Category: Báo Cáo Khoa Học

  • Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

    Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

    Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kinh tế thế giới và Việt Nam quý 1 năm 2019, triển vọng và hàm ý cho Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-thu%E1%BA%ADn-l%E1%BB%A3i-h%C3%B3a-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BA%BFn-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-ASEAN-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-tr%E1%BB%8Dng-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    Original Article

     

    Research the Impact of Trade Facilitation on Trade between Vietnam and ASEAN:

     

    Empirical Analysis Based on the Commercial Gravity Model

     

    Cui Ri Ming, Dao Van Day*

     

    School of Economics, Liaoning University,

    No. 66, Chongshan Middle Road, Huanggu District, Shenyang, Liaoning Province, China

     

    Received 25 March 2019

    Revised 26 March 2019; Accepted 26 March 2019

     

    Abstract: This research aims to calculate and measure the level of trade facilitation of ASEAN countries. The research selected five indicators of trade facilitation, including infrastructure, customs environment, e-commerce, policies environment and financial environment, to measure the degree of trade facilitation of ASEAN countries and used the Gravity model to empirically analyze the effect of trade facilitation of the ASEAN countries to trade between Vietnam – ASEAN. The study shows that trade facilitation profoundly affects Vietnam’s export and import flow. Based on the analysis results, the paper suggests some recommendations to boost Vietnam’s trade facilitation.

     

    Keywords: Trade facilitation, trade, gravity model of trade, ASEAN.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4205

    60

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN:

    Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực

     

    Cui Ri Ming, Đào Văn Dậy*

     

    Khoa Kinh tế, Đại học Liêu Ninh

    Số 66, Đường Sùng Sơn, Khu Hoàng Cô, Thành phố Thẩm Dương, Tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc

     

    Nhận ngày 14 tháng 3 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm tính toán đo lường mức độ thuận lợi hóa thương mại các nước ASEAN. Nghiên cứu lựa chọn 5 chỉ tiêu của thuận lợi hóa thương mại gồm cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, thương mại điện tử, môi trường thể chế và môi trường hải quan, để đo lường mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN và sử dụng mô hình trọng lực để phân tích thực nghiệm tác động của thuận lợi hóa thương mại các nước ASEAN đến thương mại Việt Nam – ASEAN. Kết quả cho thấy thuận lợi hóa thương mại tác động sâu sắc đến lưu lượng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam, từ đó nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam và các nước ASEAN.

     

    Từ khóa: Thuận lợi hóa thương mại, thương mại, mô hình trọng lực, ASEAN.

     

    1. Đặt vấn đề*

     

    Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế và thương mại của Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tiếp đó năm 207 gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đến nay, Việt Nam đã thực thi 12 FTA ( trong đó 7 FTA với tư cách là thành viên ASEAN, 5

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4205

    FTA còn lại với Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu – EEC, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

     

    • CPTPP), Hiệp định CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 14/1/2019. Sau hơn 32 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 6,6%/năm. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới. Tăng trưởng thương mại tăng mạnh chính là một trong những yếu tố góp phần vào tăng trưởng GDP của Việt Nam trong thời gian qua. ASEAN là đối tác thương mại quan trọng và hàng đầu trong số các đối tác thương mại của Việt Nam.

    61

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    Năm 2016 và 2017, ASEAN là một trong ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam (Bảng 1). Chỉ tính riêng giai đoạn 2007-2017, quy mô thương mại của Việt Nam so với ASEAN tăng từ 23,97 tỷ USD lên 50,25 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 109%. Có thể thấy, thương mại Việt Nam – ASEAN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia. Để thương mại Việt Nam – ASEAN đạt được những kết quả đó thì thuận lợi hóa thương mại

     

    đóng vai trò then chốt quyết định đến tăng trưởng thương mại của Việt Nam – ASEAN. Việc thúc đẩy thương mại Việt Nam – ASEAN cũng sẽ là chìa khóa cho sự phát triển thành công của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà chủ nghĩa bảo hộ thương mại và các xung đột thương mại đang ngày càng trỗi dậy thì thuận lợi hóa thương mại lại càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thương mại Việt Nam.

     

    Bảng 1. Quan hệ thương mại của Việt Nam với các đối tác thương mại chủ yếu

     

       

    Năm 2016

       

    Năm 2017

     
                     

    Đối tác

    Xuất khẩu

     

    Nhập khẩu

     

    Xuất khẩu

     

    Nhập khẩu

     
                   
     

    Giá trị

    Vị trí

    Số tiền

    Vị trí

    Giá trị

    Vị trí

    Giá trị

    Vị trí

     

    (tỷ USD)

    (tỷ USD)

    (tỷ USD)

               

    Trung Quốc

    21,96

    2

    50,02

    1

    35,40

    2

    58,59

    1

    Hàn Quốc

    11,41

    5

    32,16

    2

    14,82

    5

    46,96

    2

    Hoa Kỳ

    38,45

    1

    8,70

    5

    41,59

    1

    9,35

    5

    Nhật Bản

    14,67

    4

    15,06

    4

    16,86

    4

    16,98

    4

    ASEAN

    17,45

    3

    24,04

    3

    21,72

    3

    28,30

    3

                     

    Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2016 và 2017.

     

    Có nhiều học giả quốc tế và trong nước đã nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại. Trong đó, các học giả quốc tế nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại chủ yếu trên các phương diện sau:

     

    Thứ nhất, tác động của thuận lợi hóa đến thương mại: giúp giảm chi phí thương mại và thúc đẩy tăng trưởng thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh. Các học giả quốc tế thường sử dụng mô hình trọng lực và mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để đánh giá tác động của thuận lợi hóa thương mại đối với thương mại. Điển hình như Wilson và cộng sự (2003)nghiên cứu mối quan hệ giữa thuận lợi hóa thương mại và lưu lượng thương mại tại 75 quốc gia giai đoạn 2000-2001, áp dụng mô hình trọng lực phân tích tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại, sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá thuận lợi hóa thương mại bao gồm: cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, môi trường thể chế và thương mại điện tử [1]. Kết quả nghiên cứu cho thấy thuận lợi hóa thương mại tăng 1% làm thương mại tăng 9,7%, tương đương 377 tỷ USD, cải

    thiện hải quan làm thương mại tăng trưởng 330 tỷ USD (0,8%), cải thiện môi trường thể chế làm thương mại tăng trưởng 83 tỷ USD (2,1%), cải thiện cơ sở hạ tầng làm thương mại tăng 154 tỷ USD (4%). Hertel và Mirza (2009) cũng sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại của Wilson và cộng sự (2003) đã chỉ ra rằng việc tạo thuận lợi thương mại có tác động nhất định đến quy mô thương mại giữa Nam Á và phần còn lại của thế giới [2]. Cải cách thuận lợi hóa thương mại sẽ làm tăng thương mại nội địa thêm 5,8 tỷ USD (75%), trong khi thương mại nước ngoài sẽ tăng thêm 30,8 tỷ USD (22%). Ấn Độ và Pakistan là những nước phát triển nhanh nhất trong khu vực. Việc thuận lợi hóa thương mại có tác động lớn hơn đến thương mại giữa hai bên. Shepherd (2009) nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại các nước Nam Á cho thấy thuận lợi hóa thương mại tăng 1% làm thương mại tăng 7,5% tương đương 22 tỷ USD. Nghiên cứu của Zhang Ya Bin (2016) cho thấy thuận lợi hóa thương mại của các nước trong vành đai con đường tơ lụa

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    63

    tăng 1% thì xuất khẩu của Trung Quốc tăng 4,35% [3]. Ran Qi Zhao và Yang Dan Ping (2018) nghiên cứu thuận lợi hóa thương mại của các nước EU tăng 1% thì xuất khẩu của Trung Quốc tăng 17864% [4].

     

    Thứ hai, về chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại: Ban đầu các học giả quốc tế dựa vào 4 chỉ tiêu cấp 1 đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại của Wilson và cộng sự (2003) để tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên lại có sự khác nhau ở các chỉ tiêu cấp 2. Chẳng hạn như Ran Qi Zhao và Yang Dan Ping (2018) sử dụng 15 chỉ tiêu cấp 2, Zhang Shu Hui (2018) sử dụng 19 chỉ tiêu cấp 2. Về sau, do sự phát triển không ngừng của kinh tế, môi trường tài chính ảnh hưởng rất lớn đến thuận lợi hóa thương mại, do đó nhiều học giả như Zhang Ya Bin (2016), Gao Zhi Gang và Song Ya Dong (2018)… đã thêm chỉ tiêu môi trường tài chính để hình thành nên 5 chỉ tiêu cấp 1 để đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại [5].

     

    Thứ ba, về xác định trọng số của các chỉ tiêu: Chủ yếu có 2 phương pháp là phương pháp bình quân và phương pháp phân tích thứ bậc. Chẳng hạn như nghiên cứu của Ran Qi Zhao và Yang Dan Ping (2018) đã áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc để xác định trọng số.

     

    Nghiên cứu về tác động của thuận lợi hóa thương hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN chưa được các học giả quốc tế tập trung. Các nghiên cứu về thuận lợi hóa thương mại Việt Nam và ASEAN chỉ mới được các tổ chức như APEC (2004), OECD (2012) đề cập, hoặc một số ít tác giả như Shepherd và Wilson (2009) cho rằng dòng chảy thương mại

     

    • Đông Nam Á đặc biệt nhạy cảm với cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin và truyền thông, việc cải thiện các cơ sở hạ tầng cảng làm lưu lượng thương mại tăng tới 7,5% hoặc 22 tỷ USD hay nghiên cứu của Itakura (2014) về thuận lợi hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia thành viên ASEAN cho thấy việc giảm các rào cản thương mại có tác động tích cực đáng kể đến thương mại [6].

    Hiện nay chưa có nghiên cứu về tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại

     

    Việt Nam – ASEAN của các học giả trong nước. Các học giả trong nước chỉ quan tâm đến các khía cạnh như thuận lợi hóa thương mại và hài hòa chính sách logistics tại các quốc gia ASEAN [7], Hiệp định thuận lợi hóa thương mại WTO tạo ra cơ hội và thách thức đối với Việt Nam [8]…

     

    Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy mặc dù có sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu, chỉ tiêu đánh giá thuận lợi hóa thương mại nhưng việc thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại sẽ thúc đẩy tăng trưởng thương mại. Tuy nhiên, thực tế chưa có nghiên cứu riêng biệt nào đánh giá cụ thể tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xác định mức độ tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN bằng mô hình trọng lực. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN như thế nào? Biện pháp thuận lợi hóa thương mại nào hiệu quả hơn? Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN cũng như tác động cụ thể của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN. Thông qua kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất các biện pháp và chính sách thúc đẩy xuất nhập khẩu của Việt Nam.

     

    2. Xây dựng và đo lường hệ thống chỉ tiêu

    đánh giá thuận lợi hóa thương mại

     

    2.1. Lựa chọn chỉ tiêu

     

    Trong rất nhiều phương pháp đánh giá thuận lợi hóa thương mại, phương pháp đánh giá thuận lợi hóa thương mại của Wilson và cộng sự (2003) là kinh điển nhất. Bài viết dựa vào phương pháp đánh giá thuận lợi hóa thương mại đó và các nghiên cứu trước, dựa vào mục tiêu nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại Việt Nam – ASEAN và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thuận lợi hóa thương mại lựa chọn các chỉ tiêu: cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, môi trường thể chế, thương

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    mại điện tử, môi trường tài chính làm chỉ tiêu cấp 1 để xác định mức độ thuận lợi hóa thương mại và hệ thống 21 chỉ tiêu cấp 2 được xây dựng để đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại.

     

    2.2. Nguồn và xử lý số liệu

     

    Nghiên cứu chọn lựa 21 chỉ tiêu cấp 2 từ năm 2010-2017 được lấy từ Báo cáo cạnh tranh toàn cầu (The Global Competitiveness Report) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum – WEF) công bố và Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index – CPI) do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố từ năm 2008 đến 2017. Phạm vi của các chỉ tiêu là không giống nhau, hầu hết các chỉ tiêu dao động từ 0 đến 7, có 2 chỉ tiêu có phạm vi từ 0-100 là chỉ số tham nhũng và số người sử dụng mạng Internet. Điểm số của mỗi chỉ số càng cao thì mức độ thuận lợi hóa thương mại càng cao.

     

    Từ phân tích trên, các nguồn dữ liệu của các chỉ tiêu cấp 2 về thuận lợi hóa thương mại không hoàn toàn tương đồng và các dữ liệu này cần phải được xử lý chuẩn hóa. Việc chuẩn hóa các chỉ số sẽ giúp cho việc so sánh và tính tổng các chỉ số về thuận lợi hóa thương mại được

     

    thuận tiện. Áp dụng phương pháp như sau: Xij = Zij/Zjmax, trong đó Zij là giá trị ban đầu của chỉ tiêu mức độ thuận lợi hóa thương mại cấp 2 được xây dựng, Zjmax là giá trị cực đại của chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại cấp 2, Xij là giá trị thuận lợi hóa thương mại tiêu chuẩn hóa ban đầu sau khi tiêu chuẩn hóa, chỉ tiêu này nhận giá trị từ 0-1.

     

    2.3. Xác định trọng số của hệ thống chỉ tiêu đánh giá thuận lợi hóa thương mại

     

    Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP do Saaty (1980) đưa ra để xác định chỉ tiêu trọng số. Đầu tiên là điều tra thu thập ý kiến chuyên gia về mức độ ưu tiên để thiết lập thứ bậc (các chuyên gia sẽ dựa vào các thang đánh giá mức độ so sánh ở Bảng 2 để đánh giá), sau đó thiết lập các ma trận so sánh cặp.

     

    Sau đó, nghiên cứu tính toán trọng số cho từng mức (từng cấp), từng nhóm yếu tố. Tính tỷ số nhất quán CR để kiểm tra tính nhất quán. Cách tính CR như sau: CR = CI/RI, trong đó RI (chỉ số ngẫu nhiên) được xác định từ Bảng 3 cho sẵn.

     

    Bảng 2. Thang đánh giá mức độ so sánh

     

    Mức độ quan trọng       Định nghĩa                                                      Giải thích

     

    1

     

    3

     

    5

     

    7

     

    9

     

    2, 4, 6, 8

    Quan trọng bằng nhau

     

    Sự quan trọng yếu giữa một yếu tố này trên yếu tố kia

     

    Quan trọng nhiều giữa yếu tố này và yếu tố kia

     

    Sự quan trọng biểu lộ rất mạnh giữa yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Sự quan trọng tuyệt đối giữa yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Mức trung gian giữa các mức nêu trên

     

    Hai yếu tố có mức quan trọng như nhau Kinh nghiệm và nhận định hơi nghiêng về yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Kinh nghiệm và nhận định nghiêng mạnh về yếu tố này hơn yếu tố kia

     

    Một yếu tố được ưu tiên rất nhiều hơn yếu tố kia và được biểu lộ trong thực hành

     

    Sự quan trọng hơn hẳn của một yếu tố ở trên mức có thể

     

    Cần sự thỏa hiệp giữa hai mức độ nhận định

     

    Nguồn: Phương pháp phân tích thứ bậc AHP.

     

    Bảng 3. Bảng phân loại chỉ số ngẫu nhiên RI

     

     

    n

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

     

    RI

    0,58

    0,9

    1,12

    1,24

    1,32

    1,41

    1,45

    1,49

    Nguồn: Phương pháp phân tích thứ bậc AHP.

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    65

    Trong đó n là số lượng yếu tố trong ma trận so sánh. IC (chỉ số nhất quán) được xác định theo các bước sau đây:

     

    • Tính vector tổng có trọng số = ma trận so sánh x vector trọng số.
    • Tính vector nhất quán = vector tổng có trọng số / vector trọng số.
    • Xác định λmax (giá trị riêng ma trận so sánh) và CI:

    + λmax = trị trung bình của vector nhất quán.

     

    + CI = (λmax – n) / (n – 1).

     

    Tỷ số nhất quán phải nhỏ hơn hay bằng 10%, khi đó trọng số được xác định là đúng, nếu lớn hơn thì cần thực hiện lại. Hiện nay, việc xác định trọng số được thực hiện thông qua các phần mềm. Nghiên cứu này sử dụng phần mềm Matlab để xác định trọng số của các chỉ tiêu cấp

     

    1. Kết quả trọng số của các chỉ tiêu cấp 1 như sau (Bảng 4): Tỷ số nhất quán CR = 0,048 < 0,1, đảm bảo tính nhất quán. Tương tự cách tính trọng số đối với các chỉ tiêu cấp 1, ta cũng tính được trọng số của các chỉ tiêu cấp 2. Trọng số

    ưu tiên = trọng số riêng x trọng số yếu tố cấp 1 tương ứng (Bảng 5).

     

    3.   Phân tích kết quả tính toán mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN

     

    Trên cơ sở xử lý dữ liệu và trọng số của các chỉ tiêu liên quan đến thuận lợi hóa thương mại, nghiên cứu rút ra công thức tính toán tổng chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại như sau:

     

    TFIj = W11X11 + W12X12 + W13X13 + W14X14 + W21X21 + W22X22 + W23X23 + W24X24 + W31X31 + W32X32 + W33X33 + W34X34 + W35X35 + W36X36 + W37X37 + W39X39 + W41X41 + W42X42 + W43X43 + W44X44 + W51X51 + W52X52

     

    • W53X53 + W54X54

    Trong đó: Xij là giá trị của chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại cấp 2 sau khi đã xử lý, Wij là quyền trọng của chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại cấp 2 và tổng hợp để đạt được TFI của các nước ASEAN. Kết quả tính toán chỉ số thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN năm 2017 như sau:

     

    Để đánh giá phân loại mức độ thuận lợi hóa thương mại, các học giả trong và ngoài nước đã phân chia mức độ thuận lợi hóa thương mại thành các cấp độ khác nhau. Nghiên cứu này sử dụng cách đánh giá phân loại mức độ thuận lợi hóa thương mại của Ceng Zheng và Zhou Qian (2008), theo đó mức độ thuận lợi hóa thương mại được chia làm 4 cấp độ: Nếu TFI ³ 0,8 thì mức độ thuận lợi hóa thương mại rất thuận lợi, 0,7 £ TFI <0,8 thì mức độ thuận lợi hóa thương

     

    mại ở mức độ tương đối thuận lợi, nếu 0,6 £ TFI <0,7 thì mức độ thuận lợi hóa thương

     

    mại ở mức thuận lợi bình thường, nếu TFI < 0,6 thì mức độ thuận lợi hóa thương mại thuộc về mức không thuận lợi.

     

    Bảng 4. Ma trận so sánh cặp và trọng số

     

    Chỉ tiêu đánh giá thuận lợi

    Môi trường

    Cơ sở hạ

    Môi   trường

    Thương

    Môi trường

    Trọng

    hóa thương mại

    thể chế

    tầng

    hải quan

    mại điện tử

    tài chính

    số

                 

    Môi trường thể chế

    1

    1.0

    1

    2,00

    2,00

    0,251

    Cơ sở hạ tầng

    1,00

    1

    1

    1

    3

    0,234

    Môi trường hải quan

    1,00

    1,00

    1

    1,00

    1

    0,194

    Thương mại điện tử

    0,50

    1,00

    1,00

    1

    3,0

    0,209

    Môi trường tài chính

    0,50

    0,33

    1,00

    0,33

    1

    0,113

                 

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    Bảng 5. Các chỉ số thuận lợi hóa thương mại ở các cấp

     

    Chỉ tiêu

    Trọng

     

    Trọng

    Trọng

    Ký hiệu

    Phạm

    Ký hiệu

     

    Chỉ tiêu cấp 2

    số

    số ưu

    trọng số

    chỉ tiêu

     

    cấp 1

    số

    vi

     

    riêng

    tiên

    ưu tiên

    cấp 2

     
           
                     
       

    Chất lượng cơ sở hạ tầng đường bộ

    0,3116

    0,0728

    W11

    1-7

    X11

     
                     

    Cơ sở

    0,2337

    Chất lượng cơ sở hạ tầng đường sắt

    0,1277

    0,0298

    W12

    1-7

    X12

     
                 

    hạ tầng

    Chất lượng cơ sở hạ tầng cảng biển

    0,2804

    0,0655

    W13

    1-7

    X13

     
     
       
                     
       

    Chất lượng cơ sở hạ tầng hàng không

    0,2804

    0,0655

    W14

    1-7

    X14

     
                     
       

    Rào cản thương mại

    0,2188

    0,0424

    W21

    1-7

    X21

     
                     

    Môi

     

    Thuế quan thương mại

    0,0938

    0,0182

    W22

    1-

    X22

     

    trường

    0,1937

           

    100

       

    hải quan

     

    Gánh nặng thủ tục hải quan

    0,5938

    0,1150

    W23

    1-7

    X23

     
                   
       

    Chỉ số tham nhũng

    0,0938

    0,0182

    W24

    1-

    X24

     
       

    100

                   
       

    Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    0,2066

    0,0519

    W31

    1-7

    X31

     
                     
       

    Niềm  tin  của  công  chúng  đối  với

    0,0611

    0,0153

    W32

    1-7

    X32

     
       

    chính phủ

                   
       

    Độc lập tư pháp

    0,0611

    0,0153

    W33

    1-7

    X33

     

    Môi

                   
     

    Gánh nặng các quy định của Chính

    0,0966

    0,0243

    W34

    1-7

    X34

     

    trường

    0,2512

    phủ

    thể chế

                 
     

    Hiệu quả pháp luật  của  Chính phủ

    0,1953

    0,0491

    W35

    1-7

    X35

     
       
       

    trong việc giải quyết các tranh chấp

                   
       

    Minh bạch chính sách

    0,2290

    0,0575

    W36

    1-7

    X36

     
                     
       

    Chi phí kinh doanh do tội phạm và

    0,1503

    0,0378

    W37

    1-7

    X37

     
       

    bạo lực gây ra

                   
       

    Tính  khả  dụng  của  các  công  nghệ

    0,7235

    0,1510

    W41

    1-7

    X41

     

    Thương

     

    mới

                 
                   

    mại điện

    0,2087   Sử dụng kỹ thuật cấp công ty

    0,1932

    0,0403

    W42

    1-7

    X42

     

    tử

                   
     

    Số người sử dụng Internet

    0,0833

    0,0174

    W43

    1-

    X43

     
       
       

    100

                   

    Môi

     

    Tính tiện lợi của dịch vụ tài chính

    0,7143

    0,0806

    W51

    1-7

    X51

     
                   
     

    Năng lực tài chính thị trường chứng

               

    trường

    0,1129

    0,1429

    0,0161

    W52

    1-7

    X52

     

    khoán địa phương

    tài chính

                 
     

    Dễ tiếp cận các khoản vay

    0,1429

    0,0161

    W53

    1-7

    X53

     
       
                     

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Bảng 6. Kết quả tính toán mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN từ năm 2008-2017

     

    TT

    Nước

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    2017

                           

    1

    Campuchia

    0,454

    0,478

    0,515

    0,538

    0,561

    0,530

    0,487

    0,480

    0,494

    0,485

    2

    Indonesia

    0,524

    0,558

    0,575

    0,568

    0,571

    0,592

    0,600

    0,581

    0,591

    0,613

    3

    Malaysia

    0,728

    0,703

    0,712

    0,739

    0,736

    0,726

    0,749

    0,753

    0,734

    0,728

                           
     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    67

     
                             

    4

    Philippines

    0,507

    0,496

    0,501

    0,510

    0,537

    0,554

    0,561

    0,542

    0,516

    0,510

     

    5

    Singapore

    0,880

    0,880

    0,869

    0,867

    0,867

    0,855

    0,853

    0,858

    0,861

    0,862

     

    6

    Thái Lan

    0,628

    0,626

    0,630

    0,606

    0,605

    0,606

    0,589

    0,585

    0,587

    0,602

     

    7

    Brunei

    0,656

    0,665

    0,662

    0,632

    0,642

    0,662

    0,762

    0,666

    0,582

    0,600

     

    Darussalam

                           

    8

    Lào

    0,515

    0,549

    0,539

    0,574

    0,584

    0,555

    0,542

    0,519

    0,519

    0,524

     

    9

    Myanmar

           

    0,368

    0,371

    0,378

    0,377

    0,457

    0,538

     

    10

    Việt Nam

    0,506

    0,526

    0,526

    0,497

    0,491

    0,501

    0,510

    0,527

    0,534

    0,528

     
                             

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Bảng 6 cho thấy trong giai đoạn 2008-2017, mức độ thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia, Philippines được xếp vào mức độ không thuận lợi. Còn Brunei Darussalam, Thái Lan thuận lợi hóa thương mại ở mức bình thường, Indonesia có 2 năm 2014 và 2017 thuận lợi hóa thương mại ở mức bình thường. Malaysia thuận lợi hóa thương mại ở mức độ tương đối thuận lợi. Singapore thuận lợi hóa thương mại ở mức rất thuận lợi.

     

    4.   Phân tích tác động của thuận lợi hóa thương mại đối với thương mại xuất nhập khẩu của Việt Nam

     

    4.1. Xây dựng mô hình và mô tả dữ liệu

     

    Để nghiên cứu các vấn đề thương mại quốc tế, các học giả trong và ngoài nước thường sử dụng mô hình lực trọng lực. Đây là mô hình

    được phát triển bởi Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) dựa trên định luật hấp dẫn của Newton được sử dụng trong thương mại, dự đoán rằng trao đổi thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế và khoảng cách giữa chúng. Về sau có rất nhiều học giả ứng dụng và tiếp tục phát triển mô hình này như Anderson (1979), Bergstrand (1985), Gbetnkom và Sunday (2002)… Căn cứ vào các nghiên cứu hiện có kết hợp với mục tiêu của nghiên cứu, cũng như căn cứ vào các biến lượng cơ bản của mô hình trọng lực, bài viết bổ sung thêm các biến mới vào mô hình gồm thuận lợi hóa thương mại, độ mở của nền kinh tế, BORDER. Khi đó, mô hình lực trọng lực có dạng như sau:

     

    LnTradeijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDISTij + α5LnTFIjt + α6 BORDERij + εij (2)

     

    Bảng 7. Giải thích ý nghĩa của các biến, mô tả lý thuyết và nguồn gốc của dữ liệu

     

     

    Tên biến

    Hàm nghĩa

    Ý nghĩa

    Dấu

    Nguồn dữ liệu

     

    mong đợi

             
     

    TRADEij

    Kim ngạch

    Phản ánh mức độ thương mại giữa Việt

    /

    UN

       

    thương mại song

    Nam và các nước ASEAN

     

    COMTRADE

       

    phương giữa Việt

    (i là Việt Nam, j là các nước còn lại trong

     

    (Đơn vị: USD)

       

    Nam và nước j

    khu vực ASEN)

       
     

    GDPjt

    Tổng sản phẩm

    Phản ánh nhu cầu thương mại tiềm năng,

    +

    Ngân hàng

       

    quốc nội của nước

    quy mô kinh tế càng lớn thì lưu lượng

     

    Thế giới

       

    j năm t

    thương mại càng cao

     

    (Đơn vị: USD)

     

    POPjt

    Quy mô dân số

    Dân số càng lớn, nhu cầu thương mại quốc

    Không

    Ngân hàng

       

    của nước j năm ttế càng cao và nó cũng có thể làm giảm

    xác định

    Thế giới

         

    thương mại quốc tế do phân công lao động

     

    (Đơn vị: người)

         

    trong nước

       
    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73
     

    DISTij

    Khoảng cách

    Đại biểu cho chi phí vận chuyển, khoảng

    https://www.tim

       

    đường thẳng giữa

    cách vận chuyển giữa hai nước càng xa thì

     

    eanddate.com/w

       

    các thủ đô của hai

    chi phí vận chuyển càng cao, điều này

     

    orldclock/distan

       

    nước

    không có lợi cho thương mại quốc tế

     

    ce.html

             

    (Đơnvị: Km)

     

    OPENjt

    Độ mở thương

    Độ mở thương mại càng cao thì nhu cầu

    +

    UN

       

    mại của nước j

    thương mại quốc tế càng lớn

     

    COMTRADE

       

    năm t

         
     

    TFIjt

    Mức độ thuận lợi

    Thuận lợi hóa thương mại làm giảm chi phí

    +

    Tác giả tự

       

    hóa thương mại

    thương mại và giảm các trở ngại, thúc đẩy

     

    tính toán đề xuất

       

    của nước j năm t

    thương mại song phương

       
     

    BORDE

    Biến giả, các

    Nhận giá trị là 0 nếu không có biên giới trên

    +

     
     

    Rij

    nước có chung

    đất liền với Việt Nam, nhận giá trị 1 nếu có

       
       

    biên giới trên đất

    chung biên giới trên bộ với Việt Nam

       
       

    liền với Việt Nam

         
         

    Nguồn: Các tác giả tự xây dựng.

       

    4.2. Kết quả phân tích thực nghiệm

     

    Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng về thương mại của Việt Nam – ASEAN giai đoạn 2008-2017 để tiến hành phân tích hồi quy; sử dụng phần mềm Stata 14.0 để tiến hành phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam bằng mô hình trọng lực theo các phương pháp OLS, tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM). Để lựa chọn mô hình thích hợp, nghiên cứu tiến hành Kiểm định F để lựa chọn giữa OLS và FEM, Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM. Qua việc kiểm định ta thấy mô hình REM là phù hợp và đáng tin cậy. Để kết quả mô hình hồi quy đạt được tính hiệu quả, tác giả kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan đối với mô hình FEM, kiểm định đa cộng tuyến thông qua kiểm định Vif đối với Pooled OLS. Kết quả phát hiện mô hình vừa có

    hiện tượng phương sai của sai số thay đổi vừa có hiện tượng tự tương quan của sai số, không có hiện tượng đa cộng tuyến. Theo Wooldridge (2002), cách khắc phục khi phương sai sai số thay đổi và tự tương quan của sai số đó là chọn mô hình hồi quy bình phương bé nhất tổng quát

     

    • Generalized Least Squares (GLS). GLS thực chất là phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) áp dụng cho các biến đã được biến đổi từ một mô hình mới thỏa mãn các giả thiết cổ điển. Do đó, các tham số ước lượng từ mô hình mới sẽ đáng tin cậy hơn. Chính vì những lý do trên, bài viết chỉ sử dụng kết quả của mô hình hồi quy với phương pháp GLS trong bảng sau để phân tích cũng như giải thích kết quả.

    * Phân tích tổng thể

     

    Tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam:

     

    Bảng 8. Kết quả phân tích bằng mô hình trọng lực

     

    Tên biến

    OLS

    FEM

    REM

    FGLS

             

    LnGDPjt

    1,188*** (2,37)

    0,917*** (2,70)

    0,21***(0,03)

    0,21***(0,03)

    LnPOPjt

    3,90*** (1,53)

    0,02*** (0,07)

    0,751***(5,65)

    0,751***(5,90)

    LnOPENjt

    1,38*** (1,86)

    0,21***(0,56)

    0,706***(3,31)

    0,706***(3,46)

    LnDISTij

    0,12*** (-0,53)

    (0,50) *** (-0,74)

    -0,570*** (-2,15)

    -0,570*** (-2,24)

    LnTFIjt

    0,32*** (0,25)

    1,43***(1,21)

    3,782***(4,18)

    3,782***(4,36)

    BORDERij

    0,00(.)

    2,786*** (3,10)

    1,474***(4,44)

    1,474***(4,64)

             

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    69

               

    _cons

    -79,25****(-2,11)

    1,02***(0,14)

    11,59***(3,71)

    11,59***(3,87)

     

    N

    86

    86

    86

    86

     

    R-squared

    0,8836

    0,7600

         

    Kiểm

    99,96 (P = 0,0000)

    11,11(P = 0,0000)

         

    nghiệm F

         
             

    Kiểm định lựa chọn mô hình

     

    F-test

     

    Kiểm định Hausman

    Prob > F = 0,0000 < 0,05 chứng tỏ mô hình

    OLS không phù hợp

     

    Prob > chi2 =  0,0145 > 0,05 chứng tỏ mô hình

    FEM không phù hợp, lựa chọn mô hình REM

     

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Bảng 9. Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, đa cộng tuyến và tự tương quan

     

     

    Kiểm định

    Giá trị

    Kết quả

     

    Đa cộng tuyến

    VIF < 10

    Không có hiện tượng đa cộng tuyến

     

    Phương sai thay đổi

    Prob > chi2 = 0,0000

    Có hiện tượng phương sai thay đổi

     

    Tự tương quan

    Prob > F = 0,0000

    Có hiện tượng tự tương quan

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Tương tự như việc phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương mại của các đối tác – ASEAN, tác giả cũng tiến hành phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương

    mại đến xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam – ASEAN. Kết quả phân tích được tổng hợp ở Bảng 10.

     

    Bảng 10. Tác động của thuận lợi hóa thương mại đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

     

     

    Phân tích tổng hợp

     

    Phân tích chỉ tiêu

     
     

    Tên biến

    Xuất khẩu

    Nhập khẩu

    Tên biến

    Xuất khẩu

    Nhập khẩu

     

    LnGDPjt

    0,422**(-2,84)

    0,874***(3,98)

    LnHT

    0,44***(-0,64)

    1,44***(1,61)

     

    LnPOPjt

    1,151***(9,94)

    0,350***(2,04)

    LnHQ

    2,026***(2,58)

    0,53***(0,50)

     

    LnOPENjt

    0,718***(3,87)

    1,271***(4,61)

    LnTC

    2,553***(3,50)

    1,09***(1,07)

     

    LnDISTij

    -0,637**(-2,76)

    -1,374***(-4,01)

    LnDT

    0,69***(0,93)

    3,168***(3,53)

     

    BORDERij

    1,456***(5,04)

    0,52**(1,20)

    LnTCI

    2,226***(3,35)

    2,384***(2,70)

     

    LnTFIjt

    4,498***(5,70)

    2,657***(2,27)

         
     

    _cons

    15,83***(5,82)

    (2,04)***(-0,50)

         

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

     

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Kết quả hồi quy cho thấy mô hình có mức độ phù hợp cao, kết quả hồi quy của các biến giải thích khác phù hợp với kỳ vọng, đảm bảo tính tin cậy thông qua các kiểm đinh. Từ các hệ số hồi quy của các biến số, ta thấy mức độ thuận lợi hóa thương mại của 9 nước ASEAN

    khác (gọi tắt là các nước ASEAN) có tác động lớn nhất đến thương mại của Việt Nam – ASEAN, cứ 1% tăng lên thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN sẽ làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN tăng 3,782%, xuất khẩu tăng 4,498%, nhập khẩu tăng 2,65%. Tác

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    động của tổng sản phẩm quốc nội các nước ASEAN cho thấy cứ mỗi 1% tăng tổng sản phẩm quốc nội các nước ASEAN làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN tăng 0,21%, xuất khẩu tăng 0,422%, nhập khẩu tăng 0,874%. Tác động của dân số các nước ASEAN cho thấy cứ mỗi 1% tăng của dân số các nước ASEAN làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN tăng 0,751%, xuất khẩu tăng 1,151%, nhập khẩu tăng 0,35%. Tác động của độ mở nền kinh tế các nước ASEAN cho thấy cứ mỗi 1% tăng của độ mở nền kinh tế làm cho thương mại của Việt Nam tăng 1,38%, xuất khẩu tăng 0,718%, nhập khẩu tăng 1,271%. Về khoảng cách địa lý làm giảm thương mại, cứ 1% tăng thêm của khoảng cách sẽ làm cho thương mại của Việt Nam – ASEAN giảm 0,57 %, xuất khẩu giảm 0,637%, nhập khẩu giảm 1,374%. Hệ số của biến giả BORDER dương chứng tỏ các nước biên giới giúp thương mại xuất nhập khẩu Việt Nam tăng.

     

    * Phân tích chỉ tiêu

     

    Để làm rõ ảnh hưởng cụ thể của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại, các tác giả tiếp tục nghiên cứu tác động của các chỉ tiêu thuận lợi

     

    hóa thương mại đối với thương mại của Việt Nam. Dựa trên hồi quy tổng thể, nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định để phân tích tác động của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại. Nghiên cứu lần lượt phân tích tác động của cơ sở hạ tầng (HT), môi trường hải quan (HQ), môi trường thể chế (TC), thương mại điện tử (DT), môi trường tài chính (TCI), hình thành 5 phương trình hồi quy đánh giá tác động đến thương mại Việt Nam – ASEAN như sau:

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnHTjt + α6BORDERij + εij (1)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnHQjt + α6BORDERij + εij (2)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnTCjt + α6BORDERij + εij (3)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistij + α5LnDTjt + α6BORDERij + εij (4)

     

    LnTRADEijt = α0 + α1LnGDPjt + α2LnPOPjt + α3LnOPENjt + α4LnDistijt + α5LnTCIjtt + α6BORDERij + εij (5)

     

    Bảng 11. Kết quả hồi quy theo chỉ tiêu

     

    Tên biến

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

               

    LnGDPjt

    0,595***(3,58)

    0,365***(2,44)

    0,319***(2,29)

    0,437***(2,97)

    0,20***(1,30)

               

    LnPOPjt

    0,312***(2,33)

    0,512***(4,04)

    0,563***(4,77)

    0,423***(3,66)

    0,518***(4,65)

               

    LnOPENjt

    1,301***(5,24)

    0,939***(4,11)

    0,813***(3,70)

    1,034***(4,41)

    0,936***(4,63)

               

    LnDISTij

    -0,627***(-2,15)

    (0,54) ***(-1,86)

    -0,555*(-2,01)

    -0,733*(-2,42)

    -0,619*(-2,26)

               

    BORDERij

    2,028***(5,89)

    2,113***(6,18)

    2,195***(6,67)

    1,933***(5,65)

    1,824***(5,63)

               

    LnHTjt

    0,31***(-0,98)

           

    LnHQjt

     

    1,58***(1,91)

         
               

    LnTCjt

       

    2,428***(3,17)

       
               

    LnDTjt

         

    0,79***(1,03)

     
               

    LnTCIjt

           

    2,246***(3,26)

               

    _cons

    (0,71)***(-0,22)

    4,13***(1,63)

    5,420***(2,25)

    4,17***(1,26)

    8,898***(2,91)

               

    N

    86,00

    86,00

    86,00

    86,00

    86,00

               

    R-squared

    0,86

    0,86

    0,87

    0,86

    0,87

               

    Nguồn: Tính toán của các tác giả.

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    71

    Bảng 11 cho thấy mức độ tác động của các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại đến thương mại của Việt Nam – ASEAN khác nhau đều làm tăng thương mại của Việt Nam – ASEAN. Cụ thể, cứ mỗi 1% tăng lên của cơ sở hạ tầng, môi trường hải quan, môi trường thể chế, thương mại điện tử, môi trường tài chính làm thương mại Việt Nam tăng lần lượt là 0,31%, 1,58%, 2,428%, 0,79%, 2,246%; xuất khẩu tăng 0,44%, 2,026%, 2,553%, 0,69%, 2,226%; nhập khẩu tăng 1,44%, 0,53%, 1,09%, 3,168%, 2,384%.

     

    5. Kết luận và kiến nghị

     

    5.1. Kết luận

     

    Dựa trên phân tích mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN, phân tích thực chứng tác động của thuận lợi hóa thương mại 9 nước ASEAN khác tới thương mại Việt Nam – ASEAN nghiên cứu rút ra các kết luận sau:

     

    Thứ nhất, mức độ thuận lợi hóa thương mại có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại của Việt Nam. So với các yếu tố như GDP, dân số, độ mở thương mại mức độ thuận lợi hóa thương mại của các nước ASEAN có vai trò lớn trong việc thúc đẩy thương mại của Việt Nam. Điều này cho thấy càng thuận lợi hóa thương mại thì càng giúp thương mại Việt Nam được mở rộng.

     

    Thứ hai, các chỉ số của thuận lợi hóa thương mại có tác động khác nhau đối với thương mại Việt Nam. Điều này cho thấy sự phát triển của thương mại điện tử, xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng, cải cách thể chế, môi trường hải quan, môi trường tài chính của các nước ASEAN có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam.

     

    Thứ ba, nghiên cứu cho thấy ngoài các nước Singapore và Malaysia có mức độ thuận lợi hóa thương mại ở mức thuận lợi thì các nước ASEAN còn lại đều ở mức trung bình và thấp.

     

    5.2. Kiến nghị

     

    Thứ nhất, tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và các nước ASEAN khác trong các khía cạnh của thuận lợi hóa thương mại như môi trường thể chế, môi trường hải quan, cơ sở hạ tầng, môi trường tài chính và thương mại điện tử nhằm thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại. Chẳng hạn như việc hợp tác trong lĩnh vực hải quan: chia sẻ dữ liệu hải quan, quy định hải quan tăng cường biên giới và quản lý thủ tục hải quan, cải thiện kiểm tra hải quan và kiểm dịch, hải quan hiệu quả giải phóng hàng hóa. Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng: đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết nối hạ tầng giữa Việt Nam và các nước ASEAN khác. Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính giúp cho thị trường tài chính minh bạch, chống tham nhũng, huy động các khoản vốn dễ dàng tiện lợi, từ đó thúc đẩy thương mại. Loại bỏ các rào cản không thuận lợi như các thủ tục hành chính, kiểm tra hải quan… tạo điều kiện thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam – ASEAN.

     

    Thứ hai, Việt Nam và các nước ASEAN khác cần tăng cường cải cách nghiệp vụ hải quan và nâng cao hiệu quả thông quan. Hải quan có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Cải cách các chính sách pháp luật về hải quan, áp dụng hệ thống thông quan tự động… giúp đẩy nhanh việc thông quan, từ đó giảm chi phí thương mại. Thực hiện tốt Hiệp định Hải quan ASEAN (2012) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của các nước xuất khẩu, quá cảnh, chuyển tải qua lãnh thổ của các bên như đơn giản hóa thủ tục hải quan và quy định kiểm soát hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin, quyết định trước, công nhận lẫn nhau Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên (AEO), quản lý biên giới phối hợp…

     

    Thứ ba, các nước ASEAN giữ vững ổn định thị trường tài chính. Thị trường tài chính phải giúp cho các doanh nghiệp có được sự tiện lợi trong việc huy động vốn khi cần thiết, giữ ổn định về tỷ giá, có nhiều kênh huy động vốn với chi phí sử dụng vốn thấp… Ngoài ra, cần có các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

     

    • R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

     

     

    của toàn bộ nền kinh tế. Tất cả các biện pháp này sẽ giúp giảm chi phí, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, từ đó thúc đẩy thương mại.

     

    Thứ tư, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng. Các nước ASEAN cần nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng của mình. Tăng cường xây dưng cơ sở hạ tầng cảng, nâng cao hiệu quả cảng. Đặc biệt quan tâm các cơ sở hạ tầng có ý nghĩa then chốt giúp thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại và mang tính chất cốt yếu. ASEAN tăng cường kết nối và phát triển cơ sở hạ tầng bền vững.

     

    Thứ năm, các nước ASEAN cần phát triển nhanh chính phủ điện tử và ứng dụng thương mại điện tử. Thúc đẩy thương mại điện tử giúp tăng cường thuận lợi hóa thương mại. Thương mại điện tử là thương mại không giấy tờ, ứng dụng công nghệ thông tin điện tử để hoàn thành tất cả các khía cạnh của giao dịch. Do đó, dù ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào, các cá nhân, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành được các giao dịch thương mại điện tử. Muốn thương mại điện tử phát triển thì cần sự đóng góp của các doanh nghiệp, cá nhân và chính phủ, tổ chức nghề nghiệp có liên quan cũng như các tổ chức quốc tế. Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng viễn thông, bảo đảm chất lượng đường truyền. Tăng cường bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin. Việc phát triển nhanh chính phủ điện tử sẽ giúp thuận lợi hóa thương mại nhanh hơn.

     

    Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước: Áp dụng cơ chế một cửa quốc gia và quốc tế, đơn giản hóa thủ tục và quy trình giải quyết thủ tục hành chính, rà soát loại bỏ nhanh các thủ tục hành chính không còn phù hợp; thúc đẩy xây dựng mô hình chính quyền điện tử, trung tâm dịch vụ hành chính công, hải quan điện tử nhằm xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và ổn định; đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm và kiểm tra, giám sát; đẩy nhanh tiến độ ra quyết định của các cơ quan nhà nước; thực hiện công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý, quy trình tác nghiệp, chống phiền hà, nhũng nhiễu, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân giám sát việc thực hiện.

     

    Thứ bảy, Việt Nam cần tăng cường cải cách hơn nữa về môi trường thể chế, môi trường hải quan, môi trường tài chính. Tăng cường đầu tư nâng cao hiệu quả của các cảng, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đường bộ, đường sắt và cơ sở hạ tầng hàng không. Xây dựng cơ sở hạ tầng kết nối với các nước khác trong khu vực ASEAN để tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa. Việt Nam cần đơn giản hóa thủ tục hải quan, cải thiện tính minh bạch của hải quan, cải thiện môi trường pháp lý và tăng cường phát triển thương mại điện tử. Hoàn thiện các quy định của pháp luật giúp thúc đẩy thương mại, giảm bớt các rào cản thương mại. Đặc biệt cần ưu tiên đầu tư cho thương mại điện tử nhằm thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại nhanh hơn. Ngoài ra, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm của các nước có sự phát triển thuận lợi hóa thương mại (như Singapore).

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • S. Wilson, C.L. Mann, T. Otsuki, Trade Facilitation and Economic Development: A New Approach to Measuring the Impact [J], World Bank Economic Review. 17(3) (2003) 367-389.
    • Hertel, T. Mirza, “The Role of Trade Facilitation in South Asian Economic Integration”, Study on Intraregional Trade and Investment in South Asia. ADB, 2009.
    • Zhang Ya Bin, “Thuận lợi hóa thương mại các nước thuộc vành đai con đường tơ lụa và tiềm năng thương mại của Trung Quốc”, Tạp chí Kinh tế Trung Quốc. 5 (2016) 112-122.
    • Ran Qi Zhao, Yang Dan Ping, “Nghiên cứu thực chứng ảnh hưởng của thuận lợi hóa thương mại các nước EU đến thương mại Trung Quốc”, Tạp chí Kỹ thuật và Quản lý. 2 (2018) 33-40.
    • Gao Zhi Gang, Song Ya Dong, “Ảnh hưởng của thuận lợi hóa thương mại các nước thuộc vành đai con đường đến thương mại Trung Quốc”, Tạp chí

    Khoa học Xã hội Quý Châu. 7 (2018) 100-108.

     

    • Shepherd, J.S. Wilson, “Trade Facilitation in ASEAN Member Countries: Measuring progress and assessing priorities [J]”, Social Science Electronic Publishing. 20 (2009) 367-383.
    • “Thuận lợi hóa thương mại và hài hòa chính sách logistics tại các quốc gia ASEAN”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại – Đại học Ngoại thương. Số 63

    (03/2014).

     

    C.R. Ming, D.V. Day / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 60-73

    73

    • Trịnh Thị Thu Hương, Phan Thị Thu Hiền, “Hiệp định thuận lợi hóa thương mại WTO cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại – Đại học Ngoại thương. Số 71

    (03/2015).

     

    • Nordås, R. Piermartini, “Infrastructure and trade”, WTO Staff Working Paper ERSD, 2004.
    • Felipe, U. Kumar, “The Role of Trade Facilitation in Central Asia: A Gravity Model”, The Levy Institute Working Paper. 628 (2010).
    • N. Kumar,  “Prospects  of  Regional  Economic

    Cooperation in South Asia”, Woodhead Publishing Limited. (2012) 101-115.

     

    • APEC’s Trade Facilitation Action Plan: AMid-TermAssessment[R], 2004.
    • Tinbergen, Shaping the world economy: A suggestions for an international economic policy [M], New York: The Twentieth Century Fund, 1962.
    • A. Poyhonen, Tentative model for the volume of trade between countries [J], Weltwirtschatlliches Archiv. 90 (1963) 1.
    • APEC, Assessing APEC Trade Liberalization and

    Facilitation: 1999 update[R], Economic Committee, Sigapore. (1999) 11.

     

    • Itakura, “Impact of liberalization and improved connectivity and facilitation in ASEAN”, Journal of Asian Economics. 35 (2014) 2-11.
    • APEC’s Trade   Facilitation   Action   Plan:   A

    Mid-Term Assessment [R], 2004.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-h%C3%ACnh-th%C3%A0nh-Khu-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-kinh-t%E1%BA%BF-qua-bi%C3%AAn-gi%E1%BB%9Bi-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-t%E1%BA%A1i-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Một số đánh giá tại Cao Bằng

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Original Article

     

    Factors Needed to Establish Cross Border Economic Zones:

    Some Assessments for Cao Bang

     

    Nguyen Anh Thu*, Vu Thanh Huong

     

    VNU University of Economics and Business,

     

    144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam

     

    Received 18 March 2019

    Revised 28 March 2019; Accepted 28 March 2019

     

    Abstract: In recent decades, border economic cooperation has developed under various forms. A cross-border economic zone (CBEZ) is a form that has been increasingly studied by academics as well as policymakers in Vietnam and neighbouring countries. This paper analizes the previously studied conditions to develop a CBEZ in the case of Lao Cai province so as to identify strengths and weaknesses and propose implications. It is found that in order to develop a CBEZ and to better faciliate trade and investment which is considered as an important chain to link with the market of China, Cao Bang province should focus on infrastructures, linkages and a harmonized mechanism of cooperation with China.

     

    Keywords: Cross border economic cooperation, cross-border economic zone, Cao Bang.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4208

    1

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Các điều kiện hình thành Khu hợp tác kinh tế qua biên giới:

    Một số đánh giá tại Cao Bằng

     

    Nguyễn Anh Thu*, Vũ Thanh Hương

     

    Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 18 tháng 3 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Trong những thập kỷ gần đây, hợp tác kinh tế biên giới phát triển ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Khu hợp tác kinh tế qua biên giới (CBEZ) là một hình thức được các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và các quốc gia láng giềng quan tâm nghiên cứu cũng như triển khai. Bài viết này sẽ vận dụng các điều kiện hình thành CBEZ được phát triển từ các nghiên cứu trước đây vào trường hợp của tỉnh Cao Bằng để tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của tỉnh, từ đó đề xuất một số hàm ý. Bài viết chỉ ra rằng để có thể hiện thực hóa CBEZ, tiến tới thuận lợi hóa hơn nữa thương mại và đầu tư, phát triển khu vực biên giới như một mắt xích kết nối với thị trường Trung Quốc, hai điểm quan trọng mà Cao Bằng cần đầu tư là kết nối cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ chế hợp tác hài hòa với Trung Quốc.

     

    Từ khóa: Hợp tác kinh tế biên giới, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, Cao Bằng.

     

    1.   Mở đầu *

     

    Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên hơn 6.690km2, chiếm 2,12% diện tích của cả nước. Tỉnh Cao Bằng có 1 cửa khẩu quốc tế (Tạ Lùng), 3 cặp cửa khẩu quốc gia (Trà Lĩnh, Sóc Giang và Lý Vạn) và nhiều cặp cửa khẩu phụ, lối mở khác với Trung Quốc. Vị trí địa lý này đã đem lại cho Cao Bằng những lợi thế tiềm năng trong việc xây dựng CBEZ với Trung Quốc.

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4208

    Tuy nhiên, Cao Bằng là tỉnh còn nhiều khó khăn trong các điều kiện nội tại để phát triển kinh tế. Đây là tỉnh nông nghiệp khó khăn nhất cả nước với trên 90% dân số là người dân tộc thiểu số. Tỉnh còn phụ thuộc nhiều vào nguồn ngân sách và nguồn lực xã hội hóa chưa nhiều. Cơ sở hạ tầng của tỉnh còn kém phát triển và cho đến nay đường bộ là loại hình giao thông duy nhất trên địa bàn [1, 2]. Với những điều kiện tự nhiên, con người và nguồn tài chính như vậy, việc tìm được nguồn lực, nhất là nguồn nội lực tại địa phương để phát triển kinh tế – xã hội là rất khó khăn. Do đó, việc thành lập CBEZ được kỳ vọng sẽ mang lại cơ hội mới cho tỉnh để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại và đầu tư.

     

    2

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    3

    Hiện nay, bức tranh hợp tác kinh tế biên giới rất đa dạng và các khu hợp tác kinh tế biên giới tồn tại dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau [3, 4]. Hơn thế nữa, các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) hiện có chưa phát huy được vai trò phát triển kinh tế cho khu vực biên giới [5]. Việc xây dựng các CBEZ đóng vai trò quan trọng trong việc thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của toàn vùng và nâng cao hợp tác kinh tế biên giới lên mức độ cao hơn. Bài viết đưa ra các điều kiện hình thành CBEZ và tiến hành đánh giá từng điều kiện của tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra một số hàm ý để hỗ trợ Cao Bằng hiện thực hóa CBEZ.

     

    2.   Điều kiện hình thành CBEZ và phương pháp đánh giá

     

    2.1. Điều kiện hình thành CBEZ

     

    Hiện nay đã có một số mô hình đề xuất về CBEZ, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về một mô hình chuẩn. Các nghiên cứu của Lord và Tangtrongjita (2014), Lalkaka và cộng sự (2011) hay Wallack và cộng sự (2011) là các

     

    nghiên cứu tiêu biểu đã đề xuất các cấu phần của CBEZ [6-8]. Cốt lõi của CBEZ vẫn là một khu kinh tế nhằm mục tiêu thuận lợi hóa thương mại và đầu tư. Do đó, các cấu phần quan trọng của CBEZ sẽ bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cứng như hệ thống giao thông vận tải, kho bãi, các khu thương mại và sản xuất; và hệ thống cơ sở hạ tầng mềm liên quan đến cơ chế chính sách quản lý khu; dịch vụ tài chính, thông tin.

     

    Bài viết này sử dụng mô hình CBEZ nền tảng, bao gồm 8 nhóm cấu phần cụ thể được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở các nghiên cứu của Lord và Tangtrongjita (2014), Lalkaka

     

    và cộng sự (2011), Wallack và cộng sự (2011) [6-8] và được phát triển trong nghiên cứu của Nguyễn Anh Thu và Nguyễn Thị Thanh Mai (2017) [9]. Tám cấu phần của mô hình bao gồm: (1) Điểm cửa khẩu tiên tiến; (2) Kết nối hạ tầng hiện đại; (3) Khu thương mại; (4) Khu doanh nghiệp; (5) Khu dịch vụ logistics; (6) Các chính sách ưu đãi; (7) Cơ chế quản lý hợp tác chung giữa hai nước; (8) Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới liên kết vùng (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Các yếu tố cấu thành CBEZ

     

     

    Các yếu tố cấu thành

     
           
     

    Khu ngoại quan

    AB 1

     
           
     

    Kiểm tra một cửa (bao gồm hải quan, biên phòng, kiểm dịch, kiểm hóa)

    AB 2

     
           
     

    Hệ thống hải quan điện tử

    AB 3

     
           

    1. Điểm

    Thanh toán điện tử các khoản thuế, phí liên quan đến thương mại qua biên giới

    AB 4

     
         

    Yêu cầu về chứng từ cửa khẩu có sự hài hòa, thống nhất giữa các cơ quan quản lý

    AB 5

     

    cửa khẩu

    (CQQL) trong nước

       

    tiên tiến

       
         

    Yêu cầu về chứng từ cửa khẩu có sự hài hòa, thống nhất giữa các CQQL của Việt Nam

    AB 6

     

    (AB)

     

    và CQQL nước bạn

       
           
     

    Thống nhất, hài hòa hóa về thủ tục giữa Việt Nam và nước bạn ở các điểm cửa khẩu

    AB 7

     
           
     

    Thống nhất, hài hòa hóa về ngày và giờ làm việc giữa Việt Nam và nước bạn ở các

    AB 8

     
     

    điểm cửa khẩu

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường bộ giữa các tỉnh giáp biên với các trung tâm

    MC 1

     
     

    kinh tế trong nước

       
           

    2. Kết nối

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường bộ giữa các tỉnh giáp biên với các cảng biển

    MC 2

     

    hạ tầng

    trong nước

       

    hiện đại

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường sắt giữa các tỉnh giáp biên và các trung tâm

    MC 3

     

    (MC)

    kinh tế trong nước

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết các tuyến đường sắt giữa các tỉnh giáp biên và các cảng biển

    MC 4

     
     

    trong nước

       
           
    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13
     

    Sự hoàn chỉnh của hệ thống giao thông nội bộ khu vực cửa khẩu

    MC 5

     
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường bộ của Việt Nam và các trung tâm kinh

    MC 6

     
     

    tế của nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường bộ của Việt Nam và các cảng biển của

    MC 7

     
     

    nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa hệ thống đường sắt của Việt Nam và các trung tâm kinh

    MC 8

     
     

    tế của nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển và liên kết giữa các tuyến đường sắt của Việt Nam và các cảng biển của

    MC 9

     
     

    nước giáp biên

       
           
     

    Sự phát triển của chợ thương mại biên giới

    TA 1

     
           

    3. Khu

    Sự phát triển của khu dịch vụ tài chính ngân hàng

    TA 2

     
         

    thương

    Sự phát triển của khu mua sắm hàng miễn thuế

    TA 3

     

    mại (TA)

         

    Sự phát triển của khu hội chợ, triển lãm quốc tế

    TA 4

     
     
           
     

    Sự phát triển của khu du lịch qua biên giới

    TA 5

     
           
     

    Sự phát triển của khu chế xuất

    EA 1

     
           

    5. Khu

    Sự phát triển của khu công nghiệp

    EA 2

     
         

    Sự phát triển của khu công nghệ cao

    EA 3

     

    dịch vụ

         

    Sự  phát  triển  của  vườn  ươm  doanh  nghiệp  (tập  trung  hỗ  trợ  doanh  nghiệp  mới

    EA 4

     

    logistics

    khởi nghiệp)

       

    (LA)

       
         
     

    Sự phát triển của khu dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (cấp vốn mạo hiểm; vốn hạt giống

    EA 5

     
     

    ban đầu; tư vấn kinh doanh, dịch vụ kế toán…)

       
           
     

    Giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân với các ngành

    PP 1

     
     

    nghề ưu tiên

       
           
     

    Giảm hoặc miễn thuế quan, thuế VAT đối với một số hàng hóa trao đổi trong khu kinh

    PP 2

     

    6. Các

    tế qua biên giới

       
         

    Chính sách ưu đãi về xuất nhập cảnh

    PP 3

     

    chính sách

    ưu đãi (PP)

    Chính sách ưu đãi về đất đai, sử dụng kết cấu hạ tầng

    PP 4

     
           
     

    Chính sách khuyến khích, bảo hộ đầu tư

    PP 5

     
           
     

    Chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng

    PP 6

     
           
     

    Chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

    PP 7

     
           
     

    Cơ chế chính sách về thương mại của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 1

     
           
     

    Cơ chế chính sách về đầu tư của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 2

     
           
     

    Cơ chế chính sách về di chuyển lao động của Việt Nam và nước láng giềng có

    BC 3

     
     

    sự tương đồng

       
           

    7. Cơ chế

    Cơ chế chính sách về du lịch của Việt Nam và nước láng giềng có sự tương đồng

    BC 4

     

    quản lý

         

    Thành lập một cơ quan qua biên giới để quản lý khu kinh tế qua biên giới

    BC 5

     

    hợp tác

         

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong kiểm tra xuất nhập cảnh

    BC 6

     

    chung giữa

         

    hai nước

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong kiểm tra biên phòng

    BC 7

     

    (BC)

         

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động hải quan

    BC 8

     
     
           
     

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động kiểm dịch

    BC 9

     
           
     

    Hai bên hợp tác thực hiện giám sát quản lý đồng bộ trong hoạt động thanh toán

    BC 10

     
           
     

    Trao đổi thông tin, cơ sở dữ liệu điện tử về hải quan giữa hai bên

    BC 11

     
           

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    5

     
           

    8. Danh

    Sự liên kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp trong nước

    EP 1

     

    nghiệp

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp nước ngoài

    EP 2

     

    tham gia

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với khách hàng tiêu thụ/phân phối trong nước

    EP 3

     

    vào chuỗi

         

    Sự liên kết của doanh nghiệp với khách hàng tiêu thụ/phân phối nước ngoài

    EP 4

     

    giá trị và

         

    mạng lưới

    Sự hợp tác của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực

    EP 5

     

    liên kết

       

    vùng (EP)

         
           

    Nguồn: Nhóm tác giả xây dựng.

     

    2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

     

    Sử dụng mô hình lý thuyết CBEZ đã xây dựng, việc thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua hoạt động phỏng vấn sâu, hỏi ý kiến chuyên gia và điều tra khảo sát đã được tiến hành. Dữ liệu sơ cấp chính là nguồn dữ liệu chủ yếu, quan trọng để phân tích nhu cầu xây dựng cũng như đánh giá điều kiện hình thành CBEZ mà nhóm tác giả đề xuất.

     

    Đối tượng khảo sát của nghiên cứu bao gồm: (i) các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hoạt động tại khu vực biên giới được khảo sát và nằm trong danh sách được Bộ Công thương phê duyệt; (ii) các cán bộ quản lý cấp địa phương làm việc tại các Sở, ban ngành ở các tỉnh được khảo sát. Quy mô mẫu điều tra khảo sát tại Cao Bằng là 144 phiếu. Đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm: Cán bộ quản lý cấp Bộ, ngành Trung ương và cán bộ quản lý cấp địa phương (UBND tỉnh, Ban quản lý Khu kinh tế, Sở Công Thương, Cục Hải quan, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải, bộ đội biên phòng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Khoa học Công nghệ, Sở Ngoại vụ).

     

    Với dữ liệu thu thập được từ khảo sát, nhóm tác giả đã tiến hành mã hóa, làm sạch và nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS (cùng với số liệu của 5 tỉnh khác được khảo sát). Nhóm tác giả cũng đã tiến hành kiểm định để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (Explanatory Factor Analysis – EFA) nhằm rút gọn các biến quan sát tạo thành một tập biến các nhân tố có ý nghĩa hơn. Điểm cho mỗi cấu phần được tính dựa theo đánh giá của các đối tượng được khảo sát và phỏng vấn. Các đối tượng khảo sát được yêu cầu đánh giá các cấu

    phần theo thang đo Likert 5 mức độ từ Rất không tốt (1) tới Rất tốt (5). Điểm của mỗi cấu phần sau đó được tính toán theo phương pháp trung bình giản đơn của tất cả các biến quan sát, thể hiện đánh giá của người được khảo sát về mức độ sẵn sàng của cấu phần đó trong việc hình thành CBEZ.

     

    3.   Đánh giá điều kiện hình thành CBEZ tại tỉnh Cao Bằng

     

    Tháng 6/2008, CBEZ Trà Lĩnh (Cao Bằng)

     

    • Long Bang (Quảng Tây) được hai nước đồng ý đưa vào quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc. Trong đó, đối với tỉnh Cao Bằng, KKTCK Cao Bằng dự kiến sẽ trở thành một phần quan trọng của đề xuất CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. KKTCK Cao Bằng được thành lập vào năm 2014 và đã trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Ở KKTCK Cao Bằng, cửa khẩu Trà Lĩnh là một trung tâm kết nối các hoạt động thương mại của Cao Bằng và Quảng Tây. Trong những năm gần đây, Cao Bằng đã tích cực chuẩn bị cho việc thành lập CBEZ trong tương lai thông qua một loạt các hoạt động (Hình 1).

    Theo kết quả điều tra khảo sát, Cao Bằng đã có sự chuẩn bị tốt nhất cho “Khu dịch vụ logistics” với số điểm 3,67, tiếp theo là “Chính sách ưu đãi” và “Khu vực thương mại” với số điểm 3,66 cho mỗi nhóm điều kiện (Hình 1). Các doanh nghiệp tham gia điều tra khảo sát cũng đánh giá Cao Bằng đã thực hiện tương đối tốt với nhóm “Điểm cửa khẩu tiên tiến”. Trong khi đó, sự chuẩn bị của tỉnh Cao Bằng được đánh giá là thấp nhất đối với nhóm điều kiện

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    “Kết nối hạ tầng hiện đại”. Mức điểm chi tiết của từng nhóm yếu tố được thể hiện trong Bảng 2.

     

     

     

    Hình 1. Điểm đánh giá 8 nhóm điều kiện cụ thể của

    tỉnh Cao Bằng.

     

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát.

     

    Bảng 2. Điểm chi tiết 8 nhóm điều kiện cụ thể của tỉnh Cao Bằng

     

     

    Chỉ tiêu

    Điểm

     

    Điểm cửa khẩu tiên tiến (AB)

    3,64

     

    AB1

    3,51

     

    AB2

    3,66

     

    AB3

    3,63

     

    AB4

    3,49

     

    AB5

    3,65

     

    AB6

    3,60

     

    AB7

    3,78

     

    AB8

    3,82

     

    Kết nối hạ tầng hiện đại (MC)

    2,45

     

    MC1

    3,54

     

    MC2

    3,57

     

    MC3

    1,07

     

    MC4

    1,07

     

    MC5

    3,74

     

    MC6

    3,37

     

    MC7

    3,55

     

    MC8

    1,07

     

    MC9

    1,07

     

    Khu vực thương mại (TA)

    3,66

         
     

    TA1

    3,73

     

    TA2

    3,66

     

    TA3

    3,58

     

    TA4

    3,62

     

    TA5

    3,70

     

    Khu vực doanh nghiệp (EA)

    3,52

     

    EA1

    3,53

     

    EA2

    3,54

     

    EA3

    3,47

     

    EA4

    3,54

     

    EA5

    3,53

         
     

    Khu vực dịch vụ logistics (LA)

    3,67

         
     

    LA1

    3,72

     

    LA2

    3,76

     

    LA3

    3,84

     

    LA4

    3,47

     

    LA5

    3,62

     

    LA6

    3,60

         
     

    Các chính sách ưu đãi (PP)

    3,66

         
     

    PP1

    3,70

     

    PP2

    3,61

     

    PP3

    3,74

     

    PP4

    3,72

     

    PP5

    3,55

     

    PP6

    3,61

     

    PP7

    3,70

         
     

    Cơ chế quản lý hợp tác chung (BC)

    3,10

         
     

    BC1

    2,59

     

    BC2

    2,71

     

    BC3

    2,49

     

    BC4

    2,12

     

    BC5

    2,13

     

    BC6

    3,79

     

    BC7

    3,78

     

    BC8

    3,91

     

    BC9

    3,62

     

    BC10

    3,52

     

    BC11

    3,42

     

    Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi

    3,29

     

    giá trị và mạng lưới khu vực (EP)

     
     

    EP1

    3,15

     

    EP2

    3,21

     

    EP3

    3,34

     

    EP4

    3,31

     

    EP5

    3,45

         

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát.

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    7

    3.1. Điểm cửa khẩu tiên tiến

     

    Kết quả điều tra khảo sát cho thấy các doanh nghiệp tương đối hài lòng với hoạt động tại các cửa khẩu ở Cao Bằng (3,64 điểm). Đây là nhóm có điểm số đứng thứ 4 trong 8 nhóm yếu tố. Cục Hải quan Cao Bằng đã triển khai VNACCS/VCIS từ năm 2005, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm thời gian và thủ tục xuất nhập khẩu. Do đó, các doanh nghiệp hầu như không có vướng mắc về các thủ tục hải quan. Mục tiêu trong thời gian tới của tỉnh là đảm bảo hàng nhập khẩu thông quan dưới 41 giờ, hàng xuất khẩu dưới 36 giờ. Sự hài hòa giữa giờ làm việc và thủ tục hải quan giữa Việt Nam và Trung Quốc (AB8) cũng được các doanh nghiệp khảo sát đánh giá cao. Điểm thấp nhất trong nhóm yếu tố này là thanh toán điện tử (AB4) và kho ngoại quan (AB1).

     

    3.2. Kết nối hạ tầng hiện đại

     

    Mặc dù tỉnh Cao Bằng đã có nhiều nỗ lực để nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng, đây là nhóm điều kiện được đánh giá có điểm thấp nhất (2,45 điểm) trong 8 nhóm.

     

    Về cơ sở hạ tầng kết nối thông suốt giữa Cao Bằng và thị trường trong nước (từ MC1 đến MC5), tỉnh đã ưu tiên tập trung đầu tư 80% nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng KKTCK Trà Lĩnh. Tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng từ năm 2011 đến 2016 đạt trên 603 tỷ đồng và được bố trí cho 44 dự án. Một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào khai thác như đường tỉnh lộ 205 cũ (nay là Quốc lộ 34 kéo dài), hệ thống đường giao thông vào khu vực các cửa khẩu, đường vào lối mở Nà Đoỏng (cửa khẩu Trà Lĩnh). Với những nỗ lực trên, các doanh nghiệp đánh giá kết nối hạ tầng đường bộ giữa Cao Bằng với thị trường trong nước ở mức điểm cao nhất trong nhóm điều kiện Kết nối hạ tầng hiện đại với điểm tương ứng cho MC1, MC2 và MC5 tương ứng là 3,54; 3,57 và 3,74.

     

    Về cơ sở hạ tầng kết nối thông suốt giữa tỉnh Cao Bằng và thị trường của Trung Quốc (từ MC6 đến MC9), trong thời gian qua, tỉnh Cao Bằng và Khu tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc đã nỗ lực trao đổi, thảo luận

     

    về việc kết nối hạ tầng về giao thông giữa hai bên. Các nỗ lực được ghi nhận gồm: (i) Ngày 16/3/2011 tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc về thúc đẩy phát triển vận tải hàng hóa, hành khách đường bộ quốc tế; (ii) Ngày 27/6/2011 tại thị xã Cao Bằng nay là thành phố Cao Bằng, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về thông tuyến vận tải ô tô quốc tế song phương giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (iii) Ngày 01/3/2012 tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về vận tải đường bộ quốc tế giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (iv) Ngày 27/8/2012 tại thị xã Cao Bằng nay là thành phố Cao Bằng, hai bên đã ký Bản ghi nhớ cuộc hội đàm về việc thông tuyến vận tải ô tô quốc tế song phương giữa đoàn đại biểu tỉnh Cao Bằng và đoàn đại biểu thành phố Bách Sắc; (v) Ngày 08/7/2015, hai bên đã ký Biên bản ghi nhớ về vấn đề giao thông vận tải giữa Đoàn đại biểu Giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng và Đoàn đại biểu Giao thông vận tải thành phố Bách Sắc. Trên thực tế, tỉnh Cao Bằng và phía Trung Quốc đã tổ chức thi công đấu nối trung tâm lưu thông trung chuyển hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc tại lối mở Nà Đoỏng. Đây là hạng mục kết nối đầu tư của CBEZ thí điểm Trà Lĩnh

     

    • Long Bang để thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu. Ngày 18/7/2013, hai bên đã hợp tác tổ chức Lễ thông tuyến vận tải hành khách, hàng hóa đường bộ quốc tế Cao Bằng, Việt Nam – Bách Sắc, Trung Quốc và tuyến du lịch biên giới Cao Bằng, Việt Nam – Tịnh Tây, Bách Sắc, Trung Quốc. Với những nỗ lực trên, các doanh nghiệp đã đánh giá kết nối giao thông đường bộ giữa Cao Bằng và Trung Quốc với số điểm là 3,37 cho MC6 và 3,55 cho MC7.

    Tuy nhiên, đây là nhóm điều kiện có điểm thấp nhất trong 8 nhóm, chỉ đạt 2,45. Trên thực tế, tiềm năng kết nối Cao Bằng với Quảng Tây và Bách Sắc nói riêng và với thị trường ASEAN nói chung là một trong những yếu tố quyết định chính thúc đẩy Việt Nam xây dựng thí điểm CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Hiện tại,

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới đường cao tốc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó có tuyến đường cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) – Trà Lĩnh (Cao Bằng). Khi đường cao tốc này hoàn thành kết hợp với CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang, hàng hóa từ thị trường nội địa của Việt Nam sẽ nhanh chóng tiếp cận thị trường Trung Quốc và ASEAN, tạo ra động lực mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội của Cao Bằng nói riêng và Việt Nam nói chung cũng như hình thành kết nối sản xuất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, mặc dù với những tiềm năng và cơ hội do CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang mang lại như trên, kết nối cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng với số điểm 2,45 được đánh giá là thấp nhất trong 8 nhóm điều điện. Kết quả khảo sát cho thấy do đặc điểm địa hình miền núi phức tạp, Cao Bằng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong kết nối giao thông không chỉ trong nội bộ tỉnh mà còn với cả nước, đặc biệt là các cảng lớn của đất nước. Mặc dù Cao Bằng dự kiến sẽ phát triển trở thành điểm trung chuyển, nhưng hiện tại kênh giao thông duy nhất giữa Cao Bằng và thị trường nội địa là đường bộ và hầu hết trong số đó là đường cấp thấp. Các tuyến đường kết nối giữa cửa khẩu Trà Lĩnh đến trung tâm Cao Bằng và các tỉnh quan trọng phía Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Nội và Lạng Sơn đang bị xuống cấp. Việc lưu thông các xe container trọng tải lớn từ Lạng Sơn đến Cao Bằng khó khăn và mất an toàn lưu thông. Toàn hệ thống quốc lộ trên địa bàn tỉnh có chất lượng mặt đường loại tốt 302,7km, chiếm 44,0%; khá và trung bình 386,0km, chiếm 56,0%. Chất lượng mạng lưới đường nội bộ của tỉnh còn thấp, nhìn chung chưa đạt chất lượng kỹ thuật vì trong quá trình thiết kế và thi công còn nhiều hạn chế về các yếu tố kỹ thuật. Diện tích đường nhỏ hẹp, kết cấu mặt đường xấu, nhiều tuyến đường chưa được nâng cấp rải nhựa hoặc xuống cấp nhiều. Việc giao thông liên vùng, chuyên chở hàng hóa khối lượng lớn, đặc biệt hàng hóa xuất nhập khẩu không hiệu quả, không tạo được sức hấp dẫn, thu hút hàng hóa đi/đến/chuyển tải qua khu vực. Do đó, kết nối cơ sở hạ tầng của tỉnh Cao Bằng còn kém phát triển và được các doanh nghiệp đánh giá là

     

    có chất lượng thấp nhất so với các tỉnh thí điểm CBEZ khác tại Việt Nam.

     

    Bên cạnh đó, việc kết nối hạ tầng cứng giữa Cao Bằng và phía Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới có sự đầu tư vào hạ tầng giao thông từ phía Trung Quốc, dẫn đến sự bất đối xứng trong giao thông giữa cửa khẩu Việt Nam và Trung Quốc, từ đó cản trở dòng thương mại và đầu tư tại các cửa khẩu giữa hai bên. Trung Quốc là quốc gia có lợi thế về vốn đầu tư và khả năng tự chủ tài chính. Việc Chính phủ Trung Quốc thực hiện chiến lược đại khai phá miền Tây, thành lập và triển khai Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây là cơ hội đem đến cho Quảng Tây nguồn vốn đầu tư rất lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế. Do đó, đối với Khu cửa khẩu Long Bang (Bách Sắc, Quảng Tây), hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng cứng đã được đẩy nhanh. Trung Quốc đã khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc nối từ huyện Tịnh Tây đến cửa khẩu Long Bang với chiều dài khoảng 30km và nối vào hệ thống đường cao tốc của quốc gia. Sau khi tuyến đường cao tốc này được hoàn thành thì từ cửa khẩu Long Bang (đối diện cửa khẩu Trà Lĩnh) đi các tỉnh, thành của Trung Quốc sẽ được kết nối thông qua hệ thống đường cao tốc. Đây sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc qua cửa khẩu Trà Lĩnh, nhất là mặt hàng nông sản. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục nghiên cứu để xây dựng thêm đường sắt nối đến cửa khẩu Long Bang. Hiện nay, Trung Quốc không chỉ bỏ vốn đầu tư đối với hành lang giao thông của Việt Nam, mà còn chú trọng đầu tư hành lang giao thông đường bộ và đường sắt với các nước tiểu vùng sông Mê Kông (GMS). Nếu Việt Nam không kết nối được với hệ thống giao thông của khu vực theo hướng Đông – Tây (bao gồm các tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang đến cảng Hải Phòng hay nối trục với đường Hồ Chí Minh) thì với sự phát triển nhanh chóng của Myanmar, Lào, Thái Lan… sẽ làm giảm lợi thế của Việt Nam do các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Trung Quốc sẽ lựa chọn tuyến hành lang giao thông mới này để tiếp cận dễ dàng hơn với cảng biển, kéo theo việc giảm lượng hàng hóa đáng kể đi qua các

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    9

    cửa khẩu tại biên giới Việt Nam. Nếu tình huống đó xảy ra, Việt Nam có thể sẽ nằm ngoài mạng lưới giao thông mới do Trung Quốc và các nước GMS thiết lập; các tỉnh khó khăn như Cao Bằng sẽ bị “bỏ rơi” và lợi thế về cửa khẩu biên giới sẽ giảm sút đáng kể. Thực tế cho thấy kết nối hạ tầng giữa Cao Bằng với Trung Quốc vừa là điều kiện, vừa là yếu tố thúc đẩy hình thành CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Do đó, với những khó khăn trong kết nối cơ sở hạ tầng, thời gian tới Cao Bằng cần nỗ lực cải thiện nhóm yếu tố này.

     

    3.3. Khu vực thương mại

     

    Nhóm điều kiện “Khu vực thương mại” đạt được số điểm 3,66, trong đó các doanh nghiệp cho điểm cao nhất với tiêu chí “Chợ thương mại biên giới” (TA1) và “Phát triển du lịch qua biên giới” (TA5). Những thách thức đối với Cao Bằng trong việc phát triển khu thương mại nằm chủ yếu ở sự yếu kém của dịch vụ tài chính ngân hàng (TA2), hiệu quả hoạt động thấp của các cửa hàng miễn thuế (TA3) và trung tâm triển lãm quốc tế (TA4).

     

    Cao Bằng đã hoàn thành xây dựng trung tâm mua sắm Trà Lĩnh và ưu tiên phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại. Tuy nhiên, đa số các trung tâm thương mại, siêu thị trong KKTCK tỉnh Cao Bằng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng và hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Hệ thống chợ trong toàn tỉnh, nhất là các chợ biên giới hầu như chưa đạt tiêu chí “chợ” trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hoạt động dịch vụ tại KKTCK phát triển chậm. Tình trạng yếu kém của các nhà hàng, khách sạn, thiếu các dịch vụ tài chính, tín dụng, bưu chính viễn thông… làm cho hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế tại KKTCK chưa đáp ứng được yêu cầu.

     

    Một trong những thành tựu nổi bật của Cao Bằng là tích cực hợp tác với Quảng Tây để phát triển khu du lịch qua biên giới thông qua rất nhiều chương trình du lịch giữa hai tỉnh. Tháng 4/2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng đón Đoàn đại biểu Cục Du lịch thành phố Bách Sắc sang thăm, khảo sát, hội đàm và ký Bản ghi nhớ về hợp tác khai thông tuyến du lịch biên giới từ Tịnh Tây, Bách Sắc tới Cao Bằng.

     

    Hai bên thống nhất xây dựng chương trình tour du lịch biên giới 2 ngày, 1 đêm; chỉ định đơn vị lữ hành quốc tế có đủ năng lực tham gia “Liên minh Du lịch Quốc tế Cao Bằng, Việt Nam – Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc” là Công ty Cổ phần Du lịch Cao Bằng, Việt Nam và Liên minh Du lịch miền Tây, Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 18/7/2013, hai bên đã hợp tác tổ chức Lễ thông tuyến du lịch biên giới Cao Bằng, Việt Nam – Tịnh Tây, Bách Sắc, Trung Quốc. Ngày 26/4/2016, hai bên ký kết Bản ghi nhớ giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng và Huyện ủy Long Châu, Quảng Tây về hợp tác chương trình du lịch đỏ về xe tự lái từ Pác Bó, Cao Bằng, Việt Nam đến Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc. Hai bên cũng đã chủ động thúc đẩy các hoạt động triển khai Kế hoạch tổ chức thực hiện Hiệp định Hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Việt Nam) – Đức Thiên (Trung Quốc), đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1806/QĐ-TTg. Tuy nhiên, mặc dù du lịch là một lợi thế của Cao Bằng, số lượng khách du lịch đến Cao Bằng vẫn còn ít, thời gian lưu trú của khách du lịch còn ngắn, tỷ lệ khách quay lại chưa cao do hạn chế về sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng và giao thông kém.

     

    3.4. Khu vực doanh nghiệp

     

    “Khu vực doanh nghiệp” tại Cao Bằng bị đánh giá là kém phát triển, xếp thứ 5 trong 8 nhóm yếu tố và đạt 3,52 điểm. Trong nhóm điều kiện này, sự chuẩn bị thấp nhất của Cao Bằng nằm ở khía cạnh “Phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao” (EA3).

     

    Hiện nay, khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh là Khu công nghiệp Đề Thám. Khu công nghiệp này chủ yếu hoạt động về các lĩnh vực cơ khí như công nghiệp chế tạo cơ khí chính xác, công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, công nghiệp hàng tiêu dùng (dệt may, giày dép, gốm sứ…) và một số ngành công nghiệp khác như sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, bao bì, lắp ráp chế tạo phụ tùng ô tô xe máy, công nghiệp chế biến nông lâm sản. Tỉnh cũng đang đầu tư một dự án để phát triển Khu công nghiệp Chu Trinh với các hạng mục liên quan đến đường vào và khu xử lý nước thải đang được

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    triển khai [10]. Nhìn chung, tỉnh chưa chú trọng phát triển các khu doanh nghiệp, thiếu các vườn ươm doanh nghiệp và các khu công nghệ cao để thúc đẩy sự sáng tạo của doanh nghiệp.

     

    3.5. Khu vực dịch vụ logistics

     

    “Khu vực dịch vụ logistics” được các doanh nghiệp đánh giá là nhóm điều kiện phát triển nhất ở Cao Bằng hiện nay so với 7 nhóm điều kiện còn lại với số điểm là 3,67. Trong các chỉ số của nhóm điều kiện này, “Dịch vụ kho bãi” (LA3), “Dịch vụ hải quan” (LA1) và “Dịch vụ vận tải, bốc xếp hàng hóa tại cửa khẩu” (LA2) được xếp hạng cao nhất. “Dịch vụ logistics tích hợp tại cửa” (LA5) và “Hệ thống kho bãi” (LA4) có điểm thấp nhất.

     

    Trong những năm gần đây, Cao Bằng đã chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kho bãi như kho hàng hóa, kho ngoại quan, kho đông lạnh và trung tâm lưu thông hàng hóa. Hiện tại Cao Bằng có 32 dự án đầu tư kho bãi tại các khu vực cửa khẩu, trong đó có 17 dự án đang hoạt động để cung ứng các loại hình dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu. Dự án kho ngoại quan, kho đông lạnh cũng đã được các doanh nghiệp đầu tư đồng bộ tại khu vực cửa khẩu và đi vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận, lưu giữ hàng hóa tại cửa khẩu. Các dự án còn lại đang trong quá trình triển khai dự án đầu tư theo tiến độ đã cam kết. Tỉnh cũng đang tiếp tục triển khai hoàn thiện các dự án kho hàng hóa tại lối mở Nà Đoỏng, Nhà trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu và hệ thống hạ tầng cửa khẩu. Phía Long Bang (Trung Quốc) cũng đang xây dựng các khu kiểm dịch và kho chứa hàng đông lạnh cùng đội ngũ quản lý và điều hành. Riêng tại cửa khẩu Trà Lĩnh đã có 9 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 1.000 tỷ đồng, đã có 4 dự án đi vào hoạt động gồm: Kho ngoại quan, Địa điểm kiểm tra hàng hóa biên giới, Kho tập kết hàng hóa và Chợ gia súc. Một số dự án đang làm thủ tục đầu tư như Cảng cạn quốc tế ICD (20 ha), Cấp nước sạch cửa khẩu Trà Lĩnh (theo hình thức PPP), Trung tâm trung chuyển hàng hóa.

     

    Tỉnh Cao Bằng đã tiến hành cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty Cổ phần Đầu tư vận tải biển và thương mại Sao Vàng (Việt Nam)

     

    đầu tư dự án Trung tâm trung chuyển hàng hóa thương mại và gia công chế biến nông, lâm, thủy hải sản xuất khẩu Sao Vàng tại KKTCK Trà Lĩnh với tổng mức đầu tư là 298,214 tỷ đồng, diện tích sử dụng đất khoảng 69 ha. Hiện nay, chủ đầu tư đang phối hợp với chính quyền địa phương đưa ra phương án giải phóng mặt bằng và triển khai lập quy hoạch chi tiết tổng mặt bằng dự án cũng như gấp rút đưa dự án đi vào triển khai. Khu trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu Trà Lĩnh được xây dựng để tập trung hàng hóa, giải quyết tình trạng ách tắc đối với hoạt động xuất – nhập tại cửa khẩu, nhất là đối với hàng hóa nông sản xuất khẩu. Tỉnh đề ra mục tiêu xây dựng Khu trung chuyển hàng hóa với hạ tầng đồng bộ, hiện đại đáp ứng được nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa là nông lâm sản, thủy hải sản qua cửa khẩu Trà Lĩnh; là trung tâm tiếp nhận, tái chế, đóng gói, bảo quản, giao dịch mua bán; là nơi kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu, thông quan các thủ tục về kiểm dịch, hải quan… Hàng hóa được hải quan kiểm tra một lần tại đây, được công nhận hải quan và giao hàng tại Bách Sắc. Ngoài ra, Khu trung chuyển hàng hóa còn gắn kết thêm các loại hình công trình dịch vụ để phục vụ các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa như: Khu nhà ở và văn phòng cho thuê, khu dịch vụ vận tải, khu giới thiệu sản phẩm…

     

    Về hệ thống cảng cạn, đến nay đã có 2 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư để thực hiện. Công ty Cổ phần Interserco VCI được cấp giấy chứng nhận đầu tư thực hiện dự án Xây dựng Trung tâm Logistics tại huyện Trà Lĩnh để phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa trong giai đoạn tới và góp phần hình thành cơ sở hạ tầng đồng bộ của CBEZ. Công ty Cổ phần Đầu tư thương mại và dịch vụ quốc tế được cấp giấy chứng nhận thực hiện dự án Xây dựng Khu trung chuyển dịch vụ xuất nhập khẩu tại huyện Trà Lĩnh. Mỗi dự án có vốn đăng ký khoảng 3,2 nghìn tỷ đồng, quy mô sử dụng đất khoảng trên 50 ha. Tỉnh còn có 2 dự án đầu tư xây dựng cảng cạn ICD vào giai đoạn 2 của dự án với khoản đầu tư mỗi dự án trên 2,2 nghìn tỷ đồng và hiện nay đã bắt đầu triển khai thi công.

     

    Với những nỗ lực trong việc phát triển các hoạt động logistics, nhóm điều kiện về Khu vực

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    11

    dịch vụ logistics của tỉnh Cao Bằng được các doanh nghiệp đánh giá cao nhất trong 8 nhóm. Tuy nhiên, theo phản hồi của các doanh nghiệp được khảo sát, dịch vụ logistics tại các cửa khẩu của tỉnh vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và hoạt động với chi phí cao. Chất lượng hoạt động dịch vụ logistics tại KKTCK còn thấp ở tất cả các khâu như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng… Trên thực tế, thông tin về thị trường còn hạn chế, các hoạt động xúc tiến thương mại chưa chuyên nghiệp và việc phổ biến các chính sách phát triển kinh tế chưa được tỉnh quan tâm đúng mức, từ đó hạn chế thu hút các nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh trong KKTCK.

     

    3.6. Các chính sách ưu đãi

     

    “Các chính sách ưu đãi” được đánh giá cao thứ hai với số điểm là 3,66. Các doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đã nhận được các ưu đãi khác nhau khi hoạt động tại KKTCK Cao Bằng như chính sách liên quan đến xuất nhập cảnh” (PP3), thuê đất (PP4), thuế thu nhập (PP1), thuế xuất nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (PP2), ưu đãi về tài chính tín dụng ( PP6).

     

    Hiện nay, do CBEZ nằm trong KKTCK của tỉnh theo Quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập KKTCK Cao Bằng nên được áp dụng ưu đãi theo một số chính sách chủ yếu sau: (i) Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg ngày 26/11/2013 quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với KKTCK; (ii) Chính sách ưu đãi về sử dụng đất đai theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật đầu tư; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

     

    • Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, theo đánh giá của các doanh nghiệp, vẫn còn thiếu các ưu đãi đặc thù cho các doanh nghiệp hoạt động tại CBEZ và có rất ít các ưu đãi riêng của tỉnh.

    3.7. Cơ chế quản lý hợp tác chung

     

    Xây dựng một cơ chế quản lý chung là thách thức lớn đối với Cao Bằng trong việc phát triển CBEZ. Nhóm điều kiện này đạt số điểm là 3,10, xếp thứ 7 trong số 8 nhóm điều kiện điều tra. Theo đánh giá của doanh nghiệp, Cao Bằng và Quảng Tây đã phát triển nhiều hoạt động hợp tác quản lý về hải quan (BC8), xuất nhập cảnh (BC6) và kiểm tra biên phòng (BC7). Tuy nhiên, sự hợp tác giữa hai bên còn yếu trong việc xây dựng các chính sách du lịch chung (BC4) và thành lập một cơ quan quản lý chung (BC5).

     

    Trong những năm qua, Cao Bằng và Quảng Tây luôn giữ mối quan hệ láng giềng hữu nghị, ổn định, hợp tác giao lưu trên nhiều lĩnh vực như: mở, xây dựng và nâng cấp các cặp cửa khẩu, cặp chợ biên giới; hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, nông lâm nghiệp, văn hóa, giáo dục, du lịch; tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và kết nối giao thông, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm qua biên giới… Cao Bằng và Quảng Tây đã ký một số thỏa thuận khung để thúc đẩy thương mại, đầu tư, giao thông, du lịch, nông nghiệp và giáo dục. Đến năm 2015, hai bên đã ký 9 thỏa thuận về tăng cường thực hiện hợp tác toàn diện. Lãnh đạo Cao Bằng và Quảng Tây cũng đã có những hoạt động giao ban để tháo gỡ các khó khăn, tổ chức hội thảo quốc tế, hội nghị kết nối thương nhân giữa hai nước. Đặc biệt, từ năm 2015 đến nay, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng và Ban quản lý Khu thực nghiệm cải cách mở cửa dọc biên giới thành phố Bách Sắc đã duy trì cơ chế hội đàm định kỳ 4 lần/năm để thống nhất nội dung về quy hoạch các lĩnh vực đầu tư, đầu nối hạ tầng, công tác kiểm tra giám sát dịch vụ trong CBEZ.

     

    Tuy nhiên, việc thành lập CBEZ đòi hỏi sự nghiêm ngặt về các chính sách và cơ chế chung thay vì chỉ đơn thuần có những hoạt động hợp tác tại biên giới. Trên thực tế, do CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang chưa chính thức được phê duyệt ở cấp chính phủ nên thiếu khung pháp lý để Cao Bằng và Quảng Tây phát triển một cơ quan và chính sách chung để điều hành CBEZ trong tương lai. Một khó khăn khác là sự phối

     

    • A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

     

     

    hợp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc xây dựng CBEZ còn ở mức độ thấp, trong đó Cao Bằng dựa chủ yếu vào các chính sách của Trung Quốc và cố gắng theo kịp các thay đổi chính sách và trọng tâm phát triển của Quảng Tây, dẫn đến định hướng phát triển kinh tế không bền vững cho Cao Bằng. Ví dụ: Cửa khẩu Tà Lùng đã được công nhận là cửa khẩu quốc tế ở phía Việt Nam nhưng chưa được Chính phủ Trung Quốc công nhận. Đến năm 2010, Việt Nam lại xác định cửa khẩu Trà Lĩnh là trọng điểm chủ yếu do quan điểm từ phía Trung Quốc. Qua hội đàm, tỉnh Cao Bằng cũng đề nghị tạo điều kiện cho các mặt hàng của Việt Nam qua Trung Quốc nhưng Trung Quốc thường tránh không bàn đến vấn đề này.

     

    3.8. Doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới khu vực

     

    Sự tham gia của các doanh nghiệp hoạt động tại Cao Bằng vào chuỗi giá trị và mạng lưới khu vực ở mức thấp. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp và nhà cung cấp cũng như khách hàng đều rất yếu. Một trong những lý do lý giải cho sự tham gia thấp này là các doanh nghiệp ở Cao Bằng chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ với năng lực thấp về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực. Chỉ có một số doanh nghiệp hoạt động tại Cao Bằng có đóng góp về thuế cho địa phương. Hiện nay có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động thường xuyên trên địa bàn Cao Bằng nhưng cũng có chỉ có khoảng 30-50 doanh nghiệp của Cao Bằng, trong đó có khoảng 10 doanh nghiệp Cao Bằng đóng góp ngân sách thường xuyên cho tỉnh. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Cao Bằng với các doanh nghiệp trong cả nước để đẩy mạnh xuất khẩu còn nhiều hạn chế.

     

    4.   Kết luận

     

    Cao Bằng đã nỗ lực triển khai nhiều hoạt động để chuẩn bị cho sự hình thành CBEZ Trà Lĩnh – Long Bang. Theo đánh giá, “Khu dịch vụ logistics” được chuẩn bị tốt nhất, tiếp theo là “Chính sách ưu đãi” và “Khu vực thương mại”. Ngược lại, doanh nghiệp đánh giá thấp nhất về

     

    sự chuẩn bị của Cao Bằng đối với nhóm điều kiện “Cơ chế quản lý hợp tác chung” và “Kết nối hạ tầng hiện đại”. Như vậy, để có thể hiện thực hóa CBEZ, tiến tới thuận lợi hóa hơn nữa thương mại và đầu tư, phát triển khu vực biên giới như một mắt xích kết nối với thị trường Trung Quốc, hai điểm quan trọng mà Cao Bằng cần đầu tư là cơ sở hạ tầng kết nối với trong và ngoài nước và hệ thống cơ chế hợp tác hài hòa với Trung Quốc.

     

    Trên thực tế, kết nối hạ tầng giao thông của Cao Bằng với nội địa còn khá khó khăn, tuy nhiên, kết nối từ Long Bang tới thành phố lớn của Trung Quốc là Bách Sắc lại rất thuận lợi. Định hướng của Trung Quốc là xây dựng thành phố Bách Sắc thành thành phố trọng điểm của Trung Quốc và ASEAN. Đây là thành phố có mạng lưới giao thông tốt, hàng ngày có khoảng 10-12 toa tàu vận chuyển hàng đông lạnh đi khắp Trung Quốc. Bách Sắc cũng có vị trí thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp khoảng 30% sản phẩm nông nghiệp cho Trung Quốc. Để kết nối với thành phố Bách Sắc thì đi qua Cao Bằng là ngắn nhất. Nếu Cao Bằng kết nối được với Bách Sắc thì sẽ giúp Cao Bằng trở thành nơi cung cấp hàng nông sản cho Bách Sắc, từ đó đi sang các nước ASEAN khác, giúp các doanh nghiệp Cao Bằng kết nối được với mạng lưới doanh nghiệp trong nước cũng như khu vực, đẩy mạnh sự tham gia vào chuỗi giá trị khu vực.

     

    Cơ chế hợp tác quản lý hài hòa với tỉnh biên giới nước láng giềng không chỉ được cần chú trọng ở Cao Bằng mà còn ở hầu hết các tỉnh khác có chung đường biên giới với Trung Quốc. Do đó, điều quan trọng là cần có sự triển khai hợp tác biên giới thông qua các thỏa thuận cụ thể và minh bạch, vừa hỗ trợ thúc đẩy thương mại và đầu tư, vừa hạn chế những hoạt động mang tính tự phát, gây bất ổn cho việc quản lý ở khu vực biên giới.

     

    Lời cảm ơn

     

    Bài viết nằm trong khuôn khổ Đề tài KX.01.09/16-20 “Luận cứ khoa học cho sự hình thành và phát triển các Khu kinh tế xuyên biên giới ở Việt Nam”.

     

    N.A. Thu, V.T. Huong / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 1-13

    13

    Tài liệu tham khảo

    Indonesia-Malaysia-Thailand   Growth

    Triangle

     

    (IMT-GT), 2014.

     
    • UBND Tỉnh Cao Bằng, Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2018, Cao Bằng: UBND Tỉnh Cao Bằng, 2008a.
    • UBND Tỉnh Cao Bằng, Tình hình kinh tế -xã hội, định hướng, chính sách phát triển tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng: UBND Tỉnh Cao Bằng, 2018b.
    • Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Minh Phương, Hợp tác thương mại biên giới: Kinh nghiệm của Mỹ – Mexico và một số gợi ý đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Chiến lược. Số 6, 6(2018).
    • Nguyễn Kiên Cường, Bài trình bày tại Hội thảo quốc tế “Cơ sở lý thuyết cho việc hình thành và phát triển các Khu kinh tế qua biên giới tại Việt Nam”, Cao Bằng, tháng 10/2017.
    • Nguyễn Anh Thu, Vũ Thanh Hương, Sự phát triển của các Khu kinh tế cửa khẩu tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á. Số 7 (220) (2018) 30-38.
    • Lord, P. Tangtrongjita, Scoping Study for the Special Border Economic Zone (SBEZ) in the

    e

    e

     

    • Lalkaka, Nguyen Quan, Y. Xiaohui, Lộ trình Khu Kinh tế xuyên biên giới, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, ADB, 2011.
    • L. Wallack,  W.  Zhaohui,  Nguyen  Anh  Thu,

    Phát triển thể chế và Tăng cường năng lực, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật TA 7356-REG: Phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt

     

    Nam, ADB, 2011.

     

    • Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Thanh Mai, Mô hình khu hợp tác kinh tế biên giới và một số gợi mở, Tạp chí những vấn đề Kinh tế chính trị thế giới. Số 6 (2017) 29-40.
    • Lô Minh Tuyên, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp đầu xuân Mậu Tuất năm 2018, Truy cập

    ngày 10/9/2018 tại http://banqlkkt.caobang.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/ban-quan-ly-khu-kinh-te-tinh-cao-bang-to-chuc-hoi-nghi-gap-mat-cac-doanh-nghiep-dau-xuan-mau-tuat-nam-2018-144.html.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vi phạm cấm vận trong hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế – những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-N%C3%82NG-CAO-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-V%E1%BB%80-V%E1%BA%ACN-T%E1%BA%A2I-%C4%90A-PH%C6%AF%C6%A0NG-TH%E1%BB%A8C-TR%C3%8AN-H%C3%80NH-LANG-H%E1%BA%A2I-PH%C3%92NG-H%C3%80-N%E1%BB%98I-L%C3%80O-CAI-C%C3%94N-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRÊN HÀNH LANG HẢI PHÒNG – HÀ NỘI – LÀO CAI – CÔN MINH

     

    SOME SOLUTIONS TO IMPROVE STATE ADMINISTRATION OF MULTIMODAL TRANSPORT ON THE CORRIDOR HAIPHONG – HANOI – LAOCAI – CONMINH

     

    PGS.TS. NGUYỄN HỒNG VÂN

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Vận tải đa phương thức (VTĐPT) ra đời mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Hành lang VTĐPT Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh (Trung Quốc) phù hợp cho việc áp dụng mô hình VTĐPT đường sắt – đường bộ – đường biển. Tuyến hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh là một bộ phận quan trọng trong khu vực tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN. Trong thời gian qua, mặc dù đã có một số chính sách cụ thể hóa (VTĐPT, logistics,…) của Nhà nước nhưng trong công tác triển khai vẫn còn chậm, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đất nước. Với lý do trên, nghiên cứu Quản lý Nhà nước về VTĐPT trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh là cần thiết và cấp bách để phát triển VTĐPT ở các tỉnh Miền Bắc của nước ta.

     

    Abstract

     

    Multimodal Transport (VTĐPT) brings many benefits to the parties involved. The Haiphong – Hanoi – Lao Cai – ConMinh (China) Multimodal Transport Corridor is suitable for applying the mode of Multimodal Transport by rail – road – sea. This economic Corridor is an important part of a free trade area of China – ASEAN. In recent years, although there have been a number of specific Stage policies about Multimodal Transport, Logistics,….the work is still under slow deployment, policy mechanism is not

     

    synchronized, affecting the economic development of the country. For this reason, it is necessary and urgent to research State Administration of Multimodal Transport on the Haiphong – Hanoi – Lao Cai – ConMinh hallway to develop Multimodal Transport in the Northern provinces of Viet Nam.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Nhận thức về tầm quan trọng của tuyến vận tải trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai

     

    • Côn Minh, Đảng, Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã thống nhất tạo sự phát triển kinh tế của hai nước thông qua chủ trương hai hành lang – một vành đai kinh tế, trong đó có tuyến hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi và hạ tầng giao thông có sẵn, hành lang này có vai trò đặc biệt trong việc kết nối các tỉnh phía Tây Trung Quốc với các nước ASEAN theo con đường ngắn nhất, khai thác lợi thế của cảng biển Hải Phòng. Hiện nay, dịch vụ vận tải đã được kết nối từ Hải Phòng tới tận Côn Minh. Bên cạnh đó, hành lang này có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh vận tải hàng hoá quốc tế và trong nước. Tuyến hành lang kinh tế này cùng với vùng tam giác kinh tế trọng điểm Quảng Ninh – Hà Nội – Hải Phòng sẽ hoàn thiện để kết nối vào vùng kinh tế Bắc Bộ, thúc đẩy khu vực này cùng cả nước tăng trưởng mạnh mẽ. Như vậy cần có chính sách nâng cao hiệu quả quản lý trên tuyến vận tải này.

    2. Nội dung

     

    Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động hàng hải, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không thuộc ngành Giao thông vận tải đều được điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành như: Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Hàng không dân dụng. Trong khi đó, loại hình vận tải đa phương thức này chưa có Luật riêng và chỉ mới chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và bất cập. Chính vì vậy, việc làm cấp thiết hiện nay là hoàn thiện khung pháp lý và các cơ chế chính sách nhằm quản lý cũng như hỗ trợ tối đa cho các hoạt động kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc nói chung và trên tuyến vận tải Hải Phòng- Hà Nội-Lào Cai- Côn Minh nói riêng.

     

    Trong các luật chuyên ngành, duy nhất chỉ có Bộ luật Hàng hải Việt Nam có một Điều (Điều 119 – Hợp đồng vận tải đa phương thức) có quy định những nội dung liên quan đến

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               105

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    vận tải đa phương thức quốc tế. Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của Điều luật này chỉ quy định về mối quan hệ, giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức vớ i người gửi hàng. Còn lại các luật chuyên ngành khác không có nội dung nào quy định về hoạt động vận tải đa phương thức, mà chỉ quy định các vấn đề liên quan đến an toàn, kết cấu hạ tầng đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ…; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường thủy nội địa…; quy hoạch, xây dựng bảo vệ kết cấu hạ tầng, an toàn giao thông đường sắt, đường sắt đô thị…; quản lý Nhà nước về hàng không dân dụng, cảng hàng không dân dụng, bảo đảm an toàn hàng k hông… Như vậy, giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các luật chuyên ngành chưa có “tiếng nói chung” về hoạt động vận tải đa phương thức.

     

    Về văn bản dưới luật, ở Việt Nam nói chung cũng như trên hành lang Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh nói riêng, những vấn đề liên quan đến vận tải đa phương thức được quy định trong một số văn bản dưới luật sau: Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức thay thế Nghị định 125/2003/NĐ-CP về vận tải đa phương thức; Nghị định 89/2011/NĐ- CP sửa đổi bổ sung Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức; Văn bản hợp nhất 03/VBHN- BGTVT năm 2013 hợp nhất Nghị định về vận tải đa phương thức do Bộ Giao thông vận tải ban hành ngày 12 tháng 07 năm 2013; Thông tư 45/2011/TT-BTC về quy định thủ tục Hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định thủ tục Hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát Hải quan, trong đó có Điều 17 hướng dẫn về thủ tục Hải quan đối với hàng hóa chuyển khẩu và Điều 19 hướng dẫn về thủ tục Hải quan đối với hàng hóa quá cảnh. Nghị định này sẽ được thay thế bằng Nghị định 08/2015/NĐ-CP Qui định chi tiết và biện pháp thi hành luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát, kiểm soát Hải quan (có hiệu lực từ 15.3.2015). Công văn 3038/TCHQ-GSQL thực hiện Thông tư 45/2011/TT-BTC; Thông tư số 08/2004/TTLT-BTM- BTC-BGTVT, ngày 17/12/2004 của 03 Bộ: Thương mại, Tài chính, Giao thông vận tải về việc hướng dẫn thực hiện dịch vụ trung chuyển hàng container tại các cảng biển Việt Nam. Thông tư này được xem là phù hợp với nhu cầu tất yếu, khách quan của thị trường và đáp ứng với nguyện vọng của các doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh loại hình dịch vụ này, bởi lẽ Thông tư áp dụng đối với các doanh nghiệp cảng biển và các tổ chức, cá nhân có liên quan, không giới hạn đối tượng áp dụng, mà chỉ quy định các điều kiện về cảng biển, hàng hóa, xử lý hàng hóa và thanh toán dịch vụ trung chuyển hàng container. Nếu doanh nghiệp nào, tổ chức cá nhân nào thấy đủ điều kiện là có quyền đăng ký kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng container tại cảng biển mà không cần phải xin phép. Đó là “tính mở” của Thông tư 08 đối với loại hình dịch vụ này mà trước đây bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh dịch vụ trung chuyển hàng container đều phải xin giấy phép.

     

    Qua đánh giá các văn bản pháp quy liên quan đến vận tải đa phương thức hiện nay ở Việt Nam có thể thấy, nếu so sánh với Công ước vận tải đa phương thức quốc tế do Liên Hợp Quốc ban hành và Hiệp định khung của ASEAN về vận tải đa phương thức mà Việt Nam tham gia thì Nghị định 87/2009/NĐ-CP ở Việt Nam có qui định thêm hình thức vận tải đa phương thức nội địa. Tuy nhiên sự tách biệt giữa hai loại hình vận tải này vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi từ hai phía là doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, bởi sự tách biệt này đang gây ra một số khó khăn cho chính các doanh nghiệp vận tải trong nước so với các doanh nghiệp vận tải nước ngoài vì ngày 15/3/2010, Bộ Tài chính ban hành Công văn 3055/BTC-TCT về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vận tải quốc tế. Theo Công văn này, các hợp đồng vận tải quốc tế, bao gồm cả chặng vận tải nội địa… đều được hưởng mức thuế GTGT là 0%. Trong khi hiện nay, tất cả các hợp đồng vận tải trong nước, kể cả theo hình thức đa phương thức, hiện đều phải chịu thuế GTGT 10%. Như vậy, về nguyên tắc, vận tải nội địa đã bị thiệt so với vận tải đa phương thức quốc tế.

     

    Mặt khác, nếu doanh nghiệp trong nước được thuê vận tải hàng hóa quốc tế chặng nội địa, thì đương nhiên thuế GTGT tại hóa đơn do doanh nghiệp vận tải trong nước xuất ra sẽ hoàn lại cho người thuê. Như vậy, không những doanh nghiệp có hợp đồng vận tải đa phương thức quốc tế đã không mất thuế GTGT, mà ngược lại còn được hoàn thuế cho những chặng vận tải thuộc nội địa.

     

    Thông tư 45/2011/TT-BTC về quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế còn rườm rà và yêu cầu nhiều chứng từ hơn đối với hàng hóa quá cảnh và chuyển khẩu thông thường.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               106

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    • Những hạn chế của quản lý Nhà nước về VTĐPT trên hành lang Hải Phòng- Hà Nội-Lào Cai – Côn Minh.

    Từ những phân tích ở trên, ta thấy những khó khăn, bất cập và nguyên nhân hạn chế của quản lý Nhà nước về VTĐPT gồm:

     

    • Nguyên nhân về chính sách quản lý để phát triển tuyến vận tải Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh là do sự bất cập về hệ thống luật pháp. Cho đến thời điểm hiện nay, các lĩnh vực hoạt động đường bộ, đường sắt,.. thuộc ngành Giao thông vận tải đều được điều chỉnh bởi bộ luật hoặc các luật chuyên ngành như Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt,… Trong khi đó, loại hình vận tải đa phương thức này chỉ mới chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và bất cập.
    • Ngoài ra, tính ổn định của các văn bản về lĩnh vực vận tải không cao, các Nghị định, Thông tư thay đổi nhiều lần làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh vận tải của doanh nghiệp. Ví dụ như Nghị định 89/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều trong Nghị định số 87/2009/NĐ-CP liên quan đến quy định các đối tượng được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế.

    Cho đến thời điểm này, tức là gần 4 năm thực hiện theo Nghị định sửa đổi đã phát sinh nhiều điều kiện vô tình gây thiệt hại cho các doanh nghiệp vận tải đa phương thức nội địa, do việc phân chia thành doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài (trong Nghị định) đã làm cho các doanh nghiệp vận tải nội địa phải chịu mức thuế giá trị gia tăng là 10%, trong khi các doanh nghiệp vận tải nước ngoài được hưởng mức thuế là 0%.

     

    Nghị định 87/ NĐ- CP 2009 mới chỉ qui định điều kiện kinh doanh và cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT chứ không qui định chế tài đối với doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT mà không có giấy phép kinh doanh VTĐPT. Mặt khác, việc quản lý các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT nói chung và trên hành lang Hà Nội- Hải Phòng- Lào Cai- Côn Minh nói riêng còn buông lỏng, Bộ Giao thông vận tải chỉ quản lý các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT thông qua việc cấp giấy phép kinh doanh VTĐPT, xác nhận mẫu chứng từ VTĐPT mà không biết doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT trong quá trình thực hiện VTĐPT có gặp khó khăn gì không.

     

    Các quy định về vận tải hàng hóa còn thiếu nhiều nội dung, chưa được chặt chẽ, đặc biệt là đối với vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng. Gần đây nhất, Tổng cục đường bộ mới đề xuất đề án “Đổi mới quản lý vận tải đường bộ theo hướng hiện đại, hiệu quả theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải và giảm thiểu tai nạn giao thông”.

     

    • Các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn giao thông và chất lượng dịch vụ vận tải chưa được chi tiết cụ thể, chưa có quy định về một quy trình quản lý an toàn giao thông và chất lượng dịch vụ vận tải để có thể áp dụng toàn quốc.

    Tổ chức vận tải trong từng phương thức trên hành lang (vận tải bộ, sắt) được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên kết nối giữa các phương thức vận tải còn nhiều hạn chế. Quan trọng hơn là vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào để phối hợp hiệu quả vận tải đa phương thức trên hành lang này. Chính bởi vậy, các chính sách đề xuất từ phía các cơ quan địa phương còn mang tính manh mún.

     

    • Chưa có đủ các quy định để đẩy mạnh, khuyến khích việc áp dụng công nghệ tin học, phương pháp quản lý mới trong công tác quản lý.

    Từ số liệu dự báo Bảng 1, 2, 3 dưới đây, chúng ta thấy rằng số lượng hàng hóa vận chuyển trên các khu đoạn trên tuyến Hải Phòng – Lào Cai bằng đường bộ, đường sắt và khối lượng hàng XNK và quá cảnh chở bằng container trên tuyến đường sắt, đường bộ Hải Phòng- Lào Cai có xu hướng tăng theo các năm, điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển VTĐPT trên hành lang này bằng đường sắt và đường bộ.

     

    Bảng 1. Dự báo khối lượng hàng hóa vận chuyển container trên các khu đoạn tuyến đường sắt Hải Phòng – Lào Cai (chưa kể hàng quá cảnh của Trung Quốc)

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2003

    2005

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Hải Phòng – Yên Viên

    7.3

    14

    36

    70

    130

    152

    191

    Yên Viên – Việt Trì

    6.2

    12

    31

    61

    114

    133

    168

    Việt Trì – Lào Cai

    3.5

    7

    19

    37

    70

    82

    103

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               107

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    Bảng 2. Dự báo tỉ lệ vận chuyển container trên các khu đoạn trên tuyến đường bộ Hải Phòng – Lào Cai (chưa kể hàng quá cảnh của Trung Quốc)

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2003

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Số lượng

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    339

    510

    699

    960

    1.097

    1.277

    Yên Viên – Việt Trì

    117

    175

    240

    330

    377

    439

    Việt Trì – Lào Cai

    20

    30

    41

    56

    64

    75

    Nhịp tăng

               

    Hải Phòng – Yên Viên

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Yên Viên – Việt Trì

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Việt Trì – Lào Cai

     

    6.0

    6.5

    6.5

    6.8

    7.1

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    Bảng 3. Khối lượng hàng XNK và quá cảnh chở bằng container trên tuyến đường sắt, đường bộ Hải Phòng – Lào Cai.

     

    Đơn vị: 103teu

    Khu đoạn

    2005

    2010

    2015

    2020

    2025

    2030

    Đường sắt

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    20

    76

    138

    230

    289

    358

    Yên Viên – Việt Trì

    18

    71

    129

    214

    270

    334

    Việt Trì – Lào Cai

    12

    59

    105

    170

    217

    269

    Đường bộ

               

    Hải Phòng – Yên Viên

    339

    510

    699

    960

    1.140

    1.345

    Yên Viên – Việt Trì

    117

    175

    240

    330

    392

    462

    Việt Trì – Lào Cai

    20

    30

    41

    56

    67

    78

    Nguồn: Tác giả dự báo trên cơ sở số liệu của Viện nghiên cứu Chiến lược- Bộ Giao thông vận tải đến 2020.

     

    1. Kết luận

    Qua khảo sát thực tế và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực, việc phát triển và nâng cấp tuyến đường sắt từ Hà Nội và Hải Phòng có vai trò chiến lược quan trọng đối với sự phát triển của toàn hành lang. Ngoài ra, theo phương án đề xuất của Bộ giao thông vận tải là chuyển dịch thị phần vận chuyển container bằng đường bộ trên hành lang này sang vận chuyển bằng đường sắt, nhằm giảm tải cho mạng lưới giao thông đường bộ. Nếu phương án này được tổ chức thực hiện sẽ giảm đáng kể lượng xe container trên các quốc lộ 5 và 70. Để đạt được hiệu quả cân bằng cả về phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cần thiết có sự hỗ trợ Nhà nước trong việc nâng cấp cải tạo đường sắt trong các khu vực đầu mối như cảng Hải Phòng, cảng Chùa Vẽ, đóng mới toa xe, tiến tới giảm chi phí vận chuyển đường sắt. Song song với nó, cơ quan quản lý cũng cần có chế tài nghiêm để xử phạt vi ệc vận chuyển container loại 40 feet trở lên trên hành lang đường bộ từ Hà Nội – Hải Phòng.

     

    Tóm lại, các cơ chế chính sách quản lý để phát triển vận tải trên hành lang nên tập trung vào các vấn đề sau:

     

    Thứ nhất, đề xuất các giải pháp đồng bộ, tổng thể để tái cơ cấu lại thị phần đảm nhận của từng phương thức trên hành lang, cụ thể để tăng thị phần vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trên tuyến đường dài, giảm tỷ lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               108

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    Thứ hai, xây dựng cơ chế chính sách mang tính chất kết nối các phương thức, liên hoàn trong khâu dịch vụ, tạo thuận lợi cho các chủ hàng, doanh nghiệp tham gia hoạt động trên hành lang.

     

    Cụ thể các biện pháp về cơ chế chính sách quản lý vận tải trên hành l ang này sẽ tập trung vào các nội dung sau:

     

    • Hoàn thiện chính sách và luật pháp nhằm phát triển có hiệu quả vận tải đa phương thức.

    Hiện phần lớn doanh nghiệp vận tải nước ta mới tham gia vận chuyển hàng hóa ở một vài công đoạn trong hoạt động VTĐPT, chỉ số ít doanh nghiệp có đủ năng lực vận chuyển hàng hóa theo VTĐPT quốc tế. Đây là vấn đề đáng lo cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Nếu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics không tiến tới VTĐPT quốc tế và dịch vụ logistics trọn gói sẽ rất khó cạnh tranh, khi năm 2014, doanh nghiệp nước ngoài được tham gia 100% vốn vào thị trường Việt Nam.

     

    Vì vậy, để các doanh nghiệp kinh doanh khai thác VTĐPT nói chung và khai thác VTĐPT nói riêng trên hành lang Hải Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh mạnh lên, ngoài sự nỗ lực của các doanh nghiệp, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc:

     

    • Ban hành luật về kinh doanh VTĐPT. Trước mắt, cần chỉnh sửa hệ thống văn bản dưới Luật như bỏ khái niệm về VTĐPT trong Điều 2 và Qui định về kinh doanh VTĐPT nội địa (Điều 9) trong Nghị định 87/ 2009/NĐ- CP về vận tải đa phương thức cho phù hợp với thông lệ quốc tế vì không có định nghĩa VTĐPT nội địa trong các Công ước, qui tắc cũng như Hiệp định khung ASEAN về VTĐPT. Sửa đổi Điều 2, Điều 3 trong Thông tư 45/ TT- BTC 2011 hướng dẫn thủ tục Hải quan về hàng hóa VTĐPT là hàng hóa VTĐPT khi làm thủ tục Hải quan là doanh nghiệp chỉ cần xuất trình chứng từ chứng minh hàng hóa mình đang vận chuyển là hàng VTĐPT như: Nộp 01 bản photocopy từ bản chính Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế do Bộ Giao thông vận tải cấp (chỉ nộp lần đầu khi làm thủ tục hải quan tại một Chi cục Hải quan) và xuất trình bản chính để công chức hải quan kiểm tra, đối chiếu; Nộp 01 bản chính chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế (theo mẫu đã được đăng ký với Bộ Giao thông vận tải) và nộp 01 bản chính bản khai hàng hóa vận tải đa phương thức quốc tế (bao gồm các tiêu chí sau: Số thứ tự, tên hàng, số lượng, trọng lượng, trị giá) mà không phải xuất trình thêm Bộ hồ sơ yêu cầu đối với thủ tục hàng hóa quá cảnh hay hàng chuyển cảng để tạo thuận lợi cho thủ tục hải quan đối với hàng hóa

    VTĐPT.

     

    • Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT thông qua việc tăng cường kiểm tra giám sát các doanh nghiệp kinh doanh VTĐPT. Cần có chế tài buộc các công ty kinh doanh giao nhận kho vận nói chung và kinh doanh VTĐPT nói riêng phải xin giấy phép kinh doanh VTĐPT, đăng ký mẫu vận đơn VTĐPT.
    • Có những chính sách khuyến khích cụ thể về thuế cho doanh nghiệp vận tải trong nước kinh doanh VTĐPT như giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 5% để khuyến khích các doanh nghiệp vận tải nội địa nâng cao khả năng cạnh tranh của mình khi khai thác VTĐPT.
    • Hỗ trợ lãi suất, nguồn vốn để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết, nâng cấp dịch vụ theo phương thức VTĐPT quốc tế để nâng cao sức cạnh tranh, giữ thị trường nội địa cho các doanh nghiệp Việt Nam.
    • Ngoài các cơ chế trên, cơ chế đặc thù cho tuyến này là việc việc quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí sử dụng lề đường, bến bãi, mặt nước đối với các phương tiện vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu ra, vào bến, bãi chỉ nên áp dụng tại một điểm trên hành lang, nếu hàng vận chuyển chiều từ Hải Phòng đến Lào Cai thì chỉ nên thu phí sử dụng lề đường, bến bãi tại Hải Phòng, và chiều ngược lại, phí này nên chỉ thu tại Lào Cai, tránh trường hợp thu phí sử dụng lề đường, bến bãi cả hai đầu khiến cho chi phí vận chuyển hàng hóa tăng quá cao.
    • Cần bổ sung vào Nghị định thư đường sắt biên giới Việt Trung là Trung Quốc hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cấp tuyến đường sắt từ khổ đường 1000mm lên khổ 1435 mm để đẩy nhanh tiến độ nâng cấp đường sắt khổ rộng của Việt Nam từ Hải Phòng đi Lào Cai và nối với đường sắt khổ 1435mm tại Côn Minh (Trung quốc).

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               109

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2015

     

    • Xây dựng khung chính sách phát triển vận tải đa phương thức, các chính sách khuyến khích phát triển Vận tải đa phương thức như sau:
    • Có chính sách khuyến khích đầu tư vốn phát triển kết cấu hạ tầng GTVT cho phương thức vận tải được ưu tiên và phương tiện vận tải tạo cơ sở vật chất cho Vậ n tải đa phương thức, tập trung cho lĩnh vực đường sắt, đường bộ trong VTĐPT hàng container.
    • Ban hành chính sách cho phép các nhà kinh doanh Vận tải đa phương thức của Việt Nam liên doanh với các nhà kinh doanh Vận tải đa phương thức có tiềm năng của nước ngoài để tìm thị trường cho dịch vụ Vận tải đa phương thức của ta. Hiện nay việc mở rộng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp nói chung chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp quy như Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài; hay Nghị định 121/2007/NĐ-CP ngày 25/7/2007 quy định về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của ngành dầu khí; Nghị định 17/2009/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định 121/2007/NĐ-CP,….Thực tế thì chỉ có ngành dầu khí là đã xây dựng được bộ văn bản bao gồm quy định về cấp phép, quản lý hoạt động, chuyển vốn đầu tư, quản lý tài chính là tương đối đầy đủ. Điều này đã hỗ trợ tương đối tốt cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí mở rộng địa bàn kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam. Như vậy về mặt dài hạn, kinh nghiệm của ngành dầu khí sẽ rất hữu ích để Bộ GTVT phối hợp Bộ Kế hoạch đầu tư nghiên cứu đề xuất các văn bản pháp quy tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp VTĐPT của Việt Nam tham gia hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
    • Ban hành chính sách bảo hộ ngành vận tải trong nước. Trong lĩnh vực vận tải quốc tế, nhiều nước đã có những quy định rất cụ thể nhằm khuyến khích việc chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng các phương tiện vận tải của quốc gia đó. Sự khuyến khích đó được thể hiện qua chính sách kinh tế, tài chính như: Ưu đãi về thuế, tài trợ đầu tư phương tiện, quản lý chặt sự tham gia thị trường vận tải của các doanh nghiệp nước ngoài. Để hướng tới mục tiêu tăng thị phần hàng hoá xuất nhập khẩu cho đội tàu biển quốc gia, nhà nước cần có những chính sách và biện pháp thiết thực để điều tiết thị trường vận tải, bảo hộ đội tàu nước ngoài mở thêm tuyến, đưa thêm tàu về khai thác thị trường Việt Nam khi các đội tàu Việt Nam có đủ năng lực đảm nhận, đặc biệt là vận tải container và vận tải nội địa. Ngoài ra để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, cần có sự quản lý của nước ta đối với những trường hợp các hãng tàu nước ngoài vi phạm các quy định về mở tuyến vận tải, đăng ký mức cước hoặc có những hành động cạnh tranh không lành mạnh khác để giảm thuế.
    • Cần tiến hành đổi mới toàn diện cơ chế chính sách, tạo động lực cho sự phát triển ngành vận tải hàng hoá đường bộ. Đối với ngành vận tải hàng hóa đường bộ trong giai đoạn hiện nay có những đặc trưng rất cơ bản đó là hạt nhân chính của ngành là khối kinh tế tư nhân. Để lực lượng này tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả vào hoạt động vận tải, về phía Nhà nước cần tập trung vào các vấn đề như: Đơn giản hóa các thủ tục có liên quan đến vận tải và giao nhận hàng hóa; Xây dựng hệ thống pháp lý hoàn chỉnh, rõ ràng, minh bạch, nhất quán; Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được vận tải đa phương thức; Phối hợp chặt chẽ giữa các phương thức vận tải; Có chính sách khuyến khích đối với vận tải đa phương thức.

    Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, không cần phải tất cả các phương thức vận tải tham gia phục vụ chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế phải mạnh mới thực hiện quyền vận tải hàng hoá, mà trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, phải coi trọng việc tăng cường liên kết các công ty vận tải giữa trong nước và quốc tế để cho thị trường vận tải được thông suốt. Việc liên kết Vận tải đa phương thức giúp cho người kinh doanh VTĐPT thâu tóm được tất cả mọi khâu của quá trình đưa hàng xuất nhập khẩu từ nơi sản xuất đến cơ sở của người mua.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nghi ̣đi ̣nh số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chinh́ phủvềvận tải đa phương thức, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2009.
    • Nghi ̣ đi ̣nh số 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 của Chinh́ phủsửa đổi, bổsung một số điề u của Nghi ̣đinḥ số87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủvềvận tải đa phương thức, cóhiệu lực kểtừ ngày 25/11/2011.
    • Nghị định thư sửa đổi và thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 11/10/2011.
    • Công văn 3055/BTC-TCT của Bộ Tài chính về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vận tải quốc tế 15/3/2010.

    Người phản biện: PGS.TS. Đặng Công Xưởng; TS. Nguyễn Hữu Hùng

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 42 – 04/2015                                                               110


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BB%83-ch%E1%BA%BF-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-qu%E1%BB%91c-gia-%C4%91ang-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-ch%C3%A2u-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI CHÂU Á

     

    QUALITY OF INSTITUTIONS AND FINANCIAL DEVELOPMENT:

     

    EVIDENCE FROM DEVELOPING ASIAN COUNTRIES

     

    Nguyễn Thị Mỹ Linh1

     

    Ngày nhận: 24/7/2018             Ngày nhận bản sửa: 7/9/2018              Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Các nghiên cứu về phát triển tài chính đã nhận định chất lượng thể chế là yếu tố tạo nên sự khác biệt về phát triển tài chính giữa các quốc gia. Bài viết này đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, độ mở tài chính và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á bằng phương pháp thực nghiệm. Bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM cho dữ liệu bảng từ 18 quốc gia trong giai đoạn 2000–2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có tác động âm có ý nghĩa tới phát triển tài chính. Trong khi đó độ mở tài chính không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính tồn tại mối quan hệ phi tuyến có hình chữ U. Các phát hiện này đưa đến một số hàm ý chính sách cho Chính phủ các quốc gia đang phát triển tại khu vực này. Từ khóa: Chất lượng thể chế, phát triển tài chính, GMM.

     

    Abstract

     

    Recent studies of financial development have confirmed that the quality of institutions was the crucial element of financial development difference among various countries. This paper focus on investigating the effect of economic growth, trade openness, financial opennes and institutional quality on financial development in developing Asian countries. Using Generalized Method of Moments (GMM) to analyse a panel data of 18 countries spanning from 2000 to 2015, we find that economic growth and trade openness have significantly negative influences on financial development. Meanwhile, financial openness has no statistical significance. Especially, there’s U-shaped relationship between financial development and quality of institutions. Our results have several significant contributions to policy makers of these countries. Keywords: Quality of Institutions, financial development, GMM.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các lý thuyết kinh tế tài chính trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của hệ thống

    __________________________________________

    tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng. Các lý thuyết đó cũng hướng tới việc cung cấp câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số quốc gia lại phát triển tài chính hơn những quốc gia khác. Trong

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

    11

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bối cảnh này, một sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của sự phát triển thị trường tài chính ngày càng trở nên cần thiết hơn cho việc thiết kế các chính sách để thúc đẩy sự phát triển tài chính, bởi phát triển tài chính sẽ̃ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà các nghiên cứu thực nghiệm rộng rãi đã minh chứng.

     

    Gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu đã xác định rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển tài chính của một quốc gia liên quan đến các đặc điểm thể chế của nó, bao gồm khung pháp lý (Arestis và Demetriades, 1996). Claessens và Leaven (2003) chỉ ra rằng việc phân bổ tài sản được cải thiện do bảo vệ quyền sở hữu tài sản tốt hơn có ảnh hưởng đến tăng trưởng do nó làm gia tăng giá trị ngành nghề tương đương với sự cải thiện khả năng tiếp cận tài chính phát sinh từ sự phát triển tài chính mạnh mẽ̃ hơn. Garretsen và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn xã hội và văn hóa giúp giải thích sự khác biệt trong phát triển tài chính xuyên quốc gia. Demetriades và Andrianova (2004) cho rằng sức mạnh của các thể chế, như quy định tài chính và tuân thủ pháp luật, có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cải cách tài chính. Chinn và Ito (2006) cho rằng các hệ thống tài chính có mức độ phát triển pháp lý/thể chế cao hơn thường có lợi ích nhiều hơn từ tự do hóa tài chính so với các hệ thống tài chính có mức độ phát triển thấp hơn. Như vậy thể chế mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến phát triển tài chính. Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính dựa trên phân tích dữ liệu bảng thu thập cho các quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động để ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến của các biến trong mô hình. Trong đó, thước đo chất lượng thể chế sử dụng trong

    nghiên cứu được xây dựng bởi Kaufmann và cộng sự (2008) bao gồm một tập hợp các biến khác nhau, có thể đánh giá một cách đa chiều ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính.

     

    2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    Cơ sở lý luận giải thích cho sự phát triển tài chính xuất phát từ bốn giả thuyết bao gồm giả thuyết cung ứng vốn, giả thuyết luật và tài chính, giả thuyết mở cửa đồng bộ và giả thuyết thể chế kinh tế.

    Giả thuyết cung ứng vốn (The endowment hypothesis) của Acemoglu và cộng sự (2001) xác nhận tầm quan trọng của một thể chế vững mạnh đến sự phát triển tài chính và cho rằng chất lượng thể chế khác nhau giữa các quốc gia là do sự thay đổi cung ứng vốn ban đầu. Nói một cách đơn giản, giả thuyết này cho rằng môi trường không thuận lợi do các cường quốc thuộc địa châu Âu gây ra trong nhiều thế kỷ ở quá khứ là nhân tố chính làm chậm lại sự thành lập các thể chế có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong dài hạn. Vì vậy, giả thuyết cho rằng các cường quốc thuộc địa châu Âu đã thành lập nên các thể chế khai thác không phù hợp, không tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng trong dài hạn.

     

    Giả thuyết luật và tài chính (The law and finance hypothesis) của La Porta và cộng sự (1997) đưa ra ý tưởng về các hệ thống dựa trên nền tảng luật thông thường, có nguồn gốc từ luật pháp Anh là tốt hơn các hệ thống dựa trên luật dân sự cho sự phát triển của thị trường vốn. Điều này là bởi luật pháp Anh được hình thành để bảo vệ tài sản tư nhân từ Chính phủ các quốc gia quân chủ chuyên chế. Trong khi đó, luật pháp Pháp được phát triển với mục tiêu giải quyết tham nhũng của bộ máy tư pháp và gia tăng quyền lực của Nhà nước. Qua thời gian,

     

    12

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    điều này cho thấy luật pháp Anh bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ tốt hơn nhiều so với luật pháp Pháp, được cho rằng có lợi hơn cho sự phát triển của thị trường vốn.

    Giả thuyết mở cửa đồng bộ (The simultaneous openness hypothesis) được đưa ra bởi Rajan và Zingales (2003) cho rằng các nhóm lợi ích, đặc biệt là những người giữ chức vụ trong ngành công nghiệp và tài chính thường bị mất đi ích lợi do phát triển tài chính, bởi mở cửa sẽ̃ tạo ra cạnh tranh làm xói mòn đặc quyền của họ. Giả thuyết cho rằng sự kháng nghị của các cán bộ đương nhiệm sẽ̃ trở nên yếu hơn khi nền kinh tế mở cửa cho cả dòng chảy thương mại và vốn. Do đó, sự mở cửa đồng bộ đối với tài khoản thương mại và vốn chính là chìa khóa cho sự phát triển tài chính thành công. Điều này không chỉ bởi vì độ mở thương mại và tài chính làm giới hạn khả năng của cán bộ đương nhiệm ngăn chặn sự phát triển của thị trường tài chính mà còn bởi những cơ hội mới được tạo ra từ mở cửa, làm sản sinh đủ lợi nhuận mới cho họ có giá trị hơn những ảnh hưởng tiêu cực của cạnh tranh gia tăng.

     

    Giả thuyết thể chế kinh tế (The economic institutions hypothesis) gần nhất được đưa ra bởi Acemoglu và cộng sự (2004), được xây dựng trên giả thuyết cung ứng vốn, đề xuất về một khung kinh tế chính trị năng động mà trong đó sự khác biệt về kinh tế trong các thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phát triển kinh tế khác nhau. Các thể chế kinh tế trong đó xác định các động lực khuyến khích và kiềm hãm các chủ thể kinh tế. Các thể chế chính trị và phân phối thu nhập là các lực lượng động kết hợp với nhau hình thành nên các thể chế kinh tế và kết quả đầu ra. Các lập luận cho rằng tăng trưởng thúc đẩy các thể chế kinh tế khi các thể chế chính trị (i) phân bổ quyền lực cho các nhóm có lợi ích trong việc thực thi quyền sở

    hữu tài sản rộng rãi, (ii) tạo ra các hạn chế hiệu quả đối với người nắm giữ quyền lực và khi có ít đặc lợi chiếm giữ bởi người cầm quyền.

    Hai giả thuyết đầu nhấn mạnh yếu tố lịch sử bất biến theo thời gian có thể chỉ giải thích một phần nhất định cho sự thay đổi của phát triển tài chính xuyên quốc gia. Giả thuyết thứ ba và thứ tư có thể giải thích cho sự phát triển tài chính xuyên quốc gia và cả sự thay đổi của phát triển tài chính qua thời gian, bởi chúng đều có tính chất động, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố biến đổi qua thời gian. Mặc dù cả hai giả thuyết đều xác nhận tầm quan trọng của các tinh hoa chính trị, nhưng nó vẫn nhấn mạnh các cơ chế khác nhau của phát triển tài chính. Giả thuyết thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và như vậy mang đến một hàm ý chính sách đương đại rõ ràng. Giả thuyết thứ tư cho thấy mặc dù các cơ chế chính trị phức tạp có ở công sở (bao gồm cả xung đột xã hội phát sinh từ việc thay đổi lực lượng chính trị như sự gia tăng dân chủ đại chúng và những thay đổi trong phân phối thu nhập), nhưng giả thuyết thể chế kinh tế này đã cung cấp lập luận hữu ích giúp định hình cho phát triển kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào.

     

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Levine (2001) xem xét mối liên kết giữa môi trường pháp lý và phát triển tài chính, sau đó truy xuất mối liên kết này thông qua tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thứ nhất nghiên cứu cho rằng môi trường pháp lý và luật lệ có vai trò quan trọng đối với phát triển tài chính. Các quốc gia với hệ thống pháp lý và quy định ưu tiên cho các chủ nợ nhận được giá trị hiện tại đầy đủ của các khoản cho vay đối với các tập đoàn, có chức năng trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia nơi hệ thống pháp lý cung cấp sự hỗ trợ yếu ớt cho các chủ nợ. Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc thực thi hợp

     

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    đồng là rất quan trọng quyết định đến sự phát triển tài chính. Các quốc gia áp đặt sự tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả và thực thi các hợp đồng bao gồm cả những hợp đồng của Chính phủ có xu hướng phát triển các định chế tài chính trung gian tốt hơn nhiều so với các quốc gia mà việc tuân thủ lỏng lẻo hơn. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiết lộ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định phát triển tài chính. Chẳng hạn tại các quốc gia nơi mà các công ty công bố báo cáo tài chính tương đối toàn diện và chính xác thì phát triển các trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia mà việc công bố thông tin kém tin cậy hơn.

     

    Baltagi và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về đóng góp của độ mở thương mại và thể chế kinh tế đến phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia cho các mẫu các quốc gia đang phát triển với khoảng thời gian nghiên cứu từ 1980–2003. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều mang tác động quan trọng tiềm tàng đến các mức độ phát triển tài chính. Tuy nhiên độ mở thương mại có hiệu quả đáng kể hơn là độ mở tài chính trong việc thúc đẩy phát triển tài chính cho các quốc gia.

     

    Law và Azman – Saini (2008) sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng động thu thập từ các quốc gia phát triển và đang phát triển và kết luận chất lượng thể chế làm gia tăng sự phát triển tài chính, đặc biệt là sự phát triển của khu vực ngân hàng trong đó chỉ tiêu tín dụng khu vực tư được sử dụng trong phân tích. Mặc dầu vậy một số dẫn xuất của thể chế có tầm ảnh hưởng hơn một số dẫn xuất còn lại. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng tuân thủ pháp luật, sự ổn định chính trị và hiệu quả của Chính phủ đóng vai trò cơ bản đối với sự phát triển của khu vực ngân hàng. Bên cạnh đó, GDP thực bình quân đầu người cũng là yếu tố quyết định đến phát triển tài chính. Tuy nhiên

    độ mở tài chính lại làm suy yếu sự phát triển của thị trường này. Trong sáu chỉ số phản ánh chất lượng thể chế, chỉ số chất lượng quản lý cho thấy tồn tại mối quan hệ có hình dạng chữ U với phát triển tài chính.

    Như vậy các giả thuyết và nghiên cứu ngoài nước trên cho rằng tự do hóa tài chính, hệ thống pháp luật, nền kinh tế chính trị, độ mở thương mại là nguồn gốc của phát triển tài chính. Trong đó, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều lĩnh vực. North (1990) định nghĩa các thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa. Khi các quy tắc thay đổi liên tục hoặc không được tôn trọng, tham nhũng phổ biến, việc thực thi quy tắc còn mong manh hoặc khi quyền đối với tài sản không được xác định rõ ràng, thì đó vấn đề về chất lượng thể chế. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế quy mô và tăng cường phân công lao động xã hội. Ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ̃ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế. Baumol (1990, 1993) cho rằng khi cơ cấu thể chế không khuyến khích tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế sẽ̃ thấp đi. Các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế dẫn đến sự gia tăng tính không chắc chắn, gửi tín hiệu gây

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    hiểu lầm đến thị trường, do đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

    3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng

     

    • Mô hình nghiên cứu

     

    Trên cơ sở lý thuyết, nền tảng của các nghiên cứu trước và của Law và Saini (2008), mô hình thực nghiệm được thể hiện như sau:

     

    (FD)it = β0 + β1(FD)(it-1)  + β2(GDPG)it + β3(INS)

     

    it  + β4(TO)it + β5(FO)it + εit     (3.1)

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính có thể là phi tuyến. Cải cách thể

    chế nhìn chung có tác động tích cực đến phát triển tài chính. Tuy nhiên độ lớn của tác động có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ của phát triển kinh tế. Nghiên cứu giả thiết rằng tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính là chưa rõ ràng tại mức phát triển thấp trong khi nó sẽ̃ trở nên tích cực bởi tiến trình phát triển hay đây chính là mối quan hệ có hình dạng chữ U giữa hai yếu tố này. Để xem xét mối quan hệ phi tuyến trên, biến thể chế bình phương được đưa vào phương trình (3.1) và vì vậy mô hình hồi quy được viết lại như sau:

     

    (FD)it = β

    0

    + β

    (FD)

    it-1

    + β

    (GDPG)

    it

    + β

    (INS)

    it

    + β (INS2)

    it

    + β

    (TO)

    it

    + β

    (FO)

    it

    + ε

    it

    (3.2.)

     

    1

     

    2

     

    3

     

    4

    5

     

    6

         

    với kỳ vọng β3 < 0 và β4 > 0.

                                 
               

    Bảng 1. Mô tả biến và nguồn dữ liệu

                 

    Ký hiệu biến

    Mô tả

                           

    Nguồn

       
             

    FD

       

    Sự phát triển tài chính, đo bằng tín dụng nội địa được

    World Development

         

    cung ứng bởi khu vực tài chính/GDP

             

    Indicator – WDI

    GDPG

       

    Tốc độ tăng trưởng GDP

                   

    WDI

         

    INS

       

    Chất lượng thể chế, sử dụng chỉ số đánh giá trong bộ chỉ

    World

    Governance

         

    số Quản trị công toàn cầu với giá trị xấp xỉ từ – 2,5 đến 2,5

    Indicator – WGI

    TO

       

    Độ mở thương mại, bằng Xuất khẩu + Nhập khẩu/GDP

    WDI

         

    FO

       

    Độ mở tài chính, sử dụng chỉ số Chinn – Ito

           

    Chinn-Ito website

    Dữ liệu được thu thập cho 18 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á giai đoạn 2000– 2015 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Armenia, Bhutan, Kyrgyz, Mông Cổ, Nepal, và Georgia. Trong đó, chỉ tiêu tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia. Do tính chất nguồn dữ liệu có giới hạn số liệu không được cập nhật nên bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất chỉ tiêu này. Đây cũng là thước đo được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển tài chính. Bên cạnh đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng thể chế sử dụng trong nghiên cứu là bộ chỉ số “Quản trị công toàn cầu” do

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    WB công bố với sáu biến đo lường gồm: tham nhũng; hiệu quả Chính phủ; ổn định chính trị; chất lượng quản lý; tuân thủ luật pháp; tiếng nói và trách nhiệm giải trình. Đây được xem là một đánh giá khá đầy đủ về chất lượng thể chế của một quốc gia và cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Law và Saini (2008). Đối với chỉ số Chinn-Ito (Kaopen) là chỉ số đo mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia. Chỉ số này ban đầu được giới thiệu trong Chinn và Ito (Tạp chí Journal of Development Economics, 2006). Kaopen được xác định dựa trên các biến giả nhị phân mã hóa hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới được báo cáo trong Báo cáo thường niên của IMF về các thỏa thuận giao dịch và hạn chế giao dịch.

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3.2. Phương pháp ước lượng

     

    Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng GMM do một số vấn đề sau đây có thể phát sinh và dẫn đến các kết quả ước lượng phương trình (3.1) bị chệch:

     

    • Do tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô, thường có tác động hai chiều, ví dụ như biến GDPG có thể là biến nội sinh khi nó tác động tới phát triển tài chính và ngược lại phát triển tài chính cũng tác động tới phát triển kinh tế. Điều này cũng tương tự với biến FO. Vì thế, việc hồi qui các biến này có thể dẫn đến sự tương quan với sai số và một số biến khác có thể có những thuộc tính tương tự.
    • Các đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian như là địa lý, văn hóa và nhân chủng học, có thể tương quan với các biến giải thích (các tác động cố định). Các tác động cố định này hiện diện trong đại lượng sai số của các phương trình thực nghiệm.
    • Sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc FDit-1 đưa đến khả năng tự tương quan cao.

    Các vấn đề nêu trên có thể khiến hồi quy OLS không nhất quán và ước lượng bị chệch, hay vấn đề nội sinh của các biến chưa thể xử lý triệt để bằng các phương pháp như FE, RE, 2SLS. Phương pháp hồi quy GMM sai phân được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt hơn các vấn đề trên. Tính phù hợp của các biến công cụ trong ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng được đánh giá thông qua thống kê Sargan và thống kê Arellano-Bond. Kiểm định Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ có tính ngoại sinh, nghĩa là nó không tương quan với sai số. Vì thế p-value của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để phát hiện tự tương quan chuỗi ở sai phân bậc 1. Vì thế, kết quả kiểm định tương quan chuỗi bậc một AR(1) không cần quan tâm trong khi tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) được kiểm định dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan bậc 1 của nó.

     

    4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

     

    Bảng 2. Thống kê mô tả giá trị của các biến trong mô hình

     

    Các biến

    Obs

    Mean

    Std.Dev.

    Min

    Max

    FD

    283

    56.37612

    42.37533

    2.942829

    193.4096

    GDPG

    288

    6.121962

    3.199587

    -14.14999

    17.92582

    FO

    288

    -0.1772923

    1.16868

    -1.90359

    2.374419

    TO

    288

    86.15815

    42.05665

    26.27484

    220.4073

    COR

    288

    -0.5388194

    0.5470128

    -1.5

    1.28

    POS

    288

    -0.6288889

    0.866287

    -2.81

    1.28

    RUL

    288

    -0.4327431

    0.4815948

    -1.37

    0.59

    VOI

    288

    -0.5435417

    0.6074961

    -1.78

    0.47

    GEF

    288

    -0.2013889

    0.5165398

    -1.21

    1.27

    REG

    288

    -0.3154514

    0.4845701

    -1.41

    1.29

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

     

    Ghi chú: FD = Financial Development (Phát triển tài chính), GDPG = GDP Growth (Tăng trưởng

     

    GDP), FO = Financial Openness (Độ mở tài chính), TO = Trade Opennes (Độ mở thương mại),

     

    COR = Control of Corruption (Kiểm soát tham nhũng), POS = Political Stability (Ổn định chính

     

    trị), RUL = Rule of Law (Tuân thủ pháp luật), VOI = Voice and Accountability (Tiếng nói và trách

     

    nhiệm), GEF = Government effectiveness (Hiệu quả Chính phủ), REG = Regulatory quality (Chất

     

    lượng quản lý)

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu

     

     

    FD

    GDPG

    FO

    TO

    COR

    POS

    RUL

    VOI

    GEF

    REG

    FD

    1.0000

                     

    GDPG

    -0.0423

    1.0000

                   

    FO

    -0.3367

    0.0009

    1.0000

                 

    TO

    0.2617

    0.0212

    0.2471

    1.0000

               

    COR

    0.3093

    0.0598

    -0.1025

    0.2862

    1.0000

             

    POS

    0.0563

    0.2388

    0.2302

    0.5479

    0.4886

    1.0000

           

    RUL

    0.4341

    0.0040

    -0.0857

    0.2863

    0.8429

    0.4082

    1.0000

         

    VOI

    -0.1451

    -0.1461

    0.2925

    -0.0191

    0.1796

    -0.0871

    0.3894

    1.0000

       

    GEF

    0.5292

    -0.0222

    -0.0081

    0.4638

    0.7572

    0.3720

    0.7705

    0.1921

    1.0000

     

    REG

    0.3658

    -0.0959

    0.4001

    0.4033

    0.3840

    0.1626

    0.5269

    0.3385

    0.6621

    1.0000

     

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

    Bảng 2 thể hiện giá trị các biến trong mô

    GDPG, FO, VOI và có tương quan thuận với

    hình nghiên cứu, qua đó tỷ lệ tín dụng nội địa

    tất cả các biến còn lại trong mô hình. Điều này

    được cung ứng bởi khu vực tài chính trung bình

    cho thấy đa số các biến thể chế thực sự có tương

    ở các quốc gia trong mẫu đạt giá trị dương 56.3.

    quan dương với phát triển tài chính. Tuy nhiên,

    Chỉ số đánh giá chất lượng thể chế ở các quốc

    kết quả với FO và VOI không như mong đợi

    gia này còn thấp khi mà giá trị trung bình của

    theo lý thuyết tiêu chuẩn, dù vậy đây không

    các chỉ số đều mang dấu âm. Bảng 3 chỉ ra sự

    phải là nghiên cứu đầu tiên có kết quả này.

    phát triển tài chính có tương quan nghịch với

     

    Bảng 4. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình tuyến tính, phương trình 3.1)

     

                 

    Các biến

    Mô hình 1a

    Mô hình 2a

    Mô hình 3a

    Mô hình 4a

    Mô hình 5a

    Mô hình 6a

    FD (-1)

    0.708***

    0.643***

    0.746***

    0.787***

    0.788***

    0.751***

     

    (0.096)

    (0.107)

    (0.096)

    (0.093)

    (0.083)

    (0.100)

    GDPG

    -0.615*

    -0.576*

    -0.763**

    -0.646*

    -0.752**

    -0.689*

     

    (0.344)

    (0.341)

    (0.360)

    (0.353)

    (0.358)

    (0.352)

    FO

    0.509

    0.963

    1.472

    1.934

    1.094

    1.784

     

    (2.627)

    (2.509)

    (2.564)

    (2.546)

    (2.649)

    (2.562)

    TO

    -0.333***

    -0.364***

    -0.287***

    -0.293***

    -0.258***

    -0.287***

     

    (0.094)

    (0.096)

    (0.091)

    (0.101)

    (0.093)

    (0.092)

    COR

    15.703*

             
     

    (8.914)

             

    POS

     

    9.098**

           
       

    (4.176)

           

    RUL

       

    11.394

         
         

    (10.844)

         

    VOI

         

    1.850

       
           

    (7.258)

       

    GEF

           

    9.660

     
             

    (8.701)

     

    REG

             

    9.611

               

    (11.247)

    AR (2) test

    0.26

    0.41

    0.35

    0.38

    0.27

    0.22

    Sargan test

    0.46

    0.49

    0.39

    0.36

    0.42

    0.42

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là sai số chuẩn.

     

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng tại Bảng 4 kết quả thực nghiệm của mô hình tuyến tính (phương trình 3.1) bằng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng động GMM, với các mô hình từ 1a đến 6a lần lượt từng biến thể chế được đưa vào. Biến trễ phụ thuộc FD(-1) có ý nghĩa thống kê, ngụ ý rằng GMM là một phương pháp ước lượng thích hợp và có thể dựa vào kết quả thực nghiệm để thực hiện suy luận thống kê. Trong đó, hai biến thể chế COR và POS mang tác động dương còn GDPG và TO mang tác động âm có ý nghĩa thống kê tới phát triển tài chính. Kết quả về sự tác động nghịch chiều của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính tuy ngược với kỳ vọng nhưng tương đồng với nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2007) và có thể được giải thích thông qua tính nghịch chu kỳ của chính sách tiền tệ. Thực vậy các tử số của biến phụ thuộc là tín dụng nội địa thường được các ngân hàng trung ương lựa chọn là mục tiêu trung gian rõ ràng hoặc ngầm định của chính sách tiền tệ, kết hợp với sự tịnh tiến của mẫu số là GDP. Do đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa GDP và các chỉ số ngân hàng về phát triển tài chính không là sự bất thường, đặc biệt là ở tần suất hàng năm, trùng với các hoạt động của chính sách tiền tệ. Tương tự, độ mở thương mại cũng tác động âm có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính. Trên khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho kết quả rất khác nhau. Anutechia (2010) không phát hiện ảnh hưởng của độ mở thương mại đến phát triển tài chính. Hu và Iyke (2018) kết luận độ mở thương mại làm gia tăng phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên xét trong ngắn hạn, tác động của nó đến phát triển tài chính là không rõ ràng và có xu hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến phát triển tài chính. Khi các quốc gia được phân chia thành hai nhóm có thu nhập thấp và thu nhập trung bình

    thì độ mở tài chính có tác động tích cực đến phát triển tài chính đối với nhóm trước trong khi đó lại nó tác động bất lợi cho phát triển tài chính đối với nhóm sau. Bayar (2017) cho rằng chất lượng thể chế và quy định là cần thiết cho sự tương tác tích cực giữa sự mở cửa thương mại và sự phát triển của tài chính. Do đó, sự tương tác không đáng kể hay tiêu cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính là kết quả của sự phát triển không đầy đủ của thể chế. Trong khi đó, với sáu biến dẫn xuất cho vấn đề thể chế lần lượt được đưa vào mô hình, có hai biến là tham nhũng và sự ổn định chính trị tác động dương có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính, phù hợp với giả thuyết thể chế kinh tế của Acemoglu và cộng sự (2004). Kết quả về sự ảnh hưởng của ổn định chính trị đến phát triển tài chính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Roe và Siegel (2008) cho rằng bất ổn chính trị cản trở phát triển tài chính, ổn định chính trị chính là yếu tố then chốt giải thích cho sự phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng của phương trình (3.2), kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa phát triển tài chính và thể chế. Việc bổ sung thêm yếu tố thể chế được bình phương cho phép hình thành chuyển động có dạng U của yếu tố này. Kết quả thực nghiệm cho thấy ngoại trừ hai dẫn xuất VOI và GEF không có

     

    • nghĩa thống kê, bốn dẫn xuất còn lại đều có mối quan hệ phi tuyến với tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính. Các hệ số của thể chế và thể chế bình phương lần lượt là âm và dương. Điều này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hình chữ U về chất lượng thể chế phát triển tài chính. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Law và Saini (2008). Giá trị ngưỡng của chất lượng thể chế là các biến COR, POS, RUL, REG cũng được xác định cho các quốc gia trong mẫu nhằm làm sáng tỏ hơn về mặt

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    định lượng tầm quan trọng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, theo đó giá trị của chúng lần lượt là 0.37, 0.26, 0.54 và 0.62. Điều này có nghĩa là trong bối cảnh chất lượng thể chế của các quốc gia thấp hơn hay bằng mức ngưỡng, chất lượng thể chế có tác động tiêu

    cực đến phát triển tài chính, tức là phát triển tài chính bị suy giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Tuy nhiên, khi chất lượng thể chế vượt ngưỡng, tác động của chất lượng thể chế đến sẽ̃ trở nên tích cực. Nói cách khác, việc cải cách thể chế dẫn đến phát triển tài chính.

     

    Bảng 5. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình phi tuyến tính, phương trình 3.2)

     

    Các biến

    Mô hình 1b

    Mô hình 2b

    Mô hình 3b

    Mô hình 4b

    Mô hình 5b

    Mô hình 6b

    FD (-1)

    1.150***

    1.096***

    0.924***

    1.089***

    1.036***

    1.082***

     

    (0.066)

    (0.063)

    (0.080)

    (0.067)

    (0.077)

    (0.063)

    GDPG

    -0.022

    -0.738**

    -0.097

    -0.029

    0.048

    -0.431

     

    (0.231)

    (0.344)

    (0.317)

    (0.232)

    (0.184)

    (0.320)

    FO

    1.981

    0.631

    3.044

    1.503

    -1.416

    -1.830

     

    (3.095)

    (3.227)

    (3.142)

    (2.935)

    (1.608)

    (1.771)

    TO

    -0.067

    -0.020

    -0.269**

    -0.273**

    -0.069

    -0.078

     

    (0.081)

    (0.088)

    (0.115)

    (0.116)

    (0.072)

    (0.084)

    COR

    -43.586**

             
     

    (22.180)

             

    COR2

    32.993**

             
     

    (16.510)

             

    POS

     

    -23.682**

           
       

    (11.932)

           

    POS2

     

    12.227*

           
       

    (6.378)

           

    RUL

       

    -48.128***

         
         

    (15.814)

         

    RUL2

       

    51.589***

         
         

    (17.012)

         

    VOI

         

    -12.957

       
           

    (12.753)

       

    VOI2

         

    9.816

       
           

    (11.145)

       

    GEF

           

    37.091**

     
             

    (18.215)

     

    GEF2

           

    -29.983

     
             

    (18.860)

     

    REG

             

    -39.638*

               

    (23.783)

    REG2

             

    48.951**

               

    (23.280)

    AR (2) test

    0.83

    0.71

    0.93

    0.70

    0.70

    0.49

    Sargan test

    0.21

    0.50

    0.60

    0.18

    0.21

    0.65

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là

     

    sai số chuẩn.

     

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Cả hai nhân tố phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế (Law và Azman-Saini, 2008). Trong đó, nghiên cứu này xem xét vai trò của chất lượng thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 2000–2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế mà đặc biệt là yếu tố tham nhũng là sự ổn định chính trị làm gia tăng đáng kể sự phát triển tài chính mà yếu tố tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng trong phân tích. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại cũng là hai yếu tố có tầm quan trọng về mặt thống kê đối với phát triển tài chính, tuy nhiên tác động của chúng đến phát triển tài chính là nghịch chiều. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tác động của chất lượng thể

     

    Tài liệu tham khảo

    chế đến phát triển tài chính không đơn điệu và phụ thuộc vào các dẫn xuất của thể chế. Trong số sáu chỉ số chất lượng thể chế, chỉ số tham nhũng, sự ổn định chính trị, tuân thủ pháp luật và chất lượng quản lý có mối quan hệ hình chữ U với sự phát triển tài chính. Kết quả này cho thấy chất lượng thể chế đóng góp vào phát triển tài chính khi mà nó vượt mức ngưỡng. Do đó việc cải thiện chất lượng thể chế hơn nữa có vai trò then chốt nhằm phát triển thị trường tài chính hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Chính phủ của các nền kinh tế này nên áp dụng các chính sách quản lý hoạt động thị trường tài chính cho khu vực tư nhân một cách có kỷ luật và tăng cường cơ sở hạ tầng thể chế nhằm khai thác các khía cạnh có lợi của các thể chế cụ thể, khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính.

     

    Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2004). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. NBER Working paper 10481.

     

    Demetriades, P., & Andrianova, S. (2004). Finance and growth: what we know and what we need to know. In Financial development and economic growth (pp. 38-65). Palgrave Macmillan, London.

    Anutechia, A. S. (2010). Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries. MPRA paper no. 26926.

     

    Arestis, P., & Demetriades, P. (1997). Financial development and economic growth: assessing the evidence. The economic journal, 107(442), 783-799.

     

    Baltagi, B. H., Demetriades, P. O., & Law, S. H. (2009). Financial development and openness:

     

    Evidence from panel data. Journal of development economics, 89(2), 285-296.

     

    Baumol, W. (1993). Entrepreneurship, Management and the Structure of Payoffs. London: The MIT Press.

     

    Bayar, Y., Akyuz, F., & Erem, I. (2017). Openness and Financial Development in Central and Eastern European Countries. Studies in Business and Economics, 12(3), 5-16.

     

    Chinn, M. D., & Ito, H. (2002). Capital account liberalization, institutions and financial development: cross country evidence (No. w8967). National Bureau of Economic Research.

     

    Claessens, S., & Leaven, L. (2003). What Drives Bank Competition, Some International Evidence World Bank Policy, Working Paper 3113.

     

    20

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Garretsen, H., Lensink, R., & Sterken, E. (2004). Growth, financial development, societal norms and legal institutions. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 14(2), 165-183.

    Ho, S. Y., & Njindan Iyke, B. (2018). Short-and Long-term Impact of Trade Openness on Financial Development in Sub-Saharan Africa. MPRA Working Paper 84272.

     

    Kaufman, D. (10). Myths about Governance and Corruption,”. Finance and Development, 42(3), 2005.

     

    La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). Legal determinants of external finance. The journal of finance, 52(3), 1131-1150.

     

    Law, S. H., & Azman-Saini, W. N. W. (2008). The quality of institutions and financial development.

     

    MPRA paper no. 12107.

     

    Levine, R. (2001). International financial liberalization and economic growth. Review of international Economics, 9(4), 688-702.

     

    North, D. C. (1991). Institutions. Journal of economic perspectives, 5(1), 97-112.

     

    Rajan, R. G., & Zingales, L. (2003). The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century. Journal of financial economics, 69(1), 5-50.

     

    Roe, M. J., & Siegel, J. I. (2009). Finance and politics: A review essay based on Kenneth Dam’s analysis of legal traditions in the law-growth nexus. Journal of Economic Literature, 47(3), 781-800.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Lu%E1%BA%ADt-b%E1%BA%A5t-th%C3%A0nh-v%C4%83n-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-nh%C3%B3m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    “Luật bất thành văn” trong việc
    quản lý hoạt động theo nhóm

    Hoạt động kinh doanh của các tập đoàn, công ty hiện nay không thể thiếu đi vai trò quan trọng của mô hình các nhóm. Với mô hình này, nhà quản lý sẽ dễ dàng đạt được tham vọng và mục đích của mình hơn. Vì vậy, bạn cần xây dựng và phát triển các nhóm trong công ty, để họ thực sự là những tập thể “bất khả chiến bại” trên thương trường. Muốn làm được điều này, cần phải chú ý đến những nguyên tắc sáng suốt sau đây.

    1. Giá trị của tập thể

    Ai trong chúng ta cũng đều có tham vọng chinh phục những mục đích to lớn, phần nhiều bị thúc đẩy bởi bản ngã, cái tôi bên trong, hoặc cũng vì chúng ta cảm thấy những điều mình đang có còn quá ít hay còn quá nhiều điều cần phải đạt được trong cuộc sống. Tuy nhiên, một người vẫn còn là quá nhỏ để đạt đến những mục đích lớn lao ấy.

    2. Tầm nhìn rộng

    Mục đích bao giờ cũng quan trọng hơn những nguyên tắc khuôn sáo. Bởi vậy, các thành viên trong nhóm phải biết kìm nén, thậm chí hạ thấp những nguyên tắc cá nhân, những kế hoạch, dự định riêng tư của mình vì tầm nhìn, mục đích và lợi ích chung của cả tập thể. Nếu người lãnh đạo nhận thức được viễn cảnh, họ phải biết cách truyền đạt viễn cảnh ấy đến các thành viên trong nhóm, đồng thời tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho mọi người và biết cách chọn đúng “người chơi” để hiện thực hóa những viễn cảnh ấy.

    3. Tìm thấy sở trường của mỗi cá nhân

    Mỗi thành viên trong nhóm đều có một sở trường, sở đoản riêng. Về cơ bản, nếu biết đặt đúng mỗi cá nhân trong nhóm vào vị trí phù hợp, giao đúng việc phát huy được thế mạnh của họ, bạn sẽ tận dụng được tối đa sức mạnh của mọi người và tạo nên sức mạnh của cả tập thể, khi đó con đường thành công của bạn sẽ mở rộng hơn. Bởi vậy nhà quản lý cần phải biết quan sát, phát hiện và đánh giá đúng năng lực, kỹ năng, thế mạnh cũng như những tiềm năng riêng của từng thành viên.

    4. Đối đầu với thách thức

    Mỗi khi phải đối mặt với những thách thức, dù là khó khăn đến mức độ nào đi chăng nữa, mỗi thành viên trong nhóm đều không được phép lùi bước. Tùy vào mức độ của mỗi khó khăn, thách thức mà bạn phải biết chọn những nhóm có phong cách riêng thích hợp. Chẳng hạn trước những thách thức hoàn toàn mới cần phải có những thành viên sáng tạo, với những khó khăn lặp lại thì phù hợp với một nhóm giàu kinh nghiệm, những biến cố khó lường trước đòi hỏi phải giao cho những con người linh hoạt và có tầm nhìn xa. Nhà quản lý phải thường xuyên cọ xát với các thành viên trong nhóm, luôn có những thay đổi phù hợp về nhân sự và cách lãnh đạo và để thích ứng với mỗi hoàn cảnh riêng.

    5. Vượt lên trên sự ganh ghét đố kị

    Một nhóm thống nhất và hoạt động có hiệu quả nhiều khi lại được kết nối bởi những “sợi chỉ” hết sức mong manh. Ví dụ như người mạnh không chịu giúp đỡ kẻ yếu, luôn tìm cách loại trừ nhau. Trong trường hợp này, năng lực lãnh đạo của nhà quản lý cần phải được xem xét lại.

    6. Những thành viên có vai trò làm “chất xúc tác” đặc biệt

    Họ là những cá nhân luôn làm được những điều ít ai nghĩ đến. Đó là những người tiên phong trong các hoạt động, để rồi chính thái độ hăng hái, niềm tin và ngọn lửa trong họ sẽ nhanh chóng lan tỏa đến các thành viên khác, thúc đẩy tính sáng tạo cũng như hâm nóng bầu không khí làm việc chung của cả nhóm.

    7. Sự suy thoái về đạo đức

    Nhà quản lý cần biết rằng nếu đạo đức bị ăn mòn, sẽ dẫn đến việc hoạt động của cả nhóm thối rữa theo. Hãy bắt đầu từ chính bản thân bạn. Liệu bạn có nghĩ rằng các thành viên trong nhóm không thể hòa thuận được với mình? Hay bạn cho rằng thành công đến từ cá nhân bạn là chính chứ không phải là của cả tập thể? Bạn có ghen tị không khi một thành viên khác trong nhóm được ngợi khen và biểu dương?…Hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi tương tự, nếu bạn trả lời “có” đối với phần lớn những câu hỏi ấy, hãy xem lại tư cách đạo đức của chính mình.

    8. Sự đánh giá khách quan giữa các cá nhân

    Các thành viên trong nhóm phải tự đánh giá lẫn nhau nhằm duy trì hoạt động bền vững, hay lớn hơn là sự sinh tồn của cả tập thể. Chẳng hạn, bản thân nhà lãnh đạo có đáng bị nghi ngờ về tính chính trực, liêm khiết? Hiệu quả hoạt động của mỗi cá nhân đã đạt được mức tốt chưa? Cống hiến của mỗi thành viên vào thành công của cả tập thể là như thế nào?

    9. Chấp nhận trả giá cho thành công

    Các thành viên trong nhóm phải nhận thức được rằng để đạt được thành công, mỗi người đều phải trả giá. Sự hy sinh những thú vui, lợi ích cá nhân, gạt bỏ tính ích kỷ, cống hiến thời gian và trí tuệ là những cái giá mà bạn phải trả.

    10. Tính đồng nhất

    Giá trị chung của cả nhóm sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và thành bại của nhóm ấy. Không những thế, những giá trị đó sẽ đi theo nhóm, được khách hàng ghi nhận, được giới truyền thông đánh giá như nét độc đáo riêng của công ty bạn. Bởi vậy, bạn cần không ngừng quan sát xem mọi người nhìn nhận hình ảnh của các nhóm trong công ty như thế nào. Nên nhớ, nguyên tắc hoạt động của mỗi nhóm không thể thiếu đi tính đồng nhất, rõ ràng trong thông tin, liên lạc. Hãy tạo nên bầu không khí dân chủ, trao đổi thông thoáng từ lãnh đạo xuống nhân viên, từ nhân viên lên lãnh đạo, và giữa các nhân viên với nhau.

    Cuối cùng, mỗi nhóm cần nhận thức được chỗ đứng của mình để có những điều chỉnh phù hợp trong hoạt động. Quy luật phát triển hợp lý vẫn là “tre già măng mọc”, một tổ chức tốt là tổ chức có tính kế thừa cao. Nhà quản lý thành công là người tìm ra nhân vật thay thế mình.

    Nhận thức được 10 nguyên tắc bất di bất dịch trên, bạn sẽ thành công nhiều hơn trong việc quản lý các nhóm trong công ty. Cho dù mục đích hay kế hoạch của công ty bạn có thay đổi thế nào đi chăng nữa, đừng quên đầu tư, chăm chút và bổ sung những giá trị mới, tích cực cho các nhóm.

     

    Luật bất thành văn nơi công sở

     

    Ngày đầu bạn đến trường, cùng với bản nội quy học sinh được phát đến tận tay và bị “ép buộc” đọc, bạn còn phải tự quan sát thêm và thích nghi với “luật lệ riêng” của từng thầy cô.

     

    Cũng vậy, khi lớn lên và đi làm, quy định cụ thể trong công ty có thể cũng chả nhiều nhặn gì, đâu đâu cũng na ná nhau, nhưng luật bất thành văn mới là thứ đáng lưu tâm nhiều nhất.

    Có thể chả đầy đủ đâu, nhưng những lưu ý sau đây có thể tiết kiệm cho bạn thời gian để quan sát (và cả hứng chịu rắc rối) trước khi nhận ra những quy tắc ngầm của nơi làm việc:

    Điện thoại di động:

     

    Tránh nghe hay gọi điện thoại cá nhân ngay tại bàn làm việc, cho dù nội dung điện thoại liên quan đến công việc vì có thể tiếng nói chuyện rì rầm của bạn làm phiền đến người kế bên. Hơn nữa, công sở là nơi tai vách mạch rừng, những gì thuộc về bạn thì nên giữ bí mật.

    Khi vào phòng họp, hãy tắt điện thoại, đừng mở nó cho dù bạn để ở chế độ rung chăng nữa. Vì khi cuộc gọi và tin nhắn xuất hiện, bạn sẽ khó cưỡng ý định nhấc chiếc điện thoại lên, hoặc chí ít cũng cố nhìn xem tin nhắn và cuộc gọi đến từ ai. Điều này không chỉ bất lịch sự mà còn khiến sếp cảm thấy bạn hay lo ra, không tập trung vào công việc.

     

    Đừng nghe điện thoại trong toilet, thứ nhất âm lượng của bạn trong toilet sẽ to hơn ở ngoài rất nhiều, và khả năng là cuộc đối thoại của bạn sẽ oang oang ra ngoài gây khó chịu cho người khác. Thứ hai, bạn cũng chả biết được ai đang ở buồng kế bên.

     

    Sử dụng Internet:

     

    Nếu chỗ làm của bạn cấm dùng Facebook thì không có gì phải bàn, nhưng nếu chính sách Internet của công ty thoải mái hơn thì bạn cũng đừng nên đi quá giới hạn. Bạn có thể lướt net một chút nếu cần thư giãn đầu óc, nhưng xong một vài phút bạn phải tắt ngay, nếu để ẩn dưới thanh công cụ, sếp hoặc đồng nghiệp đi ngang có thể nhìn thấy bạn đang mở cái gì, tất nhiên sẽ không hay cho bạn., và chính bạn cũng khó cưỡng lại sự cám dỗ cứ vài phút lại bật chúng lên một lần.

     

    Tế nhị khi ở bàn làm việc:

     

    Ví dụ như công việc của bạn thiên về sáng tạo, bạn có thể vừa đeo headphone nghe nhạc vừa làm việc mà chẳng có vấn đề gì, nhưng bạn sẽ gây bực mình cho người xung quanh nếu cứ hát ri rí theo bản nhạc hoặc huýt sao, gục gặc đầu…Những hành động nhỏ của bạn có thể khiến người khác ngứa mắt mặc cho có liên quan đến họ hay không. Vì thế khi ngồi trong phòng làm việc, bạn phải tinh ý quan sát không khí chung vài thái độ của mọi người để “nhập gia tùy tục”.

     

    Vấn đề liên quan đến con người là chuyện rắc rối nhất nơi công sở, và thật không may là mọi người lại thường không thẳng thắn với nhau. Vì vậy việc đầu tiên ngay khi bước vào một công ty là tìm hiểu luật lệ ngầm nơi đó, chấp nhận hay không tùy mỗi người, nhưng thực tế tương lai của bạn tại công ty có thể đặt nền tảng trên những thứ rất nhỏ nhặt.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Xu-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-ph%C3%A2n-ph%E1%BB%91i-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Việt Nam được biết đến là một quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao, chính trị ổn định, thu hút sự chú ý của không ít các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là một trong những thị trường đông dân, với kết cấu dân số trẻ và nhu cầu mua sắm ngày càng tăng thì lĩnh vực phân phối bán lẻ dường như trở thành một miếng bánh béo bở cho các nhà kinh doanh trong và ngoài nước.

    Sau khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã tiến hành gỡ bỏ dần rào cản về thuế quan, đưa ra các chính sách đãi ngộ với các doanh nghiệp nước ngoài nhằm tiến hành xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi theo đúng với những nguyên tắc đã cam kết khi gia nhập vào tổ chức này. Cụ thể là vào 01/01/2009, Việt Nam đã tiến hành mở cửa hoàn toàn với thị trường bán lẻ, cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Điều này đem lại lợi ích hay thách thức như thế nào? Ảnh hướng đến xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam ra sao chính là vấn đề mà nhóm chúng em đã tiến hành tìm hiểu và đưa ra nhận định trong bài tiểu luận này. Vì hạn chế về thời gian và kiến thức nên trong bài nghiên cứu này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong cô góp ý để chúng em có thể hoàn thiện.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!

    I. Khái quát chung về thị trường bán lẻ tại Việt Nam.

    1.  Độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ ở Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO.

    Ngay từ khi tiến hành đẩy mạnh các chính sách mở cửa thị trường trong quá trình xin gia nhập WTO, Việt Nam đã trở thành một trong những “điểm nóng” cho các nhà đầu tư nước ngoài mong đợi, đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Thông thường, cơ hội tham gia vào mỗi thị trường của các doanh nghiệp sẽ diễn ra trong vòng từ 5 đến 10 năm, đây là khoảng thời gian mà các nhà đầu tư coi là “cơ hội vàng” của họ. Như trước đây thì Trung Quốc đã từng là nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn, sôi động, là nơi thu hút nhiều nhất các nhà đầu tư lớn, thế nhưng giai đoạn gần đây, thị trường bán lẻ Trung Quốc đã bão hòa, tiến dần đến thoái trào. Và các đại gia đã nhanh chóng bị thu hút bởi Việt Nam  nổi lên là một thị trường mới đầy tiềm năng cho ngành phân phối bán lẻ, là được xem như một “ Little Indian” mới.

    Sau khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, liên tục trong 3 năm 2007, 2008, 2009 Việt Nam đều nằm trong tốp 7 nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn hàng đầu thế giới. Điều này đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến của các nhà phân phối hàng đầu trên thế giới như  Parkson (Malaysia), Big C ( Hà Lan) hay Diamond Plaza (Hàn Quốc)… Họ đã nhanh chóng tân dụng cơ hội để thâm nhập vào thị trường nội địa, thiết lập hệ thống phân phối của mình tại các thành phố lớn ( chủ yếu là Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng…), và chỉ trong 2 năm (từ 2007 đến 2009) hàng loạt các đại gia lớn đã có mặt trên thị trường bán lẻ Việt Nam, đe dọa đến sự tồn tại của các nhà phân phối bán lẻ Việt (Hapro, Saigon Coopmark, Thái  Phú…). Đặc biệt, vào 01/01/2009 vừa qua, chính phủ đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ tại Việt Nam, cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài. Điều này có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện hơn nữa hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam, nhưng nó lại trở thành một bài toán khó cho các nhà phân phối bán lẻ trong nước.

    2. Đánh giá về các yếu tố tạo điều kiện để phát triển hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

    2.1. Các yếu tố thuận lợi:

    2.1.1. Kinh tế.

    Thứ nhất, kinh tế Việt Nam được đánh giá là phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng cao qua các năm, GDP năm 2006 là 8,17% và tăng lên 8,.. % vào năm 2007. Cuối năm 2008, thế giới đã phải chứng kiến cơn bão suy thoái kéo theo sự sụt giảm về mức tăng trưởng kinh tế của toàn thế giới, tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tuy vậy, kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng vượt qua khủng hoảng với con số khá ấn tượng  doanh số bán lẻ dịch vụ đạt 1.200 nghìn tỷ VNĐ (2009) tương ứng với mức 11%. Nhờ đó các chuyên gia kinh tế đã đưa ra đánh giá lạc quan cho sự phát triển cho ngành phân phối bán lẻ vào năm 2010 với mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ dự kiến sẽ tăng lên 20% ứng với 1.440 nghìn tỷ đồng và hứa hẹn là thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp nước ngoài hướng đến.

    Thứ hai, việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại WTO đồng nghĩa với việc các rào cản kinh tế bị gỡ bỏ, các doanh nghiệp đã có thể tự do tiếp cận và tiến hành khai thác thị trường. Các chính sách của nhà nước cũng đã thông thoáng hơn rất nhiều, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam, điều này không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp thuộc ngành mà quan trọng hơn là sẽ tạo cơ hội phân phối hàng Việt đến tận tay người tiêu dùng Việt tốt nhất.

    Thứ ba, ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa của nước ta đã có rất nhiều tiến bộ như sự ra đời của các khu công nghiệp, các nhà máy có quy mô sản xuất lớn, hay tập đoàn lớn trong ngành Hòa phát, gạch Đồng Tâm, Duy Lợi, Việt Tiến hay các hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm sạch, nước giải khát… Việc xuất hiện các sản phẩm mang thương hiệu nội đang dần lấy được niềm tin của người dân đã tạo ra nhu cầu đòi hỏi một kênh phân phối hàng hóa bán lẻ tiện dụng là rất lớn. Mà các nhà đầu tư vào lĩnh vực này cũng sẽ không phải lo lắng về việc cung cấp hàng hóa đầu vào.

    2.1.2. Xã hội:

    Hiện nay Việt Nam có khoảng 84 triệu người, với 75% dân số Việt Nam sống ở nông thôn dẫn đến sự chuyển dịch dân cư vào các trung tâm đô thị lớn diễn ra khá mạnh mẽ. Đáng nói hơn, Việt Nam lại là nước có kết cấu dân số trẻ 65% người dân đang ở độ tuổi lao động với hơn ½ ở độ tuổi 30 – là độ tuổi có mức chi tiêu cho mua sắm nhiều nhất. Chính những điều này đã tác động không nhỏ đến thói quen tiêu dùng tại thị trường nước ta hiện nay, mức tiêu thụ hàng hóa đã tăng cao.

    Bên cạnh đó, thu nhập của người dân đã cao hơn trước. Hiện có khoảng 1% dân số thuộc tầng lớp thu nhập rất cao gọi là “ vinavalet” sẽ là lực lượng kích thích sự gia tăng sử dụng hàng hóa xa xỉ (như xe hơi BMW, đồng hồ Swatch, Titan, hàng nội thất sang trọng…) Đây cũng chính là lượng người có mức tiêu thụ lớn nhất và qua đó cũng giúp đẩy mạnh mức tiêu thụ. Các chuyên gia cho rằng chỉ 5 đến 6 năm nữa thôi thì sự tồn tại của các “vinavalet” sẽ chiếm đến 10% dân số, chính điều này đã hứa hẹn một thị trường tiêu dùng Việt Nam đầy tiềm năng.

    Lượng người tiến hành mua sắm qua kênh bán lẻ hiện đại ngày càng tăng, đặt biệt giới trẻ đang nghiêng về xu hướng thích mua sắm qua mạng internet, đặt hàng qua truyền hình  hoặc shopping tại các trung tâm thương mại lớn. Từ  năm 2007 có 66% người tiêu dùng thỉnh thoảng mua sắm tại siêu thị, thì cuối 2008 con số này đã lên tới 96% . %. Tần suất mua sắm tại cửa hàng tiện ích, siêu thị cũng ngày càng tăng, từ 2, 3 lần/tháng trong năm 2008, và nâng lên 4 – 5/tháng trong năm 2009

    2.1.3. Cơ sở hạ tầng.

    Trong những năm gần đây thì cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đã có sự đầu tư rất lớn. Sự ra đời của các tòa nhà thương mại, các trung tâm mua sắm hay các chung cư cao cấp tạo thuận lợi cho hệ thống các siêu thị lớn nhanh chóng ra đời (ví dụ như Zen laza, Sai gon Coorpmark, fivi mark…) với các trang bị nội thất hiện đại, thái độ phục vụ chuyên nghiệp và nhiệt tình của nhân viên, không những thế, các trung tâm này còn kết hợp cả việc mua sắm và vui chơi giải trí của người dân thành thị. Bên cạnh đó, hệ thống đường xá được cải tạo và xây mới đã tạo sự tiện lợi trong di chuyển và lưu thông hàng hóa bớt đi một vấn đề cho các nhà bán lẻ khi muốn vào thị trường Việt Nam.

    2.2. Hạn chế.

    2.2.1. Thói quen tiêu dùng của người Việt.

    Bên cạnh thế mạnh về dân số, thì thị trường Việt Nam khiến các nhà phân phối lớn phải đau đầu. Với thói quen “ Ăn một bát cháo chạy ba quãng đường”, người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận “ đi xa để mua được hàng hóa rẻ” hơn rất ít so với các trung tâm thương mại. Hơn thế nữa, phần đông người dân của chúng ta lại có mức thu nhập thấp đến trung bình nên họ quen thuộc với hình thức mua hàng tại các cửa hàng bách hóa nhỏ lẻ, hay các chợ trời, chỉ tính đến cuối năm 2008 đã có đến 9000 chợ tồn tại, chi có 13% lượng người chấp nhận mua sắm ở các kênh phân phối hiện đại.

    Hơn thế nữa, thời gian vừa qua thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của hàng loạt thể chế kinh tế lớn. Chính điều này đã tạo nên tâm lý lo ngại, hành động thắt chặt chi tiêu của không chỉ người dân Việt Nam mà đó là xu hướng chung của người tiêu dùng trên toàn thế giới khiến cho thị trường bán lẻ đã và đang đối mặt với nhiều khó khăn để kích thích người dân tăng tiêu dùng.

    2.2.2. Mặt bằng kinh doanh

    Một vấn đề nữa cũng khiến cho các nhà phân phối bán lẻ rất lo ngại đó là mặt bằng để tiến hành kinh doanh. Tuy cơ sở hạ tầng đã được đầu tư để thay đổi rất nhiều nhưng để xây dựng được một trung tâm mua sắm có quy mô phù hợp với mô hình mà các đại gia lớn như Big C, Zen Plaza hay Walt – mark yêu cầu còn rất hạn chế. Như tính đến thời điểm hiện nay, chỉ có ít nhất 7 trung tâm thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh có mặt bằng hơn 8.000 m2  tổng diện tích cho thuê, không những thế, mức giá mặt bằng là khá đắt, cụ thể là từ 15 – 100 USD/m2/tháng.

    2.2.3. Thủ tục để tiến hành tham gia kinh doanh vào lĩnh vực này.

    Theo như cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành mở cửa hoàn toàn cho ngành phân phối bán lẻ, 01/01/2009, chính phủ đã cho phép sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào thị trường bán lẻ Việt Nam. Thế nhưng trong thủ tục cấp phép đầu tư và thành lập cơ sở bán lẻ lại có một số vấn đề chưa được rõ ràng. Theo quy định tại Nghị định số 23, để được cấp phép đầu tư thì cần có sự chấp thuận của Bộ Công Thương trong từng trường hợp cụ thể. Quy định này nằm ngoài thủ tục cấp phép thông thường đã xây dựng nên rào cản mới về pháp lý trong đầu tư. Theo nội dung các công văn của Bộ Công Thương thì “kinh nghiệm quản lý”,“năng lực kinh doanh” và “khả năng tài chính” của nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện cấp phép mới, trong khi các tiêu chí này lại chưa được ghi nhận và định lượng cụ thể trong bất kỳ tài liệu pháp lý nào. Trong thủ tục tiến hành cấp phép cơ sở bán lẻ thì quyết định 10 quy định: “Quyền phân phối của nhà đầu tư nước ngoài gắn với quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất, việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT)”. Tuy nhiên, trên thực tế lại không có ngoại lệ nào đối với “quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất”, nghĩa là việc thành lập cơ sở bán lẻ nói chung và cơ sở bán lẻ thứ nhất nói riêng trong mọi trường hợp đều là đối tượng kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) và phải được sự chấp thuận của Bộ Công Thương. Ngoài ra, trong một công văn của Bộ Công Thương, ngay cả trong trường hợp cơ sở bán lẻ đang hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp cũng sẽ bị kiểm tra nhu cầu kinh tế khi doanh nghiệp đăng ký chuyển nhượng phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài. Việc sử dụng công cụ “Kiểm tra nhu cầu kinh tế” trong trường hợp này là đã đi quá xa so với mục tiêu và ý nghĩa tồn tại của các tiêu chí “Kiểm tra nhu cầu kinh tế” mà WTO cho phép.

    II Xu hướng phát triển hệ thống phân phối bán lẻ tại thị trường Việt Nam.

    Thị trường bán lẻ tại Việt Nam xuất hiện những xu hướng mới đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO và mở cửa hoàn toàn thị trường này từ ngày 1/ 1/ 2009.

    1.         Tiến hành hoạt động sát nhập giữa các doanh nghiệp.

    Không phải chờ tới khi Việt Nam gia nhập WTO thì các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cũng đã cảm thấy được sức ép lớn từ phía các doanh nghiệp nước ngoài. Theo lộ trình hội nhập WTO, năm 2009 sẽ là năm bắt đầu cho cuộc thay đổi lớn đối với thị trường bán lẻ tại Việt Nam với việc các tập đoàn, nhà đầu tư quốc tế sẽ có thể thành lập công ty bán lẻ 100% vốn nước ngoài thay vì phải xin phép hoặc liên doanh như trong giai đoạn 2006 – 2009. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia mạnh về tài chính, nguồn lực, cách quản lý hiện đại và tiềm lực vượt trội về thị trường. Do đó việc sát nhập và liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước là xu hướng tất yếu của nghành công nghiệp bán lẻ trong môi trường kinh doanh mới như hiện nay. Tiêu biểu là cuộc sát nhập giữa bốn doanh nghiệp lớn trong nước là tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro), tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra), liên hiệp Hợp tác xã thương mại Sài Gòn (Saigon Co.op), công ty cổ phần tập đoàn Phú Thái (Phu Thai Group) hợp tác thành công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA). VDA ra đời nhằm liên kết các nhà phân phối lớn của Việt Nam, làm nòng cốt cho phân phối nội địa và bổ trợ lẫn nhau trong các giải pháp tổng thể về kho vận, giữ vai trò chủ đạo trong lưu thông hàng hoá và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn phân phối nước ngoài. VDA sẽ tập trung vào việc xây dựng và phát triển chuỗi các Trung tâm Thương mại, các Đại siêu thị với các thương hiệu và đẳng cấp khác nhau, hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại để tạo điều kiện cho việc tổ chức lại hệ thống bán buôn, phân phối và bán lẻ.

    2.         Bùng nổ thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử hay e-commerce bao gồm một loạt các hoạt động kinh doanh trực tuyến đối với các sản phẩm và dịch vụ, giữa bản thân các doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với khách hàng thông qua Internet. Lợi ích của thương mại điện tử đối với dịch vụ bán lẻ thể hiện rất rõ trên các mặt như: tăng được năng suất do việc quản lý mua sắm và kho dự trữ đạt hiệu quả cao hơn (kiểm kê hàng hoá không cần giấy tờ) hoặc do cải thiện được hệ thống kênh phân phối trong và ngoài nước, tiết kiệm được chi phí giao dịch, đem lại cảm giác thoải mái, tiện lợi khi mua hàng, tăng cường hiệu quả quảng cáo, marketing bán hàng và thanh toán tiền hàng, tăng nhanh khả năng phổ biến và tiếp thu công nghệ mới… Thương mại điện tử bán lẻ với tính cách mạng tiên tiến và những ưu thế ngày càng vượt trội là mục tiêu lớn vươn tới của hệ thống bán lẻ của Việt Nam. Dự báo trong vòng 5 – 10 năm tới, tuy các cửa hàng bán lẻ truyền thống vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra doanh số của bán lẻ nhưng tỷ trọng của hình thức bán lẻ ảo sẽ tăng lên nhanh chóng và đạt được thị phần đáng kể. Hơn thế nữa Ebay vừa hợp tác với Công ty Peacesoft (chủ website chodientu.com ) tạo nên  khu chợ “ảo” với hàng chục nghìn lượt giao dịch mỗi ngày càng cho thấy những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam. Bên cạnh đó,  theo trung tâm Internet Việt Nam, hiện tại có 15 triệu người Việt Nam sử dụng Internet và trong 3 năm tới, con số này có thể lên tới 30 triệu. Thị trường rộng lớn đó, kết hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trong xu thế phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ.

    3.         Kết hợp chức năng vừa là bán lẻ vừa là bán buôn.

    Đó là xu hướng kết hợp giữa bán buôn và bán lẻ. Trên thế giới đặc biệt là Mỹ và EU thường kết hợp hai chức năng này tại một điểm bán hàng với các phương thức đơn giản nhằm giảm chi phí về dịch vụ và mang tính công nghiệp cao. Ở Việt Nam hình thức này mới bắt đầu hình thành nhưng được dự đoán là xu hướng phát triển mới của nghành phân phối Việt Nam nói chung và hệ thống bán lẻ Việt Nam nói riêng. Hình thức này ở nước ta tồn tại dưới dạng các trung tâm thương mại hay các đại siêu thị ngày càng tích cực tham gia dịch vụ bán buôn. Sự kết hợp này giúp doanh nghiệp vừa nâng cao lợi nhuận, vừa nắm bắt nhanh chóng nhu cầu xã hội để kịp thời đề ra chiến lược kinh doanh tốt nhất. Siêu thị bán buôn Metro là một trong những doanh nghiệp nước ngoài đi tiên phong về xu hướng này và có những thành công đáng kể.

    4.         Tăng thêm các dịch vụ nhằm thỏa mãn khách hàng.

    Có một số nhận định cho rằng bán lẻ là một nghành rất đặc thù vì nó là hỗn hợp giữa sản phẩm và dịch vụ. Do vậy, để làm hài lòng khách hàng, ngoài yếu tố sản phẩm, chất lượng phục vụ cũng có tầm ảnh hưởng rất lớn. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, bên cạnh việc đảm bảo hàng hoá phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất lượng, giá cả hợp lý, doanh nghiệp nào có dịch vụ khách hàng tốt hơn thì khả năng thành công sẽ cao hơn. Với nhận thức như trên thì hiện nay các doanh nghiệp tìm mọi cách để gia tăng các dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Có dịch vụ trực tiếp diễn ra trong quá trình bán hàng như: dịch vụ bao bì, đóng gói; vận chuyển hàng tận nhà; bảo hành sửa chữa … Có dịch vụ phục vụ cho sự tiện lợi của khách hàng như kết hợp giữa nơi bán hàng và nơi giải trí, có chỗ cho con trẻ vui chơi trong khi người lớn mua hàng (có thể là phòng chiếu phim, chơi games, phòng vẽ tranh…).

    5.         Hướng về thị trường nông thôn.

    Ở Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm 62,5% GDP,với trên 74% dân số (khoảng 64 triệu người) . Với số lượng khách hàng sẵn sàng tiêu dùng nhiều gấp ba lần khu vực thành thị và nhu cầu mua sắm ngày càng cao, rõ ràng thị trường nông thôn nước ta có tiềm năng rất lớn. Tuy vậy thì thị trường vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả. Người dân nông thôn khi tiếp cận một sản phẩm, hàng hóa thường ít quan tâm tới thương hiệu hơn người dân thành thị. Vì vậy, doanh nghiệp chưa có thương hiệu tại thị trường nội địa có nhiều cơ hội để xâm nhập và hạn chế việc đối đầu trực tiếp với doanh nghiệp có thương hiệu trong giai đoạn đầu. Bên cạnh đó không khó tính như thị trường thành thị, thị trường nông thôn được coi là dễ tính hơn. Yếu tố đầu tiên thu hút đối tượng khách hàng này chính là giá cả. Cùng một loại sản phẩm, chỉ cần nhãn hiệu này giá đắt hơn một chút là lập tức người tiêu dùng nông thôn sẽ chuyển sang mua nhãn hiệu khác rẻ hơn. Tuy nhiên, với mức sống ở nhiều khu vực nông thôn đang ngày càng được cải thiện thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng ngày càng tăng.

    6.         Sự phát triển về nhượng quyền thương mại.

    Hình thức nhượng quyền thương mại (franchising) đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Bản chất của hình thức tổ chức này là doanh nghiệp kinh doanh một ngành hàng nào đó, sau khi đã đạt được những thành công trong kinh doanh và xây dựng được một thương hiệu mạnh, sẽ nhượng quyền khai thác thương mại cho các doanh nghiệp hay cá nhân khác theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.

    Theo thống kê của Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới năm 2004, Việt  Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền hoạt động, trong đó phần lớn là các thương  hiệu nước ngoài. Đến 2006, có khoảng 530 hồ sơ đăng ký nhượng quyền thương mại trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo dự đoán, hoạt động nhượng quyền thương  mại sẽ tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng 25-30% trong 2-3 năm tiếp theo. Trong số các ngành có thể áp dụng mô hình nhượng quyền thương mại thì bán lẻ là một trong những ngành có tỉ lệ nhượng quyền cao nhất, chỉ sau ngành thực phẩm. Đây là một trong những xu hướng phát triển mới của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Đã có một vài thương hiệu bán lẻ Việt Nam dự định mở rộng hệ thống của mình bằng cách nhượng quyền như Coop-mart, G7 Mart, V-24h… Tuy vậy thì các doanh nghiệp cũng gặp phải những khó khăn nhất định trong kinh nghiệm quản lý chuỗi khi thực hiện nhượng quyền. Nhượng quyền là lựa chọn hợp lý cho nhiều doanh nghiệp nội thiếu vốn, ít kinh nghiệm, khó đầu tư trực tiếp. Khi các thương hiệu nước ngoài sử dụng phương thức này để thâm nhập sâu vào Việt Nam, vấn đề của doanh nghiệp nội phải bắt kịp làn sóng nhượng quyền để mở rộng thị phần trong cuộc cạnh tranh bán lẻ hiện nay.

    III. Các kiến nghị cho các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh và phát triển trong hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ hai năm trở lại đây, người ta đã khá quen thuộc khi nghe đến “ngành phân phối bán lẻ” ở Việt Nam. Lúc đầu, phần lớn mọi người đều rất nghi ngờ về khả năng  tồn tại và phát triển của ngành này tại thị trường Việt Nam, vốn là quốc gia nghèo, người dân có thu nhập thấp thì việc chi tiêu thường xuyên cho các khu mua sắm lớn là điều không tưởng. Thế nhưng sự thật lại ngược lại, theo như những phân tích ở trên có thể thấy, hệ thống phân phối bán lẻ tại Việt Nam tuy chỉ mới phát triển mạnh trong thời gian gần đây nhưng đã có mức tăng trưởng nhanh với 18,6% năm 2009, và đóng góp đến 14% GDP cho đất nước và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động (theo số liệu của Tổng cục thống kê).

    1. Từ phía doanh nghiệp.

    Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế của các quốc gia đều mới hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, thị trường bán lẻ dường như cũng khó khăn hơn với tâm lý thắt chặt chi tiêu của người dân. Nhưng thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là phục hồi khá nhanh và đã đang sôi động trở lại. Điều này sẽ giúp hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam sẽ tăng thêm số lượng các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng hậu, kinh nghiệm quan lý lâu năm và tính chuyên nghiệp cao nhưng cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước sẽ phải gồng mình để tồn tại trước sự có mặt của những gã khổng lồ này. Hơn thế nữa, phân phối bán lẻ là một trong những lĩnh vực xương sống cho nền kinh tế nước ta, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển của ngành sản xuất trong nước, đưa hàng hóa Việt vào phục vụ người Việt. Do đó, nếu các doanh nghiệp Việt Nam để mất thị phần ngay trên thị trường nội địa sẽ gây ra những tổn thất rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trong nước. Khi nước ta đã là thành viên của WTO thì không có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước, do vậy, nhà nước không thể bảo hộ “các con của mình” như trước đây mà buộc bản thân các doanh nghiệp trong nước cần có những chính sách, hành động phù hợp để có thể tồn tại được trên chính mảnh đất của mình. Có 4 thách thức lớn mà các doanh nghiệp tham gia lĩnh vực phân phối bán lẻ của ta phải đối mặt là:

    –        Nguồn lực tài chính

    –        Tính chuyên nghiệp trong quản lý

    –        Nguồn nhân lực

    –        Ứng dụng công nghệ thông tin.

    Hầu hết những người tiên phong khai thác thị trường bán lẻ Việt Nam đều là những nhà phân phối gạo cội trong ngành, có tiềm lực tài chính rất lớn. Chính vì vậy, đây là một trong những khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp trong nước phải đối mặt, đây là lý do mà nhiều địa điểm phân phối bán lẻ đã mọc lên nhưng chỉ trụ được một thời gian thì phải đống cửa. Do đó muốn tạo nên sức mạnh để cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải liên kết lại với nhau để tạo nên sức mạnh về vốn, tăng khả năng tài chính nhằm mở rộng quy mô, cải tiến trang thiết bị và cơ sở vật chất, có tiềm năng tài chính mạnh thì mới có thể tạo lòng tin từ các nhà cung cấp, đối tác từ đó mới có được lòng tin từ khách hàng. Tính chuyên nghiệp trong quản lý còn hạn chế, cuộc sống càng hiện đại thì đòi hỏi tính chuyên nghiệp ngày càng cao, do vậy chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp mình. Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào hệ thống phân phối nước ta là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có thể học tập được các kinh nghiệm trong công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần phải có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. Ngày nay, khi  giới trẻ Việt Nam tăng xu hướng tiêu dùng hướng mạnh về loại hình mua sắm hiện đại (như tiến hành mua sắm ở các trung tâm mua sắm lớn, mua hàng qua mạng hay các kênh truyền hình…) thì việc đầu tư xây mới và cải tạo cơ sở hạ tầng, thiết bị điện tử cho hệ thống phân phối.

    Có nhiều doanh nghiệp trong nước đã tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài để có thể tận dụng được sức mạnh tài chính, kinh nghiệm quản lý của họ. Đây cũng là một trong những giải pháp tối ưu mà các doanh nghiệp trong nước có thể áp dụng khi tiềm lực kinh tế còn chưa đủ mạnh để tự kinh doanh hoặc đối đầu với họ trong một thị trường mới.

    Bên cạnh việc củng cố sức mạnh nội lực của mình thì các doanh nghiệp phân phối bán lẻ cần phải tập trung đầu tư và mở rộng hệ thống của mình để tranh thủ chiếm lấy các khoảng còn trống của thị trường. Như các thị trấn nhỏ, các khu vực nông thôn hiện đang thiếu hàng hóa rất nhiều. Trong một cuộc thử nghiệm gần đây của nhà phân phối bán lẻ Hapro đã tiến hành bán hàng tại Ba Vì – Hà Tây đã đạt được kết quả khá bất ngờ, doanh số mà họ thu được trong 3 ngày bằng cả một năm kinh doanh tại Hà Nội. Khi các đại gia nước ngoài quá chú trọng đến mảng thị trường ở thành thị thì thiết nghĩ các doanh nghiệp Việt Nam cần chăm sóc hơn nữa đến các khu vực nông thôn hoặc thành phố nhỏ vì đây là vùng đất đang rất cần nguồn cung ứng hàng hóa tiêu dùng. Đặc biệt, trong giai đoạn vừa rồi, khi mà nền kinh tế thế giới phải trải qua cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 làm cho tốc độ đầu tư và mở rộng quy mô của các nhà phân phối nước ngoài vào Việt Nam đã giảm thì đây là cơ hội để các nhà phân phối Việt Nam cần tăng hơn nữa việc mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình ra các địa phương.

    2. Từ phía chính phủ.

    Lưu thông hàng hoá, nhất là khâu tổ chức thị trường bán lẻ là khâu năng động và linh hoạt nhất của chu trình tái sản xuất, có tác động chi phối sự vận động của đời sống kinh tế – xã hội. Do vậy vai trò của nhà nước là không nhỏ trong việc phát triển hệ thống bán lẻ Việt Nam. Với những nhận định về thực trạng cũng như xu hướng phát triển củng ngành công nghiệp bán lẻ, chúng tôi xin đưa ra giải pháp như sau.

    Giải pháp hàng đầu là tổ chức và tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ thống bán lẻ, nhất là các DN sản xuất, kinh doanh lớn. Trong đó phát huy vai trò chủ lực của DNNN, sớm hình thành mạng lưới phân phối hợp lý, thông suốt trên phạm vi cả nước, từng bước chiếm lĩnh địa bàn trọng yếu, đủ nguồn lực để can thiệp, chi phối quan hệ cung cầu, không để xảy ra cơn sốt những mặt hàng chiến lược phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, như vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, lương thực, thuốc chữa bệnh… Xây dựng cơ chế, chính sách để các DN quốc doanh và dân doanh cùng tham gia cạnh tranh cung ứng hàng hoá để hàng hoá đến người tiêu dùng với mức giá hợp lý nhất.

    Các nước phát triển đang giảm bớt các siêu thị bán lẻ, xuất khẩu các siêu thị bán lẻ sang các nước đang phát triển như Việt Nam để phát triển thương mại điện tử ở nước họ. Các nhà bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh chủ yếu tập trung ở các đô thị và một số đối tượng khách hàng nhất định. Cho nên nhà nước cần có những chính sách cần tập trung phát triển hình thức bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng) đồng thời hướng tới thương mại điện tử. Phương thức bán lẻ truyền thống có thể bị thu hẹp nhưng chợ vẫn là kênh mua sắm chủ yếu của người dân lao động, nhất là các mặt hàng thực phẩm tươi sống, nơi giao thương sản phẩm nông nghiệp giữa nông thôn và thành thị. Cần củng cố, đổi mới nâng cấp các chợ trong chuỗi các giải pháp xây dựng TTBL. Bộ Công thương vừa ban hành quy hoạch phát triển mạng lưới chợ toàn quốc và quy hoạch đất đai xây dựng chợ, trung tâm điều phối bán lẻ là điểm nhấn trong tổng thể phát triển kênh phân phối hiện nay.

    Nhà nước cần tạo cơ chế để các DN bán lẻ trong nước có đất đai, có vốn để mở rộng chuỗi bán lẻ theo quy hoạch. Quan tâm phát triển TTBL ở nông thôn và miền núi, trong đó chú trọng phát triển mô hình HTX dịch vụ tổng hợp ở nông thôn, HTX quản lý chợ và kinh doanh chợ.

    Để phát triển TTBL trong nước, Nhà nước cần xây dựng quy hoạch phát triển ngành thương mại, quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại cả nước và các địa phương đồng thời bổ sung, sửa đổi quy chuẩn để hướng dẫn phát triển các loại hình kinh doanh thương mại, làm cơ sở để DN đầu tư, là tiền đề kiểm soát thị trường của cơ quan quản lý.

    KẾT LUẬN

    Sau hơn một năm (kể từ ngày 01/01/2009) Việt Nam chính thức mở cửa  hoàn toàn thị trường bán lẻ thì hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam đã thực sự có những bước tiến đáng kể. Giờ đây, thị trường Việt nam không còn là sân chơi của riêng các nhà phân phối trong nước, mà nó đã trở thành thị trường của toàn cầu, là nơi mà các doanh nghiệp nước nhà phải có những nổ lực thực sự mới có thể cạnh tranh và tồn tại được. Sự tồn tại song song giữa các nhà phân phối trong nước và nước ngoài tuy là một trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đứng vững được trong hệ thống phân phối bán lẻ hiện nay nhưng đó cũng là một tác nhân quan trọng góp phần thúc đầy, tạo môi trường giúp các nhà phân phối của chúng ta học hỏi và phát triển một cách toàn diện nhất. Chính vì vậy mà giờ đây, người dân Việt Nam đã khá quen thuộc với những tên tuổi mang thương hiệu Việt như  Saigon coorp mark, Thái Phú, hay Vinatech… Những nhà phân phối của chúng ta không những đã dần khẳng định tên tuổi của doanh nghiệp mình trên thị trường nội địa mà còn giúp đưa sản phẩm Việt Nam được biết đến rộng rải hơn ở thị trường nước ngoài. Với những xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ hiện nay ở nước ta, phần lớn thị trường nước ta đã bị các nhà phân phối nước ngoài khai thác và nắm giữ, và họ nhanh chóng kéo theo các nhà sản xuất của mình vào để chiếm lĩnh thị trường nước ta, điều này có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến riêng lĩnh vực phân phối bán lẻ mà còn là nền sản xuất nội địa.

    Vì vậy, chúng em thiết nghĩ với những xu hướng phát triển như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, qua đó liên kết và nắm lại chuỗi phân phối bán lẻ tránh tình trạng để rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài, gây tổn hại về lâu dài cho nền kinh tế nước nhà.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giáo trình nghiệp vụ ngoại thương – CHƯƠNG 7 HỢP ÐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-Nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sau hơn mười năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thu được những thành tựu đáng kể. Từ nền kinh tế khép kín chuyển sang nền kinh tế mở với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Với chính sách đối ngoại mềm dẻo đã thu hút được lượng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài tận dụng thế mạnh trong nước.Thực tế đã chứng minh không một quốc gia nào phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài. Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng tất yếu quốc tế hoá nền kinh tế. Sự phát triển của thương mại quốc tế như là chất keo dính gắn kết các quốc gia lại với nhau trong sự phát triển thống nhất cuả nó. Thương mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian thời gian tạo những luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để cân bằng cung cầu.

    Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng quan trọng nhất quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi. Nó là mắt xích không thể thiếu trong cỗ máy thương mại quốc tế. Với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển và tình hình cụ thể. Ngày nay phương thức thanh toán thư tín dụng đang được sử dụng phổ biến. Trong chu trình thanh toán ấy ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán hộ. Ngân hàng thương mại là chất xúc tác giúp quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. Nó là chất dầu bôi trơn cỗ máy thanh toán quốc tế hoạt động nhịp nhàng và không mệt mỏi. …. Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các mối giao lưu thương mại ngày càng mở rộng đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải phát triển các dịch vụ của mình đặc biệt là thanh toán xuất nhập khẩu. Từ thực trạng không ít rủi ro đã xảy ra gây thiệt hại cả về tài chính và uy tín của ngân hàng trong thanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán thư tín dụng. Vì thế nghiên cứu phòng tránh rủi ro để nâng cao hiệu quả trong thanh toán thư tín dụng đã trở thành mối quan tâm xuyên suốt quá trình hoàn thiện và phát triển của mỗi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và lợi nhuận.

    Chương I : CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU

    I. TRẢ TIỀN MẶT (IN CASH):

     

    • Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua.
    • Đánh giá:
    • Ưu điểm:
      • Đơn giản.
        • Khuyết điểm:
      • Rủi ro cao và hiệu quả thấp. VD: phải tốn phí vận chuyển nếu như tiền ở số lượng lớn, nguy cơ bị cướp v.v..
    • Phòng ngừa:
      • Hạn chế thanh toán bằng tiền mặt.
      • Nếu có thanh toán bằng tiền mặt nên chọn những địa điểm an toàn, có bảo vệ.

    II. PHƯƠNG THỨC GHI SỔ (OPEN ACCOUNT):

     

    • Là phương thức thanh toán, trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua, sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo đó đến hạn quy định người mua sẽ trả tiền cho người bán.
    • Đánh giá:
    • Phương thức thanh toán đơn giản chỉ có hai bên: người bán và người mua tham gia thanh toán.
    • Ngân hàng không tham gia với chức năng mở tài khoản để thực thi thanh toán, chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên.
    • Phương thức này chỉ có lợi cho người mua.
      • Điều kiện áp dụng:
        • Thanh toán trong mua bán nội địa.
        • Thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài.
        • Thanh toán khi đôi bên mua bán rất tin cậy nhau.
        • Thanh toán tiền phí dịch vụ.

    III.  THANH TOÁN TRONG BUÔN BÁN ĐỐI LƯU:

     

    3.1 Khái niệm buôn bán đối lưu:

    Là hoạt động trao đổi hàng hóa trong thương mại quốc tế, trong đó hai (nhiều) bên tiến hành trao đổi hàng hóa nọ lấy hàng hóa kia.

    3.2 Các hình thức buôn bán đối lưu:

    • Nghiệp vụ Barter (nghiệp vụ đổi hàng thuần túy): là nghiệp vụ hàng đổi hàng.
    • Nghiệp vụ song phương xuất nhập: đây cũng là hoạt động mua bán đối lưu, nhưng có thể sử dụng tiền (hoặc một phần tiền) để thanh toán.
    • Nghiệp vụ Buy – Back: là nghiệp vụ mua bán đối lưu trong lĩnh vực đầu tư trung và dài hạn.

    IV.  PHƯƠNG THỨC NHỜ THU (COLLECTION):

     

     

    4.1 Khái niệm:

    Là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền thu ghi trên tờ hối phiếu đó.

    ÿ Tìm hiểu về hối phiếu:

    Hối phiếu thương mại (B/E – Bill of Exchange).

    Œ Định nghĩa:

    Hối phiếu thương mại là một tờ mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người xuất khẩu (người bán, người cung ứng dịch vụ) ký phát đòi tiền người nhập khẩu (người mua, người nhận cung ứng) yêu cầu người này phải trả một số tiền nhất định cho người được hưởng lợi quy định trên hối phiếu, tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định (có thể trả ngay hoặc trả về sau).

     Đặc điểm:

    • Tính trừu tượng.
    • Tính bắt buộc trả tiền.
    • Tính lưu thông.

    Ž Hình thức (Theo ULB 1930 – Uniform Law for Bills of Exchange):

    • Phải lập thành văn bản. Có thể viết tay, đánh máy hoặc in sẵn…
    • Ngôn ngữ hối phiếu: một thứ tiếng.
    • Không được viết trên hối phiếu bằng bút chì, mực đỏ, mực dễ phai.
    • Hối phiếu có thể lập thành hai hay nhiều bản (thường là hai bản) có giá trị ngang nhau.

     Nội dung (Theo ULB 1930):

    • Phải ghi rõ tiêu đề (Bills of Exchange/Exchange of Draft).
    • Ghi rõ địa điểm, thời gian lập hối phiếu.
    • Mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện.
    • Một số tiền nhất định (ghi rõ ràng bằng số và bằng chữ).
    • Thời hạn trả tiền: trả ngay, trả sau.
    • Địa điểm trả tiền.
    • Người hưởng lợi.
    • Người trả tiền hối phiếu.
    • Người ký phát hối phiếu và ký tên.
    • Ngoài ra còn những nội dung mang tính tùy nghi.

    Mẫu hối phiếu trong phương thức nhờ thu:

     Phân loại:

    P Căn cứ vào thời hạn trả tiền:

    – Hối phiếu trả tiền ngay (Sight Bill).

    – Hối phiếu có kỳ hạn (Usance Bill).

    P Căn cứ vào chứng từ kèm theo:

    – Hối phiếu trơn (Clean Bill): là loại hối phiếu mà việc thanh toán nó không kèm theo điều kiện.

    – Hối phiếu kèm chứng từ (Documentary Bill): là loại hối phiếu khi gửi đến người trả tiền có kèm theo các chứng từ hàng hóa .

    PCăn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu:

    – Hối phiếu đích danh (Nominal Bill).

    – Hối phiếu trả cho người cầm phiếu (Bearer Bill).

    – Hối phiếu theo lệnh (Order Bill).

    P Căn cứ vào người ký phát hối phiếu:

    – Hối phiếu thương mại: do người xuất khẩu ký phát.

    – Hối phiếu Ngân hàng: do Ngân hàng phát hành dùng để chuyển tiền giữa các Ngân hàng.

    4.2PHƯƠNG THỨC NHỜ THU:

    Có hai loại nhờ thu:

    4.2.1) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):là phương thức mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền hối phiếu ở người mua, nhưng không kèm theo điều kiện gì cả.

    4.2.2)Nhờ thu kèm theo chứng từ(Documentary Collection):

    Là phương thức mà người bán sau khi hoàn thành nhĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ tiền tờ hối phiếu có điều kiện kèm theo.

    – Tùy theo điều kiện trả tiền, người ta chia phương thức này thành ba loại:

    • D/P at sight – Nhờ thu theo hình thức thanh toán ngay giao chứng từ. An toàn cho cả người mau với người bán.
    • D/A – Nhờ thu theo hình thức chấp nhận thanh toán giao chứng từ (Nhờ thu trả chậm).
    • D/OT – (Delivery of documents on orther terms and conditions) – Giao chứng từ kèm theo các điều kiện khác.

    4.3 QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ:

    Sơ đồ nghiệp vụ:

     

     

    4.3.1) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):

    1/ Người bán giao hàng lập bộ chứng từ giao thăng người mua.

    2/ Người bán ký hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó.

    3/ Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.

    4/ Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua và yêu cầu trả tiền.

    5/ Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ, có thể chia làm 3 trường hợp:

    • Người mua chiếm dụng hàng của người bán và không trả tiền.
    • Người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng, người bán phải xử lý:
      • Thương lượng để bán giảm giá cho người mua.
      • Bán cho người khác.
      • Vận chuyển về hoặc bỏ đi.
    • Người mua đồng ý trả tiền, thông thường sau khi nhận hàng thì người mua mới trả tiền.

    6/ Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.

    7/ Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

    Kết luận:

    Ú Phương thức này có nhược điểm là không đảm bảo quyền lợi cho người bán.

    Ú Trường hợp áp dụng phương thức này:

    Hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng trong nội bộ công ty với nhau.

    Dùng để thanh toán cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức…

    4.3.2) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection):

    1/ Người bán giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán trong đó bao gồm bộ chứng từ gửi hàng và hối phiếu chuyển cho ngân hàng và nhờ ngân hàng thu hộ tiền ghi trên tờ hối phiếu đó ở người mua.

    2/ Ngân hàng bên bán chuyển bộ chứng từ thanh toán cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.

    3/ Ngân hàng bên mua yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ, nếu người mua trả tiền mới trao chứng từ gửi hàng cho họ để nhận hàng, nếu không thì cầm giữ chứng từ lại và báo cho ngân hàng bên bán biêt.

    4/ Người mua trả tiền hoặc từ chối rả tiền, có thể chia thành 2 trường hợp:

    ” Người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng, người bán phải xử lý tương tự như trên (Clean Collection).

    ” Người mua đồng ý trả tiền:

    + Nếu là D/P thì người mua phải trả tiền để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    + Nếu là D/A thì người mua phải chấp nhận hối phiếu, đến thời hạn quy định sẽ trả tiền, để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    + D/OT thì người mua xuất trình các giấy hứa trả tiền, thư cam kết trả tiền, biên lai tín thác do chính người mua lập, để được nhận chứng từ đi lấy hàng.

    5/ Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.

    6/ Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

    Kết luận:

    Ú Ưu điểm: So với phương thức nhờ thu phiếu trơn, phương thức nhờ thu kèm theo chứng từ đảm bảo hơn, vì ngân hàng đã thay mặt người bán khống chế chứng từ.

    Ú Tuy vậy phương thức này vẫn còn những bất lợi cho người bán như:

    • Người mua có thể từ chối không nhận chứng từ vì lý do nào đó như giá hàng hóa đã hạ xuống chẳng hạn. Tuy quyền sở hữu vẫn thuộc về người bán, song hàng đã gửi đi rồi, giải quyết tiêu thụ ra sao?…
    • Thời gian thu tiền về còn quá chậm, nên vốn của người bán vẫn còn bị ứ đọng.

    V.   PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN (REMITTANCE):

    5.1  Khái niệm:

    Phương thức chuyển tiền là 1 phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu…) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung cấp dịch vụ…) ở một địa điểm nhất định.

    Các bên liên quan:

    Người trả tiền hoặc người chuyển tiền là người ủy nhiệm cho ngân hàng đại diện mình chuyển tiền.

    Ngân hàng nhận ủy nhiệm chuyển tiền là ngân hàng ở nước người trả tiền hoặc người chuyển tiền.

    • Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền thường là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.
    • Người hưởng lợi là người chủ nợ hoặc người bán, hoặc là người nào đó mà người chuyển tiền chỉ định.

    5.2.  Hình thức chuyển tiền:

    Thực hiện bằng các cách sau:

    • Hình thức điện báo (gọi là điện hối – Telegraphic Transfers – T/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Phương thức thanh toán này có lợi cho người mua (người nhập khẩu). Rủi ro thuộc về người bán (người xuất khẩu).

    Giao dịch đơn giản, ít khâu, ít chứng từ:
    – Khách hàng có thể mở tài khoản một nơi nhưng có thể giao dịch chuyển tiền tại bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng.
    – Khách hàng luôn được cung cấp đầy đủ ngoại tệ để thanh toán, nếu có nhu cầu.
    – Thời gian phát hành và xử lý chứng từ thanh toán quốc tế tối đa 01 ngày. Phát hành trực tiếp đến các ngân hàng tại 88 quốc gia trên thế giới.

    • Hình thức bằng thư (gọi là thư hối – Mail Transfers – M/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền viết thư (có thể là lệnh trả tiền – Payment Order, hoặc là giấy báo ghi có Avis credit) lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Đối với thanh toán bằng TT, thì lợi ích của nhà XK sẽ là rủi ro của nhà nhập khẩu. Tuỳ thuộc vào điều kiện thanh toán của từng hợp đồng.
    VD: Thanh toán bằng TT ……% tổng giá trị hợp đồng sau khi hợp đồng có hiệu lực, hoặc ….% tổng giá trị hợp đồng sau khi giao hàng.
    Như thế rủi ro đối với người NK là % ứng trước cho người XK, người XK có thể ko giao được hàng, và ngược lại người NK không có đủ năng lực tài chính để thanh toán khi hàng đã chuẩn bị hoặc đã được giao.

    Cách thức hạn chế là đối với phần ứng trước nên yêu cầu nhà XK xuất trình Letter of guarantee của Ngân hàng tương ứng với giá trị thanh toán trước. Còn đối với nhà XK thì ràng buộc bằng cách yêu cầu nhà NK cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình thông qua bảo lãnh thanh toán hợp đồng tương ứng với giá trị hợp đồng       được phát hành bởi NH của người NK.

    T/T nhanh hơm M/T nhưng chi phí chuyển tiền cao hơn rất nhiều, nên khi vận dụng các nhà xuất nhập khẩu cần cân nhắc kỹ.

    –   Hai cách chuyển tiền trên chỉ khác nhau ở chỗ là: (1) chuyển tiền bằng điện nhanh hơn chuyển tiền bằng thư, nhưng chi phí chuyển tiền bằng điện cao hơn.

    Tiền chuyển đi có thể là tiền của nước người thụ hưởng hoặc là tiền của nước người trả hoặc là tiền của nước thứ ba. Nếu là tiền của nước người thụ hưởng và tiền của nước thứ ba thì gọi là thanh toán bằng ngoại tệ. Trong trường hợp thanh toán bằng ngoại tệ thì người chuyển tiền phải mua ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái của nước đó.

    Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…

    5.3.  Qui trình nghiệp vụ:

    Xét về thời hạn chuyển tiền, có:

    • Chuyển tiền trả sau.
    • Chuyển tiền trả ngay.
    • Chuyển tiền trả trước.

    Chuyển tiền trả trước thường được sử dụng trong các trường hợp:

    • Người Nhập khẩu ứng tiền trước cho người Xuất khẩu.
    • Người Nhập khẩu trả tiền trước cho người Xuất khẩu x ngày trước khi giao hàng với mục đích đặt cọc (Performance Bond) thực hiện hợp đồng Nhập khẩu.

    Chuyển tiền trả ngay được thực hiện dưới các hình thức sau:

    • Người Nhập khẩu trả tiền cho người Xuất khẩu ngay sau khi người Xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng không trên phương tiện tại địa điểm giao hàng quy định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền cho người Xuất khẩu ngay khi người Xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại địa điểm giao hàng qui định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay sau khi chứng từ gửi hàng của người Xuất khẩu xuất trình tại địa điểm xuất trình qui định.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay khi chứng từ gửi hàng được xuất trình 5-7 ngày.
    • Người Nhập khẩu trả tiền ngay sau khi nhận hàng hoá tại nơi đến qui định hoặc tại cảng đến.
    • Trong các hình thức trả trước, trả ngay, trả sau, thì chuyển tiền trả sau được áp dụng nhiều nhất.

    Sơ đồ 3

    1. Sau khi hợp đồng ngoại thương được ký kết, người xuất khẩu cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người nhập khẩu, chuyển giao chứng từ cho người nhập khẩu.
    2. Đến thời hạn quy định, người nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình. Trong đó phải ghi rõ ràng, đầy đủ nội dung như sau:
      • Tên và địa chỉ người xin chuyển tiền.
      • Số tài khoản, ngân hàng mở tài khoản.
      • Số tiền xin chuyển.
      • Tên và địa chỉ người hưởng lợi. Số tài khoản. Ngân hàng phục vụ.
      • Lý do chuyển tiền.
      • Kèm theo các chứng từ có liên quan như: giấy phép nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương, tờ khai hải quan…
    3. Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và nhà nhập khẩu có đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu đẻ chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã thanh toán cho người nhập khẩu.
    4. Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý cho mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người xuất khẩu.
    5. Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu và gửi giấy báo cho đơn vị đó.

    5.4. Vận dụng:

    1. Đối với nhà xuất khẩu:

    Phòng mã của Ngân hàng nhận điện chuyển tiền từ Ngân hàng nước ngoài, sau khi kiểm tra mã nếu thấy đúng thì chuyển điện cho phòng nghiệp vụ tiến hành ghi bút toán:

    Nợ _ Ngân hàng nước ngoài.

    Có _ Cho công ty xuất khẩu.

    Bút toán được lập 4 liên, 01 liên giao cho nhà xuất khẩu.

    1. Đối với nhà nhập khẩu:

    Phương thức chuyển tiền thường dùng để:

    • Thanh toán tiền dịch vụ.
    • Thanh toán tiền hàng nhập khẩu có:

    Thanh toán ứng trước (hình thức đặt cọc hoặc cung cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu).

    Chuyển tiền trả người xuất khẩu sau khi đã nhận được hàng.

    Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, thanh toán viên sẽ kiểm tra số dư trong tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhập khẩu và chuyển tiền.

    Ÿ    Nếu số dư lớn hơn giá trị chuyển tiền: thanh toán viên đánh điện chuyển tiền.

    Ÿ    Nếu số dư nhỏ hơn giá trị chuyển tiền: doanh nghiệp nhập khẩu có thể xin mua hoặc vay ngoại tệ để thanh toán.

    Tóm lại:  Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:

    • Xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền. Ví dụ: chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào?; Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào?…
    • Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng.

    –     Quy định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu?

    Chuyển tiền là phương thức thanh toán, quyền lợi của người bán không được đảm bảo chắc chắn vì việc chuyển tiền hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và năng lực của người mua.

    VI. PHƯƠNG THỨC GIAO CHỨNG TỪ TRẢ TIỀN (CASH AGAINST DOCUMENTS – CAD):

    Trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, trước kia chỉ chủ yếu sử dụng 3 phương thức: documentary credits, collection và Remittance, từ những năm 1990 trở lại đây ở 1 số ngân hàng tại nước ta bắt đầu áp dụng phương thức CAD. Nó có lợi cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho họ có thể thanh toán được nhanh và chắc chắn.

    6.1. Khái niệm:

    CAD (cash against documents): nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ những chứng từ theo yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán.

    6.2. Quy trình nghiệp vụ:

    Sơ đồ 4

    1. Sau khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương với nhà xuất khẩu , người nhập khẩu cần đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện nghiệp vụ CAD. Để làm được điều đó, người nhập khẩu và ngân hàng sẽ thoả thuận và ký một bản ghi nhớ (Memorandum), gồm những nội dung sau:
      • Phương thức thanh toán ( Means of payment): CAD.
      • Số tiền ký quỹ (Pledged Amount) trị giá 100% thương vụ.
      • Những chứng từ yêu cầu ( Required documents)
      • Phí dịch vụ (Commission).

    Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản tín thác (Trust Account) sẽ được mở đề ghi số tiền ký quỹ, đồng thời ngân hàng cũng thông báo cho người Xuất khẩu về việc tài khoản tín thác đã hoạt động.

    1. Sau khi kiểm tra các điều kiện của tài khoản tín thác, nếu chấp nhận nhà xuất khẩu giao hàng cho người vận tải để chuyển đến nơi nhà NK yêu cầu.
    2. Nhà XK sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà Memorandum yêu cầu tại ngân hàng.
    3. Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu Memorandum, nếu thấy phù hợp thì tiến hành ghi Có cho người XK và ghi Nợ tải khoản ký quĩ của người NK, sau khi đã thu phí dịch vụ ngân hàng theo chỉ thị trong Memorandum.
    4. Ngân hàng giao chứng từ lại cho nhà NK.

    6.3.  Trường hợp áp dụng:

    Quan hệ bạn hàng tốt và thân tín giữa 2 bên xuất và nhập khẩu. Đặc biệt người NK phải rất tin tưởng ở người XK.

    Khi bán mặt hàng khan hiếm và người XK muốn có đảm bảo chắc chắn trong thanh toán.

    Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì tín dụng chứng từ được người ta sử dụng nhiều hơn cả.

    VII.  PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (DOCUMENTARY CREDITS):

    7.1.  Khái niệm: là sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng.

    F Các bên tham gia thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:

    • Người xin mở thư tín dụng (The applicant for the credit).
    • Ngân hàng mở thư tín dụng (The issuing bank or openinh bank).
    • Người hưởng lợi (The beneficiary).
    • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank).

    F Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng mở thư tín dụng:

    • Thông báo nội dung thư tín dụng và gửi bản gốc thư tín dụng cho người xuất khẩu.
    • Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở thư tín dụng.
    • Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến.
    • Ngân hàng được miễn trách nhiệm khi ngân hàng rơi vào trường hợp bất khả kháng.
    • Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng chịu trách nhiệm.

    F Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thông báo thư tín dụng.

    • Chuyển toàn bộ nội dung thư tín dụng nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản.
    • Ngân hàng không chịu trách nhiệm dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương.
    • Ngân hàng phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ thanh toán đến ngân hàng mở thư tín dụng khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu.

    F Ngoài ra còn có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này như:

    • Ngân hàng xác nhận (The confirminh bank): bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán.
    • Ngân hàng thanh toán (The paying bank): là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình trả tiền cho người xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu.

    7.2. Quy trình nghiệp vụ:

      Người mua làm đơn xin mở L/C yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người bán hưởng.

    • Ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C thông báo nội dung cho người bán biết và gửi bản chính L/C cho người bán thông qua ngân hảng thông báo.
    • Ngân hàng thông báo thông báo nội dung L/C cho người bán và chuyển bản chính L/C cho người bán.
    • Người bán giao hàng cho người mua, nếu chấp nhận L/C.
    • Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
    • ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp thì trả tiền cho người bán.
    • Ngân hàng mở L/C đòi tiền người mua.

    Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền cho ngân hàng mở L/C và nhận bộ chứng từ.

    F Lưu ý: trong thực tế trình tự các công việc trong từng trường hợp cụ thể có sự khác nhau, có thể tóm lại trong 4 loại:

    1. Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp mới thanh toán cho nhà xuất khẩu. Loại này không được đòi tiền thẳng mà gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C. Bất lợi cho người xuất khẩu vì gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C đòi hỏi thời gian dài.
    2. Khi ngân hàng bên xuất khẩu nhân được chứng từ của nhà xuất khẩu xuất trình, thấy phù hợp thì phát lệnh đòi tiền một ngân hàng thứ 3.
    3. Ngân hàng bên xuất khẩu nhân được chứng từ của người xuất khẩu xuất trình thấy phù hợp với L/C thì đòi tiền thẳng ngân hàng mở L/C. loại này tiện lợi, bảo đảm thanh toán được nhanh. Tuy nhiên, cần xem xét ngân hàng mở L/C có quan hệ như thế nào đối với ngân hàng bên xuất khẩu.
    4. Khi ngân hàng bên xuất khẩu nhận được chứng từ của người xuất khẩu nếu thấy phù hợp với L/C thì trực tiếp ghi nợ tài khoản của ngân hàng mở L/C tại ngân hàng bên xuất khẩu và trả tiền cho người xuất khẩu.

    7.3.  Thư tín dụng(letter of credit):

    1. Khái niệm:

    Thư tín dụng là một văn bản do một ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, cam kết trả tiền cho người xuất khẩu trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng, đầy đủ những điều khoản qui định trong thư.

    Tín dụng thư hoạt động theo 2 nguyên tắt:

    ª Độc lập: căn cứ vào nội dung và yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C. Nhưng khi đã mở rồi L/C lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.

    ª Tuân thủ nghiêm ngặt: ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao hàng hoàn toàn phù hợp với L/C, đúng với chỉ dẫn của người mua.

    1. Nội dung của L/C:

    Trong thư tín dụng có những nội dung sau:

    • Số hiệu, địa chỉ, ngày mở L/C.
    • Loại L/C.
    • Số tiền của L/C.
    • Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng.
    • Những qui định về hàng hoá.
    • Những qui định về vận tải, giao nhận hàng.
    • Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình.
    • Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C.
    • Những điều kiện đặc biệt khác.
    • Chữ kí cùa ngân hàng phát hành L/C nếu mở L/C bằng thư.
    1. Các loại L/C:

    Phân loại theo loại hình:

    Ø Thư tín dụng có thể huỷ ngang.

    Ø Thư tín dụng không thể huỷ ngang.

    Phân loại theo phương thức sử dụng:

    Ø  Thư tín dụng không huỷ ngang có giá trị trực tiếp.

    • Thư tín dụng không huỷ ngang có giá trị chiết khấu.
    • Thư tín dụng không huỷ ngang và không xác nhận.
    • Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận.
    • Thư tín dụng tuần hoàn.
    • Thư tín dụng có điều khoản đỏ.
    • Thư tín dụng dự phòng.
    • Thư tín dụng chuyển nhượng.
    • Thư tín dụng giáp lưng.

    Phân loại theo thời hạn thanh toán:

    • Thư tín dụng trả ngay.
    • Thư tín dụng trả chậm.

    Một số loại thư tín dụng thường được sử dụng trong thực tế:

    • Thư tín dụng có thể huỷ bỏ: là loại L/C mà ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể huỷ bỏ L/C bất co lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C (ít được sử dụng).
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ: là loại L/C sau khi được mở thì ngân hàng và người nhập khẩu không được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiệu lực của nó trừ khi có sự thoả thuận khác của nhà xuất khẩu và các bên tham gia L/C (được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế vì nó đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu).
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận:là loại L/C có bảo đảm cho việc thanh toán từ một ngân hàng có uy tín nào đó trong trường hợp việc thanh toán có vấn đề từ phía người mua hoặc ngân hàng mở L/C. Thư tín dụng có xác nhận được phát hành trong trường hợp người bán hoặc ngân hàng của người bán nghi ngờ vào khả năng thanh toán của ngân hàng phục vụ người mua do nhiều nguyên nhân. Trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn ngân hàng mở L/C. Loại L/C này đảm bảo nhất cho quyền lợi người xuất khẩu.
    • Thư tín dụng không thể huỷ bỏ, miễn truy đòi: là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền.
    • Thư tín dụng tuần hoàn: là loại L/C mà người hưởng lợi sau khi sử dung xong hoặc đã hết thời han hiệu lực thì nó tự động có giá trị như cũ có giá trị như cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá tri hợp đồng được thực hiện hoàn tất.

    Loại L/C tuần hoàn không tích lũy (Nocummulative revolving L/C):là loại L/C không cho phép chuyển trị giá L/C trước vào trị giá L/C sau.

    Còn nếu xét theo cách tuần hoàn,thì L/C tuần hoàn chia làm 3 cách tuần hoàn:

    • L/C tuần hoàn tự động:có nghĩa là nếu L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động có giá trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C.
    • L/C tuần hoàn không tự động:có nghĩa là nếu L/C sau muốn có giá trị thì phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu.
    • L/C tuần hoàn bán tự động:có nghĩa là nếu sau ngày kể từ ngày L/C trước hết hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị L/C mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C tự động có hiệu lực.

    Loại L/C tuần hoàn thường ít được sử dụng trong ngoại thương vì không có sự đảm bảo chắc chắn về thanh toán.Tuy nhiên loại L/C này được áp dụng với hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi.

    • Thư tín dụng dự phòng (standby Letter of Credit)

    Standby L/C là một loại văn bản do ngân hàng phát hành theo chỉ thị của người yêu cầu mở tín dụng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng,trong thời hạn hiệu lực của tín dụng,khi người thụ hưởng xuất trình các loại chứng từ sau:

    • Chứng từ yêu cầu thanh toán.
    • Chứng từ chứng minh việc không thực hiện hợp đồng của người yêu cầu mở tín dụng.

    Phân loại L/C standby:

    L/C standby dạng bảo lãnh tài chính:ngân hàng cam kết sẽ hoàn trả cho người thụ hưởng những khoản tiền ứng trước,những khoản tiền đã cho vay..khi người yêu cầu mở L/C không hoàn thành nghĩa vụ với người thụ hưởng.

    L/C standby bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ:trong đó ngân hàng sẽ cam kết trả tiền cho người thụ hưởng những khoản tiền đã cam kết,khi người yêu cầu mở L/C standby không hoàn thành nghĩa vụ cho họ.

    Phạm vi ứng dụng của L/C standby:

    L/C standby được sử dụng như một bảo lãnh ngân hàng để đảm bảo cho những khoản tiền vay trong xây dựng,đảm bảo khoản tiền ứng trước,đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thương mại, hợp đồng gia công, hợp đồng đầu tư liên doanh,tham gia dự thầu…

    Sơ đồ phát hành L/C Standby:

    • Thư tín dụng thanh toán dần dần:

    Là loại L/C không thể hủy ngang,trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người thụ hưởng sẽ thanh toán làm nhiều lần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn hiệu lực được quy định rõ.

    • Thư tín dụng ứng trước:

    Là loại L/C mà trong đó quy định một khoản tiền được ứng trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm định trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm nhất định trước khi bộ chứng từ hàng hóa được xuất trình.

    • Thư tín dụng chuyển nhượng:

    Là loại L/C không thể hủy bỏ,trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng thụ đầu tiên. L/C chuyển nhượng chỉ được phép chuyển nhượng một lần.chi phí chuyển nhượng thường là do người hưởng lợi đầu tiên phải trả.

    L/C chuyển nhượng được sử dụng trong các trường hợp mua bán tay ba,gồm:người mua,người bán,người mua bán trung gian.

    Sơ đồ quy trình hoạt động của L/C chuyển nhượng :

    Cách mở một L/C chuyển nhượng

    1.kí hợp đồng ngoại thương.

    2.yêu cầu mở L/C chuyển nhượng.

    3.L/C chuyển nhượng được mở.

    4.thông báo L/C gốc cho người kinh doanh.

    5.lệnh chuyển nhượng.

    6.chuyển nhượng L/C.

    7.thông báo L/C cho người thụ hưởng 2

     

          Ø   Thư tín dụng giáp lưng (Back to back Letter of Credit)

    Là loại L/C được mở dựa vào 1 L/C khác, nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người kinh doanh dùng L/C này làm căn cứ để mở L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống L/C ban đầu.

    L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng. Thường được người kinh doanh sử dụng để thanh toán với người cung cấp hàng hóa cho mình để xuất khẩu.

    L/C giáp lưng sử dụng trong những trường hợp :

    • Khi “L/C gốc” (master L/C”) mở ra không có từ “chuyển nhượng” (“Transferable”).
    • Khi điều khoản của L/C không cho phép chuyển nhượng (theo điều 48 UCP500 mặc dù nó là L/C chuyển nhượng).
    • Khi điều khoản giao hàng khác nhau.
    • Khi NH đồng ý mở L/C đối trên một cơ sở L/C gốc.
    • Khi các chứng từ cần có theo “L/C gốc” không trùng khớp với các chứng từ được xuất trình theo “L/C đối” (Counter L/C) còn gọi là L/C giáp lưng.
    • Khi người cung cấp hàng hóa không được thông báo về tất cả điều khoản giao hàng.
    • Khi người cung cấpkhông được thông báo về tất cả các chi tiết.

    Chú ý : L/C giáp lưng không thể chuyển nhượng. Cả L/C gốc và giáp lưng phải thông qua một ngân hàng trực tiếp phục vụ người kinh doanh.

    Cách mở một L/C giáp lưng

    1. Các hợp đồng XNk được kí.
    2. Người mua yêu cấu mở L/C gốc.
    3. L/C gốc được mở.
    4. Thông báo L/C gốc cho người kinh doanh.
    5. Người kinh doanh làm đơn mở L/C giáp lưng.
    6. L/C giáp lưng được mở.
    7. Thông báo L/C giáp lưng cho người bán

    Hoạt động của L/C giáp lưng

    1. Giao hàng.
    2. Người bán xuất trình chứng từ để thanh toán.
    3. Chuyển chứng từ về NH trung gian.
    4. Thông báo chứng từ cho người kinh doanh trung gian.
    5. Đổi chứng từ.
    6. Chuyển chứng từ cho NH mở L/C gốc.
    7. Yêu cầu người mua thanh toán để được nhận chứng từ.
    8. Người mua chấp nhận thanh toán, nhận chứng từ.
    9. Chuyển tiền thah toán L/C gốc.
    10. Báo Có cho người kinh doanh trung gian.
    11. Chuyển tiền thanh toán L/C giáp lưng.
    12. Báo Có cho người bán.

                  Ø Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal Letter of Credit)

     

    Là loại L/C được qui định chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra.

    Trong L/C ban đầu ghi” L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để cho người mở L/C này hưởng” và L/C đối ứng ghi” L/C này đối ứng với L/C số … mở ngày …qua nhân hàng …”.

    L/C đối ứng sử dụng trong mua bán trên cơ sở hàng đổi hàng (barter), hoặc để thanh toán trong phương thức gia công quốc tế.

     

     

    Sơ đồ thư tín dụng đối ứng:

    Một số phân loại cần chú ý khác:

    Ø Thư tín dụng thanh toán (Payment Credits)

    L/C được phát hành trong đó qui định được ngân hàng thanh toán (Paying bank) trả ngay khi xuất trình hối phiếu (nếu có) và những chứng từ tại NH thanh toán với điều kiện và điều khoản của L/C.

    Thanh toán ngay tức là thanh toán trong một thời gian hợp lý để kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với điều kiện và điều khoản của L/C. UCP 500, điều 13(b) , 6 ngày, UCP 400, điều 16(c) từ 36 h đến 30 ngày.

    ØThư tín dụng chấp nhận : (Acceptance credits) là loại cho phép trả chậm bằng cách qui định hối phiếu có kỳ hạn ký phát đòi tiền NH chấp nhận.

    ØThư tín dụng thương lượng : (Negotiation credits) là loại có hối phiếu ký phát đòi tiền NH phát hành hoặc người mua. Trừ khi L/C bắt buộc thương lượng tại 1 NH cụ thể thì bất cứ NH nào cũng được phép thương lượng.

    ØThư tín dụng nhờ thu : (Collection credits) Loại này phát hành theo mẫu thông thường, chỉ rõ rằng có hiệu lực thanh toán tại NH phát hành. Không ủy quyền cho bất cứ NH nào khác và cũng không có điều kiện bồi hoàn. NH chỉ đòng vai trò đại lý nhờ thu.

    Ø Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện ( TTR Credits – Telegrafic transfer Reimbursement) là L/C cho phép NH phục vụ người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ với điều kiện và điều khoản của L/C sẽ được phép đánh điện đòi tiền NH phát hành hay NH chỉ định trong L/C.

    Đặc điểm là tốc độ thanh toán nhanh.

    Điều kiện áp dụng : Người bán có quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín với người mua , điều kiện vận tải, giao nhận tốt.

    Ø Thư tín dụng không có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (Non – TTR Credits) L/C không cho phép đòi tiền bằng điện. NH phát hành hay một NH khác được chỉ định chỉ tiến hành thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ và bảo đảm bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    • Thư tín dụng có đều khoản cho phép hoàn trả bằng điện ( Telegraphic Transfer Reimbursement ) :

    Là L/C  cho phép ngân hàng phục vụ người hưởng thụ sau khi kiểm tra tình hợp lệ của bộ chứng từ với những điều kiện và điều khoản của L/C sẽ được phép đánh điện đòi tiền của ngân hàng  hay một ngân hàng được chỉ định trong L/C.( “Thanh toán tại quầy”)

    Đăc điểm : Tốc độ thanh toán rất nhanh.

    Điều kiện áp dụng:

    • Khi người bán có quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín với người mua.
    • Điều kiện vận tải, giao nhận tốt.

    Ø  Thư tín dụng không có điều khoản cho phép hoàn trả bằng điện (Non – Telegraphic Transfer Reimbursement ) : là L/C không cho phép đòi tiền bằng điện , nghĩa là NH phát hành hay một NH khác được chỉ định tiến hành thanh toán sau khi kiểm tra một bộ chứng từ và bảo đảm rằng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C.

    7.4.  Vận dụng:

    a)Đối với nhà xuất khẩu:

    1. Kiểm tra L/C :

    Kiểm tra L/C là khâu cực kì quan trọng trong việc thực hiện phương thức tín dụng chứng từ.

    Các nội dung cần kiểm tra kĩ:

    1. Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C.
    2. Tên NH mở L/C ( opening/ issuing bank ).
    3. Tên, địa chỉ NH thông báo ( Advíing bank), NH trả tiền (Negotiating/ paying bank ), NH xác nhận (Confirming bank ).
    4. Tên, địa chỉ người hưởng thụ, (Beneciary/ in favour of …).
    5. Tên, địa chỉ của người yêu cầu mở L/C (Applicant).
    6. Số tiền của L/C.
    7. Loại L/C.
    8. Ngày, địa điểm hết hiệu lực của L/C(Expiry date)..
    9. Thời hạn giao hàng (Shipment date/ time of delivery).
    10. Cách giao hàng.
    11. Cách vận tải.
    12. Phần mô tả hàng hoá.
    13. Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
    1. Lập bộ chứng từ thanh toán : Cẩn thận, sao cho hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của L/C.

    Các sai biệt thông thường theo báo cáo của NH:

    • Các vấn đề liên quan đến tín dụng thư.
    • Các vấn đề liên quan đến vận đơn.
    • Các vấn đề liên quan đến chứng từ thư bảo hiểm.
    • Sai biệt giữa các chứng từ.
    1. Chiết khấu chứng từ:

    Là một kĩ thuật cấp tín dụng ngắn hạn của NH cho người xuất khẩu, trong đó người xuất khẩu chuyển nhượng quyền sở hữu toàn bộ chứng từ thanh toán chưa đáo hạn, chưa được thanh toán cho  NH để đổi lấy một khoản tiền nhỏ hơn giá trị của bộ chứng từ.

    Bộ hồ sơ gồm:

    • Thư yêu cầu thanh toán đề nghị chiết khấu phải có đầy đủ chữ kí của Chủ tài khoảnvà Kế toán trưởng (nếu có đăng kí chữ kí của KTT).
    • Bản liệt kê các chứng từ nộp cho NH.
    • Bộ chứng từ xin chiết khấu.

    Công thức tinh lãi suất chiết khấu:

    LCK=    V x D x IR

     360 x100

    Trong đó

     

                    LCK : Trị giá tiền lãi chiết khấu

                    V  :Trị giá tiền ứng trước

                    D :Thời hạn chiết khấu

                    IR :Lãi suất cho vay ( %năm)

     

    1. b) Đối với nhà nhập khẩu:
    2. Cách thức mở L/C:
    • Điều kiện để mở L/C(tại Vietcombank HCM):

    Đối với các doanh nghiệp trong nước cần có :

    • Giấy chứng nhận đăng kí của doanh nghiệp( bản sao có dấu công chứng nộp 1 lần).
    • Giấy chứng nhận đăng kí mã số doanh nghiệp kinh doanh XNK (bản sao có dấu công chứng, nộp 1 lần).
    • Đối với nhóm hàng xuát khẩu có điều kiện( theo Quy định của pháp luật) thì cần xuất trình những giấy phép theo định.
    • Đối vơí chi nhánh thì cần xuất trình giấy uỷ quyền.

    Đối với doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài cần có:

    • Giấy phép đầu tư (bản sao công chứng, nộp 1 lần ).
    • Văn bản phê duyệt kế hoạch XNK của Bộ thương mại( bản chính còn hiệu lực).

    Ngoài những điều kiện trên, điều kiện tiên quyết phải có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng.

    • Cách thức mở L/C:

    Những giấy tờ cần xuất trình(nộp )khi đến NH xin mở L/C:

    Đối với L/C trả ngay, theo điều 18 QĐ 29, khách hàng cần xuất trình đầy đủ các giấy tờ sau:

    • Thư yêu cầu phát hành L/C theo mẫu.
    • 1 bản sao Hợp đồng ngoai thương / giấy tờ có giá trị tương đương.

    Đối với các L/C trả chậm, cần nộp:

    • Các giấy tờ ở mục trên.
    • Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá bản sao/ giấy tờ có giả trị tương đương.
    • Phương án kinh doanh, Thanh toán.
    • Thư yêu cầu phát hành L/C theo mẫu.

    2.Đơn xin mở L/C: (theo mẫu in sẵn ở NH) gồm:

    1. Loại L/C.
    2. Người mở L/C: tên , địa chỉ đầy đủ của đơn vị.
    3. Người hưởng lợi: tên, địa chỉ đầy đủ.
    4. Số tiền L/C.
    5. Điều kiện cơ sở giao hàng.
    6. Quy định các chứng từ phải xuất trình.
    7. Quy định về hàng hoá.
    8. Địa điểm giao hàng.
    9. Thời hạn giao hàng.
    10. Điều kiện về hàng.
    11. Bao bì đóng gói, ký mã hiệu.
    12. Thời hạn nộp chứng từ.
    13. Chỉ thị cho NH thương lượng: nêu những yêu càu đối vơí việc thanh toán cho lô hàng nhập khẩu sắp tới kể cả chi phí.
    14. Tỷ lệ kí quỹ.
    • Những lưu ý khi mở L/C:
      • Lập L/C phải chính xác.
      • Điều kiện ràng buộc phải chặt chẽ.
      • Tôn trọng điều khoản trong hợp đồng, tránh mâu thuẫn.
      • Đơn xin mở L/C không ghi ngày mở, NH sẽ mở sớm nhất có thể được,nếu không L/C sẽ bị chậm lại cho đến khi hoàn thành xong các thủ tục kí quỹ hoặc sửa mọi sai sót trong đơn.
    1. Kí quỹ mở L/C:

    Kí quỹ là một hình thức trích tiền trong tài khoản lưu thông chuyển qua một tài khoản đặc biệt gọi là tài khoản kí quỹ – tài khoản này không có quyền được tự ý rút tiền ra ,để tiền vào – số tièn đó để dành thanh toán 1 L/C đã mở.

    «  Đối với L/C A/S:

    Phân loại khách hàng:

    o  Loại 1: (khách ưu đãi): không phải kí quỹ.

    o  Loại 2: kí quỹ dưới 100% giá trị L/C.

    o  Loại 3: kí quỹ 100% giá trị L/C.

    Tỷ lệ kí quỹ ảnh hưởng tới quy định về B/L trong L/C, một số trường hợp sau:

    –   Full set 3/3 Bill of Lading: 3 vận đơn đều qua NH, muốn nhận hàng phải đến NH lấy vận đơn.

    –   Set 2/3 Bill of Lading: 2 vận đơn qua NH, vận đơn thứ 3tới nhà nhập khẩu.

    –   Make out to order of … bank: phải có chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng.

    –   Make out to order of  xyz: không cần chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng, chỉ cần chữ kí hậu của người gửi hàng hoặc của một người khác:

    +   Nếu doanh nghiệp kí quỹ đủ 100% thì muốn quy định vận đơn thế nào cũng được.

    +   Nếu doanh nghiệp kí quỹ X% trị giá L/C thì bắt buộc phải chọn 1 trong 2 điều kiện: Full set 3/3 Bill of Lading hoặc Set 2/3 Bill of Lading.

    «  Đối với L/C trả chậm: tỷ lệ kí quỹ thấp (10%-20% ), đối với khách quen có thể không cần kí quỹ.

    Các cách quy định:

    –   Full set 3/3 Bill of Lading: 3 vận đơn đều qua NH, muốn nhận hàng phải đến NH lấy vận đơn.

    –   Set 2/3 Bill of Lading: 2 vận đơn qua NH, vận đơn thứ 3 tới nhà nhập khẩu.

    –   Make out to order of … bank: phải có chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng.

    –   Make out to order of  xyz : không cần chữ kí hậu của NH mới được phép nhận hàng, chỉ cần chữ kí hậu của người gửi hàng hoặc của một người khác.

    Sau khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục kí quỹ, NH sẽ soạn L/C và mở ra ngước ngoài theo yêu càu đã ghi trong đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu.

    Kiểm tra và chấp nhận bộ chứng từ:

    Đây là công việc rất quan trọng, đặc biệt khi NH đã lưu ý bộ chứng từ có discrepancy, nếu vội vã chấp nhận sẽ gánh lấy những hậu quả nặng nề.

     

    VIII.   SÉC:

    8.1.   Khái niệm :

    Séc là một chứng từ có giá trị , là một lệnh vô điều kiện của chủ tài khoản ở NH đển NH của mình trả cho người cầm giữ séc hay theo lệnh của người này trả cho người thứ ba một khoản tiền được ghi rõ trong séc thong thời hạn được Pháp luật chỉ định.

    8.2.   Đặc điểm:

    Trong quan hệ, séc có ít nhất 3 chủ thể tham gia :

    –  Người phát hành: thường là người mua với điều kiện là phải có tiền trong tài khoản mở tại NH và số tiền ghi trong séc không được vượt quá số dư trong tài khoản.

    –   Người trả tiền: Ngân hàng mà người phát hành có tài khoản dư ở đó.

    –   Người hưởng lợi: thường là người bán, cung cấp dịch vụ.

    Séc thường được các NH in sẵn theo mẫu giao cho những người có tài khoản ở NH.

       Điểm chung giữa hối phiếu và séc :

    –  Bắt buộc phải thanh toán.

    –  Có thể được chuyển nhượng bằng cách kí hậu.

       Điểm khác biệt hối phiếu và séc :

    Hối phiếu Séc
    – Là công cụ tín dụng thương mại, có thể được kí phát cho bất kì người nào.

     

    – Thời hạn hiệu lực do các bên thỏa thuận.

    – Là loại hình của tín dụng NH, luôn luôn chỉ được kí phát cho NH , trong đó người kí phát phải có tài khoản.

     

    – Thời hạn hiệu lực được xác định bởi qui phạm của Luật quốc gia hoặc của Pháp luật quốc tế  (PL giới hạn hiệu lực của séc).

    Việc thanh toán theo séc có thể được bảo lãnh bởi bất kỳ một người nào ngoài người trả tiền . Việc bảo đảm thể hiện bằng từ “bảo lãnh” kèm theo chữ kí của người bảo lãnh (người thanh toán).

    8.3.  Nội dung bao gồm :

    –  Tiêu đề (tên của séc, ngôn ngữ phải phù hợp với ngôn ngữ trình bày nội dung).

    –  Lệnh séc.

    –  Tên và địa chỉ của NH trả tiền.

    –  Số tiền cần phải trả.

    –  Ngày và địa điểm phát hành.

    –  Tên, địa chỉ, chữ kí của người phát hành séc.

    8.4.  Các loại séc :

    • Phân loại theo tính lưu chuyển :

    –  Séc vô danh: không ghi rõ tên người hưởng lợi, có thể được chuyển nhượng bất kì thời điểm nào trong thời hạn còn hiệu lực và không phải kí hậu.

    –  Séc đích danh: Có ghi rõ tên người hưởng lợi, không thể chuyển nhượng.

    –  Séc theo lệnh: NH phải trả tiền cho bất kì một người nào theo lệnh của người có tên trong séc , có thể chuyển nhượng bằng cách kí hậu.

    • Phân loại theo tính sử dụng :

    –  Séc gạch chéo: trên mặt có 2 gạch chéo song song. Không dùng để rút tiền mặt mà để chuyển tiền qua tài khoản NH:

    + Séc gạch chéo thông thường: không ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

    +Loại giữa hai gạch có ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

    –  Séc du lịch: do NH phát hành và được thanh toán tai bất kì chi nhánh nào của NH đó. Đây không phải là phương tiện thnah toán trong hoạt động kinh doanh thương mại.

    –  Séc nhận: chỉ được thanh toán khi có xác nhận của NH.

    IX.   PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG TRADECARD:

    TradeCard là hình thức giao dịch thương mại điện tử mới, đang ngày càng phổ biến Tổ chức TradeCard đứng ra cung cấp các dịch vụ điện tử làm cầu nối giữa người mua và người bán từ khâu ký kết hợp đồng, đối chiếu hóa đơn, chứng từ đến khi thanh toán, đảm bảo giao dịch khớp đúng với hợp đồng hai bên đã ký kết. Phương thức thanh toán trong giao dịch TradeCard là phương thức chuyển tiền điện (TTR) thông qua ngân hàng được chỉ định vào tài khoản của người xuất khẩu.

    Phương thức này được tiến hành dựa trên hệ thống bảo mật thông tin cao của TradeCard, được phân quyền riêng biệt đối với người sử dụng, truy cập hệ thống bằng thẻ cá nhân do TradeCard cung cấp. Chương trình giao dịch tương đối dễ sử dụng, với giao diện web cho phép người sử dụng đăng nhập hệ thống từ nhiều phương tiện kết nối Internet khác nhau.

    Ưu điểm

    Tiết kiệm chi phí , thời gian :

    • Nhà nhập khẩu không cần ký quỹ
    • Không tốn phí mởL/C
    • Hai bên tự tu chỉnh những khác biệt , không cầnthông qua NH , không mất phí
    • Tiết kiệm chi phí turng gian khi dùng dịch vụ Logistics và Inspection
    • Hỗ trợ vốn mà không mất nhiều thời gian
    • Thiết kiệm chi phí , thời gian ;lập bộ chứng từ thanh toán
    • Thời gian nhận tiền nhanh , chính xác
    • Về khả năng được tài trợ xuất khẩu khi thanh toán bằng hình thức này, hiện tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã cung cấp sản phẩm chiết khấu theo hình thức TradeCard với tỷ lệ chiết khấu lên tới 90% và thời hạn chiết khấu tối đa 60 ngày, đảm bảo tài trợ vốn lưu động kịp thời cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

    Bảo đảm thanh toán

    • Tình hình tài chính của hai bên đều được thông báo cho tradecard và tradecard đảm bảo việc thanh toán
    • Cung cấp dịch vụ bảo vệ việc thanh toán cho người xuất khẩu thông qua CIT Comercial Services và Coface Debt Purchasing Ltd
    • dịch vụ Logistics và Inspection đảm bảo giao dịch an toàn , việc thanh toán đảm bảo

    Rủi ro thấp do được Tradecard đảm bảo

                X.   CÁC VĂN BẢN, QUY ĐỊNH ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG THANH

    TOÁN QUỐC TẾ:

    Hoạt động thanh toán quốc tế phải:

    • Tuân thủ các quy tắc do phòng thương mại Quốc tế phát hành như: UCP 500, UCR 522, URR 525, ISP 98…
    • Các điều ước quốc tế liên quan đến thanh toán quốc tế.
    • Phù hợp với quy định của chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối, các văn bản liên quan đến thanh toán quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam.

    10.1.   Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP-Uniform customs and practice for documentary credits).

    1. Giới thiệu chung về UCP:
      • Tại đại hội lần thứ 7 ICC tổ chức năm 1933 lần đầu tiên bản “Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP).
      • ICC đã tiến hành sửa đổi UCP 5 lần, vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, 1993 cho phu hợp với thực tiễn thương mại quốc tế và càng thêm hoàn thiện.
      • UCP là bản quy tắc mang tín chất pháp lý tùy ý, do vậy các bên sử dụng có quyền lựa chọn tùy ý, chỉ cần quy định cụ thể áp dụng UCP năm nào, tránh quy định chung chung.
      • UCP 1933 và 1951 có mục đích chính là bảo vệ ngân hàng khi các chỉ thị của người mua không đầy đủ và rõ ràng.
      • UCP 1962 nhấn mạnh nghĩa vụ của người mua phải nói rõ ràng mình muốn gì, đồng thời cũng nhấn mạnh “các tập quán quốc tế ngân hàng và các quy tắc khác làm dễ dàng việc thực hiện chức năng của ngân hàng”.
    1. Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ , bản hiệu đính 1993, ấn phẩm số 500 của Phòng thương mại Quốc tế. Gọi tắc : UCP 500

    Gồm 49 điều khoản chia làm 5 phần :

    A – Những qui định chung và định nghĩa (điều 1-5)

    B – Những hình thức và thông báo L/C (6-12)

    C – Nghĩa vụ và trách nhiệm (13-19)

    D – Chứng từ (20-38)

    E – Những điều khoản khác (39-49)

    1. c) Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ , bản hiệu chỉnh 2007 , ấn phẩm số 600 của Phòng thương mại Quốc tế . Gọi tắc : UCP 600

    Được trình bày đơn giản , ngắn gọn hơn UCP 500, gồm 39 điều khoản

    10.2.   “Quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu” (URC – The Uniform Rules for Collection , ICC Pub No 522 , 1995 Evision) hiệu lực 1/1/1996

    URC 522 có 26 điều , chia làm 7 phần

    A – Những qui định chung và định nghĩa chung (điều 1-3)

    B – Những hình thức và nội dung nhờ thu  ( điều 4)

    C – Hình thức xuất trình (5-8)

    D – Nghĩa vụ và trách nhiệm (9-15)

    E – Thanh toán (16-19)

    F – Lãi suất và chi phí phát sinh (20-21)

    G – Các quy định khác (22-26)

    10.3.   “Quy tắc thống nhất hoàn trả liên hàng theo tín dụng chứng từ” (URR 525 – The Uniform Rules for Bank – to – Bank Reimbursement under Documentary Credit , ICC Pub N 0 525 , 1995 Revision) hiệu lực 1/7/1996

    URR có 17 điều , chia 3 phần

    A – Những qui định chung và định nghĩa chung (điều 1-3)

    B – Nghĩa vụ và trách nhiệm (4-5)

    C – Hình thức và thông báo ủy quyền , sửa đổi và đòi tiền (6-17)

    10.4.Ngoài ra cần nghiên cứu thêm Quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán thư tín dụng chứng từ và nhờ thu kèm chứng từ với nước ngoài trong hệ thống NH Ngoại thương Việt Nam

     

    XI .  PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU Ở VIỆT NAM:  (2)

    Phương thức TTQT thì cơ bản chỉ có các phương thức truyền thống đã học như: LC, Open account(ghi sổ), advance payment và collection…Hầu hết các NH VN đều áp dụng các hình thức đó và họ có đủ các điều kiện để thực hiện các phương thức ấy một cách an toàn.

    XI . RỦI RO VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ:

    –    Các doanh nghiệp cần đặc biệt cảnh giác với các hợp đồng chào bán với giá quá rẻ hoặc có cước phí vận chuyển rẻ bất ngờ. Bởi những hàng hoá giá quá rẻ thường có chất lượng kém, nguồn gốc không rõ ràng. Những doanh nghiệp vận tải giá rẻ thường không đảm bảo uy tín trong việc giao hàng đúng và đủ như thoả thuận. Họ phần nhiều là những doanh nghiệp không có bảo hiểm, tài chính không lành mạnh. Với người bán (doanh nghiệp xuất khẩu) các rủi ro thường gặp là khả năng tài chính, hàng hoá không được chấp nhận, chiến tranh hoặc bạo động ở nước xuất khẩu, ngoại tệ thanh toán biến động, các luật lệ, quy định của các nước nhập khẩu không phù hợp với hàng hoá.

    –   Về lãi suất, doanh nghiệp nên cẩn trọng với các biến động khi cho vay xuất khẩu như biến động tỷ giá ngoại hối, mẫu LC từ phía ngân hàng không đúng thủ tục quốc tế…

    –   Người mua (doanh nghiệp nhập khẩu) có thể gặp rủi ro do không được giao hàng theo hợp đồng, bị giao hàng muộn, thiếu hàng, hàng giả, lừa đảo, kém phẩm chất và không đúng quy cách. Thậm chí, cả khi ngân hàng được uỷ nhiệm chiết khấu hay nhờ thu không thực hiện đúng quy cách quốc tế.

    –   Để người bán thu được tiền nhanh, đúng và đầy đủ, còn người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn, các bên tham gia mua bán hàng hoá quốc tế phải dựa vào đặc điểm của từng thương vụ mua bán mà lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp. Trong thanh toán quốc tế hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ (L/C) được sử dụng phổ biến vì độ tin cậy cao, nó đảm bảo thanh toán nhanh chóng, an toàn chính xác với sự tham gia của các ngân hàng.

    Để đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn được các bên lựa chọn hàng đầu.

    NHỮNG RỦI RO THƯỜNG GẶP CÁCH PHÒNG NGỪA TRONG THANH TOÁN = L/C ( LETTER OF CREDIT ):

    Ø   Rủi ro thanh toán do chứng từ giả, chứng từ không trung thực, mâu thuẫn giữa hàng hoá và chứng từ:

    Nếu đối tác không tin cậy hay đối tác có chủ ý “lừa đảo”, rất có thể bạn sẽ gặp rắc rối bởi những lọai giấy tờ giả. Ngoài ra, vấn đề mâu thuẫn giữa hàng và chứng từ cũng là yếu tố cần để ý, bởi rất có thể hàng hoá khi nhập khẩu sẽ bị hải quan tịch thu do không có sự trùng khớp với giấy tờ. Để tránh những rủi ro này, bạn cần:

    – Tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng.

    – Tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của đối tác..

    – Nghiên cứu kỹ quy định về điều khoản phạt trong hợp đồng (Penalty)
    – Yêu cầu cả hai bên ký quỹ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.

    – Yêu cầu phảI đưa ra những công cụ đảm bảo an ninh thanh toán của ngân hàng như Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond… (chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu.

    – Đưa ra các yêu cầu chặt chẽ, thống nhất giữa nội dung và hình thức chứng từ, không yêu cầu chung chung.

    – Chứng từ phải do các cơ quan đáng tin cậy cấp.

    – Vận đơn do hãng tàu đích danh lập. Khi xếp hàng hoá phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu (đối với lô hàng có giá trị lớn).

    – Ðề nghị nhà xuất khẩu gửi thẳng 1/3 bộ vận đơn gốc (bản chính).

    – Hoá đơn thương mại đòi hỏi phải có sự xác nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của Phòng Thương mại hoặc hoá đơn lãnh sự (Consulars invoice).

    – Giấy chứng nhận chất lượng do cơ quan có uy tín ở nước xuất khẩu cấp.
    – Giấy chứng nhận số lượng cũng phải có sự kiểm tra, giám sát của đại diện phía mình hoặc đại diện thương mại.

    – Cung cấp giấy chứng nhận kiểm tra (Certificate of inspection).

    Các rủi ro khác như lựa chọn hãng tàu không tin cậy, hư hỏng hàng hoá do xếp hàng không đúng quy định,…

    Ø    Phương thức thanh toán qua L/C luôn có thể phát sinh nhiều rủi ro. Do đó, bạn cần có những biện pháp tránh rủi ro như:

    – Giành quyền chủ động thuê tàu (nhập khẩu theo điều kiện nhóm F của Incoterm – Bản quy định về các điều kiện thương mại quốc tế của ICC).

    – Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhập khẩu.

    – Mua bảo hiểm cho hàng hoá.

    – Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed… của Incoterm.

    Nhìn chung, trong các cuộc giao thương quốc tế ngày nay, thanh toán theo L/C luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa những đối tác kinh doanh bởi L/C tạo ra sự an tâm và thuận lợi tối đa cho các công ty. Nhưng dù an toàn và tiện lợi đến mấy thì thanh toán qua L/C vẫn không thể tránh khỏi các rủi ro và tranh chấp phát sinh. Bạn cần sớm chuẩn bị cho mình những kiến thức về L/C đồng thời lường trước được những rủi ro trong quá trình thanh toán L/C. Có thế việc mua bán hàng hoá mới diễn ra nhanh gọn và L/C sẽ thực sự trở nên hiệu quả.

    (Nguồn: Các ví dụ và bài học kinh nghiệm được lấy từ www.unctad.com và www.uncitral.com).

    XII .SWOT (3)

    1 )Thư tín dụng (L/C):

    Điểm mạnh: khi 2 bên thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng từ giúp 2 bên yên tâm về quyền lợi của mình. Thanh toán bằng L/C là một phương thức tương đối an toàn cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu. Nói tóm lại L/C với nội dung phù hợp với hợp đồng cơ sở và không trái luật áp dụng sẽ bảo đảm quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
    Ø   Lợi ích đối với người xuất khẩu:
    + NH sẽ thực hiện thanh toán đúng như qui định trong thư tín dụng bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không.
    + Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa.
    + Khi chứng từ được chuyển đến NH phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm).
    + KH có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng.
    Ø   Lợi ích đối với người nhập khẩu:
    +  Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền.
    +  Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả những gì theo qui định trong L/C để đảm bảo việc người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền).
    Ø  Lợi ích đối với Ngân hàng:
    + Được thu phí dịch vụ (phí mở L/C, phí chuyển tiền, phí thanh toán hộ…)– đại khái là có tiền.
    + Mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
    Ưu điểm của L/C là đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên tham gia (kể cả Ngân hàng).

    – Điểm yếu: hơi rườm rà trong thực hiện.

    Ø Người nhập khẩu:

    + Ngân hàng phát hành không thực hiện việc thanh toán.

    + Rủi ro do quốc gia của ngân hàng phát hành.

    + Rủi ro trong vận tải.

    + Rủi ro do biến động tỷ giá.

    + Rủi ro do chứng từ không chính xác.

    + Rủi ro do tín dụng thư bị huỷ ngang.

    Ø Người xuất khẩu:

    + Khi thanh toán bằng L/C không thể huỷ ngang thì việc người mua không thanh toán trên thực tế không thể xảy ra được bởi vì người mua khi mở L/C cho người bán trên thực tế đã giao cho người bán bảo đảm thanh toán của ngân hàng. Tuy nhiên vẫn có rủi ro do ngân hàng phát hành không thực hiện uỷ quyền do mất khả năng thanh toán hay không muốn thanh toán.

    + Khi quốc gia của ngân hàng phát hành đưa ra những hạn chế trong việc thanh toán bằng ngoại tệ thì ngân hàng phát hành có thể không thực hiện thanh toán. Vì vậy trong trường hợp này tốt nhất là sử dụng ngân hàng xác nhận nằm ở quốc gia có chính sách kinh tế ổn định, chắc chắn.

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    – Tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng.
    – Tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của người xuất khẩu.
    – Quy định trong hợp đồng điều khoản Penalty, trong đó quy định phạt bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ.
    – Yêu cầu cả hai bên ký quĩ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.
    – Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond.. ( chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi nhà nhập khẩu.
    – Yêu cầu về nội dung và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ, không yêu cầu chung chung.
    – Chứng từ phải do những cơ quan đáng tin cậy cấp.
    – Vận đơn do hãng tàu đích danh lập. Khi xếp hàng hoá phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu ( đối với lô hàng có giá trị lớn).
    – Ðề nghị nhà xuất khẩu gửi thẳng 1/3 bộ vận đơn gốc ( bản chính) thẳng tới nhà nhập khẩu.
    – Hoá đơn thương mại đòi hỏi phải có sự xác nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của Phòng Thương mại hoặc hoá đơn lãnh sự( Consular’s invoice).
    – Giấy chứng nhận chất lượng do cơ quan có uy tín ở nước xuất khẩu hoặc quốc tế cấp hoặc có sự giám sát kiểm tra và ký xác nhận vào giấy chứng nhận của đại diện phía nhà nhập khẩu.
    – Giấy chứng nhận số lượng cũng phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc đại diện thương mại Việt Nam.
    – Cung cấp giấy chứng nhận kiểm tra( Certificate of inspection).
    – Giành quyền chủ động thuê tàu( nhập khẩu theo điều kiện nhóm F).
    – Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.
    – Mua bảo hiểm cho hàng hoá.
    – Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed…

    • Thách thức: nếu có sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nhà xuất khẩu không phát hiện ra được mà cứ tiếp tục giao hàng thì nhà xuất khẩu sẽ khó đòi được tiền hoặc ngược lại nếu từ chối giao hàng thì vi phạm hợp đồng. Đòi hỏi người tham gia thanh toán L/C phải nắm rõ luật của các khâu trong thanh toán L/C một cách chình xác và rõ ràng.
    • Cơ hội: khi có sai sót hay cần chỉnh sửa trong L/C thì có thể tu chỉnh L/C thông qua việc đàm phán với người yêu cầu mở L/C.

    2)Phương thức chuyển tiền (remittance):

    – Điểm mạnh: nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu.

    – Điểm yếu: nhưng lại là rủi ro của nhà xuất khẩu khi mà hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.Tuy vậy, bên nhập khẩu cũng có thể gánh chịu rủi ro, đặc biệt trong trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng như: nhận toàn bộ tiền hàng trước khi giao hàng, đặt cọc, tạm ứng,…Trong trường hợp này nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng…

    Thách thức: cả 2 bên cần tin tưởng lẫn nhau trong trường hợp đặt cọc tiền

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    – Các bên cần xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền: Ví dụ chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào; Thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào…;
    – Thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng;
    – Qui định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu.

    3) Phương thức ghi sổ (open account):

    • Điểm mạnh: Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ).
    • Điểm yếu: Nhà xuất khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.

     Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạn hàng có mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau. Để bảo đảm an toàn cho nhà xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, đặt cọc…

    4)Phương thức nhờ thu (collection):

    1. Nhờ thu trơn (clean collection):

    –   Điểm mạnh: có lợi cho nhà nhập khẩu.

    –   Điểm yếu: Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Như vậy thông thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán. Đây có thể là một bất lợi cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã nắm giữ được chứng từ để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm dụng vốn, thanh toán chậm, thiếu, từ chối thanh toán. Ngân hàng chỉ là một tổ chức trung gian thu hộ và có thể bị nhà nhập khẩu từ chối.

    Để phòng ngừa rủi ro các bên nên:
    Chỉ nên áp dụng khi cả hai bên là đối tác tin cậy của nhau, đồng thời trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần có các chế tài nghiêm ngặt để bảo đảm nhà nhập khẩu thanh toán.

    1. Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection):

      –   Điểm mạnh: Nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu phải trả tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang chứng từ đi nhận hàng. Như vậy, phương thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất khẩu, tránh được tình trạng bị nhà nhập khẩu chiếm dụng vốn, chậm thanh toán, thanh toán không đầy đủ hoặc từ chối thanh toán.

     –   Điểm yếu: không có lợi cho nhà nhập khẩu. (Tổng hợp từ http://www.cfo.vn/forum/viewtopic.php?f=37&t=631)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng tóm tắt ưu và nhược điểm của các hình thức thanh toán trong nghiệp vụ mua bán quốc tế

    Một số dịch vụ thanh toán quốc tế do một số Ngân hàng tại Việt Nam cung cấp

     

    (trích từ  http://tinkinhte.jcapt.com/nd5/detail/cong-nghiep/thu-cong-my-nghe-qua-tang/54-phuong-thuc-thanh-toan/35144.136238.html)

     

    KẾT LUẬN  (4)

    Khi tham gia hoạt động kinh doanh trong nước hay quốc tế, cả người mua và người bán đều có một mục tiêu cơ bản khi họ thống nhất với nhau một phương án thanh toán đó là :

    – Người mua sẽ nhận được hàng mà họ đã đặt mua.
    – Người bán sẽ được trả đủ số tiền đã thống nhất đúng hạn.


    Trong khi việc tiến hành các giao dịch thương mại trong nội địa mỗi quốc gia dường như có vẻ đơn giản và thuận tiện thì việc tiến hành các vụ giao dịch quốc tế có vẻ như là phức tạp và có nguy cơ rủi ro cao. Đặc biệt sự xa cách về địa lý, ngôn ngữ, thông tục, luật lệt và các khác biệt về tập quán thương mại khiến cho bạn khó tiếp cận với vũ đài quốc tế.

    Hiểu rõ được các phương thức thanh toán quốc tế sẽ giúp cho bạn vượt qua những khó khăn mà bạn thường xuyên gặp trong thương mại quốc tế .

    Có 4 phương pháp thanh toán quốc tế cơn bản, mỗi một phương pháp khác nhau sẽ giúp bảo vệ bạn an ở mức độ an toàn khác nhau và chi phí cũng khác nhau. Chọn phươn pháp nào là tuy thuộn vào mối quan hệ của bạn với đối tác của mình, tuy thuộc vào mức độ rủi ro của giao dịch và trong một số trường hợp thì tuỳ thuộc vào quy định của quốc gia của đối tác yêu cầu.

    PHỤ LỤC

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – PSS .TS Đoàn Thị Hồng Vân – Giáo trình Kỹ thuật Ngoại thương , Nhà xuất bản Lao động – Xã hội ,2007

     

    – PGS .TS Nguyễn Văn Luyện , TS Lê Thị Bích Thọ , TS Dương Anh Sơn – Giáo trình Luật Hợp đồng Thương mại quốc tế , Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2007

    – www.google.com


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tài liệu ôn thi giữa kì 90 Câu trắc nghiệm môn Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương Incoterm 2000 và Incoterm 2010


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-NGO%E1%BA%A0I-TH%C6%AF%C6%A0NG-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TR%C3%8AN-TH%E1%BA%BE-GI%E1%BB%9AI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Chương 4

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    I- Chính sách ngoại thương:

    1- Khái niệm về chính sách ngoại thương:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoạüi thương của một nước trong thời kỳ nhất định.

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế của một nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kỳ có khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoạ i thương phải thay đổi để đạ t được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế. Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển kinh t ế. Tuy nhiên, các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và bành trướng ra bên ngoài.

    Mỗi nước đề u có những đặc thù chính trị, kinh tế – xã hội và điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế, vì vậy mỗi nước đều có chính sách phát triển ngoại thương riêng với các biện pháp cụ thể

    2- Ý nghĩa của việc nghiên cứu chính sách ngoại

    TOP

     
    thương:
       

    Đối với các nhà quản lý và doanh nghiệp của sản xuất và thương mại, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương của các nước có ý nghĩa quan trọng:

    • Giúp rút ra những kinh nghiệm về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách ngoại thương của đất nước một cách có khoa học và hiệu quả nhất.
    • Nắm rõ chính sách ngoại thương của các nước mới tìm cách xâm nhập và phát triển thị trường, chọn thị trường thích hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương.
    • Giúp các nhà lãnh đạo ở tầm vĩ mô xây dựng chính sách đối ngoại song phương và đa phương phù hợp.
    • Riêng đối với môn học, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương sẽ giúp học viên khái quát được chính sách ngoạüi thương trên thế giới và cụ thể những nước thường có quan hệ mậu dịch với nước ta, từ đó có kiến thức cơ bản để hiểu rõ hơn chính sách ngoại thương của nhà nước, tạo điều kiện vận dụng làm tốt công tác chuyên môn trong lĩnh vực ngoại thương.

    3- Các phương pháp áp dụng trong chính sách ngoại

    TOP

     
    thương
       

    :

    Phương pháp ở đây có nghĩa là cách thức thực hiện những mục tiêu mà chính sách ngoại thương đề ra thông qua việc lựa chọn những biện pháp áp dụng thích hợp. Có hai phương pháp:

    • Phương pháp tự định: Nhà nước tự mình quyết định những biện pháp ngoại thương khác nhau với mức độ khác nhau trong các quan hệ buôn bán với nước ngoài.

    Cơ sở để thực hiện phương pháp tự định là quyền độc lập, tự chủ, tự quyết của mỗi quốc gia. Các chính phủ căn cứ vào tình hình kinh tế trong và ngoài nước để đưa ra các biện pháp thuế quan, hạn chế về số lượng, các biện pháp tài chính tiền tệ phi thuế quan… đối với từng ngành hàng, từng quan hệ buôn bán với nước ngoài với mức độ khác nhau để thực hiện các mục tiêu ngoại thương đề ra.

    Trong xu thế nhất thể hóa khu vực và toàn cầu như hiện nay, phương pháp tự định đang giảm dần vai trò của mình trong việc xây dựng chính sách ngoại thương của từng nước. Tuy nhiên, nó vẫn được xây dựng ở các quốc gia có nền kinh tế mạnh, chi phối quan hệ kinh tế tài chính toàn cầu như Mỹ.

    • Phương pháp thương lượng: Nhà nước thực hiện thương lượng với các bên tham gia quan hệ buôn bán thỏa thuận. lựa chọn các biện pháp và mức độ áp dụng nó vào quan hệ buôn bán lẫn nhau

    Phương pháp này được thực hiện dưới hình thức ký kết những điều ước hiệp định mậu dịch tự do song phương và đa phương. Ví dụ như 148 nước đã ký kết vào các hiệp định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong quan hệ buôn bán với các nước khác trên thế giới. Ngày nay, việc sử dụng phương pháp này ngày càng phổ biến, phù hợp với quy luật phát triển nhất thể hóa kinh tế khu vực và toàn cầu

    II- Các nguyên tắc điều chỉnh buôn bán TOP

     

    quốc tế:

    Có 3 nguyên tắc thường được sử dụng để điều chỉnh:

    1- Nguyên tắc tương hỗ:   TOP

    Trên nguyên tắc này các bên dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau trong quan hệ mua bán.

    Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên yếu hơn sẽ bị lép vế và thường bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên có thực lực kinh tế mạnh hơn đưa ra.

    Ngày nay, các nước ít áp dụng nguyên tắc này hơn trong quan hệ buôn bán giữa các nước.

    2- Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (Most Favoured

    TOP

     
    Nation)
       
    • Nước được ưu đãi nhất:

    2.1- Khái niệm:

    Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (MFN) là biểu hi ện của vi ệc “ không phân biệt đối xử “ trong quan hệ mậu dịch giữa các nước. Nó có nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặ c sẽ dành cho các n ước khác. Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:

    Cách thứ nhất: Tấ t cả những ưu đãi và mi ễn gi ảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế – thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện.

    Cách thứ hai: Hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơ n, không bị chịu những thủ tục phiền hà hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ nước thứ ba khác.

    Theo luật pháp quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế.

    Mục đích của việc s ử dụng nguyên tắc MFN trong buôn bán quốc tế là nhằm chống phân biệt đối xử, làm cho điều ki ện cạnh tranh giữa các bạ n hàng ngang bằng nhau, nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển. Mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc MFN còn phụ thuộc vào mức độ quan hệ thân thiện giữa các nước với nhau

    2.2- Cách thức áp dụng nguyên tắc MFN:

    Nguyên tắc MFN được các nước tùy vào lợi ích kinh tế của mình mà áp dụng rất khác nhau, nhìn chung có hai cách áp dụng:

    Cách thứ nhất: Áp dụng chế độ t ối huệ quốc có điều kiện: Quốc gia được hưở ng tối huệ quốc phả i chấp nhận thực hiện những điều kiện kinh tế và chính trị do Chính phủ của quốc gia cho hưởng đòi hỏi.

    Cách thứ hai: Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện: là nguyên tắc quốc gia này cho quốc gia khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện ràng buộc nào cả.

    Để đạt được chế độ MFN của một quốc gia khác, có hai phương pháp thực hiện:

    + Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương mại

    + Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

    2.3- Chế độ tối huệ quốc dành cho các nước đang phát triển:

    Nghiên cứu chế độ tối huệ quốc cần phải nghiên cứu chế độ MFN đặc biệ t dành cho các nước chậm ti ến và đang phát triển thông qua chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (Generalized System of Preference).

    GSP là hệ thống ưu đãi về thuế quan do các nước công nghiệp phát triển dành cho một số sả n phẩm nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (gọi là các nước nhận ưu đãi).

    Lần đầu tiên Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Thương M ại và phát triển (UNCTAD) năm 1968 thông qua việc áp d ụng hệ thống thuế quan ưu đãi chung (GSP) dành cho các nước đang phát triển t ăng khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, khuyến khích phát triển công nghiệp đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của các nước này.

    Nội dung chính của chế độ GSP là:

    • Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang hoặc kém phát triển.
    • GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến

    Đặc điểm của việc áp dụng GSP:

    • Không mang tính chất cam kết: Chính sách GSP thay đổi từng thời kỳ; số nước cho ưu đãi và nhận ưu đãi không cố định. Hiện nay có đến 16 chế độ GSP bao gồm 27 nước cho ưu đãi và 128 nước, vùng lãnh thổ được nhận ưu đãi.
      • GSP chỉ dành cho các nước đang phát triển: Trong quá trình thực hiện GSP, các nước công nghiệp phát triển kiểm soát và khống chế các nước nhận ưu đãi rất chặt, biểu hiện ở cách quy định về nước được hưởng GSP. Ví dụ như EU quy định nước đang phát triển nào có thu nhập GDP tính trên đầu người cao hơn 6000USD/năm thì không còn được hưởng GSP nữa.

    Quy định đối với hàng hóa được hưởng chế độ GSP:

    Không phải bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu vào các nước cho hưởng từ những nước được hưởng đều được miễn hay giảm thuế theo GSP. Để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP, hàng nhập khẩu vào thị trường những nước cho hưởng phải thỏa mãn 3 điều kiện cơ bản sau:

    • Điều kiện xuất xứ từ nước được hưởng
    • Điều kiện về vận tải (ví dụ như hàng vận chuyển không qua lãnh thổ của nước thứ ba hoặc không bị mua bán, tái chế…tại nước thứ ba)
    • Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ ( chứng từ xác nhận xuất xứ From A)

    2.4- Chế độ tối huệ quốc của một số nước trên thế giới:

    2.4.1- Quy chế GSP của EU:

    Quy chế 2501/2001 của EU về GSP được áp dụng từ ngày 01/01/2002 đến

    31/12/2004 cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. So với qui chế áp dụng trong thời

    gian từ 1999 đến 2001, qui chế này đơn giản hơn, chỉ chia hàng hóa làm hai loại, nhạy

    cảm và không nhạy cảm. Các nước khác nhau sẽ được hưởng những mức thuế GSP khác

    nhau theo cách sắp xếp nhằm khuyến khích bảo vệ quyền lợi người lao động và môi

    trường … được định ra trong phụ lục I của qui chế. Cách sắp xếp các dạng khuyến khích

    được chia ra như sau:

    Danh mục chung

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo hộ quyền lợi người lao động

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo vệ môi trường Danh mục đặc biệt cho các nước chậm phát triển nhất

    Danh mục đặ c biệt khuyến khích đấu tranh chống sản xuất và vận chuyển ma túy. Các nước được hưởng GSP của EU chủ yếu là các nước G77 và các nước chậm

    phát triển nhất LDC. Ngoài ra, các LDC được hưởng những ưu đãi đặc biệt hơn, tương thích với chương trình EBA (Everything But Arms) của EU dành ưu tiên thuế quan và không áp đặt hạ n ngạch mọi mặt hàng trừ vũ khí và đạn dược; riêng chuối tươ i, g ạo và đườ ng áp dụng hạ n ngạch với số lượng tăng dần và bỏ hẳn vào các năm 2006 và 2009 cho 49 nước chậm phát triển nhất.

    Mỗi danh mục GSP khác nhau bao gồm nhiều loạ i sản phẩm khác nhau, các nước nằm trong danh mục khác nhau sẽ nhận ưu đãi thuế quan khác nhau cho cùng một mặt hàng.

    Các nước nằm trong danh mục chung sẽ được hưởng GSP 7000 mặt hàng (trong 10.300 dòng hàng của biểu thuế quan, trong đó có 2.100 mặt hàng thuế suất MFN đã là 0%), trong đó có khoảng 3.300 mặt hàng không nhạy cảm và 3.700 mặt hàng nhạy cảm, dĩ nhiên GSP cũng loại trừ hàng hóa chương 93 trong biểu thuế, vũ khí và đạn dược.

    Riêng các LDC đượ c khoảng 8.200 mặt hàng. Các nướ c trong danh mục đặc biệt sẽ được hưởng ưu đãi nhiều hơn so với trong danh mục chung, ví dụ như các nước thuộc diện khuyến khích không sản xuất và vận chuyển ma túy, được miễn thuế hoàn toàn đối với sản phẩm nông nghiệp (chương 1 đến chương 24) là những mặt hàng trong danh mục chung được phân là “nhạy cảm”

    Ưu đãi thuế quan GSP dựa vào mức thuế MFN và giảm t ỷ lệ thuế xuống, tuy nhiên có những trường hợp giảm hẳn bằng cách tr ừ đi một t ỷ lệ thuế nhất định. Ví dụ, trong danh mục chung, hàng hóa thuộc chương 50 đến 63 sẽ được giảm 20% thuế MFN, còn hàng hóa nhạy cảm trong phụ lục IV sẽ được giảm đi (trừ đi) 3,5%.

    Tất cả các loạ i hàng hóa này nếu muốn được hưởng ưu đãi thuế quan đều phải tuân thủ quy định về xuất xứ hàng hóa của EU

    Thông tin chi tiết về qui chế GSP của EU có thể tìm trên trang web http://www.eurunion.org/legislat/gsp/gsp.htm

    2.4.2- Chế độ MFN và GSP của Mỹ:

    • Chế độ MFN: Tính đến hết 1997, Mỹ đã cho 164 nước hưởng quy chế MFN trong buôn bán với Mỹ. Các nước Đông Âu và Châu Á đã giành được MFN của Mỹ như Rumani (1975), Hungary (1990), Tiệp khắc (1990), Đông Đức (1990), Bungary (1991), Trung Quốc (1980), Mông Cổ (1991) và Campuchia (1996).

    Những nước được hưởng chế độ MFN bình quân thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa là 9%, trong khi đó thuế nhập khẩu bình thường không được hưởng chế độ MFN thuế bị đánh cao gấp 7 lần. Chẳng hạn năm 1990, trị giá hàng nhập khẩu vào Mỹ từ Trung quốc là 19 tỷ USD, nếu không được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu sẽ trên 2 tỷ USD, tuy nhiên, do được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu chỉ là 354 triệu USD.

    • Chế độ GSP của Mỹ mang tính đơn phương, không ràng buộc điều kiện có đi có lại, mức thuế nhập khẩu hàng từ các nước nhận ưu đãi vào Mỹ bằng 0.

    Mỹ thường áp dụng chế độ MFN và GSP có điều kiện để gây sức ép về chính trị và kinh tế với các bạn hàng. Ví dụ, đối với Trung Quốc, từ tháng 2/1980 Mỹ cho hưởng chế độ MFN để kềm chế Trung Quốc phải nhượng bộ trong các vấn đề nhân quyền ở Tây Tạng, vấn đề Đài Loan… Hoặc trong Luật Thương Mại năm 1974, có quy định cấm Tổng Thống không cho các nước hưởng chế độ GSP như các nước Cộng Sản (trừ trường hợp

    sản phẩm của nước đó là thành viên của GATT/WTO và IMF, hoặc nước đó không bị Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế khống chế)

    Đối với Việt Nam, dù đàm phán song phương hay đa phương, Mỹ cũng đòi hỏi Việt Nam áp dụng quy chế của GATT/WTO với các nguyên tắc cơ bản là:

    • Không phân biệt đối xử giữa các nước bạn hàng, thể hiện trong điều khoản về tối huệ quốc.
    • Đối xử như nhau giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước (quy chế đối xử trong nước NT – National Treatment).
    • Thực hiện các chính sách cởi mở và tự do. Bảo hộ bằng thuế quan ở mức thấp và chỉ áp dụng hạn chế số lượng trong một số trường hợp đặc biệt.
    • Cam kết thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan.
    • Chính sách và luật pháp phải rõ ràng, công khai.

    Bên c ạnh những mặt lợi thế có thể mang lại, việc chấp nhận các nguyên tắc này đang là thách thức lớn đối với Việ t nam. Bởi vì, nếu thực hiện, chúng ta phải điều chỉnh luật pháp của mình cho phù hợp với WTO và phả i điều hành nền kinh tế theo nguyên tắc đó. Vấn đề này hết sức phức tạp và đòi hỏi phải có thờ i gian để điều chỉnh, thực hiện. Từ tháng 12/2001, khi hiệp định thươ ng mạ i Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, Mỹ đã trao cho việt nam qui chế MFN (hay còn gọi là qui chế đối xử thương mại bình thường, Normal Trade Relation, NTR).

    2.4.3- Vài nét về chế độ ưu đãi về thuế quan của Nhật:

    Chế độ GSP của Nhật áp dụng từ 8/1971, chủ yếu ở ba mặ t hàng nông sản chế biến, công nghiệ p và hàng dệt nhập khẩ u từ các nước đang phát triển. Các nước Châu Á đang sử dụng nhiều nhất chế độ GSP của Nhật.

    Trong những năm bị ảnh h ưởng bởi lệnh c ấm vậ n của Mỹ, t ỷ lệ hàng hóa xuấ t sang Nhật của Việt Nam được hưởng chế độ GSP rấ t thấ p, khoảng 8% tổng trị giá hàng công nghiệp nhậ p khẩu vào Nhật Bản (mức trung bình của các nước là 39,8%). Từ năm 1994 trở đi, khi lệnh cấm vận được xóa bỏ, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có dễ dàng hơn .

    3- Nguyên tắc đối xử trong nước (National Treatment _ NT)     TOP

    Nguyên tắc đối xử trong nước NT được áp dụng trên nhiều lĩnh vực như thương mại hàng

    hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…với ý nghĩa là đối xử như “trong nước” đối với phía

    đối tác trong các lĩnh vực được ghi trong thỏa ước. Qui mô của nghĩa vụ này có thể thay

    đổi tùy thỏa ước, đối với hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT, NT được

    qui định chủ yếu trong điều III “Đãi ngộ quốc gia về thuế và nguyên tắc đối xử trong

    nước”. Trong thương mại hàng hóa, nếu như nguyên tắc MFN đòi hỏi đãi ngộ công bằng

    giữa các quốc gia, thì nghĩa vụ NT đòi hỏi sự đãi ngộ với hàng nhập khẩu, sau khi hoàn

    tất các thủ tục hải quan và biên giới, không được tệ hơn cách đãi ngộ dành cho hàng sản

    xuất trong nước.

    III- Các loại hình chính sách ngoại thương:

    Mỗi nước đều có chính sách ngo ại thương riêng phù hợp với điề u kiệ n phát triể n kinh tế riêng của từng nước, ở từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, chính sách phát triển ngoại thương của các nước có thể phân loại theo hai tiêu thức cơ bản sau:

    • Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương.
      • Phân loại theo mức độ tiếp cận của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. A- Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương

    1- Chính sách mậu dịch tự do    TOP

     

    1.1- Khái niệm:

    Chính sách mậ u dịch t ự do có nghĩa là nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội đị a để cho hàng hóa và tư bản được tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh.

    Đặc điểm chủ yếu của chính sách mậu dịch tự do là:

    • Nhà nước không sử dụng các công cụ để điều tiết xuất khẩu và nhập khẩu.
      • Quá trình nhập khẩu và xuất khẩu được tiến hành một cách tự do.
    • Quy luật tự do cạnh tranh điều tiết sự hoạt động của sản xuất tài chính và thương mại trong nước.

    1.2- Ưu và nhược điểm của chính sách mậu dịch tự do:

    Ưu điểm:

    • Mọi trở ngại thương mại quốc tế bị loại bỏ, giúp thúc đẩy sự tự do hóa lưu thông hàng hóa giữa các nước.
    • Làm thị trường nội địa phong phú hàng hóa hơn, người tiêu dùng có điều kiện thỏa mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

    -Tạo môi trường cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, kích thích các nhà sản xuất phát triển và hoàn thiện.

    • Nếu các nhà sản xuất trong nước đã đủ sức mạnh cạnh tranh với các nhà tư bản nước ngoài thì chính sách mậu dịch tự do giúp các nhà kinh doanh bành trướng ra ngoài. Thật vậy, chính sách mậu dịch tự do lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh, “cái nôi” của chủ nghĩa tư bản. Nước Anh lúc bấy giờ là cường quốc công nghiệp, sản xuất bằng máy thay thế lao động thủ công đã khiến cho chi phí thấp, hàng hóa dồi dào so với các nước láng giềng chậm phát triển hơn như Pháp, Đức, Nga. Chính nhờ thực hiện chính sách mậu dịch tự do đã giúp cho các nhà tư bản Anh xâm chiếm nhanh chóng thị trường thế giới, khiến các nước khác phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch để chống lại sự xâm lăng hàng hóa ồ ạt từ nước Anh. Nhưng sau này khi nền kinh tế của Đức, Pháp, Nga đã phát triển mạnh thì chính sách mậu dịch tự do thay thế cho chính sách bảo hộ mậu dịch.
    • Thực hiện chính sách mậu dịch tự do không đồng nghĩa với việc làm suy yếu vai trò

    của Nhà nướ c tư bản trong quan hệ thươ ng mại quốc t ế. Ngượ c lại, việc tạo điề u kiện tự do phát triển thương mạ i trên thị trường nội đị a nhằm làm suy yếu hoặc xóa bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước khác, tạo cơ sở để các nhà kinh doanh nội địa dễ dàng xâm nh ập và phát triển ở thị trường mới.

    • Thị trường trong nước điều tiết chủ yếu bởi quy luật tự do cạnh tranh cho nên nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, phát triển mất ổn định.
    • Những nhà kinh doanh sản xuất trong nước phát triển chưa đủ mạnh, thì dễ dàng bị phá sản trước sự tấn công của hàng hóa nước ngoài.

    Chính bởi những nhược điểm này mà ngày nay trên thế giới, ngay cả những nước có nền kinh tế mạnh nhất như Mỹ, Nhật đều không thực hiện chính sách mậu dịch tự do đối với tất cả các ngành hàng, mà chỉ thực hiện sự tự do mậu dịch trong một số ngành hàng đủ mạnh, cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài và cũng chỉ thực hiện trong một thời gian nhất định.

    1.3- Các khoản lợi và hiệu quả của mậu dịch tự do theo kinh tế học:

    Trong chương 3 chúng ta đã phân tích tác động của một trong những công cụ chính sách ngoại thương là thuế quan. Trong trường hợp một nước nhỏ không gây ảnh hưởng đến

    giá xuất khẩu của nước ngoài, thuế quan gây nên thiệt hại ròng cho nền kinh tế được đo bằng hai hình tam giác b và d (biểu đồ 3.2). Thiệt hại này là do thuế quan đã làm lệ ch lạc những khuyến khích kinh tế đối với người sả n xuất l ẫn người tiêu dùng. Ngược lại, tự do mậu dịch sẽ loại bỏ được những tổn thất này và tăng thêm phúc lợi quốc gia.

    Các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tính toán t ổng chi phí phải trả cho những lệch lạc do thuế quan và hạn ngạ ch nh ập khẩu gây ra trong một số nền kinh tế cụ thể. Phí tổn này được tính theo % thu nhập quốc dân, đối với Braxin (1966) là 9,5%; Mexico (1960) là 2,5% ; Mỹ (1983) là 0,26%.

    Ngoài ra, ở các nước nhỏ nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, nhiề u nhà kinh tế học còn chỉ ra rằ ng, tự do mậu dịch còn nhiề u cái lợi quan trọng không được tính tới trong phân tích chi phí – lợi ích thông thường, Ví dụ như lợi thế kinh tế của qui mô sản xuất chẳ ng hạn, các thị trường được bảo hộ không chỉ chia nhỏ s ản xuất trên phạm vi quốc tế, mà bằng cách giảm cạnh tranh và tăng lợi nhuận, chúng còn đẩy nhiề u công ty gia nhậ p ngành công nghiệp được bảo hộ. Với việc gia tă ng các công ty trong thị trường nội địa nhỏ hẹp, quy mô sản xuất của từng công ty s ẽ trở nên không hiệu quả. (Ví dụ như, do được bảo hộ cao, các nhà máy đường trong nước ta mọc lên rất nhiều, vì vậy chỉ có khoảng 17/47 nhà máy hoạt động được khoảng 50% công suất!)

    2- Chính sách bảo hộ mậu dịch

    TOP

    2.1- Khái niệm:  

    Chính sách bả o hộ mậu dịch là chính sách ngoại thương của các nước nhằm một mặt sử dụng các biện pháp để bảo vệ thị trườ ng nội đị a trước sự cạ nh tranh của hàng hóa ngoại nhập, mặt khác Nhà nước nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    Đặc điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch là:

    • Nhà nước sử dụng những biện pháp thuế và phi thuế : thuế quan, hệ thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật… để hạn chế hàng hóa nhập khẩu.
    • Nhà nước nâng đỡ các nhà sản xuất nội địa bằng cách giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, giá tiền tệ nội địa, trợ cấp xuất khẩu…để họ dễ dàng bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    2.2- Ưu và nhược điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch:

    Ưu điểm:

    • Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
    • Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa.
    • Giúp các nhà xuất khẩu tăng sức cạnh tranh để xâm chiếm thị trường nước ngoài.
    • Giúp điều tiết cán cân thanh toán của quốc gia, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ thanh toán của mỗi nước.

    Nhược điểm: Nếu bảo hộ thị trường nội địa quá chặt chẽ sẽ:

    • Làm tổn thương đến sự phát triển thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cô lập kinh tế của một nước đi ngược lại xu thế của thời đại ngày nay là quốc tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu.
    • Tạo điều kiện để phát triển sự bảo thủ và trì trệ trong các nhà kinh doanh nội địa, kết quả là mứcï bảo hộ kinh tế ngày càng cao, càng làm cho sức cạnh tranh của các ngành không còn linh hoạt, hoạt động kinh doanh và đầu tư không mang lại hiệu quả. Đây sẽ là nguy cơ cho sự phá sản trong tương lai của các ngành sản xuất trong nước nếu quốc gia

    này phải chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường thế giới và yêu cầu giảm hàng rào thuế quan khi gia nhập WTO hoặc các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới.

    • Người tiêu dùng bị thiệt hại như hàng hóa kém đa dạng, mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng hàng hóa kém cải tiến, giá cả hàng hóa đắt….

    3- Bảo hộ mậu dịch và thuế quan

    TOP

     
    tối ưu:
       

    Việc thi hành các chế độ quan thuế, hạ n ngạch nhập khẩ u và các biện pháp chính sách mậu dịch khác hầu hết là nhằm bảo vệ thu nhập của các nhóm lợi ích đặc biệt….Các nhà

    kinh tế học thường lập luận r ằng, bảo hộ mậu dịch s ẽ giảm phúc lợi quốc gia. Tuy nhiên, trên thực t ế, có một số cơ sở lý thuyết cho thấ y rằng các chính sách mậu dịch tích cực đôi khi có thể làm tăng phúc lợ i của quốc gia nói chung. Bởi vì, theo bi ểu đồ 3.2, đối với một nước lớn, thuế quan s ẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu ở nước ngoài, tạo ra một khoản lợi. Nếu đem so sánh v ới giá phải trả do thi hành thuế quan là làm lệch lạc các khuyến khích đối với sả n xuất và tiêu dùng, có kh ả năng, trong một số trường hợp, lợi ích về điều kiện mậ u dịch của thuế quan lại lớn hơn cái giá phải trả. Vớ i mộtü mức độ thuế quan đủ thấ p, thì lợi ích về điều ki ện mậu dịch sẽ phải lớn hơn cái giá phải trả. Đối với một nước lớn, tỷ suất thuế quan thấp, phúc lợi sẽ cao hơn khi thi hành mậu dịch tự do. Và sẽ tồn tại một

    mức thuế quan t0 tối ưu, t ại đó, lợ i ích biên do điều kiện mậu dịch được cải thiện bằng tổn thất hiệu năng biên do sự lệch lạc trong sản xuất và tiêu dùng. Với mức thuế suất khác

    lớn hơn t0 , phúc lợi quốc gia sẽ đi xuống.

    Tóm lại, chính vì cả chính sách tự do mậu dịch và chính sách bảo hộ mậu dịch đều có những ưu điể m và nhược điểm cho nên không một nướ c nào trên thế giới thi hành chính sách này hay chính sách khác một cách tuyệt đối mà sẽ duy trì chính sách mậu dịch tự do trong một số ngành hàng đối với một s ố thị trường trong một thờ i gian nhất định, còn một số ngành khác thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch (với mức độ khác nhau) trên những thị trường khác nhau.

    B- Phân loại theo mức độ tiếp cận c ủa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới 1- Chính sách hướng nội (Inward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh t ế ít có quan hệ với thị trường thế giới, phát triể n tự lực cánh sinh b ằng sự can thiệp tuyệt đối của Nhà nước. Với mô hình này, nền kinh tế thực hiện chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm:

    • Thị trường nội địa được bảo hộ chặt chẽ, nhờ đó mà nền công nghiệp còn non yếu trong nước có thể phát triển được trong điều kiện không phải trực diện với cạnh tranh; đặc biệt ở những nước mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên.
    • Là mô hình phát triển dựa vào nguồn tài lực bên trong, cho nên mọi tiềm lực quốc gia được huy động cao độ cho công cuộc phát triển kinh tế.
    • Phát triển kinh tế trong nước ít chịu sự tác động của thị trường thế giới, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy thấp nhưng ổn định.

    Nhược điểm:

    • Hàng hóa sản xuất không mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
    • Nhiều ngành kinh tế của quốc gia phát triển không có hiệu quả, vì không phát triển dựa vào lợi thế mà chỉ dựa vào nhu cầu của nền kinh tế đóng cửa.
    • Mất cân đối trong cán cân thương mại, vì nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu bị hạn chế.
    • Vay nợ nước ngoài lớn, trả nợ khó khăn.

    2- Chính sách hướng ngoại (Outward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực để phát triển. Tham gia vào

    quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế, chuyên môn hóa vào sản xuất những

    sản phẩm mà quốc gia có lợi thế phát triển, về thực chất, đây là chính sách “mở cửa“ kinh

    tế để tham gia vào quá trình quốc tế hóa kinh tế toàn cầu. Và tùy điều kiện phát triển kinh

    tế của mỗi nước mà chính sách “mở cửa“ được lựa chọn thực hiện khá đa dạng như mô

    hình phát triển mở cửa dần từng bước hay mô hình phát triển xuất khẩu dựa vào nguồn

    tài nguyên thiên nhiên hoặc gia công sản phẩm sơ chế hoặc mô hình phát triển XK dựa

    vào lợi thế so sánh…

    Ưu điểm :

    – Tạo ra sự năng động trong sự phân công lao động quốc tế:

    Thật vậy, chúng ta có thể thấy hình ảnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các

    nước Đông và Đông Nam Châu Á trong 3 thập niên cuối thế kỷ 20 trong ngành công

    nghiệp may, sản xuất hàng điện và điện tử gia dụng. Lúc đầu các ngành này phát triển ở

    Nhật Bản, sau đó giá nhân công của Nhật đắt dần lên, các ngành thâm dụng nhiều nhân

    công của Nhật mất dần lợi thế và chuyển các ngành này sang Hàn Quốc, sau đó là các

    nước ASEAN và ở Trung Quốc ở những thập niên 80. Đến thập niên 90, các ngành hàng

    này lại phát triển ở Việt Nam. Sự thay đổi năng động trong phân công lao động khu vực

    như vậy do làn sóng công nghiệp hóa lan rộng làm cho thương mại giữa các nước tăng

    mạnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ phát huy được lợi thế và thị trường được mở

    rộng.

    • Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu làm cho nền kinh tế phát triển năng động vì các doanh nghiệp luôn trực diện với cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ của họ phải có khả năng đảm bảo cạnh tranh (về chất lượng, giá cả…) với các sản phẩm khác trên thế giới.
    • Mở cứ kinh tế tạo điều kiện cho cạnh tranh phát triển, là động lực thúc đẩy cải tổ nền kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, đầu tư mới công nghệ.
    • Tăng cường thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa môi trường tài chính quốc gia: giảm bớt vay nợ, thực hiện cân bằng cán cân thanh toán và cán cân buôn bán quốc tế.
    • Chính sách hướng về xuất khẩu còn được xem như là một chính sách ngoại thương tạo ra sự công bằng hơn trong nền kinh tế.

    + Đầu tiên, mở rộng xuất khẩu hàng thâm dụng lao động đồng nghĩa với tăng việc làm cho người lao động.

    + Thứ hai, chính sách này nâng cao khả năng chuyển sang sản xuất hàng thâm dụng kỹ thuật.

    + Cuối cùng, việc áp dụng chính sách này làm nâng cao thu nhập ròng cho quốc gia bởi việc giảm tài trợ giấy phép xuất khẩu…

    Ngày nay, khi xu hướng nhất thể hóa nền kinh tế toàn cầu gia tăng, mô hình kinh tế

    hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu ngày càng khẳng định ưu thế phát triển và ngày càng được các nước áp dụng rộng rãi.

    IV- Chính sách ngoại thương của các nước đang phát triển:

    Ba mươi năm sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính sách thương mại ở các nước đang phát triển vẫn còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi lý thuyết cho rằng, chìa khóa để phát triển kinh tế là phải thúc đẩy công nghiệp chế tạo và đó là cách tốt nhất để bảo hộ công nghiệp chế tạo trong nước trong sự cạnh tranh toàn cầu. Chúng ta sẽ xem xét chính

    sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩ u, gi ống như một chiến lược của các nước đang phát triển t ừ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970 và sau đó trở nên thấ t bạ i vào những năm cuối thậ p kỷ 1980. Những vấn đề liên quan đế n chính sách kinh tế của các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp, hay những đặc điểm tạ o nên sự khác biệt trong thu nhập giữa các vùng và khu vực, còn được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Và đặc biệt, trong việc xét đến chính sách thươ ng mại của các nước đang phát triển, không thể không xét đến các chính sách đem lại sự phát triển diệu kỳ của các nước Đông Á.

    1- Công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu:

    Từ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970, các nước đang phát triển cố gắng đẩ y nhanh quá trình phát triển bằ ng cách hạn chế nhập khẩu s ản phẩm công nghiệp và nâng đỡ ngành công nghiệp chế tạ o để phục vụ th ị trườ ng trong nước. Chiến lược này đã trở nên rất phổ biến vì nhiều lý do, trong đó, lý do quan trọng nhất là lập luận về “nền công nghiệp non trẻ”.

    Theo lập luận này, các nước đang phát triển có một lợi thế tương đối tiềm tàng trong

    công nghiệp chế tạo, nhưng các ngành công nghiệp chế tạo mới hình thành trong nước

    không thể cạnh tranh được với ngành công nghiệp chế tạo được hình thành từ lâu ở các

    nước phát triển. Để tạo điều kiện cho khu vực công nghiệp chế tạo có chỗ đứng, chính

    phủ tạm thời nâng đỡ các ngành công nghiệp mới để nó lớn mạnh, đủ đương đầu được

    với cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, việc sử dụng thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu như là

    những biện pháp tạm thời để bắt đầu công nghiệp hóa là một việc có ý nghĩa. Có một

    thực tế lịch sử là cả ba nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới đều bắt đầu quá trình công

    nghiệp hóa của mình đằng sau hàng rào mậu dịch: Mỹ và Đức có mức thuế quan cao đối

    với hàng chế tạo vào thế kỷ XIX, trong khi Nhật cho đến thập kỷ 1970 vẫn áp dụng rộng

    rãi biện pháp kiểm soát nhập khẩu.

    Lập luận về ngành công nghiệp non trẻ dường như rấ t hợ p lý và trên thực tế nó có tính chất thuyết phục đối vớ i nhiều chính phủ. Thế nhưng các nhà kinh tế học đã chỉ ra nhiều cạm bẫy trong lập luận này và gợi ý rằng nó cần được sử dụng một cách thận trọng.

    Thứ nhất, việc đi ngay vào các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong tươ ng lai không phải luôn luôn là ý tưở ng tốt. Giả sử một nước có dồi dào sức lao động đang trong quá trình tích lũy vốn, khi nó tích lũy đủ vốn, nó sẽ có lợi thế so sánh trong các ngành tập trung vốn. Điều đó không có nghĩa là nó phải cố gắng phát triển ngay lập tức các ngành công nghiệp đó.

    Thứ hai, việc bảo hộ công nghiệp chế t ạo sẽ không đem l ại lợi lộc gì trừ khi bản thân việc bảo hộ đó giúp cho ngành công nghiệ p có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, đôi lúc, sự bảo hộ lạ i không đạt được điều mong muốn đó. Ví dụ như Pakistan và Ấn Độ đã tiến hành bảo hộ khu vực công nghiệp chế tạ o trong hàng thập kỷ và khi họ bắt đầu phát triển xuất khẩu thì hàng hóa mà họ xuất khẩu là những hàng công nghiệp nhẹ như hàng dệt, chứ không phải là hàng công nghiệp nặng mà họ bảo hộ.

    Mặc dù có những nghi ng ờ về lậ p luậ n ngành công nghiệp non trẻ, nhiề u nước đang phát triển vẫn coi l ập luận này như là một lý do bắt buộc để dành sự giúp đỡ đặc biệt do việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng chế tạ o. Chiến lược khuyến khích công nghiệp trong nước bằng cách hạn chế nhập khẩu hàng chế tạo được gọi là công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu.

    Thập kỷ 1950 và 1960 đã chứng kiến cao trào của công nghiệ p hóa thay thế hàng nhập khẩu. Các nước đang phát triển thường bắt đầu bằng việc bảo hộ các công đoạn cuối của

    ngành, ví dụ như chế biến thực phẩm và lắp ráp ôtô. Ở các nước đang phát triển lớn hơn, sản phẩm nội địa hầu như thay thế hoàn toàn hàng tiêu dùng nhập khẩu (mặc dù sả n xuất hàng chế tạo thường do các công ty đa quốc gia tiến hành). Một khi khả năng thay thế hàng tiêu dùng nhậ p khẩu giả m đi, các nước này quay sang bảo hộ hàng hóa trung gian như thân ôtô, thép, sản phẩm hóa dầu.

    • hầu hết các nước đang phát triển xu thế thay thế nhập khẩu đều dừng ở giới hạn hợp lý: những hàng hóa chế tạo tinh vi như máy tính, máy công cụ chính xác… tiếp tục được nhập khẩu. Tuy nhiên, các nước lớn hơn theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đã cắt giảm nhập khẩu của họ xuống mức thấp đáng kể. Thông thường, qui mô kinh tế của một nước càng nhỏ (tính theo giá trị tổng sản phẩm) thì hàng nhập khẩu và xuất khẩu chiếm tỷ lệ càng lớn. Thế nhưng, như Ấn Độ chẳng hạn, với thị trường trong nước nhỏ thua 5% so với Hoa Kỳ mà mức xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 6% GNP năm 1983 và 8% năm 1990 trong khi tương ứng của Hoa Kỳ là 8 và 10% (Singapore và Hongkong tỷ lệ này năm 1990 là 190% và 137%)

    Mặc dù chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đem lại cho các nước áp

    dụng một tỷ lệ hàng công nghiệp chế tạo trong tổng sản phẩm quốc nội chiếm một phần bằng các nước tiến tiến, như các nước Mỹ la tinh. Nhưng do hạn chế nhập khẩu đã dẫn đến kiềm hãm xuất khẩu (chương 3) và làm chậm tốc độ phát triển kinh tế. Ví dụ như Ấn độ, sau 20 năm theo đuổi chính sách này (1950 – 1970) thu nhập bình quân đầu người chỉ tăng vài %, cả Achentina, nước từng được xem là một nước giàu, nền kinh tế cũng chỉ tăng trưởng với tốc độ rất chậm trong hàng thập kỷ.

    Ngoài những lý do đã được nêu ra về các cạm bẫy của chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, khi chính sách này thất bại, các nhà kinh tế học còn đưa ra lý do về “phí tổn” do những lệch lạc trong bảo hộ hàng công nghiệp mang lại. Ví dụ, mức bảo hộ hữu hiệu một số ngành công nghiệp ở Mỹ la tinh và Nam Á là hơn 200%. Chính tỷ lệ bảo hộ cao này đã cho phép các ngành công nghiệp tồn tại thậm chí ngay cả khi chi phí sản xuất cao gấp ba hoặc bốn lần so với hàng nhập khẩu mà chúng thay thế. Ngoài ra, sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để bảo hộ sẽ dẫn đến phí “thuê hạn ngạch” và một sự độc quyền. Sự cạnh tranh giành lợi nhuận này dẫn đến nhiều công ty gia nhập vào một thị trường mà thực tế chỉ đủ chỗ cho một công ty và sản xuất được tiến hành trên quy mô rất không có hiệu quả… Một chi phí nữa cũng được đề cập đến là việc hạn chế nhập khẩu để thúc đẩy sản xuất trong nước, nhưng với thị trường trong nước nhỏ hẹp, qui mô sản xuất này cũng không có hiệu quả.

    Vào cuối những năm 1980, những hạn chế của chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu càng bị chỉ trích, không những bởi các nhà kinh tế mà còn là các tố chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và ngay cả những nhà làm chính sách của các nước áp dụng. Số liệu thống kê đã chứng minh rằng, ở các nước đáng phát triển theo đuổi chính sách thương mại tự do hơn có tốc độ phát triển trung bình nhanh hơn các nước theo chính sách bảo hộ. Sự thực hiển nhiên này đã giúp các nước đang phát triển tháo dỡ bớt hàng rào bảo hộ của mình bằng bỏ dần hạn ngạch và giảm thuế quan.

    2- Chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu và nền kinh tế nhị nguyên: Trong khi chính sách thương mại của các nước kém phát triển, một phần bị phản đối bởi sự tụt hậu của họ khi so sánh với các nước phát triển, chính sách này còn bị phản ứng đối với sự phát triển không đồng đều trong phạm vi từng nước. Khi đó, một khu vực công nghiệp hiện đại, sử dụng nhiều vốn, lương cao tồn tại trong cùng một quốc gia với một khu vực nông nghiệp truyền thống rất nghèo khổ. Sự phân chia một nền kinh tế thống

    nhất thành hai khu vực có mức độ phát triển khác nhau được gọi là tình trạng “hai khu vực” của nền kinh tế, và nền kinh tế như vậy được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Các dấu hiệu của nền kinh tế nhị nguyên:

    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân ở khu vực hiện đại cao hơn nhiều so với khu vực còn lại của nền kinh tế. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm do một công nhân trong khu vực công nghiệp làm ra có giá trị cao hơn vài lần so với sản phẩm của một công nhân trong nông nghiệp. Đôi khi sự khác biệt này lên tới 15/1.
    • Cùng với giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao là mức lương cao. Lương công nhân trong công nghiệp có thể cao hơn 10 lần so với lao động trong nông nghiệp.
    • Tuy nhiên, trong khu vực công nghiệp, mặc dù lương cao, lợi tức của đồng vốn không nhất thiết cao hơn. Trên thực tế, dường như thường là trong khu vực công nghiệp vốn đưa lại lợi tức thấp hơn.
    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao tại khu vực hiện đại ít nhất một phần là do sự tập trung vốn cao hơn trong sản xuất. Công nghiệp chế tạo tại các nước kém phát triển thường sử dụng vốn cao hơn nhiều so với nông nghiệp (ở các nước tiên tiến thì trái lại, nông nghiệp lại là ngành sử dụng nhiều vốn). Tại các nước đang phát triển, nông dân thường sử dụng các công cụ thô sơ, trong khi các cơ sở công nghiệp tại đây lại chẳng khác mấy so với các nước tiên tiến.
    • Cuối cùng, nhiều nước kém phát triển có vấn đề thất nghiệp thường xuyên. Đặc biệt

    tại các khu vực đô thị có một số lượng lớn những người hoặc không có việc làm, hoặc thỉnh thoảng mới có vi ệc làm được trả lương đặc biệt thấp. Những người thành thị không có việc làm này cùng tồn tại với tầng lớp công nhân công nghiệp thành thị được trả lương tương đối cao.

    Chính sách ngoại thương thường bị cáo buộc tội là nguyên nhân làm tăng chênh lệch về

    lương giữa công nghiệp và nông nghiệp và khuyến khích tập trung vốn quá mức vào công nghiệp. Sự khác biệt về lương này cũng phản ánh s ức mạnh độc quyền của các ngành công nghiệ p được che chở bởi các hạn ngạch nhập khẩu hay mức thuế quan cao trước sự cạnh tranh của nước ngoài.

    3- Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu : “Sự diệu kỳ Đông TOP  
    Á”
       

    :

    Nếu như thậ p niên 1950-1960 chứng kiến cao trào công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, thì bắt đầu cuối những năm 1960 đã xuất hiện một chính sách công nghiệp hóa mới, h ướng ra xuất khẩu sản phẩm chế tạo. Một nhóm các quốc gia phát triển theo định hướng này đã đạt tốc độ phát triể n cao về kinh tế, có nước đạt hơn 10%/năm, mà Ngân hàng Thế giới gọi là “những nền kinh tế hiệu quả cao Châu Á” (High Performance Asian Economies HPAEs).

    Trong khi những thành tựu của HPAEs không được nhân lên mà cũng không có một câu hỏi nào về sự thành công của HPEAs đã bác bỏ luậ n cứ trước kia cho rằng phát triển công nghi ệp phải đi bằng con đường thay thế hàng nhập khẩu, mà thành tựu này lại trở thành chủ đề tranh luận về “sự di ệu kỳ Đông Á”. Đặc biệt, qua nhiều quan sát khác nhau đã chỉ ra rằ ng có nhiều cách diễn giải khác nhau về vai trò của những chính sách c ủa chính ph ủ, bao gồm cả chính sách thương mạ i, đã là tiền đề cho sự phát triển kinh tế. Các quan sát này cũng chứng minh được r ằng, sự thành công của kinh tế Châu Á liên quan rấ t nhiều đến thương mại tự do và sự tác động của chính sách chính phủ; mặt khác, sự thành

    công này cũng lại chứng tỏ sự can thiệp của chính phủ vào chính sách thương mại là có hiệu lực.

    3.1- Sự kiện tăng trưởng kinh tế Châu Á :

    Ngân hàng Thế giới chia các nước HPAEs thành ba nhóm khác nhau bởi “sự diệu kỳ” bắt đầu ở những thời điểm khác nhau. Đầ u tiên là Nh ật Bản, t ốc độ phát triể n kinh tế nhanh bắt đầu không bao lâu sau Thế Chi ến Thứ Hai và bây giờ, thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản tương đương Mỹ và các nước EU. Vào những năm 1960 tốc độ kinh t ế phát triển nhanh bắt đầu ở bốn nước Châu Á nhỏ hơn và thường được gọi là “bốn con hổ Châu Á”, đó là Hồng Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên và Singapore. Vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 tốc độ kinh tế lại phát triển rất nhanh bắt đầu ở Malaysia, Thailand, Indonesia và ngoạn mục nhất là Trung Quốc.

    Mỗi nhóm nước đề u đạt thành tựu cao bởi tốc độ phátï triển kinh tế. Thu nh ập quốc nội của các “con rồng” t ăng bình quân 8-9% một năm từ giữa những năm 1960 cho đến 1997 xảy ra khủng hoảng tiền tệ Châu Á, trong khi Mỹ và EU chỉ tăng 2-3%/năm. Tốc độ phát triển kinh tế của Châu Á vẫn còn tiếp tục được đem ra so sánh với các nước khác và Trung Quốc là một ví dụ điển hình, trong suốt thập niên 1990 và ngay bây giờ cũng vậy, tốc độ tăng GDP của Trung Quốc là khoảng 10%/năm.

    Ngoài tốc độ phát triển kinh tế cao, các nước HPEAs còn đạt được một thành t ựu tiêu biểu khác, đó là mở cửa hội nhập vào thương mại quốc t ế và càng v ề sau, mức độ hội nhập càng cao hơn. Vì vậ y , trong phát triển kinh tế, các nướ c Châu Á hướ ng về xuất khẩu nhiều hơ n các nước đang phát triển khác như Châu Mỹ la tinh và các nướ c Nam Á. Sự “hướng về xuất khẩ u” của các nước Châu Á trong thập niên 90 cao hơn so với các nước khác có thể nhậ n thấy được qua bảng 4.1, bảng tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân của một số nước tiêu biểu.

    Bảng 4.1 Tỷ lệ Xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (1990)

    Nước Tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (%)
    Brazil 7
    Ấn độ 8
    Hoa kỳ 10
    Nhật 11
    Tây Đức 32
    Nam Triều Tiên 32
    Hồng Kông 137
    Singapore 190

    (Nguồn: International Economics trang 259)

    2.2- Chính sách thương mại trong các nước HPAEs:

    Một vài nhà kinh tế học cho rằng thành công của các nước Đông Á tượng trưng cho

    chính sách ngoại thương hướng ngoại. Xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong

    GDP của các nước Châu Á là một minh chứng cho chính sách này. Mặc dù chính sách

    này chưa tương ứng với chính sách thương mại tự do hoàn toàn, tuy nhiên, nó đã tự do

    hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển chủ trương hạn chế nhập khẩu làm động lực

    phát triển. Và tốc độ phát triển cao giống như phần thưởng cho chính sách thương mại

    mở cửa của họ.

    Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học khác không đồng ý với quan điểm cho rằng tốc độ phát triển thương mại cao c ủa các n ước HPEAs có quan hệ mật thiết với thương mại tư do, ngoài trừ Hồng Kông, nước có chính sách thương mại tự do nhất, các HPAEs còn lại đều

    duy trì một mức thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu và các chính sách của chính phủ

    để quản lý thương mại. Xuất nhập khẩu tăng cao cũng không nhất thiết phải nhờ đến

    thương mại tự do, như Thái Lan chẳng hạn, xuất nhập khẩu tăng vọt vào những năm 1990

    là nhờ chính sách thu hút đầu tư của các công ty đa quốc gia, chính sự đầu tư này là tiền

    đề cho xuất khẩu và nhập khẩu. Và nhờ vào các con số thống kê, họ chứng minh được

    rằng, với một tỷ lệ bảo hộ mậu dịch thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác

    đã góp phần cho các HPAEs đạt được sự phát triển diệu kỳ. Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch của

    các HPAEs thấp hơn các nước khác được thể hiện qua bảng 4.2 như sau:

    Bảng 4.2 Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình của một số nước (1985).

    Nước Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình (%)
    HPAEs 24
    Các nước Châu Á khác 42
    Nam Mỹ 46
    Một số nước Châu Phi 34

    (Nguồn: International Economics, trang 268)

    3.3- Kinh nghiệm phát triển xuất khẩu các nước ASEAN :

    Nghiên cứu chính sách ngoại thương hướ ng về xuất khẩu của các nước ASEAN từ những năm 1970 đến nay ta có thể đưa ra các đánh giá cơ bản sau:

    • Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN biến động theo

    hướng:

    • Giảm dần tỉ trọng xuất khẩu những hàng hóa xuất khẩu dưới dạng thô ít qua chế biến. Ví dụ, qua bảng 4.3, ta nhận thấy rằng, như Thái Lan chẳng hạn, những năm 1960 hàng hóa chưa qua chế biến chiếm 98% kim ngạch xuất khẩu nhưng đến thập niên 1990, tỷ lệ này chỉ còn là 33%.

    Bảng 4.3:. Thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN giai đoạn 1960-1990

    Tên nước Hàng hóa chưa qua chế biến (%) Hàng hóa đã qua chế biến (%)
      1960 1970 1980 1990 1960 1970 1980 1990
    Singapore 74 70 27 22 26 30 73 78
    Indonesia 99 98 64 53 1 >1 36 47
    Malaysia 94 93 56 39 6 >6 44 61
    Philippines 96 93 48 27 4 >6 52 73
    Thái Lan 98 94 36 33 2 >5 64 67
        (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)    
    • Tăng nhanh tỉ trọng hàng công nghiệp chế biến trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong ngành hàng công nghiệp chế biến thì: thực hiện giảm dần tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng lao động cao, mà nâng dần tỉ trọng xuất khẩu hàng hóa cao cấp có hàm lượng tư bản và công nghệ cao như sản phẩm của ngành hóa chất, chế tạo máy móc trang thiết bị. Cũng lấy Thái Lan làm ví dụ, những năm 1970, mặt hàng công nghiệp chỉ chiếm 5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến thập niên 1990, tỷ trọng hàng công nghiệp đã chiếm tới 71,38% kim ngạch xuất khẩu (bảng 4.4). Các nước ASEAN khác như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philippines cũng có sự thay đổi tương tự về

    tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ thập niên 1970 đến 1990 (bảng 4.4).

    Bảng 4.4: Tỉ trọng hàng công nghiệp trong kim ngạch xuất khẩu của các nước

    ASEAN                                                                                                                                                Đơn vị tính:

    %.

    Tên nước 1970 1981 1991 1996
    Indonesia 1,2 2,9 42 55,78
    Malaysia 6,3 19,5 58,9 82,8
    Philippines 6,4 22,8 69,72 70,1
    Thái Lan 5 24,8 74,7 71,38
    Singapore 28 41,1 57,2 85
      (Nguồn: Tư liệu về các nướ c ASEAN 1997)  

    Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN có thể lý giải như sau:

    • Hàng chưa qua chế biến nên giá trị xuất khẩu thấp, tỉ lệ hao hụt, hư hỏng lại cao, đặc biệt xuất khẩu nông sản vốn là thế mạnh trong những ngày đầu phát triển các nước

    ASEAN.

    • Hàng chưa qua chế biến không cho phép sử dụng nhiều nhân công lao động vốn là lợi thế của ASEAN.
    • Hàng sơ chế chỉ thường xuất khẩu qua các thị trường trung gian, sau đó tái chế mới xuất khẩu được sang các thị trường cao cấp cho nên trị giá hàng xuất khẩu càng thấp.
    • Cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật đã lôi kéo các nước ASEANvào cuộc, giúp cho các nước mau chóng đầu tư máy móc và công nghệ cho phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm và chế tạo thiết bị máy móc.
    • Đồng Yên Nhật liên tục lên giá thời kỳ 60-96, giá nhân công liên tục tăng cho nên

    Nhật đấu tư mạnh mẽ ra nước ngoài, trong đó có các nước ASEAN để phát triển những ngành công nghiệ p chế biến sử dụng nhiều nhân công như: công nghiệp dệt, may mặc, lắp ráp hàng điện tử, đồ gia dụng…

    • Giá cả xuất khẩu nông sản thường xuyên biến động, đặc biệt như sự sụt giá liên tục của một số sản phẩm thô diễn ra ở thời kỳ 1960-1970 như đay, mía đường, các loại rau quả…

    khiến cho các nước ASEAN quyết tâm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của mình theo hướng công nghiệp hóa

    Việc sớm mở cửa thị trường và thực hiện chính sách “hướng về xuất khẩu” đã giúp năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 (trừ Bruney, quốc gia chưa đến 1 triệu dân nhưng có thế mạnh đặc thù về xuất khẩu tài nguyên thiên thiên là dầu mỏ) thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia, nâng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP. Cho đến cuối thập niên 90, năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 kể trên đã có một “cơ cấu kinh tế khá lý tưởng” (bảng 4.5).

    Bảng 4.5: Cơ cấu kinh tế của các nước ASEAN 1997

          Đơn vị tính: %
    Nước Nông nghiệp (% GDP) Công nghiệp (% GDP) Dịch vụ (% GDP)
    Myanmar 59 10 31
    Lào 52 21 26
    Cambodia 51 15 34
    Việt Nam 33 27 40
    Philippines 19 32 49
    Indonesia 16 43 41
    Malaysia 12 47 41
    Thailand 11 40 49
    Singapore 0 35 65

    (Nguồn: Kinh tế thế giới số 3/2001)

    Việc thay đổi cơ cấ u kinh tế này đã giúp các quốc gia khai thác được lợ i thế so sánh của mình đồng thời gia tăng sản xuất các ngành hàng có giá trị gia tă ng cao, chính điều này lại thúc đẩy nhanh quá trình phát triển. Điều đó cũng được minh chứng ngay trong bảng 4.5, các nước ASEAN còn lại có nền kinh tế kém phát triển hơ n như Myanmar, Lào, Cambodia, Việ t Nam, cơ c ấu kinh tế còn quá nặng về sản xuất nông nghiệp, một ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp.

    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu của các nước ASEAN là các nước công nghiệp phát triển:

     

    Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các nước ASEAN là thị trường các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đặc biệt là thị trường Mỹ, Canada, EU và Nhật Bản. Đây là những thị trường tạo điều kiện cho nền kinh tế của các nước ASEAN cất cánh.

    Qua bảng 4.6 ta thấy, thị trường Mỹ, EU, Nhật chiếm trên dưới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của các nước ASEAN* này (ASEAN*: Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia).

    Bảng 4.6: Thị trường xuất khẩu chủ yếu hàng công nghiệp của một số nước ASEAN

              Đơn vị tính: %
    Thị trường 1985   1990 1994  
         
                 
    Nhật   10,6 12,7   11,6  
    EU   20,8 21,1   16,5  
    Mỹ   30,0 25,8   24,7  
    Cộng Mỹ, Nhật,   61,4 59,6   52,8  
    EU            
    ASEAN   3,5 3,3   4,1  
    Các nước khác   35,1 37,1   43,1  
    Với toàn thế giới   100,0 100,0   100,0  

    (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)

    Nói chung trên cả thị trường xuất khẩu lẫn nhập khẩu, tỷ trọng buôn bán với các nước thuộc OECD của các nước ASEAN, cũng cao hơn. Nhìn vào bảng 4.6B ta thấ y các nước được liệt kê trong giao thương bên ngoài ASEAN những năm 1996-1997 hầu như là các nước thành viên OECD (trừ Trung Quốc, Nga và Ấn Độ).

    Nguyên nhân:

    • Các nước OECD thường cho các nước ASEAN hưởng chế độ thuế quan đặc biệt thấp.
    • Khả năng tiêu thụ và khả năng thanh toán của các nước OECD rất lớn.
      • Khi xuất khẩu sang các nước OECD dễ dàng nhập khẩu máy móc, công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở các nước ASEAN.

    Bảng 4.7: Giao dịch thương mại giữa ASEAN và các nước 1996-1997 (triệu USD).

      ASEAN xuất khẩu đến ASEAN nhập khẩu từ Tỷ lệ xuất Tỷ lệ nhập  
    Nước khẩu (%) khẩu (%)  
           
                       
      1996 1997 1996 1997 1996 1997 1996 1997  
    Bênngoài 192.882,3 212.453,9 228.739,8 238.320,5 59,6 62,0 65,2 66,9  
    ASEAN
                     
    EU 46.926,0 46.086,7 57.380,5 51.009,8 14,5 13,4 16,4 14,3  
    Mỹ 59.515,5 70.030,4 53.011,4 61.695,0 18,4 20,4 15,1 17,3  
    Úc 6.106,0 6.418,4 8.688,8 7.963,9 1,9 1,9 2,5 2,2  
    New Zealand 812,5 773,8 1.150,8 1.297,1 0,3 0,2 0,3 0,4  
    Canda 1.988,2 1.881,9 2.445,6 2.568,0 0,6 0,5 0,7 0,7  
    Nhật 43.150,3 42.008,6 73.310,1 71.264,2 13,3 12,3 20,9 20,0  
    Trung Quốc 18.045,1 29.237,1 14.573,6 22.154,0 5,6 8,5 4,2 6,2  
    Nga 3.169,2 876,1 2.040,9 1.115,6 1,0 0,3 0,6 0,3  
    Ấn Độ 3.722,8 4.473,2 2.843,8 4.395,5 1,2 1,3 0,8 1,2  
    Hàn Quốc 9.446,7 10.667,8 13.294,4 14.857,4 2,9 3,1 3,8 4,2  
                       
    Nội bộ ASEAN 79.986,3 84.419,0 63.948,3 64.452,1 24,7 24,6 18,2 18,1  
    Brunei 2.008,5 1.776,6 457,2 301,9 0,6 0,5 0,1 0,1  
    Indonesia 2.264,9 2.833,4 2.914,5 2.874,2 0,7 0,8 0,8 0,8  
    Lào 721,5 1.287,5 50,0 52,1 0,2 0,4 0,0 0,0  
    Malaysia 25.130,8 27.131,0 25.716,5 25.459,2 7,8 7,9 7,3 7,2  
    Myanma 1.368,3 1.590,7 493,9 344,3 0,4 0,5 0,1 0,1  
    Philippine 4.360,1 5.672,4 2.637,2 3.285,6 1,3 1,7 0,8 0,9  
    Singapore 28.071,7 25.880,3 19.492,1 19.234,4 8,7 7,6 5,6 5,4  
    Thái Lan 11.546,2 10.715,5 11.213,9 11.544,6 3,6 3,1 3,2 3,2  
    Việt Nam 4.514,4 7.531,8 973,0 1.355,9 1,4 2,2 0,3 0,4  
    Các nước khác 50.493,0 45.797,2 57.918,1 53.199,1 15,6 13,4 16,5 14,9  
    Tổng cộng 323.361,5 342.670,1 350,606.2 355,971.8 100,0 100,0 100.0 100.0  
          (Nguồn: ASEAN Secretariat)        

    (3) Nhà nước rất quan tâm đề ra những biện pháp hỗ trợ và khuyến khích xuất

    khẩu:

    Kim ngạch xuất xuất của các nước ASEAN tă ng lên nhanh chóng, một trong những nguyên nhân chính là do Chính ph ủ mỗi nước đề ra những chính sách có hiệu quả để hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu, cụ thể:

    • Phá giá đồng tiền nội địa để khuyến khích xuất khẩu.
    • Trợ cấp xuất khẩu thông qua các hình thức: giảm thuế nội địa cho các nhà xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ tầng, các cơ quan nghiên cứu hỗ trợ phát triển…
    • Nhà nước góp vốn và kêu gọi đầu tư nước ngoài thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung để đẩy mạnh phát triển các ngành hàng xuất khẩu.
    • Chính phủ đẩy mạnh hoạt động đối ngoại: thỏa thuận với các chính phủ nước ngoài mở rộng thị trường, hạn ngạch xuất khẩu qua các nước và các khu vực, xin hưởng chế độ thuế quan ưu đãi, giúp các nhà xuất khẩu nội địa tăng cường sức mạnh cạnh tranh ở nước ngoài.
    • Nhà nước phát triển hệ thống thông tin về thị trường, đưa ra định hướng phát triển các ngành hàng xuất khẩu giúp cho các nhà kinh doanh và sản xuất hàng xuất khẩu xây dựng chiến lược phát triển lâu dài.

    Nhờ những biện pháp tích cực kể trên nên chỉ trong hai thập kỷ 70 và 80 mà các nước ASEAN đã nâng tỉ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội lên nhanh chóng và tiếp tục phát triển trong thập kỷ 90. Bảng 4.7 thể hiện một cách rõ rệt sự gia tăng tỷ lệ xuất khẩu so với tổng GDP của các nước ASEAN:

    Bảng 4.8: Tỉ lệ xuất khẩu so với GDP của các nước ASEAN giai đoạn 1970-2000

    Đơn vị tính: (%)

    Nước 1970 1980 1990 1996 1997 1998 1999 2000
    Brunei       49,71 52,06 45,43 56,80 72,72
    Cambodia       20,30 27,76 32,00 32,54 37,86
    Indonesia 11,2 34,4 28,7 22,07 26,09 52,78 36,26 40,79
    Lao PDR       17,13 18,15 29,32 20,81 20,44
    Malaysia 39,8 56,0 69,9 76,33 77,17 98,97 106,19 109,83
    Myanmar       17,03 18,42 20,33 17,72 19,41
    Philippines 12,3 17,3 18,5 29,63 31,27 45,03 44,63 49,60
    Singapore 78,8 176,3 153,4 136,6 133,15 134,64 137,92 168,90
    Thailand 9,5 20,8 34,4 29,97 37,53 47,25 46,53 55,72
    Việt Nam       29,75 34,60 33,78 40,23 45,26
    ASEAN 19,0 40,0 49,9 46,93 51,80 70,10 65,51 73,32

    (Nguồn: ASEAN Statistics Webmaster)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập lớn môn học Tin học văn phòng (Số 02)


    [toc]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Việc thực hiện các bài tập lớn không chỉ giúp học sinh nâng cao điểm số mà còn dạy cho các em những bài học quý giá về tự giám sát bản thân, tính bền bỉ và cách phân bổ thời gian hợp lý. Thông qua những bài tập lớn, các em có thể học được cách bắt đầu một nhiệm vụ học tập, hoàn thành và chịu trách nhiệm về kết quả thu được.

    Tuy nhiên, giáo viên cần cân nhắc kỹ lưỡng khi giao bài tập lớn cho học sinh đặc biệt là các em mới ở bậc tiểu học. Ở bậc học này, bài tập lớn có những tác động còn khá hạn chế tới sự tiến bộ của các em. Bên cạnh đó, bài tập lớn chỉ có tác dụng tích cực với số lượng và yêu cầu hợp lý. Trái lại, khi số lượng bài tập lớn trở nên quá tải, chúng sẽ khiến học sinh có những thái độ tiêu cực đối với việc học và ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập của các em. Các bài tập lớn nên có nội dung yêu cầu ngắn gọn, lý thú và phù hợp với khả năng hiện tại của học sinh. Bạn có thể “để dành” những phần khó khăn hơn cho những giờ lên lớp.

    Để những bài tập lớn trở thành hoạt động học tập hấp dẫn, mỗi lần thầy cô có thể cho học sinh ít nhất hai bài tập lớn khác nhau để các em có thể lựa chọn. Hãy kiểm tra để đảm bảo rằng học sinh của bạn hiểu được mục tiêu

    của những bài tập lớn đó. Ngoài ra, bạn nên tổ chức định kỳ những buổi thảo luận ngắn về lợi ích học sinh thu được từ việc thực hiện những bài tập lớn. Trong những buổi thảo luận ấy, thầy cô có thể nêu rõ những gì mà mình mong muốn học sinh sẽ đạt được thông qua những bài tập lớn và trò đưa ra những đề xuất, ý kiến để thực hiện việc đó.

    Điểm thứ hai khiến bài tập lớn trở nên hấp dẫn là có trọng tâm . Ví dụ: thay vì yêu cầu học sinh viết về một chủ đề mở của một cuốn tiểu thuyết đang học trên lớp, bạn có thể yêu cầu các em chọn một nhân vật và giải thích tại sao nhân vật lại cư xử như vậy trong câu chuyện.

    Tuy nhiên, cách giao bài tập lớn cũng có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả chúng mang lại. Yêu cầu học sinh đọc trước ở nhà một chương sách trước khi học chương đó trên lớp không phải là một ý kiến hay. Việc làm bài tập lớn chỉ có tác dụng nếu học sinh hiểu rõ những bài tập đó được đưa ra để giải quyết vấn đề gì. Điều này là hoàn toàn khả thi nếu bạn dựng trước “khung” cho bài tập lớn. Cũng như những chiếc dàn giáo được dựng trước khi những người thợ xây bắt tay vào xây dựng một công trình kiến trúc nào đó, “khung” cho bài tập lớn sẽ giúp học sinh đọc có mục đích và định hướng rõ ràng. Bạn có thể làm việc này bằng cách cung cấp những gợi ý để học sinh có thể khám phá được nội dung chính của chương hay tìm thấy những câu trả lời cho những vấn đề bạn nêu ra trong yêu cầu của bài tập. Khi đó, học sinh của bạn sẽ có cơ hội khám phá bí ẩn và tận hưởng cảm giác thoả mãn khi thành công.

    Một cách khác giúp việc giao bài tập lớn trở nên hiệu quả là dạy học sinh cách tìm hiểu tổng quát một chương sách trước khi đọc. Việc tìm hiểu này bao gồm đọc tiêu đề, đề mục, những phần in đậm hay in nghiêng, tóm tắt chương, tranh ảnh minh hoạ, mục đích của tác giả khi viết chương đó, những thuật ngữ được nêu.

    Vì cách dạy tốt nhất là dạy điều bạn biết cho người khác nên hãy tạo cơ hội cho học sinh thành những “trợ giảng” trên lớp cho bạn. Ví dụ, trước khi chữa lỗi cho một bài luận, hãy tạo điều kiện để cho ít nhất hai em học sinh khác chữa bài đó cho bạn của mình. Sau khi đã được bạn chữa, bài luận nộp cho bạn chắc chắn sẽ chất lượng hơn nhiều. Thêm vào đó, khi nhận bài luận của các em, bạn đừng đưa ngay phương án đúng cho những lỗi sai của chúng. Thay vào đó, hãy ghi những nhận xét mang tính chất gợi ý như “You have a spelling error in this paragraph.” (Có một lỗi chính tả trong bài luận này) hay “Check for noun-verb agreement in this sentence.” (Câu này cần kiểm tra lại cách hợp thì của động từ). Bạn có thể sử dụng các ký hiệu viết tắt đã quy ước trước với học sinh để tiết kiệm thời gian. Cách chữa bài này không chỉ tiết kiệm thời gian chữa bài cho giáo viên mà còn khuyến khích học sinh tự chữa lỗi và tự đánh giá bài viết của chính mình. Điều này sẽ rất tốt cho việc tự học của các em.

    Diệu


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Link Tải Bị Lỗi, Xin Bạn Tải Xuống Lần Sau  


  • Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Giới thiệu sàn giao dịch bất động sản và vai trò của sàn bất động sản trong nền kinh tế thị trường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ng%E1%BA%A1ch-chuy%C3%AAn-vi%C3%AAn-Tranh-ch%E1%BA%A5p-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-th%E1%BB%ABa-k%E1%BA%BF-l%C3%A0-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BA%A5t-ch%C6%B0a-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-c%E1%BA%A5p-gi%E1%BA%A5y-ch%E1%BB%A9ng-nh%E1%BA%ADn-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thừa uỷ quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Nội vụ tỉnh Đồng Nai đã phối hợp với Học viện Hành chính quốc gia tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính cho cán bộ lãnh đạo tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Đồng Nai (thời gian học từ 04/6 đến 11/9/2009) về bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý hành chính nhà nước.

    Qua thời gian ba tháng học tập, được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, được Quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính Quốc gia tranh thủ, tận tình chuyển tải những kiến thức và kỹ năng quí báu, sát tình hình thực tế công việc về quản lý hành chính nhà nước gồm những nội dung:

    • Nhà nước và pháp luật;
    • Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính;
    • Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.

    Đây là những nội dung vô cùng bổ ích và cần thiết cho người cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Qua gần 30 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời cũng nhận thức được rằng muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý, cần phải nhạy bén, nắm chắc được các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới Luật, vận dụng sáng tạo, kết hợp linh hoạt với thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ được giao.

    Vận dụng những kiến thức được học từ quý Thầy, Cô em mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng” để

    thực hiện tiểu luận cho chương trình “Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính”.

    Trang 2

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Thực tiễn cho thấy trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của công dân đúng cấp, đúng thẩm quyền và kịp thời không những đảm bảo được lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân mà còn góp phần ổn định an ninh – trật tự xã hội. Qua đó, góp phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí của công và các tệ nạn xã hội khác, xây dựng được khối đại đoàn kết trong nhân dân, tạo được niền tin của nhân dân đối với hệ thống bộ máy hành chính nhà nước. Mặt khác, thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ giảm thiểu tình trạng khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp. Đồng thời, nhiều cấp, nhiều ngành kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những sai sót, lệch lạc, những yếu kém trong công tác quản lý hành chính, kiến nghị với cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách, pháp luật sát với thực tiễn cuộc sống, xử lý nghiêm minh những người sai phạm hoặc tránh né trách nhiệm.

    Tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước là bài kiểm tra cuối khoá nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức lý luận vào điều kiện thực tiễn của hoạt động quản lý Nhà nước hiện hành. Thông qua đó, các học viên có vai trò như là người cán bộ, công chức có chức năng, thẩm quyền đưa ra phương hướng xử lý thực sự phù hợp với điều kiện thể chế; phong tục tập quán Việt Nam, phong tục từng vùng, miền. Song, những yêu cầu của tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước không đơn giản chỉ là việc giải quyết đơn thuần mà trong đó phải hàm chứa đầy đủ khả năng phân tích cơ sở lý luận, các quy định; đánh giá ưu, khuyết điểm của từng vấn đề… làm cơ sở cho việc đề xuất những kiến nghị theo từng nội dung. Do đó, mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thân có hạn, nên bài viết này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

    Trang 3

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN I

    GIỚI THIỆU TÌNH HUỐNG

    Ông Phạm Văn Sơn, nghề nghiệp làm ruộng, ngụ tại ấp Cầu Hang, xã Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và bà Trần Thị Bích Ngọc đã lấy nhau hơn 4 năm nhưng không sinh con. Vào năm 1980, Ông Bà Sơn đến Trung tâm Cô Nhi Đồng Nai xin con nuôi và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin nhận con nuôi có tên là Phạm Văn Đáp (lúc đó Đáp được 01 tuổi). Từ khi có anh Đáp, ba năm sau vợ chồng ông sinh thêm được 02 người con gái nữa lần lượt có tên là Đẹp và Đào.

    Đầu năm 1993, hộ gia đình ông Sơn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho 5 hécta đất nông nghiệp để trồng cà phê và cây ăn trái. Ông Sơn đã trồng cà phê và cây ăn trái trên hết diện tích đất nói trên. Hiện tại đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Vào năm 2004, anh Đáp lập gia đình và xin ra ở riêng, tại xã Tam An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Gia đình anh Đáp sinh sống bằng nghề làm ruộng và đã tự mua được 01 hécta đất để trồng cây cà phê và cây ăn trái.

    Năm 2007, Ông Sơn bị bệnh hiểm nghèo và qua đời. Trong lúc tang gia, mọi người xúm nhau dọn dẹp nhà cửa thì phát hiện di chúc của Ông Sơn (có công chứng của cơ quan nhà nước). Ông Sơn lập di chúc vào năm 2006 và để thừa kế lại cho anh Đáp 01 hécta đất trong tổng số 05 hécta đất nông nghiệp trồng cây cà phê và cây ăn trái; 01 xe gắn máy do ông Sơn đứng tên. Sau khi mở thừa kế, anh Đáp đã nhận 01 hécta đất, 01 xe gắn máy và Anh Đáp đầu tư hệ thống ống tưới tiêu để chăm sóc cho cà phê và cây ăn trái. Anh Đáp được hưởng thừa kế và làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng thì các em gái không đồng ý.

    Thế là Bà Ngọc và các con đồng ký đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã Hóa An khởi kiện đòi lại 01 hécta đất mà Anh Đáp được hưởng thừa kế và 01 xe gắn máy với lý do như sau:

    Trang 4

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được

    phân chia tài sản.

    • Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được để

    thừa kế cho con nuôi.

    • Gia đình duy nhất có 01 xe gắn máy làm phương tiện (Ông Sơn vẫn còn

    đứng tên) nên không thể giao cho Anh Đáp.

    • Anh Đáp không tận tình chăm sóc trong thời gian ông Sơn bị bệnh nên

    không được hưởng thừa kế của ông Sơn.

    Sau khi nhận đơn của bà Ngọc, Ủy ban nhân dân xã Hóa An đã chuyển hồ sơ lên Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa.

    Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa đã tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ký quyết định hành chính chấp thuận nội dung khởi kiện của bà Ngọc, buộc anh Đáp phải giao lại 01 hécta đất trồng cây cà phê và cây ăn trái cho bà Ngọc. Anh Đáp vẫn được sử dụng xe gắn máy do ông Sơn cho, tặng (vì giá trị xe gắn máy không đáng kể). Mặt khác, bà Ngọc phải trả lại cho anh Đáp 15 triệu đồng, số tiền mà anh Đáp đã bỏ ra để đầu tư hệ thống ống ngầm tưới tiêu phục vụ cho việc trồng trọt và công chăm sóc cây cối.

    Bất ngờ trước quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, anh Đáp đã làm đơn khiếu nại gửi đến phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

    Nhằm làm rõ hơn vấn đề, chúng ta phân tích nguyên nhân và hậu quả để có được định hướng chung trong việc đưa ra giải pháp xử lý cho thích hợp.

    Trang 5

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN II

    PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

    1. NGUYÊN NHÂN:

    1.1 . Về khách quan:

    Do quá trình đô thị hóa, phát triển các Trung tâm thương mại, khu công nghiệp, nhà cao tầng… đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại quỹ đất. Theo đó, giá trị đất nông nghiệp cũng ngày một tăng lên, dẫn đến phát sinh khiếu nại đòi lại, tranh chấp đất nông nghiệp ngày một gia tăng.

    Thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu. Việc tuyên truyền pháp luật ở cở sở chưa tốt dẫn đến người dân chưa hiểu hết trách nhiệm – nghĩa vụ và quyền lợi của mình.

    Bộ máy chính quyền cấp phường, xã bấy lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí có thể nói là bị xem thường. Khi tuyển dụng cán bộ, viên chức cấp xã không chú trọng việc đề ra chuẩn mực trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nhất định (chủ yếu tuyển dụng bằng “Mối quan hệ”). Vì thế, đội ngũ cán bộ, viên chức cấp xã vừa thiếu, vừa yếu.

    1.2 . Về chủ quan:

    Cán bộ, công chức là người thực thi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế công tác không phải tất cả cán bộ, công chức đều hiểu và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, một cách đúng đắn, phù hợp với chức trách nhiệm vụ được giao. Trong tình huống này hoặc do đưa đẩy, tránh né trách nhiệm hoặc do thiếu hiểu biết về pháp luật (như công chức xây dựng – điạ chính xã Hóa An) đã làm cho vụ việc thêm phức tạp. Đó là một trong những nguyên nhân của tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài gây khó khăn không đáng có.

    Người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật đã kiện sai nhưng không được giải thích ngay từ cơ sở; cán bộ quản lý hành chính nhà nước không nắm chắc

    Trang 6

    Tiểu luận tốt nghiệp

    các quy định của pháp luật nên đã tự tiện giải quyết vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình. Do đó dẫn đến việc ra quyết định hành chính sai.

    2. HẬU QUẢ:

    2.1. Tại Ủy ban nhân dân xã Hóa An:

    Trước tiên phải xác định nội dung của vụ kiện giữa bà Ngọc, các con và anh Đáp là tranh chấp tài sản thừa kế theo di chúc của Ông Sơn. Thực tế là kiện đòi lại quyền sử dụng đất nông nghiệp, tài sản trên đất cũng như tài sản là xe gắn máy.

    Trong chương VI, tại mục 2, điều 135 Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004) qui định:

    • “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc

    giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở”.

    • Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Uỷ ban

    nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai”.

    Như vậy Ủy ban nhân dân xã Hóa An sau khi nhận đơn của bà Ngọc đã không tiến hành tổ chức hòa giải giữa bà Ngọc và anh Đáp mà chuyển ngay đơn đến Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa là trái với qui định của pháp luật.

    Cũng trong chương VI, tại mục 2, điều 136, khoản 1- Luật đất đai năm 2003 qui định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

    “Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết

    như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5

     

    Trang 7

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”.

    Do hộ Ông Sơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho 5 hécta đất nông nghiệp để trồng cà phê và cây ăn trái bằng quyết định hành chính, nên theo qui định, khi đã tiến hành hoà giải mà không thành thì Ủy ban nhân dân xã Hóa An phải hướng dẫn cho các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân chứ không phải tự ý chuyển hồ sơ qua Ủy ban nhân dân thành phố.

    2.2. Tại Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa:

    Theo qui định, sau khi nhận được đơn kiện của bà Ngọc, do Ủy ban nhân dân xã Hóa An chuyển đến, Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa phải giải quyết như sau:

    – Xem xét hồ sơ: Nếu Ủy ban nhân dân xã Hóa An chưa tiến hành hòa giải thì trả hồ sơ lại và yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Hóa An tổ chức hòa giải giữa bà Ngọc và anh Đáp theo luật định.

    – Nếu đã hòa giải rồi mà không thành thì chỉ đạo và chuyển hồ về Ủy ban nhân dân xã Hóa An để hướng dẫn các đương sự nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết vụ khởi kiện tranh chấp. Vì như đã nêu trên, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là cây cà phê và cây ăn trái giữa bà Ngọc và anh Đáp là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

    Như tình huống đã đưa ra, Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận theo nội dung đơn kiện của bà Ngọc là không đúng với qui định:

    Như vậy việc Uỷ ban nhân dân thành phố Biên Hoà ra quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có gắn với tài sản trên đất (cây cà phê và cây ăn trái) là sai với thẩm quyền.

    Nội dung xử lý đơn khởi kiện sai với qui định của Pháp luật. Cụ thể là:

    Trang 8

    Tiểu luận tốt nghiệp

    1. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được phân chia tài sản. Nội dung kiện này sai. Vì đất của hộ gia đình ông Sơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất (đầu năm 1993 có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước) và đã sử dụng ổn định, lâu dài đến nay. Mặc dù hiện tại hộ gia đình ông Sơn chưa làm thủ tục để xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn là đất được giao hợp pháp.
    1. Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được thừa kế cho con nuôi. Vì đất nông nghiệp ở đây là đất trồng cây lâu năm (cây cà phê, cây ăn trái). Theo chương IV, mục 3, điều 113, khoản 5 – Luật đất đai qui định: “Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    Như vậy, ông Sơn có quyền để lại thừa kế cho anh Đáp trong phần diện tích đất của ông trong thành viên hộ gia đình (05 hécta chia 05 người, gồm Ông Sơn, Bà Ngọc, Chị Đẹp, Chị Đào và Anh Đáp: mỗi người là 01 hécta).

    1. Gia đình duy nhất có 01 xe gắn máy làm phương tiện (Ông Sơn vẫn

    còn đứng tên) nên không thể giao cho Anh Đáp. Trong thời gian ông Sơn bị bệnh, anh Đáp không tận tình săn sóc ông Sơn nên không được hưởng thừa kế của ông Sơn.

    Nội dung kiện như trên là sai. Vì theo quy định tại phần thứ tư, chương XXII, điều 631-Bộ Luật dân sự “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Theo điều 648 của chương XXIII thì anh Đáp hoàn toàn có đủ điều kiện để hưởng thừa kế của ông Sơn (thừa kế theo di chúc).

    Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa đã giải quyết vụ khởi kiện nói trên không đúng quy định của pháp luật.

    Trang 9

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Qua phân tích ở trên ta thấy rằng: vụ kiện giữa bà Ngọc và anh Đáp có thể giải quyết được ngay tại Ủy ban nhân dân xã Hóa An, thông qua bước hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã. Có như vậy sẽ hạn chế tình trạng kiện tụng, khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều nơi, gây phức tạp mà vẫn không giải quyết đến nơi, đến chốn, đúng pháp luật.

    Trang 10

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN III

    XÁC ĐỊNH YÊU CẦU MỤC TIÊU KHI XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

    * Mục tiêu chung:

    • Đảm bảo kỷ cương pháp luật, phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà Hiến pháp đã nêu: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân.
    • Giảm tối đa các mức thiệt hại kinh tế (nếu có), bảo vệ lợi ích của nhà

    nước, lợi ích chính đáng của công dân.

    • Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh

    tế – xã hội và tính pháp lý.

    • Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Mục tiêu của việc xử lý tình huống được đưa ra là vụ kiện về tranh

    chấp tài sản thừa kế theo di chúc giữa hộ gia đình bà Ngọc và anh Đáp. Vậy ta phải xác định rõ:

    • Đối tượng cần giải quyết?
    • Cấp nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ khởi kiện trên đúng theo quy định của pháp luật?
    • Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vụ kiện được xác định như

    thế nào?

    • Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp.
    • Làm thế nào để giải quyết nhanh, có hiệu quả cao đối với các vụ việc

    hành chính trong bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, mang lại sự hài lòng cho người dân.

    Thế nhưng do cách giải quyết của các cấp chính quyền ở thành phố Biên Hòa (từ xã đến thành phố) không đúng theo quy định của pháp luật nên đã dẫn đến hậu quả là:

    • Từ vụ kiện tranh chấp quyền thừa kế trở thành vụ khiếu nại đối với

    quyết định hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

    Trang 11

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Đã làm phức tạp thêm tình hình, từ khởi kiện rồi đến khiếu nại kéo dài, qua nhiều cấp, nhiều nơi giải quyết nhưng vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn

    trong tranh chấp.

    Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải căn cứ vào cơ sở pháp luật. Phân tích được nguyên nhân và hậu quả của vụ việc. Từ đó tìm ra giải pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề. Đồng thời cũng qua đó đúc kết được kinh nghiệm quý báu trong việc giải quyết vụ việc hành chính đối với cơ quan quản lý hành chính Nhà nước sao cho hợp tình, hợp lý.

    Trang 12

    Tiểu luận tốt nghiệp

     

    PHẦN IV

    XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN

    PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

    Như đã phân tích ở trên, phương án giải quyết tình huống đã đặt ra như

    sau:

    A. Phương án 1: giả thuyết.

    Nếu mọi công dân đều được tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến nơi đến chốn thì sẽ không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

    Tất cả cán bộ, công chức từ phường, xã đến thành phố đều làm việc tập trung, có trách nhiệm cao; nắm vững luật pháp, quy trình… thì không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

    B. Phương án 2: thuyết phục, giáo dục.

    Phương án này áp dụng đối với các trường hợp đơn giản, tính chất mức độ sự việc không nghiêm trọng. Chỉ đạo tổ dân phố và các tổ chức đoàn thể để thuyết phục, giải quyết.

    • Ưu điểm: đơn giản, không tốn kém, giữ được mối quan hệ tình cảm,

    láng giềng, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới tại cộng đồng khu dân cư, văn minh, lịch sự.

    • Nhược điểm: Phải xây dựng được các tổ chức đoàn thể đủ mạnh, uy tín,

    có kiến thức, có hiểu biết về pháp luật thì mới giải quyết có tình có lý, hài hòa giữa hai bên. Ngược lại, kỷ cương, phép nước dễ bị xem nhẹ.

    C. Phương án 3: các cơ quan chuyên môn cùng cấp sẽ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình đề ra biện pháp hợp lý, đúng pháp luật.

    Ưu điểm:

    Thực hiện đúng kỷ cương, phép nước. Thể hiện được tính nghiêm minh của Pháp luật và quyền lực của nhà nước.

    • Khuyết điểm:

    Trang 13

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Nếu xử lý không khéo thì đây là cơ hội phát sinh cho tiêu cực, nhũng

    nhiễu.

    Cụ thể:

    1 – Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai:

    Đơn của anh Đáp là khiếu nại đối với quyết định hành chính đầu tiên. Do đó, phải chuyển đơn về ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa để giải quyết khiếu nại (theo điều 2 và điều 3 Luật Khiếu nại, tố cáo).

    Phát hiện được Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định hành chính không đúng thẩm quyền, bỏ qua trình tự hòa giải từ cơ sở. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành Quyết định hành chính của mình. Đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã Hóa An giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

    2 – Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa:

    Sau khi nhận được đơn khiếu nại của anh Đáp do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chuyển đến, cùng ý kiến chỉ đạo thì Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa cần tiến hành:

    • Nhanh chóng ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính của mình (theo điều 35 – Luật khiếu nại tố cáo).

    Chuyển đơn của hộ gia đình bà Ngọc cùng hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã Hóa An. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã Hóa An tiến hành hòa giải tranh chấp quyền thừa kế tài sản theo quy định của Pháp luật.

    3 – Đối với Ủy ban nhân dân xã Hóa An:

    Sau khi nhận lại đơn của hộ bà Ngọc do Ủy ban nhân dân thành phố chuyển đến, tiến hành mời đương sự và các bên liên quan tiến hành hòa giải theo quy định của Pháp luật về quyền thừa kế tài sản.

    • Nếu hòa giải thành thì lập biên bản hòa giải thành và kết thúc vụ việc.

    Trang 14

    Tiểu luận tốt nghiệp

    + Nếu hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết.

    1. Phương án 4: chuyển hồ sơ qua Tòa án nhân dân giải quyết.

    Ưu điểm:

    Đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Khuyết điểm:

    • Có thể mất đi tình làng nghĩa xóm.
    • Kỷ cương pháp luật dễ bị xem nhẹ nếu xử lý không hợp lý.

    Sau khi nhận được đơn và các hồ sơ pháp lý liên quan của người khởi kiện, căn cứ vào các quy định của Pháp luật Toà án nhân dân xem xét:

    • Năng lực hành vi của các chủ thể.
    • Loại đất được hưởng thừa kế.
    • Tính hợp pháp của di chúc để thừa kế.
    • Diện tích đất để thừa kế theo di chúc so với phần diện tích của mỗi

    thành viên hộ gia đình ông Sơn.

    • Tổng diện tích đất sau khi được hưởng thừa kế của hộ gia đình anh Đáp

    so với hạn mức quy định của Pháp luật.

    • Tính hợp pháp về quyền sử dụng đất đã để thừa kế.
    • Đối tượng sử dụng đất sau khi được hưởng thừa kế, có thuộc đối tượng

    sử dụng đất hay không.

    Toà án nhân dân xem xét và thụ lý vụ án, đồng thời thông báo cho người khởi kiện đến làm thủ tục nộp tạm ứng án phí.

    Trang 15

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN V

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN

    Phân tích các phương án giải quyết tình huống nêu trên:

    • Phương án 1: giả thuyết, không chọn.
    • Phương án 2: Vì đã có quyết định hành chính sai nên áp dụng phương án

    này không khả thi.

    Vậy ta chọn phương án 3 kết hợp với phương án 4: các cơ quan chuyên môn cùng cấp sẽ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình thực hiện phương án. Cụ thể là cơ quan địa chính các cấp từ tỉnh đến xã sẽ tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp giải quyết theo phương án 3. Nếu giải quyết không thành thì chuyển sang phương án 4. Cụ thể như sau:

    1.     Các cấp Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố:

    Sẽ tiến hành giải quyết như đã trình bày ở phần phương án 3.

    2.     Đối với Ủy ban nhân dân xã:

    Trong quá trình hòa giải phải luôn luôn tôn trọng ý chí của mỗi bên đương sự tham gia khiếu kiện. Nếu như các bên đương sự khởi kiện (hộ bà Ngọc và anh Đáp) cùng thống nhất ý chí (và kết quả giải quyết khác so với ban đầu thì cũng phải ghi biên bản hòa giải thành theo ý chí mà họ đã cùng thống nhất).

    Trường hợp hòa giải không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên và nhất thiết phải đưa ra Tòa án nhân dân để giải quyết.

    3.Đối với Tòa án nhân dân:

    Nếu hòa giải không thành ở Ủy ban nhân xã thì Tòa án nhân dân tiến hành giải quyết như sau:

    • Tổ chức hoà giải giữa hộ bà Ngọc và anh Đáp Trường hợp hòa giải

    không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên để giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Trang 16

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Về chủ thể tham gia vụ kiện: Tất cả các thành viên (bà Ngọc, chị Đẹp,

    chị Đào và anh Đáp) đều đủ năng lực hành vi để tham gia xét xử trước Tòa. Chị Đẹp và Chị Đào là giáo viên tiểu học, vẫn chưa lập gia đình, phụ giúp công việc cùng bà Ngọc.

    • Loại đất để thừa kế là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (cà phê và cây

    ăn trái) của hộ gia đình đã có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sử dụng ổn địng từ năm 1993 đến nay. Do đó, đất được sử dụng hợp pháp, được quyền để thừa kế.

    Do vậy, các thành viên trong gia đình đều là đồng sở hữu diện tích đất tương ứng và được nhận thừa kế, để lại thừa kế cho người khác sau khi chết. Theo chương IV, mục 3, điều 113, khoản 5 – Luật đất đai qui định: “Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    • Hộ gia đình anh Đáp là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp nên thuộc đối tượng được sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm.
    • Di chúc của ông Sơn được lập trước khi ông qua đời có công chứng của nhà nước: Là di chúc hợp pháp.
    • Anh Đáp không phải con ruột của vợ chồng ông Sơn nhưng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin

    nhận con nuôi. Trong quá trình chung sống, Anh Đáp đã từng tham gia canh tác, trồng trọt, chăm sóc; do đó, anh Đáp vẫn có quyền được hưởng 01 hécta đất trong 05 hécta mà được nhà nước giao cho hộ ông Sơn vào năm 1993 (đồng sở hữu). Hơn nữa, Tòa xem xét quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm đó là giao đất canh tác cho số nhân khẩu trong một hộ gia đình.

    Trang 17

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Anh Đáp có quyền hưởng thừa kế theo di chúc của ông Sơn (theo điều

    648 – chương XXIII – Bộ luật dân sự). Diện tích đất 01 hécta để lại cho anh Đáp theo di chúc là phần đất của ông Sơn trong khối tài sản chung của hộ gia đình (05 hécta chia đều cho năm người, mỗi người là 01 hécta). Tuy nhiên, trong bản di chúc của ông Sơn không được sự thống nhất của gia đình bà Ngọc và các con gái. Ông không nhắc đến vợ và các con gái của ông (có lẽ ông đã dự báo trước được tình trạng đối xử của vợ và các con ruột đối với con nuôi sau khi ông mất). Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong gia đình; đặc biệt là thể hiện được nguyện vọng của Anh Đáp là luôn giữ mối quan hệ tình cảm tốt đẹp là truyền thống và đạo lý của người Việt Nam.

    Vì thế, Tòa căn cứ vào điều 669 – Bộ luật dân sự năm 2005: Là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc để quyết định việc phân chia 01 hécta đất và 01 xe gắn máy do Ông Sơn để lại trong di chúc: ”Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này”.

    Theo đó, Bà Ngọc là người được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

    Cụ thể như sau:

    Theo Điều 674, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định và Điều 676, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, Bà Ngọc là vợ, Chị Đẹp, Chị Đào con ruột và Anh Đáp là con nuôi. Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì 01 hécta đất nông nghiệp của ông Sơn để lại được chia ra

    Trang 18

    Tiểu luận tốt nghiệp

    làm 4 phần: gồm Bà Ngọc 0,25 ha, Chị Đẹp 0,25 ha, Chị Đào 0,25 ha và Anh Đáp 0,25 ha, nhưng Ông Sơn đã lập di chúc để lại toàn bộ 1 ha cho Anh Đáp.

    Do đó, theo quy định trên Bà Ngọc đuợc hưởng 2/3 của suất thừa kế theo pháp luật tương đương với 0,167 ha và Anh Đáp được hưởng 0,883 ha (Chị Đẹp và Chị Đào không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện cả hai chị đang là giáo viên của trường tiểu học xã Hóa An.

    • Tương tự đối với chiếc xe gắn máy (01 chiếc) tuy là do ông Sơn đứng tên nhưng tòa đã xác định đây là tải sản chung sau hôn nhân. Do đó, sau khi tính

    giá trị (10 triệu đồng) thì Ông Sơn và Bà Ngọc được chia đôi: Mỗi người được hưởng 5 triệu đồng. Nếu Anh Đáp toàn quyền sở hữu xe gắn máy thì phải trả một số tiền tương đương với 2/3 của suất thừa kế theo pháp luật đối với chiếc xe cho Bà Ngọc là 83.333 đồng (Chị Đẹp và Chị Đào không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện cả hai chị đang là giáo viên của trường tiểu học xã Hóa An.

    Căn cứ vào các quy định trên của pháp luật, Tòa án sẽ xử lý vụ kiện

    như sau:

    • Bảo vệ quyền được hưởng 01 hécta đồng sở hữu và hưởng thừa kế 0,833 hécta đất trồng cây cà phê và cây ăn trái của do ông Sơn để lại theo di chúc cho anh Đáp: tổng cộng 1,833 hécta.
    • Anh Đáp được quyền sở hữu xe gắn máy do Ông Sơn để lại theo di

    chúc với điều kiện phải trả một số tiền cho Bà Ngọc là 83.333 đồng.

    Trang 19

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN VI

    KẾT LUẬN : ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

    Tất cả các vụ khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất có thể giải quyết thành ở cấp cơ sở (cấp xã) khi cán bộ quản lý hành chính nhà nước cấp xã thông hiểu pháp luật, có kiến thức chuyên môn và có tinh thần trách nhiệm cao. Ngược lại, thì làm cho sự việc hành chính trở nên rắc rối; phát sinh khiếu nại từ cơ sở, gây ra sự mất đoàn kết và xáo trộn trong nội bộ nhân dân, gây mất niềm tin trong nhân dân.

    Do đó, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước yêu cầu về tiêu chuẩn hóa các chức danh cán bộ, công chức và đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng công chức nhà nước thành đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết pháp luật, có năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân là hết sức cần thiết và bức bách hiện nay.

    Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã đề ra Nghị quyết về việc “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách một bước nền hành chính nhà nước”. Trong đó ghi rõ: “Tiến hành sửa đổi bổ sung thể chế và đề cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các khiếu nại của công dân không cần đưa xử ở Tòa án”. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn là việc làm hết sức cần thiết. Cần phải chú trọng tối đa đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở cơ sở. Có chế độ đãi ngộ và chế độ thu hút xứng đáng để họ an tâm làm việc hết mình, nâng cao hiệu suất công tác phục vụ nhân dân.

    Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước bằng chủ trương, đường lối của Đảng. Đảng phải thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chủ trương, đường lối của mình.

    Quốc hội thành lập Ủy ban chuyên trách nghiên cứu làm luật. Phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nước cùng tham gia xây dựng luật. Nên thành lập

    Trang 20

    Tiểu luận tốt nghiệp

    “Công ty Ý tưởng” để buôn bán, trao đổi, hiến kế… nhằm làm giàu kho chất xám phục vụ cho các đề án, công trình nghiên cứu lớn cấp quốcgia hay xây dựng, bổ sung cho các bộ Luật.

    Quản lý nhà nước được thực hiện theo pháp luật là cơ sở chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, mọi vấn đề thuộc về quản lý phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm.

    Cần tăng cường tổ chức việc giáo dục pháp luật đến tận cơ sở; làm cho mọi người thông hiểu pháp luật. Thực hiện “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”. Giáo dục pháp luật cho công dân phải được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi. Các bộ luật cơ bản của nước ta phải được đưa vào thành môn học ngoại khóa cho học sinh phổ thông và tổ chức sinh hoạt theo tình huống tháng hoặc tuần/lần; sắm vai hoặc phiên tòa giả định sao cho thật sự thu hút, vui, dễ nhớ. Để sau này các em có một số kiến thức cơ bản, không chỉ góp phần nào cho sự hiểu biết về pháp luật của bản thân mà còn tham gia thuyết phục cho người thân trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

    Phải thực hiện cải cách hành chính trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai nhà ở, tránh gây phiền hà, hạch sách nhũng nhiễu nhân dân. Cần lưu ý nhất là khâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở sao cho nhanh chóng, dễ dàng. Trên thực tế, rất ít nơi thực hiện đúng cam kết này. Cũng như rất ít người dân làm được thủ tục này mà không qua đối tượng “trung gian”, người ta thường gọi là “cò”.

    Và điều sau cùng là thường xuyên tạo điều kiện nâng cao trình độ về mọi mặt nhất là kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ từ cơ sở đến thành phố, tỉnh… những người thường xuyên trực tiếp làm việc với người dân./.

    Trang 21

    Tiểu luận tốt nghiệp

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình quản lý hành chính nhà nước của Học viện hành quốc gia.

    2.Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm

    2004).

    3.Luật khiếu nại, tố cáo và các Nghị định hướng dẫn thi hành năm 2004.

    4.Bộ luật dân sự năm 2005.

    5.Một số tài liệu khác.

    Trang 22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]