Category: Khoa Học – Kỹ Thuật

  • Bài tập lớn Thiết kế mạng lưới quan trắc đất cho tỉnh Bình Thuận

    Bài tập lớn Thiết kế mạng lưới quan trắc đất cho tỉnh Bình Thuận

    Bài tập lớn Thiết kế mạng lưới quan trắc đất cho tỉnh Bình Thuận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN NGUYÊN LÝ MÁY 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%E1%BA%A1ng-l%C6%B0%E1%BB%9Bi-quan-tr%E1%BA%AFc-%C4%91%E1%BA%A5t-cho-t%E1%BB%89nh-B%C3%ACnh-Thu%E1%BA%ADn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Thiết kế mạng lưới quan trắc đất cho tỉnh Bình Thuận

    1. SƠ LƯỢC VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÍ TỈNH BÌNH THUẬN

    Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ Việt Nam, là một tỉnh thuộc khu vực kinh tế miền Đông Nam Bộ nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm phía nam.

    • Diện tích: 7812,8 km2 ( chiếm 2,38% diện tích cả nước )
    • Dân số: 1.260.000 người ( năm 2015 )
    • Mật độ: 151 người/ km2.
    • Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính và 127 xã, phường và thị trấn.

    Hình 1. Mũi  diện Kê Gà, một Phần của tỉnh Bình Thuận

    1.1 Vị trí địa lí.

    Bình Thuận là tỉnh có dãy đất bắt đầu chuyển hướng từ nam sang tây của phần còn lại của Việt Nam trên bản đồ hình chữ S, có tọa độ địa lý từ 10°33’42’’ đến 11°33’18’’ vĩ độ Bắc, từ 107°23’41’’ đến 108°52’18’’ kinh độ Đông.

    Phía bắc của tỉnh Bình Thuận giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía đông bắc giáp với tỉnh Ninh Thuận, phía tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây nam giáp với tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, phía đông và nam giáp với biển Đông với dường bờ biển dài 192 km.

    Bình Thuận có tỉnh lỵ đặt tại thành phố Phan Thiết nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km về phía nam.

    Hình 2. Vị trí tỉnh Bình Thuận

    1.2  Địa hình.

    Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp,  nằm ở phần rìa phía đông của dãy Trường Sơn. Lãnh thổ hẹp ngang và kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, phân hóa thành 4 dạng đại hình chính:

    • Địa hình đồi cát và cát ven biển chiếm 18,22% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố dọc ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân.
    • Đồng bằng phù sa chiếm 9,43% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
    • Địa hình đồi gò chiếm 31,66% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, từ Tuy Phong đến Bắc Bình.
    • Địa hình đồi núi thấp chiếm 40,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, độ cao từ 200 – 1.302m

    1.3 Khí hậu

    • Khí hậu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ trung bình: 270C .
    • Bình Thuận nằm trong vùng khô hạn nhất so với cả nước, với khí hậu nhiệt đới điển hình, nhiều nắng, gió và không có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm từ 26,5 – 270 Số giờ nắng trung bình năm là 2903 giờ. Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 9.800 – 9.9000C.
    • Bình Thuận là tỉnh nằm trong vùng có lượng mưa trung bình năm thấp, khoảng từ 800 – 1500mm. Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 79 – 80%.

    1.4 Thủy văn.

    Bình Thuận có 7 con sông chính chảy qua là: sông Lòng Sông, sông Lũy, sông Cái (sông Quao), sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh và sông La Ngà. Tổng diện tích lưu vực các sông là 9.880km2, tổng chiều dài các sông suối là 663 km.

    1.5  Đất đai.

    Tỉnh Bình Thuận có 151.300 ha đất canh tác nông nghiệp, trong đó có trên 50.000 ha đất lúa. Sẽ phát triển thêm 100.000 ha đất sản xuất nông nghiệp.

    Chăn nuôi gia súc, gia cầm khá phát triển. Đang đầu tư để hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả với:

    • 000 ha thanh long
    • 000 ha điều
    • 000 ha bông vải
    • 000 ha cao su
    • 000 ha tiêu

    Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để phát triển các ngành công nghiệp chế biến từ cây công nghiệp, lương thực, thực phẩm… Với diện tích 400.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, trữ lượng gỗ 25 triệu m³ và thảm cỏ là tiền đề thuận lợi để lập các nhà máy chế biến gỗ và phát triển các trang trại chăn nuôi đại gia súc và lập nhà máy chế biến thịt bò, heo… Trong vài năm trở lại đây, diện tích cây điều bị sụt giảm đáng kể do giá hạt điều bị giảm, cây thanh long và cây cao su liên tục tăng diện tích.

    Hình 3. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bình Thuận đến năm 2010

     

     

    1. TỔNG QUAN MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC VÀ QUAN TRẮC ĐẤT TỈNH BÌNH THUẬN.

    2.1 Tổng quan mạng lưới quan trắc đất tỉnh Bình Thuận.

    Đất là nguồn tài nguyên quý giá. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hóa như hiện nay thì diện tích đất  canh tác ngày càng thu hẹp, chất lượng đất ngày   càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người ngày càng giảm. Nguyên nhân làm môi trường đất bị ô nhiễm chủ yếu là do các quá trình lan truyền chất ô nhiễm từ môi trường khí, nước và chất thải rắn trong hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người vào môi trường đất.

    Do đó, để giám sát được diễn biến chất lượng môi trường đất, cần  quan trắc định kỳ để theo dõi kịp thời và có biện pháp quản lý thích hợp loại tài nguyên này…

    Mạng lưới quan trắc môi trường đất bao gồm 26 vị trí (đến 2015), 44 vị trí (đến 2020). Các thông số chủ yếu quan trắc môi trường đất bao gồm: pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl, SO42-  Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). Tại  các tỉnh sau : Huyện Đức Linh, Huyện Tuy Phong, Huyện Bắc Bình( 3 điểm ), Huyện Hàm Thuận, Huyện Tăng Linh, Huyện Hàm Thuận Nam, Huyện Hảm Tân, Thị Xã La Gi và Thành Phố Phan Thiết.

    Hình 4. Mạng lưới quan trắc đất  tỉnh Bình Thuận

    Các khu vực trồng trọt sẽ quan trắc thêm thông số: thuốc BVTT

    Các khu vực khai thác đá, khoáng sản quan trắc thêm thông số chất phóng xạ

    Thôn Lương Bình, xã Lương Sơn, huyện Bắc Bình; Thôn Thanh Bình, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình; Long Điền 2, Phước Thế, Tuy Phong; Xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong; Thôn Bình Sơn, xã Văn Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm.

    2.2 Mạng lưới quan trắc đất tỉnh Bình Thuận.

    2.2.1. Vị trí các trạm quan trắc tỉnh Bình thuận

    Hình 5. Vị trí các trạm quan trắc tỉnh Bình Thuận

    Bảng 1 : Giới thiệu mạng lưới quan trắc đất của tỉnh Bình Thuận

    STT Mã trạm Tên trạm Tọa độ địa lý Mô tả
    1 BT-1 Xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong Vĩ độ: 11.2867

     

    Kinh độ: 108.737

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Xung quanh là bãi đất trống, có các bãi cỏ, một vài cây xanh, gần đó có khu công nghiệp phía Tây Nam, và khu dân cư phía Đông.

    2 BT-2 Đội 3, thôn Thạnh Sơn, xã Xuân Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, huyện Tuy Phong Vĩ độ: 11.2283

     

    Kinh độ: 108.644

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Xung quanh là bãi đất trống, có các bãi cỏ, cách đó là các vùng có nhiều cây xanh.

    3 BT-3 Long Điền 2, Phước Thế, Tuy Phong Vĩ độ: 11.1536

     

    Kinh độ: 108.441

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất Tây Nguyên và Nam Trung Bộ

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Xung quanh là đất trống, phần lớn là đất đá.

    4 BT-4 Thôn Thanh Bình, xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình Vĩ độ: 11.2475

     

    Kinh độ: 108.406

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Là đất trồng trọt, xung quanh là các khu đất trồng khác, gần đường tỉnh.

    5 BT-5 Thôn Lương Bình, xã Lương Sơn, huyện Bắc Bình Vĩ độ: 11.1883

     

    Kinh độ: 108.393

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Nằm trên bãi đất trống, xung quanh là bãi cỏ rộng, nằm phía lên trên là xã Lương Bình, Lương Trung.

    6 BT-6 Bãi rác Tân Lập, Thị trấn Hàm Thuận, huyện Hàm Thuận Nam Vĩ độ: 10.8601

     

    Kinh độ: 107.8807

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Là bãi rác, xung quanh có các hộ dân cư, nằm gần khu đất trồng trọt, phía Bắc có hồ Tân Lập.

    7 BT-7 Khu vực khai thác Titan Hòa Thắng, huyện Bắc Bình Vĩ độ: 11.0920

     

    Kinh độ: 108.4523

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Là đồi cát, có các bụi cây, xung quanh khu vực xã Hòa Thắng (huyện Bắc Bình), xã Thuận Quý, xã Tân Thành (huyện Hàm Thuận Nam)

    8 BT-8 Khu vực xung quanh công nghiệp Hàm kiệm I. Vĩ độ: 10.9182

     

    Kinh độ: 107.9967

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Nằm gần khu dân cư, đất trồng trọt (cây trồng chủ yếu là thanh long), chăn nuôi gia súc trên các bãi cỏ.

    9 BT-9 Đất trồng lúa xã Hàm Đức, Tp. Phan Thiết   Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Nằm gần khu dân cư và các vùng trồng nhiều cây.

    10 BT-10 Đất trồng cao su, huyện Tánh Linh   Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Nằm gần các khu dân cư đông đúc, gần khu đất nông nghiệp và gần các đường chính.

    11 BT-11 Khu vực khai thác Titan Mỹ Sơn, huyện Hàm Tân Vĩ độ: 10.6375

     

    Kinh độ: 107.6904

    Tên trạm: Trạm QT&PTMT đất miền Nam

     

    Loại điểm: thu mẫu

    Trạng thái: đang hoạt động

    Thành phần: đất

    Nằm gần khu vực cồn cát bay, gần biển.

    2.2.2 Vùng quan trắc, chỉ tiêu đo đạc quan trắc và tầng suất lấy mẫu

    Bảng 2 : Các thông số và tần suất quan trắc đất tỉnh Bình Thuận

    STT Tên vùng quan trắc Điểm quan trắc Chỉ tiêu đo đạc Tần suất

     

    (lần/ năm)

    1 Huyện Hàm Thuận Bắc Đất trồng lúa pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    Khu vực chăn nuôi pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    2 Huyện Bắc Bình Khu vực khai thác titan Hòa thắng pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg) 1
    Khu vực chăn nuôi pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg) 1
    3 Huyện Tuy Phong Khu vực xung quanh khu công nghiệp Tuy Phong pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg) 1
    Đẩt trồng thuốc lá pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg) 1
    4 Huyện Ham Thuận Nam Đất bãi rác Tân Lập pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). 1
    Khu vực trồng thanh long Hàm Minh pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). 1
    Khu vực xung quanh công nghiệp Hàm Kiêm I pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). 1
      Khu vực khai thác titan Suối Nhum pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). 1
    5 Thị xã La Gi Vùng nuôi trồng thủy sản pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV. 1
    Đất trồng đậu tương pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    6 Huyện Hàm Tân Khu vực khai thác titan Tan Thiện pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). 1
    Khu vực xung quanh khu công nghiệp Tân Đức pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg). 1
    7 Huyện Tánh Linh Đất trồng cao su pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    7 Đất trồng lúa pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    Khu vực chăn nuôi pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    8 Huyện đức Linh Đất trồng đậu tương pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    Khu vực chế biến mủ cao su pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+,Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    Khu vực chăn nuôi pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg), thuốc BVTV 1
    9 Thành phố Phan Thiết Khu dân cư Hàm Tiến pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg) 1
    Đất bãi rác Bình Tú pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg 1
    Khu vực xung quanh KCN Phan Thiết 1 pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl-, SO42-, Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg) 1

    2.2.3 Kết quả đo các thông số pH và kim loại nặng tại các vùng quan trắc năm 2011

     

    Nhận xét :kết quả quan trắc cho thấy pH tương đối ổn định tại các vùng nằm trong khoảng từ 5.5-7 . Nhưng lại tương đối thấp tại khu vực bãi rác và khu vực nuôi trồng thủy sản.Đa số cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép

     

    Nhận xét :Hàm lượng As trong đất tại các điểm quan trắc là rất khác nhau nhưng đặc biệt tương đối cao ở KCN Hàm Kiệm I và khu vực đất trồng lúa, không vượt qua tiêu chuẩn cho phép. QCVN 03 : 2008/BTNMT

     

     

    Nhận xét : Qua kết quả quan trắc tại các điểm quan trắc cho thấy hàm lượng chì tại các khu vực là không khác nhau nhiều nhưng tương đối cao tại các KCN nhưng đạt mức cho phép. QCVN 03 : 2008/BTNMT

    Nhận xét : Hàm lượng Cu là tương đối ổn định tại các điểm quan trắc tuy nhiên đặc biệt cao tại vùng KCN Mai Lâm . QCVN 03 : 2008/BTNMT

    2.2.4. Hướng cải tiến mạng lưới quan trắc tỉnh Bình Thuận

    Cải tiến mạng lưới quan trắc tỉnh Bình Thuận.

    *Đối với các khu vực khai thác Titan.

    Do điều kiện địa lý tự nhiên với nhiều khoán sản phục vụ việc phát triển kinh tế tại tỉnh Bình Thuận có các mỏ khai thác kim loại nặng, điển hình là khai thác Titan (chiếm 92% trữ lượng của cả nước). Việc khai thác quặng titan trên diện rộng đã hủy hoại cảnh quan và địa hình tự nhiên; làm gia tăng hiện tượng cát bay; gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất. Quá trình khai thác và chế biến sâu quặng titan đã thải ra nhiều hóa chất độc hại cho môi trường, làm tích tụ và phát tán chất phóng xạ, làm hoang mạc hóa toàn bộ phần cát sau khi tuyển sạch khoáng sản cùng với các vi sinh vật, mùn và chất hữu cơ mà không thể phục hồi lại.Gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường mà nặng nề nhất là tài nguyên đất.

    => Đề xuất biện pháp: Cần đầu tư thêm một số thiết bị quan trắc kim loại nặng, và phải tăng tần số quan trắc tại các khu vực này từ 3 năm/1 lần thành 1 năm/2 lần (6 tháng/1 lần) để kịp thời phát hiện các ảnh hưởng xấu đối với các khu vực đất xunh quanh khu vực khai thác (tại khu khai thác Titan Hòa Thắng, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân tại 2 xã lân cận: xã Hòa Thắng – huyện Bắc Bình, xã Thuận Quý, xã Tân Thành – huyện Hàm Thuận Nam) và tầng nước dưới đất.

    *Đối với các khu công nghiệp, vùng nông nghiệp.

    Là một trong các vùng trồng thanh long nhiều nhất trong nước và có các khu vực trồng lúa, nhưng do việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học và các loại thuốc tăng trưởng, làm các hóa chất độc hại ngấm vào đất, nếu để quá lâu sẽ ngấm vào tầng nước dưới dưới đất, gây ảnh hưởng xấu đến người dân khi sử dụng phải, hoặc sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các vùng nông nghiệp khác. Tại các khu công nghiệp cũng như thế, do ảnh hưởng của việc sử dụng nhiều hóa chất trong quá trình sản xuất, có thể làm ô nhiễm tầng đất mặt. Nếu theo như quy định hiện giờ của tỉnh là mỗi 3 năm chỉ thực hiện quan trắc đất 1 lần như vậy là quá ít để có thể kịp thời phát hiện và hồi phục vùng đất bị ô nhiễm.

    =>Đề xuất giải pháp: Cần thực hiện quan trắc đất tại các khu vực này 1 năm/1 lần.

    2.3 Phương thức quan trắc đất

    2.3.1. Các bước thiết kế chương trình quan trắc

    2.3.1.1. Xác định mục tiêu quan trắc.

    Mục tiêu của quan trắc trước hết là đáp ứng nhu cầu thông tin, trong QTMT để có các thông tin đầy đủ về trạng thái hóa học của một chất, phân tích hóa học nên được thực hiện mà ở đây cụ thể là phân tích tính chất thành phần của các khu đất chịu ảnh hưởng mạnh bởi các tác động của cong người.

    Mục tiêu của quan trắc là xác định vấn đề môi trường, xác định mục tiêu quan trắc nên bắt đầu từ:

    • Xác định áp lực môi trường
    • Xác định hiện trạng môi trường
    • Xác định nhu cầu quan trắc

    Bảng 3: Thiết kế chương trình quan trắc

    Mục tiêu Thiết kế nội dung quan trắc Ứng dụng
    Trạng thái, xu hướng Nghiên cứu theo không gian và thời gian với hệ thống các thông số nhất định để thống kê mức độ các yếu tố môi trường và xu hướng diễn biến chất lượng môi trường Báo cáo khái quát trạng thái môi trường; dự báo trạng thái môi trường tại một thời điểm nhất định trong tương lai hoặc một giả định trong tương lai
    Biến động Thiết kế mô hình BACI (before, after, control, impact) với số lượng mẫu lấy lớn được lấy trước và sau nguồn tác động để xác định các yếu tố ảnh hưởng

     

    Kết luận về sự biến đổi theo thời gian

    Kết luận về sự biến đổi theo không gian

    Xác định biến đổi môi trường do những hoạt động có vấn đề là nguyên nhân gây ra xáo trộn

     

    (Nếu không thể lấy được mẫu trước khi có xáo trộn, có thể lấy mẫu thể lấy mẫu thay thế ở thượng nguồn hoặc ở một hệ thống tương tự)

    Dự báo Định lượng mối quan hệ giữa các thông số để phát triển mô hình dự báo mối quan hệ giữa các thông số này Phát triển mô hình dự báo cho một hoặc nhiều thông số từ giá trị các thông số khác. Sử dụng để so sánh hiện trạng môi trường đã kiểm tra các biến đổi.

    2.3.1.2 Xác định thông số

    Thông số được lựa chọn trong quan trắc phải đáp ứng các yêu cầu:

    • Tính tương tác (tính đại diện): thông số phải phản ánh chính xác vấn đề môi trường cần quan trắc.
    • Giá trị chuẩn đoán: kết quả thông số phải phản ánh được những tính chất môi trường và những biến đổi môi trường trong suốt quá trình quan trắc
    • Tính pháp lý: thông số lựa chọn phải có tính pháp lý chắc chắn tức là đó là khả năng giải thích các biến đổi môi trường một cách có căn cứ khoa học và được công nhận rộng rãi. Như vậy, việc lựa chọn các thông số có thể dựa trên hệ thống quản lý môi trường hiện hành.
    • Tính thích ứng: Điều kiện vật chất, kỹ thuật, khả năng tài chính phải cho phép thực hiện phân tích các thông số đã lựa chọn.

    Với mẫu đất cần quan trắc tại các điểm quan trắc tại bình thuận chủ yếu các thông số sau : pH(H2O,KCL), N,P,K tổng số, NH4+, NO3, P2O5, muối tan tổng số, Cl, SO42-  Na+, Ca2+, Mg2+, K+, Fe3+, Al3+, KLN( Cu, Cd, Pb, Zn, Hg)…

    2.3.1.3. Xác định phương án

    Phương án quan trắc của hệ thống quan trắc môi trường quốc gia cần được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Đối với một chương trình quan trắc quy mô nhỏ yêu cầu xác định phương án quan trắc gồm có các nội dung sau:

    • Đối tượng quan trắc (nguồn tác động và đặc điểm môi trường tác động )
    • Loại hình quan trắc
    • Hệ thống đánh giá
    • Cách thức tổ chức thực hiện

    2.3.1.4. Xác định phương án lấy mẫu

    Dựa vào khả năng biến động( không gian, thời gian, ) hiệu quả, lợi ích, mục đích quan trắc và tính pháp lí mà ta lựa chọn ra phương pháp phù hợp nhất để lấy mẫu, đáp ứng nhu cầu và mục đích quan trắc.

    • Vị trí lấy mẫu
    • Số lượng mẫu cần lấy
    • Tuyến lấy mẫu (mạng lưới lấy mẫu)
    • Tần suất lấy mẫu
    • Kỹ thuật lấy mẫu
    • Kiểm soát chất lượng mẫu tại hiện trường
    • Kỹ thuật bảo quản mẫu.

    2.3.1.5. Xác định phương án phân tích.

    • Thiết bị phân tích
    • Phương pháp phân tích theo từng thông số
    • Phương pháp hiệu chuẩn và đảm bảo chất lượng kết quả đo

    2.3.1.6. Xác định phương án xử lí số liệu.

    • Xử lý số liệu:
    • Hiệu chỉnh số liệu
    • Xử lý thống kê
    • Phân tích số liệu
    • Lưu trữ
    • Yêu cầu số liệu:
    • Tính đúng
    • Tính chính xác
    • Tính đồng nhất
    • Đại diện theo không gian
    • Liên tục về thời gian
    • Tính hoàn chỉnh

    2.3.1.7. Xác định phương án trình bày công bố số liệu

    Đáp ứng nhu cầu thông tin:

    • Lưu trữ bí mật quốc gia
    • Công khai trong các báo cáo hiện trạng môi trường
    • Công bố trên thông tin đại chúng
    • Phục vụ nghiên cứu khoa học
    • Các nhiệm vụ khác

    2.3.2. Phương thức lấy mẫu.

    Quá trình vận chuyển, tích lũy các chất ô nhiễm trong đất diễn ra trong một thời gian dài gây ra sự phân tầng đáng kể theo độ sâu. Do đó, tính đại diện phải được xác định là đại diện theo độ sâu.Địa hình và địa chất là những thông tin quan trọng

    Do cấu thành từ nhiều thành phần pha và thành phần vật chất nên tính không đồng nhất xuất hiện ở phạm vi rất nhỏ trong khi đó xét trên phạm vi vĩ mô nhất định, mẫu rắn có thể là đồng nhất.

    Có rất nhiều cách lấy mẫu nhưng với mẫu đất ta thường lấy mẫu theo phân lớp. Lấy mẫu theo phân lớp sử dụng phương pháp phân chia khu vực lấy mẫu ra thành các lớp và trong mỗi lớp mẫu được lấy ngẫu nhiên hoặc theo hệ thống.

    2.3.3 Kỹ thuật lấy mẫu đất.

    2.3.3.1 Tổ chức mạng lưới lấy mẫu đất.

    Lựa chọn vùng quan trắc và tiển hành tổ chức mạng lưới quan trắc

    Chẳng hạn như một mạng lưới quan trắc sạu:

    2.3.3.2 Dụng cụ lấy mẫu đất

    Xẻng cầm tay:  hoặc các dụng cụ tương tự được sử dụng trong lấy mẫu đất tầng mặt.

    Khoan đất: Có hai dạng khoan lấy mẫu đất cơ bản là khoan thẳng và khoan xoắn.

    Sau đây là một vài dụng cụ lấy mẫu đất thường dùng :

               
               
     

    Hình 6: Một số dụng cụ lấy mẫu đất

    2.3.3.4 Thủ tục lấy mẫu đât

    • Lấy mẫu tầng mặt
    • Xác định điểm lấy mẫu đất, tại vị trí lấy mẫu đất mô tả các đặc điểm môi trường liên quan đến đặc tính của đất vào sổ tay lấy mẫu cùng với lý lịch mẫu cần lấy trước khi tiến hành lấy mẫu.
    • Làm sạch bề mặt (loại bỏ thực vật bề mặt, đá sỏi, vật chất ngoại lai)
    • Đào hố sâu 15 cm, một mặt đào phẳng tạo góc nghiêng khoảng 20 – 30o so với trục vuông góc mặt đất.
    • Dùng xẻng đào lấy một lớp đất dày khoảng 1 inch (2,5 – 3 cm).
    • Dùng dao hoặc các vật sắc tương tự cắt lấy một dải đất chính giữa xẻng với độ rộng khoảng 1 inch, phần còn lại loại bỏ.
    • Lặp lại bước 4 và 5 vài lần cho đến khi đủ khối lượng đất yêu cầu (thường khoảng 300 – 500g tùy theo thông số phân tích).
    • Chuyển mẫu vào túi đựng, buộc kín, ghi nhãn mác.
    • Lấy mẫu theo độ sâu
    • Xác định điểm lấy mẫu đất.
    • Làm sạch bề mặt.
    • Đặt khoan vào đúng vị trí và vuông góc với mặt đất, vặn khoan theo chiều kim đồng hồ đồng thời ấn xuống.
    • Chú ý thước đo trên ống khoan, dừng lại ở độ sâu 15 cm; vặn khoan ngược chiều kim đồng hồ đồng thời nhấc lên.
    • Dùng dao hoặc que đầu nhọn cẩn thận tách đất khỏi ống khoan, chuyển vào túi đựng, buộc kín, ghi nhãn. Trong những trường hợp lấy mẫu đất chỉ thực hiện với tầng mặt, kỹ thuật lấy mẫu chỉ gồm có 5 bước trên.
    • Làm sạch khoan, đặt khoan vào đúng vị trí cũ, thiếp tục lặp lại bước 3, 4 và 5 đối với các độ sâu tiếp theo.
    • Tiến hành lấy mẫu đất

    Bảng 4: Phương pháp lấy mẫu đất tại hiện trường theo các tiêu chuẩn hiện hành quy định.

    STT Phương pháp lấy mẫu đất Số hiệu tiêu chuẩn
    1 Chất lượng đất – Từ vựng – Phần 2: Các thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến lấy mẫu ·    TCVN 6495-2:2001

     

    (ISO 11074-2:1998)

    2 Chất lượng đất – Lấy mẫu – Yêu cầu chung ·    TCVN 5297:1995
    3 Chất lượng đất – Lấy mẫu Phần 2: Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu ·    TCVN 7538-2:2005

     

    (ISO 10381-2:2002)

    4 Chất lượng đất – Phương pháp đơn giản để mô tả đất ·    TCVN 6857:2001

     

    (ISO 11259:1998)

    5 Đất trồng trọt. Phương pháp lấy mẫu ·    TCVN 4046:1985

    2.3.4. Kỹ thuật bảo quản mẫu.

    2.3.4.1 Vai trò của bảo quản mẫu.

    Các quá trình ảnh hưởng tới chất lượng mẫu:

    • Nhiễm bẩn từ thiết bị hoặc hóa chất bảo quản.
    • Khử các chất khí: oxy, nitơ, metan hòa tan trong nước hoặc khí tự do trong đất.
    • Mất các chất khí do thay đổi pH của mẫu (CO2).
    • Hấp phụ kim loại lên thành bình thủy tinh.
    • Hấp thụ các khí do quá trình oxi hóa và kết tủa kim loại.
    • Phân hủy và chuyển hóa sinh học.
    • Bay hơi các chất hữu cơ có nhiệt độ sôi thấp.
    • Phản ứng hóa học và quang hóa.

    Bảo quản mẫu là sử dụng một hoặc một tổ hợp các biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế những biến đổi chất lượng mẫu trong thời gian lưu trữ.

    Tóm lại, vai trò của bảo quản mẫu:

    • Hạn chế các quá trình tự nhiên làm biến đổi nồng độ các chất trong mẫu sau thu thập.
    • Hạn chế các quá trình nhiễm bẩn từ thiết bị hoặc hóa chất bảo quản.

    2.3.4.2 Thủ tục bảo quản mẫu

    • Sau khi lấy mẫu, người lấy mẫu phải tiến hành tách mẫu thành các nhóm thông số có yêu cầu bảo quản giống nhau và thực hiện bản quản riêng theo nhóm.
    • Mẫu phải được bổ sung hóa chất bảo quản (nếu có) ngay sau khi lấy mẫu để tránh mở dụng cụ, bao bì chứa mẫu quá nhiều lần trước khi phân tích.
    • Đối với một số mẫu đặc biệt có thể có những yêu cầu bảo quản riêng, các biện pháp bảo quản này phải được thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục quy định. Ví dụ một số mẫu phân tích yêu cầu tiệt trùng (khử trùng) trước khi bảo quản có thể thực hiện bằng một trong những kỹ thuật sau: Tiệt trùng bằng tia cực tím, phương pháp nhiệt ẩm (khử trùng bằng hơi nước), phương pháp nhiệt khô (khử trùng trên ngọn lửa, tro hóa mẫu (500 – 650oC trong 4 – 8h), sấy khô mẫu (60 – 90oC trong 10 – 48h)…)
    • Sau khi tiến hành bổ sung hóa chất, mẫu phải được dán nhãn, nhãn mẫu phải ghi đầy đủ các thông tin liên quan đến phương pháp bảo quản như: yêu cầu bảo quản, thời gian bảo quản, loại hóa chất bảo quản, thể tích thêm vào, giới hạn thời gian bảo quản… làm cơ sở đề thực hiện các bước tiếp theo.
    • Hầu hết tất cả các mẫu phải được bảo quản lạnh ngay ngoài hiện trường, căn cứ vào các điều kiện cụ thể có thể dùng thùng giữ lạnh, tủ định ôn để bảo quản mẫu bằng nước đá hoặc đá khô hoặc sử dụng tủ lạnh
    • Tiến hành bảo quản đồng thời mẫu phân tích và các mẫu kiểm soát chất lượng (mẫu trắng dụng cụ, mẫu trắng hiện trường, mẫu trắng vận chuyển và các mẫu chuẩn)
    • Không thực hiện đo đạc, phân tích mẫu đã vượt quá giới hạn thời gian bảo quản.

    2.3.5 Phân tích trong phòng thí nghiệm.

    Căn cứ thuộc vào năng lực phòng thí nghiệm, việc phân tích các thông số phải tuân theo một trong các phương pháp quy định trong bảng dưới đây:

    Bảng 5: Thông số và phương pháp phân tích mẫu trong phong thí nghiệm

    STT Thông số Số hiệu tiêu chuẩn, phương pháp
    1. Thành phần cơ giới ·    Phương pháp ống hút Robinson
    2. Tỷ trọng ·    Phương pháp picnomet
    3. Dung trọng ·    Phương pháp ống trụ kim loại
    4. pH H2O ·    TCVN 5979:2007 (ISO 10390:2005);

     

    ·    TCVN 4402:1987

    5. pHKCl ·    TCVN 5979:2007 (ISO 10390:2005);

     

    ·    TCVN 4401:1987

    6. EC ·    TCVN 6650:2000 (ISO 11265:1994)
    7. Tổng số muối tan (TSMT) ·    ISO 11265:1994
    8. Cl ·    Điện cực hoặc chuẩn độ
    9. SO2- ·    TCVN 6656:2000 (ISO 11048:1995);
    10. N-NH4+ ·    TCVN 6643:2000
    11. N-NO3 ·    TCVN 6643:2000
    12. N tổng số ·    TCVN 6645:2000 (ISO 13878:1998)
    13. K  tổng số ·    TCVN 8660:2011
    14. Nitơ dễ tiêu ·    TCVN 5255:2009
    15. P dễ tiêu ·    TCVN 8661:2011
    16. K dễ tiêu ·    TCVN 8662:2011
    17. Cacbon hữu cơ ·    TCVN 6642:2000;

     

    ·    TCVN 6644:2000

    18. Tổng số Bazơ trao đổi ·    TCVN 4621:2009
    19. Dung tích hấp thu (CEC) ·    BS ISO 23470:2007;

     

    ·    ISO 11260:1994

    20. Độ chua trao đổi (H+ trao đổi) ·    TCVN 4403:2011
    21. Cd, Co, Cu, Zn, Pb, Ni, Mn ·    TCVN 6496:2009
    22. As ·    BS ISO 20280:2007
    23. Kim loại ·    TCVN 8246:2009 (EPA Method 7000B)
    24. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ·    TCVN 6132:1996;

     

    ·    TCVN 6134:2009;

    ·    TCVN 6135:2009;

    ·    TCVN 8061:2009 (ISO 10382:2002)

    25. Vi khuẩn ·    Phương pháp MPN (tổng số tối đa có thể)
    26. Nấm mốc ·    Phương pháp MPN (tổng số tối đa có thể)
    27. Xạ khuẩn ·    Phương pháp MPN (tổng số tối đa có thể)

     

    1. BÁO CÁO MẪU VÀ PHƯƠNG THỨC TRÌNH BÀY KẾT QUẢ QUAN TRẮC MẪU ĐẤT.

    Theo Thông tư 05/2008/TT-BTNMT quy định, báo cáo giám sát môi trường định kỳ là một hình thức đánh giá chất lượng môi trường ngắn hạn (bao gồm: nước thải, khí thải và chất thải rắn) tại cơ sở và báo cáo định kỳ về Cơ quan thẩm quyền ( cụ thể là Chi cục Bảo vệ môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường). Mục đích của việc lập báo cáo giám sát môi trường định kỳ là để theo dõi quan trắc số liệu của mỗi công ty nhằm đánh giá tác động và ngăn chặn được những vấn đề ô nhiễm rồi đưa ra giải pháp giảm thiểu và xử lý môi trường thích hợp .

    Hình thức đánh giá bằng cách đo đạc mẫu đất, tính toán chất lượng chất thải rắn phát sinh và tra cứu mức độ ô nhiễm môi trường đất. Để có được thông tin xác thực, cần phải tiến hành thu thập dữ liệu, lấy được những con số cụ thể qua thời gian dài nhằm xác định được nguyên nhân và hoạt động của ô nhiễm qua đó có những đề án xử lí phù hợp .

    Nội dung cơ bản của một báo cáo đánh giá chất lượng môi trường được ban hành kèm theo hướng dẫn của Bộ tài nguyên môi trường gồm có các phần sau:

    • Mở đầu
    • Tính cấp thiết của công tác đánh giá chất lượng môi trường
    • Mục tiêu của đánh giá.
    • Yêu cầu của đánh giá.
    • Nội dung thực hiện;
    • Phạm vi thực hiện;
    • Kinh phí thực hiện;
    • Thời gian thực hiện
    • Phần I. Hiện trạng phát triển kinh tế – xã hội
    • Nội dung bao gồm những nét chính về tình hình phát triển kinh tế xã hội của đối tượng cần đánh giá.
    • Quá trình đánh giá dựa trên các chỉ thị áp lực.
    • Phần II. Hiện trạng môi trường
    • Hiện trạng môi trường có thể phân chia theo vùng hoặc theo thành phần môi trường.
    • Quá trình đánh giá dựa trên các chỉ thị hiện trạng.
    • Phần III. Sự cố môi trường và các thách thức.
    • Xác định xu hướng biến đổi hiện trạng môi trường trong tương lai.
    • Đánh giá dựa trên việc định lượng hóa các chỉ thị hiện trạng.
    • Phần IV. Tình hình quản lý môi trường
    • Quản lý nhà nước.
    • Ứng dụng khoa học, công nghệ.
    • Giáo dục và truyền thông môi trường.
    • Đánh giá dựa trên các chỉ thị đáp ứng.
    • Mô tả thời gian lấy mẫu, lượng mẫu, thành phần quan trắc môi trường.
    • Mô tả vắn tắt về các địa điểm lấy mẫu, đặc điểm thời tiết và khí tượng đợt lấymẫu.

    Thông tin về các điểm quan trắc điền theo mẫu tại bảng dưới đây:

    Bảng 1 – Ký hiệu mẫu tương ứng với các điểm quan trắc:

    BÁO CÁO PHÂN TÍCH MẪU

    Tên điểm: ……………………………………….. Mô tả mẫu: …………………………………

    Mã mẫu: …………………………………………. Thành phần môi trường: …………………..

    Ngày thu mẫu: ………………………………… Loại mẫu: ………………………………….

    STT Tên thông số Đơn vị tính Kết quả
    I Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất
    1 Thông số…    
    2 Thông số…    
    3 Thông số…    
    II Kết quả phân tích mẫu đất
    4 Thông số…    
    5 Thông số…    
    6 Thông số…    
    III Kết quả phân tích tính chất vật lý mẫu đất
    7 Thông số…    
    8 Thông số…    
    9 Thông số…    
    • Nhận xét:
    • Đánh giá kết quả quan trắc theo từng đợt lấy mẫu, theo từng thành phần môi trường đất, nước thải, nước mặt, nước ngầm, không khí,… so với tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành đối với từng thành phần môi trường (căn cứ số liệu tại Biểu 2).
    • Xây dựng biểu đồ và đánh giá diễn biến kết quả quan trắc theo từng đợt, từng năm theo các thông số quan trắc đối với từng thành phần môi trường.
    • Nhận xét, đánh giá về hiệu quả, tình trạng hoạt động của hệ thống, công trình xử lý xử lý nước thải tập trung (số lượng các đơn nguyên, công suất xử lý, hệ thống quan trắc nước thải tự động,…).
    • Nhận xét, đánh giá về tình hình xử lý khí thải, hiện trạng thu gom, xử lý chất thải rắn (căn cứ số liệu tại Biểu 2, 3). Xây dựng biểu đồ và đánh giá diễn biến thu gom, xử lý chất thải rắn theo từng năm
    • Kết luận.
    • Nhận xét về hiện trạng môi trường và xu hướng biến động
    • Đưa ra Đánh giá kết quả thực hiện đợt quan trắc về tiến độ và thời gian thực hiện, mức độ và kết quả áp dụng QA/ QC trong quan trắc theo đúng quy định hiện hành của Thông tư số 10/2007/TT-BTNMT ngày 22 tháng 10 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường.

    Đánh giá chung về chất lượng môi trường theo từng thàn phần quan trắc các giải pháp cụ thể

    • Phụ lục.
    • Phụ lục 1: Bản đồ minh họa điểm lấy mẫu;
    • Phụ lục 2: Danh mục thiết bị quan trắc;
    • Phụ lục 3: Danh mục thiết bị – thông số quan trắc;
    • Phụ lục 4: Phương pháp và điều kiện lấy mẫu;
    • Phụ lục 5: Phương pháp phân tích mẫu;
    • Phụ lục 6: Biểu kết quả.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bài giảng môn học Quan trắc môi trường của giảng viên Phạm Anh Đức – Trường ĐH Tôn Đức Thắng.
    2. Báo cáo quan trắc môi trường đất của tỉnh Bình Thuận qua các năm: 2007-2009
    3. Bản đồ nền của tỉnh Bình Thuận.
    4. Bài giảng môn Quan trắc môi trường giảng viên Nguyễn Thị Thu Hà

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn Kỹ thuật hệ thống trong Công nghệ hóa học Phân tích và tổng hợp hệ thống công nghệ hóa học trên cơ sở nhiệt động học (Exergy)

    Bài tập lớn Kỹ thuật hệ thống trong Công nghệ hóa học Phân tích và tổng hợp hệ thống công nghệ hóa học trên cơ sở nhiệt động học (Exergy)

    Bài tập lớn Kỹ thuật hệ thống trong Công nghệ hóa học Phân tích và tổng hợp hệ thống công nghệ hóa học trên cơ sở nhiệt động học (Exergy)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Kế hoạch khởi sự doanh nghiệp Thành lập công ty vận tải song trường với dòng sản phẩm là dịch vụ vận tải hàng hóa đông lạnh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-K%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-trong-C%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-h%C3%B3a-h%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-v%C3%A0-t%E1%BB%95ng-h%E1%BB%A3p-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-h%C3%B3a-h%E1%BB%8Dc-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-nhi%E1%BB%87t-%C4%91%E1%BB%99ng-h%E1%BB%8Dc-Exergy.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Kỹ thuật hệ thống trong Công nghệ hóa học Phân tích và tổng hợp hệ thống công nghệ hóa học trên cơ sở nhiệt động học (Exergy)

    Bài tập lớn Kỹ thuật hệ thống trong Công nghệ hóa học: Phân tích và tổng hợp hệ thống công nghệ hóa học trên cơ sở nhiệt động học (Exergy)

         1.            Giới thiệu

    Ngành công nghiệp xi măng là một ngành tiêu hao rất nhiều năng lượng. Để sản xuất ra một tấn clinker theo công nghệ lò nung tiên tiến phải tiêu tốn 730.000-800.000 kcal tương đương với 110-120kg than tiêu chuẩn, đồng thời thải ra ngoài không khí lương khí thải rất lớn, khoảng 2500-2800 m3 ở nhiệt độ từ 350-380oC với nồng độ bụi trung bình 50mg/Nm3 gây hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường. Vì vậy cần phải tối ưu hóa hoặc thiết kế lại quá trình này để nâng cao hiệu quả của nó.

    Năng lượng đưa vào quá trình khá cao, lên tới 3.22GJ/t nên việc tiến hành phân tích exergy là một quá trình quan trọng. Theo đánh giá của OECD năm 2000 thì giá trị thực nghiệm tốt nhất trong khoảng 2.9-3.2 GJ/t. So với giá trị tính toán được thì khá là phù hợp. Trong hầu hết các đơn vị sản xuất xi măng, chi phí năng lượng chiếm hơn 25 % tổng chi phí sản xuất. Các khái niệm về exergy là rất hữu ích trong việc xác định công việc mà phải được cung cấp cho hệ thống để loại bỏ nó từ trạng thái cân bằng. Exergy cũng có thể trở thành một thước đo của công việc tối thiểu cần thiết để sản xuất hàng hóa và có thể được sử dụng để đánh giá chuyển đổi và sử dụng năng lượng cho các hệ thống sản xuất và nền kinh tế quốc gia.

         2.            Mô tả hệ thống

    Hệ thống công nghệ có các operator công nghệ chính như operator  công nghệ trộn để trộn nguyên liệu than và đất sét, thạch cao và phụ gia. Operator biến đổi hóa học như các thiết bị nung clinker…và nhiều operator công nghệ khác.

    Sản xuất xi măng bao gồm các giai đoạn sau:

    • Khai thác và vận chuyển đá vôi:

    Đá vôi được khai thác theo phương pháp cắt tầng bằng nổ mìn sau đó dùng xe ủi hạng lớn ủi xuống chân núi, dưới chân núi máy xúc công suất lớn xúc đá lên xe tải, băng tải xích chuyển về máy đập đá. Đá sau đập có kích thước cực đại cỡ 15 mm, Qua hệ thống băng tải cao su vận chuyển vào cầu rải (cầu rải có khả năng tịnh tiến đồng thời ngang và dọc). Đồng thời với quá trình này thì đá vôi được vận chuyển về kho đồng nhất sơ bộ.

    • Công đoạn dập và vận chuyển đá sét

    Cũng như đá vôi đá sét có kích thước nhỏ hơn 1000mm được máy xúc đổ lên xe Koockum tự đổ vận chuyển vào phễu tiếp liệu, nhờ băng tải xích đá sét đi vào máy đập kiểu va đập đàn hồi, đập sơ bộ xuống cỡ nhỏ hơn 75mm. Sau đó đá sét được băng tải cao su vận chuyển tới máy cán hai trục để đập lần 2 xuống kích thước còn nhỏ hơn 25mm. Sau khi cán đá sét được hệ thống băng tải cao su vận chuyển về kho đồng nhất sơ bộ.

    • Kho đồng nhất sơ bộ

    Đá vôi và đá sét được xếp vào kho thành 2 đống mỗi loại, và đổ vào kho bằng 4 cầu rải. Cầu sẽ rải liệu thành từng luống ở cả lượt đi và lượt về (có từ 8 đến 29 luống). ở đây cũng có 2 hệ thống gầu xúc, khoảng 20 gầu, dùng để xúc liệu từ kho đồng nhất lên hệ thống cân định lượng tự động Đôsimat, định đúng khối lượng cần thiết theo tỉ lệ cân từ băng tải chung chuyển đá tới cổ tiếp liệu cho máy sấy nghiền nguyên liệu.

    Nguyên tắc làm việc của kho là khi đống này được đổ thì đống kia đang được xúc.

    • Công đoạn nghiền liệu

    Liệu sau khi đồng nhất sơ bộ được đưa vào máy nghiền nguyên liệu, đồng thời với quá trình này, xỉ cũng được tháo ra từ các kết quả cân định lượng đổ vào băng tải chung và cùng đổ vào cổ tiếp liệu và vào máy sấy nghiền. Liệu được nghiền bằng máy nghiền bi. Liệu từ máy nghiền, qua gầu nâng lên hệ thống phân ly để sàng, những hạt không đạt yêu cầu đưa trở về máy nghiền qua cân hồi lưu. Còn những hạt qua sàng có độ mịn đạt yêu cầu thì  được không khí thổi lên silô lắng.

    • Công đoạn đồng nhất liệu

    Liệu ở cyclone lắng được tháo vào si lô theo kiểu tháo chéo (đây cũng là một bước sơ bộ nữa). Silô gồm 2 tầng, đáy silô có hệ thống máy nén khí – sục khí vào trong silô để đồng nhất phối liệu và tạo sự linh động cho phối liệu khi tháo sẽ dễ dàng. Khi khởi động công đoạn này một trong hai silô đã được nạp đến một nửa. Sau đó liệu được nạp vào từng silô theo những khoảng thời gian đặt trước. Khi liệu đã được điền đầy một trong hai silô thì tháo từ silô đầy xuống silô chứa bên dưới theo nguyên tắc silô đang tháo sẽ không được nạp còn silô đang nạp sẽ không được tháo. Mỗi silô đều có các thiết bị đo mức và báo mức đầy đên trung tâm điều khiển về tình trạng của tầng silô.

    • Công đoạn nung Clinker

    Trước khi liệu đưa vào lò nung,  phải qua tháp sấy 5 tầng. Với tháp sấy 5 tầng gồm 5 silô đồng nhất, mỗi sillo được chia thành 2 tầng: tầng 1 dùng để đồng nhất tầng 2 dùng để chứa bột liệu. Liệu có thể được tháo từ tầng1 của Silo thứ nhất sang tầng 2 của Silo thứ 2 hoặc có thể tháo trực tiếp xuống tầng 1 của silô đó. Liệu được sấy sơ bộ đến gần 1000 C trước khi đi vào lò nung.

    Nhiên liệu để nung là bột than đựoc phun ở áp suất cao dưới dạng mù. Dòng khí nóng đi ngược từ đáy lò đến đỉnh lò. Liệu từ két chứa được đi xuống, liệu đi vào lò nhiệt độ tăng dần làm các phản ứng pha rắn xảy ra và được kết khối ở 1300 C đến 1450 C tạo thành Clinker.

    • Công đoạn vận chuyển Clinker

    Clinker ra khỏi lò có nhiệt độ khá cao được làm nguội qua hệ thống làm mát đến nhiệt độ khoảng 120 C.

    Đối với dây truyền 1: Hệ thống làm mát là các hệ thống lò quay con

    Đối với dây truyền 2 : Hệ thống làm mát là bằng hệ thống giàn ghi.

    Clinker được ủ từ 7 đến 15 ngày trước khi tháo cùng phụ gia + thạch cao vào máy nghiền xi măng.

    • Công đoạn nghiền xi măng

    Clinker, thạch cao và phụ gia sau khi đồng nhất được cho vào máy nghiền xi măng để tạo ra sản phẩm xi măng. Thành phần Clinker , thạch cao, phụ gia được điều chỉnh để đạt được chất lượng xi măng theo yêu cầu. Máy nghiền xi măng là máy nghiền kiểu bi đạn. Để đảm bảo nhiệt độ của xi măng, trong khi nghiền nước được phun vào dưới dạng sương mù ở áp suất cao.

    Xi măng ra khỏi máy nghiền được đưa qua hệ thống phân ly. Tại đây có sự sàng lọc. Nếu hạt xi măng quá to thì được thu hồi trở lại đầu máy nghiền. Nếu xi măng đạt tiêu chuẩn thì được đưa về kho chứa. Nếu xi măng quá nhỏ thì được thu hồi bởi hệ thống lọc bụi.

    • Công đoạn đóng bao

    Xi măng từ Silô chứa được vận chuyển bằng vít tải, gầu xúc và băng tải tới phân xưởng đóng bao. Tại đây có 5 Silô chứa, ở các Silô chứa này xi măng được sục liên tục nhờ các máy nén khí để đồng nhất lần cuối trước khi đưa đến các máy đóng bao hoặc đưa đến cầu cảng để xuất xi măng rời.

         3.            Phân tích Exergy trong sản xuất xi măng

    3.1.     Phương trình được sử dụng trong phân tích exergy trên hệ thống sản xuất xi măng và bê tông

    Định lượng dòng đầu vào và đầu ra sẽ dẫn đến rất nhiều thông số kỹ thuật để phan tích exergetic. Các yếu tố đầu vào (nguyên liệu và năng lượng) và đầu ra (khi thải) để sản xuất 1 tấn xi măng được rất sẽ minh họa trong hinh 2.

    Lượng đầu vào của cac nhiên liệu khác nhau được chỉ ra rất rõ trong hình, cũng bao gồm đầu vào và đầu ra cho qua trinh sản xuất bê tông. Năng lượng đầu vào ở các dạng khác nhau. Nhiên liệu rắn, chủ yếu là than đá đóng góp 57,6%, đóng vai trò là nguồn năng lượng cung cấp lớn nhất. Nhiên liệu lỏng, dầu nặng và dầu diesel chiếm 35,95%.Trong khi điện và khí propan tạo thành hai loại nhiên liệu khác tương ứng với 6,42% và 0,002%.

    Một phần của dầu nhiên liệu nặng được sử dụng để gia nhiệt trước cho lò nung, trong khi phần còn lại được sử dụng cho nhu cầu về nhiệt trong nhà máy.Các động cơ diesel được sử dụng cho việc vận chuyển nguyên vật liệu và các nhiên liệu khác,Ngoài ra, điện được sử dụng cho hoạt động của các bộ phận điện tử của nhà máy.Chẳng hạn như để vận chuyển, và propan được sử dụng trong quá trình sản xuất clinker.Tiêu thụ năng lượng lớn nhất trong hệ thống là quá trình sản xuất clinker, chiếm tới 59,6% tổng nhu cầu năng lượng. Đây là một kết quả mong đợi kể từ khi nâng nhiệt độ clinker lên 1450 độ C. Phần còn lại của năng lượng được dùng cho các đơn vị còn lại trong nhà máy sản xuất.

    Định nghĩa Exergy:ta chỉ có thể biến đổi 1 phần của năng lượng nhiệt thành công trong quá trình thuận nghịch,và Exergy(j/kg) là năng lượng mà có thể biến đổi hoàn toàn thành công trong quá trình thuận nghịch

    Biểu thức toán học:

    Trong đó:                 U là năng lượng nội bộ

    P là áp suất

    T là nhiệt độ

    S là entropy

    i là thế hóa học

    và ni là số mol của cấu tử i

    Exergy có trong một hệ thống tại một điều kiện nhất định là công hữu ích tối đa có thể thu được từ hệ thống. công thực hiện trong một quá trình phụ thuộc vào trạng thái ban đầu, trạng thái cuối cùng, và vào quá trình.

    Trong phân tích exergy, trạng thái ban đầu được xác định, và do đó nó không phải là một biến.

    Exergy của các vật liệu khác nhau được cho trước, sự cân bằng exergy của quá trình trở thành phương tiện trong việc tính toán mất mát exergy và hiệu suất exergy của quá trình. Sự cân bằng exergy có thể được mô tả (hình 3) theo phương trình:

    Tổn thất exergy chủ yếu do quá trình là không thuận nghịch và exergy trong chất thải bao gồm: chất thải rắn và lỏng, và khí thải.

    Exergy hữu ích là exergy của sản phẩm. Điều này có thể được tính từ phương trình cân bằng exergy:

    Hiệu quả của quá trình được xác định từ % của exergy hữu ích trên tổng số exergy đầu vào:

    % tổn thất exergy, được định nghĩa như năng lượng và có thể được tính như sau:

    Trong sản xuất xi măng coi như chỉ có một sản phẩm duy nhất nên phương trình này có thể được áp dụng.

    Exergy vật lý của một dòng nhất định được đưa ra bởi các phương trình sau:

    Nếu nhiệt của dòng được biết đến là Cp (T) thì phương trình sau đây được sử dụng:

    Mix exergy: các exergy trộn của một dòng khí nơi mà tất cả các thành phần của nó có thể được coi là khí lý tưởng được đưa ra bởi các phương trình (Koroneos et al, 2003.):

    Exergy trộn của khí đốt có các thành phần dễ cháy có thể cho bởi phương trình sau đây:

    Exergy hóa học: exergy hóa học của chất là tối đa, công hữu ích có thể được sinh ra bởi quá trình cân bằng vật lý và hóa học của chất với môi trường xung quanh. Exergy hóa học của chất có thể tính bằng phương trình sau đây:

    Exergy hóa học của các chất tham gia vào phản ứng :

    có liên quan đến năng lượng tự do Gibbs của phản ứng   bởi phương trình:

    Exergy hóa học của các chất được cho trong bảng và exergy hóa học của một dòng khí với N thành phần được đưa ra:

    Tổng exergy của một dòng là:

    Exergy nhiệt:

    Hiệu suất exergy :

    Định lượng dòng đầu vào và đầu ra sẽ dẫn đến rất nhiều thông số kỹ thuật để phan tích exergetic. Các yếu tố đầu vào (nguyên liệu và năng lượng) và đầu ra (khi thải) để sản xuất 1 tấn xi măng được rất sẽ minh họa trong hinh 2.

    Lượng đầu vào của cac nhien liệu khác nhau được chỉ ra rất rõ trong hình, cũng bao gồm đầu vào và đầu ra cho qua trinh sản xuất bê tông. Năng lượng đầu vào ở các dạng khác nhau. Nhiên liệu rắn, chủ yếu là than đá đóng góp 57,6%, đóng vai trò là nguồn năng lượng cung cấp lớn nhất. Nhiên liệu lỏng, dầu nặng và dầu diesel chiếm 35,95%.Trong khi điện và khí propan tạo thành hai loại nhiên liệu khác tương ứng với 6,42% và 0,002%.

    Một phần của dầu nhiên liệu nặng được sử dụng để gia nhiệt trước cho lò nung, trong khi phần còn lại được sử dụng cho nhu cầu về nhiệt trong nhà máy.Các động cơ diesel được sử dụng cho việc vận chuyển nguyên vật liệu và các nhiên liệu khác,Ngoài ra, điện được sử dụng cho hoạt động của các bộ phận điện tử của nhà máy.Chẳng hạn như để vận chuyển, và propan được sử dụng trong quá trình sản xuất clinker.Tiêu thụ năng lượng lớn nhất trong hệ thống là quá trình sản xuất clinker, chiếm tới 59,6% tổng nhu cầu năng lượng. Đây là một kết quả mong đợi kể từ khi nâng nhiệt độ clinker lên 1450 độ C. Phần còn lại của năng lượng được dùng cho các đơn vị còn lại trong nhà máy sản xuất.

    3.2.      Exergy hóa học của quá trình nung

    Nguyên liệu đầu vào cho lò nung có chứa 75% đá vôi, 25% thạch diệp anh.

    Phản ứng hóa học xảy ra trong quá trình nung :

    Thành phần của sản phẩm thu được sau quá trình nung có trong bảng sau:

    Lượng năng lượng cần thiết cho quá trình nung và lượng exergy tích lũy trong mỗi kg clinker được tính như sau:

    Như vậy, với phần năng lượng cung cấp cho quá trình nung, chỉ có khoảng 73,2% là có thể sinh công. Phần năng lượng còn lại do làm nóng thiết bị, làm nóng nguyên liệu và mất mát ra ngoài môi trường.

    3.3.      Exergy hóa học của nhiên liệu.

    Quá trình nung clinker là quá trình tiêu tốn nhiều năng lượng nhất trong toàn bộ dây chuyền sản xuất xi măng, chiếm tới 59.6% tổng nhu cầu năng lượng. Nhiên liệu cho quá trình nung clinker chủ yếu là than cốc và dầu FO nặng. Propan chiếm tỉ lệ rất nhỏ.Thành phần của các loại nhiên liệu được cho trong bảng dưới đây:

    Exergy hóa học của nhiên liệu được tính như sau:

    Đối với than cốc:

    Đối với dầu FO nặng:

    Trong đó:

    xH, xC, xO, xN, xS: phần khối lượng của các nguyên tố H, C, O, N có trong nhiên liệu.

    Kết quả tính toán được cho trong bảng sau:

    Hiệu quả của quá trình được xác định từ % của exergy hữu ích trên tổng số exergy đầu vào:

    Tổn thất exergy, được định nghĩa như năng lượng và có thể được tính như sau:

    Dựa trên kết quả tính toán theo bảng số liệu trên, hiệu quả của quá trình đạt 50.2%.

    Như vậy, điều này hoàn toàn tuân theo nguyên lí thứ II của nhiệt động học: Công có thể biến đổi hoàn toàn thành nhiệt, nhưng nhiệt không thể biến đổi thành công.

          4.            Exergy và tổn thất năng lượng

    Sơ đồ dòng của quá trình sản xuất clinker với các dòng nhiệt được mô tả chính xác trong hình 4. Việc đánh giá các giá trị của năng lượng và năng lượng được sử dụng trong hệ thống được thực hiện qua sự phân tích dòng vào và dòng ra. Năng lượng đầu vào và exergy của các dòng khác nhau của quá trình sản xuất clinker tính trên mỗi kg clinker sản xuất ra được thể hiện trong bảng 4. Dựa theo bảng 4, có thể xây dựng sơ đồ Sankey biểu diễn năng lượng và exergy. Các sơ đồ (hình 5 và hình 6) là một ví dụ điển hình của exergy và cân bằng entanpy và của exergy hữu ích hay mất mát trong quá trình . ta có thể thấy rằng có khoảng 68.5% năng lượng là hữu ích cho hệ thống. giá trị này đại diện cho 50% exergy hữu ích và 50% exergy còn lại là tổn thất exergy ở các giai đoạn khác nhau của hệ thống. tổn thất lớn nhất (30.9% ) là do tính chất bất thuận nghịch trong gia nhiệt trước của dòng vào và làm mát của dòng sản phẩm. khí thải của các quá trình đốt cháy nguyên liệu gây ra rò rỉ khoảng 15.1% exergy.

    Tóm tắt quá trình:

    Nguyên liệu thô là đá có 75% là đá vôi và 20% diệp thạch đưa vào tháp nung, khí thái quá trình nung được thải ra ở đỉnh tháp. Đáy tháp là lò nung được cung cấp không khí từ bộ phận làm nguội bằng không khí ở đáy tháp và than đá (pet-coke) cung cấp nhiệt chung cho cả lò nung và lò quay. Đi ra khỏi đáy lò nung là dòng nguyên liệu khô đi vào lò quay. Không khí đưa vào lò, làm mát được đưa từ môi trường xung quanh vào. Clinker ra lò được làm lạnh bởi không khí.

          5.            Các phương pháp giảm mất mát exergy

    Ta có:

    Công W được tiêu thụ có thể tính được dựa vào sự khác nhau giữa Exergy tại nhiệt độ đầu vào T1 và tại nhiệt độ đầu ra T2 của nguồn nhiệt:

    W = E1 – E2 = QT0( )

    ở đây E1, E2 là exergy tại nhiệt độ đầu vào và đầu ra của nguồn nhiệt

    Như vậy năng lượng W cần thiết cho quá trình không những phụ thuộc vào nhiệt lượng Q mà còn phụ thuộc vào mức nhiệt độ T1 và T2.

    Hiệu số nhiệt độ T – T2 thường bé trong tính toán nên mất mát exergy thường là nhỏ. Tuy nhiên trong quá trình thực tế, lượng nhiệt cấp cho qua trình thường có dòng nhiệt có nhiệt độ Tvào>T1 và lượng nhiệt lấy đi trong thiết bịlàm nguội thường có nhiệt độ Tra<T2, vì vậy một lượng exergy lớn hơn so với nhu cầu của thiết bị mất đi trong quá trình diễn ra phản ứng.

    Các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong quá trình hóa học nhằm giảm lượng nhiệt cấp cho quá trình Qvào và giảm đến mức có thể hiệu số  nhiệt độ T1 – T2 của dòng nhiệt vào và dòng nhiệt ra.

    Có 3 phương pháp chủ yếu để giảm mất mát exergy:

    • Để giảm mất mát khả năng chuyển đổi từ nhiệt sang công trong các thiết bị phản ứng thường đặt thiết bị làm nóng và làm lạnh trung gian. Đương nhiên giải pháp này không giảm được lượng nhiệt cần cấp cho quá trình nhưng một phần lượng nhiệt này được cấp tại nhiệt độ thấp hơn và được lấy đi tại nhiệt độ cao hơn vì vậy sẽ làm giảm đi phần mất mát exergy. Phương pháp này chỉ có lợi thế khi các nguồn nhiệt có nhiệt độ khác nhau, hoặc có nhiều đối tượng sử dụng nhiệt khác nhau hoặc có thể kết nối giữa các phần tử trong hệ thống.
    • Mất mát exergy cũng có thể được giảm bằng cách sử dụng nhiệt thải ở đỉnh tháp để tạo ra dòng hơi có áp suất thấp cung cấp cho các quá trình khác hoặc sủa dụng dòng nhiệt thải này để gia nhiệt cho dòng nguyên liệu đầu vào.
    • Phương pháp sử dụng bơm nhiệt hay tuần hoàn nhiệt cũng thường hay được áp dụng. dòng nhiệt của dòng sản phẩm đỉnh tháp hay đáy tháp sẽ được sử dụng để làm chất công tác cho bơm. Thực chất đây là quá trình sử dụng năng lượng tuần hoàn.

    Trong hệ thống sản xuất xi măng (hình 4) ta thấy người ta cũng ứng dụng những nguyên tắc tận dụng năng lượng để giảm mất mát exergy trong hệ thống.

    • Ở lò nung, khí thải ở phần nung của lò nung được sử dụng để gia nhiệt cho dòng nguyên liệu thô đi vào tháp, sau đó dòng khí này mới được thải ra ngoài sau khi đã tận dụng nhiệt để gia nhiệt cho nguyên liệu đầu.
    • Trong phần phía dưới của lò nung, than đá được cung cấp vào một phần để làm nóng nguyên liệu, một phần là để nung nguyên liệu đá vôi thành vôi sống, cung cấp nhiệt cho nguyên liệu để quá trình chuyển hóa diễn ra hoàn toàn, giảm bớt được phần lớn năng lượng cung cấp cho lò quay.

    Phía cuối lò quay, linker được làm mát bằng không khí ngoài trời đưa vào, sau khi dòng không khí này nhận nhiệt, người ta không thải hết ra ngoài mà tận dụng một phần không khí nóng này để đưa vào đáy tháp nung, giúp cho quá trình cháy của nguyên liệu mang vào được thận lợi hơn do không khí nóng sẽ nhanh làm khô nguyên liệu, giảm bớt được năng lượng cho quá trình sấy nguyên liệu.

         6.            Kết luận

    Sau khi tìm hiểu và phân tích exergy, chúng ta có thể hiểu rõ:

    • Exergy là gì
    • Cách tính exergy
    • Những yếu tố ảnh hưởng đến exergy trong hệ thống công nghệ hóa học nói chung và hệ thống sản xuất xi măng nói riêng.

    Từ đó rút ra được các phương pháp để tiết kiệm năng lượng trong quá trình sản xuất xi măng đồng thời có thể ứng dụng trong các quá trình hóa học sau này.

         7.            Tài liệu tham khảo

    [1]. Nguyễn Minh Tuyển, Phạm Văn Thiêm – Kỹ thuật hệ thống công nghệ hóa học – NXB Khoa học kỹ thuật – Hà Nội – 2001

    [2]. http://www.environmental-expert.com/ – Exergy analysis of cement production

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Kĩ thuật chế tạo 1 Phương pháp luyện kim bột


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Suy-gi%E1%BA%A3m-t%C3%A0i-nguy%C3%AAn-r%E1%BB%ABng-%E1%BB%9F-H%C3%A0-T%C4%A9nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    LỜI NÓI ĐẦU

    &œ

    Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế – xã hội mà còn gĩư chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Nhưng ngày nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần bị suy thoái. Những năm qua, nạn phá rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn diện tích ha rừng càng bị thu hẹp lại. Mất rừng và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hoá và làm nghèo đất tại nhiều địa phương trong đó có Hà Tĩnh. Tình trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường như gây lũ lụt, hạn hán gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực càng đáng lo ngại hơn, đặc biệt suy thoái rừng làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng.

    Đề tài: SUY GIẢM TÀI NGUYÊN RỪNG Ở HÀ TĨNH

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài
    • Tài nguyên rừng là một tài nguyên quan trọng đối với môi trường hệ sinh thái.
    • Diện tích rừng ở Hà Tĩnh hiện đang suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
    1. Giới hạn đề tài
    • Về nội dung: Tìm hiểu về thực trạng suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh nguyên nhân cùng các giải pháp khắc phục.
    • Về không gian: Các địa phương có rừng tập trung trên địa bàn Hà Tĩnh.
    • Về thời gian: Tìm hiểu về tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh từ trước đến tháng 6 năm 2013.
    1. Mục đích nghiên cứu

    Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng tại Hà Tĩnh, nguyên nhân và giải pháp khắc phục.

    1. Quan điểm nghiên cứu
    • Quan điểm lãnh thổ: Dựa theo sự phân hóa rừng tại Hà Tĩnh, phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở các vùng có rừng tập trung như: huyện Hương Sơn, huyện Vũ Quang, huyện Hương Khê, thị xã Hồng Lĩnh…
    • Quan điểm sinh thái môi trường: Áp dụng để xây dựng các mô hình trồng rừng, cách thức quản lí rừng bền vững nhằm phát triển thuận lợi / hiệu quả cao về kinh tế và môi trường ở giai đoạn hiện tại và trong tương lai đồng thời loại bỏ các thành phần sinh học phát triển không thuận lợi hoặc không đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường như mong muốn.
    • Quan điểm phát triển bền vững: Tôn trọng quy luật phát triển tự nhiên với ba nội dung là: bền vững về sinh thái ( không làm ảnh hưởng đến môi trường ), bền vững về kinh tế ( hiệu quả kinh tế cao và lâu dài ), bền vững về xã hội ( được cộng đồng xã hội chấp nhận ).
    1. Phương pháp nghiên cứu

    Phựơng pháp bản đồ:

    • Sử dụng bản đồ địa hình của Hà Tĩnh để tìm hiểu các đặc điểm về độ cao, độ dốc, sự phân bố các dãy núi.
    • Sử dụng bản đồ địa lý tự nhiên của tỉnh Hà Tĩnh để tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm về tự nhiên…
    • Sử dụng bản đồ hành chính của tỉnh Hà Tĩnh để biết sự phân bố dân cư, vị trí các cộng đồng dân cư có rừng.
    • Vận dụng bản đồ vào việc nghiên cứu trực tiếp các điều kiện địa lý tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế – xã hội tại các cộng đồng dân cư có rừng để làm cơ sở xây dựng các mô hình quản lý rừng bền vững.

    Phương pháp thu thập thông tin, thống kê số liệu, xử lý tài liệu:

    • Thu thập các thông tin, các báo cáo chuyên đề, các bảng số liệu vể tài nguyên rừng ở các cơ quan, ban nghành liên quan.
    • Phương pháp thu thập thông tin thực hiện với mục đích thu thập các nguồn thông tin có liên quan đến TN rừng ( chủ yếu tại Hà Tĩnh ).
    • Vận dụng phương pháp vào tìm kiếm các thông tin còn thiếu hay chưa đồng bộ trong các tài liệu đã thu thập được ( về tài nguyên rừng tại Hà Tĩnh… ), thực trạng phát triển kinh tế xã hội và nét đặc trưng của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn có rừng dẫn đến tình trạng chặt phá rừng.

    Phương pháp nghiên cứu thực địa:

    • Kiểm tra trên thực tế những thông tin đã thu thập được qua nghiên cứu tài liệu trong phòng.
    • Nghiên cứu trực tiếp các đặc điểm của TN rừng tại Hà Tĩnh nhằm nêu lên thực trạng về tài nguyên rừng nơi đây và đặc điểm của các cộng đồng dân cư xung quanh khu vực có rừng.

    B. NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG Ở HÀ TĨNH

    1. Các khái niệm liên quan
      • Rừng là gì?
    • Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Morozov 1930).Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
    • Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài (M.E. Tcachenco 1952).
    • Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.
      • Tài nguyên rừng gồm những gì?
      • Nguồn gỗ quý, củi đốt…
      • Điều hòa khí hậu, tạo nguồn Oxi cung cấp cho trái đất.
      • Điều hòa nước.
      • Là nơi cư trú của động- thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
      • Suy giảm tài nguyên rừng là gì?
    • Suy giảm tài nguyên rừng là hiện tượng suy giảm,do con người gây ra làm giảm trữ lượng lâm sản tại các vùng rừng trong một thời gian nhất định.
    1. Nêu khái quát về tài nguyên rừng
    2. Thực trang tài nguyên rừng ở Việt Nam

    – Việt Nam là một nước nhiệt đới nằm ở vùng Đông Nam Á, có tổng diện tích lãnh thổ khoảng 331.700 km2, kéo dài từ 9- 23 độ vĩ  bắc, trong đó diện tích rừng và đất rừng là 20 triệu héc ta, chiếm khoảng 20% diện tích toàn quốc (Tổng cục thống kê năm 1994).

    • Trước đây, rừng chiếm diện tích khoảng 60 triệu km2.
    • Năm 1973 còn 37,37 triệu km2.
    • Hiện nay diện tích rừng ngày càng giảm, chỉ còn khoảng 29 triệu km2.

    + Ở Việt Nam:

    • Vào năm 1943 có khoảng 14 triệu ha, tỉ lệ che phủ 43% diện tích.
    • Năm 1976 còn 11 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 34%.
    • Năm 1985 còn 9.3 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 30%.
    • Năm 1995 còn 8 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 28%.
      • Ngày nay chỉ còn khoảng 7.8 triệu ha và chiếm 23,6% diện tích, tức là tới mức báo động cân bằng 3%.

     b1. Khái quát về điều kiện tự nhiên tỉnh Hà Tĩnh

     

    – Vị trí:

    • Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp hai tỉnh Borikhamxay và Khammuane của Lào, phía đông giáp biển Đông.

    – Địa hình:

    • Hà Tĩnh cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía nam, ở phía đông dãy Trường Sơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông. Phía tây tỉnh là những dãy núi cao 1.500 m, đỉnh Rào Cọ 235 m, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp; tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển; sau cùng là những bãi cát ven biển cùng với nhiều vũng, vịnh, tiêu biểu là cảng biển nước sâu Vũng Áng và bãi biển Thiên Cầm.

    – Khí hậu:

    • Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt. Hàng năm, Hà Tĩnh có bốn mùa rõ rệt:
    • Mùa mưa: Mưa trung bình hằng năm từ 2500 ly đến 2650 ly. Hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tổng lượng mưa cả năm. Vào thời gian này hàng năm Hà Tĩnh thường hứng chịu những cơn bão từ biển Đông gây nên lũ lụt.
    • Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau. Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn.

    b2. Khái quát về tài nguyên rừng Hà Tĩnh

    • Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới. Rừng trồng phần lớn là thông nhựa, hiện có trên 18000 ha trong đó có trên 7000 ha có khả năng khai thác, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có trữ lượng rừng giàu của cả nước (trữ lượng rừng trồng đạt 2.545.680 m3, trữ lượng rừng tự nhiên đạt 23.494.420 m3).
    • Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ. Trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu… và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác.
    • Đặc biệt có Vườn Quốc gia Vũ Quang (ở huyện Vũ Quang và Hương Khê) có khoảng 300 loại thực vật và nhiều loại động vật quý hiếm. Đã phát hiện được 2 loại thú quý hiếm là Sao La và Mang Lớn. Rừng Vũ Quang có địa hình núi cao hiểm trở, tách biệt với xung quanh, khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho các loại động, thực vật phát triển. Đây là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam là một trong những hệ sinh thái có giá trị kinh tế, khoa học và cảnh quan.
    • Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị cao, theo số liệu điều tra, tại đây có hơn 414 loài thực vật, 170 loài thú, 280 loài chim, trong đó có 19 loài chim được ghi vào sách đỏ Việt Nam.

    Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao. Tập trung phần lớn ở khu vực các cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu… (Theo  Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hà Tĩnh ). 

    1. Vai trò của tài nguyên rừng

    + Rừng là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là rừng ẩm nhiệt đới.

    • Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dung cho xã hội, trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
    • Cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư.
    • Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dụng cơ bản.
    • Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người.
    • Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm… phục vụ nhu cầu đời sống xã hội…

    + Vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái:

    • Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thái hóa đất, chống bồi đắp song ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện.
    • Phòng hộ ven biển, chắn song, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn…bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển…
    • Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển.
    • Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất…
    • Bảo vệ các khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch…
      • Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trự sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.

    + Vai trò xã hội:

    Là nguồn thu nhập chính của các đồng bào dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dan cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội…

    + Vai trò của rừng trong cuộc sống:

    • Nếu như tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%). Và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%) dưỡng khí để phục vụ hô hấp cho con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm (S.V. Belov 1976).
    • Rừng là thảm thực vật của những thân cây gỗ trên bề mặt Trái Đất,giữ vai trì to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ củi, điều hòa khí hậu, tạo ra Oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
    • Một ha rừng hằng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 – 500 kg, 16 tấn Oxy ( rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 – 10 tấn).
    • Mỗi người một năm cần 4.000 kg Oxy, tương ứng với lượng Oxy do 1.000 – 3.000 m2 cây xanh tạo ra trong một năm.
    1. Thực trạng và cách thức quản lý tài nguyên rừng nơi đây
    • Tổng diện tích đất lâm nghiệp 364.655,5 ha, trong đó:
    • Đất có rừng: 302.567,9 ha, gồm: rừng tự nhiên: 209.887,5 ha, rừng trồng: 92.680,4 ha.
    • Đất chưa có rừng: 62.087,6 ha.

    Trữ lượng rừng:

    • Tổng trữ lượng rừng toàn tỉnh là 26.040.100 m3 gỗ và 32.443 ngàn cây tre, nứa, trong đó: rừng tự nhiên: 23.494.420 m3 gỗ và 31.857 ngàn cây tre, nứa; rừng trồng: 2.545.680 m3 gỗ .

    Hiện trạng quy hoạch 3 loại rừng:

    • Rừng đặc dụng: 74.597,9 ha; rừng phòng hộ: 118.310,2 ha; rừng sản xuất: 171.747,4 ha.

    4.1. Rừng phòng hộ

    4.1.a. Rừng phòng hộ đầu nguồn

    Diện tích rừng trồng phòng hộ đầu nguồn từ 1999 đến 2004

    • Tổng diện tích rừng trồng phòng hộ trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1999 đến 2004 là 11.493,6ha thì có 11.375ha thành rừng và 118,6ha (1,03%) không thành rừng do bị chuyển đổi mục đích sử dụng, trâu bò phá hoại, bị sạt lở đất và tỷ lệ sống thấp.
    • Như vậy có tới 98,07% diện tích rừng trồng thành rừng và mỗi năm trồng mới được 1485-2500 ha rừng trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng.

    Cơ cấu cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn từ 1999 đến 2004

    • Trong tổng 11.375ha rừng trồng phòng hộ ở tỉnh Hà Tĩnh từ 1999 đến 2004 thì các loài cây trồng phòng hộ chính chiếm 10.637,8ha và cây phù trợ là 737,2ha. Trong đó diện tích rừng thông nhựa chiếm phần lớn (84,8%), keo lai, keo lá tràm chiếm 6,5%; dó trầm, phi lao, tre điền trúc, tạp giao, luồng và các loài cây bản địa lá rộng như cồng, giẻ, lim xanh, re chỉ chiếm 8,7%.

    4.1.b. Những cánh rừng ngập mặn

    Do sự tác động của nhiều nguyên nhân, diện tích rừng ngập mặn Hà Tĩnh ngày càng bị thu hẹp (hiện chỉ còn khoảng 500 ha). Nguy cơ về sự biến mất của lá phổi xanh, của những bức tường chắn sóng đang ngày càng hiện hữu. 

    • Từ năm 1994 đến nay, được sự hỗ trợ của Nhật Bản, các cấp hội chữ thập đỏ trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tĩnh đã trồng mới và trồng dặm gần 1.000 ha rừng ngập mặn. Theo thời gian, những bức tường xanh vững chắc này đã thực sự trở thành lá chắn bảo vệ đê kè và sự bình yên cho người dân trước giông tố biển khơi. Thế nhưng giờ đây, do sự tác động của nhiều nguyên nhân nên diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp (hiện chỉ còn khoảng 500 ha). Nguy cơ về sự biến mất của lá phổi xanh, của những bức tường chắn sóng đang ngày càng hiện hữu.

    Thực trạng buồn

    • Để góp phần giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và những tổn thất do thiên tai bão lụt gây ra cho cộng đồng dân cư ven sông biển, từ năm 1994 Hà Tĩnh đã trở thành 1 trong 10 tỉnh thành của cả nước được sự tài trợ của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản và Hiệp hội Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế triển khai dự án trồng rừng ngập mặn.
    • Rừng ngập mặn chính là những bức tường xanh vững chắc bảo vệ đê kè và sự bình yên cho người dân trước giông tố biển khơi
    • Ông Lê Tập – Phó chủ tịch Hội chữ thập đỏ cho biết: “ Từ năm 1994- 2002, toàn tỉnh trồng được khoảng 551 ha, và đến nay tính cả diện tích trồng mới và trồng dặm hội chữ thập đỏ các cấp đã trồng được gần 1.000 ha bao gồm rừng ngập mặn và rừng phòng hộ. Gần 20 năm trôi qua, rừng ngập mặn ở một số địa phương trên địa bàn đã mang lại lợi ích thiết thực cho người dân vùng hưởng lợi. Ngoài tác dụng phòng ngừa thảm họa, điều hòa không khí, những cánh rừng này còn tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho hàng chục ngàn hộ gia đình ở những vùng có rừng từ việc bảo vệ, chăm sóc, thu lượm thủy hải sản…. Thế nhưng, hiện tại rừng ngập mặn đang đứng trước nguy cơ chết hàng loạt và diện tích chỉ còn một nửa”.
    • Như để minh chứng cho lời nói của mình, ông Lê Tập cho chúng tôi xem bản báo cáo chi tiết do đoàn cán bộ trung ương vừa triển khai đo đạc lại diện tích rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh. Nhìn theo báo cáo bằng hình ảnh, màu xanh của những cánh rừng ngập mặn tại các vùng lần lượt bị thu nhỏ hoặc biến mất hoàn toàn trên bản đồ. Cụ thể ở một số xã được triển khai trồng từ gian đoạn 1994-2004: như Thạch Bằng- Lộc Hà diện tích đầu vào 61 ha, hiện chỉ còn 4,3ha; Thạch Kênh – Thạch Hà diện tích đầu vào 38 ha, hiện tại không còn ha nào; Xuân Giang- Nghi Xuân có diện tích đầu vào 38ha nay còn 10,8ha; Cẩm Lĩnh- Cẩm Xuyên đầu vào 69 ha hiện tại 0 ha; Cẩm Nhượng diện tích đầu vào 35 ha nay còn 5,5ha, Cẩm Lộc 141 ha nay còn 10,6 ha…
    • Vẫn biết rằng việc đo bằng máy mọi số liệu đều chỉ là ước lượng nhưng trước diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, người dân ở những vùng hưởng lợi không khỏi băn khoăn. Ông Nguyễn Trung Hoa – người đã từng bảo vệ rừng ngập mặn ở xã Thạch Long cho hay: “ Từ khi có rừng ngập mặn, lại có đê ngăn mặn người dân vùng ven sông nước như chúng tôi đã không còn phải lo lắng nhiều mỗi khi nghe tin đài báo bão, bởi đã có sự che chở của rừng. Nhưng thời gian gần đây, không hiểu vì sao cây chết hàng loạt, diện tích ngày càng bị thu hẹp. Cứ như thế này thì khoảng 10 năm nữa chắc là rừng ngập mặn ở Thạch Long sẽ bị xóa sổ”.

    Công tác bảo vệ rừng vẫn bị bỏ ngỏ

    • Cùng với một số địa phương khác, những năm trước đây rừng ngập mặn ở Thạch Long đã trở thành niềm tự hào không chỉ của người dân hưởng lợi mà còn là niềm vui của những người thực hiện dự án khi những cánh rừng bát ngát đã thực sự phát huy hiệu quả như mong muốn. Thế nhưng niềm vui ấy chẳng tồn tại được lâu khi nạn chặt phá rừng để làm chất đốt của người dân ngoài địa phương vừa được dẹp bỏ thì người dân lại phải đối mặt với nỗi lo cây chết hàng loạt. Và không chỉ riêng ở Thạch Long mà thực trạng này xảy ra ở hầu khắp các địa phương có diện tích rừng ngập mặn.
    • Ông Trần Văn Tình – Chủ tịch Hội chữ thập đỏ huyện Cẩm Xuyên cho biết: “ Theo như kinh nghiệm của chúng tôi thì nguyên nhân dẫn đến cây chết hàng loạt một phần là do sâu bọ, hàu, hà ăn gốc; do thổ nhưỡng không phù hợp với loại cây trồng. Cụ thể với diện tích rừng phòng hộ, chúng tôi tham mưu trồng keo thì nhà tài trợ lại cho giống phi lao, ở vùng ngập mặn chúng tôi tham mưu trồng đước thì lại được chỉ định trồng trang ( ở Cẩm Lĩnh)… Và ngoài ra ý thức của người dân khi thả rông trâu bò trên vùng trồng rừng ngập mặn, khi để rác rưởi ngập tràn các khoảnh rừng ở Cẩm Lộc, Cẩm Nhượng, Cẩm Hà…cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của rừng”.
    • Ông Nguyễn Trung Hoa – người đã từng làm công tác bảo vệ rừng ngập mặn ở Thạch Long tâm sự: “Trước đây cũng đã có đoàn cán bộ về với địa phương để nghiên cứu việc cây chết hàng loạt trên địa bàn. Họ đã lấy các mẫu đất, nước, sâu bọ… để nghiên cứu. Người dân chúng tôi rất hy vọng vào một biện pháp nào đó để ngăn chặn các loại sâu bệnh tàn phá rừng nhưng sự chờ đợi cũng chỉ là vô vọng khi đoàn cán bộ ấy một đi không trở lại, khi việc phục hồi những cánh rừng ngập mặn chẳng có biện pháp nào khác ngoài trồng dặm mà kinh phí thì không có, việc tìm kiếm giống cũng hết sức khó khăn”.Ngoài nguyên nhân về sâu bọ, hàu, hà, do thời tiết rét đậm rét hại kéo dài như những năm trước… thì theo người dân ở địa phương hiện tượng rừng ngập mặn ở một số xã thuộc huyện Lộc Hà và Thạch Hà chết còn bởi nguyên nhân ngọt hóa sông Nghèn. Thông thường, việc chữa bệnh cho cây sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu xác định được nguyên nhân, nhưng với những cánh rừng ngập mặn việc khắc phục tình hình vẫn đang là câu hỏi không lời đáp.
    • Thực tế, sau khi dự án rừng ngập mặn kết thúc ở một số địa phương, công tác bảo vệ rừng càng gặp khó khăn hơn khi không biết phải bàn giao cho ai. Chia sẻ với chúng tôi, ông Nguyễn Duy Rộng – Chủ tịch Hội chữ thập đỏ huyện Lộc Hà không dấu nổi băn khoăn: “Trách nhiệm của Hội là chỉ vận động bà con trồng rừng, còn vấn đề bảo vệ rừng tôi thiết nghĩ đó là trách nhiệm của phòng nông nghiệp, chi cục kiểm lâm, của toàn xã hội. Nhưng thực tế những ngành chức năng đó chưa có động thái gì, chúng tôi và chính quyền các địa phương vẫn đang phân vân vì không biết giao việc quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn cho ai”.
    • Và trong lúc các ngành chức năng các cấp ủy chính quyền vẫn chưa có động thái nào thì rừng ngập mặn vẫn đang từng ngày, từng giờ chết dần chết mòn. Còn những người dân vùng ven sông nước lại đối mặt với nỗi lo mất rừng ngập mặn đồng nghĩa với việc xói lở đê điều, là cuộc sống của họ phải đối mặt với sóng gió, triều cường mỗi khi mùa mưa bão đến.

    4.1.2. Hà Tĩnh phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ

    • UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 2225/QĐ-UBNDphê duyệt Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ tỉnh Hà Tĩnh”.
    • Dự án do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh làm chủ đầu tư, thực hiện trong thời gian từ năm 2012 đến 2021 trên địa bàn 14 xã thuộc các huyện Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Can Lộc và Hương Sơn.
    • Tổng số vốn đầu tư của dự án là gần 197 tỷ đồng; trong đó, vốn ODA do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICCA) là 162 tỷ 460 triệu đồng và 34 tỷ 539 triệu đồng vốn đối ứng.
    • Dự án sẽ đầu tư bảo vệ, phát triển và cải thiện 6.289 ha diện tích rừng phòng hộ; trong đó có 4.010 ha diện tích rừng bảo vệ, trồng mới 1.339 ha và trồng nâng cấp rừng hiện có 940 ha; đầu tư cho hạ tầng nông thôn và hạ tầng lâm sinh như đường giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, nhà trạm bảo vệ rừng, các trang thiết bị và các công trình phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
    • Mục tiêu tổng thể của dự án là quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn; thực hiện các biện pháp kỹ thuật phát triển rừng trên cơ sở phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế từ rừng, đất lâm nghiệp và lao động trên địa bàn nhằm nâng cao chất lượng, độ che phủ của rừng; từng bước ổn định lâm phận, tăng cường khả năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, phục hồi và bảo tồn sinh học, phát triển hạ tầng vùng dự án, ứng phó với biến đổi khí hậu.
    • Bên cạnh đó, dự án còn tham gia giải quyết việc làm, cải thiện sinh kế và tăng thu nhập cho người lao động nghề rừng, góp phần xây dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn các xã hưởng lợi; nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng; tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn trong quản lý bảo vệ rừng, kiểm soát cháy rừng và góp phần bảo vệ an ninh trật tự cho vùng dự án.

    4.2 Rừng đặc dụng

    Rừng đặc dụng là loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.

    Ở Hà Tĩnh có 2 khu rừng đặc dụng là Vườn quốc gia Vũ Quang rộng 52.882 ha và khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ rộng 21.759 ha.

    4.2.1 Vườn quốc gia Vũ Quang

    Nỗ lực bảo vệ Vườn Quốc gia Vũ Quang
    Vườn Quốc gia Vũ Quang (VQG) (trước đây là Khu Bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang) thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích hơn 56.000 ha với đặc trưng 3 loại rừng gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất .Đây là một trong những vùng có đa dạng sinh học cao nằm ở vị trí quan trọng trong dãy Trường Sơn, xen giữa VQG Pù Mát ở phía Bắ́c và VQG Phong Nha – Kẻ Bàng ở phía Nam. Đây chính là nơi hai loài thú lớn được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới là Sao la, còn gọi là dê rừng dài (1992) và Mang lớn (năm 1993).Với chức năng nhiệm vụ chính là bảo tồn mẫu chuẩn về hệ sinh thái rừng Bắc Trường Sơn, bảo tồn sự đa dạng sinh học đặc trưng của vùng rừng tự nhiên phía Tây Nam khu IV, thuộc dãy Trường Sơn, tiếp giáp với biên giới Việt Nam – Lào, VQG Vũ Quang còn góp phần duy trì cân bằng sinh thái và gia tăng độ che phủ rừng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững về tự nhiên kinh tế của các tỉnh thuộc khu IV. Ngoài ra, đơn vị còn giúp phát huy các giá trị của hệ sinh thái rừng phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và du lịch sinh thái.

     

    Tiềm năng đa dạng sinh học

    Theo kết quả điều tra của các chuyên gia trong nước và quốc tế, Vườn Quốc gia Vũ Quang có tới 76% diện tích rừng tự nhiên với 5 kiểu chính được phân chia theo các đai cao khác nhau: Rừng kín thường xanh trên đất thấp phân bố ở độ cao 100-300m; rừng thường xanh trên núi thấp phân bố trong khoảng độ cao từ 300- 1000m; rừng thường xanh trung bình ở độ cao từ 1.000 -1.400 m gồm chủ yếu các loài cây lá rộng; rừng thường xanh trên núi cao phân bố ở độ cao 1.400 – 1.900 m gồm các loài cây lá kim, nhưng chiếm phần lớn là các loài họ Côm, họ Dẻ, Long não, Mộc lan. Đặc biệt ở đây còn có loài Du sam; rừng phân bố trên độ cao lớn hơn 1.900 m chủ yếu là rừng lùn với các loài Đỗ quyên, Long não, Côm, Dẻ. Cùng với những loài cây này, VQG Vũ Quang còn là nơi sinh trưởng của nhiều cây gỗ qúy khác như: cẩm lai, lát hoa, lim, dổi, trầm hương… và nhiều cây dược liệu qúy.

    Hệ động vật ở đây rất phong phú, theo thống kê có tới 94 loài thú thuộc 26 họ, 315 loài chim, 65 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 88 loài cá; trong đó có 26 loài thú, hơn 10 loài chim, 16 loài bò sát qúy hiếm cần được bảo vệ. Ngoài ra, Vườn Quốc gia Vũ Quang còn có 36 loài phụ thú đặc hữu của khu rừng Trường Sơn Bắc như: Voọc vá chân nâu, voọc Hà Tĩnh, vượn má vàng…

    Bởi tính đa dạng sinh học cao và với việc phát hiện hai loài thú mới là Sao la và Mang lớn, VQG Vũ Quang đã trở thành một địa chỉ du lịch sinh thái đầy tiềm năng. Tại đây, du khách có thể thực hiện những chuyến du lịch mạo hiểm, khám phá những bí ẩn bất ngờ của rừng; hay tham gia tour du lịch thể thao đến thác Vũ Môn theo huyền thoại cá chép hóa rồng…

    Vũ Quang không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên mà còn là khu di tích lịch sử ghi dấu những sự kiện lịch sử oai hùng của cuộc khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp của Phan Đình Phùng cuối thế kỷ 19. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng Vườn quốc gia Vũ Quang vẫn còn dấu tích của những người anh hùng lưu lại với thời gian như chờ đợi du khách khám phá và tìm hiểu…

      Nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học

    Giám đốc VQG  Đào Huy Phiên cho biết: VQG nằm trên địa bàn 8 xã với 7.588 hộ dân (hơn 30.000 nhân khẩu). Đặc biệt, có hai xã nằm trong vùng lõi của VQG là Hương Điền và Hương Quang. Những người dân đã sinh sống tại đây từ những năm 60 của thế kỷ trước, và đến năm 1993 Nhà nước mới đóng cửa rừng chuyển thành Khu bảo tồn. Chính vì tình trạng dân có trước, quy hoạch sau nên đến nay vẫn còn hơn 700 hộ dân đang nằm ngay trong khu vực vùng lõi của vườn. Về nguyên lý là phải di chuyển toàn bộ người dân ra khỏi khu vực của vườn, tuy nhiên, đến nay, việc này vẫn chưa thực hiện được. Dân sống xen kẽ trong vườn nên tập quán bám rừng theo đó đã được hình thành.

    Thêm vào đó, cư dân ở vùng đệm và các xã lân cận với VQG cũng có đời sống rất khó khăn, thiếu việc làm, thu nhập không ổn định, dân số tăng nhanh. Trong khi đó, giá trị lâm sản ngày càng tăng cao, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về rừng cũng tăng, nhận thức của người dân về pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý động vật hoang dã  còn hạn chế, do vậy một số người dân đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi khai thác trộm tài nguyên rừng, săn bắt động vật hoang dã.

    Trong vòng 10 năm trên địa bàn VQG quản lý đã xảy ra 8 vụ các đối tượng chống người thi hành công vụ, gây thương tích cho cán bộ viên chức, lực lượng kiểm lâm VQG. Một số vụ hết sức nghiêm trọng, điển hình như: Vụ ở Trạm Kiểm lâm Hòa Hải, nhân viên kiểm lâm bị các đối tượng lâm tặc hành hung gây thương tích nghiêm trọng, hoặc vụ việc ở đội kiểm lâm cơ động trong khi truy đuổi xe chở gỗ lậu từ VQG xuôi về Đường 5, hai nhân viên kiểm lâm đã bị tai nạn khiến một người tử vong tại chỗ, một người bị thương nghiêm trọng … Hành vi vi phạm của các đối tượng ngày càng tinh vi xảo quyệt, bất chấp mọi thủ đoạn để luồn lách chống đối các cơ quan chức năng thực thi pháp luật.

    Công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia cũng gặp nhiều khó khăn từ việc bị chia cắt sinh cảnh. VQG Vũ Quang hiện nay có hai công trình là đập thủy lợi Ngàn Trười – Cẩm Trang, đập Đá hàn đang xây dựng dẫn đến một số hệ sinh thái thay đổi, chia cắt làm ảnh hưởng đến sự tồn vong và phát triển bền vững của các quần thể động thực vật.

    Thêm vào đó, các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ rừng còn gặp nhiều khó khăn về biên chế, trang thiết bị và những điều kiện cần thiết khác phục vụ công tác thực thi pháp luật. Ông Đào Huy Phiên cho biết: Hiện nay, mỗi nhân viên kiểm lâm của VQG chịu trách nhiệm quản lý hơn 1.000 ha rừng, nhất là  ở những vùng sâu, vùng xa thì khó có thể bảo đảm việc bảo vệ rừng tận gốc và bảo vệ ĐVHD một cách chặt chẽ. Nguồn lực và năng lực của đội ngũ thực thi về bảo vệ động vật hoang dã còn hạn chế.

    Theo ông Đào Huy Phiên, trong những năm gần đây, VQG Vũ Quang tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn đa dạng sinh học tại đây như tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng chống săn bắt các loài ĐVHD bao gồm: Tuần tra tận gốc, phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn triển khai hoạt động phòng chống khai thác, săn bắt, buôn bán ĐVHD… Ngoài ra, Phòng nghiên cứu khoa học của VQG Vũ Quang đã phối hợp với các tổ chức, các Viện nghiên cứu nhằm triển khai một số hoạt động điều tra, khảo sát các loài như: Ong, Nhện, Dơi, Vượn…, lập ô tiêu chuẩn theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.

    Cùng với đó là việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng – bảo tồn đa dạng sinh học như: Tuyên truyền phổ biến pháp luật đến các thôn xóm cho người dân; tổ chức hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh các trường thuộc vùng đệm và các khu dân cư lân cận.  Hiện nay, một số dự án đã được thực hiện tại đây như: Dự án đầu tư phát triển VQG Vũ Quang với các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, giao khoán bảo vệ rừng; dự án đánh giá nhu cầu bảo tồn và xây dựng phương án bảo tồn các loài nguy cấp ở VQG Vũ Quang và các xã phụ cận với các hoạt động nâng cao năng lực cán bộ Vườn, điều tra khảo sát xây dựng phương án bảo tồn loài nguy cấp và hướng đến hoạt động ảo tồn liên biên giới.

    Tuy vậy, còn nhiều hoạt động của Vườn cần có sự hỗ trợ từ phía  Nhà nước và các Tổ chức xã hội nhằm bảo vệ nguyên trạng VQG Vũ Quang như thực hiện các hoạt động điều tra giám sát các loài động thực vật qúy hiếm gồm các loài thú móng guốc như Sao la, Mang lớn, Bò tót…; các loài linh trưởng như vượn đen má trắng, vượn Siki, Voọc chà vá chân nâu…, khảo sát đàn voi Châu Á ở VQG và đề xuất phương án bảo tồn.

    Ông Đào Huy Phiên cũng cho rằng, các hoạt động phát triển cộng đồng cũng rất cần thiết cho công tác bảo vệ VQG Vũ Quang. Việc này sẽ giúp phát triển cộng đồng sinh thái, triển khai các hoạt động quản lý, chia sẽ lợi ích, dịch vụ môi trường rừng; hỗ trợ triển khai các mô hình phát triển kinh tế hộ…Ngoài ra, Vườn cũng đang xây dựng kế hoạch liên kết với các tổ chức quốc tế và phía Khu Bảo tồn Nakai Nam Theun (nước CHDCND Lào ) nhằm trao đổi thông tin, thực hiện tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học liên biên giới và phát triển, mở rộng vùng phụ cận.

     

    4.2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ

    Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ là một khu bảo tồn tại tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam. Khu bảo tồn này nằm trên địa bàn 3 huyện 3 huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Khê (tất cả đều thuộc tỉnh Hà Tĩnh) Khu bảo tồn này có tổng diện tích tự nhiên 35.159 ha, trong đó khu bảo tồn 24.801 ha, rừng phòng hộ 10.358 ha. Khu vực này có các loài thực vật quý như: táu,gõ, chò chỉ, kim giao, sến, lát hoa. Các loại động vật quý hiếm như: trĩ sao, gà lôi lam đuôi trắng, gà lôi hồng tía, ngan cánh trắng, vượn, gấu, hổ, tê tê, sóc bay. Ở đây có gà lôi lam mào đen, 100 loài bò sát và lưỡng cư. Các loài thú lớn hiếm hoi do tình trạng săn bắt bừa bãi. Các hoạt động của con người ở khu vực này như chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã đe dọa đến đa dạng sinh học ở khu bảo tồn.

    Ðến nay, ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã phát hiện được 364 loài động vật có xương sống thuộc 99 họ. Trong 47 loài thú ở đây có 18 loài (chiếm 21%) được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế giới. Một số loài, trong đó đặc biệt là Voi Elephans maximus, Bò tót Bos gaurus và Hổ Panthera tigris có thể đã bị tuyệt chủng hoặc số lượng quần thể của chúng đã bị suy giảm đáng kể do săn bắn. Vượn má hung Hylobates gabriellae và nhiều loài có giá trị bảo tồn, nhưng số lượng hiếm do hiện tượng săn bắn bừa bãi. Đây cũng là nơi tìm thấy quần thể của 5 loài chim có vùng phân bố hẹp, đó là Gà lôi mào đen, Gà lôi Hà Tĩnh, Trĩ sao Rheinanlia ocellata, Khướu mỏ dài Jabonilleia danjoui và Chích chạch má xám Macronous kelleyi. Rừng Kẻ Gỗ còn là xứ sở của các loại mộc lan, phong lan đẹp và quý như: Quế hương, tai tượng, tai trâu, đuôi chồn, nghinh xuân, phượng vĩ…

    Tiềm năng Hồ Kẻ Gỗ được khởi công xây dựng vào ngày 26/3/1976 và hoàn thành vào ngày 26/3/1979. Nó là công trình đại thủy nông với trữ lượng 350 triệu m3 nước, tưới cho gần 17.000ha lúa, mùa, vùng đất thuộc huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thị xã Hà Tĩnh và phía Bắc huyện Kỳ Anh. Hồ Kẻ Gỗ còn là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào cho các vùng dân cư với chiều dài hơn 30km. Hồ len lỏi giữa các triền núi, như chiếc gương khổng lồ soi bóng những dãy núi, những rừng cây ngút ngàn.

    Tuy nhiên không tránh khỏi cơn lốc khai thác, của nhiều người dân cạnh khu Bảo tồn thiên nhiên, hay của bọn lâm tặc, bọn săn bắn động vật hoang dã. Làm sao Kẻ Gỗ giữ được sự hào phóng của thiên nhiên với những cánh rừng nguyên sinh xanh ngắt. Vào những ngày hè nóng nực khi nhiệt độ tại trung tâm thị xã Hà Tĩnh lên tới 37 – 38 độ C, nhiệt độ bình thường xấp xỉ 30 – 32 độ C.Giữa dòng nước chảy xiết vẫn có những loài cây sinh trưởng và toả bóng mát. Mặt hồ còn được điểm trang bởi nhiều ốc đảo nhỏ, mỗi ốc đảo là một thế giới riêng huyền bí.

    Từ lâu, Kẻ Gỗ đã được đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu. Hiện nay, ngành du lịch Hà Tĩnh cũng đang xúc tiến lập các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như hệ thống các dịch vụ để sớm xây dựng nơi đây thành một khu du lịch sinh thái tổng hợp với nhiều loại hình giải trí như: Ðua thuyền, lướt ván, leo núi câu cá; cùng các khu thể thao như: tennis, cầu lông bóng chuyền; xây dựng vườn thú, vườn chim, vườn cây cảnh. Tin rằng một ngày không xa, khi khu du lịch sinh thái Kẻ Gỗ được xây dựng, có hệ thống giao thông thuận lợi và các loại hình du lịch hấp dẫn, tương xứng với tiềm năng để là điểm hẹn lý tưởng của du khách gần xa.

    4.3 Rừng sản xuất

    Rừng sản xuất: Là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất gỗ,lâm sản,đặc sản.

    Ổn định quy mô rừng sản xuất

    • Hà Tĩnh đang xem xét, điều chỉnh quy mô diện tích rừng sản xuất hợp lý cho các đơn vị như. Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh 11.632 ha, Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu 9.600 ha, Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 5.402 ha …. Tổ chức đấu giá để cho các thành phần kinh tế thuê, nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất.
    • Ðẩy mạnh việc giao đất, khoán rừng cho các thành phần kinh tế nhằm phát huy lợi thế về đất đai và lao động của tỉnh. Từng bước nghiên cứu áp dụng hình thức cho thuê rừng, đấu giá quyền sử dụng đất, rừng, thuê cảnh quan rừng để sản xuất kinh doanh lâm sản và kinh doanh dịch vụ du lịch. Từng bước tiến tới định giá rừng để giao vốn cho các doanh nghiệp quản lý, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn.
    • Tập trung giải quyết dứt điểm các tồn tại của ngành lâm nghiệp do lịch sử để lại, trong đó đặc biệt là các tranh chấp về đất đai, chế độ hưởng lợi, các chồng chéo trong giao đất lâm nghiệp.
    • Đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện đang do UBND các xã quản lý cần khẩn trương xây dựng phương án giao rừng cho các hộ gia đình, trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện hoàn thành trước năm 2010. Việc giao đất cho hộ gia đình cần có quy định cụ thể nhằm lựa chọn đối tượng có khả năng đầu tư phát triển sản xuất, tránh tình trạng giao manh mún tràn lan hoặc lợi dụng việc giao đất để đầu cơ trục lợi cá nhân, đồng thời quan tâm đảm bảo cho các hộ gia đình sống chủ yếu bằng nghề rừng có đất để sản xuất.
    • Hàng năm tổ chức đánh giá tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, đặc biệt đối với diện tích được quy hoạch cho sản xuất, nếu sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích hoặc sử dụng khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì thu hồi để giao cho đối tượng khác sử dụng.
    • Hoàn thiện hồ sơ giao đất, giao rừng như làm rõ diện tích, trạng thái, giá trị từng loại rừng khi giao, khoán để làm căn cứ xác định quyền lợi, nghĩa vụ của người nhận đất, khoán rừng.
    • Ưu tiên đầu tư nguồn ngân sách cho các chương trình dự án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ khi dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
    • Sớm xây dựng quỹ bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn để hỗ trợ vào nguồn đầu tư của Nhà nước trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trọng điểm. Khi chưa hình thành quỹ bảo vệ phát triển rừng thì sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên, tiền bán lâm sản tịch thu…để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
    • Chủ động kêu gọi các dự án liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng gắn với chế biến lâm sản, các dự án CDM (dự án trồng, bảo vệ rừng sạch); kêu gọi và huy động nguồn lực từ nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng vì mục đích kinh tế- xã hội và môi trường sinh thái.
    • Quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, cấp xã. Đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ khoa học chuyên ngành.
    • Tăng cường công tác khuyến lâm, xây dựng mô hình trình diễn về Lâm nghiệp trên các lĩnh vực sản xuất cây giống, trồng rừng và bảo vệ rừng …

    Khai thác

    • Khai thác gỗ rừng tự nhiên toàn kỳ 5.810 ha, bình quân mỗi năm 447 ha, sản lượng 116.895 m3, bình quân mỗi năm khoảng 8 ngàn m3; từng bước giảm khai thác rừng tự nhiên.
    • Khai thác rừng trồng tập trung toàn kỳ là 83.417 ha, sản lượng 4.902.331 m3, bình quân 6.417 ha/năm, sản lượng 377.102 m3/năm.
    • Khai thác rừng trồng phân tán khoảng 2 triệu cây/năm, tương đương 1.300 ha, sản lượng 65.000 m3.
    • Khai thác Lâm sản ngoài gỗ: song, mây 49.000 tấn, bình quân 3.769 tấn/năm; nhựa thông 22.000 tấn, bình quân 1.692 tấn/năm; mủ cao su 72.000 tấn, bình quân 5.538 tấn/năm; tre nứa 10 triệu cây/năm.
    • Ưu tiên sử dụng gỗ và các lâm sản từ gỗ khai thác được cho các cơ sở chế biến trong tỉnh.

    Chế biến lâm sản

    • Bình quân mỗi năm khoảng 8 ngàn m3 gỗ rừng tự nhiên và 442.102 m3 gỗ rừng trồng. Định hướng quy hoạch các nhà máy chế biến như­ sau:
    • Chế biến gỗ dăm (keo, bạch đàn, phi lao): ngoài các nhà máy băm dăm xuất khẩu hiện có, không đầu tư xây dựng thêm nhà máy băm dăm ở địa bàn Hà Tĩnh.
    • Chế biến đồ mộc xuất khẩu: đầu tư mở rộng các nhà máy hiện có.
    • Bố trí đầu tư nhà máy sản xuất ván sàn gỗ cao cấp MDF tại khu công nghiệp Vũng Áng công suất 50.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Hương Sơn, công suất 7.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Kỳ Anh, công suất 7.000m3/năm; nhà máy chế biến đồ gỗ nội thất, đồ gỗ văn phòng từ nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu rừng trồng tại khu công nghiệp Vũng Áng công suất 10.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Nghi Xuân, công suất 7.000m3/năm.
    1. Nguyên nhân dẫn đến mất rừng.
      • Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
      • Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép
      • Cháy rừng
      • Sức ép dân số
      • Nghèo đói
      • Hậu qủa của cuộc chiến tranh để lại
      • Hiệu lực pháp luật và chính sách
      • Phòng trừ sinh vật hại rừng

    Đi vào tìm hiểu 8 nguyên nhân trên chúng ta có thể nhìn nhận được suy thoái rừng ở Hà Tĩnh  đang là vấn đề đáng lo ngại.

     

    5.1. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất:

    • Chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đất sản xuất, là mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, là nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái tài nguyên rừng, suy thoái đa dạng sinh học. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm là hậu quả làm suy thoái rừng. Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên rừng ngập mặn Hà Tĩnh đã bị suy thoái nghiêm trọng. Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn lấy đất nuôi tôm một cách bừa bãi như hiện nay là huỷ hoại môi trường, làm suy giảm mức sống của nhiều người dân nghèo ven biển, ảnh hưởng xấu đến chủ trương xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững của Chính phủ.Các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương chưa đánh giá đúng vai trò to lớn của hệ sinh thái rừng ngập mặn; buông lỏng quản lý trong việc sử dụng tài nguyên vùng ven biển có rừng ngập mặn; không kiên quyết xử lý việc phá rừng để nuôi tôm. Nhiều địa phương (xã Phù Lưu, xã Thạch Châu – huyện Lộc Hà; xã Tùng Lộc, xã Tiến Lộc, thị trấn Nghèn – huyện Can Lộc… ) chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt là nuôi tôm để phát triển kinh tế mà chưa tính đến hậu quả lâu dài do thiên tai và suy giảm tài nguyên khi không còn rừng, nên rừng bị tàn phá khắp nơi. Phần lớn các dự án nuôi tôm không thực hiện việc đánh giá tác động môi trường mà hình như các cơ quan hữu quan cũng không lưu ý nhắc nhở thực hiện luật pháp. Sở lâm nghiệp cũng chưa quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục về lợi ích lâu dài của rừng ngập mặn nên việc đấu tranh để bảo vệ rừng của cộng đồng còn yếu.
    • Dự án “Trồng rừng ngập mặn – Giảm thiểu rủi ro thảm họa”do Hội chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được triển khai từ năm 1994 đến nay để trồng rừng ngập mặn. Trong đó, Hà Tĩnh là 1 trong 10 địa phương của cả nước triển khai một phần dự án này.
    •  
    • (Ảnh minh họa: ThienNhien.Net)
    • Từ đó đến nay, Hội Chữ thập đỏ tỉnh phối hợp với các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội trồng được khoảng 1.000 ha rừng ngập mặn. Tuy nhiên, theo ông Lê Tập, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh đang ngày càng bị thu hẹp, hiện toàn tỉnh chỉ còn khoảng 500 ha. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do con người tàn phá, cộng với tình trạng cây bị sâu bọ, hàu, hà ăn gốc. Ngoài ra, do thổ nhưỡng Hà Tĩnh không phù hợp với một số loại cây trồng. Ở một số xã thuộc huyện Lộc Hà và Thạch Hà, số diện tích rừng ngập mặn bị chết còn do nguyên nhân ngọt hóa sông Nghèn.
    • Ông Lê Tập, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hà Tĩnh cho biết: “Chúng tôi đang cùng với Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, trong giai đoạn 2011- 2015 thành lập các đội quản lý bảo vệ rừng, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ chủ chốt các cấp xã, vùng dự án ven sông, ven biển, nơi trọng điểm thiên tai. Hiện chúng tôi cần có nguồn vốn tài trợ để chi cho dân bảo vệ rừng để những cánh rừng khỏi bị tàn phá, tiếp tục đưa những hoạt động trồng rừng ngập mặn vào những nơi có thể trồng được và được nhà nước, địa phương đưa vào danh mục bảo vệ và phục hồi những cánh rừng ngập mặn”.
    • Vì mất nguồn sinh sống, một số người có thể biết là sai nhưng vẫn phải làm để nuôi gia đình, đó là dùng lưới mắt nhỏ, đăng bắt hết tôm tép hoặc dùng chất nổ, xung điện để huỷ diệt nguồn lợi.
    • Ngoài khai phá rừng để làm đầm tôm người dân còn phá rừng để trồng cao su ( huyện Đức Thọ, núi Trùng Bát – huyện Hương Khê ). Mặt khác, do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thuỷ sản và lâm nghiệp nên không những mất rừng, mà sự cân bằng sinh thái suy giảm và cuộc sống của cộng đồng ven biển bị xáo trộn. Có thể khẳng định, việc nuôi tôm và trồng cao su không có quy hoạch là mối đe doạ lớn nhất đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn và làm giảm diện tích rừng.

    5.2. Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép:

    • Khai thác nguồn lâm sản đang là tình trạng đáng lo ngại hiện nay đối với tài nguyên rừng Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Đây là

    nguyên nhân quan trọng trực tiếp dẫn đến rừng bị suy thoái một cách nghiêm trọng làm cho sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên, sự phong phú về các loài sinh vật, độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm sút gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và cây trồng trên toàn cầu. Khai thác rừng là hành động do chính con người tạo ra là phần lớn, vì rất nhiều mục đích khác nhau mà con người đã sử dụng dưới nhiều hình thức để tác động và tàn phá tài nguyên rừng. Với các mục đích khác nhau cho nên hoạt động khai thác nguồn lâm sản ở đây được chia thành 3 hoạt động: khai thác gỗ, khai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ.

    Khai thác gỗ: Ngày nay, khi giá gỗ tăng cao, con người đãkhông ngừng tiến hành khai thác các loài nhóm gỗ trên theo các mục đích củamình.

    • Họ khai phá để phục vụ cho các công trình xây dựng như làm giàn giáo, cốppha. Đối với loài gỗ bền chắc thì họ khai thác để xây dựng nhà ở, làm đồ gia dụng ( bàn, ghế, tủ, giường, cánh cửa… ), đối với loài gỗ quý hiếm thì họ khai thác nhằm để bán và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của con người. Việc khai thác các loài gỗ quý hiếm để phục vụ mục đích kinh doanh xuất khẩu hiện nay đang là một nguồn lợi tức đáng kể cho một tỉnh có trữ lượng tương đối nhiều gỗ quý như Hà Tĩnh ( ví dụ :vụ án 400 cây trong diện tích 50ha rừng pơ-mu đặc dụng tại hai tiểu khu 198 và 204 của Vườn quốc gia Vũ Quang bị lâm tặc đốn hạ, trong khoảng thời gian từ tháng 10-2012 đến tháng 2-2013 trên địa bàn xã Hương Quang, huyện Vũ Quang và xã Hòa Hải, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh). Với tốc độ đáng lo ngại nạn khai thác rừng chủ yếu diễn ra ở các khu rừng nhiệt đới đang dần đưa đến nguy cơ mất rừng. Như rừng ở vườn quốc Vũ Quang ( rộng 52.882 ha ), khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ ( rộng 21.759 ha ), là khu thuộc rừng đặc dụng lớn nhất tỉnh hiện nay cũng đang bị khai phá nghiêm trọng cũng với tốc độ khai phá này thì chỉ trong vài mươi năm nữa thì khu rừng sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn.

    Khai thác củi : Đối với các loại gỗ ngoài giá trị xây dựng công trình, xây dựng nhà ở, phục vụ kinh doanh xuất khẩu thì những loại thực vật kém giá trị khác lại được con người khai thác với mục đích là làm củi đốt. Nhiều huyện ở vùng miền núi và nông thôn chiếm một phần dân số đông so với toàn tỉnh như: huyện Vũ Quang, huyện Cẩm Xuyên, huyện Can Lộc…, đã theo thói quen trong sinh hoạt họ chỉ dùng củi để làm nguyên liệu đốt và dùng với lượng củi khá cao. Những hộ gia đình nghèo không có đất sản xuất, vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi bán đều có thêm thu nhập. Với dân số của tỉnh là 1.300.800 người (năm 2005) hiện nay, thì nhu cầu về lượng củi đốt như hiện nay cũng tăng theo. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho việc tàn phá rừng tiếp tục tiếp diễn.

    Khai thác lâm sản ngoài gỗ: Ngoài khai thác gỗ quý hiếm và khai thác củi thì khai thác lâm sản ngoài gỗ cũng là một sự tàn phá đến tài nguyên rừng.

    • Đây có thể xem là nguyên nhân tác động làm suy kiệt tài nguyên rừng nhanh nhất. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các loài động vật quý, động vật hoang dã… và các loại thực vật mà cho các sản phẩm ngoài gỗ như: song, mây, tre, nứa, lá các loại cây thuốc, dầu… Tất cả các loài trên có thể được sử dụng trong gia đình, bán và xuất khẩu cho nên tình trạng khai thác, buôn bán trái phép, xuất khẩu các loài động vật thực vật đang được diễn ra mạnh mẽ. Giá trị xuất khẩu cao của các loài nói trên cùng với sự kém hiểu biết, hám lợi nhuận đã thúc đẩy con người tìm cách săn bắt chúng ở khắp mọi nơi. Cùng xuất phát từ sự nghèo đói mà người dân đổ xô vào rừng khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ. Chỉ vì khai thác quá mức để bán ra các tỉnh và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất đũa, chiếu và làn giàn giáo cho các công trình xây dựng mà dẫn đến suy thoái các rừng luồng nghiêm trọng. Và đang còn rất nhiều hoạt động khai thác các loài động vật thực vật khác theo từng mục đích riêng ảnh hưởng tới môi trường. Các hoạt động khai phá trái phép này kéo dài âm ỉ, liên tục, tốc độ của sự phục hồi rừng không kịp với tốc độ phá rứng cho nên rừng đang bị suy thoái. Cần có các biện pháp tích cực để ngăn chặn và làm giảm các hoạt động trái phép này.

    5.3. Cháy rừng

    • Cháy rừng cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tài nguyên rừng một cách rất nhanh gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra hậu quả xấu như xói mòn, lũ lụt, hạn hán đến cuộc sống con người. Ngày nay cháy rừng cũng do nhiều nguyên nhân gây ra, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiện tượng elnino gây ra, do các hoạt động khai thác của con người như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm mộ liệt sĩ trong chiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… những nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy. Và hầu hết các diện tích rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu nguồn (huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang ), đất dốc (núi Hồng Lĩnh thuộc huyên Can Lộc, huyện Lộc Hà và thị xã Hồng Lĩnh ), vùng sinh thái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng dễ gây lũ quét, xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá. Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diện tích rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng. Sự phục hồi và tái tạo lại rừng trong điều kiện này là rất chậm vì thế mà tài nguyên rừng đang cạn kiệt dần đi.

    5.4. Sức ép dân số

    • Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái môi trường. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Khi chưa có sự xuất hiện của con người, rừng che phủ hầu hết đất đai của các lục địa, trong lịch sử phát triển của loài người vào thời kì đồ đá cũ, con người sống hoàn toàn phụ thuộc vào rừng bằng các hoạt động săn bắt và hái lượm, các hoạt động này không gây thiệt hại gì cho rừng. Đến khi con người bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt thì con người có những hoạt động tác hại đến rừng, mặc dù các tác động này có phần nào hạn chế sự phát triển của rừng nhưng cũng chưa đáng kể lắm. Từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên trở về sau thì rừng mới thực sự bị con người tấn công khai phá. Sự tấn công khai phá rừng ngày càng được thấy rõ nét hơn, khi dân số đông dần lên, nông nghiệp ngày càng mở rộng đồng thời nghề luyện kim xuất hiện. Con người đốt rừng để trồng tỉa, lấy gỗ để làm nhiên liệu, đồ gỗ làm thuyền làm bè… Cứ như thế rừng bị thu hẹp dần. Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp, đời sống của con người dần được nâng lên, nhu cầu trong đời sống của họ cũng dần tăng cùng theo đó. Và dần dần, dân cư ngày càng tập trung ở các đô thị để dễ dàng trao đổi buôn bán… thoã mãn nhu cầu của họ, gây nên tình trạng mất cân đối giữa dân cư ở nông thôn và thành thị. Người dân ồ ạt ra thành thị kiếm sống dẫn đến tình trạng đô thị hoá, đòi hoỉ nền kinh tế ở khu vực này phải phát triển tương đồng để đáp ứng đầy đủ việc làm cho người dân. Và khi nhu cầu con người trong tất cả các lĩnh vực tăng cao, nhu cầu việc làm cũng tăng thì các nhà máy, xí nghiệp, các công ty, cơ sở chế biến… bắt đầu được hình thành. Nhưng diện tích đất thành thị chỉ chiếm một phần rất nhỏ cho nên tất cả các hoạt động tiêu dùng và sản xuất, khai thác chế biến không thể diễn ra ở đây, chẳng hạn như xây dựng nhà máy xi măng, nhà máy gạch, các nhà máy chế biến nguyên liệu mía, sắn… thì không thể xây dựng trong địa bàn thành thị vì lí do đảm bảo đầu vào nguyên liệu dễ dàng, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm ở thành thị thì buộc họ phải chuyển đến một nơi cách xa thành thị, cách xa nơi sinh sống, chuyển đến một địa bàn nào đó để xây dựng cở sở sản xuất cho mình. Và dần họ lấn chiếm vào rừng, nơi có diện tích khá rộng và tiến hành khai thác tàn phá rừng để xây dựng các nhà máy xí nghiệp. Và tại các vùng nông thôn thì dân số tăng thì buộc người dân phải mở rộng diện tích đất canh tác để sản xuất đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống. Điều tất nhiên là người dân không thể mở rộng diện tích đất sản xuất xuống các vùng đô thị, diện tích đất đồng bằng chiếm phần rất ít thì buộc họ phải tiến sâu vào rừng, bất đầu chặt phá rừng để lấy đất tiến hành sản xuất. Ban đầu chỉ khai thác một phần diện tích nhỏ và sau một thời gian dài, ngoài nhu cầu mở rộng đất canh tác mà nhu cầu về nhà ở của con người cũng tăng lên. Do nền kinh tế phat triển, giá cả đất tại các đô thị rất cao nhưng người dân họ không đủ khả năng để mua nhà tại các vùng đồng bằng và đương nhiên họ sẽ chuyển lên địa bàn mà nơi họ có khả năng mua nhà ở và rừng được xem là địa bàn sinh sống tiềm năng. Khi dân số tăng nhanh không những nhu cầu về việc làm, nhà ở tăng mà bên cạnh đó nhu cầu giả trí ăn uống du lịch… của con người cũng tăng nhiều hơn khi đời sống người dân được nâng lên họ muốn được ăn những thứ ngon, những thứ lạ, dùng những sản phẩm độc đào từ thên nhiên, muốn có nguồn vật liệu xây dựng như sản phẩm từ gỗ quý hiếm như: giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), gụ (Sindora siamensis), sao đen (Hopea odaratu). Có cầu ắt sẽ có cung và con người lại tiếp tục vào rừng tìm kiềm các loài động thực vật quý hiếm để săn bắt, khai thác với mục đích bán cái trên thị trường cần để có thêm thu nhập. Tài nguyên rừng thì có hạn mà nhu cầu con người thì ngày càng tăng và chỉ trong một thời gian ngắn các loài động vật, thực vật quý hiếm đã bị khai thác cạn kiệt, thậm chí có nguy cở bị tiêu diệt làm cho số lượng và chủng loài sinh vật ngày càng giảm đi. Vậy có thể nói sức ép dân số cũng tác động mãnh mẽ đến sự suy thoái tài nguyên rừng, con người cần có sự khai thác hợp lý có kế hoạch để hạn chế tình trạng kahi thác rừng bừa bài làm giảm tài nguyên rừng một cách đáng kể.

    5.5. Nghèo đói

    • Suy thoái môi trường có nhiều nguyên nhân trong đó một phần là do sự đói nghèo tác động nên. Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất đã dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức làm tăng sự khan hiếm và suy thoái. Với khoảng 70% dân cư sống ở nông thôn, Hà Tĩnh là một tỉnh đang phát triển dựa vào nông nghiệp phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Đất nông nghiệp ở nhiều nơi thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp khoảng 50% gia đình thuộc vào diện đói nghèo. Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư những người nghèo đói thường phải đến sinh sống tạo những nơi có điều kiện không thuận lợi mà cần ít vốn đầu tư phải bóc lột đất và tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên nay dần bị suy thoái nhanh chóng. Nhưng cũng phải chứng tỏ một điều là: nghèo đói không đồng nghĩa với việc được tàn phá rừng như hoạt động khai thác gỗ, củi, đặc sản rừng… để đem đi bán. Nhưng vì nghèo, không có đất sản xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để nuôi sống bản thân và gia đình họ, có thể số củi, gỗ mà họ khai thác được chỉ bán ra với giá là 50.000 đồng nhưng số tiền đó lại nuôi được gia đình họ trong một tuần, nếu thu nhập một người/ ngày mà thấp hơn 15.000 thì được xét là hộ nghèo thì những hộ gia đình đó lại có cuộc sống khó khăn hơn. Các hoạt động khai phá của họ cũng một phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho những người giàu có, phục vụ mục đích kinh doanh cho những con người có tiền bạc. Tuy hoạt động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian khá dài nên rất khó quản lý và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng. Khi rừng ngày càng giảm về số lượng cây trồng, vật nuôi hay diện tích rưùng bị thu hẹp đã dẫn đến hiện tượng hạn hán lũ lụt, khả năng ngăn chặn xói mòn đất là rất kém. Cho nên mỗi lần thiên tai ập đến lại chính những người nghèo tiếp tục gánh chịu tổn thất nặng nề hơn do phải sống gần rừng. Vốn dĩ họ đã nghèo nay lại càng nghèo hơn, sự nghèo đói luôn xây quanh cuộc sống của họ, dường như họ khó có thể thoát ra được cuộc sống tiếp tục phá rừng lấy gỗ,củi, đặc sản rừng bán để có thu nhập. Vì mục đích là có thu nhập nuôi sống gia đình mình mà các hộ dân nghèo đói đang dần dần làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vậy cần có các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho hộ nghèo đói như các chương trình phát triển ngành nghệ phụ… để giảm bớt hiện tượng khai thác rừng.

    5.6. Hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học để lại:

    • Cuộc chiến tranh hoá học chính là những cuộc chiến tranh bằng chất độc da cam/đioxin mà quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng và rải lên đất nước Việt Nam trong các cuộc chiến tranh và Hà Tĩnh cũng phải hứng chịu hậu quả nặng nề đó. Với số lượng rất lớn chất độc hoá học đã rải, lặp đi lặp lại nhiều lần trong một quãng thời gian dài với nồng đọ cao, chúng ngấm và dần phân huỷ trong đất, không những đã làm chết cây cối mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên. Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất độc hoá học đối với tài nguyên và môi trường rừng là rất rõ ràng. Trong quá trình bị tác động, hàng trăm loài cây đã bị trút lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc họ dầu ( Dipterocarpaceae), họ đậu ( Fabaceae). Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như giáng hương ( Pterocarpus macrocarpus), gụ ( Sindora siamensis), sao đen ( Hopea odorata)… và một số cây họ dầu thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết dẫn đến khan hiếm nguồn hạt giống của một số loài cây quý. Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh chóng, những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa ánh sáng mọc nhanh, kém giá trị kinh tế thì chúng xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa. Nhiều khu rừng đã bị phá huỷ nặng nề do quy mô phá hoại rộng lớn và lặp đi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của bom đạn… Hậu quả là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ ( Pennisetum polystachyon), cỏ tranh (Imperate cylindrica), lau lách xâm lấn và đến nay rừng vẫn chưa được phục hồi. Ngoài ra, chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều cho các loại tài nguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến như dầu nhựa, cây thuốc, song mây và các loài động vật rừng. Và hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ rải xuống còn dẫn đến nhiều thiệt hại khác về môi trường và tính đa dnạg sinh học làm cho quá trình trút lá ồ ạt đã dẫn đến hiện tượng ứ đọng dinh dưỡng và có 10-15 triệ hố bom chiếm khoảng 1% diện tích rừng Nam Việt Nam làm cho lớp đất mặt bị đảo lộn và thúc đẩy quá trình rửa trôi đất. Hậu quả trên cản trở trực tiếp đến diễn thế phục hồi rừng và tác động xấu đến rừng phòng hộ đầu nguồn. Tuy những năm gần đây, cây rừng cũng đã được chăm sóc, được đầu tư phát triển thêm nhưng chất lượng và số lượng vẫn không được cao. Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng hậu quả mà cuộc chiến tranh hoá học để lại là giảm diện tích rừng, làm cho tài nguyên rừng Hà Tĩnh bị tổn thương rất nặng nề. Mặc dù, đã trải qua trên 30 năm nhưng vết thương đó vẫn chưa lành, diện tích rừng thì có nhiều biến đổi theo xu hướng suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chiến tranh hoá học của Mỹ đã để lại một hậu quả tàn khốc lên tài nguyên rừng Việt Nam cũng như tại Hà Tĩnh.
    • Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nghiêm trọng về diện tích là do khai hoang trong chiến tranh, do tập quán sống, do cháy rừng, do sự khai phá bừa bãi lấy gỗ lấy đất canh tác…, nguồn tài nguyên động- thực vật đa dạng của rừng Hà Tĩnh cũng bị giảm sút nghiêm trọng là do sự săn bắt thú bừa bãi để lấy lông, da, thịt, sừng và các sản phẩm khác để làm thuốc, còn do việc buôn lậu thú quý hiếm ra nước ngoài… Trong 4 thập kỷ qua theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim đã bị tuyệt chủng và 120 loài thú đã bị diệt vong. Tất cả hậu quả trên đều do con người trực tiếp gây ra. Và qua phân tích ở trên chúng ta thấy cả 6 nguyên nhân đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, cùng tác động và chi phối lẫn nhau, đều tác động trực tiếp làm ảnh hưởng tài nguyên rừng, làm suy thoái tài nguyên rừng rất nhanh. Vấn đề đặt ra cho các ban ngành kiểm lâm cần có những chính sách tác động để bảo vệ tài nguyên rừng, có sự kiểm soát chặt chẽ với những hành động khai thác trộm bừa bãi các động thực vật quý hiếm. Cần tuyên truyền cho người dân biết tác hại của vấn đề tàn phá rừng để tăng ý thức bảo vệ cộng đồng làm cho rừng Hà Tĩnh ngày càng đa dạng hơn về chủng loại và số lượng..

    5.7. Hiệu lực pháp luật và chính sách

    • Hiệu lực thi hành pháp luật trong cộng đồng và cán bộ địa phương còn hạn chế, hành lang pháp lý chưa đủ mạnh. Các vụ vượt quá thẩm quyền chuyển cấp trên thời gian xử còn kéo dài chưa có tác dụng giáo dục cho cộng đồng. Chính sách đãi ngộ, quan tâm của Nhà nước đối với lực lượng kiểm lâm chưa thỏa đáng. Kiểm lâm thường xuyên bị đe dọa bởi những đối tượng có hành vi khai thác trộm lâm sản. Họ chưa yên tâm với công tác. Hiện biên chế kiểm lâm còn thiếu nhiều (theo quy định với diện tích 115.545ha, biên chế cần là 231 người, nhưng tới năm 2008 mới chỉ có 72 người o Yok Don). Đây là một khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng Vườn quốc gia . Việc nâng cao năng lực kỹ năng về bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi pháp luật cho kiểm lâm chưa ngang tầm nhiệm vụ.

    5.8 Phòng trừ sinh vật hại rừng

    • Những năm qua, trên diện tích rừng cả nước chưa xảy ra dịch bệnh mất rừng với quy mô lớn nhưng ở tại Hà Tĩnh có xảy ra hiện tượng dịch sâu róm hại rừng trồng các loại cây thông, có năm diện tích rừng bị nhiễm dịch lên đến hàng chục thậm chí hàng trăm héc ta, đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất nhựa. Sở lâm nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật phòng trừ như: phun thuốc sâu, biện pháp sinh học… Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật về phòng trừ sinh vật hại rừng còn rất hạn chế, chủ yếu mới thực hiện các giải pháp ứng phó khi dịch xảy ra, các biện pháp phòng sinh vật hại rừng chư được quan tâm đúng mức, do vậy sẽ rất lung túng nếu dịch xảy ra trên quy mô lớn. Theo quy hiện hành của pháp luật, công tác quản lý về phòng trừ sinh vật hại rừng được giao cho hệ thống cơ quan bảo vệ thực vật, Tuy nhiên các cơ quan này mới chỉ chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ cây trồng nông nghiệp, chưa có đầy đủ năng lực để thực hiện các biện pháp phòng trừ sinh vật hại rừng.
    1. Tác động của suy giảm tài nguyên rừng đến tự nhiên – môi trường sống.

    6.1 Ảnh hưởng với môi trường tự nhiên:

    • Sự suy giảm tài nguyên rừng có ảnh hưởng như thế nào đối với tự nhiên và môi trường?
      • Đối với tự nhiên:
    • Đối với tài nguyên nước: mất rừng gây biến động thủy chế sông ngòi, giảm sự điều hòa của dòng chảy, dẫn đến lũ lụt khô hạn, làm tăng quá trình bốc hơi giảm lượng nước ngầm.
    • Đối với tài nguyên đất: Làm tăng qúa trình xói mòn, rửa trôi, đá ong hóa mạnh mẽ làm tăng diện tích đất bị thoái hóa.
    • Đối với tài nguyên sinh vật: Mất rừng làm suy giảm tính đa dạng sinh học, số lượng loài động thực vật bị tuyệt chủng ngày càng tăng
      • Đối với môi trường:
    • Đối với môi trường không khí: Rừng bị chặt phá làm tăng lượng CO2, tăng nhiệt độ không khí, thủng tầng Ôzôn, ô nhiểm khí quyển.
    • Đối với sinh thái: nhiệt độ không khí tăng làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần thể của nhiều hệ sinh thái, ranh giới các hệ sinh thái có xu hướng chuyển dich lên cao hơn. Nhiệt độ tăng làm tăng khă năng cháy rừng.

    6.2. Ảnh hưởng của suy giảm tài nguyên rừng đến môi trường sống.

    • Suy giảm tài nguyên rừng gây thiên tai ở nhiều nơi
    • Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và chịu tác động trực tiếp của ổ bão châu Á -Thái Bình Dương – một trong 5 ổ bão lớn của thế giới, Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai. Nước ta còn nằm trong số 10 nước hàng đầu về tần suất bị thiên tai trên thế giới, với những loại thiên tai phổ biến là bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán.
    • Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, 10 năm gần đây, bình quân mỗi năm, có khoảng 750 người chết và mất tích do thiên tai, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP. Theo các chuyên gia về môi trường, Việt Nam sẽ tiếp tục phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai trong tương lai với tần suất nhiều hơn, cường độ mạnh hơn do chịu sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu – tác động của suy giảm tài nguyên rừng.
    • Ảnh hưởng của nạn phá rừng đối với lũ lụt đã và đang được tranh luận trên khắp thế giới. Các cuộc nghiên cứu và điều tra ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi khác trên thế giới đã chứng minh rằng nguyên nhân hàng đầu của lũ lụt là có quá nhiều mưa xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi, và việc phá rừng có thể ảnh hưởng quan trọng đối với lũ lụt trong các lưu vực hạn hẹp như ở miền Trung. Cây cối có khả năng giữ nước cũng như giảm thiểu việc đất đai sạt lở. Lượng nước lũ ở một vùng có nhiều cây cối sẽ ít hơn lượng nước lũ từ một vùng trơ trọi. Vì thế nạn phá rừng có thể gia tăng mực nước ở các vùng hạ lưu.
      • Khi rừng bị suy thoái thì xảy ra nạn ô nhiễm môi sinh, nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, lụt lội, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản .v.v.
    • Người ta ước tính, nạn phá rừng khiến mỗi năm thế giới thiệt mất một số tiền lên tới 45 tỷ Mỹ Kim. Tuy số tiền vừa đề cập là một số tiền vô cùng lớn lao; thế nhưng những chính sách hay hành động có tính thiển cận, tạo ra vô vàn thiệt hại khác mà thiệt hại có’ tầm mức nghiêm trọng nhất lại là thiệt hại về tính đa dạng sinh tháị.Như ta đã biết rừng nhiệt đới giữ một vai trò đặc biệt trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh tháị Đây là nơi ở của tới 70% chủng loại cây cối và muông thú của trái đất; đồng thời cũng là nơi chứa tới hơn 13 triệu chủng loại khác nhaụ Rừng nhiệt đới chứa tới 70% loại cây co ‘ống mạch, 30% tất cả các loài chim và 90% loài động vật không xương sống. Đăỳc biệt rừng nhiệt đới còn là nơi sinh sống của những loài động vật độc đáo nổi tiếng như các loài linh trưởng như đười ươi, vượn; các giống thuộc họ miêu, tức mèo như sư tử, cọp, beo, v.v. Riêng trong lĩnh vực chủng loại thảo mộc mà thôi, rừng nhiệt đới cũng cực kỳ đa dạng và mỗi mẫu rừng chứa tới hơn 200 chủng loại khác nhaụ Việc phá hoại rừng khiến hàng nghìn chủng loại cây cối và thú vật bị tuyệt chủng. Số lượng chính xác bị tuyệt chủng là bao nhiêu thì người ta quả không rõ; thế nhưng có người đoán mỗi năm khoảng 50.000 chủng loại khác nhau bị tuyệt chủng.
    • Tiên đoán là trong thế kỷ 21 này, cứ mỗi một thập niên, trái đất trái đất ấm dần lên độ 0,3 độ C. Lý do là vì số lượng carbon dioxide hiện diện trong bầu khí quyển gia tăng; và kể từ 150 năm qua, số này đã tăng tới 25%; và mặc dù chỉ chiếm có 1/20 của một phần trăm khí quyển địa cầu, carbon dioxide có khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ rất cao.
      • Mất rừng ngập mặn sẽ đẩy mạnh sự xâm nhập nước mặn vào đất liền, thúc đẩy quá trình xói lở, gây ô nhiễm đất và nguồn nước
    • Trong vòng 50 năm qua, Việt Nam đã mất đi hoặc suy giảm chất lượng hơn 80% diện tích rừng ngập mặn. Đặc biệt giai đoạn từ 1995 trở lại đây, rừng ngập mặn đã bị tàn phá với tốc độ nhanh khủng khiếp để phục vụ hoạt động nuôi trồng thủy sản. Tại nhiều địa phương, nuôi tôm đã từng được coi là một nghề siêu lợi nhuận, dẫn đến phong trào nơi nơi, nhà nhà đầu tư vào ngành này một cách tự phát, làm chết hoặc chủ động phá đi hàng trăm ngàn ha rừng ngập mặn, bất chấp những rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn về tình trạng ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và những biến cố, thảm họa tự nhiên có thể xảy ra. Phong trào này đồng thời kéo theo hàng loạt các vấn đề kinh tế xã hội phức tạp khác. Thực trạng này đã diễn ra ở nhiều tỉnh duyên hải, đặc biệt thấy rõ ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ như Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu… Điều đó, một mặt phản ánh sự thiếu hiểu biết và thái độ bất chấp của người dân, mặt khác cho thấy sự yếu kém trong vấn đề quản lý, quy hoạch của chính quyền địa phương đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương.
    • Sau hơn 10 năm thực hiện “công cuộc tàn phá rừng ngập mặn”, giờ đây không ai khác mà chính người dân địa phương ở những nơi này đang phải chứng kiến và gánh chịu hậu quả về sinh thái và kinh tế xã hội.
    • Việc phá rừng ngập mặn làm đìa tôm trước mắt có thể đem lại lợi nhuận hàng trăm tỉ đồng mỗi năm, nhưng hậu quả thì khôn lường. Một thực tế là ở những nơi rừng ngập mặn bị tàn phá, lượng mưa giảm rõ rệt, không khí nóng bức hơn, bầu không khí bị ô nhiễm do lượng khí CO2 tăng.
    • Phá rừng nuôi tôm đã trở thành chuyện phổ biến

    EMôi trường đất: Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con người.Hiện nay đất đang bị suy thoái do các hoạt động sống của con người đặc biệt là hoạt động khai thác rừng bừa bãi,đốt rừng làm nương rẫy,…Chính những hoạt động này đã làm mất thảm thực vật bảo vệ đất khỏi xói mòn,rửa trôi, ngoài ra suy giảm tài nguyên rừng còn làm giảm độ ẩm, độ phì của đất… làm tăng diện tích đất bị thoái hóa. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.

     

    ]Qua đây ta thấy suy giảm tài nguyên rừng là nguyên nhân gây suy thoái đất.

    EMôi trường nước: Rừng không chỉ có khả năng hấp thụ CO2 mà rừng góp phần giữ ổn định nguồn cấp nước, giảm thiểu nguy cơ hạn hán cũng như lũ lụt. Rừng còn giúp cân bằng dòng chảy cố định cho các hệ sinh thái và các trung tâm đô thị.Bởi vậy,suy giảm rừng gây biến động thủy chế sông ngòi, giảm sự điều hòa của dòng chảy,làm tăng quá trình bốc hơi giảm lượng nước ngầm,dẫn đến lũ lụt khô hạn. Hiện nay,nước ta  đang diễn ra tình trạng thiếu nước trong mùa khô đặc biệt là ở các tỉnh ở Tây Nguyên và lũ lụt trong suốt mùa mưa.

     

    ]Hiện tượng này một phần do suy giảm rừng và tác động của biến đổi khí hậu.

    EMôi trường không khí: Rừng là ‘ lá phổi xanh”,có khả năng hấp thụ CO2 tạo khí O2 thông qua quá trình quang hợp.Rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ,độ ẩm không khí,thành phần khí quyển và có ý nghĩa điều hòa khí hậu.

    • Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt (đi lại bằng xe cơ giới,..) chúng ta thải ra môi trường không khí hàng tấn bụi,khí,sol khí…những khí thải này sẽ bay lơ lững và nếu như không có những hàng cây để chúng bám vào thì ô nhiễm không khí là không tránh được.

    Mức độ ô nhiễm không khí ở nước ta do bụi là rất trầm trọng, vượt chỉ số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, trong đó có những khu vực gấp từ 3 – 4.

    • Bên cạnh đó suy giảm rừng sẽ làm tăng lượng CO2 ,tăng nhiệt độ…hiệu ứng nhà kính tăng.Bởi vậy,không riêng gì nước ta mà toàn thế giới đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
    • Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong thế kỷ XXI, những ảnh hưởng này còn trầm trọng và khốc liệt hơn nữa. Theo ủy ban liên chính phủ về BĐKH, nếu không có các biện pháp mạnh mẽ để giảm lượng khí thải toàn cầu thì đến 2100, nhiệt độ Trái đất có thể tăng đến 4,8°C so với năm 1990.

    CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP

     

    1. Đối với cộng đồng dân cư

    Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng.

    • Xây dựng các chương trình về thông tin – giáo dục – truyền thông, phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng của các chủ rừng, chính quyền các cấp, các ngành và toàn xã hội.
    • Đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa. Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ tài nguyên rừng vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học. In ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền để phân phát cho các cộng đồng, xây dựng các bảng tuyên truyền ở những khu vực công cộng, trên giao lộ, cửa rừng…
    • Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện các quy ước bảo vệ rừng ở cấp xã.

    Đối với chủ rừng.

    • Chủ rừng phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định hiện hành của pháp luật. Những chủ rừng quản lý trên 500ha rừng phải có lực lượng bảo vệ rừng của mình.
    • Xây dựng các chương trình, đề án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, được thuê đảm bảo bố trí các nguồn lực không để rừng bị xâm hại trái pháp luật.

    Đối với các tổ chức xã hội.

    Phối hợp với chính quyền các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình tuyên truyền, vận động và giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng cho các thành viên; phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ và phát triển rừng.

    1. Đối với chính quyền địa phương

    Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp.

    • Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng theo quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức các lực lượng truy quét lâm tặc phá rừng tại địa phương. Ngăn chặn kịp thời các trường hợp khai thác, phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Chỉ đạo xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và những người bao che, tiếp tay cho lâm tặc. Những địa phương để xảy ra tình trạng phá rừng trái phép thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và bị xử lý theo quy định.
    • Tổ chức khôi phục lại diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái quy định của pháp luật trong thời gian qua.
    • Tiến hành kiểm tra, cưỡng chế tất cả những người di dư tự do ra khỏi các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
    • Hoàn thành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào năm 2010.

     Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân.

    • Đẩy mạnh việc giao rừng và đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc, đồng thời hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng.
    • Sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư, quy hoạch và tổ chức thực hiện các dự án ổn định vùng kinh tế mới để người dân có thu nhập từ sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, giảm bớt sự lệ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái pháp luật…
    • Rà soát ổn định diện tích canh tác nương rẫy theo phong tục tập quán của đồng bào ở một số khu vực, từng bước chuyển sang phương thức canh tác thâm canh, cung cấp giống cây trồng phù hợp với lập địa, có hiệu quả kinh tế cao và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào.
    • Nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào tương đương với thu nhập từ canh tác quảng canh nương rẫy hiện nay (tương đương khoảng 1 đến 1,5 tấn thóc/hécta/năm) trong thời gian 3 đến 5 năm, cung cấp giống cây rừng và một số vật tư cần thiết khác cho đồng bào dân tộc tại chỗ để chuyển căn bản họ sang trồng rừng, đồng thời cho họ được hưởng 100% sản phẩm rừng.
    1. Đối với cơ quan quản lý

    Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định.

    • Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức rà soát, lập quy hoạch 3 loại rừng của địa phương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát quy hoạch rừng ngập mặn ven biển đảm bảo an toàn bảo vệ môi trường ven biển và phát triển nuôi trồng thủy sản hợp lý, tổng hợp quy hoạch ba loại rừng quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể ba loại rừng toàn quốc;
    • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát danh mục hệ thống rừng đặc dụng để ổn định đến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2006. Trên cơ sở đó, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cho các khu rừng đặc dụng theo Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
    • Xác định ranh giới ba loại rừng trên bản đồ và thực địa; hoàn thành việc đóng cọc mốc, cắm biển báo ranh giới rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn vào năm 2010.

    Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật

    • Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thiết lập cơ chế, tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo ngành và liên ngành hợp lý để quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả.
    • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ và phát triển rừng; sửa đổi, bổ xung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, chính quyền các cấp và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược khung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tạo hành lang pháp lý ổn định trong hoạt động lâm nghiệp.
    • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng chính sách về bảo vệ rừng theo hướng đảm bảo lợi ích của những người làm nghề rừng, những người trực tiếp tham gia bảo vệ rừng, tạo động lực thu hút đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, sớm sửa đổi chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng theo Quyết định 187/TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách giao, cho thuê rừng, khoán bảo vệ rừng; chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng lâm nghiệp trước hết là nâng cao tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn thuộc chương trình 661 lên mức 15% – 20% tổng vốn chương trình; chính sách khuyến khích nhập khẩu gỗ nguyên liệu và trồng rừng nguyên liệu thay thế gỗ rừng tự nhiên.
    • Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát và sắp xếp các lâm trường quốc doanh; đồng thời triển khai ngay các phương án bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp thu hồi từ các lâm trường quốc doanh, không để tình trạng rừng trở thành vô chủ. Trao quyền tự chủ về kinh doanh và tài chính cho các nông, lâm trường quốc doanh sau khi sắp xếp lại.

    Đối với lực lượng Công an.

    • Bộ Công an chỉ đạo công an các tỉnh, thành phố hỗ trợ và phối hợp thường xuyên với lực lượng kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo một cơ chế thống nhất; tổ chức điều tra nắm chắc các đối tượng phá rừng, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép, đặc biệt phải triển khai các biện pháp kiên quyết trừng trị thích đáng; ngăn chặn triệt để tình trạng chống người thi hành công vụ; phối hợp với các lực lượng có liên quan truy quét bọn phá rừng và kiểm tra, kiểm soát lưu thông lâm sản. Rà soát và xử lý dứt điểm các vụ án hình sự tồn đọng trong lĩnh vực bảo vệ rừng.

    Đối với lực lượng Quân đội.

    • Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng: Bộ Quốc phòng chỉ đạo các Quân khu, Quân đoàn, Bộ tư lệnh Biên phòng; Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương xác định những khu vực rừng đang là điểm nóng về phá rừng, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ để tổ chức các đơn vị quân đội đóng quân, chốt giữ, xây dựng địa bàn quốc phòng an ninh gắn với bảo vệ rừng, bố trí lực lượng, phương tiện thường trực sẵn sàng tham gia các đợt truy quét chống chặt phá rừng.
    • Sau khi giải quyết căn bản ổn định tình hình phá rừng trái phép trong một thời gian, các đơn vị quân đội bàn giao việc bảo vệ rừng cho chính quyền địa phương để tiếp tục duy trì công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, ở những khu vực có vị trí quan trọng về quốc phòng, thì có thể giao quản lý rừng lâu dài cho các đơn vị quân đội.
    • Huy động các đơn vị quân đội tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng ở những khu vực rừng có nguy cơ cháy rừng cao như: U Minh, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải có phương án để huy động lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn bố trí lực lượng thường trực, canh phòng và sẵn sàng chữa cháy rừng vào các tháng mùa khô cao điểm. Quân đội phải chủ động phương án tăng cường lực lượng, huấn luyện và diễn tập tại các khu vực này, phải coi chống lửa rừng như chống giặc để bảo vệ địa bàn quốc phòng.
    • Huy động lực lượng quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng: Bộ Quốc phòng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu chính sách thu hút các đơn vị quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng. Các đơn vị quân đội duy trì lực lượng bộ khung chỉ huy, lực lượng lao động chủ yếu sử dụng lực lượng nghĩa vụ quân sự. Sau khi rừng khép tán có thể bàn giao cho chính quyền để giao cho người dân quản lý bảo vệ, kinh doanh hoặc giao cho các đơn vị quân đội tiếp tục quản lý kinh doanh theo dự án và quy định của pháp luật.
    • Mở rộng diện tích rừng giao cho các đơn vị quân đội (nhất là các Đồn Biên phòng) tổ chức quản lý, bảo vệ; xây dựng các tuyến đường an ninh quốc phòng gắn với công tác bảo vệ rừng hai bên đường dọc tuyến biên giới; hải đảo và các khu vực rừng ở vùng sâu, vùng xa.

    Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng kiểm lâm.

    • Đổi mới tổ chức lực lượng kiểm lâm theo Luật bảo vệ và phát triển rừng để kiểm lâm gắn với chính quyền, với dân, với rừng, thực hiện chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương, tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo đảm chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Bố trí kiểm lâm địa bàn ở 100% các xã có rừng để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp, theo dõi chặt chẽ diễn biến rừng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn ngay từ đầu những vụ vi phạm. Từng bước tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm để bảo đảm định mức bình quân 1.000ha rừng có 1 kiểm lâm.
    • Tăng cường trang thiết bị cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp với địa bàn rừng núi, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng.
    • Ban hành một số chính sách về kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương, chế độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để trấn áp lâm tặc. Ban hành tiêu chuẩn ngạch công chức kiểm lâm vào năm 2006.
    • Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bảo vệ rừng, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các đối tượng. Xây dựng chiến lược đào tạo về bảo vệ rừng đến năm 2010. Tổ chức các chương trình trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, bảo vệ rừng.

    . Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng.

    • Lắp đặt và khai thác có hiệu quả trạm thu ảnh viễn thám phục vụ cho công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng và theo dõi diễn biến rừng.
    • Xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng (đường băng, chòi canh, hồ chứa nước, trạm bảo vệ, đường tuần tra…) ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, các vùng trọng điểm đã được xác định về phá rừng và cháy rừng.
    • Đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành cho lực lượng bảo vệ rừng.
    • Trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện trường cho các Hạt Kiểm lâm trên toàn quốc, trước mắt tập trung đầu tư cho các Hạt Kiểm lâm ở những vùng trọng điểm.

    Ứng dụng khoa học công nghệ

    • Ứng dụng công nghệ tin học, GIS, viễn thám vào công tác quản lý bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp.
    • Thiết lập và sử dụng có hiệu quả mạng máy tính chuyên ngành; xây dựng phần mềm quản lý, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
    • Xây dựng, tổ chức thực hiện quy trình giám sát, điều tra đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng.
    • Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phòng cháy, chữa cháy rừng; xây dựng và tổ chức thực hiện các quy trình, quy phạm kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng.

    Tài chính

    • Nghiên cứu và xây dựng quy chế tăng cường nguồn lực tài chính và thu hút các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ rừng; ban hành cơ chế tài chính đầu tư cho các khu rừng đặc dụng, phòng hộ.
    • Đổi mới cơ chế cấp phát tài chính từ ngân sách nhà nước; xây dựng định mức chi phí thường xuyên về quản lý bảo vệ rừng tính theo quy mô diện tích và yêu cầu thực tế.
    • Xây dựng cơ chế về đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ rừng từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng.
    • Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân các tỉnh đáp ứng đủ vốn đầu tư cho các dự án, chương trình về bảo vệ và phát triển rừng được duyệt với tổng kinh phí 2.077 tỷ đồng bao gồm: đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng 502 tỷ đồng; khoán bảo vệ 4,5 triệu hécta rừng đặc dụng, phòng hộ 1.250 tỷ đồng; hoạt động nghiệp vụ, công trình và trang thiết bị bảo vệ rừng 225 tỷ đồng; xây dựng cơ sở và huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực về bảo vệ rừng 100 tỷ đồng.

    Hợp tác quốc tế

    • Triển khai thực hiện tốt các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước về buôn buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp – CITES; Hiệp định ASEAN về chống ô nhiễm khói bụi xuyên biên giới – haZE; Diễn đàn hổ toàn cầu – GTF,…)
    • Thu hút các nguồn vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ rừng.
    • Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận song phương về hợp tác bảo vệ rừng liên biên giới với các nước Lào và Campuchia.

    Phòng cháy chữa cháy rừng.

    • Chi cục kiểm lâm thường xuyên theo dõi và truyền tải kịp thời bản tin cấp dự báo cháy rừng đến từng đơn vị kiểm lâm các địa phương để chủ động tuần tra liên tục nhằm sớm phát hiện lửa rừng để có biện pháp chữa cháy hiệu quả nhất.
    • Các đơn vị kiểm lâm, ban quản lý rừng phòng hộ, chủ rừng tập trung triển khai các phương án phòng cháy chữa cháy rừng: củng cố, kiện toàn ban chỉ huy huyện, ban chỉ huy cấp xã, tổ phòng cháy chữa cháy rừng cấp thôn và tổ xung kích bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại các vùng trọng điểm.
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, kiểm tra tình hình phòng cháy chữa cháy ở các địa phương, tăng cường kiểm soát nguồn lửa của người dân trong quá trình xử lý thực bì để sản xuất hoa màu, trồng rừng,…

    C. TỔNG KẾT

    1. Kết luận

              Trong những năm qua, chúng ta đã nhận thức rất rõ các nguyên nhân gây ra mất rừng, suy thoái rừng và đã có rất nhiều nỗ lực để giải quyết vấn đề này và đã đạt được những kết quả được nhà nước cũng như quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, sự  đầu tư của Nhà nước không phải là vô hạn. Do đó cần phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua việc thiết lập một cơ chế tài chính mới và bền vững dựa vào chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bên cạnh đó, việc quản lý bảo vệ rừng bền vững cũng góp phần đem lại những lợi ích cho khu vực và toàn cầu (ví dụ : hạn chế

    biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học …)

    Hiện nay giá trị của rừng vẫn chưa được tính toán một cách đầy đủ và người dân vẫn chưa yên tâm sống bằng nghề rừng cũng như tích cực tham gia quản lý và sử dụng rừng bền vững. Hệ quả tất yếu là áp lực lên tài nguyên rừng hiện có ngày càng tăng, hiện tượng mất rừng và suy thoái rừng vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi. Nếu giá trị của rừng được  đánh  giá  và  được  lượng  hóa  một  cách đầy  đủ  (cả  giá  trị  về  gỗ,  lâm  sản ngoài gỗ và giá trị bảo vệ môi trường …) thì đó sẽ là cơ sở quan trọng để so sánh giữa lợi  ích  của  việc bảo  vệ  và  phát  triển  rừng  với  lợi nhuận  thu  được  từ  các  hoạt  động chuyển đổi rừng sang các mục đích sử dụng khác. Đó cũng là căng cứ để xây dựng một chính sách khuyến khích đủ mạnh để ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng. Tuy nhiên, việc định giá rừng (đặc biệt là lượng hóa giá trị của rừng đối với việc hấp thụ các bon và giảm phát thải khí nhà kính) và tính toán chi phí cơ hội của các hoạt động sử dụng tài nguyên khác nhau  ở Hà Tĩnh cũng như việc tìm kiếm thị trường còn gặp nhiều khó khăn.Là  mỗi người dân  Việt Nam chúng ta cần tích cực trong việc bảo vệ rừng, đó cũng  chính  là bảo vệ  cuộc  sống  của  chúng  ta.Vị cha  già kính yêu của dân tộc ta đã từng  nói:  “Rừng  vàng,  biển bạc,  đất  phì  nhiêu”.Vì thế chúng ta cần có trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát triển nguồn tài nguyên quý giá đó.

    1. Kiến nghị

    Để đảm bảo xây dựng và phát triển một nền kinh tế đa dạng và bền vững thì vấn đề đảm bảo được nguồn tài nguyên và cải thiện chất lượng môi trường cũng như khắc phục được tình trạng suy thoái rừng nhanh chóng là yếu tố hàng đầu quyết định đến khả năng phát triển bền vững hệ sinh thái, cho nên thông qua đề tài này tôi mong rằng các cơ quan ban ngành nhanh chóng có những giải pháp cụ thể để tiến hành bảo vệ và cải tạo chất lượng môi trường cũng như tình trạng suy giảm về số lượng, chất lượng các loại rừng trên địa bàn, đồng thời cần nghiêm túc thực hiện và quán triệt việc chỉ đạo thực hiện một cách thường xuyên và có hiệu quả các giải pháp đã đề ra nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người cũng như quá trình phát triển của xã hội.

    1. Tài liệu tham khảo
    • Lê Văn Khoa – Khoa học môi trường. NXB Giáo Dục. 2001
    • Nguyễn Đình Hòe – Môi trường và phát triển bền vững. NXB Giáo Dục. 2007
    • Hoàng Đức Nhuận – Bảo vệ môi trường. NXB Giáo Dục .2000
    • vn
    • gov.vn – Cổng Thông Tin Thành Phố Hà Tĩnh
    • vn
    • com.vn
    • gov.vn – Trang thông tin Điện tử Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh
    • wikipedia.or

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-C%C6%A1-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-n%C3%A2ng-cao.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Bài tập lớn: Cơ kết cấu nâng cao

    Bài 1:

    Xác định tải trọng cho phép tác dụng lên thanh. Biết F=100 cm2 , [σ]= 100MN/m2

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1.

    – số đoạn thanh bị phá hoại dẻo sẽ là: S+1=2 đoạn. vậy cả 2 thanh đều bị phá hoại dẻo.

    – Xét cân bằng theo phương đứng ta có:

    Bài 2:

    Xác định tải trọng cho phép của hệ. biết [σ]=16MN/m2 , a=10cm.

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Số thanh bị phá hoại dẻo là S+1=2. Vậy cả 2 thanh treo đều bị phá hoại dẻo.

    – Sử dụng các mặt cắt (1-1) và (2-2) cắt qua các thanh treo và xét cân bằng phần thanh tuyệt đối cứng ta có:

    – Xét cân bằng mô men tại điểm A ta có:

    Bài 3:

    Xác định diện tích mặt cắt ngang của các dây treo biết dây (1) và dây (3) làm bằng thép [σ]t=160MN/m2, dây (2) làm bằng đuyra [σ]đ=120MN/m2. Dây (2) có diện tích gấp 1.5 lần dây (1) và (3). Biết P=100KN.

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Số thanh bị phá hoại dẻo là S+1=2. Do tính chất đối xứng nên cả 3 thanh treo đều bị phá hoại dẻo.

    – Sử dụng các mặt cắt (1-1), (2-2) và (3-3) cắt qua các thanh treo và xét cân bằng phần thanh tuyệt đối cứng ta có:

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh thép là: F=2cm2

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh đuy ra là: F=3cm2

     

    Bài 4:

    Xác định diện tích mặt cắt ngang của các thanh của cơ hệ như hình vẽ. Biết thanh (1) bằng thép [σ]1=120MN/m2, thanh (2) bằng đuya ra [σ]2=80MN/m2, thanh (3) bằng đồng có [σ]3=60MN/m2. Diện tích mặt cắt ngang F2=F3=2.F1

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Số thanh bị phá hoại dẻo là S+1=2. Vậy ta sẽ có 3 trường hợp xảy ra các trường hợp phá hoại dẻo như sau.

    + Trường hợp 1: Thanh 1 và thanh 2 bị phá hoại dẻo.

    + Trường hợp 2: Thanh 1 và thanh 3 bị phá hoại dẻo.

    + Trường hợp 3: Thanh 2 và thanh 3 bị phá hoại dẻo.

    – Ta lần lượt đi xem xét từng trường hợp

    *) Xét trường hợp 1:

    *) Xét trường hợp 2:

    Thay phương trình (1) vào phương trình (2) ta có:

    *) Xét trường hợp 3:

    (vậy trường hợp 3 loại).

    – So sánh 3 trường hợp, ta chọn tổ hợp của trường hợp 2.

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh thép: F1=7,62 (cm2)

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh đuya ra: F2=15,24 (cm2)

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh đồng: F3=15,24 (cm2)

     

    Bài 5:

    Tìm tải trọng cho phép đặt lên thanh chế tạo không chính xác ở đầu dưới khi lắp hụt 1 đoạn Δ. Để lắp được phải kéo thanh bằng 1 lực P=1MN. Biết thanh làm bằng vật liệu có [σ]=200MN/m2. Diện tích mặt cắt ngang 50cm2 và Δ rất nhỏ.

    Giải:

    – Từ đây chúng ta thấy sẽ xảy ra hai trường hợp:

    + Trường hợp 1: nếu tải trọng  P ≤1(MN), khi đó chỉ đoạn trên bị phá hoại dẻo.

    + Trường hợp 2: Nếu tải trọng P>1 (MN), khi đó cả hai đoạn cùng bị phá hoại dẻo.

    – Xét trường hợp 1:

    – Chiếu lên phương dọc trục thanh ta có:

    – Xét trường hợp 2:

    – Chiếu lên phương dọc trục thanh ta có:

    Bài 6:

    Xác định đường kính trong và ngoài của thanh mặt cắt ngang vành khăn chịu tác dụng của mô men xoắn bằng 9kNm. Biết đường kính trong bằng 0,8 đường kính ngoài, vật liệu có [τ]=70 MN/m2.

     Giải:

    – Ta có

    – Mặt khác ta có:

    – Vậy từ đây ta suy ra:

    + Đường kính ngoài D=10cm

    + Đường kính trong d=0,8D=8cm

     

    Bài 7:

    Một trục gồm 2 đoạn đường kính 8cm và 10cm. chịu xoắn bởi mô men M1, M2, M3 . xác định trị số của chúng biết [τ]=90MN/m2.

    Giải:

    – Trước tiên ta có: M3 = M2 + M1

    – Ta có

    – Với tiết diện tròn nên

    – Tương tự ta có:

    – Với tiết diện tròn nên

    Bài 8:

    Xác định hệ số an toàn của một thanh vành khăn chịu xoắn bởi mô men có trị số 10kNm. Biết đường kính trong 10cm, đường kính ngoài 12cm, giới hạn chảy τch =100 MN/m2.

    Giải:

    – Ta có

    – Trong đó:

     

    Bài 9:

    Xác định mô men cho phép đặt lên thanh, biết đường kính của thanh bằng 7cm, ứng suất cho phép của mật liệu [τ]=150MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh s=1

    – Số đoạn bị phá hoại dẻo là S+1=2 đoạn. vậy ta cần phải tìm xem đoạn nào sẽ bị phá hoại dẻo.

    – Vậy trước tiên chúng ta tìm xem nội lực 2 đoạn nào lớn hơn thì hai đoạn đó bị phá hoại dẻo.

    – Ta gọi mô men phản lực tại gối bên phải là M. và ta thay ngàm bằng mô men xoắn M với điều kiện φ=0.

    – Vậy, dựa vào biểu đồ nội lực ta thấy đoạn bị phá hoại dẻo sẽ là đoạn 1 và đoạn 2.

    – Vậy ta có:

    – Trong đó:

    [τ]=150MN/m2=15kN/cm2

    Bài 10:

    Xác định đường kính mặt cắt ngang của thanh. Biết M0=20kNm, [τ]=80MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=1.

    – Số đoạn bị phá hoại dẻo là S+1 =2 đoạn.

    – Vậy cả hai đoạn cùng bị phá hoại dẻo.

    , d=6,86(cm)

     

    Bài 11:

    Xác định các mô men chống uốn dẻo của các mặt cắt sau và so sánh với mô đun chống uốn khi vật liệu làm việc trong giai đoạn đàn hồi.

    Giải:

    1. a) Với tiết diện hình vành khăn:

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau. vậy từ đó ta thấy trục trung hòa dẻo chính là trục nằm ngang đi qua tâm o.

    – Mô men kháng uốn dẻo, được xác định bởi công thức.

    1. b) Tiết diện như hình vẽ:

     

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau. vậy từ đó ta thấy trục trung hòa dẻo chính là trục nằm ngang đi qua tâm o.

    – Mô men kháng uốn dẻo, được xác định bởi công thức.

    1. c) Tiết diện như hình vẽ:

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau.

    – Gọi vị trí trục trung hòa dẻo cách đỉnh dầm 1 đoạn y.

    – Vậy ta có:

    – Vậy mô men kháng uốn dẻo của tiết diện là:

    1. d) Tiết diện như hình vẽ:

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau.

    – Gọi vị trí trục trung hòa dẻo cách đáy dầm 1 đoạn y.

    – Vậy ta có:

    – Vậy mô men kháng uốn dẻo của tiết diện là:

    d) Tiết diện thép chữ I số 20:

     

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau.

    – Vậy chính là đổi xứng.

     

     

    Bài 12:

    Xác định tải trọng cho phép đặt lên dầm sau: biết [σ]=160MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Số khớp dẻo hình thành là: S+1=1. Dựa vào biểu đồ mô men ta thấy khớp dẻo hình thành tại vị trí ngàm.

    – Ta có sơ đồ hệ dẻo như sau:

    – Ta có:

    – Bây giờ ta tính mô men chống uốn dẻo.

    – Gọi trục trung hòa dẻo cách đáy dầm 1 đoạn y. vì trục trung hòa sẽ chia dầm thành hai phần có diện tích bằng nhau nên ta có:

    – Vậy ta có mô men chống uốn dẻo là:

    – Vậy từ đây ta có:

    Bài 13:

    Xác định kích thước của dầm. Biết dầm làm bằng vật liệu có [σ]=100MN/m2. So sánh với kết quá tính theo USCP.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Số khớp dẻo hình thành là: S+1=1. Dựa vào biểu đồ mô men ta thấy khớp dẻo hình thành tại vị trí C và B trên dầm.

    – Ta có sơ đồ hệ dẻo như sau:

    – Ta có sơ đồ hệ dẻo như sau:

    – Ta có:

    – Trong đó:

    ( mô men kháng uốn dẻo)

    – Vậy ta có:

    – Vậy kích thước mặt cắt ngang của dầm là: (2,289; 3,434) (cm).

    *) Tính theo ứng suất cho phép:

    – Điểu kiện bền theo ứng suất cho phép:

    – Vậy kích thước mặt cắt ngang của dầm là: (2,9876; 4,4814) (cm).

    Bài14:

    Xác định số hiệu mặt cắt ngang của dầm chữ I. Biết [σ]=120MN/m2, q= 22,5kN/m. So sánh vởi kết quả tính theo ứng suất cho phép.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Vậy hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1 =1 khớp dẻo.

    – Khớp dẻo sẽ xuất hiện tại vị trí mô men lớn nhất theo phương pháp ứng suất cho phép. Theo biểu đồ mô men thì đó là vị trí giữa dầm.

    – Sơ đồ hóa dẻo.

    – Ta có:

    – Thay phương trình (2) vào phương trình (1) ta có:

    – Mặt khác ta có:

    – Với thép I. Ta có Wd = 2.Sx

    – Tra bảng ta chọn thép I30a có Sx=292 (cm3)

    *) Tính theo ứng suất cho phép:

    – Tra bảng ta chọn thép I33 có Wx=597 (cm3)

    Bài 15:

    Xác định chiều dài giới hạn của một dầm đơn. Biết rằng [σ]=160MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Vậy hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1 =1 khớp dẻo.

    – Khớp dẻo sẽ xuất hiện tại vị trí mô men lớn nhất theo phương pháp ứng suất cho phép. Theo biểu đồ mô men thì đó là vị trí giữa dầm.

    – Sơ đồ hóa dẻo.

    – Ta có:

    – Thay phương trình (2) vào phương trình (1) ta có:

    – Mặt khác ta có:

    – Ta tính muôn men kháng uốn dẻo.

    – Do tính chất đối xứng diện tích nên trục trung hòa dẻo sẽ trùng với vị trí tiếp xúc giữa bản cánh và bản bụng, như hình vẽ.

    – Vậy ta có mô men kháng uốn dẻo là:

    – Vậy từ đây ta có:

    – Vậy chiều dài giới hạn của dầm là: 4m

    Bài 16:

    Xác định tải trọng cho phép đặt lên dầm. biết a=1m, [σ]=160MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Vậy hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1 =1 khớp dẻo.

    – Khớp dẻo sẽ xuất hiện tại vị trí mô men lớn nhất theo phương pháp ứng suất cho phép. Theo biểu đồ mô men thì đó là vị trí B và vị trí bên trái C.

    (do hai vị trí này mô men bằng nhau nên khi xuất hiện 1 khớp dẻo sẽ xuất hiện cùng lúc)

     

    – Sơ đồ dẻo.

    – Ta có:

    – Ta tính Wd

    – Vậy ta có:

    Bài 17:

    Xác định tải trọng cho phép đặt lên dầm. Biết [σ]=160MN/m2, a=1m.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1=2 khớp dẻo.

    – Ta đi tìm vị trí khớp dẻo bằng cách vẽ biểu đồ mô men do tải trọng gây ra. Do hệ đối xứng nên hai vị trí đặt lực có trí số mô men bằng nhau. vì vậy thực ra hệ sẽ xuất hiện 3 khớp dẻo tại các vị trí đặt lực và vị trí B.

    – Ta có sơ đồ dẻo như sau:

    – Ta có:

    – Từ đó ta có:

    – Tính mô men kháng uốn dẻo.

    – Vậy tải trọng cho phép tác dụng lên dầm là: 576kN.

    Bài 18:

    Xác định kích thước mặt cắt ngang của dầm. biết [σ]=100MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=3. Tuy nhiên do hai thành phần phản lực dọc trục thanh bằng không nên còn lại S=1.

    – Do tính chất đối xứng của hệ và tải trọng nên. Hệ có 3 khớp dẻo. Tại các vị trí ngàm và vị trí đặt tải trọng.

    – Sơ đồ hóa dẻo của hệ như sau:

    – Ta có:

    – Trong đó:

    – Mặt khác ta có:

    – Vậy kích thước mặt cắt ngang của dầm là: (26,2; 26,2) (cm).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp Giao tiếp I2C ( Master – Slave)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-h%E1%BB%8Dc-M%C3%B4-ph%E1%BB%8Fng-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-truy%E1%BB%81n-th%C3%B4ng-%E2%80%93-D10VT.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    (Assignments on Simulation of Communication Systems)

    I.         Giới thiệu

    Trong phần bài tập lớn này mỗi sinh viên sẽ được yêu cầu thực hiện 2 nhiệm vụ bao gồm: Nhiệm vụ đầu tiên là thực hiện mô phỏng một hệ thống truyền dẫn tín hiệu tương tự và nhiệm vụ thứ hai là mô phỏng một hệ thống truyền dẫn số.

    Hãy sử dụng bài giảng của môn học và các ví dụ đã cho làm tài liệu tham khảo để thực hiện bài tập lớn này. Kiến thức của các môn học khác như Lý thuyết thông tin, Xử lý tín hiệu số, Truyền dẫn số được khuyến khích áp dụng trong phần này.

    Kết quả của bài tập được thể hiện qua báo cáo của mỗi sinh viên. Các báo cáo được mỗi sinh viên tự thực hiện đảm bảo sự trung thực, cấm sự sao chép của nhau. Bất kỳ những phần nào trong báo cáo có dấu hiệu sao chép đều không được điểm mà không quan tâm đến kết quả thực hiện được.

    Các báo cáo thực hiện được càng nhiều các yêu cầu nhiệm vụ đưa ra càng tốt, tuy nhiên cần đảm bảo nộp đúng hạn. Như vậy không nhất thiết phải hoàn thành hết tất cả các yêu cầu đặt ra trong mỗi nhiệm vụ. Bất kỳ báo cáo nào nộp muộn sau thời hạn bị trừ ít nhất 20% số điểm.

    Hạn nộp báo cáo: trước 16h ngày 12/11/2013.

    II. Nhiệm vụ 1

     

    1. Mô tả nhiệm vụ:

    Mô phỏng hệ thống truyền dẫn tín hiệu tương tự, trong đó tín hiệu tương tự truyền trên hệ thống được mô tả bởi công thức sau:

    3

    s (t ) = å Ai cos(2p f i t+ji )

    i=1

    với Ai lần lượt là [1, 1, 2] và ji lần lượt là [0, pi/8, 0], còn tần số fi được xác định từ mã số của mỗi sinh viên theo biểu thức fi = i Hz với i lần lượt là 3 số cuối cùng trong mã số sinh viên.

    1. Yêu cầu:
    1. Mô tả hệ thống mô phỏng bằng sơ đồ khối và xác định các tham số của hệ thống.
    1. Bằng việc sử dụng MATLAB, viết chương trình và thực hiện mô phỏng hệ thống

    truyền tín hiệu tương tự này sử dụng kỹ thuật điều chế tần số FM với tần số sóng mang fc gấp 10 lần tần số cực đại của (fi) và độ sâu điều chế h = 0.4 trên kênh AWGN tại 3 mức SNR lần lượt là 15, 20 và 25 dB.

    1. Biểu diễn dạng sóng tín hiệu trên ít nhất 3 chu kỳ và phổ của nó tại các điểm sau trên hệ thống: tín hiệu gốc bản tin, đầu ra bộ điều chế, sau khi truyền qua kênh AWGN, tín hiệu được khôi phục tại đầu ra bộ thu.
    1. Xác định và biểu diễn sai số của tín hiệu sau khi được khôi phục tại 3 mức SNR

    2

    trên cùng hình theo biểu thức sau: error = (mm )      trong đó: m là tín hiệu bản tin

    r

    gốc và mr là tín hiệu được khôi phục tại bộ thu.

    III. Nhiệm vụ 2

     

    1. Mô tả nhiệm vụ:

    Mô phỏng hệ thống truyền dẫn số tại tốc độ dữ liệu N Mb/s, giá trị N được xác định bởi số cuối cùng của mã số sinh viên (Nếu số đó là số 0 thì sẽ lựa chọn số liền kề bên cạnh). Mỗi sinh viên sẽ lựa chọn một trong các kỹ thuật điều chế sau cho hệ thống mình mô phỏng:

    • Điều chế M-ASK nếu số cuối cùng trong mã sinh viên là chẵn với M = 2 nếu số liền kề là lẻ và M = 4 nếu số liền kề là chẵn.
    • Điều chế M-PSK nếu số cuối cùng trong mã sinh viên là lẻ với M = 4 nếu số

    liền kề là lẻ và M = 8 nếu số liền kề là chẵn.

    Sử dụng mô hình mô phỏng tương đương băng gốc, tín hiệu phát có thể được biểu diễn như sau:

    s(t) = éê å¥ dk p (t kTsym )ùú e jf0

    ë k =-¥                               û

    trong đó dk là các kí hiệu (symbol) phức được phát độc lập với xác suất như nhau; Tsym là chu kỳ của symbol; f0 là pha của tín hiệu phát và p(t) xác định dạng xung được phát:

            æ t – 0.5Tsym ö
    p (t ) = 2E  
    s rect ç   ÷ cho tín hiệu M-PSK
       
        Tsym   ç Tsym ÷
          è ø
            é æ 2pt ö ù
        2E  
    p(t) = s   ê1 cos ç   ÷ú cho tín hiệu M-ASK
    T  
          ë ç T ÷  
        sym   è sym øû
          ê     ú

    với Es là năng lượng mỗi symbol.

    1. Yêu cầu:
    1. Mô tả hệ thống mô phỏng bằng sơ đồ khối và xác định các tham số của hệ thống.
    1. Bằng việc sử dụng MATLAB, viết chương trình mô phỏng hệ thống truyền dẫn số

    sử dụng kỹ thuật điều chế đã lựa chọn trên kênh AWGN. Ước tính xác suất lỗi như là hàm của tỉ số tín hiệu trên nhiễu SNR (Es/N0) theo phương pháp Monte Carlo đối với trường hợp M-PSK và theo phương pháp bán giải tích đối với trường hợp M-ASK.

    1. Biểu diễn biểu đồ chòm sao, dạng sóng tín hiệu, mẫu mắt và phổ của nó tại các điểm sau trên hệ thống: đầu ra bộ điều chế, sau khi truyền qua kênh AWGN tại SNR = 8 dB, sau khi được xử lý và khôi phục tại bộ thu.
    1. So sánh kết quả mô phỏng đường cong xác suất lỗi với kết quả lý thuyết đối với kiểu điều chế mà hệ thống sử dụng.

    IV. Yêu cầu báo cáo

     

    Báo cáo nên được trình bày đảm bảo các yêu cầu sau:

    • Đầy đủ thông tin bao gồm thông tin cá nhân và nội dung báo cáo theo cấu trúc cho mỗi nhiệm vụ như sau:

    o Phần 1: Mô tả hệ thống mô phỏng và các tham số được sử dụng trong mô phỏng.

    o  Phần 2: Trình bày kết quả mô phỏng và nhận xét đánh giá.

    o Phần 3: Mã chương trình được viết để mô phỏng hệ thống và giải thích.

    • Nội dung trình bày rõ ràng, khoa học và sáng sủa để làm rõ những kết quả đã đạt được theo yêu cầu trong báo cáo.
    • Mã chương trình nên bao gồm cả phần chú giải cho các hàm xây dựng và từng phần câu lệnh trong mỗi chương trình.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn CAD – CAM – CNC

    Bài tập lớn môn CAD – CAM – CNC

    Bài tập lớn môn CAD – CAM – CNC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo bài tập lớn Thiết kế mạch điều khiển thang máy bằng vi điều khiển AVR


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn CAD – CAM – CNC

     

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cùng với đà phát triển của đất nước trên con đường đổi mới, ngành cơ khí nói chung, ngành kĩ thuật chế tạo nói riêng cũng đã có những tiến triển và đóng góp nhất định cho sự phát triển chung.

    Tuy nhiên, khoa học ngày càng phát triển, khi những phương tiện gia công truyền thống không thể đáp ứng được những yêu cầu công nghệ thì một giải pháp mới trong ngành cơ khí được đưa ra là công nghệ CAD/CAM/CNC. Tuy trên thế giới công nghệ này không còn mới mẻ, nhưng hiện nay nó vẫn là giải pháp tốt nhất cho nhiều bài toán công nghệ.

    Do tính ứng dụng cao trong thực tế nên môn học CAD/CAM/CNC được đưa vào một trong những môn giảng dạy chính trong ngành kĩ thuật chế tạo của đại học Bách khoa TP.HCM. Ở trường với sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô, sinh viên chúng em đã tiếp thu và đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báo về công nghệ này.

    Là một phần quan trọng trong quá trình giảng dạy, mỗi sinh viên chúng em đều tự làm một bài tập lớn. Qua đó, dựa vào những kiến thức đã biết về môn học, chúng em có thể tự thiết kế một quy trình công nghệ để hoàn thành một sản phẩm cơ khí bằng công nghệ CAD/CAM/CNC. Bài tập lớn như là một bài toán thực tế, chúng em phải tự đưa ra những phương án tối ưu để giải quyết. Tuy nhiên, cũng không thể hoàn thành được bài tập này nếu thiếu sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô.

    Vì kinh nghiệm chưa có ( non kém ), nên có sự sai sót là không thể tránh khỏi, chúng em kính mong quý thầy cô xem xét bài tập và hướng dẫn chúng em những phương án tốt hơn.

    Hoàn thành bài tập môn CAD/CAM/CNC là là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi sinh viên hoc môn CAD/CAM/CNC. Trong quá trình thực hiện em nhận ra được tính hữu ích của bài tập này giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học và qua đó có những khả năng:

    • Ứng dụng phần mềm CAD để xây dựng mô hình 3D của chi tiết cần gia công.
    • Sử dụng phần mềm CAM để gia công chi tiết đã xây dưng mô hình 3D.

    Em xin chân thành cám ơn thấy Nguyễn Văn Thành đã tận tình giảng dạy cũng như hướng dẫn em thực hiện tốt bài tập lớn này.

                                                                                                          I.            TẠO MODEL – CHI TIẾT & PHÔI

    Chúng ta sử dụng phần mềm Pro/E Wildfire 5.0 F000

    Các bước thực hiện chi tiết sẽ được trình bày kĩ ở phẩn I ( Vẽ Chi Tiết ) , một số bước cơ bản sẽ hạn chế trình bày ở các phần tiếp theo

    Chi tiết sẽ được tạo theo yêu cầu và phôi sẽ được hình thành khi lấp đầy những phần đã gia công trên chi tiết .

    1/ TẠO CHI TIẾT

    • Mở chương trình Pro/e > Set working directory để chọn thư mục làm việc
    • Tạo một file mới New > Part > Solid > đặt tên file > ok ( Như hình vẽ ) :
    • Tạo khối solid thứ 1 : insert > extrude > sketch chọn mặt phẳng top > ok
    • Dùng các lệnh vẽ kết hợp ta được hình như sau :
    • Chọn Done > ta đánh vào kích thước 16 như hình :
    • Chọn Done ta được khối solid
    • Sau đó tiến hành tạo khối solid thứ 2 :

     

    Tạo mặt phẳng ảo bằng cách click vào nút plane trên thanh công cụ như hình :

    Sau đó chọn mặt phẳng song song với mặt phẳng cần tạo > nhấn vào sẽ hiện lên thong số khoảng cách cần nhập vào ( Khoảng cách song song giữa 2 mặt phẳng ).

    Nhập vào ( 21mm ) ta được như hình dưới ( chú ý chiều mũi tên mau vàng thì nhập số âm hay dương )

    Tiếp theo click biểu tượng Extrude lập tức khung sketch hiện lên.

    Chỉnh lại mặt phẳng cần vẽ cho đúng chiều ( TOP ) . Click OK để bắt đầu vẽ .

    Click vào biểu tượng Use trên thanh công cụ để chọn Đường quan hệ ( Bắt điểm ) như hình :

    Click single chọn đường trên cùng sẽ chuyển màu vàng > Click Ok để chọn xong ( như hình dưới ) :

    Sau khi sketch xong ta được hình như sau :

    Click done tạo khối Extrude ( chú ý chiều đùn ngược chiều ) > nhập số liệu vào như sau :

    Click Ok hoàn thành khối solid thứ 2 ta được khối như sau :

    • Tiến hành tạo khối solid thứ 3 và hole ( Extrude cắt vật liệu ) khối solid thứ 3 :

     

    Tiến hành tương tự như trên ta cũng chọn 1 Đường quan hệ như hình :

    Tiến hành vẽ và nhập kích thước ta được hình dưới đây :

    Sau đó tiến hành Trim những đoạn ko cần thiết để bắt đầu khối đùn ( nhớ xóa Đường quan hệ ban đầu nếu không  máy sẽ báo lỗi ) được hình sau :

    Sau khi chọn Done > nhập kích thước đùn xong ( 3 mm ) ta được khối như hình dưới đây :

    Tiến hành Hole cho khối solid 3 vừa tạo xong :

    Tiến hành như bình thường. Lệnh Extrude > tạo mặt phẳng sketch để vẽ và chọn Đường quan hệ như các bước trên ta được hình  :

    Sau khi đã có Đường quan hệ ( Bắt điểm ) ta tiến hanh vẽ trên mặt phẳng đó hình dạng cần Hole ( Extrude ) của chi tiết để tiến hành cắt vật liệu :

    Khi đã có hình dạng phần cần cắt rồi ta xóa những đường quan hệ hoặc những đường không liên quan để tiến hành cắt vật liệu :

    Chọn các thông số như hình :

    Khối solid sẽ có hình dạng như sau :

    Click Ok để tiến hành cắt vật liệu .

    Sau khi xong khối solid lúc này :

     

     

    Khi được khối solid như trên ta bắt đầu tiến hành bo các cạnh của khối solid :

     

    Click vào biểu tượn Round trên thanh công cụ :

    Nhấp vào cạnh cần Round hoặc 2 mặt phẳng chứa cạnh đó .

    Nhập số liệu cần Round ( 3 mm ). Vì sau này các cạnh khác sẽ lấy theo kích thước này

    Sau đó tiếp tục chọn các cạnh còn lại à được hình như sau :

    Sau khi đã chọn xong nhấn Ok để kết thúc lệnh Round ta được :

    Tiến hành tạo khối solid 4 ở mặt bên :

    Chọn mặt phẳng vẽ sketch là TOP như hình để tạo khôi đúng hình dạng mong muốn :

    Chọn đương quan hệ ( bắt điểm ) như hinh :

    Bắt đầu tạo khối sketch như hình dạng yêu cầu bằng các lệnh line, circle, trim, delete …

    Ta được hình như sau :

    Click Done để tạo khối Extrude .

    Nhập kích thước cần Extrude vào như hình :

    Sau khi nhập xong Click Ok để hoàn thành lệnh tạo khối Solid 4 .

    Khi đó chi tiết cần tạo đã xong và có hình dạng như hình :

    2/ TẠO PHÔI

    Lấp đầy những phần gia công trên chi tiết ta được Phôi :

    Trong phần Extrude 2/ S2D0002 Click chuột phải chọn Edit Definiton như hình :

    Khung Sketch hiện lên chọn đường cần bỏ ( màu đỏ ) rồi Delete như hình :

    Chọn Done ta được :

    Lược bỏ phần rãnh đã gia công ta Click phải chuột vào Extrude 4 chọn Delete :

    Sau khi hoàn thành ta thu được Phôi từ chi tiết ban đầu . Lưu lại tên là phoi.prt

          II.             CHỌN ĐƯỜNG LỐI GIA CÔNG CÁC BỀ MẶT CỦA CHI TIẾT

    1/ Đánh số mặt gia công và định vị :

    2/ Lập trình tự công nghệ :

    • Nguyên công 1 : Phay mặt 5. Mặt định vị là mặt 7, mặt kẹp chặt là mặt 1 và 8
    • Nguyên công 2 : Phay thô và tinh rãnh 3, mặt định vị là mặt 7, mặt kẹp chặt là mặt 1 và 8
    • Nguyên công 3 : Phay thô và tinh mặt 4 , mặt định vị là mặt 7, mặt kẹp chặt là mặt 1 và 8
    • Nguyên công 4 : Khoan lỗ 2 mặt định vị là mặt 7, mặt kẹp chặt là mặt 1 và 8
    • Nguyên công 5 : Phay tinh lỗ 2 mặt định vị là mặt 7, mặt kẹp chặt là mặt 1 và 8

    3/ Chọn phương pháp gia công :

    1. Nguyên công 1 : volume Rough
    2. Nguyên công 2 : volume Rough , Surface Milling
    3. Nguyên công 3 : Volume Rough , Surface Milling
    4. Nguyên công 4 : Drilling
    5. Nguyên công 5 : Surface Milling

    4/ Chọn dao và tính toán các thông số cắt :

    Ta sử dụng tính trực tiếp từ trang Web : http://www.coroguide.com/  để tra dao và tính toán thông số cắt ( Nhớ chú ý đơn vị là Inch trong khi mình đang dùng là mm )

    Trong các bước nguyên công ở trên, ta lần lượt chọn các dao cho phay mặt, thể tích và phay surface.

    Chọn dao phay mặt: trong trường hợp này, ta chọn dao có đường kính lớn và có nhiều insert để cắt được nhanh hơn

    Sau đó nhập các thông số vào tính toán ra bảng thông số cắt

    Chọn dao phay Surface: để cắt được mặt nghiêng đạt chất lương bề mặt tốt, ta sử dụng dao cầu:

    Sau đó nhập các thông số vào tính toán ra bảng thông số cắt

    Do tốc độ tính toán ra quá cao, tốc độ quay ta chỉ chọn  Feedspeed:60 và

    Spindle speed: 3000

    Chọn dao phay thể tích: Để phay thể tích, dao phải vào các khe hẹp, nên ta chọn dao có đường kính nhỏ:

    Nhập các thông số vào, ta có các thông số cắt

     

    Chọn mũi khoan

                                                                                       III.            GIA CÔNG BẰNG PHẦN MỀM PRO/E

    1.      Tạo Manufacturing Model :

    Đầu tiên ta tạo manufacturing model bao gồm chi tiết tham chiếu và phôi.

    • Ta khởi động chương trình pro/e, set thư mục làm việc tạm thời .
    • File > new > Manufacturing, đặt tên file là Giacong > Ok.
    • Insert > Rreference Model > Assemble > chọn file chi_tiet.prt lưu ở phần trên > Open > Automatic > Default > Ok > Ok. Như vậy ta đã đưa chi tiết vào hệ tọa tộ mặc định. Tiếp theo ta đưa phôi tạo sẵn vào
    • Insert > Workpiece > Assemble > chọn file phoi.prt đã tạo ở phần trên > Open > Automatic > Default > Ok > Ok . như vậy phôi và chi tiết tự động được ghép với nhau với cùng hệ tọa độ tham chiếu.

    Kế đến chúng ta thiết lập nguyên công, gồm chọn máy, chọn gốc O, và mặt phẳng lùi dao.

    • Steps > Operation > xuất hiện cửa sổ Operation Setup > ở NC Machine chọn 3 Axis. Ta đã chọn máy 3 trục.
    • Machine zero > Coordinate System > chọn gốc 0, đổi chiều để được hệ tọa độ Oxyz hợp lí.
    • Surface chọn mặt phẳng lùi dao > Ok

    Như vậy ta đã tạo xong Manufacturing Model. Lưu file lại. Lưu ý rằng đôi khi ta cần định nghĩa lại gốc O coordinate system và mặt phẳng lùi dao Retract

    2.      Gia công mặt 5 :

    Mở file Giacong.prt đã tạo ở bước trên. Mặt 5 là mặt phẳng cần phay suốt nên ta chọn Volume Rough.

    • Steps > Volume Rough > ta chọn kiểm vào Name, Tool, Volume > Done > khai báo dao như đã chọn ở mục trên > OK > chúng ta khai báo chế độ cắt đã tính được ở mục trên > Ok
    • Ta tiến hành định nghĩa lại gốc tọa độ gia công và mặt phẳng lùi dao Retract. Việc làm tương tự như phần tạo Manufacturing Model như trên. Sau khi tạo xong ta chọn OK.
    • Kế đến ta tiến hành tạo Volume.

    Cách thực hiện tương tự tạo chi tiết và phôi ta được :

    Tiếp theo tạo khối đùn ( Phần volume cần gia công )

    Tạo xong khối có dạng như sau :

    Click Play path > NC Check cửa sổ mới mở ra :

    Nhấn play màu xanh để xem gia công :

     

     

    3/ Gia công rãnh 3( Phay Thô & Tinh ):

     

    Bước này ta tiến hành gia công phay thô rãnh 3 sau đó phay tinh lại 1 lần nữa .

    Để gia công rãnh , ta thực hiện 2 chức năng Volume Rough và Surface Milling.

    Đầu tiên ta dùng Volume Rough để phay phá. Ta cũng tiến hành khai báo thông số dụng cụ cắt và chế độ cắt trình tự như những phần trên, tiến hành định nghĩa lại gốc 0.

    Sau đó dung Surface Milling phay tinh lại bề mặt cần gia công  :

    Trình tự thực như các hình dưới đây :

    Nhập thông số để tạo khối phay phá ( 20 mm ):

    Xong ta được khối hình cần gia công :

    Chọn Play path > screen play tiến hành gia công thô sau đó gia công tinh như hình :

    4/ Gia công mặt 4 ( Phay thô và tinh ) :

    Tiến hành tương tự như các nguyên công 1 & 2 : Dùng lệnh Volume Rough và Surface Milling để phay thô và phay tinh :

    Trình tự thực hiện :

    Tạo khối volume để gia công :

    Khi đã tạo xong khối thì tiến hành gia công bình thường :

    Click Play path > NC check hộp thoại xuất hiện tiến hành gia công thô :

    Sau đó làm tương tự chọn lại thông số để gia công tinh :

     

    5/ Nguyên công khoan lỗ 2:

     

    Click  Step > Drilling > Deep như hình vẽ :

    Chọn vào ô Name, Tool, Coord Sys, Hole > Done .

    Nhập thông số dao khoan như tính toán ban đầu .

    Xác định và đổi góc tọa độ sao cho đúng chiều của trục dao :

    Chiều đúng như hình :

    Sau khi đúng chiều ta tiến hành tạo phần gia công ( Các bước tương tự như trên ) :

    Click Play path > NC Check > Play :

    Sau đó chọn Surface Milling để tiến hành gia công tinh ( Phay tinh ) lỗ 2 :

    Click Step > Surface Milling :

    Sau khi nhập thông số cần thiết tiền hành phay tinh lỗ 2 :

    Sau khi thực hiện xong tất cả các phần cần gia công ta cho Play tổng thể xem quá trình gia công bằng cách giữ Click vào ô thứ 1 giữ phím Shift rồi Click vào ô cuối cùng được hình sau :

     

     

    Click NC Check để xem kết quả .

    Save File lại à Kết thúc quá trình gia công .

  • Báo cáo bài tập lớn Thiết kế mạch điều khiển thang máy bằng vi điều khiển AVR

    Báo cáo bài tập lớn Thiết kế mạch điều khiển thang máy bằng vi điều khiển AVR

    Báo cáo bài tập lớn Thiết kế mạch điều khiển thang máy bằng vi điều khiển AVR

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Giáo dục học đại cương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A1o-c%C3%A1o-b%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%E1%BA%A1ch-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-thang-m%C3%A1y-b%E1%BA%B1ng-vi-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-AVR.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo bài tập lớn Thiết kế mạch điều khiển thang máy bằng vi điều khiển AVR

    LỜI NÓI ĐẦU

    Ngày nay , vơi những ứng dụng của khoa học kĩ thuật  tiên tiến , thế giới của chúng ta đã và đang ngày một thay đổi , văn minh và hiện đại hơn . sự phát triển của kĩ thuật điện tử đã tạo ra hang loạt những thiết bị với các đặc điểm nổi bật như sự chính xác cao , tốc độ nhanh và gọn nhẹ góp phần cho sựu hoạt động của con người đạt được hiệu quả cao.

    Gắn liền sự phát của khoa học điện tử là sự phát triển của các vi xử lí, vi điều khiển, đó là sự ra đời của vi xử lí đa năng như Pentium, Celerong … và trong vi điều khiển cũng có bước nhảy vọt được đánh dấu bởi sự ra đời của các vi điều khiển như PIC, AVR, FPGA… các vi xử lí và vi điều khiển này ngày càng đc sử dụng rộng rãi và phổ biến , đặc biệt chúng có thể làm được những việc vô cũng phức tạp. với những ứng dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

    Và trong môn học vi sử lí này nhóm em đã quyết định làm đề tai “ thiết kế mạch điều khiển thang máy dung vi điều khiển AVR” đó là một đề tài thiết thực và rât gần gũi với cuộc sống. nó phục vụ trực tiếp và đắc lực cho việc xây dựng các tào nhà cao ốc trong thời buổi công nghiệp hiên nay.

    Mặc dù đã rất cố gắng thiết kế và làm mạch nhưng do thời gian ngắn và năng lực còn hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót . chúng em rất mong sự góp ý và giúp đỡ của thầy cho đề tài của chúng em được hoàn thiện  hơn.

    Em xin chân thành cám ơn!

    PHẦN  I: LÍ THUYẾT CHUNG VỀ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN THANG MÁY.

    Chương 1. Giới thiệu chung hệ thống thang máy.

    1.1 Giới thiệu chung về thang máy.

    Thang máy là thiết bị vận tải dùng để chở người và hàng hoá theo

    phương thẳng đứng. Nó là một loại hình máy nâng chuyển được sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất của nền kinh tế quốc dân như trong ngành khai thác hầm mỏ, trong ngành xây dựng, luyện kim, công nghiệp nhẹ… ở những nơi đó thang máy được sử dụng để vận chuyển hàng hoá, sản phẩm, đưa công nhân tới nơi làm việc có độ cao khác nhau… Nó đã thay thế cho sức lực của con người và đã mang lại năng suất cao.

    Trong sinh hoạt dân dụng, thang máy được sử dụng rộng rãi trong các toà

    nhà cao tầng, cơ quan, khách sạn… Thang máy đã giúp cho con người tiết kiệmđược thời gian và sức lực…

    Ở Việt Nam từ trước tới nay thang máy chỉ chủ yếu được sử dụng trong

    công nghiệp để trở hàng và ít được phổ biến. Nhưng trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta đang có những bước phát triển mạnh thì nhu cầu sử dụng thang máy trong mọi lĩnh vực ngày càng tăng lên.

    1.2. Sơ đồ khối của mạch điều khiển thang máy.

    Khối nguồn

     

    220V-5v

    Khối điều khiển

     

    Atmega 8

    Khối hiển thị

     

    Led

    Khối phím bấm điều khiển
    • Giải thích sơ đồ khối của hệ thống
    • Khối điều khiển: điều khiển trạng thái hoạt động của thang, là nơi nhận tín hiệu vào và đưa tín hiệu ra cho led 7 thanh.
    • Khối phím bấm điều khiển: cung cấp tín hiệu cho khối sử lí trung tâm về hoạt động gọi tầng và chon tầng
    • Khối hiển thị: hiển thị vị trí và trạng thái của buồng thang . xác nhận khi có hiện tượng gọi tầng.
    • Khối nguồn: cung cấp nguồn 1 chiều cho VDK va led 7 thanh hoạt động.

    * Mô tả hoạt  động của hệ thống.

    1. Khi khởi động cabin ở tầng nào thì ở yên tầng đó. Mặt số sẽ hiện thị vị trí của cabin (tầng số bao nhiêu).
    2. Hệ thống luôn kiểm tra các y/c gọi thang theo chiều lên và chiều xuống. Kiểm tra các y/c lên mà không có thì chuyển sang kiểm tra các y/c xuống, y/c xuống mà không có thì lại chuyển sang kiểm tra y/c lên. Hệ thống cứ hoạt động liên tục như thế. Khi có y/c thì hệ thống sẽ phục vụ y/c, y/c nào gọi trước sẽ đc phục vụ trước, y/c nào gọi sau sẽ đc phục vụ sau. Bất cứ một y/c gọi nào cũng được hệ thống nhớ lại và khi thực hiện xong y/c nào thì xóa y/c ấy đi. Nếu có nhiều y/c gọi thì hệ thống sẽ xử lý ưu tiên theo thứ tự như được trình bày ở phần dưới.
    3. Khi cabin đã nhận một y/c gọi lên và đang thực hiện y/c này (cabin đang chạy theo chiều lên) thì các y/c gọi lên từ vị trí cabin trở lên sẽ đc phục vụ trên đường đi của nó (y/c là gồm có y/cgọi thang của khách ở ngoài cabin và y/c chọn tầng đến của khách ở trong cabin), các y/c gọi lên từ vị trí cabin trở xuống sẽ bị bỏ qua. Các y/c gọi xuống cũng sẽ bị bỏ qua nếu tầng trên nó còn có y/c ( bỏ qua ở đây là không được phục ngay mà trạng thái gọi sẽ được nhớ lại để

    phục vụ sau).

    1. Bộ phận hiển thị sẽ hiển thị vị trí của cabin, chiều chạy ( là lên hoặc xuống) và cabin đangchạy hay đang dừng.

    Chương 2: Yêu cầu chức năng của hệ thống.

    2.1. Yêu cầu chức năng:

    – Mạch thực hiện đúng yêu cầu mong muốn

    – Hiển thị số tầng  lên LED 7 thanh

    Sử dụng nút bấm để điều khiển hoạt động thang máy.

    2.2 Yêu cầu phi chức năng.

    Sử dụng vi điều khiển AVR atmega8

    Thiết kế mạch nhỏ hơn 1dm2

    Thời gian thực hiện đề tài 13 tuần

    Mục tiêu thiết kế

    Sử dụng nút bấm để điều chỉnh tầng

    Sử dụng led 7 thanh để hiển thị trạng thái tầng và led đơn hiển thị vị trí tầng.

    Kế hoạch thực hiện

    Sau khi phân tích hệ thống, và khả năng nhóm phát triển cũng như quá trình vận hành hệ thống. Kế hoạch có thể thực hiện theo trình tự

    Tên quá trình Thời gian Bắt đầu Hoàn thành
    Nghiên cứu sơ bộ 1 tuần    
    Phân tích 3 tuần    
    Lập trình, mô phỏng 2 tuần    
           
    Layout 2 tuần    
    Đặt mạch in 1.5 tuần    
    Hàn mạch in và làm báo cáo tuần    

     

    PHẦN II: XÂY DỰNG THUẬT TOÁN VÀ THIẾT KẾ MẠCH

    Chương 3. Phân tích kiến trúc hệ thống

    Hệ thống gồm 4  khối chính

    Vi xử lý trung tâm  avr ATMEGA8

    Khối nguồn

    Khối led 7 thanh và led đơn

    Khối nút bấm.

    3.1. Vi xử lí trung tâm ATMEGA 8

    1. Một số đặc tính kỹ thuật
    • ATMega8 là một con Vi Điều Khiển thuộc dòng Mega AVR của hãng ATMEL. Dòng Vi Điều Khiển này có tính năng nổi trộ như:
    • 32 thanh ghi đa dụng
    • Tốc độ tối đa lên đến 16MIPS với thạch anh 16MHz
    • Có 8KB bộ nhớ Flash lập trình ISP
    • 512 byte
    • 1k
    • Chu kỳ ghi/ xóa 10000 lần cho bộ nhớ flash ROM và 100000 lần cho bộ nhớ EFPROM.
    • Tính năng ngoại vi
    • 2 bộ timer/counter 8 bít, 1 bộ so sánh.
    • 1 bộ timer/counter 16 bit.
    • Bô đếm thời gian thực với đao động riêng.
    • 3 kênh PWM.
    • 6 kênh ADC 10 bits cho kiểu vỏ PDIP, 8 kênh ADC 10 bits cho kiểu vỏ TQFP.
    • Giao tiếp nối tiếp TWI, 2 chân ngắt ngoài INT0 và INT1 ứng với 2 chân PD2 và PD3.
    • Lập trình nối tiếp USART, giao tiếp nối tiếp SPI master/slave.
    • Bộ so sánh analog on-chip.
    • I/O
    • 23 ngõ vào/ra khả trình.
    • Được đóng gói trong 28 chân kiểu vỏ PDIP.
    • Điện áp hoạt động 2,7V-5,5V(ATmega8L)và 4,5-5,4V(ATmega8).
    • Tần số hoạt động 0-8MHz(ATmega8L) và 0-16MHz(ATmega8) động.
    1. Một số chức năng của ATmega8 sử dụng trong bài tập lớn.
    • Ngắt ngoài:

    Interrupts, thường được gọi là ngắt, là một tín hiệu khẩn cấp gởi đến bộ xử lí, yêu cầu bộ xử lí tạm ngừng tức khắc các hoạt động hiện tại để “nhảy” đến một nơi khác thực hiện một nhiệm vụ khẩn cấp nào đó, nhiệm vụ này gọi là trình phục vụ ngắt – isr (interrupt service routine ). Sau khi kết thúc nhiệm vụ trong isr, bộ đếm chương trình sẽ được trả về giá trị trước đó để bộ xử lí quay về thực hiện tiếp các nhiệm vụ còn dang dở. Như vậy, ngắt có mức độ ưu tiên xử lí cao nhất, ngắt thường được dùng để xử lí các sự kiện bất ngờ nhưng không tốn quá nhiều thời gian.

    Các tín hiệu dẫn đến ngắt có thể xuất phát từ các thiết bị bên trong chip (ngắt báo bộ đếm timer/counter tràn, ngắt báo quá trình gởi dữ liệu bằng RS232 kết thúc…) hay do các tác nhân bên ngoài (ngắt báo có 1 button được nhấn, ngắt báo có 1 gói dữ liệu đã được nhận…).

    Hình minh họa cách tổ chức ngắt thông thường trong các chip AVR:

    Có 3 thanh ghi liên quan đến ngắt ngoài đó là MCUCR, GICR và GIFR:

    • Thanh ghi điều khiển MCU – MCUCR(MCU Control Register) là thanh ghi xác lập chế độ ngắt cho ngắt ngoài:

    Nếu không nhấn, trạng thái các chân INT là HIGH do điện trở kéo lên, khi vừa nhấn 1 button, sẽ có chuyển trạng thái từ HIGH sang LOW, chúng ta gọi là cạnh xuống – Falling Edge, khi button được nhấn và giữ, trạng thái các chân INT được xác định là LOW và cuối cùng khi thả các button, trạng thái chuyển từ LOW sang HIGH, gọi là cạnh lên – Rising Edge.

    Dưới đây là cấu trúc thanh ghi MCUCR được trích ra từ datasheet của chip atmega8.

    MCUCR là một thanh ghi 8 bit nhưng đối với hoạt động ngắt ngoài, chúng ta chỉ quan tâm đến 4 bit thấp của nó (4 bit cao dùng cho Power manager và Sleep Mode). Bốn bit thấp là các bit Interrupt Sense Control (ISC) trong đó 2 bit ISC11:ISC10 dùng cho INT1 và 2 bit ISC01:ISC00 dùng cho INT0. Hãy nhìn vào bảng tóm tắt bên dưới để biết chức năng của các bit trên, đây là bảng “chân trị” của 2 bit ISC11, ISC10. Bảng chân trị cho các bit ISC01, ISC00 hoàn toàn tương tự.

    • Thanh ghi điều khiển ngắt chung – GICR (General Interrupt Control Register).

    GICR cũng là 1 thanh ghi 8 bit nhưng chỉ có 2 bit cao (bit 6 và bit 7) là được sử dụng cho điều khiển ngắt, cấu trúc thanh ghi như bên dưới (trích datasheet).

    Bit 7 – INT1 gọi là bit cho phép ngắt 1(Interrupt Enable), set bit này bằng 1 nghĩa bạn cho phép ngắt INT1 hoạt động, tương tự, bit INT0 điều khiển ngắt INT0.

    • Thanh ghi cờ ngắt chung – GIFR (General Interrupt Flag Register).

    Có 2 bit INTF1 và INTF0 là các bit trạng thái (hay bit cờ – Flag) của 2 ngắt INT1 và INT0. Nếu có 1 sự kiện ngắt phù hợp xảy ra trên chân INT1, bit INTF1 được tự động set bằng 1 (tương tự cho trường hợp của INTF0), chúng ta có thể sử dụng các bit này để nhận ra các ngắt, tuy nhiên điều này là không cần thiết nếu chúng ta cho phép ngắt tự động, vì vậy thanh ghi này thường không được quan tâm khi lập trình ngắt ngoài. Cấu trúc thanh ghi GIFR được trình bày trong hình ngay bên dưới.

    • Giao tiếp TWI-I2

    TWI (Two-Wire Serial Intereafce) là một module truyền thông nối tiếp đồng bộ trên các chip AVR dựa trên chuẩn truyền thông I2C.

    TWI trên AVR được vận hành bởi 5 thanh ghi bao gồm thanh ghi tốc độ giữ nhịp TWBR, thanh ghi điều khiển TWCR , thanh ghi trạng thái TWSR, thanh ghi địa chỉ TWAR và thanh ghi dữ liệu TWDR.

    TWBR (TWI Bit Rate Register): là 1 thanh ghi 8 bit quy định tốc độ phát xung giữ nhịp trên đường SCL của chip Master.

    Tốc độ phát xung giữ nhịp được tính theo công thức:

    Trong đó CPU Clock frequency là tần số hoạt động chính của AVR, TWBR là giá trị thanh thi TWBR và TWPS là giá trị của 2 bits TWPS1 và TWPS0 nằm trong thanh thi trạng thái TWSR. Hai bits này được gọi là bit prescaler.

    TWCR (TWI Control Register): là thanh ghi 8 bit điều khiển hoạt động của TWI.

    Một điều cần chú ý là các bit trong thanh ghi TWCR không cần được set cùng lúc, tùy vào từng giai đoạn trong quá trình giao tiếp TWI các bit có thể được set riêng lẻ.

    TWSR (TWI Status Register): là 1 thanh ghi 8 bit trong đó có 5 bit chứa code trạng thái của TWI  và 2 bit chọn prescaler.

    TWDR (TWI Data Register): là thanh ghi dữ liệu chính của TWI. Trong quá trình nhận, dữ liệu nhận về sẽ được lưu trong TWDR. Trong quá trình gởi, dữ liệu chứa trong TWDR sẽ được chuyển ra đường SDA.

    TWAR (TWI Address Register): là thanh ghi chứa device address của chip Slave. Cấu trúc thanh ghi được trình bày trong hình dưới.

    3.2. Khối LED hiển thị.

    LED đơn là một đi-ốt, nó chứa một chíp bán dẫn có pha các tạp chất để tạo ra một tiếp giáp P-N, kênh P chứa lỗ trống, kênh N chứa điện tử, dòng điện truyền từ A-nốt( kênh P) đến K-tốt (kênh N), khi điện tử lấp đầy chỗ trống nó sinh ra bức xạ ánh sáng, các bước sóng phát ra có màu khác nhau tùy thuộc vào tạp chất trong chíp bán dẫn

    Led 7 đoạn có cấu tạo bao gồm 7 led đơn có dạng thanh xếp theo hình  và có thêm một led đơn hình tròn nhỏ thể hiện dấu chấm tròn ở góc dưới, bên phải của led 7 đoạn.

    8 led đơn trên led 7 đoạn có Anode(cực +) được nối chung với nhau vào một điểm, được đưa chân ra ngoài để kết nối với mạch điện. 8 cực còn lại trên mỗi led đơn được đưa thành 8 chân riêng, cũng được đưa ra ngoài để kết nối với mạch điện. Đầu chung này được nối với +Vcc, các chân còn lại dùng để điều khiển trạng thái sáng tắt của các led đơn, led chỉ sáng khi tín hiệu đặt vào các chân này ở mức 0.

    Vì led 7 đoạn chứa bên trong nó các led đơn, do đó khi kết nối cần đảm bảo dòng qua mỗi led đơn trong khoảng 10mA-20mA để bảo vệ led. Nếu kết nối với nguồn 5V có thể hạn dòng bằng điện trở 330Ω trước các chân nhận tín hiệu điều khiển.

    3.3.  khối phím bấm

    Việc sử dụng phím bấm ở đây dựa trên sự chênh áp khi ấn các phím, điện áp được đưa về chip để xử lí . như vậy việc dựa vào giá trị điện áp đưa vào chân chúng ta có thể hpanf toàn nhận biết được  chúng ta đang bấm phím nào?

     

    3.4.  Khối nguồn

    Chương 4: Xây dựng thuật toán và thiết kế mạch

    4.1.  Lưu đồ thuật toán:

    4.2.  Thiết kế mạch:

    1. Mạch nguyên lí:
    2. Mạch in:
    3. Liệt kê các linh kiên:
    STT Tên linh kiện Giá trị Số lượng
    1 Atmega8   1
    2 Nút bấm   5
    3 Led 7 thanh   1
    4 Led đơn   5
    5 Tụ hóa 100MF 1
    6 Tụ gốm 104 5
    7 bjt LM7805 1
    8 Trở led 330 4
    9 Trở nút bấm 10k 4
    10 Trở reset 10k 1
    11 Trở led báo nguồn 330 1

     

     

    Mạch khi hoàn thiện:

    4.3.  Code  chạy mô phỏng

    Chip type               : ATmega8

    Program type            : Application

    AVR Core Clock frequency: 8.000000 MHz

    Memory model            : Small

    External RAM size       : 0

    Data Stack size         : 256

    *****************************************************/

    #include <main.h>

    //#include “var.h”

    // Declare your global variables here

    uint8_t maled7[]={0xC0,0xF9,0xA4,0xB0,0x99,0x92,0x82,0xF8,0x80,0x90,0x88,0x83,0xC6,0xA1,0x86,0x8E};

    uint8_t temp,old_temp,cong,tru;

    void LED7SEG(uint8_t data);

    void Check_Key();

    void Display_Led(uint8_t Local,uint8_t chon);

    void Prog_Run();

    void main(void)

    {

    // Khai Bao PORT B

    PORTB=0xff;

    DDRB=0xFC;

    // Khai Bao PORT C

    PORTC=0xff;

    DDRC=0xFF;

    // Khai Bao PORT D

    PORTD=0xff;

    DDRD=0x3F;

    // Khai Bao TIMER 0

    TCCR0=0x00;

    TCNT0=0x00;

    // Khai Bao TIMER 1

    TCCR1A=0x00;

    TCCR1B=0x00;

    TCNT1H=0x00;

    TCNT1L=0x00;

    ICR1H=0x00;

    ICR1L=0x00;

    OCR1AH=0x00;

    OCR1AL=0x00;

    OCR1BH=0x00;

    OCR1BL=0x00;

    // Khai Bao TIMER 2

    ASSR=0x00;

    TCCR2=0x00;

    TCNT2=0x00;

    OCR2=0x00;

    // Khai Bao Ngat Ngoai

    MCUCR=0x00;

    MCUCSR=0x00;

    // Khai Bao Ngat Timer

    TIMSK=0x00;

    // Khai Bao UART

    UCSRB=0x00;

    // Khai Bao bo so sanh Analog

    ACSR=0x80;

    SFIOR=0x00;

    // ADC initialization

    // ADC Clock frequency: 1000.000 kHz

    // ADC Voltage Reference: AVCC pin

    //ADMUX=ADC_VREF_TYPE & 0xff;

    ADCSRA=0x00;

    // Khai Bao SPI

    SPCR=0x00;

    // Khai Bao TWI

    TWCR=0x00;

    LED1=0;

    LED7SEG(maled7[1]);

    old_temp=temp=1;

    while (1)

    {

    Prog_Run();

    }

    }

    void LED7SEG(uint8_t data)

    {

    PORTD_1 = data&0x01;

    PORTD_0 = data&0x02;

    PORTC_2 = data&0x04;

    PORTC_1 = data&0x08;

    PORTC_0 = data&0x10;

    PORTC_4 = data&0x20;

    PORTC_5 = data&0x40;

    PORTC_3 = data&0x80;

    }

    void Check_Key()

    {

    if(BT1==0)       {delay_ms(200); if(BT1==0)temp=1;}

    else if(BT2==0)  {delay_ms(200); if(BT2==0)temp=2;}

    else if(BT3==0)  {delay_ms(200); if(BT3==0)temp=3;}

    else if(BT4==0)  {delay_ms(200); if(BT4==0)temp=4;}

    }

    void Display_Led(uint8_t Local,uint8_t chon)

    {

    if(chon==0)

    {

    switch(Local)

    {

    case 1 : {

    LED1=0; LED7SEG(maled7[1]);

    }break;

    case 2 : {

    LED1=1; LED2=0; LED7SEG(maled7[2]);

    }break;

    case 3 : {

    LED2=1 ;LED3=0; LED7SEG(maled7[3]);

    }break;

    case 4 : {

    LED3=1; LED4=0; LED7SEG(maled7[4]);

    }break;

    }

    }

    if(chon==1)

    {

    switch(Local)

    {

    case 1 : {

    LED1=0; LED2=1; LED7SEG(maled7[1]);

    }break;

    case 2 : {

    LED2=0; LED3=1; LED7SEG(maled7[2]);

    }break;

    case 3 : {

    LED3=0; LED4=1; LED7SEG(maled7[3]);

    }break;

    case 4 : {

    LED7SEG(maled7[4]);

    }break;

    }

    }

    }

    void Prog_Run()

    {

    Check_Key();

    if(old_temp!=temp)

    {

    if(old_temp<temp)

    {

    Display_Led(old_temp,0);

    old_temp++;

    delay_ms(1000);

    cong=1;

    tru=0;

    }

    else

    {

    Display_Led(old_temp,1);

    old_temp–;

    delay_ms(1000);

    tru=1;

    cong=0;

    }

    }

    else

    {

    old_temp=temp;

    if(cong) Display_Led(old_temp,0);

    if(tru) Display_Led(old_temp,1);

    }

    }

    Chương V : Tổng kết

    5.1 .Mức độ hoàn thành công việc và hướng phát triển.

    1. Mức độ hoàn thành công việc.

    Nhìn chung đã hoàn thành về mạch mô phỏng và chạy ổn định các khâu của bài tập lớn.

    1. Hướng phát triển.

    Có thể thêm vào phần cảm biến nguy hiểm và hệ thống cảnh báo và liên lạc ở ngoài..

    5.2 .Các phần mềm đã sử dụng trong quá trình làm bài tập.

    • Proteus version 8.0
    • Codevison AVR 2.5.3
      • . Tài liệu tham khảo.

    Website:

    http://hocavr.com

    http://hoiquandientu.com

    http://dientuvietnam.com

    http://dientu.org

    http://machdientu.net

    Ebook:Datasheet : Atmeaga8.

    *Hết*


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Công nghệ phần mềm Điện toán đám mây và ứng dụng

    Bài tập lớn Công nghệ phần mềm Điện toán đám mây và ứng dụng

    Bài tập lớn Công nghệ phần mềm Điện toán đám mây và ứng dụng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Quản trị Marketing So sánh chiến lược Marketing của thương hiệu Vinacafe & các thương hiệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-C%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m-%C4%90i%E1%BB%87n-to%C3%A1n-%C4%91%C3%A1m-m%C3%A2y-v%C3%A0-%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%A5ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Công nghệ phần mềm Điện toán đám mây và ứng dụng

    Chương I: Tổng Quan Về Điện Toán Đám Mây

     

     

    I.  Giới thiệu điện toán đám mây

     

    1.  Giới thiệu

    Điện toán đám mây (Cloud Computing), còn gọi là điện toán máy chủ ảo, là mô hình điện toán sử dụng các công nghệ máy tính và phát triển dựa vào mạng Internet. Thuật ngữ “đám mây” ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng Internet (dựa vào cách được bố trí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) và như một liên tưởng về độ phức tạp của các cơ sở hạ tầng chứa trong nó. Ở mô hình điện toán này, mọi khả năng liên quan đến công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các “dịch vụ”, cho phép người sử dụng truy cập các dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp nào đó “trong đám mây” mà không cần phải có các kiến thức, kinh nghiệm về công nghệ đó, cũng như không cần quan tâm đến các cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ đó. Theo tổ chức Xã hội máy tính IEEE “Nó là hình mẫu trong đó thông tin được lưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ được được lưu trữ tạm thời ở các máy khách, bao gồm máy tính cá nhân, trung tâm giải trí, máy tính trong doanh nghiệp, các phương tiện máy tính cầm tay, ...”.

    Điện toán đám mây là khái niệm tổng thể bao gồm cả các khái niệm như “phần mềm dịch vụ”, “Web 2.0” và các vấn đề khác xuất hiện gần đây, các xu hướng công nghệ nổi bật, trong đó đề tài chủ yếu của nó là vấn đề dựa vào Internet để đáp ứng những nhu cầu điện toán của người dùng. Ví dụ, dịch vụ Google AppEngine cung cấp những ứng dụng kinh doanh trực tuyến thông thường, có thể truy nhập từ một trình duyệt web, còn các phần mềm và dữ liệu đều được lưu trữ trên các máy chủ.

    Hình 1: Mô hình điện toán đám mây

                                  

    Thuật ngữ điện toán đám mây xuất hiện bắt nguồn từ ứng dụng điện toán lưới (grid computing) trong thập niên 1980, tiếp theo là điện toán theo nhu cầu (utility computing) và phần mềm dịch vụ (SaaS).

    Điện toán lưới đặt trọng tâm vào việc di chuyển một tải công việc (workload) đến địa điểm của các tài nguyên điện toán cần thiết để sử dụng. Một lưới là một nhóm máy chủ mà trên đó nhiệm vụ lớn được chia thành những tác vụ nhỏ để chạy song song, được xem là một máy chủ ảo.

    Với điện toán đám mây, các tài nguyên điện toán như máy chủ có thể được định hình động hoặc cắt nhỏ từ cơ sở hạ tầng phần cứng nền và trở nên sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, hỗ trợ những môi trường không phải là điện toán lưới như Web ba lớp chạy các ứng dụng truyền thống hay ứng dụng Web 2.0.

    2. Định Nghĩa

    Hiện tại khái niệm về điện toán đám mây vẫn đang được giới công nghệ chỉnh lại hàng ngày. Sau đây là một vài định nghĩa về điện toán đám mây:

    Theo Wikipedia:

    “Điện toán đám mây (cloud computing) là một mô hình điện toán có khả năng co giãn (scalable) linh động và các tài nguyên thường được ảo hóa được cung cấp như một dịch vụ trên mạng Internet”.

    Theo Gartner (http://www.buildingthecloud.co.uk) :

    “Một mô hình điện toán nơi mà khả năng mở rộng và linh hoạt về công nghệ thông tin được cung cấp như một dịch vụ cho nhiều khách hàng đang sử dụng các công nghệ trên Internet”.

    Theo Ian Foster:

    “Một mô hình điện toán phân tán có tính co giãn lớn mà hướng theo co giãn về mặt kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán, kho lưu trữ, các nền tảng (platform) và các dịch vụ được trực quan, ảo hóa và co giãn linh động, sẽ được phân phối theo nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua Internet”.

    Hiểu một cách đơn giản điện toán đám mây là việc ảo hóa các tài nguyên tính toán và các ứng dụng, thay vì việc bạn sử dụng một hoặc nhiều máy chủ thật thì nay bạn sử dụng các tài nguyên được ảo hóa thông qua môi trường Internet.

    Từ “đám mây” trong điện toán đám mây thực chất chỉ là 1 phép ẩn dụ để mô tả Internet. Theo định nghĩa thì điện toán đám mây là biện pháp sử dụng dựa trên kết nối Internet, nơi mà những người dùng chia sẻ cùng một mạng máy chủ, phần mềm và dữ liệu.

    Bạn có thể tưởng tưởng ra ứng dụng của điện toán đám mây là gì không? Nếu như bạn đang sử dụng những ứng dụng web từ các hang lớn như Google hoặc Microsoft thì chính bạn đang sử dụng Cloud Computing. Các ứng dụng web như Gmail, Google Calender, Hotmail, SaleForce, Dropbox và Google Docs đều dựa trên Cloud Computing bởi vì khi kết nối tới những dịch vụ đó, ngươi dung đã được truy cập và những cụm nhóm máy chủ đồ sộ thống nhất trên Internet.

    3. Mô hình và hoạt động

    Về cơ bản, “điện toán đám mây” được chia ra thành 5 lớp riêng biệt, có tác động qua lại lẫn nhau:

     

     

    Lớp khách hàng

     

     

    Lớp ứng dụng

     

     

    Lớp nền tảng

     

     

    Lớp cơ sở hạ tầng

     

     

    Lớp máy chủ

    Hình 2: Cấu trúc của điện toán đám mây

    1. Lớp khách hàng (Client): lớp khách hàng của điện toán đám mây bao gồm phần cứng và phần mềm, để dựa vào đó khách hàng có thể truy cập và sử dụng các ứng dụng/dịch vụ được cung cấp từ điện toán đám mây. Chẳng hạn máy tính và đường dây kết nối Internet ( thiết bị phần cứng ) và các trình duyệt web (phần mềm )..
    2. Lớp ứng dụng (Application): lớp ứng dụng của điện toán đám mây làm nhiệm vụ phân phối phần mềm như một dịch vụ thông qua Internet, người dùng không cần phải cài đặt và chạy các ứng dụng đó trên máy tính của mình, các ứng dụng dễ dàng được chỉnh sửa và người dùng dễ dàng nhận được sự hỗ trợ.
    3. Lớp nền tảng ( Platform): cung cấp nền tảng cho điện toán đám mây và các giải pháp của dịch vụ, chi phối đến cấu trúc hạ tầng của “đám mây” và là điểm tựa cho lớp ứng dụng, cho phép các ứng dụng hoạt động trên nền tảng đó. Nó giảm nhẹ sự tốn kém khi triển khai các ứng dụng khi người dùng không phải trang bị cơ sở hạ tầng ( phần cứng và phần mềm) của riêng mình.
    4. Lớp cơ sở hạ tầng ( Infrastructure): cung cấp hạ tầng máy tính, tiêu biểu là môi trường nền ảo hóa. Thay vì khách hàng phải bỏ tiền ra mua các máy chủ, phần mềm, trung tâm dữ liệu hoặc thiết bị kết nối…giờ đây, họ vẫn có thể có đầy đủ tài nguyên để sử dụng mà chi phí được giảm thiểu, hoặc thậm chí là miến phí. Đây là một bước tiến hóa của mô hình máy chủ ảo (Virtual Private Sever).
    5. Lớp máy chủ (Sever): bao gồm các sản phẩm phần cứng và phần mềm máy tính, được thiết kế và xây dựng đặc biệt để cung cấp các dịch vụ của đám mây. Các sever phải được xây dựng và có cấu hình đủ mạnh (thậm chí là rất mạnh) để đáp ứng nhu cầu sử dụng của số lượng đông đảo các người dùng và các nhu cầu ngày càng cao của họ.

    3.1. Mô hình điện toán đám mây

    Có 3 mô hình điện toán đám mây chính

    1) Public Cloud (đám mây công cộng) cung cấp các dịch vụ :  email, VoIP, Chat, blog, facebook, .. .(dữ liệu người dùng lưu trữ trong “đám mây” do nhà cung cấp quản trị, khách hàng chia sẻ tài nguyên tính toán – lưu trữ và dịch vụ mà không cần biết “đám mây” đó đang tồn tại ở đâu). Hãy xem Google, người dùng (user) đăng ký tài khoản và được cung cấp vùng lưu trữ cho : dữ liệu, video clip, hình ảnh, sổ địa chỉ … cùng với quyền sử dụng dịch vụ : lịch, chia sẽ dữ liệu, email, tìm kiếm trên internet … về cơ bản là miễn phí trên Google cloud.  Amazon còn đơn giản hơn : user sau khi đăng ký dịch vụ public cloud “Ubuntu One” ngay lập tức được cấp một vùng lưu trữ (dữ liệu, sổ điện thoại và tin nhắn) có dung lượng tới 2 Gb.  Về cơ bản Google và Amazon chỉ đáp ứng nhu cầu user cá nhân nhưng không thể áp dụng cho hoạt động của một cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.

    Hình 3: Mô hình đám mây riêng

    2) Private Cloud – Enterprise cloud (đám mây riêng): cung cấp nhu cầu cho nội bộ một cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp. Những đám mây này tồn tại bên trong tường lửa công ty và chúng được doanh nghiệp trực tiếp quản lý.  Hiện đang tồn tại hai loại giải pháp cho mô hình private cloud :

    Đám mây riêng vô hình là mô hình dịch vụ “đám mây”  được cung cấp cho doanh nghiệp trực tiếp quản lý nhưng hoàn toàn không biết nó tồn tại và hoạt động tương tác như thế nào trong “đám mây” của nhà cung cấp dịch vụ. Các cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp từ nay không cần mua bản quyền phần mềm nhân sự, tài chính, kinh doanh,  … không cần trang bị máy chủ mạnh để lưu trữ dữ liệu, không cần mua phần mềm nữa, . . .mà chỉ cần trả phí sử dụng dịch vụ cho nhà cung cấp mà thôi.  Nhà cung cấp dịch vụ “đám mây” cài đặt các phần mềm ứng dụng tại trung tâm điện toán mà điển hình là Google và Amazon như đã nói ở trên.  Tuy vậy giải pháp trên có nhược điểm :  kết nối không ổn định, không tích hợp được các ứng dụng mang tính đặc thù của các cơ quan, tổ chức, công ty như quản lý văn bản số hóa, chuyển giao văn bản số hóa.  Ngoài ra không đảm bảo : chủ động, tính riêng tư, quyền sở hữu, bảo mật…

    Đám mây riêng hữu hình là một dạng mô hình dịch vụ đám mây cấp cho doanh nghiệp trực tiếp quản lý và sở hữu tại chỗ tương tác với “đám mây” riêng khác và “đám mây” công cộng khác. Giải pháp này khắc phục được những nhược điểm của giải pháp “đám mây” riêng vô hình.

    Hình 4: Private Cloud và Public Cloud

    3) Hybrid Cloud – đám mây chung hợp: đó là sự chung hợp giữa public cloudprivate cloud đáp ứng yêu cầu ứng dụng lớn phải có sự tương tác giữa public cloudprivate cloud và khả năng quản trị thống nhất lúc cao điểm, sau đó trả lại sức chứa và sử dụng cho public cloud khi không cần dùng nữa.

    Hình 5: Hybrid Cloud

     

     

    3.2 Cách thức hoạt động

    Để hiểu cách thức hoạt động của “đám mây”, tưởng tượng rằng “đám mây” bao gồm 2 lớp: Lớp Back-end và lớp Front-end.

    Hình :6 Hạ tầng thiết bị được chứa ở lớp Back-End, và giao diện người dùng của các ứng dụng được chứa tại lớp Front-End.

     

    Lớp Front-end là lớp người dùng, cho phép người dùng sử dụng và thực hiện thông qua giao diện người dùng. Khi người dùng truy cập các dịch vụ trực tuyến, họ sẽ phải sử dụng thông qua giao diện từ lớp Front-end, và các phần mềm sẽ được chạy trên lớp Back-end nằm ở “đám mây”. Lớp Back-end bao gồm các cấu trúc phần cứng và phần mềm để cung cấp giao diện cho lớp Front-end và được người dùng tác động thông qua giao diện đó.

    Bởi vì các máy tính trên “đám mây” được thiết lập để hoạt động cùng nhau, do vậy các ứng dụng có thể sử dụng toàn bộ sức mạnh của các máy tính để có thể đạt được hiệu suất cao nhất. Điện toán đám mây cũng đáp ứng đầy đủ tính linh hoạt cho người dùng. Tùy thuộc vào nhu cầu, người dùng có thể tăng thêm tài nguyên mà các đám mây cần sử dụng để đáp ứng, mà không cần phải nâng cấp thêm tài nguyên phần cứng như sử dụng máy tính cá nhân.

    Ngoài ra, với điện toán đám mây, vấn đề hạn chế của hệ điều hành khi sử dụng các ứng dụng không còn bị ràng buộc, như cách sử dụng máy tính thông thường.

    4. Đặc điểm của điện toán đám mây

    Trước đây để có thể triển khai một ứng dụng (ví dụ một trang Web) bạn phải đi mua/thuê một hay nhiều máy chủ (sever), sau đó đặt máy chủ tại các trung tâm dữ liệu (data center) thì nay điện toán đám mây cho phép bạn giản lược quá trình mua/thuê đi. Bạn chỉ cần nêu ra yêu cầu của mình, hệ thống sẽ tự động gom nhặt các tài nguyên rỗi (free) để đáp ứng yêu cầu của bạn. Chính vì vậy có thể kể đến những lới ích mà điện toán đám mây mang lại:

    • Tốc độ xử lý nhanh, cung cấp cho người dùng những dịch vụ nhanh chóng và giá thành rẻ dựa trên nền cơ sở hạ tầng tập trung (đám mây).
    • Chi phí đầu tư ban đầu về cơ sở hạ tầng, máy móc và nguồn nhân lực của người sử dụng điện toán đám mây được giảm đên mức thâp nhất.
    • Không còn phụ thuộc vào vị trí địa lý, cho phép người dùng truy cập và sử dụng hệ thống thông qua trình duyệt web ở bất kỳ đâu và trên bất kỳ thiết bị kết nối internet nào mà họ sử dụng ( chẳng hạn là PC hoặc điện thoại di động..)
    • Chia sẻ tài nguyên trên một địa bàn rộng lớn mang lại những lợi ích cho người dùng như:
    • Tập trung cơ sở hạ tầng tại một vị trí giúp người dùng không tốn nhiều thời giá thành đầu tư về trang thiết bị.
    • Công suất xử lý nhanh hơn do tài nguyên được tập trung. Ngoài ra, người dùng không cần đầu tư về nguồn nhân lực quản lý hệ thống.
    • Khả năng khai thác và hiệu suất được cải thiện hơn 10-20% so với hệ thống máy tính cá nhân thông thường.
    • Độ tin cậy cao: không chỉ giành cho người dùng phổ thông, điện toán đám mây phù hợp với yêu cầu cao và liên tục của các công ty kinh doanh và các nghiên cứ khoa học.
    • Khả năng bảo mật được cải thiện do sự tập trung về dữ liệu
    • Các ứng dụng trên đám mây dễ dàng để sửa chữa hơn bởi lẽ chúng không được cài đặt cố định trên một máy tính nào. Chúng dễ dàng hỗ trợ và cải thiện tính năng.
    • Tài nguyên sử dụng của điện toán đám mây luôn được quản lý và thống kê trên từng khách hàng và ứng dụng theo từng ngày, từng tuần, từng tháng. Điều này đảm bảo cho việc định lượng giá cả của mỗi dịch vụ do điện toán đám mây cung cấp để người dùng có thể lựa chọn phù hợp.

    Bất cứ hệ thống nào cũng có những ưu và nhược điểm của nó và điện toán đám mây cũng không ngoại trừ. Trong quá trình thực hiện điện toán đám mây người ta nhận thấy những khó khăn và thách thức sau:

    • Tính riêng tư: các thông tin người dùng và dữ liệu chứa trên điện toán đám mây có đảm bảo được riêng tư và liệu các thông tin đó có bị sử dụng vì một mục đích khác?
    • Tính sẵn dùng: liệu các dịch vụ đám mây có bị “treo” bất ngờ, khiến cho người dùng không thể truy cập các dịch vụ và dữ liệu của mình trong nhữn khoảng thời gian nào đó khiến ảnh hưởn đến công việc?
    • Mất dữ liệu: một vài dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến trên đám mây bất ngờ ngừng hoạt động hoặc không tiếp tục cung cấp dịch vụ, khiến cho người dùng phải sao lưu dữ liệu của họ từ “đám mây” về máy tính cá nhan. Điều này sẽ mất nhiều thời gian. Thậm chí một vài trường hợp, vì một lý do nào đó, dữ liệu người dùng bị mất và không thể phục hồi được.

    Hình 7: Dữ liệu chứa trên các “đám mây” sẽ phải giao phó toàn bộ”số phận” cho “đám mây”

     

     

    • Tính di động của dữ liệu và quyền sử hữu: một câu hỏi đặt ra, liệu người dùng có thể chia sẻ dữ liệu từ dịch vụ đám mây này sang dịch vụ của đám mây khác? Hoặc trong trường hợp không muốn tiếp tục sử dụng dịch vụ cung cấp từ đám mây, liệu người dùng có thể sao lưu toàn bộ dữ liệu của họ từ đám mây? Và làm cách nào để người dùng có thể chắc chắn rằng các dịch vụ đám mây sẽ không hủy toàn bộ dữ liệu của họ trong trường hợp dịch vụ ngừng hoạt động.
    • Khả năng bảo mật: vấn đề tập trung dữ liệu trên các “đám mây” là cách thức hiệu quả để tăng cường bảo mật, nhưng mặt khác cũng chính là mối lo của người sử dụng dịch vụ của điện toán đám mây. Bởi lẽ một khi các đám mây bị tấn công hoặc đột nhập, toàn bộ dữ liệu sẽ bị chiếm dụng.

    Chương II. Ứng dụng của điện toán đám mây

    Thực ra ứng dụng của công nghệ đám mây là vô giới hạn. Chỉ cần có một phần mềm trung gian phù hợp là một hệ thống mây có thể xử lý tất cả các chương trình như bất kỳ một máy tính bình thường nào khác. Tất cả các loại phần mềm, từ trình xử lý văn bản tới ứng dụng tin học tùy biến được thiết kế cho một công ty cụ thể nào đó đều có thể tự do hoạt động trong “đám mây”. Có thể kể đến 1 vài chương trình hay phần mềm ứng dụng điện toán đám mây phổ biến mà chúng ta có thể bạn biết dưới đây :

    * Google Docs

    (http://docs.google.com/):

    Có thể bạn đã khá quen với ứng dụng này nhưng chúng tôi vẫn muốn đưa ra, trước hết là bởi Google luôn là hãng tiên phong trong việc cung cấp tiện ích đám mây. Hiện tại có thể là Google Docs, nhưng trong thời gian tới sẽ có thêm các ứng dụng đám mây khác. Google Docs bao gồm ứng dụng văn bản, bảng tính, và trình bày. Các văn bản do người dùng tạo ra sẽ được lưu trữ trên máy chủ Google. Với Google Docs, nhiều người dùng có thể cùng làm việc trên một văn bản từ nhiều máy tính khác nhau, các thay đổi sẽ diễn ra đồng thời và nhất quán.

    * Jooce

    (http://www.jooce.com/):

    Là một giao diện dựa trên nền flash, Jooce cho phép người dùng có thể kéo thả tệp tin vào đó rồi có thể truy cập từ bất cứ chiếc PC kết nối Internet nào.

    * Blender 3D

    (http://www.blender.org/):

    Đây là trung tâm dữ liệu cho thuê của Sun dành cho doanh nghiệp. Người dùng cần bao nhiêu khả năng xử lý sẽ được đáp ứng bấy nhiêu. Blender 3D thường dùng để phân tích các dữ liệu khoa học, nhưng cũng có thể sử dụng để làm hoạt hình 3D.

    * Twitterfone

    (http://www.twitterfone.com/:

    Dịch vụ này sử dụng khả năng nhận dạng giọng nói để chuyển đổi tin nhắn thoại thành các đoạn tin nhắn (tweet) rồi đăng tải trên trang Twitter.

     

     

    * Picnik

    (http://www.picnik.com/):

    Đây là ứng dụng chỉnh sửa ảnh “đám mây”, cho phép bạn upload ảnh từ PC lên trang hoặc lấy ảnh từ các trang chia sẻ ảnh như Flick hoặc mạng xã hội Facebook. Picnik có nhiều công cụ chỉnh sửa ảnh rất mạnh, và chắc chắn sẽ làm bạn hài lòng.

    * Adobe Photoshop Express:

    APE là phiên bản thu gọn của Photoshop nhưng cũng có đầy đủ tính năng, và quan trọng hơn là người dùng có thể làm trực tiếp trên mạng thay vì phải cài đặt bộ phần mềm Photoshop rất nặng trên PC.

    * Antivirus

    Xu hướng điện toán đám mây là một xu hướng mới trong bảo mật thông tin. Các chương trình diệt virus (antivirus) cũng không nằm ngoài xu hướng này.Bằng cách sử dụng ĐTĐM, các chương trình diệt virus đã có một bước phát triển vượt bậc trong công nghệ an toàn và bảo mật thông tin. Có thể nói rằng, ĐTĐM đã đưa công nghệ diệt virus sang một nấc thang mới. Chỉ cần máy tính của bạn kết nối Internet và bạn sử dụng một chương trình antivirus uy tín, bạn có thể yên tâm về việc phòng tránh virus trên máy tính của mình. Các virus sẽ được cập nhật liên tục lên “đám mây”, và công việc của chương trình antivirus sẽ kết nối với “đám mây” đó và ngăn ngừa sự xâm nhập của chúng vào máy tính của bạn. Các chương trình sẽ tự động cập nhật thường xuyên để cập nhật các mẫu virus mới nhất. Còn nếu máy tính của bạn không kết nối Internet, hãy yên tâm bởi vì các chương trình antivirus có hệ thống dữ liệu riêng trên máy tính của bạn, có thể hạn thế với công suất cao nhất sự xâm nhập của virus. Nhưng nếu muốn bảo vệ máy tính tốt nhất, hãy cập nhật chúng mỗi ngày.

    1. Ứng dụng của điện toán đám mây tại các quốc gia trên thế giới

    Hiện nay tại Cộng đồng châu Âu, Ủy ban châu Âu và một số nước thành viên đang triển khai các hoạt động, mà theo nhiều người cảm nhận, là để hướng tới việc xây dựng một cơ sở hạ tầng chung dựa trên điện toán đám mây cho các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã thấy có những mô hình điện toán đám mây cụ thể đang được sử dụng tại nhiều khu vực trên thế giới.

    Vương quốc Anh

    Chính phủ đã xây dựng “G-cloud,” một mạng điện toán đám mây trên quy mô toàn chính phủ và cũng là một ưu tiên chiến lược. Bản báo cáo Digital Britain Report phát hành vào tháng 6 năm 2009 tại Anh đã kêu gọi chính phủ Anh đi đầu trong chiến lược số hóa quy mô lớn cho toàn bộ quốc gia. Thủ tướng Gordon Brown cũng đã công bố khi đưa ra bản báo cáo: “Digital Britain hướng tới việc trang bị cho đất nước những công cụ để thành công và đi đầu trong nền kinh tế tương lai”.

    Nhật Bản

    Tại Nhật Bản, Chính phủ đang triển khai một sáng kiến lớn về điện toán đám mây, nhân rộng “đám mây Kasumigaseki”. Sáng kiến này tìm cách phát triển một môi trường điện toán đám mây riêng có thể host toàn bộ hệ thống tính toán của chính phủ Nhật Bản.Đám mây Kasumigaseki sẽ hỗ trợ sự chia sẻ thông tin và tài nguyên ở mức độ cao hơn và khuyến khích hoạt động tiêu chuẩn hóa, tập trung hóa các tài nguyên CNTT của chính phủ, theo như Bộ Nội vụ và Truyền thông (MIC) Nhật Bản cho biết (2009).

    Thông qua tập trung hóa toàn bộ hoạt động CNTT của chính phủ vào một cơ sở hạ tầng điện toán đám mây duy nhất, chính phủ Nhật Bản tin rằng họ sẽ không chỉ cắt giảm được chi phí và thu được những lợi ích trong hoạt động mà họ còn có các hoạt động CNTT “xanh” hơn, thân thiện hơn với môi trường.

    Đám mây Kasumigaseki là một phần trong Dự án Digital Japan Creation. Dự án này chính là một nỗ lực của chính phủ nhằm sử dụng các khoản đầu tư CNTT (trị giá gần 100 nghìn tỷ Yên) để hỗ trợ khôi phục kinh tế thông qua tạo ra thêm hàng trăm nghìn việc làm mới trong lĩnh vực CNTT trong vòng vài năm tới và tăng gấp đôi quy mô của thị trường CNTT Nhật Bản vào năm 2020.

    Thái Lan

    Tại Thái Lan, Cơ quan Dịch vụ Công nghệ Thông tin Chính phủ (Government Information Technology Service – GITS) đang xây dựng một đám mây điện toán riêng để các cơ quan chính phủ Thái Lan sử dụng. GITS đã thiết lập một dịch vụ e-mail dựa trên điện toán đám mây và có kế hoạch bổ sung các giải pháp SaaS trong tương lai gần. GITS tin rằng việc tập trung hóa như vậy sẽ nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho các cơ quan chính phủ, trong khi vẫn hạ thấp “đáng kể” chi phí CNTT (Hicks, 2009b).

    Việt Nam

    IBM đang hợp tác với Chính phủ và các trường Đại học Việt Nam để giúp đất nước này sử dụng sức mạnh của điện toán đám mây trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân của nền kinh tế vốn xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp có tốc độ phát triển nhanh chóng này (nystedt, 2009). Mới đây, ông Willy Chiu thuộc Phòng thí nghiệm IBM Cloud Labs đã quan sát thấy rằng cam kết của Việt Nam đối với mô hình mới là do thực tế: “Chính phủ xem điện toán đám mây như là một cách thức để hướng tới một nền kinh tế dịch vụ” (được trích dẫn trong Babcock, 2009).

     

     

    Trung Quốc

    Tại Trung Quốc, các chương trình điện toán đám mây đến nay đã rất phổ biến nhờ các nhà lãnh đạo địa phương. Thành phố Dongying tại miền Bắc Trung Quốc đang triển khai một sáng kiến về điện toán đám mây để không chỉ cải thiện các giải pháp chính phủ điện tử mà còn hỗ trợ phát triển kinh tế thông qua lãnh đạo các hoạt động xây dựng cái được gọi là Trung tâm Điện toán Đám mây Sông Hoàng Hà. Phó Thị trưởng của Dongying, ông Li Jinkun, đã hình dung ra rằng Dongying có thể trở thành một “thành phố của những sáng tạo số” thông qua một nền tảng điện toán đám mây do IBM phát triển nằm ở tâm điểm của sáng kiến này.

    Tương tự như vậy, tại thành phố Wuxi, nằm ở miền Nam Trung Quốc, chính quyền thành phố đã xây dựng một “nhà máy dịch vụ điện toán đám mây” để nâng cao chất lượng các tài nguyên điện toán dành cho các công ty. Nhiều công ty mới khởi nghiệp tại “công viên phần mềm” của thành phố phải đối mặt với một vấn đề chung của việc không có đủ các nguồn lực tài chính cần thiết để đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT cần thiết để có thể cạnh tranh hiệu quả.

    Để đáp ứng yêu cầu này, và để thu hút thêm nhiều công ty tham gia vào dự án phát triển kinh tế của mình, Chính quyền thành phố Wuxi đã hợp tác với IBM để xây dựng một trung tâm điện toán đám mây nhằm cung cấp các tài nguyên theo nhu cầu cho các công ty tại công viên phần mềm. Sử dụng nhà máy dịch vụ điện toán đám mây, các nhà phát triển phần mềm có thể dễ dàng truy cập vào các tài nguyên điện toán cần thiết cho các dự án của họ. Các công ty tham gia vào dự án có một cơ sở hạ tầng điện toán sẵn sàng, theo nhu cầu, giải phóng các nguồn lực tài chính cho các nhu cầu khác và giúp các công ty mới khởi nghiệp phát triển dễ dàng hơn, tạo ra sự thịnh vượng kinh tế và công ăn việc làm tại thành phố.

    Singapore

    Cơ quan phát triển Thông tin & Truyền thông Singapore (Infocomm Development Authority of Singapore – iDA) khẳng định rằng điện toán đám mây thể hiện “một bối cảnh mới quan trọng trong lĩnh vực công nghệ thông tin,” và do đó, “điều quan trọng là phải chuẩn bị cho Singapore thật tốt để khai thác điện toán đám mây với quy mô, ảnh hưởng và tính cạnh tranh kinh tế lớn hơn”.

    1. Các dịch vụ điện toán đám mây lớn

    a. Amazon Web Services

    Amazon Web Services là tập hợp các dịch vụ cung cấp cho người lập trình có khả năng truy cập tới hạ tầng kiến trúc tính toán kiểu sẵn sàng-để-sử dụng (ready-to-use) của Amazon. Các máy tính có nền tảng vững chắc đã được xây dựng và tinh chế qua nhiều năm của Amazon bây giờ là có thể cho phép bất cứ ai cũng có quyền truy cập tới Internet. Amazon cung cấp một số dịch vụ Web nhưng ở đây ta chỉ tập trung vào các dịch vụ cơ bản, cái mà đáp ứng được một số yêu cầu cốt lõi của hầu hết các hệ thống như: lưu trữ, tính toán, truyền thông điệp và tập dữ liệu.

    Bạn có thể xây dựng các ứng dụng phức tạp và gồm nhiều phần khác nhau bằng cách sử dụng các chức năng phân tầng với các dịch vụ đáng tin cậy, hiệu quả khối hợp nhất được cung cấp bởi Amazon. Các dịch vụ Web mà tồn tại bên trong đám mây phía bên ngoài môi trường của bạn và có khả năng thực hiện là rất cao.

    Bạn sẽ chỉ trả dựa trên những cái bạn sử dụng mà không cần phải trả trước các chi phí và vốn đầu tư ban đầu. Bạn không cần phải mất chi phí cho bảo trì bởi vì phần cứng được duy trì và phục vụ bởi Amazon. Bạn có thể nhanh chóng kết hợp thành một nền tảng hạ tầng. Điểm quan trọng là  cơ sở hạ tầng là mềm dẻo và có thể thay đổi lên hay xuống tùy theo nhu cầu sử dụng.

    Các thành phần chính của hạ tầng cơ sở của trang Web này gồm có:

    Lưu trữ (Storage)

    Mọi người đều cần phải lưu trữ cho các tệp, các tài liệu, các dữ liệu tải về của mình hoặc các bản sao lưu. Có thể tiến hành lưu trữ bất kỳ các ứng dụng cần thiết của bạn trong Amazon Simple Storage Service (S3) và nhận được các lợi ích với nó như có khả năng mở rộng, đáng tin cậy và với mức chi phí thấp cho việc lưu trữ. Amazon Simple Storage Service (S3) cung cấp các giao diện dịch vụ Web cho việc lưu trữ và khôi phục dữ liệu. Dữ liệu được cho ở bất kỳ loại nào và có thể được lưu trữ và truy cập đến từ bất kỳ vị trí nào thông qua Internet. Bạn có thể lưu trữ không giới hạn một lượng lớn các đối tượng trong S3 với kích thước của mỗi đối tượng trong khoảng từ 1 byte tới 5 GB. Các lưu trữ là có thể ở trong Hoa Kỳ hoặc trong Liên Minh Châu Âu. Bạn có thể chọn vị trí lưu trữ cho các đối tượng của bạn khi bạn tạo ra “buckets”, cái mà tương tự như khái niệm của thư mục trong hệ thống xử lý của bạn. Dữ liệu được lưu trữ an toàn bằng cách sử dụng cùng hạ tầng cơ sở lưu trữ Amazon sử dụng sức mạnh của mình trên toàn thế giới với một mạng lưới các trang Web thương mại điện tử.

    Sự hạn chế truy cập có thể được xác định cho từng đối tượng bạn lưu trữ trong S3, và các đối tượng này có thể được truy cập với các yêu cầu HTTP đơn giản. Thậm chí bạn có thể tạo ra các đối tượng để tải về bằng cách sử dụng giao thức BitTorrent. S3 giải phóng hoàn toàn cho bạn về các lo lắng cho không gian lưu trữ, truy cập vào dữ liệu, hoặc bảo vệ dữ liệu. Bạn thậm chí không phải đối phó với chi phí của việc bảo trì các máy chủ lưu trữ.

    Tính năng của S3 bao gồm:

    Tính ổn định

    Nó được thiết kế để chịu được các hỏng hóc và phục hồi hệ thống rất nhanh với thời gian tối thiểu. Amazon cung cấp một thỏa thuận cấp dịch vụ (service-level agreement -SLA) để duy trì tính sẵn sàng ở mức 99.99 phần trăm.

    Đơn giản, dễ dùng

    S3 được xây dụng trên các khái niệm đơn giản và cung cấp tính mềm dẻo cao cho việc phát triển các ứng dụng của bạn. Bạn có thể xây dựng các lược đồ lưu trữ phức tạp hơn, nếu cần, bằng cách thêm các hàm vào các thành phần của S3.

    Tính mở rộng

    Thiết kế của S3 cung cấp một cấp độ cao về tính mở rộng và cho phép sự điều chỉnh dễ dàng trong dịch vụ khi lượng truy cập vào ứng dụng web của bạn tăng đột biến với lưu lượng khổng lồ.

    Rẻ

    Chi phí sử dụng S3 rất cạnh tranh với các giải pháp của công ty và cá nhân khác trên thị trường.

    Ba khái niệm nền tảng cho khung làm việc S3 là thùng (buckets), đối tượng (objects), và khóa (keys).

    Tính toán (Computing)

    Amazon EC2 là dịch vụ Web cho phép bạn yêu cầu các máy ảo trong vòng một vài phút và dễ dàng thay đổi khả năng của bạn hoặc tải xuống dựa trên nhu cầu. Bạn chỉ cần phải trả chi phí cho khoảng thời gian mà bạn sử dụng. Nếu bạn muốn tăng khả năng tính toán của bạn nên, bạn có thể nhanh chóng tiếp cận khởi tạo máy áo và sau đó chấm dứt chúng khi mà nhu cầu của bạn giảm đi.

    Môi trường của EC2 là được xây dựng trên cùng mã nguồn mở Xen hypervisor, cái được phát triển tại trường Đại học Cambridge. Amazon cho phép bạn tạo ra hình ảnh máy Amazon (AMIs) cái thực hiện hành động như là các khuôn mẫu cho các ví dụ của bạn. Truy cập với các ví dụ có thể được điều khiển bằng việc xác định được các quyền cho phép. Bạn cũng có thể làm bất cứ cái gì bạn muốn với chúng tuy chỉ có một hạn chế duy nhất là yêu cầu bạn cần sử dụng dựa trên Linux. Thời gian gần đây, khi mà Open Solaris được công bố trong một quan hệ đối tác với Sun Microsoftsystem, nhưng phần lớn các thương mại miễn phí và có sẵn được xây dựng cho EC2 đều dựa trên nền tảng Linux.

    Amazon EC2 cung cấp chính xác quy mô máy tính cái cho phép dễ dàng để thay đổi quy mô tài nguyên tính toán của bạn lên và xuống. Bạn hoàn toàn kiểm soát được môi trường tính toán cái mà chạy trong trung tâm dữ liệu của Amazon. Amazon cung cấp năm kiểu của các máy chủ; để cho phép bạn chọn lựa một trong các loại này phù hợp với ứng dụng cần thiết của bạn. Các máy chủ cung cấp từ loại đơn lõi x86 đến loại tám lõi x86_64. Bạn có thể thay thế các trường hợp trong các mô hình địa lý khác nhau hoặc trong các vùng mà từ chỗ đảm bảo thực hiện đến chỗ có thể thất bại. Amazon cũng chỉ dẫn khái niệm của địa chỉ IP thay đổi cho phép làm việc với địa chỉ động. EC2 có thể cung cấp cho ứng dụng ảo của bạn khả năng để: Cấu hình các yêu cầu tính toán của chúng ngay trong khi hoạt động. Điều chỉnh dung lượng dựa trên yêu cầu.

    Một số đặc tính đáng giá được cung cấp bởi mô hình mới này:

    Độ tin cậy

    EC2 được thiết kế để dễ dàng cung cấp các thể hiện của ứng dụng và hủy chúng khi không cần thiết.

    Tính đơn giản

    Được xây dựng trên các khái niệm đơn giản, EC2 cung cấp tính mềm dẻo để kiến thiết các hệ thống của bạn. Amazon cung cấp tất cả các nguyên vật liệu bạn cần; bạn có thể kết hợp những nguyên liệu đó theo cách mà phù hợp với ứng dụng của bạn.

    Bảo mật

    EC2 được thiết kế để cung cấp tính bảo mật cấp độ cao. Các thể hiện của ứng dụng đều hoạt động trong các trung tâm dữ liệu an toàn của Amazon, với khả năng cấu hình tường lửa để giới hạn tất cả các truy cập tới các nhóm mà bạn tin tưởng.

    Bền vững

    Bạn có thể xây dựng tính bền vững trong ứng dụng của bạn bằng cách đặt các thể hiện của ứng dụng của bạn vào trong các các vị trí địa lý khác nhau, và bằng cách sử dụng các vùng lưu trữ bền vững và độc lập với các thể hiện của ứng dụng.

    Giá rẻ

    Dịch vụ EC2 được tính với giá rất kinh tế và là thay thế hấp dẫn cho tất cả các nhu cầu về máy chủ của bạn.

    Gửi thông điệp (Messaging)

    Amazon Simple Queue Service (SQS) là một khung làm việc truyền tin mở rộng và đáng tin cậy nó làm cho việc tạo, lưu trữ, và lấy các thông điệp trở nên đơn giản. Bạn có thể sử dụng nó như là một cơ sở cho sự gắn kết các ứng dụng dựa trên dịch vụ Web của Amazon của bạn. Sử dụng SQS là cách tuyệt vời để xây dựng các ứng dụng mở rộng trên nền web. Bạn trả phí cho các thông điệp dựa trên lượng sử dụng của bạn.

    Toàn bộ khung hàng đợi hoạt động bên trong môi trường bảo mật của các trung tâm dữ liệu của chính Amazon.

    Một số đặc tính cung cấp bởi SQS:

    Tính tin cậy

    SQS được xây dựng để lưu trữ các thông điệp SQS một cách dư thừa trên các trung tâm đa dữ liệu và để làm cho chúng luôn sẵn sàng bất cứ khi nào.

    Tính đơn giản

    Mô hình lập trình cho việc truy cập và sử dụng SQS rất đơn giản và có thể được sử dụng từ rất nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau.

    Bảo mật

    SQS được thiết kế để cung cấp mức độ bảo mật cao. Sự truy cập tới các thông điệp bị giới hạn trong những người dùng có thẩm quyền.

    Tính có thể mở rộng được

    SQS cho bạn khả năng để tạo các ứng dụng dựa trên hàng đợi mà có thể đọc và viết các thông điệp không giới hạn, không có một giới hạn nào.

    Rẻ

    Sử dụng SQS rất kinh tế và là sự thay thế hấp dẫn cho nhu cầu truyền tin của bạn.

    Tập hợp dữ liệu (Datasets)

    Amazon SimpleDB (SDB) cung cấp khả năng mở rộng, lập chỉ mục, khả năng lưu trữ mà không cần bảo trì, cùng với việc thực hiện xử lý và truy vấn với tập hợp dữ liệu.

    Amazon SimpleDB (SDB) là dịch vụ Web cho phép lưu trữ, xử lý và truy vấn tập hợp dữ liệu có cấu trúc. Ở đây không phải là một cơ sở dữ liệu quan hệ theo cách tiếp cận truyền thống mà ở mức độ cao hơn dưới dạng các sơ đồ, với dữ liệu ít cấu trúc lưu trữ trong các đám mây và trong đó bạn có thể sử dụng để lưu trữ và khôi phục các giá trị khóa. Mỗi một tập hợp các giá trị khóa cần phải có một tên một mục duy nhất; các mục là được phân chia vào từng miền khác nhau. Mỗi một mục có thể lưu giữ lên tới 256 cặp giá trị khóa của dữ liệu. Bạn có thể thực thi các truy vấn dựa trên tập dữ liệu của bạn trong từng miền khác nhau. Các truy vấn dựa theo từng miền là không được hỗ trợ bởi SDB.

    SDB là một cách đơn giản để sử dụng và cung cấp hầu hết các chức năng của cơ sở dữ liệu quan hệ. Sự duy trì là đơn giản hơn nhiều so với cơ sở dữ liệu điển hình bởi vì không cần phải cài đặt hoặc định dạng. Amazon quan tâm nhiều tới tất cả các việc liên quan đến quản trị. Dữ liệu là được tự động đánh chỉ mục bởi Amazon và là sẵn có cho bạn tại bất kỳ thời điểm nào từ bất kỳ chỗ nào. Một lợi thế quan trọng của khóa là không được sử dụng cho các sơ đồ đó là khả năng chèn dữ liệu vào khi đang hoạt động và thêm các cột hoặc các khóa động.

    SDB là một phần của cơ sở hạ tầng Amazon, và khả năng mở rộng được thực hiện một cách tự động đối với bạn tùy từng tình huống. Bạn có thể tự do tập trung sự chú ý của bạn vào một số thứ quan trọng. bạn chỉ phải trả chi phí chỉ cho tập dữ liệu tài nguyên mà bạn sử dụng.

    Một số tính năng đáng giá cung cấp bởi SDB:

    Tính tin cậy

    SDB được thiết kế để lưu trữ dữ liệu được đánh chỉ số của bạn một cách dư thừa xuyên qua các trung tâm dữ liệu để làm cho chúng sẵn sàng tại mọi thời điểm.

    Tốc độ

    SDB được thiết kế để cung cấp truy xuất dữ liệu nhanh, đặc biệt nếu các yêu cầu của bạn được tạo ra từ một thể hiện EC2 trong môi trường Amazon Web Services.

    Tính đơn giản

    Mô hình lập trình cho việc truy cập và sử dụng SDB rất đơn giản và có thể được sử dụng từ rất nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau.

    Bảo mật

    SDB được thiết kế để cung cấp độ bảo mật cao. Chỉ có những người dùng được chứng thực mới có thể truy cập tới dữ liệu.

    Tính mềm dẻo

    SBD cung cấp khả năng để lưu trữ dữ liệu ngay trong quá trình xử lý mà không cần bất cứ lược đồ được định nghĩa trước nào.

    Giá rẻ

    Phí sử dụng SDB rất kinh tế. Bạn chỉ phải trả cho những gì bạn thực sự dùng.

    b.  Dịch vụ điện toán đám mây cho giáo dục: Google Apps For Education

    Dịch vụ Google Apps của Google ứng dụng các phần mềm trên nền điện toán đám mây.

    Việc tận dụng Google Apps vào  các trường đại học cao đẳng sẽ tiết kiệm đáng kể ngân sách cho hệ thống CNTT của mình. Ngoài các dịch vụ quen thuộc như dịch vụ tìm kiếm, gmail, quảng cáo từ khóa, Google còn có hàng trăm danh mục sản phẩm của hãng miễn phí bản quyền sử dụng cho tất cả các cơ sở giáo dục trên toàn cầu, trong khi tính phí $50 USD/tài khoản/năm đối với doanh nghiệp khi sử dụng phiên bản có tính năng tương tự.

    Công cụ Google Apps chính là một trong những dự án được phát triển thành công từ đại học . Mặt khác, thị trường giáo dục là một thị trường rộng lớn để truyền bá sản phẩm, công nghệ nên đây cũng là cách để Google thực hiện các hoạt động tiếp thị những sản phẩm của họ…

    Có hàng trăm ứng dụng dành cho ngành giáo dục và  việc tranh thủ các ứng dụng này để nâng cao khả năng nghiên cứu, học tập là thật sự cần thiết.  Để phục vụ giáo dục, ngoài những ứng dụng miễn phí thông thường như email, calendar (lịch hẹn), talk (tán gẫu), Google còn cung cấp một loạt các hỗ trợ miễn phí khác như Docs (duyệt văn bản), Site (website nội bộ), Video, Group (trao đổi nhóm)… nhằm giúp cho môi trường học tập thêm đa dạng và phong phú. Các ứng dụng này được xây dựng dựa trên nền tảng điện toán đám mây, phần mềm như là dịch vụ (software as a service – SaaS) nên mang lại nhiều tiện ích cho nhà trường như không cần phải đầu tư hệ thống máy chủ, không cần mua bản quyền hay thực hiện bảo trì, bảo dưỡng cũng như giảm thiểu rủi ro và công sức cho việc vận hành hệ thống CNTT trong nhà trường.

    Ở các nước, đặc biệt là Mỹ, các trường học đã tranh thủ nhanh việc ứng dụng này để giúp giảm thiểu những chi phí liên quan đến việc đầu tư hệ thống, bản quyền phần mềm và nhân sự. Điều này càng phù hợp hơn đối với các trường cao đẳng, đại học, nơi phải phục vụ cho một khối lượng người dùng lên đến hàng chục nghìn.

    Thay vì dành một ngân sách khá lớn để đầu tư cho hệ thống máy tính hoặc sử dụng những phần mềm không có bản quyền khoa CNTT trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An đã  ứng dụng điện toán đám mây Google For Education vào việc quản lý hệ thống CNTT nhằm đẩy mạnh chất lượng dạy học, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu.

    Việc áp dụng điện toán đám mây Google For Education bước đầu đã đem lại các lợi ích sau đây cho nhà trường:

    Giúp nhà trường tiếp thị, xây dựng hình ảnh một cách dễ dàng

    Giảm chi phí xây dựng, bảo trì hệ thống email như chi phí đầu tư server, chi phí bảo trì, Không cần phải có cơ sở hạ tầng nội bộ, bộ máy nhân sự cồng kềnh và cơ chế thuê bao, có thể dễ dàng thay đổi quy mô khi cần thiết.

    Giúp nhà trường tham gia cộng đồng điện toán đám mây của Google .

    Đạt 4 không (không máy chủ, không bảo trì, không rủi ro, không bản quyền) Giảm chi phí cho việc liên hệ và quản lý cán bộ công nhân viên và sinh viên Nâng mặt bằng CNTT của nhà trường .

    Hỗ trợ giảng viên không gian lưu trữ tài liệu trên mạng .

    Hỗ trợ hệ thống email ổn định cho từng giảng viên.

    Tăng cường trao đổi thông tin giữa các phòng ban trường thông qua hệ thống Intranet.

    c. Hệ điều hành

    • Chrome os

    Nó là một hệ điều hành do Google phát triển. Và điều đặc biệt ở Chrome OS chính là cách thức hoạt động của nó: hoàn toàn dựa vào trình duyệt web, hay nói cách khác, nó là một hệ điều hành dựa trên công nghệ “điện toán đám mây”.

    Một đặc điểm khác của Chrome OS là người dùng có thể sử dụng nó bất kỳ lúc nào, trên bất kỳ nền tảng nào (Windows, Mac hay Linux), miễn là cài sẵn trình duyệt Chrome (cũng của Google) trong máy. Hoặc, nếu thích, họ cũng có thể cài đặt thẳng vào netbook để sử dụng như một hệ điều hành bình thường.

    Chrome sẽ cho phép người dùng truy cập đến các “thư mục” từ bên trong trình duyệt, lưu trữ tất cả tài liệu và các ứng dụng cần thiết để họ tiếp tục công việc của mình khi không kết nối internet

    Tuy vậy, một vài tính năng của Chrome OS vẫn chưa hoàn thiện và đang được tiếp tục phát triển. Đầu tiên (và rất quan trọng) là hỗ trợ USB – Google nói rằng đây là một trong những vấn đề họ đang giải quyết (và vẫn chưa xong). Tính năng nữa là Google Print, cho phép người dùng sử dụng bất kỳ máy in nào được kết nối vào internet mà không cần phải sử dụng driver, một tính năng rất hứa hẹn.

    Các chương trình dành cho Chrome OS:

    Các ứng dụng nền web có thể hoạt động ở chế độ toàn màn hình, (hi vọng) đem đến một trải nghiệm mới mẻ hơn cho người dùng, phần nào giảm đi cảm giác đang sử dụng một ứng dụng web thông thường. Tốc độ của các ứng dụng này hứa hẹn sẽ ở mức chấp nhận được so với các ứng dụng truyền thống.

    WebGL hỗ trợ Chrome OS chạy các ứng dụng 3D phức tạp mà không cần phải cài đặt thêm plugin với một tốc độ (có thể là) khá ổn. Là một hệ điều hành nền web, tất nhiên các ứng dụng của Chrome OS sẽ hoạt động dựa trên nền tảng này, nhưng cũng có một số ứng dụng cho phép người dùng cài đặt vào máy (mà thực ra là lưu lại trong cache) để sử dụng khi không có mạng internet. Các ứng dụng sẽ tự động được chạy ở dạng toàn màn hình và xuất hiện dưới dạng một tab của trình duyệt.

    • Glide os:

    Glide OS là một dịch vụ hệ điều hành trên web hoàn toàn miễn phí được xây dựng trên nền điện toán đám mây, cung cấp cho người dùng những ứng dụng cơ bản và cần thiết nhất. Glide cung cấp khả năng tương thích đa nền tảng cho Windows, Mac OS X, Linux, Solaris, Android, BlackBerry, iPad, iPod, iPhone, Palm Pre, Symbian và Windows Mobile dựa trên khả năng nhận biết thiết bị tự động và chuyển mã file.

    Với gói miễn phí Glide OS cung cấp cho bạn chỗ lưu trữ trực tuyến với dung lượng 30GB, trong khi với gói tính phí (50 đô la Mỹ 1 năm) bạn sẽ được cung cấp 250GB dung lượng lưu trữ.

    Tính năng bao gồm:

    * Đồng bộ hóa các file từ máy tính của bạn với Glide OS

    * Quản lý tập tin và thư mục

    * Sử dụng các ứng dụng của Glide: soạn thảo văn bản, chỉnh sửa ảnh, email …

    * Tùy biến Desktop

    Chương III. Tiềm năng phát triển của điện toán đám mây tại Việt Nam

    1. Hiện trạng phát triển công nghệ “điện toán đám mây” tại Việt Nam

    Dù được thế giới dự đoán sẽ là “cơn sóng thần công nghệ ” song khái niệm “điện toán đám mây vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam.”

    IBM là doanh nghiệp tiên phong khai trương trung tâm điện toán đám mây tại Việt Nam vào tháng 9/2008 với khách hàng đầu tiên là là Công ty cổ phần công nghệ và truyền thông Việt Nam (VNTT). Sau đó, Microsoft là một trong những “đại gia” tiếp bước điện toán đám mây ở thị trường Việt Nam, nhưng hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển thử nghiệm.

    Theo Ông Võ Tấn Long, Tổng Giám đốc công ty IBM Việt Nam: “Điện toán đám mây không còn là xu hướng mà là thực tế đang diễn ra. Có thể nói Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở ASEAN đưa vào sử dụng điện toán đám mây. Từ năm 2008 đến nay, ngày càng có nhiều khách hàng tìm đến các dịch vụ điện toán đám mây của IBM”.

    Tiếp đến, điện toán đám mây ở Việt Nam bắt đầu có những tín hiệu khả quan khi khi FPT – nhà công nghệ hàng đầu của Việt Nam đã khẳng định vị thế tiên phong của mình trong công nghệ bằng lễ ký kết với Microsoft châu Á-Trend Micro để hợp tác phát triển “đám mây” ở châu Á. Nhận định về hợp tác này, đại diện Trend Micro cho rằng, điện toán đám mây sẽ đem lại cơ hội cho Việt Nam bởi công nghệ hoàn toàn mới sẽ giúp giới trẻ Việt Nam vốn rất năng động sẽ có thêm điều kiện sáng tạo và phát huy tài năng của mình. Đồng thời, với tiềm năng về nhân lực, cơ sở hạ tầng và nhất là “tính sẵn sàng” của FPT hai bên sẽ không chỉ dừng lại ở cung cấp dịch vụ về điện toán đám mây ở Việt Nam mà sẽ vươn ra toàn cầu.

    Sau cuộc ký kết đó một tuần, FPT tiếp tục hợp tác cùng “đại gia” Microsoft vào tháng 05/2010. Tâm điểm của hợp tác này là một thỏa thuận nhằm phát triển nền tảng điện toán đám mây dựa trên công nghệ của Microsoft. Hai bên đều cùng hướng đến việc phát triển nền tảng cho các dịch vụ đám mây bao gồm truyền thông, hợp tác, lưu trữ dữ liệu và các dịch vụ hạ tầng, nhằm phục vụ nhu cầu của đông đảo khách hàng.

    Gần đây nhất, “Journey to the cloud” (Hành trình tới công nghệ điện toán đám mây) với châm ngôn “New ways to do new things” là chủ đề hội thảo do Microsoft tổ chức hôm 02/03/2011 vừa qua tại Hà Nội, đã thu hút sự tham dự của hơn 300 chuyên gia IT và các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp. Điều này chứng tỏ những vấn đề về điện toán đám mây hiện đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều doanh nghiệp trong nước, những người đang kiếm tìm giải pháp nâng cao năng suất cho doanh nghiệp.

    Tuy vậy, tiếp theo sau hội thảo ngày 02/03, “Vietnam Cloud computing Day 2011” (Ngày Điện toán đám mây Việt Nam 2011) diễn ra ngày 9/3 tại Hà Nội cũng đưa ra nhận định: mặc dù điện toán đám mây hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển trên thế giới bởi lợi ích đáng kể mà nó đem lại, nhưng ở Việt Nam các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự mặn mà với công nghệ này. Tuy nhiên theo các chuyên gia nhận định, đây chính là giải pháp tối ưu để các doanh nghiệp nước ta giảm thiểu chi phí cũng như tăng hiệu suất làm việc ở mức tối đa.

    Về thực trạng ứng dụng điện toán đám mây ở các doanh nghiệp Việt Nam, có thể rút ra kết luận như sau: Hiện nay đã có một vài doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đưa điện toán đám mây vào ứng dụng và hiệu suất kinh doanh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên số lượng là khá ít. Phần lớn vẫn chỉ dừng ở mức quan tâm và tìm hiểu.

    1. Phát triển điện toán đám mây tại Việt Nam – còn nhiều thách thức

    Không nằm ngoài xu thế chung của ngành công nghệ thông tin thế giới, Việt Nam đang dần tiếp cận dịch vụ đám mây thông qua các dự án của một số doanh nghiệp nước ngoài như Microsoft, Intel … Công nghệ này được coi là giải pháp cho những vấn đề mà nhiều công ty đang gặp phải như thiếu năng lực công nghệ thông tin, chi phí đầu tư hạn chế… Hầu hết các nhà lãnh đạo công nghệ thông tin đều khá kỳ vọng khi nhận định về công nghệ này.

    Điện toán đám mây liệu có phát triển tại Việt Nam?

    Ông Dương Dũng Triều, Giám Đốc điều hành FIS chia sẻ: “Chúng tôi nhận ra nhiều lợi ích khi đồng hợp tác xây dựng trung tâm dữ liệu sử dụng công nghệ điện toán đám mây của Microsoft. Hai bên chia sẻ tầm nhìn về tương lai của ngành tin học -nơi mà các dịch vụ điện toán đám mây sẽ trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam vào năm 2015- và chúng tôi có mục tiêu trở thành những người dẫn đầu trong lĩnh vực mới mẻ này.”

    Theo ông Nguyễn Huy Cương, CEO của Tinh Vân Consulting, hiện nay nhiều công ty đang hoang phí tài nguyên như không khai thác hết công suất của hệ thống máy chủ, đầu tư quá nhiều về mặt con người. Trong khi đó, về lý thuyết, cloud computing sẽ cho phép doanh nghiệp không cần tập trung quá nhiều cho cơ sở hạ tầng hoặc nâng cấp ứng dụng, không đòi hỏi nguồn nhân lực lớn và có thể dễ dàng thay đổi quy mô khi cần.

    Ông Hoàng Lê Minh, Viện trưởng Viện công nghiệp phần mềm và nội dung số Việt Nam (NISCI), khẳng định điện toán đám mây là mục tiêu mà thế giới cũng như ngành công nghệ thông tin trong nước hướng tới và đây chính là nhân tố thúc đẩy các quá trình chuyển đổi kinh doanh.

    Tuy nhiên, theo các chuyên gia của Intel nhận định thì điện toán đám mây chắc chắn không phải dành cho tất cả mọi người và cho mọi nhu cầu. Mặc dù lợi ích của điện toán đám mây là không thể phủ nhận, nhưng các doanh nghiệp cần cân nhắc đến các yếu tố khác nhau khi tính đến chuyện ứng dụng điện toán đám mây, cụ thể như: rào cản kỹ thuật, an toàn thông tin, nguồn vốn để hiện đại quy trình kinh doanh bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin, giảm chi tiêu cho phần cứng, phần mềm, an toàn bằng thuê ngoài phần mềm cơ sở hạ tầng, tính linh hoạt và khả năng mở rộng của nguồn lực công nghệ thông tin trước khi quyết định ứng dụng điện toán đám mây vào sản xuất kinh doanh. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.

    Bên lề hội nghị “Ngày Điện toán đám mây Việt Nam 2011”, ông Phan Thanh Sơn, Giám đốc công nghệ của công ty Cisco, chia sẻ còn nhiều khó khăn trong việc triển khai điện toán đám mây tại Việt Nam. Theo ông, vấn đề chính sách, đường truyền băng thông và nhận thức của doanh nghiệp là những thách thức lớn nhất với công nghệ mới này.

    Đồng thời, một số doanh nghiệp cho biết họ đã và đang sử dụng các dịch vụ đám mây miễn phí như Google Apps, nhưng vẫn cần thời gian để tìm hiểu nhiều hơn những lợi ích cũng như rủi ro về tính an toàn dữ liệu. Ông Nguyễn Thiện Tâm, Giám đốc khách hàng của Công ty Sutrix Media Việt Nam, cho biết nếu sử dụng các dịch vụ điện toán đám mây thì đòi hỏi mỗi nhân viên phải có kỹ năng nhất định về công nghệ thông tin. Hiện công ty có sử dụng Google Docs, nhưng chỉ dừng ở mức độ trao đổi, chia sẻ tài liệu.

    Không chỉ có vậy, Ông Lê Đức Quyết, Phó giám đốc Công ty cổ phần Thế giới vận tải, cho biết ông vẫn còn e ngại khi đưa những thông tin liên quan đến tài chính của công ty lên dịch vụ điện toán đám mây vì không biết được dữ liệu của mình ở đâu đó trên mạng. Ông Quyết cũng nói mô hình ứng dụng điện toán đám mây phụ thuộc nhiều vào Internet mà chưa chắc lúc nào cũng có thể truy cập vào Internet.

    Tóm lại “Bản chất của điện toán đám mây là sự hội tụ các thành tựu về nghiên cứu phát triển các công nghệ mới; các quan điểm về ứng dụng CNTT hiện nay ở trên thế giới cũng như Việt Nam. Điện toán đám mây cũng là một trong những khái niệm mơ hồ nhất từ trước đến nay chúng ta gặp phải. Nó cũng giống như cái gì ở trên cao, ở trong mây, chúng ta không thể nhận biết được. Nhưng đó cũng chính là mục tiêu mà hiện nay ngành CNTT truyền thông đang hướng tới”.

    1. Điện toán mây và ứng dụng thiết thực tới xã hội

    Bài toán Quản Lý Giao Thông

    Trong hệ thống giao thông của Việt Nam, tại các thành phố lớn như Hà nội, HCM hàng ngày chúng ta nhìn thấy các anh cảnh sát giao thông đứng giữa đường hay núp dưới bóng cây, để phạt người qua đường khi vi phạm luật giao thông. Các anh sẽ ghi 1 cái giấy phạt….. như thế nào thì các bạn cũng biết rồi, tệ nạn nhận tiền, trốn phạt, rồi cãi nhau….

    Nhưng hãy tưởng tượng, chúng ta có 1 hệ thống giao thông “Thông minh, tự động” cho phép quan sát và tự động gồm 4 chức năng căn bản như sau như sau :

    – Theo dõi giao thông tự động ( Phát hiện người vượt đèn đỏ, vi phạm đường cấm. …)

    – Hệ thống lưu trữ toàn bộ thông tin các phương tiện đi lại và đăng ký xe

    – Hệ thống thu phí tự động ( Tính phí tự động , liên kết với các ngân hàng, gửi hóa đơn tự động tới người dùng

    – Hệ thống tính phí phạt tự động , tính điểm số phạt cho những người tham gia giao thông. ( Tiền phạt , hoặc thu bằng…. . )

    Quy trình phạt phí giao thông, sau khi có sự trợ giúp của hệ thống như thế này , một số điểm nhấn thú vị sau:

    • Tiền phạt được nộp tự động qua tin nhắn , hoặc gửi qua đường bưu điện đến tận nhà.
    • Vượt đèn đỏ lúc không người tưởng không ai biết
    • Cảnh báo có thể bị tước mất bằng lái, nếu không chấp hành hình phạt . Tranh cãi thì có toàn bộ ảnh chụp đính kèm với chứng cớ vi phạm .

    Thực tế , hệ thống trên đã được triển khai tại châu Âu và Mỹ, kinh nghiệm tại Ý cũng thấy hệ thống này được triển khai .Những lợi ích nó đem lại thì rất nhiều, nhưng nghĩ đến triển khai nó, chúng ta cần những gì, về mặt đầu tư kinh tế và công nghệ.

    Điện toán mây chính là giải pháp cho chúng ta. Tại sao lại nói thế, câu trả lời là, chỉ có điện toán mây mới giải quyết được bài toán phức tạp với chi phí thấp và hiệu quả cao. Về mặt công nghệ, điện toán mây sẽ giúp bạn xử lý một lượng dữ liệu cực kỳ lớn trên 1 thời gian ngắn. Để minh họa điểm này , chúng ta sẽ phân tích 1 phần cơ bản của việc xử lý dữ liệu siêu lớn trong việc đăng ký lưu trữ thông tin phương tiện đi lại tại thành phố Hà nội

    1. Giả sử tổng các phương tiện đi lại tại Hà nội là 10 triệu phương tiện
    2. Tổng số dân đăng ký thông tin cá nhân là 10 triệu người
    3. Sẽ có hàng triệu phương tiện được đi lại trong 1 ngày, tính trung bình là 4 triệu phương tiện hoạt đông.
    4. Với 4 triệu phương tiện hoạt đông, 1 hệ thống Camera ( hàng trăm Camera) được lắp đặt trên 100 tuyến phố chính để theo dõi toàn bộ hoạt động và đưa ra cảnh báo vi phạm trên từng đối tượng.
    5. Mỗi ngày hệ thống sẽ phải xử lý khoảng trên 100 triệu tín hiệu hình ảnh video thu được từ các Camera, phân tích xử lý .

    Để một hệ thống có thể xử lý được toàn bộ giao dịch trên, thì hệ thống sẽ phải được hoạt động trên một nền điện toán mây, việc xử lý sẽ được chia nhỏ và xử lý trên khoảng 100 máy tính hoạt động cùng lúc, rồi hợp kết quả với nhau. Thay cho một máy tính xử lý mất khoảng 1 tháng, thì 100 máy tính sẽ xử lý trong vòng 7.2 giờ,

    Nếu dữ liệu được xử lý trên 1000 máy tính đồng thời , thì chỉ mất có 0.72 giờ , tức là chưa đầy 40 phút, chúng ta có thể xử lý toàn bộ dữ liệu của hàng trăm Camera cho 10 triệu phương tiện đi lại .

    Như thế bài toán của chúng ta đã được giải quyết một cách nhanh chóng mà chi phí được giảm tới mức tối đa có thể.

     


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn Rô bốt công nghiệp Tình toán và thiết kế Rô bốt scara

    Bài tập lớn Rô bốt công nghiệp Tình toán và thiết kế Rô bốt scara

    Bài tập lớn Rô bốt công nghiệp Tình toán và thiết kế Rô bốt scara

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-R%C3%B4-b%E1%BB%91t-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-T%C3%ACnh-to%C3%A1n-v%C3%A0-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-R%C3%B4-b%E1%BB%91t-scara.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Rô bốt công nghiệp Tình toán và thiết kế Rô bốt scara

    Bài tập lớn Rô bốt công nghiệp: Tình toán và thiết kế Rô bốt scara

    Độ phân giải các khớp

    Pg1=0,0060

    Pg2=0,0060

    pg3=0,1mm

    Pg4=0,150

    Kích thước phôi

    Xp=24mm

    Yp=24mm

    Zp=34mm

    Khối lượng m=90g

    3

    Khoảng cách từ tay kẹp đến băng tải 1,2

    Zp1=270mm

    Zp2=260mm

    Tọa độ điểm đặt phôi trên băng tải 1

    Xp1=720mm,Yp1=520mm

    Tọa độ điểm đặt phôi trên băng tải 2

    Xp2=620mm,Yp2=570mm

    Góc đặt phôi :

    ∝=700

    Dộng cơ sử dụng động cơ bước

    Thời gian vận chuyển phôi từ A-B

    T=3,4s

    I .tĩnh học và động học tay máy

     

    yp1

    1

    xp1

    Robot

    xp2

    2                                yp2

    α

    4

    500             450

    q1   q2

    d3

    1700

    q4       300

    500                          200

    1) Kích thước các khâu tay máy

    1. Khâu số 4

    Tay kẹp dung để gắp phôi

    Phôi có kích thước 24x24x34

    5

    • Độ rộng tối đa của tay kẹp ta chọn 30mm độ rộng tối thiểu của tay kẹp bằng kích thước của phôi 24mm

     

    Chiều dài ngón tay kẹp >= độ cao của phôi =>chọn độ dài là 35mm

     

    1. Khâu số 3 (khâu tịnh tiến)

    Điểm đặt phôi có độ cao từ 270-260mm và chiều dài tay kẹp 35mm

    • Ta chọn chiều dài l3 tối đa của khâu thứ 3 laf 300mm q3 nằm trong khoảng từ 200- 300mm

     

    1. khâu số 2 và khâu số 1
    tọa độ điểm đặt phôi trên băng tải 1 {  1 = 720
        = 520
         1
    • L1+ l2 >=√7202 + 5202 =888mm
    Tọa độ điểm đặt phôi thứ  2 {  2 = 620
        = 570
         2
    • l1 + l2 =√7202 + 5702 =842mm

    1 + 2 = 950

    • chọn { 1 = 500   2 = 450

    d). Trục cố định tay máy (khâu số 0)

    chiều dài l0 của khâu số 0

    khoảng cách từ tay kẹp đến phôi.độ dài tối đa của q3.chiều dài tay kẹp > l0> khoảng cách từ tay kẹp => độ dài tối thiểu của q3 chiều dài tay kẹp

    595>= l0 >=495

    Chon l0 =550mm

    2>Động học thuận tay máy

    Bảng động học D-H

    6

    khâu di i    
    1 0 q1* l1 0
             
    2 0 q2* l2 180
             
    3 q3* 0 0 0
             
    4 0 q4* 0 0
             
        −    1 0  2. cos  1  
          1            
    0 =  1   0  1  
    1 0   1   −1  1  
      [   0   0 ]  
      0   0   0 1
            0  2  
         2  2      2    
    1 =  2 −    2 0  1  
    2            2    
                     
      [ 0   0   −1 0 ]  
      0   0   0 1
        1 0 0 0    
    2 = [0 1 0 0 ]  
    3   0 0 1  3    
        0 0 0 1    
        0 cos 4 − sin 4 0    
    3 = [ 0 sin 4 cos 4 0 ]  
    4 0 0 0 1
           
        0 0 0 1    
                                                     

    Đặt Cosq1*=c1

    sinq1*=s1

    Cosq2*=c2

    sinq2*=s2

    S12=sin(q1*+q2*)

    c12=cos(q1*+q2*)

    40=       10213243

    =>     40 =

    7

    Hệ phương trình xác định vị trí của khâu tác động cuối:

    = 2 12 + 1 1

    {      = 2 12 + 1 1

    = − 3

    3>.Động học ngược tay máy:

    Xp2= l22c122 + l12c12 + 2l1l2c1c12

    8

    Yp2= l22s122 + l12s12 + 2l1l2s1s12

    Xp2+Yp2= l12l22 + 2l1l2(c1c12 + s1s12) = l12 +l22+2l1l2c2

    =>cos  2= 2+ 2−  12− 22  
            2 1 2
                 
    Thế c1 s1vào phương trình;
    =>c1 = (a1+a2c2)xp+a2s2pyp
            2+  2
           
                   
    S1 = (a1+a2c2)yp−a2s2pxp
            2 + 2    
             
                   

    d3=-zp

    Theo ma trận H40 ta có:

    Nx =cos (q1 + q2 –q4)

    nz,ny,nz là các véc tơ định vị.

    sin(q1 + q2 –q4) = √1 −                                          2

    ð q4=q1+q2-artan(√1− 2)

    • hệ phương trình động học ngược của rô bốt :
    cos  1 =   12 2)  +  2 2
          2+ 2  
         
             
    sin  1 = 12 2)  −  2 2
          2+  2
       
               
                     

    1=atan( 1)

    1

    cos  2 =             2+ 2−  1−  22

    2  1

    sin    2 =√1 −      2

    2=atan(     2      2)

    9

    d3= –

    4> Quy luật chuyển động của các khớp :

    Giới hạn góc quay của các khâu :

    q1=    -960   ->    +960

    q2= -1150  -> +1150

    như vậy không gian làm việc mà tay máy có thể với tới là toàn bộ hình trụ có đường giới hạn đáy như hình vẽ bên dưới

    10

    11

    q1(t) = a3t3+a2t2+a1t+t0

    ̇ 2 +2a2t+a1 (*)
    1( ) = 3a3t

    1̈(t) =6a3t+2a24.1 >quy luật chuyển động của khâu tác đông cuối có phương trình động học của rô bốt

    ( 1+ 2               2)  +  2                  2

    Cosq1=                                     2+  2

    ( 1+ 2                2)  −  2                    2

    Sinq1=                                    2+  2

    Cosq2=  2+ 2− 12− 22

    2 1 2

    Sinq2= √1 −                       22

    d3= -zp

    q4=q1+q2-atan(√1−  2)

    tại vị trí điểm gắp phôi A :

    XpA=720mm

    YpA=520mm

    L3=zpA=-270mm

    Q4=0

    L1=500mm

    L2=450mm

    • cosq2A=7202+5202−5002−4502 =0,7473 500.450

    12

    • q2A=420

    (500+450.0,7473).720+450.sin42.520

    cosq1A=                                    7202+5202

    q1A=160

    tại vị trí đặt phôi B :

    q4=700

    XpB=620mm

    YpB=570mm

    L3=ZpB=-260mm

    Cosq2B= 7202+5702 −5002−4502
    7202 +5202  
       
    q2B=520      
    Cosq1B= (500+450.0,57).620+450.sin52.570
      6202+5702  
         
    Q1B=190      

    Quy luật chuyển động của khớp 1 và khớp 2 có dạng :

    Thay các thông số vừa tìm được qua bài toan động học ngược vào hệ phương trinh (*) ta được :

    Quy luật chuyển động của khớp 1 :

    1( ) = −0.153 3 + 0.78 2 + 16

    { 1̇( ) = −0.459 2 + 1.56  1̈( ) = −0.918  + 1.56

    13

    Quy luật chuyển động của khớp 2 :

    2( ) = −0.509 3 + 2.6 + 42

    2̇( ) = −1.527 2 + 5.2

    {2̈( ) = −3.054  + 5.2

    Quy luật chuyển động của khâu số 3 và khâu số 4 tương tự điểm cuối của khâu số 2 chỉ khác nhau tọa độ Z

    Sử dụng matlab mô phỏng chuyển động của roobot ta được :

    Đồ thị vận tốc :

    14

    Đồ thị gia tốc :

    15

    Đồ thị vị trí :

    16

    Không gian làm việc của robot :

    Code matlab cho chương trình mô phỏng :

    qd1A = 0; qd1B = 0;% gia toc khop 1

    qd2A = 0; qd2B = 0;% gia toc khop 2

    q3A = 270; q3B = 260; qd3A = 0; qd3B = 0;%vi tri, gia toc khop 3 q4A = 0; q4B = 70; qd4A = 0; qd4B = 0;%vi tri, gia toc khop 4 l1=500;l2=450;%chieu dai khau 1, 2

    px1 = 720; py1 = -520; pz1 = -270;%toa do phoi vi tri ban dau

    17

    px2 = -620; py2 = 570; pz2 = -260;%toa do phoi vi tri cuoi

    s = 3.4; %thoi gian

    e=300; %tao khoang chia

    %//////////////////////////////////////////////////

    • tinh goc quay q1,q2 tai vi tri dau,cuoi c2A = (px1^2+py1^2-l1^2-l2^2)/(2*l1*l2); s2A = sqrt(1-c2A^2);

    q2A = atan(s2A/c2A);

    q1A = (atan(py1/px1)-atan((l2*s2A)/(l1+l2*c2A))); c2B = (px2^2+py2^2-l1^2-l2^2)/(2*l1*l2);

    s2B = sqrt(1-c2B^2); q2B = atan(s2B/c2B);

    q1B = ((pi+atan(py2/px2))-atan((l2*s2B)/(l1+l2*c2B))); format short

    %xac dinh quy luat chuyen dong cac khop a = [0 0 0 1

    s^3 s^2 s 1 0 0 1 0

    3*s^2 2*s 1 0];

    b1 = [q1A;q1B;qd1A;qd1B];

    b2 = [q2A;q2B;qd2A;qd2B];

    b3 = [q3A;q3B;qd3A;qd3B];

    b4 = [q4A;q4B;qd4A;qd4B];

    x1 = a^(-1)*b1;

    x2 = a^(-1)*b2;

    x3 = a^(-1)*b3;

    x4 = a^(-1)*b4;

    t = linspace(0,s,e); y1 = x1′;

    18

    q1 = polyval(y1,t);

    yd1 = polyder(y1);

    qd1 = polyval(yd1,t);

    ydd1 = polyder(yd1);

    qdd1 = polyval(ydd1,t);

    y2 = x2′;

    q2 = polyval(y2,t);

    yd2 = polyder(y2);

    qd2 = polyval(yd2,t);

    ydd2 = polyder(yd2);

    qdd2 = polyval(ydd2,t);

    y3 = x3′;

    q3 = polyval(y3,t);

    yd3 = polyder(y3);

    qd3 = polyval(yd3,t);

    ydd3 = polyder(yd3);

    qdd3 = polyval(ydd3,t);

    y4 = x4′;

    q4 = polyval(y4,t);

    yd4 = polyder(y4);

    qd4 = polyval(yd4,t);

    ydd4 = polyder(yd4);

    qdd4 = polyval(ydd4,t);

    format rat

    %doi voi khop tinh tien q3

    plot(t,q3,’g’)

    figure

    plot(t,qd3,’g’)

    figure

    19

    plot(t,qdd3,’g’)

    figure

    %doi voi cac lhop quay q1, q2, q4

    plot(t,q1,’r’,t,q2,’y’,t,q4,’k’)

    title(‘do thi vi tri’)

    xlabel(‘ truc x(s)’)

    ylabel(‘truc y(rad)’)

    grid on

    figure

    plot(t,qd1,’r’,t,qd2,’y’,t,qd4,’k’)

    title(‘do thi van toc’)

    xlabel(‘ truc x(s)’)

    ylabel(‘truc y(rad/s)’)

    grid on

    figure

    plot(t,qdd1,’r’,t,qdd2,’y’,t,qdd4,’k’)

    title(‘do thi gia toc’)

    xlabel(‘ truc x(s)’)

    ylabel(‘truc y(rad/s^2)’)

    grid on

    %xac dinh vi tri diem tac dong cuoi

    q=q1+q2;

    figure

    x0=0;y0=0;z0=0;plot3(x0,y0,z0,’o’)

    grid on

    x00 = zeros(1,300); y00 = zeros(1,300); z00 = zeros(1,300);

    x11 = l1.*cos(q1);y11 = l1.*sin(q1);z11= zeros(1,300);

    x22 = (l1.*cos(q1)+l2.*cos(q));y22 = (l1.*sin(q1)+l2.*sin(q));z22=zeros(1,300);

    x33 = (l1.*cos(q1)+l2.*cos(q));y33 = (l1.*sin(q1)+l2.*sin(q));z33=-q3;

    20

    hold on

    for i=1:5:300

    P11=[x00(i) x11(i)];

    P21=[y00(i) y11(i)];

    P31=[z00(i) z11(i)];

    plot3(P11,P21,P31,’-o’)

    title(‘khong gian lam viec’)

    hold on

    P12=[x11(i) x22(i)];

    P22=[y11(i) y22(i)];

    P32=[z11(i) z22(i)];

    plot3(P12,P22,P32,’-*’)

    title(‘khong gian lam viec’)

    hold on

    P13=[x22(i) x33(i)];

    P23=[y22(i) y33(i)];

    P33=[z22(i) z33(i)];

    plot3(P13,P23,P33,’-+’)

    title(‘khong gian lam viec’)

    xlabel(‘truc x’)

    ylabel(‘truc y’)

    zlabel(‘truc z’)

    end

    II, ĐỘNG LỰC HỌC TAY MÁY

    21

    Các thông số của rôbot :

      Khớp 1 Khớp 2 Khớp 3 Khớp 4
             
    Biến q1 q2 q3 q4
             
    Chiều dài 500 mm 450 mm 300 mm 0
             
    Khối lượng M1 M2 M3 M4
             
    Vận tốc V1 V2 V3 V4
             
    Chiều dài khối 250 mm 225 mm 150 mm Lg4
    tâm        
             

    Khối lượng nằm ở giữa các thanh

    Hệ quy chiếu gán với trục tọa độ 0o Xo Yo Zo trên khớp thứ nhất. khi đó mặt phẳng 0o Xo Yo Zo là mặp phẳng đẳng thế

    Bằng việc sử dụng solidwork thiết kế các khâu của roobot với vật liệu là thép chế tạo máy ta có được khối lượng các khâu của roobot như sau :

    M1= 314 gam

    M2= 111 gam

    M3= 146 gam

    M4= 12 gam

    Quy ước trọng lượng nằm ở giữa các thanh nên ta có chiều dài khối tâm của cá khâu là :

    • khâu 1 : lg1= 250 mm
    • khâu 2 : lg2=225 mm +khâu 3 : lg3= 150 mm +khâu 4 = lg4

    22

    1, lực tác động lên các khâu

    a, khâu số 1:

    • Là khâu nối trục máy và khâu số 2 và chuyển động của khâu số 1 là chuển động quay
    • Các lực tác động lên khâu số 1 bao gồm : trọng lực của khâu , lực tác động với khâu trục ( khâu số 0 ) và với khâu 2,3,4

    b, khâu số 2 :

    • Nối với khâu 1 và khâu 3 ; chuyển động là chuyển động quay
    • Lực tác động lên khâu 2 bao gồm trọng lực của khâu , lực tương tác với khâu 1 và khâu 3, 4

    c, khâu số 3 :

    • Là chuyển động tịnh tiến
    • Lực tác động lên khâu 3 bao gồm trọng lực khâu , lực tương tác với khâu 4 và khâu 2

    d, khâu 4 :

    • Chuyện động quay , làm nhiệm vụ gắp phôi
    • Lực tác dụng bao gồm trọng lượng khâu , lực tương tác với khâu 3 và trọng lượng của phôi

    2, Động năng của các khâu tay máy và thế năng

    a, khâu số 1 :

    ̇= −             sin     ̇

    1                     1              1  1

    • { 1̇= 11 1̇ 1̇= 0

    23

    • 12 = 12̇12̇12̇
    2 ̇2 ̇2 2 (cos 1̇) 2 ̇2 2 ̇2
    =   1 (sin 1) ( 1) +   1   ( 1) =   1 ( 1)
    • Thế năng của khâu : 1 = 0
    • Động năng :

    1 = 12   1  12 + 12  1  12

    Trong đó :1 : momen quán tính  khớp 1

    1 : tốc độ góc khớp 1

      = 1       2   2 + 1     ̇2
      2       ( ̇)   2   (  )
    1   1 1 1     1 1

    b, khâu số 2 :

    21 cos 1  + 1 cos( 2 +                                                 1)

    { 2 = 1 sin 1 + 1 sin( 2 + 1) 2 = 0

     ̇= −  sin sin( + )( ̇+  ̇)  
      2   1 1 2 1   2     1 2    
    ð { ̇=   cos   ̇+ cos( +   )(  ̇+  ̇)  
      2 1 1 1 1 1   2   1 2    
              2̇= 0                
    2 = ( ̇)2 + ( ̇)2 + ( ̇)2                
    2   2   2   2                
      2  ̇+   2 (  ̇+  ̇)2+ 2     ( ̇+  ̇ ̇) cos
      1 1 2   1 2 1 2 1 1 2 2
    • Động năng khâu số 2 :
                    = 1   2 + 1 2    
                  2   2    
                  2     2 2   2 2    
    = 2 2   2           2         2      
      [ ( ̇)   + ( ̇+  ̇ )     + 2 ( ̇ +  ̇ ̇) cos  1]
      2 1 1   2 1   2         1 2   1 1 2 2
                                         

    +1   ̇( ̇)2

    2     2       2

    • Thế năng 2 = 0

    24

    c, khâu số 3 :

    31                         1 + 2 cos( 1 + 2)

    { 31 sin 1 + 2 sin( 1 +                                                               2)

                                      3 = − 3      
     ̇ = − sin  ̇− 2 sin( + )( ̇+  ̇)    
      3     1       1     1     1 2 1 2      
    ð {    ̇ =   cos      ̇cos( +   )( ̇+  ̇)      
        3   1     1 1     1   2 1 2      
                             ̇= −  ̇            
                            3       3            
      2     ̇2 + ( ̇) 2 + ( ̇) 2              
    3 = (  )                    
          3       3         3                  
        = 2 ( ̇) 2 + 2 ( ̇+  ̇) + 2 2       2
            2 ( ̇ +  ̇ ̇) + ( ̇)  
        1 1         1     2   1 2 1 1 2 3  
    • Động năng khâu số 3 :

    3 = 21                3  32

    = 1   2   2 2       2     2  
          [ ( ̇)   + ( ̇+  ̇) + 2 ( ̇ +  ̇ ̇) + ( ̇) ]
      2 3 1 1   2 1 2 1 2 1 1 2 3  
                               
                                   
    • Thế năng khâu số 3 :

    3 =              3  ℎ3 =                 3  (− 3) = − 3  ( 3)

    d, khâu số 4 :

    41 cos 1 + 2 cos( 1 +                                            2)

    { 4 = 1 sin 1 + 2 sin( 1 + 2) 4 = − 3

     ̇ = −   sin  ̇− 2 sin(   +   )( ̇+  ̇)        
    4 1   1 1       1   2 1   2        
    ð {  ̇ = cos   ̇+ cos( +   )( ̇+  ̇)        
    4 1   1 1 2       1     2 1   2        
               ̇= −  ̇                    
              4         3                    
                    2 = ( ̇)2 + ( ̇)2 + (  )2      
                      4     4     4 4      
          (  ) 2 2 ( ̇) 2     2 ( ̇+  ̇) 2 + 2 2     2
            =   +   ( ̇ +  ̇ ̇) +  ̇
          4   1   1         2 1 2   1 2 1 1 2 3
    • độ ă     ℎâ   ố 4 :
        =   1 2 + 1   ̇ 2                          
    4                                    
      2 2                          
        4 4       4 3                          
        = 1     2     2   2     2   2     2 1       2
        2 [ ( ̇)       + ( ̇+  ̇)   + 2 ( ̇ +  ̇ ̇) +  ̇] + 2   ̇( ̇)  
          1 1   1         2 1 2   1 2 1 1 2 3 4 4  

    25

    • thế năng khâu số 4:

    44  ℎ4 = − 4   3

    • tổng thế năng :

    1 + 2 + 3 + 4

    =0 + 0 +(-    3        3)+(-  13)

    • -( 34)g  3
    • Tổng động năng:
    =1       2(  )2       1         1)2                 2 [   2(  )2   (       )2           ( 2  
                       ̇     +       ( ̇           +          ̇ +    ̇+  ̇ + 2    ̇ +
      2             2           2        
        1 1     1         1                         1   1   2   1   2     1 2   1  
                              1                 2     1   2     2     2                   2                
     ̇ ̇) cos   ] +     ( ̇)   +         [ ( ̇)   +     ( ̇+  ̇) + 2 2 ( ̇ +  ̇ ̇ ) +  
      2     2        
    1 2       2       2       2       3 1 1     2     1   2   1   1   1   2      
            2       1       2           2       2         2                 2           2   1       2
    ( ̇) ] +           [     ( ̇)   + 2 ( ̇+  ̇)   + 2   ( ̇ +  ̇ ̇) + ( ̇) ] +         ̇( ̇)  
        2           2  
      3           4   1   1             1   2       1 2   1 1 2   3   4   4  

    3, thiết lập phương trình vi phân chuyển động

    –   Hàm Lagrange của hệ thống :              
        (   ) −   = −   +   +
             
           ̇    
                   

    +) trong đó :          : momen động tại khớp i

    : lực tác động tại khớp i

    a, tại khâu số 1 :

    26

          = [ 2 ( ̇) + 1 (2 ̇+ 2 ̇) +(2 ̇+  ̇) cos  ]   + [2  ̇   ̇]
       ̇      
          1 1 2     2 1   2       1   2 1   2   2 2   1 1 1 1 1
    1                                                                            
                  +   1     [2 2 ̇+ 2 + 2   (2 ̇+  ̇)]                        
                  2                          
                      3 1 1 2   1 2   1   2                        
                  + 1   [2 2 ̇+  2 (2 ̇+ 2 ̇) + 2   (2 ̇+  ̇)]                  
                  2                  
                          4   1 1 2   1         2   1 2 1   2                  
            (     ) =         2  ̈] + 1   ̇ ̈+ [ 2 ̈+ ( ̈+  ̈) +((2 ̈+
                           
                      2
               ̇               1 1 1 1  1   2 1 1 2 1   2       1   1 1
                1                                                                  
     ̈) cos   + (− sin  )(2 ̇+  ̇))] + 1     [2 2  ̈+ 2 (2 ̈+  ̈) +   1   ] +  
        3    
    2     2               2   1   2   2 1 1   1 2   1   2 2 4      
                                                                   
    • [2 2 ̈+ 2(2 ̈+ 2 ̈) + 2   (2 ̈+  ̈)]
    • 4 1  12121 212

    -)         = 0

    -)      = 0

    -)    1 = 0

    => quy luật biến thiên momen khâu số 1 :

     

    1 =                   (         )

    ,khâu số 2 :

        =   1   [  (2 ̇+ 2 ̇) + 2     ̇cos  ] +   ̇ ̇+ 1     [ 2 + 2    ̇]
       ̇   2 2  
          2   2   1     2   1 2   1     2 2 2     3   2 1 2 1
    2                                                                          
                        + 1     [ 2 (2 ̇+ 2 ̇) + 2  ̇]                    
                                                 
                        2                      
                          4     2   2   1       1 2   1                    
    +)       (     ) = 1   [ (2 ̈+ 2 ̈) + (( ̈) cos −  ̇sin  )2    ] +  
                 
            2  
                 ̇   2       2   1   2         1   2   1     2   1 2  
                    2                                                            
                          ̇ ̈     1   [2    ̈] + 1   [ 2 (2 ̈+ 2 ̈) + 2    ̈]  
                                     
                              2  
                          2 2+ 2   3 1 2 1 4 2 2   1     1 2 1    
    +)     = 0                                                            
                                                                 
                                                                         
          2                                                                      

    27

    +)    2 = 0

    +)      = 0

    2

    • Quy luật biến thiên momen khâu số 2 ( khớp 2 )

    2 =                   (   ̇)

    2

    c, khâu số 3 :

    +)         = (2 ̇) 1                        + 1              (2 ̇)

    3             3                  4           3

    ̇3                            2                   2

    = ( 3 + 4 ) ̇
        3

    +)      (         ) = (                  +             ) ̈

    3               4        3

    ̇3

    +)        3 = −(  3 +                        4 )

    +)     3 = 0

    • Quy luật biến thiên lực động khớp 3 :
    =   (   ) +   = (   +   )( ̈−   )
          3 4
    3      ̇     3
          3   3          

    +)  ℎ   ℎâ  4  ẹ   ℎô   ℎì   ọ     ượ     ủ   ℎâ   ẽ  ộ    thêm trọng lượng phôi suy ra lực 3 thay đổi

    d, khâu số 4 :

    +)         =   ̇ ̇

    4  4

    ̇4

    +)      (        ) =   ̇ ̈

    4  4

    ̇4

    +)        = 0

    4

    +)    4 = 0

    28

    +)         = 0

    • Quy luật biến thiên momen khớp 4 :

    =                                                                                                           (                                                                                                           ) =   ̇ ̈

    4

    29


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-%C3%9D-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-tri-th%E1%BB%A9c-trong-%C4%91%E1%BB%9Di-s%E1%BB%91ng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết

    LỜI MỞ ĐẦU.

    [ [ [

    • thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có. ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin). Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn. Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực của
    • thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng.

    Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế-kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt đựoc những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gian ngắn hay không? Chung ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học- công nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới. Như vậy có nghĩa là ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học. Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người. Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả.Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá- tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc. Chức năng của các giá trị văn hoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức. Không có tính đạo đức thì tất cả các dạng giá trị ( giá trị vật chất và tinh thần) sẽ mất đi mọi ý

    Tiểu luận triết

    nghĩa.Còn cách mạng tư tưởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần-xã hội, xây dựng mối quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con người.Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước.

    Như vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống xã hội là các vấn đề khoa học- văn hoá- tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng. Tìm hiểu về

    • thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội.

    Trong bài tiểu luận này em chọn đề tài: “Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội” do thời gian và trình độ còn hạn chế vì vậy bài viết này chắc chắn sẽ không tránh được những thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp chỉ dạy của các thầy cô.

    Lớp: K40 – 1107                                                         2

    Tiểu luận triết

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG CỦA TRIẾT HỌC

    VỀ Ý THỨC VÀ TRI THỨC

    1.1- Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức.

    1.1.1. Khái niệm về ý thức

    Để đưa ra được định nghĩa về ý thức,con người đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài,nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ,sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học.

    Ngay từ thời cổ xưa,từ khi con người còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản thân vì chưa lý giải được các sự vật hiện tượng xung quanh mình. Do chưa giải thích được giấc mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cư trú trong cơ thể và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển được suy nghĩ tình cảm của con người mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con người. Nếu linh hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ thể chết.

    Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con người nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế giới, quan niệm về hồi tưởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn phổ biến không chỉ ở trong con người mà cả trong các sự vật, hiện tượng, trong thế giới cõi người và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới.

    Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm gíac và cho rằng cảm giác của con người chi phối thế giới…Như vậy, cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa duy tâm đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là tính thứ nhất, sáng tạo ra thế giới vật chất ..

    Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể tách rời cơ thể và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo thành.

    Tiểu luận triết

    Khi khoa học tự nhiên phát triển, con người đã chứng minh được sự phụ thuộc của các hiện tượng tinh thần, ý thức vào bộ óc con người thì một bộ phận nhà duy vật theo chủ nghĩa duy vật máy móc cho rằng óc trực tiếp tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.

    Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao gồm cả tâm lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan. Định nghĩa này chưa chỉ rõ được vai trò của xã hội, của ý thức.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ. Theo triết học Mac-Lênin “ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của người thông qua lao động ngôn ngữ”

    Nói vấn đề này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến đi trong đó.

    • thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức.

    Tự ý thức là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy vật coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện hướng về bản thân mình, tự khẳng định “cái tôi” riêng biệt tách rời những quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng tự ý thức là ý thức hướng về bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt được mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức mình như là một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, đặc biệt trong giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con người phải nhận thức rõ bản thân mình, tự điều chỉnh mình tuân theo các tiêu chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con người có thể đặt ra và trả lời các câu hỏi:

    Tiểu luận triết

    Mình là ai? Mình phải làm gì? Mình được làm gì? Làm như thế nào? Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò là “gương soi” giúp con người tự ý thức được bản thân.

    Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trước nhưng gần như đã trở thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể. .

    Tình cảm là những xúc động của con người trước thế giới xung quanh đối với bản thân mình. Cảm gíac yêu ghét một cái gì đó, một người nào đó hay một sự vật, hiện tượng xung quanh.

    Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới. Nói đến tri thức là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con người nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên. Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí. Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực.

    Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức và luôn hướng tới tri thức.

    1.1.2- Nguồn gốc của ý thức.

    1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên

    Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát triển từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho

    Lớp: K40 – 1107                                                         5

    Tiểu luận triết

    tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động tâm lý của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con người. Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.

    Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.

    chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thương thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối loạn.

    Phản ánh cũng là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chát khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh.

    Trong thế giới vô cơ có hình thức phản ánh cơ học,vật lý, hóa học. Đây là phản ánh đơn giản, thụ động không lựa chọn. Tất cả những biến đổi cơ lý hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhau gây ra và phụ thuộc vào các vật phản ánh khác nhau, nhưng chúng đều là phản ánh của vật chất vô sinh.

    Giới hữu sinh có tổ chức cao hơn giới vô sinh. Song bản thân giới hữu sinh lại tồn tại những trình độ khác nhau tiến hóa từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể hiện ở

    Lớp: K40 – 1107                                                         6

    Tiểu luận triết

    trình độ khác nhau tương ứng. Tính kích thích là hình thức phản ánh đặc trưng cho thế giới thực vật và các động vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh. Tính cảm ứng hay là năng lực có cảm giác là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh. Nét đặc trưng cho phản ánh này là ngay trong quá trình hệ thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể và môi trường bên ngoài thông qua phản xạ bẩm sinh hay phản xạ riêng biệt. Do vậy, sinh vật phản ánh có tính lựa chọn đối với các tính chất riêng biệt của sự vật thành các cảm giác khác nhau rất đa dạng và phong phú.

    Phản ánh tâm lý là hình hức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung ương. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đưa lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật. Nhờ vậy mà nó có thể lường trước được tất cả những tình huống có thể xảy ra và chủ động điều chỉnh, lựa chọn đưa ra hành động thích hợp nhất. Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có khi xuất hiện con người và xã hội loài người. Sự phản ánh này không thể hiện ở cấp độ cảm tính như cảm gíac, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng buộc sự vật bộc lộ ra những đặc điểm của chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển xã hội.

    1.1.2.1- Nguồn gốc xã hội.

    • thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.

    Lớp: K40 – 1107                                                         7

    Tiểu luận triết

    Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người. Chính nhờ lao động mà con người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển.

    Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài người là vượn, người nguyên thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lượm, săn bắt và ăn thức ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vượn người đã sáng tạo ra các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến hóa thành con người. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa để sinh hoạt và nướng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán ccầu não phát triển làm tăng khả năng nhận biết, phản ứng trước các tình huống khách quan. Mặt khác, lao động là hoạt động có tính toán, có phương pháp mục đích do đó mang tính chủ động.

    Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động của con người vào thế giới khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho con người hiểu biết thêm về thế giới xung quanh, thấy sự vật hiện tượng xung quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay chưa có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên có thê mang thuộc tính, đặc điểm của sự vật trước đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới.

    Thêm vào đó lao động là qúa trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng triệu lần phương pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tư duy trừu tượng của con người.

    Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức. Con người thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà người ta nói “Một kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi”, bởi.vì trứơc khi xây một ngôi nhà người kiến trúc sư đã phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà còn con ong chỉ là xây tổ theo bản năng. Qua lao động bộ óc con người hình thành và hoàn thiện. Ăng ghen nói” Sau lao đọng và

    Lớp: K40 – 1107                                                         8

    Tiểu luận triết

    đồng thời với lao động là ngôn ngữ, nó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần chuyển biến thành bộ óc người.”

    Sau đây ta xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức. Ngôn ngữ được coi là ‘cái vỏ vật chất” của tư duy, khi mà con người có biểu hiện liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức lao động tất yếu dẫn đến nhu cầu ” cần nói với nhau một cái gì” đó chính là ngôn ngữ.Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành “hiện thực trực tiếp”, trở thành tín hiệu vật chất tác động vào giác quan của con người, gây ra cảm giác. Do vậy, qua ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ ngôn ngữ mà phản ánh ý thức mới

    có thể thực hiện như là sự phản ánh gián tiếp, khái quát và sáng tạo. Vì vậy ngôn ngữ trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa hay nói cách kháclà của quá trình hình thành, thực hiện ý thức. Nhờ khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa mà con người có thể đi sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tượng? đồng thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy và văn hóa con người và xã hội loài người.

    1.1.3- Bản chất của ý thức.

    1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo.

    • thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài, từ vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín phản ánh quy định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan.

    Lớp: K40 – 1107                                                         9

    Tiểu luận triết

    • thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân lao đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người.
    • thức không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ quan của ý thức.
    • thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có chọn lọc tồn tại dưới hình thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách quànva sự vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính.

    Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hiện thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo. Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức. Vì vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đã được di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong đó. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Biểu hiện của sự phản ánh và sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tư tưởng. Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dưới hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng mới, tự nhiên “mới” tự nhiên “thứ hai” của con người.

    1.1.3.2- Bản tính xã hội.

    • thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người. Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. Do đó mà khái niệm hoạt đọng xã hội ra đời. ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm

    Lớp: K40 – 1107                                                        10

    Tiểu luận triết

    của xã hội, ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã hội. Do đó ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định. Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân loại nói chung. Tự tách ra khỏi môi trường xã hội con người không thể có ý thức, tình cảm người thực sự. Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản thân và xã hội. Ta phải học làm người qua môi trường xã hội lành mạnh.

    Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức,

    • quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người.

    1.1.4 – Sự tác động trở lại vật chất của ý thức

    Vật chát quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con người. Nhưng nếu chỉ thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức mà không thấy được tính năng động tích cực của ý thức đối với vật chất thì sẽ mắc phải khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng :”ý thức của con người không phải là sự phản ánh giản đơn ,mà là sự phản ánh tích cực của thế giới vật chất “

    Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con người phát triển song song với quá trình đó và có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất.Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiện nào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiện thực.

    Lớp: K40 – 1107                                                        11

    Tiểu luận triết

    Khi con người có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tích cực.Con người sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ra những mực tiêu ,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất, thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn.

    Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất.Do những tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến chiến , đến những chiến lược phát triển kinh tế không hiệu quả…No kéo lùi sự phát triển của xã hôị. ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống ,những tâm tư tình cảm của con người không phụ thuộc vào vật chẩt .Dựa vào đặc tính này của vật chất con người có thể cố phấn đấu đi lên bắng lao động và học tập ,xây dựng đất nước và xã hội giàu mạnh hơn ,công bằng hơn.

    1.2.-Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội.

    1.2.1- Khái niệm về khoa học

    Khoa học có nhiều định nghiã khác nhau. Với tính cách là một lĩnh vực đặc thù của con người khoa học bao gồm hoạt động tinh thần, hoạt động vật chất, hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn xã hội. Với tính cách là một hình thái xã hội, khoa học là một hệ thống tri thức khái quát, được hình thành, phát triển và kiểm nghiệm trên cơ sở thực tiễn. Khoa học phản ánh một cách chân thực các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

    Từ đó thấy rằng: Khoa học khác tôn giáo ở chỗ phản ánh một cách chân thực hiện thực, sự hình thành, phát triển của thế giới khách quan và được kiểm nghiệm qua thực tiễn; còn tôn giáo phản ánh hiện thực một cách hư ảo với niềm tin mù quáng xa rời thực tiễn. Sự phản ánh của khoa học khác với các hình thái ý thức xã hội khác ở chỗ phản ánh đúng đắn, chân thực những gì đang diễn ra và đi sâu vào các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động phát triển của hiện thực. Hình thức biểu hiện chủ yếu của khoa học là các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Tiểu luận triết

    Đối tượng nghiên cứu của khoa học bao hàm cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người, các lĩnh vực vật chất, tinh thần và cả các hình thái ý thức xã hội.

    1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động

    thực tiễn. Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội.

    Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những nghành sản xuất mới, công nghệ mới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức không thể thiếu được của người lao động, biến người lao đọng thành người điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ngày một đông. Bản thân khoa học cũng trở thành một lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn.

    Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, các khoa học xã hội như kinh tế học, luật học, xã hội học… cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư duy sáng tạo, tầm nhìn sâu rộng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm được cơ sở khoa học thực tế thì mới hoạch định được chính sách, đường lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia.

    Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh tiến bộ.

    Lớp: K40 – 1107                                                        13

    Tiểu luận triết

    CHƯƠNG 2

    VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC ĐỐI VỚI THỰC TIỄN

    NƯỚC TA HIÊN NAY

    2.1. Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt

    Nam.

    Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học được xem là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nước. Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học đã giúp Đảng có một sự định hướng đúng đắn về đuường lối chính sách phát triển của đất nước; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: Công nghiệp, Nông nghiệp, du lịch dịch vụ, Khoa học công nghệ…Nói đến vai trò nền tảng và động lực của tri thức Khoa học trong công cuộc đổi mới là nối đến con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở Khoa học và công nghệ, coi khoa học-công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu. Quan điểm này cho tấy rõ sự quyết tâm và lựa chọn sáng suốt của đảng ta trong đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm và đổi mới phương thức phát triển phù hợp với những đòi hởi phải tiến hành công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững trong những thập niên đầu của thế kỷ 21.

    Nhìn lại thế kỷ 20 đã qua chúng ta thấy có những đổi thay to lớn do khoa học-công nghệ mang lại. Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm nước mới công nghiệp hoá( NIC ) sau chiến tranh thế giới tthứ 2 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng lan toả của các thành tựu khoa học – công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các nước NIC đã tận dụng được cơ hội tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, thay đổi phương thức sản xuất cũ vốn dựa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu để chuyển sang aps dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra các giá trị gia tăng cao thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế. Nhờ đi theo con đường

    công nghiệp hoá dự hẳn vào Khoa học-công nghệ mà một số nước đã rút ngán được thời gian cần thỉ\ết để làm tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người. Trước kia, nước Anh phải mất 58 năm, Mỹ mất 47 năm thì giờ đây Braxin chỉ mất 18 năm, Hàn Quốc 11 năm và Trung quốc chỉ trong vòng

    10 năm. Ta có thể so sánh Hàn Quốc và Gana vào những năm 60 và bây giờ. Điểm xuất phát hai nước đều có mức thu nhập bình quân đầu người như nhau, đều là các quốc gia chậm phát triển. Vậy mà ngày nay, thu nhập đầu người của Hàn Quốc đã gấp 6 lần của Gana. vì sao có sự cách biệt lớn lao như vậy? Đó là do Hàn Quốc đã thu nhận và sử dụng trí thức Khoa học sáng tạo và phù hợp với thực tiễn hơn.

    Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy: ở đâu có sự sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp về Khoa học-công nghệ thì

    • đó có sự tiến bộ vượt bậc. Thử hỏi nếu Việt Nam vẫn giữ nền kinh tế tập trung bao cấp chưa chuyển sang nền kinh ế hàng hoá nhiều thành phần thì hiện giờ đất nước chúng ta sẽ ra sao.

    Về Nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại. Chính sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn. Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển. ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân.

    Lớp: K40 – 1107                                                        15

    Tiểu luận triết

    Về công nghiệp qua trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới – Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi. Ví dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk từ tình trạng vô cùng khó khăn đã vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại.

    Trong các ngành, Bưu chính viễn thông, khia thác dầu khí và các ngành nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào Kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn đinh. Văn hoá-giáo dục được nâng cấp, đầu tư cơ sở một cách thoả đáng.

    Thự tế cho thấy sau 15 năm đổi mới dựa vào tiềm năng của đất nước và sự trợ giúp của Khoa học-Công nghệ chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.

    Về kinh tế tổng sản lượng trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay đã sản xuất đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định huqướng XHCN. Đời sống của nhân dân dần được cải thiện. Đất nước đã ra khỏi khủng hoanmgr kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị trường. kinh tế tăng trưởng tương đối cao: Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông -lâm-ngư ngiệp tăng bình quân 5,7%/ năm. trong đó: Nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp 0,4% và ngư nghiệp tăng 8,9%. Công nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13,5%. Dầu tư sản xuất ra sản phẩm có triều sâu, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. dịch vụ

    Lớp: K40 – 1107                                                        16

    Tiểu luận triết

    phát triển vứi giá trị trung bình là 6,8%/ năm. Lạm phát giảm đáng kể: Năm 1986 là 587,2% thì năm 1990 chỉ còn 52,8%.

    Về chính trị xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Nhờ kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho quá trình chuẩn bị các văn kiện hội nghị trung ương khoá VIII, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm sau và đonmgs góp cho việc chenr bị văn kiện Đại hội IX vừa qua. Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng và việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản dưới luật, các chính sách và hiệp định quốc tế, trong đó có hiệp định thương mại Việt-Mỹ, khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như: Vấn đề toàn cầu hoá, quốc tế hoá, công nghiệp hoá-hiện đại hoá… Các vấn đề tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do vậy văn hoá phát triển lành mạnh với phương châm ” Hoà nhập nhưng không hoà tan “. Bên cạnh việc tiếp thu văn hoá thế giới chúng ta không quên giữ gìn và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Giáo dục ngày càng được chú trọng. Các quốc gia phát triển đã rút ra một điểm quan trọng là: Giáo dục là con đường ngắn nhất để phát triển để tiến tới nền kinh tế trí thức hay còn gọi là nền kinh tế chất xám. ở Việt Nam từ năm 1997 đến nay, nhân lực Khoa học-Công nghệ cả nước đã tăng 1,5 lần. Cán bộ Khoa học-Công nghệ có trình độ đại học đạt xấp xỉ 1,3 triệu và hàng năm bổ xung thêm khoảng

    • nghìn người. Cán bộ có trình độ tiến sĩ đã tăng lên gần 13 nghìn vào năm 2000. Trình độ, năng lực cán bộ trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện, bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực. Bắt đầu từ năm 2000 chính phủ đã bố trí khoản ngân sách riêng để

    Lớp: K40 – 1107                                                        17

    Tiểu luận triết

    hàng năm chủ động gửi sinh viên cán bộ Khoa học-Công nghệ có năng lực đi đào tạo dài hạn tại các nước có nền Khoa học tiên tiến.

    Khoa học-Công nghệ đã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng…Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước do thực tiễn đặt ra được các lực lượng Khoa học-Công nghệ nghiên cứu và giải quyết như: Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai, các phương pháp sản xuất Vacxin phòng bệnh…

    Rõ ràng, quan niệm về vai trò nền tảng và động lức phát triển của Khoa học – Công nghệ đối với sự phát triển vừa có cơ sở thực tiễn trong nước vừa hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khi lợi thế tương đối của các yếu tố lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang các yếu tố tri thức Khoa học – Công nghệ.

    2.2. Những yếu kém và hạn chế của Khoa học-Công nghệ ở nước ta hiện nay.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được hoạt động Khoa học-Công nghệ ở nước ta cũng còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và chưa thực sự đóng vai trò động lực- nền tảng cho phát triển. Sau đây là một số biểu hiện:

    • Tiềm lực Khoa học-Công nghệ vẫn còn ở mức thấp so với thế giới và khu vực chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu câù phát triển. Tỉ lệ cán bộ Khoa học – Công nghệ trên tổng số dân chưa cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, còn thiếu rất nhiều chuyên gia đầu ngành, việc đào tạo và đào tạo lại tiến hành chậm, nguy cơ hụt hẫng trong đội ngũ rất lớn, nhất là trong những ngành mũi nhọn như công nghệ tin học, sinh học, cơ khí, chế tạo máy. Việc xếp loại các cơ quan Khoa học-Công nghệ còn lúng túng, việc sử dụng đội ngũ trí thức còn lãng phí cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học còn thấp xa so với nhu cầu thực tiễn.

    Lớp: K40 – 1107                                                        18

    Tiểu luận triết

    • Cơ chế quản lí kinh tế chưa thực sự gắn kết các hoạt động Khoa học-Công nghệ với kinh tế xã hội, tạo động lực thực sự và nguồn lực dồi dào cho hoạt động Khoa học-Công nghệ phát triển.
    • Cơ chế quản lí Khoa học-Công nghệ chậm và chưa được đổi mới một cách căn bản mặc dù tư tưởng đổi mới cơ chế quản lí đã xuất hiện từ rất sớm. Chưa có sự liên thông giữa cơ chế quản lí kinh tế và cơ chế quản lí Khoa học – Công nghệ. Chưa đảm bảo được quyền lợi vật chất và tôn vinh xứng đáng đối với các nhà khoa học có cống hiến lớn. Cơ chế hình thành, quản lí, đánh giá các đề tài Khoa học-Công nghệ vẫn còn nhiều khó khăn để có thể chuyển đổi theo tinh thần đổi mới của luật Khoa học-Công nghệ.
    • Thị trường Khoa học-Công nghệ còn manh nha chưa phát triển. Mặc dù giá trị các hợp đồng kí kết giữa các cơ quan Khoa học-Công nghệ với các tổ chức kinh tế xã hội, giữa trong nước và nước ngoài đang tăng lên nhưng vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng.

    2.3. Những giải pháp cần thiết và cấp bách cho nền kinh tế Viêt Nam hiên nay.

    Việt Nam là nước đi sau có nhiều khả năng tiếp nhận những thành tựu Khoa học-Công nghệ của thế giới. Do đó có thể rút ngắn được quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước ở các nước công nghiệp phát triển, kinh tế tri thức đang có những bước phát triển mạnh. Việt Nam không chỉ phải tích cực chuẩn bị cho bước phát triển này, mà cần phải tiếp nhận kinh tế tri thức ở những ngành, lĩnh vực mà ta có khả năng, ưu thế. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực vừa đặt ra những thách thức song cũng cho ta nhiều cơ hội để nâng cao trình độ Khoa học – Công nghệ và xây dựng tiềm lực khoa học. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã vạch ra chiến lược:

    Phát triển đồng bộ các ngành khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để Khoa học-Công nghệ thực sự là động lực phát triển, vừa đảm bảo thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá vừa tạo

    Lớp: K40 – 1107                                                        19

    Tiểu luận triết

    ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Đồng thời xây dựng tiềm lực Khoa học-Công nghệ, xây dựng cơ sở để từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. cụ thể là một số giải pháp sau.

    • Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nghị quyết đại hội IX của Đảng, nâng cao nhận thức toàn dân và các cấp, các ngành về vai trò nền tảng và động lực của Khoa học-Công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
    • Hai là, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản lí kinh tế nhằm tạo lập môi trường kinh tế-xã hội theo hướng tạo điều kiện, vừa khuyến khích, vừa ràng buộc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao tính cạnh tranh thị trường trong nước và nước ngoài.
    • Ba là, đưa luật Khoa học-Công nghệ vào cuộc sống rộng rãi hơn. Tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động Khoa học-Công nghệ những năm qua và kịp thời thể chế hoá những mô hình tốt, cách làm hay đã được thực tiễn thử thách và chứng minh. Đồng thời tích cực đổi mới về cơ bản cơ chế quản lí Khoa học-Công nghệ ttheo tinh thần luật Khoa học-Công nghệ để nhanh chongs nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khoa học-Công nghệ.
    • Bốn là, tháo gỡ các khó khăn, các ách tắc để mở rộng và phát triển khai thông thị trường Khoa học-Công nghệ. đây là nhiệm vụ hết sức cấp bách, cơ bản và lâu dài, để phát huy hết vai trò động lực của Khoa học-Công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
    • Năm là, chú trọng và ưu tiên cho nghiên cứu và thực thi các chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài tri thức khoa học bên cạnh các biện pháp chăm lo đào tạo nhân lực Khoa học-Công nghệ.
    • Sáu là, Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng Khoa học-Công nghệ để nhanh chóng hội nhập với thế giới và khu vực, đặc biệt là cơ sở hạ tầng

    Lớp: K40 – 1107                                                        20

    Tiểu luận triết

    về thông tin Khoa học – Công nghệ, trang thiết bị nghiên cứu cho các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.

    Đó là những giải pháp cho nền kinh tế nước ta hiện nay.

    Lớp: K40 – 1107                                                        21

    Tiểu luận triết

    KẾT LUẬN

    Vật chất và ý thức ta thấy rằng chúng cũng có tính độc lâp và tác động qua lại với nhau.Nếu ta áp dụng những tri thức khoa học để cải biến thế giới nó sẽ cho ta những kết quả như ý muốn, những tri thức sai lầm luôn đưa ta đến thất bại.Vai trò của tri thức khoa học ngày càng quan trọng. Đứng trước thế kỉ 21 – thế kỉ có nhiều biến đổi sâu sắc và phổ biến trên tất cả các lĩnh vực của đồi sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là thử thách đồng thời là thời cơ nghiệt ngã cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Cả thế giới đang dần tiến tới xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Nhờ áp dụng các kỹ thuật Khoa học-Công nghệ của thế giới mà chúng ta có thể đi thẳng tới nền kinh tế tri thức mà không qua kinh tế công nghiệp. Đó là sự lựa chọn hợp lí và đúng đắn. Vấn đề là phải hiểu biết và vận dụng nó để đưa tri thức khoa học vào tất cả các lĩnh vực hoạt động chứ không phải xây dựng nền kinh tế tri thức riêng biệt cho một khu vực nào đó. Kinh tế tri thức theo cách hiểu nào đó là của mọi người, nó phải được thẩm thấu vào trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội. Đất nước Việt Nam đã đi qua chiến tranh thắng lợi rất vẻ vang, vậy tại sao chúng ta không thể chiến thắng trong việc xây dựng và phát triển đất nước? Nhất định chúng ta sẽ làm được và làm tốt bởi mang trong mình sức mạnh đoàn kết dân tộc và bản tính thông minh lao động sáng tạo của con người Việt Nam. Những thắng lợi bước đầu của công cuộc đổi mới đã cho thấy rõ điều đó. Và bây giờ nhiệm vụ của chúng ta là:

    Tìm hiểu những tri thức mới, cập nhật và làm chủ những tiến bộ khoa học của loài người.

    Lớp: K40 – 1107                                                        22

    Tiểu luận triết

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình triết học Mac-Lênin (Tập 2 ) Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    2. Lí luận chính trị

    Số 11( 2001)

    Tạp chí nghiên cứu của học viện chính trị quốc gia HCM 3. Sinh hoạt lí luận

    Số 4( 47- 2001)

    Học viện chính trị quốc gia HCM- phân viện Đà Nẵng. 4. Tạp chí cộng sản

    Số 3( 2- 1999 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 10( 5-2001 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 13( 7-2001 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 19( 10-2001 )

    Lớp: K40 – 1107                                                        23

    Tiểu luận triết


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]