Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Lời mở đầu.

           Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

              Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

             Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

            – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
            –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
            –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
            Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
             Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao. 
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

           Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

          Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

           Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

           Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

            Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

            Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

         Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

           Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

           Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

          Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

            Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

            Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

            Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

            Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

     

    Kết luận.

          Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Thu-H%C3%BAt-V%E1%BB%91n-%C4%90%E1%BA%A7u-T%C6%B0-Tr%E1%BB%B1c-Ti%E1%BA%BFp-N%C6%B0%E1%BB%9Bc-Ngo%C3%A0i-V%C3%A0o-L%C4%A9nh-V%E1%BB%B1c-Ph%C3%A2n-Ph%E1%BB%91i-B%C3%A1n-L%E1%BA%BB-C%C6%A1-H%E1%BB%99i-V%C3%A0-Th%C3%A1ch-Th%E1%BB%A9c-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Hội nhập kinh tế thế giới đã và đang diễn ra từng bước, và có tác động
    không nhỏ tới các thanh phần kinh tế ở Việt Nam. Sau khi Việt Nam gia nhập
    WTO, nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến rất tích cực. Kinh tế tưng
    trưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, vốn FDI tăng liên tục, đời sống nhân dân cũng ngày một cải thiện. Trong xu thế mở rộng này, ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam cũng đã có những bước phát triển rất nhanh chóng, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Khi dịch vụ phân phối bán lẻ được mở rộng, người được lợi nhiều nhất ở đây chính là người tiêu dùng. Người tiêu dùng đã có cơ hội được mua sắm các loại hàng hóa đa dạng, hiện đại, phong phú, chất lượng dịch vụ hàng đầu. Tuy nhiên việc mở cửa đối với ngành dịch vụ này lại là một thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước. So với các doanh nghiệp nước ngoài, chúng ta vẫn có sự thua thiệt về mặt vốn đầu tư, trình độ kĩ thuật cũng như tổ chức quản lý nên rất khó để chống đỡ rủi ro cũng như những biến động trên thị trường, cũng như áp lực cạnh tranh từ các công ty nước ngoài. Nhưng đồng thời đây cũng là những cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước học hỏi trình độ cũng như tiếp cận được với mô hình quản lý hiện đại của các doanh nghiệp nước ngoài.
    Hội nhập kinh tế thế giới là một xu hướng tất yếu của mỗi quốc gia. Dù biết
    rằng nguồn vốn FDI này không chỉ mang đến những tác động về mặt kinh tế mà
    còn tạo ra không ít tác động về mặt xã hội ở Việt Nam. Làm sao để vừa có thể thu hút nguồn vốn FDI để thúc đẩy nền kinh tế, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực của nguồn vốn này để phát triển kinh tế. Nhận thức được vấn đề này nên nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ, cơ hội và thách thức” làm đề tài khóa luận của mình.

    Nhóm em xin gửi lời cám ơn tới cô Phan Thị Bích Ngọc, người đã hướng
    dẫn trực tiếp chúng em làm khóa luận tốt nghiệp này. Chúng em xin chân thành
    cám ơn sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của cô.

     

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    • Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngành phân phối bán lẻ.
      1.1. Khái niệm dịch vụ phân phối bán lẻ.

    Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ phân phối bán lẻ.
    Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120 của
    tổ chức thương mại thế giới WTO và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc đã định nghĩa như sau:
    “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các loại hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc
    các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định hoặc từ một địa điểm khác, và các dịch vụ phụ liên quan”.

    Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác về dịch vụ bán lẻ như sau:
    Trong cuốn “Quản trị Marketing” của Philip Kotler đã định nghĩa dịch vụ
    bán lẻ như sau: “Bán lẻ bao gồm toàn bộ những hoạt động có liên quan đến việc bán hàng hay cung cấp những dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân chứ không phải mục đích kinh doanh”. Mọi tổ chức làm công việc này cho dù là người sản xuất, người bán sỉ hay bán lẻ đều là làm bên cung cấp dịch vụ bán lẻ, bất kể hàng hóa hoặc dịch vụ đó được cung cấp như thế nào (bán trực tiếp, qua điện thoại, qua bưu điện hoặc qua máy bán hàng) hay được bán ở đâu (bán tại cửa hàng, ngoài phố).

    Từ điển Wikipedia đã định nghĩa về ngành dịch vụ này như sau:
    “Bán lẻ gồm bán hàng cho cá nhân hoặc cho các hộ gia đình để họ tiêu dùng
    tại một địa điểm cố định hoặc không tại địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan”.

    Tóm lại, bán lẻ là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ
    nhà sản xuất, hoặc nhà phân phối rồi chia nhỏ ra và bán lại cho người tiêu dùng
    nhằm phụ vụ nhu cầu cá nhân hoặc gia đình.

     

    1.1.2. Đặc điểm.

    • Dịch vụ phân phối bán lẻ có tính chất phân tán cao.

    Nhu cầu tiêu dùng là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất của con người.
    Cho dù là ở người dân ở đâu đi nữa thì nhu cầu với tiêu dùng vẫn là điều không thể thiếu được. Ở đâu có người dân thì ở đó sẽ xuất hiện các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ để mang hàng hóa tới người tiêu dùng. Dịch vụ bán lẻ trải rộng khắp mọi nơi theo các địa điểm phân bố dân cư, và phụ thuộc rất nhiều vào mật độ dân số cũng như thu nhập của người dân ở nơi đây.
    Vào những năm đầu của thế kỉ 20, công nghệ thông tin bùng nổ tạo điều
    kiện cho các bên trao đổi, cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng một cách
    nhanh hơn, ưu việt hơn. Việc bán hàng thông qua các trang web thương mại điện tử ngày càng phát triển và thu hút được nhiều sự quan tâm. Đây là một bước tiến lớn đối với dịch vụ trao đổi, buôn bán hàng hóa, từ đây việc trao đổi hàng hóa sẽ không còn bị giới hạn về không gian, thời gian, luôn bảo đảm dịch vụ có thể hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày.

    • Dịch vụ bán lẻ luôn theo sát nhu cầu thực tế và thỏa mãn nhanh nhất
      nhu cầu đó
      .

    Nhà bán lẻ là những người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, vậy nên họ
    là người am hiểu nhất những mong muốn cũng như những thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó phản ánh những thông tin này tới nhà sản xuất, giúp nhà sản xuất có thể điều chỉnh chất lượng cũng như mẫu mã sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Với vai trò là cầu nối của người tiêu dùng với nhà sản xuất, nhà bán lẻ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền tải các thông tin về chương trình khuyến mại hoặc các thông tin mới nhất về các sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng. Dịch vụ phân phối bán lẻ phản ứng chính xác những nhu cầu thực tế của người tiêu dùng thông qua quá trình chuẩn bị mua hàng đến sau khi quá trình mua hàng kết thúc, nhanh chóng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng.

    • Dịch vụ bán lẻ hướng tới người tiêu dùng cuối cùng

    Bán lẻ là quá trình giao hàng hóa từ người bán lẻ đến tay người tiêu dùng
    cuối cùng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, gia đình chứ không phải vì mục đích thu lợi nhuận. Người tiêu dùng có thể nhận hàng trực tiếp hoặc gián tiếp qua bưu diện, qua máy bán hàng,… tùy theo nhu cầu của mỗi cá nhân. Ngành bán lẻ phát triển chủ yếu dựa vào nhu cầu hàng hóa trên thị trường. Chính vì vậy nên thị trường bán lẻ luôn diễn ra sôi động, nhà bán lẻ sử dụng nhiều chính sách như ưu đãi, chương trình khuyến mại, voucher,… để lôi kéo nhiều khách hàng hơn.
    1.1.3. Các mô hình tổ chức bán lẻ chính.

    • Mạng lưới công ty.

    Các cửa hàng của mạng lưới này là hai hoặc nhiều cửa hàng thuộc cùng một
    quyền sở hữu, có chung bộ phận thu mua và tiêu thụ, và bán những loại hàng hóa tương tự nhau. Mạng lưới công ty có trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng tập trung phát triển ở các cửa hàng bách hóa, tạp hóa, cửa hàng phân phối,…

    • Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ.

    Mạng lưới cộng tác viên gồm một nhóm người bán lẻ độc lập, được người
    phân phối bảo trợ, thu xếp mua số lượng hàng hóa và cùng bán. Cộng tác viên gồm những người bán lẻ độc lập thành lập một tổ chức mua hàng, đứng ra kinh doanh và thực hiện những biện pháp khuyến mại.

    • Hợp tác xã tiêu thụ.

    Là mô hình mà mọi công ty bán lẻ đều thuộc quyền sở hữu của chính những
    khách hàng của nó. Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư của một cộng đồng lập ra khi họ cảm thấy rằng những người bán lẻ ở địa phương phục vụ không chu đáo, vì đòi giá cao hay bán những sản phẩm kém chất lượng. Họ góp vốn để mở một cửa hàng rồi biểu quyết về những chính sách của cửa hàng và bầu ra người quản lý nó. Cửa hàng có thể định giá thấp hoặc bán theo giá bình thường, các xã viên có thể được quyền chia lợi tức theo số lượng hàng họ đã mua.

    • Tổ chức đặc quyền.

    Là một sự liên kết theo hợp đồng giữa người cung cấp đặc quyền và người
    được hưởng đăc quyền. Các tổ chức đặc quyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ,… Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biến đối với
    những mặt hàng như thức ăn nhanh, bất động sản, công ty du lịch,..

    • Tập đoàn bán lẻ.

    Tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do, kết hợp với một số hướng
    cũng như hình thức bán lẻ khác nhau, dưới quyền sở hữu tập trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lý của mình. Tập đoàn bán lẻ bao gồm những công ty có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường, liên kết với nhau bằng quan hệ tài sản cũng như quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của thị trường bán lẻ.
    1.1.4. Vai trò của ngành dịch vụ bán lẻ.

    Có thể hiểu rằng sản xuất là gốc rễ, cung cấp hàng hóa, vật phẩm cho nền kinh tế vậy nên hệ thống phân phối là huyết mạch của nền kinh tế. Phân phối bán lẻ đứng ở vị trí cuối cùng trong hệ thống này, vậy nên nó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, cơ cấu kinh tế chuyển dần từ hình thức công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ sang hình thức dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp.

    • Phân phối bán lẻ cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

    Chỉ khi có nhu cầu thì người ta mới cần đến hàng hóa, nhưng không phải lúc
    nào người ta cũng có thể đến gặp trực tiếp các nhà sản xuất để mua hàng được. Do đó, nhà bán lẻ mới là đơn vị thực sự thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng đúng thời gian, địa điểm và ở một mức giá họ có thể chi trả. Đây là một công việc không dễ dàng, đặc biệt là với điều kiện hàng hóa cũng như dịch vụ ngày càng đa dạng như ngày nay, nhu cầu của khách hàng luôn biến đổi. Người bán lẻ phải luôn thu thập những thông tin những thông tin về thị hiếu của khách hàng, từ đó làm hài lòng người tiêu dùng bằng chính những sản phẩm và dịch vụ của mình. Qua đó, hoạt động bán lẻ cũng tạo nên những lợi ích cho người tiêu dùng bằng cách tạo ra sự đa dạng về sản phẩm, tạo sự tiện lợi về địa điểm mua bán cũng như cũng như các dịch vụ bảo hành, cung cấp thông tin. Càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động phân phối hàng hóa thì chi phí cho khâu phân phối sẽ được chuyển vào giá thành cho người tiêu dùng, từ đó sự cạnh tranh trong phân phối bán lẻ sẽ làm giảm chi phí phân phối, giảm giá bán cho người mua.

    • Nhà phân phối bán lẻ có vai trò thu thập thông tin thị trường, từ đó
      phản ánh lại với bên sản xuất.

    Quá trình chuyển giao hàng hóa tới tay người mua thông qua phân phối bán
    lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường. Do vậy có thể chuyển tải được những thông tin thiết yếu về nhu cầu của thị trường cho người sản xuất cũng như người cung ứng, từ đó điều chỉnh theo yêu cầu của thị trường, tạo lập cầu nối dẫn dắt người sản xuất có những định hướng đúng vào nhu cầu của thị trường, thúc đẩy hoạt động kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế. Từ đó giúp tăng cường sự thương mại hóa, phát triển thị trường cho những sản phẩm có lợi thế, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    • Hoạt động phân phối bán lẻ thúc đẩy sản xuất phát triển.

    Sau khi hàng hóa được sản xuất, bước tiêu theo chính là tiêu thụ và ngược
    lại, chỉ khi hàng hóa được tiêu thụ thì doanh nghiệp mới có thể tiếp tục sản xuất.
    Các bên phân phối bán lẻ đóng một vai trò rất quang trọng trong việc kích thích
    tiêu thụ, quảng bá thông tin về hàng hóa cho nhà sản xuất. Nhờ sự tiếp xúc trực
    tiếp với người tiêu dùng nên họ hiểu rất rõ nhu cầu của người mua. Các nhà bán lẻ có thể sử dụng những biện pháp của nhà sản xuất để kích thích tiêu dùng, hoặc dùng chính những biện pháp của họ để làm được điều đó. Bên phân phối bán lẻ có thể nhận những mặt hàng đã được hoàn thiện từ nhà sản xuất. Có một số mặt hàng, chính nhà bán lẻ sẽ đảm nhiệm khâu sơ chế, đóng gói, phân loại,… để có thể đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách tốt nhất, với hình thức phù hợp nhất để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Không những vậy, nhà phân phối bán lẻ còn có chức năng thiết lập, tạo dựng cũng như duy trì các mối quan hệ với những người mua tiềm ẩn. Nhờ có các nhà bán lẻ mà các doanh nghiệp có thể lôi kéo thêm không ít khách hàng. Sản xuất được coi là gốc của việc bán lẻ, nhưng chính bán lẻ cũng có thể kích thích việc sản xuất mở rộng và phát triển. Một doanh nghiệp muốn thành công, không chỉ sản phẩm phải tốt mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ, nếu nắm chắc khâu bán lẻ thì hoàn toàn có thể điều phối được cả sự sản xuất.

    • Phân phối bán lẻ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

    Theo Tổng cục thống kê, từ những năm 2012 trở lại đây, tỉ trọng lao động
    của ngành phân phối hàng hóa đã gia tăng từ 30,4% (năm 2012) lên tới 38% (năm 2017). Nếu so sánh thì GDP của ngành dịch vụ này không hề thấp hơn so với nông nghiệp, nhưng lao động của ngành dịch vụ này lại chỉ bằng 1/4 so với nông nghiệp. Xu hướng chung hiện nay là gia tăng tỉ trọng lao động trong ngành dịch vụ phân phối bán lẻ, ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm. Tính đến 2017, số người lao động làm việc trong ngành bán lẻ khoảng hơn 6 triệu người. Lĩnh vực phân phối bán lẻ được coi là ngành thu hút nhiều lao động nhất trong ngành phân phối. Theo thống kê, Việt Nam hiện có hơn 900.000 cửa hàng bán lẻ, 9.100 chợ truyền thống, và khoảng hơn 600 siêu thị phân bố rộng rãi trên 63 tỉnh thành trên cả nước. Lĩnh vực này đã thu hút được lượng lớn nguồn lao động.

    • Dịch vụ phân phối bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc tạp lập,
      nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Khi quyết định liên kết với cac bên bán lẻ, các nhà sản xuất đã có những
    chiến lược kinh doanh của riêng mình như các quyết định về giá, cách quảng bá,.. Họ chủ động tạo nên một mối liên hệ với các bên bán lẻ nhằm tạo nên sự phân công và hợp tác một cách chuyên nghiệp, từ đó tạo nên giá trị gia tăng, giúp các bên bán lẻ tập trung được vào những hoạt động mà họ có lợi thế, đảm bảo được năng suất cao hơn nhưng chi phí lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của chính doanh nghiệp so với các đối thủ khác trên thị trường.
    Nhờ việc tham gia vào mối liên kết này mà mỗi doanh nghiệp đều được
    hưởng nhiều lợi ích kinh tế. Từ mối liên kết vững chắc giữa doanh nghiệp và bên phân phối bán lẻ mà doanh nghiệp có thể đảm bảo được nguồn cung ứng, nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Từ đó nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.

    Các nhà phân phối bán lẻ sau khi đã liên kết hiệu quả với doanh nghiệp sẽ
    tạo lập được lợi thế cạnh tranh, đảm bảo lợi ích của mình trước các đối thủ nước
    ngoài khi nước ta hội nhập kinh tế thế giới, họ sẽ phải mất nhiều thời gian và tiền bạc mới có thể tạo lập được những mối liên kết này. Không chỉ vậy, cùng với các cam kết về tự do hóa thương mại, nhà nước sẽ dần dỡ bỏ các rào cản về thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ cho ngành sản xuất nước nhà, từ đó sự liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và các bên phân phối sẽ là rào cản hữu hiệu nhất để các doanh nghiệp Việt Nam có thể bảo vệ mình trước các đối thủ cạnh tranh đến từ nước ngoài.
    1.2. Một số khái quát về lĩnh vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam.
    1.2.1. Doanh thu, tốc độ tăng trưởng.

    Kể từ khi đất nước ta mở cửa thị trường, nền kinh tế đã ngày một phát triển.
    Thu nhập của người dân tăng, sản xuất phát triển dẫn đến nhu cầu cũng ngày một đa dạng. Để phù hợp với thị hiếu của người dân, hàng hóa trên thị trường luôn thay đổi, dẫn đến ngành dịch vụ phân phối bán lẻ cũng ngày một tăng trưởng. Từ năm 2007 – 2017, doanh thu bán lẻ đã tăng gấp 3 lần, đạt 130 tỷ USD vào năm 2017. Tốc độ tăng trưởng qua các năm cao, luôn đạt trên 10%/năm.

     

    Năm

    Doanh thu bán lẻ (tỷ USD)

    2007

    45,2

    2008

    39,6

    2009

    55,7

    2010

    62,1

    2011

    71,3

    2012

    80,5

    2013

    96,4

    2014

    102,3

    2015

    110,6

    2016

    126,7

    2017

    130

    Bảng 1. Doanh thu trong lĩnh vực phân phối bán lẻ giai đoạn 2007 – 2017

     

    Với dân số trên 96 triệu người, trong đó 65% là dân số trẻ có nguồn thu nhập cao, tốc độ tiêu dùng tăng mạnh, là cửa ngõ dẫn tới một số thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, Lào,… nước ta đang trên đà trở thành một trong những nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Không chỉ vậy, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam cũng cao kỉ lục, đạt 118 điểm trong khi trung bình các nước khác chỉ đạt 97 điểm. Với tiềm năng đầy hứa hẹn đó, kết hợp với việc mở cửa thị trường, lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ ngày một thúc đẩy. Trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ trở thành thị trường có dịch vụ phân phối bán lẻ chuyên nghiệp, năng động.
    1.2.2. Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ.

    Trước đây nền thương mại Việt Nam chủ yếu do nhà nước độc quyền thì nay đã chuyển sang nền thươn mại đa thành phần. Với sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, nền kinh tế tư nhân, vốn FDI từ các nhà đầu tư nước ngoài cũng như sự cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã làm cho ngành thương mại
    Việt Nam có sự biến đổi. Năm 2012, cả nước có khoảng 505.000 ngoài quốc doanh, trên 2.701 doanh nghiệp có cổ phần của nhà nước, trên 14.600 doanh nghiệp FDI và 2 triệu hộ gia đình tham gia vào lĩnh vực thương mại trong nước. Không những vậy, việc ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới đã giúp cho Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết trong việc phân phối bán lẻ, đặc biệt là những cam kết trong khuôn khổ WTO. Năm 2009, Việt Nam đã xóa bỏ những hạn chế đối với sự tham giá vào thị trường phân phối bán lẻ của doanh nghiệp nước ngoài. Vậy nên để phân tích kĩ hơn, chúng ta sẽ xét tới ba chủ thế chính sau:

    • Chủ thể 1:

    Các công ty phân phối trong nước, bao gồm các doanh nghiệp
    trong và ngoài nước. Họ là những bên phân phối có trình độ chuyên nghiệp, mạng lưới phân phối rộng rãi, trải đều khắp các tỉnh thành trên cả nước. Họ là một chuỗi các hệ thống phân phối hiện đại. Điển hình như tập đoàn Vingroup với hai thương hiệu chuỗi bán lẻ là Vinmart và Vinmart +, công ty xuất nhập khẩu INTIMEX với chuỗi siêu thị mang tên INTIMEX,… không chỉ dừng lại ở đó, các doanh nghiệp còn cùng kết hợp để thành lập nên những đơn vị mạnh hơn, quy mô kinh doanh lớn, trên cơ sở kết hợp các thế mạnh của nhau. Điển hình như hai công ty lớn là Xây dựng VINACONEX và công ty Thương mại Tràng Tiền đã bắt tay hợp tác để xây dựng nên trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza. Qua các giai đoạn đổi mới, các doanh nghiệp đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể, ví dụ như chuỗi siêu thị Saigon Co.op được bầu chọn là bên phân phối bán lẻ hàng đầu Việt Nam, đứng trong top 500 nhà phân phối bán lẻ hàng đầu Châu Á Thái Bình Dương.

    Nhìn chung đây là khu vực có những chuyển biến tích cực nhất trong xu thế
    hội nhập. Các doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực về tài chính, các cơ sở sản xuất hơn nên vừa đóng vai trò phân phối, sản xuất, vừa đóng vai trò thu mua hàng hóa để kinh doanh trong hệ thống của mình. Còn các doanh nghiệp ngoài nhà nước lại chủ yếu tập trung vào mảng phân phối để tạo nên một chuỗi hệ thống phân phối chứ không tham gia nhiều vào hoạt động sản xuất như các doanh nghiệp nhà nước.

    Đây có thể xem là một trong những đặc điểm đặc thù của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống phân phối, cũng như hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh trong nước còn gặp nhiều hạn chế về khả năng tài chính cũng như công nghệ, kĩ năng quản lý, cán bộ công nhân viên,… so với nhiều doanh nghiệp có vốn FDI cũng hoạt động trong lĩnh vực này.

    • Chủ thể 2:

    Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
    Trong những năm vừa qua, việc các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thâm
    nhập vào thị trường Việt Nam đã tạo nên những đóng góp không nhỏ trong việc
    xây dựng một thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng, cạnh tranh cao. Hiện nay, trên thị trường Việt Nam đã có sáu thương hiệu phân phối bán lẻ quốc tế như Parkson, Metro, Big C,…Những doanh nghiệp này đã kinh doanh cực kì thành công trên thị trường Việt Nam và đang ngày càng củng cố, mở rộng hệ thống phân phối của mình.
    Ta có thể nhận thấy được các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh
    vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp
    trong nước, về khả năng tài chính, trình độ kĩ thuật, quản lý, và đặc biệt là kinh
    nghiệm tổ chức quản trị kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp này là những tập đoàn hàng đầu thế giới, đã có bề dày kinh nghiệm, đã thiết lập được mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Chính vì sự có mặt của những tập đoàn này mà các doanh nghiệp trong nước đã phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn, nhưng đồng thời đây cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp trong nước tạo nên một thị trường nội địa lành mạnh, phát triển, nhanh chóng tiếp cận được với trình độ của thế giới.

    Do họ đã có những lợi thế nhất định về năng lực tài chính cxung như trình
    độ tổ chức kinh doanh nên những doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn FDI có cách tổ chức hoạt động kinh doanh bán lẻ rất chuyên nghiệp, và họ thường tập trung vào khâu phân phối hàng hóa dựa trên việc kí hợp đồng thu mua hàng hóa từ nhiều nơi khác nhau chứ không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như các doanh nghiệp trong nước.

    • Chủ thể 3:

    Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước. Đây là một
    trong những thành phần quan trọng nhất tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt
    Nam, đã tạo ra việc làm cho hơn năm triệu người trong cả nước. Tuy vậy, đặc điểm chung của nhóm đối tượng này là mang nặng tính tự phát, thiếu kiến thức cũng như kĩ năng xử lý rủi ro. Những hộ cá thể này phần lớn đều là lao động phổ thông chứ không qua bất cứ một trường lớp đào tạo nào hết. Nhưng chính những đối tượng này lại là người tạo ra nguồn thu nhập chính trong gia đình. Vậy nên những tác động dù nhỏ nhất với nhóm đối tượng này cũng có thể tạo nên những biến động tới các thành viên trong gia đình họ.
    1.2.3. Hàng hóa lưu thông trên thị trường.

    Các loại hàng hóa lưu thông trong nước ngày một đa dạng, phong phú về
    chủng loại cũng như chất lượng. Qua quá trình mở cửa thị trường những năm gần đây, chúng ta có thể nhận ra ngoài hàng hóa được sản xuất trong nước, thị trường Việt Nam còn xuất hiện thêm nhiều loại hàng hóa ngoại nhập, phục vụ nhu cầu sản xuất cũng như tiêu dùng trong nước. Chính những điều này đã tạo nên một thị trường đa dạng, sôi động. Các trung tâm thương mạ lớn cũng dần xuất hiện các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng thế giới, tạo nên hiệu ứng không nhỏ đối với người tiêu dùng.
    1.2.4. Các hệ thống phân phối bán lẻ.

    Nhu cầu của người tiêu dùng tăng, kéo theo đó nhu cầu về hàng hóa cũng
    như thị trường hàng hóa cũng tăng theo, dẫn đến các hệ thống phân phối bán lẻ
    cũng sẽ thay đổi để phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Từ hệ thống bán lẻ là truyền thống đến hệ thống hiện đại đều tăng đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng.

    • Hệ thống chợ truyền thống.

    Tính đến năm 2017, trên cả nước đã xuất hiện 8.067 chợ các loại (không bao
    gồm các chợ tự phát). Trong đó, miền Bắc chiếm 22,2%; miền Trung chiếm
    26,2%; Tây Nguyên chiếm 4,9%; miền Nam chiếm 46,7%.
    Chợ bán lẻ hình thành để phục vụ dân cư ở các phường, xã, thị trấn chiếm tỉ
    trọng cao (91,5%); chợ tổng hợp chiếm 2,3%; chợ đầu mối chiếm 0,6%; chợ biên giới, cửa khẩu chiếm 1,9%.
    Trên cả nước, bình quân cứ 42,13 km2 sẽ có một chợ. Giữa các vùng xó sự
    chênh lệch khá lớn về chỉ tiêu này. Khu vực Đồng bằng sông Hồng có diện tích
    phục vụ chợ nhỏ nhất, lớn nhất là vùng Đông Bắc.

    Khối lượng hàng hóa lưu thông qua các chợ ở các thành phố lớn chiếm 40-
    50% tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn. Ở nông thôn, hàng hóa giao dịch trên chợ chiếm khoảng 60-70%.
    Mỗi chợ lại có cơ cấu hàng hóa lưu thông khác nhau. Trung bình có khoảng
    80% các tiểu thương kinh doanh các nhóm hàng chính như nông sản, tạp hóa, thực phẩm, may mặc,… Trong đó mặt hàng thực phẩm chiếm 40%.

    Lực lượng tham gia kinh doanh trên các chợ chủ yếu là tư nhân, thương mại
    nhà nước và người sản xuất trực tiếp bán hàng. Trong đó, thương mại tư nhân
    (được hiểu là các hộ kinh doanh) đóng vai trò quan trọng nhất.

     

    Khu vực

    Tổng số
    chợ năm
    2012

    Chợ/
    phường,

    Diện tích
    bình
    quân/chợ
    (Km2)

    Dân
    số/chợ

    Bán kính
    phục vụ trung
    bình một chợ
    (km)

    Đồng bằng Sông
    hồng

    1.482

    0,63

    10,03

    12.249,6

    1,81

    Đông bắc bộ

    1.126

    0,54

    55,36

    8.132

    4,3

    Tây bắc bộ

    263

    0,42

    153,62

    10.543,6

    7,1

    Bắc trung bộ

    1.254

    0,64

    43,49

    8.958,92

    3,62

    Duyên hải Nam
    trung bộ

    865

    0,98

    39,45

    8.408,15

    3,45

    Tây nguyên

    392

    0,53

    144,21

    12.579,4

    6,57

    Đông Nam bộ

    891

    0,86

    39,68

    15.391,3

    3,46

    Đồng bằng sông
    Cửu long

    1.794

    1,12

    25,32

    10.927,92

    2,63

    Toàn quốc

    8.067

    0,79

    42,85

    10.759,96

    3,49

    Bảng 2. Tổng hợp các chỉ tiêu về mạng lưới chợ trên cả nước tính đến năm 2012

    Hiện có khoảng 789.632 hộ kinh doanh cố định trên các chợ khắp cả nước,
    trung bình một chợ sẽ có 112 hộ kinh doanh. Số lượng hộ kinh doanh cố định bình quân tại một chợ ở Đông Nam Bộ là cao nhất, và cao gấp 4 lần so với nơi thấp nhất là Tây Bắc Bộ.

    • Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại.

    Hệ thống chợ ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự hình thành và phát
    triển của hệ thông siêu thị, trung tâm thương mại. Trước năm 2000 chỉ có hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là có sự xuất hiện của một vài siêu thị thì ngày nay, trên hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều đã có sự xuất hiện của siêu thị lẫn trung tâm thương mại.

    Theo tổng cục thống kê, đến năn 2012 trên cả nước đã có 865 siêu thị, trải rộng trên khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên các siêu thị có quy mô lớn vẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, tiếp theo là Hải Phòng và Đà Nẵng, và cuối cùng là các thành phố Thanh Hóa, Kiên Giang, Cần Thơ,..

    Về tính chất cũng như cách thức kinh doanh, siêu thị ở Việt Nam có thể chia làm hai loại chủ yếu như sau: các loại siêu thị kinh doanh tổng hợp như Metro, Big C, Coopmart,… số lượng mặt hàng các siêu thị này kinh doanh có thể lên đến hàng trăm nghìn mặt hàng. Và loại còn lại là các siêu thị loại nhỏ, cửa hàng chuyên doanh ví dụ như siêu thị điện máy, thế giới di động, viễn thông A,… Nguồn vốn cũng như chủ đầu tư của các siêu thị ở Việt Nam cũng rất đa
    dạng. Có thể thấy trước năm 2000 chỉ xuất hiện một vài siêu thị của nhà đầu tư
    nước ngoài hay các doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư kinh doanh siêu thị
    (Coopmart, Intimex,…) thì nay đến năm 2017 chúng ta đã có thể thất sự xuất hiện của hầu hết các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư lĩnh vực này ví dụ Tràng Tiền Plaza, trung tâm thương mại Vincom, Aeon Mall, Parkson,…

    • Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn.

    Về loại hình cửa hàng bán lẻ, bán buôn cũng đang tăng về số lượng, chất
    lượng cũng như quy mô. Mô hình các chuỗi cửa hàng này xuất hiện ở các mặt hàng như may mặc, điện máy, mỹ phẩm (May 10, Thế giới di động, Việt Tiến,…) xuất hiện ở hầu hết các thành phố trên khắp cả nước. Ở các thành phố lớn, xu hướng liên kết cũng như sát nhập, mở rộng các cửa hàng bán lẻ diễn ra khá mạnh. Xu hướng này tạo ra một sự thay đổi trong quá trình hình thành cũng như tích tụ vốnnkinh doanh của các bên phân phối, bán lẻ sang hình thức vay vốn kinh doanh, huy động vốn.
    Đặc biệt là các cửa hàng bán lẻ tự chọn, cửa hàng phân phối bán theo
    phương thức nhượng quyền thương mại này trên thực tế đã có mặt trên thị trường được 15 năm và ngày càng được các thương nhân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm. Trên cả nước đã có khoảng 70 hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trong đó Công ty Cà phê Trung Nguyên đã rất thành công với hơn 1500 cửa hàng nhượng quyền ở cả trong và ngoài nước. Một ví dụ khác là công ty Kinh Đô có hàng trăm cửa hàng nhượng quyền kinh doanh bánh Kinh Đô khắp cả nước…
    Hiện nay có rất nhiều công ty trong và ngoài nước có ý định phát triển mạnh mô
    hình này.

    • Hệ thống các hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

    Hiện tại ở Việt Nam, có khoảng hơn một triệu cửa hàng kinh doanh bán lẻ. Những cửa hàng này chủ yếu kinh doanh các mặt hàng phục vụ như cầu tiêu dùng của người dân. Tuy vậy do vốn kinh doanh cũng như mặt bằng không đủ nên những hộ kinh doanh này chỉ có thể kinh doanh một ít mặt hàng có giá trị không cao. Dù vậy thì đây vẫn là một trong những kênh phân phối hàng hóa quan trọng trên thị trường Việt Nam.
    Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn 2012-2017, lĩnh vực phân phối bán lẻ
    tại Việt Nam đã có những đổi mới vô cùng mạnh mẽ, góp phần thay đổi cấu trúc
    cũng như diện mạo của thị trường trong nước ngày càng văn minh, hiện đại, ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng này vẫn chưa cân xứng với tiềm năng của thị trường Việt Nam, hệ thống phân phối bán lẻ trong nước vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Loại hình bán lẻ chủ yếu hiện nay vẫn là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, độc lập. Mô hình trung tâm thương mại, siêu thị cũng đang trên đà phát triển song chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp tham gia cũng còn khá ít, chỉ mới có một vài doanh nghiệp chủ yếu như: Intimex, Sài Gòn Coop, Tập đoàn Vingroup,… Phần lớn các siêu thị vẫn mang quy mô nhỏ. Nếu như nói tỉ trọng doanh số bán lẻ qua siêu thị ở các đất nước như Trung Quốc là 45-60%, Thái Lan là trên 45%, Mỹ trên 90%,…thì hệ thống hàng hóa ở Việt Nam chủ yếu vẫn được phân phối qua các chợ (40%), qua các cửa hàng bán lẻ truyền thống (45%), qua các hệ thống như trung tâm thương mại hay siêu thị mới chỉ có 10%, và 5% còn lại là do các nhà sản xuất bán trực tiếp.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, hệ thống phân phối bán lẻ cần được quan tâm, đầu tư phát triển hơn nữa để ngày càng thích nghi được với nền kinh tế mở như hiện nay.

     

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT
    2.1. Sự cần thiết phải mở cửa thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
    2.1.1. Thực hiện cam kết gia nhập WTO

    Cũng như các ngành nghề dịch vụ kinh doanh khác, Việt Nam có các cam kết từ phía Việt Nam trong lĩnh vực phân phối, điều đó thể hiện mức độ mở cửa thị trường và phản ánh mức độ đối xử quốc gia mà Việt Nam dành cho doanh nghiệp nước ngoài đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ phân phối tại Việt Nam.

    Dịch vụ phân phối, theo phân loại của WTO, được chia làm 4 phân ngành gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, và dịch vụ nhượng quyền thương mại. Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO đối với các phân ngành này cụ thể như sau:

    • Về các sản phẩm thuộc diện loại trừ:

    Một số mặt hàng sau Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường: đường mía và đường củ cải, gạo, dầu thô và dầu đã qua chế biến, thuốc nổ, dược phẩm (không bao gồm các sản phẩm bổ dưỡng phi dược phẩm dưới dạng viên nén, viên con nhộng hoặc bột), kim loại quí và đá quí, vật phẩm đã ghi hình, báo và
    tạp chí, sách, thuốc lá và xì gà.
    Ngoài ra, trong từng phân ngành khác nhau, Việt Nam chỉ rõ ra những hạn chế khác nhau với một số sản phẩm khác. Cụ thể là: kể từ thời điểm nước ta gia nhập tổ chức WTO, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không được phép thương mại đối với các sản phẩm sau: phân bón, rượu, thiết bị nghe nhìn, sắt thép, ô tô con và xe máy, phương tiện cơ giới, giấy, máy kéo, lốp (trừ lốp máy bay), xi măng và clinke. Tuy nhiên, từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, các sản phẩm ô tô con và xe máy, phương tiện cơ giới, máy kéo, sẽ được loại khỏi danh mục các loại sản phẩm loại trừ này. Ba năm sau ngày Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức WTO, từ ngày 11 tháng 01 năm 2010 trở, tất cả các sản phẩm trong danh mục hạn chế này sẽ được loại bỏ.

    Riêng đối với dịch vụ, kinh doanh bán lẻ, Việt Nam đưa ra hạn chế về việc doanh nghiệp FDI khi mở rộng từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi sẽ được xem xét dựa vào nguyên tắc đánh giá nhu cầu thực tế của người Việt Nam. Việc xem xét này sẽ phải được tuân theo một quá trình thủ tục công khai do nhà nước Việt
    Nam đưa ra và chủ yếu dựa trên hàng loạt tiêu chí khác nhau như số lượng các nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh đang hiện diện trong một khu vực địa lý nào đó, quy mô địa lý và sự ổn định của thị trường….

    • Về mức độ và thời gian mở cửa thị trường:

    Kể từ khi gia nhập đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2008: Các doanh nghiệp FDI phải thành lập, liên doanh với các đối tác người Việt Nam với tỉ lể góp vốn không được vượt quá 49%.

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2009: Tỉ lệ góp vốn từ phía doanh nghiệp nước ngoài không không bị hạn chế, tuy nhiên vẫn phải liên doanh với đối tác từ phía Việt Nam.

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009: các hạn chế nêu trên sẽ được bãi bỏ.
    Chúng ta có thể thấy rằng các cam kết mở của nước ta khá thông thoáng, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham gia kinh doanh hầu hết các hàng hóa khác nhau trên thị trường Việt Nam. Thời gian hội nhập này khá nhanh, điều đó khiến thời gian dành cho các doanh nghiệp Việt Nam thích nghi với các điều kiện cạnh tranh quốc tế cũng không nhiều. Các doanh nghiệp quốc nội sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao, củng cố năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, việc mở cửa là rất cần thiết để hội nhập được sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

     

    • Thị trường bán lẻ Việt Nam cần được phát triển hơn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân

    Mức sống của người dân Việt Nam đang được nâng lên đáng kể cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế của đất nước. Tỉ lệ Quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của nước ta thuộc loại cao so với các nước trong khu vực (trên 70%) trong khi của Singapore là 55,9%, Malaysia là 58,2% và Thái Lan là 67,7%.

    Bảng : So sánh tổng mức bán lẻ hàng hóa với quỹ tiêu dùng cuối cùng thời kỳ 2007-2017

    Năm

    Quỹ TD cuối cùng (tỉ đồng)

    TMBLHH (tỉ đồng)

    Tỉ lệ (%)

    2007

    225.231

    145.874

    64,8

    2008

    250.584

    161.899

    64,6

    2009

    283.444

    185.598

    65,5

    2010

    301.690

    200.923

    66,6

    2011

    321.853

    220.410

    68,5

    2007-2011

    1.382.802

    914.706

    66,15

    2012

    342.607

    245.315

    71,6

    2013

    382.137

    280.884

    73,5

    2014

    445.221

    333.809

    75,0

    2015

    511.221

    398.500

    77,9

    2016

    584.800

    480.300

    82,1

    2012-2017

    2.265.986

    1.738.808

    76,74

    Nguồn: gso.gov.vn

    Trong giai đoạn 2012 – 2017, tốc độ tiêu dùng nước ta tăng cao hơn nhiều lần so với tốc độ tăng dân số (10,7% so với 3,4%). Tỉ lệ tổng mức bán lẻ hàng hóa so với quỹ tiêu dùng cuối cùng cũng đã có sự tăng trưởng nhanh chóng từ ngưỡng 64,8% năm 2012 , đạt tới 82,1% năm 2017. Trong giai đoạn 2007- 2011, tỉ lệ được thống kê là 66,15% thì giai đoạn 2012-2016 đã tăng lên tới 76,74%. Khi người dân đã có thu nhập đã tăng lên đáng kể, chắc chắn nhu cầu mua sắm hàng hóa tại các trung tâm thương mại hiện đại cũng tăng.

    Thế nhưng, việc mua sắm truyền thống lại đang chiếm tỉ trọng lớn đối với tổng doanh thu bán lẻ với con số 9.266 chợ và 280.000 cửa hàng nhỏ. Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh (thành phố phát triển nhất nước ta) thì hiện mới đưa vào hoạt động chỉ có 23 trung tâm thương mại với 140.000m2 và Hà Nội với 17 trung tâm cung cấp 155.000m2 cho hình thức kinh doanh bán lẻ hàng hóa hiện đại, nếu so sánh với đất nước Singapore mới khánh thành 1 trung tâm thương mại với diện tích 100.000m2 thì những số liệu trên của Việt Nam còn quá khiêm tốn.

     Trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài được biết đến với hình ảnh những đại siêu thị đang hiện diện rất gần thị trường Việt Nam thì hầu hết cửa hàng kinh doanh truyền thống của Việt Nam mới ở trong tình trạng chung là có diện tích nhỏ, trung bình đạt 11,8 m2/cửa hàng, trang thiết bị lạc hậu, khiêm tốn và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông, chưa có trình độ chuyên nghiệp. Ngay cả doanh nghiệp kinh doanh trong nước phần lớn cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bình quân 1 doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 38 lao động với số vốn trung bình 6 tỉ đồng.

    Khu vực kinh tế có vốn đầu tư FDI hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và dịch vụ vẫn đóng góp ở mức rất khiêm tốn trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Hơn nữa, phương thức giao dịch có sử dụng các phương tiện điện tử đã trở nên phổ biến trên thế giới và thương mại điện tử đang trên đà tiếp tục phát triển nhanh khiến cho thị trường thương mại truyền thống bị thay đổi. Người kinh doanh hàng hóa và người tiêu dùng có thể dễ dàng liên hệ trực tuyến với
    nhau trong việc xem xét, đặt hàng, thực hiện thanh toán và nhận hàng hóa tại nhà. Các doanh nghiệp phân phối bán lẻ nước ngoài sau khi đầu tư vào nước ta, họ sẽ phải hết sức tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng sau một thời gian, họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua hệ thống dữ liệu khách hàng; Catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà… Các hình thức này sẽ được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thuỷ sản sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn…. Các phương thức phân phối truyền thống ví dụ như hình thức mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song nhưng sẽ dần bị thu hẹp và suy yếu. Các nhà phân phối trong nước sẽ trưởng thành và có cơ hội học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý và hiện đại hoá hệ
    thống của các nhà phân phối nước ngoài; từ đó, doanh nghiệp trong nước sẽ có thể củng cố hệ thống của mình. Trong sự phát triển này, người tiêu dùng sẽ là nhóm người được hưởng lợi ích nhiều nhất từ.

    • Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

    Hầu hết các nhà kinh doanh bán lẻ nội địa đều đã nhận ra được sự cạnh tranh khốc liệt với các tập đoàn đầu tư nước ngoài trong vài năm tới. Nhiều nhà bán lẻ trong nước đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những thách thức từ việc cạnh tranh mới từ thị trường trong và ngoài nước. Một mặt các doanh nghiệp
    này lo cải thiện tất cả các kênh phân phối sản phẩm ở các thị trường nước ngoài; điều đó thúc đẩy sự hình thành kênh phân phối hàng hóa trực tiếp trên những thị trường trọng điểm.

    Mặc khác, họ đang tích cực cải thiện hoặc xây dựng mạng lưới sản xuất trong nước. Tính từ năm 1996, thời điểm lúc đó cả nước mới có 1 siêu thị được thành lập là CitiMart; đến thời điểm hiện nay, chỉ mới tính riêng khu vực thành phố Hồ Chí Minh thì chúng ta có hàng trăm siêu thị và trung tâm thương mại khác nhau. Tiếp nối sự phát triển đó, các hình thức phân phân phối hàng hóa hiện đại hiện giờ không chỉ hình thành và phát triển tập trung ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội mà đang dần dần mở rộng đến các tỉnh có tiềm năng. Maximart là một trong những doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong khi thành lập chuỗi siêu thị nhắm đến thành phố Nha Trang. Tiếp đến,
    vào năm 2010, hệ thống siêu thị Co.opMart tiếp nối sự phát tiên, khai trương siêu thị ở thành phố Quy Nhơn và thành phố Cần Thơ. Hiện nay, Co.opMart đang dần dần củng cố vị trí chiến lược của mình trở thành một nhà phân phối hàng hóa số 1 tại Việt Nam. Một trong những bí mật phát triển của Co.opMart
    là sử dụng chiến lược phát triển cả về chiều sâu và rộng bằng việc tập trung nguồn lực vào hệ thống các siêu thị. Năm 2016, Co.opMart đã có 40 siêu thị trên cả nước, đồng thời doanh nghiệp sẽ tiến hành liên kết siêu thị với các cơ sở sản xuất, kho dự trữ để trở thành một hệ thống liên hoàn từ khai thác, chế biến, vận chuyển đến hệ thống bán lẻ để gia tăng giá trị hàng hóa.

    Thêm vào đó, quá trình tích cực phát triển một cách tập trung sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước. Từ đó trong nước ta sẽ hình thành các chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để nhằm mục đích tăng cường sức cạnh tranh (đại lý phân phối độc quyền cho thương hiệu Việt Nam, chợ, máy ATM tại các siêu thị, đặt các điểm giao dịch…). Một số doanh nghiệp phân phối có tiềm lực sẽ tiến hành mở rộng hoạt động phân phối hàng hóa ra nước ngoài thông qua hình thức liên doanh, liên kết với các đơn vị phân phối hàng hóa ở nước ngoài hoặc tiến hành thông qua các đơn vị giới thiệu sản phẩm, trung tâm mua sắm, thương mại của Việt Nam nằm tại nước ngoài.

    Tại Nga và các nước Đông Âu, lực lượng người Việt Nam kinh doanh sẽ trở thành những nhóm người, những mắt xích cực kì quan trọng trong hệ thống giúp phân phối hàng hóa của Việt Nam nhưng mang thương hiệu quốc tế thay vì phân phối hàng hóa Trung Quốc như hiện nay. Ngoài ra, do không đủ khả
    năng xây dựng những hệ thống, mô hình phân phối riêng, hình thức tiến ra thị trường quốc tế bằng giao dịch thương mại điện tử sẽ rất phù hợp với nhiều doanh nghiệp, các làng nghề truyền thống, ngư dân, các hộ nông dân….
    2.1.4.  Hạn chế độc quyền trong lĩnh vực phân phối, lành mạnh hoá thị trường, đối phó tốt hơn khi tình hình kinh tế thế giới biến động

    Các rào cản, khó khăn trong việc gia nhập và rời khỏi hệ thống phân phối hàng hóa sẽ dần dần được loại  bỏ khỏi lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế (BTA, WTO, ASEAN+, Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật) và kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài và các cải cách của chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư. Các tập đoàn phân phối đa quốc gia trên thị trường trong nước, ngoài Metro Cash & Carry, Big C, Cora; nhiều khả năng sẽ có thêm Carrefour của Pháp, Wal-mart của Mỹ, các tập đoàn phân phối của Nhật, Trung Quốc,… Sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp này sẽ tạo
    nên bức tranh đầy màu sắc trong hệ thống phân phối trong nước. Khi đó, Lĩnh vực kinh doanh, phân phối không còn hệ thống độc quyền của các doanh nghiệp nội địa.

    Trong ngành xăng dầu nội địa, trước đây xăng dầu là ngành hàng độc quyền của nhà nước. Sau khi mở cửa thu hút và kêu gọi các doanh nghiệp FDI đầu tư, vị thế độc quyền đã dần được gỡ bỏ. Đánh dấu sự phá vỡ thế độc quyền được đánh dấu mốc khi công ty Idemitsu Kosan cùng công ty Kuwait Petroleum
    International thành lập doanh nghiệp liên doanh, lấy tên là Công ty TNHH Dầu khí Idemitsu Q8 với mục đích chính là phân phối xăng dầu. Từ khi doanh nghiệp này ra đời, thị trường xăng dầu Việt đã có nhiều sự thay đổi với chất lượng phục vụ được nâng lên rất nhiều; không chỉ vậy, giá cả xăng dầu cũng được điều chỉnh cạnh tranh hơn trước nhiều,
    2.2.  Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

    Tính từ năm 2012 đến nay, Việt Nam đã tiến hành mở cửa nền kinh tế quốc dân và hội nhập vào thị trường khu vực và toàn cầu. Trong đó để hỗ trợ nhanh chóng quá trình này, Luật đầu tư nước ngoài đã được nhà nước sửa đổi bốn lần theo các hướng khác nhau nhằm thúc đẩy và đảm bảo tốt hơn quyền
    lợi của nhà đầu tư. Tháng 11/2005, Luật đầu tư nước ngoài đã được đổi thành Luật đầu tư nhằm bảo đảm một cách tốt nhất sự bình đẳng cho các nhà đầu tư trong và nhà đầu tư nước ngoài. Bốn mươi mốt (41) hiệp định bảo hộ đầu tư cùng ba mươi tám (38) hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã được ký kết với nhiều nước và lãnh thổ trên thế giới. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã cho phép các nhà đầu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới mọi hình thức cho phép, bao gồm cả hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài trong hầu hết các khu vực không bị Chính phủ nghiêm cấm.

    Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, khu vực dịch vụ vẫn còn khá nhiều hạn chế. Đối với lĩnh vực phân phối hàng hóa, Việt Nam ta chỉ bắt đầu mở cửa cho các doanh nghiệp dựa theo một số cam kết khác nhau trong Hiệp định thương mại Việt Nam và Nhật Bản và trong hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam – Nhật Bản, cùng với các dự án mang tính chất thử nghiệm, thí điểm trong khuân khổ hợp tác song phương, đa phương dựa trên những nhu cầu có sẵn, thực tiễn của các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Tuy đã trở thành thành
    viên của WTO, nhưng đến ngày 01/01/2009, các tập đoàn bán lẻ mới bắt đầu được đầu tư vào Việt Nam với 100% vốn FDI, còn hiện tại vẫn trong khuân khổ hợp tác với các đối tác là các doanh nghiệp Việt Nam với 49% vốn FDI. Chính sách hạn chế đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán lẻ đã khiến cho lượng FDI vào
    lĩnh vực này cho đến nay vẫn còn khá khiêm tốn.
    2.2.1.  Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ

    Dựa trên cơ sở xem xét hoàn cảnh trong nước, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân, nước ta đã xem xét và cấp phép cho 28 dự án (tính đến tháng 3/2008) với tổng vốn đầu tư là 505.545.206 USD, bình quân 18.055.186 USD/ dự án. Dự án đầu tiên được cấp phép là vào ngày 31/8/1996 của Nhật Bản đầu tư vào phân phối hàng hóa nông sản tại huyện Lâm Đồng.

     

     

    Năm

    Tổng VĐT

    Số dự án

    VĐT/dự án

    2005

    59.000.000

    2

    29.500.000

    2006

    65.975.000

    1

    65.975.000

    2007

    12.800.700

    2

    6.400.350

    2008

    35.000.000

    2

    17.500.000

    2009

    0

    0

    0

    2010

    121.200.000

    3

    40.400.000

    2011

    0

    0

    0

    2012

    300.000

    1

    300.000

    2013

    72.369.506

    3

    24.123.168,67

    2014

    0

    0

    0

    2015

    106.450.000

    7

    15.207.143

    2016

    13.900.000

    4

    3.475.000

    2017

    18.550.000

    3

    6.183.333,333

    Tổng

    505.545.206

    28

    18.055.186

    Bảng 3 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo thời gian nhận vốn đầu tư

    Nguồn: Cục đầu nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư

     

    Năm 2015 là năm có rất nhiều dự án nhất đã được chính phủ phê duyệt với tổng số vốn đầu tư đạt tới ngưỡng 106.450.000 USD, trong đó bình quân một dự án có mức đầu tư là 15.207.143 USD. Theo như thống kê thì 2015 là năm có nhiều tập đoàn nổi tiếng về phân khúc bán lẻ trong khu vực Châu Á và trên thế giới bắt đầu đầu tư vào Việt Nam như tập đoàn Lotte của Hàn Quốc, Tập Đoàn Mitsui của Nhật Bản…

    Tuy nhiên, Năm 2010 lại là năm có tổng số vốn đầu từ FDI lớn nhất vào lĩnh vực bán lẻ này đạt tới ngưỡng 121.200.000 USD, bình quân 40.400.000 USD/dự án. Số vốn đầu tư cao như vậy là do năm 2001, Việt Nam được tập đoàn Đức là Metro Cash & Carry đầu tư với một dự án lớn với 8 trung tâm bán buôn, bán lẻ các loại hàng hóa khác nhau. Tổng vốn đầu tư vào dự án này đạt tới 120 triệu USD.

    Như vậy tính từ năm 2005 đến năm 2017, nước ta có tất cả 28 dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, trong hầu hết các dự đầu tư chỉ một vài dự án có số vốn đầu tư lớn, nhìn chung tổng mức đầu tư vẫn còn khá khiêm tốn. Vì thế, so với tổng lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực này thì vốn FDI còn rất khiêm tốn.

    Năm 2017, số vốn đầu tư FDI có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cao nhất là 344.800 tỷ đồng, thấp nhất đạt 309.300 tỷ đồng. Số vốn đầu tư thấp nhất rơi vào tháng 2 của năm 2017, số vốn đầu tư cao nhất rơi vào tháng 11 năm 2017. Nhìn chung, xét về tỉ lệ vốn đầu tư của các khu vực vào lĩnh vực phân phối hàng hóa bán lẻ của Việt Nam hiện nay thì chúng ta nhận thấy rõ sự phát triển áp đảo của sự đầu tư tư nhân. Số lượng doanh nghiệp
    phân phối trong nước cũng như các hộ kinh doanh cá thể trong nước so với số lượng các nhà phân phối của nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn. Các tập đoàn tham gia vào lĩnh vực này thì nếu như không kể tới các tập đoàn phân phối chuyên doanh như Lotteria về đồ ăn, Medicare về
    sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, BBQ Chicken về đồ ăn, Zen Plaza về thời trang, KFC về đồ ăn, sẽ chỉ có khoảng 3 đến 4 tập đoàn phân phối bán lẻ hàng hoá tiêu dùng tổng hợp là Bourbon của Pháp, Metro Cash & Carry của Đức, Diamond Plaza của Hàn Quốc và Parkson của Malaysia đang cạnh tranh trực tiếp trên thị trường phân phối bán lẻ tại Việt Nam thông qua một số hệ thống trung tâm thương mại và hệ thống siêu thị, trung tâm bán lẻ quy mô lớn. Trong đó, tập đoàn Parkson và Diamond Plaza mặc dù có thực hiện phân phối bán lẻ tổng hợp nhiều mặt hàng nhưng cũng hầu như vẫn chủ yếu là các dòng sản phẩm quà tặng cao cấp, mỹ phẩm, thời trang. Trong khi đó, hàng chục chục doanh nghiệp trong nước ta đã và đang phát triển hoạt động kinh doanh, phân phối bán lẻ của mình theo mô hình hệ thống chuỗi siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng, đại lý bán lẻ kiểu này, và chưa tính đến tầm cỡ 900 nghìn hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ đang hoạt động ở khắp các vùng miền trong nước.

    Ngoài ra, các tập đoàn đầu tư nước ngoài này cũng đang tích cực mở rộng thêm hệ thống phân phối của mình.

    • Tập đoàn Đức:

    Metro Cash & Carry đã phát triển hệ thống với quy mô 8 trung tâm bán buôn lớn đang hoạt động ở năm thành phố lớn tại Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ. Tại Hà Nội, sau khi khi thành công với siêu thị Metro (Cổ Nhuế), Metro Hoàng Mai cũng đã đi vào hoạt động. Đến năm 2017, Tập Đoàn của Đức này đã bán lại cho Thái Lan nhưng hệ thống quy mô vẫn giữ nguyên.

    Tập đoàn Pháp: Bourbon phát triển với hệ thống 7 đại siêu thị bán lẻ BigC đang hoạt động ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Biên Hoà.

    Tập đoàn Malaysia: Parkson với 02 trung tâm mua sắm quy mô lớn đang hoạt động tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng.

    Tập đoàn Hàn Quốc: Diamond Plaza với 01 trung tâm mua sắm quy mô lớn đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    KFC hiện tại đã hàng chục chi nhánh khắp các tỉnh thành tại Việt Nam.

    Chuỗi bán hàng ăn nhanh Hàn Quốc, BBQ Chicken, phát triển đã có 10 cửa hàng trên toàn quốc.

    Khi Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trường vào 1/2009 thì đã có rất hàng trăm tập đoàn bán lẻ hàng hóa tham gia đầu tư vào lĩnh vực phân phối này của Việt Nam. Đặc biệt phải kể đến là ba tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới là Carefour (Pháp), Wal-Mart (Mỹ) và Tesco (Anh).
    2.2.2. Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

    • Xét theo đối tác đầu tư

    Tính đến thời điểm đầu tháng 3 năm 2008, tất cả đã có 14 nước có dự án đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam. Tuy lượng tổng số vốn của các nước đầu tư còn nhỏ nhưng đây chính là đòn bẩy quan trọng trong tiến trình kích thích sự phát triển cả hệ thống kinh doanh, phân phối bán lẻ
    hàng hóa tại Việt Nam.

     

    STT

    Tên nước

    Số dự án

    Tổng VĐT

    Bình quân

    1

    Nhật Bản

    3

    37.800.700

    12.600.233,33

    2

    Pháp

    4

    161.975.000

    40.493.750

    3

    Đức

    1

    120.000.000

    120.000.000

    4

    Hàn Quốc

    4

    51.550.000

    12.887.500

    5

    Hồng Kông

    4

    26.200.000

    6.550.000

    6

    Đan Mạch

    2

    1.100.000

    550.000

    7

    Singapore

    2

    15.000.000

    7.500.000

    8

    Hoa Kỳ

    1

    800.000

    800.000

    9

    Lào

    1

    300.000

    300.000

    10

    Đài Loan

    1

    4.994.506

    4.994.506

    11

    Trung Quốc

    2

    1.625.000

    812.500

    12

    Anh

    1

    67.000.000

    67.000.000

    13

    Malaysia

    1

    200.000

    200.000

    14

    Nga

    1

    17.000.000

    17.000.000

    Tổng

     

    28

    505.545.206

    18.055.186

    Bảng 4 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2017
    Nguồn: gso.gov.vn

    Theo số liệu thống kê phía bảng trên, chúng ta có thể nhận ra 3 nước có mức đầu tư nhiều nhất vào lĩnh vực kinh doanh, phân phối bán lẻ hàng hóa vào Việt Nam là Hồng Kông, Pháp, Hàn Quốc (4 dự án mỗi nước). Nhìn theo góc độ tổng vốn đầu tư, Đức và Pháp là những nước có tổng vốn đầu tư lớn nhất với
    161,975 triệu USD và 120 triệu USD. Sự có mặt của tập đoàn Pháp và Đức đã đánh dấu những bước chuyển mình lớn của thị trường kinh doanh bán lẻ Việt Nam, đồng thời sự đầu tư lớn này góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy, kích thích đầu tư, nâng cao chất lượng phục vụ và quản lý của các doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh đến từ các doanh nghiệp FDI nước ngoài mang lại đã là một giải pháp lớn, góp phần đẩy mạnh phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của nước ta.

    • Xét theo địa bàn đầu tư

    Việc phân bố các dự án theo vùng lãnh thổ ảnh hưởng lớn đến trình độ phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia. Việc phân bố này sẽ tạo ra sự hài hòa giữa các vùng đồng thời quyết định đến tăng trưởng chung của cả nước. FDI vào phân phối bán lẻ lại là một nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn vì nó tác
    động đến cả một phong tục mua bán truyền thống, và có vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mại trong nước. Vì vậy khi phê duyệt dự án, nhà nước đã phải cân nhắc một cách khá kỹ càng.

     

     

     

     

     

     

     

     

    STT

    Địa phương

    Số dự án

    Tổng VĐT

    Bình quân

    1

    Lâm Đồng

    1

    5.000.000

    5.000.000

    2

    Lạng Sơn

    2

    5.375.000

    2.687.500

    3

    Hải Phòng

    2

    21.000.000

    10.500.000

    4

    Thái Bình

    1

    4.994.506

    4.994.506

    5

    TP Hồ Chí Minh

    9

    282.425.000

    31.380.560

    6

    Nghệ An

    1

    300.000

    300.000

    7

    Thừa Thiên Huế

    1

    800.000

    800.000

    8

    Hà Nội

    7

    101.000.700

    14.485.810

    9

    Bình Thuận

    1

    17.000.000

    17.000.000

    10

    Đồng Nai

    1

    54.000.000

    54.000.000

    11

    Đà Nẵng

    1

    12.000.000

    12.000.000

    12

    Cao Bằng

    1

    1.250.000

    1.250.000

    Tổng

     

    28

    505.545.206

    18.055.186

     

    Bảng 5 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo địa bàn đầu tới tính đến tháng 3/2017
    Nguồn: gso.gov.vn

     

    Tính đến tháng 3/2017, nước ta đã có 12 tỉnh thành được tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn vốn FDI này chủ yếu vào dành cho các thành phố lớn của Việt Nam là TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. TP Hồ Chí Minh dẫn đầu toàn quốc với 9 dự án đầu tư có tổng số vốn đầu tư FDI là 282.425.000 USD, bình quân 31.380.560 USD/dự án. Tiếp đó là Hà Nội với tổng 7 dự án có tổng số vốn đầu tư FDI là 101.000.700 USD, bình quân 14.485.810 USD/dự án. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào những thành phố lớn vì những thành phố này tập trung rất đông dân cư, TP Hồ Chí Minh có tổng dân khoảng 8 triệu người, Hà Nội là trên 7 triệu
    người. Ngoài ra, yếu tố khác ảnh hưởng tới quyết định đầu tư là thu nhập bình quân trên đầu người. Thu nhập bình quân tại những thành phố này khá cao so với các khu vực khác trên cả nước. Tại TP Hồ Chí Minh là vào khoảng 2.000 USD/người, tại Hà Nội là 1.500 USD/ người. Do đó, mức tiêu dùng, mua
    sắm, chi tiêu cho hàng hóa bán lẻ tại 2 thành phố này cao nhất tại Việt Nam. Đặc biệt là tiêu dùng vào những hàng hóa cao cấp. Điều đó khiến lĩnh vực phân phối, kinh doanh bán lẻ tại đây trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bán lẻ nước ngoài. Tóm lại, có thể thấy các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài mặc
    dù chưa có diện bao phủ rộng trên cả nước nhưng đã có mặt ở hầu hết các trung tâm mua sắm và tiêu dùng lớn của Việt Nam. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối trong nước mặc dù có lợi thế hơn về diện bao phủ nhưng ở những khu vực thị trường có nhu cầu lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí
    Minh, Cần Thơ… thì đều gặp khó khăn với phải sự cạnh tranh gay gắt với các trung tâm phân phối của nhà đầu tư nước ngoài.

    2.3.  Đánh giá hoạt động FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
    2.3.1. Tác động tích cực

    • Tốc độ tăng trưởng lĩnh vực phân phối bán lẻ thay đổi

    Bên cạnh những yếu tố bên trong, sẵn có của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây, sự tham gia tích cực của hàng loạt các doanh nghiệp đầu tư FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ tạo nên sự thúc đẩy và động lực phát triển vượt bậc của lĩnh vực này.
    Tại các thành phố lớn, phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại đang thay thế dần phương thức kinh doanh truyền thống. Trước đây, phương thức bán lẻ hiện đại chiếm tỉ lệ thấp, chỉ đạt khoảng 3% (năm 20012) thì nay đã lên tới 20-25% (năm 2017). Phân tích của Công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen còn
    chỉ ra rằng, đến năm 2018, phương thức này sẽ chiếm lĩnh 50% trong thị trường phân phối; riêng tại TP.HCM và Hà Nội, việc người dân thường xuyên đi đến các trung tâm thương mại, siêu thị, chuỗi cửa hàng… để mua sắm sẽ có thể chiếm tới 50% trong vài ba năm nữa.

    Các tập đoàn phân phối hành hóa bán lẻ lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường kinh doanh Việt Nam sẽ có thể tạo hai tác động cùng lúc:

    Thứ nhất, đó là tác động làm gia tăng nhanh chóng tốc độ phát triển của thị trường.

    Các tập đoàn phân phối, kinh doanh bán lẻ của nước ngoài đang hiện diện tại Việt Nam tiếp tục ra sức củng cố mạng lưới để mở rộng và nâng cao thị phần, giữ vững vị thế trên thị trường. Các tập đoàn kinh doanh khác, sau một thời gian tìm hiểu cơ hội kinh doanh tại thị trường Việt Nam vốn đã được thực hiện từ trước, sẽ bắt đầu tham gia vào thị trường này một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng sự tham gia này sẽ ảnh hưởngthực sự mạnh mẽ kể từ sau thời điểm 01 tháng 01 năm 2009, khi mà hành loạt hạn chế về thành lập doanh nghiệp FDI được dỡ bỏ. Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI sẽ đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ mới trong lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam. Lần đầu tiên việc bán lẻ hàng hóa được sắp xếp và quản lý một cách chuyên nghiệp. Điều này mang lại cho người tiêu dùng Việt Nam sự hài lòng không chỉ về giá cả, phẩm chất của hàng hóa tiêu dùng mà còn cả về chất lượng phục vụ của doanh nghiệp và những lợi ích gia tăng mà nhờ sự cạnh tranh này mang lại. Hơn nữa nhờ áp lực về cạnh tranh và đổi mới không ngừng, các đơn vị cung cấp dịch vụ kinh doanh, phân phối bán lẻ của Việt Nam phải tìm cách để đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối của mình.

    Từ đó, các doanh nghiệp đã làm cho thị trường kinh doanh, phân phối bán lẻ Việt Nam thay đổi đáng kể. Mặt khác là chính các nhà phân phối này tích cực nghiên cứu khả năng để tạo thêm những nhu cầu mới cho người tiêu dùng ở Việt Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh này có thể dự đoán và phân tích nhu cầu thực tiễn của người tiêu dùng để từ đó cung cấp những mặt hàng phù hợp với thị hiếu, nhu cầu và xu hướng tiêu dùng đang thay đổi nhanh chóng của người tiêu dùng Việt Nam.

    Thứ hai, đó là tác động làm tăng chất lượng của sự tăng trưởng do hoạt động cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, những sản phẩm dịch vụ kém chất lượng sẽ từng bước bị loại bỏ khỏi thị trường.

    Những sản phẩm kém về chất lượng ấy sẽ nhường chỗ cho những hàng hóa có xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng; đặc biệt những hàng hóa có chứng nhận đảm bảo về chất lượng, an toàn cho sức khỏe. Từ đó những cơ sở kinh doanh bán lẻ còn yếu kém cũng sẽ bị đào thải nhanh chóng; thay vào vị trí đó là những trung tâm
    mua sắm hiện đại, có hàng hóa chất lượng. Tình trạng nhà sản xuất tự chăm sóc hệ thống phân phối bán lẻ sẽ dần dần biến mất, thay vào đó giữa nhà sản xuất hành hóa và nhà phân phối kinh doanh bán lẻ sẽ có mối quan hệ mang tính chất hợp tác cộng sinh. Với sự tham gia của các doanh nghiệp FDI, hoạt động
    phân phối kinh doanh bán lẻ nước ta sẽ thực sự trở thành một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ.

    • Mang đến những phương thức quản lý và trình độ tổ chức kinh doanh hiện đại

    Trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh phân phối bán lẻ trong nước với nhóm các tập đoàn phân phối bán lẻ hàng hóa nước ngoài cũng vẫn còn một khoảng cách không nhỏ. Các tập đoàn phân phối hàng hóa lớn của nước ngoài có lợi thế hơn hẳn về kinh nghiệm kinh doanh, bán hàng cũng như đã tiếp cận được trình độ quản lý hiện đại của thế giới. Điều này thể hiện khá rõ ràng ở kết quả triển khai các hoạt động phát triển kinh doanh hết sức nhanh chóng và chuyên nghiệp của các tập đoàn kinh doanh phân phối nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.

    Chỉ không lâu sau khi có mặt tại Việt Nam, tập đoàn MegaMarket đã thiết lập được mối liên kết chặt chẽ với khoảng hơn 1.000 nhà cung cấp hàng hoá và khoảng 15.000 hộ nông dân, 15 lò mổ gia súc ở Việt Nam. Công tác quản lý chất lượng và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được MegaMarket phối hợp với Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện ngay từ đầu thông qua quy trình công nghệ sạch với các nhà cung ứng sản phẩm theo tiêu chuẩn MegaMarket dựa trên các quy định hiện hành của Việt Nam. Đối với Diamond Plaza, một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công vang dội của Diamond Plaza là sự chia sẻ lợi ích một cách thông minh giữa những người có nhu cầu thuê mặt bằng bán hàng và chủ sở hữu cho thuê. Khoảng 70% các quầy hàng tại nơi này chia sẻ một phần doanh số họ thu được cho chủ quản lý của Diamond Plaza. Đổi lại, họ sẽ được chủ quả lý chia sẽ những lợi ích từ các chương trình khuyến mãi, những sự kiện tiếp cận, lôi kéo khách hàng, nghiên cứu thị trường, khảo sát người tiêu dùng, thay đổi cách thức bày biện sản phẩm cho hấp dẫn…. Đây chính là nguyên nhân khiến doanh thu bán hàng của các nhà phân phối FDI đang chiếm ưu thế vượt trội trước các doanh nghiệp kinh doanh
    trong nước. Hiện nay, doanh thu của các doanh nghiệp trong nước còn ở mức khá thấp, siêu thị có doanh thu trung bình chỉ đạt mức khoảng 200 – 500 tỉ đồng/năm. Trong khi đó, doanh thu bình quân của hệ thống siêu thị của các doanh nghiệp nước ngoài thường cao gấp 2 – 3 lần mức này.

    • Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Sau tiến trình đổi mới vào năm 1986, kinh tế nước ta đã dần dần được khôi phục và tăng trưởng, sản xuất phát triển, thu nhập bình quân của người dân tăng lên, nhu cầu sử dụng hàng hóa cũng tăng lên. Để kích thích sự tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam, nhà nước đã quyết định cho phép những tập
    đoàn phân phối bán lẻ lớn được đầu tư vào nước ta. Mặc dù điều này khiến các doanh nghiệp kinh doanh phân phối trong nước sẽ phải chịu hàng loạt sức ép về cạnh tranh rất, nhưng chính sự gia tăng sức ép này tạo ra áp lực và động lực khiên các doanh nghiệp việt đổi mới cách thức kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của mình trong môi trường hội nhập mới.

    Điều này sẽ khiến cho doanh nghiệp Việt phát triển một cách ổn định và bền vững hơn. Tuy nhiên, sự đánh đổi đó có thể khiến một số doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ, sẽ phải đóng cửa hoặc phải thay đổi hình thức kinh doanh nhưng nếu xét trên lợi ích quốc gia, lợi ích và hiệu quả xã hội sẽ được nâng lên vì lúc
    này thị trường kinh doanh phân phối trong nước vẫn sẽ được đáp ứng bởi các doanh nghiệp mạnh hơn, kinh doanh hiệu quả hơn.

    Từ khi có sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tự thay đổi để hội nhập tốt hơn. Một số doanh nghiệp phân phối lớn trong nước như Tổng công ty Thương mại Hà Nội, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Công ty Xuất nhập khẩu Intimex,…, đặc biệt là Liên hiệp Hợp tác xã
    thương mại Saigon Co.op, đã có rất nhiều sự chuyển biến tích cực trong việc đổi mới các phương thức quản lý và tổ chức kinh doanh, tạo nên mối liên kết chặt chẽ với hầu hết nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ, sản phẩm, áp dụng quy trình quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm chặt chẽ, đầu tư xây dựng và
    triển khai hàng loạt các ứng dụng hệ thống quản lý bằng phần mềm công nghệ thông tin hiện đại… Riêng Saigon Co.op mới đây đã đầu tư hàng triệu USD để tái thiết lập hệ thống quản lý điện toán mới nhất.

    Các nhà đầu tư trong nước tiếp tục quá trình đẩy mạnh việc đầu tư mở rộng mạng lưới hệ thống phân phối của mình nhằm mục đích tăng cường hợp tác đầu tư theo chiều sâu để tạo ra hàng loạt mô hình hợp tác, liên doanh có quy mô, tầm cỡ. Quá trình này sẽ có thể diễn ra nhanh chóng bởi sức ép về cạnh
    tranh đã được các doanh nghiệp nhìn nhận một cách rõ ràng. Hơn nữa, đứng trước sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đổi mới liên tục mà còn phải tìm được cách thức liên kết đã tạo thành những doanh nghiệp lớn.

    Kể từ đầu năm 2012 đến nay, thị trường phân phối hàng hóa trong nước đã biết đến sự thành lập của Công ty CP Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (quy mô vốn lên tới 6.000 tỉ đồng); sự thành lập đó xuất phát từ sự
    liên kết của bốn DN phân phối hàng đầu nội địa là Saigon Co.op, Satra, Hapro và Tập đoàn Phú Thái. Sự xuất hiện của Hiệp hội bán lẻ Việt Nam cũng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong xu thế nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Đó chính là sự nỗ lực không ngừng của
    doanh nghiệp Việt Nam nhằm tích cực củng cố hơn năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự thành lập hiệp hội mở ra hi vọng với những bước phát triển mới cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

     

    • Phục vụ người tiêu dùng tốt hơn

    Về giá cả

    Trong bối cảnh giá cả thị trường biến động, ngày càng tăng cao, giá cả sản phẩm sẽ là yếu tố quyết định tạo nên doanh thu và nhu cầu cho siêu thị. Với tiềm lực tài chính lớn, các doanh nghiệp FDI có lợi thế trong việc hạ giá thành hàng hóa bằng những phương thức kinh doanh chiến lược (như mua tận gốc,
    bán tận ngọn) và những hình thức quy hoạch, tổ chức vùng chuyên canh thực phẩm và hàng hoá cho tất cả hệ thống. Điều này đã giúp các các doanh nghiệp nước ngoài này tiết kiệm được hàng trăm chi phí trung gian và họ có thể chủ động kiểm soát một cách chặt chẽ chất lượng hàng hoá.

    Kể từ 2 năm trở lại đây, hệ thống siêu thị Mega Market đã thu hút hàng ngàn khách hàng bằng chiến lược giá tốt. Các siêu thị của hệ thống này thường xuyên cung cấp hàng hóa với mức giá tốt hơn rất nhiều so với mức giá bình quân của toàn hệ thông siêu thị khác trong nước khoảng 10 – 15%, tức là giá cả tại Mega Market chỉ bằng giá bán buôn ở các chợ bán buôn lớn như Bến Thành (Thành phố Hồ Chí Minh), Đồng Xuân (Hà Nội)… Vì thế nên dù ở vùng xa trung tâm thành phố, những siêu thị này vẫn luôn đón nhận một lượng khách hàng rất lớn tìm đến mua hàng. Không chỉ Mega Market áp dụng chiến lược về giá, Siêu thị Big C cũng thu hút phần lớn khách hàng bằng chiến lược giá của mình bằng phương thức mua tận gốc, bán tận ngọn nhờ biết cách tổ chức, qui hoạch vùng chuyên canh thực phẩm và hàng hoá cho toàn bộ hệ thống đã giúp các tập đoàn này tiết kiệm được tầng chi phí trung gian và chủ động kiểm soát chất lượng
    hàng hoá. Nhờ vậy, Big C đã có hàng ngàn mặt hàng sản xuất độc quyền với thương hiệu “WOW giá hấp dẫn”.

    • Về số lượng

    Sự đa dạng, phong phú về các loại hàng hoá cung cấp trong các siêu thị của các tập đoàn đầu tư nước ngoài cũng là một ưu thế cạnh tranh rất đáng kể đối với nhiều doanh nghiệp phân phối trong nước. Tại trung tâm thương mại Zen plaza, đã có tới hơn 540 nhãn hiệu thời trang trong và ngoài nước và nếu tính
    trung bình một siêu thị trong hệ thống của Mega Market hoặc BigC thường xuyên cung cấp khoảng 15.000 mặt hàng các loại thì chắc chắn chỉ một phần nhỏ các doanh nghiệp trong nước có khả năng đáp
    ứng được.

    Về chất lượng

    Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ không chỉ chú ý vào chiến lược giá mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng chiến lược về chất lượng sản phẩm. Nắm được tâm lý của người tiêu dùng Việt Nam không có sự tin tưởng vào hàng hóa trong nước, các doanh nghiệp phân phối nước ngoài đã tập trung nhiều đến chất lượng sản phẩm được cung ứng trong hệ thống phân phối bán lẻ của mình. Như đã nói ở trên, hệ thống siêu thị Mega Market đã liên kết với thiết lập được mối liên kết bền vững với khoảng hơn 1.000 nhà cung cấp các loại hàng hoá khác nhau và khoảng 15.000
    hộ nông dân, 50 lò mổ gia súc ở Việt Nam. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được phối hợp với Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện ngay từ đầu quy trình công nghệ sạch với các nhà cung ứng hàng hóa theo tiêu chuẩn của công ty dựa trên
    các quy định của nhà nước Việt Nam. Những khách hàng đến đây không chỉ hài lòng về giá cả mà còn yên tâm về chất lượng sản phẩm. Không chỉ là đảm bảo chất lượng sản phẩm mà các doanh nghiệp FDI còn mang đến người tiêu dùng Việt Nam những thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thế giới như Mo&Co (Pháp), CK (Anh)…

    Về những dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Những tập đoàn bán lẻ đầu tư vào Việt Nam không chỉ chú ý tới giá cả và chất lượng sản phẩm mà những khách hàng đến mua sắm tại đây còn được hưởng những dịch vụ chăm sóc khách hàng khá chu đáo. Tại siêu thị Mega Market, dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng sau bán hàng rất được chú trọng.
    Mega Market phát hành phiếu trả hàng cho tất cả hàng hóa trả lại trong tình trạng còn tốt trong vòng 3 ngày và kèm theo hóa đơn. Đối với những mặt hàng điện tử, Mega Market bảo lưu thực trạng hàng hóa để chứng minh khiếu nại của khách hàng trước khi đổi hàng cho khách. Nhờ vào những dịch vụ chăm sóc
    khách hàng rất tốt, các doanh nghiệp FDI đã khẳng định đẳng cấp của mình trên thị trường Việt Nam và luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu về doanh thu bán lẻ.

    Như vậy, hàng triệu người tiêu dùng Việt được hưởng lợi nhiều hơn từ việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO với ý nghĩa là họ sẽ được tiêu dùng nhiều hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá rẻ hơn; được hưởng các dịch vụ với tiện ích tốt hơn, tính chuyên nghiệp cao hơn …Những lợi ích đó
    sẽ không chỉ các doanh nghiệp FDI mà các doanh nghiệp trong nước cũng sẽ mang lại cho người tiêu dùng bởi vì tất cả: trong nước cũng như nước ngoài muốn tồn tại được đều phải thông qua quá trình cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển. Cạnh tranh mang đến lợi ích cho người tiêu dùng.

    • Hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa

    Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phân phối bán lẻ, sự hài lòng của khách hàng là chìa khóa cho những thành công của doanh nghiệp.
    Để khiến khách hàng hài lòng thì cách tốt nhất là cung ứng những hàng hóa tốt nhất, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Nhưng các doanh nghiệp kinh doanh phân phối bán lẻ lại không thể trực tiếp sản xuất, vì thế để cải thiện chất lượng cho sản phẩm của mình, các doanh nghiệp FDI không ngừng nỗ lực trong việc hỗ trợ về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, vốn, con giống hoặc nguyên vật liệu cho nông dân và những doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ khác. Người nông dân ở trong mô hình sản xuất này, khi liên kết với những doanh nghiệp thì sẽ chú tâm hơn vào việc canh tác mà không cần phải suy nghĩ, bận tâm, loanh quanh trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Từ khi có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài, lĩnh vực phân phối sản xuất của nhà nông cũng trở nên sôi động. Sản phẩm nông nghiệp được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các nhà phân phối bán lẻ một cách nhanh chóng.

    Hơn nữa, do những tập đoàn bán lẻ có hệ thống siêu thị của mình trên khắp đất nước, từ đó các doanh nghiệp này đã tạo điều kiện cho nhà cung ứng Việt Nam được xuất khẩu hàng hóa. Như vậy các nhà sản xuất trong nước, đặc biệt là nông dân đã có cơ hội để phát triển và ổn định sản xuất; cũng như nâng cao
    trình độ sản xuất thông qua mối liên kết chặt chẽ với những nhà phân phối hiện đại, có quy mô lớn và hoạt động một cách chuyên nghiệp. Từ đó, họ sẽ có thể tạo ra được thu nhập cao hơn từ việc cung cấp cho các nhà phân phối này những sản phẩm có chất lượng tốt hơn.
    2.3.2. Tác động tiêu cực

    Khi mở cửa thị trường trong nước, bên cạnh những cơ hội và động lực phát triển, sẽ tồn tại không ít những tác động tiêu cực cho nền kinh tế trong nước và ảnh hưởng đến toàn xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa, một lĩnh vực khá nhạy cảm và có ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều bộ
    phận dân cư trong xã hội.

    Biến đổi trong tình trạng việc làm

    Sự biến đổi trong tình trạng việc làm được coi là một trong những mặt tác động lớn, rất đáng quan tâm nhất đối với Việt Nam khi mở cửa thị trường, dịch vụ của mình theo các cam kết trong WTO. Với đặc điểm của một thị trường còn mang nặng tính truyền thống, hoạt động phân phối hàng hóa được thực hiện qua mô hình chợ truyền thống và các cửa hàng, cửa tiệm buôn bán nhỏ lẻ của tư nhân vẫn chiếm phần lớn… thì mối quan tâm về việc làm này là hoàn toàn có cơ sở. Như đã trình bày ở trên, sự cạnh tranh giữa khu vực trong nước, các nhà phân phối hàng hóa chuyên nghiệp với các hộ kinh doanh cá thể là một đối trọng rất chênh lệch. Trong khi các nhà phân phối hàng hóa chuyên nghiệp có đủ khả năng thay đổi phương thức phân phối sản phẩm một cách nhanh chóng, hiện đại thì các hộ kinh doanh cá rất khó khăn để thích ứng và bắt kịp.

    Trong thời gian trước đây, Khi Việt Nam chưa chính thức mở cửa với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì sự lấn át của các doanh nghiệp phân phối lớn vẫn còn diễn ra rất châm. Thế nhưng khi mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam buộc phải đổi mới, bắt kịp, cập nhật để trở nên tốt hơn, sánh ngang với các nhà cung cấp nước ngoài. Điều đó khiên sự phân hóa, lấn át các hộ phân phối cá thể trở nên lớn hơn rất nhiều. Điều này dẫn đến sự thu hẹp quy mô, thị phần của hàng trăm các hộ kinh doanh cá thể. Hệ quả là những hộ kinh doanh nhỏ lẻ nếu không thích nghi kịp sẽ bị đào thải, đánh bật nhanh chóng khỏi thị trường. Về khía canh xã hôi, lực lượng lao động thất nghiệp do kết quả của quá trình mở cửa nền kinh tế sẽ là sức ép rất lớn cho các cơ quan nhà nước trong việc phân phối lực lượng lao động.

    Biến đổi trong tình trạng thu nhập của các nhóm đối tượng trong xã hội

    Rõ ràng là sự thay đổi trong tình trạng việc làm sẽ kéo theo sự thay đổi trong tình trạng thu nhập của những nhóm đối tượng liên quan. Nhóm đối tượng phải chịu tác động nặng nề nhất từ sự mở cửa nền kinh tế là các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ, phân bố không đều ở khắp các tỉnh thành Việt Nam. Điều làm
    nên sự quan tâm là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ này thường có thu nhập không cao, bấp bênh theo từng tháng. Do đó khi các doanh nghiệp lớn đầu tư, thị phần của những hộ kinh doanh này bị thu hẹp đáng kể. Điều đó có thể khiến họ thất nghiệp hoặc giảm sút thu nhập. Khi đó, gánh nặng về giải quyết vấn đề
    an sinh xã hội và phân phối lại thu nhập của cơ quan nhà nước sẽ càng nặng nề hơn.

    Tình trạng giảm sút trong thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ có thể còn tạo ra những tác động gián tiếp khác đáng quan ngại như khả năng tăng về tệ nạn xã hội, tình trạng mất cân bằng tỉ lệ giàu nghèo,… của các đối tượng trong xã hôi. Ngoài ra, một điểm đáng lưu tâm khác là mức thu nhập của các hộ kinh doanh này là nguồn tài chính duy nhất để đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Do đó, một tác động làm thay đổi về thu nhập của một hộ kinh doanh cá thể có thể làm ảnh hưởng tới rất nhiều thành
    viên khác trong gia đình đó.

    Các doanh nghiệp FDI tạo ra sự lũng đoạn thị trường

    Việc tiếp thị, lôi kéo số lượng khách hàng lớn của các siêu thị và trung tâm thương mại có thể khiến tình trạng phá sản dây chuyền của hàng trăm hộ kinh doanh cá thể khác. Ngoài ra, hội nhập còn tạo nên một sự lệ thuộc không nhỏ của các hộ sản xuất nhỏ vào các tập đoàn phân phối. Sự phụ thuộc này sẽ phải trả một giá đắt vì nó chi phối hầu hết hoạt động của các nhà cung cấp nhỏ lẻ.

    Các siêu thị thường đưa ra và duy trì một tiêu chuẩn cố định về sự an toàn thực phẩm và chất lượng hàng hóa đối với các nhà cung cấp. Nếu đáp ứng được thì các doanh nghiệp sẽ thu mua, còn không thì sẽ tồn đọng. Để có thể đáp ứng
    được những yêu cầu rất cao từ phía doanh nghiệp, người nông dân đầu tiên cần phải đầu tư máy móc, trang thiết bị, giống,… Điều đó khiến họ phải lâm vào cảnh vay vốn ngân hàng để sản xuất. Trong trường hợp doanh nghiệp không thu mua hoặc không đạt được tới tiêu chuẩn cần thiết thì người nông dân sẽ bị
    rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất.

    Ngành hàng gia dụng và trang trí là mặt hàng có thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thường xuyên áp dụng mức giá rất cao trong các đơn đặt hàng các sản phẩm gia công. Đồng thời, các doanh nghiệp nước ngoài cũng đưa ra các quy định rất cao về thời hạn
    giao hàng, nguồn nguyên liệu, đóng gói sản phẩm,… Nói cách khác, doanh nghiệp Việt chỉ cần sản xuất mà không cần phải lo đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên, họ sẽ bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài; khi phía nước ngoài ép hạ giá thành, các nhà sản xuất trong nước rất dễ bị lỗ, dẫn tưới phá sản.
    Dần dần, các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm, và quản được hầu hết các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam.

    Như vậy, rõ ràng là việc thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối hàng hóa bán lẻ sẽ cùng lúc tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển của Việt Nam. Mặc dù những tác động tiêu cực và tích này chỉ mang tính chất tương đối nhưng nhìn chung, Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích hơn, có nhiều động lực
    phát triển hơn so với thời kì chưa mở cửa nền kinh tế.

     

    CHƯƠNG  3:  CÁC BIỆN PHÁP GIÚP TẬN DỤNG HIỆU QUẢ DÒNG VỐN FDI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI- BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    3.1. Thuận lợi và khó khăn với việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực phân phối- bán lẻ tại việt nam

    3.1.1. Thuận lợi

    • Các xu hướng đầu tư trên thế giới
    • Xu hướng quốc tế hoá:

    Trên thế giới hiện nay, việc quốc tế hóa diễn ra ngày càng phổ biến, với bản chất chung là sự liên kết các thị trường trên các khu vực, lãnh thổ với nhau theo các thể chế song phương và đa phương. Bằng việc ký kết các hợp đồng về mở rộng thị trường đã giúp cho các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia trở nên ngày càng lớn mạnh bao gồm cả về lĩnh vực bán lẻ. Với lĩnh vực phân phối bán lẻ này, sự xuất hiện của các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn… ngày càng tăng lên về quy mô và phát tiển theo chuỗi. Hiện nay có một số tập đoàn bán lẻ trên khắp thị trường thế giới đang có kế hoạch đầu tư vào nước ta, ví dụ như Tập đoàn WalMart của Mỹ với hơn 7.500 cửa hàng trên khắp 14 nước, Tập đoàn Carefour của Pháp với hơn 15.000 cửa hàng phân phối rộng khắp trên hơn 30 quốc gia. Việc đầu tư này sẽ mang đến những ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam nói chung, và với ngành phân phối- bán lẻ nói riêng.

    • Xu hướng chuyển động của dòng vốn FDI sang nghành dịch vụ:

    Hiện nay, lĩnh vực dịch vụ của các nước phát triển phải chịu sức ép từ thị trường nội địa, điều này khiến cho các tập đoàn xuyên quốc gia cần tìm giải pháp mới, đó là phát triển đầu tư vào các nước kém phát triển hơn trong đó có Việt Nam, để có thể phát huy thế mạnh của họ. Sự phát triển của dòng vốn FDI trong ngành dịch vụ vào các nước đang phát triển tăng nhanh từ 28% năm 2012 lên 53% năm 2017. Các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ chiếm tới 67% trong tổng 100 công ty lớn nhất thế giới theo số liệu năm 2016, và doanh số của các công ty này đều cao hơn GDP của Việt Nam.

    • Xu hướng đầu tư FDI sang các lãnh thổ- khu vực khác:

    Chi tiêu thương mại và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia có sự tương đồng với nhau. Với các nước đang phát triển như ở châu Á, việc kinh tế ngày càng phát triển là một động lực cho chi tiêu tiêu dùng gia tăng. Thêm vào đó, tại châu Á nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng, hiện vẫn còn tồn tại một sự đặc trưng là mang tính sản xuất nhỏ lẻ trong quy mô gia đình, mua bán ngẫu nhiên theo nhu cầu và mua bán không có hệ thống, việc giao lưu thương mại chủ yếu là thông qua chợ. Điều này dẫn tới đây là thị trường mang lại nhiều cơ hội nhất cho các tập đoàn đa quốc gia trong việc tìm kiếm một thị trường mới, với lượng khách hàng phân tán lớn thì việc thu hút khách hàng chi tiêu theo hệ thống trở nên dễ dàng hơn.

    Tuy nhiên, tại các nước Đông Nam Á hiện nay có một vài nước có vấn đề bạo loạn như Thái Lan, Campuchia, thì với nước có tình hình kinh tế- chính trị ổn định như Việt Nam là một sự lựa chọn an toàn, điều này dẫn tới việc đầu tư vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng.

    • Xu hướng chi tiêu cá nhân tại Việt Nam
    • Xu hướng phát triển nhanh trong chi tiêu cá nhân:

    Qua các năm từ 2012 tới 2017,việc chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân của người dân nước ta ngày càng tăng nhanh, mang tới tiềm năng lớn cho sự phát triển của lĩnh vực phân phối- bán lẻ trong tương lai. Theo số liệu mới nhất do Tổng cục Thống kê vừa công khai, mức chi tiêu tiêu dùng cá nhân trung bình của nước ta tính tới thời điểm năm 2017 là >3.500.000 VNĐ/ người/ tháng, con số này sẽ tiếp tục tăng lên trong các năm tới. Thêm vào đó, mức hàng hóa bán lẻ cũng nhiều lên so với trước đây, nếu giai đoạn 2007- 2012 dịch vụ hàng hóa bán lẻ chiếm 66.18% so với các dịch vụ khác, thì tới giai đoạn 2012- 2017 con số này tăng lên 78.47%. Dự đoán giai đoạn từ nay tới năm 2025, con số này tiếp tục tăng lên và chiếm tới khoảng > 85% quỹ tiêu dùng.

    • Xu hướng thay đổi trong cách thức và mục tiêu mua sắm:

    Hiện nay,  đa số người tiêu dùng tại Việt Nam ngày càng thích mua sắm và chi tiêu trong các trung tâm thương mại, siêu thị hơn là các khu chợ ngoài trời vì sự tiện dụng, cũng như là nhiều sự lựa chọn cùng một lúc với các mức giá niêm yếu sẵn.

    Bên cạnh đấy thì người tiêu dùng Việt Nam cũng đang thay đổi phong cách sống nhanh chóng, họ sẵn sàng chi tiêu các khoản tiền lớn với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống hơn cho bản thân và gia đình, cụ thể:

     

     Hình ảnh 1: Xu hướng thay đổi trong chi tiêu của người Việt Nam giữa quý II/2017 so với quý IV/2016

     

    • Cam kết và việc thực hiện cam kết

    Qua nhận thức và đánh giá đúng các xu thế phát triển của nền kinh tế nước nhà, trong các năm qua Đảng và Chính phủ đã thống nhất thực hiện việc phát triển kinh tế nước nhà theo phương châm chủ động hội nhập theo một cách sâu rộng hơn.

    Theo đó, nhà nước đã thực hiện các biện pháp đẩy mạnh nền kinh tế, chính trị thông qua các ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương, giúp đẩy mạnh sự hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta.

    Tính tới nay, nước ta đã ký kết cùng với hơn 160 quốc gia và khu vực, trong đó có hơn 90 hiệp định về thương mại, hơn 46 hiệp định về đầu tư nước ngoài cùng các thỏa thuận về đối xử Tối huệ quốc khác,… Một số ký kết mang ý nghĩa to lớn điển hình như là Hiệp định khung với Liên minh châu âu (EU) (1992), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2000), có nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) ( năm 1993), tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (1995); tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) (1996), tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) (1996), tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) (1998),…

    Khi tham gia vào các ký kết nhằm hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi Việt Nam cần thực hiện đúng và đủ các nội quy và cam kết quốc tế về việc kết nối thị trường, bao gồm cả việc kết nối, mở cửa thị trường phấn phối- bán lẻ hàng hóa. Tính tới nay, việc mở cửa thị trường tại Việt Nam đã được mở hoàn toàn 100% cho các Doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài trên hầu như là tất cả các mặt hàng. Bên cạnh việc tăng sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI nội địa, thì Việt Nam cũng đã thu hút được sự đầu tư của các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới, ví dụ như Tesco (Anh), Walmart (nhà phân phối- bán lẻ lớn nhất thế giới hiện nay), cùng các tập đoàn lớn khác từ Nhật Bản, Pháp,…

    Ngoài ra, việc thực hiện đúng các cam kết, thỏa thuận này kéo theo sự thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng, người tiêu dùng hiện nay đang dần chuyển từ chi tiêu mua bán theo khuân mẫu truyền thống sang chi tiêu tiêu dùng trong các trung tâm thương mại lớn. Điều này giúp cho nne kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng tích cực hơn. Như vậy, ngành phân phối- bán lẻ của Việt Nam sẽ ngày càng đa dạng, lớn mạnh hơn, và có cơ hội trở thành một ngành công nghiệp tiên tiến hơn, để bắt kịp xu hướng chung trong khu vực và trên thế giới.

    3.1.2. Thách thức 

    • Cơ sở hạ tầng chưa phát triển

    Hiện nay tại Việt Nam cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, điều này là một khó khăn lớn đối với việc phát triển hệ thống phân phối- bán lẻ có sự đầu tư của dòng vốn FDI. Tại thời điểm này, hầu hết các mặt bằng tại nước ta đều không đảm bảo được về không gian, cũng như các mặt bằng có sẵn đều không đảm bảo được tiêu chuẩn theo chuẩn quốc tế và cần phải bỏ nhiều thời gian và chi phí để cải tạo lại trước khi đưa vào sử dụng. Bên cạnh sự khan hiếm về mặt bằng kinh doanh, thì chi phí thuê mặt bằng tại các thành phố lớn của nước ta cũng rất cao, trung bình vào khoảng 200 USD/m2/tháng với những mặt bằng có mặt

    • Thói quen chi tiêu truyền thống của người tiêu dùng

    Hiện nay mặc dù có những tập đoàn bán lẻ lớn như Coop Mart, Big C, Metro, Vin Mart,… đã đạt được rất nhiều thành công trong việc phân phối, nhưng vẫn con phần lớn người dân tham gia vào các khu chợ truyền thống, theo thống kê hiện còn khoảng trên 8000 khu chợ vẫn hoạt động mạnh và hiệu quả, thu hút một lượng lớn người tiêu dùng thuộc mọi tầng lớp, đặc biệt là tại các tỉnh vùng xa của nước ta, và những người có thu nhập trung bình- thấp, và những người ngoài độ tuổi lao động do họ có những tập quán, thói quen tiêu dùng theo họ đã từ rất lâu. Việc thay đổi tập quán, theo quen tiêu dùng của người dân không thể nhanh chóng, điều này thường dễ làm các nhà đầu tư nản lòng và là một lí do khiến các nhà đầu tư chần chừ trong việc ra quyết định đầu tư vào Việt Nam.

    • Sự hạn chế của nhà sản xuất trong nước

    Khi các tập đoàn bán lẻ của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, điều họ cần là một nguồn cung cấp ổn định và chất lượng. Thế nhưng thực trạng của các nhà sản xuất trong nước thì lại không đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, xong nhà sản xuất nước ta thì lại có quy mô nhỏ, chất lượng nhiều khi không đảm bảo, kỹ thuật máy móc chưa phát triển, hơn nữa việc giao hàng không đúng thời hạn vẫn còn xảy ra. Điều này là một thách thức lớn đối với các nhà sản xuất trong nước nói riêng và thách thức đối với việc thu hút được nguồn đầu tư FDI ổn định cho ngành phân phối- bán lẻ nói chung.

    Đặc biệt, đối với các mặt hàng như may mặc, giày dép, mặc dù chúng ta có thể sản xuất để tiêu dùng trong nước được nhưng do không đảm bảo được chất lượng cũng như thiếu kinh nghiệm, tài chính, nên đành phải chịu sự lép vế đối với những thương hiệu nước ngoài trong các khu thương mại, các khu mua sắm như Vincom, Parkson, …

    • Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa còn yếu

    Việc tham gia vào các ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương đẫ mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển nền kinh tế, thế nhưng đây cũng lại là một khó khăn đối với những doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp đang được Nhà nước bảo hộ. Do có sự bảo hộ của Nhà nước nên các doanh nghiệp ngày mang nặng tính ỷ lại, không chịu đổi mới về cả dịch vụ và chất lượng, cũng như không kịp thời đổi mới phương pháp kinh doanh  sản xuất. Do vậy, để có thể thu hút FDI vào lĩnh vực bán lẻ tốt hơn, thì trước tiên các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất, để có thể kịp thời đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư nước ngoài.

    3.2. Biện pháp để tận dụng tốt nguồn vốn FDI vào ngành phân hối- bán lẻ tại việt nam

    3.2.1. Từ phía Nhà nước

    • Thực hiện đúng theo cam kết quốc tế về kết nối thị trường phân phối- bán lẻ

    Mở cửa thị trường hàng hóa trong nước để giao lưu thương mại với thế giới là một điều kiện thuận lợi để cho nền kinh tế nước nhà phát triển, dồng thời cũng là một sức ép giúp các doanh nghiệp trong nước buộc phải chuyển đổi và phát triển hơn nhằm đẩy mạnh quá trình giao thương liên kết với thế giới. Mặt khác, nhờ được bảo hộ thông qua các chính sách khuyến khích tăng trưởng của Nhà nước, các doanh nghiệp nội địa đã có thêm thời gian giúp cho việc nghiên cứu việc sử dụng nguồn lực doanh nghiệp và xã hội để phát triển hơn, giúp tăng khả năng cạnh tranh cũng như hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI trong ngành phân phối- bán lẻ nói riêng và các ngành kinh tế thương mại khác nói riêng.

    Bên cạnh việc mở cửa kinh tế, Nhà nước cũng cần công bố, triển khai một cách rộng rãi tiến trình, kế hoạch thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi tới tìm hiểu thị trường, nguồn lực tại Việt Nam, Nhà nước ta cần tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi từ việc hỗ trợ về mặt pháp luật để giúp cho việc chuyển nguồn vốn về Việt Nam được nhanh chóng và thuận tiện nhất.

     

    • Nhà nước cần xây dựng và quy hoạch kế hoạch tổng thể để thu hút được vốn FDI vào ngành phân phối- bán lẻ.

    Để có thể thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp nước ngoài vào ngành phân phối- bán lẻ thì việc hoàn thiện sự hộ trợ pháp lý cho họ không đủ, bên cạnh đó Nhà nước cần có kế hoạch cụ thể và chi tiết về tổng thể ngành phân phối- bán lẻ và tương lai phát triển, điều này giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài có cái nhìn tổng quan hơn về lĩnh vực này tại Việt Nam.

    Thực tế, việc thu hút đầu tư vào ngành phân phối- bán lẻ một cách cân bằng rất khó thực hiện, bỏi đa số các dự án lớn cảu các tập đoàn nước ngoài chủ yêu dành cho các thành phố phát triển tại nước ta bởi họ luôn đặt doanh thu và lợi nhuận lên hàng đầu. Do vậy, Nhà nước cần có các kế hoạch cụ thể và dành cho các ưu đãi để có thể thu hút đầu tư nước ngoài vào các vùng kinh tế chưa phát triển, các vùng nông thôn nhằm giúp nền kinh tế phát triển một cách cân bằng hơn giữa các vùng. Góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa cho đất nước.

    • Nhà nước cần đưa ra các kế hoạch cải thiện môi trường đầu tư

    Để tạo sự thu hút cho các nguồn đầu tư, Nhà nước cần cải thiện môi trường đầu tư sao cho các nhà đầu tư quốc tế có được sự thuận lợi nhất khi quyết định đầu tư vào lĩnh vực phân phối- bán lẻ tại Việt Nam:

    Thứ nhất, tạo thuận lợi về thủ tục cũng như các giấy phép cho các dự án FDI

    Sự thuận lợi trong thủ tục và cấp các giấy phép cho các dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút được quyết định đầu tư và thực hiện các dự án của các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần thực hiện theo đúng cam kết trong WTO cũng như cá ký kết liên kết kinh tế thương mại khác để đảm bảo được lợi ích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Thứ hai, cải thiện cơ sở vật chất

    Mặt bằng cùng cơ sở vậy chất là một trong những yếu tố quan trọng đối với ngành phân phối- bán lẻ, nó giúp cho việc tăng doanh thu và lợi nhuận trở nên dễ dàng hơn. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp, chính sách để cải thiện cơ sở hạ tầng, đường xá giao thông, giải phóng các mặt bằng  và tạo điều kiện cấp giấy phép cho việc xây dựng để giúp đỡ các doanh nghiệp.

    Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, nhà nước cần quy hoạch đầu tư các vị trí để xây dựng các trung tâm thương mại, vừa có thể thu hút được các nhà đầu tư dễ dàng kinh doanh, vừa giúp cho người tiêu dùng trong nước có được sự hài lòng nhất định trong chi tiêu, cũng như giúp cho tổng thể cơ sở vật chất của thành phố hài hòa và phát triển hơn.

    Đối với những tỉnh chưa phát triển hay như những vùng nông thôn, nhà nước nên tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể xây dựng mặt bằng để thuận tiện hơn trong kinh doanh. Đồng thời, chính quyền địa phương ấy cũng cần có những kế hoạch cụ thể để xin các dự án đầu tư vào địa phương mình, giúp cho việc lựa chọn mặt bằng thích hợp và tiện ích cho các hoạt động của dự án.

    Thứ ba, Nhà nước cần có sự công bằng đối với các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài

    Các doanh nghiệp phân phối- bán lẻ trong nước hiện nay vẫn phụ thuộc vào sự bảo hộ của Nhà nước nhiều, gây ra sự trì trệ và ỷ lại trong sự quản lý phát triển doanh nghiệp, điều này dẫn tới sự cạnh tranh không công bằng đối với các doanh nghiệp phía nước ngoài. Có những doanh nghiệp nội địa còn mong muốn nhà nước dành cho nhiều thị phần thị trường hơn với tỉ lệ là 60/40, có lúc là 70/30, hay là việc tăng thuế nhập khẩu hàng hóa tạo ra hàng rào bảo vệ giúp đỡ cho các doanh nghiệp nội địa. Điều này là một dấu hiệu xấu đối với sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường bán lẻ hàng hóa, và có thể cản trở việc thu hút các nguồn vốn FDI vào nước ta.

    Ngoài ra, Nhà nước cũng đã có những hành động không công bằng với các doanh nghiệp nội địa như ưu tiên cấp đất tại vị trí đẹp cho các doanh nghiệp nước ngoài. Thế nên Nhà nước cần đưa ra các biện pháp thích đáng, nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, có thể thông qua biện pháp đấu thầu đất một cách công khai và hợp lý.

    Thứ tư, cải thiện môi trường pháp luật

    Môi trường pháp luật trong lĩnh vực dịch vụ hiện nay tại Việt nam là một hệ thống luật khá là phức tạp với nhiều loại luật và văn bản dưới luật, các quy định và nghị định do các cơ quan chức năng ban hành. Điều này gây ra một tiêu cực là thiếu minh bạch trong việc thực hiện pháp luật. Thực tế, các Doanh nghiệp nước ngoài thường được thông báo về những sửa đổi trong các quy định cần làm sau khi họ đã chuẩn bị xong các giấy tờ về cấp phép, vận hành một cách đầy đủ theo những quy định trước đó.

    Thêm vào đó, sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện pháp luật khiên shco việc tuân thủ pháp luật thiếu tính khách quan và không rõ ràng. Tại Việt Nam, mỗi Bộ và ban ngành khác nhau thì sẽ có vai trò khác nhau đối với ngành, khu vực, lĩnh vực mình quản lý, điều này khó tránh khỏi việc mỗi cơ quan và các cán bộ tại cơ quan đó theo đuổi những lợi ích riêng mà không quan tâm, không chú ý tới sự phát triển của nền kinh tế một cách tổng thể.

    Vì vậy, Nhà nước cần hoàn thiện môi trường pháp luật, làm cho việc ra các quyết định và thực hiện quy định có sự nhất quán với nhau. Tránh gây khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngài khi tới đầu tư vào Việt Nam.

     

    Thứ năm, tăng cường định hướng tiêu dùng trong nước và thu hút tiêu dùng từ khách du lịch nước ngoài

    Tiêu dùng là yếu tố quan trọng nhất đối với lĩnh vực phân phối- bán lẻ. Muốn lĩnh vực này phát triển hơn nữa, Chính phủ cần có các kế hoạch hướng người tiêu dùng sang sử dụng các hệ thống phân phối hiện đại hơn như các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn, cũng như cần phải sắp xếp sao cho các khu chợ truyền thống có thể nhất quán và đi liền với quy hoạch của các trung tâm thương mại.

    Bên cạnh việc lên kế hoạch thay đổi thói quen của người tiêu dùng, thì Chính phủ cũng cần quan tâm tới việc tăng mức xuất khẩu tại chỗ thông qua khách du lịch, thông qua việc thu hút du lịch cũng làm tăng việc chi tiêu của những đối tượng này tại các siêu thị, trung tâm thương maị, điều này dẫn tới tăng mức doanh thu, tăng lợi nhuận cho khu vực. Nhà nước cũng nên có kế hoạch thu hút các dự án đầu tư vào các khu du lịch, nhằm phát triển du lịch, tăng nguồn thu cho Nhà nước cũng như coi đây là một giải pháp cho việc tăng chi tiêu tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ.

    • Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nội địa sử dụng nguồn vốn hiệu quả

    Một trong những khó khăn còn tồn tại trong các nhà sản xuất là việc tiếp
    cận nguồn vốn và việc sử dụng nguồn vốn sao cho hiệu quả. Các doanh nghiệp nội địa nước ta thường thiếu nguồn lực tài chính để có thể mở rộng quy mô sản xuất, thiếu nguồn lực để tiếp cận các kỹ thuật tiên tiến, các máy móc hiện đại, bên cạnh đó trình độ quản lý cũng như trình độ của nhân công còn yếu kém, dẫn tới việc khó đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các tập đoàn nước ngoài. Việc Nhà nước hỗ trợ, giúp cho các doanh nghiệp sản xuất này tiếp cận được với nguồn lực tài chính sẽ giúp phát triển năng lực sản xuất, từ đó dần đáp ứng được nhu cầu nguồn cung của các doanh nghiệp nước ngoài.

    • Hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa kinh doanh ngành phân phối- bán lẻ

    Đối với các doanh nghiệp trong nước đang kinh doanh ngành phân phối- bán lẻ, Chính phủ cũng cần giúp đỡ để họ có thể nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, tránh bị lấn áp bởi các doanh nghiệp có vốn nước ngoài:

    Thứ nhất, phân tích và công bố kế hoạch về mở cửa thị trường và tự do thương mại.

    Giải thích một cách dễ hiểu các cam kết, điều lệ trong các ký kết mà Việt Nam đã tham gia, điều này giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin, từ đó có sự chủ động trong việc tận dụng các cơ hội để vượt qua các thách thức và phát triển hơn

    Thứ hai, hoàn thiện các chính sách, quy định để hỗ trợ các doanh nghiệp một cách tốt nhất.

    Vì khi gia nhập WTO cũng như các ký kết thương mại từ trước tới nay, các doanh nghiệp nội địa không tránh khỏi những bỡ ngỡ trước những sự thay đổi của môi trường kinh doanh quốc tế. Việc hoàn thiện các chính sách sẽ giúp định hướng cho các doanh nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia tốt hơn vào các cơ hội liên kết, kinh doanh, xúc tiến thương mại với thế giới.

    Ngoài ra, việc ban hành và hoàn thiện các chính sách cũng giúp cho các doanh nghiệp nhỏ lẻ có điều kiện tham gia vào chuỗi phân phối- bán lẻ như làm đại lý hay nhượng quyền kinh doanh, tham gia vào chuỗi phân phối lớn và có tính chuyên nghiệp cao, từ đó từng bước thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng ổn định lâu dài hơn, có nhiều cơ hội phát triển hơn.

    Thứ ba, Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp được nâng cao kiến thức về ngành phân phối- bán lẻ.

    Hiện nay, việc phổ cập kiến thức về ngành phân phối- bán lẻ đã được bố trí giảng dạy tại các trường cao đẳng- đại học với những cơ sở kỹ thuật tiên tiến, giảng viên có kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp và chuyên môn lĩnh vực cao, đồng thời có những giáo trình đào tạo theo đúng tiến trình phát triển của thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi để có thể đào tạo ra những thế hệ kinh doanh mới với nhiều kiến thức về lĩnh vực phân phối- bán lẻ, giúp cho việc điều hành doanh nghiệp hiện tại và tương lai ngày càng được vận hành theo một cách bài bản và phát triển hơn.

    Việc đào tạo này giúp cho các chủ kinh doanh nhỏ lẻ, theo cá thể, có thể tiếp nhận được những lý thuyết cũng như những kỹ năng cơ bản trong vận hành bộ máy kinh doanh, giúp cho việc phát triển bản thân trở nên dễ dàng hơn và có sức cạnh tranh hơn trong thời buổi lũng đoạn thị trường hiện nay.
    3.2.2. Từ phía doanh nghiệp 

    Bên cạnh việc tăng cường thu hút nguồn vốn FDI vào ngành phân phối- bán lẻ, thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa cũng rất quan trọng. Thế nhưng, khi hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này còn nhiều mặt còn hạn chế, chưa thật sự đủ mạnh hay vững chắc để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong môi trường quốc tế. Điều này nguyên do do kế hoạch tổ chức bộ máy của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, mang tính tự phát cao, cơ sở vật chất- kỹ thuật hạ tầng còn yếu kém, lực lượng nhân công lao động còn thiếu tay nghề,… Bởi vậy, khi tham gia vào môi trường giao thương quốc tế, nơi những doanh nghiệp quốc tế được vận hành bài ản, có đào tạo, có quy định chặt chẽ,… khiến cho các doanh nghiệp nội địa nước ta trở nên non yếu, dễ bị chèn ép. Do đó, các doanh nghiệp nội địa nước ta trước hết cần đổi mới và cải cách bộ máy tổ chức- quản lý, thực hiện vận hành các máy móc kỹ thuật tiên tiến và đào tạo lại trình độ của nhân công, giúp việc sử dụng các nguồn lực đạt được hiểu quả cao nhất, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhanh hơn.

     

     

    • Doanh nghiệp nội địa cần chủ động trong việc thu hút nguồn vốn

    Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ nước ta hiện đang phải chịu sự canh tranh lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài, điều tất yếu khi Việt Nam tham gia các ký kết và các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Điều này khiến yêu cầu các doanh nghiệp cần có một sự chuẩn bị cẩn thận, kỹ càng, và có hệ thống, đặc biệt là cần quan tâm tới nguồn vốn. Vậy nên các doanh nghiệp cần tìm mọi cách để huy động, thu hút nguồn vốn để thực hiện quá trình đầu tư sản xuất.

    Doanh nghiệp có thể thu hút, tìm kiếm nguồn vốn từ chính quỹ vốn bản thân đã có, huy động từ người thân, bạn bè, hoặc cũng có thể là từ nhân viên.

    • Tận dụng kiến thức về thị trường trong nước

    +

    • Đổi mới khâu tổ chức và quản lý
    • Thứ nhất, áp dụng công nghệ- thiết bị điện tử vào trong kinh doanh

    Nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghipeek trong nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ nói riêng, đều cần áp dụng các công nghệ, thiết bị điện tử, như là một điều tất yếu khách quan trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới.

    Đầu tiên, việc áp dụng công nghệ thiết bị điện tử tiên tiến giúp doanh nghiệp quản lý bộ máy vận hành một cách dễ dàng hơn thông qua việc tối ưu hóa năng suất sản xuất, giảm khối lượng công việc, giảm thiểu tổng mức chi phí, có được thông tin giữa nội bộ và thông tin liên kết với các doanh nghiệp khác chính xác và nhanh chóng hơn.

    • Thứ hai, sử dụng thương mại điện tử như một công cụ kinh doanh.

    Trong thời kì Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng nhanh chóng, mạnh mẽ với sự bùng nổ của công nghệ thông tin hiện nay. Thì đối với các doanh nghiệp nội địa cần coi thương mại điện tử- xây dựng các website- như một công cụ kinh doanh hữu ích nhất, giúp cho việc rút ngắn khoảng cách cả về thời gian và không gian giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người tiêu dùng; điều này giúp cho việc mở rộng hợp tác, điều hành doanh nghiệp, kết nối thông tin với các ban ngành, đối tác khác dễ dàng và nhanh chóng hơn. Việc sử dụng thương mại điện tử đúng lúc với sự chuẩn bị kĩ càng của doanh nghiệp sẽ giúp quá trình kinh doanh của họ đạt được nhiều kết quả tốt hơn.

    • Nâng cao chất lượng sản phẩm

    Chất lượng sản phẩm- dịch vụ của mỗi doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhất đối với mỗi cá thể tham gia vào quá trình kinh doanh, vì nó quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống bán lẻ như siêu thị tại nước ta vẫn còn nhiều vấn đề khiến người tiêu dùng và các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy mất niềm tin, khi nhiều cuộc thanh tra cho thấy trong hệ thống siêu thị vẫn còn tồn tại việc bán hàng quá thời hạn sử dụng, hàng chưa đạt tiêu chuẩn do có sự lỏng lẻo trong quản lý nguồn vào tạo điều kiện cho việc trà trộn hàng kém chất lượng vào siêu thị, hàng hóa chưa đạt vệ sinh an toàn thực phẩm,…

    Vì vậy các doanh nghiệp nội địa cần hết sức cẩn thận trong việc quản lý chất lượng theo  tiêu chuẩn ISO để mang lại chất lượng hàng hóa tốt nhất cũng như mang lại hiệu quả cho quá trình hoạt động kinh doanh, từ đó dần lấy lại niềm tin từ phía người tiêu dùng hay tạo uy tín để lôi kéo nguồn đầu tư FDI, từ đây tăng sức cạnh tranh cho mỗi bản thân các doanh nghiệp trong nội địa và trong khu vực cũng như trên thị trường quốc tế.

    • Nâng cao chất lượng nhân công lao động

    Nguồn nhân công được coi là một yếu tố gây ảnh hưởng tới sự sống còn của các doanh nghiệp. Một đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề cao giúp cho việc tham gia hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả cao nhất, giảm thiểu chi phí cũng như tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp.

    Hiện nay tại nước ta, các trường đại học- cao đẳng cũng đã đào tạo ra một thế hệ trẻ có năng lực, kiến thức chuyên môn tương đối tốt, các doanh nghiệp cần có sự chủ động trong việc tìm kiếm và tiếp nhận các nguồn lao động trẻ này để kịp thời nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.

    • Mở rộng thị trường kinh doanh tới khu vực nông thôn

    Thị trường nông nước ta đang trở thành một thị trường có tiềm năng lớn để phát triển với hơn khoảng 65 triệu dân với mức thu nhập ngày càng tăng, cũng như tại nông thôn có đủ mặt bằng để xây dựng các kênh phân phối bán lẻ. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng tại nông thôn sẽ giảm sự cạnh tranh, các sức ép từ các doanh nghiệp nước ngoài đi vì các doanh nghiệp nước ngoài hầu như đổ xô vào đầu tư tại các thành phố lớn cũng như việc đầu tư này giúp cho nền kinh tế nước ta tiến nhanh hơn trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và ngày càng đồng đều trong việc phát triển kinh tế chung trong cả nước.

     

     KẾT LUẬN

    Bằng những đánh giá thực tế tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2017 sau khi gia nhập WTO, đồ án đưa ra cái nhìn rõ ràng về sự phát triển của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Trong những năm vừa qua, dịch vụ bán lẻ tại Việt Nam đã chứng kiến sự cạnh tranh không ngừng nghỉ của các doang nghiệp trong nước và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Mở cửa thị trường là một xu hướng tất yếu, phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và thế giới. Hội nhập kinh tế thế giới,
    ngành kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam có nhiều chuyển hướng tích cực cùng với sự tăng lên của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ những quan điểm, lý luận về FDI và dịch vụ bán lẻ, đồ án chỉ ra dịch vụ bán lẻ tại nước ta thực sự là
    một thị trường thu hút với các nhà đầu tư nước ngoài. Kể từ khi bắt có dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên vào năm 1996, dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã và dang thu hút được hàng trăm tập đoàn bán lẻ dẫn đầu thế giới đến đầu tư và triển khai hàng trăm các hình thức bán lẻ hiện đại. Sự xuất hiện này thúc đẩy sự phát triển tích cực của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Cụ thể hơn, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thích ứng nhanh chóng, quyết liệt hơn với sự cạnh tranh không ngừng nghỉ từ thị trường. Điều đó khiến các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng sản phẩm.

    Qua sự phân tích nghiêm túc về FDI, đồ án đã đưa ra một số chứng minh cho việc các nhà bán lẻ nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam đã đem lại tác động vô cùng tích cực trong giai đoạn này. Do đó,  những biện pháp thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài một cách có chọn lọn, trọng điểm vào thời gian tới để tạo cơ hội nâng cao vị thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước
    Đứng trước tình hình kinh tế và sự phát triển các ngành nghề, dịch vụ bán lẻ hiện nay, việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cần một chính sách và định hướng cụ thể từ các đơn vị quản lý: đặc biệt về thủ tục xét duyệt và cấp phép, bố trí mặt bằng,… sao cho phù hợp với tình hình của địa phương và đất nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phân phối của Việt Nam cần nhận ra một cách nhanh chóng những thách thức trong tương lai để có thể nâng cao vị thế của mình bằng cách cải thiện, đôi mới tư duy, phát triển cơ sở vật chất,… Việc tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư FDI sẽ không còn là vấn đề tranh luận gay gắt nữa mà sẽ tiếp tục là một giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội Việt Nam phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-r%E1%BB%A7i-ro-thanh-kho%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

     

    THE IMPACT OF LIQUIDITY RISK ON BANK PERFORMANCE EFFICIENCY: EMPIRICAL EVIDENCE IN VIETNAM

     

    Trầm Thị Xuân Hương1, Trần Thị Thanh Nga2

     

    Ngày nhận: 24/1/2018             Ngày nhận bản sửa: 23/8/2018              Ngày đăng: 5/10/2018

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Bankscope và phương pháp SGMM nhằm phân tích tác động của rủi ro thanh khoản (RRTK) đến hiêu qua hoat đông kinh doanh (HQHĐKD) ngân hang, trường hợp Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng, trường hợp tại Việt Nam. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến HQHĐKD ngân hàng, rủi ro tín dụng tác động ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng, HQHĐKD ngân hàng khá nhạy cảm với biến động của cấu trúc tài sản và HQHĐKD ngân hàng trường hợp tại Việt Nam không chịu tác động bởi yếu tố khủng hoảng tài chính. Điều này gợi mở hàm ý chính sách quan trọng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam để kiểm soát RRTK nhằm ổn định hoạt động ngân hàng.

     

    Tư khoa: rủi ro thanh khoan, hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng.

     

    Abstract

     

    Bankscope data and Generalized Method of Moments (SGMM) method were used to analyze the impact of liquidity risk on bank performance efficiency, in the case of Vietnam in the period 2004-2015. We also considered another factors impact on bank performance besides liquidity risk. Results show that bank’s performance efficiency depends positively on liquidity risk, on share of own bank’s capital of the bank’s total assets, on change in GDP, on change in inflation and negatively on size of banks, credit risk. In another hand, the results of the study did not find statistically evidence of the impact of financial crisis on bank performance efficiency in Viet Nam. This suggests an important policy implication for commercial banks in Vietnam to control liquidity risk in order to stabilize banking operations.

     

    Keywords: liquidity risk, performance efficiency, bank.

     

    1. Giới thiệu

     

    Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất trong các rủi ro của ngân hàng, không chỉ đe dọa sự an toàn của từng ngân hàng thương mại, mà

     

    __________________________________________

    còn liên quan đến ổn định của cả hệ thống ngân hàng (Eichberger, Jürgen và Martin Summer, 2005). Cac nghiên cưu vê RRTK đươc xem la môt trong cac loai rui ro ngân hang như rui ro tin

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    dung hoăc la môt trong những yêu tô tac đông đên hiệu qua hoat đông kinh doanh ngân hang (Bourke,1989; Shen và cộng sự, 2009). Các nghiên cưu tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK (Bonfim và Kim, 2014; Bunda và Desquilbet, 2008; Gibilaro, Giannotti, và Mattarocci, 2010; Vodova, 2011) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK.

     

    Có khá nhiều nghiên cưu thưc nghiêm liên quan đến mối liên hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng. Một số nghiên cứu ở khu vực châu Phi (Sayedi, S. N.,2014; Athanasoglou va công sư, 2006; Ajibike, John O. và Aremu, Olusegun S.,2015); khu vực châu Á (Shen va công sư,2009); khu vực châu Âu (Bourke,1989; Poposka và Trpkoski,2013; Goddard và cộng sự,2004; Kosmidou và cộng sự, 2005) cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng. Một số nghiên cứu khác

     

    • khu vực châu Á (Chen và cộng sự,2001, Lee và Hsieh,2013); khu vực châu Phi (Kutsienyo, 2011; Bassey và Moses, 2015) lại cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa RRTK và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một số nghiên cứu (Roman và Sargu,2015; Almumani, 2013; Ayaydin và Karakaya, 2014) không cho thấy mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng hoặc mối quan hệ này có ý nghĩa nhưng chiều hướng tác động phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế và mô hình sử dụng như nghiên cứu (Naceur và Kandil, 2009; Ferrouhi, 2014). Đôi vơi Viêt Nam, đa phần các nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đo lường các yếu tố tac đông đên HQHĐKD ngân hàng (Liễu Thu Truc và Võ Thành danh, 2012) sử dụng phương pháp phân tích tổng năng suất nhân tố và phương pháp phân tích bao dữ liệu để chỉ ra kết quả rằng hiệu quả kinh doanh NHTM Việt Nam là do yếu tố phi hiệu quả về mặt công nghệ, quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ và sự tiêu tốn một cách lãng phí các yếu tố đầu vào: lao động, vốn, công nghệ,… Nghiên cứu của (Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà, 2012) về hiệu quả

    hoạt động của các ngân hàng khu vực Đông Nam Á. Cac nghiên cưu vê cac nhân tô tac đông đên hoat đông kinh doanh ngân hang như hoat đông cho vay thông qua chi tiêu dư nơ cho vay trên tông tai san (Nguyên Viêt Hung, 2008), hoat đông huy đông vôn thông qua chi tiêu huy đông vôn trên tông cho vay (Nguyên Thi Loan

     

    • Trân Thi Ngoc Hanh, 2013; Nguyên Viêt Hung, 2008); Quy mô vôn chu sơ hưu (Nguyên Thi Loan & Trân Thi Ngoc Hanh, 2013; Nguyên Viêt Hung, 2008); Quy mô vôn tai san (Nguyên Viêt Hung, 2008); Tôc đô tăng trương kinh tê (Nguyên Minh Sang, 2013); Ty lê lam phat (Nguyên Minh Sang, 2013). Có thể thấy, cac nghiên cưu tiếp cận riêng vê tac đông cua RRTK đên HQHĐKD ngân hang chưa đươc tim thây trong cac nghiên cưu trươc đây.

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, nghiên cứu thực nghiệm này thể hiện sự đóng góp trên các khía cạnh khác nhau: Thứ nhất, đóng góp nhất định về lý thuyết liên quan đến RRTK va HQHĐKD ngân hang. Thứ hai, bổ sung kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng Việt Nam. Thứ ba, đề xuất các gợi ý chính sách kiểm soát RRTK và đảm bảo HQHĐKD ngân hàng.

    2.           Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

    • Các lý thuyết về rủi ro thanh khoản

     

    Theo Rudolf Duttweiler1, thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn, liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ, nếu ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu

     

    • Rudolf Duttweiler: “Quản lý thanh khoản trong

    ngân hàng: Phương pháp tiếp cận từ trên xuống”, NXB Tổng hợp TPHCM, tr.23

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến RRTK. Bonfim và Kim (2012) cho răng sự phức tạp của vai tro trung gian tai chinh của ngân hàng lam phat sinh rui ro nguy hiêm đo la RRTK. Các ngân hàng sử dụng các nguồn lực han chê của mình trong việc cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng đê tài trợ thanh khoản nhăm đap ưng nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của họ. Hơn nưa, phần lớn các nguồn lực được sử dụng bởi các ngân hàng này thường được gắn liền với nghia vu nơ phai tra trong các hình thức nhân tiền gửi. Sư không phu hơp vê ky han đa dân đên rui ro thanh khoan cho cac ngân hang (Diamond và Dybvig, 1983). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) cho răng RRTK la rui ro ma ngân hang không co kha năng gia tăng quy trong tai san hoăc nghia vu nơ vơi chi phi thâp nhât. Brunnermeier (2009) nhân manh răng nêu cac ngân hang không quản lý RRTK phu hơp, chăc chăn các ngân hàng phải đối mặt với một cú sốc thanh khoản, phai thường xuyên bán tháo tài sản thanh khoản tích trữ và giảm cho vay đối với nền kinh tế. Những hành động này se lam gia tăng khả năng gián đoạn thị trường và ngân hang phai đôi măt vơi các cú sốc thanh khoản, dẫn đến một sự suy giảm kéo dài trong thanh khoản thị trường, điêu nay ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế thực. Có thể thấy rằng, vấn đề RRTK của từng NHTM cũng như RRTK hệ thống của toàn hệ thống ngân hàng ít nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản trị ngân hàng cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 xảy ra. Chính vì vậy, việc đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng là cần thiết và có giá trị thực tiễn.

     

    2.2. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng

     

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng thường được đo lường bằng khả năng sinh lợi.

    Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng hay khả năng sinh lợi của ngân hàng cơ bản dựa trên 2 lý thuyết: lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power) và ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – efficient structure).

     

    2.2.1. Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power)

     

    Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power) có hai hướng tiếp cận chính: lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure-Conduct-Performance) và lý thuyết Quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative market power). Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure – Conduct – Performance) cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định hành

     

    • của công ty và hành vi quyết định kết quả của thị trường, chẳng hạn như khả năng sinh lợi, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng. Đặc biệt nhiều ngành có sự tập trung cao tạo ra những hành
    • dẫn đến kết quả nền kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền (Bain, J. S.,1951). Lập luận theo lý thuyết SCP, thị trường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao và lãi suất huy động càng thấp vì mức độ cạnh tranh thấp đi. Trong khi đó, lý thuyết RMP (Relative market power) gợi ý rằng, các công ty có thị phần lớn và có các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995b). Chẳng hạn một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm và dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận hơn. Ly thuyêt hàm ý linh vưc nao cang co thi trương tâp trung thi kha năng sinh lơi cang cao do lơi ich tư sưc manh thi trương mang lai. Do

    đo, tôn tai môi quan hê tương quan dương giưa lơi nhuân va quyền lực thi trương (Maudos và de Guevara, 2007), gia thuyêt ham y quyền lực thi trương gia tăng thông qua hiêu qua quy mô lam tăng hiêu qua cua cac ngân hang. Hay noi

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    cach khac, quy mô cang tăng lam tăng lơi nhuân cua cac ngân hang.

    2.2.2. Lý thuyết Cấu trúc – Hiệu qua (ES – efficient structure)

     

    Ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – efficient structure), đươc đê xuât bởi Demsetz (1973) cho răng cac ngân hang hiêu qua nhât gianh đươc ca lơi nhuân va thi phân cao hơn; cac ngân hang tăng kha năng sinh lơi la kêt qua gian tiêp cua viêc cai thiên hiêu qua quan tri ngân hang chư không phai sưc manh tư lơi ich thi trương. Ly thuyêt này hàm ý rằng, mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu suất công ty được xác định bởi hiệu suất công ty hay nói cách khác hiệu suất công ty tạo nên cấu trúc thị trường. Theo đó, các ngân hàng lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho, 2011), ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – Efficient structure) thường được đề xuất theo 2 hướng tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét. Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X – (X – Efficiency), các công ty hiệu quả cao hơn thường đạt thị phần lớn và lợi nhuận cao hơn, bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào (Al – Muharrami, 2009). Đối với hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale – Efficiency), mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa theo quy mô. Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ tính kinh tế theo quy mô (Olweny và Shipho, 2011).

     

    Như vậy, có thể thấy lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – Market power) cho rằng, khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết cấu trúc (ES – Efficient structure) cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, tức là các yếu tố bên trong. Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào lý thuyết trên để giới thiệu một số biến hữu

    ích đưa vào mô hình đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng và phần lớn đều thừa nhận rằng khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny và Shipho, 2011).

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu bảng từ 26 ngân hàng trong giai đoạn 2004 – 2015 tại Việt Nam. Dữ liệu được lấy từ 2 nguồn: (i) dữ liệu cấp độ ngân hàng từ cơ sở dữ liệu của Bankscope, (ii) dữ liệu thông tin vĩ mô từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Trên cơ sơ cac dư liêu nghiên cứu, đề tài xác định cac biên nghiên cưu va mô hinh nghiên cưu tac đông đến RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp Việt Nam. Do han chê cua mô hinh Pool OLS trong ươc lương dư liêu bang (Kiviet, 1995), do đo ươc lương FEM va REM co thê đươc sư dung đê xư ly cac hiêu ưng ca nhân ( Individual Effects); tuy nhiên vi FEM va REM không xư ly đươc hiên tương nôi sinh (Ahn & Schmidt, 1995), do đo ky thuât ươc lương SGMM đươc sư dung đê xư ly cac vân đê nêu trên (Arellano & Bond, 1991; Hansen, 1982; Hansen, Heaton, & Yaron, 1996). Phương pháp SGMM cho ra các hệ số ước lượng vững, phân phối chuẩn và hiệu quả. Phần mềm Stata phiên bản 12 được sử dụng để xác định các kết quả nghiên cứu này.

     

    Bài báo dựa trên cách tiếp cận của Ferrouhi (2014) để xây dựng mô hình đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng và có bổ sung biến đo lường RRTK theo phương pháp khe hở tài trợ (dư nợ tín dụng – huy động vốn)/tổng tài sản nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu.

     

    Mô hinh:

     

    Pt = f(α, Pt-1, LIQUIDITY RISKit, CONTROLit, u)

     

    Trong đó: Biến phụ thuộc, Pit(NIM, ROA, ROE). Biến độc lập gồm: LIQUIDITY RISK: FGAP (khe hở tài trợ), NLTA (Dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản), NLST (Dư nợ tín dụng/Tổng

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    nguồn vốn huy động ngắn hạn). Các biến kiểm soát gồm: Quy mô ngân hàng (SIZEit); Bình phương quy mô ngân hàng (SIZEit^2 ); Chất lượng tài sản thanh khoản gồm các biến: LIAit (Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản), LLRit (Tài sản thanh khoản/Tông dư nơ tin dung), LADSit (Tài sản thanh khoản/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn); Cấu trúc vốn (ETAit); Dự phòng rủi ro tín dụng (LLPit); Tăng trưởng kinh tế (GDPit); Biến động của lạm phát (INFit); Cung tiền (M2it); D_CRIS: khủng hoảng tài chính.

     

    Trong đó: α (hệ số chặn), i (ngân hàng), t (năm), u (phần dư mô hình).

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả

     

    Để đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD của các ngân hàng, nghiên cứu sử dụng các mô hình ước lượng khác nhau được thực hiện cho 3 thang đo ROA, ROE và NIM trong đó mỗi mô hình được ước lượng theo OLS, REM, FEM, GMM. Các ước lượng đều có ý nghĩa thống kê (Prob > F) của mô hình đều rất nhỏ (Prob > F = 0,0000). Kế tiếp là sử dụng các kiểm định (test) như: F, LM, Hausman test để chọn mô hình thích hợp cho phân tích. Đó là các lựa chọn giữa mô hình OLS hay FEM; chọn OLS hay REM và REM hay FEM. Tỷ lệ VIF đều nhỏ hơn 20, nên mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Các F test, LM test, cho thấy các P-value của F, LM test đều nhỏ hơn 5% (< 0,05), có bằng chứng để bác bỏ các giả thuyết. Kiểm định Hausman cho kết quả p-value (Prob > F) của mô hình đều nhỏ hơn 0.05, đều này cho thấy mô hình FEM là phù hợp hơn REM. Và kiểm định LM cho kết quả REM là phù hợp hơn Pooled OLS. Như vậy giữa phương pháp REM và FEM thì FEM là phương pháp phù hợp nhất. Tuy nhiên kiểm định Wooldridge

    và Wald có P-value (< 0,05) cho thấy tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong FEM, điều này khiến cho kết quả của các hệ số hồi quy sẽ không hiệu quả. Hơn nữa, theo cơ sở lập luận phương pháp nghiên cứu ở trên do xuất hiện hiện tượng nội sinh trong mô hình, nên tác giả se hồi quy theo phương pháp hệ thống (S–GMM). Phương pháp S–GMM để loại bỏ các vấn đề của phương sai thay đổi, tự tương quan hay nội sinh nên kết quả ước lượng sẽ hiệu quả và vững. Sau đó, sử dụng kiểm định Sargan Test để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ. Các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.

     

    Xét về tương quan, tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam phù hợp với những dự đoán trên cơ sở khoa học. Nghiên cứu tìm thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều đến HQHĐKD ngân hàng (ROE, NIM) đều ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu trước (Lee và Kim, 2013; Sufian và Chong, 2008; Almumani, 2013; Ayaydin và Karakaya, 2014; Demirgüç-Kunt và cộng sự, 2003). Điều này hàm ý rằng các ngân hàng có HQHĐKD có xu hướng gia tăng đều chứa đựng RRTK cao hơn. Ngoài ra, nghiên cứu tìm thấy biến trễ của các biến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng (ROE, NIM) có tương quan cùng chiềuvới HQHĐKD ngân hàng ở mức ý nghĩa 1%, kết quả hoàn toàn tương với kết quả các nghiên cứu trước (Ayaydin và Karakaya, 2014; Lee và Kim, 2013). Điều đó cho thấy HQHĐKD ngân hàng có tác động lẫn nhau và tương quan giữa các thời kỳ.

     

     

    18

     

     

     

    19

    Bảng 1. Tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam

     

    Biến phụ thuộc: P (NIM, ROA, ROE) đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Biến độc lập: Pt-1 – Biến trễ hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng;

     

    LIQUIDITYRISK­- Rủi ro thanh khoản (FGAP, NLTA, NLST), CONTROL_Các biến kiểm soát gồm: SIZE – Quy mô ngân hàng; SIZE^2 – Bình phương quy mô ngân hàng; LIA- Chất lượng tài sản thanh khoản; LLR- chất lượng tài sản thanh khoản, LADS- chất lượng tài sản thanh khoản; ETA – vốn; LLP-rủi ro tín dụng; NIM -Thu nhập lãi cận biên. Các biến số kinh tế vĩ mô: GDP – Tăng trưởng GDP, M2 – Cung tiền, INFL – Lạm phát, D_cris – Biến giả khủng hoảng 2008. Giai đoạn nghiên cứu 2004 – 2015, Phương pháp ước lượng OSL, FEM, REM và SGMM. Mô hình hồi quy (2): Pt = f(α, Pt-1, LIQUIDITY RISK it, CONTROLit, u)

     

    Model

    OLS

    FEM

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    Variable

     

    ROA

       

    ROE

         

    NIM

       

    L.roa

    0.358***

    0.215***

    0.358***

    0.199

                       
     

    [7.25]

    [3.89]

    [7.25]

    [1.19]

                       

    L.roe

           

    0.455***

    0.221***

     

    0.455***

    0.134**

             
             

    [8.53]

    [3.39]

     

    [8.53]

    [2.21]

             

    L.nim

                     

    0.589***

    0.391***

     

    0.589***

    0.349***

                       

    [12.86]

    [7.41]

     

    [12.86]

    [4.88]

    fgap

    .

    .

     

    1.924**

    .

    .

       

    -15.12

    .

    .

       

    1.505**

     

    .

    .

     

    [1.88]

    .

    .

       

    [-1.53]

    .

    .

       

    [1.25]

    nlst

    0.00191

    0.00154

    0.00191

    0.00509**

    0.00546

    0.0347

     

    0.00546

    0.00371**

    -0.00295

    0.00373

     

    -0.00295

    0.00634*

     

    [0.63]

    [0.26]

    [0.63]

    [0.50]

    [0.19]

    [0.62]

     

    [0.19]

    [0.06]

    [-0.84]

    [0.56]

     

    [-0.84]

    [0.23]

    nlta

    -0.00749

    -0.00458

    -0.0267**

    0.00957

    -0.105*

    -0.0645

     

    0.0464

    0.103

    0.0209***

    0.0194*

     

    0.00589

    0.0335**

     

    [-1.16]

    [-0.43]

    [-2.06]

    [0.70]

    [-1.74]

    [-0.65]

     

    [0.38]

    [0.70]

    [2.83]

    [1.65]

     

    [0.40]

    [0.92]

    size

    0.534

    -0.322

    0.534

    1.149

    4.458

    -6.136

     

    4.458

    -6.214***

    -0.357

    -0.494

     

    -0.357

    2.972

     

    [1.11]

    [-0.41]

    [1.11]

    [0.88]

    [0.98]

    [-0.83]

     

    [0.98]

    [-0.34]

    [-0.65]

    [-0.57]

     

    [-0.65]

    [0.87]

    size2

    -0.0392

    0.103*

    -0.0392

    0.00787

    -0.311

    1.258**

     

    -0.311

    1.295

    0.0288

    0.0771

     

    0.0288

    -0.205

     

    [-1.09]

    [1.71]

    [-1.09]

    [0.06]

    [-0.92]

    [2.17]

     

    [-0.92]

    [0.70]

    [0.70]

    [1.16]

     

    [0.70]

    [-0.75]

    lia

    6.172***

    6.602***

    6.172***

    1.118***

    53.11***

    82.21***

     

    53.11***

    50.1***

    2.355

    0.768

     

    2.355

    -6.364

     

    [3.12]

    [2.83]

    [3.12]

    [0.19]

    [2.87]

    [3.72]

     

    [2.87]

    [0.92]

    [1.04]

    [0.30]

     

    [1.04]

    [-0.37]

    llr

    -0.0117***

    -0.0124***

    -0.0117***

    -0.0108**

    -0.137***

    -0.151***

     

    -0.137***

    -0.0687

    -0.00144

    0.00188

     

    -0.00144

    0.00202

     

    [-4.90]

    [-4.74]

    [-4.90]

    [-1.97]

    [-6.11]

    [-6.14]

     

    [-6.11]

    [-0.75]

    [-0.53]

    [0.65]

     

    [-0.53]

    [0.38]

    lads

    -0.0237

    -0.0212

    -0.0237*

    0.0166

    -0.122

    -0.24

     

    -0.122

    -0.0523

    -0.0123

    -0.00861

     

    -0.0123

    0.0433

     

    [-1.65]

    [-1.28]

    [-1.65]

    [0.43]

    [-0.91]

    [-1.53]

     

    [-0.91]

    [-0.19]

    [-0.75]

    [-0.47]

     

    [-0.75]

    [0.39]

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

     

    20

    Model

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

     

    Variable

     

    ROA

         

    ROE

         

    NIM

         

    eta

    0.0192*

    0.0525***

     

    .

    0.0399***

    -0.151

    0.106

     

    .

    0.00481

    0.0151

    0.024

     

    .

    -0.000787

     
     

    [1.88]

    [3.93]

     

    .

    [2.81]

    [-1.53]

    [0.85]

     

    .

    [0.02]

    [1.25]

    [1.60]

     

    .

    [-0.02]

     

    llp

    -0.331***

    -0.397***

     

    -0.331***

    -0.327***

    -0.69

    -0.915*

     

    -0.69

    -1.061

    0.0271

    0.0232

     

    0.0271

    0.159**

     
     

    [-6.78]

    [-7.20]

     

    [-6.78]

    [-4.26]

    [-1.54]

    [-1.77]

     

    [-1.54]

    [-0.78]

    [0.50]

    [0.38]

     

    [0.50]

    [1.97]

     

    gdp

    0.0205

    0.037

     

    0.0205

    0.0821

    1.271

    1.441

     

    1.271

    1.533***

    0.233**

    0.147

     

    0.233**

    0.0756

     
     

    [0.20]

    [0.36]

     

    [0.20]

    [1.48]

    [1.30]

    [1.51]

     

    [1.30]

    [2.74]

    [1.95]

    [1.30]

     

    [1.95]

    [0.53]

     

    infl

    -0.0131

    -0.0101

     

    -0.0131

    0.00181

    -0.145

    -0.0746

     

    -0.145

    -0.0223

    0.0218*

    0.0186

     

    0.0218*

    0.0231**

     
     

    [-1.24]

    [-0.99]

     

    [-1.24]

    [0.24]

    [-1.47]

    [-0.77]

     

    [-1.47]

    [-0.59]

    [1.82]

    [1.64]

     

    [1.82]

    [2.29]

     

    d_cris

    0.276

    0.219

     

    0.276

    -0.0015

    3.09

    3.008

     

    3.09

    3.005

    0.242

    0.0876

     

    0.242

    -0.368

     
     

    [1.04]

    [0.82]

     

    [1.04]

    [-0.01]

    [1.25]

    [1.21]

     

    [1.25]

    [1.60]

    [0.81]

    [0.30]

     

    [0.81]

    [-0.82]

     

    _cons

    -0.404

    -0.678

     

    1.519

    -6.207

    -6.609

    -6.759

     

    -21.73

    -15.74

    -0.858

    -0.668

     

    0.648

    -9.848

     
     

    [-0.21]

    [-0.23]

     

    [0.94]

    [-1.62]

    [-0.36]

    [-0.24]

     

    [-1.43]

    [-0.33]

    [-0.38]

    [-0.20]

     

    [0.34]

    [-1.10]

     

    N

    234

    234

     

    234

    205

    234

    234

     

    234

    205

    234

    234

     

    234

    205

     

    R-sq

    0.566

    0.552

         

    0.538

    0.46

         

    0.586

    0.323

           

    M. VIF

     

    9.

    42

         

    9.

    38

         

    9.

    37

         

    White’s

    Ho: homoskedasticity

       

    Ho: homoskedasticity

       

    Ho: homoskedasticity

         

    chi2(116) = 227.42

       

    chi2(116) = 225.79

       

    chi2(116) = 141.31

         

    test

                 

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0276

         
                   
                               
           

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

     

    F-test

         

    F(25, 194) = 1.93

         

    F(25, 194) = 1.81

         

    F(25, 194) = 2.52

     
           

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

     
             

    Hausman

    Ho: difference in coefficients not systematic

    Ho: difference in coefficients not systematic

    Ho: difference in coefficients not systematic

     

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 56.38

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 53.46

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 87.87

     

    test

     

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       
                   
                         

    Bresh-

    Test: Var(u) = 0

       

    Test: Var(u) = 0

       

    Test: Var(u) = 0

         

    Pagan

    chibar2(01) = 0.00

       

    chibar2(01) = 0.00

       

    chibar2(01) = 0.00

         

    test

    Prob > chibar2 = 1.0000

       

    Prob > chibar2 = 1.0000

       

    Prob > chibar2 = 1.0000

         
                   

    Sargan

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     
         

    chi2(54) = 12.90214

         

    chi2(54) = 12.72445

         

    chi2(54) = 16.01853

     

    test

                     
         

    Prob > chi2 = 1.0000

         

    Prob > chi2 = 0.0002

         

    Prob > chi2 = 1.0000

     
                       
                         

    Arellano-

    H0: no autocorrelation

       

    H0: no autocorrelation

       

    H0: no autocorrelation

         

    Bond test

    Prob > z = 0.2853

       

    Prob > z = 0.3740

       

    Prob > z = 0.4068

         
                                     

    Ghi chú́: Các ký́ hiệ̣u (***), (**), (*) cho biế́t mức ý́ nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa yếu tố cấu trúc tài sản (LIA) với HQHĐ ngân hàng (ROA) đều ở mức ky nghĩa 1%. Kết quả cho thấy, các ngân hàng nắm giữ các tài sản thanh khoản cao, rủi ro tài chính thấp hơn, HQHĐKD sẽ được kiểm soát tốt trong thời kỳ có cú sốc thanh khoản. Cấu trúc tài sản được đo lường với biến LLR (Tài sản thanh khoản/Tổng dư nợ) đều cho thấy có tác động ngược chiều với HQHĐ ngân hàng (ROA, ROE) với mức ý nghĩa thống kê 1%. Qua đó, cho thấy rằng nếu ngân hàng nắm giữ tỷ lệ tài sản thanh khoản cao sẽ làm gia tăng tỷ suất sinh lời nhưng đến một lúc nào đó, do gia tăng dư nợ tín dụng, điều này làm gia tăng rủi ro cho ngân hàng vì gia tăng chi phí, hiệu quả hoạt động ngân hàng có xu hướng giảm. Điều này hàm ý HQHĐ ngân hàng nhạy cảm với các biến động của tài sản. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì lợi nhuận ngân hàng không chỉ có được từ hoạt danh tiếng, cơ hội kinh doanh, mà một phần lớn sinh lợi từ quản trị rủi ro kỳ hạn của tài sản. Khi thị trường biến động, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế biến động tốt, khả năng thanh khoản và giá trị tài sản của ngân hàng sẽ tăng giá, các khoản đầu tư thu hồi nhanh hơn, sẽ góp phần tăng hiệu quả ngân hàng.

     

    Đồng thời, nghiên cứu tìm thấy quy mô ngân hàng (SIZE) tác động ngược chiều với HQHĐ ngân hàng (ROE) ở mức y nghĩa 1%, cho thấy quy mô tăng lên nhưng HQHĐKD ngân hàng giảm. Điều này là phù hợp thực tế Việt Nam, nguyên nhân dẫn đến sự tương quan ngược chiều là do những thay đổi trong chính sách quá nhanh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong giai đoạn nghiên cứu. Trong giai đoạn 2008 – 2010, Chính phủ đã thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất làm cho hoạt động tín dụng tăng trưởng mạnh, nguồn thu từ lãi của các ngân hàng tăng cao kéo theo khả năng sinh lời của các ngân

    hàng tăng mạnh. Tuy nhiên, khi kiềm chế lạm phát, tốc độ tăng trưởng bắt đầu có dấu hiệu phục hồi thì hoạt động của các NHTM lại bộc lộ những hạn chế yếu kém, buộc phải tập trung vào nâng cao chất lượng hoạt động, xử lý nợ xấu, khó mở rộng quy mô hoạt động nên làm cho các hoạt động ngân hàng giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Làn sóng mua bán, sáp nhập, tái cấu trúc diễn ra hàng loạt theo chủ trương của NHNN, với hy vọng ngân hàng sau sáp nhập tăng trưởng vượt bậc về quy mô, cộng hưởng thế mạnh của cả hai nhằm giảm thiểu chi phí. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là hiệu quả không được phát huy khi ngân hàng tái cấu trúc.

     

    Rủi ro tín dụng được đo lường bằng thang đo LLP (Dự phòng rủi ro tín dụng/Cho vay ròng) tương quan ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng với mức ý nghĩa 1%. Điều này cho thấy tác động của hoạt động tín dụng đến HQHĐKD ngân hàng là khá rõ nét và phù hợp với thực tiễn. Kết quả hàm ý rằng, yếu tố rủi ro tín dụng tác động gián tiếp đến RRTK từ đó tác động đến HQHĐKD ngân hàng. Điều đó, cho thấy trong giai đoạn tái cơ cấu, xử lý nợ xấu có vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng sinh lời.

     

    Đối với các biến vĩ mô, nghiên cứu tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa tăng trưởng kinh tế GDP và HQHĐ ngân hàng (ROE) ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu trước (Goddard và cộng sự, 2004, Chen và cộng sự, 2001, Shen và cộng sự, 2009). Điều này hàm ý rằng, tăng trưởng kinh tế sẽ tác động làm gia tang HQHĐKD ngân hàng, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái thì HQHĐKD ngân hàng có xu hướng giảm, điều này được giải thích là do khi kinh tế tăng trưởng giảm, các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân

     

    21

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    hàng, làm giảm lợi nhuận NHTM. Biến động lạm phát tương quan cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng (NIM) ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước (Shen và cộng sự, 2009; Sufian và Chong, 2008).

     

    Bên cạnh đó, HQHĐKD ngân hàng Việt Nam không chịu tác động bởi yếu tố khủng hoảng tài chính có thể do thị trường tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu nhưng rất nhạy cảm với các biến động thị trường. Việc Chính phủ theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát hay tăng trưởng đều có tác động đến HQHĐKD ngân hàng.

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Như vậy, bài viết kiểm định tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp ViệtNam có thể rút ra một số hàm ý như sau:

     

    Thứ nhấ́t, kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng. Điều này hàm ý, các ngân hàng có HQHĐKD có xu hướng gia tăng đều chứa đựng RRTK cao hơn. Thứ hai, HQHĐKD ngân hàng khá nhạy cảm với các biến động của cấu trúc tài sản. Chất lượng tài sản thanh khoản càng cao, HQHĐKD ngân hàng càng cao. Điều này là do các ngân hàng thường dự trữ tài sản thanh khoản ở mức tối ưu để đảm bảo hoạt động kinh doanh nếu có các cú sốc xảy ra. Nếu như các ngân hàng dự trữ tài sản thanh khoản vượt quá mức tối ưu thì sẽ tác động làm giảm HQHĐKD do chi phí tăng nhanh hơn so với doanh thu (Akhavein

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Anh:

    và cộng sự, 1997). Thứ ba, quy mô tác động ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng, trường hợp tại Việt Nam. Điều này cho thấy, quy mô ngân hàng tăng nhưng HQHĐKD không tăng. Các nhà quản trị ngân hàng tại Việt Nam cần chú ý thận trọng, kiểm soát kế hoạch tăng quy mô của các ngân hàng để đảm bảo HQHĐKD ngân hàng. Điều này, góp phần các hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam.

     

    Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là mẫu dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2004 – 2015 là khá ngắn so với các nước đang phát triển và chỉ mới sử dụng thang đo tỷ số là ROA, ROE, NIM. Nguồn thông tin này mang tính thời điểm và cho rằng thông tin HQHĐKD ngân hàng đã được điều chỉnh theo chiến lược kinh doanh của ngân hàng.

     

    Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xem xét tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng giữa các nhóm ngân hàng lớn, vừa và nhỏ và chưa đánh giá tính tương đồng của kết quả nghiên cứu so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực và các quốc gia phát triển ngoài khu vực để gia tăng tính tin cậy của kết quả nghiên cứu. Nếu như bộ dữ liệu có quy mô lớn hơn thì sẽ hỗ trợ cho việc xem xét vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết hơn. Nhóm tác giả kỳ vọng sẽ có những nghiên cứu tiếp theo để khắc phục những hạn chế khách quan của nghiên cứu này.

     

    Abdullah, A., & Khan, A. Q. (2012). Liquidity risk management: a comparative study between domestic and foreign banks in Pakistan. Journal of Managerial Sciences Volume VI Number, 1, 62.

     

    Ahn, S. C., & Schmidt, P. (1995). Efficient estimation of models for dynamic panel data. Journal of econometrics, 68(1), 5-27.

     

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Akhavein, J. D., Berger, A. N., & Humphrey, D. B. (1997). The effects of megamergers on efficiency and prices: Evidence from a bank profit function. Review of industrial Organization, 12(1), 95-139.

    Ajibike, J. O., & Aremu, O. S. (2015). The impact ofliquidity on Nigeria bank performance; a dynamic panel approach. Journal of African Macroeconiomic Review, 5 (2): 316, 24.

     

    Allen, F., & Gale, D. (2004). Financial intermediaries and markets. Econometrica, 72(4), 1023-1061.

     

    Al-Muharrami, S. (2009). The competition and market structure in the Saudi Arabia banking. Journal of Economic Studies, 36(5), 446-460.

     

    Athanasoglou, P. P., Brissimis, S. N., & Delis, M. D. (2008). Bank-specific, industry-specific and macroeconomic determinants of bank profitability. Journal of international financial Markets, Institutions and Money, 18(2), 121-136.

    Almumani, M. A. (2013). Impact of managerial factors on commercial bank profitability: Empirical evidence from Jordan. International Journal of Academic Research in Accounting, Finance and Management Sciences, 3(3), 298-310.

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey. Business and Economics Research Journal, 2(2), 139-152.

     

    Anyanwaokoro, M. (1996). Banking Methods and Processes. Enugu: Hosanna Publications.

     

    Aspachs, O., Nier, E. W., & Tiesset, M. (2005). Liquidity, banking regulation and the macroeconomy.

     

    Available at SSRN 673883.

     

    Ayaydin, H., & Karakaya, A. (2014). The effect of bank capital on profitability and risk in Turkish banking. International Journal of Business and Social Science, 5(1).

     

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey.

     

    Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. The review of economic studies, 58(2), 277-297.

     

    Berger, A. N., & Bouwman, C. H. (2013). How does capital affect bank performance during financial crises? Journal of Financial Economics, 109(1), 146-176.

     

    Berger, A. N., Herring, R. J., & Szegö, G. P. (1995). The role of capital in financial institutions. Journal of Banking & Finance, 19(3), 393-430.

     

    Bonfiim, D., & Kim, M. (2011). Liquidity risk in banking: is there herding?

     

    Bordeleau, É., & Graham, C. (2010). The impact of liquidity on bank profitability: Bank of Canada.

     

    Bain, J. S. (1951). Relation of profit rate to industry concentration: American manufacturing, 1936–1940. The Quarterly Journal of Economics, 65(3), 293-324.

     

    Brunnermeier, M. K. (2009). Deciphering the liquidity and credit crunch 2007–2008. The Journal of economic perspectives, 23(1), 77-100.

     

    Bourke, P. (1989). Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia. Journal of Banking & Finance, 13(1), 65-79.

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bunda, I., & Desquilbet, J.-B. (2008). The bank liquidity smile across exchange rate regimes.

     

    International Economic Journal, 22(3), 361-386.

     

    Chen, H.­J.; Kuo, C.J­.; Shen, C.­H. 2001. Determinants of net interest margins in Taiwan banking industry, Journal of Financial Studies 9: 47–83.

     

    Cucinelli, D. (2013). The determinants of bank liquidity risk within the context of euro area.

     

    Interdisciplinary Journal of Research in Business, 2(10), 51-64.

     

    Demsetz, H. (1973). Industry structure, market rivalry, and public policy. The Journal of Law & Economics, 16(1), 1-9.

     

    DeYoung, R., & Jang, K. Y. (2016). Do banks actively manage their liquidity? Journal of Banking & Finance, 66, 143-161.

     

    Diamond, D. W., & Rajan, R. G. (2001). Banks and liquidity. The American Economic Review, 91(2), 422-425.

     

    Demirguc-Kunt, A., Laeven, L., & Levine, R. (2003). Regulations, market structure, institutions, and the cost of financial intermediation (No. w9890). National Bureau of Economic Research.

     

    Eichberger, Jürgen, & Martin Summer. (2005). Bank capital, liquidity, and systemic risk. Journal of the European Economic Association, 3(2-3), 547-555.

     

    Fadare, S. O. (2011). Banking sector liquidity and financial crisis in Nigeria. International Journal of Economics and Finance, 3(5), 3.

     

    Fan, L., & Shaffer, S. (2004). Efficiency versus risk in large domestic US banks. Managerial Finance, 30(9), 1-19.

     

    Ferrouhi, E. M. (2014). Moroccan Banks analysis using camel model. International Journal of Economics and Financial Issues, 4(3), 622-627.

     

    Gibilaro, L., Giannotti, C., & Mattarocci, G. (2010). Liquidity Risk Exposure For Specialized And Unspecialized Real Estate Banks: Evidences From The Italian Market: European Real Estate Society (ERES).

    Goddard, J., Molyneux, P., & Wilson, J. O. (2004). The profitability of European banks: a cross‐ sectional and dynamic panel analysis. The Manchester School, 72(3), 363-381.

     

    Gorton, G. B., & Winton, A. (2014). Liquidity provision, bank capital, and the macroeconomy.

     

    Bank Capital, and the Macroeconomy (January 25, 2014).

     

    Hackethal, A., Rauch, C., Steffen, S., & Tyrell, M. (2010). Determinants of bank liquidity creation Working paper.

     

    Horváth, R., Seidler, J., & Weill, L. (2012). Bank capital and liquidity creation: Granger-causality evidence.

     

    Hansen, L. P. (1982). Large sample properties of generalized method of moments estimators.

     

    Econometrica: Journal of the Econometric Society, 1029-1054.

     

    Hansen, L. P., Heaton, J., & Yaron, A. (1996). Finite-sample properties of some alternative GMM estimators. Journal of Business & Economic Statistics, 14(3), 262-280.

     

    Kiviet, J. F. (1995). On bias, inconsistency, and efficiency of various estimators in dynamic panel data models. Journal of econometrics, 68(1), 53-78.

     

    24

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Kosmidou, K., Tanna, S., & Pasiouras, F. (2005). Determinants of profitability of domestic UK commercial banks: panel evidence from the period 1995-2002. Paper presented at the Money Macro and Finance (MMF) Research Group Conference.

    Kutsienyo, L. (2011). The determinant of profitability of banks in Ghana (Doctoral dissertation). Lee, J. Y., & Kim, D. (2013). Bank performance and its determinants in Korea. Japan and the

     

    World Economy, 27, 83-94.

     

    J Eichberger M Summer (2005). Journal of the European Economic Association, Volume 3, Issue 2-3, 1 May 2005, Pages 547–555.

     

    Moulton, H. G. (1918). Commercial banking and capital formation: III. The Journal of Political Economy, 705-731.

     

    Maudos, J., & de Guevara, J. F. (2007). The cost of market power in banking: Social welfare loss vs. cost inefficiency. Journal of Banking & Finance, 31(7), 2103-2125.

     

    Naceur, S. B., & Kandil, M. (2009). The impact of capital requirements on banks’ cost of intermediation and performance: The case of Egypt. Journal of Economics and Business, 61(1), 70-89.

     

    Olweny, T., & Shipho, T. M. (2011). Effects of banking sectoral factors on the profitability of commercial banks in Kenya. Economics and Finance Review, 1(5), 1-30.

     

    Poposka, K., & Trpkoski, M. (2013). Secondary Model for Bank Profitability Management–Test on the Case of Macedonian Banking Sector. Research Journal of Finance and Accounting, 4(6), 216-225.

     

    Roman, A., & Sargu, A. C. (2015). The Impact of Bank-specific Factors on the Commercial Banks Liquidity: Empirical Evidence from CEE Countries. Procedia Economics and Finance, 20, 571-579.

     

    Sayedi, S. (2014). Impacts of internal and external factors on profitability of banks in Nigeria.

     

    International Journal of Social Sciences and Entrepreneurship Vol, 1, 1-21.

     

    Shen C., Chen Y., Kao L. & Yeh C. (2009). Bank Liquidity Risk and Performance. SSRN. Skully, M. T., & Perera, S. (2012). Bank Market Power and Liquidity: Evidence from 113 Developed

     

    and Developing Countries. Paper presented at the 25th Australasian Finance and Banking Conference.

     

    Sufian, F., & Chong, R. R. (2008). Determinants of bank profitability in a developing economy: Empirical evidence from the Philippines. Asian academy of management journal of accounting and finance, 4(2), 91-112.

     

    Siaw, S. (2013). Liquidity risk and bank profitability. University of Ghana (Thesis).

     

    Saunders A. and Cornett M.M (2006), “Financial Institutions Management”, 5th edition, McGraw-Hill/Irwin, New York.

    Vodova, P. (2011). Liquidity of Czech commercial banks and its determinants. International Journal of Mathematical Models and Methods in Applied Sciences, 5(6), 1060-1067.

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Tiếng Việt:

     

    Nguyễn Công Tâm, & Nguyễn Minh Hà. (2012). Hiêu qua hoat đông cua ngân hang tai cac nươc Đông Nam A va bai hoc kinh nghiêm cho Viêt Nam. Kinh tế va chinh trị thế giới, 111(199), 17-30.

    Nguyên Minh Sang. (2013). Phân tich nhân tô tac đông đên hiêu qua sư dung nguôn lưc cua cac ngân hang thương mai trên đia ban TP.HCM. Phat triển & Hội Nhập, 11(21), 10-15.

     

    Nguyên Thi Loan, & Trân Thi Ngoc Hanh. (2013). Hiêu qua hoat đông tai cac NHTM Viêt Nam.

     

    Phat triển kinh tế, 270, 12-25.

     

    Nguyên Viêt Hung. (2008). Phân tich cac nhân tô anh hương đên hiêu qua hoat đông cua cac ngân hang thương mai ơ Viêt Nam. Trương Đai hoc kinh tê Quôc dân.

     

    Liễu Thu Truc, & Võ Thành danh. (2012). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần việt nam giai đoạn 2006-2009. Tạp chí Khoa học Trườ̀ng Đại học Cần Thơ, 21, 148-157.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-chi-ti%C3%AAu-ch%C3%ADnh-ph%E1%BB%A7-v%C3%A0-t%E1%BB%B7-gi%C3%A1-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-xu%E1%BA%A5t-kh%E1%BA%A9u-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-Ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-ARDL.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ TỶ GIÁ ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM: TIẾP CẬN MÔ HÌNH ARDL

     

    IMPACT OF FOREIGN DIRECT INVESTMENT, GOVERNMENT

     

    SPENDING AND EXCHANGE RATE ON THE EXPORT PERFORMANCE OF VIETNAM: ARDL APPROACH

     

    Lê Hoàng Phong1, Đặng Thị Bạch Vân2, Phạm Đức Huy3

     

    Ngày nhận: 24/8/2017                Ngày nhận bản sửa: 15/11/2017            Ngày đăng: 5/2/2018

     

    Tóm tắt

     

    Mục đích của nghiên cứu này là nhằm phân tích tác động của một số nhân tố đến xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2015 như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu của Chính phủ và tỷ giá. Trên cơ sở mô hình đa biến, bằng cách tiếp cận mô hình phân phối độ trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag: ARDL) nhóm tác giả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết (ĐLK) giữa các biến với kiểm định bound test và tính toán tác động dài hạn của các biến. Bên cạnh, mô hình UECM-ARDL được sử dụng để đánh giá các tác động ngắn hạn. Thông qua kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một vài khuyến nghị chính sách xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: ARDL, FDI, chi tiêu chính phủ, tỷ giá

    Abstract

     

    This paper investigates the impact of foreign direct investment, government spending and exchange rate on the export performance of Vietnam over the period of 1986–2015. Using the bound testing approach to cointegration developed within an autoregressive distributed lag (ARDL) framework, we investigate whether a long-run equilibrium relationship exists between export and the determinants as the basis for calculating the long-term effects. Additionally, using unrestricted error correction model based on ARDL approach (UECM-ARDL), we find evidences of the short-run impact. From the study findings, the paper also suggests few solutions to enhance the export policies of Vietnam.

     

    Keywords: ARDL, FDI, government spending, exchange

     

     

    • Trường Đại học Luật TP.HCM

     

    • Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

     

    • Trường Đại học Tài chính – Marketing

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    1. Giới thiệu

     

    Từ khi bắt đầu đổi mới năm 1986, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường, hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực nhằm tạo thêm cơ hội cũng như nâng cao khả năng tận dụng các cơ hội cho phát triển kinh tế. Đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam thu được những thành tựu quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, đưa Việt Nam từ một nước thu nhập thấp sang một nước có thu nhập trung bình thấp. Cũng trong giai đoạn 1986 – 2011, Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại do nhu cầu lớn đối với nguyên vật liệu, thiết bị máy móc hay công nghệ của nước ngoài trong khi khả năng và trình độ sản xuất trong nước còn

    thấp kém, điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn chế và giá trị xuất khẩu chưa đủ bù đắp cho chi tiêu nhập khẩu. Xét về mặt tổng thể, Việt Nam đối diện với tình trạng nhập siêu dai dẳng, tuy nhiên, nếu xét riêng về giá trị xuất khẩu hàng năm, dữ liệu cho thấy có một sự nỗ lực đáng kể trong việc đẩy mạnh xuất khẩu qua các năm (Hình 1). Tỷ lệ đóng góp xuất khẩu/GDP không ngừng tăng qua các năm. Đặc biệt, giai đoạn từ 2012 cho đến nay, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng mạnh mẽ đưa Việt Nam vượt qua giai đoạn nhập siêu trở thành quốc gia xuất siêu. Dấu hiệu này tạo nên các kỳ vọng và những nỗ lực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa.

     

     

     

     

     

    Hình 1: Cán cân thương mại, FDI và chi tiêu Chính phủ của Việt Nam 1986 – 2015

     

     

    Trong phạm vi bài viết này, tác giả sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) kiểm định trên dữ liệu của Việt Nam giai đoạn

    Nguồn: World bank (WB). 1986 – 2015 về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu của Chính phủ và tỷ giá đến xuất khẩu của Việt Nam.

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    2. Khung phân tích

     

    Hoạt động xuất khẩu của một quốc gia trở thành chủ đề quan tâm đối với các nhà nghiên cứu lẫn các nhà hoạch định chính sách vì một số lý do cơ bản sau: tăng xuất khẩu được kỳ vọng cải thiện cán cân thương mại; giải quyết việc làm; cải thiện GDP quốc gia; sự năng động của các ngành xuất khẩu được kỳ vọng tạo động lực cho sáng tạo và đổi mới, trong một số tình huống nhất định tập trung đổi mới và đẩy mạnh xuất khẩu được xem là giải pháp chiến lược để phục hồi kinh tế,… (Bournakis & Tsoukis, 2016).

     

    Vì thế, nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các yếu tố vĩ mô đến hoạt động xuất khẩu được nhiều tác giả tiến hành, như: Arize (1996), Arize và ctg (2000), F.S.T.Hsiao và M.C.W.Hsiao (2006), Sahoo (2006), Mortaza và Narayan (2007), Njong (2008), Wong (2008), Duasa (2009), Babatunde (2009), Chimobi và Uche (2010), Martinez-Martin (2010), Adhikary (2012),…

     

    Về tác động của FDI đến xuất khẩu nhận được sự quan tâm tương đối ít trong các nghiên cứu trước. Về mặt khái niệm, mối quan hệ nhân quả hai chiều tồn tại giữa xuất khẩu và FDI: xuất khẩu tạo ra FDI và sau đó FDI có thể kích thích xuất khẩu. Trong trường hợp FDI tìm kiếm thị trường, xuất khẩu và FDI có xu hướng thay thế cho nhau nhưng trong trường hợp FDI đầu tư để gia tăng năng suất, xuất khẩu và FDI có xu hướng bổ sung (Dunning, 1988; Markusen & Venables, 1998). Các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, khi xuất khẩu sang một thị trường nước ngoài dễ dàng hơn và ít nguy hiểm hơn là đầu tư vào một thị trường nước ngoài (tức là FDI). Các công ty có xu hướng ban đầu để xuất khẩu trong một thị trường nước ngoài và thành lập công ty con hoặc công ty hợp danh

    trên thị trường chỉ sau khi có được kinh nghiệm và kiến thức cần thiết về môi trường kinh tế, chính trị và xã hội của một đất nước (Liu, Wang, & Wei, 2001; Vernon, 1999). Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các doanh nghiệp địa phương trong các nền kinh tế chủ nhà được hưởng lợi từ những ảnh hưởng lan truyền phát sinh từ các công ty con nước ngoài theo định hướng xuất khẩu (Aitken, Hanson & Harrison, 1997; Anwar và Nguyen, 2011; Nguyen và Sun, 2012).

     

    • Việt Nam, theo Nguyen, Sun, & Anwar (2017), trong khi FDI và xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, mối quan hệ này vẫn không nhận được được nhiều sự chú ý trong các nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu chỉ mang tính chất thống kê mô tả. Trong nghiên cứu của mình, Nguyen, Sun, & Anwar tìm thấy rằng FDI tác động mạnh đến xuất khẩu hơn là nhập khẩu, tuy nhiên, tác động này là rất nhỏ (Nguyen, Sun,

    Về tác động của tỷ giá hối đoái đối với xuất khẩu: theo lý thuyết về tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở, khi tỷ giá hối đoái thực tăng (đồng nội tệ được coi là giảm giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài) làm cho xuất khẩu hàng hóa trong nước tăng, nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài giảm và ngược lại (Krugman, Obsfeld và Melitz, 2012). Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành kiểm tra tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu hàng hóa giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau với nhiều kết quả khác biệt. Trong khi Haleem và cộng sự (2005), Mwinuka và Mlay (2015), Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2015), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015) chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái tác động dương lên xuất khẩu; Nghiên cứu của Amoro và Shen (2013), Yusoff và Sabit (2015), Trần Thanh Long và

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Phạm Thị Quỳnh Hoa (2015) thì cho thấy tỷ giá hối đoái tác động âm lên xuất khẩu.

     

    Các nghiên cứu tác động của tỷ giá đối với xuất khẩu cho trường hợp Việt Nam như Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2015), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015), Trần Thanh Long và Phạm Thị Quỳnh Hoa (2015) chỉ đo lường tác động của tỷ giá và các nhân tố có ảnh hướng đến xuất khẩu của Việt Nam trong phạm vi một ngành xuất khẩu mà không đo lường tổng thể tác động của tỷ giá đối với tổng giá trị xuất khẩu. Một số nghiên cứu khác chỉ ra vai trò của tỷ giá đối với cán cân thương mại Việt Nam (sự chênh lệch giữa tổng giá trị xuất khẩu và tổng giá trị nhập khẩu). Nghiên cứu của Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân (2016, 2017) cho thấy tỷ giá có tác động tích cực đến cán cân thương mại cả trong ngắn hạn và dài hạn. Nghiên cứu của Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh (2013) cho thấy tỷ giá có tác động đối với cán cân thương mại theo hiệu ứng tuyến J, tức là tỷ giá có tác động làm thâm hụt cán cân thương mại trong ngắn hạn nhưng có tác động cải thiện trong dài hạn.

     

    Ngoài ra, Bournakis và Tsoukis (2016) đã tìm thấy vai trò đáng kể của Chính phủ trong việc hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu của một quốc gia. Bên cạnh đó, Morrison (1977)

    nghiên cứu về các yếu tố tác động đến xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển cũng tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ với mật độ dân số, các quốc gia có mật độ dân số cao có xu hướng vươn ra thế giới nhiều hơn (Yanikkaya, 2003; Adhikary, 2012).

     

    Nhìn chung, việc có tồn tại mối quan hệ giữa các biến số vĩ mô như FDI, tỷ giá, chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu hay không trong các nghiên cứu thực nghiệm trên vẫn chưa đạt sự đồng thuận trong kết quả nghiên cứu xuất phát từ sự khác biệt trong mẫu nghiên cứu, các biến đại diện, các công cụ kinh tế lượng cũng như đặc thù công nghệ, cấu trúc riêng của mỗi quốc gia. Vì vậy, mối quan hệ giữa chúng vẫn là nguồn cảm hứng cho tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với dữ liệu của Việt Nam.

     

    3. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu hàng năm trong khoảng thời gian 1986 – 2015. Dữ liệu các biến được thu thập từ World bank (WB), gồm biến phụ thuộc là xuất khẩu (EXP), các biến giải thích gồm: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mật độ dân số (PD), chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ (GC), tỷ giá (E). Các biến được thể hiện ở dạng logarit cơ số tự nhiên.

     

         

    Bảng 1: Tóm tắt các biến trong mô hình

               
     

    S

    Biến

     

    Giải thích biến

     
     

    TT

       
             
               
     

    1

    LEX

    Logarit tự nhiên của giá trị Xuất khẩu trên GDP

     
     

    P

     
             
             
     

    2

    LFDI

    Logarit tự nhiên của Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP.

     
             
     

    3

    LPD

    Logarit tự nhiên của mật độ dân số.

     
             
     

    4

    LGC

    Logarit tự nhiên của chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ

     
     

    trên GDP.

       
             
             
     

    5

    LE

    Logarit tự nhiên của tỷ giá USD/VND (E).

     
               

    4. Phương pháp nghiên cứu

    gian là tính dừng của dữ liệu. Khi các biến tích

    Một yêu cầu khi hồi quy dữ liệu chuỗi thời

    hợp ở các mức I (0) và I(1), các phương pháp

           

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    kiểm định đồng liên kết như phương pháp Engle and Granger (1987) dựa vào phần dư 2 giai đoạn và maximum likelihood của Johansen (1988) có thể thiên chệch kết quả về sự tương tác giữa các biến trong dài hạn. Liên quan tới vấn đề này, phương pháp phân phối trễ tự hồi quy (ARDL: Autoregressive distributed lag) được đề xuất bởi Pesaran, Shin và Smith (1996) cho kết quả ước lượng không thiên chệch ngay cả khi các biến tích hợp ở các mức I(0) và I(1) trong mô hình (Nieh và Wang, 2005). Vì vậy, một điểm thuận lợi của ARDL là không cần thiết xem xét mức tích hợp của các biến trong mô hình (Ahmed, Muzib, và Roy, 2013).

     

    Cũng theo Pesaran và cộng sự (1996) và Hamuda và cộng sự (2013), nếu như chúng ta không đảm bảo về thuộc tính về nghiệm đơn vị hay tính dừng của hệ thống dữ liệu, các biến không cùng mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp dụng thủ tục ARDL là thích hợp nhất cho nghiên cứu thực nghiệm. Bên cạnh, theo Pesaran và cộng sự (1996), Hamuda và cộng sự (2013), phương pháp ARDL còn có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp ĐLK khác:

     

    Thứ nhất, trong trường hợp số lượng mẫu nhỏ, mô hình ARDL là cách tiếp cận có ý nghĩa thống kê hơn để kiểm định tính ĐLK,

    trong khi đó kỹ thuật ĐLK của Johansen yêu cầu số mẫu lớn hơn để đạt được độ tin cậy.

     

    Thứ hai, trái với các phương pháp thông thường để tìm mối quan hệ dài hạn, phương pháp ARDL không ước tính hệ phương trình, mà nó chỉ ước tính một phương trình duy nhất.

     

    Thứ ba, các kỹ thuật ĐLK khác yêu cầu các biến hồi quy được đưa vào liên kết có độ trễ như nhau thì trong cách tiếp cận ARDL, các biến hồi quy có thể dung nạp các độ trễ tối ưu khác nhau.

     

    Thứ tư, cách tiếp cận ARDL cung cấp các ước lượng dài hạn không thiên lệch nếu một số các hồi quy mô hình là nội sinh.

     

    Dựa trên những thuận lợi của phương pháp ARDL, nhóm tác giả tiến hành sử dụng phương pháp này cho bài nghiên cứu của mình.

     

    Mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) trong phân tích dữ liệu chuỗi thời gian bao gồm hai thành phần: (i) Thành phần trễ (DL: Distributed Lag) – biến giải thích có thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc với độ trễ; (ii) Thành phần tự hồi quy (AR: Autoregressive) – biến phụ thuộc cũng có thể liên quan đến giá trị của thời kỳ trước (độ trễ) của chúng. Mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL p1 , p2 , p3 , p4 , p5 cho bài nghiên cứu có thể viết dưới dạng sau:

     

    p1

    p2

         

    LEXPt1, i LEXPt  i

    2, j LEt   j

         

    1

    0

     

    (1)

     

    p3

    p4

    p5

       

    3, k LFDI t  k

    4, l LPDt  l

    5, m LGCt  m

    t .

     

    0

    0

    0

       

    Ký hiệu     p1 , p2 , p3 , p4 , p5           là các độ trễ tối

     

    ưu của các biến trong mô hình. Việc lựa chọn độ trễ tối ưu cho các biến có thể được thực hiện bằng việc dựa vào các tiêu chuẩn AIC hay SBC.

     

    Theo Pesaran và Pesaran (1997), kiểm định

    đường bao (Bound test) là bước đầu tiên của thủ tục ARDL, để xác định việc tồn tại hay không tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến, tức là xác định việc có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến hay không.

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    p1

    p 2

         

    LEXPt1, i   LEXPt  i2, j   LEt   j

         

    1

    0

         

    p 3

    p 4

    p5

       

    3, k    LFDI t  k

    4, l    LPDt  l

    5,m

    LGCt  m

    (2)

    0

    0

    m  0

       

    1 LEXPt  1             2 LEt  1        3 LFDI t  1       4 LPDt  1        5 LGCt  1        t .

     

    Các giả thuyết kiểm định mối quan hệ ĐLK giữa các biến như sau: Giả thuyết H0:

    1 2 3 4 5 0 : không tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến, tức là không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các

     

    biến.                    Giả                    thuyết                    H1:

     

    1 2 3 4 5 0 : tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến, tức là tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến.

     

    Để kiểm định giả thuyết H0, tác giả so sánh giá trị của thống kê F (F-statistic) tính toán với giá trị giới hạn của hai đường bao ứng với các mức ý nghĩa chuẩn (đường bao dưới ứng với I(0), đường bao trên ứng với I(1)): Nếu giá trị

    của thống kê F (F-statistic) lớn hơn giá trị giới hạn của đường bao trên ứng với I(1) thì bác bỏ giả thuyết H0. Kết luận tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến. Nếu giá trị của thống kê F (F-statistic) nhỏ hơn giá trị giới hạn của đường bao dưới ứng với I(0) thì chấp nhận giả thuyết H0. Kết luận không tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến.

     

    Nếu giá trị của thống kê F (F-statistic) nằm giữa hai đường bao thì không rút ra được kết luận. Hiệu chỉnh sai số (Error correction term) sẽ được dùng xác định ĐLK (Kremers và cộng sự, 1992).

     

    Phương trình cân bằng dài hạn được viết dưới dạng sau:

     

           

    LEXP

    12

    LE

    3

    LFDI

     

    4

    LPD

    5

    LGC

    .

           

    (3)

    Trong đó, các hệ số dài hạn  12345

    được xác định như sau:

                   
                     

    p2

               

    p

               

    p

             

    p

       
                   

    2, j

             

    3

               

    4

             

    5

       
                               

    3, k

               

    4, l

             

    5,m

       
       

    ;

         

    0

    ;

         

    0

     

    ;

         

    0

    ;

           

    0

    .

    (4)

     

    p

    2

       

    p

    3

       

    p

     

    4

       

    p

    5

     

    p

    1

                                                 
     

    1

           

    1

             

    1

             

    1

             

    1

       
     

    11, i

           

    11, i

             

    11, i

             

    11, i

           

    11,i

       
       

    1

               

    1

                 

    1

                 

    1

             

    1

       

    Mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM – ARDL) với độ trễ            p1 , p2 , p3 , p4 , p5     theo phương pháp

     

    Engle – Granger như sau:

     

    LEXP

    p1

     

    p1

       

    LEXP

    ( i   1)

       

    t

       

    1, i

    t

       
     

    i   2

     

    i

               

    2,0     LEt

    p2

     

    p2

     

    LEt   ( j   1)

           
       

    2, j

           
                         
     

    j   2

     

    j

               
                       
     

    p3

    p3

               

    3,0LFDI t3, k

    LFDIt   ( k   1)

     
     

    k   2

    k

               

    4,0     LPDt

    p4

       

    p4

     

    LPDt   ( l   1)

         
       

    4, l

         
     

    l   2

       

    l

                 
     

    p5

     

    p5

     

    LGCt   (1)

       

    5,0     LGCt

    5, m

       
     

    m   2

    m

               
                                       

    p

    (11, i ) ECM t   1t .

     

    • 11

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    (5)

     

    Trong đó ECMt-1 là sai số hiệu chỉnh, phản ánh tốc độ điều chỉnh hướng tới cân bằng dài hạn.

    p1

    p2

       

    ECM1LEXPt1, i LEXPt  i2, j LEt  j

     

    1

    0

    (6)

     

    p3

    p4

    p5

     

    3, k LFDI t  k

    4, l LPDt  l

    5,m LGCt  m .

     

    0

    0

    0

     

    Để đảm bảo mô hình ARDL đáng tin cậy và ổn định, cần thực hiện các kiểm định chẩn đoán liên quan như: kiểm định Wald, kiểm định dạng sai mô hình thông qua kiểm định RESET của Ramsey, kiểm định Larange multiplier (LM) để kiểm tra tính tự tương quan, kiểm định phương sai sai số thay đổi, định tính ổn định của phần dư của mô hình thông qua kiểm định tổng tích lũy của phần dư (CUSUM: Cumulative Sum of Recursive Residuals) và tổng tích lũy hiệu chỉnh của

    phần dư (CUSUMSQ: Cumulative Sum of Square of Recursive Residuals).

     

    1. Kết quả nghiên cứu

    5.1. Kiểm định nghiệm đơn vị

     

    Kiểm định nghiệm đơn vị để chắc chắn rằng không có biến nào tích hợp ở bậc 2, bởi vì hồi quy có thể là giả mạo nếu các biến dừng

     

    • sai phân bậc 2. Kết quả kiểm định nghiệm

    đơn vị của các biến theo phương pháp ADF của Dickey và Fuller (1979) như sau:

     

    Bảng 2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị của các biến:

     

     

    Biến

    Giá trị thống kê t

     

    Kết luận

    Bậc tích hợp

     
                 
     

    LEXP

    -3,417**

     

    Chuỗi dừng

    I(0)

     
                 
     

    LE

    -6,455***

     

    Chuỗi dừng

    I(0)

     
                 
     

    LFDI

    -6,329***

     

    Chuỗi dừng

    I(0)

     
               
     

    LPD

    -0,965

    Chuỗi không dừng

       
                 
     

    ΔLPD

    -5,346***

     

    Chuỗi dừng

    I(1)

     
               
     

    LGC

    -2,677

    Chuỗi không dừng

       
                 
     

    ΔLGC

    -8,430***

     

    Chuỗi dừng

    I(1)

     
               
       

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

    Bảng 2 cho thấy ở mức ý nghĩa 5%, các

    không cùng mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp

    biến LEXP, LE và LFDI cùng tích hợp bậc 0,

    dụng  thủ  tục  ARDL  là  thích  hợp  nhất  cho

    riêng LPD VÀ LGC tích hợp bậc 1. Điều này

    nghiên cứu thực nghiệm).

    cho thấy việc sử dụng phương pháp ARDL là

    5.2. Kiểm định đường bao (bound test)

    thích hợp theo phương pháp nghiên cứu được

    Kiểm định đường bao nhằm xác định mối

    trình  bày  ở  mục  4  (Theo  Pesaran  và  Shin

    quan hệ ĐLK giữa các biến cho kết quả như

    (1999), Hamuda và cộng sự (2013), các biến

    Bảng 3.

       

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Bảng 3: Kết quả kiểm định đường bao (bound test)

     

    Intercept and no trend

    Số

    Giá trị

     

    Giá trị giới hạn của các đường bao

       

    biến

    thống kê F

         
                     

    k

    F-statistic

    90%

    95%

    97,5%

    99%

     

    I(0)

    I(1)

    I(0)

    I(1)

    I(0)

    I(1)

    I(0)

    I(1)

     
       

    4

    17,965

    2,425

    3,574

    2,850

    4,049

    3,292

    4,518

    3,817

    5,122

     

    Kết quả Bảng 3 cho thấy giá trị F-statistic lớn hơn giá trị giới hạn đường bao trên ứng với mức ý nghĩa 1% được cung cấp ở phần phụ lục trang 478, Pesaran và Pesaran (1997). Như vậy có thể bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: có sự tồn tại mối quan hệ ĐLK

    giữa các biến, hay nói cách khác là tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình.

     

    5.3. Lựa chọn độ trễ của mô hình ARDL Dựa vào tiêu chí SBC, độ trễ tối ưu của mô

     

    hình ARDL là ARDL (1, 1, 2, 0, 1) (Bảng 4).

     

    Bảng 4: Ước lượng mô hình ARDL với biến phụ thuộc LEXP

    Biến

    Hệ số

    Độ lệch chuẩn

    Thống kê t

    Xác suất

             

    LEXP(-1)

    0,06593

    0,17118

    0,3852

    0,705

             

    LE

    0,97502***

    0,18373

    5,3069

    0,000

             

    LE(-1)

    -0,35007*

    0,17790

    -1,9679

    0,065

             

    LFDI

    0,19449***

    0,05303

    3,6678

    0,002

             

    LFDI(-1)

    -0,24133***

    0,04214

    -5,7265

    0,000

             

    LFDI(-2)

    0,08931***

    0,03027

    2,9506

    0,009

             

    LPD

    1,78940***

    0,61100

    2,9286

    0,009

             

    LGC

    -0,17956

    0,15897

    -1,1295

    0,274

             

    LGC(-1)

    0,43655**

    0,16996

    2,5686

    0,019

             

    INPT

    -12,7470***

    2,84560

    -4,4795

    0,000

             

    R-Squared

    0,99

    DW-statistic

    1,680

           

    R-Bar-Squared

    0,98

    Schwarz Bayesian Criterion

    27,204

           

    F-statistic

    277,883

    Pob (F-statistic)

    0,000

             

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Mô hình ARDL vừa tìm được có R2  hiệu

    Tác  giả đã tiến hành các kiểm định liên

    chỉnh bằng 0,98, tức là mô hình giải thích đến

    quan như: kiểm định Wald, kiểm định dạng sai

    98% sự biến động của biến xuất khẩu theo các

    mô  hình  thông  qua  kiểm  định  RESET  của

    biến: tỷ giá, đầu tư trực tiếp nước ngoài, mật

    Ramsey, kiểm định Larange multiplier (LM)

    độ dân số và chi tiêu tiêu dùng của Chính phủ.

    để  kiểm  tra  tính  tự  tương  quan,  kiểm  định

    5.4. Các kiểm định tính phù hợp của mô

    phương sai sai số thay đổi (Bảng 5).

    hình

     
     

    20

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Bảng 5: Các kiểm định chẩn đoán

     

     

    STT

    Kiểm định

     

    Thống kê

       

    Giá trị thống kê

     

    Xác suất

     
                                         
     

    1

    Wald

       

    CHSQ(9)

       

    2500,949

     

    0,000

     
                               
         

    F(9, 18)

       

    277,883

     

    0,000

     
                                   
                                           
     

    2

    Dạng hàm

     

    CHSQ( 1)

         

    0,003

     

    0,955

     
                             
       

    F(1, 17)

         

    0,002

     

    0,964

     
                                     
                                           
     

    3

    Tự tương quan

     

    CHSQ( 1)

         

    0,534

     

    0,465

     
                             
       

    F(1, 17)

         

    0,330

     

    0,573

     
                                     
                           
     

    4

    Phương sai sai số

     

    CHSQ( 1)

         

    0,891

     

    0,345

     
     

    thay đổi

       

    F (1, 26)

         

    0,854

     

    0,364

     
                     
                                     
                   

    Bên cạnh, tác giả kiểm định tính ổn định

    of Recursive Residuals) (Hình 3) đều cho thấy

    của phần dư của mô hình thông qua kiểm định

    tổng tích lũy của phần dư và tổng tích lũy hiệu

    tổng   tích   lũy   của   phần   dư   (CUSUM:

    chỉnh  của  phần  dư  đều  nằm  trong  dải  tiêu

    Cumulative  Sum  of  Recursive  Residuals)

    chuẩn ứng với mức ý nghĩa 5% nên có thể kết

    (Hình 2) và tổng tích lũy hiệu chỉnh củ

    phần

    luận phần dư  ủa mô hình có tính ổn định và

                       

    Plot of Cumulative Sum of

    Recursive

       
                             

    Residuals

           

    dư (CUSUMSQ: Cumulative Sum of Square

    vì thế mô hình là ổn định.

       
       

    15

                                           
                                               
       

    10

                                         
                                             
       

    5

                                       
                                           
       

    0

                                       
       

    -5

                                         
                                             
       

    -10

                                     
                                         
       

    -15

           

    1993

    1998

    2003

    2008

    2013

     

    2015

     
                 
       

    1988

       
                       

    Plot of Cumulative Sum of Squares

       
                       

    The straight lines represent critical bounds at 5% significance level

       
                       

    Hình 2: Tổng tích lũy củ  phần dư.

       
                         

    of Recursive Residuals

       
       

    1.5

                                 
                                     
       

    1.0

                                 
                                     
       

    0.5

                                   
                                       
       

    0.0

                                 
                                     

    -0.5

    1993

    1998

    2003

    2008

    2013

    2015

    1988

    The straight lines represent critical bounds at 5% significance level

    Hình 3: Tổng tích lũy hiệu ch ỉnh của phần dư.

     

     

    Kết quả các kiểm định cho thấy mô hình đáng tin cậy và ổn định, đảm bảo để ước lượng các hệ số dài hạn và ngắn hạn.

     

    5.5. Ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình ARDL:

     

    Bảng 6 trình bày kết quả ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình ARDL với độ trễ (1, 1, 2, 0, 1). Với kết quả tính toán từ mô hình ARDL cho thấy: trong dài hạn các biến đều có tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam

    (LEXP).

     

    5.6. Ước lượng các hệ số ngắn hạn của mô hình ARDL:

     

    Để phân tích ảnh hưởng của xu hướng thay đổi ngắn hạn lên cân bằng trong dài hạn, nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Bảng 7 trình bày kết quả ước lượng các hệ số ngắn hạn từ mô hình ARDL với các độ trễ được lựa chọn.

     

    21

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Bảng 6: Ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình ARDL

     

    với các độ trễ (1, 1, 2, 0, 1) với biến phụ thuộc LEXP

     

    Biến

    Hệ số

    Độ lệch chuẩn

    Thống kê t

    Xác suất

    LE

    0,669***

    0,136

    4,929

    0,000

    LFDI

    0,045**

    0,076

    2,676

    0,015

    LPD

    1,915***

    0,365

    5,248

    0,000

    LGC

    0,275*

    0,152

    1,810

    0,087

    INPT

    -13,647***

    1,332

    -10,241

    0,000

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Kết quả cho thấy trong ngắn hạn, trong điều

    nước ngoài có tác động cùng chiều với biến

    kiện các yếu tố khác không đổi, biến thiên của

    thiên xuất khẩu ở hiện tại, nhưng giá trị biến

    tỷ giá hối đoái và mật độ phân bố dân số có tác

    thiên một năm trước đó có tác động trái chiều.

    động dương đến biến thiên của xuất khẩu của

    Trong khi sự tác động của chi tiêu Chính phủ

    Việt Nam. Còn biến thiên của đầu tư trực tiếp

    không có ý nghĩa về mặt thống kê.

    Bảng 7: Kết quả tính toán tác động ngắn hạn bằng mô hình

     

    hiệu chỉnh sai số (ECM) dựa trên cách tiếp cận ARDL với biến phụ thuộc ΔLEXP

     

    Biến

    Hệ số

    Độ lệch chuẩn

    Thống kê t

    Xác suất

    ΔLE

    0,975***

    0,184

    5,307

    0,000

    ΔLFDI

    0,194***

    0,053

    3,668

    0,001

    ΔLFDI (-1)

    -0,089***

    0,030

    -2,951

    0,008

    ΔLPD

    1,789***

    0,611

    2,929

    0,008

    ΔLGC

    -0,179

    0,159

    -1,130

    0,271

    INPT

    -12,747***

    2,846

    -4,480

    0,000

    ECM(-1)

    -0,934***

    0,171

    -5,456

    0,000

    R-Squared

    0,97

    DW-statistic

    1,731

    R-Bar-Squared

    0,96

    Schwarz Bayesian Criterion

    27,204

    F-statistic

    146,723

    Pob (F-statistic)

    0,000

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Với:

     

    ECM   LEXP   0, 669  LE   0, 045  LFDI

    (7)

     

    1,916  LPD   0, 275  LGC   13, 647   INPT.

       

    Phần sai số hiệu chỉnh cung cấp thông tin phản hồi hay tốc độ điều chỉnh của các hệ số ngắn hạn quy tụ về cân bằng dài hạn trong mô hình. Hệ số của phần sai số hiệu chỉnh ECM(-

     

    • có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đã đảm bảo rằng nghiên cứu có tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp như đã tìm ra ở phần kiểm định

    đường bao theo Pesaran (1997). Phần sai số hiệu chỉnh nằm trong khoảng [-1 < -0,934 < 0]. Điều này cho thấy mức độ điều chỉnh tới 93% sự sai lệch giữa giá trị ngắn hạn để đạt cân bằng dài hạn. Mô hình ECM giải thích được 96% sự biến động của chỉ số xuất khẩu

    của Việt Nam trong ngắn hạn.

     

    1. Kết luận

    Kết quả thực nghiệm cho thấy trong dài hạn, sự biến động của xuất khẩu của Việt Nam được giải thích bởi sự biến động của các biến: tỷ giá, đầu tư trực tiếp nước ngoài, mật độ dân số và chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ. Chúng đều có tác động một cách tích cực và có ý nghĩa thống kê đến xuất khẩu (LEXP) của Việt Nam.

     

    Với thị trường nội địa tương đối nhỏ, Việt Nam theo đuổi các chính sách kinh tế mở cửa và khuyến khích với hoạt động FDI, đã thu hút

     

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    được nhiều FDI định hướng xuất khẩu quan trọng. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, mặc dù trong ngắn hạn tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với xuất khẩu không rõ ràng nhưng trong dài hạn lại có tác động tích cực, khi cứ 1% tăng lên của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP làm cho EXP tăng 0,045% với mức ý nghĩa 5%. Tuy nhiên, tác động này là rất thấp. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyen, Sun, & Anwar (2017).

     

    Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Chính sách và Kinh tế (VEPR), sở dĩ FDI tăng là do Việt Nam là nước có lợi thế xuất khẩu khi giá nhân công rẻ, chi phí đầu vào trung bình rẻ hơn so với nhiều nước khác, nguyên liệu nhiều ngành như nông sản, thủy sản có tại chỗ,… (Quốc Hùng và Hồng Phúc, 2015). Vì thế, để tận dụng cơ hội với nguồn vốn FDI, khi đưa ra các ưu đãi đầu tư, Việt Nam cần phải có chọn lọc đối với ngành, lĩnh vực nhất định phù hợp với chính sách xuất khẩu, nhằm đạt mục tiêu và định hướng phát triển theo từng giai đoạn.

     

    Trong mô hình, biến tỷ giá có tác động tích cực đến EXP, cứ 1% tăng lên của tỷ giá thì EXP tăng 0,669% với mức ý nghĩa 1%. Để cải thiện xuất khẩu, đối với cơ chế điều hành tỷ giá hiện thời, Chính phủ cần có những biện pháp nhằm giảm thiểu những rủi ro, đặc biệt là

     

    Tài liệu tham khảo

    tăng cường tính linh hoạt của tỷ giá trong giới hạn ổn định cho phép, theo hướng ổn định vĩ mô. Để ổn định tỷ giá, một điểm tựa vững chắc để ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ cũng cần kiểm soát chặt chẽ cung tiền. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm ổn định thị trường tiền tệ, bảo đảm khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng và đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, trong đó ưu tiên lĩnh vực xuất khẩu.

     

    Trong dài hạn, khi các điều kiện vĩ mô đã chín muồi, thị trường tài chính trong nước được cải thiện cùng với các cơ chế giám sát hữu hiệu, mở cửa tài chính là bắt buộc và tất yếu theo lộ trình cam kết mở cửa tài khoản vốn, thì cơ chế thả nổi tỷ giá có quản lý là một lựa chọn hợp lý.

     

    Mặc khác, kết quả thực nghiệm minh chứng tác động của chi tiêu tiêu dùng Chính phủ đối với xuất khẩu của Việt Nam trong ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê nhưng có tác động thúc đẩy xuất khẩu trong dài hạn, khi mà cứ 1% tăng lên của chi tiêu tiêu dùng Chính phủ thì EXP tăng 0,275% với mức ý nghĩa 10%. Điều này hàm ý: Chính phủ cần điều tiết chi tiêu tiêu dùng, quan tâm để đạt được cân bằng cán cân ngân sách trung và dài hạn, đồng thời để tạo cú hích cho xuất khẩu hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững.

     

    Adhikary, B. K. (2012). Impact of foreign direct investment, trade openness, domestic demand, and exchange Rate on the export performance of Bangladesh: A VEC Approach. Economics Research International, 2012.

     

    Ahmed, M.U., Muzib, M. and Roy, A. (2013). Price-Wage Spiral in Bangladesh:Evidence from ARDL Bound Testing Approach. International Journal of Applied Economics, 10(2), pp. 77-103.

     

    Amoro, G., Shen. Y. (2013). The Determinants of Agricultural Export: Cocoa and Rubber in Cote d’Ivoire. International Journal of Economics and Finance. 5(1), pp. 77-103.

     

    Anwar, S., & Nguyen, L. P. (2011). Foreign direct investment and export spillovers: Evidence from Vietnam. International Business Review, 20(2), pp. 177-193.

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Aitken, B., Hanson, G. H., & Harrison, A. E. (1997). Spillovers, foreign investment, and export behavior. Journal of International Economics, 43(1), pp. 103-132.

     

    Arize, A. C. (1996). The effects of exchange-rate volatility on U.S.exports: an empirical investigation. Southern Economic Jour-nal, vol. 62, no. 1, pp. 34–43.

     

    Arize, A. C., Osang, T., & Slottje, D. J. (2000). Exchange-rate volatil- ity and foreign trade: evidence from thirteen LDC’s. Journal of Business and Economic Statistics, vol. 18, no. 1, pp. 10–17.

     

    Babatunde, M. A. (2009). Can trade liberalization stimulate export performance in Sub-Saharan Africa?. Journal of International and Global Economic Studies, vol. 2, no. 1, pp. 68–92.

     

    Bournakis, I., and Tsoukis, C. (2016). Government size, institutions, and export performance among OECD economies. Economic Modelling, 53, 37-47.

     

    Chimobi, O. P. and Uche, U. C. (2010). Export, domestic demand and economic growth in Nigeria: granger causality analysis. European Journal of Social Sciences, vol. 13, no. 2, pp. 211– 218.

     

    Dickey, D. and Fuller, W. (1979). Distribution of the Estimators for Autoregressive Time Series with a Unit Root. Journal of the American Statistical Association (74), pp. 427-431.

     

    Duasa, J. (2009). Asymmetric cointegration relationship between real exchange rate and trade variables: the case ofMalaysia. MPRA Paper 1453.

     

    Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of International Business Studies, 19(1), pp. 1-31.

     

    Engle,  R.   F.,   and   C.   W.   J.   Granger.   (1987).   Co-Integration   and   Error    Correction:

     

    Representation, Estimation, and Testing. Econometrica, 55, pp. 251-276.

     

    Haleem, U. et al. (2005). Estimation of Export Supply Function for Citrus Fruit in Pakistan.

     

    The Pakistan Development Review, 44 (4), pp. 659–672.

     

    Hamuda, A. M., Suliková, V., Gazda, V. & Horváth, D. (2013). ARDL investment model of Tunisia. Theoretical and Applied Economics. (20:2), pp. 57-68.

     

    Hà Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh. (2013). Mối quan hệ tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán. Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng, số 103, trang 17-24.

     

    Hsiao, F. S. T. and Hsiao, M. C. W. (2006). FDI, exports, and GDP in East and Southeast Asia-Panel data versus time-series causality analyses. Journal of Asian Economics, vol. 17, no. 6, pp. 1082–1106.

     

    Johansen, S. (1988). Statistical Analysis of Cointegration Vectors. Journal of Economic Dynamic and Control, 12, pp. 231-254.

     

    Krugman, P. R., Obsfeld, M., Melitz, M. (2012). International economic. 9th ed, Addison Wesley Pearson.

     

    Le Hoang Phong and Dang Thi Bach Van. (2017). The impact of macroeconomic factors on trade balance in Vietnam. Banking Technology Review. No.1, September, 2017

     

    Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân. (2016). Tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đối với cán cân thương mại tại Việt Nam. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 123, trang 25-35.

     

    24

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Liu, X., Wang, C., & Wei, Y. (2001). Causal links between foreign direct investment and trade in China. China Economic Review, 12(2), pp. 190-202.

     

    Markusen, J. R., & Venables, A. J. (1998). Multinational firms and the new trade theory.

     

    Journal of International Economics, 46(2), pp. 183-203.

     

    Martinez-Martin, J. (2010). On the dynamics of exports and FDI: the Spanish internationalization process. Working Paper 2010/10, Research Institute of Applied Economics, Barcelona, Spain.

     

    Mwinuka, L., and Mlay, F. (2015). Determinants and Performance of Sugar Export in Tanzania. Journal of Finance and Economics, 3(1), pp. 6-14.

     

    Mortaza, M. G. and Narayan, C. D. (2007). Foreign direct investment, trade liberalization and economic growth: empirical evidence from South Asia and implications for Bangladesh. Working Paper Series 0712, Policy Analysis Unit, Bangladesh Bank, Dhaka, Bangladesh.

     

    Morrison, T. K. (1977). The Effects of Population Size and Population Density on the Manufactured Exports of Developing Countries. Southern Economic Journal, pp. 1368-1371.

     

    Nieh, C. C., Wang, Y. S. (2005). ARDL Approach to the Exchange Rate Overshooting in Taiwan. Review of Quantitative Finance and Accounting, 25, pp. 55–71.

     

    Njong, A. M. (2008). Investigating the effects of foreign direct investment on export growth in Cameroon. In Proceedings of the UNECA Ad-hoc Expert Group Meeting Paper, Addis Ababa, Ethiopia.

     

    Nguyen, D. T. H., & Sun, S. (2012). FDI and Domestic Firms’ Export Behaviour: Evidence

     

    from Vietnam. Economic Papers: A journal of applied economics and policy, 31(3), pp. 380-390.

     

    Nguyen, D. T. H., Sun, S., & Anwar, S. (2017). A long-run and short-run analysis of the macroeconomic interrelationships in Vietnam. Economic Analysis and Policy, Vol. 54, pp. 15-25.

     

    Pesaran, M. H., Shin, Y. and Smith, R. J. (1996). Bounds Testing Approaches to the Analysis of Level Relationships. DEA Working Paper 9622, Department of Applied Economics, University of Cambridge.

     

    Pesaran, M.H. and Pesaran B. (1997). Working with Microfit 4.0 – Interactive Econometric Analysis. Oxford University Press, pp. 478.

     

    Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của VN sang thị trường Âu Mỹ. Tạp chí Khoa học thương mại, Số 80, trang 10 – 19.

     

    Quốc Hùng – Hồng Phúc. (2015). Liệu có làn sóng lớn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hậu TPP, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/136616/Lieu-co-lan-song-lon-dau-tu-nuoc-ngoai-vao-Viet-Nam-hau-TPP.html

     

    Sahoo, P. (2006). Foreign direct investment in South Asia: policy, trends, impact and determinants. ADB Institute Discussion Paper 56, 2006.

     

    Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản VN: Phân tích bằng mô hình trọng lực. Chuyên đề Kinh tế & Chính trị thế giới, Số 3, trang 47 – 52.

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Trần Thanh Long và Phan Thị Quỳnh Hoa. (2015). Phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu thủy sản của VN. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 13, trang 32– 34.

     

    Vernon, R. (1999). International investment and international trade in the product cycle. The Internationalization of the Firm: A Reader, pp. 14-26.

     

    Wong, H.-T. (2008). Exports and domestic demand: some empirical evidence in ASEAN 5.

     

    Labuan Bulletin of International Business and Finance, vol. 6, pp. 39–55.

     

    Yanikkaya, H. (2003). Trade openness and economic growth: a cross-country empirical investigation. Journal of Development economics, 72(1), 57-89.

     

    Yusoff, M. B., and Sabit, A. H. (2015). The Effects of Exchange Rate Volatility on ASEAN-China Bilateral Exports. Journal of Economics, Business and Management, 3(5), pp. 479-482.

     

     

     

     

     

     

     

    26


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Các loại động cơ bước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-r%E1%BB%A7i-ro-thanh-kho%E1%BA%A3n-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN NGÂN HÀNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

     

    THE DETERMINANTS OF BANK LIQUIDITY RISK EMPIRICAL

     

    EVIDENCE FROM VIETNAM

     

    Trần Thị Thanh Nga4, Trầm Thị Xuân Hương5

     

    Ngày nhận: 20/9/2017                Ngày nhận bản sửa: 24/1/2018               Ngày đăng: 5/4/2018

     

    Tóm tắt

     

    Bài viết sử dụng dữ liệu Bankscope và ADB trong giai đoạn 2005 – 2015 để nghiên cứu nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản (RRTK) trường hợp Việt Nam. Thông qua phương pháp SGMM cho dữ liệu bảng, nghiên cứu cho thấy RRTK chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: Chất lượng tài sản thanh khoản, Vốn ngân hàng, Dự phòng rủi ro tín dụng, Thu nhập lãi thuần, Lạm phát và Cung tiền. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về các yếu tố Tăng trưởng kinh tế, Quy mô ngân hàng và Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến RRTK trường hợp Việt Nam. Điều này gợi mở hàm ý chính sách quan trọng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam để kiểm soát RRTK.

     

    Từ khóa: rủi ro thanh khoản, ngân hàng thương mại, quản trị rủi ro thanh khoản.

     

    Abstract

     

    The paper uses Bankscope and ADB data for the 2005-2015 period to identify the determinants of the liquidity risk in Vietnam. Through the SGMM methodology for panel data, research has shown that the liquidity risk is influenced by the following factors: asset quality, bank capital, credit risk provision, net interest income, inflation and money supply. In addition, the results of the study did not find statistically significant evidence of the factors of economic growth, bank size and financial crisis affecting the liquidity risk in Vietnam. This suggests an important policy implication for commercial banks in Vietnam to control liquidity risk.

     

    Key words: liquidity risk, commercial banks, liquidity risk management.

     

     

    1. Giới thiệu

    độ và sức lan truyền, có thể làm ngưng trệ hoạt

     

    Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất

    động của một hay nhiều ngân hàng. Chính vì

    trong các rủi ro của ngân hàng, nó không chỉ đe

    ảnh hưởng lớn vừa mang tính cục bộ vừa mang

    dọa sự an toàn của từng ngân hàng thương mại,

    tính toàn cầu của loại rủi ro này, quản trị RRTK

    mà còn liên quan đến sự an toàn của cả hệ thống

    trở thành một vấn đề thường trực mang tính

    ngân  hàng  (Eichberger,  Jürgen,  &  Martin

    sống còn cho ngành ngân hàng nói riêng và kinh

    Summer, 2005). Khi RRTK xảy ra, tùy vào mức

    tế nói chung.

           
     

    4 Trường Đại học Tài chính – Marketing

     
     

    5 Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM

     
         

    26

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    Tài liệu nghiên cứu riêng về RRTK khá phổ biến. Nghiên cứu thực nghiệm về quản trị RRTK nhằm ổn định ngân hàng (Acharya & Naqvi, 2012), hầu như các tác giả không chỉ mở rộng định nghĩa mà còn đưa ra các kỹ thuật quản trị RRTK. Các nghiên cứu về RRTK được xem là một trong các loại rủi ro ngân hàng như rủi ro tín dụng hoặc là một trong nhưng yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (Bourke, 1989; Shen và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK (Bonfim & Kim, 2014; Bunda & Desquilbet, 2008; Gibilaro, Giannotti, & Mattarocci, 2010; Horváth, Seidler, & Weill, 2012; Skully & Perera, 2012; Vodova, 2011) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK.

     

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, nhóm tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK của ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này của nhóm tác giả đóng góp vào tài liệu khoa học trên các khía cạnh khác nhau. Thứ nhất: Nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết RRTK ngân hàng tại Việt Nam. Thứ hai: Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng tại Việt Nam. Thứ ba: Trên cơ sở kế thừa mô hình nghiên cứu trước và có điều chỉnh các biến nghiên cứu cho phù hợp với tình hình Việt Nam, đề tài bổ sung thêm biến giả khủng hoảng để đánh giá sự ảnh hưởng đến RRTK tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, kết quả của nghiên cứu giúp các nhà quản lý ngân hàng có một phương pháp tiếp cận và đo lường các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng. Đồng thời nghiên cứu bổ sung kết quả thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng của RRTK ngân hàng trường hợp Việt Nam. Đây là cơ sở để các nhà quản lý ngân hàng hoàn thiện khung chính sách quản lý và điều hành hệ thống ngân hàng ở cả khía cạnh vĩ mô (cơ quan quản lý) và

    góc độ vi mô (quản trị ngân hàng) nhằm mục tiêu kiểm soát tốt RRTK cho hệ thống ngân hàng hiện nay.

     

    1. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

     

    2.1 Các lý thuyết về rủi ro thanh khoản Theo Rudolf Duttweiler, thanh khoản đại

     

    diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu thanh khoản kéo dài sẽ dẫn

     

    đến RRTK. Bonfim and Kim (2012) cho rằng sự phức tạp của vai trò trung gian tài chính của ngân hàng làm phát sinh rủi ro nguy hiểm đó là rủi ro thanh khoản. Các ngân hàng sử dụng các nguồn lực hạn chế của mình trong việc cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng để tài trợ thanh khoản nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của họ. Hơn nữa, phần lớn các nguồn lực được sử dụng bởi các ngân hàng này thường được gắn liền với nghĩa vụ nợ phải trả trong các hình thức nhận tiền gửi. Vì mục tiêu lợi nhuận, các ngân hàng đã chuyển đổi các khoản nợ (tiền gửi kỳ hạn ngắn) để cho vay trung và dài hạn. Sự không phù hợp về kỳ hạn đã dẫn đến RRTK cho các ngân hàng (Diamond và Dybvig, 1983). Để giảm bớt sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả nhằm kiểm soát trạng thái thanh khoản kém, các ngân hàng có thể quản lý đầy đủ các RRTK thông qua cấu trúc bảng cân đối kế toán bằng cách giữ một bộ đệm thanh khoản. Tuy nhiên, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản thanh

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    khoản đó là yếu tố lợi nhuận, nếu ngân hàng nắm giữ tài sản thanh khoản để đảm khả năng thanh khoản càng nhiều thì lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại. Do đó, mặc dù các ngân hàng có các ưu đãi trong việc nắm giữ bộ đệm tài sản thanh khoản (tiền mặt, tài sản ngắn hạn và trái phiếu chính phủ) nhưng khó để đảm bảo an toàn thanh khoản trong quản lý hoạt động kinh doanh ngân hàng Bonfim and Kim (2012).

     

    Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) cho rằng RRTK là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng gia tăng quỹ trong tài sản hoặc nghĩa vụ nợ với chi phí thấp nhất. Brunnermeier (2009) nhấn mạnh rằng nếu các ngân hàng không quản lý RRTK phù hợp, chắc chắn các ngân hàng phải đối mặt với một cú sốc thanh khoản, phải thường xuyên bán tháo tài sản thanh khoản và giảm cho vay đối với nền kinh tế. Có thể thấy rằng, vấn đề RRTK của từng NHTM cũng như RRTK hệ thống của toàn hệ thống ngân hàng đã không nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản trị ngân hàng cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 xảy ra. Chính vì vậy, việc đo lường và đưa ra các cảnh báo về khả năng xảy ra RRTK hệ thống cho cả hệ thống NHTM là hết sức cần thiết.

     

    2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Các nghiên cứu về chủ đề thanh khoản tập trung về nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản. Nghiên cứu Lucchetta (2007) cho rằng lãi suất phi rủi ro của chính sách tiền tệ đã tác động tiêu cực đến quyết định nắm giữ thanh khoản của ngân hàng và quyết định cho vay trên thị trường liên ngân hàng, còn lãi suất liên ngân hàng có tác động tích cực đối với những quyết định này của ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu không cân bằng của 5066 ngân hàng châu Âu trong khoảng thời gian giữa năm 1998 và 2004

    để kiểm tra mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư và cho vay trên thị trường liên ngân hàng trong điều kiện lãi suất thay đổi. Tác giả sử dụng chính sách tiền tệ với công cụ lãi suất là chủ yếu để nghiên cứu lãi suất tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro và quyết định nắm giữ thanh khoản của các ngân hàng. Các biến quan trọng có ảnh hưởng quyết định cho vay trên thị trường liên ngân hàng là Giá cả trên thị trường liên ngân hàng (phụ thuộc vào cung cầu thanh khoản và lãi suất phi rủi ro) và biến Tỷ lệ thanh khoản. Kết quả cũng cho thấy Lãi suất của chính sách tiền tệ tác động tiêu cực đến quyết định nắm giữ thanh khoản của ngân hàng và cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Vẫn sử dụng Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản để đo lường rủi ro thanh khoản, (Bunda & Desquilbet, 2008) sử dụng dữ liệu bảng nhằm phân tích các yếu tố quyết định đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng từ các nền kinh tế mới nổi. Kết quả cho thấy, Quy mô của một ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến rủi ro thanh khoản, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản như một biện pháp an toàn vốn có tác động tích cực đến RRTK. Họ cho thấy rằng, trong thời gian khủng hoảng thanh khoản, ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng. Với các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, tác động đối với RRTK cũng khác nhau, các ngân hàng ở các nước có chế độ tỷ giá thả nổi ít có khả năng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản so với ở các nước có cơ chế trung gian. (Hackethal, Rauch, Steffen, & Tyrell, 2010) nghiên cứu dựa vào bộ dữ liệu gồm 1107 ngân hàng thương mại ở 36 quốc gia có nền kinh tế mới nổi, từ năm 1997 đến 2006 nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK, từ đó xác định các yếu tố tác động đến sáng tạo thanh khoản. Theo nghiên cứu này, các yếu tố kinh tế vĩ mô như Chính sách thắt chặt tiền tệ đã tác động tiêu cực vào việc tạo ra tính thanh

     

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    khoản ngân hàng thông qua kênh lãi suất. Với mức thất nghiệp hiện tại, cần kích cầu việc làm thông qua việc tăng trưởng tín dụng như là kênh bơm vốn nhằm duy trì sức khỏe cho nền kinh tế nói chung và điều này ảnh hưởng tiêu cực đến thanh khoản và cuối cùng tác động tích cực về rủi ro thanh khoản. Họ kết luận rằng chỉ có các yếu tố vĩ mô và chính sách tiền tệ có liên quan chặt chẽ với rủi ro thanh khoản còn các các yếu tố đặc trưng của ngân hàng như quy mô và hiệu quả hoạt động ngân hàng không có mối tương quan với RRTK.

     

    Tiếp tục tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK, trong nghiên cứu các yếu tố tác động đến RRTK của ngân hàng thương mại ở Cộng Hòa Séc, (Vodova, 2011) đã sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng xem xét các yếu tố mang tính đặc trưng và các yếu tố kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2001 – 2010. Các biến bao gồm Quy mô của các ngân hàng, Lợi nhuận ngân hàng, Cuộc khủng hoảng tài chính, GDP, Tỷ lệ lạm phát, Lãi suất liên ngân hàng, Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, và Tỷ lệ thất nghiệp. Nghiên cứu cho rằng thanh khoản ngân hàng đã có mối tương quan dương đến lợi nhuận ngân hàng, an toàn vốn và quy mô của ngân hàng. Thanh khoản ngân hàng giảm với tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. Nghiên cứu cho thấy tính thanh khoản của các NHTM Cộng Hòa Séc cao hơn khi hệ số an toàn vốn cao hơn và lãi suất cho vay cao hơn. Ngược lại với các tài liệu trước đây, (Vodova, 2011) thấy rằng các ngân hàng càng lớn thường tính thanh khoản thấp hơn; điều này phù hợp với lý thuyết “Too big to fail” dùng để chỉ đến trường hợp đặc biệt trong nền kinh tế, đó là những công ty lớn hay tập đoàn có qui mô hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của một quốc gia, một khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra dù

    vì lý do gì, Chính phủ nước đó sẽ không để công ty hay tập đoàn sụp đổ bằng những biện pháp như hỗ trợ vốn, trả nợ, sáp nhập hoặc chính Nhà nước sẽ mua lại tập đoàn đó nhằm bảo đảm hoạt động của tập đoàn được duy trì một cách bình thường. Hay các ngân hàng lớn hơn ít động cơ để giữ thanh khoản vì họ dựa vào sự can thiệp của Chính phủ trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản. Thông thường, có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô và thị trường chứng khoán, tính thanh khoản của các ngân hàng niêm yết có xu hướng lớn hơn các ngân hàng không niêm yết.

     

    Khác với các nghiên cứu trước, (Munteanu, 2012) chia bộ dữ liệu của 27 ngân hàng ở Romania làm 2 giai đoạn, trước khủng hoảng 2002 – 2007 và sau khủng hoảng 2008 – 2010 để nghiên cứu các yếu tố quyết định đến RRTK ngân hàng tại Romania. Tác giả sử dụng 5 biến đặc trưng ngân hàng gồm: Tỷ lệ an toàn vốn, Chất lượng tài sản, Tài trợ liên ngân hàng, Chi phí tài trợ, Tổng chi phí trên thu nhập. Đồng thời sử dụng 5 biến bên ngoài ngân hàng: Tỷ lệ lãi suất ROBOR, Tỷ lệ rủi ro tín dụng, Tỷ lệ lạm phát, Tỷ lệ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ thất nghiệp. Được đo lường bằng 2 biến phụ thuộc: (1) L1 = khoản cho vay thực/tổng tài sản; (2) L2 = tài sản lưu động/tiền gửi và tài trợ ngắn hạn, thông qua phương pháp hồi quy đa biến. Tác giả cho rằng, công thức L2 là phù hợp nhất khi đánh giá rủi ro thanh khoản. Kết quả cho thấy, yếu tố ổn định của ngành ngân hàng (Z-score) có ảnh hưởng đáng kể đối với RRTK ngân hàng trong những năm khủng hoảng 2008 – 2010.

     

    Khắc phục khe hở nghiên cứu trước, Cucinelli (2013) tiếp cận phương pháp đo lường thanh khoản theo quy định của Basel 3, tác giả sử dụng 2 biến phụ thuộc để đo lường tỷ lệ thanh khoản bao gồm: Hệ số thanh khoản (LCR) và Tỷ lệ tài trợ (NSER) và 6 biến độc lập

     

    29

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    gồm: Quy mô ngân hàng, Rủi ro tín dụng,Tỷ lệ vốn tự có, Chuyên môn của ngân hàng trong hoạt động cho vay, Tỷ lệ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát INF, 2 biến giả: Khủng hoảng và Ngân hàng niêm yết. Nhóm nghiên cứu sử dụng 1080 quan sát ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu để phân tích các nhân tố tác động đến thanh khoản trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu có chú ý đến yếu tố khủng hoảng thanh khoản. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng càng lớn thì tính thanh khoản càng thấp, tỷ lệ vốn càng cao phản ánh tính thanh khoản cao của ngân hàng, khủng hoảng tài chính chỉ ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng trong ngắn hạn. Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn chuyên biệt hơn trong các hoạt động cho vay có khả năng thanh khoản thấp hơn; điều này có thể là do xu hướng của các ngân hàng có tâm lý trong trường hợp họ có vấn đề có thể tiếp cận vốn người cho vay cuối cùng (Vodova, 2011). Thanh khoản có mối tương quan dương với quy mô vốn của ngân hàng trong dài hạn, chất lượng tài sản đánh giá khả năng quản lý thanh khoản tốt chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn.

     

    Khu vực Châu Á có nghiên cứu (Abdullah & Khan, 2012) kiểm tra sự khác biệt trong quản trị RRTK giữa ngân hàng nội và ngoại ở Paskitan giai đoạn 2001 – 2010. Thông qua kỹ thuật ước lượng mô hình hồi quy, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng và RRTK có mối tương quan âm, ngân hàng càng nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản thì RRTK càng giảm. Nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan âm giữa RRTK và lợi nhuận ngân hàng (ROE), điều đó có nghĩa nếu lợi nhuận ngân hàng càng gia tăng, rủi ro thanh khoản càng thấp vì ngân hàng có thể dựa vào lợi thế nhờ quy mô. Tiếp cận mối quan hệ giữa thanh khoản và cấu trúc vốn ngân hàng, (Lei & Song, 2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa sáng tạo thanh khoản và cấu trúc vốn ngân

    hàng ở Trung Quốc. Trên cơ sở kiểm định giả thuyết “Cấu trúc mong manh tài chính” và giả thuyết “Hấp thụ rủi ro” cho thấy cấu trúc vốn ngân hàng có mối tương quan âm với sáng tạo thanh khoản đối với ngân hàng nội, các ngân hàng ngoại mối tương quan này chưa thấy rõ. Kết quả nghiên cứu cho hàm ý rằng cấu trúc vốn ngân hàng thấp, ngân hàng cần phải nỗ lực huy động nguồn tài trợ để tạo tính thanh khoản do đó tạo tính thanh khoản hơn. Hơn nữa, nếu tỷ lệ vốn cao, ngân hàng sẽ chủ động tài trợ vốn cho các nhà đầu tư từ các khoản tiền gửi có tính thanh khoản cao, điều này tạo các khoản tài sản có tính thanh khoản thấp hơn hay tỷ lệ vốn ngân hàng cao, tính thanh khoản thấp hơn. Kết quả nghiên cứu phù hợp giả thuyết “Cấu trúc mong manh tài chính” hay tỷ lệ vốn và thanh khoản có mối tương quan âm (Berger & Bouwman, 2013).

     

    Tại Việt Nam, nghiên cứu về RRTK khá hiếm và nếu có chỉ có nghiên cứu định tính hoặc tiếp cận góc độ quản trị RRTK hoặc nhận diện nguyên nhân của RRTK. (Trương Quang Thông, 2013) sử dụng dữ liệu của các NHTM Việt Nam từ 2002 – 2011 để nhận diện các nguyên nhân gây ra RRTK đối với hệ thống NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK không những phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô mà còn phụ thuộc vào các yếu tố đặc trưng của ngành ngân hàng như Quy mô tổng tài sản, Dự trữ thanh khoản, Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy biến Tổng tài sản có tác động phi tuyến đến RRTK, qua đó, giai đoạn đầu, một khi tài sản tăng sẽ làm giảm RRTK ngân hàng, khi tổng tài sản tăng đến một mức nào đó sẽ làm tăng RRTK. Nghiên cứu mối quan hệ giữa RRTK và rủi ro tín dụng, Võ Xuân Vinh (1/2017) sử dụng dữ liệu thu thập từ báo cáo thường niên từ các NHTM Việt Nam giai

     

    30

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    đoạn 2007 -2015, phân tích dựa trên mô hình tự hồi quy dạng vector (VAR) cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa RRTK và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, biến trễ của RRTK và rủi ro tín dụng lại ảnh hưởng đến chính rủi ro đó ở hiện tại. Theo tác giả quan sát, đây có lẽ là 2 nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận riêng lẻ về RRTK, tuy nhiên tác giả chưa khai thác hết các biến ảnh hưởng đến RRTK trong mô hình lý thuyết và chưa giải quyết vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu yếu tố nào ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng trong trường hợp Việt Nam, tác giả đã trích tách số liệu bảng trong giai đoạn 2005 – 2015 của Việt Nam gồm 26 ngân hàng với 312 quan sát từ bộ dữ liệu ngân hàng khu vực Đông Nam Á nguồn Bankscope và dữ liệu thông tin vĩ mô từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). Trên cơ sở các dữ liệu nghiên cứu, đề tài xác định các biến nghiên cứu và mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK tại Việt Nam, nghiên cứu lần lượt sử dụng kỹ thuật ước lượng cho dữ liệu bảng từ mô hình OLS đến kỹ thuật ước lượng hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Do hạn chế của mô hình Pool OLS trong ước lượng dữ liệu bảng với các hiện tượng bị chệch do phương sai thay đổi, tự tương quan hay nội sinh (Kiviet, 1995), do đó kỹ thuật ước lượng GMM hệ thống được sử dụng để xử lý các vấn đề nêu trên (Arellano & Bond, 1991; Hansen, 1982; Hansen, Heaton, & Yaron, 1996). Trong nghiên cứu này, tác giả dùng OLS để kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi, tiếp đến sử dụng FEM và REM kiểm tra khả năng mô hình bị nội sinh và sử dụng GMM hệ thống để xử lý nội sinh. Ngoài ra, phương pháp GMM cũng cho ra

    các hệ số ước lượng vững, phân phối chuẩn và hiệu quả. Phần mềm Stata phiên bản 12 được sử dụng để xác định các kết quả nghiên cứu này.

     

    Đề tài dựa trên cách tiếp cận của Shen và cộng sự (2009) và có bổ sung các biến kinh tế vĩ mô như Tăng trưởng kinh tế GDP, Lạm phát (INF), Cung tiền (M2) và biến giả Khủng hoảng nhằm đánh giá tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến RRTK trường hợp Việt Nam.

     

    LIQUIDITYRISKt = f(α, LIQUIDITYRISKt-1, SIZEit, SIZEit^2, LIAit, LLRit, LADSit, ETAit, LLPit, NIMit GDPit, INFit, M2it,, D_CRISt, u)

     

    Trong đó: Biến phụ thuộc, LIQUIDITY RISK: FGAP (chênh lệch giữa các khoản tín dụng và huy động vốn chia cho tổng tài sản), NLTA (Dư nợ tín dụng/Tổng tài sản), NLST (Dư nợ tín dụng/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn). Biến độc lập gồm: Quy mô ngân hàng (SIZEit): Log (tổng tài sản); Bình phương quy mô ngân hàng (SIZEit^2 ); Chất lượng tài sản thanh khoản gồm các biến : LIAit (Tài sản thanh khoản/tổng tài sản), LLRit (tài sản thanh khoản/ Tổng dư nợ tín dụng), LADSit (Tài sản thanh khoản/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn). Ngân hàng sở hữu chất lượng tài sản thanh khoản càng cao, cấu trúc thanh khoản càng cao, rủi ro thanh khoản càng thấp và ngược lại; Cấu trúc vốn (ETAit): vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, vốn càng lớn ngân hàng có xu hướng ít nắm giữ tài sản thanh khoản hay RRTK cao hơn; Rủi ro tín dụng (LLPit): Dự phòng rủi ro tín dụng/ Cho vay ròng đo lường rủi ro tín dụng. Các ngân hàng có tỷ trọng cho vay cao, có tính thanh khoản thấp hơn hay cơ cấu vốn dễ bị tổn thương hơn, rủi ro thanh khoản cao hơn; Thu nhập lãi thuần (NIM): (Thu từ lãi – Chi từ lãi)/ Tài sản có rủi ro lãi suất. Các biến vĩ mô: Tăng trưởng kinh tế (GDPit): Sự thay đổi thực trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo năm đối với từng

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    quốc gia; Biến động của lạm phát (INFit): Tỷ lệ thay đổi CPI cho từng Quốc gia của từng năm; Cung tiền (M2it): gia tăng cung tiền từng Quốc gia của từng năm; Biến giả: D_CRIS: Đánh giá tác động của khủng hoảng đến RRTK. Trong đó: α ( hệ số chặn), i (ngân hàng), t (năm), u (phần dư mô hình)

     

    1. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

    Để đánh giá của các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng, nghiên cứu sử dụng 12 hồi quy khác nhau (Bảng 1). Nghiên cứu sử dụng các kiểm định (test) như: F, LM, Hausman test để chọn mô hình thích hợp cho phân tích. Tỷ lệ VIF đều nhỏ hơn 20, nên mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Các F test, LM test, cho thấy các P-value của F, LM test đều nhỏ hơn 5% (<0,05), có bằng chứng để bác bỏ các giả thuyết. Kiểm định Hausman cho kết quả p-value (Prob > F) của mô hình đều nhỏ hơn 0.05 (Bảng 1), đều này cho thấy mô hình FEM là phù hợp hơn REM. Kiểm định LM cho kết quả REM là phù hợp hơn Pooled OLS. Như vậy giữa phương pháp REM và FEM thì FEM là phương pháp phù hợp nhất để ước lượng mô hình 1. Như vậy, ước lượng FEM thích hợp hơn REM và OLS trong việc xác định, giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK, trường hợp tại các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên kiểm định Wooldridge và Wald có P-value (<0,05) cho thấy tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong FEM, điều này khiến cho kết quả của các hệ số hồi quy sẽ không hiệu quả.

     

    Nghiên cứu sử dụng kiểm định Sargan Test để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ. Kết quả cho thấy hệ số p-value đều lớn hơn 0.05, kết luận biến công cụ được sử dụng trong mô hình GMM thỏa mãn tính over-identifying. Ngoài ra, kiểm định tự tương quan bậc hai cho kết quả p-value đều lớn hơn 0.05,

    kết luận phần dư của mô hình GMM không tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc hai. Biến công cụ được sử dụng trong mô hình đều thõa mãn hai kiểm định đề ra. Các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.

     

    Xét về tương quan, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK trường hợp Việt Nam phù hợp với những dự đoán trên cơ sở khoa học. Kết quả cho thấy biến trễ của biến RRTK (FGAP) đều có tương quan dương với RRTK ở mức ý nghĩa 1%. Nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu của Delécha et al. (2012). Rủi ro thanh khoản có tác động lẫn nhau và có tương quan dương giữa các thời kỳ.

     

    Kết quả cũng tìm thấy biến đa số các thang đo chất lượng tài sản thanh khoản (LIA, LLR ) đều có tương quan âm với các biến Rủi ro thanh khoản ở mức ý nghĩa 1%. Điều này có nghĩa, ngân hàng càng dự trữ tài sản thanh khoản cao, cấu trúc thanh khoản càng cao, RRTK càng thấp và ngược lại. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy vốn có tương quan dương với rủi ro thanh khoản với mức ý nghĩa 1%. Kết quả nghiên cứu khá tương đồng với nghiên cứu của Berger và Bouwman (2013) và phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam. Toby (2006) nghiên cứu về nguồn gốc gây ra rủi ro thanh khoản của các ngân hàng Mỹ dựa trên lý thuyết khả năng thay đổi “Shiftability theory” giải thích rằng tính thanh khoản của một ngân hàng phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi các tài sản ngắn hạn (công cụ ngắn hạn trên thị trường mở) trong một mức giá dự đoán được. Vốn ngân hàng tác động đến thanh khoản thông qua hai tác động riêng biệt: “Cấu trúc mong manh tài chính” và “Cấu trúc lấn át tiền gửi”. Tác động của “Cấu trúc mong manh tài chính” được đặc trưng bởi vốn thấp hơn, RRTK thấp hơn (Diamond & Rajan, 2001)

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    Bảng 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam

     

    Biến phụ thuộc: Rủi ro thanh khoản (FGAP, NLTA, NLST). Biến độc lập: SIZE – Quy mô ngân hàng; SIZE^2 – Bnh phương quy mô ngân hàng; LIA- Chất lượng tài sản thanh khoản; LLR – Chất lượng tài sản thanh khoản, LADS – chất lượng tài sản thanh khoản; ETA – vốn; LLP- Rủi ro tín dụng; NIM -Thu nhập lãi cận biên. Các biến số kinh tế vĩ mô: GDP – tăng trưởng GDP , M2 – cung tiền, INFL – Lạm phát, d_cris – Biến giả khủng hoảng 2008. Giai đoạn nghiên cứu 2004 – 2015, Phương pháp ước lượng OSL, FEM, REM và GMM.

    Mô hình hồi quy (1): LIQUIDITYRISKt = f(α, LIQUIDITYRISKt-1, SIZEit, SIZEit^2, LIAit, LLRit, LADSit  ETAit, LLPit, NIMit GDPit, INFit, M2it , D_CRISt, u).

     

       

    Model

       

    OLS

       

    FEM

       

    REM

       

    GMM

       

    OLS

       

    FEM

       

    REM

         

    GMM

       

    OLS

       

    FEM

       

    REM

       

    GMM

       
                                                             
                                                                                       
       

    Variable

             

    FGAP

                 

    NLTA

                       

    NLST

           
                                                                         
       

    L.fgap

       

    0.213***

       

    0.0652**

       

    0.154***

       

    0.0744**

                                                         
                                                                                       
           

    [7.17]

    [2.45]

     

    [5.34]

    [2.44]

                                                       
                                                                         
       

    L.nlta

                               

    0.533***

       

    0.322***

       

    0.530***

         

    0.118

                               
                                                                                       
                                   

    [15.56]

     

    [7.47]

     

    [15.40]

     

    [0.73]

                             
                                                                     
       

    L.nlst

                                                         

    0.600***

       

    0.149***

       

    0.541***

       

    0.0394

       
                                                                                       
                                                             

    [11.67]

    [3.66]

    [9.95]

    [0.61]

     
                                           
       

    size

       

    -0.0999*

       

    -0.136**

       

    -0.107*

       

    0.00701

       

    -16.35***

       

    -15.86**

       

    -16.45***

         

    -35.27

       

    -41.76***

       

    -20.36**

       

    -40.63***

       

    -27.67

       
                                                                                       
           

    [-1.84]

    [-2.30]

     

    [-1.89]

    [0.05]

    [-3.88]

     

    [-2.52]

     

    [-3.87]

     

    [-1.36]

    [-4.22]

    [-2.19]

    [-3.31]

    [-0.99]

     
                                           
       

    size2

       

    0.00714*

       

    -0.000133

       

    0.00730*

       

    -0.015

       

    1.211***

       

    0.641

       

    1.217***

         

    2.289

       

    3.178***

       

    0.957

       

    3.238***

       

    1.747

       
                                                                                       
           

    [1.77]

    [-0.03]

     

    [1.73]

    [-1.07]

    [3.88]

     

    [1.30]

     

    [3.87]

     

    [0.95]

    [4.33]

    [1.31]

    [3.53]

    [0.63]

     
                                           
       

    lia

       

    -0.451***

       

    -0.256*

       

    -0.500***

       

    0.115

       

    12.47

       

    3.798

       

    12.05

         

    -13.78

       

    -321.6***

       

    -113.0***

       

    -325.9***

       

    -189.7***

       
                                                                                       
           

    [-3.73]

    [-1.72]

     

    [-4.15]

    [0.30]

    [1.18]

     

    [0.26]

     

    [1.14]

     

    [-0.38]

    [-10.67]

    [-4.58]

    [-10.16]

    [-3.79]

     
                                           
       

    llr

       

    -0.00144***

       

    -0.00102***

       

    -0.00128***

       

    -0.000741***

       

    -0.164***

       

    -0.139***

       

    -0.164***

         

    -0.106***

       

    -0.173***

       

    -0.190***

       

    -0.177***

       

    -0.152***

       
                                                                                       
           

    [-7.81]

    [-6.47]

     

    [-7.21]

    [-3.84]

    [-8.76]

     

    [-7.25]

     

    [-8.75]

     

    [-3.11]

    [-4.12]

    [-6.74]

    [-4.10]

    [-3.82]

     
                                           
       

    lads

       

    0.00208**

       

    0.000017

       

    0.00211**

       

    -0.00286

       

    -0.0829

       

    -0.139

       

    -0.0825

         

    -0.0757

       

    2.520***

       

    0.798***

       

    2.431***

       

    1.257***

       
                                                                                       
           

    [2.40]

    [0.02]

     

    [2.49]

    [-1.39]

    [-1.20]

     

    [-1.47]

     

    [-1.20]

     

    [-0.42]

    [12.07]

    [4.76]

    [11.26]

    [4.30]

     
                                           
       

    eta

       

    0.00846***

       

    0.00794***

       

    0.00867***

       

    0.0109***

       

    -0.0545

       

    -0.133

       

    -0.056

         

    0.0835

       

    -0.968***

       

    0.00178

       

    -0.850***

       

    -0.319

       
                                                                                       
           

    [7.28]

    [6.65]

     

    [7.68]

    [6.48]

    [-0.60]

     

    [-1.22]

     

    [-0.62]

     

    [0.29]

    [-4.56]

    [0.01]

    [-3.76]

    [-0.94]

     
                                           
       

    llp

       

    0.00302

       

    -0.00742

       

    -0.00296

       

    -0.0114***

       

    0.279

       

    -0.489

       

    0.254

         

    1.352

       

    -1.17

       

    -0.2

       

    -1.775*

       

    -0.713

       
                                                                                       
           

    [0.52]

    [-1.49]

     

    [-0.53]

    [-2.85]

    [0.65]

     

    [-1.09]

     

    [0.59]

     

    [0.67]

    [-1.18]

    [-0.30]

    [-1.73]

    [-0.78]

     
                                           
       

    nim

       

    0.0176***

       

    0.0191***

       

    0.0171***

       

    0.0144***

       

    0.0528

       

    0.487

       

    0.0531

         

    0.578

       

    -0.739

       

    0.954

       

    -1.515

       

    1.843**

       
                                                                                       
           

    [3.46]

    [3.86]

     

    [3.33]

    [4.97]

    [0.13]

     

    [1.03]

     

    [0.13]

     

    [0.65]

    [-0.78]

    [1.36]

    [-1.46]

    [2.24]

     
                                           
       

    gdp

       

    -0.0119

       

    -0.00316

       

    -0.00935

       

    0.00426

       

    -1.504

       

    -0.961

       

    -1.508

         

    0.355

       

    -3.484

       

    0.652

       

    -3.558*

       

    0.65

       
                                                                                       
           

    [-0.92]

    [-0.33]

     

    [-0.81]

    [0.75]

    [-1.61]

     

    [-1.16]

     

    [-1.62]

     

    [0.30]

    [-1.60]

    [0.53]

    [-1.81]

    [0.69]

     
                                                                                       

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    infl

    0.00047

     

    -0.000702

     

    0.0000273

     

    -0.00125**

    -0.062

    -0.0803

     

    -0.0614

       

    -0.239***

    -0.157

     

    -0.0806

     

    -0.0898

     

    -0.286***

                                               
     

    [0.36]

     

    [-0.73]

     

    [0.02]

     

    [-2.48]

    [-0.64]

    [-0.96]

     

    [-0.64]

       

    [-3.62]

    [-0.70]

     

    [-0.65]

     

    [-0.44]

     

    [-3.78]

                                               

    m2

    -0.00000823

     

    0.00000698

     

    -0.00000752

     

    0.0000105

    -0.000685

    -0.0000297

     

    -0.000686

       

    -0.00107

    -0.000941

     

    -0.00107

     

    -0.00151

     

    -0.00274**

                                               
     

    [-1.18]

     

    [1.19]

     

    [-1.20]

     

    [1.29]

    [-1.36]

    [-0.06]

     

    [-1.37]

       

    [-1.25]

    [-0.80]

     

    [-1.38]

     

    [-1.38]

     

    [-2.56]

                                               

    d_cris

    -0.0780**

     

    -0.00432

     

    -0.0645**

     

    0.0192

    -2.582

    -0.873

     

    -2.601

       

    2.349

    -5.193

     

    1.998

     

    -6.396

     

    3.501

                                               
     

    [-2.41]

     

    [-0.18]

     

    [-2.23]

     

    [1.04]

    [-1.10]

    [-0.41]

     

    [-1.11]

       

    [0.96]

    [-0.94]

     

    [0.63]

     

    [-1.27]

     

    [1.32]

                                               

    _cons

    0.196

     

    0.478**

     

    0.196

     

    0.0875

    100.7***

    126.6***

     

    101.3***

       

    182.0**

    214.5***

     

    153.5***

     

    218.9***

     

    188.3***

                                               
     

    [0.94]

     

    [2.16]

     

    [0.93]

     

    [0.23]

    [6.20]

    [5.56]

     

    [6.21]

       

    [2.48]

    [5.60]

     

    [4.61]

     

    [4.96]

     

    [2.97]

                                               

    N

    245

     

    245

     

    245

     

    216

    236

    236

     

    236

       

    207

    235

     

    235

     

    235

     

    206

                                               

    R-sq

    0.778

     

    0.738

           

    0.86

    0.721

             

    0.859

     

    0.661

           
                                               

    Mean VIF

         

    4.15

         

    4.6

                 

    5.8

       
                                               

    White’s

    Ho: homoskedasticity

           

    Ho: homoskedasticity

           

    Ho: homoskedasticity

           

    test

    chi2(99) = 208.50

             

    chi2(99) = 181.52

           

    chi2(99) = 230.64

             
     

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           
                                   

    F-test

             

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

           

    F test that all u_i=0:

                 

    F(25, 206) = 9.90

         

    F(25, 197) = 4.16

           

    F(25, 196) = 21.82

                 

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

           

    Prob > F = 0.0000

                                               

    Hausman

    Ho: difference in coefficients not systematic

       

    Ho: difference in coefficients not systematic

     

    Ho: difference in coefficients not systematic

    test

    chi2(11) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 470.02

       

    chi2(11) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 41.94

     

    chi2(11) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 981.01

     

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           
                                       

    Bresh-

               

    Test: Var(u) = 0

         

    Test: Var(u) = 0

             

    Test: Var(u) = 0

    Pagan test

             

    chibar2(01) = 51.05

         

    chibar2(01) = 7.69

           

    chibar2(01) = 3.92

             

    Prob > chibar2 = 0.0000

         

    Prob > chibar2 = 0.0028

           

    Prob > chibar2 = 0.0239

    Sargan

    H0: overidentifying restrictions are valid

       

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

       

    test

    chi2(54) = 14.62433

           

    chi2(54) = 11.28685

           

    chi2(54) = 13.01916

           
     

    Prob > chi2 = 1.0000

           

    Prob > chi2 = 1.0000

           

    Prob > chi2 = 1.0000

           
                                               

    Ghi chú: Các ký hiệu (***), (**), (*) cho biết mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%

     

     

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    trong khi tỷ lệ vốn cao, RRTK có xu hướng gia tăng (Gorton & Winton, 2014). Điều đó hàm ý, các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh vì dễ tiếp cận thị trường vốn nên các ngân hàng lớn có xu hướng nắm ít tài sản thanh khoản, phần nào có đáp ứng động cơ đầu tư mạo hiểm, điều này vô hình chung làm gia tăng rủi ro thanh khoản.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy Rủi ro tín dụng và RRTK (FGAP) có mối quan hệ ngược chiều

     

    • mức ý nghĩa 1%. Kết quả này không đúng với kỳ vọng của tác giả, tuy nhiên không đáng ngạc nhiên vì phát hiện của Acharya và cộng sự (2010) cũng tương tự. Acharya và cộng sự

    (2010) cho rằng việc nắm giữ tiền mặt trong ngân hàng tăng lên rất nhanh vì khách hàng có xu hướng gửi tiền ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính gần đây. Việc nắm giữ

     

    tiền mặt làm tăng thanh khoản ngân hàng nhưng ngân hàng dễ dãi trong việc cấp tín dụng các khoản vay mới, các khoản này ít có sự giám sát chặt chẽ từ ngân hàng nên rủi ro cho vay tăng cao. Nghiên cứu cũng chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động Rủi ro tín dụng với 2 biến đo lường rủi ro thanh khoản (NLTA, NLST) tại Việt Nam. Điều này cho thấy ảnh hưởng của yếu tố Rủi ro tín dụng đến RRTK trường hợp Việt Nam vẫn chưa thật sự rõ nét. Nhóm nghiên cứu tìm thấy mối tương quan dương giữa thu nhập lãi biên (NIM) với các biến đo lường RRTK (FGAP, NLST) ở mức

     

    • nghĩa 1%. Về mặt dấu tác động, kết quả này hoàn toàn đúng với kỳ vọng của tác giả và kết quả nghiên cứu của Delécha et al. (2012), Munteanu (2012), Bonfim and Kim (2011), Abdullah & Khan (2012). Kết luận này hàm ý rằng hoạt động cho vay gia tăng làm gia tăng thu nhập lãi và điều này sẽ làm gia tăng RRTK

    (Demirguc-Kunt và Huizinga, 1999).

    Đối với nhóm biến kinh tế vĩ mô, kết quả cho thấy lạm phát, cung tiền tương quan âm với RRTK (FGAP, NLTA, NLST) với mức ý nghĩa 1%. Kết quả nghiên cứu hàm ý lạm phát cao hơn giúp khách hàng dễ trả nợ hơn do lạm phát làm giảm giá trị thực của khoản vay, RRTK được kiểm soát và lạm phát cao làm giảm tỷ lệ thất nghiệp (Castro, 2013). Kết quả nghiên cứu này không tương đồng với các nghiên cứu Delechat, Camila Henao et. al (2012), Bonfim and Kim (2011), Vodova ( 2011), Cucinelli (2013), Bunda and Desquilbet (2008), Munteanu (2012). Yurdakul (2014b) cho rằng chỉ tiêu cung tiền cho biết khả năng thanh khoản của nền kinh tế, cung tiền có mối tương quan với rủi ro ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này có tốc độ tăng trưởng cao, có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán, rủi ro cho ngân hàng. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động của khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng GDP, quy mô ngân hàng đối với RRTK tại Việt Nam.

     

    1. Kết luận

    Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng trường hợp Việt Nam cho thấy các yếu tố Chất lượng tài sản thanh khoản, Vốn ngân hàng, Dự phòng rủi ro tín dụng, Thu nhập lãi thuần, Lạm phát, Cung tiền đều ảnh hưởng đến RRTK và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố khá tương đồng so với các nghiên cứu trước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động ngân hàng ở Việt Nam không chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khủng hoảng tài chính có lẽ do hoạt động thị trường vốn ngân hàng Việt Nam chưa hòa nhập nên ít tác động. Vì vậy, để hạn chế rủi ro thanh khoản, các ngân hàng cần tăng cường kiểm soát vốn ngân hàng, bên cạnh đó không ngừng cải thiện năng lực quản trị rủi ro và năng lực điều hành của các ngân hàng. Đa dạng hóa các nghiệp vụ huy

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    động vốn và sử dụng vốn nhằm kiểm soát rủi ro

    các NHTM, đặc biệt tập trung những nghiệp vụ

     

    và nâng cao năng lực quản lý thanh khoản của

    làm tăng tính thanh khoản ngân hàng.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Abdullah, A., & Khan, A. Q. (2012). Liquidity risk management: a comparative study between domestic and foreign banks in Pakistan. Journal of Managerial Sciences Volume VI Number, 1, 62.

     

    Allen, F., & Gale, D. (2004). Financial intermediaries and markets. Econometrica, 72(4), 1023-1061.

     

    Almumani, M. A. (2013). Impact of managerial factors on commercial bank profitability: Empirical evidence from Jordan. International Journal of Academic Research in Accounting, Finance and Management Sciences, 3(3), 298-310.

     

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey. Business and Economics Research Journal, 2(2), 139-152.

     

    Aspachs, O., Nier, E. W., & Tiesset, M. (2005). Liquidity, banking regulation and the macroeconomy. Available at SSRN 673883.

     

    Berger, A. N., & Bouwman, C. H. (2009). Bank liquidity creation. Review of Financial Studies, 22(9), 3779-3837.

     

    Bonfim, D., & Kim, M. (2011). Liquidity risk in banking: is there herding?

     

    Bordeleau, É., & Graham, C. (2010). The impact of liquidity on bank profitability: Bank of Canada.

     

    Bourke, P. (1989). Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia. Journal of Banking & Finance, 13(1), 65-79.

     

    Bunda, I., & Desquilbet, J.-B. (2008). The bank liquidity smile across exchange rate regimes.

     

    International Economic Journal, 22(3), 361-386.

     

    Cucinelli, D. (2013). The determinants of bank liquidity risk within the context of euro area.

     

    Interdisciplinary Journal of Research in Business, 2(10), 51-64.

     

    Delécha, C., Henao, C., Muthoora, P., & Vtyurina, S. (2012). The Determinants of Banks’ Liquidity Buffers in Central America.

     

    Demsetz, H. (1973). Industry structure, market rivalry, and public policy. The Journal of Law & Economics, 16(1), 1-9.

     

    DeYoung, R., & Jang, K. Y. (2016). Do banks actively manage their liquidity? Journal of Banking & Finance, 66, 143-161.

     

    Fadare, S. O. (2011). Banking sector liquidity and financial crisis in Nigeria. International Journal of Economics and Finance, 3(5), 3.

     

    Gibilaro, L., Giannotti, C., & Mattarocci, G. (2010). Liquidity Risk Exposure For Specialized And Unspecialized Real Estate Banks: Evidences From The Italian Market: European Real Estate Society (ERES).

     

    Gorton, G. B., & Winton, A. (2014). Liquidity provision, bank capital, and the macroeconomy.

     

    Bank Capital, and the Macroeconomy (January 25, 2014).

     

    Hackethal, A., Rauch, C., Steffen, S., & Tyrell, M. (2010). Determinants of bank liquidity creation Working paper.

     

    Horváth, R., Seidler, J., & Weill, L. (2012). Bank capital and liquidity creation: Granger-causality evidence.

     

    36

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    Kosmidou, K., Tanna, S., & Pasiouras, F. (2005). Determinants of profitability of domestic UK commercial banks: panel evidence from the period 1995-2002. Paper presented at the Money Macro and Finance (MMF) Research Group Conference.

     

    Lei, A. C., & Song, Z. (2013). Liquidity creation and bank capital structure in China. Global Finance Journal, 24(3), 188-202.

     

    Moulton, H. G. (1918). Commercial banking and capital formation: III. The Journal of Political Economy, 705-731.

     

    Munteanu, I. (2012). Bank liquidity and its determinants in Romania. Procedia Economics and Finance, 3, 993-998.

     

    Shen, C.-H., Chen, Y.-K., Kao, L.-F., & Yeh, C.-Y. (2009). Bank liquidity risk and performance. Paper presented at the 17th Conference on the Theories and Practices of Securities and Financial Markets, Hsi-Tze Bay, Kaohsiung, Taiwan.

     

    Skully, M. T., & Perera, S. (2012). Bank Market Power and Liquidity: Evidence from 113 Developed and Developing Countries. Paper presented at the 25th Australasian Finance and Banking Conference.

     

    Sufian, F., & Chong, R. R. (2008). Determinants of bank profitability in a developing economy: Empirical evidence from the Philippines. Asian academy of management journal of accounting and finance, 4(2), 91-112.

     

    Toby, A. (2006). Empirical Study of Liquidity Risk Management in Nigerian Banks. Journal of Financial Management and Analysis. , 3(5).

     

    V Acharya, H Naqvi (2012). The Seeds of a Crisis: A Theory of Bank Liquidity and Risk Taking over the Business Cycle. Journal of Financial Economics, 43(1):40-42.

     

    Vodova, P. (2011). Liquidity of Czech commercial banks and its determinants. International Journal of Mathematical Models and Methods in Applied Sciences, 5(6), 1060-1067.

     

    Wilson, J. O., Casu, B., Girardone, C., & Molyneux, P. (2010). Emerging themes in banking: recent literature and directions for future research. The British Accounting Review, 42(3), 153-169.

     

    Trương Quang Thông. (2013). Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam. Phát triển kinh tế, 276, 50-62

     

    Võ Xuân Vinh, P. H. V. (1/2017). Rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng: trường hợp các NHTM Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế, 28(1), 45-63.

     

     

     

    37


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

     

    Lời mở đầu

    Có thể nói trong 10 năm trở lại đây nền kinh tế của đất nước ta đã thay đổi rất nhiều. Từ một nước nông nghiệp lac hậu chúng ta đã và đang đi lên xây dựng một nước Việt Nam  ấm no, giàu đẹp, và văn minh. Chúng ta đang trên con đường xây dung đất nước công nghiệp hóa hiện đaị  hóa . Trong đó phải nói đến một sự đóng góp rất tích cực từ những nhà đầu tư nước ngoài. Họ đã mang đến cho chúng ta công nghệ mới, con người mới,  việc làm cho người lao động. Thu hút được một lượng ngân sách rất lớn cho nhà nước. ..FDI là một trong những nguồn vốn tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Những năm gần đây chúng ta đang  thu hút được rất nhiều nguồn vốn này. Điều này đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt kinh tế nước ta. Nó đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp tăng trưởng kinh tế nước ta

    Nhận thấy việc tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài FDI là một vấn đề rất hay và được nhiều sự quan tâm tìm hiểu nên em đã chọn vốn FDI làm đề tài cho bài tiểu luận của em.

     

    I Khái niệm

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    II Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI

    1.     Thực trạng

    Trong những năm qua đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan trọng góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế của Việt Vam.

    Bảng 1

    Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức nhưng FDI vào Việt Nam vẫn có bước tăng trưởng rất khả quan. FDI năm 2008 là hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký và vốn giải ngân là 11 tỷ USD. Đây là một thành  tích  ấn tượng của Việt Nam trong năm 2008. FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào  các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng số vốn đăng ký là 32,6 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăg 25,8% so với năm 2007, tạo ra trên 200.000 việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI  lên tới 1,4 67 triệu người.( bảng 2)

    Bảng số 2: vốn FDI đầu tư vào các nghành

    Trong các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    Năm 2008, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu, với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, Đài Loan đứng thứ hai, với 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia và Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ hai trong số 43 địa phương của cả nước có vốn FDI, với 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD.

    Năm 2008 là một năm kỷ lục về thu hút FDI dưới bất kỳ góc độ nào. Vốn đăng ký cũng như vốn giải ngân cao nhất từ trước tới nay, cao nhất trong 20 năm qua kể từ khi Việt Nam thu hút vốn đầu tư FDI đầu tiên điều này  thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay, mặc dù nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: lạm phát tăng cao, giá cả biến động, giá vật liệu xây dựng tăng cao đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay mà vốn FDI vẫn tăng mạnh chứng tỏ nhà đầu tư có  niềm tin rất lớn vào môi trường kinh doanh.

    2.     Vấn đề giải ngân vốn FDI

    Thực tế năm 2008 con số 64,11 tỷ  USD vốn FDI đăng ký,  mà số vốn điều lệ của các dự án chỉ là 15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%. Như vậy phần vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài dự định phải đi vay để tài trợ cho các dự án của mình là rất lớn. Điều này làm nảy sinh một số vấn đề lo ngại là sẽ có những dự án mà nhà đầu tư chỉ dăng ký xin giấy phép cũng như cấp đất sau đó sẽ vay vốn của các tổ chức tài chính của Việt Nam để thực hiện dự án. Nếu nhà đầu tư đó lẩn tránh hoặc không đử lực để thực hiện dự án thì hậu quả để lại cho các ngân hàng là rất nặng nề.

    Nhìn vào bảng số 1 ta thấy ngay được tình trạng này. Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn trong những năm gần đây đã giảm rất mạnh Thấp nhất phải nói đến năm 2008 chỉ với 17% .Măc dù đây là năm thu hút nhiều vôn FDI nhất nhưng lại là năm có tỷ lệ thực hiện thấp nhất cho thấy đằng sau vấn đề đó còn nhiều điều cần phải quan tâm hơn nữa . Đặc biệt có biện pháp khắc phục vấn đề này sao cho hạn chế tối đa rủi ro cho các ngân hàng của ta.

    Bảng 3: tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết

    Nguyên nhân là do: Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam. Cụ thể, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe… Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container thì ở VN phải mất tới 7 ngày. Lợi thế giá nhân công thấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong 1 năm qua, mức lương các nhân sự quản lý của Việt Nam đã tăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này.

    Một điều nữa cần nói về vấn đề giải ngân vốn là có một số lượng lớn nguồn vốn FDI được tập trung vào các lĩnh vực bất động sản và đi vào các dự án lớn ( với quy mô  trên 1 tỷ ). Citybank ước tính vốn FDI liên quan đến các dự án bất động sản hiện nay chiếm đến 1/4 tổng vốn giải ngân. Mà thị trường bất động sản là thị trường nhạy cảm và hay biến động theo chu kỳ cho nên bất động sản hay đi vào các chu kỳ nóng rồi giảm mạnh. Cùng với sự đóng băng được dự đoán vào năm 2009 trên thị trường bất động sản thì chắc chắn nguồn vốn FDI đổ và lĩnh vực này sẽ giảm ảnh hưởng đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009.

    Quy mô dự án đầu tư lớn và tỷ trọng đầu tư vào bất động sản cao đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm ngay từ bây giờ để có những biện pháp, bước đi phù hợp, vừa phát huy điểm mạnh, vừa hạn chế những tiêu cực của nó

    Đầu tư nhiều vào bất động sản sẽ làm cho việc cân bằng xuất nhập khẩu thêm khó khăn vì khi giải ngân các dự án này chỉ có nhập khẩu, không có xuất khẩu. Cân đối ngoại tệ sẽ phức tạp khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn, thu nhập hợp pháp ra nước ngoài.

    Những dự án bất động sản cần nhiều diện tích đất hơn các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Thêm nữa, dự án bất động sản thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp, thành ra phần lớn đất bị lấy làm dự án là đất nông nghiệp “bờ xôi, ruộng mật”. Đời sống của người nông dân bị thu hồi đất đến nay vẫn nóng bỏng và chưa được giải quyết rốt ráo.

    Bảng vốn FDI và bất động sản

    Quy mô dự án càng lớn thì thu hút lao động càng ít tính trên một đơn vị đồng vốn. Đến nay, FDI mới tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động. Khu vực kinh tế nhà nước cũng đang trong giai đoạn cơ cấu, sắp xếp lại, nên việc làm ở khu vực này tăng không đáng kể. Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mới là khu vực giải quyết lao động cho hơn một triệu lao động hàng năm.

     

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.

    3. Đánh giá tác động của FDI tới phát triển kinh tế đất nước

    3.1 tích cực

    Bổ sung cho nguồn vốn trong nước : Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

         -Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên,  công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

    Tham gia mạng lưới toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

       -Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    -Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.

    Đạt được những kết quả trên là nhờ những nguyên nhân:

    + Cơ chế chính sách thu hút vốn thong thoáng, minh bạch

    + Kịp thời điều chỉnh, bổ sung và ban hành danh mục dự án gọi vốn FDI

    + Tích cực tuyên truyền, tiếp thị và quảng bá hình ảnh, môi trường và cơ hội đầu tư

    +Tổ chức tham gia hội ngị, hội thảo xúc tiến, vạn động đầu tư

    + Tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư

    Bên cạnh đó còn có những khó, khăn hạn chế

    -Việc thẩm định dự án đầu tư khá nhiều thì số dự án được cấp phép vẫn còn thấp do thẩm định dự án của bộ thường bị kéo dài, công tác xúc tiến đầu tư thiếu một chiến lược cụ thể về đối tác, thị trường và phương pháp tiếp cận thị trường

    -Công tác đào tạo cán bộ còn yếu

    -Viếc phối hợp giữa các ban nghành, địa phương trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư còn yếu chưa chặt chẽ, chưa có quy định rõ ràng

    III.  Giải pháp trong thu hút vốn đầu tư

    -Vấn đề quy hoạch đầu tưxác đingj dự án gọi vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên về ngành ngề, thời gian, địa điểm cụ thể

    -tăng cường công tác xúc tiến, khai thác và lựa chọn đối tác đầu tư

    -cải thiện môi trường đầu tư bao gồm hoàn tiện cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính

    -Đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cho hoạt động FDI

    -Thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư

    giải pháp gia tăng hấp thụ FDI

     

    trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải pháp quan trọng hàng đầu là thúc đẩy giải ngân vốn FDI trong năm nay và trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Về luật pháp và chính sách, cần sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân…

    Về quy hoạch, cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư. Về cải thiện cơ sở hạ tầng, sẽ tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án FDI không có khả năng triển khai, hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho dự án

        Từ thực tế kinh nghiệm những năm qua => Bài học trong thu hút vốn đầu tư

    Bài học thứ nhất trong việc thu hút FDI, đó chính là nắm bắt và tận dụng cơ hội.Cần phải biết tận dụng những cơ hội để biến đó thành thế mạnh thu hút vốn đầu tư. VD: Tháng 2/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã đã lan rộng ra nhiều nước, gây thiệt hại nặng nề đối với các nền kinh tế vốn được coi là “sự thần kỳ Đông Á”. Việt Nam khi đó vẫn nằm ngoài “rìa” vòng xoáy của cuộc khủng hoảng. Lẽ ra chúng ta có thể nhân đó biến thành lợi thế so sánh để thu hút FDI hơn nữa. Nhìn thấy cơ hội và biết nắm bắt nó để có thể làm lợi cho đất nước giữ một vai trò quyết định trong vấn đề thu hút vốn FDI.
    Nhưng điều đó cũng đã không xảy ra, do nước ta bị động đối phó nên không những không biến được cơ hội thành hiện thực mà còn chịu tác dộng tiêu cực, khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, vốn FDI cũng do đó mà ít dần.
        -Bài học thứ hai, đó chính là ba mối quan hệ lợi ích liên quan đến FDI.
    Trước hết, đó là lợi ích của nước ta và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. cần hài hòa lợi ích của cả hai bên trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước, phải bảo đảm nhà đầu tư thu được lợi nhuận đến mức đủ hấp dẫn họ, đi cùng với sự hướng dẫn và hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong việc cấp phép và triển khai dự án.
    Tiếp theo, đó là mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng và người lao động.
    Do đó, trong các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc này. các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc đình công bãi công của người lao động. Các cơ quan chức năng cần phải hướng dẫn người sử dụng lao động, nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ, tôn trọng văn hóa ứng xử, tập quán của người Việt Nam để từ đó giáo dục, tổ chức người lao động làm việc có kỷ luật, năng suất và đảm bảo công bằng. –          – Bài học thứ ba, đó là lợi thế so sánh. Chúng ta cần phải biết phát huy lợi thế về lực lượng lao động của mình, cần phải có hệ giải pháp đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Chính phủ đến vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo…
        – Bài học thứ tư về FDI, đó là chính sách. Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI và coi trọng chất lượng FDI luôn là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của chúng ta. Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăng nhanh chóng thì việc lựa chọn dự án FDI cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế – xã hội trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.

    KẾT LUẬN

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP MÔN KINH TẾ CÔNG CỘNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-th%E1%BB%9Di-gian-qua-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-trong-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi-nh%E1%BA%B1m-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.

     

    Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.

     

    Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao… Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, hơn nữa được hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy Minh em đã nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:

     

    “Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “

     

    Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc…mà thời gian nghiên cứu hạn chế, nên em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.

     

    Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:

     

    Trang 1

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Chương I: Cơ sở lý luận chung.

     

    Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.

     

    Chương III: Phương hướng và giải pháp đối với vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút FDI trong thời gian tới.

     

    Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo nhằm giúp đỡ em trau dồi và nắm chắc hơn những gì mình đã học, những gì mình có thể vận dụng cho thực tiễn.

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

     

    I.                   MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

     

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển

     

    Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ “đầu tư ” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại có thể coi “đầu tư là việc bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó để tạo ra, khai thác sử dụng tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai”.

     

    Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới cũng như duy trì được những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.

     

    Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đã có. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó còn phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.

     

    2. Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

    2.1. Khái niệm.

     

    • Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

     

    * Phân loại

     

    Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại

     

    • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
    • Cơ sở hạ tầng xã hội.
    • Cơ sở hạ tầng môi trường

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

     

    Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.

     

    Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

     

    2.2.Đặc điểm

     

    Trang 4

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc điểm sau:

     

    • Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán khác.

     

    • Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
    • Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người… trong hiện tại và cả trong tương lai nữa. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai.

    Trang 5

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    • Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.

    3.                 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    3.1. khái niệm.

     

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

     

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

     

    3.2. Vai trò.

     

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

     

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.

    Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.

     

    Trang 6

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.

     

    Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.

     

    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.

    Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.

     

    FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

     

    Trang 7

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    * Lợi ích về công ăn việc làm

     

    Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.

     

    FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.

     

    * Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế

     

    giới.

     

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

     

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

     

    Trang 8

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    3.3 Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI.

     

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

     

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

     

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

     

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các

     

    Trang 9

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thông xấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

     

    Qua việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cơ sở hạ tầng và FDI chúng ta đã phần nào thấy được mối quan hệ giữa hệ thống cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI. Song để hiểu rõ hơn mối quan hệ này chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp.

     

    II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN FDI.

    1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng .

     

    Các công trình cơ sở hạ tầng khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu và thường là việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua các ngành kinh tế khác. Do vậy, khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán kỹ vấn đề kinh tế kỹ thuật trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Công tác thăm dò tài nguyên, xác định nhu cầu sử dụng cơ sở hạ tầng mỗi vùng là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả của công trình. Bên cạnh đó, phương hướng phát triển của vùng, lãnh thổ cũng là nhân tố quyết định đến việc bố trí đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng.

     

    Với vai trò là nền tảng tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn đối với FDI nên khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng phải lựa chọn các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao, đây là vấn đề đảm bảo tính hiệu quả. Nếu tồn tại tình trạng lạc hậu cac cơ sở hạ tầng thì công trình không còn

     

    Trang 10

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    mang tính hiệu quả nữa, thậm chí ảnh hưởng tới các ngành khác và nhịp độ thu hút FDI là điều không tránh khỏi.

     

    Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, xong đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp, chủ thể tham gia có thể là các chủ thể nươc sở tại hoặc nước ngoài. Dưới hình thức chủ đầu tư bỏ vốn và trực tiếp tham gia điều hành, quản lý công trình.

     

    Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, cần được củng cố và hoàn thiện. Tuy nhiên vồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng hết sức hạn hẹp. Khu vực tư nhân không thể đáp ứng nhiều về vốn trong lĩnh vực này. Do vậy, hình thức BOT ra đời là giải pháp tốt nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

     

    Nhưng dù hoạt động đầu tư có được tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiệu quả đầu tư không được coi nhẹ. Bởi đây là vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm những nội dung mang tính tổng hợp.

     

    Để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn đầu tư, người ta sử dụng mô hình Harrod- bomar. Nếu gọi K là tỷ số giữa vốn và đầu tư (ICOR), ta có:

    K =

     

    Trong đó:

     

    It là vốn đầu tư

     

    Yt, Yt+1 sản lượng năm t & t+1.

     

    -> ICOR là thước đo năng lực của vốn đầu tư, nó nói lên rằng để tạo ra một đơn vị sản lượng cần bao nhiêu vốn đầu tư. ICOR càng nhỏ chúng tỏ hiệu quả đầu tư càng lớn và ngược lại.

     

    Trang 11

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Theo ước tính, năm 2000 hệ số ICOR mọt số ngành nước ta như sau:

     

    Nông – lâm – nghiệp

    1,5 – 2,5

    Công nghiệp

    2,5 – 3,5

    Cơ sở hạ tầng

    3 – 5

    Như vậy, qua đó ta thấy ICOR của lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cao hơn so với các ngành khác. Song tại sao chúng ta vẫn phải giành một vốn lớn cho cơ sở hạ tầng.

     

    2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI.

     

    Cơ sở hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên thực tế cũng cho thấy những quốc gia nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu FDI đặt ra với lĩnh vực này.

     

    Khi một thị trường mới xuất hiện, thời gian đầu luôn là thời kỳ thăm, ào ạt vào thời gian đầu là những công ty nhỏ, thậm chí có cả những môi giới đầu tư. Những đầu tư vào lúc này vốn không lớn, thời gian không dài và chủ yếu ở khu vực dịch vụ và sản xuất nhỏ. Trong khi đó, các nhà đầu tư lớn lại đứng ở ngoài quan sát để quyết định xem có đầu tư hay không.

     

    Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI và nước chủ nhà cần phải chuẩn bị một môi trường đầu tư thuận lợi với các chính sách, quy tắc được nới lỏng theo hướng khuyến khích FDI, cải thiện cơ sở hạ tầng … Như vậy, để thu hút được FDI có rất nhiều việc phải làm, song điều quan trọng hơn là làm sao để dòng chảy đó được duy trì liên tục. Câu trả lời: phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bởi số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn

     

    Trang 12

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    phụ thuộc vào sự thoả mãn thường xuyên về cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Malaixia với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến năm 2020 của thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.

     

    Về vai trò của cơ sở hạ tầng, theo kết quả khảo của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc …. Trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

    cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc, chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét để duy trì FDI ở nước này.

     

    Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào lĩnh vực này không đúng hướng và hợp lý thì sẽ làm mất đi một động lực quan trọng trong thu hút FDI. Để không rơi vào tình huống này. Chúng ta cần phải biết được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng kỹ thuật, nắm bắt được những thành tựu đã đạt được và những mặt tồn tại của nó cũng như các yêu cầu của FDI đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó, ở phần sau chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua.

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN QUA

     

    Kể từ khi áp dụng chính sách “mở cửa” nền kinh tế vào cuối thập niên trước đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật. Chẳng hạn, từ một nước nghèo, nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài, Việt nam đã vươn lên trở thành một trong số ít các quốc gia xuất khẩu gạo lớn

     

    Trang 13

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    nhất thế giới. Những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này ta nhờ một phần đóng góp không nhỏ của FDI. Có thể coi FDI như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xu thế FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

     

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích trình trạng trên, xong theo các chuyên gia thì việc lợi thế so sánh của Việt nam đang bị giảm dần là một trong những lý do chính dẫn đến trình trạng trên.

     

    Muốn phát huy được những lợi thế so sánh, điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nắm được những yêu cầu của FDI. Đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng vậy, FDI có những yêu cầu riêng đối với hệ thống này.

     

    1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA FDI ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT. Theo sự thăm dò ý kiến của hơn 3000 bạn đọc của kinh tế Viễn Đông ở
    • nước Châu Á, được công ty ASIA Studies LTD Hồng Kông thưc hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1995. Hầu hết các doanh nghiệp khi được hỏi “Những trở ngại lớn nhất cho việc làm ăn ở các nền kinh tế đang nên như Việt nam, Trung Quốc, Myanma là gì ?” thì những khó khăn được độc giả đưa ra là:
    • Sự bất ổn không thể đoán trước được là trên 70 %
    • Sự bảo đảm về pháp luật là trên 70%
    • Tệ quan liêu trên 70%
    • Nạn tham nhũng trên 60%
    • Cơ sở hạ tầng phù hợp trên 60%

    Như vậy, sự phù hợp của cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình thu hút vốn FDI. Riêng đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì sự phù hợp

     

    Trang 14

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    mà FDI yêu cầu cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: Sự hiện đại, đồng bộ và một mức giá hợp lý.

     

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư đều nhằm 3 mục tiêu chính, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả.

     

    Do đó, một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ la ba đỡ cho hoạt động đầu tư của họ. Thực tế cho thấy, ở nước ta trong thời gian qua hệ thống cơ sở hạ tàng kỹ thuật còn tồn tại sự mất cân đối giữa các vùng, miền đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Có nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào các vùng miền núi để khai thác tài nguyên phải bỏ dở cũng chỉ vì lú do ở đó chưa có điện, thêm vào đó đường đi đến các vùng này là khó khăn.

     

    Vì vậy, tính đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đồng bộ giữa mạng và nguồn, giữa đường sắt và đường bộ, giữa cảng với đường sắt, đường bộ…)là điều kiện cần làm cho hoạt động đầu tư được thuận lợi. Đồng thời hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải đạt được sự hiện đại cần thiết, sự hiện đại đó sẽ đem lại hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư.

     

    Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương xẽ là một minh chứng rõ ràng nhất cho yêu cầu này. Nếu không tính đến các dự án dầu khí ở tỉnh Quảng Ngãi thì Bình Dương là tính dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến nay, Bình Dương đã có 227 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,75 tỷ USD, hàng năm tạo ra giá trị lượng hàng hoá trên 110 tỷ USD. Vậy bằng cách nào Bình Dương đã hấp dẫn được các nhà đầu tư ? .

     

    Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sách thông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư .Với hệ thống đường giao thông từ Bình Dương tới TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng

     

    Trang 15

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    3,6 m với tổng chi phí 100 tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá,

     

    100% xã đều có đường ôtô.

     

    Bưu chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt và sử dụng đến nay đã có 100% xã có điện và điện thoại.

     

    Tuy nhiên, để hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của FDI thì sự đồng bộ, hiện đại thôi là chưa đủ. Đi liền với nó phải có một mác giá hợp lý cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    Sở dĩ các nhà đầu tư phải tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do các nguồn lực trong nước họ trở nên khan hiếm. Vì vậy, chi phí cho các nguồn lực này là rất cao. Điều này đã làm cho chi phí các yếu tố đầu vào tăng lên, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút. Như vậy, vấn đề mấu chốt là chi phí các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Nơi nào có chi phí thấp tất yếu dòng đầu tư sẽ chảy về đó. Bản thân các nhà đầu tư cũng hiểu rằng chi phí đầu vào thấp là tốt nhưng thấp quá không phải đã là tốt. Nếu thấp quá, các nước nhận đầu tư sẽ không có điều kiện tích luỹ. Khi đó, các yếu tố cần thiết cho hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ không được đảm bảo. Xong cũng không được quá cao, nếu cao hơn chi phí ở nước họ thì cũng chẳng cần đầu tư ra từ nước ngoài làm gì.

     

    Với các nước nhận đầu tư, điều này dường như là vô lý nhưng thực ra nó lại rất có lý bởi đó chính là chi phí cơ hội cho việc tiếp nhận đầu tư.

     

    Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giá cả cho việc sử dụng các dịch vụ này được coi là yếu tố đầu vào và được xác định trên cơ sở có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng không được quá thấp. Mức giá này không đứng một cách cô lập, bên cạnh nó phải là sự đồng bộ, hiện đại của hệ thống này. Dù cho đó là những khía cạnh khác nhau xong giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong đó giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố

     

    Trang 16

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    quyết định. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại, đồng bộ đến mấy mà chi phí cho cho những dịch vụ này quá cao thì hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó cũng không có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại cũng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ đó nhưng nước chủ nhà lại đưa ra một mức giá quá thấp thì sẽ không có điều kiện tích luỹ để đầu tư phát triển chánh hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó, làm cho nó trở nên lạc hậu. Từ đó cũng lại không có khả năng thu hút FDI.

     

    Do đó, yêu cầu của FDI đối với nước chủ nhà là phải xác định được một mốc giá hợp lý bên cạnh sự hiện đại, đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    Trong thời gian qua, ở Việt nam các nhà đầu tư nước ngoài than phiền rất nhiều về giá cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mức giá này theo các nhà đầu tư là quá cao, đặc biệt là giá cước viễn thông, hàng không và hàng hải. Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm cho FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

     

    Theo số liệu điều tra của WB, cước phí vận tải container bằng đường biển từ Nhật về các cảng ở Việt Nam thường cao hơn gấp hai dến ba lần so với đến Singapore, Thái Lan, và Philippines. Chẳng hạn cước phí vận chuyển một container 20 feet từ Tokyo đến Singapore khoảng 500 USD, đến Bangkok khoảng 450-750 USD trong khi đến cảng Đà Nẵng trên 1 500 USD, Hải Phòng từ 1000 đến 1500 USD và cảng Sài Gòn là gần 900 USD.

     

    Nguyên nhân là các cảng của Việt nam không thể đón các tàu lớn và do khối lượng hàng hoá ít nên phải trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông, đôi khi để đi đến được Đà Nẵng hay Hải Phòng các tàu phải ghé qua TP.HCM để tiếp nhiên liệu

     

    Trang 17

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Tương tự, cước phí vận tải hàng không cũng vào loại đắt nhất trong khu vực làm cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường không chậm phát triển.

     

    Về giá dịch vụ viễn thông, sở dĩ phải thu giá cước điện thoại quốc tế cao là để bù lỗ cho dịch vụ bưu chính và duy trì mạng viễn thông mà quốc tế cao. Còn cước nội tỉnh lại rất thấp hay nói cách khác: người có nhiều tiền nhất phải trả giá cao nhất.

     

    Như vậy, để thu hút FDI thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng được hai yêu cầu: sự đồng bộ, hiện đại và một mức giá hợp lý.Trong hai yêu cầu trên có một yêu cầu chúng ta chưa đáp ứng được, đó là việc xác định một mức giá hợp lý. Còn trên thực tế yêu cầu về sự hiện đại , đồng bộ có được đảm bảo hay không. Để trả lời câu hỏi này thì phải biết được hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta hiện nay và ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    II.               THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam nhìn chung còn yếu kém trên nhiều phương diện cả về số lượng và chất lượng, lại chưa được xây dựng theo một quy hoạch thống nhất dẫn đến tình trạng khập khiễng, chắp vá và chưa đồng bộ đang là vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhịp độ thu hút FDI.

     

    1. Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam

     

    1.1 Hệ thống giao thông.

     

    Trang 18

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Hệ thống giao thông Việt nam được đưa vào khai thác từ hơn 100 năm nay. Trong cả thời gian này không được đầu tư đúng mức để bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp. Vì vậy sau một thời gian dù khai thác và trải qua hai cuộc chiến tranh, đến nay hệ thống giao thông Việt nam không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế

     

    Từ cuối những năm 80, Chính phủ Việt nam đã dành ưu tiên nguồn vốn NSNN và tín dụng ra ưu đãi đầu tư nước ngoài cho các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biến và hàng không. Đến nay, nước ta đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phong phú. Xong chất lượng còn chưa cao.

     

    • Đường bộ:

    Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là thấp so với các nước trong khu vực.

     

    Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300 km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan trọng, công trình có kỹ thuật cao như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông nội thị ở các thành phần phố lớn. Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung.

     

    Tuy nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.

     

    – Đường rải nhựa chiếm

    22%

    • Đường nhựa bán thành nhập 38%

    Trang 19

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    – Đường đá

    15%

    – Đường đất

    25%

    • Đường sắt:

    Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà nội – Lào Cai 230 km, tuyến Hà nội-Hải phòng 100km. Hai tuyến trên vận tải quốc tế Hà nội – Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và Hà nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động .

     

    • Đường biển

    Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và tổng công suất trên nên trục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Xong đó chỉ là số ít, phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho việc bốc dỡ hàng hoá cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

     

    • Hàng không

    Hiện có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số gần 20 sân bay đã được đưa vào khai thác sử dụng, có 3 sân bay cấp IV là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng đạt tương đương tiêu chuẩn quốc tế.

     

    1.2 Bưu chính viễn thông:

     

    Đã triển khai chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hoà nhập với quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cố gắng cải thiện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu hút FDI nói riêng.

     

    Trang 20

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Tuy phát triển tăng tốc xong còn ở mức độ thấp, mới chỉ tập trung ở đô thị, đáp ứng được nhu cầu trước mắt với chất lượng chưa cao và chi phí đắt. Mạng cáp nội hạt quá cũ , bố trí cáp treo thiếu quy hoạch, kém an toàn và mất mỹ quan. Mạng viễn thông có hệ thống thiết bị chưa đồng bộ, tồn tại nhiều hệ khác nhau, chưa phát triển nhiều dạng thông tin, giá cả còn mang tính độc quyền.

     

    1.3 Cung cấp điện.

     

    Đã phát triển nhanh chóng nguồn điện, đến năm 98 sản lượng điện đạt 21,77 tỷ kwh, tốc độ tăng sản lượng điện thời kỳ 91-95 đạt bình quân 10,2%/ năm với việc đưa vào vận hành đường dùng 500 KV Bắc Nam tạo điều kiện khai thác hợp lý các nguồn điện trong cả nước, cung cấp điện an toàn, liên tục cho nhu cầu các vùng và toàn bộ đất nước.

     

    Cung cấp điện năng bình quân đầu người tăng lên đáng kể ( năm 90: 135 Kwh, 95: 175 kwh, 98: 279 kwh). Hệ thống lưới chuyển tải được mở rộng, lưới phân phối được cải tạo hoàn thiện từng bước. Đến nay đã có 85% số huyện và 60% số xã được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

     

    Tuy nhiên, thời gian qua phát triển nguồn điện chưa cân đối về cơ cấu, thuỷ điện chiếm tỷ trọng cao gần 71% năm 95 cả về công suất lẫn sảnlượng gây ra tính kém ổn định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn (năm 95 là 19%). Hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện đạt rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.

     

    Phần tiếp theo sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư phát triển và kết quả, hiệu quả đạt được trong quá trình xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Việt Nam trong thời gian qua.

     

    2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam trong thời gian qua.

     

    Trang 21

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đang tập trung cải tạo, nâng cấp, xây mới vừa góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước vừa đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI, hướng tới mực tiêu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

     

    Như phần trước đã phân tích và chỉ ra cho chúng ta thấy một thực cảnh về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta: lạc hậu và không đồng bộ. Thực trạng đó bắt nguồn từ những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, được tiếp nối bởi sự dẫn dắt của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, kém năng động và cuối cùng là thời gian đã tàn phá và hao mòn, huỷ hoại dần từng mảng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta lúc này phải từng bước hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đang ngày càng bức thiết.

     

    Nắm bắt được điều đó, các cơ quan chức năng đã đề ra mục tiêu đén năm 2020: mạng lưới giao thông vận tải phát triển, kết hợp hài hoà giữa các chủng loại có chất lượng cao, đảm bảo vận tải tiện lợi, nhanh chóng và an toàn Mạng bưu chính viễn thông đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới, tham gia mạng thông tin siêu tốc toàn cầu, nối mạng đến xã, máy điện thoại đạt bình quân 20 máy/100 người. Mạng điện quốc gia phủ khắp các đô thị đến nông thôn, đạt 100% điện khí hoá toàn quốc, có thể có điện nguyên tử.

     

    Để thực hiện được những mục tiêu thên đã đề ra thì vấn đề khó khăn lớn nhất với chúng ta chính là vốn đầu tư. Theo dự báo của chính phủ, trong vài ba năm tới cầu đầu tư khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP) để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, ngân sách chỉ đáp ứng chừng 3% GDP, nguồn ODA thêm chừng 2% GDP nữa. Khoảng 7% GDP hay chừng 2,1 tỷ USD hàng năm chỉ có thể trông chờ vào các nguồn vốn đầu tư khác. Do đó, một giải pháp lớn được đặt ra là thực hiện chiến lược thu hút, huy

     

    Trang 22

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    động một nguồn vốn đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước. Vậy thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như thế nào, chúng ta sẽ đi vào phân tích va đánh giá.

     

    Vốn đầu tư chính là điều kiện tiền đề để thực hiện các dự án đầu tư, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối với các công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nên cũng cần một khối lượng vốn lớn.

     

    Trong thời qua, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc củng cố và phát triển cơ sỏ hạ tầng của đất nước được thể hiện trong bảng sau:

     

    Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

     

         

    Đơn vị: tỷ đồng

               

    Năm

    1990

    1995

     

    2000

     

    Ngành

         

    ( ước tính )

     
               

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    4.732,5

    41.849,3

     

    92.452

     
               

    Ngành khác

    5.6000,5

    26.198,3

     

    23.548

     
               

    Tổng số

    10.333

    68.047,6

     

    116.000

     
               

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10+11/2000

     

    Tính toán các số liệu trong bảng 1 ta thấy được tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành trong tổng vốn đầu tư như sau:

     

    Trang 23

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

     

    Đơn vị: %

     

    Năm

    1990

    1995

    2000

    Ngành

         
           

    Cơ sở hạ tầng

    45,8

    61,5

    79,7

           

    Ngành khác

    54,2

    38,5

    20,3

           

    Tổng số

    100

    100

    100

           

    Từ số liệu hai bảng trên ta thấy được rằng: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của năm 2000 ước tính 116.000 tỷ đồng chiếm 79,7%. Nếu so với các ngành khác thì quả là sự chênh lệch khá lớn. Điều này thể hiện những đặc điểm cơ bản trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, ít có sự tham gia của các thành phần khác trong lĩnh vực này.

     

    Theo số liệu ở bảng 2, trong năm 1990 tỷ trọng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm 45,8% trong tổng vốn đầu tư. Các năm sau 1990 và 2000 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tỷ trọng ngày càng cao 61,5% và 79,7%. Tại sao vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lại tăng cao như vậy, có thể giải thích rằng trước những năm 1990 thì thấy cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu và xuống cấp do hậu quả của những năm chiến tranh, sau đó đất nước lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế.

     

    Trang 24

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Để đưa đất nươc ra khỏi khủng hoảng và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đảng và Nhà Nước thực hiện chủ trương mở cửa về kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì vậy nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trở nên hết sức cấp bách. Hơn nữa, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng nên tích luỹ trong nước rất thấp, nguồn vốn đầu tư XDCB hết sức hạn hẹp. Chúng ta muốn chuyển dịch sơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, thúc đẩy quá trình thu hút vốn FDI thì việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là lẽ đương nhiên.

     

    Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã có những bước tiến đáng kể. Để cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét dựa trên số liệu trên bảng sau:

     

    Bảng 3: vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống CSHT kỹ thuật thời gian qua.

     

         

    Đơn vị: tỷ đồng.

             

    Năm

    1990

    1995

    2000

     

    Ngành

       

    ( ước tính )

     
             

    Giao thông -Bưu điện

    1.102,7

    11.341,2

    21.633,8

     
             

    Công nghiệp

    2.423,0

    5.482,3

    18.582,9

     
             

    Nông nghiệp

    1.206,8

    25.025,8

    52.235,3

     
             

    Tổng số

    4.732,5

    41.849,3

    92.452

     
             

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10 + 11/2000

     

    Trang 25

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Để tiện theo dõi, chúng ta sẽ tính tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực trong tổng số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vào bảng sau:

     

    Bảng 4: Tỷ vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thời gian qua.

    Đơn vị: %

     

    Năm

    1990

    1995

    2000

    Ngành

         
           

    Giao thông – bưu điện

    23,3

    27,1

    23,4

           

    Công nghiệp

    51,2

    13,1

    20,1

           

    Nông nghiệp

    25,5

    59,6

    56,5

           

    Tổng số

    100

    100

    100

           

    Nhìn vào bảng 4 có thể thấy rằng, thời gian qua vốn đầu tư cho ngành giao thông – bưu điện mặc dù có sự tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng vốn đầu tư cho CSHT kỹ thuật lại có xu hướng giảm. Điều này đã phản ảnh đúng thực trạng của các lĩnh vực này. Bên cạnh đó đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cũng còn tồn tại sự mất cân đối, cụ thể trong hai năm 1995 và 2000 đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trong rất cao 59,6% và 56,5% lớn hơn cả các lĩnh vực giao thông -bưu điện và công nghiệp cộng lại. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho các lĩnh vực của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều có sự tăng lên về số tuyệt đối. Đây cũng là điều đáng mừng, nhưng là việc đầu tư đó có đem lại kết quả hay không, để trả lời cho câu trả lời đó trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi vào đánh giá kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    III.            ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA.

     

    Trang 26

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    1.Đánh giá tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

    Khách quan mà nói, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua đã đạt được một thành tựu đáng kể.

     

    • Cải thiện hệ thống đường giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Trong đó, hai hệ thống đường bộ và đường không có sự chuyển biến đáng kể. Một loạt các tuyến đường đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải tạo như đường Mai Dịch – Nội Bài, quốc lộ 5, nhiều đoạn của quốc lộ 1, quốc lộ 18… cũng trong thời gian qua các các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất được xây dựng, bổ xung, hiện đại hoá máy bay và hệ thống thông tin liên lạc dưới mặt đất.

    Sự phát triển đó đã góp phần vào việc nâng cao khả năng lưu thông hàng hoá và đáp ứng phần nào yêu cầu của nhà đầu tư.

     

    • Xây dựng được mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp và kém hiệu quả trên toàn quốc. Đặc biệt ngành bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trược những năm 90, đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật số. Tốc độ tiếp thu dịch vụ mới của các ngành này tăng khá nhanh, trung bình có sau 6 tháng kẻ từ khi một dịch vụ mới được tung ra trên thị trường quốc tế.
    • Hệ thống điện năng từng bước được nâng cấp, giải quyết cơ bản nhu cầu điện cho sản xuất và tiêu dùng. Đến cuối năm 1999, tổng công suất lắp đặt các hệ thống điện nước ta đạt 5.774 MM, tổng sản lượng điện đạt khoảng 23.740 triệu Kwh. Lưới điện truyền tải có chiều dài 109.977 Km và dung lượng các trạm truyền tải lên tới 14.709 MA. Tất cả các tính toán trên toàn quốc đã có lưới điện quốc gia, 95,7% số huyện và 77,2% số xã, 68,1% số hộ trong nước đã có điện.

    Số liệu về phát triển của ngành điện và bưu chính viễn thông.

     

    Trang 27

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

     

    1990

    2000

         

    Sản lượng điện (tỷ Kwh)

    8,79

    2,5

         

    Số máy điện thoại trên 100 người dân

    0,4

    4

         

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể:

     

    • Giao thông đường bộ và đường sắt còn ở thế độc tuyến, chúng ta chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt đôi, nhiều điểm vượt sông không có cầu…mặc dù mỗi năm giao thông đường bộ được đầu tư 5000 tỷ đồng từ MSNN xong chỉ đáp ứng đủ 30 – 40 % nhu cầu. Vì vậy các công trình gần đây được đầu tư xây dựng một cách tình thế. Kết quả là đến nay còn 515 xã chưa có đường ôtô về trung tâm, trung bình 10km đường bộ có 4 km chưa được trải nhựa và khoảng 70% chiều dài toàn bộ nằm trong tình trạng này.

    Cả nước có gần 1000 cây cầu yếu, hàng nghìn km đường bị ngập và ách tắc. Chỉ cần 1 tai nạn gây ách tắc ở một đoạn đường sẽ gây ách tắc giao thông toàn tuyến, một ví dụ rất rõ là tình hình lũ lụt tại miền trung tháng 10/ 1999 gây áhc tắc giao thông từ nam ra bắc hoặc sự cố cầu Bến Lức tháng 1/2000 gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

     

    *Các cảng biển có chất lượng dịch vụ cao vẵn còn chưa nhiều. Trong lúc hiện nay ở các cảng trên thế giới năng suất qua lại đạt đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số phổ biến từ 500 m- 1000 tấn/m cầu tàu. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện thu hút cac tàu contenner trên 1.200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng, vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.

     

    Trang 28

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    • Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao sản lượng điện cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng như xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mới (Sông Hinh, Yaly…) cải tạo hệ thống nhiệt điện nhưng nếu cân đối với các yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, rõ ràng ta chưa thể đáp ứng được. Nếu so sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực thì quả thật chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

     

     

    So sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực.

     

     

    Việt Nam

    Thái Lan

    Indonexia

    Philipin

    Malaysia

               

    Tỷ lệ hộ có điện (%)

    51

    87

    39

    58

    90

               

    Năng lượng (Mw)

    4.890

    13.003

    14.327

    9.539

    7.391

               

    Sản lượng điện năm

    19.151

    80.068

    61.199

    29.697

    45.453

    97 (Gwh)

             
               

    Tiêu  thụ  điện  đầu

    204

    1294

    315

    399

    2.032

    người mỗi năm (Kwh)

             
               

    Tỷ lệ hao hụt điện qua

    16

    9

    12

    17

    11

               

    Trang 29

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    phân phối (%)

     

    Bên cạnh đó tiền điện dùng cho kinh doanh thuộc vào loại khá cao ảnh hưởng không nhỏ tới lợi thế so sánh của nước ta.

     

    So sánh chi phí đầu tư tại Hà nội, Tp Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn.

     

     

    Hà nội

    Tp. HCM

    Thượng Hải

    Bangkok

    Jakarta

    Kuala Lampar

                 

    – Phí điện thoại quốc tế

    8,52

    8,52

    4,3

    3,11

    2,59

    2,61

    (3 phút gọi dang Nhật)

               
                 

    – Tiền điện dùng cho

    0,07

    0,07

    0,035

    0,03

    0,0177

    0,06

    kinh doanh / kwh

               
                 

    – Vận chuyển container

    1.825

    1.375

    880

    1.466

    1.252

    895

    (40ft/container) chuyển

               

    từ  nhà máy đến cảng

               

    gần nhất ở Nhật – cảng

               

    Yukohama

               
                 

    Từ thực trạng kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như vừa nêu trên, cho thấy mặc dù đầu tư khá nhiều, xong nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn lạc hậu, chưa đồng bộ còn chi phí cho các dịch vụ này rất cao. Như vậy, những yêu cầu mà FDI đặ ra đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta chưa cung cấp được một cách hoàn hảo nhất. Điều đó là do việc đầu tư còn dàn trải, chưa xác định được những màu đột phá trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nguồn vốn còn eo hẹp bởi huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào làm việc này rất khó khăn.

     

    Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta được thể hiện rõ hơn qua sự so sánh ở bảng sau:

     

    So sánh môi trường đầu tư “cứng” của các nước ASEAN.

     

    Tên nước

    Sân bay

    Cảng biển

    Giao thông

    Điện lực

    Viễn thông

    Bình quân

                 

    Singapore

    4,9

    4,9

    4,6

    4,4

    4,7

    4,7

                 

    Trang 30

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Brunay

    3,3

    3,3

    3,3

    3,6

    3,5

    3,3

                 

    Thailan

    3,1

    2,5

    1,6

    2,7

    3,0

    2,6

                 

    Philipines

    2,3

    2,4

    2,9

    2,2

    2,7

    2,3

                 

    Indonesia

    3,0

    2,4

    2,3

    2,6

    2,7

    2,6

                 

    Malaysia

    3,1

    3,1

    2,7

    2,6

    3,2

    2,9

                 

    Myanma

    1,6

    1,5

    1,6

    1,4

    1,4

    1,5

                 

    Lào

    1,5

    1,5

    1,5

    1,7

    1,5

    1,5

                 

    Campuchia

    1,6

    1,5

    1,8

    1,4

    1,4

    1,5

                 

    Việt Nam

    1,9

    2,0

    1,9

    1,9

    2,2

    2,0

                 

    Xếp hạng: 5 điểm lớn nhất.

     

    Tuy sự so sánh trên còn có phần chưa thoả đáng vì nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, mọi điều kiện về vật chất, con người còn nhiều hạn chế so với các nước đã có quá trình phát triển trước rất nhiều năm. Nhưng dù sao khoảng cách khá chênh lệch đó cuĩng đòi hỏi nhiều hơn nữa cho việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

     

    Trên đây chúng ta đã đánh giá được một số vấn đề trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua. Trong quá trình đánh gía, chúng ta đã thấy được những thành tựu và những yếu kém. ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đánh giá đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với qua trình thu hút FDI.

     

    2. Đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với quá trình thu hút vồn FDI.

     

    Trang 31

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ tiền ra đầu tư vào một nơi nào đó, xem xét rất kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Trong đó có khía cạnh rất quan trọng từ cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy những nơi nào có kết cấu hạ tầng phát triển thì nơi đó có nhiều dự án đầu tư. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những kết quả dáng khích lệ trong việc thu hút vốn FDI.

     

    Tính đến thời điểm 30/6/2000 đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD, trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Tìm các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm tới 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực đầu tư nước ngoài không những đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, mà còn khai thác, đưa vào sử dụng nhiều nguồn lực trong nước như đất, tài nguyên, lao động.

     

    Để đạt mục tiêu đến năm 2005 GDP tăng gấp hai năm 95, sơ bộ

     

    • nhu cầu vốn đầu tư phát triển của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 khoảng
    • – 62 tỷ USD, trong đó dự kiến vốn đầu tư nước ngoài khoảng 25 tỷ USD. Vì vậy tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây xu thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có phần giảm sút, cụ thể:

     

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

     

    Đơn vị: triệu USD.

     

     

    91

    92

    93

    94

    95

    96

    97

    98

    99

    2000

                         

    Trang 32

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Vốn

    1275

    2027

    2589

    3746

    6607

    8640

    4649

    3897

    1567

    1600

    cam kết

                       
                         

    Vốn

    432

    478

    871

    1936

    2363

    2447

    4768

    2062

    1758

    1800

    thực

                       

    hiện

                       
                         

    Theo số liệu ở bảng trên ta thấy rằng, năm 96 là năm có số vốn thu hút cao nhất từ trước đến nay. Sau thời kỳ ấy biểu đồ ngày càng đi xuỗng và đến thời điểm năm 2000 (dự kiến) cũng chỉ hơn năm 91 chút ít cũng sau thời điểm 96 đến nay FDI suy giảm cả về vốn cam kết và vốn thực hiện. So với cùng kỳ năm trước, nbịp tăng vốn đăng ký của các dự án FDI năm 97 giảm 49%, năm 98 giảm 16%, năm 99 giảm 60%. Số vốn thực hiện từ năm 97 – 99 giảm khoảng 40%. Sự suy giảm FDI đã gây ảnh tiêu cực đến việc huy động vốn đầu tư phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và một số năm tới.

     

    Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thu hút FID của các quốc gia thì nguyên nhân chính vẫn thuộc về chúng ta. Mặc dù, cơ chế chính sách, luật pháp đã có sự thông thoáng cởi mở. Song hệ thống CSHT kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của FDI đã dẫn đến chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, đã là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lưu lượng của dòng chảy FDI vào Việt Nam.

     

    Để Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới chúng ta cần phải cố gắng hơn nữa trong việc đề ra những giải pháp cho vấn đề này.

     

    Trang 33

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

     

     

     

    CHƯƠNG III

    PHƯONG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NHẰM THU HÚT VỐN FDI TRONG THỜI GIAN TỚI

     

    I.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới định hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian tới và một số giải pháp để giải quyết những tồn tại trong thời gian qua. Nhưng dù có định hướng hay giải pháp gì đi chăng nữa thì cơ bản việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải tuân theo những nguyên tắc sau

     

    Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật một cách hoàn chỉnh, đồng bộ theo một quy hoạc tổng thể ngay từ ban đầu.

     

    Trang 34

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Trong điều kiện hạn chế về vốn có thể hoàn thành từng phần tránh đầu tư manh mún dẫn đến thất thoát, lãng phí và hiệu quả thấp.

     

    Cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .

     

    1. Hệ thống giao thông vận tải.

     

    Phương hướng phát triển hệ thống giao thông là tạo sự chuyển biến cơ bản về cơ cấu, quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, trong đó phát triển nhanh ngành hàng hải và hàng không, tận dụng tốt các đường sông, ngăn chặn sự xuống cấp, từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt trọng điểm, giải quyết giao thông đường bộ ở các vùng kinh tế trọng điểm. Hoàn chỉnh tuyến trục Bắc-Nam, củng cố các tuyến lên Tây Nguyên và xuống đồng bằng Cửu Long, cải thiện mạng lưới giao thôgn đồng bằng sông Hồng và giao thông các thành phố lớn. Mở rộng, hiện đại hoá các đầu mối giao lưu quốc tế: cảng biển, cảng hàng không, phát triển các tuyến nối trục giao thông quốc tế xuyên A’ và các nước láng giềng.

     

    Phát triển tuyến vận tải ven biển và các cảng nước sâu trên các vùng.

     

    Nâng cấp toàn bộ tuyến quốc lộ 1 từ Đồng Đăng đến Năm Căn Là trục huyết mạch, đến năm 2005 hoàn thành và nối kết các mạng đường bộ các vùng.

    Nghiên cứu khả thi và xây dựng dẫn trục xa lộ Bắc Nam để đáp ứng cho thời kỳ CNH-HĐH từ sau năm 2000.

     

    Nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Việt để tạo nên tuyến đường vận tải hàng hoá có khối lượng lớn từ Bác đến Nam và các tính miền Trung, một tuyến vận chuyển hành khách đường dài nhanh chóng tiện lợi.

     

    Tăng năng lực vận chuyển trên các tuyến hàng không hướng Bắc-Trung-Nam, và nâng cấp các sân bay này.

     

    Trang 35

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Triển khai chương trình giao thông nông thôn, giải quyết đường đến huyện và 599 xã cũng 15 điểm cụm xã có tổng chiều dài là 7425 km.

     

    2. Bưu chính viễn thông.

     

    Tăng cường và phát triển mạng bưu chính viễn thông công cộng cũng như chuyên dùng theo hướng đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá bằng kỹ thuật số, quang học với công nghệ tiên tiến để có dung lượng lớn, tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu 3T (tốc độ, tiêu chuẩn, tin học và đồng thời cập nhật kịp thời những công nghệ mới)

     

    Mở rộng các dịch vụ mới: Điện thoại thấy hình, hội nghị truyền hình, truyền số liệu tốc độ cao nhằm, internet, thư điện tử, bưu phẩm khai giá

     

    Đưa các dịch vụ đối với khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi, văn minh lịch sự. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dịch vụ, bỏ độc quyền dịch vụ bưu chính viễn thông.

     

    3. Cung cấp điện

     

    ưu tiên khai thác thuỷ năng, trước hết tập trung vào các công trình có hiệu quả kinh tế cao như Sông Đà, Sông Đồng Nai và một số công trình vừa và nhỏ trên các lưu vực sông khác nhằm kết hợp thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nhiệt điện dùng than ở các tỉnh phía Bắc trên cơ sở tăng cường khai thác sử dụng than Quảng Ninh.

     

    Tích cực chuẩn bị cho phát điện nguyên tử sau năm 2000

     

    Liên kết tất cả các huyện thị vào mạng lưới quốc gia. Phấn đấu đến năm

     

    2010 có 70% số hộ được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

     

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hoá lưới điện chuyển tải và phân phối nhằm nâng cao độ tin cây, chất lượng cung cấp và giảm tỷ lệ hao hụt xuống còn khoảng 10%.

     

    II.GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN TỚI

     

    Căn cứ vào sự đánh giá về tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở phần trước, căn cứ vào định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật . Trong thời gian tới để tăng cường thu hút vốn FDI một mặt chúng ta cần cải thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng những yêu cầu của FDI đối với lĩnh vực này. Mặt khác cần tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút FDI có hiệu quả. Nhưng xuất phát từ việc bài viết trên lĩnh vực kinh tế đầu tư nên đưa ra những giải pháp thuộc lĩnh vực kinh tế đầu tư chứ không thể đưa ra những giải pháp dựa trên lĩnh vực kỹ thuật.

     

    1.Giải pháp cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hiện đại là yếu tố quan trọng trong thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Do đó, để cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

     

    • Thứ nhất: Tổ chức này cấp hệ thống đường bộ các nước trên quan điểm phá vỡ thế lực tuyến (như hiện nay-vừa qua, dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1 từ 2000-2003 đã được khởi công). Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện thành công dự án này nhằm giải quyết hướng ra trong tương lai đối với giao thông đường bộ.
    • Thứ hai: Để khai thức có hiệu quả lợi thế về vị trí địa chính tạo trong thu hút FDI cần đầu tư hienẹ đại bản 3 sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm

    Trang 37

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    đáp ứng các chuyến bay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ngành hàng không cũng cần phải tổ chức lại. Nếu tình trạng bù lỗ cứ kéo dài như hiện nay, chúng ta sẽ không có nguồn vốn cho đầu tư phát triển, dẫn đến tình trạng lạc hậu so với hàng không các quốc gia khác trong khu vực.

     

    • Thứ ba: Cải thiện hệ thống giao thông đô thị và chú ý phát triển mạng lưới giao thông ở các vùng nông thôn, vùng xa… ở các đô lớn như Hà nội, TP Hồ Chí Minh… hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại , chưa kể đến tầm phát triển trong tương lai. Điều này đã làm ngao ngán không ít các nhà đầu tư. Điển hình, tại TP HCM nạn kẹt xe ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn. Tại Hà nội, trong các giờ cao điểm trên trục đường hệ số sử dụng lòng đường đã vượt 1 đến 3 làn do lòng đường nội thành quá chật hẹp, các giao cắt đường mốc quá gần nhau, do đó đã dẫn đến tình trạng ùn tắc, lộn xộn mất trật tự.

    Như vậy, hệ thống giao thông đô thị đến nay đã trở lên quá tải, trong khi việc sửa chữa, áp dụng kỹ thuật còn quá thô sơ, manh mún, mang tính chắp vá không hề cải thiện tình hình giao thông. Việc xây dựng những con đường mới thực hiện quá chậm, thậm chí không đảm bảo chất lượng. Đó là thực trạng ửo các thành phố lớn nói chung ở nước ta hiện nay. Còn ở những thị xã, quận huyện xa thì vấn đề giao thông còn ách tắc hơn, gây cho nhà đầu tư tâm lý muốn đầu tư vào các đô thị lớn, nơi có môi trường đầu tư t*88 cả nước. Do đó, một mặt cần cải thiện hệ thống giao thông đô thị, mặt khác phải chú ý xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông ửo các vùng nông thôn, vùng núi, vùgn xa căn cứ trên quy hoạch chi tiết của từng địa phương.

     

    +Thứ tư: Đầu tư cải thiện hệ thống cảng biển trên quan điểm”cảng biển Việt nam cần chất lượng “ vì vậy cần tiếp tục đầu tư cải tạo và nâng cấp hiệu quả hoạt động của cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và cảng Hải Phòng tạo lên khu vực

     

    Trang 38

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    cảng lớn, mặt khác tập trung đầu tư phát triển hệ thống cảng biển miền Trung như Đà Nẵng, Ba Ngòi…. Và đặc biệt là cảng Dung Quất. Đội tàu viễn dương

    của ta đã quá cũ kỹ lạc hậu, vận tải đường biển còn kém phát triển trong khi đây là xu thế cảu Việt nam. Do vậy việc đầu tư hiện đại háo những cơ sở để phát triển kinh tế và thu hút FDI.

     

    • Thứ năm: hợp tác với các nước láng giềng để mở rộng hệ thống giao thông quốc tế, cụ thể: làm một hệ thống truvj giao thông sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên cơ sở hệ thống giao thông đã có, khai thông tuyến giao thông quốc tế đến Hà nội, mở rộng hệ thống giao thông đường sắt với Trung Quốc.

    +Thứ sáu:

     

    Đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt cần tăng số kênh thông tin quốc tế, tìm kiếm nguồn vốn để xây dựng hệ thống cáp quang biển hoà chung vào mạng cáp quang biên thông tin quốc tế khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của chủ đầu tư, điều chỉnh mức cước phí thông tin và bưu điện theo hướng phù hợp với nguồn sử dụng trong nước và hợp lý trong khu vực.

     

    Để thực hiện các giải pháp đầu tư cải thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảu nền kinh tế, một vấn đề cần giải quyết trước mắt là tìm kiếm, xác định được nguồn vốn đầu tư.

     

    Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn dành cho đầu tư lại hạn chế do nguồn thu ngân sách không đảm bảo. Do đó, để giải quyết bài toàn về vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần có những giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư một cách hợp lý.

     

    2. Giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

     

     

     

     

    Trang 39

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên quan điểm “tập trung dứt điểm” không đầu tư dàn trải và hậu quả của việc đầu tư dàn trải sẽ không cao, thực hiện đầu tư nhiều công trình nhưng đều chậm hoàn thành và khó đưa vào sử dụng do thiếu vốn. Muốn vậy cần có quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thống nhất và hợp lý. Những công trình trong tình trạng phân phối đều vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa phươgn mà phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế các địa phương.

     

    • Phải thực hiện chặt chẽ công tác phân cấp quản lý và đầu tư đói với những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc hế thống quốc gia như đường quốc lộ, những cồng trình mang tính chất liên ngành, liên vùng, những công trình hàng không, cảng biển quốc gia và hệ thống đường sắt. Tránh tình trạng chia nhỏ như trước đây, mỗi địa phương quản lý một đoạn quốc lộ v tổ chức thu kinh phí cho ngân sách địa phương. Cần tập trung nguồn thu này do ngân sách và điều phối một cách hợp lý, không quản lý manh mún, kém hiệu quả và việc đầu tư lại mang tính chắp vá như hiện nay.

    Đồng thời phải có sự phân cấp quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật một cách rõ ràng, chi tiết: bộ máy quản lý thành phố, tỉnh phải khác với huyện, xã. các công trình loại I, loại II thuộc trung ương thì phân cấp thế nào? Phạm vi nào thuộc quyền của tỉnh, lĩnh vực nào của Trung ương… một thực tế là sẹ phân cấp và phối hợp trong quản lý hệ thống giao thông còn rất yếu kém. Tại các thành phố, thị xã có quốc lộ đi qua thì Bộ giao thông vận tải quản lý, một số đoạn lại do sở giao thông công chính đảm nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng, còn cấp thoát nước, xây dựng mạng lưới điện, điện thoại lại do các cơ sở chuyên ngành nên có tình trạng đường làm xong thì phải đào lên để mắc điện thoại, làm cống thoát nước,/… đây là việc phân cấp quản lý vì mục đích chung lâu dài chứ không phải vì lợi ích nhất thời dàn trải. Việc đầu tư vào các hệ lĩnh vực thuộc hệ

     

    Trang 40

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ do từng địa phương thực hiện một ngân sách để thực hiện tài trợ trong những trường hợp đặc biệt.

     

    Thực hiện xây dựng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với những công trình mang tính chất phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được bàn bạc từ Trung ương đến địa phương để không lặp lại? Trung ương cho gì, địa phương nhận “và” địa phương xin, Trung ương xem và cho”. Mặt khác, cần có sự chỉ đạo thống nhất trong xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa Trung ương và địa phương. Các nguồn vốn được cấp, sử dụng đều phải có sự giám sát của Họi đồng nhân dân và ở mức độ cho phép thì có sự tham gia của nhân dân.

     

    • hoàn thiện từng bước các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầ

    Trong những năm tới, chỉ riêng 4 lĩnh vực điện, đường bộ, viễn thông và cấp nước mỗi năm cần đầu tư hơn 3,5 tỷ USD, gấp 3 lần nguồn vốn ngân sách (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức –ODA) của Chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng nói chung.

     

    Cho đến nay ngân sách vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng như thế thì không thể đáp ứng hết các yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng. Do vậy cần phải có các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp, để bù đắp khoảng trống giữa cung, cầu về vốn.

     

    Từ những năm 92, chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, giá thuế đất và đưa hình thức đầu tư BOT vào các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài … từ đó đến nay nhiều đường quốc lộ đã được nâng cấp bằng nguồn vốn của doanh nghiệp như QL5L từ TP HCM

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    đi vũng tàu, đường Láng-Hoà Lạc ở Hà nội, quốc lộ 14.. Tuy đã có một số kết quả nhưng các chính sách về thuế, đất đai vẫn chưa thuyết phục được ccs doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào cơ sở hạ tầng.

     

    Trong thời gian tới cần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia rộng rãi hơn vào một số lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang do các Doanh nghiệp Nhà nước kiểm soát bằng cách cổ phần hoá từng bước các mảng dịch vụ phân phối điện, dịch vụ viễn thông và đấu thầu khai thác các cảng biển cũng như sân bay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 42

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    KẾT LUẬN.

     

    Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    Hiện nay việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào hiệu quả của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng bỏng. Trong thời gian tới, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia, chắc chắn rằng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam sẽ có những bước tiến đáng kể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Chính vì thế ngay từ bây giờ chúng ta phải có sẹ tìm hiểu cụ thể thực trạng của hệ thống này để thấy được vai trò của nó đối với quá trình thu hút FDI. Qua đó tìm ra những giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại trong việc đầu tư phát triển hệ thống này.

     

    Trên cơ sở như vậy. bài viết được hoàn thành. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô.

     

    Em xin chân thành cảm ơn.

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Trang 43

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế đầu tư. NXB giáo dục – 1998.

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Thống kê – 1997.

     

    1. Bộ Kế hoạch – Đầu tư. Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam

     

    1. Nguyễn Anh Tuấn. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng. NXB Thế giới – 1994.

     

    1. Vũ Chí Lộc. Giáo trình đầu tư nước ngoài. NXB Giáo dục – 1997.

     

    1. Tổng cục Thống kê. Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới (1985 –

     

    1995).

     

    1. Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 96, 97, 98.
    1. Các báo, tạp chí sau:
    • Kinh tế và dự báo số 1+2/97, 4/98, 3/200, 10+11/2000
    • Thời báo kinh tế Sài Gòn số 27, 28, 36/2000
    • Nghiên cứu kinh tế số 1/98, 7/98, 4/99, 11/99, 9/2000
    • Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương số 4/97
    • Thông tin kinh tế xã hội số 2/96
    • Kinh tế và phát triển số 38/2000
    • Công nghiệp số 23/99
    • Phát triển kinh tế số 102/99
    • Thương mại số 1/2000
    • Giao thông vận tải số 1+2/2000

     

    Trang 44

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo bài tập lớn Kĩ thuật phần mềm và ứng dụng Quản lý tiền điện

    Báo cáo bài tập lớn Kĩ thuật phần mềm và ứng dụng Quản lý tiền điện

    Báo cáo bài tập lớn Kĩ thuật phần mềm và ứng dụng Quản lý tiền điện

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THIẾT KẾ BỘ KHỞI ĐỘNG MỀM ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ ROTO LỒNG SÓC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A1o-c%C3%A1o-b%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-K%C4%A9-thu%E1%BA%ADt-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m-v%C3%A0-%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%A5ng-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ti%E1%BB%81n-%C4%91i%E1%BB%87n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo bài tập lớn Kĩ thuật phần mềm và ứng dụng Quản lý tiền điện

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

        Những năm gần đây, khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin. Có thể nói, công nghệ thông tin đã len lỏi vào hầu hết tất cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống của chúng ta. Trong đó, công nghệ phần mềm luôn luôn đóng vai trò tiên phong, dẫn đầu trong quá trình đó. Các phần mềm đã đang và sẽ được ứng dụng ngày càng nhiều trong công việc cũng như cuộc sống thường ngày của con người.

       Nắm bắt được xu hướng đó, trong khuôn khổ nội dung của chương trình học học phần Kĩ thuật phần mềm ứng dụng, nhóm chúng em đã quyết định tìm hiểu và xây dựng một phần mềm đơn giản và gần gũi với thực tế: Hệ thống quản lí tiền điện của một xã.

       Qua quá trình tìm hiểu và xây dựng phần mềm trên thực tế, cùng với những kiến thực được học trên giảng đường, chúng em mới thực sự cảm nhận được những khó khăn khi xây dựng và phát triển một phần mềm hoàn chỉnh. Để có thể xây dựng được một phần mềm hoàn thiện, không chỉ đơn thuần là lập trình, mà còn rất nhiều công việc khác cần phải thực hiện. Các công việc này được sắp xếp trong các pha với trình tự rất hợp lí, khoa học.

       Phần mềm này được nhóm em xây dựng nhằm hỗ trợ cho người quản lí và các hộ tiêu thụ có thể  nhanh chóng dễ dàng hơn trong việc  cập nhật tình hình sử dụng điện và thanh toán tiền điện của mình, tránh việc phải tính toán thủ công mất nhiều thời gian cũng như khó khăn trong việc lưu trữ thông tin.

       Đây là phần mềm đầu tiên mà nhóm em xây dựng nên không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, kính mong cô giáo và các bạn bổ sung, góp ý để phần mềm ngày càng hoàn thiện và thực sự hữu ích với người sử dụng.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    PHẦN I : LẬP KẾ HOẠCH THỰC HIỆN PHẦN MỀM

     

    I. LẬP KẾ HOẠCH

    1. Khởi tạo dự án

            Mong muốn có một ứng dụng phần mềm vào việc quản lý tiền điện là một nhu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tránh được rủi ro sai số do tính toán cũng như tiết kiệm nhiều chi phí  không chỉ đối với một xã mà cả một huyện với quy mô lớn. Nhóm sinh viên chúng em đã nghiên cứu và xây dựng Phần mềm quản lý tiền điện để hỗ trợ các người quản lý và nhân viên của họ trong công việc quản lý tiền điện một cách hiện đại và chuyên nghiệp. Do số lượng các gia đình hộ tiêu thụ rất lớn, cùng với những phép tính toán tiền điện theo mức rất phức tạp , nếu quản lý bằng sổ sách sẽ tốn rất nhiều công sức và không đảm bảo được tính chính xác. Việc dùng phần mềm trong việc quản lý sẽ giúp đỡ rất nhiều cho cả người quản lý và nhân viên trong công việc kinh doanh.

              Mục tiêu: Hệ thống phần mềm giúp cho người quản lí một cách dễ dàng các thông tin về khách hàng dùng điện, cách tính tiền điện một cách chính xác, nhanh chóng. Hệ thống dễ sử dụng tiết kiệm thời gian và sức lao động và có giao diện đẹp phù hợp với người sử dụng.

    2. Phân tích tính khả thi

    2.1. Tính khả thi về mặt kỹ thuật

      – Sản phẩm được phát triển dựa trên công cụ C# vả SQL sever là những công cụ hỗ trợ mạnh đảm bảo tính khả thi về mặt kỹ thuật, tốn ít tài nguyên hệ thống và giá thành sản phẩm rẻ.

      – Sản phầm được thiết kế chạy trên nền window đảm bảo phù hợp với đa số người dùng.

      – Dự án phát triển phần mềm này có quy mô vừa phải, áp dụng trong một xã  nên cơ sở dữ liệu không lớn, đảm bảo có thể thực hiện xong trong thời gian ngắn (khoảng 15 tuần).

    2.2. Tính khả thi về mặt kinh tế

      – Như trên đã nói, sản phẩm được phát triền trên C# và SQL nên đảm bảo tốn ít tài nguyên hệ thống, giá thành rẻ, thời gian thực hiện ngắn.

      – Chi phí bảo trì phần mềm gần như không có.

      – Giảm thiểu thời gian quản lý, giúp quản lý linh hoạt hơn, giảm tải đội ngũ nhân viên do đó doanh thu tăng.

      – Tạo sự hài lòng, tin tưởng cho khách hàng vì phương pháp thanh toán chuyên nghiệp và khoa học tuyệt đối chính xác.

    2.3. Tính khả thi về mặt tổ chức

      – Phần mềm sau khi hoàn thành sẽ do người quản lý tiền điện, nhân viên, kế toán … sử dụng dễ dàng và hiệu quả.

      – Sản phẩm mới vẫn có thể đáp ứng các yêu cầu đặt ra mong muốn khi được mở rộng trong tương lai.

     

    II.  LỊCH BIỂU DIỄN CÔNG VIỆC

    1.     Thành viên

    STT

    Tên

    MSSV

    Lớp

    1

    Trần Quang Trung (TN)

    20134191

    KT ĐT-TT 06 K58

    2

    Trịnh Hữu Trường

    20134237

    KT ĐT-TT 07 K58

    3

    Nguyễn Đăng Anh Tú

    20136796

    CN-Điện tử TT 02 K58

    4

    Nguyễn Thị Cẩm Tú

    20134495

    KT ĐT-TT 09 K58

    5

    Phạm Mạnh Tuấn

    20134328

    KT ĐT-TT 06 K58

     

    2.     Thời gian tổng thể

    Tổng thời gian dự kiến là 15-17 tuần (kéo dài trong thời gian học)  hoàn thành trước thời hạn bàn giao phần mềm là 1 tuần được phân bổ như sau:

                + Phân tích và thiết kế hệ thống phần mềm : 4-5 tuần.

    + Lập trình, kiểm thử các hệ thống phần mềm, sửa lỗi, nộp báo cáo : 11-12 tuần.

    3.     Thời gian chi tiết

    Kế hoạch phân công công việc cụ thể được chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:

     

    Giai đoạn 1 : Khảo sát yêu cầu (  Nguyễn Thị Cẩm Tú, Nguyễn Đăng Anh Tú )

    STT

    Nhiệm vụ

    Số ngày

    Ngày bắt đầu

    Ngày kết thúc

    1

    Tìm hiểu hệ thống, xác định yêu cầu cần thực hiện.  

    3

    28/08/2015

    31/08/2015

    2

    Xây dựng tài liệu đặc tả theo yêu cầu mong muốn đặt ra

    4

    31/08/2015

    4/09/2015

    – Giai đoạn 2 : Lập kế hoạch thực hiện tạo phần mềm ( Trần Quang Trung )

     

    STT

    Nhiệm vụ

    Số ngày

    Ngày bắt đầu

    Ngày kết thúc

       1

     

    Phân công cho các thành viên trong nhóm để thực

     

    1

     

    4/09/2015

     

    5/09/2015

     

     

    – Giai đoạn 3 : Phân tích và Thiết kế  ( Trịnh Hữu Trường, Phạm Mạnh Tuấn, Trần Quang Trung )

     

    STT

    Nhiệm vụ

    Số ngày

    Ngày bắt đầu

    Ngày kết thúc

    1

    Phân tích yêu cầu, thiết kế về mặt chức năng và mô tả khung giao diện

    7

    5/09/2015

    12/09/2015

    2

    Hoàn thành tài liệu phân tích thiết kế hệ thống

    5

    12/09/2015

    17/09/2015

    3

    Thiết kế giao diện của phần mềm

    1 tháng

    17/09/2015

    17/10/2015

    4

    Nhận Ý kiến của cô và chỉnh sửa để hoàn thiện giao diện.

    3

    17/10/2015

    20/10/2015

     

     

     

     

    – Giai đoạn 4 : Viết code (mã ) ( Trịnh Hữu Trường, Trần Quang Trung, Phạm Mạnh Tuấn )

     

    STT

    Nhiệm vụ

    Số ngày

    Ngày bắt đầu

    Ngày kết thúc

    1

    Lập trình viết code các chức năng phần mềm dựa trên bản phân tích đã có.

    1 tháng

    1/11/2015

    2/12/2015

    2

    Tiến hành kiểm thử từng chức năng và thực hiện chỉnh sửa để hoàn thiện.

    1

    2/12/2015

    3/12/2015

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    – Giai đoạn 5 : Kiểm thử và khắc phục lỗi (Nguyễn Thị Cẩm Tú, Nguyễn Đăng Anh Tú)

     

    STT

    Nhiệm vụ

    Số ngày

    Ngày bắt đầu

    Ngày kết thúc

    1

    Thực hiện kiểm thử để test chức năng của sản phẩm trong các tình huống đã đặt ra. Chỉnh sửa và khắc phục lỗi.

    2

    3/12/2015

       5/12/2015

    2

    Test giao diện phần mềm trên nhiều máy tính khác nhau. Đảm bảo ổn định như thiết kế.

    1

    5/12/2015

    6/12/2015

    3

    Nộp sản phẩm kiểm thử, tiếp nhận lỗi và hoàn chỉnh sản phẩm.

    2

    6/12/2015

        8/12/2015

    4

    Xây dựng bản báo cáo hoàn thiện sản phẩm và tài liệu hướng dẫn quản trị và sử dụng sản phẩm.

    1

    8/12/2015

    9/12/2015

     

     

     

    – Giai đoạn 6 : Bàn giao sản phẩm ( Nguyễn Thị Cẩm Tú,  Trịnh Hữu Trường, Phạm Mạnh Tuấn, Trần Quang Trung, Nguyễn Đăng Anh Tú)

     

     

    STT

    Nhiệm vụ

    Số ngày

    Ngày bắt đầu

    Ngày kết thúc

    1

     Nộp báo cáo và thuyết trình sản phẩm

    1

    9/12/2015

    9/12/2015

     

     

    PHẦN II : TÌM HIỂU YÊU CẦU QUẢN LÝ TIỀN ĐIỆN

     

    I.                   CÂU HỎI PHỎNG VẤN

    1.     Câu hỏi đóng

    • Trung bình có bao nhiêu người gọi điện thoại thắc mắc về giá điện mỗi ngày?
    • Những thông tin cần bổ sung khi báo cáo tình hình kinh doanh hàng quý, hàng tháng?
    • Những thông tin gì cần bổ sung trên hóa đơn giao cho khách hàng?
    • Các chức năng mới cần thêm vào để cho hệ thống mang lại hiệu quả và dễ sử dụng cho khách hàng?

    2.     Câu hỏi mở

    • Ông/bà muốn bổ sung tính năng gì cho hệ thống?
    • Ông/bà thấy các chức năng của hệ thống có dễ sử dụng không? Có đáp ứng được mong muốn của ông bà chưa?
    • Trong lần update hệ thống sắp tới, ông/bà muốn hệ thống được cải thiện như thế nào?

    3.     Câu hỏi thăm dò

    • Ông/bà chưa hài lòng về…., tại sao vậy?
    • Ông/bà có thể cho tôi ví dụ cụ thể hơn về những gì ông/bà mong muốn được không ạ?
    • Ông/bà có thể nói rõ hơn về những gì ông bà mong muốn được không?
    • Cảm nghĩ của ông/ bà khi dùng thử nghiệm hệ thống của chúng tôi?
    • Ông/bà hài lòng với tính năng….nhất, ông/bà có thể cho chúng tôi biết lí do đươc không?
    • Qua một thời gian sử dụng, ông bà có cảm nhận như thế nào về hệ thống của chúng tôi?

    II. CÁC YÊU CẦU

    1. Yêu cầu về chức năng

    –    Cập nhật thông tin          

    + Cập nhật người sử dụng : phần mềm sẽ giúp người quản lý có thể nhập thông tin khách hàng khi họ đến đăng kí mua điện. Bao gồm:

    • Họ và tên người sử dụng
    • Địa chỉ người sử dụng
    • Số điện thoại liên hệ
    • Loại điện sử dụng ( điện kinh doanh hay điện sinh hoạt)
    • Thời gian đăng kí

    Ngoài ra phần mềm vẫn cho phép sửa đổi thông tin khách hàng khi cần thiết. Ví dụ như khi tách hộ khẩu, thay đổi loại điện sử dụng…

    + Cập nhật mã công tơ: mỗi hộ khách hàng sẽ được cấp mã và lưu cùng thông tin đó là mã công tơ. Mã công tơ sẽ giúp người quản lý điện dễ dàng kiểm tra số công tơ để có thể cập nhật chính xác.

    + Cập nhật chỉ số công tơ mới và ngày ghi số công tơ: sau mỗi tháng thì người quản lý cần thu lại số công tơ mới vì vậy phần mềm phải có chức năng cập nhật số công tơ bằng cách nhập tay hay qua một files đồng thời ghi lại thời gian ngày ghi số công tơ.

    –    Tính toán tiền điện

    Cần có bảng tính để tính toán tiền điện. Từ các chỉ số công tơ thu được và dựa vào biểu giá của nhà cung cấp điện ta sẽ tính được số tiền cần trả của các hộ tiêu thụ. Dữ liệu này sẽ được lưu lại để sử dụng in hóa đơn hoặc mục đích khác.

    –    Lưu trữ

    Phần mềm cho phép lưu lại các thông tin cũng như các chỉ số công tơ hàng tháng trong một khoảng thời gian nhất định để đảm bảo đủ bộ nhớ. Các dữ liệu vượt quá thời gian trên có thể được lưu trữ sang các bộ nhớ ngoài phần mềm.

    –    Tìm kiếm

    Phần mềm cần có chức năng tìm kiếm thông tin để khi nhà quản lý cần có thể tìm kiếm các dữ liệu lưu trữ một cách dễ dàng. Tìm kiếm có thể thực hiện bằng cách tìm kiếm qua tên, mã số công tơ hay ngày tháng đăng ký…

    –    Thống kê

    Để quản lý có hiệu quả cần phải thống kê hằng tháng. Phần mềm cần có chức năng thống kê cho cả khu vực thu. Có thể sử dụng biểu đồ hoặc bảng để thống kê lại các thông số cần thiết như số lượng thu tiền, các hộ còn thiếu tiền điện…

    –    In hóa đơn

    Sau khi tính toán số tiền cần thu thì cần in hóa đơn để người sử dụng biết được chính xác số điện cũng như số tiền để họ có thể kiểm tra hay điều chỉnh cho tháng sau.

    2. Yêu cầu phi chức năng

    –    Hoạt động

    Hệ thống phải có sự đồng bộ tức là dữ liệu có thể truyền đi giữa các máy tính trong một sở điện. Nếu có thể thì sẽ liên kết với các điểm thu tiền qua mạng internet.

    –    Hiệu năng:

    Hệ thống phải hoạt động ổn định. Tốc độ cập nhật và tính toán phải nhanh ( khoảng 1-2s với một dữ liệu). Tính toán cần chính xác tránh sai hệ thống. Dung lượng chưa thông tin phải tương đối lớn để có thể xử lý được lượng thông tin lớn.

    –    Bảo mật

    Phần mềm cần có hệ thống đăng nhập. Chỉ có các nhân viên quản lý mới có thể đăng nhập vào hệ thống để cập nhật hay chỉnh sửa. Mỗi lần chỉnh sửa cũng sẽ được lưu lại để sử dụng sau này khi có sự cố. Phải có khả năng bảo vệ thông tin khách hàng nếu gặp phải hacker…

    –    Văn hóa và chính trị

    + Ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt.                                                                                             + Đơn vị thanh toán là tiền tệ có đơn vị VNĐ.                                                                       + Phần mềm phải hợp pháp và sử dụng hợp lý.

     

    PHẦN III: PHÂN TÍCH HỆ THỐNG

     

    I.                   SƠ ĐỒ CHỨC NĂNG

    1.     Sơ đồ chức năng

     

    2.     Giải thích sơ đồ chức năng

         Sơ đồ gồm có 4 chức năng là quản lý hộ tiêu thụ, quản lý hóa đơn, tìm kiếm, thống kê báo cáo.

    • Chức năng 1: Quản lý hộ tiêu thụ

     

       Quản lý hộ tiêu thụ sẽ giúp ta quản lý được các hộ đang sử dụng điện, cho ta biết các thông tin cơ bản của các hộ tiêu thụ như: mã hộ tiêu thụ, họ tên hộ tiêu thụ, địa chỉ hộ tiêu thụ, loại điện sử dụng …

       Ở chức năng này có thể chia ra thành hai chức năng nhỏ hơn là:

    + Chức năng 1.1: Thêm mới

       Đây là chức năng sẽ giúp người dùng có thể thêm một hộ tiêu thụ mới đăng kí vào cơ sở dữ liệu của hệ thống. Việc thêm mới này sẽ bao gồm việc tạo thêm một hàng chứa dữ liệu mới và cho phép điền các thông tin cơ bản về hộ tiêu thụ mới này.

    + Chức năng 1.2: Cập nhật thông tin hộ đang sử dụng

       Chức năng này sẽ điều chỉnh thông tin cơ bản của các khách hàng đang sử dụng điện bao gồm các thao tác như xóa, chỉnh sửa, thêm dữ liệu …

     

    • Chức năng 2: Quản lý hóa đơn

     

        Giúp người sử dụng nhập chỉ số điện của từng tháng của từng hộ tiêu thụ vào hệ thống. Tính toán tiền điện của từng hộ tiêu thụ theo đơn giá. Sau đó sẽ tiến hành in hóa đơn.

    Các chức năng con của Quản lý hóa đơn là:

    + Chức năng 2.1: Lập hóa đơn

       Đây là chức năng được người sử dụng nhằm tạo ra các hóa đơn bao gồm các thông tin cơ bản như: mã hóa đơn, ngày tháng lập hóa đơn, mã hộ tiêu thụ, tên hộ tiêu thụ, chỉ số điện cũ, chỉ số điện mới, lương điện tiêu thụ, đơn giá, số tiền hộ tiêu thụ phải trả …

    + Chức năng 2.2: In hóa đơn

       Sau khi lập hóa đơn cần in hóa đơn để nhân viên thu tiền thông báo cho hộ tiêu thụ biết lượng điện mình đã tiêu thụ và số tiền cần phải trả trong tháng đó.

    + Chức năng 2.3: Lưu hóa đơn

       Chức năng này sẽ lưu lại hóa đơn trong bộ nhớ hệ thống để có thể sử dụng lại ví dụ như cho việc tìm kiếm hay giải đáp thắc mắc của hộ tiêu thụ khi có sự việc bất thường nào đó xảy ra.

     

    • Chức năng 3: Tìm kiếm

     

       Người sử dụng phần mềm có thể tìm kiếm các thông tin có trong bộ nhớ của hệ thống. Khi sử dụng chức năng tìm kiếm người sử dụng chỉ cần nhập một vài từ khóa liên quan là có thể tìm ra được thông tin mình đang cần.

       Các chức năng con của Tìm Kiếm:

    + Chức năng 3.1: Theo khách hàng

       Tìm kiếm theo khách hàng tức là tìm kiếm thông tin bằng cách sử dụng các từ khóa về mã khách hàng, tên khách hàng, số chứng minh thư, ngày đăng kí …

    + Chức năng 3.2: Theo hóa đơn

       Tìm kiếm theo hóa đơn là tìm kiếm thông tin bằng cách sử dụng các từ khóa về mã hóa đơn, ngày tháng lập hóa đơn …

     

    • Chức năng 4: Báo cáo thống kê

     

       Việc báo cáo thống kê sẽ giúp người sử dụng có thể tổng hợp lại toàn bộ dữ liệu thu thập và tính toán trong một khoảng thời gian. Từ đó, đưa ra cái nhìn tổng quan hơn về tình hình sở điện, báo cáo lên cho cấp lãnh đạo.

       Các chức năng con của Báo cáo thống kê

    + Chức năng 4.1: Tình hình thanh toán

       Tình hình thanh toán là chức năng tổng hợp thống kê lại một danh sách các hộ tiêu thụ còn chưa thanh toán trong tháng để từ đó có biện pháp giải quyết như nhắc nhở hay tiến hành cắt điện với các hộ tiêu thụ đã được nhắc nhở nhiều lần.

    + Chức năng 4.2: Doanh thu hàng tháng

       Tổng hợp lại doanh thu của cả tháng bằng cách cộng tổng toàn bộ số tiền thu được trong tháng sau đó sẽ báo cáo lại cho lãnh đạo để và so sánh với các tháng khác trong năm. Từ đó sẽ thông báo được với cấp trên là doanh thu vừa qua báo lỗ hay lãi và đưa ra được chiến lược phù hợp trong thời gian tiếp theo.

     

    II.               SƠ ĐỒ LUỒNG DỮ LIỆU (DFD)

    1.     Sơ đồ mức ngữ cảnh

     

     

     

     

     

     

     

    1. Sơ đồ mức đỉnh

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.     Sơ đồ mức 1

    • Chức năng 1: Quản lý hộ tiêu thụ

     

     

     

     

                                                                                                               

               
             
     
       

     

     

     

     

     

    • Chức năng 2: Quản lý hóa đơn

     

                   

                   
         
           
     
     
     

    Thông tin hóa đơn

       

    Thông tin hóa đơn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                         

     

    • Chức năng 3: Tìm kiếm
     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Chức năng 4: Báo cáo thống kê

    Thông tin báo cáo

    Thông tin báo cáo

             

           
       
     
         

     

     

    III.            TỪ ĐIỂN DỮ LIỆU

    1.     Giải thích sơ đồ luồng dữ liệu (DFD)

    • Giải thích sơ đồ mức ngữ cảnh

      Các thực thể ngoài bao gồm thực thể khách hàng, thực thể nhân viên và thực thể lãnh đạo. Theo đó, khách hàng sẽ chỉ có tác động là đưa thông tin của mình vào hệ thống, nhân viên sẽ có nhiệm xử lý các thông tin về hộ tiêu thụ và thông tin về hóa đơn. Và lãnh đạo sẽ là người nhận thông tin về báo cáo thống kê của phần mềm đưa ra.

     

    • Giải thích sơ đồ mức đỉnh

                               Ở chức năng quản lý hộ tiêu thụ, khách hàng sẽ đưa thông tin hộ tiêu thụ vào, nhân viên sẽ lấy thông tin khách hàng cung cấp và nhập vào hệ thống. Sau đó hệ thống sẽ chuyển thông tin ấy vào kho “Hộ tiêu thụ”. Khi cần phải cập nhật thông tin về hộ tiêu thụ thì nhân viên sẽ lấy dữ liệu từ kho “Hộ tiêu thụ” để chỉnh sửa, bổ sung.

                               Ở chức năng quản lý hóa đơn nhân viên sẽ lấy dữ liệu từ kho “Hộ tiêu thụ” và kho “Hóa đơn” để xử lý hóa đơn, sau đó lại chuyển thông tin hóa đơn này về lại kho “Hóa đơn” để lưu trữ.

                            Ở chức năng tìm kiếm sẽ chỉ có nhân viên được sử dụng, các thông tin nhân viên cần tìm kiếm sẽ lấy từ các kho “Hộ tiêu thụ” và kho “Hóa đơn”.

                            Cuối cùng, ở chức năng báo cáo thống kê sẽ được nhân viên tổng hợp lại từ các kho “Hộ tiêu thụ” và kho “Hóa đơn” và chuyển về cho lãnh đạo.

    • Giải thích chức năng 1

       Chức năng thêm mới sẽ nhận thông tin từ khách hàng mới đăng kí sử dụng điện thông qua nhân viên sẽ nhập dữ liệu mới này vào hệ thống và đưa vào kho “Hộ tiêu thụ”. Chức năng cập nhật thông tin hộ đang sử dụng sẽ nhận thông tin điều chỉnh từ khách hàng hoặc từ kho “Hộ tiêu thụ” sau đó nhân viên cũng sẽ nhập lại thông tin cần chỉnh sửa và đưa trở lại vào kho “Hộ tiêu thụ”.

    • Giải thích chức năng 2

       Chức năng lập hóa đơn sẽ lấy thông tin từ kho “Hộ tiêu thụ” và kho “Hóa đơn” để đưa về cho nhân viên tính toán tiền điện cho từng hộ tiêu thụ. Chức năng lưu hóa đơn sẽ do nhân viên thực hiện lưu toàn bộ các thông tin hóa đơn đã xử lý để đưa trả về cả 2 kho. Chức năng in hóa đơn sẽ lấy thông tin xử lý hóa đơn từ kho “Hóa đơn” sau đó in ra để đưa tới người sử dụng.

    • Giải thích chức năng 3

       Chức năng tìm kiếm theo khách hàng sẽ lấy thông tin khách trong kho “Hộ tiêu thụ” để tìm kiếm sau đó đưa về cho nhân viên. Chức năng tìm kiếm theo hóa đơn sẽ lấy thông tin hóa đơn từ kho “Hóa đơn” để tìm kiếm và đưa về cho nhân viên.

    • Giải thích chức năng 4

       Chức năng tình hình thanh toán, nhân viên sẽ lấy thông tin từ kho “Hộ tiêu thụ” và kho “Hóa đơn” để xử lý sau đó lập ra danh sách các hộ tiêu thụ nộp hay chưa nộp tiền điện, và báo cáo lên cho lãnh đạo. Chức năng doanh thu hàng tháng, nhân viên sẽ lấy thông tin từ kho “Hộ tiêu thụ” và kho “Hóa đơn” để xử lý sau đó tính tổng tiền thu được trong tháng và thống kê báo cáo lên cho lãnh đạo.

     

    2.     Dữ liệu trong các kho

     

    Tên Kho

    Dữ liệu trong kho

    Hộ tiêu thụ

    Mã khách hàng, họ tên, chứng minh thư, địa chỉ, giới tính, năm sinh, số điện thoại, ngày đăng kí, loại điện, ghi chú.

    Hóa đơn

    Mã hóa đơn, mã tháng, tên tháng, chỉ số cũ, chỉ số mới, lượng điện tiêu thụ, tiền điện.

    Chú thích:

    • Loại điện bao gồm điện sinh hoạt hay điện kinh doanh, mỗi khách hàng chỉ được chọn một loại điện.
    • Ghi chú là đánh dấu lại các hộ chưa nộp tiền điện.

    IV.             SƠ ĐỒ THỰC THỂ LIÊN KẾT

     

    N

    1

    1

    1

    N

    N

    1

    1

    1

    Thống kê

    1

    Chỉ số điện

    N

    1

    1

    1

    Hóa đơn

    Hô tiêu thụ

    Tháng

    N

    N

    N

    1

    PHẦN IV: THIẾT KẾ HỆ THỐNG

     

    I. THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU

    1. Bảng cơ sở dữ liệu và phụ thuộc hàm

    *Mã khách hàng

    Họ tên

    Chứng minh thư

    Địa chỉ

    Giới tính

    Năm sinh

    Số điện thoại

    Ngày đăng kí

    *Mã hóa đơn

    Loại điện

    Lượng điện tiêu thụ

    Tiền

    *Mã tháng

    Tên tháng

    Chỉ số mới

    Chỉ số cũ

    Ghi chú

                                       
         
     
         
     
         
     
         
     
         
     
         
         
     
         
     
         
     
       
     
         
     
     
         

     

     

     

    2. Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu

    2.1. Chuẩn hóa 1NF

          Đảm bảo tính nguyên tố và duy nhất.

                               
       
                             
     
     
     
     
     
     

    *Mã khách hàng

    Họ tên

    Chứng minh thư

    Địa chỉ

    Giới tính

    Năm sinh

    Số điện thoại

    Ngày đăng kí

    *Mã hóa đơn

    Loai điện

    Lượng điện tiêu thụ

    Tiền

    *Mã khách hàng

    *Mã tháng

    Tên tháng

    Chỉ số cũ

    Chỉ số mới

    *Mã khách hàng

    *Mã hóa đơn

    *Mã tháng

    Ghi chú

                     
       
     
         
     
         
         
     
     
         

     

     

    2.2. Chuẩn hóa 2NF

    Không có phụ thuộc hàm không đầy đủ vào khóa chính.

     

    *Mã khách hàng

    Họ tên

    Chứng minh thư

    Địa chỉ

    Giới tính

    Năm sinh

    Số điện thoại

    Ngày đăng kí

                     
         
     
         
     
         
     
         
     
         
     
         
     
       

     

    *Mã hóa đơn

    *Mã hóa đơn

    Loại điện

    Lượng điện tiêu thụ

    Tiền

                 
         
     
         
     
         
     
       

     

     

    *Mã tháng

    Tên tháng

    *Mã tháng

    *Mã khách hàng

    Chỉ số cũ

    Chỉ số mới

           
       
     
         

    *Mã khách hàng

    *Mã hóa đơn

    *Mã tháng

    Ghi chú

           
       
     
         

    2.3. Chuẩn hóa 3NF / BCNF

    Không có phụ thuộc hàm bắc cầu vào thuộc tính không khóa. Vì các bảng ở trên đều không có phụ thuộc hàm bắc cầu nên các bảng sau khi chuẩn hóa 2NF cũng chính là chuẩn hóa 3NF / BCNF.

    1. Kiểu dữ liệu của các thuộc tính

    Bảng 1: Bảng hộ tiêu thụ

    Têntrường

    Kiểu

    Ghichú

    ma*

    nchar(10)

    Mãkháchhàng

    hoten

    nvarchar(50)

    Họtên

    cmt

    int

    Chứng minh thư

    diachi

    nvarchar(50)

    Địachỉ

    gioitinh

    nchar(10)

    Giớitính

    namsinh

    date

    Nămsinh

    sodienthoai

    int

    Sốđiệnthoại

    ngaydangky

    date

    Ngàyđăngký

     

    Bảng 2: Bảng hóa đơn

    Têntrường

    Kiểu

                                        Ghichú

    mahd*

    nchar(10)

    Mãhóađơn

    ma*

    nchar(10)

    Mãkháchhàng

    ldtt

    int

    Lượngđiệntiêuthụ

    loaidien

    nvarchar(20)

    Loạiđiện

    tien

    money

    Tiền

     

    Bảng 3: Bảng chỉ số điện

    Têntrường

    Kiểu

                      Ghichú

    ma*

    nchar(10)

    Mãkháchhàng

    mathang*

    nchar(10)

    Mãtháng

    chisocu

    int

    Chỉsốcũ

    chisomoi

    int

    Chỉsốmới

     

     

    Bảng 4: Bảng thời gian

    Têntrường

    Kiểu

    Ghichú

    mathang*

    nchar(10)

    Mãtháng

    tenthang

    nchar(10)

    Têntháng

    Bảng 5 :Thống kê

     

    Têntrường

    Kiểu

    Ghichú

    ma*

    nchar(10)

    Mãkháchhàng

    mathang*

    nchar(10)

    Mãtháng

    mahd*

    nchar(10)

    Mãhóađơn

    ghichu

    nchar(10)

    Ghichú

    1. Mối quan hệ giữa các bảng

    II. THIẾT KẾ GIAO DIỆN

       Trong quá trình xây dựng phần mềm, chúng em đã đi khảo sát hiện trạng và phân tích yêu cầu người dùng, yêu cầu hệ thống mới và các yêu cầu về phân tích chức năng, luồng dữ liệu… và chỉ rõ mối quan hệ giữa các thực thể trong hệ thống. Tất cả các công việc trên nhằm mục đích thiết kế được một phần mềm đạt hiệu quả cao. Phần mềm được thiết kế đã đưa ra các form đó là giao diện tương tác trực tiếp với người sử dụng.

       Dưới đây là các form cơ bản của hệ thống:

    1.Form “Đăng Nhập”

         Nhân viên, quản lý sẽ được cấp một tài khoản riêng trên phần mềm, sau khi được cấp, chủ tài khoản có thể thay đổi mật khẩu để tăng tính bảo mật.                                                                                                 

         Tài khoản này được sử dụng khi nhân viên muốn truy cập vào hệ thống.Sau khi gõ “Tên đăng nhập” vào ô “Tài khoản”  và “Mật khẩu” vào ô “Mật khẩu”, người sử dụng click vào ô “Đăng nhập” là có thể truy cập vào hệ thống. Ngược lại, nếu click vào ô “Thoát”, người sử dụng sẽ thoát ra khỏi hệ thống.

     

    2.Form “Thông tin hộ tiêu thụ”

       Form này cho phép người quản lí có thể nhập, thêm, xóa và chỉnh sửa thông tin hộ tiêu thụ. Người quản lí có thể thực hiện các thao tác trên khi chọn công việc mình muốn làm ở các ô lệnh tương ứng hiển thị trên màn hình bằng cách click vào thao tác mình muốn thực hiện. Sau đó, lần lượt nhập các thông tin: Mã khách hàng, tên khách hàng, chứng minh thư, địa chỉ, giới tính, ngày sinh, số điện thoại và ngày đăng kí vào các textbox tương ứng. Tất cả các thông tin về hộ tiêu thụ sẽ được lưu trữ vào cơ sở dữ liệu SQL server.

    3. Form “Quản lí hóa đơn/ in hóa đơn”

       Form này cho phép người quản lí có thể tìm kiếm, cập nhật cũng như xóa các hóa đơn bị sai thông tin. Sau khi nhập mã hóa đơn vào text box “Nhập mã hóa đơn”, hệ thống sẽ đưa ra cho ngời quản lí 1 bảng bao gồm các thông tin: Mã khách hàng, mã tháng, chỉ số cũ và chỉ số mới. Tiếp tục chọn loại điện, click vào ô tính, hệ thống sẽ đưa ra lượng điện đã tiêu thụ và tính số tiền hộ tiêu thụ phải trả cho người quản lí.

       Nếu muốn in hóa đơn, người quản lí sẽ chọn một mã khách hàng và click vào ô in hóa đơn. Hóa đơn được in ra sẽ có mẫu như bên dưới. Muốn thoát khỏi form, người quản lí sẽ click vào ô dâu nhân đỏ trên góc trên bên phải của giao diện form.

     

    Mẫu hóa đơn:

    4. Form cập nhật chỉ số điện

       Form này cho phép người quản lí thêm, sửa cũng như xóa thông tin về chỉ số điện của hộ sử dụng. Sau khi chọn thao tác phù hợp bằng cách click vào các ô ghi tên chức năng tương ứng, người quản lí sẽ nhập mã khách hàng, mã tháng, chỉ số cũ và chỉ số mới vào các textbox phù hợp.   Muốn thoát khỏi form, người quản lí sẽ click vào ô dấu nhân đỏ ở góc trên bên phải của giao diện.

     

    5. Form” Tìm kiếm hộ tiêu thụ”

       Ở form này, cho phép người quản lí tìm ra tất cả cácthông tin của hộ tiêu thị một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất. Chỉ cần nhập mã khách hàng rồi click vào ô nhập mã nếu muốn tìm theo mã khách hàng, hoặc nhập tên rồi click vào ô nhập tên nếu muốn tìm theo tên, hệ thống sẽ đưa ra cho người quản lí một bảng có đầy đủ thông tin của khách hàng cần tìm như: Mã, họ tên, CMT, địa chỉ, giới tính, nagỳ sinh, SĐT và ngày đăng kí. Cũng giống như các form khác, muốn thoát khỏi form, người quản lí click vào dấu nhân đỏ ở góc trên bên phải màn hình.

    6. Form “Thống kê tổng doanh thu”

       Người quản lí chỉ cần nhập mã tháng vào textbox tương ứng, sau đó click vào ô tìm, hệ thống sẽ cung cấp ngay cho người quản lí một bảng gồm các thông tin: Mã, mã tháng, mã hợp đồng và số tiền( tính theo VNĐ). Qua form này, người quản lí có thể dễ dàng tính ra doanh số trong 1 tháng một quý hay một năm. Muốn thoát khỏi form, vẫn sử dụng thao tác click vào dấu nhân đỏ ở góc trên bên phải màn hình.

    7. Form “Danh sách hộ tiêu thụ nộp/ chưa nộp”

       Khi người quản lí click vào chức năng “Thống kê” ở giao diện làm việc ban đầu của hệ thống, sau đó click tiếp vào “Danh sách hộ nộp/ chưa nộp”, hệ thống sẽ đưa ra bảng có các thông tin đầy đủ về hộ đã nộp, chưa nôp cho người quản lí như sau:

    8. Form “Tiện ích”

        Ngoài các chức năng trên,hệ thống còn có thêm tiện ích máy tính hỗ trợ người sử dụng tính toán khi cần thiết.

     

    LỜI CẢM ƠN

     

    Chúng em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Kim Thoa đã tận tình hướng dẫn , giải đáp thắc mắc và chỉ bảo nhóm em trong suốt thời gian nhóm em hoàn thành bài tập lớn .

    Mặc dù đã cố gắng hoàn thành đề tài tốt nhất nhưng do thời gian và kiến thức còn có hạn nên chúng em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự cảm thông, chia sẻ và tận tình đóng góp chỉ bảo của cô cũng như các bạn.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]

  • Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-H%C3%A0ng-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn.

     

    Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn. Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của mình. Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn THTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM. Với những suy nghĩ trên, đồng thời trong quá trình thực tập em nhận thấy công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có vai trò sức quan trọng đối với các doanh nghiệp và NHTM nên em đã chọn đề tài

     

    “Thẩm định dự án đầu tư của NHTM”

     

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: PSG.TS Vương Trọng Nghĩa đã giúp đỡ em rất nhiều về mặt kiến thức và đặc biệt là về mặt tinh thần để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    1.    ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    1.1 Đầu tư và dự án đầu tư.

     

    1.1.1 Hoạt động đầu tư.

     

    Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:

     

    • =f(C,T,L,R)
    • khả năng phát triển của một quốc gia C:khả năng về vốn
    • công nghệ

    L:lao động

     

    R: tài nguyên thiên nhiên

     

    Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.

     

    Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ.

     

    1.1.2 Dự án đầu tư.

     

    Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ, các tổ chức tài chính.

     

    Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

     

    Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:

     

    3

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu

    Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nhất định và khoảng thời gian nhất định.

     

    Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.

     

    • Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.

     

    • Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại kết quả tương ứ

    *Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.

     

    Phân loại dự án đầu tư

     

    Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:

     

    Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.

     

    Theo phạm vi: trong nước quốc tế.

     

    Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.

     

    Theo nội dung và theo tính chất loại trừ.

     

    Với dự án của doanh nghiệp thường quan tâm đến hai cách phân loaị

     

    cuối.

     

    • Theo nội dung có:

    Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    khoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ.

     

    Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng loại cho thị trường.

     

    Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ.

     

    Theo tính chất loại trừ:

     

    Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ cho vay đối với dự án khác.

     

    Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.

     

    Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:

     

    Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các

     

    công việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu

     

    5

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    tiền khả thi sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)

     

    Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.

     

    Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối cùng thanh lí và đánh giá.

     

    Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.

     

    Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.

     

    1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

     

    Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định trước hết thường là quyết định tài chính. Đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, đồng thời đặc điểm của các dự án đầu tư là thường yêu cầu một lượng vốn lớn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, các dự án thường bị lạc hậu ngay từ lúc có ý tưởng đầu tư. Sai lầm trong việc dự toán vốn ban đầu có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định có tính chiến lược, đòi hỏi cần phải được phân tích và cân nhắc kỹ lương trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

     

    6

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.

     

    Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

     

    Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.

     

    1.3. Thẩm định dự án đầu tư.

     

    1.3.1. Khái niệm, vai trò:

     

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình phân tích và làm sáng tỏ một loạt các vấn đề liên quan đến tính khả thi trong việc thực hiện dự án như: công suất, kỹ thuật, thị trường, tài chính, tổ chức… Với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết được sử dụng trong quá trình lập dự án đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đạt được mục tiêu xã hội hay không? Có hiệu quả kinh tế, tài chính không?

     

    Hoạt động này trước hết là phục vụ chính cho nhà đầu tư, nhà tài trợ rồi đến cơ quan quản lý Nhà nước.

     

    – Đối với chủ đầu tư:

     

    Lập kế hoạch phối hợp giữa chính sách tài chính, marketing, nhân sự, tác nghiệp một cách chính xác nhất có thể để lựa chọn phương án tốt nhất và qua đó chủ đầu tư sẽ đạt được hiệu quả của tài chính mong muốn.

     

    • Với cơ quan Nhà nước: Giúp cho cơ quan nhà nước quyết định cho phép, chấp nhận dự án đó đi vào thực hiện có phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành, vùng, lãnh thổ?
    • Với nhà tài trợ: Có thể vay được lãi cao, thu hồi vốn gốc đúng hạn và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài.
    • Với Ngân hàng: Cho vay theo dự án có đặc điểm đem lại nguồn lợi tức lớn vì dự án thông thường là có thời hạn dài, quy mô lớn, tình tiết phức tạp.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Bên cạnh đó, thông tin về dự án đều do người chủ đầu tư (đi vay ngân hàng) lập nên, cung cấp nên không khỏi có những ý kiến chủ quan nhất định “rộng” với dự án. Điều đó buộc NH phải tự mình tiến hành thẩm định dự án một cách toàn diện về lợi ích cũng như rủi ro khi tham gia dự án của khách hàng để quyết định có nên cho vay hay không?

     

    Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến, bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.

     

    Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng. Như vậy trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của Ngân hàng.

     

    8

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án được xem xét và đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định dự án đầu tư như sau:

     

    Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.

     

    Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi – hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không được chấp nhận. Tuy nhiên nhận định “tồi “, “khả thi “, “hiệu quả”… ở khía cạnh nào đó còn phụ thuộc vào góc độ của người thẩm định và khi đó họ sẽ đạt được những mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.

     

    NHTM với tư cách là “Bà đỡ” về mặt tài chính cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án. Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án là một việc không thể thiếu được

     

    1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư * Về phía nhà đầu tư

     

    Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề,

     

    9

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    những chi tiết kỹ thuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

     

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.

     

    * Về phía Ngân hàng

     

    Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:

     

    • Xem xét trước khi cho vay
    • Thực hiện cho vay
    • Thu gốc thu lãi

    Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.

     

    Để có một khoản vay chất lượng là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của NHTM. Nhưng nó là một điều cực kỳ khó khăn và NHTM vẫn thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã hội và thị trường luôn tồn tại không cân xứng về thông tin đầy đủ về nhau, do đó dẫn đến những hiểu biết sai lệch. Giữa NHTM và người vay cũng xảy ra tình trạng như vậy. Ngân hàng không có những thông tin đầy đủ về khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm. Đứng trước những rủi ro đó thì NHTM phải luôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định những khách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

     

    Do vậy trong ba giai đoạn trên, việc xem xét trước khi cho vay (bao gồm quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng) có ý nghĩa

     

    10

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    cực kì quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả các khoản vay và các hoạt của giai đoạn sau. Giai đoạn này được Ngân hàng tiến hành rất kĩ lưỡng với nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù để đảm bảo, an toàn chất lượng.

     

    Hơn nữa, với chức năng quản lí và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có tính chất đặc thù riêng mà các ngành khác không có được. Như đã nói ở trên, so với kinh doanh của các ngành kinh tế khác thì hoạt động Ngân hàng có nhiều rủi ro hơn cả. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, ngành Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc Ngân hàng cho vay không thể không cần biết doanh nghiệp sử dụng vốn làm gì, quan niệm đơn giản là chỉ cần trả nợ, hoàn toàn là một quan niệm sai lầm và thụ động. Theo quan niệm kinh doanh hiện nay thì Ngân hàng và doanh nghiệp là bạn hàng. Mà đã là bạn hàng của nhau thì khi xác lập quan hệ phải tìm hiểu và thăm dò lẫn nhau, đặt ra cho nhau những điều kiện đảm bảo lợi ích cho cả đôi bên. Chính vì vậy, mà NHTM trước khi quyết định cho vay phải luôn đối mặt với hàng loạt câu hỏi khác nhau:

     

    Cho ai vay?

     

    Vay như thế nào?

     

    Cho vay trong thời gian bao lâu?

     

    Quản lí các khoản vay như thế nào? Thu gốc và lãi ra sao?

     

    Bên cạnh đó một nguồn vốn quan trọng được Ngân hàng sử dụng cho vay là tiền gửi của khách hàng. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, Ngân hàng còn phải đảm bảo an toàn và thanh khoản tức là phải hoạt động có trách nhiệm với những đồng tiền của khách hàng và phải thoả mãn bất cứ một nhu cầu rút tiền nào của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào.

     

    Đây là bài toán phức tạp mà Ngân hàng cần phải tìm lời giải đáp.

     

    11

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Quá trình tìm lời giải đúng cho bài toán này chính là công tác thẩm định các khoản cho vay.

     

    Trong quan hệ tín dụng, vấn đè cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để đưa ra một quyết định cho vay là hiệu quả và an toàn vốn của Ngân hàng.

     

    Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài, do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải dự án nào cần vốn Ngân hàng cũng đáp ứng. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có khả thi, tính đựơc khả năng sinh lời của dự án… Muốn vậy Ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp vào Ngân hàng dự án đầu tư trên cơ sở dự án đầu tư cùng với các nguồn thông tin khác, Ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án để đưa ra quyết định về tính khả thi của dự án.

     

    Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện:

     

    Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận một cách lôgíc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

     

    Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.

     

    Thế nhưng muốn xem xét hiệu quả thực sự cho hoạt động tín dụng thì Ngân hàng không chỉ cần dừng lại ở giai đoạn kiểm tra trước mà phải tiếp

     

    12

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    tục kiểm tra trong, sau quá trình cho vay, đảm bảo vốn của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, đem lai hiệu quả thực sự.

     

    * Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan

     

    Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta. Trong điều kiện hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay thì việc đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, với nguồn vốn hạn hẹp, số lượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quan trọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội. Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.

     

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.

     

    Tóm lại, vài nét nêu trên đã phần nào khắc hoạ được vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư. Chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một công việc hết sức quan trọng. Nó có vai trò trên cả tầm vĩ mô (xã hội) và tầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp). Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm định không những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh. Chính các yếu tố đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trình thẩm định dự án đầu tư.

     

    13

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    2.    PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

     

    2.1   Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.

     

    2.1.1 Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

     

    Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh liên quan đến dự án đầu tư:

     

    • Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của dự án, và các báo cáo tài chính…
    • Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp cung cấp.

    Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

     

    Như xem xét tính chính xác của thông tin, tính toán các chỉ tiêu, so sánh chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

     

    Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay không? Nếu có thì các điều khoản như thế nào?

     

    2.1.2 Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

     

    Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế, người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

     

    * Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

     

    Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Công thức tính:

     

    NPV = Co + PV

     

    Trong đó:

     

    NPV là giá trị hiện tại ròng

     

    Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu

     

    tư)

     

    PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại

     

    trong thời gian hữu ích của nó. PV được tính

         

    PV =

    C1

    +

    C2

    +

    C3

    + . . . . . +

    Ct

     
             

    (1 +r)

    (1+r)2

    (1+r)3

    (1+r)t

     
           

    Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

     

    • nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi phí bình quân của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện dự án…

    Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

     

    Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mô nguồn vốn, các dự án có NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0 ⇒ bác bỏ dự án

     

    15

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được chọn.

     

    Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu nhược điểm sau:

     

    Ưu điểm:

     

    Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

     

    Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.

     

    Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.

     

    Nhược điểm:

     

    Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ ⇒NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó khăn.

     

    Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).

     

    Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án. Đây là việc tính toán phức tạp mất thời gian.

     

    * Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

     

     

    16

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án. Về mặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

     

     

    C1

       

    C2

     

    CT

    NPV = C0   +

       

    +

       

    +…. +

       

    = 0

         

    (1 +IRR)

     

    (1+IRR)2

    (1+IRR)T

    • nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh.

    Người ta sử dụng hai cách:

     

    Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của dự án đầu tư.

     

    Phương pháp nội suy tuyến tính:       thường được sử dụng. Đầu tiên

     

    chọn 2 mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1 ⇒ có NPV1> 0

     

    Với r2⇒ có NPV2< 0

     

    Áp dụng công thức:

     

    IRR = r1

    +

    NPV

    1 (r1 r2)

     

    NPV 1

    NPV 2

     
       

    Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối đúng.

     

    Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

     

    17

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRRĐM (IRR định mức thông thường đó chính là chi phí cơ hội)

     

    So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mô nguồn vốn, các dự án có IRR ≥ IRRĐM được chấp nhận.

     

    Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn

     

    nhất.

     

    Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

     

    Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.

     

    Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm. Với dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác.

     

    Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư.

     

    Ngoài ra còn tính theo phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR) MIRR là tỉ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí đầu tư bằng giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của các luồng tiền ròng thu từ dự án với giả định luồng tiền này được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất bằng chi phí vốn. Đây cũng chính là điểm ưu việt của phương pháp MIRR so với phương pháp IRR.

     

    18

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Về mặt toán học, phương pháp tính NPVvà IRR luôn cùng đưa đến quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đói với những dự án độc lập. Tuy nhiên có thể có hai kết luận trái ngược cho những dự án loại trừ. Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai phương pháp, việc lựa chọn dự án đầu tư theo phương pháp NPVcần được coi trọng hơn bởi những phân tích đã chỉ ra rằng: phương pháp NPV ưu việt hơn phương pháp IRR.

     

    • Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)

    Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu.

     

    Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu (quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).

     

     

     

     

     

    19

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Công thức tương tự nhau

     

     

    Số năm trước năm

     

    Số năm ngay trước

     
     

    các luồng tiền

     

    Thời gian hoàn vốn =

     

    năm các

     

    của DA đáp ứng

    +

     

    Luồng tiền thu được

     
     

    được chi phí

     
       

    trong năm

     
         

    Việc tính toán có thể được thực hiện trên cơ sở lập bảng:

     

    Công thức tính thời gian hoàn vốn cung cấp một thông tin quan trọng rằng vốn của công ty bị trói buộc vào mỗi dự án là bao nhiêu thời gian. Thông thường nhà quản trị có thể đặt ra khoảng thời gian hoàn vốn tối đa và sẽ bác bỏ dự án đầu tư có thời gian hoàn vốn lâu hơn.

     

    Sử dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo nguyên tắc: Dự án có thời gian hoàn vốn càng nhỏ càng tốt, chọn dự án có thời gian hoàn vốn nhỏ nhất trong các dự án loại trừ nhau.

     

    Ưu điểm: của phương pháp này:

     

    Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc. Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết. Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án.

     

    Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giải pháp để rút ngắn thời hạn đó.

     

    Hạn chế: Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ không được đề cập. Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được

     

    20

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    hiệu quả tài chính của cả đời dự án. Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá. Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu.

     

    * Phương pháp tỷ số lợi ích / chi phí (Benefit-Cost Ratio: BCR)

     

    Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư (quy về thời điểm hiện tại).

     

    Bi

    i

     
     

    n

         
           

    BCR =

    i=0

    (1+r)

     

    Ci

    i

     
     

    n

         

    i=0 (1+r)

     

    Bi: Luồng tiền dự kiến năm i

     

    Ci: Chi phí năm i

     

    Nguyên tắc đánh giá: nếu có dự án có BCR ≥ 1. Suy ra được chấp nhận (khả thi về mặt tài chính).

     

    BCR là chỉ tiêu chuẩn để xếp hạng các dự án theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho dự án có BCR cao hơn.

     

    Ưu điểm: nó cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ đó giúp chủ đầu tư lựa chọn, cân nhắc các phương án có hiệu quả.

     

    Nhược điểm: là một chỉ tiêu tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông thường các dự án có BCR lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.

     

    * Phương pháp điểm hoà vốn:

     

    Điểm hoà vốn là điểm tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn (không lỗ, không lãi).

     

    21

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng mức sản lượng hoặc doanh

     

    thu:

     

    Sản lượng hoà vốn: Qhv

     

    Q

     

    =

    FC

     

    HV

    P V

     
       

    Trong đó:   FC: là tổng chi phí

     

    P : giá bán đơn vị sản phẩm

     

    • : chi phí biến đổi một sản phẩm (P-V. lãi gộp một đơn vị sản phẩm) Doanh thu hoà vốn

    RHV = QHV × P = P ×

    FC

    =

    FC

     

    P V

       
     

    1−

    V

     
     

    P

     
             

    Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm

     

    Nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì tính thêm trọng số của từng loại sản phẩm.

     

    RHV =

    FC

    n

     

    ∑(1−

    V i

    ) × wi

    i=1          Pi

     

    Thông thường người ta chọn một năm đặc trưng để tính. Dự án có điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt.

     

    Khả năng thu lợi nhuận càng cao ⇒ Khả năng thua lỗ càng nhỏ (hay vùng an toàn cao).

     

    22

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Sau khi có điểm hoà vốn, có thể xác định thêm chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn. Tính:

     

    Doanh thu hoà vốn

    Mức hoạt động hoà vốn =

     

    x 100%

     

    Doanh thu lý thuyết

     

    Doanh thu lí thuyết là doanh thu tính theo công suất thiiết kế. Mức hoạt động vốn cho thấy khả năng phát triển của dự án.

     

    Điểm hoà vốn chỉ xét riêng cho từng dự án cụ thể vì thực tế dự án thuộc các ngành khác nhau, có cơ cấu vốn đầu tư khác nhau.

     

    Nếu cùng một dự án mà có nhiều phương án khác nhau thì có thể nên ưu tiên cho những phương án có điểm hoà vốn nhỏ hơn.

     

    Ưu điểm: của phân tích điểm hoà vốn

     

    Đưa ra những chỉ tiêu về mức độ hoat động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lợi nhuận.

     

    Nó cho biết sản lượng hoà vốn là bao nhiêu, do đó lầm chủ đầu tư tìm cách đạt đến điểm hoà vốn trong thời gian ngắn nhất.

     

    Hạn chế: Điểm hoà vốn không cho biết quy mô lãi ròng của cả đời dự án cũng như hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra.

     

    Mặt khác, việc phân tích trở nên phức tạp và tính chính xác không cao khi có đầu tư bổ sung thay thế.

     

    Một yếu tố không kém phần quạn trọng cần được xem xét là.

     

    * Độ nhạy của dự án:

     

    Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiều mặt cấp độ khác nhau. Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án qua các chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài.

     

    23

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Để có một cách đánh giá khách quan toàn diện hơn về dự án, thông thường để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi có sự biến đổi của một số nhân tố:

     

    +Giá bán sản phẩm.

     

    • Giá đầu vào thay đổi. +Vốn đầu tư.

    +Tỷ giá lên xuống.

     

    Trên thực tế khi tính độ nhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thay đổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu %.

     

    • nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án là giúp cho ngân hàng có thể khoanh được hành lang cho sự đầu tư của doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, thẩm định dự án còn tiến hành thêm phân tích tài chính dự án đầu tư trong đó thường sử dụng các phương pháp phân tích sau.

     

    Phân tích diễn biến nguồn vốn sử dụng.

     

    Phân tích luồng tiền mặt.

     

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian.

     

    Kết hợp giữa đánh giá hiệu quả tài chính với phân tích tài chính dự án trong thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ cho Ngân hàng một kết qủa chính xác hơn, toàn diện hơn và bao quát hơn được toàn bộ dự án vừa xem xét trên từng góc độ cấp khác nhau.

     

    Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh. Tuy nhiên mức độ không như nhau. Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu

     

    24

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    chuẩn qua so sánh chỉ tiêu khác). Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêu chuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề. Như vậy qua việc thẩm định bằng một hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luận mang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệt tầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá. Mặt khác, kết luận chung đôi khi cũng cần tính linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khía cạnh nào đó của dự án.

     

    Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xác định chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở các dòng lợi ích, chi phí của dự án.

     

    Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự án phải là số liệu sau thuế. Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vào nghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại. Bên cạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuận sau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu động ròng thu hồi và giá trị thanh lí tài sản cố định. Khi thẩm định Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia.

     

    Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác động tới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng khác nhau. Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định. Tuy nhiên việc phân tích dự án trong điều kiện có lạm phát dự tính vẫn theo nguyên tắc cơ bản như trường hợp không có rủi ro lạm phát, có thể dùng dòng tiền danh

     

    25

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    nghĩa hoặc dòng tiền theo sức mua nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán (nghĩa là sử dụng tương ứng với tỉ suất chiết khấu danh nghĩa và tỉ suất chiết khấu thực). Trong thực tế, thường giá cả các yếu tố đầu vào, ra trong thời gian hoạt động của dự án được điều chỉnh theo một diễn tiến mà người thẩm định giả định cho các thời kì tương lai, phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối của giá trong tương lai cũng như dự đoán được tác động của lạm phát. Một yếu tố không kém phần quan trọng mà ta cần phải nói tới đó là độ nhạy của dự án.

     

    2.2      Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.

     

    2.2.1 Nhân tố chủ quan.

     

    Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.

     

    • Nhân tố con người.

    Con người được coi là động lực của sự phát triển xã hội với ý nghĩa họ chính là chủ thể đồng thời là đối tượng phục vụ mà các hoạt động xã hội hướng tới. Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau. Song ở đây, ta chỉ tập trung đề cập đến nhân tố con người dưới giác độ là đối tượng trực tiếp tổ chức, thực hiện thẩm định dự án đầu tư (cán bộ thẩm định).

     

    Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    có ý nghĩa nếu cán bộ thẩm định không thể không cố gắng sử dụng chúng một cách có hiêụ quả.

     

    Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế – xã hội. Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ sở các tri thức đã tích luỹ. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng như thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc tính toán theo những mẫu biểu sãn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định cố phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ công việc, mối quan hệ Ngân hàng – khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định.

     

    Những sai lầm trong thẩm định dự án tài chính đầu tư từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng như khả năng hoà trả vốn vay Ngân hàng, do đó Ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh.

     

    • Quy trình thẩm định:

    Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm định thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ. Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó. Quy trình thẩm định được xây

     

    27

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế mạnh và đặc trưng của Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính. Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng trên giác độ Ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng, nguồn, tiến độ …) hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án. Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá.

     

    Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng. Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn.

     

    Thực tế những năm vừa qua, các Ngân hàng thương mai Việt Nam đẫ chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển.

     

    Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn.

     

    * Phương pháp thẩm định:

     

    Đội ngũ cán bộ thực hiện quy trình thẩm định: Trình độ chuyên môn, hiểu biết các lĩnh vực liên quan tới dự án đầu tư như: Quản trị kinh doanh, kỹ thuật, đạo đức của cán bộ… đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả thẩm định. Thiếu hiểu biết sẽ làm công tác này mất thời gian, chi

     

    28

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    phí cho cả ngân hàng, doanh nghiệp ( có thể mất cơ hội kinh doanh, rồi có thể gặp rủi ro nợ không trả được…)

     

    * Nội dung thẩm định:

     

    Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình tài chính quá khứ, tài sản đảm bảo…kiểm soát sau vay đều ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án.

     

    • Các nhân tố khác:

    Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

     

    Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự án. Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.

     

    Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định. Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ tín dụng có thể yêu càu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những thông tin đó. Tuy nhiên như đã đề cập ở phần trước, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của dự án, hoặc không nhìn nhặn thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả thi trước Ngân hàng, do vậy không phải là nguồn thông tin duy nhất để Ngân hàng xem xét. Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt nhất những nguồn thông tin có thể được từ Ngân hàng Nhà nước, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho phân tích. Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

     

    Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào. Đánh giá trong điều

     

    29

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    kiện thông tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác. Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin.

     

    Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chấtt lượng thẩm định, quan hệ Ngân hàng – khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt.

     

    Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật. Công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngành Ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ thông tin đầy đủ, nhanh chóng. Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời.

     

    Tổ chức điều hành

     

    Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện, cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác. Như vậy việc tổ chức, điều hành hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng thẩm định.

     

    2.2.2 Nhân tố khách quan.

     

    Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể khắc phục và thích nghi.

     

    * Từ phía doanh nghiệp

     

     

    30

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thẩm định do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế rủi ro dự án tạo hoạt động không hiệu quả như dự kiến càng lớn với Ngân hàng – người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào dự án.

     

    Mặt khác tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho Ngân hàng về: tình hình sản xuất kinh doamh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong dự án… cũng như mọi vấn đề.

     

    * Môi trường kinh tế

     

    Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực phổ biến của chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành… chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.

     

    * Môi trường pháp lí

     

    Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự án). Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đỏi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống

     

    31

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng như khó khăn cho Ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau).

     

    3.    THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

     

    3.1   Khái quát về Ngân hàng thương mại.

     

    3.1.1   Khái niệm về Ngân hàng thương mại.

     

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát minh ra lửa” hay “sự phát minh ra bánh xe”…

     

    Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội.

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính). Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất.

     

    Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:

     

    Vốn

     

    -Người cho vay

     

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    -Chính phủ

     

    -Người nước ngoài

    Các trung gian tài chính.

     

    NHTM, Công ty tài chính,

     

    bảo hiểm

     

    -Người cho vay

     

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

     

    Vốn                                   -Chính phủ

     

    -Người nước ngoài

     

    Các thị trường tài

     

    chính

     

    Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam.

     

    Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trưng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại

     

    • lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

    33

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.

     

    3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại.

     

    3.1.2.1. Huy động vốn.

     

    Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

     

    * Huy động bằng tiền gửi

     

    – Tiền gửi không kỳ hạn:

     

    Thực chất là tiền gửi giao dịch của tổ chức, cá nhân. Với NH đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại có quy mô lớn thường là trên dưới 20% tổng nguồn huy động.

     

    Người sử dụng tài khoản loại này phần lớn để thanh toán cho khách hàng bằng cách phát hành séc hay rút tiền mặt. Đây vừa là tài sản có của khách hàng vừa là tài sản nợ của NH và NH có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó giúp cho NH huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng, qua đó thu chi phí dịch vụ và sử dụng tài sản này của khách hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh với chi phí rất thấp. Nhưng nó cũng yêu cầu NH phải dự trữ thường xuyên lớn nên nhiều khi bỏ qua cơ hội kinh doanh, ngược lại nếu dự trữ ít thì sẽ phải đi vay với chi phí cao.

     

    34

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Tuy nhiên với xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến nhờ ưu điểm an toàn, tiện lợi, chi phí lưu thông thấp và mục tiêu quan trọng nhất: Kiểm soát tốt hơn lượng tiền cung ứng thì tài khoản tiền gửi ở các NHTM Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.

     

    – Tiền gửi tiết kiệm:

     

    Là tài khoản có thời hạn cố định hoặc mức giới hạn về số tiền, tài khoản này đáp ứng nhu cầu của dân cư, hộ gia đình kinh doanh là chủ yếu vì họ có những món tiền nhỏ bé gửi vào rút ra bất thường.

     

    • Khác với hai loại trên tiền gửi có kỳ hạn là loại tài khoản có xác

     

    định trước số tiền gửi vào và thời gian rút ra. Về mức lãi có thể cố định hoặc giao động tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. ở Mỹ, tính trung bình thì khoản tiền gửi định kỳ này chiếm khoảng 30% tiền gửi NH. Có thể chia ba loại:

     

    • Tiền gửi có kỳ hạn ngắn ( dưới 1 năm)
    • Tiền gửi trung hạn ( từ 1-5 năm)
    • Tiền gửi dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

    Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn.

     

    Hai loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lợi chứ không phải để giao dịch như tài khoản không kỳ hạn. Vì vậy, nó có những ưu nhược điểm:

     

    Ưu điểm:

     

    • Tiền gửi tiết kiệm mang lại nguồn vốn lớn nhất trong các nguồn vốn huy động được, có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn.
    • Tiền gửi kỳ hạn là nguồn mang tính ổn định do hoạt động của NH, giúp NH chủ động trong ký kết hợp đồng tín dụng về lãi suất, thời hạn.

    Nhược điểm:

     

     

    35

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Tiền gửi tiết kiệm có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và NH phảI dự trữ lượng tiền lớn để chi trả và đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh.

    +Nếu lãi suất của loại tiền gửi kỳ hạn biến động lớn thì cũng gây khó khăn cho NH trong việc huy động cũng như cho vay.

     

    * Huy động bằng cách đi vay:

     

    • Đầu tiên các NH thường xét đến việc đi vay các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các NH khác. Khi mà họ cần cấp tín dụng với số lượng lớn cho khách hàng. Vì các tổ chức tín dụng thường xuyên có quan hệ giao dịch, thanh toán, hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và phát triể
    • Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ( nhưng thường là kỳ phiếu ở Việt Nam ).
    • Bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng bằng các chứng chỉ tiền gử Ngoài ra, còn có thể bán nợ.
    • Vay ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước), bằng tái chiết khấu thương phiế Hiện nay ở Việt Nam chỉ có hình thức cho vay tái cấp vốn cho các NHTM.

    * Nhận các quỹ uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế để cho vay đối tượng đã được lựa chọn.

     

     

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư …

    Ngân hàng có thể tạo nguồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là từ tiền gửi các cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ quan theo các loại hình thức khác nhau: ngắn, trung, dài hạn…Bên cạnh đó là hoạt động vay từ cá nhân, tổ chức… hoặc ngân hàng phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay từ các hình thức khác.

     

    3.1.2.2. Sử dụng vốn.

    Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:

     

    Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường không sinh lời.

     

    Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân

     

    37

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.

     

    Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.

     

    Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.

     

    Tuy nhiên, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án.

     

    Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương

     

    mại.

     

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần được đáp

     

    38

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được tăng lên gấp bội.

     

    Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ.

     

    Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.

     

    Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống

     

    39

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

     

    Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

     

    Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/người.

     

    Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong nước phải đảm bảo từ 20 – 25 tỷ USD.

     

    Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

     

    Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng

     

    40

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.

     

    Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.

     

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có

     

    41

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…

     

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết.

     

    Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?

     

    Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại * Đối với các doanh nghiệp.

     

    Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

     

    Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.

     

    42

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:

     

    Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm.

     

    Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.

     

    Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh.

     

    Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh

     

    44

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    sao cho có hiệu quả.

     

    * Đối với Ngân hàng.

     

    Các khoản cho vay trung – dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp.

     

    Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.

     

    Đối với nền kinh tế.

     

     

    45

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội.

     

    Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh.

     

    Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.

     

    Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn

     

    46

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng tham gia

     

    Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.

     

    Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng

     

    Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm

     

    Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn

     

    Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.

     

    Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.

     

    Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

     

    Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).

     

    Kiểm tra thẩm định xét                              Kiểm tra sử dụng vốn vay                        Kiểm tra xử lí, thu

     

    duyệt cho vay        trong khi cho vay       hồi nợ

     

    47

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào … nhằm đảm bảo có khoản cho vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định cho vay.

     

    3.2      Thẩm định dự án đầu tư của khách hàng.

     

    Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm định, các dự án đầu tư cần được nghiên cứu phân tích và kiểm tra một cách khoa học, theo các kinh nghiệm quản lý thực tế và theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng cácn bộ thẩm định không làm lại toàn bộ công tác của người lập dự án, tìm hiểu những nhược điểm, tồn tại của dự án để từ đó có quyết định về việc nên bỏ vốn đầu tư hay không hoặc đề suất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh đối với dự án trước khi tiến hành thẩm định. Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộthẩm định chính.

     

    Bước thẩm định sơ bộ.

     

    • Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu caauf chủ đầu tư bổ xung hoàn, tất kịp thời.

    48

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
    • Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
    • Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).

    Bước thẩm định chính thức.

     

    A.THẨM ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP VAY VỐN.

     

    1. THẨM ĐỊNH PHI TÀI CHÍNH.

    Mục đích của việc Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho Ngân hàng hay không khi thẩm định chủ đầu tư cần xem xét những vấn đề sau. Xem xét nguyện vọng của chủ đầu tư. Nguyện vọng của chủ đầu tư có chính đáng không ?

     

    Xem xét về cách pháp nhân của chủ đầu tư như: quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, biên bản bầu hội đồng quản trị, điều lệ hoạt động… Để biết chủ doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không.

     

    Phân tích về uy tín của chủ đầu tư. Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng về những người chủ đầu tư có uy tín lớn họ sẵn sàng tìm đủ mọi cách

     

    49

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    để trả nợ Ngân hàng. Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.

     

    Khi đánh giá những vấn đề này, cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng khách hàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc Ngân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ăn không có hiệu quả vay.

     

    2.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

     

    * Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

    Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:

     

    Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gần đây.

     

    Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).

     

    Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?

     

    Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.

     

    Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi cần thiết.

     

    50

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    * Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

     

    Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính của doanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tài sản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tình hình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như: Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng hay không? Quản lý tài sản(tình hình xử dụng tài sản cố định,tài sản lưu động như thế nào? tình hình kho tàng, máy móc, nhà xưởng, thiết bị ra sao?) Phân tích hiệu qủa tài chính: xác định cá hiệu qủa về tài chính, khả năng thanh toán, hiệu qủa kinh doanh, tình hình thực hiện ngân sách…

     

    Sau đây là nhưng chỉ tiêu cụ thể mà cán bộ tín dụng cần phải thẩm định.

     

    +Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay.

     

    Hệ số

    =

     

    Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp

    tài trợ

       

    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng.

    Trong đó: Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là vốn tự có.

     

    Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng bao gồm tổng tài sản nợ của doanh nghiệp.

     

    Hệ số tài trợ kỳ này mà lớn hơn kỳ trước và lớn hơn 0,5 là tốt. Nó thể hiện doanh nghiệp có sự tự chủ cao về tài chính.

     

    Năng lực đi vay: Là khả năng xin vay vốn của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay vốn.

     

    Năng lực

    =

    Nguồn vốn hi ện có của doanh nghiệp

     

    đi vay

    Vốn thường xuyên.

     
     

    51

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trả các khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhân viên. Trong một thời điểm nhất định. Khả năng thanh toán liên quan tới tổng số vốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiền ngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách.

    Khả năng thanh toán được phản ánh trên báo cáo tài chính và bản dự kiến luân chuyển tiền mặt. Nó được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán cuối cùng. Đây là nhóm chỉ tiêu tập trung sự chú ý nhiều nhất của Ngân hàng. Bởi vì thông qua đó, Ngân hàng có thể biết được số tiền doanh nghiệp dùng để thanh toán và số tiền doanh nghiệp phải thanh toán.

     

     

     

     

     

     

    52

     

     

    Chuyên đề thực tập

     

    Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

                   
       

    TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NHGIỆP

       

    TỪ NĂM 2000-2002

                 
       

    Các chỉ tiêu

    Đơn vị tính

    Năm 2000

    Năm 2001

    Năm 2002

     

    I. Tình hình sản xuất kinh

             
     

    doanh

             
     

    1.Giá trị tổng sản lượng

             
     

    2.Giá trị sản lượng hàng hoá

             
     

    tiêu thụ

             
     

    Sản phẩm A

             
     

    Sản phẩm B

             
     

    3. Tổng chi phí

             
     

    4. Kết quả SXKD

             
     

    II.Tình hình tài chính

             
     

    1.Vốn tự có

             
     

    2.Vốn huy động

             
     

    3.Vốn vay

             
     

    Vay ngắn hạn

             
     

    Vay trung- dài hạn

             
     

    4.Các khoản phải thu

             
     

    Trong đó: nợ khó đòi

             
     

    5.Các khoản phải trả

             
     

    6.Tổng tài sản lưu động

             
     

    8.Số lượng lao động

             
     

    9.Thu nhập bình quân

             
     

    III. Các chỉ tiêu kinh tế.

             
                   
    • Khả năng thanh toán chung: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình về khả năng thanh toán của doanh nghiệp

    Khả năng thanh toán chung

    Số tiền dùng để thanh toán

    =

     

    Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán

    Trong đó:

     

    ÖSố tiền để thanh toán gồm vốn bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá thành tiền (các khoản phải thu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho đã

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                       Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    loại trừ các khoản nợ khó đòi và hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, kém, mất phẩm chất)

     

    • Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người bán, người mua, các khoản phải trả công nhân, các khoản nợ Ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.

    Khả năng

    =  Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu ngắn hạn và có khả năng phải

           

    thu Thanh toán nhanh

    Các khoản nợ đến hạn

             

    Các hệ số hơn 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu nhỏ hơn một là khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu. Riêng hệ số khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt.

     

    Khả năng

     

    TT cuối cùng

    Tài sản

     

    Tài  sản

     

    Chênh lệch tỷ

    có lưu

    +

    thiếu chờ

    +

    giá và chỉ số

    động

    xử lý

    giá chưa xử lý

         

    =

     

    Nợ ngắn hạn Ngân

    Các khoản

    hàng và các tổ chức +

    nợ phải trả

    kinh doanh khác

     

    Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp rất xấu.

     

    • Các chỉ tiêu về sinh lãi: Ngoài các chỉ tiêu đã được xem xét trong bảng kết quả sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cần quan tâm một số chỉ tiêu sau:

    Doanh lợi

    =

    Lợi nhuận sau thuế

     

    Tổng tài sản có.

     

    vốn

     

    Đây là chỉ tiêu để đánh gía xem doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản có sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để so sánh với chi phí vốn(lãi tiền vay) khi xem xét cơ cấu

     

    54

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    của mình để sử dụng nguồn vay có lợi hơn hay kinh doanh vốn tự có lợi hơn.

     

    Doanh thu

     

    Tổng tài sản có

     

    Đây là chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá khả năng kinh doanh khi bỏ ra một đồng tài sản có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

     

    Bên cạnh việc đánh gía khả năng tự cân đối tài chính và khả năng tự thanh toán, việc xác định công nợ đòi hỏi sự thẩm định của cán bộ tín dụng: Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh giá tình hình quan hệ thẩm định, tình hình thanh toán với người mua, người bán và tình hình thực hện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của đơn vị xin vay vốn để từ đó đánh giá tính trung thực và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, uy tín trong quan hệ thanh toán.

     

    Thẩm định và phân tích chu đáo phần trên đây sẽ góp phần đảm bảo cơ sở vững chắc để dự án được đầu tư có hiệu quả và đơn vị có khả năng trả nợ Ngân hàng theo cam kết. Bản thẩm định này chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiếp tục thẩm định vào phần quan trọng nhất. Thẩm định dự án đầu tư. Nếu ở phần này Ngân hàng không hài lòng về tư cách của người xin vay thì Ngân hàng sẽ không đánh giá tiếp các yếu tố còn lại.

     

    B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    Mỗi dự án là một mắt vùng hay lãnh thổ. Mặt khác, không nhỏ đến thị trường, cụ động đến hoạt động xuất nhập quan trọng.

    xích quan trọng chương trình phát triển của việc một dự án được đầu tư sẽ có ảnh hưởng thể là tác động đến cung cầu hàng hoá, tác khẩu khác. Vì vậy việc thẩm định dự án là rất

     

    Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định những nội dung sau.

     

    55

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    1.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG

     

    Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án. Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước). Đối với những nguyên vật liệu mang tính thời vụ, cần tính toán dự trữ hợp lý để đảm bảo cung cấp thường xuyên tránh lãng phí không nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp để tránh bị ép giá. Cũng cần xem xét nguồn cung cấp, điện, nước, lao động… Nói tóm lại theo yêu cầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giao thông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của các phương án, xử lý nhân tố đó. Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học bởi đây là khâu hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành bại của dự án.

     

    Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu của sản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án cới giá cả thị trường hiện nay, tương lai dự báo những biến động về giá cả thị trường trong nước, ngoài nước … Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, các hợp đồng tiêu thụ, bao nhiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng biên bản đàm phán…

     

    Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuất thích hợp

     

    Phân tích dự đoán thị trường là công việc hết sức phức tạp nhưng quan trọng. Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cần phải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với

     

    56

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    số liệu thống kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đề liên quan.

     

    1. THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT.

    Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý. Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án. Để có thể có đầu ra như dự kiến, những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản…

     

    Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án.Thẩm dịnh mặt này nhằm trả lời câu hỏi liệu dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không? Mức độ công nghệ kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu dự kiến về sản phẩm dịch vụ.

     

    3.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:

     

    Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, quản lý trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu tư, nó tác động đến tiến độ thực hiện dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… Điều đó đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng cho việc vận hành có hiệu quả không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban, phân xưởng.

     

    Thẩm định về mặt lựa chọn địa điểm xây dựng dự án: để xem xét địa điểm xây dựng xem địa điểm xây dựng dự án có thuận tiện hay không?

     

    4.THẨM ĐỊNH KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xem xét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi

     

    57

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    ích đó. Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án. Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích và chi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự của nền kinh tế. Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá một cách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường – xem mức độ gây ô nhiễm môi trường có thể chấp nhận được hay không và khả năng, giải pháp cải thiện nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

     

    5.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:

     

    Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

     

    Sau 5 bước thẩm định trên Ngân hàng sẽ đi vào thẩm định tài chính dự án đầu tư với các nội dung cụ thể sau:

     

    Thứ nhất:

     

    +Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.

     

    +Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.

     

    + Xác định tiến độ cần bỏ vốn.

     

    Khi một dự án đầu tư mang đến Ngân hàng xin vay vốn thì dự án đầu tư đó đã được nhều cấp, ngành phê duyệt. Tổng vốn đầu tư được xác định. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn tiến hành xem xét laịi trên cơ sở những kết quả thẩm định khác của Ngân hàng. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư sẽ

     

    58

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    giúp cho các dự án thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả dự án đầu tư.Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

     

    Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí vốn làm giảm hiệu qủa của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí:

     

    • Chi phí lập dự án.
    • Chi phí thuê gia sư tư vấn soạn thả
    • Chi phí mua thông tin, tài liệ
    • Chi phí khảo sát thăm dò.
    • Chi phí hành chính.

    Chi phí đầu tư tài sản cố định.

     

    • Chi phí xây dựng nhà xưở
    • Chi phí mua máy móc.
    • Chi phí lắp đặt, vận hành chạy thử. -Chi phí thuê chuyên gia, công nghệ.
    • Chi phí tài sản lưu động.

    Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:

     

    • Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấ
    • Nguồn bên ngoài:

    +Từ nhà nước.

     

    +Từ NHTM.

     

    +Từ các nguồn khác.

     

    Ngân hàng xem xét, xác định số vốn đầu tư cho vay và một điều quan trọng nữa NHTM phải xem xét lại tiến độ bỏ vốn theo tiến độ thi công xây

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    lắp… có đúng lịch trình đã đề ra hay không? Và Ngân hàng cũng sẽ xây dựng được một lịch trình cho vay của mình phù hợp với yêu cầu và tiến độ bỏ vốn của dự án.

     

    Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.

     

    Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm định chính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính.

     

    +Xem xét tính toán các bảng tài chính.

     

    +Bảng dự trù chi phí sản xuất năm.

     

    +Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi.

     

    +Bảng dự trù cân đối kế toán.

     

    +Bảng dự trù cân đối thu chi.

     

    Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tính toán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác.

     

    Vấn đề xem xét và đánh giá cơ cấu nguồn vốn là hợp lí hay không còn tuỳ thuộc vào tính chất và điều kiện thực tế của dự án. Hơn nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hiệu quả của khả năng trả nợ của dự án.

     

    Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.

     

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu sau: NPV, IRR. Ngoài ra con căn cứ vào một số thông số khác như: thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn . . .

     

    Thứ tư:    Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.

     

    60

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo.

     

    Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phải đảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn. Quá trình này đòi hỏi sự cố gắng của cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.

     

     

     

     

     

     

     

     

    61

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    KẾT LUẬN

     

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ là một trong những khái cạnh cần phải tiến hành xem xét đối với mỗi dự án trước khi ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư dự án, đặc biệt dưới góc độ NHTM – nhà tài trợ lớn.

     

    Sau thời gian nghiên cứu và được viết chuyên đề “Thẩm định tài dự án đầu tư của NHTM”, em nhận thấy rằng những kiến thức được biết và được viết quả thực rất hạn hẹp và còn nhiều bất cập. Nhưng sự phát triển của ngành Ngân hàng nói chung và công tác thẩm định nói riêng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế của chúng ta như hiện nay chưa thích ứng với những phương pháp thẩm định tiên tiến, nhưng không hẳn là chúng ta bỏ qua những phương pháp thẩm định đó mà cần phải nắm vững nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

     

    Chủ đề nghiên cứu này không phải là hoàn toàn mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Từ những kiến thức đã được tổng hợp và phân tích đã được diễn giải thành bài viết, do đó bài viết chứa đựng những kiến thức cơ bản được học tại trường và thực tiễn, bên cạnh đó là những đề xuất mang tính chủ quan được xuất phát từ phương pháp nghiên cứu tư duy biện chứng, được gắn với thực tiễn của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

     

    Đề tài của luận văn tuy khá hạn hẹp song rất có ý nghĩa bởi tính phức tạp cũng như tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động của NHTM.

     

    Kính mong được sự giúp đỡ của thầy.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    62

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng

    Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng

    Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống website bán sữa trực tuyến


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    1. Khái niệm lãi suất và thước đo lãi suất

    1.1 Khái niệm lãi suất

    Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.

    1.2 Các thước đo lãi suất

    • Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Nó thường được áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán, trong đó lãi của kỳ trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.
    • Lãi suất hiệu quả: tương tự như lãi suất kép nhưng tính cho một năm.
    • Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của các khoản tiền nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay của khoản đầu tư đó.

    1.3 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế

    • Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
    • Lãi suất thực tế: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát.

    2. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế

    2.1 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư

                Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiện tại của các chủ thể kinh tế. Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích người ta hy sinh tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại. Trong một nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết kiệm được thu hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp để tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

    2.2 Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô

                Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả năng có được những thu nhập khá lớn để bù đắp được số lãi phải trả, và do đó số đầu tư chắc chắn sẽ giảm. Cũng có thể lập luận như vậy về việc đi vay để tiêu dùng. Những người tiêu dùng so sánh số lãi phải trả cho một khoản vay mượn với ý muốn có càng sớm càng hay một sản phẩm như một căn nhà hay một chiếc ô tô chẳng hạn. Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số người tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng sự định sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao gồm cả các thành phần như cầu đầu tư của doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động lãi suất có tác động đến đầu tư, dến tiêu dùng nên nó có tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trường hợp:

    • Lãi suất thấp → khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng → tăng tổng cầu → sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm so với ngoại tệ.
    • Lãi suất cao → hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng → giảm tổng cầu → sản lượng giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.

                Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô nên lãi suất được Chính phủ các nước sử dùng làm một công cụ có hiệu quả để điều tiết nền kinh tế quốc gia.

    2.3 Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả.

                Lãi suất có tác dụng trong việc phân bổ vốn. Đối với những dự án có mức độ rủi ro như nhau, dự án nào có lãi suất lớn hơn thường thu hút được vốn nhanh hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa định nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao mới có khả năng thu hút được vốn. Như vậy, bằng cách đưa các mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân bổ các luồng vốn theo mục đích mong muốn.

                Trong quan hệ vay vốn, người đi vay không chỉ phải hoàn trả gốc khi đến hạn mà còn phải trả lãi vay. Bằng việc buộc phải trả lãi đã kích thích các người đi vay phải sử dụng vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi.

    2.4 Là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế

                Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hương tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hướng giảm xuống.

    2.5 Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

                Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

                Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động tới mục tiêu trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. NHTW sử dụng công cụ này dưới các hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay, qua đó khống chế  lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.

                Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, NHTW sử dụng công cụ lãi suất gián tiếp như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô.

     

     

    CHƯƠNG 2. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY

    1.      Giới thiệu về Ngân hàng trung ương Anh

    1.1.           Lịch sử

    Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh. Ngân hàng được thành lập năm 1694 với một điều lệ thành lập mà mục đích của nó là để “thúc đẩy lợi ích chung và lợi ích của toàn thể dân chúng”.

    Ngày nay, Ngân hàng Trung ương Anh đã thể hiện được tầm nhìn chiến lược của nhà sáng lập. Nhiệm vụ chính của Ngân hàng là để thúc đẩy lợi ích của người dân Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    Được thành lập như một tổ chức tư nhân, Ngân hàng Anh đã được quốc hữu hóa sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng vẫn giữ lại quy mô của Ngân hàng với phần lớn thị phần là không chính thức.

    Điều này đã được thay đổi vào năm 1997, khi Quốc hội bỏ phiếu để cho phép các ngân hàng hoạt động độc lập với các quy định rõ ràng để theo đuổi sự ổn định giá cả, đã tạo ra thách thức lớn nhất đối với chính sách kinh tế vĩ mô trong hai thập kỷ trước.

    Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã chứng minh sự cần thiết cho một cách tiếp cận mới để quy định tài chính ở Anh. Điều này đã làm gia tăng thêm trách nhiệm cho Ngân hàng trung ương Anh.

    Xét trên một số khía cạnh, điều này thể hiện sự trở lại vai trò to lớn hơn mà Ngân hàng thực hiện trong quá khứ. Tuy nhiên, cam kết của Ngân hàng để phục vụ lợi ích công cộng sẽ được xác định rõ ràng bởi Quốc hội.

    1.2 Ban lãnh đạo

    Ngân hàng Anh được điều hành bởi hội đồng thống đốc bao gồm một Thống đốc, bốn phó Thống đốc và 14 giám đốc điều hành. Tất cả đều được bổ nhiệm bằng một sắc lệnh Hoàng gia sau khi đã được xem xét thông qua. Thống đốc và bốn phó Thống đốc có nhiệm kì là 5 năm và các thành viên khác có nhiệm kì là 3 năm. Và đều có thể được bổ nhiệm lại khi kết thức nhiệm kì.

    Các Thống đốc và Giám đốc điều hành của Ngân hàng hình thành đội điều hành có trách nhiệm cho việc quản lý điều hành của Ngân hàng.  

    Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh là ông: Mark Carney (bổ nhiệm 1/7/2013-30/6/2021). Bốn phó thống đốc là: Ben Broadbent, Nemat Shafik, Sir Jon Cunliffe, Andrew Bailey lần lượt quản lí về Chính sách tiền tệ, Thị trường & Ngân hàng, Ổn định tài chính, Cơ quan giám sát Tài chính. Và các giám đốc điều hành: Charlotte Hogg, Ralph Coates, John Finch, Andrew Gracie, Jenny Scott, Andy Haldane, Joanna Place, Chris Salmon, Megan Butler, Lyndon Nelson, David Rule, John Footman, Graham Nicholson, Paul Fisher.

    Tất cả bốn đại diện cho Thống đốc Ngân hàng  bao gồm cả trong nước và nước ngoài sẽ xuất hiện trước Ủy ban Tài chính và quốc tế thông qua các thành viên của Ủy ban và các nhóm quốc tế quan trọng và thường xuyên nói chuyện công khai về các vấn đề bao gồm kinh tế, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính. Các Giám đốc điều hành (COO) chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh quản lý hàng ngày của Ngân hàng, bao gồm cả nguồn nhân lực, tài chính, tài sản, công nghệ thông tin và an ninh. Các Giám đốc điều hành có tư cách và thù lao tương đương với một Phó Thống đốc.

    1.3 Chức năng

    Ngân hàng Anh thực hiện tất cả các chức năng của ngân hàng trung ương. Quan trọng hơn cả là duy trì ổn đinh giá cả và hỗ trợ các chính sách kinh tế của Chính phủ Vương quốc Anh. Hai lĩnh vực chính được Ngân hàng đảm nhiệm là:

    • Ổn địnhtiền tệ: duy trì giá cả ổn định và lòng tin vào đồng bảng Anh. Giá cả ổn định được duy trì tuân thủ mục tiêu lạm phát của Chính phủ. Ngân hàng thực hiện chức năng này thông qua tỷ lệ lãi suất được ấn định bởi Ủy ban Chính sách tiền tệ.
    • Ổn định tài chính: duy trì sự ổn định tài chính trước các nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính. Những nguy cơ này được phát hiện bằng quan sát, theo dõi. Các nguy cơ phát sinh sẽ được ngăn chặn bằng các hành động tài chính và các biện pháp khác ở trong nước và ngoài nước. Trong những trường hợp hãn hữu,Ngân hàng Anh là ngân hàng cung cấp tín dụng cuối cùng.

    Các định chế khác cùng Ngân hàng Anh đảm bảo sự ổn định tài chính và tiền tệ như:

    • Ngân khố Chính phủ(Her Majesty’s Treasury), cơ quan của Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế và tài chính
    • Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính(Financial Services Authority – FSA), tổ chức độc lập quản lý lĩnh vực dịch vụ tài chính.
    • Cácngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế khác với mức đích cải thiện hệ thống tài chính quốc tế.

    Bản điều luật năm 1997 quy định những nguyên tắc mà Ngân hàng Anh, Ngân khố chính phủ và FSA phối hợp để tăng cường sự ổn định tài chính.

    Với vai trò là ngân hàng của Chính phủ Anh, NHTW Anh quản lý tài khoản quỹ chung của chính phủ. Ngân hàng cũng quản lý thị trường ngoại hối và dự trữ vàng. Nó là ngân hàng của các ngân hàng, có nghĩa là cho vay sau cùng. Để duy trì năng lực nghiệp vụ, nó cũng cung cấp các dịch vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng bán lẻ cho một số lượng hạn chế các cá nhân và tổ chức.

    Ngân hàng Anh có độc quyền phát hành giấy bạc tại Anh (England) và Wales. Các ngân hàng Scotland và Bắc Ireland vẫn giữ quyền phát hành giấy bạc ở địa phương nhưng họ phải ký quỹ đảm bảo toàn bộ tại Ngân hàng Anh trừ khoản vài triệu bảng giấy bạc phát hành năm 1845. Sau tháng 12 năm 2002, việc in ấn giấy bạc được giao cho công ty De La Rue theo tư vấn của Công ty tài chính Close Brothers (Close Brothers Corporate Finance Ltd).

    Từ năm 1997, Ủy ban Chính sách tiền tệ chịu trách nhiệm ấn định tỷ lệ lãi suất. Với quyết định cho phép Ngân hàng hoạt động độc lập, trách nhiệm quản lý nợ của chính phủ được chuyển cho Văn phòng Quản lý nợ nước Anh (UK Debt Management Office) năm 1998. Đến năm 2000, chức năng quản lý tiền mặt của chính phủ cũng chuyển giao cho văn phòng này. Và cuối năm 2004, công ty Computershare giành quyền cung cấp dịch vụ quản lý trái phiếu cho Chính phủ Anh.

    1.4 Mục tiêu chung

    Ngân hàng Trung ương Anh có nhiệm vụ là thúc đẩy lợi ích của người dân Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính. Như trong điều lệ ban đầu của Ngân hàng năm 1694, cho biết: ‘Now know ye, That we being desirous to promote the public good and benefitt of our people…’ (Như mọi người đều biết, mong muốn của chúng tôi là thúc đẩy lợi ích cộng đồng và lợi ích của toàn thể người dân…)

    Theo quyết định của Quốc hội, Ngân hàng sẽ thực hiện điều này bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    Mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng là bình ổn giá cả và hỗ trợ các mục tiêu kinh tế của Chính phủ bao gồm cả sự tăng trưởng và ổn định việc làm. Ổn định tiền tệ có nghĩa là giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ. Giá cả ổn định được xác định bởi mục tiêu lạm phát của Chính phủ, mà Ngân hàng tìm cách đáp ứng thông qua các quyết định giao cho Ủy ban Chính sách tiền tệ, giải thích những quyết định minh bạch và thực hiện chúng một cách hiệu quả trong thị trường tiền tệ.

    Ổn định tài chính đòi hỏi luồng hiệu quả nguồn vốn trong nền kinh tế và sự tự tin trong các tổ chức tài chính. Điều này được thực hiện qua:

    • Hoạt động tài chính của Ngân hàng, bao gồm việc cho vay cuối cùng;
    • Quyết định của Ủy ban Chính sách tài chính;
    • Quy định bảo đảm an toàn của các tổ chức tài chính của PRA;
    • Vai trò của Ngân hàng là cơ quan giải quyết;
    • Giám sát ngân hàng và quy định về thanh toán chính, thanh toán bù trừ và cơ sở hạ tầng, giải quyết.

    Ủy ban Chính sách tài chính (FPC) có hành động chống lại những rủi ro mang tính hệ thống để bảo vệ và tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống tài chính Anh. Ủy ban có một mục tiêu thứ cấp để hỗ trợ cho chính sách kinh tế của Chính phủ.

    Cơ quan giám sát tài chính (PRA) chịu trách nhiệm giám sát của khoảng 1.700 ngân hàng, hiệp hội xây dựng, công đoàn tín dụng, công ty bảo hiểm và các công ty đầu tư lớn. PRA có một mục tiêu chung để thúc đẩy sự an toàn và lành mạnh của các doanh nghiệp và – đặc biệt cho các công ty bảo hiểm – góp phần vào sự bảo vệ của bảo hiểm.

    Tuy nhiên, sự ổn định tiền tệ và tài chính không phải là kết quả cuối cùng, nhưng trước tiên đó là điều kiện cần thiết để cung cấp các lợi ích chung. Vì lý do đó, cam kết của Ngân hàng với hai mục đích cốt lõi đã được viết lại thành một nhiệm vụ duy nhất bao trùm tất cả, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm theo luật định của Ngân hàng là làm cho đến mục tiêu cuối cùng: Nhiệm vụ của Ngân hàng Anh là để thúc đẩy lợi ích của người của Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

     

    2.       Mục tiêu của Ngân hàng trung ương Anh trong giai đoạn hiện nay

    Mục tiêu chính của Ngân hàng trung ương Anh là duy trì sự ổn định và sức mua của đồng nội tệ thông qua việc kiểm soát lạm phát ở mức có thể chấp nhận được xấp xỉ là 2%. Giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ chính là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự ổn định tiền tệ. Và trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTW để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.

    3. Chính sách lãi suất của NHTW Anh

    3.1 Các công cụ điều hành

    Ngân hàng Anh điều hành lãi suất thị trường qua hai cộng cụ là lãi suất cơ bản và lãi suất Repo (lãi suất được sử dụng trong những hoạt động của thị trường mở).

    Lãi suất cơ bản

    Thay đổi lãi suất cơ bản chính là công cụ dễ thấy nhất được sử dụng bởi MPC, có đội ngũ các nhà kinh tế họp mỗi tháng để thảo luận về chính sách tiền tệ hiện tại và trong tương lai.

    Lãi suất Repo

    Repo là viết tắt của thỏa thuận mua lại, và tỷ lệ repo là mức độ mà Ngân hàng Anh mua lại chứng khoán đã bán trước đó trong các thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ bao gồm các ngân hàng, hiệp hội xây dựng và kinh doanh chứng khoán chuyên khoa. Thay đổi tỷ lệ repo ảnh hưởng đến thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống tiền tệ, mà nhanh chóng có tác dụng trên tất cả các tỷ lệ khác.

    Ngân hàng trung ương đã sử dụng các công cụ lãi suất để nhằm đảm bảo mục tiêu. Tuy nhiên, một mục tiêu 2% không có nghĩa là lạm phát sẽ được cố định tại tỷ lệ này liên tục. Điều đó sẽ là không thể và cũng nằm ngoài mong muốn của Ngân hàng. Lãi suất thay đổi theo thời gian, và với số lượng lớn, sẽ gây bất ổn không cần thiết và biến động trong nền kinh tế. Thậm chí sau đó nó sẽ không thể giữ lạm phát ở mức 2% mỗi tháng. Thay vào đó, mục đích của MPC là để thiết lập lãi suất để lạm phát có thể được đưa trở lại mục tiêu trong một khoảng thời gian hợp lý mà không tạo ra bất ổn không đáng có trong nền kinh tế.

    Ủy ban chính sách tiền tệ họp mỗi tháng để thiết lập lãi suất để đạt mục tiêu lạm phát 2% của Chính phủ. Thành viên của MPC bao gồm 9 người trong đó năm người là nhân viên cao cấp của ngân hàng Anh và bốn người là thành viên bên ngoài do Thủ tướng bổ nhiệm. Mỗi người có một phiếu để quyết định lãi suất được thiết lập.

    Sự thay đổi lãi suất sẽ mất khoảng 2 năm để có tác động đầy đủ đối với lạm phát. Vì vậy, Uỷ Ban chính sách tiền tệ đặt ra lãi suất dựa trên dự báo về lạm phát 2-3 năm tới.Nếu lạm phát được dự báo là sẽ vượt qua mục tiêu, Ủy ban chính sách tiền tệ có thể sẽ tăng lãi suất. Mọi người sẽ có xu hướng chi tiêu ít hơn và tiết kiệm hơn, đặt áp lực giảm lạm phát. Nếu lạm phát có khả năng giảm xuống dưới mục tiêu, MPC có thể sẽ cắt giảm lãi suất để kích thích chi tiêu và lạm phát.

    Hình 2.1. Mối quan hệ giữa lãi suất với cung tiền, đầu tư và thu nhập.

     

    Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu.

     

     

     

     

     

     

    Hình 2.2. Mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản và lạm phát

    3.2 Lãi suất của NHTW Anh những năm gần đây:

    Trong những năm gần đây, lãi suất đã được điều chỉnh thường xuyên để phản ánh thay đổi điều kiện kinh tế vĩ mô.

                Từ khi bùng nổ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, Ủy ban chính sách tiền tệ của NHTW Anh liên tục cắt giảm lãi suất. Động thái này nhằm đề phòng kinh tế yếu kém sẽ khiến Anh rơi vào suy thoái kinh tế kéo dài. Thông báo của Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (MPC) cho biết tình trạng suy giảm của kinh tế Anh xuất hiện tại cả các hoạt động kinh tế trong và ngoài nước. Cắt giảm lãi suất cho vay sẽ góp phần giảm bớt tình trạng khó khăn trên các thị trường tín dụng, và tạo điều kiện cho các ngân hàng giúp khách hàng của mình. Cho đến tháng 3 năm 2009, Anh đã giảm lãi suất xuống thấp kỷ lục trong 3 thế kỷ ở mức 0,5% và duy trì cho đến nay nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu.

     

    Biểu đồ 2.1. Lãi suất chính thức của Anh được công bố qua các năm

    (nguồn:www.economicsonline.co.uk)

    1999 – 2000 Tỷ lệ này là tương đối cao ở mức 6% để hạn chế nhu cầu.

    2000 – 2003 Lãi suất giảm nhanh chóng xuống mức thấp nhất trong 25 năm, giúp kích thích nhu cầu.

    2003-2007 Tỷ giá đã được đẩy lên thành một vùng trung tính vào khoảng 5%, nhưng đến năm 2007 họ đã đưa lên đối với khu vực hạn chế.

    2008 -2014 Để đối phó với suy thoái kinh tế sâu sắc, giá đã được cắt giảm đến mức chưa từng có trong thời hiện đại.

    3.3 Hiệu quả của việc giảm lãi suất

    Giả định nền kinh tế có một khoảng cách sản lượng sau đó giảm lãi suất của Ngân hàng Anh, với các yếu tố khác không đổi,sẽ làm tăng tổng cầu.

    Việc giảm lãi suất sẽ kích thích tổng cầu. Điều này tạo ra một hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng lại là áp lực tiềm năng lên lạm phát.

    MPC quyết định giữ nguyên mức lãi suất sau khi xem xét khả năng phục hồi kinh tế và chiều hướng lạm phát thấp ở Anh trong bối cảnh có nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế thế giới suy yếu.

    Theo MPC, việc giữ nguyên lãi suất trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả nhiều hơn mong đợi, khiến kinh tế Anh bắt đầu có những dấu hiệu khởi sắc. BoE đã duy trì lãi suất chủ chốt ở mức nửa phần trăm trong hơn 5 năm qua để hỗ trợ kinh tế phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Lãi suất ở Anh đã ở mức 0,5% kể từ năm 2009 và lãi suất có ảnh hưởng tới sự phát triển trong hoạt động kinh tế vĩ mô của Vương quốc Anh:

    • GDP thay đổi tỷ lệ đã tăng từ -5.2% trong năm 2009 lên 2,4% vào năm 2014
    • Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 7,5% trong năm 2014 từ 8,1% trong năm 2011 sau khi tăng mạnh vào đầu năm 2008-2009 do ảnh hưởng của suy thoái.

    Biểu đồ 2.2. Lạm phát, tăng trưởng, chênh lệch đầu ra và lãi suất ở Anh

    (nguồn: www.mrbrook.co.uk)

    Giảm lãi suất làm tăng tổng cầu. Lãi suất thấp hơn làm cho chi phí vay thấp hơn. Kích thích doanh nghiệp đầu tư và người tiêu dùng chi tiêu. Lãi suất thấp hơn cũng làm suy yếu đồng tiền của nước Anh, nên giảm đầu tư trong nước và tăng đầu tư nước ngoài. Điều này làm tăng kim ngạch xuất khẩu (như đã làm giữa năm 2012 và 2013 tăng 1,6%) và giảm nhập khẩu (1,2% giữa năm 2012 và 2013).

    Tổng cầu cao hơn nên làm tăng sản lượng quốc gia và do đó sẽ gia tăng GDP, tăng 1,3% giữa năm 2012 và năm 2013 sự gia tăng AD đã dẫn đến một sự gia tăng tỷ lệ lớn hơn trong sản lượng thực tế. Độ co giãn cao của tổng cung ngắn hạn là do số lượng lớn công suất dự phòng trong nền kinh tế Vương quốc Anh. Ví dụ như khoảng cách sản lượng được ước tính là -1,7% trong năm 2014.

    Như vậy rõ ràng là mức lãi suất thấp là nguyên nhân sự gia tăng GDP thực tế của Anh, và là một thành phần quan trọng của hoạt động kinh tế vĩ mô.

    Tác động đến chỉ số giá tiêu dùng CPI

    Biểu đồ 2.3. Chỉ số giá tiêu dùng CPI  ở Anh qua các năm

     

    Consumer Prices Index 2011 -2013 ( Nguồn: www3.hants.gov.uk)

    Year

    CPI

    % Change

     

    2013

    126.1

    2.6

     

    2012

    123.0

    2.8

     

    2011

    119.61

    4.5

     

    2010

    114.48

    3.3

     

    2009

    110.83

    2.2

     

    2008

    108.48

    3.6

     

    Năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu, giá đã bắt đầu tăng với tốc độ hàng năm khoảng 5%. Tuy nhiên chưa đầy một năm sau đó, giá đã tăng khoảng 1% so với chỉ số CPI.

    Đến cuối năm 2011, giá đã tăng trở lại với mức tăng CPI 5,2%, phù hợp với các thiết lập mức cao kỷ lục trong tháng Chín năm 2008

    Kể từ đó chỉ số này đã giảm trở lại, với chỉ số CPI trên đây của Ngân hàng Anh là 2% tỷ lệ mục tiêu của nước Anh lần đầu tiên kể từ tháng 11 2009.

    Tuy nhiên, vào đầu năm 2009, giá dầu thô đã giảm mạnh, mất hai phần ba giá trị của nó chỉ trong sáu tháng, và suy thoái kinh tế toàn cầu đã thực hiện tổ chức. Tại Anh, thuế VAT cũng được cắt giảm từ 17,5% đến 15%, trong một nỗ lực để kích thích chi tiêu. Tất cả điều này góp phần vào tỷ lệ lạm phát giảm.

    Sau đó, thuế GTGT trở lại lên đến 17,5% vào đầu năm 2010, và đã được tăng thêm tới 20% vào năm sau. Tăng lớn trong hóa đơn khí đốt và điện, cùng với chi phí vận chuyển và giá cả thực phẩm, đẩy giá lên cao hơn nữa.

    Kể từ đó, tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống như tác động của tăng thuế VAT và chi phí năng lượng cao hơn đã giảm đi.

    Trong năm 2014, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của lạm phát của Anh giảm hơn nữa so với dự kiến, giảm đến 1,2 phần trăm trong tháng Chín so với 1,5 phần trăm trong tháng trước, đánh một năm năm thấp.

    CPI được dự kiến ​​sẽ chậm nhẹ lên 1,4 phần trăm theo dự báo của giới phân tích. Tuy nhiên, sự sụt giảm này thậm chí còn thấp hơn nhiều so Ngân hàng Anh của hai phần trăm mục tiêu và đi kèm theo đó trong mục tiêu cho tháng thứ chín liên tiếp.

    Các biện pháp đã được đẩy hơn nữa bằng cách giảm chi phí vận chuyển và giá hàng hóa giải trí, theo Văn phòng Thống kê quốc gia, đặc biệt là vé máy bay và chi phí của máy tính bảng đã trở thành rẻ hơn.

    Các nhà kinh tế nói chung mong đợi Vương quốc Anh được hưởng lợi từ lạm phát dưới mức mục tiêu trong một thời gian. Jonathan Loynes, nhà tư vấn kinh tế tại Capital Economics cho rằng lạm phát CPI có thể giảm 1% trước khi kết thúc năm 2014.

    Đó được coi là tin tốt cho các hộ gia đình, nơi mà giá đã tăng nhanh hơn so với thu nhập trung bình kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính.

    Tác động đến thất nghiệp

    Biểu đồ 2.4.  Mối quan hệ giữa lãi suất và tỉ lệ thất  nghiệp tại Anh


                    (nguồn: www.mrbrook.co.uk)

    Lãi suất thấp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự gia tăng thất nghiệp. Nền kinh tế Anh có tỉ lệ thất nghiệp thiếu tính chu kỳ hoặc do hậu quả của suy thoái kinh tế. Kết quả của sự gia tăng AD đến sự gia tăng nhu cầu lao động và do đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp theo chu kỳ. Kể từ khi cắt giảm lãi suất tỷ lệ thất nghiệp đã giảm 0,3% => phân tích cho rằng lãi suất thấp làm giảm thất nghiệp.

    Tỷ lệ thất nghiệp cấu trúc có thể được giải quyết hiệu quả hơn nhờ các chính sách tài chính như đào tạo lại người lao động, cải thiện giáo dục và việc cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Tương tự như vậy lãi suất có thể chỉ là một hiệu ứng nhỏ về tỷ lệ thất nghiệp lương thực tế, do mức lương tối thiểu là trên mức giá cân bằng. Mặc dù bằng cách kích thích lãi suất thấp có thể làm tăng nhu cầu cân bằng mức lương, dễ dàng để giảm tỷ lệ thất nghiệp cổ điển bằng cách giảm mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình kinh tế đầy hứa hẹn của chính phủ Vương quốc Anh đã hứa sẽ tăng mức lương tối thiểu lên £ 6,50 từ £ 6,31.

    Vào đầu năm 2009 ở Anh, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng mạnh, doanh nghiệp và niềm tin tiêu dùng đã giảm nghiêm trọng và các ngân hàng đã nắm giữ các quỹ của họ.

    Sự kế thừa của cắt giảm chi phí vay đã đưa giá xuống mức thấp lịch sử, nhưng với nền kinh tế vẫn còn trong suy thoái kinh tế thì vẫn còn nhiều việc cần phải thực hiện để cố gắng khởi động phục hồi.

    Vì vậy, tháng 3 năm 2009, cùng với tỷ lệ lãi suất 0,5%, Ngân hàng cũng đã giới thiệu một chương trình nới lỏng định lượng (QE)

    Các ngân hàng tạo ra tiền mới và tiêm nó vào nền kinh tế để cố gắng thúc đẩy chi tiêu. Nó làm điều này bằng cách mua tài sản từ các công ty tài chính, bao gồm cả các ngân hàng High Street, các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí

    Một cách nới lỏng tiền tệ có thể kích thích nhu cầu là nếu các công ty này chi tiêu số tiền họ nhận được tài sản của họ. Nếu họ mua cổ phiếu, ví dụ, các công ty mà họ đầu tư có thể quyết định mua thiết bị mới, giúp họ phát triển và thậm chí có nhân viên mới

    Theo QE, Ngân hàng Anh thường mua trái phiếu, một hình thức IOU do chính phủ vay tiền. Nhu cầu bổ sung có thể là hiệu quả cuối cùng của việc giảm chi phí vay rộng rãi hơn – giúp các doanh nghiệp và hộ gia đình.

    Trong khi sự phục hồi kinh tế đã thực sự cải thiện đáng kể trong những tháng gần đây, Ngân hàng vẫn quan ngại về tính bền vững của sự phục hồi và tác động của nó đối với lạm phát trong dài hạn.

    Do đó, Ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì các chính sách này cho đến khi chắc chắn  rằng nước Anh là trên một con đường an toàn của tăng trưởng kinh tế.

     

     

    CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ SUẤT CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NHTW ANH. KINH NGHIỆM ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

    1. Những lợi thế trong chính sách lãi suất của BOE

    1.1 Ổn định nền kinh tế.

    Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế Anh đã giảm mạnh. Theo báo cáo của Cơ quan thống kê  quốc gia Anh(ONS) , tỷ lệ lạm phát trong tháng 8/2014 đã giảm chỉ còn 1.2%, mức thấp kỉ lục trong vòng 4 năm qua kể từ tháng 9/2009, thời điểm  tỉ lệ lạm phát đang ở mức 1.1%. Đây cũng là tháng thứ 9 liên tiếp tỉ lệ lạm phát thấp hơn mức 2% mà BOE đã đặt ra.

    Cũng theo IMF, Anh tăng trưởng nhanh nhất trong các nền kinh tế đang phát triển với mức dự báo tăng trưởng là 3.2% trong năm 2014, tốc độ này đủ mạnh để đưa nước Anh thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính.

    1.2 Độc lập.

    Ngân hàng của Ủy ban chính sách tiền tệ của nước Anh là độc lập với Chính phủ nên có thể đưa ra những quyết định mà không bị ràng buộc bởi sự can thiệp chính trị.

    1.3 Dễ thực hiện.

    Lãi suất có thể thay đổi trên cơ sở hàng tháng, trái ngược với những thay đổi không thể thực hiện được đều đặn như vậy trong chính sách tài khóa linh hoạt.

    2. Những bất lợi của chính sách lãi suất.

    2.1 Mạnh mẽ và trực tiếp.

    Thực tế đã chứng minh mức lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến chi tiêu hộ gia đình. Dù tỉ lệ lạm phát giảm nhưng vẫn ở mức cao hơn nhiều so với mức tăng lương bình quân của người dân Anh(khoảng 0.6% trong quý 2/2014) khiến các hộ gia đình chịu nhiều áp lực về chi tiêu.

    2.2.  Đầu tư giảm, trị trường nhà đất đi xuống.

    Chi đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất, và mức giá cao hơn làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư. Trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Nếu như tháng 8/2013, dòng vốn chảy vào Vương quốc Anh đạt tới 8.9 tỉ USD thì tới tháng 9/2014, các nhà đầu tư đã rút 27 tỉ USD đầu tư tài chính ra khỏi nước Anh.

    Thị trường nhà ở là rất nhạy cảm với thay đổi lãi suất. Giá nhà ở hầu hết các khu vực trên nước Anh vẫn đang tiếp tục tăng cao kỉ lục. Thị trường bất động sản đang gặp những vấn đề nghiêm trọng như nguy cơ “bong bóng” và có thể trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với tiến trình phục hồi nền kinh tế Anh.

    2.3. Các nền kinh tế kép

    Ngoài ra còn có các vấn đề của nền kinh tế kép. Có nên đấy giá cao để kiểm soát các khu vực dịch vụ, hoặc áp dụng mức lãi suất thấp đối với các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chậm phát triển? Không giống như các cuộc suy thoái trước, trong cuộc suy thoái hiện tại tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế đã phải chịu đựng trong một cách tương tự, vì vậy giá đã được thiết lập ở mức thấp lịch sử mà không có bất kỳ lo ngại lạm phát.

    2.3 Những cái bẫy thanh khoản

    Giảm lãi suất trong một cuộc suy thoái có thể không có hiệu quả vì cái gọi là “bẫy thanh khoản”. Lý thuyết này được kết hợp với Keynes, và phân tích của ông về “Đại suy thoái”. Trong một cuộc suy thoái lãi suất sẽ giảm đối với số không, như ở Anh trong năm 2009, sau cuộc khủng hoảng tài chính . 

    Trong trường hợp này, các ngân hàng và các trung gian tài chính khác thích giữ tiền mặt hơn là cho vay. Vì vậy, trong khi vay có thể được kích thích, tính thanh khoản không được phát hành thông qua hệ thống – đó là ‘mắc kẹt’ và không có sẵn. Điều này làm sâu sắc thêm tình trạng suy thoái và làm suy yếu nền kinh tế thực. Trong trường hợp này, chính quyền có thể phải bơm tiền trực tiếp vào bàn tay của công chúng. Phân bổ chứng từ chi tiêu là một trong những cách này có thể đạt được. Chính thức hơn, quá trình này được gọi là “nới lỏng định lượng” .

    1. Khuyến nghị chính sách

    Từ những thực trạng và phân tích trên, nhóm chúng em có đề xuất một số khuyến nghị về chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất nói riêng đối với NHTW Anh.

    • Với nền kinh tăng trưởng nhanh nhất trong các nền kinh tế phát triển G7, tốc độ tăng trưởng là “hợp lý cân bằng giữa tiêu dùng và đầu tư”, lạm phát đã chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm và giá cổ phiếu tăng. Ngân hàng Anh cũng phải đối mặt với mức giảm căng thẳng của lạm phát, hiện tại là 1,2% dưới mức lạm phát mục tiêu 2%, tốc độ tăng lương chậm so với lạm phát, lương thực tế giảm, giá nhà tăng cao..trong thời gian dài duy trì mức lãi suất thấp 0,5%. Điều này dẫn đến đã có những dấu hiệu cho thấy chi phí đang tăng nhanh hơn so với năng suất, trong thời gian tới BOE có thể cần phải thắt chặt dần chính sách tiền tệ. Khi thời gian đến để thắt chặt chính sách thì trước tiên BOE nên tăng lãi suất Ngân hàng. Và lãi suất cần được tăng một cách dần dần để nền kinh tế thích ứng kịp thời và hạn chế rủi ro. Khi lãi suất tăng làm cho chi phí về các khoản thế chấp, vay tăng dẫn đến nhu cầu về nhà ở giảm, giá nhà đất giảm (ở Anh, người vay và thế chấp mua nhà chiếm tỷ lệ lớn).
    • Khi đưa ra các quyết định thay đổi lãi suất thì NHTW Anh cần phải dựa vào các chỉ tiêu khác nhau như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, công suất dự phòng…và yếu tố lạm phát chỉ là một phần, không nên chỉ chú trọng đến lạm phát. Bởi lãi suất như con dao hai lưỡi vì thế mà cần phải cân nhắc xem xét các chỉ tiêu để đưa ra các quyết định phù hợp.
    • Bên cạnh những tiến bộ đã được thực hiện trong việc nâng cao tính minh bạch của chính sách tiền tệ, Ngân hàng Anh nên thiết lập hành lang hướng dẫn chính sách tương lai kịp thời rõ ràng hơn, sớm cung cấp rõ ràng về cơ chế hoạt động như cung cấp biểu đồ lãi suất của Ngân hàng trong tương lai. Tháng 8/2013, BOE đã đưa ra hướng dẫn chính sách: lãi suất ngân hàng sẽ ở mức thấp kỷ lục cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp xuống 7% và đến nay tỷ lệ thất nghiệp ở dưới 7% lãi suất vẫn không đổi 0.5%. Và khi mục tiêu đề ra đã đạt được thì BoE phải thực hiện những gì đã tuyên bố hoặc phải giải thích vì sao phải thay đổi điều đó, một tuyên bố sớm sẽ giúp cho nền kinh tế không bị bất ngờ trước sự thay đổi đột ngột của lãi suất, các doanh nghiệp hiểu được thông điệp của ngân hàng trung ương. Sự rõ ràng của chính sách giúp các doanh nghiệp lập kế hoạch, đầu tư và thuê, hỗ trợ các động lực kinh tế trong tương lai.
    1. KINH NGHIỆM CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA BOE ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM.
      • Đánh giá chính sách lãi suất của NHTW Anh BOE
    • BOE đưa ra mức lãi suất chủ yếu dựa vào các biến số là: Lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tình trạng vốn khả dụng của NHTM, giá tài sản trên thị trường vốn và lãi suất thị trường quốc tế nhưng chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá là lạm phát.
    • Sự thay đổi lãi suất chính thức phụ thuộc vào sự lựa chọn mục tiêu của CSTT, diễn biến kinh tế vĩ mô, tình trạng vốn khả dụng của NHTM.
    • Việc công bố lãi suất chính thức của NHTW tác động đến nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau và không gây nên xáo trộn về lãi suất và giá tài sản (cổ phiếu và trái phiếu) trên thị trường vốn và tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính kinh doanh thuận lợi, có hiệu quả.
    • Lãi suất ngắn hạn. trung hạn và dài hạn có sự ràng buộc và diễn biến theo nhau.
    • Bộ Tài chính và NHTW Anh có sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả.
      • Một vài thực trạng chính sách lãi suất của Việt Nam
    • Mối liên hệ giữa các loại lãi suất thị trường và lãi suất của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, lãi suất đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc, lãi suất tiền gửi của các TCTD tại NHNN) còn lỏng lẻo, nhiều khi tách rời nhau, biến động chưa phù hợp cơ chế lãi suất thị trường; vai trò điều tiết lãi suất thị trường của lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở còn rất hạn chế.
    • Còn quá nhiều lãi suất trong nền kinh tế, lãi suất VNIBOR(Đường cong lãi suất giới hạn chuẩn) chưa chính xác, chưa phản ánh đúng được cung cầu vốn trên thị trường vì thế tác dụng tham chiếu của nó còn bị hạn chế.
    • Việc công bố lãi suất cơ bản nhiều lúc chưa linh hoạt theo đúng diễn biến của thị trường.
      • Kinh nghiệm của NHTW Anh và giải pháp cho Việt Nam
    • Sớm cho phép NHNN có những quyền hạn rộng rãi hơn trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ.
    • Tạo điều kiện phối kết hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
    • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kiểm soát hữu hiệu được thị trường liên ngân hàng, theo dõi kịp thời diễn biến lãi suất của thị trường liên ngân hàng, làm cơ sở nghiên cứu và ban hàng lãi suất cơ bản.
    • Có sự ràng buộc chặt chẽ giữa thị trường ngắn hạn và thị trường dài hạn làm cho mức lãi suất ngắn hạn và dài hạn diễn biến theo nhau.
    • Phát triển các công cụ thị trường tiền tệ nhằm đa dạng hoá các công cụ trên thị trường, mở rộng áp dụng các công cụ mới nhất là các công cụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế.
    • Tăng cường vai trò của Hiệp hội ngân hàng trong việc ổn định, thống nhất chung về lãi suất giao dịch của các NHTM trên địa bàn, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh về lãi suất, gây bất lợi cho những ngân hàng nhỏ.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]