Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

0
360
Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương
QUẢNG CÁO
Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm


Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

(Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

Đề cương liên quan:Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương


Mục Lục

Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

Phân tích truyện “Người con gái

Nam Xương” của Nguyễn Dữ

BÀI LÀM

BÀI VIẾT THAM KHẢO:

Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn

học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi

bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “ Chuyện

người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong

tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của

 

Nguyễn Dữ.

Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở

huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ

đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu

hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian

chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây

thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết

nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân giải được

oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm

động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua

biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người

 

chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan

cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát

rồi trở lại Long Cung.

Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có

tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan

tày trời vì một chuyện vờ ghen vớ vẩn của người

chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết

để giải nỗi oan tình.

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh

khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp

của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có

 

tư dung tốt đẹp, tính tình thuỳ mị, nết na. Khi lấy

chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ

chồng phải thất hoà dù Trương Sinh vốn có tính hay

ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy

tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm

yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng

sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao

nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong

ước được đoàn tụ … làm mọi người trong tiệc đều ứa

hai hàng lệ.

Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son

 

sắt, thuỷ chung, “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”,

mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi “mỗi khi

thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi

buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”.

Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận

tuỵ chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ

chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ

mình).

Rồi đằng đẳng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về,

cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần

để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ

 

khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho

thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ

chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm

cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị

tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện

bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ

Nương thống thiết: “Thiếp sỡ dĩ nương tựa vào chàng

… đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh

phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ

đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ

chồng giờ đây hoá đá….

 

Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời

không phương giải bày, cứu chữa nàng đành mượn

cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình.

lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết:

“Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng,

vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm

cỏ Nga Mĩ. Nhựợc bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối

chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm

cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ

…” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa – con

người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để

 

tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh

chứng dám.

Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà,

nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ

gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên

dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con.

Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với

những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định

những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt

Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền

thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ

 

chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng,

hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, …. lẽ ra phải

được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách

oan uổng, đau đớn.

Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa,

bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong

kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ

thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen

tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của

chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ

nữ.

 

Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có

phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được

nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng

“nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa

nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi

tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của

Trương Sinh sau này.

Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một

tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng

buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ

kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “trước đây,

 

thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến…”

Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của

Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu

vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của

vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không

chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại

mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và

hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái

chết oan nghiệt của Vũ Nương.

Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của

Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận

 

người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc

chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử

bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh.

Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác

phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam

xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người

phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong

“Truyện Kiề”u của Nguyễn Du, người cung nữ trong

“cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người

phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương, …

Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết

 

bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành

công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng

những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây

dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy

kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện

ra với tất cả nét thảm khốc.

“Thắt nút” truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói

ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây

chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kị trong một đầu

óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ ; bão tố bất hoà

dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm.

 

Bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một người con

gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trêm một dòng

sông.

“Gỡ nút” cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non

dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách:

“cha Đản lại đến kia kìa” thì bao nhiêu oan khiên gây

thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.

Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình

của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu

chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc hoạ diễn

biến tâm lí và tính cách nhân vật ; lời nói của bà mẹ

 

Trương Sinh nhân hậu, từng trải ; lời lẽ của Vũ Nương

bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lí,

có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính ;

lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút”

truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan

của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ

Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng

chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”,

Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng

truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới.

 

Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và

hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn

ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, ngưởi tốt

sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong

truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau

của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang

cứu, Vũ Nương được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với

kiệu hoa rực rỡ trên sông… đó là những tình tiết kì ảo,

không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ

thuật lung linh huyền ảo.

Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay.

 

Yếu tố hoang đường truyền kì không thể cứu được

cuộc đời Vũ nương với số phận bi thảm của nàng. Vũ

Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở

về với chồng con và quê hương mà không thể trở về

được.

Truyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị hiện

thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ

Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác

trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác

phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc

sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã

 

hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc

đời, sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và

được đề cao nhân phẩm trong xã hộ, xã hội của thời

đại mới.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here