữa các vùng, đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý đảm bảo công cuộc CNH, HĐH phát triển nhanh. Phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về kinh tế có trình độ, năng lực quản lý, có tư cách đạo đức tốt điều đó đòi hỏi ta phải có sự giáo dục đào tạo thế hệ trẻ ngay từ khi còn là học sinh, sinh viên đó là nguồn lực quý giá cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Triết học Mác_Lênin.
    2. Đảng CSVN – Cương lĩnh XH Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. NXB Sự thật, Hà Nội 1991
    3. Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII.
    4. Một số nhận thức mới về con đường XHCN của Việt Nam – Tg: PTS. Đào Duy Quát- Cao Thái- NXB Tư tưởng Văn hoá 1992
    5. Môi trường kinh doanh – Đạo đức kinh doanh – NXB-Hà Nội 1997
    6. Kinh tế tri thức- Xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI – NXB Chính trị quốc gia 2000.
  • Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    LỜI NÓI ĐẦU

     

     

    Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta. Bước vào thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Học tập, quán triệt những quan điểm cơ bản và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống xã hội toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là nhân tố quyết định thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

    Em chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội” để nghiên cứu. Lí do em chọn đề tài này là em nhận thấy trong di sản của Người tư tưởng về đạo đức chứa đựng những nét đặc sắc ngang tầm thời đại, là kim chỉ nam xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong giai đoạn đất nước ta đang đổi mới. Đặc biệt khi em đang là sinh viên đang học tập tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, em sẽ phải rèn luyện và tu dưỡng đạo đức rất nhiều.

    Trong quá trình làm tiểu luận có nhiều sai sót em kính mong sự góp ý và giúp đỡ của thầy cô giáo trong Khoa. Em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

     

    I.                   TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

     

    Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và xã hội.

    Hồ Chí Minh là lãnh tụ bàn nhiều nhất về đạo đức, nhưng Người thực hành về đạo đức nhiều hơn những điều Người đã nói và viết về đạo đức. Vì thế muốn nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh thì không thể chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói mà phải thâm nhập vào toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người và những tiếng nói tâm huyết của các học trò và bạn bè quốc tế về Người.

    1. Nguồn gốc đạo đức Hồ Chí Minh

    1.1. Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam

    Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã xây dựng được một hệ giá trị đạo đức độc đáo đặc sắc, đó là: Lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập tự do hạnh phúc. Thấy được sức mạnh của đoàn kết, lấy dân làm gốc, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo. Thủy chung gắn bó cá nhân, gia đình, làng xã, nếp sống nghĩa tình đạo đức, trung hiếu, cần kiệm liêm chính,….

    Từ hệ giá trị đạo đức dân tộc này Hồ Chí Minh tiếp thu, khai thác, và nâng cao những giá trị đó lên trình độ mới.

    1.2. Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị đạo đức nhân loại

    – Giá trị đạo đức phương đông, trước hết là nho giáo

    • Xuất thân từ gia đình tri thức uyên bác nho học, Người thấy những giá trị đạo đức của Nho giáo, coi Nho giáo như khoa học về tu thân dưỡng tính, khắc kỹ, phục lễ, vi nhân, kính trọng người lao động, dân là gốc của nước (dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi), tứ hải giai huynh đệ, nhân nghĩa, trung hiếu, cần kiệm, liêm chính.
    • Người viết: Đạo đức Khổng tử, học vấn của ông, những kiến thức của ông làm những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục… Chúng ta hãy tự hoàn thiện đạo đức của mình bằng cách đọc các tác phẩm của ông.
    • Người chỉ ra những hạn chế của Nho giáo: Tư tưởng đẳng cấp, coi khinh lao động chân tay, phụ nữ, KHKT, tài năng, dùng học thuyết chính danh quân tử, tiểu nhân để chuyên chế xã hội làm cho xã hội trì trệ, chậm phát triển.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị đạo đức của tôn giáo:

    Đó là tư tưởng từ bi, cứu nạn cứu khổ, thiện chí, bình đẳng, an lạc, hạnh phúc, sống hòa hợp với môi trường, tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức của Phật Giáo.

    Tư tưởng bao dung nhân ái, hy sinh cao cả của Thiên chúa.

    Tư tưởng tự do bình đẳng bác ái, coi trọng con người trong văn hóa phương Tây, trong tuyên ngôn độc lập Pháp, Mỹ.

    1.3. Đến với đạo đức Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức

    Đến với CN Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã khám phá ra kho tàng đạo đức MacXit, đó là thứ đạo đức đích thực, cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xã hội, mang lại tự do, ấm no, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho con người, vì sự tiến bộ, phát triển xã hội, đưa nhân loại từ chỗ bị tha hóa đến vương quốc tự do, vương quốc đích thực, chủ nghĩa nhân đạo đích thực.

    Hồ Chí Minh còn thấy được ở Mac, Aghen, LêNin là những tấm gương đạo đức sáng ngời, họ không chỉ là những lãnh tụ thiên tài về chính trị mà còn là những lãnh tụ giản dị, khiêm tốn, coi khinh xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng… là hiện thân của tình anh em bốn bể. Họ dạy chúng ta phải cần kiệm, liêm chính.

    Hồ Chí Minh chỉ rõ đạo đức cũ và đạo đức Mac-Lê Nin đối lập nhau. Đạo đức mới là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, dân tộc, nhân loại, nó đòi hỏi phải phá tan xiềng xích nô lệ, xây dựng xã hội mới bình đẳng tốt đẹp cho mọi người.

    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng vô sản, mang bản chất cách mạng và khoa học, đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp tinh hoa giữa nhân loại, là 1 hệ thống mở phát triển cùng với thực tiễn Việt Nam, góp phần tạo dựng bộ mặt văn hóa Việt Nam, là vũ khí tinh thần trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường XHCN.

    1. Những đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    2.1. Sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị

    Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, là đạo đức Vô sản, là đạo đức cách mạng nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người phục vụ tổ quốc, nhân dân, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Các quan điểm đạo đức của người luôn thấm nhuần những tư tưởng chính trị và ngược lại, nhiều quan điểm vừa là chính trị vừa là đạo đức (trung với nước hiếu với dân).

    2.2. Thống nhất giữa tư tưởng và hành vi, động cơ và hiệu quả, lý luận và thực tiễn

    Hồ Chí Minh nói, viết, giáo dục đạo đức luôn gắn với hành động thiết thực, thể hiện bằng kết quả công việc, lý luận đạo đức luôn gắn với đời sống. Mỗi hành vi của Người đều chứa đựng tư tưởng đạo đức cao thượng, đẹp đẽ.

    Người thường nhắc nhở: Nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả công việc để đo đạo đức, quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói mà phải thể hiện trong hành động, nói trung với nước hiếu với dân thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

    2.3. Thống nhất giữa đức và tài

    Đức và tài gắn chặt nhau, vì có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì vô dụng, thậm chí còn có hại.

    Giữa đức và tài thì đức là gốc, trong đức có tài và trong tài có đức, tài càng cao thì đức càng lớn, con người phải có tài và đức thì mới làm tròn nhiệm vụ.

    2.4. Thống nhất giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, giữa việc nhỏ và việc lớn

    Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức đời thuờng, trong đó phải đặt đạo đức cách mạng trên hết, hi sinh phấn đấu vì tổ quốc, vì nhân dân, không quên rèn luyện đạo đức trong những việc nhỏ.

    Rèn luyện đạo đức trong mọi môi trường, mọi phạm vi từ gia đình đến môi truờng đến xã hội, nơi sinh hoạt, công tác và cần phải có sự phối hợp giữa các môi trường để giáo dục đạo đức toàn diện cho con người, rèn luyện đạo đức trong mọi mối quan hệ

    2.5. Đạo đức cần cho mọi người nhất là cho những người cách mạng, cho cán bộ, đảng viên

    Bác không để lại 1 tác phẩm chuyên về đạo đức, nhưng đạo đức Người đề cập liên quan tới mọi tầng lớp nhân dân, lứa tuổi, ngành nghề.

    • Quân đội: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
    •   Công an: Đối với tự mình cần kiệm liêm chính, đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép, đối với công việc phải tận tụy, đối với kẻ địch phải kiên quyết và khôn khéo, đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.
    •  Thanh niên: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, có chí ắt làm nên.
    • Phụ nữ: Trung hậu, đảm đang.
    • Thiếu niên: Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt, giữ gìn vệ sinh thật tốt, khiêm tốn thật thà dũng cảm.

    Người luôn nhấn mạnh phải rèn luyện đạo đức trong điều kiện Đảng cầm quyền .

    Người cầm quyền có sức mạnh để bảo vệ thành quả của cách mạng. Nhưng nếu tha hóa đạo đức, người cầm quyền trở thành sâu mọt, tham quyền cố vị, đe dọa sự sống còn của Đảng.

    2.6. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò to lớn đối với dân tộc và nhân loại

    Những đức tính như khiêm tốn, độ lượng, giản dị, thật thà, tự nhiên, tình yêu nhân loại, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư đã để lại dấu ấn không phai mờ trong lòng dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại tiến bộ trên thế giới hôm nay và mai sau.

     

    1. Quan điểm về vai trò của đạo đức cách mạng

     

              Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu; phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.  Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên của Việt Nam từ những năm 1920 là bài giảng về “tư cách của một người cách mạng”. Đến khi viết Di chúc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về vấn đề đạo đức, yêu cầu mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, Đảng phải quan tâm chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.

    Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”1.

    Người so sánh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.

    Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải “viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

    Vai trò của đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng cao thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.

    Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải một chiều phụ thuộc vào tồn tại xã hội, vào những điều kiện vật chất kinh tế. Nó có khả năng tác động tích cực trở lại, cải biến tồn tại xã hội. Giá trị đạo đức tinh thần một khi được con người tiếp nhận sẽ biến thành một sức mạnh vật chất.

    Có  đạo  đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản…; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v..

    Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức – tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi.

    1. Nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng HCM

    4.1 Tu dưỡng đạo đức cách mạng bền bỉ suốt đời

    Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà củng cố và phát triển cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì thế phải gian nan rèn luyện mới thành công. Rèn luyện phải tự nguyện tự giác.

    4.2 Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm

    Nói nhưng không làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo là đặc trưng của giai cấp bốc lột. Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm, ở phương đông một tấm gương sống về đạo đức còn giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền.

    Trong rèn luyện thực hành đạo đức phải chú trọng đạo “làm gương”. Muốn hướng dẫn nhân dân thì mình phải mực thước, khiến cho người ta bắt chước. Hô hào tiết kiệm mình phải tiết kiệm trước làm trước, Đảng viên đi trước làng nước đi sau…

    4.3 Xây dựng đạo đức mới đi đôi với chống những hiện tượng phi đạo đức

    Chống cái xấu, sai, ác phải đi đôi với xây dựng cái tốt đẹp, cái thiện, trong đó xây là chính.

    Cách mạng là nhiệm vụ nặng nề, luôn có 3 kẻ thù chống phá là CNĐQ, chủ nghĩa cá nhân, những thói quen & tập quán lạc hậu. Đạo đức cách mạng vô luận là lúc nào cũng phải chống 3 kẻ thù trên.

    II.                VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

     

    1. Đặt vấn đề

    Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng người, một nước, một khu vực nhất định. Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn. Những qui tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ… Trong số đó, có những qui tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen. Đó là lối sống cá nhân. Có những qui tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó. Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên. Đó là lối sống cộng đồng. Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng. Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng. Lối sống là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một con người. Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mối quan hệ.

    1. Thực trạng

    Hiện nay, Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nước theo công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là một quá trình khó khăn, đầy thử thách mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta đã đạt được một số thành tựu khả quan: Tỷ lệ tăng trưởng GDP năm 2003 đạt mức cao nhất so với các năm trước – 7,24%, nạn thất nghiệp giảm bớt, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao cả về mặt chất cũng như mặt lượng. Và trong giai đoạn phát triển này thì không thể không kể đến vai trò của lớp trẻ mà cụ thể là Sinh viên – thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thì lối sống, cách nghĩ của sinh viên cũng biến chuyển theo: Có rất nhiều Sinh viên đã trưởng thành và phát huy mọi khả năng của mình để góp một phần sức lực trong việc đổi mới đất nước, cũng có nhiều sinh viên đã biết vượt qua số phận nghiệt ngã của chính mình để học tập. Đồng thời đó cũng không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt các tệ nạn như: đua xe, ma tuý, cờ bạc, rượu chè… ngày càng xâm nhập sâu vào giảng dường. Tất cả những điều đó trở thành điều nhức nhối cho toàn xã hội. Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”. Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.

    Đối với Sinh viên trường ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây.

    • Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. v… Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
    • Tính năng động: Nhiều Sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là Sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện). Nhiều Sinh viên cùng một lúc học hai trường.
    • Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: Sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân.
    • Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong Sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
    • Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là Sinh viên. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh vŕ quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận Sinh viên.

    Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.

    Em có đọc được bài viết này và nhận thấy rằng thực trạng đó rất giống với Sinh viên trường ta:

    “THẤY GÌ QUA LỐI SỐNG SINH VIÊN THỜI NAY
    Trương Hiệu
    Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay.

    60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội!
    Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ!
    Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này.

    10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!
    Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới…”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập…”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ…”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng “sành điệu”. Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến quên cả lối về!

    30% sinh viên say mê học tập?
    Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập.

    Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh.”

    (Nguồn: chungta.com)

    1. Giải pháp

    Dưới đây là ý kiến chủ quan của riêng em:

    * Ở nhà trường, cần dạy Sinh viên những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu lạc hậu không còn phù hợp, cần phải đưa Sinh viên vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Cần thay đổi cách đánh giá sinh viên thay cách đánh giá đơn thuần bằng điểm số. Nên có quy định khi đánh giá xếp loại hạnh kiểm sinh viên hàng năm, giáo viên phải ghi rõ những mặt mạnh, yếu, mặt nào cần rèn luyện, những biểu hiện sai lệch để học sinh cố gắng trong năm sau. Cần đưa ra những tiêu chí định hướng cho sinh viên rèn luyện cũng như những điều cần nhận xét như: năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sở trường, cá tính, ý thức tập thể, chuyên cần, thái độ với mọi người.

    * Ở gia đình, các bậc phụ huynh nên dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con lòng khoan dung, sự độ lượng vị tha và những chuẩn mực, giá trị đạo đức mà con người phải sống theo, dạy con điều hay lẽ phải. Nhưng để làm được điều đó, trước hết cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo. Trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thì những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm, nhưng nếu các bậc cha mẹ đã không đóng đúng vai trò của mình thì đừng đòi hỏi những đứa con ở nhà sẽ trở thành một công dân tốt. “Môi trường tạo nên tính cách”, vì thế nếu cha mẹ rượu chè, cờ bạc, vi phạm pháp luật thì hình ảnh của họ sẽ như thế nào trong mắt con cái ?

    * Ra ngoài xã hội, Sinh viên cần được quan tâm nhiều hơn nữa từ các ban ngành, đoàn thể mà cụ thể trước nhất là Đoàn thanh niên. Các tổ chức Đoàn hiện nay chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục đạo đức làm người cho thanh niên, cụ thể là trong những chương trình trọng điểm ở Đại hội Đoàn các cấp đưa ra chưa nhận thấy được diễn biến phức tạp trong tâm lý, đời sống lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay, không có nhiều chương trình & kế hoạch quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, không có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình & nhà trường trong việc quản lý, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Lẽ nào những hành vi, lối sống phi chuẩn của thanh niên trong thời gian qua chưa đủ để xã hội quan tâm ?

    Khi chúng ta mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ chắc chắn cũng sẽ tràn vào. Vấn đề ở đây là không phải và cũng không thể ngăn chặn các luồng văn hóa ấy, mà phải tạo cho từng thành viên trong xã hội, nhất là giới trẻ, sức đề kháng trước các luồng văn hóa, lối sống ấy. Đừng để giới trẻ hiện nay bị tha hóa về đạo đức. Muốn vậy hãy cùng chung tay tạo sức đề kháng cho thế hệ trẻ để tránh những cạm bẫy của xã hội, sống tốt hơn để góp sức mình trong công cuộc sây dựng đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với sinh viên- chúng em, những ngày ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát tốt, chúng em sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn.

    Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước, với một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nêu cao khẩu hiệu “Sinh viên Bách Khoa năng động, sáng tạo, kỷ luật và thanh lịch” – Tuổi trẻ Bách Khoa nguyện phát huy truyền thống anh hùng, chăm chỉ rèn đức luyện tài vì Thủ đô phát triển, vì đất nước phồn vinh, khẳng định vai trò, vị thế của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sinh viên Thủ đô ngàn năm văn hiến, tạo dựng hình ảnh người sinh viên Việt Nam trong thời đại mới có hoài bão, có lí tưởng và có trách nhiệm với xã hội và đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sự năng động của các bạn tình nguyện ĐH Bách Khoa Hà Nội

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tác giả: Nhiều Tác giả

    Nhà xuất bản: NXB Chính trị Quốc gia

    Ngày xuất bản: 06 – 2009.

    1. Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức

    Tác Giả: GS.TS Trần Văn Bính

    Năm xuất bản: 2010.

     

     

    1. Sách, báo, tạp chí và Internet.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

  • Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-kh%C3%A1i-ni%E1%BB%87m-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-%C4%91%E1%BB%83-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A5u-tranh-%C4%91%E1%BB%83-ch%E1%BB%91ng-l%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-quan-%C4%91i%E1%BB%83m-xuy%C3%AAn-t%E1%BA%A1c-c%E1%BB%A7a-k%E1%BA%BB-th%C3%B9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    CHỦ ĐỀ 1:

    Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù.

    1. Quá trình nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trước năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991) có điểm mới là “nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”, và khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc ta”. Cương lĩnh 1991 khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.

    Sau 10 năm, với những thành tựu to lớn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước, tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

    2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    Nội hàm của khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nó không phải là một tập hợp đơn giản những ý tưởng, suy nghĩ cụ thể của Hồ Chí Minh trong những giai đoạn cụ thể.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khái niệm khoa học, vì thế hết sức cô đọng, chặt chẽ, có nội hàm lý luận cao, có sức sống mãnh liệt và giá trị lý luận, thực tiễn rất to lớn không những với cách mạng Việt Nam mà còn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng loài người trên phạm vi toàn thế giới.

    3. Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc

    1. Nhận thức kẻ thù

    – Loại 1: Ác ý: Cho rằng người Việt Nam không có tư tưởng mà đó chỉ là sự bắt chước như vẹt của đông tây chứ bản thân không tạo ra tư tưởng.

    – Loại 2: Cho rằng trong cách mạng và kháng chiến Việt Nam thì có nhà lý luận và nhà tư tưởng nhưng đó là Võ Nguyên Giáp và Lê Duẫn chứ không phải Hồ Chí Minh.

    – Loại 3: Hồ Chính Minh không phải nhà tư tưởng vì hầu như Người không có tác phẩm lý luận nào.

    1. Mục đích xuyên tạc

    Từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản

    – Muốn “hạ bệ thần tượng”

    – Từ sự bất mãn của một số cá nhân.

    1. Đấu tranh chống xuyên tạc chống phá

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là chìa khóa để chống lại một cách có hiệu quả những luận điệu thù địch và sai trái.

    b1. Trước hết phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    “Hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” là nhiều quan điểm liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện rõ tính liên tục, nhất quán. “Toàn diện” là bao quát nhiều lĩnh vực. Đó là tư tưởng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quân sự, ngoại giao…

    Đại hội đồng UNESCO khẳng định Hồ Chí Minh “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại…; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

    “Toàn diện nhưng sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và CNXH; về mục đích cách mạng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, đoàn kết quốc tế; về nền tảng lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: động viên toàn dân, tổ chức toàn dân; v.v.. Tóm lại, đó là “giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

    à Nhận thức như vậy tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

    Đáng phê phán nhất là các quan điểm hết sức nguy hiểm. Họ thừa nhận những vấn đề nêu trên (sau khi không đủ khả năng bác bỏ), nhưng lại cho rằng hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc đó chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không có trong cách mạng XHCN.

    Để phê phán quan điểm này, cần nhận thức rõ trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh có nói “từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN”. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là trở lại cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần nêu mấy điểm chính.

    Một là, Hồ Chí Minh khẳng định cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tức là giành được độc lập dân tộc rồi phải đi tới CNXH.

    Hai là, trong di sản để lại, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải đi tới cách mạng XHCN thì mới thắng lợi triệt để. Người có trên hai mươi lần nêu quan điểm của mình như là những định nghĩa về CNXH.

    Ba là, các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh cho ta một cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam.

    b2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Một số ý kiến cho rằng những vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản như mục tiêu, lực lượng, lãnh đạo, phương pháp, đoàn kết, nền tảng lý luận, v.v… đều đã được đề cập trong học thuyết Mác-Lênin; thậm chí đã được Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, ông cha ta trong lịch sử hàng nghìn năm bàn tới.

    Chúng ta không phủ nhận nhiều vấn đề đã được Mác, Ăngghen, Lênin, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, cha ông ta đề cập. Nhưng chúng ta phải phủ nhận quan điểm cho rằng hễ đã có người đi trước đề cập thì người sau chỉ là nói theo, nói lại.

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh nói rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Rõ ràng là khái niệm cho ta biết Hồ Chí Minh nắm chắc chủ nghĩa Mác-Lênin và hiểu rõ điều kiện nước ta. Điểm chốt ở đây là “điều kiện cụ thể của nước ta”. Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Điều kiện nước ta không giống các nước khác, ít nhất trên hai điểm: Truyền thống lịch sử, văn hóa, con người và nước thuộc địa thời cận đại. Hai điểm này không hoàn toàn tách bạch, mà có sự tiếp nối. Nhưng cũng có nội dung chỉ có trong thời kỳ thuộc địa. Nhận thức như vậy để thấy rằng Hồ Chí Minh không viết lại, nói lại các bậc thầy và những gì trong truyền thống dân tộc; ngược lại, Người đã khắc phục những hạn chế của truyền thống và thiếu hụt trong chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Hạn chế lớn nhất của giá trị truyền thống là lý luận khoa học. Thiếu hụt lớn nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin là những tư liệu lịch sử của các nước thuộc địa phương Đông. Hồ Chí Minh đã lấp đầy những khoảng trống đó. Chỉ cần nêu một số điểm tiêu biểu cũng thấy rõ rằng, nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta thì không thể có thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Thứ nhất, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Còn ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với bọn đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.

    Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng ở Việt Nam trước hết nhằm mục đích giải phóng dân tộc. Vấn đề này ở các nước tư bản châu Âu cơ bản đã được giai cấp tư sản làm. Vì vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin bàn trước hết tới đấu tranh giai cấp và giải phóng giai cấp.

    Thứ ba, quan điểm về Đảng và xây dựng Đảng ở các nước thuộc địa cũng không giống ở các nước tư bản châu Âu. Đảng Cộng sản ra đời ở nước Việt Nam thuộc địa phải có thêm yếu tố phong trào yêu nước và ngay từ đầu Đảng đã cắm rễ sâu trong lòng dân tộc.

    Thứ tư, quan điểm về đoàn kết theo Mác “Giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, và Lênin “Giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” không thể áp dụng máy móc vào Việt Nam, nơi phải đoàn kết “đồng bào”, toàn dân tộc, mọi con dân nước Việt, con Lạc cháu Hồng.

    Thứ năm, ở nước Việt Nam hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và gần trăm năm dưới chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là thực hành dân chủ và đạo đức.

    Thứ sáu, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một nước vốn là thuộc địa, kinh tế và tư duy nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển không thể làm theo cách mà các nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản như ở châu Âu. v.v…

    Vì không nhận thức sâu sắc những vấn đề nêu trên nên có người nghĩ rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng giống Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong lúc đó sự khác nhau là rõ rệt. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cách mạng vô sản: đánh đổ giai cấp tư sản, mục đích là thiết lập nền chuyên chính vô sản, lực lượng công-nông là chủ yếu, quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội… Còn cách mạng Việt Nam tháng 8-1945 là cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản: đánh đổ bọn đế quốc xâm lược, mục đích là giành độc lập dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, quá độ gián tiếp lên CNXH…

    Nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng hệ thống lý luận cách mạng soi đường cho cách mạng Việt Nam thì làm sao chúng ta có thắng lợi nhanh gọn trong thời gian chưa đầy hai tuần của Tháng Tám năm 1945? Và tiếp theo là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, quá độ lên CNXH khi cả nước có chiến tranh với tư duy “chủ nghĩa xã hội thời chiến”.

    Trong “khái niệm” có nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều này cần được hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải xuất hiện từ một mảnh đất trống không, mà trên nền dân tộc. Điều cần nhấn mạnh là dưới ánh sáng cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng cao các giá trị truyền thống lên một chất mới, trình độ mới, tạo nên sức mạnh mới trong thời đại mới. Hồ Chí Minh cũng tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại. Người đã làm giàu trí tuệ của mình và trí tuệ dân tộc bằng những giá trị văn hóa phương Đông như đạo đức, chủ nghĩa tập thể, lòng từ bi hỷ xả…

    Hiện nay, có một số lực lượng thù địch đang cố tình đưa ra những quan điểm thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ và cuối cùng đi tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh song cũng lại có một số quan điểm sai trái, lệch lạc do không nghiên cứu thấu đáo dẫn tới không hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này – hoặc vô tình hay hữu ý – đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch. Để phê phán và chống lại các quan điểm sai trái phủ nhận hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần hiểu đúng, hiểu sâu, nắm chắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người. Phải coi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là chìa khóa mở cửa đi vào nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

    4. Biện pháp

    Đẩy mạnh việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    – Tăng cường giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

    – Nâng cao ý thức cảnh giác và tăng cường đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc.

    5. Tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác

    – TTHCM soi đường cho Đảng và nhân dân VN trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

    – Thông qua việc học tập, nghiên cứu TTHCM để bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm CM trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, TTHCM; kiên định mục tiêu ĐLDT gắn liền với CNXH; tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, bảo vệ CN Mác – Lênin và TTHCM.

    1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị

    – TTHCM giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất CM cho cán bộ, đv và toàn dân.

    – Trên cơ sở đã được học, SV vận dụng vào cuộc sống, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng theo con đường mà HCM và Đảng ta đã lựa chọn.

     

     

     

    CHỦ ĐỀ 2:  Phân tích  cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    – Chính quyền triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

    – Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hóa, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện tạo ra những tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.

    – Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư”, “tân báo” và trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam, trào lưu yêu nước chuyển dần sang xu hướng tiểu tư sản.

    – Các sĩ phu Nho học có tư tưởng tiến bộ, thức thời, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã cố gắng tổ chức và vận động cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp với mục tiêu và phương pháp mới, nhưng tất cả đều thất bại.

    Vì vậy, phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi, phải đi theo một con đường mới.

    b. Bối cảnh thời đại

    – Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.

    – Nhiều cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản diễn ra, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”, lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người.

    – Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3/1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc.

    2.  Tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Giá trị truyền thống dân tộc

    Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng – lý luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Đó là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng, ý chí vươn lên, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài…

    – Trong các giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người. Chính chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

    b. Tinh hoa văn hóa nhân loại

    Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây – chính là nét đặc sắc trong qua trình hình thành nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh.

    – Tinh hoa văn hóa phương Đông

    + Nho giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo, đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.

    + Phật giáo: Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng; chủ trương sống không xa lánh đời mà gắn bó với nhân dân, tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc.

    + Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Hồ Chí Minh tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện của nước ta”, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

    – Tinh hoa văn hóa Phương Tây

    + Hồ Chí Minh nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.

    + Tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1791; các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776.

    c. Chủ nghĩa Mác – Lênin

    Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục, tiếp xúc, tìm hiểu văn minh phương Đông và phương Tây. Nhưng bước ngoặt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ xẩy ra khi Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin:

    – Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy được chắt lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt động vì mục tiêu cứu nước và giải phóng dân tộc.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin một cách chọn lọc, theo phương pháp macxit, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở.

    – Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: “Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin vừa làm công tác thực tế dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới; “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

    – 7/1920: Hồ Chí Minh đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Tác động của “Luận cương” đối với Hồ Chí Minh rất mạnh mẽ và to lớn, sâu sắc, mở ra cho Hồ Chí Minh một chân trời mới, nhận thức mới về cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Hồ Chí Minh lựa chọn “tán thành quốc tế III và hoàn toàn tin theo Lênin”.

    – Luận cương của Lênin không chỉ tạo ra bước ngoặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có ý nghĩa mở đầu một thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam: Đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga – Con đường cách mạng vô sản do Đảng cộng sản lãnh đạo.

    – Qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, từ giữa những năm 20 của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã đi đến một sự lựa chọn và khẳng định dứt khoát: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

    – Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không những chỉ chân chính nhất, cách mạng nhất, chắc chắn nhất mà còn khoa học nhất, vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Người. Đây là nguyên nhân căn bản khiến Hồ Chí Minh không một phút xa rời học thuyết Mác – Lênin. Kể cả trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất di bất dịch và lòng trung thành vô hạn đối với chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy trong ứng xử, Người giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược đi đôi với sách lược linh hoạt mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biết, ứng vạn biến”.

    – Đối với Hồ Chí Minh, việc “học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận” nhằm nắm vững phép biện chứng, bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn. Vì vậy, Hồ Chí Minh không những vận dụng sáng tạo mà còn góp phần bổ sung và phát triển những nội dung mới làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin có sức sống mãnh liệt và đưa cách mạng Việt Nam đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt là cách mạng giải phóng thuộc địa.

     

    Trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và hãy cho biết tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò như thế nào đối với cách mạng Việt Nam?

    Đáp án:

    Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Thời kỳ 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân, sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp, băn khoăn trước thất bại của sĩ  phu yêu nước chống Pháp, ham học, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hoá tiên tiến của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Châu Âu.

    –  Trong thời kỳ này ở Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước thương dân tha thiết, bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    1. Thời kỳ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

    Nơi Hồ Chí Minh đến đầu tiên trong công cuộc đi tìm đường cứu nước là Pháp – nơi đã sản sinh ra tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái. Người còn đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, sống và hoạt động với những người dân bị áp bức ở Phương Đông và những người làm thuê ở phương Tây. Tham gia Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga, học tập và tìm hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin.

    – Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng: từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành chiến sĩ Cộng sản Việt Nam. Đây là bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. Thời kỳ 1921 – 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.

    Là thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động thực tiễn sôi nổi, phong phú. Trong thời kỳ này tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản. Người đã nghiên cứu xây dựng lý luận kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

    1. Thời kỳ 1930 – 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.

    – Trong những năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, Ban chấp hành trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Với bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng công bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    – Đây là mốc lịch sử quan trọng không chỉ mở ra kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự do độc lập của các dân tộc trên thế giới.

    1. Thời kỳ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thời kỳ này có những nội dung lớn sau:

    – Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc.

    – Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

    – Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    – Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền.

    Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò:

    * Thân thế và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh luôn gắn với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có vai trò, vị trí vô cùng to lớn, không thể thiếu và là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng Việt Nam. Tài sản vô giá trong kho tàng lý luận của cách mạng Việt Nam và thế giới tiến bộ.

    * Vạch ra con đường và dẫn dắt đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn: Từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    * Đảng ta khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Nó được biểu hiện trên một số mặt chủ yếu:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam, vì vậy, vạch rõ những quy luật của cách mạng Việt Nam: Đó là con đường từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng CNXH, vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ với toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam, là cơ sở nhận thức cho việc xây dựng lòng tin vào sự tất thắng của cách mạng Việt Nam, dù nó phải kinh qua nhiều gian khổ, thử thách cam go của lịch sử.

    – Với bản chất khoa học và cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần to lớn vào việc hình thành thế giới quan phương pháp luận, nhân sinh quan đúng đắn cho mỗi con người Việt Nam trong mọi tình huống. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng và nhân dân ta nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã cơ bản vượt qua khủng hoảng, vững bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, tinh thần ấy có vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

     

    Câu 32: Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh?

    Trả lời:

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cuộc đời của Người – cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho giải phóng nhân loại và từng con người. Tư tưởng đó thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

    * Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

    – Có lòng thương yêu vô hạn đối với con người, thông cảm sâu sắc với mọi đau khổ của con người. Từ đó tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây ra cho con người.

    – Ra đi tìm đường cứu nước, nhìn thấy nỗi đau của các dân tộc thuộc địa. Và vì thế lòng thương yêu người Việt đã trở thành lòng yêu thương nhân dân bị áp bức toàn thế giới. Khát vọng giải phóng dân tộc đã trở thành khát vọng giải phóng loài người.

    Người chỉ ra rằng, dù màu da có khác nhau, nhưng trên đời này chỉ có 2 giống người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Và chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ cho các dân tộc.

    – Có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người.

    – Có ý chí đấu tranh để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người.

    * Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng:

    – Hồ Chí Minh đưa ra một khái niệm về con người rất cụ thể, con người trong các mối quan hệ xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là gia đình, họ hàng, anh em, bầu bạn; là đồng bào cả nước.

    – Con người, với tư cách là mục tiêu của cách mạng: mọi chủ trương, đường lối, chính sách… của Đảng đều là vì con người, luôn luôn tin ở sức mạng của con người trong cách mạng và thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng là vì con người.

    – Con người – động lực của cách mạng: Đây là sự cụ thể hoá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Tuy nhiên, sức mạnh của con người phải được tổ chức, giáo dục và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    * Trồng người là chiến lược hàng đầu của cách mạng.

    – Hồ Chí Minh đã xuất phát từ vai trò của yếu tố con người.

    – Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” và “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

    – Chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh phải là “vừa hồng, vừa chuyên”. Có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoạt động thực tiễn và có phẩm chất chính trị vững vàng.

    Tóm lai, Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra các nội dung rất sâu sắc, cụ thể mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho Đảng và cách mạng Việt Nam ngày nay trong thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà vấn đề có ý nghĩa quyết định đó là yếu tố con người – mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới.

    Câu 33: là sinh viên đại học An Giang bạn nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào trong sự nghiệp xây dựng con người mới XHCN ở nước ta?

    Trả lời:

    * Những di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh để lại cho Đảng, dân tộc và nhân dân ta không chỉ có giá trị to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa thời sự trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đặc biệt là việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Về tư tưởng, đạo đức, lối sống:

    – Việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ vị trí, vai trò của thế giới quan, phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc hình thành và xây dựng nhân cách và bản lĩnh của người Việt Nam nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà chủ nghĩa xã hội đang gặp nhiều khó khăn trước sức công phá của chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” của chủ nghĩa đế quốc.

    – Xây dựng, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên chiến thắng đói nghèo và lạc hậu. Không chỉ dừng lại yêu nước chung chung mà phải gắn với yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và bằng ý chí quyết tâm, nghị lực và khả năng của mình, vươn lên chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

    – Giữ gìn đạo đức, nhân phẩm, lương tâm, danh dự; sống giản dị, ít ham muốn vật chất. Đây là một yêu cầu cao trong việc xây dựng và rèn luyện con người mới. Vì vậy phải tích cực gắn giữa xây với chống, lý luận với thực tiễn để sàng lọc, xây dựng các điển hình tiên tiến; đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay.

    Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh

    Lòng nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh là sự kết tinh của nhân ái, khoan dung Việt Nam trong thời đại mới. Làm cơ sở cho ta mở cửa, hội nhập, hướng tới tương lai trong việc thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

    * Rèn luyện thói quen tự học, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ và thông tin, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu hội nhập với thế giới.

    Đứng trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay, nếu ta thụ động trong việc tự học và tiếp cận công nghệ thông tin hoặc không chú trọng việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta sẽ bị các nền văn hoá ngoại lai thôn tính, bị tụt hậu trên mọi lĩnh vực, và vì thế không thể xây dựng xã hội chủ nghĩa và không thể thực hiện xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0o-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-cho-%C4%91%E1%BB%99i-ng%C5%A9-c%C3%A1n-b%E1%BB%99-%C4%91%E1%BA%A3ng-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    A. PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

     

    I. LỜI NÓI ĐẦU:

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra.

    Rất nhiều điều Bác nói về đạo đức đã qua hàng bốn, năm mươi năm hay lâu hơn nữa, nhưng nay vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Bác nói về những trường hợp cụ thể, cho những đối tượng cụ thể song ai nghe cũng cảm nhận đó là lời dạy cho mình. Nhìn lại và nhớ tới từng cử chỉ, từng hành động, từng lời nói và việc làm của Bác trong đời sống thường ngày, lúc sinh thời, ai mà không xúc động? Ai mà không cảm thấy có một cái gì đó không phải khi làm sai những điều Bác dạy.

    Trong giai đoan hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã luôn ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà yếu tố hàng đầu là nâng cao đạo đức cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức”. Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong hơn 20 năm qua.

    Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước nhiều thách thức, yếu kém cần phải vượt qua. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định một trong những thách thức đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Những suy thoái này còn kéo theo những suy thoái về đạo đức trong gia đình, nhà trường và trong xã hội. Những sự suy thoái đó đang là “nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

    Là một đảng viên công tác và sinh hoạt chính trị trong môi trường y tế, tôi nhận thức toàn diện những vấn đề cấp bách nói trên đặc biệt là trong ngành Y tế. Trên nền tảng kiến thức đã được học tập, nghiên cứu trong học phần I.4: Tư tưởng Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm thực tiễn nơi mình công tác cùng với sự tâm đắc về ý nghĩa thiết thực của đề tài, Tôi đã mạnh dạng chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ mới 2010-2015” để viết Tiểu luận tốt nghiệp Lớp trung cấp lý luận Chính trị – Hành chính tại chức khoá 33.

    Xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô khoa Lịch sử Đảng – Xây dựng Đảng, cám ơn các đồng chí trong Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã giúp đỡ tôi hoàn thành tiểu luận này.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Tác giả của tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp tổng hợp, điều tra, thống kê có phân tích và dự báo để hoàn thành đề tài.

    III. MỤC TIÊU ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI:

    – Tiểu luận nêu lên được một cách khái quát nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, sự cần thiết phải nâng cao nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

    – Đánh giá được thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong nhiệm vụ xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên tại Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú. Phân tích nguyên nhân và đề ra những giải pháp giúp cho Chi uỷ Trung tâm y tế nói riêng và Đảng uỷ y tế Long Phú nói chung nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

    – Thông qua tiểu luận tốt nghiệp, tác giả muốn bày tỏ lòng kính yêu vô hạn của mình đến lãnh tụ Hồ Chí Minh, một bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Là một hành động thiết thực của tác giả hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    – Tác giả cũng hy vọng rằng đề tài này sẽ là tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các khoá học sau.

    IV. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

    1. Đối tượng nghiên cứu:

    Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ đảng viên thuộc Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

    2. Thời gian nghiên cứu:

    Giới hạn thời gian từ khi Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, từ năm 2007 đến năm 2009 và định hướng 2010-2015.

    B. PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

     

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

    1. Đạo đức cộng sản trong học thuyết Mác-Lênin

    Theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

    Đạo đức là một hình thái cơ bản của ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển lịch sử. Nó nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội mà trước hết là nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong phân phối sản phẩm đề tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống đạo đức cũng theo đó mà ngày càng được nâng cao, mở rộng, phong phú, phức tạp.

    Đạo đức và pháp luật cùng tác động đến hành vi con người, nhưng pháp luật thực hiện dựa vào sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, còn đạo đức thực hiện dựa vào sức mạnh của dư luận xã hội, của tập quán phong tục truyền thống, niềm tin. Uy tín đạo đức của mỗi người không gắn với bất cứ quyền lực, cấp bậc, chức vụ… cũng như bất cứ quyền hạn chính thức nào. Đạo đức là sản phẩm của lịch sử. Mỗi hoạt động, những nhu cầu của con người khi thay đổi, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong đánh giá các giá trị đạo đức để phù hợp với sự phát triển của lịch sử.

    Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp có những lợi ích riêng và do đó cũng có những quan niệm đạo đức, có nền đạo đức riêng. Tuy nhiên, nền đạo đức được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là nền đạo đức của giai cấp thống trị, mặc dù trong cuộc sống hàng ngày mỗi giai cấp vẫn ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của mình.

    Cũng theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, các giá trị đạo đức phổ biến của nhân loại sẽ không ngừng được sáng tạo và phát triển qua mọi thời đại và được kế thừa trong đạo đức cộng sản – một nền đạo đức mang tính nhân loại phổ biến của xã hội tương lai.

    Tóm lại, đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân. Các tiêu chuẩn đạo đức hướng tới chân, thiện, mỹ thực chất là hướng tới cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng tới phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đó là một nền đạo đức đối lập về chất so với nền đạo đức phong kiến và đạo đức tư sản.

    2. Vai trò của đạo đức cách mạng đối với cách mạng nước ta

    Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

    Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

    Do đó, đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc và là phẩm chất mỗi con người.Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới – con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Bằng những hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã bền bỉ, dẻo dai và kiên nhẫn trong việc tìm kiếm con đường, biện pháp để thực hiện mục tiêu: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, Đảng ta chính thức bắt đầu kêu gọi “toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong, đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch” và chỉ ra rằng “sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta” và khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

    Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng năm 2001, ghi rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, điều làm cho tôi nhiều cảm xúc và tâm đắc nhất chính là những tư tưởng của Người về về đạo đức cách mạng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê  trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Người.

    3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    3.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới khác về chất so với nền đạo đức cũ, nhằm phát triển toàn diện con người trong thời đại mới. Hồ Chí Minh xây dựng nền đạo đức cách mạng với hai nội dung cơ bản:

    Một là, xây dựng hệ thống những chuẩn mực của nền đạo đức mới. Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể…

    Hai là, xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới. Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ.

    3.2. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống đạo đức dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại, đạo đức cộng sản Mác-Lênin và sự tu dưỡng, rèn luyện không mệt mỏi của Hồ Chí Minh.

    1. Truyền thống đạo đức dân tộc

    Truyền thống đạo đức của dân tộc được hình thành và phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước. Nhiều giá trị đạo đức từ đó được tích luỹ như: đạo lý yêu quê hương đất nước, yêu thương, quý trọng con người; đồng cam cộng khổ cứu giúp lẫn nhau; cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm hy sinh trong đánh giặc cứu nước sống có thuỷ chung, có tình có nghĩa; uống nước nhớ nguồn; đói cho sạch rách cho thơm rất lạc quan yêu đời nhưng cũng rất căm ghét cái ác, căm thù bọn cướp nước hiếu thảo với cha mẹ; trọng tình nghĩa vợ chồng, anh em, tiết kiệm và dung dị trong đời sống… Tất cả những giá trị đạo đức ấy đã đi vào tâm hồn Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nằm trong nôi ngày càng nồng đượm trở thành khát vọng thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước.

    1. Tinh hoa đạo đức nhân loại

    Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng nhiều tinh hoa đạo đức như: Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Mặc gia…  Người viết “học thuyết của Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”. Thế nhưng Người vẫn phê phán và loại bỏ lập trường phong kiến của Khổng Tử trên các mặt: tôn thờ chế độ phong kiến, phân biệt đẳng cấp; trọng nam khinh nữ; phân biệt nghề nghiệp… Hồ Chí Minh còn kế thừa mặt tiến bộ trong tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên và tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản… để xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta.

    Hồ Chí Minh viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng bác ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách “tam dân” thích hợp với điều kiện nước ta… tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

    1. Đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế

    Đạo đức mà Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị lý luận, phương pháp luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng đạo đức mới là đạo đức học Mác-Lênin – đạo đức của giai cấp vô sản.

    Nội dung cơ bản của đạo đức học Mác-lênin là các phạm trù và các tiêu chuẩn đạo đức được hình thành trên nền tảng của cách mạng vô sản, của chủ nghĩa tập thể vô sản, lấy việc giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, con người làm mục đích tối cao; coi hạnh phúc không phải chỉ là thoả mãn nhu cầu của cá nhân mà cái chính là phục vụ cho tất cả mọi người theo tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đây chính là điểm khác nhau căn bản, sự tiến bộ về chất của đạo đức vô sản so với đạo đức cũ. Hồ Chí Minh đã nhận rõ điều đó và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng ở nước ta.

    1. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của Hồ Chí Minh

    Cả cuộc đời Người là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Hồ Chí Minh đã nâng Người lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm… của thế kỷ XX, khiến kẻ thù cũng phải kính phục, bị cảm hóa và nhân loại tin tưởng noi theo.

    Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu con người và dân tộc Việt Nam, mà còn thương yêu thương yêu nhân loại. Người không chỉ muốn cứu nước Việt Nam mà còn muốn cứu giúp các dân tộc khác. Chính quyền Pháp nhiều lần dụ dỗ, đe doạ, tử hình vắng mặt, nhưng Hồ Chí Minh không sợ hãi mà càng tăng thêm quyết tâm hoạt động cách mạng. Sau này Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”.

    3.3. Những đặc điểm của đạo đức cách mạng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là kết tinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại trong lịch sử, cơ bản là đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin – đạo đức cộng sản được vận dụng phù hợp với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong hệ thống các tiêu chuẩn đạo đức của Người về hình thức chúng ta thấy có nhiều khái niệm, phạm trù, mệnh đề của đạo đức truyền thống, nhưng nội dung là của nền đạo đức mới.

    Các tiêu chuẩn đạo đức của Hồ Chí Minh rất toàn diện nhưng không chung chung trừu tượng mà rất cụ thể, dễ thực hiện; có cả những tiêu chuẩn đạo đức chung, nhưng cũng có cả những tiêu chuẩn thích ứng cho mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, mỗi tổ chức… Trong đó, Người đặc biệt chú ý tới đạo đức của cán bộ đảng viên và nói về vấn đề này nhiều nhất.

    Hồ Chí Minh là người xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức mới, nhưng cũng là người thực hiện những tiêu chuẩn đó một cách mẫu mực nhất, có sự thống nhất cao giữa lời nói với việc làm. Đặc điểm này làm cho Hồ Chí Minh tỏa sáng và trở thành tấm gương đạo đức vĩ đại.

    4. Nội dung chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

    Những chuẩn mực đạo đức cần phải thường xuyên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người, trước hết là của cán bộ, đảng viên:

    1. Trung với nước hiếu với dân

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tận trung với nước là chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là lẽ phải, là chân lý. Nước mất thì nhà tan, mỗi người dân sẽ thành nô lệ. Do đó, là người công dân thì phải tận trung với nước, tận lực phụng sự Tổ quốc: suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; không phản bội, quy hàng kẻ địch… Tận trung với nước cũng chính là tận trung với Đảng, quyết tâm đưa đất nước phát triển theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, Đảng là người đại diện cho nước, cho dân, “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh trung với nước, với Đảng và hiếu với dân là hai mặt thống nhất của một vấn đề, gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Đã tận trung với nước thì phải tận hiếu với dân. Tận hiếu với dân nghĩa là thấy rõ sức mạnh, vai trò thực sự của nhân dân. Phải làm hết sức mình để nhân dân hiểu được quyền cũng như trách nhiệm của người chủ đất nước.

    Từ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành tận trung với nước tận hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.

    1. Yêu thương và giúp đỡ con người, sống có nghĩa, có tình

    Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể, sâu sắc và bao dung. Hồ Chí Minh chẳng những thương yêu tất cả những người lao động, mà còn đặc biệt thương yêu những người bị áp bức, bóc lột, bị đọa đầy đau khổ, bị nô dịch giai cấp và dân tộc Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng “trắc ẩn”, mà còn được nâng lên ở tầm cao của nhận thức tư tưởng.

    Sống có nghĩa, có tình, giúp người, cứu người, hướng tới giải phóng triệt để con người là động cơ mạnh mẽ, là mục tiêu lý tưởng cao cả của Hồ Chí Minh. Người nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Do đó, để giải phóng triệt để con người thì  không chỉ đánh đổ bọn thực dân xâm lược, giải phóng dân tộc mà còn xoá bỏ tình trạng người bóc lột người. Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện được mục tiêu đó thì “không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    Cần là thường xuyên cố gắng, luôn chăm chỉ, trong suốt cả cuộc đời. Cần còn là biết chủ động và sắp xếp công việc có kế hoạch, có sáng tạo, biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng để có thể làm việc lâu dài, đạt kết quả cao. Cần còn được hiểu là tăng năng suất trong công tác. Cần là phải chống bệnh chây lười biếng nhác, ỷ lại, thụ động, vô kỷ luật…

    Kiệm là tiết kiệm công sức, tiền của và thời gian, sử dụng chúng sao cho có ích nhất, hiệu quả nhất. Kiệm cũng có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi trong sản xuất và đời sống. Tiết kiệm theo Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngược với bủn xỉn. Người nói: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”.

    Theo Hồ Chí Minh, liêm là “Không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”, “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Người nói: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chỉnh phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng”. Vì vậy cán bộ, công chức trong các công sở trước hết phải giữ lấy chữ liêm làm đầu.

    Chính là không tà, là thẳng thắn và đứng đắn. Theo Hồ Chí Minh: trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia ra làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc CHÍNH là người THIỆN, làm việc Tà là người ÁC. Cán bộ, công chức là những người làm việc công cho nên chính còn là sự công tâm, công đức khi giải quyết công việc. Hồ Chí Minh nói: chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Người còn nhấn mạnh, cán bộ, công chức phải tự mình “chính” trước mới giúp được người khác “chính”, nếu mình không “chính” mà muốn người khác “chính” là vô lý.

    Chí công vô tư: cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, tức là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Người nhấn mạnh, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

    1. Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

    Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc trưng của đạo đức cộng sản, bắt nguồn từ vai trò của giai cấp công nhân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế chính là quan hệ hữu nghị, hợp tác, giúp đỡ, tương trợ với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người yêu hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới. Chủ nghĩa quốc tế chỉ có thể tốt đẹp khi mỗi quốc gia phải phát huy tinh thần chủ động, tự lực tự cường và phải hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình, chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nước lớn. Đó là tinh thần quốc tế cao đẹp mà Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần và rèn luyện trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, phát triển và tiến bộ trên toàn thế giới.

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, định hướng lâu dài cho việc bồi dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng ở mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    5. Học tập quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tổ chức Đảng các cấp

    Ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Mục đích của cuộc vận động là: “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức… đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

    Tỉnh uỷ Sóc Trăng rất quan tâm đến công tác xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho toàn Đảng bộ. Thông tri số 07-TT/TU ngày 09/01/2007 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Sóc Trăng và Kế hoạch số 11-KH/TG ngày 29/01/2007 của Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ về việc Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.

    Ngày 08/05/2007 Đảng uỷ Y tế huyện Long Phú triển khai Kế hoạch số 07-KH/ĐUYT, bắt đầu thực hiện cuộc vận động, tạo được phong trào thi đua hành động các mạng sôi nổi trong cán bộ, đảng viên toàn ngành y tế. Đặc biệt là tinh thần tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của tập thể Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Từ những lý luận khoa học về đạo đức cách mạng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, giúp cho tác giả đề tài quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về rèn luyện đạo đức cách mạng, là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận trong vận dụng thực tiễn khi nghiên cứu đề tài.

    II. THỰC TRẠNG

    1. Đặc điểm tình hình:

    1.1. Đặc điểm chung:

    Trung tâm y tế huyện Long Phú là đơn vị trực thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế; xây dựng kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở; phòng và chống các bệnh gây thành dịch, các bệnh xã hội và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa bàn huyện Long Phú. Sau khi tách 04 xã thuộc huyện Trần Đề theo Nghị quyết số 64/NQ-CP, ngày 23/12/2009 của Chính phủ, huyện Long Phú còn lại 26.372,12 ha diện tích tự nhiên và 110.952 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Long Phú và các xã: Long Phú, Tân Hưng, Tân Thạnh, Trường Khánh, Hậu Thạnh, Đại Ngãi, Song Phụng, Long Đức, Châu Khánh, Phú Hữu. Dân số gồm 03 dân tộc chính: Kinh, Khơ-me, Hoa, sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Trình độ dân trí, kiến thức y tế nhìn chung còn tương đối thấp. Tình hình tổ chức nhân lực của Trung tâm như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số cán bộ 30 30 31
    Số cán bộ nữ 14 14 14
    Số cán bộ người dân tộc Khơ-me 9 9 9
    Số cán bộ có trình độ sau đại học 0 2 3
    Số cán bộ có trình độ đại học 3 1 2
    Số cán bộ có trình độ trung cấp 26 24 22

    Bảng 1: Tổng hợp tình hình cán bộ viên chức của Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú trực thuộc Đảng bộ Y tế được thành lập ngày 14-11-2005, đến nay đã qua 2 kỳ Đại hội. Có nhiệm vụ chính trị là lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tình hình đảng viên trong Chi bộ như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số đảng viên trong chi bộ 9 10 14
    Phát triển đảng viên mới 3 2 1
    Đảng viên chuyển đến 0 0 3
    Đảng viên chuyển đi 1 1 1
    Số đảng viên nữ 3 4 6
    Số đảng viên người dân tộc Khơ-me 0 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị đại học 1 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận CT trung cấp 0 1 2
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị sơ cấp 3 5 5
    Tuổi đời trung bình của đảng viên trong chi bộ 38 38 42

    Bảng 2: Tổng hợp tình hình đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    1.2. Thuận lợi:

    Qua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng viên Đảng bộ Y tế huyện, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân của Chi bộ Trung tâm y tế có những thuận lợi cơ bản do tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị huyện nhà tiếp tục chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước.

    Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ và đầu tư. Chủ trương xã hội hóa Y tế từng bước được tăng cường và nhân rộng. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã tạo ra nền tảng tư tưởng quan trọng, nâng cao nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị về công tác Y tế. Từ đó toàn ngành đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, đầu tư kịp thời của các cấp Uỷ, chính quyền và sự phối hợp nhịp nhàng của ban ngành, đoàn thể địa phương.

    Bên cạnh đó, còn có sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức của tập thể cán bộ, đảng viên trong ngành, cùng với việc thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 43/NĐ-CP; mạng lưới Y tế cơ sở được củng cố và phát triển; cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng, nâng cấp, trang thiết bị được bổ sung; tinh thần phục vụ, Y đức và trình độ chuyên môn từng bước được nâng cao.

    1.3. Khó khăn:

    – Mặt bằng dân trí chưa đồng đều, ý thức phòng chống bệnh tật trong cộng đồng chưa cao; thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước; tình trạng ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải chậm cải thiện; nguy cơ bùng phát dịch bệnh luôn tiềm ẩn.

    – Tỷ lệ giường bệnh, số lượng cán bộ Y tế, nhất là bác sỹ trên dân số khá thấp; chế độ, chính sách đối với ngành Y tế tuy được bổ sung, điều chỉnh nhưng chưa thật sự thỏa đáng; tình trạng thiếu nhân lực kéo dài, cơ cấu trình độ chưa cân đối, thiếu một số cán bộ chuyên môn có tay nghề và cán bộ làm công tác dự phòng.

    – Ngân sách cấp chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; đời sống của phần lớn cán bộ, công chức, viên chức Y tế chậm cải thiện; công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình có từng lúc chưa được quan tâm đúng mức; cơ chế khám chữa bệnh bảo hiểm y tế còn một số bất cập, chậm được hướng dẫn một cách thống nhất mặc dù Luật bảo hiểm y tế đã được ban hành.

    2. Thành tựu và hạn chế:

    2.1. Thành tựu:

    1. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    – Công tác tổ chức, nhân sự và phát triển mạng lưới Y tế: Đến cuối năm 2009, có 12/15 xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã; 10/15 xã có bác sỹ. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân: 90 cơ sở trên địa bàn.

    – Công tác khám chữa bệnh: Chất lượng điều trị, tinh thần thái độ phục vụ, sự tín nhiệm của người bệnh từng bước được nâng lên; không xảy ra sai sót chuyên môn, tai biến điều trị do thiếu tinh thần trách nhiệm. Thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế, trung tâm y tế huyện đã phối hợp với Bệnh viện Đa khoa cử 05 bác sỹ hỗ trợ 04 trạm Y tế chưa có bác sỹ.

    – Công tác phòng bệnh: Được BCH Chi uỷ xác định là nhiệm vụ hàng đầu và tập trung chỉ đạo mọi nguồn lực thực hiện.

    + Quản lý và chăm sóc sức khỏe trên 90% đối tượng chính sách, học sinh, người cao tuổi và tàn tật.

    + Năm 2009, tình hình các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tiêu chảy, lỵ trực trùng, quai bị, sởi… có xu hướng gia tăng; bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp với 942 cas mắc, tử vong 01; đặc biệt là dịch cúm A H1N1 bùng phát với 248. Toàn ngành đã huy động mọi nguồn lực triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn đã kịp thời khống chế, dập tắt dịch.

    + Hàng năm duy trì việc tạo miễn dịch đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi 98% số đối tượng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 6 tuổi cuối năm 2009 còn 16,64%.

    + Thực hiện đạt yêu cầu chỉ tiêu các dự án mục tiêu Y tế quốc gia: quản lý và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên 95% cơ sở chế biến, kinh kinh doanh, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm; kiểm tra vệ sinh môi trường 100% cơ sở cung cấp nước, trường học và cơ sở Y tế công và tư nhân, lập hồ sơ vệ sinh lao động cho 100% cơ sở; khám thai, khám và điều trị phụ khoa đạt trên 93%, tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 135,3%;

    – Công tác khác: Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ Y học ngày càng chuyển biến rõ nét. Kết hợp chặt chẽ giữa quân và dân y trong diễn tập, phòng chống dịch, khám tuyển nghĩa vụ quân sự và sỹ quan dự bị. Hoạt động văn hóa, văn nghệ ngày càng phong phú và đạt được một số thành tích trong Hội thao, Hội thi do huyện, tỉnh tổ chức.

    Từ những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ qua, Trung tâm Y tế huyện được UBND tỉnh tặng 01 Cờ Thi đua đơn vị xuất sắc năm 2009 và nhiều Bằng khen, Giấy khen cho các tập thể, cá nhân trong ngành đạt thành tích tốt. Ngoài ra, còn có 01 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”; trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sức khỏe nhân dân” cho 6 cá nhân.

    1. Về xây dựng hệ thống chính trị:

    – Công tác xây dựng Đảng:

    Quy chế làm việc của BCH Chi uỷ được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, giúp các Chi uỷ viên, đảng viên trong Chi bộ nắm rõ và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo.

    Đảng bộ luôn quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức học tập quán triệt các nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành. BCH chi uỷ chú trọng giáo dục nâng cao Y đức, kỹ năng giao tiếp, thực hành tiết kiệm, xây dựng nếp sống văn minh, tinh thần đoàn kết, đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực, bè phái, cục bộ… gắn liền với sinh hoạt Chi bộ.

    Thực hiện tốt Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2), Chi bộ từng bước đổi mới nội dung sinh hoạt, thường xuyên phê bình và tự phê bình gắn liền với đánh giá thực hiện nhiệm vụ đảng viên, những điều Đảng viên không được làm, các tiêu chí “xây” và “chống” trong ngành Y tế. Nhất là từ năm 2007 đến nay, với xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chi uỷ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt các chuyên đề theo đúng tinh thần chỉ đạo của Huyện uỷ. Qua cuộc vận động này, 100% đảng viên, người lao động viết bản cam kết phấn đấu thực hiện những nội dung cụ thể, phù hợp vị trí đang công tác; đồng thời củng cố nhận thức chính trị, có lập trường quan điểm vững vàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, có hành động thiết thực trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, sửa đổi lề lối làm việc. Nhìn chung, Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng công việc.

    Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, kịp thời phát hiện đảng viên có biểu hiện sai phạm, chưa làm tốt nhiệm vụ đảng viên để có biện pháp giáo dục, uốn nắn. Nhiệm kỳ qua không có đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật Đảng.

    Trong 3 năm qua, kết nạp mới 05 đảng viên. Ngoài ra còn 04 hồ sơ phát triển đảng đang chờ Huyện uỷ xem xét. Lập thủ tục chuyển sinh hoạt 03 đồng chí, tiếp nhận công tác 04 đồng chí, phát thẻ đảng viên cho 06 đồng chí.

    Bảng 3: Biểu đồ phát triển đảng viên từ năm 2007-2009.

    Qua đánh giá phân loại đảng viên cuối năm 2009, 3/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 9/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ và 2 đồng chí đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ; không có đảng viên xếp loại yếu kém.

    Bảng 4: Biểu đồ tỷ lệ xếp loại đảng viên cuối năm 2009.

    – Công tác xây dựng chính quyền:

    BCH Chi uỷ luôn quan tâm và trực tiếp lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, phát triển mạng lưới… nhằm xây dựng bộ máy quản lý ngày càng vững mạnh, đủ năng lực điều hành mọi hoạt động. Kiến thức, kỹ năng module IV, V được chú trọng áp dụng trong việc quản lý các lĩnh vực công tác, nhất là quản lý kế hoạch và giám sát Y tế cơ sở. Thực hiện nghiêm túc chế độ thủ trưởng, quy định của ngành và quy chế chi tiêu nội bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng, đã ngăn ngừa tiêu cực một cách hiệu quả.

    – Công tác xây dựng đoàn thể:

    Quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện hoạt động Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban “Vì sự tiến bộ Phụ nữ” theo Quy chế làm việc toàn khóa, thông qua việc ban hành nghị quyết, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát hoạt động. Đồng thời, thường xuyên cùng với Ban lãnh đạo đơn vị, Ban Chấp hành đoàn thể trao đổi, bàn bạc tìm biện pháp chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần, thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động, phát động phong trào thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, vận động đóng góp nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa…

    – Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ:

    Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, chính quyền kết hợp các đoàn thể thường xuyên tiếp thu ý kiến xây dựng. Hàng quý, công khai tình hình sử dụng ngân sách, các nguồn quỹ. Các vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự, đào tạo được Ban chấp hành bàn bạc thống nhất trước khi đưa ra chi bộ xem xét quyết định.

    2.2 Hạn chế, tồn tại:

    – Hạn chế trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    + Mạng lưới Y tế cơ sở tuy phát triển, hoàn thành chỉ tiêu xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về Y tế nhưng chất lượng hoạt động và tính bền vững chưa cao, Bác sỹ về công tác tại trạm Y tế chỉ đạt 76,9% chỉ tiêu. Một số bộ phận tuyến huyện thiếu cán bộ kéo dài, việc bố trí nhân lực còn mang tính tình thế.

    + Trình độ cán bộ và kiến thức Y học của người dân còn thấp và chưa đồng đều; tình hình vệ sinh môi trường chậm cải thiện.

    + Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, song nhìn chung sức thu hút người bệnh tại trạm Y tế chưa cao. Việc sử dụng trang thiết bị được cung cấp còn hạn chế.

    – Hạn chế trong xây dựng hệ thống chính trị:

    Đây là một trong những nội dung quan trọng trong đề tài, là cơ sở cho việc đưa ra nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể và hiệu quả cho công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong thời gian tới.

    + Công tác xây dựng, phát triển số lượng đảng viên của chi bộ còn tương đối chậm, Trong 3 năm phát triển được 5 đảng viên, hiện tại Chi bộ có 14 đảng viên trên 31 cán bộ là tương đối ít. Số lượng đảng viên nữ còn hạn chế. Đặc biệt chỉ có 01 đảng viên người dân tộc Khơ-me trong chi bộ.

    Bảng 5: Biểu đồ tình hình phát triển đảng viên

    + Trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong chi bộ còn tương đối thấp, chưa tương xứng với quy mô và trình độ chuyên môn của đảng viên trong Chi bộ, điều này cho thấy công tác cán bộ còn hạn chế, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị tại Chi bộ chưa được quan tâm đúng mức.

    Bảng 6: Biểu đồ thống kê trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong Chi bộ.

    + Đạo đức cách mạng, tác phong gương mẫu trong đảng viên còn những vấn đề cần phải quan tâm. Một số ít cán bộ, đảng viên ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, chưa gương mẫu trong công tác và trong rèn luyện đạo đức, tác phong. Còn hiện tượng nói nhiều, làm ít, làm qua loa, trong việc làm còn mang nặng tính hình thức.

    + Thực hiện chế độ phê bình và tự phê bình của một số đảng viên chưa nghiêm túc, còn nể nang, cầu an… cho nên tinh thần đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong một số hiện tượng chưa thật sự triệt để.

    + Ý thức thực hành tiết kiệm trong dự phòng và điều trị bệnh chưa triệt để thực hiện. Sử dụng các nguồn kinh phí cho phòng bệnh mang lại hiệu quả chưa cao. Trong điều trị việc kê đơn thuốc đôi lúc chưa chưa hợp lý, chưa giảm được chi phí thấp nhất cho người bệnh.

    + Còn một số ít cán bộ, đảng viên chưa đặt nặng trách nhiệm với công việc, với nhân dân; thiếu chủ động, còn ngán ngại với khó khăn; thiếu tự giác nhìn nhận và chậm khắc phục khuyết điểm của bản thân.

    2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế:

    1. Nguyên nhân thành tựu:

    Đạt được kết quả trên, trước hết nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng; sự quan tâm lãnh đạo,.chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, Sở Y tế và các chuyên khoa đầu ngành tuyến tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền, ban ngành, đoàn thể cơ sở; tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phát huy nội lực của tập thể cán bộ, đảng viên ngành Y tế; sự năng động trong lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Đảng uỷ; sự điều hành tập trung của Ban lãnh đạo các đơn vị; những thành quả tích lũy từ nhiệm kỳ qua… đã tạo ra động lực thúc đẩy toàn ngành phát triển khá toàn diện.

    1. Nguyên nhân tồn tại:

    Về khách quan có nhiều nguyên nhân như:

    – Cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Y tế chậm đổi mới, chưa có chế độ thu hút bác sỹ về phục vụ ở cơ sở; xuất phát điểm của ngành còn thấp so với các tỉnh lân cận, còn thiếu nhiều cán bộ có tay nghề và trang thiết bị kỹ thuật cao; nguồn đầu tư của trên còn chậm, một số lĩnh vực chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển; thời tiết diễn biến phức tạp, nguy cơ dịch bệnh luôn tiềm ẩn, có khả năng bùng phát trên diện rộng…

    – Hạn chế của đảng viên về đạo đức cách mạng còn do những nguyên nhân khách quan thuộc mặt trái của nền kinh tế thị trường; là sự bùng nổ thiếu kiểm soát thông tin trên mạng intemet và giao lưu quốc tế đã tạo điều kiện cho những mặt tiêu cực của văn hóa và lối sống bên ngoài du nhập vào nước ta; là trong xã hội ta hiện nay vẫn còn những tàn dư của đạo đức phong kiến, thực dân và âm mưu “diễn biến hòa bình” của kẻ thù.

    Song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, đó là:

    – Tư duy đổi mới của không ít cán bộ, đảng viên chưa theo kịp với yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;

    – Năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chuyên môn của một vài cán bộ chủ chốt còn hạn chế; còn một số đảng viên nói nhiều, làm ít, ngại khó, sợ va chạm, thiếu gương mẫu, tự thỏa mãn với bản thân;

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của tập thể BCH Chi uỷ về công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra. . . và trong một vài tình huống còn lúng túng, thiếu cương quyết;

    – Bước vào thời kỳ mới, ngành Y tế nước ta có nhiều điều kiện phát triển, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều tiến bộ và cống hiến to lớn, nhưng cũng đứng trước những thách thức mới, trong đó có sự xuống cấp về y đức.

    – Riêng về công tác giáo dục chính trị, đạo đức thì có những nguyên nhân chủ quan, trước hết là có biểu hiện buông lỏng việc giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong một thời gian khá dài do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của đạo đức cách mạng. Thêm vào đó là những hiện tượng xử lý không nghiêm minh đối với những cán bộ xa rời đạo đức cách mạng…

    III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

    1. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng vào công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong giai đoạn mới 2010-2015:

    * Những nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng

    1. Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, chủ yếu trong thực tiễn cách mạng

    Theo Hồ Chi Minh, đã tham gia vào đời sống cộng đồng thì mỗi người – không phải là thánh nhân – ít nhiều đều mắc sai lầm, khuyết điểm. Người nói: “người nào không mắc khuyết điểm mới là lạ”. Người so sánh sự tu dưỡng đạo đức cách mạng giống như người trồng lúa, phải có công chăm bón, diệt cỏ, trừ sâu lúa mới tốt; còn cái ác giống như cỏ dại, nếu không diệt thì nó mọc tràn lan, sinh sôi nảy nở. Do đó, phải phấn đấu, tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, sao cho phần thiện ngày càng nảy nở như hoa mùa xuân, còn phần ác ngày càng ít đi.

    Tu dưỡng đạo đức cách mạng tốt nhất là trong hoạt động thực tiễn. Chỉ trong thực tiễn cách mạng mới hiện rõ thiện, ác, tốt, xấu. Nhờ đó mới biết rõ phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, hành động đạo đức như thế nào? Đấu tranh chống phi đạo đức ra sao? đấu tranh chống các hiện tượng phi đạo đức cũng là tu dưỡng đạo đức. Hồ Chí Minh kết luận: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

    Chỉ có trong thực tế công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, người cán bộ y tế mới có đầy đủ điều kiện rèn luyện mình một cách toàn diện.

    1. Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm

    Hồ Chí Minh coi trọng sự gương mẫu trong thực hành đạo đức, nói đi đôi với làm, nói được phải làm được. Đó là một nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới. Người nhấn mạnh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã”.

    Đạo làm gương, nói đi đôi với làm phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi lĩnh vực: từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đến nhà trường, gia đình, xã hội… Trong lĩnh vực y tế cũng thế, phải tôn trọng nhân dân, bệnh nhân. Phải mẫu mực trong lời nói, cử chỉ và hành động, tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân. Trong chuyên môn khi phát ngôn phải dựa trên trình độ và khả năng của mình, chức năng của đơn vị mình… tránh hiện tượng đề cao cá nhân, khoe tài, địa vị…

    1. Luôn đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức, nhất là chống chủ nghĩa cá nhân

    Xây dựng đạo đức cách mạng là để giải phóng dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Thế nhưng, như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Chúng ta sinh trưởng trong xã hội cũ, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình vết tích xấu xa của xã hội cũ về tư tưởng, nhất là những tiêu chuẩn đạo đức cũ đã lỗi thời và cả cái ác, cái xấu, cái vô đạo đức. Chúng đang là “kẻ địch ở trong lòng” ngăn trở to lớn đến việc xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên nhân sâu xa của những cái ác, cái xấu, cái phi đạo đức chính là chủ nghĩa cá nhân.

    Chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, việc gì cũng chỉ đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết; chỉ muốn mọi người vì mình, “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan tham ô, lãng phí, óc hẹp hòi, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chủ nghĩa”… “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ  nghĩa cá nhân”.

    Tuy nhiên, cần có nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có lợi ích của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Hồ chí Minh khẳng định, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

    Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện. Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới. Từ những phân tích đánh giá về thực trạng, Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú ngoài mục tiêu, nhiệm vụ về chăm sóc sức khỏe nhân dân, cần đặc biệt quan tâm thực  những nhiệm vụ và các giải pháp rèn đạo đức cách mạng tại Chi bộ trên mấy điểm chính sau đây:

    2. Nhiệm vụ:

    – Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân.

    Nhiệm vụ của người cán bộ Y tế xã hội chủ nghĩa là chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người, đó là một nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Lương y phải như Từ mẫu. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    – Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

    Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

    – Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.

    Rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

    – Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân.

    Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

    3. Các giải pháp:

    Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:

    Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống.

    Cần tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên qua sinh hoạt ở tổ chức đảng. Trong sinh hoạt chi bộ và cấp ủy không chỉ có phần đánh giá công việc, mà còn phải kiểm điểm, đánh giá về đạo đức cán bộ. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, nhấn mạnh: Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên.

    Đối với cán bộ y tế, rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức đặc biệt: Từ tấm lòng lương y như từ mẫu mà nảy sinh ra những đức tính cần thiết của người cán bộ y tế như niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc, tận tình, cẩn trọng, chu đáo khi chăm sóc, ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò và trong những trường hợp khó khăn, nguy kịch thì sẵn sàng chịu khó, chịu khổ, hy sinh, quên mình để làm tròn phận sự cứu người. Có tình thương của người mẹ hiền thì người thầy thuốc tránh được những thói xấu như cầu lợi, kể công, phân biệt đối xử giữa giàu, nghèo, sang, hèn, hách dịch, lạnh lùng khi tiếp xúc, qua loa, tắc trách trong phục vụ, đố kỵ, kèn cựa với đồng nghiệp… “Thầy thuốc như mẹ hiền” là cốt lõi của đạo đức ngành y. Do đó rất cần những cán bộ đảng viên không những có kiến thức y học tốt mà còn có tư tưởng đạo đức cách mạng cao, có tấm lòng yêu hòa bình, yêu thương nhân loại, yêu thương tất cả loài người, có tinh thần chí công vô tư, dành tình thương cho tất cả người bệnh, có tinh thần quốc tế, đoàn kết hợp tác với nền y học các nước vì sự phát triển của y học thế giới. Có như thế mục tiêu phát triển con người của Đảng và nhân dân ta chắc chắn sẽ thành công.

    Kết hợp sáng tạo và khoa học giữa giáo dục đạo đức, lối sống với thực hiện nhiệm vụ chính trị của Chi bộ là bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Chú trọng đến mặt chất lượng trong xây dựng Đảng, trong phát triển Đảng. Đặc biệt tổ chức thực hiện tốt 12 điều Y đức – Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế – (Ban hành kèm theo quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Phấn đấu giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

    Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả.

    Nhà nước đã ban hành pháp lệnh và phát triển thành luật phòng ngừa và chống tham nhũng, lập ra các cơ quan chống tham nhũng. Cấp ủy đảng và Ban Giám đốc Trung tâm y tế phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở đơn vị. Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở đơn vị thì tùy theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp ủy và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm đúng pháp luật. Đó là những biện pháp rất cần thiết và mạnh mẽ cần được thực hiện triệt để.

    Tăng cường hoạt động của Ủy ban kiểm tra Đảng, ban Thanh tra nhân dân tại đơn vị, nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ y tế, hết lòng hết sức phục vụ sức khỏe nhân dân. Xây dựng được ý thức đấu tranh chống tiêu cực, tạo sự bình đẳng trong khám và điều trị bệnh, tạo điều kiện cho mọi người dân ai cũng có thể tiếp cận được với những kỹ thuật y tế tiên tiến trong nhu cầu chăn sóc sức khỏe.

    Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    Bác Hồ là một con người giản dị, Người đã từng sống bên cạnh chúng ta, chân thật, gần gũi như một người bình thường. Những điều Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, công chức về đạo đức cách mạng là những điều được rút ra từ thực tiễn cuộc đời Người đã sống và hoạt động cách mạng. Do đó, công tác tuyên truyền cần tập trung làm cho mọi người hiểu được và nhận thức một cách chân thực về tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là việc làm sung sướng nhất, vẻ vang nhất như lời căn dặn của Người. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng chỉ rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài”.

    Từ nội dung của giải pháp này, Chi bộ xây dựng triển khai thực hiện các chuyên đề của cuộc vận động, nhất là Chuyên đề năm 2010: “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”. Chú ý gắn với các hoạt động chuyên môn, gắn với nhiệm vụ của ngành y tế sao cho thật cụ thể có chiều sâu, có tác động mạnh mẽ đến nhận thức tư tưởng và hành động của cán bộ ngành Y tế.

    Tích cực nâng cao y đức trong công việc hàng ngày như: Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cũng như phương pháp điều trị cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục bệnh. Thường xuyên giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức phòng bệnh cho nhân dân.

    Thứ tư, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể.

    Nhiều tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng của các đồng chí lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ cần được tuyên truyền học tập. Đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người Bộ trưởng Y tế đáng kính, chỗ nào có dịch, có bệnh là ông tìm đến. Phạm Ngọc Thạch đã vượt qua bom đạn, rừng núi vào tận chiến trường với quyết tâm tìm ra phương thức, cách chữa đạt hiệu quả cao đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam và ông đã hy sinh trên chiến trường trong khi thực hiện sứ mệnh cao cả đó. Đó là Giáo sư Tôn Thất Tùng với hai “bàn tay vàng” đã cứu sống biết bao nhiêu người, bằng phương pháp mổ gan không chảy máu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, người thầy thuốc có công to lớn trong công cuộc chống sốt rét ở nước ta thời chống Pháp và chống Mỹ. Đó là tấm gương Bác sỹ Đặng Thùy Trâm và biết bao đồng chí khác là biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cao đẹp. Trong ngành Y tế hiện nay cũng xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên tiêu biểu, nêu cao y đức, đạo đức, thật sự vì sự nghiệp Y tế. Cần phải tập trung nêu gương, động viên, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng để đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái thấp hèn.

    C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    I. KẾT LUẬN

    Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề lên trang đầu Tư cách một người cách mệnh, và nhấn mạnh sự: cần kiệm, cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng tham muốn về vật chất… Trải qua 30 năm Đảng ta lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Trước khi đi xa, Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Về nâng cao chất lượng đảng viên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”. Như vậy, một lần nữa khẳng định rằng: giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

    Những di sản tinh thần của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là cực kỳ to lớn và quý báu. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã xuất hiện những điều kiện thuận lợi và cả những vấn đề mới, thách thức mới. Vấn đề cốt lõi là các cấp ủy đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: bất kỳ việc gì cũng vì hạnh phúc nhân dân. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động là đợt sinh hoạt chính trị lớn có nhiều ý nghĩa quan trọng, trong đó việc quán triệt về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, tác phong và những lời dạy của Người về đạo đức cách mạng của người đảng viên càng có ý nghĩa thiết thực. Điều này cũng khẳng định rằng: Làm tốt công tác xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên chính là góp phần giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng.

    Cán bộ đảng viên ngành y cần phải nhận thức rằng, đạo đức của Bác không phải là cái gì cao siêu, xa vời, chỉ để chiêm ngưỡng, ca ngợi, mà đạo đức đó rất thiết thực, cụ thể, mọi người đều có thể học tập và làm theo. Bác không chỉ nói nhiều về đạo đức của người cách mạng mà bản thân cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng và cao đẹp. Tuy nhiên đạo đức cách mạng của người đảng viên không thể có được trong một sớm một chiều mà phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ lâu dài trong hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, Nghề Y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh, những người thầy thuốc phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức mới thực hiện được lời dạy của Bác. Đối với cán bộ y tế tư tưởng của Bác về y đức vừa là hệ thống lý luận gắn liền với thực tiễn dễ đi vào lòng người, rất dễ nhớ, dễ làm đồng thời còn là những lời dạy bảo thân thương, chân tình mà mỗi người đều thấm nhuần. Vì vậy, trong thời kỳ kinh tế thị trường như hiện nay, mỗi cán bộ y tế cần phải nghiên cứu vận dụng y đức, đạo đức cách mạng vào từng vị trí công tác của mình một cách thường xuyên liên tục để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, đó chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, thực hiện lời dạy bảo đồng thời cũng là mệnh lệnh thiêng liêng xuất phát từ trái tim, từ tấm lòng tôn kính đối với Bác Hồ, vị Cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

    II. KIẾN NGHỊ

    – Ban Tuyên giáo Trung ương – cơ quan thường trực giúp Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành và địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy vận dụng vào thực tế tỉnh nhà xây dựng chương trình hành động cụ thể, có kế hoạch đào tạo lâu dài trình độ lý luận chính trị cho cán bộ trẻ. Thường xuyên chỉ đạo các cơ quan liên quan như Sở Văn hoá – Thông tin thể thao, Đài truyền thanh, truyền hình tiếp tục tuyên truyền về những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sức lan toả, thúc đẩy cuộc vận động cả chiều rộng và chiều sâu.

    – Thường trực Huyện uỷ và Ban tuyện giáo Huyện ủy tăng cường vai trò của các cấp ủy, trưởng các đơn vị trong việc triển khai cuộc vận động tại đơn vị trực thuộc của mình. Các thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện phụ trách các cơ sở Đảng cần tăng cường công tác nắm tình hình, kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời các nội dung có liên quan.

    – Đảng ủy Y tế huyện Long Phú cần ban hành hướng dẫn cụ thể về việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức cách nạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chính trị của các chi bộ phù hợp với đặc thù của ngành Y tế.

    – Ban chấp hành Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cuộc vận động. Tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các đơn vị khoa, phòng. Lồng ghép triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với các phong trào thi đua khác của ngành y tế. Trên cơ sở đó, xây dựng các tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn bình chọn các cá nhân, tập thể điển hình thực hiện tốt cuộc vận động.

    – Mỗi năm, Chi bộ cần tổ chức hội nghị sơ kết nhằm đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện và tuyên dương các tập thể, cá nhân điển hình thực hiện tốt cuộc vận động./.

     

     

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    2. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Triết học Mác-Lênin.  Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2002.
    4. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia – năm 1993.
    5. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
    6. Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
    7. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2006.
    8. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
    9. Đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, năm 2007.
    10. Website Đảng Cộng sản Việt Nam: http://www.cpv.org.vn
    11. Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng: http://www.soctrang.gov.vn
    12. Văn kiện Đại hội Đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú lần thứ II (nhiệm kỳ 2006-2008); lần thứ III (nhiệm kỳ 2008-2010); lần thứ IV (nhiệm kỳ 2010-2012).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]