Category: Đại Học Hải Phòng

  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô

    Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô

    Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quanBí Kíp Làm Bài Tập Kinh Tế Lượng Siêu Nhanh

    Đề cương môn kinh tế vĩ mô là dạng trắc nghiệm nên có độ dài lên tới 64 trang, bao gồm nhiều 10+ dạng đề khác nhau. Các bạn xem ở phiên bản dưới đây nhé!

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2018/12/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô

    Kinh tế học vĩ mô hay là kinh tế tầm lớn (Macroeconomic) là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung. Kinh tế học vĩ môkinh tế học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học. Trong khi kinh tế học vi mô chủ yếu nghiên cứu về hành vi của các cá thể đơn lẻ, như công ty và cá nhân người tiêu dùng, kinh tế học vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như GDP, tỉ lệ thất nghiệp, và các chỉ số giá cả để hiểu cách hoạt động của cả nền kinh tế.

    Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Những đối tượng nghiên cứu cụ thể của kinh tế học vĩ mô bao gồm tổng sản phẩm, việc làm, lạm phát, tăng trưởng, chu kỳ kinh tế, vai trò ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ…


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây


  • Bộ Đề Thi Và Lời Giải Môn Xác Suất Thống Kê

    Bộ Đề Thi Và Lời Giải Môn Xác Suất Thống Kê

    BỘ ĐỀ THI VÀ LỜI GIẢI XÁC SUẤT THỐNG KÊ


    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    Đề cương liên quan: Bài Tập Chỉ Số Trong Thống Kê

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2018/04/X%C3%81C-SU%E1%BA%A4T-TH%E1%BB%90NG-K%C3%8A.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BỘ ĐỀ THI VÀ LỜI GIẢI XÁC SUẤT THỐNG KÊ


    ĐỀ SỐ 1

    1. Đường kính của một loại trục máy là một đại lượng ngẫu nhiên có phân phối chuẩn

    N (µ = 250mm;σ 2  = 25mm2 ) . Trục máy được gọi là hợp quy cách nếu đường kính từ

    245mm đến 255mm. Cho máy sản xuất 100 trục. Tính xác suất để:

    1. a. Có 50 trục hợp quy các
    2. Có không quá 80 trục hợp quy cách.
    3. Quan sát một mẫu (người) , ta có bảng thống kê chiều cao X(cm), trọng lượng Y(kg):
    X

    Y

    150-155 155-160 160-165 165-170 170-175
    50 5        
    55 2 11      
    60   3 15 4  
    65     8 17  
    70     10 6 7
    75         12
    1. a. Ước lượng chiều cao trung bình với độ tin cậy γ = 95%  .
    2. Những người cao từ 170cm trở lên gọi là quá cao. Ước lượng trọng lượng trung bình những người quá cao với độ tin cậy 99%.
    1. c. Một tài liệu thống kê cũ cho biết tỷ lệ những người quá nặng ( ≥ 70kg

    kết luận về tài liệu đó, với mức ý nghĩa α = 10% .

    1. Lập phương trình tương quan tuyến tính của Y theo X.

    I GIẢI

    1. Gọi D là đường kính trục máy thì

    ∈ N (µ = 250mm;σ 2  = 25mm2 )

    Xác suất trục hợp quy cách là:

    p = p[245 ≤ D ≤ 255] = Φ( 255 − 250 ) − Φ( 245 − 250 ) = Φ(1) − Φ(−1) 2

    5                       5

    = 2Φ(1) −1 = 2.0, 8413 −1 = 0, 6826 .

    1. a. Gọi E là số trục máy hợp quy cách trong 100 trục,

    E ∈ B(n = 100; p = 0, 6826) ≈ N (µ = np = 68, 26;σ 2  = npq = 21, 67)

    xac suat thong ke

    xac suat thong ke

  • Câu Hỏi Ôn Tập Hỗ Trợ Tài Chính Công

    Câu Hỏi Ôn Tập Hỗ Trợ Tài Chính Công

    CÂU HỎI ÔN TẬP HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CÔNG


    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Tổng hợp các đề cương hiện có của Đại Học Hàng Hải: Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    Đề cương liên quan: Tài Chính Tiền Tệ

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2018/04/cac_cau_hoi_on_tap_tai_chinh_cong_2717.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÂU HỎI ÔN TẬP HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CÔNG


    Câu 1: Giữa phạm trù tài chính nhà nước và tài chính công có sự khác nhau hay không? Giải thích?

    Tài chính công là một bộ phận của tài chính nhà nước.

    Tài chính nhà nước là một khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước.

    Tài chính công bao hàm các ý nghĩa: một là, trong khuôn khổ của một quốc gia, tài chính công thuộc hình thức sở hữu nhà nước và nhà nước hay quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao của một quốc gia có quyền áp đặt mọi khoản thu chi của quốc gia hay có thể ủy quyền cho chính phủ hay cơ quan công quyền quyền quyết định đó. Hai là, khâu tài chính này hoạt động không vì lợi nhuận. Ba là, tài chính công cung cấp hàng hóa công, gắn liền với nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội. Mọi người dân có thể tiếp cận và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ do khâu tài chính này cung cấp mà không phải trả tiền, hoặc có trả nhưng không theo cơ chế giá cả thị trường. Hay nói cách khác, vấn đề “người hưởng tự do không phải trả tiền” là hiện tượng phổ biến trong hoạt động tài chính công.

    Tài chính nhà nước là công cụ để nhà nước can thiệp vào kinh tế nhằm điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Phạm vi hoạt động của tài chính nhà nước không chỉ dừng lại các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước, các quỹ ngoài ngân sách (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm chăm lo phúc lợi cộng đồng…), hoạt động tài chính của các đơn vị hành chính, các đơn vị sự nghiệp mà còn có cả hoạt động đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế. Như vậy, xét về mặt sắp xếp thể chế, có thể thấy, trong nền kinh tế hiện đại tài chính nhà nước bao hàm sự đan xen của những hoạt động mang tính chất công, không vì lợi nhuận và một số các hoạt động mang tính chất tư, nhằm mục tiêu lợi nhuận như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước.

    Nhu vậy, trong số các bộ phận tài chính nhà nước, những hoạt động tài chính phục vụ cho kinh doanh và lợi nhuận được coi là định hướng cho mục tiêu hành động thì không thể xem đó là tài chính công, chẳng hạn như hoạt động của khâu tài chính doanh nghiệp nhà nước.

     

    Câu 2: Các vấn đề cơ bản về tài chính công: Khái niệm, cơ cấu, chức năng và vai trò của tài chính công.

    1. Khái niệm:

    TCC là phạm trù giá trị phản ánh các mối quan hệ kt giữa nhà nước và các chủ thể kt khác trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ vốn có của nhà nước.

    Từ khái niệm của TCC ta thấy rằng:

    • Hình thức của TCC là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ vốn có của nhà nước.
    • Bản chất của TCC là các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế khác.

    Theo quan điểm của bộ tài chính thì Tài chính nhà nước bao gồm: TCC và tài chính các doanh nghiệp nhà nước. trong đó TCC là công cụ quan trọng nhất mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kt khác.

    Một nguồn tài chính được coi là tài chính công khi nó thỏa mãn các tiêu chí sau:

    • Trước hết, có thể quan niệm tài chính công là loại hình tài chính thuộc sở hữu nhà nước
    • Tài chính công phục vụ cho những hoạt động phi vị lợi, chú trọng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích kinh tế xã hội.
    • Tài chính công tạo ra hàng hóa dịch vụ công, mọi người dân có nhu cầu có thể tiếp cận. Nhà nước có thể cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội dưới hình thức “người hưởng tự do mà không trả tiền” hoặc dưới dạng thu phí, lệ phí – một hình thức thu hồi chi phí của nhà nước, nhưng không theo cơ chế giá thị trường.
    1. Cơ cấu:(trong bài của nhóm bạn BẠCH PHI HIỀN đã ghi rất đầy đủ và rõ ràng nhé)
    2. Ngân sách Nhà nước

    NSNN là mắt khâu quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạo trong tàichính Nhà nước. Thu của NSNN được lấy từ mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau, trong đó thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Chi tiêu của NSNN nhằm duy trì sự tồn tại hoạt động của bộ máy nhà nước và phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. NSNN là một hệ thống bao gồm các cấp Ngân sách phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp. Tương ứng với các cấp Ngân sách của hệ thống NSNN, quỹ NSNN được chia thành: quỹ Ngân sách của Chính phủ Trung ương, quỹ Ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và tương đương, quỹ Ngân sách của chính quyền cấp huyện và tương đương, quỹ Ngân sách của chính quyền cấp xã và tương đương. Phụcvụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền Nhà nước các cấp, quỹ Ngân sách lại được chia thành nhiều phần nhỏ để sử dụng cho các lĩnh vực khác nhau, như: phần dùng cho phát triển kinh tế; phần dùng cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế; phần dùng cho các biện pháp xã hội, an ninh, quốc phòng…

    Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng Ngân sách Nhà nước là mang tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước và không mang tính hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.

    1. Các tổ chức tín dụng nhà nước

    Tín dụng nhà nước bao gồm cả hoạt động đi vay và hoạt động cho vay của Nhà nước.

    Tín dụng Nhà nước thường đượcsửdụng để hỗ trợ Ngânsách Nhà nước trong các trường hợp cần thiết. Thông qua hìnhthức Tín dụng Nhà nước,nhà nước động viên các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các pháp nhân vàthể nhântrong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu tạmthời của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinhtế- xã hội,chủ yếu là thông qua việc cấp vốn thực hiện cácchương trình cho vay dài hạn. Việcthu hút các nguồn tài chínhtạmthời nhàn rỗi qua con đường tín dụng Nhà nước được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu Chínhphủnhư: Tínphiếu Kho bạc Nhà nước, tráiphiếu Khobạc Nhà nước, trái phiếu công trình (ở Việt Nam hiện có hình thức trái phiếu đô thị), công trái quốc gia (ở Việt Nam là công trái xây dựng Tổ quốc) trên thị trường tài chính.

    Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ qua hình thức tín dụng Nhà nước là mang tính tự nguyện và có hoàn trả.

    Các tổ chức tín dụng NN bao gồm:

    • Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
    • Ngân hàng phát triển Việt Nam – VDB
    • Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB)
    • Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV
    • Ngân hàng chính sách xã hội – VBSP
    • Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – AGRIBANK
    1. Các quỹ tài chính ngoài ngân sách Nhà nước

    Các quỹ TCNN ngoài NSNN là các quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thànhlập, quảnlý và sử dụng nhằm cung cấp nguồnlực tài chính cho việc xửlý những biến động bấtthườngtrong quátrình phát triển kinh tế- xã hội và để hỗ trợthêm cho NSNN trong trường hợp khó khăn về nguồnlực tài chính.

    Sựhìnhthànhvà pháttriểncácquỹ TCNN ngoài NSNNlà mộtsự cần thiết khách quan bắt nguồn từ chính yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô nền kinh tế – xã hội. Đó là:

    Thứnhất, Để huyđộngthêmcácnguồnlựctàichínhhỗtrợ NSNN thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Mặc dù NSNN là một quỹ TCNN lớn nhất, có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất đến mọi hoạt động kinh tế – xã hội, song do quy môthu, chi NSNNluôn có giới hạntrong khi nhu cầu của nền kinh tế – xã hội lại rất lớn nên trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh. cụthể, đểthực hiệncó hiệu quả các chức năng của mình nhằmthực hiện các mục tiêu phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, Nhà nước cần phải huy động thêm các nguồn lực tài chính trong xã hội. Điều đó được thực hiện bằng cách thành lập các quỹ TCNN ngoài NSNN thích ứng.

    Thứ hai, Để tạo thêm công cụ phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân (TSPQD) nhằm thực hiện các mục tiêuxãhộitrongpháttriển. Mặcdù NSNN là công cụ quan trọng nhất trong phân phối lại TSPQD, nhưng trong những thời kỳlịch sử nhất định,trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định, chỉ bản thân công cụ NSNN không thể xửlý vấn đề một cách có hiệu quả cao nhất, đặc biệt là vấn đề công bằng trong phát triển. Trong những trường hợp đó, sự ra đời của các quỹ TCNN ngoài NSNN sẽ cùng với NSNN tạo thành một bộ công cụ thực hiện có hiệu quả hơn chức năng phân phối lại TSPQD, thực hiện tốt hơn yêu cầu công bằng trong phát triển.

    Thứ ba, Trợ giúp Nhà nước trong việc khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường và chuyển dần nền kinh tế – xã hội sang hoạt động theocơ chế thị trường. Các quỹ TCNN ngoài NSNN, một mặt, giúp xử lý các tình huống bất thường nảy sinh do biến động của nền kinh tế, trong đó có những biến động do nguyên nhân của cơ chế thị trường, mặt khác cơ chế hoạt động của các quỹ này lại có tính đan xen giữa cơ chế quản lý Nhà nước thuần tuý và cơ chế quản lý thị trường do đó là sự bổ sung quan trọng cho các cơ chế, chính sách khác trong quá trình chuyển đổi kinh tế.

    So với quỹ NSNN và các quỹ tiền tệ khác, các quỹ TCNN ngoài NSNN có các đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, Về chủ thể: Chủ thể của các quỹ TCNN ngoài NSNN là Nhà nước. Nhà nước là chủ thể quyết định việc thành lập quỹ, huy động nguồn tài chính, sử dụng quỹ và tổ chức bộ máy quản lý quỹ. Nhà nước ở đây được hiểu là các cơ quan công quyền thuộc khu vực hành pháp được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức và quản lý quỹ.

    Hai là, Về nguồn tài chính: Nguồn tài chính hình thành các quỹ TCNN ngoài NSNN bao gồm:

    • Một phầntríchtừ NSNNtheo quy địnhcủa Luật NSNN. Nguồntài chính này đóng vai trò như vốn “mồi” cho quỹ hoạt động. Tỷ trọng của nguồn tài chính nàylớn hay nhỏtuỳthuộc vào chức năng hoạt động của từngloại quỹ.
    • Một phần huy động từ các nguồn tài chính, trong đó có nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế – xã hội và các tầng lớp dân cư.

    Với loại quỹ TCNN ngoài NSNN đảm nhận chức năng dự trữ, dự phòng cho những rủi ro bất thường ảnh hưởng đến toàn cục thì nguồn tài chính trích từ NSNNthường cótỷtrọnglớn, như: Quỹ dựtrự quốc gia, Quỹ dự trữ tài chính, Quỹ dựtrữ ngoại hối… Vớiloạiquỹ TCNN ngoài NSNN đảmnhận chức năng hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng kinh tế, có khả năng thu hồi vốn thìtỷtrọng nguồn tài chính từ NSNN nhỏ, phần chủ yếu là huy độngtừ các nguồn tài chính, trong đó có nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức xã hội và cáctầnglớpdân cư, như: Quỹ hỗtrợpháttriển, Quỹđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc TW, quỹ BHXH…

    Ba là, Về mục tiêu sử dụng:Các quỹ TCNN ngoài NSNN được sử dụng nhằm giải quyết những biến động bất thường không dự báo trước trong quá trình pháttriển kinhtế- xã hội, không cótrong dựtoán NSNN nhưng Nhà nước phải có trách nhiệm xử lý.

    Bốn là, Về cơ chế hoạt động: So với NSNN, cơ chế huy động và sử dụng vốn của các quỹ TCNN ngoài NSNN tương đốilinh hoạt hơn. Phầnlớn việc huy động và sử dụng vốn của các quỹ TCNN ngoài NSNN được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật do các cơ quan hành pháp quyết định mà không cần có sự tham gia của các cơ quan quyềnlực. Tính chấtlinh hoạt đó bắt nguồntừ mục tiêu sử dụng của các quỹ TCNN ngoài NSNN. Đặc trưng này tạo ra hành lang rộng trong việc sử dụng nguồn lực tài chính để xử lý tình huống. Việc sử dụng các quỹ TCNN ngoài NSNN thường có mục tiêu, địa chỉ cụ thể, theo sự điều khiển của Nhà nước đối với từng loại quỹ, đồng thời được thực hiện theo cơ chế tín dụng nhưng với lãi suất ưu đãi.

    Năm là, Về điều kiện hình thành và tồn tại: Sự ra đời và tồn tại của từng loại quỹ TCNN ngoài NSNN tuỳ thuộc vào sựtồntại cáctình huống, các sự kiện kinh tế – xã hội. Khi các tình huống, sự kiện đó được giải quyết dứt điểm, trở lại trạng thái bình thường thì cũng là lúc từng loại quỹ TCNN ngoài NSNN để giải quyết các tình huống, sự kiện đó cũng sẽ không có lý do tồn tại.

    Hiện nay ở Việt nam hệthống các quỹ TCNN ngoài NSNN đang được sắp xếp lại và bao gồm các quỹ chủ yếu sau:

    – Quỹ Dự trữ quốc gia (dưới hình thức hiện vật và tiền)

    – Quỹ Dự trữ tài chính

    – Quỹ Dự trữ ngoại hối (do NHNN quản lý)

    – Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài

    – Quỹ quốc gia giải quyết việc làm và Quỹ tín dụng đào tạo. Hiện nay 2 quỹ này đã được sáp nhập vào Ngân hàng chính sách xã hội.Ngân hàng chính sách xã hộilà cơ quan quảnlý nguồntài chính sử dụng cho các mục tiêu kể trên.

    – Quỹ Phòng chống ma tuý

    – Hệ thống các quỹ môi trường (được thành lập ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, ngành than)

    – Quỹ hỗ trợ phát triển (bao gồm cả Quỹ Bình ổn giá và Quỹ hỗ trợ xuất khẩu đã được sáp nhập)

    – Quỹ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (7 địa phương)

    – Quỹbảohiểmxãhội(baogồmcả Quỹ Bảohiểmytếđã đượcsáp nhập).

    – Và một số quỹ khác.

    ở các quốc gia khác nhau và ngay ở trong một quốc gia, trong các thời kỳpháttriểnkhác nhau việc tổ chức bao nhiêu quỹ TCNNngoài NSNNlà không giống nhau. Điều đó phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế – xã hội, trình độ quản lý TCNN của các quốc gia trong các thời kỳ lịch sử nhất định.

    Việc tổchứccácquỹtiềntệthuộctàichínhNhà nướctheocơchế nhiềuquỹthành quỹ Ngânsách Nhà nước và các quỹ ngoài Ngânsáchlà phù hợp với việc thực hiện phân cấp, phân công quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước. Điều đó đảm bảophát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của các địa phương, các ngành, các đơn vị trong quảnlý kinh tế- xã hội vàlà điều kiện thực hiện chuyên môn hoálao độngtrong quảnlý tài chính Nhà nước đảm bảo cho việc quản lý đó được chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn.

    1. Chức năng:

    TCC có 3 chức năng cơ bản: tạo lập vốn, phân phối và phân bổ, giám đốc và điều hành.

    1. Tạo lập vốn

    Chủ thể nhà nước với tư cách là người nắm giữ quyền lực chính trị, nhận một phần đóng góp của các chủ thể kinh tế tạo lập quỹ chung nhằm tham gia điều phối các nguồn lực tài chính trong xã hội.

    1. Phân phối và phân bổ

    Đối tượng mà chức năng phân phối và phối và phân bổ hướng tới vẫn là các nguồn lực tài chính trong nền kt.

    Các mục tiêu cần hướng đến là: công bằng xã hội và các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn nhất định. Thông qua 2 kênh chủ yếu là thuế và chi tiêu công, nhà nước định hướng nền sản xuất tiêu dùng ở từng vùng miền của đất nước, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của cả nền kt.

    1. Giám đốc và điều chỉnh.

    Để quản lý một cách hữu hiệu các hoạt động kinh tế – xã hội, việc tiến hành điều chỉnh và kiểm soát thường xuyên là sự cần thiết khách quan. Với tư cách là một công cụ quản lý trong tay Nhà nước, tài chính Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh và kiểm soát như một sứ mệnh xã hội tất yếu.

    Chức năng điềuchỉnh và kiểm soát của tài chính Nhà nước là khả năng khách quan của tài chính Nhà nước để có thể thực hiện việc điều chỉnh lại quá trình phân phối các nguồn lực tài chính và xem xét lại tính đúng đắn, tính hợp lý của các quá trình phân phối đó trong mọi lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân.

    Đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của tài chính Nhà nước trước hết là quátrình phân bổ các nguồnlựcthuộc quyền chi phối của Nhà nước. Nói khác đi, đólà quátrìnhtạolậpvàsử dụngcácquỹtiềntệ mà Nhà nước nắmgiữ. Tuy nhiên cần nhận rõ rằng, việctạolập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước lại luôn có mối liên hệ hữu cơ với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của mọi chủ thể kinh tế – xã hội khác và được tiến hành trên cơ sở các chính sách, chế độ do Nhà nước quy định.

    1. Vai trò của tài chính công

    Tài chính công có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước:

    – Tài chính công góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế đất nước; điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập. Chính nhờ sử dụng có tính toán một cách khoa học các nguồn ngân sách sẽ phát huy cao độ vai trò thúc đẩy xã hội đi lên, đặc biệt là các công trình chung về kết cấu hạ tầng xã hội.

    – Tài chính công góp phần to lớn vào việc nâng cao an sinh phúc lợi cho xã hội, thực hiện tốt các cam kết về quyền con người của Liên hiệp quốc, xoá dần hố sâu ngăn cách giàu nghèo phi lý; ổn định xã hội, nâng cao uy tín của nhà nước và sự đồng thuận của xã hội.

    – Tài chính công góp phần to lớn vào việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng cao của xã hội; cải thiện tốt mối quan hệ quốc tế, góp phần hội nhập và nâng cao uy tín đất nước trước cộng đồng quốc tế.

    – Tài chính công là thước đo trình độ, bản lĩnh, tầm nhìn, nhân cách của những người lãnh đạo đất nước; thể hiện ở hiệu lực và hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước

    Câu 3:

    Nêu nội dung cơ bản của Cải cách quản lý tài chính công giai đoạn 2001 – 2010 và tầm nhìn 2020 tại Việt Nam: Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp hoàn thiện.

    Theo CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ CẢI CÁCH  HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001 – 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) gồm:

    1. Cải cách thể chế
    2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
    3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
    4. Cải cách tài chính công

    thì NỘI DUNG của Cải cách tài chính công bao gồm:

    4.1. Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách trung ương; phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương.

    4.2. Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp; quyền quyết định của các Bộ, Sở, Ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt.

    4.3. Thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính bằng cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính, đổi mới hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động của cơ quan sử dụng ngân sách.

    4.4. Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công

    –  Xây dựng quan niệm đúng về dịch vụ công. Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhận mà có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân tự làm.

    Xoá bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin – cho”, thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và phần còn lại do các đơn vị tự trang trải.

    4.5. Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới, như :

    – Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà trường, bệnh viện; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập;

    – Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa bệnh có chất lượng cao ở các thành phố, khu công nghiệp; khuyến khích liên doanh và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực này;

    – Thực hiện cơ chế khoán một số loại dịch vụ công cộng như : vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh công viên, nước phục vụ nông nghiệp …;

    – Thực hiện cơ chế hợp đồng một số dịch vụ công trong cơ quan hành chính.

    4.6. Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công.

    THỰC TRẠNG

    1. Kết quả đạt được:
    2. Quản lý chi ngân sách: liên tục đổi mới và hoàn thiện khuôn khổ thể chế như sửa đổi bổ sung Luật NSNN, ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn và kiểm soát các hoạt động chi.
      2. Quản lý thu ngân sách: Thực hiện các chương trình cải cách và hiện đại hóa trong lĩnh vực thuế, hải quan và đạt được kết quả khả quan, tạo điều kiện cho cá hoạt động tiếp theo.
      3. Quản lý nợ: Đã có các quy định pháp lý về công khai tài chính, ngân sách và nợ công, từng bước cải thiện tính công khai minh bạch thông tin về nợ công.
      4. Giám sát thị trường tài chính và phát triển thị trường trái phiếu: Tập trung xây dựng đề án Giám sát thị trường tài chính thống nhất thông qua một cơ quan giám sát của Chính phủ, đẩy mạnh thị trường trái phiếu thông qua phát hành trái phiếu lô lớn,…
      5. Đổi mới quản lý tài chính doanh nghiệp: từng bước hoàn thiện phù hợp với kinh tế thị trường, phương thức quản lý tài chính của Nhà nước đối với phần vốn và tài sản của Nhà nước tại DNNN đã được đổi mới.
      6. Quản lý tài sản công: Đã hệ thống hóa, rà soát, phân loại, quản lý được tài sản công tại khu vực hành chính, sự nghiệp trên toàn quốc, bước đầu hình thành được một cách có hệ thống các chính sách và khuôn khổ pháp lý cần thiết để quản lý tài sản công.
      7. Quản lý giá: Hệ thống giá đang dần trở nên minh bạch hơn do việc Bộ Tài chính đang thiết lập và phát triển mạng lưới thông tin về giá và thị trường trên cả nước. Kiềm chế tốc độ tăng giá và giá cả đã phản ánh tốt hơn các quan hệ thị trường trong nền kinh tế thị trường mở cửa.
    3. Những tồn tại:

    (i) tính ổn định, bền vững trong huy động các nguồn lực chưa cao;

    (ii) hiệu quả phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia còn hạn chế, tình trạng lãng phí, kém hiệu quả chậm được khắc phục;

    (iii) việc đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công tuy có bước phát triển tích cực song chưa đạt yêu cầu đề ra, thiếu sự phối hợp giữa Nhà nước và tư nhân trong cung ứng dịch vụ công, làm gia tăng gánh nặng ngân sách;

    (iv) hệ thống thanh tra, giám sát tài chính tuy đã có tiến bộ song sự kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong giám sát tài chính ở một số khâu còn yếu nên ảnh hưởng không nhỏ tới sự ổn định, bền vững của toàn hệ thống;

    (v) công tác cải cách hành chính tuy đã có những bước tiến lớn song trong một số khâu còn mang tính hình thức, thiếu đột phá và chưa theo kịp với thực tiễn phát sinh trong điều hành kinh tế- xã hội.

    GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

    1. Quản lý chi ngân sách: Tiếp tục cải cách quản lý chi nhằm phân phối và sử dụng NSNN đúng dự toán, tiết kiệm, hiệu quả, vừa đảm bảo quản lý tập trung, thống nhất về NSNN, vừa đảm bảo quyền quyết định về NSNN của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong quản lý chi NSNN để nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng kiểm soát các khoản chi NSNN.
      2. Quản lý thu ngân sách: Triển khai đồng bộ 2 dự án cải cách Thuế và Hải quản nhằm xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, quy trình thủ tục hải quan được đơn giản, hài hoà và thống nhất theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tiên tiến. Đồng thời tiến hành nâng cấp hệ thống thu thuế và quản lý hải quan tiên tiến, hiện đại, nâng cao trình độ cán bộ để đáp ứng kịp tiến trình cải cách quản lý thu NSNN. Chống thất thu ngân sách và tình trạng trốn thuế hiện còn rất phổ biến.
      3. Quản lý nợ: Triển khai thực hiện đề án quản lý nợ nhằm thống nhất đầu mối quản lý nợ công, đạt mục tiêu duy trì tài khóa bền vững, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Xây dựng phương pháp hiện đại về quản lý nợ công và nợ của một số DNNN chủ chốt.
      4. Giám sát thị trường tài chính và phát triển thị trường trái phiếu: tạo ra cơ chế quản lý, giám sát và phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong quản lý, giám sát thị trường tài chính; nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý và giám sát thị trường tài chính; đảm bảo an toàn thị trường, bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo an ninh tài chính – tiền tệ quốc gia.
      5. Đổi mới quản lý tài chính doanh nghiệp: Xây dựng mô hình tối ưu về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp kèm theo bộ cơ chế đồng bộ, hoàn chỉnh, phù hợp với thông lệ quốc tế trong điều kiện hội nhập WTO.
      6. Quản lý tài sản công: Rà soát, hoàn thiện và hướng dẫn thực hiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý tài sản công, thực hiện chế độ thẩm định kế hoạch đầu tư, mua sắm công.Tăng cường định giá mọi tài sản nhà nước theo “giá thị trường”. Hiện đại hóa công nghệ, trang thiết bị, áp dụng công nghệ thông tin và xây dựng phần mềm quản lý tài sản công.
      7. Quản lý giá: Hoàn thiện khuôn khổ thể chế và phát triển hệ thống thẩm định giá tài sản “theo giá thị trường” phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, ASEAN và có thể trao đổi được với các hệ thống quốc tế và khu vực về thẩm định giá.

    Bên cạnh đó, cách thức quản lý tài chính công hiện nay còn nhiều bất cập, góp phần làm gia tăng lạm phát trong hiện tại. Do đó cần thiết có các giải pháp của chính sách tài khóa nhằm kiềm chế lạm phát nhưa

    Thứ nhất, tăng nguồn thu nội địa không kể thu từ dầu thô. Tăng tỷ lệ thuế trực thu, trong đó có thuế thu nhập cá nhân nhằm bảo đảm động viên các nguồn thu NSNN công bằng, hợp lý.

    Thứ hai, chống thất thu ngân sách, ngăn chặn tình trạng trốn thuế còn khá phổ biến, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học vào các khâu quản lý thuế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thuế

    Thứ ba, kiểm soát chặt chi tiêu, loại bỏ những khoản chi lãng phí đồng thời phải kiểm soát chặt đối với các khoản chi tiêu không thể cắt bỏ

    Thứ tư, kiểm soát mức bội chi ngân sách và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay để bù đắp bội chi. Duy trì mức bội chi NSNN dưới ngưỡng 5% GDP..

    Thứ năm, sớm triển khai rộng rãi việc xây dựng và thực thi khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF).

    Thứ sáu, đẩy mạnh xã hội hóa và cổ phần hóa. Tiếp tục thu hút sự tham gia của khu vực tư vào những hoạt động mà họ có đủ khả năng đảm nhận nhằm tạo ra nhiều hàng hóa cung ứng cho xã hội, làm giảm bớt sự mất cân đối giữa tiền và hàng.

    Câu 4_1:

                Tại sao đổi mới quản l‎ý tài chính công là một nội dung cơ bản và quan trọng trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

    Tài chính công là phạm trù giá trị phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể KT trong quá trình tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ nhằm mục đích tích lũy, tiêu dùng đầu tư của các chủ thể KT. TTC có vai trò rất quan trọng trong XH, đó là công cụ tập trung nguồn lực đảm bảo sự duy trì tồn tại hoạt động của bộ máy NN cho các nhu cầu chi tiêu và là công cụ của NN quản lí vĩ mô nền Kte thị trường. Vì vậy quản lí tài chính công sao cho hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của tình hình đất nước ta hiện nay  rất quan trong và cần thiết.

    Có thể thấy, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cải cách tài chính công là một đòi hỏi khách quan và phù hợp. Nó xuất phát từ thực trạng tài chính công hiện nay  và yêu cầu về cải cách hành chính nhà nước trong những năm tới.

    Thứ nhất, đối với thực trạng tài chính công hiện nay, bên cạnh một số kết quả bước đầu đạt được, tài chính công vẫn đang còn những hạn chế cần sớm khắc phục, đó là:

    Đối với lĩnh vực NSNN: do chưa xây dựng khuôn khổ tài chính trung hạn nên hạn chế tính chiến lược của ngân sách và không phù hợp với việc quản lý các dự án tài chính lớn cần thực hiện trong nhiều năm. Bố trí ngân sách còn bị động, co kéo với các mục tiêu ngắn hạn. Cơ cấu chi ngân sách còn bất hợp lý, vẫn còn những khoản chi mang tính bao cấp. Phạm vi chi ngân sách chưa được xác định rõ nên khó giảm được gánh nặng chi ngân sách trong khi quy mô ngân sách còn nhỏ. Mặt khác, việc chi bao cấp, bao biện đã tạo tư tưởng ỷ lại, làm giảm động lực phát triển và cản trở việc thu hút đầu tư xã hội vào việc cung cấp dịch vụ công. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách còn kém hiệu quả, sử dụng lãng phí. Công tác kiểm soát chi vẫn nặng nề về số lượng, chưa chú ý đúng mức đến chất lượng, hiệu quả khoản chi…

    Đối với tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: Định mức, chế độ chi tiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ. Cơ chế quản lý biên chế, quản lý kinh phí ngân sách còn bất cập, chưa tạo động lực khuyến khích sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến.

    Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính nhà nước và những thể chế mới về NSNN cũng đặt ra yêu cầu về cải cách tài chính công một cách cấp thiết, cụ thể:

    Luật NSNN (năm 2002) vừa tạo ra cơ sở pháp lý cho cải cách căn bản về tài chính công, vừa dẫn đến những yêu cầu về cải cách tài chính công như: cơ cấu lại chi ngân sách, đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách….

    Mục tiêu tổng thể về cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 đã đặt ra yêu cầu cải cách tài chính công. Đó là: Tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; phân biệt cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, chuyển từ cấp kinh phí theo biên chế sang cấp kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, tăng quyền chủ động của đơn vị sử dụng ngân sách…

    Yêu cầu về cải cách tài chính công: Những kết quả bước đầu của cải cách tài chính công ở Việt Nam thời gian gần đây đòi hỏi phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn tới. Đồng thời, đó cũng là những bước đi mang tính thử nghiệm, nó cho phép khẳng định khả năng cải cách tài chính công ở nước ta.

    Vì những bất cập trên mà quản lí TTC là một nội dung cơ bản và quan trọng trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

    Câu 4_2:

    Để hiểu được vì sao đổi mới quản lý tài chính công là nội dung cơ bản và quan trọng trong Chương trình tổng thể CCHC NN giai đoạn 01-10, ta cần hiểu tài chính công là gì, vai trò của nó ra sao và tầm quan trọng của đổi mới quản lý tài chính công trong cải cách hành chính nhà nước.

    1. Tài chính công và vai trò của nó:

    Tài chính công là các hoạt động và quan hệ tài chính (thu-chi) liên quan đến hoạt động quản lý điều hành của Nhà nước.

    Ở đây người viết sẽ nghiêng về Ngân sách nhà nước nhiều hơn, vì đây là phần quan trọng và chủ chốt của Tài chính công.

    Hoạt động của tài chính công có ý nghĩa quyết định đến tình hình phát triển kinh tế tài chính của cả nước, và có vai trò quyết định trong thực hiện chính sách tài chính quốc gia, thể hiện qua các mặt:

    • TCC huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo tăng trưởng kinh tế: Nhà nước phân bổ nguồn thu từ ngân sách để đầu tư vào các ngành kinh tế trọng yếu, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút vốn đầu tư, làm nền tảng cho việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và đảm bảo tăng trưởng bền vững.
    • TCC điều chỉnh kinh tế – xã hội ở tầm vĩ mô: Nó tác động để các quan hệ kinh tế vận động theo định hướng của Nhà nước, hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các chính sách kinh tế, kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ kinh tế thích ứng với các biến động .
    • TCC bảo đảm duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước: Nhà nước dùng quyền lực của mình để phân phối một phần của cải xã hội cho hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ khác của Nhà nước.
    • TCC định hướng, đầu tư, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, hạn chế độc quyền và các ảnh hưởng ngoại sinh tiêu cực: Việc sử dụng tài chính công một cách đúng đắn sẽ có tác động tích cực đến việc phân bổ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính của xã hội, góp phần hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, theo đó còn định hướng cho các hoạt động khác phát triển.
    • TCC thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội: NN sử dụng các công cụ thu, chi của tài chính công, điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm công bằng trong phân phối và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội, đáp ứng các mục tiêu xã hội của kinh tế vĩ mô.
    • TCC thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: Nhà nước sử dụng công cụ chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ để khuyến khích tăng trưởng nền kinh tế một cách bền vững, hạn chế và đẩy lùi lạm phát và thất nghiệp, tăng cường và ổn định kinh tế vĩ mô. Nhờ đó các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước được chủ động thực hiện theo những mục tiêu đề ra.

    TCC đóng vai trò quan trọng như vậy, nên đòi hỏi phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra để hạn chế các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác, sử dụng TCC và nâng cao hiệu quả của TCC. Quản lý tài chính công là tất yếu cần thiết đối với mọi Nhà nước ở tất cả các quốc gia.

    1. Đổi mới quản lý tài chính công là một nội dung cơ bản và quan trọng của cải cách hành chính Nhà nước:

    Ta thấy rằng Ngân sách Nhà nước và Bộ máy nhà nước có mối quan hệ qua lại. NSNN cung cấp nguồn tài chính để duy trì bộ máy hành chính. NSNN có giàu mạnh thì mới có đủ nguồn để cung cấp cho bộ máy hành chính, NSNN eo hẹp thì phải sắp xếp lại bộ máy, tinh giảm biên chế (Ví dụ: khi Nhà nước thực hiện cắt giảm 50% kinh phí cho các việc nghiên cứu chuyển hình thưc tự trang trải thì số Viện nghiên cứu đã giảm hẳn, trong đó một số chuyển vào các Tổng công ty, gắn hoạt động khoa học với sản xuất). Nhưng nếu bộ máy Nhà nước phình ra, lập thêm các tổ chức mới thì NS phải chi thêm chi phí để duy trì hoạt động của nó.

    Hoạt động TCC chính là hoạt động của Nhà nước, trong đó hoạt động thu chi NS thể hiện tập trung quan hệ của Nhà nước với dân (thu thuế, trả lương, đảm bảo giao thông, hỗ trợ đối tượng chính sách…). Ở thời điểm trước năm 2001, nếu xét về quy mô của bộ máy và số lượng công chức thì ngành TC đứng thứ hai trong bộ máy nhà nước nói chung và đứng đầu trong các cơ quan quản lý hành chính nói riêng. Nếu xét về thủ tục hành chính nhà nước thì hầu hết các thủ tục hành chính đều có liên quan đến TCC.

    Vì vậy mà đổi mới quản lý tài chính công là nội dung cơ bản của cải cách hành chính Nhà nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà Nhà nước dần từ bỏ việc sử dụng các công cụ hành chính để can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế – xã hội thì việc sử dụng công cụ tài chính ngày càng được coi trọng. Theo đó, cải cách quản lý TCC ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cải cách hành chính Nhà nước.

    1. Đổi mới quản lý tài chính công là cần thiết trong bối cảnh Việt Nam trước giai đoạn 2001-2010 vì :

    3.1. Quản lý TCC kém hiệu lực và thiếu hiệu quả lúc bấy giờ:

    NN chưa xác định rõ cải cách TC công là một nội dung của Cải cách hành chính phải được tiến hành đồng bộ với Cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức.

    Quá trình lập NS có vai trò quyết định tới sự thành công của chính sách tài khóa lại là khâu yếu nhất của VN bấy giờ. Phương pháp lập ngân sách truyền thống, phân bổ từng năm, chủ yếu dựa vào số liệu năm trước nên việc lập NSNN chỉ mang tính hình thức và ít có hiệu quả thực tế, không chuyển hóa kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nhiều năm vào được. Việc lập ngân sách dựa theo đầu vào, không căn cứ vào đầu ra, hiệu quả sử dụng NS, dễ gây thất thoát và lãng phí trong sử dụng nguồn lực TCC. Đây là cách tính lạc hậu và không còn phù hợp với tình hình hiện tại.

    Vấn đề quy mô NS chưa được quan tâm đầy đủ trong hoạch định chính sách tài khóa. Việc xác định quy mô thu chi thiếu căn cứ thuyết phục. Về thu NSNN thì mục tiêu chính sách thuế còn chồng chéo, ôm đồm nhiều chính sách XH trong mỗi sắc thu, tình trạng thất thu thuế cũng như thu lạm thuế và các khoản khác vẫn còn phổ biến. Về chi NSNN và quản lý bội chi còn nặng về cân đối theo nguồn thu hạn hẹp, chưa dựa theo nhu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ, nên khá nhiều trường hợp chưa có sự đồng bộ giữa chính sách tài khóa, quy mô chi, bội chi NS với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Thẩm quyền quyết định về NS của Hội đồng Nhân dân các cấp về cơ bản vẫn là hình thức. Tính chủ động của cơ quan hành chính từ cấp Bộ, Ngành đến Ủy ban Nhân dân trong sử dụng các nguồn lực NSNN không được coi trọng.

    Các chế độ, chính sách, định mức chi tiêu chưa được ban hành đủ, nên vẫn còn nhiều trở ngại cho các cơ quan hành chính trong tổ chức thực hiện NS phục vụ cho các nhiệm vụ được giao của mình.

    Chưa có sự đồng bộ giữa 3 yếu tố là: tổ chức bộ máy, tiền lương và NS. Phương pháp tính kinh phí hành chính theo đầu người vừa không sát với yêu cầu nguồn lực tài chính, vừa khuyến khích tăng biên chế trong Bộ máy mới.

    Chậm nghiên cứu để ban hành các cơ chế, chính sách tài chính hỗ trợ cho quá trình thực hiện cải cách hành chính. Ví dụ:Chính sách cho khoán biên chế và kinh phí hành chính, cơ chế tài chính cho hoạt động tổ chức sự nghiệp có thu.

    Có sự chồng chéo nhau, không rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm về NSNN. VD: Trách nhiệm của cơ quan kiểm toán không được phân biệt rõ ràng với các cơ quan kiểm tra khác, dẫn đến sự chồng chéo chức năng hoạt động, gây phiền hà cho các đơn vị bị kiểm tra.

    Các văn bản pháp quy về quản lý TCC còn ít ỏi (chỉ có Luật NSNN mới ban hành 1996) và chưa sát thực tế, chưa phục vụ hiệu quả cho hoạt động của TCC. Việc sử dụng NSNN thiếu hiệu quả, lãng phí lớn, nhất là chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi theo công trình, dự án.

    3.2. Thách thức của quá trình toàn cầu hóa:

    Sự hội nhập yêu cầu các quốc gia phải cải cách và tổ chức lại thể chế tài chính công đạt được tiêu chuẩn quốc tế về chính sách thuế, quản lý nợ quốc gia, kế toán và sự minh bạch thông tin về NSNN. Chi tiêu công phải hướng đến kết quả đầu ra nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực khu vực công.

    VN vẫn chưa đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu của quy tắc minh bạch tài chính của IMF, thông tin về NS mới chỉ được cung cấp ở dạng số liệu tổng hợp, không đầy đủ chi tiết, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Chưa tạo cơ hội cho khu vực tư tham gia vào hoạt động NS.

    Ngoài ra, hội nhập sẽ tạo điều kiện tiếp cận và khai thác các khoản vay trên thị trường tài chính quốc tế, nhưng điều này cũng đem lại rủi ro cho TCC của quốc gia không chỉ về các khoản nợ trực tiếp, rõ ràng mà còn các khoản nợ bất thường, ngầm định.

    Qua các nội dung phân tích ở trên, ta thấy rằng để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đề ra trong năm 2001-2010, tận dụng các cơ hội và vượt qua thách thức của quá trình toàn cầu hóa, khắc phục các yếu kém trong quản lý TCC đã ngăn cản sự phát triển và tạo nhiều tiêu cực, nội dung Đổi mới quản lý TCC đã được nêu lên và là 1 trong 4 nội dung cơ bản của chương trình tổng thể cải cách hành chính NN giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn đến 2020.

     

    Câu 5: NSNN đóng vai trò như thế nào trong hệ thống tài chính công?

    1. Khái niệm tài chính công

    Tài chính công là những nguồn lực tài chính do nhà nước sở hữu, quản lý nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cho xã hội

    1. Cơ cấu tài chính công:

    – Quỹ ngân sách nhà nước

    – Các  Quỹ tài chính NN ngoài NSNN  ( Quỹ dự trữ QG, Quỹ bảo hiểm xã hội  , Quỹ hỗ trợ XK,..)

    – Tài chính các đơn vị quản lý hành chánh, các đơn vị sự nghiệp

    – Tín dụng Nhà nước

    1. Vai trò của NSNN trong hệ thống TCC :

    NSNN là bộ phận quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính công, bởi đây là nguồn lực tài chính chủ yếu của nhà nước và còn có vai trò định hướng điều tiết các bộ phận khác trong tài chính công.

    Thu của Ngân sách Nhà nước được lấy từ mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau, trong đó thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Chi tiêu của Ngân sách Nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại hoạt động của bộ máy nhà nước và phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Ngân sách Nhà nước là một hệ thống bao gồm các cấp Ngân sách phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp. Tương ứng với các cấp Ngân sách của hệ thống NSNN, quỹ NSNN được chia thành: quỹ Ngân sách của Chính phủ Trung ương, quỹ Ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và tương đương, quỹ Ngân sách của chính quyền cấp huyện và tương đương, quỹ Ngân sách của chính quyền cấp xã và tương đương.

    Phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền Nhà nước các cấp, quỹ Ngân sách lại được chia thành nhiều phần nhỏ để sử dụng cho các lĩnh vực khác nhau, như: phần dùng cho phát triển kinh tế; phần dùng cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế; phần dùng cho các biện pháp xã hội, an ninh, quốc phòng…

    Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng Ngân sách Nhà nước là mang tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước và không mang tính hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.

    Trong khi đó, Tín dụng nhà nước được sử dụng để hỗ trợ Ngân sách Nhà nước trong các trường hợp cần thiết. Nhà nước động viên các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm đáp ứng nhu cầu tạm thời của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tín dụng Nhà nước là mang tính tự nguyện và có hoàn trả.

    Còn các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN (gọi tắt là các quỹ ngoài Ngân sách) là các quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử lý những biến động bất thường trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và để hỗ trợ thêm cho NSNN trong trường hợp khó khăn về nguồn lực tài chính.

    Từ các nội dung và đặc điểm kể trên của tài chính công có thể nhận thấy:

    – Ngân sách là bộ phận hạt nhân trong chính sách tài chính công mà Nhà nước sử dụng để tác động tới các hoạt động kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô.

    – NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của NN và giữ vai trò quyết định đến phạm vi cũng như hiệu quả hoạt động của tài chính công.

    1. Vai trò quan trọng của NSNN trong TCC qua thực tế :

    Nếu không có NSNN, thì Tài chính công không thể đáp ứng các nhu cầu về nguồn lực để Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng.

    4.1 Giúp TCC đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước:

    Để  duy  trì  sự  tồn  tại  và  hoạt  động,  bộ máy Nhà nước  cần  phải  có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước được đáp ứng bởi  NSNN. Vai  trò kể  trên được  thể hiện  trên các khía cạnh sau đây:

    Một là, Khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển.

    Hai là, Phân phối các nguồn tài chính đã tập trung được vào tay Nhà nước cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

    Ba là, Kiểm tra giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội.

    4.2. Vai  trò  của  TCC trong nền kinh tế quốc dân

    Thứ nhất, TCC có vai  trò chi phối các hoạt động của khu vực phi Nhà nước thông qua thu chi NSNN. Một mặt, doanh nghiệp có nhiệm vụ nộp thuế để tạo nguồn thu NSNN,  đóng  góp  cho  việc  thực hiện  các nhu  cầu chung của xã hội. Mặt khác, với quy mô lớn NSNN, TCC có thể đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội tạo thuận  lợi cho kinh doanh sản xuất, đồng thời có thể thực hiện sự trợ giúp về tài chính nhằm duy trì và đẩy mạnh hoạt động.

    Thứ hai, TCC có vai trò hướng dẫn các hoạt động của khu vực phi Nhà nước. Chẳng hạn, chính sách thuế có tác dụng hướng dẫn đầu tư, hướng dẫn tiêu dùng, đầu tư của Nhà nước có tác dụng “châm ngòi” thu hút đầu tư và hướng dẫn đầu tư của khu vực phi Nhà nước…

    Thứ ba, TCC có vai  trò điều chỉnh các hoạt động của khu vực phi Nhà nước. Vai  trò  này được  thể  hiện,  thông  qua  hoạt  động kiểm tra NSNN có  thể phát hiện những điểm bất hợp  lý, những sự chệch hướng của các hiện tượng thu, chi trong các hoạt động tạo lập, phân phối và sử dụng NSNN, từ đó, đưa ra các biện pháp cứng rắn, cũng như điều chỉnh Luật đảm bảo quản lý chặt chẽ việc thu chi NS và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng.

    4.3. NSNN hỗ trợ TCC  trong việc  thực hiện các mục  tiêu của kinh tế vĩ mô

    • Thứ nhất,  vai trò kinh tế của TCC: TCC đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  việc thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế xã hội. Vai trò này được phát huy nhờ vào việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực của NSNN trong hoạt động thực tiễn.

    Thông qua công cụ thuế với các mức thuế suất khác nhau và ưu đãi về thuế, NN định hướng đầu tư; điều chỉnh cơ cấu của nền kinh  tế , kích  thích  hoặc  hạn  chế  sản  xuất  kinh doanh theo ngành hoặc theo sản phẩm…

    Thông qua hoạt động phân phối NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư vào các ngành  then chốt, các  công  trình mũi nhọn,  hình  thành các  DNNN,  hỗ  trợ  tài  chính  cho  các  doanh  nghiệp  cần  nâng  đỡ khuyến khích  (qua  biện pháp  trợ  giá,  trợ  cấp…), TCC góp phần tạo điều kiện thuận  lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế – xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển và tăng trưởng.

    • Thứ hai, vai trò xã hội của TCC: TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội.

    Vai trò này được thể hiện thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi của  NSNN để điều chỉnh thu nhập  giữa các  tầng  lớp dân cư (giảm bớt các thu nhập cao và nâng đỡ các  thu nhập  thấp), giảm bớt những bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo công bằng trong phân phối và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội đáp ứng các mục tiêu xã hội của kinh tế vĩ mô.

    Để giảm bớt thu nhập cao, công cụ thuế được sử dụng với chức năng tái phân phối thu nhập : Đánh  thuế  luỹ  tiến vào  thu nhập cao, đánh  thuế  tiêu  thụ đặc biệt cao vào hàng hóa xa xỉ. Giảm  thuế  cho  những  hàng  hoá  thiết  yếu đồng  thời  sử  dụng  công  cụ  chi NS vào việc trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu và trợ cấp xã hội cho những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.

    Trong việc giải quyết các đề xã hội, NSNN được sử dụng để tài trợ cho phát triển các dịch vụ công cộng như văn hoá, giáo dục, y tế, đặc biệt  là dịch vụ nhà ở, tài trợ cho việc thực hiện các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; hỗ trợ tài chính cho việc thực hiện các biện pháp phòng chống các tệ nạn xã hội; hỗ trợ tài chính cho giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp…

    • Thứ ba, TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu ổn định của kinh tế vĩ mô.

    Sự phát triển ổn định của một nền kinh tế được đánh giá  trên nhiều tiêu chí như: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững; duy trì việc sử dụng  lao động ở tỷ  lệ cao; thực hiện được cân đối cán cân thanh toán quốc tế; hạn chế sự tăng giá đột ngột, đồng  loạt và kéo dài tức là cầm giữ được lạm phát ở mức vừa phải…

    Do đó, NSNN luôn là biện pháp để TCC can thiệp kịp thời vào thị trường bằng cách : Tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm đề phòng và ứng phó với những biến động của thị trường; tạo lập quỹ bình ổn giá; tạo lập và sử dụng quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm…

    Trong  trường hợp nền kinh  tế có  lạm phát, biện pháp đưa ra là: Cắt giảm chi tiêu Ngân sách, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư; …

    Tóm lại, vai trò của TCC là rất quan trọng đối với nền kinh tế – xã hội của mỗi nước. Để phát huy hết vai trò của TCC, thì NSNN chính là nội dụng quan trọng hàng đầu đảm bảo cho TCC thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của NN, giúp phát triển kinh tế, ổn định xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng.

  • Pháp Luật

    Pháp Luật

    Đề cương môn Pháp Luật

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:

    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương môn Pháp Luật

    Câu 1: Phân tích bản chất nhà nước. Liên hệ với nhà nước CHXHCN VN.

    -Nhà nước là 1 tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực thi chức năng quản lí xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong XH có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc trong XH XHCN.

    *Tính giai cấp của nhà nước:

    -Theo M-L, nhà nước sinh ra và tồn tại trong XH có giai cấp, là sản phẩmcủa đời sống XH có giai cấp => nhà nước luôn mang bản chất gc sâu sắc.

    +Hai gc XH là chủ nô và nô lệ xuất hiện, đòi hỏi gc thống trị kinh tế cần phải xây dựng cho mình tổ chức nhà nước, sử dụng nhà nước như công cụ bạo lực để trấn áp lại sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột, từ đó để củng cố duy trì địa cị kinh tế của gc nhà nước -> giai cấp thống trị về mặt kinh tế đồng thời trở thành gc thống trị về mặt chính trị.

    => Nhà nước chính là tổ chức đặc biệt của quyền chính trị.

    -Gc thống trị thông qua nhà nước của mình để hợp pháp hóa ý chí của gc mình trở thành ý chí chung mang tính nhà nước.

    -Gc thống trị thông qua nhà nước củng cố hệ tư tưởng gc mình trở thành hệ tư tưởng thống trị trong XH -> buộc gc lệ thuộc mình vào tư tưởng.

    => Trong 1 XH hóa gc, sự thống trị XH bao giờ cũng thông qua 3 mặt là kinh tế, chính trị, tư tưởng. Người duy trì, bảo vệ trước hết lợi ích của gc cầm quyền là nhà nước.

    -> Kiểu nhà nước mang bản chất bóc lột (chủ nô, địa chủ phong kiến, tư sản) là công cụ chuyên chính của thiểu số gc cầm quyền.

    -> Kiểu nhà nước XHCN là do nhân dân lao động tổ chức xây dựng lên, là công cụ duy trì bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ chuyên chính của đa số nhân dân lao động để chống lại thiểu số phần tử chống đối khác, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.

    -> Bộ máy trấn áp đặc biệt của gc này, bộ máy có thể duy trì lợi ích của gc.

    * Vai trò XH:

    -Nhà nước không chỉ đơn thuần là bộ máy thống trị trấn áp, nhà nước còn là tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức và đảm bảo lợi ích chung của XH.

    +Nhà nước phải tham gia giải quyết vấn đề XH đặt ra, mang lại lợi ích chung cho XH con người. VD: ở VN có vấn đề bảo vệ MT, chống tệ nạn XH,..

    +Nhà nước phải bảo đảm những giá trị XH chung của con người, nhà nước thông qua PL của mình để bảo vệ tài sản nhân dân, bảo đảm sự công bằng XH,.. (việc quy định bảo về quyền con người về mặt pháp luật không giống nhau trong các kiểu nhà nước)

    +Nhà nước thực hiện chức năng quản lí mọi mặt đời sống XH để duy trì thiết lập đời sống XH, thúc đẩy XH phát triển.

    => Đối với nhà nước mang bản chất bóc lột, hai mặt gc XH mâu thuẫn nhau và không đồng nhất. Đối với nhà nước XHCN, hai mặt gc XH hòa quyện thống nhất với nhau.

    => Mức độ biểu hiện vai trò XH nhà nước là không giống nhau trong các kiểu nhà nước, phụ thuộc vào bản chất gc của kiểu nhà nước, tương quan lực lượng gc trong XH, nhiệm vụ đặt ra trong mỗi giai đoạn.

    * Các dấu hiệu đặc trưng:5 đặc trưng

    1, Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt không hòa nhập với dân cư, hầu như tách khỏi XH; quyền lực công này là quyền lực chính trị chung.

    Quyền lực nhà nước thông qua bộ máy nhà nước. Bộ máy nhà nước được coi là giải quyết mọi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    2, Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.

    -Phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính.

    -Hình thành các cơ quan quản lý trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ.

    -> đặc điểm chung của mọi nhà nước.

    3, Nhà nước có chủ quyền quốc gia.

    -Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý

    -Chủ quyền: +quyền tự quyết định

    +Tính tối cao: quyền lực: có quyền phán xét, xử lí các VPPL; quyền sở hữu: có toàn quyền khai thác, sử dụng lãnh thổ QG cũng như khai thác TNKS trong lãnh thổ.

    4, Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc với mọi thành viên XH.

    -Nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế.

    -Thông qua pháp luật, ý chí của nhà nước trở thành ý chí của toàn XH buộc mọi cơ quan tổ chức phải tuân theo.

    -Trong XH, chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành luẩ và áp dụng pháp luật.

    5, Nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc.

    -Thuế được coi là nguồn thu chủ yếu của bộ máy nhà nước, góp phần duy trì hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước.

    -Thuế do cơ quan quyền lực cấp cao nhất quyết định.

    -Thuế được bảo đảm quyền cưỡng chế nhà nước.

    Câu 2: Chức năng nhà nước là gì? Phân tích mqh biện chứng giữa chức năng nhà nước và bản chất nhà nước. Liên hệ với nhà nước CHXHCN VN.

    *Chức năng của nhà nước:

    -K/n: là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.

    -Chức năng của nhà nước phụ thuộc vào bản chất của nhà nước. VD: chức năng của nhà nước XHCN khác với chức năng của nhà nước bóc lột ở nội dung và phương pháp thực hiện.

    – Chức năng của nhà nước do các cơ quan nhà nước bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước thực hiện.

    -Có thể phân loại chức năng nhà nước thành các chức năng đối nội và đối ngoại:

    Chức năng đối nội: là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ 1 nước.

    / Tổ chức và quản lí nền KT.

    / Tổ chức và quản lí nền VH’, GD, KH-CN.

    / Giữ vững an ninh, chính trị, trấn áp sự phản kháng của gc đối kháng.

    / Bảo vệ trật tự pháp luật và quyền lợi của giai cấp cầm quyền.

    Chức năng đối ngoại: thể hiện vai trò của nhà nước trong quân hệ với các nước và các dân tộc khác. VD: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

    => Hai nhóm chức năng này có mqh mật thiết với nhau, nếu thực hiện tốt chức năng đối nội sẽ có thuận lợi cho việc thực hiện tốt chức năng đối ngoại và ngc lại.

    *Phân tích mqh biện chứng giữa chức năng nhà nước và bản chất nhà nước

    -Bản chất quyết định chức năng nhà nước (ND và phương pháp thực hiện chức năng). Dù chức năng thay đổi nhưng vẫn phải tùy thuộc vào bản chất.

    VD: chức năng của nhà nước XHCN khác với chức năng của nhà nước bóc lột ở ND và phương pháp thực hiện, vì nhà nước XHCN dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sx và nhà nước XHCN thể hiện ý chí, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân lao động, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

    -Bản chất quyết định phương pháp thực hiện chức năng.

    Câu 3: Pháp luật là gì? Phân tích các thuộc tính của pháp luật.

    – Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp: tổ chức, thuyết phục, cưỡng chế, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ XH phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.

    * Các thuộc tính của pháp luật:

    1. Tính quy phạm phổ biến:

    – Thể hiện trong khuôn mẫu, đính chính hành vi của tất cả mọi người trong cùng một hoàn cảnh pháp luật, không phụ thuộc vào giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp, dân tộc.

    – Pháp luật được áp dụng trên toàn quốc trong 1 phạm vi không gian rộng lớn, thời gian được áp dụng liên tục hoặc nhiều lần cho đến khi được thay thế hoặc hủy bỏ.

    – Phạm vi điều chỉnh của pháp luật: hầu hết các quan hệ XH, làm cho các quan hệ vận động và phát triển nhà nước.

    – Pháp luật do nhà nước ban hành và thừa nhận, trong đó nhà nước là chủ thể mang chủ quyền quốc gia. Do vậy pháp luật có tính quy phạm phổ biến trên lãnh thổ quốc gia.

    1. Tính xác định chặt chẽ về hình thức pháp luật:

    – Nội dung của các quy tắc của pháp luật được quy định rõ ràng, chính xác, chặt chẽ trong các điều khoản của văn bản, văn bản pháp luật.

    – Pháp luật được thể hiện dưới một hình thức xác định nhằm đảm bảo sự rõ ràng, chính xác, chặt chẽ.

    – Xét về mặt từ ngữ: Rõ ràng chính xác, từ ngữ phổ thông dễ hiểu; Dùng từ ngữ một nghĩa, bảo đảm sự thống trong cách hiểu, cách sử dụng.

    – Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và có tính thức bậc về hiệu lực pháp lí, phải đảm bảo sự thống nhất tạo ra hệ thống pháp luật.

    1. Tính bảo đảm thực hiện bởi nhà nước (tính cưỡng chế):

    – Pháp luật do nhà nước ban hành thể hiện quyền lực Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

    – Nhà nước có nhiều biện pháp để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện như gd, tổ chức, cưỡng chế. Cưỡng chế là thuộc tính không tách rời của pháp luật.

    – Phải áp dụng các quy tắc cưỡng chế 1 cách phù hợp để pháp luật được tôn trọng thực hiện. => Pháp luật không thể tách rời với nhà nước nếu muốn thực hiện có hiệu quả. Đây là đặc điểm khác biệt của pháp luật với các quy phạm khác.

    – Làm tốt công tác tuyên truyền, phố biến, GD để nâng cao nhận thức pháp luật cho mọi người phát huy tính tự giác.

    – Phải cung cấp môi trường, tạo ra điều kiện thuận lợi thông qua các cơ chế và chính sách cụ thể để pháp luật đi vào đời sống.

    => Nhà nước sử dụng pháp luật là công cụ hữu hiệu và hợp lí để bảo đảm quyền lực, pháp luật có tác động cao hơn so với các biện pháp để duy trì trật tự XH và tồn tại XH.

    1. Tính bắt buộc chung:

    -Pháp luật do nhà nước ban hành và thừa nhận được đảm bảo tính cưỡng chế nhà nước vì vậy mang tính bắt buộc.

    – Pháp luật mang tính bắt buộc chung mọi người trong 1 lãnh thổ nhà nước, không phụ thuộc vào tôn giáo, giới tính, dân tộc.

    – Bất kì ai vi phạm pháp luật đều chịu trách nhiệm pháp lí.

    Câu 4: Pháp luật là gì? Phân tích bản chất của pháp luật. Liên hệ vs pháp luật nhà nước VN.

    – Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp: tổ chức, thuyết phục, cưỡng chế, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ XH phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.

    *Phân tích bản chất của pháp luật:

    1. Tính giai cấp

    -Pháp luật là con đẻ của XH có giai cấp, bảo vệ lợi ích gc thống trị, thể hiện ý chí giai cấp thống trị, do đó nó mang bản chất gc vô cùng sâu sắc.

    – Pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được hợp pháp hóa thông qua con đường nhà nước trở thành quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, từ đó duy trì thiết lập trật tự XH.

    – Pháp luật phản ánh nguyện vọng của con người và những quan điểm về các hành vi xử sự trong cuộc sống XH.

    – Pháp luật là công cụ điều chỉnh về mặt gc, các quan hệ XH và hướng sự phát triển của các quan hệ XH theo sự phát triển phù hợp với ý chí của giai cấp cầm quyền.

    => Pháp luật là công cụ sắc bén của gc cầm quyền, duy trì, bảo vệ trước hết lợi ích của gc cầm quyền.

    1. Giá trị XH

    – Pháp luật không phải đơn thuần là ý chí, nguyện vọng của gc cầm quyền, pháp luật phải đi đến lợi ích của XH.

    – Pháp luật phải lấy XH làm cơ sở, ohải là những biểu hiện của những lợi ích chung của XH.

    -Biểu hiện:

    + Pháp luật là kết quả của sự chọn lọc tự nhiên ghi nhận cách xử sự phổ biến khách quan.

    + Là công cụ, thước đo hành vi của con người trong các mqh XH, hướng chúng vận động phát triển phù hợp với quy luật khách quan.

    + Là phương tiện truyền tải thông tin về yêu cầu chung của con người đến mỗi chúng ta, góp phần nâng cao ý thức XH.

    + Pháp luật là công cụ, phương tiện để giúp nhà nước giải quyết những vấn đề XH hiện nay đề mang lại lợi ích chung cho con người.

    1. Tính dân tộc:

    – Pháp luật được xây dựng trên nền tảng dân tộc, thấm nhuần tính dân tộc.

    – Phản ánh được những phong tục, tập quán, đặc điểm lịch sử, điều kiện địa lý à trình độ văn minh, văn hóa của dân tộc.

    1. Tính mở:

    – Pháp luật không phải là hệ thống khép kín. Nó luôn luôn tiếp thu những thành tựu văn hóa, văn minh nhân loại nói chung và XH pháp lý nói riêng, tiếp thu pháp luật tiên tiến của các nước.

    *Liên hệ: Nhà nước VN là nhà nước của dân, do dân và vì dân, quyền lực thuộc về nhân dân. Vì thế pháp luật VN cũng thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Ghi nhận các quyền tự do dân chủ của công dân, đồng thời cũng có các biện phép bảo đẩm cho các quyền đó được thực hiện bằng GD thuyết phục, cưỡng chế nhà nước chỉ áp dụng khi GD thuyết thục không có hiệu quả, cưỡng chế trên tinh thần GD thuyết phục.

    Câu 5: Chức năng của pháp luật là gì? Phân tích các chức năng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    -K/n: Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật, phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật.

    *Chức năng của pháp luật:

    1. Chức năng điều chỉnh:

    -Là chức năng cơ bản của pháp luật, là công cụ điều chỉnh về mặt giai cấp

    => Là phương tiện giúp nhà nước thiết lập pháp lí cho sự phát triển XH.

    – Hướng các quan hệ XH phát triển trong trật tự và ổn định theo mục tiêu mong muốn.

    – Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ XH được thực hiện theo 2 hướng chính:

    +Một mặt, pháp luật vừa làm nhiện vụ “trật tự hóa” các quan hệ XH, đưa chúng vào những phạm vi, khuôn mẫu nhất định.

    +Mặt khác, tạo điều kiện cho các quan hệ XH phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp.

    Chức năng điều chỉnh của pháp luật được thể hiện thông qua các hình thức quy định, cho phép, ngăn cấm, bắt buộc, phải, quy định quyền và nghĩa vụ qua lại giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.

    VD: Cấm buôn bán tàng trữ chất cấm; bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; cho phép quyền tự do ngôn luận, quyền được kết hôn…

    1. Chức năng bảo vệ:

    – Bảo vệ những quan hệ XH để tránh mọi sự xâm hại, hay trái phép từ bên ngoài, tạo điều kiện cho XH phát triển công bằng, văn minh.

    – Pháp luật cần quy định những hành vi trái pháp luật, dấu hiệu nhận biết để từ đó quy định những hình phạt, biện pháp cưỡng chế những hành vi vi phạm.

    – Nhà nước cần làm tốt những hoạt động: tích cực, chủ động hiệu quả trong việc phát hiện và xử lí những vi phạm.

    1. Chức năng GD:

    – Pháp luật tác động vào ý thức, thông qua đó tác động vào hành vi của các chủ thể, định hướng hành vi của họ phù hợp với quy định của nhà nước trong cách xử sự phù hợp với các chuẩn mực XH.

  • GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ

    GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ

    GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CÁCH SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI ĐỂ TIẾP XÚC VỚI KHÁCH HÀNG


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ

    Câu 1: Tại sao có hoạt động giao nhận và phạm vi hoạt động giao nhận?

    • Khái niệm về giao nhận:
    • Theo hiệp hội giao nhận hàng hóa quốc tế (FIATA) thì dịch vụ giao nhận được coi là bất kỳ dịch vụ nào có liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, đóng gói hay phân loại hàng hóa, dịch vụ phân phối hàng hóa thậm chí cả các dịch vụ tư vấn hay các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu đều coi là giao nhận hàng hóa.
    • Theo luật thương mại VN, dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là người gửi hàng, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ khác có liên quan để giao nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (các khách hàng). Mục tiêu của người giao nhận là đáp ứng các nhu cầu do người ủy thác giao với hiệu quả cao nhất.

    Sự hình thành và phát triển của người giao nhận do một số những nhân tố sau:

    • Khoảng cách giữa người mua và người bán xa;
    • Tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa trong các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu;
    • Tính hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.

    Phạm vi các hoạt động giao nhận:

    • Hành động thay mặt người xuất khẩu gửi hàng.

    Theo chỉ dẫn của người gửi hàng, người giao nhận sẽ:

    • Chọn tuyến, phương tiện và người chuyên chở thích hợp, lập nên lịch gửi/nhận hàng và cung cấp cho người ủy thác;
    • Lưu cước với người chuyên chở đã được lựa chọn;
    • Nhận hàng và cấp những chứng từ thích hợp như: Giấy chứng nhận hàng của người giao nhận, giấy chứng nhận chuyên chở của người giao nhận v.v..
    • Nghiên cứu những điều khoản trong thư tín dụng và chuẩn bị tất cả các chứng từ cần thiết;
    • Đóng gói hàng hóa (trừ khi việc này đã được thực hiện bởi người gửi hàng) chú ý tới đặc điểm của phương tiện vận chuyển, tính chất của hàng hóa;
    • Thu xếp việc lưu kho (nếu cần thiết);
    • Cân đo và kẻ mác mã hàng hóa;
    • Tư vấn cho người gửi hàng về việc mua bảo hiểm, nếu được yêu cầu có thể mua bảo hiểm cho người gửi hàng;
    • Vận chuyển hàng hóa đến cảng, lo liệu các thủ tục hải quan, làm các thủ tục có liên quan và giao hàng cho người chuyên chở;
    • Thanh toán phí và các loại chi phí khác;
    • Chuẩn bị vận đơn và nhận vận đơn đã ký từ người chuyên chở;
    • Thu xếp việc chuyển tải trên chặng đường vận chuyển (nếu cần thiết)
    • Giám sát việc chuyên chở trên đường thông qua việc liên hệ với người chuyên chở và đại lý của họ tại nhận hàng;
    • Giúp người gửi hàng tiến hàng khiếu nại đối với các bên có liên quan.
    • Hành động thay mặt người nhập khẩu

    Theo sự chỉ dẫn của người nhập khẩu, người giao nhận sẽ đảm nhận:

    • Giám sát việc vận chuyển hàng hóa;
    • Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ có liên quan đến việc vận chuyển;
    • Nhận hàng từ người chuyên chở và nếu cần thanh toán cước phí vận chuyển;
    • Thu xếp việc khai báo với Hải quan trả thuế và các loại cước phí;
    • Thu xếp việc lưu kho bãi (nếu cần);
    • Giao hàng sau khi đã làm thủ tục Hải quan cho người nhận;
    • Tư vấn và nếu cần thiết giúp người nhận hàng khiếu nại với người chuyên chở về tổn thất hàng hóa nếu có;
    • Giúp người nhận hàng lưu kho và phân phối hàng hóa.
    • Các dịch vụ giao nhận hàng hóa đặc biệt
    • Vận chuyển hàng hóa công trình, các hàng hóa siêu trường, siêu trọng;
    • Dịch vụ vận chuyển các hàng hóa đặc biệt như súc vật sống, các loại thực phẩm, quần áo,…
    • Giúp người bán quảng cáo, triển lãm hàng hóa ở nước ngoài.
    • Các dịch vụ khác

    Thông báo cho khách hàng của mình về nhu cầu tiêu dung, tình hình cạnh tranh, tình hình biến động về chính trị, văn hóa, các chính sách của Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu…

    Câu 2: Khái niệm và phân loại bao bì hàng hóa trong vận tải. Trình bày ý nghĩa và nội dung của tiêu chuẩn bao bì.

    Khái niệm: Bao bì là một loại sản phẩm công nghiệp đặc biệt được dung để bao gói và chứa đựng bảo vệ giá trị sử dụng của hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo quản, vận chuyển, xếp dỡ và tiêu thụ sản phẩm.

    Phân loại:

    • Theo công dụng của bao bì:
    • Bao bì trong (bao bì tiêu thụ): Dùng để đóng gói sơ bộ và trực tiếp đối với hàng hóa. Công dụng chủ yếu của loại bao bì này là bảo vệ hàng hóa. Loại này thường tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa và nó là một bộ phận không thể tách rời khỏi hàng hóa và giá trị của nó thường được tính gộp vào với giá trị của hàng hóa.
    • Bao bì bên ngoài (bao bì vận chuyển): Dùng để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Bao bì ngoài còn có tác dụng thông tin quảng cáo sản phẩm. Giá trị của loại bao bì này được tính toàn bộ hoặc chỉ một phần giá trị của nó vào hàng hóa thùy thuộc vào việc có thu hồi lại được hay không.
    • Theo số lần sử dụng:
    • Bao bì sử dụng một lần: Là loại chỉ sử dụng một lần cho mỗi sản phẩm khi tiêu thụ. Giá trị của bao bì thường được tính một lần vào hàng hóa.
    • Bao bì sử dụng nhiều lần: Loại này có thể tham gia vào nhiều vòng quay của sản phẩm. Loại bao bì này thường là bao bì ngoài. Giá trị của nó được tính một phần vào sảm phẩm.
    • Theo độ cứng của bao bì:
    • Bao bì cứng: Loại này thường không thay đổi hình dạng trong quá trình vận chuyển, bốc xếp, nó có thể chịu đựng được sức nén của hàng hóa khác khi xếp chồng lên nhau. Tùy thuộc vào hàng hóa mà người ta có thể có nhiều loại vật liệu chế tạo bao bì khác nhau như gỗ, kim loại,…
    • Bao bì nửa cứng: Loại này có độ bền vừa phải, nó có thể bị biến dạng khi bị va chạm khi bốc xếp, vận chuyển. Vật liệu chế tạo loại bao bì này thường là tre, nứa, mây…
    • Bao bì mềm: Loại này dễ bị biến dạng do lực tác động từ bên ngoài. Vật liệu chế tạo loại bao bì này thường là bao đay, bao vải, bao nilon…
    • Theo mức độ chuyên môn hóa:
    • Bao bì thông dụng: Có thể chứa được rất nhiều loại hàng hóa khác nhau và có thể được sử dụng lại nhiều lần.
    • Bao bì chuyên dụng: Chỉ để chứa một và/hoặc một số loại sản phẩm nhất định như bình oxy, binh gas…
    • Theo chế tạo vật liệu:
      Đặc điểm Ưu điểm Nhược điểm
    Gỗ – Sử dụng nhiều lần.

    – Nhẹ, khô, ít nhựa

    – Kết cấu chắc bền, kín, đinh đóng thẳng, chặt.

    – Ốp kim loại ở góc hòm, thùng.

    – Đeo néo phải căng.

    – Dễ sản xuất.

    – Dễ sử dụng.

    – Phạm vi ứng dụng rộng rãi.

    – Tương đối bền.

    – Sử dụng nhiều lần.

    – Nặng

    – Dễ cháy

    – Chịu ẩm kém

    – Dễ bị mọt, chuột, mối làm hư hỏng.

    Kim loại – Sử dụng khá phổ biến

    – Thường là kim loại đen, đồng, nhôm

    – Đóng gói sản phẩm dễ cháy, có độ bốc hơi, có chất độc hại ở dạng khí, hơi, lỏng.

    – Không sợ ẩm thấp

    – Không sợ cháy

    – Nặng

    – Đắt tiền

    Hàng dệt -Sử  dụng phổ biến

    – Chứa đựng những loại hàng rời (gạo, ngô, lạc,…)

    – Dai

    – Giá thành thấp

    – Chống ẩm mốc

    – Dễ thấm nước
    Giấy coton – Làm hộp đựng các loại hàng hóa có khối lượng lớn.

    – Sử dụng khá phổ biến

    – Nhẹ

    – Rẻ

    -Dễ xếp, dỡ

    – Dễ cháy

    – Dễ thấm nước

    – Biến dạng

    Thủy tinh Chứa đựng những loại hàng hóa dưới dạng chất lỏng – Cứng

    – Không bị phá hỏng bởi hóa chất

    -Sử dụng nhiều lần

    – Dễ vỡ
    Tre, nứa, mây đan – Dùng chứa đựng hoa quả, xà phòng

    – Sử dụng phổ biến

    – Dễ sử dụng

    – Giá thành thấp

    – Vật liệu dễ kiếm

    – Sử dụng thuận tiện

    – Độ bền chắc không lớn
    Vật liệu nhân tạo tổng hợp Làm từ chất dẻo, polime, cao su nhân tạo – Giá thành rẻ

    – Dễ sử dụng

    – Kết cấu bền chắc

    – Ô nhiễm môi trường

    – Dễ bị rách, biến dạng, biến chất từ đó ảnh hưởng xấu đến hàng hóa

    Ý nghĩa và nội dung của tiêu chuẩn bao bì:

    • Ý nghĩa của tiêu chuẩn bao bì:
    • Thống nhất hóa các dạng bao bì nhằm hạn chế sự đa dạng về kích cỡ, chủng loại thành một loại hợp lý nhất. Tiêu chuẩn hóa có ý nghĩa rất lớn trong lĩnh vực sản xuất, lưu thong.
    • Trong lĩnh vực sản xuất bao bì. Qua tiêu chuẩn, các nhà sản xuất sẽ nhất quán được về mẫu mã, kích thước và chất lượng bao bì, cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm vừa cho phép hạ giá thành, khắc phục tình trạng lộn xộn về kiểu dáng, mẫu mã kích cỡ của các loại bao bì.
    • Trong lĩnh vực lưu thông. Góp phần quan trọng vào việc lưu thong hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm đếm, giao nhận và bảo quản trong quá trình lưu thong. Tiêu chuẩn hóa là điều kiện để tiêu chuẩn hóa các thiết bị bốc xếp, vận chuyển tạo ra một năng suất lao động cao trong lĩnh vực này.
    • Nội dung của tiêu chuẩn bao bì:

    Tiêu chuẩn hóa về kết cấu, kích thước, trọng lượng, sức chứa và nguyên liệu sản xuất bao bì.

    • Về kết cấu: Bao bì phải có kết cấu bền, chắc, thuận tiện cho việc chứa đựng sản phẩm, thuận tiện cho việc đóng mở làm vệ sinh và phải bảo vệ được an toàn cho hàng hóa.
    • Về kích thước: Bao bì phải có kích thước hợp lý, phù hợp với hàng hóa mà nó chứa đựng, phù hợp với kích thước của phương tiện chuyên chở, bốc xếp. Kích thước của bao bì thường phải là bội số của nhau.
    • Về trọng lượng: Trọng lượng của bao bì phải càng nhỏ càng tốt, có như vậy mới tiết kiệm được chi phí vận chuyển, bốc xếp cũng như chi phí nguyên liệu tạo ra bao bì.
    • Về sức chứa: Sức chứa của bao bì phải chứa được nhiều sản phẩm nhất như vậy mới tiết kiệm được nguyên liệu tạo nên bao bì.
    • Vật liệu tạo nên bao bì: Phải phù hợp với tính chất của hàng hóa, phải bảo đảm sự hợp lý giữa giá trị của bao bì với giá trị của hàng hóa.

    Tiêu chuẩn về chất lượng:

    • Về độ cứng: bao bì phải đủ cứng để chứa hàng hóa và đủ sức chịu nén khi có thể xếp hàng lên cao tới mức tối đa cho phép.
    • Về màu sắc: bao bì phải tương thích với hàng hóa, bảo đảm sự hài hòa, dễ nhìn và có tính thương mại cao.
    • Về độ bền: bao bì phải được sử dụng nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm được các tiêu chuẩn kỹ, mỹ thuật.

    Tiêu chuẩn hóa về ký mã hiệu, cách đóng mở bao bì và tiêu chuẩn đóng gói

    • Ngoài bao bì phải ghi rõ ký mã hiệu để có thể nhận biết sản phẩm được nhanh chóng và có thể phân biệt được một cách dễ dàng với các sản phẩm khác. Trên bao bì người ta thống nhất nơi ghi, cách ghi và nội dung chủ yếu phải ghi.
    • Có thể ghi loại vật tư của hàng hóa trên bao bì và phải ghi đúng nơi quy định. Trên bao bì cần ghi rõ cách và nơi đóng mở hàng, phương pháp bốc xếp và bảo quản…
    • Trên bao bì còn chỉ rõ nơi tháo mở và sử dụng cần thiết để tháo mở, không được móc cáp…
    • Mỗi loại bao bì nhất định đều có quy định thống nhất tiêu chuẩn về bao gói cho một đơn vị bao bì: Số lớp bao bì, bao bì trong, bao bì ngoài, cách gói buộc và những yêu cầu đối với cách gói buộc, chèn lót, đai nén…

    Tiêu chuẩn hóa về mã số vạch

    • Nhờ hệ thống mã số vạch được quy định riêng, người ta có thể biết được tất cả các thông số cần thiết về loại sản phẩm cụ thể như: tên sản phẩm, nhà sản xuất, nguyên vật liệu…
    • Nhà kinh doanh nhờ mã số vạch của hàng hóa có thể sắp xếp, dự trữ bảo quản và quản lý hàng hóa một cách thuận tiện.
    • Nhờ áp dụng thiết bị điện tử hiện đại để đọc mã hiệu, người bán hàng có thể xác định đúng, chính xác, kịp thời chủng loại hàng hóa, giá cả, số lượng một cách dễ dàng. Trong quản trị kinh doanh hiện đại nói chung và trong bán hàng nói riêng, mã số mã vạch đã được tiêu chuẩn hóa và được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.

    Câu 3: Nêu kỹ thuật xếp và dỡ hàng trong container.

    • Kỹ thuật xếp hàng trong container:
    • Trước khi xếp hàng cần kiểm tra vệ sinh an toàn đối với container, chuẩn bị chu đáo các tài liệu, giấy tờ cũng như vật liệt chèn lót đối với hàng.
    • Xếp hàng nặng xuống dưới, xếp từ trong ra ngoài, hàng phải được chèn, chằng buộc chắc chắn, chú ý dàn tải đều lên trên sàn container, giảm trọng tâm hàng càng thấp càng tốt, giữa các loại hàng khác nhau cần có lớp phân cách.
    • Khi xếp cần chú ý thong gió hợp lý, tránh bịt cửa thông gió. Với các hàng kỵ nước, kỵ ẩm cần tránh xa cửa thông gió và cần được bảo về bằng giấy chống ẩm.
    • Các vật liệu chèn lót cần tuân thủ chặt chẽ yêu cầu vệ sinh phòng dịch, đặc biệt sử dụng trong container lạnh bảo vệ hàng thực phẩm.
    • Các hàng hóa xếp gần cửa cần cách xa cửa một khoảng cách hợp lý và chẳng buộc cẩn thận tránh để hàng đổ chèn chặt cửa không mở được hoặc khi mở cửa hàng tràn ra ngoài.
    • Cần ghi chép đúng hàng hóa, phải ghi cho từng lô hàng riêng biệt tránh trường hợp xếp xong hàng mới ghi, điều này có thể quên hoặc ghi thừa…
    • Hàng được đóng trên cao bản (pallet) không cần chằng buộc nhưng phải xếp hợp lý. Khoảng cách giữa pallet với thành container là 4 inch (100mm), các cao bản phải được chằng buộc lại thành khối vững chắc.
    • Đối với hàng đông lạnh cần đặc biệt chú ý nhiệt độ của hàng trước khi xếp vào container, các điều kiện về sinh trong container. Sauk hi xếp xong cần theo dõi chặt chẽ nhiệt độ trong container.
    • Nên ngắt ống thổi khí lạnh khi xếp hàng. Không xếp hàng cao quá đường xếp hàng cho phép (được ghi trong container).
    • Đối với container hàng lỏng, cần khóa van trước khi bơm hàng. Hàng bơm không được quá đầy. Chú ý van xả an toàn để bảo đảm chúng không bị tắc. Tuyệt đối tuân thủ quy tắc phòng tránh hỏa hoạn.
    • Đối với hàng nguy hiểm cần tuân thủ chặt chẽ các quy định an toàn. Sau khi hoàn thành xếp hàng, ghi chú các thông tin cần thiết gắn kèm theo container theo biểu mẫu.
    • Kỹ thuật dỡ hàng trong container
    • Công việc chuẩn bị: Chuẩn bị các giấy tờ cần thiết liên quan đến hàng hóa đóng trong container.
    • Bảo đảm chắc chắn rằng container đã được đặt trên nền chắc chắn.
    • Chuẩn bị các công cụ cần thiết.
    • Giám định và kiểm tra chu đáo tình trạng bề ngoài của container, các dấu niêm phong, cặp chì hải quan…
    • Khi mở cửa hết sức chú ý vì hàng có thể đổ gây nguy hiểm cho người đứng bên cạnh. Sau khi mở cửa, kiểm tra hàng có bị tổn thất không.

    Câu 4: Trình bày nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở hàng hóa bằng đường biển thuộc công ước Hague (Brussel) 1924 và công ước Humburg 1978. Nêu một số đặc điểm khác nhau giữa hai công ước này.

    Công ước Brussel 1924

    • Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm trước và lúc bắt đầu mỗi chuyến đi để thực hiện một cách chu đáo:
    • Làm cho con tàu có đủ khả năng đi biển
    • Biên chế một cách hợp lý, trang bị và cung ứng đầy đủ cho con tàu
    • Làm cho hầm hàng, hầm lạnh và buồng bảo ôn, và tất cả các bộ phận của con tàu mà trong đó hàng hóa được vận chuyển, phù hợp và an toàn cho việc nhận hàng, vận chuyển và bảo quản an toàn hàng hóa.
    • Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm nhận, chất hàng, xếp, vận chuyển,giữ gìn, chăm sóc hàng hoá và dỡ hàng một cách cẩn thận, phù hợp đối với hàng hóa được vận chuyển.
    • Sau khi nhận trách nhiệm về mình đối với hàng hóa người chuyên chở hoặc thuyền trưởng hoặc đị lý của người chuyên chở sẽ theo yêu cầu của người gửi hàng, phát hành cho người gửi hàng một (bộ) vận đơn đường biển.
    • Trừ khi có thông báo về tổn thất hay thiệt hại được đưa ra bằng văn bản cho người chuyên chở hoặc đại lý của anh ta tại cảng đích trước hoặc tại thời điểm hàng được chuyển giao cho người nhận theo hợp đồng vận chuyển, hoặc, nếu tổn thất hay thiệt hại là dạng không nhìn thấy, trong phạm vi 3 ngày kể từ ngày lô hàng cuối cùng được giao, sự chuyển giao này sẽ là bằng chứng ban đầu về việc giao hàng bởi người chuyên chở đối với hàng hóa như được mô tả trên vận đơn.

    Nếu tổn thất hay thiệt hại là dạng không nhìn thấy, thông báo bằng văn bản phải được đưa ra trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày giao hàng.

    Trong bất kì trường hợp nào thì người vận chuyển và tàu không chịu trách nhiệm về tổn thất hay thiệt hại trừ khi sự khiếu nại được đưa ra trong phạm vi 1 năm kể từ ngày giao hàng hoặc ngày mà đáng ra hàng được giao.

    Công ước Hamburg 1978

    • Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất và thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa cũng như là sự chậm trễ trong giao hàng, nếu tổn thất, thiệt hại hay sự chậm trễ đó xảy ra trong khi hàng hóa đang nằm trong phạm vi trách nhiệm của người chuyên chở, trừ khi người chuyên chở chứng minh được rằng, người chuyên chở, đại lý hoặc người làm công cho họ đã thực hiện mọi biện pháp hợp lý để tránh xảy ra tổn thất hoặc hạn chế hậu quả của nó.
    • Trách nhiệm của người chuyên chở bao trùm suốt thời kỳ mà người chuyên chở chịu trách nhiệm trông nom hàng hóa ở cảng chất hàng, dỡ hàng và trong khi chuyên chở.
    • Người chuyên chở có thể phải chịu trách nhiệm đối với thực hiện hợp đồng của bên thứ 3 (hợp đồng phụ)
    • Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất. thiệt hại xảy ra với hàng hóa nhưng được hưởng mức giới hạn trách nhiệm là 835 SDR/kiện hoặc 2,5 SDR/Gkgs.
    • Trách nhiệm của người vận chuyển đối với hàng hóa bao gồm suốt giai đoạn kể từ khi người chuyên chở nhận trách nhiệm về hàng hóa và cho tới khi giao hàng cho người nhận.

    Một số điểm khác nhau giữa 2 công ước:

    • Về nghĩa vụ chứng minh lỗi:
    • Brussel 24: Chủ hàng phải chứng minh lỗi gây ra tổn thất cho hàng hóa do người chuyên chở gây nên. Nếu không chứng minh được lỗi thì người chuyên chở thoát trách nhiệm.
    • Hamburg: Người chuyên chở muốn được miễn trách thì phải chứng minh được anh không có lỗi.
    • Các trường hợp miễn trách cho người chuyên chở:
    • Brussel 24:

    + Trạng thái không đủ khả năng đi biển của con tàu, nếu trạng thái đó không phải do sự thiếu cần mẫn của người chuyên chở trước và bắt đầu mỗi chuyến đi.

    + Hậu quả do những hành vi sơ suất, lỗi lầm của thuyền trưởng, thủ thủy, hoa tiêu hay người làm công cho chủ tàu trong vận chuyển hay trong công tác quản lý.

    + Mất mát, hư hỏng hàng hóa phát sinh do hỏa hoạn, thiên tai, chiến tranh, phá hoại, hành vi sai sót của chủ hàng, do nội tì hoặc ẩn tì của hàng hóa.

    • Hamburg: Không đưa ra mục miễn trách, không liệt kê, chỉ để lại trường hợp miễn trách đó là rủi ro cháy.
    • Giới hạn trách nhiệm bồi thường:
    • Brussel: 100 Bảng Anh hoặc 10000 Frang và được nâng lên 666,67 SDR/kiện hoặc 2.0 SDR/GKg.
    • Thời hạn khiếu nại
    • Brussel: một năm kể từ khi phát sinh tổn thất và có thể kéo dài hơn tùy thỏa thuận
    • Hamburg: Quy định 2 năm
    • Thời hạn bắt đầu và kết thúc trách nhiệm:
    • Brussel: Từ cẩu ở cảng chất hàng đến cẩu tại cảng dỡ hàng.
    • Hamburg: Từ khi hàng nằm dưới quyền định đoạt của người chuyên chở cho đến khi hàng được giao cho người nhận.
    • Giao hàng:
    • Brussel: Không quy định
    • Hamburg: Quy định cụ thể, người chuyên chở chịu trách nhiệm về việc vận chuyển giao hàng chậm và không được giao cho người nhận tại cảng dỡ theo quy định như trong hợp đồng.
    • Chuyên chở súc vật sống:
    • Brussel: Không quy định
    • Hamburg: Có quy định cụ thể, người chuyên chở phải chăm sóc súc vật sống theo đúng chỉ dẫn của người chủ hàng, và được quyền hành động trái với sự chỉ dẫn đó nếu nó bảo vệ được hàng hóa mà không phải chịu trách nhiệm.

    Câu 5: Thế nào là hình thức thuê tàu chuyến? Trình tự thuê tàu chuyến?

    • Khái niệm của thuê tàu chuyến: Chủ tàu (shipowner) hoặc người chuyên chở (Carrier) cho người thuê (charterer) thuê toàn bộ hoặc một phần dung tích hoặc trọng tải con tàu để vận chuyển hàng hóa từ cảng chất hàng đến cảng dỡ hàng với mức cước do hai bên thỏa thuận

    Mối quan hệ giữa người chuyên chở với người thuê được điều chỉnh thông qua hợp đồng thuê tàu chuyến.

    Các hình thức thuê tàu chuyến

    • Thuê chuyến đơn
    • Thuê chuyến khứ hồi
    • Thuê chuyến khứ hồi liên tục
    • Thuê thầu khoán
    • Trình tự thuê tàu chuyến:

    Trường hợp người bán hàng am hiểu về lĩnh vực thuê tàu:

    1. Lựa chọn một con tàu thích hợp trên tuyến phù hợp.
    2. Tính toán chi phí gửi hàng để xác định lợi nhuận của người xuất khẩu.
    3. Đàm phán để thỏa thuận các điều kiện của hợp đồng.
    4. Ký hợp đồng thuê tàu.
    5. Thực hiện hợp đồng.

    Trường  hợp người bán không am hiểu sâu về nghiệp vụ thuê tàu:

    1. Thông qua người môi giới yêu cầu người môi giới tìm cho mình một con tàu phù hợp với các điều kiện về hàng hóa và tuyến vận chuyển.
    2. Người môi giới tìm tàu.
    3. Người môi giới đàm phán với người chuyên chở (chủ tàu) về các điều khoản và điều kiện của hợp đồng.
    4. Người môi giới thông báo kết quả đàm phán với người xuất khẩu.
    5. Người xuất khẩu ký hợp đồng thuê tàu. Trước khi ký hợp đồng, người thuê phải rà soát kĩ lại hợp đồng, những điều khoản nào chưa rõ rang có thể đàm phán trực tiếp với chủ tàu. Gạch bỏ những điều khoản không cần thiết.
    6. Thực hiện hợp đồng. Người thuê phải liên hệ với hãng tàu hoặc đại lý để biết được dự kiến thời gian tàu đến cảng nhận hàng. Chuẩn bị chu đáo hàng hóa, đóng gói và in nhãn mác đầy đủ. Liên hệ với cảng và ký hợp đồng bốc xếp hàng hóa, thanh toán tiền cước bốc xếp nếu giá cước thuê tàu chưa có chi phí bốc xếp. Tổ chức bốc xếp, tiến hành theo dõi giao nhận hàng hóa với tàu. Sau khi bốc hàng lên tàu, người thuê phải lấy được “biên lai thuyền phó” cho mỗi lô hoặc mỗi ca. Sau khi đã hoàn thiện việc chất hàng, người thuê tập hợp các biên lai thuyền phó để đổi lấy vận đơn. Chú ý: Vận đơn phải là vận đơn sạch, đã bốc hàng lên tàu.

  • Tâm Lý Học Đại Cương

    Tâm Lý Học Đại Cương

    [Tải trọn bộ đề cương môn tâm lý tại đây]

    [toc]

    Câu 1 (1đ): Tâm lý là gì? Nêu các chức năng của tâm lý.

    * Theo quan niệm của DVBC : tâm lí là thuộc tính của thứ vật chất có tổ chức cao (hệ thần kinh người, não người), là hình thức phản ánh đặc biệt của chủ thể đối với HTKQ.

    – Đk cần và đủ của tâm lí là phải có não và HTKQ.

    – Đối với con người : tâm lí bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người.

    * Chức năng của tâm lí :

    – Tâm lí định hướng cho hoạt động.

    – Tâm lí là động lực thôi thúc con người hoạt động.

    – Tâm lí điều khiển hoạt động.

    – Tâm lí điều chỉnh hoạt động.

    Câu 2 (1đ) : Nhân cách là gì ? Nêu các yếu tố cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhân cách.

    * Nhân cách là tổ hợp những điểm, những thuộc tính tâm lí của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xh của con người.

    * Nhân cách đc hình thành và phát triển dự trên 4 yếu tố cơ bản là giáo dục, hoạt động, giao tiếp và tập thể.

    – Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách.

    – Hoạt động là yếu tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách.

    – Giao tiếp có vai trò cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhân cách.

    – Nhóm và tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách.

    Câu 3 (3đ) : Phân tích nội dung quy luật ngưỡng cảm giác. Cho VD minh họa.

    – Muốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan và kích thích đó phải đạt tới 1 giới hạn nhất định. Giới hạn mà ở đó kích thích gây ra đc cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác.

    – Có 2 loại ngưỡng cảm giác :

    + Ngưỡng cảm giác phía dưới (ngưỡng tuyệt đối) là cường độ kích thích tối thiểu để gây đc cảm giác.

    + Ngưỡng cảm giác phía trên (ngưỡng tối đa) là cường độ kích thích tối đa vẫn còn gây đc cảm giác.

    + Phạm vi giữa 2 ngưỡng cảm giác trên là vùng cảm giác đc, trong đó có 1 vùng phản ánh tốt nhất.

    VD : – Ngưỡng cảm giác phía dưới của cảm giác nghe là những sóng âm thanh có tần số 16 Hz.

    • Ngưỡng cảm giác phía trên của cám giác nghe là những sóng âm thanh có tần số 20.000 Hz.
    • Vùng phản ánh tốt nhất của âm thanh là những sóng âm thanh có tần số 1000 Hz.

    – Cảm giác còn phản ánh sự khác nhau giũa các kích thích. Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của 2 kích thích chỉ để phân biệt sự khác nhau giữa chúng gọi là ngưỡng sai biệt. Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là 1 hằng số.

    VD : Ngưỡng sai biệt đối với cảm giác thị giác là 1/100, thính giác là 1/10.

    – Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt của cảm giác ở mỗi người là khác nhau, ở mỗi loại cảm giác là khác nhau.

    – Ngưỡng sai biệt cáng nhỏ tức độ nhạy cảm sai biệt càng lớn.

    Ngưỡng tuyệt đối càng nhỏ tức độ nhạy cảm cảm giác càng cao.

    Câu 4 (2đ) : Phân biệt tâm lí và ý thức.

    * Giống nhau :

    – Đều phản ánh HTKQ vào não.

    – Đều mang tính chủ thể.

    – Có bản chất xh lịch sử.

    * Khác nhau :

    Tâm lý Ý thức
    1 lần phản ánh 2 lần phản ánh
    Xuất hiện từ động vật có hệ thần kinh mâu hạch trở lên. Chỉ có ở con người lúc tình táo.

     

    Là các tri thức con người tiếp thu đc. Là con người hiểu đc tri thức mà họ đã tiếp thu.

     

    Câu 5 (2đ) : Phân tích bản chất xh của cảm giác. Cho VD minh họa.

    * Bản chất xh của cảm giác ở con người (khác về chất so với cảm giác ở đv) đc thể hiện ở những điểm sau :

    – Đối tượng phản ánh : cảm giác của con người không chỉ nảy sinh khi những sự vật hiện tượng vốn có trong tự nhiên tác động mà còn nảy sinh ở những sự vật hiện tượng do lao động của loài người sáng tạo ra.

    VD : Cảm giác đau khi chạm vào đầu mũi kim.

    – Cơ chế sinh lí của cảm giác : cảm giác của con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn bao gồm các cơ chế thuộc hệ thống tín hiệu thứ 2 (tác động gián tiếp = ngôn ngữ).

    VD : Khi nhìn thấy từ « Quả khế » ta sẽ có cảm giác chua và tiết nước bọt.

    – Mức độ phản ánh : cảm giác là mức độ phản ánh tâm lí đầu tiên thấp nhất, sơ đẳng nhất ở người, chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lí cấp cao, còn ở 1 số đv (cụ thể là côn trùng) thì cảm giác là mức độ phản ánh tâm lí cao nhất và duy nhất.

    VD : Tự tìm.

    – Cảm giác của con người đc phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục, tức cảm giác của người đc tạo ra theo phương thức đặc thù của x, do đó mang đậm tính xh.

    VD : Do hoạt động nghề nghiệp mà óc những người thợ dệt phân biệt đc tới 60 màu đen khác nhau, có những người đầu bếp « nếm » đc = mũi hay có những người đọc đc = tay.

  • Thương mại điện tử

    Thương mại điện tử

    Đề cương thương mại điện tử có chứa nhiều sơ đồ. Vì vậy các bạn nên tải đề cương về nhé!

    [Tải đề cương môn thương mại điện tử tại đây]

    [toc]

    1. Trình bày những hiểu biết cơ bản về mạng Internet?

    * Khái niệm: Internet là mạng của các mạng máy tính trên phạm vi toàn TG, sd giao thức có tên là TCP/IP để kết nối và truyền dữ liệu giữa các máy tính và giúp người sd có khả năng khai thác thông tin.

    * Đặc điểm:

    – Internet là 1 hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên 1 giao thức liên mạng đã được chuẩn hoá (giao thức IP), bao gồm hàng triệu máy tính nhỏ hơn của các DN, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu.

    – Internet là 1 mạng toàn cầu bao gồm nhiều mạng LAN (Local Area Network) và WAN (Wide Area Network) trên TG kết nối vs nhau. Mỗi mạng thành viên này được kết nối vào Internet thông qua 1 router.

    – Mạng Internet là của chung, điều đó có nghĩa là không ai thực hiện sở hữu nó vs tư cách cá nhân. Mỗi phần nhỏ của mạng được quản lý bởi các tổ chức khác nhau, không ai, không 1 thực thể nào cũng như không 1 trung tâm máy tính nào nắm quyền điều khiển mạng Internet.

    – Mỗi phần của mạng Internet được liên kết vs nhau theo 1 cách thức nhằm tạo nên 1 mạng toàn cầu.

    2. Vẽ mô hình và giải thích hoạt động của mạng Internet?

    (tải về về bản đầy đủ để xem mô hình)

    * Giải thích:

    – Mỗi máy chủ được định vị bằng 1 địa chỉ IP. Các máy tính giao dịch vs nhau bằng mạng Internet thông qua việc gửi các gói dữ liệu (data packet).

    – Gửi gói dữ liệu qua Internet cần:

    + Địa chỉ nguồn: địa chỉ IP máy gửi dữ liệu.

    + Địa chỉ nơi đến: là địa chỉ IP máy tính nhận dữ liệu.

    – Khi dữ liệu được gửi qua Internet, thông thường nó được chia ra thành nhiều gói dữ liệu nhỏ hơn, các gói dữ liệu này thường đến máy nhận không theo 1 thứ tự nào cả. Máy khách nhận được các gói thông tin này và dựa vào quy luật thứ tự thông tin, sau đó sắp xếp lại các thông tin này cho đúng thông điệp ban đầu.

    – Các gói dữ liệu thông thường không được gửi trực tiếp đến địa chỉ nơi đến, do tính chất của Internet là rộng, mạng phức tạp, mỗi 1 máy, khách không thể biết đường nào tối ưu nhất để gói thông tin được chuyển đến. Vì vậy, 1 thiết bị đặt biệt – cầu dẫn (router) được sd nhằm giúp chuyển các gói dữ liệu trên Internet được hiệu quả hơn. Gói tin thường đi qua nhiều router trước khi đến đích.

    3. Trình bày lược sử phát triển Internet?

    – 1962: J.C.R.Licklider đưa ra ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính vs nhau.

    – 1965: mạng gửi các dữ liệu đã đượ chia nhỏ thành từng packet, đi theo các tuyến đường khác nhau và kết hợp lại tại điểm đến (Donald Dovies); Lawrence G.Roberts đã kết nối 1 máy tính ở Massachussetts vs 1 máy tính khác California qua đường dây điện thoại.

    – 1967: Roberts đề xuất ý tưởng mạng ARPANET – Advanced Research Project Agency Network tại 1 hội nghị ở Michigan; Công nghệ chuyển gói tin – packet switching technology đem lại lợi ích to lớn khi nhiều máy tính có thể chia sẻ thông tin vs nhau; Phát triển mạng máy tính thử nghiệm của Bộ quốc phòng Mỹ theo ý tưởng ARPANET.

    – 1969: Cơ quan quản lý dự án nghiêm cứu phát triển ARPA thuộc Bộ quốc phòng Mỹ liên kết vs 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network) đầu tiên được xây dựng.

    – 1972: Thư điện tử bắt đầu được sd (Ray Tomlinson)

    – 1973: ARPANET lần đầu tiên được kết nối ra nước ngoài, tới trường Đại học London.

    – 1974: Thuật ngữ Internet xuất hiện lần đầu tiên.

    – 1983: Giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol và Internet Protocol) chính thức được coi như 1 chuẩn đối vs ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối vs ARPANET phải sd chuẩn mới này.

    – 1984:

    + ARPANET được chia ra thành 2 phần, phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET dành cho việc nghiên cứu và phát triển, phần thứ hai được gọi là MILNET là mạng dùng cho các mục đích quân sự.

    + Hệ thống các tên miền DNS (Domain Name System) ra đời để phân biệt các máy chủ; được chia thành 6 loại chính:

    • .edu (education) cho lĩnh vực giáodục
    • .gov (government) thuộc chính phủ
    • .mil (miltary) cho lĩnh vực quân sự
    • .com (commercial) cho lĩnh vực thương mại
    • .org (organization) cho các tổ chức
    • .net (network resources) cho các mạng

    – 1990: ARPANET ngừng hoạt động, Internet chuyển sang giai đoạn mới, mọi người đều có thể sd, các doanh nghiệp bắt đầu sd Internet vào mục đích kinh doanh, thương mại.

    – 1991: Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (HyperText Markup Language) ra đời cùng với giao thức truyền siêu văn bản HTTP (HyperText Transfer Protocol), Internet đã thực sự trở thành công cụ đắc lực với hàng loạt các dịch vụ mới.

    – 1994:

    + Mạng Internet được sd rộng rãi.

    + Công ty Amazon.com ra đời chuyên kinh doanh TMĐT.

    – 1995: Công ty Netscape ứng dụng Internet vào hoạt động kinh doanh.

    – 1997:

    + IBM tung ra chiến dịch quảng cáo kinh doanh điện tử.

    + Công cụ tìm kiếm Google.com ra đời.

    + Internet đã trở thành 1 mạng lớn nhất trên TG, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội …

    + Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại 1 thời kỳ mới – kỷ nguyên TMĐT trên Internet.

    4. Web (WWW) là gì? Các thuật ngữ Web cơ bản? Các ứng dụng của Web và Internet?

    * Khái niệm: World Wide Web được gọi tắt là Web là mạng lưới nguồn thông tin cho phép mọi người khai thác thông tin qua 1 số công cụ hoặc là chương trình hoạt động dưới các giao thức mạng.

    * Các thuật ngữ cơ bản:

    – Khái niệm Webpage: là 1 trang web, tức là 1 file có đuôi HTM hay HTLM, đó là 1 tập tin viết bằng mã code HTML chứa các siêu liên kết (hyperlink) đến các trang web khác.

    – Khái niệm Website: là tập hợp những trang web liên kết vs nhau bằng các siêu liên kết.

    * Ứng dụng của web, Internet:

    – Flash: tạo hình ảnh động cao cấp, đẹp, dùng cho việc trang trí.

    – Thư điện tử (email).

    – Facebook.

    – Bán lẻ trực tuyến.

    – Đọc báo.

     

    5. Vẽ mô hình và giải thích cấu trúc của hệ thống Web?

    (tải về bản đầy đủ để xem sơ đồ)

    *Giải thích:

    – Hệ thống web là 1 hệ thống cung cấp thông tin trên mạng Internet thông qua các thành phần như máy chủ, trình duyệt và nội dung thông tin.

    – Hệ thống web bao gồm:

    + Đường kết nối vs mạng cung cấp dịch vụ Internet

    + Các máy chủ cung cấp dịch vụ web

    + Các máy chủ cơ sở dữ liệu, máy chủ chứng thực, máy chủ tìm kiếm

    + Hệ thống tường lửa

    + Hệ thống máy trạm điều hành cập nhật thông tin cho máy chủ web

  • Luật Bảo Hiểm

    Luật Bảo Hiểm

    Đề cương môn Luật Bảo Hiểm

    [Tải xuống đề cương môn luật bảo hiểm tại đây]

    [toc]

    CHƯƠNG 1

    Câu 1: Phân tích bản chất của BH

    *Khái niệm:

    BH là phương thức chuyển giao rủi ro trên cơ sở HĐ; là sự cam kết bồi thường of người BH đối vs người tham gia BH trong trường hợp người tham gia BH gặp rủi ro trong phạm vi BH. Đổi lại người tham gia BH phải nộp 1 khoản phí cho người BH.

    Phân tích Khái niệm:

    -Chuyển giao rủi ro trên cơ sở HĐ:

    Chuyển giao rủi ro là chuyển giao những rủi ro từ người tham gia BH sang người BH thông qua hợp đồng.

    HĐ là VB pháp lý quy định trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia ( người BH và người tham gia BH )

    -Phạm vi BH:

    Trên thị trường có rất nhiều sản phẩm BH nhưng mỗi 1 loại BH chỉ chịu trách nhiệm bảo đảm cho 1 số rủi ro nhất định.

    -Phí:

    Người mua BH muốn được bồi thường thì phải nộp 1 khoản phí cho sản phẩm BH đấy.

    -Người BH:

    Người bán BH, các cty, Doanh nghiệp, tổ chức BH hoạt động dưới sự chỉ đạo của nhà nước.

    -Người tham gia BH:

    Người mua BH.

    *Bản chất của BH:

    -Hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít”

    Đối với mỗi sản phẩm BH, khoản tiền phí mà người tham gia BH phải đóng là thấp hơn rất nhiều so vs số tiền mà BH bồi thường.

    -BH vừa mang tính bồi hoàn, vừa mang tính không bồi hoàn

    Phân phối trong BH là phân phối k đều, k = nhau, nghĩa là k phải ai tham gia BH cũng được phân phối và phân phối vs số tiền như nhau. Người tham gia BH nhưng k gặp rủi ro, tổn thất nào trong thời hạn BH thì k được phân phối, còn người tham gia BH nào k may gặp rủi ro, gây thiệt hại đến sản xuất, đời sống trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện BH thì sẽ nhận được tiền BH. Tính bồi hoàn chỉ tồn tại ở BH nhân thọ.

    -BH góp phần ổn định tài chính cho người tham gia BH khi k may gặp rủi ro thuộc phạm vi BH

    Rủi ro dù do thiên tai or tai nạn bất ngờ đều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, SXKD of cá nhân, Doanh nghiệp tham gia BH, chưa kể có lúc gây thiệt hại về người. Khi rủi ro xảy ra, BH sẽ trả cho người mua BH 1 khoản tiền nhất định để khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, SXKD.

    -BH mang tính nhân văn, tương trợ sâu sắc giữa các thành viên trong XH

    Những người tham gia BH đóng 1 khoản phí BH và số tiền này có thể góp phần trợ giúp cho những người khác cũng tham gia BH nhưng k may gặp rủi ro.

    -BH là chỗ dựa tinh thần cho các thành viên trong XH

    Đối vs cá nhân, Doanh nghiệp khi tham gia BH, nếu k may gặp rủi ro, họ sẽ được các cty BH hỗ trợ 1 khoản tiền nhất định, do vậy họ sẽ yên tâm hơn trong quá trình SXKD và phát triển kinh tế.

     

    Câu 2: BH có cần thiết hay không? Lấy VD minh họa.

    Trong cuộc sống con người luôn phải đối mặt vs những rủi ro. Rủi ro thường xảy ra mang tính chất ngẫu nhiên, khách quan, bất ngờ. Rủi ro thường là những điều k được mong đợi.

    *Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân:

    -Do thiên tai

    VD: bão, lũ lụt, động đất, sóng thần… làm ảnh hưởng đến SX, đến đời sống và sức khỏe của con người.

    -KHCN phát triển: tăng năng suất LĐ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống con người. Tuy nhiên cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn LĐ, bệnh nghề nghiệp, tai nạn ô tô… và làm tăng nguy cơ mất việc làm của người LĐ.

    VD:

    +Thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản thực vật => Ngộ độc.

    +Chế tạo nhiều máy móc thiết bị hiện đại dần thay thế sức LĐ con người => tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

    -Do MT XH: Những rủi ro này chịu tác động của nhiều yếu tố và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi thành viên trong XH.

    VD: ốm đau, bệnh dịch, trộm cắp, hỏa hoạn …

    *Biện pháp:

    Để đối phó vs các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra.

    Có 2 nhóm biện pháp:

    Kiểm soát rủi ro

    Tài trợ rủi ro

    -Kiểm soát rủi ro gồm:

    +Tránh né rủi ro: là biện pháp được sd thường xuyên trong cuộc sống nhưng k phải rủi ro nào cũng  tránh né được. Tránh né rủi ro tức là loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất.

    VD: đội mũ BH, đi lại cẩn thận để tránh tai nạn giao thông.

    +Giảm thiểu tổn thất: Đối vs những rủi ro đã xảy ra rồi và con người phải tìm ra những biện pháp để giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra. Người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã gây ra.

    VD: Khi xảy ra tai nạn giao thông, để giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của, phải đưa ngay những người bị thương đến nơi cấp cứu, điều trị …

    +Ngăn ngừa rủi ro: Rủi ro chưa xảy ra, để ngăn ngừa tổn thất phải đưa ra hành động để tránh tổn thất, giảm tổn thất, hay giảm mức độ thiệt hại do tổn thất gây ra.

    VD: Các cty, Doanh nghiệp mở lớp dạy về an toàn LĐ để người LĐ dễ nhận thấy những rủi ro mình có thể gặp, từ đó họ có thể tránh né và giảm thiểu các tai nạn LĐ.

    -Tài trợ rủi ro:

    Đây là các biện pháp được sd trước khi rủi ro xảy ra vs mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có, bao gồm:

    +Chấp nhận rủi ro: là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó, bao gồm:

    Chấp nhận rủi ro thụ động: Người ta biết trước tương lai sẽ gặp rủi ro nhưng k thể chuẩn bị trước để đối phó vs nó và có thể phải vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất. Tuy nhiên k phải lúc nào cũng vay được, gặp phải vấn đề lãi suất.

    Chấp nhận rủi ro chủ động: Người ta chuẩn bị trước 1 quỹ dự trữ, dự phòng để có thể đối phó vs rủi ro. Nhược điểm là tiền k được đem vào lưu thông và k thể sinh lời.

    +BH

    BH là công cụ đối phó vs hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra có hiệu quả nhất. BH k chỉ chuyển giao rủi ro mà còn giảm rủi ro do việc tập trung 1 số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về tổn thất khi chúng xảy ra.

    =>Như vậy, BH ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, of hoạt động SXKD và BH là cần thiết.

     

    Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa sự phát triển của BH vs sự phát triển KT – XH

    *Sự phát triển KT-XH tác động đến sự phát triển của BH

    1 điều có tính quy luật là KT-XH càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân càng cao thì nhu cầu về BH càng lớn. Như vậy, khi KT-XH phát triển sẽ thúc đẩy BH phát triển.

    -Khi KT phát triển, thu nhập của Doanh nghiệp, của người LĐ nâng cao, khả năng đóng góp ( đóng phí BH ) càng có điều kiện và do đó khả năng tham gia vào các loại hình BH càng nhiều, nhất là BH nhân thọ.

    – KT-XH phát triển, thúc đẩy KH-Kĩ thuật phát triển, cuộc sống của con người càng nhiều rủi ro =>nhiều loại sp BH ra đời. Vì vậy ngành BH phát triển đa dạng và phong phú hơn.

    -KT-XH phát triển làm cho nguồn thu của Ngân sách Nhà nước tăng, từ đó có điều kiện hỗ trợ để bảo toàn và tăng trưởng 1 số nguồn quỹ BH như: quỹ BHXH, BH thất nghiệp và BH y tế.

    -KT phát triển, chính trị ổn định thì các điều kiện pháp lý, môi trường kinh doanh có điều kiện hoàn chỉnh tạo điều kiện cho BH có điều kiện phát triển.

    -KT phát triển thúc đẩy xu thế hội nhập và toàn cầu hóa phát triển, làm cho hoạt động BH cũng mở rộng thị trường, k chỉ trong nước mà cả quốc tế.

    *BH tác động đến sự phát triển KTXH ( 6 tác dụng của BH )

    Nếu phát triển KTXH là điều kiện có tính quyết định mở rộng và phát triển BH thì BH cũng có tác dụng kích thích KTXH phát triển.

    -BH góp phần ổn định tài chính cho người tham gia BH khi k may gặp rủi ro thuộc phạm vi BH, từ đó góp phần ổn định và phát triển SXKD, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    -BH góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống con người an toàn hơn, XH trật tự hơn, giảm bớt lỗi lo của mỗi cá nhân, mỗi Doanh nghiệp.

    -BH góp phần tăng thu, giảm chi cho Ngân sách Nhà nước.

    -BH góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho người LĐ, giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho XH.

    -BH là kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư phát triển KTXH

    – BH góp phần mở rộng, thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế thông qua hoạt động tái BH =>Góp phần ổn định thu, chi ngoại tệ cho ngân sách.

     

    Câu 4: Trình bày chủ thể và trách nhiệm của các bên trong HĐ BH

    HĐ BH là 1 VB pháp lý quy định quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia ( người BH và người được BH ), qua đó công ty BH cam kết sẽ chi trả hay bồi thường cho bên được BH khi có sự kiện BH xảy ra gây ra tổn thất; ngược lại, bên mua BH cam kết trả khoản phí phù hợp với mức trách nhiệm và rủi ro mà công ty BH đã nhận.

    *Các chủ thể:

    -Người BH ( người bán BH ): là các tổ chức or cá nhân có đầy đủ tư cách pháp nhân được nhà nước cho phép tiến hành hoạt động KD BH, được thu phí để lập ra quỹ BH và chịu trách nhiệm bồi thường hay chi trả cho bên được BH khi có sự kiện BH xảy ra.

    -Người được BH bao gồm:

    +Người tham gia BH: là tổ chức or cá nhân ký kết HĐ BH vs công ty BH và đóng phí BH.

    +Người được BH: là người có đối tượng được BH ( tài sản, trách nhiệm dân sự,… được BH theo hợp đồng BH )

    +Người được thừa hưởng quyền lợi BH ( người thụ hưởng quyền lợi BH ) là người trực tiếp nhận được tiền bồi thường of bên BH.

    VD:

    +3 đối tượng là một: BH y tế

    +3 đối tượng là tách biệt: BH xe máy

    Người tham gia BH: chủ xe

    Người được BH: chủ xe

    Người được thụ hưởng quyền lợi BH: bên thứ 3 mà chủ xe va phải.

    =>Việc xác định các chủ thể trong HĐ BH là cần thiết để hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi of các chủ thể này.

    *Trách nhiệm của các bên trong HĐ BH

    -Trách nhiệm của người BH

    +Bên bán BH có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng of mình. Khách hàng luôn mong muốn bồi thường được diễn ra 1 cách nhanh chóng, kịp thời.

    +Trách nhiệm bồi thường và việc bồi thường phải đúng, đủ về mặt giá trị; nhanh chóng, kịp thời về mặt thời gian. Nếu người BH bồi thường chậm trễ quá 15 ngày theo quy định of HĐ thì phải trả khoản tiền lãi cho số tiền bồi thường này theo mức lãi suất mà Ngân hàng Trung ương quy định.

    -Trách nhiệm of người được BH

    +Đóng phí đầy đủ về mặt giá trị, đúng về mặt thời gian.

    +Khai báo trung thực rủi ro tại thời điểm kí kết HĐ BH, trung thực trong việc khai báo giá trị thiệt hại khi đối tượng được BH gặp rủi ro.

    +Có trách nhiệm trong việc thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất.