Author: Nguyễn Huyền

  • Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C3%A1nh-thu%E1%BA%BF-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Thông tin tổng quan chi tiết về thủ tục đánh thuế bất động sản?

      Văn Phòng Định Giá Viên Thành Định Giá Viên ước tính giá trị thị trường của bất động sản dựa trên các đặc
      Phố Minneapolis Xác Định Giá Trị điểm có ảnh hưởng tới giá trị thị trường như kích thước, tuổi, và tình trạng
      và Phân Loại Tài Sản Cá Nhân và hoàn thiện của tầng hầm, cùng với các tiện nghi đặc biệt khác như lò sưởi,
      Bất Động Sản phòng tắm thêm, bao lơn và các yếu tố khác.
      Theo luật tiểu bang, giá trị và hạng Các Định Giá Viên tiến hành phân tích chi tiết về các giao dịch bán bất
      mục của bất động sản được thiết lập động sản trong mỗi cộng đồng để tìm hiểu về xu hướng thị trường địa
      kể từ ngày 2 tháng Một và ngày 1 phương, trong đó bao gồm cả các giao dịch bán bất động sản được ghi nhận
      tháng Mười Hai hàng năm. Văn trong khu vực khác. Ban Phụ Trách Doanh Thu Tiểu Bang xem xét thông
      Phòng Định Giá Viên làm việc cả tin về các giao dịch bán bất động sản để bảo đảm rằng giá trị bất động sản
      năm để ước tính giá trị thị trường được xác định một cách công bằng và bình đẳng.
      của mỗi bất động sản cho ngày 2  
      tháng Một của năm kế tiếp. Kết quả Thành Phố Minneapolis có nhiệm vụ tiến hành một cuộc kiểm tra ở bên
      định giá được thiết lập vào ngày 2 trong và bên ngoài bất động sản của quý vị nếu quý vị vừa mới cho xây,
      tháng Một trở thành căn cứ để tính hoặc đã cho tu bổ hay sửa chữa, hoặc tiến hành kiểm tra ít nhất 5 năm một
      các mức thuế của năm kế tiếp. lần. Ngay cả khi Định Giá Viên không kiểm tra bất động sản của quý vị
        hàng năm, giá trị của bất động sản hoặc giá trị ước tính mà bất động sản
        của quý vị có thể bán được trên thị trường tự do có thể được điều chỉnh
        theo hoạt động trên thị trường địa phương.
         
        Định Giá Viên căn cứ vào cách thức bất động sản của quý vị được sử dụng
        trong năm trước đó (thí dụ như gia cư, cơ sở thương mại, nhà ở, không phải
        là nhà ở, chung cư, trang trại, v.v…) để phân loại hạng mục bất động sản
        theo tiêu chí của tiểu bang.
         
      Tất cả các chủ sở hữu bất động sản Định Giá Viên gửi cho quý vị Value Notice (Thông Báo về Giá Trị Bất
      đều nhận được Value Notice Động Sản) trễ nhất là cuối tháng Ba hàng năm, trong đó có ghi giá trị và
      (Thông Báo về Giá Trị Bất Động hạng mục của bất động sản của quý vị để tính mức thuế bất động sản mà
      Sản) trước tháng Ba hàng năm. quý vị sẽ trả cho năm kế tiếp và đồng thời cũng ghi cả giá trị của bất động
        sản trong năm trước đó.
         

    Tất cả các ch ủ sở hữ u bất động sản đều nên XEM Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản) và xác định xem họ đồng ý hay là không đồng ý với giá trị bất động sản đã ghi trong đó.

    Nếu quý vị không đồng ý với thông tin ghi trong Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản)

    Hãy bắt đầu b ằng việc gọi vào số điện thoại của định giá viên của quý vị ghi trong bản thông báo đó và bàn th ảo v ề các mố i lo ngại củ a quý vị với họ. H ọ có thể giải thích về cách thứ c xác định giá tr ị và hạng mục của bất động sản cho năm tính thuế mới và về các lựa chọn của quý vị. Nếu quý vị tin rằng đ ã có sai sót, quý vị có thể yêu cầu định giá viên xem xét lại mọi thông tin để bảo đảm rằng họ đã sử dụng thông tin thích hợp khi định giá.

    Lựa chọ n khác là tham dự một trong Các Buổi Họp Sổ Sách Công Khai của Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Thành Phố Minneapolis được tổ chức vào tháng Ba hàng năm để kháng cáo, bàn thảo và tìm hiểu cách xác định giá trị và h ạng mục cho n ăm tính thuế mới. Nếu quý vị cảm thấy đã có sai sót, quý vị có thể thu xếp một buổi họp để xem xét các thông tin đã được sử dụng trong quá trình định giá.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Nếu quý vị tin rằng mình không thể bán bất động sản ở mức giá mà Định Giá Viên đã ước tính, quý vị có thể kháng cáo theo những cách khác.

    Ví dụ, quý vị có thể thuê một định giá viên bất động sản tư để hoàn tất thủ tục định giá bất động sản của quý vị và nộp kết quả cho Thành Phố để xem xét.

    Quý vị cũng có thể kháng cáo với Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu Bang Minnesota).

    Bước tiếp theo là tất cả các cơ quan chính quyền địa phương thiết lập ngân sách – bao gồm các khoản tiền cần thiết cho khu học chánh, Thành Phố Minneapolis và các đặc khu khác có đánh thuế, thí dụ như Metropolitan Council (Hội Đồng Thành Phố).

        Theo luật, các chính quyền địa Các cơ quan chính quyền địa phương như khu học chánh và Thành Phố
        phương phải tổ chức một buổi họp Minneapolis – thiết lập ngân sách cho năm kế tiếp vào mùa xuân và mùa
        công khai và thông báo mức tăng của năm trước đó.
        thuế bất động sản tối đa mà họ dự  
        định sẽ phê chuẩn cho năm kế tiếp. Nếu quý vị quan tâm tới vấn đề ngân sách chính quyền địa phương hoặc
        Các buổi bàn thảo này thường diễn cách thức chi dùng tiền đóng thuế của quý vị, quý vị có thể xem ngày, giờ
        và địa điểm tổ chức các buổi điều trần và buổi họp công khai và liên lạc với
        ra vào cuối tháng Tám hoặc đầu các cơ quan đánh thuế để tham gia tiến trình lập ngân sách. Ngoài ra, quý vị
        tháng Chín, vì các chính quyền địa cũng nên tham dự một buổi hội thảo về ngân sách hoặc buổi lập kế hoạch
        phương phải bỏ phiếu và xác định ngân sách của các cơ quan chính quyền địa phương.
        mức tăng thuế tối đa trước trung  
        tuần tháng Chín.  
        Mức thuế áp dụng cuối cùng có thể  
        thấp hơn nhưng không thể cao hơn  
        mức công bố.  
           
        Sau khi các cơ quan địa phương Mỗi ngân sách của các cơ quan chính quyền địa phương sẽ bao gồm một
        hoàn tất các buổi điều trần về ngân mục qui định một phần chi phí hoạt động (cung cấp các chương trình và
        sách, các yêu cầu ngân sách được đề dịch vụ cho cư dân) lấy từ thuế đánh vào bất động sản, hoặc quy định tổng
        nghị sẽ được đệ trình để giải quyết. số tiền mà cơ quan chính phủ đó cần từ những người đóng thuế để đài thọ
          cho các hoạt động của cơ quan này trong năm kế tiếp.
           

    Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố chuẩn bị một bản tính toán các khoả n thuế bất động sản ước tính cho mỗi bất động s ản tại Thành Phố Minneapolis cho năm kế tiếp. Việc ước tính các khoản tiền này không dựa trên ch ủ quan. Các khoản tiền đó được tính toán theo các công thức toán học được máy điện toán và nhân viên có kinh nghiệm thực hiện và kiểm tra lại.

    Khi tất cả các đề án ngân sách cho

    mỗi cơ quan chính quyền địa

    phương đã được hoàn tất, Proposed

    Tax Statement (Các Bản Kê Khai Thuế Được Đề Nghị) hay thường gọi là các bản kê khai đóng thuế Truth-In–Taxation được in ra và gửi qua đường bưu điện trong khoảng thời gian từ ngày 10 tới ngày 25 tháng Mười Một cho mỗi

    Proposed Tax Statement (Các Bản Kê Khai Thuế Được Đề Nghị) không

    phải là hóa đơn; mà đó là thông báo về những thay đổi đối với các khoản

    thuế bất động sản của quý vị nếu tất cả các cơ quan đánh thuế tại địa

    phương thông qua các thay đổi về mức thuế bất động sản mà họ hiện đang

    xem xét. Bản kê khai này liệt kê các khoản thuế cho năm hiện tại và các

    khoản thuế đề nghị để phân tích. Các bản kê khai này cũng ghi ngày, giờ và

    địa điểm tổ chức các cuộc họp “Truth in Taxation”. Các buổi họp này được

    chính quyền địa phương tổ chức hàng năm để cung cấp một kênh khác cho

    công chúng đóng góp ý kiến về các khoản thuế bất động sản được đề nghị.

    Các buổi họp Truth in Taxation hàng năm là cơ hội cuối cùng để quý vị tác

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    chủ sở hữu bất động sản tại Thành Phố Minneapolis.

    động tới quyết định của các viên chức chính quyền địa phương về các đề án ngân sách của họ cho năm k ế tiếp, trong đó bao gồm cả khoả n tiền lấy từ thuế bất động sản mà họ tin là cần thiết để cung cấp các dịch vụ và chương trình.

    Các bước cuối cùng trong thủ tục lập ngân sách sẽ diễn ra trong vòng vài ngày gần ngày 20 tháng Mười Hai hàng

    năm. Các chính quyền địa phương phải phê chuẩn ngân sách chính thức của mình cho năm kế tiếp vào tháng

    Mười Hai và thông báo về thông tin qui định tài chính sẽ được sử dụng khi chuẩn bị tính toán mức thuế bất động

    sản chính thức.

        Property Tax Statement (Các Bản   Lưu ý: Các bản kê khai cho nhà lắp ghép thường được gửi qua đường bưu
        Kê Khai Thuế Bất Động Sản)   điện trước tháng Năm.
        “thực tế” – không còn là “đề nghị”      
        nữa – được gửi qua đường bưu điện      
        tới mỗi chủ sở hữu bất động sản trễ      
        nhất là cuối tháng Ba để thông      
        báo về các khoản thuế phải trả      
        cho năm đó.      
                 
        Đa số các chủ sở hữu bất động sản     Các cư dân Quận Hennepin có thể trả thuế bất động sản theo nhiều phương
        phải trả thuế bất động sản thành hai     thức. Xin sử dụng đường liên kết này để tìm hiểu thêm về các lựa chọn này:
        lần mỗi năm, một lần trước ngày 15     http://www.co.hennepin.mn.us/
        tháng Năm và lần thứ hai trước        
        ngày 15 tháng Mười.     Các ngày trả thuế khác: Xem bản kê khai thuế bất động sản của quý vị
              để biết ngày hết hạn ghi trong Property Tax Statement (Bản Kê Khai Thuế
              Bất Động Sản), đối với bất động sản dùng cho mục đích nông nghiệp, quý
              vị có thể trả nửa thứ hai của số tiền thuế trước ngày 15 tháng Mười Một.
              Các khoản thuế bất động sản cho nhà lắp ghép thường hết hạn vào ngày 31
              tháng Tám và ngày 15 tháng Mười Một.
                 

    Trang mạng điện toán của chính quyền Quận Hennepin cũng cung cấp nhiều thông tin về giá trị bất động sản, các loại h ạng mục và thu ế bất động sản. Các đường liên kết trong nội dung nói trên sẽ chuyển quý vị tới thẳng các mục thích hợp. Quý vị có thể truy cập trang mạng điện toán của Quận Hennepin tại: http://www.co.hennepin.mn.us/

     

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Khiếu Nại Mức Thuế Bất Động Sản của Quý Vị

    Tôi có những lựa chọn gì nếu không đồng ý với mức thuế bất động sản của tôi?

    Sau khi quý vị xem Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản) mà quý vị nhận được vào tháng Ba hàng năm và nếu quý vị không đồng ý với mức giá trị bất động sản hoặc hạng mục bất động sản, quý vị có thể kháng cáo theo một số cách thức có sẵn. Những cách thức kháng cáo được trình bày tóm lược dưới đây.

    Bàn thảo về các vấn đề lo ngại của quý vị với Nhân Viên Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis

    • Xem xét các phương thức và các thông số tính toán được sử dụng để xác định giá trị bất động sản của quý vị
    • Xem xét các đặc điểm của bất động sản đó và bất kỳ thay đổi nào trong năm vừa qua
    • Xem xét các giao dịch bán bất động sản trong vùng của quý vị và các xu hướng trên thị trường hiện tại
    • Bàn thảo về các lựa chọn và các bước tiếp theo với nhân viên Văn Phòng Định Giá Viên
    • Nếu quý vị và nhân viên Văn Phòng Định Giá Viên vẫn không đồng ý, sau đây là các lựa chọn mà quý vị có thể áp dụng để tiếp tục thủ tục kháng cáo
    Lựa Chọn Kháng Cáo Trực Tiếp    
      Ba Cấp Xem Xét để Giải Quyết Một Lựa Chọn Kháng Cáo
    với Tax Court (Tòa Án Thuế)    
     
         

    Khiếu Nại với City of Minneapolis of Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Thành Phố Minneapolis)

    • Ủy Ban này họp vào tháng Tư hoặc tháng Năm, xin gọi văn phòng Thư Ký Thành Phố Minneapolis để lấy đơn xin và thu xếp hẹn
    • Đích thân tới kháng cáo, kháng cáo qua thư hoặc qua người đại diện được ủy quyền
    • Nếu quý vị vẫn cảm thấy các mối lo ngại của mình không được giải quyết thỏa đáng, quý vị có thể kháng cáo lên cấp tiếp theo là Hennepin County Board of Equalization (Ủy Ban Bình Quyền của Hennepin)

    Khiếu Nại với Hennepin County Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Quận Hennepin)

    • Trước hết quý vị phải kháng cáo với Minneapolis Board of Appeal (Ủy Ban Kháng Cáo Thành Phố Minneapolis)
    • Ủy ban này họp vào tháng Sáu, xin gọi Hennepin County Taxpayers Services (Cơ Quan Dịch Vụ Trợ Giúp Người Đóng Thuế Quận Hennepin) để lấy đơn xin và lấy hẹn.
    • Đích thân tới kháng cáo, kháng cáo qua thư hoặc qua người đại diện được ủy quyền
    • Nếu quý vị vẫn cảm thấy rằng các mối lo ngại của mình không được giải quyết thỏa đáng, quý vị có thể kháng cáo lên cấp tiếp theo là Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu bang Minnesota

    Kháng Cáo tại Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu Bang Minnesota)

    • Có thể kháng cáo tới ngày 30 tháng Tư của năm phải trả các khoản thuế đó.
    • Có thể liên lạc với Clerk of Tax Court (Lục Sự Tòa Án Thuế) tại số 651-296-2806. Họ sẽ gửi tập thông tin về Tòa Án Thuế và các mẫu điền cần thiết cho việc nộp đơn kháng cáo. Phải trả lệ phí nộp đơn.
    • Không bắt buộc phải thuê luật sư nhưng quý vị nên cân nhắc hoàn cảnh của mình để quyết định
    Ban Thường Trực   Ban Giải Quyết Các Vụ Kiện Có Qui Mô Nhỏ
    Có thể sử dụng cho bất kỳ dạng bất động sản   Tất cả các dạng bất động sản là Nhà Ở, với điều kiện là
      nào     mỗi một đơn kiện liên quan đến một lô đất có một căn
    Phải sử dụng cho bất động sản được xác định   hộ trên đó.
      giá trị hơn $300,000   Bất động sản không phải là nhà ở có giá trị chưa tới
    Nên thuê luật sư   $300,000
    Có thể kháng cáo quyết định với Supreme   Không cần phải thuê luật sư
      Court (Tối Cao Pháp Viện)   Các quyết định đều có giá trị cuối cùng
             

    Dùng Bất Động Sản Làm Nhà Ở

     

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Tại sao người ta lại xin đăng ký theo hạng mục nhà ở?

    Thuế nhà ở (homestead) là một chương trình giảm thuế bất động sản dành cho Các Cư Dân Minnesota. Tiểu Bang Minnesota khuyến khích cư dân sở hữu nhà bằng cách giảm thu ế bất động sản cho các bất động sản có chủ nhân cư ngụ. Thí dụ, một bất động sản nếu thuộc hạng mục nhà ở có thể được giảm thuế tới $304 một năm.

    Quyền sở hữu có nghĩa là gì?

    Quý vị phải có khế ước hoặc hợp đồng khế ước hợp lệ cho phép quý vị có quyền sở hữu đối với căn hộ đó để làm bằng chứng về quyền sở hữu b ất động sản. Để được coi là khế ước hợp lệ, b ản khế ước đó phải được đăng ký với Văn Phòng Đăng Ký Khế Ước Quận Hennepin (Hennepin County Registrar of Deed).

    Ai được hưởng quyền lợi này?

    Nếu quý vị sở hữu b ất động sản và quý vị hoặc một người thân hộ i đủ điều kiện cư ngụ trong bất động sản đó trước ngày 1 tháng Mười Hai, quý vị có thể nộp đơn xin theo diện nhà ở.

    Tình trạng cư ngụ có nghĩa là gì?

    Quý vị và tất cả nh ững người sở hữu khác phải sử dụ ng bất động sản đó làm nơi cư ngụ chính – hay nói cách khác, quý vị phải sống ở đó. Tình trạng cư ngụ tạm thời và chiếu lệ không được coi là th ỏa đ áng để được x ếp vào diện nhà ở. Nếu có hơn một người sở hữu bất độ ng sản đó và bất kỳ người nào trong số các chủ sở hữ u không cư ngụ tại bất động sản đó, thì bất động sản đó có thể được xếp vào hạng mục nhà ở một phần hoặc theo tỷ lệ.

    Khi nào tôi cần nộp đơn xin?

    Quý vị nên nộp đơn xin càng sớm càng tốt sau khi mua và chuyển tới ở trong căn nhà của quý vị. Nếu quý vị mua và cư ngụ trong một bất động sản không phải là nhà ở trước ngày 1 tháng Mười Hai, và xin nộp thuế theo diện nhà ở trước ngày 15 tháng Mười Hai, thì mức thuế theo diện nhà ở sẽ bắt đầu được tính từ năm k ế tiếp. Sau khi được chấp thuận là thuộ c h ạng mục nhà ở, mức thuế nhà ở vẫn s ẽ tiế p tục được áp dụng cho bất động sản đó cho tới khi có thay đổi về quyền sở hữu, tình trạng cư ngụ hoặc bất động sản đó được bán.

    Nếu tôi bán bất động sản đó thì sao?

    Nếu vào bất kỳ lúc nào bất động sản đó được bán hoặc quý vị thay đổi n ơi cư ngụ chính, luật tiểu bang yêu cầu quý vị phải thông báo cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố trong vòng 30 ngày. Nếu quý vị không thông báo cho định giá viên trong vòng 30 ngày, quý vị sẽ phải đóng thuế cho bất động sản đó theo hạng mục bất động sản thích hợp, cộng với một khoản tiền phạt.

    Một người thân có thể cư ngụ tại một bất động sản thay cho tôi không?

    Có, nh ững người thân hội đủ điều kiện có thể cư ngụ thay thế cho chủ sở hữu bất động sản đó. Những người thân hội đủ điều kiện được định nghĩa là người thân theo quan hệ ru ột thịt, quan hệ con nuôi hợp pháp, hoặc hôn nhân. Định nghĩa “người thân của chủ sở hữu” bao gồm con, con của chồng (vợ) kế, con dâu, con rể, cha (mẹ), cha (mẹ) kế, cha mẹ chồng (vợ), cháu nội (ngoại), ông (bà), anh (em) trai, anh (em) rể , chị (em) gái, chị (em) dâu, cô (gì), chú (bác), cháu trai hoặc cháu gái, các thành viên trong nông trại gia đình và các nông trại là công ty hợp danh.

    Các Giới Hạn:

    1. Quyền lợi thuế nhà ở áp dụng cho một bất động sản có người thân cư ngụ không được vượt quá mức quyền lợi mà chủ sở hữu sẽ được hưởng với tư cách là người cư ngụ.
    2. Bất động sản hiện được phân loại là giải trí theo thời vụ phải là nơi cư ngụ của người thân đó trong bốn năm thì mới được xếp vào hạng mục nhà ở.
    1. Chủ sở hữu và người thân cư ngụ tại bất động sản đó đều không được xin hoàn thuế bất động sản cho một bất

    động sản là nhà ở, trừ khi người thân cư ngụ đó là chủ sở hữu một phần của bất động sản đó.

    Nếu tôi không tuân theo luật về bất động sản là nhà ở hoặc khai man bất động sản là nhà ở thì sao?

    Hành động khai man bất động sản là nhà ở sẽ bị phạt tù tới tối đa một năm hoặc trả tiền phạt tới tối đa $3,000, hoặc cả hai.

    Nếu định giá viên KHÔNG được thông báo trong vòng 30 ngày về việc bất động sản đó đã được bán hoặc không còn được sử dụng là nơi cư ngụ chính nữa, bất động sản đó sẽ không còn được coi là thuộc hạng mục nhà ở và thành phố sẽ áp dụng các mức phạt.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Làm thế nào để nộp đơn xin đóng thuế theo diện bất động sản là nhà ở?

    Các vị chủ nhà mới tại Thành Phố Minneapolis có thể nộp đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nhà ở qua đường bưu điện, fax, hoặc đích thân tới văn phòng sau khi đã chuyển tới nhà mới. Thông báo cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố biết là quý vị sở hữu bất động sản và quý v ị, hoặc người thân hội đủ điều kiện đang cư ngụ tại bất động sản đó. Nộp cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố giấy tờ bằng chứng để chứng minh cho luận điểm của quý vị. Quý vị có thể nộp đơn xin qua fax, đường bưu điện hoặc đích thân tới nộp.

    Xin Đóng Thuế Bất động sản Theo Diện Nhà Ở bằng cách Đích Thân tới Văn

    Phòng, qua Đường Bưu Điện hoặc qua Fax:

    Địa Chỉ Bưu Tín và Địa Chỉ Đường Phố:

    City of Lakes Building

    309 2nd Av S Room 100

    Minneapolis, MN 55401-2234

    Or By Fax: 612 673-3538

    Với tư cách là chủ sở hữu bất động sản, quý vị sẽ cần phải cung cấp bản sao của các giấy tờ sau đây:

    • Khế ước bảo đảm, hợp đồng khế ước, hoặc giấy chứng nhận về quyền sở hữu Torrens, v.v để làm bằng chứng cho quyền sở hữu bất động sản
    • Bản sao của Certificate of Real Estate Value-CRV (Giấy Chứng Nhận Giá Trị Bất Động Sản), để chứng minh rằng quý vị đã nộp các giấy tờ này cho Registrar-of-Deeds (Văn Phòng Đăng Ký Khế Ước)
    • Số An Sinh Xã Hội của tất các chủ sở hữu hoặc số Individual Taxpayer Identification Number- ITIN (ID Đóng Thuế Cá Nhân) của mỗi chủ sở hữu hoặc người thân hội đủ điều kiện theo qui định của luật tiểu bang
    • Yêu cầu về hạng mục đóng thuế theo diện nhà ở là ngày thực tế mà các cư dân chuyển tới sống tại bất động sản đó.
    • Các số điện thoại liên lạc vào ban ngày hoặc địa chỉ liên lạc trong trường hợp chúng tôi có thắc mắc khi giải quyết đơn xin của quý vị

    Nếu quý vị là Người Thân Hội Đủ Điều Kiện xin đóng thuế theo diện nơi ở cho bất động sản đó, quý vị cần nộp các thông tin trên cộng với mẫu đơn xin liên quan và các giấy tờ bổ sung sau đây:

    • Bản sao của các giấy khai sinh, trong đó cho biết mối quan hệ của người cư ngụ đối với chủ sở hữu. Giấy đăng ký kết hôn, giấy tờ nhận con nuôi, lệnh của tòa án hoặc các giấy tờ khác chứng minh mối quan hệ giữa người thân hiện đang cư ngụ và chủ sở hữu
    • Bằng lái xe hoặc thẻ căn cước hợp lệ do Tiểu Bang cấp của người thân hiện đang cư ngụ, trong đó có ghi địa chỉ của bất động sản được dùng làm nhà ở
    • Khi có yêu cầu, bất kỳ giấy tờ nào khác được thấy là cần thiết

    Sau khi chúng tôi nhận được các giấy tờ cần thiết để giải quyết đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nhà ở của quý v ị, chúng tôi sẽ lập đơn xin đóng thuế theo diện nhà ở và gửi qua đường bưu điện tới cho quý v ị. Sau khi nhận được đơn xin, xin kiểm tra xác nhận rằng các thông tin ghi trong đơn xin là đúng, sau đó mỗi người cư ngụ là chủ sở hữu phải ký tên vào đơn xin đ ó. Ph ải nộp đơn xin có chữ ký cho Văn Phòng Định Giá Viên của Thành Phố trước ngày 15 tháng Mười Hai của năm đánh thuế.

    Nếu không ký tên và gửi lại đơn xin trước ngày 15 tháng Mười Hai, bất động sản của quý vị sẽ không được đưa vào hạng mục nhà ở.

    Tại sao tôi phải cung cấp số An Sinh Xã Hội?

    Mặc dù số An Sinh Xã Hội là thông tin kín đáo, theo luật Tiểu Bang Minnesota, các thông tin này phải được cung cấp thì chúng tôi mới chấp thu ận coi bất động sản của quý vị là nhà ở. Các số An Sinh Xã Hội sẽ được sử dụng để xác định xem chủ sở hữu hoặc người thân của chủ sở hữu có xin đóng thuế bất động sản cho nhiều hơn một nhà ở tại tiểu bang đó hay không.

    Tôi sở hữu một tòa nhà chung cư; tòa nhà đó có được coi là nhà ở hay không?

    Các tòa nhà chung cư có từ bốn căn hộ trở lên và các dạng bất động sản khác thường ít khi được xếp vào hạng mục nhà ở một phần dựa trên mức phần trăm diện tích cư ngụ trong tòa nhà chủ sở hữu đó sử dụng.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Nhà lắp ghép có được miễn trừ theo diện nhà ở không?

    Có, ch ỉ có chủ nhân (người giữ quyền sở hữu)/người cư ngụ mới được xin theo diện này. Phải nộp các giấy tờ yêu cầu và một bản sao của Certificate of Title (Giấy Chứng Nhận Quyền Sở Hữu).

    “Life Estates” (Di Sản Cả Đời) có hội đủ điều kiện được coi là nhà ở không?

    Có, miễn là quyền lợi về di sản cả đời đó được ghi trong khế ước và người nắm giữ di sản cả đời hội đủ tất cả các điều kiện về nhà ở.

    Vậy còn việc coi bất động thuộc sở hữu của hợp đồng tín thác là nhà ở thì sao?

    Đa số các hợp đồng tín thác đều hộ i đủ điều kiện để được đóng thu ế theo diện nhà ở. Certificate of Trust (Chứng Nhận về Tín Thác) phải được hoàn tất và có sự chấp thuận của văn phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis, hoặc phải nộp giấy chứng nhận Tín Thác đó cho Văn phòng Định Giá Viên để xem xét. Xin liên lạc với Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis, 612-673-2382 để biết thêm chi tiết.

    Có hạng mục nhà ở “đặc biệt” không?

    Có, dành cho những người mù lòa, tàn tật, cựu chiến binh bị liệt hai chân, và một số người phục vụ quân đội. Đây chỉ là phần giới thiệu tóm lược về hạng mục nhà ở cho người tàn tật 1b. Để biết thêm chi tiết, hoặc để giải đáp các thắc mắc cụ thể, xin gọ i Property Tax Division of the Minnesota Department of Revenue (Ban Thuế Bất Động Sản của Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota) tại số:(651) 556-6109 hoặc số 1-800-627-9094, số máy phụ 6 -6109. Những người sử d ụng TDD/TTY: xin gọi Minnesota Relay Services (Dịch Vụ Chuyển Tiếp Minnesota) tại số 1-800-627-3529; nhờ gọi số 800-652-9094, số máy phụ 6-0335

    Hạng Mục Nhà Ở Đặc Biệt – Người Mù Lòa, Tàn Tật, và Liệt Hai Chân

    Tiểu Bang Minnesota có các hạng mục nhà ở đặc biệt đối với bất động sản là nhà ở của bất cứ người nào:

    1. mù lòa, bản thân hoặc người phối ngẫu của họ bị mù hoặc
    1. những người bị tàn tật hoàn toàn và vĩnh viễn và có chứng nhận của cơ quan chính phủ hoặc nguồn cung cấp lợi tức rằng người cư ngụ đó hội đủ các điều kiện về tình trạng tàn tật.

    Hạng mục nhà ở theo diện tàn tật 1b không giống như các hạng mụ c nhà ở khác, trong đó tiêu chuẩn hội đủ điều kiệ n chỉ liên quan đến người đó và tình trạng tàn tật của họ. Điều này khác với hạng mục nhà ở thông thường, trong đó hạng mục này được công nhận dự a trên việc sử dụng bất động sản đó. MN Department of Revenew (Do đó Ban Thu ế Vụ MN) khuyến cáo rằng h ạng mục tàn tật sẽ được áp dụng cho bản thân người tàn tật đó, không phụ thuộc vào việc người này chuyển chỗ ở từ bất động sản này sang bất động sản khác.

    Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota quản lý ch ương trình hạng mục nhà theo diện tàn tật 1b. Nh ững người muốn xin đóng thuế theo diện hạng mục nhà ở đặc biệt cho người tàn tật phải nộp đơn xin cho Ban Thuế Vụ MN trước ngày 1 tháng M ười để được áp dụng mức thuế bất động sản đó cho năm lịch kế tiếp. Để nộp đơn xin hoặc để tìm hiểu thêm, xin liên lạc với Ban Thuế Vụ Tiểu Bang MN tại số (651) 556-6087. Bản Kê Khai Truth in Taxation và Tax Statement (Bản Kê Khai Thuế) sẽ ghi hạng mục nhà ở thích hợp.

    Tax Reduction Programs (Các Chương Trình Giảm Thuế) và Tax Deferral Programs (Các Chương Trình Trì Hoãn Thuế)

    Tôi gần như không thể có khả năng trả thuế, có cách nào để xin giảm thuế không?

    Tiểu Bang Minnesota có hai chương trình giảm thuế bất động sản cho những người đóng thuế có mức thuế tăng

    đáng kể hoặc mức thuế bất động sản không phù hợp với mức lợi tức của họ. Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota

    quản lý cả hai chương trình này. Quý vị có thể lấy mẫu đơn bằng cách gọi số 651-296-4444 hoặc truy cập trên mạng

    Internet của Ban Thuế Vụ tại www.taxes.state.mn.us. Quý vị cũng có thể gọi số 651-296-3781 để tìm hiểu thêm. Họ

    cũng có thể là

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Income Adjusted Homestead Credit (Chiết Khấu Nơi Ở Được Điều Chỉnh) là gì?

    Mục đích của “Income Adjusted Homestead Credit” (Chiết Khấu Nơi Ở Được Điều Chỉnh Dựa Trên Lợi

    Tức) là để bảo đảm rằng mức thuế không bất cân xứng với mức lợi tức của người đóng thuế. Chương trình này

    có đặt ra nhiều điều kiện. Nghị viện năm 2001, cùng với các thay đổi toàn diện khác về thuế bất động sản đã

    tăng mức hoàn thuế tối đa của chương trình này tới mức $1,590. Có mức tiêu chuẩn về lợi tức đối với chương

    trình này.

    • Đối với các hộ không có người phụ thuộc, mức giới hạn này là $85,210. Mức giới hạn về lợi tức tăng lên nếu số người trong gia đình tăng lên, tới mức tối đa là $101,690 cho các gia đình có năm người phụ thuộc hoặc hơn.
    • Các chủ nhà là người cao niên hoặc người tàn tật: tới $104,740 cho các hộ gia đình có năm người phụ thuộc hoặc hơn.

    Targeting là gì?

    Chương trình thứ hai là “Targeting”. Chương trình này có hoàn thu ế nếu mức thuế tăng hơn 12% và mức thuế tăng cao hơn ít nhất $100 so với mức thuế phải trả trong năm 2005. Đa số các chủ nhà tại Thành Phố

    Minneapolis đều hội đủ điều kiện được hoàn thuế theo chương trình này.

    Chương trình Trì Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên) là gì?

    Các điều kiện căn bản là (các) chủ sở hữu ph ải từ 65 tuổ i trở lên và gia đình có lợi tức ch ưa tới $60,000. Đ ây là chương trình trì hoãn thuế chứ không phải là giảm thuế. Thuế tích luỹ cùng với lãi suất ở mức không vượt qúa 5% và một khoản tịch thu thế chấp được gắn liền với bất động sản đó.

    Đây chỉ là phần trình bày tóm lược về chương trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Các Cư Dân Cao Niên). Để lấy đơn xin hoặc giải đáp các thắc mắc cụ thể, xin gọi Property Tax Division of the Minnesota Department of Revenew (Ban Thuế Bất Động Sản của Ban Thuế Vụ Thành Ph ố Minnesota) tại số: 651-556-6109 hoặc số 1-800-627-9094, số máy phụ 6-6109, những người sử dụng TDD/TTY: gọi Minnesota Relay Services (Dịch Vụ Chuyển Tiếp Minnesota) tại số 1-800-627-3529; nhờ gọi số 800-652-9094, số máy phụ 6-0335

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Chương trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên) hoạt động như thế nào?

    Đây không phả i là chương trình miễn thuế – mà đây là một khoản vay từ chính quyền tiểu bang. Khoản thuế được trì hoãn sẽ được tiểu bang tr ả cho quận của quý vị. Khoản vay này sẽ bị tính lãi suất. Mức lãi suất sẽ được điều chỉnh hàng năm, nhưng sẽ không vượt quá 5 phần trăm. Sẽ có một khoản tịch thu thế nợ gắn liền với bất động sản của quý vị.

    Trong thời gian tham gia chương trình này, quý vị sẽ dùng tối đa 3 phần trăm lợi tứ c gia đình để trả thuế bất động sản hàng năm, cho dù thuế bất động sả n củ a quý vị thực sự cao tới mức nào đi nữa. Tiểu bang sẽ trả phần còn lại. Quý vị, hoặc những người thừa kế của quý vị sẽ cần phải hoàn trả số tiền thuế được trì hoãn thì mới được chuyển nhượng quyền sở hữu bất động sản đó.

    Trong lần xin trì hoãn thuế lần đầu, quý vị sẽ phải cung cấp (với chi phí do quý vị tự trả) – một bản báo cáo ghi chi tiết các khoản vay tài trợ địa ốc, các khoản thế ch ấp nợ, các phán quyết của tòa án hoặc các kho ản thuế bất động sản chư a trả cho bất động sản đó. Nếu không có, quý v ị vẫn sẽ phải cung cấp bản báo cáo xác nhận về vấn đề này. Bản báo cáo đó phải đề ngày tháng trong vòng 30 ngày kể từ ngày quý vị nộp đơn xin.

    Việc tham gia vào chương trình trì hoãn thuế này là tự nguyện. Nếu quý vị tham gia, một kho ản thế chấp nợ thuế sẽ được áp dụng cho bất động sản củ a quý vị. Quý vị phải trả hết kho ản thế chấp nợ này thì mới được bán bất động sản. Trong trường hợp quý vị qua đời, những người thừa kế của quý vị ph ải trả hết khoản th ế chấp nợ đó thì mới được quyền sở hữu bất động sản đó. Quý vị nên hỏi ý kiến luật sư, chuyên viên lập kế hoạch quản lý di sản hoặc người nhà trước khi ghi danh tham gia.

    Ai hội đủ điều kiện tham gia Chương Trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên)?

    Để được tham gia chương trình này, quý vị phải hội đủ tất cả các điều kiện sau đây:

    1. Bất động sản đó phải thuộc quyền sở hữu và là nơi cư ngụ của một người từ 65 tuổi trở lên. Trong trường hợp là vợ chồng đã kết hôn, cả hai phải ít nhất 65 tuổi vào thời điểm được trì hoãn thuế lần đầu tiên. (Nhà ở đó có thể được phân loại là gia cư hoặc trang trại, hoặc có thể là một phần của một tòa nhà có nhiều căn hộ.)
    1. Tổng mức lợi tức của gia đình không được vượt quá $60,000 cho năm lịch trước năm nộp đơn xin lần đầu tiên.
    2. Căn nhà đó phải thuộc quyền sở hữu và là nơi cư ngụ của ít nhất một trong các chủ sở hữu căn nhà trong ít nhất 15 năm trước năm nộp đơn xin lần đầu.
    1. Bất động sản đó không được có tình trạng bị giữ quyền sở hữu để thế nợ theo lệnh của tòa án hoặc giữ quyền sở hữu để trả nợ thuế liên bang.
    1. Tổng số tiền nợ còn lại chưa trả được bảo đảm bởi các khoản vay tài trợ địa ốc và các khoản tịch thu giữ quyền sở hữu bất động sản để thế nợ khác đối với bất động sản đó không được vượt quá 75 phần trăm giá trị ước tính trên thị trường của bất động sản đó.

    Làm thế nào để xin Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên)?

    Quý vị có thể lấy đơn xin tại văn phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis và trên trang mạng điện toán củ a Ban Thuế Vụ Minnesota tại: www.taxes.state.mn.us. Tất cả các đơn xin phải nộp trước ngày 1 tháng Bảy để xin trì hoãn một phần thuế của năm kế tiếp. Quý vị có thể nộp đơn xin vào năm mà quý vị tròn 65 tuổi, nhưng sẽ không được trì hoãn thuế cho tới năm kế tiếp.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Giảm Thuế do Gặp Thảm Họa là gì?

    Hình thức giảm thuế này được áp dụ ng cho mỗi bất động s ản do ngẫu nhiên hoặc không cố ý bị h ư hỏng với thiệt hại về cấu trúc từ 50% trở lên và bất động sản không th ể ở hoặc không th ể sử dụng được. Chủ sở hữu bất động sản là nhà ở hoặc không phải là nhà ở có thể xin giảm thuế bất động sản phải trả cho năm xảy ra thiệt hại đó.

    Số tiền giảm thuế được tính dựa trên số tháng trọn v ẹn mà bất động sản đó không thể ở hoặc không thể sử dụ ng được. Sau đó người ta nhân mức giá trị áp dụng cho bất động sản đó với mức thuế thuần. Cuối cùng, phân số (toàn bộ các tháng mà bất động sản đó không thể ở được chia cho 12) được nhân với kết quả.

    Ví dụ : Một căn nhà có mức giá ước tính trên thị trường là $100,000 và mức thuế thuần là $3,000 bị thiệt hại do hỏa hoạn vào ngày 10 tháng Bảy, 2003 và có thể sử dụng để ở được vào ngày 7 tháng Mười Một, 2003. Giá trị của căn nhà đó là $75,000 và tạ o ra tỷ lệ 75%. Tỷ lệ này nhân với mức thuế thuầ n là $3,000. Do đó, mức thuế áp dụng cho căn nhà đó sẽ là $ 2,250. Số ti ền này nhân với tỷ lệ 3/12, là số tháng trọn vẹn mà người trả thuế không thể cư ngụ trong căn nhà đó, do đó chủ nhà sẽ được giảm $562.50 tiền thuế.

    Làm thế nào để xin giảm thuế do gặp thảm họa?

    Trước hết, xin gọi Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis để thông báo cho họ biết về tình trạng nhà hư hỏng. Để tham gia chương trình Hennepin County’s Individual Disaster Credit (Giảm Thuế Cá Nhân Do Gặp Th ảm Họa của Quận Hennepin), quý vị phải hoàn tất đơn xin và n ộp cho Văn phòng Định Giá Viên Minneapolis. Quý vị cần làm việc này càng sớm càng tốt sau khi xảy ra thiệt hại. Ngoài ra, quý vị cần ph ải có một bả n sao báo cáo thiệt hại của hãng bảo hiểm của quý vị khi có bả n báo cáo này. Cuố i cùng, quý vị sẽ cần phải liên lạc với Văn Phòng Định Giá Thành Phố Minneapolis khi hoàn tất công việc tu bổ để biến bất động sản đó trở thành nơi có thể cư ngụ được hoặc khi bán bất động sản đó.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Các Ngày Quan Trọng Liên Quan tới Thuế Bất Động Sản

    Tháng Giêng Ngày 2 tháng Giêng – Ngày xác định giá trị và hạng mục bất động sản cho các
        mục đích đánh thuế.
         
    Tháng Hai Value Notice (Thông Báo về Giá Trị Bất Động Sản) được gửi qua đường bưu điện
        vào tháng Hai hoặc tháng Ba
         
    Tháng Ba Property Tax Statements (Các Bản Kê Khai Thuế Bất Động Sản) được gửi qua
        đường bưu điện trước khi kết thúc tháng Ba.
      •    Thành Phố Minneapolis tổ chức các buổi họp Open Book (Sổ Sách Công Khai).
    Tháng Tư Nếu quý vị muốn khiếu nại về giá trị bất động sản của mình với City of
        Minneapolis Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình
        Quyền Thành Phố Minneapolis), xin gọi để lấy hẹn.
      Ngày 30 tháng Tư là hạn chót nộp khiếu nại với Tòa Án Thuế Tiểu Bang
        Minnesota.
    Tháng Năm Ngày 15 tháng Năm – Hạn nộp nửa đầu tiên của số tiền thuế cho năm hiện tại.
      •    Nếu quý vị muốn khiếu nại về giá trị bất động sản của mình với Hennepin County
        of Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Quận
        Hennepin), xin gọi để lấy hẹn.
      •    Các bản kê khai được gửi cho nhà lắp ghép qua đường bưu điện.
    Tháng Bảy Ngày 1 tháng Bảy – Hạn chót nộp đơn xin tham gia chương trình Senior Citizen
        Tax Deferral (Trì Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên).
    Tháng Tám Ngày 31 tháng Tám – Hạn chót nộp nửa đầu tiên của khoản thuế cho năm hiện tại
        đối với Nhà Lắp Ghép.
         
    Tháng Chín    
         
    Tháng Mười Ngày 1 tháng Mười – Hạn chót nộp đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nơi ở
        dành cho các hạng mục đặc biệt liên quan tới người mù lòa, tàn tật và liệt hai chân
        cho MN Department of Revenew (Ban Thuế Vụ MN)
      •    Ngày 15 tháng Mười– Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế áp dụng cho năm
        hiện tại.
    Tháng Mười Một Property Tax Statements (Các Bản Kê Khai Thuế Bất Động Sản) hoặc Các Bản Kê
        Khai Truth in Taxation được gửi qua đường bưu điện.
      •    Ngày 15 tháng Mười Một – Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế cho năm
        hiện tại đối với bất động sả n là trang trại.
      •    Ngày 15 tháng Mười Một – Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế cho năm
        hiện tại đối với Nhà Lắp Ghép.
         
    Tháng Mười Hai Các cơ quan chính phủ địa phương phê chuẩn ngân sách chính thức của mình.
      •    Ngày 1 tháng Mười Hai – Cần phải nắm quyền sở hữu và cư ngụ để hội đủ điều
        kiện được xếp vào diện bất động sản là nhà ở để tính thuế cho năm kế tiếp.
      •    Ngày 15 tháng Mười Hai – hạn chót nộp đơn xin đóng thuế theo hạng mục
        Homestead Classification (Bất Động Sản Là Nhà Ở) cho năm kế tiếp.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-S%E1%BB%90-05-B%E1%BA%A4T-%C4%90%E1%BB%98NG-S%E1%BA%A2N-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    CHUẨN M ỰC SỐ 05

    BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    Quy định chung

    1. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán đối với bất động sản đầu tư, gồm: Điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư, xác định giá trị ban đầu, chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu, xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu, chuyển đổi mục đích sử dụng, thanh lý bất động sản đầu tư và một số quy định khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
    1. Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán bất động sản đầu tư, trừ khi có chuẩn mực kế toán khác cho phép áp dụng phương pháp kế toán khác cho bất động sản đầu tư.
    1. Chuẩn mực này cũng quy định phương pháp xác định và ghi nhận giá trị bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính của bên đi thuê theo hợp đồng thuê tài chính và phương pháp xác định giá trị bất động sản đầu tư cho thuê trong báo cáo tài chính của bên cho thuê theo hợp đồng thuê hoạt động.

    Chuẩn mực này không áp dụng đối với các nội dung đã được quy định trong Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”, bao gồm:

    • Phân loại tài sản thuê thành tài sản thuê tài chính hoặc tài sản thuê hoạt động;
    • Ghi nhận doanh thu cho thuê bất động sản đầu tư (Theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”);
    • Xác định giá trị bất động sản thuê hoạt động trong báo cáo tài chính của bên đi thuê;
    • Xác định giá trị bất động sản thuê tài chính trong báo cáo tài chính của bên cho thuê;
    • Kế toán đối với các giao dịch bán và thuê lại;
    • Thuyết minh về thuê tài chính và thuê hoạt động trong báo cáo tài chính.
    1. Chuẩn mực này không áp dụng đối với:
    • Những tài sản liên quan đến cây trồng, vật nuôi gắn liền với đất đai phục vụ cho hoạt động nông nghiệp; và
    • Quyền khai thác khoáng sản, hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu mỏ, khí tự nhiên và những tài nguyên không tái sinh tương tự.
    1. Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau:

    Bất động sản đầu tư: Là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để:

    1. Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc

     

    1. Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.

    Bất động sản chủ sở hữu sử dụng: Là bất động sản do người chủ sở hữu hoặc ngườ i đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý.

     

    Nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền hoặc tương đươ ng tiền mà doanh nghiệ p phải bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản đưa ra để trao đổi nhằm có được bất động s ản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.

    Giá trị còn lại: Là nguyên giá của bất động sản đầu tư sau khi trừ (-) số khấu hao luỹ kế của bất động sản đầu tư đó.

    1. Ví dụ bất động sản đầu tư:

    (a). Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ trong thời gian dài để chờ tăng giá;

    (b). Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ mà chưa xác định rõ mục đích sử dụng trong tương lai;

    (c). Nhà do doanh nghiệp sở hữu (hoặc do doanh nghiệp thuê tài chính) và cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;

    (d). Nhà đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;

    (e). Cơ sở hạ tầng đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động.

    1. Ví dụ bất động sản không phải là bất động sản đầu tư:
    • Bất động sản mua để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”);
    • Bất động sản được xây dựng cho bên thứ ba (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 15 “Hợp đồng xây dựng”);
    • Bất động sản chủ sở hữu sử dụng (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 03 “Tài sản cố định hữu hình”), bao gồm bất động sản nắm giữ để sử dụng trong tương lai như tài sản chủ sở hữu sử dụng, tài sản nắm giữ để cải tạo, nâng cấp và sử dụng sau này trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường như bất động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản cho nhân viên sử dụng (Cho dù nhân viên có trả tiền thuê tài sản theo giá thị trường hay không) và bất động sản chủ sở hữu sử dụng chờ thanh lý;
    • Bất động sản đang trong quá trình xây dựng chưa hoàn thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng bất động sản đầu tư.
    1. Đối với những bất động sản mà doanh nghiệp nắm giữ một phần nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoạt động hoặc chờ tăng giá và một phần sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc cho quản lý thì nếu những phần tài sản này được bán riêng rẽ (hoặc cho thuê riêng rẽ theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động), doanh nghiệp sẽ hạch toán các phần tài sản này một cách riêng rẽ. Trường hợp các phần tài sản này không thể bán riêng rẽ, thì chỉ coi là bất động sản đầu tư khi phần được nắm giữ để phục vụ cho sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc phục vụ cho mục đích quản lý là phần không đáng kể.
    1. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là phần không đáng kể trong toàn bộ thoả thuận thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản này là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu toà nhà cho thuê văn phòng đồng thời cung cấp dịch vụ bảo dưỡng và an ninh cho những người thuê văn phòng.
    1. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là phần đáng kể thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản đó là bất động sản chủ sở hữu sử dụng. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu và quản lý một khách sạn, dịch vụ cung cấp cho khách hàng chiếm một phần quan trọng trong toàn bộ thoả thuận, thì khách sạn đó được hạch toán là bất động sản chủ sở hữu sử dụng.
    1. Trường hợp khó xác định là bất động sản đầu tư, hay là bất động sản chủ sở hữu sử dụng, doanh nghiệp cần xác định trên cơ sở những đặc điểm cụ thể để có thể thực hiện phù hợp với định nghĩa bất động sản đầu tư và các quy định có liên quan trong các đoạn 06,07,08,09,10 và thuyết minh rõ trên báo cáo tài chính theo quy định tại đoạn 31 (d).
    1. Trường hợp, một doanh nghiệp cho công ty mẹ hoặc công ty con khác thuê hoặc sử dụng và nắm giữ một bất động sản thì bất động sản đó không được coi là bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn, nhưng doanh nghiệp sở hữu bất động sản đó được coi là bất động sản đầu tư nếu nó thỏa mãn định nghĩa bất động sản đầu tư và được trình bày trong báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp sở hữu bất động sản.

    Nội dung chuẩn mực

    Điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư

    1. Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:
      • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; và

     

    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

     

    1. Khi xác định một bất động sản đầu tư có thỏa mãn điều kiện thứ nhất để được ghi nhận là tài sản hay không, doanh nghiệp cần phải đánh giá mức độ chắc chắn gắn liền với việc thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai mà chúng có thể mang lại trên cơ sở những thông tin hiện có tại thời điểm ghi nhận. Điều kiện thứ hai để ghi nhận một bất động sản đầu tư là tài sản thường dễ được thoả mãn vì giao dịch mua bán, trao đổi chứng minh cho việc hình thành bất động sản đã xác định giá trị của bất động sản đầu tư.

    Xác định giá trị ban đầu

    1. Một bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm cả các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban

    đầu.

    1. Nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: Phí dịch vụ tư vấn về luật pháp liên quan, thuế trước bạ và chi phí giao dịch liên quan khác…
    1. Nguyên giá của bất động sản đầu tư tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan trực tiếp của bất động sản đầu tư tính đến ngày hoàn thành công việc xây dựng. Từ khi bắt đầu xây dựng cho đến ngày hoàn thành công việc xây dựng doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán số 03 “Tài sản cố định hữu hình” và Chuẩn mực

    kế toán số 04 “Tài sản cố định vô hình”. Tại ngày tài sản trở thành bất động sản đầu tư thì áp dụng chuẩn mực này (xem đoạn 23 (e)).

    1. Nguyên giá của một bất động sản đầu tư không bao gồm các chi phí sau:
    • Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động);
    • Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến;
    • Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
    1. Trường hợp mua bất động sản đầu tư thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của bất động sản đầu tư được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 16 “Chi phí đi vay”.

    Chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu

    1. Chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư.
    1. Việc hạch toán các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu phụ thuộc vào từng trường hợp có xem xét đến việc đánh giá và ghi nhận ban đầu của khoản đầu tư liên quan. Chẳng hạn, trường hợp giá mua tài sản bao gồm nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì chi phí đó cũng được tính vào nguyên giá. Ví dụ: Mua một ngôi nhà với yêu cầu phải nâng cấp thì chi phí nâng cấp phát sinh được ghi tăng nguyên giá của bất động sản

    đầu tư.

    Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu

    1. Sau ghi nhận ban đầu, trong thời gian nắm giữ bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.

    Chuyển đổi mục đích sử dụng

    1. Việc chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư hoặc từ bất động sản đầu tư sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng như các trường hợp sau:
    1. Bất động sản đầu tư chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử dụng tài sản này;
    2. Bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai cho mục đích bán;

     

    1. Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển thành bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu kết thúc sử dụng tài sản đó;

     

    1. Hàng tồn kho chuyển thành bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt động;
    2. Bất động sản xây dựng chuyển thành bất động sản đầu tư khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn giao đưa vào đầu tư (Trong giai đoạn xây dựng phải kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 03 “ Tài sản cố định hữu hình”).
    1. Theo yêu cầu của đoạn 23b, doanh nghiệp chuyển một bất động sản đầu tư sang hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng, bằng chứng là sự bắt đầu của việc triển khai cho mục đích bán. Khi một doanh nghiệp quyết định bán một bất động sản đầu tư mà không có giai đoạn nâng cấp thì doanh nghiệp đó phải tiếp tục coi bất động sản đó là một bất động sản đầu tư cho tới khi nó được bán (không còn được trình bày trên Bảng cân đối kế toán) và không được hạch toán tài sản đó là hàng tồn kho. Tương tự, nếu doanh nghiệp bắt đầu nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư hiện có với mục đích tiếp tục sử dụng bất động sản đó trong tương lai như một bất động sản đầu tư, thì bất động sản đó vẫn là một bất động sản đầu tư và không được phân loại lại như một bất động sản chủ sở hữu sử dụng trong quá trình nâng cấp cải tạo.
    1. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển đổi và không làm thay đổi nguyên giá của bất động sản trong việc xác định giá trị hay để lập báo cáo tài chính.

    Thanh lý

    1. Một bất động sản đầu tư không còn được trình bày trong Bảng cân đối kế toán sau khi đã bán hoặc sau khi bất động sản đầu tư không còn được nắm giữ lâu dài và xét thấy không thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc thanh lý bất động sản đầu tư đó.
    1. Việc thanh lý một bất động sản đầu tư có thể xảy ra sau khi bán hoặc sau khi ký hợp đồng cho thuê tài chính. Để xác định thời điểm bán bất động sản đầu tư và ghi nhận doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”. Việc bán bất động sản cho thuê tài chính hoặc giao dịch bán và thuê lại bất động sản đầu tư, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”.
    1. Các khoản lãi hoặc lỗ phát sinh từ việc bán bất động sản đầu tư được xác định bằng số chênh lệch giữa doanh thu với chi phí bán và giá trị còn lại của bất động sản đầu tư. Số lãi hoặc lỗ này được ghi nhận là thu nhập hay chi phí trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ (Trường hợp bán và thuê lại tài sản là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”).
    1. Khoản doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư được ghi nhận theo giá trị hợp lý. Trường hợp bán theo phương thức trả chậm, thì khoản doanh thu này được xác định ban đầu bằng giá bán trả ngay. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá bán trả ngay được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”.

    Trình bày báo cáo tài chính

    1. Nội dung trình bày báo cáo tài chính quy định trong chuẩn mực này được áp dụng cùng với những qui định trong Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”. Đối với

    bên cho thuê phải trình bày nội dung cho thuê hoạt động. Đối với bên đi thuê phải trình bày nội dung thuê tài chính.

    1. Doanh nghiệp cần trình bày trên báo cáo tài chính những nội dung sau:
    • Phương pháp khấu hao sử dụng;
    • Thời gian sử dụng hữu ích của bất động sản đầu tư hoặc tỷ lệ khấu hao sử dụng;
    • Nguyên giá và khấu hao luỹ kế tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ;
    • Tiêu chuẩn cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng trong trường hợp gặp khó khăn khi phân loại bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng và với tài sản giữ để bán trong hoạt động kinh doanh thông thường;

     

    • Các chỉ tiêu thu nhập, chi phí liên quan đến cho thuê bất động sản, gồm:

     

    • Thu nhập từ việc cho thuê;

     

    • Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh (bao gồm chi phí sửa chữa và bảo dưỡng) phát sinh từ bất động sản đầu tư liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ việc cho thuê trong kỳ báo cáo;
    • Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh (bao gồm chi phí sửa chữa và bảo dưỡng) phát sinh từ bất động sản đầu tư không liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ việc cho thuê trong kỳ báo cáo.

     

    • Lý do và mức độ ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư;

     

    • Nghĩa vụ chủ yếu của hợp đồng mua, xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoặc bảo dưỡng, sửa chữa bất động sản đầu tư;

     

    • Trình bày những nội dung sau (không yêu cầu thông tin so sánh):

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng thêm, trong đó: Tăng do mua bất động sản và tăng do vốn hoá những chi phí sau ghi nhận ban đầu;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng do sáp nhập doanh nghiệp;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư thanh lý;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư chuyển sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho và ngược lại.

     

    • Giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán, lập báo cáo tài chính. Khi doanh nghiệp không thể xác định được giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư thì doanh nghiệp phải thuyết minh:

     

    • Danh mục bất động sản đầu tư;

     

    • Lý do không xác định được giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư.

     

    • * *

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp

    Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp

    Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp

    MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN, MÔ HÌNH VÀ

    GIẢI PHÁP

    POKKIN – Cục Quản lý nhà- Bộ Xây dựng

    1/ Tổ chức môi giới bất động sản trên thị trường BĐS:

    • Nhà môi giới thuộc nhóm cung cấp dịch vụ bất động sản (nhóm giúp chủ đầu tư có thể chuyển các ý tưởng của họ thành hiện thực công trình có giá trị kinh tế cao hơn từ bất động sản)
    • Nhà môi giới bất động sản: chịu trách nhiệm cho thuê hoặc bán các loại bất động sản cho khách hàng, họ chủ yếu tham gia vào các dự án lớn và là người phân cân đối các nhu cầu khách hàng với các phương án tài chính của chủ đầu tư. Các nhà môi giới bất động sản đóng vai trò chủ chốt trong kế hoạch tiếp thị, họ gợi ý các viễn cảnh, trình bày các đặc điểm của sản phẩm, các chức năng và lợi nhuận, thương thảo hợp đồng, đồng thời cung cấp các thông tin phản hồi về cho các nhà đầu tư để kịp thời điều chỉnh dự án.

     

    • Tham khảo của Trung Quốc:
    • Người môi giới BĐS là người môi giới cá thể, người môi giới hợp doanh và công ty môi giới nhằm mục đích lấy tiền thuê, làm dịch vụ giới thiệu trung gian, đại lý để nhận tiền thù lao từ người đương sự kinh doanh, chuyển nhượng, cầm cố và cho thuê nhà.
    • Đặc điểm của người môi giới BĐS:Nhằm mục đích lấy tiền thuê; Thúc đẩy hai bên giao dịch, chứ bản thân không trực tiếp giao dịch; Hoạt động môi giới BĐS chủ yếu là trung gian giới thiệu và đại lý bán nhà đất; Phải phân biệt rõ giới hạn hoạt động của môi giới BĐS và tư vấn thuần tuý cung cấp thông tin về nhà đất.
    • Sự cần thiết của tổ chức này đã được chứng minh trên thực tiễn là các giao dịch được tiến hành một cách nhanh chóng, tránh được nhiều phức tạp không cần thiết (vì người trung gian đã trực tiếp dàn xếp các xung đột…). Nhiều khi, bên mua và

    bên bán, bên thuê và cho thuê… không nắm được rõ ràng, chi tiết về các thông tin có liên quan về BĐS bằng trung gian môi giới, họ thực sự cần đến nhà môi giới như một trung gian tin cậy và chuyên nghiệp để thực hiện các dịch vụ đáp ứng yêu cầu của cả 2 bên.

    2/ Mô hình hoạt động:

    Người mua và người bán tìm đến nhà môi giới để thông qua nhà môi giới tiến

    hành việc mua (bán, cho thuê) bất động sản một cách có hiệu quả và nhanh chóng

    nhất, nhà môi giới sau khi tìm hiểu kỹ các nguyện vọng, yêu cầu của các bên sẽ

    tiến hành làm các thủ tục cần thiết để thực hiện một giao dịch, bên có nhu cầu mua

    (bán, cho thuê…) sẽ phải trả một khoản chi phí nhất định gọi là lệ phí hợp đồng

    môi giới, sau khi nhà môi giới đạt đến kết quả cuối cùng và giao dịch thành công

    thì nhà môi giới sẽ được hưởng tiền hoa hồng tính trên % giá trị bất động sản đã

    được thoả thuận kỹ lưỡng trong hợp đồng của 2 bên.

    Tham khảo thực tế: Mô hình 1 công ty TNHH kiêm trung tâm tư vấn nhà đất-việc làm

    • Đứng đầu là giám đốc
    • Dưới giám đốc có 3 văn phòng: tư vấn, môi giới và kế toán
    • Tư vấn: làm các thủ tục quảng cáo, giới thiệu về các loại BĐS cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng về các thủ tục khi thực hiện hợp đồng môi giới.
    • Môi giới: Sau khi tìm hiểu các thông tin đáp ứng yêu cầu của mình, bên có nhu cầu sẽ tiếp tục sang phòng môi giới, tại đây họ sẽ cùng người làm môi giới tiến hành các thủ tục ký hợp đồng gọi là hợp đồng môi giới với đầy đủ các thông tin cần thiết về bên nguyên đơn, về BĐS đem ra giao dịch và các giao kèo cần thiết khác về lệ phí hợp đồng, % hoa hồng, các cam kết khác v.v.. sau đó sẽ đưa bên có nhu cầu đi khảo sát thực địa và thực hiện các công việc tiếp theo cho đến kết quả cuối cùng.
    • Kế toán: Nếu giao dịch thành công, bên có nhu cầu sẽ tiếp tục đến phòng kế toán

    và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhân viên kế toán như đã thoả thuận trong hợp đồng môi giới.

    3/ Thực trạng loại hình tổ chức này tại 4 thành phố lớn

    3.1. Về mô hình hoạt động: tương tự như mô hình của công ty TNHH nêu trên.

    3.2. Điều kiện hoạt động: hầu như không phải tuân thủ một điều kiện hoạt động nào cả, cụ thể như sau:

    Hiện tại trên địa bàn của các thành phố lớn, các tổ chức và cá nhân hoạt động dịch vụ môi giới phát triển khá rầm rộ, dưới các hình thức tư nhân như: Trung tâm môi giới tư vấn nhà đất, trung tâm giới thiệu người thuê và cho thuê nhà ở… Sau khi nhận tiền hoa hồng môi giới giữa 2 bên, người môi giới không còn trách nhiệm gì. Hầu hết các tổ chức môi giới BĐS hiện nay đều là do các cá nhân, hộ gia đình có tiền mở văn phòng, trung tâm môi giới nhà đất tự phát theo nhu cầu của người dân và theo các cơn sốt nhà đất trên thị trường và họ coi đây như một nghề kinh doanh nhưng không có đăng ký hành nghề và nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước. Phần lớn các văn phòng nhà đất này đều do những người không có nghề nghiệp, không được đào tạo kiến thức về tư vấn BĐS nhà đất, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tế, tự xoay sở và móc ngoặc với các cò mồi khác…tính chuyên nghiệp thấp, độ tin cậy về thông tin cũng như kết quả thành công chỉ chiếm tối đa là 50%. Họ chỉ đơn thuần làm môi giới giữa người bán và người mua, ít hoặc không có khả năng tư vấn về những thông tin cần thiết liên quan đến đất đai BĐS hoặc mới chỉ dừng lại ở mức độ tư vấn về thông tin và tư vấn hỗ trợ về tài chính liên quan đến BĐS.

    Chỉ có 1 số tổ chức môi giới hiện nay là có đăng ký hoạt động nhưng các tổ chức này lại hoạt động dưới hình thức các công ty thương mại (chức năng hoạt động là làm dịch vụ tư vấn nhà đất, dịch vụ giới thiệu việc làm, dịch vụ vận chuyển hành khách, chuyển giao công nghệ-công nghiệp, lữ hành nội địa, đại lý vận tải, dịch vụ vui chơi giải trí..). Như vậy, có thể thấy hoạt động dịch vụ tư vấn môi giới BĐS nhà đất chỉ là 1 mảng trong hoạt động kinh doanh của các công ty loại này. Và

    theo quy định, thì các công ty thương mại khi thành lập phải được sự chấp thuận và cấp giấy phép từ phía Chi cục thuế của Thành phố.

    3.3. Về các nội dung khác:

    Tỷ lệ hoa hồng: Hiện nay, ở 4 thành phố lớn, thông thường tỷ lệ hoa hồng cho một giao dịch thông qua môi giới thành công là 1-2% giá trị BĐS được đem ra mua (bán), cho thuê…

    Các loại BĐS tham gia giao dịch thông qua trung gian môi giới chủ yếu: là nhà bán (nhà ở), nhà cho thuê, cửa hàng, văn phòng kinh doanh.

    Thời gian thực hiện hết 1 giao dịch: nói chung trong vòng 3 tháng

    Phạm vi hoạt động: chủ yếu là các BĐS trên địa bàn

    Đối tượng tham gia hoạt động tư vấn, môi giới bất động sản: các công ty thương mại, cá nhân, hộ gia đình, công ty TNHH…

    4/ Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài:

    Nộp khi ký hợp đồng môi giới. Nếu công việc không thành, bên môi giới không phải hoàn trả lại khoản lệ phí này.

    Điều kiện tham gia hoạt động môi giới của cá nhân

    Mỹ (New-york)

    Cá nhân phải có giấy phép hành nghề do cấp QLNN ở Trung ương cấp (cấp Bộ), để được cấp phải thi lấy chứng chỉ hành nghề (thi viết) về các nội

    Trung Quốc (Thượng

    Hải)

    1. Có giấy chứng nhận tư cách người môi giới BĐS do cơ quan quản lý hành chính công thương địa phương cấp.2. Có vốn trên 20.000 NDT hoặc có người đảm bảo

    dung kỹ năng nghiệp

    vụ về tư vấn môi giới

    BĐS.

    Nội dung hoạt     Mua bán, đấu thầu,

    động                           trao đổi, thương lượng giá cả, cho thuê…

    có tài sản đảm bảo trị

    giá trên 20.000 NDT.3.

    Có nơi hoạt động môi

    giới cố định.4. Trong

    vòng 3 năm trước khi

    làm đơn đề nghị không

    có tiền sự phạm tội.

    Điều kiện                                                                      1. Có trên 5 người có

    thành lập tổ                                                                giấy chứng nhận tư cách

    chức môi giới                                                            người môi giới BĐS.2.

    BĐS                                                                                  Được cấp giấy phép

    doanh nghiệp2. Có vốn

    trên 100.000 NDT3. Có

    điều lệ tổ chức xác định

    rõ tôn chỉ kinh doanh.

    1. Có trụ sở kinh doanh

    cố định

    Thành phần          bên môi giới có 3

    làm dịch vụ           người: nhà môi giới

    môi giới                   (broker), người mua

    bán và nhân viên cộng

    tác

    Hợp đồng môi giới

    Phí dịch vụ hoạt động môi giới

    Nộp khi ký hợp đồng môi giới. Nếu công việc không thành, bên môi giới không phải hoàn trả lại khoản lệ phí này.

    gồm:1. Việc môi giới2.

    Yêu cầu và tiêu chuẩn

    việc môi giới3. Kỳ hạn

    thực hiện hợp đồng

    1. Số tiền dịch vụ, cách thức, kỳ hạn chi trả
    1. Trách nhiệm vi phạm hợp đồng, cách thức giải quyết tranh chấp
    1. Các nội dung khác 2 bên giao ước.

    Do người môi giới nhà

    đất và đương sự thoả

    thuận trong tiêu chuẩn

    thu phí dưới đây và

    được chi trả trong kỳ

    hạn hợp đồng môi

    giới:1. Đại lý mua bán

    nhà, chuyển nhượng

    quyền SDD nhà nước,

    thu dưới 3% giá cả hợp

    đồng.2. Đại lý thuê nhà,

    thuê quyền sử dụng đất

    nhà nước, thu 1 lần 70%

    tiền thuê 1 tháng.3. Đại

    lý trao đổi nhà dưới 1%

    theo giá trị nhà đất.

    Dịch vụ tư vấn, tiêu

    chuẩn phí dịch vụ do 2

    bên bàn định.

    Tỷ lệ hoa hồng Nếu công việc thành

    công sẽ được hưởng

    • hoa hồng, số tiền hoa hồng này được quy định rất rõ trước khi ký hợp đồng

    5/ Kiến nghị giải pháp:

    Sau khi tìm hiểu thực trạng hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị trường BĐS và tham khảo kinh nghiệm của nước Mỹ về mô hình hoạt động của tổ chức này, đề nghị Chính phủ cần thực thi một số biện pháp quản lý hữu hiệu hoạt động của hệ thống dịch vụ môi giới nhà đất trên thị trường BĐS sau đây:

    a/ Kiểm soát về đăng ký hành nghề:

    • Kiểm soát hoạt động của các tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia dịch vụ tư vấn môi giới về BĐS. Chính phủ yêu cầu người làm dịch vụ tư vấn môi giới bắt buộc phải đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý Nhà nước và được cấp giấy phép mới được hoạt động tư vấn môi giới. Cụ thể là nên giao cho ai thực hiện cấp loại giấy

    phép này??

    • Cần tổ chức thi lấy chứng chỉ hành nghề môi giới (Như vậy, chỉ những người có đủ tư cách pháp nhân, có đủ trình độ chuyên môn về môi giới BĐS mới được tham gia các dịch vụ môi giới về BĐS).

    b/ Kiểm soát về việc thực hiện trách nhiệm của các tổ chức này:

    Người tư vấn môi giới phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả của các hoạt động tư vấn môi giới như: tính trung thực trong các thông tin pháp lý của BĐS được môi giới; về độ tin cậy và có tính dự báo được lợi ích từ kết quả định giá và hình thành giá cả của BĐS giao dịch và chịu trách nhiệm về kết quả của các dịch vụ khác.

    c/ Kiểm soát về chất lượng tư vấn môi giới:

    Kiểm soát tính công khai của các thông tin và chất lượng dịch vụ tư vấn (những người tư vấn được quyền yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước xác nhận các thông tin pháp lý về BĐS).

    Cần tổ chức các lớp đào tạo trong và ngoài nước về môi giới BĐS, nâng cao trình độ nghiệp vụ và đưa các cán bộ có nghiệp vụ về môi giới vào các công ty thương mại dịch vụ môi giới nhà đất hiện nay bằng cách yêu cầu các công ty này phải có các tiêu chuẩn đầu vào cần thiết, nếu không đáp ứng được thì sẽ không được cấp giấy phép hoạt động.

    d/ Kiến nghị khác:

    Phát triển các dịch vụ tư vấn và môi giới tổng hợp cho các nhu cầu có liên quan đến hoạt động giao dịch về BĐS như: dịch vụ cung cấp thông tin hàng hoá BĐS; dịch vụ kiểm tra và tư vấn tính pháp lý của BĐS; dịch vụ định giá BĐS; dịch vụ thanh toán và cho vay thế chấp BĐS và dịch vụ hoàn thiện hồ sơ giao dịch về BĐS. Những đơn vị dịch vụ này sẽ thay mặt bên mua và bên bán thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết để BĐS được giao dịch một cách hợp pháp, cơ quan tư vấn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và tính pháp lý của các dịch vụ này. Nên chăng cần có 1 sàn giao dịch BĐS và tổ chức môi giới sẽ nằm trong sàn giao dịch này??!Tổ chức này sẽ thay mặt các bên có nhu cầu thực hiện các thủ

    tục giao dịch với Nhà nước, làm cầu nối thanh toán giữa 2 bên theo đúng quy định của pháp luật.

  • Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

     

    Kế toán bất động sản đầu tư

     

    Để tồn tại và phát triển thích ứng với một nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn phải tìm cách đối phó với những cạnh tranh khốc liệt từ phía các doanh nghiệp khác, nhất là khi nền kinh tế thị trường Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, do vậy nhu cầu thông tin cho quản lý quá trình kinh doanh hiện nay là điều không thể thiếu. Kế toán – một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế – tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với tài chính Nhà nước mà còn vô cùng cần thiết đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp.

     

    Gần đây nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong tiến trình ®æi mới, mở cửa và hội nhập, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành và công bố nhiều chuẩn mực kế toán của Việt Nam cùng với các thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện các chuẩn mực được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế trong cả nước.

     

    Kế toán bất động sản đầu tư là một phần hành kế toán tương đối mới, vừa được hướng dẫn thực hiện theo thông tư số 23/2005/TT-BTC ra ngày 30 tháng 3 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Đó cũng chính là đề tài mà tôi đã lựa chọn khi viết đề án môn học chuyên ngành kế toán tổng hợp của mình bởi lẽ nó sẽ giúp tôi có cơ hội tìm hiểu về những thay đổi của hệ thống kế toán Việt Nam.

     

    Sau một thời gian nghiên cứu bằng vốn kiến thức đã tích lũy được qua 3 năm theo học tại Khoa Kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tới nay đề tài của tôi đã hoàn tất với hy vọng được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện công tác hạch toán kế toán nói chung và kế toán bất động sản đầu tư nói riêng. Mong muốn thì nhiều, song với tầm hiểu biết còn hạn hẹp bài viết sẽ không tránh khỏi những sai sót, vì vậy tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ cùng những ý kiến quý báu từ phía thầy cô và các bạn sinh viên trong và ngoài khoa Kế toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và tất cả những người quan tâm tới đề tài này để bài viết có

     

    1

     

    thể trở thành một tài liệu tham khảo thực sự có ích cho các bạn sinh viên trong quá trình học tập nghiên cứu.

     

    Qua đề tài này tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy Ngô Trí Tuệ – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành bài viết này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Kế toán và các bạn sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu nghiên cứu.

     

    Hà nội, ngày 12 tháng 10 năm 2005

     

    Người viết

     

    Trịnh Thị Hải Yến

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    I.Cơ sở lý luận chung về bất động sản đầu tư

     

    1.     Khái niệm bất động sản đầu tư

     

    Bất động sản (BĐS) đầu tư là bất động sản, gồm: Quyền sử dụng đất; Nhà, hoặc

     

    một phần của nhà, hoặc cả nhà và đất; Cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính, nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để:

     

    • Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc:
    • Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.

    2.                 Các trường hợp được ghi nhận là bất động sản đầu tư

     

    • Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ trong thời gian dài để chờ tăng giá;
    • Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ mà chưa xác định rõ mục đích sử dụng trong tương lai;
    • Nhà do doanh nghiệp sở hữu (hoặc do doanh nghiệp thuê tài chính) và cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;
    • Nhà đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;
    • Cơ sở hạ tầng đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động.

    Các trường hợp đặc biệt được ghi nhận là bất động sản đầu tư

     

    • Đối với những bất động sản mà một phần doanh nghiệp nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoạt động hoặc chờ tăng giá và một phần sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc cho quản lý thì nếu những phần tài sản này được bán riêng rẽ (hoặc cho thuê riêng rẽ theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động), doanh nghiệp sẽ hạch toán phần tài sản dùng để cho thuê hoặc chờ tăng giá là bất động sản đầu tư còn phần tài sản dùng cho sản xuất và quản lý được hạch toán là TSCĐ hữu hình hoặc TSCĐ vô hình.

    Trường hợp bất động sản không bán được riêng rẽ và phần sử dụng cho kinh doanh hoặc cho quản lý là không đáng kể thì hạch toán là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp có một toà nhà có 80% diện tích chuyên cho thuê hoạt động và 20% diện tích sử dụng làm văn phòng công ty thì toà nhà đó được hạch toán là bất động sản đầu tư.

     

    3

     

    • Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là một phần tương đối nhỏ trong toàn bộ thoả thuận thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản này là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu toà nhà cho các đơn vị khác thuê làm văn phòng (cho thuê hoạt động) đồng thời cung cấp dịch vụ bảo dưỡng và an ninh đối với toà nhà cho thuê này.
    • Trường hợp, một công ty con cho công ty mẹ hoặc công ty con khác trong cùng một công ty mẹ thuê hoặc sử dụng và nắm giữ một bất động sản thì bất động sản đó được hạch toán là bất động sản đầu tư trên báo cáo tài chính riêng của công ty con có bất động sản đó hoặc báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ nếu công ty mẹ cho các công ty con thuê (nếu nó thoả mãn định nghĩa bất động sản đầu tư), nhưng không được phản ánh là bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính hợp nhất.

    3. Tính giá bất động sản đầu tư.

     

    3.1.Nguyên giá của bất động sản đầu tư: Là toàn bộ các chi phí (tiền mặt hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa ra trao đổi để có được bất động sản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.

     

    Tuỳ thuộc vào từng trường hợp, nguyên giá của bất động sản đầu tư được xác định như sau:

     

    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua bao gồm giá mua và các chi phí

    liên quan trực tiếp đến việc mua, như: phí dịch vụ tư vấn về luật pháp liên quan, thuế trước bạ và chi phí giao dịch liên quan khác…

    • Trường hợp mua bất động sản đầu tư thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của bất động sản đầu tư được phản ánh theo giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay được hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 16- “Chi phí đi vay”;
    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan trực tiếp của bất động sản đầu tư tính đến ngày hoàn thành công việc xây dựng;
    • Trường hợp bất động sản thuê tài chính với mục đích để cho thuê hoạt động thoả mãn tiêu chuẩn ghi nhận là bất động sản đầu tư thì nguyên giá của bất động sản

     

    4

     

    đầu tư đó tại thời điểm khởi đầu thuê được thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 – “Thuê tài sản”.

     

    Các chi phí sau không được tính vào nguyên giá của bất động sản đầu tư:

     

    • Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa bất động sản đầu tư vào trạng thái sẵn sàng sử dụng);
    • Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến;
    • Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.

    3.2. Hao mòn bất động sản đầu tư: Trong quá trình nắm giữ để chờ tăng giá, hoÆc cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư bị giảm giá trị vì thế phải trích khấu hao. Khấu hao bất động sản đầu tư được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ.

    3.3. Giá trị còn lại: Là nguyên giá của bất động sản đầu tư sau khi trừ (-) số khấu hao lũy kế của bất động sản đầu tư đó.

    II.Kế toán bất động sản đầu tư

     

    1. Một số quy định khi hạch toán bất động sản đầu tư

     

    1- Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:

    • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;
    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

    2- Bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm cả các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu.

    3- Các chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư.

     

    4- Sau ghi nhận ban đầu, trong thời gian nắm giữ, cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.

     

    5- Việc chuyển từ bất động sản đầu tư sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho và ngược lại chỉ được thực hiện khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng như các trường hợp sau:

     

    5

     

    • Bất động sản đầu tư chuyển sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử dụng tài sản này;
    • Bất động sản đầu tư chuyển sang hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai các công việc sửa chữa, cải tạo nâng cấp cần thiết cho mục đích bán;
    • Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển sang bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu kết thúc sử dụng tài sản đó;
    • Hàng tồn kho chuyển sang bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt động;
    • Bất động sản xây dựng chuyển sang bất động sản đầu tư khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn giao đưa vào đầu tư (trong giai đoạn xây dựng phải tuân theo Chuẩn mực kế toán số 03 – “Tài sản cố định hữu hình”).

    6- Khi một doanh nghiệp quyết định bán một bất động sản đầu tư mà không có giai đoạn sữa chữa, cải tạo nâng cấp thì doanh nghiệp vẫn tiếp tục ghi nhận là bất động sản đầu tư cho đến khi bất động sản đầu tư đó được bán mà không chuyển thành hàng tồn kho.

     

    7- Doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư được ghi nhận là toàn bộ giá bán (giá bán chưa có thuế GTGT đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế).

    Trường hợp bán bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm thì doanh thu được xác định theo giá bán trả ngay (giá bán chưa có thuế GTGT đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế). Khoản chênh lệch giữa giá bán trả chậm và giá bán trả ngay và thuế GTGT được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 – “Doanh thu và thu nhập khác”.

     

    8- Đối với các đơn vị chuyên kinh doanh bất động sản thì được kế toán theo các trường hợp sau:

    • Đối với các bất động sản khi mua về đã xác định rõ mục đích để bán trong kỳ được kế toán tuân theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”;
    • Đối với bất động sản khi mua về chưa xác định rõ được mục đích sử dụng trong tương lai hoặc mua về để chuyên cho thuê hoạt động (thoả mãn điều kiện ghi nhận BĐS đầu tư) thì được kế toán tuân theo Chuẩn mực kế toán số 05 “Bất động sản đầu tư”.

    9- Riêng đối với các doanh nghiệp là ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác, việc kế toán BĐS đầu tư được hướng dẫn trong một văn bản riêng.

     

    6

     

    2.Kế toán bất động sản đầu tư

     

    2.1. Tài khoản kế toán sử dụng – TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm bất động sản đầu tư của doanh nghiệp theo nguyên giá.

     

    2.1.1.Một số quy định khi hạch toán TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    • Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị bất động sản đủ tiêu chuẩn ghi nhận là bất động sản đầu tư. Không phản ánh vào tài khoản này giá trị bất động sản mua về để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần, bất động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản trong quá trình xây dựng chưa hoàn thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng bất động sản

    đầu tư.

     

    • Bất động sản đầu tư được ghi nhận trên tài khoản này theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư: Là toàn bộ các chi phí (tiền mặt hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa ra trao đổi để có được bất động sản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.
    • Trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, hoặc cho thuê hoạt động phải tiến hành trích khấu hao bất động sản đầu tư. Khấu hao bất động sản đầu tư được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ. Doanh nghiệp có thể dựa vào các bất động sản chủ sở hữu sử dụng cùng loại để ước tính thời gian sử dụng hữu ích và xác định phương pháp khấu hao của bất động sản đầu tư.
    • Đối với những bất động sản đầu tư được mua vào nhưng phải tiến hành xây dựng, cải tạo, nâng cấp trước khi sử dụng cho mục đích đầu tư thì giá trị BĐS, chi phí mua sắm và chi phí cho quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp bất động sản đầu tư được phản ánh trên TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Khi quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoàn thành phải xác định nguyên giá bất động sản đầu tư hoàn thành để kết chuyển vào TK 217 “Bất động sản đầu tư”.
    • Ghi giảm bất động sản đầu tư trong các trường hợp:
    • Chuyển đổi mục đích sử dụng từ bất động sản đầu tư sang hàng tồn kho hoặc bất động sản chủ sở hữu sử dụng;
    • Bán bất động sản đầu tư ;
    • Thanh lý bất động sản đầu tư ;
    • Hết thời hạn thuê tài chính trả lại BĐS đầu tư cho người cho thuê.

     

    7

     

    • Bất động sản đầu tư được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi bất động sản đầu tư trong “Sổ theo dõi bất động sản đầu tư” tương tự như TSCĐ.

    2.1.2.Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 217 – Bất động sản đầu tư Bên Nợ: Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng trong kỳ.

     

    Bên Có: Nguyên giá bất động sản đầu tư giảm trong kỳ.

     

    Số dư bên Nợ: Nguyên giá bất động sản đầu tư của doanh nghiệp cuối kỳ

     

    2.2. Hạch toán biến động bất động sản đầu tư

     

    2.2.1.Kế toán các trường hợp tăng bất động sản đầu tư

     

    2.2.1.1.Hạch toán các nghiệp vụ mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả tiền ngay

    • Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, ghi:

    Nợ TK 217 – bất động sản đầu tư

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có các TK 111, 112, 331.

    • Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, ghi:

    Nợ TK 217 – bất động sản đầu tư Có các TK 111, 112…

     

    2.2.1.2. Hạch toán nghiệp vụ mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm

     

    • Trường hợp doanh nghiệp tính nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá – theo giá mua trả ngay chưa

    có thuế GTGT)

     

    Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Phần lãi trả chậm tính bằng số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) giá mua trả ngay và thuế GTGT đầu vào).

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có TK 331 – Phải trả cho người bán.

    • Trường hợp doanh nghiệp tính nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá – theo giá mua trả ngay đã có

    thuế GTGT)

     

    Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Phần lãi trả chậm tính bằng số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) giá mua trả ngay đã có thuế GTGT)

     

    Có TK 331 – Phải trả cho người bán.

     

    8

     

    • Hàng kỳ, tính và phân bổ số lãi phải trả về việc mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm, ghi:

    Nợ TK 635 – Chi phí tài chính

     

    Có TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn.

     

    • Khi thanh toán tiền cho người bán, ghi:

    Nợ TK 331 – Phải trả cho người bán

     

    Có TK 515 – Doanh thu tài chính (Phần chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán trước thời hạn – nếu có)

    Có các TK 111, 112,…

     

    2.2.1.3. Trường hợp bất động sản đầu tư hình thành do xây dựng cơ bản hoàn thành bàn giao:

     

    • Khi mua bất động sản về đưa vào xây dựng cơ bản, ghi: Nợ TK 241 – XDCB dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có các TK 111, 112, 331,…

     

    • Khi phát sinh các chi phí đầu tư xây dựng bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 241 – XDCB dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 142, 141, 242, 331,…

     

    • Khi quá trình xây dựng cơ bản bất động sản đầu tư hoàn thành bàn giao, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nếu đủ điều kiện là BĐS đầu tư) Nợ TK 156 – Hàng hoá (1567- Hàng hoá BĐS)

    (Nếu không đủ điều kiện để hình thành BĐS đầu tư) Có TK 241 – XDCB dở dang.

     

    • Kế toán các chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư sau ghi nhận ban đầu:
    • Khi phát sinh chi phí liên quan đến BĐS đầu tư sau ghi nhận ban đầu, nếu xét thấy chi phí đó không chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu hoặc không bao gồm trong nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì được ghi nhận vào chi phí kinh doanh BĐS đầu tư trong kỳ, chi phí trả trước dài hạn, ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư), hoÆc Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Nếu chi phí có giá trị lớn)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 334,…

     

    9

     

    • Khi phát sinh chi phí nâng cấp, cải tạo mà xét thấy chi phí đó có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu hoặc bao gồm trong nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư:
      • Tập hợp chi phí nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư thực tế phát sinh, ghi:

    Nợ TK 241 – XDCB dở dang

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 331,…

     

    • Khi kết thúc hoạt động nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư, bàn giao ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư, ghi:

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư Có TK 241 – XDCB dở dang.

     

    2.2.1.4. Bất động sản đầu tư tăng do chuyển bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư.

     

    • Khi chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư, căn cứ vào hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng, ghi

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình, hoặc Có TK 213 – TSCĐ vô hình.

    • Đồng thời kết chuyển số hao mòn luỹ kế (Đối với những bất động sản chủ sở hữu sử dụng đã trích khấu hao), ghi:

    Nợ TK 2141, hoặc 2143

     

    Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    2.2.1.5. Bất động sản đầu tư tăng do chuyển hàng tồn kho thành BDS đầu tư: Khi chuyển từ hàng tồn kho thành bất động sản đầu tư, căn cứ vào hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng, ghi:

     

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có TK 156 – Hàng hoá (1567 – Hàng hoá bất động sản).

     

    2.2.1.6. Bất động sản đầu tư tăng do thuê tài chính.

     

    • Khi đi thuê tài chính với mục đích để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động, nếu tài sản thuê đó thoả mãn tiêu chuẩn là bất động sản đầu tư, căn cứ vào hợp đồng thuê tài chính và các chứng từ liên quan, ghi:

    10

     

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có các TK 111, 112, 315, 342.

     

    – Kế toán thanh toán tiền thuê khi nhận hóa đơn thuê tài chính

     

    • Trường hợp nợ gốc phải trả về thuê tài chính xác định theo giá mua chưa có thuế GTGT mà bên cho thuê đã trả khi mua Bất động sản đầu tư để cho thuê.
    • Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
    • Nếu trả tiền ngay:

    Nợ TK 635:        Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 315:        Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    Nợ TK 133:        Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có TK 111, 112

     

    + Nếu chưa trả tiền ngay:

     

    Nợ TK 635:        Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 133:        Thuế GTGT được khấu trừ

     

    Có TK 315: Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    • Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
    • Khi xuất tiền trả nợ gốc, tiền lãi thuê và thuế GTGT cho đơn vị cho thuê, ghi: Nợ TK 635: Chi phí thuê tài chính

    Nợ TK 315:   Nợ dài hạn đến hạn trả

     

    Nợ TK 632: (Số thuế GTGT trả kỳ này) Có TK 111, 112

     

    • Nếu chưa trả tiền ngay:

    Nợ TK 635:    Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 632:      (Số thuế GTGT trả kỳ này)

     

    Có TK 315:  Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    • Trường hợp nợ gốc phải trả về cho thuê tài chính xác định theo giá mua có thuế GTGT mà bên cho thuê đã trả khi mua bất động sản đầu tư để cho thuê.
    • Khi trả tiền nợ gốc và tiền lãi thuê tài sản cho đơn vị tho thuê, ghi:

    Nợ TK 635:       Chi phí thuê tài chính

     

    Nợ TK 315: Nợ dài hạn phải trả (Nợ gốc phải trả kỳ này có cả thuế GTGT) Có TK 111, 112…..

     

    • Khi nhận được hóa đơn thanh toán tiền thuê tài chính nhưng doanh nghiệp chưa trả tiền ngay.

    Nợ TK 635:    Chi phí thuê tài chính

     

    Có TK 315: Tiền lãi thuê phải trả kỳ này

     

    11

     

    • Căn cứ vào hóa đơn thanh toán tiền thuê phản ánh số thuế GTGT phải thanh toán cho bên thuê trong kỳ, ghi:

    Nợ TK 133, hoặc

     

    Nợ TK 632: Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Có TK 138: Phải thu khác

     

    • Định kỳ trích khấu hao bất động sản đầu tư:

    Nợ TK 632

    Khấu hao bất động sản đầu tư trích trong kỳ

     

    Có TK 2147

       

    S¬ ®å kÕ to¸n c¸c tr−êng hîp t¨ng bÊt ®éng s¶n ®Çu t−

     

     

    TK111,112,331

     

    B§S ®Çu t− mua theo ph−¬ng thøc tr¶ tiÒn

     

    TK331

     

    B§S ®Çu t− mua theo ph−¬ng thøc tr¶ chËm

     

     

    TK152,334,338

    TK217

     

    Nguyªn gi¸ B§S ®Çu t−

     

    TK133

     

    ThuÕ GTGT ®−îc

     

    khÊu trõ (nÕu cã)

     

    Nguyªn gi¸ B§S ®Çu t−

     

    TK242

     

    PhÇn l·i tr¶ chËm

     

    TK241

     

     

           

    Chi phÝ ®Çu t− x©y dùng B§S

     

    B§S ®Çu t− h×nh thμnh qua

           

    TK211,213

     

    ChuyÓn B§S chñ së h÷u sö dông thμnh B§S ®Çu t−

     

    TK156(1567)

     

    ChuyÓn hμng tån kho thμnh B§S ®Çu t−

     

    TK111,112,315,342

     

    B§S ®Çu t− t¨ng do thuª tμi chÝnh

     

     

    12

     

    2.2.2. Kế toán các trường hợp giảm bất động sản đầu tư

     

    2.2.2.1. Bất động sản đầu tư giảm khi hết hạn thuê tài chính

     

    • Nếu trả lại BĐS thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

     

    (Số chênh lệch giữa nguyên giá BĐS đầu tư thuê và số khấu hao luỹ kế) Có TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá).

    • Nếu mua lại bất động sản đầu tư thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư để tiếp tục đầu tư, ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư số phải trả thêm, ghi:

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư Có các TK 111, 112,…

    • Nếu mua lại bất động sản thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng, ghi:

    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình, hoặc Nợ TK 213 – TSCĐ vô hình

     

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có các TK 111, 112 (Số tiền phải trả thêm). Đồng thời kết chuyển số hao mòn luỹ kế, ghi:

     

    Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143.

     

    2.2.2.2. Bất động sản đầu tư giảm do thanh lý, nhượng bán

     

    • Ph¶n ¸nh doanh thu tõ ho¹t ®éng thanh lý nh−îng b¸n nÕu thu tiÒn ngay.

    – Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ, ghi Nợ TK 111, 112, 131 (Tổng giá thanh toán)

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư (Giá bán chưa có thuế GTGT)

     

    Có TK 3331 – Thuế GTGT (33311- Thuế GTGT đầu ra).

     

    – Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 111, 112, 131 (Tổng giá thanh toán)

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp bán bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm, trả góp:

    * Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ:

     

    • Khi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp thì ghi nhận doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư của kỳ kế toán theo giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm,

    13

     

    trả góp với giá bán trả ngay và thuế GTGT ghi vào tài khoản “Doanh thu chưa thực hiện”, ghi:

     

    Nợ các TK 111, 112, 131: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

     

    (Giá bán trả ngay chưa có thuế GTGT)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    (Số chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay và thuế GTGT)

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331 – thuế GTGT)

     

    • Định kỳ, tính, xác định và kết chuyển doanh thu tiền lãi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp trong kỳ, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

     

    • Khi thực thu tiền bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp trong đó gồm cả phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp và giá bán trả ngay, ghi:

    Nợ các TK 111, 112.

     

    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng.

     

    * Đối với BĐS đầu tư bán trả chậm, trả góp không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp:

    • Khi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp thì ghi nhận doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư của kỳ kế toán theo giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp và giá bán trả ngay (có cả thuế GTGT) ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện, ghi:

    Nợ các TK 111, 112, 131

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

     

    (Giá bán trả ngay có cả thuế GTGT)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    • Cuối kỳ, xác định số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (TK 3331-Thuế GTGT phải nộp)

    • Định kỳ, tính, xác định và kết chuyển doanh thu tiền lãi bán hàng trả chậm, trả góp, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

     

    14

     

    • Khi thực thu tiền bán hàng trả chậm, trả góp trong đó gồm cả phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp, ghi:

    Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131- Phải thu của khách hàng.

     

    • Kế toán giảm nguyên giá và giá trị còn lại của BĐS đầu tư bán, thanh lý, ghi:

    Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ (2147- Hao mòn BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Giá trị còn lại của BĐS đầu tư)

     

    Có TK 217- BĐS đầu tư (Nguyên giá của BĐS đầu tư)

     

    • Các chi phí bán (thanh lý) BĐS đầu tư phát sinh, ghi:

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

     

    Có các TK 111, 112, 331.

     

    2.2.2.3. Kế toán chuyển bất động sản đầu tư thành hàng tồn kho

     

    Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển và không làm thay đổi nguyên giá của BĐS đầu tư trong việc xác định giá trị ghi sổ hay lập báo cáo tài chính.

    Trường hợp bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu có quyết định sửa chữa, cải tạo nâng cấp để bán:

     

    • Khi có quyết định sửa chữa, cải tạo, nâng cấp BĐS đầu tư để bán kế toán tiến hành kết chuyển giá trị còn lại của bất động sản đầu tư vào TK 156 “Hàng hoá”, ghi:

    Nợ TK 156 (TK 1567- Hàng hoá BĐS): Giá trị còn lại của BĐS đầu tư Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ (2147): Số khấu hao luỹ kế

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư: Nguyên giá

     

    • Khi phát sinh các chi phí sửa chữa, cải tạo, nâng cấp triển khai cho mục đích bán: Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có) Có các TK 111, 112, 152, 334, 331,…

    • Khi kết thúc giai đoạn sửa chữa, cải tạo, nâng cấp triển khai cho mục đích bán, kết chuyển toàn bộ chi phí ghi tăng giá gốc hàng hoá bất động sản chờ bán, ghi:

    Nợ TK 156 – Hàng hoá (1567 )

     

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

     

     

    15

     

    2.2.2.4. Kế toán chuyển B§S đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng

     

    Khi chuyển bất động sản đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng, ghi:

     

    Nợ TK 211 hoặc 213

     

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư; Đồng thời, ghi:

     

    Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143.

     

    S¬ ®å kÕ to¸n c¸c tr−êng hîp gi¶m B§S ®Çu t−

     

     

    TK217

     

    B§S ®Çu t− gi¶m khi hÕt

     

    h¹n thuª tμi chÝnh, khi thanh lý nh−îng b¸n

     

     

    B§S ®Çu t− gi¶m do

     

    chuyÓn thμnh hμng tån

     

    kho

     

    TK2147

     

    Hao mßn B§S ®Çu t− (tæng sè khÊu hao ®· trÝch)

     

    TK632

     

    Gi¸ vèn hμng b¸n

     

    (gi¸ trÞ cßn l¹i)

     

    TK1567

     

    Gi¸ trÞ cßn l¹i cña B§S ®Çu t−

     

    TK2147

     

    Hao mßn luü kÕ

     

    TK217

     

     

    ChuyÓn B§S ®Çu t− thμnh B§S chñ së h÷u sö dông

     

    2.3. Kế toán khấu hao bất động sản đầu tư

     

    2.3.1.Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 2147 – Hao mòn BDS đầu tư

     

    Tài khoản này phản ánh giá trị hao mòn bất động sản đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động của doanh nghiệp. Bên Nợ: Giá trị hao mòn bất động sản đầu tư giảm.

     

    Bên Có: Giá trị hao mòn bất động sản đầu tư tăng do trích khấu hao hoặc do chuyển số khấu hao lũy kế của bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư.

     

    Số dư bên Có: Giá trị hao mòn của bất động sản đầu tư hiện có của doanh nghiệp.

     

    16

     

    2.3.2.Kế toán trích khấu hao bất động sản đầu tư

     

    • Định kỳ tính, trích khấu hao bất động sản đầu tư đang nắm giữ chờ tăng giá, đang cho thuê hoạt động, ghi:

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    • Trường hợp giảm giá B§S đầu tư thì đồng thời với việc ghi giảm nguyên giá bất động sản đầu tư phải ghi giảm giá trị hao mòn luỹ kế của bất động sản đầu tư.

    2.4 Kế toán cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    2.4.1. Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ 2.4.1.1. Phản ánh doanh thu cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư thu tiền trước cho thuê nhiều kỳ, doanh thu của kỳ kế toán được xác định bằng tổng số tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư đã thu chia cho số kỳ thu tiền trước cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư.
    • Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về hoạt động cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư cho nhiều kỳ, ghi:

    Nợ TK 111, 112 (Tổng số tiền nhận được)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (giá chưa có thuế GTGT) Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331).

    • Đồng thời, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán thực hiện, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

     

    • Sang kỳ kế toán tiếp sau, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán sau, ghi: Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    (Doanh thu của kỳ kế toán).

     

    • Số tiền phải trả lại cho khách hàng vì hợp đồng cung cấp dịch vụ cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư không được thực hiện (nếu có), ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (Giá chưa có thuế GTGT) Nợ TK 531 – Hàng bán bị trả lại (Trường hợp đã ghi doanh thu

    trong kỳ theo giá chưa có thuế GTGT)

     

     

    17

     

    Nợ TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp (Số tiền thuế GTGT của hoạt động cho thuê tài sản không được thực hiện)

     

    Có TK 111, 112, 331… (Tổng số tiền trả lại).

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư và thu tiền cho thuê hoạt động theo từng kỳ:

    – Khi phát hành hoá đơn thanh toán tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

    – Khi thu được tiền, ghi: Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131- Phải thu của khách hàng.

     

    2.4.1.2. Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ là bất động sản đầu tư cho thuê hoạt động, ghi:

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    2.4.1.3. Các chi phí phát sinh liên quan đến cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư, ghi:

     

    • Nếu chi phí phát sinh không lớn, ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

     

    Có các TK 111, 112, 331, 334,…

     

    • Nếu chi phí phát sinh nhiều và cần phải tính giá thành dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư thì thực hiện theo hướng dẫn kế toán cho thuê tài sản là cho thuê hoạt động:

    – Cho thuê hoạt động là bên cho thuê không có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu bất động sản cho thuê. Bên cho thuê vẫn ghi nhận bất động sản cho thuê hoạt động trên bảng cân đối kế toán theo cách phân loại của doanh nghiệp cho thuê.

     

    – Doanh thu cho thuê tài sản từ cho thuê hoạt động phải được ghi nhận theo phương pháp đường thẳng trong suốt thời hạn cho thuê mà không phụ thuộc vào phương thưc thanh toán, trừ khi áp dụng tính khác hợp lý hơn.

     

    18

     

    • Chi phí cho thuê hoạt động trong kỳ bao gồm khoản khấu hao tài sản cho thuê hoạt động và số chi phí trực tiếp ban đầu được ghi nhận ngay hoặc phân bổ dần cho suốt thời hạn cho thuê phù hợp với việc ghi nhận doanh thu.
    • Khấu hao bất động sản cho thuê hoạt động được trích theo quy định của chuẩn mực kế toán tài sản cố định hữu hình hoặc chuẩn mực kế toán tài sản cố định vô hình phù hợp với chính sách khấu hao của doanh nghiệp.

    2.4.2.Đối với đơn vị tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp:

     

    2.4.2.1. Phản ánh doanh thu cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư thu tiền trước cho thuê nhiều kỳ, doanh thu của kỳ kế toán được xác định bằng tổng số tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư đã thu chia cho số kỳ thu tiền trước cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư.
    • Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về hoạt động cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư cho nhiều , ghi:

    Nợ các TK 111, 112… (Tổng số tiền nhận được)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (Tổng số tiền nhận được).

     

    Đồng thời, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán thu tiền, ghi:

     

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

     

    • Sang kỳ kế toán sau, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán sau, ghi: Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    • Cuối mỗi kỳ kế toán, tính và phản ánh số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi:

    Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

     

    • Số tiền phải trả lại cho khách hàng vì hợp đồng cung cấp dịch vụ về cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư không được thực hiện (nếu có), ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Nợ TK 531  – Hàng bán bị trả lại (Trường hợp đã ghi doanh thu trong kỳ)

     

    Có các TK 111, 112…. (Tổng số tiền trả lại).

     

    19

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư và thu tiền cho thuê hoạt động theo từng kỳ:

    – Khi phát hành hoá đơn dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư. – Khi thu được tiền, ghi:

     

    Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng.

     

    • Cuối kỳ kế toán, tính và phản ánh số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi:

    Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

     

    2.4.2.2.Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ là bất động sản đầu tư cho thuê hoạt động, ghi:

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    2.4.2.3. Các chi phí phát sinh liên quan đến cho thuê hoạt động BDS đầu tư, ghi:

     

    – Nếu chi phí phát sinh không lớn, ghi:

     

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có các TK 111, 112, 331, 334,…

     

    • Nếu chi phí phát sinh nhiều và cần phải tính giá thành dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư thì thực hiện theo hướng dẫn kế toán cho thuê tài sản là cho thuê hoạt động.

     

     

     

     

    20

     

    S¬ ®å kÕ to¸n cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu t−

     

    • Tr−êng hîp thu tiÒn tr−íc cho nhiÒu kú cho thuª

    TK5117

       

    TK3387

               

    TK111,112

     

    KÕt chuyÓn doanh thu cña kú

    Doanh thu ch−a thuÕ GTGT

           
     

    kÕ to¸n vμ c¸c kú sau ®ã

                           
         

    Doanh thu

                   

    Tæng sè tiÒn

     
                           
               

    TK3331

             
         

    ch−a thùc

           

    nhËn ®−îc

     
                   
                                 
                                 

    TK111,112

    hiÖn

           

    ThuÕ GTGT

           
                       

    ThuÕ GTGT (nÕu cã)

    ph¶i nép (nÕu

           
                 
                             
     

    Tæng sè tiÒn tr¶ l¹i

                               
                                 
                                 
                                   
     

    nÕu kh«ng thùc hiÖn

             

    TK531

             
     

    hîp ®ång cho thuª

                     
           

    Hμng b¸n bÞ tr¶ l¹i

                   
                                     
                                     
                                     

     

    • Tr−êng hîp thu tiÒn cho thuª theo tõng kú

    j   TK5117

     

    TK131

     

    TK111,112

                         
       

    Doanh thu kinh

                 
       

    doanh B§S ®Çu t−

                 
                     
           

    Tæng gi¸

     

    Khi thu ®−îc tiÒn

     
           
                       
     

    TK3331

     

    thanh to¸n

           
                   
       

    ThuÕ GTGT ph¶i

                 
       

    nép (NÕu cã)

                 
                     
                         
                         
                         

     

     

    21

     

    • Þnh kú trÝch khÊu hao B§S ®Çu t− cho thuª ho¹t ®éng

    TK 2147                                                                                                                  TK 622

     

    Sè khÊu hao ph¶i trÝch trong kú

     

     

    • C¸c chi phÝ ph¸t sinh (nÕu nhá) liªn quan tíi cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu t−

    TK

     

    TK 632

           

    111,112,331,334…

           
         

    Gi¸ vèn hμng b¸n

     
     

    C¸c chi phÝ ph¸t sinh liªn quan

         
           
       

    TK 133

           
     

    tíi cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu

     
     

    ThuÕ GTGT ®−îc khÊu

     
           
         

    trõ (nÕu cã)

     
               

     

    • Mét sè nhËn xÐt vÒ c«ng t¸c h¹ch to¸n B§S ®Çu t− trong c¸c doanh nghiÖp ë ViÖt Nam.
    1. C«ng t¸c h¹ch to¸n B§S ®Çu t− tr−íc chuÈn mùc sè 05

     

    Tr−íc khi chuÈn mùc sè 05 – B§S ®Çu t− ra ®êi ho¹t ®éng kinh doanh B§S ®−îc xem lμ ho¹t ®éng tμi chÝnh. Tμi kho¶n sö dông ®Ó h¹ch to¸n lμ tμi kho¶n

     

    228 (chi tiÕt kinh doanh B§S) cã kÕt cÊu nh− sau: Bªn Nî: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− t¨ng trong kú Bªn Cã: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− gi¶m trong kú

     

    Sè d− bªn Nî: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− hiÖn cßn ë doanh nghiÖp Ph−¬ng ph¸p h¹ch to¸n:

     

    • Khi mua B§S ®Çu t− nÕu ph¶i qua ho¹t ®éng XDCB, c¨n cø vμo gi¸ mua thùc tÕ vμ phÝ tæn khi mua:

    Nî TK 228: Gi¸ vèn B§S ®Çu t−

     

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã)

     

    Cã TK 111, 112, 331, 341: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

     

    22

     

    • NÕu mua ph¶i qua ho¹t ®éng XDCB: + Khi mua B§S ®Çu t−:

     

    Nî TK 241: XDCB dë dang

     

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã) Cã TK 111, 112, 331: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    + Chi phÝ ®Çu t− XBCB ph¸t sinh: Nî TK 241: XDCB dë dang

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã) Cã TK 111, 112, 152, 331, 334

    + Khi kÕt thóc qu¸ tr×nh ®Çu t− XDCB:

     

    Nî TK 228: B§S ®Çu t− hoμn thμnh qua XDCB Cã TK 241: XDCB dë dang

     

    • Khi thanh lý, nh−îng b¸n B§S: – Ph¶n ¸nh doanh thu:

    Nî TK 111, 112, 131: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    Cã TK 515: Doanh thu ho¹t ®éng tμi chÝnh Cã TK 3331: ThuÕ GTGT ph¶i nép (nÕu cã)

     

    – Ph¶n ¸nh gi¸ vèn:

     

    Nî TK 635

    Gi¸ vèn cña B§S ®Çu t−

    Cã TK 228

     
     
    • Chi phÝ ph¸t sinh khi thanh lý, nh−îng b¸n B§S ®Çu t−: Nî TK 635: Chi phÝ tμi chÝnh

    Cã TK 111,112

     

    1. Mét sè nhËn xÐt vÒ c«ng t¸c kÕ to¸n B§S ®Çu t− theo chuÈn mùc sè 05:

    Nh− vËy so víi c«ng t¸c kÕ to¸n B§S ®Çu t− tr−íc khi chuÈn mùc sè 05 ra ®êi viÖc h¹ch to¸n theo chÕ ®é hiÖn nay cã nh÷ng −u ®iÓm râ rÖt:

     

    Tr−íc hÕt, viÖc sö dông TK 217 ®Ó h¹ch to¸n B§S ®Çu t− trong doanh nghiÖp ®· thÓ hiÖn ®óng b¶n chÊt cña B§S ®Çu t− ®ã lμ tμi s¶n tho¶ m·n 2 ®iÒu kiÖn: ch¾c ch¾n thu ®−îc lîi Ých trong t−¬ng lai vμ nguyªn gi¸ ®−îc x¸c ®Þnh mét c¸ch ®¸ng tin cËy.

     

    Thø hai, ho¹t ®éng kinh doanh B§S ®Çu t− ®−îc t¸ch riªng khái ho¹t ®éng tμi chÝnh cña doanh nghiÖp víi viÖc ghi nhËn daonh thu vμo TK5117, gi¸ vèn vμo

     

     

    23

     

    TK 632 vμ viÖc trÝch khÊu hao B§S ®Çu t− trªn TK2147 lμ hoμn toμn phï hîp. ViÖc h¹ch to¸n theo chuÈn mùc nμy sÏ cã t¸c dông rÊt lín trong giai ®o¹n hiÖn nay khi ho¹t ®éng kinh doanh B§S ngμy mét ph¸t triÓn, ®Æc biÖt khi n−íc ta s¾p gia nhËp c¸c tæ chøc th−¬ng m¹i quèc tÕ vμ khu vùc.

     

    Thø ba, viÖc h¹ch to¸n riªng ho¹t ®éng B§S ®Çu t− sÏ gióp c«ng t¸c kÕ to¸n cã chuyªn m«n s©u h¬n, ®ång thêi còng cung cÊp th«ng tin ®Çy ®ñ kÞp thêi, chÝnh x¸c h¬n cho nh÷ng ng−êi quan t©m ®Õn t×nh h×nh tμi chÝnh cña doanh nghiÖp gãp phÇn n©ng cao hiÖu qu¶ ®Çu t− vμ hiÖu qu¶ hiÖu n¨ng qu¶n lý.

     

    Tuy nhiªn c«ng t¸c kÕ to¸n theo chÕ ®é míi còng gÆp kh«ng Ýt khã kh¨n: Thø nhÊt, ®iÒu kiÖn ¸p dông chuÈn mùc sè 05 “B§S ®Çu t−” trong c¸c doanh nghiÖp ë n−íc ta hiÖn nay ch−a thuËn lîi do thiÕu c¬ së vËt chÊt, do

     

    thiÕu th«ng tin hay nhiÒu nguyªn nh©n kh¸c.

     

    Thø hai, ®èi víi c¸c ®¬n vÞ chuyªn kinh doanh B§S viÖc x¸c ®Þnh râ rμng B§S ®Çu t− mua vÒ lμ ®Ó b¸n trong kú hay chê t¨ng gi¸ lμ ®iÒu rÊt khã cho c«ng t¸c kÕ to¸n. Khi ph©n lo¹i B§S ®Çu t− míi B§S chñ së h÷u sö dông vμ víi tμi s¶n gi÷ ®Ó b¸n trong ho¹t ®éng kinh doanh th«ng th−êng doanh nghiÖp gÆp kh«ng Ýt khã kh¨n do ®ã cÇn ph¶i cã nh÷ng tiªu chuÈn cô thÓ.

     

    Thø ba, ®èi víi c¸c doanh nghiÖp h¹ng ®Æc biÖt nh− c¸c tæ chøc tÝn dông, ng©n hμng th× viÖc h¹ch to¸n bÊt ®éng s¶n ®Çu t− kh«ng theo th«ng t− 23 mμ ®−îc h−íng dÉn thùc hiÖn trong c¸c v¨n b¶n riªng ®ßi hái ng−êi lμm c«ng t¸c kÕ to¸n ph¶i cã chuyªn m«n vμ n¾m b¾t th«ng tin kÞp thêi.

     

    Thø t−, khi doanh nghiÖp kh«ng thÓ x¸c ®Þnh gi¸ trÞ hîp lý cña B§S ®Çu t− t¹i thêi ®iÓm kÕt thóc niªn ®é kÕ to¸n th× doanh nghiÖp ph¶i thuyÕt minh danh môc B§S ®Çu t− vμ c¸c lý do kh«ng thÓ x¸c ®Þnh gi¸ trÞ hîp lý cña B§S ®Çu t− trªn b¸o c¸o tμi chÝnh.

     

    1. Vài nét so sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư” với chuẩn mực kế toán quốc tế cùng tên.

    Gần đây với sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam và việc nước ta chấp nhận từng bước triển khai hệ thống các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRs) trước đây gọi là hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vào hệ thống các quy

     

    24

     

    định kế toán Việt Nam (VN GAAP) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập và hiện đại hóa nền kinh tế.

     

    D−íi ®©y lμ vài nét so sánh giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư” với chuẩn mực kế toán quốc tế cùng tên (IAS 40).

     

    Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 05) ban hành theo Quyết định số 243/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của bộ trưởng Bộ Tài chính và được hương dẫn thực hiện tại thông tư số 23/2005/TT- BTC ngày 30/03/2005.

    Chuẩn mực kế toán quốc tế số 40 (IAS 40) được ban hành thay cho IAS 25, được sửa đổi tháng 3/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005.

     

    Hai chuẩn mực này hoàn toàn giống nhau ở những điểm sau:

     

    • Phạm vi chuẩn mực
    • Xác định giá ban đầu (Đoạn 18, VAS 05 và đoạn 20, IAS 40): theo nguyên giá của bất động sản đầu tư các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu, nhưng không bao gồm các chi phí phát sinh ban đầu, chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt đến trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến, các chi phí không bình thường trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
    • Điều kiện và thủ tục thanh lý bất động sản đầu tư.

    Điểm khác biệt chính giữa VAS 05 và IAS 40 là VAS 05 quy định áp dụng phương pháp nguyên giá khi xác định giá trị và ghi nhận bất động sản đầu tư, còn IAS 40 cho phép áp dụng phương pháp giá thực tế hoặc phương pháp nguyên giá.

     

    • Phương pháp giá thực tế là phương pháp xác định giá trị tài sản theo cách thức tài sản được mua bán trao đối trên cơ sở các bên tham gia có những hiểu biết không bị mâu thuẫn về lợi ích và khách quan trong giao dịch (trích IASB, 2004, trang 2012).
    • Phương pháp giá gốc là phương pháp xác định giá trị tài sản bằng giá trị thanh toán cộng các chi phí thực tế phát sinh khác để mua được tài sản đó khi việc xác định và ghi nhận giá trị ban đầu của tài sản tuân thủ các quy định của các chuẩn mực IFRS khác (trích IASB, 2004, trang 2011).

     

    25

     

    Khác nhau giữa VAS 05 và IAS 40 về bất động sản đầu tư.

     

    Các vấn đề kế

    VAS 05

     

    IAS 40

     

    Thuyết minh thêm về

     

    toán

     

    Bất động sản đầu tư

    Bất động sản đầu tư

    những khác biệt

    Định nghĩa bất

    Bao gồm:

    Bao gồm:

       

    Theo luật đất đai 2003,

    động sản đầu tư

    – Quyền sử dụng đất nắm giữ

    – Đất nắm giữ trong

    đất đai thuộc sở

    hữu

    Ví dụ bất động

    trong thời gian dài để chờ

    thời gian dài để chờ

    của

    nhà

    nước.

     

    Nhà

    sản đầu tư

     

    tăng giá.

    tăng giá.

         

    nước chuyển quyền sử

         

    – Quyền sử dụng đất nắm giữ

    – Đất nắm giữ  mà

    dụng đất cho dân theo

         

    mà  chưa  rõ  mục  đích  sử

    chưa rõ mục đích sử

    03 cách: giao, thuê và

         

    dụng trong tương lai.

    dụng trong tương lai.

    cho  (sở  hữu).  Tuy

         

    – Nhà do doanh nghiệp sở

    Nhà

    do  doanh

    nhiên,  luật  chưa  cắt

         

    hữu cho thuê

    nghiệp  sở  hữu  cho

    nghĩa rõ ràng “Quyền

         

    – Nhà đang giữ để cho thuê

    thuê

         

    sử dụng đất” là gì?

     
         

    – Kết cấu hạ tầng đang giữ

    – Nhà đang giữ để

             
         

    để cho thuê (đoạn 6, VAS

    cho  thuê  (đoạn  8,

    Theo IFRS, không có

         

    05)

    IAS 40)

         

    khái niệm “Quyền sử

                     

    dụng đất”.

         

    Xác định giá trị

    Áp   dụng   phương   pháp

    Có thể lựa chọn áp

    Hiện  tại,  VAS  nhất

    sau khi ghi nhận

    nguyên giá

    dụng

    trong

    hai

    quán quy định áp dụng

    ban đầu

       

    phương pháp:

     

    phương  pháp  nguyên

           

    Theo

    giá

    thị

    giá khi xác định giá trị

           

    trường.

         

    tài sản. Theo Điều 7,

           

    – Theo nguyên giá

    Luật  kế

    toán

    2003,

                     

    phần  “nguyên  tắc  kế

                     

    toán” quy định không

                     

    được phép điều chỉnh

                     

    giá trị tài sản trừ khi

                     

    luật quy định khác.

     

    Trình

    bày

    trên

    Trong trường hợp đánh giá

    thể

     

    thông

    tin

    Ban Vật giá Chính phủ

    báo

    cáo

    tài

    bất động sản đầu tư theo giá

    khoảng  ước  lượng

    là cơ quan giám sát và

    chính

       

    trị thực tế không thực hiện

    giá trị thực tế của bất

    quy định các mức giá

         

    được thì doanh nghiệp phải

    động  sản

    khả

    trần hoặc giá sàn cho

         

    trình bày:

    năng nhất.

       

    một số mặt hàng quan

         

    – Bảng kê loại bất động sản

             

    trọng trong nền kinh tế

         

    đầu tư

             

    quốc  dân.  Việc  trình

         

    – Giải thích lý do không thể

             

    bày bảng kê loại bất

         

    xác định giá trị bất động sản

             

    động sản đầu tư có thể

         

    theo giá thực tế.

             

    giúp

    cho

    người

    sử

                     

    dụng báo cáo tài chính

                     

    ước lượng được giá thị

                     

    trường  của  bất

    động

                     

    sản dựa trên khung giá

                     

    trần và giá sàn do ban

                     

    Vật giá Chinh phủ quy

                     

    định.

           

     

     

    26

     

    KẾT LUẬN

     

    Những cải cách trong ngành kế toán vẫn đang tiếp tục diễn ra trong khi Việt Nam vẫn đang từng bước cải cách nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những thông tin tài chính chính xác và đúng thời điểm không những giúp các nhà quản lý, các nhà đầu tư có được những quyết định sáng suốt mà còn góp phần thúc đẩy đầu tư nước ngoài.

     

    Với sự ra đời của luật kế toán Việt Nam 2003 và việc Việt Nam chấp nhận từng bước triển khai hệ thống các chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) vào hệ thống các quy định kế toán Việt Nam (VN GAAP) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế và xây dựng một nền kinh tế mới.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì việc tăng cường hiệu năng và hiệu quả hoạt động của bộ phận kế toán luôn giữ vai trò tối quan trọng. Theo đó, mặc dù không phải là tất cả, song tổ chức tốt công tác kế toán bất động sản đầu tư được xem là một trong những mắt xích quan trọng của bộ phận kế toán doanh nghiệp.

     

    Để công tác hạch toán Bất động sản đầu tư có hiệu quả đòi hỏi người làm công tác kế toán phải nắm vững chế độ kế toán tμi chính và pháp luật hiện hành và vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và yêu cầu quản lý của đơn vị.

     

    Việc nghiên cứu đề tài này thực sự có ý nghĩa đối với bản thân tôi bởi lẽ nó giúp tôi mở rộng vốn kiến thức còn hạn chế của mình đồng thời nó cũng giúp tôi có thêm hiểu biết về xu thế phát triển của kế toán Việt Nam. Những kinh nghiệm và hiểu biết này sẽ là bạn đồng hành của tôi trên con đường tiếp cận với công việc của người kế toán tương lai – một nghề mà tôi đã lựa chọn.

     

     

     

    27

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư”
    1. Thông tư 89/2003/ TT-BTC ngày 09/10/2002
    1. Thông tư 105/ 2003/ TT- BTC ngày 04/11/2003
    1. Thông tư 23/TT- BTC ngày 30/03/2005
    1. Hội nhập với các nguyên tắc kế toán và kiểm toán quốc tế. Tác giả: Hugh. A. Adams, BBA, MBA; Đỗ Thùy Linh, BEc, MSc

    Nhà xuất bản chính trị quốc gia tháng 7/2005

     

    1. Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán.

    Chủ biên: PGS-TS Nguyễn Thị Đông

     

    Nhà xuất bản thống kê năm 2004

     

    1. Giáo trình kế toán tài chính.

    Chủ biên : PGS-TS Đặng Thị Loan

     

    Nhà xuất bản thống kê năm 2004

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    28

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    PHẦN I. NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN I. NGUYÊN TẮC ĐỊNH GIÁ BĐS

    Hiện nay các trường phái nghiên cứu đưa ra các nguyên tắc định giá bất động sản bao gồm:

    I.1. Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất (tốt nhất và tối ưu);

    I.2. Nguyên tắc dự báo (dự kiến các lợi ích trong tương lai);

    I.3. Nguyên tắc thay thế;

    1.4. Nguyên tắc cung cầu;

    I.5. Nguyên tắc cân bằng;

    I.6. Nguyên tắc hài hoà các yếu tố;

    I.7. Nguyên tắc đóng góp;

    I.8. Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm;

    I.9. Nguyên tắc phân phối;

    I.10. Nguyên tắc thay đổi;

    I.11. Nguyên tắc tuân thủ;

    I.12. Nguyên tắc cạnh tranh.

    Sau đây chúng ta nghiên cứu một số nguyên tắc cơ bản.

    Một là: Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và tối ưu.

     

    Nguyên tắc này được hiểu là được phép sử dụng về vật chất và theo pháp luật của tài sản để tạo ra lãi ròng hay giá trị hiện tại thuần lớn nhất vào ngày định giá tài sản.

    Hai là: Nguyên tắc cung cầu

    Giá cả của tài sản được xác định bởi sự tác động qua lại giữa các lực lượng cung và cầu trên thị trường, phù hợp vào ngày định giá tài sản. Trên thị trường, giá cả có xu hướng thay đổi tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch với cung.

    Khi định giá tài sản, cần phải xem xét các yếu tố cung và cầu trên thị trường, phải phân tích và đánh giá một cách toàn diện về sự tác động của các yếu tố cung cầu đến giá trị của tài sản.

    Ba là: Nguyên tắc sự thay thế

    Sự hình thành giá trị của tài sản được định giá thường có liên quan đến giá trị của các tài sản có khả năng thay thế. Một người mua thận trọng không bao giờ trả tiền hơn để mua một tài sản tương tự thay thế như vậy trong thị trường mở.

    Nguyên tắc này được áp dụng trong quá trình định giá tài sản là khi có 2 tài sản có tính hữu ích như nhau, tài sản nào chào bán với mức giá thấp hơn thì tài sản đó được bán trước.

    Bốn là: Nguyên tắc dự kiến các lợi ích có được của tài sản trong tương lai.

    Khi ước tính giá trị của tài sản nên luôn luôn dựa trên sự triển vọng trong tương lai hơn là sự nhìn nhận nó trong quá khứ. Định giá tài sản là nhiệm vụ dự kiến lợi ích có được từ quyền sở hữu tài sản trong tương lai. Những dự tính của người mua hay người chủ sở hữu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của tài sản.

    Năm là: Nguyên tắc cân bằng trong việc sử dụng đất và sự phát triển của nó.

    Giá bán của một vị trí đất đai không nhất thiết là mảnh đất ở vị trí liền kề cũng phải có một giá trị như vậy.

    Khi tiến hành công việc, người định giá tài sản phải cân nhắc đến sự cân bằng trong việc sử dụng đất và sự phát triển của nó về cộng đồng xã hội, các chính sách hoạch định, các nguyên tắc sử dụng đất có hiệu quả…

    Sáu là: Nguyên tắc sự hài hoà của các yếu tố.

    Đối với bất động sản, giá tối đa sẽ được thực hiện khi có một mức độ hợp lý về sự đồng nhất về kinh tế và xã hội hiện hữu trong một vùng lân cận, cần xét đến sự hài hoà của các thể chế, luật lệ, lợi ích kinh tế giữa các bên, sự phù hợp với tâm lý tiêu dùng.

    II. QUY TRÌNH ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN.

    Định giá bất động sản (BĐS) được thực hiện theo quy trình sau:

    Bước 1: Xác định nhiệm vụ định giá BĐS.

    Bước 2: Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin BĐS.

    Bước 3: Phân tích thông tin về BĐS.

    Bước 4: Lựa chọn phương pháp định giá BĐS.

    Bước 5: Xác định giá trị BĐS cần định giá.

    Bước 6: Lập hồ sơ và chứng thư định giá.

    II.1. Xác định nhiệm vụ định giá BĐS bao gồm các nội dung:

    II.1.1. Thiết lập mục đích, nhiệm vụ của việc định giá;

    II.1.2. Nhận biết về BĐS cần định giá: đặc điểm cơ bản về các yếu tố pháp lý, về kinh tế kỹ thuật của BĐS;

    II.1.3. Chọn cơ sở giá trị của định giá và phương pháp định giá BĐS do khách hàng yêu cầu;

    II.1.4. Xác định yêu cầu của khách hàng, người sử dụng kết quả định giá.

    II.1.5. Những điều kiện ràng buộc trong xác định BĐS định giá: Định giá viên phải đưa ra những giả thiết và những điều kiện bị hạn chế đối với những yêu cầu và mục đích định giá của khách hàng, những yếu tố ràng buộc ảnh hưởng đến giá trị BĐS; những giới hạn về: tính pháp lý, công năng của BĐS, nguồn dữ liệu, sử dụng kết quả; quyền và nghĩa vụ của định giá viên theo hợp đồng định giá.

    II.1.6. Việc đưa ra những điều kiện hạn chế và ràng buộc của định giá viên phải dựa trên cơ sở:

    a- Có sự xác nhận bằng văn bản của khách hàng và trên cơ sở nhận thức rõ ràng những điều kiện đó sẽ tác động đến bên thứ ba thông qua kết quả định giá.

    b- Phù hợp với quy định của luật pháp và các quy định hiện hành khác có liên quan.

    II.1.7. Xác định thời điểm định giá.

    Việc xác định đặc điểm, bản chất (tự nhiên, pháp lý) của BĐS cần định giá phải được thực hiện ngay sau khi ký hợp đồng định giá và ý kiến đánh giá về giá trị của BĐS được đưa ra trong phạm vi thời gian cho phép của hợp đồng.

    II.1.8. Xác định nguồn dữ liệu cần thiết cho thẩm định giá.

    II.1.9. Xác định cơ sở giá trị của BĐS.

    Trên cơ sở xác định khái quát về đặc điểm, loại hình BĐS cần định giá, định giá viên cần xác định rõ loại hình giá trị làm cơ sở cho việc định giá: giá trị thị trường hay giá trị phi thị trường.

    Việc xác định giá trị làm cơ sở cho định giá phải phù hợp với những quy định của pháp luật hiện hành và các văn bản quy phạm pháp lụat do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

    II.2. Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin bất động sản.

    II.2.1. Khảo sát hiện trường: Định giá viên phải trực tiếp khảo sát hiện trường với các nội dung:

    • Vị trí thực tế của BĐS so sánh với vị trí trên bản đồ địa chính, các mô tả pháp lý liên quan đến BĐS.
    • Chi tiết bên ngoài và bên trong BĐS, bao gồm: diện tích đất và công trình kiến trúc; khung cảnh xung quanh, cơ sở hạ tầng (cấp và thoát nước, viễn thông, điện, đường), loại kiến trúc, mục đích sử dụng hiện tại, tuổi đời, tình trạng duy tu, sửa chữa…
    • Đối với công trình xây dựng dở dang, định giá viên phải kết hợp giữa khảo sát thực địa với báo cáo của chủ đầu tư, nhà thầu đang xây dựng công trình.

    Trong quá trình khảo sát, để có đầy đủ chứng cứ cho việc định giá, định giá viên cần chụp ảnh tài sản theo các dạng (toàn cảnh, chi tiết), các hướng khác nhau.

    II.2.2. Thu thập thông tin.

    Bên cạnh thông tin, số liệu thu thập từ khảo sát hiện trường, định giá viên phải thu thập các thông tin sau:

    • Các số liệu về kinh tế xã hội, môi trường, những yếu tố tác động đến giá trị, những đặc trưng của thị trường BĐS để nhận biết sự khác nhau giữa khu vực BĐS định giá toạ lạc và khu vực lân cận.
    • Các thông tin về những yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến mục đích sử dụng của BĐS (địa chất, bản đồ địa chính, quy hoạch, biên giới hành chính, cơ sở hạ tầng…).
    • Để thực hiện định giá, định giá viên phải dựa trên những thông tin thu thập từ các nguồn: khảo sát thực địa; những giao dịch mua bán BĐS (giá chào, giá trả, giá thực mua bán, điều kiện mua bán, khối lượng giao dịch…) thông qua phỏng vấn các công ty

    kinh doanh BĐS, công ty xây dựng, nhà thầu, ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng; thông tin trên báo chí (báo viết, nói, hình) của địa phương, trung ương và của các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường BĐS; thông tin trên các văn bản thể hiện tính pháp lý về quyền năng của chủ BĐS, về các đặc tính kinh tế, kỹ thuật của BĐS, về quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của vùng có liên quan đến BĐS. Định giá viên phải nêu rõ nguồn thông tin trong báo cáo định giá và phải được kiểm chứng để bảo đảm độ chính xác của thông tin.

    III. PHÂN TÍCH THÔNG TIN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN.

    Là quá trình đánh giá tác động của các yếu tố đến mức giá của BĐS cần định giá.

    III.1. Phân tích những thông tin từ khảo sát hiện trường BĐS.

    III.2. Phân tích những đặc trưng của thị trường BĐS cần định giá.

    a- Bản chất và hành vi ứng xử của những người tham gia thị trường:

    • Đối với BĐS thương mại hoặc công nghịêp, bao gồm: đặc điểm của mỗi lĩnh vực (thương mại hoặc công nghịêp) hình thành nên những nhóm cung và cầu về BĐS, hình thức sở hữu của pháp nhân tham gia thị trường (công ty tư nhân hay sở hữu nhà nước, liên doanh…); mức độ mở rộng thị trường BĐS loại này với những người mua tiềm năng.
    • Đối với BĐS là nhà cửa dân cư, bao gồm: tuổi tác. cơ cấu gia đình, mức độ thu nhập của nhóm cung và nhóm cầu, mức độ mở rộng thị trường BĐS loại này với những người mua tiềm năng.
    1. Xu hướng cung cầu trên thị trường BĐS.
    • Những xu hướng tăng giảm về nguồn cung, tăng giảm về nhu cầu của những BĐS tương tự hiện có trên thị trường.
    • ảnh hưởng của xu hương trên đến giá trị BĐS đang định giá.

    III.3. Phân tích về khách hàng:

     

    • Đặc điểm của những khách hàng tiềm năng.
    • Sở thích của khách hàng về vị trí, quy mô, chức năng và môi trường xung quanh

    BĐS.

    – Nhu cầu, sức mua về BĐS.

    III.4. Phân tích về việc sử dụng tốt nhất và tối ưu BĐS.

    • Định giá viên cần xem xét khả năng sử dụng tốt nhất một BĐS trong bối cảnh tự nhiên, hoàn cảnh pháp luật và tài chính cho phép và mang lại giá trị cao nhất cho BĐS.
    • Định giá viên cần đánh giá cụ thể việc sử dụng BĐS trên các khía cạnh:
    • Sự hợp lý, tính khả thi trong sử dụng BĐS, xem xét đến mối tương quan giữa việc sử dụng hiện tại và sử dụng trong tương lai.
    • Sự thích hợp về mặt vật chất, kỹ thuật đối với việc sử dụng BĐS: xác định và mô tả đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tính hữu dụng của BĐS.
    • Sự hợp pháp của BĐS trong việc sử dụng, những hạn chế riêng theo hợp đồng, theo quy định của pháp luật.
    • Tính khả thi về mặt tài chính: Phân tích việc sử dụng tiềm năng của BĐS trong việc tạo ra thu nhập, xem xét tới các yếu tố giá trị thị trường, mục đích sử dụng trong tương lai, chi phí phá bỏ và giá trị còn lại của BĐS, lãi suất, rủi ro, giá trị vốn hoá của BĐS.
    • Hiệu quả tối đa trong sử dụng BĐS: xem xét đến năng suất tối đa, chi phí bảo dưỡng, các chi phí phát sinh cho phép BĐS được sử dụng đến mức cao nhất và tốt nhất.

    IV. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    Nguyên tắc là việc lựa chọn phương pháp định giá một BĐS phải phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm, tính chất, công năng của bất

    động sản cần định giá. Mặt khác, việc lựa chọn phương pháp định giá BĐS còn phải tuỳ thuộc vào khả năng thu thuập thông tin từ BĐS đó; cụ thể như sau:

    IV.1. Phương pháp so sánh trực tiếp: thường được sử dụng để định giá BĐS trong các trường hợp: các BĐS có tính đồng nhất như: các căn hộ, các chung cư, các dãy nhà cùng xây dựng một kiểu, các ngôi nhà riêng biệt và bán riêng biệt, các phân xưởng, các nhà kho trên một mặt bằng, các nhóm văn phòng hoặc cửa hiệu, đất trống.

    IV.2. Phương pháp chi phí: thường được sử dụng để định giá cho những mục đích sử dụng đặc biệt như: bệnh viện, trường học, nhà thờ, thư viện, nhà máy điện… định giá BĐS cho mục đích bảo hiểm, thế chấp hoặc dùng để kiểm tra đối với các phương pháp định giá khác.

    IV.3. Phương pháp thu nhập (phương pháp đầu tư): thường được sử dụng định giá đối với những BĐS có khả năng tạo ra thặng dư tài chính vượt quá chi phí trực tiếp của việc sử dụng hiện tại đó, BĐS cho thuê mang lại thu nhập, BĐS đầu tư mang lại lợi nhuận.

    IV.4. Phương pháp thặng dư: thường vận dụng để định giá của bất động sản phát triển.

    IV.5. Phương pháp lợi nhuận: thường vận dụng để định giá của các bất động sản đặc biệt như khách sạn, rạp chiếu bóng và những tài sản khác mà việc so sánh với những tài sản tương tự sẽ gặp khó khăn do giá trị chủ yếu phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản.

    Để đảm bảo độ tin cậy cao, người ta thường dùng nhiều phương pháp để định giá cho một BĐS.

    V. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ BẤT ĐỘNG SẢN CẦN ĐỊNH GIÁ

     

    Định giá viên phải nêu rõ các phương pháp được áp dụng của BĐS cần định giá. Phương pháp định giá phải phù hợp với quy

    để xác định mức giá trị định của pháp luật.

    Định giá viên cần phân tích rõ mức độ phù hợp của 01 hoặc nhiều phương pháp trong định giá BĐS được sử dụng với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của BĐS và với mục đích định giá.

    Định giá viên cần nêu rõ trong báo cáo định giá phương pháp định giá nào được sử dụng làm căn cứ chủ yếu, phương pháp định giá nào được sử dụng để kiểm tra chéo, từ đó đi đến kết luận cuối cùng về giá trị BĐS được định giá.

    Đưa ra kết quả định giá theo từng phương pháp;

    Đưa ra nhận xét về kết quả định giá;

    Đưa ra những hạn chế về kết quả định giá.

    Trên cơ sở đó khuyến nghị chọn mức giá đã định (ước lượng giá trị thị trường, giá trị phi thị trường) của BĐS.

    VI. LẬP HỒ SƠ VÀ CHỨNG THƯ ĐỊNH GIÁ.

    VI.1. Hồ sơ định giá

    Nội dung cơ bản của Hồ sơ định giá bao gồm:

    • Tên và số hiệu hồ sơ, ngày tháng lập và ngày tháng lưu trữ.
    • Những thông tin về khách hàng yêu cầu định giá.
    • Công văn mời định giá.
    • Hợp đồng định giá ký kết giữa doanh nghiệp định giá và khách hàng.
    • Những phân tích, đánh giá của định giá viên về những vấn đề định giá liên quan.
    • Những ý kiến trưng cầu về các khía cạnh kỹ thuật, pháp lý liên quan đến tài sản cần định giá (nếu có).
    • Báo cáo kết quả định giá tài sản và phụ lục kèm theo báo cáo.
    • Chứng thư định giá.
    • Biên bản thanh lý hợp đồng định giá giữa doanh nghiệp, tổ chức định giá và khách hàng.

    Hồ sơ định giá được lưu giữ tại nơi lưu giữ hồ sơ của doanh nghiệp, tổ chức định giá. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức định giá có các chi nhánh, hồ sơ định giá được lưu giữ tại nơi ban hành chứng thư định giá.

    Báo cáo kết quả định giá

    Nội dung chi tiết của báo cáo kết quả định giá có thể thay đổi theo đối tượng định giá, mục đích, yêu cầu tiến hành định giá và theo yêu cầu của khách hàng, tuy nhiên một báo cáo định giá phải gồm các nội dung cơ bản sau:

    1. Những thông tin cơ bản về:
    • Tên, loại tài sản.
    • Nguồn gốc của tài sản (máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ…).
    • Vị trí của bất động sản (đất đai, nhà cửa và công trình kiến trúc khác).
    • Tên, địa chỉ, số điện thoại, số Fax của khách hàng yêu cầu định giá.
    • Ngày tháng năm định giá.
    • Tên, địa chỉ, số điện thoại, số Fax của doanh nghịêp, tổ chức định giá hoặc chi

    nhánh.

    – Họ và tên định giá viên lập báo cáo định giá.

    • Họ và tên, chữ ký của giám đốc doanh nghiệp, người đứng đầu tổ chức định giá hoặc phụ trách chi nhánh.
    1. Những căn cứ pháp lý để định giá:

    Những văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn có liên quan do cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trung ương hoặc địa phương ban hành.

    1. Mô tả đặc điểm tài sản về mặt kỹ thuật.

    a- Đối với máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận tải, vật tư, hàng hoá:

    • Công suất máy móc thiết bị.
    • Đặc điểm dây chuyền công nghệ.
    • Chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng vật tư hàng hoá.
    • Năm sản xuất, tên nhà máy, tên quốc gia sản xuất.
    • Năm đưa vào sử dụng.
    • Tỷ lệ hao mòn (hữu hình, vô hình) tại thời điểm định giá.

    b- Đối với bất động sản.

    – Vị trí của BĐS.

    • Vị trí địa lý và hành chính của BĐS.
    • Đối với đất ở: số thửa đất, sổ địa chính, diện tích đất, phân loại đường phố, nhóm đất.
    • Đối với đất nông nghịêp, lâm nghiệp: số thửa đất, sổ địa chính, diện tích đất, phân loại nhóm đất, điều kiện thời tiết, đặc điểm địa hình, hệ thống giao thông, hệ thống tưới và tiêu nước.
    • Đối với công trình kiến trúc trên đất (nhà cửa, đường xá, cầu cống): loại nhà, cấp nhà, hạng nhà, diện tích xây dựng và diện tích sử dụng (m2), chất lượng nhà (% còn lại, tuổi đời), mục đích sử dụng, cấu trúc nhà, số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, hệ thống điện, hệ thống cấp và thoát nước; loại, hạng đường xá, cầu cống…
    • Vị trí của BĐS trong mối tương quan với những trung tâm khu vực gần nhất, điều kiện tự nhiên và môi trường xung quanh, hình dạng của thửa đất, khoảng cách từ đó đến những địa điểm giao thông công cộng, cửa hàng, trường học, công viên, bệnh viện, những trục đường chính.
    • Tác động của quy hoạch, phân vùng đến giá trị của đất đai, nhà cửa và công trình kiến trúc trên đất.
    • Mục đích sử dụng hiện tại của BĐS có theo đúng mục đích được phép sử dụng theo quy hoạch phân vùng và mang lại giá trị tối ưu cho BĐS hay không.
    1. Mô tả đặc điểm tài sản về mặt pháp lý.

    a- Đối với máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận tải, vật tư, hàng hoá.

    • Xuất xứ (model, nhãn hiệu, nhập khẩu, sản xuất trong nước, hãng sản xuất, năm sản xuất).
    • Hoá đơn mua, bán tài sản
    • Những tài liệu khác thể hiện tính pháp lý của tài sản.

    b- Đối với bất động sản.

     

    • Bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà; những nội dung Giấy chứng nhận (bao gồm số lô đất, tên địa phương và tên nước, ngày cấp và số đăng ký của Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản).
    • Bất động sản chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà: nguồn gốc tài sản (nhà, đất), tổ chức, cá nhân giao tài sản, ngày làm giấy tờ chuyển dịch tài sản, các giấy tờ kèm theo.
    • Có tranh chấp hay không với các chủ bất động sản liền kề.
    • Những lợi ích kinh tế thu được từ bất động sản (trường hợp bất động sản đang cho thuê: giá thuê, thời hạn thuê, hợp đồng thuê, thu nhập hàng tháng từ người thuê bất động sản để mở cửa hàng, cửa hiệu, văn phòng đại diện)
    • Những tài liệu khác thể hiện tính pháp lý của Bất động sản.
    1. Những giả thiết và hạn chế trong xác định giá trị tài sản.
    • Tính hợp lý của việc đưa ra những giả thiết và hạn chế liên quan đến đặc điểm thị trường, các nhân tố tác động đến giá trị thị trường của tài sản.
    • Nếu không đưa ra những hạn chế như vây thì kết quả sẽ ra sao, ảnh hưởng đến kết quả định giá như thế nào.
    1. Kết quả khảo sát thực địa.
    • Mục đích, thời gian, người tiến hành khảo sát thực địa.
    • Kết quả thu được từ khảo sát thực địa.
    • Sự chênh lệch (nếu có) giữa kết quả khảo sát thực địa với hồ sơ địa chính. Nêu rõ lý do sự chênh lệch đó.
    • Trường hợp trưng cầu ý kiến tư vấn của các chuyên gia về công suất thiết kế, tính năng tác dụng của máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ thì báo cáo kết quả định giá phải nêu rõ mục đích, thời gian tiến hành và kết luận của chuyên gia tư vấn.
    1. Những lập luận về mức giá cuối cùng, bao gồm:
    • Phân tích về vị trí, những nhân tố tác động, xu hướng vận động của thị trường tài sản trong khu vực, hành vi của những người mua, bán trên thị trường này, những ưu thế hoặc bất lợi của tài sản cần định giá trên thị trường.
    • Mục đích sử dụng tài sản tốt nhất và tối ưu, mang lại giá trị cao nhất. Trường hợp mục đích sử dụng tốt nhất và tối ưu khác với mục đích sử dụng hiện tại của tài sản thì trình bày về tiềm năng của nó, những điều kiện pháp lý, tự nhiên cho phép hoặc không cho phép ảnh hưởng đến giá trị sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản.
    1. Phương pháp định giá:
    – Phương pháp so sánh trực tiếp: Kết quả:
    – Phương pháp chi phí: Kết quả:
    – Phương pháp thu nhập: Kết quả:
    – Phương pháp khác: Kết quả:
    • Những so sánh, phân tích và điều chỉnh, điều kiện giả thiết, bảng tính toán các mức giá thu được từ các phương pháp nêu trên để đi đến mức giá cuối cùng thể hiện giá trị thị trường của tài sản. Trường hợp chỉ áp dụng được 01 hoặc 02 trong các phương pháp định giá nêu trên thì nêu rõ lý do vì sao có sự hạn chế đó.
    • Mức độ phù hợp/chênh lệch giữa giá trị theo kết quả định giá với giá tài sản do Nhà nước đã công bố tại khu vực (nếu có).
    1. Xử lý những vấn đề phức tạp, không rõ ràng trong quá trình định giá.
    • Không rõ ràng về tình trạng pháp lý của tài sản.
    • Hạn chế về thông tin, dữ liệu liên quan cần thu nhập đối với tài sản.
    • Phân loại, hạng tài sản.
    • Lượng hoá những nhân tố tác động đến giá tài sản.

    Những vấn đề phức tạp, không xử lý trong quá trình định giá, mức độ của tài sản cần định giá.

    rõ ràng trên đã được xử lý như thế nào, cách thức tác động của những hạn chế nêu trên đến mức giá

    1. Những quyền và lợi ích cá nhân (nếu có) của định giá viên liên quan đến tài sản cần định giá, có thể làm nảy sinh những xung đột lợi ích trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

     

    1. Tên, chữ ký của định giá viên tiến hành định giá.

     

     

    1. Phụ lục đính kèm báo cáo kết quả định giá.

    Phụ lục là những thông tin bổ sung, thuyết minh cho báo cáo kết quả định giá.

    Phụ lục bao gồm:

    a- Đối với bất động sản

    • Hộ khẩu thường trú của chủ bất động sản (bản sao) – đối với tài sản cá nhân.
    • Giấy phép đăng ký kinh doanh (bản sao) – đối với tài sản doanh nghịêp.
    • Bản đồ quy hoạch tổng thể khu vực (trích lục).
    • Bản đồ quy hoạch chi tiết khu vực (trích lục).
    • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản.
    • Một trong các loại giấy chứng nhận nguồn gốc bất động sản (trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản) bao gồm:
    • Quyết định giao, cấp đất ở của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố hoặc UBND quận, huyện.
    • Quyết định phân nhà, phân đất của thủ trưởng cơ quan đơn vị.
    • Hợp đồng mua nhà của các đơn vị có tư cách pháp nhân được UBND tỉnh, thành phố giao đất làm nhà bán.
    • Các giấy tờ về đất ở do cơ quan có thẩm quyền của chế độ cũ cấp.

    Trường hợp chủ nhà có các giấy tờ kể trên nhưng không đúng tên chủ đang sử dụng thì phải có các giấy tờ kèm theo như: giấy tờ mua bán nhà, giấy tờ thừa kế, chia, tặng… nhà ở, đất ở.

    • Giấy phép xây dựng nhà, bản vẽ thiết kế xây dựng, sơ đồ vị trí bất động sản và các bản vẽ khác (bản sao).
    • Chi tiết về quy hoạch từ cơ quan có chức năng ở địa phương hoặc của văn phòng quy họach đô thị (bản sao).
    • Các hợp đồng mua, bán và cho thuê bất động sản (bản sao).

    -Ảnh chụp toàn cảnh bất động sản.

    – Những tài liệu khác trực tiếp bổ trợ cho báo cáo kết quả định giá.

    b- Đối với vật tư, máy móc, thiết bị, hàng hoá khác.

     

    • Các hợp đồng mua, bán vật tư, máy móc, thiết bị, hàng hoá.
    • Catalo, các thông số kinh tế kỹ thuật chủ yếu của vật tư, máy móc, thiết bị, hàng

    hoá.

    VI.2. Nội dung chứng tư định giá BĐS.

    Số….. /ĐG-CT CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
    (kí hiệu DN, tổ chức định giá) NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ……., ngày….tháng…. năm…..

    CHỨNG THƯ ĐỊNH GIÁ

    Kính gửi:…………………………………….

    Theo đề nghị của ông/bà/doanh nghịêp… tại văn bản số….. ngày…. về việc định

    giá….

    1. Mục đích định giá:

    Xác định giá tài sản phục vụ mục đích…

    1. Thời điểm định giá:

    Tại thời điểm định giá (ngày…tháng…năm)

    1. Cơ sở định giá (nêu rõ những căn cứ chủ yếu để định giá)

     

    • Căn cứ hồ sơ, giấy tờ pháp lý do ông/bà/doanh nghịêp…. cung cấp (kèm theo công văn đề nghị số…).
    • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: …. Ngày……tháng………năm… của UBND tỉnh ….. cấp cho…
    • Giấy phép xây dựng số… ngày….(nếu có).
    • Bản vẽ hoàn công… (nếu có).
    • Hồ sơ quyết toán công trình… (nếu có)
    • Những căn cứ pháp lý khác.
    1. Thực trạng đất, nhà (công trình)…

    4.1. Đất

    • Vị trí: mô tả cụ thể vị trí địa giới hành chính, vị trí địa lý, hướng…
    • Diện tích: tổng diện tích, diện tích từng phần, kích thước các chiều.
    • Tình trạng pháp lý.

    4.2. Nhà (công trình).

    • Mô tả chung: loại nhà, cấp nhà, diện tích xây dựng, diện tích sử dụng, số tầng, số phòng.
    • Kết cấu: kết cấu tổng thể toàn bộ nhà và từng bộ phận (móng, tường, mái…)
    • Thực trạng: mô tả chi tiết từng bộ phận cấu thành ngôi nhà (nền, tường, mái, cửa, công trình phụ, ban công…): loại vật liệu, thiêt bị được sử dụng, tình trạng thực tế từng bộ phận.

    4.3. Tài sản:

     

    • Các thông số kỹ thuật, thực trạng của tài sản.
    • Tính pháp lý của tài sản.
    1. Phương pháp định giá:

    Sử dụng phương pháp…

    1. Kết quả định giá:

    Trên cơ sở các tài liệu do ông/bà/công ty… cung cấp, qua khảo sát thực tế tại hiện trường; với phương pháp định giá… được áp dụng trong tính toán, doanh nghiệp định giá (ghi rõ tên doanh nghịêp) thông báo kết quả định giá tài sản… tại thời điểm,… như sau:

    Giá đất:

    Giá nhà:

    Tổng giá trị đất và nhà:

    Làm tròn

    (viết bằng chữ:….. đồng)

    Doanh nghiệp, tổ chức định giá trả lời để ông/bà/quý đơn vị có cơ sở… theo quy định của pháp luật hiện hành

    Định giá viên

    Giám đốc

     

    (ký tên)

    (ký tên, đóng dấu)

     

    PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    I.                   PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH TRỰC TIẾP (hay phương pháp so sánh thị

     

    trường)

    I.1. Khái niệm, các nguyên tắc và trường hợp ứng dụng

    I.1.1. Khái niệm:

    Phương pháp so sánh trực tiếp còn gọi là phương pháp thị trường. Phương pháp so sánh trực tiếp là phương pháp định giá của BĐS được đối chiếu so sánh với giá của các BĐS tương tự đã được giao dịch trên thị trường trong thời gian gần đây hoặc đang hình thành giá giao dịch trên thị trường.

    I.1.2. Nguyên tắc áp dụng

    • Nguyên tắc thay thế: Một nhà đầu tư có lý trí sẽ không trả giá cho một tài sản nhiều hơn chi phí để mua một tài sản lựa chọn mà có cùng một sự hữu ích như nhau.
    • Nguyên tắc sự đóng góp: Quá trình điều chỉnh có ước tính sự tham giá đóng góp của các yếu tố hay các bộ phận của tài sản đối với tổng giá trị thị trường.

    I.1.3. Các trường hợp áp dụng

    Phương pháp so sánh trực tiếp thường được sử dụng để định giá giá trị BĐS trong các trường hợp sau:

    • Các BĐS có tính đồng nhất như: các căn hộ, các chung cư, các dãy nhà cùng xây dựng một kiểu, các ngôi nhà riêng biệt và bán riêng biệt, các phân xưởng, các nhà kho trên một mặt bằng, các nhóm văn phòng và nhóm cửa hiệu.
    • Đất trống

    I.2. Phương pháp luận

     

    Phương pháp này dựa trên cơ sở lý luận cho rằng, giá thị trường của một BĐS có mối liên hệ mật thiết với giá thị trường của các BĐS tương tự có thể so sánh đã được mua bán, đã hình thành giá trị thị trường; giá trị thị trường của một BĐS là giá trị tổng hoà giá trị nội tại của BĐS và giá trị tự do của các yếu tố khách quan khác. Thực tế hàng hoá BĐS không hoàn toàn giống nhau như các hàng hoá khác; do đó phải so sánh để định giá cho một BĐS tương đồng bằng cách cộng trừ các yếu tố.

    I.3. Các bước thực hiện (4 bước)

    Bước 1: Tìm kiếm và tập hợp thông tin về BĐS cần định giá và các BĐS có thể so sánh được.

    • Lựa chọn các BĐS có tính hữu ích tương đương và có thể so sánh được
    • Thu thập thông tin:
    • Thông tin tổng hợp
    • Thông tin đặc biệt
    • Thông tin cụ thể
    • Kiểm tra độ chính xác các thông tin và xem xét điều kiện giao dịch của các BĐS so sánh đã lựa chọn.

    Bước 2: Thẩm định hiện trạng BĐS cần định giá và các BĐS so sánh Nội dung so sánh

    BĐS cần định giá Các BĐS so sánh
    – Pháp lý X X
    – Kỹ thuật X X
    – Kiểm tra về môi trường X X
    – Giá bán (giá thị trường) X

    Bước 3: Phân tích, so sánh và thực hiện việc điều chỉnh

    * Phân tích

    • Phân tích sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất: nhận dạng mức độ tiềm năng, khả thi về pháp lý, khả năng tài chính và sử dụng tối đa của BĐS cần định giá
    • Phân tích thị trường: xác định các lực lượng tham gia thị trường có ảnh hưởng đến giá trị của BĐS, đánh giá động thái thị trường (thay đổi cung – cầu, bối cảnh thị trường,…) và động thái người mua tiềm năng.
    • Phân tích BĐS cần định giá và các BĐS so sánh về pháp lý, kinh tế – kỹ thuật, môi trường, giá thị trường nhằm rút ra được những điểm tương đồng, khác biệt, nêu những ưu và nhược điểm, những thuận lợi cũng như những khó khăn của BĐS cần định giá so với các BĐS so sánh.
    • Phân tích cung cầu, lực lượng tham gia thị trường, động thái người mua – người bán tiềm năng.
    • Phân tích nguồn thu thập thông tin và độ tin cậy của thông tin.
    • Phân tích điều kiện giao dịch.

    * Thực hiện việc so sánh và điều chỉnh để tìm ra giá bán đã được điều chỉnh

    • Nguyên tắc là: lấy BĐS cần định giá làm chuẩn, những yếu tố tồn tại ở BĐS cần định giá mà không tồn tại ở BĐS so sánh thì cộng thêm vào và ngược lại.
    • Thực hiện so sánh và điều chỉnh để tìm ra giá bán đã được điều chỉnh.
    • Xác định và so sánh các yếu tố cơ bản làm ảnh hưởng đến giá trị của BĐS:
    • Tính pháp lý của bất động sản;
    • Đặc điểm; khoảng cách đến trung tâm thương mại, các dịch vụ xã hội;
    • Vị trí mặt bằng; kích thước; hình dáng; quy mô bất động sản;
    • Điều kiện hạ tầng;
    • Môi trường sống;
    • Quy hoạch;
    • Thời điểm hình thành giá;
    • Chỉ số giá;
    • Mức giá hình thành;

    10/ Các công trình.

    – Có 2 cách điều chỉnh:

    + Điều chỉnh gộp

    + Điều chỉnh theo tỷ lệ

    Giá thị trường các BĐS Điều chỉnh Giá bán đã được điều chỉnh BĐS
    so sánh cần định giá
    • Nghiên cứu cụ thể một số yếu tố so sánh tác động đến giá bất động sản (yếu tố so sánh/ yếu tố điều chỉnh):

    (1) Vị trí mặt bằng.

    Bao gồm kích thước thửa đất, bề rộng mặt tiền, hình dáng và các nét đặc trưng địa

    lý.

    • Kích thước thửa đất: Phù hợp hay không phù hợp với kiến trúc của bất động sản và loại hình Bất động sản . Nếu không phù hợp thì nó sẽ làm giảm giá trị của Bất động sản trên thị trường .
    • Hình dáng thửa đất: Lô đất có hình dáng méo mó hoặc tóp hậu thì giá trị kém hơn lô đất có hình dáng vuông.
    • Quy mô thửa đất: Đây cũng là điều hết sức chú ý trong định giá đối với đất ở hoặc đất chuyên dùng. Bởi vì đối với các loại đất này cách tính diện tích hàng ngàn m2 không đơn giản như cách tính diện tích một lô đất có diện tích 60-100m2.

    Việc xác định giá trị thửa đất có quy mô, diện tích không đơn giản là lấy giá trị thửa đất ở vị trí tương tự đã được xác định nhân do diện tích thủa đất cần định giá mà còn phải xem xét đến tính hữu dụng của thửa đất, hình dáng thửa đất,cơ cấu sử dụng đất như mật độ xây dựng, loại công trình được xây dựng, tầng cao, hệ số sử dụng đất … theo quy định quy hoạch của chính quyền địa phương.

    Để xem xét điều này trước nhất là phải xem xét đến đặc điểm vị trí thửa đất: Nếu như thửa đất nằm ở trung tâm đô thị có khả năng dược dùng vào việc xây dựng cửa hàng, khách sạn, thương mại … thì giá trị đất rất cao do vậy quy mô diện tích đất đai lớn lại thuận lợi và có hiệu quả hơn so với thửa đất có diện tích nhỏ hơn 100m2 nên giá đất của thửa đất có diện tích lớn hơn hoặc thậm chí cao hơn so với đơn giá đất của thửa đất có diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 100m2.

    Nếu thửa đất có khả năng dùng vào việc phân lô nhỏ để xây dựng nhà phố hoặc làm nhà xưởng sản xuất…tuỳ theo quy hoạch cụ thể của chính quyền địa phương. Trong

    trường hợp này phải xem xét mật độ xây dựng theo quy định của chính quyền địa phương.

    Ví dụ: Một khu đất ven đô thị cần định giá có diện tích 1ha nằm cạnh một trục đường chính ở ven đô thị, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở khu vực này với những thửa đất có quy mô trên, dưới 100m2 khoảng 1.500.000 đ/m2 (mức giá này đã có hạ tầng kỹ thuật và chưa có thuế chuyển quyền sử dụng đất ). Giả định theo quy hoạch của chính quyền địa phương tại khu đất trên được sử dụng vào mục đích phân thành những thửa đất nhỏ để xây dựng nhà phố, mật độ xây dựng cho khu đất là 60%, chi phí đầu tư hạ tầng bình quân 250.000 đ/m2, lãi cho nhà đầu tư 15% trên doanh thu.

    • Doanh thu: 1.500.000đ/m2 x 10.000m2 x 60% = 9.000.000.000đ
    • Lãi của nhà đầu tư: 9.000.000.000đ x15% = 1.350.000.000đ
    • Chi phí đầu tư hạ tầng: 250.000đ/m2 x10.000 = 2.500.000.000đ

    * Giá trị thửa đất cần định giá:

    9.000.000.000đ – 1.350.000.000đ – 2.5000.000.000đ = 5.150.000.000đ

    Như vậy tính ra đơn giá đất thô là 515.000đ/m2.

    • Bề rộng mặt tiền, chiều sâu của thửa đất.
    • Nếu thửa đất có bề rộng mặt tiền lớn thì có giá trị hơn là mặt tiền hẹp. Nếu chiều sâu thửa đất quá dài thì giá trị thửa đất sẽ bị giảm đi trong một số trường hợp nhất định.
    • Địa điểm.

    Khi xét đến yếu tố địa điểm là xem xét khả năng tiếp cận Bất động sản và môi trường chung quanh ra làm sao.

    Khả năng tiếp cận tài sản ở gần các phương tiện thuận tiện như trường học, chợ địa điểm làm việc và vui chơi giải trí và các phương tiện công cộng khác.

    Môi trường xung quanh đóng góp với giá trị của Bất động sản là cac đặc trưng vật chất và kinh tế xã hội, như các nhà láng giềng, dòng giao thông,các công viên và khu vườn, sử dụng đất gần cạnh.

    Địa thế thửa đất có ý nghĩa quan trọng đối với người phương Đông,những thửa đất có địa thế tốt sẽ có giá trị cao hơn thửa đất có địa thế xấu sẽ kém giá trị hơn.

    (3) Tình trạng pháp lý của bất động sản.

    Cần xem xét mức độ hoàn chỉnh về pháp lý của Bất động sản, mức độ hoàn chỉnh càng cao thì giá trị càng lớn. Để có thể xem xét,dánh giá đúng ảnh hưởng của tình trạng pháp lý đối với giá trị của các Bất động sản cần nắm vững các quy định của Nhà nước về nhà và đất, đặc biệt là các quy định về nghĩa vụ tài chính có liên quan đến quyền sử dụng đất.

    Thực trạng pháp lý về quyền sử dụng đất ở nước ta đặc biệt là ở các tỉnh phía

    Nam hết sức phức tạp thông thường có các dạng sau:

    • Người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp theo pháp luật.
    • Có giấy chứng nhận quyền sở hữu đất do chế độ cũ cấp (bằng khoán điền thổ).
    • Mua, bán, chuyển nhượng thừa kế từ những người có giấy chứng nhận (quyền sở hữu) quyền sử dụng đất như vừa nêu trên đã hợp thức hoá theo quy định của pháp luật.
    • Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với các trường hơp cụ thể sau:
    • Tự khai phá đất (chủ yếu là đất nông nghiệp) nhưng chưa làm thủ tục xin cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất.
    • Lấn chiếm đất công.
    • Mua, bán, chuyển nhượng, thừa kế từ những người không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong mua bán chuyển nhượng có những trường hợp có giấy tay, có xác nhận của UBND phường, xã, thị trấn và có trường hợp có giấy tay, có giấy xác nhận của UBND phường, xã, thị trấn (trường hợp này là phổ biến).
    • Không chứng minh dược nguồn gốc đất đang sử dụng.

    Từ thực trạng phức tạp trên nên khi định giá trước hết phải xem xét kỹ pháp lý về quyền sử dụng đất, các nội dung cần xem xét là:

    • Đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu về nhà ở gắn liền với đất của các cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hay chưa?

    Nếu chưa có các loại giấy tờ như đã nêu ở trên thì có giấy tờ gi liên quan đến quyền sử dụng thửa đất theo quy định của pháp luật.

    Mục đích của việc xem xét này nhằm xác định xem thửa đât đã hoàn chỉnh pháp lý về quyền sử dụng đất hay chưa? Nếu như chưa hoàn thiện thì phải hoàn thiện thêm các thủ tục gi? Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước để hoàn chỉnh pháp lý về quyền sử dụng đất ra sao? Đây là điều quan trọng vì nó ảnh hưởng đến giá trị thửa đất cần định giá. Cần nắm vững Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về thi hành luật đất đai; Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của chính phủ về thu tiền sử dụng đất và thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004của chính phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007…

    • Ngoài ra còn phải chú ý đến loại hình về quyền sử dụng đất:đất được chuyển nhượng, thừa kế từ người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, đất được nhà nước giao hoặc cho thuê, hoặc được tạm giao v.v…
    • Tiếp đến cần xác định loại đất của thửa đất cần định giá theo quy định của Luật.

    Điều cần chú ý là phải đối chiếu xem xét tính chất pháp lý về loại đất ghi trong giấy chứng nhận về sử dụng đất với thực trạng sử dụng.

    Cũng cần phải chú ý đến diện tích đất thực tế sử dụng (căn cứ vào bản vẽ hiện trạng đất của đơn vị có chức năng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt )với diện tích đất ghi trong giấy chưng nhận về quyền sử dụng đất. Trong thực tế đôi khi có sự chênh lệch giữa diện tích đất thực tế và diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi có phát sinh cần làm rõ thực trạng của pháp lý của phần chênh lệch này theo quy định tại Nghị định 84/2007/NĐ-CP .

    Các yếu tố cần so sánh còn bao gồm:

    • Điều kiện hạ tầng: các công trình đường, điện, nước, viễn thông, vv…
    • Quy hoạch
    • Môi trường
    • Thời điểm tiến hành định giá
    • Chỉ số giá
    • Mức giá hình thành
    • Các công trình

    Khi xem xét so sánh giá bán của các bất động sản cần chú ý đén bất động sản cần thẩm định giá đốí với các bất động sản đối chiếu so sánh đồng dạng với nhau về mặt phù hợp với quy hoạch của khu vực. Thường những bất động sản không phù hợp với quy hoạch sẽ có giá trị kém

    Bước 4: Ước tính giá thị trường của BĐS định giá:

     

    • Căn cứ vào giá bán đã được điều chỉnh, kết hợp với động thái thị trường và động thái người mua tiềm năng tại thời điểm định giá, định giá viên sẽ ước tính giá trị thị trường của BĐS.
    • Việc xác định giá của BĐS chờ định giá được thực hiện theo các phương pháp:
    • Bình quân đơn giản: là lấy số bình quân của các yếu tố so sánh của các mẫu so sánh làm kết quả định giá cho BĐS cần định giá;
    • Lấy mức giá trung gian hoặc mức giá chiếm đa số của các BĐS dùng làm mẫu so sánh cho BĐS cần định giá;
    • Cho mức độ (%) ảnh hưởng đến giá BĐS của từng yếu tố; sau đó tiếp tục điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp này đảm bảo độ chính xác cao.

    Kết quả của ba phương pháp trên cùng với kinh nghiệm và phân tích toàn diện để xác định mức giá cho BĐS cần định giá.

    Giá bán giá thị trường của điều chỉnh Giá  bán  đã  được  điều
    BĐS so sánh chỉnh của BĐS

    động        động

    thái           thái

    thị             người

    trường   mua

    tiềm

    năng

    Giá thị trường BĐS

    cần định giá

     

    I.4. Những hạn chế và điều kiện cần phải có

    I.4.1. Điều kiện cần phải có để thực hiện:

    • Chất lượng thông tin
    • Thông tin thu thập phải có khả năng so sánh
    • Thị trường phải ổn định

    I.4.2. Các hạn chế của phương pháp:

    • Cần phải có thông tin
    • Dữ liệu mang tính lịch sử

    II. PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ

    II.1. Các nguyên tắc và trường hợp ứng dụng

    II.1.1. Khái niệm: Phương pháp chi phí là phương pháp định giá BĐS căn cứ vào các chi phí.

    II.1.2. Nguyên tắc thay thế: Một người mua tiềm năng có đầy đủ thông tin hợp lý sẽ không bao giờ trả giá cho một tài sản lớn hơn so với chi phí bỏ ra để mua đất và xây dựng một công trình có cùng một lợi ích tương tự.

    II.1.3. Các trường hợp áp dụng:

    • Định giá BĐS dành cho mục đích sử dụng đặc biệt như bệnh viện, trường học, nhà thờ, thư viện, nhà máy điện, nhà máy hoá chất, các cơ sở lọc dầu… là các BĐS ít có những chứng cớ so sánh thị trường.
    • Định giá cho các mục đích bảo hiểm
    • Phương pháp chi phí cũng thường được sử dụng như là phương pháp kiểm tra đối với các phương pháp định giá khác.

    II.2. Phương pháp luận và các bước tiếp cận

    II.2.1. Phương pháp luận

    Thực tế có một số BĐS được xây dựng và sử dụng cho mục đích riêng biệt. Khi tiến hành định giá một BĐS nào đó ta nhận thấy rằng không tìm được trên thị trường BĐS tương đồng về mặt kỹ thuật với BĐS cần định giá, do đó không có cơ sở để so sánh. Phương pháp chi phí áp dụng cho những BĐS như nhà thờ, bệnh viện… mà thị trường BĐS cho những tài sản này ở Việt Nam chưa có giao dịch, chuyển nhượng; vì vậy không thể tìm được BĐS tương đồng và đã được giao dịch để so sánh. Vì vậy cơ sở định giá ở đây là cơ sở thị trường.

    II.2.2. Các bước thực hiện

    Bước 1: Ước tính giá trị của thửa đất mục tiêu định giá coi như thửa đất đó là đất trống. Giả định rằng sự sử dụng hiện tại là sử dụng cao nhất và tốt nhất.

    Bước 2: Ước tính các chi phí hiện tại để xây dựng lại hoặc để thay thế những công trình xây dựng trên thửa đất.

    Bước 3. Xác định mức độ thích hợp của khấu hao tích luỹ (xác định mức độ giảm giá tích luỹ) của các công trình xây dựng hiện có trên thửa đất. Sau đó khấu trừ khoản khấu hao tích luỹ trên khỏi chi phí hiện tại để xây dựng lại hoặc để thay thế những công trình xây dựng hiện có trên thửa đất, để có được chi phí hiện tại đã trừ đi khấu hao.

    Bước 4. Cộng chi phí hiện tại đã trừ đi khấu hao này vào giá trị ước tính của thửa đất để có được giá trị của BĐS tính theo phương pháp chi phí giảm giá (khấu trừ).

    II.3. Các phương pháp xác định chi phí giảm giá

     

    Trong phương pháp chi phí để định giá BĐS người ta sử dụng 2 phương pháp để xác định chi phí giảm giá (xác định mức độ giảm giá tích luỹ).

    II.3.1. Chi phí tái tạo

    Là chi phí hiện hành của việc xây dựng một công trình xây dựng thay thế giống hệt với công trình đang được định giá, bao gồm cả những điểm đã lỗi thời của công trình mục tiêu đó; công trình thay thế được tái tạo là bản sao của công trình nguyên bản về nguyên vật liệu, thiết kế cách trang trí và chất lượng… những chi phí này được tính theo giá hiện hành.

    II.3.2. Chi phí thay thế

    Là chí phí hiện hành của việc xây dựng một công trình có giá trị sử dụng tương đương với công trình đang được định giá theo đúng những tiêu chuẩn, thiết kế của công trình cần được định giá nhưng có loại bỏ các bộ phận chức năng lỗi thời.

    Thông thường phương pháp chi phí thay thế cho số lượng tính toán thấp hơn phương pháp chi phí tái tạo, bởi vì nó không tính đến các bộ phận lỗi thời và không cần thiết, và tính toán trên việc sử dụng vật liệu và kỹ thuật hiện hành.

    Phương pháp chi phí thay thế được coi là phương pháp hiện thực nhất và chi phí bỏ ra thấp hơn.

    II.4. Phương pháp xác định chi phí

    II.4.1. Phương pháp thống kê chi tiết của người xây dựng

    Phương pháp này được sử dụng bởi các chuyên gia tính chi phí có kinh nghiệm khi ước tính chi phí của công trình xây dựng có quy mô lớn, được hoàn thành phù hợp với các kế hoạch và chi tiết xây dựng.

    Phương pháp thống kê chi tiết của nhà xây dựng được làm cẩn thận sẽ cho kết quả ước tính chi phí chính xác. Sự áp dụng phương pháp này đòi hỏi tốn nhiều công sức và

    thời gian. Trong thực tế nhà định giá thường không được huấn luyện kỹ thuật hoặc trình độ để tiến hành các nghiên cứu chi phí chi tiết và tỉ mỉ như vậy.

    II.4.2. Phương pháp khảo sát số lượng (hoặc còn gọi là phương pháp xác định chi phí từng hạng mục).

    Phương pháp này tương đối đơn giản hơn trong việc áp dụng và tốn ít thời gian hơn so với phương pháp vừa nêu, nó được các nhà kiến trúc sử dụng trong việc ước tính chi phí các kết cấu nhà ở. Theo phương pháp này các chi phí cho công việc xây dựng được tổng hợp từ các nhà thầu phụ theo từng hạng mục. Phương pháp khảo sát số lượng nếu được áp dụng thành thạo sẽ cho kết quả tương đối chính xác. Cụ thể như sau:

    * Chi phí trực tiếp:

    • Đất đai
    • Nền nóng
    • Xây ống khói
    • Sàn
    • Tường
    • Mái
    • Cửa
    • Sơn
    • Hệ thống điện nước
    • Trang trí

    Các loại chi phí khác cũng tương tự như phương pháp thống kê chi tiết.

    II.4.3. Phương pháp so sánh thị trường

    Phương pháp này được các nhà kiến trúc, nhà xây dựng và nhà định giá sử dụng khi việc ước tính cần có kết quả nhanh chóng. Theo phương pháp này các chi phí của từng loại công việc hoặc loại kết cấu công trình được xác định theo m2 hoặc m3. Giá trị của công trình cần định giá được xác định căn cứ vào diện tích xây dựng và kết cấu loại nhà xưởng.

    Khó khăn chủ yếu là nguyên nhân gây ra sự không chính xác của phương pháp so sánh thị trường là trong thực tế ít có 2 bất động sản nào hoàn toàn giống nhau, hoàn toàn về kiểu loại và chất lượng xây dựng.

    Dù tính theo phương pháp nào thì cũng đòi hỏi nhà định giá phải có kiến thức nhất định về xây dựng.

    II.5. Những thuật ngữ khấu hao

    II.5.1 Khái niệm về khấu hao

    Sự khấu hao tích luỹ vì bất kỳ lý do nào, tạo ra sự khác nhau giữa chi phí thay thế hoặc xây dựng lại mới 1 tài sản phải bỏ ra chi phí bao nhiêu so với giá trị thị trường của tài sản giống nhau tại thời điểm định giá được gọi là khấu hao tích luỹ.

    Các dạng khấu hao tích tụ:

    • Hao mòn vật chất: hao mòn và hư hỏng của công trình do sử dụng, thời gian, thời tiết và bảo dưỡng kém.
    • Hao mòn chức năng: Giá trị sử dụng của công trình bị giảm tương đối do thiết kế bị lạc một hay thiết kế công trình có lỗi như trần quá cao hoặc quá thấp, phòng ngủ, phòng tắm không thích hợp, lỗi thời về thiết bị dẫn đến hạn chế sử dụng tài sản có hiệu quả.
    • Hao mòn kinh tế: Giá trị bị mất do các yếu tố bên ngoài tài sản như sự sử dụng đất không tương thích hoặc sự suy thoái kinh tế…

    II.5.2. Cách xác định mức khấu hao tích luỹ

    Đối với hao mòn vật chất

    • Căn cứ vào tuổi thọ và thời hạn đã sử dụng để tính sự hao mòn từ đó tính giảm giá của công trình.
    • Căn cứ vào sự hư hỏng, hao mòn của các kết cấu chủ yếu để tính chất lượng còn lại của công trình.

    Chất lượng còn lại của công trình (%) = ∑n (tỷ lệ chất lượng còn lại của kết cấu x tỷ lệ giá trị của các kết cấu chính so với tổng giá trị công trình) / Tổng tỷ lệ giá trị của các kết cấu chính so với tổng giá trị công trình.

    • Đối với hao mòn do lỗi thời chức năng: Căn cứ vào chi phí để khắc phục sự lỗi thời chức năng công trình.
    • Đối với giảm giá do lỗi thời bên ngoài:
    • Trường hợp các quy định về xây dựng hoặc quy hoạch làm giảm sút tính hữu ích của việc sử dụng và sở hữu công trình xem xét, mức độ giảm sút này để tính sự giảm giá.
    • Trường hợp sử dụng đất không tương thích hoặc sự suy thoái kinh tế hoặc các yếu tố kinh tế khác thì căn cứ vào tình hình thị trường để tính sự giảm giá.

    II.6. Những hạn chế của phương pháp chi phí

    • Chi phí không phải lúc nào cũng bằng với giá trị và có những chi phí không tạo ra giá trị.
    • Giống như phương pháp so sánh trực tiếp do phải dựa vào các số liệu lấy trên thị trường nên cần có thông tin đầy đủ và chính xác về giá thành xây dựng.
    • Người định giá phải có kiến thức nhất định về xây dựng, về giá thành xây dựng và phải có kinh nghiệm để có thể áp dụng được phương pháp.
    • Ngoài ra khi áp dụng phương pháp so sánh thị trường để tính chi phí xây dựng sẽ có những mặt hạn chế như vừa nêu trên.

    III. PHƯƠNG PHÁP THU NHẬP HAY PHƯƠNG PHÁP ĐẦU TƯ III.1. Khái niệm, các nguyên tắc và trường hợp ứng dụng

    III.1.1. Khái niệm

    Phương pháp thu nhập là phương pháp định giá BĐS lấy thu nhập dự kiến hàng năm trong tương lai của BĐS cần định giá với một suất lợi tức hoàn vốn nhất định để hoàn vốn theo tổng thu nhập vào thời điểm định giá.

    III.1.2. Nguyên tắc áp dụng

    • Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất
    • Nguyên tắc cung cầu
    • Nguyên tắc dự kiến lợi ích tương lai

    III.1.3. Các trường hợp áp dụng

    • Phương pháp thu nhập hay phương pháp đầu tư dựa trên cơ sở chuyển đổi một dòng thu nhập hàng năm thành một tổng số vốn do đó thường sử dụng để định giá đối với BĐS có khả năng tạo ra sự thặng dư tài chính vượt quá chi phí trực tiếp của việc sử dụng hiện tại đó.
    • Những tài sản được cho thuê mang lại thu nhập cho người sử dụng.

    – Một sự đầu tư có mang lại lợi nhuận

    III.2. Phương pháp luận và các bước tiếp cận.

    III.2.1. Phương pháp luận

    • Dựa trên cơ sở chuyển đổi một dòng thu nhập hàng năm thành tổng số vốn; đó là quá trình chuyển đổi dòng thu nhập trong tương lai thành giá trị BĐS hiện tại được xem như một quá trình chuyển hoá vốn; tức là tổng số tiền nhận được ngày hôm nay có giá trị nhiều hơn một số tiền như thế nhận được trong tương lai. Điều này đề cập đến việc tính chiết khấu giá trị tương lai của thu nhập.
    • Cơ sở lý luận của phương pháp này là giá trị thị trường của một BĐS bằng giá trị hiện tại của tất cả các khoản lợi nhuận tương lai có thể nhận được từ BĐS đó.
    • Dựa trên nguyên tắc chuyển đổi các dòng thu nhập ròng tương lai thành giá trị vốn hiện tại được biết đến như là quá trình vốn hoá.

    Công thức:

    Giá trị vốn = Thu nhập ròng/Lãi suất vốn hoá

    a- Khái niệm về thu nhập ròng, lãi suất vốn hoá

    Lãi suất vốn hoá còn gọi là suất lợi tức bắt buộc hay tỷ lệ hoàn vốn

    b- Cách xác định thu nhập ròng và lãi suất vốn hoá

    – Thu nhập ròng:

    Thu nhập ròng = Doanh thu – Chi phí – thuế

     

    – Lãi suất vốn hoá (suất lợi tức bắt buộc):

    Suất lợi tức bắt buộc = Tỷ suất lợi nhuận của nhà đầu tư không rủi + Phụ phí rủi ro

    Trong đó:

    Tỷ suất lợi nhuận của nhà đầu tư không rủi = lãi suất thực tế + tỷ lệ lam phát dự kiến

    III.2.2. Các bước thực hiện định giá BĐS theo phương pháp thu nhập

    Bước 1: Ước tính Doanh thu của BĐS (Tổng thu nhập): Khi xác định doanh thu phải phân tích toàn diện các loại thu nhập do sử dụng BĐS mang lại và phải xem xét trong các điều kiện: Doanh thu có từ việc sử dụng trung bình, doanh thu ổn định và lâu dài suốt thời gian sử dụng BĐS; doanh thu an toàn, tin cậy, không rủi ro.

    Bước 2: Ước tính tổng chi phí và thu nhập ròng (thuế, bảo hành, sửa chữa…): Mọi chi phí trong quá trình sử dụng BĐS phải phù hợp với thực tế và tính trong điều kiện trung bình. Có thể dùng phương pháp gián tiếp để tính thu nhập ròng, nghĩa là so sánh với thu nhập ròng của BĐS tương đồng và thông qua so sánh các nhân tố cá biệt để thực hiện điều chỉnh cho phù hợp.

    Bước 3: Xác định lãi suất vốn hoá

    Bước 4: Dùng công thức vốn hoá ước tính giá trị của BĐS

    III.3. Các hạn chế của phương pháp thu nhập

    • Cần phải có tài liệu chính xác và đòi hỏi hiểu biết kỹ lưỡng về nghiệp vụ
    • Khó khăn trong việc xác định thu nhập ròng trong tương lai.
    • Khi có nhiều dạng đầu tư thì cần phải biết sắp xếp các dạng đầu tư khác nhau.

    III.4. Phương pháp ước tính dòng tiền chiết khấu

     

    Trong quá trình chuyển hoá dòng tiền cần chú ý đến thực tế số tiền nhận được hôm nay có giá trị nhiều hơn một số tiền như vậy nhận được sau thời gian đó, vì vậy cần tính đến việc chiết khấu giá trị thu nhập trong tương lai.

    – Có 2 phương pháp ước tính dòng tiền chiết khấu

    + Phương pháp giá trị ròng hiện tại (Giá trị hiện tại thuần NPV – Net Present Value):

    Giá trị ròng hiện tại (NPV) của một đầu tư là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại của tất cả các dòng tiền trong tương lai và chi phí đầu tư. Giá trị ròng hiện tại dương cho thấy tài sản gia tăng theo một suất lợi tức mong muốn.

    Phương pháp này có thể sử dụng để xác định giá trị hiện tại của một BĐS có tiềm năng phát triển, hay để xác định giá bán, giá mua của một BĐS.

    • Phương pháp suất lợi tức nội hoàn (IRR – Internal rate of retur)

    Suất lợi tức nội hoàn (IRR) là tỷ lệ chiết khấu cân bằng giá trị hiện tại của lợi nhuận từ một đầu tư mang lại với chi phí mua bán ban đầu. Đây là tỷ suất chiết khấu mà với nó giá trị ròng hiện tại (NPV) của đầu tư bằng 0. Một công trình có thể đứng vững được nếu như IRR bằng hoặc lớn hơn suất lợi tức mong muốn.

    Trong định giá, phương pháp giá trị ròng hiện tại (NPV) có thể được sử dụng để xác định giá trị đất của một BĐS có tiềm năng phát triển hoặc để xác định mua/bán một BĐS.

    IV. PHƯƠNG PHÁP THẶNG DƯ

    IV.1. Các nguyên tắc và trường hợp ứng dụng

    * Các nguyên tắc định giá

    • Nguyên tắc sử dụng cao nhất và tốt nhất
    • Nguyên tắc lợi ích tương lai

    * Các trường hợp áp dụng

    • Phương pháp thặng dư chỉ sử dụng để định giá đối với những bất động sản có tiềm năng phát triển.
    • Một tài sản có thể được coi là có tiềm năng phát triển bất cứ khi nào một phần giá trị tiềm tàng có thể được giải thoát bằng sự đầu tư vốn trên tài sản đó.

    Ví dụ:

    • Có một thửa đất trống hoặc chưa phát triển song đã cho phép phát triển, hoặc có khả năng đạt được sự cho phép đó.
    • Có một công trình xây dựng đang tồn tại có tiềm năng để nâng cấp thông qua việc thay đổi trong sử dụng hoặc cải tạo chung.
    • Có một công trình xây dựng đang tồn tại mà không có giá trị kinh tế, song đã được phép hoặc có khả năng được cấp phép phá huỷ và thay thế nó.

    IV.2. Phương pháp luận

    • Phương pháp thặng dư áp dụng để tính toán giá trị vốn của các vị trí phát triển mà ở đó các phương pháp khác có thể ước tính thấp dưới mức giá trị của vị trí đó.
    • Phương pháp thặng dư được sử dụng rộng rãi để định giá BĐS có tiềm năng phát triển. Nó dựa trên nguyên tắc: Giá trị hiện tại của một BĐS là giá trị còn lại nhận được từ giá trị ước tính của sự phát triển dự kiến trong tương lai trừ đi tất cả các chi phí để tạo ra sự phát triển đó.

    Công thức tính:

    Vtđ = Vpt – Cpt

     

    Trong đó: Vtđ: Giá trị thặng dư, chính là giá trị của BĐS tính theo phương pháp thặng dư.

     

    Vpt: Giá trị phát triển, Cpt: Chi phí phát triển

    IV.2.1. Ước tính Giá trị phát triển (Vpt) và chi phí phát triển (Cpt):

    * Cách tính

    – Tổng giá trị phát triển quy về hiện tại:

    n

    Vpt =             ∑                     TRi

    i=0             (1+r)i

    • Ci

    Cpt =         ∑           (1+r)i

    i=0

    Trong đó:

    • TRi: Doanh thu thuần năm thứ i của dự án.

     

     

    • Ci: chi phí năm thứ i của dự án

     

     

    • n: là thời gian hay dòng đời của dự án

     

    • r: là lãi suất tính bằng số thập phân (tỷ lệ chiết khấu dòng tiền quy về giá trị thời điểm hiện tại) thường được tính theo lãi xuất cho vay của các ngân hàng thương mại cho vay để thực hiện dự án đầu tư phát triển bất động sản.

    IV.2.2. Ước tính giá trị của bất động sản

    Giá trị ước tính = Tổng giá trị phát triển Tổng chi phí phát triển
    của BĐS

    IV.3. Các bước định giá bất động sản theo phương pháp thặng dư (4 bước):

    Bước 1: Xác định sử dụng cao nhất và có hiệu quả nhất

    Bước 2: Ước tính tổng giá trị phát triển của BĐS (dự kiến)

    Bước 3: Ước tính tổng chi phí phát triển của bất động sản (dự kiến)

    Bước 4: Ước tính giá trị của bất động sản

    IV.4. Những hạn chế của phương pháp

    • Khó khăn trong việc xác định cách sử dụng cách tốt nhất và cao nhất.
    • Tất cả mọi ước tính về chi phí và giá bán có thể thay đổi tuỳ theo điều kiện của thị trường.
    • Giá trị còn lại nhạy cảm đối với những thay đổi của việc ước tính các chi phí và

    giá bán.

    • Cần phải có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tốt tất cả các khoản mục khác nhau.
    • Phương pháp này không tính đến giá trị thời gian của đồng tiền, như vậy đã giả định là tất cả các dòng tiền mặt xảy ra ở cùng một thời điểm , mà giả định này không hiện thực.
    1. PHƯƠNG PHÁP LỢI NHUẬN V.1. Cơ sở lý luận của phương pháp

    Phương pháp lợi nhuận dựa vào sự phân tích khả năng sinh lợi ước tính của việc sử dụng bất động sản trừ đi tất cả chi phí hoạt động kinh doanh, khoản dư lại là thu nhập thực hàng năm của bất động sản sau đó chuyển hoá thành vốn theo phương pháp đầu tư.

    V.2. Các trường hợp áp dụng

    Phương pháp lợi nhuận chỉ áp dụng cho những bất động sản có khả năng sinh lợi, trong một số hoàn cảnh, khả năng sinh lợi của việc sử dụng bất động sản phụ thuộc nhiều vào dung lượng thương mại đó xác định dòng thu nhập hiển thị cho tài sản. Phương pháp này đặc biệt được áp dụng cho bất động sản trong ngành vui chơi, giải trí, bao gồm cả khách sạn và những tài sản khác mà việc so sánh với những bất động sản tương đương sẽ gặp khó khăndo giá trị phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của bất động sản.

    V.3. Các nguyên tắc áp dụng cho phương pháp lợi nhuận

    Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất.

    V.4 Các bước tiếp cận định giá bất động sản

    Bước 1: Ước tính tổng thu nhập của bất động sản

    Bước 2: Ước tính chi phí liên quan đến việc tạo ra thu nhập bao gồm các khoản lãi trên vốn, tiền thưởng công cho nhà kinh doanh.

    Bước 3: Xác định lãi suất vốn hoá

    Bước 4: Ước tính giá trị của bất động sản theo công thức:

    Giá trị của bất động sản = Lợi nhuận dòng / lãi suất vốn hoá

    V.5. Những điều kiện cần xem xét và hạn chế khi sử dụng phương pháp lợi

    nhuận

    V.5.1.Điều kiện cần xem xét:

    • Cần phải có số liệu chính xác và xem xét hết sức cẩn thận nguồn gốc về khoản thu và khoản chi (Nếu có thể xem xét ghi chép ít nhất 3 năm về trước).
    • Việc trả phần trăm cho người thuê chưa có cách tính cụ thể.
    • Xác định lãi xuất vốn hoá cần thực hiện sau khi nghiên cứu thị trường, khi có tiềm năng tăng thu nhập thì lãi suất được sử dụng cần phản ánh điều đó.

    V.5.2. Những hạn chế:

    • Khó khăn trong việc xác định tốt nhất và có hiệu quả nhất.
    • Khó khăn trong việc xác định lãi suất vốn hoá. Chỉ áp dụng với những bất động sản mà hoạt động của nó tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận ước tính có thể không phản ánh được mức độ thu nhập thực. Đòi hỏi định giá viên có ý kiến về loại hình kinh doanh này./.
  • Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về thị trường bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Quy-tr%C3%ACnh-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-kinh-doanh-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án

    Kinh doanh bất động sản

    Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi (Luật kinh doanh bất động sản số 63/2006/QH11 ngày 29/06/2006). Dự án kinh doanh bất động sản được trong phân tích dưới đây được hiểu là hoạt động bỏ vốn đầu tư nhằm thiết lập mô hình kinh doanh trên một khu đất để cung cấp dịch vụ bất động sản, chúng bao gồm:

    – Dự án đầu tư kinh doanh cao ốc văn phòng;
    – Dự án căn hộ cho thuê;
    – Dự án trung tâm thương mại;
    – Dự án khách sạn, nhà hàng;
    – Dự án về dịch vụ nhà ở;
    – Dự án hạ tầng khu công nghiệp;
    – Dự án kết hợp cung cấp các loại hình dịch vụ trên;
    – Các loại mô hình khác (không thuộc các dự án đã kể trên).

    Trên một khu đất, nhà đầu đứng trước bài toán lựa chọn mô hình đầu tư tối ưu trong số các mô hình trên. Để thành công trong quyết định lựa chọn mô hình đầu tư và quản lý khai thác hiệu quả, nhà đầu tư cần phải thực hiện phân tích lựa chọn theo quy trình sau:

    Bước 1: Tìm kiếm đất và khẳng định đất phù hợp:

    Tìm kiếm khu đất để đầu tư là việc làm thường xuyên của nhà đầu tư bất động sản. Khu đất kinh doanh bất động sản có hai dạng: thứ nhất là đất thuê lại từ đối tác kinh doanh khác hoặc thuê đất thuộc quỹ quản lý của nhà nước; thứ hai là mua đất từ đối tác khác. Nhà đầu tư thường tính đến việc mua khu đất ở đâu, giá bao nhiêu, khi nào mua… dựa trên sự phù hợp của khu đất.

    Khu đất phụ hợp là khu đất tọa lạc tại những vị trí chiến lược có thể phát triển kinh doanh một hoặc nhiều hơn một loại hình dịch vụ nào đó (các loại hình dịch vụ như định nghĩa trên) và khả thi về mặt pháp lý. Một khu đất được xem là khả thi về mặt pháp lý nếu khu đất đó thuộc diện được phép đầu tư khai thác kinh doanh bởi chính quyền địa phương. Hơn nữa, bất kỳ một khu đất nào hiện nay trên Việt Nam đều thuộc diện khống chế quy hoạch để sử dụng vào mục đích nhất định nào đó (quy hoạch cho mục đích kinh doanh, hoăc quy hoạch cho mục đich công, hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật trong quy hoạch), vì thế đòi hỏi nhà đầu tư phải kiểm tra tính phù hợp của thông số quy hoạch với mục đích kinh doanh của họ (với những thông số quy hoạch đó có mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không). Để biết được thông tin quy hoạch khu đất, nhà đầu tư có thể tìm đến cơ quan quản lý quy hoạch của tỉnh như sở quy hoạch xây dựng, sở tài nguyên & môi trường hoặc nhứng chuyên viên phụ trách quy hoạch của UBND tỉnh nới quản lý khu đất. Trong trường hợp khu đất chưa có ý đồ quy hoạch từ UBND tỉnh thì nhà đầu tư phải gửi công văn đề nghị xin chủ trương quy hoạch theo ý đồ của họ.

    Kết quả của bước tìm kiếm và khẳng định sự phù hợp của khu đất là nhà đầu tư phải ký được hợp đồng thuê, mua đất từ đối tác kinh doanh khác và chấp thuận chủ trương quy hoạch của UBND tỉnh nơi quản lý hành chính của khu đất hoặc hợp đồng thuê đất với UBND tỉnh (nếu thuộc khu đất do nhà nước quản lý).

    Bước 2: Ý tưởng kinh doanh

    Như trình bày ở bước 1, khu đất thông thường đều thuộc diện khống chế quy hoạch cho mục đích kinh tế hay mục địch xã hội. Nhà đầu tư chỉ quan tâm đến khu đất quy hoạch cho mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, câu hỏi cần trả lời ở đây là kinh doanh theo mô hình nào? Nhà đầu tư phải dựa vào kinh nghiệm và tầm nhìn của họ để đề xuất ý tưởng kinh doanh. Dù kinh nghiệm và tầm nhìn của những nhà đầu có sự khác nhau nhưng họ đều căn cứ trên một cơ sở chung là dựa vào thị trường. Khi đưa ra quyết định đầu tư trong điều kiện thiếu dữ liệu chắc chắn về thị trường đó ra quyết định trong môi trường có rủi ro. Nhà đầu tư thận trọng họ sẽ thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi đưa ra quyết định.

     

    Bước 3: Nghiên cứu thị trường

    Việc nghiên cứu thị trường để kiểm định lại ý tưởng kinh doanh là việc chuyển từ quyết định trong môi trường có rủi ro sang ra quyết định trong môi trường chắn chắn. Các loại thị trường cần nghiên cứu bao gồm các thị trường cao ốc văn phòng, căn hộ cho thuê, nhà hàng, khách sạn, trung tâm thương mại, hạ tầng công nghiệp, dịch vụ nhà ở…. Nghiên cứu thị trường phải dự báo được triển vọng và dung lượng của từng loại thị trường dịch vụ. Nghiên cứu thị trường sẽ kiểm định tính khả thi của ý tưởng kinh doanh và khuyến nghị các hướng phát triển dự án.

    Bước 4: Thiết kế ý tưởng

    Thiết kế ý tưởng dự án được căn cứ trên các tiêu chí sau:

    • Xác lập mô hình kinh doanh có hiệu quả;
    • Thiết kế ý tưởng kiến trúc có phong cách đặc trưng, ấn tượng, có tính hiệu dụng cao, có cảnh quan đẹp.
    • Chứng minh được hiệu quả đầu tư;
    • Đảm bảo chất lượng, tiến độ và ngân sách của quá trình xây dựng;
    • Đảm bảo nguồn thu và lợi nhuân.

    Dựa trên những tiêu chí trên, ý tưởng dự án phải thể hiện đầy đủ nội dung sau:

    • Mô hình kinh doanh cung cấp dịch vụ gì, tính vượt trội của các dịch vụ do dự án cung cấp so với các dịch vụ hiện hữu trên thị trường hiện nay;
    • Ý tưởng kiến trúc như thế nào, sự độc đáo của kiến trúc;
    • Các đặc điểm kỹ thuật;
    • Thị trường mục tiêu;
    • Quản lý đầu tư và khác thác như thế nào?

    Bước 5: Phân tích tài chính

    Phân tích tài chính nhằm xác định khả năng sinh lời của dự án, bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

    • Ước tính toàn bộ chi phí dự án
    • Dự kiến phương án hợp tác kinh doanh;
    • Ước tính nguồn vốn vay;
    • Thiết lập mô hình phân tích dựa trên những giả định cơ bản về dự án;
    • Phân tích dòng tiền cho toàn bộ dòng đời của dự án bao gồm chi phí đầu tư, nguồn vốn đầu tư, doanh thu, chi phí hoạt động, vốn vay, lợi nhuận, các chỉ số tài chính như NPV, IRR, thời gian hoàn vốn…
    • Phân tích độ nhạy với các biến thiên về suất đầu tư và giá thuê dự kiến.

    (Phân phân tích tài chính cho dự án kinh doanh bất động sản, tác giả sẽ trình bày một bài viết tiếp theo).

    Bước 6: Tìm nguồn tài chính tài trợ cho dự án và lập hồ sơ dự án, xin cấp phép, vay vốn và triển khai dự án.

    Theo thiết kế cơ cấu nguồn vốn dự án, chủ đầu tư cân đối nguồn vốn của mình và quyết định huy động vốn tài trợ cho dự án. Trên thị trường tài chính hiện nay đã mở ra nhiều cơ hội huy động vốn qua các kênh phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty hoặc vay. Tuy nhiên, với các kênh huy động đó chỉ khả thi khi dự án đã được cấp phép, phê duyệt hoặc đã chi tiết được các hạng mục đầu tư. Để đạt sự cấp phép chủ đầu tư phải chứng minh được năng lực tài chính nên dòi hỏi phải tiến hành huy động vốn trước. Việc huy động vốn trong giai đoạn này, chủ đầu tư tìm đối tác tham gia hợp tác đầu tư thông qua ký kết biên bản thỏa thuận (MOU) hợp tác đầu tư với các nội dung sau:

    • Thỏa thuận về chi phí;
    • Thỏa thuận về thời gian;
    • Thỏa thuận về nhân lực;
    • Thỏa thuận về cách làm;

    Sau khi các bên tham gia góp vốn ký kết văn bản hợp tác đầu tư (MOU), họ tiến hành lập hồ sơ dự án, bao gồm nội dung sau:

    • Các đánh giá rải rác;
    • Đánh giá tiền khả thi;
    • Các tài liệu, văn bản ghi nhận trao đổi nội bộ với đối tác;
    • Báo cáo khả thi xây dựng xác với dự án hoàn chỉnh.

    Nhà đầu sử dụng hồ sơ dự án để thực hiện các hoạt động xin phép đầu tư, thiết kế chi tiết, vay vốn để bắt đầu triển khai dự án.

    Bước 7: Triển khai dự án

    Triển khai dự án gồm các công việc sau:

    • Thiết kế chi tiết;
    • Đấu thầu và chọn thầu xây dựng;
    • Vay vốn và giải ngân vốn chủ sở hữu;
    • Phương án tổ chức giám sát, quản lý;

    Phương án tổ chức gám sát, quản lý và khai thác dự án có thể do chủ đầu tư tự thực hiện. Nếu dự án có tính phức tạp cao trong khi nhân lực của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư không đủ khả năng quản lý thù sử dụng đến dich vụ tư vấn thực hiện các công việc sau:

    • Đại diện khách hàng (Lập kế hoạch xây dựng & quản lý chất lượng);
    • Bán & tiếp thị;
    • Tư vấn và quản lý tài sản.

    Trên đây quy trình phát triển một dự án kinh doanh bất động sản. Mỗi loại dự án đều có đặc thu riêng, không có gì áp dụng chung cho mọi trường hợp. Tất cả chỉ là phương pháp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổng quan về thị trường bất động sản

    Tổng quan về thị trường bất động sản

    Tổng quan về thị trường bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tổng quan về bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về thị trường bất động sản

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường Bất động sản ngày càng được hình thành và phát triển. Ngày nay thị trường bất động sản đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các loại thị trường của nền kinh tế quốc dân, nó có những đóng góp đáng kể vào việc ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong thời gian qua và trong tương lai.

    Để phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu theo yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đại học ngành Quản lý Đất đai, chúng tôi xây dựng giáo trình “Thị trường Bất động sản” nhằm giúp sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản về thị trường Bất động sản; quản lý nhà nước và chính sách pháp luật với thị trường Bất động sản; thực trạng thị trường bất động sản ở Việt Nam và một số nước; định giá, đăng ký, thông tin và kinh doanh  bất động sản; những giải pháp cơ bản thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam. Giáo trình còn là tài liệu tham khảo cho cán bộ ngành quản lý đất đai, các nhà quản lý kinh doanh về thị trường Bất động sản.

    Giáo trình “Thị trường Bất động sản” được biên soạn theo đề cương chương trình khung ngành quản lý đất đai đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.

    Biên soạn giáo trình là PGS.TS. Nguyễn Thanh Trà – Khoa đất và Môi trường (viết chương 1, 4, 6, 8) và TS. Nguyễn Đình Bồng – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường (viết chương 2, 3, 5, 7).

    Đây là môn khoa học mới, kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót, mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc, để giúp chúng tôi tiếp tục hoàn chỉnh và phục vụ cho việc biên soạn lần sau có chất lượng tốt hơn.

    Hà Nội – 2004

    Các tác giả

     

    CHƯƠNG I

    BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

     

    I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG

        1. KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI VÀ HỆ THỐNG THỊ TRƯỜNG

                1.1. Khái niệm về thị trường

    – Thị trường là nơi người mua và người bán tự tìm đến với nhau qua tiếp xúc trao đổi, thăm dò để nhận được lời giải đáp mà mỗi bên cần biết.

    – Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá bao gồm cả hàng hoá hữu hình lẫn vô hình;

    – Thị trường là thể hiện tổng hoà các quan hệ trao đổi hàng hoá, tức là quan hệ giao dịch giữa người mua và người bán, giữa sản xuất và lưu thông, giữa cung ứng và nhu cầu, và cũng là đầu mối thực hiện giá trị và chuyển dịch giá trị của hàng hoá;

    – Thị trường thể hiện yêu cầu tiêu thụ đối với mỗi chủng loại hàng hoá, tức là thể hiện đặc trưng bản chất của thị trường. Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là nhằm thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng vì người tiêu dùng là nhân vật chủ đạo của thị trường.

    Chủ thể của thị trường là 3 loại người hoạt động trao đổi hàng hoá trong thị trường : (1) người sản xuất hàng hoá là người tạo ra cơ sở vật chất của thị trường, là người bán hàng hoá ra thị trường; (2) người tiêu dùng là người có tiền đi mua hàng; (3) người môi giới thương mại vừa đóng vai trò là người mua, vừa là người bán, là người trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

    Khách thể của thị trường là số hàng hoá có thể đưa ra trao đổi mua bán, ngoài các hàng hoá tiêu dùng và các tư liệu sản xuất còn bao gồm cả các yếu tố cần cho sản xuất như tiền vốn, công nghệ, thông tin, sức lao động, bất động sản .v.v… Khách thể là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của thị trường.

                1.2. Chức năng của thị trường

    Chức năng của thị trường thể hiện trên các mặt sau đây:

                1.2.1. Chức năng trao đổi

    Khi mua bán người ta chuyển nhượng quyền sở hữu đối với hàng hoá, thông qua đó thực hiện giá trị của hàng hoá, dẫn đến việc phát triển sản xuất hàng hoá theo chiều hướng của yêu cầu tiêu dùng .

                1.2.2. Chức năng điều tiết

    Thị trường hoạt động trên cơ sở các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh, do đó có khả năng tự động điều tiết quá trình vận hành nền kinh tế và việc phân phối nguồn lực của xã hội cho các ngành kinh tế, các vùng và các doanh nghiệp, không những điều tiết kết cấu và số lượng của hàng hoá mà còn tự phát điều tiết lợi ích kinh tế của cả hai bên mua bán. Đây là chức năng quan trọng nhất của thị trường.

                1.2.3. Chức năng thông tin

    Thị trường phát ra các loại thông tin đến người sản xuất, người kinh  doanh (môi giới) và người tiêu dùng như thông tin về cung cầu, về chất lượng, về giá cả, về thị hiếu, về nguồn vốn và về tỷ suất lợi nhuận .v.v… Khi trình độ công nghệ thông tin của xã hội được nâng cao thì chức năng thông tin của thị trường càng được tăng cường, nhạy bén.

                1.2.4. Chức năng liên hệ kinh tế

                Thị trường phá vỡ mọi sự ngăn cách của bất cứ lĩnh vực kinh tế, các ngành, địa phương và doanh nghiệp đều trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế quốc dân của một nước,  tiến tới hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Tóm lại thị trường là hệ thống mở.

    1.3. Phân loại thị trường      

    Có rất nhiều cách  phân loại thị trường tuỳ theo việc chọn tiêu chí phân loại, ở đây đề cập một số cách phân loại cần thiết nhất:

    – Căn cứ vào việc khống chế vĩ mô: chia thành thị trường tự do và thị trường có kế hoạch.

                Căn cứ vào công dụng của hàng hoá: mà chia thành thị trường hàng hoá và thị trường các yếu tố sản xuất như các thị trường tư liệu sản xuất, tiền vốn, sức lao động, công nghệ, thông tin và thị trường bất động sản …

    – Căn cứ vào khu vực hoặc phạm vi lưu thông: chia thành thị trường đô thị, nông thôn, trong nước và thị trường quốc tế.

                – Căn cứ vào trình độ cạnh tranh: phân biệt có thị trường cạnh tranh hoàn toàn, thị trường độc quyền hoàn toàn và thị trường cạnh tranh độc quyền.

                – Căn cứ vào địa vị của chủ thể: Mà chia thành thị trường bên bán, thị trường bên mua và thị trường cân bằng.

                1.4. Hệ thống thị trường      

                Muốn thị trường phát huy đầy đủ chức năng trong lĩnh vực lưu thông thì phải tổ chức tốt hoạt động của các loại thị trường. Mỗi loại thị trường vừa có tính độc lập tương đối, lại vừa kiềm chế và ỷ lại thúc đẩy lẫn nhau, trở thành bộ phận hữu cơ của hệ thống thị trường cả nước. Trong hệ thống này thì thị trường hàng hóa là cơ sở, các thị trường khác đều phục vụ cho thị trường hàng hoá ở mức độ khác nhau. Ở nước ta hiện nay chỉ mới có thị trường hàng tiêu dùng là ít nhiều được phát triển, còn các thị trường khác hoặc mới hình thành, hoặc còn què quặt, thậm chí có thị trường còn vắng bóng hoặc tồn tại dưới dạng “chợ đen”.

    Vì vậy để tiếp tục sự nghiệp đổi mới, nước ta cần nhanh chóng thiết lập hệ thống thị trường hoàn chỉnh, trong đó có thị trường bất động sản.

        2. CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH PHỦ

                2.1. Cơ chế thị trường

    Quy luật giá trị là cơ sở của cơ chế vận hành thị trường. Ngoài ra, cùng tác động lên thị trường còn có các quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh.

    Các quy luật nói trên có quan hệ khăng khít với nhau, khi tác động lên thị trường thì hình thành cơ chế vận hành của thị trường (thường gọi tắt là cơ chế thị trường); bao gồm cơ chế giá cả, cơ chế cung cầu  và cơ chế cạnh tranh.

    2.1.1. Cơ chế giá cả

    Đây là nội dung chủ yếu của cơ chế thị trường. Nó tự phát điều tiết các hoạt động kinh tế như sản xuất, tiêu dùng và quan hệ cung cầu, nó cũng là công cụ quan trọng cung cấp thông tin cho chính phủ để tiến hành điều tiết vĩ mô về kết cấu của cung cầu, đảm bảo nền kinh tế hoạt động được ổn định và thông suốt.

    2.1.2. Cơ chế cung cầu

                Cơ chế cung cầu biểu hiện mối quan hệ giữa hàng hoá và tiền, mặt khác cũng biểu hiện mối quan hệ giữa người bán và người mua, quan hệ giữa lượng hàng bán có thể cung cấp của bên bán và sức mua hàng của bên mua. Giữa cung và cầu thường xuất hiện mâu thuẫn trên bốn mặt: số lượng, kết cấu, không gian và thời gian. Khắc phục được các mâu thuẫn đó thì sẽ lập được sự cân bằng giữa cung và cầu. Như vậy, chính thông qua cơ chế cung cầu mà cơ chế giá cả mới phát huy tác dụng, làm cho giá cả và giá trị tiến đến nhất trí. Cần chú ý rằng quan hệ cung cầu luôn luôn biến động, sự mất cân bằng giữa cung và cầu chỉ là tạm thời, là tương đối mà thôi, còn sự mất cân bằng giữa cung và cầu lại rất phổ biến, có tính tuyệt đối.

               

     

    2.1.3. Cơ chế cạnh tranh

    Cơ chế cạnh tranh biểu hiện sự tranh đoạt lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của thị trường, bao gồm ba loại hình sau đây:

    – Cạnh tranh giữa người cung ứng trên thị trường (bên bán) với nhau nhằm thực hiện giá trị của hàng hoá, thu hút người mua về phía mình. Loại hình cạnh tranh này có hai dạng  cạnh tranh trong cùng một bộ phận và cạnh tranh giữa các bộ phận nhằm thay thế nhau.

    – Cạnh tranh giữa người có nhu cầu (bên mua) nhằm tranh đoạt giá trị sử dụng, dẫn đến nâng cao giá cả;

    – Cạnh tranh giữa bên cung ứng và bên có nhu cầu (giữa bên bán và bên mua) nhằm đoạt lấy doanh lợi về mình. Sự so sánh lực lượng giữa đôi bên sẽ quyết định ảnh hưởng của mỗi bên đối với giá cả. Đây là loại hình cạnh tranh cơ bản nhất của cạnh tranh thị trường, chỉ có thông qua cạnh tranh giữa hai bên cung và cầu mới có thể kiểm nghiệm được hiệu quả cuối cùng của nền sản xuất xã hội.

    Ba loại cơ chế trên đây hình thành cơ chế thị trường, trong đó cơ chế giá cả cung cấp thông tin phản hồi về động lực của thị trường, cơ chế cung cầu điều tiết sự sản xuất và tiêu dùng, còn cơ chế cạnh tranh là chất xúc tác đảm bảo cho cơ chế giá cả và cơ chế cung cầu phát huy được đầy đủ công năng của thị trường. Như vậy nếu muốn thị trường vận hành đúng đắn theo cơ chế của nó thì phải tạo điều kiện cho cơ chế cạnh tranh tác động mạnh mẽ, tức là doanh nghiệp phải có quyền tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu lỗ lãi và được hưởng lợi ích kinh tế từ kết quả cạnh tranh, mặt khác phải chống lại cạnh tranh phi pháp, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và phải chống độc quyền.

                2.2. Vai trò quản lý của Chính phủ

                Thị trường tuy có sức cạnh tranh nhưng không phải vạn năng. Trong nhiều trường hợp thị trường không giải quyết nổi vấn đề đặt ra, do đó cần có sự can thiệp của chính phủ. Các trường hợp đó là:

                2.2.1. Thị trường không đảm bảo được sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế.

    Vì bản thân nó mang nhiều tính tự phát, và có lúc có tác dụng tiêu cực, do vậy nền sản xuất xã hội dễ bị mất cân đối, không thực hiện được sự phân phối tối ưu các nguồn lực cho sản xuất, thậm chí có thể gây ra lãng phí và kém hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực, làm tổn hại đến việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, tạo ra sự bất hợp lý trong kết cấu doanh nghiệp, lạm phát cao, thất nghiệp nhiều, cán cân thanh toán quốc tế mất cân bằng, dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế.

                2.2.2 Thị trường không thể tự phát loại trừ độc quyền. Tự do cạnh tranh nhiều khi dẫn đến sản xuất tập trung, rồi từ đó mà dần dần hình thành đủ loại độc quyền. Ngoài ra trong một số lĩnh vực, một số ngành kinh tế còn có hiện tượng độc quyền tự nhiên, tức là khi độc quyền lại có lợi hơn cạnh tranh.

                2.2.3. Thị trường không thể cung cấp có hiệu quả các hàng hoá công cộng (các dịch vụ công cộng) như giáo dục, y tế, viễn thông, trật tự an ninh, cấp thoát nước và vận tải đô thị .v.v… (nên phân biệt cung cấp  hàng hoá công cộng cho xã hội với việc sản xuất ra hàng hoá đó).

    2.2.4. Thị trường không thể đảm bảo phân phối thu nhập một cách công bằng. Sự điều tiết tự phát của cơ chế thị trường dễ dẫn đến mở rộng khoảng cách thu nhập của các tầng lớp, khoét sâu mâu thuẫn xã hội.

    2.2.5. Thị trường không thể đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, không kiềm chế được các “ngoại ứng” bất lợi cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, tạo ra và làm ô nhiễm môi trường, gây ra các tác hại khác.

    Vì thị trường có những nhược điểm kể trên nên chính phủ cần có sự can thiệp hợp lý vào thị  trường, vừa tạo điều kiện cho thị trường vận hành và phát triển lành mạnh vừa bổ sung cho thị trường về những phương diện mà thị trường không làm được.

    Sự can thiệp của chính phủ được tiến hành thông qua việc hoạch định các chính sách và sử dụng các công cụ thích hợp. Các chính sách mà chính phủ có thể hoạch định để khống chế vĩ mô đối với thị trường bao gồm: Chính sách tài chính (thông qua việc lập ngân sách quốc gia), chính sách tiền tệ (thông qua cho vay, lãi suất, phát hành tiền…), chính sách chuyển đổi cơ cấu và chính sách phân phối thu nhập (thông qua việc phối hợp các chính sách tài chính, chính sách tiền tệ và vận dụng các công cụ kinh tế và phi kinh tế).

    Các công cụ chủ yếu mà chính phủ có thể sử dụng để can thiệp vào thị trường bao gồm: a) công cụ kế hoạch (kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn), có thể là kế hoạch chi tiêu mang tính bắt buộc và kế hoạch hướng dẫn có tính định hướng và khuyến khích; b) công cụ kinh tế  như các đòn bẩy giá cả, đòn bẩy thuế khoá, đòn bẩy tín dụng và đòn bẩy lãi suất; c) công cụ hành chính (mệnh lệnh, chỉ thị, quy định) và d) công cụ pháp luật để duy trì lợi ích tổng thể của kinh tế quốc dân và sự phát triển xã hội.

    Tuy nhiên sự can thiệp của chính phủ cũng có thể không đạt được mục tiêu đã định, vì bốn lý do chủ yếu là: thông tin bị hạn chế; sự hạn chế của chính phủ khi kiểm soát và phản ứng của doanh nghiệp; sự hạn chế của chính phủ khi kiểm soát bộ máy hành chính quan liêu và cuối cùng là khả năng hạn chế của chính phủ trước những áp đặt về chính trị.

     

    3. MARKETING – ĐIỀU TRA VÀ PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG

    3.1.Marketing

    Từ khi hình thành thị trường đã xuất hiện nhiều quan điểm kinh doanh như:

    Quan điểm định hướng vào sản xuất cho rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích nhiều sản phẩm được bán rộng rãi với giá hạ;

    – Quan điểm định hướng vào hoàn thiện sản phẩm cho rằng người tiêu dùng luôn ưa thích những sản phẩm có chất lượng cao nhất, có nhiều công dụng và tính năng mới;

    – Quan điểm tập trung vào bán hàng cho rằng người tiêu dùng thường bảo thủ trong việc mua sắm, do đó cần tập trung cố gắng thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mãi. có người gọi quan điểm này là marketing truyền thống để phân biệt với marketing hiện đại.

    Quan điểm marketing hiện đại còn hướng tới kết hợp hài hoà lợi ích của người tiêu dùng, nhà kinh doanh và xã hội, do đó còn gọi là quan điểm marketing đạo đức xã hội.

    3.2. Điều tra thị trường .

    Nội dung điều tra thị trường bao gồm

    3.2.1. Điều tra môi trường kinh doanh gồm có:

    Môi trường pháp luật và chính trị; môi trường kinh tế, kể cả GDP và mức độ tăng trưởng GDP, vật giá, lạm phát, kết cấu hạ tầng .v.v… môi trường nhân khẩu học; môi trường văn hoá xã hội; môi trường tự nhiên.

    3.2.2. Điều tra kỹ thuật và công nghệ: Kể cả trình độ công nghệ tiên tiến trên thế giới của loại sản phẩm đó.

    3.2.3. Điều tra dung lượng yêu cầu của thị trường: Kể cả động thái yêu cầu ở trong nước và ngoài nước; lượng yêu cầu hiện có  và tiềm ẩn; lượng tồn kho; lượng cung ứng trên thị trường.

    3.2.4. Điều tra về người tiêu dùng và hành vi của họ: Như phân loại họ theo các tiêu chí khác nhau (tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, sở thích, khu vực .v.v…) sức mua, sự ham muốn và động cơ mua sắm, thói quen .v.v…

    3.2.5. Điều tra tình hình cạnh tranh: Bao gồm cả đối tượng cạnh tranh và sản phẩm cạnh tranh để “biết mình, biết người”.

    3.2.6. Điều tra nhân tố Marketing: Như sản phẩm, giá cả,  kênh tiêu thụ, sách lược xúc tiến.

    Mục đích của điều tra thị trường không chỉ nhằm phân tích thị trường, thích ứng với thay đổi của thị trường và nâng cao năng lực ứng biến của doanh nghiệp, mà còn tìm cơ hội khai thác mở rộng thị trường hiện có và mở rộng thị trường mới, rồi căn cứ vào đó mà định ra sách lược marketing hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu kinh doanh đã định.

    Các bước điều tra thị trường có thể hiển thị bằng sơ đồ dưới đây:

     
       

    Muốn đạt được kết quả tốt thì điều tra thị trường phải có tính khoa học, tức là trên cơ sở các thông tin xác thực và quan sát tỉ mỉ mà hình thành các giả thiết, các dự báo rồi tiến hành kiểm nghiệm; người điều tra phải có tính sáng tạo, vận dụng các phương pháp điều tra khác nhau để đối chứng, có tính hoài nghi chính đáng và phải có đạo đức nghề nghiệp.

    3.3. Phân tích thị trường và đối sách của doanh nghiệp

    Mỗi doanh nghiệp đều có ảnh hưởng qua lại với bộ phận nào đó của môi trường kinh doanh tổng thể, bộ phận đó của môi trường được gọi là môi trường tương quan. Môi trường tương quan này luôn ở trong trạng thái biến đổi, nếu doanh nghiệp thích ứng kịp thời với môi trường tương quan thì đạt được thành công.

    Sự biến đổi của môi trường tương quan dẫn đến hai xu thế đối với doanh nghiệp : Một là sự đe doạ và hai là tạo cơ hội thị trường thuận lợi. Sau khi phân tích đánh giá các xu thế đe doạ và tạo cơ hội, doanh nghiệp có thể thấy xuất hiện bốn trường hợp sau đây : a) Nghiệp vụ lý tưởng (cơ hội cao mà đe doạ thấp); b) Nghiệp vụ mạo hiểm (cơ hội cao mà đe doạ cũng cao); c) nghiệp vụ chín muồi (cơ hội thấp nhưng đe doạ cũng thấp); d) Nghiệp vụ khó khăn (cơ hội thấp mà đe doạ cao).

    Khi đứng trước cơ hội thị trường thì doanh nghiệp phải đánh giá cẩn thận chất lượng của nó. Nhà Marketing học nổi tiếng Thedore Levit nhắc nhở khi đánh giá cơ hội thì cần thấy rằng: “Đó có thể là một thứ nhu cầu nhưng không có thị trường; hoặc ở đó có thể có thị trường nhưng không có người tiêu dùng, hoặc ở đó có thể có người tiêu dùng nhưng trước mắt thực sự chưa phải là một thị trường, hay ở đó thị trường để bồi dưỡng kỹ thuật mới nhưng chưa có người mua sản phẩm này. Những người làm dự báo thị trường mà không hiểu đạo lý nói trên thì đối với cơ hội bề ngoài trong một số lĩnh vực, như sản phẩm tồn kho hoặc nhà ở còn để không, có thể đưa ra những đánh giá sai lầm chết người”.

    Khi đứng trước những mối đe doạ thì doanh nghiệp có thể căn cứ vào tình hình cụ thể mà lựa chọn một trong ba đối sách sau đây :

    1. Chống trả: tức là hạn chế hoặc xoay chuyển nhân tố bất lợi, chẳng hạn chiến tranh thương mại.
    2. Hoà hoãn: Tức là thông qua việc điều chỉnh các tổ hợp Marketing để giảm bớt sự nghiêm trọng mối đe dọa của môi trường.
    3. Chuyển dịch: Tức là chuyển đến thị trường có lãi hơn, chẳng hạn chuyển mặt hàng.

     

    3.4. Phân đoạn – lựa chọn và định vị thị trường

    Hạt nhân của chiến lược Marketing hiện đại là Marketing STP, bao gồm phân đoạn thị trường (Segmenting), lựa chọn thị trường mục tiêu (Targeting) và định vị thị trường (Positioning).

     

    3.4.1. Phân đoạn thị trường

    Thị trường tổng thể rất rộng lớn, nhiều đối thủ cạnh tranh, khách hàng có nhu cầu mua và khả năng tài chính rất khác nhau, nhưng mỗi doanh nghiệp thường có một thế mạnh nào đó trong việc thoả mãn nhu cầu thị trường do đó trước tiên cần phân đoạn thị trường. Những khách hàng trong cùng một đoạn thị trường sẽ có một sự giống nhau về nhu cầu hoặc ước muốn, có những phản  ứng giống nhau trước cùng một kích thích marketing. Các tiêu thức để phân đoạn thị trường có thể là về địa lý, về dân số – xã hội, về tâm lý và hành vi tiêu dùng.

    3.4.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu

    Sau khi phân đoạn thì dựa vào các tiêu chuẩn cơ bản là quy mô và sự tăng trưởng, sức hấp dẫn của đoạn, các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp để lựa chọn thị trường mục tiêu. Đó là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc ước muốn và doanh nghiệp có thể đáp ứng và cũng có thể tạo ra ưu thế hơn các đối thủ cạnh tranh, đạt được các mục tiêu marketing đã định.

    3.4.3. Định vị thị trường

    Là thiết kế một sản phẩm có những đặc tính khác biệt so với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh và tạo cho  nó một hình ảnh riêng đối với khách  hàng nhằm xác lập vị trí của sản phẩm trên thị trường so với sản phẩm cùng loại. Kết quả đạt tới là sản phẩm phải có lợi thế cạnh tranh với sản phẩm có sẵn hoặc chiếm lĩnh được một vị trí mới mà chưa sản phẩm nào có.

    Khi lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường, người làm marketing đã phải nhận dạng và phân tích các đối thủ cạnh tranh để đi đến chiến lược cạnh tranh. Nên nhớ rằng có đối thủ cạnh tranh hiện tại nhưng cũng có đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, do đó trong chiến lược cạnh tranh cũng phải dè chừng đối thủ tiềm tàng vì nhiều khi chính họ mới là kẻ đe doạ nghiêm trọng, thậm chí đánh bại doanh nghiệp.

    II. BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

        1. KHÁI NIỆM CHUNG

    1. 1. Bất động sản

    Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất đai và vật kiến trúc, cùng với những thứ dùng để nâng cao giá trị sử dụng của bất động sản như hàng rào, cây cối và các trang thiết bị cấp thoát nước, cấp điện, vệ sinh, thông gió, thang máy, phòng cháy, thông tin .v.v… bất động sản có những đặc tính sau đây:

    1.1.1. Có vị trí cố định, không di chuyển được

    Đặc tính này có ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư vì nếu không có thị trường tại chỗ thì cũng không thể đem đi nơi khác để giao dịch. Vấn đề vị trí có ý nghĩa rất quan trọng đối với giá trị của bất động sản, vì vậy người ta thường nhắc “vị trí, vị trí và vị trí”, tức là cần quan tâm đến địa điểm cụ thể, đến tình hình phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội và đến môi trường cảnh quan cũng như kết cấu hạ tầng khu vực có địa điểm của bất động sản.

    1.1.2. Tính lâu bền

    Đất đai là thứ được xem như không bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai như xói lở, vùi lấp,  vật kiến trúc thì có thể tồn tại hàng chục năm đến hàng trăm năm. Cần phân biệt tuổi thọ kinh tế với tuổi thọ vật lý của bất động sản. Tuổi thọ kinh tế chấm dứt khi trong điều kiện thị trường và trạng thái vận hành đều bình thường mà chi phí sử dụng bất động sản lại ngang bằng với lợi ích thu được từ bất động sản đó. Tuổi thọ vật lý nói chung dài hơn nhiều tuổi thọ kinh tế, nó chấm dứt khi các kết cấu chịu lực chủ yếu bị lão hoá và hư hỏng, không thể tiếp tục bảo đảm an toàn cho việc sử dụng. Trong trường hợp đó nếu xét thấy tiến hành cải tạo, nâng cấp công trình mà lại thu được lợi ích lớn hơn là phá nó đi và đầu tư xây mới, thì ta có thể kéo dài tuổi thọ vật lý để “chứa” được mấy lần tuổi thọ kinh tế.

     

                1.1.3. Tính thích ứng

    Lợi ích của công trình được sinh ra trong quá trình sử dụng, vì lẽ đó nếu kịp thời điều chỉnh công năng sử dụng thì vẫn vừa có thể giữ lại đặc trưng của công trình lại vừa có thể đem lại lợi nhuận lớn hơn cho nhà đầu tư.

    Việc kịp thời điều chỉnh công năng sử dụng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng là cực kỳ quan trọng để thu hút khách hàng, cho nên các nhà đầu tư rất quan tâm đến tính thích ứng của bất động sản.

                1.1.4. Tính dị biệt

                Trên thị trường bất động sản, không tồn tại hai công trình hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau, kể cả hai công trình ở cạnh nhau và cùng dùng một thiết kế. Ngay trong cùng một cao ốc thì căn hộ, các phòng cũng có hướng và tầng khác nhau. Ngoài ra cũng cần chú ý đến ý muốn  của người đầu tư, người sử dụng, kể cả kiến trúc sư, mỗi người đều quan tâm đến tính dị biệt hoặc để tạo sự hấp dẫn khách hàng hoặc thoả mãn sở thích cá nhân. Do vậy trên thị trường bất động sản, địa vị và giá trị của mỗi bất động sản không hoàn toàn giống nhau như các hàng hoá khác.

                1.5.1. Tính chịu ảnh hưởng của chính sách

    Vì bất động sản có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh tế của xã hội, nên chính phủ các nước đều rất quan tâm đến thị trường bất động sản, thường đưa ra chính sách mới trong lĩnh vực này để điều chỉnh các quan hệ pháp luật , quan hệ lợi ích kinh tế trong việc sản xuất, giao dịch và sử dụng bất động sản. Vì không thể di chuyển được nên bất động sản khó mà tránh được ảnh hưởng của các điều chỉnh chính sách, chẳng hạn như các chính sách đất đai, nhà ở, tiền tệ, thuế .v.v…

    1.1.6. Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý.

    Nhiều loại hình đầu tư không đòi hỏi phải tốn công quản lý lắm, chẳng hạn đầu tư vào chứng khoán, đồ cổ hay kim loại quý. Thế nhưng đầu tư trực tiếp vào nhà đất thì phải có năng lực quản lý thích hợp. Việc đầu tư phát triển xây dựng rất phức tạp, đòi hỏi nhiều kiến thức, như ngay việc cho thuê nhà cũng đòi hỏi phải xem xét khách thuê, hợp đồng thuê nhà, duy trì sửa chữa nhà, phòng cháy, chữa cháy và các biện pháp an toàn khác .v.v.. Nói chung chi phí quản lý nhà cho thuê thường  chiếm tới 10% tiền thuê nhà, nếu quản lý không tốt, chi phí tăng cao hoặc người thuê không bằng lòng và bỏ đi thì thiệt hại sẽ lớn. Đây là chưa kể  những chi phí cho chuyên gia, kế toán thuế và cho luật sư.v.v…

    1.1.7. Tính ảnh hưởng lẫn nhau

    Việc Chính phủ đầu tư mở mang đường xá, công viên, trường học v.v… có thể nâng cao giá trị bất động sản trong khu vực phụ cận lên khá nhiều. Kinh nghiệm chứng tỏ nếu dự báo được chính xác sự đầu tư lớn của chính phủ vào kết cấu hạ tầng tại khu vực rồi đầu tư (thậm chí đầu cơ) phát triển bất động sản trước một bước thì có thể thành công rất lớn.

     

                1.2. Thị trường bất động sản

    Bất động sản là loại hàng hoá đặc biệt, tuy không thể  di chuyển nhưng có thể đem lại lợi ích cho chủ sở hữu, do đó làm nảy sinh hoạt động giao dịch. thị trường bất động sản là nơi tiến hành các giao dịch về bất động sản, mang tính khu vực và biến động theo thời gian. Vì vậy thị trường bất động sản là tổng hoà các giao dịch bất động sản đạt được tại một khu vực địa lý nhất định trong thời điểm nhất định.

    Thị trường bất động sản bao gồm 3 thị trường nhánh: Thị trường mua bán; thị trường cho thuê bất động sản ; thị trường thế chấp và bảo hiểm bất động sản.

    Căn cứ vào thứ tự thời gian mà bất động sản gia nhập thị trường thì thị trường bất động sản có 3 cấp, gồm :

                – Thị trường cấp I: là thị trường chuyển nhượng, giao hoặc cho thuê quyền sử dụng đất (còn gọi là thị trường đất đai);

                Thị trường cấp II: Là thị trường xây dựng công trình để bán hoặc cho thuê;

    Thị trường cấp III: Là thị trường bán lại hoặc cho thuê lại công trình đã được mua hoặc thuê.

     

    2. ĐẶC TÍNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

                2.1. Các đặc tính

                2.1.1. Thị trường bất động sản là thị trường giao dịch các quyền lợi chứa trong BĐS đó chứ không phải bản thân đất đai và công trình. Thông thường thì các quyền lợi đó bị một số hạn chế, chẳng hạn như qui hoạch đô thị, điều lệ xây dựng v.v… tức là có tính tương đối chứ không phải tuyệt đối.

                2.1.2. Thị trường mang tính khu vực do đặc điểm cố định, không di chuyển được của bất động sản. Trong mỗi nước, mỗi đô thị, thậm chí mỗi khu vực trong đô thị, thị trường bất động sản có những điều kiện thị trường, quan hệ cung cầu và mức giá cả rất khác nhau.

                2.1.3. Cần đến dịch vụ của các loại tư vấn chuyên nghiệp trình độ cao bất động sản thường  có giá trị cao, số đông khách hàng muốn mua cho mình dùng, mà một đời người lại chẳng có mấy lần mua sắm như vậy (ở Mỹ, số liệu tổng kết cho biết là khoảng 3-4 lần), do đó khi mua sắm rất cẩn thận tính toán, cần hỏi ý kiến của các chuyên viên môi giới, chuyên viên định giá .v.v… Tuy giá cả do chuyên viên  ước tính vẫn ít nhiều mang tính chủ quan nhưng những người này đã qua đào tạo, có kinh nghiệm chuyên môn, nắm được tình hình mới nhất của thị trường, thu thập nhiều thông tin nên có thể giúp hoặc thay mặt người  mua để tiến hành đàm phán, thu xếp tài chính và bảo hiểm .v.v… để mua hoặc thuê bất động sản đáp ứng yêu cầu đề ra. Kinh nghiệm cho thấy nếu các tổ chức môi giới kém phát triển thì sự vận hành của thị trường bất động sản sẽ kém hiệu quả, chi phí giao dịch về bất động sản sẽ đắt lên.

    2.1.4. Dễ nẩy sinh tình trạng mất cân bằng cung cầu và tình trạng độc quyền trên thị trường. Muốn biết thị trường vận hành hiệu quả thì phải xét mức độ tự do cạnh tranh, tức là bên bán và bên mua có được tự do đi vào thị trường không, có đủ số lượng bên bán và bên mua không ? Vì thị trường bất động sản mang tính khu vực nên sự cạnh tranh là không hoàn toàn, mặt khác nếu thị trường vẫn không hoàn chỉnh thì việc phát triển những dự án bất động sản lớn gặp trở ngại, do đó dễ nẩy sinh tình trạng đầu cơ, bắt bí, đẩy giá lên cách xa giá trị thực hoặc tình trạng nhà để không, ít người mua hoặc thuê.

     

                2.2. Các chức năng

                Cơ chế giá cả phát huy tác dụng thông qua thị trường, làm cho thị trường bất động sản có các chức năng dưới đây:

                2.1.2. Phân phối tài nguyên và lợi ích của bất động sản. Vì tài nguyên đất đai có hạn, chu kỳ đầu tư phát triển bất động sản lại dài và thường chậm so với thay đổi yêu cầu của thị trường, do đó cần có sự điều tiết đối với sự phân phối và lợi ích của bất động sản thông qua cơ chế giá cả.

    2.2.2. Thể hiện sự thay đổi cầu đối với thị trường bất động sản. Sự biến động của cầu là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây gây ra:

    – Thay đổi dự báo lợi ích  thu được trong tương lai;

    – Ảnh hưởng chính sách thuế của Chính phủ;

    – Thay đổi mức thu nhập và thị hiếu người tiêu dùng.

    – Thay đổi khả năng cung cấp vốn và đất đai.

                2.2.3. Chỉ đạo việc cung ứng để thích ứng với thay đổi cầu. Có hai phương thức sau đây để thay đổi việc cung ứng:

    – Phát triển thêm nhiều bất động sản mới hoặc thay đổi cách sử dụng bất động sản hiện có, chẳng hạn chuyển nhà để bán thành nhà cho thuê hoặc ngược lại;

    – Thay đổi quan hệ giá cả giữa bán và cho thuê. Chẳng hạn giá bán nhà thường tương đương với 300-400 lần giá thuê tháng, nếu giá bán nhà tăng cao hơn nhiều thì nhu cầu thuê nhà cũng tăng lên; hoặc như giá thuê văn phòng tăng cao thì nhiều khách sạn và nhà ở cũng được cho thuê làm văn phòng .v.v…

    Cần chú ý rằng quá trình thay đổi cung đòi hỏi phải trải qua thời gian nhất định, trong thời gian ấy lại có thể xuất hiện nhân tố mới đòi hỏi phải tiếp tục điều chỉnh, do vậy tình trạng cân bằng cung cầu bất động sản rất khó thực hiện, và nếu đạt tới thì cũng trong giai đoạn ngắn ngủi thôi. Do vậy người ta thường nói “mất cân bằng là tuyệt đối còn cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời thôi”.

    2.2.4. Chỉ đạo cầu để thích ứng với thay đổi điều kiện cung. Chẳng hạn tại các đô thị lớn giá đất ngày càng cao nhưng giá thành xây dựng nhà cao ốc lại giảm xuống do ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong kỹ thuật xây dựng (kể cả vật liệu xây dựng), dẫn đến việc phát triển các nhà cao ốc với nhiều căn hộ có giá bán hoặc giá thuê phải chăng, mà giảm bớt việc xây dựng nhà ở nhiều tầng không có thang máy. Như vậy người tiêu dùng cũng phải dần dần thích ứng với tình hình thay đổi điều kiện cung mới mẻ này.

        3. QUAN HỆ CUNG CẦU TRONG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

    3.1. Cầu trong thị trường bất động sản     

                Trong thị trường bất động sản, khi có sự cân bằng giữa cung và cầu, ta có đường biểu diễn quan hệ giữa giá cả đơn vị bất động sản với số lượng cầu trong đơn vị thời gian như trong hình vẽ 1, ứng với giá đơn vị Po ta có số lượng cầu Qo. Khi gía cả tăng thì số lượng cầu lại biến đổi ngược lại, tức là giảm đi.

    Giá cả                 P

    đơn vị

    BĐS

     
       

    Po                                                  D1

    D

    O                     Qo                  Q1                           Q

    Số lượng cầu trong

    đơn vị thời gian

    Hình 1 : Ảnh hưởng của điều kiện giá cả đối với cầu

    Đường biểu diễn đó được hình thành với giả thiết là tất cả các nhân tố khác đều không thay đổi, trừ giá cả P và số lượng Q. Thế nhưng đối với nhiều loại bất động sản, như nhà ở chẳng hạn, số lượng cầu còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như :

    3.1.1.Sự thay đổi thu nhập: Nếu thu nhập tăng lên thì cùng một giá nhưng số lượng người mua tăng lên, từ  Q thành Q1 đường biểu diễn dịch về bên phải.

                3.1.2. Sự thay đổi giá cả hàng hoá có thể thay thế: Chẳng hạn nếu giá bán nhà tăng quá cao thì sẽ thay đổi quan hệ cung cầu đối nhà có gara cũng sẽ biến đổi.

    3.1.3. Sự thay đổi dự báo về tương lai: Chẳng hạn nhiều người mua dự báo rằng tương lai mình sẽ sắm ô tô thì mối quan hệ cung cầu  của nhà cho thuê.

                3.1.4. Sự thay đổi chính sách của Chính phủ: chẳng hạn về thuế, về nhà ở, về đất đai và quy hoạch cũng làm biến đổi quan hệ cung cầu với nhà ở.

    3.2. Cung trong thị trường bất động sản:  

    Khi giá cả tăng hoặc giảm thì số lượng cung cũng biến đổi theo chiều hướng tăng hoặc giảm (tỷ lệ thuận). Quan hệ giữa giá cả và số lượng bất động sản xây dựng mới được biểu thị trên hình 2 với điều kiện là các nhân tố khác không thay đổi.

    P

    Giá cả

    đơn vị

    BĐS

    S2                       So                     S1

     
       

    Po

    O                       Q2                   Qo                     Q1                 Q

                                                                                Số lượng BĐS xây mới để cung

     

    Hình 2: Quan hệ giữa giá cả và số lượng cung

    Cũng như đối với cầu, còn có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới cung như giá thành khai phát, công nghệ xây dựng, chính sách của Chính phủ, giá cả tương quan giữa các loại sản phẩm, dự báo tương lai .v.v… Sau đây sẽ trình bày ảnh hưởng của ba trong số các nhân tố đó:

    3.2.1. Giá thành khai phát bất động sản: Có ảnh hưởng trực tiếp đến mức lợi nhuận của nhà đầu tư, do đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư để tăng số lượng cung. Giá thành cao thấp còn phụ thuộc vào lãi suất cho vay của Ngân hàng tình hình lạm phát .v.v… chẳng hạn nếu lãi suất ngân hàng giảm đi và đường đồ thị chuyển dịch sang trái thành đường S1, tức là số cung sẽ tăng lên.

                2.3.2. Sự thay đổi chính sách của Chính phủ: Nếu Chính phủ tăng giá đất hoặc tăng thuế thì số lượng cung ứng giảm đi và đường đồ thị chuyển dịch sang trái thành đường S2.

                3.2.3. Sự thay đổi dự báo tương lai: Nếu người kinh doanh bất động sản dự báo rằng sắp tới giá nhà sẽ tăng lên, do đó họ sẽ găm lại một số bất động sản chưa bán vội, làm giảm lượng cung.

     

                3.3. Cân bằng cung cầu

    Khi vẽ đường cung và đường cầu (vốn là đường cong, nhưng vẽ thành đường thẳng để tiện thảo luận) trên cùng một đồ thị thì hai đường đó gặp nhau tại điểm E, gọi là điểm cân bằng cung cầu (với giả thiết là các nhân tố khác không thay đổi). Có hai loại cân bằng: cân bằng ổn định, tức là sau khi chệch ra khỏi điểm cân bằng như do các nhân tố khác tác động  lại có thể tái lập được điểm cân bằng mới, và cân bằng không ổn định khi không tái lập được điểm cân bằng mới.

    P                      Đường cầu                                                      S

    Đường cung

    Po                                                                        E

     
       

    P1                                                          E’

    Do

    D1

    O                              Qa             Q1                 Qo                                    Q

    Hình 3 : Cân bằng cung cầu

    Khi các nhân tố khác thay đổi thì đồ thị quan hệ cung cầu cũng chuyển dịch. Chẳng hạn khi lãi suất cho vay mua nhà tăng lên thì trong hình 3, đường cầu chuyển từ Do sang D1  và nếu giá cả vẫn là Po thì số lượng cầu giảm đi thành Qa. Như vậy nếu lượng cung vẫn là Qo thì sẽ lượng bất động sản tồn đọng là DQ=Qo – Qa. Trong trường hợp đó, nhà thầu đầu tư giảm giá bán còn P1 thì lượng nhà bán được sẽ tăng lên đến Q1 và đạt tới điểm cân bằng mới E’ giữa cung và cầu.

     

                3.4. Tính đàn hồi của cung và cầu

                Mối quan hệ giữa giá cả với cung và cầu (trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi) đối với mối loại hàng hoá không như nhau. Đối với mỗi loại hàng hoá này sự thay đổi giá cả sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến cầu của người tiêu dùng hoặc lượng cung nhưng với loại hàng hoá khác lại không như thế. Do đó để đo được độ nhạy bén của số lượng cung và cầu đối với sự thay đổi giá cả, người ta dùng khái niệm tính đàn hồi của giá cả.

                3.4.1. Tính đàn hồi của cầu : thể hiện trên hai mặt

    – Tính đàn hồi của giá cầu được biểu thị bằng hệ số PED (hệ số đàn hồi giá cầu)

    Tỷ lệ % sự thay đổi số lượng cầu

    Hệ số PED = ——————————————-

    Tỷ lệ % sự thay đổi của giá cầu

    Có thể thấy hệ số PED càng lớn có nghĩa là số lượng cầu nhạy cảm đối với sự thay đổi giá cả, tức là giá cả giảm một ít nhờ số lượng cầu tăng lên nhiều và ngược lại. Nếu hệ số PED<1 thì người ta nói rằng hàng hoá đó thiếu tính đàn hồi của cầu, hoặc cầu đối với loại hàng hoá đó là cầu phi đàn hồi và ngược lại PED>1 thì đó là cầu có đàn hồi, chẳng hạn khi giá máy tính giảm 10% mà số lượng cung lại tăng lên 30% thì hệ số PED=3. Nghiên cứu của một số nước cho thấy đối với nhà ở thì hệ số PED trong khoảng 0,5 ¸1 tức là giá cả không phải là nhân tố chủ yếu tác động đến cầu.

    – Tính đàn hồi của thu nhập của bên cầu được biểu thị bằng hệ số YED (hệ số đàn hồi thu nhập bên cầu):

    Tỷ lệ % sự thay đổi số lượng cầu

    Hệ số YED = ——————————————-

    Tỷ lệ % sự thay đổi thu nhập

    Hệ số YED biểu thị  sự nhạy cảm của số lượng cầu khi có sự thay đổi thu nhập của người mua. Kinh nghiệm cho thấy đối với nhà ở thì YED ở trong khoảng 0,75 ¸1,25 và sự thay đổi số lượng cầu thường trễ hơn sự thay đổi của thu nhập (thu nhập tăng thì số lượng cầu cũng tăng nhưng trễ hơn).

                3.4.2. Tính đàn hồi của cung:  Được định nghĩa tương tự như tính đàn hồi của cầu và được biểu thị bằng hệ số PES (hệ số đàn hồi của cung):

    Tỷ lệ % sự thay đổi số lượng cung

    Hệ số PES = ——————————————-

    Tỷ lệ % sự thay đổi của giá cung

    Nếu PES <1 thì người ta nói hàng hoá đó thiếu tính đàn hồi của cung và ngược lại khi PES>1. Nhân tố thời gian có ảnh hưởng lớn tới tính đàn hồi của cung, tức là khi giá cả thay đổi thì trong thời gian ngắn số lượng cung khó mà thay đổi kịp. Sau một thời gian khá dài thì ảnh hưởng của thay đổi giá cả mới tác động rõ rệt lên số lượng cung. Chẳng hạn giá cho thuê hoặc bán nhà văn phòng tăng cao thì phải 1-3 năm sau mới có thêm nhiều nhà văn phòng được xây dựng mới hoặc cải tạo từ các loại nhà khác đưa ra cung ứng. Vì vậy trong kinh doanh bất động sản do sự chậm trễ này mà khi đề cập đến tính đàn hồi của cung người ta còn chia ra thành tính đàn hồi ngắn hạn và tính đàn hồi dài hạn. Trong hình 4 là một ví dụ về ảnh hưởng của nhân tố thời gian đối với tính đàn hồi của cung.

    Trong điều kiện thị trường nhất định, ứng với giá Pe ta có số lượng cung Qe. Nếu giá tăng lên thành P1 nhưng trong thời gian ngắn, số lượng cung vẫn không đổi, tức là Q1=Qe, và đường cung S1 trở thành thẳng đứng vuông góc với trục hoành Q. Sau một thời gian, số lượng cung tăng thành Q2 và đường S quay một góc trở thành S2. Với đường S1 thì cung hoàn toàn không có tính đàn hồi, còn với đường S2 và S3 thì tính đàn hồi của cung tăng lên.

    Giá cả    P                     S1                  S2                 S3

     
       

    P1

    Pe

     
       

    O             Q1/Qe         Q2             Q3              Số lượng cung    Q

    Hình 4. Tính đàn hồi của giá cung ngắn hạn và dài hạn

    Trong trường hợp cực đoan, khi đường cung trở thành hoàn toàn nằm ngang thì tính đàn hồi của cung trở nên vô hạn.

                3.5. Sự vận hành thị trường bất động sản

               Trong thị trường thì quan hệ cung cầu ảnh hưởng rất lớn đến giá cả. Thế nhưng trong thị trường bất động sản, ngoài bất động sản để mua bán còn có bất động sản để cho thuê. Vì vậy ngoài giá cả còn phải xem xét giá thuê vì cả hai loại giá này đều có ảnh hưởng quyết định đến số lượng cầu. Tỷ số giữa giá thuê tháng R trên giá cả P được gọi là tỷ suất tư bản hoá: i=R/P, tỷ suất này càng cao thì thu hồi vốn càng nhanh.

    Vì sao người tiêu dùng muốn thuê nhà? Đó là vì ngoài nhu cầu về nhà ở, người tiêu dùng còn có nhiều nhu cầu khác về ăn mặc, đi lại giải trí, nuôi con cái .v.v… Vì vậy phải xuất phát từ thu nhập của mình và cân nhắc cụ thể các khoản chi tiêu để quyết định việc mua hay thuê nhà. Như vậy giá thuê nhà là do thị trường sử dụng bất động sản quyết định chứ không phải do thị trường đầu tư bất động sản chi phối.

    Thị trường đầu tư bất động sản quyết định số lượng cung cho thị trường sử dụng bất động sản, còn cầu đối với bất động sản lại do giá tiền thuê và một số nhân tố kinh tế như trình độ sản xuất, mức thu nhập, số lượng các hộ gia đình .v.v… quyết định. Vì vậy tác dụng của thị trường sử dụng bất động sản là xác lập được mức giá thuê, với mức đó thì số lượng cầu cân bằng được với số lượng cung.

    Để tiện phân tích sự vận hành của thị trường BĐS, người ta thường dùng mô hình bốn hệ toạ độ như trong hình 5:

    Thị trường đầu tư        giá thuê     R                        Thị trường sử dụng

    định giá P=R/i                 tháng                               xác định giá thuê

    D=f(R, tình hình kinh tế)=S

     
       

    II        I

    P                                                                                            S

    Giá cả                                                              Lượng m2 đang tồn

    III      IV

    Thị trường đầu tư                                                                    Thị trường sử dụng

    Xây dựng mới                                                                                     điều chỉnh lượng tồn

    Lượng m2                                            S = C/d

    mới xây dựng                                   (DS=C-dS)

    P=f(c)                                              C

    Hình 5 : Thị trường sử dụng và thị trường đầu tư BĐS

    Hệ toạ độ I dùng để biểu thị mối quan hệ giữa giá thuê và lượng cầu, nếu giá thuê tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại. Nếu có sự thay đổi nhân tố kinh tế – xã hội nào đó thì đường cầu D có thể dịch chuyển, chẳng hạn nếu kinh tế tăng trưởng thì nó dịch chuyển song song về phía trên, tức là lượng cầu tăng lên khi giá thuê vẫn như trước hoặc giá thuê tăng lên khi lượng cầu không đổi. Như vậy đường cầu D biểu diễn hàm số của giá thuê R và tình  hình kinh tế. Khi lượng cầu bằng với số lượng cung thì đạt được cân bằng:

    D (R, tình hình kinh tế) = S

    Hệ toạ độ II (thuộc về thị trường đầu tư) dùng để biểu thị mối quan hệ giữa giá thuê R và giá cả P. Tỷ số giữa hai giá đó là tỷ suất tư bản hoá: i = R/P như đã nói ở trên và i chính là toạ độ dốc của đường biểu diễn.  Tỷ suất i cũng là tỷ suất thu lợi của người kinh doanh nhà cho thuê. Khi xác định i, người kinh doanh cần xét đến 4 mặt sau đây:

    (1)  Lãi suất dài hạn trong hoạt động kinh tế;

    (2) Dự báo lãi suất tăng giá thuê;

    (3) Các rủi ro đối với thu nhập từ giá thuê;

    (4) Chính sách thuế đối với bất động sản.

    Khi đã xác định i thì có thể xác định được giá cả P hoặc giá thuê R nếu biết được một trong hai giá đó.

    Hệ toạ độ III (cũng thuộc thị trường đầu tư) dùng để biểu thị mối quan hệ giữa giá thành f(c) và lượng xây dựng mới C. Tại hình 5, giả thiết là khi C tăng thì giá thành tăng, tức là đường biểu diễn hướng về phía dưới bên trái. Nếu gặp tình huống giá thành không phụ thuộc vào các yếu tố khác thì nó trở thành đường thẳng đứng hướng xuống dưới, hoặc gặp trường hợp đất đai cung ứng phi đàn hồi thì nó lại nằm ngang song song với trục hoành. Khi giá cả và giá thành bằng nhau thì có thể xác định được lượng xây mới trong dạng cân bằng, nếu lượng xây mới  ít hơn lượng cân bằng thì người kinh doanh có thể thu được lợi nhuận siêu ngạch, còn nếu nhiều hơn thì không thu được lời lãi gì. Vì vậy lượng nhà xây mới nên duy trì ở dạng cân bằng, tức là khi giá cả bằng giá thành, tức là: P = f(c).

    Hệ toạ độ IV (thuộc về thị trường sử dụng) dùng để biểu thị mối quan hệ giữa lượng nhà đang tồn và nhà mới xây (tức là lượng tăng thêm). Trong một  năm, lượng nhà đang tồn S tăng thêm nhờ có lượng nhà mới xây trong năm C, đồng thời cũng giảm đi lượng dS, trong đó d là tỷ suất nhà bị thải loại do quá cũ và hư hỏng. Như vậy lượng nhà đang tồn được tăng thêm một lượng là DS=C-dS.

    Dùng hình 5 ta có thể phân tích các ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô đối với thị trường bất động sản,  như sự thăng trầm của kinh tế, lãi suất dài hạn, tín dụng ngắn hạn .v.v…

    1. a) Ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đối với yêu cầu sử dụng bất động sản

    Khi kinh tế tăng trưởng thì đường biểu diễn cầu D trong hệ toạ độ I dịch song song lên phía trên (hình 6) do sản xuất phát triển, thu nhập gia đình tăng lên .v.v… Nếu lượng cung S không kịp tăng lên thì giá thuê sẽ tăng, do đó qua hệ toạ độ II mà kéo giá cả P cũng tăng theo, rồi qua hệ toạ độ III mà làm tăng lượng nhà xây mới C, cuối cùng chuyển  đến hệ toạ độ IV làm tăng lượng nhà đang tồn S.

    Thị trường đầu tư          Giá thuê    R           Thị trường sử dụng

    định giá                      tháng                                    xác định giá thuê

           
         
       
     

    II       I

    P                                                                                              S

    Giá cả                                                                          Lượng nhà tồn

    III      IV

    Thị trường đầu tư                                                                          Thị trường sử dụng

    Xây dựng mới                                                                                          điều chỉnh lượng tồn

    Lượng nhà

    mới xây dựng      C

    Hình 6 : Sự tăng cầu sử dụng bất động sản

    1. Ảnh hưởng của lãi suất dài hạn đối với yêu cầu sử dụng bất động sản

    Khi cần điều tiết vĩ mô thị trường bất động sản thì Chính phủ có thể dùng công cụ lãi suất tiền vay. Chẳng hạn khi muốn kích thích nhân dân mua nhà trả góp, Chính phủ (hoặc ngân hàng) hạ lãi suất cho vay dài hạn, như vậy số người  muốn vay tiền mua nhà sẽ tăng lên, còn người thuê sẽ giảm đi, do đó theo quy luật cung cầu, giá cả nhà tăng lên còn giá thuê hạ xuống, tức là tỷ suất tư bản hoá i giảm xuống, đường biểu diễn trong hệ toạ độ II sẽ quay về phía dưới một góc (hình 7), ảnh hưởng đến các hệ toạ độ còn lại cuối cùng hình thành sự cân bằng mới, trong đó lượng nhà mới xây tăng và làm cho lượng nhà tồn cũng tăng tương ứng. Hiển nhiên sự cân bằng này phải sau một thời gian mới có thể hình thành do hiện tượng thời trễ (do tính khu vực của thị trường bất động sản , khi thiếu thì không thể đem bất động sản từ nơi khác đến để bán  hoặc cho thuê). Tình hình vận hành của thị trường bất động sản cũng diễn ra tương tự khi các rủi ro  trên thị trường giảm đi hoặc thuế đánh vào bất động sản hạ xuống.

    Nếu do lãi suất dài hạn tăng dẫn đến yêu cầu mua nhà giảm đi, tình hình diễn ra ngược lại, nhà mới xây và lượng nhà tồn bị giảm; giá thuê tăng .v.v… tiến đến sự cân bằng mới.

    Thị trường đầu tư                Giá thuê     R   Thị trường sử dụng

    định giá                                               xác định giá thuê

    II        I

    P                                                                                                   S

    Giá cả                                                                                      Lượng nhà tồn

    Thị trường đầu tư                              III    IV                                     Thị trường sử dụng

    xây dựng mới                                                                            điều chỉnh lượng tồn

     
       

    Lượng nhà

    mới xây dựng

    C

    Hình 7 : Sự thay đổi nhu cầu đầu tư

    1. Ảnh hưởng của tín dụng ngắn hạn đối với lượng nhà mới xây

    Tín dụng ngắn hạn có ảnh hưởng đến  quyết định đầu tư. Chẳng hạn khi lãi tín dụng ngắn hạn tăng lên thì giá thành xây nhà tăng lên, đường biểu diễn trong hệ toạ độ III dịch song song về bên trái (Hình 8), lượng nhà mới xây và lượng nhà tồn giảm đi, số người mua nhà giảm đi và số người muốn thuê nhà tăng lên, làm tăng giá thuê nhà .v.v… rồi hình thành sự cân bằng mới.

    Thị trường đầu tư          giá thuê     R                      Thị trường sử dụng

    định giá                                                                       xác định giá thuê

    II        I

    P                                                                                              S

    giá cả                                                                                       Lượng nhà tồn

    III      IV

    Thị trường đầu tư                                                                           Thị trường sử dụng

    xây dựng mới                                                                                  điều chỉnh lượng tồn

    Lượng nhà  mới

    xây dựng

    C

    Hình 8 : Thay đổi giá thành xây dựng mới

    Tình hình tương tự như vậy, cũng xẩy ra khi độ rủi ro tăng lên, chẳng hạn do quy hoạch đô thị, giá đền bù, giá đất đai tăng lên làm giá thành xây dựng tăng lên .v.v..

    Cần chú ý là bốn hệ toạ độ giúp xem xét sự biến động của thị trường đầu tư và thị trường bất động sản khi có sự biến đổi của chỉ một nhân tố ảnh hưởng. Trong thực tế, nhiều khi có đến hai hoặc ba nhân tố cùng ảnh hưởng một lúc, không thể phân tích bằng mô hình bốn hệ tọa độ mà phải dùng phương pháp khác như mô hình phân tích động lực học hệ thống. Tuy vậy bốn hệ toạ độ giúp ta nhận thức rõ về quan hệ qua lại giữa thị trường sử dụng (xác định giá thuê) với thị trường đầu tư (giá cả và xây dựng mới), nói cách khác là quan hệ cung cầu trong thị trường bất động sản.

                1.2.1. Người có đất (Nhà nước) và người có quyền sử dụng đất

                1.2.2. Người kinh doanh bất động sản (Còn gọi là người khai thác hoặc phát triển – Doveloper): Là người thông qua quá trình khai phát bất động sản để tìm kiếm lợi nhuận. Tuỳ theo đặc điểm, thực lực và kinh nghiệm của mình mà mỗi người kinh doanh bất động sản có thể có những cách kinh doanh rất khác nhau. Có người thì sử dụng các tổ chức tư vấn ngay từ khâu mua đất, lập dự án, thiết kế cho đến giai đoạn tiêu thụ, nhưng cũng có người thì tự mình tổ chức lực lượng làm tất cả các khâu quản lý vận hành.

                1.2.3. Chính phủ và các cơ cấu của chính phủ: Trong quá trình vận hành của bất động sản có quyền lực định ra các quy tắc, lại có chức năng quản lý giám sát, ngoài ra còn có thể cung cấp một số dịch vụ nào đó. Trong mọi khâu của quá trình kinh doanh, kể từ khi bắt đầu tìm mua quyền sử dụng đất thì nhà kinh doanh bất động sản đã phải giao thiệp với các ngành của Chính phủ như địa chính, quy hoạch đô thị, quản lý xây dựng, quản lý bất động sản, công trình thị chính để có được giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận quyền sử dụng kết cấu hạ tầng đô thị sẵn có giấy phép bán nhà hoặc cho thuê nhà, giấy đăng ký chứng nhận quyền sở hữu bất động sản .v.v…

                Nhà kinh doanh bất động sản khá mẫn cảm với các hành vi của Chính phủ. Ngành xây dựng và ngành bất động sản thường được Chính phủ xem như công cụ để điều tiết nền kinh tế, hai ngành này lại đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách của Trung ương và Địa phương. Sự tham gia của Chính phủ chủ yếu thể hiện trên hai mặt: thông qua công cụ kế hoạch và các đòn bẩy để điều tiết vĩ mô tổng lượng của thị trường bất động sản, mặt khác thông qua cơ chế thị trường để điều tiết quan hệ cung cầu và giá cả.

                1.2.4. Các cơ cấu tiền tệ: kinh doanh bất động sản cần nguồn vốn lớn phải dựa vào các cơ cấu tiền tệ. Tiền vốn trong quá trình đầu tư bất động sản gồm hai loại  vốn ngắn hạn dùng để khai phát xây dựng, gọi tắt là “vốn khai phát” và vốn dài hạn để giúp người tiêu dùng mua phải trả góp trên cơ sở thế chấp  bất động sản mà mình mua (vì vậy còn gọi là “vốn cho vay có thế chấp”).

                Khi ngân hàng cho vay trong lĩnh vực bất động sản thì thường có bất động sản để thế chấp nên rủi ro tương đối tháp, vì vậy các ngân hàng thường cạnh tranh nhau kịch liệt để cho vay, (chẳng hạn nhiều ngân hàng Hồng Kông còn khuyến mại bằng cách biếu không phí bảo hiểm cháy nhà hoặc phí bảo hiểm tài sản của gia đình khi co vay mua nhà, hay một số ngân hàng lập ra trung tâm địa ốc và cung cấp miễn phí dịch vụ mua bán nhà miễn là thanh toán qua Ngân hàng đó).

                1.2.5. Nhà thầu xây dựng:  Người kinh doanh bất động sản cần đến nhà thầu xây dựng để thi công xây dựng công trình. Còn nhà thầu xây dựng nhiều khi  cũng mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực bất động sản. Nhưng nên nhớ rằng khi nhận thầu thì lợi nhuận chỉ liên quan đến giá thành  và thời hạn xây dựng nên độ rủi ro tương đối thấp, còn khi kinh doanh bất động sản thì tuy có thể chờ đợi lợi nhuận cao hơn nhưng độ rủi ro cũng lớn hơn  nhiều, lại đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên nghiệp khác. Động cơ để nhà thầu kiêm kinh doanh bất động sản là muốn tìm công việc xây dựng cho đội ngũ công nhân viên đông đảo của mình, cho nên nhiều khi chấp nhận lợi nhuận ít trong điều kiện rủi ro nhiều. Nếu gặp khó khăn trong kinh doanh bất động sản thì hoạt động chủ yếu của nhà thầu (là nhận thầu xây dựng) cũng khó khăn theo vì các chủ đầu tư không muốn giao việc cho nhà thầu đang điêu đứng về tài chính hoặc trên bờ vực phá sản.

                1.2.6 Chuyên gia tư vấn các loại:  Vì quá trình khai phát, giao dịch và quản lý bất động sản tương đối phức tạp nên phần lớn cả bên bán lẫn bên mua đều lúc này, lúc khác cần đến dịch vụ  của các loại chuyên gia tư vấn như : Kiến trúc sư; kỹ sư thiết kế thi công, lắp đặt; kế toán lo việc hạch toán kinh tế, tài vụ, nộp thuế; chuyên viên kinh tế và giá cả để ước giá trong quá trình giao dịch, xác định mức giá mua bán nhà hoặc thuê nhà và chuyên viên môi giới để giúp hai bên mua bán gặp nhau, giao dịch, giúp làm hợp đồng mua bán hoặc thuê (nhiều khi các loại chuyên viên này còn được mời tham gia lập và thực hiện sách lược bán và cho thuê, xác định phương pháp và đối tượng để bán và cho thuê, dự báo giá cả); luật sư để trợ giúp các vấn đề liên quan đến luật pháp.

                1.2.7 Người tiêu dùng gồm có hai loại:  mua cho mình dùng và mua đề đầu tư kinh doanh. Khi cân nhắc giá cả thì đối với loại thứ nhất, vấn đề quan trọng là sức mua, khả năng mua, còn đối với loại thứ hai quan trọng nhất là có thể kiếm lãi bao nhiêu.

               

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Tổng quan về bất động sản

    Tổng quan về bất động sản

    Tổng quan về bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về bất động sản

    Chuyên đề 1

    Tổng quan về dịch vụ môi giới bất động sản

    A. Giới thiệu về dịch vụ môi giới bất động sản

    Môi giới BĐS là làm trung gian trong giao dịch mua bán bất động sản

    Hoạt động môi giới phải công khai trung thực và tuân thủ pháp luật

    1. Nội dung môi giới bất động sản bao gồm:

    1. Tìm kiếm đối tác đáp ứng các điều kiện của khách hàng để tham gia đàm phán, ký hợp đồng.
    1. Đại diện theo uỷ quyền để thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản.
    1. Cung cấp thông tin, hỗ trợ cho các bên trong việc đàm phán, ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.

    2. Nhà môi giới bất động sản:

    • Nhà môi giới thuộc nhóm cung cấp dịch vụ bất động sản (nhóm giúp chủ đầu tư có thể chuyển các ý tưởng của họ thành hiện thực công trình có giá trị kinh tế cao hơn từ bất động sản)
    • Nhà môi giới bất động sản: chịu trách nhiệm cho thuê hoặc bán các loại bất động sản cho khách hàng, họ chủ yếu tham gia vào các dự án lớn và là người phân cân đối các nhu cầu khách hàng với các phương án tài chính của chủ đầu tư. Các nhà môi giới bất động sản đóng vai trò chủ chốt trong kế hoạch tiếp thị, họ gợi ý các viễn cảnh, trình bày các đặc điểm của sản phẩm, các chức năng và lợi nhuận, thương thảo hợp đồng, đồng thời cung cấp các thông tin phản hồi về cho các nhà đầu tư để kịp thời điều chỉnh dự án.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 1

    B. Vai trò của môi giới bất động sản trong thị trường bất động sản

    Trước khi có Luật kinh doanh bất động sản thì vai trò của “cò” nhà đất không được thừa nhận trong xã hội. Khi nói đến cò nhà đất là người dân thường đắn đo, tâm lí sợ bị lừa đảo. Chính vì vậy họ không muốn khi tham gia giao dịch bất động sản trên thị trường lại phải thông qua “cò” nhà đất. Tuy nhiên cũng có những giao dịch thành công khi có sự tham gia của cò với vai trò trung gian. Chính tâm lí lo sợ và vai trò của nhà môi giới không được xã hội thừa nhận, điều này hạn chế các giao dịch trên thị truờng, làm giảm số lượng các cuộc giao dịch, dẫn tới kìm hãm sự phát triển của thị truờng bất động sản. Rõ ràng môi giới bất động sản có những mặt tích cực và tiêu cực, chính những người tham gia nhiều khi biến cho thị trường này méo mó, nhưng không thể phủ nhận vai trò của những nhà môi giới họ chính là chất xúc tác đưa các giao dịch tới thành công, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản. Vai trò của dịch vụ này thể hiện qua các mặt sau:

    1.     Cung cấp thông tin cho các chủ thể tham gia vào hoạt động giao dịch hàng hoá bất động sản:

    Do tính đặc thù về của hàng hoá bất động sản và thị trường bất động sản. Nó là một thị trường không hoàn hảo, thông tin về thị trường, về hàng hoá không thật đầy đủ và không được phổ biến rộng rãi như các hàng hoá khác và tiêu chí tham gia đánh giá bất động sản cũng không chính xác như các hàng hoá khác. Chính vì vậy hệ thống thông tin đóng một vai trò quan trọng đối với sự vận hành của thị trường bất động sản, đó là toàn bộ các thông tin liên quan đến bất động sản, bao gồm các thông tin về: luật pháp, chính sách đất đai, quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, vị trí của bất động sản, môi trường, nhu cầu, mức cung tâm lý tập quán… bất động sản là một hàng hoá đặc biệt, khan hiếm, chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố và là bộ phận tài sản quan trọng của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội và của các hộ gia đình và cá nhân. Khi trên thị trường thông tin về các giao dịch đầy đủ,

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 2

    đồng bộ sẽ đưa thị trường bất động sản vận hành thuận tiện hơn, người mua và người bán đều hiểu biết về những thông tin đó, họ sẽ dễ dàng quyết định lựa chọn thị trường tham gia giao dịch. Đồng thời ta biết rằng thị trường bất động sản nước ta mới sơ khai hình thành các giao dịch công khai trên thị trường ít chủ yếu là giao dịch ngầm, và số lượng người tham gia giao dịch trên thị trường là số lượng nhỏ không đủ để trở thành cạnh tranh hoàn hảo. Từ đó dẫn tới giá cả cạnh tranh cũng là không hoàn hảo và người bán có nhiều lợi thế hơn trong việc quyết định. Như thế rõ ràng giá cả ở đây không phản ánh đúng mối quan hệ cung cầu. Hệ thống thông tin không hoàn hảo thiếu chính xác sẽ dẫn đến biến động mạnh, thị trường lên cơn sốt giá hoặc là sụp đổ, người tham gia giao dịch nhiều khi phải chấp nhận những giá quá cao, có nhu cầu mua nhưng lại không có khả năng thanh toán.. Các tổ chức môi giới là một trong các chủ thể cung cấp thông tin quan trọng trên thị trường bất động sản. Hệ thống các tổ chức nay càng phát triển, hoạt động càng chuyên nghiệp thì mức độ hoàn hảo của thông tin bất động sản ngày càng cao, hạn chế được rất nhiều rủi ro cho các đối tượng tham gia trên thị trường bất động sản

    2. Thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển

    Do thị trường bất động sản người mua và người bán không có cơ hội và đầy đủ lượng thông tin cần thiết để lựa chọn thị trường phù hợp với mình. Thị trường bên cạnh sự hoạt động chính thức dưới sự quản lí của nhà nước là thị trường hoạt động không chính thức ngoài sự kiểm soát của nhà nước. Thị trường phát triển một cách tự phát, tình trạng đầu cơ vào đất thì nhiều, từ đó dẫn tới giá quá cao khiến tất cả mọi người không thể biết được giá đó là “ thực” hay là giá “ảo”. Vì thế khi mà thị trường “lạnh” số lượng các giao dịch bất động sản ít sẽ dẫn đến nhiều nhà đầu cơ đứng trước bờ phá sản. Đồng thời do không nắm bắt được thông tin nên việc định giá cũng thiếu chính xác xảy ra tình trạng đầu cơ tràn lan nhưng không phải ai cũng có lợi nhuận. Điều này kìm hãm sự phát triển của thị trường. Rõ ràng thị trường cần

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 3

    phải có tư vấn ở trình độ cao, một trong các loại tư vấn đó là dịch vụ môi giới bất động sản. Thông qua các tổ chức môi giới – những người đã qua đào tạo có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn nắm được thông tin thị truờng, am hiểu pháp luật về bất động sản, giúp các đối tượng có nhu cầu giao dịch bất động sản thoả mãn điều kiện của mình, giúp cho họ tính toán kĩ lưỡng trong việc mua bán để quyết định phù hợp nhất. Đồng thời thông qua tổ chức môi giới, việc cung cấp thông tin sẽ được hoàn hảo hơn, việc đầu cơ hay đầu tư bất động sản của các cá nhân tổ chức sẽ có căn cứ xác thực hơn, giá cả bất động sản trên thị trường sẽ phản ánh đúng mối quan hệ cung cầu, đưa các giao dịch vào hoạt động công khai minh bạch, hạn chề tình trạng đầu cơ đất tràn lan, ép giá. Vì vậy, hoạt động của tổ chức môi giới có vai trò khá quan trọng, góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển

    3. Khai thác nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

    Thị trường bất động sản ngày càng một phát triển thì nhu cầu giao dịch sẽ ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Nhưng do đặc tính về bất động sản là thông tin thương không hoàn hảo, giao dịch chủ yếu là giao dịch ngầm nhà nước không thể kiểm soát được các giao dịch đó, nên việc thu thuế đối với những người có thu nhập cao khi tham gia giao dịch trên thị trường nhà nước không thể thực hiện được. Theo thống kê có trên 70% các giao dịch bất động sản được thực hiện thông qua các tổ chức môi giới không đăng kí kinh doanh, gây thất thu lớn cho ngân sách của nhà nước. Mà thuế là nguồn thu chính của nhà nước để trang trải cho mọi hoạt động, chi phí của cả nước. Vì vậy khi các tổ chức, cá nhân môi giới này được công nhận cho phép hành nghề và có đăng ký kinh doanh sẽ giúp cho họ hoạt động có hiệu quả hơn đồng thời thông qua các giao dịch đó nhà nước tăng thu nhập về thuế.

    4. Góp phần ổn định trật tự , an ninh xã hội

    Bất động sản là tài sản quan trọng đối với mỗi quốc gia, cộng đồng và người dân. Nó là tài sản có giá trị lớn, chính vì vậy bất kì một quan hệ giao dịch bất động

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 4

    sản nào trên thị trường cũng có tác động mạnh đến các hoạt động kinh tế xã hội khác nhau. Mà thị trường bất động sản phụ thuộc và chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tập quán của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi cộng đồng khác nhau. Thông tin và các yếu tố cấu thành thị trường thường không hoàn hảo. Nguyên nhân là do bản thân hiện vật của của từng bất động sản chỉ phản ánh được tình trạng vật chất mà không phản ánh dược tình trạng pháp lý về quyền sở hữu ( quyền sử dụng) của bất động sản. Đó là những thông tin, yếu tố mà người mua, thuê, nhận thế chấp, nhận góp vốn … cần nắm bắt, am hiểu. Thế nhưng hầu hết người mua, thuê nhận thế chấp… lại không am hiểu hoặc không có đủ điều kiện để tìm hiểu kĩ các thông tin về bất động sản. Một khi thị trường hoạt động không lành mạnh, giá cả lên xuống thất thường, sẽ tác động trực tiếp đến xã hội, xáo trộn tư tưởng, người dân hoài nghi về chính sách pháp luật làm cho xã hội thiếu ổn định .

    Thông qua các tổ chức môi giới chuyên nghịêp, các chủ thể tham gia giao dịch bất động sản sẽ được cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về bất động sản, hạn chế tiêu cực phát sinh, góp phần ổn định trật tự, an ninh xã hội.

    5. Góp phần thúc đẩy đổi mới chính sách quản lý bất động sản.

    Một thị trường phát triển vững mạnh khi nó có một hành lang pháp lý hoàn thiện. Là căn cứ quan trọng cho Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô và kiểm soát các hoạt động của thị trường, đồng thời giúp cho mọi đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản tuân thủ đúng pháp luật. Mỗi một bất động sản thì bản thân nó cũng chứa đựng các thông tin về pháp lý, đặc tính… Chính vì vậy thông qua các giao dịch trên thị truờng bất động sản những điều kiện không phù hợp thực tế trong chính sách quản lí đất đai của nhà nước sẽ được bộc lộ. Đó là một trong các cơ sở để Nhà nước đổi mới, bổ sung, hoàn thiện công tác quản lí đất đai quản lí bất động sản: thiết lập hệ thống, quy trình đăng kí đất đai, đăng kí tài sản, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… nhằm tạo điều kiện cho các quan hệ đất

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 5

    đai được thực hiện phù hợp với các quan hệ kinh tế- xã hội, từ đó mở rộng và phát triển thị trường bất động sản, khắc phục tình trạng giao dịch ngầm, tình trạng hành chính hoá các quan hệ dân sự về đất đai. Nhu cầu giao dịch bất động sản ngày càng phong phú và đa dạng của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- chính trị – xã hội và của các tầng lớp dân cư có thể đáp ứng được các giao dịch trên thị trường bất động sản, thông qua các tổ chức trung gian môi giới về bất động sản. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức môi giới là tất yếu khách quan. Dịch vụ môi giới cũng là một nghề cần được công khai hoá coi ngành này như bao ngành nghề khác và tạo khuôn khổ pháp lý cho dịch vụ môi giới phát triển đúng hướng.

    C. Nguyên tắc hoạt động môi giới bất động sản

    Theo quy định tại Điều 44 Luật Kinh doanh bất động sản thì nguyên tắc hoạt động môi giới bất động sản bao gồm 3 nguyên tắc sau đây:

    1. Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện quy định sau thì được kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, làm trung gian trong việc đàm phán, ký hợp đồng kinh doanh bất động sản và hưởng thù lao, hoa hồng theo hợp đồng môi giới bất động sản:
    • Đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản;

     

    • Cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và có chứng chỉ môi giới bất động sản.
    1. Hoạt động môi giới bất động sản phải công khai, trung thực và tuân thủ pháp luật.
    1. Tổ chức, cá nhân môi giới bất động sản không được đồng thời vừa là nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong một giao dịch kinh doanh bất động sản.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 6

    D. Điều kiện kinh doanh dịch vụ môi giới và yêu cầu chuyên môn của nhà môi giới bất động sản

    1. Với tổ chức kinh doanh dịch vụ môi giới, định giá bất động sản:

    1. Về điều kiện pháp lý:

    a1- Tổ chức khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, đăng ký kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản theo quy định của pháp luật;

    a2- Trường hợp tổ chức kinh doanh dịch vụ bất động sản đã có tư cách pháp nhân khi bổ sung đăng ký kinh doanh hoạt động dịch vụ môi giới thì chỉ cần đảm bảo điều kiện quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này.

    1. Về nhân sự:

    b1- Tổ chức khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất 01 người có chứng chỉ môi giới bất động sản;

    Trường hợp tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất 02 người có chứng chỉ môi giới bất động sản.

    b2- Người quản trị, điều hành của bộ phận hoặc công ty trực thuộc thực hiện môi giới bất động sản (Trưởng, phó Phòng, hoặc Trưởng, phó Ban, hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc) có trình độ chuyên môn về kinh tế, tài chính, ngân hàng phù hợp với hoạt động môi giới bất động sản, có kiến thức và kinh nghiệm về kinh doanh trên thị trường bất động sản;

    1. Về trụ sở hoạt động:

    C1- Có địa chỉ giao dịch ổn định.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 7

    C2- Có cơ sở vật chất, hệ thống kỹ thuật tin học và phương tiện thông tin liên lạc (điện thoại, thiết bị ghi âm, máy vi tính và các thiết bị khác) đáp ứng yêu cầu của hoạt động môi giới bất động sản.

    2. Với cá nhân hoạt động môi giới bất động sản:

    Trường hợp là cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập: thì phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, lập Văn phòng môi giới bất động sản và phải có chứng chỉ môi giới bất động sản.

    1. Yêu cầu chuyên môn của nhà môi giới bất động sản:

    – Yêu cầu chung:

    • Không phải là cán bộ, công chức nhà nước.
    • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không bị cấm hành nghề theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; không đang trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù;
    • Trình độ học vấn tối thiểu từ tốt nghiệp PTTH trở lên.
    • Phải có chứng nhận đã hoàn thành khoá học về môi giới BĐS do tổ chức đào tạo theo chương trình khung của Bộ Xây dựng ban hành .
    • Có chứng chỉ môi giới bất động sản do cơ quan có thẩm quyền công nhận

    và cấp.

    – Yêu cầu cụ thể:

    • Nắm chắc pháp luật kinh doanh bất động sản, môi giới bất động sản.
    • Hiểu biết cơ bản về thị trường bất động sản và các vấn đề liên quan đến hoạt động môi giới trên thị trường bất động sản.
    • Nắm rõ nội dung trình tự quy trình của dịch vụ môi giới bất động sản.
    • Có kiến thức cơ bản về tiếp thị kinh doanh bất động sản.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 8
    • Tuân thủ nghiêm túc trách nhiệm và đạo đức hành nghề môi giới bất động sản phù hợp với đạo đức xã hội nói chung và đạo đức kinh doanh nói riêng.
    • Ngoài ra còn có một số yêu cầu sau đối với nhà môi giới bất động sản chuyên nghiệp:

     

    • Để trở thành nhà Môi giới chuyên nghiệp đầu tiên phải có khả năng chịu đựng: sự ức chế, bức xúc… những việc này luôn luôn xảy ra khi tiếp xúc khách hàng -> phải biết chịu đựng, nhẫn nại. -> phải tìm được lối thoát khi xảy ra các tình trạng trên.
    • Phải biết cách đối xử, ứng xử với nhiều loại người khác nhau.
    • Phải rèn luyện tính kiên nhẫn, phải hoà đồng, đọc chính xác những tín hiệu của khách hàng, phải học cách chai lỳ trước những cái dễ làm tổn thương, phải học cách nhanh chóng đứng lên sau thất bại.
    • Phải có kỹ năng tạo bầu không khí thân thiện.
    • Liên tục rèn luyện thực hành tinh thần, khả năng nắm bắt tâm lý và rèn luyện thân thể.
    • Nguyên tắc: để cho các bên dễ đi đến thoả thuận.
    • Xác định thiện cảm ngay lần gặp đầu tiên.
    • Cố gắng thực hiện những lời đã hứa với khách hàng, thậm chí thực hiện nhiều hơn những lời đã hứa một cách tỉ mỉ và cẩn thận. Đồng thời thông báo thường xuyên tiến trình sự việc với khách hàng.
    • Giải quyết các công việc giữa các bên mua và bán theo hướng bạn là người Môi giới của hai bên, cần xử công bằng với hai bên theo nguyên tắc “ fairplay”.
    • Hình ảnh lý tưởng của nhà Môi giới chuyên nghiệp.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 9
    • Đi sâu vào nghiệp vụ chuyên môn: bắt buộc sự dấn thân của mình vào vòng quay của bất động sản là sự nghiệp chứ không phải là công việc để kiếm sống. Tính chuyên môn sâu và động lực nghề nghiệp sẽ liên hiệp các nhà Môi giới lại….
    • Sự kiên nhẫn: chân thành với khách hàng, biết lắng nghe kể cả không liên quan trực tiếp.
    • Trong quá trình giao tiếp quan hệ với khách hàng cần gây niềm hứng khởi cho khách hàng.
    • Tinh thần trách nhiệm:

    Nhận trách nhiệm về mình và có ý thức tỉnh táo thực hiện trách nhiệm đó.

    Nghề Môi giới không thích hợp với người thiếu năng lực, láu cá, không tôn trọng luật chơi

    • Tính chuyên nghiệp:
    • Chuyên môn nghề nghiệp cao; cần hiểu biết những ngõ ngách, vùng tối trong nghề nghiệp,biết cách xử lý những tình huống nhạy cảm.
    • Có khả năng soạn thảo hợp đồng khác nhau trên thị trường quốc gia và quốc

    tế

    • Đạo đức nghề nghiệp:
    • Người Môi giới làm việc dưới sức ép của dư luận xã hội, báo chí ->cần xác

    định.

    Không nên nghĩ rằng khách hàng biết tự bảo vệ mình và pháp luật bảo vệ họ. Không nên nghĩ khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào Môi giới.

    • Phải tuyệt đối tuân theo đạo đức chung:
    • Độ tin cậy:
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 10
    • Thông tin: việc trao đổi thông tin giữa các nhà Môi giới là vấn đề cơ bản nhất. ở Việt Nam vẫn là vùng trắng, cần hỗ trợ các cơ quan điều tra cơ bản cung cấp thông tin cơ bản về thị trường bất động sản.
    • Năng lực: Có thông tin đầy đủ lĩnh vực liên quan, khả năng vận dụng vào thực tế, biết cách tư vấn…
    • Phong cách: nhanh nhẹn, phong cách riêng.
    • Sự nhanh nhẹn: công việc luôn yêu cầu sự nhanh nhẹn. di chuyển tranh thủ thời gian. Nhanh nhẹn cả về vật lý và tâm lý.
    • Luôn sẵn sàng phục vụ: hoạt động trong mọi hoàn cảnh, thời gian không phải của chính họ mà phụ thuộc và khách hàng.-> bản thân và gia đình phải chấp nhận.
    • Óc quan sát: Kết nối sự việc, có trí nhớ tốt, cần nhớ mặt họ tên sở thích của khách hàng.
    • Văn hoá cá nhân: Cần chứng tỏ là người có văn hoá cá nhân cao, thể hiện trong quan hệ với khách hàng, văn hoá ứng xử trong công việc
    • Diện mạo bên ngoài:
    • ấn tượng đầu tiên: Khách hàng ngay đầu tiên đã để ý đến nhà Môi giới , khoảng 30 đến 60 giây đầu tiên có thể nhận diện mức độ trung thực , trình độ văn hoá, tính cách, công việc của họ có thuận lợi hay không.
    • Hình thức quan trọng hơn nội dung: ấn tượng đầu tiên tạo nên bởi hình thức 50 %, 38 % ngôn ngữ cơ thể, nội dung câu chuyện 7 %. => đầu tư cho hình thức bên ngoài có thể làm tăng thu nhập cho nhà Môi giới
    • Con người của thành đạt: hình thức cũng thể hiện con người thành đạt -> phải chứng tỏ thành công đối với khách hàng ngay cả khi thực tế ngựơc lại.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 11
    • Vệ sinh cá nhân: thường xuyên phải tiếp xúc khách hàng phải giữ gìn vệ sinh tốt và vệ sinh văn phòng Môi giới.
    • Tôn trọng thời gian của khách hàng.
    • ý nghĩa của kỹ thuật mới: người già không thích hợp, người trẻ năng động tiếp

    cận kỹ thuật mới: vi tính…

    • Điện thoại di động:
    • Tránh xa ý nghĩa tiêu cực: tránh gây tâm lý thất bại trong môi trường..
    • Quyết đoán và trung thực: cần quyết đoán và hành động theo nhóm.
    • Sự hài lòng về tiền bạc: cảm giác tự hào tiền thù lao xứng đáng
    • Tính hiểu biết về chu kỳ: Kinh doanh bất động sản có tính chu kỳ, có những lúc đóng băng, lúc “nóng”, nhà Môi giới cần nghỉ ngơi làm việc đúng lúc, không nên làm việc liên tục dẫn đến căng thẳng kiệt sức.

    đ. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nghề môi giới bất động sản

    1. Những yếu tố trực tiếp:

    – Luật Kinh doanh bất động sản đã công nhận nghề môi giới bất động sản và

    quy định khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có chứng chỉ môi giới bất động sản;

    • Một số giao dịch phải qua sàn giao dịch;
    • Các Bộ luật liên quan tạo điều kiện cho nghề môi giới phát triển như Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Bộ luật dân sự;
    • Hội nhập quốc tế: nhiều công ty nước ngoài đầu tư kinh doanh vào Việt Nam đã tạo sức ép cạnh tranh cho các công ty trong nước phải chuyên nghiệp dịch vụ môi giới bất động sản;
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 12

    – Lợi nhuận hấp dẫn từ dịch vụ môi giới bất động sản chuyên nghiệp.

    2. Những yếu tố gián tiếp:

    • Những tác động đến nhu cầu về bất động sản làm tăng nhu cầu môi giới bất động sản:
    • Sự tăng trưởng về dân số và các nhu cầu phát triển: Tăng trưởng dân số làm làm tăng mọi nhu cầu của xã hội và theo đó cầu về nhà đất tăng lên. Lượng cầu BĐS là một đại lượng tỷ lệ thuận với yếu tố dân số, đặc biệt khi tỷ lệ tăng dân số cơ học càng cao sẽ gây ra những đột biến về cầu BĐS.
    • Thu nhập của dân cư: Nhu cầu về nhà ở là nhu cầu cơ bản thiết yếu không thể thiếu với mỗi người dân. Do vậy, cầu về nhà ở tối thiểu sẽ tăng lên tương ứng với tốc độ tăng của thu nhập khi mức thu nhập đã vượt quá mức giới hạn về cầu lương thực và thực phẩm.
    • Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ: Việc phát triển mạnh các khu công nghiệp và tăng mức độ thu hút đầu tư bên ngoài vào các đô thị cũng sẽ làm tăng mức cầu về BĐS nói chung. Ngoài ra, các dự án giải toả các khu nhà ổ chuột dọc theo các kênh rạch cũng sẽ làm tăng mức cầu về BĐS.
    • Tài chính ngân hàng phát triển, tạo điều kiện cho vay để đầu tư bất động sản, dẫn đến cầu bất động sản tăng.

    Ngoài ra, còn phải kể đến một số yếu tố khác ảnh hưởng không nhỏ tới quy mô và tính chất của cầu về BĐS đó là trình độ phát triển sản xuất, sự chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, tác động của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế v.v..

    • Những tác động đến khả năng cung cấp hàng hoá bất động sản trên thị trường bất động sản:
    • Thị trường xây dựng phát triển.
    • Chính sách đất đai, đầu tư và tài chính
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 13
    • Sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
    • Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội quốc gia và địa phương

    E. Kinh nghiệm của các nước về dịch vụ môi giới bất động sản

    1/ Đào tạo và giấy phép cho môi giới BĐS ở Xing-ga-po:

    • Quá trình phát triển:
    • Trước năm 1980, không có khung đào tạo cho môi giới và đại lý BĐS ở Xing-ga-po. Vào năm 1982, ERA Singapore thành lập công ty đầu tiên và bắt đầu phát triển một hệ thống đào tạo mà ERA đã học hỏi được từ nước Mỹ. Chính phủ Singapore thông qua cơ quan đất đai Singapore (IRAS) đã chấp nhận hệ thống đào tạo của ERA là một hệ thống đủ tốt để đào tạo các nhà môi giới và các đại lý BĐS. Trước khi IRAS cấp một giấy phép môi giới BĐS cho bất kỳ ai, họ phải hoàn thành khoá đào tạo đầu tiên được cung cấp bởi ERA. Ngày nay, chứng chỉ CEHA là rất cần thiết cho việc cấp giấy phép hành nghề môi giới BĐS:
    • Trước khi giấy phép môi giới BĐS được cấp, các ứng viên phải trải qua một kỳ thi chung cho các đại lý BĐS (CEHA)

    CEHA được cung cấp bởi Ban thi tuyển CEHA thuộc cơ quan IRAS (Chính phủ)

    • Các điều kiện để tham dự kỳ thi CEHA:
    • ít nhất 21 tuổi kể từ thời điểm đăng ký khoá học
    • Tối thiểu phải tốt nghiệp cấp 3
    • Kỳ thi CEHA:
    • Các ứng viên phải trải qua 3 bài kiểm tra:
    • Bài 1: Luật BĐS
    • Bài 2: Marketing BĐS
    • Bài 3: Quản lý hành nghề BĐS
    • Các chủ đề của bài kiểm tra 1: Luật BĐS
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 14
    • Luật về hợp đồng và ký kết hợp đồng
    • Luật BĐS
    • Luật Đại lý
    • Luật các quyền về BĐS
    • Luật về sở hữu và Luật Doanh nghiệp
    • Luật Quy hoạch và bảo tồn
    • Luật Thuế BĐS
    • Các chủ đề của bài kiểm tra 2: Marketing BĐS:
    • Các nguyên tắc marketing BĐS
    • Marketing các BĐS công (thuộc HDB)
    • Marketing các BĐS tư nhân và đầu tư BĐS
    • Marketing BĐS công nghiệp
    • Marketing BĐS đầu tư xây dựng (nhà ở và thương mại)
    • Các chủ đề của bài kiểm tra 3: Quản lý hành nghề BĐS:
    • Thị trường BĐS
    • Phân tích tài chính BĐS
    • Đầu tư BĐS và các hình thức đầu tư khác
    • Quy tắc ứng xử/ Quản trị kinh doanh, Quản lý văn phòng và phát triển kinh doanh
    • Hình thức kỳ thi CEHA:
    • Kỳ thi CEHA có 3 bài kiểm tra, mỗi bài có thời gian 2,5h
    • Để qua được kỳ thi CEHA, ứng viên nhất thiết phải đạt 3 bài kiểm tra

    o Mỗi bài kiểm tra có 6 câu hỏi luận đề và 2 câu hỏi trắc nghiệm

    o ứng viên phải trả lời được 5/8 câu hỏi

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 15
    • Điểm đỗ phải là 50/100
    • Bất cứ ứng viên nào thi trượt một bài kiểm tra đều phải đăng ký thi lại bài kiểm tra đó đó trong vòng 2 năm (không nhất thiết phải làm 3 bài kiểm tra 1 lúc)
    • Ai được cung cấp đào tạo các đại lý tham gia kỳ thi CEHA:
    • ERA Singapore
    • Các cơ quan chuyên ngành như:
    • Học viện định giá Singapore
    • Học viện các đại lý BĐS
    • Học phí như thế nào?
    • Một khoá học CEHA (16 bài): 300 đô la Singapore/-+ 5

    GST

    • Lệ phí thi (cho 3 bài kiểm tra): 300 đô la Singapore/-+ 5

    GST

    2/ Hoạt động môi giới bất động sản của Mỹ:

    Dân số Mỹ có 290 triệu người. Cả nước có khoảng 74 triệu hộ gia đình và có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là gần 70%. Trung bình 1 hộ gia đình chi phí 20-40% thu nhập cho nhà ở. Giá nhà ở trung bình ở Mỹ là 100.000 USD. / Căn hộ

    Thị trường BĐS Mỹ hiện gồm có xấp xỉ 50.000 doanh nghiệp môi giới BĐS. Chúng khác nhau khá lớn về quy mô và hoạt động. 80% trong số đó đặc biệt chú trọng vào việc bán BĐS khu dân cư trong khi 8-10% chú trọng vào BĐS thương mại. Còn lại là phát triển các nhà cao tầng, nông trang và đất đai, quản lý và định giá BĐS. 90% các nhà môi giới ở Mỹ đã tốt nghiệp trung học, 45% có bằng cử nhân. Chuyên ngành cơ bản của họ là nhà ở dân cư. 59% được đền bù với 1 tỷ lệ hoa hồng được chia cho doanh nghiệp của họ trong khi 31% trên 100% tiền hoa hồng phải trả hàng tháng chi phí cố định cho doanh nghiệp. Phần còn lại 10% được coi là lương

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 16

    và/hoặc 1 thoả thuận chia lãi. 20% sử dụng 1 cộng tác viên, 97% sở hữu hoặc thuê máy tính, 95% sử dụng điện thoại di động, 75% sử dụng thư điện tử và 50% có 1 trang web cá nhân.

    Nghề môi giới BĐS Mỹ được quy định rất chặt chẽ. phần lớn các quy định này được soạn thảo nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng tránh các hành vi lừa đảo, bất quy tắc. Quy định áp dụng trong phạm vi cấp bang do hội đồng các thành viên-những người được thống đốc bang bổ nhiệm- soạn thảo. Những thành viên này đã bổ sung các quy định trên chặt chẽ về BĐS cho người môi giới thi hành. Nhiều quy định bám sát với các nguyên tắc hoạt động của NAR (Hiệp hội bất động sản quốc gia Mỹ). Thêm nữa, hầu hết các nhà lập pháp của bang đã thông qua các đạo luật bổ sung, sửa đổi về người hành nghề; nhiều bang không có các đạo luật này, “luật chung” được chính quyền dùng làm căn cứ pháp lý trong việc thực hiện.

    Để hành nghề BĐS ở Mỹ, phải có 1 giấy phép BĐS do chính quyền bang cấp. Các yêu cầu bao gồm đào tạo, trải qua 1 kỳ thi và trả phí cấp phép. Có 1 vài trường hợp ngoại lệ, giấy phép cho phép người được cấp phép hành nghề bất cứ loại bất động sản nào ở bất cứ đâu trong phạm vi ranh giới của bang. Chỉ có 1 ngoại lệ là các nhà định giá muốn hành nghề thì phải có giấy phép liên bang (giấy phép do chính quyền liên bang cấp) và sau đó giấy phép này được chính quyền bang giám sát (giám thị). Trừ 1 vài nhà định giá, tất cả các giấy phép BĐS đều do chính quyền bang điều chỉnh; tuy nhiên, nhiều bang dành cho các đặc quyền hành nghề giữa các bang và có 1 xu hướng rõ ràng tiến tới có giấy phép liên bang (giấy phép do chính quyền liên bang cấp).

    Các yêu cầu tối thiểu để đăng ký kỳ thi cấp phép môi giới BĐS: Để được cấp phép, ứng viên phải vượt qua kỳ thi viết đầu tiên. Những ứng viên thi đỗ sẽ được cấp phép bởi cơ quan DRE (Department of Real Estate).

    Để đăng ký xin cấp phép, phải đảm bảo các điều kiện sau:

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 17
    • Về tuổi: phải từ 18 tuổi trở lên
    • Về nơi thường trú: tại bang nào do bang đó cung cấp
    • Về lòng trung thực: phải trung thực và thật thà, không có tiền án tiền sự..
    • Về kinh nghiệm: Tối thiểu 2 năm kinh nghiệm làm full-time cho những người bán BĐS được cấp phép có 5 năm kinh nghiệm là yêu cầu bắt buộc
    • Về đào tạo: Các ứng viên phải hoàn thành 8 môn học sau:
    • Hành nghề BĐS o Luật pháp về BĐS o Tài chính BĐS

    o Định giá BĐS

    o Kinh tế BĐS và kế toán

    o Và 3 môn học nữa được lựa chọn trong số các môn học sau: Các nguyên tắc BĐS

    Luật kinh doanh Quản lý BĐS

    Escrows (Khế ước- Giao kèo) Quản lý văn phòng BĐS

    Môi giới vay và cho vay thế chấp BĐS Luật BĐS nâng cao

    Tài chính BĐS nâng cao Định giá BĐS nâng cao Tin học BĐS

    Phát triển lợi ích chung

    Tiền môi giới BĐS được kiểm soát bất cứ lúc nào người môi giới bị buộc tội là có hành vi không tuân theo các quy định về tiền môi giới. Nếu 1 người hành nghề môi giới bị cáo buộc là có hành vi vi phạm pháp luật, ông ta/bà ta có thể bị kiện ra toà án địa phương hoặc toà án bang, đôi khi toà án liên bang sẽ lắng nghe và xét xử

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 18

    trường hợp vi phạm này ở phiên toà. Các hình phạt đối với các hành vi không thích đáng, trái với luân thường đạo lý, hoặc các hành vi phạm pháp có thể đi từ các hình thức cảnh cáo đến giáo dục rồi cuối cùng là tống giam vào tù.

    Phần lớn các thành phố lớn ở Mỹ đều có một hội nghề nghiệp để giúp cho những người môi giới bất động sản hành nghề có hiệu quả hơn, đó là MLS (Multiple Listing Service). MLS nguồn cung cấp đầy đủ mọi thông tin chi tiết về tình trạng mua bán bất động sản trong khu vực khi những thông tin này được sử dụng thành công. Những người môi giới phải chia một phần thù lao cho nơi đã cung cấp thông tin gốc.

    Hệ thống MLS đã mở ra qua nhiều năm khi 1 người hành nghề nắm được rằng chia sẻ thông tin nghĩa là có thu nhập nhiều hơn cho tất cả mọi người. Vào những năm 1880, đã có 1 hội nghị của các thành viên hiệp hội, những người này đã trao đổi thông tin về các BĐS đăng ký (niêm yết) của họ. Vào những năm 1950, đã có những trang thông tin được in ấn do hiệp hội địa phương phân phát. Việc này đã được “công nghệ hoá cao hơn ” vào những năm 1980 cùng với việc phát minh ra máy tính cá nhân (computer) và thiết bị vi xử lý. Vào những năm 1990, MLS đã có 1 danh mục liệt kê được in ấn hàng tuần và ngày nay là trang điện tử trên mạng Internet. Hầu hết các MLS đều thiết lập trang web công cộng nơi có các đăng ký của các thành viên. Các bạn có thể xem (đọc) các tài liệu tại trang web sau: www. realtor.com.

    Hầu hết tất cả các giao dịch bắt đầu bằng việc 1 người bán đăng ký niêm yết BĐS của ông ta hoặc bà ta với 1 đại lý theo 1 mức giá và thời gian cụ thể. Như là 1 phần của việc niêm yết, người bán đồng ý (thoả thuận) trả tiền hoa hồng, thường là với 1 tỷ lệ phần trăm của giá người bán, nó sẽ được chia giữa doanh nghiệp đăng ký niêm yết và doanh nghiệp bán. Như là tôi vừa mô tả, việc niêm yết đại lý được trình duyệt sau đó, thông tin về BĐS đăng ký niêm yết sẽ được gửi tới MLS địa phương

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 19

    qua mạng điện tử. Các đại lý đại diện cho người mua liên tục tìm kiếm trên MLS về các BĐS phù hợp với những gì người mua của họ muốn và có nhu cầu. Cuối cùng là

    • đại lý của người mua chỉ cho người mua của ông ta/bà ta thấy BĐS của người bán, người mua thích BĐS và đại lý của người mua sẽ phác thảo 1 hợp đồng mua bán.. Người bán và người mua sau đó đàm phán 1 hợp đồng mua bán cuối cùng với sự hỗ trợ của các đại lý riêng của họ. Các đàm phán này thường được thực hiện bằng cách viết lên các COUNTERPROPOSAL. Sau khi hợp đồng được dàn xếp, trong khoảng 4-6 tuần, người mua đạt được 1 cam kết thế chấp, 1 cuộc khảo sát và 1 cuộc định giá. Người mua kiểm tra BĐS bằng thanh tra chuyên nghiệp và cung cấp cho người bán với bất cứ lý do phản đối nào trong văn bản khi nó được đưa ra đàm phán sau đó như là 1 giải pháp. Người bán trong thời gian cho thuê 1 giấy tờ bảo hiểm công ty để xem xét giấy tờ pháp lý cho BĐS và cung cấp cho người mua với 1 cam kết ban hành quyền hợp đồng sau khi kết thúc. Trong giai đoạn cuối cùng, người bán ký chứng thư; người mua ký thế chấp và đưa cho đại lý cuối cùng 1 khoản tiền thế chấp và giảm bớt thanh toán của ông ta/bà ta. Đại lý cuối cùng này sau đó sẽ trả tất cả các hoá đơn, bao gồm tiền thù lao cho người bán và hoa hồng của đại lý, từ tiền của người mua và được ghi vào chứng thư và văn tự cầm cố ở văn phòng ghi chép hồ sơ sổ sách và văn thư địa phương.

    Tiền hoa hồng chỉ được trả khi và chỉ khi giao dịch kết thúc. Cũng vậy, tiền hoa hồng được trả cho doanh nghiệp BĐS và không trực tiếp tới các đại lý. Tiền hoa hồng sẽ được trả ngoài giao dịch và nó có thể được xác định bằng phần cộng thêm của người bán vào tiền của người mua (tiền mặt và/hoặc văn tự cầm cố). Ngày nay, mặc dầu hầu hết người mua và người bán đã trở nên khá am hiểu về thị trường BĐS và giá trị của BĐS, nhà môi giới vẫn là 1 phần thiết yếu của giao dịch. Đó là kiến thức, kỹ năng và các kinh nghiệm của nhà môi giới đảm bảo kết quả giao dịch thành công.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 20

    Tóm lại, để hệ thống môi giới BĐS hoạt động có hiệu quả. Có 3 thành tố chủ yếu. Đầu tiên, hệ thống MLS là hệ thống liên kết tuyệt vời cho phép các đối tác cạnh tranh chia sẻ thông tin; Thứ 2, xác định kết cấu tiền hoa hồng môi giới riêng lẻ bao gồm cả phí đăng ký niêm yết và phí bán trong 1 hợp đồng. Tổng phí được đàm phán giữa người bán và đại lý niêm yết theo tỷ lệ bán được ghi trên MLS. Thứ 3, các nhà môi giới phải thực hiện việc lập ra các quy tắc tương tự, lập ra các quy tắc đảm bảo trình độ nghiệp vụ của nhà môi giới.

    3/ Tham khảo của Trung Quốc:

    • Người môi giới BĐS là người môi giới cá thể, người môi giới hợp doanh và công ty môi giới nhằm mục đích lấy tiền thuê, làm dịch vụ giới thiệu trung gian, đại lý để nhận tiền thù lao từ người đương sự kinh doanh, chuyển nhượng, cầm cố và cho thuê nhà.
    • Đặc điểm của người môi giới BĐS:
    1. Nhằm mục đích lấy tiền thuê
    1. Thúc đẩy 2 bên giao dịch, chứ bản thân không trực tiếp giao dịch
    1. Hoạt động môi giới BĐS chủ yếu là trung gian giới thiệu và đại lý bán nhà

    đất.

    1. Phải phân biệt rõ giới hạn hoạt động của môi giới BĐS và tư vấn thuần tuý cung cấp thông tin về nhà đất.

    Sự cần thiết của tổ chức này đã được chứng minh trên thực tiễn là các giao

    dịch được tiến hành một cách nhanh chóng, tránh được nhiều phức tạp không cần thiết (vì người trung gian đã trực tiếp dàn xếp các xung đột…). Nhiều khi, bên mua và bên bán, bên thuê và cho thuê… không nắm được rõ ràng, chi tiết về các thông tin có liên quan về BĐS bằng trung gian môi giới, họ thực sự cần đến nhà môi giới như

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 21

    một trung gian tin cậy và chuyên nghiệp để thực hiện các dịch vụ đáp ứng yêu cầu của cả 2 bên.

    Tham khảo bài học ở Trung Quốc- Những điều cần biết khi mua nhà

    1. Tìm kiếm thông tin về nguồn nhà thế nào?

    Chọn nhà mua nhà là một việc lớn trong cuộc sống của con người. Mỗi người mua nhà không thể trở thành chuyên gia về tài sản nhà, cũng không thể việc gì cũng phải tự làm lấy, cho nên tìm “người trợ giúp” rõ ràng là vô cùng quan trọng. Mua nhà, trước tiên phải tìm nguồn nhà. Hiện nay, các kênh chủ yếu người mua nhà có thể tìm được thông tin về nguồn nhà là:

    1. Hỏi thăm bạn bè người thân: Hỏi thăm bạn bè người thân để được họ giúp đỡ là cách mà người mua nhà thích nhất và tự cho là có hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất. Vì người ta vẫn thích những người có kinh nghiệm sống, mức độ thu nhập gần như mình, cùng ở một khu vực, đồng thời bạn bè người thân là đối tượng đáng tin cậy, họ luôn luôn có thể đưa ra nhiều ý kiến chân thành, thiết thực, truyền thụ những kinh nghiệm mua nhà của họ. Nói chung, có thể hỏi thăm bạn bè của một tiểu khu nhà ở nào đó, hoặc hỏi thăm những người bạn đã mua nhà thương phẩm, còn có thể hỏi ý kiến bạn bè làm nghề bất động sản, nhờ họ giúp đỡ giới thiệu nhà để mua. Cách này tính chủ quan mạnh, lượng thông tin ít, phạm vi chọn lựa có giới hạn. Nhưng có khi có thể đạt được kết quả và thuận tiện bất ngờ về các mặt nguồn nhà, kiểu nhà, giá cả, giải quyết chứng nhận… Mua nhà theo cách này trong giai đoạn hiện nay không thể xem nhẹ.
    1. Lưu ý quảng cáo bán nhà: Các loại quảng cáo bất động sản là phương thức truyền đạt thông tin tiêu thụ bất động sản trực tiếp nhất, hiệu quả nhất, cũng là cách mua nhà vừa đỡ tốn sức mà nhanh chóng. Hiện nay, có thể có được
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 22

    thông tin về nhà qua các phương tiện chủ yếu sau:

    Quảng cáo báo chí. Đa số công ty BĐS thích chọn báo chí là phương tiện dễ đọc đi đọc lại, gần gũi sinh hoạt của nhân dân để quảng cáo. Đặc biệt là vài năm gần đây, các báo ngày, báo tuần của một số thành phố đã mở chuyên mục, chuyên san, đưa tin và giới thiệu kiến thức về BĐS có thể giúp người mua nhà rất nhiều, cũng trở thành phương tiện chủ yếu được lựa chọn của các công ty phát triển BĐS để quảng cáo. Theo điều tra, quảng cáo BĐS trên báo chí của một số thành phố lớn phải chiếm tới 90% lượng quảng cáo của công ty phát triển BĐS đưa ra.

    Quảng cáo điện tử; truyền hình, phát thanh, internet. Quảng cáo truyền hình có đặc điểm diện người xem rộng, tính trực quan mạnh, nhiều đài truyền hình đều có các chuyên mục khác nhau về BĐS là những tiết mục mà người mua nhà cần chú ý. Quảng cáo thông tin về BĐS trong phát thanh ít bị hạn chế về thời gian và không gian, tuỳ lúc có thể mở nghe, cũng là một cách để có được thông tin.

    Gần đây, internet trở thành phương tiện truyền bá thông tin, xem nhà trên mạng mua nhà trên mạng ngày càng phổ biến. Không ít việc chuyển nhượng BĐS các nơi đã lên mạng, một số công ty internet chuyên nghiệp còn thiết lập những trạm mạng BĐS chuyên nghiệp, đủ để không ra khỏi nhà cũng có thể nắm biết tình hình mua bán nhà trong thành phố mình, thậm chí các nơi trên toàn quốc.

    Quảng cáo trên phố. Quảng cáo trên phố bao gồm biển quảng cáo, hộp đèn, cờ, băng, truyền đơn…,loại quảng cáo này nói chung phân bố ở các con đường, các cây cầu, quảng trường, chung quanh bản thân BĐS, người qua lại nhiều, tương đối bắt mắt, rất dễ gây sự chú ý của người mua. Xem quảng cáo

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 23

    BĐS phải chú ý phân biệt thật giả của nội dung quảng cáo để tránh bị mắc lừa. “Quy định tạm thời về quảng cáo BĐS” Bộ Xây dựng ban hành đã quy định quảng cáo phải có: tên công ty phát triển BĐS, tên cơ quan đại lý tiêu thụ, số giấy phép tiêu thụ BĐS.

    Ngoài ra, quy định quảng cáo BĐS không được mang các nội dung mê tín phong kiến, thuyết minh tình hình BĐS không được trái với đạo đức, phong tục tốt đẹp của xã hội, vị trí dự án nói trong BĐS phải biểu thị bằng khoảng cách thực tế giao thông hiện có từ BĐS này đến một mốc cụ thể nào đó, không được lấy thời gian cần để biểu thị khoảng cách; bản vẽ vị trí quảng cáo BĐS phải chuẩn xác, rõ ràng, tỷ lệ thích đáng; quảng cáo BĐS không được nêu các nội dung tài chính và những vấn đề liên quan khác, nếu quảng cáo làm trái các nội dung trên, khi lựa chọn nhà phải rất lưu ý.

    1. Trực tiếp tìm công ty phát triển để thảo luận. Trong tình hình đại lý BĐS không được hoàn thiện, nhiều công ty phát triển sau khi nhà thương phẩm đã có đủ điều kiện tiêu thụ thì giao cho bộ phận tiêu thụ của công ty để bán. Trực tiếp tìm nơi trực tiếp bán của công ty phát triển để mua nhà, nhân viên bán nhà có thể giới thiệu cho người mua các loại nhà của công ty, người mua có thể có được tư liệu gốc, trao đổi giá cả trực tiếp với công ty phát triển, có thể có được giá cả ưu đãi nhất, và bớt đi chi phí môi giới trung gian. Cách trực tiếp, nhanh chóng, rõ ràng, chân thực này trong tình hình uy tín của cơ quan môi giới không cao hiện nay là sự lựa chọn lý tưởng của nhiều người mua nhà.

    Bàn bạc cách này nên tiến hành nhiều lần với các nhân viên khác nhau. Nếu có nhiều điểm bán nhà khác nhau, còn có thể đi tới các nơi đó để tìm hiểu trao đổi, từ đó nghiệm chứng tình hình thực tế của nhà thương phẩm.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 24
    1. Thông qua đại lý của cơ quan môi giới hoặc người trung gian. Đại lý môi giới và công ty tư vấn thông tin là cơ quan trung gian giới thiệu cho hai bên mua bán BĐS giao dịch với nhau và thu tiền hoa hồng, chúng có tác dụng quan trọng trong lưu thông và giao dịch nhà thương phẩm.

    Đại đa số nhà thương phẩm làm xong thủ tục mua bán đều thông qua công ty đại lý môi giới thúc đẩy thực hiện. Lượng thông tin của kênh này lớn, tiện cho việc lựa chọn, lại đỡ mất thời gian, mất sức, thích hợp với người mua nhà, nhưng chưa có kinh nghiệm.

    Ngoài ra, tìm người trung gian hoặc luật sư chuyên nghiệp giúp mua nhà cũng là một “con đường ngắn” để mua nhà mới xuất hiện gần đây ở một số thành phố. Đối với những người công tác rất bận, có thể uỷ thác toàn quyền cho người trung gian và luật sư thay mặt, hiệu quả khá tốt. ở nước ngoài, đây đã là một phương thức mua nhà rất phổ biến. Khuyết điểm là không tiện để so sánh, tìm hiểu thị trường không đầy đủ. Vì vậy, phải tìm người trung gian hoặc luật sư tin cậy, có kinh nghiệm thay mặt.

    Mời người trung gian hoặc môi giới thay mặt để mua bán nhà thì phải trả chi phí trung gian môi giới. Cơ quan hữu quan của Nhà nước có quy định rõ ràng đối với thu phí dịch vụ môi giới BĐS, nội dung và tiêu chuẩn như sau:

    Phí tư vấn BĐS theo yêu cầu của người uỷ thác, cung cấp dịch vụ tư vấn về chính sách, pháp luật, quy định, kỹ thuật, thông tin BĐS có liên quan, có thể thu phí tư vấn BĐS, có thể chia ra 2 loại phí tư vấn miệng và tư vấn bằng văn bản.

    Phí tư vấn miệng theo thời gian mà dịch vụ tư vấn cần, kết hợp đẳng cấp kỹ thuật chuyên môn của nhân viên tư vấn, do hai bên thoả thuận tiêu chuẩn thu

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 25

    phí. Trên thực tế, hiện nay người môi giới BĐS nói chung rất ít yêu cầu người uỷ thác chi trả phí tư vấn miệng.

    Phí tư vấn bằng văn bản thu theo độ khó kỹ thuật của báo cáo tư vấn, công việc nhiều hay ít, kết hợp với mức lớn nhỏ của đối tượng tư vấn. Hiện nay mỗi báo cáo tư vấn thông thường thu phí từ 300-1000NDT; báo cáo tư vấn có độ khó kỹ thuật lớn, tình huống phức tạp sử dụng nhân viên và thời gian nhiều có thể nâng tiêu chuẩn thu phí một cách thích đáng, nói chung không vượt quá 0,5% mức đối tượng tư vấn.

    Hoa hồng người môi giới BĐS hoặc cơ quan đại lý trung gian tiếp thu uỷ thác để tiến hành công việc môi giới có thể nhận tiền hoa hồng thích đáng, cũng gọi là phí môi giới. Phí đại lý mua bán nhà tính theo 0,5%-2,5% tổng mức giá khi làm xong thủ tục; có một số cơ quan đại lý với tư cách là nhà đại lý duy nhất, tiêu chuẩn thu phí có thể lên tới trên mức 3%, do bên bán trả.

    Ngoài ra, người môi giới tiếp thu uỷ thác, thay người uỷ thác làm các việc công chứng hợp đồng, đăng ký tài sản nhà, cho vay thế chấp… nói chung phải thu phí làm thay. Đối với việc này, cơ quan chính phủ còn chưa có tiêu chuẩn thu phí rõ ràng, có thể do 2 bên đương sự thoả thuận tiêu chuẩn thu phí. Hiện nay trên thị trường, thủ tục phí làm thay thông thường là khác nhau từ 100-1000NDT.

    Do hiện nay, cơ quan đại lý trung gian BĐS vàng thau lẫn lộn, chế độ người môi giới vừa mới bắt đầu, cho nên mua nhà thông qua công ty đại lý trung gian hoặc môi giới còn phải tiến hành “thẩm tra” đối với công ty trung gian, xem công ty này có được cơ quan quản lý nhà phê duyệt hay không, có đủ tư cách môi giới BĐS không và có giấy phép hành nghề không, nhân viên công tác có “Giấy phép đại lý trung gian bất động sản” hay không để tránh sự lừa

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 26

    dối của công ty phi pháp.

    Ngoài ra, nên tìm hiểu uy tín và quá trình công tác trước nay của công ty đại lý trung gian này, như bắt liên lạc với người đã mua nhà qua công ty này thì càng đáng tin cậy.

    1. Chú ý Sở giao dịch và triển lãm BĐS. Theo sự quan tâm phát triển thị trường BĐS của các cấp chính quyền, sở giao dịch và thị trường giao dịch BĐS do cơ quan chủ quản của chính quyền hoặc hiệp hội ngành nghề, tổ chức môi giới thiết lập nói chung có quy mô nhất định, nguồn nhà khá nhiều, họ có thể cung cấp một loại dịch vụ tư vấn, mua bán, định giá, nộp thuế, giải quyết các thủ tục liên quan. Loại trung tâm này là kênh mua nhà khá lý tưởng, và yên tâm của người mua nhà.

    Những năm gần đây, các cơ quan chủ quản ngành BĐS, hiệp hội ngành nghề, tổ chức môi giới và đơn vị báo chí tổ chức một số triển lãm để các công ty phát triển BĐS tập trung cùng nhau thúc đẩy việc bán nhà. Các cuộc triển lãm và giao dịch này, thông tin bán BĐS khá tập trung, có giá cả ưu đãi hoặc thi nhau giảm giá thúc đẩy tiêu thụ, người mua có thể thoải mái lựa chọn. Khuyết điểm là thành phần tuyên truyền ở triển lãm nhiều, chu kỳ triển lãm cách nhau lâu, không thể mua tuỳ theo ý muốn. Ngoài ra, các tổ chức giao dịch, triển lãm hoặc môi giới còn định kỳ tổ chức các hoạt động “xem nhà cuối tuần”, một ngày có thể đi xem nhà nhiều nơi, cũng là một kênh mà người mua nhà có được các thông tin cần thiết.

    4/ Đức:

     

    Khoảng môi giới BĐS người mua trả

    25% các vụ buôn bán BĐS giữa những người mua là do văn phòng thu xếp; Các văn phòng này thường thu 3,5% giá bán; Thường thì thù lao cho văn phòng môi giới, người bán cũng có trách nhiệm về

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 27

    hợp đồng với văn phòng. Tuy nhiên trong đa số các trường hợp thì người mua trả tiền thù lao cho văn phòng thay cho người bán.

    5/ Phi-líp-pin:

    Môi giới BĐS đề cập đến lĩnh vực kinh doanh dịch vụ BĐS, trong đó người kinh doanh là nhà môi giới- người đóng vai trò đại diện cho 1 người khác trong việc chào bán, quảng cáo, lên danh sách, quảng bá, đàm phán hoặc tác động đến sự nhất trí giữa các bên về việc bán, mua, trao đổi, thế chấp hay thuê hoặc cùng hợp tác hoặc các giao dịch khác về BĐS, hay bất kỳ hoạt động nào trong lĩnh vực này để có được hay với mong muốn thu được 1 khoản phí; Nếu có 10 năm môi giới BĐS sẽ trở thành nhà tư vấn BĐS; Nguyên tắc và quy định điều chỉnh việc cấp phép và giám sát hoạt động của những người kinh doanh BĐS, những nhà môi giới, các chuyên gia định giá và tư vấn, các tổ chức BĐS do Cục Quản lý thương mại và Bảo vệ khách hàng thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp ban hành;

    1. Đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản
    1. Phải trung thực trong khi thực hiện dịch vụ môi giới ,không dùng các thủ thuật không được phép để mưu lợi cho mình, cần có tinh thần trách nhiệm khi môi giới giữa người mua và người bán làm sao cho cuộc mua bán thành công nhưng an toàn cho cả các bên .
    1. Không được cho người khác mượn, thuê chứng chỉ hành nghề;
    1. Hành nghề không đúng với nội dung ghi trong chứng chỉ;
    1. Nếu có dấu hiệu vi phạm thì phải tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý
    • phạm hành chính trong kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 28
    1. Tuân thủ Quy tắc đạo đức của Hiệp hội bất động sản Việt Nam.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 29

    Chuyên đề 2

    Quy trình và kỹ năng môi giới bất động sản

    A.                Thu thập thông tin về cung, cầu bất động sản

     

    1.                 Thu thập thông tin về bất động sản

    • Các dạng cung: +Bán.
    • Cho thuê, cho thuê lại.
    • Đầu tư liên doanh liên kết.
    • Khai hoang, khai phá: bán đất chưa sử dụng thành sử dụng được
    • Thông tin nguồn cung
    • Văn phòng môi giới
    • Từ khách hàng.
    • Từ các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Các công ty đầu tư kinh doanh xây dựng, các dự án.
    • Các cơ quan đấu giá đất và bất động sản, nguồn hàng pháy mãi.
    • Các cơ quan quản lý: địa chính, tnmt. sở kiến trúc, sở quy hoạch.
    • Từ thực tế : những nhà bỏ trống, khu đất trống, những bất động sản mới phát triển, từ dân cư địa phương.

    +MLS: hệ thống niêm yết đa chiều.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 30

    Thông tin về bất động sản

    • Kinh tế kỹ thuật:
    • Vị trí: môi trường xung quanh.
    • Loại, kích thước, hình thể, không gian, hướng.
    • Trang thiết bị: cơ sở vật chất kỹ thuật
    • Tình trạng kỹ thuật: xem tổng thể nhue thế nào, chi tiết, chất liệu, thời gian sử dụng, kiến trúc, bảo dưỡng…
    • Hạ tầng kỹ thuật : đường, điện, nước,
    • Giá cả toàn bộ và từng phần của bất động sản.
    • Pháp lý:
    • Giấy tờ xác nhận quyền năng đối với bất động sản: sổ đỏ, sổ hồng. quyết định giao đất, giấy phép xây dựng, phân chia tài sản,,,
    • Quy hoạch: sử dụng đất, không gian, các công trình liên quan khác.
    • Các giấy tờ liên quan đến tranh chấp: uỷ ban nhân dân.
    • Quyền năng và sự hạn chế về quyền năng: ví dụ: hạn chế độ cao…
    • Xã hội, lịch sử:
    • Thời gian sử dụng, người sử dụng, xây dựng và quá trình phát triển cảu bất động sản.
    • Môi trường xã hội, dân cư: có bị ô nhiễm không…
    • Phong thuỷ và các yếu tố đặc biệt khác: ví dụ trước đây có tai biến gì không….
    • Nguồn thông tin và phương pháp thu thập:
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 31
    • Tìm hiểu từ chủ sở hữu: giấy tờ pháp lý liên quan đến bất động sản, các loại hoá đơn.
    • Cơ quan quản lý nhà nước: phòng quản lý nhà đất, sở quy hoạch, nhà đất. Ví dụ: Sở quy hoạch: xem quy hoạch hiện tại và xu hướng trong tương lai.
    • Tổ dân phố và hàng xóm.
    • Tự điều tra và thăm dò.
    • Cơ sở dữ liệu cá nhân và kinh nghiệm kiến thức.
    • Bản đồ: ví dụ bản đồ quy hoạch đất đai, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, bản đồ điện tử.
    • Các đề tài nghiên cứu, hội thảo…. ví dụ: ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường đời sống dân cư.
    • Trao đổi kinh nghiệm: giữa các nhà môi giới -> rất quan trọng.

    2.                 Thông tin về cầu bất động sản

    2.1 Phân loại đối tượng cầu bất động sản

    • Người mua:
    • Để tiêu dùng: nhà ở, sản xuất nhà xưởng, kinh doanh dịch vụ.
    • Để đầu tư: những người kinh doanh bất động sản, đầu cơ tiền nhàn rỗi/
    • Để bảo toàn vốn.

    Phân loại cầu bất động sản để biết mục tiêu của khách hàng -> đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.

    • Người thuê:
    • Văn phòng, chi nhánh, phòng giao dịch.
    • Để kinh doanh dịch vụ.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 32
    • Để sản xuất kinh doanh thuê mặt bằng.
    • Nhà ở: đối với sinh viên, người ngoại tỉnh, người nước ngoài, nhà công vụ.
    • Tín dụng, thế chấp và bảo hiểm: cầu gián tiếp

    2.2. Phương pháp thu thập thông tin về cầu bất động sản

    • Chủ động:
    • Tìm kiếm qua các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Gửi thư trực tiếp tới khách hàng: chủ yếu là khách hàng tiền năng (người thuê), khách hàng của các văn phòng môi giới khác, khách sạn, văn phòng, công sở, thương mại điện tử, sân bay, du lịch, cá nhân hoặc nhóm khách hàng mục tiêu.
    • Tiếp cận tận nơi: đón hoặc gọi điện
    • Khách hàng cũ: hồ sơ cũ, giới thiệu khách hàng, đón trước nhu cầu.
    • Thụ động:
    • Đón tại văn phòng.
    • Phụ thuộc quảng cáo

    Thời gian đầu: chủ động, sau – thụ động.

    B. Xác định đối tượng và các bên tham gia thương vụ môi giới bất động sản

    1. Xác định đối tượng của thương vụ:
    2. Người cung:
      • Lí do nguyện vọng của họ ; nhanh hay chậm
    • Nắm được thông tin về bất động sản như thế nào.
    • Các điều kiện kèm theo.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 33
    • Khung gía có phù hợp, các điều kiện về kinh tế ( thuế hoặc phí).
    • Năng lực bán của khách hàng: có đủ điều kiện pháp lý.
    • Người cho thuê:
    • Đầu tư.
    • Sinh lợi: để thu nhập hàng tháng không quan tâm giá bất động sản.
    • Trông coi: để bảo vệ.
    • Lí do: ví dụ: cho thuê để người đi thuê đàu tư trang thiết bị cho bất động

    sản.

    • Người bán:
    • Tự nguyện.
    • Bị ép buộc.
    1. Người cầu:
    • Người mua:
    • Quan tâm đến đặc tính của bất động sản.
    • Gía cả bất động sản: xác định khả năng tài chính.
    • Mục tiêu của người mua.
    • Các ràng buộc khác: ví dụ đối với người nước ngoài: vấn đề mua nhà…
    • Người thuê:
    • Cụ thể chính xác ngay ban đầu.
    • Rất nhanh gọn.
    • Chú ý tính ổn định bất động sản.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 34

    + Chủ sở hữu quan tâm đến người thuê: quan tâm thu nhập người thuê, hoàn cảnh người thuê, độ ổn định…

    2.                 Xác định các bên tham gia thương vụ:

    • Phân loại khách hàng
    • Hiểu mục tiêu của việc mua bán phải rõ ràng.mua để dầu cơ hay để sử dụng
    • Người bán là chủ đầu tư cấp 1 hay cấp 2, là cá nhân hay doanh nghiệp
    • Tìm hiểu độ tuổi của khách hàng: vì ảnh hưởng đến tâm sinh lý
    • Nghề nghiệp.
    • Thu nhập: sở thích của họ, tiềm năng.
    • Xác định các bên tham gia:
    • Thông tin cá nhân, tổ chức đó.
    • Mục tiêu tham gia thương vụ.
    • Các kỳ vọng: mua để ở, để chờ tăng giá, gần trường…
    • Mức độ sãn sàng.
    • Điều kiện pháp lý.

    C. Lập hồ sơ thương vụ môi giới

    • Thông tin cá nhân.
    • Giấy tờ liên quan đến bất động sản.
    • Giấy tờ khác liên quan đến thương vụ.
    • Hợp đồng dịch vụ môi giới.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 35
    • Những ghi chép về khách hàng: đưa ra nhận xét về khách hàng -> phục vụ tôt hơn.

    Chú ý: Không nhận bản gốc giấy tờ của khách hàng, chỉ dùng để photo. Trong suốt quá trình diễn ra thương vụ phải tiếp tục thu thập giấy tờ liên quan.

    • Dạng hồ sơ: văn bản, file văn bản
    1. Thời hạn và những bước thực hiện thương vụ môi giới Bước 1: Tìm thông tin chung
    • Thông tin mua, bán, cho thuê -> thông tin nguồn cung, cầu.
    • Phải xem xét bất động sản bán một cách tỉ mỷ, cẩn thận và đầy đủ.
    • Điếu tra phân tích môi trường, hạ tầng xung quanh, tình trạng kỹ thuật của bất động sản.
    • Tình trạng pháp lý của bất động sản.
    • Chia sẻ cung cấp cho chủ sở hữu những thông tin về giấy tờ cần thiết cho việc bán.
    • Tìm khách hàng mua ( bán ).

    Bước 2: Xử lý thông tin

    • Xác định được giá của chủ sở hữu muốn bán: phải tư vấn cho khách hàng xem giá có hợp lý không. Phải biết khu vực đó giá bất động sản bao nhiêu, loại bất động sản đó giá bao nhiêu.
    • Phải tập trung ghi chép miêu tả bất động sản, chú ý đến đặc tính của bất động sản đó: bất động sản nằm trong khu vực đó, có bất động sản nổi trội hơn làm giảm giá bất động sản đó.
    • Soạn thảo thông tin để quảng cáo.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 36
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng cho bất động sản đó.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng về khách hàng mua, bán
    • Tìm hiểu phân tích cụ thể, chính xác nhu cầu của khách hàng mua cũng như điều kiện liên quan đến thương vụ.
    • Tận dụng những thông tin phản hồi của người mua: động cơ họ mua hàng…
    • Chia sẻ và cung cấp cho các bên tham gia những thông tin cần thiết về khía cạnh pháp lý: thuế , phí…
    • Thoả thuận với chủ sở hữu những điều khoản về dịch vụ môi giới -> ký kết hợp đồng.
    • Lên kế hoạch hành động.
    • Giới thiệu cho khách hàng mua nbất động sản phù hợp với họ.
    • Giúp đỡ tạo điều kiện cho các bên trong quá trình đàm phán.
    • Dẫn dắt các bên ký kết hợp đồng khởi điểm.
    • Hỗ trợ các bên trong việc hoàn chỉnh hồ sơ và chuẩn bị ký kết hợp đồng chính thức.
    • Tham gia thực hiện các hoạt động thoả thuận trong hợp đồng khởi điểm.
    • Thực hiện các công việc liên quan đến thương vụ.
    • Tham gia vào quá trình thanh toán tổ chức các lần chi trả giao tiền.
    • Phải hỗ trợ cho các vấn đề liên quan: ví dụ Hỗ trơi về tư vấn pháp lý hợp đồng mua bán, dăng ký sang tên , nộp thuế, ….

    Bước 4: Kết thúc thương vụ:

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 37
    • Giao nhận bất động sản: vì có thể có sự sai lệch lúc giao nhận
    • Kết thúc thương vụ và nhận tiền hoa hồng: ví dụ: ở nước ngoài khi đến một bước nào đấy của thương vụ, nhận 80 % hoa hồng. Kết thúc thì nhận phần còn lại.
    • Giải quyết các vấn đề sau thương vụ: Chuyển tiền,sổ đỏ, ….. gửi thư cảm ơn đến khách hàng và đưa hồ sơ của họ vào hồ sơ khách hàng.

    E.                 Marketing bất động sản

    I. Marketting Bất động sản.

    1. Chiến lược sản phẩm và dịch vụ
    • Đa dạng hoá hàng hoá
    • Khác biệt hoá
    • Đổi mới thiết kế
    • Xây dựng thương hiệu
    • Dịch vụ sau bán hàng
    • Doanh số.
    1. Chiến lược giá cả Bất động sản.
    • Giá cả là số tiền khách hàng phải trả cho khi mua hoặc sử dụng dịch vụ bất động sản.
    • Nội dung:
    • Lựa chọn chính sách giá và định giá.
    • Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh để định giá.
    • Nghiên cứu giá cả sản phẩm, dịch vụ Bất động sản cùng loại trên thị trưòng.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 38
    • Nghiên cứu cung cầu, sức mua, thị hiếu của khách hàng để có những quyết định về giá cả.
    • Chính sách bù lỗ hợp lý
    • Điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường.
    1. Chiến lược phân phối
    • Là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ bằng hai dạng: phân phối trực tiếp và qua các kênh phân phối.
    • Nội dung:
    • Thiết kế và lựa chọn kênh phân phối.
    • Thiết kế mạng lưới phân phối.
    • Xác định lượng dự trữ Bất động sản.
    • Tổ chức hoạt động bán hàng.
    • Các dịch vụ sau bán hàng: pháp lý, bảo dưỡng, bảo hành…
    • Trả lương cho nhân viên bán hàng.
    • Trưng bày giới thiệu hàng hoá.
    1. Yểm trợ bán hàng.
    • Là tập hợp những hoạt động mang tính thị trường nhằm gây ấn tượng đối với người mua.
    • Được thực hiện thông qua các hình thức: quảng cáo, chào hàng, triển lãm, tuyên truyền, cổ động, quan hệ quần chúng, khuyến mãi…
    1. Các nhân tố ảnh hưởng đến Marketing Bất động sản. 4.1. Uy tín và thương hiệu

    4.2. Tình huống thị trường.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 39

    4.3. Vòng đời sản phẩm

    4.4. Tính chất Bất động sản và dịch vụ.

    1. Kỹ năng giao tiếp và đàm phán trong giao dịch bất động sản 1. Các kỹ năng giao tiếp kinh doanh:

    1.1. Khái niệm:

    Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin qua lại nhằm tạo mối quan hệ. Giao tiếp được hiểu ở 4 cấp độ khác nhau:

    • Cấp độ 1: Giao lưu xã hội
    • Cấp độ 2: Một mối quan hệ cụ thể
    • Cấp độ 3: Một lần giao tiếp cụ thể
    • Cấp độ 4: Tình huống xảy ra cần phải xử lý

    1.2. Đặc điểm của giao tiếp trong kinh doanh:

    • Giao tiếp phản ánh mối quan hệ xã hội: quan hệ giữa người với người trong xã hội.
    • Giao tiếp nhằm thu thập, chuyển tải, trao đổi thông tin.
    • Giao tiếp là một quá trình bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và ý chí giữa các cá thể giao tiếp.
    • Mục đích của giao tiếp trong kinh doanh là nhằm phục vụ kinh doanh, nêu nội dung quan trọng trong các thông tin giao tiếp.

    1.3. Các phương tịên giao tiếp:

    1. Phương tiện phi ngôn ngữ

     

    • Những tín hiệu phi ngôn ngữ
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 40
    • Giọng nói.
    • Nụ cười, khuôn mặt, ánh mắt.
    • Qua sự vận động của cơ thể.
    • Vận động của đầu.
    • Vận động của tay.
    • Tư thế.
    • Trang phục.
    • Không gian giao tiếp.
    1. Phương tiện ngôn ngữ
    • Lời nói.
    • Ngôn ngữ

    Trong giao tiếp cần chú ý kết hợp cả chức năng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.

    2. Tổng quan về đàm phán

    Bản chất

    • Là một hình thức giao tiếp để tạo ra thoả thuận giữa các bên về một vấn đề nào đó mà các bên quan tâm.
    • Đàm phán là một hành vi và qúa trình trong đó các bên trao đổi, thảo luận, có một mối quan tâm chung và có những điểm bất đồng. Qua trao đổi thoả thuận để đi đến thoả thuận thống nhất.
    • Đàm phán kinh doanh Bất động sản là sự thoả thuận giữa các bên nhằm tạo sự thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch kinh doanh.

    Các kiểu đàm phán.

    1. Dựa trên kết quả của đàm phán.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 41
    • Có người thắng, người thua.
    • Cả hai bên cùng thua.
    • Cả hai bên cùng thắng.

    Không phải mọi cuộc đàm phán là một cuộc chiến, do vậy mục tiêu các bên không phải là tiêu diệt đối tác.

    • Thắng – thua: nên đàm phán như một trận chiến, chỉ một bên thắng (đạt được mục đích.
    • Thua – thua: Không đạt được kết quả cho cả hai bên, mà còn mất thời gian chi phí.
    • Thắng – thắng: Các bên cùng quan tâm lợi ích của nhau với tinh thấn hợp tác và đều thu được lợi ích. Đây là kiểu đàm phán thành công nhất.
    1. Theo phong cách và mô hình.

    Kiểu “ mặc cả lập trường”.

    • Đàm phán kiểu mềm: Tránh xung đột, dễ dàng nhượng bộ, coi trọng quan hệ, coi đối tác như là bạn bè.
    • Đàm phán kiểu cứng: Đối tác đưa ra lập trường cứng rắn, ép đối phương phải nhượng bộ.
    • Tuỳ theo đối tác và hoàn cảnh đàm phán mà áp dụng kiểu đàm phán.
    • Với những đối tác mạnh ta nên áp dụng kiểu đàm phán cứng.
    • Đàm phán kiểu nguyên tắc:
    • Nguyên tắc 1: Đừng bám vào lập trường mà hãy tìm hiểu lợi ích thực sự của nhau.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 42
    • Nguyên tắc 2: Hãy đưa ra nhiều phương án thay thế khác nhau.
    • Nguyên tắc 3: Hãy cứng về lợi ích, mềm về quan hệ.
    • Nguyên tắc 4: Có TCKQ để chứng minh các yêu cầu.

    2.3. Quá trình đàm phán

    2.3.1. Chuẩn bị đàm phán

    1. Chuẩn bị ngôn ngữ đàm phán
    1. Chuẩn bị thông tin đàm phán
    • Thông tin về hàng hoá dịch vụ giao dịch.
    • Thông tin thị trường: thông tin cung, cầu, giá cả của thị trường có liên quan đến loại hàng hoá đó để so sánh, nắm bắt xu hướng.
    • Thông tin về đối tác: tư cách pháp nhân, tiềm lực kinh tế, tài chính, uy tín, hệ thống bộ máy quản lý, người lãnh đạo…
    • Thông tin về đàm phán: sơ lược về tiểu sử: giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, quá khứ, hiện taị, gia đình, thu nhập, năng lực phẩm chất…
    1. Chuẩn bị năng lực đàm phán
    • Tổ chức đoàn đàm phán: thành phần, cơ cấu.
    • Lựa chọn chuyên gia, người trong đoàn đàm phán về tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất, kỹ năng đàm phán và các phương tịên kỹ thuật hỗ trợ.
    1. Chuẩn bị thời gian và địa điểm đàm phán.
    • Cần chú ý đến “điểm chết” – là thời hạn cuối cùng của để cuộc đàm phán đi đến kết quả.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 43
    • Địa điểm tốt nhất là “sân nhà” – là nơi chuẩn bị được tài liệu và số liệu nhanh nhất. Nếu không chọn được sân nhà thì cuộc đàm phán nên chọn “sân trung gian”.
    • Vị trí đàm phán:
    1. Thiết lập mục tiêu đàm phán
    • Chỉ rõ mục tiêu cần đạt được: mục tiêu tối đa, mục tiêu tối thiểu cần hướng

    tới.

    • Xác định giới hạn của sự thoả thuận: giới hạn cuối cùng giải pháp tốt nhất của các bên khi không đạt được sự thoả thuận.
    1. Đánh giá lại đối tác và điểm mạnh điểm yếu của mình.
    1. Lập phương án kinh doanh.
    1. Xác định chiến lược đàm phán và đàm phán thử.

    2.3.2. Qúa trình đàm phán:

    1. Mở đầu đàm phán.
    • Chào hỏi, giới thiệu các thành phần trong đoàn
    • Bên yêu cầu, đưa ra đề nghị đàm phán thì bên đó sẽ mở đầu cuộc đàm phán.
    • Có rất nhiều kỹ năng mở đầu
    • Tạo tiếng cười vui vẻ.
    • Bằng một câu chuyện liên quan đến vấn đề dàm phán: Bằng một thí dụ, một đoạn sách báo có sẵn.
    • Bằng lời khen ngợi có thiện cảm -> cách này dễ bị người khác “nắn mình”, tuy nhiên nên chuẩn bị bằng lời không khen không chê.
    1. Lắng nghe
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 44
    • Để lĩnh hội toàn bộ thông tin mà đối tác truyền đạt.
    • Là sự thể hiện tôn trọng đối phương, thoả mãn nhu cầu tự trọng của đối phương, để biết đối phương đã thực sự hiểu lời nói chủ đích của ta hay chưa, đồng thời biết được bối cảnh thời gian, quyền lợi và nhu cầu của đối phương để đưa ra những quyết định có lợi nhất.
    • Lắng nghe phải có chủ đích, tập trung vào những vấn đề trọng yếu nhất. Vừa nghe vừa tìm hiểu, thăm dò, quan sát… đối phương. -. Tích hội những thông điệp cần thiết nhất.
    1. Nghệ thuật đặt câu hỏi.

    Có nhiều câu hỏi trong đàm phán.

    • Câu hỏi đóng: Không cho người khác sang tạo thêm mà chỉ để cho họ lựa chọn phương án.
    • Câu hỏi mở: Cho phép người trả lời tự do theo suy nghĩ của họ.
    • Câu hỏi gián tiếp
    • Câu hỏi nhằm chuyển chủ đề.
    • Câu hỏi thăm dò ý kiến người khác.
    • Câu hỏi có định hướng: Đưa ra hướng trả lời câu hỏi cho đối tác.
    • Câu hỏi không định hướng: Để tìm ra những suy nghĩ mới của đối tác.
    • Câu hỏi trình bày thông tin.
    • Câu hỏi kết thúc suy nghĩ.
    • Câu hỏi khuyến khích được ra quyết định.
    • Câu hỏi xỏ xiên.
    • Câu hỏi mập mờ:
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 45
    • Câu hỏi dẫn dắt: mang tính định hướng.
    • Câu hỏi tu từ: Kỹ thuật vận dụng ngôn từ.
    • Câu hỏi thật: đi thẳng vào vấn đề.
    • Câu hỏi kết luận: Rút ngắn cuộc đàm phán.

    d/Trả lời câu hỏi:

    • Trong trường hợp bình thường: phải tuân thủ nguyên tắc: chính xác, đầy đủ kịp thời.
    • Cần chú ý: Không nên hấp tấp, vội vàng, để có thời gian suy nghĩ.
    • Khi chưa rõ câu hỏi phải yêu cầu đối tác nói rõ lại câu hỏi.
    • Hiểu câu hỏi nhưng chưa rõ câu trả lời, cần bình tĩnh kéo dài thời gian trả lời.
    • Chỉ trả lời những gì mà đối phương hỏi.
    • Âm lượng vừa nghe rõ rang, lưu loát, dứt khoát.
    • Những câu trả lời có kèm theo chứng cứ, số liệu thực tế thường có sức thuyết phục.
    • Trả lời câu hỏi khi bế tắc.

    . Kéo dài thời gian bằng việc không trả lời ngay, lái câu chuyện sang hướng khác hoặc trả lời vòng vo.

    .    Trả lời mập mờ, chung chung.

    .       Đặt lại câu hỏi đó với chính người trả lời.

    .     Có thể đánh trống lảng hoặc trả lời phần không quan trọng của câu hỏi.

    1. Đặt giá và trả giá.
    • Chú ý khi đặt giá
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 46
    • Nếu uy tín hàng hóa cao, khan hiếm trên thị trường lên đặt giá cao hơn giá thị trường 15 đến 20 %.
    • Nếu uy tín hàng hoá, khan hiếm không cao, nên đặt giá cao hơn khoảng từ 10 đến 15 %.
    • Uy tín thấp, khan hiếm thấp, đặt giá cao 5 đến 10 %.
    • Không có uy tín, cung lớn hơn cầu -> Đặt đúng giá bán.
    • Phương pháp trả giá
    • Nếu người bán đặt giá cao, ta tìm cách trả thấp: tìm những điểm bắt bí buộc họ phải hạ giá.
    • Nếu đối tác đặt sát giá -> Ta nên đặt sát giá.
    1. Khắc phục bế tắc trong đàm phán.
    • Khi đàm phán bị bế tắc cần tỉnh táo phân tích sự việc, nhìn lại mình và đối

    tác. Xem mục tiêu của các bên và tính hợp lý của chúng, xem quan điểm, lập trường, tình cảm, tình huống, ngoại cảnh… nó ảnh hưởng đến việc đàm phán bí tắc, từ đó tìm hướng giải quyết. Nếu vẫn bí tắc có thể sử dụng một trong các cách sau.

    • Thống nhất lại những vấn đề đã đạt được, gác lại hoặc gạt bỏ những vấn đề bất đồng.
    • Chọn giải pháp đường vòng: giải quyết những vấn đề có thể thống nhất được trước, sau đó còn lại mới vào vấn đề bế tắc
    • Tạm thời đình chỉ đàm phán để có thời gian cùng suy nghĩ, và dự kiến tái đàm phán vào dịp sau đó.
    1. Kết thúc đàm phán.
    • Thống nhất khẳng định những vấn đề đã thoả thuận.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 47
    • Chuẩn bị sãn sang hợp đồng ký kết.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 48

    2.4. Một số lưu ý khi đàm phán

    Kiểm soát tiến độ đàm phán.

    • Sử dụng thời gian, thời hạn đàm phán hợp lý, biết cách trì hoãn , gây trở ngại nếu nó có lợi cho mình.
    • Không để đối phương đưa cuộc đàm phán diễn ra quá nhanh hay điều khiển hoặc cuốn hút mình.
    • Nếu đối phương muốn chậm tiến độ, cần hiểu rõ nguyên nhân và gây sức ép.
    • Cách kiểm soát tốc độ:
    • Không nên chấp nhận một lời đề nghị nào đó ngay
    • Chưa nên quyết định ngay
    • Không đàm phán nhanh.

    a- Khai thác yếu tố con người.

    • Tranh thủ tối đa quan hệ tình cảm, tâm lý.
    • Luôn tỏ ra mình có ưu thế và đánh vào long tham, tính ích kỷ của đối phương.
    • Nên đưa ra nhiều tình huống quyết định. Do đó phải biết chia nhỏ mục tiêu.
    • Tạo vẻ chính thắng vớí chứng cứ (chứng cứ đôi khi có thể là giả).
    • Phải có mục đích cao và nhẫn nại.
    • Im lặng là vàng.
    • Ai cũng thích được tặng quà -> chú ý đến khuyến mại.
    • Nhớ một nguyên lý: “ông rút chân bà thò nậm rượu” -> Hai bên cùng có lợi.
    • Nên đưa ra phương án đơn giản để đối phương lựa chọn.

    b- Xây dựng các giải pháp linh hoạt và chủ động.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 49
    • Xác định mục tiêu chính của đàm phán từ nhiều góc độ.
    • Biết cân nhắc lợi ích lâu dài với hạn chế trước mắt.
    • Phải linh hoạt với nhiều mức độ khác nhau.
    • Đôi lúc phải biết giả thua.
    • Phải phân biệt những vấn đề nhỏ với vấn đề lớn, sẵn sàng linh hoạt nhân nhượng vấn đề nhỏ, nhưng đòi hỏi đối phương nhân nhượng vấn đề lớn
    • Phải biết giả thua: đưa ra yêu cầu cao, đối phương đòi nhân nhượng. Ta giảm yêu cầu tuy nhiên vẫn là người đạt được mục tiêu.

    c- Chú ý tính kỹ thuật tính kế hoạch.

    • Lường trước những câu trả lời, vấn đề cơ bản cần phải phản ứng, và những phương án mang tính nhượng bộ cho đối phương.
    • Lường trước cách trình bày: đảm bảo tính thuyết phục và công bằng, tài liệu và tư liệu là bí quyết để hỗ trợ cho đàm phán mang tính chính thống.
    • Quan tâm tới sổ đàm phán: sổ ghi chép những thông tin tình tiết, nhượng bộ trong đàm phán.
    • Chú ý chiến lược trong đàm phán: Phải thể hiện mình là người có quyết tâm nhất, trả giá cao nhất. Vừa đấm, vừa xoa. Người nói nhiều, người nói ít phải phân định rõ ràng.

    2.5. Một số tình huống đặc biệt.

    1. Chiến thuật và biện pháp đàm phán.
    • Có thể doạ nạt, kích động để lọc ra những cơ hội mới.
    • Phải kiên nhẫn, không nên sớm nhượng bộ, cũng không nên căng thẳng quá.
    • Cố gắng chèo kéo thêm (tiểu xảo xin thêm).
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 50
    • Ngôn ngữ đàm phán cần để hướng mở cho lần sau.
    • Phải cộng lại chiến thuật: “ Chỉ có một sự lựa chọn”.
    1. Đàm phán với người khó làm việc.
    • Với người thích doạ nạt: không cần căng thẳng, cần giữ vững lập trường không bị áp đảo trước lời doạ nạt của đối phương.
    • Không nhất thiết phải đối đầu hãy mềm dẻo.
    • Thận trọng để không bị sai lầm, tranh thủ sự mất cảnh giác của đối phương.
    1. Với những người huyênh hoang: Cần đến sự giúp đỡ của đối phương: để họ tự đánh giá.
    1. Những người thiếu quyết đoán:
    • Phải từ từ và nhẫn nại.
    • Hãy tâng bốc họ trước đồng nghiệp của họ -> làm họ mất cảnh giác.
    • Phải hạn chế nhượng bộ, phải quyết liệt.
    • Ví dụ: Nên hỏi: Trong bao phương án, tôi chọn phương án này ông có đồng ý không ? Không nên hỏi để họ lựa chọn.
    • Cương quyết khi cần thiết: Khi cứng rắn cần chú ý:
    • Thể hiện rõ quan điểm, không giải thích, nhượng bộ phải chăng, đặt mục tiêu cao.
    • Những điều nên làm: Phải tin vào sự mách bảo của trực giác: khi tiếp xúc quan sát nảy sinh về độ tin cậy.
    • Hãy thương lượng theo kiểu của mình.
    • Không để lộ điểm yếu, không để cố vấn nói nhiều, tỉnh táo trước những tình huống giả.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 51

    2.6. Một số tiểu xảo trong đàm phán

    1. Tiểu xảo chê bai: Bám vào cái hạn chế để chê bai.
    1. Tiểu xảo vờ bỏ đi: Vờ bỏ đi để khách hàng quay lại
    • Tiểu xảo cạnh tranh công kênh:Dùng giá của đối tác thứ 3, 4 nào đó để làm hạ giá đối phương, tạo cú huých
    1. Tiểu xảo “hỏi ý kiến cấp trên”
    1. Tiểu xảo xin thêm.
    1. Tiểu xảo cưa đôi chênh lệch
    1. Tiểu xảo siết ốc.
    1. Tiểu xảo liên tưởng
    1. Tiểu xảo đưa ra bằng chứng về số liệu thống kê.
    1. Tiểu xảo đưa ra các thông lệ.
    1. Chiến lược chia cắt đối phương để chinh phục.
    1. Tiểu xảo “gây nóng giận”
    1. Tiểu xảo đẩy vấn đề vào việc đã rồi.
    1. Tiểu xảo “mời đối tác tham quan công ty của mình”.
    1. Tiểu xảo đánh trống lảng khi bị chất vấn.
    1. Tiểu xảo câu giờ.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 52
    1. Tổ chức và quản lý văn phòng môi giới bất động sản Văn phòng môi giới BĐS là pháp nhân hoặc là cá nhân

    Nếu là pháp nhân thì phải ít nhất có 2 nhân viên có chứnh chỉ môi giới BĐS, Nếu là cá nhân hoạt động Môi giới BĐS phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

    Người quản lý điều hành văn phòng môi giới phải có chứng chỉ môi giới bất động sản.

    Văn phòng môi giới phải có diện tích tối thiểu 30 m2 đủ để hoạt động

    Văn phòng phải có quy chế hoạt động được niêm yết công khai để khách hàng biết

    Văn phòng phải hoạt động thông qua hợp đồng với khách hàng , thu phí môi giới theo thoả thuận và theo quy địng của pháp luật

    1. Hình thành văn phòng Môi giới. Chọn vị trí văn phòng Môi giới.

    – Trang bị cho văn phòng; không cần đòi hỏi nhiều về trang bị. – Thông tin quảng cáo cho văn phòng

    • Tên văn phòng.
    • Chương trình quảng cáo phù hợp.
    • Vấn đề nhân sự: số lượng, cơ cấu.
    • Chọn nhân viên có năng lực để: tăng cao chất lượng cho khách hàng, tăng chất lượng sống cho người Môi giới.
    • Các dạng nhân viên

    . Điều phối viên và niêm yết (MLS)

    . Nhân viên về thế chấp.

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 53

    . Điều phối viên thực địa.

    . Nhân viên tìm kiếm khách hàng.

    • Cơ sở bố trí nhân viên và tìm kiếm nhân viên
    • Lên danh sách trách nhiệm của từng bộ phận. Liệt kê công việc của từng bộ phận phải làm.
    • Xác định cần bao nhiêu người trong từng bộ phận?có trình độ chuyên môn? Tính cách như thế nào?.
    • Xem xét trách nhiệm công việc của từng người để tìm ra mức hợp lý.
    • Khi chọn nhân sự cần chú ý:
    • Chọn đúng người và đặt đúng chỗ.
    • Gây dựng lòng tin.
    • Tạo được hình ảnh, sự kính trọng của nhân viên bằng sự chân thành dựa vào tài năng và đạp đức nghề nghiệp.
    • Phải công bằng khích lệ nhân viên -> tạo sức mạnh đoàn kết.
    • Dựa vào tài đức của nhân viên hơn là sự thân quen.
    1. Quản trị văn phòng Môi giới. Điều hành văn phòng Môi giới.
      • Ba công việc mà nhà Môi giới phải đảm nhiệm:
    • Vạch mục tiêu và khách hàng kinh doanh.
    • Tổ chức và lãnh đạo thực hiện công việc.
    • Đánh giá và động viên nhân viên văn phòng.

    Lập kế hoạch hoạt động :

    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 54
    • Xem xét một số vấn đề cơ bản sau:
    • Số lượng thương vụ bao nhiêu để đạt mức lợi nhuận mong muốn.
    • Xem chương trình quảng cáo như thế nào?
    • Cần làm gì để đạt mức bán theo yêu cầu đó.
    • Kế hoạch ngân sách hoạt động cho văn phòng gồm:
    • Quảng cáo.
    • Chi phí liên quan.
    • Chi phí bưu phẩm, điện thoại.
    • Tiền lương nhân viên.
    • Chi phí điện nước.
    • Chi phí bảo hiểm.
    • Khấu hao trang thiết bị văn phòng.
    • Tiền thuê văn phòng.
    • Thuế thu nhập.
    • Chi phí khác.
    • Quản trị tài chính.
    • Quản trị nhân sự.
    • Lập khách hàng nhân sự.
    • Tuyển nhân viên:
    • Xác định năng lực chuyên môn của nhân viên.
    • Động cơ của nhân viên: cách kiểm tra, trắc nghiệm, viết, phỏng vấn.
    • Hình thức đào tạo của nhân viên trước kia.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 55
    • Thời gian thử việc của nhân viên.
    • Lựa chọn người quản lý văn phòng: có năng lực tổ chức…
    • Đào tạo nhân viên
    • Đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên.
    • Đưa ra mức lương thưởng hợp lý.
    • Trả lương dựa trên đóng góp cho doanh nghiệp.
    • Giữ được tính cạnh tranh trên thị trường.
    • Đảm bảo sự công bằng trong đóng góp và hưởng thụ.
    • Mức lương đó phải động viên được nhân viên.
    • Phảo phù hợp với đièu kiện tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của văn phòng.
    • Chính sách trả lương theo phần cứng và phần mềm.

    Phân tích hiệu quản kinh doanh.

    Các chỉ tiêu để đạt hiệu quả trong kinh doanh.

    • Lợi nhuận/tổng doanh thu : Mức độ lợi nhuận so với khách hàng từng giai đoạn để từ đó có biện pháp phù hợp.
    • Lợi nhuận/ lao động: cho phép ngừôi quản lý đánh giá năng suất lao động của các nhân viên giữa các thời kỳ trong năm hoặc so sánh với cùng kỳ trước.
    • Lợi nhuận/ mỗi giao dịch: -> Tìm quy mô giao dịch -> Tìm kiếm các giao dịch lớn và bố trí giao nhiệm vụ cho từng nhân viên phù hợp với năng lực của từng nhân viên./.
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 56
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land 57

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    Nhiều bạn trẻ vô cùng háo hức bước chân vào nghề môi giới bất động sản bởi sức hấp dẫn của tiền bạc, bởi những tấm gương là các bạn trẻ kiếm được cả tỉ đồng từ chính nghề này.

    Tuy nhiên, khi bước chân vào nghề thì gặp vô vàn khó khăn, nên thực tế chỉ có 5% đạt được thành công, số còn lại sống lay lắt với nghề, thậm chí chuyển sang nghề khác cũng khó khăn do thói quen kiếm tiền “cục” từ nghề này.

    Vậy để thành công trong nghề, bạn cần phải có đủ 9 yếu tố sau mới có cơ hội để thành công.

    1. Kỹ năng phân tích sản phẩm bất động sản

    Nhu cầu sở hữu bất động sản của mỗi người là khác nhau, có người muốn mua để cho thuê, có người muốn mua để ở, có người muốn mua để đầu tư sinh lời, nhưng cũng có những người muốn mua chỉ để thoả mãn cảm xúc cá nhân mà thôi. Vì vậy, người môi giới bất động sản nhất thiết phải biết phân tích sản phẩm của mình đáp ứng được chính xác nhất cho nhóm đối tượng nào. Đây chính là kỹ năng căn bản để bạn bắt đầu quy trình bán, chính vì điều này, các chủ sàn thường phải “đè” các bạn ra để đào tạo về sản phẩm.

    2. Kỹ năng phân tích đôi tượng khách hàng

    Sau khi bạn đã biết chính xác đối tượng khách hàng của bạn là ai, thì trách nhiệm của bạn là phải tìm ra nơi họ thường đến, nơi có thông tin của họ, trang mạng mà họ hay truy cập, sở thích và lo sợ của họ… Từ đó bạn mới có thể tiếp cận họ một cách “nhẹ nhàng” và hiệu quả.

    3. Kỹ năng Telesale

    “Xin lỗi, tôi bận”, đó là câu trả lời mà các bạn trong nghề môi giới thường xuyên gặp phải, mặc dù không muốn nghe. Vậy nên, phương pháp xây dựng nội dung tiếp cận, và kỹ năng tiếp cận khách hàng là cả một nghệ thuật. Đây là bước mà các bạn nhân viên môi giới bất động sản thường xuyên thất bại. Sau bước này, có tới 50% saler nghĩ tới chuyện bỏ nghề, nếu vượt qua, họ tiếp tục đối mặt với khách hàng trong vòng tiếp theo.

    4. Kỹ năng tư vấn

    Làm thế nào để khách hàng nhận ra rằng, đây mới là căn nhà mơ ước của mình, đây mới là sản phẩm sinh lời của mình, hay đây mới là căn nhà cho thuê hiệu quả? Điều đó, phụ thuộc hoàn toàn vào sự lắng nghe và phân tích tâm lý, nhu

    cầu khách hàng của bạn. Đến vòng này, có tới 10% saler thất bại và bỏ nghề. Nếu bạn vượt qua vòng này, thì vòng làm cho khách hàng ra quyết định sẽ là thử thách tiếp theo của bạn.

    5. Kỹ năng chốt sale

    Người đi mua luôn đau khổ hơn người bán, nhưng bạn thường nghĩ ngược lại, điều này khiến bạn mất bình tĩnh và dồn người mua bằng phương thức “chèo kéo”. Hãy làm cho khách hàng ra quyết định bằng chính niềm tin và cảm xúc của họ, đó là cả một nghệ thuật. Vòng này, có tới 25% bỏ cuộc, vì gặp khách nhiều mà chốt chẳng được bao nhiêu. Thoát được vòng này, bạn gần như là người chiến thắng, vì khách hàng đã xuống “cọc”.

    6. Kỹ năng chăm sóc khách hàng

    Bạn nên nhớ, khách hàng xuống cọc, chưa đồng nghĩa với việc đã kết thúc bán hàng. Bạn phải tiếp tục chăm sóc, chia sẻ lo lắng cùng khách hàng một cách kịp thời để hoàn tất công đoạn mua bán.

    7. Kỹ năng quản trị tệp khách hàng

    Tài sản lớn nhất của những người làm nghề lâu năm, chính là họ sở hữu tệp khách hàng đã từng giao dịch với họ và hạnh phúc sau giao dịch. Họ sẽ yên tâm giao dịch với bạn lần tiếp theo, hoặc giới thiệu khách hàng cho bạn. Vậy nên, hãy quản trị và khai thác tốt tệp khách hàng mà bạn có.

    8. Hãy là nhà môi giới chuyên nghiệp và kiên định

    Một người mới bước chân vào nghề, thường phải mất 3 tháng mới có thành quả đầu tiên, mất hàng năm, thậm chí vài năm mới có được tệp khách hàng để khai thác. Nhưng thực tế, các bạn trẻ không sẵn sàng đón nhận quy luật tất yếu này, họ kỳ vọng, rồi thất vọng, rồi trễ giờ, rồi mệt mỏi, rồi bỏ cuộc. Có đến 10% số nhân viên đã có kết quả bán hàng, nhưng họ vẫn bỏ cuộc, do chu kỳ thành công kéo dài khiến họ không đủ kiên trì.

    9. Sự tự mãn

    Thành công trong nghề môi giới bất động sản là quá nhanh so với ngành nghề khác, may mắn một nhân viên có thể kiếm được vài tỉ một năm. Điều này, cũng đồng nghĩa với việc họ cho rằng họ quá giỏi, họ cho mình được cái quyền ăn chơi, họ ngủ say trên chiến thắng, rồi lại gặp thất bại và bỏ cuộc.

    Khả năng môi giới là chìa khoá để hoàn thành bất cứ một thương vụ về bất động sản thành công nào, dù lớn hay nhỏ. Vấn đề ở đây là nghệ thuật môi giới phức tạp hơn nhiều việc mặc cả giá bán. Đó là sự chuẩn bị tinh thông, kiến thức về bản tính của con người, là cách thức tìm hiểu làm thế nào để phát hiện và khai thác được những điểm yếu của đối phương, học những kỹ năng đặc biệt và nhiều điều phức tạp khác. Theo Donald Trump thì trong môi giới về bất động sản nên áp dụng các thủ thuật sau :

    10. Tạo nên tính độc nhất cho bất động sản

    Một trong những quy luật cơ bản nhất của bản chất con người là chung ta ai cũng muốn có thứ mà người khác muốn có hoặc không ai khác có được. Nếu bạn nói với ai đó rằng bạn không muốn bán một khu bất động sản của mình, có thể họ sẽ muốn có được khu bất động sản đó hơn. Thậm chí, có thể họ sẽ bám lấy bạn cho đến khi bạn phải đưa ra một mức giá. Điều đơn giản là một thứ gì đó với số lượng có giới hạn sẽ tạo sẽ tạo ra một mong muốn sở hữu nó.

    11. Đừng để cảm giác hợp lý đánh lừa

    “Cảm giác hợp lý” đánh lừa tất cả những ai không chú ý đến nguy hiểm mà nó tạo ra. Đó là sự nhẹ dạ của những ai tin vào những gi mà họ độc được từ các văn bản hoặc nghe được từ các phương tiện thông tin đại chúng hay một vài nguồn thôn tin xác đáng từ chính quyền. Nó âm ỉ ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của tất cả mọi người trong cách biểu hiện của nó.

    Vậy làm thế nào để tránh được hiệu ứng thôi miên của cảm giác hợp lý?

    Đừng tiếp nhận thụ động mọi điều mà bạn đọc được hoặc nghe được từ những người môi giới, những người bán, những người mua, những người đi thuê, các chuyên gia hoặc những gì bạn xem được trong ti vi như thế là chúng đã được khắc vào đá. Hãy sẵn sàng chấp nhận đào bới lại thông tin để xác nhận lại sự thật đằng sau bất kỳ một dự án nào anh tham gia.

    Và làm thế nào để sử dụng nguyên tắc về cảm giác hợp lý phục vụ cho lợi ích của mình?

    Bây giờ bạn biết được ảnh hưởng của sự rõ ràng của tính hợp pháp đối với những điều khác, thật dễ dàng sử dụng nó cho lợi ích của bản thân. Hãy sử dụng văn phong dễ đi vào lòng người với những bài viết trên các tờ báo được ưa chuộng và phù hợp, các báo cáo từ các nguồn xác đáng của chính quyền và các khu bất động sản được ưa chuộng khác để so sánh mà bạn thu thập được.

    Quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng , nhấn mạnh đó là “những căn hộ cho thuê cuối cùng”, ” phần cho thuê cuối cùng của chủ thầu”, ” giảm giá lần cuối”, “chào giá đặc biệt”, ” thiết kế đặc biệt” hoặc một câu nào đó tương tự sẽ tạo ra được mong muốn sở hữu bất động của bạn.

    Hãy dùng trí tưởng tượng của bạn nhưng mọi thứ phải khéo léo để đạt được hiệu quả.

    12. Bất kỳ cuộc thương lượng nào cũng cần lập kế hoạch trước

    Điều này chỉ ra rằng người ta sẽ cố gắng ở mức độ cần thiết tối thiểu để hoàn thành bất cứ một thương vụ nào. Điều này rất ăn khớp với sức mạnh của việc lập kế hoạch trước trong đàm phán. Hầu hết chúng ta hoặc không biết cách chuẩn bị trước cho một cuộc đàm phán hoặc ngay cả khi có kiến thức cần thiết cũng quá lười để dành thời gian làm việc này. Đây luôn và thường là một lỗi lớn và rất tốn kém. Nếu có thể đoán trước được các câu hỏi mà mình có thể nhận sẽ nhận được khi ngồi vào bàn đàm phán bạn có thể sẽ đưa ra được những câu trả lời khéo léo và đáp ứng mong muốn của người đưa ra câu hỏi.

    • giai đoạn đầu của cuộc đàm phán, điều bạn nói và cách nói như thế nào có thể giúp bạn có được hiệu quả cao nhất. Ví dụ, khả năng đưa ra câu trả lời nhanh nhất và chín chắn đối với một câu hỏi nhạy cảm sẽ đem lại cảm giác thoả mãn cho người đưa ra câu hỏi. Mặc dù bạn có thể đã suy nghĩa về câu hỏi đó trước khi nói được đưa ra, lập kế hoạch trước cho phép bạn phản ứng lại một cách tự nhiên như là bạn vừa mới nghĩ về nó. Bạn có thể nói ” thế ý kiến này thì sao?” hoặc ” Tôi vừa nghĩ về một điều có lẽ sẽ đem lại hiệu quả tốt”.

    Thực tế là cách suy nghĩ tự nhiên của bạn giống của ho sẽ tạo ra không khí tin tưởng chung và thoả mái trên bàn đàm phán. Lập kế hoạch trước cũng nên bao gồm việc tìm những bài viết trên báo hoặc tạp chí để hỗ trợ cho luận điểm của bạn. Các con số thống kê từ những gnuồn tin cậy cũng có hiệu quả và rất thuêý phục vì chúng bao hàm “Cảm giác hợp lý”.

    Các nhà đầu tư bất động sản có xu hướng suy nghĩ rằng việc mua hoặc bán bất động sản chỉ là cuộc đàm phán duy nhất với một lần chuẩn bị. Không đúng như vậy. Đó là một chuỗi có lẽ của hàng trăm cuộc đàm phán với rất nhiều giai đoạn khác nhau.

    Mỗi một cuộc điện thoại là một lần đàm phán, mỗi một lá thư gửi là một vòng đàm phán, mỗi một lần giao tiếp trong thực tế là một cuộc đàm phán. Và cần phải xử lý chúng riêng biệt với nhau để có được kết quả cuối cùng là điều bạn mong muốn.

    13. Tránh một thương vụ bị quyết định vội vàng

    Nếu bạn cố gắng thương thuyết một hợp đồng nhanh chóng, hiển nhiên là một bên tham gia sẽ quên một điều gì đó quan trọng. Hơn nữa, điều này chỉ trở nên rõ ràng sau khi hợp đồng được ký kết và sẽ quá muộn để sửa chữa những sơ suất đó.

    Những cuộc đàm phán kết thúc quá nhanh thường để lại cảm giác bất an cho một bên tham gia. Một hợp đồng được ký kết nhanh chóng vi phạm rất nhiều nguyên tắc đàm phán cơ bản và hiếm khi là một cách tiếp cận đúng đúng đắn. Tuy nhiên, đối với một người đàm phán có kỹ năng và kinh nghiệm, nhanh chóng ký kết một hợp đồng có thể là một vũ khí lợi hại để có được kết quả đáng nhẽ sẽ không xảy ra nếu phía bên kia có thêm thời gian để xem xét các yếu tố quan trọng. Hãy cẩn thận tối đa khi đẩy nhanh tốc độ đàm phán và thường thì tốt nhất vẫn đàm phán từ từ.

    Lý do ở chỗ, việc thoả mãn lòng tự trọng của cả hai phía trong đàm phán là cần thiết để có được một kết luận cả hai bên cùng chấp nhận. Hãy nhở rằng từ đàm phán bao hàm cả nghĩa “lòng tự trọng” trong đó. Mỗi người tham phải cảm thấy rằng minh đã giành được một số nhượng bộ khó khăn từ phía đối phương và thoả mãn lòng tự trọng của mình rằng mình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    14. Đầu tư thời gian

    Điều này có liên hệ với vấn đề “Tránh một thương vụ vội vàng”. Việc đầu tư thời gian cho biết một người càng danh nhiều thời gian đầu tư và một thương vụ, sẽ càng ít khả năng ông ta sẽ từ bỏ nó”.

    Trong một cuộc đàm phán, bạn có thể sử dụng kỹ năng này để phục vụ cho lợi ích của mình bằng cách buộc bên kia dành nhiều thời gian cho thương vụ hơn, với những yêu cầu hợp lý về thông tin, để có được một cuộc đàm phán chậm và kéo dài về mặt thời gian và những điều tương tự.

    Vì người ta ghét ý tưởng phải phí phạm thời gian vào cái gì đó, họ sẽ làm mọi thứ để cứu vãn giao dịch đó. Rất khó để một ai đó nói rằng “hãy quên tất rất cả đi” và bỏ đi sau khi đã đầu tư một lượng lớn thời gian và cố gắng vào nó.

  • Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Nguyên tắc định giá bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Nh%E1%BB%AFng-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-gi%C3%A1-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t.-Li%C3%AAn-h%E1%BB%87-v%E1%BB%9Bi-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Thị trường bất động sản ở Việt Nam đã được hình thành và đang trong quá trình phát triển bước đầu được mở rộng. Đến nay các tác nhân tham gia thị trường này bắt đầu hoạt động có hiệu quả tạo cơ sở cho tính ưu việt của thị trường này hoạt động. Quyền sử dụng đất là một loại hàng hoá quan trọng của thị trường đó. Vì thế giá quyền sử dụng đất hay nói ngắn gọn là giá đất có một vị trí đặc biệt trong thị trường bất động sản, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng. Đất đai là một nhu cầu thiết yếu của mỗi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bởi vì đất đai là điểm tựa để sinh hoạt, lao động, sản xuất… Tất cả mọi người đều có nhu cầu có chỗ ở, tất cả mọi xã hội đều cần đất đai để phát triển…Có thể nói không có đất không có sự tồn tại của xã hội loài người. Đặc biệt, đối với cá nhân, hộ gia đình đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng vì nhu cầu có chỗ ở là nhu cầu thiết yếu của con người, hay như các cụ ta thường nói “ an cư mới lạc nghiệp”. Tuy nhiên, đất đai lại không thể được sản xuất đại trà như các loại hàng hoá khác bởi những đặc trưng của nó vì thế đất đai ngày càng trở nên khan hiếm. Mà đất càng khan hiếm thì giá của nó ngày càng cao. Sự thực hiển nhiên đó giải thích vì sao khi đi mua đất quan tâm hàng đầu của tất cả mọi người không phân biệt giàu, nghèo chính là giá đất. Thực tế hiện nay giá đất cũng gây rất nhiều bức xúc cho cả cơ quan có thẩm quyền và người dân bởi vì giá đất quá cao, có thông tin cho rằng giá đất ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn cao hơn giá đất ở thủ đô Tokyo của Nhật Bản. Ngoài ra giá đất trong bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi cũng còn nhiều bất cập gây tình trạng lôn xộn như trong thời gian qua. Chính vì những bất hợp lý về giá đất hiện nay mà tôi quan tâm đến giá đất. Để tìm hiểu kỹ hơn những vấn đề liên quan đến giá đất, thực trạng những gì đang diễn ra liên quan đến giá đất đặc biệt tôi quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam”. Đồng thời tìm hiểu vấn đề này tôi cũng bổ sung được kiến thức các môn học trong nhà trường và chắc chắn sẽ có ích cho công việc trong tương lai.

    Để nghiên cứu được đề tài này tôi đã sử dụng kiến thức của các môn: kinh tế tài nguyên đất, Nguyên lý thị trường bất động sản, Định giá bất động sản. Để có cái nhìn đúng đắn về những vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, điều tra, phân tích.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    2

    Đề án môn học

    Kết cấu của đề tài này như sau:

    Chương I: Cơ sở lý luận về giá đất

    1. Khái niệm, quan điểm về đất đai. 1.Khái niệm

    2.Các quan điểm về giá đất.

    1. Sự cần thiết phải xác định giá đất.

    III. Cơ sở hình thành giá đất.

    1. Bản chất của giá đất
    1. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.
    1. Các phương pháp định giá đất hiện nay.
    1. Phương pháp so sánh trực tiếp.
    1. Phương pháp thu nhập
    1. Phương pháp đầu tư

    Chương II: Những nhân tố ảnh hưởng đến giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất đai.
    1. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    1. Quá trình đô thị hoá.
    1. Yếu tố cạnh tranh.
    1. Chính sách tiền tệ
    1. Chính sách pháp luật

    Do thời gian và trình độ có hạn, đề tài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý vị để đề tài này hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trung tâm đào tạo Địa chính và Kinh doanh bất động sản đặc biệt là Ths. Vũ Thị Thảo đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    3

    Đề án môn học

    Chươ ng I.

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ ĐẤT

    I.                   KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐẤT ĐAI.

    1.Khái niệm về đất đai

    Luật Đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam khẳng định:” Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”. Như vậy đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cũng như trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong tiến trình lịch sử của loài người, con người và đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đất đai là nguồn của cải vô tận của con người, dựa vào đất đai con người tạo nên được những sản phẩm để duy trì sự tồn tại của mình. Khi dân số ngày càng đông thì đất đai vẫn có khả năng tạo ra một lượng sản phẩm lớn hơn lượng sản phẩm đủ để duy trì sự sống của người lao động. Ngược lại, con người cùng với những tác động tích cực hay tiêu cực đến đất đai nhằm phục vụ đời sống của mình. Đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, là một trong những tài nguyên vô cùng quan trọng của con người. Có thể nói không có đất đai không thể có sự tồn tại của xã hội loài người.

    Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, vận tải, thuỷ lợi… Đất đai còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành xây dựng như: gạch ngói, gốm sứ…cho các ngành công nghiệp chế biến, cao su, cà phê…ngoài ra đất đai con tham gia vào các ngành sản xuất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân đất đai cũng giữ vai trò khác nhau. Đặc biệt trong nông nghiệp đất đai là yếu tố hàng đầu của đó là yếu tố đầu vào cần thiết và không thể thiếu được. Đối với nước ta- một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì đất đai càng quan trọng. Đất đai cũng là cơ sở để sản xuất ra tất cả các vật phẩm phục vụ cuộc sống của con người. Bởi vậy Wiliam Petis đã khẳng định: “Lao động là cha, đất là mẹ của của cải”.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    4

    Đề án môn học

    Khi xã hội càng phát triển vai trò của đất đai ngày càng trở nên quan trọng. Do những yêu cầu của thực tiễn đất đai trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Dân số nước ta ngày càng tăng lên, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, mà tổng cung về đất đai coi như không đổi nên đất đai trở nên khan hiếm. Nhu cầu về đất đai tăng nhanh bởi vậy giá trị của nó được quan tâm nhiều hơn.

    Đất đai là nguồn của cải, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Nó cũng là một trong những bộ phận lãnh thổ của đất nước. Tôn trọng chủ quyền của một quốc gia trước hết phải tôn trọng lãnh thổ của quốc gia đó. Như vậy, đất đai không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có một ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với an ninh quốc gia. Với những gì đất đai mang lại cho con người, chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Trong bất cứ một giai đoạn nào của lịch sử, trong bất cứ hoàn cảnh nào đất đai cũng là nơi cư trú của con người, là nguyên liệu, là cơ sở cho mọi lĩnh vực sản xuất vật chất.

    Đất đai theo khía cạnh địa lý được hiểu một cách cụ thể như sau: Đất đai là sản phẩm của tự nhiên qua quá trình phong hoá đá mẹ hình thành nên nhiều loại đất khác nhau. Mặt khác, đất đai là lớp bề mặt của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống loài người, là môi trường để con người hoạt động gắn bó chặt chẽ với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định. Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó để nuôi sống mình. Đất đai luôn luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động nào của con người và cũng không thể tồn tại xã hội loài người.

    Về môi trường, đất đai thường gắn liền với khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và yếu tố không gian và được phân bố rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cũng như trên từng vùng, từng miền lãnh thổ. Đất đai là yếu tố hình thành nên môi trường và chịu tác động của môi trường. Do đó đất đai và môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua các tác động tích cực của con người vào đất đai, môi trường sẽ được bảo vệ như là trên đất dốc, đất đồi núi trọc khi trồng cây gây rừng làm giảm độ xói mòn, bảo vệ được mạch nước ngầm, điều hoà không khí…Ngược lại, đất đai nằm ở cạnh các khu công nghiệp không xử lý triệt để nước thải thì môi trường đất cũng sẽ bị ô nhiễm.

    2.                 Các quan điểm về giá đất.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    5

    Đề án môn học

    Giá đất là một phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với quá trình trao đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế…Trong quá trình sử dụng đất luôn luôn có lao động kết tinh trong đất nên đất đai có giá trị và giá trị sử dụng. Khi hai giá trị này đươck thể hiện qua quan hệ trao đổi tức là có người mua và người bán thì đất đai trở thành hàng hoá. Giá đất được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ, hiệu quả của quá trình sử dụng đất. Đây là một vấn đề rất phức tạp mà hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Trong đó có các quan điểm nổi bật sau:

    Có quan điểm cho rằng với mục đích xác định giá đất như hiện nay cần phải giả quyết, điều hoà hai lợi ích luôn đối lập nhau: Xác định giá đất để tính nguồn thu ngân sách Nhà nước như: tính thuế, tính tiền giao đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…Xác định giá đất để bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, khi thế chấp, khi đấu giá quyền sử dụng đất, để trả nợ và thi hành án…Đó là hai mặt đối lập nhau về lợi ích. Thực chất quan điểm này là đi giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan trong quan hệ giao dịch dân sự. Để giả quyết lợi ích của người bị Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất. Khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích công cộng, quốc phòng an ninh sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị thu hồi đất. Đất đai, tài sản bị thu hồi mặc dù được bồi thường nhưng các hộ trong diện phải di dời sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nếu không có khu tái định cư họ phải tự đi tìm nơi ở mới. Đặc biệt đối với những hộ có vị trí đất tốt đang tiến hành kinh doanh có hiệu quả mà phải di dời đến vị trí khác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của họ. Trong trường hợp đó việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích trước mắt của các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức. Mặt khác, người Việt Nam còn có tâm lý gắn bó với nơi mình sinh sống, không muốn chuyển đi nơi khác với những mối quan hệ khác. Vì thế để giải quyết lợi ích của người bị thu hồi đất đồng thời thuyết phục được tâm lý ấy, Nhà nước phải đặt ra giá bồi thường hợp lý để không làm tổn hại đến lợi ích của họ.

    Bên cạnh đó còn có quan điểm cho rằng cần phải giải quyết đầu tiên vấn đề hai giá đối với cùng một thửa đất, với hai nội dung là: Một là, giá đất do Nhà nước xác định khi thu hồi đất cần lấy theo giá đất khi chưa chuyển mục đích sử dụng, chưa có đầu tư, do đó giá thấp ( ví dụ là giá đất nông nghiệp); nhưng sau khi chuyển mục đích sử dụng để giao, để cho người khác thuê, thì giá đất cao ( ví dụ là giá đất ở tại đô thị). Hai là, xem xét giá đất do Nhà nước xác định và giá chuyển nhượng thực tế

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    6

    Đề án môn học

    trên thị trường. Thực tế có hai loại giá đất được áp dụng đó là giá thị trường và giá chuẩn. Giá thị trường của đất là giá hiện thực áp dụng trong mua bán quyền sử dụng đất, giá này tự điều chỉnh lên xuống tuỳ theo nhu cầu sử dụng đất và chính sách của Nhà nước về đất đai. Giá chuẩn là giá do Nhà nước xây dựng dựa trên các yếu tố: giá cả thị trường, mức thu nhập của người tiêu dùng, sức mua của đồng tiền. Thông thường giá chuẩn được xây dựng thành khung giá, là giá tối đa, tối thiểu do Nhà nước quy định để quản lý giá đất và kiểm soát sự biến động của thị trường đất phục vụ cho mục tiêu quản lý Nhà nước về đất đai. Với 4 lần thay đổi khung giá đất của Chính phủ, với khoảng vài năm một lần thay đổi khung giá của các UBND tỉnh, với sự biến động kinh tế, xã hội rất khác nhau của 64 tỉnh, thành phố làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất đã làm cho khoảng cách giữa giá đất của Nhà nước và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế quá cách biệt, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước tạo ra nhiều mâu thuẫn trong xã hội.

    Quan điểm của Nhà nước về giá đất theo văn bản mới nhất là Luật đất đai 2003 là: “ Giá đất được hình thành trong các trường hợp:

    Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.

    Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.

    Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quỳên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất” ( Điều 55).

    Giá đất do Nhà nước quy định cần phải đảm bảo các nguyên tắc theo Điều 56 Luật đất đai 2003.

    II.               SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT.

     

    Giá đất là phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với các quá trình trao đổi,

    chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, góp vốn… và có liên quan đến lợi ích của các đối tượng liên quan. Thông thường, trước khi tài sản nhà đất tham gia các giao dịch cho các mục đích khác nhau đều cần phải xác định giá đất.

    Chúng ta biết rằng giá đất được xác định thông qua luồng thu nhập do mảnh đất đó mang lại nên giá đất để đánh giá tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Nếu người sử dụng đất biết khai thác những lợi thế của mảnh đất thì sẽ đánh giá mảnh đất đó có giá cao hơn những người không thấy được lợi thế đó. Vì thế đất đai càng được sử dụng có hiệu quả thì giá của nó sẽ càng cao. Đặc biệt, đối với bất kỳ một sự trao đổi, mua bán của một loại hàng hoá nào đều cần phải có yếu tố giá cả.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    7

    Đề án môn học

    Quyền sử dụng đất cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất là một hàng hoá đặc biệt. Nó không được bày bán trên thị trường như các hàng hoá khác. Người mua và người bán không có cơ hội và đủ lượng thông tin cần thiết để lựa chọn. Mặt khác, đất đai thường có giá trị lớn, số lần mua bán ít do đó thiếu kinh nghiệm. Vì những lý do đó nên xác định giá đất cần phải có các nhà chuyên môn có kinh nghiệm. Như vậy, các loại giao dịch trên thị trường bất động sản liên quan đến quyền sử dụng đất đều cần phải xác định giá đất. Ngoài ra, giá đất theo khung giá của Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện để sở hữu toàn dân về đất đai được hoà nhập vào cơ chế thị trường. Khung giá đất ban hành theo loại đường phố, theo vị trí. Hệ thống khung giá này còn bao gồm bảng giá của các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo từng năm. Các giao dịch trên thị trường quyền sử dụng đất đều dựa trên cơ sở của khung giá này để định giá cho thửa đất. Hiện nay, giá trong khung giá mới theo Nghị định 188 đã cao hơn rất nhiều so với khung giá cũ, chẳng hạn ở Hà Nội, giá cao nhất là 67.2triệu đồng/ m2, thấp nhất là 500 nghìn đồng/ m2.. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng đất tham gia công khai vào thị trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung. Mặc dù khung giá đất đã nâng lên đáng kể nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường, vì vậy nảy sinh các hoạt động giao dịch “ngầm” vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước.

    Đặc biệt, đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đó là một chính sách để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng. Từ trước đến nay có lẽ những vướng mắc nhiều nhất liên quan đến đất đai là giá bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích công cộng, quốc phòng an ninh…Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên là điều tất yếu trong đó chủ yếu là đất xây dựng khu công nghiệp, khu chung cư, đường giao thông…Để làm được điều đó Nhà nước ta buộc phải thu hồi đất nhưng để đảm bảo lợi ích của người đang sử dụng đất Nhà nước phải bồi thường. Tuy nhiên, giá bồi thường thường thấp hơn giá thị trường từ 3 đến 5 lần thậm chí có nơi lên tới 10 lần dù các địa phương đã áp dụng giá bồi thường được phép tăng lên 20% so với khung giá đất của Nhà nước. Đó là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng khiếu kiện liên miên đồng thời không có mặt bằng xây dựng. Đứng trước thực tế trên Nhà nước phải có biện pháp nghiên cứu xác định giá đất hợp lý hơn, gần với giá thị trường hơn.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    8

    Đề án môn học

    Qua nội dung trình bày ở trên ta thấy giá đất thực sự cần thiết trong rất nhiều lĩnh vực. Vì thế phải xác định giá đất chính xác, hợp lý để đảm bảo tính công bằng, giải quyết hài hoà lợi ích của các bên tham gia: người mua- người bán, người thế chấp – Ngân hàng, người bị thu hồi đất – Nhà nước.

    III. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIÁ ĐẤT.

    Đất đai được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài. Ban đầu đất đai chỉ đơn thuần là sản phẩm của tự nhiên, nhưng do sự phát triển của xã hội đất đai trở thành sản phẩm của xã hội. Vì vậy, giá đất được hình thành trên cơ sở yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội.

    1.     Bản chất của giá đất.

    Mua đất là mua quyền thu địa tô, nên giá đất căn cứ vào khả năng sinh lời của đất, mà địa tô là hình thái theo đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế tức là đem lại thu nhập cho người sở hữu ruộng đất đó. Địa tô xuất hiện khi có sự tách rời giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Người sở hữu ruộng đất đó có quyền sử dụng ruộng đất theo ý muốn của họ: Trực tiếp kinh doanh hoặc cho thuê. Trong trường hợp cho thuê quyền sở hữu ruộng đất và quyền dụng đó tách rời, người thuê đất phải trả cho người chủ đất một khoản tiền nhất định theo hợp đồng. Quan hệ địa tô trong sử dụng đất thực chất là phân chia lợi ích giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Bởi vậy nó gắn liền với chế độ tư hữu đất đai. Theo tiến trình lịch sử, địa tô được biểu hiện dưới các hình thức: địa tô lao dịch, địa tô hiện vật và địa tô bằng tiền. Trong đó địa tô bằng tiền là hình thức biểu hiện cao nhất và phát triển của địa tô tư bản chủ nghĩa. Các hình thái cơ bản của địa tô là: địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối. Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch do việc sử dụng các thửa đất có điều kiện khác nhau về vị trí và độ phì. Phần này nhà tư bản sử dụng ruộng đất phải trả cho chủ đất.

    Địa tô chênh lệch I có được do việc sử dụng đất đai có điều kiện thuận lợi hơn về vị trí và độ phì. Mặt khác, trong quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất, người sử dụng ruộng đất ( có khi là người sở hữu đất) đã có những đầu tư vào đất làm cho độ phì nhiêu của đất tăng lên, đó là những đầu tư lâu dài hoặc ngắn hạn để làm tăng sản lượng ruộng đất. Những khoản chi phí ấy đều làm tăng sản lượng ruộng đất, và biến ruộng đất từ chỗ vật chất đơn thuần thành ruộng đất tư bản. “Tuy có những thuộc tính tự nhiên như nhau, nhưng một đám đất được canh tác có giá trị lớn hơn

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    9

    Đề án môn học

    một đám đất bỏ hoang” ( Mác – Enghen toàn tập). Địa tô có được nhờ vào việc đầu tư khác nhau vào những đám đất như nhau do đó có được những năng suất khác nhau. Đó là địa tô chênh lệch II. Như vậy, địa tô chênh lệch II có được do đầu tư tư bản liên tiếp trên cùng một loại đất, tức là do trình độ thâm canh quyết định.

    Khi nghiên cứu địa tô chênh lệch, chúng ta đã xuất phát từ giả thuyết giá cả sản xuất chung ngang bằng với giá cả sản xuất cá biệt trên loại đất xấu xã hội cần thiết. Nói cách khác, giá cả sản xuất có tác dụng điều tiết thị trường ngang với giá cả cá biệt trên đất xấu nhất xã hội cần thiết. Khi đó chỉ có những mảnh đất nào có giá cả sản xuất cá biệt thấp hơn giá cả sản xuất cá biệt xã hội cần thiết thì mới có lợi nhuận siêu ngạch- cái sẽ chuyển hoá thành địa tô chênh lệch. Địa tô đó có cơ sở là sự chênh lệch về độ phì tự nhiên hoặc là kết quả chênh lệch giữa các lần đầu tư liên tiếp trên cùng một thửa đất hoặc là kết quả chênh lệch giữa các mức đầu tư khác nhau trong một lần đầu tư trên cùng một thửa đất. Tuy nhiên, theo giả thiết đó thì các chủ tư bản kinh doanh trên đất xấu nhất xã hội cần thiết sẽ không phải nộp địa tô cho chủ đất vì giá cả sản phẩm trên thị trường do giá cả sản xuất trên loại đất xấu đó quyết định và chủ đất loại đất xấu nhất cũng không thu được một địa tô nào cả. Trên thực tế không phải như vậy. Ngay cả loại đất đó cũng đem lại địa tô. Đó chính là địa tô tuyệt đối. Địa tô tuyệt đối là những giá trị thặng dư khác nhau trong việc sử dụng đất đai ứng với tỷ suất giá trị thặng dư như nhau trong những ngành sản xuất khác nhau do có cấu tạo hữu cơ tư bản khác nhau.

    Vì vậy, địa tô là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá đất. Trên cơ sở địa tô cách tính giá đất cần dựa vào các tiêu thức: Mức địa tô thu được hàng năm trên một diện tích đất đai, tỷ suất lợi tức tiền gửi ngân hàng trong năm, ưu thế đất đai về vị trí, chất đất, quan hệ cung cầu về đất đai ở từng thời điểm.

    2. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.

    Đất đai gắn liền với lãnh thổ của một quốc gia vì thế nó liên quan đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia. Đó chính là lý do để hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định đất đai thuộc quyền sở hữu tối cao của Nhà nước. Ở Việt Nam, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý ( Luật Đất đai 1993) còn theo văn bản pháp luật mới nhất về đất đai thì “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Quy định này nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất đồng thời cũng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước không trực tiếp sử dụng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    10

    Đề án môn học

    đất đai mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất. Nhà nước quản lý việc sử dụng đất ở tầm vĩ mô như: quy hoạch sử dụng các loại đất nông nghiệp, phi nông nghiệp; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng…Khi người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì họ sẽ có các quyền lợi sau đối với thửa đất của mình:

    Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất mang lại.

    Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại.

    Được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo và bồi bổ đất.

    Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi.

    Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất và kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất.

    Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

    Song song với những quyền lợi đó người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ đối với đất đai:

    Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định khi giao đất.

    Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và là tăng khả năng sinh lợi của đất.

    Tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

    Nộp thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…

    Giao lại đất cho Nhà nước có quyết định thu hồi.

    Người sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sẽ có những quyền lợi nhất định, đặc biệt họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi vì khi đó họ được pháp luật bảo hộ về quyền sử dụng đất hợp pháp. Ngoài ra họ còn được hưởng lợi từ những công trình công cộng bảo vệ, cải tạo đất mang lại. Chẳng hạn một thửa đất trồng lúa nước, nếu Nhà nước đầu tư cho khu vực đó một hệ thống thuỷ lợi thì người sử dụng thửa đất đo nghiễm nhiên sẽ có được nguồn nước tốt cho

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    11

    Đề án môn học

    ruộng lúa của mình mà không phải mất gì. Còn đối với quy định về quyền được chuyển đổi mục đích sử dụng thì Luật đất đai 2003 đã co quy định cụ thể, có những trường hợp được phép chuyển mục đích sử dụng không phải xin phép cơ quan có thẩm quyền nhưng vẫn phải đăng ký để quản lý, cũng có những trường hợp bắt buộc khi chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan có thẩm quỳên…Ngược lại, trong quá trình sử dụng đất người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhà nước nghiêm cấm việc sử dụng lãng phí đất, huỷ hoại đất. Người sử dụng đất phải tôn trọng các quy định về nghĩa vụ vì chỉ có như vậy chúng ta mới đảm bảo sử dụng đất một cách bền vững.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    12

    Đề án môn học

    IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ ĐẤT HIỆN NAY.

    1. Phương pháp so sánh trực tiếp

    Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Trong quá trình sử dụng có thể được kết hợp với các phương pháp khác. Việc định giá theo phương pháp này là xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá đất của thửa đất, loại đất cần định giá. Có thể nói phương pháp này quan tâm đến sự nhận biết và đo lường tác động của sự hiện hữu hay thiếu vắng một số đặc tính có trong giá cả, tiền thuê của các tài sản có thể so sánh được. Tuy nhiên phương pháp chỉ áp dụng cho các tài sản có tính đồng nhất, các loại đất trồng, các loại đất có khu vực gần nhau và gần giống nhau. Nếu sử dụng phương pháp này để tính giá đất đòi hỏi phải có thông tin rõ ràng về mảnh đất cần được định giá. Nhưng thực tế những thông tin này luôn bị lạc hậu (chỉ cần trong thời gian ngắn). Do đó không thể đảm bảo phương pháp này sẽ tính được giá đất phản ánh đúng giá trị thực tế. Đây là phương pháp có vẻ đơn giản và trực tiếp nhưng lại dễ mắc sai lầm. Khi sử dụng phương pháp này, người định giá muốn so sánh những bất động sản có giá trị ngang nhau trong một vùng hoặc dựa vào các giao dịch được thực hiện trong thời gian trước đó. Để sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp cần thực hiện qua bốn bước sau:

    Thứ nhất là thu thập thông tin về bất động sản đã thực hiện giao dịch trước đó. Trong quá trình thu thập chú ý phải thu thập các bất động sản có điểm tương đồng như: căn hộ cùng loại, cùng khu vực, cùng mục đích sử dụng…

    Thứ hai kiểm tra lại các yếu tố của bất động sản để thấy được khả năng so sánh giữa các bất động sản thu thập được với bất động sản mục tiêu.

    Thứ ba là quyết định lựa chon những bất động sản thích hợp nhất để đưa vào làm các bất động sản tham chiếu cho quá trình so sánh. Căn cứ vào các đặc tính, điều kiện mà bất động sản đó có thể so sánh được.

    Thứ tư là so sánh trực tiếp từng yếu tố của bất động sản mục tiêu với các bất động sản tham chiếu để tìm ra các sai lệch giữa bất động sản mục tiêu và bất động sản tham chiếu.

    Thứ năm là xác định các cơ sở để đánh giá sự thay đổi giữa các tiêu thức so sánh để tìm ra các yếu tố tiến hành điều chỉnh bao gồm:

    +Tính chất ảnh hưởng: ảnh hưởng ít hay nhiều.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    13

    Đề án môn học

    +Đánh giá cảm quan về mức độ xấu- tốt.

    Thứ sáu là tổng hợp tất cả các yếu tố ảnh hưởng sẽ có được giá xác định cho bất động sản mục tiêu, từ đó có được khoảng giá bất động sản mục tiêu.

    2. Phương pháp thu nhập.

    Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức lợi nhuận thuần tuý thu được hàng năm trên một diện tích đất so với lãi suất của tiền gửi ngân hàng quốc doanh có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ cao nhất kỳ hạn 1 năm trên địa bàn. Những khoản lợi nhuận đó nói chung ở dạng tiền cho thuê hoặc giá trị của vốn cho thu hồi trong tương lai. Đây là phương pháp xây dựng trên cơ sở tài chính, là phương pháp mang tính khoa học hơn cả nhưng tài sản nhà đất không hoàn toàn giống các dạng đầu tư tài chính khác. Do đó cần có hiểu biết kỹ lưỡng và có tài liệu chính xác. Phương pháp này được thực hiện theo các bước như sau:

    Bước 1: Tính tổng thu nhập hàng năm do bất động sản cần định giá mang lại.

    Bước 2: Tính tổng chi phí phải chi ra hình thành tổng thu nhập và các khoản phải nộp theo luật định.

    Bước 3: Xác định thu nhập thuần tuý hàng năm theo công thức sau:

    Thu nhập                            Tổng thu nhập                       Tổng chi phí

    thuần tuý      =               hàng năm tính     –            đã tính ở

    hàng năm                             được ở bước 1                          bước 2

    Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức sau:

        Thu nhập thuần tuý hàng năm thu được  
    Giá đất   từ đất  
    ước tính =    
    Lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng  
       

    3. Phương pháp đầu tư.

    Phương pháp đầu tư dựa trên nguyên lý là giá trị hàng năm và giá trị của vốn có mối quan hệ với nhau. Và khi biết trước thu nhập hay giá trị hàng năm do bất động sản tạo ra ta có thể đễ dàng tính ra giá trị vốn ban đầu của bất động sản. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi khi bất động sản tạo ra thu nhập được bán cho người mua với mục đích đầu tư. Nó được xác định dựa trên quan niệm nhà đầu tư

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    14

    Đề án môn học

    có thể đo lường được thu nhập bằng lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế. Giá trị bất động sản được xác định bằng công thức:

    Giá trị bất động sản = Thu nhập x Hệ số vốn hoá.

    Trình tự được thực hiện như sau:

    Bước 1: Ước tính tổng luồng thu thập bất động sản mang lại

    Bước 2: Phải tính đến các khoản chi phí, đầu tư để duy trì, vận hành bất động sản đó.

    Bước 3: Xác định hệ số vốn hoá: xác định tỷ suất sinh lợi của tiền vốn đầu tư được xác định bằng mức sinh lợi của các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động tương tự, có khả năng thay thế.

    Ngoài các phương pháp cơ bản trên các nhà định giá bất động sản còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thặng dư, phương pháp lợi nhuận.

    Nhờ các phương pháp này chúng ta có thể xác định được tương đối chính xác giá bất động sản nói chung và giá đất nói riêng.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    15

    Đề án môn học

    Chương II

    NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ ĐẤT.

    Trong quá trình phát triển của xã hội, loài người dựa vào đất đai và khai thác, sử dụng đất đai để phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Xã hội ngày càng phát triển, của cải làm ra ngày càng nhiều nảy sinh quan hệ mua bán, trao đổi. Nền kinh tế hàng hoá ra đời và ngày càng phát triển đỉnh cao là xuất hiện cơ chế thị trường. Ngày nay, hoạt động kinh tế chịu tác động của cơ chế thị trường. Đất đai cũng không nằm ngoài sự tác động đó, nó trở thành đối tượng trao đổi mua bán, chuyển nhượng và thực sự hình thành thị trường đất đai. Vì vậy chúng ta không thể phủ nhận vài trò quan trọng của giá đất. Nhưng giá đất được xác định như thế nào, độ chính xác ra sao thì có thể dựa vào những phương pháp định giá vừa trình bày ở trên nhưng trước hết chúng ta cần nghiên cứu đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nên giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất.

    Thứ nhất, tôi muốn đề cập đến là tính hai mặt của đất đai đó là đặc tính không thể sản sinh và không thể tái tạo. Đất đai bị giới hạn về diện tích và không gian nhưng có tính vô hạn về thời gian sử dụng. Đất đai được tạo ra do quá trình lịch sử lâu dài của tự nhiên nên được coi là không thể sản sinh được tạo nên đặc tính cơ bản nhất của đất đai. Cũng vì thế mà đất đai có tính khan hiếm và trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Đất đai là sản phẩm tự nhiên, có tính cố định không di dời được và có hạn trên phạm vi toàn cầu và trong phạm vi mỗi quốc gia. Chính vị trí đã quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian của đất đai. Đó cũng là một trong những cơ sở để xác định địa tô- tức là lợi ích mảnh đất đó mang lại. Vị trí đất đai cũng có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng đất. Vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho người sử dụng đất. Chẳng hạn như các đô thị gần các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, gần các đầu mối giao thông thì được khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả hơn so với vùng nông thôn hay những vùng xa xôi, điều kiện giao lưu kinh tế, đi lại khó khăn và do đó giá trị và giá trị sử dụng lớn hơn. Đất đai không thể sản sinh tuy nhiên nó có khả năng tái tạo. Khả năng phục hồi và tái tạo của đất chính là khả năng phục hồi và tái

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    16

    Đề án môn học

    tạo độ phì thông qua tự nhiên hay do hoạt động của con người. Độ phì là một thuộc tính tự nhiên của đất, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước…cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Lợi dụng khả năng tái tạo của đất mà trong lịch sử con người đã có những hình thức canh tác như: chế độ bỏ hoang, chế độ bỏ hoá, chế độ luân phiên cây trồng. Ngày nay con người cải tạo, bồi dưỡng đất bằng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ và tái sử dụng đất đai. Tính hai mặt của đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình sử dụng đất. Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất. Mặt khác phải chú ý ứng dụng khoa học công nghệ để tăng khả năng phục hồi và tái tạo của đất.

    Các đặc tính vật lý khác nhau làm phân biệt đất đai với các tư liệu sản xuất khác như: đất không di chuyển, đất không thuần nhất ( chỉ tính riêng về mặt địa điểm), đất không bị phá huỷ ( không tính đến đầu tư và tài sản trên đất đó). Vì vậy nó có đặc thù riêng về mặt giá trị như sau:

    -Đất đai cố định về mặt số lượng cung cấp…Một yếu tố quan trọng cần biết là trong khi đất đai coi như không đổi về tổng cung thì đất đai cho một chức năng sử dụng xác định lại biến thiên… có nghĩa là sự cung cấp không hoàn toàn bất biến. Ví dụ, Nhà nước khuyến khích xây dựng nhà ở chung cư, nhà cao tầng sẽ giảm bớt sức ép về đất ở cũng sẽ làm thay đổi giá đất ở.

    • Giá trị của đất phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường. Cung đất có thể coi là ổn định, việc sử dụng đất được định hướng bởi nhu cầu của thị trường. Nhu cầu sử dụng loại đất nào tăng lên thì thị trường đáp ứng loại đất tại đó. Ví dụ đất ở tại đô thị khác đất ở tại nông thôn và phụ thuộc vào mức độ phát triển của khu dân cư theo quy hoạch. Điều này thể hiện rất rõ trong khung giá của Nhà nước.

    Bảng: Khung giá đất ở tại nông thôn (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)

    Loại đô   Xó đồng bằng Xó trung du Xó miền nỳi
    thị  
                 
    Mức giỏ   Giá tối thiểu 3,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 2,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 0,5; Giá tối đa
      90,0   850,0     24,0
               
          Bảng: Khung giá đất ở tại đô thị (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)
                     
    Loại đô   Đặc biệt   I     II
    thị        
                 
    Mức giỏ Giá tối thiểu 1.500,0; Giá tối đa   Giá tối thiểu 400,0; Giá tối đa     Giá tối thiểu 150,0; Giá tối đa
        67.500,0   42.500,0     30.000,0
                     
                     
    Loại đô     III   IV   V
    thị        
                   
                     
    Nguyễn Tiến Dũng       Lớp Địa chính K44

     

    17

            Đề án môn học  
               
      Mức giỏ Giỏ tối thiểu 120,0; Giỏ tối đa Giá tối thiểu 50,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 30,0; Giá tối đa  
      19.500,0 13.350,0 6.700,0  
         

    Nhìn vào bảng trên ta thấy ở xã đồng bằng giá cao nhất là 90000đồng/m2 còn đất ở tại đô thị mức cao nhất là 67.5 triệu đồng/ m2. Đó là sự so sánh rất khập khiễng nhưng để thấy rằng sự phát triển ảnh hưởng như thế nào đến giá đất đai.

    Ngoài ra, các tính chất vật lý khác của đất đai như: vị trí, độ phì nhiêu, độ ẩm, tính bền vững… của đất cũng góp phần hình thành giá đất. Chẳng hạn những loại đất có độ phì cao, độ ẩm, độ xốp lớn thì sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp là rất tốt nên trong loại đất nông nghiệp giá đất đó phải cao hơn những loại đất có điều kiện kém hơn. Đối với đất nông nghiệp giá sẽ chủ yếu phụ thuộc vào chất đất (độ phì của đất) vì đó là yếu tố quan trọng nhất đối với cây trồng.

    Những yếu tố vật lý có tác động không nhỏ đến giá đất: Nếu một mảnh đất ở ở trên nền một đất ao do mới vượt lên chắc chắn sẽ không bền vững bằng một mảnh đất trên nền đất đồi và giá cua hai mảnh đất đó sẽ khác nhau dù các yếu tố khác tương tự. Đối với đất ở đô thị, giá đất phụ thuộc chủ yếu vào vị trí mảnh đất, độ bền vững của đất.

    2. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    Cơ sở hạ tầng gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật ( đường giao thông. hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống thông tin liên lạc…) và cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí…). Mật độ phát triển của kết cấu hạ tầng có tác động rất lớn đến giá đất. Kết cấu hạ tầng có tính đặc trưng khác nhau giữa thành thị và nông thôn. Có thể thấy cơ sở hạ tầng ở đô thị có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá đất hơn so với cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng có thể làm thay đổi công dụng và giá trị của đất đai hiện có. Việc phát triển kết cấu hạ tầng được thể hiện thông qua sự phát triển của hệ thống đường giao thông đồng bộ, hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống dịch vụ thông tin liên lạc, hệ thống xử lý các chất thải, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống an toàn lao động…Việc giá đất tăng ở những khu vực có đầu tư kết cấu hạ tầng tốt chủ yếu là do tâm lý của người sử dụng đất. Khi đi mua nhà, đất bất kỳ ai cũng chú ý đến hệ thống cơ sở hạ tầng: đường giao thông ở đó được hoàn chỉnh đến mức nào? hệ thống dịch vụ cấp thoát nước được xây dựng ra sao? hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng được lắp đặt với quy mô gì? hệ thống thông tin liên lạc đang

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    18

    Đề án môn học

    được trang bị hiện đại đến khả năng nào?… Đó sẽ là các nhân tố tác động trực tiếp đến nhiều giá trị sử dụng của vị trí đất đai của khu vực đó.

    Nhờ có sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng mà điều kiện tiếp cận của đất đai trở nên dễ dàng hơn, nó có thể đáp ứng và thoả mãn được những yêu cầu khác nhau của người sử dụng đất.

    Nhờ đó mà đất đai có thể tham gia vào thị trường bất động sản một cách dễ dàng hơn. Một khu đất không có kết cấu hạ tầng thì nhu cầu sử dụng đất đó không cao nên giá đất ở khu vực đó thấp là điều dễ hiểu. Ngược lại, cũng khu vực đó nếu được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, khả năng tiếp cận dễ dàng thuận tiện thì đó là nguồn cung rất có ý nghĩa đối với thị trường bất động sản, nhu cầu sử dụng đất khu vực đó chắc chắn tăng lên lập tức kéo giá đất khu vực đó tăng cao. Một ví dụ về sự thay đổi giá đất sau khi có đầu tư cơ sở hạ tầng là: Tại Khu 19 phường Bình Hàn, Thành phố Hải Dương khi chưa có con đường Chợ Mát thì giá đất ở đó là 1.5 triệu đồng/m2, nhưng từ khi UBND tỉnh đầu tư mở rộng đường Chợ Mát và đường vành đai thành phố thì giá tăng lên 5 triệu đồng/m2. Hay như dự án quốc lộ 10 qua các tỉnh Hải phòng, Hải Dương, Thái Bình làm cho giá đất hai bên đường tăng lên từ 7 đến 9 lần. Qua những ví dụ trên ta thấy rằng việc đầu tư cơ sở hạ tầng có tác động to lớn đến giá đất.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    Trong mỗi loại đô thị, được chia làm 04 loại đường phố, bao gồm:

    • Đường phố loại 1
    • Đường phố loại 2
    • Đường phố loại 3
    • Đường phố loại 4

    Mỗi loại đường phố được thể hiện tính đặc trưng và khả năng đáp ứng cao nhất đối với các yêu cầu về hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán, sinh hoạt, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Như vậy, khả năng phân loại đô thị theo quy mô trước hết là dựa vào quy mô của đô thị đó. Quy mô của đô thị không chỉ là quy mô về diện tích mà còn phải xem xét đô thị đó phát triển đến mức nào. Tại mỗi loại đô thị giá trị thực tế của đất ở sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mỗi loại đường phố trong mỗi loại đô thị đó. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta xác định được một cách cụ thể về giá đất cho từng khu vực trong đô thị. Giá trị thực tế của đất ở tại đường phố loại 1 đương nhiên phải cao hơn tại đường phố loại 2 ít nhất là một bậc, và cách xác định giá trị

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    19

    Đề án môn học

    thực tế của đất ở tại các loại đường phố còn lại cũng tương tự như vậy. Đó cũng là sự phân chia hợp lý và công bằng.

    Trong mỗi loại đường phố đã được phân loại chính xác, vị trí đất cũng góp phần quyết định giá trị thực tế của đất ở. Chẳng hạn cùng đường phố loại 1 như nhau, nếu diện tích đất ở nằm tại vị trí mặt đường phố sẽ có giá trị thực tế cao hơn khi nó

    • vị trí xa mặt đường phố hoặc ở trong ngõ, trong hẻm ví dụ tại Quận Thanh Xuân

    đường Trường Chinh, đoạn đường từ Ngã Tư Sở đến ngã ba Tôn Thất Tùng: Vị trí 1: 23 triệu đồng/m2

    Vị trí 2: 13.3 triệu đồng/m2

    Vị trí 3: 11.2 triệu đồng/m2

    Vị trí 4: 10 triệu đồng/m2

    Mặt khác, diện tích đất ở đặt tại đầu phố gần trung tâm buôn bán, khu vui chơi giải trí…sẽ có giá trị thực tế cao hơn hẳn so với ở vị trí cuối phố xa các trung tâm trên (cùng đặt tại mặt đường phố). Ngược lại, nếu tại vị trí đặt diện tích đất ở tại các khu sản xuất và thải các chất độc hại thì giá trị thực tế của diện tích đất đó sẽ giảm mạnh so với diện tích đất đặt ở xa khu vực đó (cùng đặt tại mặt đường phố). Các diện tích đất ở tại các vị trí khác trên cùng một đường phố của cùng một loại đô thị và khác nhau về các điều kiện như trên thì sẽ có sự thay đổi giá trị thực tế của đất ở cũng tương tự. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta khắc phục được tình trạng thiếu căn cứ trong quá trình xác định giá trị thực tế của đất một cách cụ thể cho từng diện tích đất trong từng loại đường phố của cùng một loại đô thị.

    Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tại các địa phương là xác định một cách cụ thể và chính xác thứ tự các loại đường phố. Có như vậy khi xác định giá đất cho cùng loại đường phố trong từng đô thị mới phản ánh đúng giá trị thực tế của đất ở tại đó.

    Sự phân loại đô thị theo quy mô sẽ tạo nên khả năng thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển về mọi mặt của đô thị. Giá trị sử dụng của đất cũng biến đổi theo quy mô phát triển của đô thị đặc biệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với đô thị nếu đô thị nào phát triển, giao thông thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng lớn thì chắc chắn giá đất ở đô thị đó cũng cao lên. Ngày nay xu thế đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ nên việc mở rộng các đô thị và sự “ bành trướng” của đô thị ra vùng lân cận cũng làm thay đổi giá đất đai đặc biệt giá đất các vùng lân cận sẽ tăng lên.

    4. Quá trình đô thị hoá.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    20

    Đề án môn học

    Đô thị hoá là quá trình tất yếu trên con đường phát triển của các quốc gia đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ và đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn cần phải giải quyết: dân số đô thị tăng nhanh, vấn đề an ninh xã hội, vấn đề môi trường, việc làm…Hiện nay, vấn đề đất đô thị và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến giá cả đất đai đang là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu lý luận.

    Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô thị, đó cũng là quá trình tập trung dân số vào các đô thị tạo ra sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá đất nước, làm biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang thành thị. Đó là một quá trình diễn ra một cách khách quan gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội, nó còn gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của ngành nghề mới. Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, truyền thống văn hoá và phương pháp tổ chức đời sống xã hội. Như vậy đô thị hoá về hình thức là quá trình mở rộng diện tích và ưuy mô của đô thị trên cơ sở sát nhập các điểm dân cư nông thôn hoặc sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp cho xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị. Đất đô thị là phần diện tích đất giới hạn được sử dụng để xây dựng các công trình đô thị như nhà ở, trụ sở các cơ quan hành chính, kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở sản xuất xã hội, kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như: đường giao thông, mạng lưới chiếu sáng, lưới điện sinh hoạt, điện sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp cấp thoat nước…phục vụ các nhu cầu lợi ích, công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác. Phần diện tích đất có giới hạn đó theo các quy mô khác nhau kết hợp với một số yếu tố cơ cấu dân số và cơ cấu kinh tế được Nhà nước quy định phân loại thành đô thị loại I đến loại V. Quá trình đô thị hoá đặt ra nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng lên trong khi khả năng cung về diện tích đất đô thị là hữu hạn. Chính vì vậy việc khai thác sử dụng đất đô thị cho hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao là yêu cầu rất quan trọng. Để giải quyết vấn đề này thực chất là đi giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước( lợi ích của cộng đồng) và lợi ích của cá nhân; giữa mục tiêu quản lý và mục đích sử dụng. Xét về khía cạnh kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất dùng để xây dựng và phát triể đô thị, đó là loại đất có giá trị lớn và có sức sản xuất cao, có giá trị sử

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    21

    Đề án môn học

    dụng lớn. Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị có liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội. Nếu tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai nằm trong tay của một bộ phận giai cấp thống trị xã hội nắm quyền phân phối sản phẩm xã hội, thì đất đô thị là hàng hoá đặc biệt mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho chủ sở hữu là giai cấp thống trị. Còn nếu đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thì lợi ích do đất đai mang lại sẽ phục vụ cho lợi ích cộng đồng mà đại diện là Nhà nước, đối tượng được hưởng là nhân dân. Từ năm 1975 đến nay, đất nước thống nhất, việc đầu tư cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đều sử dụng vốn ngân sách. Chính nhờ có sự đầu tư này mà đất đô thị ngày càng có giá trị hơn. Giá đất đô thị cao hơn giá đất nông thôn, miền núi là vì đất đai có những đặc trưng cơ bản khiến nó không giống bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào. Chẳng hạn: đất đai là nguồn tài nguyên có những hạn chế về số lượng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong không gian và không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Ông cha ta từng nói: “ Tấc đất tấc vàng”- câu nói này đặc biệt đúng với đất đô thị, càng đúng hơn khi tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay.

    Khi nói về đất đô thị, Mác cho rằng: “Thật ra, người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ với sự phân tán của thủ công nghiệp và chính đại công nghiệp đã làm như vậy”, và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “ việc mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai”. Cũng giống như diện tích đất được sử dụng vào đất nông nghiệp, đất được sử dụng vào mục đích xây dựng đô thị có những ưu thế mà những công cụ sản xuất khác (như máy móc chẳng hạn) không có

    • “ưu thế của đất là những khoản đầu tư liên tiếp có thể đem lại lợi nhuận mà không làm thiệt hại đến những khoản đầu tư trước, ưu thế đó cũng đồng thời bao hàm cả khả năng có những sự chênh lệch trong sản phẩm của những khoản đầu tư liên tiếp ấy”. Đó cũng chính là khoản địa tô mà đất đô thị đem lại cho chủ đất. Vì thế, quá trình đô thị hoá diễn ra càng mạnh mẽ thì giá đất ở khu vực đô thị hoá tăng cao là điều tất yếu. Từ thực tế ta thấy rõ điều này, đô thị hoá đến đâu đất ở đó tăng giá đến đó.
      • nước ta, Hiến pháp và Luật đất đai đã khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Với việc quy định cụ thể trong những đạo luật cơ bản nhất về quyền sở hữu tối cao đối với đất đai thuộc về nhân dân, việc khai

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    22

    Đề án môn học

    thác, sử dụng nguồn lực đất đai phục vụ cho yêu cầu phát triển đất nước sẽ thuận lợi hơn rất nhiều, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai cũng tham gia vào thị trường với tính chất là một hàng hoá đặc biệt ( Tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được).

    Hiện nay, một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và phát triển đô thị ở nước ta là vấn đề quỹ đất cho xây dựng các công trình đô thị, đó là công việc liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Chính phủ đã có Nghị định số 87/NĐ/CP ngày 17/8/1994 mới nhất là Nghị định 188/NĐ/CP quy định khung giá các loại đất; các tỉnh, thành phố đã có quyết định về giá các loại đất trên từng địa bàn cụ thể. Tuy nhiên khung giá đó không hoàn toàn hợp lý khiến người dân không đồng tình dẫn đến tình trạng khiếu kiện liên miên. Đó là một trong những khó khăn về giá mà Nhà nước ta cần phải giải quyết.

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy rằng quá trình đô thị hoá có ảnh hưởng rất lớn tới giá đất mà xu hướng là giá đất sẽ tăng lên. Đó là xu thế tất yếu của các nước đang trên đà phát triển như Việt Nam.

    5. Yếu tố cạnh tranh.

    Để tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh đến giá đất trước tiên cần nghiên cứu về mối quan hệ cung cầu để thấy được mức giá cần xác định. Khi phân tích quan hệ cung và cầu ta thường coi cung và cầu là hàm số của giá. Cung, cầu có thể cân bằng ở bất cứ điểm nào, khi đó chúng ta sẽ có giá cân bằng. Nếu các yếu tố khác không đổi, một sự tăng lên của cầu hay giảm xuống của cung sẽ làm giá tăng lên và ngược lại sự giảm xuống của cầu hoặc tăng thêm của cung sẽ làm giá giảm xuống. Do đó trong thị trường cạnh tranh giá cả điều tiết lượng cung và cầu. Đó là quy luật chung của các loại hàng hoá thông thường nhưng đất đai lại có những điểm khác biệt. Cầu về đất đai ngày càng tăng nhưng cung về đất đai lại gần như không đổi do tính giới hạn về không gian của đất đai nên giá khó dịch chuyển về điểm cân bằng. Đối với đất đai, khi cầu giảm thì giá đất cũng sẽ không giảm mà thường “chững lại”.

    Ảnh hưởng đến giá đất gồm có các yếu tố cạnh tranh về cầu, cung và trong nội bộ cung, cầu. Cầu về đất đai nói chung luôn luôn tăng vì vậy giá đất nói chung cũng tăng lên. Chẳng hạn cầu về đất xây dựng biệt thự, đất phân lô tăng như thời gian vừa qua do thu nhập của người dân tăng lên và tâm lý người tiêu dùng muốn có một căn nhà riêng sẽ làm cho giá của loại đất này tăng lên ( chủ yếu là qua đấu

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    23

    Đề án môn học

    giá) trong khi cung về loại đất này có tăng nhưng chậm, không đáp ứng nổi cầu. Hiện nay giá của loại đất này rất cao, mới đây ở Huyện Đông Anh ( Hà Nội) đấu giá lô đất mà giá cao nhất lên tới 86 triệu đồng/ m2.

    Đối với cung đất đai: về tổng cung có thể coi là không đổi nhưng trong nội bộ cung đất đai vẫn có sự chuyển đổi như: chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp sẽ làm cung đất phi nông nghiệp tăng, thu hồi đất cho phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp thì cung đất khu công nghiệp tăng…Nguồn cung đất cũng có thể tăng lên do khai hoang, phục hoá. Chúng ta có thể thấy rằng hiện nay cung đất xây nhà chung cư có xu hướng tăng lên. theo quy luật cung cầu, khi cung tăng lên thì giá giảm đi nhưng điều đó không hoàn toàn đúng với hàng hoá đặc biệt là đất đai. Mặc dù cung về đất xây nhà chung cư tăng nhưng thực tế giá không hề giảm mà giá đất sẽ chững lại hoặc có giảm nhưng không đáng kể. Việc giá đất chững lại chính là biểu hiện thị trường “đóng băng” như thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay. Một biểu hiện nữa của sự cạnh tranh về cung là: hai nguồn cung khác nhau về đất ở, khu vực nào có cơ sở hạ tầng tốt hơn, môi trường trong sạch hơn chắc chắn giá đất ở đó sẽ cao hơn. Vì thế diễn ra sự cạnh tranh trong nội bộ cung một loại đất, ai đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Yếu tố cạnh tranh thực chất chính là quan hệ cung cầu. Đối với các loại hàng hoá thông thường sẽ tuân theo đúng quy luật đó nhưng đất đai thì không, giá cả của nó có phản ứng với sự thay đổi cung, cầu, tính cạnh tranh theo một cách khá đặc biệt. Trong điều kiện thị trường phát triển bình thường, sự thay đổi về cung hay cầu không làm giá đất biến động mạnh, nó sẽ giữ nguyên.Cung cầu về đất sẽ có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến giá khi thị trường có sự tăng đột biến về cung hay cầu nhưng chủ yếu là cầu tạo nên những cơn “sốt giá’ như ở nước ta những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX.

    6. Chính sách tiền tệ.

    Giá cả đất đai là biểu hiện bằng tiền của giá trị của đất đai, là số tiền thoả thuận giữa người mua và người bán tại một thời điểm xác định. Ở các thời điểm khác nhau giá cả đất đai cũng thay đổi theo chiều hướng khác nhau tăng hay giảm. Mặt khác, đất đai có giá trị rất lớn, đối với một quốc gia nó chiếm khoảng 3/4 tổng tài sản của quốc gia còn đối với một cá nhân, gia đình đất đai là tài sản quan trọng nhất. Vì thế, những biến động về tiền tệ, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rất lớn đến giá đất. Giá đất phụ thuộc vào sự ổn định của đồng tiền, nếu sức mua của đồng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    24

    Đề án môn học

    tiền tăng giá đất giảm, ngược lại nếu sức mua của đồng tiền giảm giá đất tăng. Khi sức mua của đồng tiền tăng tức là cùng một lượng tiền mua được một lượng hàng hoá lớn hơn, trong xu hướng giá đồng tiền đang tăng các giao dịch liên quan đến đất đai sẽ “chững” lại vì người có ý định bán sẽ có tâm lý “ chờ” giá vì người ta cho rằng giá còn tiếp tục tăng

    Giá vàng lên xuống thất thường đang khiến các giao dịch nhà đất chững lại

    giữa tháng 5 /2004 giá vàng tăng thêm 70.000 đồng/lượng để ở mức 7,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 7,49 triệu đồng/lượng (bán ra). Nếu so với mức thấp nhất từ đầu năm (7,39 triệu đồng/lượng ngày 10-5-2004) thì gía vàng tăng 100.000 đồng/lượng; cũng với mức cao nhất (8,01 triệu đồng/lượng ngày 1-1-2004) giảm đến 520.000 đồng/lượng. Giá vàng tăng giảm thất thường, diễn biến chậm với khoảng cách chênh lệch lớn càng khiến tình hình khó dự báo. Do vậy, trên thị trường nhà đất, các giao dịch về đất đai vào thế “co cụm” . Cả người mua, người bán đều không muốn mạo hiểm với tài sản của mình.

    Thật ra thị trường nhà đất không chỉ bị tác động bởi giá vàng mà còn nhiều yếu tố khác liên quan như quy hoạch, khung giá đất, thuế, vật tư xây dựng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ….Tuy nhiên việc định gía nhà đất bằng vàng đã trở thành

    “truyền thống” từ bao đời nay nên giá vàng vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nhà đất. Giá tăng, cả bên mua, bên bán đều dừng lại để chờ giá tiếp tục tăng. Giám đốc một trung tâm giao dịch nhà đất cho biết, giá vàng ổn định, trong một tuần có thể mua bán 4 – 5 căn nhà (khoảng hơn 300 cây/căn) là chuyện bình thường. Còn hiện tại, thử đến các trung tâm sẽ thấy rõ sự thưa thớt. Đơn giản là với mức chênh lệch tăng giảm 100.000 đồng/ lượng người ta có thể mất đi hàng trăm triệu đến cả tỷ đồng với những căn nhà có gía trị lớn, vài trăm đến vài nghìn cây vàng

    7. Yếu tố pháp lý.

    Đất đai là tài sản quý giá của quốc gia, thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Vì vậy Nhà nước nắm quyền quản lý tuyệt đối với đất đai trong phạm vi toàn lãnh thổ. Nhà nước phải đảm bảo sử dụng đất theo nguyên tắc: đầy đủ, tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả cao nhất. Để làm được điều đó Nhà nước cần quản lý chặt chẽ quỹ đất của mình thông qua các chính sách pháp luật. Bởi thế nên đất đai rất “nhạy cảm” với sự thay đổi của các yếu tố pháp lý. Đất đai là đối tượng trực tiếp điều chỉnh của các văn bản pháp quy liên quan đến đất đai: Hiến

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    25

    Đề án môn học

    pháp, Luật đất đai, các Nghị định, quyết định, Thông tư… Nhà nước ta có các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với đất đai nhưng Nhà nước không trưc tiếp sử dụng đất đai mà giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất… Họ được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đó bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua đó ta thấy đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đó cũng chính là lý do để nói rằng yếu tố pháp lý có ảnh hưởng đến giá đất. Ta sẽ thấy rõ điều đó qua các ví dụ sau:

    Mỗi thửa đất được sử dụng hợp pháp đều được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất- đó là giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sử dụng hợp pháp thửa đất đó. Vì vậy nó vô cùng quan trọng đối với người sử dụng đất. Nếu hai thửa đất tương tự nhau nhưng một thửa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn một thửa chưa có thì điều chắc chắn thửa đất chưa có giấy chứng nhận sẽ có giá thấp hơn rất nhiều vì nếu mua mảnh đất đó quyền sử dụng của họ không được đảm bảo.

    Một chính sách nữa của Nhà nước là khuyến khích phát triển mô hình trang trại. Trước đây, khi chưa có chính sách này giá đất trang trại rất rẻ nhưng từ khi Nhà nước khuyến khích mô hình này người ta đã đổ xô đi mua đất trang trại khiến cho giá loại đất này tăng lên rất nhanh. Vì thế ta có thể khẳng định chính sách của Nhà nước đã có tác động tới giá cả đất đai.

    Một ví dụ tiếp theo sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của chính sách pháp luật liên quan tới giá đất. Xuất phát từ quá trình đô thị hoá, từ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội mà các loại đô thị cũng tăng lên: ở nông thôn xuất hiện nhiều thị trấn, thị xã; ở thành thị sẽ chuyển xã thành phường, quận thành huyện. Việc Nhà nước quyết định thành lập mộ thị trấn, một thị xã, một phường, một quận hay một thành phố đều có ảnh hưởng rất mạnh tới giá đất các khu vực đó. Chẳng hạn khi Nhà nước quyết định thành lập quận Hoàng Mai, quận Long Biên (Hà Nội) đã làm chuyển biến đáng kể đời sống xã hội những khu vực đó, nhiều làng lên phố và nhiều nông dân đã trở thành tỷ phú. Đó không còn là điều lạ lẫm ở Việt Nam vì khi nông thôn đã trở thành đô thị giá đất ở đó sẽ tăng lên “chóng mặt”, có thể nói là tăng từng ngày. Vì thế không có lý do gì để nói rằng việc quyết định của Nhà nước không ảnh hưởng tới giá đát.

    Trên đây là một vài minh chứng để chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý hay nói rõ hơn là chủ trương, chính sách của Nhà nước có tác động không nhỏ tới giá đất. Vì vậy khi xác định giá đất cần đặc biệt chú ý đến tính pháp lý của thửa đất đó và các chính sách của Nhà nước tại thời điểm đó.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    26

    Đề án môn học

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    27

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Qua việc nghiên cứu trên, chúng ta càng có thể khẳng định được vai trò to lớn của đất đai trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng.. Đất đai tham gia vào mọi hoạt động đời sống kinh tế, xã hội, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động sản xuất nào có thể diễn ra được. Đất đai không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và khai thác mà còn đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên do diện tích đất đai bị giới hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất đai lại tăng lên. Chính vì vậy giá đất lại có xu hướng ngày càng tăng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đi đôi với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước thì quá trình đô thị hoá ngày càng được mở rộng và tác động mạnh mẽ đến giá đất. Xã hội ngày càng phát triển làm nảy sinh nhiều mối quan hệ về đất đai do đó nhu cầu xác định giá đất cũng ngày càng tăng. Để xác định giá đất một cách chính xác cần phải sử dụng các phương pháp xác định giá đất như phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp đầu tư, phương pháp thu nhập… Tuy nhiên khi xác định giá đất còn phải dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất. Các nhân tố đó có tác động rất lớn đến giá đất, có nhân tố đã làm thay đổi hẳn giá trị của mảnh đất như nhân tố chính sách pháp luật hay quá trình đô thị hoá. Tôi hy vọng rằng với việc nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất sẽ là cơ sở quan trọng để các nhà định giá xác định giá đất chính xác, hợp lý hơn.

    Hiện nay có nhiều quan điểm về giá đất nhưng tóm lại giá đất về bản chất phản ánh nguồn lợi ích mang lại từ mảnh đất đó, nó được đo lường bằng giá trị mảnh đất đó tại một thời điểm nhất định. Nhà nước đã ban hành nhiều khung giá đất: Nghị định 80/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/1993; Nghị định 87/NĐ-CP ban hành ngày 17/8/1994; Nghị định 17/1998/NĐ-CP và Nghị định 188/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16/11/2004. Lấy khung giá các loại đất của Chính phủ làm cơ sở, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có quy định bảng giá về các loại đất cho phù hợp với địa phương mình. Song nhìn chung sự điều chỉnh giá đất của Nhà nước chưa theo kịp với giá đất thực tế, nó thường thấp hơn giá đất thực tế có nơi từ 8-10 lần. Sự chênh lệch đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn, tình trạng khiếu kiện vượt cấp kéo dài. Để khắc phục tình trạng này cần phải hoàn thiện pháp luật về giá đất, trước mắt

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    28

    Đề án môn học

    cần tập trung vào hoàn chỉnh các nội dung cơ bản sau: Về cơ chế quản lý giá (phải thừa nhận tính dịch vụ của hoạt động giá); về hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về giá ( chuyên trách, độc lập, đa mục đích, vừa quản lý hành chính vừa hoạt động dịch vụ); về phương pháp, nguyên tắc xác định giá; về đào tạo nhân sự cho hoạt động định giá và thẩm định giá; về hoàn thiện cơ sở pháp lý cho từng đơn vị bất động sản như tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tập trung đất đai, gắn liền bất động sản thành một khối ( như nhà- đất- tài sản gắn liền trên đất); thực hiện trước một bước công tác đăng ký quyền sử dụng đất ( đăng ký ban đầu và đăng ký biến động), thống nhất đăng ký quyền sở hữu nhà ở, đất ở, thống nhất một hệ thống cơ quan đăng ký tài sản theo tính kinh tế, dịch vụ là chủ yếu, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế chung đặc biệt là để phát triển thị trường bất động sản.

    Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Vũ Thị Thảo đẫ tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    29

    Đề án môn học

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý thị trường bất động sản. Giáo trình Kinh tế tài nguyên đất.
    1. Tạp chí địa chính
    1. Tạp chí Bất động sản
    1. Đặc san tạp chí Luật học 2003
    1. Nghị định 87, 188 Thông tư 114
    2. Các trang Web: na.gov.vn www.mof.gov.vn www.vnexpress.com www.hn.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]