Author: Nguyễn Huyền

  • VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA NHÀ VĂN HÊ-MINH-UÊ

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA NHÀ VĂN HÊ-MINH-UÊ

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA NHÀ VĂN HÊ-MINH-UÊ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRÀNG TRONG VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA NHÀ VĂN HÊ-MINH-UÊ

    VĂN MẪU LỚP 12

    PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA NHÀ VĂN HÊ-MINH-UÊ

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Nhắc đến nguyên lý tảng băng trôi nổi tiếng thì chúng ta nhớ ngay đến nhà văn Hê minh uê. Có thể nói ông là một nhà văn vĩ đại nhất nước Mỹ thế kỉ XX. Ông để lại nhiều tiểu thuyết hay có giá trị về cuộc sống trong đó có tác phẩm ông già và biển cả. Từ tiểu thuyết ấy đã đánh dấu tên tuổi của ông. Đặc biệt tác phẩm ấy còn được viết theo nguyên lý tảng băng trôi.

    Trước hết là nguyên lí tảng băng trôi thì ông chính là người đề xướng lối viết kiệm lời nhưng lại giàu ý nghĩa ấy. Theo ông thì một tác phẩm thì phải được viết theo nguyên lí tảng băng trôi mà chỉ có ba phần nổi bảy phầm chìm đòi hỏi mọi người phải suy nghĩ chiêm nghiệm mới có thể thấy hết cái hay của nó. Nhà văn không trực tiếp nói ra ý tưởng của mình mà phải xây dựng những hình tượng có rất nhiều sức gợi.Có những câu văn để trống để cho mọi người tự suy nghĩ và tìm hiểu, tự rút ra phần ẩn ý của tác phẩm.

    Về tác phẩm thì nhân vật chính là ông già Xantiago – một ông già đánh cá người Cu ba. Ông đã 74 tuổi và trong suốt 84 ngày liền lão không câu được bất cứ một con cá nào dù nhỏ hay to. Chính vì thế mà đến cậu bé Ma nô lin cũng bị bố mẹ cấm không cho đi câu chung với lão nữa. Có thể nói người ta cho rằng ông vận xui rồi. Một hôm với ý chí không chịu khuất phục của mình xantiago quyết định một mình ra khơi đánh cá. Thế rồi câu chuyện bắt đầu từ đó và những hình tượng ý nghĩa cũng từ đó mà được nhà văn thể hiện.

    Ông lão đi đến trưa thả một bốn cần câu và đợi cho đến trưa thì có một con cá kiếm cắn câu. Con cá ấy to lớn làm cho ông lão cảm thấy rất xứng đáng với tài nghệ của mình. Chính vì thế mà ông quyết định phải bắt được nó vào bờ cho người ta không nói được gì ông nữa. Con cá hiện lên với những ấn tượng vô cùng đẹp. đó là một con cá to nó thể hiện qua những vòng lượn tròn rất lớn. Không những thế ông lão còn thấy nó qua một cái bóng đen vượt dài qua dưới thuyền, Lão không thể tin vào độ dài của nó.“ Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm”. “ Thân hình đồ sộ và những dọc dài màu tía”, “bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”. Nhà văn đã dùng những từ hay nhất gọn nhất để có thể miêu tả hình ảnh của con cá kiếm ấy. Con cá ấy hiện lên thật sự rất lớn, nó làm cho ông lão cảm thấy như đang buộc một con thuyền khác lớn hơn vào cạnh thuyền của mình. Ngay khi đó, con cá ròng rã kéo ông lão ra khơi xa trong suốt hai ngày đêm. Một con người cô độc, ra khơi chỉ với một chai nước và quyết tâm không gì lay chuyển về việc bắt được con cá lớn xứng đáng với tài nghệ của mình, lúc này đã được đặt vào thử thách quyết định. Liệu lão có chinh phục được con cá kiếm ấy không?

    Và cuộc chiến giữa ông già và con cá bắt đầu từ đó, một cuộc chiến không cân sức.

    Về phía con cá nó tỏ ra cũng rất khôn ngoan. Khi bị mắc câu thì con cá lượn vòng chậm rãi bên thuyền sau đó nó lại đột ngột tấn công ông lão. Khi mệt nó lại chậm rãi, có những lúc ông lão tưởng rằng đã bắt được nó nhưng nó lại bơi ra xa. Con cá khiến ông lão chóng mặt hoa mắt choáng váng. Những vòng lượn ấy như thể hiện được sự cố gắng thoát khỏi sự bủa vây của người ngư phủ. Nó “phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trên không trung…rơi sầm xuống nước bắn tung trùm lên cả ông lão và chiếc thuyền”

    Qua đây ta thấy được ý đồ nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua hình tượng con cá kiếm. Đó là con cá kiếm là hình tượng văn học mang tính người, toát lên sự kiêu dũng cũng như bất khuất vượt lên mọi khó khăn của cuộc sống. không những thế con cá kiếm còn là biểu tượng của thiên nhiên đẹp đẽ vô cùng. Sức mạnh của thiên nhiên được thể hiện qua hình tượng đặc điểm của con cá Kiếm ấy. Đồng thời nó biểu tượng cho ước mơ khát vọng của con người.

    Về phía ông lão thì sao?. Ông tỏ ra mừng vui khi thấy con cá nhưng ông cũng biêt là mình sẽ phải chiến đấu với nó để đi về. Đây là một cuộc chiến đấu không cân sức mà bên yếu lại là ông lão. Thế nhưng ông không chịu khuất phục mà kiên quyết bắt con cá đó về. Ông cảm nhận được những vòng lượn của con cá qua áp lực của những sợi dây. Và khi nhìn sự căng trùng của sợi dây thì ông biết nên kéo hay nới lỏng ra. Đặc biệt là hành động nhanh chóng và dứt khoát ông đã phóng lao trúng tim con cá. Cuộc chiến không cân sức như thế nhưng ông nhất định kiên cường ý chí và cuối cùng ông đã thu phục được nó.

    Qua đây ta thấy được nhà văn khẳng định sức mạnh và vẻ đẹp của con người qua hình tượng ông lão. Đặc biệt là sự thắng lợi của con người trong hình trình chinh phục thử thách.

    Thế nhưng kết cục câu chuyện thì quá thương tâm bởi vì khi ông bắt được nó như thế nhưng cuối cùng cũng bị đàn cá mập đến rỉa thịt con cá kiếm khiến cho nó khi vào bờ chỉ còn trơ bộ xương mà thôi. Nhưng điều đó không quan trọng mà quan trọng là ông lão đã thắng trong trận đấu không cân sức đó. Chính những điều đó mới là những điều để nhà văn gửi gắm những ý nghĩa biểu tượng.

    Qua đây ta thấy được phần nổi và phần chìm của tác phẩm. Phần nổi là hành trình chinh phục con cá kiếm của ông lão xantiago. Còn phần chìm gồm ông lão biêu tượng cho sức mạnh và trí tuệ của những người dân lao động. Con ca kiếm biểu tượng cho sức mạnh vẻ đẹp của thiên nhiên. Biển cả khung cảnh kì vĩ đã là môi trường hoạt động sáng tạo của con người. Còn cuộc đi câu kia chính là hành trình đi tìm cái đẹp và chinh phục thiên nhiên. Nó còn là hành trình theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Và đồng thời là hành trình để vượt qua thử thách đu tới thành công.

    Như vậy qua đây ta thấy được nguyên lí tảng băng trôi của Hê Minh uê và tác phẩm ông già và biển cả. Qua tác phẩm này chúng ta không những hiểu được nhưng phần chìm phần nổi của nó mà còn học tập được từ nhà văn lớn ấy lối viết kiệm lời này.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    “Con người” là một đề tài rất quen thuộc trong văn học.Dù ở bất kì thể loại nào cũng có những tác phẩm nổi tiếng về đề tài này.Trong chương trình học của môn ngữ văn lớp 12 có một tác phẩm như thế.Đó là một tác phẩm để đời của một nhà văn người Mĩ nổi tiếng Hemingway- “Ông già và biển cả” (The old man and the sea).

    “Ông già và biển cả” là một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm đã đạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1953 và góp phần quan trọng trong giải thưởng Nobel của tác giả năm 1954.

    Trước khi tiếp cận với đoạn trích, trước hết ta sẽ tìm hiểu đôi nét về tác giả vĩ đại của tiểu thuyết nổi tiếng này. Hemingway là một trong những nhà văn lớn nhất nước Mĩ thế kỷ 20. Ông là người để lại dấu ấn sâu sắc trong năn xuôi hiện đại phương tây, đổi mới phong cách viết truyện, tiểu thuyết của nhiều nhà văn trên thế giới. Ông là người đề xướng ra nguyên lý “tảng băng trôi”. Và tác phẩm này chính là cuốn tiểu thuyết được nhà văn sử dụng triệt để nguyên lý ấy. Tác giả mô tả một phần nổi chính là sự vĩ đại, to lớn, sức mạnh của con cá, sự chênh lệch giữa sức lực của thiên nhiên với con người để từ đó ca ngợi sức lao động, niềm khát khao chinh phục thiên nhiên của con người.

    Cuốn tiểu thuyết có nhân vật trung tâm là ông lão đánh cá người Cuba- Santiago, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển ông đã gặp được con cá kiếm khổng lồ. Ông đã cố gắng chiến đấu, chinh phục con cá kiếm mà ông cho rằng là mơ ước trong đời. Cuối cùng sau 3 ngày vật lộn ông cũng đâm chết được con cá, nhưng thật không may lũ cá mập lại đánh hơi thấy và tramh nhau xẻ thịt con cá kiếm, ông lại đem hết sức chống trọi với lũ cá mập.mặc dù đã đuổi được chúng đi nhưng cuối cùng con cá kiếm chỉ còn là bộ xương khổng lồ.

    Đoạn trích trong chương trình nằm ở gần cuối của truyện kể về cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Santiago.

    Phần đầu của đoạn trích là cách thức mà ông lão cảm nhận và quan sát đối phương. Sự cảm nhận của ông lão được thể hiện qua những vòng lượn của con cá kiếm. Ông lão cảm nhận con cá một cách gián tiếp. Vòng lượn gần rồi đến vòng lượn xa. Ở vòng tròn lớn gần áp lực của sợi dây chùng lại, chững lại, sự vùng vẫy của con cá khiến ông cảm thấy đôi tay bắt đầu đau. Ở xòng tròn xa, con cá lượn gần rồi lại quật sức ra xa. Những vòng lượn của con cá được mô tả nhiều lần thể hiện những cố gắng cuối cùng nhưng hết sức mãnh liệt của con cá. Con cá cố gắng tìm mọi cách thoát khỏi sự bủa vây của ông lão. Qua sự quan sát của mình ở vòng lượn thứ ba, ông lão thấy đay là một con cá khổng lồ cái đuôi xanh thẫm, thân hình xòe rộng, một con cá khổng lồ mà cả đời mơ ước. Bằng sự quan sát cảm nhận của chính bản thân mình, ông lão thấy được vẻ đẹp dũng mãnh, oai phong của con cá. Con cá không chỉ mang vẻ đẹp của riêng mình mà còn là sự thể hiện của thiên nhiên hùng vĩ.

    Cảm nhận được đối thủ của mình, ông lão bắt đầu đi vào trận chiến. Khi con cá bị mắc câu, nó kéo phăng con thuyền ra xa đại dương ba ngày hai đêm. Khi mệt con cá mới lượn vòng dừng lại. Con cá tìm mọi cách để thoát khỏi vòng vây. Nó cứ lượn gần rồi lượn xa để tìm cách thoát thân. Khi bị phóng lao, con cá vút lên phô hết tầm vóc và vẻ đẹp của mình.Con cá kiếm không chỉ mang vẻ đẹp về ngoại hình mà còn mang vẻ đẹp kiêu hùng bất khuất. Trong suốt trận đấu, ông lão luôn ở trong tình trạng sức khỏe quá mệt mỏi” hoa mắt”, “chóng mặt”, “choáng váng”, “xây xẩm mặt mày”. Tiếp cận con cá, ông lão cứ thu dây, giữ yên sợi dây rồi lại buông. Mục đích của ông lão là muốn để con cá thấm mệt rồi sẽ tấn công. Ông lão để con cá cứ bơi đi xa, chờ thời cơ để áp sát con cá. Khi đã áp sát con mồi, ông lão dồn hết sức lực, gắng hết sức bình sinh để đâm con cá. Suốt cả khoảng thời gian chờ đợi, ông luôn độc thoại nội tâm để nhắc nhở, tự dặn bản thân, động viên bản thân mình. Lúc này con cá mới sực bừng tỉnh, nhận ra cái chết gần kề mới vùng lên tìm cách thoát thân nhưng cũng đã quá muộn. Ông lão đã chinh phục được con cá kiếm khổng lồ.

    Với nguyên lý “tảng băng trôi” câu truyện của Hemingway không dừng lại ở đó. Mối quan hệ của ông lão và con cá kiếm không chỉ đơn thuần là giữa con mồi và người đi săn. Ông lão không chỉ coi con cá kiếm là đối tượng để chinh phục mà còn là người bạn, người “anh em”. Ông lão coi cá là bạn, Mối quan hệ giữa ông lão và con cá hết sức phức tạp, vừa là mối quan hệ giữa người đi câu và con cá, vừa là con người với thiên nhiên, vừa là hai đói thủ ngang sức ngang tài, cũng vừa là hai người bạn cảm thông chia sẻ. Có được điều đó là ý nghĩa biểu tượng của cả hai nhân vật ông lão _con cá. Đối với thiên nhiên, con cá tượng trưng cho vẻ đẹp kì vĩ, đại diện cho sức mạnh của thiên nhiên. Nhưng đối với cuộc sống, nó là những khó khăn thử thách của cuộc đời, là ước mơ khát vọng, là thành quả lao động của con người. Đối với người nghệ sĩ, con cá tượng trưng cho ước mơ sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật hoàn mĩ. Biển cả là môi trường rộng lớn để người nghệ sĩ sáng tác. Mặt khác, ông lão là người lao động kiên cường bình dị, là người nghệ sĩ luôn theo đuổi cái đẹp với khát vọng sáng tác.

    Qua đoạn trích ở phần cuối của cuốn tiểu thuyết, Hemingway đã thể hiện tầm vóc lớn lao của con người, sáng ngang với đại dương bao la, mênh mông vô cùng vô tận; là ý chí nghị lực của con người, là một bản anh hùng ca về con người. Từ đây, tác giả thể hiện niểm tin bất diệt vào con người,con người chỉ bị hủy diệt chứ không bao giờ bị thất bại.

    Bằng cách viết ngắn gọn, hàm xúc, tạo mạch ngầm cho văn bản, xây dựng thành công hình ảnh biểu trưng, mang ý nghĩa biểu tượng với nhiều tầng nghĩa, ‘Ông già và biển cả” đã để lại dư âm khó phai trong lòng đọc giả.

    BÀI MẪU SỐ 3:

    Hemingway nổi tiếng với phương pháp Tảng băng trôi. Phương pháp sáng tác này yêu cầu sự cô đọng trong phản ánh hiện thực. Do vậy, nét nổi bật trong thế giới ngôn từ của kiệt tác là khả năng kiệm lời. Đặc biệt Hemingway rất hạn chế việc sử dụng tính từ. Còn động từ được dùng để diễn tả hành vi giao tiếp của con người thì hầu như chỉ độc mỗi nói (say) hoặc hành vi tự giao tiếp với chính bản thân nhân vật thì gần như chỉ là nghĩ (think). Chi tiết, hình tượng nhân vật của ông thường mang tính ẩn dụ và biểu tượng cao.

    Đoạn trích Ông già và biển cả trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập trung vào hành trình săn đuổi con cá kiếm của ông lão Santiago.Dưới đây là những nét đặc sắc nhất của văn bản.

    1. Cuộc chiến cuối cùng với cá kiếm

    Ông lão câu được con cá kiếm vào khoảng trưa ngày đầu tiên. Ngay khi đó, con cá ròng rã kéo ông lão ra khơi xa trong suốt hai ngày đêm. Một con người cô độc, ra khơi chỉ với một chai nước và quyết tâm không gì lay chuyển về việc bắt được con cá lớn xứng đáng với tài nghệ của mình, lúc này đã được đặt vào thử thách quyết định. Liệu lão có chinh phục được con cá kiếm ấy không?

    Các nhà nghiên cứu khái quát đặc trưng nhân vật của Hemingway bằng thuật ngữ “Code hero”, có nghĩa là nhân vật mã.Cách định danh này gây không ít tranh cãi. Bởi vì, thông thường mọi sáng tạo nhân vật của bất cứ nhà văn nào cũng đều tuân thủ theo một mã nhất định. Nếu không tạo được cho nhân vật của mình một mã đặc trưng, không thể lẫn thì nhà văn đó được xem là thất bại.Nhân vật của họ không thể đọng lại trong tâm trí người đọc.Như vậy, khái niệm “Code hero” có thể được dùng cho bất kì nhân vật của một nhà văn nổi tiếng nào, thế mà nhân vật của riêng Hemingway lại có được đặc ân đó.

    Điều này có nguyên do của nó. Có thể cắt nghĩa như sau: trong số các nhân vật đặc trưng thì nhân vật của Hemingway thuộc dạng đặc trưng nhất hoặc kiểu đặc trưng của nhân vật Hemingway cá biệt đến nỗi không lẫn vào bất kì nhân vật của nhà văn nào khác. Nếu hiểu như vậy thì việc xem nhân vật của Hemingway là nhân vật mã tức các nhà nghiên cứu đã tôn vinh sự sáng tạo tuyệt vời của nhà văn bởi đó là kiểu nhân vật trước đó chưa hề xuất hiện và về sau cũng không có nhân vật nào giống nó.

    Đúng vậy, ta có thể kể một số mã của nhân vật Hemingway như sau:

    Trong tiếng Anh, để chỉ danh từ nhân vật có hai từ character và hero. Từ hero ít được dùng hơn vì nó ngầm chỉ tính chất anh hùng. Do vậy, khi các nhà nghiên cứu gọi nhân vật của Hemingway là code hero thì họ nhằm ám chỉ phẩm chất anh hùng ở những con người này.

    Nhân vật mã của Hemingway luôn được đặt trong môi trường “tới hạn”, có nghĩa môi trường tồn tại của họ khốc liệt đến mức họ luôn bị cái chết rình rập, buộc phải tranh đấu để vượt qua.

    Để nhân vật đứng giữa ranh giới sự sống và cái chết, Hemingway muốn tìm xem đâu là cơ sở để con người tồn tại trên thế gian này và yếu tố nào khiến con người cao quý hơn tất cả các sinh vật khác từng tồn tại trên trái đất.

    Nhân vật Hemingway buộc phải tự mình tìm một lối thoát theo cách của họ để bảo vệ sự sống của bản thân, tính chất anh hùng được toát lên từ khả năng chống chọi và tìm đường này.

    Cách thức để các nhân vật đương đầu với mọi thử thách, ở từng trường hợp khác nhau, có thể là khác nhau nhưng họ đều có cùng điểm chung là dựa vào sự điêu luyện của tay nghề và ý chí, nghị lực.

    Nhân vật của Hemingway luôn có ý thức về sự hư vô mà họ phải đương đầu.Họ biết rất rõ rằng mục tiêu tồn tại của họ là chiến đấu chống trả lại cái hư vô đó. Nhưng họ không hề ảo tưởng con người đứng cao hơn số mệnh, cao hơn tự nhiên. Họ biết một khi vượt qua được cái hư vô này họ lại phải đối diện với một cái hư vô khác.Nhưng họ không bao giờ chịu buông xuôi.

    Họ chống trả lại thực trạng bằng một “phong độ dưới áp lực” (Phillip Young).Có nghĩa dù đã rơi vào cảnh ngộ sức tàn lực kiệt đến đâu chăng nữa, nhưng hễ còn sống họ phải dốc tận lực ra mà chiến đấu để có thể tồn tại đúng nghĩa một con người.

    Hemingway sáng tác trong thời buổi thế giới có nhiều biến động về chiến tranh, về các khuynh hướng tư tưởng, về kinh tế,… Sự tồn tại của con người trong môi trường đó được xem như một cuộc tranh đấu gian nan. Ở góc độ nào đó, tồn tại đồng nghĩa với việc chống trả các thế lực thù nghịch xung quanh.Xuất phát từ cách nhìn này, Hemingway xem nhân vật của mình là những chiến binh trên trận chiến cuộc đời. Hình tượng Santiago được khắc hoạ theo kiểu đó.

    Trước hết, nhân vật hiện lên với tư cách là một con người đơn độc. Đây là một phẩm chất thường thấy của người anh hùng. Trong thần thoại hoặc trong sử thi, truyện cổ tích,… nhân vật anh hùng luôn hành động một mình. Điều này cốt để khẳng định tầm vóc phi thường, sức lực vô biên không thế lực nào ngăn cản hoặc một ai sánh nổi.Trong văn bản của sách giáo khoa chỉ có mỗi một ông lão đương đầu với con cá kiếm. Môi trường xảy ra trận chiến là đại dương bao la, nơi không có bất kì một thế lực nào có thể can thiệp. Môi trường này được xem là “tinh khiết” để ghi nhận sức mạnh của hai đối thủ. Con cá cứ kéo, ông lão cứ giữ, cả hai cố làm kiệt sức để huỷ diệt nhau. Đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu đuối sức phải lượn vòng. Điều này có nghĩa ông lão không bị con cá điều khiển nữa mà đang chuẩn bị

    bước vào quá trình điều khiển con cá. Sự thay đổi vị thế đã khẳng định sức mạnh của ông lão.Thực chất ông lão có phải là kẻ dồi dào sức lực không?

    Câu trả lời không khó.Ông lão vừa già lại vừa yếu về sức mạnh cơ bắp.Hemingway thường nhấn mạnh đến yếu tố “già nua” trên cơ thể ông lão. Vậy ông lão lấy đâu ra sức lực để chinh phục con cá? Sức lực của ông lão được huy động từ nhiều nguồn. Trước hết là từ quá khứ oai hùng của lão (nhà vô địch vật tay, người ngang dọc trên đại dương săn rùa, câu cá,…), tiếp đó là sức mạnh từ việc thành thạo tay nghề (hiếm có người nào có tay nghề giỏi như ông lão ở làng chài ấy, dẫu suýt ngất vì kiệt sức nhưng chỉ cần một cú phóng lao, ông lão đã giết chết con cá kiếm), cuối cùng là sức mạnh tinh thần. Ông lão đã chứng minh được điều trước các sinh vật to lớn của đại dương, sức khoẻ cơ bắp của con người quả thật là thảm hại khi mang ra so sánh với chúng, nhưng sở dĩ con người lại trở thành “chúa tể của muôn loài” (theo cách nói của Shakespeare) là nhờ họ sở hữu được một thứ sức mạnh vô song. Đó chính là ý chí, nghị lực thuộc phạm vi tinh thần.

    Hành trình đeo đuổi suốt hai ngày hai đêm của ông lão trước đó đã mang lại kết quả.Nó khẳng định chiến thắng của ông lão.Nhưng đấy mới chỉ là khởi đầu, cuộc chiến lúc này mới thực sự bước vào chặng đường gay cấn nhất.Ông lão không hề có ý định bỏ cuộc.Kinh nghiệm cũng như tài nghệ của ông lão được người kể khắc hoạ qua nhiều chi tiết cụ thể, tinh tế. Chỉ cần “cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại”, Santiago biết con cá sắp lượn vòng.

    Ông lão không hề bị phân tâm trong suốt quá trình chiến đấu.Lão là một người nhẫn nại với công việc. Không điều gì có thể dứt lão ra khỏi mục tiêu cuối cùng là bắt cho được con cá kiếm. Có thể nói, Santiago toàn tâm, toàn ý trước nhiệm vụ mà thoạt nhìn không nhiều người tin chắc ông lão có thể thực hiện được.Chính lòng cần cù, sự tập trung và quyết tâm cao độ đã cung cấp thêm nguồn sức mạnh vô biên cho lão.

    Phẩm chất đáng quý nữa ở Santiago là tính cách luôn hành động. Có thể nói, ông lão là người không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ để chờ vận may đến với mình. Trong cuộc chiến đấu đó, một phần con cá cứ liên tục kéo nên ông lão phải căng hết người lên mà chống đỡ, phần khác là vì, bản thân ông lão là con người hành động. Santiago không chịu bó tay trước hoàn cảnh. Sự vận động khẳng định tố chất muốn thể hiện giá trị tồn tại của con người, ngay cả khi sức lực đã già nua. Hơn nữa, với Santiago không hành động đồng nghĩa với việc chết.Lão không muốn chết. Do vậy, Santiago luôn tồn tại trong thế động với các động tác của cơ thể, của tư duy cũng như của ngôn từ.

    Lão hết thu dây, thả dây, rồi lại nói, nghĩ (thành lời). Các động tác này cứ luân phiên nhau trong văn bản để tạo nên một con người Santiago đa diện mạo, để khiến cho câu chuyện chỉ viết về một người, một số phận nhưng lại âm vang nhiều cuộc đời, nhiều số phận.

    Mở đầu tác phẩm, Hemingway đặt nhân vật Santiago vào vận rủi vô cùng tận với 84 ngày không bắt được cá.Nhưng chính nhờ hành động không mệt mỏi của mình, lúc này ông lão

    sắp tóm được chú cá lớn xứng đáng với tài nghệ mình như lão hằng mong muốn. Như thế, miệt mài theo đuổi khát vọng lớn trong đời là một đặc trưng của nhân vật mã Hemingway.

    1. Cảm giác

    Là bậc thầy xây dựng hình tượng ẩn dụ, đa nghĩa,…Hemingway còn là người khai thác rất thành công cảm giác của nhân vật.Bằng cách này, ông khiến cho thế giới nhân vật của mình hiện lên vừa cụ thể sống động nhưng lại vẫn có phần bí hiểm và đầy chiều sâu.Đặc biệt là với ông lão Santiago.Khi sức khoẻ suy kiệt, Santiago chiến đấu với con cá kiếm bằng kinh nghiệm và sức mạnh tinh thần.Kinh nghiệm chủ yếu được thể hiện bằng cảm giác. Điều kì lạ là chỉ bằng cảm giác mà ông lão có thể xử lí hoàn hảo trước mọi động thái của con cá. Điều này cho thấy tay nghề câu cá của ông lão đã vượt qua cả ngưỡng siêu việt. Khai thác cảm giác này, Hemingway mới có điều kiện thuận lợi để xâm nhập sâu vào thế giới tư duy của nhân vật. Nhờ đó mà độc thoại nội tâm của nhân vật đã trở thành phương tiện biểu đạt tính cách nhân vật một cách hoàn hảo, tài tình: “Đúng lúc đó lão cảm thấy một cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây lão đang níu bằng cả hai tay. Thật là sắc và cảm thấy cứng và nặng.

    “Lưỡi kiếm của con cá đang quật vào đoạn dây thép đáy, lão nghĩ. Chuyện ấy tất xảy ra”.

    Hành động ấy của con cá diễn ra dưới mặt nước sâu, nhưng ông lão vẫn nhận ra.

    Cảm giác đóng vai trò rất quan trọng trong kĩ thuật tự sự của Hemingway. Nổi bật trong đoạn trích là hai cảm giác cơ bản của Santiago: về sức khoẻ và về việc khuất phục con cá. Văn bản xuất hiện hàng loạt câu đề cập đến các cảm giác này.Người kể sử dụng hai thủ pháp ngôn từ để khắc hoạ. Một là bằng chính ngôn ngữ của mình để miêu tả (“Nhưng lão lại cảm thấy choáng váng”, “Nhưng đã hai lần lão cảm thấy chóng mặt và choáng váng và điều ấy khiến lão sợ”,…). Hai là sử dụng ngôn ngữ của nhân vật (“Lượt tới nó lượn ra ta sẽ nghỉ”, lão nói. “Ta cảm thấy đỡ hơn nhiều. Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó”).

    Với cách kể này, câu chuyện của Hemingway đan cài nhiều tầng “không khí”. Thường thì độ căng của truyện được đặt ngay trong hành động trực tiếp của nhân vật, nhưng với Hemingway thì trọng tâm truyện bao giờ cũng nằm ngoài câu chuyện, nằm ở cái phần “trống”, phần không nói hết của người kể.

    1. Diễn biến

    Cuộc chiến của Santiago với cá kiếm diễn ra vô cùng gay cấn. Để giành chiến thắng ta thấy

    Santiago tiến hành lần lượt các bước sau:

    – Thu dây để khiến con cá quay vòng.

    – Cầu con cá đừng nhảy bởi sợ mất nó: “Đừng nhảy, cá”. Lão nói.“Đừng nhảy”.

    – Cầu Chúa giúp bằng cách hứa đọc kinh: “Chúa giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh mừng Đức Mẹ”.

    – Phân tích tình hình: “Mình phải giữ cho nó đừng đau quá, lão nghĩ. Nỗi đau của ta thì không thành vấn đề. Ta có thể chế ngự. Nhưng nỗi đau của con cá thì có thể khiến nó cuồng lên”.

    – Di chuyển được con cá: “Ta đã di chuyển được nó”.

    – Động viên bản thân: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à”.

    – Tập trung sức lực: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đương đầu với cơn hấp hối của con cá”.

    – Phóng lao giết chết con cá.

    Song song với diễn biến trên là quá trình suy kiệt sức lực của ông lão:

    – Khi con cá bắt đầu lượn vòng, lão hãy còn đủ sức để kéo: “Lão chỉ cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại và dùng tay phải, lão bắt đầu nhẹ nhàng kéo vào. Sợi dây chững lại, như¬ mọi khi, như¬ng ngay lúc lão kéo đến điểm sắp đứt thì sợi dây bắt đầu thu vào. Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng”.

    – Nhưng rồi cứ phải ra sức níu sợi dây để buộc con cá phải quay vòng, sức lực lão suy kiệt nhanh chóng: “hai giờ sau, mồ hôi ¬ướt đẫm ng¬ười ông lão và lão mệt thấu xương”, “ông lão thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán”,…

    – Tiếp đó ông lão “lại cảm thấy choáng váng”, “toát mồ hôi đầm đìa nhưng không phải vì mặt trời mà vì một nguyên nhân khác”, “lão lại thấy xây xẩm mặt mày”, “miệng lão khô khốc không thể nói nổi, như¬ng lúc này lão không thể với lấy cái chai”.

    – Đỉnh điểm của việc kiệt sức là sự “lú lẫn đầu óc”.Ông lão bước vào trạng thái chênh chao giữa sống và chết khi “lão nói bằng giọng mà bản thân hầu như¬ không còn nghe nổi”.

    – Tại thời khắc đó, ông lão đã biết tự động viên kịp thời: “Hãy giữ đầu óc tỉnh táo và biết

    cách chịu đựng như¬ một con người”, lão nghĩ. Rồi lão kêu gọi: “Đầu ơi, hãy tỉnh táo”. Bằng cách đó, từng phút giây, lão trở nên mạnh hơn con cá.

    Dõi theo mạch trần thuật trên, ta thấy, diễn biến của trận đánh rất gay cấn, được tính theo từng vòng lượn của con cá và tính theo cả chút sức lực ít ỏi còn lại, dần hao mòn của ông lão: “Cứ cái đà này thì không ổn rồi, lão nghĩ. Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, như¬ng lúc này lão không thể với lấy cái chai.Lần này mình phải kéo nó cập mạn, lão nghĩ.Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức”.

    Có lúc người đọc ngỡ như ông lão để mất con cá hoặc gục chết trước nó. Thế nhưng, lần nào cũng vậy, lão biết cách xốc lại tinh thần kịp thời: “Lần này mình phải kéo nó cập mạn, lão nghĩ. Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức.Không, mày khoẻ, lão tự nhủ.Mày luôn khoẻ”.Cuối cùng ông lão đã chiến thắng. Một chiến thắng kì vĩ cho quyết tâm không thể gì lay chuyển.

    Trong đoạn trích, cuộc chiến tập trung vào hai đối thủ đã rã rời thân xác.Cả hai đã đấu sức với nhau ròng rã hai ngày đêm.Bây giờ, kẻ nào không trụ vững, kẻ đó không tồn tại. Do vậy ta thấy độ căng của diễn biến được tăng dần theo sự suy kiệt sức lực của hai đối thủ. Trong lúc con cá dần ngoi lên (dấu hiệu của sự thúc thủ) thì ông lão nhiều lần suýt ngất. Nhưng ông lão vẫn gượng dậy. Cuối cùng con cá là kẻ bại trận.

    1. Hành động theo cách của riêng mình

    Đặc trưng nổi trội nữa trong tính cách nhân vật mã của Hemingway là họ tự xác lập một lối hành động cho riêng mình.Với cách sống đó ta thấy ở họ dáng dấp của kiểu nhân vật hiện sinh.

    Santiago là người gần như bị cộng đồng (chỉ còn mỗi thằng bé Manolin quan tâm) và bị cả tạo hoá bỏ rơi (không bắt được cá suốt 84 ngày), nhưng ông lão tin vào bản thân mình. Chỉ cần lão bắt được cá thì mọi sự sẽ chấm dứt.Ở đây tồn tại xung đột ngầm giữa một Santiago bị loại bỏ ra khỏi cộng đồng và một Santiago với cách thức tồn tại riêng của lão bên cộng đồng đó.

    Lão hành động như sau: không hề nản chí mà cứ miệt mài ra khơi với hi vọng bắt được con cá xứng đáng với tài nghệ lão. Mục đích ban đầu của lão không phải vì những tiêu chí đánh giá của cộng đồng mà vì ý thức của lão muốn sống một cách tử tế theo cách riêng của lão. Lão đã bắt được con cá mà ngay cả đến trong mơ lão cũng chưa từng gặp. Con cá ấy lớn hơn bất cứ con cá nào trước đó được đưa vào cảng La Havana.

    Santiago cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực, tin vào khả năng của chính bản thân mình. Santiago cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá, có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả. Họ không tin vào

    những điều trừu tượng, hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy. Do vậy, việc Santiago hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ, người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo). Bởi vì sau đó Santiago không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi. Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính. Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng d¬ưng như¬ những tấm kính trong kính viễn vọng hay như¬ một vị thánh trong đám rước”.

    Không dựa vào Chúa, nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình.Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn.Santiago đặt ra cho mình mục đích và cách sống.Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục.Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão. Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá, chinh phục chính bản thân mình. Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão).

    Hemingway không thật sự tập trung vào việc để nhân vật chinh phục thế giới bên ngoài.Tiêu điểm của ông hướng cả vào việc khai thác thái độ của nhân vật trước hoàn cảnh đó. Với Hemingway, việc đánh một con cá lớn thì ai đó cũng có thể thực hiện được, nhưng qua việc đánh cá đó để kiểm định khả năng tồn tại và ý nghĩa sống của con người, thì chỉ có Santiago thực hiện được mà thôi.

    Từ quan niệm này, người đọc sẽ thấy Santiago rất nhiều lần bộc lộ mình qua những đối thoại. Trong cuộc chiến với con cá, ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo, bàn tay khỏi bị chuột rút, cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức. Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao.Bọn mày ch¬ưa bao giờ bại trận.Lần này ta sẽ lật đ¬ược nó”. Kết quả, nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề, ông lão đã giết được con cá kiếm. Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó.

    1. “Mày đang giết tao, cá à”

    Trong văn bản được chọn dạy, người đọc chỉ tiếp xúc với hai nhân vật, ông lão và cá kiếm. Cá kiếm là đối tượng ông lão cần chinh phục để duy trì sự sống vật chất (lão từng nhẩm tính số lượng thịt của cá kiếm có thể nuôi sống một người trong cả mùa đông), đồng thời cũng để khẳng định giá trị tinh thần, vì với lão và với dân làng chài ấy, một khi ngư dân không bắt được cá nữa thì người ấy được xem như đã chết. Cái chết về phương diện tinh thần.

    Trong cuộc chinh phục cá kiếm, ông lão cảm nhận được vẻ oai hùng, sòng phẳng, cao thượng,… của con cá nên cảm phục nó, xem nó là bạn, gọi nó là “người anh em”: “Mày

    đang giết tao, cá à, ông lão nghĩ. Nh¬ưng mày có quyền làm như¬ thế. Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, ng¬ười anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”. Khoảng cách của người chinh phục và kẻ bị chinh phục đã được rút đến điểm không. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm lúc này không đơn thuần là quan hệ triệt tiêu một chiều mà là mối quan hệ đa diện phức tạp.

    Ngợi ca con cá và hành động trung thực, sòng phẳng của nó trong cuộc đối đầu với mình, Santiago gợi cho người đọc ẩn ý thầm kín mà tác giả gửi gắm rằng trên đất liền ông lão không còn ai tri âm tri kỉ nữa, cuộc sống loài người đã bị đảo điên ghê gớm các chân giá trị. Santiago không thể và không còn thuộc về thế giới ấy.Sự thẳng thắn, cao thượng của ông

    lão chỉ có thể tìm được sự tri âm ở chốn biển khơi. Con cá là bạn lão, cũng như đại dương bao la mới đích thực là ngôi nhà thân thiết của con người cô độc Santiago. Giống như mọi nhân vật mã khác của mình, Hemingway kiến tạo một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên cho nhân vật. Chỉ quay về với thiên nhiên, nhân vật Hemingway mới tìm được sự lắng dịu tâm hồn, sự đồng cảm.Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm thể hiện rõ điều này.

    Tuy nhiên, không phải lúc nào mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên cũng suôn sẻ như nhan đề chỉ ra (Ông già và biển cả) mà thường xuyên là phức tạp.Mục tiêu của ông lão là giết chết con cá để tìm nguồn sống, nhưng ngay tức khắc ông lão ý thức được rằng con cá là hiện thân của cái đẹp.Lão giết nó đồng nghĩa với việc giết chết cái đẹp.Nhưng lão không thể không giết chết nó. Đây chính là bi kịch muôn thuở của con người.

    1. Lão cố thêm lần nữa

    Để vượt qua con cá và qua những phức cảm trong tâm hồn, ông lão chỉ còn cách “cố thêm lần nữa”.“Cố gắng” chính là nền tảng thành công của ông lão. Văn bản thường xuyên lặp lại mệnh đề này bằng ngôn ngữ của người kể và ngôn ngữ của chính Santiago:

    – Mình sẽ cố thêm lần nữa.

    – Lão cố thêm lần nữa.

    – Mình sẽ lại cố thêm.

    – Lão lại cố và mọi chuyện vẫn như cũ.

    – Mình sẽ lại cố thêm một lần nữa…

    Cứ một lần cố, ông lão đến gần hơn với chiến thắng.Sau một lần cố, con cá thêm một lần thất thế trước lão. Sự thành công của lão và sự thành công của con người nói chung phải chăng là nhờ những nỗ lực không ngừng trong cuộc đời?

    Trong chiến thắng của ông lão, không chỉ có mỗi sự nỗ lực vượt qua những đau đớn thể xác và tinh thần, mà còn có cả quá khứ và tất cả mọi thứ tốt và xấu trong chính con người lão:

    “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu, lão mang ra đ¬ương đầu với cơn hấp hối của con cá và con cá tiến gần mạn thuyền, từ từ bơi nghiêng, mõm nó gần như¬ chạm vào ván thuyền và sắp sửa vượt qua, dài, sâu, rộng, ánh bạc, vằn tía và bất tận trong dòng n¬ước”. Đớn đau, tàn lực và lòng kiêu hãnh của quá khứ được đặt liền kề. Sức mạnh của Santiago không phải là sức mạnh của người sung sức mà là sức mạnh của tổng thể những gì đã suy thoái. Thế mà lão vẫn chiến thắng con cá. Đấy chính là giá trị tiềm tàng mà chỉ con người mới có được trên hành trình khẳng định sự sống.

    1. “Con cá là vận may của ta”

     

    Trên đây chúng tôi đã đề cập đến việc con cá là giá trị vật chất và tinh thần của ông lão. Bên cạnh đó, nó còn là vận may của Santiago. Điều này được chính ông lão thừa nhận. Thì ra ngoài nỗ lực của bản thân, thành quả chiến thắng của ông lão còn nhờ vào sự rủi may của số mệnh.

    Rất nhiều lần trong tác phẩm, ông lão xem việc không bắt được cá trong suốt 84 lần ra khơi là do vận rủi. Không chấp nhận điều đó, lão vẫn nuôi hi vọng sẽ bắt được cá lớn. Cuối cùng lão toại nguyện khi câu được con cá khổng lồ. Nhưng con cá kéo lão ra khơi xa. Lão trở thành “con mồi” của con cá. Một sự hoán vị lạ lùng. Ông lão lại trở nên bị động trước con cá. Xem ra khát vọng càng lớn, con người càng bị nô lệ vào đó và rất dễ đánh mất đi sự tự do, tự chủ của chính bản thân mình. Trong trường hợp này, vận may lại trở thành vận rủi. Khi giết được con cá, vận may lại trở về với ông lão. Chỉ có điều, chẳng bao lâu vận may ấy lại chuyển sang vận rủi.

    Cơ sự cũng bắt đầu bằng một hành động trái khoáy. Khi Santiago đâm chết con cá, nghỉ ngơi lại sức và tự nhủ: “Bây giờ phải kéo nó vào, buộc chặt và tròng một chiếc thòng lọng vào giữa thân và một chiếc nữa vào đuôi để buộc nó vào thuyền”. Rồi lão gọi: “Đến đây, cá. Nh¬ưng con cá không nhúc nhích. Thay vào đó, lúc này nó nằm ¬ườn mình trên biển và ông lão phải lôi con thuyền lại chỗ nó”.Một lần nữa, ông lão lại mất thế chủ động trước con cá, ngay cả khi nó đã chết.Điều này lại báo hiệu vận rủi và không lâu sau đàn cá mập đánh hơi được mùi máu cá đã xông tới tấn công.Cuối cùng khi đưa được thuyền về bến, Santiago chỉ còn lại bộ xương cá khổng lồ.

    Có thể nói hành trình câu cá của ông lão là ẩn dụ cho hành trình rủi may của kiếp người. Trong đời rủi may luôn cận kề, không dễ gì nắm bắt và có thể hiểu hết. Hemingway khắc hoạ hình tượng nhân vật đầy ý chí, nghị lực, tài năng để vượt qua những rủi may ấy. Hành trình sống của họ hết đi từ điều may rủi này sang điều may rủi khác. Mọi phấn đấu của họ rốt cuộc sẽ cũng không thoát khỏi cái vòng rủi may kia. Và cuối cùng là cái chết – hư vô.Dẫu thế, nhân vật của Hemingway không bao giờ chịu khuất phục. Họ sống để khẳng định

    một điều, ngay cả lúc tả tơi nhất của số phận, con người vẫn luôn biết ngẩng cao đầu, kiên trì chịu đựng (chịu đựng như một con người), biết chiến đấu để vượt qua. Và đây là ý nghĩa sống tích cực nhất cho mọi lẽ sống: “con người có thể bị huỷ diệt chứ không chịu khuất phục” trước mọi thế lực bạo tàn./.

    BÀI MẪU SỐ 4:

    Ơ-nít Hê-minh-uê (1899 – 1961) sỉnh tại bang l-li-noi nước Mĩ, trong một gia đình trí thức. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất ở chiến trường l-ta-li-a với tư cách phóng viên mặt trận. Sau đó, ông sang Pháp vừa làm báo vừa bắt đầu sáng tác.

    Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất nước Mĩ thế kỉ XX. ông là người khai sinh ra nguyên lí sáng tác: coi tác phẩm nghệ thuật như một tảng băng trôi, người đọc tự khám phá phần chìm để thấy được ý nghĩa và giá trị đích thực của tác phẩm, ông vinh dự được nhận Giải Pu-lit-dơ (1953) – giải thưởng văn chương cao quý nhất của Hoa Kì và Giải thưởng Nô-ben về văn học (1954). Hê-minh-uê đã để lại một khối lượng tác phẩm đổ sộ gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, hồi kí, ghi chép… Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu-ba, Hê-minh-uê cho ra đời tác phẩm Ông già và biển cả. Đây là cuốn tiểu thuyết tuy chỉ có tầm cỡ của một truyện vừa nhưng lại là tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hê-minh-uê bởi nó đã chứa dựng thông điệp quan trọng được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn : Con người được sinh ra không phải để dành cho thất bại. Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại.

    Bối cảnh của truyện là ngôi làng chài yên ả gần bến cảng La-ha-ba-na. Nhân vật chính là ông lão ngư phủ Xan-ti-a-gô với mơ ước cháy bỏng là sẽ đánh bắt được một con cá lớn nhất trong đời. Một mình trên con thuyền nhỏ bé ra khơi, ông lão quyết lập chiến công. Trải qua nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đầy vất vả, hiểm nguy, cuối cùng ông lão đã đánh bắt dược một con cá kiếm khổng lồ, buộc nó cặp mạn thuyền rồi dong vào bờ. Nhưng con cá kiếm đã bị đàn cá mập tấn công, ông lão dùng hết sức lực để chống chọi với lũ cá mập hung dữ. Khi đuổi được lũ cá mập ra xa thì con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương, ông lão buồn bã trở về túp lều của mình, nhưng trong lòng ông vẫn chưa tắt những ước mơ tốt đẹp.

    Thông qua hình ảnh ông lão Xan-ti-a-gô đơn độc, quật cường đã chiến thắng con cá kiếm khổng lồ bằng ý chí phi thường và kĩ năng nghề nghiệp điêu luyện, Hê-minh-uê ca ngợi phẩm chất đáng quý của con người lao động.

    Ông già và biển cả được đánh giá là bài ca ca ngợi con người. Đây là tác phẩm hay nhất, nhiều ý nghĩa nhất, vì thế nôn đọc bất cứ đoạn nào chúng ta cũng thấy sự thể hiện sinh động của nguyên lí tảng băng trôi trong sảng tác của Hô-minh-uê.

    Bố cục đoạn trích gồm hai phần:

    Phần 1 : Từ đầu đến… Con cá trắng bạc, thẳng đơ và bồng bềnh theo sóng : Miêu tả cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô.

    Phần 2 : Còn lại : Miêu tả hành trình trở về của ông lão.

    Đoạn trích kể về việc sau khi con cá kiếm mắc câu, ông lão Xan-ti-a-gô đã vật lộn với nó gần hai ngày đêm, sức lực cạn kiệt nhưng ông lão vẫn quyết tâm giết bằng được nó. Cuộc chiến để thu hồi thành quả lao động của ông lão Xan-ti-a-gô quả là vất vả và khó nhọc.

    Nhà văn miêu tả con cá kiếm như một “nhân vật đặc biệt” với những nét khác thường.Ở đầu đoạn trích, con cá chưa xuất hiện ngay mà chỉ tạo ấn tượng bằng những vòng lượn tròn rất lớn.Nhà văn có dụng ý để ông lão cảm nhận gián tiếp về con cá qua những vòng lượn của nó.Từ lúc mắc câu, con cá kiếm không nổi lên mặt nước mà cứ kéo sợi dây câu bơi ra xa.Sau đêm thứ hai, khi đã kéo chiếc thuyền của ông lão đi khắp các hướng thì con cá bắt đầu lượn vòng. Những vòng lượn gợi lên từng thời điểm và mức độ căng thẳng của cuộc đấu sức giữa ông lão và con cá kiếm. Lần thứ nhất, con cá còn khỏe nên nó lượn một vòng tròn rất lớn.Hai giờ sau, các vòng tròn hẹp hơn. Đến lần thứ hai, sau khi quật mạnh sợi dây vài lần, con cá không quật dây đáy nữa mà bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm, tức là nó đã dần dần đuối sức. Hai lần đầu, ông lão phán đoán độ lớn của con cá nhờ cảm giác từ đôi tay đang níu giữ sợi dây. Những vòng lượn tiếp theo, con cá đã nhô mình lên khỏi mặt nước và ông lão lần đầu tiên thấy con cá.

    Xảy ra đồng thời với những vòng lượn để thoát khỏi lưỡi câu của con cá kiếm là hành động dùng hết sức níu sợi dây để kéo con cá vào gần thuyền của ông lão. Cứ mỗi lần con cá lượn vòng là mỗi lần ông lão phải gắng sức, đến nỗi cảm thấy choáng váng. Sau mỗi lần như thế, ông lão lại tự nhủ : Hãy cố lên chút nữa, hãy giữ đầu óc tỉnh táo! Những chi tiết này cứ lặp đi lặp tại cho đến khi ông lão phóng ngọn lao vào trúng tim con cá.

    Kiểu kết cấu trên nhằm đặc tả sức mạnh và sự khôn ngoan của con cá kiếm và cho thấy mức độ gay go, quyết liệt của cuộc chiến giữa ông lão Xan-ti-a-gô với con cá kiếm. Vòng lượn của con cá càng nhiều và thay đổi liên tục chứng tỏ nó khôn ngoan, dũng cảm, kiên cường chống đỡ không kém gì đối thủ. Con cá cố gắng thoát khỏi sự níu kéo quyết liệt của lão ngư phủ. Cả hai bên đều đã kiệt sức nhưng đều cố giành phần thắng về mình.

    Sự lặp lại những vòng lượn của con cá kiếm còn gợi lên hình ảnh một ngư phủ từng trải và lành nghề. Chỉ bằng mắt nhìn và cảm giác đau đớn nơi bàn tay, ông lão đã ước lượng được độ lớn của con cá qua những vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần. Xan-ti-a-gô đã khéo léo điểu khiển sợi dây vì nếu để chùng dây thì không thể kéo con cá lại gần, còn nếu căng dây quá thì con cá sẽ nhảy vọt lên, có thể làm tuột lưỡi câu. Lúc đầu, ông lão thu ngắn dây để con cá không thể quay vòng : Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng.

    Diễn biến cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô được tác giả miêu tả như một trận chiến đấu thực sự. Suốt hai giờ đồng hổ, ông lão mệt nhoài, người đẫm mồ hôi vì cứ phải ra sức kéo sợi dây để cho con cá khỏi quay vòng. Sức lực của ông lão suy kiệt nhanh chóng, ông lão thấy hoa mắt…, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt

    phía trên mắt và trán. Ông lão tự nhủ : Chúa sẽ giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ. Nhưng lúc này thì ta chưa thể đọc.

    Đến vòng lượn thứ ba, khi đã thấm mệt, con cá không quật dây nữa và bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm… Rồi ông lão nhìn thấy : Cài đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm. Nó lại lặn xuống và khi con cá hãy còn mấp mé mặt nước, ông lão có thể nhìn thấy thân hình đồ sộ và những sọc tỉa trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng.

    Ông lão phân tích tình hình, tìm mọi cách kéo con cá lại gần thuyền và tự động viên : Hãy bình, tĩnh và giữ sức, lão già ạ. Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Hãy tỉnh táo vì tao, đầu à… Nhưng đó cũng là lúc sức cùng lực kiệt : Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, hoặc nếu có thì cũng bằng giọng thì thảo, yếu ớt.

    Khi ông lão chuẩn bị phóng mũi lao vào con cá, như trêu ngươi, nó rướn thẳng mình, lại chầm chậm bơi xa, cái đuôi đồ sộ lắc lư trong không trung. Thời điểm quyết định đã tới: ông lão nhấc cao ngọn lao hết mức, vận hết sức bình sinh… phóng xuống sườn con cá ngay sau cái vây ngực đồ sộ, vươn cao trong không trung ngang ngực ông lão… Con cá phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền. Thoáng chốc nó rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền.

    Cách kể chuyện và miêu tả hấp dẫn của tác giả giúp người đọc hình dung ra diễn biến trận đánh càng về sau càng gay go, căng thẳng. Sức lực của ông lão cứ yếu dần đi theo từng vòng lượn của con cá kiếm.

    Trong tình huống đơn độc và gay cấn, ông lão biết rằng tốt hơn cả là tự cứu mình. Vì thế nên ông lão củng cố tinh thần và sức chịu đựng để tồn tại và chiến thắng, luôn luôn tự nhủ : Hãy giữ cho đầu óc tĩnh táo và biết cách chịu đựng như một con người.

    • chí, nghị lực của ông lão Xan-ti-a-gô còn thể hiện ở quyết tâm bắt bằng được con cá. Sức lực cạn kiệt nhưng lão vẫn cố gượng dậy để tiếp tục chiến đấu : Lão cảm thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, lão cảm thấy choáng váng, đau đớn…

    Ông lão phán đoán, phân tích tình thế rồi đưa ra giải pháp hành động hợp lí, chính xác, đồng thời kiên trì chịu đựng và tin rằng mình sẽ giết được con cá: Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó… Tao sẽ tóm mày ở đường lượn… Ta đã di chuyển được nó.

    Sức mạnh mà Tạo hóa ban tặng cho con cá kiếm là để nó chiến đấu giành lại sự sống từ bàn tay con người. Sức lực của ông lão Xan-ti-a-gô là sức lực của con người. Ý chí, trí tuệ và kinh nghiệm đã giúp lão khắc phục hoàn cảnh, tuổi tác để cuối cùng giành được chiến thắng, ông lão thú vị rút ra bài học: Ta chỉ thạo hơn cu cậu ở mỗi cái trò mánh lới.

    Thái độ đối với con cá kiếm phản ánh diễn biến phức tạp trong tâm trạng ông lão lúc này. Ông lão vừa yêu quý, khâm phục con cá vừa quyết tâm phải hạ gục nó. Lão thân mật gọi nó

    là người anh em và chân thành bày tỏ : Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ.

    Nguyên do là vì Xan-ti-a-gô suốt đời làm nghề đánh cá mà đã lâu không bắt được con cá nào, có nghĩa là ông lão không còn tồn tại với tư cách của một ngư phủ. Ông lão đặt ra cho mình nhiệm vụ là bằng mọi giá phải bắt được con cá kiếm. Trong cuộc săn đuổi đó, con cá kiếm đã bộc lộ phẩm chất cao quý như một con người chân chính. Nó không lồng lên làm đắm thuyền, không lặn sâu xuống bứt đứt dây câu mà chấp nhận cuộc đấu tay đôi một cách sòng phẳng. Nó mải miết kéo chiếc thuyền của ông lão ra khơi xa. Những lời trò chuyện với con cá kiếm và độc thoại nội tâm cho thấy ông lão có cảm nhận rất khác lạ về con cá mà mình đang săn đuổi. Con cá kiếm khổng lồ vừa là đối tượng chinh phục vừa là bằng hữu của ông lão. Điều đó cho thấy hành trình tìm kiếm ước mơ của con người là vô cùng vất vả và hành trình thực hiện ước mơ lại càng gian nan hơn, đòi hỏi con người phải tập trung trí lực cao độ.

    Hình ảnh con cá kiếm ở phần nổi là thành quả của nhiều ngày lao động vất vả trên biển của ông lão Xan-ti-a-gô. Ở phần chìm, nó tượng trưng cho ước mơ, khát vọng lớn lao của con người, là vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên. Trong quan hệ với con người, thiên nhiên vừa là bạn bè vừa là đối thủ.

    Hình ảnh con cá kiếm khổng lồ trong tác phẩm được tác giả miêu tả từ xa tới gần, từ bộ phận tới toàn thể thông qua cảm nhận từ gián tiếp đến trực tiếp của ông lão Xan-ti-a-gô. Lúc đầu, ông lão chỉ thấy cái bóng đen dài vượt qua dưới con thuyền và cảm nhận rằng nó dài đến mức không thể tin nổi. Sau đó, ông lão nhìn thấy cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm.Sau vòng lượn thứ ba, ông lão đã ngạc nhiên đến bàng hoàng khi nhìn thấy tận mắt hình dáng tuyệt đẹp và độ lớn chưa từng có của con cá kiếm.

    Con cá kiếm có một vẻ đẹp kiêu hùng, kì vĩ. Lúc bị ngọn lao của ông lão phóng trúng tim, con cá kiếm vẫn đẹp một vẻ đẹp tuyệt vời: Khi ấy con cá mang cái chết trong mình, sực tỉnh, phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền.

    Sau khi ông lão đã buộc nó cặp mạn thuyền để đưa vào bờ thì: Da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tía nhạt như đuôi nó. Những đường sọc ấy lớn hơn cả bàn tay người xòe rộng còn mắt nó trông dửng dưng như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như vị thánh trong đám rước. Vẻ đẹp sống động không còn nữa mà thay vào đó là sắc màu nhợt nhạt của một sinh vật đã bị tước đoạt sự sống.

    Sự khác biệt đó hàm chứa một ý nghĩa sâu xa: Con cá kiếm không chỉ là một con cá do ông lão săn được mà là hình ảnh của ước mơ, lí tưởng mỗi con người theo đuổi trong suốt cuộc đời. Sự khác biệt đó còn gợi cho người đọc suy nghĩ: Phải chăng đó là khoảng cách xa vời

    giữa ước mơ và hiện thực. Khi ước mơ đã trong tầm tay hoặc đã trở thành hiện thực thì nó không còn giữ được vẻ đẹp đẽ, huy hoàng như trước nữa.

    Hình ảnh con cá kiếm còn tượng trưng cho khát vọng nghệ thuật và quá trình sáng tạo của nhà văn. Sự xuất hiện lần đầu của con cá kiếm ám chỉ cơ hội cho nhà văn khám phá cuộc sống. Hành trình theo đuổi con cá của ông lão Xan-ti-a-gô cũng là hành trình lao động nghệ thuật của nhà văn. Con cá kiếm vừa xuất hiện cũng giống như tác phẩm mới hình thành ở ý đồ sáng tác, nhà văn chỉ mới cảm nhận được ý nghĩa tiềm ẩn của nó. Đến khi tác phẩm đã hoàn thành thì nó phô ra vẻ đẹp để mọi người có thể nhìn thấy, cũng giống như con cá kiếm lúc phóng vút lên khỏi mặt nước.Đến khi đã có đời sống riêng thì chính tác phẩm đưa tác giả đến bến bờ vinh quang.Con cá kiếm là đối tượng để ông lão chinh phục và chiến thắng, là người anh em để lão so tài và thử sức, là mục đích, lí tưởng mà ông lão hướng đến.Như vậy, khuất phục được đối thủ vừa thể hiện trí tuệ và lòng dũng cảm, niềm kiêu hãnh của con người và là cơ sở để giúp con người đánh giá khả năng chinh phục thiên nhiên.

    Đoạn trích trên tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Hê-minh-uê : ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lối kể chuyện thông qua việc sử dụng đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật cùng với những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng. Sự lặp đi, lặp lại những chi tiết theo kiểu kết cấu vòng tròn xoắn trôn ốc giúp người đọc có thể bóc dần từng lớp vỏ ngôn ngữ để khám phá ra

    • nghĩa và giá trị thực sự của tác phẩm. Đoạn trích còn cho thấy khả năng quan sát nhạy bén và trí tưởng tượng phong phú của Hê-minh-uê – nhà văn bậc thầy về tiểu thuyết.

    Tác phẩm Ông già và biển cả cũng thể hiện tình cảm yêu mến, khâm phục của nhà văn đối với những con người lao động nghèo khổ. Tác giả muốn chuyển đến người đọc một thông điệp quan trọng : Trong cuộc đấu tranh vật lộn mưu sinh hay để lập chiến công, con người có thể chấp nhận cái chết, nhưng không bao giờ chấp nhận lùi bước. Câu chuyện về ông lão đánh cá già nua, đơn độc nhưng vô cùng dũng cảm đã cổ vũ biết bao người trên thế giới dám dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh vì hạnh phúc của nhân loại

    BÀI MẪU SỐ 5:

    Nhà văn Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất thế kỉ XX của nước Mỹ. Ông để lại cho thế hệ sau nhiều tiểu thuyết có giá trị triết lí cuộc sống trong đó nổi bật nhất là tác phẩm ông già và biển cả cũng là tác phẩm góp phần đưa tên tuổi của ông đến với mọi người.

    Ông chính là người đã đề xướng cho lối viết tiết kiệm lời nhưng lại có rất nhiều ý nghĩa của nguyên lý tảng băng trôi. Theo Hê-minh-uê thì tác phẩm viết theo nguyên lý tảng băng trôi chỉ có ba phần nổi với bảy phần chìm.

    Với lối viết theo phong cách này thì đòi hỏi người đọc phải có một cái nhìn sâu sắc và phải chiêm nghiệm suy nghĩ mới có thể hiểu hết được những cái hay của nó.Nhà văn không nói ra một cách trực tiếp những ý tưởng của mình mà xây dựng rất nhiều gợi ý thông qua những hình tượng.

    Tác phẩm ông già và biển cả nhân vật chính là ông lão Xantiago một người đánh cá Cuba. Ông đã 74 tuổi và trong suốt 84 ngày liền ông không hề câu được bất cứ một con cá nào dù to hay là nhỏ.

    Chính vì điều đó nên thậm chí bố mẹ của Manolin cũng không cho phép cậu bé cùng câu chung với ông nữa, có thể nói rằng người ta nghĩ ông chính là vận xui. Một hôm với ý chí không chịu khuất phục của mình Xantiago quyết định một mình đi ra khơi để đánh cá. Và rồi câu chuyện bắt đầu với những hình tượng ý nghĩa từ đây mà Hê-minh-uê thể hiện.

    Ông lão xantiago đi đến trưa và thả tất cả bốn cần câu rồi đợi đến trưa thì có một con cá kiếm bị cắn câu, con cá to đến mức ông lão cảm thấy xứng đáng với tài nghệ củ bản thân. Vì thế ông cho rằng mình nhất định phải bắt được con cá này vào bờ để cho những người khinh thường ông không thể nói được gì nữa.

    Con cá hiện lên với một hình tượng vô cùng đẹp và ấn tượng, đó là một con cá to thể hiện qua những vòng lượn rất lớn.Không chỉ thế ông lão còn trông thấy nó qua một bóng đen vượt dài ở phía dưới thuyền của mình.

    Ông không thể tin vào mắt mình và tin vào độ dài của nó với “Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm”và “ Thân hình đồ sộ và những dọc dài màu tía” cùng “bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”

    Ngay ở khi đó, con cá đã kéo con thuyền của ông lão trong suốt hai ngày đêm ở ngoài khơi xa. Hình ảnh một con người cô độc , đi ra khơi chỉ với một chai nước với quyết tâm không gì có thể thay đổi về việc quyết tâm bắt một con cá xứng đáng với tài nghệ của bản thân mình.

    Lúc này đây đã được đặt vào thử thách và tự hỏi ông lão có thành công không? Cuộc chiến giữa ông lão và con cá kiếm được bắt đầu từ đó, là một cuộc chiến không hề cân sức.

    Con cá làm cho Xantiago trở nên chóng mặt, những vòng lượn lờ ấy như là thể hiện sự cố gắng để thoát khỏi sự bủa vây của những người ngư phủ “Nó dường như treo lơ lửng trên không trung…rơi sầm xuống nước bắn tung trùm lên cả ông lão và chiếc thuyền”.

    Qua đây ta có thể thấy được những ý đồ nghệ thuật của nhà văn muốn gửi gắm tới độc giả thông qua hình tượng hình ảnh con cá kiếm, đó là hình tượng văn học mang tính người và toát lê được sự kiêu hãnh, anh dũng và bất khuất có thể vượt lên trên mọi khó khăn của cuộc sống.

    Không chỉ thế, cá kình còn là biểu tượng cho sự kì vĩ của thiên nhiên anh hùng đẹp đẽ, đồng thời nó là biểu tượng đặc trưng cho những ước mơ khát vọng của những con người.

    Về phía ông lão, ông cảm thấy vui khi cá cắn câu nhưng ông cũng biết muốn đưa nó về thì buộc ông phải chiến đấu với nó, đây chính là một cuộc chiến không cân sức và ông lão lại ở phía yếu.Nhưng ông lão không hề sợ hãi và khuất phục mà ngược lại kiên quyết bắt được nó về.

    Hành động dứt khoát và nhanh chóng của ông khi phóng lao đâm trúng vào tim của con cá, một cuộc chiến không cân sức và tuy nằm ở thế yếu nhưng chiến thắng đã thuộc về bên ông lão, cuối cùng ông cũng đã thu phục được nó.

    Một kết cục thương tâm khi ông bắt được con cá vì khi ông thu phục được nó thì cũng là lúc bọn cá mập đến và rỉa hết thịt, vào bờ con cá cũng chỉ còn lại là một bộ xương.

    Điều đó cũng không quan trọng, ông đã chiến thắng trong trận đấu không cân sức, chính điều này mới là điều mà nhà văn muốn gửi gắm những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của mình.

    Qua tác phẩm ta có thể thấy được phần nổi và phần chìm của tác phẩm, phần nổi chính là hành trình chinh phục con cá kiếm của ông lão còn phần chìm chính là sức mạnh và trí tuệ của con người, con cá với biểu tượng cho hình ảnh thiên nhiên kì vĩ có sức mạnh to lớn.

    Biển cả chính là khung cảnh kì vĩ là môi trường cho hoạt động sáng tạo của con người. Cuộc đi câu kia chính là những hành trình đi tìm cái đẹp và khả năng chinh phục thiên nhiên của con người. Nó còn là hành trình để theo đuổi những ước mơ và làm cho ước mơ thành hiện thực đồng thời cũng là hành trình để vượt qua mọi thử thách để tới với thành công.

    BÀI MẪU SỐ 6:

    Nhắc đến nguyên lí tảng băng trôi là chúng ta lại nhớ tới nhà văn nổi tiếng Hê minh uê. Có thể nói rằng ông là một nhà văn vĩ đại nhất nước Mỹ ở thế kì 20, ông đã để lại nhiều tiểu thuyết có giá trị viết về cuộc sống, trong đó nổi bật nhất là tác phẩm ông già và biển cả .

    Ông là một nhà văn đề xướng lối viết kiệm lời nhưng lại rất giàu ý nghĩa, được xem là nguyên lí tảng băng trôi. Theo ông thì một tác phẩm phải được viết theo nguyên lí tảng băng trôi, nguyên lí này đòi hỏi con người khi đọc phải biết chiêm nghiệm mới thấy được cái hay của nó. Nhà văn không trực tiếp không trực tiếp chỉ ra ý tưởng của mình mà ông xây dựng nhiều hình tượng có nhiều sức gợi, có những câu văn lại bỏ lững hoặc là để trống để cho mọi người tự chiêm nghiệm và suy nghĩ tự hiểu ra ẩn ý của tác phẩm.

    Về tác phẩm thì nhân vật chính là ông già Xantiago ,là một ông già đánh cá người Cu ba. Ông đã 74 tuổi và trong suốt 84 ngày liền lão không câu được bất cứ một con cá nào dù nhỏ hay to. Chính vì vậy bố mẹ của cậu bé Ma nô lin cấm không cho đi câu chung với lão nữa. Người ta cho rằng ông đã gặp phải vận xui.Với ý chí không chịu khuất phục mà ông đã quyết định ra khơi để đánh cá một mình và rồi câu chuyện được bắt đầu từ đây.

    Ông lão đi cho tới trưa ông thả bốn cần câu và đợi cho tới trưa thì có một con cá kiếm đã cắn câu, con cá ấy làm cho ông lão cảm thấy mình có tài nghệ. Chính vì thế mà ông lại quyết định phải bắt được nó vào bờ để cho người ta không nói gì nữa . Trong bài con cá hiện lên với một ấn tượng vô cùng đẹp đẽ đó chính là một con cá to với những vòng lượn tròn lớn. Không những vậy, ông còn thấy nó như một cái bóng đen vượt dài qua dưới thuyền và lão không hề tin độ dài của nó :”Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm”. “ Thân hình đồ sộ và những dọc dài màu tía”, “bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”.

    Qua những hình ảnh trên cho thấy được nhà văn đã dùng những từ ngữ hay gọn nhất để có thể miêu tả về con cá kiếm. Con cá ấy lớn đến nỗi làm cho ông lão cảm thấy đang buộc một con thuyền lớn hơn vào chiếc thuyền của mình . Ngay khi đó thì con cá đã kéo ông lão ròng rã suốt hai ngày ra khơi, trong suốt hai ngày này ông chỉ cô độc với chai nước và ông quyết tâm phải bắt cho được con cá để cho xứng đáng với tài nghệ của mình Và một cuộc chiến giữa ông già và con cá bắt đầu từ đó, một cuộc chiến không cân sức.

    Về phía con cá nó cũng tỏ ra ngoan cố và không chịu khuất phục dưới bàn tay của ông lão. Khi thấm mệt thì nó lại chậm rãi, có khi ông lão còn tưởng rằng bắt được nó nhưng nó lại bơi ra xa.

    Qua đây chúng ta thấy được ý đồ nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm qua hình tượng con cá kiếm,đó là một hình ảnh mang sự bất khuất không chịu nhún nhường trước gian khó của

    cuộc sống . Không những vậy con cá còn là biểu tượng của thiên nhiên, nó còn thể hiện cho ước mơ và khát vọng của con người.

    Về phía ông lão thì tỏ ra vui mừng khi thấy con cá nhưng ông biết là mình còn phải chiến đấu với nó nhiều để còn đi về. Đây là một cuộc chiến không cân sức, nó cũng rất mạnh,mạnh hơn cả lão thế những lão vẫn không chịu khuất phục mà vẫn kiên quyết để bắt được con cá về bằng được. Ông cảm nhận với những vòng luộn qua sợi dây, hành động nhất quyết của ông đã phóng lao trúng tim của con cá . Cuộc chiến tuy không cân sức nhưng cuối cùng ông đã thu phục được nó.

    Qua đây chúng ta đã thấy được sức mạnh và vẻ đẹp về hình tượng của ông lão. Đặc biệt là sự thắng lợi của con người trong quá trình chinh phục mọi thử thách.

    Thế nhưng cái thắng lợi của ông già lại không hề dừng lại ở đây, kết cục thật đáng thương tâm bởi ông bắt được nó huy hoàng như thế nhưng đến khi vào được đến bờ thì đàn cá mập cũng rỉa hết thịt rồi chỉ còn trơ trọi lại mỗi bộ xương không . Nhưng điều này không quan trọng , quan trọng là ông lão đã thắng nó . Đó chính là điều mà nhà văn muốn gửi gắm tới con người những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

    Qua bài này chúng ta thấy được ba chìm bảy nổi của tác phẩm .Phần nổi ở đây là hành trình chinh phục con cá của ông già còn phần chìm thì được biểu tượng bằng sức mạnh và trí tuệ của ông nói riêng và những người dân lao động nói chung. Con cá kiếm còn biểu tượng cho sức mạnh,cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Nó còn là hành trình theo đuổi những ước mơ và biến ước mơ đó trở thành hiện thực . Đồng thời nó còn là hành trình để vượt qua mọi khó khăn thử thách để vươn tới những thành công

    Như vậy qua đây ta thấy được nguyên lí tảng băng trôi của Hê Minh uê và tác phẩm ông già và biển cả. Qua tác phẩm chúng ta thấy được những phần chìm nổi của nó và cho chúng ta học tập được lối hành văn kiệm lời này của tác giả.

  • VĂN MẪU PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRÀNG TRONG VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRÀNG TRONG VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRÀNG TRONG VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THI


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRÀNG TRONG VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN

    VĂN MẪU LỚP 12: VỢ NHẶT – KIM LÂN

    PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG NHÂN VẬT TRÀNG TRONG VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN

    BÀI MẪU SỐ 1:

    1. Mở bài

    Kim Lân là nhà văn sớm nhập cuộc xã hội. Ông là tấm gương lớn về sự nỗ lực tự học. Do hoàn cảnh gia đình khó khắn Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học. Cuộc đời rộng lớn chính là trường đại học của ông. Đấy là cơ sở cho những trang viết vừa bề bộn chất sống, vừa rất đỗi tinh tế, tài hoa. Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân. Truyện ngắn này không chỉ hấp dẫn người đọc bởi tình huống truyện độc đáo, bất ngờ, mà còn ở chỗ nhà văn đã xây dựng thành công những nhân vật chính như anh cu Tràng để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng sâu sắc. Diễn biến tâm trạng của nhân vật cũng thể hiện giá trị nhân đạo và vẻ đẹp của tình người trong tác phẩm.

    1. Thân bài

     

    • Khái quát hoàn cảnh ra đời và hoàn cảnh sống của các nhân vật

    “Vợ nhặt” được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp năm 1945 với hai triệu người chết đói. ( Nhân dân Việt Nam cùng lúc bị áp bức, bóc lột bởi phát xít Nhật và thực dân Pháp. Ở miền Bắc, Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, trong khi đó thực dân Pháp ra sức vơ vét thóc gạo. Hậu quả là cuối năm 1945 dân ta rơi vào thảm cảnh bi cùng. Đó là nạn đói chưa từng có trong lịch sử.) Nhưng điều kì lạ là trong đói khát tăm tối ấy, cận kề bên miệng vực của cái chết, những người lao động Việt Nam không nghĩ đến cái chết mà luôn hướng về sự sống, ánh sáng, hạnh phúc, tương lai. Đó là chất người kì diệu, là khát vọng sống mạnh mẽ của con người Việt Nam đã khơi nguồn cảm hứng cho Kim Lân sáng tác nên thiên truyện ngắn đặc sắc này.

    2: Thân phận nhân vật Tràng

    Xuất thân: ngụ cư, lép vế

    Gia cảnh: nghèo khó, ngôi nhà rúm ró, chiếc áo nâu tàng

    Nghề nghiệp: kéo xe bò thuê

    Ngoại hình: đầu trọc lốc, mắt gà gà, thân hình to lớn, …

    Tính cách: dở tính,

    Lời văn:

    Tràng là một gã trai nghèo khổ, cái nghèo khổ đến tột cùng. Cái nghèo ấy hiện hữu trong “chiếc áo nâu tàng”, cái nhà Tràng thì “vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”, và Tràng chỉ là người kéo xe bò thuê. Đến cái tên cũng thể hiện sự thô kệch, nghèo khó: Tràng – một dụng cụ dùng trong nghề mộc. Ngòi bút của Kim Lân đã vô cùng sống động khi khắc họa bức chân dung của Tràng: ” hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạch ra”, bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vạp vạm, cái đầu thì trọc lốc … Dưới ngòi bút của Kim Lân Tràng hiện lên như một bức chân dung vẽ vội, một hình hài mà tạo hóa đẽo gọt, quá ư sơ sài, cẩu thả. Không chỉ xấu xí, nghèo khổ, ở tầng lớp cùng đinh mà Tràng còn là người dở tính, “hắn có tật vừa đi vừa nói”, “hắn lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ” thỉnh thoảng còn ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch.

    3: Diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng: 4 chặng

    – Chặng 1: “Chợn” (sợ). Nhưng rồi tặc lưỡi “chậc” (kệ)

    => Một sự táo bạo liều lĩnh, đánh cuộc với cái đói để đi đến hạnh phúc đời thường.

    – Chặng 2: Tự đắc, niềm vui, hồi hộp, nhưng vẫn sống và sống trong cảm giác nghi hoặc + Trên đường đưa vợ về nhà (tự đắc, niềm vui)

    + Khi vợ vào nhà (hồi hộp nhưng vẫn lấy lại được sự bình tĩnh cần thiết, nghi hoặc)

    – Chặng 3: Ý thức và hạnh phúc: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”….”Hắn xăm xăm chạy ra….căn nhà”

    + Phân tích từ “nên người” và “xăm xăm”

    => Hành động nhanh, mạnh, quyết định, thể hiện sự chủ động của Tràng.

    – Chặng 4: Dự cảm đổi đời

    + Phân tích câu cuối cùng và hình ảnh lá cờ.

    Lời văn:

    Tràng là một thân phận thấp hèn nhưng lại là một chú rể thực sự hạnh phúc. Trước tình huống “nhặt” vợ, tâm lý của Tràng diễn biến thành những chặng sau:

    Chặng một là Tràng đến với người vợ nhặt trong một quyết định vừa tầm vơ tầm phào, liều lĩnh, bởi ban đầu chủ tâm Tràng hò một câu cho đỡ nhọc:

    “Muốn ăn cơm trắng với giò này

    Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì!”

    Mọi sự mời mọc nhất nhất là đùa, về phía cô vợ nhặt, bàn đầu chủ yếu cũng là đùa. Tràng mới đầu cũng “chợn” nghĩa là sợ, nhưng rồi tặc lưỡi:”Chậc! kệ” – một quyết định có vẻ như

    đùa đối với sự kiện trọng đại của đời người. Song hoàn cảnh ấy, cái tặc lưỡi của Tràng là một sự táo bạo liều lĩnh. Tràng đã dám đánh cuộc với cái đói, cái nghèo để đi đến miền hạnh phúc của đời thường.

    Chặng hai của diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng là những cảm xúc tự đắc, hồi hộp xen lẫn niềm vui khi “nhặt” được vợ. Hạnh phúc tạo niềm vui lớn cho Tràng , nhà văn Kim Lân nhắc ta nhớ đến hình ảnh đôi mắt của Tràng lúc này sáng lên lấp lánh, nụ cười tủm tỉm. Đó là ánh mắt nụ cười của con người đang sống trong cảm giác hạnh phúc. Lần đầu tiên đi bên cạnh người đàn bà, Tràng lấy làm hãnh diện vô cùng, mốn nói một câu cho thật tình tứ nhưng chẳng biết nói thế nào thành ra những câu đối đáp với vợ trở nên cộc lốc, nhát gừng, rời rạc, bởi hạnh phúc đến với Tràng quá bất ngờ. Tràng đã sống trong cảm giác hạnh phúc: “mặt hắn có một vẻ gì phớn phở”. Kim Lân đã chọn được một từ chân quê nhưng rất chính xác “phớn phở” để diễn tả tâm trạng sung sướng, hồ hởi, hân hoan được biểu lộ ra ngoài gương mặt nhân vật. Khi chứng kiến hình ảnh những người dân ngụ cư tò mò quan sát sự xuất hiện của mình với người đàn bà lạ, Tràng lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh vênh tự đắc. Càng về gần nhà thì dường như chất men tình say sưa trong Tràng càng ngấm nhiều hơn và trở thành cái nghĩa tình hết sức thấm thía: “Trong một lúc, hình như Tràng quên hết những cảnh sống khổ cực ê trề…trong lòng hắn lúc đó chỉ còn lại cái nghĩ tình giữa hắn và người đàn bà đang đi bên cạnh. Có cái gì mới mẻ, lạ lắm “ở người đàn ông nghèo khổ này”. Cũng trên đường về nhà, hình tượng Tràng cũng được nhà văn Kim Lân khắc họa rất chân thực, người đàn ông ấy hình như cũng có cái nhìn bối rối khi thấy người dân xóm ngụ cư quan tâm. Nhưng có lẽ, cùng với niềm vui hạnh phúc, người ta bắt gặp ở Tràng một người đàn ông đã trưởng thành, chững trạc, điều đó bộc lộ ở cách ứng xử. Trước lời trên đừa của đám trẻ con Tràng đã mắng yêu: “Bố ranh”. Tràng khéo léo từ chối những lời chèo khéo mời mọc của những người dân xóm ngụ cư để đưa vợ về một cách khéo léo. Tràng khoe chai dầu mới mua bằng hai hào với lí do “vợ mới vợ miết cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ”. Lời nói giản dị nhưng chứa đựng trong đó bao nhiêu nhận thức, tình cảm của nhân vật: có được vợ một cách dễ dàng nhưng không vì thế mà Tràng coi thường vợ, ngược lại vẫn trân trọng hạnh phúc.

    Khi vào nhà, với người đàn ông, lấy vợ là một việc hệ trọng trong cuộc đời, quyết định tương lai hạnh phúc. Thông thường việc này phải được hai bên cha mệ cho phép. Nhưng việc lấy vợ của của Tràng hoàn toàn bất ngờ. Bởi vậy ban đầu Tràng cũng có tâm lý lo âu hồi hộp. Tràng bước ra sân, khi gặp mẹ, Tràng như một đứa trẻ, reo lên: “U đã về đấy!….sao u về muộn thế! Làm tôi đợi nóng cả ruột”. Nhưng sau thoáng lo âu hồi hộp ấy,

    Tràng lấy lại được sự bifh tĩnh cần thiết, giới thiệu vợ với mẹ bằng một câu ý nghĩa “kìa nhà tôi nó chào u”. Thấy mẹ vẫn chưa hiểu Tràng lại nói: “nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ…chẳng qua nó cũng là cái số cả…” Bằng câu nói ấy, Tràng đã xác định rõ ràng mối

    quan hệ của mình với người phụ nữ đẩy người nghe và bà cụ Tứ buộc phải chấp nhận. Không chỉ vậy câu nói còn lý giải mối quan hệ với vợ là duyên số – một cách lý giải của một người từng trải, chín chắn, chững chạc.

    Bên cạnh cảm giác tự đắc, phớn phở, hạnh phúc, Tràng vẫn còn tâm lý nghi hoặc, bàng hoàng. Nhìn cô vợ ngồi ngay giữa nhà mà Tràng vẫn không thể tin là vợ mình. “Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Chao ôi hạnh phúc giữa năm đói như một điều xa xỉ, cầm mắm ở trong tay mà vẫn không tin đó là sự thật.

    Những cảm xúc hồi hộp, lo lắng, hạnh phúc lẫn lộn Tràng dần chuyển sang ý thức được hạnh phúc bản thân. Con người mong hạnh phúc đến và hạnh phúc đến lượt nó có thể làm thay đổi con người. Trước hạnh phúc Tràng như lột xác, lần đầu tiên, anh ta run rấy sống trong một cảm giác rất người: “bỗng nhiên hắn thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Hắn đã có một gia đình: Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy…”Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”. Hai chữ “nên người” hạ xuống như một điểm nhấn xác nhận sự biến đổi về chất ở Tràng. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Cái gốc của sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Là căn cốt của nhân tính. Tràng phục sinh nhân tính nhờ vươn tới ý thức về gia đình.

    Song chi tiết đắt nhất của Kim Lân không phải ở đó mà có lẽ là ở câu văn này:” Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn là một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”. Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là hăm hở, háo hức trong bước chân của Tràng tìm đến hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng hơn đấy là dấu hiệu một bước ngoặt lớn ở Tràng. So với cái dáng “ngật ngưỡng” ở mở đầu tác phẩm, hành động xăm xăm này là một đột biến không chỉ

    • dáng đi mà còn là thay đổi cả số phận, tính cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ ngây dại sang ý thức. Nàng Kiều xưa từng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Gót chân đến với hạnh phúc của Kiều táo bạo thế mà cứ chênh vênh, đơn độc khiến cho người đọc lo lắng bởi chỉ có một mình giữa đêm trăng trung cổ. Còn cái “xăm xăm” của Tràng mới vững khỏe, tự tin làm sao, bởi Tràng có cả một gia đình. Và đó là cái xăm xăm của con người trong hạnh phúc.

    Khi ý thức được tương lai hạnh phúc của riêng mình, tâm trạng Tràng chuyển biến sang một dự cảm đội đời. Khi miếng cám đắng chát, ngậm ứ xuất hiện trong âm thanh tiếng trống thu thuế, dồn dập, tự là lúc cuộc sống đã bị đẩy đến miệng vưc của cái đói, cái chết thì cũng là lúc hình ảnh lá cờ đỏ hiện lên làm nên một câu rất quan trọng của tác phẩm. “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Lá cờ đỏ – hình tượng thoáng qua ấy khi được đặt vào đoạn kết mang bao sức nặng về tư tưởng và nghệ thuật cho thiên truyện. Nếu vắng chi tiết này tác phẩm sẽ xa lối kết cấu khép của văn học hiện thực phê phán. Sự có mặt của chi tiết nghệ thuật này khiến cho câu chuyện có một cái kết mở nhờ thế thiên truyện đã đóng lại. Nhưng số phận nhân vật vẫn tiếp tục được vận động theo hướng lạc quan, đi lên chứ không bế tắc như anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Nguyễn

    Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao…Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đã vẫy lên như một tín hiệu đổi đời, một tương lai tươi sáng.

    III. Kết bài

     

    Qua hình tượng nhân vật Tràng, Kim Lân còn khẳng định hiện thực cuộc sống có ngột ngạt, tăm tối đến đâu thì sự sống vẫn trỗi dậy, vươn lên mãnh liệt, con người vẫn cố gắng vật lộn với hoàn cảnh để khẳng định tư cách Người ngời sáng của mình. Xét cho cùng, hình tượng nhân vật Tràng đã giúp Kim Lân thể hiện được thành công một khúc ca chứa đựng niềm tin mãnh liệt của con người vào sự sống: “sự sống chẳng bao giờ chán nản” (Xuân Diệu), chính là biểu hiện giá trị nhân đạo mang những nét nhân văn cao cả và rất riêng của Kim Lân. Nó giúp người đọc nhận ra được nét đặc sắc riêng của tác phẩm khi đặt bên cạnh những sáng tác viết về người nông dân trước sự thử thách của cái nghèo, cái đói.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Trên cơ sở nắm vững tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân và nghệ thuật xây dựng nhân vật, thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được những nội dung cơ bản sau: – Những biểu hiện tâm trạng của Tràng: lo lắng, mừng vui, hạnh phúc… mong muốn được vun đắp cho tổ ấm gia đình. – Nghệ thuật thể hiện tâm trạng: chân thực, tinh tế. – Qua sự biến đổi tâm trạng của Tràng, thấy được vẻ đẹp tâm hồn, tính cách nhân vật (nhân hậu, khát khao hạnh phúc, lạc quan với niềm tin ở tương lai); tình cảm nhân đạo nhà văn dành cho những người nghèo khổ. Có thể bạn quan tâm: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ Nhặt Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân Bài làm Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê

    • lam lũ hồn hậu , chất phác mà giàu tình yêu thương . Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông . Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng , một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương , luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị , biết hướng tới tương lai tươi đẹp . Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật. Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng . Tràng được khắc hoạ nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945 . Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo , dở khóc , dở cười giữa Tràng và Thị , một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói . Kim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo : Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc , tình yêu thương , cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói . Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế : nhặt tức là

    nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ .Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa. Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật , đặc biệt là Tràng. Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi.. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Mặc dù người vợ được hắn nhặt về , nhưng Tràng không hề rẻ rúng , khinh miệt thị . Trái lại

    • Tràng vô cùng trân trọng , coi chuyện lấy thi là một điều nghiêm túc . Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói “ đến thân còn chẳng lo nổi , lại còn đèo bòng” . Tràng chậc lưỡi “ kệ” cái đói , mua cho thị cái thúng con , vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình . Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ . Buổi sáng hôm sau , Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra . Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng . Hắn thấy hắn nên người . Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ. Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc. Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phớichứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân , là tác phẩm giàu giá trị hiện thực , nhân đạo ; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ , ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người . Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng , một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương , niềm hi vọng , lạc quan qua cách dựng tình huống truyện

    và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.

  • VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THI

    VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THI

    VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THI

    VĂN MẪU LỚP 12

    CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THI

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông rất xứng đáng với danh hiệu “nhà văn của nhân dân Nam Bộ”. Bởi nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của ông là những người nông dân, những con người bản chất hồn nhiên, bộc trực, giàu lòng yêu nước, yêu cách mạng, sẵn sàng hi sinh vì quê hương, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Tác phẩm thể hiện điều ấy là truyện ngắn “những đứa con trong gia đình”.

    Truyện ngắn này là một trong những truyện ngắn xuất sắc được viết trong những ngày chiến đấu ác liệt chống đế quốc Mĩ khi nhà văn công tác ở tạp chí văn nghệ quân giải phóng (tháng 2/1966).Truyện ngắn trước hết có một nghệ thuật kể chuyện độc đáo. Truyện được kể theo ngôi thứ ba, người kể tự giấu mình. Truyện được kể lại dưới góc nhìn của nhân vật Việt trong hoàn cảnh bị trọng thương lạc đồng đội bà nằm lại giữa rừng. Chính vì được kể theo cách này mà câu chuyện trở nên đậm đà, mang màu sắc trữ tình, tạo điều kiện cho tác giả xâm nhập sâu để dẫn dắt câu truyện. Đặc sắc trong lối kể chuyện không chỉ dừng lại ở ngôi kể, mà còn ở diễn biến câu chuyện linh hoạt.Diễn biến truyện không bị phụ thuộc vào trật tự thời gian, không gian.Truyện biến đổi linh hoạt từ hiện thực chiến trường quay lại về quá khứ rồi từ sự việc này đến sự việc khác. Nhớ về những ngày cùng chú Năm bắt mấy con ếch về nhậu, rồi Việt lại nhớ về những ngày lấy ná bắn chim, hay rồi Việt lại nhớ má….

    Mỗi lần tỉnh Việt lại hồi tưởng đến những sự việc khác nhau.Qua mỗi lần hồi tưởng ấy, các tuyến nhân vật lại có dịp bộc lộ tính cách cũng như vẻ đẹp của riêng mình.

    Xung quanh câu truyện là một gia đình có truyền thống yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Từng thành viên trong gia đình đều là những con người gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu. Ông nội và bố Việt bị giặc giết hại. Mẹ Việt vừa phải vất vả nuôi con, vừa phải đương đầu với những đe dọa, hạch sách, cuối cùng cũng chết vì bom đạn. Truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình và những mất mát đau thương đều được chú Năm ghi chép vào một cuốn sổ gia đình.Chú Năm là người lớn tuổi nhất còn lại trong gia đình.Chú từng bôn ba khắp nơi, là người cưu mang mấy chị em Việt khi ba mẹ hi sinh.Chú rất đề cao truyền thống gia đình, mọi sự việc chú đều ghi lại trong cuốn sổ ấy. Một con người lao động chẩt phác như chú còn rất giàu tình cảm, có tâm hồn nghệ sĩ. Chú hay cất những câu hò, chú thích hò, câu hò “bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài,

    từng tiếng, vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”. Chú là người đã hết lòng góp sức cho chị em Việt – Chiến lên đường hành quân.

    Nhưng trong truyện, chú Năm không phải nhân vật trung tâm.Tuyến nhân vật quan trọng nhất là hai chị em Việt – Chiến. Với những nét tính cách chung của một gia đình truyền thống, Việt – Chiến đã thể hiện toàn bộ giá trị nội dung của tác phẩm. Đó là sức mạnh của sự đoàn kết, những tấm gương thi đua, những con người mang dòng máu nóng trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Hai nhân vật Việt – Chiến đặc trưng cho phong cách xây dựng nhâm vật của Nguyễn Thi. Đó là những con người sinh ra là để đánh giặc. Vẻ đẹp của Việt và Chiến đã soi sáng toàn bộ tác phẩm.

    Truyện không chỉ hấp dẫn người đọc ở giá trị nội dung mà còn ở giá trị nghệ thuật. Không chỉ với lối kể chuyện độc đáo, đặc sắc nghệ thuật còn thể hiện ở việc xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật.Từng hồi ức của nhân vật Việt đều được miêu tả một cách sống động. Không chỉ đơn thuần là kể lại, Nguyễn Thi còn cho người đọc thấy được từng cảm xúc, diễn biến tâm trạng của các nhân vật. Từ cảm giác tưởng tượng ra con ma thụt đầu đến hình ảnh của mà trong hồi ức Việt đều được miêu tả rất rõ. Cách xây dựng nhân vật cũng hết sức đặc biệt mamg màu sắc Nguyễn Thi. Đó là nhân vật đều phải có nét chung thống nhất. Như trong truyện ngắn này, điểm chung của các nhân vật là cùng xuất thân và mang trong mình một dòng máu truyền thống căm thù giặc. Và điều góp phầm khiến truyện ngắn gần gũi hơn với người đọc chính là sự vận dụng sáng tạo ngôn ngữ của người dân Nam Bộ trong miêu tả, khắc họa nhân vật. Ngôn ngữ ấy mộc mạc, giản dị, gần gũi, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận.

    Tóm lại, với những đặc sắc riêng gắn liền với đặc trưng của phong cách nghệ thuật Nguyễn Thi, “Những đứa con gia đình” là một tác phẩm xuất sắc. Không chỉ đơn thuần là câu chuyện được kể, mà nó còn như tấm gương phản chiếu trong cách mạng với những nhân vật tiêu biểu cho con người Việt Nam lúc bấy giờ: gan góc, kiên cường, dũng cảm, dám hi sinh.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

    Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt. Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, mẹ, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

    Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và mẹ, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và mẹ được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

    Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm.Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ

    và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu.

    Nét đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình.Cuốn sổ ghi đầy đủ những chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông.Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”.Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

    Mẹ của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng bà đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, bà là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

    Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha mẹ, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, mẹ bị trái cà nông quân thù sát hại. Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông.Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

    Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống mẹ, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em.Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn

    Việt.Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính.Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như mẹ, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

    Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ mẹ qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

    Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm.Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá.Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động. Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

    Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng.Đồng thời còn phát hiện sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo.

    BÀI MẪU SỐ 3:

     

    Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong kháng chiến chống mỹ. Ông được coi là nhà văn của nông dân Nam Bộ vì thế người trung tâm trở thành hình tượng trung tâm trong các sáng tác của ông. Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn đặc sắc nhất của ông. Với bút pháp hiện thực kết hợp với bút pháp lãng mạn Nguyễn Thi đã mang đến hiện thực chiến tranh và không khí đấu tranh kiên cường bất khuất sục sôi của nhân dân Nam Bộ lúc bấy giờ.

    Truyện được kể theo điểm nhìn của nhân vật Việt. Anh là một người chiến sĩ dũng cảm anh dũng đã bắn được một xe tăng bọc thép của địch. tuy nhiên anh bị thương cho nên phải nằm lại trong rừng. Trong những lần ngất đi tỉnh lại Việt nhớ về những kỉ niệm đã qua. Khi ấy anh còn là một đứa trẻ hay cả khi mười tám tuổi. Việt ngất đi tỉnh lại bốn lần, mỗi một lần tỉnh là một kỉ niệm trở về trong tâm trí anh.Trong đoạn trích này là lần tỉnh lại thứ tư của Việt.Anh nhớ về kỉ niệm gia đình, về những mất mát và những chiến công của gia đình anh.Đặc biệt là kỉ niệm hai chị em Chiến và Việt tranh nhau đi tòng quân xung lính.Có thể nói qua điểm nhìn của Việt chúng ta thấy được một cách rõ nét nhất cảm xúc và lòng yêu quê hương gia đình đất nước của những thanh niên miền Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Nói cách khác anh là đại diện cho toàn thế hệ trẻ miền Nam.Gia đình của anh đại diện cho những gia đình miền Nam yêu nước kiên cường.

    Trước hết về gia đình của Việt thì gia đình anh có truyền thống chống giặc ngoại xâm.Trong kháng chiến chống Mỹ gia đình Việt đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương và nước mắt.Đồng thời gia đình anh cũng lập nên những chiến công cho quê hương đất nước mình.Ba Việt làm du kích, ngày đêm chiến đấu chống bọn xâm lược.Thế nhưng trong một lần ba Việt bị địch bắt và ông đã bị chúng chặt đầu.Nỗi đau ấy làm sao có thể chịu được. Còn ông bà của Việt thì cũng phải chịu những dày vò đánh đập của bọn tay sai và quan phủ. Bấy nhiêu đau thương từng thành viên trong gia đình Việt khắc cốt ghi tâm. Không những thế má Việt tuy chỉ là một người phụ nữ chân yếu tay mềm cũng không chịu khuất phục trước sự tàn ác của bọn giặc.

    Bà mẹ miền Nam ấy dám đi thẳng đến chỗ chồng mình bị chặt đầu mà đòi xác chồng.Người mẹ ấy không chỉ đảm việc nhà mà còn lo được việc nước. Bà có con mắt nhìn bốn phía đôi chân thì tìm đường. Má Việt theo du kịch và cũng lập những chiến công lẫy lừng. Những thế hệ cha ông đi qua còn lại thế hệ trẻ là chị em Chiến và Việt. Những đứa con trong gia đình này lại vươn xa hơn cả bố mẹ mình. Ngay từ nhỏ hai chị em đã lập được chiến công bắn chết tên giăc trên sông Định Thủy và lớn lên hai chị em tiếp tục tòng quân. Biết bao nhiêu đau thương và chiến công đều được chú Năm người gìn giữ cuốn sổ gia đình ghi chép lại một cách cẩn thận để mai này nhắc nhở con cháu về mối thù cha ông. Nếu thể coi gia đình Việt là một con sông lớn thì khúc sông của chị em Chiến và Việt là khúc sông chảy xa

    nhất. Trong kháng chiến ác liệt ấy mọi con sông đều chảy về biển cả, con sông nhà Việt cũng vậy.

    Việt một anh chiến sĩ bị thương trong rừng, ban đầu Việt nhớ lại những kỉ niệm về má.Hình ảnh má hiện về với rất đỗi thân thương, má xoa đầu anh, má lấy xoong cơm xuống dưới xuồng cho Việt ăn.Má đánh thức Việt dậy.Kỉ niệm ấy cho thấy Việt đang rất nhớ má.Tuổi thơ gắn liền với sông nước của Việt khiến cho Việt thấy yêu và thương má vô cùng.

    Không những thế trong không gian bao la mệnh mông mà vô cùng vắng lặng ấy Việt bỗng thấy lòng mình trở nên bé lại. Việt nhớ đến anh Tánh, rồi muốn nũng nịu anh như thằng em út thường nũng nịu chị Chiến vậy. Bỗng nhiên Việt thấy cảm giác sợ khi hình ảnh con ma cụt đầu và thằng chỏng cụt lưỡi mà chị vẫn thường hay kể khi còn ở nhà. Đây chính là nét tươi vui mà hồn nhiên của chàng chiến sĩ trẻ tuổi.thế rồi anh nghe thấy đạn rơi bom nổ dữ dội. Việt ngẫm đây chắc chắn là súng của quân ta rồi. Anh vươn dậy đi về phía sự sống, phía của đồng đội anh đang chờ.

    Có thể nói trong hoàn cảnh cái chết cận kề và không gian mênh moogn rợn ngợp như thế Việt vẫn có thể bình tĩnh nghe theo tiếng goi của trái tim mình. Anh vẫn nằm đó không nhuc nhích được nhưng anh đang gắng gượng để đi về phía sự sống.

    Sau đó Việt kể hay chính là hồi tưởng về việc anh và chị Chiến tranh nhau đi lính. Chị Chiến là người chị gái có khuôn mặt và hình dáng rất giống mẹ.Chị luôn nhường nhịn Việt, cho Việt dành phần hơn trong các chiến công lập được.Còn Việt thì lại hồn nhiên vô tư không nghĩ ngợi. Chiến thương em cho nên không muốn việt sớm phải chịu cảnh gian nan của chiến trường. hai chị em không ai chịu nghe theo ai. Trong đêm tong quân đi lính, Việt giơ tay xin đi lính thì Chiến đứng lên ngăn lại. Có thể nói hai chị em cách nhau có một tuổi mà chị Chiến lại có những suy nghĩ chín chắn hơn Việt rất nhiều.Chú năm mừng khi thấy tinh thần chiến đấu của hai đứa cháu nên quyết định cho cả hai đứa đi cũng một lúc.Bố mẹ mất Chiến như người đứng đầu trong gia đình.Trước khi đi tòng quân đánh giặc, Chiến bàn với em về chuyện sắp xếp nhà cửa rằng nhà thì sẽ cho xã mượn để dạy học, ruộng vườn để lại cho chú Năm và mấy người nhà chăm sóc hộ.Số tiền bán được từ mấy ruộng mía thì để đó làm giỗ ba má.Đứa út thì gửi cho chú Năm trông. Bát đũa mang sang bên đó cho chị Hai muốn xuống lấy thì lấy. Những sắp xếp đâu ra đấy của một cô gái mười chín tuổi quả thật là quá chín chắn.Điều đó làm cho Việt nghĩ má dặn chị từ trước rồi. Hình ảnh đáng nhớ nhất là hình ảnh hai chị em khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm. Hành động đó thể hiện truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên của nhân dân ta.

    Và như thế hai chị em đi lính lập được nhiều thành tích cao nhất là Việt. Dòng hồi tưởng ấy kết thúc và khi đồng đội nhận ra anh chạy đến cứu may mà cất tiếng nói trước không thì đã bị ăn đạn của cậu Tư rồi. Điều đó cho thấy dù cận kề cái chết Việt hay chính là thế hệ thanh niên Nam Bộ vẫn ở trong trạng thái chiến đâu anh dũng.

    Đọc xong truyện ngắn này chúng ta thêm yêu thêm thương những con người ở phía cuối tổ quốc.Đồng thời hiểu thêm về sự ác liệt của chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam nước ta.Gia đình Việt đại diện cho những gia đình miền nam chống Mỹ khác.Biết bao nhiêu gia đình chịu thương đau mất mát như thế, cũng biết bao nhiêu gia đình đứng lên đấu tranh kiên

    cường.Nguyễn Thi như thấu hiểu hết nỗi lòng của người dân Nam Bộ và quả thật ông thật xứng đáng với danh hiệu nhà văn của người dân Nam Bộ.

  • VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGUYỄN THI


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    VĂN MẪU LỚP 12

    PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Hồ Chí Minh là một vĩ lãnh tụ thiên tài của đất nước Việt Nam, những tác phẩm của ông đều mang giá trị sâu sắc của một bài văn chính luận mẫu mực, bởi bác là người viết ra với tư cách là một người luôn ý thức được những bài văn của mình, giá trị của những bài văn bác viết mang đậm giá trị to lớn của những lời tố cáo đanh thép đối với kẻ thù, và bài Tuyên Ngôn độc lập là một bài mang đậm chuẩn mực giá trị trong phong cách viết của bác.

    Tuyên Ngôn độc lập là một bài văn chính luận mẫu mực khi bác luôn ý thức được trong bài là viết ra để cho dân tộc, đây là một bằng chứng thép để tố cáo tội ác của kẻ thù, những năm tháng kháng chiến gian khổ, giờ đây nhân dân Việt Nam đã được những giây phút tự do để có thể mang lại những khoảng không gian hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Đây là một vũ khí sắc bén để chúng ta đối phó với kẻ thù. Trong bầu không khí trang trọng của tiết trời mùa thu ngày mùng 2 tháng 9 bác đã độc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    Bài văn của Hồ Chí Minh mang đậm tính chất của một bài văn chính luận bởi vì những lý lẽ mà người viết ra rất xác thực, văn phong ngắn gọn và mang đậm giá trị về sự sống và các tính chất cho mỗi con người, mỗi chúng ta đều có thể thấy điều đó qua cách dẫn dắt và nó ăn sâu vào trong tâm trí của mỗi người Việt Nam.

    Trong bài bác xác định rõ đối tượng viết của mình là đồng bào dân tộc, mở đầu bài văn này, bác đã dùng những từ mang đậm tính chất rằng đối tượng ở đây chắc chắn phải là nhân dân: Hỡi đồng bào cả nước, mục đích của bản tuyên ngôn này là tuyên bố lý do, nhưng khi nhìn sâu vào trong bài này chúng ta có thể thấy đối tượng ở đây không chỉ là nhân dân Việt Nam mà còn dành cho nhiều người trên khắp thế giới, khi trong bản tuyên ngôn của Việt Nam cũng chưa đựng những bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp và Mĩ, khi đối với hai cường quốc đầu xỏ này thì việc trích dẫn vào nó mang một ý nghĩa to cáo mạnh mẽ.

    Tuyên ngôn dân quyền là nhắc đến việc bình đẳng, bác ái, mỗi người đều có thể thấy rằng việc trích dẫn này có ý nghĩa rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc có sự tự do cao và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Trong bản tuyên ngôn độc lập sự tự do và đề cao tư tưởng nhân dân luôn luôn được chú trọng, những điều đó mang đậm giá trị cốt lõi trong bản tuyên ngôn. Nhân dân Việt Nam đã trải qua một thời kì gian nan khi phải đối đầu với những kẻ thù sừng xỏ, và cường quốc, nhưng điều đó không ảnh hưởng lớn đến mỗi người, khi bản tuyên ngôn đã thấm đẫm mà mang giá trị sống mạnh mẽ cho mỗi người.

    Bác đã dẫn chứng ra rất nhiều điều đáng quý và nó nhằm nêu lại những năm tháng đấu tranh gian nan để có thể dành được độc lập tự do cho dân tộc, mỗi chúng ta đều có quyền hành như nhau, và ai ai cũng đều có quyền bình đẳng đúng như trong tuyên ngôn đã khẳng định. Ngoài mang ý nghĩa khẳng định nền độc lập của dân tộc thì bản tuyên ngôn cũng mang đậm giá trị tố cáo tội ác của kẻ thù. Với những lý lẽ rất thuyết phục nó đã mang đậm giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam, những lời lẽ mang tính đanh thép đó đã khắc sâu trong tâm trí của mỗi con người.

    Bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam đã mang đậm giá trị nhân văn và tố cáo tội ác của kẻ thù những điều đó để lại cho mỗi người những niềm tin vững chắc về một nền độc lập khi mỗi chúng ta đều có thể làm nên những điều có giá trị và ý nghĩa nhất. Bác Hồ đã khẳng định điều đó qua bản tuyên ngôn độc lập, những giá trị về niềm tin yêu thương và mang đậm giá trị khẳng định một nền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Bản tuyên ngôn độc lập đã khẳng định được sự đanh thép trong mỗi người, những lời lẽ thuyết phục và mang giá trị đã khẳng định được sự sống còn và mang đậm niềm yêu thương cho mỗi người Việt Nam.

    Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh có thể được coi như một bài văn chính luận sâu sắc bởi lý lẽ và văn phong xuất hiện trong tác phẩm này, đậm giá trị và mang nhiều những am hưởng cao của cuộc sống con người.

    Tuyên ngôn độc lập là một bài văn mang đậm giá trị tố cáo và lý lẽ sâu sắc trong cuộc đời của mỗi người, giá trị của nó không chỉ để lại những nỗi nhớ mong và sự sâu sắc trong tâm hồn của mỗi con người, hạnh phúc nhân dân Việt Nam là có một bài học có giá trị và cốt lõi như của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn độc lập được coi như là một bài học có nhiều giá trị nhất cho mỗi con người, giá trị của nó để lại cho dân tộc mang sự tố cáo mạnh mẽ và sâu sắc nhất trong mỗi con người.

    Mỗi chúng ta đều có thể thấy rằng giá trị của bản tuyên ngôn độc lập để lại cho dân tộc có ý nghĩa to lớn, bản tuyên ngôn độc lập mang đậm giá trị to lớn của dân tộc Việt Nam, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam đều có thể thấy đó là niềm yêu thương và sự tín nhiệm trong toàn thể dân tộc. Với những ngôn ngữ đậm chính luận, và sự kết hợp giữa chính trị và tư tưởng cốt lõi của dân tộc, nó đã phản ánh mạnh mẽ và sâu sắc nhất truyền thống của dân tộc Việt Nam.

    Bài văn này được viết lên không chỉ để cung cấp cho con người những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, mà nó còn mang đậm màu sắc về sự tố cáo, và sự cải tạo nhiều yếu tố mạnh mẽ của con người, biết bao nhiêu những hoàn cảnh bất hạnh và những giá trị đó đã cải tạo được sự sống và mang đậm chất nhân văn sâu sắc nhất cho mỗi người.

    Đối tượng của bài văn này được chủ tịch Hồ Chí Minh làm nên một cách rõ ràng và chi tiết nhất, những giá trị đó luôn luôn mang những nền tảng tinh thần, và sự sống còn của đất nước Việt Nam. Với việc luôn có trách nhiệm với tinh thần của người cầm bút bác đã khẳng

    định mạnh mẽ được giá trị về niềm tin, và sự uy nghiêm trong cuộc sống của mỗi con người. Và những điều mà bác Hồ khẳng định trong tác phẩm cũng luôn luôn khẳng định được một cách chi tiết và có ý nghĩa nhất: tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền mà không ai có thể xâm phạm được…

    Những điều đó đã mang đậm tư tưởng cốt lõi trong tác phẩm của Hồ Chí Minh, người luôn luôn ý thức được trách nhiệm của mình đối với dân tộc và điều đó cũng ảnh hưởng đến cuộc sống và tinh thần của mỗi con người, nên yêu thương và trân trọng những tư tưởng sống và tinh thần sống mạnh mẽ của dân tộc điều đó làm nên những trang sử sách vẻ vang, và mang đậm giá trị to lớn của cuộc sống này. Mỗi chúng ta đều có thể thấy được điều đó qua cách viết khoa học và đậm giá trị của Người, biết yêu thương và luôn là người có trách nhiệm với cây bút của mình.

    Với lối viết khoa học và đậm chất chính luận, bài tuyên Ngôn độc lập đã mang những tư tưởng to lớn cho dân tộc và để lại cho mỗi người những cảm xúc sâu sắc và đáng quý nhất.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    1. Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện chính trị, lịch sử

    Tuyên ngôn Độc lập đối với dân tộc Việt Nam là một văn kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử to lớn. Nó khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc, tư thế và chủ quyền của nhân dân đối với đất nước và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền ấy: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

    Tuyên ngôn Độc lập được một người soạn thảo, nhưng đó là tiếng nói của cả một dân tộc, quốc gia, của một chính phủ: [ ] Chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố ; Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng Do đó, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện của cả quốc gia.

    1. Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực của thời đại

    2.1 Tuyên ngôn Độc lập tuy là văn kiện chính trị, chứa đựng những nội dung chính trị, nhưng đây không phải là tác phẩm khô khan, trừu tượng. Về hình thức, đây là tác phẩm thuộc thể văn chính luận. Đặc trưng của văn chính luận là hệ thống lập luận chặt chẽ, với những lí lẽ sắc bén và những bằng chứng thuyết phục

    2.2 Tuyên ngôn Độc lập có hệ thống lập luận chặt chẽ, với những lí lẽ sắc bén, những bằng chứng thuyết phục.

    • Tuyên ngôn Độc lập nhằm khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Nhưng trong hoàn cảnh Tuyên ngôn Độc lập ra đời, lời khẳng định đó không đơn thuần là một sự

    tuyên bố. Trái lại, để có ngày Quốc Khánh 02 09 1945, nhân dân ta đã phải làm một cuộc tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền từ tay thực dân, đế quốc. Và, con đường của dân tộc đang đứng trước biết bao thử thách khắc nghiệt. Bởi vậy, Hồ Chí Minh phải tranh luận, phản bác với những luận điệu của kẻ thù hòng phủ nhận quyền độc lập tự chủ đó.

    • Trước hết, Hồ Chí Minh xây dựng một cơ sở pháp lí của chủ quyền dân tộc Việt Nam. Cơ sở ấy là hai bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc (tuyên ngôn của nước Mĩ) và Người ta sinh ta tự do và bình đẳng về quyền lợi (tuyên ngôn của nước Pháp). Từ những nguyên tắc ấy, Hồ Chí Minh suy rộng ra rằng Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do và khẳng định đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Như vậy, trích dẫn tuyên

    ngôn của các nước, Hồ Chí Minh nêu lên quyền độc lập tự do của các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam, là lẽ phải trong quan hệ quốc tế. Lẽ phải ấy không phải do người Việt Nam nghĩ ra, mà chính là do các nước lớn đó xác lập.

    – Tiếp đến, Hồ Chí Minh đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc Việt Nam:

    • Thực dân Pháp đã chiếm lấy đất nước ta trên 80 năm và hiện giờ, đang lăm le tái chiếm. Để dọn đường cho cuộc xâm lược mới, chúng chuẩn bị dư luận, rêu rao về quyền của chúng ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung. Bởi vậy, để khẳng định chủ quyền của dân tộc, phải phủ nhận quyền của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Hồ Chí Minh phủ nhận bằng cách chứng minh ngược lại những lời rêu rao của chúng.

    Về chính sách khai hóa, thực dân Pháp luôn kể công của mình đối với Việt Nam cũng như các nước thuộc địa, xem đấy là công cuộc khai hóa, đem lại ánh sáng văn minh. Trước đây, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất xấu xa, vô nhân đạo của chính sách khai hóa ấy. Ở đây, trong phạm vi của một bản Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh khái quát thành năm tội ác về chính trị của thực dân Pháp.

    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

    Tội ác về kinh tế của thực dân Pháp đối với Việt Nam cũng được Hồ Chí Minh vạch trần, rất khái quát, đầy đủ:

    Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

    Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

    Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

    Về chính sách bảo hộ: Thực dân Pháp luôn kể công với người Việt Nam và hết sức tuyên truyền với thế giới về sự bảo hộ của chúng ở Đông Dương. Tuyên ngôn Độc lập vạch trần đấy không phải là công , mà là tội:

    Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta cho Nhật ( ) Ngày 9 tháng

    3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

    Thế là đã rõ, chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng ta đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Không những thế, vì sự bỏ mặc Đông Dương, đầu hàng phát xít Nhật, thực dân Pháp đã khiến dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến

    Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.

    Khi vạch trần thực chất việc bảo hộ Việt Nam của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh còn gián tiếp chỉ ra một tội lỗi rất lớn của chúng. Đó là đầu hàng phát xít Nhật, phản bội Đồng minh!

    Với những luận chứng rõ ràng, rành mạch đã đưa ra, thực dân Pháp đã không còn quyền gì đối với Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng.

    • Khẳng định dân tộc Việt Nam có quyền trên đất nước mình. Để khẳng định quyền ấy, Hồ Chí Minh đưa ra ba luận chứng:

    Trái với thủ đoạn vô nhân đạo của thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam mới là người bảo hộ đối với người Pháp: Đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Nếu so sánh với cách đó không lâu, trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng thì sự thật càng rõ hơn ai bảo hộ cho ai, ai là kẻ phi nhân, ai giàu lòng nhân đạo.

    Trước khi Nhật đến, Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Nhưng từ mùa thu năm 1940, Việt Nam đã là thuộc địa của phát xít Nhật. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là, dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Thực dân Pháp đâu còn quyền gì ở Việt Nam?

    Pháp là quốc gia nằm trong khối Đồng minh, nhưng lại phản bội Đồng minh. Còn nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ Việt Minh, đã tự nguyện đứng về phe Đồng minh, đánh đuổi kẻ thù của Đồng minh là phát xít Nhật.

    Từ những cơ sở pháp lí và cơ sở thực tế hết sức đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, Hồ Chí Minh đã đi đến tuyên bố độc lập. Lời tuyên bố ấy bao gồm:

    • Thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước với Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

    + Các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng quyết không thể không công nhận chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

    • Dân tộc Việt Nam có quyền độc lập, tự do: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

    Hệ thống lập luận của Tuyên ngôn Độc lập kết thúc ở đó, nhưng tác phẩm không dừng lại. Tinh thần độc lập, tự do của Tuyên ngôn Độc lập còn vang lên một lần nữa, mạnh mẽ hơn, khi hướng về tương lai, với ý chí mạnh mẽ của toàn dân tộc:

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

    2.3 Tuyên ngôn Độc lập chứa đựng tình cảm nồng nhiệt, tâm huyết của người viết.

    Khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, không ít người dân Việt đã khóc. Ngày nay, mỗi khi được nghe lại, đọc lại, nhiều người vẫn còn cảm xúc ấy. Điều ấy có được vì Tuyên ngôn Độc lập đã chứa đựng tình cảm nồng nhiệt, với bao tâm huyết của tác giả.

    Lời văn Tuyên ngôn Độc lập có lúc vang lên chắc chắn, vững chãi khi tác giả trích dẫn những bản Tuyên ngôn của nước Mĩ, Pháp.

    Đau đớn, căm giận khi kể tội giặc Pháp.

    Sung sướng, tự hào với sức mạnh quật khởi của nhân dân khi đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật, giành lấy chính quyền.

    Quyết tâm sắt đá khi nói về việc bảo vệ quyền tự do và độc lập của dân tộc.

    Chính vì chứa đựng rất rõ tình cảm, tâm trạng của người viết, một điều ít thấy ở văn bản chính luận nên Tuyên ngôn Độc lập không đơn thuần là một văn bản chính trị khô khan, thuần lí. Trong văn bản, đã có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa lí và tình. Nhờ đó, Tuyên ngôn độc lập có một giọng điệu riêng, mà âm hưởng chính vẫn là hùng tráng, tự hào.

    2.4 Tuyên ngôn Độc lập được viết bởi bàn tay điêu luyện của một bậc thầy về ngôn ngữ.

    Sự điêu luyện về ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt, chủ yếu là:

    Câu văn uyển chuyển, sinh động, theo nhịp của giọng điệu bản Tuyên ngôn Độc lập; có những câu đơn, nhưng phần lớn là câu phức, nhiều mệnh đề. Ví dụ, câu Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị là một câu phức nhưng hết sức ngắn gọn, mỗi mệnh đề đánh dấu một sự kiện, thể hiện được sự thay đổi mau lẹ của thời cuộc.

    Sử dụng hàng loạt cấu trúc trùng điệp.

    + Trùng điệp về từ, ngữ: Dân ta Dân ta Chúng tôi Chúng tôi Một dân tộc Một dân tộc

    + Trùng điệp về câu: Chúng thi hành dã man; Chúng lập ba chế độ đoàn kết; Chúng lập ra nhà tù ; Chúng ràng buộc

    • Trùng điệp về nội dung theo chiều hướng tăng tiến ở nhiều cấp độ: Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Hoặc: Phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ

    gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật, ( ) Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc đầu hàng.

    Văn chính luận nhứng có nhiều hình ảnh: thẳng tay chiếm giết; tắm các cuộc khởi nghĩa bể máu; bóc lột đến xương tủy; nước ta xơ xác, tiêu điều; ngóc đầu lên; quỳ gối đầu hàng

    BÀI MẪU SỐ 3:

    “Tuyên ngôn độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đất nước nguy vong: chính quyền cách mạng còn non trẻ hải đương đầu với bao khó khăn chồng chất.

    Bản tuyên ngôn phải đòng thời làm hai nhiệm vụ: vừa khẳng định nền độc lập của dân tộc, vừa phủ định lí lẽ bịp bợm của bọn thực dân cướp nước trước dư luận thế giới. Hiểu như thế mới thấy được vì sao HCM lại dùng những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không thể chối cãi được để viết nên áng văn chính luận mẫu mực. Không chỉ vậy, văn kiện lập quốc này còn là tấm lòng yêu nước nồng nàn, niềm tự hào dân tộc mãnh liệt, sự khao khát độc lập tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam ở HCM.

    Khi HCM đọc bản tuyên ngôn thì ở phía Nam, thực dân Pháp núp sau lưng quân đọi Anh đang tiến quân vào Đông Dương; còn ở phía Bắc 20 vạn quân Tưởng tay sai của đế quốc Mĩ đã chực sẵn ở biên giới. Vậy đối tượng của bản tuyên ngôn không chỉ là đồng bào cả nước, là nhân dân thế giới nói chung; mà trước hết là bọn thực dân, đế quốc đang âm mưu tái chiếm nước ta.

    Bản tuyên ngôn đã giải quyết vấn đề bức thiết ấy với nhũng lập luận chặt chẽ và đanh thép ngay từ phần mở đầu. HCM mở đầu bản tuyên ngôn bằng cách trích dẫn lời hai bản tuyên ngôn bất hủ của Mĩ và Pháp: “Tất cả mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” ( Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ); “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp). Bởi lẽ bấy giờ, tư tưởng tiến bộ của những nước lớn, nước tư bản đang có ảnh hưởng mạnh mẽ trên thế giới. Việc trích dẫn tuyên ngôn của hai nước lớn Pháp và Mĩ sẽ dễ tạo được thông suốt, sự công nhận tức thời, được nhiều nước thừa nhận. Nếu thế giới đã công nhận quyền độc lập, tự do, dân chủ , bình đẳng của Mĩ, của Pháp thì sẽ phải công nhận quyền độc lập tự do của Việt Nam. Bản tuyên ngôn của Việt Nam đã có một cơ sở pháp lí chính nghĩa rất vững vàng.

    Cách trích dẫn ấy còn là chiến thuật sắc bén của HCM_ khéo léo và kiên quyết. Khéo léo, vì HCM tỏ ra trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp , người Mĩ. Kiên quyết vì HCM đã nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên mình, đừng làm vấy bẩn lên ngọn cờ nhân đạo và chính nghĩa của ngững cuộc cách mạng vĩ đại. Ngoài ra mở đầu như thế còn có ý nghĩa gợi lên niềm tự hào dân tộc to lớn. Bản tuyên ngôn nước ta đặt ngang hàng với hai bản tuyên ngôn của hai nước lớn: Pháp và Mĩ, tức là đặt ngang hàng ba cuộc cách mạng, ba nền độc lập, ba quốc gia. Thật đáng tự hào , vì cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết

    nhiệm vụ của cả cách mạng Mĩ(1776) và cách mạng Pháp(1791). Bản tuyên ngôn đã nêu rõ

    • “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập “, đó là nhiệm vụ của cách mạng Mĩ: đấu tranh giải phóng dân tộc; và “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế đọ Dân chủ Cộng hòa”, đó là tinh thần cơ bản của cuộc cách mạng nhân quyền, dân quyền của Pháp.

    Hồ Chí Minh chặn đứng ngay âm mưu xâm lược của kẻ thù một cách thấu tình đạt lí trong ý kiến suy rộng ra: “ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”. Cách suy rộng ra ấy vừa dễ hiểu lại vừa có nghĩa lớn lao đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Ta có thể xem câu suy rộng ra ấy của HCM như phát súng lệnh mở đầu cho bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa, sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân vào nửa sau thế kỉ XX. HCM đã kết lại phần mở đầu với một câu nói chắc nịch, thể hiện rõ quan điểm của Người : “Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được”. Vậy có nghĩa là, quyền độc lập của dân tộc Việt Nam đãcó một căn cứ sâu xa, một hậu thuẫn vô cùng vững chắc. Cũng có nghĩa là thực dân Pháp không được đi ngược lại với “những lẽ phải” của tổ tiên họ.

    Bọn thực dân để chuẩn bị cho cuộc tái chiếm nước ta, chúng đã tung ra trước dư luận thế giới những lí lẽ bịp bợm : Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp có công khai hóa đất nước này, nay trở lại là lẽ đương nhiên, khi phát xít Nhật đã bị Đồng Minh đánh bại. Thực dân pháp kể công khai hóa Đông Dương thì bản tuyên ngôn đã bóc trần bản chất cướp nước của chúng bằng một hệ thống dẫn chứng xác đáng, thuyết phục và những lí lẽ đanh thép, hùng hồn. Từ chuyển ý “thế mà” như một điểm tựa, một đòn bẩy bất ngờ hất tung bộ mặt xảo trá của bọn thực dân Pháp, phơi bày chân tướng giấu sau chiêu bài văn minh, khai hóa, bảo hộ thực chất là xâm lược, là cướp nước. Bằng một câu văn chắc gọn: “Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” , HCM đã kết tội bọn thực dân nói điều nhân nghĩa làm điều phi nghĩa. Để đập tan luận điệu xảo trá này của thực dân, HCM đã đưa ra những dẫn chứng chọn lọc cụ thể, xác đáng, toàn diện vạch ra tội ác dã man, tàn bạo của thực dân pháp chủ yếu trên hai lĩnh vực chính trị và kinh tế.

    14 câu văn dẫn ra hàng loạt tội ác điển hình của thực dân Pháp trong gần một thế kỉ đô hộ nước ta, mà chúng cho là văn minh, khai hóa. Những hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Tự do dân chủ là quyền cơ bản của con người nhưng từ khi Thực dân Pháp bước chân vào Việt Nam đã “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”. Chúng đã biến Việt Nam thành thuộc địa, người dân thành nô lệ. Và còn hàng loạt những chính sách bóc lột vô cùng tàn nhẫn khác được HCM nêu ra: “ Chúng thi hành những luật pháp dã man./ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học./ Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”. Cuối cùng chúng gây ra nạn

    đói khiến “từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn gai triệu đồng bào ta bị chết đói”. Với những dẫn chứng xác thực, không thể chối cãi được và cách lập luận chặt chẽ, đanh thép, HCM đã kết tội cướp nước của bọn thực dân Pháp một cách hùng hồn. HCM lại đập tan mọi luận điệu xảo trá, bịp bợm mà bọn chúng đã tung ra trước dư luận thế giới.

    Nếu thực dân Pháp kể công “bảo hộ” thì bản tuyên ngôn đã lên án : “Thế là chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại, trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Những dẫn chứng mà HCM đưa ra đều là những sự kiện, bằng chứng lịch sử. Mùa thu năm 1940, Nhật xâm lược Đông Dương thì pháp đã “quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”. Cách dùng từ ngữ đầy mỉa mai của HCM đã vạch trần bản chất bạc nhược, đê hèn của bọn thực dân Pháp. Chính sự thỏa hiệp đó của chúng đã khiến nhân dân ta phải chịu hai tầng xiềng xích : Pháp và Nhật. Ngày 9/3/1945 khi Nhật đảo chính, “bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng” để nước ta rơi vào tay Nhật. Đoạn văn thể hiện sự khôn khéo và tài hùng biện chặt chẽ, vững vàng của HCM trước một bài toán khó liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc Việt Nam khi đó. Thực dân Pháp là kẻ thù của ta. Nhưng ta và Pháp lại cùng thuộc Đồng minh, cùng một hàng ngũ. Vậy vừa là kẻ thù, vừa là bạn. HCM đã khéo léo loại bỏ bọn thực dân Pháp ở Đông Dương ra khỏi hàng ngũ Đồng Minh. Thứ nhất, chúng đã bán Việt Nam cho phát xít Nhật để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh. Thứ hai, chúng cự tuyệt liên minh để chống phát xít. Thứ ba, chúng khủng bố những người Đồng Minh chống phát xít. Với những bằng chứng lịch sử rõ ràng, sáng tỏ HCM đã kết tội bọn thực dân Pháp ở Đông Dương phản bội Đồng Minh, không thực hiện nghĩa vụ chống phát xít.

    HCM còn khẳng định thực dân Pháp không có quyền quay trở lại Việt Nam bởi Việt Nam đã không còn là thuộc địa của Pháp nữa: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”. Vì Pháp đã bán Việt Nam cho Nhật, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp. Và “Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Điệp từ “sự thật là” lặp lại như một điệp khúc, làm tăng âm hưởng hùng hồn, đanh thép, chắc chắn cho bản tuyên ngôn. Vì sức mạnh của chính nghĩa bao giờ cũng là sức mạnh của sự thật. Đó là một thành công trong nghệ thuật lập luận chặt chẽ, thuyết phục người đọc của HCM. Thực dân Pháp không có công khai hóa, bảo hộ Việt Nam, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp, Pháp không thể vin cớ gì để quay trở lại Việt Nam. Đây là một lập luận hết sức chặt chẽ, kín kẽ; một lí lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục của HCM. Qua đó, ta càng công nhận Tuyên ngôn độc lập là một áng văn chính luận sắc sảo, hùng hồn.

    Tuy nhiên để làm nên một áng văn chính luận mẫu mực thì chỉ có lập luận và dẫn chứng thôi là chưa đủ. Trong bản tuyên ngôn, để vạch trần tội ác dã man, tàn bạo của bọn thực dân

    • HCM còn sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh kết hợp với giọng điệu câu văn thay đổi để thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau. Điều đó góp phần tạo sức thuyết phục cho người

    đọc thông qua những cảm xúc giản dị nhất, chân thật nhất của Người. Điều ấy làm cho lời kết tội thêm xúc động thấm thía, nghẹn ngào : “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, “Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy”,… Dường như cảm xúc tới đây đã nghẹn lại trong câu văn ngắn, một đoạn văn ngắn. HCM còn sử dụng những từ đồng nghĩa đi sóng đôi với nhau để khắc sâu hình ảnh đất nước ta sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp dày xéo :“Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”. Việc sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh cảm xúc cùng cấu trúc ngữ pháp điệp liên tiếp trong 14 câu văn đã góp phần cho lời kể tội ác thực dân của HCM càng hùng hồn, đanh thép hơn nữa. Những chính sách ấy thực chất đã vi phạm quyền con người. Tuyên ngôn độc lập còn là áng văn chính luận xúc động lòng người được bộc lộ từ tấm lòng yêu nước nồng nàn ở HCM. Tấm lòng ấy đã truyền vào từng lời văn khi tha thiết tự hào, khi hùng hồn đanh thép gây xúc động mạnh mẽ đối với người đọc. Trong đoạn văn kể tội bọn thực dân Pháp giọng văn của HCM chia ra làm hai gam giọng rõ ràng trong từng vế câu văn. Vế câu kể tội ác của giặc thì giọng văn sôi trào, đanh thép, phẫn nộ căm thù, vế câu nêu hậu quả của người dân Việt Nam phải gánh chịu thì nghẹn ngào, trầm lắng, xót xa, u uất. Những đoạn văn dài ngắn xô đẩy xen kẽ nhau như nhịp cảm xúc lên xuống thổn thức theo đau thương và dồn nén căm hờn, khi lại sôi trò đanh thép. Đoạn văn gợi ta nhớ đến bản chép tội giặc Minh của Nguyễn Trãi xưa : “Độc ác thay trúc Lam Sơn không ghi hết tội/ Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa hết mùi”. Ta cũng có thể nói như thế với thực dân Pháp. Vì đây không phải lần đầu tiên HCM kết tội thực dân Pháp. Có lẽ đây chỉ là những dòng văn cuối cùng của một “Bản án chế đọ thực dân Pháp” mà HCM đã lập hồ sơ từ những năm 20. HCM không luận tội mà kết tội trực tiếp, tuyên án thực dân Pháp trước dư luận thế giới. Có cảm giác HCM như một vị quan tòa đang cất cao lời buộc tội chủ nghĩa thực dân, còn bọn thực dân Pháp hiện ra như bị cáo bị vạch tội trước công luận thế giới.

    Từ những lí lẽ trên, HCM trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Quyền tự do, độc lập ấy phù hợp với “lẽ phải không ai chối cãi được”, là kết quả đấu tranh xương máu, bền bỉ của biết bao con người suốt gần 100 năm. HCM đã khẳng định: “sự thật đã thành nước tự do, độc lập”. Nghĩa là, nền độc lập không phải cái ta cần phải có, mà nó đã là sự thật, ta đã có, đã giành được. Từ nay nước Việt Nam độc lập tự do đã được cả thế giới công nhận. Song do chính quyền cách mạng còn rất non trẻ đã phải đương đầu với bao khó khăn chồng chất, vì thế HCM không thể nói như Nguyễn trãi xưa:

    “Xã tắc từ đây vững bền

    Giang sơn từ đây đổi mới”.

     

    Bởi, kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe dọa nền độc lập của dân tộc ta khi ấy là bọn thực dân Pháp còn đang

    âm mưuntái chiếm nước ta. Đẩy lùi nguy cơ ấy sẽ phải là cuộc chiến đấu vũ trang lâu dài của toàn dân. Theo tư tưởng HCM cho rằng : “Độc lập tự do là quyền thiêng liêng nhất, là tài sản quý giá nhất mà mỗi dân tộc cần giành và giữ lấy”. Trong phần tuyên ngôn chính thức này, một lần nữa HCM lại sử dụng cách lập luận hết sức chặt chẽ, sắc sảo của thể loại văn chính luận.

    Bản tuyên ngôn chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nó nêu cao tinh thần, khát vọng tự do, hạnh phúc cảu dân tộc Việt Nam, đánh dấu trang sử vẻ vang nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Tuyên ngôn độc lập còn là áng văn chính luận mẫu mực của nền văn học Việt Nam.

    BÀI MẪU SỐ 4:

    1. Mở bài

     

    • Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, phát xít nhật đầu hàng Đồng minh, dân tộc ta thừa cơ vùng lên giành lại chính quyền . Ngày mồng 2/9/45, tại quảng trường BĐ, CT HCM đã đọc bản TNĐL khai sinh ra nước VNDCCH.
    • Bản TNĐL không chỉ là một văn kiện có giá trị lichj sử mà còn là một áng ,văn chính luận mẫu mực, một áng văn tràn đầy tâm huyết cháy bỏng về độc lập, tự do của Người và của cả dân tộc.
    1. Thân bài

    2.1. TNĐL là một văn kiện lịch sử vô giá.

    • Trong bối cảnh lịch sử nước ta lúc bấy giờ, bản TNĐL ra đời mang ý nghĩa to lớn, nó là một văn kiện trọng đại, là mốc son chói lọi trong lịch sử nước nhà. Nó đánh dấu sự chấm dứt, sụp đổ hoàn toàn của chế độ TDPK, khép lại một thời kì lịch sử đen tối, nô lệ hàng trăm năm dưới ách đô hộ của TDP, mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập tự do cho TQ, hạnh phúc ấm no cho nhân dân.
    • Mặt khác, với nội dung khái quát sâu sắc, trang trọng cùng tầm vóc của tư tưởng, tầm văn hoá lớn, bản TN ra đời đã khẳng định được vị thế bình đẳng, lập trường chính nghĩa của dan tộc VN trên trường quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX. Đồng thời đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân đế quốc, vạch trần dã tâm quay trở lại xâm lược cùng bản chất tàn bạo của chúng trước dư luận quốc tế.

    2.2. TNĐL là áng văn chính luận mẫu mực

    TNĐL không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn mà còn là mọt áng văn chính luận mãu mực, nối tiếp rất tự nhiên các áng hùng văn trong quá khứ, có sự kết hợp nhuần nhuỹên giữa chất chính luận với chất văn chương.

    Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm thể hiện chủ yếu ở hệ thong lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, văn phong sắc sảo, giàu tính thẩm mĩ của HCM. Điều đó thể hiện trước hết ở:

    1. a) Cách nêu vấn đề vấn khẳng định chân lí khách quan của vấn đề.
    • Mục đích: Để nêu vấn đề Nhân quyền, Dân quyền – quyền của con người và quyền của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Người dẫn:

    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” (TNĐL năm 1776 của Mĩ).

    “Người ta sinh ra được tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (TN NQ & DQ của CM Pháp 1791).

    Từ những lời bất hủ của 2 nước, Người suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả mọi người sinh ra trên trái đất đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quỳên được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hp. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

    Hai bản TN của P và M thế kỉ XVIII là di sản tư tưởng của nhân loại, đánh dấu buổi bình minh của của cuộc cách mạng tư sản, lật đổ chế độ phong kiến. Nó trở thành nguyên tắc pháp lí, quyền cơ bản của con người không chỉ thuộc về 2 nước mà là nguyên lí chung của cả thế giới.

    => Vì vậy, Người đã lấy 2 bản TN nổi tiếng của lịch sử nhân loại để mở đầu cho bản TN của nước VN, để khẳng định quyền của con người VN, DTVN trước nhân dân tgiới. Suy rộng ra, đó là chân lí khách quan, là lẽ phải không ai chối cãi được.

    • Ý nghĩa:Cách viện dẫn của Người mang ý nghĩa sâu sắc, vừa khéo léo, vừa kiên quyết, vừa ơasng tạo:
    • Khéo léo, kiên quyết ở chỗ: Lấy gậy ông đập lưng ông. Người vừa tỏ ra tôn trọng những danh ngôn bất hủ của họ, vừa nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên mình, đừng làm vấy bùn lên lá cờ tự do bác ái mà họ đã giương cao trong các cuộc cách mạng vĩ đại của nhân dân họ.
    • Khôn khéo và sáng tạo ở chỗ: Người viện dẫn 2 bản TN nổi tiếng của thế giới có nghĩa là Người đã đặt 3 cuộc CM giải phóng dân tộc của 3 nước ngang hàng nhau, ba nền độc lập và 3 bản TN ngang hàng nhau. Đó là mạch ngầm văn bản khiến cho bất cứ ai tinh tế trong nhận định cũng phải giật mình về sự thâm thuý, sâu sắc của Người. Trong bản TN Bình Ngô đại cáo của Nguyển Trãi khi xưa, người anh hùng đã khẳng định quyền độc lập của mỗi quốc gia:

    Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.

    Rất rạch ròi, rõ ràng và cân xứng. Đó là chân lí bất khả xâm phạm của mỗi nước. Trong bản TN của HCM cũng vậy: Người đặt quyền của 3 nước ngang hàng nhau là thể hiện niềm tự

    tôn, tự hào DT, khẳng định vị thế của một đất nước đày kiêu hãnh trước TG. Đó là hành động CM táo bạo, tài tình trong xử thế chính trị của Ng.

    • Sáng tạo ở chỗ: Ngườ nâng vấn đề Nhân quyền và Dân quyền lên tàm vóc cao hơn, rộng hơn. Từ quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc cá nhân nâng lên thành vấn đề quyền của các dân tộc. “Suy rộng ra … Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…”. Cụm từ Suy rộng ra thể hiện chất trí tuệ sắc bén, đanh thép như một “phát súng lệnh khởi đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa thế giới ” (NĐM), là đòn đánh phủ đầu vào âm mưu tái chiếm của P và sự can thiệp của các thế lực vào nền độc lập, tự chủ của VN, đồng thời tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế. Nhà XB sự thật năm 1967 trang 96 cũng viết: “Cống hiến lớn nhát của HCM là ở chỗ: Người đã nhìn quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền quyết định lấy vận mênh của riêng mình”.

    => Cách viện dẫn bằng những danh ngôn bất hủ của 2 cường quốc là một hành động cách mạng táo bạo, là tài nghệ sáng suốt của HCM. Có thể nói, đoạn mở đầu bản TN tiêu biểu cho vẻ đẹp văn chương chính luận mẫu mực của Người.

    1. b) Cách tác giả luận tội kẻ thù

    Luận điệu của P khi quay trở lại Đông Dương và lấy lại VN là: “VN vốn là thuộc địa của P, P có công khai hoá văn minh và bảo hộ nước ta nên dân ta phải mang ơn chúng”. Nhưng, bằng những lí lẽ sắc sảo, lập luận chặt chẽ, bằng chứng thực tiễn hùng hồn, tác giả đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng, trên thực tế P không hề có quan hệ pháp lí, đạo lí gì với VN bởi chúng là kẻ đi xâm lược:

    Thứ nhất: Người lên án tố cáo tội ác của TDP đối với Đông Dương,

    Người vạch trần bản chất lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp nước ta, áp bức đồng bào ta của chúng. Đó là hành động phi nghĩa, phi nhân đạo

    • Bóc lột về kinh tế: chúng bóc lột nhân daâ ta tới tận xương tuỷ, cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu; độc quyền in giấy bạc và xuất nhập cảng; đặt ra hang trăm thứ thuế vô lí, không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu dậy…
    • Đàn áp về chính trị: chúng tuyệt đối không cho chúng ta một chút quyền tự do nào, chúng thi hành pháp luật dã man, chia để ctrị, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu…
    • Nô dịch về văn hoá: chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, dung thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược giống nòi…

    Tội ác của chúng gây ra ở mọi mặt của đời sống, ở mọi đối tượng nông dân, công nhân, thợ thủ công. Kết qủa gây ra nạn đói khủng khiếp năm 45 từ Quảng Trị đế Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói.

    • Người nhắc đi nhắc lại những tội ác khác nhau của chúng bằng các điệp ngữ và động từ mạnh: chúng thi hành … chúng lập ra … chúng chém giết … chúng tắm … chúng ràng buộc … chúng dùng … chúng độc quyền … chúng không cho … chúng bóc lột …; kết hợp với giọng điệu đanh thép liên hoàn, trùng điệp làm nổi bật lên tội ác chồng chất của TDP. Đoạn văn luận tội TDP với lời lẽ rào rạt có thể sánh với đoạn kể tội ác của bọn xâm lược N-M trong áng thiên cổ hng văn của NT.

    Thứ 2: Người vạch trần bản chất hèn nhát, xảo trá, của TDP.

    TDP từng huyênh hoang bảo hộ, khai hóa văn minh cho nước ta, nhưng Người đã chứng minh: Mùa thu 1940 Nhạt xâm lược nước ta, Pháp quì gối đầu hang, thua chạy. Kết qủ trong 5 năm chúng bán nước ta 2 lần cho Nhật. Vậy P bảo hộ hay hèn nhát? P có công hay có tội ? Người khẳng định trên thực tế, VN không còn là thuộc đại của P nữa và “dân ta đã lấy lại nước VN từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”. Đó là những sự thật lịch sử đầy sức thuyết phục. Người láy đi lấy lại rất nhiều lần 2 chữ sự thật …sự thật là…sự thật là… vì không có lí lẽ nào cao hơn lí lẽ của sự thật.

    Hơn nữa, bản TN còn ca ngợi cuộc đấu tranh chính nghĩa và tinh thần nhân đạo của dân tộc ta. Người đưa ra những mặt đối lập làm nổi bật bản chất giữa ta và địch: Khi Nhật Vào ĐD, P phản bội Đồng MInh, đầu hang phát xít Nhật thì nhân dân VN đã “dũng cảm đứng về phía ĐM chống phát xít”. “Trước ngày 9/3 biất bao lần VM kêu gọi người P liên minh chống N, bọn TDP không đáp ứng lại mà còn thẳng tay khủng bố VM hơn nữa…”. Trái lại, Ta cứu giúp, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Như vậy, ai bảo hộ ai? Những hành động áy chẳng phải đã chứng minh bản chất vô nhân đạo , hèn nhất của chúng và tinh thần chính nghĩa, thái độ khoan hồng, nhân đạo của ta?

    1. Người khẳng định nền độc lập của VN thông qua chính nghĩa sáng ngời của cuộc CMT8, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, đánh đổ chủ nghĩa thực dân phong kiến để giành độc lập.

    Chỉ bằng 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” câu văn đã tóm lược đầy đủ các sự kiện và dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và vô cùng oanh liệt của dân tộc, đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm, đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ VNDCCH như một tất yếu lịch sử. Đó cũng chính là lơì tuyên bố về quyền làm chủ chính đáng của nhân dân VN và khẳng định vị trí xứng đáng của dtVN trên trường quốc tế. Bởi lẽ: “Các nước ĐM đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn quyết không thể không công nhận

    quyền độc lập của dân tộc VN.” Và “Một dân tộc đã gan góc chống ách đô hộ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã anh dũng đứng về phe ĐM chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do? Dân tộc đó phải được độc lập”.

    1. Tuyên ngôn về nền độc lập của VN và khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ, giữ gìn nền độc lập của toàn dân VN.

    Từ cơ sở pháp lí, cơ sở thực tiễn Người dõng dạc, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộcVN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”. Như vậy Người không chỉ tuyên bố về nền độc lập của dân tộc VN mà còn nêu rõ ý chí sắt đã của toàn thể nhân dân VN cũng đồng thời là lời cảnh báo đối với kẻ thù rằng: để bảo vệ thành quả, dân tộc VN quyết đem tấ cả tinh thần, lực lượng, tính mạng để bảo vệ, giữ vững nền tự do độc lập ấy.

    Lời kết như sấm truyền cảnh báo cho kẻ thù từ ngàn xưa vọng về tinh thần bất khả xâm phạm của dân tộc: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

    * Đánh giá chung

    TNĐL là áng văn chính luận săc sảo mà giàu tính thẩm mĩ, có sức thuyết phục, lay động hàng triệu trái tim yêu nước VN bởi TN là cả trái tim yêu nước nóng ấm của Chủ Tịch HCM. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về giây phút xúc động thiêng liêng khi CT HCM đọc Bản TNĐL :

    Người đứng trên đài lặng phút giây

    Trông đàn con đó vẫy hai tay

    Cao cao vầng trán ngời đôi mắt

    Độc lập bây giờ mới thấy đây.

    Đọc bản TNĐL chúng ta nhận ra dòng cảm xúc lặng phút giây ẩn sau mạch lập luận và hệ thống lí lẽ sắc sảo, đanh thép đó.Mỗi dòng chữ chan chứa niềm tự hào khi sánh CM dân tộc với những cuộc Cm lớn trên TG. Mỗi dòng chữ là một niềm hạnh phúc vô biên khi đất nước đã được tự do độc lập. Mỗi dòng chữ cũng là những đau đớn, nhức nhối khi nhìn lại bao thảm cảnh lầm than của nhân dân suốt hơn 80 năm rên xiết dưới gót giầy thực dân và phát xít.

    – Khi luận tội kẻ thù , Người thể hiện thái độ căm phẫn.

    • Người xót thương khi nói đến nỗi đau của dân tộc: chúng chém giết, tắm các cuộc khởi nghĩa trong bể máu, nòi giống ta suy nhược, dân ta nghèo, thiều thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều…
    • Khi nói đến quyền hưởng tự do, độc lập cũng như quyết tâm đến cùng để bảo vệ nền độc lập ấy, tình cảm của Người tha thiết, mãnh liệt.
    • Tóm lại, giọng điệu khi nồng nàn tha thiết, khi xót xa thương cảm, khi hừng hực căm thù, khi hào sảng khích lệ, tất cả làm nên một áng thiên cổ hung văn của thời đại mới – thời đại HCM.
    1. Kết luận

    TNĐL không những là một tac phẩm chính luận mẫu mực, có giá trị lịch sử to lớn mà còn có thể coi là một áng thiên cổ hung văn trong nền văn học nước nhà. Đó là một kiệt tác bằng cả tâm huyết, tài hoa và trí tuệ của Người thầy vĩ đại của dân tộc. Sức thuyết phục của áng văn đối với người đọc không chỉ ở hệ thống lập luận sắc sảo mãu mực của nó mà còn ở tình cảm chan chứa, sâu sắc của tác giả bài viết, “là nỗi niềm của cả một dân tộc vừa được hồi sinh”.

  • VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGUYỄN THI

    VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGUYỄN THI

    VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGUYỄN THI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU CẢM NHẬN VỀ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGUYỄN THI

    VĂN MẪU LỚP 12

    CẢM NHẬN VỀ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGUYỄN THI

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là khúc tráng ca của tuổi trẻ miền Nam anh hùng thời đánh Mĩ.

    Một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật là Nguyễn Thi đà tạo nên màu sắc Nam Bộ, một dấu ấn tuyệt đẹp mà độc giả dễ dàng nhận thấy.

    Màu sắc Nam Bộ biểu hiện rõ nhất là ở cảnh vật được miêu tả, ở sự việc được nói đến, ở tính cách và ngôn ngữ nhân vật được khắc họa (má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, Việt..).

    Cảnh tượng chiến trường ở nơi nào, ở thời nào chẳng giống nhau, những dưới ngòi bút của Nguyễn Thi, chiến trường sau tiếng bom rền đạn réo lại có nét riêng, rất Nam Bộ. Giữa đồng không mông quạnh “một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống.. ”, “tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên” giữa đêm sâu thăm thẳm. Chính giữa không gian ấy, người chiến sĩ bị thương nặng, lạc đơn vị mới cảm thấy rõ nhất mình đang trở về ki niệm tuổi thơ, mình đang sống giữa quê hương (một nơi trên vùng đồng bằng Nam Bộ): “Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao trùm lẩy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vòm sông, cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc…”.

    Ngôi nhà má Tư Năng cũng như hàng ngàn hàng vạn mái nhà của bà con khắp vùng Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Bến Tre… ở cạnh các vàm, các kênh, bao trùm bởi màu xanh của rặng bần, của khóm đước, mà người Bắc rất dễ nhận ra: “Nhà day cửa ra sông, trong đêm vui náo nức này, đom đóm từ ngoài rặng bần cũng kéo vào đầy nhà. Chúng bay chớp chớp như dò trên nóc rồi sà xuống mặt Việt”.

    Màu sắc Nam Bộ được thể hiện ở những vật dụng, ở cái gia tài của má Tư Năng để lại. Đó là “năm công ruộng hồi trước mấy chú cấp cho ba má”, là “hai công mía để dành làm đám giỗ ba má”, là những thứ làm ăn của nhà nông nghèo khó, lam lũ: chén, đĩa, cuốc, vá, đèn soi mà chị em Việt sẽ gửi lại chú Năm, trước khi đi đánh giặc.

    Cảnh đêm tòng quân của tuổi trẻ vùng đồng bằng Nam Bộ vui như ngày hội, bà con cô bác cả xã kéo đến, “dàn sáng rực”, hai chị em Chiến và Việt tranh giành nhau, làrn cho anh các bộ “đã cầm viết rồi lại dật xuống”, chú Năm phải “nheo mắt nhìn “ đứng ra phân xử: “Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy. tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cả hai. Việc lớn là tính theo việc lớn, còn việc thỏa mọn trong nhà tôi thu xếp khác xong”. Đó là

    tầm lòng, là ý nghĩ là cách nói chất phác cùa bà con cô bác nơi miệt vườn vùng đồng bằng sông Cứu Long.

    Cảnh hỗn chiến giữa ta và giặc, cảnh tấn công như vũ bão của quân ta qua sự lắng nghe, sự cảm nhận của Việt vừa hồi tỉnh sau cơn mê cũng mang nét rất riêng của Nam Bộ thời đánh Mĩ: “Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lềnh lãng của giặc. Đó là tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dàn súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời đất hồi Đồng khởi”.

    Màu sắc Nam Bộ được thế hiện rõ nhất ớ tính cách và ngôn ngữ của các nhân vật như má Tư Năng, chú Năm của Chiến, Việt.

    Hình ảnh má Tư Năng dẫn đàn con đi đòi đầu ba, hình ảnh má Tư Năng hiên ngang, thách thức: “Vợ Tư Năng đây!” khi đứng trước mũi súng và lời hăm dọa của lũ giặc: “Vợ Tư Năng đâu?’’. Bọn lính bắn vọt qua đầu má, má đưa hai bàn tay to bản phủ lên đầu đàn con dang nép dưới chân. Má chèo xuồng, mà đi làm thuê, mà đi đấu tranh chính trị, má coi thường cái chết, vì má tin một cách mộc mạc, giản dị rằng “người chết có cái vui của người chết, nếu không, người ta sanh con làm gì?” Hình ảnh má Tư Năng làm ta nhớ đến câu nói: “Còn cái lai quần cùng đànlì” cùa chị út Tịch trong Người mẹ cầm súng.

    Cái cuốn sổ ghi bao việc “thỏn mỏn” trong gia đình bằng thứ chữ “lòng vòng” Chuyện thím Năm. Ông nội, bác Hai, tía của Việt… bị giặc giết như thế nào, các chiến tích của ông nội, của thằng Hai, của chị em Việt, chú đều ghi rõ. Cuốn sổ ấy là truyền thống cách mạng của gia đinh má Tư Năng, cũng là của hàng vạn gia đình nông dân Nam Bộ trong suốt ba mươi năm trời đánh Pháp, đánh Mĩ.

    Nguyễn Thi có tài sử dụng một số chi tiết nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, nâng lên tầm khái quát, tô đậm màu sác Nam Bộ. Tiếng hò của chú Năm là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Thi tạo dựng nên giọng hò cùa chú Năm “đục và tức như gà gáy”. Đã nhiều lần chú cất giọng hò. Trước bữa cúng má Tư Năng, chị em Việt Chiến sắp lên đường ra trận, chú Năm cất giọng hò: “Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngất lại như một lời thề dữ dội”.

    Chị Chiến giống má như đúc. Chiến cũng có hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng như má. Tiếng “cóc”, tiếng “nghen”, tiếng “ừ”, tiếng chân bước “bịch bịch ” của Chiến có khác nào má, “in như má vậy”. Bàn việc thu xếp nhà cửa trước khi đi đánh giặc, nghe em nói, Chiến “hứ một cái “cóc” rồi trở mình. May mà chị không bẻ tay rồi đập vào bấp vế than mỏi” như má. Chiến đảm đang, sớm biết lo liệu, thường nhường nhịn em, chú Năm đã hết lời ca ngợi: “Không! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia

    thế, đặng bề nước non”. Chiến có tư thế hiêng ngang, quyết liệt như các 0 du kích vườn dừa Bến Tre: “Đã làm thân con gái ra đi thi tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”.

    Việt là hình ảnh đẹp nhất, in đậm màu sắc Nam Bộ nhất trong truyện Những đứa con trong gia đình. Nụ cười “lỏn lẻn”, hai gò má “cũng mướt như da trái vú sữa”, cái ná thun của tuổi thơ vẫn mang theo khi đi bộ đội, Việt rất giống ba. Mỗi lần nghe tiếng ná thun của Việt, má Việt lại nói: “Đó, lại giống cái thằng cha nó rồi!”. Việt hồn nhiên, trong sáng hay tranh giành với chị, nhưng lại “giấu chị như giấu của riêng’’ trước đồng đội. Dũng cảm trong chiến đấu, không sợ giặc nhưng lại sợ “thằng chỏng thụt lưỡi”, ‘‘con ma cụt đầu”… Mới hai tuổi xuân đã lập công tièu diệt một xe bọc thép Mĩ; bị trọng thương, lạc đơn vị, nằm giữa chiến trường, tuy chỉ còn một viên đạn đã lên nòng. Việt “vẫn sẵn sàng nổ súng”, “Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”… Hình ảnh Việt theo má lên tới quận “đòi đầu ba”, hình ảnh Việt trong đêm tòng quân, trong cảnh cùng chị gái khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm đã làm ta nhớ mãi, nhớ đứa con trai má Tư Năng, nhớ một chàng trai mới lớn vùng miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long thời chống Mĩ. Việt là hình bóng của quê hương; Việt là hiện thân trong câu hò của chú Năm: “… khi thì Việt biến thành tấm áo vá hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ờ Tháp Mười”.

    Thời chống Mĩ, tuồi trẻ cả nước ta nung nấu một lời thề: “Ra đi chỉ một lời thề – Chưa giết hết giặc chưa về quê hương”. Việt và chị gái khi khiêng bàn thờ má đi gửi cũng đinh ninh một lời thề: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh gíặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập, con lại đưa má về”.

    “Những đứa con trong gia đình” đã kết tinh nghệ thuật của ngòi bút Nguyễn Thi. Nghệ thuật kể chuyện, dựng cảnh, tạo hình, chọn chi tiết điển hình, phân tích tâm lí nhân vật, cá biệt hóa ngôn ngữ nhân vật… tất cả đều mang màu sắc và hương vị Nam Bộ. Màu sắc Nam Bộ tạo nên hồn cốt phong cách ngôn ngữ nghệ thuật cúa Nguyễn Thi trong Người mẹ cầm súng và Những đứa con trong gia đình.

    Sự thành công đó đã khẳng định vị thế được tôn vinh của Nguyễn Thi là “nhà văn của người nông dân Nam Bộ thời chống Mĩ ”.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Trong văn học việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước những nhà văn đã tích cực đóng góp những tác phẩm nói lên những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân ta và đặc biệt những tác phẩm ấy đã mang lại thành công cho họ. trong số những tác phẩm ấy phải kể đến những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Có thể nói truyện ngắn này không chỉ góp phần cổ vũ tinh thần đấu tranh cũng như ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của toàn dân tộc mà còn thể hiện được những màu sắc rất Nam Bộ. Điều đáng chú ý ở đây là chỉ có người dân Nam Bộ mới có.

    Thứ nhất màu sắc Nam Bộ được thể hiện trong ngôn ngữ trong truyện những đứa con trong gia đình. Nguyễn Thi được mệnh danh là nhà văn của người dân Nam Bộ và ông quả là không hổ với dân hiệu ấy đã mang đến cho chúng ta một màu sắc Nam Bộ cực kì hấp dẫn. trong truyện những người trong gia đình là một gia đình nhân dân Nam Bộ vì vậy ngôn ngữ toàn bài là ngôn ngữ Nam Bộ. Tác giả dùng hàng loạt những từ ngữ địa phương trong truyện. Hay là chính những cách xưng hô của nhân vật trong tác phẩm. Chiến và Việt không gọi nhưng người sinh ra mình là bố mẹ như ngoài bắc, cũng không phải là me, u, bầm như ngày xưa mà gọi là ba má. Đó là cách gọi riêng của người Nam Bộ mà không một vùng miền nào giống. Việt gọi chị Chiến là chị hai, gọi em mình là út. Điều đó thể hiện sự khác biệt của người dân miền Nam. Không những thế họ không thường xuyên gọi tên của người thân mình hoặc họ đặt tên theo thứ tự trong nhà, theo số đếm. Vì thế mà có tên gọi là chị Hai, chú Năm. Những tên gọi ấy thật mộc mạc mà giản dị, cũng giống như Nguyễn Khoa Điềm nói trong bài thơ đất nước của mình là:

    “ cái kèo cái cột thành tên”

    Người dân nơi đây thì nói tên theo số thứ tự đó là một nét văn hóa của Nam Bộ nước ta.

    Thứ hai màu sắc Nam Bộ thể hiện trong chính nội dung của tác phẩm. đó là cuộc kháng chiến chống giặc Mỹ của nhân dân miền Nam. Đây không phải là một cuộc kháng chiến của riêng Miền Nam mà nó là cuộc kháng chiến của toàn nước, thế nhưng miền Nam vẫn giữ vai trò chủ chốt vì chiến tranh xảy ra ở chiến trườn miền Nam trong khi đó những người miền Bắc chỉ hỗ trợ phần nào về lương thực cũng như sức người. Nói cách khác miền Bắc là hậu phương vững chắc để hỗ trợ miền Nam kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dành độc lập tự do hòa bình cho cả dân tộc. Vì thế có thê nói màu sắc Nam Bộ chính là ở cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này.

    Thứ ba màu sắc Nam Bộ thể hiện trong tính cách và phẩm chất của con người miền Nam mà đại diện ở đây là gia đình của Chiến và Việt.

    Phẩm chất đầu tiên đó là có truyền thống yêu gia đình, yêu nước căm thù giặc sâu sắc. điều đó được thể hiện trong truyền thống gia đình Việt. Từ những người lớn đến thanh niên trẻ con như Việt tất thảy đều có một lòng yêu nước và chính gia đình Việt đại diện cho tất cả những gia đình nhan dân miền Nam khác cùng nhau đánh giặc Mỹ. Tiêu biểu là họ đã phải chịu mất mát đau thương di chiến tranh gây ra mất đi những người thân yêu và chính vì thế họ nuôi trong mình những nỗi căm thù bọn giặc quyết tâm ra chiến trường để trả thù cho ba má. Ông nội của Việt bị chánh tổng bắn chết, bà nội Việt bị lính huyện đánh đập, ba Việt đi bộ đội tầm vông thì bị chúng chặt đầu, còn má Việt vì tìm thông tin cho du kích mà chúng pháo của địch mà chết. Chính những đau thương mất mát ấy lại thể hiện tấm lòng yêu nước của gia đình Việt nói riêng và người dân Nam Bộ nói chung. Họ luôn sẵn sàng chiến đấu vì tổ quốc quên mình cho độc lập dân tộc. Má Việt một người phụ nữ hay lam hay làm cũng không sợ những đe dọa của giặc, bà dò đường đi để liên lạc giúp những người chiến sĩ cọng sản. và đến thời của Việt và Chiến cũng vậy. trước tiên là Chiến, là một cô gái còn rất trẻ nhưng Chiến lại rất trưởng thành so với cái tuổi của mình. Đặc biệt Chiến có ngoại hình rất giống má mình, và khi ba má mất đi Chiến rất vững vàng luôn thể hiện được mình là một người chị trong gia đình. Trong gia đình bây giờ Chiến là người lớn nhất vì thế cho nên cô gái mười chín tuổi trưởng thành hơn và biết lo lắng sắp xếp việc nhà. Sự sắp xếp hợp lý đến nỗi thằng Việt tưởng rằng đó là những điều má dặn chị trước khi má mất, còn chú Năm thì phải khen ngợi vì sự sắp xếp đó “ gọn bề gia thất đặng bề nước non”. Còn Việt một chàng trai mười tám tuổi, chỉ kém chỉ có một tuổi nhưng Việt trẻ con hơn chị rất nhiều. thế nhưng Việt nhất định đòi đi lính để trả thù cho ba má, ngay từ nhỏ Việt đã tỏ ra là một người rất căm thù giặc, dám xông vào đá cái thằng đã giết chết ba của mình. Sau này vào chiến trường Việt còn lập được nhiều chiến công hiển hách. Việt thể hiện tình yêu với chị cũng rất khác biệt dấu chị như dấu của riêng không muốn những người đồng chí anh em của mình biết đến chị sợ họ cướp mất chị mình. Việt là một khúc sông chảy xa nhất trong dòng sông gia đình.

    Phẩm chất thứ hai đó thể hiện được tính cách của con người miền Nam đó là trung kiên sôi nổi đi chiến đấu. điều đó được thể hiện trong việc đăng kí đi lính của hai chị em. Chiến là chị cho nên muốn đi trước thương em nghĩ em mình không thể chịu được những khó khăn gian an và nguy hiểm trên chiến trường nên nhất định chưa muốn cho Việt đi. Chiến nghĩ để thêm một năm nữa lúc ấy Việt bằng tuổi chiến lúc này thì sẽ cho Việt đi sau. Với cả còn đứa em út nên cũng muốn Việt ở lại với em. Thế nhưng Việt nhất định không nghe, lòng căm thù giặc và ý chí muốn trả thù cho ba má thúc giục cậu đăng kí đi ngay. Khi gọi tên những ai muốn đăng kí tòng quân Việt đứng dậy đầu tiên, qua đó thể hiện được ý chí sụ sôi trong Việt lớn như thế nào. Chị Chiến nhất định ngăn cản em cháu còn nhỏ xin các chú cho nó năm sau đi. Nhưng Việt thì khăng khăng đòi đi, may sao có chú Năm đến giải quyết chú mừng vì cả hai đứa cháu đều muốn đi đánh giặc, đều có ý chí kiên cường như vậy. Chú quyết định cho cả hai đứa cùng đi ra chiến trường. Qua đó ta thấy chị em chiến chính là điển

    hình cho tính cách của người dân Nam Bộ trung kiên sôi nổi. Việt đại diện cho sức trẻ tiến công của thanh niên Nam Bộ, dẫu biết bao nhiêu gian nan nguy hiểm thậm chí là mất đi tính

    mạng hai chị em vẫn bất khuất tiến lên đi theo con đường cách mạng của Đảng. đó phải chăng là một sự giác ngộ lớn về sứ mệnh dân tộc giao phó?.

    Phẩm chất thứ ba là chiến đấu bất khuất anh dũng, điều này thể hiện qua những lần Việt ngất đi tỉnh lại trong rừng mưa ấy. việt là một anh lính trẻ thế nhưng tuổi thế nhưng lại có một ý chí chiến đấu dũng cảm quên mình. Anh dám xông lên đánh hạ một xe bọc thép của địch. Anh bị thương nhưng vẫn trong tư thế chiến đấu. Dường như vết thương kia không làm anh quên đi nhiệm vụ của mình. Anh đau nhưng anh vẫn nghĩ về những kỉ niệm bên gia đình của mình, từ kỉ niệm về lần đi bắt ếch, rồi đến kỉ niệm về má, chiếc ná thun, về việc đi bộ đội của hai chị em. Thế đấy ngay cả khi cái chết cận kề cậu vẫn nhớ về gia đình mình hay chính là quê hương đất nước. cũng vì thế mà khi đồng đội anh đi tới nếu không đánh tiếng thì đã ăn viên đạn của cậu tư rồi.

    Tóm lại nhà văn Nguyễn Thi rất xứng đáng với danh hiệu nhà văn của người dân Nam Bộ. Qua truyện ngắn này chúng ta thấy rõ được những màu sắc Nam Bộ trong truyện mà nổi bật chính là phẩm chất đáng quý của họ. Đó là lòng yêu nước thương nhà căm thù giặc sâu sắc, đó là tính cách thẳng thắn thành thật trung kiên bộc trực. Và đó còn là sự chiến đấu bất khuất với ý chí không bao giờ lùi bước. Tất cả những thứ ấy đã làm nên một câu chuyện hay về một thời oanh liệt của nhân dân ta. phải chăng nó trở thành truyền thống của người dân Nam Bộ, giống như gia đình truyền thống của chị em Chiến Việt vậy.

    BÀI MẪU SỐ 3:

    Trong văn học cách mạng miền Nam thời kì chống Mĩ, Nguyễn Thi là cái tên thường xuyên xuất hiện bởi ông là tác giả của những bài bút kí chiến tranh, truyện ngắn và cuốn truyện kí nổi tiếng được nhiều người biết đến: Người mẹ cầm súng. Nội dung các sáng tác của Nguyễn Thi có chung một nền tảng là hiện thực cuộc sống chiến, đấu gian khổ, ác liệt của quân dân miền Nam. Mỗi tác phẩm là một bài ca ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng; là bài học thấm thía về lí tưởng, suy nghĩ và hành động cho tuổi trẻ thời đánh Mĩ. Bạn đọc thích thú và yêu mến văn chương của Nguyễn Thi bởi có thể tìm thấy ở đó nguồn tư liệu dồi dào, phong phú về vùng đất và con người phương Nam. Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình là bức tranh đậm đà chất sống dân gian và màu sắc Nam Bộ, tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Thi.

    Tuy quê gốc ở Nam Định nhưng do phiêu dạt vào Nam kiếm sống từ thời còn ít tuổi nên Nguyễn Thi hiểu biết rất rõ về đặc điểm thiên nhiên cũng như phong tục tập quán, cuộc sống sinh hoạt của người dân Nam Bộ. Bức tranh khung cảnh thiên nhiên trong các tác phẩm thường được tốc giả miêu tả đan xen với hoạt động của con người lao động và chiến đấu.

    Đoạn trích Những đứa con trong gia đình có nhiều nét đặc biệt. Nét đặc biệt thứ nhất là bối cảnh. Đó là khu rừng cao su nơi cách đây mấy ngày đã diễn ra một trận đánh ác liệt giữa quân Giải phóng và lính Mĩ – ngụy. Mùi khói súng, mùi xác chết, xác xe bọc thép của giặc bị bắn cháy, mặt đất ngổn ngang vì bom đạn cày xới… Nét đặc biệt thứ hai là trong khung cảnh ấy, chỉ có một mình chiến sĩ Việt bị thương nặng và lạc đơn vị. Tác giả tả khu rừng xa lạ chìm trong bóng đêm mênh mông qua cảm nhận của Việt – một chàng trai nông thôn đồng bằng Nam Bộ vừa bước qua tuổi thiếu niên và mới tham gia chiến đấu : Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên… Một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống chạy từ cổ Việt, lan dài cho tới ngón chân… Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chồng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông, cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc…

    Nguyễn Thi miêu tả khung cảnh trận đánh đang diễn ra ở phía xa qua cảm nhận của Việt trong tình huống bị thương nặng và đang cố tìm về với đơn vị của mình. Việt hình dung và phán đoán diễn biến của trận đánh qua sự nghe ngóng, nhận xét về các loại tiếng súng khác nhau: Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai… Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi ! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị

    mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi !… Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao… Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ…

    Chất Nam Bộ đậm đặc nhất là ở đoạn Việt hồi tưởng cảnh đêm mít tinh ghi tên tòng quân và cảnh hai chị em bàn bạc suốt đêm để thu xếp chuyện gia đình trước lúc lên đường nhập ngũ. Nhờ thông thuộc ngôn ngữ và cách ăn nói mộc mạc của người nông dân Nam Bộ nên các chi tiết, hình ảnh, nhân vật… hiện lên trên trang viết của Nguyễn Thi chân thực, tự nhiên, sống động khiến cho người đọc có cảm giác như mình đang được chứng kiến sự việc diễn ra trước mắt : Trong đêm mít tinh để ghi tên thanh niên tòng quân, trước mặt bà con cả xã, đèn sáng rực, anh cán bộ của huyện đội vừa dứt lời, cả hai chị em Việt giành nhau chạy lên.

    –  Tôi tên là Việt, anh cho tôi đi bộ đội với.

    – Chị Chiến đứng sau Việt, thở: “ Đề nghị mấy anh xét cho. Nó là em tôi mà cái gì nó cũng giành…

    Đôi chân mày rộng của anh cán bộ cứ nhướng lên giữa trán, không hiểu chuyện gì. Bà con cô bác ở dưới bàn tán lao xao. Anh cán bộ hỏi Việt:

    –  Hai em là chi em ruột?

    –  Dạ, nhà em ở ấp Một, em mười tám, chị Chiến em mười chín.

    Việt dòm chị, mình đứng đâu có thua chị, tuy tóc chị có cao hơn mình một ít chút thật.

    Chị Chiến nói:

    – Đến Tết này nó mói được mười tám anh à ! Em nói để em đi trước, nó ở nhà, thủng thẳng để chú Năm em thu xếp rồi hãy đi, mà nó không chịu.

    Anh cán bộ nhìn hai bộ mặt bầu bầu cùng một khuôn có hai cái chót mũi hơi hớt lên của chị em Việt, rồi cười:

    –  Ba mà có đi đây không em ?

    –  Dạ không.

    –  Ba má em chết rồi.

    –  Chị Chiến nói thêm cho rõ.

    Anh cản bộ đã cầm viết rồi lại đặt xuống. Từ dưới sân, chú Năm bước lên. Chú nheo mắt nhìn chị em Việt, rồi nói với anh cán bộ:

     

    – Tôi xin có một câu với đồng chỉ huyện đội. Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy, tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cho cả hai. Việc lớn ta tính theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong.

    Đúng là kiểu nói và giọng điệu “rặt” Nam Bộ của một nông dân yêu nước.

    Chiến và Việt có những điểm chung nhưng cũng có những nét riêng thể hiện tính cách của mỗi người. Chiến với vai trò là chị nên suy nghĩ chín chắn hơn và ăn nói cũng chững chạc hơn, cố tỏ rõ cái “uy” của người trên. Còn Việt là em, tuy chỉ kém chị một tuổi nhưng tính nết vẫn còn trẻ con, bồng bột và hiếu thắng. Đoạn văn tả cuộc nói chuyện giữa hai chị em chứng tỏ nhà văn nắm rất vững tâm lí của từng nhân vật:

    Cũng ngay đêm ấy, về tới nhà, trước khi ngủ, chị Chiến từ trong buồng nói với ra với Việt:

    – Chú Năm nói mầy với tao đi kì này là ra chân trời mặt biển, xa nhà thì ráng học chúng học bạn, thù cha mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu.

    Việt lăn kềnh ra ván, cười khì khì:

    –  Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị.

    – Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à.

    – Chà, chị Chiến bữa nay nói i như má vậy ! Cũng ở trong buồng mà nói với ra, cũng nằm với thằng út em, ở trên cái giường đó. Việt nói:

    –  Chị biết vậy sao hồi nãy chị ngăn tôi? Người ta mười tám rồi mà nói chưa.

    –  Hồi đó má tính tuổi cho mầy chớ bộ tao tính ha?

    Nhà day cửa ra sông, trong đêm vui náo nức này, đom đóm từ ngoài rặng bần cũng kéo vào đầy nhà. Chúng bay chớp chớp như dò trên nóc rồi sà xuống trước mặt Việt. Chị Chiến cũng không ngủ được, sắp tới đây biết bao nhiêu chuyện phải lo, ngay bây giờ cũng bao nhiêu chuyện phải nhớ. Cả chị cả em cùng nhớ đến má. Hình như má cũng đã về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt ? Đêm nay, dễ gì mả vắng mặt, má cũng phải về dòm ngó coi chị em Việt tính toán việc nhà làm sao chớ ?

    Gây xúc động thật sự cho người đọc là cảnh sáng hôm sau, hai chị em làm cơm cúng má rồi khiêng bàn thờ má sang gởi bên nhà chú Năm : Chị Chiến… nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt

    mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai.

    Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác.

    Đúng là bức tranh sinh động về nông thôn và đời sống tinh thần phong phú của người dân Nam Bộ : yêu gia đình, yêu đất nước, một lòng một dạ với cách mạng. Cái hay của Nguyễn Thi là tác giả thể hiện chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng qua những câu chuyện rất giản dị, rất đời thường. Giản dị, chân chất, trong sáng như tính cách của những con người mà nhà văn gắn bó, yêu mến trong những năm tháng gay go, ác liệt của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai bán nước.

    Những đứa con trong gia đình là truyện ngắn thành công về nhiều mặt. Điều hấp dẫn người đọc trước hết là ở cách kể chuyện tự nhiên, mộc mạc của tác giả rất phù hợp với việc thể hiện tính cách đặc trưng của con người Nam Bộ thật thà, chất phác. Thông qua nội dung của truyện, nhà văn đã làm nổi bật sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, tình cách mạng ; giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Văn phong đậm đà chất Nam Bộ của tác giả cũng góp phần rất lớn tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ của tác phẩm. Nguyễn Thi xứng đáng với lời khen tặng là nhà văn của nông dân Nam Bộ.

    BÀI MẪU SỐ 4:

    Không sinh ra ở Nam Bộ nhưng Nguyễn Thi đã sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Ở đó, ông là nhà văn quân đội vừa tham gia chiến đấu với nhân dân Nam Bộ vừa hoạt động văn nghệ. Vì thế, ông hiểu rõ tính cách, tâm hồn, lối sống của người nông dân Nam Bộ.

    Qua tác phẩm Những đứa con trong gia đình ta nhận ra sắc thái Nam Bộ đậm đà. Sắc thái Nam Bộ biểu hiện rõ nhất là ở cảnh vật được miêu tả, sự việc được nói đến, ở ngôn ngữ và tính cách của nhân vật.

    • Cảnh tượng chiến trường ở nơi nào, thời nào cũng giống nhau nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Thi, chiến trường sau tiếng bom rền đạn réo lại có nét riêng, rất Nam Bộ. Giữa đồng không mông quạnh “một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống…”, “tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên” giữa đêm sâu thăm thẳm. Chính giữa không gian ấy, người chiến sĩ bị thương nặng, lạc đơn vị mới cảm thấy rõ nhất mình đang trở về kỉ niệm tuổi thơ, đang sống giữa quê hương (một nơi trên vùng đồng bằng Nam Bộ): “Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo…ngoài vàm sông…”.
    • Ngôi nhà má Tư Năng cũng như hàng ngàn, hàng vạn mái nhà của bà con khắp vùng Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Bến Tre…Ở cạnh các vàm, các kênh bao trùm bởi màu xanh của rặng bần, của khóm đước: “Nhà day cửa ra sông…trước mặt Việt”.
    • Màu sắc Nam Bộ được thể hiện ở những vật dụng, ở cái gia tài của má Tư Năng để lại. Đó là “năm công ruộng”, “hai công mía”, là những thứ làm ăn của nhà nông nghèo khó, lam lũ: nồi, lu, chén, đĩa, cuốc, vá, đèn soi mà chị em Việt sẽ gởi lại chú Năm trước khi đi đánh giặc.
    • Cảnh đêm tòng quân của tuổi trẻ vùng đồng bằng Nam Bộ vui như ngày hội. Cảnh hỗn chiến giữa ta và giặc, cảnh tấn công như vũ bão của quân ta, qua sự lắng nghe, cảm nhận của Việt vừa hồi tỉnh sau cơn mê cũng mang nét rất riêng của Nam Bộ thời đánh Mĩ: “Việt ngóc dậy…hồi Đồng Khởi”.
    • Màu sắc Nam Bộ được thể hiện rõ nhất ở tính cách và ngôn ngữ của các nhân vật như má Tư Năng, chú Năm, của Chiến và Việt. Mỗi nhân vật của Nguyễn Thi đều có cá tính riêng song dường như tất cả đều có những đặc điểm, tính cách rất Nam Bộ, “rất Nguyễn Thi”. Đó là lòng yêu nước mãnh liệt, tinh thần căm thù sâu sắc đối với bọn thực dân và tay sai; đó là sự gan góc, tinh thần chiến đấu; thẳng thắn, bộc trực, lạc quan, giàu tín nghĩa; rất mực giản dị, hồn nhiên.
    • Hình ảnh má Tư Năng dẫn đàn con đi đòi đầu chồng; hiên ngang, thách thức : “Vợ Tư Năng đây!” khi đứng trước mũi súng và lời hăm dọa của lũ giặc. Bọn lính bắn vọt qua đầu

    má, má đưa hai bàn tay to bản phủ lên đầu các con đang nép dưới chân. Má chèo xuồng mà đi làm thuê, mà đi đấu tranh chính trị, đến lúc chết vẫn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu (trái cà nông vẫn còn nóng hổi).Hình ảnh má Tư Năng làm ta nhớ đến câu nói “ Còn cái lai quần cũng đánh” của chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng”.

    • Chú Năm, người giữ vị trí, vai trò quan trọng trong gia đình, như một cuốn gia phả sống. Lời nói của chú cứ như lời truyền dạy của tổ tiên, ông bà: “Chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó”. Dòng sông mà chú nói là dòng sông truyền thống, là cội nguồn nuôi dưỡng cho ý chí và tinh thần cho những đứa con tiếp nối như Việt và Chiến.Cái dòng sông ấy trong quá khứ không xa là máu và nước mắt mà chú đã cô đọng lại qua ngòi bút mộc mạc, qua lời kể, qua giọng hò đau đớn mà như Nguyễn Thi viết nó “đục và tức như gà gáy”. Hình ảnh chú Năm gần như là kết tinh phẩm chất và khí phách của người dân Nam Bộ, giản dị, mộc mạc từ lời ăn tiếng nói với những từ ngữ chất phát như “trọng trọng”, “thỏn mỏn” cho đến cái thú giang hồ “đi đây đi đó”. Đặc biệt là tinh thần chuộng đạo nghĩa. Chỉ một lời nói với chị em Việt : “Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non”. Những câu nói ấy thật đặc sắc bởi âm vang cả một truyền thống đạo nghĩa tận ngàn xưa hay chí ít cũng là tinh thần khí phách Nguyễn Đình Chiểu năm nào.
    • Chị em Việt: Từ lúc bé Việt đã dám xông vào thằng giặc mà đấm mà đá, lớn lên hai chị em tranh nhau đi bộ đội, cùng chiến đấu dũng cảm và lập được nhiều chiến công. Chiến và Việt là những gương mặt đại diện cho thế hệ trẻ miềnNamanh dũng trong thời kì chống Mĩ cứu nước.
    • Điều đáng nói của tác phẩm là ở chỗ, Nguyễn Thi miêu tả những người con Nam Bộ, gửi gắm vào tác phẩm của mình một màu sắc Nam Bộ đậm nét nhưng nhà văn muốn ta nghĩ đến không chỉ một gia đình Nam Bộ, không chỉ nhân dân Nam Bộ mà cả một Tổ quốc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh ra từ nỗi đau thương. Câu nói của chú Năm mãi ngân vang trong lòng những người con đất Việt như một lời nhắc nhở sâu sắc: “Trăm sông đổ về một biển…ngoài cả nước ta”. Đọc Nguyễn Thi, thấy tác phẩm của ông nồng nàn hơi thở thô phác, ấm áp và mạnh mẽ của đất đai, những nhân vật của ông cắm chắc vào đời sống, lăn lộn trong vất vả gian nguy da dẻ cứ đỏ au lên vì nắng gió và quần áo vẫn đậm chất mồ hôi mặn mòi khét cháy. Nhà văn đã đứng trên hai bàn chân bám chắc vào đất, vào hiện thực. Cũng chính vì thế mà ta có cơ hội được chiêm ngưỡng màu sắc Nam Bộ đậm đà trong các tác phẩm của ông./.
  • Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu lớp 9

    Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    BÀI LÀM

    Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc, là niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam trực tiếp bày tỏ long mình mà không cần nhờ đến bất kì một khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ; là hoài bão, ước mơ, niềm mong mỏi… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài thương nhớ làm nên bản sắc văn hoá dân gian, bài ca dao được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá là “hay nhất Việt Nam”, “ Khăn thương nhớ ai” cũng trĩu nặng niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu, sâu lắng và hay lạ lùng…:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt

    Đèn thương nhớ ai

    Mà đèn không tắt

    Mắt thương nhớ ai

    Mắt ngủ không yên

    Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi không yên một bề.”

    Ca dao về nỗi nhớ là hợp âm các nốt trầm lắng đọng lòng người trong cung bậc tình yêu – vốn là đề tài muôn thưở và quen thuộc của người bình dân. Nỗi nhớ nhung nào có buông tha một ai? Mọi cảnh huồng, mọi số phận, mọi trang lứa; và nó nhẫn tâm bủa vây, bám víu lấy người con gái đơn chiếc. Nỗi nhớ ấy như muốn thiêu đốt tan chảy cả cõi lòng nhưng lại được che giấu kín đáo và ý nhị, không bộc lộ một cách buông tuồng, suồng sã. Tâm trạng nàng, biết tỏ cùng ai? Những câu hỏi không có câu trả lời, cô dành để hỏi những vật dụng quen thuộc nhất kề bên mình trong lúc cô đơn :

    “Khăn thương nhớ ai?…

    … Đèn thương nhớ ai?”

    Những câu hỏi cất lên rồi lại trôi dạt mãi vào hư vô im tiếng, cứ nén chặt niềm thương

    nỗi nhớ trong lòng, để rồi chực trào tuôn ra thành tiếng thở dài triền miên. Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và cũng được hỏi nhiều nhất’ cô gái hỏi vật trao duyên mang ý nghĩa thiêng liêng duy nhất của mình. Chiếc khăn ấy phải chăng đã ấp ủ biết bao hơi ấm bàn tay, đã thấm đượm nhiều vô chừng những lời ân ái mặn nồng :

    “Gửi khăn, gửi áo, gửi lời,

    Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”

    Giờ người đã xa, hơi ấm nồng đượm vương vấn nơi đây âu chỉ là nỗi buồn chờ đợi quá

    khứ, cái không gian cô quạnh cứ miên man trải rông trên nhiều chiều, nỗi nhớ cứ thế mà quanh quẩn trong tâm trí trăm mối tơ vò, khiến vật chứng nhân vô trí vô giác cũng động lòng mà:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt.”

    Ba hình ảnh đặc trưng cộng hưởng thêm ba câu thơ láy cô gái tự nhân hoá chiếc khăn lên rồi hỏi: “Khăn thương nhớ ai?”, cùng lối vắt dòng láy tổng cộng sáu lần từ “khăn” thành một điệp khúc tạo cảm giác dường như nỗi nhớ càng thêm triền miên. Mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ kia thêm trào dâng cuồn cuộn trong lòng. Ôi, sầu đong càng lắc càng đầy! Cô gái đang hỏi chiếc khăn trao duyên hay đang đối thoại với bản thân mình đây? Đằng sau nghệ thuật đảo thanh đầu uyển chuyển, cách sử dụng hình ảnh vận động trái chiều, đằng sau hết thảy các sử “xuống- lên”, “rơi- vắt” của khăn hiện lên hình ảnh một con người rất rõ, con người ấy đang tiếc nhớ khôn nguôi về mối tình đẹp đẽ. Nhớ đến mức không còn tự chủ được dáng đứng bước đi, không thề đứng yên ngồi ổn được, cứ thất thểu ra vào, bởi vậy người ta mới có câu:

    “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

    Nỗi nhớ cứ rừng rực trong lòng, len lỏi vào từng dòng máu thớ thịt, thế mà vẫn không đủ để cản ngăn dòng nước mắt khóc thầm:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt”

    Nước mắt em rơi từ khoé lệ u sầu, rơi trên tiếng cười đùa hôm qua, và rơi trên u buồn

    hôm nay, những “ hai hàng nước mắt đầm đàm như mưa: làm khổ em biết bao nhiêu đêm

    dài. Nỗi nhớ sâu trong tâm hồn réo thúc bùng sôi nhưng được bộc lộ ý nhị, nọt ngào,

    mang màu sắc nữ tính, nhẹ nhàng. Cô gái trong bài ca dao là một con người biết trân

    trọng những kỉ niệm, biết ghìm nén lòng mình, dẫu cho trái tim đã băng hoại vì nỗi buồn

    man mác gậm nhấm lủi tàn mất rồi. Cái khăn đã giãi bày hộ cô gái cái nghẹn ngào đọng

    mãi trong lòng không nói ra được. Cái thứ cảm gáic không gọi được tên nặng trĩu trong

    lòng là thế, vậy mà cứ nhẹ tênh lan toả rộng khắp, thấm đượm vào không gian, vào cả sự

    đồng cảm nơi người đọc…

    Nhưng không chỉ có thế, nỗi nhớ ở đây còn được đong đếm theo bước chân thời gian chứ không chỉ thăng trầm theo từng bước đi của nhân vật. Ban đêm là thời khắc để bất kì con

    người nào cũng có thể suy ngẫm về người, về đời, rất thật. Đối với cô gái, đó là lúc niềm khắc khoải lại càng làm tim cô đau nhói. Niềm đau ở đây được diễn tả theo một cách riêng, nhất quán và không thể nhầm lẫn. Điệp khúc “thương nhớ ai” được giữ lại trọn vẹn còn tâm sự được gửi gắm tiếp vào ngọn đèn đêm:

    “Đèn thương nhớ ai

    Mà đèn không tắt”

    Cả bài ca dao là một hệ thống các câu hát lẻ độc lập: khi đứng riêng chúng hoàn toàn có thể diễn đạt hết nghĩa, còn khi ghép chúng lại với nau, chúng thu hút người đọc và nỗi lòng trải rộng mãi hết không gian rồi lại sang thời gian. Trong sự ưu phiền vò võ của đêm khuya khắc vợi canh tàn, trong bóng đêm mịt mù đến hốt hoảng, đốm lửa ấm dù nhỏ nhoi trên đầu ngọn bấc kia chứng tỏ người thắp đèn vẫn chưa tài nào ngủ yên được. Cô gái gửi tâm tình ngổn ngang trăm mối những đêm thâu trằn trọc vào ngọn lửa nhỏ, hay chính ngọn lửa tình bất diệt luôn cháy mãi trong tâm can? Chừng nào lửa tình vẫn cháy thì chừng ấy lửa đèn kia tắt làm sao được. Vẫn là câu hỏi không có lời đáp, và vẫn là hình ảnh tượng trưng được nhân hoá, “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ bao điều, buộc ta phải rung cảm suy nghĩ nhiều hơn, sâu sắc hơn những điều được đề cập trong lời ca da diết.

    Bày tỏ, giãi bày hộ cô gái bằng giá trị tượng trưng rất biểu cảm theo lối nói vòng đầy cuốn hút, nhưng rồi rốt cuộc “khăn” và” đèn”cũng chỉ là cách nói gáin tiếp thông qua biện pháp nhân hoá. Đến dòng thơ thứ chín, không kìm lòng được nữa, thứ “cảm xúc không gọi được tên” trên kia chực vỡ oà, cô tự hỏi chính mình:

    “Mắt thương nhớ ai

    Mắt ngủ không yên.”

    Hình tượng các nghệ nhân dân gian sử dụng thật hợp tình hợp lý, nhất quán và xuyên suốt: “đèn chẳng tắt” vì “mắt không yên”, “mắt không yên” nên “đèn chẳng tắt”. Nỗi ưu tư còn nặng trĩu, khối tinh thần bất biến vẫn vẹn nguyên, tình yêu chung thuỷ chẳng đổi dời. Cứ khép đôi bờ mi đẫm lệ, hình bóng người thương lại hiện về, giấc ngủ dẫu có cũng vô cùng ngắn ngủi và mãi chập chờn những giấc vơ vô ảo vô thực. Năm lần hỏi, năm lần điệp từ “ai” vang lên thổn thức xoày vào lòng ta một nỗi niềm khắc khoải, đồg cảm bi ai. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, nên câu trả lời thực chất được khẳng địh ngay từn câu hỏi tưởng như không có lời đáp. Cách khẳng định này không được diễn đạt bằng ý chính mà mang tính nghệ thuật, thi vị hơn, mạnh mẽ hơn. Dẫu vậy, với tính chấ nghệ thuật rất riêng của văn học dân gian, chẳng mấy ai yêu quý bài ca dao này không tự lý giải được, rằng không ai khác ngoài chàng trai đã gây nên nỗi lòng cô đọng trong điệp từ “ ai” kia. Mười câu thơ bốn chữ còn hay về cách gieo vần: vần chân xen lẽ vần lưng, trong đó thanh bằng và thanh trắt lại xoắn quýt lấy nhhau tạn nên âm điệu luyến láy liên hoàn, bâng khuâng mãi. Và nếu cứ đi theo cung cách cấu tứ như thế, lòng cứ tự hỏi lòng, thì bài ca dao sẽ trải dài cùng nỗi sầu đến vô tận. Lần theo mạch xúc cảm xuyên suốt, qua tới

    mấy lần hỏi, điểm cao trào bất chợt xuất hiện đột ngột dưới hình thức câu tho8 lục bát, biến nỗi nhớ nhung dằng dặc kia thành:

    “Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi không yên một bề”

    Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập và gây rung động lạ kỳ chuyển sang lục bát nhẹ nhàng và xao xuyến, bởi lẽ, cô gái một mực thương nhớ người yêu vẫn biết lo lắng cho số phận trái ngang của mình. Cô nhớ lắm, đến nỗi:

    “Qua cầu dừng bước trơng cầu

    Cầu bao nhiêu nhịp lòng sầu bấy nhiêu”

    Guồng quay cuộc sống thì cứ mãi lừng lững tiến về phía trước, hoàn cảnh trớ trêu không cho phép người con gái đơn thân mãi “ Thương thương nhớ nhớ sầu sầu”, xã hội không đồng ý để cô “Một ngày ba bận ra cầu đứng trông” . Từ “lo” được lặp lại đến hai lần, cùng chỉ từ số nhiều “những” chứng tỏ trong lòng cô gái đang có nhiều lo sợ mênh mông khi nghĩ về người mình yêu cùng một lúc; nhói cả tim khi nghĩ rằng anh sẽ thay đổi, sẽ như” vầng mây bạc giữa trời mau tan”; quặn cả lòng khi hay cả một xã hội phong kiến thối nát đang chực chờ ép duyên… Hạnh phúc quá mong manh và cái quyền tự do yêu đương cũng thật là bấp bênh, khi tình yêu tha thiết chân chính luôn bị nỗi sợ nơm nớp vô biên lấn át, “Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời”. Nỗi lo phiền trĩu nặng tâm can, xuất phát từ chính nỗi nhớ thươngkho6n nguôi, từ khát vọng yêu và được yêu, từ sự bức bối muốn được vùng dậy giải thoát. Tình yêu, nỗi nhớ nơi con tim mồ côi và nguội lạnh vẫn cứ chan chưa tình người, dạt dào sức sống mà không hề bị luỵ, đau thương, yếu hèn. Càng yêu, càng nhớ thì con người ta càng bộc lộ sự lạc quan trữ tình và chung thuỷ của mình:

    “Chờ anh cho tuổi em cao

    Cho duyên em muộn má đào em phai”

    Để diễn tả được hết nỗi long cũng như tính nhân văn sâu sắc, bài ca dao mang những yếu tố thi pháp và biện pháp nghệ thuật quen thuộc: điệp từ, điệp ngữ gây cảm giác quyến luyến mà dồn dập; dùng hình ảnh tượng trưng và nhân hoá chúng đạt hiệu quả cao. Quan trọng hơn cả, ẩn chưa trong toàn bài ca dao là nét đẹp kín đáo, thu hút, đằm thắm nữ tính; khá đặc biệt so với các khúc ca thương nhớ khác dung hình thức biểu đạt trực tiếp…:

    “Nhớ ai hết đứng lại ngồi,

    Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.”

    “Nhớ ai nhớ mãi thế này?

    Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

    Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

    …Vì thế, “Khăn thương nhớ ai” luôn có một chỗ đứng nhất định trong ca dao nỗi nhớ nói riêng , toàn bộ kho tàng văn học dân gian nói chung và một vị trí riêng trong lòng người đọc. Vượt chặng đường “những mấy nghìn năm”, bài ca dao sẽ mãi là viên ngọc long lanh, tuy hình thành từ bàn tay thô kệch nhưng được gọt giũa bởi tấm lòng và tâm hồn đẹp đẽ cao quý của người bình dân Việt Nam.

    Bài viết số 2:

    “ Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt.

    …..

    Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt không ngủ yên.

    Đêm qua em những lo phiền,

    Lo vì một nỗi không yên một bề… ”

    Bài ca nằm trong hệ thống ca dao về đề tài thương nhớ, một cung bậc trong ca dao tình yêu của người bình dân VN.Bài ca diễn tả nỗi nhớ niềm thương của 1 cô gái. Nhớ thương da diết, nhớ đến thao thức, cồn cào gan ruột mà ko dễ bộc lộ. Cô phải hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi ko có câu trả lời càng nén chặt nỗi thương nhớ, để cuối cùng trào ra trong nỗi lo âu cho hạnh phúc. Giọng thơ sâu lắng, dồn dập gợi nhiều cảm xúc.

    Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi ko yên một bề

    Mở đầu, chiếc khăn được hỏi đến đầu tiên và được hỏi nhiều nhất:

    Khăn thương nhớ ai,

    khăn chùi nước mắt

    Chiếc khăn thường là vật trao duyên, vật kỷ niệm gơi nhớ người yêu. Sáu câu thơ đc cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại 3 lần câu “khăn thương nhớ ai” như 1 điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết.

    Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. Cái khăn, tự nó không biết ”

    thương nhớ”, không biết tự “rơi xuống”, “vắt lên”, ” chùi nước mắt”, nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc người đã hiện lên hình ảnh con người với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi lo âu. Nhớ đến ngơ ngẩn, nỗi nhớ tỏa theo chiều hướng của ko gian (” khăn rơi xuống đất rồi lại ” khăn vắt lên vai”), cuối cùng thu lại trong cảnh khóc thầm (“khăn chùi nước mắt”).

    Nỗi nhớ trong 6 câu lan tỏa vào không gian, đến 4 câu tiếp lại xuyên suốt theo thời gian.

    Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:

    Đèn thuơng nhớ ai, mà không tắt

    Vẫn là điệp khúc “thương nhớ ai”, nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ ” khăn” sang “đèn”. Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn mãi không chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi. Cũng như chiếc khăn, ngọn đèn đã giúp cô gái thổ lộ nỗi lòng.

    Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hoá. Nỗi lòng của cô gái buộc phải bật ra trong cách nói trực tiếp:

    “Mắt thương nhớ ai,

    Mắt không ngủ yên”

    Thuơng nhớ đến không ngủ được, cứ trằn trọc thao thức là cách thức biểu lộ quen thuộc trong ca dao:

    “ Đêm nằm lưng chẳng tới giường, Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”

    Tuy nhiên, cũng là 1 tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa hơn nhiều. “Mắt ngủ ko yên” tạo nên 1 đối xứng rất đẹp với “đèn ko tắt” ở trên, gợi lên 1 khung cảnh rất thực: cô gái giữa đêm khuya 1 mình đối diện với ngọn đèn mà nhớ người thương. Vì “mắt ngủ ko yên” nên “đèn không tắt”. Nói đèn cũng chỉ là nói người mà thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi không nguôi.

    Mười câu thơ là 5 câu hỏi không có lời đáp. Điệp khúc ” thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào 1 nỗi niềm khắc khoải, da diết. Những lần ” thương nhớ” và 5 lần từ ” ai” xuất hiện. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên 1 nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, ko giới hạn. Từ “ai” ko xác định cụ thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hiểu được “ai” ấy là ai. Hỏi không có trả lời, nhưng thực câu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã được bộc lộ 1 cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt.

    Cách gieo vần của bài ca cũng rất đặc sắc. Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau (ai-ai,mắt-tắt), vần bằng vần trắc luân phiên, tất cả tạo nên 1 âm điệu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa nén lại, vừa như kéo dài ra mênh mông vô tận theo cả không gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ không có kết thúc… Nhưng bài ca phải có điểm dừng. Khi cô gái không hỏi nữa thì niềm thương nhớ trào ra thành nỗi lo phiền :

    “Đêm qua em những lo phiền,

    lLo vì một nỗi không yên một bề… ”

    Từ nhịp thơ 4 chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo ây của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” được nhắc đến 2 lần. Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình “không yên một bề”, tâm trạng của cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưng lun lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh.

    Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh hạot, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bát cuối cùng… Qua nỗi thương nhớ và niềm lo âu được diễn tả trong bài ca, ta nhận ra tiếng hát yêu thương và khao khát yêu thương của ngừơi bình dân xưa.

  • văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    Bài văn mẫu

     Kể lại truyên Tấm Cám

    BÀI LÀM

    Ngày xưa, nhà kia có hai chị em cùng cha khác mẹ, chị là Tấm, em là Cám. Mẹ Tấm mất sớm, ít năm sau thì cha Tấm cũng qua đời. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ sai đi bắt tép, đứa nào bắt được nhiều thì được thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi để bắt. Còn Cám do được mẹ nuông chiều, ham chơi nên chẳng bắt được. Cuối buổi, thấy giỏ Tấm nhiều tép, Cám nghĩ kế rồi nói:

    “Chị Tấm ơi chị Tấm

    Đầu chị lấm

    Chị hụp[5] cho sâu

    Kẻo về mẹ mắng!”

    Tấm nghe lời em, xuống ao tắm gội. Cám thừa dịp trút hết tép của Tấm vào giỏ mình rồi chạy về nhà.

    Lên bờ, thấy giỏ trống không, Tấm ôm mặt khóc nức nở. Bụt hiện lên hỏi, Tấm liền kể hết sự tình. Bụt bảo lấy con cá bống còn sót trong giỏ về nuôi dưới giếng, mỗi khi cho ăn thì gọi:

    “Bống bống bang bang

    Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

    Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa[6] nhà người.”

    Tấm về làm theo lời Bụt dạy. Từ ngày đó, mẹ Cám thấy Tấm hay dành một bát cơm mang ra giếng sau khi ăn, liền sinh nghi sai Cám đi rình. Biết được sự thật, hôm sau mẹ Cám bảo Tấm đi chăn trâu nơi xa[7], ở nhà mẹ con Cám bắt cá bống của Tấm lên ăn.

    Về nhà thấy không còn cá bống, Tấm lại khóc. Bụt hiện lên, Tấm kể lại đầu đuôi. Bụt bảo lấy xương cá bống bỏ vào bốn cái lọ rồi đem chôn dưới bốn chân giường Tấm nằm. Tấm nghe lời Bụt dạy làm ngay.[8]

    Ít lâu sau, nhà vua mở hội. Hai mẹ con Cám cũng đi dự. Tấm muốn đi dự hội nhưng bị mẹ Cám trộn một đấu gạo với một đấu thóc bắt ở nhà nhặt cho xong, vả lại không có quần áo đẹp để đi. Tấm buồn mà khóc. Bụt tiếp tục hiện lên giúp Tấm. Bụt gọi một đàn chim sẻ xuống nhặt thóc cho Tấm trong nháy mắt, rồi bảo Tấm đào bốn cái lọ ngày trước chôn ở dưới bốn chân giường lên. Tấm đào lên thì thấy bốn cái lọ chứa đầy quần áo đẹp, một đôi hài thêu kim tuyến óng ánh, lại có một con ngựa đầy đủ yên cương. Tấm thay quần áo rồi cưỡi ngựa đi. Lúc này, trông Tấm vô cùng xinh đẹp.

    Lúc qua cầu, Tấm vô ý làm rơi mất một chiếc hài xuống nước. Một lát, đoàn hộ tống nhà vua đi dự hội nhặt được chiếc hài ấy. Vua ngắm chiếc hài rồi ra lệnh: “Hễ đàn bà con gái nào dự hội ướm vừa chiếc hài này thì vua sẽ cưới làm vợ.” Ai cũng tranh nhau ướm thử nhưng không vừa. Mẹ con Cám cũng vậy. Đến lượt Tấm ướm thử thì vừa như in. Nhà vua cho đem kiệu rước Tấm về cung làm vợ mình trước con mắt hằn học của mẹ con Cám.

    Ngày giỗ cha, Tấm về ăn giỗ. Dì ghẻ bảo Tấm trèo cây cau, hái cau cúng

    cha. Đang khi Tấm ở trên ngọn cau thì ở dưới dì ghẻ lấy dao chặt cây làm Tấm té mà chết. Cám lấy quần áo Tấm mặc rồi vào cung thay Tấm. Tấm chết biến thành chim vàng anh cũng bay về cung.

    Thấy Cám giặt áo cho vua, chim bảo:

    “Giặt áo chồng tao

    Thì giặt cho sạch

    Phơi áo chồng tao

    Thì phơi bằng sào

    Chớ phơi bờ rào

    Rách áo chồng tao!”

    Vua thấy chim hay bay theo mình, nhớ Tấm, liền bảo chim rằng:

    “Vàng ảnh vàng anh

    Có phải vợ anh

    Chui vào tay áo.”

    Dứt lời, chim bay vào tay áo vua. Từ đó, vua suốt ngày quấn quýt với chim vàng anh, khiến Cám tức tối về mách mẹ. Mẹ Cám bảo Cám bắt chim đem cho mèo ăn, chôn lông chim ngoài vườn. Chẳng bao lâu nơi đó mọc lên một cây xoan đào, xum xuê tươi tốt. Vua thấy đẹp nên sai người mắc võng vào cây hóng mát. Mỗi khi nằm dưới bóng cây vua lại thấy hình ảnh Tấm hiện ra, nên rất quý cây. Cám được mẹ xui chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Lúc ngồi dệt vải, Cám nghe con ác[9] trên khung cửi kêu:

    “Cót ca cót két

    Lấy tranh chồng chị

    Chị khoét mắt ra.”

    Nghe lời mẹ chỉ, Cám đốt khung cửi rồi đổ tro bên đường xa cung vua. Từ đống tro ấy mọc lên một cây thị, chỉ có duy nhất một trái to vàng. Một bà bán hàng nước đi qua thấy trái thị liền nói:

    “Thị ơi thị rụng bị bà

    Bà để bà ngửi chứ bà không ăn.”

    Tức thì quả thị rụng ngay vào bị, bà lão đem về nhà. Từ đó, ngày nào đi chợ về bà cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm nước sẵn sàng. Ngạc nhiên, một hôm bà lão giả vờ đi chợ rồi quay lại rình xem. Bà thấy một cô gái xinh đẹp từ quả thị bước ra, nấu cơm, sửa soạn nhà cửa. Bà vội chạy vào nhặt cái vỏ thị, xé vụn. Từ đó hai người sống với nhau như mẹ con.

    Một hôm, nhà vua đi ngang ghé hàng nước của bà. Bà lão rót nước mời vua ăn trầu. Thấy miếng trầu têm cánh phượng giống hệt trầu Tấm têm cho vua ngày xưa, nhà vua mới hỏi bà lão ai đã têm trầu. Bà lão gọi Tấm ra. Vua nhận ra vợ mình, đón Tấm trở về cung. Cám thấy Tấm vẫn còn sống mà lại trắng đẹp hơn xưa nên băn khoăn tự hỏi vì sao. Tấm[10] bày cho Cám tắm với nước sôi thì sẽ đẹp. Cám hí hửng làm theo thì chết tức khắc. Nghe tin Cám chết, dì ghẻ cũng uất lên mà chết theo con.[11]

    Thuyết minh tà áo dài

    Thuyết minh áo zài

    Trải qua nhiều năm tháng áo dài đã trở thành thứ trang phục đặc biệt và không thể thiếu của người Việt Nam. Từ trước đến nay, áo dài là nguồn cảm hứng vô tận của biết bao nhà văn, nhà thơ, đã được dựng thành phim và những bài hát về áo dài chính là món quà vô giá của những người con Việt Nam dành tặng cho quê hương, đất nước.

    Không ai biết rõ áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và có nguồn gốc ra sao. Theo những hình khắc trên trống đồng Ngọc Lũ thì cách đây khoảng vài nghìn năm, người phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ. Vào trước thời Bắc thuộc, áo dài được gài về phía tay trái nhưng về sau vì bắt chước người Trung Quốc nên mới gài về bên phải. Kiểu sơ khai nhất của áo dài thời xưa là áo giao lãnh, khá giống áo tứ thân nhưng hai tà không buộc với nhau mà chỉ để giao nhau. Tiếp đó là áo tứ thân ra đời, áo tứ thân khá tiện cho việc đồng áng nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp của người phụ nữ nông thôn. Nhưng người thành thị thì lại khác, muốn có một chiếc áo tân tiến hơn để giảm đi chế nét dân dã lao động và cải tiến cho sang trọng hơn. Thế là áo ngũ thân ra đời. Áo ngũ thân che kín thân hình mà không để hở áo lót. Và rồi đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, khi xưng vương ông đã bắt quan, dân phải mặc quốc phục lấy mẫu từ trang phục của nhà Minh, Trung Quốc. Đây là câu chuyện được nhiều người biết đến nhất khi nói đến nguồn gốc của áo dài. Vì vậy ta có thể nói áo dài có xuất xứ từ phương Bắc.

    Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài của Việt Nam vừa hiện đại lại vừa truyền thống. Trang phục này không giới hạn địa điểm hay thời gian, ta có thể mặc nó ở mọi lúc mọi nơi. Đi chơi với bạn

    bè, tại công sở, tiếp khách cũng rất trang trọng, nó còn là người bạn gắn liền với nữ sinh và cũng không thể thiếu đối với những bữa tiệc. Việc mặc áo dài cũng rất đơn giản, không rườm rà như mặc kimono hay hanbok. Có thể mặc kèm với áo khoác hay khăn choàng cũng rất trang trọng, dưới chân thì đi giày cao gót, đi hài,… Một người phụ nữ có nhan sắc trung bình khi mặc áo dài lại trở nên mềm mại, thướt tha một cách lạ thường. Đây chính là điểm đặt biệt của trang phục này. Chính vì vậy mà các nhà tạo mẫu không ngừng thiết kế, sáng tạo cho áo dài thêm trẻ trung, năng động.

    Vào khoảng thế kỉ XVII, một nhà phê bình người Ý đã cho rằng kiểu cách ăn mặc của người Việt Nam rất kín đáo. Tuy là một nước thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới nhưng có thể nói là kín đáo nhất so với các dân tộc khác ở châu Á. Một nhà phê bình khác lại cho rằng người Việt có cổ không cao lắm, vì vậy họ đã biết may cổ áo thấp, khoảng từ một đến hai phân, rồi búi tóc hoặc vấn khăn để có cảm giác chiếc cổ dài ra. Đây cũng là lí do các nhà tạo mẫu không ngừng nghiên cứu, sáng tạo. Từ chiếc cổ truyền thống cho đến cổ trái tim, cổ tròn và cổ thuyền, …mang đậm chất phương Tây. Vào thế kỉ XIX là thời kì mà các nhà tạo mẫu áo dài xuất hiện nhiều nhất. Lúc đó vai áo được may phồng, được trang trí thêm hạt cườm ở phía sườn bên phải. Cổ áo được gắn thêm cổ bẻ hoặc nơ nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến năm

    1. Vào đến năm 1950, sườn áo đã may có eo, những người thợ khéo tay đã biết may áo lượn theo thân người. Vạt áo được cắt ngắn và hẹp. Gấu áo cắt thẳng và ngắn hơn, thân áo sau rộng hơn thân áo trước. Cho dù bị chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Đông nhưng áo dài vẫn giữ được nét đẹp riêng của mình. Trong các cuộc thi sắc đẹp, phần thi áo dài thật sự rất quan trọng. Và giờ đây các nữ sinh đã không còn xa lạ gì nữ với tà áo dài thướt tha bay trong gió.

    Em thật sự rất tự hào với bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình. Giờ đây tà áo dài phất phơ trên đất bạn là một tín hiệu đáng vui của người Việt.

  • Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Văn mẫu lớp 11

    Đọc – hiểu đoạn trích “Vào phủ chúa trịnh”

    BÀI LÀM

    1. Tim hiểu chung
    1. Tác gi

    – Lê Hữu Trác (1724 -1791) hiệu Hải Thượng Lãn Ông

    • Là y học, nhà văn, nhà thơ lớn nữa cuối thế kỉ XVIII. Ông là tác giả của bộ sách y học nổi tiếng “ Hải Thượng y tông tâm lĩnh”
    1. Tác phẩm “Thượng kinh ký sự” và đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”
    1. Tác phẩm “Thượng kinh ký sự”

    – Thượng kinh ký sự là tập nhật kí bằng chữ Hán, in ở cuối bộ “Y tông tâm tĩnh”

    – Tác phẩm tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa phủ chúa Trịnh và quyền uy thế

    lực của nhà chúa.

    1. Về đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”

    * Nội dung: SGK

    * Bố cục:

    1. Thể loại

    Thể kí sự là những thể văn xuôi ghi chép những câu chuyện, sự việc, nhân vật có thật và

    tương đối hoàn chỉnh.

    1. Đọc – hiểu văn bản

    1.Tác giả kể chuyện được vua cho đem cáng đến đón vào cung chữ bệnh

    – Cảnh bên ngoài:

    • Mấy lần cửa, theo đường bên trái dành cho người ngoài cung.
    • Tác giả thấy đâu đâu cũng cây cối “um tùm”, tiếng chim ríu rít, hoa đua thắm, mùi

    hương thoang thoảng, hành lang nối nhau liên tiếp, lời truyền báo rộn ràng, người qua lại

    như mắc cửi…

    • Quang cảnh phủ chúa Trịnh cực kì xa hoa tráng lệ nhằm khẳng định quyền uy tột cùng của nhà chúa trong khi đó dân tình trong nước đang chịu nhiều khổ cực vì đói rét, vì chiến tranh.
    1. Tác giả kể và tả những điều mắt thấy tai nghe khi được dẫn vào cung

    – Tác giả đi qua mấy lần cửa đến một cái điếm, ở đó “ có những cây lạ lùng và những hòn

    đá lì lạ”, “ cột và bao lơn lượn vòng”

    – Vượt qua một cái cửa lớn, bị chặn lại vì tác giả ăn mặc có vẻ lạ lùng”

    • Qua một đại đường rồi đến một gác tía, qua một cửa nửa tác giả quan sát kĩ “ nhà lớn thật cao và rộng, hai bên hai cái kiệu …trên sập mắc một cái võng điều”

    => Tác giả đã bị ngợp , bị động trước cảnh uy nghi cẩn mật quá mức tưởng tượng.

    • Thái độ của tác giả: tự coi mình là “quê mùa” → khiêm tốn thân mật với các lương y. Đó là nét nhân cách của ông.
    1. Tác giả kể và tả việc đi sâu vào nội cung và khám bệnh cho thế tử
    • Cảnh thâm cung: trướng gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa

    ngào ngạt, cung nhân xúm xít, màu mặt phấn, màu áo đỏ.

    • Thủ tục rườm rà, nhiêu khê: bữa ăn sáng của tác giả ở điếm hậu mã, cảnh mọi người chầu chực hầu thế tử, cảnh chuẩn bệnh kê đơn, phải lạy chào bốn lạy, lại được khen một câu : “ Ông này lạy khéo”
    • Nội cung là một cảnh vàng son, nhưng tù hãm, thiếu không khí, ngột ngạt, cuộc sống thế tử như “ con chim non nhốt trong lồng son”.
    1. Tác giả nhận định bệnh và đề ra phương án chữa bệnh
    • Bồi dưỡng thể lực, thể lực tốt sẽ đuổi được bệnh (Quan điểm này xuất phát từ cuộc sống của thế tửi và các biểu hiện bên ngoài của bệnh)
    • Phương sách hòa hoãn, kéo dài thời gian chữa bệnh để ông có thể về lại quê nhà.

    => Đó là người thày thuốc giỏi ,giàu kinh nghiệm, có lương tâm ,có y đức.

    => Một nhân cách cao đẹp ,khinh thường lợi danh,quyền quí, quan điểm sống thanh đạm

    ,trong sạch.

    1. Bút pháp kí sự đặc sắc của tác phẩm
    • Khả năng quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động
    • Lối kể khéo léo ,lôi cuốn bằng những sự việc chi tiết đặc sắc.
    • Có sự đan xen với tác phẩm thi ca làm tăng chất trữ tình của tác phẩm.
    1. Tổng kết

    Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” phản ảnh quyền lực to lớn của Trịnh Sâm, cuộc sống xa

    hoa hưởng lạc trong phủ chúa đồng thời bày tỏ thái độ coi thường danh lợi quyền quý của

    tác giả.

  • Văn mẫu  Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Văn mẫu lớp 10

     Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    BÀI LÀM

    Nói đến Hoàng Đức Lương là phải nói đến bộ sách Trích diễm thi tập.Bộ sách

    khép lại cả một thời kỳ dài sưu tập thơ văn Lý – Trần từ Phan Phu Tiên với Việt

    âm thi tập đến Dương Đức Nhan với Tinh tuyển chư gia luật thi. Ý nghĩa của

    Trích diễm thi tập xưa nay từng được đánh giá rất cao, ở chỗ sau chính sách hủy

    diệt văn hóa tàn khốc của nhà Minh hồi đầu thế kỷ XV, thì đến thập niên cuối

    thế kỷ, Hoàng Đức Lương đã có công tìm kiếm, lưu chép cho hậu thế đến 15

    cuốn (trên thực tế chỉ còn 6 cuốn) về thi ca các triều đại trước Lê sơ. Sau này

    nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu khác từ cổ đến cận, hiện và đương đại cũng đã

    phải dựa vào đó rất nhiều để tiếp tục bồi đắp vốn văn chương cổ. Do đó, ngoài ý

    nghĩa văn học sử, Trích diễm thi tập còn có ý nghĩa to lớn đối với văn hóa, văn

    hiến nước nhà.

    Trước hết, tác giả nêu bật được một quan niệm về thơ bằng cách dùng hình ảnh

    so sánh thú vị: “Đối với thơ ca, người xưa thường ví với nem chả, hoặc ví với

    gấm vóc. Nem chả là vị rất ngon ở đời, gấm vóc là mầu rất đẹp ở đời. Phàm

    người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng, mà không vứt bỏ khinh thường. Có

    điều là: sắc đẹp của thơ lại ở ngoài mọi sắc đẹp, mắt thường không thấy được;

    cũng vậy, vị ngon của thơ lại ở ngoài mọi vị ngon, miệng thường không nếm

    thấy. Chỉ có thi nhân mới có thể thấy được sắc đẹp đó, nếm được vị ngon đó”.

    Như thế Hoàng Đức Lương cho rằng thơ là phải đẹp, mà phải “ở ngoài mọi sắc

    đẹp”, nghĩa là cái đẹp thông thường theo quan niệm của người đời là không thể

    so được.. Vậy, vẻ đẹp của thơ phải là vẻ đẹp mang tính vĩnh cửu, nó không bị

    biến chất, không bị mọi thứ tư duy thông thường xâm thực. Thơ không theo quy

    luật chung của cái đẹp thông thường. Thơ đã thế, người làm ra thơ cũng là loại

    người đặc biệt khác thường mới có thể “thấy” và “nếm” được thơ. Ở đây, theo

    quan niệm của Hoàng Đức Lương thì thi nhân vừa là người sáng tác, vừa là

    người thưởng thức, phê bình. Quan niệm như thế nên khi làm sách Hoàng Đức

    Lương chỉ Trích diễm, tức là chỉ chọn lựa cái hay, cái đẹp. Xem qua có vẻ như

    tác giả đã “tuyệt đối hóa” vai trò của thơ và của thi nhân, nhưng ngẫm kỹ thì

    dường như ông đã có lý. Thơ đối với cổ nhân đúng là một địa hạt đặc biệt, sau

    này Ngô Thì Sĩ cũng cho rằng kẻ phàm không vào thơ được.Hơn nữa, quan

    niệm của Hoàng Đức Lương còn tiến một bước xa trên con đường nhận thức

    thơ. Khi viết Tựa cho Việt âm thi tập vào năm 1433,

    Nhưng rõ ràng, cạnh việc nói chí thì thơ bao giờ cũng là địa hạt của xúc cảm

    thẩm mĩ, của cái đẹp. Có thể Hoàng Đức Lương còn đi xa hơn cả quan niệm của

    chúng ta hiện nay khi ông cho rằng cái đẹp của thơ còn “ở ngoài mọi sắc đẹp”

    như đã nói trên.

    Tiếp theo, bài Tựa còn đưa ra quan niệm về sự tiếp nhận, lưu truyền văn học, về

    thi học và phần nào là vấn đề tự do văn học. Sự tiếp nhận văn học, nói như ngôn

    từ hiện nay, thì ở người xưa là việc thẩm bình, cái mà tác giả đã gọi là nếm và

    thấy. Tức là yêu cầu người tiếp nhận phải có cả năng khiếu và năng lực, cũng có

    ý chỉ người tiếp nhận phải ở một trình độ cao, phải có một tầm đón nhận tương

    xứng. Biết sáng tác thơ và hiểu thơ là khó, nhưng tác giả vẫn muốn công việc

    sưu tập của mình “cốt được truyền bá rộng” di sản thơ Lý – Trần. Hẳn là có

    khao khát muốn bồi bổ, nâng cao năng lực tư duy, năng lực thẩm mĩ cho các thế

    hệ người đọc bằng thơ. Khái niệm thi học mà Hoàng Đức Lương dùng có ý chỉ

    cách học, phép làm thơ, nhưng cũng có thể hiểu là việc nghiên cứu tìm hiểu thi

    ca (Đức Lương thi học duy thị Đường chi bách gia – Thi học của Đức Lương

    tôi, duy chỉ dựa vào các thi gia đời Đường). Lê Quý Đôn rất tinh tường khi nói

    về Hoàng Đức Lương là người cực thích thi học (“khốc hiếu thi học”). Do đó,

    có thể thấy ngay từ thế kỷ XV, Hoàng Đức Lương đã nói đến vấn đề thi học,

    một trong những vấn đề cốt tử của thi ca.

    Khái niệm thi học bấy giờ nghĩa có thể chưa rộng như ngày nay, nhưng quả là

    cái gốc rễ thì đã thấy rõ. Bài Tựa cũng nêu ra một thực tế: “Qua sách vở thời Lý

    – Trần truyền lại đến ngày nay, chỉ thấy sách nhà chùa là nhiều.

    Thật ra, đâu có phải vì các nhà Nho học không giỏi bằng các nhà Phật học. Mà

    chính là trong nhà chùa không có sự cấm đoán in sách, cho nên mới có bản khắc

    truyền về sau.

    Còn thơ ca của các nhà Nho nếu như chưa được nhà vua cho phép, thì không

    được in ra để lưu hành” (4). Đó là sự chặt chẽ và lề luật quá nghiêm khắc đương

    thời.

    Toàn bộ thơ văn phải qua tay kiểm duyệt của một ông vua. Mặc dù nhà vua có

    cả một đội ngũ để giúp việc, nhưng việc “dắt bò qua cổ chai” đó đã khiến thơ

    văn mất hẳn sinh sắc. Người sáng tác lúc nào cũng nơm nớp húy phạm, nơm

    nớp câu chuyện “văn tự ngục”.

  • Văn mẫu Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

    Văn mẫu Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

    Văn mẫu Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

    Văn mẫu lớp 11

    Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

    BÀI LÀM

    Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ. Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí,y thuật.

    Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao . Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập 1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.

    Như ta biết: kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như : bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của nhà văn trước sự

    việc.

    Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.

    Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian .Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa . Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….” . ở đây “trong việc có

    người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa .Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức .Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.

    Lần theo mạch tự sự, người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này. Trước mắt ta : hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột chậm lại để ghi người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật .

    Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động. Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu .

    Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có

    sẵn,tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.

    Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…” , “người đầy tớ nói…..tôi bèn” , “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc

    một mẻ,khổ không nói hết”. Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành động .Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác.

    Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình,

    một sự việc, hành động. Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền ,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.

    Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” .Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.

    Theo nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở đâu sánh

    bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác. Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ…. Đến nội cung của thế tử phải

    trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm ,xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

    Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa

    Trịnh Sâm. Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh .Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh ,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.

    Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì thế.

    Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh .Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau .

    Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối

    um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân

    thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội

    thất, không gian cao rộng của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là

    được biết cái phong vị của nhà đại gia.

    “Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền.

    Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan

    sát của nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới

    thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do

    quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự

    thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự

    cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian

    rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong tư cách một

    người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà nhã kính nhường,

    ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp . Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y của sáu

    cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân

    cách và tài năng của nhân vật này . Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày

    hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám .

    Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái

    tôi cá nhân người cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc

    giàu kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ.

    Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp

    lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch . Lê Hữu

    Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông

    trở về hành đạo cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu

    cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”.