Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Bài tập lớn Kinh tế vĩ mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    Bài tập lớn Kinh tế vĩ mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    Bài tập lớn Kinh tế vĩ mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Xây dựng hệ thống mạng phòng A8-301,302. Cho địa chỉ IP 177.259.111.92 chia thành 5 subnet để cấp phát cho hệ thống mạng. Tạo tài khoản người dùng, nhóm người dùng trong hệ thống


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Kinh tế vĩ mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017

    I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CUNG – CẦU.

    1. Cầu hàng hóa (Demand-D)

    Cầu hàng hóa là khối lượng hàng háo hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
    Điều kiện xuất hiện cầu:
    Nhu cầu dành cho hàng hoá + khả năng thanh toán hàng hoá đó.

    Lượng cầu là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở mức giá đã cho trong một thời điểm nhất định.
    Cầu là tập hợp của các lượng cầu.

          Luật cầu: Số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa, dịch vụ giảm xuống và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi.

    1.      Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu.

    1.1.            Giá của chính hàng hóa đó (Px).

    Theo luật cầu, khi giá của hàng hóa tăng thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm và ngược lại. Giá Px được coi là yếu tố nội sinh duy nhất làm di chuyển đường cầu.

    1.2.            Thu nhập của người tiêu dùng (I).

    Đối với hàng hóa xa xỉ, tốc độ tăng của cầu lớn hơn tốc độ tăng của thu nhập, giá của hàng hoá xa xỉ biến thiên cùng chiều với lượng cầu.
    Đối với hàng hóa thiết yếu, thu nhập và cầu có quan hệ tỉ lệ thuận.
    Đối với hàng hóa thứ cấp, sau khi tăng đến một mức nhất định, thu nhập và cầu có quan hệ tỉ lệ nghịch.

    1.3.            Giá của hàng hóa có liên quan (Py).

    Hàng hóa bổ sung: Khi giá của hàng hóa này tăng lên thì cầu về hàng hóa kia giảm xuống và ngược lại, với giả định các yếu tố khác là không đổi.

    Hàng hóa thay thế: Khi giá của hàng hóa này tăng lên thì cầu về hang hóa kia cũng tăng lên và ngược lại., với giả định các yếu tố khác là không đổi.

    • Sở thích hay thị hiếu (T).
      Sở thích và cầu có mối quan hệ thuận chiều.
    • Quy mô thị trường hay dân số (N).
      Quy mô thị trường và cầu có mối quan hệ thuận chiều.

    1.6.            Kỳ vọng của người tiêu dùng (E).

    Kỳ vọng đề cập đến sự mong đợi hay dự kiến của người tiêu dùng về sự thay đổi trong tương lai các nhân tố ảnh hưởng tới cầu hiện tại. Ví dụ, nếu người tiêu dùng dự đoán giá của hàng hóa nào đó trong tương lai sẽ tăng lên thì cầu về hàng hóa đó ở hiện tại sẽ tăng và ngược lại.

    2.     Cung hàng hóa (Supply-S)

    Cung hàng hóa là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

    Điều kiện xuất hiện cung: Khả năng bán + Mong muốn bán.

    Lương cung là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán và có khả năng bán ở các mức giá đã cho trong một thời điểm nhất định.
    Cung là tập hợp của các lượng cung.

          Luật cung: Luật cung được phát biểu như sau: Số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa, dịch vụ tăng lên và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi.

    3.     Các yếu tố ảnh hưởng đến cung.

    • Giá của chính hàng hóa đó (Px).
      Theo luật cung, khi giá của hàng hóa tăng thì lượng cung của hàng hóa đó tăng và ngược lại, khi giá của hàng hóa giảm thì lượng cung giảm xuống, với giả định các yếu tố khác không đổi.
    • Công nghệ sản xuất (T)
      Công nghệ góp phần làm giảm chi phí sản xuất từ đó lợi nhuận tăng và doanh nghiệp tăng đầu tư mở rộng sản xuất. Công nghệ thêm vào đó làm tăng năng suất.

    Từ hai nguyên do trên, khi công nghệ càng tiên tiến thì ở mỗi mức giá nhất định, lượng cung hàng hóa càng tăng.

    • Giá cả của các yếu tố đầu vào (Pi).
      Giá của các yếu tố đầu vào tăng thì lượng cung của hàng hóa đó giảm và ngược lại, nếu giá yếu tố đầu vào giảm thì lượng cung hàng hoá đó tăng.
    • Chính sách thuế và trợ cấp (Tax).
      Chính phủ đánh thuế vào doanh nghiệp làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ thu hẹp quy mô sản xuất làm lượng cung giảm và ngược lại.

    Khi doanh nghiệp được trợ cấp, lợi ích của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp tăng đầu tư mở rộng sản xuất làm lượng cung tăng và ngược lại.

    • Số lượng nhà sản xuất (N).
      Số lượng nhà sản xuất cùng cung ứng một sản phẩm càng nhiều thì lượng cung trên thị trường càng lớn và ngược lại.
    • Kỳ vọng của người sản xuất (E).
      Kỳ vọng đề cập đến sự mong đợi hay dự kiến của người sản xuất về sự thay đổi trong tương lai các nhân tố ảnh hưởng tới cung hiện tại.
      Ví dụ, nếu người sản xuất dự đoán giá của hàng hóa nào đó trong tương lai sẽ tăng lên thì cung về hàng hóa đó ở hiện tại sẽ tăng và ngược lại.

    4.     Cơ chế hình thành giá cả thị trường cân bằng.

          Mức giá cân bằng của thị trường là mức giá mà tại đó khi cung và cầu không đổi, lượng cung sẽ bằng lượng cầu.

    Khi mức giá thực tế thấp hơn mức giá cân bằng, người tiêu dùng muốn mua nhiều hơn còn người sản xuất sẽ bán ít hơn. Trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cầu hàng hóa (thiếu hụt). Do hàng hóa khan hiếm nên giá của hàng hóa có xu hướng tăng lên.

    Khi mức giá thực tế tăng cao hơn mức giá cân bằng, tại mức giá đó, người sản xuất muốn bán nhiêu hơn còn người tiêu dùng sẽ mua ít đi. Khi đó trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cung hàng hóa (dư thừa). Do hàng hóa dư thừa nên giá của hàng hóa có xu hướng giảm xuống.

    Hai quá trình này lặp lại cho đến khi mức giá thực tế bằng với mức giá cân bằng.

    Khi thị trường đang ở trạng thái cân bằng. Nếu cầu hàng hóa trên thị trường tăng, tức là người tiêu dùng muốn mua nhiều sản phẩm hơn. Mà lượng cung trên thị trường chưa kịp thay đổi, thị trường xuất hiện trạng thái dư cầu (thiếu hụt). Do hàng hóa khan hiếm nên giá của hàng hóa tăng.
    Trên đồ thị ta thấy: Ban đầu thị trường ở trạng thái cân bằng E0 với mức giá P0 và sản lượng Q0. Khi cầu về hàng hóa tăng, trên đồ thị đường D0 dịch chuyển lên trên và sang phải thành đường D1. Khi đó thị trường cân bằng tại điểm E1 với mức giá P1 và sản lương Q1 (với P1>P0 và Q1>Q0).
    Tương tự, ta có thể giải thích cho trường hợp cầu hàng hóa giảm.

    Tương tự, khi thị trường đang ở trạng thái cân bằng. Nếu cung hàng hóa trên thị trường giảm, tức là người sản xuất không muốn bán sản phẩm ra thị trường. Mà lượng cầu hàng hóa trên thị trường chưa kịp thay đổi, thị trường xuất hiện trạng thái dư cầu (thiếu hụt). Do hàng hóa khan hiếm nên giá hàng hóa tăng.

    Trên đồ thị ta thấy: Ban đầu thị trường ở trạng thái cân bằng E0 với mức giá P0 và sản lượng Q0. Khi cung về hàng hóa giảm, trên đồ thị đướng S0 dịch chuyển lên trên và sang trái thành đường S1. Khi đó thị trường cân bằng tại điểm E1 với mức giá P1 và sản lượng Q1 (với P1>P0 và Q1<Q0).

    Tương tự, ta có thể giải thích cho trường hợp cung hàng hóa tăng.

     

    II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ VIỆT NAM 2007-2017

    1. Cung, cầu và giá bán cà phê hiện nay

    1.1 Tình hình cung Cà phê Việt Nam hiện nay.

    1.1.1 Thực tế diện tích cà phê Việt Nam
          Các khu vực trồng cà phê đã được phát triển và mở rộng trong các năm gần đây.

                      (Nguồn: Tổng hợp từ Tình hình kinh tế xã hội – Tổng cục thống kê)

    Diện tích cà phê Việt Nam từ 488.7 đã tăng lên 662.2 (nghìn ha) qua 10 năm canh tác, đưa Việt Nam trở thành nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới (sau Brazil). Nhờ vào diện tích sản xuất lớn, khiến cho nguồn cung cà phê hầu như luôn dồi dào và đáp ứng được nhu cầu của thị trường, không bị rơi vào tính trạng thiếu hụt.

    1.1.2 Sản lượng và chất lượng cà phê.

    Lượng sản xuất của cà phê qua mỗi năm đều tăng cao đáng kể trong vòng 10 năm qua kể từ 2007. Diện tích tăng lên kéo theo sản lượng tăng lên đều qua các năm.

    Năm Sản lượng (nghìn tấn)
    2007 850
    2008 996.3
    2009 1050
    2010 1105.7
    2011 1167.9
    2012 1292.4
    2013 1289.5
    2014 1395.6
    2015 1445
    2016 1467.9

                                  (Nguồn: Tổng hợp từ Tình hình kinh tế xã hội – Tổng cục thống kê)

     

    Năng suất cà phê của Việt Nam trung bình đạt 2,5 tấn/ha, cao gấp 3 lần so với năng suất cà phê bình quân của thế giới đã một lần nữa chứng minh được thực tế nguồn cung cà phê tại Việt Nam không hề khan hiếm.

    Có thể nói, sản xuất của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao về diện tích, sản lượng cũng như năng suất. Theo Bộ NN&PTNT, đến năm 2030, Việt Nam có chủ trương không tăng diện tích, thậm chí phải giảm diện tích cà phê ở những nơi không có lợi thế. Tập trung chế biến sâu, đẩy mạnh liên kết để phát triển thương mại nhằm tăng giá trị ngành cà phê Việt Nam.

    1.2 Tình hình cầu cà phê ở Việt Nam.

          1.2.1 Tiêu thụ trong nước

    Theo như thống kê, có khoảng 19.2% tiêu thụ cà phê, trong đó 47% tiêu thụ cà phê uống liền và 53% tiêu thụ cà phê bột. Tuy nhiên, vào các dịp lễ tết thì số lượng người tiêu dung cà phê cũng tăng lên đáng kể.

    Thị trường cà phê tiêu thụ ở Việt Nam phân chia rõ ràng, cà phê rang xay chiếm 2/3 tổng lượng cà phê được tiêu thụ, còn lại là cà phê hòa tan.

    (Nguồn: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA và Hiệp hội cà phê quốc tế ICO)

    Lượng tiêu thị nội địa tăng trung bình 11.75% trong giai đoạn 2011-2016.Lượng cà phê tiêu thụ bình quân đầu người tại Việt Nam khoảng 1.15kg/người/năm, trong đó ở Hồ Chí Minh là 1.3kg/người/năm, còn Hà Nội là 0.43kg/người/năm.

    Tiêu thụ cà phê đầu người tăng dần từ nhóm có thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất, phần nào thể hiện, cà phê là loại hàng hoá thông thường so với thu nhập của phần đông dân số.

    Cà phê được tiêu thụ phổ biến ở thành thị. Mức tiêu thụ bình quân của người thành thị cao gần gấp 2 lần so với nông thôn. Điều này được coi là hiện tượng dễ hiểu, khi thu nhập taị thành thị luôn có xu hướng cao hơn nhiều lần so với thu nhập tại các vùng nông thôn Việt Nam.

    Giá nội địa

    Giá cà phê trong nước tăng giảm theo xu hướng của cà phê trên thị trường thế giới, do nhiều yếu tố trong môi trường kinh tế quốc tế thay đổi và chi phối bên cạnh yếu tố cung- cầu thị trường. Trong mùa vụ 2016/17 giá cà phê Robusta trung bình giao động trong khoảng 42.000-43.000 VNĐ/kg, giảm mạnh do thời tiết của Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của gió mùa.

    1.2.2 Tiêu thụ ngoài nước

    Việt Nam cung cấp khoảng 19% tổng lượng cà phê xuất khẩu và khoảng 70% lượng cà phê Robusta giao dịch trên toàn cầu.

    Cà phê Việt Nam được xuất khẩu hơn 84 nước trên thế giới. Mỹ và Đức là hai thị trường tiêu thụ cà phê truyền thống lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt là 15,4% và 13,9%.

    Giá xuất khẩu

    Niên vụ cà phê 2007- 2008 với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên vượt ngưỡng 2 tỷ USD.

    Năm 2009, giá cà phê thế giới giảm mạnh, dẫn đến thị trường trong nước cũng rớt giá theo.

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy giá cà phê qua các niên vụ có sự biến động.

    Niên vụ 2013-2014, giá xuất khẩu trung bình là 1.796 USD/tấn.

    Sang đến niên vụ 2015/16, giá xuất khẩu của hạt cà phê Robusta tươi đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 niên vụ qua.

    Tuy nhiên, nhìn vào biểu đồ niên độ 2014/15 có xu hướng giảm đều, so sánh với niên độ 2015/16 có thể thấy niên độ 2015/16 đã có dấu hiệu khởi sắc.

    Nhìn chung trong giai đoạn 2007-2017 giá cà phê sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất, tự nhiên và cầu của thị trường. Sự sụt giảm này sẽ được lí giải một cách dễ hiểu thông qua tình hình về cung của Cà phê trong phần tiếp theo.

    2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cung cà phê.

                2.1 Diện tích trồng và sản lượng cà phê ở nước ta.

    Bảng diện tích gieo trồng cà phê ở Việt Nam từ năm 2007 đến 2017:

    Năm Diện tích gieo trồng cà phê tại Việt Nam (nghìn ha)
    2007 488,7
    2008 509,3
    2009 530,9
    2010 538,5
    2011 554,8
    2012 586,2
    2013 623
    2014 637
    2015 641,2
    2016 645,2
    2017 662,2

                                                                                  (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Từ bảng số liệu ta thấy, diện tích gieo trồng cà phê tăng lên đều qua các năm. Diện tích trồng cà phê Việt Nam ngày càng được mở rộng trong vài năm trở lại đây. Vì vậy, sản lượng nước ta cũng tăng lên.

    Trong giai đoạn này sản lượng cà phê có nhiều biến động nhưng nhìn chung sản lượng vẫn tăng qua các năm.

    Diện tích gieo trồng cà phê cũng như sản lượng cà phê tăng khiến cho sản lượng cà phê tăng dẫn đến cung cà phê cũng tăng qua các năm, đường cung dịch phải.

    2.2 Công nghệ chế biến, trồng trọt, chăm sóc cây cà phê

    Trong giai đoạn 2007-2017 công nghệ chế biến, trồng trọt, chăm sóc cây cà phê đã được phát triển mạnh mẽ với quy mô rộng lớn và chất lượng tốt hơn.

    Nhờ có công nghệ kỹ thuật phát triển mạnh mẽ mà sản lượng cà phê tăng dẫn đến cung cà phê cũng tăng.

    2.3 Yếu tố tự nhiên

          Yếu tố thời tiết có thể quyết định đến tình trạng được mùa hay mất mùa trong sản xuất cà phê Việt Nam. Điển hình là năm 2017 được coi như là một năm thiên nhiên dành nhiều ưu đãi cho việc nuôi trông cây cà phê, tuy nhiên, việc được mùa cà phê cũng tạo ra sức ép dư cung quá nhiều, khiến cho giá cà phê sụt giảm nghiêm trọng, khiến nhà nước phải thực hiện chính sách áp đặt giá sàn vào thị trường Cà phê trong năm 2017 để bảo hộ sản xuất.

    2.4 Giá các yếu tố đầu vào.
          Bên cạnh yếu tố về diện tích trồng cà phê, và chi phí nhân công đã được đề cập tại trước đó, giá cà phê còn chịu sự chi phối của các yếu tố đầu vào khác, ví dụ như giá của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và các loại hàng hoá phụ trợ. Các loại hàng hoá này có tính chất ổn định, ko thay đổi quá nhiều, chính vì thế ít làm ảnh hưởng tới giá của cà phê.

    2.5 Giá cà phê trong nước và xuất khẩu

    Niên vụ cà phê 2007- 2008 với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên vượt ngưỡng 2 tỷ USD. Năm 2009, giá cà phê thế giới giảm mạnh, dẫn đến thị trường trong nước cũng rớt giá theo.

    Hình: Giá xuất khẩu cà phê trung bình của Việt Nam mùa vụ 2009-2010 và 2010-2011

    Nguồn: Trung tâm Xúc tiến thương mại – Đầu tư – Du lịch Dak Lak; Vicofa và Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy ở mùa vụ 2009/2010 và 2010/2011 giá cà phê có nhiều biến động nhưng nhìn chung là giảm.

    Còn trong niên vụ 2015/16, giá xuất khẩu đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 niên vụ vừa qua.

    Co dãn của cung theo giá

        Dựa trên những phân tích của các yếu tố ảnh hưởng đến cung và lượng cung, chúng ta có thể nói rằng cung cà phê là co dãn theo giá. Cà phê là một loại nông sản có tính mùa vụ, khi giá tăng lên, người sản xuất sẽ khó khăn hơn để điều chỉnh đầu vào để tăng đầu ra cho hàng hoá, chính vì thế, cung của cà phê ít co dãn theo giá.

    Nhìn chung trong giai đoạn 2007-2017 giá cà phê đang có sự sụt giảm nghiêm trọng dẫn đến lợi nhuận nhà sản xuất giảm khiến cho cung cà phê cũng giảm. Trước tình hình đó, Chính phủ đã tiến hành hỗ trợ ngành cà phê bằng một loạt các biện pháp và trợ cấp khác nhau. Những chính sách của chính phủ đã tác động đến giá cà phê từ đó điều chỉnh thị trường về mức cân bằng.

    Chính phủ có thể kiểm soát giá bằng cách trực áp đặt giá sàn.

     

    3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu

                3.1 Giá của chính hàng hóa cà phê:

    Do chịu ảnh hưởng tiêu cực từ hiệu ứng El Niño, theo BMI Research sản lượng cà phê niên vụ 2016-2017 giảm 8,5% xuống còn 26,4 triệu bao (60 kg/bao), mức thấp nhất kể từ niên vụ 2011-2012.Do đó làm giá cà phê tăng làm lượng cầu về cà phê giảm đi.

    Thị trường cà phê trong nước biến động giảm trong tháng 8/2017 theo xu hướng của thị trường thế giới. So với tháng trước, giá cà phê các tỉnh Tây Nguyên giảm 1.000 – 1.100 đ/kg xuống còn 44.000 – 44.700 đ/kg. Dẫn tới hiện trạng các đại lý và các nhà xuất khẩu Việt Nam hiện vẫn đầu cơ cà phê chờ thời điểm để bán với mức giá cao hơn.

                3.2 Thu nhập người tiêu dùng

    Theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016. GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016.

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
    tiêu thụ cà phê 858 900 1,064 1,101 1,189 1,292 1,420 1,556

    Khi thu nhập tăng thì cầu đối với hầu hết hàng hóa đều tăng. Xét mối tương quan giữa thu nhập và sản lượng tiêu thụ, có thể nói rằng cà phê là hàng hóa thông thường. Do khi thu nhập tăng kéo theo cầu về cà phê tăng.

    3.3 Quy thị trường và thị hiếu người tiêu dùng

    Việt Nam tuy là nước sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới, nhưng lượng tiêu thụ cà phê của Việt Nam lại thấp hơn nhiều so với các quốc gia sản xuất cà phê khác (Việt Nam: 5% vs Brazil: 50%).
    Thực tế cho thấy, tiêu dùng cà phê của cả nước chỉ khoảng 56.000 tấn, chiếm chưa đến 6% trong tổng sản lượng cà phê làm ra, cho thấy quy mô thị trường cà phê nội địa của Việt Nam là ko lớn. Cụ thể:

    Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
    tiêu thụ cà phê 858 900 1,064 1,101 1,189 1,292 1,420 1,556

    Đơn vị: Nghìn bao                                                         (Nguồn: USDA, Vicofa, BMI)

          Theo số liệu điều tra VLSS, trung bình, người Việt Nam tiêu thụ khoảng 1,25kg cà phê/năm. Bao gồm cà phê tiêu thụ trong ngày thường và cà phê uống trong dịp lễ tết.

    Co dãn của cầu theo giá và thu nhập

          Cà phê tại thị trường Việt Nam không phải là một mặt hàng được tiêu dùng quá nhiều, tuy nhiên 90% trong toàn bộ khối lượng thị trường tiêu thụ cà phê là những người dùng trung thành, chính vì thế khi đặt cà phê trong thị trường của chính nó, cà phê được coi là một loại hàng hoá thiết yếu, vì dù giá có tăng nhưng người yêu cà phê vẫn sẽ mua, chỉ có khoảng 10% những người dùng cà phê quyết định sự thay đổi của cầu khi giá thay đổi, chính vì vậy có thể kết luận rằng: hàng hoá cà phê có cầu ít co giãn theo giá. Thêm vào đó, cà phê không phải là một sản phẩm có giá quá cao so với phần đông dân số, giá biến động trong biên độ không lớn, vì vậy sự thay đổi của giá so với thu nhập là không đáng kể.

    Tóm lại, trong giai đoạn 2010-2017 cầu về cà phê giảm đi. Chính vì vậy, nhằm khuyến khích tiêu dùng Chính phủ đã quy định trần để đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng.

    4 Những thuận lợi và khó khăn trong phạm vi kinh tế vi mô

    4.1 Thuận lợi
    Lợi thế về điều kiện tự nhiên.
    Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, lượng mưa phân bố, đất đỏ bazan thích hợp là các yếu tố cơ bản này tạo cho Việt Nam lợi thế mà các nước khác không có được.

    – Lợi thế về nhân công
    Sản xuất cà phê là loại hình yêu cầu nhiều nhân công có tính mùa vụ, không cần có kĩ thuật hay chuyên môn quá cao, chính vì thế có thể dễ dàng huy động được nhân công tại một quốc gia có dân số trẻ như Việt Nam.

    4.2 Khó khăn
    Công nghệ chăm sóc còn hạn chế
    Công nghệ ứng dụng trong gieo trồng và thu hoạch cây cà phê còn tồn đọng nhiều sự kém phát triển, công cụ còn lạc hậu yêu cầu nhiều nhân công, chưa ứng dụng được nhiều công nghệ cao trong sản xuất.

    Việc sản xuất cà phê còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ
    Diện tích canh tác trung bình của mỗi hộ dân chỉ từ 0,5 đến 1 hécta đã dẫn đến làm cho chi phí đầu tư tăng cao, sản phẩm kém ổn định, khó tiếp cận với những tiến bộ khoa học và thị trường tiêu thụ.

    Khó khăn trong việc dự báo
    Với việc bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cũng như yếu tố thời tiết, tình trạng được mùa và mất mùa, khiến cho công tác dự báo sự biến động của giá cà phê gặp nhiều khó khăn, dẫn đến những tình huống bất khả kháng.

    III. DỰ BÁO GIÁ CÀ PHÊ TRONG GIAI ĐOẠN 2018 – 2020

    1. Cung cà phê

    1.1 Mô hình sản xuất mới

    Từ năm 2016, chính phủ đang định hướng để sản xuất cà phê bền vững hay cà phê có chứng nhận loại hình cà phê bền vững phổ biến hiện nay như: 4C (nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê). Qua kiểm tra thực tế của Bộ Khuyến nông, các mô hình trồng cà phê 4C tiết kiệm được lượng phân bón từ 10-20%, giảm được từ 50 – 60% về thuốc bảo vệ thực vật, và giúp tiết kiệm 30% lượng nước tưới so với mô hình truyền thống. Qua tính toán chung, trồng 1 ha cà phê theo tiêu chuẩn 4C, người dân sẽ tiết kiệm được vốn đầu tư từ 14-26 triệu đồng và năng suất thì tăng lên từ 10-15%.

    Hiện nay số lượng áp dụng tiêu chuẩn 4C đang tăng lên giúp người dân giảm chí phí sản suất, tăng lợi nhuận, và tăng lượng cung.

    1.2 Sức ép từ giá nguyên vật liệu đầu vào.

    Giá phân bón tăng lên do lượng cung từ Trung Quốc giảm và thuế bảo vệ môi trường Chính phủ áp dụng. Theo điều tra 99% hộ dân có dùng phân bón để sản xuất: chí phí phân bón chiếm tỉ lệ cao nhất 41% tổng chi phí sản xuất cà phê. Với việc chi phí yếu tố đầu vào ngày càng tăng lên người dân sẽ muốn thu hẹp sản sản xuất vì lợi nhuận giảm.

    Thêm vào đó từ năm 2016, khó khăn trong việc tìm kiếm công nhân mùa vụ khi giá nhân công tại chỗ chỉ khoảng 150.000 đồng/người/ngày, giờ tăng lên 200.000-220.000 đồng/ngày. Không được chăm sóc thu hoạch kịp thời gây ảnh hưởng tới sản lượng chất lượng cà phê làm lượng cung giảm.

    1.3 Sức ép từ yếu tố tự nhiên.

     

    Trong những năm gần đây, do sự ảnh hưởng của việc nóng lên toàn cầu gây ảnh hưởng rất nhiều đến sản lượng cà phê. Năm 2016 nông dân Việt Nam bị chịu ảnh hưởng nặng khi hạn hán xảy ra, làm giảm lượng cung, điều này cũng lý giải cho việc giá tăng vào năm 2016. Theo những biến đổi thời tiết gần đây của Việt Nam các năm sau hạn hán sẽ còn xảy ra, công tác phòng trống hạn hán chưa được đảm bảo, dẫn tới lượng cung sẽ có nguy cơ sụt giảm.

    Năm 2017 được mùa nhưng mất giá tiếp diễn ra càng khiến cho người nông dân muốn chuyển sang trồng cây tiêu có giá cao hơn và trông chăm sóc dễ hơn. Giá cà phê dao động trong khoảng 30.000đ đến hơn 40.000đ trong khi giá tiêu từ 60.000 – xung quanh 70.000đ. Nếu tình trạng trồng cây không thu được lãi như mong đợi liên tiếp diễn ra thì trong mùa vụ tiếp theo có khả năng diện tích trồng cà phê sẽ giảm và lượng cung sẽ giảm.

    2. Cầu về cà phê của Việt Nam

    Người Việt Nam ngày càng ưa thích sử dụng cà phê. Bên cạnh đó, theo số liệu cục thống kê Việt Nam đưa ra Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm chi 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016. Thu nhập của người dân tăng mạnh mức chi tiêu cho cà phê cũng tăng. Theo báo cáo Ngành Nông nghiệp Việt Nam Qúy 3/2017 của BMI Research, trong giai đoạn từ năm 2005-2015, lượng tiêu thụ cà phê của Việt Nam tăng trưởng mạnh từ 0,43 kg/đầu người/năm lên 1,38 kg/đầu người/năm. Dân số Việt Nam có khoảng 60 triệu người đang trong tỉ lệ lao động – Họ là đối tượng có nhu cầu sử dụng cà phê lớn nhất

    => Cầu về cà phê của người tiêu dùng trong nước tăng.

    Nhiều công ty nước ngoài như: RITA VÕ, KING COFFE … đã lập kế hoạch đầu tư nhà máy rang xay sản xuất cà phê ở Việt Nam trong thời gian 2018-2030. Điều này tạo ra một tiềm năng lớn cho nhà sản xuất cà phê nội địa và sẽ làm tăng lượng cầu với cà phê Việt Nam

    Tuy nhiên, Cầu cà phê từ phía các doanh nghiệp mua để bán XNK lại chững lại và có xu hướng giảm nhẹ do lượng dữ trữ trong kho niên vụ vẫn còn. Bên cạnh đó từ 2018, cầu cà phê của doanh nghiệp xuất khẩu giảm vì họ kì vọng giá giảm dẫn đến chi phí kho bãi tăng lên từ hoạt động đầu cơ, buộc họ phải mua đầu vào với giá thấp thì mới thu đc lời từ kinh doanh chênh lệch

    Xét trên tổng thể, dù lượng cầu nội địa từ phía người tiêu dùng tăng nhưng lượng cầu từ phía các doanh nghiệp xuất khẩu và giảm làm cho tổng cầu về cà phê giảm nhẹ

          Kết luận: Dựa trên những phân tích về Cung- Cầu thông qua các sự kiện có khả năng sẽ xảy ra và ảnh hưởng đến thị trường Cà phê như trên, chúng ta có thể đưa ra phỏng đoán tương lai:  Cung cà phê có thể sẽ giảm, Cầu cà phê có thể giảm nhẹ.

    Ban đầu: Thị trường CB tại Eo (Po, Qo)

    Do yếu tố ngoại sinh

    QD↓ → Đường cầu dịch trái

    QS↑↑ → Đường cung dịch phải

    TTCB tại E1(P1, Q1)

     

    Nguồn tham khảo

    1. Tạ Thị Lệ Yên- TS. Nguyễn Thị Thu Hà ,”Chương 2: CUNG- CẦU”, Giáo trình Kinh tế Vi mô, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội, 2017.
    2. David Begg, Rugiger Dombush, Economics, Third edition, 1991, McGraw Hill.
    3. Robert S.Pindyck, Daniel L. Rubinfeld, Microeconomics, Third edition, 1995, Prientice-Hall International, Inc.
    4. Thu Phương- phóng viên theleader, “Vua xuất khẩu cà phê” Đỗ Hà Nam, năm 2018, xem tại: http://theleader.vn/vua-xuat-khau-ca-phe-do-ha-nam-co-cam-giac-bo-tai-chinh-dang-tan-thu-thue-20180115234714138.htm
    5. Thanh Nga – Trồng cà phê theo tiêu chuẩn 4C: Lợi ích về nhiều mặt, năm 2017, xem tại: http://baodaknong.org.vn/kinh-te/trong-ca-phe-theo-tieu-chuan-4c-loi-ich-ve-nhieu-mat-51607.html
    6. Diệc Quyền – Bằng Long , Cà phê được mùa nhưng nông dân vẫn… “méo mặt” vì rớt giá, năm 2017, xem tại: http://khoahocthoidai.vn/ca-phe-duoc-mua-nhung-nong-dan-van-meo-mat-vi-rot-gia-6338.html
    7. Biên tập viên Trúc Gia, Người nông dân chuyển đổi trồng tiêu do giá cà phê giảm, năm 2016, xem tại: http://123chienluoc.com/bai-viet/HANG-HOA-THOI-TIET-CHINH-SACH/Nguoi-nong-dan-chuyen-doi-trong-tieu-do-gia-ca-phe-giam
    8. Bích Nhật- Thời bán Ngân hàng, Giá phân bón tăng mạnh, năm 2017, xem tại: http://cafef.vn/gia-phan-bon-tang-manh-20171225170243489.chn
    9. Phóng viên Báo mới – GDP 2017 tăng trưởng ngoạn mục, đạt 6,81%, năm 2017, xem tại: https://baomoi.com/gdp-2017-tang-truong-ngoan-muc-dat-6-81/c/24429432.epi
    10. Phóng viên Báo mới – RITAVÕ lấn sân sản xuất cà phê rang xay, năm 2016, xem tại: https://baomoi.com/ritavo-lan-san-san-xuat-ca-phe-rang-xay/c/19840570.epi
    11. Nguồn: Đức Quỳnh,“Tiêu thụ cà phê Việt Nam tăng gấp 3 lần trong vòng 10 năm”, 2017, xem tại: http://ndh.vn/tieu-thu-ca-phe-viet-nam-tang-gap-3-lan-trong-vong-10-nam-20170907043614625p4c150.news.
    12. Nguồn: N.Mạnh, “Năm 2017, thu nhập bình quân mỗi người Việt tăng thêm 170 USD”, 2017, xem tại: http://soha.vn/nam-2017-thu-nhap-binh-quan-moi-nguoi-viet-tang-them-170-usd-20171228094938646.htm
    13. GVHD Nguyễn Anh Trụ, tiểu luận tìm hiểu thị trường và giá cả xuất khẩu cà phê Việt Nam (năm 2011), xem tại: http://doc.edu.vn/tai-lieu/tieu-luan-tim-hieu-thi-truong-va-gia-ca-xuat-khau-ca-phe-viet-nam-46643/.
    14. Tổng cục Thống kê; tình hình kinh tế xã hội năm 2012, năm 2013, xem tại: https://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=13419.
    15. Bộ Công Thương, Báo cáo của USDA về cà phê Việt Nam niên vụ 2008/09 và 2009/10, 4/6/2010, xem tại: https://giacaphe.com/12738/bao-cao-cua-usda-ve-ca-phe-viet-nam-nien-vu-2008-2009-va-2009-2010/.
    16. Trung tâm thông tin phá triển Nông nghiệp Nông Thôn, Xuất khẩu cafe của nước ta năm 2007 và dự báo năm 2008, năm 2007, xem tại:http://agro.gov.vn/vn/tID7389_Xuat-khau-ca-phe-cua-nuoc-ta-nam-2007-va-du-bao-nam-2008.html
    17. Trung tâm thông tin phá triển Nông nghiệp Nông Thôn, Xuất khẩu cafe của nước ta năm 2008 và dự báo năm 2009, năm 2008, xem tại:http://agro.gov.vn/vn/tID7852_Ca-phe-Viet-Nam-dung-truoc-co-hoi-lon-.html
    18. Anh Văn-Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột, Giá cà phê Robusta đứng vững 06-02-2018, 2018, xem tại https://giacaphe.com/56298/gia-ca-phe-robusta-van-dung-vung-06-02-2018/
    19. Hà Nguyễn- Phóng viên báo Thanh Niên, Nông dân lo lắng vì cà phê được mùa nhưng mất giá, năm 2017, xem tại: https://thanhnien.vn/kinh-doanh/nong-dan-lo-lang-vi-ca-phe-duoc-mua-nhung-mat-gia-900218.html
    20. Linh Lan- phóng viên Theleader, Thương lái găm hàng làm thị trường cà phê ảm đạm, 2017, xem tại: http://theleader.vn/thuong-lai-gam-hang-lam-thi-truong-ca-phe-am-dam-201712151611013.htm
    21. Hồ Nhật Hưng, “Khó khăn và hạn chế trong thị trường cà phê Việt Nam”, 2017, Hà Nội
  • Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-v%C3%A0-c%C3%A1c-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-gi%C3%A1n-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BB%A7a-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Lời nói đầu

    Hiện nay, việc vận dụng các chính sách kinh tế tài chính nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng của Việt Nam có rất nhiều tiến bộ so với thời kỳ trước cả về trình độ vận dụng lẫn hiệu quả kinh tế. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện không phải là không còn những tồn tại. Em hoàn thành bài viết này với mong muốn tìm hiểu thêm được một số nội dung của việc vận dụng chính sách tiền tệ, đặc biệt là sử dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ phục vụ cho nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế ở Việt Nam. Và em cũng xin mạnh dạn đưa ra ý kiến để hy vọng góp phần giúp các nhà hoạch định vận dụng có hiệu quả hơn các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Bài viết được hoàn thành dựa trên quá trình tổng hợp các tài liệu bàn về tình hình nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới và kết hợp tham khảo báo, tạp chí chuyên ngành từ năm 1997 trở lại đây để hiểu được lý luận vấn đề và có thực tiễn đối chứng.

    Bố cục của bài viết được chia làm 2 chương:

    • Chương I: Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách

    tiền tệ.

    2

    • Chương II: Thực trạng của việc ngân hàng trung ương sử dụng các

    công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua và một số giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả hơn các công cụ này ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

    3

    Chương I: Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp

    của chính sách tiền tệ.

    1.Chính sách tiền tệ và Ngân hàng trung ương

    Khi nói đến hệ thống chính sách kinh tế – tài chính vĩ mô của chính phủ không thể phủ nhận được vai trò của chính sách tiền tệ là rất quan trọng.

    Chính sách tiền tệ có rất nhiều định nghĩa khác nhau theo các cách hiểu khác nhau của các học giả cũng như các nhà nghiên cứu. Vậy nên chỉ xin nêu lên một định nghĩa mang tính phổ dụng nhất: “Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định”.<trích Giáo trình Lý thuyết tiền tệ. Trường ĐHTCKT Hà Nội 1998. Trang 146>

    6

    Chính sách tiền tệ được chia làm hai khuynh hướng: chính sách thắt chặt tiền tệ và chính sách nới lỏng tiền tệ. Chính sách thắt chặt tiền tệ là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế đầu tư, ngăn ngừa tình trạng phát triển quá đà của nền kinh tế… Còn chính sách nới lỏng tiền tệ là việc cung ứng thêm tiền vào trong lưu thông nhằm khuyến khích đầu tư phát triển, tạo thêm công ăn việc làm…Việc sử dụng chính sách nào trong hai chính sách này là tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của nền kinh tế mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ nhất định.

    Trước khi nói thêm về chính sách tiền tệ xin được nói lướt qua về Ngân hàng trung ương, bởi Ngân hàng trung ương chính là cơ quan hữu trách sử dụng chính sách tiền tệ như một “vũ khí” để quản lý các hoạt động tiền tệ tín dụng. Qua các hoạt động này Ngân hàng trung ương thể hiện được vai trò của mình trong nền kinh tế. Và đối với Ngân hàng trung ương Việt nam thì vai trò của nó lúc nào cũng được đánh giá rất cao trong nền kinh tế quốc dân bởi Ngân hàng trung ương có các vai trò thiết yếu như sau:

    7

    – Ngân hàng trung ương góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế – xã hội, thông qua điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông.

    • Ngân hàng trung ương thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế.
    • Ngân hàng trung ương ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
    • Ngân hàng trung ương chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng.

    Và như đã khẳng định ở trên: vai trò của chính sách tiền tệ là rất quan trọng. Đó là bởi vì chính sách tiền tệ có ba mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và kiểm soát lạm phát. Quả thật ba mục tiêu này luôn là các mục tiêu “tối hậu” làm trăn trở bất cứ nhà chính trị, nhà lãnh đạo một quốc gia nào. Hướng tới các mục tiêu này, sử dụng chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương Việt Nam phải làm gì ? Ngân hàng trung ương Việt Nam đã thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.

    2.Các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    Các công cụ của chính sách tiền tệ được chia ra làm hai nhóm chính là công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp. Công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ bao gồm:

    8

    • Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay.
    • Ấn định hạn mức tín dụng.
    • Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và cho đầu tư.
    • Phát hành lượng trái phiếu nhà nước để làm giảm lượng tiền trong lưu thông.

    Còn các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ bao gồm:

    • Dự trữ bắt buộc.
    • Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn.
    • Thị trường mở.

    Tại các quốc gia phát triển khác trước đây và tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, việc Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ là chủ yếu bởi cơ chế thị trường chưa phát triển chính là môi trường thuận lợi cho việc sử dụng các công cụ trực tiếp và bởi vì kết quả các công cụ này được thể hiện ngay lập tức, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế. Nhưng xu thế hiện nay là các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ đang được sử dụng thay thế dần dần cho các công cụ trực tiếp bởi các công cụ gián tiếp tạo điều kiện cho

    9

    ngân hàng thương mại nói riêng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung tạo được sự linh hoạt, uyển chuyển và nhanh nhạy đối với cơ chế thị trường luôn luôn biến đổi, nhiều phức tạp đang diễn biến từng ngày, từng giờ và giúp cho nhà nước có thể quản lý có chiều sâu đối với nền kinh tế(tức là chủ động và “dài hơi” hơn cho các quyết định đối với nền kinh tế). Cũng xin nói thêm là việc chuyển sự kiểm soát tiền tệ từ các công cụ trực tiếp dần chuyển sang cho công cụ gián tiếp trên thực tế là một quá trình phức tạp và chậm. Vậy những công cụ trực tiếp vẫn có thể tồn tại cho đến khi các công cụ gián tiếp hoạt động mà không gây ra nguy cơ phá vỡ cơ chế kiểm soát tiền tệ chung. Và trừ phi hai hệ thống công cụ này hoà hợp với nhau hoàn toàn (mà điều này khó có thể xảy ra trong thực tế) còn thì hướng chiến lược vẫn là chuyển trọng tâm sang công cụ gián tiếp càng sớm càng tốt và hạn chế dần sử dụng các công cụ trực tiếp.

    Xin được nhận định rằng không có một công cụ nào mang tính hoàn hảo tuyệt đối cho con người trong quá trình sử dụng mà chúng luôn có những điểm mạnh xen kẽ với những điểm yếu. Bởi vậy, khi nói về các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ thì xin điểm qua

    10

    những ưu điểm cũng như nhược điểm của các công cụ này nhằm phục vụ cho việc nhìn lại những thành công cũng như những điều chưa thành công trong quá trình sử dụng các công cụ này. Và chính điều này giúp chúng ta nắm bắt toàn diện các công cụ này để khi vận dụng các công cụ này, chúng ta có cơ sở để xác định và tiến hành những động thái đúng đắn nhằm hạn chế thấp nhất các nhược điểm và phát huy tối đa những mặt mạnh của các công cụ này.

    2.1.Công cụ dự trữ bắt buộc

    Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thương mại phải mở tài khoản và đưa vào gửi tại Ngân hàng trung ương theo luật định. Dự trữ bắt buộc là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn khả dụng của ngân hàng: nó có thể điều chỉnh việc tạo tiền thông qua hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Và nó chính là một phương tiện cho Ngân hàng trung ương sử dụng để kiểm soát khối lượng tín dụng và làm thay đổi lượng cung vốn cho nền kinh tế. Những thay đổi trong dự trữ bắt buộc tác

    11

    động đến cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ.

    Khi tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm giảm khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng thương mại, từ đó làm giảm lượng tiền trong lưu thông, góp phần giảm cầu tiền để cân bằng với sự giảm cung xã hội.

    Khi giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì ngược lại sẽ làm tăng khả năng bành trướng tín dụng của ngân hàng thương mại khiến cho lượng tiền trong lưu thông gia tăng và làm cho tăng cung xã hội để cân đối tăng cầu về tiền.

    • Ưu điểm của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung ứng tiền tệ là nó có thể tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và có tác dụng mạnh mẽ đến cung ứng tiền tệ.
    • Nhược điểm của dự trữ bắt buộc là: Dự trữ bắt buộc không thích hợp đối với những thay đổi nhỏ trong tỉ lệ dự trữ bắt buộc vì khi có những thay đổi như vậy thì chi phí quản lý lại vượt quá lợi ích mang lại. Điều này là không thiết thực, cũng như “giết gà lại dùng đến dao mổ trâu“. Một điểm bất lợi khác của công cụ này là khi

    12

    tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ làm cho khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại giảm khả năng thanh toán. Và nếu tỉ lệ dự trữ bắt buộc luôn thay đổi, mất tính ổn định thì cũng gây ra sự mất ổn định trong hoạt động thanh toán và hoạt động quản lý của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn.

    Hiện nay, đang có những kiến nghị cải cách dự trữ bắt buộc. Tuy vậy, việc quyết định giải quyết dự trữ bắt buộc theo hướng nào vẫn đang là vấn đề được các nhà hoạch định kinh tế xem xét, thảo luận.

    2.2.Công cụ lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn

    Tái chiết khấu và tái cấp vốn là các phương thức mà Ngân hàng trung ương cho vay các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác thông qua cho vay dựa trên hình thức chiết khấu lại các chứng từ có giá.

    Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn, Ngân hàng trung ương có thể tác động đến khả năng vay của các ngân hàng thương mại. Và thông qua đó làm cho cung cầu về tiền tệ có sự thay đổi. Khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn tăng lên, các ngân hàng

    13

    thương mại sẽ bất lợi nếu vay vốn của Ngân hàng trung ương. Trong điều kiện như vậy, các ngân hàng thương mại sẽ không có khả năng mở rộng cho vay tín dụng. Ngược lại, khi lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn giảm, các ngân hàng thương mại do được lợi trong việc chiết khấu lại với Ngân hàng trung ương nên sẽ có điều kiện mở rộng khả năng cho vay tín dụng.

    • Ưu điểm: lợi điểm chủ yếu của công cụ này chính là thông qua nó mà Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. Đây là công việc thể hiện rõ nét vai trò của Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế và là yêu cầu cực kỳ quan trọng để tiến hành chính sách tiền tệ thành công. Thông qua công cụ này thì

    Ngân hàng trung ương sẽ giúp nền kinh tế tránh khỏi các cơn sụp đổ tài chính bởi mỗi khi các ngân hàng thương mại bị đe doạ phá sản thì dự trữ lập tức được điều đến ngân hàng cần vốn. Ngoài ra công cụ này còn có ưu điểm là việc vay mượn được thực hiện trên nền của các loại giấy tờ có giá, nên thời hạn thanh toán tương đối rõ ràng tạo điều kiện cho việc hoàn trả. Đồng thời, qua biện pháp này thì tiền vay sẽ vận động phù hợp với kinh tế thị trường. Tuy có

    14

    ưu điểm quan trọng như vậy nhưng công cụ này cũng còn tồn tại không ít những nhược điểm.

    • Nhược điểm:

    Thứ nhất, khi Ngân hàng trung ương thay đổi lãi suất tái chiết khấu thì lại khiến cho những suy đoán sai lệch về ý định của Ngân hàng trung ương.

    Thứ hai, khi Ngân hàng trung ương ấn định một mức lãi suất tái chiết khấu đặc biệt nào đó thì sẽ gây ra chênh lệch lớn giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất thị trường.

    Thứ ba, công cụ này còn có những hạn chế kỹ thuật và cứng nhắc. Thể hiện: Ngân hàng trung ương cấp tiền cho các ngân hàng thương mại một cách máy móc; việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu là một quyết định quan trọng của chính sách tiền tệ thì lại ít được thực hiện; cùng với nghiệp vụ tái chiết khấu thì Ngân hàng trung ương chỉ có thể cấp tiền cho các ngân hàng thương mại nhưng không thu lại được.

    Thứ tư, thực tế cho thấy, hiện nay, sự tác động của lãi suất tái chiết khấu chưa hiệu quả nếu lãi suất tái chiết khấu cao hơn so với lãi suất chiết khấu. Bởi các ngân hàng thương mại (trong điều kiện bình

    15

    thường) sẽ không chiết khấu lại ở Ngân hàng trung ương mà lại có sự điều tiết qua lại giữa các ngân hàng thương mại này.

    2.3.Công cụ thị trường mở

    Công cụ thị trường mở là chỉ việc Ngân hàng trung ương mua bán các giấy từ có giá trên thị trường tài chính nhằm điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông.

    Nếu Ngân hàng trung ương muốn gia tăng lượng tiền trong lưu thông thì Ngân hàng trung ương sẽ mua vào một lượng giấy tờ có giá nhất định. Khi Ngân hàng trung ương tiến hành động thái trên thì tiền trung ương sẽ đi vào trong lưu thông và các giấy tờ có giá sẽ nằm lại ở Ngân hàng trung ương.

    Ngược lại, khi Ngân hàng trung ương thấy cần phải giảm lượng tiền trong lưu thông thì Ngân hàng trung ương lại tổ chức bán các giấy tờ có giá mà mình đang nắm giữ ra thị trường tài chính, thu bớt tiền trong lưu thông về cất trữ.

    Nội dung hoạt động của công cụ thị trường mở chính là cơ sở thể hiện cho chúng ta thấy những ưu, nhược điểm của công cụ này.

    16

    • Ưu điểm: nói chung thị trường mở tiến bộ hơn các công cụ khác. Bởi

    vì:

    Thứ nhất, Ngân hàng trung ương thông qua nghiệp vụ này kiểm soát toàn bộ thị trường tự do. Mà việc kiểm soát này là không thể thực hiện được thông qua công cụ tái chiết khấu vì với tái chiết khấu, Ngân hàng trung ương chỉ khuyến khích việc chiết khấu của các ngân hàng thương mại hay không mà thôi chứ không kiểm soát được lượng giấy tờ có giá đem chiết khấu.

    Thứ hai, nghiệp vụ này rất linh hoạt và chính xác. Thể hiện: với bất kỳ mức độ nào khi muốn thay đổi dự trữ bắt buộc hay cơ số tiền tệ, Ngân hàng trung ương chỉ việc bán ra thị trường một lượng giấy tờ có giá tuỳ ý.

    Thứ ba, khi sử dụng công cụ thị trường mở thì nếu có sai sót xảy ra thì Ngân hàng trung ương cũng dễ dàng sửa chữa những sai lầm của mình.

    Thứ tư, hoạt động trên thị trường tự do nhanh chóng, tránh được những chậm trễ về mặt hành chính.

    17

    Muốn sử dụng tốt công cụ thị trường mở đòi hỏi sự phát triển nhất định của cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt (có nghĩa là tiền trong lưu thông phần lớn phải nằm trên tài khoản tại ngân hàng). Chúng ta đã biết rằng xu thế trong tương lai trên toàn thế giới việc sử dụng tiền mặt đang dần bị thay thế bởi các phương tiện thanh toán khác như tiền chuyển khoản, tiền điện tử, ngân phiếu, thương phiếu…

    Cho nên điều kiện này thì sớm hay muộn cũng hình thành. Nhưng vấn đề là thời gian là quan trọng nên buộc Ngân hàng trung ương cần phải có những giải pháp để tạo lập thị trường tài chính đích thực để công cụ thị trường mở phát huy tác dụng.

    Nói tóm lại, các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là các công cụ điều tiết nền kinh tế rất quan trọng. Chúng có tác động trực tiếp đến cung ứng tiền tệ thông qua kiểm soát khối lượng cho vay của ngân hàng, mức lãi suất và khối tiền tệ nói chung. Và bên cạnh những nhược điểm nội tại thì với những ưu điểm sẵn có thì các công cụ này đang có tiềm năng lớn trong vấn đề ổn dịnh và phát triển kinh tế mỗi quốc gia.

    18

    19

    Chương II: Thực trạng của việc ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua và một số giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả hơn các công cụ này ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

    1.Thực trạng sử dụng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ

    trong thời gian qua tại Việt Nam

    Dù nói nền kinh tế Việt Nam trong những năm đã qua là tốt hay xấu thì thực tế việc sử dụng các công cụ nói chung và các công cụ gián tiếp nói riêng trong chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã có những tác động nhất định đáp ứng cho yêu cầu của tình hình kinh tế trong nước.

    1.1.Công cụ dự trữ bắt buộc

    Dự trữ bắt buộc là một công cụ quan trọng để điều hoà lưu thông tiền tệ. Thông qua việc thực hiện chế độ này, Ngân hàng trung ương

    20

    điều hành tổng phương tiện thanh toán thông qua cơ chế tác động đến khối lượng và giá cả tín dụng của các tổ chức tín dụng. Từ năm 1991, công cụ điều hoà lưu thông tiền tệ này được đưa áp dụng ở Việt Nam. Theo pháp lệnh ngân hàng, tỉ lệ dự trữ bắt buộc có thể giao động trong khoảng từ 10% đến 35% trong nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng. Song khi xét tới hoàn cảnh thực tế, tiềm lực của các tổ chức tín dụng Việt Nam (kể cả ngân hàng thương mại quốc doanh)là còn tương đối yếu và do lạm phát cao nên mức dự trữ bắt buộc được ấn định là 10%, đồng thời coi phần tiền mua tín phiếu kho bạc và tiền mặt tại quỹ cũng là thành phần tiền dự trữ cùng với việc phân biệt tỉ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau đối với tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn. Tuy nhiên, chế độ dự trữ bắt buộc lại chưa được áp dụng đối với các hợp tác xã tín dụng và các quỹ tín dụng nhân dân.

    Sau đó, từ những năm 1994, 1995 trở đi, đứng trước tình hình lạm phát diễn biến thất thường, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của công cụ dự trữ bắt buộc. Đó là áp dụng cách điều chỉnh linh hoạt tỉ lệ dự trữ bắt buộc trong khuôn khổ cho phép, thống nhất một tỉ lệ dự trữ bắt buộc cho các loại tiền

    21

    gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, bỏ hẳn phần tiền mua tín phiếu kho bạc trong cơ cấu tiền dự trữ bắt buộc, thực hiện truy đổi hay hoàn lại tiền lãi đối với số tiền vượt hay hụt mức dự trữ, xử phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm.

    Từ cuối năm 1997, Ngân hàng nhà nước Việt Nam lại hoàn thiện thêm một bước công cụ dự trữ bắt buộc với các mặt sau:

    Thứ nhất, đối tượng thi hành quy chế dự trữ bắt buộc là các ngân hàng thương mại quốc doanh và cổ phần Việt Nam, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, các ngân hàng liên doanh hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, các công ty tài chính. Những tổ chức tín dụng trực thuộc các chủ thể trên có thể được miễn thi hành nghĩa vụ dự trữ bắt buộc trong từng thời kỳ nhất định nếu tổng số tiền huy động được quá thấp (dưới 500 triệu đồng).

    Thứ hai, số tiền gửi huy động được dùng để tính dự trữ bắt buộc bao gồm các khoản tiền bằng nội tệ cũng như bằng ngoại tệ. Số tiền gửi này có kỳ hạn là 24 tháng trở lại và tỉ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng đồng loạt là 10% tính trên tổng số tiền gửi loại này huy động được.

    22

    Thứ ba, cơ cấu của tiền dự trữ bắt buộc bao gồm: tiền dự trữ bắt buộc trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại Ngân hàng nhà nước (tối thiểu là 70% của tổng số tiền dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng), tiền mặt tại quỹ và ngân phiếu còn giá trị thanh toán tại quỹ của tổ chức tín dụng (tối đa là 30% của tổng số tiền dự trữ bắt buộc).

    Thứ tư, Ngân hàng nhà nước không trả lãi cho số tiền gửi dự trữ bắt buộc trong phạm vi nghĩa vụ nhưng sẽ trả lãi cho phần gửi dự trữ bắt buộc vượt yêu cầu (lớn hơn 10%) theo lãi suất 0,2%/tháng. Đồng thời, đối với số thiếu hụt so với nghĩa vụ thực hiện dự trữ bắt buộc thì Ngân hàng nhà nước sẽ phạt khoản tiền này với lãi suất là 200% so với lãi suất cho vay tái cấp vốn.

    Thực tế, xét trên một chừng mực nhất định, các biện pháp trên đã duy trì tăng trưởng cao của nền kinh tế đồng thời lại kiềm chế lạm phát nhưng việc sử dụng chính sách thắt chặt này đã cho thấy ngay hậu quả là từ năm 1998 cho đến 6 tháng đầu năm 2000, nền kinh tế Việt Nam chìm trong tình trạng thiểu phát khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy giảm. Trong năm 1999, tỉ lệ dự trữ bắt buộc cũng 2 lần được điều chỉnh: giảm từ mức 7% xuống 5% rồi xuống còn 3% đối với ngân hàng thương mại và các công ty tài chính còn đối với ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn,

    23

    quỹ tín dụng trung ương, quỹ tín dụng khu vực thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng có 1% (từ 1/9/1999). Động thái này của Ngân hàng trung ương cho thấy Chính phủ muốn thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu để tăng lượng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế, đặc biệt là tăng thêm vốn đầu tư cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước.

    1.2.Công cụ lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn

    Tái cấp vốn và lãi suất tái cấp vốn được Ngân hàng trung ương Việt Nam sử dụng làm công cụ điều tiết việc mở rộng hay thu hẹp tổng lượng tiền hay là tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Từ năm 1991, ở Việt Nam, nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cấp vốn mới được sử dụng như là hình thức cấp vốn lại. Và việc tái cấp vốn này cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thông qua cầm cố các chứng từ có giá như khế ước cho vay, tín phiếu kho bạc… với lãi suất tái cấp vốn là 100% trên lãi suất của các loại chứng từ này.

    Ngày 14/06/1999, Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ký quyết định số 358/QĐ-NHNN ban hành quy chế về nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo quyết định này nghiệp vụ chiết khấu là việc Ngân hàng

    24

    trung ương mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng, đã được các ngân hàng mua hoặc đấu thầu trên thị trường sơ cấp; còn nghiệp vụ tái chiết khấu là việc ngân hàng nhà nước thực hiện mua lại các loại giấy tờ có giá ngắn hạn, còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng, đã được các ngân hàng chiết khấu trên thị trường thứ cấp. Điểm mấu chốt của quyết định này là Ngân hàng nhà nước chỉ chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn là các tín phiếu kho bạc nhà nước được phát hành thông qua đấu thầu ngân hàng nhà nước hay còn gọi là tín phiếu ngân hàng nhà nước. Còn đối với các loại giấy tờ có giá khác thì sẽ tuỳ theo điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam sẽ quy định xem nó có phải là đối tượng để tái chiết khấu hay không. Quyết định này được coi là một trong những “viên gạch” đặt nền móng cho việc mở rộng hơn việc sử dụng công cụ này ở Việt Nam.

    Trong năm 1999, nghiệp vụ lãi suất tái chiết khấu đã chính thức được thực hiện ở Việt Nam với lãi suất cụ thể là 0.45%/tháng nhưng hiện nay tỉ lệ này đã giảm xuống chỉ còn 0.35%/tháng. Cũng trong năm 1999, lãi suất tái cấp vốn là 1.1%/tháng đã 3 lần được điều chỉnh với các lãi suất tương ứng là 0.85%/tháng, 0.7%/tháng, 0.5%/tháng. Việc giảm lãi suất tái cấp

    25

    vốn và tái chiết khấu là nhằm nới lỏng hơn sự can thiệp của Ngân hàng trung ương vào hoạt động của các ngân hàng thương mại để giúp cho việc huy động vốn trong nền kinh tế dễ dàng, thuận lợi hơn. Nhưng cũng có thể là Ngân hàng trung ương đã nhìn thấy trước diễn biến nền kinh tế Việt Nam trong năm 1999-2000 là tình trạng thiểu phát(6 tháng đầu năm 2000, tỉ lệ lạm phát bình quân có 0.1%) nên đã có sự điều chỉnh cho phù hợp.

    1.3.Công cụ thị trường mở

    Công cụ thị trường mở được coi là công cụ chiến lược điều chỉnh lưu thông tiền tệ hữu hiệu nhất trong nền kinh tế thị trường phát triển hoàn chỉnh. Ở nước ta cho đến nay, thị trường tài chính trong đó có thị trường chứng khoán chưa phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện như vậy, Ngân hàng nhà nước đã mạnh bạo kiến tạo môi trường cần thiết cho việc vận dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở bằng việc đưa vào hoạt động các nhánh của thị trường tiền tệ:

    • Cho đến nay, thị trường tiền gửi đã được cải thiện. Nhiều hình thức huy độngvốn mới được áp dụng để tạo ra nguồn vốn ngắn hạn cũng như

    trong dài hạn. Nhờ vốn huy động gia tăng không ngừng, hoạt động tín dụng trong nền kinh tế quốc dân cũng gia tăng mạnh mẽ, đáp ứng tích cực

    26

    nhu cầu vốn để tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

    • Thị trường nội tệ liên ngân hàng: khai trương từ cuối năm 1994, nhanh

    chóng trở thành trở thủ đắc lực thoả mãn nhu cầu vay mượn giữa các tổ chức tín dụng trước khi vay tái cấp vốn ở Ngân hàng nhà nước. Trên thị trường này, vai trò nổi bật thuộc về các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh hoạt động trên đất Việt Nam. Các ngân hàng này là những người cho vay lớn đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng như các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh tại Việt Nam.

    • Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đi vào hoạt động tháng 10 năm 1994 đang ngày càng được mở rộng, thu hút ngày càng nhiều các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ

    phần Việt Nam, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh tham gia. Nó đóng vai trò không thể thiếu trong việc xác định tỉ giá hối đoái giữa các tổ chức tín dụng thành viên. Đồng thời, nó cũng tạo ra các căn cứ chắc chắn để Ngân hàng nhà nước Việt Nam xác định tỉ giá hối đoái chuẩn (chính thức) hàng ngày. Nó còn được mở rộng và hoàn thiện thêm một bước để xoá bỏ việc cho vay ngoại tệ hiện nay.

    27

    • Thị trường tín phiếu kho bạc nhà nước chính thức đi vào hoạt động

    với chức năng cơ bản là thực hiện các cuộc bán đấu giá tín phiếu kho bạc và qua đấy thực hiện việc cho vay của ngân hàng đối với ngân sách nhà nước do thu chưa kịp để chi. Có thể nhận định rằng, đây là thị trường tiền thân của thị trường mở trong tương lai (thị trường mua bán , trao đổi các nguồn vốn ngoài ngân hàng).

    Khi đã có thị trường mở đúng nghĩa của nó, Ngân hàng nhà nước thông qua việc mua hay bán các chứng khoán có giá để tăng hoặc giảm mức cung tiền cho nền kinh tế.

    Thực tế đáng quan tâm tại Việt Nam là ngày 20/7/2000 trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay: nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế phát triển nhanh ,mạnh mẽ, liên tục trong thời gian qua và nhà nước muốn duy trì tình hình phát triển ổn định lâu dài của nền kinh tế.

    1.4.Thị trường chứng khoán Việt Nam

    Tuy thị trường chứng khoán chỉ là một bộ phận của công cụ thị trường mở nhưng xin được tách ra một mục riêng để phân tích thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam bởi thị trường chứng khoán là một vấn đề

    28

    kinh tế mới mẻ, đang thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam nói chung, tầng lớp sinh viên nói riêng. Đặc biệt là sự quan tâm theo dõi của sinh viên khối kinh tế (ĐHKTQD Hà Nội, ĐHTCKT Hà Nội, ĐHKT Tp Hồ Chí Minh …). Ý định thành lập thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã được nung nấu từ lâu nhưng tới giữa năm 2000 mới có điều kiện thành lập. Và việc thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh mới đang là những bước tập dượt cho kế hoạch thành lập Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam nhưng cũng là thể nghiệm cho hướng đi mới mẻ và đúng đắn của các nhà hoạch định nhằm đưa kinh tế Việt Nam từng bước đi lên theo kịp kinh tế khu vực, quốc tế và thế giới. Phiên giao dịch đầu tiên của trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK) diễn ra vào ngày 28/7/2000. Tính tới nay TTGDCK đã hoạt động được hơn 4 tháng. Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam mới có 5 loại cổ phiếu được niêm yết. Trong đó: các cổ phiếu chính thức từ khi thành lập TTGDCKTPHCM là 4 loại (của các công ty cổ phần SACOM, REE, TRANSIMEX, HAPACO) và loại cổ phiếu thứ 5 là của công ty cổ phần LAFOOCO đã được phép niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng chính thức sẽ giao dịch tại TTGDCK vào ngày 15/12/2000. Trong năm gần đây quá trình cổ phần hoá

    29

    các doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai trong toàn quốc và tính cho đến thời diểm hiện nay, tại Việt Nam có hơn 500 doanh nghiệp cổ phần. Những doanh nghiệp này chính là chủ thể “Người phát hành” chủ yếu phát hành chứng khoán (ngoài kho bạc nhà nước) trên thị trường chứng khoán sơ cấp. Vậy có phải điều kiện tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán là quá cao? Theo thống kê của cục Doanh nghiệp trực thuộc bộ Tài chính thì trong số các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa ở Việt Nam thì có khoảng hơn 70 doanh nghiệp đã có đủ điều kiện tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng họ vẫn không niêm yết. Nguyên nhân chủ yếu là sự dè dặt của các doanh nghiệp cổ phần hoá muốn chờ đợi xem sự vận động của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay ra sao chứ chưa muốn “nhảy vào cuộc”. Cho nên số doanh nghiệp cổ phần niêm yết giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam đang dừng ở con số ít ỏi là 5 doanh nghiệp. Nói chung: do mới hình thành ở Việt Nam, hoạt động trên thị trường chứng khoán còn có nhiều bỡ ngỡ, rụt rè và chưa đáp ứng được mục tiêu tạo lập của thị trường chứng khoán là huy động được nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ quá trình CNH-HĐH. Nhưng kết quả đã và đang đạt được là điều đáng khích lệ, là nền móng cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai.

    30

    2.Một số giải pháp để giúp cho việc thực hiện các công cụ gián tiếp hiệu quả hơn.

    2.1.Vấn đề sử dụng công cụ gián tiếp của một số nước trên thế giới trong việc điều hành nền kinh tế.

    Tại các quốc gia sớm có kinh tế thị trường và kinh tế thị trường phát triển hiện nay, việc sử dụng công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ dẫ được quan tâm và thực hiện từ lâu.

    Công cụ dự trữ bắt buộc :

    Chế độ dự trữ bắt buộc chủ yếu thích hợp với cơ chế tài chính của các nước Anh, Mỹ, Đức nhằm kiểm soát một cách tổng quát khối lượng tiền tệ của các ngân hàng thương mại. Thông qua sử dụng công cụ này, Ngân hàng trung ương các nước này có thể chủ động điều hoà khối lượng cung ứng tiền trung tâm. Nhưng đáng chú ý lại là việc sử dụng dự trữ bắt buộc của Pháp. Công cụ dự trữ bắt buộc đã được Ngân hàng trung ương Pháp sử dụng chính thức từ 1971. Cũng như hiện nay, từ thời gian đó thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc đã được Ngân hàng trung ương Pháp tính dựa trên cơ sở số dư tiền gửi và số dư nợ trên các tại khoản cho vay. Ngân hàng trung ương Pháp đã sử dụng dự trữ bắt buộc nhằm

    31

    điều hoà những chủ trương mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền tệ và tín dụng của ngân hàng thương mại, qua đó tác động đến quỹ tiền mặt của các ngân hàng, tác động đến thu chi ngân sách và cán cân thanh toán quốc tế.

    Công cụ lãi suất tái chiết khấu:

    Tính chu kỳ của quá trình tái sản xuất tư bản trong những năm gần đây chứng tỏ rằng nguyên tắc “lãi suất tái chiết khấu mà cao sẽ kìm hãm thị trường tiền tệ, lãi suất này thấp sẽ kích thích thị trường tiền tệ phát triển” đã không còn tác dụng nữa. Do vậy, hiện nay, một số nước tư bản phát triển đang tiến hành chính sách tái chiết khấu với lãi suất cao và không cần kìm hãm lãi suất thị trường đang tăng lên trong điều kiện tín dụng đang có nhu cầu cao và thị trường phát triển.

    Ở Mỹ, lãi suất tái chiết khấu nói riêng và lãi suất chiết khấu nói chung đã từng được coi là công cụ hoạt động chủ yếu của Ngân hàng trung

    ương trong thế kỷ 19 cho đến những năm 30 của thế kỷ 20. Về mặt lịch sử, chức năng trước tiên của Ngân hàng trung ương Mỹ là sẵn sàng cung cấp các nguồn thanh toán một cách kịp thời và đầy đủ vào nền kinh tế bất cứ lúc nào thông qua hệ thống ngân hàng thương mại khi nền kinh tế có nguy cơ suy thoái do thiếu tiền vì lạm phát gây ra. Luật

    32

    dự trữ liên bang Mỹ đã nêu ra cơ chế chiết khấu từ những năm 1913 trong điều kiện chưa có hoạt động của thị trường mở và vào thời điểm đó công cụ lãi suất tái chiết khấu là công cụ duy nhất của chính sách tiền tệ nước Mỹ. Thông qua công cụ này, mục tiêu chính của chính quyền Mỹ muốn ngăn ngừa việc tái diễn các cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách bơm tiền cho ngân hàng thương mại vào lúc cần thiết để giập tắt các làn sóng do hoảng loạn về mặt tâm lý đã ồ ạt kéo đến ngân hàng rút tiền ra. Tuy biện pháp này tương đối thành công lúc bấy giờ nhưng khi khủng hoảng tất cả các bộ phận trong nền kinh tế Mỹ vào những năm 1929-1933 thì công cụ này lại hoàn toàn mất tác dụng. Trong những năm 60-70, Ngân hàng trung ương Mỹ ít thay đổi lãi suất tái chiết khấu mà chỉ quy định mức lãi suất tái chiết khấu cơ bản đồng thời thay đổi dần công tác quản lý.

    2.2.Một số giải pháp đề nghị cho Ngân hàng trung ương trong công tác quản lý nền kinh tế có sử dụng các công cụ gián tiếp.

    Các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ là những công cụ mà tác dụng của nó có được là nhờ cơ chế thị trường. Chính vì vậy, cơ chế thị trường là điều kiện tiên quyết tác động đến sự “tồn tại” của các

    33

    công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ trên thực tế. Cơ chế thị trường ở đây không nói đến cơ chế thị trường đơn thuần và chỉ mang tính chất hình thức mà cơ chế thị trường xin đề cập là cơ chế thị trường hoàn chỉnh. Cơ chế thị trường thực sự, cơ chế thị trường hoàn chỉnh là cơ chế linh động cho phép mọi thành phần kinh tế có được sự tự do tương đối trong sản xuất kinh doanh và tránh sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào kinh tế. Nói về sự can thiệp của nhà nước cũng xin nói thêm rằng chỉ tránh sự can thiệp trực tiếp quá sâu còn vai trò “bàn tay hữu hình”của nhà nước (can thiệp gián tiếp) là vô cùng cần thiết để đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, an toàn, ổn định.

    Năm 1975, Việt Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước trải qua thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn 1976-1986, chúng ta xây dựng nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tập trung. Mô hình kinh tế này đã gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế làm ảnh hưởng bất lợi cho nền kinh tế quốc dân. Do vậy từ 1986, nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Và cũng chính bởi nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mới được chuyển đổi nên mặc dù chúng ta đã trải qua hơn 10 năm đất

    34

    nước đổi mới cũng là hơn 10 năm kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể thì vẫn xin khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa phải là nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, vẫn chưa có một cơ chế thị trường thực sự. Vậy nên chăng là cần có những điều chỉnh mang tính chất chiến lược cho kinh tế thị trường Việt Nam.

    Trong định hướng quốc gia 2000-2010, các nhà hoạch định chính sách cho thấy cơ bản là đã có những nới lỏng cho sự phát triển của kinh tế thị trường Việt Nam để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Các chính sách kinh tế quốc gia trong thời gian tới cần phải đạt tới những yêu cầu sau:

    Chính sách tín dụng:

    Đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, các thành phần và các vùng kinh tế.

    Chính sách lãi suất:

    Từng bước tự do hoá lãi suất (Ngân hàng trung ương chỉ không chế lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản, còn ngân hàng thương mại

    35

    tuỳ vào điều kiện của mình định ra mức lãi suất hợp lý, đảm bảo thu hút được vốn và kinh doanh có lãi).

    Chính sách quản lý ngoại hối và kinh doanh hối đoái:

    • Tăng cường quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia.
    • Thực hiện chế độ tỉ giá hối đoái linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước theo hướng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế và chủ động trong nhập khẩu.
    • Nhà nước cần có những biện pháp thích hợp để rút ngắn khoảng cách giữa thu và chi trong cấn cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế để cân bằng và bội thu cán cân.

    Chính sách đối với ngân sách:

    • Không phát hành tiền cho ngân sách chi tiêu nhưng trong điều kiện cần thiết Ngân hàng trung ương cho ngân sách vay ngắn hạn bằng cách mua tín phiếu kho bạc nhà nước ngắn hạn, còn khi nhà nước muốn vay dài hạn thị sẽ có thể vay qua thị trường chứng khoán dưới hình thức mua các loại trái phiếu, trái khoán.

    36

    • Những khoản vay nước ngoài để bù đắp chi tiêu ngân sách

    không được sử dụng cho chi thường xuyên mà chỉ để phát triển cơ sở hạ tầng.

    Tuy trên đây là mục tiêu kinh tế chiến lược nhưng tính cụ thể, tính thực tế đòi hỏi trong thời gian tới, về mặt sử dụng các công cụ gián tiếp trong tham gia điều tiết nền kinh tế vẫn cần có những biện pháp hoàn thiện các công cụ này. Xin đưa ra một số giải pháp đề nghị như sau:

    Đối với công cụ dự trữ bắt buộc:

    Cần giữ và tiếp tục hạ tỉ lệ dự trữ bắt buộc để nới lỏng hơn nữa cho các ngân hàng thương mại có thể tăng cường khả năng cung vốn cho nền kinh tế quốc dân. Vì trong thời gian tới vốn cho sản xuất kinh doanh và vốn đầu tư cho công cuộc CNH-HĐH đất nước vẫn được coi là điều kiện hàng đầu.

    Đối với công cụ lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn:

    • Tạo điều kiện cho Ngân hàng nhà nước kiểm soát được toàn bộ các kênh tín dụng chính thức trong nền kinh tế quốc dân.

    37

    • Điều chỉnh hệ thống lãi suất cho vay của toàn bộ nền kinh tế quốc dân để công cụ lãi suất tái cấp vốn tác động lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng.
    • Tổ chức việc sử dụng các thương phiếu trong thực tiễn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thực tế, tại Việt Nam các doanh nghiệp chủ yếu vẫn thanh toán bằng tiền mặt. Cho nên, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh việc dùng thương phiếu trong quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp. Đây chính là điều kiện cần thiết cho việc triển khai rộng rãi các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu.

    Đối với công cụ thị trường mở:

    • Phải có cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt phát triển. Như trên đâ đề cập, để tạo lập cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt bước đầu phải mở rộng việc sử dụng rộng rãi thương phiếu trong thanh toán giữa các doanh nghiệp. Nhưng việc sử dụng thương phiếu cũng như các loại chứng từ có giá thì cần có thêm điều kiện môi trường pháp lý đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho các chủ thể.

    38

    • Tạo được một thị trường tài chính linh hoạt, ổn định để cho thị

    trường mở thực sự phát huy tác dụng.

    Đó là các giải pháp đề nghị, cũng như tất cả điều chỉnh theo thông lệ nếu giải pháp được sử dụng thì nhà nước cần phải ban hành dưới văn bản luật để tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp này chính xác và phù hợp với luật định. Và cũng tạo điều kiện cho nhà nước kiểm tra, theo dõi, đánh giá được việc áp dụng những biện pháp này.

    Tài liệu tham khảo

    1. S.Mishkin. “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”. Viện khoa học và kỹ thuật. 1995.
    2. Vũ Văn Hoá. ”Lý thuyết tiền tệ”. NXB Tài chính. Hà Nội. 1998.
    1. Trương Xuân Lệ. ”Tiếp cận các học thuyết và chính sách tiền tệ trong nên kinh tế thị trường” NXB Giáo dục. 1993.

    39

    1. Nguyễn Bá Nha. “Cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế thị trường”.
    1. Lê Văn Tư. “Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng”. NXB Thống kê. 1997.
    1. Tạp chí Ngân hàng số 16 năm 1998; số 1,2,5,8,9 năm 2000.
    1. Thời báo Ngân hàng số 76 năm 2000.
    1. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ số 12 năm 1999.
    1. Tạp chí Tài chính số 2 năm 2000.

    40


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long


    [toc]


    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%E1%BB%9F-X%C3%AD-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-Binh-%C4%91o%C3%A0n-11.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận vẫn luôn là mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp, nó chịu sự chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp cũng luôn tìm và thực thi những giải pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhưng để làm được điều này thì không hề đơn giản, nó đòi hỏi phải tìm được hướng đi đúng cho doanh nghiệp của mình và một chế độ kế toán hợp lý. Việc hạch toán chi phí để tính giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và việc tăng hay giảm chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế khác.

    Thấy rõ tầm quan trọng trên cùng với quá trình học tại trường, em đã tập trung phân tích và nghiên cứu đề tài:

    Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11“.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề chia thành 3 phần như sau:

    Phần I: Lý luận chuyên về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng, xây lắp.

    Phần II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp – Binh đoàn 11.

    Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng – Binh đoàn 11.

    Vì thời gian và trình độ có hạn nên trong quá trình viết chuyên đề, em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy cô góp ý để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Đồng thời em xin cảm ơn cô Lê Thị Bình đã giúp em hoàn thành bản chuyên đề này.

     

    PHẦN THỨ NHẤT

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM XÂY LẮP TÁC ĐỘNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, quôc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các ngành khác.

    Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được. Vì thế một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng, cùng với vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

    Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình, công trình dân dụng có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản luôn được gắn liền với một địa điểm nhất định nào đó. Địa điểm đó là đất liền, mặt nước, mặt biển và có cả  thềm lục địa. Vì vậy ngành xây dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác. Các đặc điểm kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây  lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng được thể hiện cụ thể như sau:

    Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, có giá trị rất lớn. Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Nó mang tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự đoán riêng biệt và tại một địa điểm nhất định. Điều đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật…

    Quá trình từ khởi công xây dựng cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào từng công trình cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công công trình. Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn có các công trình đều thực hiện ở ngoài trời do vậy mà điều kiện thi công không có tính ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công trình.

    Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.

    2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp

    Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng nên việc quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính vì thế trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng yêu cầu sau:

    – Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế.

    – Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

    – Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm năng lao động, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm khai thác hết tiềm năng của đất nước phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo bền vững mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng công nghệ tiên tiến bảo đảm chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí và việc thực hiện bảo hành công trình. (Trích điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, ban hành kèm theo nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ).

    Từ trước tới nay, XDCB là một “Lỗ hổng lớn” làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Để hạn chế sự thất thoát này nhà nước thực hiện việc quản lý giá xây dựng thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá, các phương pháp nguyên tắc lập dự toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật đơn giá XDCB, xuất vốn đầu tư) để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình và cho từng hạng mục công trình.

    Giá thành công trình là giá trúng thầu, các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị xây dựng. Giá trúng thầu không vượt quá tổng dự đoán được duyệt.

    Đối với doanh nghiệp xây dựng, đảm bảo thi công đúng tiến độ, kỹ thuật, đảm bảo chất lượng các công trình với chi phí hợp lý. Bản thân các doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức quản lý sản xuất, quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ hợp lý có hiệu quả.

    Hiện nay trong lĩnh vực XDCB chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Để trúng thầu các doanh nghiệp phải xây dựng một giá đấu thầu hợp lý cho công trình dựa trên cơ sở các định mức đơn giá XDCB do  nhà nước ban hành trên cơ sở giá cả thị trường và khả năng của doanh nghiệp. Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.

    Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất – giá thành, trong đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thánh sản phẩm.

    3. Nhiệm vụ của công tác quản lý, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

    Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng các phương pháp tập hợp, chi phí và tính giá thành một cách khoa học kỹ thuật hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các số liệu cần thiết cho công tác quản lý. Cụ thể là:

    – Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành.

    – Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh.

    – Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sử dụng máy thi công… và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất để ngăn chặn kịp thời.

    – Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.

    – Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm… vạch ra khả năng và các mức hạ giá thành hợp lý, hiệu quả.

    – Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo quy định.

    – Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất… trong từng thời kỳ nhất định. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.

    4.Vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay

    4.1. Vai trò

    Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn dự trữ nội bộ của doanh nghiệp và đảm bảo tích luỹ tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc lợi của quần chúng lao động.

    Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành các kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị, chấp hành nghiêm túc các tiêu chuẩn đã quy định về tài chính.

    Đối với doanh nghiệp xây lắp việc hạch toán sẽ cung cấp các số liệu một cách chính xác, kịp thời đầy đủ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán.

    Hạch toán kế toán là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xây lắp. Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế so với kế hoạch là bao nhiêu, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí để có giải pháp khắc phục. Việc tính giá thành thể hiện toàn bộ chất lượng hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị.

    4.2. Ý nghĩa

    Giúp cho việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước.Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ chính xác các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

    1. Khái niệm – phân loại chi phí sản xuất và quản lý chi phí sản xuất

    1.1. Khái niệm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

    Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động vật hoá đã chi ra để tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng tiền.

    Giá trị của sản phẩm xây lắp được biểu hiện:

    GXL = C + V + m

    Trong đó:

    GXL    : Giá trị sản phẩm xây lắp

    C       : toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong

    quá trình tạo ra sản phẩm

    V       : Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho

    người lao động tham gia

    m       : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình

    tạo ra sản phẩm

    Về mặt lượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố:

    – Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp ở một thời kỳ nhất định.

    – Giá tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí.

    Trong điều kiện giá cả thường xuyên thay đổi như hiện nay thì việc tính toán đánh giá chính xác chi phí sản xuất là một điều khá quan trọng. Nhât là trong điều kiện hiện nay doanh nghiệp phải tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh phải có lãi và bảo toàn được vốn.

    1.2. Phân loại chi phí sản xuất

    Trong doanh nghiệp xây lắp, các chi phí sản xuất bao gồm có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau. Yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau, vì vậy việc quản lý sản xuất, tài chính, không những dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời kỳ nhất định.

    Không phân loại chi phí một cách chính xác thì việc tính giá thành không thể thực hiện được. Việc phân loại đựơc tiến hành theo các tiêu thức sau:

    1.2.1. Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế.

    Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu gồm toàn bộ chi phí về đối tượng lao động như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu thiết bị xây dựng.

    – Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ và các khoản khác phải trả cho người lao động.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trước chi phí sửa chữa lớn trong tháng đối với tất cả các loại TSCĐ có trong doanh nghiệp.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho việc sản xuất như chi phí thuê máy, tiền nước, tiền điện…

    – Chi phí khác bằng tiền là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí nói trên như chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếp khách.

    Phân loại theo tiêu thức này giúp ta hiểu được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.

    1.2.2. Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí.

    Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đựơc chia thành:

    * Chi phí sản xuất tạo ra sản phẩm là toàn bộ chi phí liên quan đến việc xây lắp, chế tạo sản phẩm cũng như chi phí liên quan đến hoạt động quản lý và phục vụ sản xuất trong các phân xưởng, tổ đội sản xuất. Nó được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

    + Chi phí trực tiếp là những chi phí trực tiếp liên quan đến việc chế tạo sản phẩm xây lắp gồm chi phí nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công.

    * Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu vật liệu luân chuyển (cốp pha, giàn giáo…) bán thành phẩm… cần thiết để tạo ra sản phẩm.

    * Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương. Với khoản chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy tính trong đơn giá XDCB cũng tính vào chi phí nhân công trực tiếp. Còn chi phí tiền lương của cán bộ quản lý công trình (bộ phận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung chứ không phải là chi phí nhân công trực tiếp.

    *Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương cơ bản, các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ cho nhân viên quản lý, các khoản chi phí khác bằng tiền hoặc công cụ, dụng cụ cũng tính vào chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp.

    *Chi phí sử dụng máy thi công gồm tiền lương, các khoản phải trích theo lương của nhân viên điều khiển máy, chi phí khấu hao máy và vật liệu.

    + Chi phí gián tiếp (chi phí sản xuất chung) là những chi phí phục vụ cho việc quản lý sản xuất phát sinh trong quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện các đòi hỏi ở bộ phận tổ đội sản xuất.

    * Chi phí quản lý doanh nghiệp  là toàn bộ chi phí quản lý chung các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, quản lý hành chính và các chi phí khác.

    * Chi phí hoạt động khác là chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí về hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường.

    Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phó có tác dụng xác định số chi phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở để tính giá thành và kết quả hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất chế tạo ra sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm khi hoàn thành.

    Ngoài ra có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng hai cách phân loại trên được sử dụng nhiều hơn cả bởi vì trong dự toán công trình xây lắp thì chi phí sản xuất được phân công theo từng khoản mục.

    2. Giá thành sản phẩm xây lắp

    2.1. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng

    Để xây dựng một công trình hoàn thành thì doanh nghiệp xây dựng phải đầu tư vào quá tình sản xuất thi công một lượng chi phí nhất định, những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra sẽ tham gia cấu thành quá trình đó. Vậy giá thành sản phẩm xây lắp và toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu, nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác… tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã nghiệm thu bàn giao và được chấp nhận thanh toán thì giá thành mang tính chất cá biệt. Vì vậy mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành đều có giá thành riêng.

    Biết được giá bán trước khi sản phẩm hoàn thành và giá thành thực tế quyết định tới lỗ lãi của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong điều kiện hienẹ nay để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh được sự cho phép của nhà nước, một số doanh nghiệp đã chủ động xây dựng một số công trình có quy mô nhỏ sau đó bán lại với một giá cả hợp lý thì giá thành sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng xác định nên giá bán.

    2.2. Bản chất – chức năng của giá thành sản phẩm.

    Các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính và mặt định lượng. Mục đích bỏ ra chi phí của doanh nghiệp là tạo nên giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng luôn quan tâm tới hiệu quả của chi phí bỏ ra là ít nhất, thu được giá trị lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp để hạ giá thành nhằm thu lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý giá thành là chỉ tiêu đáp ứng được nội dung  trên.

    Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu hồi được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp nhất định đã hoàn thành.

    Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá.

    Toàn bộ chi phí mà các doanh nghiệp chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng công tác xây lắp, một công trình hay hạng mục công trình phải được bù đắp bằng chính số tiền thu về do quyết toán công trình, hạng mục công trình. Việc bù đắp này nhằm bảo đảm quá trình sản xuất giản đơn. Mục đích đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất phải có lãi.Trong cơ chế thị trường giá bán sản phẩm phụ thuộc nhiều vào quy luật cung cầu và sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng. Giá bán của sản phẩm xây dựng là giá nhận thầu. Vậy giá nhận thầu là biểu hiện giá trị của công trình hạng mục công trinh phải dựa trên cơ sở giá thành dự toán để xác định thông qua việc bán sản phẩm. Còn giá bán sản phẩm lao vụ là biểu hiện giá trị của sản phẩm phải dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả chi phí.

    2.3. Các loại giá thành sản phẩm công tác xây lắp.

    2.3.1. Giá thành dự toán.

    Sản phẩm XDCB là thời gian thi công dài do đó mỗi công trình hạng mục công trình đều có giá trị dự toán để xác định giá thành dự toán.

    =  + Lãi định mức

    Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Lãi định mức

    Với lãi định mức là số phần trăm trên giá thành xây lắp do nhà nước quy định đối với từng loại hình xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây lắp cụ thể. Giá trị dự đoán của công trình, hạng mục công trình được xác định trên cơ sở định mức đánh giá của cơ quan thẩm quyền ban hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường. Nó chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với đơn vị chủ thầu đầu tư.

    2.3.2. Giá thành kế hoạch

    Dựa trên những định mức của nội bộ xí nghiệp, giá thành kế hoạch là cơ sở phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai đoạn kế hoạch. Nó phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp.

    =  –

    2.3.3. Giá thành thực tế

    Biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một đối tượng xây lắp nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không nằm trong kế hoạch do nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.

    Giữa 3 loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt số lượng được thể hiện như sau:

    Giá thành dự toán > giá thành kế hoạch> giá thành thực tế.

    Việc so sánh này được thể hiện trên cùng một đối tượng tính giá thành nhất định.

    Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng. Giá thành công tác xây lắp hoàn chỉnh và giá thành của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao đựơc chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất, thi công trọn vẹn một công trình hay một hạng mục công trình.

    Để đáp ứng yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định được giá thành khối lượng xây lắp quy ước (nếu quy định thanh toán khối lượng hoàn thành theo quy ước).

    Khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn các điều kiện sau:

    – Phải đảm bảo theo thiết kế và chất lượng kỹ thuật.

    – Khối lượng này phải được xác định cụ thể và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.

    – Phải đạt được điểm dừng kỹ thuật hợp lý giá thành khối lượng sản phẩm hoàn thành quy ước. Phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây lắp giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý thích hợp.

    2.4. Phân biệt giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

    Chi phí sản xuất là cơ sở hình thành nên giá thành sản phẩm. Tuy nhiên giữa chúng cũng có sự khác biệt, sự khác biệt đó thể hiện như sau:

    – Về phạm vi: chi phí sản xuất chỉ tình trong từng thời kỳ, còn giá thành sản phẩm lại bao gồm cả chi phí khối lượng xây lắp dở dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại trừ đi chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ.

    – Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành xây dựng là chi phí  sản xuất được tính cho công trình hạng mục hay một công trình hoàn thành.

    Nhưng giữa chúng cũng có điểm giống nhau bởi vì chúng có cùng bản chất đó là điều phản ánh những chi phí hao phí trong quá trình sản xuất. Giá thành xây lắp và chi phí sản xuất thống nhất về mặt lượng trong trường hợp: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành là một công trình, hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá thành hay giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ bằng giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.

    III. NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.

    1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành.

    1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp

    Theo thông tư số 23 BXDNKT ngày 15/12/1994 của Bộ xây dựng thì dự toán xây lắp gồm các khoản mục: chi phí vật liệu,  nhân công, máy thi công, chi phí chung, thuế và lãi.

    Vì vậy khi xác định đối tượng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp cần căn cứ vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất, địa điểm phát sinh quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất…Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản lý, hạch toán của doanh nghiệp. Cho nên việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đúng và phù hợp có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.

    1.2. Đối tượng giá thành.

    Là các loại sản phẩm, công trình… do DN xây lắp sản xuất ra đòi hỏi phải tính được giá thành và giá thành đơn vị. Xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp là công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao các sản phẩm khác đã hoàn thành (nếu có).

    1.3. Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng giá thành sản phẩm xây lắp.

    Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết, tổ ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết cho từng hạng mục công trình. Còn việc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tính giá thành.

    Đó là những đặc điểm khác nhau song giữa chúng lại có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Về bản chất chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp số liệu sản xuất trong kỳ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành. Trong DN xây lắp chúng thường phù hợp với nhau.

    2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp.

    2.1. Các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.

    2.1.1. Phương pháp trực tiếp

    Được áp dụng với những chi phí trực tiếp, là những chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Khi có chi phí phát sinh thì căn cứ vào các chứng từ gốc ta tập hợp từng chi phí cho từng đối tượng sản xuất.

    Trường hợp doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là công trình hay hạng mục công trình thì hàng tháng căn cứ vào các chi phí phát sinh có liên quan đến công trình hay hạng mục công trình nào thì tập hợp chi phí cho công trình đó.

    2.1.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp.

    Được áp dụng với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí sản xuất. Vì vậy phải xác định theo phương pháp phân bổ gián tiếp.

    Để phân bổ cho các đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ chi phí.

    Công thức: H = C/T

    Trong đó:    H: Hệ số phân bổ chi phí

    C: Tổng chi phí cần phân bổ

    T: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ

    Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng tính theo công thức sau:

    Ci = H x Ti

    Trong đó:    Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i

    Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i

    Trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công trường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường. Cuối kỳ tổng số chi phí tập hợp phải được phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình để tính giá thành sản phẩm riêng.

    2.2. Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.

    2.2.1. Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp.

    Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như giá trị thực tế của vật liệu chính (gạch, đá, vôi, cát, xi măng…) vật liệu phụ như sơn, công cụ dụng cụ… nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.

    Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế ngoài người bán cung cấp còn có chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho hay xuất thẳng tới công trình.

    Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, HMCT nào thì phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng.

    Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào các đối tượng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.

    = + –  –

    Phương pháp được hạch toán cụ thể được phản ánh bằng sơ đồ:

    Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    (1)     : Tập hợp chi phí VLTT

    (2a)   : Vật liệu chờ phân bổ

    (2b)   : Phân bổ dần

    (3)     : Phế liệu thu hồi, VL sử dụng không hết nhập lại kho

    (4)     : Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí VLTT để tính giá thành.

    2.2.2. Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

    Là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất, thi công như tiền lương, các khoản tiền phụ cấp…

    Việc hạch toán tiền lương của công nhân trong DN thì dựa trên bảng chấm công, theo dõi cho từng tổ sản xuất, đội xây dựng. Bảng chấm công cho biết ngày giờ làm việc thực tế, sóo ngày nghỉ của từng người sau khi đã được kiểm tra và chuyển lên phòng lao động để ghi chép, theo dõi sau đó để làm cho phòng kế toán có căn cứ tính lương và phân bổ tiền lương.

    Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

    Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công, giờ công, định mức hợac giờ công thực tế,.

    Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

     
       

    (1)     : Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất

    (2)     : Các khoản trích BHXH, BHYT, CPCĐ

    (3)     : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành

    2.2.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

    Tài khoản 623  dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp.

    Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối với doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp (vừa thủ công vừa kết hợp máy móc).

    Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy thì không sử dụng tài khoản 623 mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627.

    Không hạch toán vào tài khoản 623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công.

    Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy móc thi công

    2.2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung

    Là những chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý phân xưởng, khấu hao TSCĐ…

    Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từng địa điểm phát sinh chi phí phân xưởng, tổ đội sản xuất sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan. Việc phân bổ cũng được tiến hành dựa trên các tiêu thức phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuất chung, chi phí trực tiếp phân bổ theo từng loại chi phí.

    Kế toán chi phí sản xuất chung.

     
       

    (1)     : Chi phí nhân viên

    (2)     : Chi phí vật liệu, CCDC

    (3)     : Chi phí khấu hao TSCĐ, dịch vụ bên ngoài

    (4)     : Chi phí khác bằng tiền

    (5)     : K/c hoặc phân bổ CFSXC để tính giá thành.

    3. Đánh giá sản phẩm dở dang trong DN xây lắp

    Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành hoặc bên chủ đầu tư chưa nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.

    Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định. Muốn đánh giá một cách chính xác trước hết  phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp hoàn thành theo quy ước ở từng giai đoạn thi công để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát hiện tổn thất trong quá trình thi công.

    Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây lắp có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành. Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp có kết cấu phức tạp nên việc xác định đúng mức độ hoàn thành của nó rất khó. Khi đánh giá kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định độ hoàn thành của khối lượng xây lắp dơ dang một cách chính xác. Dựa trên kết quả kiểm kê sản phẩm dở dang đã tập hợp được kế toán tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở.

    Đối với các doanh nghiệp thường áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm sau:

    3.1. Phương pháp đánh giá theo chi phí dự toán

    CPKLXLHT

     

    bàn giao

    trong kỳ

    CPKLXLDD

     

    cuối kỳ theo dự toán

    CP thực tế

     

    KLXL  thực hiện trong kỳ

    Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng xây lắp  dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức:

    +

    =  x                           +  ++

    3.2. Phương pháp đánh giá theo tỷ lệ hoàn thành tương đương

    Chủ yếu áp dụng đối với việc đánh giá sản phẩm làm dở của  công tác lắp đặt máy móc thiết bị. Nó được xác định bởi công thức:

    CPTTKLXL

     

    thực hiện trong kỳ

    Giá trị DTKLXLHT bàn giao

     

    trong kỳ

    Giá trị DTKLXL DD cuối kỳ
    +
    +

    =  +

    3.3. Phương pháp đánh giá theo trị giá dự toán

    Theo phương pháp này chi phí thực tế khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:

    =

    Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa, hoàn thiện hoặc xây dựng các công trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng được bên chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành.

    Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá.

    4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.

    Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm xây lắp. Phương pháp tính giá thành này sử dụng cho những sản phẩm đã hoàn thành theo các khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định. Trong đó thời kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công trình, hạng mục công trình.

    Tùy theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành mà kế toán phải lựa chọn sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp thích hợp để tính giá thành cho một hay nhiều đối tượng và ngược lại. Trong quá trình DN xây lắp thường sử dụng các phương pháp sau:

    4.1. Phương pháp giản đơn (phương pháp tính trực tiếp)

    Phương pháp này được phổ biến rộng rãi trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đối tượng tính. Hơn nữa việc sử dụng phương pháp cho phép cung cấp kịp thời các số liệu giá thành cho mỗi kỳ báo cáo và cách tính thì đơn giản, dễ hiểu.

    Theo phương pháp này tập hợp tất cả các chi phí phát sinh trực tiếp cho một công trình hay HMCT từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thực tế của công trình hay HMCT đó. Có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm hoặc hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng công trình, HMCT nhằm tính giá thành thực tế cho HMCT đó.

    Trong trường hợp công trình, HMCT chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì cần phải tính giá thành thực tế.

    *  =  +  –

    *  =

    Nếu các công trình, HMCT có thiết kế, dự toán khác nhau nhưng cùng thi công trên cùng địa điểm do một đơn vị công trình sản xuất đảm nhiệm và không có điều kiện quản lý, theo dõi công việc sử dụng các loại chi phí khác nhau thì từng loại chi phí tập hợp trên toàn bộ công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng HMCT đó.

    Khi đó giá thành thực tế của HMCT:

    ZH = Gdti x H

    Trong đó: H: Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế H = [(TC, TGdt) x 100%]

    Gdt: Giá thành dự toán của hạng mục công trình

    TC: tổng chi phí thực tế của HMCT

    TGdt: Tổng dự toán của tất cả HMCT.

    4.2. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng

    Áp dụng cho các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Đối tượng tính giá thành là đơn đặt hàng hoàn thành.

    Theo phương pháp này hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành thì chi phí sản xuất theo đơn tập hợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng.

    Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều HMCT, công trình đơn nguyên khác nhau thì phải tính toán, xác định chi phí của từng HMCT,  công trình đơn nguyên liên quan đến đơn đặt hàng. Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào HMCT, công trình đơn nguyên thì cần phải phân bổ theo tiêu thức hợp lý.

    4.3. Phương pháp tính theo định mức.

    Gồm 3 bước:

    + Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây lắp.

    + Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức

    = Định mức cũ – Định mức mới.

    + Bước 3: Xác định chênh lệch thoát ly định mức, nguyên nhân gây ra chênh lệch đó.

    =  –

    Việc áp dụng phương pháp này có tác dụng lớn cho việc kiểm tra tình hình định mức, dự toán chi phí sản xuất, tính sử dụng hợp lý tiết kiệm hay lãng phí ngay cả khi chưa có sản phẩm hoàn thành. Ngoài ra nhằm giảm bớt khối lượng tính toán của kế toán nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong doanh nghiệp.

    5. Sổ kế toán

    5.1. Hình thức sổ kế toán nhật ký chung.

    Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải ghi vào sổ nhật ký mà trọng tâm là sổ nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào sổ cái theo tưng nghiệp vụ phát sinh.

    – Sổ nhật ký chung

    – Sổ cái

    – Các sổ kế toán chi tiết (thẻ nếu có)

    5.2. Hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái

    Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái.

    Căn cứ để ghi vào nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.

    – Nhật ký sổ cái.

    – Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

    5.3. Hình thức sổ nhật ký chứng từ ghi sổ.

    Căn cứ trực tiếp để ghi là chứng từ ghi sổ, việc ghi bao gồm:

    * ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    *Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái

    Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp cùng loại cùng nội dung kinh tế.

    – Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    – Sổ cái

    – Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

    PHẦN THỨ HAI

    THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG

    1. Quá trình hình thành và phát triển

    Công ty được thành lập ngày 7/7/1960 với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng trong phạm vi cả nước. Đến ngày 18/3/1977 công ty đổi tên thành Công ty xây dựng số 1 trực thuộc Bộ Xây dựng. Nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian này là xây dựng các công trình phúc lợi và cũng trong thời gian này công ty đã được nhà nước trao huân chương lao động hạng ba.

    Công ty bao gồm nhiều xí nghiệp trực thuộc có quy mô lớn. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của xây dựng công ty lần lượt ra quyết định tách ba xí nghiệp thuộc công ty thành các công ty trực thuộc.

    + Năm 1984 tách xí nghiệp 104 thành công ty xây dựng số 2

    + Năm 1986 tách xí nghiệp trực thuộc 106  thành công ty xây dựng Tây Hồ.

    + Năm 1992 tách xí nghiệp hoàn thiện trực thuộc thành công ty xây dựng số 5.

    Là một đơn vị thành lập từ sớm, từ khi còn đóng ở tại trung tâm thủ đô và gần cơ quan chủ quản nên có điều kiện phát triển, có nhiều điều kiện để thi công các công trình có quy mô và áp dụng sớm các thành tựu KHKT, công nghệ tiên tiến cho nên công ty có đội ngũ kỹ thuật vững mạnh, công nhân có tay nghề cao. Tuy nhiên khó khăn mà công ty gặp cũng không ít như thời bao cấp kéo dài, công ty không chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đội ngũ cán bộ công nhân viên đông.

    Từ khi thành lập đến nay công ty thi công và bàn giao nhiều công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp có chất lượng cao, bàn giao đúng tiến độ. Công ty ngày càng có uy tín trên thị thị trường và đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước, tạo được công ăn việc làm cho người lao động và đã giúp đời sống người lao động phần nào nâng cao. Trong quá trình hoạt động công ty luôn là một đơn vị mạnh và đã nhận được nhiều huân huy chương của nhà nước.

    – Ngày 21/8/1979 nhận huân chương lao động hạng 3

    – Ngày 15/8/1983 nhận huân chương lao động hạng 2

    – Ngày 17/11/1985 nhận huân chương lao động h ạng 1

    – Ngày 21/9/1994 theo quyết định 1219 công ty được công nhận là doanh nghiệp hạng 1

    Hiện nay công ty đã có 16 xí nghiệp đội trực thuộc, trong đó xí nghiệp binh đoàn 11 là một trong những đơn vị mạnh nhất. Thành lập từ năm 1978 nhưng chính thức ra đời vào ngày 13/7/1998 với chức năng chủ yếu là xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp trong phạm vi cả nước.

    Xí nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của công ty bằng các dự án lớn đạt chất lượng cao mà xí nghiệp đã thi công như: Viện kiểm soát nhân dân tối cao, khách sạn quốc tế… Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của xí nghiệp nói riêng và của công ty nói chung như ngày hôm nay chính là sự nhạy bén với cái mới, cạnh tranh bằng chất lượng và tiến độ thi công, áp dụng công nghệ cao và các thiết bị thi công tiên tiến, hiện đại cùng đội ngũ công nhân viên có trình độ lành nghề.

    2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất của công ty

    Hiện nay công ty gồm 6 xí nghiệp trực thuộc.Đây là công ty có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng nên việc tổ chức lao động thành các xí nghiệp trực thuộc tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc quản lý và phân công lao động ở nhiều điểm thi công khác nhau với nhiều công trình khác nhau một cách hiệu quả.

    Từ trước 1/1/1995 công ty tổ chức hạch toán kế toán phân tán, các xí nghiệp trực thuộc tổ chức hạch toán riêng, các công ty kế toán xử lý chứng từ ban đầu đến lập báo cáo gửi về công ty do bộ phận kế toán xí nghiệp thực hiện, trên cơ sở đó phòng kế toán tập hợp báo cáo chung toàn công ty.

    Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty gồm có: Giám đốc, phó giám đốc, các phòng ban chức năng và các xí nghiệp trực thuộc.

    – Đứng đầu là giám đốc chỉ đạo điều hành chung mọi hoạt động của công ty, đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, … Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc: phụ trách kế hoạch tiếp thị và hai phó giám đốc kỹ thuật thi công có điện. Trong trường hợp giám đốc đi vắng phó giám đốc thay mặt điều hành hoạt động của công ty.

    – Bí thư Đảng uỷ, chủ tịch công đoàn, đoàn thanh niên giúp cho ban giám đốc quản lý các hoạt động có hiệu quả.

    – Các phòng  chức năng công ty có trách nhiệm hướng dẫn đôn đốc thực hiện thi công, đảm bảo chất lượng công trình, lập và kiểm tra các định mức kỹ thuật, chế độ bảo quản của công ty. Đồng thời lập kế hoạch nghiên cứu thị trường, tìm bạn hàng cung cấp số liệu, phân tích tình hình sản xuất giúp giám đốc có biện pháp quản lý thích hợp. Mặt khác giải quyết mọi công tác liên quan đến nhân sự, chính sách lao động tiền lương cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

    Dưới đây là các phòng ban trong công ty và nhiệm vụ chủ yếu của từng phòng:

    + Phòng kỹ thuật thi công cơ điện có nhiệm vụ giám sát chất lượng mỹ thuật, an toàn, tiến độ thi công các công trình. Tham gia nghiên cứu tính toán các công trình đấu thầu, khảo sát, thiết kế, tính khối lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình nội bộ.Theo dõi số lượng, chất lượng toàn bộ thiết bị, thu thapạ thông tin và phổ biến các quy trình toàn bộ thiết bị, thu thập thông tin và phổ biến các quy trình quy phạm mới…

    + Phòng kế toán tìa chính thống kê gồm 4 nhiệm vụ chính:

    * Nhiệm vụ công tác tài chính tham mưu cho lãnh đạo.

    * Nhiệm vụ công tác thống kê.

    * Nhiệm vụ giúp giám đốc soạn thảo hợp đồng giao khoán chi phí sản xuất cho các đơn vị trực thuộc và xây dựng quy chế phân cấp về công tác tài chính kế toán của công ty cho các đơn vị.

    * Nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát.

    + Phòng kế hoạch vật tư tiếp thị gồm 3 nhiệm vụ chính:

    * Công tác kế hoạch gồm lập kế hoạch, giao kế hoạch triển khai, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị thực hiện kế hoạch.

    * Công tác vật tư gồm xác định mặt bằng giá chuẩn cho từng loại vật liệu ở từng thời điểm, tìm nguồn hàng, kiểm tra giám sát việc quản lý vật liệu.

    * Công tác tiếp thị: Có các cơ quan thường xuyên với cơ quan cấp trên, các cơ quan hữu quan, khách hàng…

    + Phòng quản lý khối lượng có nhiệm vụ tính toán khối lượng các công trình. Lập tổng dự án thi công các công trình, phối hợp với phòng kế toán tài chính thống kê, phòng kế hoạch và các đơn vị trực thuộc, thực hiện công tác thanh quyết thu hồi vốn  đối với A.

    + Phòng hành chính y tế chịu trách nhiệm về công tác hành chính, quản trị, văn thư và đời sống y tế.

    – Dưới các xí nghiệp trực thuộc lại phân ra thành các bộ phận chức năng: kỹ thuật, tài vụ, lao động tiền lương, an toàn các đội sản xuất. Trong các đội sản xuất phân ra thành các tổ sản xuất chuyên môn hóa như tổ sắt, tổ mộc… Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc điều hành xí nghiệp chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp mình.

    Sơ đồ quản lý và tổ chức sản xuất ở công ty xây dựng binh đoàn 11

    Với cách tổ chức lao động, quản lý ở công ty xây dựng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ các mặt kinh tế kỹ thuật ở từng xí nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, đem lại hiệu quả cao.

    Đặc điểm của sản phẩm xây lắp có ảnh hưởng lớn đến tổ chức quản lý và  sản xuất trong  doanh nghiệp xây dựng. Các công trình xây dựng thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, sản phẩm đơn chiếc thời gian thi công lâu dài đòi hỏi một quy mô lớn các yếu tố đầu vào. Các công trình đều đòi hỏi phải lập dự toán công trình, các công trình cố định tại nơi sản xuất nên chịu ảnh hưởng của nơi đặt công trình như địa hình, thời tiết, giá cả thị trường… các điều kiện sản xuất như máy móc thiết bị, người lao động phải di chuyển tới địa điểm sản phẩm, điều này, làm cho công tác quản lý sử dụng tài sản của công ty rất khó khăn.

    Công tác tổ chức quản lý sản xuất của công ty luôn tuân thủ theo quy trình công nghệ xây lắp sau:

    3. Đặc điểm quy trình công nghệ và cơ chế quản lý giữa công ty với các xí nghiệp.

    3.1. Đặc điểm quy trình công nghệ

    Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng nên quy trình sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu của công ty có đặc điểm: sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau (điểm dừng kỹ thuật) mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và thi công ở các địa điểm khác nhau. Do vậy qui trình công nghệ sản xuất của các công trình thường như nhau: giai đoạn khảo sát thiết kế, giai đoạn san nền, giải quyết mặt bằng thi công, đào đất, làm móng, giây đoạn xây trát, trang trí nội thất. Mỗi giai đoạn tiêu hao định mức nguyên vật liệu hao phí phân công là khác nhau.

    3.2. Cơ chế quản lý giữa công ty và xí nghiệp.

    Khi nhận thầu một công trình, do công ty hay xí nghiệp tìm kiếm được thực hiện cơ chế khoán thông qua hợp đồng giao khoán giữa công ty và xí nghiệp trực thuộc theo quy chế tạm thời có nội dung sau:

    + Mức khoán với tỷ lệ 97,5 đến 98% giá trị quyết toán được duyệt.

    + Số còn lại công ty chi cho các khoản sau:

    * Nộp thuế doanh thu thuế lợi tức.

    *Tiền sử dụng vốn ngân sách và lãi vay ngân hàng của số vốn công ty định mức cho xí nghiệp.

    * Phụ cấp trên và các khoản chi phí quản lý công và trích lập các quỹ của xí nghiệp.

    + Các công trình khác nhau sẽ có mức khoán khác nhau.

    + Trong tỷ lệ khoán nếu xí nghiệp có lãi được phân phối như sau:

    * Nộp 25% thuế thu nhập doanh nghiệp

    *Xí nghiệp được sử dụng 75%lập quỹ khen thưởng. Trong đó giám đốc xí nghiệp và phụ trách kế toán được hưởng 10%.

    + Nếu bị lỗ xí nghiệp phải tự bù đắp, giám đốc và phụ trách kế toán phải chịu trách nhiệm trước công ty.

    Cơ chế khoán trên đã tác động đến công tác hạch toán kế toán nhất là phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở công ty, góp phần nâng cao trách nhiệm và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất.

    4. Tình hình chung về công tác kế toán ở công ty xây dựng binh đoàn 11.

    Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung và tổ chức bộ máy kế toán tập trung. Phòng kế toán được trang bị máy vi tính, toàn bộ kế toán tổng hợp và một phần kế toán phân tích đều được thực hiện trên máy. Với phần mềm kế toán đã được nâng cấp và đội ngũ nhân viên kế toán có tay nghề, trình độ cao, công tác kế toán ngày càng hoàn thiện hơn.

    Phòng tài chính kế toán có 11 người được tổ chức theo sơ đồ sau đó mỗi người đều được phân công công việc cụ thể.

    + Kế toán trưởng chịu trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra công việc do nhân viên kế toán thực hiện. Tổ chức lập báo cáo theo yêu cầu quản lý, tổ chức nhân viên phân công trách nhiệm cho từng người. Chịu trách nhiệm trước giám đốc, cấp trên và nhà nước về các thông tin kế toán.

    + Kế toán trưởng (phòng) giữ vai trò trợ lý giúp đỡ kế toán trưởng phụ trách công tác tổng hợp, kế toán tài chính.

    + Kế toán tổng hợp vật tư kiêm thủ quỹ quản lý tiền mặt căn cứ vào các chứng từ hợp lệ để ghi sổ đồng thời ghi chép sổ kế toán về vật liệu.

    + Kế toán thống kê thu vốn căn cứ chứng từ báo cáo sản lượng của các xí nghiệp để thống kê toàn bộ sản lượng của công ty. Căn cứ vào quyết toán được A chấp nhận thanh toán, làm thủ tục thu vốn.

    + Kế toán ngân hàng và BHXH dựa vào chứng từ, giấy báo nợ có, bảng sao kê ngân hàng để ghi vào sổ nhật ký chung. Chị trách nhiệm theo dõi các khoản BHXH, thanh toán các khoản chế độ… hàng tháng, cuối quý tổng hợp quyết toán với đơn vị cấp trên.

    + Kế toán TSCĐ chịu trách nhiệm phản ánh số lượng hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có. Phản ánh kịp thời hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng.

    + Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất của xí nghiệp căn cứ vào chi phí thực tế và chi phí dự toán tiến hành kết chuyển lỗ lãi của quá trình kinh doanh (gồm 2 người).

    + Kế toán thanh toán và tiền lương có nhiệm vụ tập hợp chi phí nhân công tiến hành phân bổ vào các đối tượng chịu chi phí. Căn cứ vào chứng từ gốc hợp lệ để viết phiếu thu chi (gồm 2 người).

    Hệ thống kế toán áp dụng là hệ thống tài khoản áp dụng chung cho các doanh nghiệp ban hành theo quyết định 1141 TC/CĐKT ngày 1/11/1995.

    Hàng tháng kế toán căn cứ chứng từ gốc, kiểm tra tính hợp pháp ghi vào số nhật ký chung, số và thẻ chi tiết theo trình tự thời gian. Từ nhật ký chung tổng hợp số liệu để ghi vào sổ cái, cuối tháng căn cứ vào số liệu ở sổ cái lập bảng tổng hợp số liệu và báo cáo tài chính.

    Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung

     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Quan hệ đối chiếu

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ kế toán được dùng làm căn cứ ghi sổ như phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, phiếu thu chi… Trước hết kế toán tiến hành ghi các nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký chung, sau đó căn cứ vào số liệu đã ghi trên sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Do đơn vị có mở sổ kế toán chi tiết nên đồng thời với việc ghi sổ nhật ký chung, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan.

    Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán ghi các nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký đặc biệt có liên quan. Định kỳ 5 ngày tổng hợp từng sổ nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi lại vào các tài khoản phù hợp trên sổ cái. Cuối tháng, (quý hay năm) cộng số liệu ghi trên sổ cái và bảng cân đối kế toán.

    Sau khi đã kiểm tra, đối chiếu khớp đúng với số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ kế toán chi tiết), kế toán tiến hành lập báo cáo tài chính.

    Ngoài ra công ty còn thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo do Bộ tài chính quy định bao gồm:

    – Bảng cân đối kế toán lập hàng quý.

    – Kết quả sản xuất hoạt động kinh doanh lập hàng quí.

    – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lập 6 tháng 1lần

    – Bảng thuyết minh báo cáo tài chính lập hàng năm.

    Để phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh tương đối lớn, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường xuyên, liên tục. Do vậy công tác tập hợp chi phí và tính giá thành snả phẩm đã được công ty phân loại thành 4 khoản mục chi phí như sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    – Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)

    – Chi phí sử dụng máy thi công (TK 623)

    – Chi phí sản xuất chung (TK 627)

    Phương pháp phân loại chi phí theo từng khoản mục của công ty nhằm quản lý chặt chẽ toàn diện, liên tục mọi khoản vật tư, tài sản, lao động, tiền vốn… Đồng thời cũng tạo điều kiện cho công tác tính giá thành và định mức sản xuất cho kỳ sau.

    II.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở BINH ĐOÀN 11 – CÔNG TY XÂY DỰNG

    A. Kế toán chi phí sản xuất

    Để có thể nghiên cứu, phân tích, đánh giá cao nghiệp vụ kinh tế kế toán một cách cụ thể. Trong bài viết này em xin được chọn công trình: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, như vậy công trình này chính là đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Đây là công trình tiêu biểu do xí nghiệp xây dựng binh đoàn 11 thuộc công ty xây dựng thi công.

    Dưới đây em xin trình bày công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất ở giai đoạn cuối (quý 4/2004)

    1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Thông thường đối với các công trình xây dựng thì chi phí nguyên vật liệu là loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn, thường từ 70% đến 80% (tùy theo kết cấu công trình) trong giá thành sản phẩm.Từ thực tế phải đòi hỏi tăng cường công tác quản lý vật tư, công tác kế toán vật liệu góp phần đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vật tư nhằm hạ thấp chi phí sản xuất.

    Để tạo điều kiện cho quá trình sản xuất thi công, tránh việc vận chuyển tốn kém nên hiện nay xí nghiệp tổ chức mở kho vật liệu ngay ở mỗi công trình, nhân viên đội vác, thủ kho tiến hành kiểm tra về số lượng và chất lượng.Sau đó lập phiếu nhập kho làm 2 liên (1 liên thủ kho giữ và 1 liên lưu tại ở phòng kế toán).  Khi có nhu cầu sử dụng vật tư chủ nhiệm công trình (đội trưởng) viết phiếu xuất kho có chữ ký của  thủ trưởng đơn vị chuyển cho thủ kho xuất vật tư thi công giá vật tư xuất kho được xí nghiệp sử dụng theo phương pháp nhập trước, xuất trước. Trường hợp vật tư mua về không thông qua kho mà chuyển thẳng tới chân công trình theo tiến độ thi công thì giá vật tư sử dụng cho việc  tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của công trình chính là giá thực tế của vật liệu.

    Có thể nói chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có vị trí chủ chốt và rất quan trọng trong quá trình thi công cũng như tổng giá thành công trình. Chínhvì vậy kế toán xí nghiệp cần phải tính toán, phản ánh chính xác đầy đủ số lượng và giá trị từng loại vật tư nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho bộ phận quản lý tiến hành các biện pháp làm giảm tiêu hao nguyên vật liệu và định mức tiêu hao, định mức dự trữ vật liệu. Đó chính là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho xí nghiệp.

    Hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp tại xí nghiệp

    Hàng ngày kế toán căn cứ vào phiếu nhập kho, xuất kho vật tư để ghi vò sổ Nhật ký chung và Sổ Cái các tài khoản liên quan.

    – Đối với vật tư mua về nhập kho, kế toán ghi:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Có TK 111, 112, 331…

    – Vật tư xuất thẳng để thi công công trình

    Nợ TK 621 (chi tiết từng đối tượng)

    Nợ TK 133

    Có TK 111, 112, 331…

    Căn cứ vào các chứng từ gốc là phiếu xuất kho, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, các giấy thanh toán tiền tạm ứng… kế toán vật liệu lập bảng tổng hợp xuất vật tư công cụ, dụng cụ trong tháng.

     

    GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG

    Ngày 1/5/2005

    Kính gửi: Giám đốc Công ty xây dựng – Binh đoàn 11

    Tên tôi là: Lê Việt Hoà

    Địa chỉ: Đội cầu

    Đề nghị tạm ứng số tiền là: 100.000.000

    Bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn.

    Lý do tạm ứng: Mua vật liệu thi công công trình.

    Thời hạn thanh toán: Trừ vào sản lượng.

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Phụ trách bộ phận Người đề nghị tạm ứng

    Tại Công ty hầu hết vật liệu mua về được xuất thẳng đến công trình không qua kho nhưng khi vật tư mua về hạch toán vẫn hạch toán lượng vật liệu này nhập kho, sau lại lập phiếu xuất kho.

    Đơn vị: Công ty xây dựng binh đoàn 11

     

    Địa chỉ:

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định: 1141-TC/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    PHIẾU NHẬP KHO

    Ngày 45/2005

    Tên người giao hàng: Lê Việt Hoà- Đội Cầu

    Theo 01 hoá đơn + HĐ077181 ngày 20-5-2005 của Công ty thép và vật tư công nghệ SIMCO.

    Nhập tại kho: Làm QL 1A (gồm hợp đồng đỏ – TLHĐ/đỏ – đen)

    STT Tên nhãn hiệu, qui cách vật tư Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo chứng từ Thực nhập
    A B C D 1 2 3 4
      Thép tròn gai LD            
      D12 – L = 11,7m   Kg   3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m   Kg   267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m   Kg   6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m   Kg   7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m   Kg   4290 4152,38 17.813.710
                  89.296.135
      Thuế GTGT = 5%           4.464.807
      Cộng           93.760.942

    Cộng tiền bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Mẫu số 01/GTKT-3CL

    CS/99-13

    HOÁ ĐƠN GTGT

    Liên 2 (giao khách hàng)

    Tháng 5/2005

    No: 077181

    Đơn vị bán hàng: Công ty thép và vật tư công ty SIMCO

    Địa chỉ: 198 Trần Phú – Hà Tĩnh                 Số TK 431130 000 50

    Điện thoại: 039885546 – Mã số: 01.009029225

    Họ tên người mua hàng: Lê Việt Hoà

    Đơn vị: Công ty xây dựng binh đoàn 11

    Địa chỉ:

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt                  0100193211

    STT Tên hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    A B C 1 2 3 = (1×2)
    1 Thép tròn gai LD        
      D12 – L = 11,7m Kg 3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m Kg 267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m Kg 6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m Kg 7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m Kg 4290 4152,38 17.813.710
      Cộng thành tiền       89.296.135
      Thuế VAT: 5%       4.464.807
              93.760.942

    Viết bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Người mua hàng             Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Đơn vị: Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Địa chỉ:

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    PHIẾU XUẤT KHO

    Số 212/VT

    Tháng 5/2005

    Họ tên người nộp tiền: Lê Việt Hoà – Đội Cầu

    Lý do xuất kho: Làm quốc lộ 1A

    Xuất tại kho: DN220/VT + 01BC + 01HĐ

    STT Tên nhãn hiệu quy cách, vật tư Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo chứng từ Thực nhập
    A B C D 1 2 3 4
    1 Thép tròn gai LD            
      D12 – L = 11,7m   Kg   3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m   Kg   267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m   Kg   6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m   Kg   7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m   Kg   4290 4152,38 17.813.710
      Cộng tiền hàng           89.296.135

    Cộng tiền bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Cụ thể làm căn cứ vào phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, hoá đơn GTGT mà kế toán ghi vào Nhật ký chung như sau:

    Nợ TK 152: 89.296.135

    Nợ TK 133 (1331): 4.464.807

    Có TK 111: 93.760.942

    Sau đó phản ánh hàng xuất kho như sau:

    Nợ TK 621: 89.296.135

    Có TK 152: 89.296.135

    Đơn vị: Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Đội Cầu

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    TRÍCH SỔ NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NT GS Chứng từ Diễn giải Đã ghi Sổ Cái TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    04/6 212 04/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    89.296.135 82.296.135
    05/6 222 05/6 Xuất kho vật liệu (cát đen) làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    55.052.400 55.052.400
    30/6 351 30/6 Xuất kho vật liệu (đá) làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    18.815.534 18.815.534
    30/6 385 30/6 Xuất kho vật liệu làm đường QK91 Hương Sơn x

     

    x

    621

     

    152

    50.000.000 50.000.000

    Đồng thời máy cũng lựa chọn số liệu vào sổ cái TK621 và sổ chi tiết TK621. Chi phí vật liệu phát sinh ở công trình nào thì tập hợp ghi vào sổ chi tiết TK621 của công trình đó. Số được mở riêng cho từng công trình và ghi theo thứ tự của chứng từ ghi sổ. Trước tiên căn cứ vào từng nghiệp vụ phát sinh mà vào Sổ Cái dựa trên sổ Nhật ký chung.

    Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Đơn vị: Đội Cầu

     

    TRÍCH SỔ CÁI – CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP

    Quý II/2005

    Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số tiền phát sinh
    Số Ngày Nợ
    212 04/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 89.296.135  
    222 05/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A 152 55.052.400  
    351 30/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A 152 18.815.534  
      31/6
        Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp quý II/2004 sang chi phí SXKKDD 1541   4.591.716.789

    Căn cứ vào số liệu trên các chứng từ ghi sổ mà số liệu cho sổ chi tiết TK621, tập hợp theo từng công trình.

    Ta có sổ chi tiết TK621 – chi tiết làm đường quốc lộ 1A như sau:

     

    SỔ CHI TIẾT TK621

    Công trình: Đường quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    NT GS Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    04/6 212 04/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 89.296.135  
    05/6 222 05/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 55.052.400  
    30/6 351 30/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 18.815.534  
    31/6   31/6 Kết chuyển chi phí vật liệu quý II/2005 vào sản phẩm dở dang 1541   3.017.331.917
          Tổng cộng   3.017.331.917 3.017.331.917

    Cuối kỳ căn cứ vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào giá thành sản phẩm theo định khoản.

    Nợ TK 154 (1541): 3.017.331.917

    Có TK 621: 3.017.331.917

    1. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Chi phí nhân công trực tiếp là khoản chi phí trực tiếp ở xí nghiệp và gắn liền với lợi ích của người lao động. Do vậy việc hạch toán đúng, đủ, chi phí nhân công có ý nghĩa quan trọng trong việc tính lương, trả lương chính xác, kịp thời cho người lao động. Nó có tác dụng tích cực góp phần khích lệ người lao động nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm…

    Chi phí nhân công ở xí nghiệp gồm:

    + Tiền lương công nhân trong danh sách

    + Tiền lương công nhân thuê ngoài

    + Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Hiện nay lực lượng lao động ở xí nghiệp gồm 2 loại: công nhân viên chức trong danh sách (trong biên chế) và công nhân viên chức ngoài danh sách.

    Công nhân viên chức trong biên chế chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng là lực lượng nòng cốt, thực hiện những công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao còn lại là lao động theo hợp đồng. Điều này làm cho cơ cấu của xí nghiệp trở nên gọn nhẹ, giảm bớt chi phí quản lý.

    Bộ phận công nhân viên chức ngoài danh sách gồm công nhân trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp (nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, quản lý hành chính).

    + Đối với công nhân lao động gián tiếp áp dụng trả lương khoán theo công việc của từng người (có quy chế trả lương theo cấp bậc, năng lực, công việc thực tế của mỗi người).

    + Đối với công nhân lao động trực tiếp xí nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm.

    + Đối với bộ phận CNVC trong danh sách xí nghiệp tiến hành trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo đúng quy định hiện hành. Cụ thể là:

    – 15% BHXH tính theo lương cơ bản

    – 2% BHYT tính theo lương cơ bản

    – 2% KPCĐ tính theo lương thực tế

    + Đối với bộ phận CNVC ngoài danh sách xí nghiệp không tiến hành trích BHXH, BHYT theo tháng (quý) mà tính trong đơn giá nhân công trả trực tiếp cho người lao động. Còn khoản KPCĐ thì xí nghiệp vẫn trích như CNVC trong danh sách.

     

    Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

     
       

    Chứng từ ban đầu để xác định tiền lương là bảng chấm công, các hợp đồng làm khoán…Hợp đồng làm khoán được ký theo từng công việc hay tổ hợp công việc và thời gian thực hiện hợp đồng. Do vậy, không nhất thiết phải trả lương theo từng tháng mà có thể trả theo khối lượng công việc hoàn thành trong hợp đồng.

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ______________

    HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

    Tên công trình: Đường quốc lộ 1A

    Tên đội trưởng: Lê Việt Hoà

    Tên tổ trưởng: Nguyễn Tiến Dũng

    Tên kế toán trưởng:Phan Hồng Nga

    STT Nội dung công việc ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Đào đất

     

    Vận chuyển

    m2

     

    m3

    1500

     

    300

    4500

     

    3000

    6.750.000

     

    900.000

      Cộng       7.650.000

    Như vậy theo biên bản của hợp đồng giao khoán thì  tính tiền công đào đất cho công nhân sẽ là:

    Đơn giá :4500đ/m2

    Khối lượng thi công:1.500m 2

    Vậy tiền công đào đất sẽ là:4500×1500 =6.750.000

    Có nghĩa là lương công nhân đào đất và vận chuyển sẽ được tính trên cơ sở bảng chấm công và hợp đồng chính khoán – ứng với số ngày làm việc trong tháng để quy ra số công được hưởng lương theo sản phẩm rồi trên cơ sở kết hợp với hợp đồng giao khoán và thanh toán.

    Bảng chấm công và chia lương và  hợp đồng thuê ngoài có dạng như sau.

    HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN NGOÀI – SỐ 7

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Tên đội trưởng: Lê Việt Hoà – đội cầu

    Nội dung công việc ĐVT Giao khoán Khối lượng Thành tiền Kết thúc Ký xác nhận
    K lượng Đơn giá Bắt đầu kết thúc
    Bốc xúcđất m2 740,3 10.000 5/6 20/6 740,3 7403159 20/6

     

    17/6

     
    Đổ bê tông m2 100 45.000 8/6 20/6 100 4500.000    
    cộng             11903159    

     

     

    BẢNG CHẤM CÔNG VÀ CHIA LƯƠNG

    Tháng 5/2005.

    STT Họ và tên Số ngày làm việc trong  tháng Tổng số ngày

     

    cộng

    Tổng số tiền được lĩnh
    1 2 3 31
    1

     

    2

    3

    Nguyễn Đình Cường

     

    Vũ Văn Hoàn

    Phạm Danh Lam

    x

     

    x

    x

    x

     

    x

    x

    x

     

    x

    x

     

      30

     

    30

    29

    925,116

     

    925,116

    894,279

      Cộng           386 11.903,159

    Từ công thức:

    = Đơn giá khoán   x

    Suy ra:  =     x

    Nên theo bảng có:

    =  x 30 = 925,116 đồng

    Nếu hợp đồng làm khoán chưa được thanh toán ngay thì kế toán tiến hành hạch toán vào TK 622 qua TK đối ứng 331

    Nợ TK 622: 11.903,159

    Có TK 331: 11.903,159

    Cuối tháng các hợp đồng làm khoán chưa được thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sẽ được tập hợp vào bảng kê hợp đồng làm khoán.

     

    BẢNG KÊ HỢP ĐỒNG LÀM KHOÁN

    Tháng 5/2005

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Đội trưởng: Bùi Quốc Thắng

    Số hợp đồng Diễn giải Chi phí sản xuất – TK622
    Hợp đồng làm khoán số 7 Đào đất, vận chuyển đất đá, đổ bê tông 11.903,159
    Hợp đồng làm khoán số 11 Đổ bê tông 2.973,145
      Cộng 17.482,170

    Từ bảng kê hợp đồng làm khoán kế toán sẽ lập chứng từ ghi sổ cho phần nợ công nhân lao động thuê ngoài mà công ty phải trả.

      CHỨNG TỪ GHI SỔ          MS: 01.SKT

    Ngày 31/5/2005

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    STT Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền
    Nợ Nợ
      K/c chi phí nhân công trực tiếp tháng 5/2005 cho công trình QL1A 622 331 17.482,170 17.482,170
      Cộng     17.482,170 17.482,170

    Nếu hợp đồng làm khoán thanh toán ngay bằng tiền tạm ứng của đội thì kế toán sẽ hạch toán vào TK622 qua TK đối ứng 141

    Nợ TK 622: …

    Có TK 141: …

    Cùng với chứng từ ghi sổ, bảng chấm công, bảng thanh toán lương cùng các chứng từ khác có liên quan kế toán tiến hành ghi sổ nhật ký chung.

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi vào sổ TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    31/6 231 31/6 Thanh toán tiền công nhân thuê ngoài QL1A x

     

    x

    622

     

    141

    17.842,170 17.842170

    Sau đó máy sẽ chuyển số liệu vào sổ TK 622 và ghi sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình.

    SỔ CÁI TK622

    Quý II/2005

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    231 31/6 Chi phí nhân công thuê ngoài QL1A 331 17.842,170  
    K/c chi phí NCTT vào sản phẩm dở dang 1542   309.277.432
        Cộng số phát sinh   309.277.432 309.277.432

     

    SỔ CHI TIẾT TK 622

    Công trình: Quốc lộ 1A

    STT

     

    GS

    Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    31/6

     

    31/6

      31/6

     

    31/6

    Thanh toán tiền nhân công thuê ngoài

     

    K/c chi phí nhân công trực tiếp vào sản phẩm dở dang

    331

     

    1542

    17.482,170  
              309.277.432 309.277.432

    Sau khi lên sổ chi tiết TK 621 – chi phí nhân công trực tiếp từng công trình máy sẽ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154 theo điều khoản.

    Nợ TK (1542)       :309.277.462 (Đường QL 1A)

    Có TK 622 : 309.277.432 (Đường QL 1A)

    3- Kế toán chi phí máy thi công

    Theo chế độ áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp được bộ tài chính bn hành chính thức quyết định sô 1864 QĐ/BTS ngày 16/12/98, xí nghiệp đã mở thêm TK 623 dùng để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công.

    Cũng như các doanh nghiệp xây lắp khác máy thi công bao gồm các phương tiện, máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công. Đây là một trong những bộ phận không thể thiếu được trong quá trình thi công và chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng giá trị tài sản của công ty. Không những thế nó còn giúp công ty đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng công trình cũng như giảm một lượng hao phí nhân công đáng kể.

    Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công

     
       

    Ngoài ra TSCĐ của Công ty gồm một số thiết bị, dụng cụ phục vụ cho quản lý và nhà xưởng khác. Trong một tháng máy thi công có thể phục vụ hoạt động cho nhiều công trình do vậy công ty giao máy cho các tổ đội để tạo điều kiện chủ động cũng như nâng cao chất lượng quản lý. Đồng thời các đội phải có trách nhiệm bảo quản máy móc thông qua các chứng từ ban đầu là “qui định điều động xe (máy). Đến cuối tháng phiếu này cùng các giấy tờ có liên quan sẽ được chuyển về phòng kế toán làm căn cứ ghi sổ và phân bổ cho từng đối tượng sử dụng. Chi phí sử dụng máy thi công có liên quan đến công trình nào thì hạch toán cho công trình đó. Trường hợp phải thuê máy thì đội trưởng đội thi công và đơn vị cho thuê phải làm hợp đồng thuê máy như sau:

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    HỢP ĐỒNG THUÊ MÁY THIẾT BỊ

    Hôm naylà ngày ……. hai bên chúng tôi gồm:

    Bên cho thuê máy (bên A): Công ty vật tư thiết bị giao thông

    Địa chỉ:

    Điện thoại:

    Bên thuê máy (bên B) : Công ty xây dựng ….

    Địa chỉ

    Điện thoại:

    Hai bên cùng thoả thuận thuê thiết bị với những điều khoản sau:

    Điều 1: Bên A đồng ý cho bên B thuê một máy trộn bê tông phục vụ thi công công trình quốc lộ 1A.

    – Thời gian: từ ngày 20/5/2005 đến khi xong

    – Địa điểm: tại quốc gia 1A

    Điều 2: Đơn giá và hình thức thanh toán

    – Đơn giá: 300.000đồng/1 giờ máy

    – Hình thức thanh toán: Hàng tháng hai bên xác nhận và thanh toán theo số giờ máy thực tế hoạt động, trả bằng tiền mặt.

    Điều 3: Trách nhiệm bên A

    Điều 4: Trách nhiệm bên B

     

    BẢNG PHÂN BỔ CHI PHÍ KHẤU HAO MÁY THI CÔNG

    Máy san – Quý II/2005

    Tổng nguyên giá Thời gian sử dụng Thời sử dụng Mức thu khoán
    144.000.000 3 1,5

     

    1

    0,5

    Đội 2=72.000.000

     

    Đội 3= 48.000.000

    Đội cầu=24.000.000

    Căn cứ vào bảng phân bổ chi phí khấu hao máy thi công kế toán phân bổ như sau:

    Máy san:

    – Nguyên giá: 24.000.000

    – Số tháng sử dụng: 3 tháng trong đó:

    + Đội 2 sử dụng là 1,5 tháng

    + Đội 3 sử dụng là 1 tháng

    + Đội cầu là 0,5 tháng

    Vậy ta có:

    Mức thu khoán của đội 2 =  = 12.000.000đ

    Mức thu khoán của đội 3 =  = 8.000.000đ

    Mức thu khoán của đội cầu =  = 4.000.000đ

    Sau khi thi công xong đội phải có trách nhiệm lập bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy năm 2005 như sau:

    Công ty  xây dựng cầu đường  Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Binh đoàn 11                           Độc lập -Tự do – Hạnh phúc

    Bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy thiệt bị của công ty XDCĐ cho đội cầu. Hai bên thống nhất thanh toán sử dụng thiết bị quý II/2005 đường quốc lộ 1A như sau:

    STT Tên tài sản Định mức sử dụng Thời gian ngừng việc Thời gian hoạt động Thành tiền
    Số ca Lý do Số ca ĐG/ca
    1 Máy lu 22 ca/T 22 ca Bão lụt   280.000
    2 Máy ủi 22 ca/T 60 ca Bão lụt   400.000 17.000.000
    3 Máy san 22 ca/T 22 ca Bão lụt   500.000 24.000.000
      Cộng           41.600.000

    Dựa trên cơ sở bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy năm 2005kế toán điều khiển tiền khấu hao máy thi công như sau:

    Nợ TK 623(4)                : 41.600.000

    Có TK 141 (3)      : 41.600.000

    Đây chính là cơ sở để vào nhật ký chung và sổ cái TK 623 và TK có liên quan đồng thời vào sổ chi tiết TK 623 và kết chuyển vào TK 154.

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi sổ cái TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 230 15/6 Xuất vật liệu chạy máy đường 8 – Hương Sơn x

     

    x

    6232

     

    152

    143.600 143.600
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy đường quốc lộ 1 x

     

    x

    6232

     

    152

    125.000 125.000
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền thuê máy trộn bê tông đường QL1A TGTGT dồn vào trả bằng tiền tạm ứng x

     

    x

    x

    x

    6237

     

    141

    1331

    141

    8.500.000

     

    850.000

    8.500.000

     

    850.000

    31/6 214 31/6 Số tiền thuê CN điều khiển máy đường QL1A x

     

    x

    6231

     

    331

    2.228.500 2.228.500
        31/6 Tiền khấu hao máy TC thanh toán bằng tiền tạm ứng x

     

    x

    6234

     

    1413

    14.470.750 14.470.750

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN 623

    Quý II/2005
    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 230 15/6 Xuất vật liệu làm đường 8 – Hương sơn 152 143.600  
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy QL 1A 152 125.300  
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền trộn bê tông đường 1A – tạm ứng 141 8.500.000  
    31/6 214 31/6 Thanh toán tiền CN điều khiển máy đường QL1A 331 2.228.500  
    31/6   31/6 Tiền khấu hao máy thi cong QL1A 1413 11.600.000  
          K/c chi phí sử dụng máy thi công vào sản phẩm dở dang 154   3563465.878
          Cộng   356.465.878 356.465.878

     

    SỔ CHI TIẾT TK623

    Công trình: Đường quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy 152 125.300  
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền thuê máy 141 8.500.000  
    31/6 44 31/6 Thanh toán tiền CN điều khiển máy 331 2.228.500  
    31/6   31/6 Tiền KH máy thi công 1413 11.600.000  
          K/C chi phí máy thi công vào sản phẩm dở dang 1543   206.582.621
          Cộng số phát sinh   206.582.621 206.582.621

    Ta có điều khiển như sau với việc kết chuyển chi phí máy thi công vào sản phẩm dở dang sau khi lên sổ:

    Nợ TK 154           : 206.582.621

    Có TK 623 : 206.582.621

    1. Chi phí sản xuất chung

    Đi thi công công trình ngoài những khoản chi phí trên còn các khoản chi phí sản xuất chung phục vụ sản xuất, các khoản chi phí này phát sinh vừa được hạch toán vào TK 627 bao gồm chi phí sau:

    + Tiền lương,các khoản trích theo lương nhân viên phục vụ nhân viên quản lý công trình (TK 6271)

    +Chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác phục vụ quản lý sản xuất chung của công trình (TK 6272)

    + Chi phí công cụ dụng cụ sản xuất (TK 6273)

    Việc trích BHXH, BHYT, KPCĐ cũng được thực hiện tương tự như công nhân sản xuất trực tiếp.

    Những công cụ có giá trị lớn nhưng không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ được sử dụng nhiều lần thì tiến hành phân bồ dần còn những dụng cụ có giá trị nhỏ như cuốc, xẻng… thì tiến hành phân bổ 1 lần cho công trình đó.

    + Chi phí khấu hao TSCĐ không phải máy thi công phục vụ cho công tác sản xuất chung (TK 6274)

    + Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước… (TK6277)

    + Chi phí bằng tiền khác như chi phí giao dịch, tiếp khách (TK 6278)

    Xí nghiệp đã mở đủ 6 tiểu khoản cấp 2 nhằm theo dõi chi tiết từng khoản mục chi phí sản xuất chung. Chi phí sản xuất chung phát sinh có liên quan tới công trình, hạng mục công trình nào thì sẽ được hạch toán trực tiếp vào công trình đó. Còn trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình hạng mục công trình thì kế toán sẽ tập hợp chung và tiến hành phân bổ theo tiêu thức nhân công trực tiếp.

    Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung

     
       

    TK 6274 được công ty sử dụng dùng để hạch toán toàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận quản lý tổ, đội. Hàng quý tiến hành tính khấu hao để hình thành vốn và quỹ sửa chữa TSCĐ. Bắt đầu từ ngày 01/01/03 công ty áp dụng tính khấu hao theo quy định 116/1999 QĐ – BTC ngày 30/12/1999 của Bộ Tài chính

    BẢNG TÍNH VÀ PHÂN BỔ KHẤU HAO TSCĐ

    Quý II/2005
    Số TT Tên TS Số năm SD Tổng NG Nguyên giá KHTSCĐ năm 2004 Giá trị còn lại đến 31/5/05
    NVNS NVBS NV vay      
    1 Máy ủi 5 17.600.000     17.600.000     3.520.000 14.080.000
    2 Máy TBT 5 16.830.000     16.830.000     4.207.500 12.622.500
    3 Máy san 4 24.000.000     24.000.000     4.800.000 19.200.000
      Tổng cộng               41.600.000 56.322.512

    BẢNG TÍNH TRÍCH NGANG KH TSCĐ

    Quý II/2005

    STT Tên tài sản Số tháng sử dụng Hoạt động Khấu hao cơ bản II/2005
    Số ca Đơn giá
    1 Máy ủi 3 44 400.000 880.000
    2 Máy trộn bê tông 3 66 255.000 1.051.815
    3 Máy san 3 48 500.000 1.200.000

    Ngoài ra còn có các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. Bao gồm các khoản chi phí về tiền điện, nước, điện thoại, tiền thuê nhà, chi phí tiếp khách… Chi phí phát sinh cho công trình nào thì thanh toán cho công trình đó. Các chứng từ là các hoá đơn thanh toán.

    Công ty XDCĐ

    Binh đoàn 11

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi sổ cái TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6 230 10/6 Xuất dụng cụ cho quản lý đội, xưởng x 6272

     

    153

    2.105.000 2.105.000
    31/6   31/6 Chi phí khấu hao TSCĐ x 6274

     

    214

    11.201.500 11.201.500
    31/6 36 31/6 Trả tiền điện thoại x 6278

     

    133

    141

    850.000

     

    85.000

    935.000
    31/6   31/6 Tiền lương NVQL trong biên chế x 6271

     

    141

    6.472.660 6.472.660

    TRÍCH SỔ CÁI TK 627 – QUÝ II/2005

    (Sổ chi tiết)

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6   10/6 Xuất dụng cụ VLQL đội 153 2.105.000  
    31/6   31/6 Chi phí khấu hao TSCĐ 214 11.201.500  
    31/6   31/6 Trả tiền điện thoại 141 935.000  
          Tiền lương NVQL trong biên chế 141 6.472.660  
          K/c chi phí SXC quý II sang TK chi phí SXDD 1544   502.212.488
          Cộng phát sinh   502.212.488 502.212.488

    Và kế toán tiến hành điều khoản bút toán sau:

    Nợ TK 154 (1544)         : 502.212.488

    Có TK 627: 5023.212.488

    TRÍCH SỔ CÁI TK 627 – QUÝ II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6 230 10/6 Xuất dụng cho cho quản lý đội –QL1A 153 2.105.000  
    31/6   31/6 Chi phí KHTSCĐ – QL1A 214 11.291.500  
    31/6 36 1/6 Thanh toán tiền lương cho NLQL đội K/C chi phí SXC quý II/2005 141 6.472.600 782.093.000
          Cộng phát sinh   782.093.000 782.093.000

    TRÍCH SỔ CÁI TK 154 – QUÝ II/2005

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh Số dư
    Số ngày Nợ Nợ
    1 31/6 Số dư đầu kỳ       382.262.287  
        Đường QL1A       382.262.287  
        Đường 8- Hương Sơn        
        K/c CPNVL TT   4.904.697.707   5.286.959.994  
        Đường QL 1A   3.017.331.917   3.399.594.204  
        Đường 8 – Hương Sơn   1.887.365.787   1887.365.787  
        K/c CPNC TT   539.914.942   5.286.874.936  
        Đường QL 1A   309.277.432   3.708.865.636  
        Đường 8 – Hương Sơn   230.637.510   2.118.003.297  
        KC CP máy thi công   234.629.357   6.061.504.293  
        Đường QL 1A   206.582.621   3.915.398.257  
        Đường 8 – Hương sơn   28.046.736   2.146.050.033  
        K/C CPSXC   669.733.296   6.731.237.589  
        Đường QL 1A   502.212.488   4.417.610.742  
        Đường 8 – Hương sơn   167.520.808   2.313.570.841  
        K/c CP thực tế   6.348.975.299   6.731.237.589  
        Đường QL 1A   4.035.404.458   4.417.610.742  
        Đường 8 – Hương sơn   2.313.570.841   2.313.570.841  
        Số dư cuối kỳ          
        Đường QL 1A     0    
        Đường 8 – Hương sơn     2.313.57    
        Giá thành sản phẩm     0.841    
        Đường QL 1A     4.417.61    
        Đường 8 – Hương sơn     0.472    

    SỔ CHI TIẾT TK154

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      31/6 Số dư đầu kỳ     382.262.287
        K/c CP NVL trực tiếp 621 3.017.331.917 3.017.331.917
        K/c CPCNTT 622 309.277.432 309.277.432
        K/c CP MTC 623 206.582.621 206.582.621
        K/c CPSXC 627 502.212.488 502.212.488
        Cộng chi phí thực tế   4.635.404.458 4.417.666.745
        Số dư cuối kỳ      
        Giá thành sản phẩm      
        Cộng   4.417.666.745  
    1. Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp

    Kỳ tính giá thành của Công ty XDCĐ – binh đoàn 11 được xác định là hàng quý vào thời điểm cuối quý. Công ty áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn cho mỗi công trình, hạng mục công trình. Toàn bộ chi phí thực tế phát sinh của từng công trình, hạng mục công trình khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao là giá thực tế của công trình, hạng mục công trình đó. Ta tính được giá thực tế của khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ theo công thức sau:

    =    +  –

    Vậy tại công trình quốc lộ 1A tại thời điểm cuối kỳ công ty xác định giá thực tế KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ là:

    382.262.287 + (3.017.331.917 + 309.277.432 + 206.582.621 + 502.212.488) – 0 = 4.417.666.745

    Từ đó ta có thể tổng hợp khái quát chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của công ty bằng sơ đồ sau:

    Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của công ty tại công trình quốc lộ 1A

    Cuối quý từ số liệu trên các số chi tiết TK621, 622, 6271, 6273, 6278, 104 kế toán lập bảng tính giá thành sản phẩm:

     

    Bảng tính giá thành sản phẩm công trình quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    STT Khoản mục chi phí Số dư đầu kỳ Chi phí phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ Giá thành sản phẩm
    1 NVL trực tiếp 267.583.600 3.017.337.917 2.284.915.517
    2 NC trực tiếp 29.296.964 309.277.432 338.574.396
    3 Máy thi công 19.568.879 206.582.621 226.151.600
    4 Sản xuất chung 65.812.744 502.212.488 568.025.232
      Cộng 382.262.287 4.035.404.458   4.417.666.745

    Sơ đồ tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp của CTXL

    PHẦN THỨ BA

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOẠN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11

    I- ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY XÍ NGHIỆP – BINH ĐOÀN 11.

    Từ những ngày đầu bước vào sản xuất kinh doanh với nỗ lực phấn đấu của ban lãnh đạo và độ ngũ cán bộ công nhân viên toàn công ty, sự quan tâm của Bộ xây dựng. Công ty luôn xứng đáng là một trong những đơn vị đứng đắn về xây dựng. Công ty đã, đang và sẽ xây dựng nhiều công trình có tầm quan trọng trong nền kinh tế.

    Qua quá trình tìm hiểu thực tế và công tác quản lý kế toán nói chung, công tác quản ly hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xấy lắp nói riêng em nhận thấy công ty là một đơn vị hạch toán độc lập thuộc doanh nghiệp Nhà Nước tuy nhiều mặt còn chịu sự quản lý của Nhà nước nhưng công ty đã xây dựng được mô hình quản lý và hạch toán hợp lý, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, chủ động hoạt động kinh doanh. Từ công việc hoạch toán ban đầu, việc kiểm tra hợp lý, hợp lệ những chứng từ được tiến hành khá cẩn thận,  đảm bảo số liệu hoạch toán có căn cứ pháp lý tránh được sự phản ánh sai  lập nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Việc luật và luân chuyển chứng từ theo đúng chế độ hiện hành, cung cấp kịp thời số liệu cho kế toán nhật ký chung làm nhiệm vụ cập nhập.

    Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng đủ đáp ứng nhu cầu chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty đã đảm bảo quản lý và hoạch toán các yếu tố chi phí  của quá trình sản xuất một cách liêm kiệm,  có hiệu quả cụ thể công ty đã quản lý lao động có trọng tâm và luôn động viên khuyến khích đối với lao động có tay nghề cao. Ngoài ra công ty còn đưa lao động thành lao động trong danh sách và ngoài danh sách để động viên, huy động lao động được linh hoạt.

    Phòng kế toán của công ty được bố chí gọn nhẹ , với đội ngũ kế toán có trình độ cao, năng lực, nhiệt tình và trung thực đã xây dựng được hệ thống sổ sách kế toán – cách thức ghi chép, phương pháp hạch toán khoa học, hợp lý, phù hợp với yêu cầu mục đích của chế độ toán mới. Tổ chức công tác kế toán quản trị, tài chính rõ ràng , khoa học giúp giảm bớt khối lượng kế toán, kế toán viên có thể đáp ứng đầy đủ thông tin hữu dụng đến với yêu cầu quản lý của công ty cũng như các đối tượng liên quan khác. Cụ thể:

    + Công ty đã mở những kế toán phản ánh cho từng công trình, hạng mục công trình, từng đơn vị đảm bảo cho việc theo dõi khả sát sao cho từng công trình , và đơn vị thi công đó.

    + Do lập số sổ chi tiết tạo nên điều kiện thuận lợi cho trưởng  phòng kế toán cùng ban lãnh đạo  công ty trong việc phân tích hoạt động kinh tế.Công việc này tiến hành khá thuận lợi nên đã đưa ra quyết định kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh của toàn công ty.

    Về công tác tập hợp chi phí và giá thành , kế toán công ty đã hoạch toán chi phí sản xuất cho từng công trình, hạng mục công trình trong từng tháng, từng quý một cách rõ ràng, đơn giản phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, quản lý và phần tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Công việc kiểm kê  khối lượng xây lắp dở dang được tổ chức một cách khoa học, cung cấp số liệu chính xác phục vụ cho công tác giá thành.

    Việc sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán cũng góp phần không nhỏ giảm được các chi phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả công tác kế toán.

    + Đã lập được chương trình kế toán riêng trên máy vi tính theo hình thức kế toán nhật ký chung.

    + Đã đưa toàn bộ phần kế toán tài chính và kế toán quản trị vào máy vi tính.

    + Có thể đưa ra báo cáo kế toán vào bất kỳ thời điểm nào cần.

    + Cung cấp đầy đủ, kịp thời các số liệu kế toán cho ban lãnh đạo, phục vụ công tác quản lý.

    II. MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁN THÀNH SẢN PHẨM.

    Kế toán chi phí sản xuất quá trình sản phẩm là khâu hoạch toán chủ yếu trong công tác kế toán và DNXS. Nghiệp vụ kinh tế phát sinh của nó được phản ánh bằng nhiều loại chứng từ gốc bắt nguồn từ tổ, đội sản xuất qua các cán bộ kỹ thuật, thủ kho, rao động tiền lương rồi mới đến kế toán xí nghiệp để phân loại, tổng hợp chứng từ và chuyển về  phòng để kiểm tra hạch toán.

    Đối với ngành xây dựng cơ bản chủ yếu giá thành sản phẩm xây lắp được xác định trước khi sản xuất ra sản phẩm. Để bù đắp chi phí sản xuất và đảm bảo có lãi, trong quá trình sản xuất công ty luôn phải đối đầu với những chi phí phát sinh không đáng có với giá trị dự toán.

    Ngoài ra đối với chi phí nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp chiếm tỷ lệ trọng lớn nên tiếp kiệm vật tư là cần thiết. Tiết kiệm ở đây không có nghĩa là cắt xén, mua vật liệu kém chất lượng, mà thực chất là xuất dùng đúng việc, không lãng phí, bừa bãi, có kế hoạch bảo đảm rõ ràng, tránh mất mát, hư hỏng cũng như giảm chất lượng vật tư. Xí nghiệp nên cử một số cán bộ có trình độ, năng lực, trung thực nhạy bén, chuyên viên nguyên cứa về thị trường vật tư bởi việc cung ứng vật tư phụ thuộc rất nhiều về tình hình biến động của thị trường. Hơn nữa công ty có nhiều công trình nhằm dải dác khắp nơi do đó  đối với những công trình lớn , thời gian thi công dài xí nghiệp nên đấu thầu cung ứng vật tư. Yếu tố chi phí vận chuyển vật tư cũng cần quan tâm, công ty phải có kế hoạch vận chuyển sao cho có hiệu quả nhất tức là nhà cung cấp đến kho hoặc trân công trình phải có giá cả phù hợp, tránh vận chuyển nhiều gây hư hỏng, hao hụt. Trường hợp phải thuê xe ngoài thì nên thuê những xe phù hợp với nhu cầu vận chuyển. Bên cạnh đó việc tìm những nguyên vật liệu, có tính sử dụng hiệu quả cao, phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và giá cả phù hợp với yêu cầu của công trình cũng nên được quan tâm.

    Nói chung chi phí nguyên vật liệu chiếm khoảng 75% giá trị công trình nên xí nghiệp cần có những biện pháp thích ứng với điều kiện tình hình cụ thể để có những biện pháp kịp thời nhằm giảm bớt chi  phí đến mức có thể.

    Công nhân thi công các công trình của xí nghiệp chủ yếu là lao động thuê ngoài do đó xí nghiệp phải theo dõi, quản lý chặt chẽ cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Quản lý về số lượng sẽ đảm bảo lượng lao động cần thiết cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc xấy  lắp, tránh để công việc bị giám đoạn do thiếu nhân công cũng như để nhân công phải chờ việc, còn quản lý chất  lượng tức là những nhân công tham gia xây lắp công trình phải có chuyên môn, tay nghề cao. Công tác quản  lý nhân công cần phải có khoa học, biết dùng đúng người đúng việc sẽ gòp phần nâng cao năng xuất lao động, chất lượng công trình và cũng đảm xây dựng thời gian hợp lý.

    Bên cạnh những giải pháp trên xí nghiệp cần phải giảm những chi phí cần thiết đến mức tối thiểu. Có như vậy công tác tiết kiệm chi phí và đảm bảo giá thành sản phẩm mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    KẾT LUẬN

    Trong xuất quá trình thực tập tại xí nghiệp binh đoàn 11- Công ty xây dựng quốc phòng em nhận thấy rằng chỉ dựa vào những kiến thức đã học ở trường là chưa đủ. Bởi vậy đây là thời gian cho em thử nghiệm những  kiến thức mình đã học kho còn ngồi trên ghế nhà trường vào công tác thực tế.

    Mặt khác phá trình thực tập đã giúp em hiểu sâu hơn, đúng như những kiến thức mình đã được học. Em cảm thấy mình đã trưởng thành hơn vì những lý thuyết đã được áp dụng trong thực tế. Hiểu được tầm quan trọng đó em đã cố gắng học hỏi về công việc kế toán, về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp áp dụng kế toán mới ở nước ta.

    Được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình của cô Lê Thị Bình và các thầy cô ở trường, các bác, các cô,, các anh chị trong xí nghiệp mà đặc biệt là phòng kế toán của xí nghiệp binh đoàn 11nên em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài ”Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở xí nghiệp xây dựng binh đoàn 11”

    Trong chuyên đề này em đã mạnh dạn trình bày một số ý kiến nhỏ với nguyện vọng để công ty tham khảo nhằm làm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán ở công ty. Do trình độ và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên trong bài luận này không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế.Em rất mong sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô để em được tiến bộ hơn.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của cô Lê Thị Bình và các thầy cô giáo trong trường.Cùng các bác, các cô, các anh chị trong xí nghiệp xây dựng binh  đoàn 11- Công ty xây dựng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề  này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A5-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-4-Th%C4%83ng-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    LỜI NÓI ĐẦU

    Xây dựng cơ bản (XDCB) là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định (TSCĐ) cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân (KTQD), nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước. Vì vậy một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư từ nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực đầu tư XDCB. Bên cạnh đó đầu tư XDCB luôn là một “lỗ hổng” lớn làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB đang là một vấn đề cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay.

    Tổ chức hạch toán kế toán, một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Quy mô sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu và phạm vi công tác kế toán ngày càng mở rộng, vai trò và vị trí của công tác kinh tế ngày càng cao.

    Với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm đáp  ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của nền kinh tế mở đã buộc các doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp XDCB phải tìm ra con đường đúng đắn và phương án sản xuất kinh doanh (SXKD) tối ưu để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường, dành lợi nhuận tối đa, cơ chế hạch toán đòi hỏi các doanh nghiệp XBCB phải trang trải được các chi phí bỏ ra và có lãi. Mặt khác, các công trình XDCB hiện nay đang tổ chức theo phương thức đấu thầu. Do vậy, giá trị dự toán được tính toán một cách chính xác và sát xao. Điều này không cho phép các doanh nghiệp XDCB có thể sử dụng lãng phí vốn đầu tư.

    Đáp ứng các yêu cầu trên, các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải tính toán được các chi phí sản xuất bỏ ra một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời. Hạch toán chính xác chi phí là cơ sở để tính đúng, tính đủ giá thành. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm mọi cách hạ thấp chi phí sản xuất tới mức tối đa, hạ thấp giá thành sản phẩm – biện pháp tốt nhất để tăng lợi nhuận.

    Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất, khoản mục chi phí nguyên vật liệu (NVL) chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp, chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí NVL cũng làm ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh vấn đề trọng tâm là kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thì tổ chức tốt công tác kế toán NVL cũng là một vấn đề đáng được các doanh nghiệp quan tâm trong điều kiện hiện nay.

    Ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long với đặc điểm lượng NVL sử dụng vào các công trình lại khá lớn thì vấn đề tiết kiệm triệt để có thể coi là biện pháp hữu hiệu nhất để giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho Công ty. Vì vậy điều tất yếu là Công ty phải quan tâm đến khâu hạch toán chi phí NVL.

    Trong thời gian thực tập, nhận được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo Công ty, đặc biệt là các đồng chí trong phòng kế toán Công ty, em đã được làm quen và tìm hiểu công tác thực tế tại Công ty. Em nhận thấy kế toán vật liệu trong Công ty giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có nhiều vấn đề cần được quan tâm. Vì vậy em đã đi sâu tìm hiểu về phần thực hành kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày đề tài: “Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long”.

    Mặc dù đã rất cố gắng tìm hiểu và nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như các đồng chí trong ban lãnh đạo và phòng kế toán Công ty, nhưng do nhận thức và trình độ bản thân có hạn nên bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót và những hạn chế.

    Em rất mong được tiếp thu và xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp cho đề tài này hoàn thiện hơn.

    Kết cấu đề tài gồm 3 phần lớn sau:

    Phần I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp xây lắp.

    Phần II: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long.

    Phần III: Nhận xét về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long và một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại Công ty.

    PHẦN THỨ I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN

    NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG

    CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

     

    1.1. KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.

    1.1.1. Vị trí của vật liệu- công cụ, dụng cụ đối với quá trình xây lắp.

    Nguyên vật liệu là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu là đối tượng của lao động đã qua sự tác động của con người. Trong đó vật liệu là những nguyên liệu đã trải qua chế biến. Vật liệu được chia thành vật liệu chính, vật liệu phụ và nguyên liệu gọi tắt là nguyên vật liệu. Việc phân chia nguyên liệu thành vật liệu chính, vật liệu phụ không phải dựa vào đặc tính vật lý, hoá học hoặc khối lượng tiêu hao mà là sự tham gia của chúng vào cấu thành sản phẩm. Khác với vật liệu, công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ tiêu chuẩn quy định về giá trị và thời gian sử dụng của tài sản cố định. Trong quá trình thi công xây dựng công trình, chi phí sản xuất cho ngành xây lắp gắn liền với việc sử dụng nguyên nhiên vật liệu, máy móc và thiết bị thi công và trong quá trình đó vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành lên sản phẩm công trình. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    Trong doanh nghiệp xây lắp chi phí về vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn từ 65%- 70% trong tổng gía trị công trình. Do vậy việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ kịp thời hay không có ảnh hưởng to lớn đến việc thực hiện kế hoạch sản xuất (tiến độ thi công xây dựng) của doanh nghiệp, việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ còn cần quan tâm đến chất lượng, chất lượng các công trình phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của vật liệu mà chất lượng công trình là một điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có uy tín và tồn tại trên thị trường. Trong cơ chế thị trường hiện nay việc cung cấp vật liệu còn cần đảm bảo giá cả hợp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Bên cạnh đó, công cụ dụng cụ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, giá trị thì dịch chuyển một lần hoặc dịch chuyển dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Song do giá trị nhỏ, thời gian sử dụng ngắn nên có thể được mua sắm, dự trữ bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp như đối với nguyên vật liệu.

    Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nếu thiếu nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ thì không thể tiến hành được các hoạt động sản xuất vật chất nói chung và qúa trình thi công xây lắp nói riêng.

    Trong qúa trình thi công xây dựng công trình, thông qua công tác kế toán nguyên vật liệu công cụ, dụng cụ từ đó có thể đánh giá những khoản chi phí chưa hợp lý, lãng phí hay tiết kiệm. Bởi vậy cần tập trung quản lý chặt chẽ vật liệu, công cụ dụng cụ ở tất cả các khâu: thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ nhằm hạ thấp chi phí sản xuất sản phẩm trong chừng mực nhất định, giảm mức tiêu hao vật liệu, công cụ dụng cụ trong sản xuất còn là cơ sở để tăng thêm sản phẩm cho xã hội. Có thể nói rằng vật liệu công cụ dụng cụ giữ vị trí quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thi công xây lắp.

    1.1.2. Đặc điểm, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp xây lắp.

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp, sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình, hạng mục công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp và thường cố định ở nơi sản xuất (thi công) còn các điều kiện khác đều phải   di chuyển theo địa điểm xây dựng. Từ đặc điểm riêng của ngành xây dựng làm cho công tác quản lý, sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ phức tạp vì chịu ảnh hưởng lớn của môi trường bên ngoài nên cần xây dựng định mức cho phù hợp với điều kiện thi công thực tế. Quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ là yếu tố khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên do trình độ sản xuất khác nhau nên   phạm vi mức độ và phương pháp quản lý cũng khác nhau.

    Hiện nay nền sản xuất  ngày càng mở rộng và phát triển trên cơ sở thoả mãn không ngừng nhu cầu vật chất và văn hóa của mọi tầng lớp trong xã hội. Việc sử dụng vật liệu công cụ dụng cụ một cách hợp lý, có kế hoạch ngày càng được coi trọng. Công tác quản lý vật liệu công cụ dụng cụ là nhiệm vụ của tất cả mọi người nhằm tăng hiệu quả kinh tế cao mà hao phí  lại thấp nhất. Công việc hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ ảnh hưởng và quyết định đến việc hạch toán giá thành, cho nên để đảm bảo tính chính xác của việc hạch toán giá thành thì trước hết cũng phải hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ chính xác.

    Để làm tốt công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ trên đòi hỏi chúng ta phải quản lý chặt chẽ ở mọi khâu từ thu mua, bảo quản tới khâu dự trữ và sử dụng. Trong khâu thu mua vật liệu, công cụ dụng cụ phải được quản lý về khối lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí thu mua, thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ phận kế toán – tài chính cần có quyết định đúng đắn ngay từ đầu trong việc lựa chọn nguồn vật tư, địa điểm giao hàng, thời hạn cung cấp, phương tiện vận chuyển và nhất là về giá mua, cước phí vận chuyển, bốc dỡ… cần phải dự toán những biến động về cung cầu và giá cả vật tư trên thị trường để đề ra biện pháp thích ứng. Đồng thời thông qua thanh toán kế toán vật liệu cần kiểm tra lại giá mua vật liệu, công cụ dụng cụ, các chi phí vận chuyển và tình hình thực hiện hợp đồng của người bán vật tư, người vận chuyển. Việc tổ chức tổ kho tàng, bến bãi thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cũng là một trong các yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ. Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ  tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình thi công xây lắp được bình thường, không bị ngừng trệ, gián đoạn do việc cung ứng vật tư không kịp thời hoặc gây ứ động vốn do dự trữ quá nhiều.

    Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức tiêu hao và dự toán chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp . Do vậy trong khâu sử dụng cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất vật liệu, công cụ dụng cụ đúng trong sản xuất kinh doanh. Định kỳ tiến hành việc phân tích tình hình sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ  cũng là những khoản chi phí vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, khuyến khích việc phát huy sáng kiến cải tiến, sử dụng tiết kiệm vật liệu, công cụ dụng cụ, tận dụng phế liệu…

    Tóm lại, quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng vật liệu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp luôn được các nhà quản lý quan tâm.

    1.1.3. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở các doanh nghiệp xây lắp:

    Kế toán là công cụ phục vụ việc quản lý kinh tế vì thế để đáp ứng một cách khoa học, hợp lý xuất phát từ đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ, từ yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ, từ chức năng của kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

    + Tổ chức ghi chép,  phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập, xuất và tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế vật liệu đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu tư về các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ, đúng chủng loại cho quá trình thi công xây lắp.

    + Áp dụng đúng đắn các phương pháp về kỹ thuật hạch toán vật liệu, hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở chế độ đúng phương pháp quy định nhằm đảm bảo sử dụng thống nhất trong công tác kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác kế toán trong phạm vi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    + Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật tư phát hiện ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý vật tư thừa, thiếu, ứ đọng hoặc mất phẩm chất. Tính toán, xác định chính xác số lượng và giá trị vật tư thực tế đưa vào sử dụng và đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    1.2. PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ:

    Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu – công cụ dụng cụ bao gồm rất nhiều loại khác nhau, đặc biệt là trong ngành xây dựng cơ bản với nội dung kinh tế và tính năng lý hoá học khác nhau. Để có thể quản lý chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết tới từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho kế hoạch quản trị … cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ.

    Trước hết đối với vật liệu, căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò của chúng trong quá trình thi công xây lắp, căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp thì nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:

    + Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp, là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể chính của sản phẩm.

    Trong ngành xây dựng cơ bản còn phải phân biệt vật liệu xây dựng, vật kết cấu và thiết bị xây dựng. Các loại vây liệu này đều là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành lên sản phẩm của đơn vị xây dựng, các hạng mục công trình xây dựng nhưng chúng có sự khác nhau. Vật liệu xây dựng là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được sử dụng trong đơn vị xây dựng để tạo lên sản phẩm như hạng mục công trình, công trình xây dựng như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép… Vật kết cấu là những bộ phận của công trình xây dựng mà đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm xây dựng của đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm  xây dựng của đơn vị mình như thiết bị vệ sinh, thông gió, truyền hơi ấm, hệ thống thu lôi…

    + Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu tham gia  vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm. Vật liệu phụ chỉ tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm: Làm tăng chất lượng vật liệu chính và sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ thi công, cho nhu cầu công nghệ kỹ thuật bao gói sản phẩm. Trong ngành xây dựng cơ bản gồm: sơn, dầu, mỡ… phục vụ cho quá trình sản xuất.

    + Nhiên liệu: Về thực thể là một loại vật liệu phụ, nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong qúa trình thi công, kinh doanh tạo điều kiện cho qúa trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, khí, rắn như: xăng, dầu, than củi, hơi đốt dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện máy móc, thiết bị hoạt động.

    + Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất…

    + Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản.

    + Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình thi công xây lắp như gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định. Tuỳ thuộc vào yêu quản lý và công ty kế toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ một cách chi tiết hơn bằng cách lập sổ danh điểm  vật liệu. Trong đó mỗi loại, nhóm, thứ vật liệu được sử dụng một ký hiệu riêng bằng hệ thống các chữ số thập phân để  thay thế tên gọi, nhãn hiệu, quy cách của vật liệu. Ký hiệu đó được gọi là sổ danh điểm vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp.

    – Đối với công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp bao gồm các loại dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất, dụng cụ đồ nghề, dụng cụ quản lý, bảo hộ lao động, lán trại tạm thời – để phục vụ công tác kế toán toàn bộ công cụ dụng cụ được chia thành:

    – Công cụ dụng cụ

    – Bao bì luân chuyển

    – Đồ dùng cho thuê

    Tương tự như đối với vật liệu trong từng loại công cụ dụng cụ cũng cần phải chia thành từng nhóm, thứ chi tiết hơn tuỳ theo yêu cầu, trình độ quản lý và công tác kế toán của doanh nghiệp. Việc phân loại vật liệu, công cụ dụng cụ như trên giúp cho kế toán tổ chức các tài khoản cấp 1, cấp 2, phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của các loại vật liệu, công cụ dụng cụ đó trong quá trình thi công xây lắp của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại vật, công cụ dụng cụ.

    1.2.2. Đánh giá quá trình thi công xây lắp:

    Do đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ có nhiều thứ, thường xuyên biến động trong quá trình sản xuất kinh doanh và yều cầu của công tác kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ phải phản ánh kịp thời hàng ngày tình hình biến động và hiện có của vật liệu, công cụ dụng cụ nên trong công tác kế toán cần thiết phải đánh giá vật liệu, công cụ dụng cụ

              1.2.2.1. Giá thực tế nguyênvật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho.

    Tuỳ theo nguồn nhập mà giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ được xác định như sau:

    + Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài thì giá thực tế nhập kho:

    =  +  +

    + Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ do doanh nghiệp tự gia công chê biến:

    =   +

    + Đối với công cụ dụng cụ thuê ngoài gia công chế biến:

    =  +      +

    + Đối với trường hợp đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng vật liệu, công cụ dụng cụ thì giá thực tế vật liệu công cụ dụng cụ nhận vốn góp liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá và công nhận.

    + Đối với phế liệu, phế phẩm thu hồi được đánh giá theo giá ước tính.

    1.2.2.2. Giá thực tế nguyênvật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho.

    Vật liệu, công cụ dụng cụ được thu mua và nhập kho thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau, do đó giá thực tế của từng lần, đợt nhập kho không hoàn toàn giống nhau. Khi xuất kho kế toán phải tính toán xác định được giá thực tế xuất kho cho từng nhu cầu, đối tượng sử dụng khác nhau. Theo phương pháp tính giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp dụng và phải đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán. Để tính giá trị thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho có thể áp dụng một trong các phương phap sau:

    + Phương pháp tính theo đơn giá thực tế bình quân tồn đầu kỳ: Theo phương pháp này giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho được tính trên cơ sở số liệu vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng và đơn giá bình quân vật liệu, công  cụ dụng cụ tồn đầu kỳ.

    Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho  x

    =

    + Phương pháp tính theo đơn giá bình quân tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ: về cơ bản phương pháp này giống phương pháp trên nhưng đơn giá vật liệu được tính bình quân cho cả số tồn đầu kỳ nhập trong kỳ.

    Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho x Đơn giá bình quân

    Đơn giá bình quân =

    + Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh: Phương pháp này thường được áp dụng đối với các loại vật liệu, công cụ dụng cụ có giá trị cao, các loại vật tư đặc chủng. Giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho theo từng lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.

    + Phương pháp tính theo giá thực tế nhập trước – xuất trước: Theo phương pháp này phải xác định được đơn giá nhập kho thực tế của từng lần nhập. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho tính giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc và tính theo  giá thực tế nhập trước đối với lượng xuất kho thuộc lần nhập trước. Số còn lại (tổng số xuất kho – số xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá thực tế các lần nhập sau. Như vậy giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của vật liệu nhập kho thuộc các lần mua vào sau cùng.

    + Phương pháp tính theo giá thực tế nhập sau – xuất trước: Ta cũng phải xác định đơn giá thực tế của từng lần nhập nhưng khi xuất sẽ căn cứ vào số lượng xuất và đơn giá thực tế nhập kho lần cuối. Sau đó mới lần lượt đến các lần nhập trước để tính giá thực tế xuất kho. Như vậy giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho cuối kỳ lại là giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ tính theo đơn giá của các lần nhập đầu kỳ.

    1.2.3. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo giá hạch toán.

    Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng, chủng loại vật liệu, công cụ dụng cụ nhiều, tình hình xuất diễn ra thường xuyên. Việc xác định giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ hàng ngày rất khó khăn và ngay cả trong trường hợp có thể xác định được hàng ngày đối với từng lần nhập, đợt nhập nhưng quá tốn kém nhiều chi phí không hiệu quả cho công tác kế toán, có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập, xuất hàng ngày. Giá hạch toán là loại giá ổn định được sử dụng thống nhất trong doanh nghiệp, trong thời gian dài có thể là giá kế hoạch của vật liệu, công cụ dụng cụ. Như vậy hàng ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá vật liệu, công cụ dụng cụ xuất. Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế tiến hành như sau:

    Trước hết xây dựng hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của vật liệu, công cụ dụng cụ (H)

    H =

    Sau đó tính giá thực tế xuất kho, căn cứ vào giá hạch toán xuất kho và hệ số giá:

    Giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho = giá hạch toán xuất kho x hệ số giá.

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu về trình độ quản lý của doanh nghiệp mà trong các phương pháp tính giá vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho đơn giá thực tế hoặc hệ số giá (trong trường hợp sử dụng giá hạch toán) có thể tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc cả loại vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Từng cách đánh giá và phương pháp tính giá thực tế xuất kho đối với vật liệu công cụ dụng cụ có nội dung, ưu nhược điểm và những điều kiện áp dụng phù hợp nhất định, do vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán.

    1.3. KẾ TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    Vật liệu, công cụ dụng cụ là một trong những đối tượng kế toán, các loại tài sản cần phải tổ chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo từng kho mà phải chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… và phải được tiến hành đồng thời ở cả kho và phòng kế  toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết về lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết vật liệu, công cụ, dụng cụ cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản nói chung, công tác quản lý vật liệu, công cụ, dụng cụ nói riêng.

    1.3.1 Chứng từ sử dụng:

    Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo Quyết định 1141/ TC/QĐ/CĐ kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính, các chứng từ kế toán về vật liệu, công cụ dụng cụ bao gồm:

    – Phiếu nhập kho (01 – VT)

    – Phiếu xuất kho (02 – VT)

    –  Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03 – VT)

    – Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá (08 – VT)

    – Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (02 – BH)

    – Hoá đơn cước phí vận chuyển (03 – BH)

    Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thấp nhất theo Quy định của Nhà nước các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn như: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (04 – VT), Biên bản kiểm nghiệm vật tư (05 – VT) phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (07 – VT)… Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động thành  phần kinh tế, tình hình sở hữu khác nhau.

    Đối với các chứng từ thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng quy định về mẫu biểu, nội dung phương pháp lập. Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp lý, hợp pháp của các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh.

    Mọi chứng từ kế toán về vật liệu, công cụ dụng cụ phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự và thời gian hợp lý, do đó kế toán  trưởng quy định phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan.

    1.3.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ:

    Trong doanh nghiệp sản xuất, việc quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ do nhiều bộ phận tham gia. Song việc quản lý tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày được thực hiện chủ yếu ở bộ phận kho và phòng kế toán doanh nghiệp. Trên cơ sở các chứng từ kế toán về nhập, xuất vật liệu thủ kho và kế toán vật liệu phải tiến hành hạch toán kịp thời, tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày theo từng loại vật liệu. Sự liên hệ và phối hợp với nhau trong việc ghi chép và thẻ kho, cũng như việc kiểm tra đối chiếu số liệu giữa kho và phòng kế toán đã hình thành nên phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ giữa kho và phòng kế toán.

    Hiện nay trong các doanh nghiệp sản xuất, việc hạch toán vật liệu giữa kho và phòng kế toán có thể thực hiện theo các phương pháp sau:

    – Phương pháp thẻ song song

    – Phương pháp sổ đối chiếu lưu chuyển

    – Phương pháp sổ số dư

    Mọi phương pháp đều có những nhược điểm riêng. Trong việc hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán cần có sự nghiên cứu, lựa chọn phương pháp thích hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Và như vậy cần thiết phải nắm vững nội dung, ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng của mỗi phương pháp đó.

    1.3.2.1. Phương pháp thẻ song song

    – Ở kho: Việc ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn khho hàng ngày do thủ kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng.

    Khi nhận các chứng từ nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ, thủ kho phải triểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, thực xuất vào chứng từ thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi (hoặc kế toán xuống kho nhận) các chứng từ xuất, nhập đã được phân loại theo từn thứ vận liệu, công cụ dụng cụ cho phòng kế toán.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ để ghi chép tình hình xuất, nhập, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Về cơ bản, sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ có kết cấu giống như thẻ kho nhưng có thêm các cột để ghi chép theo chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng kế toán cộng sổ chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ và kiểm tra đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối chiếu, triểm tra với kế  toán tổng hợp  số liệu kế toán chi tiết từ các sổ chi tiết vào bảng. Tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ. Có thể khái quát, nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp thẻ song song theo sơ đồ  sau:

    Kế toán chi tiết  NVL, CCDC theo

    phương pháp thẻ song song

     
       

    Ghi chú:

    : Ghi hàng tháng

    : Ghi cuối tháng

    : Đối chiếu kiểm tra

    Đơn vị……….                                                                    Mẫu số : 06 – VT

    Tên kho……                                                     Ban hành theo QĐ 1141 – TC/QĐ

    Ngày 1/11/1995 của Bộ tài chính

    THẺ KHO

    Ngày lập thẻ: ………………

    Tờ số: ……………..                                                                         Tên, nhãn hiệu , quy cách vật tư……………

    Đơn vị tính:……………………

    Mã số: …………………………

    Chứng từ Diễn giải Ngày nhập, xuất Số lượng Ký xác nhận của kế toán
    STT NT Nhập Xuất Tồn
    A B C D 1 2 3 4
                   
                   

    Với tư cách kiểm tra, đối chiếu như trên, phương pháp thẻ song song có ưu điểm: ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu, phát hiện sai sót trong việc ghi chép, quản lý chặt chẽ tình hình biến động về số hiện có của từng loại vật liệu theo số liệu và giá trị của chúng. Tuy nhiên theo phương pháp thẻ song song có nhược điểm lớn là việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán cần trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, khối lượng công việc ghi chép quá lớn nếu chủng loại vật tư nhiều và tình hình nhập, xuất diễn ra thường xuyên hàng ngày. Hơn nữa việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối tháng, do vậy hạn chế chức năng của kế toán.

              1.3.2.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:

    – Ở Kho: Việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ kho giống như phương pháp thẻ song song.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chieué luân chuyển để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ ở từng kho dùng cả năm nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập bảng kê nhập, bảng kê xuất trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất định kỳ thủ kho gửi lên. Sổ đối chiếu luân chuyển cũng được theo dõi và về chỉ tiêu giá trị.

    Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.

    Nội dung và trình tự kế toán chi tiết NVL, CCDC

     theo sơ đồ sau:

    Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển có ưu điểm là giảm được khối lượng ghi chép của kế toán  do chỉ ghi một kỳ vào cuối tháng, nhưng có nhược điểm là việc ghi sổ vẫn còn trùng lặp (ở phòng kế toán vẫn theo dõi cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị) công việc kế toán dồn vào cuối tháng, việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán chi tiến hành được vào cuối tháng do trong tháng kế toán không ghi sổ. Tác dụng của kế toán trong công tác quản lý bị hạn chế. Với những doanh nghiệp, ưu nhược điểm nêu trên phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng nghiệp vụ nhập, xuất không nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu, do vậy không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình kế toán nhập, xuất hàng ngày.

    1.3.2.3. Phương pháp sổ số dư:

    Nội dung phương pháp sổ số dư hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kiết kế như sau:

    – Ở kho: Thủ kho cũng là thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho, nhưng cuối tháng phải ghi sổ tồn kho đã tách trên thẻ kho sang sổ số dư vào cột số lượng.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo từng kho chung cho cả năm để ghi chép tình hình nhập, xuất. Từ các bảng kê nhập, bảng kê xuất kế toán lập bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất rồi từ các bảng luỹ kế lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ theo chỉ tiêu giá trị.

    Cuối tháng khi nhận sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số tồn cuối tháng do thủ kho tính ghi ở sổ số dư và đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền tồn kho trên sổ số dư và bảng kế tổng hợp nhập, xuất tồn (cột số tiền) và số liệu kế toán tổng hợp. Nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp sổ số dư được khái quát theo sơ đồ sau:

    Kế toán chi tiết  NVL, CCDC theo phương pháp sổ số dư

           
         
     
       

    Ưu điểm: Tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm bớt được khối lượng công việc ghi sổ kế toán do chỉ tiêu ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị và theo nhóm, loại vật liệu. Công việc kế toán tiến hành đều trong tháng, tạo điều kiện cung cấp kịp thời tài liệu kế toán phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý ở doanh nghiệp, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên của kế toán đối với việc nhập, xuất vật liệu hàng ngày.

    Và phương pháp này cũng có nhược điểm: Do kế toán chỉ ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị, theo nhóm, loại vật liệu nên qua số liệu kế toán không thể không nhận biết được số hiện có và tình hình tăng giảm vật liệu mà phải xem số liệu trên thẻ kho. Ngoài ra khi đối chiếu, kiểm tra số liệu ở sổ số dư và bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho nếu không khớp đúng thì việc kiểm tra để phát hiện sự nhầm lẫn, sai sót trong việc ghi số sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp và tốn nhiều công sức. Phương pháp sổ số dư được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng các nghiệp vụ kinh tế (chứng từ nhập, xuất) về nhập, xuất vật liệu diễn ra thường xuyên, nhiều chủng loại vật liệu và đã  xây dựng được hệ thống danh điểm vật liệu, dùng giá hạch toán để hạch toán hàng ngày tình hình nhập, xuất, tồn kho, yêu cầu và trình độ quản lý, trình độ cán bộ kế toán của doanh nghiệp tương đối cao.

    1.4. KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    Vật liệu là tài sản lao động, thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp, cho nên việc mở các tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán và xác định giá trị hàng tồn kho, giá trị phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ.

    – Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu, công cụ dụng, thành phẩm, hàng hoá… trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp khi có các chứng từ nhập, xuất hàng tồn kho. Như vậy xác định giá trị thực tế vật liệu xuất dùng được căn cứ vào các chứng từ xuất kho sau khi đã được tập hợp, phân loại theo các đối tượng sử dụng để ghi vào tài khoản và sổ kế toán. Ngoài ra giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kiểm tra. Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho được áp dụng trong phần lớn các doanh nghiệp  sản xuất và các doanh nghiệp thương mại, kinh doanh những mặt hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, ô tô…

    – Phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho là phương pháp không theo dõi thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất hàng tồn kho trên các tài khoản hàng tồn kho, mà chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ căn cứ vào số liệu kiểm kê định kỳ hàng tồn kho. Việc xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụng xuất dùng trên tài khoản kế toán tổng hợp không căn cứ vào chứng từ xuất kho mà lại căn cứ vào  giá trị vật liệu tồn kho định kỳ, mua (nhập) trong kỳ và kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính. Chính vì vậy, trên tài khoản tổng hợp không thể hiện rõ giá trị vật liệu xuất dùng cho từng đối tượng, các nhu cầu sản xuất khác nhau: Sản xuất hay phục vụ quản lý sản xuất cho nhu cầu bán hàng hay quản lý doanh nghiệp … Hơn nữa trên tài khoản tổng hợp cũng không thể biết được số mất mát, hư hỏng, tham ô…(nếu có), phương pháp kiểm kê định kỳ được quy định áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ.

    *. Kế toán tổng hợp NVL, CCDC theo phương pháp kê khai thường xuyên

    1.4.1. Kế toán tổng hợp các trường hợp tăng  NVL, CCDC:

    1.4.1.1. Tài khoản kế toán sử dụng.

    Sự biến động của vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất sau khi phản ánh trên chứng từ kế toán sẽ được phản ánh trực tiếp ở các tài khoản  cấp 1, cấp 2 về vật liệu. Đây là phương pháp kế toán phân loại vật liệu để phản ánh với giám đốc một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có và sự biến động của vật liệu, để tiến hành hạch toán kế toán sử dụng các tài khoản : tài khoản 152 “NVL” tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm các loại nguyên vật liệu  theo giá thực tế.

    Tài khoản 152 có thể mở thành tài khoản cấp 2 để kế toán chi tiết theo từng loại nguyên liệu vật liệu phù hợp với cách phân loại theo nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán giá trị của doanh nghiệp, bao gồm:

    Tài khoản 1521             Nguyên vật liệu chính

    Tài khoản 1522             Nguyên vật liệu phụ

    Tài khoản 1523             Nhiên liệu

    Tài khoản 1524             Phụ tùng thay thế

    Tài khoản 1525             Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản

    Tài khoản 1528             Vât liệu khác

    Trong từng tài khoản cấp 2 lại có thể chi tiết thành các tài khoản cấp 3, cấp 4… tới từng nhóm, thứ … vật liệu tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý tài sản ở doanh nghiệp.

    * Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” tài khoản 153 sử dụng để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm loại công cụ dụng cụ theo giá thực tế.

    Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” có 3 tài khoản cấp 2

    Tài khoản  1531            Công cụ dụng cụ

    Tài khoản 1532             Bao bì luân chuyển

    Tài khoản 1533             Đồ dùng cho thuê

    * Tài khoản 151 “Hàng mua đang đi đường” tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư hàng hoá mà doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán, nhưng chưa về nhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng đang đi đường đã về nhập kho.

    * Tài khoản 331 “Phải trả người bán” được sử dụng để phản ánh quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với những người bán, người nhận thầu về các khoản vật tư, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã ký kết.

    Ngoài các tài khoản trên, kế toán tổng hợp tăng vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng nhiều tài khoản liên quan khác như: TK 111 (1), TK (112 (1), TK 141, TK 128, TK 222, TK 411, TK 627, TK 641 và TK 642.

    1.4.1.2. Phương pháp  kế toán các nghiệp vụ chủ yếu:

    Vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất tăng do nhiều nguồn khác nhau: Tăng do mua ngoài, do tự chế hoặc thuê ngoài gia công, tăng do nhận vốn góp của các đơn vị cá nhân khác… Trong mọi trường, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ thủ tục kiểm nhận nhập kho lập các chứng từ theo đúng quy định. Trên cơ sở các chứng từ nhập, hoá đơn bán hàng và các chứng từ có liên quan khác, kế toán phải phản ánh kịp thời các nội dung cấu thành nên giá trị thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp, đồng thời phản ánh tình hình thanh toán với người bán và các đối tượng khác một cách kịp thời. Cuối tháng tiến hành tổng hợp số liệu để kiểm tra và đối chiếu với số liệu kế toán chi tiết.

    Dưới đây là các phương pháp kế toán nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:

    • Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ tăng vật liệu trong các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

              Bút toán 1 :  Trường hợp hàng và hoá đơn cùng về: căn cứ vào hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm nhận và phiếu nhập kho ghi:

    Nợ TK 152 Nguyên vật liệu

    Nợ TK 153  Công cụ dụng cụ

    Nợ TK 133 ( 1331)  Thuế VAT được khấu trừ

    Có TK 331 “Phải trả cho người bán”

    Có TK 111, 112, 311, 141…

    – Trường hợp doanh nghiệp được giảm giá hay hàng mua trả lại (nếu có) Kế toán ghi:

    Nợ TK 331,111,112 : Số tiền được người bán trả lại

    Nợ TK 1388             : Số được người bán chấp nhận

    Có TK 152, 153

    Có TK 1331 : Thuế  VAT  được khấu trừ

    – Khi trả tiền cho người bán nếu số chiết khấu thanh toán mua hàng thực tế được hưởng:

                       Bút toán 1

    Nợ TK 111, 112, 311, 141….

    Có TK 515

                       Bút toán 2: Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn

    – Kế toán lưu phiếu nhập kho vào tập hồ sơ”hàng chưa có hoá đơn”. Nếu trong tháng có hoá đơn về thì ghi sổ bình thường, nếu cuối tháng hoá đơn vẫn chưa về thì ghi sổ theo giá tạm tính:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,141,331,…

    – Khi hoá đơn về: Giá tạm tính < Giá thực tế, ghi bổ sung.

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 331

    Có TK 111, 112, 311, 141…

    – Ghi đảo ngược bút toán để xóa bút toán theo giá tạm tính:

    Nợ TK 111,112, 331…

    Có TK 152

    Có TK 153

    – Hoặc ghi bút toán đỏ để xóa bút toán theo giá tạm tính sau ghi đen bình thường theo giá thực tế (Giá tạm tính > Giá thực tế) Ghi đỏ phần chênh lệch.

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,141,331…

    – Ghi đảo ngược bút toán chênh lệch:

    Nợ TK 111,112,331

    Có TK 152

    Có TK 153

    Bút toán 3: Trường hợp hoá đơn về nhưng hàng chưa về.

    – Kế toán lưu hoá đơn vào tập hồ sơ “Hàng mua đang đi đường”. Nếu trong tháng hàng về thì căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập kho;

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,331…

    – Nếu đến cuối kỳ kế toán nguyên vật liệu vẫn chưa về nhưng thuộc quyền sở hữu của đơn vị, căn cứ vào hoá đơn kế toán ghi:

    Nợ TK 151

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 111,112,141,331…

    – Sang tháng sau khi hàng về nhập kho căn cứ vào hoá đơn và phiếu nhập kho:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 621,627

    Có TK 151

    Bút toán 4 Trường hợp NVL mua về kém phẩm chất sai quy cách, không đảm bảo như hợp đồng:

    – Số hàng này có thể được giảm giá hoặc xuất kho trả lại cho người bán. Khi giao trả hoặc được giảm giá, kế toán ghi:

    Nợ TK 111,112,331

    Có TK 152,153

    Có TK 133(1331)

    Bút toán 5: Trường hợp hàng thiếu so với hoá đơn.

    – Mọi trường hợp phát hiện thiếu NVL hay hư hỏng trong khi bảo quản phải truy tìm nguyên nhân. Tuỳ theo từng nguyên nhân cụ thể hoặc quy định của cấp có thẩm quyền thì kế toán ghi sổ. Kế toán chỉ phản ánh số hàng thực nhận, số thiếu căn cứ vào biên bản kiểm nhận thông báo cho bên bán:

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 1381

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    – Khi xử lý số VL thiếu:

    + Nếu người bán giao tiếp số hàng còn thiếu.

    Nợ TK 152,153

    Có TK 1381

    + Nếu người bán không còn hàng.

    Nợ TK 331

    Có TK 1381

    Có TK 133(1331)

    + Nếu cá nhân làm mất cấp có thẩm quyền quy định phải bồi thường kế toán ghi:

    Nợ TK 1388,334

    Có TK 133(1331)

    Có TK 1381

    + Nếu thiếu không xác định được nguyên nhân:

    Nợ TK 632

    Có TK 1381

    Ngoài cách ghi trên trong trường hợp thiếu, giá trị chờ xử lý ghi ở TK 1381 có thể ghi nhận theo tổng giá thanh toán (cả thuếVAT)

     

    Bút toán 6: Trường hợp thừa so với hoá đơn.

    Về nguyên tắc khi phát hiện thừa, phải làm văn bản báo cho các bên liên quan biết để cùng xử lý. Về mặt kế toán giá trị hàng thừa được phản ánh ở TK 3381, có thể ghi theo tổng giá thanh toán hay giá mua không thuế VAT đầu vào. Khi xử lý kế toán sẽ dựa vào từng cách ghi tương ứng để phản ảnh vào sổ sách. Chẳng hạn nếu giá trị thừa được ghi theo giá mua không thuế:

    – Nếu nhập toàn bộ và trả tiền cho người bán.

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    Có TK 3381

    – Căn cứ vào  quyết định xử lý, kế toán ghi:

    + Nếu trả lại cho người bán thì ghi.

    Nợ TK 3381

    Có TK 152,153 (chi tiết)

    + Nếu đồng ý mua tiếp số thừa.

    Nợ TK 3381

    Nợ TK 1331

    Có TK 331

    + Nếu không rõ nguyên nhân ghi tăng thu nhập.

    Nợ TK 3381

    Có TK 711

    – Nếu nhập theo số hoá đơn ghi nhận số nhập như trường hợp (a) ở trên. Số thừa coi như giữ hộ người bán và ghi nợ TK 002

    Khi xử lý số thừa, ghi có TK 002, đồng thời căn cứ vào cách xử lý để hạch toán như sau:

    + Nếu đồng ý mua tiếp số thừa

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    + Nếu không rõ nguyên nhân ghi tăng thu nhập.

    Nợ TK 152,153

    Có TK 711

    Bút toán 7: Trường hợp NVL tự chế nhập kho hoặc thuê ngoài gia công chế biến:

    Nợ TK 152, 153 (chi tiết)

    Có TK 154

    Bút toán 8: Các trường hợp tăng VL khác

    Ngoài nguồn VL mua ngoài và tự chế nhập kho, VL của DN còn tăng do nhiều nguyên nhân khác như nhân viện trợ, cấp phát , góp vốn liên doanh, đánh giá tăng.

    Mọi trường hợp phát sinh làm tăng giá NVL đều được ghi nợ Tài khoản 152 theo giá thực tế, đối ứng với các tài khoản thích hợp.

    Nợ TK 152,153 (chi tiết)

    Có TK  411, 412

    Có TK 336, 3381

    Có TK 222, 241, 128

    Có TK 621, 627, 641, 642

    • Đặc điểm hạch toán NVL tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp.

    +   Đối với các đơn vị tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp, do phần thuế VAT được tính vào giá thực tế NVL nên khi mua ngoài kế toán ghi váo TK 152 theo tổng giá thanh toán.

    Nợ TK 152,153 (chi tiết)

    Có TK 111, 112, 331…

    – Số giảm giá hàng mua được hưởng hay giá trị hàng mua trả lại.

    Nợ TK 111, 112,1388, 331

    Có TK 152 ,153 (chi tiết)

    • Số chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua hàng được ghi tăng thu nhập hoạt động tài chính:

    NợTK 331, 111, 112, 1388 ….

    Có Tk 515

    • Các trường hợp còn lại hạch toán tương tự

    1.4.2.Tình hình biến động giảm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp giảm chủ yếu do xuất, sử dụng cho sản xuất kinh doanh, phần còn lại có thể xuất bán, xuất vốn gốp liên doanh… Mọi trường hợp giảm nguyên vật liệu đều ghi theo giá thực tế ở bên có TK 152

              Bút toán 1: Xuất nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh

    Nợ TK 621, 627, 641, 642

    Nợ TK 241

    Có TK 152, 153

              Bút toán 2: Xuất vốn góp liên doanh

    Căn cứ vào giá gốc NVL xuất góp vốn và giá trị vốn góp được liên doanh chấp nhận phần chênh lệch giữa giá thực tế và giá trị vốn góp sẽ được phản ảnh vào bên nợ của TK 421 (nếu giá vốn > giá tri vốn góp), vào bên có TK 421 (Giá vốn < Giá trị vốn góp)

    Nợ TK 222,128, 421

    Có TK  152, 153

    Bút toán 3 : Xuất thuê ngoài gia công chế biến.

    Nợ TK 154

    Có TK 152,153

    Bút toán 4 : Giảm cho vay tạm thời.

    Nợ TK 1388,1368

    Có TK 152  (chi tiết)

    Bút toán 5: Giảm do các nguyên nhân khác

    Nợ TK 632, 642

    Nợ TK 1381,1388,334

    Có TK 152, 153

    1.4.2.1. Phương pháp kế toán tổng hợp xuất  công cụ, dụng cụ:

    Công cụ, dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào các chứng từ xuất kho công cụ, dụng cụ kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng, rồi tính ra giá thực tế xuất dùng phương án vào các tài khoản liên quan. Tuy nhiên, do đặc điểm , tình chất cũng như giá trị và thời gian sử dụng của công cụ, dụng cụ và tính hiệu quả của công tác kế toán mà việc tính toán phân bổ giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần.

    1. Phương pháp phân bổ 1 lần (phân bổ ngay 100% giá trị).

    Nội dung khi xuất dùng công cụ, dụng cụ kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho công cụ, dụng cụ để tính ra giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng rồi tính (phân bổ) ngay 1 lần (toàn bộ giá trị) vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    Căn cứ vào giá trị thực tế xuất dùng, kế toán ghi:

    Nợ TK 627 (6273)   Chi phí sản xuất chung (Chi phí dụng cụ sản xuất)

    Nợ TK 641 (6413)           Chi phí bán hàng (Chi phí dụng cụ đồ dùng)

    Nợ TK 642 (6423)   Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí đồ dùng văn phòng)

    Có TK 153 công cụ dụng cụ

    (TK 1531, TK 1532, TK 1533)

    Phương pháp phân bổ 1 lần được áp dụng thích hợp đối với những công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, thời gian sử dụng qúa ngắn.

    1. Phương pháp phân bổ 2 lần:

    – Khi xuất công cụ, dụng cụ, căn cứ vào phiếu xuất kho, ghi:

    Nợ TK 142( 242)

    Có TK 153 :      ( 100% giá trị CCDC xuất dùng)

    Đồng thời tiến hành phân bổ lần đầu( bằng 50 % giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng ) vào chi phí quản lý, ghi :

    Nợ TK 627, 641, 642

    Có TK 142   🙁 Giá trị phân bổ lần đầu)

    Khi báo hỏng, báo mất hoặc hết thời hạn sử dụng theo quy định, kế toán tiến hành phân bổ giá trị còn lại của công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh hoặc chi phí quản lý theo công thức:

    Giá trị phân bổ lần 2 = Giá trị công cụ dụng cụ

     

    Phân bổ mỗi lần

    Giá trị phế liệu thu hồi    ( nếu có) Khoản bồi thường vật chất (nếu có)

    Kế toán ghi:

    Nợ TK 152 : Giá trị phế liệu thu hồi( nếucó)

    Nợ TK 138 : Số tiền bồi thường vật chất phải thu

    Nợ TK 627, 641, 642 : Giá trị phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh

    Có TK 142(242): Giá trị phân bổ lần cuối

    c.Phương pháp phân bổ nhiều lần:

    Trong trường hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ có giá trị lớn , dùng cho nhiều kỳ sản xuất kinh doanh . Khi xuất dùng kế toán ghi:

    Nợ TK 142/(242)

    Có TK 153 : ( Giá trị công cụ, dụng cụ xuất kho 100%)

    Số lần phân bổ được xác định căn cứ vào giá trị xuất dùng và thời gian sử dụngcủa số công cụ xuất kho, kế toán ghi:

    Nợ TK 627, 641, 642

    Có TK 142( 242)  : ( Giá trị phân bổ mỗi lần)

    Giá trị phân bổ mỗi lần được tính theo công thức sau:

    Giá trị công cụ phân bổ mỗi lần = Giá trị thực tế CCDC xuất dùng

     

    Số lần phân bổ

    Khi báo hỏng hoặc báo mất số công cụ , dụng cụ trên kế toán phân bổ nốt giá trị còn lại sau khi trừ đi giá trị phế liệu thu hồi và giá trị đòi bồi thường (nếu có ):

    Nợ TK 153 :  Giá trị phế liệu thu hồi

    Nợ TK 138 (1388) : Giá trị đòi bồi thường

    Nợ TK 627, 641, 642 : Giá trị phân bổ nốt

    Có TK 142( 242 ): Giá trị còn lại cần phân bổ

    Sơ đồ kế toán tổng hợp  NVL , CCDC  theo phương pháp kê khai thường xuyên( Thuế GTGT khấu trừ)

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ kế toán tổng hợp vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp kiểm kê định kỳ( Thuế GTGT  khấu trừ)

     

     

     

     

        TK133
    Chênh lệch đánh giá tăng
       TK 111, 138, 334

    PHẦN THỨ HAI

    THỰC TRẠNG  KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU,

    CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG

    SỐ 4 THĂNG LONG

    2.1. TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY.

    2.1.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần theo quyết định số: 2750/2000/QĐ-BGTVT ngày 20/9/2000 của Bộ giao thông vận tải. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103000198 cấp ngày 29/12/2000  tại Phòng kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hà Nội.

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long là doanh nghiệp hạng 1 – Hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long (Bộ GTVT). Công ty cố đội ngũ cán bộ, kỹ sư, kỹ thuật giỏi, công nhân tay nghề cao, được trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ thi công chuyên ngành tiên tiến, có kinh nghiệm thi công xây dụng các công trình, thuỷ lợi, điện, nước, công trình công nghiệp, xử lý các loại nền móng công trình, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn trong cả nước. Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị giao thông.

    Tên đầy đủ: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Tên giao dịch quốc tế: “THANG LONG No4 CONSTRUCTION JOINT STOCK COMPANY”

    Tên gọi tắt: “THANG LONG No4 CONSTJ.STOCK CO”

    Trụ sở giao dịch đặt tại: Đường Phạm Văn Đồng (Nam Thăng Long), Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội.

    Số điện thoại: 04-8389945

    Fax               : 04-8387841

    2.1.1.1.Cơ cấu vốn điều lệ:

    Vốn điều lệ Công ty cổ phần: 6.810.400.000 đồng

    Tỷ lệ cổ phần Nhà nước:           36,2% vốn điều lệ

    Tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp: 60,9% vốn điều lệ

    Tỷ lệ cổ phần bán cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp: 2,9% vốn điều lệ

    2.1.1.2.Giá trị doanh nhiệp nhà nước tại thời điểm cổ phần hoá:

    Giá trị thực tế của doanh nghiệp nhà nước: 48.528.484.853 đồng

    Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp: 4.149.416.890 đồng

    2.1.1.3..Ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp:

    Tổng cổ phần theo giá ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp: 56.616 cổ phần, phần giá trị được ưu đãi: 1.698.480.000 đồng (phần giá trị ưu đãi được trừ vào phần vốn nhà nước theo quy định tại thông tư số: 104/TT-BTC của Bộ tài chính là: 1.243.350.000 đồng).

    Tổng số cổ phần theo giá ưu đãi cho người lao động nghèo trong doanh nghiệp trả dần: không cổ phần, giá trị: không đồng.

    2.1.1.4..Các ngành nghề kinh doanh:

    -Xây dựng công trình giao thông, phá nổ mìn trên cạn, dưới nước.

    -Xây dựng công trình thuỷ lợi, công nghiệp, dân dụng, thi công các loại nền móng công trình.

    -Gia công, lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn.

    Với sự năng động của tập thể CBCNV công ty và sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng công ty trong những năm gần đây công ty không ngừng tăng trưởng và phát triển với nhịp độ năm sau tăng hơn năm trước. Sự phát triển đó là hợp với xu hướng đang phát triển của ngành xây dựng Việt Nam ta hiện nay.

    Qui mô và phạm vi hoạt động của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là một doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có tư cách pháp nhân , có quyền và nghĩa vụ theo luật định , thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của Pháp luật . Hoạt động theo điều lệ của Công ty cổ phần, luật doanh nghiệp;

    Tài khoản riêng được mở tại;

    1. Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng long

    Địa chỉ : Từ liêm- Hà Nội

    Tài khoản :   7301-0007  I

    Điện thoại :   (04) 8345983         Fax  :  (84-4) 8343704

    1. Phòng giao dịch cầu diễn –Ngân hàng công thương Ba Đình – Hà Nội

    Địa chỉ : Cầu Diễn – Từ Liêm – Hà Nội

    Tài khoản :  710A – 83017

    Điện thoại    :  (04) 8371286

    Fax               :  (84 –4) 88370726

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là đơn vị chuyên ngành xây dựng trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long (Bộ GTVT ). Hoạt động của công ty kinh doanh các ngành nghề sau :

    – Xây dựng công trình giao thông, phá đá nổ mìn trên cạn ,dưới nước.

    – Xây dựng công trình thuỷ lợi , công nghiệp , dân dụng , thi công các loại nền  móng công trình.

    – Gia công, lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn.

    – Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cụm dân cư đô thị , hệ thống điện dưới 35 KVA ,hệ thống nước sinh hoạt.

    – Sửa chữa thiết bị thi công.

    – Sản xuất thủ công nghiệp.

    Việc bảo toàn và phát triển số vốn kinh doanh của nhà nước do công ty quản lý và số cổ phần mà cán bộ công nhân viên đóng góp đồng thời làm nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đòi hỏi công ty phải không ngừng nâng cao trang thiết bị hiện đại , đầu tư và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ , đội ngũ công nhân có tay nghề , nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng lao động .

    Với đội ngũ cán bộ công nhân viên chức của công ty là : 966 người.

    Trong đó :

    –   Cán bộ khoa học kỹ thuật  :     160 người

    + Trình độ trung cấp :     54  người

    + Trình độ đại học     :   106 người

    –   Công nhân kỹ thuật  :               806 người

    Các công trình lớn công ty đã xây dựng đạt huy chương vàng chất lượng cao.

    + Xây dựng Nhà ga T1 Nội Bài – Hà Nội

    + ép cọc, nền móng nhà làm việc Công An TP Hà Nội

    + Nhà điều hành Ban Quản lý vốn – Bộ Tài chính – Hà Nội

    + Cầu +đường dẫn cụm cầu Nậm Miệng – Lào  Cai

    + Ép cọc , san nền Nhà máy điện tử  HANEL

    + Cầu + đường Nội Bài – bắc Ninh- Quốc lộ  18

    + Cầu + đường Gói thầu R5 – Hải phòng – Quốc lộ 10

    + Cầu Khe lá- đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Khe Mít- đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Khe Su – đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Trung Hà – Việt Trì

    + Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 32 Phú Thọ BT ASPHALT

    + Và một số công trình cao cấp khác ở: Quảng Ninh, Hải Phòng,Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, vv ..

    Trong những năm hoạt động vừa qua công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là trong những năm gần đây sản lượng năm sau cao hơn năm trước, thu nhập bình quân của công nhân tăng lên đồng thời góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước. Tình hình thực hiện và kết quả thực hiện được thể hiện qua các chỉ tiêu sau :

    Tổng doanh thu

    Đơn vị :1000 đ

    TT Chỉ tiêu 2000 2001 2002
    1 Giátrị công trình thực hiện      97.345.678 115.816.750  130.820.632
    2 Lợi nhuận        1.826.924     2.826.530      3.543.560

    Từ số liệu bảng trên ta thấy giá trị sản lượng của công ty tăng lên không ngừng qua các năm . Những con số này cho thấy công ty có sự phát triển như vậy là do sự cố gắng nỗ lực của tập thể ban giám đốc , các phòng ban và của từng cán bộ công nhân viên trong công ty cùng với bộ máy làm việc khoa học, hiệu quả.

    2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Là một công ty cổ phần xây dựng nên hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty là thi công xây dựng mới : Cầu, đường giao thông, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, văn hoá, công cộng… với quy mô lớn vừa và nhỏ trong phạm vi trên cả nước.

    Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản, sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, kết cấu khác nhau, thời gian thi công dài…. nên việc tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý có những đặc điểm riêng.

    Mô hình hoạt động – hoạt động theo điều lệ của công ty cổ phần.

    – Chủ tịch hội đồng quản trị – kiêm giám đốc công ty: Là người đứng đầu Công ty đại diện cho cán bộ công nhân viên chức. Chủ tịch hội đồng quản trị – giám đốc công ty chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty, nhiệm vụ đối với nhà nước, bảo toàn và phát triển công ty ngày một phát triển, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức.

    – Giúp việc cho Chủ tịch hội đồng quản trị có Phó chủ tịch Hội đồng quản trị, các Uỷ viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Phó giám đốc, kế toán trưởng và các trưởng phòng chuyên trách.

    +Phòng kinh tế kế hoạch: Tham mưu cho Hội đồng quản trị về kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các đội thi công. Theo dõi và thực hiện kế hoạch đã giao….

    +Phòng tài chính kế toán:

    Tham mưu cho Giám đốc công ty về kế hoạch thu chi tài chính, cập nhật chứng từ sổ sách chi tiêu văn phòng, các khoản cấp phát, cho vay và thanh toán khối lượng hàng tháng đối với các đội. Thực hiện đúng các chế độ chính sách của Nhà nước về tài chính, chế độ bảo hiểm, thuế, khấu hao, tiền lương cho văn phòng và các đội, báo cáo định kỳ và quyết toán công trình.

    +Phòng kỹ thuật thi công thiết bị và vật tư

    Có trách nhiệm tham mưu cho trưởng ban chỉ huy công trình về công tác khảo sát, thiết kế bản vẽ thi công các hạng mục công trình để làm việc với tư vấn giám sát. Lập kế hoạch quản lý chất lượng công trình trình Tư vấn giám sát. Vạch tiến độ, điều chỉnh tiến độ mũi thi công sao cho phù hợp với tiến độ chung của công trình. Chỉ đạo và giám sát các đội về mặt kỹ thuật, đảm bảo thi công đúng quy trình, thống nhất về các giải pháp kỹ thuật thi công cùng với tư vấn giám sát tổ chức việc nghiệm thu từng hạng mục công trình, tổng nghiệm thu toàn bộ công trình  và bàn giao đưa vào sử dụng.

    +Phòng tổ chức cán bộ và lao động:

    Quản lý và đề xuất mô hình tổ chức tho dõi phát hiện hợp lý hay không hợp lý các mô hình quản lý nhân lực, xem xét dự kiến nhân lực, đào tạo cán bộ, nâng lương, nâng bậc, quản lý cán bộ công nhân viên chức, tham mưu cho giám đốc công ty giải quyết các chế độ chính sách, xây dựng quy chế….

    +Phòng hành chính bảo vệ

    Tham mưu cho Giám đốc công ty về mặt quản lý tài sản, văn thư, lưu trữ và các công tác khác có liên quan ….

    + Các Đội, tổ xây lắp: Tổ chức quản lý thi công công tình theo hợp đồng công ty ký kết và theo thiết kế được phê duyệt, mua bán vật tư, làm thủ tục thanh quyết toán từng giai đoạn và toàn bộ công trình.

    +Xưởng sửa chữa thiết bị cơ giới:

    Quản lý và sửa chữa xe máy thiết bị, đáp ứng yêu cầu thi công các các công trình đảm bảo tiến độ thi công.

    Cách tổ chức lao động, tổ chức sản xuất như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế kỹ thuật với từng đội công tình, tạo điều kiện thuận lợi để công ty giao khoán tới từng đội công trình.

    Do các công trình có địa điểm thi công khác nhau, thời gian xây dựng dài mang tính đơn chiếc nên lực lượng lao động của Công ty được tổ chức thành các đội công trình như trên, mỗi đội công trình thi công một hoặc vài công trình trong mỗi đội công trình lại được tổ chức thành các tổ sản xuất theo yêu cầu thi công, tuỳ thuộc vào nhu cầu sản xuất thi công của từng thời kỳ mà số lượng các đội công trình, các tổ sản xuất trong mỗi đội sẽ được thay đổi phù hợp với yêu cầu cụ thể.

    Các tổ chức lao động, tổ chức sản xuất như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế kỹ thuật với từng đội công trình, tạo điều kiện thuận lợi để công ty có thể giao khoán tới từng đội công trình.

    2.1.3.Đặc điểm quy trình sản xuất:

    Do đặc điểm của ngành xây dựng và sản phẩm XDCB, nên quy trình sản xuất của công ty có đặc điểm sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều gia đoạn khác nhau mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và thi công ở các địa điểm khác nhau. Thường thường quy trình sản xuất của các công tình tiến hành theo các bước sau:

    Bước1 : Chuẩn bị sản xuất bao gồm : Lập dự toán công trình, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu, chuẩn bị vốn và các điều kiện khác để thi công công trình và các trang thiết bị chuyên ngành để phục vụ cho việu thi công công trình

    Bước 2: Khởi công xây dựng , quá trình thi công được tiến hành theo công đoạn, điểm dừng kỹ thuật, mỗi lần kết thúc một công đoạn lại tiến hành nghiệm thu.

    Bước 3: Hoàn thiện công trình, bàn giao công trình cho chủ đầu tư đưa vào sử dụng.

    2.1.4.Sơ đồ tổ chức công ty

    Sơ đồ 1:

    Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    ( Xem ở mặt sau )

    2.1.5. Tổ chức bộ máy kế toán .

           Theo hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung, toàn bộ công tác kế toán trong công ty đều được tiến hành tập trung tại phòng kế toán, ở các bộ phận trực thuộc như : Xí nghiệp xây lắp 1, 2,3, Các đội xây dựng 1,2,3,4,5,6,7 không có bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn kiểm tra hạch toán ban đầu, thu nhập chứng từ và chuyển về phòng kế toán tập trung.

    Phòng kế toán công ty chia thành 5 bộ phận.

    + Bộ phận kế toán vật tư, tài sản cố định, thống kê sản lượng.

    + Bộ phận kế toán thanh toán , lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, kế toán vốn bằng tiền.

    + Bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thủ quỹ

    + Bộ phận kế toán thuế, công nợ, cổ phần.

    + Bộ phận kế toán tổng hợp, phân tích kiểm tra số liệu.

    – Kế toán trưởng: Giúp việc cho Giám đốc thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê, điều lệ sản xuất kinh doanh của công ty ..Báo cáo tình hình tài chính của công ty cho giám đốc.

    – Bộ phận kế toán vật tư, tài sản cố định, thống kê sản lượng có nhiệm vụ: ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản, nhập – xuất – tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ. Ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tăng giảm TSCĐ, tình hình trích khấu hao và phân bổ khấu hao vào quá trình SXKD của công ty, báo cáo thống kê định kỳ.

    – Bộ phận kế toán thanh toán , lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, kế toán vốn bằng tiền : có nhiệm vụ theo dõi các khoản thu, chi tiền mặt, các khoản thanh toán với người bán , tổng hợp số liệu từ các đội gửi lên để phối hợp với các bộ phận khác tính toán lương , phụ cấp cho CBCNV, trích BHXH theo chế độ quy định.

    – Bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thủ quỹ: có nhiệm vụ tập hợp tất cả các chi phí để tính giá thành cho từng công trình và cùng với kế toán vốn bằng tiền tiến hành thu- chi và theo dõi chặt chẽ các khoản thu – chi tiền mặt.

    – Bộ phận kế toán thuế, công nợ, cổ phần: Bộ phận này có nhiệm vụ tập hợp các loại thuế để thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, thanh toán các khoản phải trả, thống kê tổng số cổ phần và báo cáo lợi tức của mỗi cổ phần trước đại hội đồng cổ đông.

    – Bộ phận kế toán tổng hợp, phân tích kiểm tra số liệu: có nhiệm vụ tổng hợp tất cả các số liệu ở các bộ phận , phân tích kiểm tra và báo cáo với kế toán trưởng .

    Sơ đồ 2 : Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Kế Toán

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán sử dụng để ghi chép, hệ thống hoá và tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo một trình tự và phương pháp ghi chép nhất định. Hình thức tổ chức hệ thống kế toán bao gồm: số lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp… kết cấu sổ, mối quan hệ, kiểm tra, đối chiếu  giữa các sổ kế toán, trình tự và phương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu đó lập báo cáo kế toán. Để phù hợp với hệ thống kế toán của các nước đang phát triển, thuận lợi cho việc sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán công ty đã áp dụng hệ thống tài khoản kế toán mới ra ngày 1/11/1995 trên máy vi tính theo hình thức kế toán nhật ký chung và sử dụng tài khoản do Bộ Tài chính ban hành. Công ty áp dụng phương pháp kế toán kê khai thường xuyên và thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Niên độ kế toán được công ty áp dụng từ 1/1  đầu năm  đến 31/12  cuối năm  và kỳ kế toán công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long làm theo một năm 4 quý.

    Sơ đồ 3 : Sơ đồ ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán NKC

    Ghi chú:                          Ghi hàng ngày

                                            Ghi cuối tháng

                                            Đối chiếu kiểm tra

    Trình tự ghi sổ:

    (1). Hàng tháng căn cứ chứng từ gốc hợp lệ lập điều khoản kế toán rồi ghi vào sổ nhật ký chung theo thứ tự thời gian rồi từ sổ nhật ký chung ghi vào sổ cái.

    (2) tổng hợp cần mở thêm các sổ nhật ký đặc biệt thì cũng căn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào sổ nhật ký đặc biệt rồi cuối tháng từ sổ nhật ký đặc biệt ghi vào sổ cái.

    (3) Các chứng từ cần hạch toán chi tiết đồng thời được ghi vào sổ kế toán chi tiết.

    (4) Lập bảng tổng hợp số liệu chi tiết từ các sổ kế toán chi tiết.

    (5) Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh các tài khoản

    (6) Kiểm tra đối chiếu số liệu số cái và bảng tổng hợp số liệu chi tiết.

    (7) Tổng hợp số liệu lập bảng báo cáo kế toán.

    2.2. TÌNH HÌNH  KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG.

    2.2.1 Phân loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Để tiến hành thi công xây dựng nhiều công trình khác nhau đáp ứng nhu cầu thị trường công ty phải  sử dụng một khối lượng nguyên vật liệu rất lớn bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau, mỗi loại vật liệu ,công cụ dụng cụ có vai trò, tính năng lý hoá riêng. Muốn quản lý tốt và hạch toán chính xác vật liệu công cụ dụng cụ thì phải tiến hành phân loại vật liệu công cụ dụng cụ một cách khoa học, hợp lý. Tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long cũng tiến hành phân loại vật  liệu công cụ dụng cụ.  Song việc phân loại vật liệu chỉ để thuận tiện và đơn giản cho việc theo dõi, bảo quản nguyên vật liệu   công cụ dụng cụ ở kho. Nhưng trong công tác hạch toán do sử dụng mã vật tư nên công ty không sử dụng tài khoản cấp II để phản ánh từng loại vật liệu công cụ dụng cụ mà công ty đã xây dựng mỗi thứ vật tư một mã số riêng, như quy định một lần trên bảng mã vật tư ở máy vi tính bởi các chữ cái đầu của vật liệu công cụ dụng cụ. Vì vậy tất cả các loại vật liệu sử dụng đều hạch toán tài khoản 152 “nguyên liệu vật liệu” các loại công cụ dụng cụ sử dụng đều hạch toán vào tài khoản   153 “công cụ dụng cụ”. Cụ thể ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sử dụng mã  vật tư như sau:

    * Đối với vật liệu của công ty được phân loại như sau:

    + NVL không phân loại thành nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ mà được coi chúng là vật liệu  chính: “Là đối tượng lao động chủ yếu của công ty, là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm xây dựng cơ bản. Nó bao gồm hầu hết các loại vật liệu mà công ty sử dụng như: xi măng, sắt, thép, gạch, ngói, vôi ve, đá, gỗ… Trong mỗi loại được chia thành nhiều nhóm khác nhau, ví dụ: xi  măng trắng, xi măng P300, xi măng P400, thép F 6, thép F10, thép F 20… thép tấm, gạch chỉ, gạch rỗng, gạch xi măng.

    + Nhiên liệu: Là loại vật liệu khi sử dụng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho các loại máy móc, xe cộ như xăng, dầu.

    + Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết phụ tùng của các loại máy móc thiết bị mà công ty sử dụng bao gồm phụ tùng thay thế các loại máy móc, máy cẩu, máy trộn bê tông và phụ tùng thay thế của xe ô tô như: các mũi khoan, săm lốp ô tô.

    + Phế liệu thu hồi: bao gồm các đoạn thừa của thép, tre, gỗ không dùng được nữa, vỏ bao xi măng…

    Công ty bảo quản vật liệu, công cụ dụng cụ trong hai kho theo mỗi công trình là một kho nhằm giữ cho vật liệu không bị hao hụt thuận lợi cho việc tiến hành thi công xây dựng. Vì vậy, các kho bảo quản phải khô ráo, tránh ô xy hoá vật liệu – công cụ dụng cụ, các kho có thể chứa các chủng loại vật tư giống hoặc khác nhau. Riêng các loại cát, sỏi, đá vôi được đưa thẳng tới công trình. Công ty xác định mức dự trữ cho sản xuất, định mức hao hụt, hợp lý trong quá trình vận chuyển  bảo quản dựa trên kế hoạch sản xuất do phòng kinh tế kế hoạch vật tư đưa ra. Để phục vụ cho yêu cầu của công tác hạch toán và quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ công ty đã phân loại nguyên vật liệu một cách khoa học nhưng công ty chưa lập sổ danh điểm và mỗi loại vật liệu công ty sử dụng bởi chữ cái đầu là tên của vật liệu. Yêu cầu đối với thủ kho ngoài những kiến thức ghi chép ban đầu, còn phải có những hiểu biết nhất định các loại nguyên vật liệu của ngành xây dựng cơ bản để kết hợp với kế toán vật liệu ghi chép chính xác việc nhập, xuất bảo quản nguyên vật liệu trong kho.

    * Đối với công cụ – dụng cụ như sau:

    – Công cụ dụng cụ: dàn giáo, mác, cuốc, xẻng…

    – Bao bì luân chuyển:…

    – Đồ dùng cho thuê: các loại máy móc phục vụ thi công: Đầm cóc, khoan bê tông….

    2.2.2. Hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long.

    Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung, tuy nhiên cũng có một số vận dụng mẫu sổ phù hợp với thực tế và phát huy tốt các chức năng của kế toán. Cụ thể khi vật liệu, công cụ dụng cụ mua về đến kho của công ty trình tự hạch toán được tiến hành như sau:

    2.2.2.1. Thủ tục nhập kho:

    1. Trường hợp nhập vật liệu, công cụ dụng cụ từ nguồn mua ngoài:

    Theo chế độ kế toán quy định, tất cả các loại vật liệu công cụ dụng cụ về đến công ty đều phải tiến hành kiểm nhận và làm thủ tục nhập kho.

    Khi vật liệu, công cụ dụng cụ được chuyển đến công ty, người đi nhận hàng (nhân viên tiếp liệu) phải mang hoá đơn của bên bán vật liệu, công cụ dụng cụ lên phòng kinh tế kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị, trong hoá đơn đã ghi rõ các chỉ tiêu: chủng loại, quy cách vật liệu, khối lượng vật liệu, đơn giá vật liệu, thành tiền, hình thức thanh toán…

    Căn cứ vào hoá đơn của đơn vị bán, phòng kinh tế kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị xem xét tính hợp lý của hoá đơn, nếu nội dung ghi trong hoá đơn phù hợp với hợp đồng đã ký, đúng chủng loại, đủ số lượng, chất lượng đảm bảo… thì đồng ý nhập kho số vật liệu đó đồng thời nhập thành 2 liên phiếu nhập kho

    Người lập phiếu nhập kho phải đánh số hiệu phiếu nhập và vào thẻ kho rồi giao cả 2 liên cho người nhận hàng. Người nhận hàng mang hoá đơn kiêm phiếu xuất kho và 2 liên phiếu nhập kho tới để nhận hàng. Thủ kho tiến hành kiểm nhận số lượng và chất lượng ghi  vào cột thu nhập rồi ký nhận cả 2 liên phiếu nhập kho, sau đó vào thể kho. Cuối ngày thủ kho phải chuyển cho kế toán vật liệu một phiếu liên nhập còn một liên phiếu phải nhập (kèm theo hoá đơn kiêm phiếu xuất kho) chuyển cho kế toán công nợ để theo dõi thanh toán. Đồng thời kế toán vật liệu phải đối chiếu theo dõi kế toán công nợ để phát hiện những trường hợp thủ kho còn thiếu phiếu nhập kho chưa vào thẻ kho hoặc nhân viên tiếp liệu chưa mang chứng từ hoá đơn đến thanh toán nợ. Kế toán theo dõi công nợ phải thường xuyên theo dõi thông báo số nợ của từng người và có biện pháp thanh toán dứt điểm tránh tình trạng nợ lần dây dưa.

    Thủ tục nhập kho được thể hiện theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 04

     

     

     

    Hàng tháng nhân viên giữ kho mang chứng  từ của mình lên phòng kế toán công ty để đối chiếu số liệu giữa phiếu nhập kho và thẻ kho, đồng thời kế toán rút sổ số dư cuối tháng và ký xác nhận vào thẻ kho.

    Bắt đầu từ những chứng từ gốc sau đây, kế toán vật liệu sẽ tiến hành công việc của mình

    Hoá đơn (GTGT)                            Mẫu số 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              FD/02- B

    Ngày 02/12/2002                              N0: 0538

    Đơn vị bán hàng: Công ty thép Thái Nguyên

    Địa chỉ: Chi nhánh  Cầu Giấy – Hà Nội        Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

     
    0
    3
    5
    1
    0
     
    6
    0
    2
    0
    5
    1
    1

    Điện thoại: 8588553                          MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Đường Nam Thăng Long- Hà Nội Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    2
    9
    0

    Hình thức thanh toán: chịu                   Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    3

    4

    Thép F10

     

    Thép F12

    Thép F16

    Thép F18

    kg

     

    kg

    kg

    kg

    3500

     

    8000

    4000

    5000

    5.120

     

    5.145

    5.120

    5.135

    17.920.000

     

    41.160.000

    20.480.000

    25.675.000

    Cộng 105.235.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT 10.523.500
    Tổng cộng tiền thanh toán 115.758.500
    Số tiền viết bằng chữ: Một trăm mười năm triệu bảy trăm năm mươi tám triệu năm mươi tám nghìn năm trăm đồng

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng                      Thủ trưởng đơn vị

    (Ký, ghi rõ họ tên)                     (Ký, ghi rõ họ tên)                   (Ký, ghi rõ họ tên)

    Khi hàng về tới kho , nhân viên kế toán tiến hành lập biên bản kiểm tra

    Mẫu 02.

    Công ty cổ phần                  Biên Bản Kiểm Nghiệm Vật Tư

    xây dựng số 4 Thăng long                Ngày 02  Tháng 12 năm 2002

    Căn cứ vào hoá đơn số 538 ngày 02 tháng 12 năm 2002 của Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long giao theo hợp đồng số  230/HĐKT ngày 01  tháng  12  năm 2002

    Ban kiểm nghiệm gồm:

    Ông : Hoàng Văn Thái : Đại diện phòng công tiêu – Trưởng ban

    Ông : Trần Văn Hà  : Đại diện phòng kỹ thuật – Uỷ viên

    Bà : Nguyễn Thị Chuyên : Đại diện thủ kho  – Uỷ viên

    Đã kiểm nghiệm các loại vật tư sau đây:

    TT Tên nhãn hiệu vật liệu Đơn vị tính

     

    (kg)

    Số Lượng Không đúng quy cách phẩm chất
    Theo chứng từ Đúng quy cách phẩm chất
    1 Thép F10 kg 3500 3500 0
    2 Thép F12 kg 8000 8000 0
    3 Thép F16 kg 4000 4000 0
    4 Thép F18 kg 5000 5000 0

    Kết luận của ban kiểm nghiệm.

    Uỷ viên                                        Uỷ viên                            Trưởng ban

    Căn cứ  vào hoá đơn số 538 và biên bản kiểm nghiệm vật tư số hàng thực tế đã về, phòng kỹ thuật vật tư viết phiếu nhập kho ngày 02/12/2002 – Số 538. Thủ kho xác định số lượng và đơn giá tiến hành nhập kho.

    Mẫu số 03

    Đơn vị: Công ty cổ phần số 4 Thăng long              Phiếu nhập kho

    Địa chỉ : Xuân đỉnh – Từ liêm- Hà Nội                                         Số : 165

    Ngày 02/12/2002

    Tên người giao hàng: Nguyễn Văn Hùng                               Nợ TK 152:

    Theo hoá đơn  số 538 ngày 02/12/2002 của                            Có TK 331 :

    Công ty thép Thái Nguyên  – Chi nhánh – Cầu Giấy  – Hà Nội.

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Thép F10 kg 3500 3500 5.120 17.920.000
    2 Thép F12 kg 8000 8000 5.145 41.160.000
    3 Thép F16 kg 4000 4000 5.120 20.480.000
    4 Thép F18 kg 5000 5000 5.135 25.675.000
      Cộng         105.235.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Một trăm ninh năm triệu, hai trăm ba mươi năm nghìn đồng chẵn.                                                                    Ngày 02 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                     Người giao hàng                          Thủ kho

    Mẫu số 04                 Hoá đơn (GTGT)              MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              EC/02 – F

    Ngày 03/12/2002                              N0: 00140

    Đơn vị bán hàng: Công ty vật tư số 27

    Địa chỉ: Cầu Giấy – Hà Nội               Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
     
    0
    6
    3
    5
    0
    0
    1
    2
    0
    5
    1
    1

    Điện thoại: 8388353                          MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Đường Nam Thăng Long- Hà Nội Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: chịu                   Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 30.000 850 25.500.000
    Cộng 25.500.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT   2.550.000
    Tổng cộng tiền thanh toán 28.050.000
    Số tiền viết bằng chữ: Hai tám triệu không trăm năm mươi  nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng                    Thủ trưởng đơn vị

    – Căn cứ vào hoá đơn số 140 và biên bản kiểm nghiệm vật tư số hàng thực tế đã về, phòng vật tư viết phiếu nhập kho.

    Đơn vị: Công ty cổ phần                        Mẫu 05

    Xây dựng số 4 Thăng long                     Phiếu nhập kho                Số 166

    Ngày 03/12/2002          Nợ TK 152:

    Tên người giao hàng:  Nguyễn Văn Hùng                              Có TK 331:

    Nhập vào kho:  Số 1 tại Công ty

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Xin nhập Thực nhập
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 30.000 30.000 850 25.500.000
      Cộng         25.500.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Hai mươi năm triệu năm trăm nghìn đồng chẵn.

    Ngày 03 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                              Người giao hàng                     Thủ kho

    Trường hợp theo hoá đơn số 140 ngày 03/12/2002 của Công ty vật tư  số 27 Cầu Giấy – Hà Nội như trên thì chi phí vận chuyển xi măng được tính vào giá hoá đơn. Còn trường hợp ngày 04/12/2002 theo hoá đơn số 142 công ty mua xi măng Hoàng Thạch tại Công ty vật tư – 38 – Đường Hoàng Quốc Việt nhưng do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện.

    Mẫu 06                         Hoá đơn (GTGT)        MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              EC/02- T

    Ngày 04/12/2002                              N0: 00142

    Đơn vị bán hàng: Công ty vật tư

    Địa chỉ: 38 – Hoàng Quốc Việt – Hà Nội                                            Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _ Điện thoại: 7562.346                                                      MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty  cổ phần xây dựng

    số 4 thăng long                                 Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt            Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Xi măng Hoàng Thạch

     

    vận chuyển

    kg

     

    kg

    20.000

     

    20.000

             810

     

    30

    16.200.000

     

    600.000

    Cộng 16.800.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT   1.680.000
    Tổng cộng tiền thanh toán 18.480.000
    Số tiền viết bằng chữ: Mười tám triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Mẫu số 07

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long                  Phiếu nhập kho                 Số 167

    Ngày 04/12/2002            Nợ TK 152

    Tên người giao hàng: Nguyễn Văn Hùng                            Có TK  111

    Nhập vào kho: Số 1 tại  Công ty

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 20.000 20.000 840 16.800.000
      Cộng         16.800.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng chẵn.

    Ngày 04 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                Người giao hàng                                  Thủ kho

    Đối với công cụ dụng: Do công cụ dụng cụ trong mỗi công trình xây dựng cơ bản có số lượng ít hơn so với vật liệu. Vì thế cả khâu vận chuyển và bảo quản công cụ dụng cụ đơn giản hơn vật liệu. Căn cứ vào yêu cầu công cụ dụng cụ nhân viên tiếp liệu thu mua  mang hoá đơn về như sau:

    Mẫu 08

    Hoá đơn (GTGT)                        MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng                            L/02

    Ngày 04/12/2002                                 N0: 00360

    Đơn vị bán hàng: Cửa hàng Hoà phát

    Địa chỉ: 72 – Đê La Thành                                   Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

    Điện thoại: 9.521.786                                                     MS:

    Họ và tên người mua hàng: Lê Văn Sơn

    Đơn vị: Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Nam Thăng long- Từ Liêm – Hà Nội      Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt              MS

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Đầm cóc (hon đa)

     

    Khoan bê tông

    Chiếc

     

    Chiếc

    1

     

    3

    26.000.000

     

    2.000.000

    26.000.000

     

    6.000.000

    Cộng 32.000.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT    3.200.000
    Tổng cộng tiền thanh toán  35.200.000
    Số tiền viết bằng chữ: Ba mươi năm  triệu hai trăm nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Mẫu Số 09                               Phiếu nhập kho                    Số 168

    Ngày 04/12/2002

    Tên người nhập:  Lê Văn Sơn                        Nợ TK 153

    Theo hoá đơn số 360 ngày 04/12/2002          Có TK 111

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Xin nhập Thực nhập
    1 Máy Đầm cóc chiếc 1 1 26.000.000 26.000.000
    2 Khoan bê tông chiếc 3 3 2.000.000 6.000.000
      Cộng         32.000.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Ba mươi hai triệu đồng chẵn.

    Ngày 04 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                  Người giao hàng                               Thủ kho

     

    Mẫu Số10                      Hoá đơn (GTGT)                              MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng                       I/  – F

    Ngày 05/12/2002                                     N0: 622

    Đơn vị bán hàng: Cửa hàng ki ốt số I

    Địa chỉ: Hoàng quốc việt- Cầu Giấy                             Số TK : _ _ _ _ _ _ _  Điện thoại: 8.625.379                                                    MS:

    Họ và tên người mua hàng: Lê Văn Sơn

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt             MS

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    3

    Máy bơm

     

    Gầu, phễu đổ bê tông

    Cuốc

    Chiếc

     

    Chiếc

    Chiếc

    4

     

    5

    20

    350.000

     

    250.000

    6.000

    1.400.000

     

    1.250.000

    120.000

       4        Xẻng                                   Chiếc              20                12.000       240.000
         Cộng     3.010.000
    Thuế VAT: 5% tiền thuế VAT        150.500
    Tổng số tiền thanh toán                                                                                     3.160.500
    Số tiền viết bằng chữ: Ba triệu một trăm sáu  mươi nghìn năm trăm đồng .

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Đơn vị: Công ty cổ phần                  Mẫu số 11

    xây dựng số 4 thăng long    Phiếu nhập kho                 Số 169

    Ngày 05/12/2002

    Tên người giao hàng: Lê Văn Sơn

    Theo hoá đơn số 622 ngày 05/12/2002

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1

     

    2

    3

    Máy bơm

     

    Gỗu, phễu đổ bê tông

    Cuốc

    Chiếc

     

    Chiếc

    Chiếc

    4

     

    5

    20

    4

     

    5

    20

    350.000

     

    250.000

    6.000

    1.400.000

     

    1.250.000

    120.000

    4 Xẻng Chiếc 20 20 12.000 240.000
      Cộng         3.010.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Ba  triệu không trăm  mười nghìn đồng chẵn.

    Ngày 05 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                      Người giao hàng                              Thủ kho

    1. Nhập do di chuyển nội bộ.

    Căn cứ vào yêu cầu di chuyển kho của giám đốc, phòng kinh tế , kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị lập phiếu di chuyển nội bộ gồm 2 liên. Người di chuyển mang 2 liên đến thủ kho xuất hàng, ghi thẻ kho sau đó xuất hàng theo số thực xuất và ký nhận  song giữ lại một liên để giao cho kế toán vật liệu, một liên đưa cho người di chuyển mang đến kho nhập, thủ tục nhập hàng và ký nhận ở phần thực nhập rồi vào thẻ kho. Cuối ngày thủ kho nhập giao lại cho kế toán vật liệu kiểm tra và hạch toán tăng kho nhập, giảm kho xuất.

    1. Nhập kho do thuê ngoài gia công chế biến.

    Căn cứ vào hợp đồng kinh tế theo số lượng và giá cả phòng kinh tế, kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị lập phiếu nhập kho. Khi lập phiếu nhập kho phải thực hiện cùng kho cùng nhóm, cùng nguồn nhập, phải kiểm nghiệm trước khi nhập và lập biên bản kiểm nghiệm mới được nhập kho. Cuối ngày kế toán vật liệu phải đối chiếu kế toán công nợ và đưa phiếu nhập kho cho kế toán công nợ làm báo cáo kế  toán.

    2.2.2.2. Thủ tục xuất kho.

    Vật liệu chủ yếu được xuất kho cho các đội xây dựng và xí nghiệp xây lắp trực thuộc công ty thi công các công trình.

    – Xuất kho sử dụng cho sản xuất kinh doanh.

    Căn cứ vào số lượng vật tư yêu cầu tính toán theo định mức sử dụng của cán bộ kỹ thuật, phòng kinh tế, kế hoạch, kỹ thuật vật tư lập phiếu xuất kho gồm 2 liên. Người lĩnh vật tư mang 2 liên phiếu vật tư đến kho để xin lĩnh vật tư. Thu kho căn cứ vào quyết định của đội trưởng và theo tiến độ thi công để xuất vật liệu, công cụ dụng cụ. Thủ kho giữ lại một liên để vào thẻ kho sau đó chuyển cho kế toán vật tư để hạch toán, một liên gửi cán bộ kỹ thuật phụ trách công trường để kiểm tra số lượng và chất lượng vật liệu, công cụ dụng cụ đưa từ kho đến nơi sử dụng.

    Đơn vị : Công ty cổ phần                      Mẫu Số 12

    số 4 Thăng long                         Phiếu xuất kho                     Số 136

    Ngày 06/12/2002

    Họ tên người nhận hàng: Hoàng  văn Bình                     Nợ TK:………

    Địa chỉ: Xí nghiệp xây lắp số 1                                       Có TK:………..

    Lý do xuất kho: thi công công trình “Nhà làm việc Bộ Tài Chính”

    Xuất kho tại:  Số 1 ở Công ty

              STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Quần áo bảo hộ LĐ Bộ 40 40 43.000 1.720.000
    2 Giầy ba ta Đôi 40 40 14.500 580.000
    3 Mũ nhựa Chiếc 40 40 16.000 640.000
    4 Máy bơm Chiếc 4 4 350.000 1.400.000
    5 Cuốc Chiếc 20 20 6.000 120.000
    6 Xẻng Chiếc 20 20 12.000 240.000
      Cộng         4.700.000
      TVAT 5%          

    Cộng tiền (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng chẵn)

    Xuất ,ngày 06 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách bộ phận sử dụng       Phụ trách cung tiêu           Người nhận    Thủ kho

    Căn cứ vào dự toán vật liệu cho từng công trình, phòng kỹ thuật vật tư lập phiếu xuất kho như sau:

    Mẫu Số 13

    Đơn vị: Công ty cổ phần                   Phiếu xuất kho                       Số 137

    xây dựng số 4 Thăng long       Ngày 06/12/2002

    Họ tên người nhận hàng : Nguyễn Việt Trung

    Địa chỉ                           : Xí nghiệp xây lắp số 1

    Lý do xuất kho              : Thi công công trình ” Nhà Bộ tài chính”

    Xuất tại kho                            : Công ty

    Số TT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 40.000 30.000 850 25.500.000
    2 Xi măng Hoàng Thạch kg   10.000 840 8.400.000
      Cộng         33.900.000

    Tiền thuế VAT 10%

    2.2.3. Trình tự nhập – xuất kho nguyênvật liệu.

    Công tác kế toán vật liệu ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long do một thủ kho và một kế toán viên đảm nhận. Phần hành kế toán nhập kho xuất kho vật liệu đều được xử lý trên máy vi tính. Vì vậy các công đoạn lập sổ, ghi sổ kế toán tổng hợp, chi tiết đều do máy thực hiện. Thủ kho và nhân viên kế toán vật liệu chỉ phải làm thủ tục ban đầu và tập hợp liệt kê các chứng từ gốc liên quan đến nhập – xuất vật liệu, tạo cơ sở dữ liệu để đưa vào máy.

    2.2.3.1. Trình tự nhập kho nguyên vật liệu.

    Ở Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long, việc mua vật tư thường do phòng kế hoạch đảm nhận, mua theo kế hoạch cung cấp vật tư hoặc theo yêu cầu sản xuất thi công. Khi vật liệu được mua về, người  đi mua sẽ mang hoá đơn mua hàng như: hoá đơn bán hàng, hoá đơn (GTGT) của đơn vị bán, hoá đơn cước phí vận chuyển… lên phòng kế toán. Trước khi nhập kho, vật tư mua về sẽ được thủ kho và kế toán vật liệu kiểm tra số lượng, chất lượng quy cách đối chiếu với hoá đơn nếu đúng mới cho nhập kho và kế toán vật liệu sẽ viết phiếu nhập kho. Trường hợp vật liệu mua về có khối lượng lớn, giá trị cao thì công ty sẽ có ban kiểm nghiệm vật tư  lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư”. Sau khi đã có ý kiến của ban kiểm nghiệm vật tư về số hàng mua về đúng quy cách, mẫu mã, chất lượng theo hoá đơn thì thủ kho mới tiến hành cho nhập kho.

    2.2.3.2. Trình tự xuất kho.

    Ở công ty  cổ phần xây dựng số 4 Thăng long, vật liệu xuất kho chủ yếu là dùng cho thi công các công trình. Nguyên vật liệu của công ty gồm nhiều chủng loại, việc xuất dùng diễn ra thường xuyên trong ngành cho từng bộ phận sử dụng là các đội công  trình. Việc xuất vật liệu được căn cứ vào nhu cầu thi công và định mức tiêu hao NVL trên cơ sở các đơn đặt hàng đang được ký kết. Sau khi có lệnh sản xuất của giám đốc, phòng kế hoạch tổ chức thực hiện tiến độ sản xuất, theo dõi  sát sao tiến độ thi công các công trình và tiến độ thực hiện các hợp đồng.

    Sau khi đối chiếu khối lượng nguyên vật liệu trên phiếu xuất kho tại cột số lượng yêu cầu đối với khối lượng nguyên vật liệu thực tế có trong kho, thủ kho sẽ ghi vào phiếu xuất kho ở cột số lượng thực xuất và ký xác nhận. Sau đó thủ kho tiến hành xuất kho nguyên vật liệu.

    2.2.4. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long.

    Một trong những yêu cầu của công tác quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ đòi hỏi phải phản ánh, theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất tồn kho cho từng nhóm, từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ cả về số lượng, chất lượng chủng loại và giá trị. Bằng việc tổ chức kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ là việc hạch toán kết hợp giữa kho và phòng kế toán nhằm mục đích theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất, tồn kho cho từng thứ, từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ cả về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị.

    Để tổ chức thực hiện được toàn bộ công tác kế toán vật liệu công cụ dụng cụ nói chung và kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ nói riêng, thì trước hết phải bằng phương pháp  chứng từ kế toán để phản ánh tất cả  các nghiệp vụ có liên quan đến nhập xuất vật liệu, công cụ dụng cụ. Chứng từ kế toán là cơ sở  pháp lý để ghi sổ kế toán. Tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long chứng từ kế toán được sử dụng trong phần hạch toán kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ là:

    – Phiếu nhập kho vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Phiếu xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.

    – Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Bảng tổng hợp nhập xuất tồn vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Trình tự luân chuyển chứng từ theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 05.

    Giải thích:              Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu kiểm tra

    Kế toán chi tiết ở công ty sử dụng phương pháp thẻ song song và có một số điều chỉnh cho phù hợp với chương trình quản lý vật tư trên máy vi tính. Nội dung, tiến hành hạch toán chi tiết vật liệu công cụ dụng cụ được tiến hành như sau:

    – Ở kho; Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép phản ánh hàng ngày tình hình nhập xuất, tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ ở từng kho. Theo chỉ tiêu khối lượng mỗi thứ vật liệu, công cụ dụng cụ  được theo dõi trên một thẻ kho để tiện cho việc sử dụng thẻ kho trong việc ghi chép, kiểm tra đối chiếu số liệu.

    Cuối tháng thủ kho căn cứ vào hai chứng từ số 140 ngày 03/12/2002 và chứng từ số 142 ngày 04/12/2002 và các chứng từ nhập, xuất khác. Thủ kho tiến hành lập thẻ kho phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn. Sau đây là thẻ kho vật liệu: xi măng Hoàng Thạch.

    Đơn vị: Công ty cổ phần            Mẫu Số 14

    xây dựng số 4 Thăng long                                                    MS  06: VT

    Thẻ kho

    Ngày lập 29/12/2002

    Tờ số 1

    Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: xi măng Hoàng Thạch

    Đơn vị tính: kg

    Số TT Chứng từ Diễn giải Ngày nhập xuất Số lượng Ký nhận của KT
    Số hiệu NT Nhập Xuất Tồn
    1 140 03/12 Hùng nhập vật tư 03/10 30.000   30.000  
    2 142 04/12 Hùng nhập vật tư 04/12 20.000   50.000  
    3 137 06/12 Xuất VT phục vụ thi công Nhà Bộ Tài Chính 06/12   40.000 10.000  
    4 154 10/12 Hùng nhập vật tư 10/12 30.000   40.000  
    5 241 12/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà làm việc Bộ Tài Chính 12/12   20.000 20.000  
    6 242 15/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội 15/12   6.000 14.000  
    7 152 18/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội 18/12   10.000 4.000  
          Cộng   80.000 76.000 4.000  
                     

    Đối với CCDC: Trong tháng 12 mở thẻ kho công cụ dụng cụ: xẻng. Căn cứ chứng từ số 622 ngày 05/12/2002 trên phiếu nhập kho số 136. Nhân viên tiếp liệu Lê văn Sơn nhập: 20 chiếc xẻng. Căn cứ vào chứng từ 137 ngày 20/12/2002là phiếu xuất kho số 137. Xuất 10 chiếc xẻng phục vụ cho thi công công trình Hà Nội. Cuối tháng 12/2002 thủ kho lập thẻ kho tháng 12 cho công cụ dụng cụ xẻng.

    Mẫu Số 15

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long                                            Mẫu số 06: VT

    Thẻ kho

    Ngày lập 29/12/2002

    Tờ số 2

    Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: xẻng

    Đơn vị tính: chiếc

    Số TT Chứng từ Diễn giải Ngày nhập xuất Số lượng Ký nhận của KT
    Số liệu   Nhập Xuất Tồn
    1 622 04/12 Sơn  nhập CCDC 04/12 20   20  
    2 163 06/12 Xuất CCDC thi công công trình Nhà làm việc Bộ Tài Chính 06/12   20    
    3 186 15/12 Sơn nhập CCDC vào kho công ty 15/12 15   15  
    4 187 27/12 Xuất CCDC thi công công trình nhà Bộ tài chính 27/12   15    
          Cộng   35 35 0  

    Ở phòng kế toán: đối với kho công trình định kỳ vào cuối tháng kế toán tiến hành đối chiếu kiểm tra chứng từ gốc với thẻ và ký xác nhận vào thẻ kho. Đồng thời hàng ngày khi nhận được chứng từ kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ để ghi vào “sổ chi tiết vật tư hàng hoá” từng tháng từng loại công vật liệu, công cụ dụng cụ và thẻ chi tiết được lập riêng cho từng kho.

     

    Mẫu số 16

    Sổ chi tiết nhập vật liệu

    Công trình: Tại Kho số 1  – Công ty

    Tháng 12 năm 2002                                       Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải ĐVT SL ĐG TT Người bán Gc
    Số Ngày
    A B C D 1 2 3 4 5
    538 02/12 Nhập thép

     

    Thép F10

    Thép F12

    Thép F16

    Thép F18

     

     

    kg

    kg

    kg

    kg

    3.500

     

    8.000

    4.000

    5.000

    5.120

     

    5.145

    5.120

    5.135

     

     

    17.920.000

    41.160.000

    20.480.000

    25.675.000

    Công ty thép Thái Nguyên chi nhánh Hà Nội  
    140 03/12 Nhập Xi Măng kg 30.000  850 25.500.000 Công ty VT 27 cầu Giấy  
    142 04/12 Nhập Xi Măng kg 20.000 840 16.800.000 Công ty VT 38-Đ Hoàng Quốc Việt  
      …..       …….    
    145 10/12 Nhập Xi Măng kg 30.000 830 24.900.000 Công ty VT 38 Hoàng Quốc Việt  
    ……   …….       …….    

     

     

     

     

     

    Mẫu Số 10

    Sổ Chi Tiết Xuất kho Vật Liệu

    Công trình : Nhà Làm việc Bộ Tài Chính

    Tháng 12 năm 2002                                  Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải ĐVT SL ĐG TT GC
    Số Ngày
    A B C D 1 2 2 4
    137 06/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 30.000 850. 25.500.000  
    137 06/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 840 8.400.000  
    …..   …………..       ………..  
    241 12/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 840 8.400.000  
    241 12/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 830 8.300.000  
      ……… ……….   ………..   …………..  

     

    2.2.5. Đánh giá vật liệu

    Đánh giá vật liệu- công cụ dụng cụ là xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định về nguyên tắc kế toán nhập xuất tổng hợp, nhập xuất tồn kho vật liệu – công cụ dụng cụ công ty phản ánh trên giá thực tế. Nguồn vật liệu của ngành xây dựng cơ bản nói chung và của công ty cổ phần  tư vấn và xây dựng Hưng Vượng nói riêng là rất lớn, công ty chưa đảm nhiệm được việc chế biến và sản xuất ra nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ mà nguồn vật liệu chủ yếu do mua ngoài, một số vật liệu, công cụ được xí nghiệp xây lắp số 1 sản xuất như: bê tông, cửa đi, cửa sổ, và các loại cấu kiện, vật liệu nhằm hoàn thiện việc thi công xây dựng.

     

    2.2.5.1. Đối với nguyên vật liệu: Giá thực tế vật liệu nhập do mua ngoài

    * Trường hợp bên bán vận chuyển vật tư cho công ty thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn.

    Ví dụ: trên phiếu nhập kho số 165 ngày 02/12/2002 Nguyễn Văn Hùng nhập vào kho vật liệu của công ty theo hoá đơn số 538 ngày 02/12/2002 của Công ty Thép Thái Nguyên chi nhánh Cầu Giấy – Hà Nội . Giá thực tế nhập 105.235.000 đồng (giá ghi trên hoá đơn).

    * Trường hợp vật tư do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua trên hoá đơn cộng với chi phí vận chuyển.

    Ví dụ: Trên phiếu nhập kho số 147 ngày 04/12/2002, đồng chí Hùng nhập vào kho công ty 20.000 kg xi măng Hoàng Thạch theo hoá đơn số 142 ngày 04/12/2002 của Công ty Vật tư – 38  Đường Hoàng Quốc Việt. Giá thực tế nhập kho của xi măng Hoàng Thạch là 16.800.000.( Trong đó ghi trên hoá đơn là 16.200.000 và chi phí vận chuyển là 600.000đ).

    + Giá thực tế vật liệu xuất dùng cho thi công: Giá thực tế vật liệu xuất dùng cho thi công được tính theo phương pháp nhập trước – xuất trước.

    Ví dụ: Theo đơn giá xuất vật tư xi măng Hoàng Thạch ở chứng từ xuất kho số 137 ngày 06/12/2002. Xuất cho Nguyễn Việt Trung thi công xây dựng công trình nhà làm việc Bộ tài chính- Hà Nội, yêu cầu số lượng xuất là 40.000kg. Theo chứng từ 142 ngày 03/12/2002 xi măng Hoàng Thạch được nhập theo giá 840đ/kg. Vậy thực tế xuất kho xi măng Hoàng Thạch được tính như sau:

    30.000kg x 850đ= 25.500.000( 30.000 kg nhập ngày 03/12/2002)

    10.000kg x 840đ= 8.400.000

    33.900.000 (xem nhật ký chung)

    – Đối với việc nhập xuất vật liệu, công cụ ở các đơn vị trực thuộc thì giá thực tế của vật liệu nhập, xuất kho được tính theo giá thực tế.

    2.2.5.2. Đối với công cụ, dụng cụ: Việc đánh giá công cụ, dụng cụ tương tự đối với vật liệu được tiến hành bình thường.

    Công cụ dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thi công và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào chứng từ xuất kho công cụ, dụng cụ. Kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng rồi tính ra giá thực tế xuất dùng. Do công cụ, dụng cụ có tính chất cũng như giá trị, thời gian sử dụng và hiệu quả của công tác mà việc tính toán phân bổ giá trị thực công cụ, dụng cụ xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể một hoặc nhiều lần.

    Có những loại công cụ, dụng cụ phân bổ hai lần nên khi xuất dùng tiến hành phân bổ ngay 50% giá trị thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh kỳ đó và khi báo hỏng sẽ tiến hành phân bổ nốt giá trị còn lại của công cụ dụng cụ.

    Công cụ dụng cụ được tính như sau:

    – Quần áo bảo hộ lao động        : 40 bộ x 43.000đ = 1.720.000đ

    – Giầy ba ta                      : 40 đôi x 14.500đ =   580.000đ

    – Mũ nhựa                        : 40 cái x 16.000đ =   640.000đ

    Tổng hợp công cụ dụng cụ do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn + chi phí vận chuyển.

    Trên phiếu nhập kho số 168 ngày 04/12/2002 người giao hàng Lê Văn Sơn  nhập cho công ty (theo hợp đồng) 1 máy đầm với giá ghi trên hoá đơn số 360 là: 26.000.000đ. Vậy giá thực tế của công cụ dụng cụ được tính như sau:

    1 x 26.000.000 = 26.000.000đ

    + Giá thực tế công cụ dụng cụ xuất dùng cho thi công

    Ví dụ: Đơn giá xuất của công cụ dụng cụ xẻng (xúc đất, trộn vữa) theo chứng từ phiếu xuất kho số 136 ngày 06/12/2002 là 240.000đồng. Vậy giá thực tế xuất dùng công cụ dụng cụ được tính: 20 x 12.000 = 240.000đ

    – Đối với việc nhập kho công cụ tại đội công trình xây dựng và xí nghiệp xây lắp số 1 trực thuộc công ty thì giá thực tế công cụ dụng cụ xuất kho được tính theo giá thực tế đích danh.

    2.2.6. Tài khoản sử dụng cho hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng  số 4 Thăng long.

    Hiện nay công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đang áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính kết hợp với Thông tư số 100/1998/TT-BTC về hướng dẫn kế toán thuế giá trị gia tăng (GTGT).

    Để phù hợp với quá trình hạch toán ở công ty, công tác kế toán vật liệu sử dụng những tài khoản tổng hợp sau: TK152, TK133, TK 331, TK111, TK112, TK621, TK 623, TK 627, TK 642. Ngoài ra công ty còn mở thêm các TK cấp 2 để phản ánh chi tiết cho từng đối tượng cụ thể như TK1521 “NVL chính”, TK 1522 “NVL phụ”, TK 3331…

    2.2.7. Kế toán tổng hợp nhập- xuất vật liệu, công cụ dụng cụ:

    Thước đo tiền tệ là thước đo chủ yếu kế toán sử dụng và nói tới hạch toán là nói tới số liệu có, tình hình biến động toàn bộ tài sản của công ty theo chỉ tiêu giá trị. Kế toán chi tiết vật liệu – công cụ dụng cụ chưa đảm bảo đáp ứng được yêu cầu này mà chỉ bằng kế toán tổng hợp có thể ghi chép, phản ánh các đối tượng kế toán theo chỉ tiêu giá trị trên các tài khoản sổ kế toán tổng hợp mới đáp ứng được yêu cầu đó.

    Vậy kế toán tổng hợp là việc sử dụng các tài khoản kế toán để phản ánh, kiểm tra và giám sát các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế ở các dạng tổng quát. Do đặc điểm vật liệu- công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long rất đa dạng và phong phú, công ty đã áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán nhập xuất vật liệu- công cụ dụng cụ.

    Công ty sử dụng tài khoản 152 và tài khoản 153 để phản ánh quá trình nhập xuất vật liệu- công cụ dụng cụ và tài khoản 331, tài khoản 141, tài khoản 111, tài khoản 112, tài khoản 311, tài khoản 621, tài khoản  623, tài khoản 642, tài khoản 627.

     

    2.2.7.1. Kế toán tổng hợp nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ

    Trong nền kinh tế thị trường việc mua vật liệu- công cụ dụng cụ được diễn ra thường xuyên nhanh gọn trên cơ sở “thuận mua vừa bán”. Thông thường đối với một số đơn vị bán vật liệu- công cụ dụng cụ cho công ty thương xuyên. Mỗi khi công ty có nhu cầu mua vật liệu- công cụ dụng cụ căn cứ vào giấy đề nghị mua vật liệu- công cụ dụng cụ thì đơn vị bán sẽ cung cấp vật liệu- công cụ dụng cụ theo yêu cầu của công ty. Đối với công trình lớn, tiến độ thi công dài đòi hỏi nhiều đơn vị  mua nợ của và chịu trách nhiệm thanh toán với người bán sau một thời gian. Hình thức thanh toán có thể bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền vay ngắn hạn.

    1. Đối với NVL- CCDC về nhập kho công ty từ nguồn mua ngoài.

    Mỗi khi công ty có nhu cầu mua vật tư, đơn vị bán sẽ gửi phiếu báo giá đến trước. Căn cứ vào phiếu báo giá này công ty chuẩn bị tiền để có thể chuyển trả trước- tuỳ thuộc vào khả năng công ty. Nếu trả sau hoặc đồng thời  thì căn cứ vào hoá đơn do đơn vị bán cùng lúc hàng về nhập kho công ty. Như vậylà không có trường hợp hàng về mà hoá đơn chưa về hoặc ngược lại. Kế toán ghi sổ một trường hợp duy nhất là hàng và hoá đơn cùng về. Do đó công tác ghi sổ kế toán có đơn giản hơn.

    Để theo dõi quan hệ thanh toán với những người bán, công ty sử dụng sổ chi tiết thanh toán với người bán- từ khoản 331 “phải trả cho người bán”. Đây là sổ dùng để theo dõi chi tiết các nghiệp vụ nhập vật liệu công cụ dụng cụ và quá trình thanh toán với từng người bán của công ty.

    Căn cứ vào các chứng từ gốc nhập vật liệu- công cụ dụng cụ ở phần kế toán chi tiết và các chứng từ gốc trong tháng 12 năm 2002, kế toán tiến hành định khoản một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phát sinh trong quá trình nhập kho vật liệu và quá trình thanh toán với người bán.

    – Trường hợp công ty nhập kho vật liệu nhưng chưa thanh toán với người bán.

    Ngày 02/12/2002 công ty nhập kho vật liệu chính (Thép) của Công ty Thép Thái Nguyên –Chi nhánh – Cầu Giấy – Hà Nội theo phiếu nhập kho số 165 ngày 02/12/2002 trị giá 105.235.000 đồng kèm theo hoá đơn 538 ngày 02/12/2002 số tiền 115.758.500 đồng (thuế VAT 10%).

    Căn cứ  2 hoá đơn trên kế toán ghi vào nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK152

    Nợ TK152: 105.235.000 đ

    Nợ TK133:  10.523.500 đ

    Có TK 331: 115.758.500 đ

    Trường hợp ngày 03/12/2002 hàng Xi Măng về kèm theo hoá đơn số 140 ngày 03/12/2002 số tiền vật liệu nhập về là 25.500.000đ. Căn cứ vào chứng từ này kế toán ghi nhật ký chúng theo định khoản và ở sổ cái TK152 (gồm VAT 10%)

    Nợ TK 152: 25.500.000 đ

    Nợ TK 1331: 2.550.000 đ

    Có TK331: 28.050.000 đ

    Ngày 17/12/2002 công ty nhận giấy báo nợ của ngân hàng đầu tư và phát triển Cầu Giấy – Hà Nội ngày 17/12/2002 báo đã chuyển séc trả tiền ngân hàng cho Công ty Thép Thái Nguyên – Chi nhánh Cầu Giấy – Hà Nội, số tiền ghi nhậtký chung theo định khoản:

    Nợ TK331    :115.758.500 đ

    Có TK 112         :   115.758.500 đ

    – Trường hợp công ty mua vật liệu đã thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giá mua vật liệu cho đơn vị bán theo hoá đơn ngày 03/12/2002, số 361 nhập xăng, dầu cho công ty, công ty đã thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, số tiền ghi trên hoá đơn số 361 ngày 03/12/2002là 5.000.000đ. Căn cứ hoá đơn trên kế toán ghi sổ nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK152 (gồm VAT).

    Nợ TK152:  5.000.000 đ

    Nợ TK 1331:  500.000 đ

    Có TK 111: 5.500.000 đ

    – Trường hợp nhập kho vật liệu ngày 14/12/2002, theo hoá đơn số 452, công ty trả bằng tiền vay ngắn hạn 53.680.000 đ. Căn cứ vào hoá đơn số 45 kế toán ghi nhật ký chung theo định khoản: (Nhật ký chung và ở sổ TK152)

    Nợ TK152:  48.800.000 đ

    Nợ TK 133:   4.880.000 đ

    Có TK 311: 53.680.000 đ

    – Trường hợp kế toán tạm ứng tiền cho nhân viên tiếp liệu để mua vật liệu- công cụ dụng cụ không được hạch toán vào tài khoản 141 mà kế toán vẫn viết phiếu chi tiền mặt nhưng cho đến khi nào nhập kho vật liệu, công cụ dụng cụ của nhân viên tiếp  liệu mua về sẽ hạch toán như trường hợp công ty mua vật liệu, công cụ dụng cụ thanh toán trực tiếp.

    Trong tháng căn cứ vào hoá đơn của đơn vị bán gửi đến và phiếu nhập kho. Kế toán tiến hành phân loại và sắp xếp theo từng người bán sau đó kế toán ghi vào các cột phù hợp trên sổ chi tiết- TK331 theo các định khoản trên.

    Cuối tháng kế toán tiền hành cộng sổ chi tiết tài khoản 331 theo từng người bán, số liệu ở sổ chi tiết TK331 là cơ sở để ghi vào sổ nhật ký chung tháng 12/2002.

    Số dư cuối tháng (ở sổ chi tiết) bằng số dư đầu tháng cộng với số phải thanh toán trừ đi số đã thanh toán.

    Mẫu số 18

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán”

    Đối tượng: Công ty thép –thái nguyên chi nhánh Hà Nội

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số PS Số dư
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
        Dư đầu kỳ       25.520.000
    538 02/12/02 Nhập vật liệu cho công ty 152,133   115.758.500 141.278.500
    203 10/12/02 Nhập lưới thép cho công ty 152,133   13.440.000 154.718.500
    206 16/12/02 Nhập thép F10 F12 F16       F18 152,133   57.200.000 211.918.500
    NHB 17/12/02 Thanh toán tiền vật tư 112 115.758.500   96.160.000
    210 18/12/02 Nhập thép ống F90 152,133   48.950.000 145.110.000
    300 18/12/02 Thanh toán tiền vật tư 111 13.440.000   131.670.000
    301 18/12/02 Thanh toán tiền vật tư 112 25.000.000   106.670.000
      ……….. ……………   …………… ……….. …………
        Cộng   805.500.000 835.258.560  
        Tồn cuối kỳ       55.278.560

    Người lập                         Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

     

    Mẫu số 19

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán

    Đối tượng: Chị Minh- Công ty Vật Tư số 27 Cầu Giấy- Hà Nội

    Loại vật tư: xi măng

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số PS Số dư
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
        Dư đầu kỳ       26.775.000
    140 03/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   28.050.000 54.825..000
    623 12/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   74.259.900 129.084.900
    452 14/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   53.680.000 182.764.900
    204 16/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   25.725.000 208.489.900
    452 17/12/02 Đồng chí Hùng TT VT 112 74.259.900   134.230.000
        ………………………..   ………..    
        Cộng   448.350.000 476.295.900  
        Tồn cuối kỳ       54.720.900

    Người lập                         Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    1. Đối với NVL, CCDC về nhập kho thuê ngoài gia công chế biến

    Căn cứ vào hợp đồng kinh tế được lập giữa bên A (đại diện công ty) và bên B (xưởng nhập gia công) kèm theo các phiếu nhập kho của đơn vị nhận gia công để bộ phận vật tư viết phiếu nhập kho như đối với trường hợp hàng mua về nhập kho nghiệp vụ này được thể hiện qua hợp đồng kinh tế sau:

    Mẫu số 20

    HỢP ĐỒNG KINH TẾ

    Hôm nay ngày 18/11/2002

    Đại diện bên A:Nguyễn Văn Cam -Đội trưởng –Xí nghiệp xây lắp 1- Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Đại diện bên B: Nguyễn Duy Hà – Xưởng gia công chế biến Đức Bảo – Hà Nội

    Địa chỉ: 48 Đê La Thành

    Hai bên cùng thoả thuận kí kết hợp đồng với những điều khoản sau:

    Nội dung hợp đồng:

    – Phương thứcthanh toán : Tiền mặt

    – Thời gian thựchiện hợp đồng từ ngày 18 tháng 11 năm 2002 đến ngày 20/12/2003

    – Điều 1: Gia công chi tiết vì kèo, chi tiết nối đầu cọc

    – Điều 2: Bảng kê mặt hàng (khối lượng giao nhận thầu)

    Gia công chi tiết vì kèo bằng tôn dày 5mm, hàn kết cấu thành phẩm kích thước 200mmx105mmx100mm. Đơn giá chi tiết 16.500, số lượng 200.

    Thành tiền 200 cái x 16.500đ = 3.300.000đ và gia công chi tiết nối đầu cọc bằng tôn dày 4mm, hàng kết cấu thành kích thước 150mm x 150mm. Đơn giá chi tiết 6000, số lượng 3000 cái. Thành tiền: 3000 cái x 6000 = 18.000.000 (thuế VAT 5%: 1.065.000)

    Vậy giá trị hợp đồng là : 22.365.000đ

    Bằng chữ: Hai mươi hai triệu  ba trăm sáu mươi năm nghìn đồng .

    (Khi kết thúc hợp đồng theo thời hạn bên B viết một hoá đơn kiêm phiếu xuất kho

    Đại diện bên nhận khoán  (Bên B)            Đại diện bên giao khoán( Bên A)

    ( Ký , họ tên)                                                     ( Ký , họ tên)

    Mẫu Số 14                Hoá đơn GTGT                 MS01/GTKT-3LL

    Liên 2: Giao cho khách hàng

    Ngày 20/12/2005

    Đơn vị bán hàng; Xưởng gia công chế biến Đức Bảo – Hà Nội

    Địa chỉ: 48 Đê La Thành                                        Số TK:

    Điện thoại; 7.829.453                                            Mã số: 0101786521

    Họ và tên người mua: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hưng Vượng

    Số TK:

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt                             Mã số: 0100532970

    STT Hàng hoá- dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Vì kèo cái 200 16.500  3.300.000
    2 Chi tiết nối đầu cọc cái 3000 6000 18.000.000
    Cộng :

     

    Thuế VAT 5%, tiền thuế VAT

    Tổng cộng tiền thanh toán

    Số tiền viết bằng chữ: Hai mươi hai triệu ba trămsáu mươi năm nghìn đồng chẵn.

    21.300.000

     

    1.065.000

    22.365.000

    Người mua hàng              Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Khi hàng về nhập kho, người nhận hàng mang hoá đơn đến phòng vật tư viết phiếu nhập. Căn cứ vào hợp đồng kinh tế và phiếu nhập kho số 49 ngày 20/12/2002, kế toán ghi sổ nhật ký chung và sổ cái TK152

    Nợ TK152: 21.300.000 đ

    Nợ TK 133: 1.065.000 đ

    Có TK111 : 22.365.000 đ

    Đối với công cụ dụng cụ, việc thuê ngoài gia công chế biến trong tháng 12/2002 không có, chỉ trong trường hợp mà hợp đồng yêu cầu chi tiết, đơn vị bán vật liệu, công cụ dụng cụ không đáp ứng được yêu cầu thì lúc đố công ty phải tiến hành thuê ngoài biên chế. Việc thuê chế biến này công ty khoán hoàn toàn cho đơn vị gia công vật liệu, công cụ dụng cụ về kho công ty bình thường như mua ngoài. Công ty không xuất vật tư của công ty cho đơn vị gia công mà đơn vị gia công đảm nhận phần việc này.

    1. Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua về nhưng không nhập kho mà đưa thẳng xuống công trình như: đá, sỏi, cát, vôi… Do khối lượng lớn, kho không chứa đủ kế toán căn cứ hoá đơn kiểm phiếu xuất kho của người bán để nhập vào kho vật liệu như đối với trường hợp nhập vật liệu từ nguồn mua ngoài.

    Cuối ngày, xí nghiệp xây lắp  số 1 có yêu cầu về cát đen và cát vàng phục vụ thi công công trình nhà làm việc Bộ Tài Chính. Phòng vật tư viết phiếu xuất kho cát vàng và cát đen, số lượng 200m3. Thành tiền 11.440.000 đồng

    Căn cứ vào hoá đơn 173 ngày 06/12/2002, kế toán ghi nhật ký chung theo định khoản. Mời xem nhật ký chung và ở sổ cái TK152.

    Nợ TK621: 11.440.000 đ

    Có TK 152: 11.440.000 đ

    Các phiếu nhập, xuất được phản ánh trên sổ kế toán giống như các trường hợp nhập kho từ nguồn mua ngoài và xuất kho dùng cho sản xuất.

    2.2.7.2. Kế toán tổng hợp xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ

    Ở công ty cổ phần xây dựng số 4 thăng long vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho chủ yếu sử dụng để xây dựng các công trình, đáp ứng được tiến độ thi công. Bởi vậy kế toán tổng hợp xuất vật liệu, công cụ dụng cụ phải phản ánh kịp thời theo từng xí nghiệp, tới trong công ty, đảm bảo chính xác chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ trong toàn bộ chi phí sản xuất.

    1. Kế toán xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất

    Khi tiến hành xuất vật liệu, công cụ dụng cụ căn cứ vào số lượng vật tư yêu cầu được tính toán theo định mức sử dụng của cán bộ kĩ thuật, phòng vật tư lập phiếu xuất vật tư như sau:

    Mẫu Số 22                     Phiếu xuất kho             Số 138

    Ngày 15/12/2002

    Xuất cho ông: Hoàng Bình

    Để dùng vào việc: Thi công công trình bộ tài chính- Hà Nội

    Lĩnh tại kho: chị  Chuyên                           Đơn vị : đồng

    STT Tên quy cách sản phẩm hàng hoá ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Que hàn kg 10 10 5000 50.000
    2 Máy khoan cái 1 1 1.200.000 1.200.000
    3 Máy hàn cái 1 1 1.000.000 1.000.000
    4 Tôn 8 ly kg 2000 2000 6000 12.000.000
      Cộng         14.250.000

    Cộng thành tiền (Viết bằng chữ): mười bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn.

    Xuất kho ngày 15 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách bộ phận sử dụng     Phụ trách cung tiêu       Người nhận            Thủ kho

    Sau khi  xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ phiếu xuất kho được chuyển cho kế toán giữ và ghi vào sổ nhật kí chung. Căn cứ vào số thực xuất ghi trong phiếu kho và giá bán đơn vị của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng. Căn cứ vào dòng cộng thành tiền trên phiếu xuất kho để ghi sổ nhật ký chung theo chứng từ số 138 ngày 15/12/2002, mời xem nhật ký chung vào ở sổ cái TK 152, TK 153

    Nợ TK 627: 12.050.000 đ

    Có TK 152: 12.050.000 đ

    Cùng với việc ghi sổ nhật ký chung, kế toán ghi sổ chi tiết TK 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” cơ quan công ty.

    – Theo chứng từ xuất kho số 219 ngày 16/12/2002 xuất vật liệu phục vụ thi công công nhà làm việc- Bộ tài chính Hà Nội. Nghiệp vụ được thể hiện trên nhật ký chung và sổ cái TK152 kế toán ghi:

    Nợ TK 621: 44.000.000 đ

    Có TK 152: 44.000.000 đ

    – Theo chứng từ xuất kho số 220 ngày 16/12/2002- xuất xăng, dầu phục vụ cho công tác công trình ở xa trụ sở. Nghiệp vụ được thể hiện trên nhật ký chung ở sổ cái TK 152.

    Nợ TK 621: 5.000.000 đ

    Có TK152: 5.000.000 đ

    – Ngày 17/12/2002 theo chứng từ số 168, xuất Máy đầm cóc, khoan bê tông phục vụ thi công công trình . Thể hiện trên nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK 153.

    Nợ TK 142: 32.000.000 đ

    Có TK 153: 32.000.000 đ

    Phân bổ 50% giá trị công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo chứng từ 221 ngày 18/12/2002 trên nhật ký chung.

    Nợ TK 627(3): 16.000.000 đ

    Có TK 142: 16.000.000 đ

    Giá trị 50% còn lại khi nào báo hỏng mới phân bổ hết.

    – Đối với phiếu xuất kho số 136 ngày 06/12/2002- xuất số công cụ dụng cụ có giá trị nhỏ, tính một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh, xem nhật kí chung và sổ cái TK 153.

    Nợ TK 627: 4.700.000 đ

    Có TK 153: 4.700.000 đ

    1. Trường hợp công ty cho phép các đơn vị mua vật tư bằng tiền tạm ứng để sử dụng tại các đơn vị trực thuộc

    Để phục vụ thi công kịp thời việc thi công các công trình ở xa trụ sở công ty. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long cho phép các đơn vị có nhu cầu tự đi mua vật tư bằng tiền tạm ứng. Có thể các đơn vị thi công ở địa điểm nào thì nhân viên tiếp liệu của từng đơn vị vay tiền tạm ứng đi mua vật tư phục vụ sản xuất. Khi số vật liệu, công cụ dụng cụ mua về nhập kho dựa trên yêu cầu của từng đơn vị do đó số vật liệu, công cụ dụng cụ này được xuất dùng hết trong tháng. Nhân viên kinh tế ở đơn vị trực thuộc lập tờ kê chi tiết về số vật liệu đã mua về và sử dụng theo từng lần nhập.

    – Theo chứng từ số 116 ngày 27/12/2002 trên nhật ký chung của số vật tư   và sử dụng ở đội công trình số 3, số tiền là 342.730.000 đ được thể hiện qua tờ kê chi tiết sau:

    Mẫu số 23

    Tờ kê chi tiết

    Tháng 12/2002

    Đội công trình số 3

    STT Chứng từ Diễn giải Số tiền

     

    ( đồng)

    Ghi chú
    SH Ngày
    1 08 3/12 Đồng chí Mạnh nhập vật tư 58.200.000  
    2 09 5/12 Đồng chí Thoa nhập vật tư 46.500.000  
    3 10 6/12 Đồng chí Loan nhập vật tư 96.000.000  
    4 11 20/12 Đồng chí Thoa nhập vật tư 55.200.000  
    5 12 25/12 Đồng chí Mạnh nhập vật tư 86.830.000  
          Tổng cộng 342.730.000  

    Ngày 27/12/2002

    Kế toán trưởng                                                  Kế toán ghi sổ ký

    Kèm theo tờ kê chi tiết bao gồm các chứng từ:

    – Các phiếu nhập kho số 08, 09, 10, 11, 12 và các hoá đơn hàng kèm theo tổng số tiền ghi trên các phiếu nhập kho là 342.730.000 đ

    Trong tháng tiến hành xuất kho số 21, 22 và các vật tư kèm theo. Tổng số tiền ghi trên các phiếu kho là 342.730.000đ. Căn cứ vào tờ kê chi tiết do các đội công trình số 3 lập và gửi lên phòng kế toán. Phòng kế toán ghi vào nhật ký chung:

    Nợ TK 621: 342.730.000 đ

    Có TK 141:342.730.000 đ

    – Các công trình ở xa, do bộ phận kế toán còn ít nên việc thực hiện chứng từ nhập, xuất còn khó khăn. Thường các công trình ở xa Hà Nội công ty cho phép các đội tạm ứng tiền để mua vật tư theo định mức của phòng kĩ thuật vật tư. Đến cuối tháng các đội mới hoàn tạm ứng để nhập, xuất vật tư. Lúc đó kế toán đã căn cứ vào phiếu nhập kho, phiếu xuất kho của từng công trình để định khoản.

    Nợ TK 621

    Có TK 141

    1. Trường hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ luân chuyển như xuất dùng làm nhà kho nhà tạm

    Đối với công trình phụ phục vụ cho công trình có giá trị lớn, trị giá nguyên vật liệu, xuất dùng được phân bổ hết một lần vào phí nguyên vật liệu còn công cụ dụng cụ xuất dùng được phân bổ hết vào chi phí sản xuất chung.

    Mẫu số 24

    Yêu cầu vật tư

    Ngày 10/12/2002

    Dùng cho công trình: Công trình cầu nổi Bắc Ninh

    STT Tên vật tư Đội nhận Dùng vào việc ĐVT Số lượng
    Yêu cầu T/xuất
      Cọc tre   Dựng nhà tạm cây 45 45
    2 Cót ép   Lợp nhà tạm tấm 23 23
    3 Ổ cắm sứ   Làm nhà tạm cái 5 5
    4 Đèn sợi tóc   Làm nhà tạm chiếc 5 5
    5 Bảng điện   Làm nhà tạm chiếc 3 3
    6 Đui cài   Làm nhà tạm cái 5 5
    7 Dây điện   Làm nhà tạm m 45 45
    8 Bản lề   Làm nhà tạm chiếc 6 6
    9 Khoá cửa   Làm nhà tạm chiếc 2 2

    Người lập                                Kế toán trưởng

    Cùng với yêu cầu vật tư phục vụ thi công công trình chính, phòng kinh kế kế hoạch tiếp thị vật tư viết phiếu xuất kho số 170 ngày 10/12/2002 căn cứ vào chứng từ kế toán phản ánh trên nhật kí chung và ở sổ cái TK  152

    Nợ TK 621: 3.500.000  đ

    Có TK 152: 3.500.000 đ

    Nợ TK 627 : 1.500.000  đ

    Có TK 153 : 1.500.000 đ

    Cuối tháng kế toán tổng hợp tất cả các phiếu xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ cho từng công trình và lập bảng tổng hợp xuất vật tư. Bảng tổng hợp xuất vật tư được lập cho từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ và có chi tiết cho từng công trình.

    Mẫu số 25

    Đơn vị: Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Trích bảng tổng hợp xuất vật tư – công cụ dụng cụ

    Tháng 12/2002                                  Đơn vị : đồng

    Tên vật tư Tên công trình ĐVT Thành tiền
    TK 15 2        1.545.586.000
    – Sắt thép Công trình Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội kg         44.000.000
    – XMHT Công trình Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội kg          33.900.000
    ………………….    
    – XMHT Công trình Nhà Bộ Tài Chính kg           16.800.000
    – Thép F10 Công trình Nhà Công An Hà Nội kg            17.920.000
    …………………..  
    TK 153                25.895.000
    Xẻng Công trình Nhà Nhà Bộ Tài Chính                  240.000
      ……………..  
           

    Người lập                                            Kế toán trưởng

    Để xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho kế toán lập bảng phân bổ vật liệu công cụ dụng cụ nhằm theo dõi số lượng vật liệu xuất dùng cho từng công trình. Cuối tháng, căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ kế toán lập bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ tháng 12 ở công ty như sau:

    Mẫu số 26

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ

    Tháng 12/2002                               Đơn vị : đồng

    STT Đối tượng sử dụng

     

    (Ghi nợ các TK)

    152    (Ghi có tk) 153    (Ghi có tk)
    H. toán Thực tế H. toán Thực tế
    1 TK621   3.645.482.000    
      – Công trình Nhà Bộ tài chính     342.000.000    
      – Công trình Nhà công an HN    183.000.000    
      -Công trình Cầu Nổi Bắc Ninh      320.000.000    
      -Xưởng bê tông1    604.560.000    
      -Xưởng bê tông 2     356.450.000    
      -Cầu Khe lếch lào cai   758.000.000    
      -…………….   ……………    
    2 TK 623      25.346.000    
      – Phụ tùng sửa chữa(Ô Tạo)        5.320.000    
      -Phụ tùng (Ô Sơn)         1.380.000    
      – ………….   ……………    
    3 TK 627   18.362.000      8.560.000
      – Nhà Bộ Tài Chính           4.700.000
      -……………   …………..   ………
    4 TK 642   15.420.000    
      – Xăng xe con   15.420.000    
    5 TK 142       42.520.000
      -Đầm cóc, máy khoan       32.000.000
      – Gỗu, phễu đổ bê tông         1.250.000
      ……………………   ………….   ………….
      Cộng   3.704.610.000   51.080.000

    Sau khi vào bảng phân bổ, kế toán tiến hành định khoản như sau:

    * Nợ TK621:  3.645.482.000

    Có TK152: 3.645.482.000

    * Nợ TK623  : 25.346.000

    Có TK152: 25.346.000

    * Nợ TK627: 18.362.000

    Có TK152: 18.362.000

    * Nợ TK627: 8.560.000

    Có TK153: 8.560.000

    * Nợ TK642: 15.420.000

    Có TK153: 15.420.000

    * Nợ TK142: 42.520.000

    Có TK 153: 42.520.000

    Từ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ, tháng 12/2002 của công ty có thể phản ánh lên Nhật kí chung và sổ cái theo từng công trình, cho công việc kế toán được gọn nhẹ. Nhưng ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long đã áp dụng công tác kế toán trên máy vi tính nên phòng kế toán đã căn cứ từ các chứng từ theo thứ tự thời gian để vào sổ nhật ký chung và sổ cái. Nếu có yêu cầu kiểm tra số vật liệu xuất dùng cho từng công trình thì kế toán kiểm tra trên bảng tổng hợp xuất vật tư và Bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ và đối chiếu vào sổ cái TK 152, TK 153 và các sổ chi tiết liên quan.

    Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc để kế toán ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào nhật kí chung, sau đó ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Sau đây em trích sổ nhật ký chung tháng 12/2002 ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Sau khi vào sổ nhật ký chung, kế toán ghi vào các sổ cái liên quan.

    Mẫu số 27

    Đơn vị: Công ty cổ phần                      (Trích)

    xây dựng số 4 thăng long                NHẬT KÝ CHUNG

    Tháng 12 năm 2002

    Đơn vị: đồng

    Ntgs Chứng từ Diễn giải TK kế toán Số PS GC
    Ngày Số Nợ Nợ
    2/12 02/12 538 Đ/c Hùng mua vật liệu

     

    Thuế VAT là 10%

    Phải trả người bán

    152

     

    133

    331 105.235.000

     

    10.523.500

    115.758.500  
    3/12 03/12 166 Đ/c Hùng nhập vl

     

    Thuế VAT là 10 %

    Phải trả người bán

    152

     

    133

    331 25.500.000

     

    2.550.000

    28.050.000  
    3/12 03/12 361 Nhập xăng dầu

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    152

     

    133

    111 5.000.000

     

    500.000

    5.500.000  
    4/12 04/12 167 Đ/c Hùng nhập vl

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    152

     

    133

    111 16.800.000

     

    1.680.000

    18.480.000  
    5/12 04/12 168 Đ/c Sơn nhập ccdc

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    153

     

    133

    111 32.000.000

     

    3.200.000

    35.200.000  
          ……………. ….   ……….    
    6/12 06/12 136 Xuất ccdc cho ct

     

    Giá trị xuất dùng

    627 153 4.700.000 4.700.000  
    6/12 06/12 137 Xuất VL cho CT

     

    Giá trị xuất dùng

    621 152 33.900.000 33.900.000  
      ………   ……………..     ……………………    
    16/12 16/12 219 Xuất VL cho CT

     

    Giá trị xuất dùng

    621 152 44.000.000 44.000.000  
    17/12 17/12 NHB Ngân hàng báo trả tiền mua VL số 538 331 112 115.758.500 115.758.500  
      …..   ………………..     ………… ……..  
                     

    Ngày 30 tháng 12 năm 2002

    Người giữ sổ                                                                        Kế toán trưởng

    (Ký họ tên)                                                                            (Ký họ tên)

    Mẫu 28

    Đơn vị: Công ty cổ phần XD

    số 4 Thăng long                    Sổ cái tháng 12/2002

    TK 152. Nguyên liệu, vật liệu

    Đơn vị: đồng

    Ng/Ctừ Diễn giải TKĐƯ Số tiền nợ Số tiền có Số dư
      Dư đầu kỳ       78.740.500
    02/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 105.235..000   183.975.500
    03/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331  25.500.000   209.475.500
    03/12 Nhập xăng dầu tháng 12/2002 111  5.000.000   214.475.500
    04/12 Đồng chí Sơn nhập vật tư 331  16.200.000   230.675.500
    06/12 Xuất VTTC Nhà Bộ tài chính 621   33.900.000 196.775.500
    13/12 Xuất VTTC Nhà Bộ Tài Chính 621   44.000.000 152.775.500
    14/12 Đồng chí Sơn nhập vật tư 311 52.000.000   204.775.500
    16/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 62.800.000   267.575.500
    16/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 24.500.000   292.075.500
    17/12 Xuất VT Nhà Bộ Tài Chính 621   16.800.000 275.275.500
    17/12 Xuất VTTC Nhà Bộ Tài Chính 621   15.040.000 260.235.500
    17/12 Nhập vật tư vào kho công ty 331 322.000.000   582.235.500
    18/12 Xuất VTTCĐường Nội Bài -BN 621   128.400.000 453.835.500
    18/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 112 18.800.000   472.635.500
    20/12 Đồng chí Hùng nhập kho Cty 141 32.500.000   505.135.500
    22/12 Xuất VT TC CT Đường đê sông hồng 621   46.600.000 458.535.500
    22/12 Xuất xăng đầu tháng 12/2002 621   5.000.000 453.535.500
    22/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 141 28.800.000   482.335.500
    23/12 Xuất vật tư thi công CT Đường đê sông hồng HN 621   52.050.000 430.285.500
    23/12 Nhập vật tư vào kho công ty 141 32.495.000   462.780.500
    24/12 Xuất VT CT Nhà Bộ Tài Chính 621   32.495.000 430.285.500
    24/12 Xuất vật tư làm nhà tạm 621   3.500.000 426.785.500
    25/12 Xuất VT CT Nhà công an HN 621   11.440.000 415.345.500
    ……………. …………….. ……….
      Cộng phát sinh   3.356.917.540 3.243.586.500  
      Số dư cuối kỳ       113.331.040

    Ngày 30/12/2002

    Người lập                                                                    Kế toán trưởng

    Tương tự như đối với vật liệu, sau khi vào sổ nhật kí chung, kế toán ghi vào sổ cái tài khoản 153 công cụ dụng cụ.

    Mẫu số 29

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long

    Sổ Cái tháng 12/2002

    TK 153- Công cụ dụng cụ

    Ng/C.từ Diễn giải TKĐƯ Số tiền nợ Số tiền có Số dư
      Số dư đầu kỳ       5.140.000
    04/12 Đồng chí Sơn nhập ccdc 111 32.000.000   37.140.000
    05/12 Đồng chí Sơn nhập ccdc 111 3.010.000   40.150.000
    06/12 Xuất ccdc Nhà HN 627   4.700.000 35.450.000
    …….. …………        
    17/12 Phân bổ ccdc 142   32.000.000  
      Cộng phát sinh   52.895.000 45.750.000  
      Số dư cuối kỳ       7.145.000

    Ngày 30/12/2002

    Người lập                                                            Kế toán trưởng

     

    PHẦN THỨ BA

    NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN NVL, CCDC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN  KẾ TOÁN NVL , CCDC Ở CÔNG TY

     

    3.1 NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ  TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4  THĂNG LONG

    Trong suốt quá trình từ khi thành lập công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long luôn có hướng phát triển tốt, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn phức tạp về nhiều mặt nhất là từ khi có cơ chế kinh tế thị trường. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long có những bước tiến rõ rệt về nhiều mặt:

    – Sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    – Đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên ngày một khá.

    – Làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.

    – Không ngừng tăng cường đầu tư vốn vào việc xây dựng cơ sở vật chất và tích cực mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất ngày một hoàn chỉnh hơn (ví dụ như các loại máy thi công, máy móc văn phòng…).

    – Hoàn chỉnh từng bước việc tổ chức sắp xếp lực lượng sản xuất với những mô hình thực sự có hiệu quả theo từng giai đoạn.

    – Đào tạo và lựa chọn đội ngũ cán bộ, công nhân có đủ năng lực và trình độ để đáp ứng mọi yêu cầu sản xuất kinh doanh trong tình hình hiện tại.

    Để công ty đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi nhà quản lý phải quán triệt chất lượng toàn bộ công tác quản lý. Hạch toán kinh tế là bộ phận cấu thành của công cụ quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của  các doanh nghiệp đồng thời cũng là công cụ đắc lực phục vụ cho nhà nước trong quản lý lãnh đạo, chỉ đạo kinh doanh. Từ đó thực hiện đầy đủ chức năng, phản ánh và giám sát mọi hoạt động kinh tế, chính trị – Kế toán phải thực hiện những quy định cụ thể, thống nhất phù hợp với tính toán khách quan và nội dung yêu cầu của một cơ chế quản lý nhất định. Việc nghiên cứu cải tiến vào hoàn thiện công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ ở các doanh nghiệp là một vấn đề hết sức bức thiết đối với công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập thì điều này càng trở nên bức thiết hơn và cần thực hiện đúng các nguyên tắc sau:

    – Thứ nhất: Kế toán vật liệu phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ của hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ do bộ phận chuyên ngành. Trong hạch toán sản xuất kinh doanh, kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ phải đảm bảo cùng một lúc hai chức năng là phản ánh và giám sát qúa trình nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ nhưng phải nhanh chóng kịp thời, cung cấp các thông tin chính xác phục vụ cho quản lý.

    – Thứ hai: Xuất phát từ đặc trưng cụ thể của doanh nghiệp để tổ chức hạch toán vật liệu một cách hữu hiệu khách quan và tiết kiệm, kế toán phải ghi chép hạch toán đúng theo quy định và vận dụng đúng nguyên lý vào đơn vị mình.

    – Thứ ba: Kế toán phải căn cứ vào mô hình chung trong hạch toán, những qui định về ghi chép luân chuyển chứng từ của doanh nghiệp để hoàn thiện các sơ đồ hạch toán, ghi chép kế toán.

    – Thứ tư: Bảo đảm nguyên tắc phục vụ yêu cầu của hạch toán vật liệu theo thể chế và luật lệ mới về kế toán mà nhà nước ban hành.

    3.1.1. Ưu điểm:

    Cùng với sự quan tâm và giúp đỡ thường xuyên của Tổng công ty xây dựng – Thăng Long, trong năm 2002 công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đã phát huy được truyền thống bảo đảm chất lượng tiến độ thi công và giá thành, nên uy tín trong thị trường xây dựng và khách hàng ngày càng phát triển mạnh.

    Mỗi năm một lớn mạnh nâng cao giá trị thực hiện toàn công ty hiện nay lên tới 130.820.632.000 VNĐ. Sang năm 2003 công ty luôn phấn đấu đạt mức 150.845.430.000 VNĐ.

    Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả giúp lãnh đạo công ty trong việc giám sát thi công, quản lý kinh tế, công tác tổ chức sản xuất, tổ chức hạch toán được tiến hành hợp lý, khoa học, phù hợp với điều kiện hiện nay. Phòng kế toán của công ty được bố trí hợp lý, phân công công việc cụ thể, rõ ràng công ty đã có đội ngũ nhân viên kế toán trẻ, có trình độ năng lực, nhiệt tình và trung thực… đã góp phần đắc lực vào công tác hạch toán và quản lý kinh tế của công ty. Phòng kế toán công ty đã sớm áp dụng thử nghiệm chế độ kế toán mới vào công tác kế toán của công ty, công ty đang áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung. Đây là hình thức kế toán mới có ưu điểm là hệ thống sổ sách tương đối gọn nhẹ, việc ghi chép đơn giản. Bộ máy kế toán đã biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo có hiệu quả chế độ kế toán trên máy vi tính theo hình thức nhật ký chung nhằm nâng cao trình độ cơ giới hoá công tác kế toán, phát huy hơn nữa vai trò của kế toán trong tình hình hiện nay. Về cơ bản hệ thống sổ sách kế toán của công ty được lập đẩy đủ theo qui định với ưu điểm là sổ sách được lập đầy đủ và in vào cuối tháng, nếu trong tháng phát hiện ra sai sót thì vẫn có thể sửa chữa dễ dàng. Ngoài ra việc các sổ sách kế toán đều được ghi thường xuyên thuận tiện cho việc đối chiếu, kiểm tra giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp.

    – Về công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ, kế toán công ty đã tổ chức hạch toán vật liệu theo từng công trình, hạng mục công trình, trong từng tháng, từng quí rõ ràng. Một năm công ty hạch toán vào 4 quí, một quý 3 tháng được hạch toán một cách đơn giản, phục vụ tốt yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Về tổ chức kho bảo quản:

    Nhằm đảm bảo không bị hao hụt, công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long hiện có 2 kho bảo quản vật liệu vì theo mỗi công trình là một kho. Như vậy đã giúp cho kế toán thuận tiện hơn trong quá trình hạch toán giúp cho việc kiểm tra quá  trình thu mua, dự trữ và bảo quản, sử dụng dễ dàng hơn.

    – Về hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung:

    Sẽ tạo điều kiện để kiểm tra chỉ đạo nghiệp vụ và đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như công tác kế toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, hình thức này còn thuận tiện trong việc phân công và chuyên môn hoá công việc đối với cán bộ kế toán cũng như việc trang bị các phương tiện, kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin.

    – Việc đánh giá thực tế vật liệu nhập, xuất kho có tác dụng:

    Thông qua giá thực tế của vật liệu biết được chi phí thực tế NVL trong sản xuất, phản ánh đầy đủ chi phí vật liệu, CCDC trong giá thành của sản phẩm, xác định đúng đắn chi phí đầu vào, biết được tình hình thực hiện định mức tiêu hao vật liệu, CCDC. Thông qua đó biết được hao phí lao động quá khứ trong giá thành của sản phẩm.

    3.1.2. Hạn chế:

    Việc tổ chức công tác kế toán nói chung và kế toán vật liệu nói riêng tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long còn có một số hạn chế cần được khắc phục:

    – Việc tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ là rất cần thiết, nhưng do yêu cầu thị trường hiện nay, mỗi công trình được công ty xây dựng là phải đảm bảo chất lượng, tiến độ thi công nhanh, hạ giá thành, từng công trình hoàn thành bàn giao có giá trị lớn, nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lúc đó một kế toán và một thủ kho kiêm thủ quỹ là số ít. Có thể trong cùng thời gian một đội, xí nghiệp thi công từ 1 đến 2 công trình, địa bàn nằm ở khác nhau. Do vậy việc bố trí gọn nhẹ này làm cho công tác kế toán vật liệu, CCDC ở các đội, xí nghiệp thi công nhiều công trình là thiếu chính xác, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý sản xuất nói chung và hạch toán chi phí vật liệu, CCDC nói riêng, vấn đề này phòng kế toán công ty và giám đốc cần sớm quan tâm giải quyết sao cho hài hoà đảm bảo đúng quy định về tổ chức công tác kế toán.

    – Việc phân loại  NVL, CCDC ở công ty không tiến hành. Hiện nay, công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên số lượng vật liệu, CCDC hạch toán được  ký hiệu bởi từng mã vật tư khác nhau và công ty chưa lập sổ danh điểm vật liệu, CCDC.

    -Việc tổ chức kho ở tại các công trình chưa khoa học, chưa kiên cố do vậy việc đảm bảo vật tư không tốt , vật tư còn sắp xếp lẫn lộn sẽ gây khó khăn cho việc xuất – nhập vật tư tốn nhiều thời gian .

    – Mặc dù có nhiều ưu điểm song hệ thống của công ty hiện nay vẫn còn có điểm cần xem xét. Về mẫu sổ chi tiết thanh toán với người bán, sổ cái công ty đang sử dụng để hạch toán hiện nay cũng có một số sửa đổi so với qui định của bộ tài chính. .

    3.2. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG:

    Qua thời gian thực tập ở công ty, trên cơ sở lý luận đã được học kết hợp vơí thực tế, em xin đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện và sửa đổi công tác kế toán vật liêụ ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Ý kiến thứ nhất: Việc quản lý vật tư hiện nay ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là tương đối chặt chẽ và đảm bảo nguyên tắc nhập xuất vật liệu, tuy nhiên qua thực tế ở các đội, ta nhận thấy quản lý còn một vài thiếu sót, gây lãng phí vật tư nhất là các loại vật tư mua được chuyển thẳng tới chân công trình như: cát, sỏi, vôi đá… để thuận tiện cho việc xuất dùng sử dụng. Chỗ để vật liệu thường xuyên chuyển đổi, việc giao nhận các loại vật tư này thường không được cân đong đo đếm kỹ lưỡng, nên dẫn đến thất thoát một lượng vật tư tương đối lớn. Vì vậy ở công trường cần chuẩn bị đủ nhà kho để chứa vật liệu, chuẩn bị chỗ để vật tư dễ bảo vệ thuận tiện cho quá trình thi công, xây dựng công trình và việc đong đếm cũng phải tiến hành chặt chẽ hơn làm giảm bớt việc thất thoát một cách vô ý không ai chịu trách nhiệm. Trong công tác thu mua vật liệu, các đội ký hợp đồng mua tại chân công trình, đây cũng là một mặt tốt giảm bớt lượng công việc của cán bộ làm công tác tiếp liệu, tuy nhiên về giá cả có thể không thống nhất, cần phải được tham khảo kỹ, cố gắng khai thác các nguồn cung cấp có giá hợp lý, chất lượng, khối lượng đảm bảo và chọn các nhà cung cấp có khả năng dồi dào, cung  cấp vật tư, vật liệu cho đội, xí nghiệp với thời hạn thanh toán sau. Đảm bảo cho việc thi công xây dựng công trình không bị gián đoạn do thiếu vật tư. Đồng thời với các công tác trên, phòng kế toán công ty tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra giám sát tới từng công trình về việc dự toán thi công, lập kế hoạch mua sắm, dự trữ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, kiểm tra sổ sách, kiểm tra các báo cáo kế toán NVL, CCDC tránh trường hợp vật tư nhập kho lại không đủ chứng từ gốc.

    – Ý Kiến thứ hai:

    Qua theo dõi chứng từ ban đầu ở các đội việc sử lý để chuyển nên phòng kế toán trung tâm còn chậm do đó phải có biện pháp quy định về mặt thời gian luân chuyển chứng từ ban đầu để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời .Phòng kế toán nên quy thời gian từ 10 đến 15 ngày tuỳ theo điều kiện mà nhân viên kinh tế đội phải chuyển chứng từ ban đầu cho phòng kế toán.

    – Trong trường hợp : Xuất quỹ tiền mặt tạm ứng cho các đội để mua nguyên vật liệu thì kế toán cần phải thực hiện ghi chép kịp thời

    Nợ TK 141

    Có TK 111, 112

    Vì nếu trường hợp sang tháng vật tư mới về thì số tiền đã tạm ứng không được theo dõi trên TK nào . Trong báo cáo kế toán sẽ giảm đi một lượng tiền mà không rõ nguyên nhân do vậy phải ghi chép ngay.

    – Ý kiến thứ ba.

    Hiện công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên số lượng VL, CCDC được ký hiệu bởi từng mã vật tư khác nhau.

    Do vậy kiến nghị công ty nên lập sổ danh điểm VL theo mẫu sau.

    Mẫu Số :30

    SỔ DANH ĐIỂM VẬT LIỆU

    Loaị : Nguyên vật liệu chính : 152.1        Đơn vị : đồng

    TT Danh điểm Tên vật tư Đơn vị tính Đơn giá Ghi chú
    Nhóm Danh điểm
    1 152.1.01 152.1.01.1

     

    152.1.01.2

    ……………

    NVL ở kho A

     

    Thép F10

    Thép F12

    ……………..

    kg

     

    kg

    5.020

     

    5.120

     
    2 152.1.02 152.1.02.1 NVL ở kho B

     

    Xi măng

    Lô 300

    Lô 400

    kg 740

     

    760

     
      ………… ………… ……………   ……….  

     

    – Ý kiến thứ tư:

    – Về “sổ chi tiết thanh toán với người bán” mà công ty đã phản ánh chưa được rõ ràng và chuẩn xác. Mẫu số 18 (trang 69) sẽ đổi thành Mẫu số 31.

    Mẫu số 30

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12 năm 2002

    TK 331 “ Phải trả người bán

    Đối tượng : Công ty thép thái nguyên – chi nhánh Hà Nội            Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải TK đư Số PS Số dư
    Sh NT Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ         25.520.000
    538 02/12 Mua vl cho Công ty

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      105.235.000

     

    10.523.500

      141.278.500
    203 10/12 Nhập lưới thép

     

    Thuế VAT là 5%

    152

     

    133

       12.800.000

     

    640.000

      154.718.500
    206 16/12 Nhập thép F10, 16, 18

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

       52.000.000

     

    5.200.000

      211.918.500
    NHB 17/12 Thanh toán VL mua số

     

    538 ngày 02/12

    112 115.758.500     96.160.000
    210 18/12 Nhập ống thép F 90

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

        44.500.000

     

    4.450.000

      145.110.000
    300 18/12 Thanh toán tiền VL 111 13.440.000     131.670.000
    301 18/12 Thanh toán tiền VT 112 25.000.000     106.670.000
      ….. …………..   …… ……..   ………..
        Cộng   805.500.000 835.258.560    
                  55.278.560

     

    Mẫu số 19 (trang 70) thay bằng Mẫu số 32

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán

    Đối tượng: Chị Minh- Công ty Vật Tư số 27 Cầu Giấy- Hà Nội

    Loại vật tư: Xi măng

    Chứng từ Diễn giải TK đư Số PS Số dư
    SH NT Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ         26.775.000
    140 03/12 Đ/c Hùng nhập VT

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      25.500.000

     

    2.550.000

      54.825.000
    623 12/12 Đ/c Hùng nhập VT

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      67.509.000

     

    6.750.900

      129.084.900
    452 14/12 Nhập Vật tư

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      48.800.000

     

    4.880.000

      182.764.900
    204 16/12 Nhập vật tư

     

    Thuế VAT là 5%

    152

     

    133

      24.500.000

     

    1.225.000

      208.489.900
    452 17/12 Thanh toán tiền VL 311 74.259.900     134.230.000
        ………….   …… …….   ……
        Cộng   448.350.000 476.295.900    
        Tồn cuối kỳ         54.720.900

    -Ý kiến thứ năm:

    Đối với công cụ dụng cụ: Máy đầm, máy khoan v.v… do thời gian sử dụng lâu và giá trị lớn do vậy công ty cần phân bổ vào TK 242.

    TK153                                       TK 242                                    TK627

     

    KẾT LUẬN

    Để kế toán phát huy được vai trò của mình trong quản lý kinh tế thông qua việc phản ánh và giám sát một cách chặt chẽ, toàn diện tài sản và nguồn vốn của công ty ở mọi khâu trong quá trình sản xuất nhằm cung cấp các thông tin chính xác và hợp lý phục vụ cho việc lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh, thì việc hoàn thiện công tác kế toán vật liệu, CCDC của công ty là một tất yếu. Nhất là trong việc chuyển đổi môi trường kinh tế, việc tổ chức kế toán vật liệu đòi hỏi còn phải nhanh chóng kiện toàn để cung cấp kịp thời đồng bộ những vật liệu cần thiết cho sản xuất, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các định mức dự trữ ngăn ngừa hiện tượng hao hụt, mất mát  lãng phí vật liệu.

    Trên góc độ người cán bộ kế toán em cho rằng cần phải nhận thức đầy đủ  cả về lý luận lẫn thực tiễn. Mặc dù có thể vận dụng lý luận vào thực tiễn dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đảm bảo phù hợp về nội dung và mục đích của công tác kế toán.

    Do thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế không dài, trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Viện Đại Học Mở Hà Nội.

    Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đào Bá Thụ và các cán bộ kế toán công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.

    Hà Nội, tháng 7 năm 2003

                                                                                         Sinh viên

                                                                                    Bùi Công Kha

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo Trình Kế Toán Tài Chính .
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội, Xuất Bản 1999.
    • Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán Hà Nội, Xuất Bản 1999.
    1. Giáo Trình Kế Toán Quản Trị.
    • Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Xuất Bản 2000.
    1. Giáo Trình Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội,Nhà Xuất Bản Thống Kê: 6-2000
    1. Hệ Thống Tài Khoản Kế Toán Doanh Nghiệp
    • Nhà Xuất Bản Tài Chính Hà Nội Năm 2000.

     5.Tạp Chí Kế Toán Các Số Năm 2003.

    1. Một Số Chuyên Đề Tốt Nghiệp Khoá Trước Của:
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội.
    • Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán.
    1. Báo cáo hoạt động của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long tháng 12 năm 2002
    2. Thông tư hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết định 149/QĐ- BTC. Về việc thực hiện các chuẩn mực kế toán mới .

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-v%C3%A0-x%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Ng%E1%BB%8Dc-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Lời mở đầu

    Trong cơ chế mới, với sự hoạt động của nhiều thành phần kinh tế tính độc lập, tự chủ trong các doanh nghiệp ngày càng cao hơn mỗi doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong kinh  doanh, phải chịu trách nhiệm trước kết quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn kinh doanh và quan trọng hơn là kinh doanh có lãi. Muốn như vậy các doanh nghiệp phải nhận thức được vị trí khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá vì nó quyết định đến kết quả kinh doanh của kinh doanh nghiệp và là cơ sở để doanh nghiệp có thu nhập bù đắp chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà Nước.

    Bên cạnh đó, múc đích hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận nên việc xác định đứng đắn KQKD nói chung về kết quả bán hàng nói riêng là rất quan trọng. Do vậy bên cạnh các biện pháp quản lý chung, việc tổ chức hợp lý công tác kế toán bán háng là rất cần thiết giúp doanh nghiệp có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để đưa ra quyết định kinh doanh đứng đắn.

    Doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao là cơ sở doanh nghiệp có thể tồn tại và  phát triển ngày càng vững chắc trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động và quyết liệt.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng vận dụng lý luận đã được học tập tại trường kết hợp với thực tế thu nhận được từ công tác kế toán tại công ty cổ phần Ngọc Anh, ”em đã chọn đề tài” Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng” để nghiên cứu và viết chuyên đề của mình.

    Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:

    Chương I: Các vấn đề chung về kế toán bán hàng.

    Chương II: Thực tế công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

    Chương III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Em xin chân thành cảm ơn:

    Chương I:

    Các vấn đề chung.

    1.1. Khái niệm về thành phẩm, bán hàng và ý nghĩa của công tác bán hàng.

    1.1.1. Khái niệm thành phẩm.

    Trong DNSXCN: Thành phẩm những sản phẩm đã kết thúc toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất do doanh nghiệp tiến hành hoặc thuêu ngoài gia công tác chế biến và đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định và đã nhập cho kho thành phẩm.

    * Phân biệt giữa thành phẩm và sản phẩm .

    – Xét về mặt giới hạn.

    + Thành phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất và gắn với một quy trình công nghệ sản xuất nhất định trong phạm vi một doanh nghiệp .

    + Sản phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất cung cấp dịch vụ.

    – Xét về mặt phạm vi.

    + Thành phẩm duy nhất chỉ là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất .

    + Sản phẩm: Bao gồm thành phẩm và nửa thành phẩm. Thành phần là bộ phận chủ yếu của hàng hoá trong doanh nghiệp sản xuất .Hàng hoá trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm: Thành phẩm, nửa thành phẩm, vật tư và dịch vụ cung cấp và khách hàng.

    1.1.2. Khái niệm về bán hàng và bản chất của quá trình bán hàng.

    Bán hàng là quá trinh sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán sản phẩm mua vào.

    Cung cấp dịch vụ và thực hiện công việc đã thoả mãn thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoạc nhiều kỳ như: Cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuêu hoạt động.

    Quá trình bán hàng là quá trình hoạt động kinh tế bao gôm 2 mặt:

    Doanh nghiệp đem bán sản phẩm , hàng hoá cung cấp dịch vụ đồng thời đã thu được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua. Quá trình bán hàng thực chất là quá trình trao đổi quyền sở hữu giữa người bán và người mua trên thị trường hoạt động.

    Thị trường hoạt động là thị trường thoả mãn đông thời 3 điều kiện.

    1. Các sản phẩm được bán trên thị trường có tính tương đồng.
    2. Người mua và người bán có thể tìm thấy nhau bất kỳ lúc nào.
    3. Gía cả được công khai.

    Khi tiến hành giao dịch giữa doanh nghiệp với bên ngoài hoạc bên sử dụng tài sản doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý đó là giá trị tài sản có thể trao đổi hoạc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá trên thị trường hoạt động.

    Hành háo cung cấp nhằm để thoả mãn nhu cầu của các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân bên ngoài Công ty, Tổng công ty hoạc tập đoàn sản xuất gọi là bán cho bên ngoài. Trong trường hợp hàng hoá cung cấp giữa các đơn vị trong cùng một công ty, Tổng công ty, tập đoàn… được gọi là bán hàng nội bộ.

    Công tác bán hàng có ý nghĩa hết sức to lớn. Nó là giai đoạn tái sản xuất . Doanh nghiệp khi thực hiện tốt công tác bán hàng sẽ tạo điều kiện thu hồi vốn, bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế, đầu tư phát triển tiếp, nâng cao đời sống của ngừơi lao động.

    1.2. Các phương pháp xác định giá gốc thành phẩm.

    1.2.1. Nguyên tắc ghi sổ kế toán thành phẩm.

    Gía trị thành phẩm theo nguyên tắc phải được ghi nhận theo giá gốc( trị giá thực tế) trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì giá trị thành phẩm phải phán ánh theo giá trị thuần theo giá trị có thực hiện được.

    Trong thực tế, doanh nghiệp thường sản xuất nhiều mặt hàng và hoạt động nhập xuất thành phẩm trong doanh nghiệp luôn có biến động lớn do nhiều nguyên nhân, để phục vụ cho việc hoạch toán hàng ngày kịp thời, kế toán thành phẩm còn có thể sử dụng giá hoạch toán để ghi chép và phiếu nhập, phiếu xuất và ghi sổ kế toán ghi tiếp thành phẩm.

    1.2.2. Giá gốc thành phẩm nhập kho.

    – Giá gốc thành phẩm nhập kho được xác định theo từng trường hợp nhập.

    + Thành phẩm do các bộ phận sản xuất chính và sản xuất của doanh nghiệp sản xuất ra phải được ghi nhận theo giá thành sản xuất thực tế bao gồm.  Chi phí nguyên liệu, vật liệu, trực tiếp, chi  phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung để sản xuất thành phẩm.

    + Thành phẩm thuê ngoài gia công để chế biến được ghi nhận theo giá thành thực tế gia công chế biến bao gồm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Chi phí thuê gia công. Chi phí vận chuyển bôc giỡ khi giao, nhận công nhân.

    1.2.3. Giá gốc thành phẩm xuất kho:

    Phải tuân thủ nguyên tắc tính theo giá gốc, nhưng do thành phẩm nhập từ các nguồn nhập và là hoạt động trong quá khứ của các kỳ kế toán khác nhau. Do đó có thể xác định giá gốc của thành phẩm xuất kho, kế toán có thể sử dụng một trong những phương pháp tính giá hàng tồn kho sau.

    + Phương pháp tính theo giá đích danh ( giá thực tế của từng lô nhập)

    + Phương pháp bình quân gia quyền ( sau mỗi lần nhập hoặc cuối kỳ)

    + Phương pháp nhập trước” xuất sau ( Fi Fo )

    + Phương pháp nhập sau, xuất trước( Li Fo)

    1.3. Khái niệm doanh thu bán hàng, các khoản dảm ngoài trừ doanh thu bán hàng, nguyên tắc xác định doanh thu bán hàng và kết quả bán hàng.

    1.3.1. Khái niệm doanh thu và điều kiện thu nhận doanh thu.

    – Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thương của doanh nghiệp , góp phần vốn chủ sở hữu.

    Doanh thu trong doanh nghiệp bao gồm: Tổng giá trị cao có lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoạc sẽ thu được như: Doanh thu bán hàng: doanh thu cung cấp dịch vụ: doanh thu hoạt động tài chính, tiền lãi, bản quyền, tổ chức và lợi nhuận được chia.

    + Doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bô số tiền thu được thu được tri các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm , hàng hoá , cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ cả phí thu thêm ngoài giá bán ( nếu có)

    Doanh thu bán hàng được thu ghi nhận khi thoả mãn 5 điều kiện sau:

    1. Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoạc bán hàng cho người mua.
    2. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoạc kiểm soát hàng hoá .
    3. Doanh thu được xác định tương đối chắc chán.
    4. Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
    5. Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

    Doanh thu bán hàng bao gồm: Doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ.

    1.2.3. Khái niệm các khoản trừ doanh thu:

    Các khoản trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm:

    – Chiết khấu thương mại:là các khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm iết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

    – Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là bán hàng hoàn thành bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

    – Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho khách hàng do khách hàng hoá kém phẳm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

    – Chiết khấu thanh toán.

    – Các loại thuế có tính vào giá bán: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng…

    1.4. Các phương thức bán và các phương thức thanh toán.

    1.4.1. Các phương thức bán hàng.

    1.41.1. Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trực tiếp:

    Bán hàng trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho( hoặc trực tiếp tại phân xưởng không qua kho) của doanh nghiệp.Khi giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua, doanh nghiệp đã nhận được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua, giá trị của hàng hoá đã hoàn thành, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã được ghi nhận.

    1.4.1.2. kế toán bán hàng theo phương thức gửu hàng đi cho khách hàng.

    Phương thức gửu hàng đi là phương thức bên bán gửu hàng đi cho khách hàng theo các điều kiện của hợp đồng kinh tế đã ký kết. Số hàng gửu đi vẫn thuộc quyền kiểm soát của bên bán, khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì lợi ích và rủi ro được chuyển giao toàn bộ cho người mua, giá trị hàng hoá đã được thực hiện và là thời điểm bên bán được ghi nhận được ghi nhận doanh thu bán hàng.

    1.4.1.3. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng.

    Phương thức bán hàng gửi đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hông là đúng phương thức bên giao đại lý, ký gửi bên ( bên đại lý) để bán hàng cho doanh nghiệp.Bên nhận đại lý, ký gửi người bán hàng theo đúng giá đã quy định và được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng.

    Theo luật thuế GTGT, nếu bên đại lý bán theo đúng giá quy định của bên giao đại lý thì toàn bộ thuế GTGT đầu ra cho bên giao đại lý phải tính nộp NSNN, bên nhận đại lý không phải nộp thúê GTGT trên phần hoa hồng được hưởng.

    1.41.4. kế toán bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp.

    Bán hàng theo trả chậm, trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần, người mua thanh tóan lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại, người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu mặt tỷ lệ lãi xuất nhất định. Xét về bản chất, hàng bán trả chậm trả góp vẫn được quyền sở hữu của đơn vị bán, nhưng quyền kiểm soát tái sản và lợi ích kinh tế sẽ thu được của tài sản đã được chuyển giao cho người mua. Vì vậy, doanh nghiệp thu nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm, phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.

    1.4.1.5.Kế toán bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng.

    Phương thức hàng đổi hàng là phương thức bán hàng doanh nghiệp đem sản phẩm , vật tư, hàng hoá để đổi lấy hàng hoá khác không tương tự giá trao đổi là giá hiện hành của hàng hoá , vật tư tương ứng trên thị trường.

    1.4.2. Phương thức thanh toán:

    1.4.2.1. Thanh toán bằng tiền mặt:

    1.5. Nhiệm vụ của kế toán thành phẩm, bán hàng và xác định kết qủa kinh doanh.

    Để phục vụ quản lý chặt chẽ thành phẩm, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác, tiến hành phân phối kết quả kinh doanh đảm bảo các lợi ích kinh tế, kế toán cần hoàn thành các nhiệm vụ sau:

    – Tổ chức theo dõi phản ánh chính xác, đầy đủ kịp thời và giám sát chặt chẽ về tình hình hiện có sự biến động của loại thành phẩm hàng hoá về các mặt số lượng, quy cách chất lượng và giá trị.

    – Theo dõi, phản ánh, kiểm soát chặt chẽ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Ghi nhận đầy đủ kịp thời vào các khoản chi phí thu nhập của từng địa điểm kinh doanh , từng mặt hàng, từng hoạt động.

    – Xác định kết quả từng hoạt động trong doanh nghiệp , phản ánh và kiểm tra, giám sát tình hình quân phối kết quả kinh doanh đôn đốc, kiểm tra tình hình  thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

    – Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin liên quan. Định kỳ, tiến hành quân tích kinh tế hoạt động bán hàng, kết quả kinh doanh và tình hình phân phối lợi nhuận.

    1.6. Chứng từ kế toán và các phương pháp kế toán thành phẩm.

    1.6.1. Chứng từ kế toán:

    Mọi chứng từ làm biến động thành phẩm đều phải được ghi chép, phản ánh vào chứng từ ban đầu phù hợp vào theo đúng những nội dung và phương pháp ghi chép chứng từ kế toán đã quy định theo chế độ.

    Các chứng từ kế toán chủ yếu gồm:

    – Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01- VT )

    – Hoá  đơn GTGT ( Mẫu số 01- GTVT ) Hoá đơn bán hàng.

    1.6.2. Các phương pháp kế toán:

    Kế toán chi tiết thành phẩm được thực hiện tại phòng kế toán phương pháp kế toán chi tiết được áp dụng có thể là một trong ba phương pháp kế toán chi tiết sau:

    1. Phương pháp thẻ song song:

    – Nguyên tắc:

    + ở kho: Thủ kho mở thẻ kho cho từng thứ, từng loại vật liệu để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ về mặt số lượng và tính ra số tồn kho.

    + ở kế tóan: Kế tóan cũng mở một thẻ tương ứng và một sổ chi tiết để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho cả về mặt lượng và giá trị.

    Sơ đồ:

     
       

    – Ưu đỉêm- Nhược điểm:

    + Ưu điểm: Đơn giản, dễ ghi chép, dễ dối chiếu, kiểm tra.

    + Nhược điểm: Còn ghi chéo trùng lập nhau về mặt số lượng.

    – Điều kiện áp dụng: Chỉ áp dụng có những doanh nghiệp có chủng loại vật tư  ít, nhập xuất không thường xuyên, trình độ kế toán không cao.

    1. Phương pháp đối chiếu luân chuyển.

    Kế toán không mở thẻ kế toán chi tiết vật liệu mà sở đối chiếu luân chuyển để hoạch toán số lượng và số tiền của từng loại vật tư theo từng kho. Sổ này ghi theo mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất phát sinh trong tháng mỗi thứ chỉ ghi một dòng trong sổ.

    Cuối tháng đối chiếu số lượng vật tư trên sổ đối chiếu số luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp.

      (2)

    Sơ đồ:

     
       
    1. Phương pháp sơ đồ dư:

    Sơ đồ:

     
       

    Chú thích:

    1.7. Kế toán tổng hợp thành phẩm:

    1.7.1. Tài khỏan kế toán sử dụng: ”TK 155 thành  phẩm”

    TK 155” Thành phẩm” sử dụng để phản ánh giá gốc thành phẩm hiện có và tình hình biến động trong kho của doanh nghiệp .

    Kết cấu và nôi dung phản ánh của TK 155 thành phẩm.

    TK 155- thành phẩm.

           
     
    – Giá trị của thực tế của phát triển xuất

     

    – Trị giá của phát triển phát hiện thừa

    khi kiểm kê.

    Kết chuyển giá trị thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ( phương pháp KKĐK)

    D ck: Giá trị thực tế thành  phẩm tồn kho

     
    –  Giá trị thực tế thành phẩm

     

    – Trị giá của thành phẩm thiếu hụt

    phát hiên khi kiểm kê kết chuyển kiểm kê kết chuyển giá trị thực tế của thành phẩm kho cuối kỳ ( phương pháp KKĐK)

     
     
       

    1.7.2. Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.

    * Trường hợp kế tóan hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:

    1. Giá thành sản xuất thực tế thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công, chế biến nhập kho.

    Nợ TK 155: Thành phẩm.

    Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.

    1. Trị giá thực tế thành phẩm xuất kho.

    2.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho.

    2.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho bán trực tiếp.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.2. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho để bán theo phương thức chuyển hàng đi cho khách hàng hoặc gửi đi cơ sở nhận bán hàng đại lý,ký gửi.

    Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.3. Trị gián vốn thực tế thành phẩm xuất kho đổi lấy vật tư hàng hoá của đơn vị khác( hàng đổi hàng không tương tự)

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.4. Trị giá vốn thực tế thành  phẩm xuất kho để biếu tặng thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho các cán bộ CNV.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    3. Trị giá vốn thực tế thành phẩm nhập kho khách hàng trả lại hàng gửi đại lý, ký gửi bán hàng không được.

    Nợ TK 155: Thành.

    Có TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Có TK 632: Giá vốn hàng bán.

    4. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho góp vốn liên doanh.

    Trường hợp giá ghi sổ kế toán lớn hơn giá trị vốn góp do hội đồng liên doanh đánh giá lại.

    Nợ Tk 128: Giá trị góp vốn LD ngắn hạn.

    Nợ Tk 222: Giá trị góp vốn LD dài hạn.

    Có TK 155: Giá thành thực tế sản phẩm.

    Có Tk 412: Chênh lệch đánh giá lại TS – chênh lệch đánh giá tăng.

    Trường hợp giá ghi sổ kế toán lớn hơn giá trị góp vốn thì số chênh lệch được phản ánh vào bên Nợ TK 412- CLĐGLTS.

    5. Trường hợp đánh giá lại thành phẩm trong kho.

    5.1: Điều chỉnh trị giá vốn thực tế của thành phẩm đánh giá tăng.

    Nợ TK 155: Thành phẩm.

    Có TK 157: Chênh lệch đánh giá lại tài sản.

    5.2. Điều chỉnh trị giá vốn thực tế của thành phẩm do đánh giá giảm.

    Nợ TK 412: Chênh lệch đánh giá lại sản phẩm

    Có TK155 : Thành phẩm.

     6. Trị giá vốn thực tế thành phẩm do đánh giá giảm.

    6.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm phát hiện thừa khi kiểm.

    Trường hợp đã xác định được nguyên nhân và xử lý.

    Nợ TK 111,334,1388: Thu bồi thường, tổ thức, cá nhân.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán ( số chênh lệch)

    Có TK 155: Thành phẩm( Trị giá vốn thành phẩm thiếu)

    Trường hợp chưa xác định nguyên nhân.

    Nợ TK 1381: Tài sản thiếu chờ xử lý.

    Có TK 155: Thành phẩm( Trị giá vốn thành phẩm thiếu)

    Sơ đồ kế toán tổng hợp thành phẩm theo ĐKKTX

     
       

    1.8. Kế toán tổng hợp quá trình bán hàng theo các phương thức bán.

    1.8.1. Các tài khoản sự dụng.

    1. TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Dùng thẻ phản ánh giá trị sản phẩm, hàng hoá đã gửi hoặc chuyển đến cho khách hàng, gửi bán đại lý, ký gửi, trị giá lao vụ, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 157- hàng gửi đi bán.

     
       
    1. TK 632- Giá vốn hàng bán.

    Dùng để phản ánh giá vốn thực tế của hàng hoá , thành phẩm, dịch vụ đã cung cấp, giá thành sản xuất của xây lắp ( đối với doanh nghiệp xây lắp ) đã bán trong kỳ. Ngoài ra còn phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí xây dựng cơ bản dơ dang vượt trên mức bình thường, số trích lập hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 632- GVHB.

    TK này có thẻ có số  dư bên có: Phản ánh sô tiền nhận trước hoặc số tiền dư đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng, khi nhập bảng cân đối kế toán phải lấy số dư chi tiếp của từng đối tượng TK này để ghi của 2 chỉ tiêu bên” Tài sản” và bên nguồn vốn.

     
       

    TK 632- Giá vốn hàng bán không có số dư

    3.TK 511- Doanh thu bán hàng và cung câp dịch vụ một kỳ kế toán từ các giao dịch và các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

    Nội dung và kết cấu phản ánh

     
       

    TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp kịch vụ cuối kỳ không có số dư.

    1. TK 512- Doanh thu nội bộ.

    Dùng để phản ánh của số sản phẩm , hàng hoá dịch vụ bán trong nội bộ các doanh nghiệp .

    – Doanh thu bán nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ hạch tóan.
    Số thuế tiêu thụ đặc biệt xuất GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp của hàng bán nội bộ.

     

    Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, kết chuyển cuối kỳ. Trị giá hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần hoạt động bán hàng vao cung cấp dịch vụ vào TK 911- XĐKQKD.

    TK 512 – Doanh thu nội bộ

    Kết cấu và nội dung phản ánh TK 512- Doanh thu nội bộ.

    TK 152- Doanh thu nội bộ không có số dư.

    1. TK 531- Hàng bán bị trả lại.

    Dùng để phản ánh doanh thu của một số hàng hoá , thành phẩm lao vụ, dịch vụ bán nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Do vi phạm cam kết, vi phạm hợp động kinh tế , hàng bị mất hoặc kém phẩm chất, sai quy tắc, không đúng chủng loại.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 531- Hàng bán bị trả lại.

     
       

    TK 531- Hàng bán bị trả lại có số dư.

    1. TK 532- Giám đốc hàng hóa.’

    Dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán trực tiếp phát sinh trong kỳ kế toán.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 532- Giám đốc hàng hóa.

     
       

    TK 532- Giảm giá hàng bán không có dư

    1.8.2. Kế toán bán hàng theo các phương pháp bán hàng chủ yếu.

    1.8.12.2. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi hàng đi bán gửi đại lý, ký gửi

    1.8.2.2.2. Kế toán bán hàng giao đại lý

    * Kế toán bán hàng bên nhận đại lý

     
       
     
       

    1.8.2.3. Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trả chậm, trả góp.

    1.9. Kế toán xác định kết quả bán hàng:

    1.9.1. Kế toán chi phí bán hàng:

    1.9.1.1. Khái niệm và nội dung của chi phí bán hàng.

    * Khái niệm: Chi phí bán hàng là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bảo quản và tiến hành hoạt động bán hàng bao gồm: Chi phí chào hàng, chi phí bảo hành sản phẩm hàng hoá hoặc công trình xây dựng đóng gói  vận chuyển.

    * Nội dung : chi  phí bán hàng được quản lý và hạch tóan theo yếu tố chi phí.

    – Chi phí nhân viên( TK 6411): Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên đóng gói, bảo quân vận chuyển sản phẩm hàng hoá …bao gồm: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp tiền ăn giữa ca, các khỏan trích KPCĐ, BHXH, BHYT.

    – Chi  phí vật liệu bao bì( TK 6412) Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bị xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá , chi phí vật liệu, nguyên liệu dùng cho bảo quản bôc vác vận chuyển, sản phẩm hàng hoá  trong quá trình bán hàng vật liệu dùng ch sữa chữa bảo quảnTCCĐ…của DOANH NGHIệP.

    – Chi phí dụng cụ, đồ dùng( TK 6413): Phản ánh các chi phí về công cụ phục vụ cho hoạt động bán sản phẩm , hàng hoá : Dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc…

    – Chi phi khấu hao TSCĐ ( TK 6414): Phản ánh các chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng như: Nhà kho, cửa hàng, phương tiện bôc dỡ vận chuyển, phương tiện tính toán đo lường, kiểm nghiệm chất lượng.

    – Chi phí bảo hành ( TK 6415): Phản ánh các khỏan chi phí liên quan đến bảo hành sản phẩm hàng hoá , công trình xây dựng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài ( TK 6417): Phản ánh các chi phí mua ngoài phục vụ cho hoạt động bán hàng: Chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển, hoa hồng cho đaị lý bán hàng cho các đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu.

    Chi phí tiền khác (TK 6418): Phản ánh các chi phí phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí kể trên như: Chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí cho lao động nữ…

    1.9.1.2. Tài khỏan kế toán sử dụng: TK 641- Chi  phí bán hàng TK 641- Chi phí bán hàng: Dùng để tập hợp kết chuyển các chi phí thực tế phát sinh trong hoạt động bán sản phẩm hàng hoá cung cấp dịch vụ.

    Kết cấu nôi dung phản ánh của TK 641- Chi phí bán hàng.

     
     
    TK 641- Chi phí bán hàng
    – Các khỏan giảm chi phí bán hàng

     

    – Kết chuyển chi phí bán hàng vào TK 911 xác định kết quả kinh doanh , để tính kết quả kinh doanh trong kỳ

    Tập hợp chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá cung cấp lao động dịch vụ.

    TK 641 không có số dư

    1.9.1.3. Kế toán các nghiệp vụ chủ yếu

    1.9.2. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp.

    1.9.2.1. Khái niệm và nội dung quản lý doanh nghiệp.

    * Khái niệm:

    Chí phí QLDN là chi phí quản lý chung cho doanh nghiệp bao gồm: Chi phí quản lý hành chính, chi phí tổ chứcvà quản lý sản xuất phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp.

    Nội dung:

    – Chí phí nhân viên quản lý (TK6421): Phản ánh các khoản phải trả cho cán bộ quản lý doanh nghiệp bao gồm: Tiền lương, tiền công và các khoản tiền phụ cấp, tiền ăn giữa ca, các khoản trích KPCD, BHYT, BHXH.

    – Chí phí vật liệu quản lý (6422): Phản ánh các chi phí vật liệu, xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp chư: Giấy, bút, mực…vật liệu sưt dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, CCDC…

    – Chi phí đồ dùng văn phòng (TK6423): Phản ánh chi phí CCDC đồ dùng cho công tác quản lý (giá có thuế hoặc chưa thuế GTGT).

    – Chi phí khấu hao tài TSCĐ (TK6424): Phản ánh các chi phí TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp: Nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng vật kiến trúc, phương tiển truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng…

    Thuế, phí và lệ phí (TK 6425): Phản ánh chi phí về thuế  phí, lệ phí như: thuế môn bài, thuế nhà đất và các khoản nhà đất và các khỏan phí, lệ phí khác.

    – Chi phí dự phòng (TK 6426): Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài (TK 6427): Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ chung toán doanh nghiệp như: Các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ nhãn hiệu thương mại…

    – Chi phí bằng tiền khác (TK 6428): Phản  ánh các chi phí khác phát sinh thuộc quản lý chung toàn doanh nghiệp, ngoài các chi phí kể trên như: Chi phí tiếp khách chi phí hội nghị, công tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ…

    1.9.2.2. Tài khỏan kế tóan sử dụng: TK 642- Chi phí QLDN.

    TK 642. Chi phí quản lý doanh nghiệp sử dụng để tập hợp và kết  chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ kế tóan.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp.

    TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp không có số dư.

    1.9.2.3. Sơ đồ hạch toán TK 642.

    1.9.3. Kế toán chi phí và thu nhập hoạt động tài chính:

    1.9.3.1. Khái niệm hoạt động tái chính: Hoạt động tái chính là hoạt động giao dịch liên quan đến đầu tư tài chính, cho vay vốn, góp vốn liên doanh, chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, giao dịch bán chững khoán, lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, đầu tư khác khoản lỗ chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và bán ngoại tệ.

    1.9.3.2. Nội dung chi phí, thu nhập hoạt động TC.

    1.9.3.2.1. Chí phí tài chính: Bao gồm các khỏan chi phí liên quan đến hoạt động TC.

    – Các khỏan chi phí của hoạt động tái chính.

    – Các khỏan sổ do thanh toán, các khỏan đầu tư ngắn hạn.

    – Các khỏan rõ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ và chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại do số dư cuối kỳ của các khỏan phải thu dài hạn và phải trả có gốc ngoại tệ.

    – Khỏan rõ do phát sinh bán ngoại tệ.

    – Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.

    – Chi phí đất chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định đã bán.

    – Chi phí tài chính khác.

    1.9.3.2.1. Doanh thu hoạt động tài chính: Bao gồm những khoản doanh thu liên quan đến hoạt động tái chính.

    – Tiền lãi, tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm trả góp.

    Doanh thu từ cho thuê TS, cho người khác sử dụng tài chính (bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại bản quyền tác giá, phần mệm máy tính…)

    – Lợi nhuận được chia

    – Doanh thu hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn hạn.

    –  Doanh thu chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng.

    – Doanh thu về các hoạt động đầu tư khác.

    – Chênh lệch giá do bán ngoại tệ, khoản lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.

    – Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn

    – Doanh thu hoạt động tái chính khác.

    1.9.3.3. Tài khỏan sử dụng: TK 515.

    * TK 515: Doanh thu hoạt động tái chính. Được dùng để phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền tổ chức lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính của chức năng.

    Bên nợ:- Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp (nếu có)

    – K/c doanh thu hoạt động tài chính thuần sang TK 911- XĐKQKD.

    Bên có: Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    * TK 635- Chi phí tài chính.

    Được sử dụng để phản ánh những khỏan chi phí hoạt động tài chính hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán và cuối kỳ để kế tóan kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản rõ phát sinh trong kỳ để xác định KQKD.

    Bên nợ: – Các khỏan chi phí của hoạt đông tài chính.

    • Các khỏan rõ do thanh lý các khỏan đầu tư ngắn hạn.

    Các khỏan lỗ chênh lệch về tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại số dư cuối kỳ của  các khỏan phải thu dài hạn có góc ngoại tệ.

    –  Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ.

    –  Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khóan.

    –  Chi phí chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định là tiêu thụ.

    Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán cuối kỳ kế tóan kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản lỗ phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh .

    TK 635 – Cuối kỳ không có số dư.

    * Sơ đồ tổng hợp kế toán chi phí hoạt động tái chính.

     
       

    Sơ đồ kế toán: Doanh thu hoạt động tài chính

     
       

    1.9.4. Chi phí và thu nhập hoạt động khác.

    1.9.4.1. Chi phí khác.

    Là những khoản lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp gây ra. Cũng có thể là những khoản chi phí bị bỏ xót từ những năm trước.

    – Chi phí thanh lý, nhường bán TSCĐ

    – Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý,nhượng bán (nếu có )

    – Tiền phạt do vi phạm hợp đồng: bị phạt thuế, chi thu thuế.

    – Các khoản chi phí do kế toán bị nhậm hay bỏ xót khi ghi sổ kế toán.

    – Các khoản chi phí khác.

    1.9.4.2. Thu nhập khác.

    Là những khoản thu góp nhằm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như:

    – Thu về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.

    – Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng.

    – Thu tiền bảo hiểm được bồi thường.

    – Thu được các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.

    – Các khoản thuế được Ngân sách Nhà Nước hoàn  lại.

    – Các khoản tiền thưởng của khách hàng.

    – Thu nhập do nhận tặng, biếu bằng tiền, hiện vật của tổ chức cá nhân tặng cho doanh nghiệp.

    – Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị xót lại quyền ghi sổ kế toán, mới phát hiện ra năm nay.

    – Cuối năm kết chuyển chênh lệch giữa số đã tính trước và các khoản thực tế đã chi thuộc nội dung tính trước.

    – Các tri phí khác.

    1.9.4.3. Tài khoản sử dụng.

    * TK 711- Thu nhập khác.

    TK 711- Thu nhập khác sử dụng để phản ánh các khoản thu nhập ngoài các hoạt động và giao dịch tạo ra doanh thu của doanh nghiệp .

    Nội dung – kết cấu:

    Bên nợ: Số thuế  GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp đối với các khoản thu nhập khác nếu ( có)

    – Cuối kỳ kết chuyển các khoản thu khác trong kỳ sang TK911 xác định KQKD .

    Bên có: Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    TK 711- Thu nhập khác cuối kỳ không có số dư.

    * TK 811- Chi phí khác.

    TK 811- Chi phí khác sử dụng để phản ánh các khoản ghi của các sự kiẹn hay có nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp .

    Nội dung- kết cấu:

    Bên nợ: Các khoản chi phí khác phát sinh.

    Bên có: cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ vào TK 911- XĐKQHD

    TL 811 – Chi phí khác cuối kỳ không có số dư

    Sơ đồ hạch  toán thu nhập khác.

    SƠ ĐỒ  HẠCH TOÁN: CHI PHÍ KHÁC
    1.9.5. Kế toán xác định kết quả bán hàng

    1.9.5.1. Tài khoản kế toán sử dụng: TK 911xác định kết quả kinh doanh.

    TK 911- Xác định kết qủa kinh doanh được sử dụng để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được sử dụng để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán.

    Kết cấu và nội dung của TK 911- Xác đinh kết quả kinh doanh .

     
       

    TK 911- Xác đinh kết quả kinh doanh không có số dư.

    1.9.5.2. Sơ đồ hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu

    Chương III.

    I. Thực tế công  tác kế toán thành phẩm bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công ty cổ phần.

    Ngọc Anh.

    2.1. Đặc điểm chung của doanh nghiệp .

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Ngọc Anh

    * Vị ttí địa lý:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh có trụ sở sản xuất đặt tại Ninh sở- Thường tín – Hà Tây.

    Vị ttí địa lý trên rất thuận lợi về thương mại, giao thông, đủ điều kiện để giao lưu hàng hoá , đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng trong cả nước đặc biệt là thủ đô Hà Nội.

    * Cơ sở pháp lý và hình thành của công ty:

    Công ty được hình thành từ những năm sau giải phóng Thủ đô( năm 1956) Công ty đã trải qua nhiều thăng trầm, tách ra nhập vào nhiều lần. Địa bàn sản xuất của công ty trước đây trật hẹp khoảng 14,5 ha: hầu hết là nhà xưởng cấp 4 được xây dựng từ năm 1956- 1960, nhà mái tôn, mái ngói kết cấu tường bao khung gỗ. Cùng  với thời gian và do đã lâu năm nhà xưởng đã xuống cấp, công ty phải thường xuyên sưả chữa và gia cố để đảm bảo cho hoạt động sản xuất của Công ty.

    Cơ sở vật chất kỹ thuật: máy móc cũ và lạc hậu, hiệu quả thấp. Hịên nay hầu hết các thiết bị đã khấu hao hết. Công ty đã đánh giá lại nhưng chỉ thích ứng với sản xuất hàng loạt, số lượng nhiều ( phù hợp với thời kỳ bao cấp) thiết bị lại công trình, khó di chuyển nên không thích ứng với điều kiện sản xuất hiện nay năm 1992. UBND Thành phố ra quyết định số 3162/ QĐ- UB ký và được chuyển đổi thành công ty cổ phần Ngọc Anh. Công ty chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự trang trải chi phí và có doanh lợi đưới sự quản lý của Nhà Nước.

    * Quá trình phát triển của công ty:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh được thành lập từ năm 1992. Tính đến năm nay 2005 đã được 13 năm. Trong 13 năm qua công ty đã thu hút được những thành quả kinh doanh sau.

    Thực hiện nghị định 63/ 2001/ NĐ- CP của chính phủ về việc chuyển đổi công ty Nhà Nước thành công ty cổ phần Ngọc Anh. Trong quá trình chuyển đổi. Công ty đã gặp không ít những khó khăn về công tác tổ chức, tiền vốn nước, công ty đã đầu tư và nâng cấp hệ thống bộ máy hoạt động nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm , hạ giá thành để có sức cạnh tranh trên thị trường và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước. Sự phát triển của công ty được biểu hiện cụ thể qua các chỉ tiêu đạt được như sau.

    ĐVT: Triệu đồng.

    Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
    Vốn số định 4112 4212 4310
    Tổng quỹ lương 620 680 710
    Tiền lương bình quân 6,2 6,8 7,1
    Doanh thu 3326,5 3672 3832
    Lợi nhuận trước thuế 87,68 97,28 104,96
    Lợi nhuận sau thuế 68,8 76 22

    Qua bảng số liệu ta thấy tất cả các chỉ tiêu trong 3 năm đều tăng rõ rệt. Doanh thu năm 2002- 2004 tăng từ 3326,5 lên 3832( Triệu đồng) chứng tỏ doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng để chiếm lĩnh thị phần trên thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.

    Tỷ lệ tăng doanh thu cao hơn tỷ lệ chi phí, như vậy doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí tốt. Riêng 2003, do tình hinh giá cả vật tư đầu vào có sự biến động, Nhà Nước điều chỉnh lương 210.000 (đồng) lên 290.000 ( đồng) dần đến chi phí tăng lên 0, 36% bình quân 2003 so với năm 2002. Nhưng công ty đã kịp thời điều chỉnh hạ giá thành, chi phí 2004 với năm 2003 được 0, 33%.

    2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sản phẩm chính của công ty là  hai mặt hàng được làm từ gỗ, bàn, ghế. Các sản phẩm của công ty phù hợp với mọi đối tượng tiêu dùng và đặc biệt là trường học và khách sạn.

    Sản phẩm của công ty ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường các nước.

    2.1.2.2. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh. của công ty cổ phần Ngọc Anh.

    1. Về lao động.

    Tổng số lao động của Công ty là 100 người. Trong đó:

    44 lao động: chiếm 44%

    56 lao động nam: Chiếm 56%

    Với tỷ lệ lao động hợp lý giữa lao động nam và lao động nữ đã tạo ra sự hài hoà trong bố chí sắp xếp công việc. Hầu như lao động của Công ty đều ở độ tuổi 23® 45 nên đảm bảo được cả về sức khoẻ và chất lượng lao động.

    Phân loại theo nghiệp vụ.

    + Trực tiếp sản xuất: 76 người:

    * Gián tiếp sản xuất: 24 người

    1. Thu nhập của người lao động:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh rất quan tâm đến đời sống của người lao động.

    Tông quỹ lương 2004 là 710.000.000.(đồng) với tiền lương bình quân là 750.000.(đồng)/ người / tháng như vậy đời sống của người lao động luôn đảm bảo và ổn định.

    1. Cơ cấu ban giám đốc, phòng ban và các bộ sản xuất kinh doanh để tổ chức doanh thu tốt, bộ máy sản xuất quản lý Công ty đã được sắp xếp một cách gọn nhẹ và hợp lý theo chế độ một thủ trưởng phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh .

    Ban giám đốc Công ty gồm: Ba lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp sản xuất .

    – Giám đốc: là người đứng đầu Công ty chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động , quản lý tài sản, là chủ quản của Công ty và làm nhiệm vụ đầy đủ với Nhà Nước theo pháp luật quy định.

    – Phó giám đôc kinh doanh : là người giúp việc cho giám đốc, điều hành, đôn đốc các bộ phận thuộc lĩnh vực kinh doanh . Kế toán tài vụ, tiêu thụ, bán hàng, maketing và tổ chức sản xuất cho có hiệu quả, đảm bảo mục tiêu mà Công ty và giám đốc đề ra.

    – Phó giám đốc kỹ thuật: Là người quản lý và điều hành công tác bộ phận kỹ thuật công nghệ, quản lý máy móc, thiết bị nhằm ổn định sản xuất , chất lượng sản phẩm , đảm bảo thống nhất, đầu tư sửa chữa bảo dưỡng, bảo hành máy móc thiết bị, nâng cao năng xuất lao động, đảm  bảo chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh .

    Để giúp  việc cho ban giám đốc còn có 5  phòng ban với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.

    – Phòng tổ chức hành chính:

    Là bộ phận tham mưu giúp cho giám đốc về tổ chức lao động theo quy mô sản xuất . Tuyển chọn cán bộ công nhân có năng lực, tay nghề giúp cho Công ty có được những công nhân, cán bộ quản lý tốt lao động nhiệt tình…Phòng tổ chức hành chính còn phụ trách việc tổ chức tốt công tác quản lý, bảo vệ tài sản mua sắm phương tiện giúp GD thực hiện những công việc hành chính như: Bảo quản con dấu, công văn đi, công văn đến…

    Phòng tiêu thụ bán hàng( phòng kinh doanh): Đây là bộ phận rất quan trọng của Công ty bởi nó tác động trực tiếp đến khối lượng tiêu thụ, khối lượng sản phẩm  sản xuất ra được bộ phận bán hàng đem đi tiêu thụ như bán buôn, bán lẻ, bán đại lý…

    Ngoài ra, phòng còn làm công tác tiếp thu nắm bắt yêu cầu thị trường đáp ứng với từng đối tượng, từng địa bàn một cách thuận lợi và thanh toán  tiền hàng theo quyết định của Công ty.

    – Phòng kỹ thuật công nghệ: Là một bộ phận thực hành và nghiên cứu công nghệ, quản lý chất lượng sản phẩm , hướng dẫn phân xưởng và từng bộ phận làm đúng quy trình công nghệ chế biến, kiểm tra chất lượng từng khâu vật tư, nguyên vật liệu đến sản xuất. Ngoài ra, phòng còn thực hiện công tác kiểm định chất lượng từng khâu vật tư, đảm bảo hàng hoá đưa ra lưu thông đạt tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành công nghệ thực phẩm.

    – Phòng cơ điện, vận hành máy: Phòng có nhiệm vụ quản lý sử dụng máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất. Hàng tháng tiến hành kiểm tra sữa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị, thay thế dự phòng máy móc, quản lý điện năng.

    – Phòng tài vụ kế toán- hạch toán: Là một bộ phận quan trọng thực hiện các chức năng:

    + Giúp việc cho giám đốc về quản lý tài chính ở Công ty thay mặt Nhà Nước ở cơ sở để thực hiện các chế độ, chính sách hiện hành. Căn cứ vào tình hình sản xuất để lên phương án cho kế hoạch vật tư, nguyên vật liệu, tài chính sản xuất  kinh doanh để phù hợp với quy mô sản xuất của Công ty.

    – Bộ phận quảng cáo, tiếp thị, khai thác thị trường.

    – Bộ phận phối hàng, giao bán hàng ở đại lý.

    Sơ đồ bộ máy tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sơ đồ. Bộ máy tổ chức quản lý SXKD của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

     
       
    1. Quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sản phẩm chính của Công ty là các mặt hàng được làm từ gỗ, bàn ghế, giường tủ, ốp tường, ốp trần… trang trí nội thất khác cầu thang, tủ bếp… Chính vì vậy mà quy trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm gồm các bước sau:

    – Từ gỗ rừng tự nhiên qua khâu cưa, xẻ,pha, cắt thành hộp, ván với quy cách kích thước hộp lý cho từng loại sản phẩm.

    – Tiến hành sử lý thuỷ phần nước trong gỗ theo tỷ lệ nhất định bằng hai phương pháp:

    + Hong phơi tự nhiên.

    + Đưa vào lò sấy khô với nhiệt độ nhất định để đạt 12- 14% thuỷ phần.

    – Sau khi sấy khô được sơ chế thành các  chi tiêt sản phẩm trên các thiết bị máy theo dây chuyền.

    – Sau khi được sản phẩm sơ chế thì chuyển sang bộ phận một tay tinh tế và lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm.

    – Khâu cuối cùng là làm đẹp sản phẩm bằng phương pháp thủ công là đánh vec hay sơn mài…

    Đối với sản phẩm kết hợp với phóc, nhựa được thực hiện từ khâu mộc tay lắp ráp đến khâu  hoàn thiện sản phẩm.

    Quy trình công nghệ sản xuất hàng mộc.

     
       
    sản phẩm nhập kho

    II. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán  của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    2.1.2.4.1. Bộ máy kế toán của Công ty.

    Hình thức tổ chức bộ máy kế toán của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Theo hình thức này, toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tập trung ở phòng kế toán của doanh nghiệp còn  ở các đơn vị trực thuộc trung ở phòng kế toán còn ở các đơn vị trực thuộc ở các bộ phận kế toán làm nhiệm vụ riêng

    *************

    mà chỉ bố chí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn thực hiện hạch toán. Ban đầu thu nhập kiểm tra chứng từ và định kỳ gửi chứng từ về văn phòng kế toán tập trung tại doanh nghiệp .

    Bộ phận máy kế toán của Công ty bao gồm 6 người trong đó có 2 nam và 4 nữ với độ tuổi trung bình là 35 tuổi đều là tốt nghiệp đại học và có trình độ chuyên môn cao.

    Mối quan hệ gữi các kế toán trong phòng kế toán được bỉểu hiện trên sơ đồ sau:

     
       

    – Chức  năng, nhiệm vụ của một cán bộ kế toán trong phòng kế toán:

    + Kế toán trưởng: Giúp việc cho giám đốc Công ty, là người điều hành trực tiếp có nhiệm vụ và tổ chức, công tác kế toán cho phù hợp với quá trình công nghệ sản xuất kinh doanh theo đúng chế độ hiện hành, tổ chức, kiểm tra, duyệt báo cáo tài chính đảm bảo lưu trữ tài liệu kế toán, đông thời là người giúp việc trực tiếp cho ban giám đốc. Phân tích hoạt động kinh tế tài chính của Công ty, xác định các phương án sản xuất . Chịu trách nhiệm ghi chép sổ tổng hợp ,sổ theo dõi TSCĐ sổ theo dõi nguồn vốn, các loại sổ chi tiết tiền mặt, tiền vay và số theo dõi các loại thuế, tính toán và hạch toán chi phí, giá thành sản phẩm.

    + Kế toán tổng hợp kiêm tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm được kế tóan trưởng ủy quyền khi đi vắng, thực hiện điều hành bộ phận và ký ủy quyền tổng hợp số liệu, bảng biểu, kê khai nhật ký chứng từ, cuối tháng đối chiếu, kiểm tra số liệu cho khớp đúng.

    Tập hợp chi phí theo số liệu phát sinh ngày, cuối tháng tập hợp số liệu của thành phẩm để tính giá thành cho chính xác.

    Cuối kỳ, tập hợp sô liệu cho tình tự kế toán và vào sổ cái kế tóan.

    + Kế toán TSCĐ- NCL- CCD: Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh tập hợp chính xác kịp thời về số lượng, giá trị TSCĐ, vật liệu hiện có và tình hình tăng giảm TSCĐ trong Công ty giám sát kiểm tra việc giữ gìn bảo quản, bảo dưỡng TSCĐ cũng như biện pháp đổi mới TSCĐ trong Công ty.

    Tính toán và phản ánh kịp thời tình hình XDCB, mua sắm trang thiết bị.

    + Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ thanh toán nguồn vốn qúy của xí nghiệp, phản ánh kịp thời,đầy đủ, chính xác sự vận động của vốn bằng tiền, qũy và tài khỏan tiền gửi. Phản ánh rõ ràng chính xác các nghiệp vụ thanh toán, vận dụng các hình thức thanh toán để đảo thành toán kịp thời, đúng hạn, chiếm dụng vốn. Phản ánh đứng đắn số liệu hiện có và tình hình biến động của từng đồng vốn, đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn được bảo toàn và phát triển.

    + Kế toán thành phẩm, tiêu thụ phân phối thu nhập: Phản ánh đầy đủ, chính xác tình hình nhập, xuất, tồn kho về chất lượng và giá trị thành phẩm, hạch toán chính xác tình hình tiêu thụ sản phẩm , tình thanh toán vời người mua, thanh toán với Ngân sách Nhà Nước, hạch toán chính xác giá vốn thực tế của sản phẩm và kết quả tài chính của Công ty.

    + Kế toán lao động tiền lương thống kê: Phản ánh chính xác đầy đủ số liệu và số  lượng, chất lượng, thời gian lao động, thanh toán chính xác, đầy đủ kịp thời, đúng chế độ về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và trợ  cấp phải trả cho người lao động tiền thưởng, phụ cấp và trợ cấp phải trả cho người lao động và sử dụng lao động kiểm tra việc chấp hành chính sách chế độ tiền lương, trợ cấp BHXH, chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận sử dụng lao động. Hàng tháng, qúy lập báo cáo thống kê theo chế độ quy định về các chỉ tiêu tài chính và lao động mà pháp luật quy địng. s


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh những mặt thuận lợi cũng không tí những mặt khó khăn thắc mắc với doanh nghiệp. Vì vậy muốn đảm bảo ưu thế cạnh tranh thu lợi nhuận cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng tìm tòi sáng tạo, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng mẫu mã đẹp, hợp thị yếu của người tiêu dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp với sức mua của người tiêu dùng. Muốn vậy thì doanh nghiệp phải quản lý tốt chi phí để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm cũng có nghĩa là doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm. Để có thể nắm bắt kịp thời đầy đủ về các thông tin bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp, các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau, trong đó kế toán là công cụ quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các công cụ quản lý sản xuất kinh doanh. Trong công tác kế toán, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là một phần hành quan trọng.

    Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước tiến tới trở thành 1 quốc gia công nghiệp. Vì thế ngành sản xuất vật liệu xây dựng cơ bản là đóng góp vai trò chủ yếu trong việc sản xuất tạo ra cơ sở vật chất  cho nền kinh tế quốc dân… các sản phẩm của ngành phục vụ cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nâng cao năng lực cho nền kinh tế. Vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản đang tăng mạnh, đòi hỏi sự quản lý nguồn vốn đầu tư có hiệu quả khắc phục tình trạng lãng phí, chống thất thoát vốn trong sản xuất cơ bản.

    Cho nên công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong công ty Cổ phần sản xuất thương mại Viglacera rất được chú trọng.

    Qua thời gian thực tế và những kiến thức trong học tập nên em đã chọn đề tài: “Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mong rằng sẽ góp phần nhỏ bé vào quá trình kế toán tại công ty.

    Ngoài phần mở đầu của nội dung chuyên đề được chia làm 3 phần:

    Phần I: Các vấn đề chung về CP sản xuất tính giá thành sản phẩm.

    Phần II: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

    Phần III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

    Để hoàn thành chuyên đề, em đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh và sự giúp đỡ của các cán bộ trong phòng Tài chính kế toán của công ty.

    Tuy nhiên, do thời gian thực tế còn chưa nhiều và trình độ còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và cán bộ phòng Tài chính – Kế toán của công ty để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Em xin tiếp thu ý kiến và chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh cùng các cán bộ phòng Tài chính kế toán của công ty cổ phần sản xuất thương mại Viglacera đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    PHẦN I

    CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT

     VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    I. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT CỦA NGÀNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

    Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể biểu hiện một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực, tài sản cụ thể trong hoạt động sản xuất  kinh doanh.

    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 2 ban hành theo quyết định 165/2002/QĐ-BTC thì “Chi phí là Tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn  chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu có nhiều quan điểm, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích kinh doanh đây chính là bản chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh  của doanh nghiệp. Bản chất kinh tế này giúp nhà quản trị phân biệt được chi phí và chi tiêu chi phí với vốn. Thật vậy chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh được tài trợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Chính vì thế các doanh nghiệp luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí nhằm tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    II. KHÁI NIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ CÁCH PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT CHỦ YẾU.

    1. Khái niệm chi phí sản xuất

    Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).

    Nói cách khác, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    2. Các cách phân loại chi phí sản xuất chủ yếu.

    1. Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế (yếu tố chi phí)

    – Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.

    Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chi làm 7 yếu tố sau:

    + Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).

    + Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).

    + Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lượng phải trả cho người lao động.

    + Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả lao động.

    + Yếu tố khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    + Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.

    + Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    1. Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế chi phí (khoản mục chi phí).

    Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Chi phí nhân công trực tiếp

    – Chi phí sản xuất chung

    – Chi phí bán hàng

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.

    + Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

    + Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng đội sản xuất, chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau.

    – Chi phí nhân viên phân xưởng bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng và đội sản xuất.

    – Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ quản lý sản xuất.

    – Chi phí dụng cụ: bao gồm về chi phí công cụ, dụng cụ ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý sử dụng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất.

    – Chi phí khác bằng tiền: là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý và sản xuất ở phân xưởng sản xuất.

    + Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo  quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa…

    + Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh nghiệp.

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn bộ doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí tiếp khách, hội nghị.

    3. Ý nghĩa của công tác quản lý chi phí sản xuất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    – Chỉ tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy của tài sản, không để các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào? chỉ tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chỉ tiêu cho các quá trình mua hàng, quá trình sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản của doanh nghiệp, còn chỉ tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên.

    Chi phí trong kinh doanh bao gồm toàn bộ phận tài sản tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ, số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ và số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính nhập hoặc phân bổ vào chi phí trong kỳ. Ngoài ra, khoản chi phí phải trả (chi phí trả trước) không phải là chỉ tiêu trong  kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ.

    Như vậy, giữa chỉ tiêu và chi phí của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh, mặt khác, chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nó được tài trợ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ tiêu không gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh nên có thể được tài trợ từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi, trợ cấp từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi trợ cấp của Nhà nước và không bù đắp từ thu nhập hoạt động kinh doanh.

    – Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định. Nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.

    Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi phí đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành bao nhiêu.

    III. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    1. Khái niệm giá thành sản phẩm

    Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.

    Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan.

    2. Phân loại giá thành sản phẩm

    1. Phân loại giá thành sản phẩm theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành

    Theo cách này, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành kế hoạch giá thành định mức, giá thành thực tế.

    + Giá thành kế hoạch : là giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.

    + Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành  định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.

    + Giá thành thực tế: là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.

    Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ kế toán. Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp.

    1. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán

    Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.

    – Giá  thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.

    – Giá thành tiêu thụ: (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ, là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

    Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau:

    =          +   +

    => Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định khi đưa ra lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý cho từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu.

    1. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    – Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.

    Về thực chất  chi phí và giá thành là 2 mặt khác nhau của quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ

    * Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
    Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

    Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD – Công ty cổ phần điện tử chuyên dụng Hanel

    hay

    =  +  –

    IV. ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT, ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

    – Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi giới hạn nhất định.

    – Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất và là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất.

    + Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm công nghiệp lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành ở đơn vị.

    + Tập hợp trực tiếp

    – Chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt.

    – Có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu. Để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng riêng biệt.

    – Tập hợp trực tiếp đảm bảo tính chính xác cao áp dụng tối đa phương pháp này nếu điều kiện cho phép.

    + Phân bổ gián tiếp:

    – Điều kiện áp dụng: chi phí phát sinh có liên quan nhiều đối tượng kế toán chi phí. Không ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tượng, phải tập hợp cho nhiều đối tượng.

    VI. NHIỆM VỤ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM :

    Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm cần nhận thức đúng đắn vai trò của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống  kế toán doanh nghiệp, mỗi quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan trong đó kế toán các yếu tố chi phí và là tiền đề kế toán chi phí và tính giá thành.

    – Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm khả năng hoạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.

    Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định tính giá thành cho phù hợp.

    Trên cơ sở mối quan hệ đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đã xác định để tổ chức áp dụng phương pháp tính giá thành cho phù hợp và khoa học.

    Tổ chức bộ máy kế toán 1 cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm từng nhân viên từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.

    Thực hiện tổ chức, chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản sổ kế toán phù hợp với nguyên tắc phù hợp chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thu nhận – xử lý, hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp.

    Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    1. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất

    Là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.

    * Chứng từ áp dụng: Căn cứ vào phiếu xuất kho

    Các chứng từ liên quan để xác định giá vốn nguyên vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm.

    – Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho đối tượng chi phí sản xuất

    – Thực hiện trong bảng phân bổ nguyên vật liệu

    1.1. Tài khoản kế toán chủ yếu sử dụng

    1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    Bên nợ: trị giá vốn nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ trong kỳ…

    Bên có: trị giá vốn nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho

    trị giá phế liệu thu hồi

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm

    – Trình tự kế toán được thể hiện bằng sơ đồ sau.

    Sơ đồ hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp

     
       
    1. Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)

    – Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản về chi tiền lương chính,  lương phụ của công nhân sản xuất trực tiếp thực hiện công tác xây lắp, công tác hạng mục công trình.

    – Chi phí nhân công trực tiếp nếu liên quan đến một công trình thì tập hợp trực tiếp còn nếu liên quan đến nhiều thì phân phân bổ cho các đội sản xuất theo các tiêu thức thích hợp.

    TK 622

    Bên nợ: phản ánh chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ

    Bên có: Kết chuyển nhân công trực tiếp sang TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.

    TK 622 cuối kỳ có số dư

    Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

     

     
       
    1. Kế toán chi phí sản xuất chung

    Tài khoản này có thể mở chi tiết cho từng giai đoạn, từng loại sản phẩm, từng bộ phận và được mở chi tiết cho từng giai đoạn sản xuất và được mở tài khoản cấp 2 theo yếu tố chi phí.

    * Kết cấu của TK 627 như sau:

    Bên nợ: tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ

    Bên có: kết chuyển  hoặc phân bổ chi phí, sản xuất cho các sản phẩm lao vụ có liên quan đến tính giá thành.

    + Các khoản giảm trừ chi phí sản xuất chung

    TK 627 không có số dư cuối kỳ

    Quy trình hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau

    Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung

     

     
       

    d, Tổng hợp chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp

    Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khoản mục, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung cần được kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành.

    TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” dùng để tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm

    – Kết cấu TK 154 như sau:

    Bên nợ: kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm trong kỳ

    Bên có: giá thành sản phẩm trong kỳ hoàn thành

    + Các khoản giảm giá thành:

    Dư nợ: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ

    TK 154 được mở cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số TK liên quan khác như: 111, 632

    Sơ đồ hoạch toán tổng hợp chi phí

     
       


    1.2. Đánh giá sản phẩm đang chế tạo dở dang (DD)

    + Đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (nhân công trực tiếp).

    Nội dung: theo phương pháp này chi phí sản xuất cho sản phẩm làm dở cuối kỳ chỉ tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) hay chi hí nhân công trực tiếp còn các chi phí khác được tính cả cho sản phẩm hoàn thành

    Công thức:

    Dck = ((Dđk + Cv) / (Q + q)) x q

    Trong đó:    Cv     : chi phí NVLTT tập hợp trong kỳ

    Dck   : chi phí sản xuất kinh doanh dd cuối kỳ

    Dđk   : chi phí sản xuất kinh doanh dd đầu kỳ

    Q       : khối lượng sản phẩm hoàn thành

    q        : khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ

    – Ưu điểm: Khối lượng tính toán đơn giản thực hiện nhanh khi kiểm kê sản phẩm dở không cần xác định mức độ sản phẩm hoàn thành.

    – Nhược điểm: Tính toán không chính xác. Vì trong giá tị sản phẩm làm dở không tính các chi phí khác như chi phí sản xuất chung.

    – Điều kiện áp dụng: nên áp dụng ở các doanh nghiệp mà chi phí NVLTT chiếm tỷ trọng  lộn trong tổng chi phí, khối lượng sản phẩm làm dở không nhiều, thường ổn định dưới các kỳ.

    + Ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương: Theo phương pháp này đủ các khoản chi phí theo nguyên tắc những chi phí được bỏ vào 1 lần từ đầu quy trình công nghệ thì dược tính cho đơn vị sản phẩm  làm dở và đơn vị sản phẩm hoàn thành như nhau (những chi phí này thường là chi phí NVLTT).

    Những chi phí được bỏ vào quá trình sản xuất lần 2 theo mức độ sản xuất gia công chế biến thì được tính cho sản phẩm làm dở theo sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.

    Xác định sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương và làm dở

    Xác định sản lượng = q x % sản phẩm hoàn thành

    (Q) = q x % sản phẩm hoàn thành (mức độ hoàn thành)

    Qck  = (Dđk + Cv) / (Q + Q) * Q’

    + Định mức chi phí

    – Căn cứ vào khối lượng làm dở trên cùng công đoạn của quy trình sản xuất và căn cứ vào định mức chi phí theo từng khoản mục chi phí trên từng công đoạn của từng sản phẩm để xác định chi phí sản xuất dở dang của từng công đoạn. Sau đó tổng hợp lại để có thể chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở dang của từng loại sản phẩm trên cả quy trình công nghệ.

    1.3. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm

    + Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp trực tiếp)

    – Điều kiện áp dụng: quy trình công nghệ sản xuất chỉ tạo ra một loại sản phẩm đối với khối lượng lớn: doanh nghiệp điện, than đá….

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.

    – Đối tượng tính giá thành: là loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm do quy trình sản xuất tạo ra hoàn thành trong quy trình công nghệ nàykhông có sản phẩm dở dang. Do vậy đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tập hợp tính giá thành và ngược lại. Kỳ tính giá thành thường là cuối tháng, cuối năm.

    Z  = Dđk + C – Dck

    – Nếu có sản phẩm làm hỏng nhưng do cá nhân làm hỏng thì nhà quản lý sẽ quy trách nhiệm và bắt cá nhân đó bồi thường.

    Z = Dđk + C – Dck – C (hỏng)

    Trong đó: C: là chi phí phát sinh

    C: hỏng là chi phí sản phẩm hỏng

    * Phương pháp hệ số:

    – Điều kiện áp dụng: áp dụng trong trường hợp cùng 1 quy trình công nghệ sản xuất chế tạo ra nhiều loại sản phẩm chính công nghiệp hóa chất.

    + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ

    + Đối tượng tính giá thành: là từng loại sản phẩm chính hoàn thành và đơn vị sản phẩm chính hoàn thành.

    Nội dung:

    – Để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ thống số tính giá thành trong đó loại sản phẩm có hệ số bằng 1 được coi là sản phẩm tiêu chuẩn.

    – Căn cứ vào qui đổi sản lượng thực tế của từng loại sản phẩm theo hệ số giá thành để xác định tiêu chuẩn phân bổ

    * Phương pháp tỷ lệ

    – Điều kiện áp dụng: áp dụng trong doanh nghiệp có 1 quy trình công nghệ sản xuất tạo ra nhóm sản phẩm với nhiều quy cách, kích cỡ, phẩm cấp khác nhau.

    VD: công nghệ sản xuất bao bì can ten mã phanh ô tô

    – Lựa chọn tiêu chuẩn làm căn cứ xác định tỷ lệ tính giá thành (giá thành định mức của đơn vị sản phẩm).

    – Căn cứ vào sản lượng thực tế của từng quy cách và tiêu chuẩn được lựa chọn để xác định tổng tiêu chuẩn phân bổ.

    + Đối tượng tập hợp chi phí: theo nhóm sản phẩm

    + Đối tượng tính giá thành: Theo từng kích cỡ, quy cách hoặc phẩm chất

    Tỷ lệ giá thành =

    =   x Tỷ lệ giá thành.

    Giá thành đơn vị  =

    * Phương pháp loại trừ chi phí sản phẩm phụ

    – Kết quả của quá trình sản xuất sản phẩm doanh nghiệp không những thu được sản phẩm chính mà còn thu được một số sản phẩm phụ nhưng sản phẩm phụ không  phải là đối tượng tính giá thành chính vì thế doanh nghiệp cần phải thực hiện công việc loại trừ chi phí sản phẩm phụ.

    =  +  –  –

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT

    VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TAI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VIGLACERA

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera tiền thân trước đây là nhà máy xi măng Hà Nội được quyết định thành lập vào ngày 08/01/1958 theo quyết định số: 24/BCN-KH4 do Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Lê Thanh Nghị ký.

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera là một công ty chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán kinh doanh độc lập thợ chủ về tài chính, là một đơn vị thành viên của Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng – Bộ xã hội.

    – Trước đây, Công ty này có tên gọi là Nhà máy gạch lát hoa và máy phanh ô tô Hà Nội. Bắt đầu kể từ ngày 1/10/2003, Nhà máy này đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera, với 51% vốn Nhà nước.

    Hiện nay, trụ sở chính công ty tại số 676 Hoàng Hoa Thám , quận Tây Hồ, Hà Nội và Nhà máy được đặt tại xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội với tổng diện tích mặt bằng là 24.000 km2. Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là:

    – Sản xuất máy phanh ô tô

    – Sản xuất bao bì Carton

    – Kinh doanh vật liệu xây dựng

    Tiền thân của công ty là một tổ nghiên cứu gồm 6 người được thành lập để sản xuất tấm lợp fibrociment. Theo quyết định số 24/BCN-KH ngày 08/01/1958, Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera được thành lập với tên gọi là Nhà máy Fibrociment Hà Nội trực thuộc Cục khai khoáng và luyện kim. Với nhiệm vụ ban đầu là sản xuất tầm lợp fibrociment, công ty có 145 cán bộ công nhân viên và được tổ chức thành các bộ phận sau:

    – 1 phân xưởng sản xuất fibrociment

    – 1 mỏ amient ở Hòa Bình

    – 1 bộ phận kế hoạch cung tiêu

    – 1 bộ phận hành chính nhân sự

    – 1 bộ phận kế toán tài vụ

    Năm 1996, Công ty trở thành đơn vị trực thuộc Tổng cục hóa chất và được giao nhiệm vụ nghiên cứu vật liệu ma sát (má phanh ô tô). Qua nghiên cứu thành công. Công ty đã tiến hành sản xuất với sản lượng ban đầu là 2000 kg má phanh ô tô. Từ đây, mặt hàng này được chính thức đưa vào kế hoạch sản xuất hàng năm của Nhà máy.

    Từ tháng 10/2003 thực hiện nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty, Cổ phần. Quyết định số 1108-QĐ-BXD ngày 14/08/2003 của Bộ Xây dựng về việc chuyển Nhà máy Gạch lát hoa và Má phanh ô tô Hà Nội thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng thành Công ty cổ phần.

    Sau khi được chuyển đổi doanh nghiệp Ban lãnh đạo công ty đã tổ chức và hoạt động theo luật Doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần và thông qua đại hội cổ đông.

    Xác định trước tình hình khó khăn hiện nay công ty không ngừng phát huy mở rộng, ngoài hai sản phẩm công ty tự sản xuất: Bao bì Carton và má phanh ôtô thì công ty mở rộng ngành nghề kinh doanh:

    – Vật liệu xây dựng

    – Vật liệu ma sát

    – Vật liệu ngành in

    – Dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng hóa.

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera với ngành nghề chủ yếu là sản xuất Bao bì Carton và Má phanh ô tô đã đảm bảo sản xuất sản phẩm đảm bảo về cả số lượng và chất lượng, cầu tiết kiệm chi phí, sử dụng nguồn vốn đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh luôn chú trọng đổi mới công tác quản lý, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo kinh doanh có lãi, nộp đầy đủ các khoản phải nộp với ngân sách Nhà nước đồng thời phải thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng đào tạo cán bộ quản lý cũng như các công nhân viên trong công ty để đảm bảo phù hợp với trình độ sản xuất của công ty, và phải luôn chú trọng trang bị các thiết bị bảo hộ lao động, sức khỏe cho người lao động.

    2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh doanh độc lập. Bộ máy quản lý của công ty gồm các bộ phận sau:

    • Đại hội cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất trong công ty
    • Hội đồng quản trị: là cơ quan cao nhất của công ty giữa hai kỳ đại hội cổ đông. Hội đồng quản trị quyết định phương hướng tổ chức sản xuất, kinh doanh và các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty phù hợp với pháp luật.
    • Ban kiểm soát: là người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty.
    • Giám đốc điều hành: Là người đại diện cho pháp luật công ty, trực tiếp điều hành và chỉ đạo các phòng ban, phân xưởng… Đồng thời là người chịu trách nhiệm trước cổ đông. Hội đồng quản trị và ban kiểm soát về toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
    • Phòng tài chính – kế toán Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh các nhiệm vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty một cách đầy đủ, kịp thời theo đúng phương pháp quy định nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm, đặc biệt là để phục vụ cho việc quản lý và điều hành công ty của Ban giám đốc. Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung. Phòng kế toán thực hiện toàn bộ công tác hạch toán kế toán. Ngoài ra, dưới phân xưởng có bố trí các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ hướng dẫn, thực hiện hạch toán ban đầu, thu nhập kiểm tra chứng từ, thực hiện chấm công hàng ngày và chuyển số liệu lên phòng kế toán. Cuối mỗi quý, kế toán trưởng tập hợp số liệu, lập báo cáo kế toán và gửi trình lên giám đốc phê duyệt.
    • Phòng kinh doanh: gồm các nhân viên lập kế hoạch kinh doanh cho công ty.
    • Phòng kỹ thuật gồm các chuyên viên, kỹ sư phụ trách về công tác kỹ thuật của máy móc, thiết bị đảm bảo sự vận hành của toàn bộ quy trình công nghệ. Trong đó, bộ phận KCS có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm. Đồng thời, cần nắm vững thông tin khoa học trong lĩnh vực chuyên ngành tổ chức việc chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới.
    • Phòng kế hoạch vật tư: Có trách nhiệm lập kế hạch về vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất của Công ty được diễn ra liên tục.

    Ngoài các phòng ban chính đó, công ty còn có các bộ phận chức năng khác như: Văn thư, bảo vệ, công đoàn… Trong mỗi phân xưởng, ngoài quản đốc phân xưởng có nhân viên giám sát quá trình sản xuất, còn có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê, chấm công, tính toán tiền lương cho công nhân trực tiếp sản xuất.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty

    3. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty

    Hiện nay, công ty có hai phân xưởng sản xuất chính: phân xưởng sản xuất má phanh ô tô và phân xưởng sản xuất bao bì Carton bao gồm nhiều tổ đội khác nhau. Phân xưởng sản xuất má phanh ô tô bao gồm các tổ: Tổ trộn, tổ hoàn thiện, tổ ép và bộ phận quản lý phục vụ. Phân xưởng sản xuất bao bì Carton bao gồm các đội: tổ cắt, tổ ghim dán cạnh, tổ in, tổ làm máy, bộ phận quản lý.

    Đứng đầu mỗi phân xưởng là quản đốc, có nhiệm vụ quản lý, điều hành phân xưởng mình và chịu sự điều hành của Giám đốc công ty.

    Sơ đồ quy trình sản xuất má phanh ô tô

     
       

    Sơ đồ quy trình sản xuất Bao bì Carton

     
       

    II. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI VIGRACERA

    1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

    Công tác kế toán tại doanh nghiệp hiện nay được tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập trung. Tại phòng kế toán của doanh nghiệp thực hiện mọi công tác kế toán, từ việc thu thập xử lý chứng từ, luân chuyển ghi chép, tổng hợp báo cáo tình chính phân tích kinh tế, thông báo số liệu kế toán cần thiết cho các cơ quan quản lý Nhà nước khi có yêu cầu.

    Vì Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera là một công ty nhỏ nên sử dụng mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hợp lý, nó đảm bảo cho sự nắm bắt thông tin kịp thời về các hoạt động kinh tế của ban lãnh đạo doanh nghiệp để có thể dễ dàng thực hiện các cuộc kiểm tra, kiểm soát.

    Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

     
       

    Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm

    Đơn vị tiền tệ: Việt Nam đồng

    Hình thức kế toán áp dụng: Hình thức nhật ký chung

    Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường xuyên

    Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: Nguyên tắc giá gốc

    Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ: Phương pháp bình quân gia quyền.

    Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ: Theo nguyên giá

    Phương pháp khấu hao TSCĐ: phương pháp đường thẳng

    Doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ

    • Đặc điểm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    Sản phẩm sản xuất chính của công ty má phanh ô tô và bao bì Carton, hai sản phẩm này được sản xuất tại hai phân xưởng khác nhau. Chi phí để sản xuất hai sản phẩm này được hạch toán riêng không liên quan đến nhau. Do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp được tập hợp theo từng phân xưởng sản xuất và đối tượng tính giá thành là từng m2 bao bì Carton và từng kg má phanh ô tô.

    • Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được phân làm ba loại chi phí:

    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí các nguyên vật liệu chính bỏ vào sản xuất hai sản phẩm: Giấy krap mộc định lượng 150, 130, 180, mực xanh B19, Zoăng pittông chính TDMYA 450…

    + Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản tiền bỏ ra để trả cho công nhân sản xuất hai sản phẩm chính: công nhân các tổ ghim, tổ in, tổ đầu máy…

    + Chi phí sản xuất chung: Các khoản chi có liên quan đến sản xuất: trích khấu hao tài sản cố định, tiền điện, công cụ dụng cụ xuất dùng… Và chi phí để mua quần áo bảo hộ cho công nhân cũng tính vào chi phí sản xuất chung.

    • Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Do quy trình công nghệ sản xuất không phức tạp và quy mô sản xuất nhỏ vì vậy công ty đã tiến hành tính giá thành theo phương pháp giản đơn.

    2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    2.1. Chứng từ sử dụng

    * Doanh nghiệp sử dụng các chứng từ

    + Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho nguyên vật liệu công cụ dụng cụ, bảng phân bổ nguyên vật liệu công cụ dụng cụ.

    + Hóa đơn giá trị gia tăng mua nguyên vật liệu, hóa đơn tiền điện.

    + Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương công nhân sản xuất, bảng phân bổ tiền lương và BHXH.

    + Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ, bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung, phiếu xác nhận hoàn thành sản phẩm.

    • Trình tự luân chuyển chứng tử

    + Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Hàng ngày căn cứ vào yêu cầu của lịch sản xuất các tổ sản xuất đối chiếu giữa mức vật tư cần thiết thực tế và lượng vật tư còn tồn ở phân xưởng để lập phiếu yêu cầu lĩnh vật tư. Phiếu phải ghi rõ họ tên, chủng loại, số vật tư cần lĩnh, được quản đốc phân xưởng thông qua và tình lên phòng kế toán. Kế toán căn cứ vào  yêu cầu lĩnh và khả năng cung cấp thực tế của kho để lập phiếu xuất kho. Thủ kho dựa vào số lượng ghi trên phiếu xuất kho  tiến hành làm thủ tục xuất kho và ghi thẻ kho cho từng loại tương ứng. Cuối ngày, thủ kho giao lại các phiếu xuất kho về phòng kế toán để kiểm tra, ghi sổ kế toán.

    + Đối với chi phí nhân công trực tiếp: Tổ sản xuất ghi bảng chấm công hàng ngày đồng thời các tổ, các tổ trưởng chịu trách nhiệm ghi chép và kiểm tra số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành ở khâu công việc của mình. Căn cứ vào bảng cấm công, phiếu ghi năng suất lao động cá nhân và đơn giá tiền lương thời gian trả cho công nhân sản xuất. Căn cứ vào phiếu xác nhận hoàn thành và đơn giá lương sản phẩm kế toán tính lương  sản phẩm cho công nhân sản xuất. Cuối tháng, các tổ tổng hợp ngày công, kết quả sản xuất đưa lên phân xưởng, phân xưởng tự dựa trên thời gian, kết quả lao động của mỗi tổ để tính lương, thưởng, các khoản giảm trừ của mỗi công nhân, từ đó lập bảng tổng hợp thanh toán tiền lương của cả phân xưởng. Phân xưởng nộp bảng này lên bộ phận tổ chức lao động tiền lương phụ thuộc phòng tổ chức cùng với giải trình chi tiết về công hưởng lương thời gian, công hưởng lương sản phẩm,  sản lượng sản xuất của từng tổ, tính chính xác của các chứng từ, phê duyệt và chuyển sang phòng kế toán. Kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội, sau đó nhập số liệu vào máy lên sổ Nhật ký chung, sổ cái TK 622, và các sổ chi tiết có liên quan.

    2.2. Trình tự hạch toán

    2.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán theo dõi chi tiết nguyên vật liệu được xuất dùng.

    Nợ TK 6214: 32560694,64

    Giấy Kráp mộc định lượng 150 : 19902329,67

    Giấy Kráp mộc định lượng 130 : 3048970,89

    Giấy Kráp mộc định lượng 180 : 9609394,08

    Có TK 1521: 32560694,64

     

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

           676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 42

    Ngày 23 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCHBT2 – Bùi Thị Hương PX Má phanh

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng má phanh

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất má phanh

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 03352 Zoăng pittông chính TDMYA 450 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 03346 Zoăng cao su chịu dầu phi 445 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 03345 Zoăng cao su chịu dầu phi 430 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 01014 – Bột cao su 6212 1524 Kg 210,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

     

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 40

    Ngày 21 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCSTRV – Triệu Văn Sơn

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng bao bì

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất bao bì

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 01106 Dây buộc 6214 1522 M 45,20    
    KHOVMT 01039 Ghi dập hộp 6214 1521 Hộp 10,70    
    KHOVMT 03025 Găng tay cao su 62734 1528 Đôi 30,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 45

    Ngày 25 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCTHM – Hồ Minh Thu

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng bao bì

    Nội dung: Xuất giấy sản xuất bao bì

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 05102 – Giấy Krap mộc định lượng 150 6214 1521 Kg 5 001,00    
    KHOVMT 051010 – Giấy Krap mộc định lượng 130 6214 1521 Kg 763,00    
    KHOVMT 05002 – Giấy Krap vàng định lượng 180 62734 1521 Kg 2 028,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
      Tổng cộng 0

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    2.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, theo thời gian và có phụ cấp độc hại và phụ cấp trách nhiệm.

    Tiền lương thực tế được xác định như sau:

    =  x

    Đơn giá theo ngày công =   x Hệ số cấp bậc lương

    Mức lương tối thiểu áp dụng tại Công ty là: 290.000đ/tháng

    Tiền lương sản phẩm =    x

    Phụ cấp độc hại = Lương sản phẩm x 3%

    Phụ cấp trách nhiệm = Lương cơ bản x 10%

    Công ty không tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất mà hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất.

    – Trích KPCĐ, BHXH theo lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất.

    Kể từ năm 2006 bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được gộp lại. Do đó việc trích Bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn được tính vào chi phí nhân công trực tiếp theo chế độ.

    + BHXH trích 17% lương cơ bản

    + KPCĐ trích 2% lương thực tế

    Trên cơ sở bảng thanh toán lương công nhân trong tháng và tỷ lệ trích KPCĐ, BHXH, kế toán lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ trích kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội là 25%, trong đó 6% khấu trừ vào lương công nhân sản xuất, 19% tính vào chi phí để tính giá thành.

    Ngoài ra, công ty còn quy định nghỉ lễ, nghỉ phép tính theo lương cấp bậc từng người, cứ 1 ngày nghỉ phép hưởng 100% đơn giá lương thời gian. Công ty không thực hiện trích trước vào chi phí tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất nên không mở TK 335: “Chi phí trả trước” để theo dõi công nhân trong nhà máy đi phép đều đặn nên số này phát sinh không làm cho giá thành sản phẩm biến động

    Căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương và BHXH kế toán ghi:

    Nợ TK 6222: 45.949.100

    Nợ TK 6224: 154.190.600

    Có TK 334: 200.139.700

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

    ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG CÔNG NHÂN SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON
    STT Nội dung công việc ĐVT Năng suất (ca) Tiền lương (đ)
    1 Vận hành máy sóng xếp gọn theo yêu cầu để giao cho máy kẻ M2 3.120 33
    2 Vận hành máy kẻ dọc, ngang (đã tính vận chuyển phôi) M2 785 27
    3 Vận chuyển máy bổ     21
    4 In lưới Hộp    
      Hộp thạch bàn

     

    Hộp Hữu Hưng

        56

     

    42

    5 Kiểm tra chất lượng sản phẩm Hộp   5
    6 Pha mực in, chụp lưới Hộp   6
    7 Ghim, bó hộp Hộp   20
    8 Dán hộp Thạch Bàn Hộp   24
    9 Nhân viên kinh tế, chế bản Hộp   6
    10 Carton 5 lớp M2    
      Máy sóng

     

    Máy bổ

    Máy kẻ dọc, ngang

    In

    M2

     

    M2

    M2

    M2

      50

     

    32

    34

    50

    Kế toán trưởng                                                     Người lập phiếu

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH

     

    Tháng 1/2006

    STT Ghi có TK

     

    Ghi nợ TK

    TK 334 (lương chính) TK 338 Tổng cộng
    KPCĐ (2% lương thực tế) BHXH (17% lương cơ bản) Cộng có TK 338
    1 TK 622 CP nhân công trực tiếp 200.139.700 4.002.794 6.394.200 10.396.994 210.536.694
      TK 6222 CP nhân công trực tiếp PX má phanh 45.949.100 918.982 1.790.600 2.709.582 48.658.682
      TK 6224 CP nhân công trực tiếp PX bao bì 154.190.600 3.083.812 4.603.600 7.687.412 161.878.012
    2 TK 627 CP sản xuất chung 12.245.000 244.900 935.000 1.179.900 13.424.900
      TK 62712 CP nhân viên PX má phanh 5.850.000 117.000 425.000 542.000 6.392.000
      TK 62714 CP nhân viên PX bao bì 6.395.000 127.900 510.000 637.900 7.032.900
    3 TK 642 CP quản lý doanh nghiệp 52.364.000 1.047.280 1.360.000 2.407.280 54.771.28
    4 TK 641 CP bán hàng 174.250.000 3.485.000 1.241.000 4.726.000 178.976.000
      Cộng 438.998.700 8.779.974 9.930.200 18.710.174 457.708.874

    Ngày……..tháng…..năm

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                            Người lập biểu

    Đối với các khoản trích theo lương

    Nợ TK 6222: 2.709.582

    Nợ TK 6224: 7.687.412

    Có TK 338: 10.396.994

    Kết chuyển chi phí nhân công vào tài khoản giá thành

    Nợ TK 154: 210.536.694

    Có TK 622: 210.536.694

    2.2.3. Kế toán chi phí sản xuất chung

    * Chi phí nhân viên phân xưởng

    Tiền lương nhân viên phân xưởng bao bì (quản đốc phân xưởng, phó quản đốc phân xưởng, nhân viên kinh tế…) được xác định trên cơ sở hệ số lương cấp bậc và mức lương bình quân của cán bộ gián tiếp.

    =  x Hệ số lương cấp bậc

    =          x

    =+

    * Chi phí vật liệu

    Vật liệu tính vào sản xuất chung: dây điện, vải vụn… Nhân viên sản xuất khi cần những vật liệu này  để dùng cho sản xuất phải viết phiếu yêu cầu lĩnh vật tư. Khi nhận được phiếu yêu cầu lĩnh vật tư do phân xưởng gửi lên, kế toán viết phiếu xuất kho giao cho thủ kho. Thủ kho tiến hành giao toàn bộ số công cụ, dụng cụ cho phân xưởng theo số lượng ghi trên phiếu xuất kho.

    * Chi phí khấu hao TSCĐ

    Công ty trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng

    Mức trích khấu hao năm = Nguyên giá TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao

    =

    * Chi phí dịch vụ mua ngoài:

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 39

    Ngày 20 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCHBT2 – Bùi Thị Hương PX Má phanh

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng má phanh

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất má phanh

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHODCM 04337 – Dây điện đôi 4 ly 62732 1524 M 50,00    
    KHODCM 01111 Dây điện 2*4 62732 1524 M 50,00    
    KHODCM 04088 Cầu đấu dây 62732 1524 Cái 1,00    
    KHODCM 03020 Vải vụn 62732 1524 Kg 108,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
      Tổng cộng 0

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    Với chi phí dịch vụ mua ngoài thì chứng từ chủ yếu là hoá đơn GTGT thanh toán tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại.

    Đối với chi phí về nước, do quá trình sản xuất sản phẩm bao bì và má phanh không sử dụng đến nước cho nên nước chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của nhân viên trong phân xưởng nên phát sinh không nhiều. Trong tháng 1/2006, khối lượng nước sử dụng thực tế là: 36m2 với đơn giá là 2000đ/m3 (đối với phân xưởng sản xuất bao bì).

    Ta có chi phí về nước của phân xưởng được xác định: 36m2 x 2000 = 72.000đ (Giá chưa có thuế GTGT). Bên cạnh đó, chi phí về sử dụng điện thoại của phân xưởng là: 200.968đ, thuế GTGT 10% là: 20.097đ

     

    HOÁ ĐƠN TIỀN ĐIỆN GTGT

    (Liên 2: Giao cho khách hàng)

    Từ ngày 28/12/2005 đến ngày 28/1/2006

    Công ty điện lực TP Hà Nội              Ký hiệu: AA/2005T

    Điện lực Từ Liêm                              Số: 0951703

    Địa chỉ:…………….                         Mã số thuế: 0100101114-1

    Tên khách hàng: Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    Địa chỉ: Đại Mỗ – Từ Liêm – Hà Nội

    Mã số KH: 092181                                     Số công tơ: 52116

    Chỉ số mới Chỉ số cũ Hệ số ĐN tiêu thụ Đơn giá Thành tiền
    1.852.116 1.808.598 1.0 43.518 700 30.462.709
    Ngày 28/1/2006

     

    Giám đốc

    (Ký, đóng dấu)

    Cộng   30.462.709
    Thuế suất GTGT (10% thuế GTGT) 3.046.271
    Tổng cộng tiền thanh toán 33.508.980
    Số tiền viết bằng chữ Ba mươi triệu năm trăm linh tám nghìn chín trăm tám mươi đồng

    Căn cứ vào hoá đơn GTGT kế toán ghi

    Nợ TK 62774:30.735.677

    Nợ TK 133: 3.073.568

    Có TK 111: 33.809.245

    * Chi phí bằng tiền khác

    Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí ngoài các khoản đã nêu trên phát sinh trực tiếp ở các phân xưởng như: chi phí giao dịch, chi phí tiếp khách, bảo dưỡng máy…

    Cuối tháng, dựa vào bảng kê chi tiết cột ghi có TK 111 – Tiền mặt và cột ghi nợ TK 6278 – Chi phí khác bằng tiền, máy tự động cộng toàn bộ chi phí khác bằng tiền phát sinh trong tháng 1/2006 tại phân xưởng.

    Cơ sở để vào bảng kê chi tiền là giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tiền tạm ứng, phiếu chi.

    2.2.4. Kế toán thiệt hại trong sản xuất

    Sản phẩm hỏng của công ty là sản phẩm không thoả mãn tiêu chuẩn chất lượng đặc điểm kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp…Tuỳ thuộc mức độ hư hỏng mà sản phẩm hỏng được chia thành sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được và sản phẩm hỏng không thể sửa chữa đựơc.

    Tại công ty những sản phẩm hỏng trong định mức là những sản phẩm công ty dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình sản xuất, vì đây là những sản phẩm không tránh khỏi bị hỏng nên chi phí cho những sản phẩm này sau khi được hạch toán vào các TK chi phí như TK 621, TK 622, TK627 và chuyển về TK 154 thì chi phí đã được tập hợp cho những sản phẩm trên TK này được gọi là chi phí sản xuất chính phẩm.

    Đối với những sản phẩm hỏng ngoài định mức là những sản phẩm hỏng nằm ngoài dự kiến công ty do các nguyên nhân bất thường như máy hỏng, hoả hoạn… công ty không cộng chi phí của chúng vào chi phí sản xuất chính phẩm, mà chỉ xem là các khoản phí tổn thời kỳ, công ty xem xét các nguyên nhân cụ thể và xử lý, thực hiện bồi thường, đền bù thiệt hại, trừ vào thu nhập…

    Tuy nhiên, do công ty cho đến nay thiệt hại là không đáng kể nên công ty chưa có những biện pháp cụ thể để hạch toán

    2.2.5. Kế toán tổng hợp

    Cuối tháng kế toán tập hợp chi phí để kết chuyển vào tài khoản giá thành

    Tại phân xưởng sản xuất má phanh ô tô

    Nợ TK 154: 244.657.292

    Có TK 6212:112.713.331

    Có TK 6222: 48.658.682

    Có TK 627: 83.285.279

    Tại phân xưởng sản xuất bao bì Carton

    Nợ TK: 390.972.963

    Có TK 6214: 157.209.351

    Có TK 6224: 161.878.012

    Có TK 627: 71.885.600

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG

    Tháng 1/2006

     

    STT Tên tài khoản TK 6271 TK 6272 TK 6274 TK 6277 TK 6278 Tổng cộng
    1 Lương và các khoản phải trả nhân viên PX

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

    13.424.900

     

    6.392.000

    7.032.900

            13.424.900
    2 Vật tư

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

      10.441.021

     

    10.041.024

    400.000

          10.441.021
    3 Khấu hao TSCĐ

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

        67.224.571

     

    50.670.251

    16.554.320

        67.224.571
    4 Chi phí dịch vụ mua ngoài

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

          34.080.378

     

    571.398

    33.508.980

      34.080.378
    5 Chi phí bằng tiền khác

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

            30.000.000

     

    15.610.600

    14.389.400

    30.000.000
      Tổng cộng 13.424.900 10.441.021 67.224.571 34.080.378   155.170.870

    Ngày 31 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT MÁ PHANH Ô TÔ

    Tháng 1/2006

     

      TK 152 TK 334 TK 214 TK 6214 TK 6224 TK 627 Nhật ký đặc biệt Công CPSX phát sinh
    Chi tiêu Mua hàng
    TK 1544       112.713.331 48.658.682 83.285.279     244.657.292
    TK 6214 112.713.331               112.713.331
    TK 6224   48.658.682             48.658.682
    TK 627 10.041.024 6.392.000 50.670.251     83.285.279 15.610.600 571.398 83.285.273

    Ngày 31 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON

    Tháng 1/2006

     

      TK 152 TK 334 TK 214 TK 6214 TK 6224 TK 627 Nhật ký đặc biệt Công CPSX phát sinh
    Chi tiêu Mua hàng
    TK 1544       157.209.351 161.878.012 71.885.600     390.972.963
    TK 6214 157.209.351               157.209.351
    TK 6224   161.878.012             161.878.012
    TK 627 400.000 7.032.900 16.554.320       14.389.400 33.508.980 71.885.600

    Ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    2.3.Sổ kế toán

    Doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng hình thức sổ: Nhật ký chung và để thuận tiện cho việc theo dõi tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đồng thời để giảm bớt công việc quá tải của phòng kế toán vào những lúc quyết toán hay những lúc nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm kế toán FAST ACCOUNTING việc sử dụng phần mềm kế toán sẽ hạn chế được những sai sót khi thực hiện các quá trình vào sổ.

    Chứng từ phát sinh hàng ngày được mã hoá và cập nhật trong menu cụ thể, hệ thống sổ chi tiết được lưu giữ trong  máy.

    Quy trình xử lý số liệu của phần mềm kế toán Fast Accouting

    Nghiệp vụ kinh tế phát sinh          Lập chứng từ          Chứng từ kế toán     Nhập chứng từ vào các phân hệ nghiệp vụ        Các tệp nhật ký           Chuyển sang sổ cái          Tệp sổ cái            Lên báo cáo        Sổ sách kế toán báo cáo tài chính.

    Để mã hoá doanh nghiệp dùng phương pháp đánh số lần lượt tăng dần theo số phát sinh của các danh điểm mới bắt đầu từ 00001.

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 621

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      1

     

    1

    2

    3

    40

    40

    42

    42

    42

    44

    44

    44

    46

    3/1/2006

     

    3/1/2006

    6/1/2006

    6/1/2006

    21/01/2006

    21/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    25/01/2006

    25/01/2006

    25/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2007

    Số dư đầu tháng

     

    Xuất mực đen sản xuất bao bì

    Xuất mực đỏ (04) sản xuất bao bì

    Xuất cầu đấu dây phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất keo con voi phục vụ sản xuất

    ….

    ….

    Xuất dây buộc để sản xuất bao bì

    Xuất ghim dập hộp sản xuất bao bì

    Xuất Zoăng pittông chính TDMYA 450 SX má phanh

    Xuất Zoăng cao su chịu dầu phi 445 sản xuất má phanh

    Xuất Zoăng cao su chịu dầu phi 430 sản xuất má phanh

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 150 sản xuất bao bì

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 130 sản xuất bao bì

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 180 sản xuất bao bì

    Xuất lưới in bao bì sản xuất bao bì

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX bao bì

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX má phanh

    1521

     

    1521

    1522

    1522

    1524

    1524

    1524

    1521

    1521

    1521

    1528

    1544

    1542

    2000125,44

     

    1408604,4

    57690

    102765

    ………

    ………

    241820

    132210,27

    1070040,32

    977235,65

    935365,65

    19902329,67

    3048970,89

    9609394,08

    1230168,5

    157209351

     

    112713331

          Tổng số phát sinh   269922682 269922682

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

     

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 622

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
        26/01/2006

     

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2006

    Số dư đầu kỳ

     

    Tính tiền lương công nhân sản xuất bao bì

    Tính tiền lương công nhân sản xuất má phanh

    Trích BHXH và KPCĐ cho công nhân PX bao bì

    Trích BHXH và KPCĐ cho công nhân PX má phanh

    Kết chuyển chi phí tiền lương công nhân PX bao bì

    Kết chuyển chi phí tiền lương công nhân PX má phanh

    334

     

    334

    338

    338

    1544

    1542

    154190600

     

    45949100

    7687412

    2709582

    161878012

     

    4865682

          Tổng số phát sinh   210536694 210536694

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

     

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 627

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      3

     

    3

    39

    39

    39

    39

    40

    15

    16

    45

    3/1/2006

     

    3/2/2006

    …….

    ……..

    20/01/2006

    20/01/2006

    20/01/2006

    20/01/2006

    21/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    25/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2006

    Số dư đầu tháng

     

    Chi tiền bảo dưỡng xe máy phục vụ sản xuất bao bì

    Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất má phanh

    …………….

    …………….

    Xuất dây điện đôi 4 ly phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất dây điện 2*4 phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất cầu đấu dây phục vụ sản xuất  má phanh

    Xuất vải vụn phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất găng tay cao su phục vụ sản xuất bao bì

    Mua gỗ dán phục vụ sản xuất bao bì

    Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì

    Xuất găng tay cao xu phục vụ sản xuất má phanh

    Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất bao bì

    Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất má phanh

    Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì

    Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì

    Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất bao bì

    Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất má phanh

    Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì

    Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX má phanh

    111

     

    111

    1524

    1524

    1524

    1524

    1528

    111

    111

    1528

    334

    334

    338

    338

    214

    214

    1544

    1542

    3256695

     

    4569235

    ……

    …….

    1190000

    1066000

    43200

    1341360

    197820

    265000

    2356465

    151662

    6395000

    5850000

    637900

    542000

    16554320

    50670251

    71885600

     

    83.285.279

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 154

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
          Số dư đầu tháng   82.631.933  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu PX bao bì 6214 157.209.351  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu PX má phanh 6212 112.713.331  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp PX bao bì 6224 161.878.012  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp PX má phanh 6222 48.658.682  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì 627 83.285.279  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX má phanh 627 71.885.600  
        27/01/2006 Nhập kho thành phẩm bao bì 155   354.006.736
        27/01/2006 Nhập kho thành phẩm  má phanh 155   276.695.235
          Cộng phát sinh   635.630.255 630.701.971
          Số dư cuối tháng   87.560.217  

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6214

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      1 3/1/2006 Xuất mực đen sản xuất bao bì 1521 2000125,44  
      1 3/1/2006 Xuất mực đỏ (04) sản xuất bao bì 1521 1408604,4  
        …………………….      
      40 21/01/2006 Xuất dây buộc để sản xuất bao bì 1522 214820  
      40 21/01/2006 Xuất ghim dập hộp sản xuất bao bì 1522 132210,27  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 150 sản xuất bao bì 1521 19902329,67  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 130 sản xuất bao bì 1521 3048970,89  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 180 sản xuất bao bì 1521 9609394,08  
      46 26/01/2006 Xuất lưới in bao bì sản xuất bao bì 1528 1230168,5  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX bao bì 1544   157209351
          Tổng cộng   157209351 157209351

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6224

    Tháng 1/2006

     

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
        26/01/2006 Tính tiền công nhân sản xuất 334 154190600  
        26/01/2006 Trích BHXH và KPCĐ 338 7687412  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp 1544   161878012
          Tổng cộng   161878012 161878012

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6214

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      3 3/1/2006 Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì 111 3256695  
        ……… ………………..   …..  
        ………… ……………………….   ……….  
      40 21/01/2006 Xuất găng tay cao su phục vụ sản xuất bao bì 1528 197820  
      15 23/01/2006 Mua gỗ dán phục vụ sản xuất bao bì 111 265000  
      16 23/01/2006 Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì 111 2356465  
        26/01/2006 Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất bao bì 334 6395000  
        26/01/2006 Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì 338 637900  
        26/01/2006 Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất bao bì 214 16554320  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì 1544   71885600
          Tổng cộng   71885600 71885600

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    3. Giá thành sản phẩm

    3.1. Kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    Tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, chi phí sản xuất làm dở cuối tháng được tính theo phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính. Cụ thể việc tính toán được tiến hành như sau: công thức tính giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng:

    Chi phí SPDDCK = CPNVL của SPDD đầu kỳ + CP NVL phát sinh trong kỳ x KL sản phẩm DDCK
    KL sản phẩm hoàn thành + KL sản phẩm DDCK

    Tại phân xưởng bao bì sản phẩm dở dang đầu tháng 1/2006 đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là 43.007.026đ.

    Căn cứ vào giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, bảng tập hợp chi phí sản xuất từng phân xưởng. Ta có giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng của sản phẩm bao bì:

    x  53.545,24  = 76.048/.193đ

    3.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm

    Công ty Cổ phần và sản xuất thương mại Viglacera có quy trình sản xuất bao bì là dây chuyền sản xuất kiểu liên tục, chỉ những sản phẩm ở giai đoạn công nghệ cuối cùng mới là thành phẩm. Công ty không có nửa thành phẩm bán ra ngoài hay nhập kho. Xuất phát từ đặc điểm này, kế toán xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm bao bì hoàn thành  nhập kho. Đơn vị tính giá thành là m2 bao bì hoàn  thành. Để phù hợp với yêu cầu quản lý, Công ty quy định tính giá thành là tháng.

    Do quy mô doanh nghiệp nhỏ và quy trình sản xuất sản phẩm không phức tạp nên doanh nghiệp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp giản đơn.

    Trình tự khai báo và tính giá thành sản phẩm:

    – Khai báo các thông tin để tính giá thành

    + Khai báo bộ phận hạch toán: Theo từng phân xưởng

    + Khai báo danh mục chi phí tính giá thành: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

    – Cập nhật số liệu dở dang đầu kỳ

    + Cập nhật số lượng sản phẩm dở dang đầu kỳ

    + Cập nhật nguyên vật liệu dở dang đầu kỳ

    – Các bước tính giá thành sản phẩm

    + Cập nhật số số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ

    + Cập nhật nguyên vật liệu trực tiếp dở dang cuối kỳ

    + Tính giá xuất nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ

    + Kết chuyển chi phí trực tiếp

    + Tính số lượng sản phẩm nhập kho trong kỳ

    + Tính giá thành sản phẩm

    + Điều chỉnh giá thành

    + Cập nhật giá cho các phiếu nhập kho thành phẩm

    =       +          –

    =          43.007.026    +      390.972.963     –      45.124.449

    = 357.931.796

    =     = 4.049,2

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    Phân xưởng sản xuất bao bì

     

    BIÊN BẢN KIỂM KÊ SẢN PHẨM DỞ DANG CUỐI KỲ PX BAO BÌ

    Ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Tiến hành hồi: 15h00′ ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Thành phần:         1. Vũ Văn Duy: Phòng kỹ thuật

    1. Đỗ Trọng Tấn: Phòng kế toán
    2. Lê Văn Hải: Quản đốc phân xưởng
    STT Bộ phận ĐVT Số lượng
    01 Tổ sóng m2 15.183,14
    02 Tổ kẻ m2 10.112,00
    03 Tổ bổ m2 9.000,00
    04 Tổ in lưới m2 9.570,00
    05 Tổ hoàn thiện m2 9.680.00
      Cộng m2 53.545,24

    Kế toán trưởng          Quản đốc phân xưởng         Người lập phiếu

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    676 – Hoàng Hoa Thám -Tây Hồ – Hà Nội

     

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOÀN THÀNH

    Tháng 1/2006

    Tiến hành hồi: 15h00′ ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Thành phần:         1. Vũ Văn Duy: Phòng kỹ thuật

    1. Đỗ Trọng Tấn: Phòng kế toán
    2. Lê Văn Hải: Quản đốc phân xưởng
    3. Nguyễn Quang Bình: Quản đốc PX má phanh

    Tiến hành kiểm kê toàn bộ sản phẩm hoàn thành tại các phân xưởng đến hết ngày 27

    STT Bộ phận ĐVT Số lượng
    1 Bao bì Carton m2 7.884
    2 Má phanh ô tô kg 87.426,34

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    676 – Hoàng Hoa Thám -Tây Hồ – Hà Nội

    BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM BAO BÌ

    Tháng 1/2006

    Đơn vị: đồng

    Sản lượng sản phẩm hoàn thành: 87426,34m2

    STT Khoản mục CPSXDD đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ CPSXDD cuối kỳ Tổng giá thành Giá thành đơn vị
    1 CP nguyên vật liệu trực tiếp 43007026 157209351 76048193 124168184 1420,3
    2 CP nhân công trực tiếp   161878012   161878012 1851,6
    3 CP sản xuất chung   71885600   71885600 822,3
      CP nhân viên phân xưởng

     

    CP vật liệu xuất dùng

    CP dịch vụ mua ngoài

    CP bằng tiền khác

    Trích khấu hao TSCĐ

      7032900

     

    400000

    33508980

    14389400

    16554320

      7032900

     

    400000

    33508980

    14389400

    16554320

    80,44

     

    4,58

    383,3

    164,59

    189,35

      Cộng 43007026 390972963   357931797 4049,2

    Giám đốc                     Kế toán trưởng                         Quản đốc phân xưởng                        Người lập

    PHẦN III

    MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN

     TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

     TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI VIGLACERA

     

    I. SỰ CẦN THIẾT VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY

    1. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Nhìn chung các doanh nghiệp đều tôn trọng nguyên tắc giá phí trong việc xác định giá trị của các đối tượng cần tính giá. Việc tổ chức công tác tính giá cho các đối tượng cần tính giá theo các yếu tố cấu thành giá mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện là 1 trong các nội dung biểu hiện trong công tác kế toán tại doanh nghiệp. Sản phẩm hoàn thành là thành quả của 1 quá trình lao động và sản xuất của cán bộ công nhân viên trong toàn doanh nghiệp. Nhưng để có được như mong muốn đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra rất nhiều chi phí cũng như công sức lao động của những người tham gia. Việc tập hợp các khoản chi phí này cho phép tính được tổng chi phí đã chi ra, giá thành sản xuất của sản phẩm từ đó xác định mức giá tối thiểu bàn các sản phẩm để thu về hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Như vậy, trong công tác quản lý doanh nghiệp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh  cũng như tình hình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất trong quá trình hoạt động kinh doanh của cả doanh nghiệp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có 1 tầm quan trọng đặc biệt, là 1 phần hành không thể thiếu trong công tác kế toán của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào nhằm cung cấp thông tin cần thiết để tính đúng tính đủ chi phí sản xuất và tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Do đó, các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được các nhà quản lý quan tâm, chúng là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại cho những nhà quản lý nhiều định hướng cũng như các quyết định quan trọng trong việc điều hành. Mục tiêu phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là điều kiện chủ yếu giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể đứng vững chắc trên thị trường cạnh tranh.

    Như vậy, sự hoàn thiện của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm góp phần không nhỏ vào sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm để tăng cường hiệu quả kế toán cũng như quản trị doanh nghiệp, góp phần tăng sức mạnh của doanh nghiệp.

    2. Nguyên tắc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là 1 bộ phận quan trọng trong toàn bộ nội dung tổ chức kế toán tại doanh nghiệp. Do đó, công tác kế toán này phải tuân theo những nguyên tắc chung.

    Trước hết, tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đúng với luật kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, phù hợp với những yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước. Bên cạnh đó tổ chức công tác kế toán này phải phù hợp với các chế độ, chính sách, thể lệ, văn bản pháp quy về kế toán do Nhà nước ban hành. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý cán bộ kế toán phải có trình độ chuyên môn phù hợp với công tác tổ chức kế toán này. Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả.

    – Thống nhất trong tổ chức

    + Doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất giữa chỉ tiêu quản lý và chỉ tiêu hạch toán.

    + Doanh nghiệp cũng phải đảm bảo sự  thống nhất về phương pháp hạch toán trong một niên độ kế toán. Doanh nghiệp chọn phương pháp hạch toán phải sử dụng hết chu kỳ kế toán (1 năm) mới được phép thay đổi. Ví dụ doanh nghiệp chọn phương pháp hạch toán kế toán hàng tồn kho theo phương pháp FIFO. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

    + Doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất về hệ thống tài khoản và sổ kế toán.

    – Nguyên tắc phù hợp về loại hình kinh doanh là doanh nghiệp sản xuất, điều kiện cơ sở vật chất phù hợp.

    + Doanh nghiệp đảm bảo sự phù hợp về quy mô hoạt động

    + Sự phù hợp đối với yêu cầu về trình độ quản lý

    +Doanh nghiệp phải tính đến khả năng hạch toán của đơn vị; sự phù hợp về nhân sự cũng như thay đổi về nhân sự.

    + Việc ghi nhận chi phí là phải phù hợp. Đó là sự phù hợp giữa ghi nhận doanh thu và chi phí ghi nhận 1 khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu là khoản chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của  các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu trong kỳ đó.

    Ngoài ra, tổ chức công tác kế toán này phải có sự thận trọng, chi phí được ghi nhận kho có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí đó.

    3. Nhận xét chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    Quá trình hoạt động sản xuất kế toán giữa công ty từ khi thành lập cho tới nay đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, thể hiện ở chặng đường phấn đấu không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với sự mở rộng không ngừng quy mô sản xuất khiến sản phẩm của công ty ngày càng thích nghi với nhu cầu của thị trường, tạo điều kiện để từng bước hòa nhập với xu thế phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.

    Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường là 1 cơ quan nhạy bén cùng những cơ chế kinh tế mới, công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera đã có những phát triển khá nhanh. Sự năng động, linh hoạt cùng với việc ứng dụng kịp thời công nghệ thông tin vào công tác kế toán tại công ty đã từng bước phát huy hiệu quả, giảm bớt khối lượng ghi chép, hạch toán và cung ứng thông tin nhanh chóng, kịp thời cho ban lãnh đạo công ty, giúp ban lãnh đạo công ty đưa ra những quyết định đúng đắn trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Nhận thức được việc đã đưa ra các giải pháp phù hợp trong điều kiện hiện nay chỉ có thể thực hiện trên cơ sở sản phẩm phân tích đánh giá 1 cách đầy đủ, khách quan tình hình quản lý của công ty mà nội dung chủ yếu là công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, công ty luôn cố gắng nghiên cứu tìm ra những biện pháp cụ thể về quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Song nói như vậy không có nghĩa là không có những hạn chế trong công tác kế toán tại công ty. Dưới góc độ là một sinh viên thực tập lần đầu tiên được quen với thực tế, em xin nêu ra 1 số ý kiến nhận xét  về công tác kế toán nói chung cũng như công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nói riêng như sau:

    3.1. Những ưu điểm trong công tác tổ chức quản lý kế toán tại công ty

    – Tại công ty các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được cập nhật thường xuyên, đầy đủ chính vì vậy, công ty luôn đảm bảo cho việc lập và nộp báo cáo kịp thời cho cấp trên và đơn vị chủ quản vào cuối mỗi quý.

    – Công ty đã xây dựng giá thành định mức trên cơ sở định mức tiêu  hao nguyên vật liệu chính, định mức tiền lương… làm thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng các loại vật tư, tiền vốn… cũng như giải pháp công ty áp dụng trong sản xuất kinh doanh.

    – Hình thức tổ chức bộ máy kế toán về cơ bản là phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tại công ty. Việc tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ, hợp lý hoạt động có nề nếp, kinh nghiệm. Các cán bộ kế toán có trình độ nghiệp vụ cao nắm vững chế độ và vận dụng 1 cách linh hoạt, tác phong làm việc khoa học, có tinh thần tương trợ lẫn nhau trong công việc. Song có điểm công ty nên xem xét lại đó là không nên để 1 kế toán viên kiêm nhiệm thủ quỹ, vì làm như vậy trái với nguyên tắc kế toán.

    – Hình thức nhật ký chung được sử dụng tại công ty là hoàn toàn phù hợp với hình thức kế toán máy và tạo thuận lợi cho công ty trong việc cơ giới hóa công tác kế toán.

    – Đối với công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công ty đã tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khá nề nếp đảm bảo tuân thủ đúng chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với điều kiện của công ty đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý tạo điều kiện để công ty thực hiện tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đây là một trong những mặt tích cực mà công ty đã xác định khi chuyển sang cơ chế thị trường tuy nhiên trong kỷ luật hạch toán vẫn còn có những vấn đề chưa thực sự hợp lý, cần  nghiên cứu hoàn thiện thêm.

    – Về đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất: Quy trình công nghệ sản xuất bao bì là ruột quy trình phức tạp, liên tục sản phẩm sản xuất ra phải trả qua nhiều công đoạn khác nhau, do đó trong cơ cấu phân xưởng có nhiều tổ việc công ty xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty theo phân xưởng đã tạo điều kiện cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất được tiến hành nhanh chóng.

    – Về kế toán chi phí nguyên vật liệu: công tác kế toán này được thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng chế độ, các phiếu xuất kho NVL được cập nhật đầy đủ, kịp thời tạo thuận lợi cho việc tính giá vật liệu xuất kho và tính giá thành sản phẩm. Ngoài ra, công ty đã mở sổ ghi chép phù hợp với hình thức kế toán áp dụng tại công ty. Hệ thống kế toán được mở chi tiết TK cấp 2 cấp 3 giúp tập hợp chi phí sản xuất dễ dàng thuận tiện trong việc ứng dụng kế toán máy.

    – Về kế toán chi phí nhân công trực tiếp: công ty áp dụng hình thức trả lương sản phẩm, khuyến khích người lao động làm việc hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, công tác hạch toán tiền lương được thực hiện nghiêm túc, đúng chế độ quy định.

    – Về kế toán chi phí sản xuất chung: công tác kế toán này được tiến hành tương đối theo đúng quy định.

    – Tổ chức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo quan điểm của công ty giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng là vật liệu chính ở các phân xưởng công ty căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm để áp dụng phương pháp này. Theo đó, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phẩm. Vì thế trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính. Điều này khá thuận tiện và phù hợp cho công ty.

    – Về đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành: Để giảm bớt tính phức tạp của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành cho sản phẩm công ty xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm bao bì hoàn thành chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ liên tục nên tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo định kỳ tính giá thành là phù hợp.

    3.2. Những mặt hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý kế toán tại công ty

    – Khoản mục chi phí NVL trực tiếp dùng cho sản xuất công ty sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính, công ty đã hạch toán số vật liệu thừa chưa dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Điều này chưa được hợp lý.

    – Cán bộ công nhân viên nghỉ phép không đều giữa các tháng khiến việc trích tiền lương nghỉ phép giữa các tháng khác nhau, có tháng nhiều, có tháng ít, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    – Khoản chi vặt thuộc lĩnh vực phúc lợi (chi sinh hoạt đoàn viên) được tập hợp vào khoản mục chi phí sản xuất chung không hợp lý do số lượng công nhân lớn chi phí cho mỗi lần sinh hoạt đoàn viên tuy nhỏ so với tổng chi phí sản xuất nhưng nó cũng ảnh hưởng phần nào tới giá thành sản phẩm.

    Việc tính khấu hao TSCĐ của công ty theo từng tháng. Việc tính khấu hao theo từng tháng tuy có tác dụng bình ổn về giá nhưng lại không phản ánh chính xác các khoản chi phí công ty đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm cũng như hiệu quả kinh doanh.

    – Công ty xác định đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành gồm sản phẩm má phanh và bao bì Carton. Mỗi một sản phẩm lại gồm nhiều loại khác nhau nhưng chỉ tính giá thành theo đơn vị m2, kg. Do đó, công ty cần phân biệt từng loại sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng có yêu cầu về kỹ thuật, mẫu mã khác nhau vì vậy đối tượng tính giá thành ở đây không thể hiện sự khác nhau. Vì vậy đối tượng tính giá thành ở đây không thể hiện sự khác nhau của từng chủng loại sản phẩm.

    II. MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    – Sau một thời gian ngắn tìm hiểu thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao bì tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, dưới góc độ là một sinh viên thực tập em xin mạnh dạn nêu ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    1. Xác định đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm thích hợp

    Quy trình công nghệ sản xuất bao bì tạo ra 1 loại sản phẩm chính là bao bì nhưng có nhiều chủng loại khác nhau và chỉ tính giá thành theo đơn vị m2, kg. Chi phí để sản xuất mỗi loại bao bì khác nhau sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm của chúng cũng khác nhau. Chẳng hạn, giá thành bao bì cũ hợp thạch bàn sẽ khác với giá thành hợp hữu hưng và hợp carton 5 lớp… Thực tế xem xét tình hình tiêu thụ em thấy giá bán của các loại bao bì này cũng khác nhau. Do đó để tính toán chính xác số lãi hoặc số lỗ nhằm định hướng sản xuất, tăng số lượng bao bì có lãi cao, giảm số bao bì có lãi thấp và tiêu thụ chậm, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị ra quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác công ty sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng nhưng lại không tính giá thành theo từng đơn đặt hàng điều này không hợp lý trong quá trình xác định đối tượng tính giá thành. Doanh nghiệp nên xác định lại đối tượng tính giá thành.

    Khi có các đơn đặt hàng của khách hay kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo đơn. Đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh sẽ được tập hợp theo từng đơn không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ, giản đơn hay phức tạp. Khi phân bổ chi phí sản xuất chung sẽ phân bổ theo từng đơn đặt hàng với những tiêu chuẩn phù hợp tổng giá thành sẽ là tổng chi phí đã được tập hợp theo đơn đặt hàng đó giá thành đơn vị sẽ là tổng giá thành của đơn vị chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.

    2. Hoàn thiện công tác hạch toán ban đầu

    Hiện nay Bộ Tài chính ban hành quyết định số 15/2006/QĐ-BTC chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam 2006 doanh nghiệp nên cập nhật trong quyết định số 15 có sự thay đổi của các bảng biểu, sổ sách, chứng từ doanh nghiệp nên kịp thời áp dụng để thực hiện đúng quyết định mà Bộ Tài chính đã ban hành .

    Hoàn thiện công tác hạch toán ban đầu chính là việc cung cấp đầy đủ bộ chứng từ phục vụ cho quá trình ghi chép những nghiệp vụ kinh tế phát sinh các chứng từ cần phải được tuân theo đúng quy định, doanh nghiệp áp dụng biểu mẫu theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng phiếu xuất kho.

     

    PHIẾU XUẤT KHO

    Người nhận hàng:

    Đơn vị:

    Địa chỉ:

    Nội dung:

    STT Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
        Tổng:            

    Với mẫu phiếu xuất kho này thì chỉ xác định được lượng thực xuất mà không xác định được số lượng yêu cầu và đi kèm với phiếu xuất kho này phiếu yêu cầu lĩnh vật tư như vậy muốn để biết được lượng thực xuất và lượng yêu cầu cần phải xem hai loại chứng từ. Doanh nghiệp nên áp dụng đúng mẫu phiếu xuất kho để tiện theo dõi và phù hợp với quyết định của Bộ Tài chính.

    Mẫu số: 02-VT

    Đơn vị:                                                (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC)

    Bộ phận:  Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày….tháng….năm    Nợ:……

    Số:                        Có………

    Họ tên người nhận hàng:……………….Địa chỉ (bộ phận):……………

    Lý do xuất kho…………………………

    Xuất tại kho (ngăn lô)………………….Địa điểm:

    STT Tên, nhãn hiệu, quy cách Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
                   
      Cộng x x x x x x

    Tổng số tiền (Viết bằng chữ):…………………….

    Số chứng từ gốc kèm theo…………………………

    Ngày…..tháng…..năm

    Người lập phiếu Người nhận hàng Thủ kho Kế toán trưởng Giám đốc
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

     

    3. Về tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu và xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu phù hợp

    – Như chúng ta đã biết giá thành sản phẩm có vai trò quyết định với mức lợi nhuận của phân xưởng, mà giá thành làm ra lại phụ thuộc vào các chi phí sản xuất, sản xuất về nguyên vật liệu. Chi phí này luôn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sửa chữa sản phẩm phải tiến hành tiết kiệm tối đa, phải tổ chức tốt khâu nguyên vật liệu, các định mức tiêu hao NVL phải được xây dựng chặt chẽ và sát với thực tế.

    Để giảm bớt tiêu  hao nguyên vật liệu với mức tối thiểu, xây dựng phương án định mức tiêu hao vật tư so với thực tế nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, nhất thiết cán bộ công nhân viên phái có ý thức, trách nhiệm cao trong sản xuất, nâng cao năng suất sử dụng máy móc, thiết bị, sử dụng hết công suất máy, tăng năng suất lao động tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao. Việc cung cấp nguyên vật liệu phải đảm bảo chất lượng và đồng bộ  phục vụ cho sản xuất tốt.

    Bên cạnh đó, công ty cũng nên tích cực đi sâu vào nghiên cứu thị trường và mở rộng quan hệ với các đối tác trong quan hệ làm ăn.

    4. Về bảng phân bổ tiền lương và BHXH

    Theo em, công ty không nên tính tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất và của nhân viên phân xưởng vào cả lương chính mà nên đưa vào cột lương trong bảng phân bổ tiền lương và BHXH, nhằm thể hiện sự tách bạch của các khoản tiền lương đồng thời đảm bảo chính xác các khoản tiền lương đó:

    – Lương chính là tiền lương trả công cho nhân viên trong thời gian làm việc thực tế

    – Lương phụ là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian ngừng việc như: nghỉ lễ, nghỉ phép, đi học, đi họp theo chế độ quy định.

    Căn cứ vào bảng chấm công, đơn giá lương thời gian xác định tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất và nhân viên phân xưởng bao bì, sau đó đưa cột lương phụ vào trong bảng phân bổ tiền lương và BHXH.

    5. Về trích trước tiền lương nghỉ phép

    Trong thời gian qua do công nhân nghỉ phép không đều nhau giữa các tháng tạo ra sự biến động chi phí sản xuất giữa các kỳ. Do vậy, công ty cần xem xét nhu cầu nghỉ phép và lập kế hoạch trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất. Kế toán ghi sổ nhật ký chung. Sổ cái TK 622, TK 335 (TK chi tiết, TK có liên quan) từ bảng phân bổ tiền lương và BHXH theo định khoản

    Nợ TK 622

    Có TK 335           Số trích trước bán hàng

    Khi tính tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất nghỉ phép kế toán ghi:

    Nợ TK 335

    Có TK 334           Số tiền nghỉ phép thực tế phát sinh

    Công thức:

    =       x  Tỷ lệ trích trước

    Tỷ lệ trích trước =   x 100%

    Hiện tại công ty chưa mở TK tổng hợp 335. Chi phí phải trả và các TK chi tiết có liên quan để theo dõi tình hình, các nghiệp vụ liên quan đến các khoản chi phí phải trả. Do đó công ty nên xem xét mở thêm TK 335

    1. Về kế toán thiệt hại trong sản xuất

    Hiện nay công ty chưa có biện pháp cụ thể đối với những sản phẩm hỏng. Mặc dù cho đến nay thiệt hại là không đáng kể nhưng công ty cũng nên có biện pháp hạch toán cụ thể để đến khi có sự cố xảy ra kế toán cũng không lúng túng trong quá trình hạch toán.

    Đối với những sản phẩm hỏng trong định mức khi hoạch toán về kế toán đưa vào các tài khoản chi phí TK 621, 622, 627, để cuối kỳ  kết chuyển vào tài khoản 154 và tính giá thành sản phẩm.

    Với những sản phẩm hỏng của phân xưởng bao bì thì hạch toán các CP vào các tài khoản tương ứng TK 6214, 6224, 627, 1544. Với những sản phẩm hỏng của phân xưởng má phanh ô tô cũng hạch toán vào các TK 6212, 6222, 627, 1542.

    Đối với những sản phẩm hỏng ngoài định mức công ty nên tìm hiểu rõ nguyên nhân để tiện theo dõi.

    + Nguyên nhân hỏng do 1 cá nhân hay 1 tổ, đội cần có hình thức phạt bồi thường theo giá trị sản phẩm hoàn thành được sản xuất ra:

    Nợ TK 138                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    hoặc có thể trừ vào lương công nhân

    Nợ TK 334                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    Nếu trừ vào thu nhập của doanh nghiệp

    Nợ TK 811                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    7. Về kiểm tra đánh giá sản phẩm dở dang

    Công ty xác định CP sản phẩm làm dở cuối tháng đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu chính. Phương pháp này là tương đối phù hợp với điều kiện sản xuất của công ty. Tuy nhiên việc không tách biệt vật liệu thừa chưa dùng đến trong tổng số VLC dùng cho sản xuất là chưa chính xác. Theo em thì công ty nên có những biện pháp quản lý cụ thể như sau:

    + Đối với nguyên vật liệu có thể sử dụng ngay ở kỳ sau thì phân xưởng có thể tiến hành nhập kho lại để bảo quản nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích khác.

    + Đối với nguyên vật liệu có thẻ sử dụng ngay ở kỳ sau của phân xưởng sẽ lập phiếu báo cáo vật tư còn cuối kỳ làm 2 liên.

    – Liên thứ nhất: gửi lên phòng kế toán để theo dõi và phản ánh lượng vật tư còn cuối kỳ làm 2 liên.

    – Liên 2: giao cho phòng kho vật tư để phòng vật tư lập kho mua nguyên vật liệu cho kỳ sau được chính xác, hợp lý.

    Sau khi nhận được phiếu báo vật tư, kế toán tiến hành định khoản

    Nợ TK 152                    NVL thừa không sử dụng nhập lại

    Có TK 621                     kho

    Mua phiếu báo vật tư còn cuối kỳ như sau:

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

    676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

    PHIẾU BÁO VẬT TƯ CÒN CUỐI KỲ

    Bộ phận sử dụng: phân xưởng sản xuất bao bì

    STT Tên, nhãn hiệu quy cách vật tư Mã vật tư ĐVT Số lượng Lý do
               

    Ngày……tháng…..năm

    Bộ phận sử dụng

    (Ký, họ tên)

     

    KẾT LUẬN

     

    Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera em nhận thấy công tác tổ chức quản lý tại công ty nói chung, công tác kế toán nói riêng, về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, nếu công ty có những biện pháp thích hợp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thì công ty sẽ phát huy vai trò của mình đối với quá trình phát triển. Đối với mỗi doanh nghiệp, quản lý là vấn đề cơ bản trong đó kế toán là một công cụ đắc lực, không chỉ là sự cung cấp thông tin cho những nhà cung cấp, nhà quản lý… mà còn giúp ban lãnh đạo, các nhà quản lý đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

    Trên cơ sở những kiến thức đã thu nhận trong trong thời gian học tập tại trường Trung học dân lập Kinh tế kỹ thuật tổng hợp Hà Nội, kết hợp với quá trình thực tiễn tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, em đã học hỏi được một số kết quả nghiên cứu nhất định.

    – Tìm hiểu những vấn đề chung trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Từ đó nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán này. Nắm vững bản chất nội dung kinh tế của chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và các phân loại chi phí, giá thành được sử dụng trong kế toán tài chính.

    – Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao bì tại công ty.Em nghĩ khi tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ và chính xác, kế toán đưa ra được giá thành sản xuất phù hợp, đó là chìa khóa của việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    – Đề xuất được 1 số ý kiến đóng góp hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất kế toán có hiệu quả.

    Với thời gian ngắn thực tập tại công ty, em đã có cơ hội tiếp cận thực tiễn tuy nhiên thời gian đó chưa đủ để em có thể tìm hiểu sâu và rộng hơn về tình hình sản xuất kinh doanh, công tác quản lý lao động và các hoạt động khác tại công ty. Thêm vào đó, từ kiến thức học ở trường cho đến thực tiễn còn rất nhiều khoảng cách. Vì vậy, những vấn đề đã nêu trong chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để có thể hoàn thành chuyên đề này được hoàn chỉnh hơn.

    Cuối cùng,cảm ơn các cán bộ phòng tài chính – kế toán tại Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacere, đặc biệt là cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh trường THDL kinh tế kỹ thuật tổng hợp và kế toán trưởng Đỗ Trọng Tấn đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gian-l%E1%BA%ADn-thu%E1%BA%BF-GTGT-trong-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-v%C3%A0-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-ph%C3%B2ng-ng%E1%BB%ABa.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.

    Thực trạng tình hình thực hiện Luật thuế GTGT ở nước ta sau hơn 4 năm áp dụng cho thấy các vụ gian lận trong thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động cho toàn xã hội. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và từ đầu năm 2002 đến khoảng tháng 6 năm 2002 đã phát hiện 63 vụ, nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên 500 tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.

    Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu các mặt trái của thuế GTGT và đưa ra các biện pháp để giảm tối đa những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những điều đó em đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa”.

    Cụ thể bài viết gồm những nội dung chủ yếu sau:

    Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong kinh doanh

    Chương II: Thực trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

    Chương III: Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

     

    Chương I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT TRONG KINH DOANH

     

    I. VAI TRÒ CỦA THUẾ GTGT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

    1. Doanh nghiệp thương mại và nghĩa vụ thuế GTGT

    Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá. Nếu hoạt động trao đổi hàng hoá (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi nó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế). Theo luật thương mại thì các hành vi thương mại bao gồm: Mua bán hàng hoá, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá, gia công thương mại, đấu giá hàng hoá, đấu thầu hàng hoá dịch vụ giao nhận hàng hoá, dịch vụ giám định hàng hoá, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá và hội trợ triển lãm thương mại.

    Doanh nghiệp thương mại: là các tổ chức kinh tế được hình thành hợp pháp hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, buôn bán hàng hoá.

    Đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung khi đăng ký thành lập và đi vào hoạt động đều phải chịu nghĩa vụ thuế GTGT đối với Nhà nước.

    Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Việc đăng ký thuế phải tuân theo những quy trình thủ tục nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế.Kết quả của đăng ký thuế la mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Kể từ ngày được cấp mã số thuế, cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế đều phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế. Đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng, hoá đơn…., chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ, sổ sách kế toán, tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế.

    Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển số thuế đã thu hộ nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản của đối tượng nộp thuế.

    Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế thì việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết. Nghĩa vụ quyết toán thuế phải được quy định một cách chặt chẽ nhằm xác định đầy đủ, chính xác số thuế mà cơ sở kinh doanh thu hộ nhà nước để chuyển vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời nhằm tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu hộ nhà nước để phục vụ lợi ích riêng cuả mình.

    2.Vai trò của thuế GTGT đối với các DNTM.

    Qua những năm triển khai và thực hiện Luật thuế GTGT đã đem lại một số thành tựu đáng kể. Cụ thể góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Thuế GTGT góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế. Theo qui định  của Luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước  trợ giá cho hàng xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp tập trung được nguồn hàng để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền được hoàn tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 2.700 tỷ đồng; năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện thị trường xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23.18%; năm 2000 tăng 21.3%. Ngoài việc được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hàng hoá còn được ưu đãi hưởng thuế suất thuế TNDN 25%; nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu được miễn thuế thu nhập bổ sung đã tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu và xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt luật thuế GTGT đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

    Đặc biệt luật thuế GTGT góp phần đến công tác quản lý  của doanh nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy việc mua bán hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.

    II. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT

    Để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ khuyến khích phát triển nền KTQD, động viên 1 phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật này quy định thuế GTGT

    Nội dung về thuế GTGT bao gồm:

     

    1. Đối tượng nộp thuế và chịu thuế GTGT.

    Điều 1. Thuế giá trị gia tăng

    Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

    Điều 2. Đối tượng chịu thuế

    Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của luật này.

    Điều 3. Đối tượng nộp thuế

    Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng.

    Điều 4. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng

    Hàng hoá, dịch vụ dưới đây không thuộc diệ chịu thuế giá trị gia tăng:

    Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra.

    Sản phẩm muối

    Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

    Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được mà cơ sở có dự án đầu tư nhập khẩu để làm tài sản cố định theo dự án đó.

    Chuyển quyền sử dụng đất thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất.

    Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê.

    Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư

    Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh.

    Dịch vụ y tế.

    Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục thể thao không nhằm mục đích kinh doanh, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, phát hành và chiếu phim nhựa, phim video tài liệu.

    Dạy học, dạy nghề

    Phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

    In, xuất bản và phát hành báo, tạp chí, bản tinh chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách in bằng tiếng dân tộc thiểu số, tranh ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, in tiền.

    Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, phục vụ tang lễ v…v…

    Điều 5. Nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện luật thuế GTGT

    1. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định của luật này.
    2. Cơ quan thuế trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của luật này.
    3. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, phối hợp với cơ quan thuế trong việc thi hành luật thuế GTGT.
    4. Công dân Việt Nam có trách nhiệm giúp cơ quan thuế, cán bộ thuế trong việc thi hành luật này.
    5. Cơ sở tính thuế GTGT

    Gồm giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT

    Về giá tính thuế GTGT, về lý thuyết có hai cách xác định:

    Giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế GTGT, có nghĩa là thuế được tính trên giá bán đã bao gồm thuế.

    Giá tính thuế là giá chưa bao gồm thuế GTGT. Cách tính này làm cho bên mua và bên bán thấy rõ ràng hơn là giá chưa có thuế và thuế GTGT

    Điều 7. Giá tính thuế GTGT

    Giá tính thuế GTGT được quy định như sau:

    1. Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
    2. Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
    3. Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
    4. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ.
    5. Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa tính theo giá bán trả 1 lần không tính theo số tiền trả từng kỳ.
    6. Đối với gia công hàng hoá là giá gia công.
    7. Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do chính phủ quy định

    Về thuế suất là đại lượng xác định mức độ, phạm vi, nghĩa vụ nộp thuế trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Hay nói cách khác, thuế suất là định mức thu thuế trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Thuế suất biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, tức là thể hiện quan điểm động viên của Nhà nước với từng hoạt động sản xuất kinh doanh. Thuế suất thuế GTGT là loại thuế suất theo giá trị tức là thuế suất quy định tỷ lệ % huy động trên một đơn vị giá trị đối tượng nộp thuế.

    Về mức thuế suất thuế GTGT được quy định như sau:

    Mức thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu

    Mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ: nước sạch, nước sinh hoạt, phân bón, thuốc khám bệnh, đồ chơi trẻ em, sách khoa học….

    Mức thuế suất thông thường giao động từ 10 – 20%

    Nhóm thuế suất ưu đãi giao động từ 5%- 7%

    Nhóm thuế suất đặc biệt ưu đãi: dưới 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đặc biệt ưu đãi.

    Nhóm thuế suất điều tiết trên 20%.

    3. Phương pháp tính thuế GTGT

    Thuế GTGT phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

    3.1 Phương pháp khấu trừ thuế:

    Số thuế phải nộp bằng thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào.

    Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất.

    Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu.

    3.2 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

    Số thuế phải nộp bằng GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhân với thuế suất thuế GTGT.

    Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào.

    Phương pháp tính trực tiếp chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau:

    Cá nhân sản xuất kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo bước đầu tư nước ngoài tới Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.

    Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý.

     

    4. Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT

    Việc thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT phải thông qua một cơ chế nhất định vì vậy một trong những nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh thuế GTGT là cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT gồm: đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế.

    4.1 Đăng ký thuế và cấp mã số thuế

    Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là thời điểm để tính thời hạn thực hiện nghĩa vụ thuế. Việc đăng ký thuế phải tuân thủ theo những trình tự thủ tục nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế. Kết quả của đăng ký thuế là mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Mã số thuế là cơ sở pháp lý để nhận diện người nộp thuế, là điều kiện thiết yếu về phương diện pháp lý để quản lý và thực hiện thuế GTGT. Đối với đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng kinh tế, chứng từ nộp thuế. Các đơn vị được sử dụng hoá đơn tự in phải in sẵn mã số của mình vào từng tờ hoá đơn.

    Đối với cơ quan thuế phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế của đối tượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi số liệu nộp thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo nộp thuế, thông báo phạt, lệnh thu, các quyết định phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế.

    4.2 Kê khai thuế GTGT

    Mỗi chủ thể khi tham gia đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp mã số thuế thì đều phải thực hiện việc kê khai thuế theo quy định của pháp luật.

    Kê khai thuế là việc khai báo tất cả những nghiệp vụ chịu thuế phát sinh trong kỳ (tháng, quý hoặc năm), số thuế GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi bán hàng, số thuế GTGT đã nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế.

    Việc kê khai thuế được tiến hành theo mẫu tờ khai thuế. Người có nghĩa vụ kê khai thuế căn cứ vào các dữ liệu trên tờ khai thuế thực hiện hành vi kê khai, chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi lập xong tờ khai thuế phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Sau khi tính số thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế mới ra thông báo nộp thuế gửi cho các đối tượng nộp thuế. Việc kiểm tra tính đúng đắn của kê khai thuế xảy ra trước thời điểm nộp thuế. Việc sai sót trong việc tính số thuế phải nộp thuộc trách nhiệm của cơ quan thuế.

    4.3 Nộp thuế GTGT

    Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển thuế đã thu hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản nhất của mỗi đối tượng nộp thuế. Để thực hiện nghĩa vụ này một cách có hiệu quả cần điều chỉnh những vấn đề cơ bản sau:

    Thứ nhất, về hình thức nộp thuế, có thể nộp trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc có thể nộp thuế qua Ngân hàng, qua kho bạc.

    Thứ hai, về cơ chế nộp thuế. Hiện nay trong thực tiễn tiến hành thu thuế tồn tại hai cơ chế:

    * Cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính nộp thuế: cơ chế này nâng cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế, giảm khối lượng công việc cho cơ quan quản lý thuế cũng như chi phí quản lý hành chính thuế, phân định rạch ròi trách nhiệm của cơ quan thuế, của đối tượng nộp thuế.

    * Cơ chế nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế: tức nộp thuế theo sự tính toán của cơ quan thuế và được thực hiện bởi một quyết định quản lý hành chính của Nhà nước.

    Thứ ba, phạm vi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT. Đối với những tổ chức, cá nhân kinh doanh bất hợp pháp (không có đăng ký kinh doanh) có nghĩa vụ nộp thuế hay không ?

    Xét trên phương diện lý luận thì nghĩa vụ nộp thuế GTGT của các chủ thể chỉ phát sinh trên cơ sở các hành vi và hoạt động hợp pháp của các chủ thể vì vậy nếu đánh thuế vào những hoạt động kinh doanh không hợp pháp thì vô hình chung có một dòng tiền bất hợp pháp được chuyển vào ngân sách Nhà nước, được sự bảo trợ của Nhà nước và dòng tiền đó trở thành hợp pháp.

    4.4 Quyết toán thuế

    Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết. Thuế GTGT là thuế gián thu được đánh trên tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng theo phương pháp khấu trừ thì nghĩa vụ quyết  toán thuế phải được tính toán một cách chặt chẽ nhằm xác định đủ, chính xác số thuế nộp vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời, tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu được phục vụ lợi ích riêng của doanh nghiệp.

    5. Khấu trừ và hoàn thuế GTGT

    5.1 Khấu trừ thuế GTGT

    Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

    Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:

    – Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp.

    – Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa.

    – Cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp có quy định riêng.

    – Thuế đầu vào của TSCĐ được kê khai khấu trừ như đối với vật tư, hàng hoá khác. Nếu số thuế khấu trừ phát sinh lớn cơ sở được tính khấu trừ dần. Sau 3 tháng mà số thuế khấu trừ vẫn còn thì doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quan thuế xét hoàn thuế.

    5.2 Hoàn thuế GTGT

    Do thuế GTGT “thu hộ” của doanh nghiệp bán hàng là thuế GTGT “trả hộ” của doanh nghiệp mua hàng nên việc hoàn thuế GTGT của một doanh nghiệp có liên quan đến việc nộp thuế của doanh nghiệp khác. Vì vậy, có thể nói việc hoàn thuế GTGT diễn ra trên phạm vi rộng, bao hàm nhiều mối quan hệ phức tạp và có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế. Chính tính phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ của nghiệp vụ hoàn thuế GTGT cộng thêm sự chắp vá của các văn bản pháp luật về hoàn thuế GTGT khiến cho vấn đề hoàn thuế GTGT là một vấn đề nổi cộm lớn trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT hiện nay.

    Theo quy định của điều 16 luật thuế GTGT thì đối tượng được xét hoàn thuế GTGT trong các trường hợp sau:

    – Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp.

    Cơ sở kinh doanh 3 tháng liên tục trở lên có số luỹ kế số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.

    Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế GTGT có số thuế GTGT đầu ra, đầu vào như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Tháng kê khai thuế Thuế đầu vào được khấu trừ trong tháng Thuế đầu ra phát sinh trong tháng Thuế phải nộp Luỹ kế số thuế đầu vào chưa được khấu trừ
    Tháng 12/2000 200 100 -100 -100
    Tháng 1/2001 300 350 +50 -50
    Tháng 2/2001 300 200 -100 -150

    Doanh nghiệp A có luỹ kế 3 tháng liên tục số thuế đầu vào lớn hơn đầu ra. Doanh nghiệp A thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT với số thuế là 150 triệu đồng.

    Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu trở lên thì được xét duyệt hoàn thuế theo tháng, hoặc chuyến hàng.

    – Đối với hàng uỷ thác xuất khẩu, gia công chế biến xuất khẩu qua một cơ sở khác ký hợp đồng gia công xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng hoàn thuế là cơ sở hàng hoá đi uỷ thác xuất khẩu, cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu.

    – Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới đã đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế nhưng chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý.

    – Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan hoàn thuế hoàn lại số thuế nộp thừa.

    – Đối với các dự án sử dụng vốn ODA chủ dự án ODA không hoàn lại mua hàng hoá, dịch vụ từ các nhà cung cấp trong nước có thuế GTGT để sử dụng cho dự án này. Nhà thấu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trừ thuế sử dụng vốn ODA không ….. cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cho các dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng được tính khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua trong nước có thuế GTGT.

    – Tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng.

    6. Hoá đơn, chứng từ

    Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra để xác định số thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của Nhà nước và quyền lợi của doanh nghiệp. Do đó, việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ, hoá đơn hay tiếp nhận chứng từ hoá đơn có ý nghĩa quyết định với cơ quan quản lý chức năng trong việc tính toán số thuế phải nộp nói riêng và quản lý nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nói chung. Trong điều kiện kinh tế thị trường ngay càng phát triển với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phong phú, đa dạng thì vấn đề chứng từ, hoá đơn ngày càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Vì vậy, hoá đơn, chứng từ là một nội dung hết sức quan trọng được quy định trong pháp luật thuế GTGT.

    III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THUẾ

    1. Mặt tích cực

    Thực tế triển khai luật thuế GTGT ở nước ta trong nhứng năm vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã đáp ứng về cơ bản những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có đầy đủ các bộ phận hợp thành của pháp luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp luật được biểu hiện dưới hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công văn của nhà nước có thẩm quyền.

    Các quy định của pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế GTGT.

    Chính vì những lý do đó mà sau những năm triển khai thực hiện luật thuế GTGT đã được một số thành tựu đáng kể mà thành tựu bao trùm nhất là đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra trong luật thuế GTGT.

    Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác, khi nhập khẩu thiết bị, máy móc phương tiện vận tải chuyên dùng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản cố định theo dự án thì không thuộc dạng chịu thuế GTGT. Đặc biệt, kể từ khi thực hiện giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% khi thực hiện nộp thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư rất mạnh.

    Mặt khác, luật thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo đảm sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu nền kinh tế. Theo quy định của luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế.

    Biểu 1. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu từ năm 1999 đến 2003

     

    Mặt hàng Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Dầu thô (nghìn tấn) 14.881,9 15.423,5 16.731,6 16.879,0 17.169,0
    Dệt may (triệu đô) 1.746,2 1.891,9 1.975,4 2.752,0 3.630,0
    Giày, dép (triệu đô) 1.387,1 1.471,7 1.578,4 1.867,0 2.225,0
    Thuỷ sản (triệu đô) 973,6 1.478,5 1.816,4 2.023,0 2.217,0
    GTGTạo (nghìn tấn) 4.508,3 3.476,7 3.721,0 3.241,0 3.820,0
    Cà phê (nghìn tấn) 482,0 733,9 931,0 719,0 700,0
    Thủ công mỹ nghệ (triệu đô) 200,4 273,7 299,7 331,0 367,0
    Hạt tiêu (nghìn tấn) 34,8 37,0 57,0 77,0 74,4
    Hạt điều (nghìn tấn) 18,4 34,2 43,6 62,0 83,6
    Cao su (nghìn tấn) 263,0 273,4 308,0 449,0 438,0
    Than đá (nghìn tấn) 3.260,0 3.251,2 4.292,0 6.049,0 7.049,0
    Chè (nghìn tấn) 36,0 55,6 67,9 75,0 60,0
    Lạc (nghìn tấn) 56,0 76,1 78,2 105,0 83,3

    Việc triển khai luật thuế GTGT không gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Ngoài ra, luật thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp.

    Đồng thời, việc triển khai thực hiện luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho nguồn ngân sách Nhà nước. Không giảm hơn so với thuế doanh thu. Năm 1999 tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 102,1% so với dự toán năm Quốc hội giáo, năm 2000 đạt 117,4%. Trong đó thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu, riêng số thu thuế GTGT năm 1999 là 16.590 tỷ đồng, sau khi trừ đi số thuế phải hoàn còn lại tương đương với thuế doanh thu trước đây.

    Qua những con số ở trên, chúng ta có thể ít nhiều khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp dụng ở Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Luật thuế GTGT được thực hiện ở Việt Nam đã có những tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội nước ta, góp phần hoàn thiện luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    2. Mặt hạn chế

    Bên cạnh những mặt đã đạt được thì pháp luật thuế GTGT ở nước ta cũng có những mặt “chưa được”. Luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay chưa đủ mạnh để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Thể hiện ở những mặt sau:

    Một là, đối tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong  qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.

    Phạm vi đối tượng nộ thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong quản lý hành chính thuế.

    Hai là, căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

    Ba là việc quy định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.

    Bốn là quy định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực hiện.

    Năm là xác định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ, nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.

    Sáu là cơ chế thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện.

    Bảy là hoá đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.

    Những bất cập trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giả pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

     

     

    Chương II

    THỰC TRẠNG GIAN LẬN THUẾ Ở VIỆT NAM

     

    I. KHÁI QUÁT VIỆC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

    1. Quá trình xây dựng và triển khai thực hiện các quy định thuế GTGT ở nước ta.

    1.1 Quá trình xây dựng luật

    Lịch sử ra đời và phát triển thuế ở mỗi quốc gia là không giống nhau nhưng nó luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của đất nước. Để phục vụ cho quá trình phát triển cách mạng Việt Nam thì sự điều chỉnh pháp luật thuế GTGT ở nước ta cũng qua các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều phục vụ cho quan điểm sử dụng thuế khoá ở giai đoạn đó. Chính những quan điểm này đã định hướng sâu sắc đến quá trình điều chỉnh pháp luật thuế ở nước ta.

    Giai đoạn 1945-1954: Xuất phát từ quan điểm tạo lòng tin của nhân dân vào chính quyền mới những vẫn phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nhà nước đã xoá mọi thứ thuế bất công vô lý của Pháp, sửa đổi một số thuế cũ và ban hành một số thuế khác. Đặc biệt khi cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phản công, yêu cầu phải củng cố hậu phương và chi viện tích cực cho tiền tuyến, nhà nước đã các bỏ các thứ thuế ban hành tạm thời, banh hành 7 chế độ thuế áp dụng thống nhất cho cả nước gồm: chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế công thương nghiệp, chế độ thuế hàng hoá, chế độ thuế phát sinh, chế độ thuế trước bạ, chế độ thuế tem; chế độ thuế xuất nhập khẩu. Bảy chế độ thuế đó là nền móng đầu tiên của hệ thống pháp luật thuế nước ta được thực thi trong suốt thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến 1951-1954 và được kế thừa sử dụng cho các giai đoạn sau.

    Giai đoạn 1954-1975: trong giai đoạn này thuế được sử dụng, thực hiện nhiệm vụ khác nhau cụ thể:

    Từ 1954-1959 nhà nước sử dụng thuế để khôi phục kinh tế và để cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc bằng cách sưả đổi các chính sách thuế theo tinh thần phân biệt đối xử về thuế vì vậy, chế độ thuế nông nghiệp và chế độ lợi tức doanh nghiệp được sửa đổi một cách cơ bản góp phần tích cực vận động cá thể vào hợp tác xã, khuyến khích mô hình kinh tế hợp tác xã ra đời và phát triển.

    Từ 1960-1975 nhà nước tiếp tục thay đổi hệ thống pháp luật thuế trong đó chủ yếu sửa đổi chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế môn bài, chế độ thuế doanh thu, chế độ thuế lợi tức doanh nghiệp và cho thực hiện thí điểm hai chế độ thu mới không mang tính chất thuế, chế độ thu quốc doanh, chế độ phân phối trích nộp lợi nhuận và dần tách khu vực kinh tế quốc doanh ra khỏi sự điều chỉnh của thuế.

    Hai giai đoạn này hệ thống pháp luật thuế không được xây dựng mà chỉ trên tinh thần sửa đổi, bổ sung nên hệ thống pháp luật thuế không ổn định, các chế độ thuế mang tính chắp vá, hiệu lực pháp lý thấp.

    Giai đoạn 1975-1989: Xuất phát từ tình hình đất nước có nhiều biến đổi nên chế độ thuế trong giai đoạn này cũng được sửa đổi liên tục trong những năm đầu ở miền Nam tạm thời sửa đổi một số chế độ thuế của chính quyền Thiệu, sửa đổi một số chế độ thuế ở miền Bắc để áp dụng cho miền Nam.

    Năm 1980 hai miền Nam, Bắc thực hiện hệ thống thuế thống nhất dựa trên hệ thống thuế đã áp dụng ở miền Bắc có sửa đổi cho phù hợp với cả hai miền.Tháng 2/1983 nhà nước ban hành pháp lệnh  thuế nông nghiệp thay cho điều lệ thuế nông nghiệp và được sửa đổi vào năm 1983. Cũng trong năm 1983 pháp lệnh thuế công thương nghiệp cũng được ban hành thay cho điều lệ thuế công thương nghiệp và được sửa đổi bổ sung vào năm 1987. Tháng 7/1987 Quôc hội ban hành luật thuế xuất nhập khẩu.

    Giai đoạn 1990 đến nay: với sự thay đổi lớn, căn bản của đường lối phát triển kinh tế trong giai đoạn này đã kéo theo sự thay đổi căn bản trong quan điểm sử dụng thuế. Thuế phải trở thành công cụ động viên nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, phải trở thành công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước, thuế phải có tính pháp lý cao, phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, nhà nước quyết định cải cách thuế giai đoạn 1. Hệ thống pháp luật thuế được ra đời áp dụng thống nhất trong cả nước không phân biệt thành phần kinh tế, luật thuế doanh thu, luật thuế lợi tức, luật thuế xuất nhập khẩu, luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Hệ thống pháp luật thuế mới ra đời đã thể hiện và đáp ứng được quan điểm sử dụng thuế song cũng còn nhiều tồn tại cần được xem xét hoàn thiện để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cải cách thuế giai đoạn 2; bắt đầu từ năm 1996 và dự kiến kết thúc vào năm 2005, thời điểm Việt Nam chính thức ra nhập vào khu mậu dịch tự do ASEAN. Việc xây dựng, ban hành luật thuế GTGT thay cho luật thuế doanh thu được coi là một trong những sự kiện quan trọng của cải cách thuế trong giai đoạn này và sẽ kết thúc bằng việc xây dựng một hệ thống thuế có khả năng hội nhập cao.

              Các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT

    Ngày 3/9/2002 chính phủ ban hành nghị định số 76/2002 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 79/2002/NĐ-CP. Ngày 29/12/2002 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.

    Theo sửa đổi một số quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT đối với một số loại hàng hoá nhập khẩu trong các trường hợp như: viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, quà tặng của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức khác. Hơn nữa, nghị định còn bổ sung sửa đổi một số quy định về mức thuế 0% thuế GTGT đối với một số hàng hóa xuất nhập khẩu, bao gồm hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu, hàng hoá gia công xuất khẩu, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài, phần mềm máy tính xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu lao động, hoạt động xây dựng, xuất khẩu ra nước ngoài, xuất khẩu vào các khu chế xuất….và một số quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, hoàn thuế GTGT.

    Ngày 18/9/2002 Bộ tài chính ban hành thông tư số 82/2002/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 hướng dẫn thi hành nghị định 79/2000/NĐ-CP ngày 29/1/2000 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.

    Theo đó một số điểm đáng chú ý: thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa xuất nhập khẩu và số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ 1% trên giá mua đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT mua của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng; hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa có quy định chế biến mua của cơ sở sản xuất không chịu thuế GTGT. Khâu sản xuất sử dụng hoá đơn GTGT; hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản xuất để bán ra có hai hoá đơn bán hàng; bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT; hàng hoá mua là nông lâm thuỷ sản chưa qua chế biến, đất, đá, cát, xỏi và các phụ liệu của người bán không có hoá đơn tỷ lệ khấu trừ trên đây áp dụng cho các hoá đơn chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ từ 1/10/2002 và áp dụng thống nhất cho cả trường hợp kinh doanh trong nước và xuất khẩu.

    Ngày 18/9/2002 Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành quyết định số 110/2002/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng, ban hành kèm theo quyết định số 885/1998/QĐ-BTC ngày 16/7/98 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

    Theo đó thay thế nội dung, thủ tục mua hoá đơn đối với tổ chức, cá nhân mua hoá đơn lần đầu và thủ tục mua hoá đơn lần sau. Cơ quan thuế có quyền từ chối việc bán hoá đơn hoặc ra quyết định đình chỉ việc sử dụng hoá đơn đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn, chứng từ cụ thể: tạm dừng việc bán hoá đơn với các tổ chức, cá nhân mua hoá đơn không đủ thủ tục, điều kiện kèm theo quy định, không kê khai thuế hoặc kê khai thuế nhưng không có doanh thu sau 1 tháng mua hoá đơn, không thực hiện báo cáo sử dụng hoá đơn theo quy định. Đình chỉ việc sử dụng hoá đơn với tổ chức, cá nhân có hành vi bán khống hoá đơn (hoá đơn trùng) hoặc lập hoá đơn nhưng không có hàng hoá, dịch vụ, tiếp tục có hành vi tẩy xoá hoá đơn, ghi hoá đơn có giá trị hàng hoá, dịch vụ cao hơn giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ; ghi hoá đơn bán hàng, dịch vụ trên hoá đơn giao cho người mua khác với hoá đơn lưu tại cơ sở kinh doanh.

    Ngày 10/10/2002 Bộ tài chính thông tư số SO 90/2002/TT-BTC hướng dẫn về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế GTGT đối với hàng hoá bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.

    Thông tư này áp dụng đối với hàng hoá do doanh nghiệp tại Việt Nam (bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) sản xuất bán cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán ngoại thương, được thương nhân nước ngoài thanh toán tiền mua hàng bằng ngoại tệ nhưng hàng giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo sự chỉ định của thương nhân nước ngoài để tiếp tục sản xuất gia công hàng xuất khẩu.

    Điều kiện áp dụng chính sách thuế hướng dẫn tới thông tư này bao gồm: hàng hoá xuất khẩu tại chỗ, nhập khẩu tại chỗ trên cơ sở thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương ký với thương nhân nước ngoài trong đó ghi rõ mặt hàng, tên và số lượng, địa chỉ của doanh nghiệp nhận hàng tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài phải thực hiện thanh toán tiền đối với hàng xuất khẩu tại chỗ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi qua ngân hàng, doanh nghiệp phải mở tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ.

    Hàng hoá xuất khẩu tại chỗ được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ phải xuất trình với cơ quan thuế địa phương đầy đủ các hồ sơ bao gồm: hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ khi giao hàng, hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài, chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài qua ngân hàng bằng ngoại tệ từ đó chuyển đổi, tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu tại chỗ. Trường hợp cơ sở sản xuất tại chỗ không có đủ thủ tục hồ sơ trên thì không được áp dụng thuế suất 0%, cơ sở xuất khẩu tại chỗ phải thực hiện nộp thuế GTGT theo quy định của luật thuế GTGT như hàng hoá tiêu thụ nội địa.

    Ngoài ra thông tư còn hướng dẫn cụ thể việc xử lý vi phạm đối với các trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ không sử dụng hàng hoá đã nhập khẩu tại chổ để làm nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu mà đem bán hoặc sử dụng không đúng mục đích.

    Chính phủ vừa ban hành nghị định số 158/2003 quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT văn bản hướng dẫn các đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam với các mức thuế suất 0%, 5% và 10% đồng thời các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế GTGT theo đúng quy định của pháp luật.

    Các mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng gia công xuất khẩu, hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu.

    Mức thuế suất 5% áp dụng với các hàng hoá, dịch vụ: nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt, phân bón, quặng để sản xuất phân bón, máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế, bông và băng vệ sinh y tế, giáo cụ dùng giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em, sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản đánh bắt chưa qua chế biến, thực phẩm tươi sống, lương thực, lâm sản.

    Mức thuế suất 10% áp dụng với hàng hoá, dịch vụ: dầu mỏ, khí đốt, quặng điện, thương phẩm, điện tử, sản phẩm hoá chất, sản phẩm may mặc, thêu ren, giày, sữa, bánh kẹo, nước giải khát, sản phẩm gốm sứ, thuỷ tinh, dịch vụ tư vấn pháp luật, các dịch vụ tư vấn khác, khách sạn, dịch vụ ăn uống.

    Việc kê khai nộp thuế GTGT hợp pháp: cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu phải kê khai thuế GTGT theo quy định sau: cơ sở kinh doanh phải kê khai nộp thuế từng tháng và nộp tờ kê khai kèm theo bản kê khai hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra làm căn cứ xác định số thuế phải nộp của tháng cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo.

    Trong trường hợp không phát sinh số bán hàng hoá, dịch vụ thuế đầu vào, thuế đầu ra cơ sở kinh doanh vẫn phải nộp tờ kê khai thuế cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy đủ đúng mẫu tờ khai thuế và phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của việc kê khai. Thời điểm tính thuế GTGT đầu ra phát sinh là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ cho người mua không phân biệt người mua đã trả tiền hay chưa. Khi bán hàng hoá cơ sở kinh doanh phải lập hoá đơn theo cơ sở của pháp luật.

    Tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không có văn phòng hay trụ sở điều hành ở Việt Nam có cung ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam phải kê khai, nộp thuế GTGT thay cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất GTGT khác nhau phải kê khai thuế GTGT theo mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ. Nếu cơ sở kinh doanh không xác định được theo tổng mức thuế suất thì phải tính theo mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh. Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách nhà nước. Thuế nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam.

    2. Thực tế áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta

    Pháp luật thuế GTGT là một luật thuế hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử pháp luật tài chính nước ta và trong nhận thức của tầng lớp dân cư. Vì vậy, việc thực hiện các luật thuế mới nói chung và luật thuế GTGT nói riêng sẽ có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội của đất nước và những khó khăn bước đầu là không tránh khỏi.

    Sau những năm thực hiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn những biểu hiện bên ngoài. Các quy định của pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế GTGT. Các quy định của pháp luật thuế GTGT luôn tính đến các giải pháp qua đó nhằm áp dụng tốt nhất thuế GTGT trong điều kiện thực tế ở Việt Nam như quy định 2 phương pháp tính thuế, quy định khấu trừ khống, mở rộng diện miễn giảm thuế…

    Vì vậy, sau 4 năm thực hiện luật thuế GTGT đã đạt được những thành tựu đáng kể mà thành tựu bao trùm nhất là đạt được nhứng mục tiêu yêu cầu đặt ra trong luật thuế GTGT.

    Cụ thể: góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình. Không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư TSCĐ theo dự án thì không thuộc diện chịu thuế GTGT. Đặc biệt khi giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% so với thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư mạnh.

    Mặt khác, luật thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp cơ cấu lại nền kinh tế. Theo quy định của thuế GTGT, hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là toàn bộ thuế GTGT đã nộp ở đầu vào được hoàn lại, việc hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu thực chất là nhà nước  trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền hoàn vốn tăng cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Khoảng 2.700 tỷ đồng, năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23,18%, năm 2000 tăng 21,3%. Trong đó có những mặt hàng được hoàn thuế đầu vào nhiều, xuất khẩu tăng so với năm 1998 như: cao su 37,2%, cà phê 27,6% , gạo 21,4%, thuỷ sản 14,1%, giày dép 36,3%, dệt may 15,1%, thủ công mỹ nghệ 52%, điện tử 54%.

    Ngoài việc được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hàng hoá còn được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 25%, nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung nên đã tạo điều kiện về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng xuất khẩu thay thế nhập khẩu, đặc biệt luật thuế GTGT đã khuyến khích việc sản xuất kinh doanh những hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

    Việc triển khai luật thuế GTGT không gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Ngoài ra, luật thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp. Đến nay có khoảng 6.000 doanh nghiệp nhà nước, hơn 2.400 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 30.000 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã thực hiện đúng chế độ của nhà nước kê khai và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Cũng chính điều này mà việc quyết toán thuế được thực hiện chính xác hơn rất nhiều so với những năm trước đây.

    Đồng thời, việc triển khai thực hiện luật thuế GTGT đảm bảo về số thu ngân sách nhà nước không giảm hơn so với thuế doanh thu, không làm ảnh hưởng đến kế hoạch thu ngân sách của nhà nước.

     

    Biểu 2.  Thu ngân sách nhà nước & thu thuế GTGT

     từ năm 2001 đến năm 2003

    Năm Thu ngân sách nhà nước Thu thuế VAT % thu VAT
    2001 103.888 13952 13,43%
    2002 105.200 15.465 14,70%
    2003 123.700 19.238 15,56%

    Bảng số liệu cho thấy chỉ qua 3 năm: 2001, 2002 và 2003 tỷ lệ đóng góp thuế VAT trong nguồn thu của ngân sách nhà nước luôn tăng từ 13,43% năm 2001 lên 14,7% năm 2002 và 15,56% năm 2003. Điều này cho thấy việc áp dụng luật thuế VAT vào nước ta là hợp lý, sự tăng lên trong tỷ lệ đóng góp này cho thấy sự phát triển nhanh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

     

    Biểu 3 & 4.

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

      XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    DỰ TOÁN 2003 9154 3592 4228 2264 19238
    ƯỚC QI/2003 2205 870 1175 619 4869

    Nguồn thu từ thuế của Nhà nước tập trung chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh. Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách nhà nước luôn chiếm trên 45% (năm 2003 là 47%, trong tổng số thu từ tất cả các ngành). Đứng sau xí nghiệp quốc doanh là NQD 22%, XNĐT 19và XS 12%. Nhìn chung tỷ lệ đóng góp này tương đối ổn định.

     

    Biểu 5.Tình hình thu thuế VAT của ngành hải quan giai đoạn

    từ năm 1999 đến năm 2003

    ĐVT: Tỷ đồng

    TT Năm Tổng thu (KH) Tổng thu

    VAT

    VAT/Tổng thu Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch
    1 1999 21000 23669 8162 0.344839 113%
    2 2000 22960 24417 10718 0.438956 106%
    3 2001 25200 29519 11725 0.397202 117%
    4 2002 33200 37221 15010 0.403267 112%
    5 2003 38500 39223 17522 0.446728 102%

    Từ năm 1999 đến năm 2003 số thuế VAT đóng góp vào số thu của ngành Hải quan tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên. Năm 1999 là 8.162 tỷ đồng, năm 2000 là 1.0.718 tỷ đồng, năm 2001 là 11.725 tỷ đồng, năm 2002 là 15.010 tỷ đồng, năm 2003 là 15.722 tỷ đồng. Trong đó năm 2002 và năm 2003 là có số thu lớn nhất. Tỷ lệ thu thuế VAT ngày càng có xu hướng tăng nhanh từ năm 1999 đến năm 2003 đã tăng lên hơn 200%. Con số thu được thực tế luôn vượt mức kế hoạch đề ra. Năm 1999 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 113%, năm 2000 là 106%, năm 2001 là 117%, năm 2002 là 112% và năm 2003 là 102%. Tốc độ tăng ngày càng lớn và tỷ trọng đóng góp vào tổng thu của ngành Hải quan có xu hướng tăng nhanh chứng tỏ thuế VAT có vai trò lớn trong nguồn thu của ngành Hải quan nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung.

    Qua nhứng con số biết nói trên dù chưa đầy đủ nhưng cũng cho phép chúng ta khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Sau những năm đầu thực hiện cho thấy thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đã đạt được những hiệu quả nhất định. Đặc biệt việc thực hiện luật thuế GTGT đã có tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội ở nước ta góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

              Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì pháp luật điều chỉnh luật thuế GTGT ở nước ta còn có những điểm “chưa được” gây ra các phát sinh tiêu cực trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT, hay những vấn đề khó khăn trong áp dụng luật thuế GTGT.

              Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT  thuộc loại thuế tiêu dùng mà hàng hoá tiêu dùng được biển hiện thông qua việc trao đổi mua bán, vì vậy nếu hàng hoá, dịch vụ nằm trong kho hoặc chưa đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc trao đổi mua bán thì chưa bị đánh thuế GTGT.

              Thứ hai, cơ sở để tính thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác định khi thông qua quan hệ trao đổi mua bán. Nếu hàng hoá, dịch vụ cứ nằm im trong kho thì rõ ràng không thể biết đúng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.

              Thứ ba, việc quy định trực tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo như kỳ nộp thuế, hạch toán kế toán, kiểm tra thanh tra, giải quyết vấn đề tranh chấp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoặc nộp thuế sẽ gặp nhiều khó khăn trong nhận thức và sinh ra nhiều việc xác định mức độ, phạm vi của nghĩa vụ thuế.

              Việc luật thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và không chịu thuế GTGT không chính xác về mặt khoa học. Khi nói đến đối tượng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 luật thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hình thức cung ứng thuộc diện chịu thuế GTGT, nhưng được miễn trừ thuế. Luật thuế GTGT xác định diện miễn trừ thuế rất rộng tuy nhiên sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ, đặc biệt trong trường hợp các ngành sử dụng nguyên vật liệu thuộc diện miễn trừ thuế GTGT để sản xuất ra các sản phẩm chịu thuế GTGT hoặc ngược lại. Ví dụ khi sản xuất bột canh hoặc mỳ ăn liền đều phải sử dụng nguyên liệu muối, nhưng muối thuộc dạng miễn trừ thuế GTGT nên không có thuế GTGT phát sinh khi mua muối làm nguyên liệu, trong khi đó sản phẩm tạo ra (bột canh) lại thuộc diện chịu thuế GTGT vì vậy, khi bán những sản phẩm này doanh nghiệp phải lập hoá đơn, thu và nộp trọn vẹn số thuế GTGT phát sinh cho kho bạc nhà nước mà không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào tương ứng (trong đó muối chiếm 80% giá thành sản xuất bột canh). Do doanh nghiệp không được hưởng lợi tức khấu trừ nên khi áp dụng thuế GTGT sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá mua để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế và mức doanh lợi hoạt động. Nếu giá mua đầu vào (muối) bị giảm thì có nghĩa là chính người miễn thuế GTGT (người sản xuất muối) tưởng được ưu đãi nhưng thực chất có khi còn bị thiệt hại hơn trước.

    Ngoài ra, những ngôn ngữ được diễn đạt trong luật có khi còn gây ra những cách hiểu khác nhau do vậy gây khó khăn cho việc áp dụng luật.

    Tuy nhiên, thực tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy bên cạnh những cái “được”,  những cái “chưa được” còn tồn tại thực trạng gian lận thuế GTGT ở nước ta ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Thực tế, của vấn đề này là xuất phát từ những cái “chưa được” còn tồn tại trong luật thuế GTGT và lợi dụng những kẽ hở trong quản lý. Chỉ riêng gian lận trong việc hoàn thuế, năm 1999 có 4 vụ, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế lên 500 tỷ đồng từ năm 1999. Ngoài ra, tình trạng khai khống hoá đơn, mua bán hoá đơn, sửa đổi hoá đơn ngày càng tăng nhanh làm thất thu nhiều tiền của ngân sách nhà nước. Như công ty Đông Nam đã sửa đổi hoá đơn bán hàng chỉ riêng quý I/2001 đã “rút ruột” nhà nước 50 tỷ đồng. Công ty Vạn Lợi ở Long Xuyên, An Giang đã dùng việc mua bán hoá đơn của Bộ tài chính phát hành đã gây thiệt hại cho nhà nước 26,6 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động.

    Những thực tế đã nêu ở trên xuất phát từ những yếu tổ chưa chặt chẽ của luật thuế GTGT, từ sự lỏng lẻo trong công tác quản lý của các cán bộ có trách nhiệm và từ sự ý thức của người dân chưa cao do họ chưa được giáo dục một cách đầy đủ về pháp luật và họ mong muốn làm giàu bằng mọi giá. Vì vậy, sự điều chỉnh luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là sự đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn này.

    II. Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở nước ta trong thời gian qua

    1. Thực trạng áp dụng thuế ở các doanh nghiệp thương mại

    1.1 Những vấn đề lớn trong áp dụng thuế GTGT ở các doanh nghiệp thương mại.

    Thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong thời gian vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT còn có nhiều vấn đề lớn cần giải quyết. Chính những vấn đề này đã tạo ra kẽ hở cho một số kẻ lợi dụng để vi phạm pháp luật. Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ xác định thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của nhà nước và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ đối với cơ quan chức năng trong việc tính số thuế phải nộp nói riêng và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nói chung.

    Hiện nay, việc quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng được ban hành kèm theo quyết định số 885 có nhiều nội dung không đáp ứng được công tác quản lý thuế, vì vậy, chế độ này đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay chính phủ đã ra nghị định số 89/2002 ngày7/11/2002, quy định trình tự, thủ tục tự in hoá đơn. Hệ thống hoá đơn, chứng từ hợp pháp ở nước ta hiện nay được hình thành từ hai nguồn:

    – Thứ nhất, do Bộ tài chính phát hành

    – Thứ hai, do các cơ sở kinh doanh tự in

    Qua sự phân tích trên chúng ta nhận thấy hoá đơn, chứng từ là một căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng trong sự vận hành của thuế GTGT. Nhưng thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta nói chúng và ở các doanh nghiệp thương mại nói riêng trong thời gian qua cho thấy nạn hoá đơn giả phát triển tới mức báo động và được tồn tại dười nhiều dạng khác nhau.

    Dạng thứ nhât, là hóa đơn in giả hoàn toàn. Nhìn bề ngoài thì loại hoá đơn này giống như hoá đơn GTGT do Bộ tài chính phát hành và chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn người mua và người bán hàng khổng dễ phát hiện. Có những trường hợp mua phải hàng lậu và được cấp hoá đơn giả nhưng khi phát hiện thì người bán hàng đã biến mất nên vừa thiếu cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý vừa không được quyền khấu trừ thuế.

    Dạng thứ hai, là hoá đơn thật do Bộ tài chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị trường mua bán một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể thực hiện bằng cách bán hàng không cần hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống (lẽ ra phải cấp cho khách hàng) đem bán trên thị trường chợ đen hoặc bố cáo giải thể doanh nghiệp nhưng không thanh toán nộp lại hoá đơn và đem bán, hoặc lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, cấp mã số thuế và mua bán hoá đơn GTGT tại cơ quan thuế nhưng không tiến hành sản xuất kinh doanh mà sử dụng hoá đơn đó để kinh doanh bằng cách mua bán vòng vèo để hợp thức hoá số thuế đầu vào sau đó thực hiện khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế.

    Dạng thứ ba, cũng là dạng hoá đơn do Bộ tài chính phát hành được sử dụng khi mua bán hàng hoá nhưng ghi giá thanh toán không đồng nhất hoặc cố tình ghi sai mã số của người bán gây khó khăn cho sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế. Với thủ đoạn này số thuế đầu ra thu được ở người bán thì ít mà số thuế đầu vào phải khấu trừ ở người mua nhiều.

    Dạng thứ tư là cạo sửa hoá đơn mua hàng ghi số tiền cao hơn số thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết toán thuế.

    Dạng thứ năm, lập hóa đơn khống, tức thực tế khôg mua bán hàng hoá nhưng thông đồng với các đơn vị xuất khẩu để kê khai hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu, hoặc mua bán hoá đơn hàng dùng để kê khai khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào.

    Dạng thứ sáu, khi bán hàng hoá, dịch vụ việc lập giao hoá đơn cho khách hàng còn tuỳ tiện, không giao hoặc đòi nâng giá hàng khi giao hoặc giao hoá đơn không hợp pháp để trốn thuế. Đối với khách hàng khi mua hàng cho tổ chức hoặc cá nhân tiêu dùng thường không quan tâm đến việc đòi hoá đơn hợp pháp hoặc chủ động yêu cầu người bán lập hoá đơn với số tiền cao hơn thực tế thanh toán hoặc tự lập hoá đơn thanh toán tiền mua hàng cao hơn để tham ô công quỹ nhà nước.

    • Gian lận thuế GTGT ở các doanh nghiệp Việt Nam. Những con số và sự kiện

    Những hình thức đã được nêu ở phần trên là thực tế tồn tại trong các doanh nghiệp thương nghiệp nói riêng và nước ta nói chung hiện nay. Để chứng minh cho những lý luận ở trên em xin được đưa ra những dẫn chứng cụ thể:

    Hiện nay, lượng hàng hoá trôi nổi, không có nguồn gốc hợp pháp lưu thông trên thị trường nhiều, đặc biệt là các loại hàng hoá phục vụ thiết yếu đời sống của nhân dân. Một số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp ngành thương mại kinh doanh xăng dầu và vật liệu xây dựng…Khi bán hàng, tuỳ tiện trong việc ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ mua của hàng hoá đó, lập hoá đơn trên nhỏ, dưới to, bán hàng không xuất hoá đơn, giao cho khách hàng, không lập bảng kê, không ghi sổ kế toán, không kê khai tính thuế, và dùng khối lượng hàng hoá này để xé rời liên 2, ghi hoá đơn khống cho đối tượng cần hoá đơn GTGT.

    Tổng cục thuế cho biết thời gian gần đây tại một số địa phương đã phát hiện ra nhiều trường hợp liên 2 hoá đơn GTGT của các doanh nghiệp bán thẻ điện thoại, vàng bị cạo sửa để ghi tiền hàng với số lượng lớn làm hoá đơn đầu vào cho các doanh nghiệp khác. Với hình thức gian lận này tư thương đã móc túi ngân sách Nhà nước với số lượng tiền lớn do chênh lệch giữa hai liên hoá đơn GTGT, vì vậy, Tổng cục thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương cần sớm có giải pháp phối hợp với cơ quan công an để giám định về dấu, chữ viết, dấu hiệu cạo sửa, tẩy xoá trên hoá đơn để phát hiện những trường hợp nghi vấn. Vào tháng 1/2003 Tổng cục thuế thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra và phát hiện gian lận thuế tại Công ty Đông Nam. Năm 1999, đơn vị này khai doanh thu 31 tỷ đồng, thuế GTGT là 479 triệu, năm 2000 doanh thu gấp đôi là 68 tỷ đồng, thuế GTGT là 104 triệu, năm 2001 doanh thu là 93 tỷ đồng, thuế GTGT âm 407 triệu đồng, 11 tháng đầu năm 2002 doanh thu vọt lên 137 tỷ đồng nhưng thuế GTGT âm 1,3 tỷ đồng. Điều này là hoàn toàn bất hợp lý vì doanh thu hàng năm tăng sao thuế chỉ thu được số tiền ít ỏi. Năm 1999 truy thu 82 triệu đồng, năm 2000 truy thu 61 triệu đồng. Sai phạm này của công ty Đông Nam mới chỉ được phanh phui vào năm 2003 Đông Nam đã lậu thuế hàng trăm tỷ đồng, “việc dùng bút toán hạ thấp giá trị hàng hoá” để trốn thuế hàng trăm tỷ đồng ở Đông Nam xảy ra từ năm 2000. Chỉ riêng quý I/2001 tiền trốn thuế khoảng 50 tỷ đồng. Thủ đoạn làm ăn chủ yếu là khai thấp giá trị hàng nhập để trốn thuế, bán hàng không hoá đơn GTGT làm Nhà nước thất thu số tiền lớn.

    Thực hiện thông tư số 69/2002/TT-BTC ngày 16/8/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện quyết định số 41/2002/QĐ-TTg ngày 18/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chống thất thu thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp. Năm 2002, cơ quan thuế tổ chức điều tra giá bán thực tế của các cơ sở kinh doanh xe máy trên địa bàn đã phát hiện nhiều doanh nghiệp có số chênh lệch lớn để xử lý và chấn chỉnh tình trạng giá bán trên hoá đơn GTGT giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá bán trên thị trường. Qua tình hình xử lý tình trạng tờ khai thuế GTGT hàng tháng năm 2003 thấy rằng: tình trạng giá bán ghi trên hoá đơn GTGT ở một số doanh nghiệp kinh doanh nhỏ hơn giá bán thực tế để trốn thuế vẫn còn tiếp diễn. Cơ quan thuế lại có công văn yêu cầu các cơ sở kinh doanh thực hiện niêm yết giá bán hàng hoá ở các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu trên từng đơn vị sản phẩm hàng hoá. Trường hợp các mặt hàng nào đó do một nguyên nhân nào đó mà doanh nghiệp xây dựng giá bán hàng hoá bị lỗ hoặc không có hoá đơn GTGT thì phải có đầy đủ hồ sơ chứng minh cụ thể. Nhưng đến nay một số doanh nghiệp vẫn không chấp hàn nghiêm túc, tình trạng trốn thuế qua giá bán của một số doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục. Số thuế kê khai của các doanh nghiệp này không đúng với số phát sinh, thậm chí có doanh nghiệp còn âm thuế, không có số nộp ngân sách. Nguyên nhân gây ra tình trạng này trước hết là do ý thức chấp hành của một số doanh nghiệp bên cạnh đó phần lớn khách hàng không biết được ý đồ trốn lậu thuế của các cơ sở kinh doanh qua giá bán mà chỉ nghĩ ghi hoá đơn thấp để nộp thuế trước bạ ít hơn, nên không đòi hỏi. Tình trạng này đã làm thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước, gây bất bình trong giới kinh doanh và mất công bằng xã hội.

    Tình trạng mua bán hoá đơn do Bộ Tài Chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng được mua bán trên thị trường một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể được thực hiện bằng cáchbán hàng không cấp hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống đem ra bán trên thị trường hoặc trên chợ đen. Vào tháng 1/2002 hợp tác xã Vạn Lợi, thành phố Long Xuyên, An Giang đã bị phát hiện bán hơn 1000 hoá đơn VAT cho 16 tỉnh, Vạn Lợi đã gây thiệt hại cho Nhà nước 26,6 tỷ đồng. Năm 1996, thực hiện luật thuế GTGT, Vạn Lợi được cục thuế cấp 25 cuốn sổ gồm 1250 tờ hoá đơn VAT. Biết chủ trương của chính phủ cho khấu trừ thuế đầu vào cho các doanh nghiệp kinh doanh lương thực, nông sản, thực phẩm, phó chủ nhiệm hợp tác xã đã ký khống hoá đơn và các hợp đồng kinh tế rồi cho “tay chân” đi bán cho các đơn vị có yêu cầu. Từ tháng 1 đến tháng 9/1999, đã bán trên 1000 hoá đơn với tổng doanh số hơn 553 tỷ đồng: gây thiệt hại cho  Nhà nước gần 26,6 tỷ đồng. Qua việc mua bán hoá đơn họ đã bỏ túi kẻ nhiều nhất hơn 2,8 tỷ đồng và kẻ ít nhất là 2,9 triệu đồng. Vào tháng 6/2003 cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình vừa được chuyển hồ sơ, đề nghị VKSND truy tố 6 nhóm tội phạm với tội danh mua bán hoá đơn GTGT. Trong đó có chủ mưu Trần Văn Sở, nguyên cán bộ chi cục thuế thị xã Thái Bình cùng một số cán bô thuế và Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh. Theo kết quả điều tra năm 2000-2002, vợ chồng Sở đăng ký thành lập 34 công ty “ma”để mua bán hoá đơn VAT. Họ bán số hoá đơn trị giá 140 tỷ đồng giúp nhiều doanh nghiệp khác được hoàn thuế 10 tỷ đồng. Từ tháng 9/2000 đến tháng 9/2002, họ đã bán hơn 19,000 hoá đơn cho 700 đơn vị ở 22 tỉnh thành. Tổng số tiền ghi khống gần 1130 tỷ đồng.

    Về vấn đề hoàn thuế GTGT, đây là một vấn đề nổi cộm, một vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý bởi cả tính chất phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ cuả nghiệp vụ hoàn thuế GTGT và với sự chắp vá của các văn bản pháp luật. Lợi dụng những kẽ hở trong luật mà doanh nghiệp thường có các thủ đoạn sau: trước hết, doanh nghiệp chế biến tổ chức thu mua nông sản của nông dân để sơ chế sau đó bán lại cho doanh nghiệp xuất khẩu. Khi mua nông sản từ nông dân, doanh nghiệp chế biến sẽ lập bảng kê hàng hoá mua vào trong đó có đầy đủ các thông tin: số lượng, giá trị các mặt hàng đã mua, ngày tháng mua, địa chỉ của người bán. Nhưng những thông tin này đều do doanh nghiệp “tự vẽ ra”và được sắp xếp rất tinh vi như lập hoá đơn qua nhiều khâu nhiều công đoạn ở nhiều địa phương khác nhau để tránh sự kiểm tra kiểm soát, đối chiếu bảng kê, hoá đơn của cơ quan thuế. Khi “bán” nông sản đã qua “sơ chế” cho doanh nghiệp xuất khẩu thì doanh nghiệp chế biến sẽ xuất hoá đơn cho doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó cũng ghj đầy đủ các thông số: giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng giá thanh toán. Những thông tin này bịa đặt và các doanh nghiệp xuất khẩu đều thực hiện xuất khẩu qua biên giới đất liền.

    Tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu mở tờ khai hải quan về hàng nông sản đã xuất khẩu gửi cho cơ quan hải quan kèm theo hợp đồng mua bán nông sản. Ký với bên nhập khẩu, hoá đơn GTGT bán hàng cho nước ngoài, chứng từ thanh toán hoặc xác nhận thanh toán của khách hàng nước ngoài để chứng minh hàng hoá đã được xuất khẩu.Việc chứng minh này được thực hiện bằng cách câu kết với phía nước ngoài lập các hợp đồng kinh tế, các hoá đơn GTGT, chứng từ thanh toán khống. Sau đó sử dụng hàng kém phẩm chất hoặc mượn hàng của tư thương dán nhãn hàng xuất khẩu rồi xuất qua cửa khẩu trước sự làm ngơ của nhân viên hải quan vì đã bị mua chuộc hoặc thậm chí không có một gam hàng nào được xuất khẩu qua cửa khẩu. Sau khi ra khỏi cửa khẩu, số “nông sản xuất khẩu” này có thể được trở lại Việt Nam theo các con đường khác nhau để xuất khẩu tiếp.

    Sau đó doanh nghiệp hoàn tất hồ sơ hoàn thuế gồm công văn đề nghị hoàn thuế, bảng kê khai tổng hợp số thuế đầu vào, bảng kê hàng hoá mua vào, bán ra gửi cơ quan thuế.

    Theo thống kê của tổng cục thuế đến 30/9/2002, cục thuế các tỉnh thành phố đã nhận được 30.340 bộ hồ sơ xin hoàn thuế với số tiền thuế đề nghị hoàn là 18.054 tỷ đồng. Kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế đã loại trừ 4.272 hồ sơ có dấu hiệu sai phạm (chiếm 14% hồ sơ gửi đến) với số tiền 343 tỷ đồng (17,4% số tiền đề nghị hoàn). Với hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan thuế xử lý hoàn cho 16.341 trường hợp với số tiền hoàn thuế là 14.915 tỷ đồng trong đó hoàn thuế cho hàng xuất khẩu chiếm 80%. Số thuế hoàn cho hàng nông, lâm thủy sản chiếm 5%-7% tổng số tiền hoàn. Đặc biệt số vụ lừa đảo hoàn thuế không ngừng tăng lên trong các năm. Nếu như năm 1999, các cơ quan chức năng chỉ phát hiện được 4 vụ, năm 2000 phát hiện được 17 vụ thì năm 2001 đã phát hiện được 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế VAT bị chiếm đoạt là 500 tỷ đồng. Tính đến tháng 11 năm 2003, số doanh nghiệp vi phạm trong việc hoàn thuế GTGT là 140 doanh nghiệp, số tiền hoàn thuế bị gian lận và có dấu hiệu gian lận là 322,4 tỷ đồng, ngoài ra vi phạm về hoá đơn GTGT là 133 vụ, các vi phạm về hành chính thuế là 140 tỷ đồng.Tổng số tiền thu hồi được là 331,5 tỷ đồng. Tuy nhiên tổng số tiền có dấu hiệu gian lận của cơ quan điều tra là 192,5 tỷ đồng. Tuy nhiên trong số này có 42,8 tỷ đồng của 22 doanh nghiệp đã phá sản hoặc giám đốc bỏ trốn. Khó có khả năng thu được. Trong vấn đề này bọn tội phạm đã sử dụng nhiều hình thức tinh vi để qua mặt cán bộ quản lý. Vào tháng 12/2003, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tuyên phạt Trần Văn Thắng, chủ nhiệm Hợp tác xã Việt Thắng thành phố Hải Dương, án tù chung thân do gian lận trong việc xuất hàng sang Trung Quốc nhằm chiếm đoạt gần 5 tỷ đồng tiền thuế. Theo nhận định từ tháng 11/2000 đến tháng 3/2001, Việt Thắng đã gửi 5 lần hồ sơ xin hoàn thuế GTGT 9,2 tỷ đồng. Hồ sơ thể hiện HTX đã ký 11 hợp đồng xuất sang Trung Quốc 30.000 tấn hàng nông, lâm, hải sản tổng trị giá 45 tỷ đồng. Khi xác minh cơ quan chức năng phát hiệnhàng thực xuất chỉ 200 triệu đồng. Trong vụ án này, vợ ông chủ tịch HTX là Phạm Thị Nga tham gia bằng cách lo đầu ra cho số hàng “ảo”. Bà Nga đã tìm được 14 chữ ký của các doanh nghiệp Trung Quốc nhập hàng Giám đốc của một doanh nghiệp tư nhân ở Lào Cai, bà Trần thị Mai Luận cũng liên can do tiếp tay hợp thức hoá chứng từ giả. Các hoá đơn này thể hiện hàng của Hợp Tác Xã Việt Thắng được vận chuyển sang Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai.

    Ngoài ra, dù ai có “thờ ơ với thời cuộc” đến mấy thì cũng không khỏi giật mình xót xa trước những sự việc: Nguyễn Duy Thiện (28 tuổi) đã thành lập tới 30 công ty ma ở khắp Nam Bắc phát hành hoá đơn GTGT khống với doanh số thống kê ban đầu lên tới 674,7 tỷ đồng để rút ruột ngân sách Nhà nước gần 35 tỷ đồng; vợ chồng Nguyễn Thị hoa, Trần Văn Sở ở Thái Bình đã thành lập 12 công ty “ma” để thiết kế đường dây chiếm đoạt thuế GTGT lên tới 10 tỷ đồng; công ty xuất khẩu I tại Đà Nẵng thuộc Bộ Thương Mại có trụ sở tại Hà nội móc nối với một số công ty TNHH khác làm khống hoá đơn xuất khẩu các mặt hàng nông sản sang Trung Quốc để chiếm đoạt 27 tỷ đồng tiền hoàn thuế GTGT, Hoàng Văn Vinh, Cao Hoành Minh, Lục Văn Dê nguyên là các cán bộ công ty  TNHH Kiều Phương thành phố HCM đã móc nối với một số cán bộ hải quan các cửa khẩu thuộc tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang lập 37 bộ hồ sơ chứng từ khống xuất khẩu 1.014 tấn hải sản khô với tổng giá trị là 158 tỷ đồng, đồng thời móc nối với 19 doanh nghiệp khác ở thành phố HCM, các tỉnh Long An, Tây Ninh làm phiếu nhập khống hoá đơn bán hàng cho công ty cơ khí điện máy sau đó làm hồ sơ xin hoàn thuế. Tháng 7/2001, nhóm người này đã rút 7,5 tỷ đồng hoàn thuế để chia nhau. Công ty Việt Hải ở Hải Phòng bán hoá đơn khống không có hàng cho 11 đơn vị tại các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Giang, Hà Nội để các doanh nghiệp này lập chứng từ hoá đơn “rút ruột” Nhà nước tiền hoàn thuế GTGT khoảng 8 tỷ 883 triệu đồng.

    Biểu 6. Biểu đồ về số vụ lừa đảo hoàn thuế qua các năm

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy tình trạng gian lận về hoàn thuế tăng lên với tốc độ khá nhanh từ 4 vụ năm 1999 đến 17 vụ năm 2000, 64 vụ năm 2001 và 46 vụ với 6 tháng đầu năm 2002 đã được phát hiện. Với con số này chứng tỏ sự thách thức của những kẻ phạm tội đối với nhà quản lý. Chúng đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để qua mặt cán bộ quản lý, sự tăng lên nhanh chóng của số vụ gian lận cũng chứng tỏ chúng đã khá tinh vi trong việc sử dụng các mánh khoé. Thực trạng trên khiến các nhà làm luật và các nhà quản lý không thể khoanh tay đứng nhìn.

    Những con số biết nói ở trên đã phần nào nói lên được tình trạng của nước ta hiện nay trong vấn đề thực hiện thuế GTGT. Nhìn vào thực tế đó thì các nhà chức trách không thể khoanh tay đứng nhìn mà cần bắt tay ngay vào việc chống gian lận thuế GTGT một cách tích cực hơn nữa trong thời gian tới.

    II. Nguyên nhân của gian lận thuế GTGT

    1.  Về phía chính quyền

    Tình trạng gian lận thuế GTGT ngày càng có xu hướng tăng nhanh với nhiều hình thức ngày càng tinh vi để qua mặt các nhà quản lý. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể là nguyên nhân chủ quan, có thể là nguyên nhân khách quan nhưng có một số nguyên nhân cơ bản sau:

    Thứ nhất, do chính sách, pháp luật quy định diện được hoàn thuế rộng, cho phép khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ 0% tính theo giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê đối với nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến mua của người không có hoá đơn GTGT; không quy định việc xác nhận lý lịch tư pháp của người thành lập và quản lý doanh nghiệp, vì vậy hàng loạt các doanh nghiệp “hữu danh vô thực” ra đời. Đi kèm với những doanh nghiệp này là hàng vạn hoá đơn khống được phát hành vô tội vạ để cung cấp cho hoạt động “kinh doanh hoá đơn GTGT”. Sau khi thu được những “món hời” bất chính, những doanh nghiệp này làm thủ tục giải thể hoặc biến mất.

    Thứ hai, do trình độ quản lý chưa tương xứng với yêu cầu của công tác quản lý, vì vậy các cơ quan quản lý bị các doanh nghiệp “qua mặt” một cách dễ dàng; thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng với cơ quan thuế; giữa cơ quan thuế với cơ quan hải quan; giữa cơ quan thuế, cơ quan hải quan với cơ quan công an, biên phòng, quản lý thị trường…nên không phát hiện được và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận.

    Thứ ba, do công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức chưa đuợc quan tâm đúng mức dẫn tới sự tha hoá biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức như nhận hối lộ tiếp tay bao che cho hành vi gian lận của các doanh nghiệp.

    Thứ tư, do ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế và nhận thức của người dân về thuế còn hạn chế, kỷ cương về thuế còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp chỉ vì chạy theo đồng tiền mà bất chấp pháp luật bất chấp đạo lý, bất chấp kỷ cương thuế miễn sao thu được nhiều lợi nhuận.

    Thứ năm, do áp dụng cơ chế “tiền thoái hậu kiểm”, cơ chế này được áp dụng nhằm phục vụ chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi về vốn ho các doanh nghiệp phát triển sản xuất cũng như đề cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế. Nhưng mặt trái của cơ chế này là chi phí quản lý hành chính thuế sẽ tăng lên nhiều cho việc “hậu kiểm” và đây cũng sẽ là gánh nặng quá sức cho cán bộ thuế đồng thời gây không ít sức ép cho ngành.

     

    Chương III

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

     

    I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT

    1. Tính tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế thực hiện

    Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là một tất yếu.

    Bản thân nền kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển  cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.  Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là năng cao  vai trò của các thuế gián thu trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để nâng cao vai trò bù đắp sự suy giảm nguồn thu ngân sách của nhà nước.

    Trong xu hướng toàn cấu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi hỏi điều chỉnh phát luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.

    Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế – xã hội này đã đặt ra nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ Internet đứng ở góc độ quản lý có cả những thuận lợi và khó khăn. Trước hết, sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.

    Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Toàn cầu hoá với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hội và đặc biệt giao dịch thông qua các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn mua bán hoặc chuyển nhượng v..v…Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào ? Quản lý ra sao ? Sự ra đời và phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.

    Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho thấy,  sau hơn 4 năm triển khai áp dụng luật thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu,  tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho ra đời một luật thuế GTGT hiện đại.

    2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

    Trước hết, pháp luật thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không ? và chỉ khi phản ánh đúng bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT.

    Mở rộng và nâng cao quy mô của luật thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công…..

    Hoàn thiện luật thuế GTGT phải gắn liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau của cả hệ thống pháp luật thuế.

    Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp luật thuế GTGT.

    Để áp dụng thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

    Thứ nhất, cải cách thể chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.

    Thứ hai, cải cách bộ máy hành chính thuế gồm:

    • Cải cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
    • Cải cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ từng cơ quan thuế.
    • Cải tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.

    Thứ ba, xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực được.

    Thứ tư, cải cách chế độ tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công việc hành thu.

     

    1.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT

    1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý thuế

    Trên thế giới do đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi quốc gia có một hình thức tổ chức bộ máy quản lý thuế khác nhau. Tuy vậy, khi xây dựng bộ máy quản lý thuế các nhà nước phải giải quyết các vấn để cơ bản sau:

    • Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với chính quyền địa phương.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với hải quan.
    • Mô hình tổ chức bộ máy thuế ở các địa phương.

    Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính: trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế vấn đề đặt ra trước tiên là vị trí và quan hệ giữa cơ quan thuế với Bộ tài chính, cơ quan thuế là bộ phận trực thuộc Bộ tài chính hay là một tổ chức độc lập với Bộ tài chính. Trên thế giới hiện có hai mô hình điều hành ngân sách nhà nước. Mô hình thứ nhất là Bộ trưởng bộ tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về thu chi ngân sách, trong mô hình này cơ quan thuế là một tổ chức trực thuộc Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế báo cáo công tác trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ tài chính. Mô hình thứ hai là mô hình hội đồng các bộ trưởng độc lập: Bộ trưởng Bộ thu ngân sách và Bộ trưởng Bộ chi ngân sách cơ quan thuế được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ.

    Mối quan hệ của cơ quan thuế với chính quyền địa phương: là một vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy ngành thuế bởi vì trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thi hành pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương các cấp. Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật cua dân cư thấp.

    Mối quan hệ của ngành thuế với ngành hải quan: trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập chung, ngành thuế và ngành hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập. Mô hình ngoại thương chỉ giới hạn trong các nước XHCN. Hải quan giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch xuất khẩu, trao đổi hàng hoá. Hiện nay tại các nước chuyển đổi, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chính sách quản lý ngoại thương bằng hạn ngạch được thay bằng chính sách điều tiết xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu. Với chính sách điều tiết xuất nhập khẩu, ngành hải quan lúc này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu.

    Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương: Tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế. Do đó, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế ở các địa phương tối ưu là vấn đề có tính chiến lược ở các quốc gia.

     

    1.2.2 Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

    Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế  đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số doanh nghiệp đã kiểm tra. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng nhiều cách:

    * Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt: thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế.

    * Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định  ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.

    * Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra, kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

    * Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra, thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.

    * Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu khống.

     

    1.2.3 Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học

    Trong công cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:

    Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo dõi nợ đọng, quyết toán thuế.

    Thứ hai, ưu tiên cung cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục thuế, chi cục thuế.

    Thứ ba, cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang làm việc ở các phòng ban khác.

    Thứ tư, thực hiện nối mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.

     

    1.2.4 Tăng cường công tác quản lý chứng từ, hoá đơn giá trịn gia tăng.

    Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT, như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn, những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý.  Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện pháp:

    Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại hơn.

    Thứ hai, nhà nước cần công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn khi mua hàng.

     

    1.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế

    Tư vấn thuế là hoạt động trong đó các chuyên gia về pháp luật thuế cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp về lĩnh vực thuế cho đối tượng nộp thuế có nhu cầu để họ thực hiện nghĩa vụ phù hợp vơí nhà nước.

    Tư vấn thuế gồm 2 dạng:

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ công, với danh nghĩa này tư vấn thuế là một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế.

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ tư, đây là một hoạt động dịch vụ có thu, các đối tượng nộp thuế có nhu cầu phải trả dịch vụ phí cho mỗi hoạt động tư vấn.

    Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tư vấn thuế có một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với xã hội.

    Đối với doanh nghiệp, thông qua tư vấn thuế chu doanh nghiệp có được các thông tin cần thiết về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có thể hạch toán đầy đủ các chi phí và tính toán một cách chính xác tiền lãi của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Tư vấn thuế còn có vai trò đào tạo, bổ sung, cập nhật những kiến thức thường xuyên về thuế cho chủ doanh nghiệp sau mỗi sự thay đổi của luật thuế hoặc khi chủ doanh nghiệp thay đổi mặt hàng, phương thức sản xuất kinh doanh.

    Xét trên phạm vi toàn xã hội, tư vấn thuế là kênh thông tin hai chiều giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Vì vậy, nhà tư vấn thuế để giúp cho việc giải thích, tuyên truyền các chính sách,  pháp luật thuể để nâng cao nhận thức của mỗi người đối với nghĩa vụ thuế, qua đó cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp tiền thuế và các khoản thu khác theo luật định, tạo điều kiện duy trì kỷ cương xã hội. Vì vậy, tư vấn thuế là một công việc cần thiết, khách quan, một công việc tiến hành thường xuyên của cơ quan thuế.

    II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT

    1.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT

    Về đối tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ, sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong luật thuế GTGT. Ví dụ như có thể dùng thuật ngữ “nghiệp vụ chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT  bằng cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá, dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu thuế GTGT.

    Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

     

    1.2 Bổ sung một số quy định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không xác định cụ thể phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT nên trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã xảy ra những tranh chấp giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế do không đồng nhất quan điểm với nhau trong nhận thức. Vì vậy, để xác định phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối, chuẩn xác cần quy định rõ thế nào là ở Việt Nam. ở Việt Nam tức là nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam: vùng đất, vùng trời, vùng nước và vùng trong lòng đất. Trong phạm vi đó nhà nước Việt Nam  có toàn quyền quyết định tối cao. Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc tất cả các hoạt động chuyển giao hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu thuế GTGT ở Việt Nam.

     

    1.3 Quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT trong pháp luật thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT nên trên thực tế đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hành thu thuế và không ít tranh chấp xảy ra giữa cán bộ thuế và nộp thuế khi giải thích về vấn đề này. Để giải quyết triệt để vấn đề này cũng như đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT thì trong pháp luạat thuế GTGT cần phải xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Khi xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

    + Nguyên tắc công bằng

    + Nguyên tắc hiệu quả và thuận tiện

    + Nguyên tắc chắc chắn và chính xác

    + Nguyên tắc không được võ đoán.

    1.4 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế

    Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà nước.

    Về thuế suất, lý luận về thuế GTGT cũng như thực tiễn áp dụng thuế GTGT từ thập kỷ 80 người ta nhận thấy rằng nếu thuế GTGT càng ít thuế suất càng dễ áp dụng. áp dụng thuế GTGT với một thuế suất thống nhất khặc phục được nguy cơ gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất 5% và 10% (không tính mức thuế suất 0%). Trong tương lai sẽ áp dụng hệ thống mức thuế suất 7% và 10%.

    Về phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Bên cạnh phương pháp này pháp luật thuế GTGT cũng cần quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch toán và khấu trừ.

    1.5 Cần chuẩn hóa và sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

    Về khấu trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:

    Thứ nhất, để đảm bảo những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:

    + Chỉ khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT

    + Có thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống

    + Mua hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp pháp thì không được khấu trừ.

              Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu trừ toàn bộ hay một phần.

    Thứ ba, quy định cụ thể các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.

    Thứ tư, để đảm bảo quyền đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.

    Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong luật thuế GTGT. Mặt khác, nên thu hẹp diện hoàn thuế, chỉ áp dụng hoàn thuế cho các đối tượng:

    + Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

    + Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định

    Các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT. Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế.

     

    1.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT

    Về đăng ký thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký thuế để khắc phục những vướng mắc.

    Một là, lập  quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như sự phức tạp trong quản lý.

    Hai là, mã tình trạng nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động.

    Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm luật thuế.

    Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh nghiệp…

    III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong luật thuế GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như sau:

    Không quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

    Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được miễn trừ thuế GTGT”

    Đưa khoản 3, khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.

    Để loại bỏ, thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, luật thuế GTGT cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành “đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT”…

    Để tính toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 luật thuế GTGT, tức là bỏ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán.

    Để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp được hoàn thuế GTGT phải quy định cụ thể, chính xác trong luật thuế GTGT  vì vậy, có kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của luật thuế GTGT về hoàn thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:

    1. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
    3. Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn đầu ra theo ngưỡng do pháp luật quy định, nếu dưới ngưỡng đó tiếp tục chuyển kỳ sau để khấu trừ. Ngưỡng được hoàn thuế do chính phủ quy định.

    Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được hoàn theo quý hoặc theo năm”

    Quy định “thời hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

    Qua thực tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT ở nước ta về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có đầy đủ các bộ phận (các nhóm quy phạm pháp luật) hợp thành của pháp luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp luật này được biểu hiện dưới các hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công văn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các quy định của thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng.

    Trong quá trình xây dựng, triển khai luật thuế GTGT ở nước ta thể hiện sự nhận thức đúng đắn, tính phức tạp của thuế GTGT, nhất là kỹ thuật tính và thu thuế GTGT, nên bước đầu về cơ bản đã xác định được một cơ chế điều chỉnh thích hợp trong bối cảnh những điêù kiện để phát huy hiệu quả của sắc thuế này là chưa thực sự đầy đủ. Song quá trình xây dựng cũng như triển khai thực hiện đã có nhiều vấn đề vướng mắc phát sinh, vì lẽ đó mà các văn bản pháp luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung liên tục để đáp ứng những yêu cầu của đời sống xã hội luôn vận động phát triển cũng như yêu cầu của công tác quản lý thuê GTGT.

    Cũng qua quá trình triển khai thuế GTGT nhiều vấn đề nảy sinh khiến các nhà làm luật cũng như các cơ quan chức năng phải đau đầu. Sự thiếu sót trong luật cũng như trong quản lý khiến những kẻ cơ hội bắt chấp sự trừng phạt của pháp luật để tìm cách “lách luật” vi phạm pháp luật. Tình trạng gian lận thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua không còn là sự mới mẻ, nó ngày càng phát triển mạnh hình thức đa dạng hơn, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Chính những thực tế đó đòi hỏi phải có một bộ luật hoàn chỉnh hơn, một bộ máy quản lý làm việc có hiệu quả hơn để ngăn chặn tình trạng gian lận thuế GTGT trong xã hội hiện nay. Đây cũng là yêu cầu đòi hỏi của xã hội hiện nay để xây dựng một xã hội văn minh tiên tiến những vẫn giữ bản sắc dân tộc.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Giáo trình kinh tế thương mại đại học kinh tế quốc dân.
    2. Giáo trình quản trị doanh nghiệp thương mại đại học kinh tế quốc dân.
    3. Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2003 – 2004.
    4. Quyết định số 468/TC-QĐ/TCT của Bộ trưởng Bộ tài chính.
    5. Tài liệu hội nghị sơ kết một năm thực hiện các luật thuế mới ngày 24/04/2000.
    6. Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện các chính sách thuế mới ba năm từ năm 1999 đến năm 2001.
    7. Nghị định số 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.
    8. Luật thuế GTGT, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1997.
    9. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 247
    10. Báo nhân dân ngày 23/05/2002.
    11. Báo an ninh thế giới số 58 ngày 15/08/2002.
    12. Tạp chí tài chính số 2 năm 2002.
    13. Thông tư 122/2000/TT-BTC
    14. Tạp chí thuế nhà nước số 12.
    15. Giáo trình quản lý hành chính nhà nước nhà xuất bản lao động.
    16. Website của Tổng cục thuế và Bộ tài chính.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.Vấn đề áp dụng thuế GTGT ở các DNTM nói riêng và của nước ta còn nhiều bất cập.

    Một là, đối tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong  qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.

    Phạm vi đối tượng nộ thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong quản lý hành chính thuế.

    Hai là, căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

    Ba là việc quy định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.

    Bốn là quy định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực hiện.

    Năm là xác định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ, nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.

    Sáu là cơ chế thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện.

    Bảy là hoá đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.

    Những bất cập trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giả pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

    1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT
    2. Tính tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế thực hiện

    Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là một tất yếu.

    Bản thân nền kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển  cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.  Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là năng cao  vai trò của các thuế gián thu trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để nâng cao vai trò bù đắp sự suy giảm nguồn thu ngân sách của nhà nước.

    Trong xu hướng toàn cấu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi hỏi điều chỉnh phát luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.

    Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế – xã hội này đã đặt ra nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ Internet đứng ở góc độ quản lý có cả những thuận lợi và khó khăn. Trước hết, sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.

    Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Toàn cầu hoá với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hội và đặc biệt giao dịch thông qua các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn mua bán hoặc chuyển nhượng v..v…Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào ? Quản lý ra sao ? Sự ra đời và phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.

    Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho thấy,  sau hơn 4 năm triển khai áp dụng luật thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu,  tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho ra đời một luật thuế GTGT hiện đại.

    1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

    Trước hết, pháp luật thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không ? và chỉ khi phản ánh đúng bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT.

    Mở rộng và nâng cao quy mô của luật thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công…..

    Hoàn thiện luật thuế GTGT phải gắn liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau của cả hệ thống pháp luật thuế.

    Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp luật thuế GTGT.

    Để áp dụng thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

    Thứ nhất, cải cách thể chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.

    Thứ hai, cải cách bộ máy hành chính thuế gồm:

    • Cải cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
    • Cải cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ từng cơ quan thuế.
    • Cải tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.

    Thứ ba, xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực được.

    Thứ tư, cải cách chế độ tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công việc hành thu.

     

    1.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT

    1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý thuế

    Trên thế giới do đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi quốc gia có một hình thức tổ chức bộ máy quản lý thuế khác nhau. Tuy vậy, khi xây dựng bộ máy quản lý thuế các nhà nước phải giải quyết các vấn để cơ bản sau:

    • Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với chính quyền địa phương.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với hải quan.
    • Mô hình tổ chức bộ máy thuế ở các địa phương.

    Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính: trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế vấn đề đặt ra trước tiên là vị trí và quan hệ giữa cơ quan thuế với Bộ tài chính, cơ quan thuế là bộ phận trực thuộc Bộ tài chính hay là một tổ chức độc lập với Bộ tài chính. Trên thế giới hiện có hai mô hình điều hành ngân sách nhà nước. Mô hình thứ nhất là Bộ trưởng bộ tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về thu chi ngân sách, trong mô hình này cơ quan thuế là một tổ chức trực thuộc Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế báo cáo công tác trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ tài chính. Mô hình thứ hai là mô hình hội đồng các bộ trưởng độc lập: Bộ trưởng Bộ thu ngân sách và Bộ trưởng Bộ chi ngân sách cơ quan thuế được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ.

    Mối quan hệ của cơ quan thuế với chính quyền địa phương: là một vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy ngành thuế bởi vì trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thi hành pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương các cấp. Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật cua dân cư thấp.

    Mối quan hệ của ngành thuế với ngành hải quan: trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập chung, ngành thuế và ngành hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập. Mô hình ngoại thương chỉ giới hạn trong các nước XHCN. Hải quan giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch xuất khẩu, trao đổi hàng hoá. Hiện nay tại các nước chuyển đổi, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chính sách quản lý ngoại thương bằng hạn ngạch được thay bằng chính sách điều tiết xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu. Với chính sách điều tiết xuất nhập khẩu, ngành hải quan lúc này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu.

    Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương: Tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế. Do đó, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế ở các địa phương tối ưu là vấn đề có tính chiến lược ở các quốc gia.

    1.2.2 Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

    Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế  đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số doanh nghiệp đã kiểm tra. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.  Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng nhiều cách:

    * Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt: thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế.

    * Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định  ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.

    * Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra, kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

    * Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra, thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.

    * Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu khống.

    1.2.3 Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học

    Trong công cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:

    Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo dõi nợ đọng, quyết toán thuế.

    Thứ hai, ưu tiên cung cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục thuế, chi cục thuế.

    Thứ ba, cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang làm việc ở các phòng ban khác.

    Thứ tư, thực hiện nối mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.

    1.2.4 Tăng cường công tác quản lý chứng từ, hoá đơn giá trịn gia tăng.

    Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT, như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn, những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý.  Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện pháp:

    Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại hơn.

    Thứ hai, nhà nước cần công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn khi mua hàng.

    1.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế

    Tư vấn thuế là hoạt động trong đó các chuyên gia về pháp luật thuế cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp về lĩnh vực thuế cho đối tượng nộp thuế có nhu cầu để họ thực hiện nghĩa vụ phù hợp vơí nhà nước.

    Tư vấn thuế gồm 2 dạng:

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ công, với danh nghĩa này tư vấn thuế là một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế.

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ tư, đây là một hoạt động dịch vụ có thu, các đối tượng nộp thuế có nhu cầu phải trả dịch vụ phí cho mỗi hoạt động tư vấn.

    Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tư vấn thuế có một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với xã hội.

    Đối với doanh nghiệp, thông qua tư vấn thuế chu doanh nghiệp có được các thông tin cần thiết về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có thể hạch toán đầy đủ các chi phí và tính toán một cách chính xác tiền lãi của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Tư vấn thuế còn có vai trò đào tạo, bổ sung, cập nhật những kiến thức thường xuyên về thuế cho chủ doanh nghiệp sau mỗi sự thay đổi của luật thuế hoặc khi chủ doanh nghiệp thay đổi mặt hàng, phương thức sản xuất kinh doanh.

    Xét trên phạm vi toàn xã hội, tư vấn thuế là kênh thông tin hai chiều giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Vì vậy, nhà tư vấn thuế để giúp cho việc giải thích, tuyên truyền các chính sách,  pháp luật thuể để nâng cao nhận thức của mỗi người đối với nghĩa vụ thuế, qua đó cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp tiền thuế và các khoản thu khác theo luật định, tạo điều kiện duy trì kỷ cương xã hội. Vì vậy, tư vấn thuế là một công việc cần thiết, khách quan, một công việc tiến hành thường xuyên của cơ quan thuế.

    II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT

    1.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT

    Về đối tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ, sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong luật thuế GTGT. Ví dụ như có thể dùng thuật ngữ “nghiệp vụ chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT  bằng cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá, dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu thuế GTGT.

    Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

     

    1.2 Bổ sung một số quy định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không xác định cụ thể phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT nên trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã xảy ra những tranh chấp giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế do không đồng nhất quan điểm với nhau trong nhận thức. Vì vậy, để xác định phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối, chuẩn xác cần quy định rõ thế nào là ở Việt Nam. ở Việt Nam tức là nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam: vùng đất, vùng trời, vùng nước và vùng trong lòng đất. Trong phạm vi đó nhà nước Việt Nam  có toàn quyền quyết định tối cao. Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc tất cả các hoạt động chuyển giao hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu thuế GTGT ở Việt Nam.

     

    1.3 Quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT trong pháp luật thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT nên trên thực tế đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hành thu thuế và không ít tranh chấp xảy ra giữa cán bộ thuế và nộp thuế khi giải thích về vấn đề này. Để giải quyết triệt để vấn đề này cũng như đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT thì trong pháp luật thuế GTGT cần phải xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Khi xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

    + Nguyên tắc công bằng

    + Nguyên tắc hiệu quả và thuận tiện

    + Nguyên tắc chắc chắn và chính xác

    + Nguyên tắc không được võ đoán.

    1.4 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế

    Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà nước.

    Về thuế suất, lý luận về thuế GTGT cũng như thực tiễn áp dụng thuế GTGT từ thập kỷ 80 người ta nhận thấy rằng nếu thuế GTGT càng ít thuế suất càng dễ áp dụng. áp dụng thuế GTGT với một thuế suất thống nhất khặc phục được nguy cơ gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất 5% và 10% (không tính mức thuế suất 0%). Trong tương lai sẽ áp dụng hệ thống mức thuế suất 7% và 10%.

    Về phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Bên cạnh phương pháp này pháp luật thuế GTGT cũng cần quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch toán và khấu trừ.

    1.5 Cần chuẩn hóa và sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

    Về khấu trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:

    Thứ nhất, để đảm bảo những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:

    + Chỉ khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT

    + Có thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống

    + Mua hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp pháp thì không được khấu trừ.

              Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu trừ toàn bộ hay một phần.

    Thứ ba, quy định cụ thể các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.

    Thứ tư, để đảm bảo quyền đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.

    Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong luật thuế GTGT. Mặt khác, nên thu hẹp diện hoàn thuế, chỉ áp dụng hoàn thuế cho các đối tượng:

    + Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

    + Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định

    Các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT. Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế.

     

    1.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT

    Về đăng ký thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký thuế để khắc phục những vướng mắc.

    Một là, lập  quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như sự phức tạp trong quản lý.

    Hai là, mã tình trạng nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động.

    Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm luật thuế.

    Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh nghiệp…

    III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong luật thuế GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như sau:

    Không quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

    Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được miễn trừ thuế GTGT”

    Đưa khoản 3, khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.

    Để loại bỏ, thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, luật thuế GTGT cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành “đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT”…

    Để tính toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 luật thuế GTGT, tức là bỏ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán.

    Để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp được hoàn thuế GTGT phải quy định cụ thể, chính xác trong luật thuế GTGT  vì vậy, có kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của luật thuế GTGT về hoàn thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:

    1. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
    3. Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn đầu ra theo ngưỡng do pháp luật quy định, nếu dưới ngưỡng đó tiếp tục chuyển kỳ sau để khấu trừ. Ngưỡng được hoàn thuế do chính phủ quy định.

    Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được hoàn theo quý hoặc theo năm”

    Quy định “thời hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.

    Lời mở đầu

    Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.

    Thực trạng tình hình thực hiện thuế ở nước ta sau hơn 4 năm áp dụng cho thấy các vụ gian lận trong thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động cho toàn xã hội. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và từ đầu năm 2002 đến khoảng tháng 6 năm 2002 đã phát hiện 63 vụ, nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên 500 tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.

    Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu các mặt trái của thuế GTGT và đưa ra các biện pháp để giảm tối đa những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những điều đó em đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa”.

    Cụ thể bài viết gồm những nội dung chủ yếu sau:

    Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong kinh doanh

    Chương II: Thực trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

    Chương III: Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

                  BIỂU ĐỒ DỰ TOÁN THU THUẾ GTGT NĂM 2002

     

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

      XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    DỰ TOÁN 2003 9154 3592 4228 2264 19238
    ƯỚC QI/2003 2205 870 1175 619 4869

    Nguồn thu từ thuế của Nhà nước tập trung chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh. Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách nhà nước luôn chiếm trên 45% (năm 2003 là 47%, trong tổng số thu từ tất cả các ngành). Đứng sau xí nghiệp quốc doanh là NQD 22%, XNĐT 19và XS 12%. Nhìn chung tỷ lệ đóng góp này tương đối ổn định.

    BIỂU ĐỒ VỀ SỐ VỤ LỪA ĐẢO HOÀN THUẾ QUA CÁC NĂM

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy tình trạng gian lận về hoàn thuế tăng lên với tốc độ khá nhanh từ 4 vụ năm 1999 đến 17 vụ năm 2000, 64 vụ năm 2001 và 46 vụ với 6 tháng đầu năm 2002 đã được phát hiện. Với con số này chứng tỏ sự thách thức của những kẻ phạm tội đối với nhà quản lý. Chúng đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để qua mặt cán bộ quản lý, sự tăng lên nhanh chóng của số vụ gian lận cũng chứng tỏ chúng đã khá tinh vi trong việc sử dụng các mánh khoé. Thực trạng trên khiến các nhà làm luật và các nhà quản lý không thể khoanh tay đứng nhìn.

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

    Chỉ tiêu XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    Thu VAT 6895 2254 3173 1630 13.952

    TÌNH HÌNH THU THUẾ VAT CỦA NGÀNH HẢI QUAN GIAI ĐOẠN TỪ  NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2003

    ĐVT: TỶ ĐỒNG

    TT Năm Tổng thu (KH) Tổng thu VAT VAT/Tổng thu Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch
    1 1999 21000 23669 8162 0.344839 113%
    2 2000 22960 24417 10718 0.438956 106%
    3 2001 25200 29519 11725 0.397202 117%
    4 2002 33200 37221 15010 0.403267 112%
    5 2003 38500 39223 17522 0.446728 102%

    Từ năm 1999 đến năm 2003 số thuế VAT đóng góp vào số thu của ngành Hải quan tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên. Năm 1999 là 8.162 tỷ đồng, năm 2000 là 1.0.718 tỷ đồng, năm 2001 là 11.725 tỷ đồng, năm 2002 là 15.010 tỷ đồng, năm 2003 là 15.722 tỷ đồng. Trong đó năm 2002 và năm 2003 là có số thu lớn nhất. Tỷ lệ thu thuế VAT ngày càng có xu hướng tăng nhanh từ năm 1999 đến năm 2003 đã tăng lên hơn 200%. Con số thu được thực tế luôn vượt mức kế hoạch đề ra. Năm 1999 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 113%, năm 2000 là 106%, năm 2001 là 117%, năm 2002 là 112% và năm 2003 là 102%. Tốc độ tăng ngày càng lớn và tỷ trọng đóng góp vào tổng thu của ngành Hải quan có xu hướng tăng nhanh chứng tỏ thuế VAT có vai trò lớn trong nguồn thu của ngành Hải quan nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung.

    Thu ngân sách nhà nước và thu thuế GTGT từ năm 2001 đến năm 2003

    Năm Thu ngân sách nhà nước Thu thuế VAT % thu VAT
    2001 103.888 13952 13,43%
    2002 105.200 15.465 14,70%
    2003 123.700 19.238 15,56%

    Bảng số liệu cho thấy chỉ qua 3 năm: 2001, 2002 và 2003 tỷ lệ đóng góp thuế VAT trong nguồn thu của ngân sách nhà nước luôn tăng từ 13,43% năm 2001 lên 14,7% năm 2002 và 15,56% năm 2003. Điều này cho thấy việc áp dụng luật thuế VAT vào nước ta là hợp lý, sự tăng lên trong tỷ lệ đóng góp này cho thấy sự phát triển nhanh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

    CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU TỪ NĂM 1999 ĐẾN 2003

     

    Mặt hàng Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Dầu thô (nghìn tấn) 14.881,9 15.423,5 16.731,6 16.879,0 17.169,0
    Dệt may (triệu đô) 1.746,2 1.891,9 1.975,4 2.752,0 3.630,0
    Giày, dép (triệu đô) 1.387,1 1.471,7 1.578,4 1.867,0 2.225,0
    Thuỷ sản (triệu đô) 973,6 1.478,5 1.816,4 2.023,0 2.217,0
    Gạo (nghìn tấn) 4.508,3 3.476,7 3.721,0 3.241,0 3.820,0
    Cà phê (nghìn tấn) 482,0 733,9 931,0 719,0 700,0
    Thủ công mỹ nghệ (triệu đô) 200,4 273,7 299,7 331,0 367,0
    Hạt tiêu (nghìn tấn) 34,8 37,0 57,0 77,0 74,4
    Hạt điều (nghìn tấn) 18,4 34,2 43,6 62,0 83,6
    Cao su (nghìn tấn) 263,0 273,4 308,0 449,0 438,0
    Than đá (nghìn tấn) 3.260,0 3.251,2 4.292,0 6.049,0 7.049,0
    Chè (nghìn tấn) 36,0 55,6 67,9 75,0 60,0
    Lạc (nghìn tấn) 56,0 76,1 78,2 105,0 83,3

     

    3.1 Phạm vi áp dụng của thuế GTGT

              * Đối tượng chịu thuế GTGT

    Theo quy định của luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay, đối tượng chịu thuế GTGT là “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam”. Sự quy định nay chưa phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng. Bởi:

    Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT thuộc loại thuế tiêu dùng mà sự tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện qua mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nếu hàng hoá, dịch vụ nằm trong kho hoặc chưa được đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc mua bán, trao đổi thì chưa bị đánh thuế GTGT.

    Thứ hai, theo lý luận điều chỉnh pháp luật thuế GTGT, khẳng định những hoạt động chịu thuế được xác định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT, nên sự kiện pháp lý không thể là bản thân hàng hoá, dịch vụ.

    Thứ ba, cơ sở để tính thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác định khi thông qua quan hệ mua bán, trao đổi, nếu hàng hoá cứ nằm im trong kho thì không thể biết được giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ cụ thể đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.

    Thứ tư, việc quy định trực tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo như kỳ nộp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoãn nộp thuế sẽ gặp nhiều lúng túng trong nhận thức và sinh ra nhiều cách xử lý khác nhau, vì vậy, không đảm bảo tính công bằng trong việc xác định mức độ và phạm vi của nghĩa vụ thuế.

    Việc luật thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế GTGT như hiện nay cũng chưa chính xác về mặt khoa học. Bởi vì khi nói đến đối tượng không thuộc dạng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT, bởi vì nó không đáp ứng đầy đủ những thuộc tính của hình thức cung ứng hàng hoá, dịchvụ chịu thuế GTGT nên về nguyên tắc không được quy định trong luật thuế. Ví dụ như hành vi bán đồ trang sức của một cá nhân cho người khác mà người này không nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 luật thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT nhưng được miễn trừ thuế. Hay nói cách khác chúng đều là những hoạt động sản sinh ra từ thuế GTGT luôn thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT nhưng được miễn trừ thuế GTGT bằng một điều luật đặc biệt vì những lý do khác nhau. Hệ quả của sự miễn thuế này là khi các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ được khấu trừ không phải tính và thu thuế và cũng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào xuất phát từ chủ trương nhằm thực hiện ưu đãi về thuế. Luật thuế GTGT đã xác định diện miễn thuế GTGT rất rộng, có thể chia thành một số nhóm lớp sau:

    – Một số hoạt động, sản phẩm của một số ngành, lĩnh vực còn đang khó khăn, cần khuyến khích để tạo điều kiện phát triển như sản xuất nông, lâm, thuỷ sản dạng thô chưa qua chế biến, sản phẩm muối, tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

    – Một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ đời sống xã hội cộng đồng như dịch vụ khám chữa bệnh, dạy học, dạy nghề, dịch vụ công cộng vệ sinh, thoát nước.

    – Một số hàng hoá, dịch vụ liên quan đến công nghệ, vốn đầu tư, như thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, nhập khẩu làm tài sản cố định, dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, chuyển giao công nghệ..

    – Một số hàng hoá, dịch vụ sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh hoặc vì mục đích chính sách xã hội như vũ khí, khí tài chuyên dụng cho an ninh quốc phòng, duy tu sửa chữa các công trình văn hoá nghệ thuật…

    – Một số hàng hoá, dịch vụ cần ưu đãi có mức độ như tài nguyên xuất khẩu dạng chưa chế biến, hàng hoá, dịch vụ cung ứng cho vận tải quốc tế..

    – Một số hàng hoá, dịch vụ đưa vào diện không chịu thuế thể hiện tính kỹ thuật hệ thống thu như sản phẩm thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hàng chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập..

    Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng nhiều trường hợp lại có kết quả ngược lại với ý đồ của nhà hoạch định chính sách cũng như ý đồ của các nhà làm luật. Sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ đặc biệt trong trường hợp chủ thể sử dụng nguyên liệu thuộc diện miễn trừ thuế GTGT. Như ngành in báo, tạp chí, sách khoa học và những ấn phẩm thuộc dạng miễn trừ thuế. Tại khu vực khi bán hàng sẽ không phát sinh thuế GTGT, các doanh nghiệp sẽ không phải nộp thuế GTGT cho kho bạc nhà nước, nhưng khi mua nguyên vật liệu như giấy, điện hoặc máy móc thiết bị…lại phải chịu 10% thuế GTGT đầu vào. Do không có thuế GTGT đầu ra để khấu trừ nên toàn bộ số thuế GTGT đã trả khi mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị sẽ tính cả vào giá thành sản phẩm, làm đội giá bán gây khó khăn cho bán hàng.

    Hoặc ở khoản 3, điều 4 quy định “dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế GTGT ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”, tưởng rằng quy định này làm giảm gánh nặng thuế cho các doanh nghiệp sản xuất nhứng mặt hàng chiụ thuế tiêu thụ đặc biệt đã rơi vào tình trạng “khốn đốn, một cổ ba tròng”, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lắp ráp ô tô, máy lạnh có đầu vào chủ yếu là linh kiện nhập khẩu, vừa chịu thuế nhập khẩu vừa chịu thuế GTGT và khi bán ra thị trường sản phẩm này phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng được miễn thuế GTGT tức là không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đã thanh toán. Rõ ràng ở  đây thiếu sự công bằng, bình đẳng trong việc xác định phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT.

              * Đối tượng nộp thuế GTGT

    Đối tượng chịu thuế chỉ rõ sắc thuế điều chỉnh hoạt động kinh tế nào thì đối tượng nộp thuế chỉ rõ sắc thuế đó điều chỉnh các hoạt động kinh tế của ấy.

    Điều 3 luật thuế GTGT quy định “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế GTGT.

    Theo quy định này thì đối tượng nộp thuế rất rộng, bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT của Việt Nam không phân biệt hình thức sở hữu, ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cá nhân có nhập khẩu háng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, không phân biệt tổ chức kinh doanh nước ngoài hay trong nước. Việc quy định này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết song thực tiễn của vấn đề này cũng cần bàn tời bởi số lượng hộ kinh doanh cá thể ở nước ta chiếm một tỷ trọng lớn nhưng phần lớn hoạt động kinh doanh lại không có hiệu quả trong khi đó luật thuế GTGT lại không xác định ngưỡng chịu thuế GTGT như các nước khác nên chi phí quản lý hành chính thuế rất lớn so với số thuế GTGT thu được từ nhuững đối tượng này. Mặt khác cũng cần phải xem xét khái niệm “người nhập khẩu” và “cơ sở kinh doanh” bởi khái niệm cơ sở kinh doanh bao hàm cả người nhập khẩu. Nếu các cơ sở kinh doanh thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá thì được gọi là người nhập khẩu.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-lao-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài :

    Trong coâng cuoäc ñoåi môùi hieän nay, ñaát nöôùc ta ñang dieãn ra soâi ñoäng quaù trình phaùt trieån kinh teá haøng hoaù nhieàu thaønh phaàn, vaän haønh theo cô cheá thò tröôøng coù söï quaûn lyù cuûa nhaø nöôùc theo ñònh höôùng xaõ hoäi chuû nghóa. Tröôùc vaán ñeà töø moät neàn kinh teá theo cô cheá bao caáp chuyeån sang moät neàn kinh teá theo cô cheá thò tröôøng, söï hoaø nhaäp cuûa caùc ngaønh kinh teá trong xaõ hoäi khoâng nhöõng chæ naèm rieâng trong lónh vöïc quoác gia maø coøn hoøa nhaäp vaøo neàn kinh teá theá giôùi. Vôí yeâu caàu naøy, caùc hoaït ñoäng kinh doanh treân nhieàu lónh vöïc phaûi coù nhieàu chuyeån bieán, nhieàu thay ñoåi cho phuø hôïp vôùi cô cheá môùi. Trong neàn kinh teá chung , hoaït ñoäng kinh doanh cuûa caùc doanh nghieäp coù vò trí heát söùc quan troïng, ñöôïc xem laø xöông soáng cuûa neàn kinh teá, ñoùng vai troø raát to lôùn trong vieäc thuùc ñaåy taêng tröôûng kinh teá beàn vöõng .

    Ñeå tieán haønh moät quaù trình saûn xuaát kinh doanh ñoøi hoûi caùc doanh nghieäp phaûi hoäi ñuû 3 yeáu toá: lao ñoäng, ñoái töôïng lao ñoäng vaø tö lieäu lao ñoäng. Trong ñoù, lao ñoäng laø moät trong nhöõng nhaân toá quyeát ñònh söï thaønh coâng cuûa doanh nghieäp, chúng ta đã biết “ lao động là bỏ một phần sức lực (

    chân tay hay trí óc ) nên nó cần thiết phải được bù đắp để tái sản xuất sức lao động”. Và sự thật đó được thấy dễ dang trong thực tế : mọi người lao động làm việc trong môi trường bình thường hay khắc nghiệt đều mong muốn kiếm được nhiều tiền…nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cuộc sống của họ. Vì lẽ đó, tiền lương và các khoản thanh toán cho người lao động dưới hình thức này hay hình thức khác là một vấn đề quan trọng cần giải quyết và cần giải quyết nó một cách cân nhắc, cẩn thận, rõ ràng và thỏa đáng.

    Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế thế giới, một quốc gia nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng muốn hòa nhập được thì phải tạo động lực phát triển từ trong nội bộ của doanh nghiệp mà xuất phát điểm chính là việc giải quyết một cách hợp lí, công bằng, rõ ràng vấn đề tiền lương và các khoản trích theo lương cho người lao động. Dù dưới bất kì loại hình doanh nghiệp nào, thì sức

    lao động của con người đều tồn tại và đi liền với thành quả của doanh nghiệp.Vì theá tieàn löông phaûi traû cho ngöôøi lao ñoäng laø vaán ñeà caàn quan taâm cuûa caùc doanh nghieäp hieän nay. Laøm theá naøo ñeå coù theå kích thích lao ñoäng haêng haùi saûn xuaát, naâng cao hieäu quaûø, chaát löôïng lao ñoäng, giaûm chi phí

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    nhaân coâng trong giaù thaønh saûn phaåm, taïo cho doanh nghieäp ñöùng vöõng treân moâi tröôøng caïnh tranh, goùp phaàn naâng cao hieäu quaû hoaït ñoäng cuûa doanh nghieäp… ñang laø moät yeâu caàu ñaët ra ñoái vôùi caùc doanh nghieäp trong xu theá hieän nay. Xuaát phaùt töø yeâu caàu treân, em ñaõ choïn ñeà taøi “KEÁ TOAÙN TIEÀN

    LÖÔNG VAØ SÖÏ AÛNH HÖÔÛNG CUÛA TIEÀN LÖÔNG ÑOÁI VÔÙI NGÖÔØI LAO ÑOÄNG TAÏI COÂNG TY LIEÂN DOANH MAY AN GIANG” laøm ñeâ ø

    taøi cho luaän vaên toát nghieäp cuûa mình .

    1. Mục tiêu nghiên cứu :

    Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá công tác Kế Toán tiền lương trong việc hạch toán, thanh toán lương cho người lao động, cũng như xem xét sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống Kế Toán tiền lương tại doanh nghiệp.

    1. Phương pháp nghiên cứu :

    Có thể thực hiện đề tài, các số liệu sẽ được thu thập như sau:

    • Số liệu sơ cấp: Các số liệu về kế toán tiền lương được thu thập ở doanh nghiệp.
    • Số liệu thứ cấp: tham khảo các sách báo, niên giám thống kê, các tài liệu nghiên cứu trước đây cùng các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập và các doanh nghiệp khác.
    • Các số liệu thu thập sẽ được đưa vào phân tích dựa trên phương pháp diễn dịch để phát thảo những con số thành những nhận định, đánh giá và phân tích về Kế Toán tiền lương và xem xét sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động tại doanh nghiệp.
    1. Phạm vi nghiên cứu :

    Với đề tài này, người viết sẽ nghiên cứu và tìm hiểu lĩnh vực kế toán tiền lương của công ty liên doanh may An Giang. Thời gian được chọn để nghiên cứu là năm 2001, 2002, 2003 và một số tháng trong năm 2003.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

     

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG

    1.Khái niệm – ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương:

    1.1 Tiền lương:

    Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả lao động cuối cùng.

    Tiền lương của người lao động được xác định theo hai cơ sở chủ yếu là số lượng và chất lượng lao động của mỗi người. Tiền lương hình thành có tính đến kết quả của cá nhân, của tập thể và của xã hội, nó quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện lợi ích của cá nhân người lao động. Qua mối quan hệ phụ thuộc này cho phép thấy được vai trò của tiền lương là công cụ tác động của công tác quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị của các loại sản phẩm lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, do đó các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí, tăng tích lũy cho đơn vị, tăng thu nhập cho người lao động.

    1.2 Các khoản trích theo lương:

    Bao gồm:

    -Bảo hiểm xã hội.

    -Bảo hiểm y tế.

    -Kinh phí công đoàn.

    1.2.1 Bảo hiểm xã hội:

    Là khoản tiền mà người lao động được hưởng trong trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, khó khăn…Để được hưởng khoản trợ cấp này, người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại đơn vị phải đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 20% trên tổng số tiền lương cấp bậc phải trả hằng tháng (15 % tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 5% còn lại do người lao động đóng góp ).

    1.2.2 Bảo hiểm y tế:

    Là khoản tiền hàng tháng của người lao động và người sử dụng lao động đóng cho các cơ quan BHXH để được đài thọ khi có nhu cầu khám bệnh

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 3

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    và chữa bệnh. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương cấp bậc (trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 1% còn lại do người lao động đóng góp ).

    1.2.3 Kinh phí công đoàn:

    Là khoản tiền để duy trì hoạt động các tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động. Quỹ này hình thành bằng cách trích 2% trên tổng số lương phải trả cho người lao động và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của đơn vị. Quỹ này do cơ quan công đoàn quản lý.

    2.Các hình thức tiền lương:

    2.1 Trả lương theo thời gian:

    2.1.1 Khái niệm: Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế.

    • Ưu điểm: rất đơn giản, dễ tính toán.
    • Nhược điểm: chưa chú ý đến chất lượng lao động, đồng thời chưa gắn với kết quả lao động cuối cùng, do đó không có khả năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động.

    Hình thức này được áp dụng đối với những công việc chưa định mức được, công việc tự động hóa cao, đòi hỏi chất lượng cao.

    2.1.2 Các loại tiền lương theo thời gian:

    • Tiền lương tháng: là tiền trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng

    lao động.

    Công thức:

    Lương tháng      =      Mức lương cơ bản     ×      [hệ số lương      + tổng hệ số phụ

    (290,000đ)                                                                      cấp (nếu có)]

    – Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho một tuần làm việc.

        Tiền lương tháng × 12 tháng  
    Tiền lương tuần =    
    52 tuần  
       

    -Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho một ngày làm việc.

        Tiền lương tháng  
    Tiền lương ngày =    
    26 ngày  
       

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Ví dụ : Một nhân viên có tiền lương tháng là 520,000 đ/tháng

    Mức lương ngày = 520,000/26=20,000đ; Anh ta làm việc 20 ngày trong tháng 8 nên tiền lương trong tháng 8 của anh ta là: 20,000 × 20 = 400,000đ

    – Tiền lương giờ: là tiền lương trả cho một giờ làm việc.

        Tiền lương ngày  
    Tiền lương giờ =    
    8 giờ  
       
           

    2.1.3 Các hình thức tiền lương theo thời gian:

    • Tiền lương theo thời gian giản đơn: căn cứ vào thời gian làm việc, mức lương cơ bản, các khoản phụ cấp để tính trả cho người lao động.
    • Tiền lương theo thời gian có thưởng: hình thức này nhằm kích thích người lao động tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và chú ý đến khối lượng công việc được giao. Đây là hình thức tiền lương theo thời gian kết hợp với tiền thưởng. Tiền lương theo thời gian có thưởng được chia làm hai bộ phận rõ rệt :

    Lương theo thời gian giản đơn gồm lương cơ bản và phụ cấp theo chế độ khi hoàn thành công việc và đạt yêu cầu về chất lượng.

    Thưởng là khoản chi trả cho người lao động khi họ vượt mức hoặc giảm tỷ lệ phế phẩm hay hoàn thành xuất sắc công việc được giao.

    2.1.3.1 Trả lương khi làm thêm giờ: (Khoản 1, 2 Điều 8 của Nghị Định số 197/CP )

    Áp dụng cho mọi đối tượng, trừ những người làm việc theo sản phẩm, theo định mức, lương khoán hoặc trả lương theo thời gian làm việc không ổn định như: làm việc trên các phương tiện vận tải đường bộ (kể cả lái xe con), đường sông, đường biển và đường hàng không, thu mua hải sản, nông sản, thực phẩm…

    +Khi làm thêm giờ vào ngày bình thường:

    Tltg      =      tiền lương giờ      ×      số giờ làm thêm      ×        150%

    +Khi làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ:

    Tltg      =      tiền lương giờ      ×      số giờ làm thêm      ×        200%

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Nếu có nghỉ bù giờ làm thêm, người sử dụng lao động chỉ phải trả phần chênh lệch bằng :

    50% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường nếu làm thêm giờ vào ngày bình thường.

    100% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường, nếu làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ.

    2.1.3.2 Trả lương làm việc ban đêm: (theo Khoản 3, Điều 8 của Nghị Định số 197/CP )

    Tiền lương trả thêm = tiền lương giờ × số giờ làm việc × ít nhất 30% hoặc 35%

    Tiền lương giờ: theo Khoản 1, Điều 5, Nghị Định số 197/CP

    35%: mức ít nhất bằng 35%, áp dụng cho trường hợp làm việc liên tục vào ban đêm từ 8 ngày trở lên trong 1 tháng, không phân biệt hình thức trả lương.

    30%: mức ít nhất bằng 30%, áp dụng cho các trường hợp làm việc vào ban đêm còn lại, không phân biệt hình thức trả lương.

    2.2 Trả lương theo sản phẩm:

    2.2.1 Khái niệm – hình thức :

    Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra. Hình thức này thể hiện thù lao lao động được chi trả cho người lao động dựa vào đơn giá và sản lượng thực tế mà người lao động hoàn thành và đạt được yêu cầu chất lượng đã quy định sẵn.

    Công thức :

    L = Qi × Đg

    Trong đó:

    +L là lương thực tế trong tháng.

    +Qi là số lượng sản phẩm mà công ty i đạt được.

    +Đg là đơn giá sản phẩm.

    Việc trả lương theo sản phẩm phải đảm bảo các điều kiện sau:

    • Phải xác định và giao định mức một cách chính xác cho người lao động. Tùy theo thực tế mỗi xí nghiệp sẽ áp dụng đơn giá sản phẩm khác nhau.
    • Tổ chức nghiệm thu và thống kê sản phẩm kịp thời, chính xác, kiên quyết loại bỏ những sản phẩm không đạt chất lượng trong khi tính lương.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 6

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Phải đảm bảo công bằng tức chất lượng giống nhau thì đơn giá và kỳ phân xưởng nào, ca làm việc nào.

    là những công việc giống nhau, yêu cầu định mức sản phẩm phải thống nhất ở bất

    Ưu điểm của hình thức trả lương này là gắn thu nhập của người lao động với kết quả họ làm ra, do đó có tác dụng khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động.

    2.2.2 Các hình thức tiền lương theo sản phẩm :

    • Tiền lương sản phẩm trực tiếp: hình thức này được áp dụng đối với những công nhân trực tiếp sản xuất, công việc của họ có tính chất độc lập, có thể định mức, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt.

    Theo hình thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng qui cách, phẩm chất và đơn giá sản phẩm đã được qui định.

    Công thức:

    Li = Qi × Đg

    Trong đó:

    +Li là tiền lương thực tế của công nhân i lãnh trong tháng.

    +Qi là số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng của công nhân i

    +Đg là đơn giá sản phẩm.

    +Đs là định mức sản lượng.

            Mức lương tháng theo tay nghề × (100 + k )
      Đg =      
      Đs × 100 × 26
           
            Tổng thời gian làm việc (ca hay ngày)  
      Đs =    
      Thời gian tạo ra một sản phẩm  

    Ví dụ: Một người thợ có tay nghề bậc 4, sản xuất được 700 sản phẩm trong tháng, biết tổng thưởng của anh ta chiếm 20% tổng tiền lương, tiền lương thợ bậc một là 100,000; hệ số lương giữa thợ bậc 1 và thợ bậc 4 là 1:1.4

    • định mức sản lượng là 20 sản phẩm trong một ca. Giải:

    100,000 × 1.4 × ( 100 + 20 )

    Đg  =       =  323 đ/sp  
    20 ×100 × 26
         

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 7

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Tiền lương sản phẩm gián tiếp: hình thức này được áp dụng để trả lương cho công nhân phụ, làm những công việc phục vụ cho công nhân chính như sửa chữa trong các phân xưởng, bảo dưỡng máy móc…

    Công thức:

    Lspgt =   Sl thực tế do cntt sx ×   Đơn giá lương gián tiếp  
    mà công nhân này phục vụ
                 
                 
                 
      Đơn giá   Mức công nhân chính ( 100 + k )    
      lương   =          
        N × đs × 26 × 100    
      gián tiếp      
                 

    +Lspgt: lương sản phẩm của công nhân gián tiếp;

    +K: tổng các khoản phụ cấp ngoài lương;

    +N: Số công nhân phục vụ;

    +Đs: định mức sản lượng của 1 cộng nhân trực tiếp; +26 là số ngày làm việc bình quân trong tháng.

    Ví dụ: Một công nhân quản lí máy móc một phân xưởng may có mức lương chính là 200,000đ; tổng các khoản phụ cấp chiếm 20% tiền lương chính. Công nhân này phục vụ 5 công nhân sản xuất có số sản phẩm sản xuất ra trong tháng như sau :

    ĐMSL Đs = 20 sp/ca, 2 công nhân sản xuất đạt 100% đs, 2 công nhân sản xuất đạt 120% đs, 1 công nhân sản xuất đạt 140% đs.Vậy lương gián tiếp được tính như sau:

    Đg lương 200,000 ( 100 + 20 )    
    gián tiếp   =   =   92.3 đ/sp  
    5 × 26 × 20 × 100
         

    Tổng số sản phẩm công nhân trực tiếp sản xuất là:

    (20 × 100% × 2) + (20 × 120% × 2) + (20 × 140% × 1) = 116 sp Lspgt = 116 × 92.3 × 26 = 278,337đ.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 8

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Trả lương theo sản phẩm lũy tiến: đây là hình thức trả lương theo sản phẩm kết hợp với hình thức tiền thưởng khi nhân viên có số lượng sản phẩm thực hiện trên định mức qui định.

    Hình thức này áp dụng các đơn giá khác nhau:

    Đối với những sản phẩm thuộc định mức: áp dụng đơn giá sản phẩm được xây dựng ban đầu.

    Đối với những sản phẩm vượt định mức: áp dụng đơn giá cao hơn đơn giá ban đầu.

    • Trả lương khi làm thêm giờ: sau khi hoàn thành định mức số lượng, chất lượng sản phẩm tính theo giờ chuẩn (giờ tiêu chuẩn theo quy định tại điều 3, Nghị Định số 195/CP, ngày 31/12/1994 của Chính Phủ).

    Nếu người sử dụng lao động có yêu cầu làm thêm ngoài định mức giờ tiêu chuẩn, được tăng thêm:

    50% nếu sản phẩm được làm thêm vào ngày thường.

    100% nếu sản phẩm được làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần, vào

    ngày lễ.

    • Trả lương làm việc ban đêm: áp dụng đối với người lao động đựơc trả lương theo sản phẩm, lương khoán nếu làm việc vào ban đêm. Đơn giá tiền lương được tăng thêm ít nhất 30% hoặc 35% so với đơn giá tiền lương làm việc ban ngày.

    2.3 Trả lương khoán:

    Đây là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng và chất lượng công việc phải hoàn thành.

    3. Tiền thưởng – phúc lợi – phụ cấp:

    Hiện nay, các chế độ về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi được Nhà Nước rất chú trọng và thanh toán một cách một cách rõ ràng, cụ thể như sau:

    3.1 Tiền thưởng :

    Doanh nghiệp việc trích thưởng từ lợi nhuận còn lại (sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà Nước) để thưởng cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên. Tiền thưởng là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với người lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Có các hình thức thưởng sau đây:

    • Thưởng năng suất, chất lượng: Áp dụng khi người lao động thực hiện tốt hơn mức độ trung bình về số lượng, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ.

    o Thưởng tiết kiệm: Áp dụng khi người lao động sử dụng tiết kiệm các loại vật tư, nguyên liệu, có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn đảm bảo chất luợng theo yêu cầu.

    o Thưởng sáng kiến: Áp dụng khi người lao động có các sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, tìm ra các phương pháp mới có tác dụng làm nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

    o Thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp: Áp dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lời, người lao động trong doanh nghiệp sẽ được chia một phần tiền lời dưới dạng tiền thưởng. Hình thức này được áp dụng trả cho nhân viên vào cuối quý, sau nửa năm hoặc cuối năm tùy theo cách thức tổng kết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    o Thưởng tìm được nơi cung ứng, tiêu thụ, ký kết được hợp đồng mới: Áp dụng cho các nhân viên tìm thêm được các địa chỉ tiêu thụ mới, giới thiệu khách hàng, ký kết thêm được hợp đồng cho doanh nghiệp hoặc có các hoạt động khác có tác dụng làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

    o Thưởng đảm bảo ngày công: Áp dụng khi người lao động làm việc với số ngày công vượt mức quy định của doanh nghiệp.

    o Thưởng về lòng trung thành, tận tâm với doanh nghiệp: Áp dụng khi người lao động có thời gian phục vụ trong doanh nghiệp vượt quá một thời gian nhất định, ví dụ 25 hoặc 30 năm; hoặc khi người lao động có những hoạt động rõ ràng đã làm tăng uy tín của doanh nghiệp.

    3.2 Phúc lợi :

    Phúc lợi thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống người lao động, có tác dụng kích thích nhân viên trung thành, gắn bó với doanh nghiệp. Dù ở cương vị cao hay thấp, hoàn thành tốt công việc hay chỉ ở mức độ bình thường, có trình độ lành nghề cao hay thấp, đã là nhân viên trong doanh nghiệp thì đều được hưởng phúc lợi. Phúc lợi của doanh nghiệp gồm có: bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, hưu trí, nghỉ phép, nghỉ lễ, ăn trưa do doanh nghiệp đài thọ, trợ cấp của doanh nghiệp cho các nhân viên đông con hoặc có hoàn cảnh khó khăn, quà tặng của doanh nghiệp cho nhân viên vào các dịp sinh nhật, cưới hỏi, mừng thọ cha mẹ nhân viên…

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    3.3 Phụ cấp :

    3.3.1.Các khoản phụ cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp

    Điều 4, Nghị định số 26/CP ngày 23/6/93 quy định các khoản phụ cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp bao gồm: phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại-nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp lưu động, phụ cấp làm thêm giờ.

    3.3.2 Điều kiện áp dụng phụ cấp độc hại, nguy hiểm:

    Mục III, thông tư số 23/LĐTBXH –TT ngày 7/7/93 hướng dẫn thực hiện phụ cấp độc hại, nguy hiểm quy định những ngành nghề, công việc hoặc nơi làm việc có một trong những điền kiện sau đây thì được xem xét áp dụng phụ cấp độc hại, nguy hiểm: tiếp xúc trực tiếp với chất độc-khí độc, làm việc trong môi trường chịu áp suất cao hoặc thiếu dưỡng khí, làm việc ở những nơi quá nóng hoặc quá lạnh, những công việc phát sinh tiếng ồn lớn, treo người trên cao, làm việc ở những nơi có phóng xạ, làm việc ở môi trường dễ bị lây nhiễm và mắc bệnh…

    3.3.3 Mức phụ cấp độc hại nguy hiểm:

    Mục I, II, III, IV thông tư số 23/LĐTBXH-TT ngày 7/7/1993 hướng dẫn thực hiện phụ cấp độc hại, nguy hiểm. Quy định phụ cấp độc hại nguy hiểm gồm 4 mức: 0.1; 0.2; 0.3 và 0.4 so với mức lương tối thiểu được quy định như sau:

    Mức Hệ số Mức phụ cấp thực hiện  
    từ ngày 1/4/1993  
       
    1 0.1 7,200 đồng  
    2 0.2 14,400 đồng  
    3 0.3 21,600 đồng  
    4 0.4 28,000 đồng  

    3.3.4 Phương thức trả phụ cấp độc hại nguy hiểm:

    Tính theo thời gian làm việc thực tế trong tháng.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    4.Kế toán các khoản phải trả công nhân viên :

    4.1 Chứng từ kế toán :

    Đối với tiền lương có các loại chứng từ sau: bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành, phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội…

    Căn cứ vào chứng từ trên, kế toán tiến hành tính lương, thưởng, trợ cấp phải trả cho người lao động và lập bảng thanh toán lương, bảng thanh toán tiền thưởng và bảng thanh toán bảo hiểm xã hội.

    4.2 Tài khoản sử dụng :

    TK 334 “phải trả công nhân viên”      
    NỢ 334
    -Các khoản đã trả, đã ứng cho CNV.   – Các khoản phải trả cho CNV.  
    -Các khoản khấu trừ vào lương CNV.      
           
        – Các khoản còn phải trả CNV.  
           

     

    4.3 Sơ đồ kế toán tổng hợp :

    TK 111     TK 334           TK 622
          Các khoản thanh toán           Tiền lương công nhân    
          Cho công nhân viên           trực tiếp sản xuất              
    TK 141, 138, 338                 TK 627
          Các khoản khấu trừ   ph     Tiền lương công nhân    
                  ụcvụ và quản lý sản xuất            
            vào lương      
               
    TK 333                 TK 641
          Thuế thu nhập cá nhân           Tiền lương nhân viên          
             
                            Bán hàng          
            phải nộp                
                              TK 642
                          Tiền lươ ng nhân viên    
                          quản lý doanh nghiệp      
                              TK 4311
                          Tiền thưởng từ quỹ    
                          Khen thưởng      
                                             

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 12

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Ví dụ: Số dư đầu tháng của TK 334 là 2,100,000đ; trong đó TK 334 của bộ phận bán hàng là 460,000đ ; TK 334 của bộ phận quản lý là 340,000đ ; TK

    • của bộ phận xây dựng cơ bản là 1,300,000đ. Nghiệp vụ phát sinh trong tháng:

    Tiền lương phải trả công nhân viên ở các bộ phận: bán hàng 10 triệu, quản lý 5 triệu, xây dựng cơ bản 6 triệu.

    Nợ TK 641 10,000,000
    Nợ TK 642 5,000,000
    Nợ TK 241 6,000,000
    Có TK 334 21,000,000

    5.                 Kế toán các khoản trích theo lương :

     

    5.1 Tài khoản sử dụng :

    Kế toán sử dụng tài khoản 338 “phải trả, phải nộp khác“ phản ánh tình hình lập và phân phối quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Tài khoản 338 có các tài khoản cấp 2 như sau: kinh phí công đoàn (TK 3382), bảo hiểm xã hội (TK 3383), bảo hiểm y tế (TK 3384).

    NỢ                                                                         TK 338                                                                          CÓ

    • BHXH phải trả CNV; các khoản – Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính kinh phí công đoàn tại đơn vị; các vào chi phí hoạt động sản xuất kinh khoản BHXH, BHYT, KHCĐ đã nộp. doanh, khấu trừ vào lương công nhân;

    các khoản phải trả khác.

    Ví dụ : (tiếp ví dụ trên), trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ 19% tính vào chi phí

    Nợ TK 641 19% × 10,000,000 = 1,900,000
    Nợ TK 642 19% × 5,000,000 =  950,000
    Nợ TK 241 19% × 6,000,000 = 1,140,000
    Có TK 3382 2% × 21,000,000 = 420,000
    Có TK 3383 15% × 21,000,000 = 3,150,000
    Có TK 3384 2% × 21,000,000 = 420,000

    5.2 Sơ đồ kế toán tổng hợp :

    TK 111, 112                                                 TK 338                                        TK 622,627,641,642

    Nộp BHXH, BHYT,

    KPCĐ

    Các khoản chi BHXH

    KPCĐ tại đơn vị

    Trích BHXH,BHYT,KPCĐ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

    TK 334

    Khấu trừ vào tiền lương

    khoản BHXH, BHYT

    6. Kế toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất :

    Hàng năm, người lao động trong danh sách các đơn vị được nghỉ một số ngày phép theo quy định mà vẫn được hưởng đủ lương. Trong thực tế, việc nghỉ phép của người công nhân sản xuất không đồng đều giữa các tháng trong năm. Do đó, để việc chi trả tiền lương nghỉ phép không làm cho giá thành sản phẩm đột biến tăng lên, tính đúng kết quả tài chính của đơn vị, kế toán có thể tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép và phân bổ đều vào chi phí của các kỳ hạch toán.

      Mức trích trước   Tiền lương chính   Tỉ lệ trích trước  
      tiền lương nghỉ phép = phải trả cho ×  
      tiền lương nghỉ  
      của công nhân sản xuất   công nhân sản xuất    
          phép  
          ( hàng tháng )    
               

     

    6.1 Tài khoản sử dụng:

     

     

     

     

     

      TK 335 “Chi phí phải trả”          
      NỢ   TK 335    
      – Các chi phí thực tế phát sinh   – Các khoản chi phí đã được trích  
      – Điều chỉnh phần chênh lệch giữa trước vào chi phí hoạt động SXKD.  
      khoản  chi  thực  tế và khoản trích – Các khoản chi phí đã được tính vào  
      trước.     chi phí SXKD nhưng thực tế chưa  
            phát sinh.      

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 14

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    6.2 Sơ đồ kế toán tổng hợp :

    TK 334 TK 335       TK 622  
                                 
        Tiền lương nghỉ phép       Hàng tháng tiến hành trích    
        thực tế phát sinh          
                           
                           
                    trước tiền lương nghỉ phép    
    TK 721
            công nhân sản xuất    
                         
                         
      Các khoản đã trích thừa         Các khoản trích thêm    
                         
                                 

    Ví dụ: doanh nghiệp thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân theo kế hoạch hàng tháng là 30,000đ

    Nợ TK 622 30,000
    Có TK 335 30,000

    Căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương công nhân, phụ cấp phải trả cho công nhân sản xuất sản phẩm A là 600,000đ; sản phẩm B là 380,000đ; tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất sản phẩm B là 20,000đ ( thực tế ).

    Nợ TK 335 20,000
    Có TK 334 20,000

    Khoản đã trích nghỉ phép thừa của công nhân B là :

    Nợ TK 335 10,000
    Có TK 711 10,000

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Tóm lại:

    Tiền lương là số tiền dùng để bù bắp sức lao động của người lao động, nó là một động lực vô cùng quan trọng trong việc thành – bại của bất kỳ doanh nghiệp nào. Do doanh nghiệp tồn tại trong hai môi trường cơ bản: môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh tế vi mô (hay môi trường bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp) trong đó môi trường bên trong – nội tại là quan trọng vô cùng. Như ta đã biết yếu tố con người năm vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp.

    Một khi doanh nghiệp giải quyết tốt vấn đề tiền lương và các khoản thanh toán cho người lao động, doanh nghiệp sẽ tạo được niềm tin cho người lao động. Khi đó họ sẽ đóng góp hết mình phục vụ vào sự phát triển của công ty và vấn đề này đòi hỏi bộ phận kế toán tiền lương phải nắm rõ các quy định của Nhà Nước cũng như thực hiện tốt công tác kế toán tiền lương. Nếu làm được điều này, doanh nghiệp sẽ dễ dàng hướng tới bốn mục tiêu cơ bản của tiền lương: thu hút nhân viên, duy trì những nhân viên giỏi, kích thích động viên nhân viên và đáp ứng các yêu cầu của pháp luật.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH MAY

    AN GIANG

    1. Lịch Sử Hình Thành Công Ty Liên Doanh May An Giang:

    An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, là một vùng chuyên canh về cây lúa theo các vụ mùa với truyền thống sản xuất nông nghiệp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và cả nước nói chung.

    Đặc điểm sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên lực lượng sản xuất tập trung hết cho các mùa vụ, với hơn 80 % tổng số lao động xã hội. Nhưng, những lực lượng lao động này khi đã gặt hái hết mùa sản xuất, đã thu hoạch xong, sẽ dẫn đến tình trạng thừa lao động sau khi kết thúc mùa vụ và số lao động này thường xuyên sử dụng không hết, do đó họ cần phải chuyển sang các ngành nghề khác để kiếm sống. Qua đó, để xác định tiềm năng và đặc điểm lao động trong Tỉnh, để giải quyết tình trạng dư thừa lao động dẫn đến nạn thất nghiệp kéo theo và phát sinh các tệ nạn xã hội, đồng thời để đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề kinh tế, để góp phần vào ngân sách của Tỉnh và xây dựng đất nước nói chung, Công ty liên doanh may An Giang ra đời, là đơn vị liên doanh giữa hai doanh nghiệp Nhà Nước: là Công ty may xuất khẩu An Giang và Công ty may Nhà Bè. Công ty có hình thức hạch toán kế toán độc lập, được thành lập theo quyết định số 002394/GPTDN02 ngày 19 tháng 3 năm 1997 của UBND Tỉnh An Giang với tên gọi là Công ty liên doanh may An Giang.

    Hình thức sở hữu vốn: liên doanh chịu sự quản lý của Hội Đồng Quản Trị do hai đơn vị cử ra.

    Đến tháng 10/2002, theo chủ trương của UBND Tỉnh An Giang là sắp xếp lại các doanh nghiệp trong địa bàn Tỉnh nhằm đủ lực cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường, theo quyết định số 2591/QĐ_UB ngày 31/10/2002 của UBND Tỉnh An Giang, Công ty may xuất khẩu An Giang được sáp nhập vào Công ty xuất nhập khẩu An Giang. Như vậy, hiện nay hai đơn vị trực tiếp quản lý Công ty liên doanh may An Giang là Công ty xuất nhập khẩu An Giang và Công ty may Nhà Bè.

    Ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty liên doanh may An Giang là trực tiếp kinh doanh các sản phẩm may mặc, nhận may gia công, xuất khẩu ủy thác các sản phẩm ngành may.

    Hàng năm, công ty đã góp phần rất lớn trong thu nhập quốc dân của Tỉnh, cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao ra thị trường, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho gần 1000 lao động, phần đông là lao động nữ. Công ty

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    đã thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người lao động và trích nộp Ngân sách cho Nhà Nước đầy đủ.

    Giới thiệu công ty:

    • Tên doanh nghiệp: CÔNG TY LIÊN DOANH MAY AN GIANG
    • Tên giao dịch quốc tế: AN GIANG JOINT VENTURE GARMENT COMPANY.
    • Trụ sở đặt tại: Đường Trần Hưng Đạo, Phường Mỹ Quí, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang.
    • Fax: 076 834098.
    • Điện thoại: 076 834709 – 834958.
    • Số tài khoản:

    TK USD: 015.1.37.000402.8

    TK VND: 015.1.00.000047.2

    • Nhân viên công ty gồm: 46 người (CB – CNV) chính thức.
    • Số công nhân của công ty: 947 người (chia làm 14 tổ, mỗi tổ có từ 35 đến 50 người, chia làm hai phân xưởng).

    2.                 Chức Năng – Mục Tiêu – Nhiệm Vụ Và quyền Hạn Của Công Ty :

    Trực tiếp ký hợp đồng gia công may xuất khẩu hoặc ủy thác gia công xuất khẩu hay trực tiếp sản xuất sản phẩm may mặc và tiêu thụ nhằm góp phần gia tăng doanh thu cho công ty, nhằm đa dạng hóa ngành nghề tại địa phương. Phấn đấu đạt lợi nhuận cao, góp phần tăng thêm cho ngân sách, đảm bảo đời sống cho CB-CNV tại công ty cũng như giải quyết vấn đề lao động thừa trong Tỉnh.

    Bảo toàn và khai thác hết tiềm năng để phát triển nguồn vốn, cũng như sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, để tái sản xuất mở rộng qui mô kinh doanh, làm tròn nghĩa vụ trách nhiệm đối với Nhà Nước, tăng dần tích lũy công ty ngày càng phát triển vững mạnh. Thực hiện chính sách, chế độ quản lí tài sản, tài chính, lao động tiền lương…do công ty quản lý, làm tốt trong công tác phân phối theo lao động, đảm bảo công bằng xã hội, không ngừng đào tạo kiến thức, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, văn hóa cho toàn thể CB-CNV của công ty. Xây dựng công đoàn công ty kết hợp với địa phương hướng dẫn CB-CNV ý thức bảo vệ an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc phòng.

    Được vay vốn, mở tài khoản riêng tại Ngân Hàng Ngoại Thương An Giang, tự do trang trải vay nợ, có sử dụng con dấu riêng.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    TK USD: 015.1.37.000402.8

    TK VND: 015.1.00.000047.2

    Chủ động ký hợp đồng gia công với tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo đúng ngành nghề, nghiệp vụ tại công ty. Chủ động tuyển chọn và xây dựng lao động theo nhu cầu của công ty, đúng theo quy định của pháp luật, tổ chức bố trí công tác, lựa chọn hình thức trả lương theo lao động cho cán bộ – công nhân viên phù hợp với tình hình công ty và đúng theo pháp luật.

    3. Nguồn Nhân Lực Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Công ty:

    3.1 Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo của công ty:

    Nguồn nhân lực:

    Nhân lực hoạt động trong công ty được sử dụng, bố trí hợp lý và phát huy trình độ của từng người.

    Tổng số lao động là 993 người, trong đó lao động gián tiếp quản lý là

    • người; lao động phục vụ sản xuất và lao động trực tiếp sản xuất là 958 người.

    Nhu cầu đào tạo cán bộ – công nhân viên công ty:

    Cán bộ khung, cán bộ kỹ thuật, khâu sản xuất được gởi đi đào tạo tại Công ty may Nhà Bè (TP.Hồ Chí Minh) và Công ty may Tây Đô (TP.Cần Thơ). Còn công nhân may thì được tuyển và đào tạo tại Công ty liên doanh may An Giang và Trung tâm xúc tiến việc làm An Giang.

    3.2 Cơ cấu tổ chức :

    3.2.1.Tổ chức công ty:

    SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY LIÊN DOANH

    MAY AN GIANG

    Ban Giám Đốc

    Phòng Kế Hoạch     Phòng Tổ Chức     Phòng Kế Toán-
      Sản Xuất             Tài Vụ
                           
                           
                           
                           
      Xí nghiệp 1   Xí nghiệp 2   Cửa hàng   Kho nguyên
              trưng bày   vật liệu
                     
                     

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 19

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Ông HOÀNG VĂN THOẠI: Giám Đốc, giám sát toàn công ty, chịu trách nhiệm chung.

    o Ông HUỲNH VĂN DŨNG: Phó Giám Đốc, phụ trách sản xuất.

    o Ông NGUYỄN MINH KIỆT: Trưởng phòng kinh doanh phụ trách xuất nhập khẩu.

    o Ông NGUYỄN MINH TRIẾT: Kế toán trưởng, phụ trách ký hợp đồng và lên kế hoạch sản xuất.

    Phòng kế toán tài vụ: gồm cả phòng kế toán và phòng tài vụ, chịu trách nhiệm hạch toán chung cho toàn công ty.

    Phòng tổ chức hành chánh: quản lý và bố trí nhân sự, cũng như tuyển chọn nhân sự.

    Còn các phòng ban, xí nghiệp có trách nhiệm quản lý gia tăng sản xuất và chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc, Ban Giám Đốc lãnh đạo công ty luôn luôn cố gắng tìm ra những biện pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà Nước.

    Về bố trí nhân sự: đúng người, đúng việc, các trưởng – phó phòng và nhân viên các phòng ban xí nghiệp hỗ trợ cho nhau trong công tác khi có sự cần thiết nhằm để hoạt động của công ty được nhịp nhàng đồng bộ và có hiệu quả cao.

    Việc sản xuất được thực hiện hàng ngày, có giám sát từng ngày, mỗi ngày đều có báo cáo sản lượng sản xuất trong ngày và tổng kết tháng, quý, trước khi bộ phận kế toán kết thúc số liệu, từ đó mà Ban Giám Đốc và các phòng ban có kế hoạch, chiến lược kinh doanh cụ thể hữu hiệu.

    Công nhân làm việc hưởng lương theo doanh thu của tổ và của công ty, ngoài ra còn được bồi dưỡng thêm cho việc tăng ca sản xuất, cán bộ – công nhân viên còn được tham gia các phong trào, thi đua văn hóa, văn nghệ, thể thao do công ty tổ chức như: thi đấu bóng chuyền, đá cầu, cầu lông, bóng bàn…nhằm để chào mừng các ngày lễ lớn như: 30/4, 1/5, 2/9, 8/3…

    Cán bộ – công nhân viên còn được tặng quà làm lưu niệm vào các dịp lễ này hoặc mỗi khi hoàn thành kế hoạch sớm.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 20

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    3.2.2 Tổ chức kế toán:

    Tổ chức phòng kế toán:

    Để tập trung nguồn thông tin phục vụ cho công tác quản lý lãnh đạo, thuận tiện cho việc ghi chép cơ giới hóa công tác kế toán, tiết kiệm được chi phí trong hạch toán nên công ty đã chọn hình thức kế toán tập trung.

    Nhiệm vụ của phòng kế toán:

    Chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc về mọi hoạt động tài chính của công ty. Tham mưu cho Ban Giám Đốc về các phương án kinh tế có hiệu quả. Bảo đảm đúng chế độ Kế Toán Tài Chính Nhà Nước mà thực hiện kinh doanh có hiệu quả cao, mang lại cho công ty ngày càng phát triển tốt trong tương lai.

    Tập hợp hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên có của tài khoản, kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo tài khoản đối ứng nợ.

    Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với hệ thống hóa các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế (theo tài khoản).

    Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép.

    Sử dụng các mẫu tin in có quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lý kinh tế tài chính và lập Báo cáo tài chính.

    Sơ đồ tổ chức phòng kế toán:

    KẾ TOÁN TRƯỞNG

    KẾ TOÁN   KẾ TOÁN   KẾ TOÁN VẬT TƯ   THỦ QUỸ
      CÔNG NỢ TÍNH    
          THÀNH PHẨM  
    THANH TOÁN   GiÁ THÀNH      
                 

    Hình thức kế toán: áp dụng tại công ty là Nhật ký Chung kết hợp với xử lý số liệu bằng máy vi tính.

    Trình tự hạch toán trên máy vi tính do Kế Toán Trưởng phân công cho từng kế toán chi tiết nhập dữ liệu vào máy và trong quá trình tính toán từ

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 21

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    đầu cho đến kết thúc được thực hiện theo trình tự, nếu có sai sót sẽ phát hiện và sửa chữa kịp thời.

    Trình tự luân chuyển chứng từ:

    Hằng ngày căn cứ chừng từ gốc đã được kiểm tra, lấy số liệu nhập vào máy vi tính, sau đó ghi trực tiếp vào Nhật Ký Chung.

    Căn cứ số liệu đã ghi trên Nhật Ký Chung để ghi vào tài khoản phù hợp trên sổ cái.

    Các số liệu liên quan đến sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng được ghi vào các sổ, thẻ chi tiết tương ứng.

    Trình tự ghi sổ được thể hiện qua sơ đồ:

    CHỨNG TỪ GỐC

    MÁY VI TÍNH

    Nhậ t Ký   NHẬT KÝ CHUNG   SỔ CHI TIẾT
    Đặc Biệt            
             
                 
                 
                 

    Bảng

    SỔ CÁI          Tổng Hợp

    Chi Tiết

    BẢNG CÂN ĐỐI TK

    BÁO CÁO KẾ TOÁN

    Ghi hàng ngày.

    Ghi cuối tháng.

    Đối chiếu.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 22

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    4.     Tình Hình Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Trong 2 Năm Qua (2002 – 2003):

     

    Qua những năm hoạt động tập thể CB-CNV công ty đã cố quả như sau:

    gặp không ít những khó khăn trở ngại, nhưng gắng hoàn thành xuất sắc và đã đạt được kết

    Bảng 1: Tổng Kết Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Công Ty Liên Doanh May An Giang

    CHỈ TIÊU NĂM 2002 NĂM 2003 CHÊNH TỶ LỆ  
    GIÁ TRỊ GIÁ TRỊ LỆCH (%)  
     
               
    1.Tổng doanh thu 5,299,783,662 10,450,779,479 5,150,995,817 97.2  
    2.Thuế GTGT 251,167,030 432,118,853 180,951,823 72.0  
    3.Doanh thu thuần 5,299,783,662 10,450,779,479 5,150,995,817 97.2  
    4.Giá vốn hàng bán 3,685,325,267 8,166,503,310 4,481,178,043 121.6  
    5.Lãi gộp 1,614,458,395 2,284,276,169 669,817,774 41.5  
    6.Chi phí tài chính 1,226,754,151 1,570,565,701 343,811,550 28.0  
    7.Lợi nhuận trước thuế 387,704,244 713,710,468 326,006,224 84.1  
    8.Lợi nhuận ròng 387,704,244 713,710,468 326,006,224 84.1  

    ( Nguồn: phòng Kế Toán)

    Qua bảng tổng kết kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty liên doanh may An Giang, ta nhận thấy như sau:

    • Năm 2003, doanh thu của công ty là 10,450,779,479 đồng tăng 97.2 % về tỷ trọng so với năm 2002 và tăng là 5,150,995,817 đồng về giá trị.

    Nguyên nhân là do mối quan hệ ngày càng rộng, khách hàng ngày càng đông, nhận hàng gia công nhiều, làm lượng sản xuất hàng hóa gia tăng, doanh thu tiêu thụ tăng lên. Doanh thu tăng dẫn đến lãi gộp tăng 41.5 % về tỷ trọng và tăng 669,817,774 đồng về giá trị so với năm 2002.

    Điều này chứng tỏ rằng trong năm 2003, quy mô sản xuất của công ty đã gia tăng. Nhưng cũng cần lưu ý sự gia tăng quy mô hoạt động sản xuất kèm theo gia tăng về chi phí: năm 2003 tăng 28 % tương ứng với 343,811,550 đồng.

    o Về phần nghĩa vụ đóng góp cho Nhà Nước năm 2003 cũng tăng so với năm 2002, cụ thể: thuế GTGT công ty nộp thêm 180,951,832 đồng và tăng 72 %.

    o Về các hoạt động khác của công ty: Ban Giám Đốc quyết định mở cửa hàng để trưng bày sản phẩm, giới thiệu hàng nhằm để tìm khách hàng đặt hàng gia công và tiêu thụ trong nước. Do dó, công ty đã tìm ra một số khách

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    hàng: Chaliory (Đài Loan), Flexcon (Hồng Kông), Dickson (Hồng Kông), Á Đai (Đài Loan), Westlee (Australia), Tranglobal (Mỹ)…

    Tuy nhiên giá gia công của công ty không cao bằng HABITEX, nhưng đã tránh được tình trạng thiếu hàng, cũng tạo việc làm ổn định cho công nhân làm tăng thu nhập cho công ty.

    5.Những Thuận Lơi Và Khó Khăn Trong Thời Gian Qua Của Công Ty:

    5.1 Thuận lợi:

    Nguồn nhân lực trong Tỉnh rất dồi dào.

    Được sự quan tâm hỗ trợ của Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh và các ban ngành trong Tỉnh.

    Được Tổng Công ty may Việt Nam và Công ty may Nhà Bè nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ về mặt kỹ thuật và giới thiệu khách hàng cho công ty.

    Tập thể cán bộ – công nhân viên còn trẻ, làm việc rất nhiệt tình, năng động sáng tạo, luôn luôn gắn bó với công ty trong những lúc khó khăn.

    5.2 Khó khăn:

    Trong những năm qua, nhìn chung Công ty may An Giang cũng gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh như:

    Do sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế khu vực Đông Nam Á:

    • Giá gia công giảm vì các nước chung quanh cạnh tranh hạ giá gia công thấp hơn giá ở Việt Nam, nhiều khách hàng chuyển sang các nước khác để đặt hàng như: Indonesia, Thái lan, Malaysia…

    o Do kinh tế khó khăn nhu cầu tại các nước Đài Loan, Hàn Quốc, nhất là Nhật Bản giảm rất nhiều.

    Khó khăn lớn nhất của Công ty liên doanh May An Giang là công ty chỉ mới hoạt động không lâu, khách hàng chưa biết đến nhiều, chỉ trông cậy vào hàng hóa của công ty HABITEX, nhưng công ty này chuyển sang làm hàng mùa Đông. Do đó, công ty liên doanh may An Giang tự tìm kiếm thị trường và khách hàng để sản xuất kinh doanh.

    Công ty phải nhận ủy thác của công ty khác vừa tốn kém và giá gia công lại thấp.

    Địa điểm công ty lại cách xa TP.HCM – một trung tâm lớn của cả nước về dệt may công nghiệp, cho nên:

    o Khách hàng ngại xa không đến đặt hàng.

    o Giá gia công thấp hơn TP.Hồ Chí Minh từ 0.1 đến 0.2 USD/sp.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 24

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Do phải giao nhận nguyên phụ liệu và thành phẩm tại TP.Hồ Chí Minh, những khoản chi phí phát sinh như: chi phí liên hệ khách hàng, chi phí đi công tác, thêm vào đó khách hàng giao nguyên phụ liệu nhiều lần làm gia tăng thêm chi phí giao nhận. Do đó, các khoản chi phí tăng cao làm ảnh hưởng đến giá thành sản xuất trong kinh doanh.

    6.                 Phương Hướng Phát Triển:

     

    6.1 Tình hình trước mắt:

    Năm 2004 là năm ngành may sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn những năm qua

    do:

    +Giá gia công ở Việt Nam thấp so với các nước khác trong khu vực và trên Thế Giới.

    +Tình hình chính trị trong nước ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nên khả năng thu hút khách hàng từ bên ngoài là rất lớn.

    +Việt Nam đã là thành viên của các tổ chức kinh tế Thế Giới, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

    6.2 Những chỉ tiêu chủ yếu năm 2004:

    Với tình hình như trên, công ty cố gắng quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn để thực hiện, đạt được những chỉ tiêu như:

    Tổng doanh thu: 15,858,123,000 đ.

    Tổng lợi nhuận: 1,500,245,000 đ.

    Nộp ngân sách : 678,000,000 đ.

    Tiền lương bình quân : 600,000 đ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VIỆC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    I.Phân Tích Tình Hình Lao Động Tại Công ty:

    1. Phân loại lao động:

    Tổng số lao động của Công ty là 993 người được phân thành các phòng ban và các tổ chức sản xuất

    Bảng 2: Số Lao Động Ở Các Phòng Ban:

    ĐƠN VỊ SỐ NGƯỜI
    Văn phòng công ty 46
    Xí nghiệp 1 420
    Xí nghiệp 2 420
    Phòng kỹ thuật 14
    Tổ cắt 48
    KCS – HT 18
    Đóng gói 27

    Số lượng lao động ở 2 xí nghiệp (xưởng may) chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động ở công ty. Họ là những thành phần chính tạo ra doanh thu cho công ty thông qua nhận may gia công các hợp đồng. Điều này đã lý giải vì sao

    • công ty trả lương cho công nhân theo sản phẩm là chủ yếu.
    • các lĩnh vực may mặc số lượng nữ làm việc rất cao, cụ thể ở công ty liên doanh may An Giang với 993 công nhân, trong đó:
    • Nam: 250 người chiếm tỷ lệ 25 %, tập trung phần lớn làm ở các đơn

    vị như: bảo vệ, tạp vụ, tài xế, quản lý xưởng, kỹ thuật, Ban Giám Đốc, Ủi, Kho.

    • Nữ: 743 người chiếm tỷ lệ 75 %, tập trung phần lớn ở các xưởng may, KCS, tổ cắt, tạp vụ.

    Để làm cơ sở tính lương cho từng lao động, công ty dựa vào trình độ tay nghề của từng người để sắp xếp theo từng cấp bậc công việc và hệ số lương tương ứng trên cơ sở những qui định về cấp bậc công việc và hệ số lương mà Nhà Nước ban hành trong bộ luật lao động và các văn bản dưới luật.

    2. Tổ chức hạch toán lao động tại công ty:

    Công ty tổ chức theo dõi tình hình sử dụng lao động vừa hạch toán theo thời gian lao động, vừa hạch toán về kết quả lao động.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.1Hạch toán về số lượng lao động:

    Việc xác định nhu cầu lao động nhằm đảm bảo cho công ty có được

    đúng người đúng việc vào đúng thời điểm cần thiết và đối phó linh hoạt với sự

    thay đổi của thị trường.

    • Đối với công nhân trực tiếp sản xuất: để hoàn thành chỉ tiêu giao hàng đúng tiến độ, công ty thường tuyển chọn thêm công nhân, số công nhân này sẽ được công ty dạy nghề miễn phí với thời gian học phụ thuộc vào trình độ công nhân, từng công đoạn. Bên cạnh đó, công ty thường xuyên tổ chức thi để nâng cao tay nghề bậc thợ cho công nhân và đó cũng là hình thức để nâng tiền lương cho những công nhân làm việc lâu năm có kinh nghiệm.
    • Đối với nhân viên quản lý: Thường nằm trong danh sách lao động thuộc biên chế công ty đã có tiêu chuẩn định biên các phòng ban quản lý. Số lượng nhân viên không có biến động trừ trường hợp nhân viên được chuyển công tác làm bộ phận khác công ty mới tuyển nhân viên có đủ trình độ phù hợp và chức năng nghiệp vụ đảm trách.

    2.2Hạch toán về thời gian lao động:

    Hàng ngày, cán bộ – công nhân viên đều làm việc và nghỉ theo qui định của công ty:

    Sáng: 7h – 11h.

    Chiều: 13h – 17h.

    Khi ra – vào cổng, công nhân đều được đội bảo vệ ghi nhận vào sổ

    theo dõi.

    Khi có những trường hợp đột xuất phải về sớm hay đi công tác, cán bộ – công nhân viên phải xin giấy ra cổng tại phòng Hành Chánh và xuất trình cho đội bảo vệ.

    Tổ trưởng của tổ sau khi nhận được lệnh sản xuất, phiếu giao việc của phòng kế hoạch chuyển xuống tiến hành thực hiện công việc. Hàng ngày ghi nhận trực tiếp ngày công làm của từng công nhân trực thuộc bộ phận mình quản lý vào bảng chấm công mỗi ngày 2 lần (đầu giờ vào buổi sáng và cuối giờ vào buổi chiều) để đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, tránh tình trạng trốn làm việc mà vẫn có ghi vào bảng chấm công.

    Hàng ngày có nhân viên thống kê phòng tổ chức lao động tiền lương kiểm tra ghi nhận lại tình hình trên để so sánh vào cuối tháng khi tính lương. Đồng thời căn cứ vào bảng chấm công, phiếu giao công việc, hợp đồng

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    giao khoán, phiếu xác nhận công việc hoàn thành thực tế tại các phân xưởng để làm cơ sở xét duyệt khen thưởng vào cuối quý, cuối năm.

    2.3Hạch toán về kết quả lao động:

    Hàng ngày các tổ trưởng căn cứ vào phiếu giao công việc hoặc lệnh sản xuất xác định rõ nội dung công việc, chất lương công việc, thời gian hoàn thành để chuyển sang bộ phận kiểm tra chất lương hoàn thành (KCS – HT) duyệt. Khi hoàn thành công việc, các tổ trưởng báo cáo và nộp phiếu giao việc, lệnh sản xuất, bảng chấm công về phòng kế toán, kế toán tổng hợp các chứng từ để làm cơ sở tính lương cho từng công nhân, thanh toán lương cho họ và làm cơ sở để phân bổ vào chi phí.

    II. Phân Tích Công Tác Hạch Toán Tiền Lương:

     

    1.     Những vấn đề chung:

    Công ty đang áp dụng ba hình thức trả lương, đó là trả lương theo sản phẩm, trả lương theo thời gian và trả lương khoán.

    Tuy nhiên tính khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì công ty trích trên tiền lương cơ bản nghĩa là vẫn dựa theo lương cấp bậc.

    Ngoài tiền lương, công ty còn xét thưởng cho nhân viên. Tiền thưởng được dựa trên các tiêu chuẩn sau:

    • Theo điểm thi đua A, B, C : điểm này dùng để đánh giá mưc độ hoàn thành công việc được giao của nhân viên.
    • Theo ngày công cao: tiêu chuẩn này dùng để đánh giá xem nhân viên có hoàn thành chỉ tiêu về ngày công trong tháng hay không.

    Phụ lục số 1 và số 2 trình bày chi tiết về quy định thưởng của công ty theo điểm thi đua và theo ngày công.

    • Phép năm: cán bộ – công nhân viên được nghỉ phép 12 ngày/năm, nếu nhân viên không nghỉ mà làm đủ 12 ngày nghỉ phép thì công ty trả 3 tháng lương bù cho 12 ngày phép.

    Hệ số lương × 290,000 × 3 tháng

    Phép năm =

    26 ngày

    • Theo tiến độ giao hàng trong trường hợp cần giao gấp: khi công ty cần giao hàng gấp thì tuỳ vào doanh thu mà công ty đạt được mà thưởng tiền cho công nhân viên.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 28

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Vào dịp lễ, tết: công ty dựa vào doanh thu từng tháng, quý, năm mà chi trả tiền thưởng cho công nhân viên.

    2. Tổ chức tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công Ty Liên Doanh May An Giang:

    2.1 Các căn cứ chủ yếu trong quy trình kế toán tiền lương:

    Số lượng lao động của công ty được phản ánh trên sổ lao động, sổ này được lập chung cho toàn công ty và lập riêng cho từng bộ phận cơ sở để tiện cho việc quản lý. Mỗi người trong công ty đều có mã số nhân viên và mã số này được sử dụng ghi chép chứng từ.

    Căn cứ vào các chứng từ như: “Bảng chấm công”, “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, “Hợp đồng giao khoán” kế toán tính tiền lương sản phẩm, lương thời gian, tiền ca cho cán bộ – công nhân viên.

    Tiền lương được tính riêng cho từng người và tổng hợp theo từng bộ phận lao động, phản ánh vào “Bảng thanh toán tiền lương lập cho bộ phận đó”.

    Đối với các khoản tiền thưởng của CNV, kế toán cần tính toán và lập bảng thanh toán tiền thưởng để theo dõi và chi trả đúng qui định.

    Căn cứ vào các chứng từ “Phiếu nghỉ hưởng BHXH”, “Biên bảng điều tra tai nạn lao động”…kế toán tính trợ cấp BHXH phải trả công nhân viên và phản ánh vào “Bảng thanh toán BHXH”.

    Căn cứ vào tài liệu hạch toán về thời gian, kết quả lao động và chính sách xã hội về lao động tiền lương, BHXH do Nhà Nước ban hành, kế toán tính tiền lương, trợ cấp BHXH, khoản phải trả khác cho người lao động.

    Căn cứ vào “Bảng thanh toán tiền lương” của từng bộ phận để chi trả, thanh toán tiền lương cho công nhân viên. Đồng thời, tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng lao động, tính toán trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ qui định. Kết quả tổng hợp, tính toán được phản ánh trong “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH”.

    Hàng tháng, việc tính lương, trợ cấp BHXH và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tại phòng kế toán của doanh nghiệp.

    Việc chi trả lương ở doanh nghiệp do Thủ Quỹ thực hiện. Thủ Quỹ căn cứ vào các “Bảng thanh toán tiền lương”, “Bảng thanh toán BHXH” để chi trả lương và các khoản khác cho Cán bộ – công nhân viên, khi nhận tiền họ phải ký tên vào bảng thanh toán tiền lương.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 29

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.2 Quy trình trả lương:

    Bảng chấm công             Báo cáo sản lượng
    (từng tổ, đơn vị thực     Tổ trưởng lập     (từng tổ, đơn vị thực
           
    hiện)             hiện)
                       
                       
                       
                       
                       
    Bảng thanh toán tiền   Bảng thanh toán   Bảng thanh toán
    thưởng (kế toán   lương cho từng tổ,   BHXH,BHYT, phụ
    lương thực hiện)   đơn vị (kế toán   cấp cho từng tổ, đơn
        lương thực hiện)   vị (kế toán lương
              thực hiện)
               
               

    Bảng phân bổ tiền lương và

    BHXH, BHYT, KPCĐ (kế

    toán lương thực hiện)

    Chi trả lương (thủ quỹ thực hiện)

    Tổ trưởng các đơn vị, đại diện các

    phòng ban nhận lương

    Phát lương lại cho cán bộ – công nhân viên

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 30

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.3 Cách tính lương, thanh toán lương và các khoản trích theo lương tại công ty:

    2.3.1 Cách tính lương và thanh toán lương:

    Việc thực hiện chế độ trả lương phải đạt yêu cầu công bằng, khoa học, tạo điều kiện cho việc tăng năng suất lao động, đồng thời cũng đảm bảo chất lượng sản phẩm.

    Việc tính lương tại công ty May An Giang dựa trên các cơ sở sau

    đây:

    • Nguồn quỹ lương.
    • Định biên và định mức lao động.
    • Cấp bậc và chức vụ công việc.
    • Mức lương áp dụng theo Nghị Định 26/CP của Thủ Tướng Chính Phủ.

    Công ty may An Giang là đơn vị kinh doanh dịch vụ, thương mại nên tiền lương được xác định trên cơ sở doanh thu tháng của công ty. Doanh thu mỗi tháng khác nhau vì phụ thuộc vào đơn giá và sản lượng gia công của từng mã hàng, mặt hàng.

    Nguồn quỹ lương của công ty được xác định bằng 50% doanh thu, trong đó:

    • Tổng quỹ lương phân phối chiếm 44% doanh thu.
    • Tổng quỹ lương dự phòng chiếm 6% doanh thu. Công thức tính lương:

    Tổng quỹ lương phân phối : Lp = doanh thu × 44%

    Quỹ lương phân phối được dùng để trả lương cho công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng và nhân viên quản lý doanh nghiệp.

    Lương được trả làm 2 kỳ:

    Kỳ 1: ứng 50% lương thực tế vào ngày giữa tháng.

    Kỳ 2: thanh toán lương còn lại vào cuối tháng.

    Hàng tháng vào ngày tính lương, kế toán lao động tiền lương dựa vào bảng phân bổ tổng quỹ lương phân phối để tính quỹ lương cho từng bộ phận, phòng ban và các tổ may.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 31

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Định biên: quy chế lương trong năm

    Bảng 3: Tỷ Lệ Phân Bổ Tiền Lương Các Phòng Ban

    Đơn vị Số người Tỷ lệ (%)
    1.Xí nghiệp 1 420 38.775
    2.Xí nghiệp 2 420 38.775
    3.Văn phòng 46 9.3
    4.Phòng kỹ thuật 14 2.2
    5.Tổ cắt 48 5.4
    6.Tổ KCS – HT 18 2.3
    7.Tổ đóng gói 27 3.25
    Cộng 993 100

    Ta có công thức tính quỹ lương phân bổ như sau:

    QLpb = Lp × tỷ lệ phân bổ

    Trong đó:

    • QLpb: quỹ lương phân bổ.
    • Tỷ lệ phân bổ: do công ty quy định dựa vào số lượng công nhân, trình độ tay nghề, thâm niên làm việc, tỷ lệ này cố định trong năm (căn cứ vào bảng định biên – ở quy chế lương của năm)

    Quỹ lương dự phòng:

    Qldp = doanh thu × 6%

    Dùng để chi các khoản sau:

    Lương phép năm.

    Tăng ca.

    Khen thưởng đột xuất hoặc cuối năm.

    Các khoản phụ cấp khác có tính chất như lương.

    Ví dụ:

    Doanh thu của Công ty liên doanh may An Giang vào tháng 12/2003 là

    100,000 USD với tỷ giá là 13,500 qui ra đồng Việt Nam là:

    100,000 × 13,500 = 1,350,000,000 VNĐ.

    Quỹ lương phân phối:

    1,350,000,000 × 0.44 = 594,000,000 đ.

    Quỹ lương dự phòng:

    1,350,000,000 × 0.06 = 81,000,000 đ.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 32

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Khi có quỹ lương phân phối, kế toán lao động tiền lương sẽ tính lương cho các bộ phận.

    Bảng 4: Phân Bổ Quỹ Lương Bộ Phận Văn Phòng

    Tên đơn vị Số người Tỷ lệ (%) Tổng quỹ lương Số tiền
    Ban giám đốc 2 0.9 594,000,000 5,346,000
    Phòng kế toán 3 0.8 594,000,000 4,752,000
    Phòng HC-QT 22 3.72 594,000,000 22,096,800
    Phòng KH-XK 19 3.88 594,000,000 23,047,200
    Cộng 46 9.3   55,242,000

     

    Công ty không có hệ một khoản thu nhập mà đáng Nước

    số phụ cấp, điều này làm cho nhân viên mất đi lẽ ra họ phải được hưởng theo qui định của Nhà

    2.3.1.1Tính lương cho bộ phận gián tiếp:

    Khi có được quỹ lương từng phòng ban, Kế Toán lao động tiền lương sẽ tính lương cho bộ phận gián tiếp như sau:

    Lương cho bộ phận gián tiếp tính theo lương sản phẩm, cách tính dựa vào tổng lương Nghị Định của từng phòng ban, tổng lương hệ số công việc của từng phòng ban và tổng quỹ lương của từng phòng ban. Cụ thể như sau:

    Tiền lương      =      HSL      ×      290,000   ×      HSCV      ×        CSTĐ

    Trong đó:

    • HSL: hệ số lương cá nhân dựa vào trình độ tay nghề, cấp bậc, thâm niên. (hệ số ngạch bậc theo công việc).
    • Lương hệ số theo qui định của Nhà Nước: 1 hệ số = 290,000 đ. o HSCV: hệ số cộng việc dựa vào mức độ hoàn thành công việc. o CSTĐ: chỉ số tương đương.

    Cụ thể như sau:

    Lương theo hệ số:

    Lương theo hệ số để làm cơ sở tính và chia lương cho từng lao động.

    Công ty đã sắp lao động theo cấp bậc và hệ số lương tương ứng.

    Lương tương ứng trên cơ sở qui định về cấp bậc hệ số lương mà Nhà Nước ban hành trong luật lao động tiền lương. Mức lương mà Nhà Nước qui định tối thiểu đầu năm 2003 là 290,000 đồng ứng với hệ số lương là 1. Mức lương theo hệ số được xác định như sau:

    • Lương hệ số công việc:

    Lương hệ số công việc = lương theo hệ số × hệ số công việc

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 33

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Lương sản phẩm :

    Thực tế ở một số công ty thì nhân viên thuộc bộ phận gián tiếp được trả lương theo thời gian, nhân viên thuộc bộ phận trực tiếp được trả lương theo sản phẩm. Ở một số công ty khác thì tổng lương công nhân thuộc bộ phận trực tiếp hay gián tiếp đều được tính lương bao gồm 2 khoản là lương chính (lương theo thời gian) và lương phụ (lương sản phẩm). Tuy nhiên, do ngành nghề đặc thù của công ty liên doanh May An Giang là sản xuất gia công theo đơn đặt hàng nên tiền lương trả cho bộ phận gián tiếp hay bộ phận trực tiếp sản xuất đều trả theo lương sản phẩm. Mặc dù vậy, cách tính của bộ phận gián tiếp và trực tiếp sản xuất là khác nhau, cụ thể cách tính lương sản phẩm của bộ phận gián tiếp như sau:

    Lương sản phẩm = lương theo hệ số công việc × CSTĐ

    Trong đó:

    Quỹ lương từng phòng ban, bộ phận

    CSTĐ = Tổng lương hệ số công việc của từng phòng ban, bộ phận

    Ví dụ:

    • Quỹ lương phòng kế toán là 4,752,000 đ.
    • Tổng lương hệ số cộng việc của phòng kế toán là 3,105,610 đ.
    • Kế toán trưởng Nguyễn Minh Triết có hệ số lương là 3.28, hệ số công việc là 1.5 và chỉ số tương đương là: 1.530134177

    Vậy, tiền lương sản phẩm của kế toán trưởng là:

    290,000 × 3.28 × 1.5 × 1.530134177 = 2,183,195 đ.

    Cách tính lương của các nhân viên còn lại tương tự như trên.

    Theo qui định của công ty, tiền lương được hưởng của CB-CNV sẽ bao gồm lương sản phẩm và các khoản khác có tính chất như lương (thưởng ngày công cao, phép năm, trợ cấp, làm thêm…)

    Các khoản khác (ngày công cao,

    Lương

    được hưở ng                                                         = Lương sản phẩm + phép năm, lương nghỉ Tết, làm thêm, trợ cấp,…)

    Trong đó:

    +Ngày công cao: do các nhân viên trong phòng kế toán làm việc 26 ngày (1 ngày chủ nhật), mức lương sản phẩm của 3 nhân viên đều đạt trên 500,000 đ/tháng nên tiền thưởng ngày công cao như sau:

    Thưởng 25 ngày công bình thường: 2,000 × 25 = 50,000 đ.

    Thưởng 1 ngày công chủ nhật: 10,000 × 1 = 10,000 đ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Cộng thưởng ngày công cao tháng 12/03 là: 50,000 + 10,000 = 60,000 đ.

    +Phép năm:

    Đối với kế toán trưởng Nguyễn Minh Triết là:

    ((290,000 × 3.28 × 3)/26) = 109,754 đ.

    Cách tính phép năm cho các nhân viên còn lại tương tự như trên.

    Vậy, tiền lương được hưởng của kế toán trưởng là:

    2,183,195 + 60,000 + 109,754 = 2,352,949 đ.

    Theo qui định của công ty, tiền lương thực lĩnh của công nhân viên bằng tổng lương được hưởng trừ đi các khoản giảm trừ (tạm ứng, BHXH, BHYT, BHCN…)

    Cụ thế các khoản giảm của Kế Toán trưởng:

    +Mức trích BHXH = 3.28 × 290,000 × 5% = 47,560 đ.

    +Mức trích BHYT = 3.28 × 290,000 × 1% = 9,512 đ.

    +Bảo hiểm con người (không bắt buộc): mức đóng là 97,000 đ/năm (12 tháng), tuỳ theo khả năng, hoàn cảnh của mỗi người mà công ty sẽ trừ vào lương hàng tháng, sau khi đã đóng hộ cho CB-CNV. Công nhân viên có thu nhập khá trừ 20,000 đ, công nhân có hoàn cảnh khó khăn, thu nhâp không cao thì trừ 7,000 đ.

    Cụ thể, mức đóng bảo hiểm con người của kế toán trưởng là 20,000 đ.

    +Kế toán trưởng có tạm ứng một số tiền là 1,000,000 đ.

    Vậy, tiền lương thực lĩnh của kế toán trưởng là:

    2,352,949 – 1,000,000 – 20,000 – 47,560 – 9,512 = 1,275,877 đ. Cách tính thực lĩnh của các nhân viên còn lại trong phòng kế toán tương tự như cách tính cho kế toán trưởng.

    2.3.3.2 Tiền lương bộ phận trực tiếp sản xuất:

    Tính theo lương sản phẩm, nhưng vẫn tính lương Nghị Định để làm cơ sở trích BHXH, BHYT.

    Lsp = C Đi × ĐGi

    Trong đó:

    • Lsp: lương sản phẩm
    • CĐi: sản lượng của công đoạn thứ i
    • ĐGi: đơn giá công đoạn thứ i, phụ thuộc vào 3 yếu tố: thời gian sản xuất một công đoạn, mức phức tạp của công đoạn, tay nghề công nhân. Tay nghề công nhân dựa vào mức độ phức tạp của công đoạn xếp bậc công nhân như bậc 3.5; bậc 4; bậc 4.5.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Hàng tháng tại phân xưởng thực hiện may nhiều mã hàng, mỗi mã hàng có quy trình may với số công đoạn ít hoặc nhiều.

    Đến kỳ tính lương, sản lượng may của từng người phải được xác nhận hàng ngày vào tờ khai công đoạn.

    Căn cứ vào bảng kê khai công đoạn lập riêng cho từng mã hàng do tổ trưởng ghi nhận, bảng chấm công, kế toán tiền lương tính ra sản phẩm công nhân.

    Ví dụ:

    Trích lương sản phẩm công nhân trực tiếp sản xuất ở tổ 8 vào tháng 12/2003 (xí nghiệp 2)

    Thanh Toán Lương Sản Phẩm Tháng 12/2003 (Xí Nghiệp 2)

      TÊN CÔNG     CÔNG     TÊN CÔNG   SỐ   ĐƠN   THÀNH
      NHÂN     HÀNG ĐOẠN     ĐOẠN   LƯỢNG   GIÁ   TIỀN
      Nguyễn Thị   508- 17     diễu đường   3,820   29.75   113,643
      Mỹ Dung     qshort     giữa phía sau      
                           
            CỘNG                   113,643

    Tiền lương sản phẩm = (3,820 × 29.75) = 113,643.

    Thanh Toán Lương Cá Nhân Tháng 12/2003 (Xí Nghiệp 2)

    ĐVT: Đồng

      TÊN CÔNG     LƯƠNG SẢN     TRỢ CẤP     PHÉP NĂM     TỔNG LƯƠNG  
      NHÂN     PHẨM         (THÁNG7-8-9)     ĐƯỢC HƯỞNG  
                         
      Mỹ Dung   113,643 300,000   46,846   460,489  

    Giải thích:

    Do lương sản phẩm của công nhân tháng 12/2003 thấp nên công ty dùng quỹ dự phòng để trợ cấp lương cho công nhân nhằm khuyến khích người lao động.

    (1.4 × 290,000 × 3)

    phép năm           =                                                             =        46,846 đ.

    26

    Thực lĩnh = tổng lương được hưởng – các khoản giảm trừ (tạm ứng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm con người, tiền cơm trưa…)

    Hệ số lương của Mỹ Dung là 1.4

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Bảo hiểm xã hội = 290,000 × 1.4 × 5%

    Bảo hiểm y tế = 290,000 × 1.4 × 1%

    Tạm ứng: 50,000 đ.

    Tiền cơm trưa: 27,000 đ.

    Vậy, thực lĩnh của công nhân Nguyễn Thị Mỹ Dung là:

    460,489 – 50,000– 20,900– 4,060– 27,000= 359,129 đ.

    2.3.3.3 Lương khoán:

    Lương khoán tại công ty được tính như sau:

    Công ty tính và chi trả tiền lương cho nhân viên không dựa theo cấp bậc, chức vụ, số sản phẩm làm ra mà công ty khoán lương cho nhân viên (bảo vệ, tạp vụ và 1 cá nhân ở phòng Tổ Chức Hành Chánh) trong tháng, tính 26 ngày. Nếu nhân viên nào làm hơn 26 ngày thì lấy số lương khoán trong một ngày nhân cho số ngày làm hơn rồi cộng với số lương khoán trong 26 ngày. Nếu nhân viên làm thiếu 26 ngày thì trừ đi số ngày làm thiếu trong tháng.

    Các nhân viên nhận lương khoán của công ty là bảo vệ, tạp vụ và một cá nhân ở phòng Tổ Chức Hành Chánh.

    Bảng lương khoán cho nhân viên bảo vệ

    MÃ NHÂN SỰ HỌ TÊN NGÀY CÔNG TIỀN LƯƠNG
    M1V103 Huỳnh Tài Lộc 30 810,000
    M1V104 Trương Thế Ngọc 25 750,000

    Công ty qui định 26 ngày công trong tháng.

    Ông Huỳnh Tài Lộc làm được 30 ngày công:

    Nên tiền lương thêm cho 4 ngày công là:

    (4× 810,000)/ 26 = 124,615 đ.

    Ông Trương Thế Ngọc làm được 25 ngày công, thiếu 1 ngày công.

    Nên bị trừ 1 ngày công vào tiền lương khoán như sau:

    (1 × 750,000)/ 26 = – 28,846 đ.

    Do trả theo hình thức lương khoán nên công ty không trừ đi các khoản giảm trừ trong tiền lương nhân viên.

    Vậy, tiền lương thực lĩnh của 2 người là:

    • Ông Huỳnh Tài Lộc: 810,000 + 24,615 = 934,615 đ. +Ông Trương Thế Ngọc: 750,000 – 28,846 = 721,154 đ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.3.2 Các khoản trích theo lương tại công ty:

    Sau khi tính toán và thanh toán lương cho công nhân viên. Cuối tháng kế toán tiến hành phân bổ tiền lương, BHXH, BHYT và KPCĐ trong tháng vào các đối tượng chịu chi phí như sau:

    Đối với chi phí nhân công nhân trực tiếp sản xuất (622): tài khoản này tập hợp lương và các khoản trích theo lương của các tất cả công nhân trực tiếp sản xuất ở các xí nghiệp.

    Đối với chi phí sản xuất chung (627): bao gồm lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý tại các phân xưởng được tập hợp vào tài khoản này.

    Đối với chi phí bán hàng (641): bao gồm lương và các khoản trích theo lương của nhân viên bán hàng được tập hợp vào tài khoản này.

    Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp (642): Bao gồm lương và các khoản trích theo lương của các phòng ban sau đây được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp: Ban giám đốc, phòng kế toán, phòng tổ chức hành chánh, phòng kế hoạch.

    Trong tháng 12 năm 2003 phát sinh các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương sau đây:

    Bảng 5 : Phân Bổ Tiền Lương và BHXH, BHYT, KPCĐ Tháng 12/2003

    CHI   CÓ TK 334     CÓ TK 338    
             
      LƯƠNG   TỔNG          
    PHÍ LƯƠNG   3382 3383 3384 CỘNG  
    SẢN PHẨM TRỢ CẤP LƯƠNG
      CHÍNH (trích 2%) (trích 15%) (trích 2%)    
               
                       
    NỢ (1) (2) (3) (2) + (3)          
    TK 622 165,317,007 127,796,863 309,904,875 437,701,738 8,754,035 24,797,551 3,306,340 36,857,926  
    TK 627 27,976,727 21,627,158 52,445,444 740,772,602 1,481,452 4,196,509 559,534 6,237,495  
    TK 641 33,063,400 25,559,376 61,980,972 87,540,348 1,750,807 4,959,510 661,268 7,371,585  
    TK 642 27,976,727 21,627,155 52,445,447 74,072,602 1,481,452 4,196,509 559,534 6,237,495  
    CỘNG 254,333,861 196,610,552 476,776,738 673,387,290 13,467,746 38,150,079 5,086,676 56,704,501  

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 38

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Hình 1: Đồ Thị Biểu Diễn Kết Cấu Lương Chính

      11%
    13% TK 622
      TK 627
      TK 641
    11% TK 642
     
      65%

    Kết cấu lương chính:

    Cơ cấu lao động trong công ty đa phần là công nhân ở các xưởng may (công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm), với tỷ lệ 65% tổng tiền lương chính, là người tạo ra doanh thu cho công ty. Do đó, công ty cần có những chế độ lương, chính sách trợ cấp để đảm bảo cuộc sống cho cán bộ – công nhân viên, giữ họ lâu dài với doanh nghiệp.

    Chi phí bán hàng (13%), chi phí quản lý (11%) và sản xuất chung (11%). Điều này cũng dễ dàng thấy được như sau: khi công ty có nhiều đơn đặt hàng thì doanh thu nhiều, quỹ lương phân phối cao, công ty phân phối công bằng thì rõ ràng là chi phí công nhân trực tiếp sản xuất chiếm số lượng lớn. Khi có nhiều đơn đặt hàng kéo theo chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất chung tăng.

    • Định khoản:
    • Tiền lương và các khoản khác phải trả công nhân viên tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:
    Nợ 622 437,701,738
    Nợ 627 74,072,602
    Nợ 641 87,540,348
    Nợ 642 74,072,602
    Có 334 673,387,290

    – Thanh toán tiền lương và các khoản khác cho công nhân viên.

    Nợ 334 673,387,290
    Có 111 673,387,290

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 39

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Hàng tháng trích BHXH,BHYT, KPCĐ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, trong đó: bảo hiểm xã hội (3383) và bảo hiểm y tế (3384) trích trên lương chính, còn kinh phí công đoàn (3382) trích trên tổng lương, khoản mục kinh phí công đoàn sẽ được doanh nghiệp chi nộp thay cho công nhân viên.
    Nợ 622 36,857,926
    Có 3382 8,754,035
    Có 3383 24,797,551
    Có 3384 3,306,340
    Nợ 627 6,237,495
    Có 3382 1,481,452
    Có 3383 4,196,509
    Có 3384 559,534
    Nợ 641 7,371,585
    Có 3382 1,750,807
    Có 3383 4,959,510
    Có 3384 661,268
    Nợ 642 6,237,495
    Có 3382 1,481,452
    Có 3383 4,196,509
    Có 3384 559,534

    – Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bằng tiền mặt.

    Nợ 338 56,704,501
    Có 111 56,704,501

    – Khấu trừ BHXH, BHYT vào lương cán bộ – công nhân viên.

    Nợ 334 15,260,032
    Có 338 15,260,032

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 40

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 334

    111     334     622
      673,387,290 673,387,290 673,387,290 437,701,738  
                           
                           
                           

    627

    74072602

    641

    87540348

    642

    74072602

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 338

    111         338     622
      71,964,533 71,964,533 71,964,533 36,857,926  
                           
                           
                           

    627

    6,237,495

    641

    7,371,585

    642

    6,237,495

    334

    15,260,032

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 41

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    SỔ CÁI KẾ TOÁN

    TK 334 – PHẢI TRẢ PHẢI NỘP KHÁC

    CHỨNG TỪ GHI SỔ DIỄN GIẢI TK ĐỐI   SỐ TIỀN
    SỐ NGÀY ỨNG NỢ  
       
        Số dư đầu tháng        
        Số phát sinh trong tháng        
        -Tiền lương phải trả        
    1810 25/12 +Tính vào CPNCTT 622     437,701,738
      25/12 +Tính vào CPSXC 627     74,072,602
      25/12 +Tính vào CPBH 641     87,540,348
      25/12 +Tính vào CPQLDN 642     74,072,602
      30/12 -Chi trả lương bằng tiền        
        mặt   673,387,290  
        Cộng phát sinh        
        Số dư cuối kỳ        

    SỔ CÁI KẾ TOÁN

    TK 338 – PHẢI TRẢ PHẢI NỘP KHÁC

    CHỨNG TỪ GHI SỔ DIỄN GIẢI TK ĐỐI   SỐ TIỀN
    SỐ NGÀY   ỨNG NỢ  
        Số dư đầu tháng        
        -Trích  BHXH,  BHYT,        
        KPCĐ        
    1810 25/12 +Tính vào CPNCTT 622     36,857,926
      25/12 +Tính vào CPSXC 627     6,237,495
      25/12 +Tính vào CPBH 641     7,371,585
      25/12 +Tính vào CPQLDN 642     6,237,495
      25/12 +Khấu  trừ  vào  lương 334     15,260,032
        khoản BHXH, BHYT        
      30/12 -Nộp BHXH bằng tiền 111 71,964,533  
        mặt        
        Cộng phát sinh        
        Số dư cuối tháng        

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 42

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TIỀN LƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG

    1.Phân Tích Các Chỉ Tiêu Giữa 2 Năm 2001 và 2002:

    1.1Quỹ lương:

    Bảng 6 :Quỹ Lương Được Phép Chi Trong Năm 2001 và 2002

    ĐVT: đồng

      KHOẢN MỤC DOANH THU TIỀN LƯƠNG
      2001 2002 2001 2002
    1. Doanh thu gia công 3,447,741,430 5,183,695,674 1,723,870,715 2,591,847,837
    2. Doanh thu bán thành phẩm 150,800,480 36,407,234 75,400,240 18,203,617
    3. Doanh thu hàng hoá 62,521,966 74,485,730 31,260,983 37,242,865
    4. Thu nhập tài chính        
    5. Thu nhập bất thường        
      CỘNG 3,661,063,876 5,294,588,638 1,830,531,938 2,647,294,319

    Trong đó:

    +Doanh thu hàng hóa là số tiền công ty có được do việc bán phế liệu, nhận hoa hồng do gia công cho công ty khác.

    Nhìn vào đây ta thấy:

    Tiền lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu, ta thấy doanh thu gia công năm 2002 lớn hơn năm 2001, điều này dẫn đến tiền lương từ doanh thu gia công năm 2002 lớn hơn năm 2001.

    Trong đó doanh thu gia công chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, cụ thể:

    Năm 2002: doanh thu gia công chiếm 98% tổng doanh thu

    Năm 2001: doanh thu gia công chiếm 94% tổng doanh thu.

    Năm 2002: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 98% tổng

    lương.

    Năm 2001: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 94% tổng

    lương.

    Các doanh thu còn lại: năm 2002 doanh thu bán thành phẩm nhỏ hơn, doanh thu hàng hoá lớn hơn năm 2001, mặc dù tỷ trọng chiếm không lớn trong tổng doanh thu. Do trong năm 2001 công ty chưa kịp trang bị máy móc, thiết bị mới nên tình trạng phế liệu còn nhiều trong việc gia công, nên doanh thu hàng hóa, doanh thu bán thành phẩm năm 2001 cao. Còn trong năm 2002, do công

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    ty tập trung phần lớn là ở việc gia công thành phẩm hoàn chỉnh nên tỷ lệ bán thành phẩm thấp nên doanh thu gia công cao, doanh thu bán thành phẩm thấp.

    Tóm lại, doanh thu công ty phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công.

    1.2Tình Hình Doanh Thu Và Tiền Lương:

    Bảng 7: Tình Hình Về Doanh Thu Và Tiền Lương Bình Quân Trong 2 Năm 2001 và 2002

      KHOẢN MỤC THỰC HIỆN THỰC HIỆN CHÊNH
      2001 2002 LỆCH
         
      Doanh thu (đ)   3,661,063,876 5,294,588,638 1,633,524,762
      Số lao động (bình quân) (người) 5,241 6,023 782
      Tiền lương (bình quân) 349,272 439,531 90,259
    (đ/người/tháng)  
           
           
      Quỹ tiền lương =   Số lao động (bình quân) ×   Tiền lương (bình quân)
               

    Do tiền lương mang tính chất bình quân nên kết quả tính bên dưới chỉ mang tính gần đúng.

    Gọi Qo: chỉ tiêu quỹ lương kỳ thực tế năm 2001.

    Q1: chỉ tiêu quỹ lương kỳ thực tế năm 2002.

    Ao: số lao động (bình quân) kỳ thực tế năm 2001.

    A1: số lao động (bình quân) kỳ thực tế năm 2002.

    Bo: tiền lương (bình quân) kỳ thực tế năm 2001.

    B1: tiền lương (bình quân) kỳ thực tế năm 2002.

    Ta có:

    Qo = Ao × Bo = 5,241 × 349,272 = 1,830,531,938 đ.

    Q1 = A1 × B1 = 6,023 × 439,531 = 2,647,294,319 đ.

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo = 2,647,294,319 – 1,830,531,938 = 816,762,381 đ. Mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (lao động bình quân)

    ∆A = (6,023 – 5,241) × 349,272 = 273,130,704 đ.

    Mức độ ảnh hưởng của nhân tố B (tiền lương bình quân).

    ∆B = 6023 × (439,531 – 349,272) = 543,629,957 đ.

    Tổng hợp mức ảnh hưởng các nhân tố:

    273,130,704 + 543,629,957 = 816,762,381 đ.

    Nhận xét:

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Nhân tố lao động tăng 782 người đã làm tăng quỹ lương: 273,130,704 đ.
    • Nhân tố tiền lương tăng 90,259 đồng làm tăng quỹ lương: 543,629,657 đ.

    Tuy nhiên, để xét đến chất lượng quản lý, cần xem xét thêm các chỉ tiêu, nhân tố khác.

    Từ tài liệu trên, ta có thể tính được nhân tố năng suất lao động bình quân theo công thức:

    Năng suất lao động = Doanh thu
    Số lao động bình quân

    1.3Tình Hình Doanh Thu Và Năng Suất Lao Động:

    Bảng 8 : Tình Hình Về Doanh Thu Và Năng Suất Lao Động Trong 2 Năm 2001 và 2002

    STT KHOẢN MỤC THỰC TẾ THỰC TẾ   CHÊNH LỆCH
     
    2001 2002   SỐ TIỀN TỶ LỆ(%)
         
    1 Doanh thu (đ) 3,661,063,876 5,294,588,6381,633,524,762 44.6
    2 Lao động (bình quân) (người) 5241 6023   782 14.9
    3 Năng suất lao động (đ/người) 698,543 879,062 180,519 25.8
    4 Tiền  lương  (bình  quân) 349,272 439,531   90,259 25.8
    (đ/người/tháng)  
    5 Quỹ tiền lương (đ) 1,830,531,938 2,647,294,319 816,762,381 44.6

    Công thức quỹ tiền lương được viết lại theo mối quan hệ với các nhân tố: doanh thu, năng suất lao động, tiền lương như sau:

    Quỹ tiền lương = Doanh thu × Tiền lương  
    Năng suất lao động bình quân
        bình quân  

    Gọi Q: chỉ tiêu phân tích (quỹ tiền lương).

    A: doanh thu.

    B: năng suất lao động bình quân

    C: tiền lương bình quân.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích và các nhân tố được thể hiện (vừa dạng tích số, vừa dạng thương số) như sau:

    Q    =      AB  ×  C

    Do tiền lương mang tính chất bình quân nên kết quả tính toán bên dưới mang tính gần đúng

    Gọi Q1: Kết quả kỳ thực tế 2002

    Qo: Chỉ tiêu kỳ thực tế 2001

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo : đối tượng phân tích.

    5,294,588,638   3,661,063,876    
    =   × 439,531   × 349,272  
    879,062 698,543
             
    • 2,647,294,319 – 1,830,531,938 = 816,762,381 đ.

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (nhân tố doanh thu).

    ∆A = 1,633,524,762 × 349,272 = 816,763,550 đ.

    698,543

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố b (nhân tố năng suất lao

    động).

      1   1        
    ∆B = 5,294,588,638 ×       × 349,272 = −543,633,563 đ.  
    879,062 698,543
               

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố c (nhân tố lương bình quân).

    ∆C = 5,294,588,638 × (439,531 − 349,272) = 543,629,773 đ.

    879,062

    Tổng hợp mức độ ảnh hưởng các nhân tố:

    ∆Q = ∆A + ∆B + ∆C

    • 816,762,381 – 543,633,563 + 543,629,773 = 816,762,381 đ.

    Nhận xét:

    • Nhân tố doanh thu tăng 44.6% đã làm tăng quỹ tiền lương: 816,763,550 đồng. Quỹ tiền lương tăng do doanh thu tăng là điều bình thường. Tuy nhiên, tốc độ tăng quỹ tiền lương tương đương với tốc độ tăng doanh thu 44.6% là trường hợp đặc biệt. Nhưng cũng có thể giải thích thêm do tiền lương bình quân năm 2001 tương đối thấp, doanh nghiệp thực hiện tăng lương trong năm 2002 (phù hợp với chế độ trả lương hiện hành) để đảm bảo thu nhập cho người lao động.
    • Nhân tố năng suất lao động tăng 25.8% làm cho quỹ lương giảm 543,633,503 đồng, cho thấy tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân rất nhiều. Điều này là phù hợp với xu hướng phát

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 46

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    triển, là hợp lý. Nhưng cũng có thể giải thích thêm: chuyên môn hóa từng công đoạn, từng công việc dẫn đến là năng suất lao động của công nhân tăng bởi khi đó họ chỉ may một bộ phận của cái áo. Vì công ty là may dây chuyền nên họ sẽ đảm bảo hoàn thành tiến độ công việc.

    • Nhân tố tiền lương bình quân tăng 25.8% đã làm tăng quỹ lương 543,629,773 đồng. Điều này phù hợp với nội dung phân tích đã nêu.

    Kết luận:

    Doanh nghiệp cần quản lý, sử dụng lao động và quỹ lương tốt hơn. Thông qua kết quả phân tích, doanh nghiệp thấy được sự tác đông khác nhau của các nhân tố đến tiền lương. Từ đó, các chính sách phù hợp sẽ được áp dụng để mang lại hiệu quả.

    2.Phân Tích Các Chỉ Tiêu Giữa 2 Năm: 2002 và 2003

    2.1Quỹ lương chi:

    Bảng 9: Quỹ Lương Được Phép Chi Trong Năm 2002 và 2003

    ĐVT: đồng

        KHOẢN MỤC   DOANH THU   TIỀN LƯƠNG  
             
          2002 2003   2002   2003  
                 
      1. Doanh thu gia công 5,183,695,674 10,901,826,828 2,591,847,837 5,450,913,410  
      2. Doanh thu bán thành phẩm 36,407,234 34,420,126 18,203,617 17,210,063  
      3. Doanh thu hàng hoá 74,485,730 55,039,272 37,242,865 27,519,636  
    1. Thu nhập tài chính
    1. Thu nhập bất thường
    CỘNG 5,294,588,638 10,991,286,220 2,647,294,319 5,495,643,109

    Nhìn vào đây ta thấy:

    Tiền lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu, ta thấy doanh thu gia công năm 2003 lớn hơn năm 2002, điều này dẫn đến tiền lương từ doanh thu gia công năm 2003 lớn hơn năm 2002.

    Trong đó doanh thu gia công chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu cụ thể:

    Năm 2003: doanh thu gia công chiếm 99 % tổng doanh thu

    Năm 2002: doanh thu gia công chiếm 98% tổng doanh thu.

    Năm 2003: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 99 % tổng

    lương.

    Năm 2002: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 98 % tổng

    lương.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Các doanh thu còn lại: năm 2003 doanh thu bán thành phẩm và doanh thu hàng hoá đều nhỏ hơn năm 2002, mặc dù tỷ trọng chiếm không lớn trong tổng doanh thu. Do trong năm 2003 công ty trang bị thêm nhiều máy móc hiện đại nên tỷ lệ phế phẩm giảm, công ty sản xuất gia công tạo sản phẩm hoàn thành là chủ yếu nên doanh thu bán thành phẩm giảm, doanh thu gia công tăng so với năm 2003.

    Tóm lại, có thể khẳng định một điều là doanh thu công ty phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công.

    2.2Tình Hình Về Doanh Thu Và Tiền Lương Bình Quân:

    Bảng 10 : Tình Hình Về Doanh Thu Và Tiền Lương Bình Quân Trong 2 Năm 2002 Và 2003

    KHOẢN MỤC THỰC HIỆN THỰC HIỆN CHÊNH LỆCH  
    2002 2003
         
    Doanh thu (đ) 5,294,588,638 10,991,286,220 5,696,697,582  
    Lao động (bình quân) (người) 6023 8226 2203  
    Tiền lương        
    (bình quân) (đ/người/tháng) 439,531 668,082 228,551  

    Ta có:

    Qo = Ao × Bo = 6023 × 439,531 = 2,647,294,319 đ.

    Q1 = A1 × B1 = 8226 × 668,082 = 5,495,643,109 đ.

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo = 5,495,643,109 – 2,647,294,319 = 2,848,348,790 đ.

    Mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (lao động bình quân)

    ∆A = (8226 – 6023) × 439,531 = 968,268,793 đ.

    Mức độ ảnh hưởng của nhân tố B (tiền lương bình quân)

    ∆B = 8226 × (668,082 – 439,531) = 1,880,060,526 đ.

    Tổng hợp mức ảnh hưởng các nhân tố:

    968,268,793 + 1,880,060,526 = 2,848,348,790 đ.

    Nhận xét:

    • Nhân tố lao động tăng 2203 người làm tăng quỹ lương: 968,286,793 đ.
    • Nhân tố tiền lương tăng 228,551 đồng làm tăng quỹ lương: 1,880,060,526 đ. Điều này là do công ty mở rộng cơ sở sản xuất thu hút nhiều lao động, công ty thu hút nhiều khách hàng làm cho doanh thu tăng, quỹ lương tăng, lương nhân viên tăng.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Tuy nhiên, để xét đến chất lượng quản lý, cần xem xét thêm các chỉ tiêu, nhân tố khác.

    Từ tài liệu trên, ta có thể tính được nhân tố năng suất lao dộng bình quân, theo công thức:

    Doanh thu

    Năng suất lao động = Số lao động bình quân

    2.3Tình hình về doanh thu và năng suất lao động:

    Bảng 11: Tình Hình Về Doanh Thu Và Năng Suất Lao Động Trong 2

    Năm 2002 Và 2003

    KHOẢN MỤC THỰC HIỆN THỰC HIỆN CHÊNH LỆCH    
       
    2002 2003 SỐ TIỀN TỶ LỆ (%)  
     
    Doanh thu (đ) 5,294,588,638 10,991,286,220 5,696,697,582   107.6  
    Số lao động (bình quân) (người) 6023 8226 2203   26.6  
    Năng suất lao động (đ/người) 879,062 1,336,164 457,102   52  
    Lương (bình quân) (đ/người) 439,531 668,082 228,551   52  
    Quỹ lương (đ) 2,647,294,319 5,495,643,109 2,848,348,790   107.6  

    Công thức quỹ tiền lương được viết lại theo mối quan hệ với các nhân tố:doanh thu, năng suất lao động, tiền lương như sau:

    Quỹ tiền lương = Doanh thu × Tiền lương  
    Năng suất lao động bình quân
        bình quân  

    Gọi Q: chỉ tiêu phân tích (quỹ tiền lương).

    A: doanh thu.

    B: năng suất lao động bình quân

    C: tiền lương bình quân.

    Quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích và các nhân tố được thể hiện (vừa dạng tích số, vừa dạng thương số) như sau:

    Q    =      AB  ×  C

    Gọi Q1: Kết quả kỳ phân tích.

    Qo: Chỉ tiêu kỳ kế hoạch.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo : đối tượng phân tích.

    10,991,286,220   5,294,588,638    
    =   × 668,082   × 439,531  
    1,336,164 879,062
             

    = 5,495,643,109 – 2,647,294,319 = 2,848,348,790 đ.

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (nhân tố doanh thu).

    ∆A = 5,696,697,582 × 439,531 = 2,848,348,791đ.

    879,062

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố B (nhân tố năng suất lao

    động).

      1   1     = −1,880,060,724.đ  
    ∆B = 10,991,286,220 ×         × 439,531
    1,336,164 879,062
               
                     

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố C (nhân tố lương bình quân).

    ∆C = 10,991,286,220 × (668,082 − 439,531) = 1,880,060,526 đ.

    1,336,164

    Tổng hợp mức độ ảnh hưởng các nhân tố:

    ∆Q = ∆A + ∆B + ∆C

    • 2,848,348,791 – 1,880,060,724 + 1,880,060,526 = 2,848,348,790 đ.

    Nhận xét:

    • Nhân tố doanh thu tăng 107.9% đã làm tăng quỹ tiền lương: 2,848,348,791 đ. Quỹ tiền lương tăng do doanh thu tăng là điều bình thường. Tuy nhiên, tốc độ tăng quỹ tiền lương 107.9% tương đương với tốc độ tăng doanh thu 107.6% là trường hợp đặc biệt. Nhưng cũng có thể giải thích thêm do năm 2003 công ty đã tìm kiếm thêm nhiều khách hàng, đã thay đổi chiến lược kinh doanh có hiệu quả hơn.
    • Nhân tố năng suất lao động tăng 52% làm cho quỹ lương giảm 1,880,060,724 đ, cho thấy tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân rất nhiều. Điều này là phù hợp với xu hướng phát triển, là hợp lý. Nhưng cũng có thể giải thích thêm: chuyên môn hóa từng công đoạn, từng công việc dẫn đến là năng suất lao động của một công nhân may tăng, bởi khi đó họ chỉ may một bộ phận của cái áo. Vì công ty là may dây chuyền nên họ sẽ đảm bảo hoàn thành tiến độ công việc.
    • Nhân tố tiền lương bình quân tăng 52% đã làm tăng quỹ lương 1,880,060,526 đ. Điều này phù hợp với nội dung phân tích đã nêu.

    Kết luận:

    Doanh nghiệp cần quản lý, sử dụng lao động và quỹ lương tốt hơn. Thông qua kết quả phân tích, doanh nghiệp phát hiện sự tác đông khác nhau

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 50

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    của các nhân tố đến tiền lương. Từ đó, các chính sách phù hợp sẽ được áp dụng để mang lại hiệu quả.

    3.Tình hình thu nhập:

    Bảng 12: Tình Hình Thu Nhập Của Công Nhân Viên

    KHOẢN MỤC NĂM 2001 NĂM 2002 NĂM 2003
    1.Tổng thu nhập (đ) 1,830,531,9382,647,294,319 5,495,643,109
    2.Số lao động (người) 5,241 6,023 8,226
    3.Thu nhập bình quân (đ/người/tháng) 349,272 439,531 668,082

    Qua 3 năm 2001, 2002, 2003 ta thấy:

    +Số lao động của năm 2002 tăng 14.9% so với năm 2001.

    +Số lao động của năm 2003 tăng 36.6% so với năm 2002.

    Sỡ dĩ số lao động tăng là do công ty có chiến lược kinh doanh hợp lý nên thu hút nhiều khách hàng, công ty mở rộng qui mô sản xuất nên tuyển thêm nhân viên. Do đó, số lao động tăng và thu nhập bình quân tăng là điều tất yếu.

    Hình 2: Biểu Diễn Mối Quan Hệ Giữa Tổng Thu Nhập Qua 3 Năm:

    2001 – 2002 – 2003

    6,000,000,000

    4,000,000,000

    2,000,000,000

    0

    2001                 2002                 2003

    Hình 3: Biểu Diễn Mối Quan Hệ Giữa Thu Nhập Bình Quân Qua

    3 Năm: 2001 – 2002 – 2003

    800,000

    600,000

    400,000

    200,000

    0

    NĂM    NĂM    NĂM

    2001       2002       2003

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Tiền lương được phát cho CB-CNV được lấy từ nguồn tổng quỹ lương của công ty, tổng quỹ lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu của công ty.

    Doanh thu tăng do công ty mở rộng quy mô sản xuất, thị phần mở rộng, đơn đặt hàng nhiều. Điều này dẫn đến tổng quỹ lương tăng, quỹ lương tăng, kích thích người lao động, và cũng do năm 2003 công ty áp dụng chế độ trả lương theo qui định mới, nâng mức lương cơ bản từ 210,000đ lên 290,000đ.

    Điều này làm cho thu nhập của CB-CNV tăng lên đáng kể: tiền lương mà CB-CNV lãnh vừa là kết quả của quá trình lao động của bản thân, vừa là nguyên nhân do việc họ tăng suất lao động, công ty đạt doanh thu cao, khi có doanh thu cao dẫn đến quỹ lương cao do đó thu nhập của CNV sẽ cao. Cụ thể như sau:

    • Tổng quỹ tiền lương của năm 2002 so với năm 2001 là 44.6% dẫn đến tiền lương bình quân của năm 2002so với năm 2001 là 25.8%.

    o Tổng quỹ tiền lương của năm 2003 so với năm 2002 là 107.6% dẫn đến tiền lương bình quân của năm 2003 so với năm 2002 là 52%.

    o Do công ty áp dụng chính sách lương mới nên ngoài tiền lương thì thu nhập của cán bộ – công nhân viên còn được nhận: tiền lương, phụ cấp, tăng ca, phúc lợi…là những thu nhập khác có tính chất như tiền lương.

    o Chúng ta thấy tỷ lệ tăng doanh thu của năm 2003 so với năm 2002 là 107.6% cao hơn tỷ lệ tăng doanh thu của năm 2002 so với năm 2001 là 44.6% điều này dẫn đến thu nhập của năm 2003 cao hơn năm 2002, do: số lượng công nhân viên của công ty tăng khi công ty khi đã mở rộng thị trường, dẫn đến mở rộng quy mô sản xuất và tuyển nhân sự. Việc trả lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu của công ty, tốc độ tăng doanh thu, tăng quỹ lương lớn hơn tốc độ tăng về số lượng lao động dẫn đến lương tăng là điều tất yếu.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    4.So sánh lương:

    Bảng 13: So Sánh Doanh Thu, Quỹ Lương Các Tháng Trong Năm 2003 Tại Xí Nghiệp 2

    THÁNG DOANH QUỸ LƯƠNG SỐ  
      THU PHÂN PHỐI NGƯỜI  
    1 36,410.75 216,279,855 439  
    2 26,177.30 155,493,162 468  
    3 28,100.00 166,914,000 439  
    4 38,300.00 227,502,000 439  
    5 38,384.00 228,000,960 439  
    6 47,459.30 281,908,242 439  
    7 33,901.60 201,375,504 439  
    8 18,105.50 107,546,670 439  
    9 7,682.60 45,634,644 499  
    10 23,077.30 137,079,162 414  
    11 25,234.80 149,894,712 413  
    12 40,109.85 238,252,509 402  

    HÌNH 4: Biểu Diễn Quỹ Lương Các Tháng Trong Năm 2003

    Tại Xí Nghiệp 2

    SO TIEN

    300,000,000

    250,000,000

    200,000,000

    150,000,000

    100,000,000

    50,000,000

    0

    1 2       3          4          5          6          7          8             9  10 11 12

    THANG

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 53

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Hình 5: Biểu Diễn Số Lao Động Các Tháng Trong Năm 2003 Tại Xí Nghiệp 2

    SO NGUOI

    600

    500

    400

    300

    200

    100

    0

    1   2    3    4    5    6    7    8    9   10 11 12

    THANG

     

    Nhìn vào đồ thị ta có thể nhận xét một điều là số lao động biến động không nhiều bằng sự biến động của quỹ lương:

    • Trong khi số lao động có khuynh hướng là một đường thẳng và ít gấp khúc thì quỹ lương lại là một gấp khúc, điểm gấp khúc của tháng cao và tháng thấp là rất xa (quỹ lương tháng 6 là 281,908,242 đồng so với tháng 9 là 45,634,644 đồng).
    • Trước tình hình đó đòi hỏi các cán bộ lãnh đạo cần có kế hoạch, biện pháp nhanh chóng, cụ thể và hữu hiệu nhằm tránh tình trạng biến động quá nhiều (quỹ lương, lương cá nhân) ảnh hưởng không tốt cho tinh thần cán bộ – công nhân viên của công ty.
    • Sở dĩ quỹ lương của tháng 6 và tháng 12 cao do: tháng 6 là tháng nghĩ hè, du lịch… và tháng 12 là tháng gần Tết người tiêu dùng mua sắm nhiều, công ty có đơn đặt hàng nhiều, thị phần mở rộng… đã làm cho doanh thu của 2 tháng này cao, dẫn đến quỹ lương của 2 tháng 6, 12 cao.
    • Số CB-CNV trong các tháng ổn định, do công ty có các chế độ lương tốt động viên công nhân gắn bó với công ty. Mặc dù chỉ có tháng 6 quỹ lương chi cao nhưng các tháng còn lại họ vẫn gắn bó công ty dù quỹ lương lúc này thấp, cho thấy sự quan tâm của công ty đối với cán bộ – công nhân viên là khá tốt.
    • Trong tháng 9: số công nhân biến động lớn so với các tháng khác. Đây là tháng có số lượng công nhân cao nhất trong năm (499 công nhân) Trong khi đó doanh thu lại giảm do thị trường ngành dệt may biến động nên công ty không có đơn đặt hàng, dẫn đến quỹ lương thấp. Công ty đã có những

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 54

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    chế độ hỗ trợ thêm tiền lương cho công nhân viên thông qua các khoản phụ cấp trích từ quỹ dự phòng.

    • Tháng 12: số lượng công nhân của công ty là 402 công nhân, giảm nhiều so với tháng 9. Tuy nhiên quỹ lương của tháng 12 cao là do: doanh thu của công ty vào tháng này, bên cạnh đó thì số lượng công nhân đã có xu hướng giảm từ tháng 10, 11 sau khi họ nhận lương thấp hơn các tháng khác.

    Tháng 2: số lượng công nhân tương đối cao (468 công nhân). Trong tháng này do nhu cầu dịp Tết nên công ty tuyển thêm công nhân viên. Đồng thời phải hoàn thành đúng tiến độ giao hàng dẫn đến số lượng công nhân viên tăng lên chứ không phải vì có nhiều đơn đặt hàng (doanh thu không cao).

    Bảng 14: So Sánh Lương Các Tổ Trong Tháng 12/2003

    Đơn Vị: Xí nghiệp 2

      TỔ     DOANH THU     LƯƠNG     SỐ NGƯỜI     BÌNH QUÂN  
          (USD)     SẢN PHẨM         LƯƠNG  
                           
      Tổ  9   1,962.2   7,261,371   54   134,469  
      Tổ 12   1,725.9   6,386,942   52   122,826  
      Tổ 10   1,561.6   5,779,059   54   107,020  
      Tổ 13   960.7   3,555,519   54   65,843  
      Tổ  8   800.4   2,962,067   49   60,450  
      Tổ 11   576.1   2,131,987   51   41,804  
      Tổ 14   571.4   2,114,789   46   45,974  

    Lương, doanh thu, tiền lương bình quân và số lao động có mối quan hệ với nhau: doanh thu tăng sẽ làm cho lương sản phẩm tăng hoặc ngược lại khi doanh thu giảm thì lương sản phẩm giảm.

    Lương sản phẩm

    Tiền lương bình quân                 =

    Số lao động

    Cụ thể, ta thấy:

    Doanh thu cao nhất: Tổ 9 dẫn đến lương sản phẩm cao nhất, số người lao động cao nhất và bình quân lương cao nhất.

    Doanh thu thấp nhất: Tổ 14 dẫn đến lương sản phẩm thấp nhất, số người lao động thấp nhất và bình quân lương thấp.

    Tuy số lao động tổ 14 nhỏ hơn tổ 9 không nhiều nhưng đã phản ảnh rõ 2 mối quan hệ tương tác sâu sắc:

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 55

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Doanh thu cao (1,962.2 USD), mức lương cao nên năng suất lao động tăng, số lượng công nhân ít biến động.
    • Doanh thu thấp (571.4 USD), mức lương không cao nên năng suất lao động giảm, số lương công nhân biến động nhiều.
    • Một khi nhận được tiền lương thỏa đáng thì công nhân sẽ làm việc nhiệt tình, tăng năng suất, mang lại doanh thu cao cho tổ.

    Điều này cho thấy rằng: doanh thu của công ty cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của tổ cao hay thấp.

    Tuy nhiên, công ty đã hỗ trợ thêm tiền lương cho CB-CNV (tổng quỹ lương và quỹ dự phòng) để có thể đáp ứng cuộc sống cho CB-CNV.

    Cụ thể:

        Tổng lương =     Trợ cấp +     Khoản + Phép + Lương      
        được hưởng     lương     dự trữ năm sản phẩm      
        Bảng 15: Tổng Hợp Lương Tháng 12/2003, Đơn Vị: Xí Nghiệp 2      
                                          ĐVT: đồng  
              LƯƠNG             DỰ           LƯƠNG     BÌNH  
      TỔ         TRỢ CẤP           PHÉP NĂM     ĐƯỰC     QUÂN  
          SẢN PHẨM           PHÒNG              
                                    HƯỞNG     LƯƠNG  
                                               
    Tổ 9   7,261,371   12,885,000   500,000     2,097,369     22,743,741 421,180  
    Tổ 12   6,386,942   12,000,000   500,000     20,491,757     20,491,757 394,072  
    Tổ 10   5,779,059   11,045,000   500,000     1,798,223     19,122,282 354,116  
    Tổ 13   3,555,519   11,730,000   500,000     1,833,023     17,618,542 326,269  
    Tổ 8   2,962,067   11,295,000   500,000     1,745,354     16,502,421 336,784  
    Tổ 11   2,131,987   12,210,000   500,000     2,114,100     16,956,087 332,472  
    Tổ 14   2,114,789   7,855,000   500,000     673,915     11,143,704 242,254  

    Ta thấy: khi công ty hỗ trợ tiền lương nâng mức lương bình quân, điều đó ảnh hưởng rất lớn đối với người lao động, họ cảm thấy an tâm hơn, cuộc sống ổn định hơn, họ sẽ có cái nhìn thiện cảm hơn đối với Ban Lãnh Đạo công ty, họ thích thú với công việc họ đang làm. Từ đó, dẫn tới tăng năng suất lao động làm tăng doanh thu công ty, công ty mạnh dạng tìm nhiều đơn đặt hàng hơn.

    Điển hình: Tổ 9: từ 134,469đ tăng lên 421,180đ.

    Tổ 14: từ 45,974đ tăng lên 242,254đ.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 56

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Bảng 16: So Sánh Tổng Lương Được Hưởng Của Tổ Trưởng Từng Tổ

    Trong Tháng 12/ 2003 (Xí nghiệp 2)

    (Chỉ phân tích tổ trưởng, từ tổ 8 – 14)

      TÊN NGÀY TỔNG  
    TỔ LƯƠNG  
    CÔNG
    CÔNG ĐƯỢC  
      NHÂN
        HƯỞNG  
         
    8 Phương 27 515,420  
    9 28 632,720  
    10 Xuân 27 578,188  
    11 Sương 24 438,681  
    12 Tâm 27 627,259  
    13 Liễu 27 523,420  
    14 Thủy 26 470,059  

    Hình 6: Đồ Thị Biểu Diễn Thu Nhập Của Các Tổ Trưởng Từ Tổ 8 – 14, Tại Xí Nghiệp 2

    SO TIEN
    700,000              
    600,000              
    500,000              
    400,000              
    300,000              
    200,000              
    100,000              
    0              
    TỔ 1 2 3 4 5 6 7
    8 9 10 11 12 13 14

     

    Nhận xét:

    Tất cả công nhân viên đều đảm bảo ngày công tiêu chuẩn, chỉ có 1 người chưa đảm bảo. Tuy nhiên, lương khác nhau phụ thuộc vào tổng quỹ lương của tổ và phụ thuộc vào trợ cấp, phép năm…

    Mặc dù lương mà họ nhận chưa cao so với các công ty khác, chỗ làm khác, nhưng họ đã làm lâu năm, gắn bó với công ty từ khi mới thành lập. Bên cạnh đó, trong công ty họ là những người đứng đầu tổ may (tổ trưởng), điều này càng kích thích họ làm tốt nhiệm vụ của mình biểu hiện qua ngày công, năng suất lao động…Một khi công ty quan tâm đến họ tốt hơn thì họ và cả công ty đều có lợi ích: họ làm việc tích cực, năng suất cao giúp công ty hoàn thành tốt các đơn đặt hàng, thu hút thêm nhiều khách hàng, tạo uy tín cho công

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 57

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    ty, công ty có lợi rất nhiều; từ đó sẽ tăng lương cho công nhân (lương tăng dần từ tháng 9 đến tháng 12)

    Đối với công ty khi công ty thu được lợi nhuận cao (doanh thu cao) họ trả lương công nhân cao hơn, quan tâm nhiều hơn, thực hiện các chế độ đối với cán bộ – công nhân viên đầy đủ. Điều này càng kích thích họ làm việc tăng năng suất, đạt hiệu quả cao.

    4.Phân Tích Biến Động Lương Cá Nhân:

    Bảng 17: So Sánh Lương Cá Nhân Thay Đổi Trong 2 Tháng:

    9 và 12 Năm 2003, Tại Xí Nghiệp 2.

    ĐVT: Đồng

    TỔ TÊN NGÀY TỔNG LƯƠNG ĐƯỢC  
    CÔNG NHÂN CÔNG HƯỞNG  
     
          THÁNG 12 THÁNG 9  
               
             
    8 Phương 27 515,420 877,592  
    9 28 632,720 1,612,125  
    10 Xuân 27 578,188 1,310,433  
    11 Sương 24 438,681 516,937  
    12 Tâm 27 627,259 1,580,859  
    13 Liễu 27 523,420 1,174,337  
    14 Thủy 26 470,059 720,373  

    Hình 7: Biểu Diễn Lương Cá Nhân Trong 2 Tháng 9 Và 12 Năm 2003

    LUONG CÁ NHÂN TRONG 2 THÁNG: 9 VÀ 12

    SỐ

    SO TIEN
    TIỀN                                                        
    2,000,000                                                          
                                                             
    1,500,000                                                          
    1,000,000                                                         THANG 9
                                                            THANG 12
    500,000                                                        
    0                                                          
                                                             
                                                             
    81 92 103 114 125 136 147
          TO      

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Ta thấy mối quan hệ giữa 3 đại lượng là: doanh thu – quỹ lương – lương cá nhân là rất cụ thể. Khi doanh thu tăng kéo theo quỹ lương phân phối tăng và kết quả là lương cá nhân cũng tăng theo. Cụ thể ở biểu đồ tháng 12, ở hầu hết các tổ may lương công nhân viên đều lớn hơn tháng 9 và biến động thực sự lớn.

    Điển hình công nhân Lê tháng 12 lãnh 1,612,125 đ so với tháng 9 chỉ là 632,720 đ. Có một lý do chính đó là công ty nhận may hàng gia công là chủ yếu nên tùy thuộc rất nhiều vào tính chất thời vụ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    PHẦN KẾT LUẬN – KẾT LUẬN

    I. NHẬN XÉT:

    Thông qua tìm hiểu về công tác quản lý và hạch toán tiền lương – các khoản trích theo lương tại Công ty liên doanh may An Giang trên cơ sở đối chiếu giữa thực tế và lý thuyết, em có một vài nhận xét sau:

    1.Về mặt tổ chức công tác Kế Toán:

    Trong công tác Tài Chính Kế Toán, công ty đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc, chế độ do Nhà Nước quản lý.

    Các nhân viên Kế Toán đều tập trung vào một phòng Kế Toán nên thuận lợi cho việc luân chuyển chứng từ kịp thời. Công việc trong các nghiệp vụ kinh tế được phân công rõ ràng, có khoa học tạo điều kiện xử lý số liệu nhanh chóng, kịp thời, nhịp nhàng, trôi chảy.

    Trình độ chuyên môn của nhân viên phòng Kế Toán khá tốt, bố trí phù hợp với năng lực của từng người, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng do phòng Kế Toán – Tài Vụ bố trí chung với phòng Tổ Chức Hành Chính nên tình trạng ồn ào, người ra vào thường xuyên do tình trạng tuyển nhân sự, chuông điện thoại reo liên tục sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất công việc của các nhân viên Kế Toán.

    Công ty chọn hình thức Kế Toán tập trung, nhật ký chung kết hợp với xử lý số liệu bằng máy vi tính rất phù hợp với quy mô địa bàn hoạt động. Từ nhập số liệu, chỉnh lý, ghi sổ kế toán chi tiết – tổng hợp cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, đến tổng hợp báo cáo số liệu Kế Toán đều được tập trung ở phòng Kế Toán, đều được xử lý bằng máy vi tính. Do đó, đảm bảo được sự tập trung thống nhất chặt chẽ, đảm bảo việc tiết kiệm công sức cho nhân viên nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp cho nhân viên Kế Toán cung cấp thông tin nhanh chóng, nâng cao chất lượng Kế Toán.

    2.Về mặt chứng từ:

    Công ty sử dụng các mẫu chứng từ, biểu mẫu báo cáo theo đúng qui định của Nhà Nước. Việc luân chuyển chứng từ được tổ chức một cách khoa học, có sự phối hợp nhịp nhàng ăn khớp với nhau giữa các bộ phận giúp cho Kế Toán tổng hợp dễ dàng tổng hợp đối chiếu số liệu.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 60

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    3.Về mặt hệ thống tài khoản:

    Hệ thống sử dụng theo đúng qui định của Bộ Tài Chính, ngoài ra phòng kế toán đã xây dựng hệ thống tài khoản theo đặc diểm riêng của công ty một cách đầy đủ và chi tiết, vừa đảm bảo được nguyên tắc thống nhất trong các nhiệm vụ kế toán do Bộ Tài Chính đề ra, vừa thích ứng với thực tiễn quản lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty.

    4.Về lực lượng lao động:

    Với một lực lượng nhân viên hành chính đã qua đào tạo có hệ thống ở các trường Đại Học, Cao Đẳng thì việc nâng cao, bổ sung kiến thức mới cho nhân viên tại công ty có nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với lực lương lao động có trình độ thấp. Họ nhạy bén trước sự thay đổi của thị trường, luôn chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng kinh doanh có hiệu quả.

    Tuy nhiên bên cạnh đó, lực lượng lao động trực tiếp tại các xưởng may với trình độ học vấn vẫn còn thấp, chỉ được đào tạo qua lớp cơ bản,do đó vẫn còn hạn chế việc nắm bắt các phương pháp, cách thức áp dụng mới khi làm việc. Vì vậy cần bồi dưỡng, nâng cao trình độ của công nhân viên.

    5.Về hình thức trả lương và phương pháp tính lương:

    Công ty áp dụng phương pháp trả lương theo sản phẩm cho tập thể cán bộ – công nhân viên, làm cho những người lao động quan tâm đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của họ.

    Cả hai hình thức này đều dựa trên doanh thu của công ty. Vì vậy khi khối lượng sản phẩm tăng thì doanh thu tăng, kéo theo quỹ lương cũng tăng lên làm cho lương bình quân tăng theo.

    Công ty tập trung vào hình thức trả lương theo sản phẩm là chủ yếu. Những công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm làm việc với năng suất lao động cao, nhưng mức lương mà họ lãnh không ổn định giữa các tháng trong năm. Công ty lại chỉ bổ sung, hỗ trợ thêm tiền lương thông qua các khoản phúc lợi, phụ cấp để nâng mức lương lên nhằm đảm bảo cuộc sống của công nhân viên. Các khoản phúc lợi và phụ cấp tuy có tác dụng khuyến khích và thể hiện mối quan tâm của công ty đến đời sống vật chất và tinh thần đến nhân viên nhưng theo lương sản phẩm vẫn là nguồn thu nhập chính của họ. Cho nên vấn đề công ty cần quan tâm là làm sao để tăng doanh thu, tăng quỹ lương và thu nhập cho công nhân viên.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    6.Về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương:

    • Hạch toán tiền lương:

    Theo qui định của Nhà Nước ban hành và những nguyên tắc hạch toán kế toán tại công ty, kế toán đã hạch toán đầy đủ, chính xác rõ ràng theo từng nghiệp vụ cụ thể trên tài khoản 334.

    Tất cả số liệu kế toán đều được lưu trữ có hệ thống, rõ ràng qua hệ thống máy vi tính đảm bảo cho việc truy cập, đối chiếu số liệu một cách nhanh chóng và tiện lợi.

    Việc hạch toán lương được thực hiện một cách hợp lý và chính xác cho tập thể CB–CNV tại công ty.

    • Hạch toán các khoản trích theo lương:

    Công ty đã trích nộp BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ, thời gian Nhà Nước qui định. Ngoài ra, công ty còn quan tâm chăm sóc đến tình trạng sức khỏe, đau ốm… để người lao động an tâm làm việc.

    Tuy nhiên, lương trả cho người lao động thì tương đối thấp và việc thực hiện các khoản trích thì dựa vào hệ số lương theo lương Nghị Định 26/CP, đó là điều chưa hợp lý.

    II. KIẾN NGHỊ:

    Sau thời gian thực tập tại Công ty liên doanh May An Giang em đã học hỏi được nhiều điều bổ ích. Xuất phát từ tình hình thực tế của Công ty em có một vài kiến nghị sau:

    -Ban lãnh đạo cần tìm thêm nhiều đối tác, nhiều khách hàng thông qua việc tranh thủ cơ hội khi nước ta tham các tổ chức kinh tế, ở các kỳ hội chợ triển lãm…tạo thêm thu nhập, việc làm cho người lao động.

    -Công ty cần lập thêm phòng Marketing giàu năng lực, nhạy bén để mở rộng và khai thác tốt thị trường trong và ngoài nước.

    -Cần tổ chức lại cơ cấu nhân sự cho phù hợp, hình thức phân công phân nhiệm cần được triển khai một cách cụ thể, có hiệu quả hơn để vừa thúc đẩy năng suất lao động, vừa quản lý nhân sự một cách có hiệu quả. Cần tổ chức quản lý nhân sự có hiệu quả, nhìn người mà phân công công việc, bố trí nhân sự một cách có hợp lý tránh tình trạng tổ này thiếu – tổ khác lại thừa lao động.

    -Theo dõi, cập nhật và nắm bắt kịp thời các chế độ chính sách trả lương để vừa thực hiện đúng các qui định của Nhà Nước, vừa thu hút nhân sự, duy trì nhân viên.

    -Cần có chế độ kế toán rõ ràng, nhất là kế toán tiền lương và nên giao việc cụ thể cho từng cá nhân trong việc tính và thanh toán lương để vừa đáp

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 62

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    ứng yêu cầu kiểm tra rõ ràng, nhanh chóng của cấp trên, vừa đảm bảo thanh toán đúng lương cho người lao động.

    -Để đảm bảo tính công bằng và nâng cao năng suất, công ty cần có cách tính lương một cách cụ thể, rõ ràng và chính xác. Cụ thể có các cách tính lương như sau:

    Cách thứ nhất:

    +Đối với công nhân trực tiếp sản xuất trả lương theo sản phẩm (có thể trả hàng tuần, hàng tháng).

    +Đối với nhân viên quản lý văn phòng, nhân viên gián tiếp sản xuất thì trả lương theo thời gian (có thể trả theo theo tuần,tháng).

    Cách thứ hai:

    Đối với bất kỳ nhân viên quản lý hay công nhân trực tiếp sản xuất đều được thanh toán tiền lương được hưởng gồm 2 khoản là lương theo Nghị Định và lương sản phẩm.

    Cách thứ ba:

    Nếu như công ty duy trì hình thức trả lương đang áp dụng, tính lương cho bộ phận quản lý hay bộ phận trực tiếp sản xuất đều tính theo lương sản phẩm. Nhưng cách tính giữa hai bộ phận này là khác nhau, thì nên tính như sau:

    • Đối với nhân viên quản lý tính lương theo sản phẩm từ lương theo Nghị Định nhân với chỉ số tương đương, mà chỉ số này chính là thương số giữa tổng lương sản phẩm và tổng lương hệ số công việc. Cách tính này dễ gây nhầm lẫn cho nhân viên do lương theo Nghị Định cao, lương theo sản phẩm có những tháng thấp vì ngành nghề chủ yếu của công ty là gia công, lại phụ thuộc vào đơn đặt hàng của từng thời vụ. Vì thế, công ty cần mở rộng thêm nhiều chi nhánh, đại lý bán hàng trên nhiều địa bàn, thu hút khách hàng với chiến lược kinh doanh hợp lý với mục tiêu mở rộng thị phần cho doanh nghiệp, tăng doanh thu dẫn đến tăng tổng quỹ lương và tăng tổng lương sản phẩm.
    • Đối với nhân viên trực tiếp sản xuất tính lương theo sản phẩm, nhưng do công ty chủ yếu là may hàng gia công nên đơn giá thấp, luôn biến động kéo theo lương sản phẩm thấp và biến động. Vì thế, để mức lương ổn định hơn đòi hỏi công ty nên chuyển sang may hàng thành phẩm kết hợp với gia công từ việc công ty tự đứng ra nhập nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hóa.

    -Cần có kế hoạch tổ chức sản xuất có hiệu quả thông qua việc tận dụng các phế liệu, sản phẩm thừa sau khi đã hoàn thành thành phẩm xuất xưởng như: may màn che, áo gối, thú bông…tạo thêm nguồn thu cho công ty.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 63

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    -Đối với phòng kế toán:

    • Phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho CB–CNV.
    • Phải thường xuyên cử cán bộ kiểm tra các nơi trong việc thu mua, nhập – xuất, hạch toán, thu chi…
    • Thường xuyên đối chiếu sổ sách các xí nghiệp nhằm phát hiện sai sót để chấn chỉnh kịp thời.
    • Nên phát huy, tận dụng hết khả năng máy vi tính mà công ty đã trang bị nhằm tổng hợp báo cáo nhanh các số liệu…

    Để làm tốt công tác kế toán tiền lương, đẩy mạnh tăng năng suất công nhân viên, cần làm tốt công việc sau:

    – Tăng cường theo dõi, đôn đốc cán bộ – công nhân viên làm tốt nhiệm vụ của mình thông qua việc thường xuyên kiểm tra bảng chấm công của từng đơn vị, cá nhân.

    – Đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ (đặc biệt là các cán bộ kế toán lương), công nhân viên về nhiệm vụ, công việc mà họ đang đảm nhận.

    – Đôn đốc các tổ trưởng, cá nhân làm tốt nhiệm vụ, công việc mà mình đảm nhận, giao hàng đúng tiến độ và hoàn thành tốt các chỉ tiêu.

    – Tổ chức tốt khâu sản xuất bằng cách tuyển chọn và đào tạo cán bộ – công nhân viên có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật chuyên môn tốt, nhằm tăng năng suất lao động cả về số lượng lẫn chất lượng.

    –  Chăm lo đời sống nhân viên để họ an tâm sản xuất tốt hơn bằng

    cách:

    • Xây dựng quy chế lương hợp lý.
    • Tổ chức thăm viếng, hỗ trợ công nhân viên có hoàn cảnh khó

    khăn.

    • Có chính sách khen thưởng, bồi dưỡng cho các cá nhân tích cực trong lao động sản xuất.
    • Tổ chức giờ làm việc một cách khoa học nhằm ổn định trong công tác, phân công nhiệm vụ cụ thể, nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động có hiệu quả cao.
    • Tận dụng triệt để, tiết kiệm các khoản chi phí và nguyên vật liệu để sản xuất, tìm khách hàng tiêu thụ và gia công thêm, làm tăng doanh thu cho công ty, làm tăng thu nhập cho công nhân viên.
    • Sử dụng chế độ thưởng, phạt rõ ràng để khuyến khích và tổ chức sản xuất có năng suất tốt.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 64

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    III. KẾT LUẬN:

    Công ty liên doanh may An Giang là một đơn vị kinh tế quan trọng của Tỉnh trong việc đóng góp ngân sách, giải quyết việc làm cho người dân trong Tỉnh. Hiện nay, công ty có hai phân xưởng may, đang hoạt động với đội ngũ công nhân tay nghề cao. Những năm qua, dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng tập thể cán bộ – công nhân viên vẫn cố gắng ổn định vượt qua khó khăn, đây là khó khăn chung của ngành may, để đến hiện nay công ty đã từng bước cũng cố được sản xuất, từng bước đi lên, tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh doanh. Góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Tỉnh nhà, nhất là giải quyết việc làm cho những người lao động.

    Hiện tại công ty có đội ngũ cán bộ quản lý dày dạn kinh nghiệm, lực lượng công nhân trẻ có nhiệt tình, tay nghề cao. Công ty không ngừng tăng cường công tác quản lý, đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ – công nhân viên. Phát huy sáng kiến và nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nhằm mục đích thu hút khách hàng.

    Kế Toán tiền lương và các khoản trích theo lương là việc làm không thể thiếu được trong công tác tổ chức Kế Toán của doanh nghiệp, giúp cho công tác quản lý lao động của đơn vị đi vào nề nếp, thúc đẩy công nhân viên chấp hành kỷ luật lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công tác, tạo cơ sở cho việc trả lương và trợ cấp BHXH đúng chế độ chính sách. Đồng thời, việc đánh giá, xem xét sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động là việc làm cũng không kém phần quan trọng. Vì nếu công tác lương làm tốt thì sẽ thúc đẩy người lao động tăng năng suất, nâng cao hiệu quả công việc.

    Qua thời gian thực tập và tìm hiểu công tác Kế Toán lao động tiền lương, các khoản trích theo lương tại Công ty liên doanh may An Giang, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị phòng Kế Toán, em đã thu thập được khá nhiều kinh nghiệm thực tế thực sự có ích cho một sinh viên sắp ra trường. Em đã thấy được tầm quan trọng của Kế Toán tiền lương tại công ty, đã thấy được sự khác biệt không nhỏ giữa lý thuyết học ở trường và thực tế ở các doanh nghiệp trong việc tính và thanh toán lương cho người lao động.

    Qua đề tài này, em hy vọng có thể đóng góp một phần nào đó cho công ty trong việc hạch toán Kế Toán tiền lương, nhằm đưa ra hệ thống Kế Toán tiền lương một cách hoàn chỉnh và hiệu quả hơn. Đề tài cũng cho thấy được sự gắn bó, sự tác động giữa công ty và người lao động. Từ đó, Ban Lãnh Đạo có chính sách, có kế hoạch hiệu quả, hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức học ở trường không sát với thực tế nên những nhận xét, kiến nghị và kết luận của em mang tính chủ quan, dù đã nổ lực nhưng không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý và thông cảm của quý Thầy, Cô cùng Ban Giám Đốc, phòng Kế Toán, tập thể cán bộ – công nhân viên để em hoàn thành tốt đề tài luận văn này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i-v%C3%A0-D%E1%BB%8Bch-vu-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%C4%90%C3%B4ng-Nam-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Với cơ chế thị trường mở cửa như hiện nay thì tiền lương là một trong những vấn đề rất quan trọng vì đó chính là khoản thù lao cho công lao động của người lao động.

    Lao động chính là hoạt động tay chân và trí óc của con người nhằm tác động biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người. Trong doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên thì chúng ta phải tái tạo sức lao động hay ta phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.

    Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Ngoài ra người lao động còn được hương một số thu nhập khác như: Trợ cấp, BHXH, tiền thưởng… Đối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý hạch toán tốt lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản trích đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm đến thời gian và chất lượng lao động.Từ đó nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành từ đó sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Sau khi thấy được tầm quan trọng của tiền lương và các khoản trích theo lương em đã chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á” để làm chuyên đề báo cáo thực tập dưới sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn thực tập cô Trần Ngọc Lan.

    Chuyên đề báo cáo của em gồm có 3 phần:

    – Chương I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.

    – Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán kế toán tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    – Chương 3: Các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    Do trình độ và thời gian có hạn nên trong báo cáo thực tập này không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế vì vậy em mong được sự chỉ bảo và giúp đữo của cô Trần Ngọc Lan.

    Em xin chân thành cảm ơn!.

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

     

    I. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.

    1. Bản chất và chức năng của tiền lương

    Tiền lương là biểu hiện bằng tiền hay sản phẩm mà xã hội trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Như vậy tiền lương thực chất là khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời gian mà họ cống hiến cho doanh nghiệp. Tiền lương có chức năng vô cùng quan trọng nó là đòn bẩy kinh tế vừa khuyến khích người lao động chấp hành kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công, năng suất lao động giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2. Vai trò và ý nghĩa của tiền lương

    1. Vai trò của tiền lương

    Tiền lương có vai trò rất to lớn nó làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động vì tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, người lao động đi làm cốt là để nhận được khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho họ để đảm bảo cho cuộc sống. Đồng thời đó cũng là khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra để trả cho người lao động vì họ đã làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp. Tiền lương có vai trò như một nhịp cầu  nối giữa người sử dụng lao động với người lao động. Nếu tiền lương trả cho người lao động không hợp lý sẽ làm cho người lao động không đảm bảo được ngày công và kỷ luật lao động cũng như chất lượng lao động, lúc đó doanh nghiệp sẽ không đạt được mức tiết kiệm chi phí lao động cũng như lợi nhuận cần có của doanh nghiệp để tồn tại như vậy lúc này cả hai bên đều không có lợi. Vì vậy công việc trả lương cho người lao động cần phải tính toán một cách hợp lý để cả hai bên cùng có lợi.

    1. ý nghĩa của tiền lương

    Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ cấp BHXH, tiền lương, tiền ăn ca… Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho người lao động từ đó sẽ làm cho người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động nâng cao năng suất lao động, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

    1. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương

    Giờ công, ngày công lao động, năng suất lao động, cấp bậc hoặc chức danh thang lương quy định, số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành, độ tuổi, sức khỏe, trang thiết bị kỹ thuật đều là những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương cao hay thấp.

    II. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

    1. Hình thức tiền lương theo thời gian:

    Là tiền lương trả cố định căn cứ vào hợp đồng lao động và thời gian làm việc: Hình thức tiền lương theo thời gian được chia thành: Tiền lương tháng, ngày, giờ.

    – Tiền lương tháng: là tiền lương trả cho người lao động theo bậc lương quy định gồm có tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có). Được áp dụng cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.

    – Lương ngày: được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả công nhân, tính trả lương cho công nhân viên trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.

    – Lương giờ: Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày theo chế độ. Lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ.

    2.Hình thức trả lương theo sản phẩm:

    Là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra.

    3. Theo sản phẩm trực tiếp:

    Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng sản lượng hoàn thành đúng qui cách, phẩm chất và đơn giá sản phẩm.

    4.Theo sản phẩm gián tiếp:

    Được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận sản xuất như: công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất của lao động trực tiếp để tính lương cho lao động phục vụ sản xuất.

    5. Theo khối lượng công việc:

    Là hình thức tiền lương trả theo sản phẩm áp dụng cho những công việc đơn giản, có tính chất đột xuất như: Khoán bốc vác khoán vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm.

    6. Các hình thức đãi ngộ khác ngoài tiền lương:

    Ngoài tiền lương, BHXH công nhân viên có thành tích trong sản xuất, trong công tác được hưởng khoản tiền lương, tiền thưởng thi đua được trích từ quỹ khen thưởng căn cứ vào kết quả bình xét A, B, C và hệ số tiền lương để tính.

    – Tiền lương về sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động sẽ căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định.

    III. QUỸ TIỀN LƯƠNG, QUỸ BHXH, QUỸ BHYT VÀ KPCĐ

    1. Quỹ tiền lương

    Là toàn bộ số tiền lương trả cho số công nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương.

    Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ.

    – Tiền lương chính: là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế bao gồm tiền lương cấp bậc, tiền lương, phụ cấp.

    – Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động khi họ không làm việc bao gồm: nghỉ lễ, nghỉ phép, ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan

    2. Quỹ bảo hiểm xã hội

    Quỹ BHXH là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ qui định là 20% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 15% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 5% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động.

    – Trợ cấp công nhân viên ốm đau, thai sản.

    – Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp.

    – Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động.

    – Chi công tác quản lý quỹ BHXH.

    3. Quỹ bảo hiểm y tế

    Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ qui định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ. Theo chế độ hiện hành doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHYT được chi tiêu trong trường hợp: khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang, kinh phí công đoàn.

    4. Kinh phí công đoàn

    Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp.

     

     

    IV. YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    – Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ số lượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động.

    – Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ, thẻ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương theo đúng chế độ.

    – Tính toán phân bổ chính xác, đúng đối tượng chi phí tiền lương các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận đơn vị sử dụng lao động.

    – Lập báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương, đề xuất biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động trong doanh nghiệp.

    V. HẠCH TOÁN CHI TIẾT TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    1. Hạch toán số lượng lao động:

    Căn cứ vào  chứng từ ban đầu là bảng chấm công hàng tháng tại mỗi bộ phận, phòng ban, tổ, nhóm gửi đến phòng kế toán để tập hợp và hạch toán số lượng lao động trong tháng đó tại doanh nghiệp và cũng từ bảng chấm công kế toán có thể  nắm được từng ngày có bao nhiêu người làm việc, bao nhiêu người với lý do gì.

    Hàng ngày tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm sẽ chấm công cho từng người tham gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó cuối tháng các phòng ban sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán. Tại phòng kế toán, kế toán tiền lương sẽ tập hợp và hạch toán số lượng công nhân viên lao động trong tháng.

    2. Hạch toán thời gian lao động

    Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc, ngừng việc, nghỉ BHXH của từng người cụ thể và từ đó có thể căn cứ tính trả lương, BHXH…

    Hàng ngày tổ trưởng (phòng ban, nhóm…) hoặc người ủy quyền căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận mình quản lý để chấm công cho từng người trong ngày và ghi vào các ngày tương ứng trong các cột từ 1 đến 31 theo các kí hiệu qui định. Kế toán tiền lương căn cứ vào các ký hiệu chấm công của từng người rồi tính ra số ngày công theo từng loại tương ứng để ghi vào các cột 32, 33, 34, 35, 36. Ngày công quy định là 8h nếu giờ lễ thì  đánh thêm dấu phẩy.

    Ví dụ: 24 công 4 giờ thì ghi 24,4

    Tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm sản xuất, công tác và trình độ hạch toán đơn vị có thể sử dụng một trong các phương pháp chấm công sau:

    Chấm công ngày: Mỗi khi người lao động làm việc tại đơn vị hoặc làm việc khác như họp, thì mỗi ngày dùng một ký hiệu để chấm công cho ngày đó.

    Chấm công theo giờ: Trong ngày người lao động làm bao nhiêu công việc thì chấm công theo các ký hiệu đã qui định và ghi số giờ công việc thực hiện công việc đó bên cạnh ký hiệu tương ứng.

    Chấm công nghỉ bù: Chỉ áp dụng trong trường hợp làm thêm giờ lương thời gian nhưng không thanh toán lương làm thêm.

    3. Hạch toán kết quả lao động

    Căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành. Do phiếu là chứng từ xác nhận số lượng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động nên nó làm cơ sở để kế toán lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho người lao động. Phiếu này được lập thành 2 liên: 1 liên lưu tại quyển 1 và 1 liên chuyển đến kế toán tiền lương để làm thủ tục thanh toán cho người lao động và phiếu phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng và người duyệt.

    Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành được dùng trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng theo hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc lương khoán theo khối lượng công việc.

    4. Hạch toán tiền lương cho người lao động

    Bảng thanh toán tiền lương: là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh đồng thời làm căn cứ để thống kê về lao động tiền lương. Bảng thanh toán tiền lương được lập hàng tháng theo từng bộ phận (phòng, ban, tổ chức, nhóm…) tương ứng với bảng chấm công.

    Cơ sở lập bảng thanh toán tiền lương là các chứng từ về lao động như: Bảng chấm công, bảng tính phụ cấp, trợ cấp, phiếu xác nhận thời gian lao động hoặc công việc hoàn thành. Căn cứ vào các chứng từ liên quan, bộ phận kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương, chuyển cho kế toán trưởng duyệt để làm căn cứ lập phiếu chi và phát lương. Bảng này lưu tại phòng kế toán. Mỗi lần lĩnh lương người lao động phải trực tiếp ký vào cột “ký nhận” hoặc người nhận hộ phải ký thay.

    Từ bảng thanh toán tiền lương và các chứng từ khác có liên quan kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương.

    VI. HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    1. Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ:

    Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương thuộc chỉ tiêu lao động tiền lương gồm các biểu mẫu sau:

    Mẫu số 01 – LĐTL – Bảng chấm công

    Mẫu số 02 – LĐTL – Bảng thanh toán TL

    Mẫu số 03 – LĐTL – Phiếu nghỉ ốm hưởng BHXH

    Mẫu số 04 – LĐTL – Danh sách người lao động hưởng BHXH

    Mẫu số 05 – LĐTL – Bảng thanh toán tiền lương

    Mẫu số 06 – LĐTL – Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn chỉnh

    Mẫu số 07 – LĐTL – Phiếu báo làm thêm giờ

    Mẫu số 08 – LĐTL – Hợp đồng giao khoán

    Mẫu số 09 – LĐTL – Biên bản điều tra tai nạn lao động

    2. Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

    Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán

    * Tài khoản sử dụng:     TK 334 – phải trả công nhân viên

    TK 338 – phải trả phải nộp khác

    * TK 334 phản ánh các khoản phải trả CNV và tình hình thanh toán các khoản đó (gồm: Tiền lương, tiền thưởng, BHXH và các khoản thuộc thu nhập của CNV .

    Kết cấu TK 334:

    * Phương pháp hạch toán:

     
       
     
       

    Sơ đồ 2.1: Hạch toán các khoản phải trả CNV

    Hàng tháng căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương thanh toán TL và các chứng từ liên quan khác, kế toán tổng hợp số tiền lương phải trả CNV và phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo từng đối tượng sử dụng lao động, việc phân bổ thực hiện trên “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH”. Kế toán ghi:

    Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp

    Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung

    Nợ TK 641: Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642: Chi phí QLDN

    Nợ TK 241: XDCB dở dang

    Có TK 334: Phải trả CNV

    – Tính ra số tiền lương phải trả CNV trong tháng, kế toán ghi:

    + Trường hợp thưởng cuối năm, thường thường kỳ:

    Nợ TK 431 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi

    Có TK 334

    + Trường hợp thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thưởng tiết kiệm vật tư, thương NSLĐ:

    Nợ TK 642: Chi phí QLDN

    Có TK 334

    – Tính ra số tiền ăn ca, tiền phụ cấp trả cho người lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Nợ TK 622

    Nợ TK 627

    Nợ TK 641

    Nợ TK 642

    Có TK 334

    – Các khoản khấu trừ vào lương của CNV: khoản tạm ứng chi không hết, bồi thường vật chất, BHXH, BHYT công nhân viên phải nộp, thuế thu nhập phải nộp ngân sách Nhà nước.

    Nợ TK 334: Tổng số khấu trừ

    Có TK 141: Tạm ứng thừa

    Có TK 333: Thuế thu nhập cá nhân

    Có TK 338: Đóng góp của người lao động cho quỹ BHXH, BHYT.

    – Khi thanh toán lương cho người lao động

    Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    – Nếu vì một lý do nào đó mà người lao động: Nợ TK 3388

    Có TK 111, 112

    * TK 338: Dùng để phản ánh các khoản trả, phải nộp cho cơ quan quản lý, tổ chức đoàn thể xã hội.

    – Kết cấu TK 338

    + Phương pháp hạch toán

    Hàng tháng căn cứ vào tổng số tiền lương phải trả CNV trong tháng, kế toán trích BHXH, BHYT, CPCĐ theo tỷ lệ quy định tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận sử dụng lao động.

    Nợ TK 622: 19% lương CNTTSX

    Nợ TK 627: 19% lương NVQLPX

    Nợ TK 641: 19% lương NVBH

    Nợ TK 642: 19% lương NVQLDN

    Nợ TK 334: 6% tổng số lương

    Có TK 338: Tổng số BHXH, BHYT, KPCĐ

    Có TK 338 (2): 2% KPCĐ

    Có TK 338 (3): 20% BHXH

    Có TK 338 (4): 3% BHYT

    – Khi nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho các cơ quan quản lý quỹ:

    Nợ TK 3382, 3383, 3384

    Có TK 111, 112

    – Khi chi tiêu kinh phí công đoàn tại đơn vị:

    Nợ TK 3382

    Có TK 111, 112

    – Khi tính ra BHXH phải trợ cấp cho người lao động

    Nợ TK 3383

    Có TK 111, 112

    – KHi thanh toán BHXH cho người lao động

    Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    – KPCĐ và BHXH vượt chi khi được cấp bù:

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 3382, 3383

    – Thanh toán lương BHXH khi công nhân nghỉ ốm, thai sản

    Nợ TK 3383

    Có TK 334

    VII. HÌNH THỨC SỔ KẾ TOÁN

    Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc áp dụng hình thức sổ kế toán là hoàn toàn khác nhau, có thể áp dụng một trong 4 hình thức sau:

    – Nhật ký chung

    – Nhật ký sổ cái

    – Chứng từ ghi sổ

    – Nhật ký chứng từ

    1. Nhật ký chung:

    Là hình thức kế toán đơn giản, sử dụng sổ nhật ký chung để ghi chép cho tất cả các hoạt động kinh tế tài chính. Theo thứ tự, thời gian và theo quan hệ đối ứng tài khoản sau đó sử dụng số liệu ở sổ nhật ký chung để ghi sổ cái các tài khoản liên quan. Các loại sổ kế toán của hình thức này bao gồm: sổ nhật ký chuyên dùng, sổ  nhật ký chung, sổ cái và các sổ kế toán chi tiết.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 1.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức nhật ký chung

    1. Nhật ký chứng từ:

    Đặc điểm chủ yếu của hình thức kế toán này là mỗi nghiệp vụ kinh tế đều căn cứ vào chứng từ gốc để phân loại ghi vào các nhật ký – chứng từ theo thứ tự thời gian. Cuối tháng căn cứ vào số liệu tổng hợp ở từng nhật ký – chứng từ để lần lượt ghi vào sổ cái. Do nhật ký chứng từ vừa mang tính chất của sổ nhật ký, vừa mang tính chất của một chứng từ ghi sổ nên gọi là nhật ký  – chứng từ. Nhật ký chứng từ kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế và kết hợp việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán vào trong cùng một quá trình ghi chép.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 2.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức nhật ký chứng từ

    3. Chứng từ ghi sổ:

    Là hình thức kế toán chứng từ ghi sổ được hình thành sau các hình thức Nhật ký chung và Nhật ký sổ cái. Nó tách việc ghi nhật ký với việc ghi sổ cái thành 2 bước công việc độc lập, kế thừa để tiện cho phân công lao động kế toán, khắc phục những hạn chế của hình thức nhật ký sổ cái. Đặc trưng cơ bản là căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là chứng từ ghi sổ. Chứng từ này do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp các chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 3.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức chứng từ ghi sổ

    4. Nhật ký sổ cái:

    Đặc điểm của hình thức kế toán này là sử dụng sổ nhật ký – sổ cái làm sổ kế toán tổng hợp duy nhất để ghi sổ theo thứ tự thời gian kết hợp với ghi sổ phân loại theo hệ thống các nghiệp vụ kinh tế. Các loại kế toán sử dụng trong hình thức này bao gồm: sổ kế toán tổng hợp – sổ nhật ký sổ cái, sổ kế toán chi tiết.

     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 4.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức Nhật ký sổ cái.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

     

    I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ ĐÔNG NAM Á

    1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á là công ty cổ phần trong đó có 70% vốn thuộc ngân sách Nhà nước. Được thành lập ngày 28-3-2005 do bà: Đỗ Thị Thanh Minh làm giám đốc

    Số vốn điều lệ: 1.800.000.000đ

    Giấy  phép kinh doanh số: 0103011527

    Mã số thuế: 0101900857

    Điện thoại: 04.636.7689

    Fax: 04.636.7689

    Địa chỉ: số 10 Ngõ 19 Lạc Trung, Hai Bà Trưng, Hà Nội

    2. Các ngành nghề kinh tế chủ yếu của công ty

    – Cung cấp văn phòng phẩm, thiết bị máy văn phòng

    – Cung cấp  dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy văn phòng

    1. Một số chỉ tiêu mà công ty đạt được từ quý 2/2005 đến quý 6/2006

    KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    Đơn vị: đồng

    Chỉ tiêu Mã số Quý 2/2005 Quý 2/2006 Sự tăng giảm
    Số tuyệt đối %
    DTBH và cung cấp dịch vụ 01 3.268.740.000 3.889.825.750 621.085.750 119,001%
    Các khoản giảm trừ 03 17.365.890 18.731.180 1.365.290 107,86%
    Chiết khấu TM 04 12.530.000 14.521.000 1.991.000 115,89%
    Giảm giá hàng bán 05 3.471.000 2.782.650 -688.350 80,17%
    Hàng bán bị trả lại 06 1.364.890 1.431.530 66.640 104,89%
    Doanh thu thuần 10 3.251.374.110 3.871.094.570 619.720.460 119,06
    Doanh thu HĐTC 21 19.612.242 17.307.168 -2.305.074 88,25
    Giá vốn hàng bán 11 2.614.125.000 2.526.531.200 -87.593.800 96,65
    Lợi nhuận gộp 20 637.249.110 944.563.370 307.314.260 148,23
    Chi phí tài chính 22 215.867.797 206.590.381 -9.277.416 95,7
    Chi phí bán hàng 24 17.021.500 19.325.680 2.304.180 113,54
    Chi phí QLDN 25 12.764.000 13.623.370 859.370 106,73
    Lợi nhuận từ HĐTC 30=20+(21-22)-(24-25) 30 411.208.055 722.331.107 311.123.052 175,67
    Thu nhập khác 31 231.508.686 195.758.794 -35.749.892 84,57
    Chi phí khác 32 32.819.352 29.325.757 -3.493.595 89,36
    Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 198.689.334 166.433.037 -32.256.297 83,77
    Tổng lợi luận (50=30+40) 50 609.897.389 888.764.144 278.866.755 145,72
    Thuế TNDN phải nộp 51 162.568.705 193.553.729 30.986.024 119,06
    Lợi nhuận sau thuế (60=50-51) 60 447.328.684 695.209.415 247.880.731 155,4

    Qua biểu báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý 2/2005 so với quý 2/2006 cho thấy:

    + Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng hơn năm trước

    – Về số tuyệt đối tăng 621.085.750đ

    – Về số tuyệt đối tăng 119,001% tức là vượt 19,001%

    + Doanh thu thuần cũng tăng hơn so với năm trước:

    – Về số tuyệt đối tăng 619.720.460đ

    – Về số tương đối tăng 119,06% vượt 19,06%

    + Lợi nhuận sau thuế

    – Về số tuyệt đối tăng: 247.880.731đ

    – Về số tuyệt đối: 155,4% vượt 55,4%

    Như vậy, lợi nhuận sau khi đã nộp thuế thu nhập quý 2/2005 so với quý 2/2006 tăng 247.880.731đ hay 55,4%.

    Đặc biệt là tỷ lệ giá vốn hàng bán giảm 15,13% quý 2/2005 so với quý 2/2006 đã làm cho lợi nhuận tăng đáng kể

    x 100 = 65,27%  <   = 80,4%

    Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên ta có thể thấy công ty đã ngày càng lớn mạnh và làm ăn có lãi, tạo được niềm tin cho cán bộ công nhân viên, giúp họ hăng say trong công việc tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty và làm cho cuộc sống của họ ngày càng được nâng cao.

    4. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh của công ty cổ phần  thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á.

    * Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty

    Bộ máy của công ty quản lý theo hình thức tập chung, chức năng gọn nhẹ chuyên sản xuất, tổ chức bộ máy gồm có

     
       

    4.1. Mô hình bộ máy quản lý của công ty

    Giám đốc: là người đứng đầu, đại diện cho tư cách pháp nhân của công ty và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kinh doanh của công ty.

    – Dưới giám đốc là phó giám đốc.

    + Phó giám đốc kỹ thuật: có nhiệm vụ xác định các định mức về kinh tế kỹ thuật.

    + Phó giám đốc tài chính: chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều động nhân lực và quản lý nguồn vốn gửi điểm của công ty.

    – Các phòng ban khối hành chính: chịu trách nhiệm về phương hướng kinh doanh và phát triển thị trường.

    – Phòng kế toán: Quản lý và thực hiện chặt chẽ chế độ tài vụ của công ty theo đúng nguyên tắc, quy định của Nhà nước và ban giám đốc của công ty. Hoàn thành việc quyết toán sổ sách và báo cáo tài chính, lưu trữ và bảo mật hồ sơ, chứng từ… Thực hiện đúng nguyên tắc về chế độ tiền lương, thường theo qui định. Quản lý trực tiếp các quỹ của công ty theo dõi và báo cáo kịp thời tình hình tài chính cho giám đốc.

    5. Đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á.

    1. Tổ chức bộ máy công tác kế toán

    Tổ chức bộ máy kế toán của công ty được tổ chức  theo hình thức tập trung chuyên sâu, mỗi người trong phòng kế toán được phân công phụ trách một công việc nhất định do vậy công tác kế toán tại công ty là tương đối hoàn chỉnh, hoạt động không bị chồng chéo lên nhau.

     
       

    5.1. Tổ chức công tác kế toán

    Phòng kế toán của công ty Đông Nam á có 5 người trong đó có 1 phó giám đốc, 1 kế toán trưởng và 3 kế toán viên.

    – Chức năng phòng kế toán: Giúp cho ban giám đốc chỉ đạo thực hiện toàn bộ chính sách của Nhà nước về quản lý tài chính.

    – Nhiệm vụ: Thực hiện ghi chép phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản có liên quan. Lập báo cáo cung cấp số liệu, tài liệu của công ty theo yêu cầu của giám đốc công ty và của cơ quan quản lý Nhà nước. Lập kế hoạch, kế toán tài chính, tham mưu cho giám đốc về các quyết định trong việc quản lý công ty.

    – Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm trước ban giám đốc và các cơ quan pháp luật về toàn bộ công việc kế toán của mình tại công ty. Có nhiệm vụ theo dõi chung. Chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức phân công kiểm tra các công việc của nhân viên kế toán.

    – Kê toán kho: Cập nhật chi tiết lượng hàng hoá, dụng cụ xuất ra cho các văn phòng, công ty và lượng hàng hoá mua vào của công ty. Dựa vào các chứng từ xuất nhập vật tư, cuối tháng tính ra số tiền phát sinh và lập báo cáo.

    – Kế toán tổng hợp: thực hiện công tác cuối kỳ, có thể giữ sổ cái tổng hợp cho tất cả các phần hành ghi sổ cái tổng hợp, lập báo cáo nội bộ cho bên ngoài đơn vị theo định kỳ báo cáo hoặc yêu cầu đột xuất.

    – Kế toán công nợ: phản ánh  các khoản nợ phải thu, nợ phải trả các khoản phải nộp, phải cấp cũng như tình hình thanh toán và còn phải thanh toán với đối tượng (người mua, người bán, người cho vay, cấp trên, ngân sách…). Ngoài ra  do mô hình thanh toán tức là sẽ ghi chép kịp thời các nghiệp vụ thanh toán phát sinh tính toán tiền lương và các khoản trích theo lương tiến hành phân bổ các khoản chi phí lương, chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ theo đúng chế độ kế toán hiện hành.

    – Thủ quỹ: phản ánh thu, chi tồn quỹ tiền mặt hàng ngày đối chiếu tồn quỹ thực tế với sổ sách để phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời đảm bảo tồn quỹ thực tế tiền mặt cũng bằng số dư trên sổ sách.

    1. Hình thức kế toán được công ty áp dụng: Chứng từ ghi sổ
     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ

    Đối chiếu

    Sơ đồ 5.2: Hình thức kế toán của công ty

    II. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

    1. Đặc điểm về lao động của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ ã Đông Nam Á

    Đặc điểm kinh doanh củâ công ty là kinh doanh về văn phòng phẩm và thiết bị văn phòng nhưng công ty cũng không đòihỏi tất cả mọi người đều phải có trình độ đại học mà chỉ bắt buộc đối với các trưởng phòng đại diện và nhữgn người làm trong phòng kế toán.

    Tại công ty tỷ trọng của những người có trình độ trung cấp và chiếm 4% trên tổng số CBCNV toàn công ty được thể hiện qua bảng sau:

    STT Chỉ tiêu Số CNV Tỷ trọng
    1 – Tổng số CNV

     

    + Nam

    + Nữ

    30

     

    16

    14

    30

     

    16

    14

    2 – Trình độ

     

    + Đại học

    + Cao đẳng

    + Trung cấp

    20

     

    6

    4

    20

     

    6

    4

    2. Phương pháp xây dựng qũy lương tại công ty

    Quỹ lương của công ty là toàn bộ số tiền lương trả cho cán bộ CNV của công ty. Hiện nay công ty xây dựng qũy tiền lương trên tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là 22%.

    Hàng tháng sau khi tổng hợp toàn bộ doanh số bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán sẽ lấy tổng doanh thu đó nhân với 22% sẽ ra quỹ lương của công ty trong tháng đó.

    Ví dụ:

    Doanh thu của công ty tháng 12 năm 2005 là 136.274.545,46đ

    136.274.545,46 x 22% = 35.920.400đ

    1. Hàng tháng công ty sẽ tính ra thưởng cho CNV lấy từ quỹ thưởng khoản tiền thưởng này góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất cho 1 lao động, khuyến khích họ hăng say trong công việc với thời gian ngắn nhất. Tiền thưởng của công ty được tính 15% trên tổng quỹ lương: 15% x 35.920.400 = 5.388.060đ.

    Sau đó sẽ phân chia cho các bộ phận:

    – Bộ phận QLDN sẽ là: 2% x 35.920.400 = 718.408 đ

    – Bộ phận kinh doanh: 7% x 35.920.400 = 2.514.428đ

    – Bộ phận kỹ thuật: 5% x 35.920.400 = 1.796.020đ

    – Bộ phận kế toán: 1% x 35.920.400 = 359.204 đ

    4. Nguyên tắc trả lương và phương pháp trả lương của công ty

    Theo qui định của Nhà nước thì hệ số lương của các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp như sau:

    – Đối với bậc đại học là 2,34

    – Đối với bậc cao đẳng là 1,80

    – Đối với bậc trung cấp là 1,70

    và mức lương cơ bản là 350.000đ

    Ở công ty việc chi trả lương đều do thủ qũy thực hiện, thủ quỹ căn cứ vào các chứng từ “Bảng thanh toán tiền lương” và “Bảng thanh toán BHXH” để chi trả lương và các khoản khác cho nhân viên trong công ty.

    Do qui mô còn nhỏ nên công ty chỉ áp dụng hình thức trả lương theo thời gian.

    Công thức tính như sau:

    Ltg =  x Số ngày làm việc trong tháng

    VD: Nhân viên Hồ Ngọc Chương thuộc bộ phận kinh doanh trong tháng 12 làm được 30 công, do là trưởng phòng nên sẽ có hệ số phụ cấp là 0,30 và hệ số lương là 2,34 vậy tháng lương của Hồ Ngọc Chương sẽ được tính như sau:

    x 30 = 924.000

    Cứ như vậy kế toán sẽ dựa vào hệ số lương, hệ số phụ cấp và sô ngày làm việc của từng nhân viên đẻ tính ra  tiền lương hàng tháng cho công nhân viên.

    Chỉ tính lương cho bộ phận quản lý doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ số lương và hệ số phụ cấp của từng người cùng với bảng chấm công. Bảng chấm công dùng để theo dõi thời gian làm việc của từng người trong tháng. Bảng chấm công do cán bộ phụ trách có trách nhiệm chấm công cho từng người, cuối tháng sẽ chuyển về phòng kế toán cùng với những chứng từ khác để tính ra số tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên.

    Do doanh nghiệp là công ty cổ phần có 70% vốn thuộc ngân sách Nhà nước nên hệ số chức vụ quản lý doanh nghiệp được tính như sau:

    Chức danh Hệ số lương Hệ số phụ cấp
    – Giám đốc

     

    – PGĐ – KTT

    – Trưởng phòng

    – Phó phòng

    4,98

     

    4,32

    0,30

     

    0,20

    4.1. Bảng tính hệ số lương, hệ số phụ cấp của công ty

    BẢNG CHẤM CÔNG PHÒNG KINH DOANH

    Tháng 11/2005

     

    STT Họ và tên Cấp bậc lương hoặc cấp bậc chức vụ Ngày trong tháng Cộng bảng lương sản phẩm Số công lương thời gian Sô công nghỉ việc hưởng 100% Số công nghỉ việc hưởng 100% Số công hưởng BH

     

    XH

    1 2 3 4 5 6 29 30 31
    1 Hồ Ngọc Chương (2,34  + 0,30) x x x x x x   x x     30      
    2 Nguyễn Hồng Phong (2,34 + 0,20) x x x x x x   x x     30      
    3 Nguyễn Ngọc Đức 2,34 x x x x x x   x x     30      
    4 Nguyễn Thị Hương 2,34 x x 0 x x x   x x     29      
    5 Đào Thanh Khoa 2,34 x x x x x x   x x     30      
    6 Phạm Quỳnh Hoa 2,34 x x x x x x   x x     30      
    7 Vũ Thị Hằng 1,80 0 x x x x x   0 x     28      
    8 Trương Thị Trang 1,80 x x x x x x   x x     30      
    9 Lê Thị Lan 1,80 x x x x x 0   x x     29      
    10 Trần Văn Lực 1,80 x x x x x x   x x     30      
    11 Đỗ Bích Thuỷ 1,80 x x x x x x   x x     30      
    12 Vũ Thị Yến 1,80 x x x x x x   x x     30      
    13 Vũ Thị Trang 2,34 x x 0 x x x   x x     29      
    14 Lê Thị Vân 2,34 x x x x x x   x x     30      
    15 Trần Thị Nga 2,34 x x x x 0 x   x x     29      
    16 Lê Ngọc Vân 1,80 x x x x x x   x x     30      
    17 Vũ Ngọc Lương 1,80 x 0 x x x x   x x     30      
    18 Phạm Văn Lực 1,80 x x x x x x   x x     29      
    19 Nguyễn Thị Lệ 1,80 x x x x x x   x x     30      

    4.2: Bảng chấm công bộ phận kinh doanh tháng 11

    Bộ phận: Quản lý doanh nghiệp

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11 năm 2005

    STT Họ và tên Chức vụ Lương chính Tổng số Tạm ứng kỳ I Các khoản khấu trừ 6% BHXH Tiền thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SL Hệ số lương Lương cơ bản
    1 Đỗ Thị Thanh Minh 30 4,98 350.00 1.743.000 400.000 104.580 179.602 1.418.022
    2 Bùi Văn Long PGĐ 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
    3 Lê Đức Hùng PGĐ 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
    4 Nguyễn Thị Lý KTT 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
      Tổng   120   1.400.000 6.279.000 1.600.000 376.740 718.408 5.020.668

    4.3: Bảng thanh toán lương bộ phận QLDN tháng 11

    Bộ phận: Phòng kinh doanh

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11 năm 2005

    TT Họ và tên Chức vụ Lương chính Phụ cấp khác Tổng số Tạm ứng kỳ I Các khoản khấu trừ 6% BHXH Thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SC Hệ số bậc Lương TT
    1 Hồ Ngọc Chương TP 30 2,34 350.000 0,30 924.000 300.000 55.440 132.338 700.898
    2 Nguyễn Hồng Phong PP 30 2,34 350.000 0,20 889.000 300.000 53.340 132.338 667.998
    3 Nguyễn Ngọc Đức NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    4 Nguyễn Thị Hương NV 29 2,34 350.000   791.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    5 Đào Thanh Khoa NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    6 Phạm Quỳnh Hoa NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    7 Vũ Thị Hằng NV 28 1,80 350.000   588.000 300.000 35.280 132.338 385.058
    8 Trương Thị Trang NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    9 Lê Thị Lan NV 29 1,80 350.000   609.000 300.000 36.540 132.338 404.798
    10 Trần Văn Lực NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    11 Đỗ Bích Thuỷ NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    12 Vũ Thị Yến NV 30 2,34 350.000   630.000 300.000 37.000 132.338 424.538
    13 Vũ Thị Trang NV 29 2,34 350.000   630.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    14 Lê Thị Vân NV 30 2,34 350.000   791.700 300.000 49.140 132.338 602.198
    15 Trần Thị Nga NV 29 1,80 350.000   819.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    16 Lê Ngọc Vân NV 30 1,80 350.000   791.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    17 Vũ Ngọc Lương NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 504.798
    18 Phạm Văn Lực NV 29 1,80 350.000   609.000 300.000 36.540 132.338 424.538
    19 Nguyễn Thị Lệ NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000      
      Tổng   563   6.650.000   14.309.400 5.700.000 783.006 2.514.428 10.340.822

    4.4: Bảng thanh toán lương bộ phận kinh doanh tháng 11

     

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11/2005

     

     

    Bộ phận Lương chính Lương BHXH Tổng số Tạm ứng kỳ I Số tiền KT 6% BHXH Thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SC ST SC ST
    1. Bộ phận QLDN

     

    2. Bộ phận kinh doanh

    3. Bộ phận kỹ thuật

    4. Bộ phận kê toán

    120

     

    563

    325

    59

    6.279.000

     

    14.309.400

    12.560.000

    2.772.000

    0

     

    0

    0

    0

    0

     

    0

    0

    0

    6.279.000

     

    14.309.400

    12.560.000

    2.772.000

    1.600.000

     

    5.700.000

    4.370.000

    1.200.000

    376.740

     

    783.006

    753.600

    166.320

    718.408

     

    2.514.428

    1.796.020

    359.204

    5.020.668

     

    10.340.822

    9.232.420

    1.764.884

    Tổng   35.920.4000 0 0 35.920.400 12.870.000 2.079.666 5.388.060 26.358.794

    4.5: Bảng thanh  toán lương của công ty tháng 11 năm 2005

    5. Hàng tháng công ty có hai kỳ trả lương vào ngày 15 và ngày 30.

    – Kỳ I: Tạm ứng cho CNV đối với những người có tham gia lao động trong tháng.

    – Kỳ II: Sau khi tính lương và các khoản phải trả cho CNV trong tháng của doanh nghiệp. Kế toán sẽ trừ đi số tiền tạm ứng trước đây và thanh toán nốt số tiền còn lại mà CNV được lĩnh trong tháng đó.

    – Khi muốn tạm ứng người có trách nhiệm của các bộ phận sẽ lập 1 giấy đề nghị tạm ứng và gửi lên cho thủ trưởng đơn vị để xin xét duyệt. Trong giấy đề nghị tạm ứng phải ghi rõ số tiền tạm ứng, lý do tạm ứng. Sau đó giấy đề nghị này sẽ được chuyển cho kế toán trưởng và kế toán trưởng xem xét và ghi ý kiến đề nghị. Căn cứ vào quyết định của thủ trưởng và kế toán trưởng, kế toán thanh toán lập phiếu chi kèm giấy đề nghị tạm ứng, chuyển cho thủ quỹ làm thủ tục xuất quỹ.

     

    GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Kính gửi: Ban giám đốc

    Tên tôi là: Hồ Ngọc Chương

    Địa chỉ: Trưởng phòng kinh doanh

    Đề nghị cho tạm ứng số tiền: 5.700.000đ

    (Viết bằng chữ): Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Lý do tạm ứng: Tạm ứng lương cho CNV

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Thủ trưởng đơn vị

     

    (Ký, họ tên)

    Kế toán trưởng

     

    (Ký, họ tên)

    Thủ quỹ

     

    (Ký, họ tên)

    Người nhận

     

    (Ký, họ tên)

    5.1: Giấy đề nghị tạm ứng

    Nợ TK: 334

    Có TK111

    PHIẾU CHI

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Họ tên người nhận: Hồ Ngọc Chương

    Địa chỉ: Trưởng phòng kinh doanh

    Lý do tạm ứng: Tạm ứng lương kỳ I cho CNV trong tháng

    Số tiền: 5.700.000đ

    (Viết bằng chữ): Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Kèm theo 02 chứng từ gốc

    Thủ trưởng đơn vị

     

    (Ký, họ tên)

    Kế toán trưởng

     

    (Ký, họ tên)

    Thủ quỹ

     

    (Ký, họ tên)

    Người nhận

     

    (Ký, họ tên)

    Đã nhận đủ số tiền (bằng chữ) Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    5.2: Phiếu chi tạm ứng

    1. Hạch toán các khoản trích theo lương tại công ty
    2. Quỹ BHXH: Dùng để chi trả cho 1 người lao động trong thời gian nghỉ do ốm đau theo chế độ hiện hành. BHXH phải được tính là 20% trên tổng quỹ lương trong đó 15% tính vào chi phí kinh doanh của công ty. 5% do người lao động góp trừ vào lương công ty sẽ nộp hết 20% cho cơ quan bảo hiểm.

    Tháng 11 tổng quỹ lương của công ty là: 35.920.400đ

    Theo quy định công ty sẽ nộp BHXH với số tiền là:

    35.920.400 x 20% = 7.184.080đ

    Trong đó NV đóng góp trừ vào lương là:

    35.920.400 x 5% = 1.796.020đ

    Còn lại 15% công ty tính vào chi phí:

    7.184.080 – 1.796.020 = 5.388.060đ

    VD: Hồ Ngọc Chương thuộc bộ phận kinh doanh cuối tháng  kế toán tính ra số tiền lương là 924.000 vậy số tiền mà Chương phải nộp BHXH là:

    924.000 x 5% = 46.200đ

    Còn tiền BHXH mà công ty phải chịu vào chi phí là:

    924.000 x 15% = 138.600đ

    1. Quỹ BHYT: Dùng để chi trả cho người tham gia đóng góp trong thời gian khám chữa bệnh. BHYT được tính 3% trên tổng quỹ lương trong đó:

    – 2% tính vào chi phí của công ty

    – 1% tính vào lương của CNV

    Tháng 11 quỹ lương của công ty là 35.920.400đ. Theo qui định công ty sẽ nộp BHYT với số tiền: 35.920.400 x 5% = 1.077.612đ

    Trong đó: Nhân viên chịu trừ vào lương 1%

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    Còn lại 2% công ty tính vào chi phí:

    35.920.400 x 2% = 718.408 đ

    VD: Nhân viên Hồ Ngọc Chương với số lương là 924.000 thì số tiền mà Chương phải nộp BHYT là: 924.000 x1% = 9.240đ

    Còn 2% công ty tính vào chi phí:

    924.000 x 2% = 18.480đ

    1. KPCĐ: Dùng để duy trì hoạt động của công đoàn doanh nghiệp được tính 2% trên tổng quỹ lương, 1% nộp cho công đoàn cấp trên, 1% giữ lại tại doanh nghiệp.2% này được tính hết vào chi phí.

    Quỹ lương tháng 11 của công ty là: 35.920.400đ thì 2% KPCĐ được công ty tính vào chi phí là: 35.920.400đ x 2% = 718.408đ

    Trong đó: 1% mà doanh nghiệp phải nộp cấp trên là:

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    1% giữ lại tại doanh nghiệp là:

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    Như vậy: Hai khoản BHXH, BHYT phải thu của nhân viên được tính vào là 6% trừ luôn vào lương của người lao động khi trả lương.

    Số tiền mà doanh nghiệp sẽ trừ vào lương của nhân viên là:

    35.920.400 x 6% = 2.155.224đ

    1. Cuối tháng kế toán tính ra số tiền lương phải trả cho các bộ phận hạch toán như sau:

    * Ngày 15/11 tạm ứng lương kỳ I cho CNV:

    Nợ TK 334

    Có TK 111           11.870.000

    * Ngày 28/11 tính ra số tiền lương phải trả cho nhân viên QLDN (bộ phận kỹ thuật + bộ phận kế toán) và bộ phận bán hàng

    Nợ TK 641: 14.309.400đ

    Nợ TK 642: 21.611.000đ

    Có TK 334: 35.920.400đ

    * Ngày 28/11 tính ra các khoản phải trích theo lương

    Nợ TK 641: 14.309.400 x 19% = 2.718.786đ

    Nợ TK 642: 21.611.000 x 19% = 4.106.090đ

    Nợ TK 334: 35.920.400 x 6% = 2.155.224đ

    Có TK 338: 35.920.400 x 25% = 8.980.100đ

    Có TK 3382: 35.920.400 x 2% = 718.408

    Có TK 3383:35.920.400 x 20% = 7.184.080đ

    Có TK 3384: 35.920.400 x 3% = 1.077.612đ

    * Tính ra số tiền từ quỹ khen thưởng, tiền trợ cấp BHXH từ qũy BHXH không phản ánh vào chi phí:

    Nợ TK 431: 5.388.060đ

    Nợ TK 3383: 2.079.666đ

    Có TK 334:7.467.726đ

    * Khi thanh toán lương cho công nhân  viên (ngày 30/11/2005)

    Nợ TK 334

    Có TK 111           26.358.794

    * Khi nộp KPCĐ (1%), BHXH (20%), BHYT (3%) cho cơ quan quản lý quỹ lương bằng chuyển khoản.

    Nợ TK 338:  x 24 = 8.620.896đ

    Nợ TK 3382: 359.204đ

    Nợ TK 3383: 7.184.080đ

    Nợ TK 3384: 1.077.612đ

    Có TK 111: 8.620.896đ

     

     

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH

    Tháng 11 năm 2005

    STT      TK ghi có

     

    TK ghi nợ

    TK 334 TK 338 Tổng 338 Tổng
    Lương chính Phụ cấp Khác Cộng 3382 3383 3384
    1 TK 641 14.309.400     14.309.400 286.188 2.146.410 286.188 2.718.786 17.028.186
    2 TK 642 21.611.000     21.611.000 432.220 3.241.650 432.220 4.106.090 25.717.090
    3 TK 338     2.079.666           2.079.600
    4 TK 431     5.388.060           5.388.060
    5 TK 334           1.796.020 359.204 2.155.224 2.155.224
        35.920.400   7.467.726 35.920.400 718.408 7.184.080 1.077.612 8.980.100 52.368.160

    6.1: Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội tháng 11

    Từ bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương cùng bảng thanh toán tiền lương, kế toán lập một số chứng từ ghi sổ. Cuối tháng các chứng từ này sẽ được tổng hợp vào sổ đăng ký chứng từ.

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 01

    Ngày 15/11/2005

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tạm ứng lương kỳ I cho CNV 334 111 12.870.000
    Tổng cộng x x 12.870.000

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.2: Chứng từ ghi sổ số 01

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 02

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Trích TL phải trả trong tháng

     

    – Tiền lương NV QLDN

    – Tiền lương NV BH

    642

     

    641

    334 21.611.000

     

    14.309.400

    Tổng cộng     35.920.400

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.3. Chứng từ ghi sổ số 02

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 03

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tính ra các khoản trích theo lương

     

    – Tính vào chi phí bán hàng

    – Tính vào chi phí QLDN

    – Tính vào lương

    641

     

    642

    334

    338 2.718.786

     

    4.106.090

    2.155.224

    Tổng cộng x x 8.980.100

    Kèm theo 05 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.4. Chứng từ ghi sổ số 03

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 04

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    BHXH phải trả CNV trong tháng 334 338 2.079.666
    Tổng cộng x x 2.079.666

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.5: Chứng từ ghi sổ số 04

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 05

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Khấu trừ lương khoán BHXH 334 338 2.155.224
    Tổng cộng x x 2.155.224

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.6: Chứng từ ghi sổ số 05

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 06

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tính ra số tiền thưởng phải trả CNV 431 334 5.388.060
    Tổng cộng x x 5.388.060

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.7: Chứng từ ghi sổ số 06

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 07

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Thanh toán lương cho công nhân viên 334 111 26.358.794
    Tổng cộng x x 26.358.794

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.8: Chứng từ ghi sổ số 07

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 08

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Nộp KPCĐ, BHXH, BHYT cho cơ quan quản lý 338 112 8.620.896
    Tổng cộng x x 8.620.896

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.8: Chứng từ ghi sổ số 08

    – Cuối tháng tổng hợp các chứng từ vào sổ đăng ký chứng từ

    SỔ ĐĂNG KÝ CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Tháng 11/2005

    Chứng từ ghi sổ Số tiền Chứng từ ghi sổ Số tiền
    SH NT SH NT
    01 15/11 12.870.000 05 30/11 2.155.224
    02 28/11 35.920.000 06 30/11 5.388.060
    03 28/11 8.980.100 07 30/11 26.358.794
    04 28/11 2.079.600 08 30/11 8.620.896

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Kế toán trưởng                                        Thủ trưởng đơn vị

    (Ký, họ tên)                                                  (Ký, họ tên)

    6.9: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    SỔ CÁI

    Tài khoản 334

    Đơn vị tính: đồng

    Chứng từ ghi sổ Diễn giải Số hiệu TK Số tiền
    SH NT Nợ
    01 15/11 Số dư đầu tháng

     

    Số phát sinh

    Tạm ứng lương kỳ I

    111 12.870.000  
    02 28/11 TL phải trả CNV

     

    – TL trả NVQLDN

    – TL trả VNBH

    642

     

    641

      21.611.000

     

    14.309.400

    04 28/11 BHXH phải trả CNV trong tháng 338   2.079.666
    05 30/11 Khấu trừ lương khoản BHXH 3383 2.155.224  
    06 30/11 Tiền thưởng phải trả 431   5.388.060
    07 30/11 Thanh toán lương cho CNV 111 26.155.224  
        Số phát sinh

     

    Dư cuối tháng

      41.180.448 43.388.126

     

    2.207.678

    6.11: Sổ cái tài khoản 334

    SỔ CÁI

    Tài khoản 338

    Đơn vị tính: đồng

    Chứng từ ghi sổ Diễn giải Số hiệu TK Số tiền
    SH NT Nợ
        Số dư đầu tháng      
    03 28/11 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ

     

    – Tính vào CPBH

    – Tính vào CPQLDN

    – Trừ vào lương

    641

     

    642

    334

      2.718.786

     

    4.106.090

    2.155.224

    04 28/11 BHXH phải trả trong tháng 334 2.079.600  
    08 30/11 Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ 111 8.620.896  
        Cộng phát sinh

     

    Dư cuối tháng

      10.700.496

     

    1.720.396

    8.980.100

    6.10. Sổ cái tài khoản 338
    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

    I. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á.

    1. Nhận xét chung về công tác kế toán của công ty

    Trong mỗi một công ty tư nhân, liên doanh hay thuộc ngân sách Nhà nước thì bộ phận kế toán là một bộ phận không thể thiếu. Hệ thống sổ sách của công ty tương đối hoàn chỉnh, kế toán đã sử dụng hình thức trả lương rất phù hợp đối với cán bộ công nhân viên trong công ty đặc biệt ở phòng kế toán được bố trí rất khoa học, hợp lý và được phân công theo từng phần hành cụ thể rõ ràng nên công việc không bị chồng chéo cùng với đội ngũ cán bộ đều có trình độ nên đã đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh doanh của công ty.

    2. Nhận xét về công tác kế toán lao động tiền lương trích BHXH, BHYT, KPCĐ tại công ty

    Hạch toán tiền lương là một hệ thống thông tin kiểm tra các hoạt động của tài sản và các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối trao đổi và tiêu dùng.

    Kế toán tiền lương ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng về tiền lương là giai đoạn gắn liền với lợi ích kinh tế của người lao động và tổ chức kinh tế. Phương pháp hạch toán chỉ được giải quyết khi nó xuất phát từ  người lao động vfa tổ chức kinh tế. Trong công ty việc trả lương công bằng luôn luôn được đặt lên hàng đầu, trả lương phải hợp lý với tình hình kinh doanh của công ty.

    Để công tác kế toán tiền lương các khoản trích theo lương của người lao động thực sự phát huy được vai trò của nó và là những công cụ hữu hiệu của công tác quản lý thì vấn đề đặt ra cho những cán bộ làm công tác kế toán lao động tiền lương và các nhà quản lý, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu các chế độ chính của Nhà nước về công tác tiền lương và các khoản trích theo lương để áp dụng vào công ty mình một cách khoa học và hợp lý, phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty đồng thời phải luôn luôn cải tiến để nâng cao công tác quản lý lương và các khoản trích theo lương. Thường xuyên kiểm tra xem xét để rút  ra những hình thức và phương pháp trả lương một cách khoa học, công bằng với người lao động để làm sao đồng lương phải thực sự là thước đô giá trị lao động.

    Cùng với việc nâng cao chất lượng lao động công ty phải có lực lượng lao động với một cơ cấu hợp lý, trình độ tay nghề phải được qua đào tạo, có sức khoẻ và bố trí lao động phù hợp với khả năng để họ phát huy, tạo thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch đồng thời công ty phải quản lý và sử dụng tốt thời gian lao động nhằm nâng cao thu nhập cho công ty. Ngoài ra công ty phải không ngừng nâng cao hoàn thiện trang thiết bị TSCĐ của công ty để phát huy khả năng lao động nhằm nâng cao thu nhập cho công ty và cải thiện đời sống cho người lao động thông qua số tiền lương mà họ được hưởng.

    Trong công ty ngoài tiền lương được hưởng theo số lượng và chất lượng lao động đã hao phí. Người lao động còn được hưởng, thu nhập từ các quỹ BHXH, khi ốm đau, tai nạn, thai sản mất sức…

    Công ty đã sử dụng qũy KPCĐ tại công ty rất hợp lý. Bộ máy quản lý của công ty rất quan tâm đến tình hình lao động cũng như cuộc sống của công nhân viên. Chính điều này đã làm cho CNV trong công ty  cảm thấy yên tâm về công việc cũng như công ty mà mình đã chọn để cống hiến sức lao động của mình sao cho đúng đắn.

    3. Ưu điểm

    Với hình thức trả lương theo thời gian với mức lương ổn định và tăng dần đã làm cho CBCNV thực sự tin tưởng và gắn bó với công ty cùng với điều hành của ban lãnh đạo cũng như sự lao động hiệu quả của phòng kế toán luôn đảm bảo công bằng hợp lý chính xác đã làm cho CNV yên tâm và hăng say trong công việc, do vậy công ty đã ngày càng phát triển hơn, đời sống CBCNV ngày càng được đảm bảo và nâng cao.

    4. Nhược điểm

    Do sự cập nhật của các chứng từ còn chậm hơn nữa sự giám sát, quản lý của các văn phòng vẫn còn buông lỏng do vậy các chứng từ về tiền lương, BHXH… đôi khi cũng chưa thật chính xác, chưa thập hợp lý. Do vậy công ty cần phải đưa ra chính sách quản lý thật đúng đắn, chặt chẽ để công tác kế toán hoạt động có hiệu quả hơn, chính xác hơn.

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY

    Để công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty thực sự phát huy hết vai trò của nó là công cụ hữu hiệu quả công tác quản lý, để từ đó nâng cao mức sống cho người lao động và để công ty ngày một phát triển thì công ty Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á nói chung và công tác kế toán nói riêng phải không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện hơn hình thức trả lương hiện nay của công ty để quản lý tốt lao động và nâng cao hiệu quả lao động.

    Phải quan tâm đến đời sống cán bộ CNV hơn nữa để tìm ra phương thức trả lương phù hợp với sức lao động mà họ đã bỏ ra.

    Để đáp ứng kịp thời thông tin nhanh và chính xác phù hợp với tình hình kinh doanh của công ty, xin đề nghị ban giám đốc và phòng kế toán quản lý tốt các hình thức trả lương hơn nữa.

    – Do công ty áp dụng hình thức trả lương là thời gian nên việc tính ra lương của công nhân viên vẫn chưa thiết thực.

    – Ngoài việc trả lương theo thời gian công ty nên áp dụng thêm hình thức trả lương theo sản phẩm, có như vậy thì việc tính toán lương của công nhân viên sẽ thực tế hơn.

    – Đối với bộ phận kỹ thuật và bộ phận kinh doanh nên áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, vì có như vậy công nhân viên mới tích cực tham gia, hoạt động kinh doanh tiêu thụ được nhiều hàng hoá giúp cho lợi nhuận của công ty tăng cao đồng thời việc hạch toán lương cũng cụ thể hơn, thiết thực hơn đối với năng lực của từng người.

    KẾT LUẬN

    Công tác kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương được tổ chức tốt sẽ góp phần quản lý chặt chẽ, thúc đẩy việc chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chế độ lao động, đảm bảo tính toán phân bổ đúng đắn, chính xác các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm tăng nhu thập cho người lao động và tăng lợi nhuận cho Công ty để công ty ngày càng lớn mạnh hơn. Để góp phần giúp kế toán thực hiện tốt chức năng quản lý lao động tiền lương thì kế toán cần phải biết kết hợp mô hình hạch toán dựa trên cơ sở kết hợp với thực trạng của công ty để đưa ra phương thức quản lý tốt nhất.

    Đề tài kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương  của người lao động, với những vấn đề quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á sẽ đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề đảm bảo công bằng trong việc trả lương của công ty cũng như ngoài công ty, ở nơi sử dụng lao động làm việc, giúp công ty tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

    Trên cơ sở lý luận trên xuất phát từ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật và đặc biệt quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.

    Đề tài đã đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty. Góp phần nâng cao hiệuq ảu sử dụng lao động và đưa phương pháp quản lý đạt kết quả cao hơn.

    Qua thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế về công tác quản lý kế toán đối với bộ phận kế toán nói chung và tiền lương nói riêng ở công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á em thấy. Qua 1 năm xây dựng và phát triển đến nay đã có một bộ phận quản lý khá ổn định, quy mô kinh doanh vững chắc nhưng với thời đại ngày nay nền kinh tế nước ta đã và đang phát triển với một tốc độ rất nhanh chính vì thế mà công ty bằng mọi cách phải có biện pháp cố gắng hoà nhập vào chế độ kế toán mới, để hoà nhập bước đi của mình với nhịp độ kinh tế phát triển chung của đất nước.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Giáo trình Lý thuyết Hạch toán kế toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do Tiến Sỹ Nguyễn Thị Đông chủ biên – Nhà xuất bản Tài chính Tháng 11/1999.
    2. Giáo tình Kế toán Công trong đơn vị hành chính sự nghiệp – Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân do PGS – Tiến sỹ Nguyễn Thị Đông chủ biên – Nhà Xuất bản Tài chính T5/2003
    3. Giáo trình Kế toán Doanh nghiệp sản xuất – Trường Đại học Tài chính kế toán chủ tiên Tiến Sỹ Nguyễn Đình Đồ – Nhà xuất bản Tài chính Tháng 12/2000.
    4. Giáo trình Kế toán tài chính trường Đại học Kinh tế Quốc dân
    5. Giáo trình Tổ chức hạch toán kế toán trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Phần Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ph%C3%A1t-huy-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt N

    am

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Như một quy luật có tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giưói, đó là ở đâu có thị trường chứng khoán phát triển, thì ở đó hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, các Ngân hàng thương mại phát triển. Ngược lại, ở đâu có cạnh tranh hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính sôi động, thì ở đó giao dịch trên TTCK cũng nhộn nhịp. Hay nói cách khác, không thể nói đến sự tham gia tích cực của các tổ chức trung gian tài chính. Ngân hàng thương mại đã thực sự giữ một vai trò rất quan trọng đối sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển. Việc tham gia của các định chế tài chính đặc biệt là các Ngân hàng thương mại hiện nay còn rất hạn chế. Trong khi đây là một trong những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động chứng khoán một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy, trong phạm vi kiến thức của mình, em đã lựa chọn đề tài: “Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam” làm công trình nghiên cứu khoa học của mình với hi vọng có thể đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này.

    Về kết cấu của công trình nghiên cứu khoa học này, ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, công trình bao gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận về Ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán

    Chương 2: Hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 1:

    LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    1.1 Thị trường chứng khoán và hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán

    1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán

    Trong các sách báo kinh tế ở Việt Nam hiện tồn tại nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau về thị trường chứng khoán. Một số tác giả gắn thị trường chứng khoán với cụm từ Securities Market và cho rằng thị trường chứng khoán là “nơi giao dịch chứng khoán và công cụ tài chính có liên quan đến chứng khoán”. Ở đây, nếu từ Securities được giải nghĩa theo cụm từ Written evidence of ownership, bằng chứng giấy trắng mực đen về quyền sở hữu, thị trường tài chính. Một số tác giả khác giải thích thị trường chứng khoán xuất phát từ cụm từ Stock Market và cho rằng, thị trường chứng khoán “là đối với chứng khoán thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung”. Cách giải thích này nhấn mạnh thị trường chứng khoán với tư cách lĩnh vực trao đổi những loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu và công cụ tài chính phát sinh. Các tác giả của Trường đại học Tài chính – kế toán cho rằng “thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi. Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn do đặc tính của chứng khóan trong việc huy động vốn dài hạn”. Các tác giả của trường Đại học Ngoại thương nêu ra định nghĩa: “thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”.

    Những cách định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán như trên cho thấy, bản thân thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp với nhiều mối quan hệ và đặc trưng khác nhau. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là một hiện

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tượng kinh tế khách quan có sự phát sinh, phát triển. ở từng giai đoạn phát triển của mình thị trường chứng khoán cũng mang những nội dung khác nhau về mô hình tổ chức, chủng loại hàng hoá và về phương thức giao dụch. Chính vì thế, mặc dù cách định nghĩa khác nhau nhưng về nội dung khái niệm thị trường chứng khóan, các tác giả đều thng nhất ở một số điểm sau:

    Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một dạng thị trường đặc biệt, nằm trong một thị trường lớn hơn gọi là thị trường tài chính.

    Sơ đồ cấu trúc thị trường tài chính

    Thị trường tài chính

    Thị trường tín dụng                                            Thị trường trao đổi các giấy tờ có giá

    Thị trường tiền tệ                                                Thị trường chứng khoán

    • Thị trường tài chính là lĩnh vực trao đổi các giấy tờ có giá và quan hệ vay mượn qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tín dụng: thị trường vay và cho vay qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tiền tệ: trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn (thường dưới một

    năm).

    • Thị trường chứng khoán: thị trường trao đổi các giấy tờ có giá dài hạn (thường trên một năm).

    Thứ hai, hàng hoá trao đổi trên thị trường chứng khoán chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu dài hạn. Ngoài ra, trên các thị trường chứng khoán phát triển còn trao đổi các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu và trái phiếu, như chứng quyền, khế quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai…

    Thứ ba, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp (thị trường phát hành) và thị trường thứ cấp (thị trường mua – bán lại).

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ tư, thị trường chứng khoán bao gồm hai mô hình tổ hức quản lý chính, đó là Sở giao dịch chứng khoán và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC).

    Từ những nội dung căn bản của thị trường chứng khoán như trên, có thể nêu khái quát: thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá giao dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu, trái phiếu theo những phương thức có tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán, giao dịch trực tiếp và qua mạng.

    1.1.2 Hoạt động của thịh trường chứng khoán

    1.1.2.1 Thị trường chứng khoán chính thức

    Đây là TTCK tập trung, hoạt động đúng theo các quy định của pháp luật, là nơi giao dịch mua bán các loại CK đã được đăng ký (listed or registered securities) hay được biệt lệ. Vì lẽ đó, nó còn được gọi là thị trường niêm yết tập trung.

    CK đã được đăng ký là loại CK đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian, các môi giới và công ty môi giới. Chứng khoán sau khi phát hành đại chúng, nếu hội đủ một số yêu cầu chọn lọc, thì có thể niêm yết trên sàn giao dịch. Các tiêu chuẩn niêm yết thường chú trọng thâm niên hoạt động, thành tích lợi nhuận, quy mô cổ phần và lượng cổ đông. Sở dĩ như vậy là vì Sở giao dịch muốn chứng khoán niêm yết phải là loại đủ chất lượng và lượng cổ phần phải lớn, cổ đông nhiều thì mới có mua bán liên tục, sôi nổi và đảm bảo uy tín thị trường. Người đầu tư khi mua chứng khoán trong một đợt phát hành đại chúng(tức mua các IPO), dù đang mạo hiểm vào một chứng khoán mới, nhưng xem như họ được bảo vệ tối đa. Cả hệ thống dường như đã sàng lọc cho họ rồi, Trong đó Sở giao dịch là một khâu then chốt trong một hệ thống vận hành đồng bộ, Ta cũng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là đồng bộ. Ta cúng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua và bán chứng khoán tài sản giao dịch(tranding

    4

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    floor) của Sở giao dịch đó. Các yêu cầu về mua của người có tiền (cầu) và bán của người có chứng khoán (cung) sẽ được các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch, quá trình mua bán đó diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đầu gía. Còn lại, nói chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giớivà kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác.

    CK biệt lệ là loại CK được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, do Chính phủ trong các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm.

    TTCK chính thức là một tổ chức có thực thể, là thị trường minh bạch và được tổ chức cao, có địa điểm nhất định, với những trang thiết bị cần thiết, ở đó các CK được giao dịch theo những quy chế nghiêm ngặt và nguyên tắc nhất định.

    TTCK chính thức có thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định trên cơ sở đấu giá công khai có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán quốc gia. Việc mua bán CK được thực hiện tại sàn giao dịch thể hiện bằng các Sở giao dịch chứng khoán. Chính vì vậy, TTCK tập trung (hay TTCK có tổ chức – Organnied market) còn được gọi là Sở giao dịch, quá trình mua bán (The Stock Exchange). Tại Sở giao dịch, quá trình mua bán chứng khoán diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đấu giá. Còn lại chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giới kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác. Nó đóng vai trò là nơi tập trung thông tin và duy trì sự rõ ràng đáng tin cậy để người mua kẻ bán tiện tham khảo, tạo điều kiện cho những nhà đấu tư chẳng hề biết nhau vẫn có thể an tâm làm ăn với nhau. Nó là một định chế đầu mối (đầu mối chớ không phải trung gian hoặc chợ), là nơi tạo ra niềm tin, sự công bằng, trung thực và trật tự cho những nhà đầu tư chứng khoán. Những nhà đầu tư chứng khoán đều phải tốn tiền để mua những thứ đó từ Sở giao dịch. Nó là nơi tập hợp và chuyển hoá niềm tin thành những kết ước cụ thể của những nhà đầu tư chứng khoán.

    Hoạt động nhộn nhịp của Sở giao dịch có vẻ như là thứ hào quang chói sáng lấn át, làm cho người ta khó phân biệt. Khi nhắc đến TTCK, hầu như mọi

    5

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    người có thói quen liên tưởng ngay dến một Sở giao dịch (Stock exchange) nào đó. Nói đến TTCK là người ta hình dung đến các sàn giao dịch (tranding floor) được vận hành với những phương tiện hiện đại, là bàn bạc về một thị trường diễn biến nhộn nhịp nhưng lại có tiếng là trật tự và trung thực, với sự trợ giúp của các ngành kỹ thuật cao. Thế nhưng hoạt động tại các sàn giao dịch chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh TTCK. Cùng với cả một hệ thống vận hành đồng bộ, Sở giao dịch là một khâu then chốt tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi, vì vậy người ta gọi chung bối cảnh đó là thị trường. Các yêu cầu về mua của người có tiền(cầu) và bán của người có chứng khoán(cung) sẽ được các thông tin môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch để giao mua bán chào bán(bid và offer). Tại Sở giao dịch; quá trình mua bán đó bằng động tác đấu giá công khai (open/auction). Các nhà môi giới phải la lớn lên giá “bid” và “offer” của họ ngay tại các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua bán chứng khoán tại sàn giao dịch của Sở giao dịch đó. Và dù Sở giao dịch là nơi rất tập trung, nó cũng chỉ giữ nhiệm vụ là một khâu trong TTCK.

    1.1.2.2 Thị trường chứng khoán bán chính thức hay thị trường chứng khoán bán tập trung (thị trường OTC)

    Đây là thị trường không có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh CK như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có khu vực giao dịch diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, vào thời điểm và tại chỗ mà những người có nhu cầu mua bán CK gặp gỡ nhau. Đây là một loại thị trường bậc cao, được tự động hoá cao độ, hàng ngàn hãng môi giới trong cả nước giao dịch mua bán CK với nhau thông qua hệ thống điện thoại và hệ thốngvi tính nối mạng. Nó không phải là thị trường hiện hữu, vì vậy còn được gọi là thị trường giao dịch không qua quầy – thị trường OTC (Over-the-Counter Market). Thông thường, đối với các nước phát triển và các nước có TTCK phát triển và các nước có TTCK phát trin, mới có điều kiện hình thành loại thị trườngbậc cao này, vì chỉ các nhà đầu tư ngoài quỹ đầu tư, qũy hưu bồng, các công ty lớn mới có khả năng

    6

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, còn tham gia nối mạng máy lớn thì rất khó khăn, còn các nhà đầu tư nhỏ khó có thể trang bị cho mình những phương tiện máy móc thiết bị hiện đại, vì vậy thị trường OTC chưa thích hợp với các nước đang phát triển.

    Thị trường OTC có những nét đáng chú ý sau đây:

    +Về đặc điểm của thị trường OTC: thị trường OTC không có trung tâm giao dịch, mà giao dịch mua bán CK thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại. Một điều quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán CK như trong phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông. Thị trường OTC là thị trường thương lượng, không có vị trí tập trung để trực tiếp gặp nhau. Việc giao dịch được điều khiển thông qua điện thoại và mạng vi tính để liên lạc giữa những dealer chứ không đối mặt trực tiếp (face- to – face) như tại SGDCK. Thị trường OTC được quy định luật lệ bởi Hiệp hội những người kinh doanh CK (NASD). Một giao dịch CK trên OTC thường bắt đầu khi một khách hàng đặt một lệnh và người môi giới (broker) điền vào phiếu lệnh. Sau đó phiếu lệnh được chuyển đến nhân viên giao dịch trên OTC (OTC trader) của công ty để thi hành. Nhân viên giao dịch sẽ xác định người kinh doanh CK (dealer) đề ra thương lượng các điều khoản của giao dịch. Một người kinh doanh CK trên OTC (OTC dealer), người cung cấp liên tục các giá hỏi mua (bids) và giá chào bán (offers) cho một CK cụ thể thì được cho là “tạo một thị trường” (make a market) cho CK đó và được gọi là người tạo ra thị trường (market/ a market). Người tạo ra thị trường mua và bán CK vì lợi nhuận của chính họ và chấp nhận rủi ro. Nếu ở Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một người tạo ra thị trường cho mỗi loại CK (chuyên gia- specialist) thì trên OTC có thể có nhiều người tạo ra thị trường cho một loại CK. Một người tạo ra thị trường phải sẵn sàng bán hay mua cổ phiếu tại giá đưa ra (quoted price). Trừ khi công bố giá được định trước, tất cả các báo giá được đưa ra từ công ty CK.

    Có nhiều loại giao dịch trên OTC, bao gồm (nhưng không có giới hạn): cổ phiếu và trái phiếu công ty; trái phiếu chính quyền địa phương; chứng khoán

    7

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chính phủ Mỹ; và chứng khoán cơ quan Chính phủ Mỹ (U.S. Government Agency Securities).Khi việc giao dịch CK này được thương lượng giữa người mua và người bán, phải có mạng lưới liên lạc nối liền những người kinh doanh (dealer) và biểu diễn những thông tin báo giá. Có 2 hình thức chính của việc liên lạc là bảng điện và in ấn.

    Công ty chứng khoán trên OTC tương tự như công ty môi giới hoạt động trên một Sở giao dịch chứng khoán, do đó nó có tên gọi khác nữa là công ty giao dịch – môi giới. Công ty CK OTC luôn bán các loại CK phi tập trung cho các khách hàng của mình.

    Nhà môi giới trung gian là một loại công ty môi giới nhất định mà khách hàng của nó là các nhà giao dịch và môi giới trên thị trường. Các công ty thông báo cho nhà môi giới trung gian loại CK mà họ muốn mua hoặc muốn bán. Sau đó, nhà môi giới trung gian thông báo các yêu cầu này qua mạng lưới thông tin cho các thành viên khác biết.

    Thị trường OTC thực hiện vai trò của thị trường thứ cấp, tức là thực hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Nhờ có thị trường OTC, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu tư vào CK vì khi cần tiền họ có thể bán lại các CK của mình cho các nhà đầu tư khác trên TTCK. Có tiền, thấy có lợi, hoặc thích là mua. Kẹt tiền, thấy không hấp dẫn nữa hoặc không thích thì bán. Nếu không có thị trường thứ cấp, có lẽ người đầu tư mua cổ phần, trái phiếu sẽ còn bị kẹt dài dài.

    Các công ty thực hiện môi giới và kinh doanh CK là cầu nối giữa những người đầu tư trên thị trường OTC. Nhờ có các công ty này, quan hệ cung cầu CK trên thị trường được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn. Các công ty muốn hoạt động môi giới và kinh doanh CK phải được phép của cơ quan có thẩm quyền (NASD). Thông thường các công ty CK thường được phép thực hiện cả nghiệp vụ môi giới và kinh doanh mua bán CK cho chính mình.

    Các công ty CK trên thị trường OTC có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh mua bán một số loại CK nhất định. Các công ty

    8

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    CK giao dịch mua bán CK cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại CK đó. Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh CK như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán CK cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư CK, bảo lãnh phát hành.

    • Niêm yết Ck trên thị trường OTC: các CK buôn bán trên thị trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng (các nhà đầu tư) biết để cócác quyết định đầu tư. Các CK được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các điều kiện được niêm yết không quá nghiêm ngặt, chỉ cần được phép phát hành là CK có thể giao dịch trên thị trường này. Như vậy, hầu như tất cả các CK không được niêm yết để giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán đều được giao dịch ở đây. Các CK buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp nơi nên độ lớn của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán CK trên thị trường này là lớn hơn Sở giao dịch chứng khoán. Từ điều kiện niêm yết thông thường hơn mà CK của các công ty được buôn bán trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán cũng được mua bán ở thị trường này.

    yết giá trên thị trường OTC được thể hiện trên hệ thống màn hình yết giá tự động, tuỳ theo độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của một loại CK nhất định mà nó có các loại yết giá như: yết giá chắc chắn, yết giá phụ thuộc, yết giá có chủ định.

    Từ việc buôn bán giao dịch CK trên thị trường OTC không tại một địa điểm nhất định mà thay vào đó là tại các công ty CK và thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống viễn thông, nên việc niêm yết công khai cũng được đa dạng và đơn giản hơn. Giá thị trường hiện tại của các loại CK phổ biến trên thị trường OTC được thông bán trên hệ thống màn hình yết giá tự động của NASDAQ.

    Ngoài ra, yết giá công khai trên thị trường OTC còn được thực hiện dưới các hình thức ra các yết giá có chọn lọc là các yết giá do NASDAQ tập hợp hàng ngày các mức giá chào bán và giá đặt mua của một số loại CK trên thị trường

    9

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    OTC theo một danh sách có chọn lọc thông qua Uỷ ban yết giá của nó, sau đó nó được công bố trên nhiều tờ báo hàng ngày trong khắp cả nước. Các thông báo yết giá màu hồng là do một tổ chức có tên là Phòng yết giá quốc gia (National Quotation Bureau) xuất bản. Nó xuất bản hàng ngày giá bán buôn các loại CK trên thị trường OTC kèm theo đó là tên của những nhà giao dịch hay nhà giao dịch có liên quan. Các thông báo yết giá màu hồng không được phổ biến rộng rãi mà chỉ được phân phối cho các công ty đặt mua. Các công ty niêm yết CK trên thị trường OTC cũng phải công khai các thông tin về tình hình của công ty cho công chúng đầu tư biết. Quy trình công khai thông tin, các vấn đề, báo cáo cần công khai cho công chúng cũng như các yêu cầu công khai về thông tin công ty cũng tương tự như trên Sở giao dịch chứng khoán.

    • Giao dịch mua bán CK trên thị trường OTC: hoạt động giao dịch buôn bán CK trên thị trường OTC cũng diễn ra khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lượng CK nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh này ra cho công ty CK đang quản lý tài sản của mình yêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình. Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môi giới – giao dịch sẽ biết được giá chào bán thấp nhất của loại CK đó. Sau đó công ty này sẽ thông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện.

    CK giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi điều kiện các tiêu chuẩn như giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán. Điều kiện duy nhất là loại CK đó được phép phát hành và chưa được đăng ký yết giá tại trụ sở giao dịch nào cả. Hầu hết các loại CK mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị trường OTC, sau đó mới xin đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán.

    Quản trị thị trường OTC là Hiệp hội các nhà kinh doanh CK quốc gia. Hiệp hội có nhiệm vụ ban hành quy chế. Thành viên của Hiệp hội cũng là thành viên của TTCK và ngược lại.

    1.2 Hoạt động của NHTM trên TTCK

    1.2.1 Các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại:

    * Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)

    Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi roc ho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán: mặt khác, với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển. Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán

    • Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán. ở Mỹ, đạo luật Glass-Steagall 1933 bắt buộc hai hoạt động này tách biệt nhau Glass – Steagall chỉ cho phép các ngân hàng thương mại tiến hành chào bán các loại chứng khoán chính phủ mới phát hành lần đầu; nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môI giới chứng khoán. Tuy nhiên, hiện nay tại Mỹ, người ta đề nghị huỷ bỏ đạo luật Glass-Steagall, cho phép các ngân hàng được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán. Tháng 7 năm 1988, Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ đã cho phép thí điểm ngân hàng J.P Morgan được phép bảo lãnh phát hành tráI phiếu công ty từ tháng 1 năm 1989 và được phép bảo lãnh phát hành cổ phiếu từ tháng 9 năm 1990, tiếp đó dần dần mở rộng cho các ngân hàng khác.
    • Mô hình đa năng bao gồm:

    Một là mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán. NHTM không những được hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. (Các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán gồm bảo lãnh phát hành, môI giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư, tham gia vào lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán). Nó được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, áo… Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi roc ho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến động của thị

    11

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn có một số hạn chế: thị trường chứng khoán phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng dùng vốn để cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó ngân hàng thường quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán. Điều này đã thể hiện sự kém phát triển ở thị trường chứng khoán Châu Âu tương quan với thị trường chứng khoán Mỹ. Bên cạnh đó, còn nhược điểm là trong trường hợp biến động trên thị trường chứng khoán, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này. Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, hay vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở TháI Lan là một minh chứng.

    Hai là mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phảI thành lập công ty con- công ty chứng khoán , hoạt động độc lập. Mô hình này được áp dụng ở Anh và những nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, úc. Mô hình này có ưu điểm các ngân hàng được kết hợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách hàng rộng khắp của ngân hàng. Bên cạnh đó, bởi vì có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị trường. Đặc biệt, mô hình này phù hợp với những nước mới thành lập thị trường chứng khoán khi mà cần có tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trường và khi hệ thống luật, kiểm soát… còn nhiều mặt hạn chế.

    Mỗi một mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, tuỳ vào thể chế chính trị, đặc điểm nền kinh tế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một mô hình phù hợp nhất để có thể phát huy một cách có hiệu quả nhất vai trò của NHTM đối với TTCK.

    1.2.2 Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK

    1.2.2.1 Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chứng khoán

    12

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Kinh doanh chứng khoán là nghiệp vụ mua bán chúng khoán cho chính mình và tự gánh chịu rủi ro. Với vai trò kinh doanh chứng khoán, các trung gianm chứng khoán là một thành viên quan trọng của thị trường chứng khoán, có tác dụng làm cho hoạt đọng của thị trường đều đặn, không bị gián đoạn và sôi nổi. Là một nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả của thị trường. Có thể chia hoạt đọng kinh doanh chứng khoán của NHTM thành hai nhóm, đó là: hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán

    Hoạt động ngân quỹ là hoạt động của NHTM thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có tính ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được… chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Hoạt động ngân quỹ là cầu nôí quan trọng giữa tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ được chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM và ngược lại. Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trường giúp cho các NHTM có thể sử dụng tối đa các nguồn vốn để sử dụng có hiệu quả hoạt động. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường này cũng làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính.

    Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM mang tính đa dạng hơn ít tập trung vào một loạI chứng khoán và với thời hạn đầu tư dàI hơn. Là một định chế trung gian tích cực nhất trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NHTM tham gia trên TTCK với tư cách là nhà đầu tư và nhà tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư chứng khoán. NHTM có thể sử dụng các khoản vốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua các loại cổ phiếu và trái phiếu. Thực chất của hình thức kinh doanh này là NH luôn luôn mua CK của khách hàng bằng tiền mặt của mình và bán cho khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thị giá mua và thị giá bán. Nghĩa là NH sẽ tìm cách mua CK với giá thấp nhất và bán vơí giá cao nhất có thể. ở các Sở Giao dịch Chứng khoán khác nhau, thị giá của cùng một loại chứng

    13

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán cũng khác nhau. Giữa các Sở GDCK có mối liên hệ về thông tin rất chặt chẽ. Do đó, các NH sẽ mua các CK ở nơi có thị giá thấp để bán ở nơi có thị giá cao để kiếm lời cho tới khi thị giá được cân bằng giữa các thị trường. Khi mua cổ phiếu NHTM có thể trở thành cổ đông lớn của công ty cổ phần tham gia vào việc điều hành và kiểm soát công ty. Bằng nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm dày dạn trong kinh doanh tiền tệ, NHTM có ưu thế hơn các nhà đầu tư khác trong việc nắm bắt thông tin, phân tích chứng khoán và TTCK đúng lúc đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, bằng những phương tiện sẵn có, ngân hàng có thể đầu tư theo danh mục, quản lý danh mục đầu tư, thành lập quỹ đầu tư, để đầu tư trên TTCK có hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất. Khi mua trái phiếu, NHTM đã thực hiện các chức năng cho vay của mình. Trái phiếu thường có độ rủi ro tương đối thấp nên việc đầu tư vào trái phiếu là một hoạt động thường xuyên của NHTM. Hơn nữa với tính thanh khoản cao của NHTM có thể bán trái phiếu bất cứ lúc nào khi cần thu hồi vốn.

    1.2.2.2 NHTM với nghiệp vụ huy động vốn trên TTCK

    NHTM là một tổ chức kinh doanh, cũng cần có vốn để hoạt động. Vốn của NHTM có thể hình thành từ nhiều nguồn. Một nguồn vốn quan trọng của NHTM trong nền kinh tế thị trường là huy động vốn trên TTCK. Luật pháp từng nước khác nhâu, song về cơ bản, cá NHTM có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đẻ huy động vốn trên thị trường.

    Về phát hành cổ phiếu, đối với các NHTM cổ phần thì đây là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng. Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn khi thành lập ngân hàng và trong quá trình hoạt động có nhu cầu tăng vốn ngân hàng có thể phát hành thêm số phiếu mới. Khi phát hành cổ phiếu lần đầu hay cổ phiếu mới, ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định của TTCK.

    Về phát hành trái phiếu, NHTM khi có nhu cầu huy động vốn với số lượng lớn có thể phát hành trái phiếu trung và dài hạn. Để thu hút các nhà đầu tư và chiều theo thị hiếu khách hàng có nhiều loại tráI phiếu NHTM đã ra đời như: TP có lãI chuyển đổi, TP chiết khấu, TP có lãI suất thả nổi, TP có lãi suất cố

    14

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    định. Đối với NHTM sẵn có chuyên môn và cơ sở vật chất, việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn được xem như là giải pháp mang tính hiệu quả cao.

    Có thể thấy, với tính chuyên nghiệp cao, với uy tín lớn trên thị trường tài chính, và các mối quan hệ rộng rãi của NHTM, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thường khác, bên cạnh đó NHTM có thể tự đứng ra phát hành làm giảm chi phí huy động vốn. Do vậy, chứng khoán của các NHTM phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn so với các doanh nghiệp khác.

    1.2.2.3 NHTM với các nghiệp vụ trung gian trên TTCK

    Bản thân NHTM là một định chế tài chính trung gian rất phổ biến và hoạt động rất tích cực trên thị trường tài chính, do đó nó góp phần cực kỳ quan trọng trong hoạt động trung gian trên TTCK. Nghiệp vụ trung gian bao gồm nhiều hoạt động mà NHTM đều có thể tham gia với tư cách của một công ty chứng khoán con. Công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng. Công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải khai báo thành lập công ty chứng khoán độc lập.

    * Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

    Đây là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nước trên thế giới đã có TTCK, gọi là dịch vụ môi giới chứng khoán (Brokerage service). Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng sẽ đảm trách dịch vụ này và mang lại cho ngân hàng những lợi nhuận từ lệ phí giao dịch hay hoa hồng giao dich rất lớn. Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng có những ưu thế hơn so với các công ty chứng khoán khác trong nghiệp vụ môi giới vì:

    Thư nhất, Ngân hàng đã có mối quan hệ sâu sắc với các doanh nghiệp qua việc tín dụng thanh toán, nắm được các thông tin cần thiết cho việc môi giới chứng khoán, tạo được uy tín với khách hàng.

    15

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ hai, Ngân hàng đã có sẵn cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật một mạng lưới chi nhánh, đại lý rộng khắp sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu của nhà đầu tư.

    Thứ ba, Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn về kinh doanh tiền tệ liên quan chặt chẽ và gần gũi với nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

    Trong nghiệp vụ này, NHTM tiến hành các hoạt động như: đại diện cho khách hàng của mình để thương lượng mua bán chứng khoán sao cho có lợi nhất cho thân chủ. Ngân hàng cũng thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan tuỳ theo sự uỷ nhiệm quyền tự do linh hoạt, quyết đoán trong việc mua bán chứng khoán hộ cho họ mà không cần phải thông báo cho họ biết đã mua hoặc bán chứng khoán cho ngân hàng ký hợp đồng uỷ nhiệm nhận mua hộ và bán chứng khoán hộ không chỉ cho một khách hàng mà cho nhiều khách hàng, ngân hàng với tư cách là đối tác của khách hàng sẽ được hưởng nhiều khoản lợi nhuận qua việc mua bán chứng khoán (nếu mua hoặc bán chứng khoán của mình cho khách hàng theo thị giá) thì hoa hồng thực hiện lệnh mua hoặc lệnh bán, khoản thù lao môi giới.

    * Nghiệp vụ tư vấn chứng khoán

    Đây là các hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán. Một trong những trở rngại quan trọng đối với thị trường tài chính là vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Với chức năng là thủ quỹ doanh nghiệp, thực hiện kiểm soát vàgiám sát bằng đồng tiền đối với nên kinh tế quốc dân, NHTM có đặc quyền về việc thu thập các thông tin về các doanh nghiệp có phát hành chứng khoán qua mối quan hệ lâu năm rất sâu sát trong quan hệ tín dụng, thanh toán. Từ đó có thể phân tích mọi mặt sản xuất kinh doanh, các nguồn tài trợ và cả xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nguồn thông tin này là cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc phân tích và đánh giá doanh nghiệp, định giá chứng khoán, từ đó

    16

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có thể thực hiện việc tư vấn đầu tư cho khách hàng một cách nhanh chóng hiệu quả.

    * Nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

    NHTM thông thường là cơ quan thích hợp nhất đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Với một mạng lưới nhiều cơ sở của ngân hàng, công ty chứng khoán con sẽ có chứng khoán rộng rãi phục vụ nhu cầu của nhà đầu tư.

    Nghiệp vụ phân phối chứng khoán có thể thực hiện thông qua phương thức bảo lãnh phát hành hay đại lý phát hành.

    Về đại lý phát hành chứng khoán:

    • Công ty nhận phân phối chứng khoán ra thị trường cho cơ quan phát hành để hưởng hoa hồng. Khi thực hiện nghiệp vụ này:
    • Công ty không hứa mua trực tiếp số chứng khoán phân phối hộ.
    • Công ty không hứa bán với một giá nhất định
    • Công ty không hứa bán hết hay mua số chứng khoán không bán hết.

    Về bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán khi có một khả năng tài chính vững mạnh, thường đó là một tập đoàn tài chính bao gồm cả NHTM đứng ra đảm nhận thực hành công việc phát hành chứng khoán với chủ thể phát hành bằng cách:

    – Hứa mua trực tiếp toàn bộ hay một phần số chứng khoán được phát

    hành.

    • Đảm bản bán chứng khoán với một giá nhất định
    • Cam kết mua lại số chứng khoán không bán được.

    * Nghiệp vụ đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán

    Là một nghiệp vụ rất phổ biến, tại các nước phát triển đã có TTCK nhằm tạo sự tiện ích trong đầu tư.

    • Hoạt động đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán bao gồm: + Đăng ký chứng khoán

    17

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    • Thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán, nếu tất cả cá khoản thanh tón đều thực hiện bằng tiền mặt thì sẽ mất đi tính sôi động. Để giải quyết được nhược diểm trên người ta áp dụng thanh toán bằng chuyển khoản, đã giảm đi một gánh nặng lớn, theo đó tất cả những người mua và người bán , các môi giới, kinh doanh chứng khoán đều có tài khoản ở ngân hàng, khi các giao dich mua bán kết thúc thì mỗi người đều nhận được các giấy báo nợ, báo có mà không cần quan tâm đến tiền mặt nữa. Đây là một bước tiến giúp cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy hơn. Việc thực hiện công tác thanh toán đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu công tác này được tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của một thị trường chứng khoán
    • Lưu giữ, bảo quản chứng chỉ chứng khoán: Từ hoạt động kinh doanh của mình như huy động vốn, kinh doanh vàng, bạc, đá quý hay cho vay thanh toán, NHTM có nhiều kinh nghiệm trong việc thu nhận, quản lý, cắt giữ chứng từ có giá trị. Những nhà đầu tư cầm chứng khoán trong công ty với số lượng lớn sẽ không an toàn, họ có nhu cầu như ai đó quản lý hộ chẳng hạn như thuê két sắt và NHTM là một tổ chức rất ưu thế trong lĩnh vực này. Thông thường, khách hàng ngoài việc nhờ NHTM bảo quản hộ chứng khoán còn muốn ngân hàng cung cấp thêm một số các dịch vụ khác có liên quan như: mua, bán, thanh toán, giao hoán chứng khoán khi khách hàng thực hiện các giao dịch, chuyển những quyền sử dụng của khách hàng.
    • Hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng.
    • Các dịch vụ khác theo uỷ quyền của khách hàng có chứng khoán lưu ký.

    Trên đây là những nghiệp vụ cơ bản đã minh chứng được phần nào vai trò và ảnh hưởng to lớn của NHTM đối với TTCK. Có thể nói phát triển các hoạt động của NHTM trên TTCK là một trong những yêu cầu kiên quyết cho sự thành công của TTCK.

    18

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng thương mại và hoạt động của thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính bậc cao, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển. Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn, không thể thiếu được các tổ chức tài chính trung gian trong đó phải kể đến đầu tiên vai trò của ngân hàng thương mại mà đại diện là các công ty chứng khoán thuộc sở hữu của ngân hàng đó. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu được lưu thông tấp nập trên thị trường, qua đó một lượng vốn nhàn rỗi được đưa vào đầu tư cho phát triển kinh tế từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.

    Nói đến vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán có thể đến các khía cạnh sau: về hàng hoá, về tổ chức trung gian, về thông tin , về sự điều tiết cung cầu và về các đinh chế tài chính trên thị trường. Đó là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển của một thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Thông qua việc phân tích những ảnh hưởng và tác động của ngân hàng thương mại đến các yếu tố trên của thị trường chứng khoán sẽ cho ta thấy được hơn hết vai trò to lớn của ngân hàng thương mại đối với thị trường chứng khoán.

    1.3.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoá

    Hàng hoá của thị trưòng nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng (chứng khoán) là yếu tố không thể thiếu cúạư tồn tại và phát triển của thị trường. Chứng khoán có thể định nghĩa như sau: Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư ( tư bản đầu tư ), chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đợin hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời gian nào đó.

    19

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngân hàng thương mại có vai trò rất to lớn trong việc tạo ra hàng hoá cho thị trường chứng khoán dưói hai góc độ trực tiếp và gián tiếp

    Trên góc độ trực tiếp, các ngân hàng thương mại có thể tham gia hoạt động với tư cách là người phát hành và bán cổ phiếu của mình( ngân hàng cổ phần). Các ngân hàng cổ phần phát hành cả cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, tất cả các Ngân hàng thương mại không phân biệt thành phần sở hữu đề có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn từ nền kinh tế. Những việc này đã tạo cho thị trường chứng khoán một khối lượng hàng hoá rất lớn ở thị trường thứ cấp. Như vậy, với tư cách là một tổ chức kinh doanh đơn thuần trên thị trường, Ngân hàng thương mại thông qua các hoạt động phát hành của mình đã cung cấp một lượng chứng khoán lớn phong phú, đa dạng và đặc biệt là có chất lượng cao cho thị truờng. Ngoài các loại chứng khoán truyền thống là cổ phiếu và trái phiếu, các công ty chứng khoán thuộc Ngân hàng thương mại hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (trung ương và địa phương), chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh doanh. Trong những thị trường mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn diệu, nếu được tổ chức phát triển tốt, các Ngân hàng thương mại có thể góp phần cải thiện môi trường đầu tư này. Một môi trường đầu tư tốt đa dạng về sản phẩm, với chi phí dich vụ thấp và có lợi nhuận thoả đáng sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi cho tăng trưởng kinh tế.

    Bên cạnh đó, Ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian, thực hiện các nghiệp vụ trung gian chứng khoán như bảo lãnh phát hành, tư vân đầu tư chúng khoán, ….. đã góp phần không nhỏ giúp các doanh nghiẹp khác phát hành

    chứng khoán, gián tiếp tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Thứ nhất, phải kể đến đó là Ngân hàng thương mại là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước thành các công ty cổ phần. Ngân hàng tham gia vào việc thành lập công ty cổ phần hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước với tỷ lệ cổ phiếu đáng kể để có đủ điều kiện tham gia quản trị kinh doanh, tín nhiệm. Công ty cổ phần dù mới thành lập hay cổ phần

    20

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hoá, vốn vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu của kỹ thuật và công nghệ hiện đại, do đó ngân hàng phải là trợ thủ đắc lực cho công ty cổ phần, tạo điều kiện cho các công ty vay tín dụng. Như vậy, chính chế độ tín dụng và ngân hàng đã xã hội hoá các nguồn vốn, giải quyết các mâu thuẫn trong sự vận động của nguồn vốn giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ tính chất tư nhân các biệt của nguồn vốn trong công ty cổ phần. Một doanh nghiệp có thể bắt đầu hoạt động của mình bằng một món nợ vay ngân hàng. Vay ngân hàng là một cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp và năng lực kinh doanh của họ. Các ngân hàng là ngưòi đầu tiên đã lập ra việc kiểm tra các hoạt động của công ty, họ quyết định có nên cho vay hay không và có nên tiếp tục cung cấp tín dụng hay không. Ngân hàng sẽ cung cấp kinh doanh nếu biết được rằng một Công ty thành công cuối cùng có thể hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Như vậy kỷ cương tài chính của ngân hàng sẽ đưa công ty vào thị trường chứng khoán, gián tiếp bổ sung một lượng hàng hoá cho thị trường. Thứ hai, ngân hàng thương mại cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp các công ty phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Khi những nhà sáng lập một công ty nào đó muốn phát hành chứng khoán để thu hút vốn, họ có thể dựa vào uy tín, và kinh nghiệm của ngân hàng để ký hợp đồng về việc phát hành và bán các chứng khoán của mình. Như vậy, Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng môi giới phát hành chứng khoán giữa người muốn bán và ngưỡi muốn mua chứng khoán. Khi đảm nhận vai trò này, Ngân hàng sẽ giúp cho những người sáng lập công ty chọn lựa loại chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề như lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán, và các vấn đề kỹ thuật khác. Trong những trường hợp đặc biệt, như sẽ phát hành một lượng chứng khoán khá lớn, các Ngân hàng có thể cùng nhau chia sẻ việc dự định số phát hành này nhằm giảm thiểu rủi ro, hoặc mua toàn bộ các cổ phiếu, trái phiếu phát hành mới và sau đó bán lại cho công chúng. Bên cạnh đó, bằng cách cung cấp dịch vụ tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản

    21

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư của mình, bằng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm hàng hoá nới cho thị trường.

    1.3.2 Vai trò trung gian chứng khoán của Ngân hàng thương mại

    Bất kể một thị trường nào, thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng muốn hoạt động và phát triển thì ddeuf đến vai trò của các trung gian. Không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể gặp ngay được những đối tượng cần mua chứng khoán để cả hai cùng thực hiện việc mua bán lẫn nhau. Cũng như không phải bất kỳ người dân nào muốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng đủ hiểu biết, đủ thông tin để tìm được cho mình nơi mua loại chứng khoá hợp túi tiền, có mức lãi suất và thời gian đáo hạn đúng như ý muốn. Do những hạn chế này và nhu cầu tiẹn lợi cho các chủ thể, trên thị trường xuất hiện những người trung gian đưa đường dẫn lối, để người bán và người mua gặp nhau theo đúng yêu cầu của cả hai bên. Các trung gian sẽ giúp cho hoạt động của các thị trường được suôn sẻ, nhanh chóng và hiệu quả, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển của thị trường. Và Ngân hàng thương mại chính là một tổ chức trung gian quan trọng nhất trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Trong thị trường chứng khoán, vói tư cách là một tổ chức trung gian, Ngân hàng thương mại sẽ đưa đường dẫn lối để hai bên gặp nhau thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Ngân hàng thương mại với kiến thức rộng, am hiểu tình hình kinh tế chung và rất rành hoạt động của các công ty. Do vậy, ngân hàng thương mại không phải là một người môi giới thông thường, mà giữ vai trò vô cùng chủ động trong việc thương lượng chứng khoán, thay thế thân chủ để cam kết mua bán chứng khoán với giá định sẵn do chính trung gian chứng khoán lựa chọn. Với các nghiệp vụ chủ yếu của minh trên thị trường chứng khoán như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán và bảo lãnh chứng khoán đã góp phần vào hoạt động có hiệu quả của thị trường chứng khoán. Quả thật, Ngân hàng thương mại thông qua các công ty chứng khoán của mình đã thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nhà

    22

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nề n kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh chứng khoán, nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với các doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh thị trường chứng khoán cho các doanh nghiệp. Khi thực hiện môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán có hai nhiệm vụ chính là: nhiêm vụ cung cấp thông tin và tư vấn khách hàng ( thông qua các nhân viên lành nghề, công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư); đồng thời, cung cấp các sản phẩm và dich vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích khách hàng. Với nhiệm vụ này, nhân viên môi giới nhận đơn đặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm các tác nghiệp từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành truyền lệnh, xác nhân giao dịch,thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không chỉ dừng ở đó, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục quản lý tài koản của khách hàng, đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc… của khách hàng mà có thể dẫn đến những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề xuất chiến lược đầu tư mới thích hợp hơn. Trên thị trường sơ khai, khi sản phẩm hàng hoá còn đơn giản, nhà đầu tư có thể chưa có nhu cầu sủ dụng dịch vụ tư vấn và do mặt bằng dân trí thấp nên hoạ động tiếp thị, giới thiệu sản phẩm trên diện rộng lại giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Có thể nói, hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán dồng thời chứa đựng hàm lượng tư vấn đầu tư khá cao, người đàu tư trông chờ người môi giới cho biết khi nào thì nên mua, lúc nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường.

    Quả thật với vai trò một trung gian trên thị trường chứng khoán, ngân hàng thương mại đã đóng góp rất to lớn vào sự phát triển của thị trường. Để kể thêm vào những đóng góp của ngân hàng thương mại với tư cách một trung gain chứng khoán, ta có thể kể đến vai trò của ngân hàng nhu quản lý tài khoản tiền

    23

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    gởi của pháp nhân và thể nhân tạo tiền đề cho việc tích luỹ vốn để mua bán chứng khoán, kinh nghiệm về hoạt động tín dụng của ngân hàng tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được thuận lợi khi có nhu cầu đầu tư và đặc biệt là kinh nghiệm về tổ chức thanh toán giúp ngân hàng thương mại thực hiện tốt việc chi trả trong mua bán chứng khoán. Khi có thị trường chứng khoán, các quan hệ mua bán chứng khoán diễn ra thường xuyên, nhiều khi chóng mặt nhất là thị trường chứng khoán thứ cấp. Các quan hệ mau bán bao giờ cũng kéo theo quan hệ thanh toán: Người mua trả tiền cho người bán, người bán giao chứng khoán cho người mua. Có thể tới hàng trăm mối quan hệ thanh toán diễn ra với tốc độ rất nhanh, hàng ngàn giao dịch mỗi ngày tại Sở giao dịch chứng khoán của nhiều nước. Qua đó có thể thấy vai trò làm trung gian thanh toán của NHTM trên TTCK là không thể phủ nhận, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    1.3.3 Vai trò điều chỉnh cung cầu chứng khoán của NHTM trên TTCK.

    Ngân hàng thường mại là một trung gian tài chính quan trên thị trường tài chính với hoạt động cơ bản nhất đó là nhận tiền gửi và tiến hành cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Và chính hoạt động này có tác động rất lớn đến hoạt động của thị trường chúng khoán, mà cụ thể là giá cả, cung và cầu của chứng khoán trên thị trường. Bơi lẽ xet cho cùng, mục đích của bất kỳ nhà đầu tư nào dưới bất kỳ hình thức nào cũng xuất phát từ mục tiêu cuối cùng, đó là mục tiêu lợi nhuận. Việc họ quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào là tuỳ thuộc vào những nhận định và dự đoán của họ về khả năng sinh lời, đem lại thu nhập, và mức đọ rủi ro của nó. Chính vì vậy mà lãi suất tiền gửi và cho vay của các ngân hàng cũng có tác động không nhỏ đến mức cung cầu chứng khoán trên thị trường và giá của những chứng khoán đó.

    Khái niệm lãi suất dùng để chỉ mức lãi suất áp dụng cho cá khoản vay và cho vay giữa cá ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng và các khách hàng của họ trên thị trường. Còn lợi suất cổ phiếu hay trái phiếu, nói chung là lợi suất

    24

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    chứng khoán là mức lãi suất qui định sẵn trên mỗi trái phiếu hoặc mức lãi dự kiến sẽ nhận được vào lúc chia cổ tức của cổ phiếu. Đồng thời, đối với cổ phiếu đó là kỳ vọng tương lai về giá cổ phiếu gia tăng.

    Quan hệ giữa lãi suất và lợi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đối với giá của chứng khoán. Nếu lãi suất cao hơn lợi suất chúng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm. Ngược lại, nếu lãi suất thấp hơn lợi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ tăng. Trường hợp lãi suất ngân hàng giữ ở mức thấp hơn có thể dẫn đến hiện tượng gọi là phi trung gian hàng hoá. Lúc đó mọi người sẽ đổ xô đến rút tiền tuết kiệm và dùng nó để mua chứng khoán. Ngược lại, khi lãi suất ngân hàng cao, điều này sẽ khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.

    Thị giá chứng khoán không phải chỉ căn cứ vào số tiền ghi trên chúng khoán mà còn phụ truộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa lãi suất tiền gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán. TTCK chỉ có thể hoạt động bình thường nếu lãi suất tiềm gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán cạnh tranh được với nhau và hoà nhập với nhau, giữa người mua và người bán chỉ còn việc lựa chọn khả năng rủi ro và quyết định mạo hiểm. Chẳng hạn, nếu cổ tức quá bấp bênh và chỉ ở mức tối đa là 30%/năm, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm là 50%/năm, thì không ai mua cổ phiếu và TTCK sẽ khó vận hành. Ngược lại, nếu lợi tức cổ phần là 30%/ năm và lãi suất ngân hàng là 25%/ năm, thì bắt đầu có sự lựa chọn. Người ưa mạo hiểm và thích lãi suất cao sẽ đầu tư tiền của mình để mau cổ phiếu, còn người thích an bài sẽ gửi tiền của mình vào ngân hàng. Xu hướng này sẽ tạo điều kiện để vận hành TTCK.

    Một vai trò khác của NHTM đối với cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó là cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư. Thứ nhất, NHTM sẽ tạo cơ chế giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp thông qua các Sở GDCK. Công ty chứng khoán có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình thông qua trình độ chuyên môn chuyên nghiệp, kinh nghiệm dày dăn, và thông tin chính xác, đầy đủ. Toàn bộ các lệnh

    25

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    mua bán chứng khoán được tập hợp tại thị trưòng giao dịch tập trugn thông qua các công ty chứng khoán của NHTM, và trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài ra, thông qua hạot động tự doanh, các công ty chứng khoán của NHTM còn có một chức năng quan trọng là can thiệp vào thị trường, góp phần điều chỉnh giá chứng khoán. Thứ hai, NHTM còn tạo cơ chế giá trên thị trường sơ cấp: khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứng khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu, thoả thuận với các nhà đầu tư tiềm năng trong đợt phát hành và tư vấn cho tổ chức phát hành.

    1.3.4 Vai trò của NHTM trong việc cung cấp thông tin trên TTCK

    Đối với thị trường chứng khoán, thông tin giữ một vai trò hết sức quan trọng giúp cho thị trường duy trì và phát triển. Thông tin giúp các nhà đầu tư quyết định những phương án đầu tư để thu được lợi nhuận lớn nhất và tránh được những rủi ro trên thị trường. Thông tin giúp cho những cơ quan quản lý thị trường giám sát, quản lý thị trường một cách chặt chẽ và hiệu quả. Có thể nói, NHTM có một ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp một kênh thông tin rất phong phú và tương đối đáng tin cậy cho thị trường. Hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thương mại luôn chứa đựng cả hàm lượng tư vấn đầu tư cao, người môi giới chứng khoán cho biết khi nào nên mua, khi nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường. Các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đầy đủ không chỉ thực thực hiện lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua nghiên cứu thị trường rồi cung cấp thông tin đó cho các tổ chức và cá nhân đầu tư. Các dịch vụ ấy bao gồm: thu thập thông tin cung cấp theo yêu cầu của khách hàng; cung cấp thông ti về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng

    26

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai; cung cấp thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng cân nhắc. Bên cạnh đó, các NHTM cũng cung cấp các thông tin rất đáng tin cậy về tình hình diễn biến thị trường giúp các cơ quan quản lý thị trường có những điều chỉnh phù hợp nhất. Đó là một vài ví dụ về vai trò cung cấp thông tin của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    1.3.5 Vai trò của NHTM về định chế quản lý TTCK.

    Chính hoạt động của cá Công ty chứng khoán thuộc các NHTM và các nhân viên môi giới của họ là một yếu tố góp phần hoàtn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Nếu môi trường pháp lý không đủ chặt chẽ và việc thực hiện không nghiêm thì mâu thuẫn sẽ phát sinh có thể dẫn đến làm đổ vỡ thị trường. Công ty chứng khoán cùng cá nhân viên của mình sẽ đưa pháp luật đến với người đầu tư, giúo người đầu tư luôn có ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật trong quá trình tìm kiếm lợi ích; đồng thời các công ty chứng khoán cũng kịp thời phản ánh cho cá nhà làm luật kịp thời chỉnh sửa những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.

    27

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 2:

    HOẠT ĐÔNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

    2.1.Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Thị trường chứng khoán là một dạng của thị trường mà ở đó đối tượng được giao dịch là loại giấy tờ có giá ( chứng khoán ). TTCK là một dấu hiệu đồng thời là một bộ phận quan trọng của một nền kinh tế thị trường đang hoạt động. Sớm nhận thức được vai trò của TTCK, ngay từ những năm đầu của công cuộc cải tổ nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phải xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có trật tự, dưới sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở đạt được sự chính muồi về cá điều kiện thiết nhằm khai thác và sử dụng có hiệu qua nhất nguồn vốn hạn hẹp của nền kinh tế, đảm bảo các mục tiêu vốn trong nước là quyết định trong chiến lược huy động và sử dụng cá nguồn vốn. Trên cơ sở chủ trương này, ngay từ đầu những năm 1990 chúng ta đã rất tích cực học hỏi kinh nghiệm từ cá nước đi trước, đồng thời chuẩn cá điều kiện cần thiết cho việc hình thành và phát triển TTCK Việt Nam.

    Ngày 20/7/2000, Trung tâm giao dịch chưnứg khoán Tp. Hồ Chí Minh đã chính thức khai trương đi vào hoạt động, đây là cột mốc quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển TTCK Việt Nam, đồng thời là một bước đột phá cơ bản, quan trọng trong chiến lược khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ 21. Sau hơn hai tháng chính thức đi vào hoạt động, Trung tâm giao dịch chứng khoán thu hút một lượng nhất định cá nhà đầu tư tham gia giao dịch mua bán trên thị trường, trong hai tuần đầu thị trường khá sôi động nên chỉ số giá chứng khoán và khối lượng vốn giao dịch trên thị trường liên tục tăng lên, phiên

    28

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    cao nhất đạt khối lượng giao dịch đã đạt gần 2,5 tỷ đồng gấp 25 lần so với phiên giao dịch đầu tiên. tuy nhiên, hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh nói riên và TTCK Việt Nam nói chung trong thời gain này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

    Cho đến năm 2003, sau hơn hai năm hoạt động, trên sàn giao dich của TTGDCK đã có 19 loại cổ phiếu và 28 loại trái phiếu được niêm yết. Tuy nhiên, đây vẫn là thời kỳ thử nghiệm để đi đến xây dựng Trung tâm này thành một SDGCK hiện đại, hoàn chỉnh. Chúng ta vẫn chưa có một TTCK đầy đủ theo đúng nghĩa, sự tham gia của các định chế tài chính trung gian vào thị trường này còn ở mức độ thăm dò,nhiều tổ chức còn đứng ngoài cuộc. Đến năm 2003, sao hai năm hoạt động của TTCK VIệt Nam có thể được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, thời kỳ tăng trương và thời kỳ suy thoái.

    • Thời kỳ tăng trưởng bắt đầu từ phiên giao dịch đầu tiên ( ngày 27/7/2000 ) đén ngày 25/6/2001 là thời kỳ giá CK tăng liên tục ; số lượng tài khoản mở tại cá công ty CK cãng tăng rất nhanh, trung bình có 1000 tài khoản được mở trong một tháng; chỉ số VN- index tăng hơn 400%, đạt trên 500 diẻm, cao hơn cả TTCK Thái Lan và Thượng Hải – những thị trường ra đời trước thị trường của ta hàng chục năm.
    • Thời kỳ suy thoái bắt đầu từ ngày 26/6/2001 đến năm 2003, TTCK Việt Nam luôn ở trogn tình trạng sụt giảm cả về sức cầu lẫn các chỉ số đặc trưng của thị trường khiến các nhà quan sát đã phải dùng đến những từ “ ảm đạm”, “ngủ gật”, “sớm nắng chiều mưa”,v.v để chỉ tình trạng của TTCK Việt Nam. Cho đén phiên giao dịch lần thứ 419 ngày 13/11/2002, chỉ số VN- index sụt xuóng chỉ còn 175,63 điểm.

    Theo tư liệu của TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 tháng đầu năm 2002 có 193 phiên giao dịch vớ tổng khối lượng đặt mua là 49.081.240 CK (bình quân một phiên là 251.119); tổng khối lượng đặt bán là 51.071.580 CK ( bình quân 280.017 CK một phiên). Khối lượng CK được đặt bán cao hơn được đặt mua là 1.990.340. Hiện có khoảng 13.000 tài khoản giao dịch mở tại cá công ty chứng khoán nhưng thực tế giao dịch thực hiện chỉ ở triên vài trăm tài khoản.

    29

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong số cá nhà đầu tư có tổ chức, chỉ có duy nhất công ty Dragon Capital là tích cực tham gia mua cổ phiếu; số tổ chức còn lại thì hầu như hoạt động cầm chừng hoặc án binh bất động. Trước tình hình giao dịch CK ngày càng kém sôi động trên thị trường, một nhóm cá nhà đầu tư cá nhân kêu gọi thành lập Hiệp hội các nhà đầu tư CK để có tiếng nói mạnh hơn với cá nhà quản lý thị trường CK và bảo vệ quyền lợi của mình.

    Trên đây là một vài nét phác thảo qua về sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam trong những năm đầu mới thành lập, qua đó thấy được một chặng đường cũng vói những thành tích đã đạt được và những tồn tại của thị trường ( phần này sẽ được phân tích kỹ hơn trong mục sau nói về thực trạng của thị trường chúng khoán Việt Nam hiện nay)

    2.1.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

    2.1.2.1 Những đánh giá chung về thị trường chứng khoán hiện nay

    Sau gần bốn năm hoạt động, thị trường đã dần định hình và phát triển. Bắt đầu với hai công ty niêm yết vào năm 2000, hiện nay TTCK đã có 24 công ty niêm yết với tổng giá trị vốn điều lệ là 1240 tỷ đồng, 147 loại phiếu trái phiếu của chính phủ, hai laọi trái phiếu của Ngân hàng đầu tư và phát triển, 01 loại trái phiếu đô thị với tổng giá trị niêm yết trên 17300 tỷ đồng. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã cấp phép hoạt động cho 13 công ty chứng khoán, 01 công ty quản lý quỹ đầu tư và 5 ngân hàng lưu ký. Năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên đã tiến hành huy động vốn và đi vào hoạt động. Tính đến hết tháng 6/2004, có 820 phiên giao dịch đã được thực hiẹn thành công tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị giao dịch trung bình mỗi phiêm hơn 17 tỷ đồng. Ngày 30/6/2004, chỉ số chứng khoán VN Index là 249,7 điểm, tăng 80,5 điểm cơ sở (khoảng 47,6%) so với đầu năm.Tổng giá trị thị trường tính cùng thời điểm là 3,4% GDP, tăng hơn hai lần so với năm 2003.

    Ngày 28/ 11/2003, Nghị định số 144/CP cua rChính phủ về chứng khoán và TTCK (NĐ/144) đã được ban hành thay thế cho Nghị định 48/CP trước đây.

    30

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Nghị định này bao gồm những quy định mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc niêm yết của các công ty, sự vận hành của thị trường và yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư. Với quan diểm khuyến khích đầu tư và huy động vốn, NĐ 144 đã có những bước tiến đáng kể bằng cách áp dụng một hệ thống các itêu chuẩn và điều kiện niêm yết linh hoạt hơn, cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với TTCK tập trung để huy động vốn. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định cũng được mở rộng đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng. Đây là một thay đổi hết sức có ý nghĩa nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, NĐ 144 mới đã cho phép đa dạng hoá ccá loại hình đầu tư chứng khoán để có thể khuyến khích mọi tầng lớp từ nhà đầu tư nhỏ lẻ đến nhà đầu tư có tổ chức tham gia TTCK

    Tuy ở giai đoạn đầu phát triển, TTCK đã có những bước tiếp cận nhất định với những chuẩn mực quốc tế trong việc phát triển TTCK và thu hút nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Kiểm toán và công bố thông tin là điều kiện bắt buộc đối với các tổ chức phát hành và niêm yết. Các thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt đã được áp dụng trên TTCK nhằm tăng cường chất lượng của chứng khoán niêm yết. Hiện nay, tất cả những công ty niêm yết đều phải tuân thủ và áp dụng Điều lệ mẫu được ban hành vào tháng 11/2002

    Sau hai năm hoạt động, nhận thức được tầm quan trọng của việc mở cưa thị trường chứng cho nhà đầu tư nước ngoài, Thủ tướng Chính phủ đã nới rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết từ 20% lên 30%, không hạn chế sở hữu cảu người nước ngoài đối với trái phiếu. Chính phủ đã cho phép các tổ chức kinh doanh trái phiếu nước ngoài được góp vốn với đối tác trogn nước thành lập công ty chứng khoán liên doanh với tỷ lệ tối đa là 49%. Các chính sách về ngoại hối đã được sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đầu tư chứng khoán ra nước ngoài. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng như nước ngoài còn được miễn thuế thu nhập cá nhân khi đầu tư vào thị trường chứng khoán; Chính phủ đã bãi bỏ việc đánh thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

    31

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để tạo ra định hướng cơ bản cho việc phát triển TTCK về trugn và dài hạn, ngay 5/8/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và ban hành Chiến lược phát triên TTCK đến năm 2010. Việc xác định một quan điểm chiến lược trong phát triển TTCK và thiết lập một chứng trình hành động cụ thể chi từng năm là một nhiên\mj vụ được UBCK cho là có tầm trọng hàng đầu trong việc xây dựng và phát triển TTCK. Trên cơ sở Chiến lược, Bộ Tài chính đã xác định mô hình TTCK là: TTGDCK Tp HCM là thị trường tập trung, phát triển thàh Sở Giao Dịch Chứng Khoán có khả năng liên kết với các thị trường trong khu vực; TTGDCK Hà Nội là thị trường giao dịch cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô của TTCK. Cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các TTGDCK; phát triển các định chế tài chính trung gian, phát triển cơ sở các nhà đầu tư , tiến trình xây dựng một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ hiện đang được xuac tiến khẩn trương.

    Những con số và sự kiẹn vừa nêu là những bằng chứng sinh động về sự phát triển tuy chưa được nư kỳ vọng, song rát đáng khích lệ của một TTCK còn non tre và đang ở giai đoạn ban đầu như thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều trở ngại và hạn chế về mặt khuôn khổ pháp lý, thành viên thị trường và cơ sở đầu tư khiến TTCK chưa thể được coi là một thị trường hàon thiện

    2.1.2.2 Một số hạn chế và trở ngại của TTCK

    Một là, những hạn chế về mặt khuôn khổ pháp luật và năng lực hoạch định chính sách. Xét trên phương diện khuôn khổ luật pháp, trở ngại lớn nhất hiện nay là TTCK chưa có một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ. Lĩnh vực khoán và thị trường chúng khoán còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật phá sản. Do vị thế của NĐ 144 thấp hơn các Luật liên quan mà môi trưòng pháp lý hiện hành cón chưa đây đủ thì những bất cập và xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến TTCK là điều khó tránh khỏi. Một môi

    32

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường pháp lý ổn định và đầy đủ là yếu tố đầu tiên để đảm bảo lòngtin của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chỉ có thể đầu tư vào TTCK nếu họ nhận thấy rằng vốn đầu tư cũng như kỳ vọng sinh lời của họ được bảo vệ bởi một khuôn khổ pháp luật minh bạch và an tàon. Điều này cho thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng một Luật chứng khoán. Bên cạnh đó, năng lực hoạch định chính sách và thực thi luật pháp cũng là một vấn đề cần tính đến. Đánh giá một cách khách quan, UBCK và những cơ quan quản lý liên quan khác trên thị trường vốn chưa có đủ năng lực càn thiết để thực hiện chức năng giám sát, quản ly và cướng chế thực thi các chính sách trên TTCK một cách hiệu quả. Điều này xuất phá từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý thị trường thiếu kinh nghiệm, khả năng xây dựng và thực thi các chính sách thích hợp nhằm khuyển khích sự phát triển cảu thị trường, thu hút và bảo vệ nhà đầu tư.

    Hai là những hạn chế về mặt thể chế thị trường. Xét về goc độ thu hút vốn đầu tư những hạn chê về mặt thể chế thị trường là một trở ngại đáng kể, không chỉ trên phương diện đảm bảo an toàn cho chu trình lưu chuyển vốn đầu tư mà còn trên phương diện duy trì tính toàn vẹn của thị trường và niềm tin của công chúng đầu tư trong và nước ngoài. Đối với một thị trường mới hình thành à phát triển thì việc chưa có được một thể chế thị trường hoàn chỉnh là điều tất yếu. Sự vắng mặt của các tổ chức tự quản, tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, phạm vi hoạt động hạn hẹp, và tính chuyên môn hoá chưa cao của các công ty chứng khoán là những điểm yếu khiến cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài coi việc đầu tư vào TTCK phần nào mang tính chất mạo hiểm. Bên cạnh đó, sự thiếu hoàn thiện trong thể chế thị trường cũng khiến cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài gặp phải những khó khăn trong việc ra quyết định đầu tư và phải đối mặt với những rủi ro.

    Ba là những trở ngại và hạn chế về nguồn cung ứng chứng khoán. Một hạn chế nổi bật về nguồn cung ứng chứng khoán xét từ góc độ thu hút đầu tư trong nước và nước ngoàilà số lượng hàng hoá ít ỏi và chất lượng hàng hoá chưa cao. Một TTCK với 24 cổ phiếu niêm yết của những công ty có quy mô vốn chưa phải là lớn không thể đại diện cho nền kinh tế Việt Nam để các nhà đầu tư

    33

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nước ngoài có thể nhìn nhận và đánh giá sức khoả cũng như triển vọng của toàn bộ nền kinh tế nhằm đưa ra các quyết định đầu tư có cư sở. Tương tự, số lượng chứng khoán niêm yết quá ít ỏi trên thị trường cũng khiến cho cá nhà đầu tư trong nước chưa có nhiều sự lựa chọn để thay thế các khoản tiền gửi ngân hàng theo truyền thống của mình. Các cổ phiếu niêm yết trêb thị trường chưa thực sự là cổ phiếu của những công ty mạnh nhất để thuyết phục nhà đầu tư trong nước và nước ngoài rằng tiền bạc của họ sé sinh lời thông qua những cổ phiếu đó. Tuy nhiênm cần phải xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hàng hoá trên TTCK còn thưa thớt và chất lượng chưa cao. Có thể nhận diện một số nguyên nhân như sau: Nguyên nhân thứ nhất là sự bất cập của tiến trình cổ phần hoá. Từ năm 1992 đến nay, việc thực hiện CPH chỉ đạt 63% kế hoạch đặt rta xét về mặt số lượng các doanh nghiệp cần cổ phàn hoá; con số 6% số vốn tại doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá trong suốt thời kỳ này lại càng cho thấy những doanh nghiệp dược cổ phần hoá chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự bất cập này bắt nguồn từ những khó khăn trong định giá tài sản, xử lý nợ quá hạn, những hạn chế về năg lực và những tồn tại về mặt tư tưởng và nhận thức của những người quản lý doanh nghiệp. Nguyên nhân thứ hai là các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc ra niêm yết tại TTCK. Chưa quen với một văn hoá kinh doanh minh bạch, các doanh nghiệp coi việc công bố thông tin và đáp ứng những chuẩn mực về kiểm toán, kế toán, quản trị công ty là một gánh nặng và không muốn ra niêm yết trên TTCK. Nguyên nhân thư ba là xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh để vay vốn hoạt động. Mặc dù đã thực hiện sự chuyển đổi cơ chế thị trường và cổ phần trong một thời gian đáng kể, song cơ chế bao cấp tín dụng, tâm lý lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng vẫn còn phổ biến khiến cho các doanh nghiệp chua thực sự có nhu cầu và nhận thức được lợi ích của việc huy động vốn trên TTCK. Sự hội tụ những yếu tố kể trên là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hàng hoá chứng khoán niêm yết còn chua đáng kể trên thị trường.

    34

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Bốn là những trở ngại và hạn chế về cơ sở nhà đầu tư. Do bối cảnh kinh tế và xã hội, TTCK chưa có được một cơ sở nhà đầu tư hoàn thiện bao gồm các nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nhu những thị trường phát triển khác. Phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư nhỏ lẻ và chưa có đầy đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức về đầu tư chứng khoán. Đây là một vấn đề có tính hia mặt. TTCK chưa hoàn thiện, thiếu các định chế có vai trò trụ cột trong kiến tạo thị trường; hệ thống văn bản pháp quy chưa đầy đủ, hàng hoá ít ỏi là một nguyên nhân khiến TTCK chưa hấp dẫn các nhà đầu tư lại khiến thị trường không có động lực phát triển cần thiết. Các nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt cới TTCK do chưa tiếp cận được với những thông tin doanh nghiệp cần thiết để ra quyết định đầu tư. Trong khi đó, nhà đầu tư trong nước lại gặp phải những trở ngại về mặt kiến thức và kinh nghiệm. Trong 2 năm, từ 2001-2003, đã có nhiều đợt biến động giá cổ phiếu trên TTCK theo chiều hướng xấu trong khi tình hình hoạt động của nền kinh tế và cá doanh nghiệp niêm yết vẫn đang trên đà phát triển. Nghịch lý này tồn tại chủ yếu là do nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư tài chính nói chung và trên TTCK nói riêng. Đa số quyết định đầu tư của công chúng mang tính chất đầu cơ giá lên và tâm lý hơn là dựa trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của cá công ty niêm yết. Tuy nhiên, từ cuối năm 2003, chính các nhà đầu tư nước ngoài với nhứng quyết định đầu tư chuyên nghiệp hơn đã góp phần định hướng cho nhà đầu tư trong nước và giúp TTCK quay trở lại với nhịp độ phát triển phù hợp với quy luật thị trường. Điều này lại càng cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập song song cơ sở nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong quá trình phát triển TTCK.

    Vấn đề là thế nào để thị trường chứng khoán trở thành, một kênh huy động vốn trong nước và nước ngoài một cách hiệu quả cho đầu tư, phát triển theo đúng chức năng của một TTCK là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho chính phủ và các cơ quan lý thị trường. Một TTCK chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu có thể thu hút được các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài. Ngược lại, các nguồn vốn tiết kiệm dân cư, các luồng tiền nhàn rỗi trong nước và những nguồn vốn nước ngoài đang ngày càng gia tăng trong xu thế hội hập và trào lưu tìm

    35

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    kiếm những thị trường mới của các nhà đầu tư quốc tế chỉ có thể được phân bổ và sử dụng một cáh hiệu quả thông qua một TTCK được vận hành an toàn, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh.

    2.2 Sự tham gia của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    2.2.1 NHTM tham gia với tư cách tổ chức cung cấp dịch vụ thông qua các công ty chứng khoán của mình

    Tại Việt Nam, việc tham gia TTCK của các định chế tài chính trung gian hiện nay còn rất khiêm tốn. Trong khi đây là những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động CK một cách hiệu quả nhất. Hiện Việt Nam có vài chục NHTM và các định chế trung gian phi ngân hàng khác có khả năng thành lập công ty CK theo kiểu công ty con trực thuộc làm nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán, nhưng mới chỉ có chưa đầy 10 công ty chứng khoán được thành lập và tham gia làm thành viên của TTGDCK. Hơn nữa, hiện nay chúng ta chưa có công ty đầu tư Nhà nước để bình ổn thị trường thì vai trò của các công ty chứng khoán có nguồn gốc từ các định chế ngân hàng và tài chính là rất lớn. Công ty CK có thể tham gia vào hoạt động giao dich cả trên thị trường sơ cấp lẫn thứ cấp, có thể hoạt động theo mô hình đa năng hoặc chuyên doanh nhưng nói chung hiện nay, ở nước ta công ty CK hoạt động với các nghiệp vụ chính là: môi giới CK, bảo lãnh phát hành, tự kinh doanh… Kỳ vọng đối với hoạt động của các công ty chứng khoán là lớn nhưng kết quả hoạt động thực tế của các công ty chứng khoán trong bốn năm qua còn rất nhỏ bé. Nhìn chung, trong giai đoạn tăng trưởng của TTCK, các công ty chứng khoán đều kinh doanh có lãi. Song đến htời kỳ suy thoái thì ngược lại, các tài khoản khách hàng lần lượt bị đóng, cá công ty chứng khoán bị giảm cơ hội kinh doanh. Sở dĩ như vậy là vì các công ty chúng khoán mặc dầu có vốn không nhiều nhưng chỉ mới triển khai một số nghiệp vụ đơn giản không cần vốn nhiều như tư vấn, môi giới CK còn các nghiệp vụ khác như tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, v.v… là những nghiệp vụ có ý nghĩa lớn trong việc bình ổn thị

    36

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường, điều tiết quan hệ cung cầu thì các công ty chứng khoán chưa triển khai được nhiều, thậm chí các công ty chứng khoán phải đem nguồn vốn của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi tiền gửi. Như vậy, việc tham gia TTCK của cá định chế trung gian tài chính thông qua các công ty chứng khoán của mình là rất quan trọng và cần thiết. Nhưng để cho các công ty chứng khoán hoạt động có hiệu quả, bước đầu các chủ sở hữu phải hỗ trợ công ty chứng khoán cảu mình không những về vốn, về cung cấp và đào tạo cán bộ mà cả việc sử dụng những dịch vụ và tiện ích sẵn có của mình phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, đặc biệt là mạng lưới thông tin và hệ thống cá chi nhánh, nhằm mở rộng các đối tượng khách hàng và phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới. Chẳng hạn, công ty chứng khoán của Ngân hàng á Châu đã sử dụng mạng thông tin nhanh có sẵn của ACB để giúp khách hàng của mình trên khắp cả nước có thể giao dịch tức thời với sàn giao dịch tại trung tâm. Những khách hàng ở xa vẫn có thể biết được thời giá và đặt lệnh mua bán rất thuận lợi. Công ty chứng khoán ACB cũng đã giúp các khách hàng của mình mở một tài khoản đặc biệt tại Ngân hàng ACB, gọi là “ tìa khoản giao dịch CK’. Bằng tài khoản này, khách hàng vừa có thể sử dụng như một tài khoản tiền gửi thanh toán bình thường, vừa có thể sử dụng để giao dịch CK. Do đó, khách hàng chỉ cần gửi tiền tại một nơi duy nhất, nhưng có thể chủ động chi tiêu theo nhu cầu của mình, vừa có quyền đặt lệnh mua- bán CK bất kỳ lúc nào có phiên giao dịch mà không cần phải làm thủ tục ký quỹ trước.

    Đến nay, TTCK Việt Nam có 13 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động trong đó bao gồm 6 công ty chứng khoán thuộc NHTM: Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán ACB, công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Công thương ( cấp phép năm 2000 ), công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ( cấp phép năm 2001), Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương ( cấp phép năm 2002 ), Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông á.

    37

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Từ khi được cấp phép hoạt động, các công ty chứng khoán không ngừng củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức của mình, mở rộng địa bàn hoạt động bằng việc mở rộng đại bàn hoạt động bằng việc mở thêm chi nhánh tại Hà Nội, Tp. HCM, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh tại Hà Nội, Vũng Tàu, Hải Phòng, Đồng Nai, Cần Thơ…. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh cũng

    được cá công ty từng bước hoàn thiện qua việc mở rộng sàn giao dịch, trang bị thêm các thiết bị công bố thông tin, thiết lập trang Web riêng của công ty tạo điều kiện cho người đầu tư có thể tiếp cận được với công ty ở mọi nơi. Một số công ty chứng khoán sau một thời gian hoạt động đã xin tăng vốn để thực hiện thêm nghiệp vụ như cong ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng vốn lên 100 tỷ để gia tăng tiềm lực tài chính, có điều kiện mở rộng các loại hình kinh doanh chứng khoán.

    Về nhân lực, các công ty chứng khoán đã chú trọng tuyển chọn, những người có kinh nghiệm quản lý ở những ngành có liên quan, những người được đào tạo cơ bản ở nước ngoài về làm việc cho công ty với chính sách đãi ngộ thoả đáng. Mặt bằng trình độ chuyên môn ở các công ty chứng khoán hiện nay đều từ trình độ cử nhân trở lên, nhiều vị trí chủ chốt trong cong ty được sự đảm nhận bởi những người có học vị cao. Được sự giúp đỡ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong việc đào tạo nhân lực cho ngành chứng khoán, đến nay tổng số nhân viên của các công ty chứng khoán được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh là

    • người trong tổng số trên 400 người hiện đang làm việc cho các công ty chứng khoán.

    Việc tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự, đầu tư thêm cơ sở vật chất, tăng vốn đã cho phép các công ty mở rộng triển khai các nghiệp vụ của mình. Chúng ta có thể điểm qua một số nét về tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán qua các nghiệp vụ kinh doanh của công ty

    Đến nay, nghiệp vụ môi giới vẫn là một trong các nghiệp vụ được cá công ty triển khai tích cực nhất. Nếu như ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động chỉ có khoảng 500 tài khoản người đầu tư mở tại các công ty chứng khoán thì

    38

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đến cuối tháng 5/ 2004 đã có 18700 tài khoản trong đó có 170 nhà đầu tư có tổ chức. Các công ty ty chứng khoán đã thực hiện khá chính xác cá lệnh giao dịch của kháchhàng. Khi có sai sót trong việc thực hiện lệnh, các công ty chứng khoán cùng hợp tác, trợ giúp nhau khắc phục. Hình thức nhận lệnh giao dịch của khách hàng cũng đã phong phú hơn trước với các hình thức như qua điện thoại, qua fã, qua Internet. Nhờ đó góp phần giúp công ty chứng khoán mở rộng đối tượng khách hàng.

    Ngoài ra, các công ty chứng khoán cũng đã thực hiện tốt các dịch vụ phụ trợ cho hoạt động môi giới như cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch cho nhà đầu tư, tổ chức các buổi phân tích hiễn biến tình hình thị trường cho nhà đầu tư, phối hợp các NHTM thực hiện dịch vụ cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán. Nhờ đó khách hàng có thể đưa ra cá quyết định đúng đắn, kịp thời và gia tăng khoản đầu tư của mình, công ty chứng khoán cũng gia tăng giá trị giao dịch. Chính sách phí môi giới cũng được các công ty chứng khoán áp dụng linh hoạt trên cơ sở mức trần do pháp luật quy định. Mức phí thường được ưu đãi đối với những lệnh giao dịch lớn và với khác hàng có gái trị giao dịch lớn tính trong một thời gian nhất định ( hàng tuần, hàng tháng). Mức phí môi giới hiện nay cũng là một công cụ để các công ty chứng khoán cạnh tranh nhau. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ của các công ty chứng khoán thuộc NHTM cụ thể như sau:

    2.2.1.1 Về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

    Tự doanh chứng khoán là nghiệp vụ kinh doanh do công ty chứng khoán thực hiện vì lợi ích của chính mình. Như vậy, khi thực hiện nghiệp vụ nay, công ty chứng khoán đóng vai trò là người đầu tư có tổ chức trên thị trường. Nghiệp vụ tụ doanh cũng được các công ty chú trọng thực hiện, nhiều công ty tăng vốn điều lệ để được thực hiện nghiệp vụ này. Tổng giá trị giao dịch và doanh thu tự doanh đã tăng mạnh qua cá năm mặc dù mức độ có khấc nhau ở từng công ty. Hiện nay sự thay đổi về kết cấu danh mục đầu tư chứng khoán tự doanh ở các công ty chứng khoán. Nếu như 2 năm đầu đi vào hoạt động cá công ty tập trung

    39

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    bào tự doanh cổ phiếu chưa niêm yết thì bắt đầu vào nửa cuối năm 2002 đến nay các công ty tập trung vào tự doanh trái phiếu và cổ phiếu niêm yết. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Đệ Nhất, công ty chứng khoán ACB. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương, Công ty chứng khoán Ngân hàng công thương, công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Gần đây, giá trị trái phiếu tự doanh tăng là do một số công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ theo hình thúc cam kết chắc chắn và thực hiện giao dịch trái phiếu theo hợp đồng có kỳ hạn. Điều này góp phần kích hoạt thị trường thứ cấp về trái phiếu điều mà hơn 2 năm trước đây không có được.

    2.2.1.2 Về nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán:

    Cả 13 công ty chúng khoá trong đó có 6 công ty của các NHTM hiện nay đều được cấp phép để thực hện nghiệp vụ này. Những ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động, các công ty chúng khoán cũng là những chủ thể góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và TTCK cho công chúng đầu tư. Đến nay, ngoài việc tư vấn đầu tư trực tiếp cho khác hàng, cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch định kỳ có phân tích, khuyến cáo, giúp cho người đầu tư nhìn nhận diễn biến thị trường, lựa chọn chứng khoán đầu tư dưới con mắt của người đầu tư chuyên nghiệp, công ty chứng khoán đã mở rộng hình thức tư vấn có tính chất lượng chuêyn môn sâu hơn như tư vấn phát hành cho một số công ty niêm yết trên TTGDCK có ý định phát hành thêm, tư vấn tái cấu trúc tái chính, tư vấn dự án cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

    Đặc biệt trong thời gian qua, các công ty chứng khoán đã tích cực tham gia mạnh mẽ vào tiến trình cổ phần hoá bằng việc tư vấn cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp, tổ chức bán đấu giá cổ phần cho công ty cổ phần. Trong đó, đặc biệt có hợp đồng lớn như hợp đồng tư vấn cổ phần hoá Tổng công ty (TCty) Saigontourist, tổ chức đấu giá cho Công ty bảo hiểm Bảo Minh, TCty Sữa Việt Nam (Vinamilk). Có thể nói đây là nghiệp vụ có tính chuyển biến rõ rệt nhất

    40

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trong số các nghiệp vụ mà các công ty chứng khoán đã thực hiện. Ngoài ra, cùng với số lượng công ty được niêm yết trên TTGDCK tăng lên cũng là từng đó số công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niêm yết thành công. Về hoạt động tư vấn phát hành và tư vấn niêm yết, ngoài việc phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của công ty chứng khoán, còn phụ thuộc rất lứon vào tình hình giao dịch trên thị trường chính thức. Trong giai đoạn thị trường đi xuống ( từ cuôi năm 2001 đến hết quý III/2003), việc tư vấn niêm yết và tư vấn phát hànhlà đặc biệt khó khăn, nhiều hợp đồng đã được ký kết nhưng vẫn trong giai đoạn triển khai do thị trường chưa thuận lợi mặc dù vẫn được các công ty chứng khoán duy trì. Vì thế, số lượng công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niem yết thành công đều qua các năm như năm 2002 có thêm 11 công ty niêm yết, năm 2003 có thêm 2 công ty niêm yết và 5 tháng đầu năm 2004 có thêm 3 công ty niêm yết.

    Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong việc thực hiện nghiệp vụ nay, đó là: nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi tham gia đấu thầu các hợp đồng tư vấn, đặc biệt là giữa các công ty chứng khoán trên cùng đại bàn. Trong việc tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, các công ty chứng khoán mới chỉ thể hiện vai trò qua việc chuẩn bị hồ sơ xin niêm yết nhưng kể cả việc làm này vẫn chưa được tốt. Vai trò tư vấn sau niêm yết chưa được thể hiện, bằng chứng là đa phần các công ty niêm yết chưa thực hiện tốt quy định về công nố thông tin và một số công ty niêm yết còn lúng túng trong việc xử lý tình huống bất lợi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.

    2.2.1.3 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:

    Đây thực chất là hoạt động quản lý vốn cho khách, vì quyền lợi củakhách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết. Trong những năm đầu, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đều chưa triển khai tại hầu hết các công ty chứng khoán được cấp phép nghiệp vụ này. Trong Quý I/2003 không có công ty chứng khoán nào có doanh thu từ hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Các công ty vẫn tiếp tục thục

    41

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện các hợp đồng đã ký kết nhưng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi. Đến nay đã có 12 công ty chứng khoán được cấp giấy phép hoạt dộng nghiệp vụ này và trong đó mới có công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển thuộc hệ thống NHTM đã triển khai nghiệp vụ này. Tuy nhiên, sang năm 2004, đã có dấu hiệu nghiệp vụ này được tăng cường hoạt động, đã có thêm công ty chứng khoán ACB, công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn bắt đầu có xu hướng triển khai nghiệp vụ này với các hợp đồng có giá trị lớn hàng trăm, hàng chục tỷ đồng. Hiện tại, công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển vẫn chưa ký kết được một hợp đồng quản lý danh mục quản lý danh mục dầu tư nào. Nhưng công ty cũng mạnh dạn thí điểm các hình thức ban đầu của hoạt động quản lý dnah mục đầu tư như: hợp đồng uỷ thác giao dịch, hợp đồng bán hộ trái phiếu niêm yết,…

    Tuy nhiên , theo đánh giá một cách khách quan và tổng thể, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư vân tiếp tục dậm chân tại chỗ, doanh số giao dịch của nghiệp vụ này không cao, còn dè dặt, mang tính tập dượt. Điều này một phần là do xu hướng của người đầu tư trong giai đoạn đầu thường thích tự đầu tư hơn là uỷ thác cho người khác quản lý, đầu tư hộ mình. Thêm vào nữa, đây là nghiệp vụ đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao trong khi khả năg đáp ứng của công ty chứng khoán trong giai đoạn này còn rất khiêm tốn. Ngoài ra, do hàng hoá trên tị trường chưa nhiêu, số lượng cổ phiếu thực được giao dịch thấp hơn nhiều so với số lượng chứng khoán phát hành do tỷ lệ cổ phần của Nhà nước ở các doanh nghiệp này còn lứon, chưa đa dạng nên không có diều kiện triển khai.

    2.2.1.4 Về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

    Ngiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của NHTM là việc NHTM tiến hành nhứng hoạt động cần thiết nhằm giúp cho tổ chức phát hành thực hiện thành công việc chào bán cổ phiếu ra công chúng. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, bảo lãnh phát hành chứng khoán được coi là một nghiệp vụ quan tọng và là một trong số 5 nghiệp vụ được cấo giấy phép cho hoạt động của các công ty chứng khoan thuộc NHTM. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng

    42

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán trong đó quan trọng nhất là mang lại tính chuyên nghiệp cho thị trường. Tuy nhiên, hiện nay nghiệp vụ này mới chỉ được các công ty chứng khoán tiếp cận bước đầu. Theo quy định hiện hành và qua thực tế của TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, thì boả lãnh phát hành chứng khoán ở nước ta hiện nay được chia làm hai loại: Bảo lãnh phát hành trái phiếu, hiện có trái phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và vừa rồi là trái phiếu đô thị TP.HCM; và bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần ra công chúng. Hiện tại, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ quản lý việc phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu và trái phiếu trên TTGDCK, còn việc phát hành trái phiếu chính phủ thì thực hiện theo các qy định của Bộ Tài chính, tức là hầu như Bộ này quản lý việc phát hành trái phiếu chính phủ. Thực tê thì các NHTM mới chỉ triển khai hoạt động nhiều tỏng việc bảo lãnh trái phiếu chính phủ có độ rui ro rất thấp, còn việc triển khai các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần thì còn rất nhiêu hạn chế.Trong năm 2001, chỉ có công ty IBS có doanh thu từ nghiệp vụ này. trong năm 2002, chưa có công ty nào thực hiện được bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Công ty VCBS thực hiện việc bảo lãnh 6 đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ (qua Quỹ Hỗ Trợ Phát triển). Một số công ty chứng khoán khác như ASC, ACBS và VCBS đã làm đại lý phát hành kỳ phiếu của một số tổ chức tín dụng như Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng sông Cửu Long, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hoặc đại lý phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần Bảo Hiểm Nhà Rồng. Đến 31/3/2003 có một số công ty chứng khoán có doanh thu tư hoạt dộng bảo lãnh phát hành chứng khoán, hoạt động này tập trung ở một số công ty chứng khoán như: BVSC, VCBS, ARSC. Ngoài ra, các công ty còn ký tiếp các hợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam.

    Nguyên nhân khiến việc bảo lãnh cổ phiếu của các công ty cổ phần còn hạn chế bên cạnh những lý do từ phía thị trường và các công ty cổ phần, thi còn xuất phát tù những hạn chế của những công ty chứng khoán của các NHTM. Các công ty chứng khoán hiện nay yếu cả về tiềm lực vốn và nghiệp vụ chuyên môn

    43

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    để có thể đảm đương được vai trò của đơn vị bảo lãnh phát hành. Với mức vốn đáp ứng ở mức yêu cầu tối thiểu khi đăng ký như hiện nay, các công ty chứng khoán chỉ dám tham gia với vai trò làm đại lý phân phối cho tổ chức phát hành. Có thể nói nghiệp vụ này cũng chỉ được áp dụng tại một số NHTM có quy mô lớn, chủ yếu là các NHTMNN. Các NHTM cổ phần chưa mạnh dạn áp dụng nghiệp vụ này. Tuy nhiên, đối với những đợt phát hành có giá trị vài chục tỷ đồng thì bản thân các công ty chứng khoán này cũng sẽ gặp khó khăn về vốn nhất là trong diều kiện các công ty chứng khoán chưa có thói quen liên kết thành tổ hợp bảo lãnh phát hành. Đội ngũ cán bộ của các công ty chứng khoán hiện nay còn có nhuẽng hạn chế khi triển khai nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Hầu hết các cán bộ hoạt động tỏng các công ty chứng khoán là những cán bộ trẻ được đào tạo bài bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế. Trong khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành đòi hỏi những cán bộ không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có nững kinh nghiêm về ngành hay lĩnh vực hoạt động của tôt chức phát hành. Kinh nghiệm từ các thị trường khác cho thấy, tổ chức bảo lãnh phát hành thường phải tổ chức thành những nhóm hay có những cá nhân chuyên trách thực hiện nghiên cưu, phân tích và thường xuyên công bố các nghiên cứu của mình theo từng laọi cổ phiếu mà đơn vị tham gia bảo lãnh phát hành. Công việc này tốn kém nhưng cần thiết để hướng dẫn đầu tư cho thị trường. Đối với TTCK Việt Nam, các công ty chứng khoán hầu như chưa tổ chức thực hiện được công việc này. Có rất ít những nghiên cứu hay bài phân tích được công bố một cách có hệ thống nhằm thu hút nhà đầu tư mua cổ phiếu được đơn vị đó bảo lãnh phát hành. Đó chính là những thực tế đáng quan tâm đối với các NHTM để đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.

    2.2.1.5. Hoạt động lưu ký chứng khoán

    Hoạt động lưu ký chứng khoán la hoạt động mà các công ty chứng khoán đặc biệt là các công ty thuộc các NHTM rất quan tâm. Nhìn chung, các thanh viên luôn tìm cách thu hút số khách hàng vào lưu ký tại công ty mình ngày càng nhiều, song do ngày càng nhiều các thanh viên được cấp phép hoạt động lưu ký

    44

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nên đã diên ra sự cạnh tranh giữa các thanh viên. Tuy vậy, cũng có thành viên mới được cấp phép hoạt động đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường như Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), đã chiếm được 5,09% thị phần, trong khi đó có một số thành viên khác mặc dù có thời gian hoạt động từ khi thị trường thành lập nhưng vẫn chỉ đạt được mức khiêm tốn như công ty CK Đệ hất và công ty CK Thăng Long.

    Tính đến 31/12/2004 số thành viên lưu ký chứng khoán là 18 tổ chức trong đó có: 13 Công ty chứng khoán (6 công ty chứng khoán thuộc các NHTM); 02 Ngân hàng thương mại trong nước; 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoìa; số nhân viên nghiệp vụ lưu ký là 115 nhân viên.

    Tính đến cuối năm 2004 đã có 26 loại cổ phiếu, 207 loại trái phiếu, o1 loại chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết tại TTGDCK T.p Hồ Chí Minh. Là trên 234 triệu trái phiếu ( chiếm trên 98% tổng số trái phiếu phát hành) và trên 123 triẹu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư ( chiếm trên 75% tổng số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang lưu hành). Đối vơi nghiệp vụ này, có thể nói các NHTM đã tham gia rất tích cực sử dụng nhứng kỹ thuật vốn có và những kinh nghiệm quý báu của mình trên lĩnh vực hoạt động chủ yếu của mình là tín dụng để đẩy mạnh hơn nũa nghiệp vụ này, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển thuận lợi của thị trường. Trong năm 2004, các công ty chứng khoán của NHTM trên 12 công ty triển khai nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho khách hàng. Tổng số phiếu cấm cố / tổng số cổ phiếu niêm yết là cổ phiếu chiếm 0,45%. Tỷ lệ cầm cố trái phiếu/ tổng số trái phiếu niêm yết đạt là trái phiếu chiếm 3,12%. Tỷ lệ cầm cố trái chứng chỉ quỹ đạt xấp xỉ 4%. Việc giải toả chứng khoán do mất khả năng thanh toán.

    2.2.1.6 Hoạt động thanh toán bù trừ qua Ngân hàng chỉ định thanh toán

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được UBCK lựa chọn làm Ngân hàng chỉ định thanh toán. Hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của Ngân hàng chỉ định thanh toán cho đến nay được thực hiện tốt, không có hiện tượng vi phạm nguyên tắc thanh toán. Doanh số thanh toán bù trừ

    45

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tiền/chứng khoán tăng liên tục qua các năm. Năm 2000, doanh số thanh toán bù trư tiền/ chứng khoán đạt gần 39 tỷ đồng, năm 2001 là 396 tỷ đồng, năm 2002 là

    • tỷ đồng, năm 2003 đạt 839 tỷ đồng và năm 2004 doanh số thanh toán bù trừ tiền/ chứng khoán đạt gần 32.382 tỷ đồng.

    Hoạt động thanh toán các giao dịch chứng khoán được thực hiện đúng quy định kịp thời dảm bảo hời gian thanh toán chứng khoán, góp phần tăng tính thanh khoản của các chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán tập trung, Ngân hàng chỉ định than toán đã mở rộng cung cấp dịch vụ như dịch vụ cho vay tiền thực hiện các giao dịch chứng khoán, ứng trước tiền thanh toán giao dịch chứngkhoán cho khách hàng… Tính đến cuối năm 2004 số tiền cho vay ứng trước cho thanh toán giao dịch chứng khoán của Ngân hàng đạt gầ 300 tỷ đồng.

    Một đặc điểm dễ nhận thấy hệ thống bù trừ thanh toán ở Việt Nam hoạt động theo 2 cấp, TTGDCK chỉ mở tài khoản cho thanh viên lưu ký, quan rlý và thực hiện lưu ký, bù trừ thanh toán theo thanh viên lưu ký, còn các thành viên lưu ký quản lý và cung cấp dịch vụ lưu ký, bù trừ và thanh toán chi tiêt ho các nhà đàu tư. Trong hoạt động thanh toán, việc chyển giao chứng khoán diễn ra tại TTGDCK, còn thanh toán tièn do ngân hàng chỉ định thanh toán do ngân hàng chỉ định thanh toán thực hiện dực trên kết quả bù trừ của TTGDCK. Hệ thống thanh toán bù TTCKừ chứng khoán có những hạ hcế như sau: thứ nhất, đó là chưa đạt tính đồng bộ và hoàn thiện về mặt pháp lý, và chưa tạo dựng được các yếu tố thị trường đồng bộ. Thứ hai, là thiéu một cơ chế quản lý việc in ấn và lưu ký chứng khoán thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ ba là các biện pháp khắc phục lỗi giao dịch chưa chủ động và hiệu quả. Thứ ba là năng lực của hệ thống phần mềm phục vụ cho các hoạt động bù trừ thanh toán chứng khoán chưa cao. Thưa tư, khả năng khắc phục rủi ro thanh toán của quỹ hỗ trợ thanh toán chưa cao. Và cuối cùng là các biện pháp phòng ngừa và khắc phục rủi ro chưa hoàn hảo. Đó là những mặt được và hạn chế của hệ thống ngân hàng trong hoạt động thanh toán bù trừ chứng khoán.

    46

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.2. Sự tham gia vào TTCK của các NHTM với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán.

    2.2.2.1 Tình hình hoạt động của các NHTM cổ phần.

    NHTM cổ phần là loại hình tổ chức tín dụng được hình thành từ trước khi có Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính . Sau khi điều chỉnh theo các Pháp lệnh trên ở nước ta, có 53 NHTM cổ phần, trong đó có 32 NHTM cổ phần đo thị và 20 NHTM cổ phần nông thônm được phân bố ở các thành phố lớn và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có nên kinh tế hàng hoá tương đối phát triển. Đến ngày 31/12/2002, sau hơn 3 năm thực hiện Đề án chấn chỉnh, củng cố sắp xếp lại các NHTM cổ phần,còn 24 NHTM cổ phần đô thị và 15 NHTM cổ phần nông thôn.

    Với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu lần đầu để thành lập ngân hàng hoặc phát hành các lần tiếp theo để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên do cá NHTM cổ phần chưa thực sự lớn mạnh, số lượng vốn huy động còn nhỏ nên hiện nay, các n cổ phần Việt Nam mới chỉ thực hiện phương thực hiện phát hành riêng lẻ, nghĩa là huy động vốn cổ phần dưới hình thức kêu gọi các cổ đông hoặc nhóm cổ đông quen biết lẫn nhau cùng góp vốn. Chưa có ngân hàng nào phát hành, niêm yết giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các ngân hàng này mới chỉ có duy nhất loại cổ phiếu phổ thông có ghi tên, mỗi ngân hàng páht hành với một mệnh giá khác nhau: nếu ngân hàng có các cổ đông với tiềm lực vốn lớn thì mệnh giá thường cao ( 5 triệu đến 10 triệu đồng/ 1 cổ phiếu), những ngân hàng có cổ đông đại chúng thì mệnh giá thấp ( ngoài NHTM cổ phần Sài Gòn thương tín phát hành mệnh giá 0,2 triệu đồng/ 1 cổ phiếu, đa số các ngân hàng pháthành với mệnh giá 1 triệu đồng / cổ phiếu). Tính đến 31/12/2002/, toàn hệ thống NHTM cổ phần huy động được trên 2.200 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ, nếu tính tho mệnh giá 10.000đ/1cổ phiếu thì hiện nay, các nnn này năm giữ trên 200 nghìn tỷ cổ phiếu. Việc các NHTM cổ phần được phát hành cổ phiếu ra công chúng, được niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ giúo

    47

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    các ngân hàng có cơ hội nâng quy mô về vốn, gia tăng một khối lượng hàng hoá đáng kể cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, để thực hiện được thực hiện điều này, không phải điều dễ dàng đặc biệt là những trở ngại về cơ sở pháp lý. Thủ tướng Chính phủ đã có Ưuyết định số 172/1999/QĐ- TTg bgày 19/8/1999 “V/v các tổ chức tín dụng thành lập Công ty chứng khoán và tham gia niêm yết chứng khoán”. Theo đó, về chủ trương, các NHTM cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, chủ trương chưa được triển khai trong thực tiễn, do Ngân hàng Nhà nước chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các NHTM cổ phần, thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường vào tạo cơ sở pháp lý cần thiết để Ngân hàng Nhà nước xem xét, chấp nhận cho một số NHTM cổ phần đã có hơn và hồ sơ xin niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy đinhk về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát triển cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy định về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát hành cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán.

    2.2.2.2 Vấn đề cổ phần hoá NHTMNN.

    Trong chỉ thị 11/2004/Ct-TTg để đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 và tổ chức triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ tài chính và cá cơ quan cos liên quan xyâ dứng đề án CPH Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cưu Long, trình Thủ tướng Chính phủ xem xet quyết định trước ngày 30/6/2004. Cho đến nay, Đề án CPH VCB đã được xây dựng và trình thông đốc Ngân hàng Nhà nước. Trả lời báo chí, thông đốc Ngân hàng Việt Nam Lê Đức Thuý cho hay, tiến trình CPH VCB sẽ chậm hơn dự kiến khoảng 15 tháng. Trên cơ sở thực hiện Đề án CPH VCB sẽ rút kinh nghiệm để CPH Ngân hàng Đồng bằng sông Cửu Long và tiến toiư CPH cac NHTM nhà nước khác.

    48

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong bối cảnh hiện nay, chủ trương CPH cá NHTM nhà nước có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với ngành ngân hàng , mà còn tác động tích cực đến cá doanh nghiệp là khách hàng truyền thống của hệ thống ngân hàng này và có thể tạo “ đòn bẩy kép” cho sự phát triển của TTCK. Trên thực tế, các NHTM đều đang có nhu cầu về vốn cấp bách phải nâng cao năng lực về vốn, về quản trị điều hành và hiệu quả kinh doanh để có thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tê. Trong khi nguôn lực của Nhà nước có hạn, việc CPH NHTM nhà nước la fdiều tất yếu và sẽ mang lại lợi ích nhiều mặt đối với Nhà nước, xã hội và bản thân ngân hàng. CPH NHTM nhà nước , nếu được thực hiện thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, chính là tạo điều kiện cho công chúng đầu tư được cùng Nhà nước tham gia trực tiếp vào việc kiểm soát ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ chế sở hữu cổ phiếu của cán bộ nhân viên Ngân hàng được xác lập thông qua CPH là nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên đội ngũ nhân viên năng động và tích cực cho ngân hàng, đồng thời góp phần tăng cường công tác kiểm soát nội bộ. Là những doanh nghiệp có uy tín, ngân hàng thực hiện CPH thường gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu trên TTCK có tổ chức. Sự tham gia của ngan hàng vào TTCK không những làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng, mà còn làm tăng giá trị và tính thanh khoản cho cổ phiếu của ngân hàng; từ đó mở ra khả năng huy động những nguồn vốn lớn một cách thường xuyên và chủ động để đáp ứng yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Như vậy, CPH NHTM nhà nước không những thúc đẩy quá trình xã hội hoá đầu tư, tạo điều kiện cho những ngân hàng này tăng, giảm vốn một cách linh hoạt cùng với quy mô hoạt động mà còn tăng cường tính đại chúng của ngân hàng và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng không thể cho vay dễ dãi và không chờ Nhà nước khoanh nợ, xoá nợ cho cá khoản tín dụng xấu. Các doanh nghiệp khách hàng của ngân hàng do đó cũng sẽ phải tìm kiếm các nguồn vốn khác trên thị trường để bổ sung cho tín dụng ngân hàng, nhất là nguồn vố trùn và dài hạn. Vì những lợi ích to lớn đó, CPH hay đại chúng hoá chính là con đường phát triển của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới trong đó có ngân hàng.

    49

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    Một điều dễ nhận thấy là vai trò của NHTM đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán là còn rất hạn chế, các NHTM chưa thực sự vào cuộc, cùng bắt tay sẻ chia những khó khăn voiư sthị trường chứng khoán nhằm đưa TTCK phát triển. Các hoạt động của NHTM vẫn còn mang tính chất tham dò và tiến hành cá nghiệp vụ ít rủi ro, và không đòi hỏi vốn lớn. Nguyên nhân của những hạn chế này chủ yếu không phải là các NHTM không thấy được tiêm năng to lớn của TTCK và vai trò của mình trên TTCK mà đó xuất phát từ những hạn chế, yếu kém về năng lực và nguồn lực bên trong của các NHTM Việt Nam.

    Thứ nhất, về năng lực tài chính của các NHTM. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “ sau 15 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển ban đầu, năng lực tài chính của nhiều NHTM Việt Nam còn yếu, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.”Tuy chiếm gần 80% thị phần tín dụng nhưng vốn tự có của cá NHTM nhà nước thấp và chưa tương xứng với thị phần. Vốn tự có của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chỉ chiếm 4,1% trong tổng nguồn vốn; Ngân hàng Công thương là 2,9%. Tỷ lệ này là quá thấp so với chuẩn mực quốc tế 8%. Tính đến tháng 3/2003, NHTM nhà nước có vốn điều lệ lớn nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Viêt Nam với số vốn là 4.320tỷ đồng, tương đương với 280 triệu úD. Mức vốn này chỉ ngang với tổng vốn đầu tư của một dự án lớn của một doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, chứ chưa nói đến việc so sánh với vốn điều lệ hàng tỷ, hàng chục tỷ của cá ngân hàng nước ngoài. Trong khi đó, vốn tự có đóng vai trò quan trọng đói với hoạt động của một ngân hàng, vừa là nguồn lực đảm bảo sức mạnh tài chính vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Nếu không tăng được vốn ở mức cần thiết thì khó có thể nói đến việc tài trợ hiệu quả cho những dự án lớn, khách hàng lớn. Đồng thời, khi không có nguồn lực thì khó có thể đầu tư cho công nghệ hiện đại, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, không có khả năng đầu tư tài chính, vươn ra cạnh tranh trên các thị trường tài chính khu vực và thế giới. Để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về vốn, đến năm 2010, các

    50

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    NHTM nhà nứoc cần bổ sung khoảng 117.000 tỷ đồng. Nguồn vốn nói trên namư ngoài khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

    Thứ hai, về công nghệ ngân hàng, tuy vấn đề hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đã được quan tâm và đầu tư song chủ yếu cũng mới ở giai đoạn thử nghiệm và cũng mới được thực hiện ở một số ngân hàng lớn, thuộc khu vực đô thị. Còn lại phần lớn hệ thống ngân hàng có trình độ cơ giới thấp, công nghệ lạc hậu, mạng lưới chi nhánh rộng nhưng hoạt động kém hiệu quả. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các ngân hàng thương mại mà đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Đó là một trở ngại, một vấn đề lớn cần quan tâm của hệ thông ngân hàng Việt Nam hiện nay.

    Thứ ba, Về năng lực quản trị của các NHTM mà dặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước là rất thấp. Hiện nay, “đội ngũ lao động của các NHTM Việt Nam tương đối đông về số lượng nhưng trình độ chuyên môn thấp, nhất là cán bộ quản lý”. Năng lực quản trị của các NHTM không thể cải thiện được một khi cung cách hoạt động của ngân hàng vẫn mang nặng tính bao cấp, trông chờ bảo hộ, khoanh nợ, xoá nợ của Nhà nước. Năng lực của nhân viên ngân hàng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hôi nhập, đáp ứng được xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Đó là một hiện tượng đáng báo nói đến hiện nói. Nói riêng về các công ty chứng khoán hiện nay, nhân viên của họ được đào tạo tương đối bàn bản và quy củ nhưng họ thiếu nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh chứng khoán , vốn là một lĩnh vực hết sức khó khăn và phức tạp. Vì vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các NHTM còn dè dặt khi tham gia vào TTCk và chưa thực sự trở thành cầu nối giữa những tổ chức phát hành chứng khoán và những nhà đầu tư.

    Chương 3:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NNTM ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    51

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    3.1 Mục tiêu chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

    Quan điểm chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam là đi từ quy mô nhỏ đến lớn, theo định hướng XHCN, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng thị trường hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả, bảo vệ người đầu tư, và có thể linh hoạt thích ứng thực tế, đồng thời tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường.

    Mục tiêu tổng quát của chiến lược là “củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô htij trường; tăng cường hiệu quả quản lý giám sát thị trường, bảo vệ người đầu tư. Góp phần phát triển thj trường tài chính Việt Nam, đảm bảo ổn định và an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia; nâng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Tạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá và huy động nguồn vốn cho đầu tư pahs triển

    Mục tiêu giai đoạn 2003- 2005 là củng cố TTCK và hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho thị trường, từng bước phát triển quy mô, phạm vi hoạt động TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động TTCK; tăng cung hàng hoá; hoàn thiện cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật của thị trường; xây dựng và phát triển các định chế hoạt động trên thị trường.

    Mục tiêu gia đoạn 2006- 2010 là tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịc vụ của TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu là mở rộng và tăng cường năng lực của thị trường, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ; khuyến khích, tăng cường khả năng cạnh tranh; thúc đẩy hội nhập quốc tế

    Đó là những mục tiêu chính trong chiến lược phát triển ngành chứng khoán. Dựa vào đó ta có thể đưa ra những giải pháp phù hợp để phát triển thị trường mà ở trong phần nghiên cứu này em chỉ dám đua ra một vài những ý kiến nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của NNTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để phát triển TTCk hiện nay, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giã hoạt động của các trung gian tài chính với sự điều tiết nhanh nhạy của cá nhà uản lý thị trường, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về luật pháp, chính sách và cũng không loại trừ cả những giải pháp mạnh ở tầm vĩ mô lúc cần thiết. Trong tình hình hiện nay, ở Việt Nam nếu không có sự kết hợp đồng các tổ chức nói trên thì khó có thể phát huy được hết vai trò của các NNTM cũng như sự phát triển hon nữa của thị trường.

    3.2.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý thị trường

    3.2.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK Việt Nam và công tác pháp chế của UBCKNN

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK hiện nay với văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị Định số 144/2003/NDD-CP tuy đã khắc phục được nhiều mặt hạn chế, thiếu sót của Nghị định số 48/1998/NDD-CP nhưng do là văn bản dưới luật nên tính pháp lý của hệ thông pháp luật về chứng khoán và TTCK chua cao, chưa đồng bộ, không thể giải quyết được một cách triệt những mâu thuẫn xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan, chưa tạo được môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định để điều chỉnh mọi hoạt động trên TTCK phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển TTCK Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và TTCK Việt Nam hiện nay là chính là xây dựng Luật Chứng khoán. Đây cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK. Luật Chứng khoán với những ưu thế rất lớn sẽ tạo ra một môi trường pháp luý ổn định, vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích của cá chủ thể tham gia thị trường. Góp phần xây dựng và phát triển TTCK Việt nam trở thành một kênh huy động vốn quan trọng và thiết yếu đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Hoàn thiện khung pháp lý TTCK Việt nam là một trong những giải pháp nhằm bình ổn và phát triển TTCK, mở rộng phạm vi, quy mô của thị trường, đảm bảo

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    xây dựng một TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, hệu quả, được quản lý một cách chặt chẽ. Qua đó cũng tạo điều kiên thuận lợi, khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trên TTCK.

    3.2.1.2 Hiện đại hoá các hệ thống và nâng cấp hoạt động của TTCK

    Hoàn thiện hệ thống giao dịch theo hướng đảm bảo sự kết hợp giữa các điều kiện sẵn có của môi trường kinh tế với nhu cầu của các đối tượng tiềm năng tham gia TTCK, trong đó tập trung vào các yêu tố như: Tính ổn định của thị trường; tính đơn giản; tính thích nghi; tính bảo mật. Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống gaio dịch của TTGDCK được xây dựng từ các nguồn cung cấp khác nhau nhưng bước đầu đã đáp ứng được các nhu câu giao dich chứng khoán trên thị trường. Tuy nhiên, hệ thống giao dịch hiện tại sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu cho giao dịch sắp tới, đòi hỏi chúng ta cần phải thiết kế, xây dựng hệ thống mang tính đồng bộ, có công suất lớn và đảm bảo được sự tương thích giữa các hệ thống và có tính mở để có thể nâng cấp và khả năng kết nối với các hệ thống khác từ công ty chứng khoán, trung tâm lưu ký, trung tâm thanh toán ……,

    từng bước cho phép ứng dụng các giao dịch trực tuyến trên TTCk, tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc tiếp cận các phòng giao dịch thông qua mạng Internet; Mobile phne; fax; telex v.v..Cần pahir đưa hẹ thống giao dịch tự đọng mới vào vận hành, có thể khớp lệnh liên tục hoặc định kỳ. Kết nối mạng diện rộng với các công ty chứng khoán thành viên, áp dụng hệ thống ngừng giao dịch tự động khi đưa hệ thống khớp lệnh liên tục vào hoạt động.

    Hiện đại hoá hệ thống giám sát thị trường, xây dựng hệ thống giám sát tự động kết nối với các hệ thống giao dịch, công bố thông tin, lưu ký, thanh toán

    Nâng cấp hệ thống công bố thông tin, đảm bảo có một hệ thống công bố thông tin có thể truyền phát rộng và truy cập dễ dàng cho các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư. Mở rộng phạm vi thông tin cần công bố trên cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đầy dủ bao gồm thông tin giao dịch

    54

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trên thị trường, thông tin về các công ty niêm yết, thông tin về các tổ chức trung gian thị trường và thông tin quản lý thị trường.

    Tự động hoá một bước hệ thống lưu ký, và thanh toán bù trư chứng khoán. Thực hiện dịch vụ lưu ký cho các chứng khoán chưa niêm yết.; giảm thời gian thanh toán; tự đọng hoá tứng bước hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ; thực hiện nối mạng giữa các thanh fvieen lưu ký và TTGDCK

    3.2.1.3 Hoàn thiện thể chế TTCk va tăng cường năng lực cho các định chế trung gian khác

    Để đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định, giảm thiểu rủi ro thị trường, hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước, thể chế TTCK cần được hoàn thiện thông qua một số các hoạt động sau đây: Củng cố và hiện đại hoá các định chế thị trường thị trường đã có như các TTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.Bên cạnh đó, cũng cần phải phát triển và hoàn thiện hơn nữa những thể chế khác cho TTCk. Các quỹ đầu tư chứng khoán với quy mô ài chính lớn và kỹ năng chuyên nghiệp cân được khuyến khích hoạt động mạnh mẽ hơn nhằm chuyên môn hoá hoạt động đầu tư chứng khoán và tạo đinh hướng cho nhà đầu tư nhỏ lẻ. Việc phát triển các định chế quỹ đầu tư chứng khoán sẽ tạo ra một đội ngũ các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp định hướng đầu tư cho thị trường.

    Bên cạnh đó các định chế mang tính chất thiết yếu trong cấu trúc thị trường như tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký, ddanwg ký và thanh toán bù trừ chứng khoán độc lập cần được xây dưng và sớm đi vào hoạt động. Việc thành lập cá tổ chức tín nhiệm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu cũng như tổ chức tốt một thị trường trái phiếu thứ cấp. Có thể thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm dưới hình thức một công ty cổ phần với sự tham gia của các định chế ngân hàng, tài chính và có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm Việt Nam cần phải đáp ứng được các tiêu chí xếp hạng và nguyên tắc hoạt động cơ bản của một tổ chức định mức tín nhiệm trên thế giới, nhưng cần phải phù hợp với bối cảnh hiện tại ở Việt Nam.

    55

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngoài ra vai trò của những tổ chức tự quản như Hiệp hôi ngành chứng khoán và Hiệp hôi các nhà đầu tư tài chính cần được phát huy để có thể thực hện được các chức năng tự quản đối với các thanh viên tham gia thị trường, giảm nhẹ gánh nặng quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước, và tăng cường hiệu quả quản lý thị trường thông qua cơ chế kiểm tra và điều chỉnh.

    3.2.2 Các giải pháp đối với các NHTM

    3.2.2.1 Nâng cao vai trò cầu nối của các Cty chứng khoán của các NHTM

    Hiện nay, các hoạt động của NHTM tham gia vào TTCk mới chỉ chủ yếu là thông qua các công ty chứng khoán giông như nhiều các công ty chứng khoán khấc không thuộc ngân hang. Như vây, các NHTM chưa thuạc sự pahts huy dược vai trò của minh, thế mạnh của mình trên thị trường chứng khoán. Các công ty chứng khoán của các NNTM cần phải phát huy hiưn nữa vai trò cầu nối trung gian của minhf giữa các nhà đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh phát hành chứng khoán; nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với cá doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh TTCK cho các doanh nghiệp; nâng khả năng và tính chuyên nghiệp cho các công ty chứng khoán là một đòi hỏi rất quan trọng. Bên cạnh đó, bằng cachs cung cấp dịch vụ tư vấn CPH, tư vấn niêm yết thực hiện BLPH chứng khoán, cá công ty chứng khoán se phát huy vai trò tạo cơ chê giá, giup cá doanh nghiệp đánh giá phát ành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình bắng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm mới cho thị trường. Cuối cùng, công ty chứng khoán cần quan tâm hơn nữa tới việc tăng cường cầu nối trung gian trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường tiếp cận với khách hàng tiềm năng, góp phần tạo nên văn hoá đầu tư, tạo thói quen đầu tư trên TTCK cho nhà đầu tư, tạo thói quen và kỹ năng sử dụng

    56

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    dịch vụ tư vấn đầu tư thông qua việc xây dựng hình ảnh của công ty, tạo niềm tin và sự tín nhiệm của khách hàng đối với cá nhân người hành nghề kinh doanh chứng khoán và đối với chính công ty.

    3.2.2.2 Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên chứng khoán của các NHTM

    Thứ nhất, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên tác nghiệp tại các công ty chứng khoán và công tác đào tạo cấp giấy phép hành nghề chứng khoán có tình độ và kỹ năng nghề nghiệp ngang tầm với cá nước trong khu vực; đảm bảo chất lượng đào tạo và thi tuyển cấp phép hành nghề ngang tầm khu vực.

    Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ tư vấn đầu tư chứng khoán: Ngoài những kiến thức nền tảng về kinh tế tài chính, đội ngũ này cần có hiểu biết sấu sắc về kỹ năng phân tích chứng khoán và lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán, có khả năng tìm tòi, khai thác, phân tích tổng hợp thông tin.

    Các công ty chứng khoán nên phối hợp với TTNCKH& DDTCK cử các chuyên gia giảng dạy đối với từng nghiệp vụ chuyên sâu, cũng như thông tin tình hình của thị trường.

    3.2.2.3 Hiện đại hoá trang thiết bị cho các NHTM

    Hoạt động chứng khoán là hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi những công nghệ và thiết bị hiện đại. Để phát huy được vai trò của mình trên thị trường chứng khoán, cùng với sự đổi mới toàn ngành, hệ thống ngân hàng không thể không đổi mới công nghệ của minh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh. Các NHTM cần đầu tư đổi mới các cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho các hoạt động giao dịch và thanh toán được nhanh chóng và hiệu quả, áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của NHTM. Hiện đại hoá hệ thống htoong tin, nối mạng giữa các công ty chứng khoán với TTGDCK và người đầu tư; phát triển hệ thống tác nghiệp tập trung cho các công ty chứng khoán để hiện đại hoá hệ thống tác nghiệp trên cơ

    57

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sở tiết kiệm chi phí, dễ dàng chia sẻ thông tin giupc ho việc quản lý được thuận tiện , nâng cao chaat lượng xử lý giao dịch và dễ dàng nâng cấp trong tương lai.

    3.2.2.4 Cổ phần hoá NHTMNN nhằm nâng cao tiêm lực về vốn

    Có thể thấy, cổ phần hoá NHTMNN là một nhu cầu cần thiết và thực tế, một xu hướng tất yếu khi mà định hướng chung của kinh tế nước ta là hội nhập với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, cần phải quan tâm đến những yêu cầu sau đây:

    Một là, CPH các NHTMNN phải nằm trong kế hoạch tổng thể cơ cấu lại và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam. Một trong những trọng tâm của nó là việc nâng vốn của các NHTMNN lên càng sớm càng tốt, để khi tiến hành CPH xong thì tỷ lệ an toàn vốn phải đạt chuẩn mực quốc tế

    Hai là, CPH các NHTMNN cần phải tiền hành từng bước thận trọng. Do tính chất tương đối đặc thù, ngân hàng vốn được coi là một ngành nhạy cảm, hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng raat to lớn đến hầu hết cá ngành khác trong nền kinh tế. Do đó, CPH các NHTMNN cần hết sức thận trọng để đảm bảo độ an toàn và bên vững của không những hệ thống ngân hàng mà còn của toàn bộ nền kinh tế.

    Ba là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với việc nâng cao điều hành, quản trị, ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại, tạo ra cá sản phẩm ngân hàng mới, có sức cạnh tranh cao

    Bốn là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với trình xử lý các yếu kém tồn tại, lành mạnh hoá tài chính, giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn.

    Năm là, CPH các NHTMNN phải được tiến hành theo hướng công khai, minh bạch theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nwocs nắm giữ cổ phần chi phối. Tránh hiện tượng CPH khép kín. Hơn nữa, CPH NHTMNN không phải là bán tài sản hiện tại của Nhà nước cho khu vực tư nhân mà là giữ nguyên tài sản Nhà nước với mức tăng hàng năm do tái đầu tư bình thường, đồng thời huy động thêm vốn mới từ công chúng, nhằm nâng cao tiêm lực tài chính và quy mô hoạt dộng của các NHTMNN. Ngoài việc đảm bảo an toàn cho hoạt động cho cả hệ thống ngân hàng , cơ sở vốn bền vững còn là điều kiện cần thiết và là cơ hội để

    58

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện đại hoá công nghệ và quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện vai trog, vị thế và uy tín quốc tế của hẹ thống tài chính, ngân hàng Việt Nam, đồng thời có thể hỗ trợ đặc lực cho phát triển thị trường chứng khoán của nước ta.

    3.2.2.5 Tạo điều kiện cho phép các NHTM cổ phần mở rộng quy mô vốn

    Một trong những vấn đề đang thời sự hiện nay là ch phép các NHTM cổ phần niêm yết phát hành cổ phiếu trên TTGDCK để huy đông vốn, tăng thêm vốn điều lệ cho các ngân hàng này.Đó là một tỏng những giải pháp quan trọng được đưa ra bàn bạc sôi nổi trong thời gian qua. Được biết UBCKNN cũng mong muốn triển khai vấn đề này vì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt nam lên tầm cao mới , trước mắt là tăng thêm số lượng cổ phần giao dịch trên TTGDCK Tp.HCM. Đồng thời cho đến nay, Thống đốc NHNN cũng ủng hộ chủ trương nói trên. Hiện nay, trên thực tế, nhiều NHTM cổ phần trong nước làm ăn có bài bản, lãi lớn, hoạt động ổn định, hạch toán rõ ràng, được kiểm toán quốc tế hay kiểm toán độc lập, có uy tín trong nước và quốc tế, tạo được lòng tin trong dân chúng, nên chắc chắn việc niêm yết và phát hành cổ phiếu trên TTGDCK sẽ thành công.

    59

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    KẾT LUẬN

    Thị trường chứng khoán là thể chế tài chính bậc cao voíư sự tham gia của các tổ chức trung gian, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức trung gian đặc biệt là các ngân hàng thương mại

    Thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn đầu hình thành và triển. Thị trường chứng khoán đang dần đi vào ổn định, và đã thu được một số kết qảu đáng khích lệ nhưng bên cạnh đó cũng không ít những hạn chế và tồn tại. Có thể nói, ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại có nhiều lợi thế nhất trong việc trở thành trung gian, hỗ trợ cho sự páht triển thị trường. Nhưng trên thực tế, việc tham gia của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán là rất hạn chế, còn dè dặt, chưa phát huy được hết vai trò của các ngân hàng làm cầu nối trung gian trên thị trường chứng khoán.

    Bằng việc vận dụng những kiến thức đã học và sự tìm tòi tham khảo các tài liẹu thực tiến em đã nghiên cứu được một số vấn đề sau:

    Thứ nhất, nêu được những lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán và vai trò của ngân hàng thương mại đối với thị trường này.

    Thứ hai, phân tích thực trạng việc các ngân hàng thương mại thực hiện các vai trò của mình trên thị trường chứng khoán

    Thứ ba, đưa ra một số giả pháp nhằm phát huy vai trò của các ngân hàng thương mại để thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.

    Tuy nhiên, đay là một vấn đề mới, rất đa dạng và phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiến. Qua bài nghiên cứu nay, em chỉ hi vọng đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này, va mong rằng thì trường chứng khoán Việt Nam

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sẽ phát triển trong một tương lai không xa với sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, em rất mong muốn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các độc giả để có thể lĩnh hội và có hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực mà em đã quan tâm nghiên cứu.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ts Lê Văn Tư, “Ngân hàng thương mại” Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “Thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “ Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản thống kê.
    2. Phan Thị Thu Hà, “Giáo trình Ngân hàng thương mại- Quản trị và nghiệp vụ”
    1. Ts Phan Đình Nam (chủ biên), “Giáo trình Thị trưòng chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    2. Trần Thị Minh Châu, “ Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế-xã hội nhình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    3. Đỗ Đức Sơn- TC 41A, Luận văn tốt nghiệp “ Một số giải pháp nhằm thúc

    đẩy sự tham gia các hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán của chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hải Phòng”.

    1. Tạp chí Ngân hàng
    1. Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
    1. Một số tạp chí khác.

    61

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    62

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    63


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]